Secret Doctrine I – Part I.3 – Cosmic Evolution

📘 Sách: Secret Doctrine I – Tác giả: Blavatsky

Part I. Cosmic Evolution.

Seven Stanzas From The “Book Of Dzyan,” With Commentaries.

Bảy Bài kệ từ “Sách Dzyan”, kèm Bình Giảng.

Nor Aught nor Nought existed; yon bright sky

Chẳng Có cũng chẳng Không từng hiện hữu; bầu trời sáng kia

Was not, nor heaven’s broad roof outstretched above.

Không có, cũng chẳng có mái rộng của thiên đường vươn trải bên trên.

What covered all? What sheltered? What concealed?

Điều gì bao phủ tất cả? Điều gì che chở? Điều gì giấu kín?

Was it the water’s fathomless abyss?

Phải chăng là vực thẳm không đáy của nước?

There was no death—yet there was nought immortal,

Không có chết—nhưng cũng chẳng có gì bất tử,

There was no confine betwixt day and night;

Không có ranh giới giữa ngày và đêm;

The only One breathed breathless by Itself,

Đấng Duy Nhất tự thở không hơi thở bởi chính mình,

Other than It there nothing since has been.

Ngoài Đấng ấy ra, từ đó chẳng có gì hiện hữu.

Darkness there was, and all at first was veiled

Bóng tối hiện hữu, và lúc đầu tất cả được che phủ

In gloom profound—an ocean without light.

Trong u ám thẳm sâu—một đại dương không ánh sáng.

The germ that still lay covered in the husk

Mầm vẫn còn nằm kín trong vỏ

Burst forth, one nature, from the fervent heat.

Bừng vỡ ra, một bản chất duy nhất, từ sức nóng mãnh liệt.

Who knows the secret? Who proclaimed it here?

Ai biết bí mật? Ai đã tuyên bố nó nơi đây?

Whence, whence this manifold creation sprang?

Từ đâu, từ đâu cuộc sáng tạo đa dạng này phát sinh?

The Gods themselves came later into being—

Chính các Thần cũng đi vào hiện hữu về sau—

Who knows from whence this great creation sprang?

Ai biết từ đâu cuộc sáng tạo vĩ đại này phát sinh?

That, whence all this great creation came,

Cái đó, từ đó toàn bộ cuộc sáng tạo vĩ đại này đến,

Whether Its will created or was mute,

Dù Ý Chí của Nó đã sáng tạo hay vẫn im lặng,

The Most High Seer that is in highest heaven,

Đấng Thông Nhãn Tối Cao ở cõi trời cao nhất,

He knows it—or perchance even he knows not.

Ngài biết điều đó—hoặc có lẽ ngay cả Ngài cũng không biết.

Gazing into eternity

Nhìn vào vĩnh cửu

Ere the foundations of the earth were laid.

Trước khi nền móng của Trái Đất được đặt xuống.

Thou wert. And when the subterranean flame

Ngươi đã hiện hữu. Và khi ngọn lửa dưới lòng đất

Shall burst its prison and devour the frame,

Sẽ phá vỡ ngục tù của nó và nuốt chửng cấu trúc này,

Thou shalt be still as thou wert before

Ngươi vẫn sẽ là như ngươi đã từng là trước kia

And know no change, when time shall be no more.

Và không biết đến đổi thay, khi thời gian không còn nữa.

O, endless thought, divine Eternity.

Ôi, tư tưởng vô tận, Vĩnh Cửu thiêng liêng.

Rig Veda (Colebrooke).

Rig Veda (Colebrooke).

Seven Stanzas From The “Book Of Dzyan” — Bảy Bài kệ từ “Sách Dzyan”

Stanza I. — Bài kệ I.

1. The Eternal Parent, wrapped in her Ever-Invisible Robes, had slumbered once again for Seven Eternities.

1. Đấng Cha-Mẹ Vĩnh Cửu, khoác trong những Áo Choàng Mãi Mãi Vô Hình của Bà, lại một lần nữa đã ngủ yên trong Bảy Vĩnh Cửu.

2. Time was not, for it lay asleep in the Infinite Bosom of Duration.

2. Thời gian không có, vì nó nằm ngủ trong Lòng Vô Tận của Trường Tồn.

3. Universal Mind was not, for there were no Ah-hi to contain it.

3. Vũ Trụ Trí không có, vì không có Ah-hi nào để chứa đựng nó.

4. The Seven Ways to Bliss were not. The Great Causes of Misery were not, for there was no one to produce and get ensnared by them.

4. Bảy Con Đường đến Chí Phúc không có. Các Nguyên Nhân Vĩ Đại của Khổ Đau không có, vì không có ai tạo ra và bị chúng trói buộc.

5. Darkness alone filled the Boundless All, for Father, Mother and Son were once more one, and the Son had not yet awakened for the new Wheel and his Pilgrimage thereon.

5. Chỉ Bóng Tối lấp đầy Toàn Thể Vô Biên, vì Cha, Mẹ và Con lại một lần nữa là một, và Người Con chưa thức tỉnh cho Bánh Xe mới và cuộc Hành Hương của y trên đó.

6. The Seven Sublime Lords and the Seven Truths had ceased to be, and the Universe, the Son of Necessity, was immersed in Paranishpanna, to be outbreathed by that which is, and yet is not. Naught was.

6. Bảy Chúa Tể Siêu Phàm và Bảy Chân Lý đã ngừng hiện hữu, và Vũ Trụ, Người Con của Tất Yếu, được chìm trong Paranishpanna, để được thở ra bởi cái vừa hiện hữu vừa không hiện hữu. Không gì có cả.

7. The Causes of Existence had been done away with; the Visible that was, and the Invisible that is, rested in Eternal Non-Being—the One Being.

7. Các Nguyên Nhân của Hiện Hữu đã bị xóa bỏ; cái Hữu Hình đã từng có, và cái Vô Hình đang có, an nghỉ trong Phi-Bản Thể Vĩnh Cửu—Bản Thể Duy Nhất.

8. Alone, the One Form of Existence stretched boundless, infinite, causeless, in Dreamless Sleep; and Life pulsated unconscious in Universal Space, throughout that All-Presence, which is sensed by the Opened Eye of Dangma.

8. Một mình, Một Hình Tướng của Hiện Hữu vươn trải vô biên, vô tận, vô nhân, trong Giấc Ngủ Không Mộng; và Sự sống rung nhịp vô thức trong Không Gian Vũ Trụ, khắp Sự Hiện Diện Toàn Thể ấy, vốn được cảm nhận bởi Con Mắt Mở của Dangma.

9. But where was Dangma when the Âlaya of the Universe was in Paramârtha, and the Great Wheel was Anupâdaka?

9. Nhưng Dangma ở đâu khi Alaya của Vũ Trụ ở trong Paramartha, và Bánh Xe Vĩ Đại là Anupadaka?

Stanza II. — Bài kệ II.

1…. Where were the Builders, the Luminous Sons of Manvantaric Dawn?… In the Unknown Darkness in their Ah-hi Paranishpanna. The Producers of Form from No-Form—the Root of the World—the Devamâtri and Svabhâvat, rested in the Bliss of Non-Being.

1…. Các đấng kiến tạo, những Người Con Chói Sáng của Bình Minh Giai kỳ sinh hóa, ở đâu?… Trong Bóng Tối Bất Khả Tri nơi Ah-hi Paranishpanna của Các Ngài. Những Đấng Sản Sinh Hình Tướng từ Vô-Hình Tướng—Cội Rễ của Thế Giới—Devamatri và Svabhavat, an nghỉ trong Chí Phúc của Phi-Bản Thể.

2…. Where was Silence? Where the ears to sense it? No, there was neither Silence nor Sound; naught save Ceaseless Eternal Breath, which knows itself not.

2…. Im Lặng ở đâu? Đôi tai để cảm nhận nó ở đâu? Không, chẳng có Im Lặng cũng chẳng có Âm Thanh; không gì ngoài Hơi Thở Vĩnh Cửu Không Ngừng, vốn không tự biết mình.

3. The Hour had not yet struck; the Ray had not yet flashed into the Germ; the Mâtripadma had not yet swollen.

3. Giờ chưa điểm; Cung chưa lóe vào Mầm; Matripadma chưa trương nở.

4. Her Heart had not yet opened for the One Ray to enter, thence to fall, as Three into Four, into the Lap of Mâyâ.

4. Trái Tim của Bà chưa mở để Một Cung đi vào, từ đó rơi xuống, như Ba vào Bốn, vào Lòng của Maya.

5. The Seven were not yet born from the Web of Light. Darkness alone was Father-Mother, Svabhâvat; and Svabhâvat was in Darkness.

5. Bảy chưa được sinh ra từ Mạng Lưới Ánh Sáng. Chỉ Bóng Tối là Cha-Mẹ, Svabhavat; và Svabhavat ở trong Bóng Tối.

6. These Two are the Germ, and the Germ is One. The Universe was still concealed in the Divine Thought and the Divine Bosom.

6. Hai Điều Này là Mầm, và Mầm là Một. Vũ Trụ vẫn còn ẩn trong Tư Tưởng Thiêng Liêng và Lòng Thiêng Liêng.

Stanza III. — Bài kệ III.

1…. The last Vibration of the Seventh Eternity thrills through Infinitude. The Mother swells, expanding from within without, like the Bud of the Lotus.

1…. Rung động cuối cùng của Vĩnh Cửu Thứ Bảy làm rung chuyển khắp Vô Tận. Mẹ trương nở, mở rộng từ bên trong ra bên ngoài, như Nụ Hoa Sen.

2. The Vibration sweeps along, touching with its swift Wing the whole Universe and the Germ that dwelleth in Darkness, the Darkness that breathes over the slumbering Waters of Life.

2. Rung động quét đi, chạm bằng Cánh nhanh của nó vào toàn thể Vũ Trụ và Mầm cư ngụ trong Bóng Tối, Bóng Tối thở trên những Dòng Nước Sự Sống đang ngủ yên.

3. Darkness radiates Light, and Light drops one solitary Ray into the Waters, into the Mother-Deep. The Ray shoots through the Virgin Egg, the Ray causes the Eternal Egg to thrill, and drop the non-eternal Germ, which condenses into the World-Egg.

3. Bóng Tối phát xạ Ánh Sáng, và Ánh Sáng nhỏ một Cung đơn độc vào Dòng Nước, vào Vực Mẹ. Cung phóng xuyên qua Trứng Trinh Nguyên, Cung khiến Trứng Vĩnh Cửu rung động, và nhỏ xuống Mầm không-vĩnh-cửu, vốn ngưng tụ thành Trứng Thế Giới.

4. The Three fall into the Four. The Radiant Essence becomes Seven inside, Seven outside. The Luminous Egg, which in itself is Three, curdles and spreads in milk-white Curds throughout the Depths of Mother, the Root that grows in the Depths of the Ocean of Life.

4. Ba rơi vào Bốn. Tinh Túy Rạng Ngời trở thành Bảy bên trong, Bảy bên ngoài. Trứng Chói Sáng, tự nó là Ba, đông lại và lan thành những Khối Sữa trắng như sữa khắp các Chiều Sâu của Mẹ, Cội Rễ lớn lên trong các Chiều Sâu của Đại Dương Sự Sống.

5. The Root remains, the Light remains, the Curds remain, and still Oeaohoo is One.

5. Cội Rễ vẫn còn, Ánh Sáng vẫn còn, các Khối Sữa vẫn còn, và Oeaohoo vẫn là Một.

6. The Root of Life was in every Drop of the Ocean of Immortality, and the Ocean was Radiant Light, which was Fire, and Heat, and Motion. Darkness vanished and was no more; it disappeared in its own Essence, the Body of Fire and Water, of Father and Mother.

6. Cội Rễ của Sự Sống ở trong mỗi Giọt của Đại Dương Bất Tử, và Đại Dương là Ánh Sáng Rạng Rỡ, vốn là Lửa, Nhiệt và Chuyển Động. Bóng Tối tan biến và không còn nữa; nó biến mất trong Tinh Túy của chính nó, Thể của Lửa và Nước, của Cha và Mẹ.

7. Behold, O Lanoo, the Radiant Child of the Two, the unparalleled refulgent Glory—Bright Space, Son of Dark Space, who emerges from the Depths of the great Dark Waters. It is Oeaohoo, the Younger, the ——. He shines forth as the Sun, he is the Blazing Divine Dragon of Wisdom; the Eka is Chatur, and Chatur takes to itself Tri, and the Union produces the Sapta, in whom are the Seven, which become the Tridasha, the Hosts and the Multitudes. Behold him lifting the Veil, and unfurling it from East to West. He shuts out the Above, and leaves the Below to be seen as the Great Illusion. He marks the places for the Shining Ones, and turns the Upper into a shoreless Sea of Fire, and the One Manifested into the Great Waters.

7. Hãy nhìn xem, hỡi Lanoo, Người Con Rạng Rỡ của Hai Đấng, Vinh Quang chói ngời vô song—Không Gian Sáng, Con của Không Gian Tối, xuất hiện từ các Tầng Sâu của những Vùng Nước Tối vĩ đại. Đó là Oeaohoo, Đấng Trẻ Hơn, ——. Ngài chiếu sáng như Mặt Trời, Ngài là Rồng Thiêng Liêng Rực Cháy của Minh Triết; Eka là Chatur, và Chatur nhận vào mình Tri, và Sự Hợp Nhất sinh ra Sapta, trong đó có Bảy, trở thành Tridasha, các Đạo Binh và các Đoàn Lũ. Hãy nhìn xem Ngài nâng Tấm Màn lên, và mở rộng nó từ Đông sang Tây. Ngài che khuất Cõi Trên, và để Cõi Dưới được thấy như Đại Ảo Tưởng. Ngài đánh dấu những vị trí cho các Đấng Chói Sáng, và biến Cõi Trên thành một Biển Lửa không bờ bến, và Đấng Duy Nhất Biểu Hiện thành Những Vùng Nước Lớn.

8. Where was the Germ, and where was now Darkness? Where is the Spirit of the Flame that burns in thy Lamp, O Lanoo? The Germ is That, and That is Light, the White Brilliant Son of the Dark Hidden Father.

8. Mầm ở đâu, và nay Bóng Tối ở đâu? Tinh thần của Ngọn Lửa đang cháy trong ngọn đèn của ngươi ở đâu, hỡi Lanoo? Mầm là Cái Đó, và Cái Đó là Ánh Sáng, Người Con Trắng Rực Rỡ của Người Cha Tối Ẩn Tàng.

9. Light is Cold Flame, and Flame is Fire, and Fire produces Heat, which yields Water—the Water of Life in the Great Mother.

9. Ánh Sáng là Ngọn Lửa Lạnh, và Ngọn Lửa là Lửa, và Lửa sinh ra Nhiệt, Nhiệt đem lại Nước—Nước của Sự Sống trong Đại Mẫu.

10. Father-Mother spin a Web, whose upper end is fastened to Spirit, the Light of the One Darkness, and the lower one to its shadowy end, Matter; and this Web is the Universe, spun out of the Two Substances made in One, which is Svabhâvat.

10. Cha-Mẹ dệt một Tấm Lưới, đầu trên của nó được buộc vào Tinh Thần, Ánh Sáng của Bóng Tối Duy Nhất, và đầu dưới vào tận cùng mờ tối của nó, Vật Chất; và Tấm Lưới này là Vũ Trụ, được dệt từ Hai Chất Liệu làm thành Một, tức Svabhavat.

11. It expands when the Breath of Fire is upon it; it contracts when the Breath of the Mother touches it. Then the Sons dissociate and scatter, to return into their Mother’s Bosom, at the end of the Great Day, and re-become one with her. When it is cooling, it becomes radiant. Its Sons expand and contract through their own Selves and Hearts; they embrace Infinitude.

11. Nó mở rộng khi Hơi Thở của Lửa ở trên nó; nó co lại khi Hơi Thở của Mẹ chạm vào nó. Bấy giờ các Người Con phân ly và tản ra, để trở về Lòng Mẹ của họ vào cuối Ngày Lớn, và lại trở thành một với bà. Khi nó nguội đi, nó trở nên rạng rỡ. Các Người Con của nó mở rộng và co lại qua chính Bản Ngã và Trái Tim của họ; họ ôm lấy Vô Tận.

12. Then Svabhâvat sends Fohat to harden the Atoms. Each is a part of the Web. Reflecting the “Self-Existent Lord,” like a Mirror, each becomes in turn a World.

12. Bấy giờ Svabhavat phái Fohat đi làm cứng các Nguyên Tử. Mỗi nguyên tử là một phần của Tấm Lưới. Phản chiếu “Chúa Tể Tự Hữu” như một Tấm Gương, mỗi nguyên tử đến lượt mình trở thành một Thế Giới.

Stanza IV. — Bài kệ IV.

1…. Listen, ye Sons of the Earth, to your Instructors—the Sons of the Fire. Learn, there is neither first nor last; for all is One Number, issued from No-Number.

1…. Hãy lắng nghe, hỡi các Con của Trái Đất, các Huấn sư của các ngươi—các Con của Lửa. Hãy học rằng không có trước cũng không có sau; vì tất cả là Một Con Số, phát xuất từ Phi-Số.

2. Learn what we, who descend from the Primordial Seven, we, who are born from the Primordial Flame, have learnt from our Fathers….

2. Hãy học điều mà chúng tôi, những kẻ xuất phát từ Bảy Đấng Nguyên Sơ, chúng tôi, những kẻ được sinh ra từ Ngọn Lửa Nguyên Sơ, đã học từ các Cha của chúng tôi….

3. From the Effulgency of Light—the Ray of the Ever-Darkness—sprang in Space the reawakened Energies; the One from the Egg, the Six, and the Five. Then the Three, the One, the Four, the One, the Five—the Twice Seven, the Sum Total. And these are the Essences, the Flames, the Elements, the Builders, the Numbers, the Arûpa, the Rûpa, and the Force or Divine Man, the Sum Total. And from the Divine Man emanated the Forms, the Sparks, the Sacred Animals, and the Messengers of the Sacred Fathers within the Holy Four.

3. Từ Ánh Rực Rỡ của Ánh Sáng—Cung của Bóng Tối Vĩnh Hằng—các Năng Lượng được đánh thức lại đã bật sinh trong Không Gian; Đấng Duy Nhất từ Quả Trứng, Sáu, và Năm. Rồi Ba, Một, Bốn, Một, Năm—Hai Lần Bảy, Tổng Toàn Bộ. Và đây là các Tinh Túy, các Ngọn Lửa, các Nguyên tố, các Đấng Kiến Tạo, các Con Số, Arupa, Rupa, và Mãnh lực hay Con Người Thiêng Liêng, Tổng Toàn Bộ. Và từ Con Người Thiêng Liêng xuất lộ các Hình Tướng, các Tia Lửa, các Sinh Vật Thiêng Liêng, và các Sứ Giả của các Cha Thiêng Liêng trong Bốn Đấng Thánh.

4. This was the Army of the Voice, the Divine Mother of the Seven. The Sparks of the Seven are subject to, and the servants of, the First, the Second, the Third, the Fourth, the Fifth, the Sixth, and the Seventh of the Seven. These are called Spheres, Triangles, Cubes, Lines and Modellers; for thus stands the Eternal Nidâna—the Oi-Ha-Hou.

4. Đây là Đạo Quân của Âm Thanh, Mẹ Thiêng Liêng của Bảy. Các Tia Lửa của Bảy chịu sự chi phối của, và là tôi tớ của, Đấng Thứ Nhất, Thứ Hai, Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Sáu và Thứ Bảy trong Bảy. Những vị này được gọi là các Khối Cầu, Tam Giác, Khối Lập Phương, Đường Thẳng và các Đấng Tạo Mẫu; vì Nidana Vĩnh Cửu—Oi-Ha-Hou—đứng như vậy.

5. The Oi-Ha-Hou, which is Darkness, the Boundless, or the No-Number, Âdi-Nidâna Svabhâvat, the [circle]:

5. Oi-Ha-Hou, tức Bóng Tối, Vô Biên, hay Phi-Số, Adi-Nidana Svabhavat, [circle]:

I. The Âdi-Sanat, the Number, for he is One.

I. Adi-Sanat, Con Số, vì Ngài là Một.

II. The Voice of the Word, Svabhâvat, the Numbers, for he is One and Nine.

II. Tiếng Nói của Linh từ, Svabhavat, các Con Số, vì Ngài là Một và Chín.

III. The “Formless Square.”

III. “Hình Vuông Vô Tướng.”

And these Three, enclosed within the [circle], are the Sacred Four; and the Ten are the Arûpa Universe. Then come the Sons, the Seven Fighters, the One, the Eighth left out, and his Breath which is the Light-Maker.

Và Ba Đấng này, được bao trong [circle], là Bốn Đấng Thiêng Liêng; và Mười là Vũ Trụ Arupa. Rồi đến các Người Con, Bảy Chiến Sĩ, Đấng Duy Nhất, Đấng Thứ Tám bị bỏ ra ngoài, và Hơi Thở của Ngài, vốn là Đấng Tạo Ánh Sáng.

6…. Then the Second Seven, who are the Lipika, produced by the Three. The Rejected Son is One. The “Son-Suns” are countless.

6…. Rồi Bảy Đấng Thứ Hai, tức các Lipika, do Ba Đấng tạo ra. Người Con Bị Khước Từ là Một. Các “Con-Mặt Trời” thì vô số.

Stanza V. — Bài kệ V.

1. The Primordial Seven, the First Seven Breaths of the Dragon of Wisdom, produce in their turn from their Holy Circumgyrating Breaths the Fiery Whirlwind.

1. Bảy Đấng Nguyên Sơ, Bảy Hơi Thở Đầu Tiên của Rồng Minh Triết, đến lượt mình, từ các Hơi Thở Xoay Vòng Thiêng Liêng của Các Ngài, tạo ra Cơn Lốc Lửa.

2. They make of him the Messenger of their Will. The Dzyu becomes Fohat: the swift Son of the Divine Sons, whose Sons are the Lipika, runs circular errands. Fohat is the Steed, and the Thought is the Rider. He passes like lightning through the fiery clouds; takes Three, and Five, and Seven Strides through the Seven Regions above, and the Seven below. He lifts his Voice, and calls the innumerable Sparks, and joins them together.

2. Các Ngài làm cho y thành Sứ Giả của Ý Chí các Ngài. Dzyu trở thành Fohat: Người Con nhanh nhẹn của các Người Con Thiêng Liêng, mà các Con của y là các Lipika, chạy những sứ mệnh vòng tròn. Fohat là Chiến Mã, và Tư Tưởng là Đấng Kỵ Sĩ. Y đi qua như tia chớp giữa các đám mây lửa; bước Ba, Năm và Bảy Bước qua Bảy Vùng ở trên, và Bảy Vùng ở dưới. Y cất Tiếng Nói của mình, gọi các Tia Lửa vô số, và kết hợp chúng lại với nhau.

3. He is their guiding spirit and leader. When he commences work, he separates the Sparks of the Lower Kingdom, that float and thrill with joy in their radiant dwellings, and forms therewith the Germs of Wheels. He places them in the Six Directions of Space, and One in the middle—the Central Wheel.

3. Y là tinh thần hướng dẫn và lãnh đạo của họ. Khi y bắt đầu công việc, y tách các Tia Lửa của Giới Thấp, vốn trôi nổi và rung lên với sự hoan hỉ trong các trú xứ rạng rỡ của chúng, và từ đó tạo thành các Mầm của những Bánh Xe. Y đặt chúng trong Sáu Hướng của Không Gian, và Một ở giữa—Bánh Xe Trung Tâm.

4. Fohat traces spiral lines to unite the Sixth to the Seventh—the Crown. An Army of the Sons of Light stands at each angle; the Lipika, in the Middle Wheel. They say: “his is good.” The first Divine World is ready; the First, the Second. Then the “Divine Arûpa” reflects itself in Chhâyâ Loka, the First Garment of Anupâdaka.

4. Fohat vạch những đường xoắn ốc để nối Đấng Thứ Sáu với Đấng Thứ Bảy—Vương Miện. Một Đạo Quân các Con của Ánh Sáng đứng ở mỗi góc; các Lipika ở Bánh Xe Giữa. Họ nói: “điều này tốt.” Thế Giới Thiêng Liêng đầu tiên đã sẵn sàng; Thứ Nhất, Thứ Hai. Rồi “Arupa Thiêng Liêng” phản chiếu chính mình trong Chhaya Loka, Áo Đầu Tiên của Anupadaka.

5. Fohat takes five strides, and builds a winged wheel at each corner of the square for the Four Holy Ones… and their Armies.

5. Fohat bước năm bước, và xây dựng một bánh xe có cánh ở mỗi góc của hình vuông cho Bốn Đấng Thiêng Liêng… và các Đạo Binh của Các Ngài.

6. The Lipika circumscribe the Triangle, the First One, the Cube, the Second One, and the Pentacle within the Egg. It is the Ring called “Pass Not” for those who descend and ascend; who during the Kalpa are progressing towards the Great Day “Be With Us.”… Thus were formed the Arûpa and the Rûpa: from One Light, Seven Lights; from each of the Seven, seven times Seven Lights. The Wheels watch the Ring….

6. Các Lipika vạch giới hạn Tam Giác, Đấng Duy Nhất Đầu Tiên, Khối Lập Phương, Đấng Duy Nhất Thứ Hai, và Ngôi Sao Năm Cánh trong Quả Trứng. Đó là Vòng được gọi là “Không Được Vượt Qua” dành cho những kẻ đi xuống và đi lên; những kẻ trong suốt Kalpa đang tiến về Ngày Lớn “Hãy Ở Cùng Chúng Ta.”… Như vậy Arupa và Rupa đã được hình thành: từ Một Ánh Sáng, Bảy Ánh Sáng; từ mỗi trong Bảy, bảy lần Bảy Ánh Sáng. Các Bánh Xe canh giữ Vòng….

Stanza VI. — Bài kệ VI.

1. By the power of the Mother of Mercy and Knowledge, Kwan-Yin—the Triple of Kwan-Shai-Yin, residing in Kwan-Yin-Tien—Fohat, the Breath of their Progeny, the Son of the Sons, having called forth, from the lower Abyss, the Illusive Form of Sien-Tchan and the Seven Elements.

1. Bằng quyền năng của Mẹ Từ Bi và Tri Thức, Kwan-Yin—Tam Phân của Kwan-Shai-Yin, ngự trong Kwan-Yin-Tien—Fohat, Hơi Thở của Hậu Duệ các Ngài, Con của các Người Con, đã gọi ra từ Vực Thẳm thấp hơn Hình Tướng Huyễn Ảo của Sien-Tchan và Bảy Nguyên Tố.

2. The Swift and the Radiant One produces the seven Laya Centres, against which none will prevail to the Great Day “Be With Us”; and seats the Universe on these Eternal Foundations, surrounding Sien-Tchan with the Elementary Germs.

2. Đấng Nhanh Nhẹn và Rạng Rỡ tạo ra bảy Trung Tâm Laya, mà không ai thắng được cho đến Ngày Lớn “Hãy Ở Cùng Chúng Ta”; và đặt Vũ Trụ trên những Nền Tảng Vĩnh Cửu này, bao quanh Sien-Tchan bằng các Mầm Nguyên Tố.

3. Of the Seven—first One manifested, Six concealed; Two manifested, Five concealed; Three manifested, Four concealed; Four produced, Three hidden; Four and One Tsan revealed, Two and One-Half concealed; Six to be manifested, One laid aside. Lastly, Seven Small Wheels revolving: one giving birth to the other.

3. Trong Bảy—trước hết Một biểu hiện, Sáu ẩn tàng; Hai biểu hiện, Năm ẩn tàng; Ba biểu hiện, Bốn ẩn tàng; Bốn được tạo ra, Ba ẩn giấu; Bốn và Một Tsan hiển lộ, Hai và Một Nửa ẩn tàng; Sáu sẽ biểu hiện, Một được đặt sang một bên. Sau cùng, Bảy Bánh Xe Nhỏ xoay chuyển: cái này sinh ra cái kia.

4. He builds them in the likeness of older Wheels, placing them on the Imperishable Centres.

4. Y xây dựng chúng theo hình ảnh của các Bánh Xe xưa hơn, đặt chúng trên các Trung Tâm Bất Hoại.

How does Fohat build them? He collects the Fiery-Dust. He makes Balls of Fire, runs through them, and round them, infusing life thereinto, then sets them into motion; some one way, some the other way. They are cold, he makes them hot. They are dry, he makes them moist. They shine, he fans and cools them. Thus acts Fohat from one Twilight to the other, during Seven Eternities.

Fohat xây dựng chúng như thế nào? Y gom Bụi-Lửa. Y tạo các Quả Cầu Lửa, chạy xuyên qua chúng và quanh chúng, truyền sự sống vào đó, rồi đặt chúng vào chuyển động; một số theo hướng này, một số theo hướng kia. Chúng lạnh, y làm chúng nóng. Chúng khô, y làm chúng ẩm. Chúng chiếu sáng, y quạt và làm mát chúng. Fohat hành động như vậy từ Hoàng Hôn này sang Hoàng Hôn khác, trong suốt Bảy Vĩnh Cửu.

5. At the Fourth, the Sons are told to create their Images. One-Third refuses. Two obey.

5. Ở lần Thứ Tư, các Người Con được bảo hãy tạo ra các Hình Ảnh của họ. Một Phần Ba từ chối. Hai Phần Ba tuân lệnh.

The Curse is pronounced. They will be born in the Fourth, suffer and cause suffering. This is the First War.

Lời Nguyền được tuyên bố. Họ sẽ sinh ra trong lần Thứ Tư, chịu đau khổ và gây đau khổ. Đây là Cuộc Chiến Đầu Tiên.

6. The Older Wheels rotated downward and upward…. The Mother’s Spawn filled the whole. There were Battles fought between the Creators and the Destroyers, and Battles fought for Space; the Seed appearing and reappearing continuously.

6. Các Bánh Xe Xưa xoay xuống và xoay lên…. Sản Vật của Mẹ lấp đầy toàn thể. Có những Trận Chiến diễn ra giữa các Đấng Sáng Tạo và các Đấng Hủy Diệt, và những Trận Chiến vì Không Gian; Hạt Giống liên tục xuất hiện và tái xuất hiện.

7. Make thy calculations, O Lanoo, if thou wouldst learn the correct age of thy Small Wheel. Its Fourth Spoke is our Mother. Reach the Fourth Fruit of the Fourth Path of Knowledge that leads to Nirvana, and thou shalt comprehend, for thou shalt see….

7. Hãy tính toán, hỡi Lanoo, nếu ngươi muốn biết tuổi đúng của Bánh Xe Nhỏ của ngươi. Nan Hoa Thứ Tư của nó là Mẹ của chúng ta. Hãy đạt Quả Thứ Tư của Con Đường Tri Thức Thứ Tư dẫn đến Niết Bàn, và ngươi sẽ thấu hiểu, vì ngươi sẽ thấy….

Stanza VII. — Bài kệ VII.

1. Behold the beginning of sentient formless Life.

1. Hãy nhìn xem sự khởi đầu của Sự Sống hữu cảm vô tướng.

First, the Divine, the One from the Mother-Spirit; then, the Spiritual; the Three from the One, the Four from the One, and the Five, from which the Three, the Five and the Seven. These are the Three-fold and the Four-fold downward; the Mind-born Sons of the First Lord, the Shining Seven. It is they who are thou, I, he, O Lanoo; they who watch over thee and thy mother, Bhûmî.

Trước hết, Đấng Thiêng Liêng, Đấng Duy Nhất từ Mẹ-Tinh Thần; rồi, Đấng Tinh Thần; Ba từ Một, Bốn từ Một, và Năm, từ đó Ba, Năm và Bảy. Đây là Tam phân và Tứ phân đi xuống; các Con sinh bởi Trí của Chúa Tể Đầu Tiên, Bảy Đấng Chói Sáng. Chính các Ngài là ngươi, tôi, y, hỡi Lanoo; chính các Ngài trông nom ngươi và mẹ ngươi, Bhumi.

2. The One Ray multiplies the smaller Rays. Life precedes Form, and Life survives the last atom. Through the countless Rays the Life-Ray, the One, like a Thread through many Beads.

2. Một Cung nhân bội thành các Cung nhỏ hơn. Sự Sống đi trước Hình Tướng, và Sự Sống tồn tại sau nguyên tử cuối cùng. Qua vô số Cung, Cung-Sự Sống, Đấng Duy Nhất, như một Sợi dây xuyên qua nhiều Hạt Chuỗi.

3. When the One becomes Two, the Threefold appears, and the Three are One; and it is our Thread, O Lanoo, the Heart of the Man-Plant called Saptaparna.

3. Khi Một trở thành Hai, Tam phân xuất hiện, và Ba là Một; và đó là Sợi dây của chúng ta, hỡi Lanoo, Trái Tim của Cây-Người được gọi là Saptaparna.

4. It is the Root that never dies; the Three-tongued Flame of the Four Wicks. The Wicks are the Sparks, that draw from the Three-tongued Flame shot out by the Seven—their Flame—the Beams and Sparks of one Moon reflected in the running Waves of all the Rivers of Earth.

4. Đó là Cội Rễ không bao giờ chết; Ngọn Lửa ba lưỡi của Bốn Bấc. Các Bấc là các Tia Lửa, rút từ Ngọn Lửa ba lưỡi do Bảy phóng ra—Ngọn Lửa của họ—các Tia Sáng và Tia Lửa của một Mặt Trăng phản chiếu trong các Làn Sóng chảy của mọi Dòng Sông trên Trái Đất.

5. The Spark hangs from the Flame by the finest thread of Fohat. It journeys through the Seven Worlds of Mâyâ. It stops in the First, and is a Metal and a Stone; it passes into the Second, and behold—a Plant; the Plant whirls through seven changes and becomes a Sacred Animal. From the combined attributes of these, Manu, the Thinker, is formed. Who forms him? The Seven Lives and the One Life. Who completes him? The Fivefold Lha. And who perfects the last Body? Fish, Sin, and Soma….

5. Tia Lửa treo từ Ngọn Lửa bằng sợi chỉ tinh tế nhất của Fohat. Nó du hành qua Bảy Thế Giới của Ảo lực. Nó dừng lại trong Thứ Nhất, và là một Kim Loại và một Viên Đá; nó đi vào Thứ Hai, và kìa—một Cây; Cây xoay qua bảy biến đổi và trở thành một Sinh Vật Thiêng Liêng. Từ các thuộc tính kết hợp của những điều này, Manu, Nhà Tư Tưởng, được hình thành. Ai tạo thành y? Bảy Sự Sống và Một Sự Sống. Ai hoàn tất y? Lha Ngũ Phân. Và ai hoàn thiện Thể cuối cùng? Cá, Sin và Soma….

6. From the First-born the Thread between the Silent Watcher and his Shadow becomes more strong and radiant with every Change. The morning Sunlight has changed into noon-day glory….

6. Từ Đấng Sinh Đầu Tiên, Sợi dây giữa Đấng Canh Giữ Im Lặng và Bóng của Ngài trở nên mạnh hơn và rạng rỡ hơn qua mỗi Biến Đổi. Ánh Nắng ban mai đã biến thành vinh quang giữa trưa….

7. “This is thy present Wheel,” said the Flame to the Spark. “Thou art myself, my image and my shadow. I have clothed myself in thee, and thou art my Vâhan to the Day ‘Be With Us,’ when thou shalt re-become myself and others, thyself and me.” Then the Builders, having donned their first Clothing, descend on radiant Earth and reign over Men—who are themselves….

7. “Đây là Bánh Xe hiện tại của ngươi,” Ngọn Lửa nói với Tia Lửa. “Ngươi là chính ta, hình ảnh của ta và bóng của ta. Ta đã tự khoác mình trong ngươi, và ngươi là Vahan của ta cho đến Ngày ‘Hãy Ở Cùng Chúng Ta,’ khi ngươi sẽ lại trở thành chính ta và những kẻ khác, chính ngươi và ta.” Rồi các Đấng Kiến Tạo, sau khi khoác Áo đầu tiên của mình, giáng xuống Trái Đất rạng rỡ và trị vì trên Loài Người—vốn là chính họ….

[Thus ends this portion of the archaic narrative, dark, confused, almost incomprehensible. An attempt will now be made to throw light into this darkness, to make sense out of this apparent non-sense.]

[Như vậy chấm dứt phần này của tự sự cổ xưa, tối tăm, rối rắm, hầu như không thể thấu hiểu. Nay sẽ có một nỗ lực nhằm đưa ánh sáng vào bóng tối này, làm cho điều dường như vô nghĩa này trở nên có nghĩa.]

Commentaries On The Seven Stanzas And Their Terms, According To Their Numeration, In Stanzas And Shlokas. — Các Bình Giảng Về Bảy Bài Kệ Và Các Thuật Ngữ Của Chúng, Theo Số Thứ Tự Của Chúng, Trong Các Bài Kệ Và Shloka.

Stanza I. — Bài kệ I.

1. The Eternal Parent, 54 wrapped in her Ever-invisible Robes, had slumbered once again for Seven Eternities.

1. Cha Mẹ Vĩnh Cửu, 54 được bao bọc trong những Áo Choàng Vĩnh Viễn Vô Hình của bà, đã lại một lần nữa ngủ yên trong Bảy Vĩnh Cửu.

The “Parent,” Space, is the eternal, ever-present Cause of all—the incomprehensible Deity, whose “Invisible Robes” are the mystic Root of all Matter, and of the Universe. Space is the one eternal thing that we can most easily imagine, immovable in its abstraction and uninfluenced by either the presence or absence in it of an objective Universe. It is without dimension, in every sense, and self-existent. Spirit is the first differentiation from “That,” the Causeless Cause of both Spirit and Matter. As taught in the Esoteric Catechism, it is neither “limitless void,” nor “conditioned fulness,” but both. It was and ever will be.

“Cha Mẹ,” Không Gian, là Nguyên Nhân vĩnh cửu, luôn hiện diện của tất cả—Thượng đế bất khả thấu hiểu, mà “Những Áo Choàng Vô Hình” của Ngài là Cội Rễ thần bí của mọi Vật Chất và của Vũ Trụ. Không Gian là điều vĩnh cửu duy nhất mà chúng ta có thể hình dung dễ dàng nhất, bất lay chuyển trong tính trừu tượng của nó và không chịu ảnh hưởng bởi sự hiện diện hay vắng mặt trong nó của một Vũ Trụ khách quan. Nó không có chiều kích, theo mọi nghĩa, và tự hữu. Tinh thần là biến phân đầu tiên từ “Cái Đó,” Nguyên Nhân Vô Nhân của cả Tinh Thần lẫn Vật Chất. Như được dạy trong Sách Giáo Lý Nội Môn, nó không phải là “hư không vô hạn,” cũng không phải là “sự viên mãn bị điều kiện hóa,” mà là cả hai. Nó đã là và sẽ mãi là.

Thus, the “Robes” stand for the noumenon of undifferentiated Cosmic Matter. It is not matter as we know it, but the spiritual essence of matter, and is coeternal and even one with Space in its abstract sense. Root-Nature is also the source of the subtile invisible properties in visible matter. It is the Soul, so to say, of the One Infinite Spirit. The Hindûs call it Mûlaprakriti, and say that it is the primordial Substance, which is the basis of the Upâdhi or Vehicle of every phenomenon, whether physical, psychic or mental. It is the source from which Âkâsha radiates.

Như vậy, “Những Áo Choàng” tượng trưng cho bản thể ẩn tàng của Vật Chất Vũ Trụ chưa biến phân. Đó không phải là vật chất như chúng ta biết, mà là tinh túy tinh thần của vật chất, đồng vĩnh cửu và thậm chí là một với Không Gian trong ý nghĩa trừu tượng của nó. Căn-Nhiên cũng là nguồn của các đặc tính vi tế vô hình trong vật chất hữu hình. Có thể nói, nó là Linh Hồn của Một Tinh Thần Vô Hạn. Người Hindu gọi nó là Mulaprakriti, và nói rằng đó là Chất Liệu nguyên sơ, vốn là nền tảng của Upadhi hay Vận cụ của mọi hiện tượng, dù hồng trần, thông linh hay trí tuệ. Nó là nguồn từ đó Akasha tỏa phát.

By the “Seven Eternities,” æons or periods are meant. The word Eternity, as understood in Christian theology, has no meaning to the Asiatic ear, except in its application to the One Existence; nor is the term “sempiternity,” the eternal only in futurity, anything better than a misnomer. 55 Such words do not and cannot exist in philosophical metaphysics, and were unknown till the advent of ecclesiastical Christianity. The Seven Eternities mean the seven periods, or a period answering in its duration to the seven periods, of a Manvantara, extending throughout a Mahâkalpa or “Great Age” (100 Years of Brahmâ), making a total of 311,040,000,000,000 of years; each Year of Brahmâ being composed of 360 Days, and of the same number of Nights of Brahmâ (reckoning by the Chandrâyana or lunar year); and a Day of Brahmâ consisting of 4,320,000,000 of mortal years. These Eternities belong to the most secret calculations, in which, in order to arrive at the true total, every figure must be 7x, x varying according to the nature of the cycle in the subjective or real world; and every figure relating to, or representing, the different cycles—from the greatest to the smallest—in the objective or unreal world, must necessarily be multiples of seven. The key to this cannot be given, for herein lies the mystery of esoteric calculations, and for the purposes of ordinary calculation it has no sense. “The number seven,” says the Kabalah, “is the great number of the Divine Mysteries”; number ten is that of all human knowledge (the Pythagorean Decad); 1,000 is the number ten to the third power, and therefore the number 7,000 is also symbolical. In the Secret Doctrine the figure 4 is the male symbol only on the highest plane of abstraction; on the plane of matter the 3 is the masculine and the 4 the feminine—the upright and the horizontal in the fourth stage of symbolism, when the symbols become the glyphs of the generative powers on the physical plane.

Bằng “Bảy Vĩnh Cửu,” người ta muốn nói đến các đại kiếp hay các chu kỳ. Từ Vĩnh Cửu, như được hiểu trong thần học Kitô giáo, không có ý nghĩa gì đối với tai người Á châu, ngoại trừ khi áp dụng cho Một Hiện Tồn; và thuật ngữ “vĩnh cửu tương lai,” tức chỉ vĩnh cửu trong tương lai, cũng chẳng hơn gì một cách gọi sai. 55 Những từ như thế không tồn tại và không thể tồn tại trong siêu hình học triết học, và đã không được biết đến cho đến khi Kitô giáo giáo hội xuất hiện. Bảy Vĩnh Cửu có nghĩa là bảy chu kỳ, hoặc một chu kỳ có thời lượng tương ứng với bảy chu kỳ của một Giai kỳ sinh hóa, kéo dài suốt một Mahakalpa hay “Đại Kỷ” (100 Năm của Brahma), tạo thành tổng cộng 311.040.000.000.000 năm; mỗi Năm của Brahma gồm 360 Ngày, và cùng số Đêm của Brahma như thế (tính theo Chandrayana hay năm âm lịch); và một Ngày của Brahma gồm 4.320.000.000 năm của phàm nhân. Những Vĩnh Cửu này thuộc về các phép tính bí mật nhất, trong đó, để đạt tới tổng số chân thật, mỗi con số phải là 7x, x thay đổi tùy theo bản chất của chu kỳ trong thế giới chủ quan hay thực tại; và mọi con số liên quan đến, hoặc đại diện cho, các chu kỳ khác nhau—từ lớn nhất đến nhỏ nhất—trong thế giới khách quan hay phi thực, tất yếu phải là bội số của bảy. Chìa khóa của điều này không thể được trao ra, vì chính trong đây có bí nhiệm của các phép tính huyền bí, và đối với các mục đích tính toán thông thường nó không có ý nghĩa. “Số bảy,” Kabalah nói, “là con số vĩ đại của các Bí Nhiệm Thiêng Liêng”; số mười là con số của toàn bộ tri thức con người (Thập Số của Pythagoras); 1.000 là số mười lũy thừa ba, và do đó số 7.000 cũng có tính biểu tượng. Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, số 4 chỉ là biểu tượng nam tính trên cõi trừu tượng cao nhất; trên cõi vật chất, 3 là nam tính và 4 là nữ tính—đường thẳng đứng và đường ngang trong giai đoạn thứ tư của biểu tượng học, khi các biểu tượng trở thành các ký tự tượng hình của những quyền năng sinh sản trên cõi hồng trần.

2. Time was not, for it lay asleep in the Infinite Bosom of Duration.

2. Thời Gian chưa có, vì nó nằm ngủ trong Lòng Vô Hạn của Trường Tồn.

“Time” is only an illusion produced by the succession of our states of consciousness as we travel through Eternal Duration, and it does not exist where no consciousness exists in which the illusion can be produced, but “lies asleep.” The Present is only a mathematical line which divides that part of Eternal Duration which we call the Future, from that part which we call the Past. Nothing on earth has real duration, for nothing remains without change—or the same—for the billionth part of a second; and the sensation we have of the actuality of the division of Time known as the Present, comes from the blurring of the momentary glimpse, or succession of glimpses, of things that our senses give us, as those things pass from the region of ideals, which we call the Future, to the region of memories that we name the Past. In the same way we experience a sensation of duration in the case of the instantaneous electric spark, by reason of the blurred and continuing impression on the retina. The real person or thing does not consist solely of what is seen at any particular moment, but is composed of the sum of all its various and changing conditions from its appearance in material form to its disappearance from earth. It is these “sum-totals” that exist from eternity in the Future, and pass by degrees through matter, to exist for eternity in the Past. No one would say that a bar of metal dropped into the sea came into existence as it left the air, and ceased to exist as it entered the water, and that the bar itself consisted only of that cross-section thereof which at any given moment coincided with the mathematical plane that separates, and, at the same time, joins, the atmosphere and the ocean. Even so of persons and things, which, dropping out of the “to be” into the “has been,” out of the Future into the Past—present momentarily to our senses a cross-section, as it were, of their total selves, as they pass through Time and Space (as Matter) on their way from one eternity to another: and these two eternities constitute that Duration in which alone anything has true existence, were our senses but able to cognize it.

“Thời Gian” chỉ là một ảo tưởng do sự nối tiếp các trạng thái tâm thức của chúng ta tạo ra khi chúng ta du hành qua Trường Tồn Vĩnh Cửu, và nó không tồn tại nơi không có tâm thức để trong đó ảo tưởng ấy có thể được tạo ra, mà “nằm ngủ.” Hiện Tại chỉ là một đường toán học chia phần Trường Tồn Vĩnh Cửu mà chúng ta gọi là Tương Lai khỏi phần mà chúng ta gọi là Quá Khứ. Không gì trên trái đất có trường tồn thật sự, vì không gì còn lại không đổi—hay y nguyên—trong một phần tỉ của giây; và cảm giác mà chúng ta có về tính hiện thực của sự phân chia Thời Gian được gọi là Hiện Tại phát sinh từ sự nhòe đi của cái thoáng thấy trong khoảnh khắc, hay chuỗi những cái thoáng thấy, về các sự vật mà giác quan đem lại cho chúng ta, khi các sự vật ấy đi từ miền của các lý tưởng, mà chúng ta gọi là Tương Lai, sang miền của các ký ức, mà chúng ta gọi là Quá Khứ. Cũng theo cách ấy, chúng ta trải nghiệm cảm giác về sự trường tồn trong trường hợp tia lửa điện tức thời, do ấn tượng nhòe và tiếp diễn trên võng mạc. Con người hay sự vật thực không chỉ gồm những gì được thấy vào bất kỳ khoảnh khắc riêng biệt nào, mà được cấu thành bởi tổng số mọi điều kiện khác nhau và biến đổi của nó, từ khi nó xuất hiện trong hình tướng vật chất cho đến khi nó biến mất khỏi trái đất. Chính các “tổng toàn bộ” này tồn tại từ vĩnh cửu trong Tương Lai, và dần dần đi qua vật chất, để tồn tại đến vĩnh cửu trong Quá Khứ. Không ai nói rằng một thanh kim loại rơi xuống biển bắt đầu tồn tại khi nó rời khỏi không khí, và ngừng tồn tại khi nó đi vào nước, và rằng bản thân thanh đó chỉ gồm mặt cắt ngang của nó, phần tại bất kỳ khoảnh khắc nào trùng với mặt phẳng toán học vừa phân cách, vừa đồng thời nối liền, bầu khí quyển và đại dương. Cũng như vậy đối với con người và sự vật, khi rơi từ “sẽ là” vào “đã là,” từ Tương Lai vào Quá Khứ—trong chốc lát hiện ra trước các giác quan của chúng ta như một mặt cắt ngang, có thể nói như vậy, của toàn bộ bản ngã của chúng, khi chúng đi qua Thời Gian và Không Gian (như Vật Chất) trên đường từ một vĩnh cửu này sang một vĩnh cửu khác: và hai vĩnh cửu này cấu thành Trường Tồn, trong đó mà thôi bất cứ điều gì cũng có hiện tồn chân thật, nếu giác quan của chúng ta có thể tri nhận nó.

3. Universal Mind was not, for there were No Ah-hi 56 to contain it. 57

3. Vũ Trụ Trí chưa có, vì không có Ah-hi nào 56 để chứa nó. 57

“Mind” is a name given to the sum of the States of Consciousness, grouped under Thought, Will and Feeling. During deep sleep ideation ceases on the physical plane, and memory is in abeyance; thus for the time-being “Mind is not,” because the organ, through which the Ego manifests ideation and memory on the material plane, has temporarily ceased to function. A noumenon can become a phenomenon on any plane of existence only by manifesting on that plane through an appropriate basis or vehicle; and during the long Night of rest called Pralaya, when all the Existences are dissolved, the “Universal Mind” remains as a permanent possibility of mental action, or as that abstract absolute Thought, of which Mind is the concrete relative manifestation. The Ah-hi (Dhyân Chohans) are the collective hosts of spiritual Beings—the Angelic Hosts of Christianity, the Elohim and “Messengers” of the Jews—who are the Vehicle for the manifestation of the Divine or Universal Thought and Will. They are the Intelligent Forces that give to, and enact in, Nature her “Laws,” while they themselves act according to Laws imposed upon them in a similar manner by still higher Powers; but they are not the “personifications” of the Powers of Nature, as erroneously thought. This Hierarchy of spiritual Beings, through which the Universal Mind comes into action, is like an army—a host, truly—by means of which the fighting power of a nation manifests itself, and which is composed of army-corps, divisions, brigades, regiments, and so forth, each with its separate individuality or life, and its limited freedom of action and limited responsibilities; each contained in a larger individuality, to which its own interests are subservient, and each containing lesser individualities in itself.

“Trí” là tên gọi dành cho tổng số các Trạng Thái Tâm Thức, được nhóm dưới Tư Tưởng, Ý Chí và Cảm Xúc. Trong giấc ngủ sâu, sự tạo ý tưởng ngừng lại trên cõi hồng trần, và ký ức ở trong trạng thái tạm lắng; vì vậy, trong thời gian ấy “Trí không có,” bởi vì cơ quan mà qua đó Chân ngã biểu hiện sự tạo ý tưởng và ký ức trên cõi vật chất đã tạm thời ngừng hoạt động. Một bản thể ẩn tàng chỉ có thể trở thành hiện tượng trên bất kỳ cõi hiện tồn nào bằng cách biểu hiện trên cõi ấy qua một nền tảng hay vận cụ thích hợp; và trong Đêm nghỉ ngơi dài lâu gọi là Giai kỳ qui nguyên, khi mọi Hiện Tồn đều tan rã, “Vũ Trụ Trí” vẫn còn như một khả năng thường tồn của hoạt động trí tuệ, hay như Tư Tưởng tuyệt đối trừu tượng ấy, mà Trí là sự biểu hiện tương đối cụ thể. Ah-hi (Dhyani Chohans) là các đoàn tập thể của những Hữu Thể tinh thần—các Đạo Binh Thiên Thần của Kitô giáo, Elohim và “Sứ Giả” của người Do Thái—là Vận cụ cho sự biểu hiện của Tư Tưởng và Ý Chí Thiêng Liêng hay Vũ Trụ. Các Ngài là những Mãnh Lực Thông Tuệ ban cho và thực thi trong Thiên Nhiên các “Định Luật” của bà, trong khi chính các Ngài hành động theo những Định Luật được áp đặt lên các Ngài theo cách tương tự bởi những Quyền Năng còn cao hơn; nhưng các Ngài không phải là những “nhân cách hóa” của các Quyền Năng của Thiên Nhiên, như người ta lầm tưởng. Thánh Đoàn các Hữu Thể tinh thần này, qua đó Vũ Trụ Trí đi vào hoạt động, giống như một quân đội—thật sự là một đạo binh—nhờ đó sức chiến đấu của một quốc gia biểu hiện, và quân đội ấy gồm các quân đoàn, sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn, vân vân, mỗi đơn vị có cá thể hay sự sống riêng biệt của mình, có quyền tự do hành động giới hạn và trách nhiệm giới hạn; mỗi đơn vị được chứa trong một cá thể lớn hơn, mà các lợi ích riêng của nó phải phục tùng, và mỗi đơn vị lại chứa các cá thể nhỏ hơn trong chính nó.

4. The Seven Ways to Bliss 58 were not (a). The Great Causes of Misery 59 were not, for there was no one to produce and get ensnared by them (b).

4. Bảy Con Đường đến Chí Phúc 58 chưa có (a). Những Nguyên Nhân Lớn của Khổ Đau 59 chưa có, vì không có ai để tạo ra và bị mắc vào chúng (b).

(a) There are “Seven Paths” or “Ways” to the “Bliss” of Non-Existence, which is absolute Being, Existence and Consciousness. They were not, because the Universe, so far, was empty, and existed only in the Divine Thought.

(a) Có “Bảy Đường” hay “Con Đường” đến “Chí Phúc” của Phi-Hiện-Tồn, vốn là Bản Thể, Hiện Tồn và Tâm Thức tuyệt đối. Chúng chưa có, vì cho đến lúc ấy Vũ Trụ còn trống không, và chỉ tồn tại trong Tư Tưởng Thiêng Liêng.

(b) For it is… the Twelve Nidânas, or Causes of Being. Each is the effect of its antecedent cause, and a cause, in its turn, to its successor; the sum total of the Nidânas being based on the Four Truths, a doctrine especially characteristic of the Hînayâna System. 60 They belong to the theory of the stream of catenated law which produces merit and demerit, and finally brings Karma into full sway. It is a system based upon the great truth that reincarnation is to be dreaded, as existence in this world entails upon man only suffering, misery and pain; death itself being unable to deliver man from it, since death is merely the door through which he passes to another life on earth after a little rest on its threshold—Devachan. The Hînayâna System, or School of the Little Vehicle, is of very ancient growth; while the Mahâyâna, or School of the Great Vehicle, is of a later period, having originated after the death of Buddha. Yet the tenets of the latter are as old as the hills that have contained such schools from time immemorial, and the Hînayâna and Mahâyâna Schools both teach the same doctrine in reality. Yâna, or Vehicle, is a mystic expression, both “Vehicles” inculcating that man may escape the sufferings of rebirth and even the false bliss of Devachan, by obtaining Wisdom and Knowledge, which alone can dispel the Fruits of Illusion and Ignorance.

(b) Vì đó là… Mười Hai Nidana, hay các Nguyên Nhân của Hiện Tồn. Mỗi cái là hệ quả của nguyên nhân đi trước nó, và đến lượt mình là nguyên nhân cho cái kế tiếp; tổng số các Nidana đặt nền trên Bốn Chân Lý, một giáo lý đặc biệt tiêu biểu cho Hệ Thống Hinayana. 60 Chúng thuộc về học thuyết về dòng của định luật liên kết chuỗi, tạo ra công và tội, và cuối cùng đưa nghiệp quả vào quyền thống trị trọn vẹn. Đó là một hệ thống đặt nền trên chân lý lớn lao rằng tái sinh là điều đáng sợ, vì hiện tồn trong thế giới này chỉ đem lại cho con người đau khổ, khốn cùng và đớn đau; chính cái chết cũng không thể giải thoát con người khỏi điều đó, vì cái chết chỉ là cánh cửa qua đó y đi sang một đời sống khác trên trái đất sau một chút nghỉ ngơi trên ngưỡng cửa của nó—Devachan. Hệ Thống Hinayana, hay Trường Phái Tiểu Thừa, có nguồn gốc rất cổ xưa; trong khi Mahayana, hay Trường Phái Đại Thừa, thuộc một thời kỳ muộn hơn, phát sinh sau khi Đức Phật qua đời. Tuy nhiên, các giáo nghĩa của trường phái sau cũng xưa như những ngọn đồi đã chứa những trường phái như thế từ thời xa xưa không thể nhớ, và trên thực tế cả hai Trường Phái Hinayana và Mahayana đều dạy cùng một giáo lý. Yana, hay Vận cụ, là một cách nói thần bí, cả hai “Vận cụ” đều truyền dạy rằng con người có thể thoát khỏi những đau khổ của tái sinh và ngay cả chí phúc giả tạo của Devachan, bằng cách đạt được Minh Triết và Tri Thức, là những điều duy nhất có thể xua tan các Quả của Ảo Tưởng và Vô Minh.

Mâyâ, or Illusion, is an element which enters into all finite things, for everything that exists has only a relative, not an absolute, reality, since the appearance which the hidden noumenon assumes for any observer depends upon his power of cognition. To the untrained eye of the savage, a painting is at first an unmeaning confusion of streaks and daubs of colour, while an educated eye sees instantly a face or a landscape. Nothing is permanent except the one hidden absolute Existence which contains in itself the noumena of all realities. The Existences belonging to every plane of being, up to the highest Dhyân Chohans, are, comparatively, like the shadows cast by a magic lantern on a colourless screen. Nevertheless all things are relatively real, for the cognizer is also a reflection, and the things cognized are therefore as real to him as himself. Whatever reality things possess, must be looked for in them before or after they have passed like a flash through the material world; for we cannot cognize any such existence directly, so long as we have sense-instruments which bring only material existence into the field of our consciousness. Whatever plane our consciousness may be acting in, both we and the things belonging to that plane are, for the time being, our only realities. But as we rise in the scale of development, we perceive that in the stages through which we have passed, we mistook shadows for realities, and that the upward progress of the Ego is a series of progressive awakenings, each advance bringing with it the idea that now, at last, we have reached “reality”; but only when we shall have reached absolute Consciousness, and blended our own with it, shall we be free from the delusions produced by Mâyâ.

Maya, hay Ảo Tưởng, là một yếu tố đi vào mọi sự vật hữu hạn, vì mọi thứ hiện tồn chỉ có thực tại tương đối, không phải tuyệt đối, bởi sắc tướng mà bản thể ẩn tàng khoác lấy đối với bất kỳ người quan sát nào tùy thuộc vào năng lực tri nhận của y. Đối với con mắt chưa được rèn luyện của người man dã, một bức tranh lúc đầu chỉ là một mớ vô nghĩa những vệt và mảng màu, trong khi con mắt được giáo dục lập tức thấy một khuôn mặt hay một phong cảnh. Không gì thường tồn ngoại trừ một Hiện Tồn tuyệt đối ẩn tàng duy nhất chứa trong chính nó các bản thể ẩn tàng của mọi thực tại. Các Hiện Tồn thuộc về mọi cõi bản thể, lên đến các Dhyani Chohans cao nhất, nếu so sánh, giống như những cái bóng do đèn chiếu huyền thuật phóng lên một màn không màu. Tuy nhiên, mọi sự vật đều thực một cách tương đối, vì người tri nhận cũng là một phản chiếu, và do đó những điều được tri nhận đối với y cũng thực như chính y. Bất cứ thực tại nào mà các sự vật sở hữu đều phải được tìm trong chúng trước hoặc sau khi chúng đi qua thế giới vật chất như một tia chớp; vì chúng ta không thể tri nhận trực tiếp bất kỳ hiện tồn nào như thế, chừng nào chúng ta còn có các công cụ giác quan chỉ đưa hiện tồn vật chất vào trường tâm thức của chúng ta. Dù tâm thức của chúng ta có thể đang hoạt động trên cõi nào, thì cả chúng ta lẫn các sự vật thuộc về cõi đó, trong lúc ấy, đều là những thực tại duy nhất của chúng ta. Nhưng khi chúng ta vươn lên trong thang phát triển, chúng ta nhận thấy rằng trong các giai đoạn mình đã đi qua, chúng ta đã lầm bóng tối là thực tại, và rằng sự tiến bộ đi lên của Chân ngã là một chuỗi những thức tỉnh tiến dần, mỗi bước tiến đều đem theo ý tưởng rằng bây giờ, cuối cùng, chúng ta đã đạt tới “thực tại”; nhưng chỉ khi nào chúng ta đạt tới Tâm Thức tuyệt đối, và hòa nhập tâm thức của mình với nó, chúng ta mới thoát khỏi những ảo tưởng do Maya tạo ra.

5. Darkness alone filled the Boundless All (a), for Father, Mother and Son were once more one, and the Son had not yet awakened for the new Wheel 61 and his Pilgrimage Thereon (b).

5. Chỉ Bóng Tối lấp đầy Toàn Thể Vô Biên (a), vì Cha, Mẹ và Con một lần nữa là một, và Người Con chưa thức tỉnh cho Bánh Xe mới 61 và Cuộc Hành Hương của y trên đó (b).

(a) “Darkness is Father-Mother: Light their Son,” says an old Eastern proverb. Light is inconceivable except as coming from some source which is the cause of it: and as, in the case of Primordial Light, that source is unknown, though so strongly demanded by reason and logic, therefore it is called “Darkness” by us, from an intellectual point of view. As to borrowed or secondary light, whatever its source, it can be only of a temporary mâyâvic character. Darkness, then, is the Eternal Matrix in which the Sources of Light appear and disappear. Nothing is added to darkness to make of it light, or to light to make it darkness, on this our plane. They are interchangeable; and, scientifically, light is but a mode of darkness and vice versâ. Yet both are phenomena of the same noumenon—which is absolute darkness to the scientific mind, and but a gray twilight to the perception of the average Mystic, though to that of the spiritual eye of the Initiate it is absolute light. How far we discern the light that shines in darkness depends upon our powers of vision. What is light to us is darkness to certain insects, and the eye of the clairvoyant sees illumination where the normal eye perceives only blackness. When the whole Universe was plunged in sleep—had returned to its one primordial element—there was neither centre of luminosity, nor eye to perceive light, and darkness necessarily filled the “Boundless All.”

(a) “Bóng Tối là Cha-Mẹ: Ánh Sáng là Con của các Ngài,” một tục ngữ Đông phương cổ nói như vậy. Ánh sáng không thể quan niệm được nếu không đến từ một nguồn nào đó là nguyên nhân của nó: và vì trong trường hợp Ánh Sáng Nguyên Sơ, nguồn ấy không được biết, dù lý trí và luận lý đòi hỏi nó rất mạnh mẽ, nên từ quan điểm trí tuệ chúng ta gọi nó là “Bóng Tối.” Đối với ánh sáng vay mượn hay thứ cấp, bất kể nguồn của nó là gì, nó chỉ có thể mang tính cách ảo lực tạm thời. Vậy Bóng Tối là Ma Trận Vĩnh Cửu, trong đó các Nguồn Ánh Sáng xuất hiện và biến mất. Không có gì được thêm vào bóng tối để làm nó thành ánh sáng, hay thêm vào ánh sáng để làm nó thành bóng tối, trên cõi này của chúng ta. Chúng có thể hoán đổi cho nhau; và về mặt khoa học, ánh sáng chỉ là một cách thức của bóng tối và ngược lại. Tuy nhiên, cả hai đều là hiện tượng của cùng một bản thể ẩn tàng—đối với trí tuệ khoa học là bóng tối tuyệt đối, và đối với tri giác của nhà thần bí trung bình chỉ là hoàng hôn xám, dù đối với con mắt tinh thần của điểm đạo đồ thì đó là ánh sáng tuyệt đối. Chúng ta phân biện được ánh sáng chiếu trong bóng tối đến mức nào tùy thuộc vào các năng lực tầm nhìn của chúng ta. Điều là ánh sáng đối với chúng ta lại là bóng tối đối với một số côn trùng, và con mắt của người thông nhãn thấy sự soi sáng nơi mắt thường chỉ thấy đen tối. Khi toàn thể Vũ Trụ chìm trong giấc ngủ—đã trở về nguyên tố nguyên sơ duy nhất của nó—không có trung tâm sáng nào, cũng không có mắt nào để nhận thấy ánh sáng, và bóng tối tất yếu lấp đầy “Toàn Thể Vô Biên.”

(b) The “Father” and “Mother” are the male and female principles in Root-Nature, the opposite poles that manifest in all things on every plane of Kosmos—or Spirit and Substance, in a less allegorical aspect, the resultant of which is the Universe, or the “Son.” They are “once more one,” when in the Night of Brahmâ, during Pralaya, all in the objective Universe has returned to its one primal and eternal cause, to reappear at the following Dawn—as it does periodically. Kârana—Eternal Cause—was alone. To put it more plainly: Kârana is alone during the Nights of Brahmâ. The previous objective Universe has dissolved into its one primal and eternal Cause, and is, so to say, held in solution in Space, to differentiate again and crystallize out anew at the following Manvataric Dawn, which is the commencement of a new Day or new activity of Brahmâ—the symbol of a Universe. In esoteric parlance, Brahmâ is Father-Mother-Son, or Spirit, Soul and Body at once; each personage being symbolical of an attribute, and each attribute or quality being a graduated efflux of Divine Breath in its cyclic differentiation, involutionary and evolutionary. In the cosmico-physical sense, it is the Universe, the Planetary Chain and the Earth; in the purely spiritual, the Unknown Deity, Planetary Spirit, and Man—the son of the two, the creature of Spirit and Matter, and a manifestation of them in his periodical appearances on Earth during the “Wheels,” or the Manvantaras.

(b) “Cha” và “Mẹ” là các nguyên khí nam và nữ trong Căn-Nhiên, các cực đối nghịch biểu hiện trong mọi sự trên mọi cõi của Kosmos—hay, theo phương diện ít ẩn dụ hơn, Tinh Thần và Chất Liệu, kết quả của chúng là Vũ Trụ, hay “Người Con.” Các Ngài “một lần nữa là một,” khi trong Đêm của Brahma, trong Giai kỳ qui nguyên, mọi sự trong Vũ Trụ khách quan đã trở về nguyên nhân nguyên sơ và vĩnh cửu duy nhất của nó, để tái xuất hiện vào Bình Minh kế tiếp—như nó vẫn làm theo chu kỳ. Karana—Nguyên Nhân Vĩnh Cửu—ở một mình. Nói rõ hơn: Karana ở một mình trong các Đêm của Brahma. Vũ Trụ khách quan trước đó đã tan rã vào Nguyên Nhân nguyên sơ và vĩnh cửu duy nhất của nó, và, có thể nói, được giữ trong dung dịch trong Không Gian, để lại biến phân và kết tinh mới vào Bình Minh Giai kỳ sinh hóa kế tiếp, vốn là khởi đầu của một Ngày mới hay hoạt động mới của Brahma—biểu tượng của một Vũ Trụ. Theo lối nói huyền bí, Brahma là Cha-Mẹ-Con, hay đồng thời là Tinh Thần, Linh Hồn và Thể; mỗi ngôi vị tượng trưng cho một thuộc tính, và mỗi thuộc tính hay phẩm tính là một dòng tuôn xuất được phân cấp của Hơi Thở Thiêng Liêng trong sự biến phân theo chu kỳ của nó, giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá. Theo nghĩa vũ trụ-hồng trần, đó là Vũ Trụ, Dãy Hành Tinh và Trái Đất; theo nghĩa thuần túy tinh thần, đó là Thượng đế Bất Khả Tri, Chân Linh Hành Tinh, và Con Người—người con của hai, tạo vật của Tinh Thần và Vật Chất, và là một biểu hiện của chúng trong các lần xuất hiện định kỳ của y trên Trái Đất trong các “Bánh Xe,” hay các Giai kỳ sinh hóa.

6. The Seven Sublime Lords and the Seven Truths had ceased to be, (a) and the Universe, the Son of Necessity, was immersed In Paranishpanna, 62 (b) To be outbreathed by that which is, and yet is not. naught was (c).

6. Bảy Chúa Tể Cao Cả và Bảy Chân Lý đã ngừng hiện tồn, (a) và Vũ Trụ, Người Con của Tất Yếu, đã chìm trong Paranishpanna, 62 (b) để được thở ra bởi cái đang là, và tuy vậy không là. Không có gì cả (c).

(a) The “Seven Sublime Lords” are the Seven Creative Spirits, the Dhyân Chohans, who correspond to the Hebrew Elohim. It is the same Hierarchy of Archangels to which St. Michael, St. Gabriel, and others belong, in Christian Theogony. Only while St. Michael, for instance, is allowed in dogmatic Latin Theology to watch over all the promontories and gulfs, in the Esoteric System the Dhyânis watch successively over one of the Rounds and the great Root-Races of our Planetary Chain. They are, moreover, said to send their Bodhisattvas, the human correspondents of the Dhyâni-Buddhas during every Round and Race. Out of the “Seven Truths” and Revelations, or rather revealed secrets, four only have been handed to us, as we are still in the Fourth Round, and the world also has had only four Buddhas, so far. This is a very complicated question, and will receive more ample treatment later on.

(a) “Bảy Chúa Tể Cao Siêu” là Bảy Tinh Thần Sáng Tạo, các Dhyani Chohan, tương ứng với Elohim của Hebrew. Đó cũng là cùng một Thánh Đoàn các Tổng Thiên Thần mà trong Thần hệ học Cơ Đốc, Thánh Michael, Thánh Gabriel và các vị khác thuộc về. Chỉ có điều, trong Thần học Latin giáo điều, Thánh Michael chẳng hạn được phép trông coi mọi mũi đất và vịnh biển, còn trong Hệ Thống Nội Môn, các Dhyani lần lượt trông coi một trong các cuộc Tuần Hoàn và các giống dân gốc lớn của Dãy Hành Tinh chúng ta. Hơn nữa, người ta nói rằng các Ngài phái các Bồ Tát của mình, tức những đối ứng nhân loại của các Dhyani-Buddha, trong mỗi cuộc Tuần Hoàn và mỗi giống dân. Trong “Bảy Chân Lý” và các Mặc Khải, hay đúng hơn là các bí nhiệm được mặc khải, chỉ có bốn điều đã được truyền lại cho chúng ta, vì chúng ta vẫn còn ở cuộc Tuần Hoàn thứ tư, và cho đến nay thế giới cũng chỉ có bốn vị Phật. Đây là một vấn đề rất phức tạp, và về sau sẽ được bàn rộng hơn.

So far “there are only Four Truths, and Four Vedas”—say the Buddhists and Hindûs. For a similar reason Irenæus insisted on the necessity of Four Gospels. But as every new Root-Race at the head of a Round must have its revelation and revealers, the next Round will bring the Fifth, the following the Sixth, and so on.

Cho đến nay “chỉ có Bốn Chân Lý và Bốn Veda” — những người Phật giáo và Hindu nói như vậy. Vì một lý do tương tự, Irenaeus đã nhấn mạnh sự cần thiết phải có Bốn Phúc Âm. Nhưng vì mỗi giống dân gốc mới ở đầu một cuộc Tuần Hoàn phải có mặc khải và những vị mặc khải của nó, cuộc Tuần Hoàn kế tiếp sẽ đem lại điều thứ năm, cuộc sau nữa đem lại điều thứ sáu, và cứ thế tiếp tục.

(b) “Paranishpanna” is the Absolute Perfection to which all Existences attain at the close of a great period of activity, or Mahâmanvantara, and in which they rest during the succeeding period of repose. In Tibetan it is called “Yong-Grub.” Up to the day of the Yogâchârya School the true nature of Paranirvâna was taught publicly, but since then it has become entirely esoteric; hence so many contradictory interpretations of it. It is only a true Idealist who can understand it. Everything has to be viewed as ideal, with the exception of Paranirvâna, by him who would comprehend that state, and acquire a knowledge of how Non-Ego, Voidness, and Darkness are Three in One, and alone self-existent and perfect. It is absolute, however, only in a relative sense, for it must give room to still further absolute perfection, according to a higher standard of excellence in the following period of activity—just as a perfect flower must cease to be a perfect flower and die, in order to grow into a perfect fruit, if such a mode of expression may be permitted.

(b) “Paranishpanna” là Sự Toàn Thiện Tuyệt Đối mà mọi Hiện Tồn đạt đến vào cuối một thời kỳ hoạt động lớn, hay Đại giai kỳ sinh hóa, và trong đó chúng nghỉ ngơi suốt thời kỳ tĩnh nghỉ kế tiếp. Trong tiếng Tây Tạng, nó được gọi là “Yong-Grub.” Cho đến thời của Trường phái Yogacharya, bản chất đích thực của Paranirvana được giảng dạy công khai, nhưng từ đó về sau nó đã trở nên hoàn toàn nội môn; do đó có quá nhiều cách diễn giải mâu thuẫn về nó. Chỉ một nhà lý tưởng luận chân chính mới có thể thấu hiểu nó. Ai muốn lĩnh hội trạng thái ấy, và đạt được tri thức về cách Phi-Chân Ngã, Hư Không và Bóng Tối là Ba trong Một, đồng thời là những gì duy nhất tự tồn và hoàn hảo, thì phải nhìn mọi sự như là lý tưởng, ngoại trừ Paranirvana. Tuy nhiên, nó chỉ tuyệt đối theo một nghĩa tương đối, vì nó phải nhường chỗ cho một sự toàn thiện tuyệt đối còn cao hơn nữa, theo một tiêu chuẩn ưu việt cao hơn trong thời kỳ hoạt động tiếp theo — cũng như một bông hoa hoàn hảo phải thôi là một bông hoa hoàn hảo và phải chết đi, để lớn lên thành một quả hoàn hảo, nếu có thể cho phép dùng lối diễn đạt như vậy.

The Secret Doctrine teaches the progressive development of everything, worlds as well as atoms; and this stupendous development has neither conceivable beginning nor imaginable end. Our “Universe” is only one of an infinite number of Universes, all of them “Sons of Necessity,” because links in the great cosmic chain of Universes, each one standing in the relation of an effect as regards its predecessor, and of a cause as regards its successor.

Giáo Lý Bí Nhiệm dạy về sự phát triển tiệm tiến của mọi sự, các thế giới cũng như các nguyên tử; và sự phát triển kỳ vĩ này không có khởi đầu nào có thể quan niệm được, cũng không có kết thúc nào có thể tưởng tượng được. “Vũ trụ” của chúng ta chỉ là một trong vô số Vũ trụ, tất cả đều là “Những Người Con của Tất Yếu”, vì là những mắt xích trong đại chuỗi vũ trụ của các Vũ trụ, mỗi Vũ trụ đứng trong quan hệ là một hiệu quả đối với cái đi trước nó, và là một nguyên nhân đối với cái đi sau nó.

The appearance and disappearance of the Universe are pictured as an outbreathing and inbreathing of the “Great Breath,” which is eternal, and which, being Motion, is one of the three symbols of the Absolute—Abstract Space and Duration being the other two. When the Great Breath is projected, it is called the Divine Breath, and is regarded as the breathing of the Unknowable Deity—the One Existence—which breathes out a thought, as it were, which becomes the Kosmos. So also is it that when the Divine Breath is inspired, the Universe disappears into the bosom of the Great Mother, who then sleeps “wrapped in her Ever-Invisible Robes.”

Sự xuất hiện và biến mất của Vũ trụ được hình dung như hơi thở ra và hơi thở vào của “Đại Hơi Thở”, vốn vĩnh cửu, và vì là Chuyển Động, nên là một trong ba biểu tượng của Tuyệt Đối — Không Gian Trừu Tượng và Thời Khoảng là hai biểu tượng còn lại. Khi Đại Hơi Thở được phóng chiếu, nó được gọi là Hơi Thở Thiêng Liêng, và được xem như hơi thở của Thượng đế Bất Khả Tri — Hiện Tồn Duy Nhất — vốn thở ra, có thể nói như vậy, một tư tưởng, tư tưởng ấy trở thành Vũ trụ. Cũng như thế, khi Hơi Thở Thiêng Liêng được hít vào, Vũ trụ biến mất vào lòng của Đại Mẫu, Đấng khi ấy ngủ “được bao bọc trong những Áo Choàng Vĩnh Viễn Vô Hình của Bà.”

(c) By “that which is, and yet is not” is meant the Great Breath itself, which we can only speak of as Absolute Existence, but cannot picture to our imagination as any form of Existence that we can distinguish from Non-Existence. The three periods—the Present, the Past and the Future—are in Esoteric Philosophy a compound time; for the three are a composite number only in relation to the phenomenal plane, but in the realm of noumena have no abstract validity. As said in the Scriptures: “The Past Time is the Present Time, as also the Future, which, though it has not come into existence, still is,” according to a precept in the Prasanga Madhyamika teaching, whose dogmas have been known ever since it broke away from the purely esoteric schools. 63 Our ideas, in short, on duration and time are all derived from our sensations according to the laws of association. Inextricably bound up with the relativity of human knowledge, they nevertheless can have no existence except in the experience of the individual Ego, and perish when its evolutionary march dispels the Mâyâ of phenomenal existence. What is time, for instance, but the panoramic succession of our states of consciousness? In the words of a Master, “I feel irritated at having to use these three clumsy words—Past, Present, and Future—miserable concepts of the objective phases of the subjective whole, they are about as ill-adapted for the purpose as an axe for fine carving.” One has to acquire Paramârtha lest one should become too easy a prey to Samvriti—is a philosophical axiom. 64

(c) Bằng cụm từ “cái đang là, mà vẫn không là”, người ta muốn nói đến chính Đại Hơi Thở, điều mà chúng ta chỉ có thể nói đến như Hiện Tồn Tuyệt Đối, nhưng không thể hình dung trong sự tưởng tượng của mình như bất cứ hình thức Hiện Tồn nào mà chúng ta có thể phân biệt với Phi-Hiện Tồn. Ba thời kỳ — Hiện Tại, Quá Khứ và Tương Lai — trong Triết Học Nội Môn là một thời gian phức hợp; vì ba thời kỳ ấy chỉ là một con số tổng hợp trong quan hệ với cõi hiện tượng, nhưng trong cõi của bản thể luận thì không có giá trị trừu tượng. Như đã nói trong Kinh điển: “Thời Quá Khứ là Thời Hiện Tại, cũng như Tương Lai, vốn dù chưa đi vào hiện hữu, vẫn đang là,” theo một giáo huấn trong giáo lý Prasanga Madhyamika, mà các tín điều đã được biết đến từ khi nó tách khỏi các trường phái thuần túy nội môn. 63 Tóm lại, các ý niệm của chúng ta về thời khoảng và thời gian đều bắt nguồn từ các cảm giác của chúng ta, theo các định luật liên tưởng. Tuy gắn bó không thể tách rời với tính tương đối của tri thức nhân loại, chúng vẫn không thể có hiện hữu nào ngoài kinh nghiệm của chân ngã cá nhân, và tiêu tan khi bước tiến tiến hoá của nó xua tan ảo lực của hiện hữu hiện tượng. Chẳng hạn, thời gian là gì nếu không phải là chuỗi toàn cảnh nối tiếp của các trạng thái tâm thức chúng ta? Theo lời của một Chân sư: “Tôi cảm thấy khó chịu khi phải dùng ba từ vụng về này — Quá Khứ, Hiện Tại và Tương Lai — những khái niệm nghèo nàn về các pha khách quan của toàn thể chủ quan; chúng hầu như không thích hợp với mục đích này chẳng khác nào dùng rìu để chạm khắc tinh vi.” Người ta phải đạt được Paramartha, kẻo trở thành con mồi quá dễ dàng của Samvriti — đó là một tiên đề triết học. 64

7. The Causes of Existence had been done away with; (a) the Visible that was, and the Invisible that is, rested in Eternal Non-being—the One Being (b).

7. Các Nguyên Nhân của Hiện Hữu đã bị loại bỏ; (a) cái Hữu Hình từng có, và cái Vô Hình đang là, nghỉ trong Phi-Bản Thể Vĩnh Cửu — Bản Thể Duy Nhất (b).

(a) “The Causes of Existence” mean not only the physical causes known to Science, but the metaphysical causes, the chief of which is the desire to exist, an outcome of Nidâna and Mâyâ. This desire for a sentient life shows itself in everything, from an atom to a sun, and is a reflection of the Divine Thought propelled into objective existence, into a law that the Universe should exist. According to Esoteric teaching, the real cause of that supposed desire, and of all existence, remains for ever hidden, and its first emanations are the most complete abstractions mind can conceive. These abstractions must of necessity be postulated as the cause of the material Universe which presents itself to the senses and intellect, and must underlie the secondary and subordinate powers of Nature, which have been anthropomorphized and worshipped as “God” and “gods” by the common herd of every age. It is impossible to conceive anything without a cause; the attempt to do so makes the mind a blank. This is virtually the condition to which the mind must come at last when we try to trace back the chain of causes and effects, but both Science and Religion jump to this condition of blankness much more quickly than is necessary, for they ignore the metaphysical abstractions which are the only conceivable causes of physical concretions. These abstractions become more and more concrete as they approach our plane of existence, until finally they phenomenalize in the form of the material Universe, by a process of conversion of metaphysics into physics, analogous to that by which steam can be condensed into water, and water frozen into ice.

(a) “Các Nguyên Nhân của Hiện Hữu” không chỉ hàm ý các nguyên nhân hồng trần mà Khoa học biết đến, mà còn các nguyên nhân siêu hình, trong đó nguyên nhân chủ yếu là dục vọng muốn hiện hữu, một kết quả của Nidana và ảo lực. Dục vọng muốn có một đời sống hữu cảm này biểu lộ trong mọi sự, từ một nguyên tử cho đến một mặt trời, và là phản ảnh của Tư Tưởng Thiêng Liêng được đẩy vào hiện hữu khách quan, vào một định luật rằng Vũ trụ phải hiện hữu. Theo giáo lý Nội Môn, nguyên nhân thật sự của dục vọng giả định ấy, và của mọi hiện hữu, mãi mãi vẫn ẩn kín, và những xuất lộ đầu tiên của nó là các trừu tượng hoàn toàn nhất mà thể trí có thể quan niệm. Các trừu tượng này tất yếu phải được đặt làm nguyên nhân của Vũ trụ vật chất vốn tự trình hiện trước các giác quan và trí năng, và phải nằm dưới các quyền năng thứ yếu và phụ thuộc của Thiên Nhiên, vốn đã bị nhân hình hóa và được đám đông bình thường ở mọi thời đại tôn thờ như “Thượng đế” và “các thần”. Không thể quan niệm bất cứ điều gì mà không có nguyên nhân; cố gắng làm như thế khiến thể trí trở nên trống rỗng. Đây hầu như là trạng thái mà thể trí rốt cuộc phải đi đến khi chúng ta cố truy ngược chuỗi nguyên nhân và hiệu quả; nhưng cả Khoa học lẫn Tôn giáo đều nhảy đến trạng thái trống rỗng này nhanh hơn nhiều so với điều cần thiết, vì họ bỏ qua các trừu tượng siêu hình, vốn là những nguyên nhân duy nhất có thể quan niệm được của các kết tụ hồng trần. Các trừu tượng này trở nên ngày càng cụ thể khi tiến gần đến cõi hiện hữu của chúng ta, cho đến cuối cùng chúng hiện tượng hóa dưới hình thức Vũ trụ vật chất, qua một tiến trình chuyển đổi siêu hình học thành vật lý học, tương tự như tiến trình hơi nước có thể ngưng tụ thành nước, và nước đông lại thành băng.

(b) The idea of “Eternal Non-Being,” which is the “One Being,” will appear a paradox to anyone who does not remember that we limit our ideas of Being to our present consciousness of Existence; making it a specific, instead of a generic term. An unborn infant, could it think in our acceptation of that term, would necessarily in a similar manner limit its conception of Being to the intra-uterine life which alone it knows; and were it to endeavour to express to its consciousness the idea of life after birth (death to it), it would, in the absence of data to go upon, and of faculties to comprehend such data, probably express that life as “Non-Being which is Real Being.” In our case the One Being is the noumenon of all the noumena which we know must underlie phenomena, and give them whatever shadow of reality they possess, but which we have not the senses or the intellect to cognize at present. The impalpable atoms of gold scattered through the substance of a ton of auriferous quartz may be imperceptible to the naked eye of the miner, yet he knows that they are not only present there, but that they alone give his quartz any appreciable value; and this relation of the gold to the quartz may faintly shadow forth that of the noumenon to the phenomenon. Only the miner knows what the gold will look like when extracted from the quartz, whereas the common mortal can form no conception of the reality of things separated from the Mâyâ which veils them, and in which they are hidden. Alone the Initiate, rich with the lore acquired by numberless generations of his predecessors, directs the “Eye of Dangma” toward the essence of things on which no Mâyâ can have any influence. It is here that the teachings of Esoteric Philosophy in relation to the Nidânas and the Four Truths become of the greatest importance; but they are secret.

(b) Ý niệm về “Phi-Bản Thể Vĩnh Cửu”, vốn là “Bản Thể Duy Nhất”, sẽ có vẻ như một nghịch lý đối với bất cứ ai không nhớ rằng chúng ta giới hạn các ý niệm của mình về Bản Thể vào tâm thức hiện tại của chúng ta về Hiện Hữu, biến nó thành một thuật ngữ đặc thù thay vì một thuật ngữ tổng quát. Một thai nhi chưa sinh, nếu nó có thể suy nghĩ theo cách chúng ta hiểu từ ấy, tất yếu cũng sẽ giới hạn quan niệm của nó về Bản Thể vào đời sống trong tử cung mà chỉ riêng nó biết; và nếu nó cố diễn đạt với tâm thức mình ý niệm về đời sống sau khi sinh ra, điều vốn là cái chết đối với nó, thì vì thiếu dữ kiện để dựa vào và thiếu các năng lực để lĩnh hội những dữ kiện ấy, có lẽ nó sẽ diễn đạt đời sống đó như “Phi-Bản Thể vốn là Bản Thể Chân Thực.” Trong trường hợp của chúng ta, Bản Thể Duy Nhất là bản thể luận của mọi bản thể luận mà chúng ta biết phải nằm dưới các hiện tượng và ban cho chúng bất cứ bóng dáng thực tại nào mà chúng có; nhưng hiện tại chúng ta không có giác quan hay trí năng để nhận biết nó. Những nguyên tử vàng không thể sờ nắm, rải rác trong chất liệu của một tấn thạch anh chứa vàng, có thể không thể nhận thấy bằng mắt thường của người thợ mỏ, tuy nhiên y biết rằng chúng không chỉ hiện diện ở đó, mà chỉ riêng chúng mới đem lại cho khối thạch anh của y bất cứ giá trị đáng kể nào; và quan hệ giữa vàng với thạch anh này có thể phác họa một cách mờ nhạt quan hệ giữa bản thể luận với hiện tượng. Chỉ người thợ mỏ biết vàng sẽ trông như thế nào khi được tách ra khỏi thạch anh, trong khi người phàm bình thường không thể hình thành một quan niệm nào về thực tại của sự vật khi tách khỏi ảo lực che phủ chúng và trong đó chúng ẩn kín. Chỉ điểm đạo đồ, giàu có nhờ tri thức truyền thừa qua vô số thế hệ tiền bối của mình, mới hướng “Con Mắt Dangma” vào tinh túy của sự vật, nơi không ảo lực nào có thể có bất cứ ảnh hưởng nào. Chính ở đây, các giáo lý của Triết Học Nội Môn liên quan đến các Nidana và Bốn Chân Lý trở nên có tầm quan trọng lớn lao nhất; nhưng chúng là bí truyền.

8. Alone, the One Form of Existence (a) stretched boundless, infinite, causeless, in Dreamless sleep (b); and Life pulsated unconscious in Universal Space, throughout that All-Presence, which is sensed by the Opened Eye of Dangma. 65

8. Một mình, Một Hình Thức Hiện Hữu (a) trải rộng vô biên, vô hạn, vô nhân, trong Giấc Ngủ Không Mộng (b); và Sự Sống rung nhịp vô thức trong Không Gian Vũ Trụ, xuyên suốt Sự Hiện Diện Toàn Khắp ấy, vốn được cảm nhận bởi Con Mắt Mở của Dangma. 65

(a) The tendency of modern thought is to recur to the archaic idea of a homogeneous basis for apparently widely different things—heterogeneity developed from homogeneity. Biologists are now searching for their homogeneous protoplasm and Chemists for their protyle, while Science is looking for the force of which electricity, magnetism, heat, and so forth, are the differentiations. The Secret Doctrine carries this idea into the region of metaphysics, and postulates a “One Form of Existence” as the basis and source of all things. But perhaps the phrase, the “One Form of Existence,” is not altogether correct. The Sanskrit word is Prabhavâpyaya, “the place [or rather plane] whence is the origination, and into which is the resolution of all things,” as a commentator says. It is not the “Mother of the World,” as translated by Wilson; 66 for Jagad Yoni, as shown by Fitzedward Hall, is scarcely so much the “Mother of the World,” or the “Womb of the World,” as the “Material Cause of the World.” The Purânic commentators explain it by Kârana, “Cause,” but Esoteric Philosophy, by the ideal spirit of that cause. In its secondary stage, it is the Svabhâvat of the Buddhist philosopher, the Eternal Cause and Effect, omnipresent yet abstract, the self-existent plastic Essence and the Root of all things, viewed in the same dual light as the Vedântin views his Parabrahman and Mûlaprakriti, the one under two aspects. It seems indeed extraordinary to find great scholars speculating on the possibility of the Vedânta, and the Uttara Mîmânsâ especially, having been “evoked by the teachings of the Buddhists”; whereas, on the contrary, it is Buddhism, the teaching of Gautama Buddha, that was “evoked” and entirely upreared on the tenets of the Secret Doctrine, of which a partial sketch is here attempted, and on which, also, the Upanishads are made to rest. 67 According to the teachings of Shrî Shankarâchârya our contention is undeniable. 68

(a) Khuynh hướng của tư tưởng hiện đại là trở về với ý niệm cổ xưa về một nền tảng đồng nhất cho những sự vật có vẻ khác biệt rất xa — tính dị biệt phát triển từ tính đồng nhất. Các nhà sinh học hiện đang tìm nguyên sinh chất đồng nhất của họ, và các nhà hóa học tìm nguyên chất liệu của họ, trong khi Khoa học tìm kiếm mãnh lực mà điện, từ điện, nhiệt và vân vân là những biến phân của nó. Giáo Lý Bí Nhiệm đưa ý niệm này vào lĩnh vực siêu hình học, và đặt định một “Một Hình Thức Hiện Hữu” làm nền tảng và nguồn cội của mọi sự. Nhưng có lẽ cụm từ “Một Hình Thức Hiện Hữu” không hoàn toàn chính xác. Từ Sanskrit là Prabhavapyaya, “nơi, hay đúng hơn là cõi, từ đó mọi sự phát sinh, và vào đó mọi sự tan hòa,” như một nhà bình giải nói. Nó không phải là “Mẹ của Thế Giới”, như Wilson đã dịch; 66 vì Jagad Yoni, như Fitzedward Hall đã chỉ ra, không hẳn là “Mẹ của Thế Giới” hay “Tử Cung của Thế Giới”, cho bằng là “Nguyên Nhân Vật Chất của Thế Giới”. Các nhà bình giải Purana giải thích nó bằng Karana, “Nguyên Nhân”, nhưng Triết Học Nội Môn giải thích bằng tinh thần lý tưởng của nguyên nhân ấy. Trong giai đoạn thứ yếu của nó, nó là Svabhavat của nhà triết học Phật giáo, Nguyên Nhân và Hiệu Quả Vĩnh Cửu, toàn tại nhưng trừu tượng, Tinh Túy linh động tự tồn và Cội Rễ của mọi sự, được nhìn trong cùng ánh sáng nhị phân như người Vedanta nhìn Parabrahman và Mulaprakriti của mình, cái một dưới hai phương diện. Quả thật dường như lạ thường khi thấy các học giả lớn suy đoán về khả năng Vedanta, và đặc biệt là Uttara Mimamsa, đã được “gợi lên bởi các giáo lý của những người Phật giáo”; trong khi trái lại, chính Phật giáo, giáo lý của Đức Phật Gautama, mới là điều đã được “gợi lên” và được dựng xây hoàn toàn trên các tín điều của Giáo Lý Bí Nhiệm, mà ở đây chỉ thử phác thảo một phần, và trên đó, các Upanishad cũng được đặt nền. 67 Theo giáo lý của Shri Shankaracharya, lập luận của chúng tôi là không thể phủ nhận. 68

(b) “Dreamless Sleep” is one of the seven states of consciousness known in Oriental Esotericism. In each of these states a different portion of the mind comes into action; or as a Vedântin would express it, the individual is conscious in a different plane of his being. The term “Dreamless Sleep,” in this case, is applied allegorically to the Universe to express a condition somewhat analogous to that state of consciousness in man, which, not being remembered in a waking state, seems a blank, just as the sleep of the mesmerized subject seems to him an unconscious blank when he returns to his normal condition, although he has been talking and acting as a conscious individual would.

(b) “Giấc Ngủ Không Mộng” là một trong bảy trạng thái tâm thức được biết đến trong Huyền Bí Học Đông Phương. Trong mỗi trạng thái ấy, một phần khác nhau của thể trí đi vào hoạt động; hoặc như một người Vedanta sẽ diễn đạt, cá nhân có ý thức trên một cõi khác nhau của bản thể mình. Thuật ngữ “Giấc Ngủ Không Mộng”, trong trường hợp này, được áp dụng theo nghĩa ẩn dụ cho Vũ trụ, để diễn đạt một trạng thái phần nào tương tự với trạng thái tâm thức ấy nơi con người, vốn vì không được nhớ lại trong trạng thái thức, nên dường như là một khoảng trống, cũng như giấc ngủ của đối tượng bị thôi miên đối với y dường như là một khoảng trống vô thức khi y trở lại trạng thái bình thường, mặc dù y đã nói năng và hành động như một cá nhân có ý thức.

9. But where was Dangma when the Âlaya of the Universe 69was in Paramârtha (a), 70 and the Great Wheel was Anupâdaka (b)?

9. Nhưng Dangma ở đâu khi Alaya của Vũ trụ 69ở trong Paramartha (a), 70 và Đại Bánh Xe là Anupadaka (b)?

(a) Here we have before us the subject of centuries of scholastic disputations. The two terms “Âlaya,” and “Paramârtha,” have been the causes of dividing schools and splitting the truth into more different aspects than any other mystic words. Âlaya is the Soul of the World or Anima Mundi—the Over-Soul of Emerson—which according to esoteric teaching changes its nature periodically. Âlaya, though eternal and changeless in its inner essence on the planes which are unreachable by either men or cosmic gods (Dhyâni-Buddhas), changes during the active life-period with respect to the lower planes, ours included. During that time not only the Dhyâni-Buddhas are one with Âlaya in Soul and Essence, but even the man strong in Yoga (Mystic Meditation) “is able to merge his soul with it,” as Aryâsanga, of the Yogâchârya school, says. This is not Nirvâna, but a condition next to it. Hence the disagreement. Thus, while the Yogâchâryas of the Mahâyâna School say that Âlaya (Nyingpo and Tsang in Tibetan) is the personification of the Voidness, and yet Âlaya is the basis of every visible and invisible thing, and that, though it is eternal and immutable in its essence, it reflects itself in every object of the Universe “like the moon in clear tranquil water”; other schools dispute the statement. The same for Paramârtha. The Yogâchâryas interpret the term as that which is also dependent upon other things (paratantra); and the Madhyamikas say that Paramârtha is limited to Paranishpanna or Absolute Perfection; i.e., in the exposition of these “Two Truths” of the Four, the former believe and maintain that, on this plane, at any rate, there exists only Samvritisatya or relative truth; and the latter teach the existence of Paramârthasatya, Absolute Truth. 71 “No Arhat, O mendicants, can reach absolute knowledge before he becomes one with Paranirvâna. Parikalpita and Paratantra are his two great enemies.” 72 Parikalpita (in Tibetan Kun-tag) is error, made by those unable to realize the emptiness and illusionary nature of all; who believe something to exist which does not—e.g., the Non-Ego. And Paratantra is that, whatever it is, which exists only through a dependent or causal connection, and which has to disappear as soon as the cause from which it proceeds is removed—e.g., the flame of a wick. Destroy or extinguish it, and light disappears.

(a) Ở đây, trước mắt chúng ta là đề tài của nhiều thế kỷ tranh luận kinh viện. Hai thuật ngữ “Alaya” và “Paramartha” đã là nguyên nhân chia rẽ các trường phái và phân mảnh chân lý thành nhiều phương diện khác nhau hơn bất cứ từ thần bí nào khác. Alaya là Linh Hồn của Thế Giới hay Anima Mundi — Đại Hồn của Emerson — vốn theo giáo lý nội môn, định kỳ thay đổi bản chất của mình. Dù vĩnh cửu và bất biến trong tinh túy bên trong của nó trên các cõi mà cả con người lẫn các thần vũ trụ, tức các Dhyani-Buddha, đều không thể đạt đến, Alaya vẫn thay đổi trong thời kỳ sống hoạt động xét theo các cõi thấp hơn, kể cả cõi của chúng ta. Trong thời gian ấy, không chỉ các Dhyani-Buddha là một với Alaya trong Linh Hồn và Tinh Túy, mà ngay cả con người mạnh mẽ trong Yoga, tức Tham Thiền Thần Bí, cũng “có thể hòa nhập linh hồn mình với nó,” như Aryasanga thuộc trường phái Yogacharya nói. Đây không phải là Nirvana, mà là một trạng thái sát gần nó. Do đó có sự bất đồng. Vì vậy, trong khi các Yogacharya thuộc Trường phái Mahayana nói rằng Alaya, trong tiếng Tây Tạng là Nyingpo và Tsang, là sự nhân cách hóa của Hư Không, và tuy vậy Alaya là nền tảng của mọi sự hữu hình và vô hình, và rằng, dù vĩnh cửu và bất biến trong tinh túy, nó phản chiếu chính nó trong mọi đối tượng của Vũ trụ “như mặt trăng trong làn nước trong lặng”; các trường phái khác lại tranh luận với mệnh đề ấy. Điều tương tự cũng xảy ra với Paramartha. Các Yogacharya diễn giải thuật ngữ này như điều cũng phụ thuộc vào những sự vật khác, tức paratantra; còn các Madhyamika nói rằng Paramartha được giới hạn trong Paranishpanna hay Sự Toàn Thiện Tuyệt Đối; nghĩa là, trong phần trình bày về “Hai Chân Lý” này trong Bốn Chân Lý, phái trước tin và duy trì rằng, dù sao trên cõi này, chỉ tồn tại Samvritisatya hay chân lý tương đối; còn phái sau dạy về sự hiện hữu của Paramarthasatya, Chân Lý Tuyệt Đối. 71 “Không một A-la-hán nào, hỡi các khất sĩ, có thể đạt tri thức tuyệt đối trước khi y trở nên một với Paranirvana. Parikalpita và Paratantra là hai kẻ thù lớn của y.” 72 Parikalpita, trong tiếng Tây Tạng là Kun-tag, là sai lầm do những người không thể chứng nghiệm tính trống không và bản chất ảo tưởng của mọi sự tạo ra; họ tin rằng có điều gì đó hiện hữu trong khi không có — chẳng hạn như Phi-Chân Ngã. Còn Paratantra là bất cứ cái gì chỉ hiện hữu thông qua một liên hệ phụ thuộc hay nhân quả, và phải biến mất ngay khi nguyên nhân từ đó nó phát sinh bị loại bỏ — chẳng hạn như ngọn lửa của một tim đèn. Hủy diệt hay dập tắt nó, và ánh sáng biến mất.

Esoteric Philosophy teaches that everything lives and is conscious, but not that all life and consciousness are similar to those of human or even animal beings. Life we look upon as the One Form of Existence, manifesting in what is called Matter; or what, incorrectly separating them, we name Spirit, Soul and Matter in man. Matter is the Vehicle for the manifestation of Soul on this plane of existence, and Soul is the Vehicle on a higher plane for the manifestation of Spirit, and these three are a Trinity synthesized by Life, which pervades them all. The idea of Universal Life is one of those ancient conceptions which are returning to the human mind in this century, as a consequence of its liberation from anthropomorphic Theology. Science, it is true, contents itself with tracing or postulating the signs of Universal Life, but has not yet been bold enough to even whisper “Anima Mundi”! The idea of “crystalline life,” now familiar to Science, would have been scouted half a century ago. Botanists are now searching for the nerves of plants; not that they suppose that plants can feel or think as animals do, but because they believe that some structure, bearing the same relation functionally to plant life that nerves bear to animal life, is necessary to explain vegetable growth and nutrition. It seems hardly possible that Science, by the mere use of terms such as “force” and “energy,” can disguise from itself much longer the fact that things that have life are living things, whether they be atoms or planets.

Triết Học Nội Môn dạy rằng mọi sự đều sống và có tâm thức, nhưng không dạy rằng mọi sự sống và tâm thức đều giống như sự sống và tâm thức của con người hay thậm chí của loài vật. Chúng ta xem Sự Sống là Một Hình Thức Hiện Hữu, biểu lộ trong cái được gọi là Vật Chất; hoặc cái mà, khi tách rời chúng một cách sai lầm, chúng ta gọi là Tinh Thần, Linh Hồn và Vật Chất nơi con người. Vật Chất là Vận Cụ cho sự biểu lộ của Linh Hồn trên cõi hiện hữu này, và Linh Hồn là Vận Cụ trên một cõi cao hơn cho sự biểu lộ của Tinh Thần; và ba điều này là một Tam Vị được tổng hợp bởi Sự Sống, vốn thấm nhuần tất cả chúng. Ý niệm về Sự Sống Vũ Trụ là một trong những quan niệm cổ xưa đang trở lại với thể trí con người trong thế kỷ này, như một hệ quả của việc nó được giải phóng khỏi Thần học nhân hình hóa. Đúng là Khoa học tự bằng lòng với việc truy tìm hay đặt định các dấu hiệu của Sự Sống Vũ Trụ, nhưng vẫn chưa đủ can đảm để thậm chí thì thầm “Anima Mundi”! Ý niệm về “sự sống tinh thể”, nay đã quen thuộc với Khoa học, hẳn đã bị chế giễu nửa thế kỷ trước. Các nhà thực vật học hiện đang tìm kiếm thần kinh của cây cối; không phải vì họ cho rằng cây cối có thể cảm nhận hay suy nghĩ như loài vật, mà vì họ tin rằng cần có một cấu trúc nào đó, có cùng quan hệ về mặt chức năng với đời sống thực vật như thần kinh đối với đời sống động vật, để giải thích sự tăng trưởng và dinh dưỡng của thực vật. Dường như hầu như không thể nào Khoa học, chỉ bằng việc sử dụng các thuật ngữ như “mãnh lực” và “năng lượng”, còn có thể che giấu với chính mình lâu hơn nữa sự thật rằng những gì có sự sống là những sự vật sống, dù chúng là nguyên tử hay hành tinh.

But what is the belief of the inner Esoteric Schools, the reader may ask. What are the doctrines taught on this subject by the Esoteric “Buddhists”? With them, we answer, Âlaya has a double and even a threefold meaning. In the Yogâchârya system of the contemplative Mahâyâna School, Âlaya is both the Universal Soul, Anima Mundi, and the Self of a progressed Adept. “He who is strong in the Yoga can introduce at will his Âlaya by means of meditation into the true nature of Existence.” “The Âlaya has an absolute eternal existence,” says Aryâsanga, the rival of Nâgârjuna. 73 In one sense it is Pradhâna, which is explained in Vishnu Purâna as, “that which is the unevolved cause, is emphatically called, by the most eminent sages, Pradhâna, original base, which is subtile Prakriti, viz., that which is eternal, and which at once is [or comprehends what is] and [what] is not, or is mere process.” 74 “The indiscrete cause which is uniform, and both cause and effect, and which those who are acquainted with first principles, call Pradhâna and Prakriti, is the incognizable Brahma who was before all,” 75 i.e., Brahma does not put forth evolution itself or create, but only exhibits various aspects of itself, one of which is Prakriti, an aspect of Pradhâna. “Prakriti,” however, is an incorrect word, and Âlaya would explain it better; for Prakriti is not the “uncognizable Brahma.” It is a mistake of those who know nothing of the universality of the Occult doctrines from the very cradle of the human races, and especially so of those scholars who reject the very idea of a “primordial revelation,” to teach that the Anima Mundi, the One Life or Universal Soul, was made known only by Anaxagoras, or during his age. This philosopher brought the teaching forward simply to oppose the too materialistic conceptions of Democritus on cosmogony, based on the exoteric theory of blindly driven atoms. Anaxagoras of Clazomenæ, however, was not its inventor, but only its propagator, as was also Plato. That which he called Mundane Intelligence, Nous (Νοῦς), the principle that according to his views is absolutely separated and free from matter and acts with design, was called Motion, the One Life, or Jîvâtmâ, in India, ages before the year 500 b.c. Only the Âryan philosophers never endowed this principle, which with them is infinite, with the finite “attribute of thinking.” 76

Nhưng người đọc có thể hỏi, niềm tin của các Trường Phái Nội Môn bên trong là gì? Các giáo lý nào được những người “Phật giáo” Nội Môn giảng dạy về đề tài này? Chúng tôi đáp rằng, đối với họ, Alaya có nghĩa kép, thậm chí tam phân. Trong hệ thống Yogacharya của Trường phái Mahayana chiêm ngưỡng, Alaya vừa là Linh Hồn Vũ Trụ, Anima Mundi, vừa là Bản Ngã của một Chân sư đã tiến bộ. “Người mạnh trong Yoga có thể tùy ý đưa Alaya của mình, bằng tham thiền, vào bản chất chân thật của Hiện Hữu.” “Alaya có một hiện hữu vĩnh cửu tuyệt đối,” Aryasanga, đối thủ của Nagarjuna, nói như vậy. 73 Theo một nghĩa, nó là Pradhana, được giải thích trong Vishnu Purana là “cái vốn là nguyên nhân chưa tiến hóa, được các hiền giả lỗi lạc nhất nhấn mạnh gọi là Pradhana, nền tảng nguyên thủy, tức Prakriti vi tế, nghĩa là cái vĩnh cửu, đồng thời là, hay bao hàm cái là, và cái không là, hoặc chỉ là tiến trình.” 74 “Nguyên nhân bất phân biệt, đồng nhất, vừa là nguyên nhân vừa là hiệu quả, và được những người quen thuộc với các nguyên lý đầu tiên gọi là Pradhana và Prakriti, là Brahma bất khả tri, Đấng đã có trước mọi sự,” 75 nghĩa là, Brahma không tự mình phát xuất tiến hoá hay sáng tạo, mà chỉ biểu lộ các phương diện khác nhau của chính mình, một trong số đó là Prakriti, một phương diện của Pradhana. Tuy nhiên, “Prakriti” là một từ không chính xác, và Alaya sẽ giải thích nó tốt hơn; vì Prakriti không phải là “Brahma bất khả tri.” Chính là sai lầm của những người không biết gì về tính phổ quát của các giáo lý Huyền Bí ngay từ thuở sơ khai của các nhân loại, và đặc biệt là của những học giả bác bỏ chính ý niệm về một “mặc khải nguyên thủy”, khi dạy rằng Anima Mundi, Sự Sống Duy Nhất hay Linh Hồn Vũ Trụ, chỉ được Anaxagoras làm cho biết đến, hoặc chỉ trong thời đại của ông. Nhà triết học này chỉ đưa giáo lý ấy ra trước công chúng để chống lại các quan niệm quá duy vật của Democritus về vũ trụ luận, dựa trên lý thuyết ngoại môn về các nguyên tử bị thúc đẩy một cách mù quáng. Tuy nhiên, Anaxagoras xứ Clazomenae không phải là người phát minh ra nó, mà chỉ là người truyền bá nó, cũng như Plato. Cái mà ông gọi là Trí Tuệ Thế Gian, Nous, nguyên lý mà theo quan điểm của ông là tuyệt đối tách biệt và tự do khỏi vật chất, đồng thời hành động có chủ đích, đã được gọi là Chuyển Động, Sự Sống Duy Nhất, hay Jivatma ở Ấn Độ, nhiều thời đại trước năm 500 trước Công nguyên. Chỉ có điều các triết gia Arya không bao giờ ban cho nguyên lý này, vốn đối với họ là vô hạn, “thuộc tính suy nghĩ” hữu hạn. 76

This leads naturally to the “Supreme Spirit” of Hegel and the German Transcendentalists—a contrast that it may be useful to point out. The schools of Schelling and Fichte have diverged widely from the primitive archaic conception of an Absolute Principle, and have mirrored an aspect only of the basic idea of the Vedânta. Even the “Absoluter Geist” shadowed forth by von Hartmann in his pessimistic philosophy of the “Unconscious,” while it is, perhaps, the closest approximation made by European speculation to the Hindû Advaitin doctrines, yet similarly falls far short of the reality.

Điều này tự nhiên dẫn đến “Tinh Thần Tối Cao” của Hegel và các nhà Siêu Nghiệm Đức — một đối chiếu có thể hữu ích khi nêu ra. Các trường phái của Schelling và Fichte đã tách khá xa khỏi quan niệm cổ sơ nguyên thủy về một Nguyên Lý Tuyệt Đối, và chỉ phản chiếu một phương diện của ý niệm căn bản của Vedanta. Ngay cả “Tinh Thần Tuyệt Đối” mà von Hartmann phác họa trong triết học bi quan của ông về “Vô Thức”, tuy có lẽ là sự xấp xỉ gần nhất mà suy tư châu Âu đạt được đối với các giáo lý Advaita của Hindu, vẫn tương tự không đạt tới thực tại.

According to Hegel, the “Unconscious” would never have undertaken the vast and laborious task of evolving the Universe, except in the hope of attaining clear Self-Consciousness. In this connection it is to be borne in mind that in designating Spirit, a term which the European Pantheists use as equivalent to Parabrahman, as Unconscious, they do not attach to the expression the connotation it usually bears. It is employed in the absence of a better term to symbolize a profound mystery.

Theo Hegel, “Vô Thức” sẽ không bao giờ đảm nhận công việc bao la và nhọc nhằn là khai triển Vũ trụ, nếu không hy vọng đạt được Ngã Thức minh bạch. Trong liên hệ này, cần ghi nhớ rằng khi chỉ định Tinh Thần, thuật ngữ mà các nhà Phiếm Thần châu Âu dùng như tương đương với Parabrahman, là Vô Thức, họ không gán cho cách diễn đạt ấy hàm nghĩa mà nó thường mang. Nó được dùng vì thiếu một thuật ngữ tốt hơn để tượng trưng cho một bí nhiệm sâu xa.

The “Absolute Consciousness behind phenomena,” they tell us, which is only termed unconsciousness in the absence of any element of personality, transcends human conception. Man, unable to form a single concept except in terms of empirical phenomena, is powerless from the very constitution of his being to raise the veil that shrouds the majesty of the Absolute. Only the liberated Spirit is able to faintly realize the nature of the source whence it sprung and whither it must eventually return. As the highest Dhyân Chohan, however, can but bow in ignorance before the awful mystery of Absolute Being; and since, even in that culmination of conscious existence— “the merging of the individual in the universal consciousness,” to use a phrase of Fichte’s—the Finite cannot conceive the Infinite, nor can it apply to it its own standard of mental experiences, how can it be said that the Unconscious and the Absolute can have even an instinctive impulse or hope of attaining clear Self-Consciousness? 77 A Vedântin, moreover, would never admit this Hegelian idea; and the Occultist would say that it applies perfectly to the awakened Mahat, the Universal Mind already projected into the phenomenal world as the first aspect of the changeless Absolute, but never to the latter. “Spirit and Matter, or Purusha and Prakriti, are but the two primeval aspects of the One and Secondless,” we are taught.

Họ nói với chúng ta rằng “Tâm Thức Tuyệt Đối đằng sau các hiện tượng”, vốn chỉ được gọi là vô thức vì không có bất cứ yếu tố phàm ngã nào, vượt quá quan niệm của con người. Con người, không thể hình thành một khái niệm nào ngoài các thuật ngữ của hiện tượng kinh nghiệm, do chính cấu tạo của bản thể mình mà bất lực trong việc nâng tấm màn che phủ vẻ uy nghi của Tuyệt Đối. Chỉ Tinh Thần được giải thoát mới có thể nhận biết mờ nhạt bản chất của nguồn cội từ đó nó phát sinh và nơi nó rốt cuộc phải trở về. Tuy nhiên, vì Dhyani Chohan cao nhất cũng chỉ có thể cúi đầu trong vô minh trước bí nhiệm đáng kính sợ của Bản Thể Tuyệt Đối; và vì ngay cả trong đỉnh cao ấy của hiện hữu có ý thức — “sự hòa nhập của cá nhân vào tâm thức vũ trụ”, dùng một cụm từ của Fichte — cái Hữu Hạn không thể quan niệm cái Vô Hạn, cũng không thể áp dụng cho nó tiêu chuẩn kinh nghiệm trí tuệ của riêng mình, thì làm sao có thể nói rằng Vô Thức và Tuyệt Đối thậm chí có một xung động bản năng hay hy vọng đạt đến Ngã Thức minh bạch? 77 Hơn nữa, một người Vedanta sẽ không bao giờ thừa nhận ý niệm Hegel này; và nhà Huyền Bí học sẽ nói rằng nó áp dụng hoàn toàn cho Mahat đã thức tỉnh, Vũ Trụ Trí đã được phóng chiếu vào thế giới hiện tượng như phương diện đầu tiên của Tuyệt Đối bất biến, nhưng không bao giờ áp dụng cho chính Tuyệt Đối ấy. “Tinh Thần và Vật Chất, hay Purusha và Prakriti, chỉ là hai phương diện nguyên sơ của Đấng Duy Nhất và Vô Nhị,” chúng ta được dạy như vậy.

The matter-moving Nous, the animating Soul, immanent in every atom, manifested in man, latent in the stone, has different degrees of power; and this Pantheistic idea of a general Spirit-Soul pervading all Nature is the oldest of all the philosophical notions. Nor was the Archæus a discovery either of Paracelsus or of his pupil Van Helmont; for this same Archæus is “Father-Æther,” the manifested basis and source of the innumerable phenomena of life—localized. The whole series of the numberless speculations of this kind are but variations on the same theme, the key-note of which was struck in this “primeval revelation.”

Nous làm chuyển động vật chất, Linh Hồn phú sinh khí, nội tại trong mọi nguyên tử, biểu lộ nơi con người, tiềm ẩn trong đá, có những mức độ quyền năng khác nhau; và ý niệm Phiếm Thần này về một Tinh Thần-Linh Hồn phổ quát thấm nhuần toàn bộ Thiên Nhiên là ý niệm cổ xưa nhất trong mọi quan niệm triết học. Archeus cũng không phải là phát hiện của Paracelsus hay của học trò ông là Van Helmont; vì chính Archeus này là “Phụ Thân-Dĩ Thái”, nền tảng và nguồn cội biểu lộ của vô số hiện tượng của sự sống — đã được cục bộ hóa. Toàn bộ chuỗi vô số suy đoán thuộc loại này chỉ là các biến tấu trên cùng một chủ đề, mà chủ âm của nó đã được xướng lên trong “mặc khải nguyên thủy” này.

(b) The term “Anupâdaka,” parentless, or without progenitors, is a mystical designation having several meanings in our philosophy. By this name Celestial Beings, the Dhyân Chohans or Dhyâni-Buddhas, are generally meant. These correspond mystically to the human Buddhas and Bodhisattvas, known as the Mânushi (Human) Buddhas, which latter are also designated Anupâdaka, once that their whole personality is merged in their compound Sixth and Seventh Principles, or Âtmâ-Buddhi, and they have become the “Diamond-Souled” (Vajrasattvas 78), or full Mahâtmâs. The “Concealed Lord” (Sangbai Dag-po), “the one merged with the Absolute,” can have no parents since he is Self-Existent, and one with the Universal Spirit (Svayambhû), 79 the Svabhâvat in its highest aspect. The mystery of the Hierarchy of the Anupâdaka is great, its apex being the universal Spirit-Soul, and the lower rung the Mânushi-Buddha: and even every soul-endowed man also is an Anupâdaka in a latent state. Hence—when speaking of the Universe in its formless, eternal, or absolute condition, before it was fashioned by the Builders—the expression, “the great Wheel [Universe] was Anupâdaka.”

(b) Thuật ngữ “Anupadaka”, không cha mẹ, hay không có tổ tiên, là một danh xưng thần bí có nhiều nghĩa trong triết học của chúng ta. Danh xưng này thường chỉ các Hữu Thể Thiên Thượng, các Dhyani Chohan hay Dhyani-Buddha. Các vị này tương ứng một cách thần bí với các vị Phật và Bồ Tát nhân loại, được gọi là các Phật Manushi, tức Phật Nhân Loại, và những vị sau này cũng được gọi là Anupadaka, một khi toàn bộ phàm ngã của các Ngài đã hòa nhập vào Nguyên Khí thứ Sáu và thứ Bảy tổng hợp của các Ngài, hay Atma-Buddhi, và các Ngài đã trở thành “Linh Hồn Kim Cương”, tức Vajrasattva 78, hay các Mahatma trọn vẹn. “Chúa Tể Ẩn Tàng”, Sangbai Dag-po, “vị đã hòa nhập với Tuyệt Đối”, không thể có cha mẹ vì Ngài là Tự Tồn, và là một với Tinh Thần Vũ Trụ, Svayambhu, 79 Svabhavat trong phương diện cao nhất của nó. Bí nhiệm của Thánh Đoàn Anupadaka thật lớn lao, đỉnh của nó là Tinh Thần-Linh Hồn vũ trụ, và nấc thấp hơn là Phật Manushi; và thậm chí mọi con người được phú linh hồn cũng là một Anupadaka trong trạng thái tiềm ẩn. Vì vậy — khi nói về Vũ trụ trong trạng thái vô hình tướng, vĩnh cửu, hay tuyệt đối của nó, trước khi nó được các Đấng Kiến Tạo tạo hình — có cách diễn đạt: “Đại Bánh Xe, tức Vũ trụ, là Anupadaka.”

Stanza II. — Bài kệ II.

1…. Where were the Builders, the Luminous Sons Of Manvantaric Dawn?… (a) In the Unknown Darkness in their Ah-hi 80 Paranishpanna. The Producers of Form 81 from No-Form 82—the Root of the World—the Devâmatri 83 and Svabhâvat, rested in the Bliss of Non-being (b).

1…. Các Đấng Kiến Tạo ở đâu, những Người Con Sáng Rỡ của Bình Minh Giai kỳ sinh hóa?… (a) Trong Bóng Tối Vô Danh, trong Ah-hi 80 Paranishpanna của các Ngài. Những Đấng Sản Sinh Hình Tướng 81 từ Phi-Hình Tướng 82 — Cội Rễ của Thế Giới — Devamatri 83 và Svabhavat, nghỉ trong Chí Phúc của Phi-Bản Thể (b).

(a) The “Builders,” the “Sons of Manvantaric Dawn,” are the real creators of the Universe; and in this doctrine, which deals only with our Planetary System, they, as the architects of the latter, are also called the “Watchers” of the Seven Spheres, which exoterically are the seven planets, and esoterically the seven earths or spheres (Globes) of our Chain also. The opening sentence of Stanza I, when mentioning “Seven Eternities,” applies both to the Mahâkalpa or “the (Great) Age of Brahmâ,” as well as to the Solar Pralaya and subsequent resurrection of our Planetary System on a higher plane. There are many kinds of Pralaya (dissolution of a thing visible), as will be shown elsewhere.

(a) “Các Đấng Kiến Tạo”, “Những Người Con của Bình Minh Giai kỳ sinh hóa”, là những đấng sáng tạo thật sự của Vũ trụ; và trong giáo lý này, vốn chỉ đề cập đến Hệ Hành Tinh của chúng ta, các Ngài, với tư cách là các kiến trúc sư của hệ ấy, cũng được gọi là “Những Đấng Canh Giữ” của Bảy Khối Cầu, vốn theo ngoại môn là bảy hành tinh, và theo nội môn cũng là bảy trái đất hay khối cầu của Dãy chúng ta. Câu mở đầu của Bài kệ I, khi nhắc đến “Bảy Vĩnh Cửu”, áp dụng cả cho Mahakalpa hay “Đại Niên Kỳ của Brahma”, cũng như cho Giai kỳ qui nguyên Thái Dương và sự phục sinh tiếp theo của Hệ Hành Tinh chúng ta trên một cõi cao hơn. Có nhiều loại Giai kỳ qui nguyên, tức sự tan rã của một sự vật hữu hình, như sẽ được trình bày ở nơi khác.

(b) “Paranishpanna,” remember, is the summum bonum, the Absolute, hence the same as Paranirvâna. Besides being the final state, it is that condition of subjectivity which has no relation to anything but the One Absolute Truth (Paramârthasatya) on its own plane. It is that state which leads one to appreciate correctly the full meaning of Non-Being, which, as explained, is Absolute Being. Sooner or later, all that now seemingly exists, will be in reality and actually in the state of Paranishpanna. But there is a great difference between conscious and unconscious Being. The condition of Paranishpanna, without Paramârtha, the Self-analysing Consciousness (Svasamvedâna), is no bliss, but simply extinction for Seven Eternities. Thus, an iron ball placed under the scorching rays of the sun will get heated through, but will not feel or appreciate the warmth, while a man will. It is only “with a mind clear and undarkened by Personality, and an assimilation of the merit of manifold Existences devoted to Being in its collectivity [the whole living and sentient Universe],” that one gets rid of personal existence, merging into, becoming one with, the Absolute, 84 and continuing in full possession of Paramârtha.

(b) Hãy nhớ rằng “Paranishpanna” là phúc tối thượng, Tuyệt Đối, do đó đồng nhất với Paranirvana. Ngoài việc là trạng thái cuối cùng, nó còn là trạng thái chủ quan không có quan hệ với bất cứ điều gì ngoài Chân Lý Tuyệt Đối Duy Nhất, Paramarthasatya, trên cõi riêng của nó. Chính trạng thái ấy dẫn người ta đến chỗ nhận định đúng toàn bộ ý nghĩa của Phi-Bản Thể, vốn, như đã giải thích, là Bản Thể Tuyệt Đối. Sớm hay muộn, tất cả những gì hiện nay dường như hiện hữu, trong thực tại và thật sự sẽ ở trong trạng thái Paranishpanna. Nhưng có một khác biệt lớn giữa Bản Thể có ý thứcvô thức. Trạng thái Paranishpanna mà không có Paramartha, Tâm Thức tự phân tích, tức Svasamvedana, không phải là chí phúc, mà chỉ đơn thuần là sự tắt ngấm trong Bảy Vĩnh Cửu. Vì thế, một quả cầu sắt đặt dưới những tia nắng thiêu đốt của mặt trời sẽ nóng xuyên suốt, nhưng sẽ không cảm nhận hay đánh giá được hơi ấm, trong khi một con người thì có. Chỉ “với một thể trí trong sáng và không bị phàm ngã làm tối ám, cùng với sự đồng hóa công đức của nhiều Hiện Tồn đã hiến dâng cho Bản Thể trong tính tập thể của nó [toàn bộ Vũ trụ sống động và hữu cảm],” người ta mới thoát khỏi hiện hữu cá nhân, hòa nhập vào, trở nên một với Tuyệt Đối, 84 và tiếp tục sở hữu trọn vẹn Paramartha.

2…. Where was Silence? Where the ears To Sense It? No, there was neither Silence nor Sound (a); naught save Ceaseless Eternal Breath, 85 which knows itself not (b).

2…. Im Lặng ở đâu? Đôi tai nào để Cảm Nhận Nó? Không, không có Im Lặng cũng không có Âm Thanh (a); không có gì ngoài Hơi Thở Vĩnh Cửu Không Ngừng, 85 vốn không tự biết mình (b).

(a) The idea that things can cease to exist and still be, is a fundamental one in Eastern psychology. Under this apparent contradiction in terms, there rests a fact of Nature, to realize which in the mind, rather than to argue about words, is the important thing. A familiar instance of a similar paradox is afforded by chemical combination. The question whether hydrogen and oxygen cease to exist, when they combine to form water, is still a moot one; some arguing that since they are found again when the water is decomposed, they must be there all the while; others contending that as they actually turn into something totally different, they must cease to exist as themselves for the time being; but neither side is able to form the faintest conception of the real condition of a thing, which has become something else and yet has not ceased to be itself. Existence as water for oxygen and hydrogen may be said to be a state of Non-Being, which is more real Being than their existence as gases; and it may faintly symbolize the condition of the Universe when it goes to sleep, or ceases to be, during the Nights of Brahmâ—to awaken or reappear again, when the dawn of the new Manvantara recalls it to what we call existence.

(a) Ý niệm rằng sự vật có thể thôi hiện hữu mà vẫn , là một ý niệm nền tảng trong tâm lý học Đông phương. Bên dưới sự mâu thuẫn biểu kiến này trong thuật ngữ có một sự thật của Thiên Nhiên; điều quan trọng là nhận ra sự thật ấy trong thể trí, hơn là tranh luận về lời chữ. Một thí dụ quen thuộc về một nghịch lý tương tự được cung cấp bởi sự kết hợp hóa học. Vấn đề liệu hydro và oxy có thôi hiện hữu khi chúng kết hợp để tạo thành nước hay không vẫn còn là một điểm tranh luận; một số người lập luận rằng vì chúng được tìm thấy trở lại khi nước bị phân giải, chúng hẳn đã ở đó suốt thời gian; những người khác lại cho rằng vì chúng thật sự biến thành một điều hoàn toàn khác, chúng phải tạm thời thôi hiện hữu như chính chúng; nhưng không bên nào có thể hình thành được quan niệm dù mờ nhạt nhất về trạng thái thật sự của một sự vật đã trở thành một cái gì khác mà vẫn không thôi là chính nó. Hiện hữu dưới dạng nước đối với oxy và hydro có thể nói là một trạng thái Phi-Bản Thể, vốn là Bản Thể thực hơn hiện hữu của chúng dưới dạng khí; và điều đó có thể tượng trưng một cách mờ nhạt cho trạng thái của Vũ trụ khi nó đi vào giấc ngủ, hay thôi hiện hữu, trong các Đêm của Brahma — để thức dậy hay tái xuất hiện, khi bình minh của Giai kỳ sinh hóa mới gọi nó trở lại với cái mà chúng ta gọi là hiện hữu.

(b) The “Breath” of the One Existence is only used in application to the spiritual aspect of Cosmogony by Archaic Esotericism; in other cases, it is replaced by its equivalent on the material plane—Motion. The One Eternal Element, or element-containing Vehicle, is Space, dimensionless in every sense; coexistent with which are Endless Duration, Primordial (hence Indestructible) Matter, and Motion—Absolute “Perpetual Motion,” which is the “Breath” of the One Element. This Breath, as seen, can never cease, not even during the Pralayic Eternities.

(b) “Hơi Thở” của Sự Tồn Tại Duy Nhất chỉ được dùng khi áp dụng cho phương diện tinh thần của Vũ trụ khởi nguyên luận bởi Huyền bí học Cổ sơ; trong những trường hợp khác, nó được thay thế bằng đối phần của nó trên cõi vật chất—Chuyển Động. Nguyên tố Vĩnh Cửu Duy Nhất, hay Vận cụ chứa đựng nguyên tố, là Không Gian, vô chiều kích theo mọi nghĩa; cùng tồn tại với nó là Trường Tồn Vô Tận, Vật Chất Nguyên Sơ, do đó Bất Hoại, và Chuyển Động—“Chuyển Động Vĩnh Cửu” Tuyệt Đối, tức là “Hơi Thở” của Nguyên tố Duy Nhất. Hơi Thở này, như đã thấy, không bao giờ có thể ngừng lại, ngay cả trong những Vĩnh Cửu thuộc Giai kỳ qui nguyên.

But the Breath of the One Existence does not, all the same, apply to the One Causeless Cause or the All-Be-ness, in contradistinction to All-Being, which is Brahmâ, or the Universe. Brahmâ, the four-faced god, who, after lifting the Earth out of the waters, “accomplished the creation,” is held to be only the Instrumental, and not, as clearly implied, the Ideal Cause. No Orientalist, so far, seems to have thoroughly comprehended the real sense of the verses in the Purânas, that treat of “creation.”

Nhưng Hơi Thở của Sự Tồn Tại Duy Nhất, dù vậy, vẫn không áp dụng cho Nguyên Nhân Duy Nhất Vô Nhân hay Toàn Thể-Tính, đối lập với Toàn Thể-Hữu, tức Brahma, hay Vũ Trụ. Brahma, vị thần bốn mặt, Đấng sau khi nâng Trái Đất ra khỏi nước đã “hoàn tất cuộc sáng tạo”, được xem chỉ là Nguyên Nhân Công Cụ, chứ không phải, như hàm ý rõ ràng, là Nguyên Nhân Lý Tưởng. Cho đến nay, dường như chưa có nhà Đông phương học nào thấu hiểu trọn vẹn ý nghĩa thật sự của các câu trong Purana bàn về “sáng tạo”.

Therein Brahmâ is the cause of the potencies that are to be generated subsequently for the work of “creation.” For instance, in the Vishnu Purâna, 86 the translation, “and from him proceed the potencies to be created, after they have become the real cause,” would perhaps be more correctly rendered, “and from IT proceed the potencies that will create as they become the real cause [on the material plane].” Save that One Causeless Ideal Cause there is no other to which the Universe can be referred. “Worthiest of ascetics, through its potency—i.e., through the potency of that cause—every created thing comes by its inherent or proper nature.” If, “in the Vedânta and Nyâya, nimitta is the efficient cause, as contrasted with upâdâna, the material cause, [and] in the Sânkhya, pradhâna implies the functions of both”; in the Esoteric Philosophy, which reconciles all these systems, and the nearest exponent of which is the Vedânta as expounded by the Advaita Vedântists, none but the upâdâna can be speculated upon. That which is, in the minds of the Vaishnavas (the Visishthadvaitas), as the ideal in contradistinction to the real—or Parabrahman and Îshvara—can find no room in published speculations, since that ideal even is a misnomer, when applied to that of which no human reason, even that of an Adept, can conceive.

Trong đó, Brahma là nguyên nhân của các tiềm năng sẽ được phát sinh về sau cho công cuộc “sáng tạo”. Chẳng hạn, trong Vishnu Purana, 86 bản dịch “và từ Ngài phát xuất các tiềm năng sẽ được sáng tạo, sau khi chúng đã trở thành nguyên nhân thật sự” có lẽ nên được dịch chính xác hơn là “và từ NÓ phát xuất các tiềm năng sẽ sáng tạo khi chúng trở thành nguyên nhân thật sự [trên cõi vật chất].” Ngoài Nguyên Nhân Lý Tưởng Duy Nhất Vô Nhân ấy, không có nguyên nhân nào khác mà Vũ Trụ có thể được quy về. “Hỡi bậc khổ hạnh xứng đáng nhất, nhờ tiềm năng của nó—nghĩa là nhờ tiềm năng của nguyên nhân ấy—mọi sự vật được sáng tạo đều hiện hữu theo bản chất nội tại hay riêng có của nó.” Nếu, “trong Vedanta và Nyaya, nimitta là nguyên nhân tác thành, tương phản với upadana, nguyên nhân vật chất, [và] trong Sankhya, pradhana hàm ý chức năng của cả hai”; thì trong Triết Học Nội Môn, vốn hòa giải tất cả các hệ thống này, và biểu hiện gần nhất của nó là Vedanta như được các nhà Advaita Vedanta trình bày, chỉ có upadana mới có thể là đối tượng suy luận. Điều mà trong tâm trí của những người Vaishnava, tức các Visishthadvaita, là lý tưởng đối lập với thực tại—hay Parabrahman và Ishvara—không thể có chỗ trong những suy luận công bố, vì ngay cả lý tưởng ấy cũng là một cách gọi sai khi áp dụng cho điều mà không lý trí con người nào, ngay cả lý trí của một Chân sư, có thể quan niệm được.

To know itself or oneself, necessitates consciousness and perception to be cognized—both limited faculties in relation to any subject except Parabrahman. Hence the “Eternal Breath which knows itself not.” Infinity cannot comprehend Finiteness. The Boundless can have no relation to the Bounded and the Conditioned. In the Occult teachings, the Unknown and the Unknowable Mover, or the Self-Existing, is the Absolute Divine Essence. And thus being Absolute Consciousness, and Absolute Motion—to the limited senses of those who describe this indescribable—it is unconsciousness and immovableness. Concrete consciousness cannot be predicated of abstract consciousness, any more than the quality wet can be predicated of water—wetness being its own attribute and the cause of the wet quality in other things. Consciousness implies limitations and qualifications; something to be conscious of, and someone to be conscious of it. But Absolute Consciousness contains the cognizer, the thing cognized and the cognition, all three in itself and all three one. No man is conscious of more than that portion of his knowledge which happens to be recalled to his mind at any particular time, yet such is the poverty of language that we have no term to distinguish the knowledge not actively thought of, from knowledge we are unable to recall to memory. To forget is synonymous with not to remember. How much greater must be the difficulty of finding terms to describe, and to distinguish between, abstract metaphysical facts or differences! It must not be forgotten, also, that we give names to things according to the appearances they assume for ourselves. We call Absolute Consciousness “unconsciousness,” because it seems to us that it must necessarily be so, just as we call the Absolute, “Darkness,” because to our finite understanding it appears quite impenetrable; yet we recognize fully that our perception of such things does not do them justice. We involuntarily distinguish in our minds, for instance, between unconscious Absolute Consciousness, and unconsciousness, by secretly endowing the former with some indefinite quality that corresponds, on a higher plane than our thoughts can reach, with what we know as consciousness in ourselves. But this is not any kind of consciousness that we can manage to distinguish from what appears to us as unconsciousness.

Biết chính nó hay biết bản thân mình đòi hỏi tâm thức và tri giác phải được nhận biết—cả hai đều là những năng lực hữu hạn trong tương quan với bất cứ chủ thể nào, ngoại trừ Parabrahman. Do đó có câu “Hơi Thở Vĩnh Cửu không biết chính mình.” Vô Hạn không thể thấu hiểu Hữu Hạn. Vô Biên không thể có liên hệ với Cái Bị Giới Hạn và Cái Bị Điều Kiện. Trong các giáo huấn Huyền bí học, Đấng Chuyển Động Vô Danh và Bất Khả Tri, hay Đấng Tự Hữu, là Tinh Túy Thiêng Liêng Tuyệt Đối. Và như thế, vì là Tâm Thức Tuyệt Đối và Chuyển Động Tuyệt Đối—đối với các giác quan hữu hạn của những người mô tả điều bất khả mô tả này—nó là vô thức và bất động. Không thể quy tâm thức cụ thể cho tâm thức trừu tượng, cũng như không thể quy phẩm tính ướt cho nước—tính ướt là thuộc tính riêng của nước và là nguyên nhân của phẩm tính ướt trong những sự vật khác. Tâm thức hàm ý các giới hạn và các định tính; một điều gì đó để ý thức, và một ai đó ý thức về điều ấy. Nhưng Tâm Thức Tuyệt Đối chứa trong chính nó cả chủ thể nhận biết, đối tượng được nhận biết và sự nhận biết; cả ba đều ở trong chính nó và cả ba là một. Không người nào ý thức được nhiều hơn phần tri thức của mình tình cờ được gợi lại trong thể trí vào bất cứ thời điểm đặc thù nào; tuy nhiên, ngôn ngữ nghèo nàn đến mức chúng ta không có thuật ngữ nào để phân biệt tri thức không được chủ động nghĩ đến với tri thức mà chúng ta không thể gợi lại trong ký ức. Quên đồng nghĩa với không nhớ. Vậy khó khăn trong việc tìm thuật ngữ để mô tả và phân biệt giữa các sự kiện hay khác biệt siêu hình trừu tượng còn lớn hơn biết bao! Cũng không nên quên rằng chúng ta đặt tên cho các sự vật theo những sắc tướng mà chúng khoác lấy đối với chúng ta. Chúng ta gọi Tâm Thức Tuyệt Đối là “vô thức”, bởi vì đối với chúng ta, dường như nó tất yếu phải như vậy, cũng như chúng ta gọi Tuyệt Đối là “Bóng Tối”, bởi vì đối với sự thấu hiểu hữu hạn của chúng ta, nó có vẻ hoàn toàn không thể xuyên thấu; tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn nhận ra rằng tri giác của chúng ta về những điều như thế không thể diễn tả đúng bản chất của chúng. Chẳng hạn, trong tâm trí mình, chúng ta vô tình phân biệt giữa Tâm Thức Tuyệt Đối vô thức và vô thức, bằng cách âm thầm gán cho cái trước một phẩm tính bất định nào đó tương ứng, trên một cõi cao hơn mức tư tưởng chúng ta có thể vươn tới, với điều chúng ta biết nơi chính mình là tâm thức. Nhưng đó không phải là bất cứ loại tâm thức nào mà chúng ta có thể phân biệt được với điều hiện ra trước chúng ta như vô thức.

3. The Hour had not yet struck; the Ray had not yet Flashed into the Germ (a); the Mâtripadma 87 had not yet swollen (b). 88

3. Giờ chưa điểm; Cung chưa lóe vào Mầm (a); Mâtripadma 87 chưa trương nở (b). 88

(a) The “Ray” of the “Ever Darkness” becomes, as it is emitted, a Ray of effulgent Light or Life, and flashes into the “Germ”—the Point in the Mundane Egg, represented by Matter in its abstract sense. But the term “Point” must not be understood as applying to any particular point in Space, for a germ exists in the centre of every atom, and these collectively form the “Germ;” or rather, as no atom can be made visible to our physical eye, the collectivity of these (if the term can be applied to something which is boundless and infinite) forms the noumenon of eternal and indestructible Matter.

(a) “Cung” của “Bóng Tối Hằng Hữu”, khi được phát ra, trở thành một Cung Ánh Sáng hay Sự Sống rạng rỡ, và lóe vào “Mầm”—Điểm trong Trứng Thế Gian, được biểu trưng bởi Vật Chất theo nghĩa trừu tượng của nó. Nhưng thuật ngữ “Điểm” không được hiểu là áp dụng cho bất cứ điểm đặc thù nào trong Không Gian, vì một mầm hiện hữu ở trung tâm của mỗi nguyên tử, và các nguyên tử ấy hợp lại tạo thành “Mầm”; hay đúng hơn, vì không nguyên tử nào có thể trở nên thấy được đối với mắt hồng trần của chúng ta, toàn thể tập hợp của chúng, nếu thuật ngữ này có thể áp dụng cho một điều vô biên và vô hạn, tạo thành bản thể noumenon của Vật Chất vĩnh cửu và bất hoại.

(b) One of the symbolical figures for the Dual Creative Power in Nature (matter and force on the material plane) is “Padma,” the water-lily of India. The Lotus is the product of heat (fire) and water (vapour or ether); fire standing in every philosophical and religious system, even in Christianity, as a representation of the Spirit of Deity, the active, male, generative principle; and ether, or the soul of matter, the light of the fire, for the passive female principle, from which everything in this Universe emanated. Hence, ether or water is the Mother, and fire is the Father. Sir William Jones—and before him archaic botany—showed that the seeds of the Lotus contain—even before they germinate—perfectly formed leaves, with the miniature shape of what one day, as perfect plants, they will become: nature thus giving us a specimen of the preformation of its production… the seeds of all phanerogamous plants bearing proper flowers containing an embryo plantlet ready formed. 89 This explains the sentence, “The Mâtri-Padma had not yet swollen”—the form being usually sacrificed to the inner or root idea in archaic symbology.

(b) Một trong những hình tượng biểu trưng cho Quyền Năng Sáng Tạo Kép trong Thiên Nhiên, tức vật chất và mãnh lực trên cõi vật chất, là “Padma”, hoa súng của Ấn Độ. Hoa sen là sản phẩm của nhiệt, tức lửa, và nước, tức hơi nước hay dĩ thái; trong mọi hệ thống triết học và tôn giáo, kể cả Cơ Đốc giáo, lửa tượng trưng cho Tinh thần của Thượng đế, nguyên khí chủ động, nam tính và sinh thành; còn dĩ thái, hay linh hồn của vật chất, ánh sáng của lửa, tượng trưng cho nguyên khí nữ tính thụ động, từ đó mọi sự trong Vũ Trụ này xuất lộ. Do đó, dĩ thái hay nước là Mẹ, và lửa là Cha. Ngài William Jones—và trước ông là thực vật học cổ sơ—đã chỉ ra rằng hạt sen, ngay cả trước khi nảy mầm, đã chứa những chiếc lá được hình thành hoàn chỉnh, với hình dạng thu nhỏ của điều mà một ngày kia, khi thành cây hoàn hảo, chúng sẽ trở thành: thiên nhiên như thế cho chúng ta một mẫu về sự tiền thành của sản phẩm của nó… hạt của mọi loài thực vật hiển hoa mang hoa đúng nghĩa đều chứa một cây mầm đã được hình thành sẵn. 89 Điều này giải thích câu “Mâtri-Padma chưa trương nở”—hình tướng thường bị hy sinh cho ý tưởng nội tại hay ý tưởng gốc trong biểu tượng học cổ sơ.

The Lotus, or Padma, is, moreover, a very ancient and favourite symbol for the Cosmos itself, and also for man. The popular reasons given are, firstly, the fact just mentioned, that the Lotus-seed contains within itself a perfect miniature of the future plant, which typifies the fact that the spiritual prototypes of all things exist in the immaterial world, before these things become materialized on earth. Secondly, the fact that the Lotus-plant grows up through the water, having its root in the Ilus, or mud, and spreading its flower in the air above. The Lotus thus typifies the life of man and also that of the Cosmos; for the Secret Doctrine teaches that the elements of both are the same, and that both are developing in the same direction. The root of the Lotus sunk in the mud represents material life, the stalk passing up through the water typifies existence in the astral world, and the flower floating on the water and opening to the sky is emblematical of spiritual being.

Hơn nữa, Hoa sen, hay Padma, là một biểu tượng rất cổ xưa và được ưa chuộng của chính Vũ Trụ, cũng như của con người. Những lý do phổ biến được đưa ra là, thứ nhất, sự kiện vừa nêu: hạt sen chứa trong chính nó một mô hình thu nhỏ hoàn hảo của cây tương lai, tượng trưng cho sự kiện rằng các nguyên mẫu tinh thần của mọi sự vật hiện hữu trong thế giới phi vật chất trước khi các sự vật ấy hiện hình trên Trái Đất. Thứ hai, sự kiện rằng cây sen mọc lên xuyên qua nước, có rễ trong Ilus, hay bùn, và xòe hoa trong không khí phía trên. Như thế, Hoa sen tượng trưng cho đời sống của con người và cũng cho đời sống của Vũ Trụ; vì Giáo Lý Bí Nhiệm dạy rằng các nguyên tố của cả hai là như nhau, và cả hai đang phát triển theo cùng một hướng. Rễ Hoa sen chìm trong bùn biểu trưng cho đời sống vật chất, thân cây đi lên xuyên qua nước tượng trưng cho sự tồn tại trong thế giới cảm dục, và bông hoa nổi trên mặt nước, mở ra hướng về bầu trời, là biểu tượng của hiện tồn tinh thần.

4. Her Heart had not yet opened for the One Ray to enter, thence to fall, as Three into Four, into the Lap of Mâyâ.

4. Trái Tim của Nàng chưa mở ra để Cung Duy Nhất đi vào, rồi từ đó rơi xuống, như Ba vào Bốn, trong Lòng của Maya.

The Primordial Substance had not yet passed out of its precosmic latency into differentiated objectivity, or even become the (to man, so far) invisible Protyle of Science. But, as the “Hour strikes” and it becomes receptive of the Fohatic impress of the Divine Thought—the Logos, or the male aspect of the Anima Mundi, Alaya—its “Heart” opens. It differentiates, and the Three (Father, Mother, Son) are transformed into Four. Herein lies the origin of the double mystery of the Trinity and the Immaculate Conception. The first and fundamental dogma of Occultism is Universal Unity (or Homogeneity) under three aspects. This leads to a possible conception of Deity, which as an absolute Unity must remain forever incomprehensible to finite intellects.

Chất Liệu Nguyên Sơ chưa đi ra khỏi trạng thái tiềm tàng tiền vũ trụ của nó để vào tính khách quan biến phân, thậm chí chưa trở thành Protyle của Khoa học, cho đến nay vẫn vô hình đối với con người. Nhưng khi “Giờ điểm” và nó trở nên tiếp nhận dấu ấn Fohat của Tư Tưởng Thiêng Liêng—Logos, hay phương diện nam tính của Anima Mundi, Alaya—“Trái Tim” của nó mở ra. Nó biến phân, và Ba, tức Cha, Mẹ, Con, được chuyển đổi thành Bốn. Chính trong đó có nguồn gốc của huyền nhiệm kép về Ba Ngôi và Sự Thụ Thai Vô Nhiễm. Giáo điều đầu tiên và căn bản của Huyền bí học là Nhất Nguyên Phổ Quát, hay Tính Đồng Nhất, dưới ba phương diện. Điều này dẫn đến một quan niệm khả hữu về Thượng đế, Đấng, với tư cách là Nhất Nguyên tuyệt đối, phải mãi mãi vẫn không thể hiểu được đối với các trí năng hữu hạn.

If thou wouldest believe in the Power which acts within the root of a plant, or imagine the root concealed under the soul, thou hast to think of its stalk or trunk, and of its leaves and flowers. Thou canst not imagine that Power independently of these objects. Life can be known only by the Tree of Life…. 90

Nếu ngươi muốn tin vào Quyền Năng đang tác động trong rễ của một cây, hay hình dung rễ ẩn dưới linh hồn, ngươi phải nghĩ đến thân hay trụ của nó, cùng lá và hoa của nó. Ngươi không thể hình dung Quyền Năng ấy độc lập với các đối tượng này. Sự Sống chỉ có thể được biết qua Cây Sự Sống…. 90

The idea of Absolute Unity would be broken entirely in our conception, had we not something concrete before our eyes to contain that Unity. And the Deity being absolute, must be omnipresent; hence not an atom but contains It within itself. The roots, the trunk, and its many branches, are three distinct objects, yet they are one tree. Say the Kabalists: “The Deity is one, because It is infinite. It is triple, because It is ever manifesting.” This manifestation is triple in its aspects, for it requires, as Aristotle has it, three principles for every natural body to become objective: privation, form, and matter. 91 Privation meant in the mind of the great philosopher that which the Occultists call the prototypes impressed in the Astral Light—the lowest plane and world of Anima Mundi. The union of these three principles depends upon a fourth—the Life which radiates from the summits of the Unreachable, to become a universally diffused Essence on the manifested planes of Existence. And this Quaternary (Father, Mother, Son, as a Unity, and a Quaternary—as a living manifestation) has been the means of leading to the very archaic idea of Immaculate Conception, now finally crystallized into a dogma of the Christian Church, which has carnalized this metaphysical idea beyond any common sense. For one has but to read the Kabalah and study its numerical methods of interpretation to find the origin of the dogma. It is purely astronomical, mathematical, and preeminently metaphysical: the Male Element in Nature (personified by the male deities and Logoi—Virâj, or Brahmâ, Horus, or Osiris, etc., etc.) is born through, not from, an immaculate source, personified by the “Mother,” for—the Abstract Deity being sexless, and not even a Being but Be-ness, or Life itself—that Male having a “Mother” cannot have a “Father.” Let us render this in the mathematical language of the author of The Source of Measures. Speaking of the “Measure of a Man” and his numerical (Kabalistic) value, he writes that in Genesis, iv. 1— It is called the “Man even Jehovah” Measure, and this is obtained in this way, viz.: 113 x 5 = 565, and the value 565 can be placed under the form of expression 56.5 x 10 = 565. Here the Man-number 113 becomes a factor of 56.5 x 10, and the (Kabalistic) reading of this last numbered expression is Jod, He, Vau, He, or Jehovah…. The expansion of 565 into 56·5 x 10 is purposed to show the emanation of the male (Jod) from the female (Eva) principle; or, so to speak, the birth of a male element from an immaculate source, in other words, an immaculate conception.

Ý tưởng về Nhất Nguyên Tuyệt Đối sẽ hoàn toàn tan vỡ trong quan niệm của chúng ta nếu trước mắt chúng ta không có một điều cụ thể nào để chứa đựng Nhất Nguyên ấy. Và vì Thượng đế là tuyệt đối, nên phải hiện diện khắp nơi; do đó không có một nguyên tử nào lại không chứa NÓ trong chính nó. Rễ, thân và nhiều cành của nó là ba đối tượng riêng biệt, tuy nhiên chúng là một cây. Các nhà Kabbalah nói: “Thượng đế là một, bởi vì NÓ vô hạn. NÓ là tam phân, bởi vì NÓ luôn luôn biểu hiện.” Sự biểu hiện này là tam phân trong các phương diện của nó, vì như Aristotle nói, nó đòi hỏi ba nguyên khí để mỗi thể tự nhiên trở nên khách quan: sự thiếu vắng, hình tướng và vật chất. 91 Trong tâm trí của vị triết gia vĩ đại ấy, sự thiếu vắng có nghĩa là điều mà các nhà Huyền bí học gọi là những nguyên mẫu được in dấu trong Ánh Sáng Cảm Dục—cõi và thế giới thấp nhất của Anima Mundi. Sự kết hợp của ba nguyên khí này tùy thuộc vào một nguyên khí thứ tư—Sự Sống tỏa chiếu từ những đỉnh cao của Cõi Bất Khả Đạt, để trở thành một Tinh Túy lan tỏa phổ quát trên các cõi Hiện Tồn đã biểu hiện. Và Bộ Bốn này, Cha, Mẹ, Con như một Nhất Nguyên, và một Bộ Bốn như một biểu hiện sống động, đã là phương tiện dẫn đến ý tưởng cực kỳ cổ sơ về Sự Thụ Thai Vô Nhiễm, nay cuối cùng đã kết tinh thành một giáo điều của Giáo hội Cơ Đốc, vốn đã nhục hóa ý tưởng siêu hình này đến mức vượt khỏi mọi lẽ thường. Vì người ta chỉ cần đọc Kabbalah và nghiên cứu các phương pháp giải nghĩa bằng con số của nó là tìm thấy nguồn gốc của giáo điều ấy. Nó thuần túy là thiên văn, toán học, và vượt trội là siêu hình: Nguyên tố Nam trong Thiên Nhiên, được nhân cách hóa bởi các thần nam và các Logos—Viraj, hay Brahma, Horus, hay Osiris, vân vân—được sinh ra qua, chứ không phải từ, một nguồn vô nhiễm, được nhân cách hóa bởi “Mẹ”; vì—Thượng đế Trừu Tượng là vô tính, thậm chí không phải là một Hữu Thể mà là Tính Hiện Hữu, hay chính Sự Sống—nên Nguyên tố Nam ấy, có một “Mẹ”, không thể có một “Cha”. Chúng ta hãy diễn đạt điều này bằng ngôn ngữ toán học của tác giả The Source of Measures. Khi nói về “Thước Đo của Con Người” và giá trị số học theo Kabbalah của y, ông viết rằng trong Sáng Thế Ký, iv. 1—Nó được gọi là thước đo “Con Người, tức Jehovah”, và điều này đạt được theo cách sau, tức là: 113 x 5 = 565, và giá trị 565 có thể được đặt dưới hình thức biểu thức 56.5 x 10 = 565. Ở đây con số Con Người 113 trở thành một thừa số của 56.5 x 10, và cách đọc theo Kabbalah của biểu thức số sau cùng này là Jod, He, Vau, He, hay Jehovah…. Việc khai triển 565 thành 56,5 x 10 nhằm cho thấy sự xuất lộ của nguyên khí nam, Jod, từ nguyên khí nữ, Eva; hay, có thể nói, sự sinh ra của một nguyên tố nam từ một nguồn vô nhiễm, nói cách khác, một sự thụ thai vô nhiễm.

Thus is repeated on earth the mystery enacted, according to the Seers, on the divine plane. The Son of the Immaculate Celestial Virgin (or the Undifferentiated Cosmic Protyle, Matter in its infinitude) is born again on earth as the Son of the terrestrial Eve, our mother Earth, and becomes Humanity as a total—past, present, and future—for Jehovah, or Jod-Hé-Vau-Hé, is androgyne, or both male and female. Above, the Son is the whole Kosmos; below, he is Mankind. The Triad or Triangle becomes Tetraktys, the sacred Pythagorean number, the perfect Square, and a six-faced Cube on earth. The Macroprosopus (the Great Face) is now Microprosopus (the Lesser Face); or, as the Kabbalists have it, the Ancient of Days, descending on Adam Kadmon whom he uses as his vehicle to manifest through, gets transformed into Tetragrammaton. It is now in the “Lap of Mâyâ,” the Great Illusion, and between itself and the Reality has the Astral Light, the Great Deceiver of man’s limited senses, unless Knowledge through Paramârthasatya comes to the rescue.

Như thế, trên Trái Đất lặp lại huyền nhiệm được thực hiện, theo các nhà thông nhãn, trên cõi thiêng liêng. Con của Đức Trinh Nữ Thiên Thượng Vô Nhiễm, hay Protyle Vũ Trụ Chưa Biến Phân, Vật Chất trong tính vô hạn của nó, lại được sinh ra trên Trái Đất như Con của Eva trần thế, mẹ Trái Đất của chúng ta, và trở thành Nhân Loại như một toàn thể—quá khứ, hiện tại và tương lai—vì Jehovah, hay Jod-He-Vau-He, là lưỡng tính, hay vừa nam vừa nữ. Ở trên, Con là toàn thể Kosmos; ở dưới, y là Nhân Loại. Tam nguyên tinh thần hay Tam Giác trở thành Tetraktys, con số thiêng liêng của Pythagoras, Hình Vuông hoàn hảo, và trên Trái Đất là Khối Lập Phương sáu mặt. Macroprosopus, tức Đại Diện, nay là Microprosopus, tức Tiểu Diện; hay như các nhà Kabbalah nói, Đấng Thái Cổ, giáng xuống Adam Kadmon, Đấng mà Ngài dùng làm vận cụ để biểu hiện qua đó, được chuyển đổi thành Tetragrammaton. Nó nay ở trong “Lòng của Maya”, Đại Ảo Tưởng, và giữa chính nó với Thực Tại có Ánh Sáng Cảm Dục, Kẻ Đại Lừa Dối đối với các giác quan hữu hạn của con người, trừ khi Tri Thức qua Paramarthasatya đến cứu giúp.

5. The Seven 92 were not yet born from the Web of Light, Darkness alone was Father-Mother, Svabhâvat; and Svabhâvat was in Darkness.

5. Bảy 92 chưa được sinh ra từ Tấm Lưới Ánh Sáng; chỉ Bóng Tối là Cha-Mẹ, Svabhavat; và Svabhavat ở trong Bóng Tối.

The Secret Doctrine, in the Stanzas here given, occupies itself chiefly, if not entirely, with our Solar System, and especially with our Planetary Chain. The “Seven Sons,” therefore, are the creators of the latter. This teaching will be explained more fully hereafter.

Giáo Lý Bí Nhiệm, trong các Bài kệ được đưa ra ở đây, chủ yếu, nếu không nói là hoàn toàn, đề cập đến hệ mặt trời của chúng ta, và đặc biệt đến Dãy Hành Tinh của chúng ta. Vì thế, “Bảy Con” là những đấng sáng tạo của Dãy ấy. Giáo huấn này sẽ được giải thích đầy đủ hơn về sau.

Svabhâvat, the “Plastic Essence” that fills the Universe, is the root of all things. Svabhâvat is, so to say, the Buddhistic concrete aspect of the abstraction called in Hindû philosophy Mûlaprakriti. It is the body of the Soul, and that which Ether would be to Âkâsha, the latter being the informing principle of the former. Chinese mystics have made of it the synonym of “Being.” In the Chinese translation of the Ekashloka-Shâstra of Nâgârjuna (the Lung-shu of China), called the Yih-shu-lu-kia-lun, it is said that the term “Being,” or “Subhâva,” (Yeu in Chinese) means “the Substance giving substance to itself”; it is also explained by him as meaning “without action and with action,” “the nature which has no nature of its own.” Subhâva, from which Svabhâvat, is composed of two words: su fair, handsome, good; sva, self, and bhâva, being or states of being.

Svabhavat, “Tinh Túy Tạo Hình” lấp đầy Vũ Trụ, là gốc rễ của mọi sự. Có thể nói, Svabhavat là phương diện cụ thể theo Phật giáo của điều trừu tượng được gọi trong triết học Ấn Độ là Mulaprakriti. Nó là thể của Linh Hồn, và là điều mà Dĩ Thái đối với Akasha, Akasha là nguyên khí thấm nhuần của cái trước. Các nhà thần bí Trung Hoa đã biến nó thành đồng nghĩa với “Hữu Thể”. Trong bản dịch Trung Hoa của Ekashloka-Shastra của Nagarjuna, Lung-shu của Trung Hoa, gọi là Yih-shu-lu-kia-lun, có nói rằng thuật ngữ “Hữu Thể”, hay “Subhava”, Yeu trong tiếng Trung Hoa, có nghĩa là “Chất Liệu tự ban chất liệu cho chính mình”; ông cũng giải thích nó là “không hành động và có hành động”, “bản chất không có bản chất riêng của nó”. Subhava, từ đó có Svabhavat, được cấu thành bởi hai từ: su nghĩa là đẹp, xinh, tốt; sva nghĩa là tự ngã, và bhava nghĩa là hữu thể hay các trạng thái của hữu thể.

6. These Two are the Germ, and the Germ is One. The Universe was still concealed in the Divine Thought and the Divine Bosom.

6. Hai cái này là Mầm, và Mầm là Một. Vũ Trụ vẫn còn ẩn trong Tư Tưởng Thiêng Liêng và Lòng Thiêng Liêng.

The “Divine Thought” does not imply the idea of a Divine Thinker. The Universe, not only past, present and future—a human and finite idea expressed by finite thought—but in its totality, the Sat (an untranslateable term), Absolute Being, with the Past and Future crystallized in an eternal Present, is that Thought itself reflected in a secondary or manifested cause. Brahman (neuter), as the Mysterium Magnum of Paracelsus, is an absolute mystery to the human mind. Brahmâ, the male-female, the aspect and anthropomorphic reflection of Brahman, is conceivable to the perceptions of blind faith, though rejected by human intellect when it attains its majority.

“Tư Tưởng Thiêng Liêng” không hàm ý ý tưởng về một Đấng Tư Duy Thiêng Liêng. Vũ Trụ, không chỉ là quá khứ, hiện tại và tương lai—một ý tưởng nhân loại và hữu hạn được biểu đạt bằng tư tưởng hữu hạn—mà trong toàn thể tính của nó, Sat, một thuật ngữ không thể dịch, Bản Thể Tuyệt Đối, với Quá Khứ và Tương Lai kết tinh trong một Hiện Tại vĩnh cửu, chính là Tư Tưởng ấy được phản chiếu trong một nguyên nhân thứ yếu hay đã biểu hiện. Brahman, trung tính, với tư cách là Mysterium Magnum của Paracelsus, là một huyền nhiệm tuyệt đối đối với thể trí con người. Brahma, nam-nữ, phương diện và phản chiếu nhân hình hóa của Brahman, có thể quan niệm được đối với các tri giác của đức tin mù quáng, dù bị trí năng con người bác bỏ khi nó đạt đến tuổi trưởng thành.

Hence the statement that during the prologue, so to say, of the drama of creation, or the beginning of cosmic evolution, the Universe, or the Son, lies still concealed “in the Divine Thought,” which had not yet penetrated into the “Divine Bosom.” This idea, note well, is at the root, and forms the origin, of all the allegories about the “Sons of God” born of immaculate virgins.

Do đó có lời khẳng định rằng trong phần mở đầu, có thể nói như vậy, của vở kịch sáng tạo, hay khởi đầu của tiến hoá vũ trụ, Vũ Trụ, hay Con, vẫn còn nằm ẩn “trong Tư Tưởng Thiêng Liêng”, vốn chưa thâm nhập vào “Lòng Thiêng Liêng”. Hãy ghi nhớ kỹ: ý tưởng này nằm ở gốc rễ và tạo thành nguồn gốc của mọi ẩn dụ về “Các Con của Thượng đế” sinh ra từ những trinh nữ vô nhiễm.

Stanza III. — Bài kệ III.

1…. The last Vibration of the Seventh Eternity thrills through Infinitude (a). The Mother swells, expanding from within without, like the Bud of the Lotus (b).

1…. Rung động cuối cùng của Vĩnh Cửu Thứ Bảy làm rung động khắp Vô Tận (a). Mẹ trương nở, mở rộng từ trong ra ngoài, như Nụ Hoa sen (b).

(a) The seemingly paradoxical use of the term, “Seventh Eternity,” thus dividing the indivisible, is sanctified in Esoteric Philosophy. The latter divides boundless Duration into unconditionally eternal and universal Time (Kâla); and conditioned Time (Khandakâla). One is the abstraction or noumenon of infinite Time, the other its phenomenon appearing periodically, as the effect of Mahat—the Universal Intelligence, limited by manvantaric duration. With some schools, Mahat is the first-born of Pradhâna (undifferentiated Substance, or the periodical aspect of Mûlaprakriti, the Root of Nature), which (Pradhâna) is called Mâyâ, Illusion. In this respect, I believe, Esoteric teaching differs from the Vedântin doctrines of both the Advaita and the Visishthadvaita schools. For it says that, while Mûlaprakriti, the noumenon, is self-existing and without any origin—is, in short, parentless, Anupâdaka, as one with Brahman—Prakriti, its phenomenon, is periodical and no better than a phantasm of the former; so Mahat, the first-born of Jñâna (or Gnôsis), Knowledge, Wisdom or the Logos—is a phantasm reflected from the Absolute Nirguna (Parabrahman), the One Reality, “devoid of attributes and qualities”; while with some Vedântins Mahat is a manifestation of Prakriti, or Matter.

(a) Việc dùng thuật ngữ “Vĩnh Cửu Thứ Bảy” có vẻ nghịch lý, như thể chia cắt điều bất khả phân, đã được thừa nhận trong Triết Học Nội Môn. Triết học này chia Trường Tồn vô biên thành Thời Gian phổ quát và vĩnh cửu vô điều kiện, Kala; và Thời Gian bị điều kiện hóa, Khandakala. Một bên là điều trừu tượng hay noumenon của Thời Gian vô hạn, bên kia là hiện tượng của nó, xuất hiện theo chu kỳ như hệ quả của Mahat—Trí Tuệ Phổ Quát, bị giới hạn bởi trường kỳ manvantara. Với một số trường phái, Mahat là con đầu lòng của Pradhana, tức Chất Liệu chưa biến phân, hay phương diện chu kỳ của Mulaprakriti, Gốc Rễ của Thiên Nhiên, mà Pradhana được gọi là Maya, Ảo Tưởng. Về phương diện này, tôi tin rằng giáo huấn Nội Môn khác với các giáo lý Vedanta của cả hai trường phái Advaita và Visishthadvaita. Vì giáo huấn ấy nói rằng, trong khi Mulaprakriti, noumenon, tự hữu và không có bất cứ nguồn gốc nào—nói ngắn gọn, vô phụ mẫu, Anupadaka, như một với Brahman—thì Prakriti, hiện tượng của nó, có tính chu kỳ và chẳng hơn gì một ảo ảnh của cái trước; cũng vậy, Mahat, con đầu lòng của Jnana, hay Gnosis, Tri Thức, Minh Triết hay Logos—là một ảo ảnh được phản chiếu từ Tuyệt Đối Nirguna, Parabrahman, Thực Tại Duy Nhất, “không có thuộc tính và phẩm tính”; trong khi với một số nhà Vedanta, Mahat là một biểu hiện của Prakriti, hay Vật Chất.

(b) Therefore, the “last Vibration of the Seventh Eternity” was “fore-ordained”—by no God in particular, but occurred in virtue of the eternal and changeless Law which causes the great periods of Activity and Rest, called so graphically, and at the same time so poetically, the Days and Nights of Brahmâ. The expansion “from within without” of the Mother, called elsewhere the “Waters of Space,” “Universal Matrix,” etc., does not allude to an expansion from a small centre or focus, but means the development of limitless subjectivity into as limitless objectivity, without reference to size or limitation or area. “The ever [to us] invisible and immaterial Substance present in eternity, threw its periodical Shadow from its own plane into the Lap of Mâyâ.” It implies that this expansion, not being an increase in size—for infinite extension admits of no enlargement—was a change of condition. It expanded “like the Bud of the Lotus”; for the Lotus plant exists not only as a miniature embryo in its seed (a physical characteristic), but its prototype is present in an ideal form in the Astral Light from “Dawn” to “Night” during the manvantaric period, like everything else, as a matter of fact, in this objective Universe; from man to mite, from giant trees to the tiniest blades of grass.

(b) Vì thế, “Rung động cuối cùng của Vĩnh Cửu Thứ Bảy” đã được “tiền định”—không bởi một Thượng đế đặc thù nào, mà xảy ra do Định luật vĩnh cửu và bất biến, vốn gây nên các thời kỳ lớn của Hoạt Động và Nghỉ Ngơi, được gọi một cách rất gợi hình, đồng thời rất thi vị, là Ngày và Đêm của Brahma. Sự mở rộng “từ trong ra ngoài” của Mẹ, nơi khác được gọi là “Nước của Không Gian”, “Ma Trận Phổ Quát”, vân vân, không ám chỉ một sự mở rộng từ một trung tâm hay tiêu điểm nhỏ, mà có nghĩa là sự phát triển của tính chủ quan vô hạn thành tính khách quan cũng vô hạn, không quy chiếu đến kích thước, giới hạn hay diện tích. “Chất Liệu vô hình và phi vật chất hằng hữu [đối với chúng ta], hiện diện trong vĩnh cửu, đã phóng Bóng chu kỳ của nó từ cõi riêng của nó vào Lòng của Maya.” Điều này hàm ý rằng sự mở rộng ấy, vì không phải là sự gia tăng kích thước—bởi sự trải rộng vô hạn không chấp nhận sự nới rộng—là một sự thay đổi trạng thái. Nó mở rộng “như Nụ Hoa sen”; vì cây sen không chỉ hiện hữu như một phôi thu nhỏ trong hạt của nó, một đặc tính hồng trần, mà nguyên mẫu của nó còn hiện diện trong một hình tướng lý tưởng trong Ánh Sáng Cảm Dục từ “Bình Minh” đến “Đêm” suốt thời kỳ manvantara, giống như mọi sự khác, thật vậy, trong Vũ Trụ khách quan này; từ con người đến con mạt, từ những cây khổng lồ đến những ngọn cỏ nhỏ bé nhất.

All this, teaches the Hidden Science, is but the temporary reflection, the shadow of the eternal ideal prototype in Divine Thought; the word “Eternity,” note well again, standing here only in the sense of “Æon,” as lasting throughout the seemingly interminable, but still limited cycle of activity, called by us Manvantara. For what is the real esoteric meaning of Manvantara, or rather a Manu-antara? It means, literally, “between two Manus,” of whom there are fourteen in every Day of Brahmâ, such a Day consisting of 1,000 aggregates of four Ages, 1,000 “Great Ages” or Mahâyugas. Let us now analyse the word or name Manu. Orientalists in their dictionaries tell us that the term “Manu” is from the root man, “to think”; hence “the thinking man.” But, esoterically, every Manu, as an anthropomorphized patron of his special cycle (or Round), is but the personified idea of the “Thought Divine” (as the Hermetic Pymander); each of the Manus, therefore, being the special god, the creator and fashioner of all that appears during his own respective cycle of being or Manvantara. Fohat runs the Manus’ (or Dhyân Chohans’) errands, and causes the ideal prototypes to expand from within without—that is, to cross gradually, on a descending scale, all the planes, from the noumenal to the lowest phenomenal, to bloom finally on the last into full objectivity—the acme of Illusion, or the grossest matter.

Khoa Học Ẩn Tàng dạy rằng tất cả điều này chỉ là phản chiếu tạm thời, cái bóng của nguyên mẫu lý tưởng vĩnh cửu trong Tư Tưởng Thiêng Liêng; xin lại ghi nhớ kỹ, từ “Vĩnh Cửu” ở đây chỉ mang nghĩa “Đại chu kỳ”, tức kéo dài suốt chu kỳ hoạt động có vẻ bất tận nhưng vẫn hữu hạn, mà chúng ta gọi là Manvantara. Vì ý nghĩa huyền bí thật sự của Manvantara, hay đúng hơn Manu-antara, là gì? Theo nghĩa đen, nó có nghĩa là “giữa hai Đức Manu”, trong đó có mười bốn Đức Manu trong mỗi Ngày của Brahma, một Ngày như thế gồm 1.000 tổng hợp của bốn Kỷ, 1.000 “Đại Kỷ” hay Mahayuga. Bây giờ chúng ta hãy phân tích từ hay danh xưng Manu. Các nhà Đông phương học trong từ điển của họ cho chúng ta biết rằng thuật ngữ “Manu” xuất phát từ căn man, “suy nghĩ”; do đó là “con người biết suy nghĩ”. Nhưng, một cách huyền bí, mỗi Đức Manu, với tư cách là vị bảo hộ được nhân hình hóa của chu kỳ đặc thù của Ngài, hay cuộc tuần hoàn, chỉ là ý tưởng được nhân cách hóa của “Tư Tưởng Thiêng Liêng”, như Pymander của Hermetic; do đó, mỗi Đức Manu là vị thần đặc thù, đấng sáng tạo và tạo hình mọi điều xuất hiện trong chu kỳ hiện tồn hay Manvantara riêng của Ngài. Fohat thi hành sứ vụ của các Đức Manu, hay các Dhyani Chohan, và khiến các nguyên mẫu lý tưởng mở rộng từ trong ra ngoài—nghĩa là dần dần băng qua, theo thang giáng hạ, tất cả các cõi, từ noumenon đến cõi hiện tượng thấp nhất, để cuối cùng nở rộ trên cõi sau cùng thành tính khách quan trọn vẹn—đỉnh cao của Ảo Tưởng, hay vật chất thô trược nhất.

2. The Vibration sweeps along, touching 93 with its swift Wing the whole Universe and the Germ that dwelleth in Darkness, the Darkness that breathes 94 over the slumbering Waters of Life.

2. Rung động quét đi, chạm 93 bằng Cánh nhanh của nó vào toàn thể Vũ Trụ và Mầm cư ngụ trong Bóng Tối, Bóng Tối thở 94 trên những Nước Sự Sống đang ngủ.

The Pythagorean Monas is also said to dwell in solitude and “Darkness” like the “Germ.” The idea of the Breath of Darkness moving over “the slumbering Waters of Life,” which is Primordial Matter with the latent Spirit in it, recalls the first chapter of Genesis. Its original is the Brâhmanical Nârâyana (the Mover on the Waters), who is the personification of the Eternal Breath of the unconscious All (or Parabrahaman) of the Eastern Occultists. The Waters of Life, or Chaos—the female principle in symbolism—are the vacuum (to our mental sight), in which lie the latent Spirit and Matter. This it was that made Democritus assert, after his instructor Leucippus, that the primordial principles of all were atoms and a vacuum, in the sense of space, but not of empty space, for “Nature abhors a vacuum,” according to the Peripatetics and every ancient philosopher.

Monas của Pythagoras cũng được nói là cư ngụ trong cô tịch và “Bóng Tối” như “Mầm”. Ý tưởng về Hơi Thở của Bóng Tối chuyển động trên “những Nước Sự Sống đang ngủ”, tức Vật Chất Nguyên Sơ với Tinh thần tiềm tàng trong đó, gợi nhớ chương đầu của Sáng Thế Ký. Nguyên bản của nó là Narayana theo Brahma giáo, Đấng Chuyển Động trên Nước, là sự nhân cách hóa của Hơi Thở Vĩnh Cửu của Toàn Thể vô thức, hay Parabrahman, của các nhà Huyền bí học Đông phương. Những Nước Sự Sống, hay Hỗn Mang—nguyên khí nữ trong biểu tượng học—là khoảng không, đối với thị giác trí tuệ của chúng ta, trong đó Tinh thần và Vật Chất tiềm tàng nằm ẩn. Chính điều này đã khiến Democritus, sau thầy ông là Leucippus, khẳng định rằng các nguyên khí nguyên sơ của mọi sự là các nguyên tử và khoảng không, theo nghĩa không gian, nhưng không phải không gian trống rỗng, vì “Thiên Nhiên ghê sợ khoảng không”, theo các nhà Peripatetic và mọi triết gia cổ đại.

In all Cosmogonies “Water” plays the same important part. It is the base and source of material existence. Scientists, mistaking the word for the thing, understand by it the definite chemical combination of oxygen and hydrogen, thus giving a specific meaning to a term used by Occultists in a generic sense, and which is employed in Cosmogony with a metaphysical and mystical meaning. Ice is not water, neither is steam, although all three have precisely the same chemical composition.

Trong mọi Vũ trụ khởi nguyên luận, “Nước” đóng cùng một vai trò quan trọng. Nó là nền tảng và nguồn gốc của sự tồn tại vật chất. Các nhà khoa học, nhầm lẫn từ ngữ với sự vật, hiểu nó là hợp chất hóa học xác định của oxy và hydro, do đó gán một ý nghĩa chuyên biệt cho một thuật ngữ được các nhà Huyền bí học dùng theo nghĩa phổ quát, và được sử dụng trong Vũ trụ khởi nguyên luận với ý nghĩa siêu hình và thần bí. Băng không phải là nước, hơi nước cũng không, mặc dù cả ba có chính xác cùng một thành phần hóa học.

3. Darkness radiates Light, and Light drops one solitary Ray into the Waters, into the Mother-Deep. The Ray shoots through the Virgin egg, the Ray causes the Eternal Egg to thrill, and drop the non-eternal Germ, 95 which condenses into the World-Egg.

3. Bóng Tối tỏa ra Ánh Sáng, và Ánh Sáng nhỏ một Cung đơn độc vào Nước, vào Vực Sâu-Mẹ. Cung bắn xuyên qua Trứng Trinh Nguyên; Cung khiến Trứng Vĩnh Cửu rung động, và thả Mầm không vĩnh cửu, 95 rồi cô đọng thành Trứng Thế Giới.

The “solitary Ray” dropping into the “Mother-Deep” may be taken to mean Divine Thought, or Intelligence, impregnating Chaos. This, however, occurs on the plane of metaphysical abstraction, or rather the plane whereon that which we call a metaphysical abstraction, is a reality. The “Virgin-Egg,” being in one sense the abstract of all ova, or the power of becoming developed through fecundation, is eternal and for ever the same. And just as the fecundation of an egg takes place before it is dropped; so the non-eternal periodical Germ, which later becomes in symbolism the Mundane Egg, contains in itself, when it emerges from the said symbol, “the promise and potency” of all the Universe. Though the idea per se is, of course, an abstraction, a symbolical mode of expression, it is a true symbol, for it suggests the idea of infinity as an endless circle. It brings before the mind’s eye the picture of Kosmos emerging from and in boundless Space, a Universe as shoreless in magnitude, if not as endless in its objective manifestation. The symbol of an egg also expresses the fact taught in Occultism that the primordial form of everything manifested, from atom to globe, from man to angel, is spheroidal, the sphere being with all nations the emblem of eternity and infinity—a serpent swallowing its tail. To realize the meaning, however, the sphere must be thought of as seen from its centre. The field of vision, or of thought, is like a sphere whose radii proceed from one’s self in every direction, and extend out into space, opening up boundless vistas all around. It is the symbolical circle of Pascal and the Kabalists, “whose centre is everywhere and circumference nowhere”—a conception which enters into the compound idea of this emblem.

“Cung đơn độc” nhỏ vào “Vực Sâu-Mẹ” có thể được hiểu là Tư Tưởng Thiêng Liêng, hay Trí Tuệ, làm thụ thai Hỗn Mang. Tuy nhiên, điều này xảy ra trên cõi trừu tượng siêu hình, hay đúng hơn trên cõi nơi điều mà chúng ta gọi là trừu tượng siêu hình lại là một thực tại. “Trứng Trinh Nguyên”, theo một nghĩa, là bản trừu tượng của mọi trứng, hay quyền năng phát triển qua sự thụ tinh, nên vĩnh cửu và mãi mãi như nhau. Và cũng như sự thụ tinh của một quả trứng diễn ra trước khi nó được đẻ ra, Mầm chu kỳ không vĩnh cửu, về sau trở thành Trứng Thế Gian trong biểu tượng học, khi nó xuất hiện từ biểu tượng ấy, chứa trong chính nó “lời hứa và tiềm năng” của toàn thể Vũ Trụ. Dù ý tưởng chính nó tất nhiên là một điều trừu tượng, một cách diễn đạt bằng biểu tượng, nó vẫn là một biểu tượng chân thật, vì nó gợi lên ý tưởng về vô hạn như một vòng tròn vô tận. Nó đưa ra trước con mắt của thể trí hình ảnh Kosmos xuất hiện từ và trong Không Gian vô biên, một Vũ Trụ không bờ bến về độ lớn, nếu không phải là vô tận trong biểu hiện khách quan của nó. Biểu tượng của quả trứng cũng diễn tả sự kiện được dạy trong Huyền bí học rằng hình tướng nguyên sơ của mọi sự đã biểu hiện, từ nguyên tử đến bầu hành tinh, từ con người đến thiên thần, đều có dạng cầu; khối cầu, đối với mọi dân tộc, là biểu tượng của vĩnh cửu và vô hạn—một con rắn nuốt đuôi mình. Tuy nhiên, để chứng nghiệm ý nghĩa, khối cầu phải được nghĩ như được nhìn từ trung tâm của nó. Trường tầm nhìn, hay của tư tưởng, giống như một khối cầu có các bán kính phát xuất từ chính bản thân mình theo mọi hướng, và kéo dài ra vào không gian, mở ra những viễn cảnh vô biên khắp xung quanh. Đó là vòng tròn biểu tượng của Pascal và các nhà Kabbalah, “có trung tâm ở khắp nơi và chu vi không ở đâu cả”—một quan niệm đi vào ý tưởng tổng hợp của biểu tượng này.

The “World-Egg” is, perhaps, one of the most universally adopted symbols, highly suggestive as it is, equally in the spiritual, physiological, and cosmological sense. Therefore, it is found in every world-theogony, where it is largely associated with the serpent symbol, the latter being everywhere, in philosophy as in religious symbolism, an emblem of eternity, infinitude, regeneration, and rejuvenation, as well as of wisdom. The mystery of apparent self-generation and evolution through its own creative power, repeating in miniature, in the egg, the process of cosmic evolution—both due to heat and moisture under the efflux of the unseen creative spirit—fully justified the selection of this graphic symbol. The “Virgin-Egg” is the microcosmic symbol of the macrocosmic prototype, the “Virgin Mother”—Chaos or the Primeval Deep. The male creator (under whatever name) springs forth from the virgin female, the Immaculate Root fructified by the Ray. Who, if versed in astronomy and natural sciences, can fail to see its suggestiveness? Kosmos, as receptive Nature, is an egg fructified—yet left immaculate; for once regarded as boundless, it could have no other representation than a spheroid. The Golden Egg was surrounded by seven natural Elements, “four ready [ether, fire, air, water], three secret.” This may be found stated in Vishnu Purâna, where elements are translated “envelopes,” and a secret one is added—Ahamkâra. 96 The original text has no Ahamkâra; it mentions seven Elements without specifying the last three.

“Trứng Thế Giới” có lẽ là một trong những biểu tượng được chấp nhận phổ quát nhất, vô cùng gợi nghĩa, như nó vốn thế, đồng thời trong ý nghĩa tinh thần, sinh lý và vũ trụ luận. Vì thế, nó được tìm thấy trong mọi thần hệ khởi nguyên của thế giới, nơi nó liên hệ rộng rãi với biểu tượng con rắn; biểu tượng sau ở khắp nơi, trong triết học cũng như trong biểu tượng học tôn giáo, là biểu tượng của vĩnh cửu, vô hạn, tái sinh và trẻ hóa, cũng như của minh triết. Huyền nhiệm về sự tự sinh biểu kiến và tiến hoá thông qua quyền năng sáng tạo riêng của nó, lặp lại ở mức thu nhỏ trong quả trứng tiến trình tiến hoá vũ trụ—cả hai đều do nhiệt và ẩm dưới dòng tuôn của tinh thần sáng tạo vô hình—hoàn toàn biện minh cho việc chọn biểu tượng gợi hình này. “Trứng Trinh Nguyên” là biểu tượng tiểu thiên địa của nguyên mẫu đại thiên địa, “Mẹ Trinh Nguyên”—Hỗn Mang hay Vực Sâu Nguyên Thủy. Đấng sáng tạo nam, dưới bất cứ danh xưng nào, xuất hiện từ nữ trinh nguyên, Gốc Rễ Vô Nhiễm được Cung làm cho kết trái. Ai thông thạo thiên văn học và khoa học tự nhiên mà lại không thấy được sức gợi của nó? Kosmos, với tư cách là Thiên Nhiên tiếp nhận, là một quả trứng đã được thụ tinh—nhưng vẫn được giữ vô nhiễm; vì một khi được xem là vô biên, nó không thể có biểu trưng nào khác ngoài một khối cầu. Trứng Vàng được bao quanh bởi bảy Nguyên tố tự nhiên, “bốn sẵn sàng [dĩ thái, lửa, khí, nước], ba bí mật.” Điều này có thể được thấy nêu trong Vishnu Purana, nơi các nguyên tố được dịch là “vỏ bọc”, và một bí mật được thêm vào—Ahamkara. 96 Nguyên văn không có Ahamkara; nó nêu bảy Nguyên tố mà không xác định ba nguyên tố cuối.

4. The Three 97 fall into the Four 98. The Radiant Essence becomes Seven inside, Seven outside (a). The Luminous Egg, 99which in itself is Three, 100 curdles and spreads in milk-white Curds throughout the Depths of Mother, the Root that grows in the Depths of the Ocean of Life (b).

4. Ba 97 rơi vào Bốn 98. Tinh Túy Rạng Rỡ trở thành Bảy ở trong, Bảy ở ngoài (a). Trứng Sáng Chói, 99 tự nó là Ba, 100 đông đặc và lan ra thành những Khối Sữa đông trắng như sữa khắp các Vực Sâu của Mẹ, Gốc Rễ mọc trong các Vực Sâu của Đại Dương Sự Sống (b).

The use of geometrical figures and the frequent allusions to figures in all ancient scriptures, as in the Purânas, the Egyptian Book of the Dead and even the Bible—must be explained. In the Book of Dzyan, as in the Kabalah, there are two kinds of numerals to be studied—the Figures, often simple blinds, and the Sacred Numbers, the values of which are all known to the Occultists through Initiation. The former are but conventional glyphs; the latter, the basic symbols of all. That is to say, the one are purely physical, the other purely metaphysical, the two standing in relation to each other as Matter stands to Spirit—the extreme poles of the One Substance.

Việc sử dụng các hình thể hình học và những ám chỉ thường xuyên đến các hình thể trong mọi kinh văn cổ đại, như trong Purana, Sách Chết của Ai Cập và thậm chí Kinh Thánh—cần được giải thích. Trong Sách Dzyan, cũng như trong Kabbalah, có hai loại số cần được nghiên cứu—các Hình, thường chỉ là những màn che đơn giản, và các Con Số Thiêng Liêng, mà các giá trị của chúng đều được các nhà Huyền bí học biết qua điểm đạo. Loại trước chỉ là các ký tự tượng hình quy ước; loại sau là các biểu tượng nền tảng của mọi sự. Nói cách khác, một bên thuần túy hồng trần, bên kia thuần túy siêu hình; cả hai đứng trong tương quan với nhau như Vật Chất đứng với Tinh thần—hai cực tận cùng của Chất Liệu Duy Nhất.

As Balzac, the unconscious Occultist of French literature, says somewhere, the Number is to Mind the same as it is to Matter, “an incomprehensible agent.” Perhaps so to the profane, never to the initiated mind. Number is, as the great writer thought, an Entity, and, at the same time, a Breath emanating from what he called God and what we call the All, the Breath which alone could organize the physical Cosmos, “where naught obtains its form but through the Deity, which is an effect of Number.” It is instructive to quote Balzac’s words upon this subject: The smallest as the most immense creations, are they not to be distinguished from each other by their quantities, their qualities, their dimensions, their forces and attributes, all begotten by Number? The infinitude of Numbers is a fact proven to our mind, but of which no proof can be physically given. The mathematician will tell us that the infinitude of Numbers exists but is not to be demonstrated. God is a Number endowed with motion, which is felt but not demonstrated. As Unity, it begins the Numbers, with which it has nothing in common…. The existence of Numbers depends on Unity, which without a single Number, begets them all…. What! unable either to measure the first abstraction yielded to you by the Deity, or to get hold of it, you still hope to subject to your measurements the mystery of the Secret Sciences which emanate from that Deity?…. And what would you feel, were I to plunge you into the abysses of Motion, the Force which organizes the Numbers? What would you think, were I to add that Motion and Number 101 are begotten by the Word, the Supreme Reason of the Seers and Prophets, who, in days of old, sensed the mighty Breath of God, a witness to which is the Apocalypse?

Như Balzac, nhà Huyền bí học vô thức của văn học Pháp, có nói đâu đó, Con Số đối với Trí cũng như đối với Vật Chất, là “một tác nhân không thể thấu hiểu.” Có lẽ đúng như vậy đối với kẻ phàm tục, nhưng không bao giờ như vậy đối với trí tuệ đã được điểm đạo. Con Số, như nhà văn vĩ đại ấy nghĩ, là một Thực Thể, đồng thời là một Hơi Thở xuất lộ từ cái mà ông gọi là Thượng đế và cái mà chúng ta gọi là Toàn Thể, Hơi Thở duy nhất có thể tổ chức Vũ Trụ hồng trần, “nơi không gì đạt được hình tướng ngoài qua Thượng đế, vốn là một hiệu quả của Con Số.” Thật hữu ích khi trích lời Balzac về đề tài này: Những sáng tạo nhỏ nhất cũng như bao la nhất, há chẳng được phân biệt với nhau bởi số lượng, phẩm tính, kích thước, mãnh lực và thuộc tính của chúng, tất cả đều do Con Số sinh ra hay sao? Tính vô tận của các Con Số là một sự kiện đã được chứng minh với trí chúng ta, nhưng không thể đưa ra bằng chứng hồng trần nào về nó. Nhà toán học sẽ nói với chúng ta rằng tính vô tận của các Con Số hiện hữu nhưng không thể chứng minh. Thượng đế là một Con Số được phú cho chuyển động, có thể được cảm nhận nhưng không thể chứng minh. Như Nhất Thể, nó khởi đầu các Con Số, nhưng không có điểm chung nào với chúng…. Sự hiện hữu của các Con Số tùy thuộc vào Nhất Thể, vốn không có một Con Số nào mà lại sinh ra tất cả chúng…. Sao! không thể đo lường hay nắm bắt sự trừu tượng đầu tiên mà Thượng đế ban cho bạn, bạn vẫn còn hy vọng đặt dưới các phép đo lường của mình mầu nhiệm của các Khoa Học Bí Nhiệm xuất lộ từ Thượng đế ấy ư?…. Và bạn sẽ cảm thấy gì, nếu tôi dìm bạn vào những vực thẳm của Chuyển Động, Mãnh Lực tổ chức các Con Số? Bạn sẽ nghĩ gì, nếu tôi nói thêm rằng Chuyển ĐộngCon Số 101 được sinh ra bởi Linh từ, Lý Trí Tối Cao của các nhà thông nhãn và các nhà tiên tri, những người vào thời xa xưa đã cảm nhận được Hơi Thở hùng mạnh của Thượng đế, mà Sách Khải Huyền là một chứng tích?

(b) “The Radiant Essence curdles and spreads throughout the Depths” of Space. From an astronomical point of view this is easy of explanation: it is the Milky Way, the World-Stuff, or Primordial Matter in its first form. It is more difficult, however, to explain it in a few words, or even lines, from the standpoint of Occult Science and Symbolism, as it is the most complicated of glyphs. Herein are enshrined more than a dozen symbols. To begin with, it contains the whole pantheon of mysterious objects, 102 every one of them having some definite Occult meaning, extracted from the Hindû allegorical “Churning of the Ocean” by the Gods. Besides Amrita, the water of life or immortality, Surabhi, the “cow of plenty,” called “the fountain of milk and curds,” was extracted from this “sea of milk.” Hence the universal adoration of the cow and bull, one the productive, the other the generative power in Nature: symbols connected with both the solar and the cosmic deities. The specific properties, for Occult purposes, of the “fourteen precious things,” being explained only at the Fourth Initiation, cannot be given here; but the following may be remarked. In the Shatapatha Brâhmana it is stated that the Churning of the Ocean of Milk took place in the Satya Yuga, the first Age which immediately followed the “Deluge.” As, however, neither the Rig Veda nor Manu—both preceding Vaivasvata’s “Deluge,” that of the bulk of the Fourth Race—mention this Deluge, it is evident that it is neither the Great Deluge, nor that which carried away Atlantis, nor even the Deluge of Noah, which is here meant. This “Churning” relates to a period before the earth’s formation, and is in direct connection with another universal legend, the various and contradictory versions of which culminated in the Christian dogma of the “War in Heaven,” and the “Fall of the Angels.” The Brâhmanas, reproached by the Orientalists with their versions on the same subjects often clashing with each other, are preeminently occult works, hence used purposely as blinds. They are allowed to survive for public use and property only because they were and are absolutely unintelligible to the masses. Otherwise they would have disappeared from circulation as long ago as the days of Akbar.

(b) “Tinh Chất Rạng Rỡ đông lại và lan khắp các Chiều Sâu” của Không Gian. Từ quan điểm thiên văn học, điều này dễ giải thích: đó là Ngân Hà, Chất Liệu Thế Giới, hay Vật Chất Nguyên Thủy trong hình thái đầu tiên của nó. Tuy nhiên, khó hơn nhiều khi giải thích điều này trong vài lời, hay thậm chí vài dòng, từ lập trường của Khoa Học Huyền Bí và Biểu Tượng Học, vì đây là một trong những phù hiệu phức tạp nhất. Chính trong đó cất giữ hơn một chục biểu tượng. Trước hết, nó chứa toàn bộ điện thần của những đối tượng huyền nhiệm, 102 mỗi đối tượng đều có một ý nghĩa Huyền Bí xác định nào đó, được rút ra từ ngụ ngôn Ấn giáo “Khuấy Biển” bởi các vị thần. Ngoài Amrita, nước của sự sống hay bất tử, Surabhi, “con bò của sự sung mãn,” được gọi là “nguồn sữa và sữa đông,” cũng được rút ra từ “biển sữa” này. Do đó có sự tôn thờ phổ quát đối với bò cái và bò đực, một bên là quyền năng sản sinh, bên kia là quyền năng sinh thành trong Thiên Nhiên: những biểu tượng liên hệ cả với các thần thái dương lẫn các thần vũ trụ. Những tính chất đặc biệt, cho các mục đích Huyền Bí, của “mười bốn vật quý,” vì chỉ được giải thích ở lần điểm đạo thứ tư, nên không thể trình bày ở đây; nhưng có thể nhận xét như sau. Trong Shatapatha Brahmana có nói rằng việc Khuấy Biển Sữa diễn ra trong Satya Yuga, Thời Đại thứ nhất ngay sau “Đại Hồng Thủy.” Tuy nhiên, vì cả Rig Veda lẫn Manu—cả hai đều có trước “Đại Hồng Thủy” của Vaivasvata, tức đại hồng thủy của phần lớn giống dân thứ tư—đều không đề cập đến Đại Hồng Thủy này, nên rõ ràng ở đây không có ý nói đến Đại Hồng Thủy lớn, cũng không phải trận lụt cuốn trôi Atlantis, thậm chí cũng không phải Đại Hồng Thủy của Noah. Việc “Khuấy” này liên quan đến một thời kỳ trước khi Trái Đất được hình thành, và có mối liên hệ trực tiếp với một truyền thuyết phổ quát khác, mà những phiên bản đa dạng và mâu thuẫn của nó đã đạt tới đỉnh điểm trong giáo điều Cơ Đốc về “Cuộc Chiến trên Trời,” và “Sự Sa Ngã của các Thiên Thần.” Các Brahmana, bị các nhà Đông phương học chê trách vì các phiên bản của chúng về cùng những đề tài ấy thường xung đột với nhau, vốn ưu việt là các tác phẩm huyền bí, nên được dùng có chủ ý như những bức màn che. Chúng được phép tồn tại để công chúng sử dụng và sở hữu chỉ vì chúng đã và đang tuyệt đối khó hiểu đối với quần chúng. Nếu không, chúng đã biến mất khỏi lưu hành từ rất lâu, ngay từ thời Akbar.

5. The Root remains, the Light remains, the Curds remain, and still Oeaohoo is One.

5. Cội Rễ vẫn còn, Ánh Sáng vẫn còn, Sữa Đông vẫn còn, và Oeaohoo vẫn là Một.

“Oeaohoo” is rendered “Father-Mother of the Gods” in the Commentaries, or the “Six in One,” or the Septenary Root from which all proceeds. All depends upon the accent given to these seven vowels, which may be pronounced as one, three, or even seven syllables, by adding an e after the final o. This mystic name is given out, because without a thorough mastery of the triple pronunciation it remains for ever ineffectual.

“Oeaohoo” được diễn giải trong các Luận Giải là “Cha-Mẹ của các Vị Thần,” hay “Sáu trong Một,” hoặc Cội Rễ Thất Phân từ đó tất cả phát sinh. Tất cả tùy thuộc vào trọng âm đặt trên bảy nguyên âm này, vốn có thể được phát âm như một, ba, hay thậm chí bảy âm tiết, bằng cách thêm một e sau chữ o cuối cùng. Danh xưng thần bí này được công bố, bởi nếu không hoàn toàn làm chủ cách phát âm tam phân, nó sẽ mãi mãi không có hiệu lực.

“Is One” refers to the Non-Separateness of all that lives and has its being, whether in an active or passive state. In one sense, Oeaohoo is the Rootless Root of All; hence, one with Parabrahman: in another sense it is a name for the manifested One Life, the eternal living Unity. The “Root” means, as already explained, Pure Knowledge (Sattva), 103 eternal (nitya) unconditioned Reality, or Sat (Satya), whether we call it Parabrahman or Mûlaprakriti, for these are but the two symbols of the One. The “Light” is the same Omnipresent Spiritual Ray, which has entered and now fecundated the Divine Egg, and calls cosmic matter to begin its long series of differentiations. The “Curds” are the first differentiation, and probably also refer to that cosmic matter which is supposed to be the origin of the Milky Way—the matter we know. This “matter,” which, according to the revelation received from the primeval Dhyâni-Buddhas, is, during the periodical Sleep of the Universe, of the ultimate tenuity conceivable to the eye of the perfect Bodhisattva—this matter, radiant and cool, becomes, at the first reawakening of cosmic motion, scattered through Space; appearing, when seen from the Earth, in clusters and lumps, like curds in thin milk. These are the seeds of the future worlds, the “star-stuff.”

“Là Một” chỉ tính Bất Phân Ly của tất cả những gì sống và hiện tồn, dù ở trạng thái hoạt động hay thụ động. Theo một nghĩa, Oeaohoo là Cội Rễ Không Gốc của Tất Cả; do đó, là một với Parabrahman: theo một nghĩa khác, đó là danh xưng của Sự Sống Duy Nhất đã biểu hiện, Nhất Thể sống động vĩnh cửu. “Cội Rễ” nghĩa là, như đã giải thích, Tri Thức Thuần Khiết (Sattva), 103 Thực Tại vĩnh cửu (nitya) vô điều kiện, hay Sat (Satya), dù chúng ta gọi nó là Parabrahman hay Mulaprakriti, vì chúng chỉ là hai biểu tượng của Đấng Duy Nhất. “Ánh Sáng” là cùng Tia Tinh Thần Toàn Hiện ấy, đã đi vào và nay thụ tinh cho Trứng Thiêng Liêng, đồng thời kêu gọi vật chất vũ trụ bắt đầu chuỗi dài những biến phân của nó. “Sữa Đông” là sự biến phân đầu tiên, và có lẽ cũng ám chỉ vật chất vũ trụ được cho là nguồn gốc của Ngân Hà—vật chất mà chúng ta biết. “Vật chất” này, theo sự mặc khải nhận được từ các Dhyani-Buddha nguyên sơ, trong thời kỳ Ngủ theo chu kỳ của Vũ Trụ, có độ tinh vi tối hậu mà mắt của vị Bồ Tát hoàn hảo có thể hình dung—vật chất ấy, rạng rỡ và mát lạnh, vào lần thức tỉnh đầu tiên của chuyển động vũ trụ, trở nên rải rác khắp Không Gian; khi nhìn từ Trái Đất, nó hiện ra thành từng cụm và từng khối, như sữa đông trong sữa loãng. Đó là các hạt giống của những thế giới tương lai, “chất liệu sao.”

6. The Root of Life was in every Drop of the Ocean of Immortality, 104and the Ocean was Radiant Light, which was Fire, and Heat, and Motion. Darkness vanished and was no more; it disappeared in its own Essence, the Body of Fire and Water, of Father and Mother.

6. Cội Rễ của Sự Sống ở trong từng Giọt của Đại Dương Bất Tử, 104và Đại Dương là Ánh Sáng Rạng Rỡ, vốn là Lửa, và Nhiệt, và Chuyển Động. Bóng Tối tan biến và không còn nữa; nó biến mất trong chính Tinh Chất của nó, Thể của Lửa và Nước, của Cha và Mẹ.

The Essence of Darkness being Absolute Light, Darkness is taken as the appropriate allegorical representation of the condition of the Universe during Pralaya, or the term of Absolute Rest, or Non-Being, as it appears to our finite minds. The “Fire, and Heat, and Motion,” here spoken of, are, of course, not the fire, heat, and motion of Physical Science, but the underlying abstractions, the noumena, or the soul, of the essence of these material manifestations—the “things in themselves,” which, as Modern Science confesses, entirely elude the instruments of the laboratory, and which even the mind cannot grasp, although it can equally as little avoid the conclusion that these underlying essences of things must exist. “Fire and Water, or Father and Mother,” may be taken here to mean the divine Ray and Chaos. “Chaos, from this union with Spirit obtaining sense, shone with pleasure, and thus was produced the Protogonos [the first-born Light],” says a fragment of Hermas. Damascius calls it Dis, the “disposer of all things.” 105

Vì Tinh Chất của Bóng Tối là Ánh Sáng Tuyệt Đối, nên Bóng Tối được xem là biểu tượng ngụ ngôn thích hợp cho trạng thái của Vũ Trụ trong Giai kỳ qui nguyên, hay thời kỳ Nghỉ Ngơi Tuyệt Đối, hoặc Phi-Hiện Hữu, như nó hiện ra đối với trí hữu hạn của chúng ta. “Lửa, và Nhiệt, và Chuyển Động” được nói đến ở đây, dĩ nhiên, không phải là lửa, nhiệt và chuyển động của Khoa Học Hồng Trần, mà là những trừu tượng nền tảng, những bản thể lý tính, hay linh hồn, của tinh chất các biểu hiện vật chất này—“những sự vật tự thân,” mà như Khoa Học Hiện Đại thú nhận, hoàn toàn vượt khỏi các dụng cụ của phòng thí nghiệm, và ngay cả trí tuệ cũng không thể nắm bắt, dù nó cũng không thể tránh khỏi kết luận rằng những tinh chất nền tảng ấy của sự vật phải hiện hữu. “Lửa và Nước, hay Cha và Mẹ,” ở đây có thể được hiểu là Tia thiêng liêng và Hỗn Mang. Một mảnh văn của Hermas nói: “Hỗn Mang, nhờ sự kết hợp này với Tinh Thần mà đạt được cảm thức, đã bừng sáng trong hoan lạc, và như thế Protogonos [Ánh Sáng đầu sinh] được tạo ra.” Damascius gọi nó là Dis, “đấng an bài mọi sự.” 105

According to the Rosicrucian tenets, as handled and explained by the profane for once correctly, if only partially, “Light and Darkness are identical in themselves, being only divisible in the human mind”; and according to Robert Fludd, “Darkness adopted illumination in order to make itself visible.” 106 According to the tenets of Eastern Occultism, Darkness is the one true actuality, the basis and the root of Light, without which the latter could never manifest itself, nor even exist. Light is Matter, and Darkness pure Spirit. Darkness, in its radical, metaphysical basis, is subjective and absolute Light; while the latter in all its seeming effulgence and glory, is merely a mass of shadows, as it can never be eternal, and is simply an Illusion, or Mâyâ.

Theo giáo lý Rosicrucian, như được người phàm tục xử lý và giải thích đúng một lần, dù chỉ một phần, “Ánh Sáng và Bóng Tối đồng nhất trong tự thân, chỉ có thể bị phân chia trong trí con người”; và theo Robert Fludd, “Bóng Tối đã tiếp nhận sự soi sáng để làm cho chính nó trở nên thấy được.” 106 Theo giáo lý của Huyền Bí Học Đông phương, Bóng Tối là thực tại chân thật duy nhất, nền tảng và cội rễ của Ánh Sáng, không có nó thì Ánh Sáng không bao giờ có thể biểu hiện, thậm chí cũng không thể hiện hữu. Ánh Sáng là Vật Chất, còn Bóng Tối là Tinh Thần thuần khiết. Bóng Tối, trong nền tảng siêu hình căn nguyên của nó, là Ánh Sáng chủ quan và tuyệt đối; trong khi Ánh Sáng, với tất cả vẻ rực rỡ và vinh quang bề ngoài của nó, chỉ là một khối bóng đổ, vì nó không bao giờ có thể là vĩnh cửu, và đơn giản chỉ là một Ảo Tưởng, hay Maya.

Even in the mind-baffling and science-harassing Genesis, 107 light is created out of darkness— “and darkness was upon the face of the deep”—and not vice versâ. “In him [in darkness] was life; and the life was the light of men.” 108 A day may come when the eyes of men will be opened; and then they may comprehend better than they do now the verse in the Gospel of John that says, “And the light shineth in darkness; and the darkness comprehendeth it not.” They will see then that the word “darkness” does not apply to man’s spiritual eyesight, but indeed to Darkness, the Absolute, that comprehendeth not (cannot cognize) transient Light, however transcendent to human eyes. Demon est Deus inversus. The Devil is now called “darkness” by the Church, whereas in the Bible, in the Book of Job, he is called the “Son of God,” the bright star of the early morning, Lucifer. There is a whole philosophy of dogmatic craft in the reason why the first Archangel, who sprang from the depths of Chaos, was called Lux (Lucifer), the luminous “Son of the Morning,” or Manvantaric Dawn. He has been transformed by the Church into Lucifer or Satan, because he is higher and older than Jehovah, and had to be sacrificed to the new dogma.

Ngay cả trong Sáng Thế Ký khiến trí bối rối và khoa học phiền nhiễu, 107 ánh sáng cũng được tạo ra từ bóng tối—“và bóng tối ở trên mặt vực sâu”—chứ không phải ngược lại. “Trong ngài [trong bóng tối] có sự sống; và sự sống là ánh sáng của loài người.” 108 Một ngày kia mắt loài người có thể được mở ra; và khi ấy họ có thể thấu hiểu rõ hơn hiện nay câu trong Phúc Âm của John rằng, “Và ánh sáng chiếu trong bóng tối; và bóng tối không thấu hiểu nó.” Khi ấy họ sẽ thấy rằng từ “bóng tối” không áp dụng cho nhãn quan tinh thần của con người, mà thật ra cho Bóng Tối, Tuyệt Đối, Đấng không thấu hiểu, tức không thể nhận biết, Ánh Sáng thoáng qua, dù Ánh Sáng ấy siêu việt đến đâu đối với mắt người. Quỷ là Thượng đế đảo nghịch. Nay Giáo Hội gọi Quỷ là “bóng tối,” trong khi trong Kinh Thánh, trong Sách Job, hắn được gọi là “Con của Thượng đế,” ngôi sao sáng của buổi sớm, Lucifer. Có cả một triết lý về thủ đoạn giáo điều trong lý do vì sao Tổng Thiên Thần đầu tiên, phát sinh từ các chiều sâu của Hỗn Mang, được gọi là Lux (Lucifer), “Con của Buổi Sớm” chói sáng, hay Bình Minh Giai kỳ sinh hóa. Hắn đã bị Giáo Hội chuyển hóa thành Lucifer hay Satan, bởi hắn cao hơn và xưa hơn Jehovah, và phải bị hiến tế cho giáo điều mới.

7. Behold, O Lanoo, 109 the Radiant Child of the Two, the unparalleled refulgent Glory—Bright Space, Son of Dark Space, who emerges from the Depths of the great Dark Waters. It is Oeaohoo, the Younger, the ——  110 (a). He shines forth as the Sun, he is the Blazing Divine Dragon of Wisdom; the Eka 111 is Chatur, and Chatur takes to itself Tri, and the Union produces the Sapta, in whom are the Seven, which become the Tridasha, 112 the Hosts and the Multitudes (b). Behold him lifting the Veil, and unfurling it from East To West. He shuts out the Above, and leaves the Below to be seen as the Great Illusion. He marks the places for the Shining Ones, 113and turns the Upper 114 into a shoreless Sea of Fire (c), and the One Manifested 115 into the Great Waters.

7. Hãy nhìn xem, hỡi Lanoo, 109 Đứa Con Rạng Rỡ của Hai Đấng, Vinh Quang chói lọi vô song—Không Gian Sáng, Con của Không Gian Tối, xuất hiện từ các Chiều Sâu của những Vùng Nước Tối vĩ đại. Đó là Oeaohoo, Trẻ Hơn, —— 110 (a). Ngài tỏa sáng như Mặt Trời, Ngài là Rồng Thiêng Liêng Rực Lửa của Minh Triết; Eka 111 là Chatur, và Chatur nhận lấy Tri vào chính mình, và Sự Hợp Nhất tạo ra Sapta, trong đó có Bảy, trở thành Tridasha, 112 các Đạo Quân và các Đoàn Đông Đảo (b). Hãy nhìn xem Ngài nâng Tấm Màn lên, và mở tung nó từ Đông sang Tây. Ngài che khuất Cõi Trên, và để Cõi Dưới được thấy như Đại Ảo Tưởng. Ngài đánh dấu các vị trí cho các Đấng Chói Sáng, 113và biến Cõi Trên 114 thành một Biển Lửa không bờ (c), và Đấng Duy Nhất Biểu Hiện 115 thành Những Vùng Nước Vĩ Đại.

(a) “Bright Space, Son of Dark Space,” corresponds to the Ray dropped at the first thrill of the new Dawn into the great Cosmic Depths, from which it reemerges differentiated as “Oeaohoo, the Younger” (the “New Life”), to be to the end of the Life-Cycle the Germ of all things. He is “the Incorporeal Man who contains in himself the Divine Idea,” the generator of Light and Life, to use an expression of Philo Judæus. He is called the “Blazing Dragon of Wisdom,” because, firstly, he is that which the Greek philosophers called the Logos, the Verbum of the Thought Divine; and secondly, because in Esoteric Philosophy this first manifestation, being the synthesis or the aggregate of Universal Wisdom, Oeaohoo, the “Son of the Sun,” contains in himself the Seven Creative Hosts (Sephiroth), and is thus the essence of manifested Wisdom. “He who bathes in the Light of Oeaohoo will never be deceived by the Veil of Mâyâ.”

(a) “Không Gian Sáng, Con của Không Gian Tối,” tương ứng với Tia được thả vào các Chiều Sâu Vũ Trụ vĩ đại ở rung động đầu tiên của Bình Minh mới, từ đó nó tái xuất hiện đã biến phân thành “Oeaohoo, Trẻ Hơn” (“Sự Sống Mới”), để cho đến cuối Chu Kỳ Sự Sống trở thành Mầm Mống của mọi sự. Ngài là “Con Người Vô Thể, chứa trong chính mình Ý Tưởng Thiêng Liêng,” đấng sinh thành Ánh Sáng và Sự Sống, dùng một cách nói của Philo Judaeus. Ngài được gọi là “Rồng Rực Lửa của Minh Triết,” bởi trước hết, Ngài là cái mà các triết gia Hy Lạp gọi là Logos, Verbum của Tư Tưởng Thiêng Liêng; và thứ hai, bởi trong Triết Học Nội Môn, biểu hiện đầu tiên này, là tổng hợp hay toàn thể của Minh Triết Vũ Trụ, Oeaohoo, “Con của Mặt Trời,” chứa trong chính mình Bảy Đạo Quân Sáng Tạo (Sephiroth), và vì thế là tinh chất của Minh Triết biểu hiện. “Kẻ nào tắm trong Ánh Sáng của Oeaohoo sẽ không bao giờ bị Tấm Màn Maya lừa dối.”

“Kwan-Shai-Yin” is identical with, and an equivalent of the Sanskrit Avalokiteshvara, and as such is an androgynous deity, like the Tetragrammaton and all the Logoi of antiquity. It is only by some sects in China that he is anthropomorphized, and represented with female attributes; under his female aspect becoming Kwan-Yin, the Goddess of Mercy, called the “Divine Voice.” 116 The latter is the patron deity of Tibet and of the island of Puto in China, where both deities have a number of monasteries. 117

“Kwan-Shai-Yin” đồng nhất với, và là tương đương của Avalokiteshvara tiếng Sanskrit, và với tư cách ấy là một thần linh lưỡng tính, giống Tetragrammaton và tất cả các Thượng đế thời cổ. Chỉ một vài giáo phái ở Trung Hoa nhân hình hóa Ngài và trình bày Ngài với các thuộc tính nữ; dưới phương diện nữ, Ngài trở thành Kwan-Yin, Nữ Thần Từ Bi, được gọi là “Tiếng Nói Thiêng Liêng.” 116 Vị sau là thần bảo hộ của Tây Tạng và đảo Puto ở Trung Hoa, nơi cả hai thần linh đều có nhiều tu viện. 117

The higher gods of antiquity are all “Sons of the Mother” before they become “Sons of the Father.” The Logoi, like Jupiter or Zeus, son of Cronus-Saturn, “Infinite Time” (Kâla), in their origin were represented as male-female. Zeus is said to be the “beautiful virgin,” and Venus is made bearded. Apollo was originally bisexual, so is Brahmâ-Vâch in Manu and the Purânas. Osiris is interchangeable with Isis, and Horus is of both sexes. Finally in St. John’s vision in Revelation, the Logos, who is now connected with Jesus, is hermaphrodite, for he is described as having female breasts. So also is Tetragrammaton, or Jehovah. But there are two Avalokiteshvaras in Esotericism; the First and the Second Logos.

Các vị thần cao hơn của thời cổ đều là “Con của Mẹ” trước khi trở thành “Con của Cha.” Các Thượng đế, như Jupiter hay Zeus, con của Cronus-Saturn, “Thời Gian Vô Tận” (Kala), trong nguồn gốc được trình bày là nam-nữ. Zeus được nói là “trinh nữ xinh đẹp,” và Venus được làm cho có râu. Apollo ban đầu là lưỡng tính, Brahma-Vach trong Manu và các Purana cũng vậy. Osiris có thể hoán đổi với Isis, và Horus thuộc cả hai phái. Cuối cùng, trong linh ảnh của Thánh John trong Khải Huyền, Logos, nay được liên kết với Đức Jesus, là lưỡng tính, vì Ngài được mô tả là có ngực phụ nữ. Tetragrammaton, hay Jehovah, cũng vậy. Nhưng trong huyền bí học có hai Avalokiteshvara; Logos Thứ Nhất và Logos Thứ Hai.

No religious symbol can escape profanation and even derision in our days of politics and science. In Southern India the writer has seen a converted native making pûjâ with offerings before a statue of Jesus clad in woman’s clothes and with a ring in its nose. On asking the meaning of this masquerade, we were answered that it was Jesu-Maria blended in one, and that it was done by the permission of the Padre, as the zealous convert had no money to purchase two statues, or “idols” as they, very properly, were called by a witness, another but a non-converted Hindû. Blasphemous this will appear to a dogmatic Christian, but the Theosophist and the Occultist must award the palm of logic to the converted Hindû. The esoteric Christos in the Gnôsis is, of course, sexless, but in exoteric Theology he is male and female.

Không biểu tượng tôn giáo nào có thể thoát khỏi sự báng bổ và thậm chí nhạo báng trong thời đại chính trị và khoa học của chúng ta. Ở Nam Ấn, tác giả đã thấy một người bản xứ cải đạo làm puja với lễ vật trước một tượng Đức Jesus mặc y phục phụ nữ và đeo khuyên ở mũi. Khi hỏi ý nghĩa của trò hóa trang này, chúng tôi được trả lời rằng đó là Jesu-Maria hòa làm một, và việc ấy được làm với sự cho phép của Padre, vì người cải đạo nhiệt thành kia không có tiền mua hai pho tượng, hay “ngẫu tượng” như chúng được gọi rất đúng bởi một nhân chứng, một người Ấn giáo khác nhưng chưa cải đạo. Điều này sẽ có vẻ phạm thượng đối với một tín đồ Cơ Đốc giáo điều, nhưng nhà Thông Thiên Học và nhà Huyền Bí Học phải trao vòng nguyệt quế của lý luận cho người Ấn giáo cải đạo. Christos nội môn trong Gnôsis, dĩ nhiên, là vô tính, nhưng trong Thần Học ngoại môn, Ngài là nam và nữ.

(b) The “Dragon of Wisdom” is the One, the “Eka” or Saka. It is curious that Jehovah’s name in Hebrew should also be One, Achad. “His name is Achad,” say the Rabbins. The Philologists ought to decide which of the two is derived from the other, linguistically and symbolically; surely, not the Sanskrit. The “One” and the “Dragon” are expressions used by the ancients in connection with their respective Logoi. Jehovah—esoterically Elohim—is also the Serpent or Dragon that tempted Eve; and the Dragon is an old glyph for the Astral Light (Primordial Principle), “which is the Wisdom of Chaos.” Archaic philosophy, recognizing neither Good nor Evil as a fundamental or independent power, but starting from the Absolute All (Universal Perfection eternally), traces both through the course of natural evolution to pure Light condensing gradually into form, and hence becoming Matter or Evil. It was left with the early and ignorant Christian Fathers to degrade the philosophical and highly scientific idea of this emblem into the absurd superstition called the “Devil.” They took this from the later Zoroastrians, who saw Devils or Evil in the Hindû Devas, and the word Evil has become by a double transmutation D’Evil (Diabolos, Diable, Diavolo, Teufel). But the Pagans have always shown a philosophical discrimination in their symbols. The primitive symbol of the serpent symbolized divine Wisdom and Perfection, and has always stood for psychical Regeneration and Immortality. Hence, Hermes calling the serpent the most spiritual of all beings; Moses, initiated into the Wisdom of Hermes, following suit in Genesis; the Gnostic Serpent with the seven vowels over its head, being the emblem of the Seven Hierarchies of the Septenary or Planetary Creators. Hence, also, the Hindû serpent Shesha or Ananta, the Infinite, a name of Vishnu, and his first Vâhana, or Vehicle, on the Primordial Waters. Like the Logoi and the Hierarchies of Powers, however, these serpents have to be distinguished one from the other. Shesha or Ananta, the “Couch of Vishnu,” is an allegorical abstraction, symbolizing infinite Time in Space, which contains the Germ and throws off periodically the efflorescence of this Germ, the Manifested Universe; whereas, the Gnostic Ophis contains the same triple symbolism in its seven vowels as the one, three and seven-syllabled Oeaohoo of the archaic doctrine; i.e., the First Unmanifested Logos, the Second Manifested, the Triangle concreting into the Quaternary or Tetragrammaton, and the Rays of the latter on the material plane.

(b) “Rồng của Minh Triết” là Đấng Duy Nhất, “Eka” hay Saka. Thật lạ là danh xưng Jehovah trong Hebrew cũng là Một, Achad. “Danh của Ngài là Achad,” các Rabbi nói. Các nhà ngữ văn học nên quyết định cái nào trong hai từ này bắt nguồn từ cái kia, về mặt ngôn ngữ và biểu tượng; chắc chắn không phải tiếng Sanskrit. “Đấng Duy Nhất” và “Rồng” là những cách nói được người xưa dùng liên quan đến các Thượng đế tương ứng của họ. Jehovah—về mặt nội môn là Elohim—cũng là Con Rắn hay Rồng đã cám dỗ Eve; và Rồng là một phù hiệu cổ xưa chỉ Ánh Sáng Cảm Dục (Nguyên Khí Nguyên Thủy), “vốn là Minh Triết của Hỗn Mang.” Triết học cổ xưa, không thừa nhận Thiện hay Ác như một quyền năng căn bản hoặc độc lập, mà khởi đi từ Toàn Thể Tuyệt Đối (Sự Hoàn Hảo Phổ Quát vĩnh cửu), truy nguyên cả hai qua tiến trình tiến hóa tự nhiên đến Ánh Sáng thuần khiết dần dần ngưng tụ thành hình tướng, và do đó trở thành Vật Chất hay Ác. Chính các Giáo Phụ Cơ Đốc ban đầu, dốt nát, đã hạ thấp ý tưởng triết học và rất khoa học của biểu tượng này thành mê tín phi lý gọi là “Quỷ.” Họ lấy điều này từ những người Zoroastria về sau, những người thấy Quỷ hay Ác trong các Deva Ấn giáo, và từ Ác đã trở thành, qua một chuyển hóa kép, Quỷ Ác. Nhưng các dân ngoại luôn thể hiện sự phân biện triết học trong các biểu tượng của họ. Biểu tượng nguyên thủy của con rắn tượng trưng Minh Triết và Sự Hoàn Hảo thiêng liêng, và luôn biểu thị Sự Tái Sinh thông linh và Bất Tử. Do đó, Hermes gọi con rắn là sinh linh tinh thần nhất trong mọi sinh linh; Moses, được điểm đạo vào Minh Triết của Hermes, cũng làm theo trong Sáng Thế Ký; Con Rắn Gnostic với bảy nguyên âm trên đầu là biểu tượng của Bảy Thánh Đoàn của các Đấng Sáng Tạo Thất Phân hay Hành Tinh. Cũng do đó, con rắn Ấn giáo Shesha hay Ananta, Vô Tận, một danh xưng của Vishnu, và Vahana, hay Vận cụ, đầu tiên của Ngài trên Những Vùng Nước Nguyên Thủy. Tuy nhiên, giống như các Thượng đế và các Thánh Đoàn Quyền Năng, những con rắn này phải được phân biệt với nhau. Shesha hay Ananta, “Trường Kỷ của Vishnu,” là một trừu tượng ngụ ngôn, tượng trưng cho Thời Gian vô tận trong Không Gian, vốn chứa Mầm Mống và theo chu kỳ phóng ra sự nở rộ của Mầm Mống này, tức Vũ Trụ Biểu Hiện; trong khi Ophis Gnostic chứa cùng biểu tượng tam phân trong bảy nguyên âm của nó như Oeaohoo một, ba và bảy âm tiết của giáo lý cổ xưa; tức Logos Thứ Nhất Không Biểu Hiện, Logos Thứ Hai Biểu Hiện, Tam Giác kết đặc thành Tứ Phân hay Tetragrammaton, và các Tia của cái sau trên cõi vật chất.

Yet they all made a difference between the good and the bad Serpent (the Astral Light of the Kabalists)—between the former, the embodiment of divine Wisdom in the region of the Spiritual, and the latter, Evil, on the plane of Matter. For the Astral Light, or the Ether, of the ancient Pagans—the name Astral Light is quite modern—is Spirit-Matter. Beginning with the pure spiritual plane, it becomes grosser as it descends, until it becomes Mâyâ, or the tempting and deceitful Serpent on our plane.

Tuy vậy, tất cả họ đều phân biệt giữa Con Rắn tốt và Con Rắn xấu (Ánh Sáng Cảm Dục của các nhà Kabbalah)—giữa con trước, hiện thân của Minh Triết thiêng liêng trong vùng của Tinh Thần, và con sau, Ác, trên cõi Vật Chất. Vì Ánh Sáng Cảm Dục, hay Dĩ Thái, của các dân ngoại cổ xưa—danh xưng Ánh Sáng Cảm Dục khá hiện đại—là Tinh Thần-Vật Chất. Bắt đầu từ cõi tinh thần thuần khiết, nó trở nên thô trược hơn khi đi xuống, cho đến khi trở thành Maya, hay Con Rắn cám dỗ và lừa dối trên cõi của chúng ta.

Jesus accepted the serpent as a synonym of Wisdom, and this formed part of his teaching: “Be ye wise as serpents,” he says. “In the beginning, before Mother became Father-Mother, the Fiery Dragon moved in the Infinitudes alone.” 118 The Aitareya Brahmana calls the Earth Sarparâjni, the “Serpent Queen,” and the “Mother of all that moves.” Before our globe became egg-shaped (and the Universe also), “a long trail of cosmic dust [or fire-mist] moved and writhed like a serpent in Space.” The “Spirit of God moving on Chaos” was symbolized by every nation in the shape of a fiery serpent breathing fire and light upon the primordial waters, until it had incubated cosmic matter and made it assume the annular shape of a serpent with its tail in its mouth—which symbolizes not only eternity and infinitude, but also the globular shape of all the bodies formed within the Universe from that fiery mist. The Universe, as also the Earth and Man, serpent-like, periodically cast off their old skins, to assume new ones after a time of rest. The serpent is surely not a less graceful or a more unpoetical image than the caterpillar and chrysalis from which springs the butterfly, the Greek emblem of Psyche, the human soul! The Dragon was also the symbol of the Logos with the Egyptians, as with the Gnostics. In the Book of Hermes, Pymander, the oldest and the most spiritual of the Logoi of the Western Continent, appears to Hermes in the shape of a Fiery Dragon of “Light, Fire, and Flame.” Pymander, the “Thought Divine” personified, says: The Light is I, I am the Nous [the Mind or Manu], I am thy God, and I am far older than the human principle which escapes from the shadow [Darkness, or the concealed Deity]. I am the germ of thought, the resplendent Word, the Son of God. All that thus sees and hears in thee is the Verbum of the Master; it is the Thought [Mahat] which is God, the Father. 119 The celestial Ocean, the Æther,… is the Breath of the Father, the life-giving principle, the Mother, the Holy Spirit,… for these are not separated, and their union is Life.

Đức Jesus chấp nhận con rắn như một đồng nghĩa của Minh Triết, và điều này là một phần giáo huấn của Ngài: “Hãy khôn ngoan như rắn,” Ngài nói. “Thuở ban đầu, trước khi Mẹ trở thành Cha-Mẹ, Rồng Lửa chuyển động một mình trong các Vô Tận.” 118 Aitareya Brahmana gọi Trái Đất là Sarparajni, “Nữ Hoàng Rắn,” và “Mẹ của tất cả những gì chuyển động.” Trước khi bầu hành tinh của chúng ta trở nên hình trứng (và Vũ Trụ cũng vậy), “một vệt dài bụi vũ trụ [hay sương lửa] chuyển động và uốn lượn như một con rắn trong Không Gian.” “Tinh Thần của Thượng đế chuyển động trên Hỗn Mang” được mọi dân tộc biểu tượng hóa dưới hình dạng một con rắn lửa thở ra lửa và ánh sáng trên các vùng nước nguyên thủy, cho đến khi nó ấp vật chất vũ trụ và khiến vật chất ấy mang hình dạng vòng khuyên của một con rắn ngậm đuôi trong miệng—điều này không chỉ tượng trưng cho vĩnh cửu và vô tận, mà còn cho hình dạng cầu của mọi thiên thể được hình thành trong Vũ Trụ từ lớp sương lửa ấy. Vũ Trụ, cũng như Trái Đất và Con Người, giống loài rắn, theo chu kỳ lột bỏ lớp da cũ để, sau một thời gian nghỉ ngơi, mang lấy lớp da mới. Con rắn chắc chắn không phải là một hình ảnh kém duyên hơn hay kém thi vị hơn con sâu bướm và nhộng mà từ đó con bướm, biểu tượng Hy Lạp của Psyche, linh hồn con người, xuất hiện! Rồng cũng là biểu tượng của Logos đối với người Ai Cập, cũng như với các Gnostic. Trong Sách của Hermes, Pymander, xưa nhất và tinh thần nhất trong các Thượng đế của Lục Địa Tây phương, hiện ra với Hermes dưới hình dạng một Rồng Lửa của “Ánh Sáng, Lửa, và Ngọn Lửa.” Pymander, “Tư Tưởng Thiêng Liêng” được nhân cách hóa, nói: Ánh Sáng là Ta, Ta là Nous [Trí hay Manu], Ta là Thượng đế của ngươi, và Ta xưa hơn rất nhiều nguyên khí nhân loại thoát ra từ bóng tối [Bóng Tối, hay Thượng đế ẩn tàng]. Ta là mầm mống của tư tưởng, Linh từ rực rỡ, Con của Thượng đế. Tất cả những gì thấy và nghe như thế trong ngươi là Verbum của Chân sư; đó là Tư Tưởng [Mahat] vốn là Thượng đế, Cha. 119 Đại Dương thiên giới, Dĩ Thái,… là Hơi Thở của Cha, nguyên khí ban sự sống, Mẹ, Chúa Thánh Thần,… vì những điều này không tách rời, và sự hợp nhất của chúng là Sự Sống.

Here we find the unmistakable echo of the archaic Secret Doctrine, as now expounded. Only the latter does not place at the head of the Evolution of Life the “Father,” who comes third and is the “Son of the Mother,” but the “Eternal and Ceaseless Breath of the All.” Mahat (Understanding, Universal Mind, Thought, etc.), before it manifests itself as Brahmâ or Shiva, appears as Vishnu, says the Sânkhya Sâra. 120 Hence it has several aspects, just as the Logos has. Mahat is called the Lord, in the Primary Creation, and is, in this sense, Universal Cognition or Thought Divine; but, “that Mahat which was first produced is (afterwards) called Ego-ism, when it is born as (the feeling itself) ‘I,’ that is said to be the Secondary Creation.” 121 And the translator (an able and learned Brâhman, not a European Orientalist) explains in a foot-note, “i.e., when Mahat develops into the feeling of Self-Consciousness—I—then it assumes the name of Egoism,” which, translated into our Esoteric phraseology, means—when Mahat is transformed into the human Manas (or even that of the finite gods), and becomes Aham-ship. Why it is called the Mahat of the Secondary Creation (or the Ninth, the Kaumâra in Vishnu Purâna), will be explained hereafter.

Ở đây chúng ta thấy âm vang không thể nhầm lẫn của Giáo Lý Bí Nhiệm cổ xưa, như nay được trình bày. Chỉ có điều giáo lý sau không đặt ở đầu Sự Tiến Hóa của Sự Sống “Cha,” Đấng đến thứ ba và là “Con của Mẹ,” mà là “Hơi Thở Vĩnh Cửu và Không Ngừng của Toàn Thể.” Mahat (Sự Thấu Hiểu, Vũ Trụ Trí, Tư Tưởng, v.v.), trước khi biểu hiện thành Brahma hay Shiva, xuất hiện như Vishnu, Sânkhya Sâra nói. 120 Do đó nó có nhiều phương diện, cũng như Logos có. Mahat được gọi là Chúa Tể trong Sáng Tạo Chính Yếu, và theo nghĩa này là Nhận Thức Phổ Quát hay Tư Tưởng Thiêng Liêng; nhưng “Mahat được sinh ra trước tiên ấy, về sau được gọi là Ngã tính, khi nó được sinh ra như chính cảm thức ‘Ta,’ đó được nói là Sáng Tạo Thứ Yếu.” 121 Và dịch giả, một Brahman có năng lực và uyên bác, không phải một nhà Đông phương học châu Âu, giải thích trong chú thích: “tức là, khi Mahat phát triển thành cảm thức Ngã Thức—Ta—khi ấy nó mang danh Ngã tính,” điều này, khi dịch sang thuật ngữ Nội Môn của chúng ta, có nghĩa là—khi Mahat được chuyển hóa thành Manas của con người (hay thậm chí của các vị thần hữu hạn), và trở thành Aham-tính. Vì sao nó được gọi là Mahat của Sáng Tạo Thứ Yếu (hay Sáng Tạo Thứ Chín, Kaumara trong Vishnu Purana), sẽ được giải thích về sau.

(c) The “Sea of Fire” is, then, the Super-Astral (i.e., Noumenal) Light, the first radiation from the Root Mûlaprakriti, Undifferentiated Cosmic Substance, which becomes Astral Matter. It is also called the “Fiery Serpent,” as above described. If the student bears in mind that there is but One Universal Element, which is infinite, unborn, and undying and that all the rest—as in the world of phenomena—are but so many various differentiated aspects and transformations (correlations, they are now called) of that One, from macrocosmical down to microcosmical effects, from super-human down to human and sub-human beings, the totality, in short, of objective existence—then the first and chief difficulty will disappear and Occult Cosmology may be mastered. Thus in the Egyptian also as in the Indian Theogony there was a Concealed Deity, the One, and a creative, androgynous god; Shoo being the god of creation, and Osiris in his original primary form, the god “whose name is unknown.” 122

(c) “Biển Lửa,” vậy, là Ánh Sáng Siêu-Cảm Dục, tức Bản Thể Lý Tính, bức xạ đầu tiên từ Cội Rễ Mulaprakriti, Chất Liệu Vũ Trụ Chưa Biến Phân, vốn trở thành Vật Chất Cảm Dục. Nó cũng được gọi là “Con Rắn Lửa,” như đã mô tả ở trên. Nếu đạo sinh ghi nhớ rằng chỉ có Một Nguyên tố Phổ Quát, vô tận, không sinh và không diệt, và tất cả những gì còn lại—như trong thế giới hiện tượng—chỉ là bấy nhiêu phương diện và chuyển hóa biến phân khác nhau (nay được gọi là những tương quan) của Đấng Duy Nhất ấy, từ các hiệu quả thuộc đại thiên địa xuống đến tiểu thiên địa, từ các sinh linh siêu nhân xuống đến nhân loại và dưới nhân loại, nói tóm lại là toàn thể hiện hữu khách quan—thì khó khăn đầu tiên và chủ yếu sẽ biến mất, và Vũ Trụ Luận Huyền Bí có thể được làm chủ. Vì thế, trong Thần Hệ Ai Cập cũng như Ấn Độ, có một Thượng đế Ẩn Tàng, Đấng Duy Nhất, và một vị thần sáng tạo lưỡng tính; Shoo là thần sáng tạo, còn Osiris trong hình thái nguyên thủy ban đầu của mình là vị thần “có danh xưng không ai biết.” 122

All the Kabalists and Occultists, Eastern and Western, recognize (a) the identity of “Father-Mother” with Primordial Æther, or Âkâsha (Astral Light); and (b) its homogeneity before the evolution of the “Son,” cosmically Fohat, for it is Cosmic Electricity. “Fohat hardens and scatters the Seven Brothers”; 123 which means that the Primordial Electric Entity—for the Eastern Occultists insist that Electricity is an Entity—electrifies into life, and separates primordial stuff or pregenetic matter into atoms, themselves the source of all life and consciousness. “There exists a universal agent unique of all forms and of life, that is called Od, Ob, and Aour, 124 active and passive, positive and negative, like day and night: it is the first light in Creation” (Éliphas Lévi)—the “first light” of the primordial Elohim, the Adam, “male and female,” or (scientifically) Electricity and Life.

Tất cả các nhà Kabbalah và các nhà Huyền Bí Học, Đông phương lẫn Tây phương, đều thừa nhận (a) sự đồng nhất của “Cha-Mẹ” với Dĩ Thái Nguyên Thủy, hay Akasha (Ánh Sáng Cảm Dục); và (b) tính đồng nhất của nó trước sự tiến hóa của “Con,” về mặt vũ trụ là Fohat, vì đó là Điện Lực Vũ Trụ. “Fohat làm cứng lại và phân tán Bảy Huynh Đệ”; 123 điều này có nghĩa là Thực Thể Điện Lực Nguyên Thủy—vì các nhà Huyền Bí Học Đông phương nhấn mạnh rằng Điện Lực là một Thực Thể—điện hóa thành sự sống, và tách chất liệu nguyên thủy hay vật chất tiền sinh thành các nguyên tử, chính chúng là nguồn gốc của mọi sự sống và tâm thức. “Có một tác nhân duy nhất phổ quát của mọi hình tướng và của sự sống, được gọi là Od, Ob, và Aour, 124 hoạt động và thụ động, dương và âm, như ngày và đêm: đó là ánh sáng đầu tiên trong Sáng Tạo” (Éliphas Lévi)—“ánh sáng đầu tiên” của Elohim nguyên thủy, Adam, “nam và nữ,” hay về mặt khoa học, Điện Lực và Sự Sống.

The ancients represented it by a serpent, for “Fohat hisses as he glides hither and thither,” in zigzags. The Kabalah figures it with the Hebrew letter Teth, ט, whose symbol is the serpent which played such a prominent part in the Mysteries. Its universal value is nine, for it is the ninth letter of the alphabet, and the ninth door of the fifty portals, or gateways, that lead to the concealed mysteries of being. It is the magical agent par excellence, and designates in Hermetic philosophy “Life infused into Primordial Matter,” the essence that composes all things, and the spirit that determines their form. But there are two secret Hermetical operations, one spiritual, the other material, correlative and for ever united. As Hermes says: Thou shalt separate the earth from the fire, the subtile from the solid… that which ascends from earth to heaven and descends again from heaven to earth. It [the subtile light] is the strong force of every force, for it conquers every subtile thing and penetrates into every solid. Thus was the world formed.

Người xưa biểu thị nó bằng một con rắn, vì “Fohat rít lên khi y lướt qua lướt lại,” theo đường ngoằn ngoèo. Kabalah hình dung nó bằng chữ Hebrew Teth, Teth, có biểu tượng là con rắn vốn đóng một vai trò rất nổi bật trong các Bí Pháp. Giá trị phổ quát của nó là chín, vì đó là chữ thứ chín của bảng chữ cái, và cánh cửa thứ chín trong năm mươi cổng, hay cửa ngõ, dẫn vào các mầu nhiệm ẩn tàng của hiện hữu. Đó là tác nhân huyền thuật ưu việt, và trong triết học Hermetic nó chỉ “Sự Sống được truyền vào Vật Chất Nguyên Thủy,” tinh chất cấu thành mọi sự, và tinh thần quyết định hình tướng của chúng. Nhưng có hai thao tác Hermetic bí mật, một tinh thần, một vật chất, tương ứng và mãi mãi hợp nhất. Như Hermes nói: Ngươi hãy tách đất khỏi lửa, cái tinh vi khỏi cái đặc chắc… cái đi lên từ đất đến trời và lại đi xuống từ trời đến đất. Nó [ánh sáng tinh vi] là mãnh lực mạnh của mọi mãnh lực, vì nó chinh phục mọi vật tinh vi và thâm nhập vào mọi vật đặc chắc. Như thế thế giới đã được hình thành.

It was not Zeno, the founder of the Stoics, alone, who taught that the Universe evolves, and its primary substance is transformed from the state of fire into that of air, then into that of water, etc. Heraclitus of Ephesus maintained that the one principle that underlies all phenomena in Nature is fire. The intelligence that moves the Universe is fire, and fire is intelligence. And while Anaximenes said the same of air, and Thales of Miletus (600 years b.c.) of water, the Esoteric Doctrine reconciles all these philosophers, by showing that though each was right, the system of none was complete.

Không chỉ riêng Zeno, người sáng lập phái Stoic, đã dạy rằng Vũ Trụ tiến hóa, và chất liệu nguyên thủy của nó được chuyển hóa từ trạng thái lửa sang trạng thái khí, rồi sang trạng thái nước, v.v. Heraclitus xứ Ephesus cho rằng một nguyên khí nằm dưới mọi hiện tượng trong Thiên Nhiên là lửa. Trí tuệ vận hành Vũ Trụ là lửa, và lửa là trí tuệ. Và trong khi Anaximenes nói điều tương tự về khí, còn Thales xứ Miletus, sáu trăm năm trước Công nguyên, nói về nước, Giáo Lý Nội Môn hòa giải tất cả các triết gia này, bằng cách chỉ ra rằng tuy mỗi người đều đúng, nhưng hệ thống của không ai là trọn vẹn.

8. Where was the Germ, and where was now Darkness? Where is the Spirit of the Flame that burns in thy Lamp, O Lanoo? The Germ is That, and That is Light, the White Brilliant Son of the Dark Hidden Father..

8. Mầm Mống ở đâu, và nay Bóng Tối ở đâu? Tinh Thần của Ngọn Lửa cháy trong Đèn của ngươi ở đâu, hỡi Lanoo? Mầm Mống là Cái Đó, và Cái Đó là Ánh Sáng, Người Con Trắng Chói Lòa của Người Cha Tối Ẩn Tàng.

The answer to the first question, suggested by the second, which is the reply of the teacher to the pupil, contains in a single phrase one of the most essential truths of Occult Philosophy. It indicates the existence of things imperceptible to our physical senses which are of far greater importance, more real and more permanent, than those that appeal to these senses themselves. Before the Lanoo can hope to understand the transcendentally metaphysical problem contained in the first question, he must be able to answer the second; while the very answer he gives to the second will furnish him with the clue to the correct reply to the first.

Câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất, được gợi ý bởi câu hỏi thứ hai, vốn là lời đáp của huấn sư cho học trò, chứa đựng trong một cụm từ duy nhất một trong những chân lý thiết yếu nhất của Triết Học Huyền Bí. Nó chỉ ra sự hiện hữu của những sự vật không thể cảm nhận bằng các giác quan hồng trần của chúng ta, nhưng lại có tầm quan trọng lớn hơn nhiều, thực hơn và bền vững hơn nhiều so với những gì tác động đến chính các giác quan ấy. Trước khi Lanoo có thể hy vọng thấu hiểu vấn đề siêu hình siêu việt chứa trong câu hỏi thứ nhất, y phải có khả năng trả lời câu hỏi thứ hai; trong khi chính câu trả lời y đưa ra cho câu hỏi thứ hai sẽ cung cấp cho y chìa khóa để đáp đúng câu thứ nhất.

In the Sanskrit Commentary on this Stanza, the terms used for the concealed and the unrevealed Principle are many. In the earliest MSS. of Indian literature this Unrevealed Abstract Deity has no name. It is generally called “That” (Tad, in Sanskrit), and means all that is, was, and will be, or that can be so received by the human mind.

Trong Luận Giải Sanskrit về Bài kệ này, có nhiều thuật ngữ được dùng cho Nguyên Khí ẩn tàng và chưa được mặc khải. Trong các thủ bản sớm nhất của văn học Ấn Độ, Thượng đế Trừu Tượng Chưa Mặc Khải này không có danh xưng. Nó thường được gọi là “Cái Đó” (Tad, trong Sanskrit), và có nghĩa là tất cả những gì hiện hữu, đã hiện hữu, và sẽ hiện hữu, hoặc có thể được trí con người tiếp nhận như vậy.

Among such appellations given—of course, only in Esoteric Philosophy—as the “Unfathomable Darkness,” the “Whirlwind,” etc., it is also called the “It of the Kâlahansa,” the “Kâla-ham-sa,” and even the “Kâli Hamsa” (Black Swan). Here the m and the n are convertible, and both sound like the nasal French an or am. As in the Hebrew so also in the Sanskrit many a mysterious sacred name conveys to the profane ear no more than some ordinary, and often vulgar word, because it is concealed anagrammatically or otherwise. This word Hansa, or Hamsa, is just such a case. Hamsa is equal to “A-ham-sa”—three words meaning “I am He”; while divided in still another way it will read “So-ham,” “He [is] I.” In this single word is contained, for him who understands the language of wisdom, the universal mystery, the doctrine of the identity of man’s essence with god-essence. Hence the glyph of, and the allegory about, Kâlahansa (or Hamsa), and the name given to Brahman (neuter), later on to the male Brahmâ, of Hamsa-vâhana, “he who uses the Hamsa as his vehicle.” The same word may be read “Kâlaham-sa,” or “I am I, in the eternity of time,” answering to the Biblical, or rather Zoroastrian, “I am that I am.” The same doctrine is found in the Kabalah, as witness the following extract from an unpublished MS. by Mr. S. Liddell McGregor Mathers, the learned Kabalist: The three pronouns, הוא, אתה, אני, Hua, Ateh, Ani—He, Thou, I—are used to symbolize the ideas of Macroposopus and Microprosopus in the Hebrew Qabalah. Hua, “He,” is applied to the hidden and concealed Macroprosopus; Ateh, “Thou,”to Microprosopus; and Ani, “I,” to the latter when He is represented as speaking. (See Lesser Holy Assembly, 204 et seq.) It is to be noted that each of these names consists of three letters, of which the letter Aleph א, A, forms the conclusion of the first word Hua, and the commencement of Atah and Ani, as if it were the connecting link between them. But א is the symbol of the Unity and consequently of the unvarying Idea of the Divine operating through all these. But behind the א in the name Hua are the letters ו and ה, the symbols of the numbers Six and Five, the Male and the Female, the Hexagram and the Pentagram. And the numbers of these three words, Hua, Ateh, Ani, are 12, 406, and 61, which are resumed in the key numbers of 3, 10, and 7, by the Qabalah of the Nine Chambers which is a form of the exegetical rule of Temura.

Trong số những danh xưng được nêu ra — dĩ nhiên, chỉ trong Triết học Nội môn — như “Bóng Tối Không Thể Dò Thấu”, “Cơn Lốc”, v.v., nó cũng được gọi là “Cái Đó của Kalahansa”, “Kala-ham-sa”, và thậm chí “Kali Hamsa” tức “Thiên nga đen”. Ở đây, chữ m và n có thể hoán đổi cho nhau, và cả hai đều phát âm như âm mũi “an” hay “am” trong tiếng Pháp. Cũng như trong tiếng Hebrew, trong tiếng Sanskrit nhiều danh xưng thiêng liêng huyền bí đối với tai phàm tục chỉ gợi lên một từ thông thường, và thường là thô tục, vì nó được che giấu bằng phép đảo chữ hoặc bằng cách khác. Từ Hansa, hay Hamsa, chính là một trường hợp như vậy. Hamsa tương đương với “A-ham-sa” — ba từ có nghĩa là “Tôi là Ngài”; còn nếu chia theo một cách khác nữa, nó sẽ đọc là “So-ham”, “Ngài là tôi”. Trong một từ duy nhất này chứa đựng, đối với người thấu hiểu ngôn ngữ của minh triết, huyền nhiệm phổ quát, giáo lý về sự đồng nhất giữa tinh túy của con người và tinh túy của Thượng đế. Từ đó phát sinh biểu tượng và ẩn dụ về Kalahansa hoặc Hamsa, cũng như danh xưng Hamsa-vahana, “đấng dùng Hamsa làm vận cụ của mình”, được gán cho Brahman trung tính, rồi về sau cho Brahma nam tính. Cũng từ ấy có thể đọc là “Kalaham-sa”, hay “Tôi là tôi, trong vĩnh cửu của thời gian”, tương ứng với câu trong Kinh Thánh, hay đúng hơn là trong truyền thống Zoroaster, “Ta là Đấng Ta là”. Cũng giáo lý ấy được tìm thấy trong Kabalah, như đoạn trích sau đây từ một bản thảo chưa xuất bản của ông S. Liddell McGregor Mathers, nhà Kabalah uyên bác, làm chứng: Ba đại từ, Ngài, Ngươi, Tôi, Hua, Ateh, Ani — Ngài, Ngươi, Tôi — được dùng để tượng trưng cho các ý tưởng về Macroprosopus và Microprosopus trong Kabalah Hebrew. Hua, “Ngài”, được áp dụng cho Macroprosopus ẩn tàng và che giấu; Ateh, “Ngươi”, cho Microprosopus; và Ani, “Tôi”, cho cái sau khi Ngài được trình bày như đang nói. Xem Tiểu Thánh Hội, 204 và tiếp theo. Cần lưu ý rằng mỗi danh xưng này gồm ba chữ cái, trong đó chữ Aleph A, A, tạo thành phần kết của từ thứ nhất Hua, và phần mở đầu của Atah và Ani, như thể nó là mắt xích nối kết giữa chúng. Nhưng A là biểu tượng của Nhất tính, và do đó của Ý Tưởng bất biến về Thiêng Liêng vận hành xuyên qua tất cả những điều này. Nhưng đằng sau A trong danh xưng Hua là các chữ V và H, những biểu tượng của các số Sáu và Năm, Nam và Nữ, Lục giác tinh và Ngũ giác tinh. Và các con số của ba từ này, Hua, Ateh, Ani, là 12, 406 và 61, được quy về các số khóa 3, 10 và 7, theo Kabalah của Chín Phòng, vốn là một hình thức của quy luật chú giải Temura.

It is useless to attempt to explain the mystery in full. Materialists and the men of Modern Science will never understand it, since, in order to obtain clear perception of it, one has first of all to admit the postulate of a universally diffused, omnipresent, eternal Deity in Nature; secondly, to have fathomed the mystery of electricity in its true essence; and thirdly, to credit man with being the septenary symbol, on the terrestrial plane, of the One Great Unit, the Logos, which is Itself the seven-vowelled sign, the Breath crystallized into the Word. 125 He who believes in all this, has also to believe in the multiple combination of the seven planets of Occultism and of the Kabalah, with the twelve zodiacal signs; and attribute, as we do, to each planet and to each constellation an influence which, in the words of Mr. Ely Star (a French astrologer), “is proper to it, beneficent or maleficent, and this, after the planetary spirit which rules it, who, in his turn, is capable of influencing men and things which are found in harmony with him and with which he has any affinity.” For these reasons, and since few believe in the foregoing, all that can now be given is that in both cases the symbol of Hansa (whether I, He, Goose or Swan) is an important symbol, representing, among other things, Divine Wisdom, Wisdom in Darkness beyond the reach of men. For all exoteric purposes, Hansa, as every Hindû knows, is a fabulous bird which, when (in the allegory) given milk mixed with water for its food, separated the two, drinking the milk and leaving the water; thus showing inherent wisdom—milk standing symbolically for spirit, and water for matter.

Thật vô ích khi cố giải thích trọn vẹn huyền nhiệm này. Những người duy vật và những người của Khoa học Hiện đại sẽ không bao giờ thấu hiểu nó, vì để có được nhận thức rõ ràng về nó, trước hết người ta phải thừa nhận tiền đề về một Thượng đế vĩnh cửu, toàn tại, thấm nhuần phổ quát trong Thiên nhiên; thứ hai, phải thấu triệt huyền nhiệm của điện trong tinh túy chân thật của nó; và thứ ba, phải nhìn nhận con người là biểu tượng thất phân, trên cõi địa cầu, của Đơn Vị Vĩ Đại Duy Nhất, Logos, vốn tự nó là dấu hiệu bảy nguyên âm, Hơi Thở kết tinh thành Linh từ. 125 Người nào tin vào tất cả những điều này cũng phải tin vào sự phối hợp đa bội của bảy hành tinh trong Huyền bí học và Kabalah với mười hai dấu hiệu hoàng đạo; và cũng như chúng tôi, phải quy cho mỗi hành tinh và mỗi chòm sao một ảnh hưởng mà, theo lời ông Ely Star, một nhà chiêm tinh Pháp, “là riêng của nó, thiện lành hay tai hại, tùy theo tinh thần hành tinh cai quản nó, đấng đến lượt mình có khả năng ảnh hưởng đến những người và sự vật hòa hợp với ngài và có bất cứ ái lực nào với ngài”. Vì những lý do ấy, và vì ít người tin vào những điều vừa nêu, tất cả những gì hiện nay có thể đưa ra là: trong cả hai trường hợp, biểu tượng Hansa, dù là Tôi, Ngài, ngỗng hay thiên nga, đều là một biểu tượng quan trọng, biểu trưng, trong số nhiều điều khác, cho Minh triết Thiêng liêng, Minh triết trong Bóng Tối vượt ngoài tầm với của con người. Đối với mọi mục đích ngoại môn, Hansa, như mọi người Hindu đều biết, là một loài chim huyền thoại; khi trong ẩn dụ, nó được cho sữa pha với nước làm thức ăn, nó tách hai thứ ra, uống sữa và để lại nước; qua đó biểu lộ minh triết nội tại — sữa tượng trưng cho tinh thần, còn nước tượng trưng cho vật chất.

That this allegory is very ancient and dates from the very earliest archaic period, is shown by the mention, in the Bhâgavata Purâna, of a certain caste named Hamsa or Hansa, which was the “one caste” par excellence; when far back in the mists of a forgotten past there was among the Hindûs only “One Veda, One Deity, One Caste.” There is also a range in the Himâlayas, described in the old books as being situated north of Mount Meru, called Hamsa, and connected with episodes pertaining to the history of religious mysteries and initiations. As to Kâlahansa being the supposed Vehicle of Brahmâ-Prajâpati, in the exoteric texts and translations of the Orientalists, it is quite a mistake. Brahman, the neuter, is called by them Kâla-hansa, and Brahmâ, the male, Hansa-vâhana, because, forsooth, “his vehicle is a swan or goose.” 126 This is a purely exoteric gloss. Esoterically and logically, if Brahman, the infinite, is all that is described by the Orientalists, and, agreeably with the Vedântic texts, is an abstract deity, in no way characterized by the ascription of any human attributes, and at the same time it is maintained that he or it is called Kâlahansa—then how can it ever become the Vâhan of Brahmâ, the manifested finite god? It is quite the reverse. The “Swan or Goose” (Hansa) is the symbol of the male or temporary deity, Brahmâ, the emanation of the primordial Ray, which is made to serve as a Vâhan or Vehicle for the Divine Ray, which otherwise could not manifest itself in the Universe, being, antiphrastically, itself an emanation of Darkness—for our human intellect, at any rate. It is Brahmâ, then, who is Kâlahansa, and the Ray, Hansa-vâhana.

Ẩn dụ này rất cổ xưa và có từ thời kỳ thái cổ sớm nhất, điều ấy được chứng tỏ qua việc Bhâgavata Purâna nhắc đến một đẳng cấp tên là Hamsa hay Hansa, vốn là “một đẳng cấp” đúng nghĩa nhất; khi rất xa xưa, trong màn sương của một quá khứ đã bị lãng quên, giữa người Hindu chỉ có “Một Veda, Một Thượng đế, Một Đẳng cấp”. Cũng có một dãy núi trong Himalaya, được các sách cổ mô tả là nằm về phía bắc Núi Meru, gọi là Hamsa, và liên hệ với những biến cố thuộc lịch sử các huyền nhiệm tôn giáo và các cuộc điểm đạo. Còn việc Kalahansa được cho là Vận cụ của Brahma-Prajapati trong các văn bản ngoại môn và bản dịch của các nhà Đông phương học, thì đó là một sai lầm rõ rệt. Brahman trung tính được họ gọi là Kala-hansa, còn Brahma nam tính là Hansa-vahana, bởi lẽ, theo họ, “vận cụ của ngài là thiên nga hay ngỗng”. 126 Đây là một chú giải thuần túy ngoại môn. Về mặt nội môn và hợp lý, nếu Brahman, Đấng vô hạn, là tất cả những gì các nhà Đông phương học mô tả, và theo các văn bản Vedanta, là một Thượng đế trừu tượng, không hề được đặc trưng bằng việc gán cho bất cứ thuộc tính nhân loại nào, đồng thời người ta vẫn khẳng định rằng Ngài hay nó được gọi là Kalahansa — vậy làm sao nó có thể trở thành Vahan của Brahma, vị thần hữu hạn đã biểu hiện? Sự thật hoàn toàn ngược lại. “Thiên nga hay ngỗng” Hansa là biểu tượng của vị thần nam tính hay tạm thời, Brahma, xuất lộ của Cung nguyên thủy, được khiến làm Vahan hay Vận cụ cho Cung Thiêng liêng; nếu không, Cung ấy không thể tự biểu hiện trong Vũ trụ, vì theo lối nghịch ngữ, đối với trí năng con người của chúng ta ít nhất, chính nó là một xuất lộ của Bóng Tối. Vậy chính Brahma là Kalahansa, còn Cung là Hansa-vahana.

As to the strange symbol thus chosen, it is equally suggestive; the true mystic significance being the idea of a Universal Matrix, figured by the Primordial Waters of the Deep, or the opening for the reception, and subsequently for the issuing, of that One Ray (the Logos) which contains in itself the other Seven Procreative Rays or Powers (the Logoi or Builders). Hence the choice by the Rosecroix of the aquatic fowl—whether swan or pelican 127—with seven young ones, for a symbol, modified and adapted to the religion of every country. Ain Suph is called the “Fiery Soul of the Pelican” in the Book of Numbers. 128 Appearing with every Manvantara as Nârâyana, or Svâyambhuva, the Self-Existent, and penetrating into the Mundane Egg, it emerges from it at the end of the divine incubation as Brahmâ, or Prajâpati, the progenitor of the future Universe, into which he expands. He is Purusha (Spirit), but he is also Prakriti (Matter). Therefore it is only after separating itself into two halves—Brahmâ-Vâch (the female) and Brahmâ-Virâj (the male)—that the Prajâpati becomes the male Brahmâ.

Về biểu tượng kỳ lạ được chọn như vậy, nó cũng đầy hàm ý; thâm nghĩa huyền bí chân thật là ý tưởng về một Ma Trận Phổ Quát, được hình dung bằng các Thủy nguyên thủy của Vực Sâu, hay cửa mở để tiếp nhận, rồi sau đó để phát xuất, Cung Duy Nhất ấy, Logos, vốn chứa trong chính nó bảy Cung hay Quyền Năng sinh sản khác, tức các Logoi hay các Đấng Kiến Tạo. Do đó, phái Rosecroix đã chọn loài chim nước — dù là thiên nga hay bồ nông 127 — cùng bảy con non, làm biểu tượng, được biến đổi và thích nghi với tôn giáo của mỗi quốc gia. Ain Suph được gọi là “Linh hồn Rực lửa của Chim Bồ nông” trong Sách Các Con Số. 128 Xuất hiện trong mỗi Giai kỳ sinh hóa như Narayana, hay Svayambhuva, Đấng Tự Hữu, và thâm nhập vào Trứng Thế Gian, Ngài xuất hiện từ đó vào cuối thời kỳ ấp ủ thiêng liêng với tư cách Brahma, hay Prajapati, tổ phụ của Vũ trụ tương lai, vào đó Ngài mở rộng. Ngài là Purusha, Tinh thần, nhưng Ngài cũng là Prakriti, Vật chất. Vì thế, chỉ sau khi tự tách mình thành hai nửa — Brahma-Vach nữ tính và Brahma-Viraj nam tính — Prajapati mới trở thành Brahma nam tính.

9. Light is Cold Flame, and Flame is Fire, and Fire produces Heat, which yields Water—the Water of Life in the Great Mother. 129

9. Ánh sáng là Ngọn Lửa Lạnh, và Ngọn Lửa là Lửa, và Lửa sinh ra Nhiệt, Nhiệt tạo ra Nước — Nước Sự Sống trong Người Mẹ Vĩ Đại. 129

It must be remembered that the words “Light,” “Flame” and “Fire,” have been adopted by the translators from the vocabulary of the old “Fire Philosophers,” 130 in order to render more clearly the meaning of the archaic terms and symbols employed in the original. Otherwise they would have remained entirely unintelligible to a European reader. To a student of the Occult, however, the above terms will be sufficiently clear.

Cần nhớ rằng các từ “Ánh sáng”, “Ngọn lửa” và “Lửa” đã được các dịch giả vay mượn từ từ vựng của các “Triết gia Lửa” cổ xưa 130, nhằm diễn đạt rõ hơn ý nghĩa của các thuật ngữ và biểu tượng thái cổ được dùng trong nguyên bản. Nếu không, chúng hẳn vẫn hoàn toàn khó hiểu đối với độc giả châu Âu. Tuy nhiên, đối với một đạo sinh Huyền bí học, các thuật ngữ trên sẽ đủ rõ ràng.

All these— “Light,” “Flame,” “Cold,” “Fire,” “Heat,” “Water,” and “Water of Life”—are, on our plane, the progeny, or, as a modern Physicist would say, the correlations of Electricity. Mighty word, and a still mightier symbol! Sacred generator of a no less sacred progeny; of Fire—the creator, the preserver and the destroyer; of Light—the essence of our divine ancestors; of Flame—the soul of things. Electricity, the One Life at the upper rung of Being, and Astral Fluid, the Athanor of the Alchemists, at the lower; God and Devil, Good and Evil.

Tất cả những điều này — “Ánh sáng”, “Ngọn lửa”, “Lạnh”, “Lửa”, “Nhiệt”, “Nước”, và “Nước Sự Sống” — trên cõi của chúng ta, là hậu duệ, hay như một nhà Vật lý học hiện đại sẽ nói, là những tương quan của Điện. Từ ngữ hùng mạnh, và biểu tượng còn hùng mạnh hơn nữa! Đấng sinh thành thiêng liêng của một hậu duệ không kém phần thiêng liêng; của Lửa — đấng sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt; của Ánh sáng — tinh túy của các tổ tiên thiêng liêng của chúng ta; của Ngọn lửa — linh hồn của vạn vật. Điện, Sự Sống Duy Nhất ở nấc thang trên của Bản Thể, và Lưu chất Cảm dục, Athanor của các nhà luyện kim, ở nấc thang dưới; Thượng đế và Ác quỷ, Thiện và Ác.

Now, why is Light called “Cold Flame”? In the order of Cosmic Evolution (as taught by the Occultist), the energy that actuates matter, after its first formation into atoms, is generated on our plane by Cosmic Heat; and before that period Cosmos, in the sense of dissociated matter, was not. The first Primordial Matter, eternal and coeval with Space, “which has neither a beginning nor an end, [is] neither hot nor cold, but is of its own special nature,” says the Commentary. Heat and cold are relative qualities and pertain to the realms of the manifested worlds, which all proceed from the manifested Hyle, which, in its absolutely latent aspect, is referred to as the “Cold Virgin,” and when awakened to life, as the “Mother.” The ancient Western cosmogonic myths state that at first there was only cold mist (the Father) and the prolific slime (the Mother, Ilus or Hyle), from which crept forth the Mundane Snake (Matter). 131 Primordial Matter, then, before it emerges from the plane of the never-manifesting, and awakens to the thrill of action under the impulse of Fohat, is but “a cool radiance, colourless, formless, tasteless, and devoid of every quality and aspect.” Even such are her First-born, the “Four Sons,” who “are One, and become Seven,”—the Entities, by whose qualifications and names the ancient Eastern Occultists called the four of the seven primal “Centres of Force,” or Atoms, that develop later into the great Cosmic “Elements,” now divided into the seventy or so sub-elements, known to Science. The four “Primal Natures” of the first Dhyân Chohans are the so-called (for want of better terms) Âkâshic, Ethereal, Watery and Fiery. They answer, in the terminology of practical Occultism, to the scientific definitions of gases, which—to convey a clear idea to both Occultists and laymen—may be defined as parahydrogenic, 132 paraoxygenic, oxyhydrogenic, and ozonic, or perhaps nitrozonic; the latter forces, or gases (in Occultism, supersensuous, yet atomic substances), being the most effective and active when energizing on the plane of more grossly differentiated matter. These elements are both electro-positive and electro-negative. These and many more are probably the missing links of Chemistry. They are known by other names in Alchemy and to Occultists who practise phenomenal powers. It is by combining and recombining, or dissociating, the “Elements” in a certain way, by means of Astral Fire, that the greatest phenomena are produced.

Vậy tại sao Ánh sáng được gọi là “Ngọn Lửa Lạnh”? Trong trật tự Tiến hóa Vũ trụ, như nhà huyền bí học giảng dạy, năng lượng làm vật chất vận hành, sau khi vật chất lần đầu tiên được tạo thành các nguyên tử, được sinh ra trên cõi của chúng ta bởi Nhiệt Vũ trụ; và trước thời kỳ ấy, Vũ trụ, theo nghĩa vật chất phân ly, chưa tồn tại. Vật Chất Nguyên Thủy đầu tiên, vĩnh cửu và đồng thời với Không Gian, “vốn không có khởi đầu cũng không có kết thúc, không nóng cũng không lạnh, mà có bản chất riêng của chính nó”, Cổ Luận nói vậy. Nóng và lạnh là các phẩm tính tương đối và thuộc về các cảnh giới của những thế giới đã biểu hiện; tất cả đều phát xuất từ Hyle đã biểu hiện, vốn trong phương diện tuyệt đối tiềm tàng của nó được gọi là “Trinh Nữ Lạnh”, và khi được đánh thức vào sự sống, là “Người Mẹ”. Các huyền thoại khai sinh vũ trụ cổ đại phương Tây nói rằng lúc đầu chỉ có sương lạnh, là Cha, và bùn sinh sản, là Mẹ, Ilus hay Hyle, từ đó Con Rắn Thế Gian, tức Vật Chất, bò ra. 131 Vậy Vật Chất Nguyên Thủy, trước khi xuất hiện khỏi cõi không bao giờ biểu hiện và thức tỉnh trước rung động của hành động dưới xung lực của Fohat, chỉ là “một ánh rạng mát lạnh, không màu sắc, không hình tướng, không mùi vị, và không có mọi phẩm tính cùng phương diện”. Những Đứa Con Đầu Lòng của bà cũng như thế, “Bốn Người Con”, vốn “là Một, và trở thành Bảy” — các Thực Thể mà bằng những thuộc tính và danh xưng của họ, các nhà huyền bí học Đông phương cổ đại gọi bốn trong bảy “Trung Tâm Mãnh Lực” nguyên sơ, hay Nguyên Tử, về sau phát triển thành các “Nguyên tố” Vũ trụ vĩ đại, nay được Khoa học chia thành khoảng bảy mươi nguyên tố phụ. Bốn “Bản Chất Nguyên Sơ” của các Dhyani Chohan đầu tiên là những thứ được gọi, vì thiếu thuật ngữ tốt hơn, là Akasha, Dĩ thái, Thủy và Hỏa. Trong thuật ngữ của Huyền bí học thực hành, chúng tương ứng với các định nghĩa khoa học về khí; để truyền đạt một ý tưởng rõ ràng cho cả nhà huyền bí học lẫn người ngoài, có thể định nghĩa chúng là parahydrogen, 132 paraoxygen, oxyhydrogen, và ozone, hoặc có lẽ nitrozone; các mãnh lực hay khí sau này, trong Huyền bí học là những chất liệu siêu cảm nhưng vẫn nguyên tử, trở nên hiệu quả và hoạt động mạnh nhất khi tiếp sinh lực trên cõi vật chất đã biến phân thô đặc hơn. Các nguyên tố này vừa điện dương vừa điện âm. Những nguyên tố này và nhiều nguyên tố khác có lẽ là các mắt xích còn thiếu của Hóa học. Chúng được biết đến dưới những danh xưng khác trong Thuật luyện kim và đối với các nhà huyền bí học thực hành các quyền năng hiện tượng. Chính bằng cách phối hợp và tái phối hợp, hoặc phân ly, các “Nguyên tố” theo một cách nhất định, nhờ Lửa Cảm dục, mà những hiện tượng vĩ đại nhất được tạo ra.

10. Father-Mother spin a Web, whose upper end is fastened to Spirit, 133 the Light of the One Darkness, and the lower one to its shadowy end, Matter; 134 and this Web is the Universe spun out of the Two Substances made in One, which is Svabhâvat.

10. Cha-Mẹ dệt nên một Tấm Lưới, đầu trên của nó được buộc vào Tinh thần, 133 Ánh sáng của Bóng Tối Duy Nhất, và đầu dưới của nó vào đầu bóng tối của nó, Vật chất; 134 và Tấm Lưới này là Vũ trụ được dệt ra từ Hai Chất Liệu được làm thành Một, tức Svabhavat.

In the Mândukya Upanishad 135 it is written, “As a spider throws out and retracts its web, as herbs spring up in the ground… so is the Universe derived from the undecaying one,” Brahmâ, for the “Germ of unknown Darkness,” is the material from which all evolves and develops, “as the web from the spider, as foam from the water,” etc. This is only graphic and true, if the term Brahmâ, the “Creator,” is derived from the root brih, to increase or expand. Brahmâ “expands,” and becomes the Universe woven out of his own substance.

Trong Mandukya Upanishad 135 có viết: “Như con nhện phóng ra và thu lại tấm lưới của nó, như cây cỏ mọc lên từ đất… Vũ trụ cũng phát sinh từ Đấng bất hoại như vậy”, Brahma; bởi “Mầm của Bóng Tối chưa biết” là chất liệu từ đó mọi sự tiến hóa và phát triển, “như tấm lưới từ con nhện, như bọt từ nước”, v.v. Điều này chỉ có tính hình tượng và đúng nếu thuật ngữ Brahma, “Đấng Sáng Tạo”, được dẫn xuất từ căn brih, nghĩa là tăng trưởng hay mở rộng. Brahma “mở rộng”, và trở thành Vũ trụ được dệt từ chính chất liệu của Ngài.

The same idea has been beautifully expressed by Goethe, who says: Thus at the roaring loom of Time I ply, And weave for God the garment thou see’st Him by.

Cũng ý tưởng ấy đã được Goethe diễn đạt tuyệt đẹp khi ông nói: Như thế, bên khung cửi gầm vang của Thời Gian, tôi lao tác, và dệt cho Thượng đế tấm áo mà ngươi nhờ đó thấy Ngài.

11. It 136 expands when the Breath of Fire 137 is upon it; It contracts when the Breath of the Mother 138 touches it. Then the Sons 139 dissociate and scatter, to return into their Mother’s Bosom, at the end of the Great Day, and re-become one with her. When it 140 is cooling, it becomes radiant. Its Sons expand and contract through their own Selves and Hearts; they embrace Infinitude.

11. Nó 136 mở rộng khi Hơi Thở của Lửa 137 ở trên nó; Nó co lại khi Hơi Thở của Mẹ 138 chạm vào nó. Khi ấy các Con 139 phân ly và tản mác, để trở về Lòng Mẹ của họ vào cuối Ngày Vĩ Đại, và lại trở nên một với bà. Khi nó 140 nguội đi, nó trở nên rạng rỡ. Các Con của nó mở rộng và co lại qua chính Bản Ngã và Trái Tim của họ; họ ôm lấy Vô Biên.

The expanding of the Universe, under the “Breath of Fire,” is very suggestive in the light of the fire-mist period, of which Modern Science speaks so much, and knows in reality so little.

Sự mở rộng của Vũ trụ dưới “Hơi Thở của Lửa” rất gợi ý khi xét dưới ánh sáng của thời kỳ sương lửa, điều mà Khoa học Hiện đại nói đến rất nhiều nhưng thật ra biết rất ít.

Great heat breaks up the compound elements and resolves the heavenly bodies into their Primeval One Element, explains the Commentary.

Nhiệt lớn phá vỡ các nguyên tố hợp thành và quy các thiên thể về Một Nguyên Tố Nguyên Sơ của chúng, Cổ Luận giải thích như vậy.

“Once disintegrated into its primal constituent, by getting within the attraction and reach of a focus, or centre of heat [energy], of which many are carried about to and fro in space, a body, whether alive or dead, will be vapourized, and held in the ‘Bosom of the Mother,’ until Fohat, gathering a few of the clusters of Cosmic Matter [nebulæ], will, by giving it an impulse, set it in motion anew, develop the required heat, and then leave it to follow its own new growth.”

“Một khi bị phân rã thành thành phần nguyên sơ của nó, do rơi vào lực hút và tầm tác động của một tiêu điểm, hay trung tâm nhiệt năng, mà có nhiều tiêu điểm như thế được mang đi đây đó trong không gian, một thể, dù sống hay chết, sẽ bị hóa hơi và được giữ trong ‘Lòng Mẹ’, cho đến khi Fohat, gom lại một vài cụm Vật Chất Vũ trụ, tức tinh vân, bằng cách trao cho nó một xung lực, sẽ đặt nó vào chuyển động trở lại, phát triển nhiệt cần thiết, rồi để nó theo đuổi sự tăng trưởng mới của chính nó.”

The expanding and contracting of the “Web” i.e., the world-stuff, or atoms—express here the pulsatory movement; for it is the regular contraction and expansion of the infinite and shoreless Ocean, of that which we may call the noumenon of Matter, emanated by Svabhâvat, which causes the universal vibration of atoms. But it is also suggestive of something else. It shows that the ancients were acquainted with that which is now the puzzle of many Scientists and especially of Astronomers—the cause of the first ignition of matter, or world-stuff, the paradox of the heat produced by refrigerative contraction, and other such cosmic riddles—for it points unmistakably to a knowledge by the ancients of such phenomena. “There is heat internal and heat external in every atom,” say the MSS. Commentaries, to which the writer has had access, “the Breath of the Father [Spirit], and the Breath [or Heat] of the Mother [Matter]”; and they give explanations which show that the modern theory of the extinction of the solar fires, by loss of heat through radiation, is erroneous. The assumption is false even on the Scientists’ own admission. For, as Professor Newcomb 141 points out, “by losing heat a gaseous body contracts, and the heat generated by the contraction exceeds that which it had to lose in order to produce the contraction.” This paradox, that a body gets hotter, as the shrinking produced by its getting colder is greater, has led to long disputes. The surplus of heat, it is argued, is lost by radiation, and to assume that the temperature is not lowered pari passu with a decrease of volume under a constant pressure, is to set at naught the law of Charles. Contraction develops heat, it is true; but contraction (from cooling) is incapable of developing the whole amount of heat at any time existing in the mass, or even of maintaining a body at a constant temperature, etc. Professor Winchell tries to reconcile the paradox—only a seeming one in fact, as J. Homer Lane 142 proved—by suggesting “something besides heat.” “May it not be,” he asks, “simply a repulsion among the molecules, which varies according to some law of the distance”? 143 But even this will be found irreconcilable, unless this “something besides heat” is ticketed “Causeless Heat,” the “Breath of Fire,” the all-creative Force plus Absolute Intelligence, which Physical Science is not likely to accept.

Sự mở rộng và co lại của “Tấm Lưới”, tức chất liệu thế giới hay các nguyên tử, ở đây biểu thị chuyển động nhịp đập; vì chính sự co lại và mở rộng đều đặn của Đại Dương vô hạn và không bờ, của cái mà chúng ta có thể gọi là bản thể của Vật chất, do Svabhavat xuất lộ, gây nên rung động phổ quát của các nguyên tử. Nhưng nó cũng gợi ý một điều khác. Nó cho thấy người xưa đã quen thuộc với điều nay là câu đố đối với nhiều Nhà khoa học, đặc biệt là các Nhà thiên văn học — nguyên nhân của sự bốc cháy đầu tiên của vật chất, hay chất liệu thế giới, nghịch lý về nhiệt sinh ra bởi sự co lại do làm lạnh, và những ẩn đố vũ trụ tương tự — vì nó chỉ rõ không thể lầm lẫn rằng người xưa đã biết các hiện tượng ấy. “Trong mỗi nguyên tử đều có nhiệt bên trong và nhiệt bên ngoài”, các Cổ Luận bản thảo mà người viết được tiếp cận nói như vậy, “Hơi Thở của Cha, tức Tinh thần, và Hơi Thở hay Nhiệt của Mẹ, tức Vật chất”; và chúng đưa ra những giải thích cho thấy lý thuyết hiện đại về sự tắt lụi của các lửa mặt trời do mất nhiệt qua bức xạ là sai lầm. Giả định ấy là sai ngay cả theo sự thừa nhận của chính các Nhà khoa học. Vì, như Giáo sư Newcomb 141 chỉ ra, “khi mất nhiệt, một thể khí co lại, và nhiệt sinh ra do sự co lại vượt quá nhiệt mà nó phải mất để tạo ra sự co lại ấy”. Nghịch lý này, rằng một thể trở nên nóng hơn khi sự co rút do nó trở nên lạnh hơn lại lớn hơn, đã dẫn đến nhiều tranh luận lâu dài. Người ta lập luận rằng phần nhiệt dư bị mất qua bức xạ, và việc giả định rằng nhiệt độ không hạ xuống đồng thời với sự giảm thể tích dưới áp suất không đổi là phủ nhận định luật Charles. Đúng là sự co lại phát triển nhiệt; nhưng sự co lại do làm lạnh không thể phát triển toàn bộ lượng nhiệt hiện hữu trong khối lượng vào bất cứ lúc nào, hay thậm chí duy trì một thể ở nhiệt độ không đổi, v.v. Giáo sư Winchell cố gắng dung hòa nghịch lý này — thật ra chỉ là một nghịch lý biểu kiến, như J. Homer Lane 142 đã chứng minh — bằng cách gợi ý “một điều gì khác ngoài nhiệt”. Ông hỏi: “Phải chăng đó chỉ là một lực đẩy giữa các phân tử, biến thiên theo một định luật nào đó của khoảng cách?” 143 Nhưng ngay cả điều này cũng sẽ bị thấy là không thể dung hòa, trừ phi “một điều gì khác ngoài nhiệt” ấy được dán nhãn là “Nhiệt Vô Nhân”, “Hơi Thở của Lửa”, Mãnh lực sáng tạo toàn thể cộng với Trí Tuệ Tuyệt Đối, điều mà Khoa học Vật lý khó có thể chấp nhận.

However it may be, the reading of this Stanza, notwithstanding its archaic phraseology, shows it to be more scientific than even Modern Science.

Dù thế nào đi nữa, việc đọc Bài kệ này, bất chấp lối diễn đạt thái cổ của nó, cho thấy nó còn khoa học hơn cả Khoa học Hiện đại.

12. Then Svabhâvat sends Fohat to harden the Atoms. Each 144is a part of the Web. 145 Reflecting the “Self-Existent Lord,” 146like a Mirror, each becomes in turn a World. 147

12. Khi ấy Svabhavat sai Fohat làm cứng các Nguyên Tử. Mỗi 144 nguyên tử là một phần của Tấm Lưới. 145 Phản chiếu “Chúa Tể Tự Hữu” 146 như một Tấm Gương, mỗi nguyên tử đến lượt mình trở thành một Thế Giới. 147

Fohat hardens the Atoms; i.e., by infusing energy into them, he scatters the “Atoms,” or Primordial Matter. “He scatters himself while scattering Matter into Atoms.”

Fohat làm cứng các Nguyên Tử; nghĩa là, bằng cách truyền năng lượng vào chúng, y phân tán “các Nguyên Tử”, hay Vật Chất Nguyên Thủy. “Y phân tán chính mình trong khi phân tán Vật Chất thành các Nguyên Tử.”

It is through Fohat that the ideas of the Universal Mind are impressed upon Matter. Some faint idea of the nature of Fohat may be gathered from the appellation “Cosmic Electricity,” sometimes applied to it; but, in this case, to the commonly known properties of electricity, must be added others, including intelligence. It is of interest to note that Modern Science has come to the conclusion, that all cerebration and brain-activity are attended by electrical phenomena.

Chính nhờ Fohat mà các ý tưởng của Vũ Trụ Trí được ghi khắc lên Vật Chất. Có thể thu nhận một ý niệm mờ nhạt về bản chất của Fohat từ danh xưng “Điện Vũ trụ” đôi khi được áp dụng cho nó; nhưng trong trường hợp này, phải thêm vào các thuộc tính thường biết của điện những thuộc tính khác, bao gồm cả trí tuệ. Điều đáng lưu ý là Khoa học Hiện đại đã đi đến kết luận rằng mọi hoạt động tư duy của đại não và hoạt động của bộ não đều đi kèm với các hiện tượng điện.

Stanza IV. — Bài kệ IV.

1…. Listen, ye Sons of the Earth, to your Instructors—the Sons of the Fire (a). Learn there is neither first nor last; for all is One Number, issued from No-Number (b).

1…. Hãy lắng nghe, hỡi các Con của Trái Đất, lời các Huấn sư của các ngươi — các Con của Lửa (a). Hãy học rằng không có đầu cũng không có cuối; vì tất cả là Một Con Số, phát xuất từ Vô Số (b).

(a) The terms, the “Sons of the Fire,” the “Sons of the Fire-Mist,” and the like, require explanation. They are connected with a great primordial and universal mystery, and it is not easy to make it clear. There is a passage in the Bhagavadgîtâ, wherein Krishna, speaking symbolically and esoterically, says: I will state the times [conditions]… at which devotees departing [from this life] do so never to return [be reborn], or to return [to incarnate again]. The fire, the flame, the day, the bright [lucky] fortnight, the six months of the northern solstice, departing [dying]… in these, those who know the Brahman [Yogîs] go to the Brahman. Smoke, night, the dark [unlucky] fortnight, the six months of the southern solstice, (dying) in these, the devotee goes to the lunar light [or mansion, the Astral Light also] and returns [is reborn]. These two paths, bright and dark, are said to be eternal in this world [or Great Kalpa (Age)]. By the one (a man) goes never to return, by the other he comes back. 148

(a) Các thuật ngữ “Các Con của Lửa”, “Các Con của Sương Lửa”, và những thuật ngữ tương tự, cần được giải thích. Chúng liên hệ với một huyền nhiệm nguyên thủy và phổ quát vĩ đại, và không dễ làm cho rõ ràng. Có một đoạn trong Bhagavadgita, trong đó Krishna, nói theo biểu tượng và một cách huyền bí, nói rằng: Ta sẽ nêu các thời điểm, tức các điều kiện… mà tại đó những người sùng đạo khi rời khỏi đời này thì hoặc không bao giờ trở lại, tức không tái sinh, hoặc trở lại, tức nhập thể lần nữa. Lửa, ngọn lửa, ban ngày, nửa tháng sáng, tức may mắn, sáu tháng của chí tuyến phương bắc; rời đi, tức chết, trong những điều này, những người biết Brahman, tức các Yogi, đi đến Brahman. Khói, ban đêm, nửa tháng tối, tức không may mắn, sáu tháng của chí tuyến phương nam; chết trong những điều này, người sùng đạo đi đến ánh sáng mặt trăng, hay trú xứ mặt trăng, cũng là Ánh sáng Cảm dục, và trở lại, tức tái sinh. Hai con đường này, sáng và tối, được nói là vĩnh cửu trong thế gian này, hay Đại Kalpa, tức Thời đại. Bằng con đường này, một người đi mà không bao giờ trở lại; bằng con đường kia, y quay về. 148

Now these terms “fire,” “flame,” “day,” the “bright fortnight,” etc., “smoke,” “night,” and so on, leading only to the end of the Lunar Path, are incomprehensible without a knowledge of Esotericism. These are all names of various deities which preside over the cosmo-psychic Powers. We often speak of the Hierarchy of “Flames,” of the “Sons of Fire,” etc. Shankarâchârya, the greatest of the Esoteric Masters of India, says that Fire means a deity which presides over Time (Kâla). The able translator of the Bhagavadgîtâ, Kâshinâth Trimbak Telang, M.A., of Bombay, confesses he has “no clear notion of the meaning of these verses.” It seems quite clear, on the contrary, to him who knows the Occult doctrine. With these verses the mystic sense of the solar and lunar symbols are connected. The Pitris are Lunar Deities and our Ancestors, because they created the physical man. The Agnishvatta, the Kumâras (the Seven Mystic Sages), are Solar Deities, though they are Pitris also; and these are the “Fashioners of the Inner Man.” They are “The Sons of Fire,” because they are the first Beings, called “Minds,” in the Secret Doctrine, evolved from Primordial Fire. “The Lord… is a consuming fire.” 149 “The Lord shall be revealed… with his mighty angels in flaming fire.” 150 The Holy Ghost descended on the Apostles as “cloven tongues like as of fire”; 151 Vishnu will return on Kalkî, the White Horse, as the last Avatâra, amid fire and flames; and Sosiosh will also descend on a White Horse in a “tornado of fire.” “And I saw heaven opened, and behold a white horse; and he that sat upon him… and his name is called the Word of God,” 152 amid flaming Fire. Fire is Æther in its purest form, and hence is not regarded as matter, but is the unity of Æther—the second, manifested deity—in its universality. But there are two “Fires,” and a distinction is made between them in the Occult teachings. The first, or the purely formless and invisible Fire, concealed in the Central Spiritual Sun, is spoken of as Triple (metaphysically); while the Fire of the Manifested Cosmos is Septenary, throughout both the Universe and our Solar System. “The fire of knowledge burns up all action on the plane of illusion,” says the Commentary. “Therefore, those who have acquired it and are emancipated, are called ‘Fires’.” Speaking of the seven senses, symbolized as Hotris, or Priests, Nârada says in Anugitâ: “Thus these seven [senses, smell and taste, and colour, and sound, etc.,] are the causes of emancipation”; and the translator adds: “It is from these seven from which the Self is to be emancipated. ‘I’ [in the sentence, ‘I am… devoid of qualities’] must mean the Self, not the Brâhmana who speaks.” 153

Vậy các thuật ngữ “lửa”, “ngọn lửa”, “ban ngày”, “nửa tháng sáng”, v.v., “khói”, “ban đêm”, và những thuật ngữ tương tự, chỉ dẫn đến tận cùng Con Đường Mặt Trăng, đều không thể hiểu được nếu không có tri thức về huyền bí học. Tất cả những thuật ngữ này đều là danh xưng của các vị thần khác nhau chủ trì các Quyền Năng vũ trụ-tâm linh. Chúng ta thường nói đến Thánh đoàn của các “Ngọn Lửa”, của “Các Con của Lửa”, v.v. Shankaracharya, bậc vĩ đại nhất trong các Chân sư Nội môn của Ấn Độ, nói rằng Lửa có nghĩa là một vị thần chủ trì Thời Gian, Kala. Dịch giả tài năng của Bhagavadgita, Kashinath Trimbak Telang, thạc sĩ văn chương, ở Bombay, thú nhận rằng ông “không có ý niệm rõ ràng về ý nghĩa của các câu này”. Trái lại, điều ấy có vẻ rất rõ ràng đối với người biết giáo lý Huyền bí. Thâm nghĩa của các biểu tượng mặt trời và mặt trăng liên hệ với những câu này. Các Pitri là các Thần Mặt Trăng và là Tổ tiên của chúng ta, vì họ tạo ra con người hồng trần. Các Agnishvatta, các Kumara, tức Bảy Hiền Triết Huyền Bí, là các Thần Mặt Trời, dù họ cũng là Pitri; và họ là “Những Đấng Tạo Dáng cho Con Người Bên Trong”. Họ là “Các Con của Lửa”, vì họ là các Hữu Thể đầu tiên, được gọi là “Trí Tuệ” trong Giáo Lý Bí Nhiệm, tiến hóa từ Lửa Nguyên Thủy. “Chúa Tể… là lửa thiêu đốt.” 149 “Chúa Tể sẽ được mặc khải… cùng các thiên thần hùng mạnh của Ngài trong lửa bừng cháy.” 150 Chúa Thánh Thần giáng xuống trên các Sứ đồ như “những lưỡi tách ra như lửa”; 151 Vishnu sẽ trở lại trên Kalki, Bạch Mã, với tư cách Đấng Hoá Thân cuối cùng, giữa lửa và ngọn lửa; và Sosiosh cũng sẽ giáng xuống trên một Bạch Mã trong “cơn lốc lửa”. “Và tôi thấy trời mở ra, và kìa một con ngựa trắng; và Đấng ngồi trên đó… và danh Ngài được gọi là Linh từ của Thượng đế,” 152 giữa Lửa bừng cháy. Lửa là Dĩ thái trong hình thức tinh khiết nhất của nó, và vì thế không được xem là vật chất, mà là nhất tính của Dĩ thái — vị thần đã biểu hiện thứ hai — trong tính phổ quát của nó. Nhưng có hai “Lửa”, và trong các giáo huấn Huyền bí có sự phân biệt giữa chúng. Lửa thứ nhất, hay Lửa thuần túy vô hình tướngvô hình, ẩn trong Mặt trời Tinh thần Trung Ương, được nói là Tam phân theo nghĩa siêu hình; trong khi Lửa của Vũ trụ đã Biểu hiện là Thất phân, xuyên suốt cả Vũ trụ lẫn hệ mặt trời của chúng ta. “Lửa của tri thức thiêu rụi mọi hành động trên cõi ảo tưởng”, Cổ Luận nói. “Vì thế, những ai đã đạt được nó và được giải thoát thì được gọi là ‘Lửa’.” Khi nói về bảy giác quan, được biểu tượng hóa như các Hotri, tức Tư tế, Narada nói trong Anugita: “Như vậy, bảy giác quan này — khứu giác, vị giác, màu sắc, âm thanh, v.v. — là các nguyên nhân của giải thoát”; và dịch giả thêm: “Chính khỏi bảy điều này mà Bản Ngã phải được giải thoát. ‘Tôi’ trong câu ‘Tôi là… không có phẩm tính’ phải có nghĩa là Bản Ngã, chứ không phải vị Brahmana đang nói.” 153

(b) The expression, “all is One Number, issued from No-Number,” relates again to that universal and philosophical tenet just explained in the commentary on Shloka 4 of Stanza III. That which is absolute, is of course No-Number; but in its later significance it has an application both in Space and in Time. It means that not only every increment of time is part of a larger increment, up to the most indefinitely prolonged duration conceivable by the human intellect, but also that no manifested thing can be thought of except as part of a whole: the total aggregate being the One Manifested Universe that issues from the Unmanifested or Absolute—called Non-Being, or “No-Number,” to distinguish it from Being, or the “One Number.”

(b) Cụm từ “tất cả là Một Con Số, phát xuất từ Vô Số” lại liên quan đến nguyên lý phổ quát và triết học vừa được giải thích trong phần bình giảng về Shloka 4 của Bài kệ III. Cái tuyệt đối dĩ nhiên là Vô Số; nhưng trong ý nghĩa về sau của nó, nó có ứng dụng cả trong Không Gian lẫn trong Thời Gian. Nó có nghĩa là không những mọi phần tăng thêm của thời gian đều là một phần của một phần tăng thêm lớn hơn, cho đến tận khoảng thời gian kéo dài vô định nhất mà trí năng con người có thể quan niệm, mà còn rằng không có sự vật đã biểu hiện nào có thể được nghĩ đến ngoại trừ như một phần của một toàn thể: tổng hợp trọn vẹn là Một Vũ trụ Đã Biểu hiện, phát xuất từ Cái Không Biểu Hiện hay Tuyệt Đối — được gọi là Phi-Bản-Thể, hay “Vô Số”, để phân biệt nó với Bản Thể, hay “Một Con Số”.

2. Learn what we, who descend from the Primordial Seven, we, who are born from the Primordial Flame, have learnt from our Fathers….

2. Hãy học điều mà chúng tôi, những đấng giáng xuống từ Bảy Đấng Nguyên Thủy, chúng tôi, những đấng sinh ra từ Ngọn Lửa Nguyên Thủy, đã học từ các Cha của chúng tôi…

This is explained in Book II, and the term, “Primordial Flame,” corroborates what is said in the first paragraph of the preceding commentary on Stanza IV.

Điều này được giải thích trong Quyển II, và thuật ngữ “Ngọn Lửa Nguyên Thủy” xác nhận điều đã nói trong đoạn đầu của phần bình giảng trước về Bài kệ IV.

The distinction between the “Primordial” and the subsequent Seven Builders is that the former are the Ray and direct emanation of the first “Sacred Four,” the Tetraktys, that is, the eternally Self-Existent One—eternal in essence note well, not in manifestation, and distinct from the Universal One. Latent, during Pralaya, and active, during Manvantara, the “Primordial” proceed from “Father-Mother” (Spirit-Hyle, or Ilus); whereas the other Manifested Quaternary and the Seven proceed from the Mother alone. It is the latter who is the immaculate Virgin-Mother, who is overshadowed, not impregnated, by the Universal Mystery—when she emerges from her state of Laya, or undifferentiated condition. In reality, they are, of course, all one; but their aspects on the various planes of Being are different.

Sự phân biệt giữa “Các Đấng Nguyên Thủy” và Bảy Đấng Kiến Tạo về sau là: những Đấng trước là Cung và xuất lộ trực tiếp của “Bốn Đấng Thiêng Liêng” đầu tiên, Tetraktys, tức Đấng Duy Nhất Tự Hữu vĩnh cửu — hãy lưu ý kỹ, vĩnh cửu trong tinh túy, không phải trong biểu hiện, và khác với Đấng Duy Nhất Phổ Quát. Tiềm tàng trong Giai kỳ qui nguyên, và hoạt động trong Giai kỳ sinh hóa, “Các Đấng Nguyên Thủy” phát xuất từ “Cha-Mẹ”, Tinh thần-Hyle hay Ilus; trong khi Bộ Bốn Đã Biểu Hiện kia và Bảy Đấng phát xuất chỉ từ Mẹ. Chính Đấng sau là Trinh Nữ-Mẹ vô nhiễm, được phủ bóng chứ không được thụ thai bởi Huyền Nhiệm Phổ Quát, khi bà xuất hiện khỏi trạng thái Laya của mình, hay tình trạng chưa biến phân. Trong thực tại, dĩ nhiên, tất cả các Ngài là một; nhưng các phương diện của các Ngài trên những cõi Bản Thể khác nhau thì khác nhau.

The first Primordial are the highest Beings on the Scale of Existence. They are the Archangels of Christianity, those who refuse to create or rather to multiply—as did Michael in the latter system, and as did the eldest “Mind-born Sons” of Brahmâ (Vedhâs).

Các Đấng Nguyên Thủy đầu tiên là những Hữu Thể cao nhất trên Thang Hiện Hữu. Các Ngài là các Tổng Lãnh Thiên Thần của Cơ Đốc giáo, những Đấng từ chối sáng tạo, hay đúng hơn là nhân bội — như Michael đã làm trong hệ thống sau này, và như các “Con Đầu Lòng Sinh Từ Trí” của Brahma, tức Vedhas, đã làm.

3. From the Effulgency of Light—the Ray of the Ever-Darkness—sprang in Space the reawakened Energies; 154 the One from the Egg, the Six, and the Five (a). Then the Three, the One, the Four, the One, the Five—the Twice Seven, the Sum Total (b). And these are the Essences, the Flames, the Elements, the Builders, the Numbers (c), the Arûpa, 155 the Rûpa, 156 and the Force, or Divine Man—the Sum Total. And from the Divine Man emanated the Forms, the Sparks, the Sacred Animals (d), and the Messengers of the Sacred Fathers 157within the Holy Four. 158

3. Từ Ánh Sáng Huy Hoàng—Cung của Bóng Tối Vĩnh Hằng—trong Không Gian đã bừng dậy những Năng Lượng được đánh thức lại; 154 Đấng Duy Nhất từ Quả Trứng, Sáu, và Năm (a). Rồi Ba, Một, Bốn, Một, Năm—Hai Lần Bảy, Tổng Thể (b). Và đó là các Tinh Chất, các Ngọn Lửa, các Nguyên tố, các Đấng Kiến Tạo, các Con Số (c), Arupa, 155 Rupa, 156 và Mãnh lực, hay Con Người Thiêng Liêng—Tổng Thể. Và từ Con Người Thiêng Liêng xuất lộ các Hình Tướng, các Tia Lửa, các Linh Thú Thiêng Liêng (d), và các Sứ Giả của những Tổ Phụ Thiêng Liêng 157trong Bộ Tứ Thánh Thiêng. 158

(a) This relates to the Sacred Science of the Numerals; so sacred, indeed, and so important in the study of Occultism that the subject can hardly be skimmed, even in such a large work as the present. It is on the Hierarchies and the correct numbers of these Beings—invisible (to us) except upon very rare occasions—that the mystery of the whole Universe is built. The Kumâras, for instance, are called the “Four”—though in reality seven in number—because Sanaka, Sananda, Sanâtana and Sanatkumâra are the chief Vaidhâtra (their patronymic name), who sprang from the “four-fold mystery.” To make the whole clearer, we have to turn for our illustrations to tenets more familiar to some of our readers, namely the Brâhmanical.

(a) Điều này liên hệ đến Khoa Học Thiêng Liêng về các Số; quả thật thiêng liêng đến thế, và quan trọng đến thế trong việc nghiên cứu Huyền bí học, đến nỗi đề tài này hầu như không thể chỉ lướt qua, ngay cả trong một tác phẩm đồ sộ như tác phẩm hiện tại. Chính trên các Huyền Giai và những con số đúng của các Hữu Thể này—vô hình đối với chúng ta, trừ những dịp hết sức hiếm hoi—mà bí nhiệm của toàn thể Vũ Trụ được xây dựng. Chẳng hạn, các Kumara được gọi là “Bốn”—dù trong thực tế có bảy vị—bởi vì Sanaka, Sananda, Sanatana và Sanatkumara là những Vaidhatra chính yếu (tên theo phụ hệ của các Ngài), vốn sinh ra từ “bí nhiệm tứ phân”. Để làm toàn bộ vấn đề rõ hơn, chúng ta phải tìm các minh họa nơi những giáo lý quen thuộc hơn với một số độc giả của chúng ta, tức là giáo lý Bà-la-môn.

According to Manu, Hiranyagarbha is Brahmâ, the first male, formed by the undiscernible Causeless Cause, in a “Golden Egg resplendent as the Sun,” as states the Hindû Classical Dictionary; Hiranyagarbha meaning the Golden, or rather the Effulgent, Womb or Egg. The meaning tallies awkwardly with the epithet “male.” Surely the esoteric meaning of the sentence is clear enough! In the Rig Veda it is said— “That, the one Lord of all beings… the one animating principle of gods and men,” arose, in the beginning, in the Golden Womb, Hiranyagarbha—which is the Mundane Egg, or Sphere of our Universe. That Being is surely androgynous, and the allegory of Brahmâ separating into two, and creating in one of his halves (the female Vâch) himself as Virâj, is a proof of it.

Theo Manu, Hiranyagarbha là Brahma, nam đầu tiên, do Nguyên Nhân Vô Nhân không thể phân biện tạo thành, trong một “Quả Trứng Vàng rực rỡ như Mặt Trời”, như Từ Điển Cổ Điển Hindu đã nêu; Hiranyagarbha có nghĩa là Tử Cung hay Quả Trứng Vàng, hoặc đúng hơn là Huy Hoàng. Ý nghĩa này ăn khớp một cách gượng gạo với tính ngữ “nam”. Chắc chắn ý nghĩa nội môn của câu ấy đã đủ rõ! Trong Rig Veda có nói—“Đấng ấy, vị Chúa Tể duy nhất của mọi sinh linh… nguyên khí làm linh hoạt duy nhất của các thần và con người”, đã xuất hiện lúc khởi nguyên trong Tử Cung Vàng, Hiranyagarbha—chính là Quả Trứng Thế Gian, hay Khối Cầu của Vũ Trụ chúng ta. Hữu Thể ấy chắc chắn là lưỡng tính, và ẩn dụ về Brahma tự phân đôi, rồi trong một nửa của mình (Vach nữ tính) tạo ra chính mình như Viraj, là bằng chứng cho điều đó.

“The One from the Egg, the Six and the Five,” give the number 1065, the value of the First-born (later on the male and female Brahmâ-Prajâpati), who answers to the numbers 7, and 14, and 21 respectively. The Prajâpati, like the Sephiroth are only seven, including the synthetic Sephira of the Triad from which they spring. Thus from Hiranyagarbha, or Prajâpati, the Triune (the primeval Vedic Trimûrti, Agni, Vâyu, and Sûrya), emanate the other seven, or again ten, if we separate the first three which exist in one, and one in three; all, moreover, being comprehended within that one “Supreme,” Parama, called Guhya or “Secret,” and Sarvâtman, the “Super-Soul.” “The seven Lords of Being lie concealed in Sarvâtman like thoughts in one brain.” So with the Sephiroth. They are either seven when counting from the upper Triad, headed by Kether, or ten—exoterically. In the Mahâbhârata, the Prajâpati are 21 in number, or ten, six, and five (1065), thrice seven. 159

“Đấng Duy Nhất từ Quả Trứng, Sáu và Năm” cho con số 1065, trị số của Đấng Sơ Sinh (về sau là Brahma-Prajapati nam và nữ), tương ứng lần lượt với các con số 7, 14 và 21. Các Prajapati, giống như các Sephiroth, chỉ có bảy, kể cả Sephira tổng hợp của Tam nguyên tinh thần mà từ đó họ sinh ra. Như vậy, từ Hiranyagarbha, hay Prajapati, Đấng Tam Nhất (Trimurti Vệ-đà nguyên sơ, Agni, Vayu và Surya), xuất lộ bảy vị khác, hoặc lại là mười, nếu chúng ta tách ba vị đầu vốn hiện hữu trong một, và một trong ba; hơn nữa, tất cả đều được bao hàm trong “Đấng Tối Cao” duy nhất ấy, Parama, được gọi là Guhya hay “Bí Mật”, và Sarvatman, “Siêu Hồn”. “Bảy Chúa Tể của Bản Thể ẩn kín trong Sarvatman như những tư tưởng trong một bộ não.” Với các Sephiroth cũng vậy. Các vị ấy hoặc là bảy khi tính từ Tam nguyên tinh thần thượng đẳng, do Kether đứng đầu, hoặc là mười—xét theo ngoại môn. Trong Mahabharata, các Prajapati có số lượng 21, hay mười, sáu và năm (1065), ba lần bảy. 159

(b) “The Three, the One, the Four, the One, the Five,” in their total—Twice Seven, represent 31415—the numerical Hierarchy of the Dhyân Chohans of various orders, and of the inner or circumscribed world. 160 Placed on the boundary of the great Circle, “Pass Not”—called also the Dhyânipâsha, the “Rope of the Angels,” the “Rope” that hedges off the phenomenal from the noumenal Cosmos, which does not fall within the range of our present objective consciousness—this number, when not enlarged by permutation and expansion, is ever 31415, anagrammatically and Kabalistically, being both the number of the Circle and the mystic Svastika, the “Twice Seven” once more; for whatever way the two sets of figures are counted, when added separately, one figure after another, whether crossways from right, or from left, they will always yield fourteen. Mathematically they represent the well-known mathematical formula, that the ratio of the diameter of a circle to the circumference is as 1 to 3.1415, or the value of π (pi), as it is called. This set of figures must have the same meaning, since the 1:314,159 and again 1:3.1415927 are worked out in the secret calculations to express the various cycles and ages of the “First-born,” or 311,040,000,000,000 with fractions, and yield the same 1.3415 by a process we are not concerned with at present. And it may be shown that Mr. Ralston Skinner, the author of The Source of Measures, reads the Hebrew word Alhim in the same number values—by omitting, as said, the ciphers, and by permutation—13514: since א (a) is 1; ל (l) is 3 (30); ה (h) is 5; י (i) is 1 (10); and מ (m) is 4 (40); and anagrammatically—31415, as explained by him.

(b) “Ba, Một, Bốn, Một, Năm”, trong tổng số của chúng—Hai Lần Bảy, biểu thị 31415—Huyền Giai bằng số của các Dhyani Chohan thuộc nhiều đẳng cấp khác nhau, và của thế giới bên trong hay được giới hạn. 160 Được đặt trên ranh giới của Vòng Tròn vĩ đại, “Không Được Vượt Qua”—cũng được gọi là Dhyanipasha, “Sợi Dây của các Thiên Thần”, “Sợi Dây” ngăn cách Vũ Trụ hiện tượng với Vũ Trụ bản thể, vốn không nằm trong phạm vi tâm thức khách quan hiện tại của chúng ta—con số này, khi không được mở rộng bằng hoán vị và khai triển, luôn luôn là 31415, theo lối đảo chữ và theo Kabbalah, vừa là con số của Vòng Tròn vừa là Svastika thần bí, lại một lần nữa là “Hai Lần Bảy”; vì dù hai bộ chữ số ấy được đếm theo cách nào, khi cộng riêng từng chữ số, lần lượt từng số một, dù theo đường chéo từ phải hay từ trái, chúng vẫn luôn cho kết quả mười bốn. Về mặt toán học, chúng biểu thị công thức toán học quen thuộc, rằng tỷ số giữa đường kính của một vòng tròn và chu vi là 1 so với 3,1415, hay trị số của pi, như người ta gọi. Bộ chữ số này hẳn phải có cùng ý nghĩa, vì 1:314.159 và lại 1:3,1415927 được tính toán trong các phép tính bí truyền để diễn tả các chu kỳ và thời đại khác nhau của “Đấng Sơ Sinh”, hay 311.040.000.000.000 kèm các phân số, và cho cùng 1,3415 bằng một tiến trình mà hiện nay chúng ta không cần bàn đến. Và có thể cho thấy rằng ông Ralston Skinner, tác giả của Nguồn Gốc các Đo Lường, đọc từ Hebrew Alhim theo cùng các trị số—bằng cách bỏ các số không, như đã nói, và bằng hoán vị—13514: vì chữ a là 1; chữ l là 3 (30); chữ h là 5; chữ i là 1 (10); và chữ m là 4 (40); và theo lối đảo chữ—31415, như ông đã giải thích.

Thus, while in the metaphysical world, the Circle with the one central Point in it has no number, and is called Anupâdaka—parentless and numberless, for it can fall under no calculation; in the manifested world, the Mundane Egg or Circle is circumscribed within the groups called the Line, the Triangle, the Pentagram, the second Line and the Square (or 13514); and when the Point has generated a Line, and thus becomes a diameter which stands for the androgynous Logos, then the figures become 31415, or a triangle, a line, a square, a second line, and a pentagram. “When the Son separates from the Mother he becomes the Father,” the diameter standing for Nature, or the feminine principle. Therefore it is said: “In the World of Being, the One Point fructifies the Line, the Virgin Matrix of Kosmos [the egg-shaped zero], and the immaculate Mother gives birth to the Form that combines all forms.” Prajâpati is called the first procreating male, and “his mother’s husband.” 161 This gives the key-note to all the later “Divine Sons” from “Immaculate Mothers.” It is strongly corroborated by the significant fact that Anna, the name of the Mother of the Virgin Mary, now represented by the Roman Catholic Church as having given birth to her daughter in an immaculate way (“Mary conceived without sin”), is derived from the Chaldean Ana, Heaven, or Astral Light, Anima Mundi; whence Anaitia, Devî-Durgâ, the wife of Shiva, is also called Annapurna, and Kanyâ, the Virgin; Umâ-Kanyâ being her esoteric name, and meaning the “Virgin of Light,” Astral Light in one of its multitudinous aspects.

Như vậy, trong khi ở thế giới siêu hình, Vòng Tròn với một Điểm trung tâm duy nhất trong đó không có con số, và được gọi là Anupadaka—không cha mẹ và không số, vì nó không thể thuộc về bất cứ phép tính nào; thì trong thế giới biểu hiện, Quả Trứng Thế Gian hay Vòng Tròn được giới hạn trong các nhóm gọi là Đường Thẳng, Tam Giác, Ngũ Giác Tinh, Đường Thẳng thứ hai và Hình Vuông (hay 13514); và khi Điểm đã sinh ra một Đường Thẳng, và do đó trở thành một đường kính biểu thị Thượng đế lưỡng tính, thì các chữ số trở thành 31415, hay một tam giác, một đường thẳng, một hình vuông, một đường thẳng thứ hai và một ngũ giác tinh. “Khi Con tách khỏi Mẹ, y trở thành Cha”, đường kính biểu thị Thiên Nhiên, hay nguyên khí nữ tính. Vì vậy có nói: “Trong Thế Giới Bản Thể, Một Điểm làm thụ thai Đường Thẳng, Ma Trận Trinh Nguyên của Kosmos [số không hình quả trứng], và Người Mẹ Vô Nhiễm sinh ra Hình Tướng kết hợp mọi hình tướng.” Prajapati được gọi là nam giới sinh sản đầu tiên, và là “chồng của mẹ mình”. 161 Điều này trao chủ âm cho tất cả các “Con Thiêng Liêng” về sau sinh từ những “Người Mẹ Vô Nhiễm”. Nó được củng cố mạnh mẽ bởi một sự kiện đầy thâm nghĩa: Anna, tên của Mẹ của Đức Trinh Nữ Maria, nay được Giáo hội Công giáo La Mã trình bày như người đã sinh con gái mình theo cách vô nhiễm (“Maria được thụ thai không tội”), bắt nguồn từ Ana trong tiếng Chaldea, nghĩa là Thiên Đường, hay Ánh Sáng Cảm Dục, Anima Mundi; từ đó Anaitia, Devi-Durga, vợ của Shiva, cũng được gọi là Annapurna và Kanya, Trinh Nữ; Uma-Kanya là tên nội môn của bà, và có nghĩa là “Trinh Nữ của Ánh Sáng”, tức Ánh Sáng Cảm Dục trong một trong vô số phương diện của nó.

(c) The Devas, Pitris, Rishis; the Suras and the Asuras; the Daityas and Âdityas; the Dânavas and Gandharvas, etc., etc., have all their synonyms in our Secret Doctrine, as well as in the Kabalah and Hebrew Angelology; but it is useless to give their ancient names, as it would only create confusion. Many of these may be now also found even in the Christian Hierarchy of divine and celestial Powers. All those Thrones and Dominions, Virtues and Principalities, Cherubs, Seraphs and Demons, the various denizens of the Sidereal World, are the modern copies of archaic prototypes. The very symbolism in their names, when transliterated and arranged, in Greek and Latin, are sufficient to show it, as will be proved in several cases further on.

(c) Các Deva, Pitri, Rishi; các Sura và Asura; các Daitya và Aditya; các Danava và Gandharva, v.v., v.v., tất cả đều có các đồng nghĩa trong Giáo Lý Bí Nhiệm của chúng ta, cũng như trong Kabbalah và Thiên Thần học Hebrew; nhưng việc nêu ra các tên cổ của họ là vô ích, vì điều đó chỉ tạo ra sự lẫn lộn. Nhiều vị trong số này nay cũng có thể được tìm thấy ngay cả trong Huyền Giai Kitô giáo gồm các Quyền Năng thiêng liêng và thiên giới. Tất cả những Ngai Tòa và Quyền Chủ, Đức Lực và Lãnh Quyền, Cherub, Seraph và Quỷ Thần ấy, các cư dân khác nhau của Thế Giới Tinh Tú, đều là những bản sao hiện đại của các nguyên mẫu cổ xưa. Chính tính biểu tượng trong tên gọi của họ, khi được chuyển tự và sắp xếp bằng Hy Lạp và La-tinh, cũng đủ để cho thấy điều đó, như sẽ được chứng minh trong một số trường hợp về sau.

(d) The “Sacred Animals” are found in the Bible as well as in the Kabalah, and they have their meaning—a very profound one, too—on the page of the origins of Life. In the Sepher Jetzirah it is stated that: “God engraved in the Holy Four the Throne of his Glory, the Auphanim [the Wheels or World-Spheres], the Seraphim, and the Sacred Animals, as Ministering Angels, and from these [Air, Water, and Fire or Ether] he formed his habitation.”

(d) “Các Linh Thú Thiêng Liêng” được tìm thấy trong Kinh Thánh cũng như trong Kabbalah, và chúng có ý nghĩa của chúng—một ý nghĩa rất sâu xa—trên trang viết về nguồn gốc của Sự Sống. Trong Sepher Jetzirah có nói rằng: “Thượng đế đã khắc trong Bộ Tứ Thánh Thiêng Ngai Tòa Vinh Quang của Ngài, các Auphanim [các Bánh Xe hay các Khối Cầu-Thế Giới], các Seraphim, và các Linh Thú Thiêng Liêng, như những Thiên Thần Phụng Sự, và từ những điều này [Khí, Nước và Lửa hay Dĩ Thái] Ngài tạo nên nơi cư ngụ của mình.”

The following is the literal translation from the IXth and Xth Sections: Ten numbers without what? One: the Spirit of the living God… who liveth in eternities! Voice and Spirit and Word, and this is the Holy Spirit. Two: Air out of Spirit. He designed and hewed therewith twenty-two letters of foundation, three mothers, and seven double and twelve single, and one Spirit out of them. Three: Water out of Spirit; he designed and hewed with them the barren and the void, mud and earth. He designed them as a flower-bed, hewed them as a wall, covered them as a paving. Four: Fire out of Water. He designed and hewed therewith the throne of glory and the wheels, and the seraphim and the holy animals as ministering angels, and of the three He founded his dwelling, as it is said, He makes his angels spirits, and his servants fiery flames!

Sau đây là bản dịch sát nghĩa từ các Tiết IX và X: Mười con số không có gì? Một: Tinh thần của Thượng đế hằng sống… Đấng sống trong những vĩnh cửu! Tiếng Nói và Tinh thần và Linh từ, và đây là Chúa Thánh Thần. Hai: Khí từ Tinh thần. Ngài thiết kế và đẽo gọt bằng đó hai mươi hai chữ cái nền tảng, ba mẹ, bảy kép và mười hai đơn, và một Tinh thần từ chúng. Ba: Nước từ Tinh thần; Ngài thiết kế và đẽo gọt bằng chúng cái hoang vu và trống không, bùn và đất. Ngài thiết kế chúng như một luống hoa, đẽo gọt chúng như một bức tường, phủ chúng như một nền lát. Bốn: Lửa từ Nước. Ngài thiết kế và đẽo gọt bằng đó ngai tòa vinh quang và các bánh xe, các seraphim và các linh thú thiêng liêng như những thiên thần phụng sự, và từ ba điều ấy Ngài lập nên chỗ ở của mình, như đã nói, Ngài khiến các thiên thần của mình thành các tinh thần, và các tôi tớ của mình thành những ngọn lửa cháy!

The words “founded his dwelling” show clearly that in the Kabalah, as in India, the Deity was considered as the Universe, and was not, in his origin, the extra-cosmic God he now is.

Các từ “lập nên chỗ ở của mình” cho thấy rõ rằng trong Kabbalah, cũng như ở Ấn Độ, Thượng đế được xem là Vũ Trụ, và trong nguồn gốc của Ngài, Ngài không phải là Thượng đế ngoài vũ trụ như hiện nay.

Thus was the world made “through Three Seraphim—Sepher, Saphar, and Sipur,” or “through Number, Numbers, and Numbered.” With the astronomical key, these “Sacred Animals” become the signs of the Zodiac.

Như vậy thế giới được tạo thành “qua Ba Seraphim—Sepher, Saphar và Sipur”, hay “qua Số, các Số, và cái được Đánh Số”. Với chìa khóa thiên văn, các “Linh Thú Thiêng Liêng” này trở thành các dấu hiệu Hoàng Đạo.

4. This was the Army of the Voice, the Divine Mother of the Seven. The Sparks of the Seven are subject to, and the servants of, the First, the Second, the Third, the Fourth, the Fifth, the Sixth, and the Seventh of the Seven (a). These 162 are called Spheres, Triangles, Cubes, Lines and Modellers; for thus stands the Eternal Nidâna—the Oi-Ha-Hou (b). 163

4. Đây là Đạo Quân của Âm Thanh, Người Mẹ Thiêng Liêng của Bảy. Các Tia Lửa của Bảy phục tùng và là tôi tớ của Thứ Nhất, Thứ Hai, Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Sáu và Thứ Bảy của Bảy (a). Những vị này 162 được gọi là các Khối Cầu, Tam Giác, Khối Lập Phương, Đường Thẳng và các Đấng Tạo Mẫu; vì như thế là Nidana vĩnh cửu—Oi-Ha-Hou (b). 163

(a) This Shloka gives again a brief analysis of the Hierarchies of the Dhyân Chohans, called Devas (Gods) in India, or the Conscious Intelligent Powers in Nature. To this Hierarchy correspond the actual types into which Humanity may be divided; for Humanity, as a whole, is in reality a materialized, though as yet imperfect, expression thereof. The “Army of the Voice” is a term closely connected with the mystery of Sound and Speech, as an effect and corollary of the Cause—Divine Thought. As beautifully expressed by P. Christian, the learned author of Histoire de la Magie and L’Homme Rouge des Tuileries, the words spoken by, as well as the name of, every individual largely determine his future fate. Why? Because: When our soul [mind] creates or evokes a thought, the representative sign of that thought is self-engraved upon the astral fluid, which is the receptacle and, so to say, the mirror of all the manifestations of being.

(a) Bài kệ này lại đưa ra một phân tích ngắn gọn về các Huyền Giai của những Dhyani Chohan, được gọi là Deva (các Thần) ở Ấn Độ, hay các Quyền Năng Thông Tuệ Có Ý Thức trong Thiên Nhiên. Tương ứng với Huyền Giai này là các kiểu loại thực tế mà Nhân Loại có thể được phân chia; vì Nhân Loại, xét như một toàn thể, trong thực tế là một biểu hiện đã được vật chất hóa, tuy vẫn còn bất toàn, của Huyền Giai ấy. “Đạo Quân của Âm Thanh” là một thuật ngữ gắn bó mật thiết với bí nhiệm của Âm Thanh và Ngôn Từ, như một hệ quả và kết luận tất yếu của Nguyên Nhân—Tư Tưởng Thiêng Liêng. Như P. Christian, tác giả uyên bác của Histoire de la Magie và L’Homme Rouge des Tuileries, đã diễn đạt thật đẹp, những lời nói ra bởi mỗi cá nhân, cũng như tên gọi của y, quyết định phần lớn số phận tương lai của y. Tại sao? Bởi vì: Khi linh hồn [thể trí] của chúng ta tạo ra hay gợi lên một tư tưởng, dấu hiệu đại diện của tư tưởng ấy tự khắc ghi trên lưu chất cảm dục, vốn là bình chứa và, có thể nói, là tấm gương của mọi biểu hiện của hiện tồn.

The sign expresses the thing: the thing is the [hidden or occult] virtue of the sign.

Dấu hiệu biểu đạt sự vật: sự vật là đức năng [ẩn tàng hay huyền bí] của dấu hiệu.

To pronounce a word is to evoke a thought, and make it present: the magnetic potency of human speech is the commencement of every manifestation in the Occult World. To utter a Name is not only to define a Being [an Entity], but to place it under, and condemn it through the emission of the Word [Verbum] to the influence of, one or more Occult potencies. Things are, for every one of us, that which it [the Word] makes them while naming them. The Word [Verbum] or the speech of every man is, quite unconsciously to himself, a blessing or a curse; this is why our present ignorance about the properties and attributes of the idea, as well as about the attributes and properties of matter, is often fatal to us.

Phát âm một từ là gợi lên một tư tưởng và làm cho nó hiện diện: uy lực từ tính của lời nói con người là khởi đầu của mọi biểu hiện trong Thế Giới Huyền Bí. Thốt ra một Danh Xưng không chỉ là định nghĩa một Hữu Thể [một Thực Thể], mà còn đặt nó dưới, và kết án nó qua sự phát ra của Linh từ [Verbum] phải chịu ảnh hưởng của một hay nhiều uy lực Huyền Bí. Đối với mỗi người chúng ta, sự vật là điều mà nó [Linh từ] khiến chúng trở thành khi gọi tên chúng. Linh từ [Verbum] hay lời nói của mỗi người, hoàn toàn ngoài ý thức của chính y, là một phúc lành hay một lời nguyền; đây là lý do vì sao sự vô minh hiện nay của chúng ta về các đặc tính và thuộc tính của ý tưởng, cũng như về các thuộc tính và đặc tính của vật chất, thường gây tai hại cho chúng ta.

Yes, names [and words] are either beneficent or maleficent; they are, in a certain sense, either venomous or health-giving, according to the hidden influences attached by Supreme Wisdom to their elements, that is to say, to the letters which compose them, and the numbers correlative to these letters.

Đúng vậy, các tên gọi [và các từ] hoặc là lợi lạc hoặc là ác hại; theo một nghĩa nào đó, chúng hoặc độc hại hoặc đem lại sức khỏe, tùy theo các ảnh hưởng ẩn tàng mà Minh Triết Tối Cao gắn vào các yếu tố của chúng, nghĩa là vào các chữ cái cấu thành chúng, và các con số tương ứng với những chữ cái ấy.

This is strictly true as an esoteric teaching accepted by all the Eastern Schools of Occultism. In the Sanskrit, as also in the Hebrew and all other alphabets, every letter has its occult meaning and its rationale: it is a cause and an effect of a preceding cause, and a combination of these very often produces the most magical effect. The vowels, especially, contain the most occult and formidable potencies. The Mantras (magical rather than religious invocations, esoterically) are chanted by the Brâhmans, and so are the rest of the Vedas and other Scriptures.

Điều này hoàn toàn đúng như một giáo huấn nội môn được tất cả các Trường Phái Huyền bí học Đông phương chấp nhận. Trong Sanskrit, cũng như trong Hebrew và mọi bảng chữ cái khác, mỗi chữ cái đều có ý nghĩa huyền bí và lý do tồn tại của nó: nó là một nguyên nhân và là một kết quả của một nguyên nhân đi trước, và sự kết hợp của các chữ ấy rất thường tạo ra hiệu quả huyền thuật mạnh mẽ nhất. Đặc biệt, các nguyên âm chứa đựng những uy lực huyền bí và ghê gớm nhất. Các Mantra (về mặt nội môn, là những lời khẩn cầu mang tính huyền thuật hơn là tôn giáo) được các Brahman xướng tụng, và phần còn lại của các Veda cùng các Thánh thư khác cũng vậy.

The “Army of the Voice” is the prototype of the “Host of the Logos,” or the “Word,” of the Sepher Jetzirah, called in the Secret Doctrine the “One Number issued from No-Number”—the One Eternal Principle. The Esoteric Theogony begins with the One Manifested (therefore not eternal in its presence and being, if eternal in its essence), the Number of the Numbers and Numbered—the latter proceeding from the Voice, the feminine Vâch, “of the hundred forms,” Shatarûpâ, or Nature. It is from this Number, 10, or Creative Nature, the Mother (the Occult cypher, or “0,” ever procreating and multiplying in union with the unit “1,” or the Spirit of Life), that the whole Universe proceeds.

“Đạo Quân của Âm Thanh” là nguyên mẫu của “Đoàn Quân của Thượng đế”, hay “Linh từ”, trong Sepher Jetzirah, được gọi trong Giáo Lý Bí Nhiệm là “Một Con Số phát ra từ Phi-Số”—Nguyên Khí Vĩnh Cửu Duy Nhất. Thần phả nội môn bắt đầu với Đấng Duy Nhất Biểu Hiện (do đó không vĩnh cửu trong sự hiện diện và hiện tồn của nó, dù vĩnh cửu trong tinh chất của nó), Con Số của các Con Số và cái Được Đánh Số—cái sau phát xuất từ Tiếng Nói, Vach nữ tính, “của một trăm hình tướng”, Shatarupa, hay Thiên Nhiên. Chính từ Con Số này, 10, hay Thiên Nhiên Sáng Tạo, Người Mẹ (mật mã Huyền Bí, hay “0”, mãi sinh sản và nhân lên trong sự kết hợp với đơn vị “1”, hay Tinh thần của Sự Sống), mà toàn thể Vũ Trụ phát xuất.

In the Anugîtâ, 164 a conversation is given between a Brâhmana and his wife on the origin of Speech and its Occult properties. The wife asks how Speech came into existence, and which was prior to the other, Speech or Mind. The Brâhmana tells her that the Apâna (inspirational breath) becoming lord, changes that intelligence, which does not understand Speech or Words, into the state of Apâna, and thus opens the Mind. Thereupon he tells her a story, a dialogue between Speech and Mind. Both went to the Self of Being (i.e., to the individual Higher Self, as Nîlakantha thinks; to Prajâpati, according to the commentator Arjuna Mishra), and asked him to destroy their doubts, and decide which of them preceded and was superior to the other. To this the Lord said: “Mind (is superior).” But Speech answered the Self of Being, by saying: “I verily yield (you) your desires,” meaning that by Speech he acquired what he desired. Thereupon again, the Self told her that there are two Minds, the “movable” and the “immovable.” “The immovable is with me,” he said, “the movable is in your dominion” (i.e. of Speech), on the plane of matter. “To that you are superior.”

Trong Anugita, 164 có ghi lại một cuộc đối thoại giữa một Brahmana và vợ ông về nguồn gốc của Ngôn Từ và các đặc tính Huyền Bí của nó. Người vợ hỏi Ngôn Từ đã đi vào hiện hữu như thế nào, và cái nào có trước cái kia, Ngôn Từ hay Thể trí. Brahmana nói với bà rằng Apana (hơi thở hít vào), khi trở thành chúa tể, chuyển đổi trí tuệ vốn không thấu hiểu Ngôn Từ hay các lời nói ấy thành trạng thái Apana, và nhờ đó mở thể trí. Sau đó ông kể cho bà một câu chuyện, một cuộc đối thoại giữa Ngôn Từ và Thể trí. Cả hai đi đến Bản Ngã của Hữu Thể (tức là đến Bản Ngã Cao Siêu cá nhân, theo Nîlakantha nghĩ; đến Prajapati, theo nhà chú giải Arjuna Mishra), và thỉnh cầu Ngài phá tan những nghi ngờ của họ, cũng như quyết định ai trong họ có trước và cao hơn người kia. Với điều này, Chúa Tể đáp: “Thể trí cao hơn.” Nhưng Ngôn Từ đáp lại Bản Ngã của Hữu Thể rằng: “Quả thật, tôi ban cho Ngài các ham muốn của Ngài,” hàm ý rằng nhờ Ngôn Từ, Ngài đạt được điều Ngài mong muốn. Sau đó một lần nữa, Bản Ngã nói với bà rằng có hai Thể trí, “chuyển động” và “bất động”. “Cái bất động ở với ta,” Ngài nói, “cái chuyển động ở trong lãnh địa của ngươi” (tức là của Ngôn Từ), trên cõi vật chất. “Trong điều đó, ngươi cao hơn.”

But inasmuch, O beautiful one, as you came personally to speak to me (in the way you did, i.e. proudly), therefore, O Sarasvatî! you shall never speak after (hard) exhalation. The goddess Speech [Sarasvatî, a later form or aspect of Vâch, the goddess also of secret learning, or Esoteric Wisdom], verily, dwelt always between the Prâna and the Apâna. But, O noble one! going with the Apâna wind [vital air], though impelled,… without the Prâna [expirational breath], she ran up to Prajâpati [Brahmâ], saying, “Be pleased, O venerable sir!” Then the Prâna appeared again nourishing Speech. And, therefore, Speech never speaks after (hard) exhalation. It is always noisy or noiseless. Of these two, the noiseless is the superior to the noisy (Speech)…. The (Speech) which is produced in the body by means of the Prâna, and which then goes [is transformed] into Apâna and then becoming assimilated with the Udâna [physical organs of Speech]… then finally dwells in the Samâna [“at the navel in the form of sound, as the material cause of all words,” says Arjuna Mishra]. So Speech formerly spoke. Hence the Mind is distinguished by reason of its being immovable, and the Goddess (Speech) by reason of her being movable.

Nhưng vì, hỡi người đẹp, ngươi đã đích thân đến nói với ta (theo cách ngươi đã làm, tức là đầy kiêu hãnh), cho nên, hỡi Sarasvati! ngươi sẽ không bao giờ nói sau khi thở ra mạnh. Nữ thần Ngôn Từ [Sarasvati, một hình thức hay phương diện về sau của Vach, cũng là nữ thần của tri thức bí mật, hay Minh Triết Nội Môn], quả thật, luôn cư ngụ giữa Prana và Apana. Nhưng, hỡi người cao quý! khi đi cùng luồng gió Apana [sinh khí], dù được thúc đẩy,… không có Prana [hơi thở ra], bà chạy lên đến Prajapati [Brahma], nói rằng: “Xin hãy hoan hỉ, hỡi bậc tôn kính!” Rồi Prana lại xuất hiện, nuôi dưỡng Ngôn Từ. Và vì vậy, Ngôn Từ không bao giờ nói sau khi thở ra mạnh. Nó luôn hoặc có tiếng hoặc không tiếng. Trong hai loại này, không tiếng cao hơn có tiếng (Ngôn Từ)…. (Ngôn Từ) được tạo ra trong thân thể nhờ Prana, rồi sau đó đi vào [được chuyển đổi thành] Apana, và rồi khi trở nên đồng hóa với Udana [các cơ quan hồng trần của Ngôn Từ]… cuối cùng cư ngụ trong Samana [“ở rốn dưới hình thức âm thanh, như nguyên nhân vật chất của mọi lời nói”, Arjuna Mishra nói]. Vì thế trước kia Ngôn Từ đã nói. Do đó Thể trí được phân biệt bởi vì nó bất động, và Nữ thần (Ngôn Từ) bởi vì bà chuyển động.

The above allegory is at the root of the Occult law, which prescribes silence upon the knowledge of certain secret and invisible things, perceptible only to the spiritual mind (the sixth sense), and which cannot be expressed by “noisy” or uttered speech. This chapter of Anugîtâ explains, says Arjuna Mishra, Prânâyâma, or regulation of the breath in Yoga practices. This mode, however, without the previous acquisition of, or at least full understanding of, the two higher senses (of which there are seven, as will be shown), pertains rather to the lower Yoga. The Hatha so called was and still is discountenanced by the Arhats. It is injurious to the health, and alone can never develop into Râja Yoga. This story is quoted to show how inseparably connected in the metaphysics of old, are intelligent beings, or rather “intelligences,” with every sense or function, whether physical or mental. The Occult claim that there are seven senses in man, and in nature, as there are seven states of consciousness, is corroborated in the same work, Chapter vii, on Pratyâhâra (the restraint and regulation of the senses, Prânâyâma being that of the “vital winds” or breath). The Brâhmana, speaking of the institution of the seven sacrificial Priests (Hotris), says: “The nose and the eye, and the tongue, and the skin and the ear as the fifth [or smell, sight, taste, touch, and hearing], mind and understanding are the seven sacrificial priests separately stationed,” which “dwelling in a minute space (still) do not perceive each other,” on this sensuous plane, none of them except mind. For mind says: “The nose smells not without me, the eye does not take in colour, etc., etc. I am the eternal chief among all elements [i.e., senses]. Without me, the senses never shine, like an empty dwelling, or like fires the flames of which are extinct. Without me, all beings, like fuel half dried and half moist, fail to apprehend qualities or objects even with the senses exerting themselves.” 165

Ẩn dụ trên nằm ở gốc rễ của định luật Huyền Bí, vốn quy định sự im lặng đối với tri thức về một số điều bí mật và vô hình, chỉ có thể tri nhận bằng trí tuệ tinh thần (giác quan thứ sáu), và không thể diễn đạt bằng lời nói “ồn ào” hay được thốt ra. Chương này của Anugita, Arjuna Mishra nói, giải thích Pranayama, hay sự điều hòa hơi thở trong các thực hành Yoga. Tuy nhiên, phương pháp này, nếu không có trước sự đạt được, hoặc ít nhất là sự thấu hiểu đầy đủ, hai giác quan cao hơn (trong đó có bảy, như sẽ được trình bày), thì đúng hơn thuộc về Yoga thấp. Cái gọi là Hatha đã và vẫn bị các Arhat không tán thành. Nó có hại cho sức khỏe, và tự nó không bao giờ có thể phát triển thành Raja Yoga. Câu chuyện này được trích dẫn để cho thấy trong siêu hình học cổ xưa, các sinh linh thông tuệ, hay đúng hơn là “các trí tuệ”, gắn liền không thể tách rời với mọi giác quan hay chức năng, dù hồng trần hay trí tuệ. Xác quyết Huyền Bí rằng có bảy giác quan trong con người và trong thiên nhiên, cũng như có bảy trạng thái tâm thức, được củng cố trong cùng tác phẩm ấy, Chương vii, về Pratyahara (sự chế ngự và điều hòa các giác quan, Pranayama là sự điều hòa “các luồng sinh khí” hay hơi thở). Brahmana, khi nói về việc thiết lập bảy Tư Tế hiến tế (Hotri), nói rằng: “Mũi và mắt, lưỡi, da và tai là thứ năm [hay khứu giác, thị giác, vị giác, xúc giác và thính giác], thể trí và sự thấu hiểu là bảy tư tế hiến tế được đặt riêng biệt,” những vị này “cư ngụ trong một khoảng không gian nhỏ bé mà vẫn không nhận biết nhau,” trên cõi giác quan này, không ai trong số họ ngoại trừ thể trí. Vì thể trí nói: “Mũi không ngửi nếu không có ta, mắt không thu nhận màu sắc, v.v., v.v. Ta là thủ lĩnh vĩnh cửu giữa mọi nguyên tố [tức là các giác quan]. Không có ta, các giác quan không bao giờ tỏa sáng, như một nơi cư ngụ trống rỗng, hay như những ngọn lửa mà lửa đã tắt. Không có ta, mọi sinh linh, như nhiên liệu nửa khô nửa ẩm, không thể lĩnh hội các phẩm tính hay đối tượng ngay cả khi các giác quan đang nỗ lực.” 165

This, of course, only with regard to mind on the sensuous plane. Spiritual Mind, the upper portion or aspect of the impersonal Manas, takes no cognizance of the senses in physical man. How well the ancients were acquainted with the correlation of forces, and all the recently discovered phenomena of mental and physical faculties and functions, and with many more mysteries also—may be found in reading Chapters vii and viii of this priceless work in philosophy and mystic learning. See the quarrel of the senses about their respective superiority and their taking the Brahman, the Lord of all creatures, for their arbiter. “You are all greatest and not greatest [or superior to objects, as Arjuna Mishra says, none being independent of the other]. You are all possessed of one another’s qualities. All are greatest in their own spheres and all support one another. There is one unmoving [life-wind or breath, the yoga-inhalation, so called, which is the breath of the One or Higher Self]. That one is my own Self, accumulated in numerous (forms).”

Dĩ nhiên, điều này chỉ liên quan đến thể trí trên cõi giác quan. Trí tuệ Tinh thần, phần hay phương diện cao của Manas phi ngã, không nhận biết các giác quan trong con người hồng trần. Người xưa đã hiểu rõ đến mức nào về sự tương quan của các mãnh lực, và mọi hiện tượng mới được phát hiện gần đây của các năng lực và chức năng trí tuệ cùng hồng trần, cũng như nhiều bí nhiệm khác nữa—có thể thấy bằng cách đọc các Chương vii và viii của tác phẩm vô giá này về triết học và học thuật thần bí. Hãy xem cuộc tranh cãi của các giác quan về sự ưu việt tương ứng của chúng và việc chúng chọn Brahman, Chúa Tể của mọi tạo vật, làm trọng tài. “Tất cả các ngươi đều lớn nhất và không lớn nhất [hay cao hơn các đối tượng, như Arjuna Mishra nói, không ai độc lập với người kia]. Tất cả các ngươi đều sở hữu các phẩm tính của nhau. Tất cả đều lớn nhất trong phạm vi riêng của mình và tất cả nâng đỡ lẫn nhau. Có một [sinh khí hay hơi thở] bất động, cái gọi là sự hít vào trong yoga, vốn là hơi thở của Đấng Duy Nhất hay Bản Ngã Cao Siêu. Đấng ấy là Bản Ngã của chính ta, tích tụ trong nhiều (hình tướng).”

This Breath, Voice, Self or Wind (Pneuma?), is the Synthesis of the Seven Senses, noumenally all minor deities, and esoterically—the Septenary and the “Army of the Voice.”

Hơi Thở, Tiếng Nói, Bản Ngã hay Gió này (Pneuma?), là Tổng Hợp của Bảy Giác Quan, về mặt bản thể tất cả đều là các tiểu thần, và về mặt nội môn—là Thất phân và “Đạo Quân của Âm Thanh”.

(b) Next we see Cosmic Matter scattering and forming itself into Elements; grouped into the mystic Four within the fifth Element—Ether, the “lining” of Âkâsha, the Anima Mundi, or Mother of Cosmos. “Dots, Lines, Triangles, Cubes, Circles” and finally “Spheres”—why or how? Because, says the Commentary, such is the first law of Nature, and because Nature geometrizes universally in all her manifestations. There is an inherent law—not only in the primordial, but also in the manifested matter of our phenomenal plane—by which Nature correlates her geometrical forms, and later, also, her compound elements, and in which also there is no place for accident or chance. It is a fundamental law in Occultism, that there is no rest or cessation of motion in Nature. 166 That which seems rest is only the change of one form into another, the change of substance going hand in hand with that of form—so at least we are taught in Occult physics, which thus seem to have anticipated the discovery of the “conservation of matter” by a considerable time. Says the ancient Commentary 167 to Stanza IV: The Mother is the fiery Fish of Life. She scatters her Spawn and the Breath [Motion] heats and quickens it. The Grains [of Spawn] are soon attracted to each other and form the Curds in the Ocean [of Space]. The larger lumps coalesce and receive new Spawn—in fiery Dots, Triangles and Cubes, which ripen, and at the appointed time some of the lumps detach themselves and assume spheroidal form, a process which they effect only when not interfered with by the others. After which, Law No. —— comes into operation. Motion [the Breath] becomes the Whirlwind and sets them into rotation. 168

(b) Tiếp theo, chúng ta thấy Vật Chất Vũ Trụ phân tán và tự tạo thành các Nguyên tố; được nhóm thành Bộ Tứ thần bí trong Nguyên tố thứ năm—Dĩ Thái, “lớp lót” của Akasha, Anima Mundi, hay Mẹ của Kosmos. “Các Điểm, Đường Thẳng, Tam Giác, Khối Lập Phương, Vòng Tròn” và cuối cùng là “Khối Cầu”—tại sao hay bằng cách nào? Bởi vì, Cổ Luận nói, đó là định luật đầu tiên của Thiên Nhiên, và bởi vì Thiên Nhiên hình học hóa một cách phổ quát trong mọi biểu hiện của mình. Có một định luật nội tại—không chỉ trong vật chất nguyên sơ, mà cả trong vật chất biểu hiện của cõi hiện tượng của chúng ta—nhờ đó Thiên Nhiên liên kết các hình tướng hình học của mình, và về sau cả các nguyên tố phức hợp của mình, và trong đó cũng không có chỗ cho ngẫu nhiên hay tình cờ. Một định luật căn bản trong Huyền bí học là trong Thiên Nhiên không có sự nghỉ ngơi hay ngưng chuyển động. 166 Điều có vẻ là nghỉ ngơi chỉ là sự thay đổi của một hình tướng thành một hình tướng khác, sự thay đổi của chất liệu đi đôi với sự thay đổi của hình tướng—ít nhất đó là điều chúng ta được dạy trong vật lý Huyền Bí, vốn như vậy dường như đã đi trước phát hiện về “sự bảo toàn vật chất” một thời gian đáng kể. Cổ Luận 167 nói về Bài kệ IV: Người Mẹ là Cá Lửa của Sự Sống. Bà rải Trứng của mình và Hơi Thở [Chuyển Động] làm nóng và làm chúng sống động. Các Hạt [Trứng] nhanh chóng hút nhau và tạo thành các Khối Đông trong Đại Dương [Không Gian]. Các khối lớn hơn kết hợp lại và nhận Trứng mới—trong các Điểm, Tam Giác và Khối Lập Phương bằng lửa, chúng chín muồi, và vào thời điểm đã định, một số khối tự tách ra và mang hình cầu, một tiến trình mà chúng chỉ thực hiện khi không bị các khối khác can thiệp. Sau đó, Định luật Số —— đi vào hoạt động. Chuyển Động [Hơi Thở] trở thành Cơn Lốc và khiến chúng xoay tròn. 168

5. The Oi-Ha-Hou, which is Darkness, the Boundless, or the No-Number, Âdi-Nidâna Svabhâvat, the [circle]: 169

5. Oi-Ha-Hou, vốn là Bóng Tối, Vô Biên, hay Phi-Số, Adi-Nidana Svabhavat, [vòng tròn]: 169

I. The Âdi-Sanat, the Number, for he is One (a).

I. Adi-Sanat, Con Số, vì Ngài là Một (a).

II. The Voice of the Word, Svabhâvat, the Numbers, for he is One and Nine. 170

II. Tiếng Nói của Linh từ, Svabhavat, các Con Số, vì Ngài là Một và Chín. 170

III. The “Formless Square”. 171

III. “Hình Vuông Vô Tướng”. 171

And these Three, enclosed within the [circle], 172 are the Sacred Four; and the Ten are the Arûpa  173 Universe (b). Then come the Sons, the Seven Fighters, the One, the Eighth left out, and his Breath which is the Light-Maker (c). 174

Và Ba điều này, được bao trong [vòng tròn], 172 là Bộ Tứ Thánh Thiêng; và Mười là Vũ Trụ Arupa 173 (b). Rồi đến các Con, Bảy Chiến Sĩ, Đấng Duy Nhất, Đấng Thứ Tám bị bỏ ngoài, và Hơi Thở của Ngài vốn là Đấng Tạo Ánh Sáng (c). 174

(a) “Âdi-Sanat,” translated literally, is the First or “Primeval Ancient,” a name which identifies the Kabalistic “Ancient of Days” and the “Holy Aged” (Sephira and Adam Kadmon) with Brahmâ, the Creator, called also Sanat among his other names and titles.

(a) “Adi-Sanat”, dịch sát nghĩa, là Đấng Thứ Nhất hay “Đấng Thái Cổ Nguyên Sơ”, một danh xưng đồng nhất “Đấng Thái Cổ” và “Đấng Cao Niên Thánh Thiện” của Kabbalah (Sephira và Adam Kadmon) với Brahma, Đấng Sáng Tạo, cũng được gọi là Sanat trong số các tên gọi và tước hiệu khác của Ngài.

“Svabhâvat” is the mystic Essence, the plastic Root of physical Nature— “Numbers” when manifested; the “Number,” in its Unity of Substance, on the highest plane. The name is of Buddhist use and a synonym for the four-fold Anima Mundi, the Kabalistic Archetypal World, from whence proceed the Creative, Formative, and Material Worlds; and the Scintillæ or Sparks—the various other worlds contained in the last three. The Worlds are all subject to Rulers or Regents—Rishis and Pitris with the Hindûs, Angels with the Jews and Christians, Gods with the Ancients in general.

“Svabhavat” là Tinh Chất thần bí, Căn Nguyên mềm dẻo của Thiên Nhiên hồng trần—là “các Con Số” khi biểu hiện; là “Con Số”, trong Tính Nhất Thể của Chất Liệu, trên cõi cao nhất. Danh xưng này được dùng trong Phật giáo và là đồng nghĩa với Anima Mundi tứ phân, Thế Giới Nguyên Mẫu của Kabbalah, từ đó phát xuất các Thế Giới Sáng Tạo, Tạo Hình và Vật Chất; cùng các Tia Lửa—những thế giới khác nhau được chứa trong ba thế giới sau. Tất cả các Thế Giới đều tùy thuộc vào các Đấng Cai Quản hay Nhiếp Chính—Rishi và Pitri đối với người Hindu, Thiên Thần đối với người Do Thái và Kitô hữu, các Thần đối với người xưa nói chung.

(b) “[circle].” This means that the “Boundless Circle,” the zero, becomes a number, only when one of the other nine figures precedes it, and thus manifests its value and potency; the “Word” or Logos, in union with “Voice” and Spirit 175 (the expression and source of Consciousness), standing for the nine figures, and thus forming, with the cypher, the Decad which contains in itself all the Universe. The Triad forms the Tetraktys, or “Sacred Four,” within the Circle, the Square within the Circle being the most potent of all the magical figures.

(b) “[vòng tròn].” Điều này có nghĩa là “Vòng Tròn Vô Biên”, số không, chỉ trở thành một con số khi một trong chín chữ số khác đứng trước nó, và như vậy biểu hiện trị số và uy lực của nó; “Linh từ” hay Thượng đế, trong sự hợp nhất với “Tiếng Nói” và Tinh thần 175 (biểu đạt và nguồn của Tâm thức), biểu thị chín chữ số, và như vậy, cùng với số không, tạo thành Thập phân vốn chứa trong chính nó toàn thể Vũ Trụ. Tam nguyên tinh thần tạo thành Tetraktys, hay “Bộ Tứ Thánh Thiêng”, trong Vòng Tròn, Hình Vuông trong Vòng Tròn là hình mạnh mẽ nhất trong tất cả các hình huyền thuật.

(c) The “One Rejected” is the Sun of our system. The exoteric version may be found in the oldest Sanskrit Scriptures. In the Rig Veda, Aditi, the “Boundless” or Infinite Space—translated by Prof. Max Müller, “the visible infinite, visible by the naked eye (!!); the endless expanse beyond the earth, beyond the clouds, beyond the sky”—is the equivalent of “Mother-Space,” coeval with “Darkness.” She is very properly called the “Mother of the Gods,” Deva-Mâtri, as it is from her cosmic matrix that all the heavenly bodies of our system were born—sun and planets. Thus she is described, allegorically, in this wise: “Eight sons were born from the body of Aditi; she approached the gods with seven, but cast away the eighth, Mârttânda,” our sun. The seven sons called the Adityas are, cosmically or astronomically, the seven planets; and the sun being excluded from their number shows plainly that the Hindûs may have known, and in fact knew, of a seventh planet, without calling it Uranus. 176 But esoterically and theologically, so to say, the Adityas, in their primitive most ancient meanings, are the eight, and twelve great gods of the Hindû Pantheon. “The Seven allow the mortals to see their dwellings, but show themselves only to the Arhats,” says an old proverb; “their dwellings” standing here for the planets. The ancient Commentary gives the following allegory and explains it: Eight houses were built by Mother: eight houses for her eight Divine Sons; four large and four small ones. Eight brilliant Suns, according to their age and merits. Bal-i-lu [Mârttânda] was not satisfied, though his house was the largest. He began [to work] as the huge elephants do. He breathed [drew in] into his stomach the vital airs of his brothers. He sought to devour them. The larger four were far away; far, on the margin of their kingdom. 177 They were not robbed [affected], and laughed. Do your worst, Sir, you cannot reach us, they said. But the smaller wept. They complained to the Mother. She exiled Bal-i-lu to the centre of her kingdom, from whence he could not move. [Since then] he [only] watches and threatens. He pursues them, turning slowly round himself; they turning swiftly from him, and he following from afar the direction in which his brothers move on the path that encircles their houses. 178 From that day he feeds on the sweat of the Mother’s body. He fills himself with her breath and refuse. Therefore, she rejected him.

(c) “Đấng Bị Khước Từ” là Mặt Trời của hệ chúng ta. Phiên bản ngoại môn có thể tìm thấy trong các Thánh Kinh Sanskrit cổ nhất. Trong Rig Veda, Aditi, “Vô Biên” hay Không Gian Vô Tận—được Giáo sư Max Müller dịch là “cái vô hạn hữu hình, thấy được bằng mắt thường (!!); khoảng bao la vô tận bên ngoài Trái Đất, bên ngoài mây, bên ngoài bầu trời”—là tương đương với “Mẹ-Không Gian”, đồng thời với “Bóng Tối”. Bà được gọi rất đúng là “Mẹ của các Thần”, Deva-Mâtri, vì chính từ ma trận vũ trụ của bà mà tất cả các thiên thể trong hệ chúng ta đã được sinh ra—Mặt Trời và các hành tinh. Vì thế, theo lối ẩn dụ, bà được mô tả như sau: “Tám người con trai được sinh ra từ thân thể của Aditi; bà đến với các thần cùng bảy người, nhưng vứt bỏ người thứ tám, Mârttânda”, Mặt Trời của chúng ta. Bảy người con trai gọi là các Aditya, xét về vũ trụ hay thiên văn, là bảy hành tinh; và việc Mặt Trời bị loại khỏi con số của họ cho thấy rõ rằng người Hindû có thể đã biết, và thật sự đã biết, về một hành tinh thứ bảy, mà không gọi nó là Sao Thiên Vương. 176 Nhưng xét theo huyền bí và thần học, có thể nói như vậy, các Aditya, trong những ý nghĩa nguyên thủy cổ xưa nhất của họ, là tám, và là mười hai vị thần vĩ đại của Thần điện Hindû. “Bảy Đấng cho phép người phàm thấy nơi cư ngụ của các Ngài, nhưng chỉ tỏ mình cho các Arhat,” một ngạn ngữ cổ nói; “nơi cư ngụ của các Ngài” ở đây tượng trưng cho các hành tinh. Cổ Luận đưa ra ẩn dụ sau đây và giải thích nó: Tám ngôi nhà được Mẹ xây dựng: tám ngôi nhà cho tám Người Con Thiêng Liêng của bà; bốn ngôi lớn và bốn ngôi nhỏ. Tám Mặt Trời rực rỡ, tùy theo tuổi tác và công trạng của họ. Bal-i-lu [Mârttânda] không hài lòng, dù nhà của y là lớn nhất. Y bắt đầu [hành động] như những con voi khổng lồ. Y hít [kéo vào] trong bụng mình những sinh khí của các huynh đệ y. Y tìm cách nuốt chửng họ. Bốn người lớn hơn ở rất xa; xa, nơi rìa vương quốc của họ. 177 Họ không bị cướp đoạt [ảnh hưởng], và cười. Hãy làm điều tệ nhất của ngươi, thưa Ngài, ngươi không thể với tới chúng tôi, họ nói. Nhưng những người nhỏ hơn thì khóc. Họ than phiền với Mẹ. Bà lưu đày Bal-i-lu đến trung tâm vương quốc của bà, từ đó y không thể di chuyển. [Từ đó] y [chỉ] quan sát và đe dọa. Y truy đuổi họ, xoay chậm quanh chính mình; họ thì quay nhanh khỏi y, còn y từ xa đi theo hướng mà các huynh đệ y chuyển động trên con đường bao quanh nhà của họ. 178 Từ ngày đó, y nuôi mình bằng mồ hôi thân thể của Mẹ. Y tự làm đầy mình bằng hơi thở và cặn bã của bà. Vì thế, bà đã khước từ y.

Thus the “Rejected Son” being our Sun, evidently, as shown above, the “Son-Suns” refer not only to our planets but to the heavenly bodies in general. Sûrya, himself only a reflection of the Central Spiritual Sun, is the prototype of all those bodies that evolved after him. In the Vedas he is called Loka-Chakshuh, the “Eye of the World” (our planetary world), and he is one of the three chief deities. He is called indifferently the Son of Dyaus or of Aditi, because no distinction is made with reference to, or scope allowed for, the esoteric meaning. Thus he is depicted as drawn by seven horses, and by one horse with seven heads; the former referring to his seven planets, the latter to their one common origin from the One Cosmic Element. This “One Element” is called figuratively “Fire.” The Vedas teach that “fire verily is all the deities.” 179

Như vậy, “Người Con Bị Khước Từ” hiển nhiên là Mặt Trời của chúng ta, như đã chỉ ra ở trên, và các “Con-Mặt Trời” không chỉ ám chỉ các hành tinh của chúng ta mà còn các thiên thể nói chung. Sûrya, bản thân chỉ là một phản chiếu của Mặt trời Tinh thần Trung Ương, là nguyên mẫu của tất cả những thiên thể tiến hoá sau Ngài. Trong các Veda, Ngài được gọi là Loka-Chakshuh, “Con Mắt của Thế Giới” (thế giới hành tinh của chúng ta), và Ngài là một trong ba thần linh chủ yếu. Ngài được gọi không phân biệt là Con của Dyaus hay của Aditi, vì không có sự phân biệt nào được đặt ra liên quan đến ý nghĩa huyền bí, cũng không có phạm vi nào dành cho ý nghĩa ấy. Vì vậy, Ngài được mô tả là được kéo bởi bảy con ngựa, và bởi một con ngựa có bảy đầu; điều trước ám chỉ bảy hành tinh của Ngài, điều sau ám chỉ một nguồn gốc chung duy nhất của chúng từ Một Nguyên tố Vũ Trụ. “Một Nguyên tố” này được gọi theo nghĩa bóng là “Lửa”. Các Veda dạy rằng “lửa thật sự là tất cả các thần linh”. 179

The meaning of the allegory is plain, for we have both the Dzyan Commentary and Modern Science to explain it, though the two differ in more than one particular. The Occult Doctrine rejects the hypothesis born of the Nebular Theory, that the (seven) great planets have evolved from the Sun’s central mass, of this our visible Sun, at any rate. The first condensation of cosmic matter of course took place about a central nucleus, its parent Sun; but our Sun, it is taught, merely detached itself earlier than all the others, as the rotating mass contracted, and is their elder, bigger “brother” therefore, not their “father.” The eight Adityas, the “gods,” are all formed from the eternal substance (cometary matter 180—the Mother), or the “world-stuff,” which is both the fifth and the sixth Cosmic Principle, the Upâdhi, or Basis, of the Universal Soul, just as in man, the Microcosm, Manas 181 is the Upâdhi of Buddhi. 182

Ý nghĩa của ẩn dụ này rõ ràng, vì chúng ta có cả Cổ Luận Dzyan lẫn Khoa học Hiện đại để giải thích nó, dù hai bên khác nhau ở hơn một điểm. Giáo Lý Huyền Bí bác bỏ giả thuyết sinh ra từ Thuyết Tinh Vân, rằng các hành tinh lớn (bảy) đã tiến hoá từ khối trung tâm của Mặt Trời, ít nhất là từ Mặt Trời hữu hình của chúng ta. Sự ngưng tụ đầu tiên của vật chất vũ trụ dĩ nhiên đã diễn ra quanh một nhân trung tâm, Mặt Trời mẹ của nó; nhưng theo giáo huấn, Mặt Trời của chúng ta chỉ tách mình ra sớm hơn tất cả các hành tinh khác, khi khối quay co lại, và do đó là “huynh đệ” lớn tuổi hơn, to lớn hơn của chúng, chứ không phải “cha” của chúng. Tám Aditya, các “thần”, đều được hình thành từ chất liệu vĩnh cửu (vật chất sao chổi 180—Mẹ), hay “chất liệu thế giới”, vốn vừa là Nguyên khí Vũ Trụ thứ năm vừa là thứ sáu, là Upâdhi, hay Nền Tảng, của Linh Hồn Vũ Trụ, cũng như trong con người, Tiểu thiên địa, Manas 181 là Upâdhi của Bồ đề. 182

There is a whole poem on the pregenetic battles fought by the growing planets before the final formation of Cosmos, thus accounting for the seemingly disturbed position of the systems of several planets; the plane of the satellites of some (of Neptune and Uranus, for instance, of which the ancients knew nothing, it is said) being tilted over, thus giving them an appearance of retrograde motion. These planets are called the Warriors, the Architects, and are accepted by the Roman Church as the leaders of the heavenly Hosts, thus showing the same traditions. Having evolved from Cosmic Space, the Sun, we are taught—before the final formation of the primaries and the annulation of the planetary nebulæ—drew into the depths of his mass all the cosmic vitality he could, threatening to engulf his weaker “Brothers,” before the law of attraction and repulsion was finally adjusted; after which, he began feeding on “the Mother’s refuse and sweat”; in other words, on those portions of Æther (the “Breath of the Universal Soul”), of the existence and constitution of which Science is as yet absolutely ignorant. As a theory of this kind has been propounded by Sir William Grove, 183 who theorizes that the systems “are gradually changing by atmospheric additions or subtractions, or by accretions and diminutions arising from nebular substance,” and again that “the sun may condense gaseous matter as it travels in space, and so heat may be produced”—the archaic teaching seems scientific enough, even in this age. 184 Mr. W. Mattieu Williams suggested that the diffused matter or Ether, which is the recipient of the heat radiations of the Universe, is thereby drawn into the depths of the solar mass; expelling thence the previously condensed and thermally exhausted Ether, it becomes compressed and gives up its heat, to be in turn itself driven out in a rarefied and cooled state, to absorb a fresh supply of heat, which he supposes to be in this way taken up by the Ether, and again concentrated and redistributed by the Suns of the Universe.

Có cả một bài thơ về những trận chiến tiền sinh được các hành tinh đang lớn lên tiến hành trước khi Vũ Trụ được hình thành sau cùng, nhờ đó giải thích vị trí dường như bị xáo trộn của các hệ gồm nhiều hành tinh; mặt phẳng của các vệ tinh của một số hành tinh (chẳng hạn của Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương, mà người xưa, người ta nói, không biết gì) bị nghiêng lệch, khiến chúng có vẻ như chuyển động nghịch hành. Các hành tinh này được gọi là các Chiến Sĩ, các Kiến Trúc Sư, và được Giáo hội La Mã chấp nhận là những thủ lĩnh của các Đạo Binh thiên thượng, qua đó cho thấy cùng những truyền thống ấy. Theo giáo huấn, sau khi tiến hoá từ Không Gian Vũ Trụ, Mặt Trời—trước khi các thiên thể sơ cấp được hình thành sau cùng và trước khi các tinh vân hành tinh kết thành vòng—đã hút vào chiều sâu khối của mình tất cả sinh lực vũ trụ mà Ngài có thể hút, đe dọa nuốt chửng các “Huynh Đệ” yếu hơn của Ngài, trước khi định luật hấp dẫn và đẩy lùi được điều chỉnh sau cùng; sau đó, Ngài bắt đầu nuôi mình bằng “cặn bã và mồ hôi của Mẹ”; nói cách khác, bằng những phần của Dĩ thái (“Hơi Thở của Linh Hồn Vũ Trụ”), mà Khoa học cho đến nay vẫn tuyệt đối không biết gì về sự tồn tại và cấu tạo của nó. Vì một lý thuyết thuộc loại này đã được Ngài William Grove đề xuất, 183 ông lập thuyết rằng các hệ “đang dần dần biến đổi do sự thêm vào hay bớt đi của khí quyển, hoặc do sự bồi tụ và suy giảm phát sinh từ chất liệu tinh vân”, và lại nữa rằng “Mặt Trời có thể ngưng tụ vật chất khí khi nó du hành trong không gian, và như thế nhiệt có thể được tạo ra”—giáo huấn cổ sơ xem ra đủ tính khoa học, ngay cả trong thời đại này. 184 Ông W. Mattieu Williams gợi ý rằng vật chất khuếch tán hay Dĩ thái, vốn là nơi tiếp nhận các bức xạ nhiệt của Vũ Trụ, nhờ đó bị hút vào chiều sâu của khối mặt trời; khi đẩy ra từ đó thứ Dĩ thái đã ngưng tụ trước đó và cạn kiệt nhiệt, nó bị nén lại và nhả nhiệt của mình, rồi đến lượt chính nó bị đẩy ra trong trạng thái loãng và nguội, để hấp thụ một nguồn nhiệt mới, mà ông cho rằng theo cách này được Dĩ thái thu nhận, rồi lại được các Mặt Trời của Vũ Trụ tập trung và phân phối lại.

This is about as close an approximation to the Occult teachings as Science ever imagined; for Occultism explains it by the “dead breath,” given back by Mârttânda, and his feeding on the “sweat and refuse” of “Mother Space.” What could affect Neptune, 185 Saturn and Jupiter, but little, would have killed such comparatively small “Houses” as Mercury, Venus and Mars. As Uranus was not known before the end of the eighteenth century, the name of the fourth planet mentioned in the allegory must remain to us, so far, a mystery.

Đây gần như là sự xấp xỉ gần nhất với các giáo huấn Huyền Bí mà Khoa học từng tưởng tượng; vì Huyền bí học giải thích điều này bằng “hơi thở chết”, do Mârttânda trả lại, và bằng việc Ngài nuôi mình bằng “mồ hôi và cặn bã” của “Mẹ Không Gian”. Điều chỉ có thể ảnh hưởng rất ít đến Sao Hải Vương, 185 Sao Thổ và Sao Mộc, hẳn đã giết chết những “Ngôi Nhà” tương đối nhỏ như Sao Thủy, Sao Kim và Sao Hỏa. Vì Sao Thiên Vương chưa được biết đến trước cuối thế kỷ mười tám, nên tên của hành tinh thứ tư được nhắc đến trong ẩn dụ, cho đến nay, phải vẫn còn là một bí ẩn đối với chúng ta.

The “Breath” of all the “Seven” is said to be Bhâskara, the Light-Maker, because they (the planets) were all comets and suns in their origin. They evolve into manvantaric life from Primeval Chaos (now the noumenon of irresolvable nebulæ), by aggregation and accumulation of the primary differentiations of eternal Matter, according to the beautiful expression in the Commentary, “Thus the Sons of Light clothed themselves in the fabric of Darkness.” They are called allegorically the “Heavenly Snails,” on account of their (to us) formless Intelligences inhabiting unseen their starry and planetary homes, and so to speak, carrying them, as the snails do, along with themselves in their revolution. The doctrine of a common origin for all the heavenly bodies and planets was, as we see, inculcated by the archaic astronomers, before Kepler, Newton, Leibnitz, Kant, Herschel and Laplace. Heat (the “Breath”), Attraction and Repulsion—the three great factors of Motion—are the conditions under which all the members of this primitive family are born, develop, and die; to be reborn after a Night of Brahmâ, during which eternal Matter relapses periodically into its primary undifferentiated state. The most attenuated gases can give no idea of its nature to the modern Physicist. Centres of Forces at first, the invisible Sparks, or primordial Atoms, differentiate into Molecules, and become Suns—passing gradually into objectivity—gaseous, radiant, cosmic, the one “Whirlwind” (or Motion) finally giving the impulse to the form, and the initial motion, regulated and sustained by the never-resting “Breaths”—the Dhyân Chohans.

“Hơi Thở” của tất cả “Bảy Đấng” được nói là Bhâskara, Đấng Tạo Ánh Sáng, vì họ (các hành tinh) đều là sao chổi và mặt trời trong nguồn gốc của mình. Họ tiến hoá vào sự sống manvantara từ Hỗn Mang Nguyên Thủy (nay là bản thể ẩn tàng của các tinh vân không thể phân giải), bằng sự kết tụ và tích lũy các biến phân sơ cấp của Vật Chất vĩnh cửu, theo cách diễn đạt đẹp đẽ trong Cổ Luận: “Như vậy, các Con của Ánh Sáng đã khoác lấy mình tấm vải của Bóng Tối.” Theo ẩn dụ, họ được gọi là “Những Con Ốc Sên Thiên Thượng”, vì các Trí Tuệ vô hình tướng (đối với chúng ta) của họ cư ngụ vô hình trong các ngôi nhà sao và hành tinh của họ, và có thể nói là mang chúng theo mình trong cuộc tuần hoàn, như ốc sên vẫn làm. Như chúng ta thấy, giáo lý về một nguồn gốc chung cho tất cả các thiên thể và hành tinh đã được các nhà thiên văn cổ sơ truyền dạy trước Kepler, Newton, Leibnitz, Kant, Herschel và Laplace. Nhiệt (“Hơi Thở”), Hấp Dẫn và Đẩy Lùi—ba yếu tố lớn của Chuyển Động—là những điều kiện dưới đó mọi thành viên của gia đình nguyên thủy này được sinh ra, phát triển và chết; để được tái sinh sau một Đêm của Brahmâ, trong thời gian đó Vật Chất vĩnh cửu định kỳ rơi trở lại trạng thái sơ cấp chưa biến phân của nó. Các chất khí loãng nhất cũng không thể cho nhà Vật lý học hiện đại một ý niệm nào về bản chất của nó. Ban đầu là các Trung Tâm Mãnh Lực, những Tia Lửa vô hình, hay các Nguyên Tử nguyên sơ, biến phân thành các Phân Tử, và trở thành các Mặt Trời—dần dần đi vào tính khách quan—khí, rực sáng, vũ trụ; một “Cơn Lốc” (hay Chuyển Động) duy nhất cuối cùng đem xung lực đến cho hình tướng, và chuyển động ban đầu, được điều chỉnh và duy trì bởi các “Hơi Thở” không bao giờ nghỉ—các Dhyân Chohan.

6…. Then the Second Seven, who are the Lipika, produced by the Three. 186 The Rejected Son is One. The “Son-Suns”are countless.

6…. Rồi Bảy Đấng thứ Hai, vốn là các Lipika, do Ba Đấng tạo ra. 186 Người Con Bị Khước Từ là Một. Các “Con-Mặt Trời” thì vô số.

The “Lipika,” from the word lipi, “writing,” means literally the “Scribes.” 187 Mystically, these Divine Beings are connected with Karma, the Law of Retribution, for they are the Recorders, or Annalists, who impress on the (to us) invisible tablets of the Astral Light, “the great picture-gallery of eternity”—a faithful record of every act, and even thought, of man; of all that was, is, or ever will be, in the phenomenal Universe. As said in Isis Unveiled, this divine and unseen canvas is the Book of Life. As it is the Lipika who project into objectivity from the passive Universal Mind the ideal plan of the Universe, upon which the “Builders” reconstruct the Kosmos after every Pralaya, it is they who stand parallel to the Seven Angels of the Presence, whom the Christians recognize in the Seven “Planetary Spirits,” or the “Spirits of the Stars”; and thus it is they who are the direct amanuenses of the Eternal Ideation—or, as Plato calls it, the “Divine Thought.” The Eternal Record is no fantastic dream, for we meet with the same records in the world of gross matter. As Dr. Draper says: A shadow never falls upon a wall without leaving thereupon a permanent trace which might be made visible by resorting to proper processes…. The portraits of our friends or landscape-views may be hidden on the sensitive surface from the eye, but they are ready to make their appearance as soon as proper developers are resorted to. A spectre is concealed on a silver or a glassy surface, until, by our necromancy, we make it come forth into the visible world. Upon the walls of our most private apartments, where we think the eye of intrusion is altogether shut out, and our retirement can never be profaned, there exist the vestiges of our acts, silhouettes of whatever we have done. 188

“Lipika”, từ chữ lipi, “chữ viết”, theo nghĩa đen là “Những Người Ghi Chép”. 187 Theo nghĩa huyền nhiệm, các Hữu Thể Thiêng Liêng này liên hệ với nghiệp quả, Định luật Báo Ứng, vì các Ngài là những Đấng Ghi Lại, hay các Sử Gia, in lên những bảng ghi vô hình đối với chúng ta của Ánh Sáng Cảm Dục, “phòng tranh vĩ đại của vĩnh cửu”—một ghi chép trung thực về mọi hành động, và thậm chí mọi tư tưởng, của con người; về tất cả những gì đã là, đang là, hoặc sẽ từng là, trong Vũ Trụ hiện tượng. Như đã nói trong Isis Unveiled, tấm vải thiêng liêng và vô hình này là Sách Sự Sống. Vì chính các Lipika phóng chiếu vào tính khách quan, từ Vũ Trụ Trí thụ động, bản thiết kế lý tưởng của Vũ Trụ, dựa trên đó các “Đấng Kiến Tạo” tái cấu trúc Kosmos sau mỗi Giai kỳ qui nguyên, nên chính các Ngài đứng song song với Bảy Thiên Thần của Hiện Diện, mà các tín đồ Cơ Đốc nhận ra trong Bảy “Tinh Thần Hành Tinh”, hay “Tinh Thần của các Ngôi Sao”; và như vậy chính các Ngài là những thư ký trực tiếp của Ý Niệm Vĩnh Cửu—hay, như Plato gọi, “Tư Tưởng Thiêng Liêng”. Ghi Chép Vĩnh Cửu không phải là một giấc mơ huyễn hoặc, vì chúng ta gặp những ghi chép tương tự trong thế giới của vật chất thô đặc. Như Tiến sĩ Draper nói: Một bóng đổ xuống tường không bao giờ không để lại trên đó một dấu vết thường tồn, có thể làm cho thấy được bằng cách sử dụng những tiến trình thích hợp…. Chân dung của bạn bè chúng ta hoặc những cảnh quan có thể ẩn trên bề mặt nhạy cảm khỏi con mắt, nhưng chúng sẵn sàng hiện ra ngay khi những chất hiện hình thích hợp được sử dụng. Một bóng ma bị che giấu trên một bề mặt bạc hay thủy tinh, cho đến khi, bằng thuật gọi hồn của chúng ta, chúng ta làm nó bước ra vào thế giới hữu hình. Trên các bức tường của những căn phòng riêng tư nhất của chúng ta, nơi chúng ta nghĩ rằng con mắt xâm nhập hoàn toàn bị loại trừ, và sự ẩn cư của chúng ta không bao giờ có thể bị xúc phạm, vẫn tồn tại những vết tích của các hành động của chúng ta, những hình bóng của bất cứ điều gì chúng ta đã làm. 188

Drs. Jevons and Babbage believe that every thought displaces the particles of the brain and, setting them in motion, scatters them throughout the universe: they also think that “each particle of the existing matter must be a register of all that has happened.” 189 Thus the ancient doctrine has begun to acquire rights of citizenship in the speculations of the scientific world.

Các Tiến sĩ Jevons và Babbage tin rằng mỗi tư tưởng đều làm dịch chuyển các hạt của bộ não và, khi đặt chúng vào chuyển động, rải chúng khắp vũ trụ: các ông cũng nghĩ rằng “mỗi hạt của vật chất hiện hữu phải là một sổ ghi của tất cả những gì đã xảy ra”. 189 Như vậy, giáo lý cổ xưa đã bắt đầu đạt được quyền công dân trong những suy tư của thế giới khoa học.

The forty “Assessors,” who stand in the region of Amenti as the accusers of the Soul before Osiris, belong to the same class of deities as the Lipika, and might stand as parallels, were not the Egyptian gods so little understood in their esoteric meaning. The Hindû Chitragupta who reads out the account of every Soul’s life from his register, called Agra-Sandhânî; the Assessors who read theirs from the Heart of the Defunct, which becomes an open book before either Yama, Minos, Osiris, or Karma—are all so many copies of, and variants from, the Lipika and their Astral Records. Nevertheless, the Lipika are not deities connected with Death, but with Life Eternal.

Bốn mươi “Thẩm Định Viên”, đứng trong vùng Amenti như những người buộc tội Linh Hồn trước Osiris, thuộc cùng một hạng thần linh với các Lipika, và có thể được xem là những tương ứng song song, nếu các thần Ai Cập không bị hiểu quá ít trong ý nghĩa huyền bí của họ. Chitragupta của Hindû, người đọc bản tường trình về đời sống của mỗi Linh Hồn từ sổ ghi của mình, gọi là Agra-Sandhânî; các Thẩm Định Viên đọc bản tường trình của họ từ Trái Tim của Người Quá Cố, vốn trở thành một quyển sách mở trước Yama, Minos, Osiris, hay nghiệp quả—tất cả đều là những bản sao và biến thể của các Lipika và các Ghi Chép Cảm Dục của các Ngài. Tuy nhiên, các Lipika không phải là những thần linh liên hệ với Sự Chết, mà với Sự Sống Vĩnh Cửu.

Connected as the Lipika are with the destiny of every man, and the birth of every child, whose life is already traced in the Astral Light—not fatalistically, but only because the Future, like the Past, is ever alive in the Present—they may also be said to exercise an influence on the Science of Horoscopy. We must admit the truth of the latter whether we will or not. For, as observed by one of the modern professors of Astrology: Now that photography has revealed to us the chemical influence of the sidereal system, by fixing on the sensitized plate of the apparatus milliards of stars and planets that had hitherto baffled the efforts of the most powerful telescopes to discover, it becomes easier to understand how our solar system can, at the birth of a child, influence his brain—virgin of any impression—in a definite manner and according to the presence on the zenith of such or another zodiacal constellation. 190

Vì các Lipika liên hệ với định mệnh của mỗi con người, và với sự ra đời của mỗi đứa trẻ, mà đời sống đã được vạch sẵn trong Ánh Sáng Cảm Dục—không phải theo thuyết định mệnh, mà chỉ vì Tương Lai, cũng như Quá Khứ, luôn sống động trong Hiện Tại—cũng có thể nói rằng các Ngài gây ảnh hưởng lên Khoa học Lập Lá Số. Chúng ta phải thừa nhận chân lý của khoa sau, dù muốn hay không. Vì, như một trong các giáo sư hiện đại về Chiêm tinh học đã nhận xét: Nay khi nhiếp ảnh đã tiết lộ cho chúng ta ảnh hưởng hóa học của hệ sao, bằng cách cố định trên tấm nhạy của thiết bị hàng tỷ ngôi sao và hành tinh mà trước đó đã làm thất bại mọi nỗ lực khám phá của những kính thiên văn mạnh nhất, thì trở nên dễ hiểu hơn việc hệ mặt trời của chúng ta có thể, vào lúc một đứa trẻ sinh ra, ảnh hưởng đến bộ não của nó—còn trinh nguyên trước mọi ấn tượng—một cách xác định và tùy theo sự hiện diện trên thiên đỉnh của chòm sao hoàng đạo này hay khác. 190

Stanza V. — Đoạn Kệ V.

1. The Primordial Seven, the First Seven Breaths of the Dragon of Wisdom, produce in their turn from their Holy Circumgyrating Breaths the Fiery Whirlwind.

1. Bảy Đấng Nguyên Sơ, Bảy Hơi Thở Đầu Tiên của Rồng Minh Triết, đến lượt các Ngài, từ các Hơi Thở Thánh xoay vòng của mình, tạo ra Cơn Lốc Rực Lửa.

This is, perhaps, the most difficult of all the Stanzas to explain. Its language is comprehensible only to him who is thoroughly versed in Eastern allegory, and its purposely obscure phraseology. The question will surely be asked: Do the Occultists believe in all these “Builders,” “Lipika,” and “Sons of Light,” as Entities, or are they merely imagery? To this the answer is given as plainly: After due allowance for the imagery of personified Powers, we must admit the existence of these Entities, if we would not reject the existence of Spiritual Humanity within physical mankind. For the hosts of these Sons of Light, the Mind-born Sons of the first manifested Ray of the Unknown All, are the very root of Spiritual Man. Unless we want to believe the unphilosophical dogma of a specially created soul for every human birth—a fresh supply of these pouring in daily, since “Adam”—we have to admit the Occult teachings. This will be explained in its place. Let us see, now, what may be the meaning of this Occult Stanza.

Có lẽ đây là đoạn khó giải thích nhất trong tất cả các Đoạn Kệ. Ngôn ngữ của nó chỉ dễ hiểu đối với người thông thạo trọn vẹn ẩn dụ Đông phương, và lối diễn đạt cố ý mờ tối của nó. Chắc chắn câu hỏi sẽ được nêu ra: Các nhà Huyền bí học có tin vào tất cả những “Đấng Kiến Tạo”, “Lipika” và “Con của Ánh Sáng” này như các Thực Thể, hay các Ngài chỉ là hình ảnh biểu tượng? Câu trả lời được đưa ra cũng rõ ràng: Sau khi đã dành chỗ thích đáng cho tính biểu tượng của các Quyền Năng được nhân cách hóa, chúng ta phải thừa nhận sự tồn tại của các Thực Thể này, nếu chúng ta không muốn bác bỏ sự tồn tại của Nhân Loại Tinh Thần bên trong nhân loại hồng trần. Vì các đạo binh của những Con của Ánh Sáng này, các Con sinh từ Trí của cung biểu hiện đầu tiên của Cái Tất Cả Bất Khả Tri, chính là gốc rễ của Con Người Tinh Thần. Trừ khi chúng ta muốn tin vào tín điều phi triết học về một linh hồn được sáng tạo riêng cho mỗi lần sinh ra của con người—một nguồn cung mới của những linh hồn này tuôn vào hằng ngày, từ thời “Adam”—chúng ta phải thừa nhận các giáo huấn Huyền Bí. Điều này sẽ được giải thích ở chỗ thích hợp. Bây giờ, chúng ta hãy xem Đoạn Kệ Huyền Bí này có thể mang ý nghĩa gì.

The Doctrine teaches that, in order to become a divine, fully conscious God—aye, even the highest—the Spiritual Primeval Intelligences must pass through the human stage. And when we say human, this does not apply merely to our terrestrial humanity, but to the mortals that inhabit any world, i.e., to those Intelligences that have reached the appropriate equilibrium between matter and spirit, as we have now, ever since the middle point of the Fourth Root Race of the Fourth Round was passed. Each Entity must have won for itself the right of becoming divine, through self-experience. Hegel, the great German thinker, must have known or sensed intuitionally this truth, when he said, that the Unconscious evolved the Universe only “in the hope of attaining clear self-consciousness,” in other words, of becoming Man; for this is also the secret meaning of the oft recurring Purânic phrase, of Brahmâ being constantly “moved by the desire to create.” This explains also the hidden Kabalistic meaning of the saying: “The Breath becomes a stone; the stone, a plant; the plant, an animal; the animal, a man; the man, a spirit; and the spirit, a god.” The Mind-born Sons, the Rishis, the Builders, etc., were all Men—of whatever forms and shapes—in other worlds and in preceding Manvantaras.

Giáo Lý dạy rằng, để trở thành một Thượng đế thiêng liêng, hoàn toàn hữu thức—vâng, ngay cả Đấng cao nhất—các Trí Tuệ Tinh Thần Nguyên Thủy phải đi qua giai đoạn nhân loại. Và khi chúng ta nói nhân loại, điều này không chỉ áp dụng cho nhân loại trên địa cầu của chúng ta, mà cho những người phàm cư ngụ trên bất cứ thế giới nào, tức là cho những Trí Tuệ đã đạt đến sự quân bình thích hợp giữa vật chất và tinh thần, như chúng ta hiện nay, kể từ khi điểm giữa của Giống Dân Gốc thứ Tư trong Cuộc tuần hoàn thứ Tư đã được vượt qua. Mỗi Thực Thể phải tự mình giành được quyền trở nên thiêng liêng, qua kinh nghiệm tự thân. Hegel, nhà tư tưởng lớn người Đức, hẳn đã biết hoặc đã cảm nhận chân lý này bằng trực giác, khi ông nói rằng Cái Vô Thức đã tiến hoá Vũ Trụ chỉ “trong hy vọng đạt được ngã thức rõ ràng”, nói cách khác, trở thành Con Người; vì đây cũng là ý nghĩa bí mật của cụm từ Purânic thường lặp lại, rằng Brahmâ luôn luôn “được thúc đẩy bởi ước muốn sáng tạo”. Điều này cũng giải thích ý nghĩa Kabbalah ẩn tàng của câu nói: “Hơi Thở trở thành đá; đá, thành cây; cây, thành thú; thú, thành người; người, thành tinh thần; và tinh thần, thành một vị thần.” Các Con sinh từ Trí, các Rishi, các Đấng Kiến Tạo, v.v., tất cả đều từng là Con Người—dưới bất cứ hình tướng và dáng dạng nào—trong những thế giới khác và trong các Giai kỳ sinh hóa trước.

This subject being so very mystical, it is most difficult to explain it in all its details and bearings; for the whole mystery of evolutionary creation is contained therein. A sentence or two in the Shloka vividly recalls to mind similar sentences in the Kabalah and the phraseology of the King Psalmist. 191 Both, when speaking of God, show him making the wind his messenger and his “ministers a flaming fire.” But in the Esoteric Doctrine it is used figuratively. The “Fiery Whirl-wind” is the incandescent cosmic dust which only follows magnetically, as the iron filings follow the magnet, the directing thought of the “Creative Forces.” Yet, this cosmic dust is something more; for every atom in the Universe has the potentiality of self-consciousness in it, and is, like the Monads of Leibnitz, a Universe in itself, and for itself. It is an atom and an angel.

Vì chủ đề này hết sức huyền nhiệm, nên rất khó giải thích nó trong mọi chi tiết và mọi hệ quả; vì toàn bộ bí nhiệm của sự sáng tạo tiến hoá được chứa trong đó. Một hai câu trong Shloka gợi lại rất sống động trong trí những câu tương tự trong Kabbalah và lối diễn đạt của Vua Thi Sĩ Thánh Vịnh. 191 Cả hai, khi nói về Thượng đế, đều cho thấy Ngài làm gió thành sứ giả của Ngài và làm “các bậc phụng sự của Ngài thành lửa rực cháy”. Nhưng trong Giáo Lý Nội Môn, điều này được dùng theo nghĩa bóng. “Cơn Lốc Rực Lửa” là bụi vũ trụ nóng sáng, vốn chỉ đi theo bằng từ tính—như mạt sắt đi theo nam châm—tư tưởng chỉ đạo của các “Mãnh Lực Sáng Tạo”. Tuy nhiên, bụi vũ trụ này còn là một điều gì hơn thế; vì mỗi nguyên tử trong Vũ Trụ đều có tiềm năng ngã thức trong nó, và, giống như các Chân Thần của Leibnitz, là một Vũ Trụ trong chính nó, và cho chính nó. Nó là một nguyên tử và một thiên thần.

In this connection it should be noted that one of the luminaries of the modern Evolutionist School, Mr. A. R. Wallace, when discussing the inadequacy of “natural selection” as the sole factor in the development of physical man, practically concedes the whole point here discussed. He holds that the evolution of man was directed and furthered by superior Intelligences, whose agency is a necessary factor in the scheme of Nature. But once the operation of these Intelligences is admitted in one place, it is only a logical deduction to extend it still further. No hard and fast line can be drawn.

Trong mối liên hệ này, cần lưu ý rằng một trong những ngôi sao sáng của Trường phái Tiến hoá hiện đại, ông A. R. Wallace, khi bàn về sự bất cập của “chọn lọc tự nhiên” như yếu tố duy nhất trong sự phát triển của con người hồng trần, trên thực tế đã thừa nhận toàn bộ điểm đang được bàn ở đây. Ông cho rằng sự tiến hoá của con người đã được hướng dẫn và thúc đẩy bởi những Trí Tuệ cao hơn, mà tác động của họ là một yếu tố cần thiết trong hệ thống của Thiên Nhiên. Nhưng một khi hoạt động của các Trí Tuệ này được thừa nhận ở một chỗ, thì việc mở rộng nó xa hơn chỉ là một suy luận hợp lý. Không thể vạch ra một đường ranh cứng nhắc và bất biến.

2. They make of him the Messenger of their Will (a). The Dzyu becomes Fohat: the swift Son of the Divine Sons, whose Sons are the Lipika, 192 runs circular errands. Fohat is the Steed, and the Thought is the Rider. 193 He passes like lightning through the fiery clouds 194 (b); takes Three, and Five, and Seven Strides through the Seven Regions above, and the Seven below. 195 He lifts his Voice, and calls the innumerable Sparks, 196 and joins them together (c).

2. Các Ngài làm y thành Sứ Giả của Ý Chí các Ngài (a). Dzyu trở thành Fohat: Người Con nhanh nhẹn của các Con Thiêng Liêng, mà các Con của Ngài là Lipika, 192 chạy những sứ mạng vòng tròn. Fohat là Chiến Mã, và Tư Tưởng là Đấng Kỵ Sĩ. 193 Y đi qua như chớp trong những đám mây rực lửa 194 (b); bước Ba, Năm, và Bảy Bước qua Bảy Vùng ở trên, và Bảy vùng ở dưới. 195 Y cất Tiếng Nói của mình, và gọi những Tia Lửa vô số, 196 rồi kết hợp chúng lại với nhau (c).

(a) This shows the “Primordial Seven” using for their Vehicle, (Vâhana, or the manifested subject which becomes the symbol of the Power directing it) Fohat, called in consequence, the “Messenger of their Will”—the “Fiery Whirlwind.”

(a) Điều này cho thấy “Bảy Đấng Nguyên Sơ” dùng Fohat làm Vận cụ của các Ngài (Vâhana, hay chủ thể biểu hiện trở thành biểu tượng của Quyền Năng điều khiển nó), và vì thế Fohat được gọi là “Sứ Giả của Ý Chí các Ngài”—“Cơn Lốc Rực Lửa”.

(b) “Dzyu becomes Fohat”—the expression itself shows it. Dzyu is the one Real (Magical) Knowledge, or Occult Wisdom; which, dealing with eternal truths and primal causes, becomes almost omnipotence when applied in the right direction. Its antithesis is Dzyu-mi, that which deals with illusions and false appearances only, as in our exoteric modern sciences. In this case, Dzyu is the expression of the collective Wisdom of the Dhyâni-Buddhas.

(b) “Dzyu trở thành Fohat”—chính cách diễn đạt ấy cho thấy điều đó. Dzyu là Tri Thức Chân Thật (Huyền Thuật) duy nhất, hay Minh Triết Huyền Bí; khi bàn đến những chân lý vĩnh cửu và các nguyên nhân nguyên sơ, nó trở nên gần như toàn năng khi được áp dụng theo đúng hướng. Đối cực của nó là Dzyu-mi, điều chỉ đề cập đến các ảo tưởng và những sắc tướng sai lầm, như trong các khoa học hiện đại ngoại môn của chúng ta. Trong trường hợp này, Dzyu là sự biểu hiện của Minh Triết tập thể của các Dhyâni-Buddha.

As the reader is supposed not to be acquainted with the Dhyâni-Buddhas, it is as well to say at once that, according to the Orientalists, there are five Dhyânis who are the Celestial Buddhas, of whom the Human Buddhas are the manifestations in the world of form and matter. Esoterically, however, the Dhyâni-Buddhas are seven, of whom five only have hitherto manifested, 197 and two are to come in the Sixth and Seventh Root-Races. They are, so to speak, the eternal prototypes of the Buddhas who appear on this earth, each of whom has his particular divine prototype. So, for instance, Amitâbha is the Dhyâni-Buddha of Gautama Shâkyamuni, manifesting through him whenever this great Soul incarnates on earth as He did in Tzonkha-pa. 198 As the synthesis of the seven Dhyâni-Buddhas, Avalokiteshvara was the first Buddha (the Logos), and Amitâbha is the inner “God” of Gautama, who, in China, is called Amida (Buddha). They are, as Prof. Rhys Davids correctly states, “the glorious counterparts in the mystic world, free from the debasing conditions of this material life,” of every earthly mortal Buddha—the liberated Mânushi-Buddhas appointed to govern the Earth in this Round. They are the “Buddhas of Contemplation,” and are all Anupâdaka (parentless), i.e., self-born of the divine essence. The exoteric teaching—which says that every Dhyâni-Buddha has the faculty of creating from himself an equally celestial son, a Dhyâni-Bodhisattva, who, after the decease of the Mânushi-Buddha, has to carry out the work of the latter—rests on the fact that, owing to the highest Initiation performed by one overshadowed by the “Spirit of Buddha”—who is credited by the Orientalists with having created the five Dhyâni-Buddhas!—a candidate becomes virtually a Bodhisattva, created such by the High Initiator.

Vì độc giả được giả định là chưa quen thuộc với các Dhyâni-Buddha, nên tốt hơn là nói ngay rằng, theo các nhà Đông phương học, có năm Dhyâni là các Đức Phật Thiên Thượng, mà các Đức Phật Nhân Gian là những biểu hiện trong thế giới của hình tướng và vật chất. Tuy nhiên, xét theo huyền bí, các Dhyâni-Buddha là bảy, trong đó cho đến nay chỉ năm vị đã biểu hiện, 197 và hai vị sẽ đến trong các Giống Dân Gốc thứ Sáu và thứ Bảy. Có thể nói, các Ngài là những nguyên mẫu vĩnh cửu của các Đức Phật xuất hiện trên Trái Đất này, mỗi vị trong số đó có nguyên mẫu thiêng liêng riêng của mình. Vì vậy, chẳng hạn, Amitâbha là Dhyâni-Buddha của Gautama Shâkyamuni, biểu hiện qua Ngài mỗi khi Linh Hồn vĩ đại này nhập thể trên Trái Đất như Ngài đã làm trong Tzonkha-pa. 198 Là sự tổng hợp của bảy Dhyâni-Buddha, Avalokiteshvara là Đức Phật đầu tiên (Thượng đế), và Amitâbha là “Thượng đế” bên trong của Gautama, Đấng ở Trung Hoa được gọi là Amida (Phật). Như Giáo sư Rhys Davids đã nói đúng, các Ngài là “những Đối phần vinh quang trong thế giới thần bí, thoát khỏi các điều kiện hạ thấp của đời sống vật chất này”, của mỗi Đức Phật hữu tử trên trần gian—các Mânushi-Buddha đã giải thoát, được chỉ định cai quản Trái Đất trong Cuộc tuần hoàn này. Các Ngài là “các Đức Phật của Chiêm Ngưỡng”, và tất cả đều là Anupâdaka (không cha mẹ), tức tự sinh từ tinh túy thiêng liêng. Giáo huấn ngoại môn—nói rằng mỗi Dhyâni-Buddha có năng lực sáng tạo từ chính mình một người con cũng thiên thượng như vậy, một Dhyâni-Bodhisattva, vị này sau khi Mânushi-Buddha qua đời phải tiếp tục công việc của vị sau—dựa trên sự kiện rằng, nhờ lần điểm đạo cao nhất được thực hiện bởi một người được “Tinh Thần của Phật” phủ bóng—Đấng mà các nhà Đông phương học gán cho việc đã tạo ra năm Dhyâni-Buddha!—một ứng viên trên thực tế trở thành một Bồ Tát, được Đấng Điểm đạo Cao Cả tạo thành như vậy.

(c) Fohat, being one of the most, if not the most important character in Esoteric cosmogony, should be minutely described. As in the oldest Grecian cosmogony, which differed widely from the later mythology, Eros is the third person in the primeval trinity, Chaos, Gæa, Eros—answering to the Kabalistic Trinity, Ain Suph, the Boundless All (for Chaos is Space, from χαίνω, to open wide, to be void), Shekinah and the Ancient of Days, or the Holy Ghost—so Fohat is one thing in the yet Unmanifested Universe, and another in the phenomenal and Cosmic World. In the latter, he is that occult, electric, vital power, which, under the Will of the Creative Logos, unites and brings together all forms, giving them the first impulse, which in time becomes law. But in the Unmanifested Universe, Fohat is no more this, than Eros is the later brilliant winged Cupid, or Love. Fohat has naught to do with Cosmos yet, since Cosmos is not born, and the Gods still sleep in the bosom of “Father-Mother.” He is an abstract philosophical idea. He produces nothing yet by himself; he is simply that potential creative Power, in virtue of whose action the Noumenon of all future phenomena divides, so to speak, but to reunite in a mystic supersensuous act, and emit the creative Ray. When the “Divine Son” breaks forth, then Fohat becomes the propelling force, the active Power which causes the One to become Two and Three—on the cosmic plane of manifestation. The triple One differentiates into the Many, and then Fohat is transformed into that force which brings together the elemental atoms, and makes them aggregate and combine. We find an echo of this primeval teaching in early Greek mythology. Erebus and Nux are born out of Chaos, and, under the action of Eros, give birth in their turn to Æther and Hemera, the light of the superior and the light of the inferior, or terrestrial, regions. Darkness generates light. Compare in the Purânas Brahmâ’s Will or “Desire” to create; and in the Phœnician cosmogony of Sanchuniathon the doctrine that Desire, πόθος, is the principle of creation.

(c) Fohat, vì là một trong những nhân vật quan trọng nhất, nếu không phải là quan trọng nhất, trong vũ trụ khởi nguyên luận Nội Môn, cần được mô tả tỉ mỉ. Như trong vũ trụ khởi nguyên luận Hy Lạp cổ nhất, vốn khác xa thần thoại về sau, Eros là ngôi thứ ba trong tam vị nguyên thủy, Chaos, Gæa, Eros—tương ứng với Ba Ngôi Kabbalah, Ain Suph, Cái Tất Cả Vô Biên (vì Chaos là Không Gian, từ một gốc có nghĩa là mở rộng, là trống không), Shekinah và Đấng Thái Cổ, hay Chúa Thánh Thần—thì Fohat là một điều trong Vũ Trụ còn Chưa Biểu Hiện, và là một điều khác trong Thế Giới hiện tượng và Vũ Trụ. Trong thế giới sau, y là quyền năng thiết yếu, điện, huyền bí ấy, dưới Ý Chí của Thượng đế Sáng Tạo, hợp nhất và quy tụ mọi hình tướng, ban cho chúng xung lực đầu tiên, xung lực theo thời gian trở thành định luật. Nhưng trong Vũ Trụ Chưa Biểu Hiện, Fohat không còn là điều này hơn Eros là Cupid có cánh rực rỡ về sau, hay Tình Thương. Fohat chưa liên hệ gì với Vũ Trụ, vì Vũ Trụ chưa được sinh ra, và các Thần vẫn còn ngủ trong lòng “Cha-Mẹ”. Y là một ý tưởng triết học trừu tượng. Tự mình y chưa tạo ra gì cả; y chỉ đơn giản là Quyền Năng sáng tạo tiềm tàng, nhờ tác động của nó mà Bản thể ẩn tàng của mọi hiện tượng tương lai, có thể nói, phân chia, nhưng để tái hợp trong một hành vi huyền nhiệm siêu cảm giác, và phát ra Cung sáng tạo. Khi “Người Con Thiêng Liêng” bừng hiện, bấy giờ Fohat trở thành mãnh lực thúc đẩy, Quyền Năng hoạt động khiến Đấng Duy Nhất trở thành Hai và Ba—trên cõi biểu hiện vũ trụ. Đấng Duy Nhất tam phân biến phân thành Cái Nhiều, và khi ấy Fohat được chuyển đổi thành mãnh lực quy tụ các nguyên tử hành khí, làm cho chúng kết tụ và kết hợp. Chúng ta tìm thấy tiếng vọng của giáo huấn nguyên thủy này trong thần thoại Hy Lạp sơ kỳ. Erebus và Nux được sinh ra từ Chaos, và dưới tác động của Eros, đến lượt họ sinh ra Dĩ thái và Hemera, ánh sáng của các vùng cao hơn và ánh sáng của các vùng thấp hơn, hay thuộc địa cầu. Bóng Tối sinh ra ánh sáng. Hãy so sánh trong các Purâna Ý Chí hay “Dục Vọng” sáng tạo của Brahmâ; và trong vũ trụ khởi nguyên luận Phoenicia của Sanchuniathon, giáo lý rằng Dục Vọng là nguyên khí của sáng tạo.

Fohat is closely related to the “One Life.” From the Unknown One, the Infinite Totality, the Manifested One, or the periodical, Manvantaric Deity, emanates; and this is the Universal Mind, which, separated from its Fountain-Source, is the Demiurge or the Creative Logos of the Western Kabalists, and the Four-faced Brahmâ of the Hindû religion. In its totality, viewed, in the Esoteric doctrine, from the standpoint of manifested Divine Thought, it represents the Hosts of the higher Creative Dhyân Chohans. Simultaneously with the evolution of the Universal Mind, the Concealed Wisdom of Adi-Buddha—the One Supreme and Eternal—manifests itself as Avalokiteshvara (or Manifested Îshvara), which is the Osiris of the Egyptians, the Ahura-Mazda of the Zoroastrians, the Heavenly Man of the Hermetic philosophers, the Logos of the Platonists, and the Âtman of the Vedântins. 199 By the action of the Manifested Wisdom, or Mahat—represented by these innumerable centres of spiritual energy in the Kosmos—the Reflection of the Universal Mind, which is Cosmic Ideation and the Intellectual Force accompanying such Ideation, becomes objectively the Fohat of the Buddhist esoteric philosopher. Fohat, running along the seven principles of Âkâsha, acts upon manifested Substance, or the One Element, as declared above, and, by differentiating it into various centres of energy, sets in motion the law of Cosmic Evolution, which, in obedience to the Ideation of the Universal Mind, brings into existence all the various states of being in the manifested Solar System.

Fohat có liên hệ mật thiết với “Một Sự Sống”. Từ Đấng Duy Nhất Bất Khả Tri, Toàn Thể Vô Hạn, Đấng Duy Nhất Biểu Hiện, hay Thượng đế manvantara theo chu kỳ, xuất lộ; và đây là Vũ Trụ Trí, vốn khi tách khỏi Cội Nguồn của mình, là Demiurge hay Thượng đế Sáng Tạo của các nhà Kabbalah Tây phương, và Brahmâ bốn mặt của tôn giáo Hindû. Trong tính toàn thể của nó, được nhìn trong Giáo Lý Nội Môn từ quan điểm của Tư Tưởng Thiêng Liêng đã biểu hiện, nó tượng trưng cho các Đạo Binh của các Dhyân Chohan Sáng Tạo cao hơn. Đồng thời với sự tiến hoá của Vũ Trụ Trí, Minh Triết Ẩn Tàng của Adi-Buddha—Đấng Duy Nhất Tối Cao và Vĩnh Cửu—tự biểu hiện như Avalokiteshvara (hay Îshvara Biểu Hiện), vốn là Osiris của người Ai Cập, Ahura-Mazda của người Zoroastria, Đấng Thiên Nhân của các triết gia Hermetic, Thượng đế của các nhà Platon, và Âtman của các nhà Vedânta. 199 Bằng tác động của Minh Triết Biểu Hiện, hay Mahat—được tượng trưng bởi vô số trung tâm năng lượng tinh thần này trong Kosmos—Sự Phản Chiếu của Vũ Trụ Trí, vốn là Ý Niệm Vũ Trụ và Mãnh Lực Trí Tuệ đi kèm với Ý Niệm ấy, trở thành Fohat một cách khách quan đối với nhà triết học nội môn Phật giáo. Fohat, chạy dọc theo bảy nguyên khí của Âkâsha, tác động lên Chất Liệu biểu hiện, hay Một Nguyên tố, như đã nói ở trên, và bằng cách biến phân nó thành nhiều trung tâm năng lượng khác nhau, khởi động định luật Tiến Hoá Vũ Trụ, định luật này, tuân theo Ý Niệm của Vũ Trụ Trí, đưa vào hiện hữu tất cả các trạng thái hiện tồn khác nhau trong hệ mặt trời đã biểu hiện.

The Solar System, brought into existence by these agencies, consists of Seven Principles, like everything else within these centres. Such is the teaching of the Trans-Himâlayan Esotericism. Every philosophy, however, has its own way of dividing these principles.

Hệ mặt trời, được đưa vào hiện hữu bởi các tác nhân này, gồm Bảy Nguyên Khí, như mọi sự khác bên trong các trung tâm này. Đó là giáo huấn của Huyền Bí Học xuyên Hy Mã Lạp Sơn. Tuy nhiên, mỗi triết học có cách riêng để phân chia các nguyên khí này.

Fohat, then, is the personified electric vital power, the transcendental binding unity of all cosmic energies, on the unseen as on the manifested planes, the action of which resembles—on an immense scale—that of a living Force created by Will, in those phenomena where the seemingly subjective acts on the seemingly objective, and propels it to action. Fohat is not only the living Symbol and Container of that Force, but is looked upon by the Occultists as an Entity; the forces it acts upon being cosmic, human and terrestrial, and exercising their influence on all these planes respectively. On the earthly plane, its influence is felt in the magnetic and active force generated by the strong desire of the magnetizer. On the cosmic, it is present in the constructive power that, in the formation of things—from the planetary system down to the glow-worm and simple daisy—carries out the plan in the mind of Nature, or in the Divine Thought, with regard to the development and growth of a particular thing. It is, metaphysically, the objectivized Thought of the Gods, the “Word made flesh” on a lower scale, and the messenger of cosmic and human Ideation; the active force in Universal Life. In its secondary aspect, Fohat is the Solar Energy, the electric vital fluid, and the preserving Fourth Principle, the Animal Soul of Nature, so to say, or—Electricity.

Vậy, Fohat là quyền năng thiết yếu điện được nhân cách hóa, sự hợp nhất ràng buộc siêu việt của mọi năng lượng vũ trụ, trên các cõi vô hình cũng như trên các cõi biểu hiện; tác động của nó giống—trên một quy mô mênh mông—tác động của một Mãnh Lực sống do Ý Chí tạo ra, trong những hiện tượng mà cái dường như chủ quan tác động lên cái dường như khách quan, và thúc đẩy nó vào hành động. Fohat không chỉ là Biểu Tượng sống và Vật Chứa của Mãnh Lực ấy, mà còn được các nhà Huyền bí học xem như một Thực Thể; các mãnh lực mà y tác động lên là vũ trụ, nhân loại và địa cầu, và lần lượt gây ảnh hưởng trên tất cả các cõi này. Trên cõi trần, ảnh hưởng của nó được cảm nhận trong mãnh lực từ tính và hoạt động do dục vọng mạnh mẽ của nhà thôi miên tạo ra. Trên cõi vũ trụ, nó hiện diện trong quyền năng kiến tạo, trong sự hình thành của vạn vật—từ hệ hành tinh cho đến con đom đóm và đóa cúc đơn sơ—thực hiện Thiên Cơ trong trí của Thiên Nhiên, hay trong Tư Tưởng Thiêng Liêng, liên quan đến sự phát triển và tăng trưởng của một sự vật riêng biệt. Về mặt siêu hình, nó là Tư Tưởng được khách quan hóa của các Thần, “Ngôi Lời nhập thể” trên một thang thấp hơn, và là sứ giả của Ý Niệm vũ trụ và nhân loại; mãnh lực hoạt động trong Sự Sống Vũ Trụ. Trong phương diện thứ yếu của nó, Fohat là Năng Lượng Mặt Trời, lưu chất thiết yếu điện, và Nguyên khí thứ Tư bảo tồn, có thể nói là Linh Hồn Động Vật của Thiên Nhiên, hay—Điện.

In 1882, the President of the Theosophical Society, Col. Olcott, was taken to task for asserting in one of his lectures that Electricity is matter. Such, nevertheless, is the teaching of the Occult Doctrine. “Force,” “Energy,” may be better names for it, so long as European Science knows so little about its true nature; yet matter it is, as much as Ether is matter, since it is as atomic, though indeed several removes from Ether. It seems ridiculous to argue that because a thing is imponderable to Science, therefore it cannot be called matter. Electricity is “immaterial,” in the sense that its molecules are not subject to perception and experiment; yet it may be—and Occultism says it is—atomic; therefore it is matter. But even supposing it were unscientific to speak of it in such terms, once Electricity is called in Science a source of Energy, Energy simply, and a Force—where is that Force or that Energy which can be thought of without thinking of matter? Maxwell, a mathematician and one of the greatest authorities upon Electricity and its phenomena, said, years ago, that Electricity was matter, not motion merely. “If we accept the hypothesis that the elementary substances are composed of atoms, we cannot avoid concluding that electricity also, positive as well as negative, is divided into definite elementary portions, which behave like atoms of electricity.” 200 We will go further than this, and assert that Electricity is not only Substance, but that it is an emanation from an Entity, which is neither God nor Devil, but one of the numberless Entities that rule and guide our world, according to the eternal Law of Karma.

Năm 1882, Chủ tịch Hội Thông Thiên Học, Đại tá Olcott, bị khiển trách vì đã khẳng định trong một bài diễn thuyết của mình rằng Điện là vật chất. Tuy nhiên, đó chính là giáo huấn của Giáo Lý Huyền Bí. “Mãnh lực”, “Năng lượng”, có thể là những tên gọi tốt hơn cho nó, chừng nào Khoa học Âu châu còn biết quá ít về bản chất chân thực của nó; tuy vậy, nó vẫn là vật chất, cũng như Dĩ thái là vật chất, vì nó cũng có tính nguyên tử, dù thật ra cách Dĩ thái nhiều cấp. Thật nực cười khi lập luận rằng vì một sự vật không thể cân đo đối với Khoa học, nên nó không thể được gọi là vật chất. Điện là “phi vật chất”, theo nghĩa các phân tử của nó không thuộc phạm vi tri giác và thí nghiệm; tuy nhiên, nó có thể là — và Huyền bí học nói rằng nó là — có tính nguyên tử; do đó nó là vật chất. Nhưng ngay cả giả sử việc nói về nó bằng những thuật ngữ như thế là không khoa học, một khi Điện được Khoa học gọi là một nguồn Năng lượng, đơn thuần là Năng lượng, và là một Mãnh lực — thì Mãnh lực ấy hay Năng lượng ấy ở đâu mà người ta có thể nghĩ đến nó mà không nghĩ đến vật chất? Maxwell, một nhà toán học và là một trong những thẩm quyền lớn nhất về Điện và các hiện tượng của nó, đã nói nhiều năm trước rằng Điện là vật chất, chứ không chỉ là chuyển động. “Nếu chúng ta chấp nhận giả thuyết rằng các chất sơ đẳng được cấu thành từ các nguyên tử, thì chúng ta không thể tránh kết luận rằng điện cũng vậy, cả dương lẫn âm, đều được chia thành những phần sơ đẳng xác định, hành xử như các nguyên tử của điện.” 200 Chúng ta sẽ đi xa hơn điều này, và khẳng định rằng Điện không chỉ là Chất liệu, mà còn là một xuất lộ từ một Thực Thể, không phải Thượng đế cũng không phải Ác quỷ, mà là một trong vô số Thực Thể cai quản và hướng dẫn thế giới chúng ta, theo Định luật vĩnh cửu của Nghiệp quả.

To return to Fohat, it is connected with Vishnu and Sûrya in the early character of the former God; for Vishnu is not a high God in the Rig Veda. The name Vishnu is from the root vish, “to pervade,” and Fohat is called the “Pervader” and the Manufacturer, because he shapes the atoms from crude material. 201 In the sacred texts of the Rig Veda, Vishnu is also “a manifestation of the Solar Energy, and is described as striding through the seven regions of the Universe in three steps,” the Vedic God having little in common with the Vishnu of later times. Therefore the two are identical in this particular feature, and one is the copy of the other.

Trở lại với Fohat, y được liên kết với Vishnu và Surya trong tính chất ban đầu của vị Thượng đế trước; vì Vishnu không phải là một Thượng đế cao trong Rig Veda. Danh xưng Vishnu xuất phát từ căn vish, “thấm nhập khắp”, và Fohat được gọi là “Đấng Thấm Nhập Khắp” và Nhà Chế Tác, vì y uốn nắn các nguyên tử từ chất liệu thô sơ. 201 Trong các thánh điển của Rig Veda, Vishnu cũng là “một biểu hiện của Năng lượng Thái dương, và được mô tả là sải bước qua bảy vùng của Vũ trụ trong ba bước”, vị Thượng đế Veda này có rất ít điểm chung với Vishnu của các thời kỳ về sau. Vì vậy, trong nét đặc thù này, cả hai đồng nhất với nhau, và một bên là bản sao của bên kia.

The Three and Seven “Strides” refer to the seven spheres inhabited by man, in the Esoteric Doctrine, as well as to the seven regions of the Earth. Notwithstanding the frequent objections made by would-be Orientalists, the Seven Worlds, or Spheres, of our Planetary Chain are distinctly referred to in the exoteric Hindû scriptures. But how strangely all these numbers are connected with like numbers in other cosmogonies and with their symbols, can be seen from the comparisons and parallelisms made by students of old religions. The “three strides of Vishnu,” through the “seven regions of the Universe,” of the Rig Veda, have been variously explained by commentators as meaning fire, lightning and the sun, cosmically, and as having been taken in the earth, the atmosphere, and the sky; more philosophically—and in the astronomical sense, very correctly—they are explained by Aurnavâbha as being the various positions of the sun, rising, noon, and setting. Esoteric Philosophy alone explains it clearly, though the Zohar has laid it down very philosophically and comprehensively. It is plainly demonstrated therein that in the beginning the Elohim (Alhim) were called Achad, “One,” or the “Deity, One in Many,” a very simple idea in a pantheistic conception—pantheistic in its philosophical sense, of course. Then came the change, “Jehovah is Elohim,” thus unifying the multiplicity and taking the first step towards Monotheism. Now to the query, “How is Jehovah Elohim?” the answer is, “By Three Steps” from below. The meaning is plain. The Steps are symbols, and emblematic, mutually and correlatively, of Spirit, Soul and Body (Man); of the Circle, transformed into Spirit, the Soul of the World and its Body (or Earth). Stepping out of the Circle of Infinity, that no man comprehendeth, Ain Suph—the Kabalistic synonym for Parabrahman, for the Zeroâna Akerne, of the Mazdeans, or for any other “Unknowable”—becomes “One” (the Achad, the Eka, the Ahu); then he (or it) is transformed by evolution into the “One in Many,” the Dhyâni-Buddhas or the Elohim, or again the Amshaspends, his third Step being taken into the generation of the flesh, or Man. And from Man, or Jah-Hovah, “male-female,” the inner divine entity becomes, on the metaphysical plane, once more the Elohim.

“Ba” và “Bảy Bước Sải” ám chỉ bảy khối cầu do con người cư ngụ, trong Giáo Lý Nội Môn, cũng như bảy vùng của Trái Đất. Bất chấp những phản đối thường xuyên của các nhà Đông phương học tự xưng, Bảy Thế Giới, hay Khối Cầu, của Dãy Hành Tinh chúng ta được nhắc đến một cách rõ ràng trong các kinh điển Ấn giáo ngoại môn. Nhưng tất cả những con số này được liên kết kỳ lạ như thế nào với các con số tương tự trong những vũ trụ khởi nguyên luận khác và với các biểu tượng của chúng, có thể thấy qua những so sánh và tương ứng do các đạo sinh về những tôn giáo cổ xưa thực hiện. “Ba bước sải của Vishnu”, qua “bảy vùng của Vũ trụ”, trong Rig Veda, đã được các nhà chú giải giải thích theo nhiều cách khác nhau: về mặt vũ trụ là lửa, sấm chớp và mặt trời; và như được thực hiện nơi đất, khí quyển và bầu trời; còn một cách triết học hơn — và theo nghĩa thiên văn học, rất đúng — Aurnavabha giải thích chúng là các vị trí khác nhau của mặt trời: mọc, chính ngọ và lặn. Chỉ Triết Học Nội Môn mới giải thích điều đó rõ ràng, dù Zohar đã trình bày nó rất triết học và bao quát. Trong đó, người ta chứng minh rõ ràng rằng lúc ban đầu Elohim, hay Alhim, được gọi là Achad, “Một”, hay “Thượng đế, Một trong Nhiều”, một ý tưởng rất đơn giản trong quan niệm phiếm thần — dĩ nhiên là phiếm thần theo nghĩa triết học của nó. Rồi đến sự biến đổi: “Jehovah là Elohim”, như vậy hợp nhất tính đa thù và bước bước đầu tiên hướng tới Nhất thần giáo. Nay đối với câu hỏi: “Jehovah là Elohim như thế nào?”, câu trả lời là: “Bằng Ba Bước” từ bên dưới. Ý nghĩa rất rõ. Các Bước là những biểu tượng, và là biểu trưng, hỗ tương và tương liên, của Tinh thần, Linh hồn và Thể xác, tức Con Người; của Vòng Tròn, được chuyển đổi thành Tinh thần, Linh hồn của Thế giới và Thể của nó, tức Trái Đất. Bước ra khỏi Vòng Tròn của Vô Tận, điều không người nào thấu hiểu, Ain Suph — từ đồng nghĩa Kabbalah của Parabrahman, của Zeroana Akerne nơi người Mazdean, hay của bất kỳ “Đấng Bất Khả Tri” nào khác — trở thành “Một”, tức Achad, Eka, Ahu; rồi Ngài, hay nó, được tiến hoá chuyển đổi thành “Một trong Nhiều”, các Dhyani-Buddha hay Elohim, hoặc lại là các Amshaspends, Bước thứ ba của Ngài được thực hiện vào sự sinh thành của xác thịt, hay Con Người. Và từ Con Người, hay Jah-Hovah, “nam-nữ”, thực thể thiêng liêng bên trong trên cõi siêu hình, một lần nữa trở thành Elohim.

The numbers 3, 5, and 7 are prominent in speculative Masonry, as shown in Isis Unveiled. A Mason writes: There are the 3, 5, and 7 steps to show a circular walk. The three faces of 3, 3; 5, 3; and 7, 3; etc., etc. Sometimes it comes in this form: 753/2 = 376.5, and 7535/2 = 3817.5, and the ratio of 20612/6561 feet for cubit measure gives the Great Pyramid measures.

Các con số 3, 5 và 7 nổi bật trong Hội Tam Điểm suy nghiệm, như đã được trình bày trong Isis Được Vén Màn. Một hội viên Tam Điểm viết: Có 3, 5 và 7 bậc để chỉ một lối đi vòng tròn. Ba mặt của 3, 3; 5, 3; và 7, 3; vân vân. Đôi khi nó xuất hiện dưới dạng này: 753/2 = 376.5, và 7535/2 = 3817.5, và tỉ lệ 20612/6561 bộ cho thước đo cubit cho ra các số đo của Kim Tự Tháp Lớn.

Three, five and seven are mystical numbers, and the last and the first are as greatly honoured by Masons as by Parsis—the Triangle being a symbol of Deity everywhere. 202 As a matter of course, Doctors of Divinity—Cassel, for instance—show the Zohar explaining and supporting the Christian Trinity(!). It is the latter, however, that had its origin from the [triangle], in the archaic Occultism and Symbology of the Heathen. The Three Strides relate metaphysically to the descent of Spirit into Matter, of the Logos falling as a ray into the spirit, then into the soul, and finally into the human physical form of man, in which it becomes Life.

Ba, năm và bảy là những con số thần bí, và số cuối cùng cùng với số đầu tiên được các hội viên Tam Điểm tôn kính không kém gì người Parsi — Tam Giác ở khắp nơi là biểu tượng của Thượng đế. 202 Dĩ nhiên, các Tiến sĩ Thần học — chẳng hạn Cassel — cho thấy Zohar giải thích và ủng hộ Ba Ngôi Cơ Đốc giáo. Tuy nhiên, chính Ba Ngôi ấy lại có nguồn gốc từ [triangle], trong Huyền bí học và Biểu tượng học cổ sơ của dân ngoại giáo. Ba Bước Sải liên hệ về mặt siêu hình với sự giáng hạ của Tinh thần vào Vật chất, của Logos rơi xuống như một tia vào tinh thần, rồi vào linh hồn, và cuối cùng vào hình tướng hồng trần của con người, trong đó nó trở thành Sự Sống.

The Kabalistic idea is identical with the Esotericism of the archaic period. This Esotericism is the common property of all, and belongs neither to the Âryan Fifth Race, nor to any of its numerous sub-races. It cannot be claimed by the Turanians, so-called, the Egyptians, Chinese, Chaldeans, or by any of the seven divisions of the Fifth Root Race, but really belongs to the Third and Fourth Root Races, whose descendants we find in the Seed of the Fifth, the earliest Âryans. The Circle was with every nation the symbol of the Unknown— “Boundless Space,” the abstract garb of an ever present abstraction—the Incognizable Deity. It represents limitless Time in Eternity. The Zeroâna Akerne is also the “Boundless Circle of Unknown Time,” from which Circle issues the radiant Light—the Universal Sun, or Ormazd 203—and the latter is identical with Cronus, in his Æolian form, that of a Circle. For the Circle is Sar and Saros, or Cycle. It was the Babylonian God whose circular horizon was the visible symbol of the invisible, while the Sun was the One Circle from which proceeded the cosmic orbs, of which he was considered the leader. Zeroâna, is the Chakra, or Circle, of Vishnu, the mysterious emblem which is, according to the definition of a Mystic, “a curve of such a nature that as to any, the least possible, part thereof, if the curve be protracted either way, it will proceed and finally reenter upon itself, and form one and the same curve—or that which we call the circle.” No better definition could thus be given of the natural symbol and the evident nature of Deity, which having its circumference everywhere (the boundless) has, therefore, its central point also everywhere; in other words, is in every point of the Universe. The invisible Deity is thus also the Dhyân Chohans, or the Rishis, the primitive seven, and the nine, without, and ten, including, their synthetical unit, from which It steps into Man.

Ý tưởng Kabbalah đồng nhất với Huyền bí học của thời kỳ cổ sơ. Huyền bí học này là tài sản chung của tất cả, và không thuộc về Giống dân Thứ Năm Arya, cũng không thuộc về bất kỳ giống dân phụ nào trong số nhiều giống dân phụ của nó. Nó không thể được người Turanian, gọi là như thế, người Ai Cập, Trung Hoa, Chaldea, hay bất kỳ phân bộ nào trong bảy phân bộ của Giống Dân Gốc Thứ Năm tuyên bố là của riêng mình, mà thật ra thuộc về Giống Dân Gốc Thứ Ba và Thứ Tư, hậu duệ của họ chúng ta tìm thấy trong Mầm của Giống Dân Thứ Năm, tức những người Arya sớm nhất. Đối với mọi dân tộc, Vòng Tròn là biểu tượng của Đấng Bất Khả Tri — “Không Gian Vô Biên”, lớp áo trừu tượng của một trừu tượng luôn hiện diện — Thượng đế Bất Khả Nhận Thức. Nó biểu thị Thời Gian vô hạn trong Vĩnh Cửu. Zeroana Akerne cũng là “Vòng Tròn Vô Biên của Thời Gian Bất Khả Tri”, từ Vòng Tròn ấy phát ra Ánh Sáng rực rỡ — Mặt Trời Vũ Trụ, hay Ormazd 203 — và vị sau đồng nhất với Cronus, trong dạng Aeolia của ông, tức một Vòng Tròn. Vì Vòng Tròn là Sar và Saros, hay Chu Kỳ. Đó là vị Thượng đế Babylon mà chân trời vòng tròn của Ngài là biểu tượng hữu hình của điều vô hình, trong khi Mặt Trời là Vòng Tròn Duy Nhất từ đó các thiên cầu vũ trụ phát xuất, và Ngài được xem là vị lãnh đạo của chúng. Zeroana là Chakra, hay Vòng Tròn, của Vishnu, biểu hiệu huyền nhiệm mà theo định nghĩa của một nhà thần bí là “một đường cong có bản chất như sau: đối với bất kỳ phần nào, dù là nhỏ nhất có thể, của nó, nếu đường cong ấy được kéo dài theo bất cứ hướng nào, nó sẽ tiếp diễn và cuối cùng quay trở lại chính nó, tạo thành một và cùng một đường cong — hay điều mà chúng ta gọi là vòng tròn.” Không thể đưa ra một định nghĩa nào tốt hơn về biểu tượng tự nhiên và bản chất hiển nhiên của Thượng đế, Đấng có chu vi ở khắp nơi, tức vô biên, nên do đó cũng có điểm trung tâm ở khắp nơi; nói cách khác, hiện hữu trong mọi điểm của Vũ trụ. Như vậy, Thượng đế vô hình cũng là các Dhyani Chohan, hay các Rishi, bảy vị nguyên sơ, và chín vị khi không kể, mười vị khi kể cả, đơn vị tổng hợp của các Ngài, từ đó Ngài bước vào Con Người.

Returning to Commentary 4 of Stanza IV, the reader now will understand why, while the Trans-Himâlayan Chakra has inscribed within it [triangle] [square] [5-point star with middle dot]—triangle, first line, square, second line, and a pentacle with a point in the centre, either thus [5-point star with middle dot] or some other variation—the Kabalistic Circle of the Elohim reveals, when the letters of the word אלהים (Alhim or Elohim) are read numerically, the famous numerals 13514, or anagrammatically 31415—the astronomical π (pi), or the hidden meaning of the Dhyâni-Buddhas, of the Gebers, the Giburim, the Kabeiri, and the Elohim, all signifying “Great Men,” “Titans,” “Heavenly Men,” and, on earth, “Giants.”

Trở lại với Chú Giải 4 của Bài Kệ IV, giờ đây độc giả sẽ thấu hiểu vì sao, trong khi Chakra Xuyên-Hy Mã Lạp Sơn có khắc bên trong nó [triangle] [square] [5-point star with middle dot] — tam giác, hàng thứ nhất, hình vuông, hàng thứ hai, và một ngôi sao năm cánh với một điểm ở trung tâm, hoặc như thế này [5-point star with middle dot] hay một biến thể nào khác — Vòng Tròn Kabbalah của Elohim, khi các chữ cái của từ Elohim được đọc theo số trị, lại mặc khải các số nổi tiếng 13514, hay theo lối hoán tự 31415 — số pi thiên văn, hay ý nghĩa ẩn tàng của các Dhyani-Buddha, của các Geber, Giburim, Kabeiri và Elohim, tất cả đều hàm nghĩa “Những Con Người Vĩ Đại”, “Các Titan”, “Các Đấng Thiên Nhân”, và trên trần thế là “Những Người Khổng Lồ”.

The Seven was a Sacred Number with every nation; but none applied it to more physiologically materialistic uses than the Hebrews. With them 7 was preeminently the generative number, and 9 the male causative one, forming as shown by the Kabalists the otz, עצ (90, 70), or “the Tree of the Garden of Eden,” the “double hermaphrodite rod” of the Fourth Race. This was the symbol of the “Holy of Holies,” the 3 and the 4 of sexual separation. Nearly every one of the 22 Hebrew letters are merely phallic symbols. Of the two letters—as shown above—one, the ayin, is a negative female letter, symbolically an eye; the the other a male letter, tzâ, a fish-hook or dart. Whereas with the Hindûs and Âryans generally, the significance was manifold, and related almost entirely to purely metaphysical and astronomical truths. Their Rishis and Gods, their Demons and Heroes, have historical and ethical meanings.

Số Bảy là một Con Số Thiêng Liêng đối với mọi dân tộc; nhưng không dân tộc nào áp dụng nó vào những công dụng duy vật sinh lý học nhiều hơn người Hebrew. Với họ, 7 trước hết là con số sinh sản, và 9 là con số nhân quả nam tính, tạo thành, như các nhà Kabbalah chỉ ra, otz, otz, tức “Cây trong Vườn Eden”, “cây trượng lưỡng tính kép” của Giống Dân Thứ Tư. Đây là biểu tượng của “Nơi Chí Thánh”, của 3 và 4 trong sự phân ly tính dục. Hầu như mỗi một trong 22 chữ cái Hebrew chỉ là các biểu tượng sinh thực khí. Trong hai chữ cái — như đã nêu trên — một chữ, ayin, là chữ cái nữ âm, về mặt biểu tượng là con mắt; chữ kia là chữ cái nam, tza, một cái móc câu hay mũi lao. Trong khi đó, đối với người Ấn giáo và người Arya nói chung, thâm nghĩa thì đa diện, và hầu như hoàn toàn liên hệ đến các chân lý thuần túy siêu hình và thiên văn học. Các Rishi và Thượng đế của họ, các Ác quỷ và Anh hùng của họ, đều có ý nghĩa lịch sử và đạo đức.

Yet we are told by a Kabalist, who, in a work not yet published, contrasts the Kabalah and Zohar with Âryan Esotericism, that: The Hebrew clear, short, terse and exact, modes far and beyond measure surpass the toddling word-talk of the Hindûs—just as by parallelisms the Psalmist says, “My mouth speaks with my tongue, I know not thy numbers” (lxxi., 15)…. The Hindû glyph shows by its insufficiency in the large admixture of adventitious sides the same borrowed plumage that the Greeks (the lying Greeks) had, and that Masonry has: which, in the rough monosyllabic (and apparent) poverty of the Hebrew, shows the latter to have come down from a far more remote antiquity than any of these, and to have been the source [!?], or nearer the old original source than any of them.

Tuy vậy, một nhà Kabbalah, trong một tác phẩm chưa được xuất bản, khi đối chiếu Kabbalah và Zohar với Huyền bí học Arya, lại nói với chúng ta rằng: Những phương thức Hebrew rõ ràng, ngắn gọn, súc tích và chính xác, vượt xa vô lượng vô biên lối nói bằng lời chập chững của người Ấn giáo — cũng như bằng những song hành, tác giả Thánh Vịnh nói: “Miệng tôi nói bằng lưỡi tôi, tôi không biết các con số của Ngài”… Hình phù Ấn giáo cho thấy, qua sự bất túc của nó trong sự pha trộn rộng lớn những mặt phụ thêm, cùng thứ lông vũ vay mượn mà người Hy Lạp, người Hy Lạp dối trá, đã có, và Hội Tam Điểm cũng có: điều mà trong sự nghèo nàn thô sơ đơn âm tiết, và bề ngoài, của tiếng Hebrew, lại cho thấy tiếng sau đã truyền xuống từ một thời cổ xa xưa hơn bất kỳ thứ nào trong số này, và đã là nguồn gốc, hoặc gần với nguồn gốc nguyên thủy xưa hơn bất kỳ thứ nào trong số chúng.

This is entirely erroneous. Our learned brother and correspondent judges the Hindû religious systems apparently by their Shâstras and Purânas, probably the latter, and in their modern translations moreover, which disfigure them out of all recognition. It is to their philosophical systems that we have to turn, to their esoteric teaching, if we would make a point of comparison. No doubt the symbology of the Pentateuch, and even of the New Testament, comes from the same source. But surely the Pyramid of Cheops, whose measurements are all found, by Professor Piazzi Smyth, repeated in Solomon’s alleged and mythical Temple, is not of a later date than the Mosaic books? Hence, if there is any such great identity as is claimed, it must be due to servile copying on the part of the Jews, not on that of the Egyptians. The glyphs of the Jews—and even their language, the Hebrew—are not original. They are borrowed from the Egyptians, from whom Moses got his Wisdom; from the Coptic, the probable kinsman, if not parent, of the old Phœnician and from the Hyksos, their (alleged) ancestors, as Josephus shows. 204 Aye; but who are the Hyksos shepherds? And who the Egyptians? History knows nothing of the question, and speculates and theorizes out of the depths of the respective consciousnesses of her historians. 205 “Khamism, or old Coptic, is from Western Asia, and contains some germ of the Semitic, thus bearing witness to the primitive cognate unity of the Âryan and Semitic races,” says Bunsen, who places the great events in Egypt 9,000 years b.c. The fact is that in archaic Esotericism and Âryan thought we find a grand philosophy, whereas in the Hebrew records we find only the most surprising ingenuity in inventing apotheoses for phallic worship and sexual theogony.

Điều này hoàn toàn sai lầm. Vị huynh đệ uyên bác và người trao đổi thư từ của chúng ta dường như phán đoán các hệ thống tôn giáo Ấn giáo qua các Shastra và Purana của họ, có lẽ là các Purana, hơn nữa lại qua những bản dịch hiện đại, vốn làm chúng biến dạng đến mức không còn nhận ra. Chính các hệ thống triết học của họ, giáo huấn nội môn của họ, mới là nơi chúng ta phải quay về nếu muốn nêu ra một điểm so sánh. Không nghi ngờ gì, biểu tượng học của Ngũ Kinh, và ngay cả của Tân Ước, cũng đến từ cùng một nguồn. Nhưng chắc chắn Kim Tự Tháp Cheops, mà mọi số đo của nó, theo Giáo sư Piazzi Smyth, đều được lặp lại trong Đền Thờ được cho là của Solomon và mang tính thần thoại, không thể có niên đại muộn hơn các sách của Moses? Do đó, nếu có bất kỳ sự đồng nhất lớn lao nào như đã được khẳng định, thì nó phải do việc sao chép nô lệ từ phía người Do Thái, chứ không phải từ phía người Ai Cập. Các hình phù của người Do Thái — và ngay cả ngôn ngữ của họ, tiếng Hebrew — không phải là nguyên thủy. Chúng được vay mượn từ người Ai Cập, nơi Moses đã nhận được Minh triết của ông; từ tiếng Coptic, có lẽ là họ hàng, nếu không phải là cha mẹ, của tiếng Phoenicia cổ; và từ người Hyksos, tổ tiên được cho là của họ, như Josephus chỉ ra. 204 Đúng vậy; nhưng những người chăn chiên Hyksos là ai? Và người Ai Cập là ai? Lịch sử không biết gì về vấn đề này, và suy đoán, dựng thuyết từ những tầng sâu của các tâm thức riêng biệt nơi các sử gia của bà. 205 “Khamism, hay tiếng Coptic cổ, đến từ Tây Á, và chứa một mầm nào đó của Semitic, như vậy làm chứng cho sự thống nhất thân thuộc nguyên thủy của các nhân loại Arya và Semitic”, Bunsen nói, người đặt các sự kiện lớn ở Ai Cập vào 9.000 năm trước Công nguyên. Sự thật là trong Huyền bí học cổ sơ và tư tưởng Arya, chúng ta tìm thấy một triết học lớn lao, trong khi trong các ghi chép Hebrew, chúng ta chỉ tìm thấy sự khéo léo đáng kinh ngạc nhất trong việc phát minh các thần hóa cho sự thờ phụng sinh thực khí và thần phả tính dục.

That the Âryans never made their religion rest solely on physiological symbols, as the old Hebrews have done, may be seen in the exoteric Hindû Scriptures. That these accounts, also, are blinds is shown by their contradicting each other, a different explanation being found in almost every Purâna and epic poem. Read esoterically, however, they will all yield the same meaning. Thus one account enumerates seven worlds, exclusive of the nether worlds, also seven in number; these fourteen upper and nether worlds have nothing to do with the classification of the Septenary Chain and belong to the purely ethereal, invisible worlds. These will be noticed elsewhere. Suffice it for the present to show that they are purposely referred to as though they belonged to the Chain. “Another enumeration calls the seven worlds earth, sky, heaven, middle region, place of birth, mansion of the blest, and abode of truth; placing the Sons of Brahmâ in the sixth division, and stating the fifth, or Jana-loka, to be that where animals destroyed in the general conflagration are born again.” 206 Some real Esoteric teaching is given in the subsequent chapters on Symbolism. He who is prepared for it will understand the hidden meaning.

Việc người Arya không bao giờ đặt tôn giáo của họ chỉ dựa trên các biểu tượng sinh lý học, như người Hebrew cổ đã làm, có thể thấy trong các Kinh điển Ấn giáo ngoại môn. Rằng những trình thuật này cũng là các bức màn che được chứng tỏ qua việc chúng mâu thuẫn lẫn nhau, vì hầu như trong mỗi Purana và trường ca đều có một cách giải thích khác. Tuy nhiên, nếu đọc theo nội môn, tất cả sẽ cho cùng một ý nghĩa. Như vậy, một trình thuật liệt kê bảy thế giới, không kể các thế giới bên dưới, cũng gồm bảy; mười bốn thế giới thượng và hạ này không liên quan gì đến phân loại của Dãy Thất Phân và thuộc về các thế giới thuần dĩ thái, vô hình. Những điều này sẽ được chú ý ở nơi khác. Hiện tại, chỉ cần cho thấy rằng chúng cố ý được nhắc đến như thể chúng thuộc về Dãy. “Một liệt kê khác gọi bảy thế giới là đất, trời, thiên giới, vùng trung gian, nơi sinh ra, dinh thự của những người được phúc, và trú xứ của chân lý; đặt các Con của Brahma trong phân bộ thứ sáu, và nói rằng phân bộ thứ năm, hay Jana-loka, là nơi những con vật bị hủy diệt trong cuộc đại hỏa tai được sinh lại.” 206 Một số giáo huấn Nội Môn chân thực được đưa ra trong các chương tiếp theo về Biểu tượng học. Ai đã sẵn sàng cho điều đó sẽ thấu hiểu ý nghĩa ẩn tàng.

3. He is their guiding spirit and leader. When he commences work, he separates the Sparks of the Lower Kingdom, 207 That float and thrill with joy in their radiant dwellings, 208 and forms therewith the Germs of Wheels. He places them in the Six Directions of Space, and One in the middle—the Central Wheel.

3. Ngài là tinh thần hướng dẫn và vị lãnh đạo của họ. Khi Ngài bắt đầu công việc, Ngài tách các Tia Lửa của Giới Thấp, 207 vốn trôi nổi và rung lên trong hoan hỉ nơi các trú xứ rực rỡ của chúng, 208 và từ đó tạo thành các Mầm của những Bánh Xe. Ngài đặt chúng trong Sáu Hướng của Không Gian, và Một ở giữa — Bánh Xe Trung Tâm.

“Wheels,” as already explained, are the centres of force, around which primordial cosmic matter expands, and, passing through all the six stages of consolidation, becomes spheroidal and ends by being transformed into globes or spheres. It is one of the fundamental dogmas of Esoteric cosmogony, that during the Kalpas (or Æons) of Life, Motion, which, during the periods of Rest, “pulsates and thrills through every slumbering atom”—assumes an evergrowing tendency, from the first awakening of Kosmos to a new “Day,” to circular movement. “The Deity becomes a Whirlwind.” It may be asked, as the writer has not failed to ask: Who is there to ascertain the difference in that Motion, since all Nature is reduced to its primal essence, and there can be no one—not even one of the Dhyâni-Chohans, who are all in Nirvâna—to see it? The answer to this is: Everything in Nature has to be judged by analogy. Though the highest Deities (Archangels or Dhyâni-Buddhas) are unable to penetrate the mysteries which lie too far beyond our Planetary System and the visible Cosmos, yet there were great seers and prophets in olden times who were enabled to perceive the mystery of Breath and Motion retrospectively, when the systems of Worlds were at rest and plunged in their periodic sleep.

“Những Bánh Xe”, như đã giải thích, là các trung tâm mãnh lực, quanh đó vật chất vũ trụ nguyên sơ mở rộng, và, trải qua tất cả sáu giai đoạn cô đặc, trở nên hình cầu và cuối cùng được chuyển đổi thành các bầu hành tinh hay khối cầu. Một trong những tín điều nền tảng của vũ trụ khởi nguyên luận Nội Môn là trong các Kalpa, hay Đại Kiếp, của Sự Sống, Chuyển Động — vốn trong các thời kỳ Nghỉ Ngơi “đập nhịp và rung lên xuyên qua từng nguyên tử đang ngủ” — từ sự thức tỉnh đầu tiên của Kosmos bước vào một “Ngày” mới, đảm nhận một khuynh hướng ngày càng tăng hướng tới chuyển động vòng tròn. “Thượng đế trở thành một Cơn Lốc.” Có thể hỏi, như người viết đã không quên hỏi: Ai ở đó để xác định sự khác biệt trong Chuyển Động ấy, khi toàn thể Thiên nhiên đã được quy giảm về tinh chất nguyên sơ của nó, và không thể có ai — ngay cả một trong các Dhyani Chohan, tất cả đều ở trong Nirvana — để thấy nó? Câu trả lời cho điều này là: Mọi sự trong Thiên nhiên phải được phán đoán bằng tương đồng. Dù các Thượng đế cao nhất, tức các Tổng Thiên Thần hay Dhyani-Buddha, không thể xuyên thấu những bí nhiệm nằm quá xa bên ngoài Hệ Hành Tinh của chúng ta và Vũ trụ hữu hình, tuy nhiên, trong các thời cổ đã có những nhà thông nhãn và tiên tri vĩ đại được phép tri giác bí nhiệm của Hơi Thở và Chuyển Động một cách hồi cố, khi các hệ thống Thế Giới đang nghỉ ngơi và chìm trong giấc ngủ chu kỳ của chúng.

The Wheels are also called Rotæ—the moving wheels of the celestial orbs participating in the world’s creation—when the meaning refers to the animating principle of the stars and planets; for, in the Kabalah, they are represented by the Auphanim, the Angels of the Spheres and Stars, of which they are the informing Souls. 209

Các Bánh Xe cũng được gọi là Rotae — những bánh xe chuyển động của các thiên cầu tham dự vào sự sáng tạo của thế giới — khi ý nghĩa ám chỉ nguyên khí làm sinh động các sao và hành tinh; vì trong Kabbalah, chúng được biểu thị bởi Auphanim, các Thiên Thần của các Khối Cầu và Sao, mà chúng là các Linh Hồn thấm nhuần. 209

This law of vortical movement in primordial matter is one of the oldest conceptions of Greek philosophy, whose first historical sages were nearly all Initiates of the Mysteries. The Greeks had it from the Egyptians, and the latter from the Chaldeans, who had been the pupils of Brâhmans of the Esoteric school. Leucippus, and Democritus of Abdera—the pupil of the Magi—taught that this gyratory movement of the atoms and spheres existed from eternity. 210 Hicetas, Heraclides, Ecphantus, Pythagoras, and all his pupils, taught the rotation of the earth; and Âryabhata of India, Aristarchus, Seleucus, and Archimedes calculated its revolution as scientifically as the Astronomers do now; while the theory of Elemental Vortices was known to Anaxagoras, and maintained by him 500 years b.c., or nearly 2,000 before it was taken up by Galileo, Descartes, Swedenborg, and finally, with slight modifications, by Sir W. Thomson. 211 All such knowledge, if justice be only done, is an echo of the archaic doctrine, an attempt to explain which is now being made. How men of the last few centuries have come to the same ideas and conclusions that were taught as axiomatic truths in the secrecy of the Adyta, dozens of millenniums ago, is a question that is treated separately. Some were led to it by the natural progress in Physical Science and by independent observation; others—such as Copernicus, Swedenborg, and a few more—their great learning notwithstanding, owed their knowledge far more to intuitive than to acquired ideas, developed in the usual way by a course of study. That Swedenborg, who could not possibly have known anything of the esoteric ideas of Buddhism, independently came near the Occult teaching in his general conceptions, is shown by his essay on the Vortical Theory. In Clissold’s translation of it, quoted by Prof. Winchell, 212 we find the following résumé: The first cause is the infinite or unlimited. This gives existence to the first finite or limited. [The Logos in its manifestation and the Universe.] That which produces a limit is analogous to motion. [See Stanza I supra.] The limit produced is a point, the essence of which is motion; but being without parts, this essence is not actual motion, but only a conatus to it. [In our doctrine it is not a “conatus,” but a change from Eternal Vibration, in the unmanifested, to Vortical Motion, in the phenomenal or manifested World.] From this first proceed extension, space, figure, and succession, or time. As in geometry a point generates a line, a line a surface, and a surface a solid, so here the conatus of the point tends towards lines, surfaces and solids. In other words, the Universe is contained in ovo in the first natural point.

Định luật về chuyển động xoáy trong vật chất nguyên sơ này là một trong những quan niệm cổ xưa nhất của triết học Hy Lạp, mà các hiền giả lịch sử đầu tiên của nó hầu như đều là các Điểm đạo đồ của các Bí pháp. Người Hy Lạp nhận nó từ người Ai Cập, và người Ai Cập từ người Chaldea, những người từng là học trò của các Brahman thuộc trường phái Nội Môn. Leucippus và Democritus xứ Abdera — học trò của các Magi — đã dạy rằng chuyển động xoay tròn này của các nguyên tử và khối cầu đã tồn tại từ vĩnh cửu. 210 Hicetas, Heraclides, Ecphantus, Pythagoras, và tất cả các học trò của ông, đã dạy về sự tự quay của Trái Đất; và Aryabhata của Ấn Độ, Aristarchus, Seleucus và Archimedes đã tính toán sự quay quanh của nó một cách khoa học như các Nhà Thiên Văn học hiện nay; trong khi thuyết về các Xoáy Hành Khí đã được Anaxagoras biết đến và bênh vực vào 500 năm trước Công nguyên, tức gần 2.000 năm trước khi nó được Galileo, Descartes, Swedenborg, và cuối cùng là Sir W. Thomson, tiếp nhận với vài sửa đổi nhỏ. 211 Tất cả tri thức như thế, nếu công bằng được thực thi, là một tiếng vang của giáo lý cổ sơ, mà nay đang có nỗ lực giải thích. Làm thế nào những con người của vài thế kỷ gần đây đã đi đến cùng những ý tưởng và kết luận từng được truyền dạy như các chân lý tiên đề trong sự bí mật của các Adyta, từ hàng chục thiên niên kỷ trước, là một vấn đề được bàn riêng. Một số người được dẫn tới đó bởi sự tiến bộ tự nhiên trong Khoa học Vật lý và bởi sự quan sát độc lập; những người khác — như Copernicus, Swedenborg, và vài người nữa — bất chấp sự học rộng lớn của mình, đã mang ơn tri thức của họ đối với các ý tưởng trực giác nhiều hơn là các ý tưởng thụ đắc, được phát triển theo cách thông thường qua một khóa học. Việc Swedenborg, người không thể nào đã biết gì về các ý tưởng nội môn của Phật giáo, lại độc lập tiến gần đến giáo huấn Huyền bí trong các quan niệm tổng quát của ông, được chứng tỏ qua tiểu luận của ông về Thuyết Xoáy. Trong bản dịch của Clissold về tiểu luận ấy, được Giáo sư Winchell trích dẫn, 212 chúng ta thấy bản tóm lược sau: Nguyên nhân thứ nhất là vô hạn hay không giới hạn. Điều này ban sự hiện hữu cho cái hữu hạn hay giới hạn đầu tiên. [Logos trong sự biểu hiện của nó và Vũ trụ.] Cái tạo ra một giới hạn tương tự như chuyển động. [Xem Bài Kệ I ở trên.] Giới hạn được tạo ra là một điểm, mà tinh chất của nó là chuyển động; nhưng vì không có phần, tinh chất này không phải là chuyển động hiện thực, mà chỉ là một xu hướng hướng tới nó. [Trong giáo lý của chúng ta, đó không phải là một “xu hướng”, mà là một sự biến đổi từ Rung Động Vĩnh Cửu, trong cõi không biểu hiện, sang Chuyển Động Xoáy, trong Thế giới hiện tượng hay biểu hiện.] Từ cái đầu tiên này phát sinh sự mở rộng, không gian, hình thể, và sự kế tiếp, hay thời gian. Như trong hình học, một điểm sinh ra một đường, một đường sinh ra một mặt, và một mặt sinh ra một khối, thì ở đây xu hướng của điểm hướng tới các đường, các mặt và các khối. Nói cách khác, Vũ trụ được chứa đựng trong trứng nơi điểm tự nhiên đầu tiên.

The Motion toward which the conatus tends is circular, since the circle is the most perfect of all figures…. “The most perfect figure of the motion above described must be the perpetually circular; that is to say, it must proceed from the centre to the periphery and from the periphery to the centre.” 213

Chuyển Động mà xu hướng ấy hướng tới là chuyển động vòng tròn, vì vòng tròn là hình thể hoàn hảo nhất trong mọi hình thể… “Hình thể hoàn hảo nhất của chuyển động vừa mô tả phải là hình thể vòng tròn vĩnh viễn; nghĩa là, nó phải đi từ trung tâm đến chu vi và từ chu vi đến trung tâm.” 213

This is Occultism pure and simple.

Đây là Huyền bí học thuần túy và giản dị.

By the “Six Directions of Space” is here meant the “Double Triangle,” the junction and blending together of pure Spirit and Matter, of the Arûpa and the Rûpa, of which the Triangles are a Symbol. This Double Triangle is a sign of Vishnu; it is Solomon’s Seal, and the Shrî-Antara of the Brâhmans.

Ở đây, “Sáu Hướng của Không Gian” có nghĩa là “Tam Giác Kép”, sự kết nối và hòa trộn giữa Tinh thần thuần khiết và Vật chất, giữa Arupa và Rupa, mà các Tam Giác là một Biểu tượng. Tam Giác Kép này là dấu hiệu của Vishnu; đó là Ấn của Solomon, và Shri-Antara của các Brahman.

4. Fohat traces spiral lines to unite the Sixth to the Seventh—the Crown (a). An Army of the Sons of Light stands at each angle; the Lipika, in the Middle Wheel (b). They 214say: “This is good.” The first Divine World is ready; the First, the Second. 215 Then the “Divine Arûpa” 216 reflects itself in Chhâyâ Loka, 217 the First Garment of Anupâdaka (c).

4. Fohat vạch những đường xoắn ốc để hợp nhất Cái Thứ Sáu với Cái Thứ Bảy — Vương Miện (a). Một Đạo Quân của các Con của Ánh Sáng đứng tại mỗi góc; Lipika, ở Bánh Xe Giữa (b). Các Ngài 214 nói: “Điều này tốt lành.” Thế Giới thiêng liêng thứ nhất đã sẵn sàng; Cái Thứ Nhất, Cái Thứ Hai. 215 Rồi “Arupa thiêng liêng” 216 phản chiếu chính nó trong Chhaya Loka, 217 Lớp Áo Đầu Tiên của Anupadaka (c).

(a) This tracing of “spiral lines” refers to the evolution of Man’s as well as of Nature’s Principles; an evolution which takes place gradually, as does everything else in Nature. The Sixth Principle in Man (Buddhi, the Divine Soul), though a mere breath, in our conceptions, is still something material when compared with Divine Spirit (Âtmâ), of which it is the carrier or vehicle. Fohat, in his capacity of Divine Love (Eros), the electric power of affinity and sympathy, is shown, allegorically, trying to bring the pure Spirit, the Ray inseparable from the One Absolute, into union with the Soul, the two constituting in Man the Monad, and in Nature the first link between the ever-unconditioned and the manifested. “The First is now the Second [World]”—of the Lipikas—has reference to the same.

(a) Việc vạch “những đường xoắn ốc” này ám chỉ sự tiến hoá của các Nguyên Khí nơi Con Người cũng như nơi Thiên nhiên; một cuộc tiến hoá diễn ra dần dần, như mọi sự khác trong Thiên nhiên. Nguyên Khí Thứ Sáu nơi Con Người, tức Buddhi, Linh Hồn Thiêng Liêng, dù chỉ là một hơi thở trong quan niệm của chúng ta, vẫn là một cái gì đó có tính vật chất khi so với Tinh thần Thiêng Liêng, tức Atma, mà nó là vật mang hay vận cụ. Fohat, trong chức năng là Bác Ái Thiêng Liêng, tức Eros, quyền năng điện của ái lực và cảm ứng tương thông, được trình bày theo lối ẩn dụ là đang cố gắng đưa Tinh thần thuần khiết, Tia không thể tách rời khỏi Đấng Tuyệt Đối Duy Nhất, vào sự hợp nhất với Linh hồn, hai điều ấy cấu thành nơi Con Người Chân thần, và trong Thiên nhiên là mắt xích đầu tiên giữa cái vĩnh viễn vô điều kiện và cái biểu hiện. “Cái Thứ Nhất nay là Cái Thứ Hai [Thế Giới]” — của các Lipika — có liên hệ đến cùng điều đó.

(b) The “Army” at each angle is the Host of Angelic Beings (Dhyân Chohans), appointed to guide and watch over each respective region, from the beginning to the end of a Manvantara. They are the “Mystic Watchers” of the Christian Kabalists and Alchemists, and relate, symbolically as well as cosmogonically, to the numerical system of the Universe. The numbers with which these Celestial Beings are connected, are extremely difficult to explain, as each number refers to several groups of distinct ideas, according to the particular group of “Angels” which it is intended to represent. Herein lies the nodus in the study of symbology, with which so many scholars, unable to untie it, have preferred dealing as Alexander dealt with the Gordian knot; hence erroneous conceptions and teachings, as a direct result.

(b) “Đạo Quân” ở mỗi góc là Đạo Quân của các Hữu Thể Thiên Thần, tức các Dhyani Chohan, được chỉ định để hướng dẫn và canh giữ từng vùng tương ứng, từ đầu đến cuối một Giai kỳ sinh hóa. Các Ngài là “Những Đấng Canh Giữ Thần Bí” của các nhà Kabbalah Cơ Đốc giáo và các nhà luyện kim, và liên hệ, về mặt biểu tượng cũng như vũ trụ khởi nguyên luận, đến hệ thống số học của Vũ trụ. Các con số mà những Hữu Thể Thiên Thượng này liên kết với cực kỳ khó giải thích, vì mỗi con số ám chỉ nhiều nhóm ý tưởng khác biệt, tùy theo nhóm “Thiên Thần” cụ thể mà nó được dự định biểu thị. Chính trong điều này có nút thắt trong việc nghiên cứu biểu tượng học, mà rất nhiều học giả, không thể tháo gỡ, đã thích xử lý như Alexander xử lý nút Gordian; do đó những quan niệm và giáo huấn sai lầm phát sinh như một kết quả trực tiếp.

(c) The “First is the Second,” because the “First” cannot really be numbered or regarded as such, for the First is the realm of noumena in its primary manifestation, the threshold to the World of Truth, or Sat, through which the direct energy that radiates from the One Reality—the Nameless Deity—reaches us. Here again, the untranslateable term Sat (Be-ness) is likely to lead to an erroneous conception, since that which is manifested cannot be Sat, but is something phenomenal, not everlasting, nor, in truth, even sempiternal. It is coeval and coexistent with the One Life, “Secondless,” but as a manifestation it is still a Mâyâ—like the rest. This “World of Truth,” in the words of the Commentary, can be described only as “a bright star dropped from the Heart of Eternity; the beacon of hope on whose Seven Rays hang the Seven Worlds of Being.” Truly so; since these are the Seven Lights whose reflections are the human immortal Monads—the Âtmâ, or the irradiating Spirit of every creature of the human family. First, this Septenary Light; then the “Divine World”—the countless lights lit at the primeval Light—the Buddhis, or formless Divine Souls, of the last Arûpa (Formless) World, the “Sum Total,” in the mysterious language of the old Stanza.

(c) “Cái Thứ Nhất là Cái Thứ Hai”, vì “Cái Thứ Nhất” thật ra không thể được đánh số hay được xem như thế, bởi Cái Thứ Nhất là cõi của các noumena trong sự biểu hiện nguyên thủy của nó, ngưỡng cửa dẫn vào Thế Giới Chân Lý, hay Sat, qua đó năng lượng trực tiếp tỏa ra từ Thực Tại Duy Nhất — Thượng đế Vô Danh — đến với chúng ta. Ở đây một lần nữa, thuật ngữ không thể dịch Sat, tức Hiện Hữu, có thể dẫn đến một quan niệm sai lầm, vì cái gì đã biểu hiện thì không thể là Sat, mà là một điều thuộc hiện tượng, không vĩnh tồn, và thật ra cũng không hằng cửu vô tận. Nó đồng thời và đồng hiện hữu với Sự Sống Duy Nhất, “không có cái thứ hai”, nhưng với tư cách một biểu hiện, nó vẫn là một Maya — như mọi thứ còn lại. “Thế Giới Chân Lý” này, theo lời Chú Giải, chỉ có thể được mô tả là “một ngôi sao sáng rơi xuống từ Trái Tim của Vĩnh Cửu; ngọn hải đăng của hy vọng, trên Bảy Tia của nó treo Bảy Thế Giới Bản Thể.” Quả thật như vậy; vì đây là Bảy Ánh Sáng mà các phản chiếu của chúng là những Chân thần bất tử của con người — Atma, hay Tinh thần chiếu rạng của mọi sinh linh trong gia đình nhân loại. Trước hết là Ánh Sáng Thất Phân này; rồi đến “Thế Giới Thiêng Liêng” — vô số ánh sáng được thắp lên từ Ánh Sáng nguyên sơ — các Buddhi, hay các Linh Hồn Thiêng Liêng vô hình tướng, của Thế Giới Arupa, tức Vô Hình Tướng, cuối cùng, “Tổng Số”, theo ngôn ngữ huyền nhiệm của Bài Kệ cổ.

In the Catechism, the Master is made to ask the pupil: “Lift thy head, O Lanoo; dost thou see one, or countless lights above thee, burning in the dark midnight sky?”

Trong Giáo Lý Vấn Đáp, Chân sư được trình bày là hỏi người học trò: “Hãy ngẩng đầu lên, hỡi Lanoo; ngươi thấy một ánh sáng, hay vô số ánh sáng trên đầu ngươi, đang cháy trong bầu trời nửa đêm tối đen?”

“I sense one Flame, O Gurudeva, I see countless undetached sparks shining in it.”

“Con cảm nhận một Ngọn Lửa, hỡi Gurudeva, con thấy vô số tia lửa không tách rời đang chiếu sáng trong đó.”

“Thou sayest well. And now look around and into thyself. That light which burns inside thee, dost thou feel it different in anywise from the light that shines in thy brother-men?”

“Ngươi nói đúng. Và nay hãy nhìn quanh và vào trong chính mình. Ánh sáng đang cháy trong ngươi, ngươi có cảm thấy nó khác chút nào với ánh sáng đang chiếu trong những người huynh đệ đồng loại của ngươi không?”

“It is in no way different, though the prisoner is held in bondage by Karma, and though its outer garments delude the ignorant into saying, ‘Thy Soul and My Soul’.”

“Nó không khác chút nào, dù tù nhân bị Nghiệp quả giam giữ trong xiềng xích, và dù các lớp áo bên ngoài của nó làm kẻ vô minh lầm tưởng mà nói: ‘Linh Hồn của ngươi và Linh Hồn của ta’.”

The radical unity of the ultimate essence of each constituent part of compounds in Nature—from star to mineral atom, from the highest Dhyân Chohan to the smallest infusorium, in the fullest acceptation of the term, and whether applied to the spiritual, intellectual, or physical worlds—this unity is the one fundamental law in Occult Science. “The Deity is boundless and infinite expansion,” says an Occult axiom: hence, the name of Brahmâ, as previously remarked. 218

Sự thống nhất căn bản của tinh chất tối hậu nơi mỗi phần cấu thành của các hợp thể trong Thiên nhiên — từ ngôi sao đến nguyên tử khoáng vật, từ Dhyani Chohan cao nhất đến vi sinh vật nhỏ nhất, theo nghĩa đầy đủ nhất của thuật ngữ, và dù áp dụng cho các thế giới tinh thần, trí tuệ hay hồng trần — sự thống nhất này là định luật nền tảng duy nhất trong Khoa Học Huyền Bí. “Thượng đế là sự mở rộng vô biên và vô hạn”, một tiên đề Huyền bí nói như vậy: do đó có danh xưng Brahma, như đã nhận xét trước đây. 218

There is a deep philosophy underlying the earliest worship in the world, the worship of the Sun and of Fire. Of all the Elements known to Physical Science, Fire is that which has ever eluded definite analysis. It is confidently asserted that air is a mixture containing the gases oxygen and nitrogen. We view the Universe and the Earth as matter composed of definite chemical molecules. We speak of the primitive ten earths, endowing each with a Greek or Latin name. We say that water is, chemically, a compound of oxygen and hydrogen. But what is Fire? It is the effect of combustion, we are gravely answered. It is heat and light and motion, and a correlation of physical and chemical forces in general. And this scientific definition is philosophically supplemented by a theological one in Webster’s Dictionary, which explains fire as “the instrument of punishment, or the punishment of the impenitent in another state”—the “state,” by the bye, being supposed to be spiritual; but, alas! the presence of fire would seem to be a convincing proof of its material nature. Yet, speaking of the illusion of regarding phenomena as simple, because they are familiar, Professor Bain says:

Có một triết học sâu xa nằm bên dưới sự thờ phụng sớm nhất trên thế giới, sự thờ phụng Mặt Trời và Lửa. Trong tất cả các Nguyên tố mà Khoa học Vật lý biết đến, Lửa là thứ luôn tránh khỏi sự phân tích xác định. Người ta khẳng định một cách tự tin rằng không khí là một hỗn hợp chứa các khí oxy và nitơ. Chúng ta xem Vũ trụ và Trái Đất là vật chất cấu thành từ những phân tử hóa học xác định. Chúng ta nói về mười đất nguyên thủy, ban cho mỗi thứ một tên Hy Lạp hay La-tinh. Chúng ta nói rằng nước, về mặt hóa học, là một hợp chất của oxy và hydro. Nhưng Lửa là gì? Chúng ta được trả lời một cách nghiêm trang rằng nó là hiệu quả của sự cháy. Nó là nhiệt, ánh sáng và chuyển động, và là sự tương quan của các mãnh lực vật lý và hóa học nói chung. Và định nghĩa khoa học này được bổ sung về mặt triết học bằng một định nghĩa thần học trong Từ điển Webster, giải thích lửa là “công cụ trừng phạt, hay sự trừng phạt kẻ không ăn năn trong một trạng thái khác” — mà “trạng thái” ấy, nhân tiện nói, được cho là tinh thần; nhưng, than ôi! sự hiện diện của lửa dường như là bằng chứng thuyết phục về bản chất vật chất của nó. Tuy nhiên, khi nói về ảo tưởng xem các hiện tượng là đơn giản vì chúng quen thuộc, Giáo sư Bain nói:

Very familiar facts seem to stand in no need of explanation themselves and to be the means of explaining whatever can be assimilated to them. Thus, the boiling and evaporation of a liquid is supposed to be a very simple phenomenon requiring no explanation, and a satisfactory explanation of rarer phenomena. That water should dry up is, to the uninstructed mind, a thing wholly intelligible: whereas to the man acquainted with physical science the liquid state is anomalous and inexplicable. The lighting of a fire by a flame is a great scientific difficulty, yet few people think so. 219

Những sự kiện rất quen thuộc dường như tự chúng không cần giải thích, và trở thành phương tiện để giải thích bất cứ điều gì có thể được đồng hóa với chúng. Vì vậy, sự sôi và bay hơi của một chất lỏng được cho là một hiện tượng rất đơn giản, không cần giải thích, và là một lời giải thích thỏa đáng cho các hiện tượng hiếm hơn. Việc nước khô đi, đối với trí tuệ chưa được giáo dục, là một điều hoàn toàn dễ hiểu: trong khi đối với người quen thuộc với khoa học vật lý, trạng thái lỏng là bất thường và không thể giải thích. Việc thắp một ngọn lửa bằng một ngọn lửa là một khó khăn khoa học lớn, tuy vậy ít người nghĩ như thế. 219

What says the Esoteric teaching with regard to Fire? “Fire is the most perfect and unadulterated reflection, in Heaven as on Earth, of the One Flame. It is Life and Death, the origin and the end of every material thing. It is divine Substance.” Thus, not only the Fire-Worshipper, the Parsi, but even the wandering savage tribes of America, which proclaim themselves “born of fire,” show more science in their creeds and truth in their superstitions, than all the speculations of modern physics and learning. The Christian who says, “God is a living Fire,” and speaks of the Pentecostal “Tongues of Fire” and of the “Burning Bush” of Moses, is as much a fire-worshipper as any other “Heathen.” Among the Mystics and Kabalists, the Rosicrucians were those who defined Fire in the most correct way. Procure a sixpenny lamp, keep it only supplied with oil, and you will be able to light at its flame the lamps, candles, and fires of the whole globe without diminishing that flame. If the Deity, the radical One, is an eternal and infinite Substance never consumed (“the Lord thy God is a consuming fire”), then it does not seem reasonable that the Occult teaching should be held as unphilosophical when it says: “Thus were formed the Arûpa and Rûpa [Worlds]: from One Light Seven Lights; from each of the Seven, seven times Seven” etc., etc.

Giáo huấn Nội môn nói gì về Lửa? “Lửa là phản ánh hoàn hảo và tinh thuần nhất, trên Trời cũng như dưới Đất, của Ngọn Lửa Duy Nhất. Nó là Sự Sống và Sự Chết, là khởi nguyên và chung cục của mọi sự vật vật chất. Nó là Chất liệu thiêng liêng.” Vì thế, không chỉ người thờ Lửa, người Parsi, mà ngay cả các bộ lạc man dã du mục ở châu Mỹ, những kẻ tự tuyên bố mình “sinh ra từ lửa”, cũng biểu lộ nhiều khoa học hơn trong tín điều của họ và nhiều chân lý hơn trong các mê tín của họ, so với tất cả những suy luận của vật lý học và học thuật hiện đại. Người Kitô hữu nói rằng “Thượng đế là một Ngọn Lửa sống”, và nói về “Những Lưỡi Lửa” trong lễ Ngũ Tuần cùng “Bụi Gai Cháy” của Moses, cũng là một người thờ lửa chẳng khác gì bất cứ “người ngoại đạo” nào khác. Trong số các nhà thần bí và các nhà Kabalist, những người Rosicrucian là những người định nghĩa Lửa một cách đúng đắn nhất. Hãy kiếm một ngọn đèn rẻ tiền, chỉ cần giữ cho nó được cung cấp dầu, và các bạn sẽ có thể thắp từ ngọn lửa của nó các ngọn đèn, nến và lửa của toàn cầu mà không làm suy giảm ngọn lửa ấy. Nếu Thượng đế, Đấng Duy Nhất căn nguyên, là một Chất liệu vĩnh cửu và vô hạn, không bao giờ bị tiêu hao (“Chúa là Thượng đế của ngươi là một ngọn lửa thiêu đốt”), thì dường như không hợp lý khi cho rằng giáo huấn Huyền bí là phi triết học khi nó nói: “Như vậy đã hình thành các Thế giới Arupa và Rupa: từ Một Ánh sáng, Bảy Ánh sáng; từ mỗi Ánh sáng trong Bảy, bảy lần Bảy”, v.v., v.v.

5. Fohat takes five strides 220 (a), and builds a winged wheel at each corner of the square for the Four Holy Ones… and their Armies 221 (b).

5. Fohat bước năm bước dài 220 (a), và dựng một bánh xe có cánh ở mỗi góc của hình vuông cho Bốn Đấng Thánh… và các Đạo quân của các Ngài 221 (b).

(a) The “Strides,” as already explained in the last Commentary, refer to both the cosmic and the human Principles—the latter of which consist, in the exoteric division, of three (Spirit, Soul and Body), and, in the esoteric calculation, of seven Principles—three Rays of the Essence and four Aspects. 222 Those who have studied Mr. Sinnett’s Esoteric Buddhism will easily grasp the nomenclature. There are two Esoteric schools beyond the Himâlayas, or rather one school, divided into two sections—one for the inner Lanoos, the other for the outer or semi-lay Chelâs; the first teaching a septenary, the other a six-fold division of the human Principles.

(a) Như đã giải thích trong phần Bình giảng trước, “Những Bước Dài” chỉ cả các Nguyên khí vũ trụ lẫn các Nguyên khí nhân loại—những nguyên khí sau, theo phân chia ngoại môn, gồm ba phần: Tinh thần, Linh hồn và Thể; còn theo tính toán nội môn, gồm bảy Nguyên khí—ba Cung của Tinh chất và bốn Phương diện. 222 Những ai đã nghiên cứu Phật giáo Nội môn của ông Sinnett sẽ dễ dàng nắm bắt hệ danh xưng này. Có hai trường Nội môn bên kia dãy Himalaya, hay đúng hơn là một trường được chia thành hai phân bộ—một dành cho các Lanoo nội môn, phân bộ kia dành cho các chela ngoại môn hay bán cư sĩ; phân bộ thứ nhất giảng dạy sự phân chia thất phân, phân bộ kia giảng dạy sự phân chia lục phân các Nguyên khí của con người.

From a cosmic point of view, Fohat taking “Five Strides” refers here to the five upper planes of Consciousness and Being, the sixth and the seventh (counting downwards) being the astral and the terrestrial, or the two lower planes.

Theo quan điểm vũ trụ, việc Fohat bước “Năm Bước Dài” ở đây chỉ năm cõi cao của Tâm thức và Bản Thể; cõi thứ sáu và thứ bảy, tính từ trên xuống, là cõi cảm dục và cõi trần thế, tức hai cõi thấp.

(b) Four “Winged Wheels at each corner… for the Four Holy Ones and their Armies (Hosts).” These are the “Four Mahârâjahs,” or great Kings, of the Dhyân Chohans, the Devas, who preside each over one of the four cardinal points. They are the Regents, or Angels, who rule over the Cosmical Forces of North, South, East and West, Forces having each a distinct Occult property. These Beings are also connected with Karma, as the latter needs physical and material agents to carry out its decrees, such as the four kinds of winds, for instance, professedly admitted by Science to have their respective evil and beneficent influences upon the health of mankind and every living thing. There is Occult philosophy in the Roman Catholic doctrine which traces the various public calamities, such as epidemics of disease, and wars, and so on, to the invisible “Messengers” from North and West. “The glory of God comes from the way of the East,” says Ezekiel; while Jeremiah, Isaiah, and the Psalmist assure their readers that all the evil under the Sun comes from the North and the West—which, when applied to the Jewish nation, sounds like an undeniable prophecy. And this accounts also for St. Ambrose 223 declaring that it is precisely for this reason that “we curse the North Wind, and that during the ceremony of baptism we begin by turning towards the West [Sidereal], to renounce the better him who inhabits it; after which we turn to the East.”

(b) Bốn “Bánh Xe Có Cánh ở mỗi góc… cho Bốn Đấng Thánh và các Đạo quân của các Ngài.” Đây là “Bốn Maharaja”, hay các Đại Vương, thuộc các Dhyani Chohan, các Deva, mỗi vị chủ trì một trong bốn phương chính. Các Ngài là những Đấng Nhiếp Chính, hay các Thiên Thần, cai quản các Mãnh lực Vũ trụ của Bắc, Nam, Đông và Tây, những Mãnh lực mà mỗi mãnh lực đều có một thuộc tính Huyền bí riêng biệt. Các Hữu Thể này cũng liên hệ với nghiệp quả, vì nghiệp quả cần những tác nhân hồng trần và vật chất để thi hành các sắc lệnh của nó, chẳng hạn như bốn loại gió, vốn được Khoa học công khai thừa nhận là có những ảnh hưởng xấu và tốt tương ứng đối với sức khỏe của nhân loại và mọi sinh vật. Có triết học Huyền bí trong giáo lý Công giáo La Mã khi giáo lý ấy truy nguyên các tai họa công cộng khác nhau, như các trận dịch bệnh, chiến tranh, v.v., về các “Sứ Giả” vô hình từ phương Bắc và phương Tây. “Vinh quang của Thượng đế đến từ con đường phương Đông”, Ezekiel nói; trong khi Jeremiah, Isaiah và tác giả Thánh vịnh đều bảo đảm với độc giả của họ rằng mọi điều ác dưới Mặt Trời đến từ phương Bắc và phương Tây—điều này, khi áp dụng cho dân tộc Do Thái, nghe như một lời tiên tri không thể phủ nhận. Và điều này cũng giải thích việc Thánh Ambrose 223 tuyên bố rằng chính vì lý do này mà “chúng ta nguyền rủa Gió Bắc, và trong nghi thức rửa tội, chúng ta bắt đầu bằng cách quay về phương Tây tinh tú, để càng dứt khoát từ bỏ kẻ cư ngụ nơi đó; sau đó chúng ta quay về phương Đông.”

Belief in the Four Mahârâjahs—the Regents of the four cardinal points—was universal and is now that of Christians, who call them, after St. Augustine, “Angelic Virtues” and “Spirits,” when enumerated by themselves, and “Devils,” when named by Pagans. But where is the difference between the Pagans and the Christians in this case? Says the scholarly Vossius: Though St. Augustine has said that every visible thing in this world had an angelic virtue as an overseer near it, it is not individuals but entire species of things that must be understood, each such species having indeed its particular angel to watch it. He is at one in this with all the philosophers… For us these angels are spirits separated from the objects…. whereas for the [Pagan] philosophers they were gods. 224

Niềm tin vào Bốn Maharaja—các Đấng Nhiếp Chính của bốn phương chính—từng phổ quát và hiện nay cũng là niềm tin của các Kitô hữu, những người gọi các Ngài, theo Thánh Augustine, là “Các Quyền Năng Thiên Thần” và “Các Tinh Thần” khi liệt kê riêng các Ngài, và là “Quỷ” khi các Ngài được những người ngoại giáo gọi tên. Nhưng trong trường hợp này, sự khác biệt giữa người ngoại giáo và người Kitô hữu ở đâu? Học giả Vossius nói: Dù Thánh Augustine đã nói rằng mọi vật hữu hình trong thế giới này đều có một quyền năng thiên thần làm giám quản gần bên, nhưng không nên hiểu là từng cá thể riêng lẻ, mà là toàn bộ các loài sự vật, mỗi loài như thế quả thật có thiên thần riêng trông coi. Về điểm này, ông đồng quan điểm với tất cả các triết gia… Đối với chúng ta, các thiên thần này là những tinh thần tách rời khỏi các đối tượng…. trong khi đối với các triết gia ngoại giáo, các Ngài là các thần. 224

Considering the Ritual for the “Spirits of the Stars,” established by the Roman Catholic Church, these look suspiciously like “gods,” but they were no more honoured or worshipped by the ancient, nor are they by the modern, Pagan rabble than they are now at Rome by the highly cultured Catholic Christians.

Xét đến Nghi thức dành cho “Các Tinh Thần của các Vì Sao” do Giáo hội Công giáo La Mã thiết lập, các vị này trông đáng ngờ như “các thần”, nhưng các vị ấy không được đám đông ngoại giáo thời cổ tôn vinh hay thờ phụng nhiều hơn, cũng không được đám đông ngoại giáo hiện đại tôn vinh hay thờ phụng nhiều hơn, so với hiện nay tại Rome bởi các Kitô hữu Công giáo có văn hóa cao.

Following Plato, Aristotle explained that the term στοιχεῖα was understood only as meaning the incorporeal principles placed at each of the four great divisions of our cosmical world, to supervise them. Thus, no more than Christians do Pagans adore and worship the Elements and the (imaginary) cardinal points, but the “gods” that respectively rule over them. For the Church, there are two kinds of Sidereal Beings, Angels and Devils. For the Kabalist and Occultist, there is but one class, and neither Occultist nor Kabalist makes any difference between the “Rectors of Light” and the “Rectores Tenebrarum,” or Cosmocratores, whom the Roman Church imagines and discovers in the “Rectors of Light,” as soon as any one of them is called by another name than the one she addresses him by. It is not the Rector, or Mahârâjah, who punishes or rewards, with or without “God’s” permission or order, but man himself—his deeds, or Karma, attracting individually and collectively (as in the case of whole nations, sometimes) every kind of evil and calamity. We produce Causes, and these awaken the corresponding powers in the Sidereal World, which are magnetically and irresistibly attracted to—and react upon—those who produce such causes; whether such persons are practically the evil-doers, or simply “thinkers” who brood mischief. For thought is matter, we are taught by Modern Science; and “every particle of the existing matter must be a register of all that has happened,” as Messrs. Jevons and Babbage in their Principles of Science tell the profane. Modern Science is every day drawn more into the maelstrom of Occultism; unconsciously, no doubt, still very sensibly.

Theo Plato, Aristotle giải thích rằng thuật ngữ chỉ các nguyên tố chỉ được hiểu theo nghĩa là các nguyên khí vô hình thể được đặt tại mỗi một trong bốn phân khu lớn của thế giới vũ trụ chúng ta, để giám sát chúng. Vì thế, người ngoại giáo cũng không hơn gì Kitô hữu trong việc tôn thờphụng thờ các Nguyên tố và các phương chính tưởng tượng, mà là các “thần” lần lượt cai quản chúng. Đối với Giáo hội, có hai loại Hữu Thể Tinh Tú: Thiên Thần và Quỷ. Đối với nhà Kabalist và nhà huyền bí học, chỉ có một lớp duy nhất; và cả nhà huyền bí học lẫn nhà Kabalist đều không phân biệt giữa “Các Đấng Cai Quản Ánh Sáng” và “Các Đấng Cai Quản Bóng Tối”, hay các Cosmocrator, mà Giáo hội La Mã tưởng tượng và phát hiện trong “Các Đấng Cai Quản Ánh Sáng”, ngay khi bất cứ vị nào trong số các Ngài được gọi bằng một danh xưng khác với danh xưng mà Giáo hội dùng để xưng hô với vị ấy. Không phải Đấng Cai Quản, hay Maharaja, trừng phạt hay ban thưởng, có hoặc không có sự cho phép hay mệnh lệnh của “Thượng đế”, mà là chính con người—các hành vi của y, hay nghiệp quả, thu hút, trên phương diện cá nhân và tập thể, như đôi khi trong trường hợp toàn thể các quốc gia, mọi loại điều ác và tai họa. Chúng ta tạo ra Nhân, và các Nhân này đánh thức những quyền năng tương ứng trong Thế giới Tinh Tú, những quyền năng ấy bị thu hút một cách từ tính và không thể cưỡng lại đến với—và tác động trở lại lên—những ai tạo ra các nhân như thế; dù những người ấy thực tế là kẻ làm điều ác, hay chỉ đơn giản là “những người tư tưởng” ấp ủ điều tai hại. Bởi tư tưởng là vật chất, như Khoa học Hiện đại dạy chúng ta; và “mọi hạt của vật chất hiện tồn hẳn phải là một bản ghi của tất cả những gì đã xảy ra”, như các ông Jevons và Babbage nói với người phàm tục trong Những Nguyên lý của Khoa học. Mỗi ngày, Khoa học Hiện đại càng bị cuốn sâu hơn vào vòng xoáy của Huyền bí học; chắc chắn là một cách vô thức, nhưng vẫn rất rõ rệt.

“Thought is matter”: not of course, however, in the sense of the German Materialist Moleschott, who assures us that “thought is the movement of matter”—a statement of almost unparalleled absurdity. Mental states and bodily states are utterly contrasted as such. But that does not affect the position that every thought, in addition to its physical accompaniment (brain-change), exhibits an objective—though to us supersensuously objective—aspect on the astral plane. 225

“Tư tưởng là vật chất”: tuy nhiên, dĩ nhiên không phải theo nghĩa của nhà Duy vật Đức Moleschott, người quả quyết với chúng ta rằng “tư tưởng là sự vận động của vật chất”—một phát biểu gần như phi lý vô song. Các trạng thái trí tuệ và các trạng thái thân thể, xét như vậy, hoàn toàn tương phản với nhau. Nhưng điều đó không ảnh hưởng đến lập trường rằng mọi tư tưởng, ngoài phần đi kèm hồng trần của nó, tức sự biến đổi trong bộ não, còn biểu lộ một phương diện khách quan—dù đối với chúng ta là khách quan siêu giác quan—trên cõi cảm dục. 225

The two main theories of Science as to the relations between Mind and Matter are Monism and Materialism. These two cover the whole ground of negative psychology with the exception of the quasi-occult views of the German Pantheistic schools.

Hai lý thuyết chính của Khoa học về các quan hệ giữa Trí Tuệ và Vật Chất là Nhất nguyên luận và Duy vật luận. Hai thuyết này bao quát toàn bộ lĩnh vực của tâm lý học phủ định, ngoại trừ các quan điểm gần như huyền bí của những trường phái Phiếm thần luận Đức.

The views of our present-day scientific thinkers as to the relations between mind and matter may be reduced to the following two hypotheses. These show that both views equally exclude the possibility of an independent soul, distinct from the physical brain through which it functions. They are: (1.) Materialism, the theory which regards mental phenomena as the product of molecular change in the brain; i.e., as the outcome of a transformation of motion into feeling (!). The cruder school once went so far as to identify mind with a “peculiar mode of motion” (!!), but this view is now happily regarded as absurd by most of the men of Science themselves.

Các quan điểm của những nhà tư tưởng khoa học hiện nay về các quan hệ giữa trí tuệ và vật chất có thể quy về hai giả thuyết sau đây. Chúng cho thấy cả hai quan điểm đều loại trừ khả năng có một linh hồn độc lập, khác biệt với bộ não hồng trần mà qua đó nó hoạt động. Đó là: (1.) Duy vật luận, thuyết xem các hiện tượng trí tuệ là sản phẩm của sự biến đổi phân tử trong bộ não; tức là kết quả của một sự chuyển đổi vận động thành cảm giác (!). Trường phái thô thiển hơn từng đi xa đến mức đồng nhất trí tuệ với một “phương thức vận động đặc biệt” (!!), nhưng may thay, hiện nay quan điểm này bị đa số chính các nhà Khoa học xem là phi lý.

(2.) Monism, or the Single Substance doctrine, is the more subtle form of negative psychology, which one of its advocates, Professor Bain, ably terms “guarded materialism.” This doctrine, which commands a very wide assent, counting among its upholders such men as Lewes, Spencer, Ferrier, and others, while positing thought and mental phenomena generally as radically contrasted with matter, regards them as the two sides, or aspects, of one and the same substance in some of its conditions. Thought as thought, they say, is utterly contrasted with material phenomena, but it must be also regarded as only “the subjective side of nervous motion”—whatever our learned men may mean by this.

(2.) Nhất nguyên luận, hay giáo lý về Chất liệu Duy Nhất, là hình thức tinh vi hơn của tâm lý học phủ định, được một trong những người bênh vực nó, Giáo sư Bain, gọi rất khéo là “duy vật luận thận trọng.” Giáo lý này nhận được sự tán đồng rất rộng rãi, kể trong số những người ủng hộ nó có các nhân vật như Lewes, Spencer, Ferrier và những người khác; trong khi đặt tư tưởng và các hiện tượng trí tuệ nói chung như hoàn toàn tương phản tận gốc với vật chất, nó xem chúng là hai mặt, hay hai phương diện, của cùng một chất liệu duy nhất trong một số trạng thái của chất liệu ấy. Họ nói rằng tư tưởng, xét như tư tưởng, hoàn toàn tương phản với các hiện tượng vật chất, nhưng nó cũng phải được xem chỉ là “mặt chủ quan của vận động thần kinh”—dù các bậc học giả của chúng ta muốn nói gì bằng câu ấy.

To return to the commentary on the Four Mahârâjahs, however, in the Egyptian temples, according to Clemens Alexandrinus, an immense curtain separated the tabernacle from the place for the congregation. The Jews had the same. In both, the curtain was drawn over five pillars (the Pentacle), symbolizing our five senses and five Root Races esoterically, while the four colours of the curtain represented the four cardinal points and the four terrestrial elements. The whole was an allegorical symbol. It is through the four high Rulers over the four points and elements that our five senses may become cognizant of the hidden truths of Nature; and not at all, as Clemens would have it, that it is the elements per se that furnished the Pagans with Divine Knowledge or the Knowledge of God. 226 While the Egyptian emblem was spiritual, that of the Jews was purely materialistic, and, indeed, honoured only the blind elements and the imaginary “points.” For what was the meaning of the square Tabernacle raised by Moses in the wilderness, if it had not the same cosmical significance? “Thou shalt make an hanging… of blue, purple, and scarlet… five pillars of shittim wood for the hanging… four brazen rings in the four corners thereof… boards of fine wood for the four sides, North, South, West, and East… of the Tabernacle… with Cherubims of cunning work.” 227 The Tabernacle and the square courtyard, Cherubim and all, were precisely the same as those in the Egyptian temples. The square form of the Tabernacle meant just the same thing as it still means, to this day, in the exoteric worship of the Chinese and Tibetans—the four cardinal points signifying that which the four sides of the pyramids, obelisks, and other such square erections mean. Josephus takes care to explain the whole thing. He declares that the Tabernacle pillars were the same as those raised at Tyre to the four elements, which were placed on pedestals whose four angles faced the four cardinal points; adding that “the angles of the pedestals had the four figures of the Zodiac” on them, which represented the same orientation. 228

Tuy nhiên, để trở lại phần bình giảng về Bốn Maharaja, theo Clemens Alexandrinus, trong các đền thờ Ai Cập, một bức màn khổng lồ ngăn cách nơi tôn nghiêm với chỗ dành cho hội chúng. Người Do Thái cũng có điều tương tự. Ở cả hai nơi, bức màn được kéo trên năm cột trụ, tức Ngũ giác tinh, tượng trưng một cách huyền bí cho năm giác quan của chúng ta và năm Giống dân Gốc, trong khi bốn màu của bức màn biểu thị bốn phương chính và bốn nguyên tố trần thế. Toàn thể là một biểu tượng ngụ ngôn. Chính qua bốn Đấng Cai Quản cao cả trên bốn phương và các nguyên tố mà năm giác quan của chúng ta có thể nhận biết những chân lý ẩn tàng của Thiên nhiên; hoàn toàn không phải, như Clemens muốn nói, rằng chính các nguyên tố tự chúng đã cung cấp cho người ngoại giáo Tri Thức Thiêng Liêng hay Tri Thức về Thượng đế. 226 Trong khi biểu tượng Ai Cập mang tính tinh thần, biểu tượng của người Do Thái thuần túy duy vật, và quả thật chỉ tôn vinh các nguyên tố mù quáng cùng những “phương” tưởng tượng. Vì nếu không mang cùng thâm nghĩa vũ trụ ấy, thì Lều Tạm hình vuông do Moses dựng lên trong hoang địa có ý nghĩa gì? “Ngươi hãy làm một bức màn… bằng xanh lam, tím và đỏ tươi… năm cột gỗ shittim cho bức màn… bốn vòng đồng ở bốn góc của nó… các tấm ván bằng gỗ tốt cho bốn phía, Bắc, Nam, Tây và Đông… của Lều Tạm… với các Cherubim được chế tác tinh xảo.” 227 Lều Tạm và sân vuông, cùng Cherubim và tất cả, chính xác giống như trong các đền thờ Ai Cập. Hình vuông của Lều Tạm có ý nghĩa đúng như nó vẫn còn mang cho đến ngày nay trong sự thờ phượng ngoại môn của người Trung Hoa và Tây Tạng—bốn phương chính biểu thị điều mà bốn mặt của các kim tự tháp, tháp thạch trụ và những công trình hình vuông tương tự có nghĩa. Josephus cẩn thận giải thích toàn bộ điều này. Ông tuyên bố rằng các cột trụ của Lều Tạm giống như những cột được dựng ở Tyre cho bốn nguyên tố, được đặt trên các bệ mà bốn góc hướng về bốn phương chính; ông nói thêm rằng “các góc của những bệ ấy có bốn hình của Hoàng đạo” trên đó, biểu thị cùng một sự định hướng. 228

The idea may be traced in the Zoroastrian caves, in the rock-cut temples of India, and in all the sacred square buildings of antiquity that have survived to this day. This is shown definitely by Layard, who finds the four cardinal points, and the four primitive elements, in the religion of every country, under the shape of square obelisks, the four sides of the pyramids, etc., etc. Of these elements and their points the Four Mahârâjahs were the regents and directors.

Ý tưởng này có thể được truy nguyên trong các hang động Zoroaster, trong các đền thờ đục vào đá ở Ấn Độ, và trong mọi công trình thiêng liêng hình vuông của thời cổ còn tồn tại đến ngày nay. Điều này được Layard chứng minh rõ ràng, khi ông tìm thấy bốn phương chính và bốn nguyên tố nguyên thủy trong tôn giáo của mọi xứ sở, dưới hình thức các tháp thạch trụ vuông, bốn mặt của các kim tự tháp, v.v., v.v. Bốn Maharaja là các Đấng Nhiếp Chính và Chỉ Đạo của những nguyên tố này và các phương của chúng.

If the student would know more of them, he has but to compare the Vision of Ezekiel (ch. i.) with what is known of Chinese Buddhism, even in its exoteric teachings, and examine the outward shape of these “Great Kings of the Devas.” In the opinion of the Rev. Joseph Edkins, “they preside each over one of the four continents into which the Hindûs divide the world…. Each leads an army of spiritual beings to protect mankind and Buddhism.” 229 With the exception of favouritism towards Buddhism, the four Celestial Beings are precisely this. The Hindûs, however, happen to divide the world into seven continents, exoterically as well as esoterically; and their four Cosmic Devas are eight, presiding over the eight points of the compass and not over the continents.

Nếu đạo sinh muốn biết thêm về các Ngài, y chỉ cần so sánh Linh ảnh của Ezekiel, chương một, với những gì được biết về Phật giáo Trung Hoa, ngay cả trong các giáo huấn ngoại môn của nó, và khảo sát hình dạng bên ngoài của các “Đại Vương của các Deva” này. Theo ý kiến của Mục sư Joseph Edkins, “mỗi vị chủ trì một trong bốn lục địa mà người Hindu dùng để phân chia thế giới…. Mỗi vị dẫn đầu một đạo quân các hữu thể tinh thần để bảo vệ nhân loại và Phật giáo.” 229 Ngoại trừ sự thiên vị đối với Phật giáo, bốn Hữu Thể Thiên Thượng chính xác là như vậy. Tuy nhiên, người Hindu lại phân chia thế giới thành bảy lục địa, cả ngoại môn lẫn nội môn; và bốn Deva Vũ trụ của họ là tám, chủ trì tám hướng của la bàn chứ không phải các lục địa.

The “Four” are the protectors of mankind and also the agents of Karma on Earth, whereas the Lipika are concerned with Humanity’s hereafter. At the same time they are the four living creatures, “who have the likeness of a man,” of Ezekiel’s vision, called by the translators of the Bible, “Cherubim,” “Seraphim,” etc.; by the Occultists, “Winged Globes,” “Fiery Wheels”; and in the Hindû Pantheon, by a number of different names. All these Gandharvas, the “Sweet Songsters,” the Asuras, Kinnaras, and Nâgas, are the allegorical descriptions of the Four Mahârâjahs. The Seraphim are the fiery Serpents of Heaven which we find in a passage, describing Mount Meru as “the exalted mass of glory, the venerable haunt of gods and heavenly choristers… not to be reached by sinful men… because guarded by Serpents.” They are called the Avengers, and the “Winged Wheels.”

“Bốn Vị” là các Đấng bảo hộ nhân loại và cũng là các tác nhân của nghiệp quả trên Trái Đất, trong khi các Lipika liên quan đến đời sau của Nhân loại. Đồng thời, các Ngài là bốn sinh vật sống, “có hình dạng như người”, trong linh ảnh của Ezekiel, được các dịch giả Kinh Thánh gọi là “Cherubim”, “Seraphim”, v.v.; được các nhà huyền bí học gọi là “Các Bầu Có Cánh”, “Các Bánh Xe Lửa”; và trong đền thần Hindu, bằng nhiều danh xưng khác nhau. Tất cả các Gandharva này, những “Ca Sĩ Ngọt Ngào”, các Asura, Kinnara và Naga, đều là những mô tả ngụ ngôn về Bốn Maharaja. Các Seraphim là những Rắn Lửa của Trời mà chúng ta thấy trong một đoạn văn mô tả Núi Meru là “khối vinh quang cao cả, nơi cư ngụ đáng tôn kính của các thần và các ca đoàn thiên giới… người tội lỗi không thể đạt đến… vì được các Rắn canh giữ.” Các Ngài được gọi là các Đấng Báo Oán và “Các Bánh Xe Có Cánh.”

Their mission and character being explained, let us see what the Christian bible-interpreters say of the Cherubim. “The word signifies in Hebrew, fulness of knowledge; these angels are so called from their exquisite Knowledge, and were therefore used for the punishment of men who affected divine Knowledge.” (Interpreted by Cruden in his Concordance, from Genesis iii. 24.) Very well; and vague as the information is, it shows that the Cherub placed at the gate of the Garden of Eden, after the “Fall,” suggested to the venerable interpreters the idea of punishment connected with forbidden Science or divine Knowledge—one that generally leads to another “Fall,” that of the gods or “God,” in man’s estimation. But as the good old Cruden knew nought of Karma, he may be forgiven. Yet the allegory is suggestive. From Meru, the abode of gods, to Eden, the distance is very small, and from the Hindû Serpents to the Ophite Cherubim, the third out of the seven of which was the Dragon, the separation is still smaller, for both watched the entrance to the realm of Secret Knowledge. Ezekiel, moreover, plainly describes the four Cosmic Angels: I looked, and, behold, a whirlwind,… a… cloud and a fire infolding it… also out of the midst thereof came the likeness of four living creatures… they had the likeness of a man. And every one had four faces and… four wings… the face of a man, 230 and the face of a lion… the face of an ox, and… the face of an eagle…. Now as I beheld the living creatures, behold one wheel upon the Earth… with his four faces… as it were a wheel in the middle of a wheel… for the spirit of the living creature was in the wheel. 231

Khi sứ mệnh và tính chất của các Ngài đã được giải thích, chúng ta hãy xem những nhà giải thích Kinh Thánh Kitô giáo nói gì về Cherubim. “Từ này trong tiếng Hebrew có nghĩa là sự viên mãn của tri thức; các thiên thần này được gọi như vậy do Tri Thức tinh tế của các vị, và vì thế được dùng để trừng phạt những người muốn chiếm đoạt Tri Thức thiêng liêng.” Cruden giải thích như vậy trong Sách Đối Chiếu của ông, từ Sáng Thế Ký ba, hai mươi bốn. Rất hay; và dù thông tin ấy mơ hồ, nó cho thấy rằng Cherub được đặt tại cổng Vườn Eden sau “Sự Sa Ngã” đã gợi cho các nhà giải thích đáng kính ý tưởng về sự trừng phạt liên quan đến Khoa Học bị cấm hay Tri Thức thiêng liêng—một điều thường dẫn đến một “Sự Sa Ngã” khác, tức sự sa ngã của các thần hay của “Thượng đế” trong sự đánh giá của con người. Nhưng vì Cruden già đáng kính không biết gì về nghiệp quả, nên ông có thể được tha thứ. Tuy vậy, ẩn dụ này rất gợi ý. Từ Meru, nơi cư ngụ của các thần, đến Eden, khoảng cách rất nhỏ; và từ các Rắn Hindu đến Cherubim của phái Ophite, vị thứ ba trong bảy vị ấy là Rồng, sự ngăn cách còn nhỏ hơn nữa, vì cả hai đều canh giữ lối vào cõi Tri Thức Bí Nhiệm. Hơn nữa, Ezekiel mô tả rõ ràng bốn Thiên Thần Vũ trụ: Tôi nhìn, và này, một cơn lốc… một… đám mây và một ngọn lửa cuộn trong đó… cũng từ giữa đó xuất hiện hình dạng của bốn sinh vật sống… chúng có hình dạng như người. Và mỗi sinh vật có bốn mặt và… bốn cánh… mặt người, 230 và mặt sư tử… mặt bò, và… mặt đại bàng…. Khi tôi nhìn các sinh vật sống, này, có một bánh xe trên Trái Đất… với bốn mặt của nó… như một bánh xe ở giữa một bánh xe… vì tinh thần của sinh vật sống ở trong bánh xe. 231

There are three chief Groups of Builders, and as many of the Planetary Spirits and the Lipika, each Group being again divided into seven sub-groups. It is impossible, even in such a large work as this, to enter into a minute examination of even the three principal Groups, as it would demand an extra volume. The Builders are the representatives of the first “Mind-Born” Entities, therefore of the primeval Rishi-Prajâpati; also of the Seven great Gods of Egypt, of which Osiris is the chief; of the Seven Amshaspends of the Zoroastrians, with Ormazd at their head; of the “Seven Spirits of the Face”; of the Seven Sephiroth separated from the first Triad, etc., etc. 232 They build, or rather rebuild, every “System” after the “Night.” The Second Group of the Builders is the Architect of our Planetary Chain exclusively; and the Third, the Progenitor of our Humanity—the macrocosmic prototype of the microcosm.

Có ba Nhóm chính các Đấng Kiến Tạo, và cũng có bấy nhiêu nhóm Chân Linh Hành Tinh và Lipika, mỗi Nhóm lại được chia thành bảy phân nhóm. Ngay cả trong một công trình lớn như thế này, cũng không thể đi vào khảo sát tỉ mỉ dù chỉ ba Nhóm chính, vì điều đó đòi hỏi thêm một quyển sách nữa. Các Đấng Kiến Tạo là những đại diện của các Thực Thể “Sinh từ Trí” đầu tiên, do đó là của các Rishi-Prajapati nguyên sơ; cũng là của Bảy vị Thần vĩ đại của Ai Cập, trong đó Osiris là vị đứng đầu; của Bảy Amshaspend của người Zoroaster, với Ormazd đứng đầu; của “Bảy Tinh Thần của Gương Mặt”; của Bảy Sephiroth tách ra từ Tam nguyên tinh thần thứ nhất, v.v., v.v. 232 Các Ngài xây dựng, hay đúng hơn là tái xây dựng, mọi “Hệ Thống” sau “Đêm”. Nhóm thứ Hai của các Đấng Kiến Tạo là Kiến Trúc Sư riêng của Dãy Hành Tinh chúng ta; và Nhóm thứ Ba là Tổ Tiên của Nhân loại chúng ta—nguyên mẫu đại thiên địa của tiểu thiên địa.

The Planetary Spirits are the informing spirits of the Stars in general, and of the Planets especially. They rule the destinies of men who are all born under one or other of their constellations; the Second and Third Groups pertaining to other systems have the same functions, and all rule various departments in Nature. In the Hindû exoteric Pantheon they are the guardian deities who preside over the eight points of the compass—the four cardinal and the four intermediate points—and are called Lokapâlas, “Supporters or Guardians of the World” (in our visible Cosmos), of which Indra (East), Yama (South), Varuna (West), and Kuvera (North) are the chief; their elephants and spouses pertaining of course to fancy and afterthought, though all of them have an Occult significance.

Các Chân Linh Hành Tinh là những tinh thần thấm nhuần các Vì Sao nói chung, và đặc biệt là các Hành Tinh. Các Ngài cai quản vận mệnh của những người đều sinh ra dưới chòm sao này hay chòm sao khác của các Ngài; Nhóm thứ Hai và thứ Ba thuộc về các hệ thống khác cũng có cùng chức năng, và tất cả đều cai quản những bộ phận khác nhau trong Thiên nhiên. Trong đền thần ngoại môn Hindu, các Ngài là những thần linh hộ vệ chủ trì tám hướng của la bàn—bốn phương chính và bốn phương trung gian—và được gọi là Lokapala, “Những Đấng Nâng Đỡ hay Hộ Vệ Thế Gian”, trong Vũ trụ hữu hình của chúng ta, trong đó Indra, phương Đông, Yama, phương Nam, Varuna, phương Tây, và Kuvera, phương Bắc, là các vị đứng đầu; voi và phối ngẫu của các Ngài dĩ nhiên thuộc về tưởng tượng và suy diễn về sau, dù tất cả đều có một thâm nghĩa Huyền bí.

The Lipika, a description of whom is given in Commentary 6 of Stanza IV, are the Spirits of the Universe, whereas the Builders are only our own planetary deities. The former belong to the most Occult portion of cosmogenesis, which cannot be given here. Whether the Adepts—even the highest—know this angelic order in the completeness of its triple degrees, or only the lower one connected with the records of our world, is something which the writer is unprepared to say, and she would rather incline to the latter supposition. Of its highest grade one thing only is taught: the Lipika are connected with Karma—being its direct Recorders. The Symbol for Sacred and Secret Knowledge in antiquity was universally a Tree, by which a Scripture or a Record was also meant. Hence the word Lipika, the Writers or Scribes; the Dragons, symbols of Wisdom, who guard the Trees of Knowledge; the “golden” Apple-Tree of the Hesperides; the “Luxuriant Trees” and vegetation of Mount Meru, guarded by Serpents. Juno’s giving Jupiter, on her marriage, a Tree with golden fruit, is another form of Eve offering Adam the apple from the Tree of Knowledge.

Các Lipika, mà một mô tả về các Ngài được đưa ra trong Bình giảng sáu của Bài kệ IV, là các Tinh Thần của Vũ Trụ, trong khi các Đấng Kiến Tạo chỉ là các thần linh hành tinh của riêng chúng ta. Các vị trước thuộc về phần Huyền bí nhất của vũ trụ khởi nguyên, điều không thể được trình bày ở đây. Liệu các Chân sư—ngay cả những vị cao nhất—biết cấp bậc thiên thần này trong sự trọn vẹn của ba cấp độ của nó, hay chỉ biết cấp thấp hơn liên hệ với các hồ sơ của thế giới chúng ta, là điều mà tác giả chưa sẵn sàng nói, và bà nghiêng về giả thuyết sau hơn. Về cấp cao nhất của nó, chỉ có một điều được giảng dạy: các Lipika liên hệ với nghiệp quả—là những Đấng Ghi Chép trực tiếp của nghiệp quả. Biểu tượng cho Tri Thức Thiêng Liêng và Bí Nhiệm trong thời cổ đại, ở khắp nơi, là một Cây, qua đó cũng hàm ý một Thánh thư hay một Bản ghi. Do đó có từ Lipika, những Người Viết hay Thư Lại; các Rồng, biểu tượng của Minh triết, canh giữ các Cây Tri Thức; Cây Táo “vàng” của các Hesperides; các “Cây Sum Suê” và thảm thực vật của Núi Meru, được các Rắn canh giữ. Việc Juno tặng Jupiter, trong lễ cưới của bà, một Cây có quả vàng, là một hình thức khác của việc Eve trao cho Adam quả táo từ Cây Tri Thức.

6. The Lipika circumscribe the Triangle, the First One, 233 the Cube, the Second One, and the Pentacle within the Egg 234 (a).

6. Các Lipika khoanh giới Tam Giác, Đấng Thứ Nhất, 233 Khối Lập Phương, Đấng Thứ Hai, và Ngũ Giác Tinh bên trong Trứng 234 (a).

It is the Ring called “Pass Not” for those who descend and ascend; 235 who during the Kalpa are progressing towards the Great Day “Be With Us” (b)…. Thus were formed the Arûpa and the Rûpa: 236 from One Light, Seven Lights; from each of the Seven, seven times Seven Lights. The Wheels watch the Ring….

Đó là Vòng được gọi là “Không Được Vượt Qua” đối với những ai đi xuống và đi lên; 235 những ai trong suốt Kalpa đang tiến về Đại Ngày “Hãy Ở Cùng Chúng Ta” (b)…. Như vậy đã hình thành Arupa và Rupa: 236 từ Một Ánh Sáng, Bảy Ánh Sáng; từ mỗi Ánh Sáng trong Bảy, bảy lần Bảy Ánh Sáng. Các Bánh Xe canh giữ Vòng….

The Stanza proceeds with a minute classification of the Orders of the Angelic Hierarchy. From the Group of Four and Seven emanates the Mind-Born Groups of Ten, of Twelve, of Twenty-one, etc., all these divided again into sub-groups of Heptads, Enneads, Dodecads, and so on, until the mind is lost in this endless enumeration of celestial Hosts and Beings, each having its distinct task in the ruling of the visible Cosmos during its existence.

Bài kệ tiếp tục với một sự phân loại tỉ mỉ các Cấp bậc của Thánh Đoàn Thiên Thần. Từ Nhóm Bốn và Bảy xuất lộ các Nhóm Sinh từ Trí gồm Mười, Mười Hai, Hai Mươi Mốt, v.v.; tất cả lại được chia thành các phân nhóm Thất bộ, Cửu bộ, Thập nhị bộ, và cứ thế, cho đến khi thể trí lạc mất trong sự liệt kê vô tận này về các Đạo quân và Hữu Thể thiên giới, mỗi vị có nhiệm vụ riêng biệt trong việc cai quản Vũ trụ hữu hình trong thời kỳ hiện tồn của nó.

(a) The Esoteric meaning of the first sentence of the Shloka is, that those who have been called Lipikas, the Recorders of the Karmic Ledger, make an impassible barrier between the personal Ego and the impersonal Self, the Noumenon and Parent-Source of the former. Hence the allegory. They circumscribe the manifested world of matter within the Ring “Pass Not.” This world is the objective symbol of the One divided into the Many, on the planes of Illusion, of Adi (the “First”) or of Eka (the “One”); and this One is the collective aggregate, or totality, of the principal Creators or Architects of this visible Universe. In Hebrew Occultism their name is both Achath, feminine, “One,” and Achad, “One” again, but masculine. The Monotheists have taken, and are still taking, advantage of the profound esotericism of the Kabalah, to apply the name by which the One Supreme Essence is known, to its manifestation, the Sephiroth-Elohim, and call it Jehovah. But this is quite arbitrary and against all reason and logic, as the term Elohim is a plural noun, identical with the plural word Chiim, often compounded with it. The sentence in the Sepher Yetzirah and elsewhere, “Achath-Ruach-Elohim-Chiim,” denotes the Elohim as androgynous at best, the feminine element almost predominating, as it would read: “One is She the Spirit of the Elohim of Life.” As said, Achath (or Echath) is feminine, and Achad (or Echad) masculine, both meaning One.

(a) Ý nghĩa Nội môn của câu đầu tiên trong Shloka là: những vị được gọi là Lipika, các Đấng Ghi Chép Sổ Cái Nghiệp Quả, tạo nên một hàng rào không thể vượt qua giữa Chân ngã cá nhân và Chân Ngã phi cá nhân, Bản thể của hiện tượng và Nguồn Cha của cái trước. Do đó có ẩn dụ này. Các Ngài khoanh giới thế giới vật chất đã biểu hiện bên trong Vòng “Không Được Vượt Qua.” Thế giới này là biểu tượng khách quan của Đấng Duy Nhất được chia thành Cái Nhiều, trên các cõi Ảo tưởng, của Adi, tức “Đầu Tiên”, hay của Eka, tức “Một”; và Đấng Duy Nhất này là tổng hợp tập thể, hay toàn thể, của các Đấng Sáng Tạo hay Kiến Trúc Sư chính của Vũ Trụ hữu hình này. Trong Huyền bí học Hebrew, tên của các Ngài vừa là Achath, giống cái, “Một”, vừa là Achad, cũng là “Một”, nhưng giống đực. Những người Nhất thần giáo đã lợi dụng, và vẫn đang lợi dụng, tính nội môn sâu xa của Kabalah, để áp dụng danh xưng mà nhờ đó Tinh chất Tối thượng Duy Nhất được biết đến, cho sự biểu hiện của nó, Sephiroth-Elohim, và gọi đó là Jehovah. Nhưng điều này hoàn toàn tùy tiện và trái với mọi lý trí cũng như luận lý, vì thuật ngữ Elohim là một danh từ số nhiều, đồng nhất với từ số nhiều Chiim, thường được ghép với nó. Câu trong Sepher Yetzirah và nơi khác, “Achath-Ruach-Elohim-Chiim”, chỉ Elohim như là lưỡng tính nhiều nhất, với yếu tố nữ gần như chiếm ưu thế, vì nó sẽ được đọc là: “Một là Nàng, Tinh Thần của Elohim Sự Sống.” Như đã nói, Achath, hay Echath, là giống cái, và Achad, hay Echad, là giống đực, cả hai đều có nghĩa là Một.

Moreover, in Occult metaphysics, there are, properly speaking, two “Ones”—the One on the unreachable plane of Absoluteness and Infinity, on which no speculation is possible; and the second One on the plane of Emanations. The former can neither emanate nor be divided, as it is eternal, absolute, and immutable; but the second, being, so to speak, the reflection of the first One (for it is the Logos, or Îshvara, in the Universe of Illusion), can do so. It emanates from itself—as the upper Sephirothal Triad emanates the lower seven Sephiroth—the seven Rays or Dhyân Chohans; in other words, the Homogeneous becomes the Heterogeneous, the Protyle differentiates into the Elements. But these, unless they return into their primal Element, can never cross beyond the Laya, or zero-point. This metaphysical tenet can hardly be better described than in T. Subba Row’s Bhagavadgîtâ Lectures: Mûlaprakriti [the veil of Parabrahman] acts as the one energy through the Logos [or Îshvara]. Now Parabrahman… is the one essence from which starts into existence a centre of energy, which I shall for the present call the Logos…. It is called the Verbum… by the Christians, and it is the divine Christos who is eternal in the bosom of his Father. It is called Avalokiteshvara by the Buddhists…. In almost every doctrine, they have formulated the existence of a centre of spiritual energy which is unborn and eternal, and which exists in the bosom of Parabrahman at the time of Pralaya, and starts as a centre of conscious energy at the time of cosmic activity…. 237

Hơn nữa, trong siêu hình học Huyền bí, nói cho đúng, có hai “Đấng Duy Nhất”—Đấng Duy Nhất trên cõi Tuyệt Đối và Vô Hạn không thể đạt tới, nơi mọi suy luận đều bất khả; và Đấng Duy Nhất thứ hai trên cõi của các Xuất lộ. Đấng trước không thể xuất lộ cũng không thể bị phân chia, vì Ngài là vĩnh cửu, tuyệt đối và bất biến; nhưng Đấng thứ hai, có thể nói, là phản ánh của Đấng Duy Nhất thứ nhất, vì Ngài là Logos, hay Ishvara, trong Vũ Trụ Ảo Tưởng, nên có thể làm như vậy. Ngài xuất lộ từ chính mình—như Tam nguyên tinh thần Sephiroth cao xuất lộ bảy Sephiroth thấp—bảy Cung hay Dhyani Chohan; nói cách khác, Cái Đồng Nhất trở thành Cái Dị Biệt, Protyle biến phân thành các Nguyên tố. Nhưng những thứ này, nếu không trở về Nguyên tố nguyên sơ của chúng, thì không bao giờ có thể vượt qua bên kia Laya, hay điểm không. Nguyên lý siêu hình này khó có thể được mô tả tốt hơn so với trong các Bài giảng Bhagavadgita của T. Subba Row: Mulaprakriti, bức màn của Parabrahman, hoạt động như một năng lượng duy nhất qua Logos, hay Ishvara. Nay Parabrahman… là tinh chất duy nhất từ đó một trung tâm năng lượng bắt đầu đi vào hiện tồn, mà hiện thời tôi sẽ gọi là Logos…. Nó được các Kitô hữu gọi là Verbum… và đó là Christos thiêng liêng, Đấng vĩnh cửu trong lòng Cha của Ngài. Nó được các Phật tử gọi là Avalokiteshvara…. Trong hầu hết mọi giáo lý, họ đã hình thành quan niệm về sự hiện hữu của một trung tâm năng lượng tinh thần, vốn vô sinh và vĩnh cửu, hiện hữu trong lòng Parabrahman vào thời kỳ Pralaya, và khởi phát như một trung tâm năng lượng hữu thức vào thời kỳ hoạt động vũ trụ…. 237

For, as the lecturer premised by saying, Parabrahman is not this or that, it is not even consciousness, as it cannot be related to matter or anything conditioned. It is not Ego nor is it Non-Ego, nor even Âtmâ, but verily the one source of all manifestations and modes of existence.

Bởi, như giảng giả đã mở đầu bằng cách nói, Parabrahman không phải là cái này hay cái kia, thậm chí không phải là tâm thức, vì nó không thể liên hệ với vật chất hay bất cứ điều gì bị điều kiện hóa. Nó không phải là Chân ngã, cũng không phải là Phi-Chân ngã, thậm chí không phải Atma, mà thật sự là nguồn duy nhất của mọi biểu hiện và mọi phương thức hiện tồn.

Thus in the allegory, the Lipika separate the world (or plane) of pure Spirit from that of Matter. Those who “descend and ascend”—the incarnating Monads, and men striving towards purification and “ascending,” but still not having quite reached the goal—may cross the Circle of “Pass Not,” only on the Day “Be With Us”; that day when man, freeing himself from the trammels of ignorance, and recognizing fully the non-separateness of the Ego within his Personality—erroneously regarded as his own—from the Universal Ego (Anima Supra-Mundi), merges thereby into the One Essence, to become not only one with “Us,” the manifested universal Lives which are one Life, but that very Life itself.

Như vậy trong ẩn dụ, các Lipika tách biệt thế giới, hay cõi, của Tinh thần thuần khiết khỏi thế giới của Vật chất. Những ai “đi xuống và đi lên”—các Chân thần nhập thể, và những con người đang phấn đấu hướng tới sự thanh luyện và “đi lên”, nhưng vẫn chưa hoàn toàn đạt đến mục tiêu—chỉ có thể vượt qua Vòng “Không Được Vượt Qua” vào Ngày “Hãy Ở Cùng Chúng Ta”; ngày ấy khi con người, tự giải thoát khỏi xiềng xích của vô minh, và nhận biết đầy đủ tính không phân ly của Chân ngã bên trong Phàm ngã của y—vốn bị y lầm tưởng là của riêng mình—khỏi Chân ngã Vũ Trụ, Anima Supra-Mundi, nhờ đó hòa nhập vào Tinh chất Duy Nhất, để không chỉ trở thành một với “Chúng Ta”, các Sự Sống vũ trụ đã biểu hiện vốn là một Sự Sống, mà còn trở thành chính Sự Sống ấy.

Astronomically, the Ring “Pass Not” that the Lipika trace round “the Triangle, the First One, the Cube, the Second One, and the Pentacle,” to circumscribe these figures, is thus again shown to contain the symbols of 31415, or the coefficient constantly used in mathematical tables, the value π (pi), the geometrical figures standing here for numerical figures. According to the general philosophical teachings, this Ring is beyond the region of what are called nebulæ in astronomy. But this is as erroneous a conception as that of the topography and descriptions, given in Purânic and other exoteric Scriptures, about the 1008 worlds of the Deva-loka worlds and firmaments. There are worlds, of course, in the esoteric as well as in the profane scientific teachings, at such incalculable distances that the light of the nearest of them, though it has only just reached our modern “Chaldees,” may have left its luminary long before the day on which the words, “Let there be Light,” were pronounced; but these are not worlds on the Devalokic plane, but in our Cosmos.

Về mặt thiên văn, Vòng “Không Được Vượt Qua” mà các Lipika vạch quanh “Tam Giác, Đấng Thứ Nhất, Khối Lập Phương, Đấng Thứ Hai, và Ngũ Giác Tinh”, để khoanh giới các hình ấy, do đó một lần nữa được cho thấy là chứa các biểu tượng của 31415, hay hệ số thường xuyên được dùng trong các bảng toán học, giá trị pi, trong đó các hình hình học ở đây thay cho các con số. Theo các giáo huấn triết học tổng quát, Vòng này ở bên ngoài vùng mà thiên văn học gọi là tinh vân. Nhưng đây là một quan niệm sai lầm chẳng kém gì quan niệm về địa hình và những mô tả được đưa ra trong các Kinh Puranic và các Thánh thư ngoại môn khác về 1008 thế giới của các thế giới và các tầng trời Deva-loka. Dĩ nhiên, có những thế giới, trong cả các giáo huấn khoa học nội môn lẫn phàm tục, ở những khoảng cách khôn lường đến nỗi ánh sáng của thế giới gần nhất trong số đó, dù chỉ vừa mới đến được với các “Chaldee” hiện đại của chúng ta, có thể đã rời khỏi thiên thể phát sáng của nó từ rất lâu trước ngày những lời “Hãy có Ánh Sáng” được phán ra; nhưng đó không phải là những thế giới trên cõi Devaloka, mà là trong Vũ trụ của chúng ta.

The Chemist goes to the laya or zero-point of the plane of matter with which he deals, and then stops short. The Physicist or the Astronomer counts billions of miles beyond the nebulæ, and then he also stops short. The semi-initiated Occultist also will represent this laya-point to himself as existing on some plane which, if not physical, is still conceivable to the human intellect. But the full Initiate knows that the Ring “Pass Not” is neither a locality, nor can it be measured by distance, but that it exists in the absoluteness of Infinity. In this “Infinity” of the full Initiate, there is neither height, breadth nor thickness, but all is fathomless profundity, reaching down from the physical to the “para-metaphysical.” In using the word “down,” essential depth— “nowhere and everywhere”—is meant, not depth of physical matter.

Nhà Hóa học đi đến laya hay điểm không của cõi vật chất mà ông xử lý, rồi dừng lại. Nhà Vật lý hay Nhà Thiên văn đếm hàng tỷ dặm vượt ngoài các tinh vân, rồi ông cũng dừng lại. Nhà huyền bí học bán điểm đạo cũng sẽ tự hình dung điểm laya này như hiện hữu trên một cõi nào đó, nếu không phải hồng trần thì vẫn có thể quan niệm được đối với trí năng con người. Nhưng điểm đạo đồ trọn vẹn biết rằng Vòng “Không Được Vượt Qua” không phải là một địa điểm, cũng không thể đo bằng khoảng cách, mà nó hiện hữu trong tính tuyệt đối của Vô Hạn. Trong “Vô Hạn” này của điểm đạo đồ trọn vẹn, không có chiều cao, chiều rộng hay chiều dày, mà tất cả là chiều sâu thăm thẳm không dò được, vươn xuống từ hồng trần đến “siêu-siêu hình.” Khi dùng từ “xuống”, điều được hàm ý là chiều sâu bản thể—“không ở đâu và ở khắp nơi”—chứ không phải chiều sâu của vật chất hồng trần.

If one carefully searches through the exoteric and grossly anthropomorphic allegories of popular religions, even in these the doctrine embodied in the Circle of “Pass Not,” guarded by the Lipika, may be dimly perceived. Thus one finds it even in the teachings of the Vedântin sect of the Visishthadvaita, the most tenaciously anthropomorphic in all India. For we read of the released soul that, after reaching Moksha—a state of bliss meaning “release from Bandha,” or bondage—bliss is enjoyed by it in a place called Paramapada, which place is not material, but made of Suddasattva, the essence, of which the body of Îshvara—the “Lord”—is formed. There, Muktas or Jîvâtmâs (Monads) who have attained Moksha, are never again subject to the qualities of either matter or Karma. “But if they choose, for the sake of doing good to the world, they may incarnate on earth.” 238 The way to Paramapada, or the immaterial worlds, from this world, is called Devayâna. When a person has attained Moksha and the body dies: The Jîva (Soul) goes with Sûkshma Sharira 239 from the heart of the body to the Brahmarandra in the crown of the head, traversing Sushumna, a nerve connecting the heart with the Brahmarandra. The Jiva breaks through the Brahmarandra and goes to the region of the Sun (Sûryamandala) through the solar rays. Then it goes, through a dark spot in the Sun, to Paramapada…. The Jîva is directed on its way… by the Supreme Wisdom acquired by Yoga. 240 The Jîva thus proceeds to Paramapada by the aid of Athivâhikas (bearers in transit), known by the names of Archi Ahas… Âditya,… Prajâpati, etc. The Archis, etc., here mentioned, are certain pure Souls, etc., etc. 241

Nếu khảo sát kỹ những ẩn dụ ngoại môn và thô thiển mang tính nhân hình của các tôn giáo phổ thông, thì ngay cả trong đó người ta cũng có thể lờ mờ nhận ra giáo lý được hàm chứa trong Vòng “Không Được Vượt Qua”, do Lipika canh giữ. Vì vậy, người ta thấy giáo lý ấy ngay cả trong các giáo huấn của phái Vedântin thuộc Visishthadvaita, phái mang tính nhân hình bền chặt nhất trong toàn Ấn Độ. Vì chúng ta đọc thấy rằng linh hồn đã được giải thoát, sau khi đạt đến Moksha—một trạng thái chí phúc có nghĩa là “giải thoát khỏi Bandha”, hay sự trói buộc—thì chí phúc được linh hồn ấy hưởng trong một nơi gọi là Paramapada, nơi ấy không phải là vật chất, mà được tạo bằng Suddasattva, tinh chất mà từ đó thể của Îshvara—“Chúa Tể”—được hình thành. Ở đó, các Muktas hay Jîvâtmâs (Chân thần) đã đạt Moksha, không bao giờ còn chịu lệ thuộc vào các phẩm tính của vật chất hay nghiệp quả nữa. “Nhưng nếu họ chọn, vì mục đích làm điều thiện cho thế gian, họ có thể nhập thể trên Trái Đất.” 238 Con đường đi từ thế giới này đến Paramapada, hay các thế giới phi vật chất, được gọi là Devayâna. Khi một người đã đạt Moksha và thể xác chết đi: Jîva (Linh hồn) đi cùng với Sûkshma Sharira 239 từ tim của thể xác đến Brahmarandra nơi đỉnh đầu, đi qua Sushumna, một dây thần kinh nối tim với Brahmarandra. Jiva phá vỡ Brahmarandra và đi đến vùng của Mặt Trời (Sûryamandala) qua các tia mặt trời. Rồi nó đi, qua một điểm tối trong Mặt Trời, đến Paramapada…. Jîva được hướng dẫn trên đường đi của mình… bởi Minh Triết Tối Cao đạt được nhờ Yoga. 240 Như vậy Jîva tiến đến Paramapada nhờ sự trợ giúp của Athivâhikas (những kẻ chuyên chở trong lúc quá độ), được biết dưới các danh xưng Archi Ahas… Âditya,… Prajâpati, v.v. Các Archis, v.v., được nhắc đến ở đây, là những Linh hồn thuần khiết nào đó, v.v., v.v. 241

No Spirits except the “Recorders” (Lipika) have ever crossed the forbidden line of this Ring, nor will any do so until the day of the next Pralaya, for it is the boundary that separates the Finite—however infinite in man’s sight—from the truly Infinite. The Spirits referred to, therefore, as those who “ascend and descend,” are the “Hosts” of what are loosely called “Celestial Beings.” But they are, in fact, nothing of the kind. They are Entities of higher worlds in the Hierarchy of Being, so immeasurably high that, to us, they must appear as Gods, and collectively—God. But so must we, mortal men, appear to the ant, which reasons on the scale of its special capacities. The ant may also, for all we know, see the avenging finger of a Personal God in the hand of the urchin who, under the impulse of mischief, destroys, in one moment, its ant-hill, the labour of many weeks—long years in the chronology of insects. The ant, feeling it acutely, may also, like man, attribute the undeserved calamity to a combination of providence and sin, and see in it the result of the sin of its first parent. Who knows, and who can affirm or deny? The refusal to admit, in the whole Solar System, of any other reasonable and intellectual beings than ourselves on the human plane, is the greatest conceit of our age. All that Science has a right to affirm, is that there are no invisible Intelligences living under the same conditions as we do. It cannot deny point-blank the possibility of there being worlds within worlds, under conditions totally different to those that constitute the nature of our world; nor can it deny that there may be a certain limited communication between some of these worlds and our own. The greatest philosopher of European birth, Emmanuel Kant, assures us that such a communication is in no way improbable.

Không Tinh thần nào, ngoại trừ các “Đấng Ghi Chép” (Lipika), từng vượt qua ranh giới cấm của Vòng này, và cũng sẽ không có vị nào làm như thế cho đến ngày của Giai kỳ qui nguyên kế tiếp, vì đó là biên giới phân cách Cái Hữu Hạn—dù trong mắt con người có vẻ vô hạn đến đâu—với Cái Vô Hạn đích thực. Vì vậy, các Tinh thần được nói đến như những vị “thăng lên và giáng xuống” là các “Đạo quân” của những gì thường được gọi một cách lỏng lẻo là “Các Hữu Thể Thiên giới”. Nhưng thật ra, các Ngài hoàn toàn không phải như thế. Các Ngài là những Thực Thể của các thế giới cao hơn trong Thánh đoàn của Bản Thể, cao đến mức vô lượng vô biên, đến nỗi đối với chúng ta, các Ngài ắt phải hiện ra như các Thượng đế, và xét chung—như Thượng đế. Nhưng đối với con kiến, chúng ta, những con người hữu tử, cũng hẳn phải hiện ra như vậy, vì nó suy luận theo thang đo của những khả năng riêng biệt của nó. Con kiến cũng có thể, theo tất cả những gì chúng ta biết, nhìn thấy ngón tay báo oán của một Thượng đế Cá Nhân trong bàn tay của đứa trẻ tinh nghịch, kẻ, dưới xung động phá phách, trong một khoảnh khắc đã hủy diệt ụ kiến của nó, công trình của nhiều tuần—những năm dài theo niên đại của loài côn trùng. Cảm nhận điều ấy một cách đau đớn, con kiến cũng có thể, như con người, quy tai họa không đáng có ấy cho một sự kết hợp giữa thiên ý và tội lỗi, và thấy trong đó kết quả của tội lỗi nơi tổ tiên đầu tiên của nó. Ai biết được, và ai có thể khẳng định hay phủ nhận? Việc từ chối thừa nhận, trong toàn bộ hệ mặt trời, bất kỳ sinh linh hữu lý và trí tuệ nào khác ngoài chính chúng ta trên cõi nhân loại, là sự tự phụ lớn nhất của thời đại chúng ta. Tất cả những gì Khoa học có quyền khẳng định là không có những Trí tuệ vô hình nào sống dưới cùng các điều kiện như chúng ta. Nó không thể phủ nhận thẳng thừng khả năng có những thế giới bên trong các thế giới, dưới những điều kiện hoàn toàn khác với những điều kiện cấu thành bản chất của thế giới chúng ta; nó cũng không thể phủ nhận rằng có thể có một sự giao tiếp giới hạn nào đó giữa một vài trong số các thế giới ấy và thế giới của chúng ta. Nhà triết học vĩ đại nhất sinh ra ở châu Âu, Emmanuel Kant, bảo đảm với chúng ta rằng một sự giao tiếp như thế tuyệt nhiên không phải là điều không thể có.

I confess I am much disposed to assert the existence of immaterial natures in the world, and to place my own soul in the class of these beings. It will hereafter, I know not where, or when, yet be proved that the human soul stands even in this life in indissoluble connection with all immaterial natures in the spirit-world, that it reciprocally acts upon these and receives impressions from them. 242

Tôi thú nhận rằng tôi rất có khuynh hướng khẳng định sự tồn tại của những bản chất phi vật chất trong thế giới, và đặt linh hồn của chính tôi vào lớp các hữu thể ấy. Sau này, tôi không biết ở đâu hay khi nào, nhưng điều đó vẫn sẽ được chứng minh rằng linh hồn con người, ngay trong đời sống này, đứng trong mối liên kết bất khả phân ly với mọi bản chất phi vật chất trong thế giới tinh thần, rằng nó tác động qua lại lên những bản chất ấy và tiếp nhận các ấn tượng từ chúng. 242

To the highest of these worlds, we are taught, belong the seven Orders of the purely divine Spirits; to the six lower ones belong Hierarchies that can occasionally be seen and heard by men, and that do communicate with their progeny of the Earth; a progeny which is indissolubly linked with them, each Principle in man having its direct source in the nature of these great Beings, who furnish us respectively with the invisible elements in us. Physical Science is welcome to speculate upon the physiological mechanism of living beings, and to continue her fruitless efforts in trying to resolve our feelings, our sensations, mental and spiritual, into functions of their organic vehicles. Nevertheless, all that will ever be accomplished in this direction has already been done, and Science can go no farther. She is before a dead wall, on the face of which she traces, as she imagines, great physiological and psychic discoveries, every one of which will be shown later on to be no better than cobwebs, spun by her scientific fancies and illusions. The tissues of our objective framework alone are subservient to the analysis and researches of Physiological Science. The six higher Principles in them will evade for ever the hand that is guided by an animus, which purposely ignores and rejects the Occult Sciences. All that modern physiological research in connection with psychological problems has, and owing to the nature of things could have shown, is that every thought, sensation, and emotion is attended with a re-marshalling of the molecules of certain nerves. The inference drawn by scientists of the type of Büchner, Vogt, and others, that thought is molecular motion, necessitates the fact of our subjective consciousness being made a complete abstraction.

Chúng ta được dạy rằng thuộc về thế giới cao nhất trong các thế giới ấy là bảy Đẳng cấp của các Tinh thần thuần túy thiêng liêng; còn thuộc về sáu thế giới thấp hơn là các Huyền giai đôi khi có thể được con người thấy và nghe, và thật sự giao tiếp với hậu duệ của các Ngài trên Trái Đất; một hậu duệ được liên kết bất khả phân ly với các Ngài, vì mỗi nguyên khí trong con người đều có nguồn trực tiếp trong bản chất của những Hữu Thể vĩ đại này, các Đấng lần lượt cung cấp cho chúng ta những yếu tố vô hình trong chính chúng ta. Khoa học Hồng trần cứ tự do suy đoán về bộ máy sinh lý của các sinh linh sống động, và tiếp tục những nỗ lực vô ích của mình khi cố quy các cảm xúc, các cảm giác, trí tuệ và tinh thần của chúng ta thành các chức năng của những vận cụ hữu cơ của chúng. Tuy nhiên, tất cả những gì có thể từng đạt được theo hướng này thì đã được thực hiện rồi, và Khoa học không thể đi xa hơn. Nó đứng trước một bức tường chết, trên bề mặt đó nó truy vẽ, như nó tưởng, những khám phá sinh lý và thông linh vĩ đại, mà mỗi khám phá về sau sẽ được chứng minh chẳng hơn gì những mạng nhện, được dệt nên bởi các tưởng tượng và ảo tưởng khoa học của nó. Chỉ riêng các mô của khung cấu tạo khách quan của chúng ta mới phục tùng sự phân tích và nghiên cứu của Khoa học Sinh lý. Sáu nguyên khí cao hơn trong chúng sẽ mãi mãi tránh khỏi bàn tay được hướng dẫn bởi một ác ý cố tình phớt lờ và bác bỏ các Khoa học Huyền bí. Tất cả những gì nghiên cứu sinh lý hiện đại liên quan đến các vấn đề tâm lý đã cho thấy, và do bản chất của sự vật chỉ có thể cho thấy, là mỗi tư tưởng, cảm giác và xúc cảm đều đi kèm với một sự sắp xếp lại các phân tử của một số dây thần kinh nhất định. Kết luận mà các nhà khoa học thuộc kiểu Büchner, Vogt và những người khác rút ra, rằng tư tưởng là chuyển động phân tử, đòi hỏi phải biến tâm thức chủ quan của chúng ta thành một điều trừu tượng hoàn toàn.

The Great Day “Be With Us,” then, is an expression, the only merit of which lies in its literal translation. Its significance is not so easily revealed to a public, unacquainted with the mystic tenets of Occultism, or rather of Esoteric Wisdom or “Budhism.” It is an expression peculiar to the latter, and as hazy for the profane as that of the Egyptians, who called the same the Day “Come To Us,” which is identical with the former—though the word “be,” in this sense, might be still better replaced with either of the two terms “remain” or “rest with us,” as it refers to that long period of Rest which is called Paranirvâna. “Le Jour de ‘Viens à nous’! C’est le jour où Osiris a dit au Soleil: Viens! Je le vois rencontrant le Soleil dans l’Amenti.” 243 The Sun here stands for the Logos (or Christos, or Horus), as the central Essence synthetically, and as a diffused essence of radiated Entities, different in substance, but not in essence. As expressed by the Bhagavadgîtâ lecturer, “it must not be supposed that the Logos is but a single centre of energy which is manifested by Parabrahman. There are innumerable others. Their number is almost infinite, in the bosom of Parabrahman.” Hence the expressions, “The Day of Come to Us” and “The Day of Be With Us,” etc. Just as the Square is the Symbol of the Four sacred Forces or Powers—Tetraktys—so the Circle shows the boundary within the Infinity that no man, even in spirit, or Deva or Dhyân Chohan can cross. The Spirits of those who “descend and ascend,” during the course of cyclic evolution, shall cross the “iron-bound world,” only on the day of their approach to the threshold of Paranirvâna. If they reach it, they will rest in the bosom of Parabrahman, or the “Unknown Darkness,” which shall then become for all of them Light, during the whole period of Mahâpralaya, the “Great Night,” namely, 311,040,000,000,000 years of absorption in Brahman. The Day of “Be With Us” is this period of Rest, or Paranirvâna. It corresponds to the Day of the Last Judgment of the Christians, which has been sorely materialized in their religion. 244

Vậy, Ngày Vĩ Đại “Hãy Ở Cùng Chúng Ta” là một thành ngữ mà giá trị duy nhất của nó nằm trong bản dịch sát nghĩa. Thâm nghĩa của nó không dễ dàng được mặc khải cho công chúng, những người không quen với các tín điều thần bí của Huyền bí học, hay đúng hơn là của Minh Triết Nội Môn hoặc “Budhism”. Đó là một thành ngữ riêng của truyền thống sau, và đối với người phàm tục thì mù mờ chẳng khác gì thành ngữ của người Ai Cập, những người gọi cùng điều ấy là Ngày “Hãy Đến Với Chúng Ta”, vốn đồng nhất với thành ngữ trước—dù từ “ở”, theo nghĩa này, có lẽ còn tốt hơn nếu được thay bằng một trong hai từ “lưu lại” hoặc “an nghỉ cùng chúng ta”, vì nó chỉ giai đoạn An Nghỉ dài lâu được gọi là Paranirvâna. “Ngày ‘Hãy Đến Với Chúng Ta’! Đó là ngày Osiris nói với Mặt Trời: Hãy đến! Tôi thấy Ngài gặp Mặt Trời trong Amenti.” 243 Ở đây Mặt Trời tượng trưng cho Logos (hay Christos, hay Horus), vừa như Tinh chất trung tâm xét một cách tổng hợp, vừa như một tinh chất lan tỏa của các Thực Thể được bức xạ, khác nhau về chất liệu nhưng không khác nhau về tinh chất. Như vị giảng sư Bhagavadgîtâ đã diễn đạt, “không nên giả định rằng Logos chỉ là một trung tâm năng lượng duy nhất được Parabrahman biểu hiện. Có vô số trung tâm khác. Số lượng của chúng gần như vô hạn, trong lòng Parabrahman.” Do đó có các thành ngữ “Ngày Hãy Đến Với Chúng Ta” và “Ngày Hãy Ở Cùng Chúng Ta”, v.v. Cũng như Hình Vuông là Biểu tượng của Bốn Mãnh lực hay Quyền năng thiêng liêng—Tetraktys—thì Vòng Tròn biểu thị ranh giới bên trong Vô Hạn mà không con người nào, dù trong tinh thần, cũng như không deva hay Dhyân Chohan nào có thể vượt qua. Các Tinh thần của những vị “giáng xuống và thăng lên”, trong tiến trình tiến hoá chu kỳ, sẽ chỉ vượt qua “thế giới bị ràng buộc bằng sắt” vào ngày họ tiến gần đến ngưỡng cửa của Paranirvâna. Nếu họ đạt đến đó, họ sẽ an nghỉ trong lòng Parabrahman, hay “Bóng Tối Bất Khả Tri”, khi ấy đối với tất cả họ sẽ trở thành Ánh sáng, trong suốt thời kỳ Mahâpralaya, “Đêm Vĩ Đại”, tức là 311.040.000.000.000 năm hấp thu trong Brahman. Ngày “Hãy Ở Cùng Chúng Ta” chính là giai đoạn An Nghỉ này, hay Paranirvâna. Nó tương ứng với Ngày Phán Xét Cuối Cùng của người Cơ Đốc, điều đã bị vật chất hóa một cách đau đớn trong tôn giáo của họ. 244

As in the exoteric interpretation of the Egyptian rites, the soul of every defunct person—from the Hierophant down to the sacred bull Apis—became an Osiris, was Osirified (the Secret Doctrine, however, teaching that the real Osirification was the lot of every Monad only after 3,000 cycles of Existences); so in the present case. The Monad, born of the nature and the very Essence of the “Seven” (its highest Principle becoming immediately enshrined in the Seventh Cosmic Element), has to perform its septenary gyration throughout the Cycle of Being and Forms, from the highest to the lowest; and then again from man to God. At the threshold of Paranirvâna, it reassumes its primeval Essence and becomes the Absolute once more.

Cũng như trong cách diễn giải ngoại môn về các nghi lễ Ai Cập, linh hồn của mọi người quá cố—từ Giáo phẩm Bí truyền cho đến bò thiêng Apis—đều trở thành một Osiris, được Osiris hóa (tuy nhiên Giáo Lý Bí Nhiệm dạy rằng sự Osiris hóa thực sự là phần của mỗi Chân thần chỉ sau 3.000 chu kỳ Hiện tồn); trong trường hợp hiện nay cũng vậy. Chân thần, sinh ra từ bản chất và chính Tinh chất của “Bảy” (nguyên khí cao nhất của nó lập tức được tôn trí trong Nguyên tố Vũ trụ thứ Bảy), phải thực hiện vòng xoay thất phân của mình xuyên suốt Chu kỳ của Bản Thể và Hình tướng, từ cao nhất xuống thấp nhất; rồi lại từ con người lên Thượng đế. Tại ngưỡng cửa Paranirvâna, nó tái đảm nhận Tinh chất nguyên sơ của mình và một lần nữa trở thành Tuyệt Đối.

Stanza VI. — Bài kệ VI.

1. By the power of the Mother of Mercy and Knowledge (a), Kwan-Yin—the Triple of Kwan-Shai-Yin, residing in Kwan-Yin-Tien (b)—Fohat, the Breath of their Progeny, the Son of the Sons, having called forth, from the lower Abyss, 245the Illusive Form of Sien-Tchan 246 and the Seven Elements.

1. Bằng quyền năng của Mẹ của Lòng Từ Bi và Tri Thức (a), Kwan-Yin—Tam phân của Kwan-Shai-Yin, ngự trong Kwan-Yin-Tien (b)—Fohat, Hơi Thở của Hậu Duệ các Ngài, Con của các Con, sau khi gọi ra từ Vực Thẳm thấp hơn, 245Hình Tướng Ảo Huyễn của Sien-Tchan 246 và Bảy Nguyên tố.

This Stanza is translated from the Chinese text, and the names given as the equivalents of the original terms are preserved. The real Esoteric nomenclature cannot be given, as it would only confuse the reader. The Brâhmanical doctrine has no equivalents for these. Vâch seems, in many an aspect, to approach the Chinese Kwan-Yin, but there is no regular worship of Vâch under this name in India, as there is of Kwan-Yin in China. No exoteric religious system has ever adopted a female Creator, and thus, from the first dawn of popular religions, woman has been regarded and treated as inferior to man. It is only in China and Egypt that Kwan-Yin and Isis are placed on a par with the male gods. Esotericism ignores both sexes. Its highest Deity is as sexless as it is formless, neither Father nor Mother; and its first manifested beings, celestial and terrestrial alike, become only gradually androgynous to finally separate into distinct sexes.

Bài kệ này được dịch từ văn bản Trung Hoa, và các danh xưng được đưa ra như những tương đương của các thuật ngữ nguyên thủy được giữ nguyên. Danh pháp Nội Môn đích thực không thể được nêu ra, vì nó chỉ làm người đọc rối trí. Giáo lý Bà-la-môn không có những tương đương cho các thuật ngữ này. Vâch, trong nhiều phương diện, dường như gần với Kwan-Yin của Trung Hoa, nhưng ở Ấn Độ không có việc thờ phụng Vâch một cách chính quy dưới danh xưng này, như có việc thờ Kwan-Yin ở Trung Hoa. Không một hệ thống tôn giáo ngoại môn nào từng chấp nhận một Đấng Sáng Tạo nữ, và do đó, từ buổi bình minh đầu tiên của các tôn giáo phổ thông, người nữ đã bị xem và đối xử như thấp kém hơn nam giới. Chỉ ở Trung Hoa và Ai Cập, Kwan-Yin và Isis mới được đặt ngang hàng với các thần nam. Huyền bí học không kể đến cả hai phái tính. Thượng đế tối cao của nó vô tính như chính nó vô hình tướng, không phải Cha cũng không phải Mẹ; và các hữu thể biểu hiện đầu tiên của nó, thiên giới cũng như địa giới, chỉ dần dần trở thành lưỡng tính để cuối cùng tách thành các phái tính riêng biệt.

(a) “The Mother of Mercy and Knowledge” is called the “Triple” of Kwan-Shai-Yin, because in her correlations, metaphysical and cosmical, she is the “Mother, the Wife and the Daughter” of the Logos, just as in the later theological translations she became the “Father, Son and (female) Holy Ghost”—the Shakti or Energy—the Essence of the Three. Thus in the Esotericism of the Vedântins, Daiviprakriti, the Light manifested through Îshvara, the Logos, 247 is at one and the same time the Mother and also the Daughter of the Logos, or Verbum of Parabrahman; while in that of the Trans-Himâlayan teachings, it is—in the Hierarchy of their allegorical and metaphysical theogony—the “Mother,” or abstract ideal Matter, Mûlaprakriti, the Root of Nature; from the metaphysical standpoint, a correlation of Adi-Budha, manifested in the Logos, Avalokiteshvara; and from the purely Occult and cosmical, Fohat, the “Son of the Son,” the androgynous energy resulting from this “Light of the Logos,” which manifests in the plane of the objective Universe as the hidden, as much as the revealed, Electricity—which is Life. Says T. Subba Row: Evolution is commenced by the intellectual energy of the Logos,… not merely on account of the potentialities locked up in Mûlaprakriti. This Light of the Logos is the link… between objective matter and the subjective Thought of Îshvara [or Logos]. It is called in several Buddhist books Fohat. It is the one instrument with which the Logos works. 248

(a) “Mẹ của Lòng Từ Bi và Tri Thức” được gọi là “Tam phân” của Kwan-Shai-Yin, bởi vì trong các tương quan siêu hình và vũ trụ của bà, bà là “Mẹ, Vợ và Con Gái” của Logos, cũng như trong các bản dịch thần học về sau, bà trở thành “Cha, Con và Chúa Thánh Thần (nữ)”—Shakti hay Năng lượng—Tinh chất của Ba Ngôi. Như vậy, trong Huyền bí học của các Vedântin, Daiviprakriti, Ánh sáng biểu hiện qua Îshvara, Logos, 247 đồng thời vừa là Mẹ vừa là Con Gái của Logos, hay Verbum của Parabrahman; còn trong giáo huấn Xuyên-Himâlaya, nó—trong Thánh đoàn của thần hệ biểu tượng và siêu hình của họ—là “Mẹ”, hay Vật Chất lý tưởng trừu tượng, Mûlaprakriti, Cội Rễ của Tự Nhiên; xét từ lập trường siêu hình, là một tương quan của Adi-Budha, biểu hiện trong Logos, Avalokiteshvara; và xét từ lập trường thuần túy Huyền bí và vũ trụ, là Fohat, “Con của Con”, năng lượng lưỡng tính phát sinh từ “Ánh sáng của Logos” này, biểu hiện trên cõi của Vũ trụ khách quan như Điện Lực ẩn tàng cũng như được mặc khải—vốn là Sự Sống. T. Subba Row nói: Tiến hoá được khởi đầu bởi năng lượng trí tuệ của Logos,… không chỉ do các tiềm năng bị khóa kín trong Mûlaprakriti. Ánh sáng này của Logos là mắt xích… giữa vật chất khách quan và Tư Tưởng chủ quan của Îshvara [hay Logos]. Trong nhiều sách Phật giáo, nó được gọi là Fohat. Nó là công cụ duy nhất mà Logos dùng để làm việc. 248

(b) “Kwan-Yin-Tien” means the “Melodious Heaven of Sound,” the Abode of Kwan-Yin, or the “Divine Voice.” This “Voice” is a synonym of the Verbum or Word, “Speech,” as the expression of Thought. Thus may be traced the connection with, and even the origin of, the Hebrew Bath-Kol, the “Daughter of the Divine Voice,” or Verbum, or the male and female Logos, the “Heavenly Man,” or Adam Kadmon, who is at the same time Sephira. The latter was surely anticipated by the Hindû Vâch, the goddess of Speech, or of the Word. For Vâch—the daughter and the female portion, as is stated, of Brahmâ, one “generated by the gods”—is, in company with Kwan-Yin, with Isis (also the daughter, wife and sister of Osiris) and other goddesses, the female Logos, so to speak, the goddess of the active forces in Nature, the Word, Voice or Sound, and Speech. If Kwan-Yin is the “Melodious Voice,” so is Vâch “the melodious cow who milked forth sustenance and water [the female principle]… who yields us nourishment and sustenance,” as Mother-Nature. She is associated in the work of creation with Prajâpati. She is male and female ad libitum, as Eve is with Adam. And she is a form of Aditi—the principle higher than Æther—of Âkâsha, the synthesis of all the forces in Nature. Thus Vâch and Kwan-Yin are both the magic potency of Occult Sound in Nature and Æther—which “Voice” calls forth Sien-Tchan, the illusive form of the Universe out of Chaos and the Seven Elements.

(b) “Kwan-Yin-Tien” có nghĩa là “Cõi Trời Du Dương của Âm Thanh”, Trú xứ của Kwan-Yin, hay “Tiếng Nói Thiêng Liêng”. “Tiếng Nói” này là đồng nghĩa với Verbum hay Linh từ, “Lời Nói”, như sự biểu đạt của Tư Tưởng. Như vậy, có thể lần ra mối liên hệ với, và thậm chí nguồn gốc của, Bath-Kol trong Hebrew, “Con Gái của Tiếng Nói Thiêng Liêng”, hay Verbum, hay Logos nam và nữ, “Đấng Thiên Nhân”, hay Adam Kadmon, Đấng đồng thời là Sephira. Chắc chắn điều sau đã được Vâch của Hindu, nữ thần của Lời Nói, hay của Linh từ, báo trước. Vì Vâch—con gái và phần nữ, như đã nêu, của Brahmâ, một vị “do các thần sinh ra”—cùng với Kwan-Yin, Isis (cũng là con gái, vợ và em gái của Osiris) và các nữ thần khác, có thể nói là Logos nữ, nữ thần của các mãnh lực hoạt động trong Tự Nhiên, Linh từ, Tiếng Nói hay Âm Thanh, và Lời Nói. Nếu Kwan-Yin là “Tiếng Nói Du Dương”, thì Vâch cũng là “con bò du dương đã vắt ra dưỡng chất và nước [nguyên lý nữ]… Đấng ban cho chúng ta sự nuôi dưỡng và dưỡng chất”, như Mẹ-Tự Nhiên. Bà được liên kết trong công cuộc sáng tạo với Prajâpati. Bà là nam và nữ tùy ý, như Eva đối với Adam. Và bà là một hình thức của Aditi—nguyên lý cao hơn Æther—của Âkâsha, tổng hợp của mọi mãnh lực trong Tự Nhiên. Như vậy Vâch và Kwan-Yin đều là quyền năng huyền thuật của Âm Thanh Huyền bí trong Tự Nhiên và Æther—“Tiếng Nói” ấy gọi Sien-Tchan, hình tướng ảo huyễn của Vũ trụ, ra khỏi Hỗn Mang và Bảy Nguyên tố.

Thus, in Manu, Brahmâ (the Logos also) is shown dividing his body into two parts, male and female, and creating in the latter, who is Vâch, Virâj, who is himself, or Brahmâ again. A learned Vedântin Occultist speaks of this “goddess” as follows, explaining the reason why Îshvara (or Brahmâ) is called Verbum or Logos; why in fact it is called Sabda Brahman: The explanation I am going to give you will appear thoroughly mystical; but if mystical, it has a tremendous significance when properly understood. Our old writers said that Vâch is of four kinds. [See Rig Veda and the Upanishads.] Vaikharî Vâch is what we utter. Every kind of Vaikharî Vâch exists in its Madhyama, further in its Pashyanti, and ultimately in its Para form. 249 The reason why this Pranava is called Vâch is this, that the four principles of the great cosmos correspond to these four forms of Vâch. Now the whole manifested solar system exists in its Sûkshma form in the light or energy of the Logos, because its energy is caught up and transferred to cosmic matter… the whole cosmos in its objective form is Vaikharî Vâch, the light of the Logos is the Madhyama form, and the Logos itself the Pashyanti form, and Parabrahman the Para aspect of that Vâch. It is by the light of this explanation that we must try to understand certain statements made by various philosophers to the effect that the manifested cosmos is the Verbum manifested as cosmos. 250

Như vậy, trong Manu, Brahmâ (cũng là Logos) được trình bày như chia thể của mình thành hai phần, nam và nữ, và tạo ra trong phần sau, vốn là Vâch, Virâj, vốn là chính Ngài, hay lại là Brahmâ. Một nhà Huyền bí học Vedântin uyên bác nói về “nữ thần” này như sau, giải thích lý do vì sao Îshvara (hay Brahmâ) được gọi là Verbum hay Logos; vì sao thật ra Ngài được gọi là Sabda Brahman: Lời giải thích tôi sắp đưa cho các bạn sẽ có vẻ hoàn toàn thần bí; nhưng nếu là thần bí, nó có một thâm nghĩa vô cùng lớn khi được thấu hiểu đúng đắn. Các tác giả xưa của chúng ta nói rằng Vâch có bốn loại. [Xem Rig Veda và các Upanishad.] Vaikharî Vâch là điều chúng ta thốt ra. Mọi loại Vaikharî Vâch đều tồn tại trong Madhyama của nó, xa hơn trong Pashyanti của nó, và sau cùng trong hình thức Para của nó. 249 Lý do Pranava này được gọi là Vâch là vì bốn nguyên khí của đại vũ trụ tương ứng với bốn hình thức này của Vâch. Hiện nay toàn bộ hệ mặt trời biểu hiện tồn tại trong hình thức Sûkshma của nó trong ánh sáng hay năng lượng của Logos, bởi vì năng lượng của nó được thu hút và chuyển dịch sang vật chất vũ trụ… toàn thể vũ trụ trong hình thức khách quan của nó là Vaikharî Vâch, ánh sáng của Logos là hình thức Madhyama, còn chính Logos là hình thức Pashyanti, và Parabrahman là phương diện Para của Vâch ấy. Chính dưới ánh sáng của lời giải thích này mà chúng ta phải cố thấu hiểu một số phát biểu của các triết gia khác nhau, theo đó vũ trụ biểu hiện là Verbum biểu hiện thành vũ trụ. 250

2. The Swift and the Radiant One produces the seven Laya 251Centres (a), against which none will prevail to the Great Day “Be With Us”; and seats the Universe on these Eternal Foundations, surrounding Sien-Tchan with the Elementary Germs (b).

2. Đấng Nhanh Nhẹn và Rạng Rỡ tạo ra bảy Trung Tâm Laya 251(a), mà không gì sẽ thắng được cho đến Ngày Vĩ Đại “Hãy Ở Cùng Chúng Ta”; và đặt Vũ trụ trên những Nền Móng Vĩnh Cửu này, bao quanh Sien-Tchan bằng các Mầm Nguyên tố (b).

(a) The seven Laya Centres are the seven zero-points, using the term zero in the same sense that Chemists do. It indicates, in Esotericism, a point at which the reckoning of differentiation begins. From these Centres—beyond which Esoteric Philosophy allows us to perceive the dim metaphysical outlines of the “Seven Sons” of Life and Light, the Seven Logoi of the Hermetic and all other philosophers—begins the differentiation of the Elements which enter into the constitution of our Solar System. It has often been asked what is the exact definition of Fohat and his powers and functions, for he seems to exercise those of a Personal God as understood in the popular religions. The answer has just been given in the Commentary on Stanza V. As well said in the Bhagavadgîtâ Lectures, “The whole cosmos must necessarily exist in the one source of energy from which this light [Fohat] emanates.” Whether we count the principles in cosmos and man as seven or only as four, the forces of, and in, physical Nature are Seven; and it is stated by the same authority that, “Prajnâ, or the capacity of perception, exists in seven different aspects corresponding to the seven conditions of matter.” For, “just as a human being is composed of seven principles, differentiated matter in the solar system exists in seven different conditions.” 252 So does Fohat. Fohat has several meanings, as already shown. He is called the “Builder of the Builders,” the Force that he personifies having formed our Septenary Chain. He is One and Seven, and on the cosmic plane is behind all such manifestations as light, heat, sound, adhesion, etc., etc., and is the “spirit” of electricity, which is the Life of the Universe. As an abstraction, we will call it the One Life; as an objective and evident Reality, we speak of a septenary scale of manifestation, which begins at the upper rung with the One Unknowable Causality, and ends as Omnipresent Mind and Life, immanent in every atom of Matter. Thus, while Science speaks of its evolution through brute matter, blind force, and senseless motion, the Occultists point to Intelligent Law and Sentient Life, and add that Fohat is the guiding Spirit of all this. Yet he is no personal god at all, but the emanation of those other Powers behind him, whom the Christians call the “Messengers” of their God (in reality, of the Elohim, or rather one of the Seven Creators called Elohim), and we the Messenger of the primordial Sons of Life and Light.

(a) Bảy Trung Tâm Laya là bảy điểm không, dùng thuật ngữ không theo cùng nghĩa mà các nhà Hóa học dùng. Trong Huyền bí học, nó chỉ một điểm mà từ đó sự tính toán về biến phân bắt đầu. Từ các Trung Tâm này—vượt quá chúng, Triết học Nội Môn cho phép chúng ta nhận ra những phác thảo siêu hình lờ mờ của “Bảy Con” của Sự Sống và Ánh Sáng, Bảy Logoi của các triết gia Hermetic và mọi triết gia khác—bắt đầu sự biến phân của các Nguyên tố đi vào cấu tạo hệ mặt trời của chúng ta. Người ta thường hỏi định nghĩa chính xác của Fohat cùng các quyền năng và chức năng của Ngài là gì, vì dường như Ngài thực thi những quyền năng và chức năng của một Thượng đế Cá Nhân như được hiểu trong các tôn giáo phổ thông. Câu trả lời vừa được đưa ra trong Bình giảng về Bài kệ V. Như đã nói rất đúng trong các Bài giảng Bhagavadgîtâ, “Toàn thể vũ trụ tất yếu phải tồn tại trong một nguồn năng lượng duy nhất mà từ đó ánh sáng này [Fohat] xuất lộ.” Dù chúng ta đếm các nguyên khí trong vũ trụ và con người là bảy hay chỉ là bốn, các mãnh lực của, và trong, Tự Nhiên hồng trần là Bảy; và cũng thẩm quyền ấy nêu rằng, “Prajnâ, hay khả năng tri giác, tồn tại trong bảy phương diện khác nhau tương ứng với bảy trạng thái của vật chất.” Vì, “cũng như một con người gồm bảy nguyên khí, vật chất đã biến phân trong hệ mặt trời tồn tại trong bảy trạng thái khác nhau.” 252 Fohat cũng vậy. Fohat có nhiều nghĩa, như đã được trình bày. Ngài được gọi là “Đấng Kiến Tạo của các Đấng Kiến Tạo”, Mãnh lực mà Ngài nhân cách hóa đã hình thành Dãy Thất phân của chúng ta. Ngài là Một và Bảy, và trên cõi vũ trụ đứng sau mọi biểu hiện như ánh sáng, nhiệt, âm thanh, sự kết dính, v.v., v.v., và là “tinh thần” của điện lực, vốn là Sự Sống của Vũ trụ. Như một điều trừu tượng, chúng ta sẽ gọi nó là Sự Sống Duy Nhất; như một Thực tại khách quan và hiển nhiên, chúng ta nói đến một thang biểu hiện thất phân, bắt đầu ở nấc trên cùng với Nguyên Nhân Duy Nhất Bất Khả Tri, và kết thúc như Trí Tuệ và Sự Sống Toàn Tại, nội tại trong mỗi nguyên tử của Vật Chất. Như vậy, trong khi Khoa học nói về sự tiến hoá của nó qua vật chất thô sơ, mãnh lực mù quáng và chuyển động vô tri, các nhà Huyền bí học chỉ ra Định luật Thông TuệSự Sống Hữu Cảm, và thêm rằng Fohat là Tinh thần hướng dẫn tất cả những điều này. Tuy nhiên Ngài tuyệt nhiên không phải là một vị thần cá nhân, mà là xuất lộ của những Quyền năng khác ở sau Ngài, những vị mà người Cơ Đốc gọi là “Sứ giả” của Thượng đế của họ (trên thực tế là của Elohim, hay đúng hơn là một trong Bảy Đấng Sáng Tạo được gọi là Elohim), còn chúng ta gọi là Sứ giả của các Con nguyên sơ của Sự Sống và Ánh Sáng.

(b) The “Elementary Germs,” with which he fills Sien-Tchan (the Universe) from Tien-Sin (the “Heaven of Mind,” or that which is absolute), are the Atoms of Science and the Monads of Leibnitz.

(b) “Các Mầm Nguyên tố”, mà Ngài dùng để lấp đầy Sien-Tchan (Vũ trụ) từ Tien-Sin (“Cõi Trời của Trí”, hay cái tuyệt đối), là các Nguyên tử của Khoa học và các Chân thần của Leibnitz.

3. Of the Seven 253—first One manifested, Six concealed; Two manifested, Five concealed; Three manifested, Four concealed; Four produced, Three hidden; Four and One Tsan 254revealed, Two and One Half concealed; Six to be manifested, One laid aside (a). Lastly, Seven Small Wheels revolving; one giving birth to the other (b).

3. Trong Bảy 253—trước hết Một biểu hiện, Sáu ẩn tàng; Hai biểu hiện, Năm ẩn tàng; Ba biểu hiện, Bốn ẩn tàng; Bốn được tạo ra, Ba che giấu; Bốn và Một Tsan 254được mặc khải, Hai và Một Nửa ẩn tàng; Sáu sẽ được biểu hiện, Một được đặt sang một bên (a). Sau cùng, Bảy Bánh Xe Nhỏ quay; cái này sinh ra cái kia (b).

(a) Although these Stanzas refer to the whole Universe after a Mahâpralaya (Universal Dissolution), yet this sentence, as any student of Occultism may see, refers also by analogy to the evolution and final formation of the primitive (though compound) seven Elements on our Earth. Of these, four Elements are now fully manifested, while the fifth—Ether—is only partially so, as we are hardly in the second half of the Fourth Round, and consequently the fifth Element will manifest fully only in the Fifth Round. The Worlds, including our own, as germs, were of course primarily evolved from the One Element in its second stage— “Father-Mother,” the Differentiated World’s Soul, not what is termed the “Over-Soul” by Emerson—whether we call it, with Modern Science, cosmic dust and fire-mist, or with Occultism, Âkâsha, Jîvâtmâ, Divine Astral Light, or the “Soul of the World.” But this first stage of Evolution was in due course of time followed by the next. No World, and no heavenly body, could be constructed on the objective plane, had not the Elements been already sufficiently differentiated from their primeval Ilus, resting in Laya. The latter term is a synonym of Nirvâna. It is, in fact, the Nirvânic dissociation of all substances, merged after a Life-Cycle into the latency of their primary conditions. It is the luminous but bodiless shadow of the Matter that was, the realm of negativeness—wherein lie latent during their period of rest the active Forces of the Universe.

(a) Mặc dù các Bài kệ này nói đến toàn thể Vũ trụ sau một Mahâpralaya (Đại Tan Rã Phổ Quát), nhưng câu này, như bất kỳ đạo sinh Huyền bí học nào cũng có thể thấy, cũng ám chỉ theo định luật tương đồng đến sự tiến hoá và hình thành cuối cùng của bảy Nguyên tố nguyên thủy (dù là phức hợp) trên Trái Đất chúng ta. Trong số đó, bốn Nguyên tố hiện nay đã biểu hiện đầy đủ, trong khi nguyên tố thứ năm—Ether—chỉ mới biểu hiện một phần, vì chúng ta hầu như chưa ở nửa sau của Cuộc Tuần Hoàn thứ tư, và do đó Nguyên tố thứ năm sẽ chỉ biểu hiện đầy đủ trong Cuộc Tuần Hoàn thứ năm. Các Thế giới, bao gồm thế giới của chúng ta, như những mầm, dĩ nhiên ban đầu đã tiến hoá từ Một Nguyên tố trong giai đoạn thứ hai của nó—“Cha-Mẹ”, Linh Hồn Thế Giới đã Biến Phân, chứ không phải cái được Emerson gọi là “Đại Hồn”—dù chúng ta gọi nó, theo Khoa học Hiện đại, là bụi vũ trụ và sương-lửa, hay theo Huyền bí học, là Âkâsha, Jîvâtmâ, Ánh Sáng Cảm Dục Thiêng Liêng, hay “Linh Hồn của Thế Giới”. Nhưng giai đoạn đầu tiên này của Tiến hoá đã được giai đoạn kế tiếp tiếp nối đúng kỳ hạn. Không Thế giới nào, và không thiên thể nào, có thể được kiến tạo trên cõi khách quan nếu các Nguyên tố chưa được biến phân đầy đủ khỏi Ilus nguyên sơ của chúng, đang an nghỉ trong Laya. Thuật ngữ sau là một từ đồng nghĩa với Nirvâna. Thật ra, đó là sự phân ly Niết Bàn của mọi chất liệu, sau một Chu kỳ Sự Sống, được hòa nhập vào trạng thái tiềm ẩn của các điều kiện sơ thủy của chúng. Đó là bóng sáng nhưng vô thể của Vật Chất từng hiện hữu, cõi của tính phủ định—nơi các Mãnh lực hoạt động của Vũ trụ nằm tiềm tàng trong thời kỳ an nghỉ của chúng.

Now, speaking of Elements, it is made the standing reproach of the Ancients, that they “supposed their elements simple and undecomposable.” The shades of our pre-historic ancestors might return the compliment to modern Physicists, now that new discoveries in Chemistry have led Mr. W. Crookes, F.R.S., to admit, that Science is yet a thousand leagues from a knowledge of the compound nature of the simplest molecule. From him we learn that such a thing as a really simple molecule entirely homogeneous is terra incognita in Chemistry. “Where are we to draw the line?” he asks; “is there no way out of this perplexity? Must we either make the elementary examinations so stiff that only 60 or 70 candidates can pass, or must we open the examination doors so wide that the number of admissions is limited only by the number of applicants?” And then the learned chemist gives striking instances. He says: Take the case of yttrium. It has its definite atomic weight, it behaved in every respect as a simple body, an element, to which we might indeed add, but from which we could not take away. Yet this yttrium, this supposed homogeneous whole, on being submitted to a certain method of fractionation, is resolved into portions not absolutely identical among themselves, and exhibiting a gradation of properties. Or take the case of didymium. Here was a body betraying all the recognized characters of an element. It had been separated with much difficulty from other bodies which approximated closely to it in their properties, and during this crucial process it had undergone very severe treatment and very close scrutiny. But then came another chemist, who, treating this assumed homogeneous body by a peculiar process of fractionation, resolved it into the two bodies praseodymium and neodymium, between which certain distinctions are perceptible. Further, we even now have no certainty that neodymium and praseodymium are simple bodies. On the contrary, they likewise exhibit symptoms of splitting up. Now, if one supposed element on proper treatment is thus found to comprise dissimilar molecules, we are surely warranted in asking whether similar results might not be obtained in other elements, perhaps in all elements, if treated in the right way. We may even ask where the process of sorting-out is to stop—a process which of course presupposes variations between the individual molecules of each species. And in these successive separations we naturally find bodies approaching more and more closely to each other. 255

Hiện nay, khi nói về các Nguyên tố, người Xưa thường bị trách cứ rằng họ “cho các nguyên tố của mình là đơn giản và không thể phân giải.” Bóng của các tổ tiên tiền sử của chúng ta có thể đáp lễ lời khen ấy cho các nhà Vật lý hiện đại, nay khi những khám phá mới trong Hóa học đã khiến ông W. Crookes, hội viên Hội Hoàng gia, thừa nhận rằng Khoa học vẫn còn cách tri thức về bản chất phức hợp của phân tử đơn giản nhất cả ngàn dặm. Từ ông, chúng ta biết rằng một điều như một phân tử thật sự đơn giản, hoàn toàn đồng nhất, là vùng đất chưa biết trong Hóa học. “Chúng ta phải kẻ đường ranh ở đâu?” ông hỏi; “không có lối thoát nào khỏi sự bối rối này sao? Chúng ta phải làm cho các kỳ khảo sát nguyên tố khắt khe đến mức chỉ 60 hay 70 ứng viên có thể qua được, hay phải mở rộng cửa khảo sát đến mức số người được nhận chỉ bị giới hạn bởi số ứng viên?” Rồi nhà hóa học uyên bác ấy đưa ra những trường hợp nổi bật. Ông nói: Hãy lấy trường hợp yttrium. Nó có trọng lượng nguyên tử xác định, nó cư xử trong mọi phương diện như một thể đơn giản, một nguyên tố, mà chúng ta quả có thể thêm vào, nhưng không thể lấy bớt đi. Thế nhưng yttrium này, toàn thể được cho là đồng nhất này, khi chịu một phương pháp phân đoạn nào đó, lại được phân giải thành các phần không tuyệt đối đồng nhất với nhau, và biểu lộ một sự phân cấp về các tính chất. Hoặc hãy lấy trường hợp didymium. Đây là một thể bộc lộ mọi đặc tính được thừa nhận của một nguyên tố. Nó đã được tách ra với rất nhiều khó khăn khỏi các thể khác có tính chất rất gần với nó, và trong tiến trình then chốt này nó đã trải qua sự xử lý rất nghiêm ngặt và sự khảo sát rất chặt chẽ. Nhưng rồi một nhà hóa học khác đến, xử lý thể được giả định là đồng nhất này bằng một tiến trình phân đoạn đặc thù, và phân giải nó thành hai thể praseodymium và neodymium, giữa chúng có thể nhận thấy một số khác biệt. Hơn nữa, ngay hiện nay chúng ta cũng không có sự chắc chắn rằng neodymium và praseodymium là những thể đơn giản. Trái lại, chúng cũng biểu lộ các dấu hiệu phân tách. Vậy, nếu một nguyên tố giả định, khi được xử lý thích đáng, lại được phát hiện là bao gồm các phân tử khác nhau như thế, chắc chắn chúng ta có quyền hỏi liệu những kết quả tương tự có thể đạt được trong các nguyên tố khác, có lẽ trong tất cả các nguyên tố, nếu được xử lý đúng cách hay không. Chúng ta thậm chí có thể hỏi tiến trình phân loại ấy sẽ dừng lại ở đâu—một tiến trình dĩ nhiên giả định có các biến thiên giữa những phân tử cá biệt của mỗi loài. Và trong các sự phân tách kế tiếp này, tự nhiên chúng ta tìm thấy các thể càng lúc càng tiến gần nhau hơn. 255

Once more this reproach against the Ancients is an unwarrantable statement. Their initiated philosophers at any rate, can hardly come under such an imputation, since it is they who have invented allegories and religious myths from the beginning. Had they been ignorant of the Heterogeneity of their Elements they would have had no personifications of Fire, Air, Water, Earth, and Æther; their cosmic gods and goddesses would never have been blessed with such posterity, with so many sons and daughters, elements born from and within each respective Element. Alchemy and Occult phenomena would have been a delusion and a snare, even in theory, had the Ancients been ignorant of the potentialities and correlative functions and attributes, of every element that enters into the composition of Air, Water, Earth, and even Fire—the latter a terra incognita to this day to Modern Science, which is obliged to call it motion, evolution of light and heat, state of ignition—defining it by its outward aspects in short, in ignorance of its nature.

Một lần nữa, lời trách cứ này đối với người Xưa là một phát biểu không có cơ sở. Ít nhất các triết gia đã được điểm đạo của họ khó có thể chịu một sự quy kết như thế, vì chính họ là những người đã sáng tạo ra các ẩn dụ và thần thoại tôn giáo ngay từ đầu. Nếu họ không biết đến Tính Dị Biệt của các Nguyên tố của mình, họ đã không có những nhân cách hóa của Lửa, Khí, Nước, Đất và Æther; các nam thần và nữ thần vũ trụ của họ hẳn đã không bao giờ được ban phước với một hậu duệ như thế, với nhiều con trai và con gái đến vậy, các nguyên tố sinh ra từbên trong mỗi Nguyên tố tương ứng. Thuật luyện kim và các hiện tượng Huyền bí hẳn đã là một ảo tưởng và một cạm bẫy, ngay cả trên lý thuyết, nếu người Xưa không biết đến các tiềm năng, những chức năng và thuộc tính tương quan của mỗi nguyên tố đi vào cấu tạo của Khí, Nước, Đất, và ngay cả Lửa—điều sau vẫn là một vùng đất chưa biết đối với Khoa học Hiện đại cho đến ngày nay, vốn buộc phải gọi nó là chuyển động, sự tiến hoá của ánh sáng và nhiệt, trạng thái bốc cháy—tóm lại định nghĩa nó bằng các phương diện bên ngoài của nó, trong sự không biết về bản chất của nó.

But what Modern Science seems to fail to perceive, is that, differentiated as may have been those simple chemical atoms—which archaic philosophy called “the creators of their respective parents,” fathers, brothers, husbands of their mothers, and these mothers the daughters of their own sons, like Aditi and Daksha, for example—differentiated as these elements were in the beginning, still, they were not the compound bodies known to Science, as they are now. Neither Water, Air, nor Earth (a synonym for solids generally) existed in their present form, representing the only three states of matter recognized by Science; for all these and even Fire are productions already recombined by the atmospheres of completely formed globes, so that in the first periods of the earth’s formation they were something quite sui generis. Now that the conditions and laws ruling our Solar System are fully developed, and that the atmosphere of our earth, as of every other globe, has become, so to say, a crucible of its own, Occult Science teaches that there is a perpetual exchange taking place, in space, of molecules, or rather of atoms, correlating, and thus changing their combining equivalents on every planet. Some men of Science, and these among the greatest Physicists and Chemists, begin to suspect this fact, which has been known for ages to the Occultists. The spectroscope shows only the probable similarity (on external evidence) of terrestrial and sidereal substance; it is unable to go any farther, or to show whether or not atoms gravitate towards one another in the same way, and under the same conditions, as they are supposed to do on our planet, physically and chemically. The scale of temperature, from the highest degree to the lowest that can be conceived of, may be imagined to be one and the same in and for the whole Universe; nevertheless, its properties, other than those of dissociation and reassociation, differ on every planet; and thus atoms enter into new forms of existence, undreamed of, and incognizable to, Physical Science. As already expressed in Five Years of Theosophy, 256 the essence of cometary matter, for instance, “is totally different from any of the chemical or physical characteristics with which the greatest Chemists and Physicists of the earth are acquainted.” And even that matter, during rapid passage through our atmosphere, undergoes a certain change in its nature.

Nhưng điều Khoa học Hiện đại dường như không nhận ra là, dù những nguyên tử hóa học đơn giản ấy đã được biến phân đến đâu—những nguyên tử mà triết học cổ xưa gọi là “những kẻ sáng tạo ra cha mẹ tương ứng của chúng”, là cha, anh em, chồng của mẹ chúng, và các bà mẹ ấy là con gái của chính các con trai mình, như Aditi và Daksha chẳng hạn—dù các nguyên tố này đã được biến phân từ buổi đầu, chúng vẫn chưa phải là các thể phức hợp mà Khoa học biết đến như hiện nay. Không Nước, Khí, hay Đất nào (một từ đồng nghĩa với các chất rắn nói chung) đã tồn tại trong hình thức hiện tại của chúng, đại diện cho ba trạng thái duy nhất của vật chất được Khoa học thừa nhận; vì tất cả những thứ này và cả Lửa đều là những sản phẩm đã được tái kết hợp bởi các bầu khí quyển của những bầu hành tinh đã hình thành hoàn chỉnh, đến nỗi trong các thời kỳ đầu của sự hình thành Trái Đất, chúng là một điều hoàn toàn độc nhất vô nhị. Nay khi các điều kiện và định luật cai quản hệ mặt trời của chúng ta đã phát triển đầy đủ, và khi bầu khí quyển của Trái Đất chúng ta, cũng như của mọi bầu hành tinh khác, đã trở thành, có thể nói, một nồi nấu luyện của riêng nó, Khoa học Huyền bí dạy rằng có một sự trao đổi không ngừng diễn ra trong không gian giữa các phân tử, hay đúng hơn là giữa các nguyên tử, tương quan với nhau, và do đó thay đổi các đương lượng kết hợp của chúng trên mỗi hành tinh. Một số nhà Khoa học, và trong số này có những nhà Vật lý và Hóa học vĩ đại nhất, bắt đầu nghi ngờ sự kiện này, điều các nhà Huyền bí học đã biết từ nhiều thời đại. Quang phổ kế chỉ cho thấy sự tương đồng có thể có (trên bằng chứng bên ngoài) giữa chất liệu địa cầu và chất liệu tinh tú; nó không thể đi xa hơn, hay cho thấy liệu các nguyên tử có hút nhau theo cùng cách và dưới cùng điều kiện như người ta giả định chúng làm trên hành tinh của chúng ta, về mặt hồng trần và hóa học, hay không. Thang nhiệt độ, từ mức cao nhất đến mức thấp nhất có thể quan niệm được, có thể được tưởng tượng là một và như nhau trong và cho toàn thể Vũ trụ; tuy nhiên, các tính chất của nó, ngoài các tính chất phân ly và tái kết hợp, khác nhau trên mỗi hành tinh; và như vậy các nguyên tử đi vào những hình thức hiện tồn mới, mà Khoa học Hồng trần chưa từng mơ tới và không thể nhận biết. Như đã được diễn đạt trong Năm Năm Thông Thiên Học, 256 tinh chất của vật chất sao chổi, chẳng hạn, “hoàn toàn khác với bất kỳ đặc tính hóa học hay hồng trần nào mà các nhà Hóa học và Vật lý vĩ đại nhất của Trái Đất quen biết.” Và ngay cả vật chất ấy, trong lúc đi nhanh qua bầu khí quyển của chúng ta, cũng trải qua một sự thay đổi nào đó trong bản chất của nó.

Thus not only the elements of our planet, but even those of all its sisters in the Solar System, differ in their combinations as widely from each other, as from the cosmic elements beyond our solar limits. This is again corroborated by the same man of Science in the lecture referred to above, who quotes Clerk Maxwell, saying “that the elements are not absolutely homogeneous.” He writes: It is difficult to conceive of selection and elimination of intermediate varieties, for where can these eliminated molecules have gone to, if, as we have reason to believe, the hydrogen, etc., of the fixed stars is composed of molecules identical in all respects with our own…. In the first place we may call in question this absolute molecular identity, since we have hitherto had no means for coming to a conclusion save the means furnished by the spectroscope, while it is admitted that, for accurately comparing and discriminating the spectra of two bodies, they should be examined under identical states of temperature, pressure, and all other physical conditions. We have certainly seen, in the spectrum of the sun, rays which we have not been able to identify.

Như vậy, không chỉ các nguyên tố của hành tinh chúng ta, mà ngay cả các nguyên tố của tất cả các chị em của nó trong hệ mặt trời, cũng khác nhau trong các kết hợp của chúng một cách rộng lớn, vừa khác nhau lẫn nhau, vừa khác với các nguyên tố vũ trụ bên ngoài giới hạn thái dương của chúng ta. Điều này lại được cùng nhà Khoa học ấy xác nhận trong bài giảng đã nói ở trên, khi ông trích dẫn Clerk Maxwell, nói rằng “các nguyên tố không tuyệt đối đồng nhất.” Ông viết: Thật khó quan niệm việc tuyển chọn và loại bỏ các biến thể trung gian, vì các phân tử bị loại bỏ ấy có thể đã đi đâu, nếu, như chúng ta có lý do để tin, hydrogen, v.v., của các định tinh được cấu thành bởi các phân tử đồng nhất với phân tử của chính chúng ta trong mọi phương diện…. Trước hết, chúng ta có thể đặt nghi vấn về sự đồng nhất phân tử tuyệt đối này, vì cho đến nay chúng ta chưa có phương tiện nào để đi đến kết luận ngoài phương tiện do quang phổ kế cung cấp, trong khi người ta thừa nhận rằng, để so sánh và phân biệt chính xác các quang phổ của hai thể, chúng phải được khảo sát dưới các trạng thái đồng nhất về nhiệt độ, áp suất, và mọi điều kiện hồng trần khác. Chắc chắn chúng ta đã thấy, trong quang phổ của Mặt Trời, những tia mà chúng ta chưa thể nhận diện.

Therefore, the elements of our planet cannot be taken as a standard for comparison with the elements in other worlds. In fact each world has its Fohat, which is omnipresent in its own sphere of action. But there are as many Fohats as there are worlds, each varying in power and degree of manifestation. The individual Fohats make one universal, collective Fohat—the aspect-entity of the one absolute Non-Entity, which is absolute Be-ness, Sat. “Millions and billions of worlds are produced at every Manvantara”—it is said. Therefore there must be many Fohats, whom we consider as conscious and intelligent Forces. This, no doubt, to the disgust of scientific minds. Nevertheless the Occultists, who have good reasons for it, consider all the forces of Nature as veritable, though supersensuous, states of Matter; and as possible objects of perception to beings endowed with the requisite senses.

Vì vậy, các nguyên tố của hành tinh chúng ta không thể được lấy làm tiêu chuẩn để so sánh với các nguyên tố trong những thế giới khác. Thật vậy, mỗi thế giới đều có Fohat của riêng mình, vốn hiện diện khắp nơi trong phạm vi hoạt động của nó. Nhưng có bao nhiêu thế giới thì có bấy nhiêu Fohat, mỗi vị khác nhau về quyền năng và mức độ biểu hiện. Các Fohat cá biệt hợp thành một Fohat phổ quát, tập thể — thực thể-phương diện của Phi-Thực Thể tuyệt đối duy nhất, vốn là Hiện Tồn tuyệt đối, Sat. “Hàng triệu và hàng tỷ thế giới được tạo ra trong mỗi Giai kỳ sinh hóa” — người ta nói như vậy. Do đó, ắt phải có nhiều Fohat, mà chúng tôi xem là các Mãnh lực có ý thức và thông tuệ. Điều này, không nghi ngờ gì, sẽ khiến các trí óc khoa học ghê tởm. Tuy nhiên, các nhà huyền bí học, vốn có những lý do chính đáng cho điều đó, xem mọi mãnh lực của Thiên nhiên là những trạng thái chân thực, dù siêu giác quan, của Vật chất; và là những đối tượng tri giác khả hữu đối với những hữu thể được phú cho các giác quan cần thiết.

Enshrined in its pristine, virgin state within the Bosom of the Eternal Mother, every atom born beyond the threshold of her realm is doomed to incessant differentiation. “The Mother sleeps, yet is ever breathing.” And every breath sends out into the plane of manifestation her protean products, which, carried on by the wave of efflux, are scattered by Fohat, and driven toward or beyond this or another planetary atmosphere. Once caught by the latter, the atom is lost; its pristine purity is gone for ever, unless fate dissociates it by leading it to a “current of efflux” (an Occult term meaning quite a different process from that which the ordinary word implies), when it may be carried once more to the borderland where it had previously perished, and taking its flight, not into Space above but into Space within, be brought under a state of differential equilibrium and happily reabsorbed. Were a truly learned Occultist-Alchemist to write the “Life and Adventures of an Atom,” he would secure thereby the supreme scorn of the modern Chemist, though perchance also his subsequent gratitude. Indeed, if such an imaginary Chemist happened to be intuitional, and would for a moment step out of the habitual groove of strictly “Exact Science,” as the Alchemists of old did, he might be repaid for his audacity. However it may be, “The Breath of the Father-Mother issues cold and radiant, and gets hot and corrupt, to cool once more and be purified in the eternal bosom of inner Space,” says the Commentary. Man absorbs cold pure air on the mountain-top, and throws it out impure, hot and transformed. Thus, the higher atmosphere of every globe, being its mouth, and the lower its lungs, the man of our planet breathes only the “refuse of Mother;” therefore, “he is doomed to die thereon.” He who would allotropize sluggish oxygen into ozone to a measure of alchemical activity, reducing it to its pure essence (for which there are means), would discover thereby a substitute for an “Elixir of Life” and prepare it for practical use.

Được tôn trí trong trạng thái nguyên sơ, trinh nguyên của nó nơi Lòng Mẹ Vĩnh Cửu, mỗi nguyên tử sinh ra bên ngoài ngưỡng cửa cõi giới của Bà đều bị định mệnh buộc phải trải qua sự biến phân không ngừng. “Mẹ ngủ, nhưng vẫn hằng hô hấp.” Và mỗi hơi thở phóng vào cõi biểu hiện các sản phẩm thiên biến vạn hóa của Bà, những sản phẩm ấy, được làn sóng tuôn trào mang đi, bị Fohat phân tán và thúc đẩy hướng tới hoặc vượt ra ngoài bầu khí quyển hành tinh này hay hành tinh khác. Một khi bị bầu khí quyển ấy bắt giữ, nguyên tử liền bị mất; sự tinh khiết nguyên sơ của nó vĩnh viễn không còn, trừ phi định mệnh phân ly nó bằng cách dẫn nó đến một “dòng tuôn trào” (một thuật ngữ Huyền bí có nghĩa là một tiến trình hoàn toàn khác với điều mà từ ngữ thông thường hàm ý), khi đó nó có thể lại được mang đến vùng biên nơi trước kia nó đã tiêu vong, và cất cánh, không vào Không gian bên trên mà vào Không gian bên trong, được đặt dưới một trạng thái quân bình sai biệt và may mắn được tái hấp thu. Nếu một nhà Huyền bí học–Luyện kim gia thật sự uyên bác viết “Đời sống và những cuộc phiêu lưu của một Nguyên tử”, nhờ đó ông sẽ chuốc lấy sự khinh miệt tột bậc của nhà Hóa học hiện đại, dù có lẽ về sau cũng nhận được lòng biết ơn của ông ta. Thật vậy, nếu nhà Hóa học tưởng tượng ấy tình cờ có trực giác, và trong một khoảnh khắc chịu bước ra khỏi lối mòn quen thuộc của “Khoa học Chính xác” nghiêm ngặt, như các nhà Luyện kim thời xưa đã làm, ông có thể được đền đáp cho sự táo bạo của mình. Dẫu thế nào đi nữa, “Hơi Thở của Cha-Mẹ phát ra lạnh và rạng rỡ, rồi trở nên nóng và ô trược, để lại nguội đi và được thanh luyện trong lòng vĩnh cửu của Không gian nội tại”, Cổ Luận nói như vậy. Con người hít vào không khí lạnh và tinh khiết trên đỉnh núi, rồi thở ra thứ không khí ô trược, nóng và đã chuyển đổi. Như vậy, bầu khí quyển cao của mỗi bầu hành tinh là miệng của nó, còn bầu khí quyển thấp là phổi của nó; con người trên hành tinh chúng ta chỉ hít thở “cặn bã của Mẹ”; vì thế, “y bị định mệnh buộc phải chết trên đó.” Kẻ nào có thể biến đổi thù hình oxy trì trệ thành ozone đến mức hoạt tính luyện kim, quy giảm nó về tinh chất thuần khiết của nó (điều này có những phương tiện thực hiện), sẽ nhờ đó khám phá một chất thay thế cho “Thuốc Trường Sinh” và chuẩn bị nó cho việc sử dụng thực tiễn.

(b) The process referred to as the “Small Wheels, one giving birth to the other,” takes place in the sixth region from above, and on the plane of the most material world of all in the manifested Kosmos—our terrestrial plane. These “Seven Wheels” are our Planetary Chain. By “Wheels” the various spheres and centres of forces are generally meant; but in this case they refer to our septenary Ring.

(b) Tiến trình được nói đến như “Những Bánh Xe Nhỏ, bánh này sinh ra bánh kia”, diễn ra trong vùng thứ sáu từ trên xuống, và trên cõi của thế giới vật chất nhất trong toàn thể Kosmos biểu hiện — cõi trần thế của chúng ta. “Bảy Bánh Xe” này là Dãy Hành Tinh của chúng ta. “Bánh Xe” thường chỉ các khối cầu và trung tâm mãnh lực khác nhau; nhưng trong trường hợp này, chúng chỉ Vòng thất phân của chúng ta.

4. He builds them in the likeness of older Wheels, 257 Placing them on the Imperishable Centres (a).

4. Ngài xây dựng chúng theo hình ảnh của các Bánh Xe cổ xưa hơn, 257 đặt chúng trên các Trung Tâm Bất Hoại (a).

How does Fohat build them? He collects the Fiery-Dust. He makes Balls of Fire, runs through them, and round them, infusing life thereinto, then sets them into motion; some one way, some the other way. They are cold, he makes them hot. They are dry, he makes them moist. They shine, he fans and cools them (b). Thus acts Fohat from one Twilight to the other, during Seven Eternities. 258

Fohat xây dựng chúng như thế nào? Ngài thu gom Bụi Lửa. Ngài tạo những Quả Cầu Lửa, xuyên qua chúng và vòng quanh chúng, truyền sự sống vào đó, rồi đặt chúng vào chuyển động; cái theo hướng này, cái theo hướng kia. Chúng lạnh, Ngài làm cho chúng nóng. Chúng khô, Ngài làm cho chúng ẩm. Chúng tỏa sáng, Ngài quạt và làm nguội chúng (b). Fohat hành động như vậy từ Hoàng Hôn này đến Hoàng Hôn khác, trong suốt Bảy Vĩnh Cửu. 258

(a) The Worlds are built “in the likeness of older Wheels”—i.e., of those that had existed in preceding Manvantaras and went into Pralaya; for the Law for the birth, growth, and decay of everything in Kosmos, from the Sun to the glow-worm in the grass, is One. There is an everlasting work of perfection with every new appearance, but the Substance-Matter and Forces are all one and the same. And this Law acts on every planet through minor and varying laws.

(a) Các Thế giới được xây dựng “theo hình ảnh của các Bánh Xe cổ xưa hơn” — nghĩa là theo hình ảnh của những gì đã tồn tại trong các Giai kỳ sinh hóa trước và đã đi vào Giai kỳ qui nguyên; bởi Định luật về sự sinh ra, tăng trưởng và suy tàn của mọi sự trong Kosmos, từ Mặt Trời đến con đom đóm trong cỏ, là Một. Có một công cuộc hoàn thiện bất tận với mỗi lần xuất hiện mới, nhưng Chất liệu-Vật chất và các Mãnh lực đều là một và như nhau. Và Định luật này tác động trên mỗi hành tinh qua những định luật nhỏ hơn và biến thiên.

The “Imperishable [Laya] Centres” have a great importance, and their meaning must be fully understood, if we would have a clear conception of the Archaic Cosmogony, whose theories have now passed into Occultism. At present, one thing may be stated. The Worlds are built neither upon, nor over, nor in the Laya Centres, the zero-point being a condition, not a mathematical point.

Các “Trung Tâm Bất Hoại [Laya]” có tầm quan trọng lớn lao, và ý nghĩa của chúng phải được thấu hiểu đầy đủ, nếu chúng ta muốn có một quan niệm rõ ràng về Vũ trụ khởi nguyên luận Cổ sơ, các lý thuyết của nó nay đã đi vào Huyền bí học. Hiện tại, có thể nêu một điều. Các Thế giới không được xây dựng trên, cũng không ở trên, cũng không trong các Trung Tâm Laya, vì điểm số không là một trạng thái, không phải một điểm toán học.

(b) Bear in mind that Fohat, the constructive Force of Cosmic Electricity, is said, metaphorically, to have sprung, like Rudra from the head of Brahmâ, “from the Brain of the Father and the Bosom of the Mother,” and then to have metamorphosed himself into a male and a female, i.e., polarized himself into positive and negative electricity. He has Seven Sons who are his Brothers. Fohat is forced to be born, time after time, whenever any two of his “Son-Brothers” indulge in too close contact—whether an embrace or a fight. To avoid this, he unites and binds together those of unlike nature, and separates those of similar temperaments. This, as any one can see, relates, of course, to electricity generated by friction, and to the law of attraction between two objects of unlike, and repulsion between those of like polarity. The Seven Son-Brothers, however, represent and personify the seven forms of cosmic magnetism, called in Practical Occultism the “Seven Radicals,” whose coöperative and active progeny are, among other energies, Electricity, Magnetism, Sound, Light, Heat, Cohesion, etc. Occult Science defines all these as super-sensuous effects in their hidden behaviour, and as objective phenomena in the world of sense; the former requiring abnormal faculties to perceive them, the latter cognizable by our ordinary physical senses. They all pertain to, and are the emanations of, still more supersensuous spiritual qualities, not personated by, but belonging to, real and conscious Causes. To attempt a description of such Entities would be worse than useless. The reader must bear in mind that, according to our teaching which regards this phenomenal Universe as a Great Illusion, the nearer a body is to the Unknown Substance, the more it approaches Reality, as being the farther removed from this world of Mâyâ. Therefore, though the molecular constitution of these bodies is not deducible from their manifestations, on this plane of consciousness, they nevertheless, from the standpoint of the Adept Occultist, possess a distinctive objective if not material structure, in the relatively noumenal—as opposed to the phenomenal—Universe. Men of science may term them force or forces generated by matter, or “modes of its motion,” if they will; Occultism sees in these effects Elementals (Forces), and, in the direct causes producing them, intelligent Divine Workmen. The intimate connection of these Elementals, guided by the unerring hand of the Rulers, with the elements of pure Matter—their correlation we might call it—results in our terrestrial phenomena, such as light, heat, magnetism, etc., etc. Of course we shall never agree with the American Substantialists 259 who call every force and energy—whether light, heat, electricity or cohesion—an “entity”; for this would be equivalent to calling the noise produced by the rolling of the wheels of a vehicle an entity—thus confusing and identifying that “noise” with the “driver” outside, and the guiding “Master Intelligence” within the vehicle. But we do certainly give that name to the “drivers” and to these guiding “Intelligences,” the ruling Dhyân Chohans, as has been shown. The Elementals, the Nature-Forces, are the acting, though invisible, or rather imperceptible, secondary causes, and in themselves the effects of primary causes behind the veil of all terrestrial phenomena. Electricity, light, heat, etc., have been aptly termed the “Ghosts or Shadows of Matter in Motion,” i.e., supersensuous states of Matter whose effects only we are able to cognize. To expand, then, the simile given above. The sensation of light is like the sound of the rolling wheels—a purely phenomenal effect, having no existence outside the observer. The proximate exciting cause of the sensation is comparable to the driver—a supersensuous state of matter in motion, a Nature-Force or Elemental. But, behind this—just as the owner of the carriage directs the driver from within—stands the higher and noumenal cause, the Intelligence from whose essence radiate these States of “Mother,” generating the countless milliards of Elementals, or Psychic Nature-Spirits, just as every drop of water generates its physical infinitesimal Infusoria. It is Fohat who guides the transfer of the principles from one planet to the other, from one star to another child-star. When a planet dies, its informing principles are transferred to a laya or sleeping centre, with potential but latent energy in it, which is thus awakened into life and begins to form itself into a new sidereal body.

(b) Hãy ghi nhớ rằng Fohat, Mãnh lực kiến tạo của Điện Vũ Trụ, được nói theo ẩn dụ là đã phát sinh, như Rudra từ đầu Brahma, “từ Bộ Não của Cha và Lòng của Mẹ”, rồi sau đó tự biến thể thành nam và nữ, nghĩa là tự phân cực thành điện dương và điện âm. Ngài có Bảy Con vốn là các Huynh Đệ của Ngài. Fohat bị buộc phải sinh ra, hết lần này đến lần khác, bất cứ khi nào hai trong số các “Con-Huynh Đệ” của Ngài chìm vào sự tiếp xúc quá gần — dù là ôm ấp hay giao chiến. Để tránh điều này, Ngài hợp nhất và ràng buộc với nhau những vị có bản chất khác loại, và tách rời những vị có khí chất tương tự. Điều này, như bất kỳ ai cũng có thể thấy, dĩ nhiên liên quan đến điện được sinh ra do ma sát, và đến định luật hấp dẫn giữa hai vật có cực tính khác nhau, cùng sự đẩy lùi giữa những vật có cực tính giống nhau. Tuy nhiên, Bảy Con-Huynh Đệ biểu trưng và nhân cách hóa bảy hình thức của từ điện vũ trụ, được gọi trong Huyền bí học Thực hành là “Bảy Căn Nguyên”, mà hậu duệ hợp tác và hoạt động của các Ngài, trong số những năng lượng khác, là Điện, Từ điện, Âm Thanh, Ánh sáng, Nhiệt, Cố kết, v.v. Khoa học Huyền bí định nghĩa tất cả những điều này là các hiệu quả siêu giác quan trong hành vi ẩn tàng của chúng, và là các hiện tượng khách quan trong thế giới giác quan; cái trước đòi hỏi những quan năng dị thường để tri giác chúng, cái sau có thể được nhận biết bằng các giác quan hồng trần thông thường của chúng ta. Tất cả chúng đều thuộc về, và là các xuất lộ của, những phẩm tính tinh thần còn siêu giác quan hơn nữa, không được nhân cách hóa bởi, nhưng thuộc về, các Nguyên Nhân chân thực và có ý thức. Cố gắng mô tả những Thực Thể như vậy còn tệ hơn là vô ích. Độc giả phải ghi nhớ rằng, theo giáo huấn của chúng tôi vốn xem Vũ trụ hiện tượng này là một Đại Ảo Tưởng, một thể càng gần Chất liệu Vô Danh bao nhiêu, thì càng tiến gần đến Thực Tại bấy nhiêu, vì càng xa rời thế giới ảo lực này. Do đó, dù cấu tạo phân tử của các thể này không thể được suy ra từ các biểu hiện của chúng trên cõi tâm thức này, tuy nhiên, từ quan điểm của Chân sư Huyền bí học, chúng vẫn sở hữu một cấu trúc khách quan riêng biệt, nếu không phải là vật chất, trong Vũ trụ tương đối bản thể — đối lập với Vũ trụ hiện tượng. Các nhà khoa học có thể gọi chúng là mãnh lực hay các mãnh lực do vật chất sinh ra, hoặc “các dạng chuyển động của nó”, nếu họ muốn; Huyền bí học thấy trong các hiệu quả này các Hành khí (Mãnh lực), và trong những nguyên nhân trực tiếp tạo ra chúng, những Người Thợ Thiêng Liêng thông tuệ. Mối liên hệ mật thiết của các Hành khí này, được bàn tay không sai lạc của các Đấng Cai Quản dẫn dắt, với các nguyên tố của Vật chất thuần khiết — chúng ta có thể gọi đó là sự tương quan của chúng — tạo nên các hiện tượng trần thế của chúng ta, như ánh sáng, nhiệt, từ điện, v.v., v.v. Dĩ nhiên, chúng ta sẽ không bao giờ đồng ý với các nhà Duy thực thể Hoa Kỳ 259, những người gọi mọi mãnh lực và năng lượng — dù là ánh sáng, nhiệt, điện hay cố kết — là một “thực thể”; vì điều này sẽ tương đương với việc gọi tiếng ồn do bánh xe của một cỗ xe lăn tạo ra là một thực thể — qua đó lẫn lộn và đồng nhất “tiếng ồn” ấy với “người đánh xe” bên ngoài, và “Trí Tuệ Chủ Quản” dẫn dắt bên trong cỗ xe. Nhưng chắc chắn chúng ta trao danh xưng ấy cho các “người đánh xe” và cho những “Trí Tuệ” dẫn dắt này, tức các Dhyân Chohans cai quản, như đã được trình bày. Các Hành khí, các Mãnh lực Thiên nhiên, là những nguyên nhân thứ yếu tác động, dù vô hình, hay đúng hơn là không thể tri giác, và tự chúng là các hiệu quả của những nguyên nhân sơ khởi ở sau bức màn của mọi hiện tượng trần thế. Điện, ánh sáng, nhiệt, v.v., đã được gọi rất đúng là “Những Bóng Ma hay Bóng của Vật chất trong Chuyển động”, nghĩa là các trạng thái siêu giác quan của Vật chất mà chúng ta chỉ có thể nhận biết các hiệu quả của chúng. Vậy, hãy mở rộng ẩn dụ đã nêu ở trên. Cảm giác về ánh sáng giống như âm thanh của bánh xe đang lăn — một hiệu quả thuần túy hiện tượng, không có hiện hữu bên ngoài người quan sát. Nguyên nhân kích thích gần nhất của cảm giác ấy có thể so sánh với người đánh xe — một trạng thái siêu giác quan của vật chất trong chuyển động, một Mãnh lực Thiên nhiên hay Hành khí. Nhưng đằng sau điều này — cũng như chủ nhân cỗ xe điều khiển người đánh xe từ bên trong — có nguyên nhân cao hơn và bản thể, Trí Tuệ mà từ tinh chất của nó các Trạng thái này của “Mẹ” tỏa phát, sinh ra vô số tỷ tỷ Hành khí, hay các Tinh linh Thiên nhiên Thông linh, cũng như mỗi giọt nước sinh ra vô số trùng cỏ cực vi hồng trần của nó. Chính Fohat là Đấng hướng dẫn sự chuyển dịch các nguyên khí từ hành tinh này sang hành tinh khác, từ ngôi sao này sang một ngôi sao-con khác. Khi một hành tinh chết, các nguyên khí thấm nhuần nó được chuyển đến một trung tâm laya hay đang ngủ, với năng lượng tiềm năng nhưng còn tiềm ẩn trong đó, nhờ vậy được đánh thức vào sự sống và bắt đầu tự hình thành thành một thiên thể mới.

It is most remarkable that, while honestly confessing their entire ignorance of the true nature of even terrestrial matter—primordial substance being regarded more as a dream than as a sober reality—the Physicists should, nevertheless, set themselves up as judges of that matter, and claim to know what it is able and is not able to do, in various combinations. Scientists know this matter hardly skin-deep, and yet they will dogmatize. It is “a mode of motion” and nothing else! But the “force” that is inherent in a living person’s breath, when blowing a speck of dust from the table, is also, undeniably, “a mode of motion.” It is as undeniably not a quality of the matter, or the particles of the speck, and it emanates from the living and thinking Entity that breathed, whether the impulse originated consciously or unconsciously. Indeed, to endow matter—something of which nothing is so far known—with an inherent quality called force, of the nature of which still less is known, is to create a far more serious difficulty than that which lies in the acceptation of the intervention of our “Nature-Spirits” in every natural phenomenon.

Điều đáng chú ý nhất là, trong khi thành thật thú nhận sự hoàn toàn vô minh của họ về bản chất đích thực của ngay cả vật chất trần thế — chất liệu nguyên thủy bị xem như một giấc mơ hơn là một thực tại tỉnh táo — các nhà Vật lý học vẫn tự đặt mình làm quan tòa của vật chất ấy, và tuyên bố biết nó có thể và không thể làm gì trong những kết hợp khác nhau. Các nhà khoa học chỉ biết vật chất này hầu như ngoài da, vậy mà họ vẫn giáo điều. Nó là “một dạng chuyển động” và không gì khác! Nhưng “mãnh lực” vốn cố hữu trong hơi thở của một người sống, khi thổi một hạt bụi khỏi bàn, cũng không thể chối cãi là “một dạng chuyển động.” Nó cũng không thể chối cãi là không phải một phẩm tính của vật chất, hay của các phần tử của hạt bụi, và nó xuất lộ từ Thực Thể sống và suy nghĩ đã thở ra, dù xung động ấy phát sinh có ý thức hay vô thức. Thật vậy, gán cho vật chất — một điều mà cho đến nay người ta chưa biết gì — một phẩm tính cố hữu gọi là mãnh lực, mà về bản chất của nó người ta còn biết ít hơn nữa, là tạo ra một khó khăn nghiêm trọng hơn nhiều so với khó khăn nằm trong việc chấp nhận sự can thiệp của các “Tinh linh Thiên nhiên” của chúng tôi trong mọi hiện tượng tự nhiên.

The Occultists—who, if they would express themselves correctly, do not say that matter, but only the substance or essence of matter, (i.e., Mûlaprakriti, the Root of all) is indestructible and eternal—assert that all the so-called Forces of Nature, electricity, magnetism, light, heat, etc., etc., far from being modes of motion of material particles, are in esse, i.e., in their ultimate constitution, the differentiated aspects of that Universal Motion which is discussed and explained in the first pages of this volume. When Fohat is said to produce Seven Laya Centres, it means that, for formative or creative purposes, the Great Law—Theists may call it God—stays, or rather modifies, its perpetual motion on seven invisible points within the area of the Manifested Universe. “The Great Breath digs through Space seven holes into Laya, to cause them to circumgyrate during Manvantara,” says the Occult Catechism. We have said that Laya is what Science may call the zero-point or line; the realm of absolute negativeness, or the one real absolute Force, the noumenon of the Seventh State of that which we ignorantly call and recognize as “Force”; or again the noumenon of Undifferentiated Cosmic Substance, which is itself an unreachable and unknowable object for finite perception; the root and basis of all states of objectivity and also subjectivity; the neutral axis, not one of the many aspects, but its centre. It may serve to elucidate the meaning, if we try to imagine a “neutral centre”—the dream of those who would discover perpetual motion. A “neutral centre” is, in one aspect, the limiting point of any given set of senses. Thus, imagine two consecutive planes of matter; each of these corresponding to an appropriate set of perceptive organs. We are forced to admit that between these two planes of matter an incessant circulation takes place; and if we follow the atoms and molecules of, say, the lower in their transformation upwards, they will come to a point where they pass altogether beyond the range of the faculties we are using on the lower plane. In fact, for us the matter of the lower plane there vanishes from our perception—or rather, it passes on to the higher plane, and the state of matter corresponding to such a point of transition must certainly possess special, and not readily discoverable, properties. Seven such “Neutral Centres,” 260 then, are produced by Fohat, who, when, as Milton has it: Fair foundations (are) laid whereon to build…

Các nhà Huyền bí học — những người, nếu muốn diễn đạt chính xác, không nói rằng vật chất, mà chỉ nói rằng chất liệu hay tinh chất của vật chất, nghĩa là Mûlaprakriti, Cội Rễ của tất cả, là bất hoại và vĩnh cửu — khẳng định rằng tất cả những cái gọi là Mãnh lực của Thiên nhiên, điện, từ điện, ánh sáng, nhiệt, v.v., v.v., chẳng những không phải là các dạng chuyển động của những phần tử vật chất, mà trong tự thể, nghĩa là trong cấu tạo tối hậu của chúng, là các phương diện đã biến phân của Chuyển Động Phổ Quát đã được bàn đến và giải thích trong những trang đầu của quyển này. Khi Fohat được nói là tạo ra Bảy Trung Tâm Laya, điều đó có nghĩa là, vì các mục đích tạo hình hay sáng tạo, Đại Định Luật — những người hữu thần có thể gọi là Thượng đế — ngưng lại, hay đúng hơn là biến đổi, chuyển động vĩnh viễn của nó tại bảy điểm vô hình trong phạm vi Vũ trụ Biểu hiện. “Đại Hơi Thở khoan xuyên Không gian bảy lỗ vào Laya, để khiến chúng quay vòng trong Giai kỳ sinh hóa”, Giáo lý Vấn Đáp Huyền bí nói như vậy. Chúng tôi đã nói rằng Laya là điều Khoa học có thể gọi là điểm hay đường số không; cõi của tính phủ định tuyệt đối, hay Mãnh lực tuyệt đối chân thực duy nhất, bản thể của Trạng thái Thứ Bảy của cái mà chúng ta, do vô minh, gọi và nhận biết là “Mãnh lực”; hoặc nữa là bản thể của Chất liệu Vũ Trụ Chưa Biến Phân, tự nó là một đối tượng không thể với tới và không thể biết đối với tri giác hữu hạn; cội rễ và nền tảng của mọi trạng thái khách quan và cả chủ quan; trục trung hòa, không phải một trong nhiều phương diện, mà là trung tâm của nó. Điều này có thể giúp làm sáng tỏ ý nghĩa, nếu chúng ta cố hình dung một “trung tâm trung hòa” — giấc mơ của những người muốn khám phá chuyển động vĩnh cửu. Một “trung tâm trung hòa”, theo một phương diện, là điểm giới hạn của bất kỳ tập hợp giác quan nào đã cho. Vậy hãy hình dung hai cõi vật chất liên tiếp; mỗi cõi tương ứng với một tập hợp cơ quan tri giác thích hợp. Chúng ta buộc phải thừa nhận rằng giữa hai cõi vật chất này có một sự tuần hoàn không ngừng; và nếu chúng ta theo dõi các nguyên tử và phân tử của, chẳng hạn, cõi thấp hơn trong sự chuyển đổi của chúng đi lên, chúng sẽ đến một điểm nơi chúng hoàn toàn vượt khỏi phạm vi các quan năng mà chúng ta đang sử dụng trên cõi thấp. Thật vậy, đối với chúng ta, vật chất của cõi thấp ở đó biến mất khỏi tri giác của chúng ta — hay đúng hơn, nó chuyển sang cõi cao hơn, và trạng thái vật chất tương ứng với một điểm chuyển tiếp như vậy chắc chắn phải sở hữu những đặc tính đặc biệt, không dễ khám phá. Vậy, bảy “Trung Tâm Trung Hòa” như thế, 260 được Fohat tạo ra, Đấng mà, khi, như Milton nói: Những nền móng tốt đẹp được đặt xuống để xây dựng trên đó…

quickens matter into activity and evolution.

làm cho vật chất bừng dậy vào hoạt động và tiến hoá.

The Primordial Atom (Anu) cannot be multiplied either in its pregenetic state, or its primogeneity; therefore it is called the “Sum Total,” of course, figuratively, as that “Sum Total” is boundless. That which is the abyss of nothingness to the Physicist, who knows only the world of visible causes and effects, is the boundless Space of the Divine Plenum to the Occultist. Among many other objections to the doctrine of an endless evolution and involution, or reabsorption of the Kosmos, a process which, according to the Brâhmanical and Esoteric Doctrine, is without beginning or end, the Occultist is told that it cannot be, since “by all the admissions of modern scientific philosophy it is a necessity of nature to run down.” If the tendency of nature “to run down” is to be considered so forcible an objection to Occult Cosmogony, how, we may ask, do your Positivists and Free-thinkers and Scientists account for the phalanx of active stellar systems around us? They had eternity to “run down” in; why, then, is not the Kosmos a huge inert mass? Even the moon is only hypothetically believed to be a dead planet, “run down,” and Astronomy does not seem to be acquainted with many such dead planets. 261 The query is unanswerable. But apart from this, it must be noted that the idea of the amount of “transformable energy” in our little system coming to an end, is based purely on the fallacious conception of a “white-hot, incandescent sun,” perpetually radiating away its heat without compensation into space. To this we reply that nature runs down and disappears from the objective plane, only to reemerge after a time of rest out of the subjective, and to reascend once more. Our Kosmos and Nature will run down only to reappear on a more perfect plane after every Pralaya. The Matter of the Eastern philosophers is not the “matter” and Nature of the Western metaphysicians. For what is Matter? And above all, what is our scientific philosophy but that which was so justly and so politely defined by Kant as the “science of the limits to our knowledge?” To what have the many attempts made by Science to bind, connect, and define all the phenomena of organic life, by mere physical and chemical manifestations, brought it? To speculation generally—mere soap-bubbles, that have burst one after the other before the men of Science were permitted to discover real facts. All this would have been avoided, and the progress of knowledge would have proceeded with gigantic strides, had only Science and its philosophy abstained from accepting hypotheses merely on the one-sided knowledge of their “matter.” The behaviour of Uranus and Neptune—whose satellites, four and one in number respectively, revolved, it was thought, in their orbits from East to West, whereas all the other satellites rotate from West to East—is a very good instance, as showing how unreliable are all à priori speculations, even when based on the strictest mathematical analysis. The famous hypothesis of the formation of our Solar System out of nebulous rings, put forward by Kant and Laplace, was chiefly based on the assumed fact that all the planets revolved in the same direction. Laplace, relying on this mathematically demonstrated fact in his own time, and calculating on the theory of probabilities, offered to bet three milliards to one that the next planet discovered would have in its system the same peculiarity of motion eastward. The immutable laws of scientific mathematics got “worsted by further experiments and observations.” This idea of Laplace’s mistake prevails generally to this day; but some Astronomers have finally succeeded in demonstrating (?) that the error has been in accepting Laplace’s assertion for a mistake; and steps to correct the bévue, without attracting general attention, are now being taken. Many such unpleasant surprises are in store for hypotheses of even a purely physical character. What further disillusions, then, may there not be in questions concerning a transcendental, Occult Nature? At any rate, Occultism teaches that the so-called “reverse rotation” is a fact.

Nguyên Tử Nguyên Sơ (Anu) không thể được nhân lên, dù trong trạng thái tiền sinh thành của nó hay trong tính nguyên sơ của nó; vì thế nó được gọi là “Tổng Toàn”, dĩ nhiên theo nghĩa biểu tượng, vì “Tổng Toàn” ấy là vô biên. Cái vốn là vực thẳm hư vô đối với nhà Vật lý học, người chỉ biết thế giới của những nguyên nhân và hiệu quả hữu hình, lại là Không gian vô biên của Sự Viên Mãn Thiêng Liêng đối với nhà Huyền bí học. Trong số nhiều phản đối khác đối với giáo lý về một sự tiến hoá và giáng hạ tiến hoá, hay tái hấp thu, vô tận của Kosmos — một tiến trình mà theo Giáo lý Brahman và Nội môn là không có khởi đầu hay kết thúc — nhà Huyền bí học được bảo rằng điều đó không thể có, vì “theo mọi thừa nhận của triết học khoa học hiện đại, việc suy kiệt là một tất yếu của thiên nhiên.” Nếu khuynh hướng “suy kiệt” của thiên nhiên được xem là một phản bác mạnh mẽ như vậy đối với Vũ trụ khởi nguyên luận Huyền bí, thì chúng tôi có thể hỏi, những nhà Thực chứng, Tự do tư tưởng và Khoa học của các bạn giải thích thế nào về đội hình các hệ sao hoạt động quanh chúng ta? Chúng đã có vĩnh cửu để “suy kiệt”; vậy tại sao Kosmos không phải là một khối trơ khổng lồ? Ngay cả mặt trăng cũng chỉ được tin theo giả thuyết là một hành tinh chết, “suy kiệt”, và Thiên văn học dường như không biết đến nhiều hành tinh chết như vậy. 261 Câu hỏi ấy không thể trả lời. Nhưng ngoài điều này, cần lưu ý rằng ý tưởng về lượng “năng lượng có thể chuyển đổi” trong hệ nhỏ bé của chúng ta đi đến chỗ cạn kiệt hoàn toàn dựa trên quan niệm sai lầm về một “mặt trời nóng trắng, rực sáng”, vĩnh viễn bức xạ nhiệt của nó vào không gian mà không được bù đắp. Đối với điều này, chúng tôi đáp rằng thiên nhiên suy kiệt và biến mất khỏi cõi khách quan, chỉ để tái xuất hiện sau một thời gian nghỉ ngơi từ cõi chủ quan, và lại đi lên một lần nữa. Kosmos và Thiên nhiên của chúng ta chỉ suy kiệt để tái hiện trên một cõi hoàn thiện hơn sau mỗi Giai kỳ qui nguyên. Vật chất của các triết gia Đông phương không phải là “vật chất” và Thiên nhiên của các nhà siêu hình học Tây phương. Vì Vật chất là gì? Và trên hết, triết học khoa học của chúng ta là gì nếu không phải là điều đã được Kant định nghĩa thật công bằng và lịch sự là “khoa học về các giới hạn của tri thức chúng ta”? Nhiều nỗ lực của Khoa học nhằm ràng buộc, liên kết và định nghĩa mọi hiện tượng của sự sống hữu cơ chỉ bằng các biểu hiện vật lý và hóa học đã đưa nó đến đâu? Đến suy đoán nói chung — những bong bóng xà phòng đơn thuần, đã vỡ tan cái này sau cái kia trước khi các nhà Khoa học được phép khám phá những sự kiện thực. Tất cả điều này đã có thể tránh được, và sự tiến bộ của tri thức đã có thể tiến bước bằng những sải chân khổng lồ, nếu Khoa học và triết học của nó chỉ cần tránh chấp nhận các giả thuyết chỉ dựa trên tri thức phiến diện về “vật chất” của họ. Hành vi của Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương — các vệ tinh của chúng, lần lượt bốn và một, từng được cho là quay trong quỹ đạo từ Đông sang Tây, trong khi tất cả các vệ tinh khác quay từ Tây sang Đông — là một ví dụ rất tốt, cho thấy mọi suy đoán tiên nghiệm đều không đáng tin cậy ra sao, ngay cả khi dựa trên phân tích toán học nghiêm ngặt nhất. Giả thuyết nổi tiếng về sự hình thành hệ mặt trời của chúng ta từ các vòng tinh vân, do Kant và Laplace đưa ra, chủ yếu dựa trên sự kiện giả định rằng mọi hành tinh đều quay theo cùng một hướng. Laplace, dựa vào sự kiện được chứng minh bằng toán học này trong thời của ông, và tính toán theo lý thuyết xác suất, đã đề nghị cá cược ba tỷ ăn một rằng hành tinh kế tiếp được khám phá sẽ có trong hệ của nó cùng đặc điểm chuyển động về phía đông. Các định luật bất biến của toán học khoa học đã bị “đánh bại bởi những thí nghiệm và quan sát tiếp theo.” Ý tưởng về sai lầm của Laplace vẫn phổ biến cho đến ngày nay; nhưng một số Nhà thiên văn cuối cùng đã thành công trong việc chứng minh (?) rằng lỗi là ở chỗ xem lời khẳng định của Laplace là một sai lầm; và hiện nay người ta đang thực hiện các bước để sửa chữa sự lầm lẫn ấy mà không thu hút sự chú ý chung. Nhiều bất ngờ khó chịu như vậy còn đang chờ các giả thuyết ngay cả thuộc tính chất thuần túy vật lý. Vậy thì, trong những vấn đề liên quan đến một Thiên nhiên siêu việt, Huyền bí, còn có thể có những vỡ mộng nào nữa? Dù sao, Huyền bí học dạy rằng cái gọi là “sự quay ngược” là một sự kiện.

If no physical intellect is capable of counting the grains of sand covering a few miles of sea-shore, or of fathoming the ultimate nature and essence of these grains, when palpable and visible on the palm of the Naturalist, how can any Materialist limit the laws which govern the changes in the conditions and being of the atoms in Primordial Chaos, or know anything certain about the capabilities and potency of the atoms and molecules, before and after their formation into worlds? These changeless and eternal molecules—far more numberless in space than the grains on the ocean shore—may differ in their constitution along the lines of their planes of existence, as the soul-substance differs from its vehicle, the body. Each atom has seven planes of being or existence, we are taught; and each plane is governed by its specific laws of evolution and absorption. Ignorant of any, even approximate, chronological data from which to start, in attempting to decide the age of our planet or the origin of the solar system, Astronomers, Geologists, and Physicists, with each new hypothesis, are drifting farther and farther away from the shores of fact into the fathomless depths of speculative ontology. 262 The Law of Analogy, in the plan of structure between the trans-solar systems and the solar planets, does not necessarily bear upon the finite conditions, to which every visible body is subject, in this our plane of being. In Occult Science, this Law of Analogy is the first and most important key to cosmic physics; but it has to be studied in its minutest details, and “turned seven times,” before one comes to understand it. Occult Philosophy is the only science that can teach it. How, then, can anyone hang the truth or the untruth of the Occultist’s proposition, “the Kosmos is eternal in its unconditioned collectivity, and finite only in its conditioned manifestations,” on this one-sided physical enunciation that “it is a necessity of Nature to run down”? 263

Nếu không trí năng hồng trần nào có thể đếm được những hạt cát phủ vài dặm bờ biển, hay dò thấu bản chất và tinh chất tối hậu của những hạt cát ấy, khi chúng sờ thấy và thấy được trên lòng bàn tay của nhà Tự nhiên học, thì làm sao bất kỳ nhà Duy vật nào có thể giới hạn các định luật chi phối những biến đổi trong các điều kiện và hiện tồn của các nguyên tử trong Hỗn Mang Nguyên Thủy, hoặc biết điều gì chắc chắn về các khả năng và quyền năng của các nguyên tử và phân tử, trước và sau khi chúng hình thành thành các thế giới? Những phân tử bất biến và vĩnh cửu này — trong không gian còn vô số hơn rất nhiều so với các hạt cát trên bờ đại dương — có thể khác nhau trong cấu tạo của chúng theo các tuyến của những cõi hiện hữu của chúng, cũng như chất liệu-linh hồn khác với vận cụ của nó, là thể xác. Chúng ta được dạy rằng mỗi nguyên tử có bảy cõi của hiện tồn hay hiện hữu; và mỗi cõi được cai quản bởi các định luật tiến hoá và hấp thu riêng của nó. Vì không biết bất kỳ dữ kiện niên đại nào, dù chỉ gần đúng, để khởi đầu khi cố quyết định tuổi của hành tinh chúng ta hay nguồn gốc của hệ mặt trời, các Nhà thiên văn, Địa chất học và Vật lý học, với mỗi giả thuyết mới, đang trôi ngày càng xa khỏi bờ sự kiện vào những vực sâu không đáy của bản thể luận suy đoán. 262 Định luật tương đồng, trong mô hình cấu trúc giữa các hệ vượt ngoài mặt trời và các hành tinh mặt trời, không nhất thiết liên hệ đến những điều kiện hữu hạn mà mọi thể hữu hình đều chịu lệ thuộc trên cõi hiện tồn này của chúng ta. Trong Khoa học Huyền bí, định luật tương đồng này là chìa khóa đầu tiên và quan trọng nhất của vật lý vũ trụ; nhưng nó phải được nghiên cứu trong những chi tiết nhỏ nhất, và “xoay bảy lần”, trước khi người ta đi đến thấu hiểu nó. Triết học Huyền bí là khoa học duy nhất có thể dạy điều đó. Vậy thì, làm sao bất kỳ ai có thể treo chân lý hay sự không chân lý của mệnh đề của nhà Huyền bí học, “Kosmos là vĩnh cửu trong tính tập thể vô điều kiện của nó, và hữu hạn chỉ trong các biểu hiện có điều kiện của nó”, vào phát biểu vật lý phiến diện này rằng “việc suy kiệt là một tất yếu của Thiên nhiên”? 263

A Digression. — Một đoạn bàn ngoài đề.

With this Shloka ends that portion of the Stanzas relating to the cosmogony of the Universe after the last Mahâpralaya, or Universal Dissolution, which, when it comes, sweeps out of Space every differentiated thing, gods as well as atoms, like so many dry leaves. From this verse onwards, the Stanzas are only concerned with our Solar System in general, with the Planetary Chains therein inferentially, and with the history of our Globe (the Fourth and its Chain) especially. All the verses which follow in this Volume refer only to the evolution of, and on, our Earth. With regard to the latter, a strange tenet—strange from the modern scientific standpoint only, of course—is held, which ought to be made known.

Với bài kệ này kết thúc phần của các Bài kệ liên quan đến vũ trụ khởi nguyên luận của Vũ trụ sau Đại giai kỳ qui nguyên cuối cùng, hay Sự Tan Rã Phổ Quát, khi xảy đến, quét khỏi Không gian mọi sự đã biến phân, các thần linh cũng như các nguyên tử, như vô số lá khô. Từ câu này trở đi, các Bài kệ chỉ liên quan đến hệ mặt trời của chúng ta nói chung, đến các Dãy Hành Tinh trong đó theo lối suy luận, và đặc biệt đến lịch sử Bầu hành tinh của chúng ta (Bầu thứ Tư và Dãy của nó). Tất cả các câu theo sau trong Quyển này chỉ đề cập đến sự tiến hoá của, và trên, Trái Đất của chúng ta. Liên quan đến điều sau, có một giáo lý kỳ lạ — dĩ nhiên chỉ kỳ lạ theo lập trường khoa học hiện đại — được gìn giữ, và cần phải được biết đến.

But before entirely new and somewhat startling theories are presented to the reader, they must be prefaced by a few words of explanation. This is absolutely necessary, as these theories clash not only with Modern Science, but, on certain points, contradict earlier statements 264 made by other Theosophists, who claim to base their explanations and renderings of these teachings on the same authority as we do.

Nhưng trước khi những lý thuyết hoàn toàn mới và phần nào gây sửng sốt được trình bày với độc giả, chúng phải được mở đầu bằng vài lời giải thích. Điều này tuyệt đối cần thiết, vì các lý thuyết này không chỉ va chạm với Khoa học Hiện đại, mà ở một vài điểm còn mâu thuẫn với những phát biểu trước đây 264 của các nhà Thông Thiên Học khác, những người tuyên bố đặt các giải thích và diễn dịch của họ về những giáo huấn này trên cùng thẩm quyền như chúng tôi.

This may give rise to the idea that there is a decided contradiction between the expounders of the same doctrine; whereas the difference, in reality, arises from the incompleteness of the information given to earlier writers, who thus drew some erroneous conclusions and indulged in premature speculations, in their endeavour to present a complete system to the public. Thus the reader, who is already a student of Theosophy, must not be surprised to find in these pages the rectification of certain statements made in various Theosophical works, and also the explanation of certain points which have remained obscure, because they were necessarily left incomplete. Many are the questions upon which even the author of Esoteric Buddhism, the best and most accurate of all such works, has not touched. On the other hand, even he has introduced several mistaken notions, which must now be presented in their true mystic light, as far as the present writer is capable of so doing.

Điều này có thể làm nảy sinh ý tưởng rằng có một mâu thuẫn rõ rệt giữa những người trình bày cùng một giáo lý; trong khi sự khác biệt, trên thực tế, phát sinh từ tính chưa đầy đủ của thông tin đã được trao cho các tác giả trước, khiến họ rút ra một số kết luận sai lầm và sa vào những suy đoán quá sớm, trong nỗ lực trình bày một hệ thống hoàn chỉnh cho công chúng. Vì vậy, độc giả nào đã là môn sinh Thông Thiên Học không nên ngạc nhiên khi thấy trong những trang này việc chỉnh lý một số phát biểu trong nhiều tác phẩm Thông Thiên Học khác nhau, và cả việc giải thích một số điểm vẫn còn mơ hồ, vì nhất thiết chúng đã bị để lại chưa hoàn chỉnh. Có nhiều vấn đề mà ngay cả tác giả của Phật Giáo Nội Môn, tác phẩm hay nhất và chính xác nhất trong tất cả các tác phẩm như vậy, cũng chưa chạm đến. Mặt khác, ngay cả ông cũng đã đưa vào một số quan niệm sai lầm, nay phải được trình bày trong ánh sáng thần bí đích thực của chúng, trong phạm vi tác giả hiện tại có khả năng làm điều đó.

Let us then make a short break between the Shlokas just explained and those which follow, for the cosmic periods which separate them are of immense duration. This will afford us ample time to take a bird’s-eye view of some points pertaining to the Secret Doctrine, which have been presented to the public under a more or less uncertain and sometimes mistaken light.

Vậy chúng ta hãy tạm ngắt một đoạn ngắn giữa các Bài kệ vừa được giải thích và những bài theo sau, vì các chu kỳ vũ trụ phân cách chúng có thời lượng mênh mông. Điều này sẽ cho chúng ta đủ thời gian để nhìn bao quát một số điểm thuộc về Giáo Lý Bí Nhiệm, vốn đã được trình bày với công chúng dưới một ánh sáng ít nhiều bất định và đôi khi sai lầm.

A Few Early Misconceptions Concerning Planets, Rounds, And Man.

Một vài quan niệm sai lầm ban đầu về các Hành tinh, các Cuộc tuần hoàn, và Con người.

Among the eleven Stanzas omitted, there is one which gives a full description of the formation of the Planetary Chains one after another, after the first cosmic and atomic differentiation had commenced in the primitive Acosmism. It is idle to speak of “laws arising when Deity prepares to create,” for “laws,” or rather Law, are eternal and uncreated; and again Deity is Law, and vice versà. Moreover, the one eternal Law unfolds everything in the (to be) manifested Nature on a sevenfold principle; among the rest, the countless circular Chains of Worlds, composed of seven Globes, graduated on the four lower planes of the World of Formation, the three others belonging to the Archetypal Universe. Out of these seven only one, the lowest and the most material of these Globes, is within our plane or means of perception, the six others lying outside it and being therefore invisible to the terrestrial eye. Every such Chain of Worlds is the progeny and creation of another, lower, and dead Chain—its reincarnation, so to say. To make it clearer: we are told that each of the planets—of which seven only were called sacred, as being ruled by the highest Regents or Gods, and not at all because the Ancients knew nothing of the others 265—whether known or unknown, is a septenary, as also is the Chain to which the Earth belongs. For instance, all such planets as Mercury, Venus, Mars, Jupiter, Saturn, etc., etc., or our Earth, are as visible to us as our Globe, probably, is to the inhabitants, if any, of the other planets, because they are all on the same plane; while the superior fellow-globes of these planets are on other planes quite outside that of our terrestrial senses. As their relative positions are given further on, and also in the diagram appended to the comments on Shloka 6 of Stanza VI, a few words of explanation is all that is needed at present. These invisible companions correspond curiously to that which we call the “principles” in man. The seven are on three material planes and one spiritual plane, answering to the three Upâdhis (Material Bases), and one spiritual Vehicle (Vâhana), of our seven Principles in the human division. If, for the sake of a clearer mental conception, we imagine the human Principles to be arranged as in the following scheme, we shall obtain the following diagram of correspondences:

Trong số mười một Bài kệ bị lược bỏ, có một bài mô tả đầy đủ sự hình thành các Dãy Hành Tinh lần lượt, sau khi sự biến phân vũ trụ và nguyên tử đầu tiên đã bắt đầu trong trạng thái Phi-vũ trụ nguyên thủy. Nói về “các định luật phát sinh khi Thượng đế chuẩn bị sáng tạo” là vô ích, vì “các định luật”, hay đúng hơn là Định luật, là vĩnh cửu và không được tạo ra; và hơn nữa Thượng đế là Định luật, và ngược lại. Hơn nữa, Định luật vĩnh cửu duy nhất khai mở mọi sự trong Thiên nhiên sẽ được biểu hiện theo một nguyên lý thất phân; trong số đó có vô số Dãy Thế giới hình tròn, gồm bảy Bầu hành tinh, được phân cấp trên bốn cõi thấp của Thế giới Tạo Hình, ba cõi còn lại thuộc về Vũ trụ Nguyên mẫu. Trong bảy Bầu này, chỉ một Bầu, thấp nhất và vật chất nhất, nằm trong cõi hay phương tiện tri giác của chúng ta, sáu Bầu kia ở ngoài cõi ấy và do đó vô hình đối với mắt trần thế. Mỗi Dãy Thế giới như vậy là hậu duệ và tạo vật của một Dãy khác, thấp hơnđã chếtsự tái sinh của nó, có thể nói như vậy. Để làm rõ hơn: chúng ta được dạy rằng mỗi hành tinh — trong đó chỉ bảy hành tinh được gọi là thiêng liêng, vì được cai quản bởi các Đấng Nhiếp Chính hay các Thượng đế cao nhất, chứ hoàn toàn không phải vì Người Xưa không biết gì về các hành tinh khác 265 — dù đã biết hay chưa biết, đều là một thất phân, cũng như Dãy mà Trái Đất thuộc về. Chẳng hạn, tất cả các hành tinh như Sao Thủy, Sao Kim, Sao Hỏa, Sao Mộc, Sao Thổ, v.v., v.v., hay Trái Đất của chúng ta, đều hữu hình đối với chúng ta như Bầu hành tinh của chúng ta có lẽ hữu hình đối với cư dân, nếu có, của các hành tinh khác, vì tất cả đều ở trên cùng một cõi; trong khi các bầu-huynh đệ cao hơn của các hành tinh này ở trên những cõi khác hoàn toàn ngoài phạm vi các giác quan trần thế của chúng ta. Vì các vị trí tương đối của chúng sẽ được đưa ra về sau, và cũng trong sơ đồ đính kèm các chú giải về Bài kệ 6 của Bài kệ VI, hiện tại chỉ cần vài lời giải thích. Những bạn đồng hành vô hình này tương ứng một cách kỳ lạ với cái mà chúng ta gọi là “các nguyên khí” trong con người. Bảy nguyên khí ở trên ba cõi vật chất và một cõi tinh thần, tương ứng với ba Upâdhi (Căn Bản Vật Chất), và một Vận cụ tinh thần (Vâhana), của bảy Nguyên khí chúng ta trong phân chia của con người. Nếu, để có một quan niệm trí tuệ rõ ràng hơn, chúng ta hình dung các Nguyên khí của con người được sắp xếp như trong đồ thức sau, chúng ta sẽ có sơ đồ tương ứng sau đây:

Diagram I

As we are proceeding here from Universals to Particulars, instead of using the inductive or Aristotelean method, the numbers are reversed. Spirit is enumerated the first instead of seventh, as is usually done, but in truth, ought not to be done.

Vì ở đây chúng ta tiến hành từ cái Phổ quát đến cái Cá biệt, thay vì dùng phương pháp quy nạp hay Aristotelean, các con số được đảo ngược. Tinh thần được kể là thứ nhất thay vì thứ bảy, như thường làm, nhưng thật ra, không nên làm như vậy.

The Principles, as usually named after the manner of Esoteric Buddhism and other works, are: 1, Âtmâ; 2, Buddhi (Spiritual Soul); 3, Manas (Human Soul); 4, Kâma Rûpa (Vehicle of Desires and Passions); 5, Prâna; 6, Linga Sharîra; 7, Sthûla Sharîra.

Các Nguyên khí, như thường được gọi theo cách của Phật Giáo Nội Môn và các tác phẩm khác, là: 1, Âtmâ; 2, Buddhi (Linh hồn Tinh thần); 3, Manas (Linh hồn Nhân loại); 4, Kâma Rûpa (Vận cụ của Dục vọng và Đam mê); 5, Prâna; 6, Linga Sharîra; 7, Sthûla Sharîra.

The dark horizontal lines of the lower planes are the Upâdhis in the case of the human Principles, and the planes in the case of the Planetary Chain. Of course, as regards the Human Principles, the diagram does not place them quite in order, yet it shows the correspondence and analogy to which attention is now drawn. As the reader will see, it is a case of descent into matter, the adjustment—in both the mystic and the physical sense—of the two, and their interblending for the great coming “struggle for life” that awaits both Entities. “Entity” may be thought a strange term to use in the case of a Globe, but the ancient philosophers, who saw in the Earth a huge “animal,” were wiser in their generation than our modern geologists are in theirs; and Pliny, who called the Earth our kind nurse and mother, the only Element which is not inimical to man, spoke more truly than Watts, who fancied that he saw in her the footstool of God. For Earth is only the footstool of man in his ascension to higher regions; the vestibule—… to glorious mansions, Through which a moving crowd for ever press.

Các đường ngang tối của những cõi thấp là các Upâdhi trong trường hợp các Nguyên khí của con người, và là các cõi trong trường hợp Dãy Hành Tinh. Dĩ nhiên, đối với các Nguyên khí Con người, sơ đồ không đặt chúng hoàn toàn theo thứ tự, nhưng nó cho thấy sự tương ứng và tương đồng mà hiện nay sự chú ý đang được hướng đến. Như độc giả sẽ thấy, đây là trường hợp đi xuống vào vật chất, sự điều chỉnh — theo cả nghĩa thần bí lẫn hồng trần — của cả hai, và sự hòa trộn của chúng cho “cuộc đấu tranh sinh tồn” lớn lao sắp đến đang chờ cả hai Thực Thể. “Thực Thể” có thể được xem là một thuật ngữ lạ khi dùng cho một Bầu hành tinh, nhưng các triết gia cổ đại, những người thấy trong Trái Đất một “con vật” khổng lồ, đã khôn ngoan hơn trong thế hệ của họ so với các nhà địa chất hiện đại của chúng ta trong thế hệ của họ; và Pliny, người gọi Trái Đất là người vú nuôi và người mẹ hiền của chúng ta, Nguyên tố duy nhất không thù nghịch với con người, đã nói đúng hơn Watts, người tưởng rằng ông thấy trong Bà chiếc bệ đặt chân của Thượng đế. Vì Trái Đất chỉ là bệ đặt chân của con người trong sự đi lên của y đến các vùng cao hơn; tiền sảnh —… dẫn đến những dinh thự huy hoàng, Qua đó một đám đông chuyển động mãi mãi chen qua.

But this only shows how admirably Occult Philosophy fits every thing in Nature, and how much more logical are its tenets than the lifeless hypothetical speculations of Physical Science.

Nhưng điều này chỉ cho thấy Triết học Huyền bí sắp đặt mọi sự trong Thiên nhiên một cách đáng khâm phục đến mức nào, và các giáo lý của nó hợp lý hơn biết bao so với những suy đoán giả thuyết vô sinh khí của Khoa học Hồng trần.

Having learned thus much, the Mystic will be better prepared to understand the Occult teaching, though every formal student of Modern Science may, and probably will, regard it as preposterous nonsense. The student of Occultism, however, holds that the theory at present under discussion is far more philosophical and probable than any other. It is more logical, at any rate, than the theory recently advanced which made of the Moon the projection of a portion of our Earth, extruded when the latter was a globe in fusion, a molten plastic mass.

Sau khi học được chừng ấy, nhà Thần bí sẽ được chuẩn bị tốt hơn để thấu hiểu giáo huấn Huyền bí, dù mọi môn sinh chính quy của Khoa học Hiện đại có thể, và có lẽ sẽ, xem nó là điều vô lý lố bịch. Tuy nhiên, môn sinh Huyền bí học cho rằng lý thuyết hiện đang được bàn đến triết học hơn và có xác suất hơn nhiều so với bất kỳ lý thuyết nào khác. Dù sao, nó cũng hợp lý hơn lý thuyết mới được đưa ra gần đây, theo đó Mặt Trăng là sự phóng chiếu của một phần Trái Đất chúng ta, bị đẩy ra khi Trái Đất còn là một bầu hành tinh trong trạng thái dung hợp, một khối nóng chảy dẻo.

Says Mr. Samuel Laing, the author of Modern Science and Modern Thought: The astronomical conclusions are theories based on data so uncertain, that while in some cases they give results incredibly short, like that of 15 millions of years for the whole past process of formation of the solar system, in others they give results almost incredibly long, as in that which supposes the moon to have been thrown off when the earth was rotating in three hours, while the utmost actual retardation obtained from observation would require 600 millions of years to make it rotate in twenty-three hours instead of twenty-four. 266

Ông Samuel Laing, tác giả của Khoa Học Hiện Đại và Tư Tưởng Hiện Đại, nói: Các kết luận thiên văn là những lý thuyết dựa trên dữ liệu bất định đến mức, trong một số trường hợp, chúng cho ra những kết quả ngắn đến khó tin, như 15 triệu năm cho toàn bộ tiến trình hình thành đã qua của hệ mặt trời; trong những trường hợp khác, chúng cho ra những kết quả gần như dài đến khó tin, như trường hợp giả định mặt trăng đã bị ném ra khi trái đất quay trong ba giờ, trong khi sự chậm lại thực tế tối đa thu được từ quan sát sẽ đòi hỏi 600 triệu năm để khiến nó quay trong hai mươi ba giờ thay vì hai mươi bốn. 266

And if Physicists persist in such speculations, why should the chronology of the Hindûs be laughed at as exaggerated?

Và nếu các nhà Vật lý học cứ khăng khăng với những suy đoán như vậy, tại sao niên đại học của người Hindû lại bị cười nhạo là phóng đại?

It is said, moreover, that the Planetary Chains having their Days and their Nights—i.e., periods of activity or life, and of inertia or death—behave in heaven as do men on earth: they generate their likes, grow old, and become personally extinct, their spiritual principles only living in their progeny as a survival of themselves.

Hơn nữa, người ta nói rằng các Dãy Hành Tinh có Ngày và Đêm của chúng—tức là các thời kỳ hoạt động hay sự sống, và các thời kỳ quán tính hay chết—hành xử trên trời cũng như con người trên Trái Đất: chúng sinh ra những cái giống như mình, già đi, và trở nên tuyệt diệt về mặt cá biệt, chỉ các nguyên khí tinh thần của chúng còn sống trong hậu duệ của chúng như một sự tồn tại tiếp nối của chính chúng.

Without attempting the very difficult task of giving out the whole process in all its cosmic details, enough may be said to give an approximate idea of it. When a Planetary Chain is in its last Round, its Globe A, before finally dying out, sends all its energy and principles into a neutral centre of latent force, a laya centre, and thereby informs a new nucleus of undifferentiated substance or matter, i.e., calls it into activity or gives it life. Suppose such a process to have taken place in the Lunar Planetary Chain; suppose again, for argument’s sake—though Mr. Darwin’s theory quoted below has lately been upset, even if the fact has not yet been ascertained by mathematical calculation—that the Moon is far older than the Earth. Imagine the six fellow-globes of the Moon—æons before the first Globe of our seven was evolved—just in the same position in relation to each other as the fellow-globes of our Chain now occupy in regard to our Earth. 267 And now it will be easy to imagine further Globe A of the Lunar Chain informing Globe A of the Terrestrial Chain, and—dying; next Globe B of the former sending its energy into Globe B of the new Chain; then Globe C of the Lunar creating its progeny Sphere C of the Terrene Chain; then the Moon (our satellite) pouring forth into the lowest Globe of our Planetary Chain—Globe D, our Earth—all its life, energy and powers; and, having transferred them to a new centre, becoming virtually a dead planet, in which since the birth of our Globe rotation has almost ceased. The Moon is the satellite of our Earth, undeniably, but this does not invalidate the theory that she has given to the Earth all but her corpse. For Darwin’s theory to hold good, besides the hypothesis just upset, other still more incongruous speculations had to be invented. The Moon, it is said, has cooled nearly six times as rapidly as the Earth. 268 “The Moon, if the earth is 14,000,000 years old since its incrustation, is only eleven and two-thirds millions of years old since that stage…” etc. And if our Moon is but a splash from our Earth, why can no similar inference be established for the Moons of other planets? The Astronomers “do not know.” Why should Venus and Mercury have no satellites, and by what, when they exist, were they formed? The Astronomers do not know, because, we say, Science has only one key—the key of matter—to open the mysteries of Nature, while Occult Philosophy has seven keys and explains that which Science fails to see. Mercury and Venus have no satellites, but they had “parents” just as the Earth had. Both are far older than the Earth, and, before the latter reaches her Seventh Round, her mother Moon will have dissolved into thin air, as the Moons of the other planets have, or have not, as the case may be, since there are planets which have several Moons—a mystery again which no Œdipus of Astronomy has solved.

Không cố đảm nhận nhiệm vụ rất khó khăn là trình bày toàn bộ tiến trình trong mọi chi tiết vũ trụ của nó, cũng có thể nói đủ để đưa ra một ý niệm gần đúng về tiến trình ấy. Khi một Dãy Hành Tinh ở trong Cuộc Tuần Hoàn cuối cùng của nó, Bầu Hành Tinh A của nó, trước khi cuối cùng tắt lịm, gửi toàn bộ năng lượng và các nguyên khí của mình vào một trung tâm trung hòa của mãnh lực tiềm tàng, một trung tâm laya, và nhờ đó thấm nhuần một hạt nhân mới của chất liệu hay vật chất chưa biến phân, tức là gọi nó vào hoạt động hay ban cho nó sự sống. Giả sử một tiến trình như thế đã diễn ra trong Dãy Hành Tinh Mặt Trăng; lại giả sử, để tiện lập luận—dù thuyết của ông Darwin được trích dưới đây gần đây đã bị lật đổ, ngay cả nếu sự kiện ấy vẫn chưa được xác định bằng phép tính toán học—rằng Mặt Trăng già hơn Trái Đất rất nhiều. Hãy hình dung sáu bầu đồng bạn của Mặt Trăng—hàng aeon trước khi Bầu Hành Tinh đầu tiên trong bộ bảy của chúng ta tiến hoá—đúng ở cùng vị trí đối với nhau như các bầu đồng bạn của Dãy chúng ta hiện đang chiếm giữ đối với Trái Đất của chúng ta. 267 Và giờ đây sẽ dễ dàng hình dung thêm rằng Bầu Hành Tinh A của Dãy Mặt Trăng thấm nhuần Bầu Hành Tinh A của Dãy Địa Cầu, rồi—chết đi; kế đó Bầu Hành Tinh B của dãy trước gửi năng lượng của nó vào Bầu Hành Tinh B của Dãy mới; rồi Bầu Hành Tinh C của Dãy Mặt Trăng tạo ra hậu duệ của nó là Khối Cầu C của Dãy Địa Cầu; rồi Mặt Trăng, vệ tinh của chúng ta, tuôn đổ vào Bầu Hành Tinh thấp nhất của Dãy Hành Tinh chúng ta—Bầu Hành Tinh D, Trái Đất của chúng ta—toàn bộ sự sống, năng lượng và quyền năng của nó; và sau khi chuyển chúng sang một trung tâm mới, hầu như trở thành một hành tinh chết, trong đó, từ khi Bầu Hành Tinh của chúng ta ra đời, chuyển động quay gần như đã ngừng lại. Không thể phủ nhận, Mặt Trăng là vệ tinh của Trái Đất chúng ta, nhưng điều này không làm mất giá trị thuyết cho rằng nàng đã trao cho Trái Đất tất cả, chỉ trừ xác chết của nàng. Để thuyết của Darwin đứng vững, ngoài giả thuyết vừa bị lật đổ, người ta còn phải phát minh ra những suy đoán khác còn bất hợp lý hơn nữa. Người ta nói rằng Mặt Trăng đã nguội đi nhanh gần gấp sáu lần Trái Đất. 268 “Mặt Trăng, nếu Trái Đất đã 14.000.000 năm tuổi kể từ khi đóng vỏ, thì chỉ mới mười một triệu hai phần ba năm tuổi kể từ giai đoạn ấy…” vân vân. Và nếu Mặt Trăng của chúng ta chỉ là một mảnh bắn ra từ Trái Đất, tại sao không thể thiết lập một suy luận tương tự cho các Mặt Trăng của những hành tinh khác? Các nhà thiên văn “không biết.” Tại sao Sao Kim và Sao Thủy không có vệ tinh, và khi các vệ tinh hiện hữu thì chúng được hình thành bởi cái gì? Các nhà thiên văn không biết, bởi vì, chúng tôi nói, Khoa học chỉ có một chìa khóa—chìa khóa của vật chất—để mở các bí nhiệm của Thiên Nhiên, trong khi Triết Học Huyền Bí có bảy chìa khóa và giải thích điều mà Khoa học không thấy được. Sao Thủy và Sao Kim không có vệ tinh, nhưng chúng đã có “cha mẹ” cũng như Trái Đất đã có. Cả hai đều già hơn Trái Đất rất nhiều, và trước khi Trái Đất đạt đến Cuộc Tuần Hoàn Thứ Bảy của mình, Mặt Trăng mẹ của nàng sẽ tan biến vào không khí loãng, như các Mặt Trăng của những hành tinh khác đã tan biến, hoặc chưa tan biến, tùy trường hợp, vì có những hành tinh có nhiều Mặt Trăng—lại là một bí nhiệm mà không một Oedipus nào của Thiên văn học đã giải được.

The Moon is now the cold residual quantity, the shadow dragged after the new body, into which her living powers and principles are transfused. She now is doomed for long ages to be ever pursuing the Earth, to be attracted by and to attract her progeny. Constantly vampirized by her child, she revenges herself on it, by soaking it through and through with the nefarious, invisible and poisoned influence which emanates from the occult side of her nature. For she is a dead, yet a living body. The particles of her decaying corpse are full of active and destructive life, although the body which they had formed, is soulless and lifeless. Therefore its emanations are at the same time beneficent and maleficent—a circumstance finding its parallel on earth, in the fact that the grass and plants are nowhere more juicy and thriving than on graves; while at the same time it is the graveyard, or corpse-emanations, which kill. And like all ghouls or vampires, the Moon is the friend of the sorcerers and the foe of the unwary. From the archaic æons and the later times of the witches of Thessaly, down to some of the present Tântrikas of Bengal, her nature and properties have been known to every Occultist, but have remained a closed book for Physicists.

Hiện nay Mặt Trăng là lượng dư lạnh lẽo, cái bóng bị kéo theo sau thân thể mới, nơi các quyền năng và nguyên khí sống động của nàng được truyền sang. Giờ đây nàng bị định đoạt trong nhiều thời đại dài phải luôn luôn đuổi theo Trái Đất, bị hậu duệ của mình thu hút và đồng thời thu hút hậu duệ ấy. Thường xuyên bị hút máu bởi đứa con của mình, nàng trả thù nó bằng cách thấm đẫm nó từ trong ra ngoài với ảnh hưởng độc hại, vô hình và nhiễm độc vốn phát xuất từ mặt huyền bí trong bản chất của nàng. Vì nàng là một thân thể chết, nhưng vẫn là một thân thể sống. Các hạt tử của xác chết đang phân rã của nàng đầy sự sống tích cực và phá hoại, mặc dù thân thể mà chúng từng tạo thành thì không có linh hồn và không có sự sống. Vì vậy, các xuất lộ của nó đồng thời vừa có lợi vừa có hại—một hoàn cảnh có sự tương đồng trên Trái Đất, trong sự kiện rằng cỏ và cây cối không nơi nào mọng nước và tươi tốt hơn trên các nấm mộ; trong khi đồng thời chính nghĩa địa, hay các xuất lộ từ xác chết, lại giết hại. Và như mọi ma ăn xác hay ma cà rồng, Mặt Trăng là bạn của các phù thủy và là kẻ thù của người thiếu cảnh giác. Từ những aeon cổ xưa và các thời kỳ về sau của những phù thủy xứ Thessaly, cho đến một số Tantrika hiện nay ở Bengal, bản chất và các thuộc tính của nàng đã được mọi nhà huyền bí học biết đến, nhưng vẫn là một quyển sách đóng kín đối với các nhà vật lý học.

Such is the Moon from the astronomical, geological, and physical standpoints. As to her metaphysical and psychic nature, it must remain an occult secret in this work, as it was in the volume entitled Esoteric Buddhism, notwithstanding the rather sanguine statement made therein, that “there is not much mystery left now in the riddle of the eighth sphere.” 269 These are topics, indeed, “on which the Adepts are very reserved in their communications to uninitiated pupils,” and since they have, moreover, never sanctioned or permitted any published speculations upon them, the less said the better.

Đó là Mặt Trăng xét theo các quan điểm thiên văn, địa chất và hồng trần. Còn về bản chất siêu hình và thông linh của nàng, trong tác phẩm này nó phải vẫn là một bí mật huyền bí, như nó đã từng là trong quyển sách mang nhan đề Esoteric Buddhism, bất chấp lời tuyên bố khá lạc quan trong đó rằng “hiện nay không còn nhiều bí nhiệm trong câu đố về khối cầu thứ tám.” 269 Quả thật, đây là những đề tài “mà các Chân sư rất dè dặt trong những thông truyền của Các Ngài cho các môn sinh chưa được điểm đạo,” và vì hơn nữa Các Ngài chưa bao giờ chuẩn thuận hay cho phép bất cứ suy đoán nào được công bố về chúng, nên càng nói ít càng tốt.

Yet, without treading upon the forbidden ground of the “eighth sphere,” it may be useful to state some additional facts with regard to the ex-monads of the Lunar Chain—the “Lunar Ancestors”—as they play a leading part in the coming Anthropogenesis. This brings us directly to the Septenary Constitution of man; and as some discussion has arisen of late about the best classification to be adopted for the division of the microcosmic entity, two systems are now appended with a view to facilitate comparison. The subjoined short article is from the pen of Mr. T. Subba Row, a learned Vedântin scholar. He prefers the Brâhmanical division of the Râja Yoga, and from a metaphysical point of view he is quite right. But, as it is a question of simple choice and expediency, we hold in this work to the time-honoured classification of the Trans-Himâlayan “Arhat Esoteric School.” The following table and its explanatory text are reprinted from the Theosophist, and are also contained in Five Years of Theosophy. 270

Tuy nhiên, không bước vào vùng đất bị cấm của “khối cầu thứ tám,” có thể hữu ích khi nêu một vài sự kiện bổ sung liên quan đến các cựu chân thần của Dãy Mặt Trăng—“Tổ Tiên Mặt Trăng”—vì các vị này đóng một vai trò chủ đạo trong Nhân sinh luận sắp đến. Điều này đưa chúng ta trực tiếp đến Cấu Tạo Thất Phân của con người; và vì gần đây đã có một số thảo luận về cách phân loại tốt nhất cần được chấp nhận cho việc phân chia thực thể tiểu thiên địa, nay hai hệ thống được thêm vào nhằm tạo thuận lợi cho việc so sánh. Bài viết ngắn kèm theo là từ ngòi bút của ông T. Subba Row, một học giả Vedanta uyên bác. Ông thích sự phân chia Brahman của Raja Yoga, và từ quan điểm siêu hình, ông hoàn toàn đúng. Nhưng vì đây là vấn đề đơn giản của sự lựa chọn và tiện dụng, trong tác phẩm này chúng tôi giữ theo sự phân loại lâu đời của “Trường Bí Giáo Arhat” Xuyên Himalaya. Bảng sau đây cùng phần giải thích của nó được in lại từ Theosophist, và cũng có trong Five Years of Theosophy. 270

The Septenary Division In Different Indian Systems.

Sự Phân Chia Thất Phân Trong Các Hệ Thống Ấn Độ Khác Nhau.

We give below in a tabular form the classifications adopted by the Buddhist and Vedântic teachers of the principles of man:

Dưới đây chúng tôi trình bày dưới dạng bảng các phân loại được các huấn sư Phật giáo và Vedanta chấp nhận về các nguyên khí của con người:

“Esoteric Buddhism.”

Vedânta.

Târaka Râja Yoga.

1. Sthûla Sharîra.

Annamayakosha. 271

Sthûlopâdhi. 272

2. Prâna. 273

Prânamayakosha.

Sthûlopâdhi.

3. The Vehicle of Prâna. 274

Prânamayakosha.

Sthûlopâdhi.

4. Kâma Rûpa.

Mânomayakosha.

Sûkshmopâdhi.

5. Mind (Volitions and feelings); Vijñânam.

Mânomayakosha.

Sûkshmopâdhi.

6. Spiritual Soul. 275

Ânandamayakosha.

Kâranopâdhi.

7. Âtmâ.

Âtmâ.

Âtmâ.

From the foregoing table it will be seen that the third principle in the Buddhist classification is not separately mentioned in the Vedântic division, as it is merely the vehicle of Prâna. It will also be seen that the fourth principle is included in the third Kosha (Sheath), as the same principle is but the vehicle of will-power, which is but an energy of the mind. It must also be noticed that the Vijñânamayakosha is considered to be distinct from the Mânomayakosha, as a division is made after death between the lower part of the mind, as it were, which has a closer affinity with the fourth principle than with the sixth and its higher part, which attaches itself to the latter, and which is, in fact, the basis for the higher spiritual individuality of man.

Từ bảng trên sẽ thấy rằng nguyên khí thứ ba trong phân loại Phật giáo không được nhắc riêng trong sự phân chia Vedanta, vì nó chỉ là vận cụ của Prana. Cũng sẽ thấy rằng nguyên khí thứ tư được bao gồm trong Kosha thứ ba, tức Bao, vì cùng nguyên khí ấy chỉ là vận cụ của ý chí lực, vốn chỉ là một năng lượng của thể trí. Cũng cần lưu ý rằng Vijnanamayakosha được xem là khác với Manomayakosha, vì sau khi chết có một sự phân chia giữa phần thấp của thể trí, có thể nói như vậy, vốn có ái lực gần hơn với nguyên khí thứ tư hơn là với nguyên khí thứ sáu, và phần cao hơn của nó, vốn gắn liền với nguyên khí thứ sáu, và trên thực tế là nền tảng cho cá tính tinh thần cao hơn của con người.

We may also here point out to our readers that the classification mentioned in the last column is, for all practical purposes, connected with Râja Yoga, the best and simplest. Though there are seven principles in man, there are but three distinct Upâdhis (Bases), in each of which his Âtmâ may work independently of the rest. These three Upâdhis can be separated by an Adept without killing himself. He cannot separate the seven principles from each other without destroying his constitution.

Ở đây chúng tôi cũng có thể chỉ ra cho độc giả rằng phân loại được nhắc trong cột cuối cùng, xét theo mọi mục đích thực tiễn, liên hệ với Raja Yoga, là phân loại tốt nhất và đơn giản nhất. Dù có bảy nguyên khí trong con người, chỉ có ba Upadhi, tức các Nền Tảng, riêng biệt, trong mỗi nền tảng ấy Atma của y có thể hoạt động độc lập với phần còn lại. Ba Upadhi này có thể được một Chân sư tách rời mà không giết chết chính mình. Ngài không thể tách bảy nguyên khí khỏi nhau mà không phá hủy cấu tạo của mình.

The student will now be better prepared to see that between the three Upâdhis of the Râja Yoga and its Atmâ, and our three Upâdhis, Âtmâ, and the additional three divisions, there is in reality but very little difference. Moreover, as every Adept in Cis-Himâlayan or Trans-Himâlayan India, of the Patanjali, the Âryâsanga or the Mahâyâna schools, has to become a Râja Yogî, he must, therefore, accept the Târaka Râja classification in principle and theory, whatever classification he resorts to for practical and Occult purposes. Thus, it matters very little whether one speaks of the three Upâdhis, with their three Aspects, and Âtmâ, the eternal and immortal synthesis, or calls them the “Seven Principles.”

Giờ đây đạo sinh sẽ được chuẩn bị tốt hơn để thấy rằng giữa ba Upadhi của Raja Yoga và Atma của nó, với ba Upadhi của chúng tôi, Atma, và ba phân chia bổ sung, thật ra chỉ có rất ít khác biệt. Hơn nữa, vì mọi Chân sư ở Ấn Độ bên này hay bên kia Himalaya, thuộc các trường phái Patanjali, Aryasanga hay Mahayana, đều phải trở thành một Raja Yogi, do đó, về nguyên tắc và lý thuyết, Ngài phải chấp nhận phân loại Taraka Raja, bất kể Ngài dùng phân loại nào cho các mục đích thực hành và Huyền bí. Vì vậy, việc người ta nói đến ba Upadhi, với ba Phương diện của chúng, và Atma, tổng hợp vĩnh cửu và bất tử, hay gọi chúng là “Bảy Nguyên Khí,” thật ra không quan trọng bao nhiêu.

For the benefit of those who may not have read, or, if they have, may not have clearly understood, in Theosophical writings, the doctrine of the septenary Chains of Worlds in the Solar Cosmos, the teaching is briefly as follows.

Vì lợi ích của những ai có thể chưa đọc, hoặc nếu đã đọc mà chưa hiểu rõ, trong các tác phẩm Thông Thiên Học, giáo lý về các Dãy Thế Giới thất phân trong Vũ Trụ Mặt Trời, giáo huấn ấy được tóm lược như sau.

1. Everything in the metaphysical as in the physical Universe is septenary. Hence every sidereal body, every planet, whether visible or invisible, is credited with six companion Globes. The evolution of life proceeds on these seven Globes or bodies, from the First to the Seventh, in Seven Rounds or Seven Cycles.

1. Mọi sự trong Vũ Trụ siêu hình cũng như hồng trần đều là thất phân. Do đó, mỗi thiên thể, mỗi hành tinh, dù hữu hình hay vô hình, được cho là có sáu Bầu Hành Tinh đồng hành. Sự tiến hoá của sự sống diễn tiến trên bảy Bầu Hành Tinh hay thiên thể này, từ Thứ Nhất đến Thứ Bảy, trong Bảy Cuộc Tuần Hoàn hay Bảy Chu Kỳ.

2. These Globes are formed by a process which the Occultists call the “rebirth of Planetary Chains (or Rings).” When the Seventh and last Round of one of such Rings has been entered upon, the highest or first Globe, A, followed by all the others down to the last, instead of entering upon a certain time of rest—or “Obscuration,” as in the previous Rounds—begins to die out. The Planetary Dissolution (Pralaya) is at hand, and its hour has struck; each Globe has to transfer its life and energy to another planet. 276

2. Các Bầu Hành Tinh này được hình thành bởi một tiến trình mà các nhà huyền bí học gọi là “sự tái sinh của các Dãy Hành Tinh, hay các Vòng.” Khi Cuộc Tuần Hoàn thứ Bảy và cuối cùng của một trong các Vòng như thế đã bắt đầu, Bầu Hành Tinh cao nhất hay đầu tiên, A, theo sau bởi tất cả các bầu khác xuống đến bầu cuối cùng, thay vì bước vào một thời gian nghỉ ngơi nào đó—hay “Che Khuất,” như trong các Cuộc Tuần Hoàn trước—bắt đầu chết đi. Sự Tan Rã Hành Tinh, tức Pralaya, đã gần kề, và giờ của nó đã điểm; mỗi Bầu Hành Tinh phải chuyển sự sống và năng lượng của mình sang một hành tinh khác. 276

3. Our Earth, as the visible representative of its invisible superior fellow-globes, its “Lords” or “Principles,” has to live, as have the others, through seven Rounds. During the first three, it forms and consolidates; during the fourth, it settles and hardens; during the last three, it gradually returns to its first ethereal form: it is spiritualized, so to say.

3. Trái Đất của chúng ta, với tư cách đại diện hữu hình cho các bầu đồng bạn cao hơn vô hình của nó, các “Chúa Tể” hay “Nguyên Khí” của nó, phải sống, như những bầu khác, qua bảy Cuộc Tuần Hoàn. Trong ba cuộc đầu, nó hình thành và cố kết; trong cuộc thứ tư, nó ổn định và cứng lại; trong ba cuộc cuối, nó dần dần trở về hình thể dĩ thái ban đầu của mình: có thể nói, nó được tinh thần hoá.

4. Its Humanity develops fully only in the Fourth—our present Round. Up to this Fourth Life-Cycle, it is referred to as “Humanity” only for lack of a more appropriate term. Like the grub which becomes chrysalis and butterfly, Man, or rather that which becomes Man, passes through all the forms and kingdoms during the First Round, and through all the human shapes during the two following Rounds. Arrived on our Earth at the commencement of the Fourth, in the present series of Life-Cycles and Races, Man is the first form that appears thereon, being preceded only by the mineral and vegetable kingdoms—even the latter having to develop and continue its further evolution through man. This will be explained in Volume II. During the three Rounds to come, Humanity, like the Globe on which it lives, will be ever tending to reassume its primeval form, that of a Dhyân Chohanic Host. Man tends to become a God and then—God, like every other Atom in the Universe.

4. Nhân Loại của nó chỉ phát triển đầy đủ trong Cuộc Tuần Hoàn thứ Tư—Cuộc Tuần Hoàn hiện nay của chúng ta. Cho đến Chu Kỳ Sự Sống thứ Tư này, nó được gọi là “Nhân Loại” chỉ vì thiếu một thuật ngữ thích hợp hơn. Như con sâu trở thành nhộng và bướm, Con Người, hay đúng hơn cái trở thành Con Người, đi qua mọi hình tướng và mọi giới trong Cuộc Tuần Hoàn Thứ Nhất, và đi qua mọi hình dạng nhân loại trong hai Cuộc Tuần Hoàn kế tiếp. Khi đến Trái Đất của chúng ta vào lúc khởi đầu Cuộc Tuần Hoàn Thứ Tư, trong loạt Chu Kỳ Sự Sống và Nhân Loại hiện tại, Con Người là hình tướng đầu tiên xuất hiện trên đó, chỉ được đi trước bởi giới kim thạch và giới thực vật—ngay cả giới sau cũng phải phát triển và tiếp tục sự tiến hoá xa hơn của nó qua con người. Điều này sẽ được giải thích trong Quyển II. Trong ba Cuộc Tuần Hoàn sắp đến, Nhân Loại, như Bầu Hành Tinh mà nó sống trên đó, sẽ luôn có khuynh hướng tái thủ đắc hình thể nguyên sơ của mình, hình thể của một Đạo Quân Dhyani Chohan. Con người có khuynh hướng trở thành một Thượng đế và rồi—Thượng đế, như mọi Nguyên Tử khác trong Vũ Trụ.

Beginning so early as with the Second Round, Evolution proceeds already on quite a different plan. It is only during the first Round that (Heavenly) Man becomes a human being on Globe A, (rebecomes) a mineral, a plant, an animal, on Globe B and C, etc. The process changes entirely from the Second Round; but you have learned prudence… and I advise you to say nothing before the time for saying it has come…. 277

Bắt đầu sớm ngay từ Cuộc Tuần Hoàn Thứ Hai, Tiến hoá đã diễn ra theo một kế hoạch hoàn toàn khác. Chỉ trong Cuộc Tuần Hoàn thứ nhất, Con Người Thiên Thượng mới trở thành một con người trên Bầu Hành Tinh A, rồi trở lại thành một khoáng vật, một cây cối, một con vật, trên Bầu Hành Tinh B và C, vân vân. Từ Cuộc Tuần Hoàn Thứ Hai, tiến trình thay đổi hoàn toàn; nhưng bạn đã học được sự thận trọng… và tôi khuyên bạn đừng nói gì trước khi thời điểm để nói điều ấy đã đến…. 277

5. Every Life-Cycle on Globe D (our Earth) 278 is composed of seven Root-Races. They commence with the ethereal and end with the spiritual, on the double line of physical and moral evolution—from the beginning of the Terrestrial Round to its close. One is a “Planetary Round” from Globe A to Globe G, the seventh; the other, the “Globe Round,” or the Terrestrial.

5. Mỗi Chu Kỳ Sự Sống trên Bầu Hành Tinh D, Trái Đất của chúng ta, 278 gồm có bảy Giống Dân Gốc. Chúng bắt đầu bằng trạng thái dĩ thái và kết thúc bằng trạng thái tinh thần, trên đường lối kép của tiến hoá hồng trần và đạo đức—từ đầu Cuộc Tuần Hoàn Địa Cầu đến khi nó khép lại. Một bên là “Cuộc Tuần Hoàn Hành Tinh” từ Bầu Hành Tinh A đến Bầu Hành Tinh G, bầu thứ bảy; bên kia là “Cuộc Tuần Hoàn Bầu Hành Tinh,” hay Cuộc Tuần Hoàn Địa Cầu.

This is very well described in Esoteric Buddhism, and needs no further elucidation for the time being.

Điều này được mô tả rất hay trong Esoteric Buddhism, và hiện thời không cần giải thích thêm.

6. The First Root-Race, i.e., the first “Men” on earth (irrespective of form), were the progeny of the “Celestial Men,” rightly called in Indian philosophy the “Lunar Ancestors” or the Pitris, of which there are seven Classes or Hierarchies. As all this will be sufficiently explained in the following sections and in Volume II, no more need be said of it here.

6. Giống Dân Gốc Thứ Nhất, tức những “Con Người” đầu tiên trên Trái Đất, không xét đến hình thể, là hậu duệ của “Những Con Người Thiên Thượng,” được gọi đúng trong triết học Ấn Độ là “Tổ Tiên Mặt Trăng” hay các Pitri, gồm có bảy Lớp hay Huyền Giai. Vì tất cả điều này sẽ được giải thích đầy đủ trong các tiết sau và trong Quyển II, ở đây không cần nói thêm.

But the two works already mentioned, both of which treat of subjects from the Occult doctrine, need particular notice. Esoteric Buddhism is too well known in Theosophical circles, and even to the outside world, for it to be necessary to enter at length upon its merits here. It is an excellent book, and has done still more excellent work. But this does not alter the fact that it contains some mistaken notions, and that it has led many Theosophists and lay-readers to form an erroneous conception of the Eastern Secret Doctrine. Moreover it seems, perhaps, a little too materialistic.

Nhưng hai tác phẩm đã được nhắc đến, cả hai đều đề cập đến các chủ đề từ giáo lý Huyền bí, cần được lưu ý đặc biệt. Esoteric Buddhism quá nổi tiếng trong các giới Thông Thiên Học, và ngay cả với thế giới bên ngoài, đến nỗi ở đây không cần bàn dài về công trạng của nó. Đó là một quyển sách xuất sắc, và đã thực hiện một công việc còn xuất sắc hơn nữa. Nhưng điều này không thay đổi sự kiện rằng nó chứa một vài quan niệm sai lầm, và đã khiến nhiều nhà Thông Thiên Học cùng độc giả ngoài giới hình thành một quan niệm sai lạc về Giáo Lý Bí Nhiệm Đông phương. Hơn nữa, có lẽ nó có vẻ hơi quá duy vật.

Man, which came later, was an attempt to present the archaic doctrine from a more ideal standpoint, to translate some visions in and from the Astral Light, to render some teachings partly gathered from a Master’s thoughts, but unfortunately misunderstood. This work also speaks of the evolution of the early Races of men on Earth, and contains some excellent pages of a philosophical character. But so far it is only an interesting little mystical romance. It has failed in its mission, because the conditions required for a correct translation of these visions were not present. Hence the reader must not wonder if our volumes contradict these earlier descriptions in several particulars.

Man, tác phẩm ra đời sau, là một nỗ lực trình bày giáo lý cổ xưa từ một quan điểm lý tưởng hơn, dịch một số linh ảnh trong và từ Ánh Sáng Cảm Dục, diễn đạt một số giáo huấn phần nào được thu thập từ tư tưởng của một Chân sư, nhưng đáng tiếc đã bị hiểu sai. Tác phẩm này cũng nói về sự tiến hoá của các Nhân Loại sơ kỳ trên Trái Đất, và chứa một số trang xuất sắc mang tính triết học. Nhưng cho đến nay nó chỉ là một tiểu thuyết thần bí nhỏ thú vị. Nó đã thất bại trong sứ mệnh của mình, bởi vì các điều kiện cần thiết cho một bản dịch đúng những linh ảnh này đã không hiện diện. Vì vậy độc giả không nên ngạc nhiên nếu các quyển sách của chúng tôi mâu thuẫn với những mô tả trước đó ở nhiều điểm riêng biệt.

Esoteric cosmogony in general, and the evolution of the human Monad especially, differ so essentially in these two books, and in other Theosophical works written independently by beginners, that it becomes impossible to proceed with the present work without special mention of these two earlier volumes, for both have a number of admirers—Esoteric Buddhism especially. The time has arrived for the explanation of some matters in this direction. Mistakes have now to be checked by the original teachings, and corrected. If one of the said works has too pronounced a bias toward materialistic Science, the other is decidedly too idealistic, and at times is fantastic.

Vũ trụ khởi nguyên học huyền bí nói chung, và sự tiến hoá của Chân Thần con người nói riêng, khác biệt cốt yếu đến thế trong hai quyển sách này, và trong các tác phẩm Thông Thiên Học khác do những người sơ cơ viết độc lập, đến nỗi không thể tiếp tục tác phẩm hiện tại mà không nhắc riêng đến hai quyển trước đó, vì cả hai đều có nhiều người ái mộ—đặc biệt là Esoteric Buddhism. Đã đến lúc phải giải thích một số vấn đề theo hướng này. Nay các sai lầm phải được kiểm lại bằng các giáo huấn nguyên thủy, và được sửa chữa. Nếu một trong hai tác phẩm nói trên có khuynh hướng quá rõ rệt về phía Khoa học duy vật, thì tác phẩm kia lại dứt khoát quá duy tâm, và đôi khi có tính huyễn tưởng.

From the doctrine—rather incomprehensible to Western minds—which deals with the periodical Obscurations and successive Rounds of the Globes, along their circular Chains, were born the first perplexities and misconceptions. One of such has reference to the “Fifth-” and even “Sixth-Rounders.” Those who knew that a Round was preceded and followed by a long Pralaya, a pause of rest, which created an impassable gulf between two Rounds until the time came for a renewed cycle of life, could not understand the “fallacy” of talking about “Fifth and Sixth-Rounders” in our Fourth Round. Gautama Buddha, it was held, was a “Sixth-Rounder,” Plato and some other great philosophers and minds, “Fifth-Rounders.” How could it be? One Master taught and affirmed that there were such “Fifth-Rounders” even now on Earth; and though understood to say that mankind was yet in the Fourth Round, in another place he seemed to say that we were in the Fifth. To this an “apocalyptic answer” was returned by another Teacher: “A few drops of rain do not make a monsoon, though they presage it.”… “No, we are not in the Fifth Round, but Fifth Round men have been coming in for the last few thousand years.” This was worse than the riddle of the Sphinx! Students of Occultism subjected their brains to the wildest work of speculation. For a considerable time they tried to outvie Œdipus and reconcile the two statements. And as the Masters kept as silent as the stony Sphinx herself, they were accused of “inconsistency,” “contradiction,” and “discrepancies.” But they were simply allowing the speculations to go on, in order to teach a lesson which the Western mind sorely needs. In their conceit and arrogance, and in their habit of materializing every metaphysical conception and term, without allowing any margin for Eastern metaphor and allegory, the Orientalists had made a jumble of the Hindû exoteric philosophy, and the Theosophists were now doing the same with regard to Esoteric teachings. To this day it is evident that the latter have utterly failed to understand the meaning of the term “Fifth and Sixth-Rounders.” But it is simply this: every Round brings about a new development, and even an entire change, in the mental, psychic, spiritual and physical constitution of man; all these principles evolving on an ever ascending scale. Hence it follows that those persons who, like Confucius and Plato, belonged psychically, mentally and spiritually to the higher planes of evolution, were in our Fourth Round as the average man will be in the Fifth Round, whose mankind is destined to find itself, on this scale of evolution, immensely higher than is our present humanity. Similarly, Gautama Buddha—Wisdom incarnate—was still higher and greater than all the men we have mentioned who are called “Fifth-Rounders,” and so Buddha and Shankarâchârya are termed “Sixth Rounders,” allegorically. Hence again the concealed wisdom of the remark, pronounced at the time “evasive”— “a few drops of rain do not make a monsoon, though they presage it.”

Từ giáo lý—khá khó hiểu đối với trí óc phương Tây—bàn đến các thời kỳ Che Khuất định kỳ và các Cuộc Tuần Hoàn kế tiếp của các Bầu Hành Tinh, dọc theo các Dãy vòng tròn của chúng, đã nảy sinh những bối rối và hiểu lầm đầu tiên. Một trong số đó liên quan đến những “người thuộc Cuộc Tuần Hoàn Thứ Năm” và thậm chí “Thứ Sáu.” Những ai biết rằng một Cuộc Tuần Hoàn được đi trước và theo sau bởi một Pralaya dài, một khoảng nghỉ ngơi, tạo nên một vực thẳm không thể vượt qua giữa hai Cuộc Tuần Hoàn cho đến khi thời điểm đến cho một chu kỳ sự sống được đổi mới, không thể hiểu được “ngụy lý” khi nói về “những người thuộc Cuộc Tuần Hoàn Thứ NămThứ Sáu” trong Cuộc Tuần Hoàn Thứ Tư của chúng ta. Người ta cho rằng Gautama Buddha là một “người thuộc Cuộc Tuần Hoàn Thứ Sáu,” còn Plato và một số triết gia, trí tuệ vĩ đại khác là “những người thuộc Cuộc Tuần Hoàn Thứ Năm.” Làm sao có thể như vậy? Một Chân sư đã dạy và khẳng định rằng ngay cả hiện nay trên Trái Đất cũng có những “người thuộc Cuộc Tuần Hoàn Thứ Năm” như thế; và mặc dù được hiểu là nói rằng nhân loại vẫn còn ở trong Cuộc Tuần Hoàn Thứ Tư, ở một chỗ khác Ngài dường như nói rằng chúng ta đang ở trong Cuộc Tuần Hoàn Thứ Năm. Về điều này, một Huấn sư khác đã đưa ra một “câu trả lời khải huyền”: “Một vài giọt mưa không làm nên mùa mưa, dù chúng báo trước mùa mưa.”… “Không, chúng ta không ở trong Cuộc Tuần Hoàn Thứ Năm, nhưng những con người thuộc Cuộc Tuần Hoàn Thứ Năm đã đến trong vài nghìn năm qua.” Điều này còn khó hơn câu đố của Nhân Sư! Các đạo sinh Huyền bí học đã bắt bộ não của mình lao vào công việc suy đoán cuồng nhiệt nhất. Trong một thời gian đáng kể, họ cố vượt qua Oedipus và hòa giải hai lời tuyên bố. Và vì các Chân sư vẫn im lặng như chính Nhân Sư bằng đá, Các Ngài bị cáo buộc là “không nhất quán,” “mâu thuẫn,” và “bất đồng.” Nhưng Các Ngài chỉ đơn giản cho phép các suy đoán tiếp diễn, nhằm dạy một bài học mà trí óc phương Tây rất cần. Trong sự tự phụ và kiêu ngạo của họ, và trong thói quen vật chất hoá mọi quan niệm và thuật ngữ siêu hình, không dành chút khoảng trống nào cho ẩn dụ và ngụ ngôn Đông phương, các nhà Đông phương học đã làm thành một mớ hỗn độn từ triết học ngoại môn của Ấn giáo, và nay các nhà Thông Thiên Học cũng đang làm như thế đối với các giáo huấn Bí giáo. Cho đến ngày nay, rõ ràng là những người sau hoàn toàn không hiểu ý nghĩa của thuật ngữ “những người thuộc Cuộc Tuần Hoàn Thứ Năm và Thứ Sáu.” Nhưng đơn giản là thế này: mỗi Cuộc Tuần Hoàn đem lại một sự phát triển mới, và thậm chí một sự thay đổi toàn diện, trong cấu tạo trí tuệ, thông linh, tinh thần và hồng trần của con người; tất cả các nguyên khí này tiến hoá trên một thang bậc luôn đi lên. Do đó suy ra rằng những người, như Khổng Tử và Plato, thuộc về các cõi tiến hoá cao hơn về mặt thông linh, trí tuệ và tinh thần, thì trong Cuộc Tuần Hoàn Thứ Tư của chúng ta đã như con người trung bình sẽ là trong Cuộc Tuần Hoàn Thứ Năm, khi nhân loại của cuộc tuần hoàn ấy được định sẵn sẽ thấy mình, trên thang tiến hoá này, cao hơn nhân loại hiện tại của chúng ta vô cùng. Tương tự, Gautama Buddha—Minh Triết nhập thể—vẫn cao hơn và vĩ đại hơn tất cả những con người chúng ta đã nhắc đến được gọi là “những người thuộc Cuộc Tuần Hoàn Thứ Năm,” và vì vậy Buddha và Shankaracharya được gọi, theo nghĩa biểu tượng, là “những người thuộc Cuộc Tuần Hoàn Thứ Sáu.” Do đó một lần nữa hiện rõ minh triết ẩn giấu của lời nhận xét, vào thời ấy bị cho là “lảng tránh”— “một vài giọt mưa không làm nên mùa mưa, dù chúng báo trước mùa mưa.”

And now the truth of the following remark, in Esoteric Buddhism, will be fully apparent: It is impossible, when the complicated facts of an entirely unfamiliar science are being presented to untrained minds for the first time, to put them forward with all their appropriate qualifications… and abnormal developments…. We must be content to take the broad rules first and deal with the exceptions afterwards, and especially is this the case with a study, in connection with which the traditional methods of teaching, generally followed, aim at impressing every fresh idea on the memory by provoking the perplexity it at last relieves.

Và giờ đây chân lý của lời nhận xét sau đây, trong Esoteric Buddhism, sẽ hoàn toàn rõ ràng: Khi những sự kiện phức tạp của một khoa học hoàn toàn xa lạ lần đầu tiên được trình bày cho những trí óc chưa được huấn luyện, thì không thể đưa chúng ra với tất cả các điều kiện thích hợp… và những phát triển dị thường…. Chúng ta phải bằng lòng trước hết nắm lấy các quy luật rộng lớn rồi sau đó mới đề cập đến các ngoại lệ, và điều này đặc biệt đúng đối với một ngành nghiên cứu mà các phương pháp giảng dạy truyền thống, thường được theo, nhằm khắc sâu mỗi ý tưởng mới vào ký ức bằng cách khơi dậy sự bối rối mà cuối cùng nó sẽ giải tỏa.

As the author of the remark was himself, as he says, “an untrained mind” in Occultism, his own inferences, and his better knowledge of modern astronomical speculations than of archaic doctrines, led him, quite naturally, and unconsciously to himself, to commit a few mistakes of detail rather than of any “broad rule.” One such will now be noticed. It is a trifling one, still it is calculated to lead many a beginner into erroneous conceptions. But as the mistaken notions of the earlier editions were corrected in the annotations of the fifth edition, so the sixth may be revised and perfected. There were several reasons for such mistakes. They were due to the necessity, under which the Teachers laboured, of giving what were considered as “evasive answers”; the questions being too persistently pressed to be left unnoticed, while, on the other hand, they could only be partially answered. This position notwithstanding, the confession that “half a loaf is better than no bread” was but too often misunderstood, and hardly appreciated as it ought to have been. As a result thereof gratuitous speculations were sometimes indulged in by the European lay-chelâs. Among such were the “Mystery of the Eighth Sphere” in its relation to the Moon, and the erroneous statement that two of the superior Globes of the Terrestrial Chain were two of our well-known planets; “besides the earth… there are only two other worlds of our chain which are visible… Mars and Mercury….” 279

Vì tác giả của lời nhận xét ấy, như chính ông nói, là “một trí óc chưa được huấn luyện” trong Huyền bí học, các suy luận của chính ông, cùng với sự hiểu biết của ông về các suy đoán thiên văn học hiện đại nhiều hơn về các giáo lý cổ xưa, đã dẫn ông, rất tự nhiên và vô thức đối với chính ông, phạm một vài sai lầm về chi tiết hơn là về bất cứ “quy luật rộng lớn” nào. Một sai lầm như thế nay sẽ được lưu ý. Nó là một điều nhỏ, nhưng vẫn có khả năng dẫn nhiều người sơ cơ vào các quan niệm sai lầm. Nhưng cũng như các quan niệm sai lầm của những ấn bản trước đã được sửa trong các chú giải của ấn bản thứ năm, ấn bản thứ sáu cũng có thể được hiệu đính và hoàn thiện. Có nhiều lý do cho những sai lầm như thế. Chúng phát sinh do sự cần thiết mà các Huấn sư phải chịu, là đưa ra những gì được xem là “câu trả lời lảng tránh”; các câu hỏi bị thúc ép quá dai dẳng nên không thể bỏ qua, trong khi mặt khác, chúng chỉ có thể được trả lời một phần. Bất chấp hoàn cảnh này, lời thừa nhận rằng “nửa ổ bánh vẫn hơn là không có bánh” lại quá thường bị hiểu lầm, và hầu như không được trân trọng như đáng lẽ phải thế. Kết quả là đôi khi các đệ tử cư sĩ châu Âu đã lao vào những suy đoán vô căn cứ. Trong số đó có “Bí Nhiệm của Khối Cầu Thứ Tám” trong mối liên hệ của nó với Mặt Trăng, và lời tuyên bố sai lầm rằng hai trong các Bầu Hành Tinh cao hơn của Dãy Địa Cầu là hai hành tinh quen thuộc của chúng ta; “ngoài Trái Đất… chỉ có hai thế giới khác thuộc dãy của chúng ta là hữu hình… Sao Hỏa và Sao Thủy….” 279

This was a great mistake. But the blame for it is to be attached as much to the vagueness and incompleteness of the Master’s answer as to the question of the learner itself, which was equally vague and indefinite.

Đây là một sai lầm lớn. Nhưng trách nhiệm về nó phải được gán cho sự mơ hồ và không đầy đủ trong câu trả lời của Chân sư cũng nhiều như cho chính câu hỏi của người học, vốn cũng mơ hồ và không xác định như vậy.

It was asked: “What planets, of those known to ordinary Science, besides Mercury, belong to our system of worlds?” Now if by “system of worlds” our Terrestrial Chain, or “String,” was intended, in the mind of the querist, instead of the “Solar System of Worlds,” as it should have been, then of course the answer was likely to have been misunderstood. For the reply was: “Mars, etc., and, four other planets of which Astronomy knows nothing. Neither A, B, nor Y, Z, are known, nor can they be seen through physical means, however perfected.” This is plain: (a) Astronomy as yet knows nothing in reality of the planets, neither the ancient ones, nor those discovered in modern times. (b) No companion planets from A to Z, i.e., no upper Globes of any Chain in the Solar System, can be seen; with the exception of course of all the planets which come fourth in number, as our Earth, the Moon, etc., etc. As to Mars, Mercury, and “the four other planets,” they bear a relation to Earth of which no Master or high Occultist will ever speak, much less explain the nature.

Người ta đã hỏi: “Những hành tinh nào, trong số những hành tinh mà Khoa học thông thường biết đến, ngoài Sao Thủy, thuộc hệ thống thế giới của chúng ta?” Nay nếu trong trí người hỏi, “hệ thống thế giới” được hiểu là Dãy Địa Cầu của chúng ta, hay “Chuỗi,” thay vì “Hệ Mặt Trời gồm các Thế Giới,” như lẽ ra phải hiểu, thì dĩ nhiên câu trả lời có khả năng bị hiểu lầm. Vì lời đáp là: “Sao Hỏa, vân vân, và bốn hành tinh khác mà Thiên văn học không biết gì. Không A, B, cũng không Y, Z, được biết đến, cũng không thể được thấy bằng phương tiện hồng trần, dù hoàn thiện đến đâu.” Điều này rõ ràng: (a) Thiên văn học cho đến nay thực ra không biết gì về các hành tinh, cả những hành tinh cổ xưa lẫn những hành tinh được phát hiện trong thời hiện đại. (b) Không một hành tinh đồng bạn nào từ A đến Z, tức không một Bầu Hành Tinh cao hơn nào của bất cứ Dãy nào trong hệ mặt trời, có thể được thấy; dĩ nhiên ngoại trừ tất cả các hành tinh đứng thứ tư theo số thứ tự, như Trái Đất của chúng ta, Mặt Trăng, vân vân. Còn về Sao Hỏa, Sao Thủy, và “bốn hành tinh khác,” chúng có một mối liên hệ với Trái Đất mà không một Chân sư hay nhà huyền bí học cao cấp nào sẽ từng nói đến, càng ít giải thích bản chất của nó.

In this same letter the impossibility is distinctly stated by one of the Teachers to the author of Esoteric Buddhism: “Try to understand that you are putting me questions pertaining to the highest Initiation; that I can give you (only) a general view, but that I dare not, nor will I, enter into details….” Copies of all the letters ever received, or sent, with the exception of a few private ones— “in which there was no teaching,” the Master says—are with the writer. As it was her duty, in the beginning, to answer and explain certain points not touched upon, it is more than likely that, notwithstanding the many annotations on these copies, the writer, in her ignorance of English and her fear of saying too much, may have bungled the information given. She takes the whole blame for it upon herself in any and every case. But it is impossible for her to allow students to remain any longer under erroneous impressions, or to believe that the fault lies with the Esoteric system.

Trong cùng bức thư ấy, một trong các Huấn sư đã nói rõ với tác giả Esoteric Buddhism về điều không thể thực hiện: “Hãy cố hiểu rằng ông đang đặt cho tôi những câu hỏi liên quan đến Điểm đạo cao nhất; rằng tôi chỉ có thể cho ông một cái nhìn tổng quát, nhưng tôi không dám, cũng sẽ không, đi vào chi tiết….” Các bản sao của mọi bức thư từng nhận hay gửi, ngoại trừ một vài thư riêng— “trong đó không có giáo huấn,” Chân sư nói—đều ở nơi người viết. Vì ban đầu bổn phận của bà là trả lời và giải thích một số điểm chưa được đề cập, rất có thể rằng, bất chấp nhiều chú giải trên các bản sao này, người viết, do sự thiếu hiểu biết tiếng Anh và nỗi sợ nói quá nhiều, có thể đã làm rối thông tin được trao. Bà nhận toàn bộ trách nhiệm về điều ấy cho chính mình trong mọi trường hợp. Nhưng bà không thể để các đạo sinh ở lại lâu hơn dưới những ấn tượng sai lầm, hay tin rằng lỗi nằm ở hệ thống Bí giáo.

Let it then be now distinctly stated that the theory broached is impossible, with or without the additional evidence furnished by modern Astronomy. Physical Science can supply corroborative, though still very uncertain, evidence, but only as regards heavenly bodies on the same plane of materiality as our objective Universe. Mars and Mercury, Venus and Jupiter, like every hitherto discovered planet, or those still to be discovered, are all, per se, the representatives on our plane of such Chains. As distinctly stated in one of the numerous letters of Mr. Sinnett’s Teacher: “there are other and innumerable manvantaric Chains of Globes which bear intelligent Beings, both in and outside our Solar System.” But neither Mars nor Mercury belong to our Chain. They are, along with other planets, septenary Units in the great host of Chains of our System, and all are as visible as their upper Globes are invisible.

Vậy thì nay cần nói rõ rằng thuyết đã được nêu ra là bất khả, dù có hay không có chứng cứ bổ sung do Thiên văn học hiện đại cung cấp. Khoa học hồng trần có thể cung cấp chứng cứ xác nhận, dù vẫn rất không chắc chắn, nhưng chỉ đối với các thiên thể trên cùng cõi vật chất với Vũ Trụ khách quan của chúng ta. Sao Hỏa và Sao Thủy, Sao Kim và Sao Mộc, như mọi hành tinh đã được phát hiện cho đến nay, hoặc những hành tinh còn sẽ được phát hiện, đều, chính chúng, là các đại diện trên cõi của chúng ta cho những Dãy như thế. Như đã được nói rõ trong một trong nhiều bức thư của Huấn sư của ông Sinnett: “có những Dãy Bầu Hành Tinh manvantara khác và vô số, mang các Hữu Thể thông tuệ, cả trong và ngoài hệ mặt trời của chúng ta.” Nhưng cả Sao Hỏa lẫn Sao Thủy đều không thuộc Dãy của chúng ta. Cùng với các hành tinh khác, chúng là các Đơn Vị thất phân trong đạo quân vĩ đại các Dãy của Hệ chúng ta, và tất cả đều hữu hình như các Bầu Hành Tinh cao hơn của chúng là vô hình.

If it is still argued that certain expressions in the Teacher’s letters were liable to mislead, the answer comes: Amen; so they were. The author of Esoteric Buddhism understood it well when he wrote that such are “the traditional modes of teaching… by provoking the perplexity,” they do or do not relieve—as the case may be. At all events, if it is urged that this might have been explained earlier, and the true nature of the planets given out as they now are, the answer comes that: It was not found expedient to do so at the time, as it would have opened the way to a series of additional questions which could never be answered on account of their Esoteric nature, and thus would only become embarrassing. It had been declared from the first, and has been repeatedly asserted since: (1) That no Theosophist, not even as an accepted Chelâ, let alone lay students, could expect to have the secret teachings explained to him thoroughly and completely, before he had irretrievably pledged himself to the Brotherhood and passed through at least one Initiation, because no figures and numbers could be given to the public, for figures and numbers are the key to the Esoteric system. (2) That what was revealed was merely the Esoteric lining of that which is contained in almost all the exoteric scriptures of the world-religions—preeminently in the Brâhmanas and the Upanishads of the Vedas, and even in the Purânas. It was a small portion of what is divulged far more fully now in the present volumes; and even this is very incomplete and fragmentary.

Nếu vẫn còn lập luận rằng một số cách diễn đạt trong các bức thư của Huấn sư có thể gây hiểu lầm, thì câu trả lời là: Amen; đúng là như thế. Tác giả Esoteric Buddhism đã hiểu rõ điều đó khi ông viết rằng đó là “những phương thức giảng dạy truyền thống… bằng cách khơi dậy sự bối rối,” chúng hoặc không giải tỏa—tùy trường hợp. Dù sao, nếu người ta thúc ép rằng điều này đáng lẽ đã có thể được giải thích sớm hơn, và bản chất thật của các hành tinh được đưa ra như hiện nay, thì câu trả lời là: Vào thời điểm ấy, người ta không thấy là thích hợp để làm như vậy, vì nó sẽ mở đường cho một loạt câu hỏi bổ sung không bao giờ có thể được trả lời do bản chất Bí giáo của chúng, và do đó chỉ trở nên gây lúng túng. Ngay từ đầu đã tuyên bố, và từ đó nhiều lần khẳng định: (1) Rằng không một nhà Thông Thiên Học nào, ngay cả với tư cách một Đệ tử được chấp nhận, chưa nói đến các môn sinh cư sĩ, có thể mong đợi các giáo huấn bí mật được giải thích cho mình một cách thấu đáo và trọn vẹn, trước khi y đã tự mình không thể thu hồi lời cam kết với Huynh Đệ Đoàn và trải qua ít nhất một lần điểm đạo, bởi vì không thể trao các con số và số lượng cho công chúng, vì các con số và số lượng là chìa khóa của hệ thống Bí giáo. (2) Rằng điều được mặc khải chỉ là lớp lót Bí giáo của điều chứa đựng trong hầu như tất cả các kinh điển ngoại môn của các tôn giáo thế giới—đặc biệt trong các Brahmana và Upanishad của Veda, và ngay cả trong các Purana. Đó là một phần nhỏ của những gì nay được tiết lộ đầy đủ hơn nhiều trong các quyển hiện tại; và ngay cả phần này cũng rất không đầy đủ và rời rạc.

When the present work was commenced, the writer, feeling sure that the speculation about Mars and Mercury was a mistake, applied to the Teachers by letter for an explanation and an authoritative version. Both came in due time, and verbatim extracts from these are now given.

Khi tác phẩm hiện tại được bắt đầu, người viết, cảm thấy chắc rằng suy đoán về Sao Hỏa và Sao Thủy là một sai lầm, đã thỉnh cầu các Huấn sư bằng thư để xin một lời giải thích và một bản văn có thẩm quyền. Cả hai đã đến đúng lúc, và nay các trích đoạn nguyên văn từ những thư ấy được đưa ra.

“… It is quite correct that Mars is in a state of obscuration at present, and Mercury just beginning to get out of it. You might add that Venus is in her last Round…. If neither Mercury nor Venus have satellites, it is because of the reasons… and also because Mars has two satellites to which he has no right…. Phobos, the supposed ‘inner’ satellite, is no satellite at all. Thus, this remark of long ago by Laplace and now by Faye do not agree, you see. (Read ‘Comptes Rendus,’ Tome XC, p. 569.) Phobos keeps a too short periodic time, and therefore there ‘must exist some defect in the mother idea of the theory,’ as Faye justly observes…. Again, both [Mars and Mercury] are septenary Chains, as independent of the Earth’s sidereal lords and superiors as you are independent of the ‘principles’ of Daumling [Tom Thumb]—which were perhaps his six brothers, with or without night-caps…. ‘Gratification of curiosity is the end of knowledge for some men,’ was said by Bacon, who was as right in postulating this truism, as those who were familiar with it before him, were right in hedging off Wisdom from Knowledge, and tracing limits to that which is to be given out at one time…. Remember:

“… Hoàn toàn đúng rằng hiện nay Sao Hỏa đang ở trong trạng thái che khuất, và Sao Thủy vừa bắt đầu ra khỏi trạng thái ấy. Bà có thể thêm rằng Sao Kim đang ở trong Cuộc Tuần Hoàn cuối cùng của nàng…. Nếu cả Sao Thủy lẫn Sao Kim đều không có vệ tinh, đó là vì các lý do… và cũng vì Sao Hỏa có hai vệ tinh mà y không có quyền có…. Phobos, vệ tinh được cho là ‘bên trong,’ hoàn toàn không phải là vệ tinh. Vì vậy, bà thấy đó, nhận xét từ lâu của Laplace và nay của Faye không phù hợp với nhau. Hãy đọc Comptes Rendus, Tập XC, trang 569. Phobos có chu kỳ quá ngắn, và do đó ‘hẳn phải có khuyết điểm nào đó trong ý tưởng mẹ của thuyết,’ như Faye đã nhận xét rất đúng…. Lại nữa, cả hai, Sao Hỏa và Sao Thủy, đều là các Dãy thất phân, độc lập với các chúa tể tinh tú và các bậc cao hơn của Trái Đất như bà độc lập với các ‘nguyên khí’ của Daumling, Tom Thumb—có lẽ là sáu người anh em của y, có hoặc không có mũ ngủ…. ‘Sự thỏa mãn tò mò là cứu cánh của tri thức đối với một số người,’ Bacon đã nói, và ông đã đúng khi nêu ra chân lý hiển nhiên này, cũng như những ai đã quen thuộc với nó trước ông đã đúng khi tách Minh Triết khỏi Tri Thức, và vạch ra những giới hạn cho điều được phép đưa ra vào một thời điểm…. Hãy nhớ:

… knowledge dwells In heads replete with thoughts of other men, Wisdom in minds attentive to their own….”

… tri thức ngự Trong những đầu óc đầy ắp tư tưởng của người khác, Minh triết trong những thể trí chú tâm vào chính tư tưởng của mình….”

“You can never impress it too profoundly on the minds of those to whom you impart some of the Esoteric teachings.”

“Bạn không bao giờ có thể khắc sâu điều đó quá mức vào trí tuệ của những người mà bạn truyền đạt cho họ một phần giáo huấn Nội môn.”

Here are more extracts from another letter written by the same authority. This time it is in answer to some objections laid before the Teachers. They are based upon extremely scientific, and as futile, reasonings about the advisability of trying to reconcile the Esoteric theories with the speculations of Modern Science, were written by a young Theosophist as a warning against the “Secret Doctrine,” and in reference to the same subject. He had declared that if there were such companion Earths, “they must be only a wee bit less material than our globe.” How then was it that they could not be seen? The answer was: “… Were psychic and spiritual teachings more fully understood, it would become next to impossible to even imagine such an incongruity. Unless less trouble is taken to reconcile the irreconcilable—that is to say, the metaphysical and spiritual sciences with physical or natural philosophy, ‘natural’ being a synonym to them [men of Science] of that matter which falls under the perception of their corporeal senses—no progress can be really achieved. Our Globe, as taught from the first, is at the bottom of the arc of descent, where the matter of our perceptions exhibits itself in its grossest form…. Hence it only stands to reason that the Globes which overshadow our Earth, must be on different and superior planes. In short, as Globes, they are in coadunition but not in consubstantiality with our Earth, and thus pertain to quite another state of consciousness. Our planet (like all those we see) is adapted to the peculiar state of its human stock, that state which enables us to see with our naked eye the sidereal bodies which are coessential with our terrene plane and substance, just as their respective inhabitants, the Jovians, Martians and others, can perceive our little world; because our planes of consciousness, differing as they do in degree, but being the same in kind, are on the same layer of differentiated matter…. What I wrote was: ‘The minor Pralaya concerns only our little Strings of Globes. (We called Chains “Strings” in those days of lip-confusion.)… To such a String our Earth belongs.’ This ought to have shown plainly that the other planets were also ‘Strings,’ or Chains…. If he [meaning the objector] would perceive even the dim silhouette of one of such ‘planets’ on the higher planes, he has to first throw off even the thin clouds of the astral matter that stand between him and the next plane.”

Sau đây là thêm những đoạn trích từ một bức thư khác do cùng thẩm quyền ấy viết. Lần này, đó là lời đáp cho một số phản bác được đặt trước các Huấn sư. Chúng dựa trên những lập luận hết sức khoa học, và cũng vô ích như thế, về sự nên hay không nên cố gắng hòa giải các lý thuyết Nội môn với những suy đoán của Khoa học Hiện đại; chúng do một nhà Thông Thiên Học trẻ tuổi viết ra như một lời cảnh báo chống lại “Giáo Lý Bí Nhiệm”, và liên quan đến cùng đề tài ấy. Ông đã tuyên bố rằng nếu có những Trái Đất đồng hành như thế, “chúng hẳn chỉ kém vật chất hơn bầu hành tinh của chúng ta một chút xíu mà thôi.” Vậy thì tại sao chúng lại không thể được nhìn thấy? Câu trả lời là: “… Nếu các giáo huấn thông linh và tinh thần được thấu hiểu đầy đủ hơn, thì hầu như không thể nào ngay cả tưởng tượng ra một sự bất nhất như thế. Trừ phi người ta bớt nhọc công hòa giải những điều không thể hòa giải—nghĩa là các khoa học siêu hình và tinh thần với triết học hồng trần hay tự nhiên, vì ‘tự nhiên’ đối với họ [những người của Khoa học] đồng nghĩa với thứ vật chất rơi vào phạm vi tri giác của các giác quan xác thân—thì không thể thật sự đạt được tiến bộ nào. Bầu hành tinh của chúng ta, như đã được dạy từ đầu, nằm ở đáy cung giáng hạ, nơi vật chất thuộc các tri giác của chúng ta biểu lộ dưới hình thức thô trược nhất…. Do đó, hoàn toàn hợp lý khi các Bầu hành tinh phủ bóng lên Trái Đất của chúng ta phải ở trên những cõi khác và cao hơn. Tóm lại, với tư cách là các Bầu hành tinh, chúng ở trong trạng thái đồng hợp nhưng không ở trong trạng thái đồng bản chất với Trái Đất của chúng ta, và vì thế thuộc về một trạng thái tâm thức hoàn toàn khác. Hành tinh của chúng ta (như tất cả những hành tinh chúng ta thấy) thích nghi với trạng thái đặc thù của giống người trên đó, trạng thái cho phép chúng ta nhìn bằng mắt trần các thiên thể vốn đồng yếu tính với cõi và chất liệu trần gian của chúng ta, cũng như các cư dân tương ứng của chúng, những người Sao Mộc, Sao Hỏa và các nơi khác, có thể tri giác thế giới nhỏ bé của chúng ta; bởi vì các cõi tâm thức của chúng ta, tuy khác nhau về cấp độ, nhưng cùng một loại, đều ở trên cùng một lớp vật chất đã biến phân…. Điều tôi đã viết là: ‘Tiểu Giai kỳ qui nguyên chỉ liên quan đến những Chuỗi Bầu hành tinh nhỏ bé của chúng ta. (Trong những ngày lẫn lộn ngôn từ ấy, chúng tôi gọi các Dãy là “Chuỗi”.)… Trái Đất của chúng ta thuộc về một Chuỗi như thế.’ Điều này lẽ ra phải cho thấy rõ ràng rằng các hành tinh khác cũng là ‘Chuỗi’, hay Dãy…. Nếu ông ấy [ý nói người phản bác] muốn tri giác dù chỉ bóng dáng mờ nhạt của một trong các ‘hành tinh’ như thế trên các cõi cao hơn, trước hết ông phải xua tan ngay cả những đám mây mỏng của vật chất cảm dục đang đứng giữa ông và cõi kế tiếp.”

It thus becomes patent why we could not perceive, even with the help of the best telescopes, that which is outside our world of matter. Those alone, whom we call Adepts, who know how to direct their mental vision and to transfer their consciousness—both physical and psychic—to other planes of being, are able to speak with authority on such subjects. And they tell us plainly: “Lead the life necessary for the acquisition of such knowledge and powers, and Wisdom will come to you naturally. Whenever you are able to attune your consciousness to any of the seven chords of ‘Universal Consciousness,’those chords that run along the sounding-board of Kosmos, vibrating from one Eternity to another; when you have studied thoroughly the ‘Music of the Spheres,’ then only will you become quite free to share your knowledge with those with whom it is safe to do so. Meanwhile, be prudent. Do not give out the great Truths that are the inheritance of the future Races, to our present generation. Do not attempt to unveil the secret of Being and Non-Being to those unable to see the hidden meaning of Apollo’s Heptachord, the lyre of the radiant god, in each of the seven strings of which dwelleth the Spirit, Soul and Astral Body of the Kosmos, whose shell only has now fallen into the hands of modern Science…. Be prudent, we say, prudent and wise, and above all take care what those who learn from you believe in; lest by deceiving themselves they deceive others,… for such is the fate of every truth with which men are, as yet, unfamiliar…. Let rather the Planetary Chains and other super- and sub-cosmic mysteries remain a dreamland for those who can neither see, nor yet believe that others can.”

Như vậy, điều trở nên hiển nhiên là tại sao chúng ta không thể tri giác, ngay cả với sự trợ giúp của những kính viễn vọng tốt nhất, điều nằm ngoài thế giới vật chất của chúng ta. Chỉ những vị mà chúng ta gọi là Chân sư, những vị biết cách hướng dẫn tầm nhìn trí tuệ của mình và chuyển dịch tâm thức của mình—cả hồng trần lẫn thông linh—sang các cõi hiện tồn khác, mới có thể nói với thẩm quyền về những đề tài như thế. Và các Ngài nói rõ với chúng ta: “Hãy sống đời sống cần thiết để đạt được tri thức và quyền năng như thế, rồi minh triết sẽ tự nhiên đến với bạn. Bất cứ khi nào bạn có thể hòa điệu tâm thức của mình với bất kỳ một trong bảy hợp âm của ‘Tâm Thức Vũ Trụ’, những hợp âm chạy dọc theo hộp cộng hưởng của Vũ Trụ, rung động từ một Vĩnh Cửu này sang một Vĩnh Cửu khác; khi bạn đã nghiên cứu thấu đáo ‘Âm Nhạc của các Khối Cầu’, chỉ khi ấy bạn mới hoàn toàn tự do chia sẻ tri thức của mình với những người mà việc ấy là an toàn. Trong khi đó, hãy thận trọng. Đừng trao ra những Chân Lý vĩ đại vốn là di sản của các Giống dân tương lai cho thế hệ hiện tại của chúng ta. Đừng cố vén màn bí mật của Bản Thể và Phi-Bản Thể cho những người không thể thấy ý nghĩa ẩn tàng của Thất huyền cầm Apollo, cây đàn lia của vị thần rạng rỡ, trong mỗi một trong bảy dây của nó đều cư ngụ Tinh thần, Linh hồn và Thể tinh tú của Vũ Trụ, mà chỉ lớp vỏ của nó hiện nay đã rơi vào tay Khoa học hiện đại…. Chúng tôi nói, hãy thận trọng, thận trọng và minh triết, và trên hết hãy cẩn trọng về điều mà những người học nơi bạn tin tưởng; kẻo khi tự lừa dối mình, họ lại lừa dối người khác,… vì đó là số phận của mọi chân lý mà con người, cho đến nay, chưa quen thuộc…. Tốt hơn hãy để các Dãy Hành Tinh và những bí nhiệm siêu-vũ trụ cùng hạ-vũ trụ khác vẫn là cõi mộng đối với những người không thể thấy, cũng chưa tin rằng người khác có thể thấy.”

It is to be regretted that few of us have followed the wise advice, and that many a priceless pearl, many a jewel of wisdom, has been cast to an enemy, unable to understand its value, who has turned round and rent us.

Thật đáng tiếc là ít người trong chúng ta đã noi theo lời khuyên minh triết ấy, và biết bao viên ngọc vô giá, biết bao châu báu của minh triết, đã bị ném cho một kẻ thù không thể hiểu giá trị của nó, kẻ đã quay lại và xé nát chúng ta.

“Let us imagine”—wrote the same Master to his two “lay chelâs,” as he called the author of Esoteric Buddhism and another gentleman, his co-student for some time— “let us imagine that our earth is one of a group of seven planets or man-bearing worlds…. [The ‘seven planets’ are the sacred planets of antiquity, and are all septenary.] Now the life-impulse reaches A, or rather that which is destined to become A, and which so far is but cosmic dust [a laya-centre]…” etc.

“Chúng ta hãy tưởng tượng”—cùng vị Chân sư ấy đã viết cho hai “đệ tử cư sĩ” của Ngài, như Ngài gọi tác giả của Phật Giáo Nội Môn và một quý ông khác, người đồng môn của ông trong một thời gian—“chúng ta hãy tưởng tượng rằng Trái Đất của chúng ta là một trong một nhóm bảy hành tinh hay bảy thế giới mang người…. [‘Bảy hành tinh’ là các hành tinh thiêng liêng của cổ đại, và tất cả đều thất phân.] Bây giờ, xung lực sự sống đạt đến A, hay đúng hơn là cái được định sẵn sẽ trở thành A, và cho đến nay chỉ là bụi vũ trụ [một trung tâm laya]…” v.v.

In these early letters, in which terms had to be invented and words coined, the “Rings” very often became “Rounds,” and the “Rounds,” “Life-Cycles,” and vice versâ. To a correspondent who called a “Round” a “World-Ring,” the Teacher wrote: “I believe this will lead to a further confusion. A Round we are agreed to call the passage of a Monad from Globe A to Globe G or Z…. The ‘World-Ring’ is correct…. Advise Mr…. strongly, to agree upon a nomenclature before going any further.”

Trong những bức thư đầu tiên này, khi các thuật ngữ phải được phát minh và từ ngữ phải được tạo ra, “Vòng” rất thường trở thành “Cuộc tuần hoàn”, và “Cuộc tuần hoàn” trở thành “Chu Kỳ Sự Sống”, và ngược lại. Với một người trao đổi thư từ gọi một “Cuộc tuần hoàn” là “Vòng-Thế giới”, Huấn sư viết: “Tôi tin rằng điều này sẽ dẫn đến một sự lẫn lộn xa hơn. Một Cuộc tuần hoàn, chúng ta đồng ý gọi là sự đi qua của một chân thần từ Bầu hành tinh A đến Bầu hành tinh G hay Z…. ‘Vòng-Thế giới’ là đúng…. Hãy mạnh mẽ khuyên ông… nên thống nhất một danh pháp trước khi đi xa hơn.”

Notwithstanding this agreement, many mistakes, owing to this confusion, crept into the earliest teachings. The “Races” even were occasionally mixed up with the “Rounds” and “Rings,” and led to similar mistakes in Man: Fragments of Forgotten Truth. From the first the Master had written: “Not being permitted to give you the whole truth, or divulge the number of isolated fractions,… I am unable to satisfy you.”

Bất chấp sự thống nhất này, nhiều sai lầm, do sự lẫn lộn ấy, đã len vào các giáo huấn sớm nhất. Ngay cả “Giống dân” đôi khi cũng bị lẫn lộn với “Cuộc tuần hoàn” và “Vòng”, và dẫn đến những sai lầm tương tự trong Con Người: Những Mảnh Vỡ của Chân Lý Bị Lãng Quên. Ngay từ đầu, Chân sư đã viết: “Vì không được phép trao cho bạn toàn bộ chân lý, hay tiết lộ con số của các phần rời rạc biệt lập,… tôi không thể làm bạn thỏa mãn.”

This in answer to the questions: “If we are right, then the total existence prior to the man-period is 637,” etc., etc. To all the queries relating to figures, the reply was: “Try to solve the problem of 777 incarnations…. Though I am obliged to withhold information,… yet if you should work out the problem by yourself, it will be my duty to tell you so.”

Đây là lời đáp cho các câu hỏi: “Nếu chúng tôi đúng, thì toàn bộ sự tồn tại trước thời kỳ con người là 637,” v.v., v.v. Đối với mọi câu hỏi liên quan đến con số, câu trả lời là: “Hãy cố giải bài toán 777 lần nhập thể…. Dù tôi buộc phải giữ lại thông tin,… nhưng nếu bạn tự mình giải được bài toán, thì bổn phận của tôi là nói cho bạn biết như vậy.”

But it never was so worked out, and the results were—never-ceasing perplexity and mistakes.

Nhưng bài toán ấy chưa bao giờ được giải như thế, và kết quả là—sự bối rối và sai lầm không ngừng.

Even the teaching about the septenary constitution of the sidereal bodies and of the macrocosm—from which the septenary division of the microcosm, or man—has until now been among the most esoteric. In olden times it used to be divulged only at Initiation together with the most sacred figures of the cycles. Now, as stated in one of the Theosophical journals, 280 the revelation of the whole system of cosmogony had not been contemplated, nor even thought for one moment possible, at a time when a few scraps of information were sparingly given out, in answer to letters, written by the author of Esoteric Buddhism, in which he put forward a multiplicity of questions. Among these were questions on such problems as no Master, however high and independent he might be, would have the right to answer, and thus divulge to the world the most time-honoured and archaic of the mysteries of the ancient college-temples. Hence only a few of the doctrines were revealed in their broad outlines, while details were constantly withheld, and all the efforts made to elicit more information about them were systematically eluded from the beginning. This was perfectly natural. Of the four Vidyâs, out of the seven branches of Knowledge mentioned in the Purânas—namely, Yajna Vidyâ, the performance of religious rites in order to produce certain results; Mahâ Vidyâ, the great (magic) knowledge, now degenerated into Tântrika worship; Guhya Vidyâ, the science of Mantras and their true rhythm or chanting, of mystical incantations, etc.; Âtmâ Vidyâ, or the true spiritual and divine Wisdom—it is only the last which can throw final and absolute light upon the teachings of the three first named. Without the help of Âtmâ Vidyâ, the other three remain no better than surface sciences, geometrical magnitudes having length and breadth, but no thickness. They are like the soul, limbs and mind of a sleeping man, capable of mechanical motions, of chaotic dreams and even sleep-walking, of producing visible effects, but stimulated only by instinctual not intellectual causes, least of all by fully conscious spiritual impulses. A good deal can be given out and explained from the three first-named sciences. But unless the key to their teachings is furnished by Âtmâ Vidyâ, they will remain for ever like the fragments of a mangled text-book, like the adumbrations of great truths, dimly perceived by the most spiritual, but distorted out of all proportion by those who would nail every shadow to the wall.

Ngay cả giáo huấn về cấu tạo thất phân của các thiên thể và của đại thiên địa—từ đó có sự phân chia thất phân của tiểu thiên địa, hay con người—cho đến nay vẫn thuộc về những điều nội môn nhất. Vào thời xưa, nó chỉ được tiết lộ khi Điểm đạo, cùng với những con số thiêng liêng nhất của các chu kỳ. Nay, như đã nêu trong một trong các tạp chí Thông Thiên Học, 280 sự mặc khải toàn bộ hệ thống vũ trụ khởi nguyên đã không được dự tính, thậm chí trong khoảnh khắc cũng không được nghĩ là có thể, vào thời điểm khi một vài mẩu thông tin được trao ra rất dè dặt, để đáp lại các bức thư do tác giả của Phật Giáo Nội Môn viết, trong đó ông nêu ra vô số câu hỏi. Trong số đó có những câu hỏi về các vấn đề mà không Chân sư nào, dù cao cả và độc lập đến đâu, có quyền trả lời, và như thế tiết lộ cho thế giới những bí nhiệm lâu đời và cổ xưa nhất của các đền-trường cổ đại. Do đó, chỉ một vài giáo lý được mặc khải trong các nét đại cương, trong khi các chi tiết liên tục được giữ lại, và mọi nỗ lực nhằm moi thêm thông tin về chúng ngay từ đầu đã bị tránh né một cách có hệ thống. Điều này hoàn toàn tự nhiên. Trong bốn Vidya, thuộc bảy ngành Tri thức được đề cập trong các Purana—nghĩa là, Yajna Vidya, việc thực hành các nghi lễ tôn giáo nhằm tạo ra những kết quả nhất định; Maha Vidya, tri thức vĩ đại (huyền thuật), nay đã suy thoái thành sự thờ phụng Tantrika; Guhya Vidya, khoa học về Mantra và nhịp điệu hay cách xướng đúng của chúng, về các thần chú thần bí, v.v.; Atma Vidya, hay minh triết tinh thầnthiêng liêng đích thực—chỉ có ngành sau cùng mới có thể soi sáng rốt ráo và tuyệt đối các giáo huấn của ba ngành được nêu trước. Nếu không có sự trợ giúp của Atma Vidya, ba ngành kia vẫn chẳng hơn gì các khoa học bề mặt, những đại lượng hình học có chiều dài và chiều rộng nhưng không có chiều dày. Chúng giống như linh hồn, tứ chi và thể trí của một người đang ngủ, có khả năng cử động máy móc, mơ những giấc mơ hỗn loạn và thậm chí mộng du, tạo ra các hiệu quả hữu hình, nhưng chỉ được kích thích bởi những nguyên nhân bản năng chứ không phải trí tuệ, càng không phải bởi các xung lực tinh thần hoàn toàn có ý thức. Có thể trao ra và giải thích khá nhiều điều từ ba khoa học được nêu trước. Nhưng nếu chìa khóa cho các giáo huấn của chúng không được cung cấp bởi Atma Vidya, chúng sẽ mãi mãi giống như những mảnh vỡ của một sách giáo khoa bị xé nát, như những bóng mờ của các chân lý vĩ đại, được những người tinh thần nhất tri giác lờ mờ, nhưng bị bóp méo hoàn toàn mất cân xứng bởi những kẻ muốn đóng đinh mọi chiếc bóng lên tường.

Then, again, another great perplexity was created in the minds of students by the incomplete exposition of the doctrine of the evolution of the Monads. To be fully realized, both this process and that of the birth of the Globes must be examined far more from their metaphysical aspect, than from what one might call a statistical standpoint, involving figures and numbers which are rarely permitted to be widely used. Unfortunately, there are few who are inclined to handle these doctrines only metaphysically. Even the best of the Western writers upon our doctrine declares in his work, when speaking of the evolution of the Monads, that “on pure metaphysics of that sort we are not now engaged.” 281 And in such case, as the Teacher remarks in a letter to him: “Why this preaching of our doctrines, all this uphill work and swimming ‘in adversum flumen’? Why should the West… learn… from the East… that which can never meet the requirements of the special tastes of the æsthetics?” And he draws his correspondent’s attention “to the formidable difficulties encountered by us [the Adepts] in every attempt we make to explain our metaphysics to the Western mind.”

Rồi, thêm nữa, một sự bối rối lớn khác đã được tạo ra trong trí tuệ của các đạo sinh bởi sự trình bày không đầy đủ giáo lý về sự tiến hoá của các chân thần. Để được chứng nghiệm đầy đủ, cả tiến trình này lẫn tiến trình sinh thành của các Bầu hành tinh phải được khảo sát nhiều hơn từ phương diện siêu hình của chúng, hơn là từ điều mà người ta có thể gọi là lập trường thống kê, liên quan đến các con số và số lượng vốn hiếm khi được phép sử dụng rộng rãi. Đáng tiếc thay, ít người có khuynh hướng xử lý các giáo lý này chỉ theo siêu hình. Ngay cả cây bút phương Tây xuất sắc nhất về giáo lý của chúng ta cũng tuyên bố trong tác phẩm của ông, khi nói về sự tiến hoá của các chân thần, rằng “hiện nay chúng ta không bàn đến siêu hình thuần túy thuộc loại ấy.” 281 Và trong trường hợp như thế, như Huấn sư nhận xét trong một bức thư gửi ông: “Tại sao lại rao giảng các giáo lý của chúng ta, tất cả công việc leo dốc này và bơi ‘ngược dòng’? Tại sao phương Tây… phải học… từ phương Đông… điều không bao giờ có thể đáp ứng các đòi hỏi của những thị hiếu đặc thù về mỹ học?” Và Ngài hướng sự chú ý của người trao đổi thư từ với mình “đến những khó khăn ghê gớm mà chúng tôi [các Chân sư] gặp phải trong mọi nỗ lực giải thích siêu hình học của chúng tôi cho trí tuệ phương Tây.”

And well he may; for outside of metaphysics, no Occult philosophy, no Esotericism is possible. It is like trying to explain the aspirations and affections, love and hatred, the most private and sacred workings in the soul and mind of a living man, by an anatomical description of the thorax and brain of his dead body.

Và Ngài hoàn toàn có lý; vì bên ngoài siêu hình học, không thể có triết học Huyền bí, không thể có huyền bí học. Điều đó giống như cố giải thích các khát vọng và tình cảm, tình thương và hận thù, những vận hành riêng tư và thiêng liêng nhất trong linh hồn và thể trí của một người sống, bằng một mô tả giải phẫu về lồng ngực và bộ não của xác chết y.

Let us now examine two tenets mentioned above, but hardly alluded to in Esoteric Buddhism, and supplement them as far as lies in our power.

Bây giờ chúng ta hãy khảo sát hai tín điều đã được đề cập ở trên, nhưng hầu như không được ám chỉ trong Phật Giáo Nội Môn, và bổ sung chúng trong phạm vi khả năng của chúng ta.

Additional Facts And Explanations Concerning The Globes And The Monads.

Những Sự Kiện Và Giải Thích Bổ Sung Liên Quan Đến Các Bầu Hành Tinh Và Các Chân Thần.

Two statements made in the above work must be noticed and the author’s opinions quoted. The first is as follows: The spiritual Monads… do not fully complete their mineral existence on Globe A, then complete it on Globe B, and so on. They pass several times round the whole circle as minerals, and then again several times round as vegetables, and several times as animals. We purposely refrain for the present from going into figures, etc., etc. 282

Hai phát biểu trong tác phẩm trên cần được lưu ý và các ý kiến của tác giả cần được trích dẫn. Phát biểu thứ nhất như sau: Các chân thần tinh thần… không hoàn tất trọn vẹn sự tồn tại khoáng vật của mình trên Bầu hành tinh A, rồi hoàn tất nó trên Bầu hành tinh B, và cứ thế tiếp tục. Chúng đi nhiều lần quanh toàn bộ vòng tròn với tư cách khoáng vật, rồi lại nhiều lần với tư cách thực vật, và nhiều lần với tư cách động vật. Hiện tại chúng tôi cố ý tránh đi vào các con số, v.v., v.v. 282

That was a wise course to adopt in view of the great secrecy maintained with regard to figures and numbers. This reticence is now partially relinquished; but it would perhaps have been better had the real numbers concerning Rounds and evolutional gyrations been either entirely divulged at the time, or entirely withheld. Mr. Sinnett understood this difficulty well when saying: For reasons which are not easy for the outsider to divine, the possessors of Occult knowledge are especially reluctant to give out numerical facts relating to cosmogony, though it is hard for the uninitiated to understand why they should be withheld. 283

Đó là một đường lối minh triết cần áp dụng, xét đến sự bí mật lớn lao được giữ gìn liên quan đến các con số và số lượng. Sự dè dặt này nay đã được từ bỏ một phần; nhưng có lẽ tốt hơn nếu các con số thật liên quan đến các Cuộc tuần hoàn và những vòng xoáy tiến hoá hoặc đã được tiết lộ hoàn toàn vào lúc ấy, hoặc được giữ kín hoàn toàn. Ông Sinnett hiểu rõ khó khăn này khi nói: Vì những lý do không dễ để người ngoài đoán biết, những người sở hữu tri thức Huyền bí đặc biệt miễn cưỡng trao ra các sự kiện số học liên quan đến vũ trụ khởi nguyên, dù người chưa được điểm đạo khó hiểu tại sao chúng lại phải bị giữ lại. 283

That there were such reasons is evident. Nevertheless, it is to this reticence that most of the confused ideas of some Eastern as well as Western pupils are due. The difficulties in the way of the acceptance of the particular tenets under consideration seemed great, just because of the absence of any data to go upon. But there it was. For, as the Masters have many times declared, the figures belonging to the Occult calculations cannot be given—outside the circle of pledged Chelâs, and not even these can break the rules.

Rõ ràng là có những lý do như thế. Tuy nhiên, chính sự dè dặt này là nguyên nhân của phần lớn các ý tưởng rối rắm nơi một số môn sinh phương Đông cũng như phương Tây. Những khó khăn trong việc chấp nhận các tín điều đặc thù đang được xem xét dường như lớn lao, chính vì thiếu bất kỳ dữ kiện nào để dựa vào. Nhưng sự việc là như thế. Vì, như các Chân sư đã nhiều lần tuyên bố, các con số thuộc về những tính toán Huyền bí không thể được trao ra—bên ngoài vòng tròn các đệ tử đã thệ nguyện, và ngay cả những vị này cũng không thể phá vỡ các quy luật.

To make things plainer, without touching upon the mathematical aspects of the doctrine, the teaching given may be expanded and some obscure points solved. As the evolution of the Globes and that of the Monads are so closely interblended, we will make of the two teachings one. In reference to the Monads, the reader is asked to bear in mind that Eastern philosophy rejects the Western theological dogma of a newly-created soul for every baby born, a dogma as unphilosophical as it is impossible in the economy of Nature. There must be a limited number of Monads, evolving and growing more and more perfect, through their assimilation of many successive Personalities, in every new Manvantara. This is absolutely necessary in view of the doctrines of Rebirth and Karma, and of the gradual return of the human Monad to its source—Absolute Deity. Thus, although the hosts of more or less progressed Monads are almost incalculable, they are still finite, as is everything in this Universe of differentiation and finiteness.

Để làm cho sự việc rõ ràng hơn, mà không chạm đến các phương diện toán học của giáo lý, giáo huấn đã được trao có thể được mở rộng và một số điểm tối nghĩa có thể được giải quyết. Vì sự tiến hoá của các Bầu hành tinh và sự tiến hoá của các chân thần hòa quyện chặt chẽ với nhau, chúng ta sẽ hợp nhất hai giáo huấn thành một. Liên quan đến các chân thần, độc giả được yêu cầu ghi nhớ rằng triết học phương Đông bác bỏ tín điều thần học phương Tây về một linh hồn mới được tạo ra cho mỗi đứa trẻ sinh ra, một tín điều vừa phi triết học vừa bất khả trong cơ cấu Tiết Kiệm của Thiên Nhiên. Phải có một số lượng giới hạn các chân thần, đang tiến hoá và ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, thông qua sự đồng hóa nhiều phàm ngã kế tiếp nhau trong mỗi Giai kỳ sinh hóa mới. Điều này tuyệt đối cần thiết xét theo các giáo lý về Tái Sinh và nghiệp quả, cũng như về sự trở về dần dần của chân thần nhân loại với nguồn cội của nó—Thượng đế Tuyệt Đối. Vì vậy, dù các đoàn chân thần tiến hoá nhiều hay ít hầu như không thể tính đếm, chúng vẫn hữu hạn, như mọi sự trong Vũ Trụ của biến phân và hữu hạn này.

As shown in the double diagram of the human Principles and the ascending Globes of the World-Chains, 284 there is an eternal concatenation of causes and effects, and a perfect analogy which runs through, and links together, all the lines of evolution. One begets the other—Globes as Personalities. But, let us begin at the beginning.

Như đã trình bày trong sơ đồ kép về các Nguyên khí của con người và các Bầu hành tinh đang thăng lên của các Dãy-Thế giới, 284 có một sự nối kết vĩnh cửu giữa nguyên nhân và kết quả, và một định luật tương đồng hoàn hảo xuyên suốt và liên kết tất cả các đường tiến hoá. Cái này sinh ra cái kia—các Bầu hành tinh cũng như các phàm ngã. Nhưng chúng ta hãy bắt đầu từ đầu.

The general outline of the process by which the successive Planetary Chains are formed has just been given. To prevent future misconceptions, some further details may be offered which will also throw light on the history of Humanity on our own Chain, the progeny of that of the Moon.

Đường nét tổng quát của tiến trình qua đó các Dãy Hành Tinh kế tiếp được hình thành vừa được trình bày. Để ngăn ngừa những hiểu lầm trong tương lai, có thể đưa ra thêm một số chi tiết, những chi tiết này cũng sẽ soi sáng lịch sử của Nhân loại trên Dãy của chính chúng ta, hậu duệ của Dãy Mặt Trăng.

In the accompanying diagram, Fig. 1 represents the Lunar Chain of seven Globes at the outset of its seventh or last Round; while Fig. 2 represents the Earth Chain which will be, but is not yet in existence. The seven Globes of each Chain are distinguished in their cyclic order by the letters A to G, the Globes of the Earth Chain being further marked by a cross, the symbol of the Earth.

Trong sơ đồ đi kèm, Hình 1 biểu thị Dãy Mặt Trăng gồm bảy Bầu hành tinh vào lúc khởi đầu Cuộc tuần hoàn thứ bảy hay cuối cùng của nó; trong khi Hình 2 biểu thị Dãy Địa Cầu sẽ hiện hữu, nhưng hiện nay chưa tồn tại. Bảy Bầu hành tinh của mỗi Dãy được phân biệt theo trật tự chu kỳ của chúng bằng các chữ cái A đến G, các Bầu hành tinh của Dãy Địa Cầu còn được đánh dấu thêm bằng một thập giá, biểu tượng của Trái Đất.

Diagram II

Now, it must be remembered that the Monads cycling round any septenary Chain are divided into seven Classes or Hierarchies, according to their respective stages of evolution, consciousness and merit. Let us follow, then, the order of their appearance on Globe A, in the First Round. The time-spaces between the appearances of these Hierarchies on any one Globe are so adjusted, that when Class 7, the last, appears on Globe A, Class 1, the first, has just passed on to Globe B; and so on, step by step, all round the Chain.

Bây giờ, cần nhớ rằng các chân thần tuần hoàn quanh bất kỳ Dãy thất phân nào đều được chia thành bảy Lớp hay Huyền Giai, tùy theo các giai đoạn tiến hoá, tâm thức và công đức tương ứng của chúng. Vậy chúng ta hãy theo dõi thứ tự xuất hiện của chúng trên Bầu hành tinh A, trong Cuộc tuần hoàn thứ nhất. Các khoảng thời gian giữa những lần xuất hiện của các Huyền Giai này trên bất kỳ một Bầu hành tinh nào được điều chỉnh sao cho khi Lớp 7, lớp cuối cùng, xuất hiện trên Bầu hành tinh A, thì Lớp 1, lớp đầu tiên, vừa chuyển sang Bầu hành tinh B; và cứ thế, từng bước một, quanh toàn bộ Dãy.

Again, in the Seventh Round of the Lunar Chain, when Class 7, the last, quits Globe A, that Globe, instead of falling asleep, as it had done in previous Rounds, begins to die (to go into its Planetary Pralaya); 285 and in dying it transfers successively, as just said, its principles, or life-elements and energy, etc., one after the other, to a new laya-centre, which commences the formation of Globe A of the Earth Chain. A similar process takes place for each of the Globes of the Lunar Chain, one after the other, each forming a fresh Globe of the Earth Chain. Our Moon was the fourth Globe of the series, and was on the same plane of perception as our Earth. But Globe A of the Lunar Chain is not fully “dead,” till the first Monads of the first Class have passed from Globe G or Z, the last of the Lunar Chain, into the Nirvâna which awaits them between the two Chains; and similarly for all the other Globes as stated, each giving birth to the corresponding Globe of the Earth Chain.

Lại nữa, trong Cuộc tuần hoàn thứ bảy của Dãy Mặt Trăng, khi Lớp 7, lớp cuối cùng, rời khỏi Bầu hành tinh A, Bầu hành tinh ấy, thay vì đi vào giấc ngủ như nó đã làm trong các Cuộc tuần hoàn trước, bắt đầu chết đi (đi vào Giai kỳ qui nguyên Hành Tinh của nó); 285 và trong khi chết, như vừa nói, nó lần lượt chuyển các nguyên khí, hay các yếu tố-sự sống và năng lượng, v.v., từng cái một, sang một trung tâm laya mới, nơi bắt đầu sự hình thành Bầu hành tinh A của Dãy Địa Cầu. Một tiến trình tương tự diễn ra đối với từng Bầu hành tinh của Dãy Mặt Trăng, hết cái này đến cái khác, mỗi cái hình thành một Bầu hành tinh mới của Dãy Địa Cầu. Mặt Trăng của chúng ta là Bầu hành tinh thứ tư của loạt ấy, và ở trên cùng một cõi tri giác như Trái Đất của chúng ta. Nhưng Bầu hành tinh A của Dãy Mặt Trăng chưa hoàn toàn “chết”, cho đến khi các chân thần đầu tiên của Lớp thứ nhất đã đi từ Bầu hành tinh G hay Z, bầu cuối cùng của Dãy Mặt Trăng, vào Niết Bàn đang chờ chúng giữa hai Dãy; và tương tự đối với tất cả các Bầu hành tinh khác như đã nêu, mỗi bầu sinh ra Bầu hành tinh tương ứng của Dãy Địa Cầu.

Further, when Globe A of the new Chain is ready, the first Class or Hierarchy of Monads from the Lunar Chain incarnate upon it in the lowest kingdom, and so on successively. The result of this is, that it is only the first Class of Monads which attains the human state of development during the first Round, since the second Class, on each Globe, arriving later, has not time to reach that stage. Thus the Monads of Class 2 reach the incipient human stage only in the Second Round, and so on up to the middle of the Fourth Round. But at this point—and on this Fourth Round in which the human stage will be fully developed—the “door” into the human kingdom closes; and henceforward the number of “human” Monads, i.e., Monads in the human stage of development, is complete. For the Monads which had not reached the human stage by this point, will, owing to the evolution of Humanity itself, find themselves so far behind, that they will reach the human stage only at the close of the Seventh and last Round. They will, therefore, not be men on this Chain, but will form the Humanity of a future Manvantara, and be rewarded by becoming “men” on a higher Chain altogether, thus receiving their Karmic compensation. To this there is but one solitary exception, and for very good reasons, of which we shall speak farther on. But this accounts for the difference in the Races.

Hơn nữa, khi Bầu hành tinh A của Dãy mới đã sẵn sàng, Lớp hay Huyền Giai chân thần thứ nhất từ Dãy Mặt Trăng nhập thể trên đó trong giới thấp nhất, và cứ thế kế tiếp. Kết quả của điều này là chỉ có Lớp chân thần thứ nhất đạt đến trạng thái phát triển nhân loại trong Cuộc tuần hoàn thứ nhất, vì Lớp thứ hai, trên mỗi Bầu hành tinh, đến muộn hơn, không có thời gian đạt đến giai đoạn ấy. Như vậy, các chân thần của Lớp 2 chỉ đạt đến giai đoạn nhân loại sơ khởi trong Cuộc tuần hoàn thứ hai, và cứ thế cho đến giữa Cuộc tuần hoàn thứ tư. Nhưng tại điểm này—và trong Cuộc tuần hoàn thứ tư này, nơi giai đoạn nhân loại sẽ được phát triển đầy đủ—“cánh cửa” vào giới nhân loại đóng lại; và từ đó trở đi, số lượng các chân thần “nhân loại”, nghĩa là các chân thần ở giai đoạn phát triển nhân loại, đã đầy đủ. Vì những chân thần chưa đạt đến giai đoạn nhân loại vào thời điểm này, do sự tiến hoá của chính Nhân loại, sẽ thấy mình bị bỏ lại quá xa đến nỗi chúng chỉ đạt đến giai đoạn nhân loại vào cuối Cuộc tuần hoàn thứ bảy và cuối cùng. Do đó, chúng sẽ không là người trên Dãy này, mà sẽ tạo thành Nhân loại của một Giai kỳ sinh hóa tương lai, và được tưởng thưởng bằng cách trở thành “người” trên một Dãy hoàn toàn cao hơn, nhờ đó nhận được sự bù trừ nghiệp quả của chúng. Đối với điều này chỉ có một ngoại lệ duy nhất, và vì những lý do rất chính đáng, mà chúng ta sẽ nói đến về sau. Nhưng điều này giải thích sự khác biệt giữa các Giống dân.

It thus becomes apparent how perfect is the analogy between the processes of Nature in the cosmos and in the individual man. The latter lives through his life-cycle, and dies. His higher principles, corresponding in the development of a Planetary Chain to the cycling Monads, pass into Devachan, which corresponds to the Nirvâna and states of rest intervening between two Chains. The man’s lower principles are disintegrated in time, and are used by Nature again for the formation of new human principles; the same process also taking place in the disintegration and formation of Worlds. Analogy is thus the surest guide to the comprehension of the Occult teachings.

Như vậy, trở nên rõ ràng rằng định luật tương đồng giữa các tiến trình của Thiên Nhiên trong vũ trụ và trong cá nhân con người là hoàn hảo biết bao. Con người sau sống qua chu kỳ sự sống của mình, rồi chết. Các nguyên khí cao của y, tương ứng trong sự phát triển của một Dãy Hành Tinh với các chân thần đang tuần hoàn, đi vào Devachan, tương ứng với Niết Bàn và các trạng thái nghỉ ngơi xen giữa hai Dãy. Các nguyên khí thấp của con người tan rã theo thời gian, và được Thiên Nhiên dùng lại để hình thành các nguyên khí nhân loại mới; tiến trình tương tự cũng diễn ra trong sự tan rã và hình thành các Thế giới. Vì thế, định luật tương đồng là người dẫn đường chắc chắn nhất để thấu hiểu các giáo huấn Huyền bí.

This is one of the “seven mysteries of the moon,” and it is now revealed. The seven “mysteries” are called by the Japanese Yamabooshis, the mystics of the Lao-Tze sect and the ascetic monks of Kioto, the Dzenodoo—the “Seven Jewels”; only, the Japanese and the Chinese Buddhist ascetics and Initiates are, if possible, even more reticent in giving out their “Knowledge” than are the Hindûs.

Đây là một trong “bảy bí nhiệm của mặt trăng”, và nay nó được mặc khải. Bảy “bí nhiệm” được các Yamabooshi Nhật Bản, các nhà thần bí thuộc phái Lao-Tze và các tu sĩ khổ hạnh ở Kioto gọi là Dzenodoo—“Bảy Châu Báu”; chỉ có điều, các nhà khổ hạnh và điểm đạo đồ Phật giáo Nhật Bản và Trung Hoa, nếu có thể, còn dè dặt hơn trong việc trao ra “Tri thức” của họ so với người Hindu.

But the reader must not be allowed to lose sight of the Monads, and must be enlightened as to their nature, as far as permitted, without trespassing upon the highest mysteries, of which the writer does not in any way pretend to know the last or final word.

Nhưng không được để độc giả mất dấu các chân thần, và phải được soi sáng về bản chất của chúng, trong phạm vi được phép, mà không xâm phạm những bí nhiệm cao nhất, về những điều mà người viết hoàn toàn không tự nhận là biết lời cuối cùng hay chung quyết.

The Monadic Host may be roughly divided into three great Classes: 1. The most developed Monads—the Lunar Gods or “Spirits,” called, in India, the Pitris—whose function it is to pass in the First Round through the whole triple cycle of the mineral, vegetable and animal kingdoms, in their most ethereal, filmy, and rudimentary forms, in order to clothe themselves in, and assimilate, the nature of the newly formed Chain. They are those who first reach the human form—if there can be any form in the realm of the almost subjective—on Globe A, in the First Round. It is they, therefore, who lead and represent the human element during the Second and Third Rounds, and finally evolve their shadows at the beginning of the Fourth Round for the second Class, or those who come behind them.

Đoàn Chân thần có thể được chia đại khái thành ba Lớp lớn: 1. Các chân thần phát triển cao nhất—các Thần Mặt Trăng hay “Tinh thần”, ở Ấn Độ được gọi là Pitris—có chức năng đi qua trong Cuộc tuần hoàn thứ nhất toàn bộ chu kỳ tam phân của các giới kim thạch, giới thực vật và giới động vật, trong những hình thức dĩ thái nhất, mỏng manh nhất và sơ khai nhất của chúng, nhằm khoác lấy và đồng hóa bản chất của Dãy mới được hình thành. Chính họ là những vị đầu tiên đạt đến hình tướng con người—nếu có thể có bất kỳ hình tướng nào trong cõi gần như chủ quan—trên Bầu hành tinh A, trong Cuộc tuần hoàn thứ nhất. Vì vậy, chính họ dẫn dắt và đại diện cho yếu tố nhân loại trong các Cuộc tuần hoàn thứ hai và thứ ba, và cuối cùng tiến hoá các bóng của mình vào đầu Cuộc tuần hoàn thứ tư cho Lớp thứ hai, hay những vị đến sau họ.

2. Those Monads that are the first to reach the human stage during the three and a half Rounds, and to become “men.”

2. Những chân thần đầu tiên đạt đến giai đoạn nhân loại trong ba Cuộc tuần hoàn rưỡi, và trở thành “người”.

3. The laggards, the Monads which are retarded, and which will not reach, by reason of Karmic impediments, the human stage at all during this Cycle or Round, save one exception which will be spoken of elsewhere, as already promised.

3. Những kẻ chậm trễ, các chân thần bị trì hoãn, và do các trở ngại nghiệp quả sẽ không đạt đến giai đoạn nhân loại chút nào trong Chu kỳ hay Cuộc tuần hoàn này, ngoại trừ một trường hợp sẽ được nói đến ở nơi khác, như đã hứa.

We are forced to use above the misleading word “men,” and this is a clear proof of how little any European language is adapted to express these subtle distinctions.

Ở trên, chúng ta buộc phải dùng từ “người” dễ gây hiểu lầm, và đây là một bằng chứng rõ ràng cho thấy không một ngôn ngữ châu Âu nào thích hợp đến mức nào để diễn đạt những phân biệt tinh tế này.

It stands to reason that these “men” did not resemble the men of to-day, either in form or nature. Why then, it may be asked, call them “men” at all? Because there is no other term, in any Western language, which approximately conveys the idea intended. The word “men” at least indicates that these beings were “manus,” thinking entities, however they differed in form and intellection from ourselves. But in reality they were, in respect of spirituality and intellection, rather “gods” than “men.”

Hiển nhiên rằng những “người” này không giống những người ngày nay, dù về hình tướng hay bản chất. Vậy thì, có thể hỏi, tại sao lại gọi họ là “người”? Bởi vì không có thuật ngữ nào khác, trong bất kỳ ngôn ngữ phương Tây nào, truyền đạt gần đúng ý tưởng được nhắm đến. Từ “người” ít nhất chỉ ra rằng những hữu thể này là “manus”, những thực thể biết tư duy, dù họ khác chúng ta về hình tướng và trí năng. Nhưng trong thực tế, xét về tinh thần và trí năng, họ là “thần” hơn là “người”.

The same difficulty of language is met with in describing the “stages” through which the Monad passes. Metaphysically speaking, it is of course an absurdity to talk of the “development” of a Monad, or to say that it becomes “man.” But any attempt to preserve metaphysical accuracy of language, in the use of such a tongue as the English, would necessitate at least three extra volumes of this work, and would entail an amount of verbal repetition which would be wearisome in the extreme. It stands to reason that a Monad cannot either progress or develop, or even be affected by the changes of state it passes through. It is not of this world or plane, and may only be compared to an indestructible star of divine light and fire, thrown down on to our Earth, as a plank of salvation for the Personalities in which it indwells. It is for the latter to cling to it; and thus partaking of its divine nature, obtain immortality. Left to itself the Monad will cling to no one; but, like the plank, be drifted away to another incarnation, by the unresting current of evolution.

Cùng một khó khăn về ngôn ngữ gặp phải khi mô tả các “giai đoạn” mà chân thần đi qua. Nói theo siêu hình, dĩ nhiên thật phi lý khi nói về “sự phát triển” của một chân thần, hay nói rằng trở thành “người”. Nhưng bất kỳ nỗ lực nào nhằm giữ sự chính xác siêu hình của ngôn ngữ, khi dùng một ngôn ngữ như tiếng Anh, sẽ đòi hỏi ít nhất thêm ba quyển nữa cho tác phẩm này, và sẽ kéo theo một lượng lặp lại từ ngữ cực kỳ mệt mỏi. Hiển nhiên rằng một chân thần không thể tiến bộ hay phát triển, thậm chí cũng không thể bị ảnh hưởng bởi những biến đổi trạng thái mà nó đi qua. Nó không thuộc về thế giới hay cõi này, và chỉ có thể được ví như một ngôi sao bất hoại của ánh sáng và lửa thiêng liêng, được ném xuống Trái Đất của chúng ta, như một tấm ván cứu độ cho các phàm ngã mà nó cư ngụ bên trong. Chính các phàm ngã ấy phải bám lấy nó; và nhờ tham dự vào bản chất thiêng liêng của nó, đạt được bất tử. Nếu để mặc tự nó, chân thần sẽ không bám lấy ai; mà, giống như tấm ván, sẽ bị dòng chảy không ngừng của tiến hoá cuốn trôi sang một lần nhập thể khác.

Now the evolution of the external form, or body, round the astral, is produced by the terrestrial forces, just as in the case of the lower kingdoms; but the evolution of the internal, or real, Man is purely spiritual. It is now no more a passage of the impersonal Monad through many and various forms of matter—endowed at best with instinct and consciousness on quite a different plane—as in the case of external evolution, but a journey of the “Pilgrim-Soul” through various states of not only matter, but of self-consciousness and self-perception, or of perception from apperception.

Bây giờ, sự tiến hoá của hình tướng bên ngoài, hay thể, quanh thể cảm dục, được tạo ra bởi các mãnh lực địa cầu, giống như trong trường hợp các giới thấp; nhưng sự tiến hoá của bên trong, hay Con Người thật, thì thuần túy tinh thần. Giờ đây, đó không còn là sự đi qua của chân thần phi ngã qua nhiều hình tướng vật chất khác nhau—tốt nhất chỉ được phú cho bản năng và tâm thức trên một cõi hoàn toàn khác—như trong trường hợp tiến hoá bên ngoài, mà là một cuộc hành trình của “Linh hồn-Lữ khách” qua nhiều trạng thái không chỉ của vật chất, mà của ngã thức và tự tri giác, hay của tri giác từ thông giác.

The Monad emerges from its state of spiritual and intellectual unconsciousness; and, skipping the first two planes—too near the Absolute to permit of any correlation with anything on a lower plane—it gets directly into the plane of Mentality. But there is no plane in the whole universe with a broader margin, or a wider field of action, in its almost endless gradations of perceptive and apperceptive qualities, than this plane, which has in its turn an appropriate smaller plane for every “form,” from the Mineral Monad up to the time when that Monad blossoms forth by evolution into the Divine Monad. But all the time it is still one and the same Monad, differing only in its incarnations, throughout its ever succeeding cycles of partial or total obscuration of spirit, or partial or total obscuration of matter—two polar antitheses—as it ascends into the realms of mental spirituality, or descends into the depths of materiality.

Chân thần xuất hiện từ trạng thái vô thức tinh thần và trí năng của nó; và, bỏ qua hai cõi đầu tiên—quá gần với Tuyệt Đối nên không cho phép bất kỳ tương quan nào với bất cứ điều gì trên một cõi thấp hơn—nó đi thẳng vào cõi Trí Tuệ. Nhưng trong toàn thể vũ trụ không có cõi nào có biên độ rộng hơn, hay trường hoạt động bao la hơn, trong những phân cấp gần như vô tận của các phẩm tính tri giác và thông giác, hơn cõi này; cõi này đến lượt nó lại có một cõi nhỏ thích hợp cho mỗi “hình tướng”, từ Chân thần Khoáng vật cho đến lúc chân thần ấy nở rộ nhờ tiến hoá thành Chân thần Thiêng liêng. Nhưng trong suốt thời gian ấy, nó vẫn là một và cùng một chân thần, chỉ khác nhau trong các lần nhập thể của nó, suốt những chu kỳ kế tiếp không ngừng của sự che khuất từng phần hay toàn phần của tinh thần, hoặc sự che khuất từng phần hay toàn phần của vật chất—hai đối cực—khi nó thăng lên các cõi của tinh thần trí tuệ, hay giáng xuống các vực sâu của vật chất tính.

To return to Esoteric Buddhism. The second statement is with regard to the enormous period intervening between the mineral epoch, on Globe A, and the man epoch, the term “man epoch” being used because of the necessity of giving a name to that fourth kingdom which follows the animal, though in truth the “man” on Globe A, during the First Round, is no man, but only his prototype, or dimensionless image, from the astral regions. The statement runs as follows: The full development of the mineral epoch on Globe A, prepares the way for the vegetable development, and, as soon as this begins, the mineral life-impulse overflows into Globe B. Then, when the vegetable development on Globe A is complete and the animal development begins, the vegetable life-impulse overflows to Globe B, and the mineral impulse passes on to Globe C. Then finally comes the human life impulse on Globe A. 286

Trở lại với Phật Giáo Nội Môn. Phát biểu thứ hai liên quan đến giai đoạn khổng lồ xen giữa kỷ nguyên khoáng vật trên Bầu hành tinh A và kỷ nguyên con người, thuật ngữ “kỷ nguyên con người” được dùng vì cần phải đặt tên cho giới thứ tư theo sau giới động vật, dù trong chân lý, “con người” trên Bầu hành tinh A, trong Cuộc tuần hoàn thứ nhất, chưa phải là người, mà chỉ là nguyên mẫu của y, hay hình ảnh không chiều kích, từ các vùng cảm dục. Phát biểu ấy như sau: Sự phát triển đầy đủ của kỷ nguyên khoáng vật trên Bầu hành tinh A chuẩn bị đường cho sự phát triển thực vật, và ngay khi điều này bắt đầu, xung lực sự sống khoáng vật tràn sang Bầu hành tinh B. Rồi khi sự phát triển thực vật trên Bầu hành tinh A hoàn tất và sự phát triển động vật bắt đầu, xung lực sự sống thực vật tràn sang Bầu hành tinh B, và xung lực khoáng vật chuyển sang Bầu hành tinh C. Rồi cuối cùng đến xung lực sự sống nhân loại trên Bầu hành tinh A. 286

And so it goes on for three Rounds, when it slackens, and finally stops at the threshold of our Globe, in the Fourth Round; because the human period (of the true physical men to be), the seventh, is now reached. This is evident, for as said:… There are processes of evolution which precede the mineral kingdom, and thus a wave of evolution, indeed several waves of evolution, precede the mineral wave in its progress round the spheres. 287

Và cứ thế tiếp diễn trong ba Cuộc tuần hoàn, khi nó chậm lại, và cuối cùng dừng ở ngưỡng Bầu hành tinh của chúng ta, trong Cuộc tuần hoàn thứ tư; bởi vì thời kỳ nhân loại (của những người hồng trần chân thật sẽ xuất hiện), thời kỳ thứ bảy, nay đã đạt đến. Điều này hiển nhiên, vì như đã nói:… Có những tiến trình tiến hoá đi trước giới kim thạch, và như vậy một làn sóng tiến hoá, thật ra là nhiều làn sóng tiến hoá, đi trước làn sóng khoáng vật trong tiến trình của nó quanh các khối cầu. 287

And now we have to quote from another article, “The Mineral Monad,” in Five Years of Theosophy: There are seven kingdoms. The first group comprises three degrees of elementals, or nascent centres of forces—from the first stage of differentiation of [from] Mûlaprakriti [or rather Pradhâna, Primordial Homogeneous Matter] to its third degree—i.e., from full unconsciousness to semi-perception; the second or higher group embraces the kingdoms from vegetable to man; the mineral kingdom thus forming the central or turning point in the degrees of the “Monadic Essence,” considered as an evolving energy. Three stages [sub-physical] on the elemental side; the mineral kingdom; three stages on the objective physical 288 side—these are the [first or preliminary] seven links of the evolutionary chain. 289

Và bây giờ chúng ta phải trích dẫn từ một bài viết khác, “Chân thần Khoáng vật”, trong Năm Năm Thông Thiên Học: Có bảy giới. Nhóm thứ nhất gồm ba cấp độ hành khí, hay các trung tâm mãnh lực mới sinh—từ giai đoạn biến phân đầu tiên của [từ] Mulaprakriti [hay đúng hơn là Pradhana, Vật Chất Đồng Nhất Nguyên Thủy] đến cấp độ thứ ba của nó—nghĩa là, từ vô thức hoàn toàn đến bán-tri giác; nhóm thứ hai hay cao hơn bao gồm các giới từ thực vật đến con người; như vậy giới kim thạch tạo thành điểm trung tâm hay điểm chuyển hướng trong các cấp độ của “Tinh chất Chân thần”, được xem như một năng lượng đang tiến hoá. Ba giai đoạn [hạ-hồng trần] ở phía hành khí; giới kim thạch; ba giai đoạn ở phía hồng trần khách quan 288—đó là bảy mắt xích [đầu tiên hay sơ bộ] của dãy tiến hoá. 289

“Preliminary” because they are preparatory, and though belonging in fact to the natural, they would be more correctly described as the sub-natural evolution. This process makes a halt in its stages at the third, at the threshold of the fourth stage, when it becomes, on the plane of natural evolution, the first really manward stage, thus forming with the three elemental kingdoms, the ten, the Sephirothal number. It is at this point that begins: A descent of spirit into matter equivalent to an ascent in physical evolution; a reascent from the deepest depths of materiality (the mineral) towards its status quo ante, with a corresponding dissipation of concrete organism—up to Nirvâna, the vanishing point of differentiated matter. 290

“Sơ bộ” bởi vì chúng là sự chuẩn bị, và dù thật ra thuộc về tự nhiên, chúng sẽ được mô tả chính xác hơn là tiến hoá hạ-tự nhiên. Tiến trình này dừng lại trong các giai đoạn của nó ở giai đoạn thứ ba, tại ngưỡng của giai đoạn thứ tư, khi trên cõi tiến hoá tự nhiên nó trở thành giai đoạn đầu tiên thật sự hướng về con người, như vậy cùng với ba giới hành khí tạo thành con số mười, con số Sephiroth. Chính tại điểm này bắt đầu: Một sự giáng hạ của tinh thần vào vật chất tương đương với một sự thăng lên trong tiến hoá hồng trần; một sự tái thăng từ những vực sâu thẳm nhất của vật chất tính (khoáng vật) hướng về trạng thái nguyên thủy của nó, với sự làm tiêu tan tương ứng của cơ thể cụ thể—cho đến Niết Bàn, điểm biến mất của vật chất đã biến phân. 290

Therefore it becomes evident, why that which is pertinently called in Esoteric Buddhism “wave of evolution,” and “mineral, vegetable, animal and man-impulse,” stops at the door of our Globe, at its Fourth Cycle or Round. It is at this point that the Cosmic Monad (Buddhi) will be wedded to, and become the vehicle of, the Âtmic Ray; i.e., Buddhi will awaken to an apperception of it (Âtman), and thus enter on the first step of a new septenary ladder of evolution, which will lead it eventually to the tenth, counting from the lowest upwards, of the Sephirothal Tree, the Crown.

Vì vậy, điều trở nên hiển nhiên là tại sao cái được gọi một cách thích đáng trong Phật Giáo Nội Môn là “làn sóng tiến hoá”, và “xung động khoáng vật, thực vật, động vật và con người”, lại dừng ở cửa bầu hành tinh của chúng ta, vào Chu Kỳ hay cuộc tuần hoàn thứ tư của nó. Chính tại điểm này, Chân thần Vũ trụ, tức Bồ đề, sẽ kết hợp với, và trở thành vận cụ của, Cung Atma; nghĩa là, Bồ đề sẽ thức tỉnh để tri nhận nó, tức Atma, và như thế bước lên nấc đầu tiên của một chiếc thang tiến hoá thất phân mới, cuối cùng sẽ dẫn nó đến bậc thứ mười, tính từ thấp lên cao, của Cây Sephiroth, tức Vương Miện.

Everything in the Universe follows analogy. “As above, so below”; Man is the microcosm of the Universe. That which takes place on the spiritual plane, repeats itself on the cosmic plane. Concretion follows the lines of abstraction; corresponding to the highest must be the lowest; the material to the spiritual. Thus, corresponding to the Sephirothal Crown, or Upper Triad, there are the three elemental kingdoms, which precede the mineral, 291 and which, using the language of the Kabalists, answer in the cosmic differentiation to the Worlds of Form and Matter, from the Super-Spiritual to the Archetypal.

Mọi sự trong Vũ trụ đều theo định luật tương đồng. “Trên sao, dưới vậy”; con người là Tiểu thiên địa của Vũ trụ. Điều diễn ra trên cõi tinh thần lặp lại chính nó trên cõi vũ trụ. Sự kết đặc đi theo các đường nét của trừu tượng; cái thấp nhất phải tương ứng với cái cao nhất; vật chất tương ứng với tinh thần. Do đó, tương ứng với Vương Miện Sephiroth, hay Tam nguyên Thượng, có ba giới hành khí, vốn đi trước giới kim thạch, 291 và, dùng ngôn ngữ của các nhà Kabbalah, trong sự biến phân vũ trụ, chúng đáp ứng với các Thế giới của Hình Tướng và Vật Chất, từ Siêu Tinh Thần đến Nguyên Mẫu.

Now what is a Monad? And what relation does it bear to an Atom? The following reply is based upon the explanations given in answer to these questions in the above-cited article, “The Mineral Monad,” written by the author. To the second question it is answered: None whatever to the atom or molecule as at present existing in the scientific conception. It can neither be compared with the microscopic organisms, once classed among polygastric infusoria, and now regarded as vegetable, and classed among algæ; nor is it quite the monas of the Peripatetics. Physically or constitutionally the Mineral Monad differs, of course, from the Human Monad, which is not physical, nor can its constitution be rendered by chemical symbols and elements. 292

Bây giờ, Chân thần là gì? Và nó có liên hệ gì với một nguyên tử? Câu trả lời sau đây dựa trên các giải thích được đưa ra để đáp lại những câu hỏi này trong bài viết đã dẫn ở trên, “Chân thần Khoáng vật”, do tác giả viết. Đối với câu hỏi thứ hai, câu trả lời là: Hoàn toàn không có liên hệ gì với nguyên tử hay phân tử như hiện nay đang tồn tại trong quan niệm khoa học. Nó không thể được so sánh với các sinh vật hiển vi, từng được xếp vào loại trùng truyền đa vị, và nay được xem là thực vật, được xếp vào loại tảo; cũng không hẳn là monas của phái Tiêu Dao. Về mặt hồng trần hay cấu tạo, Chân thần Khoáng vật dĩ nhiên khác với Chân thần Con người, vốn không thuộc hồng trần, và cấu tạo của nó cũng không thể được biểu thị bằng các ký hiệu và nguyên tố hoá học. 292

In short, as the Spiritual Monad is One, Universal, Boundless and Impartite, whose Rays, nevertheless, form what we, in our ignorance, call the “Individual Monads” of men, so the Mineral Monad—being at the opposite curve of the circle—is also One, and from it proceed the countless physical atoms, which Science is beginning to regard as individualized.

Tóm lại, cũng như Chân thần Tinh thần là Duy Nhất, Phổ quát, Vô biên và Không phân chia, tuy nhiên các Cung của nó lại tạo thành điều mà trong vô minh chúng ta gọi là “các Chân thần Cá biệt” của con người, thì Chân thần Khoáng vật — ở cung đối nghịch của vòng tròn — cũng là Duy Nhất, và từ đó phát xuất vô số nguyên tử hồng trần mà Khoa học đang bắt đầu xem như đã được biệt ngã hóa.

Otherwise how could one account for, and explain mathematically, the evolutionary and spiral progress of the four kingdoms? The Monad is the combination of the last two principles in man, the sixth and the seventh, and, properly speaking, the term “Human Monad” applies only to the Dual Soul (Âtmâ-Buddhi), not to its highest spiritual vivifying principle, Âtmâ, alone. But since the Spiritual Soul, if divorced from the latter (Âtmâ), could have no existence, no being, it has thus been called…. Now the Monadic, or rather Cosmic, Essence, if such a term be permitted, in the mineral, vegetable and animal, though the same throughout the series of cycles, from the lowest elemental up to the Deva kingdom, yet differs in the scale of progression. It would be very misleading to imagine a Monad as a separate Entity, trailing its slow way in a distinct path through the lower kingdoms, and after an incalculable series of transformations flowering into a human being; in short, that the Monad of a Humboldt dates back to the Monad of an atom of hornblende. Instead of saying a “Mineral Monad,” the more correct phraseology in Physical Science, which differentiates every atom, would of course have been to call it “the Monad manifesting in that form of Prakriti called ‘the Mineral Kingdom’.”The atom, as represented in the ordinary scientific hypothesis, is not a particle of something, animated by a psychic something, destined after æons to blossom into a man. But it is a concrete manifestation of the Universal Energy, which itself has not yet become individualized; a sequential manifestation of the one Universal Monas. The Ocean of Matter does not divide into its potential and constituent drops, until the sweep of the life-impulse reaches the evolutionary stage of man-birth. The tendency towards segregation into individual Monads is gradual, and in the higher animals comes almost to the point. The Peripatetics applied the word Monas to the whole Kosmos, in the pantheistic sense; and the Occultists, while accepting this thought for convenience sake, distinguish the progressive stages of the evolution of the concrete from the abstract, by terms of which the “Mineral, Vegetable, Animal Monad,” etc., are examples. The term merely means that the tidal wave of spiritual evolution is passing through that arc of its circuit. The “Monadic Essence” begins to imperceptibly differentiate towards individual consciousness in the vegetable kingdom. As the Monads are uncompounded things, as correctly defined by Leibnitz, it is the Spiritual Essence which vivifies them in their degrees of differentiation, which properly constitutes the Monad—not the atomic aggregation, which is only the vehicle and the substance through which thrill the lower and the higher degrees of intelligence. 293

Nếu không như vậy, làm sao người ta có thể giải thích và trình bày bằng toán học sự tiến triển tiến hoá theo hình xoắn ốc của bốn giới? Chân thần là sự kết hợp của hai nguyên khí cuối cùng trong con người, nguyên khí thứ sáu và thứ bảy, và nói cho đúng, thuật ngữ “Chân thần Con người” chỉ áp dụng cho Linh hồn Kép, Atma-Bồ đề, chứ không áp dụng riêng cho nguyên khí tinh thần tiếp sinh lực cao nhất của nó là Atma. Nhưng vì Linh hồn Tinh thần, nếu tách khỏi nguyên khí sau, tức Atma, sẽ không thể có sự tồn tại, không có hiện hữu, nên nó đã được gọi như vậy… Bây giờ, Tinh chất Chân thần, hay đúng hơn là Tinh chất Vũ trụ, nếu được phép dùng thuật ngữ ấy, trong khoáng vật, thực vật và động vật, tuy vẫn là một xuyên suốt toàn bộ chuỗi chu kỳ, từ giới hành khí thấp nhất cho đến giới thiên thần, nhưng lại khác nhau theo thang tiến triển. Sẽ rất sai lầm nếu tưởng tượng Chân thần như một Thực Thể riêng biệt, lê bước chậm chạp trên một con đường riêng qua các giới thấp, và sau một chuỗi chuyển đổi không thể tính đếm, nở hoa thành một con người; tóm lại, rằng Chân thần của một Humboldt có nguồn gốc từ Chân thần của một nguyên tử hornblende. Thay vì nói “Chân thần Khoáng vật”, trong Khoa học Hồng trần, vốn phân biệt từng nguyên tử, cách nói chính xác hơn dĩ nhiên là gọi nó là “Chân thần biểu hiện trong hình tướng Prakriti ấy được gọi là ‘Giới Kim Thạch’.” Nguyên tử, như được trình bày trong giả thuyết khoa học thông thường, không phải là một hạt của một cái gì đó, được một cái gì đó thông linh làm linh hoạt, và sau nhiều đại kiếp được định sẵn để nở thành con người. Nhưng nó là một biểu hiện cụ thể của Năng Lượng Phổ quát, vốn tự nó chưa trở nên biệt ngã hóa; một biểu hiện nối tiếp của Monas Phổ quát duy nhất. Đại Dương Vật Chất không phân chia thành những giọt tiềm tàng và cấu thành của nó, cho đến khi luồng xung động sự sống đạt tới giai đoạn tiến hoá của sự sinh ra con người. Khuynh hướng tách riêng thành các Chân thần cá biệt là dần dần, và ở các động vật cao, nó gần như đạt đến điểm ấy. Phái Tiêu Dao áp dụng từ Monas cho toàn thể Vũ trụ theo nghĩa phiếm thần; còn các nhà huyền bí học, trong khi chấp nhận tư tưởng này vì tiện dụng, lại phân biệt các giai đoạn tiến triển của sự tiến hoá từ trừu tượng đến cụ thể bằng những thuật ngữ mà “Chân thần Khoáng vật, Thực vật, Động vật”, v.v., là các ví dụ. Thuật ngữ này chỉ có nghĩa rằng làn sóng triều của tiến hoá tinh thần đang đi qua cung ấy trong chu trình của nó. “Tinh chất Chân thần” bắt đầu biến phân một cách không thể nhận thấy hướng về tâm thức cá biệt trong giới thực vật. Vì các Chân thần là những sự vật không hợp thành, như Leibnitz đã định nghĩa đúng, nên chính Tinh chất Tinh thần, vốn tiếp sinh lực cho chúng trong các cấp độ biến phân của chúng, mới thật sự cấu thành Chân thần — chứ không phải tập hợp nguyên tử, vốn chỉ là vận cụ và chất liệu qua đó các cấp độ thấp và cao của trí thông tuệ rung lên. 293

Leibnitz conceived of the Monads as elementary and indestructible units, endowed with the power of giving and receiving with respect to other units, and thus of determining all spiritual and physical phenomena. It is he who invented the term apperception, which together with nerve- (not perception, but rather) sensation, expresses the state of the Monadic consciousness through all the kingdoms up to Man.

Leibnitz quan niệm các Chân thần là những đơn vị sơ nguyên và bất hoại, được phú cho quyền năng cho và nhận trong tương quan với các đơn vị khác, và do đó quyết định mọi hiện tượng tinh thần và hồng trần. Chính ông đã đặt ra thuật ngữ tri nhận, thuật ngữ này, cùng với cảm giác thần kinh, không phải tri giác mà đúng hơn là cảm giác, diễn tả trạng thái của tâm thức Chân thần xuyên qua mọi giới cho đến Con người.

Thus it may be wrong, on strictly metaphysical lines, to call Âtmâ-Buddhi a Monad, since in the materialistic view it is dual and therefore compound. But as Matter is Spirit, and vice versâ; and since the Universe and the Deity which informs it are unthinkable apart from each other; so in the case of Âtmâ-Buddhi. The latter being the vehicle of the former, Buddhi stands in the same relation to Âtmâ, as Adam-Kadmon, the Kabalistic Logos, does to Ain Suph, or Mûlaprakriti to Parabrahman.

Do đó, theo những đường lối siêu hình nghiêm ngặt, có thể là sai khi gọi Atma-Bồ đề là một Chân thần, vì theo quan điểm duy vật, nó là nhị phân và vì thế là hợp thành. Nhưng vì Vật Chất là Tinh Thần, và ngược lại; và vì Vũ trụ cùng Thượng đế thấm nhuần nó là điều không thể nghĩ đến nếu tách rời nhau; trường hợp Atma-Bồ đề cũng như vậy. Vì Bồ đề là vận cụ của Atma, nên Bồ đề ở trong cùng một tương quan với Atma như Adam-Kadmon, Thượng đế Kabbalah, đối với Ain Soph, hay như Mulaprakriti đối với Parabrahman.

And now a few words more on the Moon.

Và bây giờ thêm vài lời về Mặt Trăng.

What, it may be asked, are the “Lunar Monads,” just spoken of? The description of the seven Classes of Pitris will come later, but now some general explanations may be given. It must be plain to everyone that they are Monads, who, having ended their Life-Cycle on the Lunar Chain, which is inferior to the Terrestrial Chain, have incarnated on the latter. But there are some further details which may be added, though they border too closely on forbidden ground to be treated of fully. The last word of the mystery is divulged only to Adepts, but it may be stated that our satellite is only the gross body of its invisible principles. Seeing then that there are seven Earths, so there are seven Moons, the last alone being visible; the same for the Sun, whose visible body is called a Mâyâ, a reflection, just as man’s body is. “The real Sun and the real Moon are as invisible as the real man,” says an Occult maxim.

Có thể hỏi, “các Chân thần Nguyệt cầu” vừa được nói đến là gì? Mô tả về bảy Giai cấp Pitris sẽ đến sau, nhưng giờ đây có thể đưa ra một vài giải thích tổng quát. Hẳn mọi người đều thấy rõ rằng họ là những Chân thần đã kết thúc Chu kỳ Sự sống của mình trên Dãy Mặt Trăng, vốn thấp hơn Dãy Địa Cầu, và đã nhập thể trên Dãy sau. Nhưng có thể thêm vài chi tiết nữa, dù chúng quá gần với vùng đất bị cấm nên không thể bàn đầy đủ. Lời cuối cùng của bí nhiệm chỉ được tiết lộ cho các Chân sư, nhưng có thể nói rằng vệ tinh của chúng ta chỉ là thể thô của các nguyên khí vô hình của nó. Do đó, thấy rằng có bảy Trái Đất, thì cũng có bảy Mặt Trăng, chỉ mặt trăng cuối cùng là hữu hình; điều này cũng đúng với Mặt Trời, mà thể hữu hình của nó được gọi là maya, một phản ảnh, giống như thể của con người. Một châm ngôn huyền bí nói: “Mặt Trời thật và Mặt Trăng thật cũng vô hình như con người thật.”

And it may be remarked, en passant, that those Ancients were not so foolish after all who first started the idea of “Seven Moons.” For though this conception is now taken solely as an astronomical measure of time, in a very materialized form, yet underlying the husk there can still be recognized the traces of a profoundly philosophical idea.

Và có thể nhận xét, nhân tiện, rằng những người xưa đã khởi xướng ý tưởng về “Bảy Mặt Trăng” rốt cuộc không hề ngu ngốc. Vì dù quan niệm này nay chỉ được xem như một thước đo thời gian thiên văn, dưới một hình thức rất vật chất hoá, nhưng bên dưới lớp vỏ ấy, người ta vẫn có thể nhận ra những dấu vết của một ý tưởng triết học sâu xa.

In reality the Moon is the satellite of the Earth in one respect only, viz., that physically the Moon revolves round the Earth. But in every other respect, it is the Earth which is the satellite of the Moon, and not vice versâ. Startling as the statement may seem, it is not without confirmation from scientific knowledge. It is evidenced by the tides, by the cyclic changes in many forms of disease, which coincide with the lunar phases; it can be traced in the growth of plants, and is very marked in the phenomena of human conception and gestation. The importance of the Moon and its influence on the Earth were recognized in every ancient religion, notably the Jewish, and have been remarked by many observers of psychical and physical phenomena. But, so far as Science knows, the Earth’s action on the Moon is confined to the physical attraction, which causes her to circle in her orbit. And should an objector insist, that this fact alone is sufficient evidence that the Moon is truly the Earth’s satellite on other planes of action, one may reply by asking whether a mother, who walks round and round her child’s cradle, keeping watch over the infant, is the subordinate of her child or dependent upon it? Though in one sense she is its satellite, yet she is certainly older and more fully developed than the child she watches.

Thật ra, Mặt Trăng là vệ tinh của Trái Đất chỉ theo một phương diện, tức là về mặt hồng trần, Mặt Trăng quay quanh Trái Đất. Nhưng trong mọi phương diện khác, chính Trái Đất mới là vệ tinh của Mặt Trăng, chứ không phải ngược lại. Dù phát biểu này có vẻ gây kinh ngạc, nó không thiếu sự xác nhận từ tri thức khoa học. Điều đó được chứng minh bằng thủy triều, bằng những biến đổi chu kỳ trong nhiều dạng bệnh tật trùng hợp với các tuần trăng; có thể truy nguyên nó trong sự tăng trưởng của cây cối, và nó rất rõ trong các hiện tượng thụ thai và thai nghén của con người. Tầm quan trọng của Mặt Trăng và ảnh hưởng của nó trên Trái Đất đã được nhìn nhận trong mọi tôn giáo cổ đại, đặc biệt là tôn giáo Do Thái, và đã được nhiều nhà quan sát các hiện tượng thông linh và hồng trần ghi nhận. Nhưng theo như Khoa học biết, tác động của Trái Đất lên Mặt Trăng chỉ giới hạn ở lực hút hồng trần, khiến nó quay trong quỹ đạo của mình. Và nếu một người phản đối cứ khăng khăng rằng chỉ riêng sự kiện này đã là bằng chứng đủ để cho thấy Mặt Trăng thật sự là vệ tinh của Trái Đất trên các cõi tác động khác, thì người ta có thể đáp lại bằng cách hỏi liệu một người mẹ đi quanh nôi của con mình, canh chừng đứa trẻ, có phải là kẻ dưới quyền của con mình hay lệ thuộc vào nó không? Dù theo một nghĩa nào đó bà là vệ tinh của nó, nhưng chắc chắn bà lớn tuổi hơn và phát triển đầy đủ hơn đứa trẻ mà bà trông nom.

It is, then, the Moon that plays the largest and most important part, as well in the formation of the Earth itself, as in the peopling thereof with human beings. The Lunar Monads, or Pitris, the ancestors of man, become in reality man himself. They are the Monads, who enter on the cycle of evolution on Globe A, and who, passing round the Chain of Globes, evolve the human form, as has just been shown. At the beginning of the human stage of the Fourth Round on this Globe, they “ooze out” their astral doubles, from the “ape-like” forms which they had evolved in the Third Round. And it is this subtle, finer form, which serves as the model round which Nature builds physical man. These Monads, or Divine Sparks, are thus the Lunar Ancestors, the Pitris themselves; for these Lunar Spirits have to become “men,” in order that their Monads may reach a higher plane of activity and self-consciousness, i.e., the plane of the Mânasa-Putras, those who endow the “senseless” shells, created and informed by the Pitris, with “mind,” in the latter part of the Third Root-Race.

Vậy thì chính Mặt Trăng đóng vai trò lớn nhất và quan trọng nhất, cả trong sự hình thành của chính Trái Đất lẫn trong việc làm cho nó có con người cư ngụ. Các Chân thần Nguyệt cầu, hay Pitris, tổ tiên của con người, trong thực tế trở thành chính con người. Họ là các Chân thần bước vào chu kỳ tiến hoá trên Bầu A, và khi đi vòng quanh Dãy các Bầu, họ tiến hoá nên hình tướng con người, như vừa được trình bày. Vào đầu giai đoạn nhân loại của Cuộc tuần hoàn thứ tư trên Bầu này, họ “rỉ ra” các bản sao cảm dục của mình từ những hình tướng “giống vượn” mà họ đã tiến hoá trong Cuộc tuần hoàn thứ ba. Và chính hình tướng tinh tế, thanh nhẹ hơn này đóng vai trò làm mô hình quanh đó Thiên nhiên xây dựng con người hồng trần. Do đó, các Chân thần này, hay các Tia Lửa Thiêng Liêng, là Tổ tiên Nguyệt cầu, chính các Pitris; vì các Tinh linh Nguyệt cầu này phải trở thành “con người”, để các Chân thần của họ có thể đạt tới một cõi hoạt động và ngã thức cao hơn, tức cõi của các Manasa-Putras, những vị ban “trí tuệ” cho các lớp vỏ “vô giác”, do các Pitris tạo ra và thấm nhuần, vào phần sau của Giống dân gốc thứ ba.

In the same way, the Monads, or Egos, of the men of the Seventh Round of our Earth, after our own Globes A, B, C, D, etc., parting with their life-energy, will have informed, and thereby called to life, other laya-centres, destined to live and act on a still higher plane of being—in the same way will the Terrene Ancestors create those who will become their superiors.

Theo cùng cách ấy, các Chân thần, hay Chân ngã, của những con người thuộc Cuộc tuần hoàn thứ bảy của Trái Đất chúng ta, sau khi các Bầu A, B, C, D, v.v., của chính chúng ta đã trao truyền sinh lực của chúng, sẽ thấm nhuần và nhờ đó gọi vào sự sống những trung tâm laya khác, được định sẵn để sống và hoạt động trên một cõi hiện hữu còn cao hơn — cũng theo cách ấy, các Tổ tiên Địa cầu sẽ tạo ra những kẻ sẽ trở thành bậc cao hơn họ.

It now becomes plain, that there exists in Nature a triple evolutionary scheme for the formation of the three periodical Upâdhis; or rather three separate schemes of evolution, which in our system are inextricably interwoven and interblended at every point. These are the Monadic (or Spiritual), the Intellectual, and the Physical Evolutions. These three are the finite aspects, or the reflections on the field of Cosmic Illusion, of Âtmâ, the seventh, the One Reality.

Giờ đây điều trở nên rõ ràng là trong Thiên nhiên có một hệ thống tiến hoá tam phân để hình thành ba Upadhi chu kỳ; hay đúng hơn là ba hệ thống tiến hoá riêng biệt, trong hệ thống của chúng ta chúng đan xen và hoà quyện không thể tách rời ở mọi điểm. Đó là các tiến hoá Chân thần, hay Tinh thần, Trí tuệ, và Hồng trần. Ba điều này là các phương diện hữu hạn, hay các phản ảnh trên trường Ảo tưởng Vũ trụ, của Atma, nguyên khí thứ bảy, Thực Tại Duy Nhất.

1. The Monadic, as the name implies, is concerned with the growth and development into still higher phases of activity of the Monads, in conjunction with: 2. The Intellectual, represented by the Mânasa-Dhyânis (the Solar Devas, or the Agnishvatta Pitris), the “givers of intelligence and consciousness” to man, and: 3. The Physical, represented by the Chhâyâs of the Lunar Pitris, round which Nature has concreted the present physical body. This body serves as the vehicle for the “growth,” to use a misleading word, and the transformations—through Manas, and owing to the accumulation of experiences—of the Finite into the Infinite, of the Transient into the Eternal and Absolute.

1. Tiến hoá Chân thần, như tên gọi hàm ý, liên quan đến sự tăng trưởng và phát triển của các Chân thần vào những giai đoạn hoạt động còn cao hơn, cùng với: 2. Tiến hoá Trí tuệ, được đại diện bởi các Manasa-Dhyani, tức các thiên thần Thái dương, hay các Pitris Agnishvatta, “những đấng ban trí thông tuệ và tâm thức” cho con người, và: 3. Tiến hoá Hồng trần, được đại diện bởi các Chhaya của các Pitris Nguyệt cầu, quanh đó Thiên nhiên đã kết đặc thể xác hiện nay. Thể này đóng vai trò làm vận cụ cho sự “tăng trưởng”, dùng một từ dễ gây hiểu lầm, và cho các chuyển đổi — thông qua Manas, và do sự tích lũy kinh nghiệm — của Hữu Hạn thành Vô Hạn, của Tạm Thời thành Vĩnh Cửu và Tuyệt Đối.

Each of these three systems has its own laws, and is ruled and guided by different sets of the highest Dhyânis or Logoi. Each is represented in the constitution of Man, the Microcosm of the great Macrocosm; and it is the union of these three streams in him, which makes him the complex being he now is.

Mỗi một trong ba hệ thống này có các định luật riêng, và được cai quản cùng hướng dẫn bởi những nhóm Dhyani hay Các Thượng đế cao nhất khác nhau. Mỗi hệ thống được đại diện trong cấu tạo của Con người, Tiểu thiên địa của Đại thiên địa vĩ đại; và chính sự hợp nhất của ba dòng này trong y làm cho y trở thành hữu thể phức hợp như hiện nay.

Nature, the physical evolutionary Power, could never evolve Intelligence unaided; she can only create “senseless forms,” as will be seen in our Anthropogenesis. The Lunar Monads cannot progress, for they have not yet had sufficient touch with the forms created by “Nature,” to allow of their accumulating experiences through its means. It is the Mânasa-Dhyânis who fill up the gap, and they represent the evolutionary power of Intelligence and Mind, the link between Spirit and Matter—in this Round.

Thiên nhiên, Quyền năng tiến hoá hồng trần, không bao giờ có thể tự mình tiến hoá nên Trí thông tuệ; bà chỉ có thể tạo ra “những hình tướng vô giác”, như sẽ được thấy trong Nhân loại phát sinh luận của chúng ta. Các Chân thần Nguyệt cầu không thể tiến triển, vì họ chưa có đủ tiếp xúc với các hình tướng do “Thiên nhiên” tạo ra để có thể tích lũy kinh nghiệm thông qua phương tiện ấy. Chính các Manasa-Dhyani lấp đầy khoảng trống, và họ đại diện cho quyền năng tiến hoá của Trí thông tuệ và thể trí, mắt xích giữa Tinh Thần và Vật Chất — trong Cuộc tuần hoàn này.

Also it must be borne in mind that the Monads which enter upon the evolutionary cycle upon Globe A, in the first Round, are in very different stages of development. Hence the matter becomes somewhat complicated. Let us recapitulate.

Cũng cần ghi nhớ rằng các Chân thần bước vào chu kỳ tiến hoá trên Bầu A, trong Cuộc tuần hoàn thứ nhất, ở những giai đoạn phát triển rất khác nhau. Vì thế vấn đề trở nên hơi phức tạp. Chúng ta hãy tóm lược.

The most developed, the Lunar Monads, reach the human germ-stage in the First Round; become terrestrial, though very ethereal, human beings towards the end of the Third Round, remaining on the Globe through the “obscuration” period, as the seed for future mankind in the Fourth Round, and thus become the pioneers of Humanity at the beginning of this, the present Fourth Round. Others reach the human stage only during later Rounds, i.e., in the second, third or first half of the Fourth Round. And finally the most retarded of all—i.e., those still occupying animal forms after the middle turning-point of the Fourth Round—will not become men at all during this Manvantara. They will reach to the verge of Humanity only at the close of the Seventh Round, to be, in their turn, ushered into a new Chain, after Pralaya, by older pioneers, the progenitors of Humanity, or the Seed-Humanity (Shishta), viz., the men who will be at the head of all at the end of these Rounds.

Những Chân thần phát triển nhất, tức các Chân thần Nguyệt cầu, đạt tới giai đoạn mầm mống nhân loại trong Cuộc tuần hoàn thứ nhất; trở thành những con người địa cầu, dù rất dĩ thái, vào cuối Cuộc tuần hoàn thứ ba, ở lại trên Bầu trong thời kỳ “che khuất” như hạt giống cho nhân loại tương lai trong Cuộc tuần hoàn thứ tư, và như vậy trở thành những người tiên phong của Nhân loại vào đầu Cuộc tuần hoàn thứ tư hiện tại này. Những Chân thần khác chỉ đạt tới giai đoạn nhân loại trong các Cuộc tuần hoàn về sau, tức trong cuộc thứ hai, thứ ba, hoặc nửa đầu của Cuộc tuần hoàn thứ tư. Và cuối cùng, những kẻ trì trệ nhất — tức những kẻ vẫn còn chiếm giữ các hình tướng động vật sau điểm ngoặt giữa của Cuộc tuần hoàn thứ tư — sẽ không trở thành con người trong Giai kỳ sinh hóa này. Họ sẽ chỉ đạt tới ngưỡng Nhân loại vào cuối Cuộc tuần hoàn thứ bảy, để đến lượt mình được đưa vào một Dãy mới sau Giai kỳ qui nguyên, bởi những người tiên phong cao tuổi hơn, những tổ phụ của Nhân loại, hay Nhân loại Hạt giống, Shishta, tức những con người sẽ đứng đầu tất cả vào cuối các Cuộc tuần hoàn này.

The student scarcely needs any further explanation on the part played by the Fourth Globe and the Fourth Round in the scheme of evolution.

Đạo sinh hầu như không cần thêm lời giải thích nào về vai trò của Bầu thứ tư và Cuộc tuần hoàn thứ tư trong hệ thống tiến hoá.

From the preceding diagrams, which are applicable, mutatis mutandis, to Rounds, Globes or Races, it will be seen that the fourth member of a series occupies a unique position. Unlike the others, the Fourth has no “sister” Globe on the same plane as itself, and it thus forms the fulcrum of the “balance” represented by the whole Chain. It is the sphere of final evolutionary adjustments, the world of the Karmic scales, the Hall of Justice, where the balance is struck which determines the future course of the Monad during the remainder of its incarnations in the Cycle. And therefore is it that, after this central turning-point has been passed in the Great Cycle—i.e., after the middle point of the Fourth Race in the Fourth Round on our Globe—no more Monads can enter the human kingdom. The door is closed for this Cycle, and the balance struck. For were it otherwise—had there been a new soul created for each of the countless milliards of human beings that have passed away, and had there been no reincarnation—it would become difficult indeed to provide room for the disembodied “spirits”; nor could the origin and cause of suffering ever be accounted for. It is the ignorance of the Occult tenets, and the enforcement of false conceptions under the guise of religious education, which have created Materialism and Atheism as a protest against the asserted divine order of things.

Từ các sơ đồ trước, vốn có thể áp dụng, với những thay đổi cần thiết, cho các Cuộc tuần hoàn, các Bầu hay các Giống dân, sẽ thấy rằng thành viên thứ tư của một chuỗi giữ một vị trí độc đáo. Khác với các thành viên khác, Bầu thứ tư không có Bầu “chị em” nào trên cùng cõi với nó, và do đó nó tạo thành điểm tựa của “cán cân” được toàn bộ Dãy đại diện. Nó là khối cầu của những điều chỉnh tiến hoá cuối cùng, thế giới của các bàn cân Nghiệp quả, Phòng Công Lý, nơi cán cân được xác lập, quyết định đường hướng tương lai của Chân thần trong phần còn lại của các lần nhập thể của nó trong Chu kỳ. Và vì thế, sau khi điểm ngoặt trung tâm này đã được vượt qua trong Chu kỳ Vĩ Đại — tức sau điểm giữa của Giống dân thứ tư trong Cuộc tuần hoàn thứ tư trên Bầu của chúng ta — không Chân thần nào nữa có thể đi vào giới nhân loại. Cánh cửa đã đóng lại cho Chu kỳ này, và cán cân đã được xác lập. Vì nếu ngược lại — nếu có một linh hồn mới được tạo ra cho mỗi trong vô số tỷ con người đã qua đời, và nếu không có luân hồi — thì quả thật sẽ rất khó cung cấp chỗ cho các “tinh linh” không còn thân xác; và nguồn gốc cùng nguyên nhân của đau khổ cũng không bao giờ có thể được giải thích. Chính sự vô minh đối với các giáo lý huyền bí, và việc cưỡng ép các quan niệm sai lầm dưới danh nghĩa giáo dục tôn giáo, đã tạo ra Chủ nghĩa Duy vật và Vô thần như một sự phản kháng đối với trật tự thiêng liêng được khẳng định của vạn vật.

The only exceptions to the rule just stated are the “dumb races,” whose Monads are already within the human stage, in virtue of the fact that these “animals” are later than, and even half descended from, man; their last descendants being the anthropoid and other apes. These “human presentments” are in truth only the distorted copies of the early humanity. But this will receive full attention in the next volume.

Các ngoại lệ duy nhất đối với quy luật vừa nêu là các “giống dân câm”, mà các Chân thần của họ đã ở trong giai đoạn nhân loại, do sự kiện rằng những “động vật” này xuất hiện muộn hơn con người, và thậm chí một nửa là hậu duệ của con người; hậu duệ cuối cùng của họ là các loài vượn người và các loài vượn khác. Những “hình ảnh phác họa con người” này thật ra chỉ là các bản sao méo mó của nhân loại sơ khai. Nhưng điều này sẽ được chú ý đầy đủ trong quyển kế tiếp.

As the Commentary, broadly rendered, says: 1. Every Form on earth, and every Speck [atom] in Space strives in its efforts towards self-formation to follow the model placed for it in the “Heavenly Man.”… Its (the atom’s) involution and evolution, its external and internal growth and development, have all one and the same object—Man; Man, as the highest physical and ultimate form on this Earth; the “Monad,” in its absolute totality and awakened condition—as the culmination of the divine incarnations on Earth.

Như Cổ Luận, diễn rộng ra, nói: 1. Mỗi Hình Tướng trên đất, và mỗi Hạt bụi, tức nguyên tử, trong Không Gian, trong nỗ lực tự hình thành, đều cố gắng noi theo mô hình đã được đặt cho nó trong “Đấng Thiên Nhân”… Sự giáng hạ tiến hoá và tiến hoá của nó, sự tăng trưởng và phát triển bên ngoài lẫn bên trong của nó, đều có cùng một mục tiêu — Con người; Con người, như hình tướng hồng trần cao nhất và tối hậu trên Trái Đất này; “Chân thần”, trong tổng thể tuyệt đối và trạng thái thức tỉnh của nó — như đỉnh cao của các cuộc nhập thể thiêng liêng trên Trái Đất.

2. The Dhyânis [Pitris] are those who have evolved their Bhuta [Doubles] from themselves, which Rûpa [Form] has become the vehicle of Monads [Seventh and Sixth principles] that had completed their cycle of transmigration in the three preceding Kalpas [Rounds]. Then, they [the Astral Doubles] became the men of the first Human Race of the Round. But they were not complete, and were senseless.

2. Các Dhyani, tức Pitris, là những vị đã tiến hoá các Bhuta, tức các Bản sao, từ chính mình; Rupa, tức Hình Tướng ấy, đã trở thành vận cụ của các Chân thần, tức các nguyên khí thứ bảy và thứ sáu, vốn đã hoàn tất chu kỳ luân chuyển của mình trong ba Kalpa, tức các Cuộc tuần hoàn, trước đó. Rồi họ, tức các Bản sao Cảm dục, trở thành những con người của Giống dân Nhân loại đầu tiên của Cuộc tuần hoàn. Nhưng họ chưa hoàn chỉnh, và còn vô giác.

This will be explained in the sequel. Meanwhile man—or rather his Monad—has existed on Earth from the very beginning of this Round. But, up to our own Fifth Race, the external shapes which covered those divine Astral Doubles, have changed and consolidated with every sub-race; the form and physical structure of the fauna changing at the same time, as they had to be adapted to the ever-changing conditions of life on this Globe, during the geological periods of its formative cycle. And thus will they go on changing with every Root-Race, and every chief sub-race, down to the last one of the Seventh in this Round.

Điều này sẽ được giải thích về sau. Trong khi đó, con người — hay đúng hơn là Chân thần của y — đã tồn tại trên Trái Đất ngay từ khởi đầu của Cuộc tuần hoàn này. Nhưng cho đến Giống dân thứ năm của chúng ta, những hình dạng bên ngoài bao phủ các Bản sao Cảm dục thiêng liêng ấy đã thay đổi và kết đặc qua mỗi giống dân phụ; hình tướng và cấu trúc hồng trần của hệ động vật cũng thay đổi đồng thời, vì chúng phải thích nghi với những điều kiện sống luôn biến đổi trên Bầu này trong các thời kỳ địa chất của chu kỳ hình thành của nó. Và chúng sẽ tiếp tục thay đổi như thế qua mỗi Giống dân gốc, và mỗi giống dân phụ chính, cho đến giống dân phụ cuối cùng của Giống dân thứ bảy trong Cuộc tuần hoàn này.

3. The inner, now concealed, man, was then [in the beginnings] the external man. The progeny of the Dhyânis [Pitris], he was “the son like unto his father.” Like the lotus, whose external shape assumes gradually the form of the model within itself, so did the form of man in the beginning evolve from within without. After the cycle in which man began to procreate his species after the fashion of the present animal kingdom, it became the reverse. The human fœtus follows now in its transformations all the forms that the physical frame of man assumed, throughout the three Kalpas [Rounds], during the tentative efforts at plastic formation around the Monad, by senseless, because imperfect, matter, in her blind wanderings. In the present age, the physical embryo is a plant, a reptile, an animal, before it finally becomes man, evolving within himself his own ethereal counterpart, in his turn. In the beginning it was that counterpart [astral man] which, being senseless, got entangled in the meshes of matter.

3. Con người bên trong, nay bị che khuất, lúc bấy giờ là con người bên ngoài. Là hậu duệ của các Dhyani, tức Pitris, y là “người con giống như cha mình”. Như hoa sen, có hình dạng bên ngoài dần dần mang hình thức của mô hình bên trong chính nó, hình tướng của con người lúc ban đầu cũng tiến hoá từ trong ra ngoài. Sau chu kỳ trong đó con người bắt đầu sinh sản giống loài theo cách của giới động vật hiện nay, điều ấy trở nên ngược lại. Bào thai con người nay trong các chuyển đổi của nó đi theo mọi hình tướng mà khung hồng trần của con người đã mang lấy xuyên suốt ba Kalpa, tức các Cuộc tuần hoàn, trong những nỗ lực thử nghiệm nhằm tạo hình uyển chuyển quanh Chân thần, bởi vật chất vô giác vì bất toàn, trong những cuộc lang thang mù quáng của bà. Trong thời đại hiện nay, phôi thai hồng trần là một cây, một loài bò sát, một động vật, trước khi cuối cùng trở thành con người, đến lượt nó tiến hoá bên trong chính mình đối phần dĩ thái của mình. Lúc ban đầu chính đối phần ấy, tức con người cảm dục, vì vô giác, đã mắc vào lưới của vật chất.

But this “man” belongs to the Fourth Round. As shown, the Monad had passed through, journeyed and been imprisoned in, every transitional form, throughout every kingdom of nature, during the three preceding Rounds. But the Monad which becomes human, is not the Man. In this Round—with the exception of the highest mammals after man, the anthropoids destined to die out in this our race, when their Monads will be liberated and pass into the astral human forms, or the highest elementals, of the Sixth and the Seventh Races, and then into the lowest human forms in the Fifth Round—no units of any of the kingdoms are animated any longer by Monads destined to become human in their next stage, but only by the lower elementals of their respective realms. These “elementals” will become human Monads, in their turn, only at the next great planetary Manvantara.

Nhưng “con người” này thuộc về Cuộc tuần hoàn thứ tư. Như đã cho thấy, Chân thần đã đi qua, du hành và bị giam giữ trong mọi hình tướng chuyển tiếp, xuyên suốt mọi giới của thiên nhiên, trong ba Cuộc tuần hoàn trước. Nhưng Chân thần trở thành con người thì không phải là Con người. Trong Cuộc tuần hoàn này — ngoại trừ các loài hữu nhũ cao nhất sau con người, tức các loài vượn người được định sẵn sẽ tuyệt diệt trong giống dân này của chúng ta, khi các Chân thần của chúng sẽ được giải thoát và chuyển vào các hình tướng cảm dục nhân loại, hay các hành khí cao nhất, của Giống dân thứ sáu và thứ bảy, rồi vào các hình tướng nhân loại thấp nhất trong Cuộc tuần hoàn thứ năm — không đơn vị nào của bất cứ giới nào còn được linh hoạt bởi các Chân thần được định sẵn trở thành con người trong giai đoạn kế tiếp của chúng, mà chỉ bởi các hành khí thấp hơn của những cõi tương ứng. Đến lượt mình, các “hành khí” này chỉ sẽ trở thành các Chân thần nhân loại trong Giai kỳ sinh hóa hành tinh vĩ đại kế tiếp.

And in fact the last human Monad incarnated before the beginning of the Fifth Root-Race. Nature never repeats herself; therefore the anthropoids of our day have not existed at any time since the middle of the Miocene period, when, like all cross breeds, they began to show a tendency, more and more marked as time went on, to return to the type of their first parent, the gigantic black and yellow Lemuro-Atlantean. To search for the “missing link” is useless. To the Scientists of the closing Sixth Root-Race, millions and millions of years hence, our modern races, or rather their fossils, will appear as those of small insignificant apes—an extinct species of the genus homo.

Và thật vậy, Chân thần nhân loại cuối cùng đã nhập thể trước khi Giống dân gốc thứ năm bắt đầu. Thiên nhiên không bao giờ lặp lại chính mình; vì thế các loài vượn người ngày nay của chúng ta đã không tồn tại vào bất cứ thời điểm nào kể từ giữa kỷ Miocene, khi, giống như mọi giống lai, chúng bắt đầu biểu lộ khuynh hướng, ngày càng rõ theo thời gian, quay về mẫu hình của tổ tiên đầu tiên của chúng, người Lemuria-Atlantis khổng lồ màu đen và vàng. Tìm kiếm “mắt xích thiếu” là vô ích. Đối với các Nhà Khoa học của cuối Giống dân gốc thứ sáu, hàng triệu triệu năm nữa, các giống dân hiện đại của chúng ta, hay đúng hơn là hóa thạch của họ, sẽ hiện ra như hóa thạch của những con vượn nhỏ bé không đáng kể — một loài đã tuyệt chủng thuộc giống người.

Such anthropoids form an exception because they were not intended by Nature, but are the direct product and creation of “senseless” man. The Hindûs attribute a divine origin to the apes and monkeys, because the men of the Third Race were gods from another plane, who had become “senseless” mortals. This subject had already been touched upon in Isis Unveiled, twelve years ago, as plainly as was then possible. The reader is there referred to the Brâhmans, if he would know the reason of the regard they have for the monkeys.

Những loài vượn người như thế tạo thành một ngoại lệ vì chúng không được Thiên nhiên dự định, mà là sản phẩm và tạo vật trực tiếp của con người “vô giác”. Người Ấn gán nguồn gốc thiêng liêng cho loài khỉ và vượn, bởi những con người của Giống dân thứ ba là các vị thần từ một cõi khác, đã trở thành những phàm nhân “vô giác”. Chủ đề này đã từng được đề cập trong Isis Unveiled, mười hai năm trước, rõ ràng hết mức có thể vào lúc ấy. Độc giả được chỉ sang các Bà-la-môn ở đó, nếu y muốn biết lý do của sự tôn kính mà họ dành cho loài khỉ.

He [the reader] would perhaps learn—were the Brâhman to judge him worthy of an explanation—that the Hindû sees in the ape but what Manu desired he should: the transformation of species most directly connected with that of the human family—a bastard branch engrafted on their own stock before the final perfection of the latter. He might learn, further, that in the eyes of the educated “heathen”the spiritual or inner man is one thing, and his terrestrial physical casket another. That physical nature, that great combination of correlations of physical forces, ever creeping on towards perfection, has to avail herself of the material at hand; she models and remodels as she proceeds, and, finishing her crowning work in man, presents him alone as a fit tabernacle for the overshadowing of the Divine Spirit. 294

Y, tức độc giả, có lẽ sẽ biết — nếu vị Bà-la-môn xét thấy y xứng đáng được giải thích — rằng người Ấn thấy nơi loài vượn chỉ điều mà Đức Manu muốn y thấy: sự chuyển đổi của các loài có liên hệ trực tiếp nhất với sự chuyển đổi của gia đình nhân loại — một nhánh lai ghép vào chính gốc của họ trước khi gốc ấy đạt đến sự hoàn thiện cuối cùng. Y có thể còn biết thêm rằng, trong mắt người “ngoại đạo” có học, con người tinh thần hay bên trong là một điều, còn chiếc hộp hồng trần địa cầu của y lại là điều khác. Bản chất hồng trần ấy, sự kết hợp vĩ đại của các tương quan giữa các mãnh lực hồng trần, luôn bò dần về phía hoàn thiện, phải sử dụng vật liệu có sẵn; bà nặn hình và nặn lại khi tiến bước, và khi hoàn tất tác phẩm vương miện của mình nơi con người, bà trình hiện riêng y như một đền tạm thích hợp cho sự phủ bóng của Tinh Thần Thiêng Liêng. 294

Moreover, a German scientific work is mentioned in a footnote on the same page. It says that: A Hanoverian Scientist has recently published a work entitled, Ueber die Auflösung der Arten durch Natürliche Zucht-wahl, in which he shows, with great ingenuity, that Darwin was wholly mistaken in tracing man back to the ape. On the contrary, he maintains that it is the ape which is evolved from man. He shows that, in the beginning, mankind were, morally and physically, the types and prototypes of our present race and of our human dignity, by their beauty of form, regularity of feature, cranial development, nobility of sentiments, heroic impulses, and grandeur of ideal conceptions. This is a purely Brâhmanic, Buddhistic and Kabalistic doctrine. His book is copiously illustrated with diagrams, tables, etc. It asserts that the gradual debasement and degradation of man, morally and physically, can be readily traced throughout ethnological transformations down to our time. And, as one portion has already degenerated into apes, so the civilized man of the present day will at last, under the action of the inevitable law of necessity, be also succeeded by like descendants. If we may judge of the future by the actual present, it certainly does seem possible that so unspiritual and materialistic a race should end as Simia rather than as Seraphs.

Hơn nữa, một công trình khoa học Đức được nhắc đến trong một chú thích ở cùng trang. Nó nói rằng: Một Nhà Khoa học Hanover gần đây đã xuất bản một công trình nhan đề Về sự Tan rã của các Loài do Chọn lọc Tự nhiên, trong đó ông chứng minh với sự khéo léo lớn lao rằng Darwin đã hoàn toàn sai khi truy nguyên con người về loài vượn. Trái lại, ông cho rằng chính loài vượn được tiến hoá từ con người. Ông cho thấy rằng, lúc ban đầu, nhân loại, về đạo đức và thể chất, là những mẫu hình và nguyên mẫu của giống dân hiện nay của chúng ta và của phẩm giá nhân loại chúng ta, qua vẻ đẹp hình thể, sự đều đặn của nét mặt, sự phát triển sọ não, sự cao thượng của tình cảm, các xung động anh hùng, và sự vĩ đại của các quan niệm lý tưởng. Đây là một giáo lý thuần túy Bà-la-môn, Phật giáo và Kabbalah. Sách của ông được minh họa phong phú bằng sơ đồ, bảng biểu, v.v. Nó khẳng định rằng sự suy đồi và thoái hoá dần dần của con người, về đạo đức và thể chất, có thể được truy nguyên dễ dàng qua các chuyển đổi chủng tộc học cho đến thời đại chúng ta. Và, như một phần đã thoái hoá thành vượn, thì con người văn minh ngày nay cuối cùng, dưới tác động của định luật tất yếu không thể tránh khỏi, cũng sẽ được kế tục bởi những hậu duệ tương tự. Nếu có thể phán đoán tương lai bằng hiện tại thực tế, thì quả thật có vẻ có thể rằng một giống dân quá thiếu tinh thần và quá duy vật như thế sẽ kết thúc như loài khỉ hơn là như các Thiên thần.

But though the apes descend from man, it is certainly not the fact that the human Monad, which has once reached the level of humanity, ever incarnates again in the form of an animal.

Nhưng dù loài vượn xuất phát từ con người, chắc chắn không đúng khi nói rằng Chân thần nhân loại, một khi đã đạt tới cấp độ nhân loại, lại từng nhập thể lần nữa trong hình tướng của một động vật.

The cycle of “metempsychosis” for the human Monad is closed, for we are in the Fourth Round and the Fifth Root-Race. The reader will have to bear in mind—at any rate one who has made himself acquainted with Esoteric Buddhism—that the Stanzas which follow in this volume and the next speak of the evolution in our Fourth Round only. The latter is the cycle of the turning-point, after which, matter, having reached its lowest depths, begins to strive onward and to become spiritualized, with every new race and with every fresh cycle. Therefore the student must take care not to see contradiction where there is none, for in Esoteric Buddhism Rounds are spoken of in general, while here only the Fourth, or our present Round, is meant. Then it was the work of formation; now it is that of reformation and evolutionary perfection.

Chu kỳ “luân hồn” đối với Chân thần nhân loại đã khép lại, vì chúng ta đang ở trong Cuộc tuần hoàn thứ tư và Giống dân gốc thứ năm. Độc giả sẽ phải ghi nhớ — ít nhất là người đã tự làm quen với Phật Giáo Nội Môn — rằng các Bài kệ theo sau trong quyển này và quyển kế tiếp chỉ nói về sự tiến hoá trong Cuộc tuần hoàn thứ tư của chúng ta. Cuộc tuần hoàn sau này là chu kỳ của điểm ngoặt, sau đó vật chất, đã đạt tới những chiều sâu thấp nhất của nó, bắt đầu nỗ lực tiến tới và trở nên được tinh thần hoá, với mỗi giống dân mới và mỗi chu kỳ mới. Vì vậy đạo sinh phải cẩn thận đừng thấy mâu thuẫn ở nơi không có mâu thuẫn, vì trong Phật Giáo Nội Môn, các Cuộc tuần hoàn được nói đến một cách tổng quát, trong khi ở đây chỉ muốn nói đến Cuộc tuần hoàn thứ tư, hay Cuộc tuần hoàn hiện tại của chúng ta. Khi ấy là công việc tạo hình; bây giờ là công việc cải tạo và hoàn thiện tiến hoá.

Finally, to close this digression anent various, but unavoidable, misconceptions, we must refer to a statement in Esoteric Buddhism, which has produced a very fatal impression upon the minds of many Theosophists. One unfortunate sentence, from the work just referred to, is constantly brought forward to prove the materialism of the doctrine. The author, referring to the progress of organisms on the Globes, says that: The mineral kingdom will no more develop the vegetable… than the Earth was able to develop man from the ape, till it received an impulse. 295

Cuối cùng, để khép lại đoạn bàn ngoài đề này về nhiều ngộ nhận khác nhau nhưng không thể tránh khỏi, chúng ta phải nhắc đến một phát biểu trong Phật Giáo Nội Môn, đã tạo ra một ấn tượng rất tai hại trong trí của nhiều nhà Thông Thiên Học. Một câu không may trong tác phẩm vừa được nhắc đến luôn được đưa ra để chứng minh tính duy vật của giáo lý. Tác giả, khi nói đến sự tiến triển của các sinh thể trên các Bầu, nói rằng: Giới kim thạch sẽ không phát triển giới thực vật… cũng như Trái Đất đã không thể phát triển con người từ loài vượn, cho đến khi nó nhận được một xung động. 295

Whether this sentence renders the thought of the author literally, or is simply, as we believe it is, a lapsus calami, may remain an open question.

Câu này diễn đạt nguyên văn tư tưởng của tác giả, hay chỉ đơn giản là, như chúng tôi tin, một sự lỡ bút, có thể vẫn là một vấn đề để ngỏ.

It is really with surprise that we have ascertained the fact, that Esoteric Buddhism was so little understood by some Theosophists, as to have led them into the belief that it thoroughly supported Darwinian evolution, and especially the theory of the descent of man from a pithecoid ancestor. As one member writes: “I suppose you realize that three-fourths of Theosophists and even outsiders imagine that, as far as the evolution of man is concerned, Darwinism and Theosophy kiss one another.” Nothing of the kind was ever realized, nor is there any great warrant for it, so far as we know, in Esoteric Buddhism. It has been repeatedly stated, that evolution as taught by Manu and Kapila was the groundwork of the modern teachings, but neither Occultism nor Theosophy has ever supported the wild theories of the present Darwinists—least of all the descent of man from an ape. Of this, more hereafter. But one has only to turn to p. 47 of the work named, to find the statement that: Man belongs to a kingdom distinctly separate from that of the animals.

Thật sự chúng tôi đã kinh ngạc khi xác nhận sự kiện rằng Phật Giáo Nội Môn đã bị một số nhà Thông Thiên Học hiểu quá ít, đến nỗi dẫn họ tới niềm tin rằng nó hoàn toàn ủng hộ tiến hoá Darwin, và đặc biệt là thuyết con người xuất phát từ một tổ tiên giống vượn. Như một hội viên viết: “Tôi cho rằng bà nhận ra rằng ba phần tư các nhà Thông Thiên Học, và cả những người ngoài cuộc, tưởng rằng, về phương diện tiến hoá của con người, Darwinism và Thông Thiên Học hôn nhau.” Không điều gì như thế từng được nhận ra, và theo như chúng tôi biết, cũng không có cơ sở đáng kể nào cho điều đó trong Phật Giáo Nội Môn. Đã nhiều lần được nêu rõ rằng tiến hoá như Manu và Kapila giảng dạy là nền tảng của các giáo huấn hiện đại, nhưng cả Huyền bí học lẫn Thông Thiên Học chưa bao giờ ủng hộ các lý thuyết hoang đường của những người theo Darwin hiện nay — ít nhất là thuyết con người xuất phát từ loài vượn. Về điều này sẽ nói thêm sau. Nhưng người ta chỉ cần lật đến trang 47 của tác phẩm được nêu tên, để thấy phát biểu rằng: Con người thuộc về một giới hoàn toàn riêng biệt với giới động vật.

With such a plain and unequivocal statement before him, it is very strange that any careful student should have been so misled, unless he is prepared to charge the author with a gross contradiction.

Trước một phát biểu rõ ràng và không mơ hồ như thế, thật rất lạ khi bất cứ đạo sinh cẩn trọng nào lại bị dẫn lạc như vậy, trừ phi y sẵn sàng buộc tội tác giả đã mâu thuẫn nghiêm trọng.

Every Round repeats the evolutionary work of the preceding Round, on a higher scale. With the exception of some higher anthropoids, as just mentioned, the Monadic inflow, or inner evolution, is at an end till the next Manvantara. It can never be too often repeated that the full-blown human Monads have to be first disposed of, before the new crop of candidates appears on this Globe at the beginning of the next Cycle. Thus there is a lull; and this is why, during the Fourth Round, man appears on Earth earlier than any animal creation, as will be described.

Mỗi Cuộc tuần hoàn lặp lại công việc tiến hoá của Cuộc tuần hoàn trước trên một thang cao hơn. Ngoại trừ một số loài vượn người cao hơn, như vừa được nhắc đến, dòng tuôn đổ Chân thần, hay tiến hoá bên trong, đã chấm dứt cho đến Giai kỳ sinh hóa kế tiếp. Không bao giờ có thể nhắc lại quá nhiều rằng các Chân thần nhân loại đã nở trọn phải được an trí trước, trước khi mùa vụ mới của các ứng viên xuất hiện trên Bầu này vào đầu Chu kỳ kế tiếp. Do đó có một khoảng lặng; và đây là lý do tại sao, trong Cuộc tuần hoàn thứ tư, con người xuất hiện trên Trái Đất sớm hơn bất cứ tạo vật động vật nào, như sẽ được mô tả.

But it is still urged that the author of Esoteric Buddhism has “preached Darwinism” all along. Certain passages would undoubtedly seem to lend countenance to this inference. Besides which, the Occultists themselves are ready to concede partial correctness to the Darwinian hypothesis, in later details, bye-laws of evolution, and after the midway point of the Fourth Race. Of that which has taken place, Physical Science can really know nothing, for such matters lie entirely outside of its sphere of investigation. But what the Occultists have never admitted, nor will they ever admit, is that man was an ape in this or any other Round; or that he ever could be one, however much he may have been “ape-like.” This is vouched for by the very authority from whom the author of Esoteric Buddhism got his information.

Nhưng vẫn có người khẳng định rằng tác giả của Phật Giáo Nội Môn đã “rao giảng Darwinism” suốt từ đầu đến cuối. Một số đoạn chắc chắn có vẻ ủng hộ suy luận này. Ngoài ra, chính các nhà huyền bí học cũng sẵn sàng thừa nhận tính đúng đắn một phần của giả thuyết Darwin trong các chi tiết về sau, các quy luật phụ của tiến hoá, và sau điểm giữa của Giống dân thứ tư. Về điều đã diễn ra, Khoa học Hồng trần thật sự không thể biết gì, vì những vấn đề như thế hoàn toàn nằm ngoài phạm vi khảo sát của nó. Nhưng điều mà các nhà huyền bí học chưa bao giờ thừa nhận, và sẽ không bao giờ thừa nhận, là con người từng là một con vượn trong Cuộc tuần hoàn này hay bất cứ Cuộc tuần hoàn nào khác; hoặc y từng có thể là như vậy, dù y có thể đã “giống vượn” đến đâu. Điều này được chính thẩm quyền mà tác giả Phật Giáo Nội Môn nhận thông tin bảo đảm.

Thus to those who confront the Occultists with these lines from the above-named volume: It is enough to show that we may as reasonably—and that we must, if we would talk about these matters at all—conceive a life-impulse giving birth to mineral forms, as of the same sort of impulse concerned to raise a race of apes into a race of rudimentary men.

Vì vậy, đối với những người đối chất với các nhà huyền bí học bằng những dòng này từ quyển sách đã nêu trên: Chỉ cần cho thấy rằng chúng ta có thể quan niệm một cách hợp lý — và phải quan niệm như thế, nếu chúng ta muốn nói gì về những vấn đề này — một xung động sự sống sinh ra các hình tướng khoáng vật, cũng như cùng một loại xung động ấy tham gia vào việc nâng một giống vượn lên thành một giống người sơ khai.

To those who bring this passage forward as showing “decided Darwinism,” the Occultists answer by pointing to the explanation of the Master, Mr. Sinnett’s Teacher, which would contradict these lines, were they written in the spirit attributed to them. A copy of this letter was sent to the writer, together with others, two years ago (1886), with additional marginal remarks, to quote from, in the Secret Doctrine.

Đối với những người đưa đoạn này ra như bằng chứng của “Darwinism dứt khoát”, các nhà huyền bí học đáp lại bằng cách chỉ ra lời giải thích của Chân sư, Huấn sư của ông Sinnett, điều sẽ mâu thuẫn với những dòng này nếu chúng được viết theo tinh thần mà người ta gán cho chúng. Một bản sao lá thư này đã được gửi cho người viết, cùng với những lá thư khác, hai năm trước, năm 1886, kèm những ghi chú bên lề bổ sung, để trích dẫn trong Giáo Lý Bí Nhiệm.

It begins by considering the difficulty experienced by the Western student, in reconciling some facts, previously given, with the evolution of man from the animal, i.e., from the mineral, vegetable and animal kingdoms, and advises the student to hold to the doctrine of analogy and correspondences. Then it touches upon the mystery of the Devas, and even Gods, having to pass through states, which it was agreed to refer to as “Immetallization, Inherbation, Inzoönization and finally Incarnation,” and explains this by hinting at the necessity of failures even in the ethereal races of Dhyân Chohans. Concerning this it says: “These ‘failures’ are too far progressed and spiritualized to be thrown back forcibly from Dhyân Chohanship into the vortex of a new primordial evolution through the lower kingdoms….”

Lá thư bắt đầu bằng việc xem xét khó khăn mà đạo sinh phương Tây trải nghiệm khi dung hoà một số sự kiện đã được nêu trước đó với sự tiến hoá của con người từ động vật, tức từ các giới kim thạch, thực vật và động vật, và khuyên đạo sinh hãy giữ vững giáo lý về định luật tương đồng và các tương ứng. Rồi nó đề cập đến bí nhiệm về các thiên thần, và thậm chí các vị Thần, phải đi qua những trạng thái mà người ta đã đồng ý gọi là “kim thạch hóa, thảo mộc hóa, động vật hóa và cuối cùng là nhập thể”, và giải thích điều này bằng cách gợi ý về sự cần thiết của những thất bại ngay cả trong các giống dân dĩ thái của các Dhyani Chohan. Về điều này, lá thư nói: “Những ‘thất bại’ này đã tiến quá xa và được tinh thần hoá quá nhiều để bị cưỡng bức ném trở lại từ địa vị Dhyani Chohan vào vòng xoáy của một cuộc tiến hoá nguyên sơ mới xuyên qua các giới thấp…”

After which, a hint only is given about the mystery contained in the allegory of the fallen Asuras, which will be expanded and explained in Volume II. When Karma has reached them at the stage of human evolution: “They will have to drink it to the last drop in the bitter cup of retribution. Then they become an active force and commingle with the elementals, the progressed entities of the pure animal kingdom, to develop little by little the full type of humanity.”

Sau đó, chỉ một gợi ý được đưa ra về bí nhiệm chứa trong ẩn dụ về các Asura sa ngã, điều sẽ được mở rộng và giải thích trong Quyển II. Khi nghiệp quả đã chạm đến họ ở giai đoạn tiến hoá nhân loại: “Họ sẽ phải uống đến giọt cuối cùng trong chén đắng của sự báo ứng. Khi ấy họ trở thành một mãnh lực hoạt động và hòa lẫn với các hành khí, những thực thể tiến bộ của giới động vật thuần túy, để dần dần phát triển trọn vẹn kiểu mẫu nhân loại.”

These Dhyân Chohans, as we see, do not pass through the three kingdoms as do the lower Pitris; nor do they incarnate in man until the Third Root Race. Thus, as the teaching stands: “Round I. Man in the First Round and First Race on Globe D, our Earth, was an ethereal being (a Lunar Dhyâni, as man), non-intelligent but super-spiritual; and correspondingly, on the law of analogy, in the First Race of the Fourth Round. In each of the subsequent races and sub-races,… he grows more and more into an encased or incarnate being, but still preponderatingly ethereal…. He is sexless, and, like the animal and vegetable, he develops monstrous bodies correspondential with his coarser surroundings.

Như chúng ta thấy, các Dhyani Chohan này không đi qua ba giới như các Pitri thấp; các Ngài cũng không nhập thể trong con người cho đến giống dân gốc thứ ba. Do đó, theo giáo huấn hiện có: “Cuộc tuần hoàn I. Con người trong cuộc tuần hoàn thứ nhất và giống dân thứ nhất trên bầu D, Trái Đất của chúng ta, là một sinh linh dĩ thái, một Dhyani thái âm, xét như con người, không có trí tuệ nhưng siêu tinh thần; và tương ứng, theo định luật tương đồng, trong giống dân thứ nhất của cuộc tuần hoàn thứ tư. Trong mỗi giống dân và giống dân phụ tiếp theo,… y ngày càng trở thành một sinh linh được bao bọc hay nhập thể, nhưng vẫn chủ yếu là dĩ thái…. Y không có giới tính, và giống như động vật cùng thực vật, y phát triển những thể dị dạng tương ứng với môi trường thô trược hơn của mình.

“Round II. He [man] is still gigantic and ethereal, but growing firmer and more condensed in body; a more physical man yet still less intelligent than spiritual (1), for mind is a slower and more difficult evolution than is the physical frame….

“Cuộc tuần hoàn II. Y, tức con người, vẫn khổng lồ và dĩ thái, nhưng thể ngày càng rắn chắc và cô đọng hơn; một con người hồng trần hơn, song vẫn kém trí tuệ hơn tinh thần, bởi vì thể trí là một tiến hoá chậm hơn và khó khăn hơn khung thể xác….

“Round III. He has now a perfectly concrete or compacted body, at first the form of a giant-ape, and now more intelligent, or rather cunning, than spiritual. For, on the downward arc, he has now reached a point where his primordial spirituality is eclipsed and overshadowed by nascent mentality (2). In the last half of the Third Round, his gigantic stature decreases, and his body improves in texture, and he becomes a more rational being, though still more an ape than a Deva…. [All this is almost exactly repeated in the Third Root-Race of the Fourth Round.]

“Cuộc tuần hoàn III. Bấy giờ y có một thể hoàn toàn cụ thể hay kết đặc, lúc đầu mang hình tướng của một vượn khổng lồ, và giờ đây trí tuệ hơn, hay đúng hơn là tinh ranh hơn, chứ không tinh thần bằng. Vì trên cung đi xuống, bấy giờ y đã đạt đến một điểm mà tinh thần nguyên sơ của y bị che khuất và phủ bóng bởi trí tuệ đang nảy sinh. Trong nửa sau của cuộc tuần hoàn thứ ba, tầm vóc khổng lồ của y giảm xuống, thể của y cải thiện về kết cấu, và y trở thành một sinh linh có lý trí hơn, dù vẫn còn giống vượn hơn là thiên thần…. Tất cả điều này hầu như được lặp lại chính xác trong giống dân gốc thứ ba của cuộc tuần hoàn thứ tư.

“Round IV. Intellect has an enormous development in this Round. The [hitherto] dumb races acquire our [present] human speech on this Globe, on which, from the Fourth Race, language is perfected and knowledge increases. At this half-way point of the Fourth Round [as of the Fourth, or Atlantean, Root-Race], humanity passes the axial point of the minor manvantaric cycle… the world teeming with the results of intellectual activity and spiritual decrease….”

“Cuộc tuần hoàn IV. Trí năng phát triển vô cùng lớn trong cuộc tuần hoàn này. Các giống dân câm lặng cho đến lúc ấy tiếp nhận ngôn ngữ nhân loại hiện nay của chúng ta trên bầu này, nơi mà từ giống dân thứ tư, ngôn ngữ được hoàn thiện và tri thức gia tăng. Tại điểm giữa chừng này của cuộc tuần hoàn thứ tư, cũng như của giống dân gốc thứ tư, hay Atlantis, nhân loại vượt qua điểm trục của chu kỳ giai kỳ sinh hóa nhỏ… thế giới tràn ngập những kết quả của hoạt động trí năng và sự suy giảm tinh thần….”

This is from the authentic letter; what follows are the later remarks and additional explanations traced by the same hand in the form of footnotes.

Đây là trích từ bức thư xác thực; những gì tiếp theo là các nhận xét về sau và những giải thích bổ sung do cùng một bàn tay ghi lại dưới hình thức cước chú.

“(1)… The original letter contained general teaching—a ‘bird’s-eye view’—and particularized nothing…. To speak of ‘physical man,’while limiting the statement to the early Rounds, would be drifting back to the miraculous and instantaneous ‘coats of skin.’… The first ‘Nature,’ the first ‘body,’ the first ‘mind’ on the first plane of perception, on the first Globe in the first Round, is what was meant. For Karma and evolution have:

“1… Bức thư nguyên thủy chứa đựng giáo huấn tổng quát, một ‘cái nhìn toàn cảnh’, và không nêu chi tiết điều gì…. Nói về ‘con người hồng trần’, trong khi giới hạn phát biểu ấy vào các cuộc tuần hoàn đầu, sẽ là trượt trở lại với những ‘áo da’ kỳ diệu và tức thời…. Điều muốn nói là ‘Bản chất’ đầu tiên, ‘thể’ đầu tiên, ‘thể trí’ đầu tiên trên cõi nhận thức đầu tiên, trên bầu đầu tiên trong cuộc tuần hoàn đầu tiên. Vì nghiệp quả và tiến hoá đã:

‘… centred in our make such strange extremes,

‘… tập trung trong cấu tạo của chúng ta những cực đoan kỳ lạ,

From different Natures 296 marvellously mixed…’

Từ những Bản chất khác nhau 296 được pha trộn diệu kỳ…’

“(2) Restore: he has now reached the point [by analogy, and as the Third Root Race in the Fourth Round], where his [the angel-man’s] primordial spirituality is eclipsed and overshadowed by nascent human mentality, and you have the true version on your thumb-nail….”

“2 Hãy phục hồi như sau: bấy giờ y đã đạt đến điểm, theo tương đồng, và như giống dân gốc thứ ba trong cuộc tuần hoàn thứ tư, nơi tinh thần nguyên sơ của y, tức của người-thiên thần, bị che khuất và phủ bóng bởi trí tuệ nhân loại đang nảy sinh; và bạn có phiên bản chân thật nằm gọn trên móng tay mình….”

These are the words of the Teacher; text, words and sentences in brackets, and explanatory footnotes. It stands to reason that there must be an enormous difference in such terms as “objectivity” and “subjectivity,” “materiality” and “spirituality,” when the same terms are applied to different planes of being and perception. All this must be taken in its relative sense. And therefore there is little to be wondered at, if, left to his own speculations, an author who, however eager to learn, was yet quite inexperienced in these abstruse teachings, has fallen into an error. Nor was the difference between the Rounds and the Races sufficiently defined in the letters received, since nothing of the kind had been required before, as the ordinary Eastern disciple would have found out the difference in a moment. Moreover, to quote from a letter of the Master: “The teachings were imparted under protest…. They were, so to say, smuggled goods… and when I remained face to face with only one correspondent, the other, Mr…. had so far tossed all the cards into confusion, that little remained to be said without trespassing upon law.”

Đó là lời của Huấn sư; văn bản, các từ và câu trong ngoặc, cùng các cước chú giải thích. Hiển nhiên phải có một khác biệt rất lớn trong những thuật ngữ như “tính khách quan” và “tính chủ quan”, “tính vật chất” và “tính tinh thần”, khi cùng những thuật ngữ ấy được áp dụng cho các cõi bản thể và nhận thức khác nhau. Tất cả điều này phải được hiểu theo nghĩa tương đối của nó. Và vì thế chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu, khi bị phó mặc cho những suy đoán của riêng mình, một tác giả tuy rất háo hức học hỏi nhưng vẫn còn hoàn toàn thiếu kinh nghiệm trong các giáo huấn thâm áo này, đã rơi vào sai lầm. Sự khác biệt giữa các cuộc tuần hoàn và các giống dân cũng không được xác định đầy đủ trong những bức thư đã nhận, vì trước đó chưa từng cần đến điều gì như vậy, bởi một đệ tử Đông phương thông thường sẽ nhận ra sự khác biệt ấy ngay tức khắc. Hơn nữa, xin trích từ một bức thư của Chân sư: “Các giáo huấn đã được truyền đạt trong sự phản đối…. Có thể nói, chúng là hàng lậu… và khi Tôi còn đối diện chỉ với một người trao đổi thư từ, thì người kia, ông…, đã xáo trộn mọi quân bài đến mức còn rất ít điều có thể nói mà không vi phạm định luật.”

Theosophists “whom it may concern” will understand what is meant.

Những nhà Thông Thiên Học “có liên quan” sẽ thấu hiểu điều muốn nói.

The outcome of all this is, that nothing had ever been said in the letters to warrant the assurance, that the Occult doctrine has ever taught, or any Adept believed in, unless metaphorically, the preposterous modern theory of the descent of man from a common ancestor with the ape—an anthropoid of the actual animal kind. To this day the world is more full of ape-like men than the woods are of men-like apes. The ape is sacred in India because its origin is well known to the Initiates, though concealed under a thick veil of allegory. Hanumâna is the son of Pavana (Vâyu, “God of the wind”) by Anjanâ, wife of a monster called Kesarî, though his genealogy varies. The reader who bears this in mind, will find in Volume II, passim, the whole explanation of this ingenious allegory. The “men” of the Third Race (who separated) were “Gods,” by their spirituality and purity, though senseless, and as yet destitute of mind, as men.

Kết quả của tất cả điều này là, trong các bức thư chưa từng có điều gì được nói ra để bảo đảm cho lời quả quyết rằng giáo lý huyền bí đã từng dạy, hay bất kỳ Chân sư nào đã từng tin, ngoại trừ theo nghĩa ẩn dụ, vào lý thuyết hiện đại phi lý về nguồn gốc con người từ một tổ tiên chung với vượn, một loài nhân hầu thuộc loại động vật hiện nay. Cho đến ngày nay, thế giới còn đầy những người giống vượn hơn là rừng đầy những vượn giống người. Vượn được xem là thiêng liêng ở Ấn Độ vì nguồn gốc của nó được các điểm đạo đồ biết rõ, dù bị che giấu dưới một bức màn ẩn dụ dày đặc. Hanumana là con của Pavana, tức Vayu, “Thần của gió”, với Anjana, vợ của một quái vật tên Kesari, mặc dù gia phả của y có nhiều dị bản. Độc giả nào ghi nhớ điều này sẽ tìm thấy trong Quyển II, rải rác nhiều nơi, toàn bộ lời giải thích về ẩn dụ tinh xảo này. Những “con người” của giống dân thứ ba, những kẻ đã phân tách, là “các Thần”, do tính tinh thần và sự thanh khiết của họ, dù vô tri giác, và với tư cách là con người, vẫn còn chưa có thể trí.

These “men” of the Third Race, the ancestors of the Atlanteans, were just such ape-like, intellectually senseless, giants as were those beings, who, during the Third Round, represented Humanity. Morally irresponsible, it was these Third Race “men” who, through promiscuous connection with animal species lower than themselves, created that missing link which became ages later (in the Tertiary period only), the remote ancestor of the real ape, as we find it now in the pithecoid family.

Những “con người” này của giống dân thứ ba, tổ tiên của người Atlantis, chính là những người khổng lồ giống vượn, vô tri giác về trí năng, giống như các sinh linh đã đại diện cho nhân loại trong cuộc tuần hoàn thứ ba. Không có trách nhiệm về mặt luân lý, chính những “con người” giống dân thứ ba này, qua sự giao hợp hỗn tạp với những loài động vật thấp hơn họ, đã tạo ra mắt xích còn thiếu, nhiều thời đại về sau, chỉ trong kỷ Đệ Tam, trở thành tổ tiên xa của loài vượn thật sự, như chúng ta thấy nó hiện nay trong họ giống vượn.

And if this is found clashing with the statement which shows the animal later than man, then the reader is asked to bear in mind that the placental mammal only is meant. In those days, there were animals of which Zoölogy does not even dream in our own; and the modes of reproduction were not identical with the notions which modern Physiology has upon the subject. It is not altogether convenient to touch upon such questions in public, but there is no contradiction or impossibility in this whatever.

Và nếu điều này bị xem là mâu thuẫn với phát biểu cho thấy động vật xuất hiện muộn hơn con người, thì độc giả được yêu cầu ghi nhớ rằng chỉ nói đến động vật có vú có nhau thai. Vào những ngày ấy, có những loài động vật mà động vật học thời nay của chúng ta thậm chí không mơ tưởng đến; và các phương thức sinh sản không đồng nhất với những quan niệm mà sinh lý học hiện đại có về vấn đề này. Không hoàn toàn tiện lợi để chạm đến những câu hỏi như thế trước công chúng, nhưng trong điều này tuyệt nhiên không có mâu thuẫn hay điều bất khả nào cả.

Thus the earlier teachings, however unsatisfactory, vague and fragmentary, did not teach the evolution of “man” from the “ape.” Nor does the author of Esoteric Buddhism assert it anywhere in his work in so many words; but, owing to his inclination towards Modern Science, he uses language which might perhaps justify such an inference. The man who preceded the Fourth, the Atlantean, Race, however much he may have looked physically like a “gigantic ape”— “the counterfeit of man who hath not the life of a man”—was still a thinking and already a speaking man. The Lemuro-Atlantean was a highly civilized Race, and if one accepts tradition, which is better history than the speculative fiction which now passes under that name, he was higher than we are with all our sciences and the degraded civilization of the day: at any rate, the Lemuro-Atlantean of the closing Third Race was so.

Như vậy, các giáo huấn ban đầu, dù không thỏa đáng, mơ hồ và rời rạc, đã không dạy sự tiến hoá của “con người” từ “vượn”. Tác giả của Phật Giáo Bí Truyền cũng không khẳng định điều đó ở bất cứ đâu trong tác phẩm của ông bằng những lời rõ ràng như vậy; nhưng do khuynh hướng nghiêng về Khoa học Hiện đại, ông dùng ngôn ngữ có lẽ có thể biện minh cho một suy luận như thế. Tuy nhiên, con người có trước giống dân thứ tư, giống dân Atlantis, dù về thể xác y có thể trông giống “một con vượn khổng lồ” đến đâu, “bản sao giả của con người, kẻ không có sự sống của con người”, thì vẫn là một con người biết suy nghĩ và đã biết nói. Người Lemuria-Atlantis là một giống dân văn minh cao độ, và nếu người ta chấp nhận truyền thống, vốn là lịch sử tốt hơn thứ hư cấu suy đoán nay được xem là lịch sử, thì y cao hơn chúng ta với tất cả các khoa học của chúng ta và nền văn minh suy đồi ngày nay: dù sao đi nữa, người Lemuria-Atlantis vào cuối giống dân thứ ba là như thế.

And now we may return to the Stanzas.

Và giờ đây chúng ta có thể trở lại với các bài kệ.

Stanza VI. —Continued. — Bài kệ VI. — Tiếp tục.

5. At the Fourth 297 (a), the Sons are told to create their Images. One Third refuses. Two 298 obey.

5. Ở cuộc thứ tư 297 a, các Con được bảo phải tạo ra Hình Ảnh của mình. Một phần ba từ chối. Hai 298 phần ba vâng lời.

The Curse is pronounced (b); they will be born in the Fourth, 299 suffer and cause suffering. This is the First War (c).

Lời Nguyền được tuyên bố b; họ sẽ sinh ra trong cuộc thứ tư, 299 chịu đau khổ và gây đau khổ. Đây là Cuộc Chiến thứ nhất c.

The full meaning of this Shloka can only be fully comprehended after reading the additional detailed explanations, in the Anthropogenesis and its Commentaries, in Volume II. Between this Shloka and Shloka 4, extend long ages; and there now gleams the dawn and sunrise of another æon. The drama enacted on our planet is at the beginning of its fourth act; but for a clearer comprehension of the whole play the reader will have to turn back before he can proceed onward. For this verse belongs to the general Cosmogony given in the archaic volumes, whereas Volume II will give a detailed account of the “creation,” or rather formation, of the first human beings, followed by the second humanity, and then by the third; or, as they are called, the First, Second, and the Third Root-Races. As the solid Earth began by being a ball of liquid fire, of fiery dust and its protoplasmic phantom, so did man.

Ý nghĩa trọn vẹn của bài thi kệ này chỉ có thể được thấu hiểu đầy đủ sau khi đọc các giải thích chi tiết bổ sung trong Nhân Sinh Luận và các Bình Giải của nó ở Quyển II. Giữa bài thi kệ này và bài thi kệ 4 là những thời đại dài lâu; và giờ đây bình minh cùng mặt trời mọc của một đại kiếp khác ló rạng. Vở kịch diễn ra trên hành tinh của chúng ta đang ở đầu màn thứ tư; nhưng để thấu hiểu rõ ràng hơn toàn bộ vở kịch, độc giả sẽ phải quay lui trước khi có thể tiến tới. Vì câu này thuộc về Vũ Trụ Luận tổng quát được đưa ra trong các quyển cổ xưa, trong khi Quyển II sẽ trình bày một tường thuật chi tiết về sự “sáng tạo”, hay đúng hơn là sự hình thành, của những con người đầu tiên, tiếp theo là nhân loại thứ hai, rồi đến nhân loại thứ ba; hay như chúng được gọi, giống dân gốc thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Cũng như Trái Đất rắn chắc đã bắt đầu là một quả cầu lửa lỏng, gồm bụi lửa và bóng ma nguyên sinh chất của nó, con người cũng vậy.

(a) That which is meant by the qualification the “Fourth,” is explained as the Fourth Round, only on the authority of the Commentaries. It can equally mean Fourth Eternity as Fourth Round, or even our Fourth Globe. For, as will repeatedly be shown, the latter is the fourth sphere, on the fourth or lowest plane of material life. And it so happens that we are in the Fourth Round, at the middle point of which the perfect equilibrium between Spirit and Matter had to take place.

a Điều được hàm ý bởi định danh “thứ tư” được giải thích là cuộc tuần hoàn thứ tư, chỉ dựa trên thẩm quyền của các Bình Giải. Nó có thể có nghĩa là vĩnh cửu thứ tư cũng như cuộc tuần hoàn thứ tư, hoặc thậm chí là bầu thứ tư của chúng ta. Vì như sẽ được nhiều lần chỉ ra, bầu sau là khối cầu thứ tư, trên cõi thứ tư hay thấp nhất của sự sống vật chất. Và tình cờ là chúng ta đang ở trong cuộc tuần hoàn thứ tư, tại điểm giữa của nó sự quân bình hoàn hảo giữa Tinh thần và Vật chất phải diễn ra.

It was, as we shall see, at this period—during the highest point of civilization and knowledge, and also of human intellectuality, of the Fourth, Atlantean Race—that, owing to the final crisis of the physiologico-spiritual adjustment of the races, humanity branched off into two diametrically opposite paths: the Right- and the Left-hand Paths of Knowledge or Vidyâ. In the words of the Commentary: Thus were the germs of the White and the Black Magic sown in those days. The seeds lay latent for some time, to sprout only during the early period of the Fifth [our Race].

Như chúng ta sẽ thấy, chính vào thời kỳ này, trong đỉnh cao nhất của văn minh và tri thức, cũng như của trí năng nhân loại, thuộc giống dân thứ tư, Atlantis, mà do cuộc khủng hoảng cuối cùng của sự điều chỉnh sinh lý-tinh thần của các giống dân, nhân loại đã phân nhánh thành hai con đường hoàn toàn đối nghịch: các Con Đường ChánhTả của Tri Thức hay Vidya. Theo lời Bình Giải: Như thế, những mầm giống của Chánh Thuật và Hắc thuật đã được gieo vào những ngày ấy. Các hạt giống nằm tiềm tàng một thời gian, chỉ nảy mầm trong thời kỳ đầu của giống dân thứ năm, tức giống dân của chúng ta.

Says the Commentary explaining the Shloka: The Holy Youths [the Gods] refused to multiply and create species after their likeness, after their kind. “They are not fit Forms [Rûpas] for us. They have to grow.” They refuse to enter the Chhâyâs [Shadows or Images] of their inferiors. Thus had selfish feeling prevailed from the beginning, even among the Gods, and they fell under the eye of the Karmic Lipikas.

Bình Giải giải thích bài thi kệ nói rằng: Các Thanh Niên Thánh Thiện, tức các Thần, đã từ chối sinh sôi và tạo ra các loài theo hình ảnh của mình, theo giống loại của mình. “Chúng không phải là những Hình tướng, tức Rupa, thích hợp cho chúng ta. Chúng phải lớn lên.” Các Ngài từ chối đi vào các Chhaya, tức Bóng hay Hình Ảnh, của những kẻ thấp hơn mình. Như thế, cảm xúc ích kỷ đã thắng thế ngay từ đầu, thậm chí giữa các Thần, và các Ngài rơi dưới con mắt của các Lipika Nghiệp quả.

They had to suffer for it in later births. How the punishment reached the Gods will be seen in Volume II.

Các Ngài phải chịu đau khổ vì điều đó trong những lần sinh ra về sau. Hình phạt đã chạm đến các Thần như thế nào sẽ được thấy trong Quyển II.

It is a universal tradition that, before the physiological “Fall,” propagation of one’s kind, whether human or animal, took place through the Will of the Creators, or of their progeny. This was the Fall of Spirit into generation, not the Fall of mortal Man. It has already been stated that, to become self-conscious, Spirit must pass through every cycle of being, culminating in its highest point on earth in Man. Spirit per se is an unconscious negative abstraction. Its purity is inherent, not acquired by merit; hence, as already shown, to become the highest Dhyân Chohan, it is necessary for each Ego to attain to full self-consciousness as a human, i.e., conscious, being, which is synthesized for us in Man. The Jewish Kabalists, arguing that no Spirit can belong to the divine Hierarchy unless Ruach (Spirit) is united to Nephesh (Living Soul), only repeat the Eastern Esoteric teaching: A Dhyâni has to be an Âtmâ-Buddhi; once the Buddhi-Manas breaks loose from the immortal Âtmâ, of which it (Buddhi) is the vehicle, Âtman passes into Non-Being, which is Absolute Being.

Đó là một truyền thống phổ quát rằng trước “Sự Sa Ngã” sinh lý, sự sinh sản cùng giống loại, dù là người hay thú, đã diễn ra thông qua Ý Chí của các Đấng Sáng Tạo, hoặc của hậu duệ các Ngài. Đây là Sự Sa Ngã của Tinh thần vào sự sinh sản, chứ không phải Sự Sa Ngã của con người hữu tử. Đã nói rằng để trở nên có ngã thức, Tinh thần phải đi qua mọi chu kỳ của bản thể, đạt đến điểm cao nhất của nó trên Trái Đất trong Con Người. Tinh thần chính nó là một trừu tượng tiêu cực vô thức. Sự thanh khiết của nó là vốn có, không phải được đạt bằng công đức; vì thế, như đã chỉ ra, để trở thành Dhyani Chohan cao nhất, mỗi chân ngã cần đạt đến ngã thức trọn vẹn với tư cách một sinh linh nhân loại, tức có ý thức, điều được tổng hợp cho chúng ta trong Con Người. Các nhà Kabbala Do Thái, khi lập luận rằng không Tinh thần nào có thể thuộc về Thánh đoàn thiêng liêng nếu Ruach, tức Tinh thần, không được hợp nhất với Nephesh, tức Linh hồn Sống, chỉ lặp lại giáo huấn Bí truyền Đông phương: Một Dhyani phải là Atma-Buddhi; một khi Buddhi-Manas tách khỏi Atma bất tử, mà Buddhi là vận cụ của nó, thì Atman đi vào Phi-Bản-Thể, vốn là Bản Thể Tuyệt Đối.

This means that the purely Nirvânic state is a passage of Spirit back to the ideal abstraction of Be-ness, which has no relation to the plane on which our Universe is accomplishing its cycle.

Điều này có nghĩa là trạng thái thuần Niết Bàn là một lối đi của Tinh thần trở lại trừu tượng lý tưởng của Tính-là, vốn không liên hệ gì với cõi mà trên đó Vũ trụ của chúng ta đang hoàn tất chu kỳ của nó.

(b) “The Curse is pronounced” does not mean, in this instance, that any Personal Being, God, or Superior Spirit, pronounced it, but simply that the cause, which could but create bad results, had been generated; and that the effects of this Karmic cause could lead the Beings that counteracted the laws of Nature, and thus impeded her legitimate progress, only to bad incarnations, hence to suffering.

b “Lời Nguyền được tuyên bố” trong trường hợp này không có nghĩa là bất kỳ Hữu Thể Cá Nhân nào, Thượng đế nào, hay Tinh thần Cao Siêu nào đã tuyên bố nó, mà chỉ đơn giản là nguyên nhân, vốn chỉ có thể tạo ra những kết quả xấu, đã được phát sinh; và rằng các hệ quả của nguyên nhân nghiệp quả này chỉ có thể dẫn những Hữu Thể chống lại các định luật của Thiên Nhiên, và do đó cản trở sự tiến bộ chính đáng của nàng, đến những lần nhập thể xấu, vì thế đến đau khổ.

(c) “There were many Wars,” all referring to struggles of adjustment, spiritual, cosmical and astronomical, but chiefly to the mystery of the evolution of man, as he is now. The Powers or pure Essences that were “told to create,” relate to a mystery explained, as already said, elsewhere. It is not only one of the most hidden secrets of Nature—that of generation, over whose solution the Embryologists have vainly put their heads together—but likewise a divine function which involves that great religious, or rather dogmatic, mystery, the so-called “Fall” of the Angels. Satan and his rebellious host, when the meaning of the allegory is explained, will thus prove to have refused to create physical man, only to become the direct Saviours and Creators of divine Man. The symbolical teaching is more than mystical and religious, it is purely scientific, as will be seen later on. For, instead of remaining a mere blind functioning medium, impelled and guided by fathomless Law, the “rebellious” Angel claimed and enforced his right of independent judgment and will, his right of free-agency and responsibility, since Man and Angel are alike under Karmic Law.

c “Đã có nhiều Cuộc Chiến”, tất cả đều chỉ các cuộc đấu tranh điều chỉnh, tinh thần, vũ trụ và thiên văn, nhưng chủ yếu là bí nhiệm về sự tiến hoá của con người như y hiện nay. Các Quyền Năng hay các Tinh Chất thuần túy được “bảo phải sáng tạo” liên quan đến một bí nhiệm đã được giải thích, như đã nói, ở nơi khác. Đó không chỉ là một trong những bí mật ẩn kín nhất của Thiên Nhiên, bí mật về sự sinh sản, mà các nhà phôi học đã phí công hợp trí để giải quyết, mà còn là một chức năng thiêng liêng liên quan đến bí nhiệm tôn giáo vĩ đại, hay đúng hơn là tín điều vĩ đại, cái gọi là “Sự Sa Ngã” của các Thiên Thần. Satan và đoàn quân nổi loạn của y, khi ý nghĩa của ẩn dụ được giải thích, do đó sẽ tỏ ra đã từ chối tạo ra con người hồng trần, chỉ để trở thành những Đấng Cứu Rỗi và Đấng Sáng Tạo trực tiếp của Con Người thiêng liêng. Giáo huấn biểu tượng không chỉ huyền bí và tôn giáo; nó hoàn toàn khoa học, như sẽ thấy về sau. Vì thay vì vẫn là một trung gian vận hành mù quáng, bị thúc đẩy và hướng dẫn bởi Định luật không đáy, Thiên Thần “nổi loạn” đã đòi hỏi và thực thi quyền phán đoán và ý chí độc lập của mình, quyền tự do hành động và trách nhiệm của mình, bởi Con Người và Thiên Thần đều cùng ở dưới Định luật Nghiệp quả.

Explaining Kabalistic views, the author of New Aspects of Life says of the Fallen Angels that: According to the symbolical teaching, Spirit, from being simply a functionary agent of God, became volitional in its developed and developing action; and, substituting its own will for the divine desire in its regard, so fell. Hence the kingdom and reign of spirits and spiritual action, which flow from and are the product of spirit-volition, are outside, and contrasted with, and in contradiction to, the kingdom of souls and divine action. 300

Khi giải thích các quan điểm Kabbala, tác giả của Những Phương Diện Mới của Sự Sống nói về các Thiên Thần Sa Ngã rằng: Theo giáo huấn biểu tượng, Tinh thần, từ chỗ chỉ là một tác nhân chức năng của Thượng đế, đã trở nên có ý chí trong hoạt động đã phát triển và đang phát triển của nó; và khi thay thế ý chí riêng của mình cho ước muốn thiêng liêng đối với nó, nó đã sa ngã. Do đó, vương quốc và sự trị vì của các tinh thần cùng hoạt động tinh thần, vốn tuôn chảy từ và là sản phẩm của ý chí-tinh thần, nằm bên ngoài, tương phản với, và mâu thuẫn với, vương quốc của các linh hồn và hành động thiêng liêng. 300

So far, so good; but what does the author mean by saying: When man was created, he was human in constitution, with human affections, human hopes and aspirations. From this state he fell—into the brute and savage.

Cho đến đây thì tốt; nhưng tác giả muốn nói gì khi nói rằng: Khi con người được tạo ra, y có cấu tạo nhân loại, với những tình cảm nhân loại, những hy vọng và khát vọng nhân loại. Từ trạng thái này y sa xuống, vào loài thú và kẻ man rợ.

This is diametrically opposite to our Eastern teaching, and even to the Kabalistic notion, so far as we understand it, and to the Bible itself. This looks like Corporealism and Substantialism colouring Positive Philosophy, though it is rather difficult to feel quite sure of the author’s meaning. A fall, however, “from the natural into the supernatural and the animal”—supernatural meaning the purely spiritual in this case—implies what we suggest.

Điều này hoàn toàn đối nghịch với giáo huấn Đông phương của chúng ta, và thậm chí với quan niệm Kabbala, theo mức chúng ta hiểu, cũng như với chính Kinh Thánh. Điều này trông giống như Chủ nghĩa Duy Thể Xác và Chủ nghĩa Duy Thực Chất nhuộm màu Triết học Thực chứng, dù khá khó để cảm thấy hoàn toàn chắc chắn về ý nghĩa của tác giả. Tuy nhiên, một sự sa ngã “từ tự nhiên vào siêu nhiên và động vật”, trong trường hợp này siêu nhiên có nghĩa là thuần tinh thần, hàm ý điều chúng tôi đề xuất.

The New Testament speaks of one of these “Wars,” as follows: And there was war in heaven: Michael and his angels fought against the Dragon; and the Dragon fought and his angels, and prevailed not; neither was their place found any more in Heaven. And the great Dragon was cast out, that old serpent, called the Devil and Satan, which deceiveth the whole world. 301

Tân Ước nói về một trong những “Cuộc Chiến” này như sau: Và có chiến tranh trên trời: Michael và các thiên thần của ông chiến đấu chống lại Con Rồng; và Con Rồng cùng các thiên thần của nó chiến đấu, nhưng không thắng; chỗ của chúng cũng không còn được tìm thấy trên Trời nữa. Và Con Rồng lớn bị ném xuống, con rắn xưa kia, gọi là Ác Quỷ và Satan, kẻ lừa dối toàn thế giới. 301

The Kabalistic version of the same story is given in the Codex Nazaræus, the scripture of the Nazarenes, the real mystic Christians of John the Baptist, and the Initiates of Christos. Bahak Zivo, the “Father of the Genii,” is ordered to construct creatures—to “create.” But, as he is “ignorant of Orcus,” he fails to do so, and calls in Fetahil, a still purer spirit, to his aid, who fails still worse. This is a repetition of the failure of the “Fathers,” the Lords of Light, who fail one after the other. 302

Phiên bản Kabbala của cùng câu chuyện được đưa ra trong Codex Nazaraeus, thánh thư của người Nazarenes, những Cơ Đốc nhân thần bí chân chính của John the Baptist, và các điểm đạo đồ của Christos. Bahak Zivo, “Cha của các Thiên Tài”, được lệnh kiến tạo các sinh vật, tức “sáng tạo”. Nhưng vì ông “không biết Orcus”, ông thất bại trong việc ấy, và gọi Fetahil, một tinh thần còn thanh khiết hơn, đến trợ giúp, người này lại thất bại còn tệ hơn. Đây là sự lặp lại thất bại của các “Cha”, các Chúa Tể Ánh Sáng, những Đấng lần lượt thất bại. 302

We will now quote from our earlier volumes: 303

Giờ đây chúng tôi sẽ trích từ các quyển trước của mình: 303

Then steps on the stage of creation the Spirit 304 (of the Earth so-called, or the Soul, Psyche, which St. James calls “devilish”), the lower portion of the Anima Mundi or Astral Light. [See the close of this Shloka.] With the Nazarenes and the Gnostics this Spirit was feminine. Thus the Spirit of the Earth, perceiving that for Fetahil, 305 the newest man (the latest), the splendour was “changed,” and that for splendour existed “decrease and damage,” she awakes Karabtanos, 306 “who was frantic and without sense and judgment,” and says to him: “Arise, see, the Splendour (Light) of the Newest Man (Fetahil) has failed (to produce or create men), the decrease of this Splendour is visible. Rise up, come with thy Mother (the Spiritus) and free thee from limits by which thou art held, and those more ample than the whole world.” After which, follows the union of the frantic and blind matter, guided by the insinuations of the Spirit (not the Divine Breath but the AstralSpirit, which by its double essence is already tainted with matter); and the offer of the Mother being accepted, the Spiritus conceives “Seven Figures,” and the Seven Stellars (Planets), which represent also the seven capital sins, the progeny of an Astral Soul, separated from its divine source (spirit), and matter, the blind demon of concupiscence. Seeing this, Fetahil extends his hand towards the abyss of matter, and says: “Let the earth exist, just as the abode of the Powers has existed.” Dipping his hand in the chaos, which he condenses, he creates our planet.

Khi ấy bước lên sân khấu sáng tạo là Tinh thần 304, gọi là của Trái Đất, hay Linh hồn, Psyche, mà Thánh James gọi là “ma quỷ”, phần thấp của Anima Mundi hay Ánh sáng Cảm dục. Xem phần cuối của bài thi kệ này. Với người Nazarenes và người Ngộ đạo, Tinh thần này là nữ tính. Do đó Tinh linh Địa Cầu, khi nhận thấy rằng đối với Fetahil, 305 con người mới nhất, huy hoàng đã “biến đổi”, và rằng thay cho huy hoàng là “suy giảm và tổn hại”, nàng đánh thức Karabtanos, 306 “kẻ điên cuồng và không có tri giác và phán đoán”, và nói với y: “Hãy đứng dậy, hãy nhìn xem, Huy Hoàng, tức Ánh Sáng, của Con Người Mới Nhất, Fetahil, đã thất bại, trong việc sinh ra hay sáng tạo con người; sự suy giảm của Huy Hoàng này có thể thấy rõ. Hãy đứng lên, hãy đến với Mẹ ngươi, Tinh thần, và giải thoát mình khỏi các giới hạn đang giữ ngươi, và khỏi những giới hạn còn rộng lớn hơn toàn thế giới.” Sau đó là sự kết hợp của vật chất điên cuồng và mù quáng, được hướng dẫn bởi những lời xúi giục của Tinh thần, không phải Hơi Thở Thiêng Liêng mà là Tinh thần Cảm Dục, vốn do bản chất kép của nó đã bị nhiễm vật chất; và khi lời đề nghị của Người Mẹ được chấp nhận, Tinh thần thụ thai “Bảy Hình Thể”, và Bảy Sao, tức các Hành Tinh, cũng biểu trưng cho bảy trọng tội, hậu duệ của một Linh Hồn Cảm Dục, tách khỏi nguồn thiêng liêng của nó, tức tinh thần, và vật chất, con quỷ mù quáng của dục vọng. Thấy điều này, Fetahil đưa tay về phía vực thẳm vật chất và nói: “Hãy để đất hiện hữu, đúng như trú sở của các Quyền Năng đã hiện hữu.” Nhúng tay vào hỗn mang, mà ông làm cô đặc, ông tạo ra hành tinh của chúng ta.

Then the Codex proceeds to tell how Bahak Zivo was separated from the Spiritus, and the Genii or Angels from the Rebels. 307 Then (the greatest) Mano, 308 who dwells with the greatest Ferho, calls Kebar Zivo (known also by the name of Nebat Iavar bar Iufin Ifafin), the Helm and Vine of the Food of Life 309—he being the third Life, and commiserating the rebellious and foolish Genii, on account of the magnitude of their ambition, says: “Lord of the Genii 310 (Æons), see what the Genii (the Rebellious Angels) do, and about what they are consulting. 311 They say: ‘Let us call forth the world, and let us call the “Powers” into existence. The Genii are the Princes (Principes), the Sons of Light, but Thou art the Messenger of Life’.”

Sau đó Codex tiếp tục kể cách Bahak Zivo bị tách khỏi Tinh thần, và các Thiên Tài hay Thiên Thần bị tách khỏi những kẻ Nổi Loạn. 307 Rồi Mano vĩ đại nhất, 308 Đấng cư ngụ với Ferho vĩ đại nhất, gọi Kebar Zivo, cũng được biết dưới tên Nebat Iavar bar Iufin Ifafin, Bánh Lái và Cây Nho của Thực Phẩm Sự Sống 309, Đấng là Sự Sống thứ ba, và vì thương xót các Thiên Tài nổi loạn và ngu dại do tham vọng lớn lao của họ, nói rằng: “Chúa Tể của các Thiên Tài 310, tức các Aeon, hãy xem các Thiên Tài, tức các Thiên Thần Nổi Loạn, đang làm gì, và họ đang bàn bạc về điều gì. 311 Họ nói: ‘Chúng ta hãy gọi thế giới hiện ra, và hãy gọi các “Quyền Năng” vào hiện hữu. Các Thiên Tài là các Hoàng Tử, tức Principes, các Con của Ánh Sáng, nhưng Ngài là Sứ Giả của Sự Sống’.”

And in order to counteract the influence of the seven “badly disposed” principles the progeny of Spiritus, Kebar Zivo (or Cabar Zio), the mighty Lord of Splendour, produces seven other lives (the cardinal virtues), who shine in their own form and light “from on high,” 312 and thus reestablish the balance between good and evil, light and darkness.

Và để chống lại ảnh hưởng của bảy nguyên khí “có khuynh hướng xấu”, hậu duệ của Tinh thần, Kebar Zivo, hay Cabar Zio, Chúa Tể Hùng Mạnh của Huy Hoàng, tạo ra bảy sự sống khác, tức các đức hạnh chủ yếu, tỏa sáng trong hình tướng và ánh sáng riêng của chúng “từ trên cao”, 312 và như thế tái lập sự cân bằng giữa thiện và ác, ánh sáng và bóng tối.

Here one finds a repetition of the early allegorical dual systems, such as the Zoroastrian, and detects a germ of the dogmatic and dualistic religions of the future, a germ which has grown into such a luxuriant tree in ecclesiastical Christianity. It is already the outline of the two “Supremes”—God and Satan. But in the Stanzas no such idea exists.

Ở đây người ta tìm thấy sự lặp lại của các hệ thống nhị nguyên ẩn dụ sơ khai, như hệ thống Zoroastrian, và phát hiện một mầm của các tôn giáo tín điều và nhị nguyên trong tương lai, một mầm đã lớn lên thành một cây um tùm như thế trong Cơ Đốc giáo giáo hội. Nó đã là phác thảo của hai “Đấng Tối Cao”, Thượng đế và Satan. Nhưng trong các bài kệ không có ý tưởng nào như vậy.

Most of the Western Christian Kabalists—preeminently Éliphas Lévi—in their desire to reconcile the Occult Sciences with Church Dogmas, did their best to make of the “Astral Light” only and preeminently the Plerôma of the early Church Fathers, the abode of the Hosts of the Fallen Angels, of the Archôns and Powers. But the Astral Light, though only the lower aspect of the Absolute, is still dual. It is the Anima Mundi, and ought never to be viewed otherwise, except for Kabalistic purposes. The difference which exists between its “Light” and its “Living Fire,” ought ever to be present in the mind of the Seer and the Psychic. The higher aspect of this “Light,” without which only creatures of matter can be produced, is this Living Fire, and its Seventh Principle. It is stated in Isis Unveiled, in a complete description of it: The Astral Light or Anima Mundi is dual and bi-sexual. The (ideal) male part of it is purely divine and spiritual, it is Wisdom, it is Spirit or Purusha; while the female portion (the Spiritus of the Nazarenes) is tainted, in one sense, with matter, is indeed matter, and therefore is evil already. It is the life-principle of every living creature, and furnishes the astral soul, the fluidic perisprit, to men, animals, fowls of the air, and everything living. Animals have only the latent germ of the highest immortal soul in them. This latter will develop only after a series of countless evolutions; the doctrine of which evolutions is contained in the Kabalistic axiom: “A stone becomes a plant; a plant, a beast; a beast, a man; a man, a spirit; and the spirit, a god. 313

Hầu hết các nhà Kabbala Cơ Đốc phương Tây, nổi bật là Eliphas Levi, trong ước muốn hòa giải các Khoa Học Huyền Bí với các Tín Điều Giáo Hội, đã làm hết sức để biến “Ánh sáng Cảm dục” chỉ và chủ yếu thành Pleroma của các Giáo phụ sơ kỳ, trú sở của các Đạo Quân Thiên Thần Sa Ngã, của các Archon và các Quyền Năng. Nhưng Ánh sáng Cảm dục, dù chỉ là phương diện thấp của Tuyệt Đối, vẫn là nhị phân. Nó là Anima Mundi, và không bao giờ nên được nhìn khác đi, ngoại trừ cho các mục đích Kabbala. Sự khác biệt tồn tại giữa “Ánh sáng” của nó và “Lửa Sống” của nó phải luôn hiện diện trong thể trí của nhà thông nhãn và người thông linh. Phương diện cao hơn của “Ánh sáng” này, nếu thiếu nó thì chỉ có các tạo vật vật chất mới có thể được sinh ra, chính là Lửa Sống này, và là nguyên khí thứ bảy của nó. Trong Isis Vén Màn, khi mô tả đầy đủ về nó, có nói rằng: Ánh sáng Cảm dục hay Anima Mundi là nhị phân và lưỡng tính. Phần nam lý tưởng của nó thuần túy thiêng liêng và tinh thần; nó là Minh triết, nó là Tinh thần hay Purusha; trong khi phần nữ, tức Tinh thần của người Nazarenes, theo một nghĩa nào đó bị nhiễm vật chất, quả thật vật chất, và vì thế đã là ác. Nó là nguyên khí sự sống của mọi tạo vật sống, và cung cấp linh hồn cảm dục, perisprit linh động, cho con người, động vật, chim trời và mọi vật sống. Động vật chỉ có mầm tiềm tàng của linh hồn bất tử cao nhất trong chúng. Linh hồn sau này sẽ chỉ phát triển sau một chuỗi vô số tiến hoá; giáo lý về các tiến hoá ấy được chứa trong châm ngôn Kabbala: “Một hòn đá trở thành cây; một cây, một con thú; một con thú, một con người; một con người, một tinh thần; và tinh thần, một vị thần. 313

The seven principles of the Eastern Initiates had not been explained when Isis Unveiled was written, but only the three Kabalistic Faces of the semi-exoteric Kabalah. 314 But these contain the description of the mystic natures of the first Group of Dhyân Chohans in the regimen ignis, the region and “rule (or government) of fire,” divided into three classes, synthesized by the first, which makes four or the “Tetraktys.” If one studies the commentaries attentively, he will find the same progression in the angelic natures, viz., from the passive down to the active; the last of these Beings are as near to the Ahamkâra Element—the region or plane wherein Egoship, or the feeling of I-am-ness, is beginning to be defined—as the first are near to the undifferentiated Essence. The former are Arûpa, incorporeal; the latter, Rûpa, corporeal.

Bảy nguyên khí của các điểm đạo đồ Đông phương chưa được giải thích khi Isis Vén Màn được viết, mà chỉ có ba Khuôn Mặt Kabbala của Kabbala bán công truyền. 314 Nhưng các khuôn mặt này chứa mô tả về các bản chất thần bí của Nhóm Dhyani Chohan thứ nhất trong chế độ lửa, vùng và “quy luật, hay sự cai quản, của lửa”, được chia thành ba lớp, được tổng hợp bởi lớp thứ nhất, làm thành bốn hay “Tetraktys”. Nếu người ta nghiên cứu các bình giải một cách chăm chú, y sẽ tìm thấy cùng một tiến trình trong các bản chất thiên thần, tức là từ thụ động đi xuống đến chủ động; những Hữu Thể cuối cùng này gần với Nguyên tố Ahamkara, vùng hay cõi nơi tính chân ngã, hay cảm thức Ta-là, bắt đầu được xác định, cũng như những Hữu Thể đầu tiên gần với Tinh Chất chưa biến phân. Các Hữu Thể trước là Arupa, vô thể; các Hữu Thể sau là Rupa, hữu thể.

In Volume II of the same work, 315 the philosophical systems of the Gnostics and the primitive Jewish Christians, the Nazarenes and the Ebionites, are fully considered. They show the views held in those days, outside the circle of Mosaic Jews, about Jehovah. He was identified by all the Gnostics with the evil, rather than with the good principle. For them, he was Ilda-Baoth, the “Son of Darkness,” whose mother, Sophia Achamôth, was the daughter of Sophia, the Divine Wisdom—the female Holy Ghost of the early Christians—Âkâsha; Sophia Achamôth personifying the Lower Astral Light or Ether. The Astral Light stands in the same relation to Âkâsha and Anima Mundi, as Satan stands to the Deity. They are one and the same thing seen from two aspects, the spiritual and the psychic—the super-ethereal, or connecting link between matter and pure spirit—and the physical. 316 Ilda-Baoth—a compound name, made up of Ilda (ילד), child, and Baoth; the latter from בהוצ an egg, and בהות, chaos, emptiness, void, or desolation; or the Child born in the Egg of Chaos, like Brahmâ—or Jehovah, is simply one of the Elohim, the Seven Creative Spirits, and one of the lower Sephiroth. Ilda-Baoth produces from himself seven other Gods, “Stellar Spirits,” or the Lunar Ancestors, 317 for they are all the same. 318 They are all in his own image, the “Spirits of the Face,” and the reflections one of the other, who become darker and more material, as they successively recede from their originator. They also inhabit seven regions disposed like a stair, for its steps mount and descend the scale of spirit and matter. 319 With Pagans and Christians, with Hindûs and Chaldeans, with Greek as with Roman Catholics—the texts varying slightly in their interpretations—they all were the Genii of the seven planets, and of the seven planetary spheres of our septenary Chain, of which Earth is the lowest. This connects the “Stellar” and “Lunar” Spirits with the higher planetary Angels, and the Saptarshis, the Seven Rishis of the Stars, of the Hindûs—as subordinate Angels, or Messengers, to these Rishis, their emanations, on the descending scale. Such, in the opinion of the philosophical Gnostics, were the God and the Archangels now worshipped by the Christians! The “Fallen Angels” and the legend of the “War in Heaven” are thus purely pagan in their origin, and come from India, viá Persia and Chaldea. The only reference to them in the Christian canon is found in Revelation xii, as quoted a few pages back.

Trong Tập II của cùng tác phẩm ấy, 315 các hệ thống triết học của phái Ngộ đạo và của những tín đồ Cơ Đốc Do Thái sơ khai, người Nazarene và người Ebionite, được xem xét đầy đủ. Chúng cho thấy những quan điểm được duy trì vào thời ấy, bên ngoài vòng người Do Thái theo Moses, về Jehovah. Tất cả các nhà Ngộ đạo đều đồng nhất Ngài với nguyên khí ác hơn là với nguyên khí thiện. Đối với họ, Ngài là Ilda-Baoth, “Con của Bóng Tối”, có mẹ là Sophia Achamoth, con gái của Sophia, Minh Triết Thiêng Liêng — Chúa Thánh Thần nữ tính của các tín đồ Cơ Đốc sơ khai — Akasha; Sophia Achamoth nhân cách hóa Ánh Sáng Cảm Dục Hạ hay Dĩ Thái. Ánh Sáng Cảm Dục đứng trong cùng mối liên hệ với Akasha và Anima Mundi, như Satan đứng đối với Thượng đế. Chúng là một và cùng một sự vật được nhìn từ hai phương diện, phương diện tinh thần và phương diện thông linh — phương diện siêu dĩ thái, hay mắt xích nối kết giữa vật chất và tinh thần thuần khiết — và phương diện hồng trần. 316 Ilda-Baoth — một danh xưng kép, gồm Ilda (đứa trẻ), nghĩa là đứa trẻ, và Baoth; từ sau này bắt nguồn từ quả trứng, một quả trứng, và hỗn mang, hỗn mang, trống rỗng, hư vô, hay hoang phế; tức Đứa Trẻ sinh ra trong Trứng Hỗn Mang, như Brahma — hay Jehovah, chỉ đơn giản là một trong các Elohim, Bảy Tinh Thần Sáng Tạo, và là một trong các Sephiroth thấp. Ilda-Baoth từ chính mình sản sinh ra bảy vị Thượng đế khác, “Tinh Thần Tinh Tú”, hay Thái Âm Tổ Phụ, 317 vì tất cả các Ngài đều là một. 318 Tất cả các Ngài đều theo hình ảnh của chính y, là “Tinh Thần của Diện Mạo”, và là những phản chiếu của nhau, trở nên tối tăm hơn và vật chất hơn khi tuần tự lùi xa khỏi đấng phát sinh ra mình. Các Ngài cũng cư ngụ trong bảy vùng được sắp xếp như một cầu thang, vì các bậc của nó lên xuống theo thang của tinh thần và vật chất. 319 Đối với người ngoại giáo và tín đồ Cơ Đốc, với người Ấn và người Chaldea, với tín đồ Hy Lạp cũng như Công giáo La Mã — các bản văn chỉ khác nhau đôi chút trong cách diễn giải — tất cả các Ngài đều là các Thần linh hộ trì của bảy hành tinh, và của bảy khối cầu hành tinh thuộc Dãy thất phân của chúng ta, trong đó Trái Đất là thấp nhất. Điều này nối kết các Tinh Thần “Tinh Tú” và “Thái Âm” với các Thiên Thần hành tinh cao hơn, và với các Saptarshi, Bảy Rishi của các Vì Sao của người Ấn — như những Thiên Thần hay Sứ Giả phụ thuộc vào các Rishi ấy, những xuất lộ của các Ngài, trên thang đi xuống. Theo quan điểm của các nhà Ngộ đạo triết học, Thượng đế và các Tổng Thiên Thần hiện nay được tín đồ Cơ Đốc tôn thờ chính là như thế! “Các Thiên Thần Sa Ngã” và truyền thuyết về “Cuộc Chiến trên Trời” do đó thuần túy có nguồn gốc ngoại giáo, và đến từ Ấn Độ, qua Ba Tư và Chaldea. Sự tham chiếu duy nhất đến các Ngài trong kinh điển Cơ Đốc được tìm thấy trong Khải Huyền chương mười hai, như đã trích dẫn vài trang trước.

Thus “Satan,” once he ceases to be viewed in the superstitious, dogmatic, unphilosophical spirit of the Churches, grows into the grandiose image of one who makes of a terrestrial, a divine Man; who gives him, throughout the long cycle of Mahâkalpa, the law of the Spirit of Life, and makes him free from the Sin of Ignorance, hence of Death.

Như vậy, “Satan”, một khi không còn bị nhìn theo tinh thần mê tín, giáo điều, phi triết học của các Giáo hội, lớn lên thành hình ảnh hùng vĩ của một đấng biến một Con Người trần thế thành một Con Người thiêng liêng; đấng ban cho y, suốt chu kỳ dài của Mahakalpa, định luật của Tinh Thần Sự Sống, và khiến y thoát khỏi Tội lỗi của Vô Minh, do đó thoát khỏi Sự Chết.

6. The Older Wheels rotated downward and upward (a)…. The Mother’s Spawn filled the whole. 320 There were Battles fought between the Creators and the Destroyers, and Battles fought for Space; the Seed appearing and reappearing continuously (b). 321

6. Những Bánh Xe Cũ hơn xoay xuống và lên (a)…. Mầm sinh của Mẹ lấp đầy toàn thể. 320 Đã có những Trận Chiến giữa các Đấng Sáng Tạo và các Đấng Hủy Diệt, và những Trận Chiến vì Không Gian; Hạt Giống liên tục hiện ra và tái hiện (b). 321

(a) Here, having finished for the time being with our side-issues—which, however they may break the flow of the narrative, are necessary for the elucidation of the whole scheme—we must return once more to Cosmogony. The phrase “Older Wheels” refers to the Worlds, or Globes, of our Chain as they were during the previous Rounds. The present Stanza, when explained esoterically, is found embodied entirely in Kabalistic works. Therein will be found the very history of the evolution of those countless Globes, which evolve after a periodical Pralaya, rebuilt from old material into new forms. The previous Globes disintegrate and reappear, transformed and perfected for a new phase of life. In the Kabalah, worlds are compared to sparks which fly from under the hammer of the great Architect—Law, the Law which rules all the smaller Creators.

(a) Ở đây, sau khi tạm thời kết thúc với các vấn đề phụ — dù chúng có thể làm đứt mạch tường thuật, chúng vẫn cần thiết để làm sáng tỏ toàn bộ hệ thống — chúng ta phải một lần nữa trở lại với Vũ Trụ Khởi Nguyên Luận. Cụm từ “Những Bánh Xe Cũ hơn” chỉ các Thế Giới, hay các Bầu hành tinh, của Dãy chúng ta như chúng đã hiện hữu trong các Cuộc Tuần Hoàn trước. Bài kệ hiện tại, khi được giải thích một cách huyền bí, được thấy là hiện thân trọn vẹn trong các tác phẩm Kabbalah. Trong đó sẽ tìm thấy chính lịch sử tiến hoá của vô số Bầu hành tinh ấy, vốn tiến hoá sau một Giai kỳ qui nguyên định kỳ, được tái kiến tạo từ vật liệu cũ thành những hình tướng mới. Các Bầu hành tinh trước đó tan rã và tái hiện, được chuyển đổi và hoàn thiện cho một giai đoạn sự sống mới. Trong Kabbalah, các thế giới được so sánh với những tia lửa bay ra từ dưới búa của Đấng Kiến Trúc Sư vĩ đại — Định Luật, Định Luật cai quản tất cả các Đấng Sáng Tạo nhỏ hơn.

The following comparative diagram shows the identity between the two systems, the Kabalistic and the Eastern. The three upper are the three higher planes of consciousness, revealed and explained in both schools only to the Initiates; the lower represent the four lower planes—the lowest being our plane, or the visible Universe.

Sơ đồ so sánh sau đây cho thấy sự đồng nhất giữa hai hệ thống, Kabbalah và Đông phương. Ba cõi trên là ba cõi cao của tâm thức, được mặc khải và giải thích trong cả hai trường phái chỉ cho các điểm đạo đồ; các cõi thấp tượng trưng cho bốn cõi thấp — cõi thấp nhất là cõi của chúng ta, hay Vũ Trụ hữu hình.

Diagram III

These seven planes correspond to the seven states of consciousness in man. It remains with him to attune the three higher states in himself to the three higher planes in Kosmos. But before he can attempt to attune, he must awaken the three “seats” to life and activity. And how many are capable of bringing themselves to even a superficial comprehension of Âtmâ Vidyâ (Spirit-Knowledge), or what is called by the Sufis, Rohanee! 322

Bảy cõi này tương ứng với bảy trạng thái tâm thức nơi con người. Việc điều hợp ba trạng thái cao hơn trong chính y với ba cõi cao hơn trong Kosmos là tùy nơi y. Nhưng trước khi y có thể cố gắng điều hợp, y phải đánh thức ba “ngôi vị” đi vào sự sống và hoạt động. Và có bao nhiêu người có khả năng đưa chính mình đến dù chỉ là một sự thấu hiểu hời hợt về Atma Vidya, Tri Thức Tinh Thần, hay điều được người Sufi gọi là Rohanee! 322

(b) “The Seed appearing and reappearing continuously.” Here “Seed” stands for the “World-Germ,” viewed by Science as material particles in a highly attenuated condition, but in Occult Physics as “spiritual particles,” i.e., supersensuous matter existing in a state of primeval differentiation. To see and appreciate the difference—the immense gulf that separates terrestrial matter from the finer grades of supersensuous matter—every Astronomer, every Chemist and Physicist ought to be a Psychometer, to say the least; he ought to be able to sense for himself that difference in which he now refuses to believe. Mrs. Elizabeth Denton, one of the most learned, and also one of the most materialistic and sceptical women of her age—the wife of Professor Denton, the well-known American Geologist, and the author of The Soul of Things—was, in spite of her scepticism, one of the most wonderful psychometers. This is what she describes in one of her experiments. A particle of a meteorite was placed on her forehead, in an envelope, and the lady, not being aware of what it contained, said: What a difference between that which we recognize as matter here and that which seems like matter there! In the one, the elements are so coarse and so angular, I wonder that we can endure it at all, much more that we can desire to continue our present relations to it; in the other, all the elements are so refined, they are so free from those great, rough angularities, which characterize the elements here, that I can but regard that as by so much the more than this the real existence. 323

(b) “Hạt Giống liên tục hiện ra và tái hiện.” Ở đây “Hạt Giống” tượng trưng cho “Mầm Thế Giới”, được Khoa học xem là các hạt vật chất trong một trạng thái cực kỳ vi tế, nhưng trong Vật Lý Huyền Bí là “các hạt tinh thần”, tức vật chất siêu giác quan tồn tại trong một trạng thái biến phân nguyên sơ. Để thấy và đánh giá sự khác biệt — vực thẳm mênh mông phân cách vật chất trần thế với các cấp độ tinh tế hơn của vật chất siêu giác quan — mọi Nhà Thiên Văn, mọi Nhà Hóa Học và Nhà Vật Lý, ít nhất, đều phải là người trắc tâm; y phải có khả năng tự mình cảm nhận sự khác biệt mà hiện nay y từ chối tin. Bà Elizabeth Denton, một trong những phụ nữ uyên bác nhất, đồng thời cũng là một trong những người duy vật và hoài nghi nhất của thời đại bà — vợ của Giáo sư Denton, nhà Địa chất học Hoa Kỳ nổi tiếng, tác giả của Linh Hồn của Vạn Vật — bất chấp sự hoài nghi của mình, lại là một trong những người trắc tâm kỳ diệu nhất. Đây là điều bà mô tả trong một thí nghiệm của mình. Một hạt thiên thạch được đặt trên trán bà, trong một phong bì, và người phụ nữ ấy, không biết trong đó chứa gì, nói: Thật là một sự khác biệt giữa cái mà chúng ta nhận ra là vật chất ở đây và cái dường như là vật chất ở đó! Ở bên này, các nguyên tố thô kệch và góc cạnh đến thế, tôi ngạc nhiên rằng chúng ta có thể chịu đựng nó, huống chi còn có thể mong muốn tiếp tục các mối liên hệ hiện tại của mình với nó; ở bên kia, mọi nguyên tố đều tinh luyện đến thế, chúng tự do khỏi những góc cạnh to lớn, thô ráp vốn đặc trưng cho các nguyên tố ở đây, đến nỗi tôi chỉ có thể xem cái ấy là hiện hữu chân thực hơn cái này rất nhiều. 323

In Theogony, every Seed is an ethereal organism, from which evolves later on a celestial Being, a God.

Trong Thần Hệ Khởi Nguyên Luận, mỗi Hạt Giống là một cơ thể dĩ thái, từ đó về sau tiến hoá thành một Hữu Thể thiên giới, một vị Thượng đế.

In the “Beginning,” that which is called in mystic phraseology “Cosmic Desire” evolves into Absolute Light. Now light without any shadow would be absolute light; in other words, absolute darkness, as Physical Science tries to prove. This “shadow” appears under the form of primordial matter, allegorized—if you will—in the shape of the Spirit of Creative Fire or Heat. If, rejecting the poetical form and allegory, Science chooses to see in this the primordial “fire-mist,” it is welcome to do so. Whether one way or the other, whether Fohat or the famous Force of Science, nameless and as difficult of definition as our Fohat himself, that Something “caused the Universe to move with circular motion,” as Plato has it; or, as the Occult teaching expresses it: The Central Sun causes Fohat to collect primordial dust in the form of balls, to impel them to move in converging lines and finally to approach each other and aggregate…. Being scattered in Space, without order or system, the World-Germs come into frequent collision until their final aggregation, after which they become Wanderers [Comets]. Then the battles and struggles begin. The older [bodies] attract the younger, while others repel them. Many perish, devoured by their stronger companions. Those that escape become worlds. 324

Trong “Khởi Đầu”, cái được gọi bằng cụm từ thần bí là “Dục Vọng Vũ Trụ” tiến hoá thành Ánh Sáng Tuyệt Đối. Ánh sáng không có bất kỳ bóng nào sẽ là ánh sáng tuyệt đối; nói cách khác, là bóng tối tuyệt đối, như Khoa học Hồng trần cố gắng chứng minh. “Bóng” này xuất hiện dưới hình thức vật chất nguyên thủy, được ẩn dụ — nếu các bạn muốn — trong hình dáng của Tinh Thần Lửa Sáng Tạo hay Nhiệt. Nếu, bác bỏ hình thức thi ca và ẩn dụ, Khoa học chọn thấy trong đó “sương lửa” nguyên thủy, thì cứ để Khoa học làm như thế. Dù theo cách này hay cách khác, dù là Fohat hay Mãnh lực nổi tiếng của Khoa học, vô danh và khó định nghĩa như chính Fohat của chúng ta, Cái Gì Đó đã “khiến Vũ Trụ chuyển động theo chuyển động vòng tròn”, như Plato nói; hay, như giáo huấn Huyền bí diễn đạt: Mặt Trời Trung Tâm khiến Fohat thu gom bụi nguyên thủy dưới hình thức các quả cầu, thúc đẩy chúng chuyển động theo các đường hội tụ và cuối cùng tiến lại gần nhau và kết hợp…. Bị rải rác trong Không Gian, không trật tự hay hệ thống, các Mầm Thế Giới thường xuyên va chạm cho đến sự kết hợp cuối cùng, sau đó chúng trở thành những Kẻ Lang Thang, tức Sao Chổi. Rồi các trận chiến và đấu tranh bắt đầu. Các thiên thể cũ hơn hút các thiên thể trẻ hơn, trong khi những thiên thể khác đẩy chúng ra. Nhiều thiên thể diệt vong, bị các bạn đồng hành mạnh hơn nuốt chửng. Những thiên thể thoát được trở thành các thế giới. 324

When carefully analyzed and reflected upon, this will be found as scientific as Science can make it, even at our late period.

Khi được phân tích và suy ngẫm cẩn thận, điều này sẽ được thấy là khoa học như Khoa học có thể làm cho nó thành như vậy, ngay cả ở thời kỳ muộn màng của chúng ta.

We have been assured, that there exist several modern works of speculative fancy upon such struggles for life in sidereal heaven, especially in the German language. We rejoice to hear it, for ours is an Occult teaching lost in the darkness of archaic ages. We have treated of it fully in Isis Unveiled, 325 and the idea of Darwinian-like evolution, of struggle for life and supremacy, and of the “survival of the fittest,” among the Hosts above as of the Hosts below, runs throughout both the volumes of our earlier work, written in 1876. But the idea is not ours, it is that of antiquity. Even the Purânic writers have ingeniously interwoven allegory with cosmic facts and human events. Any symbologist may discern their astro-cosmical allusions, even though he be unable to grasp the whole meaning. The great “wars in heaven,” in the Purânas; the wars of the Titans, in Hesiod and other classical writers; the “struggles” also between Osiris and Typhon, in the Egyptian myth; and even those in the Scandinavian legends; all refer to the same subject. Northern Mythology refers to it as the battle of the Flames, the sons of Muspel who fought on the field of Wigred. All these relate to Heaven and Earth, and have a double, and often even a triple, meaning and esoteric application to things above as to things below. They severally relate to astronomical, theogonical and human struggles; to the adjustment of orbs, and the supremacy among nations and tribes. The “struggle for existence” and the “survival of the fittest” reigned supreme from the moment that Kosmos manifested into being, and could hardly escape the observant eye of the ancient Sages. Hence the incessant fights of Indra, the God of the Firmament, with the Asuras—degraded from high Gods into cosmic Demons—and with Vritra or Ahi; the battles fought between stars and constellations, between moons and planets—later on incarnated as kings and mortals. Hence also the War in Heaven of Michael and his Host against the Dragon—Jupiter and Lucifer Venus—when a third of the stars of the rebellious Host was hurled down into Space, and “its place was found no more in Heaven.” As we wrote long ago: This is the basic and fundamental stone of the secret cycles. It shows that the Brâhmans and Tanaim… speculated on the creation and development of the world quite in a Darwinian way, both anticipating him and his school in the natural selection, gradual development and transformation of species. 326

Chúng tôi được bảo đảm rằng có nhiều tác phẩm hiện đại thuộc tưởng tượng suy đoán về những cuộc đấu tranh sinh tồn như thế trong thiên giới tinh tú, đặc biệt bằng tiếng Đức. Chúng tôi vui mừng khi nghe điều đó, vì giáo huấn của chúng tôi là một giáo huấn Huyền bí đã mất hút trong bóng tối của các thời đại cổ xưa. Chúng tôi đã bàn đến nó đầy đủ trong Isis Không Màn Che, 325 và ý tưởng về sự tiến hoá giống Darwin, về đấu tranh sinh tồn và ưu thế, và về “sự sống sót của kẻ thích nghi nhất”, giữa các Đạo Quân bên trên cũng như giữa các Đạo Quân bên dưới, xuyên suốt cả hai tập của tác phẩm trước kia của chúng tôi, được viết năm 1876. Nhưng ý tưởng này không phải của chúng tôi; nó là của cổ đại. Ngay cả các tác giả Purana cũng đã khéo léo đan xen ẩn dụ với các sự kiện vũ trụ và các biến cố nhân loại. Bất kỳ nhà biểu tượng học nào cũng có thể nhận ra các ám chỉ thiên văn-vũ trụ của họ, dù y có thể không nắm được toàn bộ ý nghĩa. Những “cuộc chiến vĩ đại trên trời” trong các Purana; các cuộc chiến của các Titan trong Hesiod và các tác giả cổ điển khác; những “cuộc đấu tranh” giữa Osiris và Typhon trong huyền thoại Ai Cập; và cả những cuộc đấu tranh trong các truyền thuyết Scandinavia; tất cả đều chỉ cùng một chủ đề. Thần thoại phương Bắc gọi đó là trận chiến của các Ngọn Lửa, các con của Muspel đã chiến đấu trên cánh đồng Wigred. Tất cả những điều này liên quan đến Trời và Đất, và có một ý nghĩa kép, thường thậm chí tam phân, cùng ứng dụng huyền bí cho những sự vật bên trên cũng như những sự vật bên dưới. Chúng lần lượt liên quan đến các cuộc đấu tranh thiên văn, thần hệ và nhân loại; đến sự điều chỉnh các quỹ đạo, và đến quyền tối thượng giữa các quốc gia và bộ tộc. “Cuộc đấu tranh để hiện hữu” và “sự sống sót của kẻ thích nghi nhất” đã ngự trị tối cao từ khoảnh khắc Kosmos biểu hiện thành hiện hữu, và khó có thể thoát khỏi con mắt quan sát của các Hiền giả cổ xưa. Do đó có những trận chiến không ngừng của Indra, Thượng đế của Bầu Trời, với các Asura — bị hạ thấp từ các Thượng đế cao cả thành các Quỷ thần vũ trụ — và với Vritra hay Ahi; những trận chiến giữa các vì sao và chòm sao, giữa các mặt trăng và hành tinh — về sau nhập thể thành các vua chúa và người phàm. Do đó cũng có Cuộc Chiến trên Trời của Michael và Đạo Quân của Ngài chống lại Con Rồng — Sao Mộc và Lucifer Sao Kim — khi một phần ba các vì sao của Đạo Quân phản loạn bị ném xuống Không Gian, và “chỗ của nó không còn được tìm thấy trên Trời nữa”. Như chúng tôi đã viết từ lâu: Đây là viên đá nền tảng và căn bản của các chu kỳ bí truyền. Nó cho thấy rằng các Brahmin và Tanaim… đã suy luận về sự sáng tạo và phát triển của thế giới theo một cách khá Darwin, vừa đi trước ông vừa đi trước trường phái của ông trong chọn lọc tự nhiên, phát triển tiệm tiến và chuyển đổi các loài. 326

There were old worlds that perished, conquered by the new, etc., etc. The assertion that all the worlds (stars, planets, etc.)—as soon as a nucleus of primordial substance, in the laya (undifferentiated) state, is informed by the freed principles of a just deceased sidereal body—become first comets, and then suns, to cool down to inhabitable worlds, is a teaching as old as the Rishis.

Đã có những thế giới cũ diệt vong, bị các thế giới mới chinh phục, vân vân. Khẳng định rằng tất cả các thế giới, tức các vì sao, hành tinh, vân vân — ngay khi một hạt nhân của chất liệu nguyên thủy, trong trạng thái laya, tức chưa biến phân, được thấm nhuần bởi các nguyên khí được giải phóng của một thiên thể tinh tú vừa chết — trước hết trở thành sao chổi, rồi thành mặt trời, để nguội dần thành các thế giới có thể cư ngụ, là một giáo huấn xưa như các Rishi.

Thus the Secret Books, as we see, distinctly teach an astronomy that would not be rejected even by modern speculation, could the latter thoroughly understand its teachings.

Như vậy, các Sách Bí Truyền, như chúng ta thấy, rõ ràng dạy một nền thiên văn học mà ngay cả suy đoán hiện đại cũng sẽ không bác bỏ, nếu nó có thể thấu hiểu triệt để các giáo huấn ấy.

For archaic astronomy and the ancient physical and mathematical sciences expressed views identical with those of Modern Science, and many of far more momentous import. A “struggle for life” and a “survival of the fittest,” in the worlds above and on our planet here below, are distinctly taught. This teaching, however, although it would not be entirely rejected by Science, is sure to be repudiated as an integral whole. For it avers that there are only seven self-born primordial “Gods,” emanated from the trinitarian One. In other words, it means that all the worlds, or sidereal bodies—always on strict analogy—are formed one from the other, after the primordial manifestation at the beginning of the Great Age is accomplished.

Vì thiên văn học cổ xưa cùng các khoa học hồng trần và toán học cổ đại đã diễn đạt những quan điểm đồng nhất với các quan điểm của Khoa học Hiện đại, và nhiều quan điểm còn có tầm quan trọng lớn lao hơn nhiều. Một “cuộc đấu tranh sinh tồn” và một “sự sống sót của kẻ thích nghi nhất”, trong các thế giới bên trên và trên hành tinh của chúng ta ở bên dưới này, được dạy một cách rõ ràng. Tuy nhiên, giáo huấn này, dù sẽ không bị Khoa học bác bỏ hoàn toàn, chắc chắn sẽ bị phủ nhận như một toàn thể tích hợp. Vì nó khẳng định rằng chỉ có bảy “Thượng đế” nguyên thủy tự sinh, xuất lộ từ Đấng Duy Nhất tam phân. Nói cách khác, nó hàm ý rằng tất cả các thế giới, hay các thiên thể tinh tú — luôn theo định luật tương đồng nghiêm ngặt — được hình thành từ nhau, sau khi sự biểu hiện nguyên thủy vào lúc khởi đầu của Đại Kỷ đã hoàn tất.

The birth of the celestial bodies in space is compared to a multitude of pilgrims at the Festival of the Fires. Seven ascetics appear on the threshold of the temple with seven lighted sticks of incense. At the light of these the first row of pilgrims light their incense sticks. After which, every ascetic begins whirling his stick around his head in space, and furnishes the rest with fire. Thus with the heavenly bodies. A laya-centre is lighted and awakened into life by the fires of another “pilgrim,” after which, the new “centre” rushes into space and becomes a comet. It is only after losing its velocity, and hence its fiery tail, that the Fiery Dragon settles down into quiet and steady life, as a regular respectable citizen of the sidereal family. Therefore it is said: Born in the unfathomable depths of Space, out of the homogeneous Element called the World-Soul, every nucleus of cosmic matter, suddenly launched into being, begins life under the most hostile circumstances. Through a series of countless ages, it has to conquer for itself a place in the infinitudes. It circles round and round, between denser and already fixed bodies, moving by jerks, and pulling towards some given point or centre that attracts it, and, like as a ship drawn into a channel dotted with reefs and sunken rocks, trying to avoid other bodies that draw and repel it in turn. Many perish, their mass disintegrating through stronger masses, and, when born within a system, chiefly within the insatiable stomachs of various Suns. Those which move slower, and are propelled into an elliptic course, are doomed to annihilation sooner or later. Others, moving in parabolic curves, generally escape destruction, owing to their velocity.

Sự ra đời của các thiên thể trong không gian được so sánh với một đoàn đông đảo khách hành hương tại Lễ hội Lửa. Bảy nhà khổ hạnh xuất hiện trên ngưỡng cửa đền thờ với bảy que hương đã thắp sáng. Từ ánh lửa của các que ấy, hàng khách hành hương đầu tiên thắp các que hương của mình. Sau đó, mỗi nhà khổ hạnh bắt đầu quay que hương của mình quanh đầu trong không gian, và cung cấp lửa cho những người còn lại. Các thiên thể cũng vậy. Một trung tâm laya được thắp sáng và đánh thức vào sự sống bởi những ngọn lửa của một “khách hành hương” khác, sau đó “trung tâm” mới lao vào không gian và trở thành sao chổi. Chỉ sau khi mất vận tốc, và do đó mất chiếc đuôi lửa của mình, Con Rồng Lửa mới lắng xuống trong sự sống yên tĩnh và ổn định, như một công dân chính quy đáng kính của gia đình tinh tú. Vì vậy có lời nói: Sinh ra trong những vực sâu không thể dò của Không Gian, từ Nguyên tố đồng nhất được gọi là Linh Hồn Thế Giới, mỗi hạt nhân của vật chất vũ trụ, bất ngờ được phóng vào hiện hữu, bắt đầu sự sống trong những hoàn cảnh thù nghịch nhất. Qua một chuỗi vô số thời đại, nó phải tự chinh phục cho mình một vị trí trong các vô tận. Nó xoay vòng quanh mãi, giữa các thiên thể đậm đặc hơn và đã cố định, chuyển động từng đợt, và bị kéo về một điểm hay trung tâm nhất định đang hút nó, và, giống như một con tàu bị kéo vào một luồng nước lấm tấm đá ngầm và đá chìm, cố tránh các thiên thể khác lần lượt hút và đẩy nó. Nhiều thiên thể diệt vong, khối lượng của chúng tan rã bởi các khối lượng mạnh hơn, và khi sinh ra trong một hệ thống, chủ yếu rơi vào những cái bụng không bao giờ no của các Mặt Trời khác nhau. Những thiên thể chuyển động chậm hơn, và bị đẩy vào một quỹ đạo hình elip, sớm muộn cũng bị định mệnh hủy diệt. Những thiên thể khác, chuyển động theo các đường cong parabol, thường thoát khỏi sự hủy diệt nhờ vận tốc của chúng.

Some very critical readers will perhaps imagine that this teaching, as to the cometary stage passed through by all heavenly bodies, is in contradiction with the statements just made as to the Moon being the mother of the Earth. They will perhaps fancy that intuition is needed to harmonize the two. But no intuition is in truth required. What does Science know of comets, their genesis, growth, and ultimate behaviour? Nothing—absolutely nothing! And what is there so impossible in that a laya-centre—a lump of cosmic protoplasm, homogeneous and latent—when suddenly animated or fired up, should rush from its bed in space, and whirl throughout the abysmal depths, in order to strengthen its homogeneous organism by an accumulation and addition of differentiated elements? And why should not such a comet settle in life, live, and become an inhabited globe?

Một vài độc giả rất phê phán có lẽ sẽ tưởng rằng giáo huấn này, về giai đoạn sao chổi mà tất cả các thiên thể đều trải qua, mâu thuẫn với các phát biểu vừa nêu về Mặt Trăng là mẹ của Trái Đất. Có lẽ họ sẽ tưởng rằng cần trực giác để điều hòa hai điều ấy. Nhưng thật ra không cần trực giác nào cả. Khoa học biết gì về sao chổi, về nguồn gốc, sự tăng trưởng và hành vi cuối cùng của chúng? Không gì cả — tuyệt đối không gì cả! Và có gì là quá bất khả trong việc một trung tâm laya — một khối nguyên sinh chất vũ trụ, đồng nhất và tiềm tàng — khi đột nhiên được làm linh hoạt hay được đốt cháy, lại lao khỏi giường của nó trong không gian, và xoáy qua những vực sâu thăm thẳm, nhằm củng cố cơ thể đồng nhất của nó bằng sự tích tụ và bổ sung các nguyên tố đã biến phân? Và tại sao một sao chổi như thế lại không thể ổn định trong sự sống, sống, và trở thành một bầu hành tinh có cư dân?

“The abodes of Fohat are many”—it is said. “He places his Four Fiery [electro-positive] Sons in the Four Circles”; these Circles are the equator, the ecliptic, and the two parallels of declination, or the tropics, to preside over the climates of which are placed the Four Mystical Entities. Then again: “Other Seven [Sons] are commissioned to preside over the seven hot, and seven cold Lokas [the Hells of the orthodox Brâhmans] at the two ends of the Egg of Matter [our Earth and its poles].” The seven Lokas are elsewhere also called the “Rings” and the “Circles.” The Ancients made the polar circles seven instead of two, as do the Europeans; for Mount Meru, which is the North Pole, is said to have seven gold and seven silver steps leading to it.

“Các trú xứ của Fohat thì nhiều” — có lời nói như vậy. “Ngài đặt Bốn Người Con Lửa, tức điện dương, của mình trong Bốn Vòng Tròn”; các Vòng Tròn này là xích đạo, hoàng đạo, và hai vĩ tuyến xích vĩ, hay các chí tuyến, để chủ trì các khí hậu mà trên đó Bốn Thực Thể Huyền Bí được đặt để. Rồi lại có lời: “Bảy Người Con khác được ủy nhiệm chủ trì bảy Loka nóng và bảy Loka lạnh, tức các Địa Ngục của những Brahmin chính thống, ở hai đầu của Trứng Vật Chất, tức Trái Đất của chúng ta và các cực của nó.” Bảy Loka ở nơi khác cũng được gọi là “Các Vòng” và “Các Vòng Tròn”. Người xưa làm cho các vòng cực thành bảy thay vì hai như người châu Âu; vì Núi Meru, tức Bắc Cực, được nói là có bảy bậc vàng và bảy bậc bạc dẫn lên đó.

The strange statements, in one of the Stanzas, that “The Songs of Fohat and his Sons were radiant as the noon-tide Sun and the Moon combined,” and that the Four Sons, on the middle Four-fold Circle, “SAW their Father’s Songs and heard his solar-selenic Radiance,” are explained, in the Commentary, in these words: “The agitation of the Fohatic Forces at the two cold ends [North and South Poles] of the Earth, which results in a multicoloured radiance at night, has in it several of the properties of Âkâsha [Ether], Colour and Sound as well.”

Những phát biểu kỳ lạ trong một Bài kệ, rằng “Các Bài Ca của Fohat và các Con của Ngài rạng rỡ như Mặt Trời giữa trưa và Mặt Trăng hợp lại”, và rằng Bốn Người Con, trên Vòng Tròn Tứ phân ở giữa, “ĐÃ THẤY các Bài Ca của Cha mình và nghe Ánh Rạng Rỡ mặt trời-mặt trăng của Ngài”, được giải thích trong Bình luận bằng những lời này: “Sự kích động của các Mãnh lực Fohat ở hai đầu lạnh, tức Bắc Cực và Nam Cực, của Trái Đất, vốn đưa đến một ánh rạng rỡ nhiều màu về đêm, có trong nó một số đặc tính của Akasha, tức Dĩ Thái, cũng như Màu Sắc và Âm Thanh.”

“Sound is the characteristic of Âkâsha [Ether]: it generates Air, the property of which is Touch; which [by friction] becomes productive of Colour and Light.” 327

“Âm Thanh là đặc tính của Akasha, tức Dĩ Thái: nó sinh ra Khí, đặc tính của Khí là Xúc; mà điều này, qua ma sát, trở nên sinh ra Màu Sắc và Ánh Sáng.” 327

Perhaps the above will be regarded as archaic nonsense, but it will be better comprehended, if the reader remembers the Aurora Borealis and Australis, both of which take place at the very centres of terrestrial electric and magnetic forces. The two Poles are said to be the store-houses, the receptacles and liberators, at the same time, of cosmic and terrestrial Vitality (Electricity), from the surplus of which the Earth, had it not been for these two natural safety-valves, would have been rent to pieces long ago. At the same time it is a theory that has lately become an axiom, that the phenomenon of the polar lights is accompanied by, and productive of, strong sounds, like whistling, hissing and cracking. See Professor Humboldt’s works on the Aurora Borealis, and his correspondence regarding this moot question.

Có lẽ điều trên sẽ bị xem là điều vô nghĩa cổ xưa, nhưng nó sẽ được thấu hiểu tốt hơn nếu độc giả nhớ đến Cực Quang Bắc và Cực Quang Nam, cả hai đều diễn ra tại chính các trung tâm của các mãnh lực điện và từ tính của Trái Đất. Hai Cực được nói là những kho chứa, những bình chứa và đồng thời là những nơi giải phóng Sinh Lực vũ trụ và trần thế, tức Điện, từ phần dư thừa của nó; nếu không có hai van an toàn tự nhiên này, Trái Đất hẳn đã bị xé thành từng mảnh từ lâu. Đồng thời, một lý thuyết gần đây đã trở thành tiên đề là hiện tượng ánh sáng vùng cực đi kèm với, và sinh ra, những âm thanh mạnh, như tiếng huýt, tiếng rít và tiếng nứt vỡ. Hãy xem các tác phẩm của Giáo sư Humboldt về Cực Quang Bắc, và thư từ của ông liên quan đến vấn đề còn tranh luận này.

7. Make thy calculations, O Lanoo, if thou wouldst learn the correct age of thy Small Wheel. 328 Its Fourth Spoke is our Mother 329 (a). Reach the Fourth Fruit of the Fourth Path of Knowledge that leads to Nirvâna, and thou shalt comprehend, for thou shalt see (b)….

7. Hãy tính toán, hỡi Lanoo, nếu ngươi muốn biết tuổi đúng của Bánh Xe Nhỏ của ngươi. 328 Căm Thứ Tư của nó là Mẹ của chúng ta 329 (a). Hãy đạt Quả Thứ Tư của Con Đường Tri Thức Thứ Tư dẫn đến Niết Bàn, và ngươi sẽ thấu hiểu, vì ngươi sẽ thấy (b)….

(a) The “Small Wheel” is our Chain of Spheres, and the “Fourth Spoke” is our Earth, the fourth in the Chain. It is one of those on which the “hot [positive] breath of the Sun” has a direct effect.

(a) “Bánh Xe Nhỏ” là Dãy các Khối Cầu của chúng ta, và “Căm Thứ Tư” là Trái Đất của chúng ta, khối cầu thứ tư trong Dãy. Nó là một trong những khối cầu mà “hơi thở nóng, tức dương, của Mặt Trời” có tác động trực tiếp.

The seven fundamental transformations of the Globes or heavenly Spheres, or rather of their constituent particles of matter, are described as follows: (1) homogeneous; (2) aeriform and radiant—gaseous; (3) curd-like (nebulous); (4) atomic, ethereal—beginning of motion, hence of differentiation; (5) germinal, fiery—differentiated, but composed of the germs only of the Elements, in their earliest states, they having seven states, when completely developed on our earth; (6) four-fold, vapoury—the future Earth; (7) cold—and depending on the Sun for life and light.

Bảy chuyển đổi nền tảng của các Bầu hành tinh hay Khối Cầu thiên giới, hay đúng hơn của các hạt vật chất cấu thành chúng, được mô tả như sau: (1) đồng nhất; (2) dạng khí và rạng rỡ — khí thể; (3) giống sữa đông, tức tinh vân; (4) nguyên tử, dĩ thái — khởi đầu của chuyển động, do đó của biến phân; (5) mầm mống, lửa — đã biến phân, nhưng chỉ gồm các mầm của các Nguyên tố, trong những trạng thái sớm nhất của chúng, vốn có bảy trạng thái khi phát triển hoàn toàn trên Trái Đất của chúng ta; (6) tứ phân, dạng hơi — Trái Đất tương lai; (7) lạnh — và phụ thuộc vào Mặt Trời để có sự sống và ánh sáng.

To calculate its age, however, as the pupil is asked to do in the Stanza, is rather difficult, since we are not given the figures of the Great Kalpa, and are not allowed to publish those of our small Yugas, except as to the approximate duration of these. “The older Wheels rotated for one Eternity and one-half of an Eternity,” it says. We know that by “Eternity” the seventh part of 311,040,000,000,000 years, or an Age of Brahmâ is meant. But what of that? We also know that, to begin with, if we take for our basis the above figures, we have first of all to eliminate from the 100 Years of Brahmâ, or 311,040,000,000,000 years, two Years taken up by the Sandhyâs (Twilights), which leaves 98, as we have to bring it to the mystical combination 14 x 7. But we have no knowledge at what time precisely the evolution and formation of our little Earth began. Therefore, it is impossible to calculate its age, unless the time of its birth is given—which the Teachers refuse to do, so far. At the close of this Volume and in Volume II, however, some chronological hints will be given. We must remember, moreover, that the law of analogy holds good for the worlds, as it does for man; and that as “The One [Deity] becomes Two [Deva or Angel], and Two becomes Three [or Man],” etc., so we are taught that the Curds (World-Stuff) become Wanderers (Comets); these become stars; and the stars (the centres of vortices), our sun and planets—to put it briefly. This cannot be so very unscientific, since Descartes also thought that “the planets rotate on their axes, because they were once lucid stars, the centres of vortices.”

Tuy nhiên, việc tính tuổi của nó, như đạo sinh được yêu cầu làm trong Bài kệ, khá khó khăn, vì chúng ta không được trao các con số của Đại Kalpa, và không được phép công bố các con số của những Yuga nhỏ của chúng ta, ngoại trừ về thời lượng xấp xỉ của chúng. “Những Bánh Xe Cũ hơn đã xoay trong một Vĩnh Cửu và một nửa Vĩnh Cửu”, lời ấy nói. Chúng ta biết rằng “Vĩnh Cửu” hàm ý phần thứ bảy của 311.040.000.000.000 năm, hay một Kỷ của Brahma. Nhưng điều đó thì sao? Chúng ta cũng biết rằng, để bắt đầu, nếu lấy các con số trên làm nền tảng, trước hết chúng ta phải loại khỏi 100 Năm của Brahma, hay 311.040.000.000.000 năm, hai Năm do các Sandhya, tức Hoàng Hôn, chiếm lấy, còn lại 98, vì chúng ta phải đưa nó về tổ hợp huyền bí 14 x 7. Nhưng chúng ta không biết chính xác vào thời điểm nào sự tiến hoá và hình thành của Trái Đất nhỏ bé của chúng ta đã bắt đầu. Vì vậy, không thể tính tuổi của nó, trừ khi thời điểm sinh ra của nó được cho biết — điều mà các Huấn sư cho đến nay từ chối làm. Tuy nhiên, ở cuối Tập này và trong Tập II, một số gợi ý niên đại sẽ được đưa ra. Hơn nữa, chúng ta phải nhớ rằng định luật tương đồng đúng với các thế giới cũng như đúng với con người; và rằng như “Đấng Duy Nhất, tức Thượng đế, trở thành Hai, tức Deva hay Thiên Thần, và Hai trở thành Ba, tức Con Người”, vân vân, thì chúng ta cũng được dạy rằng các Khối Đông, tức Chất Liệu Thế Giới, trở thành các Kẻ Lang Thang, tức Sao Chổi; các Kẻ ấy trở thành các vì sao; và các vì sao, tức các trung tâm của các xoáy, mặt trời và các hành tinh của chúng ta — nói ngắn gọn là như vậy. Điều này không thể quá phi khoa học, vì Descartes cũng nghĩ rằng “các hành tinh quay quanh trục của chúng, bởi vì chúng từng là các vì sao sáng, các trung tâm của các xoáy.”

(b) There are four grades of Initiation mentioned in exoteric works, which are known respectively in Sanskrit as Srotâpanna, Sakridâgâmin, Anâgâmin, and Arhan; the Four Paths to Nirvâna, in this our Fourth Round, bearing the same appellations. The Arhan, though he can see the Past, the Present and the Future, is not yet the highest Initiate; for the Adept himself, the initiated candidate, becomes Chelâ (Pupil) to a higher Initiate. Three higher grades have still to be conquered by the Arhan who would reach the apex of the ladder of Arhatship. There are those who have reached it even in this Fifth Race of ours, but the faculties necessary for the attainment of these higher grades will be fully developed, in the average ascetic, only at the end of this Root-Race, and in the Sixth and Seventh. Thus, there will always be Initiates and the Profane until the end of this minor Manvantara, the present Life-Cycle. The Arhats of the “Fire-Mist,” of the Seventh Rung, are but one remove from the Root-Base of their Hierarchy, the highest on Earth and our Terrestrial Chain. This “Root-Base” has a name which can only be translated into English by several compound words—the “Ever-Living-Human-Banyan.” This “Wondrous Being” descended from a “high region,” they say, in the early part of the Third Age, before the separation of sexes in the Third Race.

(b) Có bốn cấp độ Điểm Đạo được nhắc đến trong các tác phẩm công truyền, lần lượt được biết trong Sanskrit là Srotapanna, Sakridagamin, Anagamin và Arhan; bốn Con Đường đến Niết Bàn, trong Cuộc Tuần Hoàn Thứ Tư này của chúng ta, mang cùng những danh xưng ấy. Arhan, dù có thể thấy Quá Khứ, Hiện Tại và Tương Lai, vẫn chưa phải là điểm đạo đồ cao nhất; vì chính Chân sư, vị ứng viên được điểm đạo, trở thành đệ tử, tức môn sinh, của một điểm đạo đồ cao hơn. Ba cấp độ cao hơn vẫn còn phải được Arhan chinh phục nếu y muốn đạt đến đỉnh của thang Arhat. Có những người đã đạt đến đó ngay cả trong Giống Dân Thứ Năm này của chúng ta, nhưng các năng lực cần thiết để đạt được những cấp độ cao hơn ấy sẽ chỉ phát triển đầy đủ nơi nhà khổ hạnh trung bình vào cuối Giống Dân Gốc này, và trong Giống Dân Thứ Sáu và Thứ Bảy. Như vậy, sẽ luôn có các điểm đạo đồ và người phàm tục cho đến cuối tiểu Manvantara này, Chu Kỳ Sự Sống hiện tại. Các Arhat của “Sương Lửa”, của Nấc Thứ Bảy, chỉ còn cách một bậc với Cội Nền của Thánh đoàn các Ngài, cao nhất trên Trái Đất và trong Dãy Trần Thế của chúng ta. “Cội Nền” này có một danh xưng chỉ có thể dịch sang tiếng Anh bằng nhiều từ ghép — “Cây Đa Nhân Loại Hằng Sống”. “Hữu Thể Kỳ Diệu” này đã giáng xuống từ một “vùng cao”, người ta nói, vào phần đầu của Kỷ Thứ Ba, trước sự phân chia giới tính trong Giống Dân Thứ Ba.

This Third Race is sometimes called collectively the “Sons of Passive Yoga,” i.e., it was produced unconsciously by the Second Race, which, as it was intellectually inactive, is supposed to have been constantly plunged in a kind of blank or abstract contemplation, as required by the conditions of the Yoga state. In the first or earlier portion of the existence of this Third Race, while it was yet in its state of purity, the “Sons of Wisdom,” who, as will be seen, incarnated in this Root-Race, produced by Kriyâshakti a progeny, called the “Sons of Ad,” or of the “Fire-Mist,” the “Sons of Will and Yoga,” etc. They were a conscious production, as a portion of the Race was already animated with the divine spark of spiritual, superior intelligence. This progeny was not a race. It was at first a Wondrous Being, called the “Initiator,” and after him a group of semi-divine and semi-human Beings. “Set apart” in archaic genesis for certain purposes, they are those in whom are said to have incarnated the highest Dhyânis— “Munis and Rishis from previous Manvantaras”—to form the nursery for future human Adepts, on this Earth and during the present Cycle. These “Sons of Will and Yoga,” born, so to speak, in an immaculate way, remained, it is explained, entirely apart from the rest of mankind.

Giống Dân Thứ Ba này đôi khi được gọi chung là “Các Con của Yoga Thụ Động”, nghĩa là nó được Giống Dân Thứ Hai sản sinh một cách vô thức, và vì Giống Dân ấy bất hoạt về trí tuệ, nên được cho là đã thường xuyên chìm đắm trong một loại chiêm ngưỡng trống rỗng hay trừu tượng, như các điều kiện của trạng thái Yoga đòi hỏi. Trong phần đầu hay phần sớm hơn của sự tồn tại của Giống Dân Thứ Ba này, khi nó vẫn còn trong trạng thái thanh khiết, “Các Con của Minh Triết”, những vị mà như sẽ thấy, đã nhập thể trong Giống Dân Gốc này, bằng Kriyashakti đã sinh ra một hậu duệ được gọi là “Các Con của Ad”, hay của “Sương Lửa”, “Các Con của Ý Chí và Yoga”, vân vân. Họ là một sản phẩm có ý thức, vì một phần của Giống Dân đã được làm linh hoạt bằng tia lửa thiêng liêng của trí tuệ tinh thần cao siêu. Hậu duệ này không phải là một giống dân. Ban đầu đó là một Hữu Thể Kỳ Diệu, được gọi là “Đấng Điểm đạo”, và sau Ngài là một nhóm các Hữu Thể bán thiêng liêng và bán nhân loại. Được “tách riêng” trong khởi nguyên cổ xưa vì một số mục đích nhất định, các Ngài là những vị mà trong đó người ta nói các Dhyani cao nhất — “các Muni và Rishi từ các Manvantara trước” — đã nhập thể để hình thành vườn ươm cho các Chân sư nhân loại tương lai, trên Trái Đất này và trong Chu Kỳ hiện tại. Các “Con của Ý Chí và Yoga” này, có thể nói là được sinh ra theo cách vô nhiễm, được giải thích là vẫn hoàn toàn tách biệt khỏi phần còn lại của nhân loại.

The “Being” just referred to, who has to remain nameless, is the Tree from which, in subsequent ages, all the great historically known Sages and Hierophants, such as the Rishi Kapila, Hermes, Enoch, Orpheus, etc., have branched off. As objective man, he is the mysterious (to the profane—the ever invisible, yet ever present) Personage, about whom legends are rife in the East, especially among the Occultists and the students of the Sacred Science. It is he who changes form, yet remains ever the same. And it is he, again, who holds spiritual sway over the initiated Adepts throughout the whole world. He is, as said, the “Nameless One” who has so many names, and yet whose names and whose very nature are unknown. He is the “Initiator,” called the “Great Sacrifice.” For, sitting at the Threshold of Light, he looks into it from within the Circle of Darkness, which he will not cross; nor will he quit his post till the last Day of this Life-Cycle. Why does the Solitary Watcher remain at his self-chosen post? Why does he sit by the Fountain of Primeval Wisdom, of which he drinks no longer, for he has naught to learn which he does not know—aye, neither on this Earth, nor in its Heaven? Because the lonely, sore-footed Pilgrims, on their journey back to their Home, are never sure, to the last moment, of not losing their way, in this limitless desert of Illusion and Matter called Earth-Life. Because he would fain show the way to that region of freedom and light, from which he is a voluntary exile himself, to every prisoner who has succeeded in liberating himself from the bonds of flesh and illusion. Because, in short, he has sacrificed himself for the sake of Mankind, though but a few elect may profit by the Great Sacrifice.

“Hữu Thể” vừa được nhắc đến, Đấng phải vẫn vô danh, là Cây mà từ đó, trong các thời đại sau, tất cả các Hiền giả và Đạo sư vĩ đại được biết đến trong lịch sử, như Rishi Kapila, Hermes, Enoch, Orpheus, vân vân, đã phân nhánh ra. Với tư cách con người khách quan, Ngài là Nhân Vật huyền bí, đối với người phàm tục thì mãi vô hình nhưng luôn hiện diện, mà về Ngài các truyền thuyết lan truyền rất nhiều ở phương Đông, đặc biệt giữa các nhà huyền bí học và các đạo sinh của Khoa Học Thiêng Liêng. Chính Ngài là Đấng thay đổi hình tướng, nhưng vẫn mãi là một. Và cũng chính Ngài là Đấng nắm quyền cai quản tinh thần đối với các Chân sư được điểm đạo trên khắp thế giới. Như đã nói, Ngài là “Đấng Vô Danh”, Đấng có rất nhiều danh xưng, nhưng các danh xưng và chính bản chất của Ngài vẫn không được biết đến. Ngài là vị “Đấng Điểm đạo”, được gọi là “Sự Hy Sinh Vĩ Đại”. Vì, ngồi tại Ngưỡng Cửa của Ánh Sáng, Ngài nhìn vào đó từ bên trong Vòng Tròn Bóng Tối, mà Ngài sẽ không vượt qua; Ngài cũng sẽ không rời bỏ vị trí của mình cho đến Ngày cuối cùng của Chu Kỳ Sự Sống này. Vì sao Đấng Canh Gác Đơn Độc vẫn ở lại vị trí do chính Ngài chọn? Vì sao Ngài ngồi bên Suối Nguồn Minh Triết Nguyên Sơ, mà Ngài không còn uống nữa, vì Ngài không có gì để học mà Ngài chưa biết — vâng, không chỉ trên Trái Đất này, mà cả trên Trời của nó? Bởi vì những Khách Hành Hương cô độc, chân đau, trên hành trình trở về Nhà, cho đến khoảnh khắc cuối cùng, không bao giờ chắc chắn rằng mình sẽ không lạc đường trong sa mạc vô hạn của Ảo tưởng và Vật Chất được gọi là Sự Sống Trần Gian này. Bởi vì Ngài tha thiết muốn chỉ đường đến vùng tự do và ánh sáng ấy, nơi mà chính Ngài là một kẻ tự nguyện lưu đày, cho mọi tù nhân đã thành công trong việc tự giải thoát khỏi xiềng xích của xác thịt và ảo tưởng. Nói ngắn gọn, bởi vì Ngài đã hy sinh chính mình vì Nhân Loại, dù chỉ một số ít người được tuyển chọn có thể hưởng lợi từ Sự Hy Sinh Vĩ Đại ấy.

It is under the direct, silent guidance of this Mahâ-Guru that all the other less divine Teachers and Instructors of Mankind became, from the first awakening of human consciousness, the guides of early Humanity. It is through these “Sons of God” that infant Humanity learned its first notions of all the arts and sciences, as well as of spiritual knowledge; and it is They who laid the first foundation-stone of those ancient civilizations that so sorely puzzle our modern generation of students and scholars.

Chính dưới sự hướng dẫn trực tiếp, âm thầm của vị Maha-Guru này mà tất cả các Huấn sư và Giảng sư kém thiêng liêng hơn của Nhân Loại, từ sự thức tỉnh đầu tiên của tâm thức nhân loại, đã trở thành những người dẫn dắt Nhân Loại sơ khai. Chính qua các “Con của Thượng đế” này mà Nhân Loại ấu thơ đã học được những khái niệm đầu tiên về mọi nghệ thuật và khoa học, cũng như về tri thức tinh thần; và chính Các Ngài đã đặt viên đá nền đầu tiên của những nền văn minh cổ đại khiến thế hệ đạo sinh và học giả hiện đại của chúng ta bối rối đến thế.

Let those who doubt this statement, explain, on any other equally reasonable grounds, the mystery of the extraordinary knowledge possessed by the Ancients—who, some pretend, developed from lower and animal-like savages, the “cave-men” of the palæolithic age! Let them turn, for instance, to such works as those of Vitruvius Pollio of the Augustan age, on architecture, in which all the rules of proportion are those anciently taught at Initiations, if they would acquaint themselves with this truly divine art, and understand the deep esoteric significance hidden in every rule and law of proportion. No man descended from a palæolithic cave-dweller could ever evolve such a science unaided, even in millenniums of thought and intellectual evolution. It is the pupils of those incarnated Rishis and Devas of the Third Root Race who handed on their knowledge, from one generation to another, to Egypt and to Greece with her now lost canon of proportion; just as the disciples of the Initiates of the Fourth, the Atlanteans, handed it over to their Cyclopes, the “Sons of Cycles” or of the “Infinite,” from whom the name passed to the still later generations of Gnostic priests.

Hãy để những ai nghi ngờ lời tuyên bố này giải thích, trên bất kỳ cơ sở nào khác cũng hợp lý ngang như vậy, bí nhiệm về tri thức phi thường mà Cổ nhân sở hữu—những người mà một số kẻ giả vờ cho rằng đã phát triển từ những kẻ man rợ thấp kém và giống thú, những “người hang động” của thời đại đồ đá cũ! Chẳng hạn, nếu họ muốn làm quen với nghệ thuật thật sự thiêng liêng này, và thấu hiểu thâm nghĩa huyền bí sâu xa ẩn trong mỗi quy luật và định luật về tỉ lệ, hãy để họ quay sang những tác phẩm như các trước tác của Vitruvius Pollio thời Augustus về kiến trúc, trong đó mọi quy luật về tỉ lệ đều là những điều được truyền dạy từ thời cổ trong các Cuộc Điểm Đạo. Không một con người nào xuất thân từ một cư dân hang động thời đồ đá cũ lại có thể tự mình tiến hóa nên một khoa học như thế, dù trải qua hàng thiên niên kỷ tư tưởng và tiến hóa trí tuệ. Chính các môn sinh của những Rishi và Deva lâm phàm thuộc Giống dân gốc thứ ba đã truyền lại tri thức của họ, từ thế hệ này sang thế hệ khác, cho Ai Cập và Hy Lạp cùng với quy chuẩn tỉ lệ nay đã thất truyền của nàng; cũng như các đệ tử của những Điểm đạo đồ thuộc Giống dân thứ tư, người Atlantis, đã trao lại tri thức ấy cho các Cyclopes của họ, “Những Người Con của các Chu Kỳ” hay của “Vô Hạn,” từ đó danh xưng này được truyền sang những thế hệ tăng lữ Ngộ đạo về sau nữa.

It is owing to the divine perfection of these architectural proportions that the Ancients could build these wonders of all the subsequent ages, their Fanes, Pyramids, Cave-Temples, Cromlechs, Cairns, Altars, proving they had the powers of machinery and a knowledge of mechanics to which modern skill is like a child’s play, and which that skill refers to itself as the “works of hundred-handed giants.” 330

Chính nhờ sự hoàn hảo thiêng liêng của các tỉ lệ kiến trúc này mà Cổ nhân đã có thể xây dựng những kỳ quan của mọi thời đại sau đó: các Đền thờ, Kim tự tháp, Đền hang, Cromlech, Cairn, Bàn thờ của họ; những công trình chứng tỏ họ có những quyền năng về máy móc và một tri thức cơ học mà kỹ năng hiện đại so với đó chỉ như trò chơi trẻ con, và chính kỹ năng ấy lại gọi chúng là “công trình của những người khổng lồ trăm tay.” 330

Modern architects may not have altogether neglected these rules, but they have superadded enough empirical innovations to destroy the just proportions. It is Vitruvius who gave to posterity the rules of construction of the Grecian temples erected to the immortal Gods; and the ten books of Marcus Vitruvius Pollio on Architecture, of one, in short, who was an Initiate, can only be studied esoterically. The Druidical Circles, the Dolmens, the Temples of India, Egypt and Greece, the Towers, and the 127 towns in Europe which were found “Cyclopean in origin” by the French Institute, are all the work of initiated Priest-Architects, the descendants of those first taught by the “Sons of God,” and justly called the “Builders.” This is what appreciative posterity says of these descendants: They used neither mortar nor cement, nor steel, nor iron to cut the stones with; and yet they were so artificially wrought that in many places the joints are hardly seen, though many of the stones, as in Peru, are 38 feet long, 18 feet broad, and 6 feet thick, and in the walls of the fortress of Cuzco there are stones of a still greater size. 331

Các kiến trúc sư hiện đại có thể chưa hoàn toàn bỏ quên những quy luật này, nhưng họ đã thêm vào đủ nhiều cải cách thực nghiệm để phá hủy các tỉ lệ đúng đắn. Chính Vitruvius đã truyền lại cho hậu thế những quy luật xây dựng các đền thờ Hy Lạp dựng lên để tôn vinh các Vị Thần bất tử; và mười quyển sách về Kiến trúc của Marcus Vitruvius Pollio, nói tóm lại, của một người vốn là một Điểm đạo đồ, chỉ có thể được nghiên cứu một cách huyền bí. Các Vòng tròn Druid, các Dolmen, các Đền thờ Ấn Độ, Ai Cập và Hy Lạp, các Tòa tháp, và 127 thành phố ở châu Âu mà Viện Pháp quốc nhận thấy “có nguồn gốc Cyclopean,” tất cả đều là công trình của các Giáo sĩ-Kiến trúc sư đã được điểm đạo, hậu duệ của những người đầu tiên được “Các Con của Thượng đế” truyền dạy, và được gọi một cách chính đáng là “Những Đấng Kiến Tạo.” Đây là điều hậu thế biết trân trọng đã nói về những hậu duệ ấy: Họ không dùng vữa, không xi măng, cũng không dùng thép hay sắt để cắt đá; thế mà đá được gia công khéo léo đến nỗi ở nhiều nơi hầu như không thấy các mối ghép, dù nhiều khối đá, như ở Peru, dài 38 bộ, rộng 18 bộ, dày 6 bộ, và trong các bức tường của pháo đài Cuzco còn có những khối đá lớn hơn nữa. 331

Again:

Lại nữa:

The well of Syene, made 5,400 years ago, when that spot was exactly under the tropic, which it has now ceased to be, was… so constructed, that at noon, at the precise moment of the solar solstice, the entire disk of the sun was seen reflected on its surface—a work which the united skill of all the astronomers in Europe would not now be able to effect. 332

Giếng Syene, được xây cách đây 5.400 năm, khi nơi ấy nằm đúng dưới chí tuyến, điều mà nay không còn nữa, đã được cấu tạo… sao cho vào giữa trưa, đúng khoảnh khắc của điểm chí mặt trời, toàn bộ đĩa mặt trời được thấy phản chiếu trên mặt nước của nó—một công trình mà toàn bộ kỹ năng hợp nhất của tất cả các nhà thiên văn ở châu Âu ngày nay cũng không thể thực hiện được. 332

Although these matters were barely hinted at in Isis Unveiled, it will be well to remind the reader of what was said there 333 concerning a certain Sacred Island in Central Asia, and to refer him for further details to the Section, entitled “The Sons of God and the Sacred Island,” attached to Stanza IX of Volume II. A few more explanations, however, though thrown out in a fragmentary form, may help the student to obtain a glimpse into the present mystery.

Mặc dù những vấn đề này chỉ được gợi ý rất sơ lược trong Isis Unveiled, cũng nên nhắc độc giả nhớ lại những gì đã được nói ở đó 333 liên quan đến một Hòn Đảo Thiêng nào đó ở Trung Á, và xin chuyển y, để biết thêm chi tiết, đến Tiết mang nhan đề “Các Con của Thượng đế và Hòn Đảo Thiêng,” gắn với Bài kệ IX của Quyển II. Tuy nhiên, thêm một vài lời giải thích nữa, dù được đưa ra dưới hình thức rời rạc, có thể giúp đạo sinh hé thấy đôi chút bí nhiệm hiện tại.

To state at least one detail concerning these mysterious “Sons of God” in plain words: it is from them, these Brahmaputras, that the high Dvijas, the initiated Brâhmans of old, claimed descent, while the modern Brâhman would have the lower castes believe literally that they (the Brâhmans) issued direct from the mouth of Brahmâ. Such is the Esoteric teaching; and it adds moreover that, although those descended (spiritually, of course) from the “Sons of Will and Yoga” became in time divided into opposite sexes, as their “Kriyâshakti” progenitors did themselves later on; yet even their degenerate descendants have, down to the present day, retained a veneration and respect for the creative function, and still regard it in the light of a religious ceremony, whereas the more civilized nations consider it as a mere animal function. Compare the Western views and practice in these matters with the Institutions of Manu, in regard to the laws of Grihastha, or married life. The true Brâhman is, thus, indeed “he whose seven forefathers have drunk the juice of the Moon-plant (Soma),” and who is a “Trisuparna,” for he has understood the secret of the Vedas.

Để nói rõ ít nhất một chi tiết liên quan đến những “Con của Thượng đế” huyền nhiệm này: chính từ các Ngài, những Brahmaputra này, mà các Dvija cao cả, những Brâhman được điểm đạo thời xưa, tuyên bố mình có dòng dõi xuất phát, trong khi Brâhman hiện đại lại muốn các đẳng cấp thấp tin theo nghĩa đen rằng họ, các Brâhman, trực tiếp phát xuất từ miệng của Brahmâ. Đó là giáo huấn huyền bí; và hơn nữa giáo huấn ấy còn nói thêm rằng, mặc dù những người xuất thân, dĩ nhiên về mặt tinh thần, từ “Những Người Con của Ý Chí và Yoga” theo thời gian đã phân chia thành hai giới tính đối lập, cũng như về sau chính các tổ tiên “Kriyâshakti” của họ đã làm; tuy vậy, ngay cả các hậu duệ suy thoái của họ, cho đến tận ngày nay, vẫn giữ lòng tôn kính và kính trọng đối với chức năng sáng tạo, và vẫn xem nó dưới ánh sáng của một nghi lễ tôn giáo, trong khi các quốc gia văn minh hơn lại coi nó chỉ như một chức năng thuần túy của thú tính. Hãy so sánh quan điểm và thực hành của phương Tây trong các vấn đề này với các Định chế của Manu, liên quan đến các định luật của Grihastha, hay đời sống hôn nhân. Do đó, Brâhman chân chính quả thật là “người mà bảy tổ phụ của y đã uống nước ép của cây Mặt Trăng, Soma,” và là một “Trisuparna,” vì y đã thấu hiểu bí mật của các Veda.

And, to this day, such Brâhmans know that, during the early beginnings of this Race, psychic and physical intellect being dormant and consciousness still undeveloped, its spiritual conceptions were quite unconnected with its physical surroundings; that divine man dwelt in his animal—though externally human—form; that, if there was instinct in him, no self-consciousness came to enlighten the darkness of the latent Fifth Principle. When the Lords of Wisdom, moved by the law of evolution, infused into him the spark of consciousness, the first feeling it awoke to life and activity was a sense of solidarity, of one-ness with his spiritual creators. As the child’s first feeling is for its mother and nurse, so the first aspirations of the awakening consciousness in primitive man were for those whose element he felt within himself, and who were yet outside, and independent of him. Devotion arose out of that feeling, and became the first and foremost motor in his nature; for it is the only one which is natural in his heart, which is innate in him, and which we find alike in the human babe and the young of the animal. This feeling of irrepressible, instinctive aspiration in primitive man is beautifully, and one may say intuitionally, described by Carlyle, who exclaims: The great antique heart—how like a child’s in its simplicity, like a man’s in its earnest solemnity and depth! Heaven lies over him wheresoever he goes or stands on the earth; making all the earth a mystic temple to him, the earth’s business all a kind of worship. Glimpses of bright creatures flash in the common sunlight; angels yet hover, doing God’s messages among men…. Wonder, miracle, encompass the man; he lives in an element of miracle. 334… A great law of duty, high as these two infinitudes (heaven and hell), dwarfing all else, annihilating all else—it was a reality, and it is one: the garment only of it is dead; the essence of it lives through all times and all eternity!

Và cho đến ngày nay, những Brâhman như thế biết rằng, trong các khởi đầu sơ khai của Giống dân này, khi trí năng thông linh và thể xác còn ngủ yên, tâm thức vẫn chưa phát triển, các quan niệm tinh thần của nó hoàn toàn không liên hệ với môi trường hồng trần chung quanh; rằng con người thiêng liêng trú ngụ trong hình tướng thú tính—dù bên ngoài là con người—của y; rằng, nếu có bản năng trong y, thì chưa có ngã thức nào đến soi sáng bóng tối của Nguyên khí thứ năm còn tiềm tàng. Khi các Đấng Chúa Tể Minh Triết, do định luật tiến hóa thúc đẩy, truyền vào y tia lửa tâm thức, cảm xúc đầu tiên mà tia lửa ấy đánh thức vào sự sống và hoạt động là ý thức về tình liên đới, về sự hợp nhất với các đấng sáng tạo tinh thần của y. Như cảm xúc đầu tiên của đứa trẻ hướng về mẹ và vú nuôi của nó, thì những khát vọng đầu tiên của tâm thức đang thức tỉnh nơi con người nguyên thủy cũng hướng về những Đấng mà y cảm thấy yếu tố của các Ngài ở trong chính mình, nhưng các Ngài vẫn ở bên ngoài và độc lập với y. Lòng sùng tín phát sinh từ cảm xúc ấy, và trở thành động lực đầu tiên và hàng đầu trong bản chất của y; vì đó là động lực duy nhất tự nhiên trong trái tim y, bẩm sinh trong y, và chúng ta thấy nó giống nhau nơi đứa trẻ con người và con non của loài vật. Cảm xúc khát vọng bản năng, không thể kìm nén này nơi con người nguyên thủy được Carlyle mô tả một cách đẹp đẽ, và có thể nói là bằng trực giác, khi ông thốt lên: Trái tim cổ xưa vĩ đại—sao giống trái tim trẻ thơ trong sự giản dị, giống trái tim người trưởng thành trong vẻ trang nghiêm chân thành và chiều sâu của nó! Trời cao phủ trên y bất cứ nơi nào y đi hay đứng trên đất; biến cả trái đất thành một ngôi đền thần bí đối với y, và mọi công việc của trái đất thành một dạng thờ phượng. Những thoáng hiện của các sinh linh rực sáng lóe lên trong ánh nắng thường ngày; các thiên thần vẫn lượn quanh, thi hành các sứ điệp của Thượng đế giữa loài người…. Sự kỳ diệu, phép mầu, bao quanh con người; y sống trong một nguyên tố của phép mầu. 334… Một định luật vĩ đại về bổn phận, cao như hai cõi vô tận ấy, trời và địa ngục, làm mọi thứ khác trở nên bé nhỏ, tiêu diệt mọi thứ khác—nó đã là một thực tại, và nó vẫn là một thực tại: chỉ có y phục của nó là đã chết; tinh túy của nó sống qua mọi thời đại và suốt cõi vĩnh cửu!

It lives undeniably, and has settled in all its ineradicable strength and power in the Asiatic Âryan heart, from the Third Race direct, through its first Mind-born Sons, the fruits of Kriyâshakti. As time rolled on, the holy caste of Initiates produced, but rarely, from age to age, such perfect creatures; beings apart, inwardly, though the same as those who produced them, outwardly.

Nó sống một cách không thể phủ nhận, và đã an lập trong toàn bộ sức mạnh và quyền năng không thể nhổ bật của nó nơi trái tim Arya Á châu, trực tiếp từ Giống dân thứ ba, qua các Con Được Sinh Ra Từ Trí đầu tiên của giống dân ấy, những hoa trái của Kriyâshakti. Khi thời gian trôi đi, đẳng cấp thánh thiện của các Điểm đạo đồ đã tạo ra, nhưng rất hiếm, từ thời đại này sang thời đại khác, những sinh linh hoàn hảo như thế; những hữu thể tách biệt ở bên trong, dù bên ngoài giống như những người đã sinh ra họ.

In the infancy of the Third primitive Race: A creature of a more exalted kind Was wanting yet, and therefore was designed; Conscious of thought, of more capacious breast, For empire formed and fit to rule the rest.

Trong thời thơ ấu của Giống dân nguyên thủy thứ ba: Một sinh linh thuộc loại cao cả hơn Vẫn còn thiếu, và vì thế đã được định hình; Có ý thức về tư tưởng, với lồng ngực rộng lớn hơn, Được tạo nên cho quyền trị vì và xứng đáng cai quản phần còn lại.

It was called into being, a ready and perfect vehicle for the incarnating denizens of higher spheres, who took forthwith their abodes in these forms, born of Spiritual Will and the natural divine power in man. It was a child of pure spirit, mentally unalloyed with any tincture of earthly element. Its physical frame alone was of time and of life, for it drew its intelligence direct from above. It was the Living Tree of Divine Wisdom; and may therefore be likened to the Mundane Tree of the Norse Legends, which cannot wither and die until the last battle of life shall be fought, while its roots are all the time gnawed by the dragon Nidhogg. For even so, the first and holy Son of Kriyâshakti had his body gnawed by the tooth of time, but the roots of his inner being remained for ever undecaying and strong, because they grew and expanded in heaven, and not on earth. He was the first of the First, and he was the Seed of all the others. There were other Sons of Kriyâshakti produced by a second spiritual effort, but the first one has remained to this day the Seed of Divine Knowledge, the One and the Supreme among the terrestrial “Sons of Wisdom.” Of this subject we can say no more, except to add that in every age—aye, even in our own—there have been great intellects who have understood the problem correctly.

Nó được gọi vào hiện tồn, một vận cụ sẵn sàng và hoàn hảo cho những cư dân lâm phàm của các khối cầu cao hơn, những Đấng lập tức an trú trong các hình tướng này, được sinh ra bởi Ý Chí Tinh Thần và quyền năng thiêng liêng tự nhiên trong con người. Nó là một đứa con của tinh thần thuần khiết, về mặt trí tuệ không pha tạp bất cứ sắc thái nào của nguyên tố trần thế. Chỉ riêng khung thể xác của nó thuộc về thời gian và sự sống, vì nó rút trí tuệ của mình trực tiếp từ trên cao. Nó là Cây Sống của Minh Triết Thiêng Liêng; và do đó có thể được ví với Cây Thế Gian trong các Truyền thuyết Bắc Âu, vốn không thể héo tàn và chết cho đến khi trận chiến cuối cùng của sự sống được giao tranh, trong khi rễ của nó suốt thời gian ấy bị rồng Nidhogg gặm nhấm. Vì cũng như thế, Người Con đầu tiên và thánh thiện của Kriyâshakti có thể xác bị răng của thời gian gặm nhấm, nhưng rễ của hữu thể nội tại của y vẫn mãi không mục nát và mạnh mẽ, bởi chúng lớn lên và mở rộng trên trời, chứ không phải trên đất. Y là người đầu tiên của những Người Đầu Tiên, và y là Hạt Giống của tất cả những người khác. Có những Người Con khác của Kriyâshakti được tạo ra bởi một nỗ lực tinh thần thứ hai, nhưng người đầu tiên ấy vẫn còn cho đến ngày nay là Hạt Giống của Tri Thức Thiêng Liêng, Đấng Duy Nhất và Tối Cao trong số các “Con của Minh Triết” trên địa cầu. Về đề tài này, chúng ta không thể nói thêm gì nữa, ngoại trừ thêm rằng trong mọi thời đại—vâng, ngay cả trong thời đại của chính chúng ta—đã có những trí tuệ vĩ đại thấu hiểu đúng vấn đề này.

But how comes our physical body to the state of perfection it is now found in? Through millions of years of evolution, of course, yet never through, or from, animals, as taught by Materialism. For, as Carlyle says:… The essence of our being, the mystery in us that calls itself “I,”—ah, what words have we for such things?—is a breath of Heaven; the Highest Being reveals himself in man. This body, these faculties, this life of ours, is it not all as a vesture for that Unnamed?

Nhưng làm sao thể xác của chúng ta đạt đến trạng thái hoàn hảo như hiện nay? Dĩ nhiên là qua hàng triệu năm tiến hóa, song không bao giờ qua, hay từ, loài vật, như Chủ nghĩa Duy vật giảng dạy. Vì, như Carlyle nói:… Tinh túy của hữu thể chúng ta, bí nhiệm trong chúng ta tự gọi mình là “Tôi”—ôi, chúng ta có những lời nào cho các điều như thế?—là một hơi thở của Trời; Hữu Thể Tối Cao tự mặc khải trong con người. Thể xác này, các năng lực này, đời sống này của chúng ta, chẳng phải tất cả đều như một lớp y phục cho Đấng Vô Danh ấy sao?

The “breath of Heaven,” or rather the breath of Life, called in the Bible Nephesh, is in every animal, in every animate speck and in every mineral atom. But none of these has, like man, the consciousness of the nature of that “Highest Being,” 335 as none has that divine harmony in its form, which man possesses. It is, as Novalis said, and no one since has said it better, as repeated by Carlyle: There is but one temple in the Universe, and that is the Body of Man. Nothing is holier than that high form…. We touch Heaven when we lay our hand on a human body! This sounds like a mere flourish of rhetoric; but it is not so. If well meditated, it will turn out to be a scientific fact; the expression… of the actual truth of the thing. We are the miracle of miracles—the great inscrutable Mystery…. 336

“Hơi thở của Trời,” hay đúng hơn là hơi thở của Sự Sống, được gọi trong Kinh Thánh là Nephesh, có trong mọi loài vật, trong mọi hạt sống động và trong mọi nguyên tử khoáng vật. Nhưng không một loài nào trong số đó, như con người, có tâm thức về bản chất của “Hữu Thể Tối Cao” ấy, 335 cũng như không loài nào có sự hài hòa thiêng liêng trong hình tướng mà con người sở hữu. Điều ấy, như Novalis đã nói, và từ đó đến nay chưa ai nói hay hơn, được Carlyle lặp lại: Chỉ có một ngôi đền trong Vũ trụ, và đó là Thân Thể của Con Người. Không có gì thánh thiện hơn hình tướng cao cả ấy…. Chúng ta chạm đến Trời khi đặt tay lên một thân thể con người! Điều này nghe như một lối khoa trương tu từ đơn thuần; nhưng không phải vậy. Nếu được tham thiền kỹ, nó sẽ hóa ra là một sự kiện khoa học; là biểu đạt… của chân lý thực sự của sự vật. Chúng ta là phép mầu của mọi phép mầu—Bí Nhiệm vĩ đại không thể dò thấu…. 336

Stanza VII. — Bài kệ VII.

1. Behold the beginning of sentient formless Life (a).

1. Hãy nhìn khởi đầu của Sự Sống hữu cảm vô hình tướng (a).

First, the Divine 337 (b), the One from the Mother-Spirit; 338then, the Spiritual 339 (c);  340the Three from the One (d), the Four from the One (e), and the Five (f), from which the Three, the Five and the Seven (g). These are the Three-fold and the Four-fold downward; the Mind-born Sons of the First Lord, 341 the Shining Seven. 342 It is they who are thou, I, he, O Lanoo; they who watch over thee and thy mother, Bhûmi. 343

Trước hết, Đấng Thiêng Liêng 337 (b), Đấng Duy Nhất từ Mẹ-Tinh Thần; 338rồi đến Đấng Tinh Thần 339 (c); 340Ba từ Một (d), Bốn từ Một (e), và Năm (f), từ đó phát sinh Ba, Năm và Bảy (g). Đây là Tam phân và Tứ phân đi xuống; các Con Được Sinh Ra Từ Trí của Chúa Tể Đầu Tiên, 341 Bảy Đấng Chói Sáng. 342 Chính các Ngài là ngươi, ta, y, hỡi Lanoo; chính các Ngài trông nom ngươi và mẹ ngươi, Bhûmi. 343

(a) The Hierarchy of Creative Powers is divided esoterically into Seven (four and three), within the Twelve great Orders, recorded in the twelve signs of the Zodiac; the Seven of the manifesting scale being connected, moreover, with the Seven Planets. All these are subdivided into numberless Groups of divine spiritual, semi-spiritual, and ethereal Beings.

(a) Thánh đoàn của các Quyền Năng Sáng Tạo được phân chia một cách huyền bí thành Bảy, bốn và ba, trong Mười Hai Đại Đẳng Cấp, được ghi lại trong mười hai dấu hiệu của Hoàng Đạo; hơn nữa, Bảy thuộc thang biểu hiện lại liên hệ với Bảy Hành Tinh. Tất cả các Đấng này lại được chia nhỏ thành vô số Nhóm gồm các Hữu Thể thiêng liêng tinh thần, bán tinh thần và dĩ thái.

The chief Hierarchies among these are hinted at in the great Quaternary, or the “four bodies and the three faculties,” exoterically, of Brahmâ and the Panchâsya, the five Brahmâs, or the five Dhyâni-Buddhas in the Buddhist system.

Các Thánh đoàn chính trong số này được ám chỉ trong Đại Tứ Phân, hay “bốn thể và ba năng lực,” theo ngoại môn, của Brahmâ và Panchâsya, năm Brahmâ, hay năm Dhyâni-Buddha trong hệ thống Phật giáo.

The highest Group is composed of the Divine Flames, so called, also spoken of as the “Fiery Lions” and the “Lions of Life,” whose esotericism is securely hidden in the zodiacal sign of Leo. It is the nucleole of the superior Divine World. They are the Formless Fiery Breaths, identical in one aspect with the upper Sephirothal Triad, which is placed by the Kabalists in the Archetypal World.

Nhóm cao nhất gồm các Ngọn Lửa Thiêng Liêng, được gọi như thế, cũng được nói đến như “Các Sư Tử Lửa” và “Các Sư Tử của Sự Sống,” mà huyền bí học của các Đấng ấy được che giấu an toàn trong dấu hiệu hoàng đạo Sư Tử. Đó là tiểu hạch của Thế Giới Thiêng Liêng cao siêu. Các Ngài là những Hơi Thở Lửa Vô Hình Tướng, đồng nhất theo một phương diện với Tam nguyên Sephiroth thượng đẳng, được các nhà Kabbalah đặt trong Thế Giới Nguyên Mẫu.

The same Hierarchy, with the same numbers, is found in the Japanese system, in the “Beginnings,” as taught by both the Shinto and the Buddhist sects. In this system, Anthropogenesis precedes Cosmogenesis, as the divine merges into the human, and creates—midway in its descent into matter—the visible Universe; the legendary personages, remarks reverentially Omoie, “having to be understood as the stereotyped embodiment of the higher [secret] doctrine, and its sublime truths.” To state this old system at full length would occupy too much of our space; a few words on it, however, cannot be out of place. The following is a short synopsis of this Anthropo-Cosmogenesis, and shows how closely the most separated nations echoed one and the same archaic teaching.

Cũng Thánh đoàn ấy, với cùng những con số ấy, được thấy trong hệ thống Nhật Bản, trong các “Khởi Nguyên,” như được cả Thần đạo và các tông phái Phật giáo truyền dạy. Trong hệ thống này, Nhân sinh luận đi trước Vũ trụ sinh luận, vì cái thiêng liêng hòa nhập vào con người, và sáng tạo—ở điểm giữa trong cuộc hạ giáng của nó vào vật chất—Vũ trụ hữu hình; các nhân vật huyền thoại, Omoie nhận xét một cách kính cẩn, “phải được hiểu như hiện thân cố định của giáo lý cao siêu bí mật, và các chân lý siêu tuyệt của giáo lý ấy.” Trình bày đầy đủ hệ thống cổ xưa này sẽ chiếm quá nhiều chỗ của chúng ta; tuy nhiên, vài lời về nó không thể là không thích hợp. Sau đây là bản tóm lược ngắn về Nhân-Vũ trụ sinh luận này, và cho thấy các dân tộc cách biệt nhất đã vang vọng cùng một giáo huấn cổ sơ sát sao đến mức nào.

When all was as yet Chaos (Kon-ton), three spiritual Beings appeared on the stage of future creation: (1) Ame no ani naka nushi no Kami, “Divine Monarch of the Central Heaven”; (2) Taka mi onosubi no Kami, “Exalted, Imperial Divine Offspring of Heaven and Earth”; and (3) Kamu mi musubi no Kami, “Offspring of the Gods,” simply.

Khi tất cả vẫn còn là Hỗn Mang (Kon-ton), ba Hữu Thể tinh thần xuất hiện trên sân khấu của sự sáng tạo tương lai: (1) Ame no ani naka nushi no Kami, “Đấng Quân Vương Thiêng Liêng của Trung Thiên”; (2) Taka mi onosubi no Kami, “Hậu Duệ Thiêng Liêng Cao Cả, Đế Vương của Trời và Đất”; và (3) Kamu mi musubi no Kami, đơn giản là “Hậu Duệ của các Vị Thần.”

These were without form or substance—our Arûpa Triad—as neither the celestial nor the terrestrial substance had yet differentiated, “nor had the essence of things been formed.”

Các Đấng này không có hình tướng hay chất liệu—Tam nguyên Arûpa của chúng ta—vì cả chất liệu thiên thượng lẫn chất liệu trần thế đều chưa biến phân, “cũng chưa có tinh túy của sự vật được tạo thành.”

(b) In the Zohar—which, as now arranged and reedited by Moses de Leon, with the help of Syrian and Chaldean Christian Gnostics, in the XIIIth century, and corrected and revised still later by many Christian hands, is only a little less exoteric than the Bible itself—this “Divine [Vehicle]” no longer appears as it does in the Chaldean Book of Numbers. True enough, Ain Suph, the Absolute Endless No-thing, uses also the form of the One, the manifested “Heavenly Man” (the First Cause), as its Chariot (Mercabah, in Hebrew; Vâhana, in Sanskrit) or Vehicle, to descend into, and manifest itself in, the phenomenal world. But the Kabalists neither make it plain how the Absolute can use anything, or exercise any attribute whatever, since, as the Absolute, it is devoid of attributes; nor do they explain that in reality it is the First Cause (Plato’s Logos), the original and eternal Idea, that manifests through Adam Kadmon, the Second Logos, so to speak. In the Book of Numbers, it is explained that Ain (En, or Aiôr) is the only self-existent, whereas its “Depth,” the Bythos of the Gnostics, called Propatôr, is only periodical. The latter is Brahmâ, as differentiated from Brahman or Parabrahman. It is the Depth, the Source of Light, or Propatôr, which is the Unmanifested Logos, or the abstract Idea, and not Ain Suph, whose Ray uses Adam Kadmon— “male and female”—or the Manifested Logos, the objective Universe, as a Chariot, through which to manifest. But in the Zohar we read the following incongruity: “Senior occultatus est, et absconditus; Microprosopus manifestus est, et non manifestus.” 344 This is a fallacy, since Microprosopus, or the Microcosm, can only exist during its manifestations, and is destroyed during the Mahâpralayas. Rosenroth’s Kabbala is no guide, but very often a puzzle.

(b) Trong Zohar—mà, như hiện được Moses de Leon sắp xếp và biên tập lại với sự giúp đỡ của các nhà Ngộ đạo Cơ Đốc Syria và Chaldea vào thế kỷ XIII, rồi còn được nhiều bàn tay Cơ Đốc sửa chữa và hiệu đính về sau, chỉ kém ngoại môn hơn chính Kinh Thánh một chút—“[Vận cụ] Thiêng Liêng” này không còn xuất hiện như trong Sách Số của Chaldea. Quả thật, Ain Suph, cái Không-gì Tuyệt Đối Vô Tận, cũng dùng hình tướng của Đấng Duy Nhất, “Đấng Thiên Nhân” biểu hiện, Nguyên Nhân Thứ Nhất, làm Cỗ Xe hay Vận cụ của mình, để giáng xuống và biểu hiện chính mình trong thế giới hiện tượng. Nhưng các nhà Kabbalah không làm rõ làm sao Tuyệt Đối có thể sử dụng bất cứ điều gì, hay thực thi bất cứ thuộc tính nào, bởi vì, với tư cách Tuyệt Đối, nó không có thuộc tính; họ cũng không giải thích rằng trong thực tại chính Nguyên Nhân Thứ Nhất, Logos của Plato, Ý Tưởng nguyên thủy và vĩnh cửu, mới là cái biểu hiện qua Adam Kadmon, có thể nói là Logos thứ hai. Trong Sách Số, điều được giải thích là Ain, En, hay Aiôr, là Đấng duy nhất tự hữu, trong khi “Vực Sâu” của nó, Bythos của các nhà Ngộ đạo, được gọi là Propatôr, chỉ có tính chu kỳ. Cái sau là Brahmâ, được phân biệt với Brahman hay Parabrahman. Chính Vực Sâu, Nguồn Sáng, hay Propatôr, là Logos Không Biểu Hiện, hay Ý Tưởng trừu tượng, chứ không phải Ain Suph; Tia của nó dùng Adam Kadmon—“nam và nữ”—hay Logos Biểu Hiện, Vũ trụ khách quan, làm Cỗ Xe để qua đó biểu hiện. Nhưng trong Zohar, chúng ta đọc thấy điều phi lý sau: “Senior occultatus est, et absconditus; Microprosopus manifestus est, et non manifestus.” 344 Đây là một ngụy luận, vì Microprosopus, hay Tiểu thiên địa, chỉ có thể tồn tại trong các kỳ biểu hiện của nó, và bị tiêu tan trong các Đại giai kỳ qui nguyên. Kabbala của Rosenroth không phải là người hướng dẫn, mà rất thường là một câu đố.

The First Order are the Divine. As in the Japanese system, in the Egyptian, and every old cosmogony—at this divine Flame, the “One,” are lit the Three descending Groups. Having their potential being in the higher Group, they now become distinct and separate Entities. These are called the Virgins of Life, the Great Illusion, etc., etc., and collectively the six-pointed star. The latter, in almost every religion, is the symbol of the Logos as the first emanation. It is the sign of Vishnu in India, the Chakra, or Wheel; and the glyph of the Tetragrammaton, “He of the Four Letters,” in the Kabalah, or metaphorically the “Limbs of Microprosopus,” which are ten and six respectively.

Đẳng cấp Thứ nhất là các Đấng Thiêng Liêng. Như trong hệ thống Nhật Bản, trong hệ thống Ai Cập, và trong mọi vũ trụ sinh luận cổ xưa—từ Ngọn Lửa thiêng liêng này, “Đấng Duy Nhất,” Ba Nhóm hạ giáng được thắp sáng. Có hiện tồn tiềm tàng trong Nhóm cao hơn, nay các Ngài trở thành các Thực Thể riêng biệt và tách rời. Các Ngài được gọi là các Trinh Nữ của Sự Sống, Đại Ảo Tưởng, v.v., v.v., và về mặt tập thể là ngôi sao sáu cánh. Ngôi sao sau này, trong hầu hết mọi tôn giáo, là biểu tượng của Logos như xuất lộ đầu tiên. Đó là dấu hiệu của Vishnu ở Ấn Độ, Chakra, hay Bánh Xe; và là ký tự tượng hình của Tetragrammaton, “Đấng của Bốn Chữ,” trong Kabalah, hay nói ẩn dụ là “Các Chi Thể của Microprosopus,” lần lượt là mười và sáu.

The later Kabalists, however, especially the Christian Mystics, have played sad havoc with this magnificent symbol. Indeed, the Microprosopus—who is, philosophically speaking, quite distinct from the unmanifested eternal Logos, “one with the Father”—has finally been brought, by centuries of incessant efforts of sophistry and of paradoxes, to be considered as one with Jehovah, or the one living God (!), whereas Jehovah is no better than Binah, a female Sephira. This fact cannot be too frequently impressed upon the reader. For the “Ten Limbs” of the Heavenly Man are the ten Sephiroth; but the first Heavenly Man is the unmanifested Spirit of the Universe, and ought never to be degraded into Microprosopus, the Lesser Face or Countenance, the prototype of man on the terrestrial plane. The Microprosopus is, as just said, the Logos manifested, and of such there are many. Of this, however, later on. The six-pointed star refers to the six Forces or Powers of Nature, the six planes, principles, etc., etc., all synthesized by the seventh, or the central point in the star. All these, the upper and lower Hierarchies included, emanate from the Heavenly or Celestial Virgin, the Great Mother in all religions, the Androgyne, the Sephira Adam Kadmon. Sephira is the Crown, Kether, in the abstract principle only, as a mathematical x, the unknown quantity. On the plane of differentiated nature, she is the female counterpart of Adam Kadmon, the first Androgyne. The Kabalah teaches that the words “Fiat Lux” 345 referred to the formation and evolution of the Sephiroth, and not to light as opposed to darkness. Rabbi Simeon says: O companions, companions, man as an emanation was both man and woman, Adam Kadmon verily, and this is the sense of the words, “Let there be Light, and there was Light.” And this is the two-fold man. 346

Tuy nhiên, các nhà Kabbalah về sau, đặc biệt là các nhà thần bí Cơ Đốc, đã tàn phá đáng buồn biểu tượng huy hoàng này. Thật vậy, Microprosopus—về mặt triết học, vốn hoàn toàn khác biệt với Logos vĩnh cửu không biểu hiện, “là một với Cha”—cuối cùng, qua nhiều thế kỷ nỗ lực không ngừng của ngụy biện và nghịch lý, đã bị đưa đến chỗ được xem là một với Jehovah, hay một Thượng đế sống động (!), trong khi Jehovah không hơn gì Binah, một Sephira nữ. Sự kiện này không bao giờ có thể được nhấn mạnh quá thường xuyên với độc giả. Vì “Mười Chi Thể” của Đấng Thiên Nhân là mười Sephiroth; nhưng Đấng Thiên Nhân đầu tiên là Tinh Thần không biểu hiện của Vũ trụ, và không bao giờ nên bị hạ thấp thành Microprosopus, Khuôn Mặt hay Dung Nhan Nhỏ, nguyên mẫu của con người trên cõi trần thế. Microprosopus, như vừa nói, là Logos biểu hiện, và có nhiều Logos như thế. Tuy nhiên, về điều này sẽ nói sau. Ngôi sao sáu cánh chỉ sáu Mãnh lực hay Quyền năng của Thiên nhiên, sáu cõi, nguyên khí, v.v., v.v., tất cả được tổng hợp bởi cái thứ bảy, hay điểm trung tâm trong ngôi sao. Tất cả các điều này, bao gồm các Thánh đoàn thượng đẳng và hạ đẳng, đều xuất lộ từ Trinh Nữ Thiên Thượng hay Celestial, Đại Mẫu trong mọi tôn giáo, Đấng Lưỡng Tính, Sephira Adam Kadmon. Sephira là Vương Miện, Kether, chỉ trong nguyên khí trừu tượng, như một x toán học, đại lượng chưa biết. Trên cõi của thiên nhiên đã biến phân, nàng là đối phần nữ của Adam Kadmon, Đấng Lưỡng Tính đầu tiên. Kabalah dạy rằng các lời “Fiat Lux” 345 chỉ sự hình thành và tiến hóa của các Sephiroth, chứ không phải ánh sáng đối lập với bóng tối. Rabbi Simeon nói: Hỡi các bạn đồng hành, các bạn đồng hành, con người với tư cách một xuất lộ là cả nam lẫn nữ, thật sự là Adam Kadmon, và đây là ý nghĩa của các lời, “Hãy có Ánh Sáng, và Ánh Sáng đã có.” Và đây là con người nhị phân. 346

In its Unity, Primordial Light is the seventh, or highest, principle, Daiviprakriti, the Light of the Unmanifested Logos. But in its differentiation, it becomes Fohat, or the “Seven Sons.” The former is symbolized by the central point in the Double Triangle; the latter by the Hexagon itself, or the “Six Limbs” of Microprosopus, the Seventh being Malkuth, the “Bride” of the Christian Kabalists, or our Earth. Hence the expressions: The first after the One is Divine Fire; the second, Fire and Ether; the third is composed of Fire, Ether and Water; the fourth of Fire, Ether, Water, and Air. The One is not concerned with Man-bearing Globes, but with the inner, invisible Spheres. The First-Born are the Life, the Heart and Pulse of the Universe; the Second are its Mind or Consciousness.

Trong Tính Hợp Nhất của nó, Ánh Sáng Nguyên Thủy là nguyên khí thứ bảy, hay cao nhất, Daiviprakriti, Ánh Sáng của Logos Không Biểu Hiện. Nhưng trong sự biến phân của nó, nó trở thành Fohat, hay “Bảy Người Con.” Cái trước được tượng trưng bởi điểm trung tâm trong Tam Giác Kép; cái sau bởi chính Lục Giác, hay “Sáu Chi Thể” của Microprosopus, cái Thứ Bảy là Malkuth, “Cô Dâu” của các nhà Kabbalah Cơ Đốc, hay Trái Đất của chúng ta. Do đó có các diễn đạt: Cái đầu tiên sau Đấng Duy Nhất là Lửa Thiêng Liêng; cái thứ hai, Lửa và Dĩ Thái; cái thứ ba gồm Lửa, Dĩ Thái và Nước; cái thứ tư gồm Lửa, Dĩ Thái, Nước và Khí. Đấng Duy Nhất không liên quan đến các bầu hành tinh mang con người, mà liên quan đến các Khối cầu nội tại, vô hình. Các Đấng Sinh Đầu Tiên là Sự Sống, Trái Tim và Mạch Đập của Vũ trụ; các Đấng Thứ Hai là Trí Tuệ hay Tâm thức của nó.

These Elements of Fire, Air, etc., are not our compound elements; and this “Consciousness” has no relation to our consciousness. The Consciousness of the “One Manifested,” if not absolute, is still unconditioned. Mahat, the Universal Mind, is the first production of the Brahmâ-Creator, but also of Pradhâna, Undifferentiated Matter.

Các Nguyên tố Lửa, Khí, v.v. này không phải là các nguyên tố hợp thành của chúng ta; và “Tâm thức” này không có liên hệ với tâm thức của chúng ta. Tâm thức của “Đấng Duy Nhất Biểu Hiện,” nếu không tuyệt đối, thì vẫn không bị điều kiện hóa. Mahat, Vũ Trụ Trí, là sản phẩm đầu tiên của Brahmâ-Đấng Sáng Tạo, nhưng cũng là của Pradhâna, Vật Chất Chưa Biến Phân.

(c) The Second Order of Celestial Beings, those of Fire and Ether, corresponding to Spirit and Soul, or Âtmâ-Buddhi, whose names are legion, are still formless, but more definitely “substantial.” They are the first differentiation in the Secondary Evolution or “Creation”—a misleading word. As the name shows, they are the Prototypes of the incarnating Jîvas or Monads, and are composed of the Fiery Spirit of Life. It is through these that passes, like a pure solar beam, the Ray which is furnished by them with its future Vehicle, the Divine Soul, Buddhi. These are directly concerned with the Hosts of the higher World of our System. From these Two-fold Units emanate the “Three-fold.”

(c) Đẳng cấp Thứ hai của các Hữu Thể Thiên Thượng, những Đấng thuộc Lửa và Dĩ Thái, tương ứng với Tinh Thần và Linh Hồn, hay Âtmâ-Buddhi, mà danh xưng nhiều vô số, vẫn còn vô hình tướng, nhưng “có chất liệu” xác định hơn. Các Ngài là sự biến phân đầu tiên trong Cuộc Tiến Hóa hay “Sáng Tạo” Thứ cấp—một từ dễ gây lầm lạc. Như danh xưng cho thấy, các Ngài là những Nguyên Mẫu của các Jîva hay Chân thần lâm phàm, và được cấu thành bởi Tinh Thần Lửa của Sự Sống. Chính qua các Ngài mà Tia đi qua, như một tia mặt trời tinh khiết, được các Ngài cung cấp cho Vận cụ tương lai của nó, Linh Hồn Thiêng Liêng, Buddhi. Các Ngài liên hệ trực tiếp với các Đạo Binh thuộc Thế Giới cao hơn của Hệ thống chúng ta. Từ các Đơn Vị Nhị Phân này xuất lộ “Tam Phân.”

In the cosmogony of Japan, when, out of the chaotic mass, an egg-like nucleus appears, having within itself the germ and potency of all universal as well as of all terrestrial life, it is the Three-fold just named, which differentiate. The male ethereal principle (Yo) ascends, and the female grosser or more material principle (In) is precipitated into the universe of substance, when a separation occurs between the celestial and the terrestrial. From this, the female, the Mother, the first rudimentary objective being is born. It is ethereal, without form or sex, and yet it is from it and the Mother that the Seven Divine Spirits are born, from whom will emanate the seven “creations”; just as in the Codex Nazaræus from Karabtanos and the Mother Spiritus the seven “evilly disposed” (material) spirits are born. It would be too long to give here the Japanese names, but in translation they stand in this order: (1.) The “Invisible Celibate,” which is the Creative Logos of the non-creating “Father,” or the creative potentiality of the latter made manifest.

Trong vũ trụ sinh luận Nhật Bản, khi từ khối hỗn mang xuất hiện một nhân giống như trứng, mang trong chính nó mầm và tiềm năng của mọi sự sống phổ quát cũng như mọi sự sống trần thế, thì chính Tam Phân vừa nêu là những Đấng biến phân. Nguyên khí dĩ thái nam, Yo, thăng lên, và nguyên khí nữ thô nặng hơn hay vật chất hơn, In, bị ngưng tụ vào vũ trụ của chất liệu, khi xảy ra một sự phân ly giữa thiên thượng và trần thế. Từ nguyên khí nữ này, Mẹ, hữu thể khách quan sơ khai đầu tiên được sinh ra. Nó là dĩ thái, không có hình tướng hay giới tính, nhưng chính từ nó và Mẹ mà Bảy Tinh Thần Thiêng Liêng được sinh ra, từ các Ngài sẽ xuất lộ bảy “cuộc sáng tạo”; cũng như trong Codex Nazaræus, từ Karabtanos và Mẹ Spiritus, bảy tinh thần “có khuynh hướng tà ác,” tức vật chất, được sinh ra. Sẽ quá dài nếu đưa ra ở đây các tên Nhật Bản, nhưng trong bản dịch chúng đứng theo thứ tự này: (1.) “Đấng Độc Thân Vô Hình,” là Logos Sáng Tạo của “Cha” không sáng tạo, hay tiềm năng sáng tạo của Đấng sau được biểu hiện.

(2.) The “Spirit [or God] of the rayless Depths [Chaos],” which becomes differentiated matter, or the world-stuff; also the mineral realm.

(2.) “Tinh Thần [hay Thượng đế] của các Vực Sâu không tia sáng [Hỗn Mang],” trở thành vật chất biến phân, hay chất-liệu-thế-giới; cũng là giới kim thạch.

(3.) The “Spirit of the Vegetable Kingdom,” of the “Abundant Vegetation.”

(3.) “Tinh Thần của Giới Thực Vật,” của “Thảm Thực Vật Phong Phú.”

(4.) The “Spirit of the Earth” and “the Spirit of the Sands”; a Being of dual nature, the former containing the potentiality of the male element, the latter that of the female element. These two were one, as yet unconscious of being two.

(4.) “Tinh Linh Địa Cầu” và “Tinh Thần của Cát”; một Hữu Thể có bản chất kép, cái trước chứa tiềm năng của nguyên tố nam, cái sau chứa tiềm năng của nguyên tố nữ. Hai cái này là một, khi ấy vẫn chưa có ý thức rằng mình là hai.

In this duality were contained (a) Isu no gai no Kami, the male, dark and muscular Being; and (b) Eku gai no Kami, the female, fair and weaker or more delicate Being. Then: (5 and 6.) The Spirits who were androgynous or dual-sexed.

Trong nhị nguyên này chứa đựng (a) Isu no gai no Kami, Hữu Thể nam, tối màu và vạm vỡ; và (b) Eku gai no Kami, Hữu Thể nữ, sáng màu và yếu hơn hay thanh tú hơn. Rồi: (5 và 6.) Các Tinh Thần vốn lưỡng tính hay song giới.

(7.) The Seventh Spirit, the last emanated from the “Mother,” appears as the first divine human form distinctly male and female. It was the seventh “creation,” as in the Purânas, wherein man is the seventh creation of Brahmâ.

(7.) Tinh Thần Thứ Bảy, Đấng cuối cùng xuất lộ từ “Mẹ,” xuất hiện như hình tướng con người thiêng liêng đầu tiên, phân biệt rõ là nam và nữ. Đó là “cuộc sáng tạo” thứ bảy, như trong các Purâna, nơi con người là cuộc sáng tạo thứ bảy của Brahmâ.

These, Tsanagi-Tsanami, descended into the Universe by the Celestial Bridge, the Milky Way, and “Tsanagi, perceiving far below a chaotic mass of cloud and water, thrust his jewelled spear into the depths, and dry land appeared. Then the two separated to explore Onokoro, the newly-created island-world.” (Omoie.) Such are the Japanese exoteric fables, the rind that conceals the kernel of the same one truth of the Secret Doctrine.

Các Đấng này, Tsanagi-Tsanami, giáng xuống Vũ trụ bằng Cầu Thiên Thượng, Ngân Hà, và “Tsanagi, thấy rất xa bên dưới một khối hỗn mang gồm mây và nước, đã cắm ngọn giáo nạm ngọc của mình vào các vực sâu, và đất khô hiện ra. Rồi hai Đấng tách nhau để thăm dò Onokoro, thế giới-hòn đảo mới được tạo dựng.” (Omoie.) Đó là các huyền thoại ngoại môn Nhật Bản, lớp vỏ che giấu phần nhân của cùng một chân lý duy nhất của Giáo Lý Bí Nhiệm.

(d) The Third Order correspond to Âtmâ-Buddhi-Manas, Spirit, Soul and Intellect; and are called the “Triads.”

(d) Đẳng cấp Thứ ba tương ứng với Âtmâ-Buddhi-Manas, Tinh Thần, Linh Hồn và Trí Năng; và được gọi là “Các Tam nguyên.”

(e) The Fourth Order are substantial Entities. This is the highest Group among the Rûpas (Atomic Forms). It is the nursery of the human, conscious, spiritual Souls. They are called the “Imperishable Jîvas,” and constitute, through the Order below their own, the first Group of the first Septenary Host—the great mystery of human, conscious and intellectual Being. For the latter is the field wherein lies concealed, in its privation, the Germ that will fall into generation. That Germ will become the spiritual potency in the physical cell, that guides the development of the embryo, and that is the cause of the hereditary transmission of faculties, and all the inherent qualities in man. The Darwinian theory, however, of the transmission of acquired faculties is neither taught nor accepted in Occultism. Evolution, in the latter, proceeds on quite other lines; the physical, according to Esoteric teaching, evolving gradually from the spiritual, mental, and psychic. This inner soul of the physical cell—the “spiritual plasm” that dominates the germinal plasm—is the key that must open one day the gates of the terra incognita of the Biologist, now called the dark mystery of Embryology. It is worthy of notice that Modern Chemistry, while rejecting, as a superstition of Occultism and Religion as well, the theory of substantial and invisible Beings, called Angels, Elementals, etc. —without, of course, having ever looked into the philosophy of these incorporeal Entities, or thought over them—should, owing to observation and discovery, have been unconsciously forced to recognize and adopt the same ratio of progression and order, in the evolution of chemical atoms, as Occultism does for both its Dhyânis and Atoms—analogy being its first law. As seen above, the very first Group of the Rûpa Angels is quaternary, an element being added to each in descending order. So also are the atoms, in the phraseology of Chemistry, monatomic, diatomic, triatomic, tetratomic, etc., progressing downwards.

(e) Đẳng cấp Thứ tư là các Thực Thể có chất liệu. Đây là Nhóm cao nhất trong số các Rûpa, tức các Hình Tướng Nguyên Tử. Đó là vườn ươm của các Linh Hồn con người, có ý thức, tinh thần. Các Ngài được gọi là “Các Jîva Bất Diệt,” và qua Đẳng cấp bên dưới chính mình, cấu thành Nhóm đầu tiên của Đạo Binh Thất Phân thứ nhất—bí nhiệm vĩ đại của Hữu Thể con người, có ý thức và trí năng. Vì Đẳng cấp sau là cánh đồng, nơi ẩn giấu, trong sự thiếu vắng của nó, Mầm sẽ rơi vào sinh sản. Mầm ấy sẽ trở thành tiềm năng tinh thần trong tế bào hồng trần, tiềm năng hướng dẫn sự phát triển của phôi thai, và là nguyên nhân của sự truyền thừa các năng lực theo di truyền, cùng mọi phẩm tính cố hữu trong con người. Tuy nhiên, thuyết Darwin về sự truyền thừa các năng lực đã thủ đắc không được Huyền bí học truyền dạy hay chấp nhận. Trong Huyền bí học, tiến hóa diễn ra theo những đường lối hoàn toàn khác; theo giáo huấn huyền bí, cái hồng trần tiến hóa dần dần từ cái tinh thần, trí tuệ và thông linh. Linh hồn nội tại này của tế bào hồng trần—“chất nguyên sinh tinh thần” thống trị chất nguyên sinh mầm—là chìa khóa một ngày kia phải mở các cánh cổng của vùng đất chưa biết của Nhà sinh học, nay được gọi là bí nhiệm tối tăm của Phôi thai học. Điều đáng chú ý là Hóa học Hiện đại, trong khi bác bỏ như một mê tín của Huyền bí học cũng như của Tôn giáo thuyết về các Hữu Thể có chất liệu và vô hình, được gọi là Thiên thần, các Hành khí, v.v.—dĩ nhiên là dù chưa từng khảo sát triết học về các Thực Thể vô thể này, hay suy nghĩ về các Ngài—lại do quan sát và khám phá mà vô thức bị buộc phải nhận ra và chấp nhận cùng một tỉ lệ tiến triển và trật tự trong sự tiến hóa của các nguyên tử hóa học, như Huyền bí học áp dụng cho cả các Dhyâni và các Nguyên tử của mình—vì tương đồng là định luật đầu tiên của nó. Như đã thấy ở trên, chính Nhóm đầu tiên của các Thiên thần Rûpa là tứ phân, một nguyên tố được thêm vào mỗi nhóm theo trật tự hạ giáng. Các nguyên tử cũng vậy, theo thuật ngữ của Hóa học, là đơn nguyên tử, lưỡng nguyên tử, tam nguyên tử, tứ nguyên tử, v.v., tiến dần xuống dưới.

Let it be remembered that the Fire, Water, and Air of Occultism, or the “Elements of Primary Creation” so-called, are not the compound elements they are on earth, but noumenal homogeneous Elements—the Spirits of the former. Then follow the Septenary Groups or Hosts. Placed on parallel lines with the atoms in a diagram, the natures of these Beings would be seen to correspond, in their downward scale of progression, to composite elements in a mathematically identical manner as to analogy. This refers, of course, only to diagrams made by Occultists; for were the scale of Angelic Beings to be placed on parallel lines with the scale of the chemical atoms of Science—from the hypothetical Helium down to Uranium—they would of course be found to differ. For the latter have, as correspondents on the Astral Plane, only the four lowest orders—the three higher principles in the atom, or rather molecule, or chemical element, being perceptible to the initiated Dangma’s eye alone. But then, if Chemistry desired to find itself on the right path, it would have to correct its tabular arrangement by that of the Occultists—which it might refuse to do. In Esoteric Philosophy, every physical particle corresponds to, and depends on, its higher noumenon—the Being to whose essence it belongs; and, above as below, the Spiritual evolves from the Divine, the Psycho-mental from the Spiritual—tainted from its lower plane by the Astral—the whole animate and (seemingly) inanimate Nature evolving on parallel lines, and drawing its attributes from above as well as below.

Cần nhớ rằng Lửa, Nước và Khí của Huyền bí học, hay cái được gọi là “Các Nguyên tố của Sáng tạo Nguyên thủy”, không phải là những nguyên tố hợp thành như chúng hiện hữu trên Trái Đất, mà là các Nguyên tố đồng nhất thuộc bản thể luận—các Tinh thần của những nguyên tố trước kia. Rồi tiếp theo là các Nhóm hay Đạo quân Thất phân. Nếu đặt song song với các nguyên tử trong một sơ đồ, bản chất của các Hữu Thể này sẽ được thấy là tương ứng, trong thang tiến trình đi xuống của các Ngài, với các nguyên tố hợp thành theo một cách hoàn toàn đồng nhất về mặt toán học xét theo tương đồng. Dĩ nhiên, điều này chỉ nói đến các sơ đồ do các nhà huyền bí học lập ra; vì nếu thang các Hữu Thể Thiên Thần được đặt trên những đường song song với thang các nguyên tử hóa học của Khoa học—từ Helium giả thuyết xuống đến Uranium—thì dĩ nhiên người ta sẽ thấy chúng khác nhau. Vì những nguyên tử sau này, trên cõi cảm dục, chỉ có các tương ứng là bốn cấp thấp nhất—ba nguyên khí cao hơn trong nguyên tử, hay đúng hơn trong phân tử, hoặc nguyên tố hóa học, chỉ có con mắt của Dangma được điểm đạo mới nhận thức được. Nhưng khi ấy, nếu Hóa học muốn thấy mình đi trên chánh đạo, nó sẽ phải sửa lại cách sắp xếp bảng biểu của mình theo cách của các nhà huyền bí học—điều mà nó có thể từ chối làm. Trong Triết học Nội môn, mỗi hạt hồng trần đều tương ứng với, và tùy thuộc vào, bản thể luận cao hơn của nó—Hữu Thể mà hạt ấy thuộc về tinh chất của Ngài; và, trên sao, dưới vậy, cái Tinh thần tiến hóa từ cái Thiêng liêng, cái Thông linh-trí tuệ từ cái Tinh thần—bị nhuốm màu từ cõi thấp của nó bởi cõi cảm dục—toàn bộ Thiên nhiên hữu sinh và dường như vô sinh đều tiến hóa trên những đường song song, và rút lấy các thuộc tính của mình từ bên trên cũng như bên dưới.

The number seven, as applied to the term Septenary Host, above mentioned, does not imply only seven Entities, but seven Groups or Hosts, as explained before. The highest Group, the Asuras born in Brahmâ’s first body, which turned into “Night,” are septenary, i.e., divided like the Pitris into seven Classes, three of which are bodiless (arûpa) and four with bodies. 347 They are in fact more truly our Pitris (Ancestors) than the Pitris who projected the first physical man.

Con số bảy, khi áp dụng cho thuật ngữ Đạo quân Thất phân đã nói ở trên, không chỉ hàm ý bảy Thực Thể, mà là bảy Nhóm hay Đạo quân, như đã giải thích trước đây. Nhóm cao nhất, các Asura sinh ra trong thể thứ nhất của Brahma, vốn chuyển thành “Đêm”, là thất phân, nghĩa là được chia, giống như các Pitris, thành bảy Giai cấp, trong đó ba giai cấp vô thể và bốn giai cấp có thể. 347 Thật ra, các Ngài chính là Pitris, tức Tổ tiên, của chúng ta một cách chân thực hơn cả những Pitris đã phóng chiếu con người hồng trần đầu tiên.

(f) The Fifth Order is a very mysterious one, as it is connected with the microcosmic pentagon, the five-pointed star, representing man. In India and Egypt, these Dhyânis were connected with the Crocodile, and their abode is in Capricornus. But these are convertible terms in Indian Astrology, for the tenth sign of the Zodiac, which is called Makara, is loosely translated “Crocodile.” The word itself is occultly interpreted in various ways, as will be shown further on. In Egypt, the Defunct—whose symbol is the pentagram, or the five-pointed star, the points of which represent the limbs of a man—was shown emblematically transformed into a crocodile. Sebekh, or Sevekh (or “Seventh”), as Mr. Gerald Massey says, showing it to be the type of intelligence, is a dragon in reality, not a crocodile. He is the “Dragon of Wisdom,” or Manas, the Human Soul, Mind, the Intelligent Principle, called in our Esoteric Philosophy the Fifth Principle.

(f) Cấp thứ Năm là một cấp rất huyền nhiệm, vì nó liên hệ với ngũ giác tiểu thiên địa, ngôi sao năm cánh, tượng trưng cho con người. Ở Ấn Độ và Ai Cập, các Dhyani này được liên hệ với Cá sấu, và nơi cư ngụ của các Ngài là Ma Kết. Nhưng trong Chiêm tinh học Ấn Độ, đây là những thuật ngữ có thể hoán đổi, vì dấu hiệu thứ mười của Hoàng đạo, được gọi là Makara, thường được dịch lỏng là “Cá sấu”. Chính từ này được giải thích một cách huyền bí theo nhiều cách khác nhau, như sẽ được trình bày về sau. Ở Ai Cập, Người quá vãng—biểu tượng của y là ngôi sao năm cánh, hay ngũ giác tinh, các đầu nhọn của nó tượng trưng cho các chi thể của con người—được trình bày bằng biểu tượng như đã chuyển hóa thành một con cá sấu. Sebekh, hay Sevekh, hoặc “Thứ Bảy”, như ông Gerald Massey nói, khi cho thấy nó là kiểu mẫu của trí tuệ, thực ra là một con rồng, chứ không phải cá sấu. Y là “Rồng Minh Triết”, hay Manas, Linh hồn Nhân loại, Trí Tuệ, Nguyên khí Thông tuệ, trong Triết học Nội môn của chúng ta được gọi là Nguyên khí Thứ Năm.

Says the defunct “Osirified,” in the Book of the Dead, or Ritual, under the glyph of a mummiform God with a crocodile’s head: I am the crocodile presiding at the fear, I am the God-crocodile, at the arrival of his Soul among men. I am the God-crocodile brought for destruction.

Người quá vãng đã “Osiris hóa” nói trong Sách của Người Chết, hay Nghi thức, dưới hình tượng một Vị Thượng đế có dạng xác ướp với đầu cá sấu: Ta là cá sấu chủ trì nơi nỗi sợ, Ta là Thượng đế-cá sấu, lúc Linh hồn của y đến giữa loài người. Ta là Thượng đế-cá sấu được đem đến để hủy diệt.

An allusion to the destruction of divine spiritual purity when man acquires the knowledge of good and evil; also to the “fallen” Gods, or Angels of every theogony.

Đây là một ám chỉ đến sự hủy diệt của tính tinh khiết tinh thần thiêng liêng khi con người đạt được tri thức về thiện và ác; cũng như đến các Thượng đế hay Thiên Thần “sa ngã” trong mọi thần phả.

I am the fish of the great Horus. [As Makara is the “Crocodile,” the Vehicle of Varuna.] I am merged in Sekhem. 348

Ta là cá của Horus vĩ đại. [Vì Makara là “Cá sấu”, Vận cụ của Varuna.] Ta hòa nhập vào Sekhem. 348

This last sentence gives the corroboration, and repeats the doctrine of esoteric “Buddhism,” for it alludes directly to the Fifth Principle (Manas), or the most spiritual part of its essence rather, which merges into, is absorbed by, and made one with Âtmâ-Buddhi, after the death of man. For Sekhem is the residence, or Loka, of the God Khem (Horus-Osiris, or Father and Son); hence the Devachan of Âtmâ-Buddhi. In the Book of the Dead, the Defunct is shown entering into Sekhem, with Horus-Thot, and “emerging from it as pure spirit.” Thus the Defunct says: I see the forms of [myself, as various] men transforming eternally…. I know this [chapter]. He who knows it… takes all kinds of living forms. 349

Câu cuối này đưa ra sự xác chứng, và lặp lại giáo lý của “Phật giáo” nội môn, vì nó trực tiếp ám chỉ đến Nguyên khí Thứ Năm, tức Manas, hay đúng hơn là phần tinh thần nhất trong tinh chất của nó, vốn hòa nhập vào, được hấp thu bởi, và trở nên một với Atma-Bồ đề, sau cái chết của con người. Vì Sekhem là nơi cư ngụ, hay Loka, của Thượng đế Khem, tức Horus-Osiris, hay Cha và Con; do đó là Devachan của Atma-Bồ đề. Trong Sách của Người Chết, Người quá vãng được trình bày đang đi vào Sekhem, cùng với Horus-Thot, và “từ đó xuất hiện như tinh thần thuần khiết”. Vì vậy Người quá vãng nói: Ta thấy các hình tướng của [chính ta, như nhiều] người đang chuyển hóa vĩnh viễn…. Ta biết [chương] này. Ai biết nó… thì mang lấy mọi loại hình tướng sống. 349

And addressing in magic formula that which is called, in Egyptian Esotericism, the “ancestral heart,” or the reincarnating principle, the permanent Ego, the Defunct says: O my heart, my ancestral heart, necessary for my transformations,… do not separate thyself from me before the guardian of the scales. Thou art my personality within my breast, divine companion watching over my fleshes [bodies]. 350

Và khi hướng lời trong công thức huyền thuật đến cái được gọi, trong Huyền bí học Ai Cập, là “trái tim tổ tiên”, hay nguyên khí tái sinh, Chân ngã trường tồn, Người quá vãng nói: Hỡi trái tim của ta, trái tim tổ tiên của ta, cần thiết cho những chuyển hóa của ta,… đừng tách khỏi ta trước vị giữ cân. Ngươi là phàm ngã của ta trong lồng ngực ta, bạn đồng hành thiêng liêng trông nom các xác thịt của ta [các thể]. 350

It is in Sekhem that lies concealed the “Mysterious Face,” or the real Man concealed under the false personality, the triple-crocodile of Egypt, the symbol of the higher Trinity, or human Triad, Âtmâ, Buddhi and Manas.

Chính trong Sekhem có ẩn giấu “Gương Mặt Huyền Nhiệm”, hay Con Người chân thực được che kín dưới phàm ngã giả tạo, cá sấu tam phân của Ai Cập, biểu tượng của Ba Ngôi cao hơn, hay Tam nguyên tinh thần của con người: Atma, Bồ đề và Manas.

One of the explanations of the real though hidden meaning of this Egyptian religious glyph is easy. The crocodile is the first to await and meet the devouring fires of the morning sun, and very soon came to personify the solar heat. When the sun arose, it was like the arrival on earth, and among men, of the “divine soul which informs the Gods.” Hence the strange symbolism. The mummy donned the head of a crocodile to show that it was a Soul arriving from the earth.

Một trong những lời giải thích về ý nghĩa chân thực dù ẩn giấu của hình tượng tôn giáo Ai Cập này khá dễ hiểu. Cá sấu là con vật đầu tiên chờ đợi và đón nhận những ngọn lửa thiêu đốt của mặt trời buổi sáng, và rất sớm đã trở thành hiện thân của sức nóng mặt trời. Khi mặt trời mọc, đó như là sự đến trên Trái Đất, và giữa loài người, của “linh hồn thiêng liêng thấm nhuần các Thượng đế”. Do đó có biểu tượng kỳ lạ ấy. Xác ướp đội đầu cá sấu để cho thấy đó là một Linh hồn đang đến từ Trái Đất.

In all the ancient papyri, the crocodile is called Sebekh (Seventh); water also symbolizes the fifth principle esoterically; and, as already stated, Mr. Gerald Massey shows that the crocodile was the “seventh Soul, the supreme one of seven—the Seer unseen.” Even exoterically Sekhem is the residence of the God Khem, and Khem is Horus avenging the death of his father Osiris, hence punishing the sins of man, when he becomes a disembodied Soul. Thus the defunct Osirified became the God Khem, who “gleans the field of Aanroo”; that is, he gleans either his reward or punishment, for that field is the celestial locality (Devachan), where the Defunct is given wheat, the food of divine justice. The Fifth Group of Celestial Beings is supposed to contain in itself the dual attributes of both the spiritual and physical aspects of the Universe; the two poles, so to say, of Mahat, the Universal Intelligence, and the dual nature of man, the spiritual and the physical. Hence its number Five, doubled and made into Ten, connecting it with Makara, the tenth sign of the Zodiac.

Trong tất cả các giấy cói cổ, cá sấu được gọi là Sebekh, tức Thứ Bảy; nước cũng tượng trưng một cách nội môn cho nguyên khí thứ năm; và, như đã nói, ông Gerald Massey cho thấy cá sấu là “Linh hồn thứ bảy, linh hồn tối thượng trong bảy linh hồn—Nhà thông nhãn vô hình”. Ngay cả theo nghĩa ngoại môn, Sekhem là nơi cư ngụ của Thượng đế Khem, và Khem là Horus báo thù cho cái chết của cha mình là Osiris, do đó trừng phạt tội lỗi của con người khi y trở thành một Linh hồn không còn thể xác. Như vậy, người quá vãng đã Osiris hóa trở thành Thượng đế Khem, Đấng “mót lúa trên cánh đồng Aanroo”; nghĩa là y thu hoạch phần thưởng hoặc hình phạt của mình, vì cánh đồng ấy là miền thiên giới, tức Devachan, nơi Người quá vãng được ban lúa mì, thức ăn của công lý thiêng liêng. Nhóm thứ Năm của các Hữu Thể Thiên giới được cho là chứa đựng trong chính mình những thuộc tính kép của cả hai phương diện tinh thần và hồng trần của Vũ trụ; có thể nói là hai cực của Mahat, Trí Tuệ Vũ Trụ, và của bản chất kép nơi con người, tinh thần và hồng trần. Do đó con số của nó là Năm, được nhân đôi và thành Mười, liên hệ nó với Makara, dấu hiệu thứ mười của Hoàng đạo.

(g) The Sixth and Seventh Orders partake of the lower qualities of the Quaternary. They are conscious ethereal Entities, as invisible as Ether, which are shot out, like the boughs of a tree, from the first central Group of the Four, and shoot out in their turn numberless side Groups, the lower of which are the Nature-Spirits, or Elementals, of countless kinds and varieties; from the formless and unsubstantial—the ideal Thoughts of their creators—down to atomic, though, to human perception, invisible organisms. The latter are considered as the “spirits of atoms,” for they are the first remove (backwards) from the physical atom—sentient, if not intelligent creatures. They are all subject to Karma, and have to work it out through every cycle. For, as the Doctrine teaches, there are no such privileged Beings in the Universe, whether in our own or in other Systems, in the outer or the inner Worlds, 351 as the Angels of the Western Religion and the Judean. A Dhyân Chohan has to become one; he cannot be born or appear suddenly on the plane of life as a full-blown Angel. The Celestial Hierarchy of the present Manvantara will find itself transferred, in the next Circle of Life, into higher superior Worlds, and will make room for a new Hierarchy, composed of the elect ones of our mankind. Being is an endless cycle within the One Absolute Eternity, wherein move numberless inner cycles finite and conditioned. Gods, created as such, would evince no personal merit in being Gods. Such a class of Beings—perfect only by virtue of the special immaculate nature inherent in them—in the face of suffering and struggling humanity, and even of the lower creation, would be the symbol of an eternal injustice quite Satanic in character, an ever present crime. It is an anomaly and an impossibility in Nature. Therefore the “Four” and the “Three” have to incarnate as all other beings have. This Sixth Group, moreover, remains almost inseparable from man, who draws from it all but his highest and lowest principles, or his spirit and body; the five middle human principles being the very essence of those Dhyânis. Paracelsus calls them the Flagæ; the Christians, the Guardian Angels; the Occultists, the Ancestors, the Pitris. They are the Six-fold Dhyân Chohans, having the six spiritual Elements in the composition of their bodies—in fact, men, minus the physical body.

(g) Các Cấp thứ Sáu và thứ Bảy dự phần vào các phẩm tính thấp hơn của Bộ Bốn. Các Ngài là những Thực Thể dĩ thái hữu thức, vô hình như dĩ thái, được phóng ra, như các cành của một cây, từ Nhóm trung tâm đầu tiên của Bộ Bốn, và đến lượt mình phóng ra vô số Nhóm phụ, trong đó các nhóm thấp hơn là các Tinh linh tự nhiên, hay các hành khí, thuộc vô vàn loại và biến thể; từ những thứ vô hình tướng và phi vật chất—các Tư tưởng lý tưởng của những đấng sáng tạo ra chúng—xuống đến những sinh thể nguyên tử, dù đối với nhận thức của con người là vô hình. Những sinh thể sau này được xem là “các tinh thần của nguyên tử”, vì chúng là bước lùi đầu tiên khỏi nguyên tử hồng trần—những tạo vật có cảm thức, dù chưa hẳn thông tuệ. Tất cả đều chịu sự chi phối của nghiệp quả, và phải giải quyết nghiệp quả ấy qua mỗi chu kỳ. Vì, như Giáo lý dạy, không có những Hữu Thể đặc quyền như thế trong Vũ trụ, dù trong Hệ của chúng ta hay trong các Hệ khác, trong các Thế giới bên ngoài hay bên trong, 351 như các Thiên Thần của Tôn giáo Tây phương và Do Thái giáo. Một Dhyani Chohan phải trở thành một vị như thế; Ngài không thể được sinh ra hay đột nhiên xuất hiện trên cõi sự sống như một Thiên Thần đã hoàn toàn nở rộ. Thánh đoàn Thiên giới của Giai kỳ sinh hóa hiện tại sẽ thấy mình được chuyển dịch, trong Vòng Sự Sống kế tiếp, vào các Thế giới cao hơn và ưu việt hơn, và sẽ nhường chỗ cho một Thánh đoàn mới, gồm những người được tuyển chọn của nhân loại chúng ta. Bản Thể là một chu kỳ vô tận bên trong Sự Vĩnh Cửu Tuyệt Đối Duy Nhất, trong đó vận hành vô số chu kỳ nội tại hữu hạn và bị điều kiện hóa. Nếu các Thượng đế được tạo ra như những Thượng đế, thì việc là Thượng đế không biểu lộ công trạng cá nhân nào. Một lớp Hữu Thể như thế—hoàn hảo chỉ nhờ bản chất đặc biệt vô nhiễm vốn sẵn có trong các Ngài—trước nhân loại đang đau khổ và đấu tranh, và ngay cả trước tạo vật thấp hơn, sẽ là biểu tượng của một bất công vĩnh cửu mang tính chất hoàn toàn tà ác, một tội ác luôn hiện diện. Đó là một điều dị thường và bất khả trong Thiên nhiên. Vì vậy “Bốn” và “Ba” phải nhập thể như mọi sinh linh khác. Hơn nữa, Nhóm thứ Sáu này vẫn gần như không thể tách rời khỏi con người, là kẻ rút lấy từ nhóm ấy tất cả trừ các nguyên khí cao nhất và thấp nhất của y, tức tinh thần và thể xác của y; năm nguyên khí giữa của con người chính là tinh chất của các Dhyani ấy. Paracelsus gọi các Ngài là Flagae; người Cơ Đốc gọi là các Thiên Thần Hộ Mệnh; các nhà huyền bí học gọi là Tổ tiên, các Pitris. Các Ngài là các Dhyani Chohan lục phân, có sáu Nguyên tố tinh thần trong cấu tạo các thể của mình—thật ra là những con người, trừ thể xác.

Alone, the Divine Ray, the Âtman, proceeds directly from the One. When asked how this can be? How is it possible to conceive that these “Gods,” or Angels, can be at the same time their own emanations and their personal selves? Is it in the same sense as in the material world, where the son is, in one way, his father, being his blood, the bone of his bone and the flesh of his flesh? To this the Teachers answer: Verily it is so. But one has to go deep into the mystery of Being, before one can fully comprehend this truth.

Chỉ có Tia Thiêng liêng, Atman, mới trực tiếp phát xuất từ Đấng Duy Nhất. Khi được hỏi: Điều này có thể như thế nào? Làm sao có thể quan niệm rằng các “Thượng đế”, hay Thiên Thần ấy, đồng thời lại là những xuất lộ của chính mình và là những bản ngã cá nhân của mình? Có phải theo cùng một nghĩa như trong thế giới vật chất, nơi người con, theo một cách nào đó, là cha mình, vì là máu của cha, xương của xương cha và thịt của thịt cha? Đối với điều này, các Huấn sư đáp: Quả thật là như vậy. Nhưng người ta phải đi sâu vào huyền nhiệm của Bản Thể trước khi có thể thấu hiểu trọn vẹn chân lý này.

2. The One Ray multiplies the smaller Rays. Life precedes Form, and Life survives the last Atom. 352 Through the countless Rays the Life-Ray, the One, Like a Thread through many Beads. 353

2. Tia Duy Nhất nhân bội thành các Tia nhỏ hơn. Sự Sống đi trước Hình Tướng, và Sự Sống tồn tại sau Nguyên tử cuối cùng. 352 Xuyên qua vô số Tia, Tia-Sự Sống, Đấng Duy Nhất, như một Sợi dây xuyên qua nhiều Hạt. 353

This shloka expresses the conception—a purely Vedântic one, as already explained elsewhere—of a Life-Thread, Sûtrâtmâ, running through successive generations. How, then, can this be explained? By resorting to a simile, to a familiar illustration, though necessarily imperfect, as all our available analogies must be. Before resorting to it, however, I would ask, whether it seems unnatural, least of all “supernatural,” to any one of us, when we consider the process of the growth and development of a fœtus into a healthy baby weighing several pounds? Evolving from what? From the segmentation of an infinitesimally small ovum and a spermatozoön! And afterwards we see the baby develop into a six-foot man! This refers to the atomic and physical expansion, from the microscopically small into something exceedingly large; from the unseen, to the naked eye, into the visible and objective. Science has provided for all this; and, I dare say, her theories, embryological, biological and physiological, are correct enough, so far as exact observation of the material goes. Nevertheless, the two chief difficulties of the science of Embryology—namely, what are the forces at work in the formation of the fœtus, and the cause of “hereditary transmission” of likeness, physical, moral or mental—have never been properly answered; nor will they ever be solved, till the day when Scientists condescend to accept the Occult theories. But if this physical phenomenon astonishes no one, except in so far as it puzzles the Embryologists, why should our intellectual and inner growth, the evolution of the Human-Spiritual to the Divine-Spiritual, be regarded as, or seem, more impossible than the other?

Bài kệ này diễn đạt quan niệm—một quan niệm thuần túy Vedanta, như đã giải thích ở nơi khác—về một Sợi dây Sự Sống, Sutratma, chạy xuyên qua các thế hệ kế tiếp. Vậy điều này có thể được giải thích ra sao? Bằng cách dùng một ví dụ so sánh, một minh họa quen thuộc, dù tất yếu là bất toàn, như mọi tương đồng mà chúng ta có thể dùng đều phải như vậy. Tuy nhiên, trước khi dùng đến ví dụ ấy, Tôi muốn hỏi: có điều gì xem ra là không tự nhiên, càng không phải là “siêu nhiên”, đối với bất kỳ ai trong chúng ta, khi chúng ta xét tiến trình tăng trưởng và phát triển của một bào thai thành một em bé khỏe mạnh nặng nhiều cân? Tiến hóa từ cái gì? Từ sự phân đoạn của một noãn bào cực kỳ nhỏ và một tinh trùng! Và sau đó chúng ta thấy đứa bé phát triển thành một người cao sáu bộ! Điều này nói đến sự mở rộng nguyên tử và hồng trần, từ cái nhỏ bé dưới kính hiển vi thành một cái gì đó cực kỳ lớn; từ cái không thể thấy bằng mắt thường thành cái hữu hình và khách quan. Khoa học đã cung cấp lời giải cho tất cả điều này; và Tôi dám nói rằng các lý thuyết của nó, về phôi học, sinh học và sinh lý học, là khá đúng đắn, trong chừng mực quan sát chính xác về vật chất cho phép. Tuy nhiên, hai khó khăn chính của khoa Phôi học—tức là, những mãnh lực nào đang hoạt động trong việc hình thành bào thai, và nguyên nhân của sự “truyền thừa di truyền” về sự giống nhau, hồng trần, đạo đức hay trí tuệ—chưa bao giờ được trả lời đúng đắn; và chúng cũng sẽ không bao giờ được giải quyết, cho đến ngày các nhà Khoa học hạ mình chấp nhận các lý thuyết Huyền bí. Nhưng nếu hiện tượng hồng trần này không làm ai kinh ngạc, ngoại trừ trong chừng mực nó làm các nhà Phôi học bối rối, thì tại sao sự tăng trưởng trí tuệ và nội tâm của chúng ta, sự tiến hóa của Nhân loại-Tinh thần lên Thiêng liêng-Tinh thần, lại bị xem là, hoặc có vẻ, bất khả hơn điều kia?

The Materialists and the Evolutionists of the Darwinian school would be ill-advised to accept the newly worked-out theories of Professor Weissmann, the author of Beitrage zur Descendenzlehre, with regard to one of the two mysteries of Embryology, as above specified, which he seems to think he has solved; for, when it is fully solved, Science will have stepped into the domain of the truly Occult, and passed for ever out of the realm of transformation, as taught by Darwin. The two theories are irreconcilable, from the standpoint of Materialism. Regarded from that of the Occultists, however, the new theory solves all these mysteries. Those who are not acquainted with the discovery of Professor Weissmann—at one time a fervent Darwinist—ought to hasten to repair the deficiency. The German embryologist-philosopher—stepping over the heads of the Greek Hippocrates and Aristotle, right back into the teachings of the old Âryans—shows one infinitesimal cell, out of millions of others at work in the formation of an organism, alone and unaided determining, by means of constant segmentation and multiplication, the correct image of the future man, or animal, in its physical, mental and psychic characteristics. It is this cell which impresses on the face and form of the new individual the features of the parents, or of some distant ancestor; it is this cell, again, which transmits to him the intellectual and mental idiosyncracies of his sires, and so on. This Plasm is the immortal portion of our bodies, developing by means of a process of successive assimilations. Darwin’s theory, viewing the embryological cell as the essence or extract from all other cells, is set aside; it is incapable of accounting for hereditary transmission. There are but two ways of explaining the mystery of heredity: either the substance of the germinal cell is endowed with the faculty of crossing the whole cycle of transformations that lead to the construction of a separate organism, and then to the reproduction of identical germinal cells; or, these germinal cells do not have their genesis at all in the body of the individual, but proceed directly from the ancestral germinal cell passed from father to son through long generations. It is the latter hypothesis that Weissmann has adopted and worked upon, and it is to this cell that he traces the immortal portion of man. So far, so good; and when this almost correct theory is accepted, how will Biologists explain the first appearance of this everlasting cell? Unless man “grew” like the immortal “Topsy,” and was not born at all, but fell from the clouds, how was that embryological cell generated in him?

Những người Duy vật và các nhà Tiến hóa thuộc trường phái Darwin sẽ là thiếu khôn ngoan nếu chấp nhận các lý thuyết mới được xây dựng của Giáo sư Weissmann, tác giả của Beitrage zur Descendenzlehre, liên quan đến một trong hai huyền nhiệm của Phôi học như đã nêu trên, mà ông dường như nghĩ rằng mình đã giải quyết được; vì khi nó được giải quyết hoàn toàn, Khoa học sẽ bước vào lãnh vực của cái thật sự Huyền bí, và mãi mãi đi ra khỏi cõi của sự chuyển đổi như Darwin đã dạy. Hai lý thuyết này không thể dung hòa được, theo quan điểm của Chủ nghĩa Duy vật. Tuy nhiên, nếu nhìn từ quan điểm của các nhà huyền bí học, lý thuyết mới giải quyết tất cả các huyền nhiệm ấy. Những ai chưa quen biết với khám phá của Giáo sư Weissmann—một thời là người Darwin nhiệt thành—nên vội vàng sửa chữa thiếu sót ấy. Nhà phôi học-triết gia người Đức—bước qua đầu Hippocrates và Aristotle của Hy Lạp, trở thẳng về các giáo huấn của người Arya cổ—cho thấy một tế bào cực kỳ nhỏ, trong số hàng triệu tế bào khác đang làm việc trong việc hình thành một cơ thể, một mình và không cần trợ giúp, nhờ sự phân đoạn và nhân bội không ngừng, quyết định hình ảnh đúng đắn của con người hay con vật tương lai, trong các đặc điểm hồng trần, trí tuệ và thông linh của nó. Chính tế bào này in lên khuôn mặt và hình tướng của cá nhân mới những nét của cha mẹ, hoặc của một tổ tiên xa xưa nào đó; cũng chính tế bào này truyền cho y những đặc tính riêng về trí năng và trí tuệ của tổ tiên y, vân vân. Chất nguyên sinh này là phần bất tử của các thể chúng ta, phát triển nhờ một tiến trình đồng hóa kế tiếp. Lý thuyết của Darwin, xem tế bào phôi học là tinh chất hay phần chiết xuất từ tất cả các tế bào khác, bị gạt sang một bên; nó không thể giải thích sự truyền thừa di truyền. Chỉ có hai cách giải thích huyền nhiệm của di truyền: hoặc chất liệu của tế bào mầm được phú cho khả năng đi qua toàn bộ chu kỳ chuyển hóa dẫn đến việc kiến tạo một cơ thể riêng biệt, rồi đến việc tái tạo các tế bào mầm đồng nhất; hoặc các tế bào mầm này hoàn toàn không có nguồn gốc trong thể của cá nhân, mà phát xuất trực tiếp từ tế bào mầm tổ tiên được truyền từ cha sang con qua nhiều thế hệ dài. Chính giả thuyết sau mà Weissmann đã chấp nhận và khai triển, và chính về tế bào này ông truy nguyên phần bất tử của con người. Cho đến đây thì rất tốt; và khi lý thuyết gần như đúng này được chấp nhận, các nhà Sinh học sẽ giải thích sự xuất hiện đầu tiên của tế bào vĩnh cửu ấy như thế nào? Trừ phi con người “mọc lên” như “Topsy” bất tử, và hoàn toàn không được sinh ra, mà rơi xuống từ mây, thì tế bào phôi học ấy đã được sinh thành trong y bằng cách nào?

Complete the Physical Plasm, mentioned above, the “Germinal Cell” of man with all its material potentialities, with the “Spiritual Plasm,” so to say, or the fluid that contains the five lower principles of the Six-principled Dhyâni—and you have the secret, if you are spiritual enough to understand it.

Hãy bổ sung cho Chất nguyên sinh Hồng trần đã nói ở trên, “Tế bào Mầm” của con người với tất cả các tiềm năng vật chất của nó, bằng “Chất nguyên sinh Tinh thần”, có thể nói như vậy, hay lưu chất chứa năm nguyên khí thấp của Dhyani lục nguyên—và bạn có được bí mật, nếu bạn đủ tinh thần để thấu hiểu nó.

Now to the promised simile.

Bây giờ đến ví dụ so sánh đã hứa.

When the seed of the animal man is cast into the soil of the animal woman, that seed cannot germinate unless it has been fructified by the five virtues [the fluid of, or the emanation from, the principles] of the Six-fold Heavenly Man. Wherefore the Microcosm is represented as a Pentagon, within the Hexagon Star, the Macrocosm. 354

Khi hạt giống của người thú được gieo vào mảnh đất của người nữ động vật, hạt giống ấy không thể nảy mầm trừ phi nó đã được thụ tinh bởi năm đức tính [lưu chất của, hay xuất lộ từ, các nguyên khí] của Đấng Thiên Nhân lục phân. Vì vậy Tiểu thiên địa được biểu thị như một Ngũ giác, bên trong Ngôi sao Lục giác, tức Đại thiên địa. 354

The functions of Jiva on this Earth are of a five-fold character. In the mineral atom, it is connected with the lowest principles of the Spirits of the Earth (the Six-fold Dhyânis); in the vegetable particle, with their second—the Prâna (Life); in the animal, with all these plus the third and the fourth; in man, the germ must receive the fruitage of all the five. Otherwise he will be born no higher than an animal. 355

Các chức năng của Jiva trên Trái Đất này có tính chất ngũ phân. Trong nguyên tử khoáng vật, nó liên hệ với các nguyên khí thấp nhất của các Tinh thần Địa cầu, tức các Dhyani lục phân; trong hạt thực vật, với nguyên khí thứ hai của các Ngài—Prana, tức Sự Sống; trong con vật, với tất cả những điều này cộng thêm nguyên khí thứ ba và thứ tư; trong con người, mầm phải nhận lấy thành quả của cả năm. Nếu không, y sẽ được sinh ra không cao hơn một con vật. 355

Thus in man alone the Jîva is complete. As to his seventh principle, it is but one of the Beams of the Universal Sun, for each rational creature receives the temporary loan only of that which has to return to its source. As to his physical body, it is shaped by the lowest terrestrial Lives, through physical, chemical and physiological evolution; “the Blessed Ones have nought to do with the purgations of matter,” says the Kabalah in the Chaldean Book of Numbers.

Như vậy, chỉ trong con người Jiva mới hoàn chỉnh. Còn về nguyên khí thứ bảy của y, nó chỉ là một trong các Tia của Mặt Trời Vũ Trụ, vì mỗi tạo vật có lý trí chỉ nhận một khoản vay tạm thời từ cái phải trở về nguồn cội của nó. Còn về thể xác của y, nó được tạo hình bởi các Sự Sống địa cầu thấp nhất, qua tiến hóa hồng trần, hóa học và sinh lý học; “Các Đấng Chân Phúc không liên can gì đến những sự thanh lọc của vật chất”, Kabalah nói như vậy trong Sách Số của người Chaldea.

It comes to this: Mankind, in its first prototypal, shadowy form, is the offspring of the Elohim of Life, or Pitris; in its qualitative and physical aspect, it is the direct progeny of the “Ancestors,” the lowest Dhyânis, or Spirits of the Earth; for its moral, psychic and spiritual nature, it is indebted to a Group of divine Beings, the name and characteristics of which will be given in Volume II. Collectively, men are the handiwork of Hosts of various Spirits; distributively, the tabernacles of those Hosts; and occasionally and individually, the vehicles of some of them. In our present all-material Fifth Race, the earthly Spirit of the Fourth is still strong in us; but we are approaching the time when the pendulum of evolution will direct its swing decidedly upwards, bringing Humanity back on a parallel line with the primitive Third Root-Race in spirituality. During its childhood, mankind was wholly composed of that Angelic Host, who were the indwelling Spirits that animated the monstrous and gigantic tabernacles of clay of the Fourth Race, built by and composed of countless myriads of Lives, as our bodies are also now. This sentence will be explained later on in the present Commentary. Science, dimly perceiving the truth, may find bacteria and other infinitesimals in the human body, and see in them only occasional and abnormal visitors, to which diseases are attributed. Occultism—which discerns a Life in every atom and molecule, whether in a mineral or human body, in air, fire or water—affirms that our whole body is built of such Lives; the smallest bacterium under the microscope being to them in comparative size like an elephant to the tiniest infusoria.

Điều này đi đến kết luận sau: Nhân loại, trong hình tướng nguyên mẫu đầu tiên, mờ bóng của nó, là hậu duệ của các Elohim của Sự Sống, hay Pitris; trong phương diện phẩm tính và hồng trần của nó, nó là dòng dõi trực tiếp của “Tổ tiên”, các Dhyani thấp nhất, hay các Tinh thần Địa cầu; về bản chất đạo đức, thông linh và tinh thần của nó, nó mắc nợ một Nhóm các Hữu Thể thiêng liêng, tên gọi và đặc điểm của các Ngài sẽ được đưa ra trong Quyển II. Xét tập thể, con người là tác phẩm của các Đạo quân gồm nhiều Tinh thần khác nhau; xét phân phối, là các đền tạm của những Đạo quân ấy; và thỉnh thoảng, xét cá nhân, là các vận cụ của một số trong các Ngài. Trong Giống dân thứ Năm hiện nay của chúng ta, hoàn toàn vật chất, Tinh thần địa cầu của Giống thứ Tư vẫn còn mạnh mẽ trong chúng ta; nhưng chúng ta đang tiến gần đến thời điểm khi quả lắc tiến hóa sẽ hướng chuyển động của nó một cách rõ rệt lên trên, đưa Nhân loại trở lại trên một đường song song với Giống dân gốc thứ Ba nguyên thủy về mặt tinh thần. Trong thời thơ ấu của mình, nhân loại hoàn toàn được cấu thành bởi Đạo quân Thiên Thần ấy, các Ngài là những Tinh thần nội tại đã làm linh hoạt các đền tạm bằng đất sét khổng lồ và quái dị của Giống dân thứ Tư, được xây dựng bởi và cấu thành từ vô số hằng hà sa số Sự Sống, cũng như các thể của chúng ta hiện nay. Câu này sẽ được giải thích về sau trong chính Bình giảng này. Khoa học, lờ mờ nhận ra chân lý, có thể tìm thấy vi khuẩn và những sinh vật cực vi khác trong cơ thể con người, và chỉ thấy trong chúng những vị khách ngẫu nhiên và bất thường, mà bệnh tật được quy cho chúng. Huyền bí học—vốn phân biện một Sự Sống trong mỗi nguyên tử và phân tử, dù trong một thể khoáng vật hay thể con người, trong khí, lửa hay nước—khẳng định rằng toàn bộ thể của chúng ta được xây dựng bằng những Sự Sống như thế; vi khuẩn nhỏ nhất dưới kính hiển vi, xét theo kích thước tương đối đối với chúng, giống như một con voi so với loài trùng cỏ nhỏ bé nhất.

The “tabernacles” mentioned above have improved in texture and symmetry of form, growing and developing with the Globe that bears them; but the physical improvement has taken place at the expense of the spiritual Inner Man and of Nature. The three middle principles, in earth and man, became with every Race more material; the Soul stepping back to make room for the Physical Intellect; the essence of the Elements becoming the material and composite elements now known.

Các “đền tạm” nói trên đã được cải thiện về kết cấu và sự cân đối của hình tướng, tăng trưởng và phát triển cùng với bầu hành tinh đang mang chúng; nhưng sự cải thiện hồng trần đã diễn ra với cái giá phải trả là Con Người Bên Trong tinh thần và Thiên nhiên. Ba nguyên khí giữa, trong Trái Đất và con người, trở nên vật chất hơn với mỗi Giống dân; Linh hồn lùi lại để nhường chỗ cho Trí năng Hồng trần; tinh chất của các Nguyên tố trở thành những nguyên tố vật chất và hợp thành hiện nay được biết đến.

Man is not, nor could he ever be, the complete product of the “Lord God”; but he is the child of the Elohim, so arbitrarily changed into the singular number and masculine gender. The first Dhyânis, commissioned to “create” man in their image, could only throw off their Shadows, as a delicate model for the Nature Spirits of matter to work upon. Man is, beyond any doubt, formed physically out of the dust of the Earth, but his creators and fashioners were many. Nor can it be said that the “Lord God breathed into his nostrils the Breath of Life,” unless that God is identified with the “One Life,” omnipresent though invisible, and unless the same operation is attributed to “God” on behalf of every “Living Soul,” which is the Vital Soul (Nephesh), and not the Divine Spirit (Ruach) which ensures to man alone a divine degree of immortality, that no animal, as such, could ever attain in this cycle of incarnation. It is owing to the inadequate distinctions made by the Jews, and now by our Western metaphysicians, who are unable to understand, and hence to accept, more than a triune man—Spirit, Soul, Body—that the “Breath of Life” has been confused with the immortal “Spirit.” This applies also directly to the Protestant theologians, who in translating a certain verse in the Fourth Gospel 356 have entirely perverted its meaning. This mistranslation runs, “the wind bloweth where it listeth,” instead of “the spirit goeth where it willeth,” as in the original, and also in the translation of the Greek Eastern Church.

Con người không phải, và cũng không bao giờ có thể là, sản phẩm hoàn chỉnh của “Chúa Thượng đế”; nhưng y con của các Elohim, vốn đã bị đổi một cách tùy tiện sang số ít và giống đực. Các Dhyani đầu tiên, được giao nhiệm vụ “tạo ra” con người theo hình ảnh của các Ngài, chỉ có thể phóng xuất các Bóng của mình, như một mẫu hình tinh tế để các Tinh linh tự nhiên của vật chất làm việc trên đó. Không còn nghi ngờ gì nữa, con người được tạo thành về mặt hồng trần từ bụi đất của Trái Đất, nhưng các đấng sáng tạo và tạo hình y thì nhiều. Cũng không thể nói rằng “Chúa Thượng đế thổi vào lỗ mũi y Hơi Thở của Sự Sống”, trừ phi Thượng đế ấy được đồng nhất với “Sự Sống Duy Nhất”, hiện diện khắp nơi dù vô hình, và trừ phi cùng một hoạt động ấy được quy cho “Thượng đế” thay mặt cho mọi “Linh hồn Sống”, vốn là Linh hồn Sinh lực, chứ không phải Tinh thần Thiêng liêng vốn bảo đảm riêng cho con người một mức độ bất tử thiêng liêng mà không loài vật nào, với tư cách là loài vật, có thể đạt được trong chu kỳ nhập thể này. Chính vì những phân biệt bất đầy đủ do người Do Thái đưa ra, và nay bởi các nhà siêu hình học Tây phương của chúng ta, những người không thể thấu hiểu, và do đó không thể chấp nhận, nhiều hơn một con người tam phân—Tinh thần, Linh hồn, Thể xác—mà “Hơi Thở của Sự Sống” đã bị lẫn lộn với “Tinh thần” bất tử. Điều này cũng áp dụng trực tiếp cho các nhà thần học Tin Lành, những người khi dịch một câu nào đó trong Phúc Âm thứ Tư 356 đã hoàn toàn làm sai lạc ý nghĩa của nó. Bản dịch sai này viết: “gió thổi nơi nó muốn”, thay vì “tinh thần đi nơi nó muốn”, như trong nguyên bản, và cũng như trong bản dịch của Giáo hội Đông phương Hy Lạp.

The learned and very philosophical author of New Aspects of Life would impress upon his reader that the Nephesh Chiah (Living Soul), according to the Hebrews:

Tác giả uyên bác và rất triết học của Những Phương Diện Mới của Sự Sống muốn gây ấn tượng nơi độc giả rằng Nephesh Chiah, tức Linh hồn Sống, theo người Hebrew:

Proceeded from, or was produced by, the infusion of the Spirit or Breath of Life into the quickening body of man, and was to supersede and take the place of that Spirit in the thus constituted Self, so that the Spirit passed into, was lost sight of, and disappeared in the Living Soul.

Phát xuất từ, hay được tạo ra bởi, sự truyền Tinh thần hay Hơi Thở của Sự Sống vào thể đang được làm cho sống động của con người, và phải thay thế cũng như chiếm chỗ của Tinh thần ấy trong Bản Ngã được cấu thành như thế, đến nỗi Tinh thần đi vào, bị khuất lấp và biến mất trong Linh hồn Sống.

The human body, he thinks, ought to be viewed as a matrix in which, and from which, the Soul, which he seems to place higher than the Spirit, is developed. Considered functionally and from the standpoint of activity, the Soul stands undeniably higher, in this finite and conditioned world of Mâyâ. The Soul, he says, “is ultimately produced from the animated body of man.” Thus the author identifies “Spirit” (Âtmâ) with the “Breath of Life” simply. The Eastern Occultists will demur to this statement, for it is based on the erroneous conception that Prâna and Âtmâ, or Jîvâtmâ, are one and the same thing. The author supports the argument, by showing that with the ancient Hebrews, Greeks, and even Latins, Ruach, Pneuma and Spiritus meant Wind—with the Jews undeniably, and with the Greeks and Romans very probably; the Greek word Anemos (Wind) and the Latin Animus (Soul) having a suspicious relation.

Ông cho rằng thể con người nên được xem như một ma trận, trong đó và từ đó Linh hồn, mà dường như ông đặt cao hơn Tinh thần, được phát triển. Xét theo chức năng và từ quan điểm hoạt động, Linh hồn không thể phủ nhận là đứng cao hơn trong thế giới hữu hạn và bị điều kiện hóa này của ảo lực. Ông nói Linh hồn “cuối cùng được tạo ra từ thể đã được làm linh hoạt của con người”. Như vậy tác giả đồng nhất “Tinh thần”, tức Atma, chỉ đơn giản với “Hơi Thở của Sự Sống”. Các nhà huyền bí học Đông phương sẽ phản đối phát biểu này, vì nó dựa trên quan niệm sai lầm rằng Prana và Atma, hay Jivatma, là một và cùng một điều. Tác giả củng cố lập luận bằng cách cho thấy rằng đối với người Hebrew, Hy Lạp và ngay cả La Mã cổ, Ruach, Pneuma và Spiritus đều có nghĩa là Gió—điều này không thể phủ nhận đối với người Do Thái, và rất có thể đúng đối với người Hy Lạp và La Mã; từ Hy Lạp Anemos, nghĩa là Gió, và từ La Tinh Animus, nghĩa là Linh hồn, có một mối liên hệ đáng ngờ.

This is very far fetched. But a legitimate battle-field for deciding this question is hardly to be found, since Dr. Pratt seems to be a practical, matter-of-fact metaphysician, a kind of Kabalist-Positivist, whereas the Eastern metaphysicians, especially the Vedântins, are all Idealists. The Occultists also are of the extreme Esoteric Vedântin school, and though they call the One Life (Parabrahman) the Great Breath and the Whirlwind, they disconnect the seventh principle entirely from matter, and deny that it has any relation to, or connection with it.

Điều này quá khiên cưỡng. Nhưng khó có thể tìm thấy một chiến trường hợp pháp để quyết định vấn đề này, vì Tiến sĩ Pratt dường như là một nhà siêu hình học thực tiễn, thực tế, một kiểu Kabalist-Thực chứng luận, trong khi các nhà siêu hình học Đông phương, đặc biệt là các Vedantin, đều là những người Duy tâm. Các nhà huyền bí học cũng thuộc trường phái Vedanta Nội môn cực đoan, và mặc dù họ gọi Sự Sống Duy Nhất, Parabrahman, là Hơi Thở Vĩ Đại và Cơn Lốc, họ hoàn toàn tách nguyên khí thứ bảy khỏi vật chất, và phủ nhận rằng nó có bất kỳ quan hệ hay liên hệ nào với vật chất.

Thus the philosophy of man’s psychic, spiritual and mental relations with his physical functions is in almost inextricable confusion. Neither the old Âryan nor the Egyptian psychology is now properly understood; nor can they be assimilated, without accepting the Esoteric septenary, or, at any rate, the Vedântic quinquepartite division of the human inner principles. Failing which, it will be for ever impossible to understand the metaphysical and purely psychic, and even physiological, relations between the Dhyân Chohans, or Angels, on the one plane, and Humanity on the other. No Eastern (Âryan) Esoteric works are so far published, but we possess the Egyptian papyri, which speak clearly of the seven principles, or the “Seven Souls of Man.” The Book of the Dead gives a complete list of the “transformations” that every Defunct undergoes, while divesting himself, one by one, of all these principles—materialized for the sake of clearness into ethereal entities or bodies. We must, moreover, remind those who try to show that the Ancient Egyptians did not teach Reincarnation, that the “Soul” (the Ego or Self) of the Defunct is said to be living in Eternity: it is immortal, “coeval with, and disappearing with, the Solar Boat,” that is, for the Cycle of Necessity. This “Soul” emerges from the Tiaou, the Realm of the Cause of Life, and joins the living on Earth by day, to return to Tiaou every night. This expresses the periodical existences of the Ego. 357

Như vậy, triết học về các quan hệ thông linh, tinh thần và trí tuệ của con người với các chức năng hồng trần của y nằm trong một sự hỗn loạn gần như không thể tháo gỡ. Tâm lý học Arya cổ cũng như Ai Cập cổ nay đều không được thấu hiểu đúng đắn; cũng không thể đồng hóa chúng nếu không chấp nhận hệ thất phân Nội môn, hoặc ít nhất là sự phân chia ngũ phân của Vedanta về các nguyên khí bên trong của con người. Nếu thiếu điều này, sẽ mãi mãi không thể thấu hiểu các quan hệ siêu hình và thuần túy thông linh, và ngay cả sinh lý, giữa các Dhyani Chohan, hay Thiên Thần, trên một cõi, và Nhân loại trên cõi kia. Cho đến nay chưa có tác phẩm Nội môn Đông phương, tức Arya, nào được xuất bản, nhưng chúng ta có các giấy cói Ai Cập, vốn nói rõ về bảy nguyên khí, hay “Bảy Linh hồn của Con Người”. Sách của Người Chết đưa ra một danh sách đầy đủ các “chuyển hóa” mà mỗi Người quá vãng trải qua, khi tự tách bỏ, từng cái một, tất cả các nguyên khí này—được vật chất hóa, vì mục đích làm rõ, thành các thực thể hay thể dĩ thái. Hơn nữa, chúng ta phải nhắc nhở những ai cố chứng minh rằng người Ai Cập Cổ không dạy Tái sinh, rằng “Linh hồn”, tức Chân ngã hay Bản ngã, của Người quá vãng được nói là sống trong Vĩnh cửu: nó bất tử, “đồng thời với, và biến mất cùng với, Thuyền Mặt Trời”, nghĩa là trong Chu kỳ Tất yếu. “Linh hồn” này đi ra từ Tiaou, Cõi của Nguyên nhân Sự Sống, và nhập vào những người sống trên Trái Đất vào ban ngày, để trở về Tiaou mỗi đêm. Điều này diễn đạt các hiện hữu chu kỳ của Chân ngã. 357

The Shadow, the Astral Form, is annihilated, “devoured by the Uræus,” 358 the Manes will be annihilated; the two Twins (the Fourth and Fifth Principles) will be scattered; but the Soul-Bird, “the Divine Swallow, and the Uræus of Flame” (Manas and Âtmâ-Buddhi) will live in the eternity, for they are their mother’s husbands.

Cái Bóng, Hình Tướng Cảm dục, bị tiêu diệt, “bị Uraeus nuốt chửng”, 358 các Manes sẽ bị tiêu diệt; hai Song sinh, tức Nguyên khí Thứ Tư và Thứ Năm, sẽ bị phân tán; nhưng Chim-Linh hồn, “Én Thiêng liêng, và Uraeus Lửa”, tức Manas và Atma-Bồ đề, sẽ sống trong vĩnh cửu, vì chúng là những người chồng của mẹ mình.

Another suggestive analogy between the Âryan, or Brâhmanical, and the Egyptian Esotericism. The former call the Pitris the “Lunar Ancestors” of men, and the Egyptians make of the Moon-God, Taht-Esmun, the first human ancestor.

Một tương đồng gợi ý khác giữa Huyền bí học Arya, hay Bà-la-môn, và Huyền bí học Ai Cập. Trường phái trước gọi các Pitris là “Tổ tiên Mặt Trăng” của con người, và người Ai Cập biến Thần Mặt Trăng, Taht-Esmun, thành tổ tiên đầu tiên của nhân loại.

This Moon-God “expressed the Seven nature-powers that were prior to himself, and were summed up in him as his seven souls, of which he was the manifestor as the Eighth One. [Hence the eighth sphere.]… The seven rays of the Chaldean… Heptakis or Iao, on the Gnostic stones, indicate the same septenary of souls…. The first form of the mystical Seven was seen to be figured in heaven, by the seven large stars of the Great Bear, the constellation assigned by the Egyptians to the Mother of Time, and of the seven Elemental Powers.” 359

Thần Mặt Trăng này “biểu lộ Bảy quyền năng thiên nhiên có trước chính mình, và được tổng hợp trong ngài như bảy linh hồn của ngài, mà ngài là đấng biểu hiện với tư cách Đấng Thứ Tám. [Do đó có khối cầu thứ tám.]… Bảy tia của Heptakis hay Iao của người Chaldea, trên các đá Gnostic, chỉ cùng một hệ thất phân các linh hồn…. Hình thức đầu tiên của Bảy huyền nhiệm được thấy là được biểu hình trên trời, bằng bảy ngôi sao lớn của Đại Hùng Tinh, chòm sao được người Ai Cập gán cho Mẹ của Thời Gian, và của bảy Quyền năng Hành khí.” 359

As well known to every Hindû, this same constellation represents in India the Seven Rishis, and is called Riksha, and Chitrashikandinas.

Như mọi người Hindu đều biết rõ, chính chòm sao này ở Ấn Độ tượng trưng cho Bảy Rishi, và được gọi là Riksha, và Chitrashikandinas.

Like alone produces like. The Earth gives Man his body, the Gods (Dhyânis) give him his five inner principles, the psychic Shadow, of which these Gods are often the animating principle. Spirit (Âtman) is one, and indiscrete. It is not in the Tiaou.

Chỉ cái giống nhau mới sinh ra cái giống nhau. Trái Đất ban cho Con người thể xác của y, các Thượng đế, tức các Dhyani, ban cho y năm nguyên khí bên trong, cái Bóng thông linh, mà các Thượng đế này thường là nguyên khí làm linh hoạt. Tinh thần, Atman, là một và không phân chia. Nó không ở trong Tiaou.

For what is the Tiaou? The frequent allusion to it in the Book of the Dead contains a mystery. Tiaou is the path of the Night-Sun, the inferior hemisphere, or the infernal region of the Egyptians, placed by them on the concealed side of the Moon. The human being, in their Esotericism, came out from the Moon—a triple mystery, astronomical, physiological and psychical, at once; he crossed the whole cycle of existence, and then returned to his birth-place, before issuing from it again. Thus the Defunct is shown arriving in the West, receiving his judgment before Osiris, resurrecting as the God Horus, and circling round the sidereal heavens, which is an allegorical assimilation to Ra, the Sun; then having crossed the Noot, the Celestial Abyss, returning once more to Tiaou; an assimilation to Osiris, who, as the God of life and reproduction, inhabits the Moon. Plutarch 360 shows the Egyptians celebrating a festival called “The Ingress of Osiris into the Moon.” In the Ritual, 361 life is promised after death; and the renovation of life is placed under the patronage of Osiris-Lunus, because the Moon was the symbol of life-renewals or reincarnations, owing to its growth, waning, dying, and reappearance every month. In the Dankmoe, 362 it is said: “O Osiris-Lunus, that renews to thee thy renewal.” And Sabekh says to Seti I: 363 “Thou renewest thyself as the God Lunus, when a babe.” It is still better explained in a Louvre papyrus: 364 “Couplings and conceptions abound when he [Osiris-Lunus] is seen in heaven on that day.” Says Osiris: “O sole radiant beam of the Moon! I issue from the circulating multitudes [of stars]…. Open me the Tiaou, for Osiris N. I will issue by day to do what I have to do amongst the living” 365—i.e., to produce conceptions.

Vậy Tiaou là gì? Sự ám chỉ thường xuyên đến nó trong Tử Thư chứa đựng một bí nhiệm. Tiaou là con đường của Mặt Trời Ban Đêm, bán cầu thấp, hay vùng địa ngục của người Ai Cập, được họ đặt ở mặt khuất của Mặt Trăng. Trong huyền bí học của họ, con người xuất phát từ Mặt Trăng — một bí nhiệm tam phân, vừa thiên văn, vừa sinh lý, vừa thông linh; y đi qua toàn bộ chu kỳ hiện hữu, rồi trở về nơi sinh của mình, trước khi lại xuất phát từ đó một lần nữa. Vì thế, người quá cố được trình bày như đang đến phương Tây, nhận sự phán xét trước Osiris, phục sinh như Thần Horus, và xoay vòng quanh các tầng trời tinh tú, vốn là một sự đồng hóa biểu tượng với Ra, Mặt Trời; rồi sau khi vượt qua Noot, Vực Thẳm Thiên Giới, lại trở về Tiaou; một sự đồng hóa với Osiris, Đấng, với tư cách là Thần của sự sống và sinh sản, cư ngụ trong Mặt Trăng. Plutarch 360 cho thấy người Ai Cập cử hành một lễ hội gọi là “Sự Nhập của Osiris vào Mặt Trăng.” Trong Nghi lễ, 361 sự sống được hứa hẹn sau cái chết; và sự đổi mới của sự sống được đặt dưới sự bảo trợ của Osiris-Lunus, bởi Mặt Trăng là biểu tượng của những lần đổi mới sự sống hay những lần tái sinh, do sự lớn lên, suy tàn, chết đi và tái hiện mỗi tháng của nó. Trong Dankmoe, 362 có nói: “Ôi Osiris-Lunus, Đấng đổi mới cho ngươi sự đổi mới của ngươi.” Và Sabekh nói với Seti Đệ Nhất: 363 “Ngươi tự đổi mới như Thần Lunus, khi còn là hài nhi.” Điều này còn được giải thích rõ hơn trong một bản giấy cói ở Louvre: 364 “Những cuộc giao hợp và thụ thai trở nên dồi dào khi Ngài [Osiris-Lunus] được thấy trên trời vào ngày ấy.” Osiris nói: “Ôi tia sáng rực rỡ duy nhất của Mặt Trăng! Ta xuất phát từ những đoàn thể lưu chuyển [của các vì sao]…. Hãy mở Tiaou cho ta, cho Osiris N. Ta sẽ xuất hiện ban ngày để làm điều ta phải làm giữa những người sống” 365—nghĩa là, để tạo ra những cuộc thụ thai.

Osiris was “God manifest in generation,” because the ancients knew, far better than the moderns, the real occult influences of the lunar body upon the mysteries of conception. In the oldest systems we find the Moon always male. Thus Soma, with the Hindûs, is a kind of sidereal Don Juan, a “King,” and the father, albeit illegitimate, of Budha—Wisdom. This relates to Occult Knowledge, a wisdom gathered through a thorough acquaintance with lunar mysteries, including those of sexual generation. And later, when the Moon became connected with the female Goddesses, with Diana, Isis, Artemis, Juno, etc., this connection was also due to a thorough knowledge of physiology and female nature, physical as much as psychic.

Osiris là “Thượng đế biểu hiện trong sự sinh thành,” bởi người xưa biết rõ hơn người hiện đại rất nhiều về những ảnh hưởng huyền bí thực sự của thể mặt trăng đối với các bí nhiệm của sự thụ thai. Trong những hệ thống cổ xưa nhất, chúng ta luôn thấy Mặt Trăng là nam tính. Như vậy Soma, đối với người Ấn Độ, là một loại Don Juan tinh tú, một “Vua,” và là cha, dù không chính thống, của Budha — Minh triết. Điều này liên quan đến Tri thức Huyền bí, một minh triết được thu nhận qua sự quen thuộc thấu đáo với các bí nhiệm mặt trăng, bao gồm cả những bí nhiệm về sinh sản tính dục. Và về sau, khi Mặt Trăng được liên kết với các Nữ thần, với Diana, Isis, Artemis, Juno, v.v., sự liên kết này cũng do một tri thức thấu đáo về sinh lý học và bản chất nữ giới, cả hồng trần lẫn thông linh.

If, instead of being taught in Sunday Schools useless lessons from the Bible, the armies of the ragged and poor were taught Astrology—so far, at any rate, as the occult properties of the Moon and its hidden influences on generation are concerned—then, there would be little need to fear increase of the population, or to resort to the questionable literature of the Malthusians for its arrest. For it is the Moon and her conjunctions that regulate conceptions, and every Astrologer in India knows it. During the previous Races, and at least at the beginning of the present one, those who indulged in marital relations during certain lunar phases that made those relations sterile, were regarded as sorcerers and sinners. But now even these sins of old, which arose from the abuse of Occult knowledge, would appear preferable to the crimes of to-day, which are perpetrated because of the complete ignorance of such Occult influences.

Nếu, thay vì được dạy trong các Trường Chủ nhật những bài học vô ích từ Kinh Thánh, những đoàn người rách rưới và nghèo khổ được dạy Chiêm tinh học — ít nhất là trong phạm vi liên quan đến các đặc tính huyền bí của Mặt Trăng và những ảnh hưởng ẩn giấu của nó đối với sự sinh sản — thì sẽ ít cần phải sợ sự gia tăng dân số, hay phải viện đến thứ văn chương đáng ngờ của những người theo Malthus để ngăn chặn nó. Vì chính Mặt Trăng và các đồng vị của nàng điều hòa những cuộc thụ thai, và mọi nhà Chiêm tinh ở Ấn Độ đều biết điều đó. Trong các nhân loại trước, và ít nhất vào buổi đầu của nhân loại hiện tại, những ai buông mình vào quan hệ hôn nhân trong một số pha mặt trăng khiến những quan hệ ấy trở nên vô sinh, đều bị xem là phù thủy và tội nhân. Nhưng ngày nay, ngay cả những tội lỗi xưa kia ấy, vốn phát sinh từ sự lạm dụng Tri thức Huyền bí, cũng có vẻ còn đáng ưa hơn những tội ác thời nay, được phạm phải vì sự hoàn toàn vô minh về các ảnh hưởng Huyền bí như thế.

But, primarily, the Sun and Moon were the only visible and, by their effects, so to say, tangible, psychic and physiological deities—the Father and the Son—while Space or Air in general, or that expanse of heaven called Noot by the Egyptians, was the concealed Spirit or Breath of the two. The Father and Son were interchangeable in their functions, and worked together harmoniously in their effects upon terrestrial nature and humanity; hence they were regarded as one, though two as personified Entities. They were both males, and both had their distinct though collaborative work in the causative generation of humanity. So much from the astronomical and cosmic standpoints, viewed and expressed in symbolical language, which became in our last races theological and dogmatic. But behind this veil of cosmic and astrological symbols, there were the occult mysteries of anthropography and the primeval genesis of man. And in this, no knowledge of symbols, or even the key to the post-diluvian symbolical language of the Jews, will or can help, save only with reference to that which has been laid down in national scriptures for exoteric uses; the sum of which, however cleverly veiled, was but the smallest portion of the real primitive history of each people, and often, moreover, as in the Hebrew Scriptures, related merely to the terrestrial human, and not to the divine life of that nation. That psychic and spiritual element belonged to the Mysteries and Initiation. There were things never recorded in scrolls, but which, as in Central Asia, were engraved on rocks and in subterranean crypts.

Nhưng, trước hết, Mặt Trời và Mặt Trăng là hai vị thần duy nhất hữu hình và, qua các tác động của mình, có thể nói là sờ chạm được, vừa thông linh vừa sinh lý — Cha và Con — trong khi Không gian hay Không khí nói chung, hay khoảng trời rộng mà người Ai Cập gọi là Noot, là Tinh thần hay Hơi thở ẩn giấu của cả hai. Cha và Con có thể hoán đổi chức năng cho nhau, và cùng tác động hài hòa trong những ảnh hưởng của mình lên thiên nhiên địa cầu và nhân loại; do đó các Ngài được xem là một, dù là hai với tư cách các Thực Thể được nhân cách hóa. Cả hai đều là nam tính, và cả hai đều có công việc riêng biệt, dù cộng tác, trong sự sinh thành nhân loại theo nghĩa nguyên nhân. Bấy nhiêu là từ các lập trường thiên văn và vũ trụ, được nhìn và diễn đạt bằng ngôn ngữ biểu tượng, vốn trong những nhân loại sau cùng của chúng ta đã trở thành thần học và giáo điều. Nhưng đằng sau bức màn các biểu tượng vũ trụ và chiêm tinh ấy là những bí nhiệm huyền bí của nhân thể ký và nguồn gốc nguyên sơ của con người. Và trong vấn đề này, không tri thức nào về biểu tượng, hay ngay cả chìa khóa của ngôn ngữ biểu tượng hậu Đại hồng thủy của người Do Thái, sẽ hoặc có thể giúp ích, ngoại trừ chỉ liên quan đến những gì đã được đặt định trong kinh điển dân tộc cho các mục đích ngoại môn; tổng số của chúng, dù được che giấu khéo léo đến đâu, cũng chỉ là phần nhỏ nhất của lịch sử nguyên thủy chân thực của mỗi dân tộc, và hơn nữa, thường như trong Kinh điển Hebrew, chỉ liên quan đến con người địa cầu, chứ không phải sự sống thiêng liêng của dân tộc ấy. Yếu tố thông linh và tinh thần ấy thuộc về các Bí nhiệm và Điểm đạo. Có những điều chưa bao giờ được ghi trên cuộn sách, nhưng như ở Trung Á, đã được khắc trên đá và trong các hầm mộ dưới đất.

Nevertheless, there was a time when the whole world was “of one lip and of one knowledge,” and man knew more of his origin than he does now; and thus knew that the Sun and Moon, however large a part they may play in the constitution, growth and development of the human body, were not the direct causative agents of his appearance on Earth; for these agents, in truth, are the living and intelligent Powers which the Occultists call Dhyân Chohans.

Tuy nhiên, đã có một thời toàn thế giới “cùng một môi và cùng một tri thức,” và con người biết về nguồn gốc của mình nhiều hơn hiện nay; và vì thế y biết rằng Mặt Trời và Mặt Trăng, dù có thể đóng một vai trò lớn đến đâu trong cấu tạo, tăng trưởng và phát triển của thể xác con người, không phải là các tác nhân nguyên nhân trực tiếp tạo nên sự xuất hiện của y trên Trái Đất; bởi các tác nhân ấy, thật ra, là những Quyền Năng sống động và thông tuệ mà các nhà Huyền bí học gọi là Dhyân Chohans.

As to this, a very learned admirer of the Jewish Esotericism tells us that: The Kabalah says expressly that Elohim is a “general abstraction”; what we call in mathematics “a constant coefficient,” or a “general function,” entering into all construction, not particular; that is, by the general ratio 1 to 31415, the [Astro-Dhyânic and] Elohistic figures.

Về điều này, một người rất uyên bác hâm mộ Huyền bí học Do Thái nói với chúng ta rằng: Kabalah nói rõ ràng Elohim là một “trừu tượng tổng quát”; cái mà trong toán học chúng ta gọi là “một hệ số hằng,” hay “một hàm tổng quát,” tham dự vào mọi cấu trúc, chứ không riêng biệt; nghĩa là, theo tỉ lệ tổng quát 1 với 31415, các hình số [Astro-Dhyânic và] Elohistic.

To this the Eastern Occultist replies: Quite so; they are an abstraction to our physical senses. To our spiritual perceptions, however, and to our inner spiritual eye, the Elohim, or Dhyânis, are no more an abstraction than our soul and spirit are to us. Reject the one and you reject the other, since that which is the surviving Entity in us, is partly the direct emanation from, and partly those celestial Entities themselves. One thing is certain; the Jews were perfectly acquainted with sorcery and various maleficent forces: but, with the exception of some of their great prophets and seers like Daniel and Ezekiel—Enoch belonging to a far distant race, as a generic character, and not to any nation but to all—they knew little of, nor would they deal with, the real divine Occultism; their national character being averse to anything which had no direct bearing upon their own ethnical, tribal and individual benefits—witness their own prophets, and the curses thundered by them against the “stiff-necked race.” But even the Kabalah plainly shows the direct relation between the Sephiroth, or Elohim, and men.

Đối với điều này, nhà Huyền bí học Đông phương đáp: Hoàn toàn đúng; các Ngài là một trừu tượng đối với các giác quan hồng trần của chúng ta. Tuy nhiên, đối với tri giác tinh thần của chúng ta, và đối với con mắt tinh thần bên trong của chúng ta, Elohim, hay Dhyânis, không phải là một trừu tượng hơn gì linh hồn và tinh thần của chúng ta đối với chúng ta. Bác bỏ cái này thì bạn bác bỏ cái kia, vì cái là Thực Thể sống còn trong chúng ta, một phần là xuất lộ trực tiếp từ, và một phần là chính những Thực Thể thiên giới ấy tự các Ngài. Một điều chắc chắn; người Do Thái hoàn toàn quen thuộc với phù thủy thuật và nhiều mãnh lực độc hại khác nhau; nhưng, ngoại trừ một vài đại tiên tri và nhà thông nhãn của họ như Daniel và Ezekiel — Enoch thuộc về một nhân loại xa xưa, như một nhân vật phổ quát, và không thuộc về bất cứ dân tộc nào mà thuộc về tất cả — họ biết rất ít về Huyền bí học thiêng liêng chân thực, và cũng không muốn đề cập đến nó; tính cách dân tộc của họ vốn ác cảm với bất cứ điều gì không có liên hệ trực tiếp đến lợi ích chủng tộc, bộ tộc và cá nhân của chính họ — hãy xem chính các tiên tri của họ, và những lời nguyền rủa như sấm chống lại “nhân loại cứng cổ.” Nhưng ngay cả Kabalah cũng cho thấy rõ mối liên hệ trực tiếp giữa các Sephiroth, hay Elohim, và con người.

Therefore, when it is proved to us that the Kabalistic identification of Jehovah with Binah, a female Sephira, has still another, a sub-occult, meaning in it, then and then only will Occultists be ready to pass the palm of perfection to the Kabalist. Until then, it is asserted that, as Jehovah, in the abstract sense of a “one living God,” is a single number, a metaphysical figment, and a reality only when put in his proper place as an emanation and a Sephira—we have a right to maintain that the Zohar, as witnessed by the Book of Numbers, at any rate, gave out originally, before the Christian Kabalists had disfigured it, and still gives out, the same doctrine that we do; that is, it makes Man emanate, not from one Celestial Man, but from a Septenary Group of Celestial Men, or Angels, just as in Pymander, the Thought Divine.

Vì vậy, khi người ta chứng minh cho chúng ta rằng sự đồng nhất hóa theo Kabalah giữa Jehovah với Binah, một Sephira nữ tính, còn có một ý nghĩa khác, một ý nghĩa bán huyền bí, trong đó, thì và chỉ khi đó các nhà Huyền bí học mới sẵn sàng trao vòng nguyệt quế hoàn hảo cho nhà Kabalah. Cho đến lúc ấy, chúng tôi khẳng định rằng, vì Jehovah, theo nghĩa trừu tượng của một “Thượng đế sống duy nhất,” là một con số đơn nhất, một hư cấu siêu hình, và chỉ là một thực tại khi được đặt vào đúng vị trí của y như một xuất lộ và một Sephira — chúng tôi có quyền duy trì rằng Zohar, ít nhất như được Sách Dân Số làm chứng, nguyên thủy đã đưa ra, trước khi các nhà Kabalah Cơ Đốc làm biến dạng nó, và vẫn còn đưa ra, cùng một giáo lý như chúng tôi; nghĩa là, nó khiến Con Người xuất lộ, không phải từ một Con Người Thiên Giới duy nhất, mà từ một Nhóm Thất Phân những Con Người Thiên Giới, hay các Thiên thần, đúng như trong Pymander, Tư Tưởng Thiêng Liêng.

3. When the One becomes Two, the Three-fold appears (a). The Three are 366 One; and it is our Thread, O Lanoo, the Heart of the Man-Plant, called Saptaparna (b).

3. Khi Đấng Duy Nhất trở thành Hai, Tam phân xuất hiện (a). Ba là 366 Một; và đó là Sợi dây của chúng ta, hỡi Lanoo, Trái Tim của Cây-Người, gọi là Saptaparna (b).

(a) “When the One becomes Two, the Three-fold appears”: to wit, when the One Eternal drops its reflection into the region of Manifestation, that reflection, the Ray, differentiates the Water of Space; or, in the words of the Book of the Dead: “Chaos ceases, through the effulgence of the Ray of Primordial Light dissipating total darkness, by the help of the great magic power of the Word of the [Central] Sun.” Chaos becomes male-female, and Water, incubated by Light, and the Three-fold Being issues as its “First-born.” “Ra [or Osiris-Ptah] creates his own Limbs [like Brahmâ], by creating the Gods destined to personify his phases,” during the Cycle. 367 The Egyptian Ra, issuing from the Deep, is the Divine Universal Soul in its manifested aspect, and so is Nârâyana, the Purusha, “concealed in Âkâsha, and present in Ether.”

(a) “Khi Đấng Duy Nhất trở thành Hai, Tam phân xuất hiện”: tức là, khi Đấng Duy Nhất Vĩnh Cửu thả phản ảnh của mình vào vùng Biểu hiện, phản ảnh ấy, Tia sáng, làm biến phân Nước của Không gian; hay, theo lời của Tử Thư: “Hỗn mang chấm dứt, nhờ ánh huy hoàng của Tia sáng Ánh Sáng Nguyên Thủy làm tiêu tan bóng tối toàn phần, với sự trợ giúp của quyền năng huyền thuật vĩ đại của Linh từ của Mặt Trời [Trung Tâm].” Hỗn mang trở thành nam-nữ, và Nước, được Ánh sáng ấp ủ, và Hữu Thể Tam phân xuất hiện như “Con Đầu Lòng” của nó. “Ra [hay Osiris-Ptah] tạo ra các Chi Thể của chính mình [như Brahma], bằng cách tạo ra các Thần được định để nhân cách hóa các pha của Ngài,” trong suốt Chu kỳ. 367 Ra của Ai Cập, xuất phát từ Vực Sâu, là Linh Hồn Vũ Trụ Thiêng Liêng trong phương diện biểu hiện của nó, và Narayana, Purusha, “ẩn trong Akasha, và hiện diện trong Dĩ thái,” cũng vậy.

This is the metaphysical explanation, and refers to the very beginning of Evolution, or, as we would rather say, of Theogony. The meaning of the Stanza, when explained from another standpoint in its reference to the mystery of man and his origin, is still more difficult to comprehend. In order to form a clear conception of what is meant by the One becoming Two, and then being transformed into the Three-fold, the student has to make himself thoroughly acquainted with what we call Rounds. If he refers to Esoteric Buddhism—the first attempt to sketch out an approximate outline of archaic cosmogony—he will find that by a Round is meant the serial evolution of nascent material Nature, of the seven Globes of our Chain, 368 with their mineral, vegetable and animal kingdoms; man being included in the latter and standing at the head of it, during the whole period of a Life-Cycle, which latter would be called by the Brâhmans a “Day of Brahmâ.” It is, in short, one revolution of the “Wheel” (our Planetary Chain), which is composed of seven Globes, or seven separate “Wheels,” in another sense this time. When evolution has run downward into matter from Globe A to Globe G, it is one Round. In the middle of the fourth revolution, which is our present Round, “Evolution has reached its acme of physical development, crowned its work with the perfect physical man, and, from this point, begins its work spirit-ward.” All this needs little repetition, as it is well explained in Esoteric Buddhism. That which was hardly touched upon, however, and of which the little that was said has misled many, is the origin of man, and it is upon this that a little more light may now be thrown, just enough to make the Stanza more comprehensible, as the process will be fully explained only in its legitimate place, in Volume II.

Đây là lời giải thích siêu hình, và liên quan đến chính buổi đầu của Tiến hoá, hay như chúng ta muốn nói hơn, của Thần phả học. Ý nghĩa của Bài kệ, khi được giải thích từ một lập trường khác trong sự liên hệ của nó với bí nhiệm về con người và nguồn gốc của y, còn khó lĩnh hội hơn nữa. Để hình thành một quan niệm rõ ràng về điều được hàm ý bởi Đấng Duy Nhất trở thành Hai, rồi được chuyển đổi thành Tam phân, đạo sinh phải hoàn toàn quen thuộc với điều chúng ta gọi là các Cuộc Tuần Hoàn. Nếu y tham khảo Phật giáo Nội môn — nỗ lực đầu tiên nhằm phác họa một đại cương gần đúng về vũ trụ khai nguyên cổ sơ — y sẽ thấy rằng một Cuộc Tuần Hoàn có nghĩa là sự tiến hoá nối tiếp của Thiên nhiên vật chất phôi thai, của bảy Bầu hành tinh trong Dãy của chúng ta, 368 cùng với các giới kim thạch, thực vật và động vật của chúng; con người được bao gồm trong giới sau và đứng ở đầu giới ấy, trong toàn bộ thời kỳ của một Chu kỳ Sự sống, mà các Brahman gọi là “Ngày của Brahma.” Tóm lại, đó là một vòng quay của “Bánh xe” (Dãy Hành tinh của chúng ta), vốn gồm bảy Bầu hành tinh, hay bảy “Bánh xe” riêng biệt, lần này theo một nghĩa khác. Khi tiến hoá đã đi xuống vào vật chất từ Bầu hành tinh A đến Bầu hành tinh G, đó là một Cuộc Tuần Hoàn. Ở giữa vòng quay thứ tư, vốn là Cuộc Tuần Hoàn hiện tại của chúng ta, “Tiến hoá đã đạt đến đỉnh cao của sự phát triển hồng trần, đã hoàn tất công trình của nó bằng con người hồng trần hoàn hảo, và từ điểm này bắt đầu công việc hướng về tinh thần.” Tất cả điều này không cần lặp lại nhiều, vì đã được giải thích rõ trong Phật giáo Nội môn. Tuy nhiên, điều chỉ được chạm đến rất ít, và phần ít ỏi được nói ra đã làm nhiều người lầm lạc, là nguồn gốc của con người; và giờ đây có thể rọi thêm một chút ánh sáng lên điều này, vừa đủ để làm cho Bài kệ dễ hiểu hơn, vì tiến trình sẽ chỉ được giải thích đầy đủ ở vị trí chính đáng của nó, trong Quyển II.

Now every Round, on the descending scale, is but a repetition in a more concrete form of the Round which preceded it, just as every Globe, down to our Fourth Sphere the actual Earth, is a grosser and more material copy of the more shadowy Sphere which precedes it, each in order, on the three higher planes. 369 On its way upwards, on the ascending arc, Evolution spiritualizes and etherealizes, so to speak, the general nature of all, bringing it on to a level with the plane on which the twin Globe on the opposite arc is placed; the result being, that when the seventh Globe is reached, in whatever Round, the nature of everything that is evolving returns to the condition it was in at its starting point—plus, every time, a new and superior degree in the states of consciousness. Thus it becomes clear that the “origin of man,” so-called, in this our present Round, or Life-Cycle, on this Planet, must occupy the same place in the same order—save details based on local conditions and time—as in the preceding Round. Again, it must be explained and remembered that, as the work of each Round is said to be apportioned to a different Group of so-called Creators, or Architects, so is that of every Globe; that is, it is under the supervision and guidance of special Builders and Watchers—the various Dhyân Chohans.

Giờ đây, mỗi Cuộc Tuần Hoàn, trên thang đi xuống, chỉ là sự lặp lại trong một hình thức cụ thể hơn của Cuộc Tuần Hoàn trước nó, cũng như mỗi Bầu hành tinh, xuống đến Khối Cầu Thứ Tư của chúng ta là Trái Đất hiện tại, là một bản sao thô đặc hơn và vật chất hơn của Khối Cầu mờ bóng hơn đi trước nó, mỗi cái theo thứ tự, trên ba cõi cao hơn. 369 Trên đường đi lên, trên cung thăng thượng, Tiến hoá, có thể nói, tinh thần hóa và dĩ thái hóa bản chất chung của tất cả, đưa nó lên ngang với cõi mà Bầu hành tinh song sinh trên cung đối diện được đặt; kết quả là, khi Bầu hành tinh thứ bảy đạt tới, trong bất cứ Cuộc Tuần Hoàn nào, bản chất của mọi sự đang tiến hoá trở về tình trạng mà nó đã có ở điểm khởi đầu — cộng thêm, mỗi lần, một cấp độ mới và cao hơn trong các trạng thái tâm thức. Như vậy, trở nên rõ ràng rằng “nguồn gốc của con người,” như người ta gọi, trong Cuộc Tuần Hoàn hiện tại của chúng ta, hay Chu kỳ Sự sống, trên Hành tinh này, phải chiếm cùng vị trí trong cùng trật tự — ngoại trừ các chi tiết dựa trên điều kiện địa phương và thời gian — như trong Cuộc Tuần Hoàn trước. Lại nữa, cần phải giải thích và ghi nhớ rằng, cũng như công việc của mỗi Cuộc Tuần Hoàn được nói là phân cho một Nhóm khác nhau của những cái gọi là Đấng Sáng Tạo, hay Kiến Trúc Sư, thì công việc của mỗi Bầu hành tinh cũng vậy; nghĩa là, nó ở dưới sự giám sát và hướng dẫn của các Đấng Kiến Tạo và Đấng Canh Giữ đặc biệt — các Dhyân Chohans khác nhau.

“Creators” is an incorrect word to use, as no other religion, not even the sect of the Visishthadvaitîs in India, one which anthropomorphizes even Parabrahman, believes in creation ex nihilo, as Christians and Jews do, but only in evolution out of preexisting materials.

“Đấng Sáng Tạo” là một từ không chính xác để dùng, vì không một tôn giáo nào khác, ngay cả giáo phái Visishthadvaitis ở Ấn Độ, giáo phái nhân hình hóa cả Parabrahman, tin vào sự sáng tạo từ hư vô, như người Cơ Đốc và Do Thái, mà chỉ tin vào sự tiến hoá từ những vật liệu đã hiện hữu trước.

The Group of the Hierarchy which is commissioned to “create” men is a special Group, then; yet it evolved shadowy man in this Cycle, just as a higher and still more spiritual Group evolved him in the Third Round. But as it is the Sixth, on the downward scale of Spirituality—the last and Seventh being the Terrestrial Spirits (Elementals), which gradually form, build and condense his physical body—this Sixth Group evolves no more than the future man’s shadowy form, a filmy, hardly visible, transparent copy of themselves. It becomes the task of the Fifth Hierarchy—the mysterious Beings that preside over the constellation Capricornus, Makara, or “Crocodile,” in India and in Egypt—to inform the empty and ethereal animal form, and make of it the Rational Man. This is one of those subjects upon which very little may be said to the general public. It is a Mystery truly, but only to him who is prepared to reject the existence of intellectual and conscious Spiritual Beings in the Universe, and to limit full Consciousness to man alone, and that only as a “function of the brain.” Many are those among the Spiritual Entities, who have incarnated bodily in man, since his first appearance, and who, for all that, still exist as independently as they did before, in the infinitudes of Space.

Vậy Nhóm của Thánh Đoàn được ủy nhiệm “tạo ra” con người là một Nhóm đặc biệt; tuy nhiên nó đã tiến hoá con người mờ bóng trong Chu kỳ này, cũng như một Nhóm cao hơn và còn tinh thần hơn đã tiến hoá y trong Cuộc Tuần Hoàn Thứ Ba. Nhưng vì đó là Nhóm Thứ Sáu, trên thang đi xuống của Tinh thần — nhóm cuối cùng và Thứ Bảy là các Tinh thần Địa Cầu (các Hành khí), vốn dần dần tạo hình, xây dựng và làm ngưng đặc thể xác của y — Nhóm Thứ Sáu này chỉ tiến hoá hình tướng mờ bóng của con người tương lai, một bản sao mỏng manh, hầu như không thấy được, trong suốt của chính các Ngài. Việc thấm nhuần hình tướng động vật trống rỗng và dĩ thái ấy, và biến nó thành Con Người Hữu Lý, trở thành nhiệm vụ của Huyền Giai Thứ Năm — những Hữu Thể bí nhiệm chủ trì chòm sao Ma Kết, Makara, hay “Cá Sấu,” ở Ấn Độ và Ai Cập. Đây là một trong những đề tài mà rất ít điều có thể nói với công chúng nói chung. Thật sự đó là một Bí nhiệm, nhưng chỉ đối với người đã chuẩn bị để bác bỏ sự hiện hữu của các Hữu Thể Tinh Thần thông tuệ và có ý thức trong Vũ trụ, và để giới hạn Tâm thức trọn vẹn chỉ nơi con người, và điều đó chỉ như một “chức năng của bộ não.” Có nhiều trong số các Thực Thể Tinh Thần đã nhập thể bằng thân xác trong con người, từ khi y xuất hiện lần đầu; và dẫu vậy, các Ngài vẫn hiện hữu độc lập như trước, trong những vô tận của Không gian.

To put it more clearly, such an invisible Entity may be bodily present on earth without, however, abandoning its status and functions in the supersensuous regions. If this needs explanation, we can do no better than remind the reader of like cases in so-called “Spiritualism”; though such cases are very rare, at least as regards the nature of the Entity incarnating, or taking temporary possession of a medium. For the so-called “spirits” that may occasionally possess themselves of the bodies of mediums are not the Monads, or Higher Principles, of disembodied Personalities. Such “spirits” can only be either Elementaries, or—Nirmânakâyas. Just as certain persons, whether by virtue of a peculiar organization, or through the power of acquired mystic knowledge, can be seen in their “double” in one place, while their body is many miles away; so the same thing can occur in the case of superior Beings.

Nói rõ hơn, một Thực Thể vô hình như thế có thể hiện diện bằng thân xác trên Trái Đất mà không từ bỏ địa vị và chức năng của mình trong các vùng siêu cảm giác. Nếu điều này cần giải thích, chúng ta không thể làm gì tốt hơn là nhắc người đọc về những trường hợp tương tự trong cái gọi là “Thần linh học”; dù những trường hợp như thế rất hiếm, ít nhất xét về bản chất của Thực Thể nhập thể, hay tạm thời chiếm hữu một đồng tử. Vì những cái gọi là “tinh linh” đôi khi có thể chiếm hữu các thân thể của đồng tử không phải là các Chân thần, hay các Nguyên khí Cao, của các Phàm ngã đã rời thân. Những “tinh linh” như thế chỉ có thể là các Elementaries, hoặc — các Nirmanakayas. Cũng như một số người, dù nhờ một tổ chức đặc biệt, hay nhờ quyền năng của tri thức thần bí đã thu nhận, có thể được thấy trong “bản sao” của họ ở một nơi, trong khi thân thể họ ở cách xa nhiều dặm; điều tương tự cũng có thể xảy ra trong trường hợp các Hữu Thể cao siêu.

Man, philosophically considered, is, in his outward form, simply an animal, hardly more perfect than his pithecoid-like ancestor of the Third Round. He is a living Body, not a living Being, since the realization of existence, the “Ego Sum,” necessitates self-consciousness, and an animal can only have direct consciousness, or instinct. This was so well understood by the ancients, that even the Kabalists made of soul and body two Lives, independent of each other. In the New Aspects of Life, the author states the Kabalistic teaching: They held that, functionally, Spirit and Matter, of corresponding opacity and density, tended to coalesce; and that the resultant created Spirits, in the disembodied state, were constituted on a scale in which the differing opacities and transparencies of elemental or uncreated Spirit were reproduced. And that these Spirits, in the disembodied state, attracted, appropriated, digested and assimilated elemental Spirit and elemental Matter whose condition was conformed to their own…. They therefore taught that there was a wide difference in the conditions of created Spirits; and that, in the intimate association between the Spirit-world and the world of Matter, the more opaque Spirits, in the disembodied state, were drawn towards the more dense parts of the material world, and therefore tended towards the centre of the Earth, where they found the conditions most suited to their state; while the more transparent Spirits passed into the surrounding aura of the planet, the most rarefied finding their home in its satellite. 370

Con người, xét về mặt triết học, trong hình tướng bên ngoài của mình, đơn giản là một con vật, hầu như không hoàn hảo hơn tổ tiên giống vượn của y ở Cuộc Tuần Hoàn Thứ Ba. Y là một Thể sống, chứ không phải một Hữu Thể sống, vì sự chứng nghiệm hiện hữu, “Ego Sum,” đòi hỏi ngã thức, và một con vật chỉ có thể có tâm thức trực tiếp, hay bản năng. Điều này được người xưa thấu hiểu rõ đến mức ngay cả các nhà Kabalah cũng biến linh hồn và thể xác thành hai Sự Sống, độc lập với nhau. Trong Những Phương Diện Mới của Sự Sống, tác giả trình bày giáo huấn Kabalah: Họ cho rằng, về mặt chức năng, Tinh thần và Vật chất, với độ mờ đục và mật độ tương ứng, có khuynh hướng hợp nhất; và rằng các Tinh thần được tạo thành do kết quả ấy, trong trạng thái không thân xác, được cấu tạo trên một thang bậc trong đó những độ mờ đục và trong suốt khác nhau của Tinh thần hành khí hay chưa được tạo thành được tái hiện. Và rằng những Tinh thần này, trong trạng thái không thân xác, thu hút, chiếm hữu, tiêu hóa và đồng hóa Tinh thần hành khí và Vật chất hành khí có tình trạng phù hợp với tình trạng của chính họ…. Vì vậy họ dạy rằng có một khác biệt rộng lớn trong các tình trạng của những Tinh thần được tạo thành; và rằng, trong mối liên kết mật thiết giữa thế giới Tinh thần và thế giới Vật chất, những Tinh thần mờ đục hơn, trong trạng thái không thân xác, bị hút về những phần đậm đặc hơn của thế giới vật chất, và do đó có khuynh hướng hướng về trung tâm Trái Đất, nơi họ tìm thấy các điều kiện thích hợp nhất với trạng thái của mình; trong khi những Tinh thần trong suốt hơn đi vào hào quang bao quanh hành tinh, những vị tinh tế nhất tìm được quê nhà trong vệ tinh của nó. 370

This relates exclusively to our Elemental Spirits, and has naught to do with either the Planetary, Sidereal, Cosmic or Inter-Etheric Intelligent Forces, or “Angels” as they are termed by the Roman Church. The Jewish Kabalists, especially the practical Occultists who dealt with Ceremonial Magic, busied themselves solely with the Spirits of the Planets and the “Elementals” so-called. Therefore the above covers only a portion of the Esoteric teaching.

Điều này chỉ liên quan đến các Tinh thần Hành khí của chúng ta, và không dính dáng gì đến các Mãnh lực Thông tuệ Hành tinh, Tinh tú, Vũ trụ hay Liên-Dĩ thái, hay “Thiên thần” như Giáo hội La Mã gọi. Các nhà Kabalah Do Thái, đặc biệt là các nhà Huyền bí học thực hành, những người đề cập đến Huyền thuật Nghi lễ, chỉ bận tâm với các Tinh thần của các Hành tinh và những cái gọi là “Hành khí.” Vì vậy, phần trên chỉ bao quát một phần của giáo huấn Nội môn.

The Soul, whose body-vehicle is the astral, ethereo-substantial envelope, could die and man be still living on earth. That is to say, the Soul could free itself from and quit the tabernacle for various reasons, such as insanity, spiritual and physical depravity, etc. The possibility of the “Soul”—that is, the eternal Spiritual Ego—dwelling in the unseen worlds, while its body goes on living on Earth, is a preeminently Occult doctrine, especially in Chinese and Buddhist philosophy. Many are the soulless men among us, for the occurrence is found to take place in wicked materialists as well as in persons “who advance in holiness and never turn back.”

Linh Hồn, mà vận cụ-thân thể là lớp bao cảm dục, dĩ thái-vật chất, có thể chết mà con người vẫn còn sống trên Trái Đất. Nghĩa là, Linh Hồn có thể tự giải thoát khỏi và rời bỏ đền tạm vì nhiều lý do khác nhau, như điên loạn, sự suy đồi tinh thần và hồng trần, v.v. Khả thể rằng “Linh Hồn” — tức Chân ngã Tinh Thần vĩnh cửu — cư ngụ trong các thế giới vô hình, trong khi thân thể của nó tiếp tục sống trên Trái Đất, là một giáo lý Huyền bí nổi bật, đặc biệt trong triết học Trung Hoa và Phật giáo. Có nhiều người vô hồn giữa chúng ta, vì hiện tượng này được thấy xảy ra nơi những người duy vật độc ác cũng như nơi những người “tiến tới trong sự thánh thiện và không bao giờ quay lui.”

Therefore, that which living men (Initiates) can do, the Dhyânis, who have no physical body to hamper them, can do still better. This was the belief of the antediluvians, and it is fast becoming that of modern intellectual society in “Spiritualism,” as well as in the Greek and Roman Churches, which teach the ubiquity of their Angels. The Zoroastrians regarded their Amshaspends as dual entities (Ferouers), applying this duality—in Esoteric philosophy, at any rate—to all the spiritual and invisible denizens of the numberless worlds in space, which are visible to our eye. In a note of Damascius (sixth century) on the Chaldean Oracles, we have ample evidence of the universality of this doctrine, for he says: “In these Oracles, the seven Cosmocratores of the World [‘the World-Pillars’], mentioned likewise by St. Paul, are double; one set being commissioned to rule the superior worlds, the spiritual and the sidereal, and the other to guide and watch over the worlds of matter.” Such is also the opinion of Jamblichus, who makes an evident distinction between the Archangels and the Archontes. 371

Vì vậy, điều mà những người sống (các Điểm đạo đồ) có thể làm, các Dhyânis, những Đấng không có thể xác để cản trở, có thể làm còn tốt hơn. Đây là niềm tin của người tiền Đại hồng thủy, và nó đang nhanh chóng trở thành niềm tin của xã hội trí thức hiện đại trong “Thần linh học,” cũng như trong các Giáo hội Hy Lạp và La Mã, vốn dạy về tính phổ hiện của các Thiên thần của họ. Người Zoroastrian xem các Amshaspends của họ là những thực thể kép (Ferouers), áp dụng tính nhị nguyên này — ít nhất trong triết học Nội môn — cho tất cả những cư dân tinh thần và vô hình của vô số thế giới trong không gian, vốn hữu hình đối với mắt chúng ta. Trong một chú thích của Damascius (thế kỷ thứ sáu) về các Sấm ngôn Chaldea, chúng ta có bằng chứng phong phú về tính phổ quát của giáo lý này, vì ông nói: “Trong các Sấm ngôn này, bảy Cosmocratores của Thế giới [‘các Trụ Cột của Thế giới’], cũng được Thánh Paul nhắc đến, là kép; một nhóm được ủy nhiệm cai quản các thế giới cao hơn, tinh thần và tinh tú, và nhóm kia hướng dẫn và canh giữ các thế giới vật chất.” Jamblichus cũng có cùng quan điểm như thế, khi ông phân biệt rõ ràng giữa các Tổng Lãnh Thiên Thần và các Archontes. 371

The above may be applied, of course, to the distinction made between the degrees or orders of Spiritual Beings, and it is in this sense that the Roman Catholic Church tries to interpret and teach the difference; for while the Archangels are in her teaching divine and holy, she denounces their “Doubles” as Devils. But the word Ferouer is not to be understood in this sense, for it means simply the reverse or the opposite side of some attribute or quality. Thus when the Occultist says that the “Demon is the inverse of God”—evil, the reverse of the medal—he does not mean two separate actualities, but two aspects or facets of the same Unity. But the best man living, side by side with an Archangel—as described in Theology—would appear a fiend. Hence a certain reason in depreciating a lower “Double,” immersed far deeper in matter than its original. But still there is as little cause to regard them as Devils, and this is precisely what the Roman Catholics maintain against all reason and logic.

Dĩ nhiên, điều trên có thể được áp dụng cho sự phân biệt giữa các cấp độ hay trật tự của các Hữu Thể Tinh Thần, và chính theo nghĩa này Giáo hội Công giáo La Mã cố gắng diễn giải và giảng dạy sự khác biệt; vì trong giáo huấn của bà, trong khi các Tổng Lãnh Thiên Thần là thiêng liêng và thánh thiện, bà lên án các “Đối phần” của họ là Quỷ dữ. Nhưng từ Ferouer không nên được hiểu theo nghĩa này, vì nó chỉ có nghĩa là mặt đảo ngược hay mặt đối lập của một thuộc tính hoặc phẩm tính nào đó. Như vậy, khi nhà Huyền bí học nói rằng “Ác thần là mặt nghịch đảo của Thượng đế” — cái ác, mặt trái của tấm huy chương — y không hàm ý hai thực tại tách biệt, mà là hai phương diện hay mặt của cùng một Hợp Nhất. Nhưng người tốt nhất đang sống, đứng cạnh một Tổng Lãnh Thiên Thần — như được mô tả trong Thần học — sẽ hiện ra như một ác quỷ. Do đó có một lý do nào đó để hạ thấp một “Đối phần” thấp hơn, vốn chìm sâu trong vật chất hơn nhiều so với nguyên mẫu của nó. Nhưng vẫn có rất ít lý do để xem họ là Quỷ dữ, và đây chính là điều người Công giáo La Mã khăng khăng duy trì, bất chấp mọi lý trí và logic.

This identity between the Spirit and its material “Double”—in man it is the reverse—explains still better the confusion, already alluded to in this work, in the names and individualities, as well as in the numbers, of the Rishis and Prajâpatis; especially of those of the Satya Yuga and the Mahâbhâratan Period. It also throws additional light on what the Secret Doctrine teaches with regard to the Root- and the Seed-Manus. Not only these Progenitors of our mankind, but every human being, we are taught, has his prototype in the Spiritual Spheres, which prototype is the highest essence of his Seventh Principle. Thus the seven Manus become fourteen, the Root-Manu being the Prime Cause, and the Seed-Manu its Effect; and from the Satya Yuga (the first stage) to the Heroic Period, these Manus or Rishis become twenty-one in number.

Sự đồng nhất này giữa Tinh thần và “Đối phần” vật chất của nó — nơi con người thì ngược lại — giải thích rõ hơn nữa sự lẫn lộn, đã được ám chỉ trong tác phẩm này, về tên gọi và cá tính, cũng như về số lượng, của các Rishi và Prajapati; đặc biệt là những vị thuộc Satya Yuga và Thời kỳ Mahabharata. Nó cũng rọi thêm ánh sáng lên điều Giáo Lý Bí Nhiệm dạy liên quan đến các Root-Manu và Seed-Manu. Chúng ta được dạy rằng không chỉ những Tổ phụ này của nhân loại chúng ta, mà mọi con người, đều có nguyên mẫu của mình trong các Khối Cầu Tinh Thần, nguyên mẫu ấy là tinh túy cao nhất của Nguyên khí Thứ Bảy của y. Như vậy bảy Manu trở thành mười bốn, Root-Manu là Nguyên Nhân Đầu Tiên, và Seed-Manu là Hệ Quả của nó; và từ Satya Yuga (giai đoạn thứ nhất) đến Thời kỳ Anh hùng, các Manu hay Rishi này trở thành hai mươi mốt về số lượng.

(b) The concluding sentence of this shloka shows how archaic is the belief and the doctrine that man is seven-fold in his constitution. The “Thread” of Being, which animates man, and passes through all his Personalities, or Rebirths on this Earth—an allusion to Sûtrâtmâ—the Thread on which moreover all his “Spirits” are strung, is spun from the essence of the Three-fold, the Four-fold and the Five-fold which contain all the preceding. Panchâshikha, agreeably to Padma Purâna, 372 is one of the seven Kumâras who go to Shveta Dvîpa to worship Vishnu. We shall see, further on, what connection there is between the “celibate” and chaste Sons of Brahmâ, who refuse “to multiply,” and terrestrial mortals. Meanwhile, it is evident that the “Man-Plant, Saptaparna,” thus refers to the seven principles, and that man is compared to this seven-leaved plant, which is so sacred among Buddhists. The Egyptian allegory, in the Book of the Dead, that relates to the “reward of the Soul,” is as suggestive of our septenary doctrine as it is poetical. The Deceased is allotted a piece of land in the field of Aanroo, wherein the Manes, the deified shades of the dead, glean, as the harvest they have sown by their actions in life, the corn seven cubits high, which grows in a territory divided into seven and fourteen portions. This corn is the food on which they will live and prosper, or that will kill them, in Amenti, the realm of which the Aanroo-field is a domain. For, as said in the hymn, 373 the Deceased is either destroyed therein, or becomes pure spirit for the Eternity, in consequence of the “seven times seventy-seven lives” passed, or to be passed, on Earth. The idea of the corn reaped as the “fruit of our actions” is very graphic.

(b) Câu kết của shloka này cho thấy niềm tin và giáo lý rằng con người là thất phân trong cấu tạo của mình cổ xưa đến mức nào. “Sợi dây” của Bản Thể, vốn làm sinh động con người, và đi xuyên qua tất cả các Phàm ngã, hay các lần Tái sinh của y trên Trái Đất này — một ám chỉ đến Sutratma — Sợi dây mà hơn nữa tất cả các “Tinh thần” của y được xâu trên đó, được xe từ tinh túy của Tam phân, Tứ phân và Ngũ phân, vốn chứa đựng tất cả những gì đi trước. Panchashikha, theo Padma Purana, 372 là một trong bảy Kumara đi đến Shveta Dvipa để thờ phụng Vishnu. Chúng ta sẽ thấy về sau có mối liên hệ nào giữa các Con “độc thân” và thanh khiết của Brahma, những Đấng từ chối “sinh sôi,” với người phàm địa cầu. Trong khi đó, rõ ràng “Cây-Người, Saptaparna,” như vậy ám chỉ đến bảy nguyên khí, và con người được so sánh với cây bảy lá này, vốn rất thiêng liêng đối với Phật tử. Ẩn dụ Ai Cập, trong Tử Thư, liên quan đến “phần thưởng của Linh Hồn,” vừa gợi nhắc giáo lý thất phân của chúng ta vừa giàu chất thi ca. Người quá cố được cấp một mảnh đất trong cánh đồng Aanroo, nơi các Manes, các bóng hình đã được thần thánh hóa của người chết, mót lượm, như mùa gặt mà họ đã gieo bằng các hành động trong đời, thứ lúa cao bảy cubit, mọc trong một lãnh thổ chia thành bảy và mười bốn phần. Lúa này là thức ăn nhờ đó họ sẽ sống và thịnh vượng, hoặc thứ sẽ giết họ, trong Amenti, cõi mà cánh đồng Aanroo là một lãnh địa. Vì, như đã nói trong thánh ca, 373 người quá cố hoặc bị hủy diệt trong đó, hoặc trở thành tinh thần thuần khiết cho Vĩnh Cửu, do “bảy lần bảy mươi bảy kiếp sống” đã trải qua, hoặc sẽ trải qua, trên Trái Đất. Ý tưởng về lúa được gặt như “quả của các hành động của chúng ta” thật hết sức sinh động.

4. It is the Root that never dies, the Three-tongued Flame of the Four Wicks (a)… The Wicks are the Sparks, that draw from the Three-tongued Flame, 374 shot out by the Seven, their Flame; the Beams and Sparks of One Moon, reflected in the Running Waves of all the Rivers of the Earth 375 (b).

4. Đó là Gốc Rễ không bao giờ chết, Ngọn Lửa Ba Lưỡi của Bốn Bấc (a)… Các Bấc là những Tia Lửa, rút từ Ngọn Lửa Ba Lưỡi, 374 được Bảy phóng ra, Ngọn Lửa của chúng; các Tia Sáng và Tia Lửa của Một Mặt Trăng, phản chiếu trong những Làn Sóng Chảy của tất cả các Dòng Sông trên Trái Đất 375 (b).

(a) The “Three-tongued Flame that never dies” is the immortal spiritual Triad, the Âtmâ, Buddhi and Manas, or rather the fruitage of the last, assimilated by the first two after every terrestrial life. The “Four Wicks,” that go out and are extinguished, are the Quaternary, the four lower principles, including the body.

(a) “Ngọn Lửa Ba Lưỡi không bao giờ chết” là Tam Nguyên Tinh Thần bất tử, Atma, Bồ đề và Manas, hay đúng hơn là kết quả của nguyên khí sau cùng, được hai nguyên khí đầu đồng hóa sau mỗi đời sống địa cầu. “Bốn Bấc,” vốn tắt đi và bị dập tắt, là Tứ phân, bốn nguyên khí thấp, bao gồm cả thể xác.

“I am the Three-wicked Flame and my Wicks are immortal,” says the Defunct. “I enter into the domain of Sekhem [the God whose hand sows the seed of action produced by the disembodied soul], and I enter the region of the Flames who have destroyed their adversaries [i.e., got rid of the sin-creating Four Wicks].” 376

“Ta là Ngọn Lửa Ba Bấc và các Bấc của ta là bất tử,” người quá cố nói. “Ta đi vào lãnh địa của Sekhem [Vị Thần mà bàn tay gieo hạt giống hành động do linh hồn không thân xác tạo ra], và ta đi vào vùng của các Ngọn Lửa đã tiêu diệt các đối thủ của mình [nghĩa là, đã loại bỏ Bốn Bấc tạo tội].” 376

“The Three-tongued Flame of the Four Wicks” corresponds to the four Unities and the three Binaries of the Sephirothal tree.

“Ngọn Lửa Ba Lưỡi của Bốn Bấc” tương ứng với bốn Đơn vị và ba Nhị phân của cây Sephiroth.

(b) Just as milliards of bright sparks dance on the waters of an ocean, above which one and the same moon is shining, so our evanescent Personalities—the illusive envelopes of the immortal Monad-Ego—twinkle and dance on the waves of Mâyâ. They appear and, as the thousands of sparks produced by the moon-beams, last only so long as the Queen of the Night radiates her lustre on the “Running Waves” of Life, the period of a Manvantara; and then they disappear, the “Beams”—symbols of our eternal Spiritual Egos—alone surviving, remerged in, and being, as they were before, one with the Mother-Source.

(b) Cũng như hàng tỷ tia lửa sáng nhảy múa trên mặt nước đại dương, phía trên đó cùng một mặt trăng đang chiếu sáng, các Phàm ngã phù du của chúng ta — những lớp bao ảo tưởng của Chân thần-Chân ngã bất tử — lấp lánh và nhảy múa trên những làn sóng của Ảo lực. Chúng xuất hiện và, như hàng ngàn tia lửa do các tia mặt trăng tạo ra, chỉ tồn tại bao lâu Nữ Hoàng của Đêm còn tỏa ánh huy hoàng của nàng trên “những Làn Sóng Chảy” của Sự Sống, thời kỳ của một Giai kỳ sinh hóa; rồi chúng biến mất, chỉ còn các “Tia Sáng” — biểu tượng của các Chân ngã Tinh Thần vĩnh cửu của chúng ta — sống còn, tái hòa nhập vào, và như trước kia, là một với Nguồn-Mẹ.

5. The Spark hangs from the Flame by the finest Thread of Fohat. It journeys through the Seven Worlds of Mâyâ (a). It stops in the first, 377 and is a Metal and a Stone; it passes into the Second, 378 and behold—a Plant; the Plant whirls through Seven Forms and becomes a Sacred Animal 379 (b).

5. Tia Lửa treo từ Ngọn Lửa bằng Sợi dây tinh vi nhất của Fohat. Nó du hành qua Bảy Thế Giới của Ảo lực (a). Nó dừng lại trong thế giới thứ nhất, 377 và là một Kim loại và một Hòn đá; nó đi vào thế giới Thứ Hai, 378 và kìa — một Cây; Cây xoay qua Bảy Hình tướng và trở thành một Linh Thú 379 (b).

From the combined attributes of these, Manu, 380 the Thinker, is formed.

Từ các thuộc tính kết hợp của những điều này, Manu, 380 Nhà Tư Tưởng, được hình thành.

Who forms him? The Seven Lives, and the One Life (c). Who completes him? The Five-fold Lha. And who perfects the last Body? Fish, Sin and Soma 381 (d).

Ai hình thành y? Bảy Sự Sống, và Một Sự Sống (c). Ai hoàn tất y? Lha Ngũ phân. Và ai hoàn thiện Thể cuối cùng? Cá, Tội lỗi và Soma 381 (d).

(a) The phrase, “through the Seven Worlds of Mâyâ,” refers here to the seven Globes of the Planetary Chain and the seven Rounds, or the forty-nine stations of active existence that are before the “Spark,” or Monad, at the beginning of every Great Life-Cycle, or Manvantara. The “Thread of Fohat” is the Thread of Life before referred to.

(a) Cụm từ “qua Bảy Thế Giới của Ảo lực” ở đây chỉ bảy Bầu hành tinh của Dãy Hành tinh và bảy Cuộc Tuần Hoàn, hay bốn mươi chín trạm của hiện hữu hoạt động đang chờ “Tia Lửa,” hay Chân thần, vào buổi đầu của mỗi Chu kỳ Sự sống Vĩ đại, hay Giai kỳ sinh hóa. “Sợi dây của Fohat” là Sợi dây Sự Sống đã được nhắc đến trước đây.

This relates to the greatest problem of philosophy—the physical and substantial nature of Life, the independent nature of which is denied by Modern Science, because that Science is unable to comprehend it. The reincarnationists and believers in Karma alone dimly perceive, that the whole secret of Life is in the unbroken series of its manifestations, whether in, or apart from, the physical body. Because even if: Life, like a dome of many-coloured glass, Stains the white radiance of Eternity— yet it is itself part and parcel of that Eternity; for Life alone can understand Life.

Điều này liên hệ đến vấn đề lớn nhất của triết học — bản chất hồng trần và chất liệu của Sự Sống, mà bản chất độc lập của nó bị Khoa Học Hiện Đại phủ nhận, bởi Khoa Học ấy không thể lĩnh hội nó. Chỉ những người tin vào luân hồi và những người tin vào nghiệp quả mới lờ mờ nhận thấy rằng toàn bộ bí mật của Sự Sống nằm trong chuỗi liên tục không đứt đoạn của các biểu hiện của nó, dù ở trong hay ngoài thể xác. Bởi vì ngay cả nếu: Sự Sống, như một mái vòm bằng kính muôn màu, Nhuộm ánh huy hoàng trắng của Vĩnh Cửu — thì chính nó vẫn là một phần không thể tách rời của Vĩnh Cửu ấy; vì chỉ Sự Sống mới có thể thấu hiểu Sự Sống.

What is that “Spark” which “hangs from the Flame”? It is Jîva, the Monad in conjunction with Manas, or rather its aroma—that which remains from each Personality, when worthy, and hangs from Âtmâ-Buddhi, the Flame, by the Thread of Life. In whatever way it is interpreted, and into whatever number of principles the human being is divided, it may be easily shown that this doctrine is supported by all the ancient religions, from the Vedic to the Egyptian, from the Zoroastrian to the Jewish. In the case of the last-mentioned, the Kabalistic works offer abundant proof of this statement. The entire system of the Kabalistic numerals is based on the divine Septenary hanging from the Triad, thus forming the Decad, and its permutations 7, 5, 4, and 3, which, finally, all merge into the One itself; an endless and boundless Circle.

“Tia Lửa” “treo từ Ngọn Lửa” ấy là gì? Đó là Jîva, chân thần kết hợp với Manas, hay đúng hơn là hương khí của nó — cái còn lại từ mỗi Phàm ngã, khi xứng đáng, và treo từ Âtmâ-Buddhi, Ngọn Lửa, bằng Sinh Mệnh Tuyến. Dù được giải thích theo cách nào, và dù con người được chia thành bao nhiêu nguyên khí, cũng có thể dễ dàng chứng minh rằng giáo lý này được tất cả các tôn giáo cổ xưa ủng hộ, từ Vệ Đà đến Ai Cập, từ Bái Hỏa giáo đến Do Thái giáo. Trong trường hợp tôn giáo được nhắc sau cùng, các tác phẩm Kabbalah cung cấp bằng chứng dồi dào cho lời khẳng định này. Toàn bộ hệ thống các con số Kabbalah đặt nền trên Thất Phân thiêng liêng treo từ Tam Nguyên, nhờ đó tạo thành Thập Phân, cùng các hoán vị của nó là 7, 5, 4 và 3, cuối cùng tất cả đều hòa nhập vào chính Đấng Duy Nhất; một Vòng Tròn vô tận và vô biên.

As says the Zohar: The Deity [the ever invisible Presence] manifests itself through the ten Sephiroth, which are its radiating witnesses. The Deity is like the sea from which outflows a stream called Wisdom, the waters of which fall into a lake named Intelligence. From the basin, like seven channels, issue the Seven Sephiroth…. For tenequal seven: the Decad contains four Unities and three Binaries.

Như Zohar nói: Thượng đế [Sự Hiện Diện mãi mãi vô hình] biểu hiện chính mình qua mười Sephiroth, là những chứng nhân phát xạ của Ngài. Thượng đế giống như biển cả, từ đó tuôn ra một dòng suối gọi là Minh Triết, nước của dòng ấy đổ vào một hồ mang tên Trí Tuệ. Từ lòng hồ, như bảy kênh dẫn, phát xuất Bảy Sephiroth…. Vì mười bằng bảy: Thập Phân chứa bốn Đơn Vị và ba Nhị Phân.

The Ten Sephiroth correspond to the Limbs of Man.

Mười Sephiroth tương ứng với các Chi Thể của Con Người.

When I [the Elohim] framed Adam Kadmon, the Spirit of the Eternal shot out of his Body, like a sheet of lightning that radiated at once on the billows of the sevenmillions of skies, and my ten Splendours were his Limbs.

Khi Ta [các Elohim] tạo dựng Adam Kadmon, Tinh thần của Đấng Vĩnh Cửu phóng ra khỏi Thể của y, như một tấm chớp sáng lập tức tỏa chiếu trên các làn sóng của bảy triệu tầng trời, và mười Huy Hoàng của Ta là các Chi Thể của y.

But neither the Head nor the Shoulders of Adam Kadmon can be seen; therefore we read in the Siphra Dtzenioutha, the “Book of the Concealed Mystery”: In the beginning of Time, after the Elohim [the “Sons of Light and Life,” or the Builders] had shaped out of the eternal Essence the Heavens and the Earth, they formed the worlds six by six.

Nhưng không ai có thể thấy Đầu hay Vai của Adam Kadmon; vì thế chúng ta đọc trong Siphra Dtzenioutha, “Sách về Huyền Nhiệm Ẩn Giấu”: Vào khởi đầu của Thời Gian, sau khi các Elohim [“Các Con của Ánh Sáng và Sự Sống,” hay các Đấng Kiến Tạo] đã tạo hình Trời và Đất từ Tinh Chất vĩnh cửu, Các Ngài tạo lập các thế giới từng sáu một.

The seventh being Malkuth, which is our Earth 382 on its plane, and the lowest on all the other planes of conscious existence. The Chaldean Book of Numbers contains a detailed explanation of all this.

Thế giới thứ bảy là Malkuth, tức Trái Đất của chúng ta 382 trên cõi của nó, và là cõi thấp nhất trên tất cả các cõi khác của hiện tồn hữu thức. Sách Số của người Chaldea chứa một giải thích chi tiết về tất cả điều này.

The first triad of the Body of Adam Kadmon [the three upper planes of the seven  383] cannot be seen before the Soul stands in the presence of the Ancient of Days.

Tam nguyên đầu tiên của Thể Adam Kadmon [ba cõi trên của bảy cõi 383] không thể được thấy trước khi Linh hồn đứng trong hiện diện của Đấng Thái Cổ.

The Sephiroth of this upper Triad are: “1. Kether (the Crown), represented by the brow of Macroprosopus; 2. Chokmah (Wisdom, a male Principle), by his right shoulder; and 3. Binah (Intelligence, a female Principle), by the left shoulder.” Then come the seven Limbs, or Sephiroth, on the planes of manifestation; the totality of these four planes being represented by Microprosopus, the Lesser Face, or Tetragrammaton, the “four-lettered” Mystery. “The seven manifested and the three concealed Limbs are the Body of the Deity.”

Các Sephiroth của Tam Nguyên thượng này là: “1. Kether (Vương Miện), được biểu thị bằng trán của Macroprosopus; 2. Chokmah (Minh Triết, một nguyên khí nam), bằng vai phải của Ngài; và 3. Binah (Trí Tuệ, một nguyên khí nữ), bằng vai trái.” Kế đó đến bảy Chi Thể, hay Sephiroth, trên các cõi biểu hiện; tổng thể của bốn cõi này được biểu thị bằng Microprosopus, Khuôn Mặt Nhỏ Hơn, hay Tetragrammaton, Huyền Nhiệm “bốn chữ.” “Bảy Chi Thể biểu hiện và ba Chi Thể ẩn giấu là Thể của Thượng đế.”

Thus our Earth, Malkuth, is both the seventh and the fourth World; the former when counting from the first Globe above, the latter if reckoned by the planes. It is generated by the sixth Globe or Sephira, called Yezud, “Foundation,” or, as said in the Book of Numbers, “by Yezud, He [Adam Kadmon] fecundates the primitive Heva [Eve or our Earth].” Rendered in mystic language, this is the explanation why Malkuth, called the Inferior Mother, Matrona, Queen, and the Kingdom of the Foundation, is shown as the Bride of Tetragrammaton, or Microprosopus (the Second Logos), the Heavenly Man. When free from all impurity, she will become united with the Spiritual Logos, i.e., in the Seventh Race of the Seventh Round—after the regeneration, on the day of “Sabbath.” For the “Seventh Day” again has an occult significance undreamed of by our theologians.

Như vậy Trái Đất của chúng ta, Malkuth, vừa là Thế Giới thứ bảy vừa là Thế Giới thứ tư; là thứ bảy khi đếm từ Bầu hành tinh đầu tiên ở trên, và là thứ tư nếu tính theo các cõi. Nó được sinh ra bởi Bầu hành tinh hay Sephira thứ sáu, gọi là Yezud, “Nền Tảng,” hay như Sách Số nói, “bởi Yezud, Ngài [Adam Kadmon] làm thụ thai Heva nguyên thủy [Eve hay Trái Đất của chúng ta].” Diễn đạt bằng ngôn ngữ thần bí, đây là lời giải thích vì sao Malkuth, được gọi là Mẹ Thấp, Matrona, Nữ Hoàng, và Thiên Giới của Nền Tảng, được trình bày như Hiền Thê của Tetragrammaton, hay Microprosopus (Thượng đế Ngôi Hai), Đấng Thiên Nhân. Khi thoát khỏi mọi ô nhiễm, nàng sẽ trở nên hợp nhất với Thượng đế Tinh Thần, tức là trong Giống Dân thứ Bảy của Cuộc Tuần Hoàn thứ Bảy — sau cuộc tái sinh, vào ngày “Sabbath.” Vì “Ngày Thứ Bảy” lại có một thâm nghĩa huyền bí mà các nhà thần học của chúng ta chưa từng mơ tới.

When Matronitha, the Mother, is separated and brought face to face with the King, in the excellence of the Sabbath, all things become one body. 384

Khi Matronitha, Người Mẹ, được tách ra và được đưa mặt đối mặt với Đức Vua, trong sự tuyệt hảo của Sabbath, mọi sự trở thành một thể duy nhất. 384

“Become one body” means, that all is reabsorbed once more into the One Element, the spirits of men becoming Nirvânîs, and the elements of everything else becoming again what they were before—Protyle or Undifferentiated Substance. “Sabbath” means Rest, or Nirvâna. It is not the “seventh day” after six days, but a period the duration of which equals that of the seven “days,” or any period made up of seven parts. Thus a Pralaya is equal in duration to a Manvantara, or a Night of Brahmâ is equal to his Day. If the Christians will follow Jewish customs, they ought to adopt the spirit and not the dead letter thereof. They should work one week of seven days and rest seven days. That the word “Sabbath” had a mystic significance, is disclosed in the contempt shown by Jesus for the Sabbath day, and by what is said in Luke. 385 Sabbath is there taken for the whole week. See the Greek text where the week is called “Sabbath.” Literally, “I fast twice in the Sabbath.” Paul, an Initiate, knew it well when referring to the eternal rest and felicity in Heaven, as Sabbath: 386 “and their happiness will be eternal, for they will ever be [one] with the Lord, and will enjoy an eternal Sabbath.” 387

“Trở thành một thể duy nhất” có nghĩa là tất cả lại một lần nữa được tái hấp thu vào Nguyên tố Duy Nhất, các tinh thần của con người trở thành Nirvânîs, và các nguyên tố của mọi sự khác lại trở thành như chúng đã từng là trước kia — Protyle hay Chất liệu Chưa Biến Phân. “Sabbath” nghĩa là Nghỉ Ngơi, hay Niết Bàn. Đó không phải là “ngày thứ bảy” sau sáu ngày, mà là một thời kỳ có thời hạn bằng với thời hạn của bảy “ngày,” hay bất cứ thời kỳ nào gồm bảy phần. Như vậy một Giai kỳ qui nguyên có thời hạn bằng một Giai kỳ sinh hóa, hay một Đêm của Brahmâ bằng Ngày của Ngài. Nếu các tín đồ Cơ Đốc muốn theo phong tục Do Thái, họ nên tiếp nhận tinh thần chứ không phải văn tự chết của phong tục ấy. Họ nên làm việc một tuần gồm bảy ngày và nghỉ ngơi bảy ngày. Rằng từ “Sabbath” có một thâm nghĩa thần bí được tiết lộ qua sự xem nhẹ mà Đức Jesus biểu lộ đối với ngày Sabbath, và qua điều được nói trong Luke. 385 Ở đó Sabbath được hiểu là toàn bộ tuần lễ. Hãy xem bản văn Hy Lạp, nơi tuần lễ được gọi là “Sabbath.” Theo nghĩa đen, “Tôi nhịn ăn hai lần trong Sabbath.” Paul, một điểm đạo đồ, biết rõ điều đó khi nói đến sự nghỉ ngơi và phúc lạc vĩnh cửu trên Thiên Đường như Sabbath: 386 “và hạnh phúc của họ sẽ là vĩnh cửu, vì họ sẽ mãi mãi là [một] với Chúa, và sẽ hưởng một Sabbath vĩnh cửu.” 387

The difference between the Kabalah and the archaic Esoteric Vidyâ—taking the Kabalah as contained in the Chaldean Book of Numbers, not as misrepresented by its now disfigured copy, the Kabalah of the Christian Mystics—is very small indeed, being confined to unimportant divergences of form and expression. Thus Eastern Occultism refers to our Earth as the Fourth World, the lowest of the Chain, above which run upward on both curves the six Globes, three on each side. The Zohar, on the other hand, calls the Earth the lower, or the seventh, adding that upon the six depend all things which are in it (Microprosopus). The “Smaller Face [smaller because manifested and finite] is formed of six Sephiroth,” says the same work. “Seven Kings come and die in the thrice-destroyed World [Malkuth, our Earth, destroyed after each of the Three Rounds which it has gone through]. And their reign [that of the Seven Kings] will be broken up.” 388 This relates to the Seven Races, five of which have already appeared, and two more have still to appear in this Round.

Sự khác biệt giữa Kabalah và Vidyâ Nội Môn cổ xưa — nếu hiểu Kabalah như được chứa trong Sách Số của người Chaldea, chứ không phải như bị xuyên tạc bởi bản sao nay đã biến dạng của nó, tức Kabalah của các Nhà Thần Bí Cơ Đốc — thật ra rất nhỏ, chỉ giới hạn trong những sai khác không quan trọng về hình thức và cách diễn đạt. Như vậy Huyền bí học Đông phương gọi Trái Đất của chúng ta là Thế Giới Thứ Tư, thấp nhất của Dãy, phía trên nó sáu Bầu hành tinh chạy lên trên theo cả hai cung, ba ở mỗi bên. Mặt khác, Zohar gọi Trái Đất là thế giới thấp hơn, hay thế giới thứ bảy, và thêm rằng mọi sự ở trong nó (Microprosopus) đều tùy thuộc vào sáu thế giới ấy. “Khuôn Mặt Nhỏ Hơn [nhỏ hơn vì biểu hiện và hữu hạn] được tạo thành bởi sáu Sephiroth,” cùng tác phẩm ấy nói. “Bảy Vua đến và chết trong Thế Giới bị hủy diệt ba lần [Malkuth, Trái Đất của chúng ta, bị hủy diệt sau mỗi một trong Ba Cuộc Tuần Hoàn mà nó đã trải qua]. Và triều đại của họ [triều đại của Bảy Vua] sẽ bị phá vỡ.” 388 Điều này liên hệ đến Bảy Giống Dân, trong đó năm giống dân đã xuất hiện, và hai giống dân nữa vẫn còn phải xuất hiện trong Cuộc Tuần Hoàn này.

The Shinto allegorical accounts of cosmogony and the origin of man, in Japan, hint at the same belief.

Những tường thuật biểu tượng của Shinto về vũ trụ khởi nguyên và nguồn gốc con người, tại Nhật Bản, cũng ám chỉ cùng một niềm tin ấy.

Captain C. Pfoundes, who studied the religion underlying the various sects of the land, for nearly nine years in the monasteries of Japan, says: The Shinto idea of creation is as follows: Out of Chaos (Konton) the Earth (In) was the sediment precipitated, and the Heavens (Yo) the ethereal essences which ascended: Man (Jin) appeared between the two. The first man was called Kuni-to ko tatchino-mikoto, and five other names were given to him, and then the human race appeared, male and female. Isanagi and Isanami begat Tenshoko doijin, the first of the five Gods of the Earth.

Thuyền trưởng C. Pfoundes, người đã nghiên cứu tôn giáo nằm bên dưới các giáo phái khác nhau của xứ này trong gần chín năm tại các tu viện Nhật Bản, nói: Ý niệm Shinto về sáng tạo như sau: Từ Hỗn Mang (Konton), Trái Đất (In) là phần trầm tích được kết tủa, còn Trời (Yo) là các tinh chất dĩ thái đã thăng lên: Con Người (Jin) xuất hiện giữa hai bên. Người đầu tiên được gọi là Kuni-to ko tatchino-mikoto, và năm tên khác được đặt cho y, rồi nhân loại xuất hiện, nam và nữ. Isanagi và Isanami sinh ra Tenshoko doijin, vị đầu tiên trong năm Vị Thần của Trái Đất.

These “Gods” are simply our Five Races, Isanagi and Isanami being the two kinds of “Ancestors,” the two preceding Races which give birth to animal and to rational man.

Các “Vị Thần” này đơn giản là Năm Giống Dân của chúng ta, Isanagi và Isanami là hai loại “Tổ Tiên,” hai Giống Dân đi trước đã sinh ra con người thú và con người có lý trí.

It will be shown in Volume II, that the number seven, as well as the doctrine of the septenary constitution of man, was preeminent in all the secret systems. It plays as important a part in Western Kabalah as in Eastern Occultism. Éliphas Lévi calls the number seven “the key to the Mosaic creation and the symbols of every religion.” He shows the Kabalah faithfully following even the septenary division of man, for the diagram he gives in his Clef des Grands Mystères 389 is septenary. This may be seen at a glance, however cleverly the correct thought is veiled. One needs also only to look at the diagram, the “Formation of the Soul,” in Mathers’ Kabbalah Unveiled, 390 from the above mentioned, work of Lévi, to find the same, though with a different interpretation.

Trong Quyển II sẽ cho thấy rằng con số bảy, cũng như giáo lý về cấu tạo thất phân của con người, đã giữ địa vị tối thượng trong tất cả các hệ thống bí truyền. Nó đóng vai trò quan trọng trong Kabalah Tây phương cũng như trong Huyền bí học Đông phương. Éliphas Lévi gọi con số bảy là “chìa khóa của sáng tạo theo Moses và các biểu tượng của mọi tôn giáo.” Ông cho thấy Kabalah trung thành theo cả sự phân chia thất phân của con người, vì biểu đồ ông đưa ra trong Clef des Grands Mystères 389 là thất phân. Điều này có thể thấy ngay thoạt nhìn, dù tư tưởng đúng đắn được che phủ khéo léo đến đâu. Người ta cũng chỉ cần nhìn vào biểu đồ “Sự Hình Thành của Linh Hồn” trong Kabbalah Unveiled của Mathers, 390 lấy từ tác phẩm đã nhắc ở trên của Lévi, để thấy điều tương tự, dù với một diễn giải khác.

Thus it stands with both the Kabalistic and Occult names attached: Diagram IV

Vì vậy, nó hiện ra như sau với cả các danh xưng Kabbalah và Huyền bí học được gắn kèm:

Lévi calls Nephesh that which we name Manas, and vice versâ. Nephesh is the Breath of (animal) Life in man—the Breath of Life, instinctual in the animal; and Manas is the Third Soul—the human in its light side, and animal, in its connection with Samael or Kâma. Nephesh is really the “Breath of (animal) Life” breathed into Adam, the Man of Dust; it is consequently the Vital Spark, the informing Element. Without Manas, the “Reasoning Soul,” or Mind, which in Lévi’s diagram is miscalled Nephesh, Âtmâ-Buddhi is irrational on this plane and cannot act. It is Buddhi which is the Plastic Mediator; not Manas, the intelligent medium between the upper Triad and the lower Quaternary. But there are many such strange and curious transformations to be found in the Kabalistic works—a convincing proof that this literature has become a sad jumble. We do not accept the classification, except in this one particular, in order to show the points of agreement.

Lévi gọi Nephesh là cái mà chúng ta gọi là Manas, và ngược lại. Nephesh là Hơi Thở của Sự Sống (động vật) trong con người — Hơi Thở của Sự Sống, mang tính bản năng nơi con vật; còn Manas là Linh Hồn Thứ Ba — là nhân tính trong mặt sáng của nó, và là động vật trong mối liên hệ của nó với Samael hay Kâma. Nephesh thật sự là “Hơi Thở của Sự Sống (động vật)” được thổi vào Adam, Con Người của Bụi Đất; do đó nó là Tia Lửa Sinh Động, Nguyên tố thấm nhuần. Không có Manas, “Linh Hồn Lý Luận,” hay Thể trí, vốn trong biểu đồ của Lévi bị gọi sai là Nephesh, Âtmâ-Buddhi là phi lý trí trên cõi này và không thể hoạt động. Chính Buddhi là Trung Gian Dẻo Linh Động; không phải Manas, môi giới thông tuệ giữa Tam Nguyên thượng và Tứ Phân hạ. Nhưng có nhiều sự chuyển đổi kỳ lạ và lạ lùng như thế trong các tác phẩm Kabbalah — một bằng chứng thuyết phục rằng văn liệu này đã trở thành một mớ pha trộn đáng buồn. Chúng tôi không chấp nhận sự phân loại ấy, ngoại trừ riêng điểm này, để chỉ ra các điểm tương đồng.

We will now give in tabular form what the very cautious Éliphas Lévi says in explanation of his diagram, and what the Esoteric Doctrine teaches—and compare the two. Lévi, too, makes a distinction between Kabalistic and Occult Pneumatics.

Bây giờ chúng tôi sẽ trình bày dưới dạng bảng điều mà Éliphas Lévi rất thận trọng nói khi giải thích biểu đồ của ông, và điều mà Giáo Lý Nội Môn dạy — rồi so sánh hai điều ấy. Lévi cũng phân biệt giữa Khí học Kabbalah và Khí học Huyền bí.

Says Éliphas Lévi, the Kabalist:

Say the Theosophists:

Kabalistic Pneumatics.

Esoteric Pneumatics.

1. The Soul (or Ego) is a clothed light; and this light is triple.

1. The same; for it is Âtmâ-Buddhi-Manas.

2. Neshamah—pure Spirit.

2. The same 391.

3. Ruach—the Soul or Spirit.

3. Spiritual Soul.

4. Nephesh—Plastic Mediator. 392

4. Mediator between Spirit and Man, the Seat of Reason, the Mind, in man.

5. The garment of the Soul is the rind [body] of the Image [Astral Soul].

5. Correct.

6. The Image is double, because it reflects the good and the bad.

6. Too uselessly apocalyptic. Why not say that the Astral reflects the good as well as the bad man; man, who is ever tending to the upper Triad, or else disappears with the Quaternary.

7. [Image—Body.]

7. The Earthly Image.

Occult Pneumatics.

Occult Pneumatics.

(As given by Éliphas Lévi.)

(As given by the Occultists.)

1. Nephesh is immortal, because it renews its life by the destruction of forms. [But Nephesh, the “Breath of Life,” is a misnomer, and a useless puzzle to the student.]

1. Manas is immortal, because after every new incarnation it adds to Âtmâ-Buddhi something of itself; and thus, assimilating itself to the Monad, shares its immortality.

2. Ruach progresses by the evolution of ideas (!?).

2. Buddhi becomes conscious by the accretions it gets from Manas, on the death of man after every new incarnation.

3. Neshamah is progressive, without oblivion and destruction.

3. Âtmâ neither progresses, forgets, nor remembers. It does not belong to this plane; it is but the Ray of Light eternal which shines upon, and through, the darkness of matter—when the latter is willing.

4. The Soul has three dwellings.

4. The Soul—collectively, as the Upper Triad—lives on three planes, besides its fourth, the terrestrial sphere; and it is eternally on the highest of the three.

5. These dwellings are: the Plane of Mortals; the Superior Eden; and the Inferior Eden.

5. These dwellings are: Earth for the physical man, or Animal Soul; Kâma Loka (Hades, the Limbo) for the disembodied man, or his Shell; Devachan for the Higher Triad.

6. The Image [man] is a sphinx that offers the riddle of birth.

6. Correct.

7. The fatal Image [the Astral] endows Nephesh with its aptitudes; but Ruach is able to substitute for it the Image conquered in accordance with the inspirations of Neshamah.

7. The Astral, through Kâma (Desire), is ever drawing Manas down into the sphere of material passions and desires. But if the better Man, or Manas, tries to escape the fatal attraction, and turns its aspirations to Âtmâ (Neshamah), then Buddhi (Ruach) conquers, and carries Manas with it to the realm of eternal Spirit.

It is very evident that the French Kabalist either did not sufficiently know the real tenet, or distorted it to suit himself and his objects. Thus he says again, treating upon the same subject, as follows; and we Occultists answer the late Kabalist and his admirers also as follows: Such are the distorted copies of the Esoteric Doctrine in the Kabalah.

Rất hiển nhiên rằng nhà Kabbalah người Pháp này hoặc không biết đầy đủ giáo lý thực sự, hoặc đã bóp méo nó cho phù hợp với bản thân và mục đích của ông. Vì thế ông lại nói, khi bàn về cùng đề tài, như sau; và chúng tôi, những nhà Huyền bí học, cũng trả lời nhà Kabbalah quá cố và những người ngưỡng mộ ông như sau: Đó là những bản sao méo mó của Giáo Lý Nội Môn trong Kabalah.

But to return to Shloka 5 of Stanza VII.

Nhưng hãy trở lại với Shloka 5 của Bài kệ VII.

(b) The well-known Kabalistic aphorism runs: “A stone becomes a plant; a plant, a beast; the beast, a man; a man, a spirit; and the spirit, a god.” The “Spark” animates all the kingdoms, in turn, before it enters into and informs Divine Man, between whom and his predecessor animal man, there is all the difference in the world. Genesis begins its anthropology at the wrong end—evidently for a blind—and lands nowhere. The introductory chapters of Genesis were never meant to represent even a remote allegory of the creation of our Earth. They embrace a metaphysical conception of some indefinite period, in eternity, when successive attempts were being made by the law of evolution at the formation of universes. The idea is plainly stated in the Zohar: There were old Worlds, which perished as soon as they came into existence, were formless, and were called Sparks. Thus, the smith, when hammering the iron, lets the sparks fly in all directions. The Sparks are the primordial Worlds, which could not continue because the Sacred Aged (Sephira) had not as yet assumed its form (of androgyne, or opposite sexes) of King and Queen (Sephira and Kadmon), and the Master was not yet at his work. 393

(b) Cách ngôn Kabbalah nổi tiếng nói: “Một hòn đá trở thành một cây; một cây, một con thú; con thú, một con người; một con người, một tinh thần; và tinh thần, một vị thần.” “Tia Lửa” lần lượt làm sinh động tất cả các giới, trước khi nó đi vào và thấm nhuần Con Người Thiêng Liêng; giữa con người ấy và tiền thân của y là người thú, có một khác biệt vô cùng lớn. Genesis bắt đầu nhân học của nó từ đầu sai — rõ ràng là để làm màn che — và chẳng dẫn đến đâu. Những chương mở đầu của Genesis chưa bao giờ nhằm biểu thị ngay cả một ẩn dụ xa xôi về sự sáng tạo Trái Đất của chúng ta. Chúng bao hàm một quan niệm siêu hình về một thời kỳ không xác định nào đó, trong vĩnh cửu, khi những nỗ lực nối tiếp nhau đang được định luật tiến hoá thực hiện nhằm hình thành các vũ trụ. Ý tưởng này được nêu rõ trong Zohar: Đã có những Thế Giới xưa, chúng diệt vong ngay khi đi vào hiện tồn, không có hình tướng, và được gọi là các Tia Lửa. Như vậy, người thợ rèn, khi đập sắt, làm các tia lửa bay ra mọi hướng. Các Tia Lửa là những Thế Giới nguyên sơ, không thể tiếp tục tồn tại vì Đấng Cổ Xưa Thiêng Liêng (Sephira) khi ấy chưa khoác lấy hình tướng của Ngài (như lưỡng tính, hay hai phái đối lập) là Vua và Nữ Hoàng (Sephira và Kadmon), và Chân sư chưa bắt đầu công việc của Ngài. 393

Had Genesis begun as it ought, one would have found in it, first, the Celestial Logos, the “Heavenly Man,” which evolves as a Compound Unit of Logoi, out of which, after their pralayic sleep—a sleep that gathers the Numbers scattered on the mâyâvic plane into One, as the separate globules of quicksilver on a plate blend into one mass—the Logoi appear in their totality as the first “Male and Female,” or Adam Kadmon, the “Fiat Lux” of the Bible, as we have already seen. But this transformation did not take place on our Earth, nor on any material plane, but in the Spacial Depths of the first differentiation of the eternal Root-Matter. On our nascent Globe, things proceed differently. The Monad or Jîva, as said in Isis Unveiled, 394 is, first of all, shot down by the Law of Evolution into the lowest form of matter—the mineral. After a sevenfold gyration encased in the stone, or that which will become mineral and stone in the Fourth Round, it creeps out of it, say, as a lichen. Passing thence, through all the forms of vegetable matter, into what is termed animal matter, it has now reached the point at which it has become the germ, so to speak, of the animal, that will become the physical man. All this, up to the Third Round, is formless, as matter, and senseless, as consciousness. For the Monad, or Jîva, per se, cannot be called even Spirit: it is a Ray, a Breath of the Absolute, or the Absoluteness rather; and the Absolute Homogeneity, having no relations with the conditioned and relative finiteness, is unconscious on our plane. Therefore, besides the material which will be needed for its future human form, the Monad requires (a) a spiritual model, or prototype, for that material to shape itself into; and (b) an intelligent consciousness, to guide its evolution and progress, neither of which is possessed by the homogeneous Monad, or by senseless though living matter. The Adam of dust requires the Soul of Life to be breathed into him: the two middle Principles, which are the sentient Life of the irrational animal and the Human Soul, for the former is irrational without the latter. It is only when, from a potential androgyne, man has become separated into male and female, that he will be endowed with this conscious, rational, individual Soul (Manas), “the principle, or the intelligence, of the Elohim,” to receive which, he has to eat of the fruit of Knowledge from the Tree of Good and Evil. How is he to obtain all this? The Occult Doctrine teaches that while the Monad is cycling on downward into matter, these very Elohim, or Pitris—the lower Dhyân Chohans—are evolving, pari passu with it, on a higher and more spiritual plane, descending also relatively into matter, on their own plane of consciousness, when, after having reached a certain point, they will meet the incarnating senseless Monad, encased in the lowest matter, and blending the two potencies, Spirit and Matter, the union will produce that terrestrial symbol of the “Heavenly Man” in space—Perfect Man. In the Sânkhya Philosophy, Purusha (Spirit) is spoken of as something impotent unless it mounts on the shoulders of Prakriti (Matter), which, left alone, is—senseless. But in the Secret Philosophy they are viewed as graduated. Spirit and Matter, though one and the same thing in their origin, when once they are on the plane of differentiation, begin each of them their evolutionary progress in contrary directions—Spirit falling gradually into Matter, and the latter ascending to its original condition, that of a pure spiritual Substance. Both are inseparable, yet ever separated. On the physical plane, two like poles will always repel each other, while the negative and the positive are mutually attracted; so do Spirit and Matter stand to each other—the two poles of the same homogeneous Substance, the Root-Principle of the Universe.

Nếu Genesis bắt đầu như đáng lẽ phải thế, trước hết người ta đã tìm thấy trong đó Thượng đế Thiên Thượng, “Đấng Thiên Nhân,” Đấng tiến hoá như một Đơn Vị Hợp Thành gồm các Thượng đế; từ Các Ngài, sau giấc ngủ qui nguyên — một giấc ngủ gom các Con Số tản mác trên cõi ảo lực vào Một, như các hạt thủy ngân riêng rẽ trên một tấm kim loại hòa vào một khối — các Thượng đế xuất hiện trong toàn thể tính của Các Ngài như “Nam và Nữ” đầu tiên, hay Adam Kadmon, “Fiat Lux” của Kinh Thánh, như chúng ta đã thấy. Nhưng sự chuyển đổi này không diễn ra trên Trái Đất của chúng ta, cũng không trên bất cứ cõi vật chất nào, mà trong các Chiều Sâu Không Gian của sự biến phân đầu tiên của Vật Chất Gốc vĩnh cửu. Trên Bầu hành tinh non trẻ của chúng ta, mọi sự diễn tiến khác đi. Chân thần hay Jîva, như đã nói trong Isis Unveiled, 394 trước hết bị Định luật Tiến Hoá phóng xuống hình thức thấp nhất của vật chất — giới kim thạch. Sau một vòng xoay thất phân khi bị bao bọc trong đá, hay trong cái sẽ trở thành khoáng vật và đá ở Cuộc Tuần Hoàn Thứ Tư, nó bò ra khỏi đó, chẳng hạn như một loài địa y. Từ đó đi qua tất cả các hình thức của vật chất thực vật, vào cái được gọi là vật chất động vật, nay nó đã đạt đến điểm mà có thể nói nó đã trở thành mầm của con vật sẽ trở thành con người hồng trần. Tất cả điều này, cho đến Cuộc Tuần Hoàn Thứ Ba, là vô hình tướng xét như vật chất, và vô cảm giác xét như tâm thức. Vì chân thần, hay Jîva, chính nó, thậm chí không thể được gọi là Tinh thần: nó là một Tia, một Hơi Thở của Tuyệt Đối, hay đúng hơn của Tính Tuyệt Đối; và Tính Đồng Nhất Tuyệt Đối, không có quan hệ với tính hữu hạn có điều kiện và tương đối, là vô thức trên cõi của chúng ta. Do đó, ngoài chất liệu cần thiết cho hình tướng con người tương lai của nó, chân thần còn cần (a) một mô hình tinh thần, hay nguyên mẫu, để chất liệu ấy tự tạo hình theo đó; và (b) một tâm thức thông tuệ, để hướng dẫn sự tiến hoá và tiến bộ của nó; cả hai điều này đều không được chân thần đồng nhất, hay vật chất vô cảm giác dù đang sống, sở hữu. Adam bằng bụi đất cần Linh Hồn của Sự Sống được thổi vào y: hai Nguyên khí trung gian, là Sự Sống cảm giác của con vật phi lý trí và Linh Hồn Con Người, vì cái trước là phi lý trí nếu không có cái sau. Chỉ khi, từ một lưỡng tính tiềm tàng, con người đã tách thành nam và nữ, y mới được phú cho Linh Hồn cá biệt, hữu thức, có lý trí này (Manas), “nguyên khí, hay trí tuệ, của các Elohim,” để nhận được nó, y phải ăn trái Tri Thức từ Cây Thiện và Ác. Làm thế nào y có được tất cả điều này? Giáo Lý Huyền bí dạy rằng trong khi chân thần đi theo chu kỳ đi xuống vào vật chất, chính các Elohim này, hay các Pitris — các Dhyân Chohans thấp — cũng tiến hoá song hành với nó trên một cõi cao hơn và tinh thần hơn, cũng tương đối đi xuống vào vật chất, trên cõi tâm thức riêng của Các Ngài; khi sau khi đã đạt đến một điểm nào đó, Các Ngài sẽ gặp chân thần đang nhập thể nhưng vô cảm giác, được bao bọc trong vật chất thấp nhất; và bằng cách hòa trộn hai tiềm năng, Tinh thần và Vật chất, sự hợp nhất sẽ tạo ra biểu tượng trần gian của “Đấng Thiên Nhân” trong không gian — Con Người Hoàn Hảo. Trong Triết học Sânkhya, Purusha (Tinh thần) được nói đến như một cái gì bất lực nếu nó không cưỡi lên vai Prakriti (Vật chất), mà nếu bị bỏ mặc một mình thì vô cảm giác. Nhưng trong Triết học Bí nhiệm, chúng được xem là có cấp độ. Tinh thần và Vật chất, dù là một và cùng một điều trong nguồn gốc của chúng, một khi đã ở trên cõi biến phân, thì mỗi bên bắt đầu tiến trình tiến hoá theo những hướng ngược nhau — Tinh thần dần dần rơi vào Vật chất, còn Vật chất thăng lên trạng thái nguyên thủy của nó, tức một Chất liệu tinh thần thuần khiết. Cả hai không thể tách rời, nhưng luôn luôn tách biệt. Trên cõi hồng trần, hai cực giống nhau sẽ luôn đẩy nhau, trong khi cực âm và cực dương hút nhau; Tinh thần và Vật chất cũng đứng trong quan hệ với nhau như thế — hai cực của cùng một Chất liệu đồng nhất, Nguyên khí Gốc của Vũ Trụ.

Therefore, when the hour strikes for Purusha to mount on Prakriti’s shoulders for the formation of the Perfect Man—rudimentary man of the first Two and a Half Races being only the first, gradually evolving into the most perfect, of mammals—the Celestial Ancestors (Entities from preceding Worlds, called in India the Shishta) step in on this our plane, and incarnate in the physical or animal man, as the Pitris had stepped in before them for the formation of the latter. Thus the two processes for the two “creations”—the animal and the divine man—differ greatly. The Pitris shoot out from their ethereal bodies still more ethereal and shadowy similitudes of themselves, or what we should now call “doubles,” or “astral forms,” in their own likeness. 395 This furnishes the Monad with its first dwelling, and blind matter with a model around and upon which to build henceforth. But Man is still incomplete. From Svâyambhuva Manu, 396 from whom descended the seven primitive Manus, or Prajâpatis, each of whom gave birth to a primitive Race of men, down to the Codex Nazaræus, in which Karabtanos, or Fetahil, blind concupiscent Matter, begets on his Mother, Spiritus, seven Figures, each of which stands as the progenitor of one of the primeval seven Races—this doctrine has left its impress on every archaic scripture.

Vì vậy, khi giờ điểm cho Purusha cưỡi lên vai Prakriti để hình thành Con Người Hoàn Hảo — con người sơ khai của Hai Giống Dân Rưỡi đầu tiên chỉ là loài đầu tiên, dần dần tiến hoá thành loài hoàn hảo nhất trong các động vật có vú — thì các Tổ Tiên Thiên Thượng (các Thực Thể từ những Thế Giới trước, ở Ấn Độ gọi là Shishta) can dự vào cõi này của chúng ta, và nhập thể trong con người hồng trần hay động vật, như các Pitris đã can dự trước Các Ngài để hình thành con người sau này. Như vậy hai tiến trình dành cho hai cuộc “sáng tạo” — con người động vật và con người thiêng liêng — khác nhau rất lớn. Các Pitris phóng ra từ các thể dĩ thái của Các Ngài những hình giống chính Các Ngài còn dĩ thái hơn và mờ bóng hơn, hay cái mà ngày nay chúng ta gọi là “bản sao,” hay “hình tướng cảm dục,” theo hình ảnh của chính Các Ngài. 395 Điều này cung cấp cho chân thần nơi cư ngụ đầu tiên của nó, và cung cấp cho vật chất mù quáng một mô hình quanh đó và trên đó nó từ nay sẽ xây dựng. Nhưng Con Người vẫn còn chưa hoàn chỉnh. Từ Svâyambhuva Manu, 396 từ Ngài xuất phát bảy Manus nguyên thủy, hay Prajâpatis, mỗi Vị sinh ra một Giống Dân nguyên thủy của loài người, cho đến Codex Nazaræus, trong đó Karabtanos, hay Fetahil, Vật Chất mù quáng đầy dục vọng, sinh ra với Mẹ mình, Spiritus, bảy Hình Tượng, mỗi hình tượng đứng như tổ phụ của một trong bảy Giống Dân nguyên sơ — giáo lý này đã để lại dấu ấn trên mọi thánh thư cổ xưa.

“Who forms Manu [the Man] and who forms his body? The Life and the Lives. Sin 397 and the Moon.” Here Manu stands for the spiritual, heavenly Man, the real and non-dying Ego in us, which is the direct emanation of the “One Life,” or the Absolute Deity. As to our outward physical bodies, the house of the tabernacle of the Soul, the Doctrine teaches a strange lesson; so strange that unless thoroughly explained, and as thoroughly comprehended, it is only the exact science of the future that is destined to fully vindicate the theory.

“Ai tạo thành Manu [Con Người] và ai tạo thành thể của y? Sự sống và các sự sống. Sin 397 và Mặt Trăng.” Ở đây Manu tượng trưng cho Con Người tinh thần, thiên thượng, Chân ngã thực sự và bất tử trong chúng ta, là xuất lộ trực tiếp của “Sự Sống Duy Nhất,” hay Thượng đế Tuyệt Đối. Còn về các thể xác bên ngoài của chúng ta, ngôi nhà của đền tạm của Linh Hồn, Giáo Lý dạy một bài học kỳ lạ; kỳ lạ đến mức nếu không được giải thích thấu đáo, và được lĩnh hội cũng thấu đáo như vậy, thì chỉ có khoa học chính xác của tương lai mới được định sẵn để hoàn toàn biện minh cho lý thuyết này.

It has been stated before now that Occultism does not accept anything inorganic in the Kosmos. The expression employed by Science, “inorganic substance,” means simply that the latent life, slumbering in the molecules of so-called “inert matter,” is incognizable. All is Life, and every atom of even mineral dust is a Life, though beyond our comprehension and perception, because it is outside the range of the laws known to those who reject Occultism. “The very atoms,” says Tyndall, “seem instinct with a desire for life.” Whence, then, we would ask, comes the tendency “to run into organic form”? Is it in any way explicable except according to the teachings of Occult Science?

Trước đây đã từng nói rằng Huyền bí học không chấp nhận bất cứ điều gì vô cơ trong Vũ Trụ. Cụm từ mà Khoa Học dùng, “chất liệu vô cơ,” đơn giản có nghĩa là sự sống tiềm ẩn, đang ngủ trong các phân tử của cái gọi là “vật chất trơ,” là điều không thể nhận biết. Tất cả là Sự Sống, và mỗi nguyên tử ngay cả của bụi khoáng cũng là một Sự Sống, dù vượt ngoài sự lĩnh hội và nhận thức của chúng ta, bởi nó nằm ngoài phạm vi các định luật mà những người bác bỏ Huyền bí học biết đến. “Chính các nguyên tử,” Tyndall nói, “dường như đầy bản năng với một khát vọng hướng tới sự sống.” Vậy thì, chúng tôi xin hỏi, khuynh hướng “đi vào hình thức hữu cơ” đến từ đâu? Có thể giải thích nó bằng cách nào khác ngoài các giáo huấn của Khoa Học Huyền bí?

The Worlds, to the profane, are built up of the known Elements. To the conception of an Arhat, these Elements are themselves, collectively, a Divine Life; distributively, on the plane of manifestations, the numberless and countless crores of Lives. Fire alone is One, on the plane of the One Reality: on that of manifested, hence illusive, Being, its particles are fiery Lives which live and have their being at the expense of every other Life that they consume. Therefore they are named the “Devourers.”… Every visible thing in this Universe was built by such Lives, from conscious and divine primordial man down to the unconscious agents that construct matter…. From the One Life, formless and uncreate, proceeds the Universe of Lives. First was manifested from the Deep [Chaos] cold luminous Fire [gaseous light?], which formed the Curds in Space [irresolvable nebulæ, perhaps?]… These fought, and a great heat was developed by the encountering and collision, which produced rotation. Then came the first manifested Material Fire, the hot Flames, the Wanderers in Heaven [Comets]. Heat generates moist vapour; that forms solid water [?]; then dry mist, then liquid mist, watery, that puts out the luminous brightness of the Pilgrims [Comets?], and forms solid watery Wheels [Matter Globes]. Bhümi [the Earth] appears with six sisters. These produce by their continuous motion the inferior fire, heat, and an aqueous mist, which yields the third World-Element—Water; and from the breath of all [atmospheric] Air is born. These four are the four Lives of the first four Periods [Rounds] of Manvantara. The three last will follow.

Đối với người phàm tục, các Thế Giới được xây dựng từ những Nguyên tố đã biết. Đối với quan niệm của một Arhat, các Nguyên tố này, xét tập thể, chính là một Sự Sống Thiêng Liêng; xét phân bố trên cõi biểu hiện, là vô số và không thể đếm xiết crores Sự Sống. Chỉ Lửa là Một, trên cõi của Thực Tại Duy Nhất: trên cõi của Bản Thể đã biểu hiện, và do đó hư ảo, các hạt của nó là những Sự Sống bằng lửa, sống và hiện tồn bằng cái giá của mọi Sự Sống khác mà chúng tiêu thụ. Vì vậy chúng được gọi là “Những Kẻ Nuốt Chửng.”… Mọi sự hữu hình trong Vũ Trụ này đều được xây dựng bởi những Sự Sống như thế, từ con người nguyên sơ hữu thức và thiêng liêng cho đến các tác nhân vô thức kiến tạo vật chất…. Từ Sự Sống Duy Nhất, vô hình tướng và không được tạo sinh, phát xuất Vũ Trụ của các Sự Sống. Trước tiên, từ Vực Sâu [Hỗn Mang] biểu hiện Lửa lạnh phát sáng [ánh sáng thể khí chăng?], tạo thành các Khối Sữa trong Không Gian [có lẽ là các tinh vân không thể phân giải?]… Chúng giao tranh, và một nhiệt lượng lớn được phát triển do sự gặp gỡ và va chạm, tạo ra chuyển động quay. Rồi đến Lửa Vật Chất biểu hiện đầu tiên, các Ngọn Lửa nóng, những Kẻ Lang Thang trên Trời [Sao Chổi]. Nhiệt sinh ra hơi ẩm; hơi ấy tạo thành nước đặc [?]; rồi sương khô, rồi sương lỏng, có nước, dập tắt ánh sáng rực rỡ của các Hành Giả [Sao Chổi?], và tạo thành các Bánh Xe nước đặc [Các Bầu Vật Chất]. Bhümi [Trái Đất] xuất hiện cùng sáu chị em. Bằng chuyển động liên tục của mình, các chị em này tạo ra lửa thấp, nhiệt, và một làn sương nước, sinh ra Nguyên Tố Thế Giới thứ ba — Nước; và từ hơi thở của tất cả, Không Khí [khí quyển] được sinh ra. Bốn thứ này là bốn Sự Sống của bốn Thời Kỳ [Cuộc Tuần Hoàn] đầu tiên của Giai kỳ sinh hóa. Ba thứ cuối sẽ theo sau.

The Commentary first speaks of the “numberless and countless crores of Lives.” Is Pasteur, then, unconsciously taking the first step toward Occult Science, in declaring that, if he dared express his ideas fully upon this subject, he would say, that the organic cells are endowed with a vital potency that does not cease its activity with the cessation of a current of oxygen towards them, and does not, on that account, break off its relations with life itself, which is supported by the influence of that gas? “I would add,” continues Pasteur, “that the evolution of the germ is accomplished by means of complicated phenomena, among which we must class processes of fermentation”; and life, according to Claude Bernard and Pasteur, is nothing else than a process of fermentation. That there exist in Nature Beings, or Lives, that can live and thrive without air, even on our Globe, has been demonstrated by the same Scientists. Pasteur found that many of the lower lives, such as vibriones, and other microbes and bacteria, could exist without air, which, on the contrary, killed them. They derived the oxygen necessary for their multiplication from the various substances that surrounded them. He calls them ærobes, living on the tissues of our matter, when the latter has ceased to form a part of an integral and living whole (then called very unscientifically by Science “dead matter”), and anærobes. The one kind binds oxygen, and contributes greatly to the destruction of animal life and vegetable tissues, furnishing to the atmosphere materials which enter, later on, into the constitution of other organisms; the other finally destroys, or rather annihilates, the so-called organic substance; ultimate decay being impossible without their participation. Certain germ-cells, such as those of yeast, develop and multiply in air, but when deprived of it, they will adapt themselves to life without air and become ferments, absorbing oxygen from substances coming in contact with them, and thereby ruining the latter. The cells in fruit, when lacking free oxygen, act as ferments and stimulate fermentation. “Therefore the vegetable cell, in this case, manifests its life as an anærobic being. Why, then, should an organic cell form, in this case, an exception?” asks Professor Bogolubof. Pasteur shows that in the substance of our tissues and organs, the cell, not finding sufficient oxygen for itself, stimulates fermentation in the same way as the fruit-cell, and Claude Bernard thought that Pasteur’s idea of the formation of ferments found its application and corroboration in the fact that urea increases in the blood during strangulation. Life therefore is everywhere in the Universe, and, Occultism teaches us, it is also in the atom.

Trước tiên, Cổ Luận nói về “vô số và không thể đếm xiết crores Sự Sống.” Vậy thì, có phải Pasteur đang vô thức bước bước đầu tiên hướng tới Khoa Học Huyền bí, khi tuyên bố rằng, nếu ông dám diễn đạt đầy đủ các ý tưởng của mình về đề tài này, ông sẽ nói rằng các tế bào hữu cơ được phú cho một tiềm năng sinh lực, không ngừng hoạt động khi dòng oxy hướng đến chúng chấm dứt, và vì lý do đó cũng không cắt đứt quan hệ của chúng với chính sự sống, vốn được duy trì bởi ảnh hưởng của khí ấy? Pasteur tiếp tục: “Tôi xin thêm rằng sự tiến hoá của mầm được hoàn thành nhờ những hiện tượng phức tạp, trong đó chúng ta phải xếp các tiến trình lên men”; và sự sống, theo Claude Bernard và Pasteur, không gì khác hơn là một tiến trình lên men. Rằng trong Thiên Nhiên có tồn tại các Hữu Thể, hay các Sự Sống, có thể sống và phát triển không cần không khí, ngay cả trên Bầu hành tinh của chúng ta, đã được chính các Nhà Khoa Học ấy chứng minh. Pasteur thấy rằng nhiều sự sống thấp, như vibriones, và các vi sinh vật cùng vi khuẩn khác, có thể tồn tại không cần không khí, vốn trái lại còn giết chết chúng. Chúng lấy oxy cần thiết cho sự sinh sôi của mình từ những chất liệu khác nhau bao quanh chúng. Ông gọi chúng là ærobes, sống trên các mô của vật chất chúng ta, khi vật chất ấy đã thôi là một phần của một toàn thể toàn vẹn và sống động (khi ấy bị Khoa Học gọi một cách rất phi khoa học là “vật chất chết”), và anærobes. Loại thứ nhất kết hợp oxy, và góp phần lớn vào sự hủy hoại sự sống động vật và các mô thực vật, cung cấp cho khí quyển những chất liệu về sau đi vào cấu tạo của các cơ thể khác; loại thứ hai cuối cùng phá hủy, hay đúng hơn là tiêu diệt, cái gọi là chất liệu hữu cơ; sự phân rã cuối cùng là điều không thể có nếu không có sự tham gia của chúng. Một số tế bào mầm, như tế bào men, phát triển và sinh sôi trong không khí, nhưng khi bị tước không khí, chúng sẽ thích nghi với đời sống không có không khí và trở thành các tác nhân lên men, hấp thụ oxy từ các chất liệu tiếp xúc với chúng, và nhờ đó làm hỏng các chất liệu ấy. Các tế bào trong trái cây, khi thiếu oxy tự do, hoạt động như tác nhân lên men và kích thích sự lên men. “Vậy thì tế bào thực vật, trong trường hợp này, biểu hiện sự sống của nó như một Hữu Thể yếm khí. Tại sao, trong trường hợp này, một tế bào hữu cơ lại phải là một ngoại lệ?” Giáo sư Bogolubof hỏi. Pasteur cho thấy rằng trong chất liệu của các mô và cơ quan của chúng ta, tế bào, khi không tìm được đủ oxy cho chính nó, kích thích sự lên men theo cùng cách như tế bào trái cây; và Claude Bernard cho rằng ý tưởng của Pasteur về sự hình thành các tác nhân lên men đã tìm được ứng dụng và sự xác nhận trong sự kiện urê tăng lên trong máu khi bị nghẹt thở. Vì vậy Sự Sống ở khắp nơi trong Vũ Trụ, và Huyền bí học dạy chúng ta rằng nó cũng ở trong nguyên tử.

“Bhûmi appears with six sisters,” says the Commentary. It is a Vedic teaching that “there are three Earths, corresponding to three Heavens, and our Earth [the fourth] is called Bhûmi.” This is the explanation given by our exoteric Western Orientalists. But the esoteric meaning, and allusion to it in the Vedas, is that it refers to our Planetary Chain; “three Earths” on the descending arc, and “three Heavens,” which are three Earths or Globes also, only far more ethereal, on the ascending or spiritual arc. By the first three we descend into Matter, by the other three we ascend into Spirit; the lowest one, Bhûmi, our Earth, forming the turning point, so to say, and containing, potentially, as much of Spirit as it does of Matter. But we shall treat of this hereafter.

“Bhûmi xuất hiện cùng sáu chị em,” Cổ Luận nói. Đó là một giáo huấn Vệ Đà rằng “có ba Trái Đất, tương ứng với ba Cõi Trời, và Trái Đất của chúng ta [cõi thứ tư] được gọi là Bhûmi.” Đây là lời giải thích do các nhà Đông phương học Tây phương ngoại môn của chúng ta đưa ra. Nhưng ý nghĩa nội môn, và sự ám chỉ đến nó trong Vedas, là điều này nói đến Dãy Hành Tinh của chúng ta; “ba Trái Đất” trên cung đi xuống, và “ba Cõi Trời,” cũng là ba Trái Đất hay Bầu hành tinh, chỉ dĩ thái hơn nhiều, trên cung đi lên hay cung tinh thần. Bằng ba cõi đầu, chúng ta đi xuống vào Vật Chất; bằng ba cõi kia, chúng ta đi lên vào Tinh Thần; cõi thấp nhất, Bhûmi, Trái Đất của chúng ta, có thể nói là tạo thành điểm ngoặt, và chứa đựng, một cách tiềm tàng, nhiều Tinh Thần như Vật Chất. Nhưng chúng ta sẽ bàn đến điều này về sau.

The general teaching of the Commentary, then, is that every new Round develops one of the Compound Elements, as now known to Science, which rejects the primitive nomenclature, preferring to subdivide them into constituents. If Nature is the “Ever-Becoming” on the manifested plane, then these Elements are to be regarded in the same light: they have to evolve, progress, and increase to the manvantaric end.

Vậy thì, giáo huấn tổng quát của Cổ Luận là mỗi Cuộc Tuần Hoàn mới phát triển một trong các Nguyên Tố Hợp Thành, như Khoa Học hiện nay biết đến, tuy Khoa Học bác bỏ danh pháp nguyên thủy và thích chia nhỏ chúng thành các thành phần cấu tạo. Nếu Thiên Nhiên là “Cái Luôn Đang Trở Thành” trên cõi biểu hiện, thì các Nguyên Tố này cũng phải được xem dưới cùng ánh sáng ấy: chúng phải tiến hoá, tiến bộ và gia tăng cho đến tận cuối Giai kỳ sinh hóa.

Thus the First Round, we are taught, developed but one Element, and a nature and humanity in what may be spoken of as one aspect of Nature—called by some, very unscientifically, though it may be so de facto, “one-dimensional space.”

Như vậy, chúng ta được dạy rằng Cuộc Tuần Hoàn Thứ Nhất chỉ phát triển một Nguyên Tố, cùng một thiên nhiên và nhân loại trong điều có thể được nói đến như một phương diện duy nhất của Thiên Nhiên — được một số người gọi, rất thiếu khoa học, dù trên thực tế có thể là như vậy, là “không gian một chiều.”

The Second Round brought forth and developed two Elements, Fire and Earth; and its humanity, adapted to this condition of Nature, if we can give the name humanity to beings living under conditions now unknown to men, was—to use again a familiar phrase in a strictly figurative sense, the only way in which it can be used correctly—a “two-dimensional” species.

Cuộc tuần hoàn thứ hai đã đưa ra và phát triển hai Nguyên tố, Lửa và Đất; và nhân loại của nó, thích nghi với tình trạng này của Thiên nhiên, nếu chúng ta có thể gọi là nhân loại những sinh linh sống trong các điều kiện nay con người chưa biết, là — lại dùng một cụm từ quen thuộc theo nghĩa hoàn toàn biểu tượng, cách duy nhất mà nó có thể được dùng đúng — một chủng loại “hai chiều”.

The processes of natural development which we are now considering will at once elucidate and discredit the fashion of speculating on the attributes of two, three, and four or more dimensional space; but, in passing, it is worth while to point out the real significance of the sound, but incomplete, intuition that has prompted—among Spiritualists and Theosophists, and several great men of Science, for the matter of that 398—the use of the modern expression, the “fourth dimension of space.” To begin with, the superficial absurdity of assuming that Space itself is measurable in any direction is of little consequence. The familiar phrase can only be an abbreviation of the fuller form—the “fourth dimension of matter, in Space.” 399 But even thus expanded, it is an unhappy phrase, because while it is perfectly true that the progress of evolution may be destined to introduce us to new characteristics of matter, those with which we are already familiar are really more numerous than the three dimensions. The qualities, or what is perhaps the best available term, the characteristics of matter, must clearly bear a direct relation always to the senses of man. Matter has extension, colour, motion (molecular motion), taste and smell, corresponding to the existing senses of man, and the next characteristic it develops—let us call it for the moment “Permeability”—will correspond to the next sense of man, which we may call “Normal Clairvoyance.” Thus, when some bold thinkers have been thirsting for a fourth dimension, to explain the passage of matter through matter, and the production of knots upon an endless cord, they have been in want of a sixth characteristic of matter. The three dimensions belong really to only one attribute, or characteristic, of matter—extension; and popular common sense justly rebels against the idea that, under any condition of things, there can be more than three of such dimensions as length, breadth and thickness. These terms, and the term “dimension” itself, all belong to one plane of thought, to one stage of evolution, to one characteristic of matter. So long as there are foot-rules within the resources of cosmos, to apply to matter, so long will they be able to measure it three ways and no more; just as, from the time the idea of measurement first occupied a place in the human understanding, it has been possible to apply measurement in three directions and no more. But these considerations do not in any way militate against the certainty that, in the progress of time, as the faculties of humanity are multiplied, so will the characteristics of matter be multiplied also. Meanwhile, the expression is far more incorrect than even the familiar phrase of the sun’s “rising” or “setting.”

Các tiến trình phát triển tự nhiên mà chúng ta đang xem xét sẽ lập tức làm sáng tỏ và bác bỏ lối suy đoán thời thượng về các thuộc tính của không gian hai, ba, và bốn chiều hoặc nhiều hơn; nhưng nhân tiện, cũng đáng chỉ ra thâm nghĩa thật sự của trực giác đúng đắn nhưng chưa trọn vẹn, vốn đã thúc đẩy — trong giới các nhà thần linh học và các nhà Thông Thiên Học, cũng như vài nhân vật khoa học vĩ đại 398— việc dùng cách nói hiện đại “chiều thứ tư của không gian”. Trước hết, sự phi lý hời hợt trong giả định rằng chính Không gian có thể đo lường theo bất kỳ hướng nào chẳng có mấy ý nghĩa. Cụm từ quen thuộc ấy chỉ có thể là lối nói tắt của hình thức đầy đủ hơn — “chiều thứ tư của vật chất, trong Không gian”. 399 Nhưng ngay cả khi được mở rộng như vậy, đó vẫn là một cụm từ không thích đáng, vì tuy hoàn toàn đúng rằng tiến trình tiến hoá có thể được định sẵn để đưa chúng ta đến với những đặc tính mới của vật chất, những đặc tính mà chúng ta đã quen biết thật ra nhiều hơn ba chiều. Các phẩm tính, hay có lẽ thuật ngữ khả dụng nhất là các đặc tính của vật chất, rõ ràng luôn phải có một tương quan trực tiếp với các giác quan của con người. Vật chất có sự trải rộng, màu sắc, chuyển động, vị và mùi, tương ứng với các giác quan hiện có của con người; và đặc tính kế tiếp mà nó phát triển — tạm gọi là “Tính thẩm thấu” — sẽ tương ứng với giác quan kế tiếp của con người, mà chúng ta có thể gọi là “Thông nhãn bình thường”. Vì vậy, khi một số nhà tư tưởng táo bạo khao khát một chiều thứ tư để giải thích sự đi xuyên của vật chất qua vật chất, và sự tạo thành các nút thắt trên một sợi dây vô tận, thì điều họ cần là một đặc tính thứ sáu của vật chất. Ba chiều thật ra chỉ thuộc về một thuộc tính, hay một đặc tính, của vật chất — sự trải rộng; và lương tri phổ thông hoàn toàn có lý khi phản kháng ý tưởng rằng, trong bất kỳ điều kiện nào của sự vật, lại có thể có nhiều hơn ba chiều như chiều dài, chiều rộng và chiều dày. Những thuật ngữ ấy, và chính thuật ngữ “chiều”, đều thuộc về một cõi tư tưởng, một giai đoạn tiến hoá, một đặc tính của vật chất. Bao lâu trong kho tàng của vũ trụ còn có thước đo để áp dụng cho vật chất, bấy lâu người ta còn có thể đo nó theo ba cách, và không hơn; cũng như từ khi ý niệm đo lường lần đầu tiên có chỗ trong sự thấu hiểu của con người, người ta đã có thể áp dụng phép đo theo ba hướng, và không hơn. Nhưng những xét đoán này không hề chống lại sự chắc chắn rằng, theo dòng thời gian, khi các năng lực của nhân loại được nhân lên, thì các đặc tính của vật chất cũng sẽ được nhân lên. Trong khi đó, cách nói ấy còn sai hơn cả cụm từ quen thuộc về “mặt trời mọc” hay “mặt trời lặn”.

We now return to the consideration of material evolution through the Rounds. Matter in the Second Round, it has been stated, may be figuratively referred to as two-dimensional. But here another caveat must be entered. This loose and figurative expression may be regarded—on one plane of thought, as we have just seen—as equivalent to the second characteristic of matter, corresponding to the second perceptive faculty or sense of man. But these two linked scales of evolution are concerned with the processes going on within the limits of a single Round. The succession of primary aspects of Nature, with which the succession of Rounds is concerned, has to do, as already indicated, with the development of the Elements—in the Occult sense—Fire, Air, Water, Earth. We are only in the Fourth Round, and our catalogue so far stops short. The order in which these Elements are mentioned, in the last sentence but one, is the correct one for Esoteric purposes and in the Secret Teachings. Milton was right when he spoke of the “Powers of Fire, Air, Water, Earth”; the Earth, such as we know it now, had no existence before the Fourth Round, hundreds of millions of years ago, the commencement of our geological Earth. The Globe, says the Commentary, was “fiery, cool and radiant, as its ethereal men and animals, during the First Round”—a contradiction or paradox in the opinion of our present Science— “luminous and more dense and heavy, during the Second Round; watery during the Third.” Thus are the Elements reversed.

Giờ đây chúng ta trở lại việc xem xét tiến hoá vật chất qua các Cuộc tuần hoàn. Như đã nói, vật chất trong Cuộc tuần hoàn thứ hai có thể được nói đến một cách biểu tượng là hai chiều. Nhưng ở đây cần nêu thêm một lời cảnh giác khác. Cách nói lỏng lẻo và biểu tượng này có thể được xem — trên một cõi tư tưởng, như chúng ta vừa thấy — là tương đương với đặc tính thứ hai của vật chất, tương ứng với năng lực tri giác hay giác quan thứ hai của con người. Nhưng hai thang tiến hoá liên kết này liên quan đến các tiến trình diễn ra trong giới hạn của một Cuộc tuần hoàn duy nhất. Sự nối tiếp các phương diện nguyên sơ của Thiên nhiên, mà sự nối tiếp các Cuộc tuần hoàn liên quan đến, như đã chỉ rõ, gắn với sự phát triển của các Nguyên tố — theo nghĩa huyền bí — Lửa, Khí, Nước, Đất. Chúng ta chỉ đang ở Cuộc tuần hoàn thứ tư, và bảng liệt kê của chúng ta cho đến nay dừng lại ở đó. Thứ tự trong đó các Nguyên tố này được nêu ở câu áp chót là thứ tự đúng cho các mục đích nội môn và trong Giáo Huấn Bí Nhiệm. Milton đã đúng khi nói đến “Các Quyền năng của Lửa, Khí, Nước, Đất”; Đất, như chúng ta biết hiện nay, chưa từng tồn tại trước Cuộc tuần hoàn thứ tư, hàng trăm triệu năm trước, lúc khởi đầu Trái Đất địa chất của chúng ta. Bầu hành tinh, Cổ Luận nói, “rực lửa, mát lạnh và rạng ngời, như những người và động vật dĩ thái của nó trong Cuộc tuần hoàn thứ nhất” — một mâu thuẫn hay nghịch lý theo quan điểm của Khoa học hiện nay — “sáng chói, đậm đặc và nặng hơn trong Cuộc tuần hoàn thứ hai; có tính nước trong Cuộc tuần hoàn thứ ba”. Như vậy các Nguyên tố bị đảo ngược.

The centres of consciousness of the Third Round, destined to develop into humanity as we know it, arrived at a perception of the third Element, Water. If we had to frame our conclusions according to the data furnished us by Geologists, then we would say that there was no real water, even during the Carboniferous Period. We are told that gigantic masses of carbon, which existed formerly spread in the atmosphere, as carbonic acid, were absorbed by plants, while a large proportion of that gas was mixed in the water. Now, if this be so, and we have to believe that all the carbonic acid which went to compose those plants that formed bituminous coal, lignite, etc., and went towards the formation of lime-stone, and so on, that all this was at that period in the atmosphere in gaseous form, then, there must have been seas and oceans of liquid carbonic acid! But how then could the Carboniferous Period be preceded by the Devonian and Silurian Ages—those of fishes and molluscs—on that assumption? Barometric pressure, moreover, must have exceeded several hundred times the pressure of our present atmosphere. How could organisms, even so simple as those of certain fishes and molluscs, stand that? There is a curious work by Blanchard, on the Origin of Life, wherein he shows some strange contradictions and confusions in the theories of his colleagues, and which we recommend to the reader’s attention.

Các trung tâm tâm thức của Cuộc tuần hoàn thứ ba, được định sẵn để phát triển thành nhân loại như chúng ta biết, đã đạt đến tri giác về Nguyên tố thứ ba, Nước. Nếu chúng ta phải lập kết luận theo dữ liệu do các nhà địa chất cung cấp, thì chúng ta sẽ nói rằng không có nước thật sự, ngay cả trong Kỷ Than Đá. Người ta bảo chúng ta rằng những khối carbon khổng lồ, trước kia tồn tại phân tán trong khí quyển dưới dạng acid carbonic, đã được thực vật hấp thụ, trong khi một phần lớn khí ấy được hòa lẫn trong nước. Nay, nếu đúng như vậy, và chúng ta phải tin rằng toàn bộ acid carbonic cấu tạo nên các loài thực vật hình thành than bitum, than nâu, v.v., và góp vào sự hình thành đá vôi, vân vân, rằng tất cả những thứ ấy vào thời kỳ đó đều ở trong khí quyển dưới dạng khí, thì hẳn đã phải có những biển và đại dương acid carbonic lỏng! Nhưng trên giả định ấy, làm sao Kỷ Than Đá lại có thể được đi trước bởi các Kỷ Devon và Silur — các kỷ của cá và thân mềm? Hơn nữa, áp suất khí quyển hẳn phải vượt quá áp suất khí quyển hiện nay của chúng ta hàng trăm lần. Làm sao các sinh vật, dù đơn giản như một số loài cá và thân mềm, có thể chịu nổi điều đó? Có một tác phẩm kỳ lạ của Blanchard về Nguồn Gốc Sự Sống, trong đó ông chỉ ra vài mâu thuẫn và lẫn lộn kỳ lạ trong các lý thuyết của đồng nghiệp mình, và chúng tôi giới thiệu tác phẩm ấy cho sự chú ý của độc giả.

Those of the Fourth Round have added Earth as a state of matter to their stock, as well as the three other Elements in their present transformation.

Những sinh linh của Cuộc tuần hoàn thứ tư đã thêm Đất như một trạng thái của vật chất vào kho tàng của mình, cũng như ba Nguyên tố kia trong sự chuyển đổi hiện nay của chúng.

In short, none of the so-called Elements were, in the three preceding Rounds, as they are now. For all we know, Fire may have been pure Âkâsha, the First Matter of the “Magnum Opus” of the Creators and Builders, that Astral Light which the paradoxical Éliphas Lévi calls in one breath the “Body of the Holy Ghost,” and in the next “Baphomet,” the “Androgyne Goat of Mendes”; Air, simply Nitrogen, the “Breath of the Supporters of the Heavenly Dome,” as the Mahometan Mystics call it; Water, that primordial fluid which was required, according to Moses, to make a “Living Soul.” And this may account for the flagrant discrepancies and unscientific statements found in Genesis. Separate the first from the second chapter; read the former as a scripture of the Elohists, and the latter as that of the far later Jehovists; still one finds, if one reads between the lines, the same order in which created things appear; namely, Fire (Light), Air, Water, and Man (or Earth). For the sentence of the first chapter (the Elohistic), “In the beginning God created the heaven and the earth,” is a mistranslation; it is not “the heaven and the earth,” but the duplex, or dual, Heaven, the upper and the lower Heavens, or the separation of Primordial Substance that was light in its upper, and dark in its lower portions (the manifested Universe), in its duality of the invisible (to the senses), and the visible to our perceptions. “God divided the light from the darkness”; and then made the firmament (Air). “Let there be a firmament in the midst of the waters, and let it divide the waters from the waters,” i.e., “the waters which were under the firmament [our manifested visible Universe] from the waters which were above the firmament [the (to us) invisible planes of being].” In the second chapter (the Jehovistic), plants and herbs are created before water, just as in the first, light is produced before the sun. “God made the earth and the heavens, and every plant of the field before it was in the earth, and every herb of the field before it grew; for the Lord God [Elohim] had not caused it to rain upon the earth, etc.”—an absurdity unless the esoteric explanation is accepted. The plants were created before they were in the earth—for there was no earth then such as it is now; and the herb of the field was in existence before it grew as it does now, in the Fourth Round.

Tóm lại, không một Nguyên tố nào gọi là như thế, trong ba Cuộc tuần hoàn trước, đã như hiện nay. Theo tất cả những gì chúng ta biết, Lửa có thể đã là Akasha thuần khiết, Vật Chất Đầu Tiên của “Đại Công Trình” của các Đấng Sáng Tạo và các Đấng Kiến Tạo, Ánh Sáng Cảm Dục mà Eliphas Levi đầy nghịch lý gọi trong cùng một hơi là “Thể của Chúa Thánh Thần”, rồi ngay sau đó là “Baphomet”, “Dê Lưỡng Tính của Mendes”; Khí, đơn giản là Nitrogen, “Hơi Thở của những Đấng Nâng Đỡ Vòm Trời”, như các nhà thần bí Hồi giáo gọi; Nước, lưu chất nguyên sơ mà theo Moses cần có để tạo nên một “Linh Hồn Sống”. Và điều này có thể giải thích các sai biệt rõ rệt và những phát biểu phi khoa học được thấy trong Sáng Thế Ký. Hãy tách chương thứ nhất khỏi chương thứ hai; đọc chương trước như một kinh văn của phái Elohist, và chương sau như kinh văn của phái Jehovist muộn hơn nhiều; tuy vậy, nếu đọc giữa các dòng, người ta vẫn thấy cùng một thứ tự trong đó các vật được tạo thành xuất hiện; tức là Lửa (Ánh Sáng), Khí, Nước, và Con Người (hay Đất). Vì câu trong chương thứ nhất (thuộc Elohist), “Ban đầu Thượng đế tạo dựng trời và đất”, là một bản dịch sai; không phải “trời và đất”, mà là Trời kép, hay nhị nguyên, các Cõi Trời trêndưới, hay sự phân tách Chất Liệu Nguyên Sơ, vốn sáng ở phần trên và tối ở phần dưới (Vũ trụ biểu hiện), trong tính nhị nguyên của cái vô hình (đối với giác quan) và cái hữu hình đối với tri giác của chúng ta. “Thượng đế phân rẽ ánh sáng khỏi bóng tối”; rồi tạo nên vòm trời (Khí). “Hãy có một vòm trời ở giữa các nước, và hãy để nó phân rẽ nước với nước”, nghĩa là “nước ở dưới vòm trời [Vũ trụ hữu hình biểu hiện của chúng ta] khỏi nước ở trên vòm trời [các cõi bản thể vô hình đối với chúng ta]”. Trong chương thứ hai (thuộc Jehovist), cây cối và thảo mộc được tạo ra trước nước, cũng như trong chương thứ nhất, ánh sáng được tạo ra trước mặt trời. “Thượng đế tạo ra đất và trời, cùng mọi cây cỏ ngoài đồng trước khi nó ở trong đất, và mọi thảo mộc ngoài đồng trước khi nó mọc lên; vì Chúa Thượng đế [Elohim] chưa khiến mưa rơi trên đất, v.v.” — một điều phi lý, trừ khi chấp nhận lối giải thích nội môn. Cây cối đã được tạo ra trước khi chúng ở trong đất — vì khi ấy chưa có đất như hiện nay; và thảo mộc ngoài đồng đã tồn tại trước khi nó mọc lên như hiện nay, trong Cuộc tuần hoàn thứ tư.

Discussing and explaining the nature of the invisible Elements and the “Primordial Fire” mentioned above, Éliphas Lévi invariably calls it the “Astral Light”: with him it is the “Grand Agent Magique.” Undeniably it is so, but—only so far as Black Magic is concerned, and on the lowest planes of what we call Ether, the noumenon of which is Âkâsha; and even this would be held incorrect by orthodox Occultists. The “Astral Light” is simply the older “Sidereal Light” of Paracelsus; and to say that “everything which exists has been evolved from it, and it preserves and reproduces all forms,” as he does, is to enunciate truth only in the second proposition. The first is erroneous; for if all that exists was evolved through (or viâ) it, this is not the Astral Light, since the latter is not the container of all things but, at best, only the reflector of this all. Éliphas Lévi very truly shows it “a force in Nature,” by means of which “a single man who can master it… might throw the world into confusion and transform its face”; for it is the “Great Arcanum of transcendent Magic.” Quoting the words of the great Western Kabalist in their translated form, 400 we may, perhaps, the better explain them by the occasional addition of a word or two, to show the difference between Western and Eastern explanations of the same subject. The author says of the great Magic Agent:

Khi bàn và giải thích bản chất của các Nguyên tố vô hình và “Lửa Nguyên Sơ” đã nói ở trên, Eliphas Levi luôn gọi nó là “Ánh Sáng Cảm Dục”: với ông, nó là “Tác Nhân Huyền Thuật Vĩ Đại”. Không thể phủ nhận rằng đúng là như vậy, nhưng — chỉ trong phạm vi Hắc thuật, và trên các cõi thấp nhất của cái chúng ta gọi là Dĩ Thái, bản thể luận của nó là Akasha; và ngay cả điều này cũng sẽ bị các nhà huyền bí học chính thống cho là không đúng. “Ánh Sáng Cảm Dục” chỉ là “Ánh Sáng Tinh Tú” xưa hơn của Paracelsus; và nói rằng “mọi sự tồn tại đều đã tiến hoá từ nó, và nó bảo tồn cũng như tái tạo mọi hình tướng”, như ông nói, là chỉ tuyên bố chân lý ở mệnh đề thứ hai. Mệnh đề thứ nhất sai; vì nếu mọi sự tồn tại đã tiến hoá thông qua nó, thì đây không phải là Ánh Sáng Cảm Dục, bởi cái sau không phải là vật chứa mọi sự vật, mà tốt nhất chỉ là tấm phản chiếu của toàn thể ấy. Eliphas Levi rất đúng khi trình bày nó như “một mãnh lực trong Thiên nhiên”, nhờ đó “một người duy nhất có thể làm chủ nó… có thể ném thế giới vào hỗn loạn và chuyển đổi bộ mặt của nó”; vì nó là “Đại Bí Nhiệm của Huyền Thuật siêu việt”. Khi trích lời của nhà Kabbalah phương Tây vĩ đại trong bản dịch, 400 có lẽ chúng ta có thể giải thích rõ hơn bằng cách thỉnh thoảng thêm một hoặc hai từ, để chỉ ra sự khác biệt giữa các lối giải thích phương Tây và phương Đông về cùng một đề tài. Tác giả nói về Tác Nhân Huyền Thuật vĩ đại như sau:

1. The Body is the mould of Nephesh; Nephesh the mould of Ruach; Ruach the mould of the garment of Neshamah.

1. The Body follows the whims, good or bad, of Manas; Manas tries to follow the Light of Buddhi, but often fails. Buddhi is the mould of the “garments” of Âtmâ; for Âtmâ is no body, or shape, or anything, and because Buddhi is only figuratively its Vehicle.

2. Light [the Soul] personifies itself in clothing itself [with a Body]; and personality endures only when the garment is perfect.

2. The Monad becomes a personal Ego when it incarnates; and something remains of that Personality through Manas, when the latter is perfect enough to assimilate Buddhi.

3. The Angels aspire to become men; a Perfect Man, a Man-God, is above all the Angels.

3. Correct.

4. Every 14,000 years the soul rejuvenates, and rests in the jubilean sleep of oblivion.

4. Within a period, a Great Age, or a Day of Brahmâ, 14 Manus reign; after which comes Pralaya, when all the Souls (Egos) rest in Nirvâna.

This ambient and all-penetrating fluid, this ray detached from the [Central or Spiritual] Sun’s splendour… fixed by the weight of the atmosphere [?!] and the power of central attraction… the Astral Light, this electro-magnetic ether, this vital and luminous caloric, is represented on ancient monuments by the girdle of Isis, which twines round two poles… and in ancient theogonies by the serpent devouring its own tail, emblem of prudence and of Saturn [emblem of infinity, immortality, and Cronus—Time—not the God Saturn or the planet]. It is the winged dragon of Medea, the double serpent of the caduceus, and the tempter of Genesis; but it is also the brazen snake of Moses encircling the Tau… lastly, it is the devil of exoteric dogmatism, and is really the blind force [it is not blind, and Lévi knew it], which souls must conquer, in order to detach themselves from the chains of Earth; for if they should not, they will be absorbed by the same power which first produced them, and will return to the central and eternal fire.

Lưu chất bao quanh và thấm nhập khắp nơi này, tia sáng này tách ra từ vẻ huy hoàng của Mặt trời [Trung Ương hay Tinh thần]… được cố định bởi sức nặng của khí quyển [?!] và quyền năng của lực hút trung tâm… Ánh Sáng Cảm Dục, dĩ thái điện-từ này, nhiệt lượng sinh động và sáng chói này, được biểu thị trên các di tích cổ bằng đai lưng của Isis, quấn quanh hai cực… và trong các thần phả cổ bằng con rắn nuốt đuôi mình, biểu tượng của sự thận trọng và của Saturn [biểu tượng của vô hạn, bất tử, và Cronus — Thời Gian — chứ không phải thần Saturn hay hành tinh]; nó là con rồng có cánh của Medea, con rắn đôi của quyền trượng caduceus, và kẻ cám dỗ trong Sáng Thế Ký; nhưng nó cũng là con rắn đồng của Moses quấn quanh Tau… sau cùng, nó là ma quỷ của giáo điều công truyền, và thật ra là mãnh lực mù quáng [nó không mù quáng, và Levi biết điều đó], mà các linh hồn phải chinh phục để tách mình khỏi xiềng xích của Trái Đất; vì nếu không, họ sẽ bị hấp thụ bởi chính quyền năng đã tạo sinh họ đầu tiên, và sẽ trở về với lửa trung tâm và vĩnh cửu.

This great Archæus is now publicly discovered by, and for, only one man—J. W. Keely, of Philadelphia. For others, however, it is discovered, yet must remain almost useless. “So far shalt thou go….”

Đại Archeus này hiện nay được khám phá công khai bởi, và cho, chỉ một người — J. W. Keely, ở Philadelphia. Tuy nhiên, đối với những người khác, nó đã được khám phá, nhưng hầu như vẫn phải vô dụng. “Ngươi chỉ được đi đến đây thôi…”

All the above is as practical as it is correct, save one error, which we have explained. Éliphas Lévi commits a great blunder in always identifying the Astral Light with what we call Âkâsha. What it really is will be expounded in Volume II.

Tất cả những điều trên thực tiễn cũng như đúng đắn, ngoại trừ một sai lầm mà chúng tôi đã giải thích. Eliphas Levi phạm một sai lầm lớn khi luôn đồng nhất Ánh Sáng Cảm Dục với cái chúng tôi gọi là Akasha. Nó thật sự là gì sẽ được trình bày trong Quyển II.

Éliphas Lévi further writes: The great Magic Agent is the fourth emanation of the life principle [we say—it is the first in the inner, and the second in the outer (our) Universe], of which the Sun is the third form… for the day-star [the Sun] is only the reflection and material shadow of the Central Sun of truth, which illuminates the intellectual [invisible] world of Spirit, and which itself is but a gleam borrowed from the Absolute.

Eliphas Levi còn viết: Tác Nhân Huyền Thuật vĩ đại là xuất lộ thứ tư của nguyên khí sự sống [chúng tôi nói — nó là thứ nhất trong Vũ trụ bên trong, và thứ hai trong Vũ trụ bên ngoài của chúng ta], mà Mặt trời là hình thức thứ ba… vì ngôi sao ban ngày [Mặt trời] chỉ là sự phản chiếu và bóng vật chất của Mặt trời Trung Ương của chân lý, vốn soi sáng thế giới trí tuệ [vô hình] của Tinh thần, và chính nó cũng chỉ là một tia sáng vay mượn từ Tuyệt Đối.

So far he is right enough. But when the great authority of the Western Kabalists adds that, nevertheless, “it is not the immortal Spirit, as the Indian Hierophants have imagined”—we answer, that he slanders the said Hierophants, as they have said nothing of the kind; for even the Purânic exoteric writings flatly contradict the assertion. No Hindû has ever mistaken Prakriti—the Astral Light being only above the lowest plane of Prakriti, the Material Kosmos—for the “immortal Spirit.” Prakriti is ever called Mâyâ, Illusion, and is doomed to disappear with the rest, the Gods included, at the hour of the Pralaya. As it is shown that Âkâsha is not even the Ether, least of all then, we imagine, can it be the Astral Light. Those unable to penetrate beyond the dead letter of the Purânas, have occasionally confused Âkâsha with Prakriti, with Ether, and even with the visible Sky! It is true also that those who have invariably translated the term Âkâsha by “Ether”—Wilson, for instance—finding it called “the material cause of sound” possessing, moreover, this one single property, have ignorantly imagined it to be “material,” in the physical sense. True, again, that if the characteristics are accepted literally, then, since nothing material or physical, and therefore conditioned and temporary, can be immortal—according to metaphysics and philosophy—it would follow that Âkâsha is neither infinite nor immortal. But all this is erroneous, since both the words Pradhâna, Primeval Matter, and Sound, as a property, have been misunderstood; the former term (Pradhâna) being certainly synonymous with Mûlaprakriti and Âkâsha, and the latter (Sound) with the Verbum, the Word or the Logos. This is easy to demonstrate; for it is shown in the following sentence from Vishnu Purâna. 401 “There was neither day nor night, nor sky, nor earth, nor darkness, nor light, nor any other thing, save only One, unapprehensible by intellect, or that which is Brahman, and Pums, [Spirit] and Pradhâna [Primordial Matter].”

Đến đây ông khá đúng. Nhưng khi thẩm quyền lớn của các nhà Kabbalah phương Tây thêm rằng, tuy vậy, “nó không phải là Tinh thần bất tử, như các Đại Tư Tế Ấn Độ đã tưởng tượng” — chúng tôi đáp rằng ông vu khống các Đại Tư Tế ấy, vì họ không hề nói điều gì như thế; bởi ngay cả các văn bản Purana công truyền cũng thẳng thừng bác bỏ khẳng định này. Chưa từng có người Hindu nào lầm Prakriti — Ánh Sáng Cảm Dục chỉ ở trên cõi thấp nhất của Prakriti, Vũ trụ vật chất — với “Tinh thần bất tử”. Prakriti luôn được gọi là Maya, Ảo tưởng, và bị định sẵn sẽ biến mất cùng với mọi thứ còn lại, kể cả các vị Thần, vào giờ của Giai kỳ qui nguyên. Vì đã chỉ ra rằng Akasha thậm chí không phải là Dĩ Thái, nên chúng tôi tưởng rằng càng không thể là Ánh Sáng Cảm Dục. Những người không thể xuyên thấu vượt quá văn tự chết của các Purana đôi khi đã lẫn lộn Akasha với Prakriti, với Dĩ Thái, và thậm chí với bầu trời hữu hình! Cũng đúng rằng những người luôn dịch thuật ngữ Akasha là “Dĩ Thái” — chẳng hạn Wilson — khi thấy nó được gọi là “nguyên nhân vật chất của âm thanh” và hơn nữa chỉ sở hữu một thuộc tính duy nhất này, đã vì thiếu hiểu biết mà tưởng nó là “vật chất” theo nghĩa hồng trần. Lại cũng đúng rằng nếu các đặc tính được hiểu theo nghĩa đen, thì vì không có gì vật chất hay hồng trần, và do đó bị điều kiện hoá và tạm thời, có thể bất tử — theo siêu hình học và triết học — sẽ suy ra rằng Akasha không vô hạn cũng không bất tử. Nhưng tất cả những điều này đều sai, vì cả hai từ Pradhana, Vật Chất Nguyên Thuỷ, và Âm Thanh, như một thuộc tính, đều đã bị hiểu lầm; thuật ngữ trước (Pradhana) chắc chắn đồng nghĩa với Mulaprakriti và Akasha, còn thuật ngữ sau (Âm Thanh) đồng nghĩa với Verbum, Linh từ hay Logos. Điều này dễ chứng minh; vì nó được chỉ ra trong câu sau đây từ Vishnu Purana. 401 “Không có ngày cũng không có đêm, không có trời, không có đất, không có bóng tối, không có ánh sáng, cũng không có bất cứ điều gì khác, ngoại trừ chỉ Một, không thể được trí năng nắm bắt, hay cái vốn là Brahman, và Pums, [Tinh thần] và Pradhana [Vật Chất Nguyên Sơ].”

Now, what is Pradhâna, if it is not Mûlaprakriti, the Root of All, in another aspect? For though Pradhâna is said, further on, to merge into the Deity, as everything else does, in order to leave the One absolute during the Pralaya, yet is it held as infinite and immortal. The literal translation is given as: “One Prâdhânika Brahma Spirit: That was”; and the Commentator interprets the compound term as a substantive, not as a derivative word used attributively, i.e., like something “conjoined with Pradhâna.” The student has to note, moreover, that the Purânic is a dualistic system, not evolutionary, and that, in this respect, far more will be found, from an Esoteric standpoint, in the Sânkhya, and even in the Mânava-Dharma-Shâstra, however much the latter differs from the former. Hence Pradhâna, even in the Purânas, is an aspect of Parabrahman, not an evolution, and must be the same as the Vedântic Mûlaprakriti. “Prakriti, in its primary state, is Âkâsha,” says a Vedântin scholar. 402 It is almost abstract Nature.

Vậy Pradhana là gì, nếu không phải là Mulaprakriti, Cội Rễ của Tất Cả, trong một phương diện khác? Vì dù về sau người ta nói Pradhana hòa nhập vào Thượng đế, như mọi thứ khác, để chỉ còn lại Đấng Duy Nhất tuyệt đối trong Giai kỳ qui nguyên, nó vẫn được xem là vô hạn và bất tử. Bản dịch sát nghĩa được đưa ra là: “Một Tinh thần Brahma Pradhanika: Đó đã hiện hữu”; và nhà bình giải diễn giải thuật ngữ ghép này như một danh từ, không phải như một từ phái sinh được dùng theo tính từ, nghĩa là như điều gì “kết hợp với Pradhana”. Hơn nữa, đạo sinh phải lưu ý rằng hệ thống Purana là một hệ thống nhị nguyên, không phải tiến hoá, và rằng về phương diện này, từ lập trường nội môn, sẽ tìm thấy nhiều điều hơn trong Sankhya, và thậm chí trong Manava-Dharma-Shastra, dù cái sau khác với cái trước rất nhiều. Vì vậy Pradhana, ngay cả trong các Purana, là một phương diện của Parabrahman, không phải một sự tiến hoá, và phải là cùng một điều với Mulaprakriti của Vedanta. “Prakriti, trong trạng thái nguyên sơ của nó, là Akasha”, một học giả Vedanta nói. 402 Nó gần như là Thiên nhiên trừu tượng.

Âkâsha, then, is Pradhâna in another form, and as such cannot be Ether, the ever-invisible agent, courted even by Physical Science. Nor is it Astral Light. It is, as said, the noumenon of the seven-fold differentiated Prakriti 403—the ever immaculate “Mother” of the fatherless “Son,” who becomes “Father” on the lower manifested plane. For Mahat is the first product of Pradhâna, or Âkâsha; and Mahat—Universal Intelligence, “whose characteristic property is Buddhi”—is no other than the Logos, for he is called Îshvara, Brahmâ, Bhâva, etc. 404 He is, in short, the “Creator,” or the Divine Mind in creative operation, “the Cause of all things.” He is the “First-Born,” of whom the Purânas tell us that “Earth and Mahat are the inner and outer boundaries of the Universe,” or, in our language, the negative and the positive poles of dual Nature (abstract and concrete), for the Purâna adds: In this manner—as were the seven forms [principles] of Prakriti reckoned from Mahat to Earth—so at the (time of elemental) dissolution (pratyâhâra), these seven successively reenter into each other. The Egg of Brahmâ (Sarva-mandala) is dissolved, with its seven zones (dvîpa), seven oceans, seven regions, etc. 405

Vậy Akasha là Pradhana trong một hình thức khác, và với tư cách ấy không thể là Dĩ Thái, tác nhân luôn vô hình mà ngay cả Khoa học Hồng trần cũng tìm kiếm. Nó cũng không phải là Ánh Sáng Cảm Dục. Như đã nói, nó là bản thể luận của Prakriti đã biến phân thất phân 403 — “Mẹ” luôn tinh khiết của “Con” không cha, Đấng trở thành “Cha” trên cõi biểu hiện thấp hơn. Vì Mahat là sản phẩm đầu tiên của Pradhana, hay Akasha; và Mahat — Trí Tuệ Vũ Trụ, “mà thuộc tính đặc trưng là Buddhi” — không gì khác hơn Logos, vì Ngài được gọi là Ishvara, Brahma, Bhava, v.v. 404 Tóm lại, Ngài là “Đấng Sáng Tạo”, hay Trí Thiêng Liêng trong hoạt động sáng tạo, “Nguyên Nhân của mọi sự”. Ngài là “Con Đầu Lòng”, về Ngài các Purana nói rằng “Đất và Mahat là các biên giới bên trong và bên ngoài của Vũ trụ”, hay, theo ngôn ngữ của chúng ta, là các cực âm và dương của Thiên nhiên nhị nguyên (trừu tượng và cụ thể), vì Purana thêm rằng: Theo cách này — như bảy hình thức [nguyên khí] của Prakriti được tính từ Mahat đến Đất — thì vào lúc tan rã nguyên tố, bảy hình thức này lần lượt tái nhập vào nhau. Trứng của Brahma được tan rã, cùng với bảy vùng, bảy đại dương, bảy miền, v.v. 405

These are the reasons why the Occultists refuse to give the name of Astral Light to Âkâsha, or to call it Ether. “In my Father’s house are many mansions,” may be contrasted with the Occult saying, “In our Mother’s house are seven mansions,” or planes, the lowest of which is above and around us—the Astral Light.

Đó là những lý do vì sao các nhà huyền bí học từ chối gọi Akasha là Ánh Sáng Cảm Dục, hay gọi nó là Dĩ Thái. “Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở” có thể được đối chiếu với câu nói huyền bí: “Trong nhà Mẹ chúng ta có bảy chỗ ở”, hay bảy cõi, mà cõi thấp nhất ở bên trên và chung quanh chúng ta — Ánh Sáng Cảm Dục.

The Elements, whether simple or compound, could not have remained the same since the commencement of the evolution of our Chain. Everything in the Universe progresses steadily in the Great Cycle, while incessantly going up and down in the smaller Cycles. Nature is never stationary during Manvantara, as it is ever becoming, 406 not simply being; and mineral, vegetable, and human life are always adapting their organisms to the then reigning Elements; and therefore those Elements were then fitted for them, as they are now for the life of present humanity. It will only be in the next, or Fifth, Round that the fifth Element, Ether—the gross body of Âkâsha, if it can be called even that—will, by becoming a familiar fact of Nature to all men, as Air is familiar to us now, cease to be, as at present, hypothetical and an “agent” for so many things. And only during that Round will those higher senses, the growth and development of which Âkâsha subserves, be susceptible of a complete expansion. As already indicated, a partial familiarity with the characteristic of matter—Permeability—which should be developed concurrently with the sixth sense, may be expected to develop at the proper period in this Round. But with the next Element added to our resources, in the next Round, Permeability will become so manifest a characteristic of matter, that the densest forms of this Round will seem to man’s perceptions as obstructive to him as a thick fog, and no more.

Các Nguyên tố, dù đơn giản hay phức hợp, không thể vẫn y nguyên từ lúc khởi đầu sự tiến hoá của Dãy chúng ta. Mọi sự trong Vũ trụ tiến bước đều đặn trong Đại Chu Kỳ, trong khi không ngừng lên xuống trong các Chu Kỳ nhỏ hơn. Thiên nhiên không bao giờ đứng yên trong Giai kỳ sinh hóa, vì nó luôn đang trở thành, 406 chứ không chỉ hiện hữu; và sự sống kim thạch, thực vật và nhân loại luôn thích nghi các cơ thể của mình với các Nguyên tố đang thống trị lúc bấy giờ; do đó những Nguyên tố ấy khi đó phù hợp với chúng, cũng như hiện nay chúng phù hợp với sự sống của nhân loại hiện tại. Chỉ trong Cuộc tuần hoàn kế tiếp, hay thứ năm, Nguyên tố thứ năm, Dĩ Thái — thể thô của Akasha, nếu thậm chí có thể gọi như vậy — khi trở thành một sự kiện quen thuộc của Thiên nhiên đối với mọi người, như Khí quen thuộc với chúng ta hiện nay, mới thôi không còn, như hiện tại, là giả thuyết và một “tác nhân” cho quá nhiều điều. Và chỉ trong Cuộc tuần hoàn ấy, các giác quan cao hơn mà sự tăng trưởng và phát triển của chúng được Akasha phụ trợ, mới có khả năng khai mở trọn vẹn. Như đã chỉ rõ, một sự quen thuộc phần nào với đặc tính của vật chất — Tính thẩm thấu — vốn phải được phát triển đồng thời với giác quan thứ sáu, có thể được mong đợi sẽ phát triển vào thời kỳ thích hợp trong Cuộc tuần hoàn này. Nhưng với Nguyên tố kế tiếp được thêm vào các phương tiện của chúng ta trong Cuộc tuần hoàn sau, Tính thẩm thấu sẽ trở thành một đặc tính hiển nhiên đến mức của vật chất, đến nỗi những hình tướng đậm đặc nhất của Cuộc tuần hoàn này sẽ hiện ra trước tri giác con người như chỉ gây trở ngại cho y chẳng khác gì một làn sương dày, và không hơn.

Let us now return to the Life-Cycle. Without entering at length upon the description given of the Higher Lives, we must direct our attention, at present, simply to the earthly Beings and the Earth itself. The latter, we are told, is built up for the First Round by the “Devourers,” which disintegrate and differentiate the germs of other Lives in the Elements; pretty much, it must be supposed, as in the present stage of the world, the ærobes do, when, undermining and loosening the chemical structure in an organism, they transform animal matter, and generate substances that vary in their constitutions. Thus Occultism disposes of the so-called Azoic Age of Science, for it shows that there never was a time when the Earth was without life upon it. Wherever there is an atom of matter, a particle, or a molecule, even in its most gaseous condition, there is life in it, however latent and unconscious.

Giờ đây chúng ta hãy trở lại Chu Kỳ Sự Sống. Không đi sâu vào phần mô tả được đưa ra về các Sự Sống Cao Siêu, hiện tại chúng ta chỉ cần hướng sự chú ý đến các Hữu Thể thuộc địa cầu và chính Trái Đất. Chúng ta được dạy rằng Trái Đất được xây dựng cho Cuộc tuần hoàn thứ nhất bởi các “Kẻ Nuốt”, những kẻ phân rã và biến phân các mầm của những Sự Sống khác trong các Nguyên tố; có lẽ cũng gần giống như, ở giai đoạn hiện nay của thế giới, các vi sinh vật hiếu khí làm khi, bằng cách phá hoại và nới lỏng cấu trúc hoá học trong một cơ thể, chúng chuyển đổi vật chất động vật và tạo ra các chất khác nhau trong cấu tạo. Như vậy huyền bí học xử lý cái gọi là Kỷ Vô Sinh của Khoa học, vì nó chỉ ra rằng chưa từng có thời nào Trái Đất không có sự sống trên đó. Ở đâu có một nguyên tử vật chất, một hạt, hay một phân tử, ngay cả trong tình trạng khí nhất của nó, ở đó có sự sống trong nó, dù tiềm tàng và vô thức đến đâu.

Whatsoever quits the Laya State, becomes active Life; it is drawn into the vortex of Motion [the Alchemical Solvent of Life]; Spirit and Matter are the two States of the One, which is neither Spirit nor Matter, both being the Absolute Life, latent…. Spirit is the first differentiation of [and in] Space; and Matter the first differentiation of Spirit. That, which is neither Spirit nor Matter, That is IT—the Causeless Cause of Spirit and Matter, which are the Cause of Kosmos. And THAT we call the One Life, or the Intra-Cosmic Breath. 407

Bất cứ điều gì rời khỏi Trạng thái Laya đều trở thành Sự Sống hoạt động; nó bị cuốn vào xoáy của Chuyển Động [Dung Môi Thuật Luyện Kim của Sự Sống]; Tinh thần và Vật chất là hai Trạng thái của Đấng Duy Nhất, vốn không phải Tinh thần cũng không phải Vật chất, cả hai đều là Sự Sống Tuyệt Đối, tiềm tàng… Tinh thần là sự biến phân đầu tiên của [và trong] Không gian; và Vật chất là sự biến phân đầu tiên của Tinh thần. Cái không phải Tinh thần cũng không phải Vật chất, Cái đó là NÓ — Nguyên Nhân Vô Nhân của Tinh thần và Vật chất, vốn là Nguyên Nhân của Vũ trụ. Và CÁI ĐÓ chúng tôi gọi là Sự Sống Duy Nhất, hay Hơi Thở Nội Vũ Trụ. 407

Once more we say—like must produce like. Absolute Life cannot produce an inorganic atom, whether single or complex, and there is life even in Laya, just as a man in a profound cataleptic state—to all appearance a corpse—is still a living being.

Một lần nữa chúng tôi nói — cái giống nhau phải sinh ra cái giống nhau. Sự Sống Tuyệt Đối không thể tạo ra một nguyên tử vô cơ, dù đơn nhất hay phức hợp, và có sự sống ngay cả trong Laya, cũng như một người trong trạng thái xuất thần sâu — bề ngoài là một xác chết — vẫn là một sinh linh sống.

When the “Devourers”—in whom the men of Science are invited to see, with some show of reason, atoms of the Fire-Mist, if they will, as the Occultist will offer no objection to this—when the “Devourers,” we say, have differentiated the “Fire Atoms,” by a peculiar process of segmentation, the latter become Life-Germs, which aggregate according to the laws of cohesion and affinity. Then the Life-Germs produce Lives of another kind, which work on the structure of our Globes.

Khi các “Kẻ Nuốt” — trong đó các nhà khoa học được mời nhìn thấy, với ít nhiều lý do, các nguyên tử của Sương Lửa, nếu họ muốn, vì nhà huyền bí học sẽ không phản đối điều này — khi các “Kẻ Nuốt”, chúng tôi nói, đã biến phân các “Nguyên Tử Lửa” bằng một tiến trình phân đoạn đặc biệt, thì những nguyên tử sau trở thành các Mầm Sống, kết tập theo các định luật cố kết và ái lực. Rồi các Mầm Sống tạo ra những Sự Sống thuộc loại khác, vốn tác động lên cấu trúc các Bầu hành tinh của chúng ta.

Thus, in the First Round, the Globe, having been built by the primitive Fire-Lives—i.e., formed into a sphere—had no solidity, no qualifications, save a cold brightness, no form, no colour; it is only towards the end of the First Round that it developed one Element, which, from its inorganic, so to say, or simple Essence, has become now, in our Round, the fire we know throughout the System. The Earth was in her first Rûpa, the essence of which is the Âkâshic Principle named ——, that which is now known as, and very erroneously termed, Astral Light, which Éliphas Lévi calls the “Imagination of Nature,” probably to avoid giving it its correct name, as others do.

Như vậy, trong Cuộc tuần hoàn thứ nhất, Bầu hành tinh, sau khi được xây dựng bởi các Sự Sống Lửa nguyên thuỷ — nghĩa là được tạo thành một khối cầu — không có độ rắn chắc, không có đặc tính nào ngoài một vẻ sáng lạnh, không có hình tướng, không có màu sắc; chỉ đến cuối Cuộc tuần hoàn thứ nhất nó mới phát triển một Nguyên tố, vốn từ Tinh chất có thể nói là vô cơ hay đơn giản của nó, nay trong Cuộc tuần hoàn của chúng ta đã trở thành thứ lửa mà chúng ta biết trong toàn hệ thống. Trái Đất ở trong Rupa đầu tiên của mình, mà tinh chất của nó là Nguyên khí Akasha được gọi là ——, cái hiện nay được biết đến và bị gọi rất sai là Ánh Sáng Cảm Dục, mà Eliphas Levi gọi là “Sự tưởng tượng của Thiên nhiên”, có lẽ để tránh nêu tên đúng của nó, như những người khác vẫn làm.

Speaking of it, in his Preface to the Histoire de la Magie, Éliphas Lévi says: It is through this Force that all the nervous centres secretly communicate with each other; from it—that sympathy and antipathy are born; from it—that we have our dreams; and that the phenomena of second sight and extra-natural visions take place…. Astral Light [acting under the impulsion of powerful wills]… destroys, coagulates, separates, breaks, gathers in all things…. God created it on that day when he said: “Fiat Lux!”… It is directed by the Egregores, i.e., the chiefs of the souls, who are the spirits of energy and action. 408

Khi nói về nó trong Lời Tựa của Lịch Sử Huyền Thuật, Eliphas Levi nói: Chính nhờ Mãnh lực này mà mọi trung tâm thần kinh bí mật giao tiếp với nhau; từ nó mà thiện cảm và ác cảm sinh ra; từ nó mà chúng ta có các giấc mơ; và các hiện tượng linh thị thứ hai cùng các linh ảnh siêu tự nhiên diễn ra… Ánh Sáng Cảm Dục [hành động dưới xung lực của các ý chí mạnh mẽ]… phá huỷ, đông kết, phân tách, bẻ gãy, thu gom trong mọi sự… Thượng đế tạo ra nó vào ngày Ngài phán: “Hãy có Ánh Sáng!”… Nó được điều khiển bởi các Egregore, nghĩa là các thủ lĩnh của linh hồn, vốn là các tinh thần của năng lượng và hành động. 408

Éliphas Lévi ought to have added that the Astral Light, or Primordial Substance, if matter at all, is that which, called Light, Lux esoterically explained, is the body of those Spirits themselves, and their very essence. Our physical light is the manifestation on our plane, and the reflected radiance, of the Divine Light, emanating from the collective Body of those who are called the “Lights” and the “Flames.” But no other Kabalist has ever had the talent of heaping up one contradiction on the other, of making one paradox chase another in the same sentence, and in such flowing language, as Éliphas Lévi. He leads his reader through the most lovely valleys, to strand him after all on a desert and barren rock.

Eliphas Levi lẽ ra phải thêm rằng Ánh Sáng Cảm Dục, hay Chất Liệu Nguyên Sơ, nếu là vật chất, chính là cái được gọi là Ánh Sáng, Lux được giải thích nội môn, là thể của chính các Tinh thần ấy, và là chính tinh chất của các Ngài. Ánh sáng hồng trần của chúng ta là sự biểu hiện trên cõi của chúng ta, và là hào quang phản chiếu, của Ánh Sáng Thiêng Liêng, phát ra từ Thể tập thể của những Đấng được gọi là “Các Ánh Sáng” và “Các Ngọn Lửa”. Nhưng chưa từng có nhà Kabbalah nào khác có tài chất chồng mâu thuẫn này lên mâu thuẫn khác, khiến nghịch lý này đuổi theo nghịch lý kia trong cùng một câu, và bằng ngôn ngữ trôi chảy như Eliphas Levi. Ông dẫn độc giả qua những thung lũng đẹp đẽ nhất, để rốt cuộc lại làm họ mắc cạn trên một tảng đá hoang vu và cằn cỗi.

Says the Commentary: It is through and from the radiations of the seven Bodies of the seven Orders of Dhyânis, that the seven Discrete Quantities [Elements], whose Motion and harmonious Union produce the manifested Universe of Matter, are born.

Cổ Luận nói: Chính thông qua và từ các bức xạ của bảy Thể thuộc bảy Đẳng cấp Dhyani mà bảy Đại Lượng Rời Rạc [Các Nguyên tố], mà Chuyển Động và sự Hợp Nhất hài hoà của chúng tạo ra Vũ trụ Vật chất biểu hiện, được sinh ra.

The Second Round brings into manifestation the second Element—Air; an element, the purity of which would ensure continuous life to him who would use it. In Europe there have been two Occultists only who have discovered and even partially applied it in practice, though its composition has always been known among the highest Eastern Initiates. The ozone of the modern Chemists is poison compared with the real Universal Solvent, which could never be thought of unless it existed in Nature.

Cuộc tuần hoàn thứ hai đưa vào biểu hiện Nguyên tố thứ hai — Khí; một nguyên tố mà sự tinh khiết của nó sẽ bảo đảm sự sống liên tục cho người nào sử dụng nó. Ở châu Âu chỉ có hai nhà huyền bí học đã khám phá và thậm chí áp dụng một phần nó trong thực hành, dù thành phần của nó luôn được biết đến trong giới các Điểm đạo đồ cao nhất phương Đông. Ozone của các nhà Hoá học hiện đại là độc dược so với Dung Môi Vũ Trụ thật sự, điều không thể được nghĩ đến nếu nó không tồn tại trong Thiên nhiên.

From the Second Round, Earth—hitherto a fœtus in the matrix of Space—began its real existence: it had developed individual sentient Life, its second Principle. The second corresponds to the sixth [Principle]; the second is Life continuous, the other, temporary.

Từ Cuộc tuần hoàn thứ hai, Trái Đất — cho đến lúc ấy là một bào thai trong tử cung của Không gian — bắt đầu sự tồn tại thật sự của mình: nó đã phát triển Sự Sống hữu cảm biệt ngã, Nguyên khí thứ hai của nó. Cái thứ hai tương ứng với [Nguyên khí] thứ sáu; cái thứ hai là Sự Sống liên tục, cái kia là tạm thời.

The Third Round developed the third Principle—Water; while the Fourth transformed the gaseous fluids and plastic form of our Globe into the hard, crusted, grossly material sphere we are living on. Bhûmi has reached her fourth Principle. To this it may be objected that the law of analogy, so much insisted upon, is broken. Not at all. Earth will reach her true ultimate form—her body shell—inversely in this to man, only toward the end of the Manvantara, after the Seventh Round. Eugenius Philalethes was right when he assured his readers, “on his word of honour,” that no one had yet seen the “Earth,” i.e., Matter in its essential form. Our Globe is, so far, in its Kâmarûpic state—the Astral Body of Desires of Ahamkâra, dark Egotism, the progeny of Mahat, on the lower plane.

Cuộc tuần hoàn thứ ba đã phát triển Nguyên khí thứ ba — Nước; trong khi Cuộc tuần hoàn thứ tư chuyển đổi các lưu chất khí và hình tướng dẻo của Bầu hành tinh chúng ta thành khối cầu cứng, có vỏ, vật chất thô mà chúng ta đang sống trên đó. Bhumi đã đạt đến Nguyên khí thứ tư của mình. Đối với điều này có thể có người phản bác rằng định luật tương đồng, vốn được nhấn mạnh rất nhiều, đã bị phá vỡ. Hoàn toàn không. Trái Đất sẽ đạt đến hình thức tối hậu đích thực của mình — lớp vỏ thể của mình — theo chiều nghịch với con người trong điểm này, chỉ vào cuối Giai kỳ sinh hóa, sau Cuộc tuần hoàn thứ bảy. Eugenius Philalethes đã đúng khi cam đoan với độc giả của mình, “bằng danh dự của ông”, rằng chưa ai từng thấy “Trái Đất”, tức Vật chất trong hình thức thiết yếu của nó. Bầu hành tinh của chúng ta cho đến nay vẫn ở trong trạng thái Kamarupa của nó — Thể Cảm Dục của Dục Vọng thuộc Ahamkara, Chủ nghĩa vị kỷ tối tăm, hậu duệ của Mahat, trên cõi thấp.

It is not molecularly constituted matter, least of all the human Body, Sthûla Sharîra, that is the grossest of all our “Principles,” but verily the middle Principle, the real Animal Centre, whereas our Body is but its shell, the irresponsible factor and medium through which the beast in us acts all its life. Every intellectual Theosophist will understand my real meaning. Thus the idea that the human tabernacle is built by countless Lives, just in the same way as was the rocky crust of our Earth, has nothing repulsive in it for the true Mystic. Nor can Science oppose the Occult teaching, for it is not because the microscope will ever fail to detect the ultimate living atom or life, that it can reject the doctrine.

Không phải vật chất được cấu thành theo phân tử, càng không phải Thân thể con người, Sthula Sharira, là cái thô trược nhất trong tất cả các “Nguyên khí” của chúng ta, mà quả thật là Nguyên khí trung gian, Trung tâm Thú tính thật sự; trong khi Thân thể của chúng ta chỉ là lớp vỏ của nó, là yếu tố và trung gian vô trách nhiệm mà qua đó con thú trong chúng ta hành động suốt đời nó. Mọi nhà Thông Thiên Học có trí tuệ đều sẽ thấu hiểu ý nghĩa thật sự của tôi. Vì vậy, ý tưởng cho rằng đền tạm của con người được vô số Sự Sống kiến tạo, y như lớp vỏ đá của Trái Đất chúng ta đã được kiến tạo, chẳng có gì đáng ghê tởm đối với nhà Thần bí chân chính. Khoa học cũng không thể chống lại giáo huấn Huyền bí, vì không phải do kính hiển vi sẽ mãi không phát hiện được nguyên tử sống hay sự sống tối hậu mà Khoa học có thể bác bỏ giáo lý ấy.

(c) Science teaches us that the living as well as the dead organisms of both man and animal are swarming with bacteria of a hundred various kinds; that from without we are threatened with the invasion of microbes with every breath we draw, and from within by leucomaines, ærobes, anærobes, and what not. But Science has never yet gone so far as to assert with the Occult doctrine, that our bodies, as well as those of animals, plants, and stones, are themselves altogether built up of such beings; which, with the exception of the larger species, no microscope can detect. So far as regards the purely animal and material portion of man, Science is on its way to discoveries that will go far towards corroborating this theory. Chemistry and Physiology are the two great magicians of the future, which are destined to open the eyes of mankind to great physical truths. With every day, the identity between the animal and physical man, between the plant and man, and even between the reptile and its nest, the rock, and man—is more and more clearly shown. The physical and chemical constituents of all being found to be identical, Chemical Science may well say that there is no difference between the matter which composes the ox, and that which forms man. But the Occult doctrine is far more explicit. It says: Not only the chemical compounds are the same, but the same infinitesimal invisible Lives compose the atoms of the bodies of the mountain and the daisy, of man and the ant, of the elephant and of the tree which shelters it from the sun. Each particle—whether you call it organic or inorganic—is a Life. Every atom and molecule in the Universe is both life-giving and death-giving to such forms, inasmuch as it builds by aggregation universes, and the ephemeral vehicles ready to receive the transmigrating soul, and as eternally destroys and changes the forms, and expels the souls from their temporary abodes. It creates and kills; it is self-generating and self-destroying; it brings into being, and annihilates, that mystery of mysteries, the living body of man, animal, or plant, every second in time and space; and it generates equally life and death, beauty and ugliness, good and bad, and even the agreeable and disagreeable, the beneficent and maleficent sensations. It is that mysterious Life, represented collectively by countless myriads of Lives, that follows in its own sporadic way the hitherto incomprehensible law of Atavism; that copies family resemblances, as well as those it finds impressed in the Aura of the generators of every future human being; a mystery, in short, that will receive fuller attention elsewhere. For the present, one instance may be cited in illustration. Modern Science is beginning to find out that ptomaine, the alkaloid poison generated by decaying corpses and matter—a Life also, extracted with the help of volatile ether, yields a smell as strong as that of the freshest orange-blossoms; but that free from oxygen, such alkaloids yield either a most sickening, disgusting smell, or a most agreeable aroma, which recalls that of the most delicately scented flowers; and it is suspected that such blossoms owe their agreeable smell to the poisonous ptomaine. The venomous essence of certain fungi, also, is nearly identical with the venom of the cobra of India, the most deadly of serpents. The French savants Arnaud, Gautier, and Villiers, have found in the saliva of living men the same venomous alkaloid as in that of the toad, the salamander, the cobra, and the trigonocephalus of Portugal. It is proven that venom of the deadliest kind, whether called ptomaine, or leucomaine, or alkaloid, is generated by living men, animals and plants. Gautier also discovered an alkaloid in the fresh carcase and brains of an ox, and a venom which he calls xanthocreatinine, similar to the substance extracted from the poisonous saliva of reptiles. It is the muscular tissues, the most active organs in the animal economy, that are suspected of being the generators or factors of venoms, which have the same importance as carbonic acid and urea in the functions of life, and are the ultimate products of inner combustion. And though it is not yet fully determined whether poisons can be generated by the animal systems of living beings, without the participation and interference of microbes, it is ascertained that the animal does produce venomous substances in its physiological or living state.

(c) Khoa học dạy chúng ta rằng các cơ thể sống cũng như chết của cả người lẫn thú đều đầy dẫy vi khuẩn thuộc hàng trăm loại khác nhau; rằng từ bên ngoài, chúng ta bị đe dọa bởi sự xâm nhập của vi sinh vật theo từng hơi thở, và từ bên trong bởi leucomaine, aerobe, anaerobe, cùng vô số thứ khác. Nhưng Khoa học chưa bao giờ đi xa đến mức khẳng định cùng với giáo lý Huyền bí rằng thân thể của chúng ta, cũng như thân thể của loài vật, cây cỏ và đá, tự chúng hoàn toàn được tạo nên bởi những sinh linh như thế; ngoại trừ các loài lớn hơn, không kính hiển vi nào có thể phát hiện chúng. Xét phần thuần túy động vật và vật chất của con người, Khoa học đang trên đường đi đến những khám phá sẽ góp phần lớn vào việc xác nhận lý thuyết này. Hóa học và Sinh lý học là hai nhà huyền thuật vĩ đại của tương lai, được định sẵn để mở mắt nhân loại trước những chân lý hồng trần lớn lao. Mỗi ngày, sự đồng nhất giữa con người động vật và con người hồng trần, giữa cây cỏ và con người, và ngay cả giữa loài bò sát với tổ của nó, tảng đá, và con người, được biểu lộ ngày càng rõ ràng hơn. Khi các thành phần vật lý và hóa học của tất cả đều được thấy là đồng nhất, Khoa học Hóa học hoàn toàn có thể nói rằng không có sự khác biệt giữa vật chất cấu tạo nên con bò và vật chất tạo thành con người. Nhưng giáo lý Huyền bí minh xác hơn nhiều. Nó nói: Không chỉ các hợp chất hóa học là như nhau, mà chính những Sự Sống vô hình vô cùng nhỏ bé ấy cấu tạo nên các nguyên tử trong thân thể của núi và hoa cúc, của con người và con kiến, của voi và cây che nắng cho nó. Mỗi hạt tử — dù bạn gọi nó là hữu cơ hay vô cơ — đều là một Sự Sống. Mọi nguyên tử và phân tử trong Vũ trụ vừa ban sự sống vừa ban cái chết cho các hình tướng ấy, bởi lẽ nó kiến tạo, bằng sự kết tụ, các vũ trụ và những vận cụ phù du sẵn sàng tiếp nhận linh hồn luân chuyển; và bởi lẽ nó vĩnh viễn hủy diệt và thay đổi các hình tướng, đồng thời trục xuất các linh hồn khỏi những nơi trú ngụ tạm thời của chúng. Nó sáng tạo và giết chết; nó tự sinh thành và tự hủy diệt; trong từng giây của thời gian và không gian, nó đưa vào hiện hữu rồi tiêu diệt điều huyền nhiệm của mọi huyền nhiệm, tức thân thể sống của người, thú hay cây; và nó đồng thời sinh ra sự sống và cái chết, vẻ đẹp và sự xấu xí, điều thiện và điều ác, thậm chí cả những cảm giác dễ chịu và khó chịu, lợi ích và tai hại. Chính Sự Sống huyền nhiệm ấy, được biểu thị tập thể bởi vô số muôn vàn Sự Sống, đi theo cách rải rác riêng của nó dưới định luật di truyền hồi tổ cho đến nay vẫn chưa thể thấu hiểu; nó sao chép những nét tương đồng gia tộc, cũng như những gì nó thấy đã in dấu trong Hào quang của những người sinh thành của mỗi con người tương lai; tóm lại, đó là một huyền nhiệm sẽ được chú ý đầy đủ hơn ở nơi khác. Hiện giờ, có thể nêu một thí dụ để minh họa. Khoa học hiện đại bắt đầu phát hiện rằng ptomaine, chất độc alkaloid sinh ra từ xác chết và vật chất đang phân rã — cũng là một Sự Sống — khi được chiết xuất nhờ dĩ thái dễ bay hơi, tỏa ra mùi mạnh như mùi hoa cam tươi nhất; nhưng khi không có oxy, các alkaloid ấy hoặc tỏa ra một mùi cực kỳ buồn nôn, ghê tởm, hoặc một hương thơm rất dễ chịu, gợi nhớ mùi những loài hoa có hương tinh tế nhất; và người ta nghi ngờ rằng những đóa hoa như thế có mùi dễ chịu là nhờ ptomaine độc hại. Tinh chất độc của một số loài nấm cũng gần như đồng nhất với nọc của rắn hổ mang Ấn Độ, loài rắn chết người nhất. Các học giả Pháp Arnaud, Gautier và Villiers đã tìm thấy trong nước bọt của người sống cùng một alkaloid độc như trong nước bọt của cóc, kỳ giông, rắn hổ mang và trigonocephalus của Bồ Đào Nha. Người ta đã chứng minh rằng nọc độc thuộc loại chết người nhất, dù gọi là ptomaine, leucomaine hay alkaloid, đều do người, thú và cây sống sinh ra. Gautier cũng phát hiện một alkaloid trong xác tươi và não của một con bò, cùng một chất độc mà ông gọi là xanthocreatinine, tương tự chất được chiết xuất từ nước bọt độc của loài bò sát. Chính các mô cơ, những cơ quan hoạt động mạnh nhất trong cơ cấu sinh lý của động vật, bị nghi là các nơi sinh ra hay yếu tố tạo thành chất độc, vốn có tầm quan trọng ngang với acid carbonic và urea trong các chức năng của sự sống, và là sản phẩm cuối cùng của sự cháy bên trong. Và mặc dù vẫn chưa xác định đầy đủ liệu các chất độc có thể được sinh ra bởi hệ thống động vật của các sinh linh sống mà không có sự tham gia và can thiệp của vi sinh vật hay không, điều đã được xác nhận là động vật thật sự sản sinh các chất độc trong trạng thái sinh lý hay sống của nó.

Thus, having discovered the effects, Science has to find their primary causes; and this it can never do without the help of the old sciences, of Alchemy, Occult Botany and Physics. We are taught that every physiological change, in addition to pathological phenomena, diseases—nay, life itself, or rather the objective phenomena of life, produced by certain conditions and changes in the tissues of the body, which allow and force life to act in that body—that all this is due to those unseen “Creators” and “Destroyers,” which are called, in such a loose and general way, microbes. It might be supposed that these Fiery Lives and the microbes of Science are identical. This is not true. The Fiery Lives are the seventh and highest sub-division of the plane of matter, and correspond in the individual with the One Life of the Universe, though only on that plane of matter. The microbes of Science are the first and lowest sub-division on the second plane—that of material Prâna, or Life. The physical body of man undergoes a complete change of structure every seven years, and its destruction and preservation are due to the alternate functions of the Fiery Lives, as Destroyers and Builders. They are Builders by sacrificing themselves, in the form of vitality, to restrain the destructive influence of the microbes, and, by supplying the microbes with what is necessary, they compel them under that restraint to build up the material body and its cells. They are Destroyers also, when that restraint is removed, and the microbes, unsupplied with vital constructive energy, are left to run riot as destructive agents. Thus, during the first half of a man’s life, the first five periods of seven years each, the Fiery Lives are indirectly engaged in the process of building up man’s material body; Life is on the ascending scale, and the force is used in construction and increase. After this period is passed, the age of retrogression commences, and, the work of the Fiery Lives exhausting their strength, the work of destruction and decrease also commences.

Như vậy, sau khi đã khám phá các kết quả, Khoa học phải tìm ra các nguyên nhân đầu tiên của chúng; và điều này Khoa học không bao giờ có thể làm nếu không có sự trợ giúp của các khoa học cổ xưa, của thuật luyện kim, Thực vật học Huyền bí và Vật lý học Huyền bí. Chúng ta được dạy rằng mọi biến đổi sinh lý, ngoài các hiện tượng bệnh lý, bệnh tật — đúng hơn, chính sự sống, hay các hiện tượng khách quan của sự sống, được tạo ra bởi những điều kiện và biến đổi nhất định trong các mô của thân thể, khiến sự sống có thể và buộc phải hoạt động trong thân thể ấy — rằng tất cả những điều này đều do các “Đấng Sáng Tạo” và “Đấng Hủy Diệt” vô hình kia gây nên, những vị được gọi một cách lỏng lẻo và chung chung là vi sinh vật. Có thể giả định rằng các Sự Sống Bốc Lửa này và vi sinh vật của Khoa học là đồng nhất. Điều đó không đúng. Các Sự Sống Bốc Lửa là phân bộ thứ bảy và cao nhất của cõi vật chất, và tương ứng trong cá nhân với Sự Sống Duy Nhất của Vũ trụ, dù chỉ trên cõi vật chất ấy. Vi sinh vật của Khoa học là phân bộ thứ nhất và thấp nhất trên cõi thứ hai — cõi Prana vật chất, hay Sự Sống. Thể xác của con người trải qua một sự thay đổi cấu trúc hoàn toàn sau mỗi bảy năm, và sự hủy diệt cũng như bảo tồn của nó là do các chức năng luân phiên của các Sự Sống Bốc Lửa, với tư cách là Đấng Hủy Diệt và Đấng Kiến Tạo. Các Ngài là Đấng Kiến Tạo bằng cách hiến dâng chính mình, dưới hình thức sinh lực, để kiềm chế ảnh hưởng phá hoại của vi sinh vật; và bằng cách cung cấp cho vi sinh vật những gì cần thiết, Các Ngài buộc chúng, dưới sự kiềm chế ấy, xây dựng thân thể vật chất và các tế bào của nó. Các Ngài cũng là Đấng Hủy Diệt khi sự kiềm chế ấy được rút đi, và các vi sinh vật, không còn được cung cấp năng lượng kiến tạo thiết yếu, bị bỏ mặc cho lộng hành như những tác nhân phá hoại. Như vậy, trong nửa đầu đời người, tức năm chu kỳ bảy năm đầu tiên, các Sự Sống Bốc Lửa gián tiếp tham dự vào tiến trình xây dựng thân thể vật chất của con người; Sự Sống ở trên thang đi lên, và mãnh lực được dùng cho việc kiến tạo và tăng trưởng. Sau khi giai đoạn này qua đi, tuổi thoái hóa bắt đầu, và khi công việc của các Sự Sống Bốc Lửa làm cạn kiệt sức mạnh của Các Ngài, công việc hủy diệt và suy giảm cũng bắt đầu.

An analogy between cosmic events in the descent of Spirit into Matter, for the first half of a Manvantara (planetary as well as human), and its ascent, at the expense of Matter, in the second half, may here be traced. These considerations have to do solely with the plane of matter, but the restraining influence of the Fiery Lives on the lowest sub-division of the second plane, the microbes, is confirmed by the fact mentioned in the theory of Pasteur above referred to, that the cells of the organs, when they do not find sufficient oxygen for themselves, adapt themselves to that condition and form ferments, which, by absorbing oxygen from substances which come in contact with them, produce their destruction. Thus the process is commenced by one cell robbing its neighbour of the source of its vitality, when the supply is insufficient; and the destruction so commenced steadily progresses.

Ở đây có thể truy nguyên một sự tương đồng giữa các biến cố vũ trụ trong sự giáng xuống của Tinh thần vào Vật chất, trong nửa đầu của một Giai kỳ sinh hóa, cả hành tinh lẫn nhân loại, và sự đi lên của nó, với cái giá là Vật chất, trong nửa sau. Những suy xét này chỉ liên quan đến cõi vật chất, nhưng ảnh hưởng kiềm chế của các Sự Sống Bốc Lửa đối với phân bộ thấp nhất của cõi thứ hai, tức các vi sinh vật, được xác nhận bởi sự kiện nêu trong lý thuyết của Pasteur đã được nhắc đến ở trên: khi các tế bào của cơ quan không tìm được đủ oxy cho chính mình, chúng thích nghi với điều kiện ấy và tạo thành men, những men này, bằng cách hấp thu oxy từ các chất tiếp xúc với chúng, gây ra sự hủy hoại các chất ấy. Như vậy tiến trình bắt đầu khi một tế bào cướp từ tế bào lân cận nguồn sinh lực của nó, lúc nguồn cung cấp không đủ; và sự hủy hoại đã khởi đầu như thế cứ đều đặn tiến triển.

Such experimenters as Pasteur are the best friends and helpers of the Destroyers, and the worst enemies of the Creators—if the latter were not at the same time Destroyers also. However it may be, one thing is certain in this: the knowledge of these primary causes, and of the ultimate essence of every Element, of its Lives, their functions, properties, and conditions of change—constitutes the basis of Magic. Paracelsus was, perhaps, the only Occultist in Europe, during the latter centuries of the Christian era, who was versed in this mystery. Had not a criminal hand put an end to his life years before the time allotted him by Nature, physiological Magic would have fewer secrets for the civilized world than it now has.

Những nhà thực nghiệm như Pasteur là bạn hữu và người trợ giúp tốt nhất của các Đấng Hủy Diệt, và là kẻ thù tệ hại nhất của các Đấng Sáng Tạo — nếu các Đấng sau này không đồng thời cũng là Đấng Hủy Diệt. Dù thế nào đi nữa, có một điều chắc chắn trong vấn đề này: tri thức về các nguyên nhân đầu tiên ấy, và về tinh chất tối hậu của mọi Nguyên tố, về các Sự Sống của nó, các chức năng, đặc tính và điều kiện biến đổi của chúng — tạo thành nền tảng của huyền thuật. Paracelsus có lẽ là nhà huyền bí học duy nhất ở châu Âu, trong các thế kỷ sau của kỷ nguyên Cơ Đốc, am tường huyền nhiệm này. Nếu một bàn tay tội ác đã không kết liễu đời ông nhiều năm trước thời hạn Thiên nhiên dành cho ông, thì huyền thuật sinh lý học hẳn đã có ít bí mật đối với thế giới văn minh hơn hiện nay.

(d) But what has the Moon to do in all this, we may be asked. What have “Fish, Sin and Soma [Moon],” in the apocalyptic sentence of the Stanza, to do in company with the Life-microbes? With the latter nothing, except that they avail themselves of the tabernacle of clay prepared by them; with divine perfect Man everything, since “Fish, Sin and Moon” conjointly compose the three symbols of the immortal Being.

(d) Nhưng có thể người ta sẽ hỏi: Mặt Trăng liên quan gì đến tất cả những điều này? “Cá, Tội và Soma [Mặt Trăng]” trong câu khải huyền của Bài kệ có liên hệ gì với các vi sinh vật sự sống? Với những vi sinh vật sau thì không gì cả, ngoại trừ việc chúng sử dụng đền tạm bằng đất sét do chúng chuẩn bị; còn với Con Người thiêng liêng hoàn hảo thì là tất cả, vì “Cá, Tội và Mặt Trăng” cùng nhau tạo thành ba biểu tượng của Hữu Thể bất tử.

This is all that can be given. Nor does the writer pretend to know more of these strange symbols than may be inferred about them from exoteric religions—from the mystery, perhaps, which underlies the Matsya (Fish) Avatâra of Vishnu, the. Chaldean Oannes, the Man-Fish, recorded in the imperishable sign of the Zodiac, Pisces, and running throughout the two Testaments in the personages of Joshua “Son of Nun (the Fish)” and Jesus; from the allegorical “Sin,” or Fall of Spirit into Matter; and from the Moon—in so far as it relates to the Lunar Ancestors, the Pitris.

Đó là tất cả những gì có thể đưa ra. Người viết cũng không tự nhận biết nhiều hơn về các biểu tượng kỳ lạ này ngoài những gì có thể suy ra từ các tôn giáo công truyền — từ huyền nhiệm, có lẽ, nằm dưới Đấng Hoá Thân Matsya (Cá) của Vishnu, Oannes của Chaldea, Người-Cá, được ghi trong dấu hiệu bất hoại của Hoàng đạo, Song Ngư, và chạy xuyên suốt hai Bộ Ước trong các nhân vật Joshua “Con của Nun (Cá)” và Jesus; từ “Tội” biểu tượng, hay sự Sa ngã của Tinh thần vào Vật chất; và từ Mặt Trăng — trong chừng mực nó liên hệ đến các Tổ tiên Mặt Trăng, tức các Pitris.

For the present, it may be as well to remind the reader, that while the Moon-Goddesses were connected in every mythology, especially the Grecian, with child-birth, because of the influence of the Moon on women and conception, the Occult and actual connection of our satellite with fecundation is to this day unknown to Physiology, which regards every popular practice in this connection as gross superstition. As it is useless to discuss these in detail, we can only stop for the present to notice the lunar symbology casually, to show that the said superstition belongs to the most ancient beliefs, and even to Judaism—the basis of Christianity. With the Israelites, the chief function of Jehovah was child-giving, and the Esotericism of the Bible, interpreted kabalistically, shows undeniably that the Holy of Holies in the Temple was simply the symbol of the womb. This is now proven beyond doubt and cavil, by the numerical reading of the Bible in general, and of Genesis especially. This idea must certainly have been borrowed by the Jews from the Egyptians and Indians, whose Holy of Holies is symbolized by the King’s Chamber in the Great Pyramid and the Yoni symbols of exoteric Hindûism. To make the matter clearer, and to show at the same time the enormous difference in the spirit of interpretation and the original meaning of the same symbols between the ancient Eastern Occultists and the Jewish Kabalists, we refer the reader to the Section on “The Holy of Holies,” in the second Volume.

Hiện giờ, có lẽ nên nhắc độc giả rằng, trong khi các Nữ thần Mặt Trăng được liên kết trong mọi thần thoại, đặc biệt là thần thoại Hy Lạp, với việc sinh nở, do ảnh hưởng của Mặt Trăng đối với phụ nữ và sự thụ thai, thì mối liên hệ Huyền bí và thực tế của vệ tinh chúng ta với sự thụ tinh đến nay vẫn chưa được Sinh lý học biết đến; ngành này xem mọi tập tục dân gian liên quan đến vấn đề ấy là mê tín thô thiển. Vì bàn chi tiết về những điều này là vô ích, hiện tại chúng ta chỉ có thể dừng lại để lướt qua biểu tượng học mặt trăng, nhằm chỉ ra rằng cái gọi là mê tín ấy thuộc về những tín ngưỡng cổ xưa nhất, và thậm chí thuộc về Do Thái giáo — nền tảng của Cơ Đốc giáo. Đối với dân Israel, chức năng chính của Jehovah là ban con cái, và Huyền bí học của Kinh Thánh, khi được diễn giải theo Kabbalah, cho thấy không thể chối cãi rằng Nơi Cực Thánh trong Đền thờ chỉ đơn giản là biểu tượng của tử cung. Điều này nay đã được chứng minh vượt khỏi mọi nghi ngờ và tranh cãi nhờ cách đọc số học Kinh Thánh nói chung, và Sáng Thế Ký nói riêng. Ý tưởng này chắc chắn đã được người Do Thái vay mượn từ người Ai Cập và người Ấn Độ, nơi Nơi Cực Thánh được biểu tượng bằng Phòng của Vua trong Đại Kim Tự Tháp và các biểu tượng Yoni của Ấn giáo công truyền. Để làm vấn đề rõ hơn, đồng thời chỉ ra sự khác biệt to lớn trong tinh thần diễn giải và ý nghĩa nguyên thủy của cùng các biểu tượng giữa các nhà Huyền bí phương Đông cổ đại và các nhà Kabbalah Do Thái, chúng tôi xin dẫn độc giả đến Phần nói về “Nơi Cực Thánh” trong Quyển thứ hai.

Phallic worship has developed only with the loss of the keys to the true meaning of the symbols. It was the last and most fatal turning from the highway of truth and divine knowledge into the side path of fiction, raised into dogma through human falsification and hierarchic ambition.

Sự thờ phụng sinh thực khí chỉ phát triển khi các chìa khóa dẫn vào ý nghĩa chân thật của các biểu tượng đã mất. Đó là bước rẽ cuối cùng và tai hại nhất khỏi đại lộ của chân lý và tri thức thiêng liêng để đi vào lối phụ của hư cấu, được nâng thành giáo điều qua sự xuyên tạc của con người và tham vọng của hàng giáo phẩm.

6. From the First-Born, 409 the Thread between the Silent Watcher and his Shadow becomes more strong and radiant with every Change. 410 The morning sun-light has changed into noon-day glory….

6. Từ Đấng Sinh Đầu Tiên, 409 Sợi dây giữa Đấng Canh Gác Im Lặng và Bóng của Ngài trở nên mạnh mẽ và rạng rỡ hơn qua mỗi Biến Đổi. 410 Ánh sáng mặt trời buổi sớm đã biến thành vinh quang chính ngọ….

This sentence, “the Thread between the Silent Watcher and his Shadow [Man] becomes more strong with every Change,” is another psychological mystery, that will find its explanation in Volume II. For the present, it will suffice to say that the “Watcher” and his “Shadows”—the latter numbering as many as there are reincarnations for the Monad—are one. The Watcher, or the Divine Prototype, is at the upper rung of the Ladder of Being; the Shadow, at the lower. Withal, the Monad of every living being, unless his moral turpitude breaks the connection, and he runs loose and astray into the “Lunar Path”—to use the Occult expression—is an individual Dhyân Chohan, distinct from others, with a kind of spiritual Individuality of its own, during one special Manvantara. Its Primary, the Spirit (Âtman), is one, of course, with the One Universal Spirit (Paramâtmâ), but the Vehicle (Vâhan) it is enshrined in, the Buddhi, is part and parcel of that Dhyân-Chohanic Essence; and it is in this that lies the mystery of that ubiquity, which was discussed a few pages back. “My Father, that is in Heaven, and I—are one,” says the Christian Scripture; and in this, at any rate, it is the faithful echo of the Esoteric tenet.

Câu này, “Sợi dây giữa Đấng Canh Gác Im Lặng và Bóng của Ngài [Con Người] trở nên mạnh mẽ hơn qua mỗi Biến Đổi,” là một huyền nhiệm tâm lý khác, sẽ được giải thích trong Quyển II. Hiện tại, chỉ cần nói rằng “Đấng Canh Gác” và các “Bóng” của Ngài — những Bóng này nhiều bằng số lần tái sinh của chân thần — là một. Đấng Canh Gác, hay Nguyên mẫu Thiêng liêng, ở nấc trên của Thang Bản Thể; Bóng ở nấc dưới. Tuy nhiên, chân thần của mỗi sinh linh, trừ khi sự suy đồi đạo đức của y cắt đứt mối liên hệ và y buông trôi lạc lối vào “Con Đường Mặt Trăng” — dùng cách nói Huyền bí — là một Dhyani Chohan cá biệt, phân biệt với các vị khác, với một loại Cá Thể tinh thần riêng của mình, trong một Giai kỳ sinh hóa đặc biệt. Nguyên thủy của nó, Tinh thần (Atman), dĩ nhiên là một với Tinh thần Phổ quát Duy Nhất (Paramatma), nhưng Vận cụ (Vahan) trong đó nó được tôn trí, tức Bồ đề, là một phần không tách rời của Tinh chất Dhyani-Chohanic ấy; và chính trong điều này có huyền nhiệm về tính hiện diện khắp nơi, đã được bàn vài trang trước. “Cha Ta ở trên Trời, và Ta — là một,” Thánh Kinh Cơ Đốc nói; và trong điều này, dù sao, nó là tiếng vọng trung thành của giáo lý Bí truyền.

7. “This is thy present Wheel”—said the Flame to the Spark. “Thou art myself, my Image and my Shadow. I have clothed myself in thee, and thou art my Vâhan, 411 to the Day ‘Be With Us,’ when thou shalt re-become myself and others, thyself and I” (a). Then the Builders, having donned their first Clothing, descend on radiant Earth, and reign over Men—who Are themselves (b).

7. “Đây là Bánh Xe hiện tại của ngươi” — Ngọn Lửa nói với Tia Lửa. “Ngươi là chính ta, Hình Ảnh và Bóng của ta. Ta đã khoác chính ta trong ngươi, và ngươi là Vahan của ta, 411 cho đến Ngày ‘Hãy Ở Cùng Chúng Ta,’ khi ngươi sẽ trở lại là chính ta và những vị khác, là chính ngươi và ta” (a). Rồi các Đấng Kiến Tạo, sau khi khoác Lớp Áo đầu tiên của mình, giáng xuống Trái Đất rạng rỡ, và trị vì loài Người — vốn chính là Các Ngài (b).

(a) The Day when the Spark will re-become the Flame, when Man will merge into his Dhyân Chohan, “myself and others, thyself and I,” as the Stanza has it, means that in Paranirvâna—when Pralaya will have reduced not only material and psychical bodies, but even the spiritual Egos, to their original principle—the Past, Present, and even Future Humanities, like all things, will be one and the same. Everything will have reentered the Great Breath. In other words, everything will be “merged in Brahman,” or the Divine Unity.

(a) Ngày mà Tia Lửa sẽ trở lại là Ngọn Lửa, khi Con Người sẽ hòa nhập vào Dhyani Chohan của mình, “chính ta và những vị khác, chính ngươi và ta,” như Bài kệ nói, có nghĩa là trong Paranirvana — khi Giai kỳ qui nguyên đã quy giản không chỉ các thể vật chất và thông linh, mà ngay cả các Chân ngã tinh thần, về nguyên khí ban đầu của chúng — thì các Nhân loại Quá khứ, Hiện tại và cả Tương lai, như mọi sự vật, sẽ là một và như nhau. Tất cả sẽ tái nhập vào Đại Hơi Thở. Nói cách khác, tất cả sẽ “hòa nhập trong Brahman,” hay Hợp Nhất Thiêng Liêng.

Is this annihilation, as some think? Or atheism, as other critics—the worshippers of a personal deity, and believers in an unphilosophical paradise—are inclined to suppose? Neither. It is worse than useless to return to the question of implied atheism, in that which is spirituality of a most refined character. To see in Nirvâna annihilation, amounts to saying of a man plunged in a sound dreamless sleep—one that leaves no impression on the physical memory and brain, because the sleeper’s Higher Self is then in its original state of Absolute Consciousness—that he, too, is annihilated. The latter simile answers to one side of the question only—the most material; since reabsorption is by no means such a “dreamless sleep,” but, on the contrary, Absolute Existence, an unconditioned unity, or a state, to describe which human language is absolutely and hopelessly inadequate. The only approach to anything like a comprehensive conception of it can be attempted solely in the panoramic visions of the Soul, through spiritual ideations of the divine Monad. Nor is the Individuality—nor even the essence of the Personality, if any be left behind—lost, because reabsorbed. For, however limitless from a human standpoint, the paranirvânic state, yet it has a limit in Eternity. Once reached, the same Monad will reemerge therefrom, as a still higher being, on a far higher plane, to recommence its cycle of perfected activity. The human mind, in its present stage of development, cannot transcend, scarcely can it reach this plane of thought. It totters here, on the brink of incomprehensible Absoluteness and Eternity.

Đây có phải là sự hủy diệt, như một số người nghĩ? Hay là thuyết vô thần, như những nhà phê bình khác — những người thờ phụng một thần linh cá nhân, và tin vào một thiên đường phi triết học — có khuynh hướng giả định? Không phải cả hai. Thật còn hơn vô ích khi trở lại vấn đề thuyết vô thần ngụ ý trong điều vốn là tinh thần thuộc loại tinh vi nhất. Thấy trong Niết Bàn sự hủy diệt, chẳng khác nào nói về một người chìm trong giấc ngủ say không mộng — giấc ngủ không để lại ấn tượng nào trên ký ức và bộ não hồng trần, vì Bản Ngã Cao Siêu của người ngủ khi ấy ở trong trạng thái nguyên thủy của Tâm Thức Tuyệt Đối — rằng y cũng bị hủy diệt. Ví dụ sau chỉ đáp ứng một mặt của vấn đề — mặt vật chất nhất; bởi vì sự tái hấp thu hoàn toàn không phải là một “giấc ngủ không mộng” như thế, mà trái lại là Hiện Hữu Tuyệt Đối, một nhất thể vô điều kiện, hay một trạng thái mà ngôn ngữ con người hoàn toàn và vô vọng không đủ khả năng mô tả. Cách tiếp cận duy nhất đến một quan niệm tương đối bao quát về nó chỉ có thể được thử trong các linh ảnh toàn cảnh của Linh hồn, qua những ý niệm tinh thần về chân thần thiêng liêng. Cá Thể — thậm chí cả tinh chất của Phàm ngã, nếu còn lại gì — cũng không mất đi vì được tái hấp thu. Bởi vì, dù từ quan điểm con người trạng thái paranirvana có vẻ vô hạn đến đâu, nó vẫn có một giới hạn trong Vĩnh cửu. Một khi đạt đến đó, cùng chân thần ấy sẽ tái xuất hiện từ đó, như một hữu thể còn cao hơn, trên một cõi cao hơn rất nhiều, để bắt đầu lại chu kỳ hoạt động hoàn thiện của mình. Thể trí con người, trong giai đoạn phát triển hiện nay, không thể vượt qua, thậm chí hầu như không thể chạm đến cõi tư tưởng này. Nó chao đảo nơi đây, trên bờ vực của Tuyệt Đối Tính và Vĩnh Cửu không thể thấu hiểu.

(b) The “Watchers” reign over men during the whole period of Satya Yuga and the smaller subsequent Yugas, down to the beginning of the Third Root Race; after which it is the Patriarchs, Heroes, and the Manes, as in the Egyptian Dynasties enumerated by the priests to Solon, the incarnated Dhyânis of a lower order, up to King Menes and the human Kings of other nations. All were carefully recorded. In the views of symbologists this Mythopœic Age is of course regarded as only a fairy tale. But since traditions and even chronicles of such Dynasties of Divine Kings, of Gods reigning over men, followed by Dynasties of Heroes or Giants, exist in the annals of every nation, it is difficult to understand how all the peoples under the sun, some of whom are separated by vast oceans and belong to different hemispheres, such as the ancient Peruvians and Mexicans, as well as the Chaldeans, could have worked out the same “fairy tales” in the same order of events. 412 However, as the Secret Doctrine teaches history—which, although esoteric and traditional, is, none the less, more reliable than profane history—we are entitled to our beliefs as much as anyone else, whether religionist or sceptic. And that Doctrine says that the Dhyâni-Buddhas of the two higher Groups, namely, the Watchers or the Architects, furnished the many and various races with divine kings and leaders. It is the latter who taught humanity their arts and sciences, and the former who revealed to the incarnated Monads that had just shaken off their Vehicles of the lower Kingdoms, and who had, therefore, lost every recollection of their divine origin, the great spiritual truths of the transcendental Worlds.

(b) Các “Đấng Canh Gác” trị vì loài người suốt toàn bộ thời kỳ Satya Yuga và các Yuga nhỏ hơn kế tiếp, cho đến đầu Giống Dân Gốc thứ Ba; sau đó là các Tổ phụ, Anh hùng và Manes, như trong các Vương triều Ai Cập được các tư tế liệt kê cho Solon, tức các Dhyani nhập thể thuộc cấp thấp hơn, cho đến Vua Menes và các vị Vua nhân loại của những dân tộc khác. Tất cả đều được ghi chép cẩn thận. Theo quan điểm của các nhà biểu tượng học, Thời đại sáng tạo huyền thoại này dĩ nhiên chỉ được xem là một chuyện cổ tích. Nhưng vì các truyền thống, và ngay cả biên niên sử về những Vương triều của các vị Vua Thiêng Liêng như thế, về các Thần trị vì loài người, tiếp theo là các Vương triều Anh hùng hay Khổng lồ, đều tồn tại trong biên niên của mọi dân tộc, nên thật khó hiểu làm sao mọi dân tộc dưới mặt trời, một số bị chia cách bởi những đại dương mênh mông và thuộc các bán cầu khác nhau, như người Peru và Mexico cổ đại, cũng như người Chaldea, lại có thể tạo ra cùng những “chuyện cổ tích” theo cùng một trật tự biến cố. 412 Tuy nhiên, vì Giáo Lý Bí Nhiệm dạy lịch sử — lịch sử ấy, tuy bí truyền và truyền thống, vẫn không kém phần đáng tin cậy hơn lịch sử phàm tục — chúng ta có quyền đối với niềm tin của mình không kém bất cứ ai khác, dù là người theo tôn giáo hay kẻ hoài nghi. Và Giáo Lý ấy nói rằng các Dhyani-Buddha thuộc hai Nhóm cao hơn, tức các Đấng Canh Gác hay các Kiến Trúc Sư, đã cung cấp cho nhiều nhân loại khác nhau các vị vua và thủ lĩnh thiêng liêng. Chính các vị sau đã dạy nhân loại các nghệ thuật và khoa học của họ, còn các vị trước mặc khải cho các Chân thần nhập thể, những vị vừa rũ bỏ các Vận cụ của các Giới thấp hơn và do đó đã mất mọi hồi ức về nguồn gốc thiêng liêng của mình, những chân lý tinh thần vĩ đại của các Thế giới siêu việt.

Thus, as expressed in the Stanza, the Watchers “descend on radiant Earth and reign over men, who are themselves.” The reigning Kings had finished their cycle on Earth and other Worlds, in the preceding Rounds. In the future Manvantaras they will have risen to higher Systems than our planetary World; and it is the Elect of our Humanity, the Pioneers on the hard and difficult path of Progress, who will take the places of their predecessors. The next great Manvantara will witness the men of our own Life-Cycle becoming the instructors and guides of a Mankind whose Monads may now be still imprisoned—semi-conscious—in the most intellectual of the animal kingdom, while their lower principles may be animating, perhaps, the highest specimens of the vegetable world.

Như vậy, như đã diễn tả trong Bài kệ, các Đấng Canh Gác “giáng xuống Trái Đất rạng rỡ và trị vì loài người, vốn chính là Các Ngài.” Các vị Vua đang trị vì đã hoàn tất chu kỳ của mình trên Trái Đất và các Thế giới khác, trong các Cuộc tuần hoàn trước. Trong các Giai kỳ sinh hóa tương lai, Các Ngài sẽ vươn lên những Hệ cao hơn Thế giới hành tinh của chúng ta; và chính những Người Được Chọn của Nhân loại chúng ta, những Người Tiên Phong trên con đường Tiến Bộ gian khổ và khó khăn, sẽ đảm nhận vị trí của các vị tiền nhiệm. Giai kỳ sinh hóa lớn kế tiếp sẽ chứng kiến con người của Chu kỳ Sự Sống hiện nay của chúng ta trở thành các huấn sư và người hướng dẫn cho một Nhân loại mà các Chân thần của họ hiện nay có thể vẫn còn bị giam giữ — bán hữu thức — trong những cá thể trí tuệ nhất của giới động vật, trong khi các nguyên khí thấp của họ có lẽ đang phú linh cho những mẫu vật cao nhất của giới thực vật.

Thus proceed the cycles of the septenary evolution, in Seven-fold Nature; the spiritual or divine; the psychic or semi-divine; the intellectual; the passional, the instinctual, or cognitional; the semi-corporeal; and the purely material or physical natures. All these evolve and progress cyclically, passing from one into another, in a double, centrifugal and centripetal, way, one in their ultimate essence, seven in their aspects. The lowest, of course, is that depending upon and subservient to our five physical senses, which are in truth seven, as shown later, on the authority of the oldest Upanishads. Thus far, for individual, human, sentient, animal and vegetable life, each the microcosm of its higher macrocosm. The same for the Universe, which manifests periodically, for purposes of the collective progress of the countless Lives, the outbreathings of the One Life; in order that, through the Ever-Becoming, every cosmic atom in this infinite Universe, passing from the formless and the intangible, through the mixed natures of the semi-terrestrial, down to matter in full generation, and then back again, reascending at each new period higher and nearer the final goal; that each atom, we say, may reach, through individual merits and efforts, that plane where it re-becomes the One Unconditioned All. But between the Alpha and the Omega there is the weary “Road,” hedged in by thorns, that goes down first, then—

Như vậy các chu kỳ của tiến hoá thất phân diễn tiến trong Thiên nhiên Thất phân; các bản chất tinh thần hay thiêng liêng; thông linh hay bán thiêng liêng; trí tuệ; dục vọng, bản năng, hay nhận thức; bán vật chất; và thuần vật chất hay hồng trần. Tất cả những bản chất này tiến hoá và tiến triển theo chu kỳ, chuyển từ cái này sang cái khác, theo một cách kép, ly tâm và hướng tâm, một trong tinh chất tối hậu của chúng, bảy trong các phương diện của chúng. Thấp nhất, dĩ nhiên, là bản chất phụ thuộc vào và phục vụ năm giác quan hồng trần của chúng ta, mà thật ra là bảy, như sẽ được trình bày sau, dựa trên thẩm quyền của các Upanishad cổ xưa nhất. Đến đây là nói về sự sống cá nhân, nhân loại, hữu cảm, động vật và thực vật, mỗi cái là tiểu thiên địa của đại thiên địa cao hơn của nó. Điều này cũng đúng với Vũ trụ, vốn biểu hiện theo chu kỳ vì mục đích tiến bộ tập thể của vô số Sự Sống, những hơi thở ra của Sự Sống Duy Nhất; để, qua sự Vĩnh Viễn Trở Thành, mọi nguyên tử vũ trụ trong Vũ trụ vô hạn này, đi từ vô hình tướng và không thể chạm tới, xuyên qua các bản chất hỗn hợp của trạng thái bán trần gian, xuống đến vật chất trong sự sinh thành trọn vẹn, rồi lại quay trở về, tái thăng lên trong mỗi thời kỳ mới, cao hơn và gần hơn với mục tiêu cuối cùng; để mỗi nguyên tử, chúng tôi nói, có thể đạt đến, qua công đức và nỗ lực cá nhân, cõi nơi nó trở lại là Toàn Thể Duy Nhất Vô Điều Kiện. Nhưng giữa Alpha và Omega có “Đường Đạo” mệt mỏi, bị bao quanh bởi gai góc, đi xuống trước, rồi —

Winds up hill all the way; Yes, to the very end….

Uốn lên đồi suốt chặng đường; Vâng, cho đến tận cùng….

Starting upon the long journey immaculate, descending more and more into sinful matter, and having connected himself with every atom in manifested Space—the Pilgrim, having struggled through, and suffered in, every form of Life and Being, is only at the bottom of the valley of matter, and half through his cycle, when he has identified himself with collective Humanity. This, he has made in his own image. In order to progress upwards and homewards, the “God” has now to ascend the weary uphill path of the Golgotha of Life. It is the martyrdom of self-conscious existence. Like Vishvakarman, he has to sacrifice himself to himself, in order to redeem all creatures, to resurrect from the Many into the One Life. Then he ascends into Heaven indeed; where, plunged into the incomprehensible Absolute Being and Bliss of Paranirvâna, he reigns unconditionally, and whence he will re-descend again, at the next “Coming,” which one portion of humanity expects in its dead-letter sense as the “Second Advent,” and the other as the last “Kalkî Avatâra.”

Khởi hành trên cuộc hành trình dài trong trạng thái tinh khiết, rồi giáng xuống ngày càng sâu vào vật chất tội lỗi, và đã liên kết chính mình với mọi nguyên tử trong Không Gian biểu hiện — Người Hành Hương, sau khi đã vật lộn qua và chịu khổ trong mọi hình tướng của Sự Sống và Bản Thể, chỉ mới ở đáy thung lũng vật chất và đi được nửa chu kỳ của mình khi y đã đồng hoá với Nhân loại tập thể. Điều này, y đã tạo nên theo hình ảnh của chính mình. Để tiến lên trên và trở về nhà, “Thượng đế” nay phải leo lên con đường dốc mệt mỏi của Golgotha Sự Sống. Đó là cuộc tử đạo của hiện hữu có ngã thức. Như Vishvakarman, y phải hiến tế chính mình cho chính mình, để cứu chuộc mọi tạo vật, để phục sinh từ Cái Nhiều vào Sự Sống Duy Nhất. Rồi y thật sự thăng lên Trời; nơi đó, chìm trong Bản Thể Tuyệt Đối và Chí phúc không thể thấu hiểu của Paranirvana, y trị vì vô điều kiện, và từ đó y sẽ lại giáng xuống trong “Lần Đến” kế tiếp, điều mà một phần nhân loại trông đợi theo nghĩa văn tự chết cứng như “Lần Tái Lâm Thứ Hai,” còn phần kia như “Kalki Avatara” cuối cùng.

Summing Up. — Tổng Kết.

The History of Creation and of this World, from its beginning up to the present time, is composed of seven chapters. The seventh chapter is not yet written.

Lịch sử Sáng Tạo và của Thế Giới này, từ khởi thủy cho đến thời hiện tại, gồm bảy chương. Chương thứ bảy vẫn chưa được viết.

T. Subba Row. 413

T. Subba Row. 413

The first of these “seven chapters” has been attempted and is now finished. However incomplete and feeble as an exposition, it is, at any rate, an approximation—using the word in a mathematical sense—to that which is the oldest basis for all subsequent cosmogonies. The attempt to render in a European tongue the grand panorama of the ever periodically recurring Law, impressed upon the plastic minds of the first Races endowed with Consciousness, by those who reflected the same from the Universal Mind, is daring; for no human language, save the Sanskrit—which is that of the Gods—can do so with any degree of adequacy. But the failures in this work must be forgiven for the sake of the motive.

Chương thứ nhất trong “bảy chương” này đã được thử trình bày và nay đã hoàn tất. Dù với tư cách một bản trình bày, nó còn bất toàn và yếu ớt đến đâu, thì ít nhất nó vẫn là một sự xấp xỉ — dùng từ này theo nghĩa toán học — đối với nền tảng cổ xưa nhất của mọi vũ trụ luận về sau. Nỗ lực diễn đạt bằng một ngôn ngữ châu Âu toàn cảnh vĩ đại của Định luật luôn tái diễn theo chu kỳ, được in vào những thể trí mềm dẻo của các Nhân loại đầu tiên được phú cho Tâm thức bởi những vị phản chiếu chính Định luật ấy từ Vũ Trụ Trí, là một nỗ lực táo bạo; vì không ngôn ngữ nhân loại nào, ngoại trừ Sanskrit — thứ ngôn ngữ của các Thần — có thể làm được điều ấy với bất kỳ mức độ tương xứng nào. Nhưng những thiếu sót trong tác phẩm này phải được tha thứ vì động cơ của nó.

As a whole, neither the foregoing nor what follows can be found in full anywhere. It is not taught in any of the six Indian schools of philosophy, for it pertains to their synthesis, the seventh, which is the Occult Doctrine. It is not traced on any crumbling papyrus of Egypt, nor is it any longer graven on Assyrian tile or granite wall. The Books of the Vedânta—the “last word of human knowledge”—give out but the metaphysical aspect of this world-cosmogony; and their priceless thesaurus, the Upanishads—Upa-ni-shad being a compound word, expressing the conquest of ignorance by the revelation of secret, spiritual knowledge—now requires the additional possession of a master-key, to enable the student to get at their full meaning. The reason for this I venture to state here as I learned it from a Master.

Xét như một toàn thể, cả phần trước lẫn phần sau đều không thể được tìm thấy đầy đủ ở bất cứ đâu. Nó không được giảng dạy trong bất kỳ trường phái triết học Ấn Độ nào trong sáu trường phái, vì nó thuộc về sự tổng hợp của chúng, trường phái thứ bảy, tức Giáo lý Huyền bí. Nó không được ghi trên bất kỳ mảnh giấy cói Ai Cập mục nát nào, cũng không còn được khắc trên ngói Assyria hay tường đá granite. Các Sách Vedanta — “lời cuối cùng của tri thức nhân loại” — chỉ đưa ra phương diện siêu hình của vũ trụ luận thế giới này; và kho báu vô giá của chúng, các Upanishad — Upa-ni-shad là một từ ghép, diễn tả sự chinh phục vô minh bằng sự mặc khải tri thức bí mật, tinh thần — nay đòi hỏi thêm việc sở hữu một chìa khóa chủ, để giúp đạo sinh đạt đến trọn vẹn ý nghĩa của chúng. Lý do cho điều này, tôi xin mạo muội trình bày ở đây như tôi đã học được từ một Chân sư.

The name Upanishad, is usually translated “esoteric doctrine.” These treatises form part of Shruti, or “revealed” Knowledge, Revelation in short, and are generally attached to the Brâhmana portion of the Vedas, as their third division.

Danh xưng Upanishad thường được dịch là “giáo lý bí truyền.” Các luận thuyết này tạo thành một phần của Shruti, hay Tri thức “mặc khải,” tóm lại là Sự mặc khải, và thường được gắn với phần Brahmana của các Veda, như phân bộ thứ ba của chúng.

[Now] the Vedas have a distinct dual meaning—one expressed by the literal sense of the words, the other indicated by the metre and the svara (intonation), which are as the life of the Vedas…. Learned pandits and philologists of course deny that svara has anything to do with philosophy or ancient esoteric doctrines; but the mysterious connection between svara and light is one of its most profound secrets. 414

[Hiện nay] các Veda có một ý nghĩa kép rõ rệt — một ý nghĩa được diễn tả bằng nghĩa đen của các từ, ý nghĩa kia được chỉ ra bởi vận luật và svara, tức ngữ điệu, vốn như sự sống của các Veda…. Dĩ nhiên các pandit và nhà ngữ văn học uyên bác phủ nhận rằng svara có liên hệ gì với triết học hay các giáo lý bí truyền cổ đại; nhưng mối liên hệ huyền nhiệm giữa svara và ánh sáng là một trong những bí mật sâu xa nhất của nó. 414

There are over 150 Upanishads enumerated by Orientalists, who credit the oldest with being written probably about 600 years b.c.; but of genuine texts there does not exist a fifth of the number. The Upanishads are to the Vedas what the Kabalah is to the Jewish Bible. They treat of and expound the secret and mystic meaning of the Vedic texts. They speak of the origin of the Universe, the nature of Deity, and of Spirit and Soul, as also of the metaphysical connection of Mind and Matter. In a few words: They contain the beginning and the end of all human knowledge, but they have ceased to reveal it, since the days of Buddha. If it were otherwise, the Upanishads could not be called esoteric, since they are now openly attached to the Sacred Brâhmanical Books, which have, in our present age, become accessible even to the Mlechchhas (out-castes) and the European Orientalists. One thing in them—and this, in all the Upanishads—invariably and constantly points to their ancient origin, and proves (a) that they were written, in some of their portions, before the caste system became the tyrannical institution which it still is; and (b) that half of their contents have been eliminated, while some of them have been rewritten and abridged. “The great Teachers of the higher Knowledge and the Brâhmans are continually represented as going to Kshatriya [military-caste] kings to become their pupils.” As Professor Cowell pertinently remarks, the Upanishads “breathe an entirely different spirit [from other Brâhmanical writings], a freedom of thought unknown in any earlier work, except in the Rig Veda hymns themselves.” The second fact is explained by a tradition recorded in one of the MSS. on Buddha’s life. It says that the Upanishads were originally attached to their Brâhmanas after the beginning of a reform, which led to the exclusiveness of the present caste system among the Brâhmans, a few centuries after the invasion of India by the “Twice-born.” They were complete in those days, and were used for the instruction of the Chelâs who were preparing for Initiation.

Có hơn một trăm năm mươi Upanishad được các nhà Đông phương học liệt kê, họ cho rằng những bản cổ nhất có lẽ được viết vào khoảng sáu trăm năm trước Công nguyên; nhưng trong số các văn bản chân xác, chưa đến một phần năm con số ấy còn tồn tại. Upanishad đối với Veda cũng như Kabalah đối với Kinh Thánh Do Thái. Chúng bàn đến và giải thích ý nghĩa bí mật và thần bí của các văn bản Veda. Chúng nói về nguồn gốc Vũ trụ, bản chất của Thượng đế, của Tinh thần và Linh hồn, cũng như mối liên hệ siêu hình giữa Trí tuệ và Vật chất. Nói vắn tắt: chúng chứa đựng khởi đầu và kết thúc của toàn bộ tri thức nhân loại, nhưng từ thời Đức Phật, chúng đã thôi mặc khải điều ấy. Nếu không phải vậy, Upanishad không thể được gọi là bí truyền, vì hiện nay chúng được gắn công khai với các Sách Thánh Brahmana, những sách trong thời đại hiện tại của chúng ta đã trở nên dễ tiếp cận ngay cả đối với các Mlechchha, tức những kẻ ngoài đẳng cấp, và các nhà Đông phương học châu Âu. Một điều trong chúng — và điều này có trong tất cả các Upanishad — luôn luôn và không đổi chỉ về nguồn gốc cổ xưa của chúng, và chứng minh (a) rằng một số phần của chúng đã được viết trước khi hệ thống đẳng cấp trở thành định chế chuyên chế như hiện nay; và (b) rằng một nửa nội dung của chúng đã bị loại bỏ, trong khi một số bản đã được viết lại và rút gọn. “Các Huấn sư vĩ đại của Tri thức cao siêu và các Brahman thường xuyên được mô tả là đi đến các vua Kshatriya [đẳng cấp quân sự] để trở thành học trò của họ.” Như Giáo sư Cowell nhận xét rất xác đáng, các Upanishad “thở một tinh thần hoàn toàn khác [với các trước tác Brahmana khác], một sự tự do tư tưởng không thấy trong bất kỳ tác phẩm nào trước đó, ngoại trừ chính các thánh ca Rig Veda.” Sự kiện thứ hai được giải thích bởi một truyền thống được ghi trong một trong các bản thảo về cuộc đời Đức Phật. Truyền thống ấy nói rằng ban đầu các Upanishad được gắn với các Brahmana của chúng sau khi khởi đầu một cuộc cải cách, dẫn đến tính độc quyền của hệ thống đẳng cấp hiện nay trong giới Brahman, vài thế kỷ sau cuộc xâm nhập Ấn Độ của những người “Sinh Hai Lần.” Vào những ngày ấy, chúng còn trọn vẹn, và được dùng để giảng dạy các đệ tử đang chuẩn bị cho Điểm đạo.

This lasted so long as the Vedas and the Brâhmanas remained in the sole and exclusive keeping of the temple-Brâhmans—while no one else had the right to study or even read them outside of the sacred caste. Then came Gautama, the Prince of Kapilavastu. After learning the whole of the Brâhmanical wisdom in the Rahasya, or the Upanishads, and finding that the teachings differed little, if at all, from those of the “Teachers of Life” inhabiting the snowy ranges of the Himâlayas, 415 the disciple of the Brâhmans, feeling indignant because the Sacred Wisdom was thus withheld from all but Brâhmans, determined, by popularizing it, to save the whole world. Then it was that the Brâhmans, seeing that their Sacred Knowledge and Occult Wisdom was falling into the hands of the Mlechchhas, abridged the texts of the Upanishads, which originally contained thrice the matter of the Vedas and the Brâhmanas together, without altering, however, one word of the texts. They simply detached from the MSS. the most important portions, containing the last word of the Mystery of Being. The key to the Brâhmanical secret code remained henceforth with the Initiates alone, and the Brâhmans were thus in a position to publicly deny the correctness of Buddha’s teaching by appealing to their Upanishads, silenced for ever on the chief questions. Such is the esoteric tradition beyond the Himâlayas.

Điều này kéo dài chừng nào kinh Veda và Brahmana còn nằm trong sự gìn giữ duy nhất và độc quyền của các Brahman đền thờ — trong khi không ai khác có quyền học, hay thậm chí đọc chúng, bên ngoài giai cấp thiêng liêng. Rồi Gautama, vị Vương tử của Kapilavastu, xuất hiện. Sau khi học toàn bộ minh triết Brahman trong Rahasya, hay các Upanishad, và nhận thấy rằng những giáo huấn ấy, nếu có khác, cũng chỉ khác rất ít với giáo huấn của các “Huấn sư của Sự Sống” cư ngụ trên các dãy tuyết phủ của Himalaya, 415 người đệ tử của các Brahman, cảm thấy phẫn nộ vì Minh Triết Thiêng Liêng bị giữ kín như thế, không cho ai ngoài các Brahman, đã quyết định, bằng cách phổ biến nó, cứu toàn thế giới. Bấy giờ các Brahman, thấy rằng Tri Thức Thiêng Liêng và Minh Triết Huyền Bí của họ đang rơi vào tay những người Mlechchha, đã rút gọn các văn bản Upanishad, vốn nguyên thủy chứa đựng lượng nội dung gấp ba lần kinh Veda và Brahmana cộng lại, tuy nhiên không thay đổi một lời nào trong các văn bản. Họ chỉ đơn giản tách khỏi các thủ bản những phần quan trọng nhất, chứa đựng lời tối hậu về Bí Nhiệm của Bản Thể. Từ đó về sau, chìa khóa của mật mã Brahman chỉ còn ở với các điểm đạo đồ, và như thế các Brahman có thể công khai phủ nhận tính đúng đắn của giáo huấn Đức Phật bằng cách viện dẫn các Upanishad của họ, vốn đã mãi mãi im lặng về những vấn đề chủ yếu. Đó là truyền thống huyền bí bên kia Himalaya.

Shrî Shankarâchârya, the greatest Initiate living in the historical ages, wrote many a Bhâshya (Commentary) on the Upanishads. But his original treatises, as there are reasons to suppose, have not yet fallen into the hands of the Philistines, for they are too jealously preserved in his monasteries (mathams). And there are still weightier reasons to believe that the priceless Bhâshyas on the Esoteric Doctrine of the Brâhmans, by their greatest expounder, will remain for ages still a dead letter to most of the Hindûs, except the Smârtava Brâhmans. This sect, founded by Shankarâchârya, which is still very powerful in Southern India, is now almost the only one to produce students who have preserved sufficient knowledge to comprehend the dead letter of the Bhâshyas. The reason for this, I am informed, is that they alone have occasionally real Initiates at their head in their mathams, as for instance, in the Shringa-giri, in the Western Ghâts of Mysore. On the other hand, there is no sect, in that desperately exclusive caste of the Brâhmans, more exclusive than is the Smârtava; and the reticence of its followers, to say what they may know of the Occult sciences and the Esoteric Doctrine, is only equalled by their pride and learning.

Shri Shankaracharya, điểm đạo đồ vĩ đại nhất sống trong các thời đại lịch sử, đã viết nhiều Bhashya, tức Bình luận, về các Upanishad. Nhưng các khảo luận nguyên bản của Ngài, như có nhiều lý do để giả định, vẫn chưa rơi vào tay những kẻ phàm tục, vì chúng được gìn giữ quá cẩn mật trong các tu viện, hay matham, của Ngài. Và còn có những lý do mạnh mẽ hơn để tin rằng các Bhashya vô giá về Giáo Lý Nội Môn của các Brahman, do nhà diễn giải vĩ đại nhất của họ trước tác, sẽ còn trong nhiều thời đại vẫn là một văn tự chết đối với phần lớn người Hindu, ngoại trừ các Brahman Smartava. Giáo phái này, do Shankaracharya sáng lập, hiện vẫn còn rất mạnh ở miền Nam Ấn Độ, nay hầu như là giáo phái duy nhất đào tạo được những đạo sinh đã gìn giữ đủ tri thức để thấu hiểu văn tự chết của các Bhashya. Tôi được cho biết rằng lý do là vì chỉ riêng họ đôi khi có các điểm đạo đồ chân chính đứng đầu các matham của họ, chẳng hạn như tại Shringa-giri, trong dãy Western Ghats của Mysore. Mặt khác, trong giai cấp Brahman vốn tuyệt vọng trong tính độc quyền ấy, không có giáo phái nào độc quyền hơn Smartava; và sự kín tiếng của các tín đồ giáo phái này, khi nói về những gì họ có thể biết liên quan đến các khoa học huyền bí và Giáo Lý Nội Môn, chỉ ngang bằng với niềm kiêu hãnh và học thức của họ.

Therefore the writer of the present statement must be prepared beforehand to meet with great opposition, and even the denial of such statements as are brought forward in this work. Not that any claim to infallibility, or to perfect correctness in every detail of all which is herein written, has ever been put forward. Facts are there, and they can hardly be denied. But, owing to the intrinsic difficulties of the subjects treated of, and the almost insurmountable limitations of the English tongue, as of all other European languages, to express certain ideas, it is more than probable that the writer has failed to present the explanations in the best and the clearest form; yet all that could be done, under every adverse circumstance, has been done, and this is the utmost that can be expected of any writer.

Vì vậy, người viết bản trình bày hiện tại phải chuẩn bị trước để gặp sự chống đối mạnh mẽ, và thậm chí sự phủ nhận những phát biểu được nêu ra trong tác phẩm này. Không phải vì từng có bất cứ tuyên bố nào về tính bất khả sai lầm, hay về sự chính xác hoàn hảo trong mọi chi tiết của tất cả những gì được viết ở đây. Các sự kiện vẫn còn đó, và khó có thể phủ nhận chúng. Nhưng, do những khó khăn nội tại của các chủ đề được bàn đến, và do những giới hạn hầu như không thể vượt qua của Anh ngữ, cũng như của mọi ngôn ngữ châu Âu khác, trong việc diễn đạt một số ý tưởng nhất định, rất có thể người viết đã không trình bày các giải thích dưới hình thức tốt nhất và rõ ràng nhất; tuy nhiên, tất cả những gì có thể làm, trong mọi hoàn cảnh bất lợi, đều đã được làm, và đó là mức tối đa có thể mong đợi nơi bất kỳ tác giả nào.

Let us recapitulate and, by the vastness of the subjects expounded, show how difficult, if not impossible, it is to do them full justice.

Chúng ta hãy tóm lược lại và, bằng sự bao la của các chủ đề đã được trình bày, cho thấy việc thực hiện đầy đủ công bằng đối với chúng khó khăn đến mức nào, nếu không muốn nói là bất khả.

(1) The Secret Doctrine is the accumulated Wisdom of the Ages, and its cosmogony alone is the most stupendous and elaborate of all systems, even as veiled in the exotericism of the Purânas. But such is the mysterious power of Occult symbolism, that the facts which have actually occupied countless generations of initiated seers and prophets to marshal, set down and explain, in the bewildering series of evolutionary progress, are all recorded on a few pages of geometrical signs and glyphs. The flashing gaze of those seers has penetrated into the very kernel of matter, and recorded the soul of things there, where an ordinary profane observer, however learned, would have perceived but the external work of form. But Modern Science believes not in the “soul of things,” and hence will reject the whole system of ancient cosmogony. It is useless to say that the system in question is no fancy of one or several isolated individuals; that it is an uninterrupted record, covering thousands of generations of seers, whose respective experiences were made to test and verify the traditions, passed on orally by one early race to another, of the teachings of higher and exalted Beings, who watched over the childhood of Humanity; that for long ages, the “Wise Men” of the Fifth Race, of the stock saved and rescued from the last cataclysm and the shifting of continents, passed their lives in learning, not teaching. How did they do so? It is answered: by checking, testing, and verifying, in every department of Nature, the traditions of old, by the independent visions of great Adepts; that is to say, men who have developed and perfected their physical, mental, psychic, and spiritual organizations, to the utmost possible degree. No vision of one Adept was accepted till it was checked and confirmed by the visions—so obtained as to stand as independent evidence—of other Adepts, and by centuries of experience.

(1) Giáo Lý Bí Nhiệm là Minh Triết tích lũy của các Thời Đại, và chỉ riêng vũ trụ khởi nguyên luận của nó đã là hệ thống kỳ vĩ và tinh vi nhất trong mọi hệ thống, ngay cả khi được che phủ trong ngoại môn của các Purana. Nhưng quyền năng huyền bí của biểu tượng học huyền bí là như thế, đến nỗi các sự kiện vốn thật sự đã chiếm trọn vô số thế hệ các nhà thông nhãn và tiên tri được điểm đạo để sắp xếp, ghi lại và giải thích, trong chuỗi tiến trình tiến hoá gây choáng ngợp, đều được ghi trên vài trang gồm các ký hiệu hình học và các glyph. Ánh nhìn chớp sáng của các nhà thông nhãn ấy đã xuyên thấu vào tận lõi của vật chất, và ghi nhận linh hồn của sự vật nơi đó, nơi mà một quan sát viên phàm tục thông thường, dù uyên bác đến đâu, cũng chỉ nhận thấy công trình bên ngoài của hình tướng. Nhưng Khoa học Hiện đại không tin vào “linh hồn của sự vật,” và do đó sẽ bác bỏ toàn bộ hệ thống vũ trụ khởi nguyên luận cổ xưa. Thật vô ích khi nói rằng hệ thống đang được đề cập không phải là sự tưởng tượng của một hay vài cá nhân cô lập; rằng nó là một ký lục liên tục, bao trùm hàng ngàn thế hệ nhà thông nhãn, mà các kinh nghiệm riêng của họ được dùng để kiểm nghiệm và xác chứng những truyền thống, được truyền khẩu từ một nhân loại sơ khai này sang một nhân loại sơ khai khác, về giáo huấn của các Hữu Thể cao siêu và tôn quý, những Đấng đã trông nom thời thơ ấu của Nhân Loại; rằng trong nhiều thời đại dài, các “Hiền Nhân” của Giống Dân Thứ Năm, thuộc dòng được gìn giữ và cứu thoát khỏi trận đại hồng thủy cuối cùng và sự dịch chuyển của các lục địa, đã trải đời mình trong việc học hỏi, chứ không giảng dạy. Họ đã làm như thế bằng cách nào? Câu trả lời là: bằng cách kiểm tra, thử nghiệm và xác chứng, trong mọi lĩnh vực của Tự Nhiên, các truyền thống xưa, nhờ những linh ảnh độc lập của các Chân sư vĩ đại; nghĩa là, những con người đã phát triển và hoàn thiện các cơ cấu hồng trần, trí tuệ, thông linh và tinh thần của mình đến mức độ tối đa có thể. Không linh ảnh nào của một Chân sư được chấp nhận cho đến khi nó được kiểm tra và xác nhận bởi các linh ảnh — được đạt tới sao cho đứng vững như bằng chứng độc lập — của các Chân sư khác, và bởi kinh nghiệm của nhiều thế kỷ.

(2) The fundamental law in that system, the central point from which all emerges, around and towards which all gravitates, and upon which is hung all its philosophy, is the One Homogeneous Divine Substance-Principle, the One Radical Cause.

(2) Định luật nền tảng trong hệ thống ấy, điểm trung tâm mà từ đó tất cả xuất lộ, quanh đó và hướng về đó tất cả đều quy tụ, và trên đó toàn bộ triết lý của nó được treo giữ, là Chất Liệu-Nguyên Khí Thiêng Liêng Đồng Nhất Duy Nhất, Nguyên Nhân Căn Bản Duy Nhất.

… Some few, whose lamps shone brighter, have been led From cause to cause to nature’s secret head, And found that one first Principle must be….

… Một ít người, có ngọn đèn chiếu sáng rực rỡ hơn, đã được dẫn dắt từ nguyên nhân này đến nguyên nhân khác, đến đầu nguồn bí mật của Tự Nhiên, và đã tìm thấy rằng phải có một Nguyên Khí đầu tiên duy nhất….

It is called “Substance-Principle,” for it becomes “Substance” on the plane of the manifested Universe, an Illusion, while it remains a “Principle” in the beginningless and endless abstract, visible and invisible, Space. It is the omnipresent Reality; impersonal, because it contains all and everything. Its Impersonality is the fundamental conception of the System. It is latent in every atom in the Universe, and is the Universe itself.

Nó được gọi là “Chất Liệu-Nguyên Khí,” vì nó trở thành “Chất Liệu” trên cõi của Vũ Trụ biểu hiện, một Ảo Tưởng, trong khi vẫn là một “Nguyên Khí” trong Không Gian trừu tượng không khởi đầu và không kết thúc, hữu hình và vô hình. Nó là Thực Tại toàn hiện; vô ngã, vì nó chứa đựng tất cả và mọi sự. Tính Vô Ngã của nó là quan niệm nền tảng của Hệ Thống. Nó tiềm tàng trong mọi nguyên tử của Vũ Trụ, và chính là Vũ Trụ.

(3) The Universe is the periodical manifestation of this unknown Absolute Essence. To call it “Essence,” however, is to sin against the very spirit of the philosophy. For though the noun may be derived in this case from the verb esse, “to be,” yet It cannot be identified with a “being” of any kind, that can be conceived by human intellect. It is best described as neither Spirit nor Matter, but both. Parabrahman and Mûlaprakriti are One, in reality, yet Two in the universal conception of the Manifested, even in the conception of the One Logos, the first “Manifestation,” to which, as the able lecturer shows, in the “Notes on the Bhagavadgîtâ,” It appears from the objective standpoint as Mûlaprakriti, and not as Parabrahman; as its Veil, and not the One Reality hidden behind, which is unconditioned and absolute.

(3) Vũ Trụ là sự biểu hiện chu kỳ của Tinh Túy Tuyệt Đối chưa được biết đến này. Tuy nhiên, gọi nó là “Tinh Túy” là phạm đến chính tinh thần của triết học. Vì dù danh từ ấy trong trường hợp này có thể được dẫn xuất từ động từ esse, “hiện hữu,” thì Nó cũng không thể được đồng hóa với bất kỳ “hữu thể” nào mà trí năng con người có thể quan niệm. Tốt nhất nên mô tả Nó không phải là Tinh Thần cũng không phải là Vật Chất, mà là cả hai. Parabrahman và Mulaprakriti thật ra là Một, nhưng là Hai trong quan niệm phổ quát về cái Biểu Hiện, ngay cả trong quan niệm về Thượng đế Ngôi Lời Duy Nhất, “Biểu Hiện” đầu tiên, mà như vị diễn giả có năng lực đã chỉ ra trong “Ghi chú về Bhagavadgita,” từ lập trường khách quan, Nó hiện ra như Mulaprakriti, chứ không phải như Parabrahman; như Tấm Màn của nó, chứ không phải Thực Tại Duy Nhất vô điều kiện và tuyệt đối ẩn đằng sau.

(4) The Universe, with everything in it, is called Mâyâ, because all is temporary therein, from the ephemeral life of a fire-fly to that of the sun. Compared to the eternal immutability of the One, and the changelessness of that Principle, the Universe, with its evanescent ever-changing forms, must be necessarily, in the mind of a philosopher, no better than a will-o’-the-wisp. Yet, the Universe is real enough to the conscious beings in it, which are as unreal as it is itself.

(4) Vũ Trụ, cùng mọi sự trong đó, được gọi là Maya, vì tất cả trong đó đều tạm thời, từ đời sống phù du của một con đom đóm cho đến đời sống của mặt trời. So với tính bất biến vĩnh cửu của Đấng Duy Nhất, và sự không đổi thay của Nguyên Khí ấy, Vũ Trụ, với các hình tướng thoáng qua và luôn biến đổi của nó, trong trí của một triết gia, nhất thiết không hơn gì một ánh lửa ma trơi. Tuy nhiên, Vũ Trụ đủ thực đối với các hữu thể có ý thức trong đó, những hữu thể cũng không thực như chính nó.

(5) Everything in the Universe, throughout all its kingdoms, is conscious: i.e., endowed with a consciousness of its own kind and on its own plane of perception. We men must remember that, simply because we do not perceive any signs of consciousness which we can recognize, say, in stones, we have no right to say that no consciousness exists there. There is no such thing as either “dead” or “blind” matter, as there is no “blind” or “unconscious” Law. These find no place among the conceptions of Occult Philosophy. The latter never stops at surface appearances, and for it the noumenal Essences have more reality than their objective counterparts; wherein it resembles the system of the mediæval Nominalists, for whom it was the universals that were the realities, and the particulars which existed only in name and human fancy.

(5) Mọi sự trong Vũ Trụ, xuyên suốt tất cả các giới của nó, đều có ý thức: nghĩa là, được phú cho một tâm thức thuộc loại riêng của nó và trên cõi nhận thức riêng của nó. Chúng ta, những con người, phải nhớ rằng chỉ vì chúng ta không nhận thấy bất kỳ dấu hiệu tâm thức nào mà chúng ta có thể nhận ra, chẳng hạn trong đá, chúng ta không có quyền nói rằng không có tâm thức nào tồn tại ở đó. Không có cái gọi là vật chất “chết” hay “mù,” cũng như không có Định luật “mù” hay “vô thức.” Những điều này không có chỗ trong các quan niệm của Triết Học Huyền Bí. Triết học ấy không bao giờ dừng lại ở các vẻ ngoài bề mặt, và đối với nó, các Tinh Túy bản thể có thực tại lớn hơn các đối phần khách quan của chúng; trong điều này nó tương tự hệ thống của các nhà Duy Danh thời trung cổ, đối với họ, các phổ quát mới là những thực tại, còn các cá biệt chỉ tồn tại trong danh xưng và tưởng tượng của con người.

(6) The Universe is worked and guided, from within outwards. As above so it is below, as in heaven so on earth; and man, the microcosm and miniature copy of the macrocosm, is the living witness to this Universal Law, and to the mode of its action. We see that every external motion, act, gesture, whether voluntary or mechanical, organic or mental, is produced and preceded by internal feeling or emotion, will or volition, and thought or mind. As no outward motion or change, when normal, in man’s external body, can take place unless provoked by an inward impulse, given through one of the three functions named, so with the external or manifested Universe. The whole Kosmos is guided, controlled, and animated by almost endless series of Hierarchies of sentient Beings, each having a mission to perform, and who—whether we give them one name or another, whether we call them Dhyân Chohans or Angels—are “Messengers,” in the sense only that they are the agents of Karmic and Cosmic Laws. They vary infinitely in their respective degrees of consciousness and intelligence; and to call them all pure Spirits, without any of the earthly alloy “which time is wont to prey upon,” is only to indulge in poetical fancy. For each of these Beings either was, or prepares to become, a man, if not in the present, then in a past or a coming Manvantara. They are perfected, when not incipient, men; and in their higher, less material, spheres differ morally from terrestrial human beings only in that they are devoid of the feeling of personality, and of the human emotional nature—two purely earthly characteristics. The former, or the “perfected,” have become free from these feelings, because (a) they have no longer fleshly bodies—an ever-numbing weight on the Soul; and (b), the pure spiritual element being left untrammelled and more free, they are less influenced by Mâyâ than man can ever be, unless he is an Adept who keeps his two personalities—the spiritual and the physical—entirely separated. The incipient Monads, having never yet had terrestrial bodies, can have no sense of personality or Ego-ism. That which is meant by “personality” being a limitation and a relation, or, as defined by Coleridge, “individuality existing in itself but with a nature as a ground,” the term cannot of course be applied to non-human Entities; but, as a fact insisted upon by generations of Seers, none of these Beings, high or low, have either individuality or personality as separate Entities, i.e., they have no individuality in the sense in which a man says, “I am myself and no one else”; in other words, they are conscious of no such distinct separateness as men and things have on earth. Individuality is the characteristic of their respective Hierarchies, not of their units; and these characteristics vary only with the degree of the plane to which these Hierarchies belong: the nearer to the region of Homogeneity and the One Divine, the purer and the less accentuated is that individuality in the Hierarchy. They are finite in all respects, with the exception of their higher principles—the immortal Sparks reflecting the Universal Divine Flame, individualized and separated only on the spheres of Illusion, by a differentiation as illusive as the rest. They are “Living Ones,” because they are the streams projected on the cosmic screen of Illusion from the Absolute Life; Beings in whom life cannot become extinct, before the fire of ignorance is extinct in those who sense these “Lives.” Having sprung into being under the quickening influence of the uncreated Beam, the reflection of the great Central Sun that radiates on the shores of the River of Life, it is the Inner Principle in them which belongs to the Waters of Immortality, while its differentiated clothing is as perishable as man’s body. Therefore Young was right in saying that Angels are men of a superior kind… and no more. They are neither “ministering” nor “protecting” Angels, nor are they “Harbingers of the Most High”; still less the “Messengers of Wrath” of any God such as man’s fancy has created. To appeal to their protection is as foolish as to believe that their sympathy may be secured by any kind of propitiation; for they are, as much as man himself is, the slaves and creatures of immutable Karmic and Cosmic Law. The reason for this is evident. Having no elements of personality in their essence, they can have no personal qualities, such as are attributed by men, in exoteric religions, to their anthropomorphic God—a jealous and exclusive God, who rejoices and feels wrathful, is pleased with sacrifice, and is more despotic in his vanity than any finite foolish man. Man, being a compound of the essences of all these celestial Hierarchies, may succeed in making himself, as such, superior, in one sense, to any Hierarchy or Class, or even combination of them. “Man can neither propitiate nor command the Devas,” it is said. But, by paralyzing his lower personality, and arriving thereby at the full knowledge of the non-separateness of his Higher Self from the One Absolute Self, man can, even during his terrestrial life, become as “one of us.” Thus it is, by eating of the fruit of knowledge, which dispels ignorance, that man becomes like one of the Elohim, or the Dhyânis; and once on their plane, the spirit of Solidarity and perfect Harmony, which reigns in every Hierarchy, must extend over him, and protect him in every particular.

(6) Vũ Trụ được vận hành và dẫn dắt, từ bên trong ra ngoài. Trên sao thì dưới vậy, ở trời sao thì dưới đất vậy; và con người, tiểu thiên địa và bản sao thu nhỏ của đại thiên địa, là chứng nhân sống động cho Định luật Phổ quát này, và cho phương thức hành động của nó. Chúng ta thấy rằng mọi chuyển động, hành vi, cử chỉ bên ngoài, dù tự nguyện hay máy móc, hữu cơ hay trí tuệ, đều do và được đi trước bởi cảm giác hay cảm xúc, ý chí hay sự muốn, và tư tưởng hay thể trí bên trong. Cũng như không một chuyển động hay thay đổi bên ngoài nào, khi bình thường, trong thể bên ngoài của con người, có thể xảy ra nếu không được khơi động bởi một xung lực bên trong, được đưa ra qua một trong ba chức năng đã nêu, Vũ Trụ bên ngoài hay biểu hiện cũng vậy. Toàn thể Kosmos được dẫn dắt, kiểm soát và linh hoạt hóa bởi những chuỗi Huyền Giai gần như vô tận gồm các Hữu Thể hữu cảm, mỗi vị có một sứ mệnh phải thực hiện, và các vị ấy — dù chúng ta gọi họ bằng danh xưng này hay danh xưng khác, dù chúng ta gọi họ là Dhyan Chohan hay Thiên Thần — chỉ là “Sứ giả” theo nghĩa họ là tác nhân của các Định luật Nghiệp quả và Vũ trụ. Họ khác nhau vô hạn trong các cấp độ tâm thức và trí tuệ tương ứng; và gọi tất cả họ là các Tinh Thần thuần túy, không có chút hợp kim trần thế nào “mà thời gian thường gặm nhấm,” chỉ là buông mình vào tưởng tượng thi ca. Vì mỗi Hữu Thể này hoặc đã từng là, hoặc đang chuẩn bị trở thành, một con người, nếu không trong hiện tại thì trong một Giai kỳ sinh hóa đã qua hay sắp tới. Họ là những con người đã hoàn thiện, khi không phải là những con người đang khởi phát; và trong các khối cầu cao hơn, ít vật chất hơn của họ, họ khác các con người trên địa cầu về mặt đạo đức chỉ ở chỗ họ không có cảm giác về phàm ngã, và không có bản chất cảm xúc con người — hai đặc tính hoàn toàn trần thế. Những vị trước, tức các vị “đã hoàn thiện,” đã thoát khỏi các cảm giác này, bởi vì (a) họ không còn thể xác bằng thịt — một sức nặng luôn làm tê liệt Linh hồn; và (b), do yếu tố tinh thần thuần khiết được để lại không bị trói buộc và tự do hơn, họ chịu ảnh hưởng của Maya ít hơn con người có thể chịu, trừ khi y là một Chân sư giữ cho hai phàm ngã của mình — tinh thần và hồng trần — hoàn toàn tách biệt. Các chân thần đang khởi phát, vì chưa từng có thể địa cầu, nên không thể có cảm thức về phàm ngã hay tính Chân ngã-kỷ. Vì điều được hiểu bởi “phàm ngã” là một sự giới hạn và một mối tương quan, hay như Coleridge định nghĩa, “cá thể tính hiện hữu trong chính nó nhưng với một bản chất làm nền,” thuật ngữ này tất nhiên không thể áp dụng cho các Thực Thể phi nhân loại; nhưng, như một sự kiện được nhiều thế hệ nhà thông nhãn nhấn mạnh, không một Hữu Thể nào trong số này, cao hay thấp, có cá thể tính hay phàm ngã như những Thực Thể riêng biệt, nghĩa là họ không có cá thể tính theo nghĩa một người nói: “Tôi là chính tôi và không ai khác”; nói cách khác, họ không ý thức về một sự riêng rẽ phân minh như con người và sự vật có trên Trái Đất. Cá thể tính là đặc tính của các Huyền Giai tương ứng của họ, chứ không phải của các đơn vị trong đó; và các đặc tính này chỉ thay đổi theo cấp độ của cõi mà các Huyền Giai ấy thuộc về: càng gần vùng Đồng Nhất và Đấng Thiêng Liêng Duy Nhất, cá thể tính trong Huyền Giai ấy càng tinh khiết và càng ít được nhấn mạnh. Họ hữu hạn trong mọi phương diện, ngoại trừ các nguyên khí cao hơn của họ — những Tia Lửa bất tử phản chiếu Ngọn Lửa Thiêng Liêng Phổ Quát, chỉ được biệt ngã hóa và tách biệt trên các khối cầu của Ảo Tưởng, bởi một sự biến phân cũng hư ảo như mọi sự còn lại. Họ là “Những Đấng Sống,” vì họ là những dòng được phóng chiếu trên màn ảnh vũ trụ của Ảo Tưởng từ Sự Sống Tuyệt Đối; những Hữu Thể nơi đó sự sống không thể tắt trước khi ngọn lửa vô minh tắt trong những ai cảm nhận các “Sự Sống” này. Khi đã phát sinh vào hiện hữu dưới ảnh hưởng tiếp sinh lực của Tia Sáng không được tạo sinh, phản chiếu của Mặt trời Tinh thần Trung Ương vĩ đại tỏa chiếu trên bờ Sông Sự Sống, chính Nguyên Khí Bên Trong nơi họ thuộc về Nước Bất Tử, trong khi lớp y phục đã biến phân của nó thì dễ hủy hoại như thể xác con người. Vì vậy Young đã đúng khi nói rằng Thiên Thần là những con người thuộc loại cao hơn… và không hơn. Họ không phải là các Thiên Thần “phụng sự” hay “bảo hộ,” cũng không phải là “Sứ giả của Đấng Tối Cao”; càng không phải là “Sứ giả của Cơn Thịnh Nộ” của bất cứ Thượng đế nào do tưởng tượng con người tạo ra. Kêu cầu sự bảo hộ của họ cũng ngu dại như tin rằng có thể giành được sự cảm thông của họ bằng bất cứ hình thức xoa dịu nào; vì họ, cũng như chính con người, là nô lệ và tạo vật của Định luật Nghiệp quả và Vũ trụ bất biến. Lý do của điều này hiển nhiên. Vì trong tinh túy của họ không có các yếu tố phàm ngã, họ không thể có các phẩm tính cá nhân, như những phẩm tính mà con người, trong các tôn giáo ngoại môn, gán cho Thượng đế nhân hình của họ — một Thượng đế ghen tuông và độc đoán, vui mừng và nổi giận, hài lòng với hiến tế, và trong sự hư danh của mình còn chuyên chế hơn bất kỳ kẻ hữu hạn ngu xuẩn nào. Con người, là một hợp thể của các tinh túy thuộc tất cả các Huyền Giai thiên giới này, với tư cách ấy có thể thành công trong việc làm cho mình, theo một nghĩa nào đó, trở nên cao hơn bất cứ Huyền Giai hay Lớp nào, hoặc thậm chí một tổ hợp của họ. Người ta nói: “Con người không thể xoa dịu cũng không thể ra lệnh cho các Deva.” Nhưng, bằng cách làm tê liệt phàm ngã thấp của mình, và nhờ đó đạt tới tri thức đầy đủ về tính không-riêng-rẽ giữa Bản Ngã Cao Siêu của y và Bản Ngã Tuyệt Đối Duy Nhất, con người, ngay trong đời sống địa cầu của mình, có thể trở nên như “một trong chúng ta.” Như thế, chính bằng cách ăn trái tri thức, vốn xua tan vô minh, con người trở nên giống như một trong các Elohim, hay các Dhyani; và một khi ở trên cõi của họ, tinh thần Đoàn kết và Hài hòa hoàn hảo, vốn ngự trị trong mọi Huyền Giai, tất phải lan đến y, và bảo vệ y trong mọi chi tiết.

The chief difficulty which prevents men of Science from believing in divine as well as in nature spirits is their Materialism. The main impediment before the Spiritualist which hinders him from believing in the same, while preserving a blind belief in the “Spirits” of the Departed, is the general ignorance of all—except some Occultists and Kabalists—about the true essence and nature of Matter. It is on the acceptance or rejection of the theory of the Unity of all in Nature, in its ultimate Essence, that mainly rests the belief or unbelief in the existence around us of other conscious Beings, besides the Spirits of the Dead. It is on the right comprehension of the primeval Evolution of Spirit-Matter, and its real Essence, that the student has to depend for the further elucidation in his mind of the Occult Cosmogony, and for the only sure clue which can guide his subsequent studies.

Khó khăn chính ngăn cản những người làm Khoa học tin vào các tinh linh thiêng liêng cũng như các tinh linh tự nhiên là Chủ nghĩa Duy vật của họ. Chướng ngại chủ yếu trước nhà thần linh học, khiến y không thể tin vào cùng điều ấy, trong khi vẫn giữ một niềm tin mù quáng vào các “Tinh linh” của Người Đã Khuất, là sự vô minh chung của tất cả — ngoại trừ một số nhà huyền bí học và Kabalist — về tinh túy và bản chất đích thực của Vật Chất. Chính trên sự chấp nhận hay bác bỏ thuyết về Tính Hợp Nhất của tất cả trong Tự Nhiên, nơi Tinh Túy tối hậu của nó, mà niềm tin hay sự không tin vào sự tồn tại quanh chúng ta của những Hữu Thể có ý thức khác, ngoài các Tinh linh của Người Chết, chủ yếu dựa vào. Chính vào sự thấu hiểu đúng đắn về tiến hoá nguyên sơ của Tinh Thần-Vật Chất, và Tinh Túy thực sự của nó, mà đạo sinh phải nương tựa để có được sự soi sáng thêm trong trí mình về Vũ trụ khởi nguyên luận Huyền Bí, và để có được đầu mối chắc chắn duy nhất có thể hướng dẫn các nghiên cứu về sau của y.

In sober truth, as just shown, every so-called “Spirit” is either a disembodied or a future man. As from the highest Archangel (Dhyân Chohan) down to the last conscious Builder (the inferior Class of Spiritual Entities), all such are men, having lived æons ago, in other Manvantaras, on this or other Spheres; so the inferior, semi-intelligent and non-intelligent Elementals are all future men. The fact alone, that a Spirit is endowed with intelligence, is a proof to the Occultist that such a Being must have been a man, and acquired his knowledge and intelligence throughout the human cycle. There is but one indivisible and absolute Omniscience and Intelligence in the Universe, and this thrills throughout every atom and infinitesimal point of the whole Kosmos, which has no bounds, and which people call Space, considered independently of anything contained in it. But the first differentiation of its reflection in the Manifested World is purely spiritual, and the Beings generated in it are not endowed with a consciousness that has any relation to the one we conceive of. They can have no human consciousness or intelligence before they have acquired such, personally and individually. This may be a mystery, yet it is a fact in Esoteric Philosophy, and a very apparent one too.

Nói thật nghiêm túc, như vừa được trình bày, mọi “Tinh linh” được gọi như thế hoặc là một con người đã rời thể xác, hoặc một con người tương lai. Cũng như từ Tổng Thiên Thần cao nhất, tức Dhyan Chohan, cho đến Đấng Kiến Tạo hữu thức cuối cùng, tức Lớp thấp hơn của các Thực Thể Tinh Thần, tất cả những vị như thế đều là con người, đã sống cách đây nhiều đại kiếp, trong các Giai kỳ sinh hóa khác, trên khối cầu này hay những khối cầu khác; thì các hành khí thấp hơn, bán thông minh và không thông minh, đều là những con người tương lai. Chỉ riêng sự kiện rằng một Tinh linh được phú cho trí tuệ, đối với nhà huyền bí học, đã là bằng chứng rằng Hữu Thể ấy hẳn đã từng là một con người, và đã đạt được tri thức cùng trí tuệ của mình suốt chu kỳ nhân loại. Chỉ có một Toàn Tri và Trí Tuệ tuyệt đối, không thể phân chia, trong Vũ Trụ, và nó rung động xuyên suốt mọi nguyên tử và mọi điểm vi tế vô cùng của toàn thể Kosmos, vốn không có giới hạn, và được người ta gọi là Không Gian, khi xét độc lập với bất kỳ điều gì chứa trong nó. Nhưng sự biến phân đầu tiên của phản chiếu của nó trong Thế Giới Biểu Hiện là hoàn toàn tinh thần, và các Hữu Thể được sinh ra trong đó không được phú cho một tâm thức có bất kỳ quan hệ nào với tâm thức mà chúng ta quan niệm. Họ không thể có tâm thức hay trí tuệ con người trước khi họ đạt được điều ấy một cách cá nhân và riêng biệt. Điều này có thể là một bí nhiệm, nhưng đó là một sự kiện trong Triết Học Nội Môn, và cũng là một điều rất hiển nhiên.

The whole order of Nature evinces a progressive march towards a higher life. There is design in the action of the seemingly blindest forces. The whole process of evolution, with its endless adaptations, is a proof of this. The immutable laws that weed out the weak and feeble species, to make room for the strong, and which ensure the “survival of the fittest,” though so cruel in their immediate action, all are working toward the grand end. The very fact that adaptations do occur, that the fittest do survive in the struggle for existence, shows that what is called “unconscious Nature” is in reality an aggregate of forces, manipulated by semi-intelligent beings (Elementals), guided by High Planetary Spirits (Dhyân Chohans), whose collective aggregate forms the Manifested Verbum of the Unmanifested Logos, and constitutes one and the same time the Mind of the Universe and its immutable Law.

Toàn bộ trật tự của Tự Nhiên biểu lộ một cuộc tiến bước tăng dần hướng tới một sự sống cao hơn. Có thiết kế trong hành động của những mãnh lực dường như mù quáng nhất. Toàn bộ tiến trình tiến hoá, với những thích nghi vô tận của nó, là bằng chứng cho điều này. Các định luật bất biến loại bỏ những loài yếu ớt và suy nhược, để nhường chỗ cho loài mạnh, và bảo đảm “sự sống sót của kẻ thích nghi nhất,” dù trong tác động tức thời của chúng có vẻ tàn nhẫn, tất cả đều đang vận hành hướng tới mục đích vĩ đại. Chính sự kiện rằng các thích nghi thật sự xảy ra, rằng những kẻ thích nghi nhất thật sự sống sót trong cuộc đấu tranh sinh tồn, cho thấy cái được gọi là “Tự Nhiên vô thức” trong thực tế là một tổng hợp các mãnh lực, được điều động bởi các hữu thể bán thông minh, tức các hành khí, được dẫn dắt bởi các Chân Linh Hành Tinh Cao Cả, tức các Dhyan Chohan, mà tổng hợp tập thể của các Ngài tạo thành Verbum Biểu Hiện của Thượng đế Ngôi Lời Không Biểu Hiện, đồng thời cấu thành Trí của Vũ Trụ và Định luật bất biến của nó.

For Nature, taken in its abstract sense, cannot be “unconscious,” as it is the emanation from, and thus an aspect on the manifested plane of, the Absolute Consciousness. Where is that daring man who would presume to deny to vegetation and even to minerals a consciousness of their own? All he can say is, that this consciousness is beyond his comprehension.

Vì Tự Nhiên, xét theo nghĩa trừu tượng, không thể là “vô thức,” vì nó là sự xuất lộ từ, và do đó là một phương diện trên cõi biểu hiện của, Tâm Thức Tuyệt Đối. Đâu là con người táo bạo nào dám tự phụ phủ nhận nơi giới thực vật và thậm chí nơi các khoáng vật một tâm thức riêng của chúng? Tất cả những gì y có thể nói là tâm thức này vượt ngoài sự thấu hiểu của y.

Three distinct representations of the Universe, in its three distinct aspects, are impressed upon our thoughts by the Esoteric Philosophy: the Pre-existing, evolved from the Ever-existing, and the Phenomenal—the world of illusion, the reflection, and shadow thereof. During the great mystery and drama of life, known as the Manvantara, real Kosmos is like the objects placed behind the white screen upon which shadows are thrown. The actual figures and things remain invisible, while the wires of evolution are pulled by unseen hands. Men and things are thus but the reflections, on the white field, of the realities behind the snares of Mahâmâyâ, or the Great Illusion. This was taught in every philosophy, in every religion, ante- as well as post-diluvian, in India and Chaldea, by the Chinese as by the Grecian Sages. In the former countries these three Universes were allegorized, in exoteric teachings, by the three Trinities, emanating from the central eternal Germ, and forming with it a Supreme Unity: the initial, the manifested, and the creative Triad, or the Three in One. The last is but the symbol, in its concrete expression, of the first ideal two. Hence Esoteric Philosophy passes over the necessarianism of this purely metaphysical conception, and calls the first one, only, the Ever-Existing. This is the view of every one of the six great schools of Indian philosophy—the six principles of that unit body of Wisdom of which the Gnôsis, the hidden Knowledge, is the seventh.

Triết Học Nội Môn ghi khắc vào tư tưởng chúng ta ba biểu tượng phân biệt của Vũ Trụ, trong ba phương diện phân biệt của nó: cái Tiền-hữu, tiến hoá từ cái Hằng-hữu, và cái Hiện tượng — thế giới của ảo tưởng, phản chiếu và bóng của nó. Trong đại bí nhiệm và vở kịch của sự sống, được gọi là Giai kỳ sinh hóa, Kosmos thực giống như các vật thể được đặt sau tấm màn trắng mà trên đó các bóng được chiếu lên. Các hình thể và sự vật thật vẫn vô hình, trong khi các sợi dây tiến hoá được kéo bởi những bàn tay không thấy được. Như thế, con người và sự vật chỉ là các phản chiếu, trên nền trắng, của các thực tại đằng sau những cạm bẫy của Mahamaya, hay Đại Ảo Tưởng. Điều này đã được giảng dạy trong mọi triết học, trong mọi tôn giáo, trước cũng như sau đại hồng thủy, ở Ấn Độ và Chaldea, bởi các Hiền Triết Trung Hoa cũng như Hy Lạp. Ở các xứ trước, ba Vũ Trụ này được ngụ ngôn hóa, trong các giáo huấn ngoại môn, bằng ba Tam Vị, xuất lộ từ Mầm Vĩnh Cửu trung tâm, và cùng với nó tạo thành một Hợp Nhất Tối Cao: Tam nguyên khởi nguyên, biểu hiện, và sáng tạo, hay Ba trong Một. Cái sau cùng chỉ là biểu tượng, trong biểu hiện cụ thể của nó, của hai cái lý tưởng đầu tiên. Do đó Triết Học Nội Môn bỏ qua thuyết tất yếu của quan niệm thuần túy siêu hình này, và chỉ gọi cái thứ nhất là Hằng-Hữu. Đây là quan điểm của mỗi một trong sáu trường phái lớn của triết học Ấn Độ — sáu nguyên khí của thân thể Minh Triết đơn nhất ấy, mà Gnosis, Tri Thức ẩn tàng, là nguyên khí thứ bảy.

The writer hopes that, however superficially the comments on the Seven Stanzas may have been handled, enough has been given, in this cosmogonic portion of the work, to show the archaic teachings to be on their very face more scientific (in the modern sense of the word) than any other ancient Scriptures left to be judged on their exoteric aspect. Since, however, as before confessed, this work withholds far more than it gives out, the student is invited to use his own intuitions. Our chief care is to elucidate that which has already been given out, and, to our regret, very incorrectly at times; to supplement the knowledge hinted at—whenever and wherever possible—by additional matter; and to bulwark our doctrines against the too strong attacks of modern Sectarianism, and more especially against those of our latter-day Materialism, very often miscalled Science, whereas, in reality, the words “Scientists” and “Sciolists” ought alone to bear the responsibility for the many illogical theories offered to the world. In its great ignorance, the public, while blindly accepting everything that emanates from “authorities,” and feeling it to be its duty to regard every dictum coming from a man of Science as a proven fact—the public, we say, is taught to scoff at anything brought forward from “heathen” sources. Therefore, as materialistic Scientists can be fought solely with their own weapons—those of controversy and argument—an Addendum is added to each Volume contrasting the respective views, and showing how even great authorities may often err. We believe that this can be done effectually, by showing the weak points of our opponents, and by proving their too frequent sophisms, which are made to pass for scientific dicta, to be incorrect. We hold to Hermes and his “Wisdom,” in its universal character; they—to Aristotle, as against intuition and the experience of the Ages, fancying that Truth is the exclusive property of the Western world. Hence the disagreement. As Hermes says: “Knowledge differs much from sense; for sense is of things that surmount it, but Knowledge is the end of sense”—i.e., of the illusion of our physical brain and its intellect; thus emphasizing the contrast between the laboriously acquired knowledge of the senses and Mind (Manas), and the intuitive omniscience of the Spiritual Divine Soul (Buddhi).

Người viết hy vọng rằng, dù các bình luận về Bảy Bài Kệ có thể đã được xử lý nông cạn đến đâu, trong phần vũ trụ khởi nguyên luận này của tác phẩm, cũng đã đưa ra đủ để cho thấy rằng các giáo huấn cổ sơ, xét ngay trên bề mặt, khoa học hơn, theo nghĩa hiện đại của từ này, bất kỳ Thánh Kinh cổ xưa nào khác còn lại để được phán xét theo phương diện ngoại môn của chúng. Tuy nhiên, vì như đã thú nhận trước đây, tác phẩm này giữ lại nhiều hơn rất xa so với những gì nó đưa ra, đạo sinh được mời gọi sử dụng trực giác của chính mình. Mối quan tâm chủ yếu của chúng tôi là làm sáng tỏ những gì đã được đưa ra, và đáng tiếc thay, đôi khi rất sai lệch; bổ sung tri thức đã được ám chỉ — bất cứ khi nào và ở đâu có thể — bằng tài liệu thêm; và củng cố các giáo lý của chúng tôi chống lại những công kích quá mạnh của Chủ nghĩa Giáo phái hiện đại, và đặc biệt hơn nữa chống lại những công kích của Chủ nghĩa Duy vật thời gần đây của chúng ta, vốn rất thường bị gọi sai là Khoa học, trong khi, trên thực tế, chỉ các từ “Nhà khoa học” và “Kẻ biết nông” mới đáng chịu trách nhiệm về nhiều lý thuyết phi logic được đưa ra cho thế giới. Trong sự vô minh lớn lao của mình, công chúng, trong khi mù quáng chấp nhận mọi điều xuất phát từ các “thẩm quyền,” và cảm thấy đó là bổn phận của mình phải xem mọi lời phán từ một người làm Khoa học như một sự kiện đã được chứng minh — công chúng, chúng tôi nói, được dạy phải chế nhạo bất cứ điều gì được đưa ra từ các nguồn “ngoại đạo.” Vì vậy, do các nhà Khoa học duy vật chỉ có thể bị đối đầu bằng chính vũ khí của họ — vũ khí tranh luận và lập luận — một Phụ lục được thêm vào mỗi Tập để đối chiếu các quan điểm tương ứng, và cho thấy ngay cả các thẩm quyền lớn cũng thường có thể sai lầm như thế nào. Chúng tôi tin rằng điều này có thể được thực hiện hữu hiệu bằng cách chỉ ra các điểm yếu của đối thủ, và bằng cách chứng minh rằng các ngụy biện quá thường xuyên của họ, vốn được làm cho được chấp nhận như các mệnh đề khoa học, là không đúng. Chúng tôi giữ lấy Hermes và “Minh Triết” của Ngài, trong đặc tính phổ quát của nó; họ thì giữ lấy Aristotle, chống lại trực giác và kinh nghiệm của các Thời Đại, tưởng rằng Chân Lý là tài sản độc quyền của thế giới Tây phương. Do đó có sự bất đồng. Như Hermes nói: “Tri Thức khác rất nhiều với giác quan; vì giác quan thuộc về những điều vượt lên trên nó, nhưng Tri Thức là cứu cánh của giác quan” — nghĩa là, của ảo tưởng nơi bộ não hồng trần và trí năng của chúng ta; như thế nhấn mạnh sự tương phản giữa tri thức khó nhọc đạt được của các giác quan và thể trí, tức Manas, với sự toàn tri trực giác của Linh Hồn Tinh Thần Thiêng Liêng, tức Bồ đề.

Whatever may be the destiny of these actual writings in a remote future, we hope to have so far proven the following facts: (1) The Secret Doctrine teaches no Atheism, except in the sense underlying the Sanskrit word Nâstika, a rejection of idols, including every anthropomorphic God. In this sense every Occultist is a Nâstika.

Dù số phận của những trước tác hiện tại này trong một tương lai xa xôi sẽ ra sao, chúng tôi hy vọng cho đến đây đã chứng minh được các sự kiện sau: (1) Giáo Lý Bí Nhiệm không dạy Chủ nghĩa Vô thần, ngoại trừ theo nghĩa nằm dưới từ Nâstika trong Sanskrit, tức sự bác bỏ các ngẫu tượng, bao gồm mọi Thượng đế nhân hình. Theo nghĩa này, mọi nhà huyền bí học đều là một Nâstika.

(2) It admits a Logos, or a Collective “Creator” of the Universe; a Demiurge, in the sense implied when one speaks of an “Architect” as the “Creator” of an edifice, whereas that Architect has never touched one stone of it, but, furnishing the plan, has left all the manual labour to the masons; in our case the plan was furnished by the Ideation of the Universe, and the constructive labour was left to the Hosts of intelligent Powers and Forces. But that Demiurge is no personal deity—i.e., an imperfect extra-cosmic God, but only the aggregate of the Dhyân Chohans and the other Forces.

(2) Nó thừa nhận một Thượng đế Ngôi Lời, hay một “Đấng Sáng Tạo” Tập Thể của Vũ Trụ; một Demiurge, theo nghĩa hàm ý khi người ta nói về một “Kiến trúc sư” như “người sáng tạo” một tòa nhà, trong khi Kiến trúc sư ấy chưa từng chạm vào một viên đá nào của nó, mà chỉ cung cấp bản thiết kế, rồi để toàn bộ lao động thủ công cho thợ xây; trong trường hợp của chúng ta, bản thiết kế được cung cấp bởi Sự Tư Niệm của Vũ Trụ, và lao tác xây dựng được giao cho các Đạo Quân gồm những Quyền năng và Mãnh lực thông minh. Nhưng Demiurge ấy không phải là một thần linh cá nhân — nghĩa là, một Thượng đế ngoài vũ trụ bất toàn, mà chỉ là tổng hợp của các Dhyan Chohan và các Mãnh lực khác.

(3) The Dhyân Chohans are dual in their character; being composed of (a) the irrational brute Energy, inherent in Matter, and (b) the intelligent Soul, or cosmic Consciousness, which directs and guides that Energy, and which is the Dhyân Chohanic Thought, reflecting the Ideation of the Universal Mind. This results in a perpetual series of physical manifestations and moral effects on Earth, during manvantaric periods, the whole being subservient to Karma. As that process is not always perfect; and since, however many proofs it may exhibit of a guiding Intelligence behind the veil, it still shows gaps and flaws, and even very often results in evident failures—therefore, neither the collective Host (Demiurge), nor any of the working Powers individually, are proper subjects for divine honours or worship. All are entitled to the grateful reverence of humanity, however, and man ought to be ever striving to help the divine evolution of Ideas, by becoming, to the best of his ability, a co-worker with Nature, in the cyclic task. The ever unknowable and incognizable Kârana alone, the Causeless Cause of all causes, should have its shrine and altar on the holy and ever untrodden ground of our heart—invisible, intangible, unmentioned, save through the “still small voice” of our spiritual consciousness. Those who worship before it, ought to do so in the silence and the sanctified solitude of their Souls; making their Spirit the sole mediator between them and the Universal Spirit, their good actions the only priests, and their sinful intentions the only visible and objective sacrificial victims to the Presence.

(3) Các Dhyan Chohan có tính cách kép; được cấu thành bởi (a) Năng Lượng thô bạo phi lý trí, vốn cố hữu trong Vật Chất, và (b) Linh Hồn thông minh, hay Tâm Thức vũ trụ, vốn điều khiển và dẫn dắt Năng Lượng ấy, và vốn là Tư Tưởng Dhyan Chohan, phản chiếu Sự Tư Niệm của Vũ Trụ Trí. Điều này đưa đến một chuỗi liên tục các biểu hiện hồng trần và hiệu quả đạo đức trên Trái Đất, trong các thời kỳ Giai kỳ sinh hóa, toàn thể đều phụ thuộc vào nghiệp quả. Vì tiến trình ấy không phải lúc nào cũng hoàn hảo; và vì dù nó có thể bày tỏ bao nhiêu bằng chứng về một Trí Tuệ dẫn dắt đằng sau bức màn, nó vẫn cho thấy những khoảng trống và khiếm khuyết, và thậm chí rất thường dẫn đến những thất bại hiển nhiên — do đó, cả Đạo Quân tập thể, tức Demiurge, lẫn bất kỳ Quyền năng hoạt động riêng lẻ nào, đều không phải là đối tượng thích đáng cho sự tôn vinh hay thờ phụng thiêng liêng. Tuy nhiên, tất cả đều xứng đáng với lòng tôn kính biết ơn của nhân loại, và con người phải luôn nỗ lực trợ giúp sự tiến hoá thiêng liêng của các Ý Tưởng, bằng cách trở thành, theo hết khả năng của mình, một đồng công với Tự Nhiên, trong nhiệm vụ chu kỳ. Chỉ riêng Karana mãi mãi bất khả tri và không thể nhận thức, Nguyên Nhân Vô Nhân của mọi nguyên nhân, mới nên có điện thờ và bàn thờ của nó trên vùng đất thánh và mãi mãi chưa ai đặt chân tới trong trái tim chúng ta — vô hình, không thể chạm đến, không được nhắc tên, ngoại trừ qua “tiếng nói nhỏ nhẹ tĩnh lặng” của tâm thức tinh thần chúng ta. Những ai thờ phụng trước nó, nên làm như thế trong sự im lặng và cô tịch được thánh hóa của các Linh Hồn mình; lấy Tinh Thần của họ làm trung gian duy nhất giữa họ và Tinh Thần Phổ Quát, các hành động thiện lành của họ làm những tư tế duy nhất, và các ý định tội lỗi của họ làm những nạn nhân hiến tế hữu hình và khách quan duy nhất trước Sự Hiện Diện.

“When thou prayest, thou shalt not be as the hypocrites are… but enter into thine inner chamber, and having shut thy door, pray to thy Father which is in secret.” 416 Our Father is within us “in secret,” our Seventh Principle in the “inner chamber” of our soul-perception. “The Kingdom of God” and of Heaven is within us, says Jesus, not outside. Why are Christians so absolutely blind to the self-evident meaning of the words of wisdom they delight in mechanically repeating?

“Khi ngươi cầu nguyện, ngươi chớ giống như những kẻ giả hình… nhưng hãy vào phòng kín của ngươi, và khi đã đóng cửa, hãy cầu nguyện với Cha ngươi, Đấng ở nơi kín nhiệm.” 416 Cha của chúng ta ở bên trong chúng ta, “nơi kín nhiệm,” Nguyên Khí Thứ Bảy của chúng ta trong “phòng kín” của tri giác linh hồn chúng ta. “Thiên Giới” và Thiên Đàng ở bên trong chúng ta, Đức Jesus nói, chứ không ở bên ngoài. Vì sao các tín đồ Cơ Đốc lại mù quáng tuyệt đối trước ý nghĩa tự hiển của những lời minh triết mà họ thích lặp lại một cách máy móc?

(4) Matter is Eternal. It is the Upâdhi, or Physical Basis, for the One Infinite Universal Mind to build thereon its ideations. Therefore, the Esotericists maintain that there is no inorganic or “dead” matter in Nature, the distinction between the two made by Science being as unfounded as it is arbitrary and devoid of reason. Whatever Science may think, however—and exact Science is a fickle dame, as we all know by experience—Occultism knows and teaches differently, as it has done from time immemorial, from Manu and Hermes down to Paracelsus and his successors.

(4) Vật Chất là Vĩnh Cửu. Nó là Upadhi, hay Cơ Sở Hồng Trần, để Vũ Trụ Trí Duy Nhất Vô Hạn xây dựng trên đó các tư niệm của mình. Do đó, các nhà bí truyền học khẳng định rằng trong Tự Nhiên không có vật chất vô cơ hay “chết,” sự phân biệt giữa hai điều này do Khoa học đặt ra vừa không có nền tảng vừa tùy tiện và thiếu lý trí. Dù Khoa học có thể nghĩ gì đi nữa — và Khoa học chính xác là một quý bà hay thay đổi, như tất cả chúng ta đều biết qua kinh nghiệm — Huyền bí học biết và dạy khác đi, như nó đã làm từ thời vô thủy, từ Đức Manu và Hermes cho đến Paracelsus và những người kế nhiệm ông.

Thus, Hermes, the Thrice Great, says: Oh, my son, matter becomes; formerly it was; for matter is the vehicle of becoming. Becoming is the mode of activity of the uncreate and foreseeing God. Having been endowed with the germ of becoming, [objective] matter is brought into birth, for the creative force fashions it according to the ideal forms. Matter not yet engendered had no form; it becomes, when it is put into operation. 417

Như vậy, Hermes, Đấng Ba Lần Vĩ Đại, nói: Hỡi con trai của ta, vật chất trở thành; trước kia nó đã là; vì vật chất là vận cụ của sự trở thành. Sự trở thành là phương thức hoạt động của Thượng đế vô sinh và tiên tri. Khi đã được ban cho mầm mống của sự trở thành, vật chất khách quan được đưa vào sự sinh thành, vì mãnh lực sáng tạo nắn đúc nó theo các hình tướng lý tưởng. Vật chất chưa được sinh ra thì không có hình tướng; nó trở thành khi nó được đưa vào hoạt động. 417

To this the late Dr. Anna Kingsford, the able translator and compiler of the Hermetic Fragments, remarks in a footnote: Dr. Ménard observes that in Greek the same word signifies to be born and to become. The idea here is, that the material of the world is in its essence eternal, but that before creation or “becoming” it is in a passive and motionless condition. Thus it “was” before being put into operation; now it “becomes,” that is, it is mobile and progressive.

Về điều này, cố Tiến sĩ Anna Kingsford, dịch giả và người biên soạn tài năng của các Mảnh Hermetic, nhận xét trong một chú thích: Tiến sĩ Ménard quan sát rằng trong tiếng Hy Lạp cùng một từ vừa có nghĩa là được sinh ra vừa có nghĩa là trở thành. Ý tưởng ở đây là chất liệu của thế giới, trong bản chất của nó, là vĩnh cửu, nhưng trước cuộc sáng tạo hay “sự trở thành”, nó ở trong một trạng thái thụ động và bất động. Như vậy, nó “đã là” trước khi được đưa vào hoạt động; nay nó “trở thành”, nghĩa là nó linh động và tiến triển.

And she adds the purely Vedântic doctrine of the Hermetic philosophy that: Creation is thus the period of activity [Manvantara] of God, who, according to Hermetic thought [or which, according to the Vedântin], has two modes—Activity or Existence, God evolved (Deus explicitus); and Passivity of Being [Pralaya], God involved (Deus implicitus). Both modes are perfect and complete, as are the waking and sleeping states of man. Fichte, the German philosopher, distinguished Being (Seyn) as One, which we know only through existence (Daseyn) as the Manifold. This view is thoroughly Hermetic. The “Ideal Forms”… are the archetypal or formative ideas of the Neo-Platonists; the eternal and subjective concepts of things subsisting in the Divine Mind, prior to “creation” or becoming.

Và bà thêm vào giáo lý Vedanta thuần túy của triết học Hermetic rằng: Sáng tạo như vậy là chu kỳ hoạt động [Giai kỳ sinh hóa] của Thượng đế, Đấng mà, theo tư tưởng Hermetic [hay Điều mà, theo người Vedanta], có hai phương thức—Hoạt động hay Hiện tồn, Thượng đế khai triển; và Tính thụ động của Bản Thể [Giai kỳ qui nguyên], Thượng đế thu nhiếp. Cả hai phương thức đều hoàn hảo và trọn vẹn, cũng như các trạng thái thức và ngủ của con người. Fichte, triết gia Đức, phân biệt Bản Thể như là Đấng Duy Nhất, mà chúng ta chỉ biết qua hiện tồn như là cái Đa Tạp. Quan điểm này hoàn toàn Hermetic. Các “Hình Tướng Lý Tưởng”… là những ý tưởng nguyên mẫu hay tạo hình của các nhà Tân-Plato; những quan niệm vĩnh cửu và chủ quan về các sự vật, tồn tại trong Trí thiêng liêng, trước “sáng tạo” hay sự trở thành.

Or, as in the philosophy of Paracelsus: Everything is the product of one universal creative effort…. There is nothing dead in Nature. Everything is organic and living, and therefore the whole world appears to be a living organism. 418

Hoặc, như trong triết học của Paracelsus: Mọi sự đều là sản phẩm của một nỗ lực sáng tạo phổ quát duy nhất…. Không có gì chết trong Thiên nhiên. Mọi sự đều hữu cơ và sống động, và do đó toàn thể thế giới dường như là một cơ thể sống. 418

(5) The Universe was evolved out of its ideal plan, upheld through Eternity in the Unconsciousness of that which the Vedântins call Parabrahman. This is practically identical with the conclusions of the highest Western philosophy, “the innate, eternal, and self-existing Ideas” of Plato, now reflected by Von Hartmann. The “Unknowable” of Herbert Spencer bears but a faint resemblance to that transcendental Reality believed in by Occultists, often appearing merely a personification of a “force behind phenomena”—an infinite and eternal Energy, from which all things proceed, whereas the author of the Philosophy of the Unconscious has come (in this respect only) as near to a solution of the great Mystery as mortal man can. Few have been those, whether in ancient or mediæval philosophy, who have dared to approach the subject or even hint at it. Paracelsus mentions it inferentially, and his ideas are admirably synthesized by Dr. F. Hartmann, F.T.S., in his Paracelsus, from which we have just quoted.

(5) Vũ trụ đã được tiến hóa từ Thiên Cơ lý tưởng của nó, được duy trì qua Vĩnh Cửu trong Vô thức của Điều mà những người Vedanta gọi là Parabrahman. Điều này trên thực tế đồng nhất với các kết luận của nền triết học Tây phương cao nhất, tức “những Ý tưởng bẩm sinh, vĩnh cửu và tự hữu” của Plato, nay được Von Hartmann phản ánh. Cái “Bất Khả Tri” của Herbert Spencer chỉ có một nét tương đồng mờ nhạt với Thực Tại siêu việt mà các nhà huyền bí học tin nhận, thường chỉ xuất hiện như sự nhân cách hóa của một “mãnh lực đằng sau các hiện tượng”—một Năng lượng vô hạn và vĩnh cửu, từ đó mọi sự phát sinh, trong khi tác giả của Triết Học về Vô Thức đã tiến đến gần lời giải của Đại Huyền Nhiệm, trong riêng phương diện này, hết mức mà con người hữu tử có thể đạt tới. Ít người, dù trong triết học cổ đại hay trung cổ, đã dám tiến gần đến đề tài ấy, hoặc thậm chí ám chỉ đến nó. Paracelsus nhắc đến nó bằng suy luận gián tiếp, và các ý tưởng của ông được Tiến sĩ F. Hartmann tổng hợp một cách đáng khâm phục trong tác phẩm Paracelsus của ông, mà chúng ta vừa trích dẫn.

All the Christian Kabalists understood well the Eastern root idea. The active Power, the “Perpetual Motion of the great Breath,” only awakens Cosmos at the dawn of every new Period, setting it into motion by means of the two contrary Forces, the centripetal and the centrifugal Forces, which are male and female, positive and negative, physical and spiritual, the two being the one Primordial Force, and thus causing it to become objective on the plane of Illusion. In other words, that dual motion transfers Cosmos from the plane of the Eternal Ideal into that of finite manifestation, or from the noumenal to the phenomenal plane. Everything that is, was, and will be, eternally IS, even the countless Forms, which are finite and perishable only in their objective, but not in their ideal form. They existed as Ideas, in the Eternity, and, when they pass away, will exist as reflections. Occultism teaches that no form can be given to anything, either by Nature or by man, whose ideal type does not already exist on the subjective plane: more than this; that no form or shape can possibly enter man’s consciousness, or evolve in his imagination, which does not exist in prototype, at least as an approximation. Neither the form of man, nor that of any animal, plant or stone, has ever been “created”; and it is only on this plane of ours that it commenced “becoming,” that is to say, objectivizing into its present materiality, or expanding from within outwards, from the most sublimated and supersensuous essence into its grossest appearance. Therefore our human forms have existed in the Eternity as astral or ethereal prototypes; according to which models, the Spiritual Beings, or Gods, whose duty it was to bring them into objective being and terrestrial life, evolved the protoplasmic forms of the future Egos from their own essence. After which, when this human Upâdhi, or basic mould, was ready, the natural terrestrial Forces began to work on these supersensuous moulds, which contained, besides their own, the elements of all the past vegetable and future animal forms of this Globe. Therefore, man’s outward shell passed through every vegetable and animal body, before it assumed the human shape. But as this will be fully described in Volume II, in the Commentaries, there is no need to say more of it here.

Tất cả các nhà Kabbalah Kitô giáo đều thấu hiểu rõ ý tưởng gốc phương Đông. Quyền năng hoạt động, “Chuyển Động Vĩnh Cửu của Đại Hơi Thở”, chỉ đánh thức Vũ trụ vào bình minh của mỗi Chu kỳ mới, đặt nó vào chuyển động nhờ hai Mãnh lực đối nghịch, các Mãnh lực hướng tâm và ly tâm, vốn là nam và nữ, dương và âm, hồng trần và tinh thần; cả hai là một Mãnh lực Nguyên thủy duy nhất, và như thế khiến Vũ trụ trở nên khách quan trên cõi Ảo tưởng. Nói cách khác, chuyển động nhị phân ấy chuyển Vũ trụ từ cõi Lý Tưởng Vĩnh Cửu sang cõi biểu hiện hữu hạn, hay từ cõi bản thể luận sang cõi hiện tượng. Mọi sự đang là, đã là, và sẽ là, đều vĩnh viễn LÀ, ngay cả vô số Hình Tướng, vốn hữu hạn và hoại diệt chỉ trong hình tướng khách quan của chúng, chứ không phải trong hình tướng lý tưởng của chúng. Chúng đã tồn tại như các Ý tưởng trong Vĩnh Cửu, và khi chúng qua đi, chúng sẽ tồn tại như các phản ảnh. Huyền bí học dạy rằng không hình tướng nào có thể được ban cho bất cứ điều gì, dù bởi Thiên nhiên hay bởi con người, nếu kiểu mẫu lý tưởng của nó chưa hiện hữu trên cõi chủ quan: hơn thế nữa, không hình tướng hay dáng vẻ nào có thể đi vào tâm thức con người, hoặc tiến hóa trong sự tưởng tượng của y, nếu nó không hiện hữu trong nguyên mẫu, ít nhất như một sự xấp xỉ. Cả hình tướng của con người, lẫn của bất cứ loài vật, cây cỏ hay đá nào, chưa từng bao giờ được “sáng tạo”; và chỉ trên cõi này của chúng ta, nó mới bắt đầu “trở thành”, nghĩa là khách quan hóa vào tính vật chất hiện tại của nó, hay mở rộng từ bên trong ra bên ngoài, từ tinh chất thăng hoa và siêu cảm nhất vào sắc tướng thô trọng nhất của nó. Do đó, các hình tướng con người của chúng ta đã tồn tại trong Vĩnh Cửu như các nguyên mẫu cảm dục hay dĩ thái; theo các mô hình ấy, các Hữu Thể Tinh Thần, hay các Thượng đế, vốn có bổn phận đưa chúng vào bản thể khách quan và đời sống trần gian, đã tiến hóa các hình tướng nguyên sinh chất của những chân ngã tương lai từ tinh chất của chính các Ngài. Sau đó, khi Upadhi con người này, hay khuôn mẫu căn bản, đã sẵn sàng, các Mãnh lực trần gian tự nhiên bắt đầu tác động lên các khuôn mẫu siêu cảm ấy, vốn chứa đựng, ngoài các yếu tố riêng của chúng, các yếu tố của mọi hình tướng thực vật trong quá khứ và động vật trong tương lai của bầu hành tinh này. Do đó, lớp vỏ bên ngoài của con người đã đi qua mọi thể thực vật và động vật trước khi khoác lấy hình dạng con người. Nhưng vì điều này sẽ được mô tả đầy đủ trong Quyển II, trong các Bình Giảng, nên không cần nói thêm về nó ở đây.

According to the Hermetico-Kabalistic philosophy of Paracelsus, it is Yliaster—the ancestor of the just-born Protyle, introduced by Mr. Crookes into Chemistry—or primordial Protomateria, that evolved out of itself the Cosmos.

Theo triết học Hermetic-Kabbalah của Paracelsus, chính Yliaster—tổ tiên của Protyle vừa mới được sinh ra, do ông Crookes đưa vào Hóa học—hay Nguyên-Vật-Chất nguyên thủy, đã tiến hóa Vũ trụ từ chính nó.

When creation [evolution] took place, the Yliaster divided itself; it, so to say, melted and dissolved, developed out of [from within] itself the Ideos or Chaos (Mysterium Magnum, Iliados, Limbus Major, or Primordial Matter). This Primordial Essence is of a monistic nature, and manifests itself not only as vital activity, a spiritual force, an invisible, incomprehensible, and indescribable power, but also as vital matter of which the substance of living beings consists. In this Limbus or Ideos of primordial matter,… the only matrix of all created things, the substance of all things is contained. It is described by the ancients as the Chaos… out of which the Macrocosmos, and afterwards, by division and evolution in Mysteria Specialia, 419 each separate being came into existence. All things and all elementary substances were contained in it in potentiâ but not in actu. 420

Khi sáng tạo [tiến hóa] diễn ra, Yliaster tự phân chia; có thể nói, nó tan chảy và hòa tan, phát triển từ bên trong chính nó thành Ideos hay Hỗn Mang, tức Đại Huyền Nhiệm, Iliados, Limbus Major, hay Vật Chất Nguyên Thủy. Tinh chất Nguyên thủy này có bản chất nhất nguyên, và tự biểu hiện không chỉ như hoạt động sinh động, một mãnh lực tinh thần, một quyền năng vô hình, không thể lĩnh hội và không thể mô tả, mà còn như vật chất sinh động, cấu thành chất liệu của các sinh linh sống. Trong Limbus hay Ideos này của vật chất nguyên thủy,… khuôn mẫu duy nhất của mọi vật được sáng tạo, chất liệu của mọi sự đều được chứa đựng. Người xưa mô tả nó là Hỗn Mang… từ đó Đại thiên địa, và sau đó, nhờ phân chia và tiến hóa trong các Huyền Nhiệm Đặc Thù, 419 mỗi hữu thể riêng biệt đi vào hiện tồn. Mọi sự và mọi chất liệu hành khí đều được chứa trong nó trong tiềm năng, nhưng chưa trong hiện thực. 420

This makes the translator, Dr. F. Hartmann, justly observe that “it seems that Paracelsus anticipated the modern discovery of the ‘potency of matter’ three hundred years ago.”

Điều này khiến dịch giả, Tiến sĩ F. Hartmann, nhận xét một cách chính đáng rằng “dường như Paracelsus đã dự tri khám phá hiện đại về ‘tiềm lực của vật chất’ từ ba trăm năm trước.”

The Magnus Limbus, then, or Yliaster, of Paracelsus is simply our old friend “Father-Mother,” within, before it appeared in Space. It is the Universal Matrix of Kosmos, personified in the dual character of Macrocosm and Microcosm, or the Universe and our Globe, 421 by Aditi-Prakriti, spiritual and physical Nature. For we find it explained in Paracelsus that: The Magnus Limbus is the nursery out of which all creatures have grown, in the same sense as a tree may grow out of a small seed; with the difference, however, that the great Limbus takes its origin from the Word of God, while the Limbus minor (the terrestrial seed or sperm) takes it from the earth. The great Limbus is the seed out of which all beings have come, and the little Limbus is each ultimate being that reproduces its form, and that has itself been produced by the great. The little Limbus possesses all the qualifications of the great one, in the same sense as a son has an organization similar to that of his father…. As… Yliaster dissolved, Ares, the dividing, differentiating, and individualizing power [Fohat, another old friend]… began to act. All production took place in consequence of separation. There were produced out of the Ideos the elements of Fire, Water, Air and Earth, whose birth, however, did not take place in a material mode, or by simple separation, but spiritually and dynamically [not even by complex combinations—e.g., mechanical mixture as opposed to chemical combination], just as fire may come out of a pebble, or a tree out of a seed, although there is originally no fire in the pebble, nor a tree in the seed. “Spirit is living, and Life is Spirit, and Life and Spirit [Prakriti, Purusha (?)] produce all things, but they are essentially one and not two.”… The elements, too, have each one its own Yliaster, because all the activity of matter in every form is only an effluvium of the same fountain. But as from the seed grow the roots with their fibres, afterwards the stalk with its branches and leaves, and lastly the flowers and seeds; likewise all beings were born from the elements, and consist of elementary substances out of which other forms may come into existence, bearing the characteristics of their parents. 422 The elements as the mothers of all creatures are of an invisible, spiritual nature, and have souls. 423 They all spring from the Mysterium Magnum.

Vậy Magnus Limbus, hay Yliaster, của Paracelsus đơn giản là người bạn cũ của chúng ta, “Cha-Mẹ”, bên trong, trước khi xuất hiện trong Không gian. Nó là Khuôn Mẫu Phổ Quát của Vũ trụ, được nhân cách hóa trong tính chất kép của Đại thiên địa và Tiểu thiên địa, hay Vũ trụ và bầu hành tinh của chúng ta, 421 bởi Aditi-Prakriti, Thiên nhiên tinh thần và hồng trần. Vì chúng ta thấy trong Paracelsus có giải thích rằng: Magnus Limbus là vườn ươm từ đó mọi tạo vật đã lớn lên, theo cùng một nghĩa như cây có thể mọc lên từ một hạt nhỏ; tuy nhiên, với điểm khác biệt là Limbus lớn bắt nguồn từ Linh từ của Thượng đế, trong khi Limbus nhỏ hơn, tức hạt giống hay tinh dịch trần gian, bắt nguồn từ đất. Limbus lớn là hạt giống từ đó mọi hữu thể đã xuất hiện, và Limbus nhỏ là mỗi hữu thể tối hậu tái tạo hình tướng của mình, và chính nó đã được sinh ra bởi cái lớn. Limbus nhỏ sở hữu mọi phẩm tính của cái lớn, theo cùng một nghĩa như người con có tổ chức tương tự tổ chức của cha mình…. Khi… Yliaster tan rã, Ares, quyền năng phân chia, biến phân và biệt ngã hóa [Fohat, một người bạn cũ khác]… bắt đầu hoạt động. Mọi sự sản sinh diễn ra như hệ quả của sự phân ly. Từ Ideos đã sinh ra các nguyên tố Lửa, Nước, Khí và Đất; tuy nhiên, sự sinh ra của chúng không diễn ra theo phương thức vật chất, hay bằng sự tách rời đơn giản, mà theo cách tinh thần và năng động [thậm chí không bằng các kết hợp phức tạp—chẳng hạn sự trộn lẫn cơ học đối lập với sự kết hợp hóa học], giống như lửa có thể phát ra từ một viên sỏi, hay cây từ một hạt giống, mặc dù ban đầu không có lửa trong viên sỏi, cũng không có cây trong hạt giống. “Tinh thần là sống động, và Sự Sống là Tinh thần, và Sự Sống cùng Tinh thần [Prakriti, Purusha (?)] sản sinh mọi sự, nhưng trong bản chất chúng là một chứ không phải hai.”… Các nguyên tố cũng vậy, mỗi nguyên tố đều có Yliaster riêng của nó, bởi mọi hoạt động của vật chất trong mọi hình tướng chỉ là một sự xuất lưu từ cùng một nguồn. Nhưng cũng như từ hạt giống mọc ra rễ với các sợi rễ, rồi đến thân với cành và lá, và cuối cùng là hoa và hạt; cũng vậy, mọi hữu thể được sinh ra từ các nguyên tố, và gồm các chất liệu hành khí, từ đó những hình tướng khác có thể đi vào hiện tồn, mang các đặc tính của cha mẹ chúng. 422 Các nguyên tố, với tư cách là những người mẹ của mọi tạo vật, có bản chất vô hình, tinh thần, và có linh hồn. 423 Tất cả chúng đều phát sinh từ Đại Huyền Nhiệm.

Compare this with Vishnu Purâna.

Hãy so sánh điều này với Vishnu Purana.

From Pradhâna [Primordial Substance] presided over by Kshetrajna [“embodied spirit” (?)] proceeds the unequal development [Evolution] of those qualities…. From the great principle (Mahat) [Universal] Intellect [or Mind]… is produced the origin of the subtle elements and of the organs of sense. 424

Từ Pradhana [Chất Liệu Nguyên Thủy], dưới sự chủ trì của Kshetrajna [“tinh thần nhập thể” (?)], phát sinh sự phát triển không đồng đều [Tiến hóa] của các phẩm tính ấy…. Từ nguyên khí vĩ đại, Mahat, tức Trí Tuệ [hay Trí] Phổ Quát… phát sinh nguồn gốc của các nguyên tố vi tế và của các cơ quan giác quan. 424

Thus it may be shown that all the fundamental truths of Nature were universal in antiquity, and that the basic ideas upon Spirit, Matter and the Universe, or upon God, Substance and Man, were identical. Taking the two most ancient religious philosophies on the globe, Hindûism and Hermeticism, from the Scriptures of India and Egypt, the identity of the two is easily recognizable.

Như vậy, có thể cho thấy rằng mọi chân lý căn bản của Thiên nhiên đều mang tính phổ quát trong thời cổ đại, và các ý tưởng nền tảng về Tinh thần, Vật chất và Vũ trụ, hay về Thượng đế, Chất liệu và Con người, đều đồng nhất. Nếu lấy hai nền triết học tôn giáo cổ xưa nhất trên địa cầu, Ấn giáo và Hermeticism, từ Thánh kinh của Ấn Độ và Ai Cập, thì sự đồng nhất của cả hai rất dễ nhận ra.

This becomes apparent to one who reads the latest translation and rendering of the “Hermetic Fragments” just mentioned, by our late lamented friend, Dr. Anna Kingsford. Disfigured and tortured as these have been in their passage through sectarian Greek and Christian hands, the translator has most ably and intuitionally seized the weak points and tried to remedy them by means of explanations and footnotes. She says: The creation of the visible world by the “working gods” or Titans, as agents of the Supreme God, 425 is a thoroughly Hermetic idea, recognizable in all religious systems, and in accordance with modern scientific research [?], which shows us everywhere the Divine Power operating through natural Forces.

Điều này trở nên rõ ràng đối với người đọc bản dịch và diễn giải mới nhất của các “Mảnh Hermetic” vừa được nhắc đến, do người bạn quá cố đáng tiếc của chúng ta, Tiến sĩ Anna Kingsford, thực hiện. Dù các mảnh ấy đã bị làm biến dạng và tra tấn khi đi qua bàn tay Hy Lạp và Kitô giáo mang tính giáo phái, dịch giả đã nắm bắt một cách rất tài tình và trực giác các điểm yếu, và cố gắng sửa chữa chúng bằng các giải thích và chú thích. Bà nói: Sự sáng tạo thế giới hữu hình bởi “các vị thần hoạt động” hay Titans, như các tác nhân của Thượng đế Tối Cao, 425 là một ý tưởng hoàn toàn Hermetic, có thể nhận ra trong mọi hệ thống tôn giáo, và phù hợp với nghiên cứu khoa học hiện đại [?], vốn cho chúng ta thấy ở khắp nơi Quyền năng Thiêng liêng hoạt động qua các Mãnh lực tự nhiên.

To quote from the translation:

Xin trích từ bản dịch:

That Universal Being, that contains all, and which is all, puts into motion the soul and the world, all that nature comprises. In the manifold unity of universal life, the innumerable individualities distinguished by their variations are, nevertheless, united in such a manner that the whole is one, and that everything proceeds from Unity. 426

Hữu Thể Phổ Quát ấy, Đấng chứa đựng tất cả và là tất cả, đặt linh hồn và thế giới vào chuyển động, cùng mọi điều Thiên nhiên bao gồm. Trong sự hợp nhất đa tạp của sự sống phổ quát, vô số cá thể được phân biệt bởi các biến thiên của chúng, tuy nhiên, vẫn hợp nhất theo cách khiến toàn thể là một, và mọi sự phát sinh từ Hợp Nhất. 426

And again from another translation: God is not a mind, but the cause that the Mind is; not a spirit, but the cause that the Spirit is; not light, but the cause that the Light is. 427

Và lại từ một bản dịch khác: Thượng đế không phải là một trí, mà là nguyên nhân khiến Trí hiện hữu; không phải là một tinh thần, mà là nguyên nhân khiến Tinh thần hiện hữu; không phải là ánh sáng, mà là nguyên nhân khiến Ánh sáng hiện hữu. 427

The above shows plainly that the “Divine Pymander,” however much distorted in some passages by Christian “smoothing,” was nevertheless written by a philosopher, while most of the so-called “Hermetic Fragments” are the production of sectarian pagans with a tendency towards an anthropomorphic Supreme Being. Yet both are the echo of the Esoteric Philosophy and the Hindû Purânas.

Điều trên cho thấy rõ rằng “Pymander Thiêng Liêng”, dù bị sự “trau chuốt” Kitô giáo làm biến dạng nhiều đến đâu trong một vài đoạn, tuy vậy vẫn được viết bởi một triết gia, trong khi phần lớn những gì được gọi là “Mảnh Hermetic” là sản phẩm của những người ngoại giáo giáo phái có khuynh hướng hướng về một Hữu Thể Tối Cao được nhân hình hóa. Tuy nhiên cả hai đều là tiếng vọng của Triết Học Nội Môn và các Purana Ấn giáo.

Compare two invocations, one to the Hermetic “Supreme All,” the other to the “Supreme All” of the later Âryans. Says a Hermetic Fragment cited by Suidas: I adjure thee, Heaven, holy work of the great God; I adjure thee, Voice of the Father, uttered in the beginning when the universal world was framed; I adjure thee by the Word, only Son of the Father Who upholds all things; be favourable, be favourable. 428

Hãy so sánh hai lời khẩn cầu, một gửi đến “Toàn Thể Tối Cao” Hermetic, lời kia gửi đến “Toàn Thể Tối Cao” của những người Arya hậu kỳ. Một Mảnh Hermetic được Suidas trích dẫn nói: Ta khẩn cầu ngươi, Hỡi Trời, công trình thiêng liêng của Thượng đế vĩ đại; ta khẩn cầu ngươi, Tiếng Nói của Cha, được thốt ra lúc khởi đầu khi thế giới phổ quát được tạo lập; ta khẩn cầu ngươi bằng Linh từ, Con duy nhất của Cha, Đấng nâng đỡ mọi sự; xin hãy nhân từ, xin hãy nhân từ. 428

This is preceded by the following: Thus the Ideal Light was before the Ideal Light, and the luminous Intelligence of Intelligence was always, and its unity was nothing else than the Spirit enveloping the Universe. Out of Whom [Which] is neither God nor Angels, nor any other essentials, for He [It] is the Lord of all things and the Power and the Light; and all depends on Him [It] and is in Him [It].

Trước đó có đoạn sau: Như vậy Ánh Sáng Lý Tưởng có trước Ánh Sáng Lý Tưởng, và Trí Tuệ sáng ngời của Trí Tuệ luôn luôn hiện hữu, và sự hợp nhất của nó không là gì khác ngoài Tinh thần bao bọc Vũ trụ. Từ Đấng [Điều] ấy không có Thượng đế, cũng không có Thiên thần, cũng không có bất cứ yếu thể nào khác, vì Ngài [Nó] là Chúa Tể của mọi sự, là Quyền năng và Ánh sáng; và mọi sự tùy thuộc vào Ngài [Nó] và ở trong Ngài [Nó].

A passage contradicted by the very same Trismegistus, who is made to say: To speak of God is impossible. For the corporeal cannot express the incorporeal…. That which has not any body nor appearance, nor form, nor matter, cannot be apprehended by sense. I understand, Tatios, I understand, that which it is impossible to define—that is God. 429

Một đoạn bị chính Trismegistus ấy mâu thuẫn, khi ông được khiến nói rằng: Nói về Thượng đế là điều bất khả. Vì cái có thể xác không thể diễn đạt cái phi thể xác…. Điều không có bất cứ thể nào, cũng không có vẻ ngoài, hình tướng hay vật chất, thì giác quan không thể nắm bắt. Ta thấu hiểu, Tatios, ta thấu hiểu rằng điều không thể định nghĩa—đó là Thượng đế. 429

The contradiction between the two passages is evident; and this shows (a) that Hermes was a generic nom de plume used by a series of generations of Mystics of every shade, and (b) that great discernment has to be used before accepting a Fragment as esoteric teaching only because it is undeniably ancient. Let us now compare the above with a like invocation in the Hindû Scriptures—undoubtedly as old, if not far older. Here it is. Parâshara, the Âryan “Hermes,” instructs Maitreya, the Indian Asclepios, and calls upon Vishnu in his triple hypostasis: Glory to the unchangeable, holy, eternal, supreme Vishnu, of one universal nature, the mighty over all; to him who is Hiranyagarbha, Hari, and Shankara [Brahmâ, Vishnu, and Shiva], the creator, the preserver, and destroyer of the world; to Vâsudeva, the liberator (of his worshippers); to him whose essence is both single and manifold; who is both subtile and corporeal, indiscrete and discrete; to Vishnu, the cause of final emancipation. Glory to the supreme Vishnu, the cause of the creation, existence, the end of this world; who is the root of the world, and who consists of the world. 430

Sự mâu thuẫn giữa hai đoạn là hiển nhiên; và điều này cho thấy (a) Hermes là một bút danh chung được dùng bởi nhiều thế hệ nhà thần bí thuộc mọi sắc thái, và (b) cần phải vận dụng phân biện tinh thần lớn lao trước khi chấp nhận một Mảnh như giáo huấn nội môn chỉ vì nó không thể phủ nhận là cổ xưa. Bây giờ chúng ta hãy so sánh điều trên với một lời khẩn cầu tương tự trong Thánh kinh Ấn giáo—chắc chắn cũng cổ xưa như vậy, nếu không còn cổ xưa hơn nhiều. Đây là lời ấy. Parashara, “Hermes” Arya, giáo huấn Maitreya, Asclepios Ấn Độ, và khẩn cầu Vishnu trong hypostasis tam phân của Ngài: Vinh quang thay Vishnu bất biến, thiêng liêng, vĩnh cửu, tối cao, có một bản chất phổ quát duy nhất, Đấng hùng mạnh trên tất cả; vinh quang thay Đấng là Hiranyagarbha, Hari và Shankara [Brahma, Vishnu và Shiva], Đấng sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt thế giới; vinh quang thay Vasudeva, Đấng giải thoát những người thờ phụng Ngài; vinh quang thay Đấng mà tinh chất vừa đơn nhất vừa đa tạp; vừa vi tế vừa có thể xác, vừa bất phân vừa phân biệt; vinh quang thay Vishnu, nguyên nhân của sự giải thoát cuối cùng. Vinh quang thay Vishnu tối cao, nguyên nhân của sự sáng tạo, hiện tồn và kết thúc của thế giới này; Đấng là cội rễ của thế giới, và Đấng gồm cả thế giới. 430

This is a grand invocation, with a deep philosophical meaning underlying it; but, for the profane masses, as suggestive as is the Hermetic prayer of an anthropomorphic Being. We must respect the feeling that dictated both; but we cannot help finding it in full disharmony with its inner meaning, even with that which is found in the same Hermetic treatise where it is said: Trismegistus: Reality is not upon the earth, my son, and it cannot be thereon…. Nothing on earth is real, there are only appearances…. He [man] is not real, my son, as man. The real consists solely in itself and remains what it is…. Man is transient, therefore he is not real, he is but appearance, and appearance is the supreme illusion.

Đây là một lời khẩn cầu hùng vĩ, với một ý nghĩa triết học sâu xa ẩn bên dưới; nhưng đối với quần chúng phàm tục, nó cũng gợi ý về một Hữu Thể nhân hình như lời cầu nguyện Hermetic. Chúng ta phải tôn trọng cảm xúc đã thôi thúc cả hai; nhưng chúng ta không thể không thấy nó hoàn toàn bất hòa với ý nghĩa bên trong của nó, ngay cả với điều được tìm thấy trong cùng khảo luận Hermetic ấy, nơi có nói: Trismegistus: Thực Tại không ở trên trái đất, hỡi con trai của ta, và nó không thể ở đó…. Không có gì trên trái đất là thực, chỉ có những sắc tướng…. Y [con người] không thực, hỡi con trai của ta, với tư cách con người. Cái thực chỉ tồn tại trong chính nó và vẫn là điều nó là…. Con người là thoáng qua, do đó y không thực; y chỉ là sắc tướng, và sắc tướng là ảo tưởng tối cao.

Tatios: Then the celestial bodies themselves are not real, my father, since they also vary?

Tatios: Vậy thì chính các thiên thể cũng không thực sao, thưa cha, vì chúng cũng biến đổi?

Trismegistus: That which is subject to birth and to change is not real… there is in them a certain falsity, seeing that they too are variable….

Trismegistus: Điều chịu sự sinh ra và biến đổi thì không thực… trong chúng có một sự giả dối nào đó, vì chúng cũng biến dịch….

Tatios: And what then is the primordial Reality, O my Father?

Tatios: Và vậy thì Thực Tại nguyên thủy là gì, hỡi Cha của con?

Trismegistus: He Who [That Which] is one and alone, O Tatios; He Who [That Which] is not made of matter, nor in any body. Who [Which] has neither colour nor form, Who [Which] changes not nor is transmitted, but Who [Which] always Is. 431

Trismegistus: Đấng [Điều] vốn là một và duy nhất, hỡi Tatios; Đấng [Điều] không được làm bằng vật chất, cũng không ở trong bất cứ thể nào. Đấng [Điều] không có màu sắc cũng không có hình tướng, Đấng [Điều] không biến đổi cũng không được truyền chuyển, mà luôn luôn LÀ. 431

This is quite consistent with the Vedântic teaching. The leading thought is Occult; and many are the passages in the Hermetic Fragments that belong bodily to the Secret Doctrine.

Điều này hoàn toàn phù hợp với giáo huấn Vedanta. Tư tưởng chủ đạo là Huyền bí; và có nhiều đoạn trong các Mảnh Hermetic thuộc trọn vẹn về Giáo Lý Bí Nhiệm.

This Doctrine teaches that the whole Universe is ruled by intelligent and semi-intelligent Forces and Powers, as stated from the very beginning. Christian Theology admits and even enforces belief in such, but makes an arbitrary division and refers to them as “Angels” and “Devils.” Science denies the existence of both, and ridicules the very idea. Spiritualists believe in the “Spirits of the Dead,” and outside these deny entirely any other kind or class of invisible beings. The Occultists and Kabalists are thus the only rational expounders of the ancient traditions, which have now culminated in dogmatic faith on the one hand, and dogmatic denial on the other. For both belief and unbelief each embrace but one small corner of the infinite horizons of spiritual and physical manifestations: and thus both are right from their respective standpoints, yet both are wrong in believing that they can circumscribe the whole within their own special and narrow barriers, for—they can never do so. In this respect, Science, Theology, and even Spiritualism show little more wisdom than the ostrich, when it hides its head in the sand at its feet, feeling sure that there can be thus nothing beyond its own point of observation and the limited area occupied by its foolish head.

Giáo lý này dạy rằng toàn thể Vũ trụ được cai quản bởi các Mãnh lực và Quyền năng thông tuệ và bán-thông-tuệ, như đã được nêu ngay từ đầu. Thần học Kitô giáo thừa nhận và thậm chí áp đặt niềm tin vào những điều như thế, nhưng tạo ra một sự phân chia tùy tiện và gọi chúng là “Thiên thần” và “Ác quỷ”. Khoa học phủ nhận sự tồn tại của cả hai, và chế giễu chính ý tưởng ấy. Các nhà thần linh học tin vào “Tinh thần của Người Chết”, và ngoài những tinh thần ấy thì hoàn toàn phủ nhận mọi loại hay lớp hữu thể vô hình khác. Do đó, các nhà huyền bí học và các nhà Kabbalah là những người diễn giải hợp lý duy nhất của các truyền thống cổ xưa, vốn nay đã kết tinh thành đức tin giáo điều ở một bên, và sự phủ nhận giáo điều ở bên kia. Vì cả niềm tin lẫn sự không tin, mỗi bên chỉ bao trùm một góc nhỏ của các chân trời vô hạn của những biểu hiện tinh thần và hồng trần: và như vậy cả hai đều đúng từ lập trường tương ứng của mình, nhưng cả hai đều sai khi tin rằng họ có thể giới hạn toàn thể trong những rào chắn riêng biệt và chật hẹp của mình, vì—họ không bao giờ có thể làm như thế. Về phương diện này, Khoa học, Thần học, và ngay cả Thần linh học cũng tỏ ra không khôn ngoan hơn con đà điểu là bao, khi nó giấu đầu trong cát dưới chân mình, tin chắc rằng như thế không thể có gì vượt ngoài điểm quan sát của chính nó và vùng giới hạn mà cái đầu khờ dại của nó chiếm giữ.

As the only works now extant upon the subject under consideration, within reach of the profane of the Western “civilized” races, are the above-mentioned Hermetic Books, or rather Hermetic Fragments, we may contrast them in the present case with the teachings of Esoteric Philosophy. To quote for this purpose from any other would be useless, since the public knows nothing of the Chaldean works, which are translated into Arabic and preserved by some Sufi Initiates. Therefore the “Definitions of Asclepios,” as lately compiled and glossed by Dr. Anna Kingsford, F.T.S., some of which sayings are in remarkable agreement with the Eastern Esoteric Doctrine, have to be resorted to for comparison. Though not a few passages bear a strong impression of some later Christian hand, yet on the whole the characteristics of the Genii and Gods are those of Eastern teachings, although concerning other things there are passages which differ widely in our doctrines.

Vì những tác phẩm duy nhất hiện còn về đề tài đang được xem xét, trong tầm với của người phàm tục thuộc các chủng tộc “văn minh” Tây phương, là các Sách Hermetic vừa nêu, hay đúng hơn là các Mảnh Hermetic, nên trong trường hợp hiện tại, chúng ta có thể đối chiếu chúng với các giáo huấn của Triết Học Nội Môn. Trích dẫn từ bất cứ nguồn nào khác cho mục đích này sẽ vô ích, vì công chúng không biết gì về các tác phẩm Chaldea, vốn được dịch sang tiếng Ả Rập và được một số điểm đạo đồ Sufi gìn giữ. Do đó, phải viện đến “Các Định Nghĩa của Asclepios”, do Tiến sĩ Anna Kingsford biên soạn và chú giải gần đây, trong đó một số lời nói có sự tương hợp đáng chú ý với Giáo Lý Nội Môn phương Đông, để so sánh. Dù không ít đoạn mang dấu ấn mạnh mẽ của một bàn tay Kitô giáo về sau, nhưng nhìn chung các đặc tính của các Genii và các Thượng đế là những đặc tính của giáo huấn phương Đông, mặc dù liên quan đến những điều khác thì có những đoạn khác xa với các giáo lý của chúng ta.

As to the Genii, the Hermetic philosophers called Theoi (Gods), Genii and Daimones, those Entities whom we call Devas (Gods), Dhyân Chohans, Chitkala (the Kwan-Yin, of the Buddhists), and various other names. The Daimones are—in the Socratic sense, and even in the Oriental and Latin theological sense—the guardian spirits of the human race; “those who dwell in the neighbourhood of the immortals, and thence watch over human affairs,” as Hermes has it. In Esoteric parlance, they are called Chitkala, some of which are those who have furnished man with his fourth and fifth Principles from their own essence, and others the so-called Pitris. This will be explained when we come to the production of the complete man. The root of the name is Chit, “that by which the consequences of acts and species of knowledge are selected for the use of the soul,” or conscience, the inner voice in man. With the Yogins, Chit is a synonym of Mahat, the first and divine Intellect; but in Esoteric Philosophy Mahat is the root of Chit, its germ; and Chit is a quality of Manas in conjunction with Buddhi, a quality that attracts to itself by spiritual affinity a Chitkala, when it develops sufficiently in man. This is why it is said that Chit is a voice acquiring mystic life and becoming Kwan-Yin.

Về các Genii, các triết gia Hermetic gọi là Theoi, tức các Thượng đế, Genii và Daimones, những Thực Thể mà chúng ta gọi là Devas, tức các Thượng đế, Dhyani Chohans, Chitkala, Kwan-Yin của các Phật tử, và nhiều danh xưng khác. Daimones—trong nghĩa Socrates, và cả trong nghĩa thần học phương Đông và Latin—là các tinh thần hộ trì của nhân loại; “những Đấng cư ngụ gần các vị bất tử, và từ đó trông nom các sự vụ của con người”, như Hermes nói. Trong ngôn ngữ nội môn, họ được gọi là Chitkala, một số trong đó là những Đấng đã cung cấp cho con người các Nguyên khí thứ tư và thứ năm từ tinh chất riêng của các Ngài, còn những Đấng khác là những Pitris được gọi như thế. Điều này sẽ được giải thích khi chúng ta đi đến sự sản sinh của con người hoàn chỉnh. Gốc của tên gọi là Chit, “cái nhờ đó các hệ quả của hành vi và các loại tri thức được chọn lựa để sử dụng cho linh hồn”, hay lương tâm, tiếng nói bên trong nơi con người. Đối với các Yogi, Chit là đồng nghĩa với Mahat, Trí Tuệ đầu tiên và thiêng liêng; nhưng trong Triết Học Nội Môn, Mahat là gốc của Chit, mầm của nó; và Chit là một phẩm tính của Manas trong liên kết với Bồ đề, một phẩm tính tự thu hút về mình, bằng ái lực tinh thần, một Chitkala, khi nó phát triển đầy đủ nơi con người. Đây là lý do vì sao người ta nói rằng Chit là một tiếng nói đang đạt được sự sống thần bí và trở thành Kwan-Yin.

Extracts From An Eastern Private Commentary, Hitherto Secret. 432 — Trích Đoạn Từ Một Bình Giảng Riêng Tư Phương Đông, Cho Đến Nay Vẫn Bí Mật. 432

xvii. The Initial Existence, in the first Twilight of the Mahâmanvantara [after the Mahâpralaya that follows every Age of Brahmâ], is a Conscious Spiritual Quality. In the Manifested Worlds [Solar Systems], it is, in its Objective Subjectivity, like the film from a Divine Breath to the gaze of the entranced seer. It spreads as it issues from Laya 433 throughout Infinity as a colourless spiritual fluid. It is on the Seventh Plane, and in its Seventh State, in our Planetary World. 434

xvii. Hiện Tồn Khởi Thủy, trong Hoàng Hôn đầu tiên của Đại giai kỳ sinh hóa [sau Đại giai kỳ qui nguyên theo sau mỗi Thời Đại của Brahma], là một Phẩm Tính Tinh Thần Có Tâm Thức. Trong các Thế Giới Biểu Hiện [các hệ mặt trời], trong Tính Chủ Quan Khách Quan của nó, nó giống như lớp màng từ một Hơi Thở Thiêng liêng đối với cái nhìn của nhà thông nhãn xuất thần. Nó lan rộng khi xuất phát từ Laya 433 khắp Vô Cực như một lưu chất tinh thần không màu. Nó ở trên Cõi Thứ Bảy, và trong Trạng Thái Thứ Bảy của nó, trong Thế Giới Hành Tinh của chúng ta. 434

xviii. It is Substance to our spiritual sight. It cannot be called so by men in their Waking State; therefore they have named it in their ignorance “God-Spirit.”

xviii. Nó là Chất liệu đối với thị giác tinh thần của chúng ta. Con người trong Trạng Thái Thức của họ không thể gọi nó như thế; do đó, trong sự vô minh của mình, họ đã gọi nó là “Thượng đế-Tinh thần”.

xix. It exists everywhere and forms the first Upâdhi [Foundation] on which our World [Solar System] is built. Outside the latter, it is to be found in its pristine purity only between [the Solar Systems or] the Stars of the Universe, the Worlds already formed or forming; those in Laya resting meanwhile in its bosom. As its substance is of a different kind from that known on Earth, the inhabitants of the latter, seeing through it, believe in their illusion and ignorance that it is empty space. There is not one finger’s breadth [angula] of void Space in the whole Boundless [Universe]….

xix. Nó tồn tại khắp nơi và tạo thành Upadhi [Nền Tảng] đầu tiên mà Thế Giới [hệ mặt trời] của chúng ta được xây dựng trên đó. Bên ngoài hệ ấy, nó chỉ được tìm thấy trong sự tinh khiết nguyên sơ của nó giữa [các hệ mặt trời hay] các Vì Sao của Vũ trụ, những Thế Giới đã được tạo thành hoặc đang thành hình; những thế giới đang ở Laya thì trong lúc ấy nghỉ yên trong lòng nó. Vì chất liệu của nó thuộc một loại khác với loại được biết trên Trái Đất, nên cư dân của Trái Đất, khi nhìn xuyên qua nó, tin trong ảo tưởng và vô minh của mình rằng đó là không gian trống rỗng. Không có một bề rộng bằng ngón tay [angula] nào của Không gian trống rỗng trong toàn thể [Vũ trụ] Vô Biên….

xx. Matter or Substance is septenary within our World, as it is so beyond it. Moreover, each of its states or principles is graduated into seven degrees of density. Sûrya [the Sun], in its visible reflection, exhibits the first or lowest state of the seventh, the highest state of the Universal Presence, the pure of the pure, the first manifested Breath of the Ever-Unmanifested Sat [Be-ness]. All the central physical or objective Suns are in their substance the lowest state of the first principle of the Breath. Nor are any of these any more than the Reflections of their Primaries, which are concealed from the gaze of all but the Dhyân Chohans, whose corporeal substance belongs to the fifth division of the seventh principle of the Mother-Substance, and is, therefore, four degrees higher than the solar reflected substance. As there are seven Dhâtu [principal substances in the human body], so there are seven Forces in Man and in all Nature.

xx. Vật chất hay Chất liệu là thất phân trong Thế Giới của chúng ta, cũng như bên ngoài nó. Hơn nữa, mỗi trạng thái hay nguyên khí của nó được phân cấp thành bảy mức độ đậm đặc. Surya [Mặt Trời], trong phản ảnh hữu hình của nó, biểu lộ trạng thái đầu tiên hay thấp nhất của trạng thái thứ bảy, trạng thái cao nhất của Sự Hiện Diện Phổ Quát, cái tinh khiết của cái tinh khiết, Hơi Thở biểu hiện đầu tiên của Sat [Bản Thể] Vĩnh Viễn Không Biểu Hiện. Tất cả các Mặt Trời hồng trần trung tâm hay khách quan, trong chất liệu của chúng, là trạng thái thấp nhất của nguyên khí thứ nhất của Hơi Thở. Và không một Mặt Trời nào trong số này là gì hơn những Phản Ảnh của các Nguyên Bản của chúng, vốn bị che giấu khỏi cái nhìn của tất cả, ngoại trừ các Dhyani Chohans, mà chất liệu thể xác của các Ngài thuộc phân bộ thứ năm của nguyên khí thứ bảy của Chất Liệu Mẹ, và do đó cao hơn bốn mức so với chất liệu phản chiếu của mặt trời. Như có bảy Dhatu [các chất liệu chính trong thể người], cũng vậy có bảy Mãnh lực trong Con Người và trong toàn thể Thiên nhiên.

xxi. The real substance of the Concealed [Sun] is nucleus of Mother-Substance. 435 It is the Heart and Matrix of all the living and existing Forces in our Solar Universe. It is the Kernel from which proceed to spread on their cyclic journeys all the Powers that set in action the Atoms, in their functional duties, and the Focus within which they again meet in their Seventh Essence every eleventh year. He who tells thee he has seen the Sun, laugh at him, 436 as if he had said that the Sun moves really onward in his diurnal path….

xxi. Chất liệu thực của [Mặt Trời] Ẩn Tàng là hạt nhân của Chất Liệu Mẹ. 435 Nó là Trái Tim và Khuôn Mẫu của mọi Mãnh lực sống động và hiện hữu trong Vũ trụ Mặt trời của chúng ta. Nó là Hạt Nhân từ đó phát xuất và lan tỏa trên những hành trình chu kỳ của chúng tất cả các Quyền năng đặt các Nguyên tử vào hoạt động trong các bổn phận chức năng của chúng, và là Tiêu điểm mà trong đó chúng lại gặp nhau trong Tinh chất Thứ Bảy của chúng vào mỗi năm thứ mười một. Kẻ nào nói với ngươi rằng hắn đã thấy Mặt Trời, hãy cười hắn, 436 như thể hắn đã nói rằng Mặt Trời thật sự tiến về phía trước trên đường đi hằng ngày của nó….

xxiii. It is on account of his septenary nature, that the Sun is spoken of by the ancients as one who is driven by seven horses equal to the metres of the Vedas; or, again, that, though he is identified with the seven Gana [Classes of Being] in his orb, he is distinct from them, 437 as he is, indeed; as also that he has Seven Rays, as indeed he has….

xxiii. Chính vì bản chất thất phân của Mặt Trời mà người xưa nói về nó như một đấng được kéo bởi bảy con ngựa tương ứng với các vận luật của Veda; hoặc nữa, rằng dù trong quầng cầu của mình nó được đồng nhất với bảy Gana [Các Lớp Hữu Thể], nó vẫn khác biệt với chúng, 437 như thật sự là vậy; cũng như nó có Bảy Cung, như quả thật nó có….

xxv. The Seven Beings in the Sun are the Seven Holy Ones, self-born from the inherent power in the Matrix of Mother-Substance. It is they who send the seven principal Forces, called Rays, which at the beginning of Pralaya will centre into seven new Suns for the next Manvantara. The energy, from which they spring into conscious existence in every Sun, is what some people call Vishnu, which is the Breath of the Absoluteness.

xxv. Bảy Hữu Thể trong Mặt Trời là Bảy Đấng Thánh, tự sinh từ quyền năng nội tại trong Khuôn Mẫu của Chất Liệu Mẹ. Chính các Ngài phóng phát bảy Mãnh lực chính, gọi là các Cung, vốn vào lúc khởi đầu của Giai kỳ qui nguyên sẽ tập trung thành bảy Mặt Trời mới cho Giai kỳ sinh hóa kế tiếp. Năng lượng mà từ đó các Ngài bật vào hiện tồn có ý thức trong mỗi Mặt Trời là điều một số người gọi là Vishnu, tức Hơi Thở của Tính Tuyệt Đối.

We call it the One Manifested life—itself a reflection of the Absolute….

Chúng tôi gọi đó là Sự sống Biểu Hiện Duy Nhất—chính nó là một phản ảnh của Tuyệt Đối….

xxvii. The latter must never be mentioned in words or speech, lest it should take away some of our spiritual energies that aspire towards its state, gravitating ever toward unto It spiritually, as the whole physical universe gravitates towards its manifested centre—cosmically.

xxvii. Điều sau này không bao giờ được nhắc đến bằng lời hay ngôn từ, e rằng nó sẽ lấy mất một phần các năng lượng tinh thần của chúng ta, vốn khát vọng hướng tới trạng thái của nó, luôn luôn bị hút về Nó về mặt tinh thần, như toàn thể vũ trụ hồng trần bị hút về trung tâm biểu hiện của nó—về mặt vũ trụ.

xxviii. The former—the Initial Existence—which may be called, while in this state of being, the One Life, is, as explained, a Film for creative or formative purposes. It manifests in seven states, which, with their septenary sub-divisions, are the Forty-nine Fires mentioned in sacred books….

xxviii. Cái trước—Tồn Tại Khởi Nguyên—trong trạng thái hiện tồn này có thể được gọi là Sự Sống Duy Nhất, như đã giải thích, là một Tấm Màng dành cho các mục đích sáng tạo hay tạo hình. Nó biểu hiện trong bảy trạng thái; cùng với các phân chi thất phân của chúng, đó là Bốn Mươi Chín Lửa được nói đến trong các kinh sách thiêng liêng….

xxix. The first is the… “Mother” [Prima Materia]. Separating itself into its primary seven states, it proceeds down cyclically; when having consolidated itself in its last principle, as gross matter, 438 it revolves around itself and informs, with the seventh emanation of the last, the first and the lowest element [the serpent biting its own tail]. In a Hierarchy, or Order of Being, the seventh emanation of her last principle is: (a) In the Mineral, the Spark that lies latent in it, and is called to its evanescent being by the Positive awakening the Negative [and so forth]….

xxix. Cái thứ nhất là… “Mẹ” [Vật Chất Nguyên Thủy]. Tự phân tách thành bảy trạng thái chính yếu của mình, nó tiến xuống theo chu kỳ; khi đã tự củng cố trong nguyên khí cuối cùng của mình, như vật chất thô trược, 438 nó xoay quanh chính mình và thấm nhuần, bằng xuất lộ thứ bảy của cái cuối cùng, nguyên tố thứ nhất và thấp nhất [con rắn cắn đuôi mình]. Trong một Thánh Đoàn, hay Trật Tự của Bản Thể, xuất lộ thứ bảy của nguyên khí cuối cùng của Mẹ là: (a) Trong giới kim thạch, Tia Lửa tiềm ẩn trong đó, và được gọi vào hiện tồn thoáng qua của nó bởi Dương đánh thức Âm [vân vân]….

(b) In the Plant, it is that vital and intelligent Force which informs the seed and develops it into the blade of grass, or the root and sapling. It is the germ which becomes the Upâdhi of the seven principles of the thing it resides in, shooting them out as the latter grows and develops.

(b) Trong giới thực vật, đó là Mãnh lực sống động và thông minh thấm nhuần hạt giống và phát triển nó thành ngọn cỏ, hay thành rễ và cây non. Đó là mầm trở thành nền tảng của bảy nguyên khí của sự vật mà nó cư trú trong đó, phóng xuất chúng ra khi sự vật ấy lớn lên và phát triển.

(c) In every Animal, it does the same. It is its Life-Principle and vital power; its instinct and qualities; its characteristics and special idiosyncrasies….

(c) Trong mọi giới động vật, nó làm điều tương tự. Đó là Nguyên khí Sự sống và quyền năng thiết yếu của nó; bản năng và các phẩm tính của nó; các đặc tính và những nét dị biệt riêng của nó….

(d) To Man, it gives all that it bestows on all the rest of the manifested units in Nature; but develops, furthermore, the reflection of all its “Forty-nine Fires” in him. Each of his seven principles is an heir in full to, and a partaker of, the seven principles of the “Great Mother.” The breath of her first principle is his Spirit [Âtmâ]. Her second principle is Buddhi [Soul]. We call it, erroneously, the seventh. The third furnishes him with the Brain Stuff on the physical plane, and with the Mind that moves it [which is the Human Soul. —H. P. B.]—according to his organic capacities.

(d) Đối với Con Người, nó ban cho tất cả những gì nó ban cho mọi đơn vị biểu hiện khác trong Thiên Nhiên; nhưng hơn nữa, nó phát triển trong y phản chiếu của tất cả “Bốn Mươi Chín Lửa” của nó. Mỗi một trong bảy nguyên khí của y là kẻ thừa tự trọn vẹn và là kẻ dự phần vào bảy nguyên khí của “Đại Mẫu”. Hơi thở của nguyên khí thứ nhất của Mẹ là Tinh thần của y [Atma]. Nguyên khí thứ hai của Mẹ là Bồ đề [Linh hồn]. Chúng ta gọi nó, một cách sai lầm, là nguyên khí thứ bảy. Nguyên khí thứ ba cung cấp cho y Chất Liệu Bộ Não trên cõi hồng trần, và Thể Trí vận hành nó [tức là Linh hồn Nhân loại. —H. P. B.]—tùy theo các năng lực hữu cơ của y.

(e) It is the guiding Force in the cosmic and terrestrial Elements. It resides in the Fire provoked out of its latent into active being; for the whole of the seven sub-divisions of the… principle reside in the terrestrial Fire. It whirls in the breeze, blows with the hurricane, and sets the air in motion, which element participates in one of its principles also. Proceeding cyclically, it regulates the motion of the water, attracts and repels the waves, 439according to fixed laws, of which its seventh principle is the informing soul.

(e) Nó là Mãnh lực dẫn đạo trong các Nguyên tố vũ trụ và địa cầu. Nó cư trú trong Lửa được khơi dậy từ trạng thái tiềm ẩn vào hiện tồn hoạt động; vì toàn bộ bảy phân chi của nguyên khí… cư trú trong Lửa địa cầu. Nó xoáy trong làn gió nhẹ, thổi cùng cơn bão, và làm cho không khí chuyển động, nguyên tố này cũng dự phần vào một trong các nguyên khí của nó. Tiến hành theo chu kỳ, nó điều hòa chuyển động của nước, hút và đẩy các làn sóng, 439theo những định luật cố định, mà nguyên khí thứ bảy của nó là linh hồn thấm nhuần.

(f) Its four higher principles contain the Germ that develops into the Cosmic Gods; its three lower ones breed the Lives of the Elements [Elementals].

(f) Bốn nguyên khí cao của nó chứa Mầm phát triển thành các Thượng đế Vũ Trụ; ba nguyên khí thấp của nó sinh ra các Sự Sống của các Nguyên tố [các hành khí].

(g) In our Solar World, the One Existence is Heaven and Earth, the Root and the Flower, the Action and the Thought. It is in the Sun, and is as present in the glow-worm. Not an atom can escape it. Therefore, the ancient Sages have wisely called it the manifested God in Nature….

(g) Trong Thế Giới Thái Dương của chúng ta, Tồn Tại Duy Nhất là Trời và Đất, Rễ và Hoa, Hành Động và Tư Tưởng. Nó ở trong Mặt Trời, và cũng hiện diện trong con đom đóm. Không một nguyên tử nào có thể thoát khỏi nó. Vì vậy, các Hiền triết xưa đã khôn ngoan gọi nó là Thượng đế biểu hiện trong Thiên Nhiên….

It may be interesting, in this connection, to remind the reader of what T. Subba Row said of the Forces—mystically defined.

Trong mối liên hệ này, có thể sẽ thú vị khi nhắc độc giả nhớ đến điều T. Subba Row đã nói về các Mãnh lực—được định nghĩa theo nghĩa thần bí.

Kanyâ [the sixth sign of the Zodiac, or Virgo] means a virgin, and represents Shakti or Mahâmâyâ. The sign in question is the sixth Râshi or division, and indicates that there are six primary forces in Nature [synthesized by the Seventh]….

Kanya [dấu hiệu thứ sáu của Hoàng Đạo, hay Xử Nữ] có nghĩa là một trinh nữ, và tượng trưng cho Shakti hay Mahamaya. Dấu hiệu đang nói đến là Rashi hay phân khu thứ sáu, và chỉ ra rằng có sáu mãnh lực chính yếu trong Thiên Nhiên [được tổng hợp bởi Mãnh lực Thứ Bảy]….

These Shaktis stand as follows:

Các Shakti này được trình bày như sau:

(1) Parâshakti. —Literally the great or supreme force or power. It means and includes the powers of light and heat.

(1) Parashakti. —Theo nghĩa đen là mãnh lực hay quyền năng vĩ đại hoặc tối thượng. Nó có nghĩa và bao gồm các quyền năng của ánh sáng và nhiệt.

(2) Jñânashakti. —Literally the power of intellect, of real wisdom or knowledge. It has two aspects: I. The following are some of its manifestations when placed under the influence or control of material conditions. (a) The power of the mind in interpreting our sensations. (b) Its power in recalling past ideas (memory) and raising future expectation. (c) Its power as exhibited in what are called by modern psychologists “the laws of association,” which enables it to form persisting connections between various groups of sensations and possibilities of sensations, and thus generate the notion or idea of an external object. (d) Its power in connecting our ideas together by the mysterious link of memory, and thus generating the notion of self or individuality.

(2) Jnanashakti. —Theo nghĩa đen là quyền năng của trí năng, của minh triết hay tri thức chân thật. Nó có hai phương diện: I. Sau đây là một vài biểu hiện của nó khi được đặt dưới ảnh hưởng hay sự kiểm soát của các điều kiện vật chất. (a) Quyền năng của thể trí trong việc diễn giải các cảm giác của chúng ta. (b) Quyền năng của nó trong việc hồi tưởng các ý tưởng quá khứ (ký ức) và khơi dậy sự mong đợi tương lai. (c) Quyền năng của nó như được biểu lộ trong điều mà các nhà tâm lý học hiện đại gọi là “các định luật liên tưởng”, giúp nó tạo nên những mối liên hệ bền vững giữa các nhóm cảm giác khác nhau và các khả năng của cảm giác, và nhờ đó phát sinh khái niệm hay ý tưởng về một đối tượng bên ngoài. (d) Quyền năng của nó trong việc nối kết các ý tưởng của chúng ta với nhau bằng mối dây bí nhiệm của ký ức, và nhờ đó phát sinh khái niệm về cái tôi hay cá tính.

II. The following are some of its manifestations when liberated from the bonds of matter: (a) Clairvoyance. (b) Psychometry.

II. Sau đây là một vài biểu hiện của nó khi được giải thoát khỏi các ràng buộc của vật chất: (a) Thông nhãn. (b) Thuật trắc tâm.

(3) Ichchhâshakti. —Literally the power of the will. Its most ordinary manifestationis the generation of certain nerve currents, which set in motion such muscles as are required for the accomplishment of the desired object.

(3) Ichchhashakti. —Theo nghĩa đen là quyền năng của ý chí. Biểu hiện thông thường nhấtcủa nó là sự phát sinh một số dòng thần kinh nhất định, làm chuyển động những cơ bắp cần thiết để hoàn thành đối tượng mong muốn.

(4) Kriyâshakti. —The mysterious power of thought which enables it to produce external, perceptible, phenomenal results by its own inherent energy. The ancients held that any idea will manifest itself externally if one’s attention is deeply concentrated upon it. Similarly an intense volition will be followed by the desired result.

(4) Kriyashakti. —Quyền năng bí nhiệm của tư tưởng, nhờ năng lượng cố hữu của chính nó, có thể tạo ra các kết quả bên ngoài, có thể nhận biết được, thuộc hiện tượng giới. Người xưa cho rằng bất kỳ ý tưởng nào cũng sẽ tự biểu hiện ra bên ngoài nếu sự chú tâm của một người được tập trung sâu xa vào nó. Tương tự, một ý chí mãnh liệt sẽ được tiếp nối bởi kết quả mong muốn.

A Yogi generally performs his wonders by means of Ichchhâshakti and Kriyâshakti.

Một Yogi thường thực hiện các điều kỳ diệu của mình bằng Ichchhashakti và Kriyashakti.

(5) Kundalinî Shakti. —The power or force which moves in a serpentine or curved path. It is the universal life-principle which everywhere manifests in Nature. This force includes the two great forces of attraction and repulsion. Electricity and magnetism are but manifestations of it. This is the power which brings about that “continuous adjustment of internal relations to external relations,” which is the essence of life according to Herbert Spencer, and that “continuous adjustment of external relations to internal relations,” which is the basis of transmigration of souls, Punarjanman (Re-birth), in the doctrines of the ancient Hindû philosophers.

(5) Kundalini Shakti. —Quyền năng hay mãnh lực chuyển động theo một con đường ngoằn ngoèo hay cong. Đó là nguyên khí sự sống phổ quát, biểu hiện khắp nơi trong Thiên Nhiên. Mãnh lực này bao gồm hai mãnh lực lớn là hấp dẫn và đẩy lui. Điện và từ điện chỉ là các biểu hiện của nó. Đây là quyền năng tạo nên “sự điều chỉnh liên tục của các quan hệ bên trong đối với các quan hệ bên ngoài”, vốn là tinh túy của sự sống theo Herbert Spencer, và “sự điều chỉnh liên tục của các quan hệ bên ngoài đối với các quan hệ bên trong”, vốn là nền tảng của sự luân hồi của các linh hồn, Punarjanman (Tái sinh), trong các giáo thuyết của những triết gia Hindu cổ đại.

A Yogi must thoroughly subjugate this power or force, before he can attain Moksha….

Một Yogi phải chế ngự hoàn toàn quyền năng hay mãnh lực này trước khi y có thể đạt Moksha….

(6) Mantrikâshakti. —Literally the force or power of letters, speech or music. The whole of the ancient Mantra Shâstra has this force or power in all its manifestations for its subject matter…. The influence of its music is one of its ordinary manifestations. The power of the mirific ineffable name is the crown of this Shakti.

(6) Mantrikashakti. —Theo nghĩa đen là mãnh lực hay quyền năng của chữ cái, lời nói hay âm nhạc. Toàn bộ Mantra Shastra cổ đại lấy mãnh lực hay quyền năng này, trong mọi biểu hiện của nó, làm đề tài…. Ảnh hưởng của âm nhạc của nó là một trong những biểu hiện thông thường của nó. Quyền năng của danh xưng kỳ diệu khôn tả là vương miện của Shakti này.

Modern Science has but partly investigated the first, second and fifth of the forces or powers above named, but is altogether in the dark as regards the remaining powers…. The six forces are in their unity represented by the Astral Light [Daiviprakriti, the seventh, the Light of the Logos]. 440

Khoa Học hiện đại mới chỉ khảo sát một phần mãnh lực hay quyền năng thứ nhất, thứ hai và thứ năm được nêu trên, nhưng hoàn toàn ở trong bóng tối đối với các quyền năng còn lại…. Sáu mãnh lực, trong sự hợp nhất của chúng, được tượng trưng bởi Ánh Sáng Cảm Dục [Daiviprakriti, cái thứ bảy, Ánh Sáng của Thượng đế]. 440

The above is quoted to show the real Hindû ideas on the subject. It is all esoteric, though not covering the tenth part of what might be said. For one thing, the six names of the six Forces mentioned are those of the six Hierarchies of Dhyân Chohans, synthesized by their Primary, the seventh—who personify the Fifth Principle of Cosmic Nature, or of the “Mother” in its mystical sense. The enumeration alone of the Yoga Powers would require ten volumes. Each of these Forces has a living Conscious Entity at its head, of which Entity it is an emanation.

Đoạn trên được trích dẫn để cho thấy các ý niệm Hindu chân thực về đề tài này. Tất cả đều là nội môn, dù chưa bao quát đến một phần mười của những gì có thể nói. Có một điều là sáu danh xưng của sáu Mãnh lực được nêu là danh xưng của sáu Thánh Đoàn Dhyan Chohan, được tổng hợp bởi Đấng Sơ Nguyên của các Ngài, Đấng thứ bảy—vốn nhân cách hóa Nguyên khí Thứ Năm của Thiên Nhiên Vũ Trụ, hay của “Mẹ” theo nghĩa thần bí. Chỉ riêng việc liệt kê các Quyền năng Yoga cũng đòi hỏi mười quyển sách. Mỗi Mãnh lực này có một Thực Thể Hữu Thức sống động đứng đầu, mà Mãnh lực ấy là một xuất lộ của Thực Thể đó.

But let us compare with the Commentary above cited the words of Hermes, the Thrice Great: The creation of life by the sun is as continuous as his light; nothing arrests or limits it. Around him, like an army of satellites, are innumerable choirs of Genii. These dwell in the neighbourhood of the Immortals, and thence watch over human things. They fulfil the will of the Gods [Karma] by means of storms, tempests, transitions of fire and earthquakes; likewise by famines and wars, for the punishment of impiety. 441

Nhưng chúng ta hãy so sánh với phần Luận giải được trích dẫn ở trên những lời của Hermes, Đấng Ba Lần Vĩ Đại: Việc mặt trời sáng tạo sự sống liên tục như ánh sáng của nó; không gì ngăn chặn hay giới hạn được nó. Chung quanh nó, như một đạo quân vệ tinh, là vô số đoàn hợp xướng của các Thiên tài. Các vị này cư ngụ gần các Đấng Bất Tử, và từ đó trông nom các sự việc của con người. Các vị thi hành ý chí của các Thượng đế [Nghiệp quả] bằng bão tố, giông tố, những chuyển tiếp của lửa và động đất; cũng như bằng nạn đói và chiến tranh, để trừng phạt sự bất kính. 441

It is the sun who preserves and nourishes all creatures; and, even as the Ideal World, which environs the sensible world, fills this last with the plenitude and universal variety of forms, so also the sun, enfolding all in his light, accomplishes everywhere the birth and development of creatures…. “Under his orders is the choir of the Genii, or rather the choirs, for there are many and diverse, and their number corresponds to that of the stars. Every star has its Genii, good and evil by nature, or rather by their operation, for operation is the essence of the Genii….All these Genii preside over mundane affairs, 442 they shake and overthrow the constitution of states and of individuals; they imprint their likeness on our souls, they are present in our nerves, our marrow, our veins, our arteries, and our very brain-substance…. At the moment when each of us receives life and being, he is taken in charge by the Genii [Elementals] who preside over births, 443 and who are classed beneath the astral powers [superhuman astral Spirits]. Perpetually they change, not always identically, but revolving in circles. 444 They permeate by the body two parts of the soul, that it may receive from each the impress of his own energy. But the reasonable part of the soul is not subject to the Genii; it is designed for the reception of [the] God, 445 who enlightens it with a sunny ray. Those who are thus illumined are few in number, and from them the Genii abstain: for neither Genii nor Gods have any power in the presence of a single ray of God. 446But all other men, both soul and body, are directed by Genii, to whom they cleave, and whose operations they affect…. The Genii have then the control of mundane things and our bodies serve them as instruments.” 447

Chính mặt trời bảo tồn và nuôi dưỡng mọi tạo vật; và, cũng như Thế Giới Lý Tưởng bao quanh thế giới khả giác, làm đầy thế giới sau bằng sự viên mãn và sự đa dạng phổ quát của các hình tướng, thì mặt trời, bao bọc tất cả trong ánh sáng của nó, cũng hoàn thành khắp nơi sự sinh thành và phát triển của các tạo vật…. “Dưới mệnh lệnh của nó là đoàn hợp xướng của các Thiên tài, hay đúng hơn là các đoàn hợp xướng, vì có nhiều đoàn và khác nhau, và số lượng của chúng tương ứng với số lượng các vì sao. Mỗi vì sao có các Thiên tài của nó, tốt và xấu theo bản chất, hay đúng hơn theo hoạt động của các vị, vì hoạt động là tinh túy của các Thiên tài…. Tất cả các Thiên tài này chủ trì các sự việc trần thế, 442 các vị làm rung chuyển và lật đổ thể chế của các quốc gia và của các cá nhân; các vị in dấu giống hình của mình lên linh hồn chúng ta, các vị hiện diện trong thần kinh, tủy, tĩnh mạch, động mạch của chúng ta, và chính chất liệu bộ não của chúng ta…. Vào khoảnh khắc mỗi người trong chúng ta nhận sự sống và bản thể, y được các Thiên tài [các hành khí] trông coi, các vị chủ trì sự sinh ra, 443 và được xếp dưới các quyền năng cảm dục [các Tinh thần cảm dục siêu nhân]. Các vị thay đổi không ngừng, không phải lúc nào cũng y hệt, mà xoay vòng theo các chu kỳ. 444 Các vị thấm nhập, qua thể xác, vào hai phần của linh hồn, để linh hồn có thể nhận từ mỗi vị dấu ấn năng lượng riêng của vị ấy. Nhưng phần hữu lý của linh hồn không lệ thuộc vào các Thiên tài; nó được định sẵn để tiếp nhận [vị] Thượng đế, 445 Đấng soi sáng nó bằng một tia nắng. Những người được soi sáng như vậy thì ít về số lượng, và các Thiên tài tránh xa họ: vì không Thiên tài hay Thượng đế nào có quyền năng trước sự hiện diện của một tia duy nhất của Thượng đế. 446Nhưng tất cả những người khác, cả linh hồn lẫn thể xác, đều được các Thiên tài dẫn dắt; họ bám chặt vào các vị ấy, và chịu ảnh hưởng bởi các hoạt động của các vị ấy…. Vì vậy, các Thiên tài kiểm soát các sự việc trần thế, và thể xác chúng ta phục vụ các vị như những công cụ.” 447

The above, save a few sectarian points, represents that which was a universal belief, common to all nations, till about a century or so back. It is still as orthodox in its broad outlines and features among Pagans and Christians alike, if one excepts a handful of Materialists and men of Science.

Đoạn trên, ngoại trừ một vài điểm có tính giáo phái, trình bày điều từng là một niềm tin phổ quát, chung cho mọi dân tộc, cho đến khoảng một thế kỷ trước. Trong những nét lớn và đặc điểm rộng rãi của nó, điều ấy vẫn còn chính thống như nhau giữa người ngoại giáo và người Kitô giáo, nếu loại trừ một số ít người Duy vật và các nhà Khoa học.

For whether one calls the Genii of Hermes and his “Gods,” “Powers of Darkness” and “Angels,” as in the Greek and Latin Churches; or “Spirits of the Dead,” as in Spiritualism; or, again, Bhûts and Devas, Shaitan or Djin, as they are still called in India and Mussulman countries—they are all one and the same thing—Illusion. Let not this, however, be misunderstood in the sense into which the great philosophical doctrine of the Vedântists has been lately perverted by Western schools.

Vì dù người ta gọi các Thiên tài của Hermes và các “Thượng đế” của ông là “Các Quyền năng của Bóng Tối” và “Các Thiên thần”, như trong các Giáo hội Hy Lạp và La Tinh; hay là “Các Tinh thần của Người Chết”, như trong Thần linh học; hay lại là Bhut và Deva, Shaitan hay Djin, như ngày nay chúng vẫn được gọi ở Ấn Độ và các xứ Hồi giáo—tất cả đều là một và cùng một điều—Ảo tưởng. Tuy nhiên, xin đừng hiểu lầm điều này theo nghĩa mà giáo thuyết triết học vĩ đại của các nhà Vedanta gần đây đã bị các trường phái Tây phương xuyên tạc.

All that which is, emanates from the Absolute, which, by reason of this qualification alone, stands as the One and Only Reality—hence, everything extraneous to this Absolute, the generative and causative Element, must be an Illusion, most undeniably. But this is only so from the purely metaphysical view. A man who regards himself as mentally sane, and is so regarded by his neighbours, calls the visions of an insane brother—hallucinations which make the victim either happy or supremely wretched, as the case may be—likewise illusions and fancies. But, where is that madman for whom the hideous shadows in his deranged mind, his illusions, are not, for the time being, as actual and as real as the things which his physician or keeper may see? Everything is relative in this Universe, everything is an Illusion. But the experience of any plane is an actuality for the percipient being, whose consciousness is on that plane, though the said experience, regarded from the purely metaphysical standpoint, may be conceived to have no objective reality. But it is not against Metaphysicians, but against Physicists and Materialists that Esoteric teaching has to fight; and for these latter Vital Force, Light, Sound, Electricity, even to the objectively drawing force of Magnetism, have no objective being, and are said to exist merely as “modes of motion,” “sensations and affections of matter.”

Tất cả những gì hiện hữu đều xuất lộ từ Tuyệt Đối, cái mà chỉ vì phẩm tính này thôi đã đứng như Thực Tại Duy Nhất và Độc Nhất—do đó, mọi sự nằm ngoài Tuyệt Đối này, Nguyên tố sinh thành và nguyên nhân, ắt phải là một Ảo tưởng, điều này không thể chối cãi. Nhưng điều đó chỉ đúng theo quan điểm siêu hình thuần túy. Một người tự xem mình là lành mạnh về trí tuệ, và được láng giềng xem là như vậy, gọi các linh ảnh của một huynh đệ điên loạn—những ảo giác khiến nạn nhân hoặc hạnh phúc hoặc khốn khổ tột cùng, tùy trường hợp—cũng là những ảo tưởng và huyễn tưởng. Nhưng người điên nào mà đối với y, những bóng hình ghê rợn trong thể trí rối loạn của y, những ảo tưởng của y, lại không, trong lúc ấy, thật sự và thực tại như những sự vật mà thầy thuốc hay người canh giữ y có thể thấy? Mọi sự đều tương đối trong Vũ Trụ này, mọi sự đều là một Ảo tưởng. Nhưng kinh nghiệm của bất kỳ cõi nào cũng là một thực tại đối với sinh linh tri giác, có tâm thức ở trên cõi ấy, dù kinh nghiệm nói trên, khi xét từ lập trường siêu hình thuần túy, có thể được quan niệm là không có thực tại khách quan. Nhưng giáo huấn Nội môn không phải chiến đấu chống lại các nhà Siêu hình học, mà chống lại các nhà Vật lý học và Duy vật; và đối với những người sau này, Sinh Lực, Ánh Sáng, Âm Thanh, Điện, thậm chí cả mãnh lực hút khách quan của Từ Điện, đều không có hiện tồn khách quan, và được cho là chỉ tồn tại như “các dạng chuyển động”, “các cảm giác và tác động của vật chất.”

Neither the Occultists generally, nor the Theosophists, reject, as erroneously believed by some, the views and theories of the Modern Scientists only because these views are opposed to Theosophy. The first rule of our Society is to render unto Cæsar what is Cæsar’s. Theosophists, therefore, are the first to recognize the intrinsic value of Science. But when its high priests resolve consciousness into a secretion from the grey matter of the brain, and everything else in Nature into a mode of motion, we protest against the doctrine as being unphilosophical, self-contradictory, and simply absurd, from a scientific point of view, as much and even more than from the Occult aspect of the Esoteric Knowledge.

Nói chung, cả các nhà Huyền bí học lẫn các nhà Thông Thiên Học đều không bác bỏ, như một số người lầm tưởng, các quan điểm và lý thuyết của các Nhà Khoa học Hiện đại chỉ vì những quan điểm ấy đối lập với Thông Thiên Học. Quy luật đầu tiên của Hội chúng tôi là trả cho Caesar những gì thuộc về Caesar. Vì vậy, các nhà Thông Thiên Học là những người đầu tiên thừa nhận giá trị nội tại của Khoa Học. Nhưng khi các vị thượng tế của nó quy tâm thức thành một chất tiết ra từ chất xám của bộ não, và mọi sự khác trong Thiên Nhiên thành một dạng chuyển động, chúng tôi phản đối giáo thuyết ấy như là phi triết học, tự mâu thuẫn, và đơn giản là phi lý, từ quan điểm khoa học, cũng như và thậm chí còn hơn là từ phương diện Huyền bí của Tri Thức Nội Môn.

For truly the Astral Light of the derided Kabalists has strange and weird secrets for him who can see in it; and the mysteries concealed within its incessantly disturbed waves are there, the whole body of Materialists and scoffers notwithstanding.

Vì quả thật, Ánh Sáng Cảm Dục của các nhà Kabbalah bị chế giễu có những bí mật kỳ lạ và ma quái dành cho ai có thể thấy trong đó; và các bí nhiệm ẩn giấu trong những làn sóng không ngừng dao động của nó vẫn ở đó, bất chấp toàn thể giới Duy vật và những kẻ chế nhạo.

The Astral Light of the Kabalists is by some very incorrectly translated “Ether,” the latter is confused with the hypothetical Ether of Science, and both are referred to by some Theosophists as synonymous with Âkâsha. This is a great mistake.

Ánh Sáng Cảm Dục của các nhà Kabbalah bị một số người dịch rất sai là “Dĩ thái”; dĩ thái này bị lẫn lộn với Dĩ thái giả thuyết của Khoa Học, và cả hai lại được một số nhà Thông Thiên Học xem như đồng nghĩa với Akasha. Đây là một sai lầm lớn.

The author of A Rational Refutation writes, thus unconsciously helping Occultism: A characterization of Âkâsha will serve to show how inadequately it is represented by “ether.” In dimension it is… infinite; it is not made up of parts; and colour, taste, smell, and tangibility do not appertain to it. So far forth it corresponds exactly to time, space, Îshvara [the “Lord,” but rather creative potency and soul—Anima Mundi] and soul. Its speciality, as compared therewith, consists in its being the material cause of sound. Except for its being so, one might take it to be one with vacuity. 448

Tác giả của Một Sự Bác Bỏ Hợp Lý viết, và như thế vô thức trợ giúp Huyền bí học: Một sự mô tả về Akasha sẽ cho thấy nó được biểu thị bằng “dĩ thái” một cách bất tương xứng đến mức nào. Về chiều kích, nó… vô hạn; nó không được cấu thành từ các phần; và màu sắc, vị, mùi, cùng tính có thể sờ chạm không thuộc về nó. Đến mức ấy, nó tương ứng chính xác với thời gian, không gian, Ishvara [“Chúa Tể”, nhưng đúng hơn là tiềm năng sáng tạo và linh hồn—Anima Mundi] và linh hồn. Đặc tính riêng của nó, khi so sánh với những điều ấy, nằm ở chỗ nó là nguyên nhân vật chất của âm thanh. Nếu không vì điều đó, người ta có thể xem nó là một với hư không. 448

It is vacuity, no doubt, especially for Rationalists. At any rate Âkâsha is sure to produce vacuity in the brain of a Materialist. Nevertheless, though Âkâsha is certainly not the Ether of Science—not even the Ether of the Occultist who defines the latter as one of the principles of Âkâsha only—it is as certainly, together with its primary, the cause of sound, a psychical and spiritual, not a material cause by any means. The relations of Ether to Âkâsha may be defined by applying to both Âkâsha and Ether the words used of the God in the Vedas, “So himself was indeed (his own) son,” one being the progeny of the other and yet itself. This may be a difficult riddle to the profane, but very easy to understand for any Hindû—even though not a Mystic.

Không nghi ngờ gì, nó là hư không, đặc biệt đối với các nhà Duy lý. Dù sao, Akasha chắc chắn sẽ tạo ra hư không trong bộ não của một người Duy vật. Tuy nhiên, dù Akasha chắc chắn không phải là Dĩ thái của Khoa Học—thậm chí cũng không phải là Dĩ thái của nhà Huyền bí học, người định nghĩa dĩ thái sau chỉ là một trong các nguyên khí của Akasha—nó chắc chắn, cùng với bản nguyên của nó là nguyên nhân của âm thanh, là một nguyên nhân thông linh và tinh thần, tuyệt nhiên không phải nguyên nhân vật chất. Các quan hệ giữa Dĩ thái và Akasha có thể được định nghĩa bằng cách áp dụng cho cả Akasha và Dĩ thái những lời dùng về Thượng đế trong Veda: “Như vậy, chính Ngài thật sự là con của chính mình”, một cái là hậu duệ của cái kia mà vẫn là chính nó. Đây có thể là một câu đố khó đối với người phàm tục, nhưng rất dễ hiểu đối với bất kỳ người Hindu nào—dù không phải là một nhà thần bí.

These secrets of the Astral Light, along with many other mysteries, will remain non-existent to the Materialists of our age, in the same way as America was a non-existent myth for Europeans during the early part of the mediæval ages, whereas Scandinavians and Norwegians had actually reached and settled in that very old “New World” several centuries before. But, as a Columbus was born to re-discover, and to force the Old World to believe in antipodal countries, so will there be born Scientists who will discover the marvels now claimed by Occultists to exist in the regions of Ether, with their varied and multiform denizens and conscious Entities. Then, nolens volens, Science will have to accept the old “superstition,” as it has several others. And having been once forced to accept it, its learned professors in all probability—judging from past experience, as in the case of Mesmerism and Magnetism, now re-baptized Hypnotism—will father the thing and reject the name. The choice of the new appellation will, in its turn, depend on the “modes of motion”—the new name for the older “automatic physical processes among the nerve fibrils of the [scientific] brain” of Moleschott—and also, most likely, upon the last meal of the namer, since, according to the founder of the new Hylo-Idealistic Scheme, “cerebration is generically the same as chylification.” 449 Thus, were one to believe this preposterous proposition, the new name of the archaic truth would have to take its chance on the inspiration of the namer’s liver, and then only would these truths have a chance of becoming scientific!

Những bí mật này của Ánh Sáng Cảm Dục, cùng với nhiều bí nhiệm khác, sẽ vẫn không hiện hữu đối với những người Duy vật của thời đại chúng ta, cũng như châu Mỹ từng là một huyền thoại không hiện hữu đối với người châu Âu trong phần đầu thời trung cổ, trong khi người Scandinavia và Na Uy thật ra đã đến và định cư tại chính “Tân Thế Giới” rất cổ xưa ấy nhiều thế kỷ trước. Nhưng, cũng như một Columbus đã ra đời để tái khám phá và buộc Cựu Thế Giới tin vào các xứ sở ở đối cực, thì cũng sẽ có những Nhà Khoa học ra đời, những người sẽ khám phá các điều kỳ diệu mà hiện nay các nhà Huyền bí học khẳng định là tồn tại trong các vùng của Dĩ thái, với các cư dân đa dạng, nhiều hình thái và các Thực Thể hữu thức của chúng. Khi ấy, dù muốn hay không, Khoa Học sẽ phải chấp nhận “mê tín” cổ xưa, như nó đã chấp nhận nhiều điều khác. Và một khi đã bị buộc phải chấp nhận điều ấy, rất có thể các giáo sư uyên bác của nó—xét theo kinh nghiệm quá khứ, như trong trường hợp Mesmerism và Từ Điện, nay được rửa tội lại thành Thuật thôi miên—sẽ nhận mình là cha đẻ của sự việc và bác bỏ danh xưng. Việc chọn tên gọi mới, đến lượt nó, sẽ tùy thuộc vào “các dạng chuyển động”—tên mới cho những “tiến trình vật lý tự động giữa các sợi thần kinh của bộ não [khoa học]” cổ hơn của Moleschott—và cũng rất có thể tùy thuộc vào bữa ăn cuối cùng của người đặt tên, vì theo người sáng lập hệ thống Duy vật-Lý tưởng mới, “sự hoạt động của não về mặt loại hình giống như sự tạo dưỡng trấp.” 449 Như vậy, nếu người ta tin vào mệnh đề phi lý này, tên mới của chân lý cổ sơ sẽ phải phó mặc cho cảm hứng của lá gan người đặt tên, và chỉ khi ấy những chân lý này mới có cơ hội trở thành khoa học!

But, Truth, however distasteful to the generally blind majority, has always had her champions ready to die for her, and it is not the Occultists who will protest against its adoption by Science under whatever new name. But until absolutely forced on the notice and acceptance of Scientists, many an Occult truth will be tabooed, as the phenomena of the Spiritualists and other psychic manifestations were, to be finally appropriated by its ex-traducers without the least acknowledgment or thanks. Nitrogen has added considerably to chemical knowledge, but its discoverer, Paracelsus, is to this day called a “quack.” How profoundly true are the words of H. T. Buckle, in his admirable History of Civilization, when he says: Owing to circumstances still unknown [Karmic provision] there appear from time to time great thinkers, who, devoting their lives to a single purpose, are able to anticipate the progress of mankind, and to produce a religion or a philosophy by which important effects are eventually brought about. But if we look into history we shall clearly see that, although the origin of a new opinion may be thus due to a single man, the result which the new opinion produces will depend on the condition of the people among whom it is propagated. If either a religion or a philosophy is too much in advance of a nation, it can do no present service, but must bide its time 450 until the minds of men are ripe for its reception…. Every science, every creed has had its martyrs. According to the ordinary course of affairs, a few generations pass away, and then there comes a period when these very truths are looked upon as commonplace facts, and a little later there comes another period in which they are declared to be necessary, and even the dullest intellect wonders how they could ever have been denied. 451

Nhưng Chân lý, dù khó chịu đến đâu đối với đa số thường mù quáng, luôn có những người bảo vệ sẵn sàng chết vì nó, và các nhà Huyền bí học sẽ không phản đối việc Khoa Học tiếp nhận nó dưới bất kỳ tên mới nào. Nhưng cho đến khi tuyệt đối bị buộc phải đặt vào sự chú ý và chấp nhận của các Nhà Khoa học, nhiều chân lý Huyền bí sẽ bị cấm kỵ, như các hiện tượng của những nhà thần linh học và các biểu hiện thông linh khác đã từng bị, để cuối cùng bị chính những kẻ từng phỉ báng chúng chiếm hữu mà không hề có chút thừa nhận hay cảm tạ nào. Nitơ đã thêm vào tri thức hóa học một cách đáng kể, nhưng người khám phá ra nó, Paracelsus, đến nay vẫn bị gọi là một “lang băm”. Những lời của H. T. Buckle trong tác phẩm đáng ngưỡng mộ Lịch Sử Văn Minh của ông thật sâu sắc biết bao, khi ông nói: Do những hoàn cảnh vẫn chưa được biết [sự an bài Nghiệp quả], thỉnh thoảng xuất hiện những nhà tư tưởng vĩ đại, những người, khi hiến trọn đời mình cho một mục đích duy nhất, có thể đi trước sự tiến bộ của nhân loại, và tạo ra một tôn giáo hay một triết học mà nhờ đó những hiệu quả quan trọng cuối cùng được đem lại. Nhưng nếu nhìn vào lịch sử, chúng ta sẽ thấy rõ rằng, dù nguồn gốc của một quan điểm mới có thể nhờ như vậy vào một người duy nhất, kết quả mà quan điểm mới ấy tạo ra sẽ tùy thuộc vào tình trạng của dân chúng nơi nó được truyền bá. Nếu một tôn giáo hay một triết học đi trước một quốc gia quá xa, nó không thể phụng sự hiện tại, mà phải chờ thời của mình 450 cho đến khi thể trí của con người chín muồi để tiếp nhận nó…. Mỗi khoa học, mỗi tín điều đều đã có các vị tử đạo của mình. Theo tiến trình thông thường của sự việc, vài thế hệ trôi qua, rồi đến một thời kỳ khi chính những chân lý này được xem như các sự kiện hiển nhiên, và ít lâu sau lại đến một thời kỳ khác trong đó chúng được tuyên bố là tất yếu, và ngay cả trí năng chậm chạp nhất cũng kinh ngạc không hiểu làm sao chúng từng có thể bị phủ nhận. 451

It is barely possible that the minds of the present generations are not quite ripe for the reception of Occult truths. Such perchance will be the retrospect furnished to the advanced thinkers of the Sixth Root-Race of the history of the acceptance of Esoteric Philosophy—fully and unconditionally. Meanwhile the generations of our Fifth Race will continue to be led away by prejudice and preconceptions. Occult Sciences will have the finger of scorn pointed at them from every street-corner, and everyone will seek to ridicule and crush them in the name, and for the greater glory, of Materialism and its so-called Science. The present Volumes, however, show, in an anticipatory answer to several of the forthcoming Scientific objections, the true and mutual positions of the defendant and plaintiff. The Theosophists and Occultists stand arraigned by public opinion, which still holds high the banner of the inductive Sciences. The latter have, then, to be examined; and it must be shown how far their achievements and discoveries in the realm of natural law are opposed, not so much to our claims, as to facts in nature. The hour has now struck to ascertain whether the walls of the modern Jericho are so impregnable, that no blast of the Occult trumpet is ever likely to make them crumble.

Rất có thể thể trí của các thế hệ hiện tại chưa hoàn toàn chín muồi để tiếp nhận các chân lý Huyền bí. Có lẽ đó sẽ là cái nhìn hồi tưởng mà các nhà tư tưởng tiến bộ của Giống dân gốc Thứ Sáu sẽ cung cấp về lịch sử của việc chấp nhận Triết Học Nội Môn—một cách trọn vẹn và vô điều kiện. Trong khi đó, các thế hệ của Giống dân Thứ Năm chúng ta sẽ tiếp tục bị cuốn đi bởi định kiến và các quan niệm sẵn có. Các Khoa Học Huyền bí sẽ bị ngón tay khinh miệt chỉ vào từ mọi góc phố, và ai nấy sẽ tìm cách chế giễu và nghiền nát chúng nhân danh, và vì vinh quang lớn hơn của, Chủ nghĩa Duy vật cùng cái gọi là Khoa Học của nó. Tuy nhiên, các Quyển hiện tại cho thấy, như một câu trả lời trước đối với một số phản bác Khoa học sắp tới, vị trí chân thật và tương quan của bị đơn và nguyên đơn. Các nhà Thông Thiên Học và Huyền bí học bị đưa ra xét xử trước công luận, vốn vẫn giương cao ngọn cờ của các Khoa Học quy nạp. Vậy thì các khoa học sau này phải được khảo sát; và phải cho thấy những thành tựu và khám phá của chúng trong lĩnh vực định luật tự nhiên đối lập đến đâu, không hẳn với các tuyên bố của chúng ta, mà với các sự kiện trong thiên nhiên. Giờ đã điểm để xác định liệu các bức tường của Jericho hiện đại có thật bất khả xâm phạm đến mức không một tiếng kèn Huyền bí nào có thể làm chúng sụp đổ hay không.

The so-called “Forces,” with Light and Electricity heading them, and the constitution of the Solar orb must be carefully examined; as also Gravitation and the Nebular theories. The natures of Ether and of other Elements must be discussed; thus contrasting Scientific with Occult teachings, while revealing some of the hitherto secret tenets of the latter.

Cái gọi là “Các Mãnh lực”, với Ánh Sáng và Điện đứng đầu, cùng cấu tạo của quả cầu Mặt Trời phải được khảo sát cẩn thận; cũng như Trọng lực và các lý thuyết Tinh vân. Bản chất của Dĩ thái và của các Nguyên tố khác phải được bàn đến; như vậy đối chiếu các giáo huấn Khoa học với Huyền bí, đồng thời mặc khải một vài giáo lý cho đến nay vẫn còn bí mật của giáo huấn sau.

Some fifteen years ago, the writer was the first to repeat, after the Kabalists, the wise Commandments in the Esoteric Catechism.

Khoảng mười lăm năm trước, người viết là người đầu tiên lặp lại, theo các nhà Kabbalah, những Điều Răn minh triết trong Giáo Lý Vấn Đáp Nội Môn.

Close thy mouth, lest thou shouldst speak of this [the mystery], and thy heart, lest thou shouldst think aloud; and if thy heart has escaped thee, bring it back to its place, for such is the object of our alliance. 452

Hãy khép miệng ngươi, kẻo ngươi nói về điều này [bí nhiệm], và khép trái tim ngươi, kẻo ngươi suy nghĩ thành tiếng; và nếu trái tim ngươi đã thoát khỏi ngươi, hãy đưa nó trở lại vị trí của nó, vì đó là mục tiêu của liên minh chúng ta. 452

And again, from the Rules of Initiation.

Và một lần nữa, từ các Quy luật Điểm đạo.

This is a secret which gives death: close thy mouth lest thou shouldst reveal it to the vulgar; compress thy brain lest something should escape from it and fall outside.

Đây là một bí mật đem lại cái chết: hãy khép miệng ngươi kẻo ngươi tiết lộ nó cho kẻ phàm tục; hãy nén bộ não ngươi kẻo điều gì đó thoát ra khỏi nó và rơi ra ngoài.

A few years later, a corner of the Veil of Isis had to be lifted; and now another and a larger rent is made.

Vài năm sau, một góc của Bức Màn Isis phải được vén lên; và nay một vết rách khác, lớn hơn, đã được tạo ra.

But old and time-honoured errors—such as become with every day more glaring and self-evident—stand arrayed in battle-order now, as they did then. Marshalled by blind conservatism, conceit and prejudice, they are constantly on the watch, ready to strangle every truth, which, awakening from its age-long sleep, happens to knock for admission. Such has been the case ever since man became an animal. That this proves in every case moral death to the revealers who bring to light any of these old, old truths, is as certain as that it gives life and regeneration to those who are fit to profit even by the little that is now revealed to them.

Nhưng những sai lầm cũ kỹ và được thời gian tôn kính—những sai lầm mỗi ngày càng trở nên chói mắt và tự hiển nhiên hơn—nay đứng dàn trận, như chúng đã từng đứng khi ấy. Được điều động bởi óc bảo thủ mù quáng, tự phụ và định kiến, chúng luôn luôn canh chừng, sẵn sàng bóp nghẹt mọi chân lý nào, khi thức dậy từ giấc ngủ dài qua các thời đại, tình cờ gõ cửa xin được tiếp nhận. Sự việc đã như vậy từ khi con người trở thành một con vật. Rằng trong mọi trường hợp điều này chứng tỏ là cái chết đạo đức đối với những người mặc khải đưa ra ánh sáng bất kỳ chân lý nào trong số những chân lý rất cổ xưa ấy, cũng chắc chắn như việc nó đem lại sự sốngsự tái sinh cho những ai đủ thích hợp để được lợi ích ngay cả từ phần nhỏ hiện nay được mặc khải cho họ.

Footnotes

 54

 54

Space.

Không Gian.

 55

 55

It is stated in Book II, ch. viii, of Vishnu Purâna: “By immortality is meant existence to the end of the Kalpa”; and Wilson, the translator, remarks in a foot-note: “This, according to the Vedas, is all that is to be understood of the immortality [or eternity] of the gods; they perish at the end of universal dissolution [or Pralaya].” And Esoteric Philosophy says: “They ‘perish’ not, but are reabsorbed.”

Trong Quyển II, chương viii, của Vishnu Purana có nói: “Bất tử được hiểu là sự tồn tại cho đến cuối Kalpa”; và Wilson, người dịch, ghi chú ở chân trang: “Theo Veda, đây là toàn bộ điều cần hiểu về sự bất tử [hay vĩnh cửu] của các thần; các vị ấy tiêu vong vào cuối kỳ tan rã phổ quát [hay Giai kỳ qui nguyên].” Và Triết Học Nội Môn nói: “Các vị ấy không ‘tiêu vong,’ mà được tái hấp thu.”

 56

 56

Celestial Beings.

Các Hữu Thể Thiên Giới.

 57

 57

And hence to manifest it.

Và do đó biểu hiện nó.

 58

 58

Nirvâna. Nippang in Chinese; Neibban in Burmese; Moksha in India.

Nirvana. Nippang trong tiếng Trung Hoa; Neibban trong tiếng Miến Điện; Moksha tại Ấn Độ.

 59

 59

Nidâna and Mâyâ. The “Twelve” Nidânas (in Tibetan Ten-brel Chug-nyi) are the chief causes of existence, effects generated by a concatenation of causes produced.

Nidana và maya. “Mười Hai” Nidana (trong tiếng Tây Tạng là Ten-brel Chug-nyi) là những nguyên nhân chủ yếu của sự tồn tại, những kết quả phát sinh từ một chuỗi liên kết các nguyên nhân đã được tạo ra.

 60

 60

See Wassilief, Der Buddhismus, pp. 97-128

Xem Wassilief, Der Buddhismus, tr. 97-128

 61

 61

The term “Wheel” is the symbolical expression for a world or globe, which shows that the ancients were aware that our Earth was a revolving globe, not a motionless square as some Christian Fathers taught. The “Great Wheel” is the whole duration of our Cycle of Being, or Mahâkalpa, i.e., the whole revolution of our special Chain of seven Globes or Spheres from beginning to end; the “Small Wheels” meaning the Rounds, of which there are also seven.

Thuật ngữ “Bánh Xe” là cách diễn đạt biểu tượng cho một thế giới hay một bầu hành tinh, cho thấy người xưa đã biết rằng Trái Đất của chúng ta là một bầu hành tinh đang quay, chứ không phải một hình vuông bất động như một số Giáo phụ Kitô giáo đã dạy. “Bánh Xe Lớn” là toàn bộ thời gian của Chu kỳ Bản Thể của chúng ta, hay Mahakalpa, nghĩa là toàn bộ vòng chuyển động của Dãy đặc thù gồm bảy Bầu hành tinh hay Khối cầu của chúng ta từ đầu đến cuối; “Các Bánh Xe Nhỏ” có nghĩa là các cuộc tuần hoàn, cũng gồm bảy.

 62

 62

Absolute Perfection, Paranirvâna, which is Yong-Grub.

Sự Toàn Thiện Tuyệt Đối, Paranirvana, tức là Yong-Grub.

 63

 63

See Dzungarian Mani Kumbum, the “Book of the 10,000 Precepts.” Also consult Wassilief’s Der Buddhismus, pp. 327 and 357, etc.

Xem Dzungarian Mani Kumbum, “Sách Mười Nghìn Giới Huấn.” Cũng nên tham khảo Der Buddhismus của Wassilief, tr. 327 và 357, v.v.

 64

 64

In clearer words: One has to acquire true Self-Consciousness in order to understand Samvriti, or the “origin of delusion.” Paramârtha is the synonym of the term Svasamvedanâ, or the “reflection which analyses itself.” There is a difference in the interpretation of the meaning of Paramârtha between the Yogâchâryas and the Madhyamikas, neither of whom, however, explain the real and true esoteric sense of the expression.

Nói rõ hơn: Người ta phải đạt được Ngã thức chân thật để thấu hiểu Samvriti, hay “nguồn gốc của mê lầm.” Paramartha là từ đồng nghĩa với Svasamvedana, hay “sự phản chiếu tự phân tích chính mình.” Có sự khác biệt trong cách diễn giải ý nghĩa của Paramartha giữa các Yogacharya và các Madhyamika; tuy nhiên, cả hai phái đều không giải thích ý nghĩa nội môn đích thực và chân thật của biểu thức này.

 65

 65

In India it is called the “Eye of Shiva,” but beyond the Great Range it is known in Esoteric phraseology as “Dangma’s Opened Eye.” Dangma means a purified soul, one who has become a Jîvanmukta, the highest Adept, or rather a Mahâtmâ so-called. His “Opened Eye” is the inner spiritual eye of the seer; and the faculty which manifests through it, is not clairvoyance as ordinarily understood, i.e., the power of seeing at a distance, but rather the faculty of spiritual intuition, through which direct and certain knowledge is obtainable. This faculty is intimately connected with the “third eye,” which mythological tradition ascribes to certain races of men.

Tại Ấn Độ, nó được gọi là “Mắt của Shiva,” nhưng bên kia Dãy Núi Lớn, trong thuật ngữ nội môn, nó được biết đến như “Con Mắt Mở của Dangma.” Dangma có nghĩa là một linh hồn đã được thanh lọc, một người đã trở thành Jivanmukta, Chân sư cao nhất, hay đúng hơn là một Mahatma theo cách gọi ấy. “Con Mắt Mở” của y là con mắt tinh thần bên trong của nhà thông nhãn; và năng lực biểu lộ qua nó không phải là thông nhãn theo nghĩa thông thường, tức là quyền năng nhìn thấy từ xa, mà đúng hơn là năng lực trực giác tinh thần, nhờ đó tri thức trực tiếp và chắc chắn có thể đạt được. Năng lực này liên hệ mật thiết với “con mắt thứ ba,” vốn được truyền thống thần thoại gán cho một số nhân loại nhất định.

 66

 66

Vishnu Purâna, I. 21

Vishnu Purana, I. 21

 67

 67

And yet, one, claiming authority, namely, Sir Monier Williams, Boden Professor of Sanskrit at Oxford, has just denied the fact. This is what he taught his audience, on June the 4th, 1888, in his annual address before the Victoria Institute of Great Britain: “Originally, Buddhism set its face against all solitary asceticism… to attain sublime heights of knowledge. It had no occult, no esoteric system of doctrine… withheld from ordinary men” (!!). And, again: “… When Gautama Buddha began his career, the later and lower form of Yoga seems to have been little known.” And then, contradicting himself, the learned lecturer forthwith informs his audience that “we learn from Lalita-Vistara that various forms of bodily torture, self-maceration, and austerity were common in Gautama’s time.” (!!) But the lecturer seems quite unaware that this kind of torture and self-maceration is precisely the lower form of Yoga, Hatha Yoga, which was “little known” and yet so “common” in Gautama’s time.

Ấy thế mà một người tự nhận có thẩm quyền, tức là Ngài Monier Williams, Giáo sư Boden về Sanskrit tại Oxford, vừa phủ nhận sự kiện ấy. Đây là điều ông đã giảng cho thính giả của mình vào ngày 4 tháng 6 năm 1888, trong diễn văn hằng năm trước Viện Victoria của Đại Anh: “Ban đầu, Phật giáo chống lại mọi hình thức khổ hạnh đơn độc… để đạt tới những đỉnh cao siêu việt của tri thức. Nó không có hệ thống giáo lý huyền bí, không có nội môn… được giữ kín đối với người thường” (!!). Và lại nữa: “… Khi Gautama Buddha bắt đầu sự nghiệp của mình, hình thức Yoga muộn hơn và thấp hơn dường như ít được biết đến.” Rồi sau đó, tự mâu thuẫn với chính mình, vị diễn giả uyên bác lập tức cho thính giả biết rằng “chúng ta học được từ Lalita-Vistara rằng nhiều hình thức hành xác, tự khổ hạnh và khổ tu khác nhau rất phổ biến vào thời Gautama.” (!!) Nhưng diễn giả dường như hoàn toàn không biết rằng chính loại hành xác và tự khổ hạnh này là hình thức thấp của Yoga, Hatha Yoga, vốn “ít được biết đến” mà lại “rất phổ biến” vào thời Gautama.

 68

 68

It is even argued that all the Six Darshanas, or Schools of Philosophy, show traces of Buddha’s influence, being either taken from Buddhism or due to Greek teaching! (See Weber, Max Müller, etc.) We labour under the impression that Colebrooke, “the highest authority” in such matters, had long ago settled the question by showing that “the Hindûs were in this instance the teachers, not the learners.”

Người ta còn lập luận rằng tất cả Sáu Darshana, hay các Trường phái Triết học, đều cho thấy dấu vết ảnh hưởng của Buddha, hoặc được lấy từ Phật giáo, hoặc do giáo huấn Hy Lạp mà có! (Xem Weber, Max Müller, v.v.) Chúng tôi có ấn tượng rằng Colebrooke, “thẩm quyền cao nhất” trong những vấn đề như thế, từ lâu đã giải quyết câu hỏi này bằng cách chỉ ra rằng “trong trường hợp này, người Hindu là thầy dạy, chứ không phải người học.”

 69

 69

Soul, as the basis of all, Anima Mundi.

Linh hồn, với tư cách là nền tảng của tất cả, Anima Mundi.

 70

 70

Absolute Being and Consciousness, which are Absolute Non-Being and Unconsciousness.

Bản Thể Tuyệt Đối và Tâm thức, vốn là Phi-Bản Thể Tuyệt Đối và Vô Tâm Thức.

 71

 71

“Paramârthasatya” is self-consciousness; Svasamvedanâ, or self-analyzing reflection—from parama, above everything, and artha, comprehension; satya meaning absolute true being, or esse. In Tibetan Paramârthasatya is Dondampaidenpa. The opposite of this absolute reality, or actuality, is Samvritisatya—the relative truth only—Samvriti meaning “false conception” and being the origin of Illusion, Mâyâ; in Tibetan Kundzabchidenpa, “illusion-creating appearance.”

“Paramarthasatya” là ngã thức; Svasamvedana, hay sự phản chiếu tự phân tích — từ parama, vượt trên mọi sự, và artha, sự thấu hiểu; satya có nghĩa là bản thể chân thật tuyệt đối, hay esse. Trong tiếng Tây Tạng, Paramarthasatya là Dondampaidenpa. Đối cực của thực tại tuyệt đối này, hay hiện thực tính này, là Samvritisatya — chỉ là chân lý tương đối — Samvriti có nghĩa là “quan niệm sai lầm” và là nguồn gốc của Ảo tưởng, Maya; trong tiếng Tây Tạng là Kundzabchidenpa, “sắc tướng tạo ảo tưởng.”

 72

 72

Aphorisms of the Bodhisattvas.

Cách ngôn của các Bồ Tát.

 73

 73

Âryâsanga was a pre-Christian Adept and founder of a Buddhist esoteric school, though Csoma de Körös places him, for some reasons of his own, in the seventh century a.d. There was another Aryâsanga, who lived during the first centuries of our era, and the Hungarian scholar most probably confuses the two.

Aryasanga là một Chân sư tiền Kitô giáo và là người sáng lập một trường phái nội môn Phật giáo, dù Csoma de Körös, vì những lý do riêng nào đó, đặt ông vào thế kỷ thứ bảy sau Công nguyên. Có một Aryasanga khác sống trong những thế kỷ đầu của kỷ nguyên chúng ta, và học giả Hungary rất có thể đã nhầm lẫn hai người này.

 74

 74

Vâyu Purâna.

Vayu Purana.

 75

 75

Vishnu Purâna, Wilson, I. 20

Vishnu Purana, Wilson, I. 20

 76

 76

Finite self-consciousness, I mean. For how can the Absolute attain this otherwise than simply as an aspect, the highest of which aspects known to us is human consciousness?

Ý tôi là ngã thức hữu hạn. Vì làm sao Tuyệt Đối có thể đạt được điều này, nếu không phải chỉ như một phương diện, mà phương diện cao nhất trong số các phương diện được chúng ta biết đến là tâm thức con người?

 77

 77

See Schwegler’s Handbook of the History of Philosophy, in Sterling’s translation, p. 28

Xem Handbook of the History of Philosophy của Schwegler, bản dịch của Sterling, tr. 28

 78

 78

Vajrapâni or Vajradhara means the diamond-holder; in Tibetan Dorjesempa, sempa meaning the soul; its adamantine quality referring to its indestructibility in the hereafter. The explanation with regard to the Anupâdaka given in the Kâla Chakra, the first in the Gyut division of the Kanjur, is half esoteric. It has misled the Orientalists into erroneous speculations with respect to the Dhyâni-Buddhas and their earthly correspondencies, the Mânushi-Buddhas. The real tenet is hinted at in a subsequent volume, and will be more fully explained in its proper place.

Vajrapani hay Vajradhara có nghĩa là người cầm kim cương; trong tiếng Tây Tạng là Dorjesempa, sempa có nghĩa là linh hồn; phẩm tính kim cương của nó chỉ sự bất hoại của nó trong đời sau. Lời giải thích liên quan đến Anupadaka được đưa ra trong Kala Chakra, phần đầu trong bộ Gyut của Kanjur, là bán nội môn. Nó đã khiến các nhà Đông phương học đi vào những suy đoán sai lầm về các Dhyani-Buddha và các đối ứng trần thế của các Ngài, tức các Manushi-Buddha. Giáo lý thật được gợi ý trong một quyển sau, và sẽ được giải thích đầy đủ hơn ở đúng chỗ của nó.

 79

 79

To quote Hegel again, who with Schelling practically accepted the Pantheistic conception of periodical Avatâras (special incarnations of the World-Spirit in Man, as seen in the case of all the great religious reformers): “The essence of man is spirit… only by stripping himself of his finiteness and surrendering himself to pure self-consciousness does he attain the truth. Christ-man, as man in whom the Unity of God-man [identity of the individual with the universal Consciousness as taught by the Vedântins and some Advaitees] appeared, has, in his death and history generally, himself presented the eternal history of Spirit—a history which every man has to accomplish in himself, in order to exist as Spirit.”—Philosophy of History, Sibree’s English Translation, p. 340

Lại trích Hegel, người cùng với Schelling hầu như đã chấp nhận quan niệm Phiếm thần về các Đấng Hoá Thân định kỳ (những lần lâm phàm đặc biệt của Tinh Thần Thế Giới trong Con Người, như thấy trong trường hợp tất cả các nhà cải cách tôn giáo vĩ đại): “Bản chất của con người là tinh thần… chỉ bằng cách lột bỏ tính hữu hạn của mình và hiến mình cho ngã thức thuần khiết, y mới đạt tới chân lý. Christ-con người, với tư cách là con người nơi đó Sự Hợp Nhất của Thượng đế-con người [sự đồng nhất của cá nhân với Tâm thức phổ quát như các Vedantin và một số Advaitin giảng dạy] đã xuất hiện, trong cái chết và lịch sử của chính mình nói chung, đã tự trình bày lịch sử vĩnh cửu của Tinh Thần — một lịch sử mà mỗi người phải hoàn thành trong chính mình, để tồn tại như Tinh Thần.” — Philosophy of History, bản dịch tiếng Anh của Sibree, tr. 340

 80

 80

Chohanic, Dhyâni-Buddhic.

Thuộc Chohan, thuộc Dhyani-Buddha.

 81

 81

Rûpa.

Rupa.

 82

 82

Arûpa.

Arupa.

 83

 83

“Mother of the Gods,” Aditi, or Cosmic Space. In the Zohar, she is called Sephira, the Mother of the Sephiroth, and Shekinah in her primordial form, in abscondita.

“Mẹ của các Thần,” Aditi, hay Không Gian Vũ Trụ. Trong Zohar, bà được gọi là Sephira, Mẹ của các Sephiroth, và Shekinah trong hình thái nguyên sơ của bà, trong trạng thái ẩn tàng.

 84

 84

Hence Non-Being is “Absolute Being,” in Esoteric Philosophy. In the tenets of the latter even Âdi-Buddha (the First or Primeval Wisdom) is, while manifested, in one sense an Illusion, Mâyâ, since all the gods, including Brahmâ, have to die at the end of the Age of Brahmâ; the abstraction called Parabrahman—whether we call it Ain Suph, or with Herbert Spencer the Unknowable—alone being the One Absolute Reality. The One Secondless Existence is Advaita, “Without a Second,” and all the rest is Mâyâ, so teaches the Advaita Philosophy.

Do đó, Phi-Bản Thể là “Bản Thể Tuyệt Đối” trong Triết học Nội môn. Trong các giáo lý của triết học này, ngay cả Adi-Buddha (Minh triết Đầu tiên hay Nguyên sơ), khi biểu hiện, theo một nghĩa nào đó cũng là một Ảo tưởng, Maya, vì tất cả các thần, kể cả Brahma, đều phải chết vào cuối Thời đại của Brahma; chỉ có sự trừu tượng được gọi là Parabrahman — dù chúng ta gọi nó là Ain Suph, hay cùng với Herbert Spencer gọi là Cái Bất Khả Tri — mới là Thực Tại Tuyệt Đối Duy Nhất. Hiện Tồn Duy Nhất Không Hai là Advaita, “Không có cái thứ hai,” và tất cả phần còn lại là Maya, Triết học Advaita dạy như vậy.

 85

 85

Motion.

Chuyển động.

 86

 86

Wilson, I. iv.

Wilson, I. iv.

 87

 87

Mother-Lotus.

Hoa Sen Mẹ.

 88

 88

An unpoetical term, yet still very graphic.

Một thuật ngữ không thi vị, nhưng vẫn rất gợi hình.

 89

 89

Gross, The Heathen Religion, p. 195

Gross, The Heathen Religion, tr. 195

 90

 90

Precepts for Yoga.

Giới huấn cho Yoga.

 91

 91

A Vedântin of the Visishthadvaita Philosophy would say that, though the only independent Reality, Parabrahman is inseparable from His Trinity. That He is three, “Parabrahman, Chit, and Achit,” the last two being dependent Realities unable to exist separately; or, to make it clearer, Parabrahman is the Substance—changeless, eternal, and incognizable—and Chit (Âtmâ) and Achit (Anâtmâ) and its qualities, as form and colour are the qualities of any object. The two are the garment, or body, or rather aspect (sharîra) of Parabrahman. But an Occultist would find much to say against this claim, and so would the Advaiti Vedântin.

Một Vedantin thuộc Triết học Visishthadvaita sẽ nói rằng, dù là Thực Tại độc lập duy nhất, Parabrahman không thể tách rời khỏi Tam Vị của Ngài. Rằng Ngài là ba, “Parabrahman, Chit và Achit,” hai cái sau là những Thực Tại phụ thuộc, không thể tồn tại riêng rẽ; hay nói rõ hơn, Parabrahman là Chất liệu — bất biến, vĩnh cửu và bất khả tri — còn Chit (Atma) và Achit (Anatma) cùng các phẩm tính của nó, như hình tướng và màu sắc là các phẩm tính của bất cứ đối tượng nào. Hai cái này là y phục, hay thể, hay đúng hơn là phương diện (sharira) của Parabrahman. Nhưng một nhà huyền bí học sẽ có nhiều điều để phản bác tuyên bố này, và một Vedantin Advaita cũng vậy.

 92

 92

Sc., Sons.

Tức là, các Con.

 93

 93

Simultaneously.

Đồng thời.

 94

 94

Moves.

Chuyển động.

 95

 95

Periodical.

Định kỳ.

 96

 96

Wilson, Vishnu Purâna, I. 40

Wilson, Vishnu Purana, I. 40

 97

 97

Triangle.

Tam giác.

 98

 98

Quaternary.

Tứ nguyên.

 99

 99

Hiranyagarbha.

Hiranyagarbha.

 100

 100

The three hypostases of Brahmâ, or Vishnu, the three Avasthâs.

Ba ngôi vị bản thể của Brahma, hay Vishnu, ba Avastha.

 101

 101

Number, truly; but never Motion. It is Motion which begets the Logos, the Word, in Occultism.

Thật ra là Con Số; nhưng không bao giờ là Chuyển động. Chính Chuyển động sinh ra Logos, Linh từ, trong Huyền bí học.

 102

 102

The “fourteen precious things.” The narrative or allegory is found in the Shatapatha Brâmanah and others. The Japanese Secret Science of the Buddhist Mystics, the Yamabooshi, has “seven precious things.” We will speak of them, hereafter.

“Mười bốn vật quý.” Câu chuyện hay ẩn dụ này được tìm thấy trong Shatapatha Bramanah và các văn bản khác. Khoa học Bí truyền Nhật Bản của các nhà thần bí Phật giáo, Yamabooshi, có “bảy vật quý.” Chúng ta sẽ nói về chúng về sau.

 103

 103

“The original for Understanding is Sattva, which Shankara renders Antaskarana. ‘Refined,’ he says, ‘by sacrifices and other sanctifying operations.’ In the Katha, at p. 148, Sattva is rendered by Shankara to mean Buddhi—a common use of the word.” (Bhagavadgîtâ, etc., translated by Kâshinâth Trimbak Telang, M.A.; edited by Max Müller, p. 193) Whatever meaning various schools may give the term, Sattva is the name given among Occult students of the Âryâsanga School to the dual Monad, or Âtmâ-Buddhi, and Âtmâ-Buddhi on this plane corresponds to Parabrahman and Mûlaprakriti on the higher plane.

“Nguyên bản cho Thấu hiểu là Sattva, được Shankara dịch là Antaskarana. Ông nói, ‘được tinh luyện bởi các cuộc hiến tế và những hoạt động thánh hóa khác.’ Trong Katha, tr. 148, Sattva được Shankara dịch là Buddhi — một cách dùng thông thường của từ này.” (Bhagavadgita, v.v., do Kashinath Trimbak Telang, M.A. dịch; Max Müller biên tập, tr. 193) Dù các trường phái khác nhau có thể gán cho thuật ngữ này ý nghĩa nào, Sattva là tên được các đạo sinh Huyền bí học thuộc Trường phái Aryasanga dùng để chỉ Chân thần kép, hay Atma-Buddhi; và Atma-Buddhi trên cõi này tương ứng với Parabrahman và Mulaprakriti trên cõi cao hơn.

 104

 104

Amrita.

Amrita.

 105

 105

Cory’s Ancient Fragments, p. 314

Ancient Fragments của Cory, tr. 314

 106

 106

On Rosenkranz.

Về Rosenkranz.

 107

 107

i. 2

i. 2

 108

 108

John, i. 4

Gioan, i. 4

 109

 109

Lanoo is a student, a Chelâ who studies practical Esotericism.

Lanoo là một đạo sinh, một đệ tử nghiên cứu Huyền bí học thực hành.

 110

 110

“Whom thou knowest now as Kwan-Shai-Yin.”—Comment.

“Đấng mà nay ngươi biết là Kwan-Shai-Yin.” — Chú giải.

 111

 111

Eka is One; Chatur, Four; Tri, Three; and Sapta, Seven.

Eka là Một; Chatur, Bốn; Tri, Ba; và Sapta, Bảy.

 112

 112

“Tridasha,” or Thirty, three times ten, alludes to the Vedic deities in round numbers, or more accurately 33—a sacred number. They are the 12 Âdityas, the 8 Vasus, the 11 Rudras, and the 2 Ashvins—the twin sons of the Sun and Sky. This is the root-number of the Hindû Pantheon, which enumerates 33 crores, or three hundred and thirty millions of gods and goddesses.

“Tridasha,” hay Ba mươi, ba lần mười, ám chỉ các thần linh Veda theo con số tròn, hay chính xác hơn là 33 — một con số thiêng liêng. Các vị ấy là 12 Aditya, 8 Vasu, 11 Rudra và 2 Ashvin — hai người con song sinh của Mặt Trời và Bầu Trời. Đây là con số gốc của thần hệ Hindu, vốn liệt kê 33 crore, hay ba trăm ba mươi triệu thần nam và thần nữ.

 113

 113

Stars.

Các vì sao.

 114

 114

The Upper Space.

Không Gian Thượng giới.

 115

 115

Element.

Nguyên tố.

 116

 116

The Gnostic Sophia, “Wisdom,” who is the “Mother” of the Ogdoad (Aditi, in a certain sense, with her eight sons), is the Holy Ghost and the Creator of all, as in the ancient systems. The “Father” is a far later invention. The earliest manifested Logos was female everywhere—the mother of the seven planetary powers.

Sophia của phái Ngộ đạo, “Minh triết,” vị là “Mẹ” của Ogdoad (Aditi, theo một nghĩa nào đó, cùng với tám người con của bà), là Chúa Thánh Thần và Đấng Sáng Tạo của tất cả, như trong các hệ thống cổ xưa. “Cha” là một phát minh muộn hơn rất nhiều. Logos biểu hiện sớm nhất ở khắp nơi là nữ tính — mẹ của bảy quyền năng hành tinh.

 117

 117

See Chinese Buddhism, by the Rev. Joseph Edkins, who always gives correct facts, although his conclusions are very frequently erroneous.

Xem Chinese Buddhism, của Mục sư Joseph Edkins, người luôn đưa ra các sự kiện chính xác, dù các kết luận của ông rất thường sai lầm.

 118

 118

Book of Sarparâjni.

Sách Sarparajni.

 119

 119

By “God, the Father,” the seventh principle in Man and Kosmos are here unmistakably meant, this principle being inseparable in its Esse and Nature from the seventh cosmic principle. In one sense it is the Logos of the Greeks and the Avalokiteshvara of the Esoteric “Buddhists.”

Ở đây, “Thượng đế, Cha” rõ ràng muốn nói đến nguyên khí thứ bảy trong Con Người và Kosmos, nguyên khí này trong Esse và Bản chất của nó không thể tách rời khỏi nguyên khí vũ trụ thứ bảy. Theo một nghĩa, đó là Logos của người Hy Lạp và Avalokiteshvara của các “Phật tử” Nội môn.

 120

 120

Fitzedward Hall’s edition, in the Bibliotheca Indica, p. 16

Ấn bản của Fitzedward Hall, trong Bibliotheca Indica, tr. 16

 121

 121

Anugîtâ, ch. xxvi, K. T. Telang’s Translation, p. 333

Anugita, chương xxvi, bản dịch của K. T. Telang, tr. 333

 122

 122

See Mariette’s Abydos, II. 63, and III. 413, 414, No. 1,122

Xem Abydos của Mariette, II. 63, và III. 413, 414, số 1.122

 123

 123

Book of Dzyan, III.

Sách Dzyan, III.

 124

 124

Od is the pure life-giving Light, or magnetic fluid; Ob the messenger of death used by sorcerers, the nefarious evil fluid; Aour is the synthesis of the two, Astral Light proper. Can the Philologists tell why Od—a term used by Reichenbach to denominate the vital fluid—is also a Tibetan word meaning light, brightness, radiancy? It also means “sky” in an Occult sense. Whence the root of the word? But Âkâsha is not quite Ether, but far higher than that, as will be shown.

Od là Ánh sáng thuần khiết ban sự sống, hay lưu chất từ tính; Ob là sứ giả của cái chết được các phù thủy dùng, lưu chất tà ác và độc hại; Aour là tổng hợp của cả hai, chính là Ánh sáng Tinh tú. Các nhà ngữ văn học có thể cho biết vì sao Od — một thuật ngữ được Reichenbach dùng để gọi tên lưu chất sinh lực — cũng là một từ Tây Tạng có nghĩa là ánh sáng, độ sáng, sự rạng rỡ không? Nó cũng có nghĩa là “bầu trời” theo nghĩa Huyền bí. Gốc của từ này từ đâu mà có? Nhưng Akasha không hẳn là Dĩ thái, mà cao hơn điều đó rất nhiều, như sẽ được trình bày.

 125

 125

This is again similar to the doctrine of Fichte and German Pantheists. The former reveres Jesus as the great teacher who inculcated the unity of the spirit of man with the God-Spirit or Universal Principle (the Advaita doctrine). It is difficult to find a single speculation in Western metaphysics which has not been anticipated by archaic Eastern philosophy. From Kant to Herbert Spencer, it is all a more or less distorted echo of the Dvaita, Advaita, and Vedântic doctrines generally.

Điều này lại tương tự với giáo lý của Fichte và các nhà Phiếm thần Đức. Người trước tôn kính Đức Jesus như vị huấn sư vĩ đại đã truyền dạy sự hợp nhất của tinh thần con người với Tinh Thần-Thượng đế hay Nguyên khí Phổ quát (giáo lý Advaita). Thật khó tìm thấy một suy luận nào trong siêu hình học phương Tây mà triết học phương Đông cổ xưa chưa từng dự liệu. Từ Kant đến Herbert Spencer, tất cả ít nhiều chỉ là tiếng vọng méo mó của các giáo lý Dvaita, Advaita và Vedanta nói chung.

 126

 126

Compare Dowson’s Dictionary of Hindû Mythology, p. 57

So sánh Dictionary of Hindu Mythology của Dowson, tr. 57

 127

 127

Whether the genus of the bird be cygnus, anser, or pelecanus, it is no matter, as it is an aquatic bird floating or moving on the waters like the Spirit, and then issuing from those waters to give birth to other beings. The true significance of the symbol of the Eighteenth Degree of the Rosecroix is precisely this, though it was later on poetised into the motherly feeling of the pelican rending its bosom to feed its seven little ones with its blood.

Dù loài chim ấy là thiên nga, ngỗng hay bồ nông cũng không quan trọng, vì đó là một loài chim nước nổi hay chuyển động trên nước như Tinh Thần, rồi từ những dòng nước ấy xuất hiện để sinh ra các sinh linh khác. Thâm nghĩa chân thật của biểu tượng thuộc Cấp độ Thứ Mười Tám của Rosecroix chính là như vậy, dù về sau nó được thi vị hóa thành tình mẫu tử của chim bồ nông tự xé ngực để nuôi bảy con nhỏ bằng máu của mình.

 128

 128

The reason why Moses forbids eating the pelican and swan (Deuteronomy, xiv. 16, 17), classing the two among the unclean fowls, and permits eating “the bald locusts, beetles, and the grasshopper after his kind” (Leviticus xi. 22), is a purely physiological one, and has to do with mystic symbology only in so far as the word “unclean,” like every other word, ought not to be understood literally; for it is esoteric like all the rest, and may as well mean “holy” as not. It is a very suggestive blind in connection with certain superstitions—e.g., that of the Russian people, who will not use the pigeon for food; not because it is “unclean” but because the “Holy Ghost” is credited with having appeared under the form of a dove.

Lý do Moses cấm ăn bồ nông và thiên nga (Đệ Nhị Luật, xiv. 16, 17), xếp cả hai vào các loài chim ô uế, và cho phép ăn “châu chấu trọc, bọ cánh cứng và cào cào tùy loài” (Lêvi xi. 22), hoàn toàn là lý do sinh lý, và chỉ liên quan đến biểu tượng học thần bí trong chừng mực từ “ô uế,” như mọi từ khác, không nên được hiểu theo nghĩa đen; vì nó có tính nội môn như tất cả những điều còn lại, và cũng có thể có nghĩa là “thiêng liêng” chứ không nhất thiết là không. Đó là một màn che rất gợi ý liên quan đến một số mê tín — chẳng hạn, mê tín của người Nga, những người không dùng chim bồ câu làm thức ăn; không phải vì nó “ô uế,” mà vì người ta tin rằng “Chúa Thánh Thần” đã xuất hiện dưới hình dạng chim bồ câu.

 129

 129

Chaos.

Hỗn mang.

 130

 130

Not the Mediæval Alchemists, but the Magi and Fire-Worshippers, from whom the Rosicrucians, or the Philosophers per ignem, the successors of the Theurgists, borrowed all their ideas concerning Fire, as a mystic and divine element.

Không phải các nhà luyện kim thời Trung cổ, mà là các Magi và những người Thờ Lửa, từ họ các Rosicrucian, hay các Triết gia per ignem, những người kế thừa các nhà Thần thuật, đã vay mượn toàn bộ các ý tưởng của mình về Lửa như một nguyên tố thần bí và thiêng liêng.

 131

 131

Isis Unveiled, I. 146

Isis Hé Mở, I. 146

 132

 132

“Para” gives the force of beyond, outside.

“Para” mang mãnh lực của nghĩa vượt ngoài, ở bên ngoài.

 133

 133

Purusha.

Purusha.

 134

 134

Prakriti.

Prakriti.

 135

 135

I, I. 7

I, I. 7

 136

 136

The Web.

Tấm Lưới.

 137

 137

The Father.

Đức Cha.

 138

 138

The Root of Matter.

Cội Rễ của Vật Chất.

 139

 139

The Elements, with their respective Powers, or Intelligences.

Các Nguyên tố, cùng các Quyền Năng hay các Trí Tuệ tương ứng của chúng.

 140

 140

The Web.

Tấm Lưới.

 141

 141

Popular Astronomy, pp. 507, 508

Thiên Văn Học Phổ Thông, tr. 507, 508

 142

 142

American Journal of Science, July, 1870

Tạp Chí Khoa Học Hoa Kỳ, tháng Bảy, 1870

 143

 143

Winchell, World-Life, pp. 83-5

Winchell, Sự Sống Thế Giới, tr. 83-5

 144

 144

Of the Atoms.

Về các Nguyên Tử.

 145

 145

The Universe.

Vũ Trụ.

 146

 146

Primeval Light.

Ánh Sáng Nguyên Sơ.

 147

 147

This is said in view of the fact that the flame from a fire is inexhaustible, and that the lights of the whole Universe could be lit from one simple rush-light without diminishing the flame.

Điều này được nói trong khi xét đến sự kiện rằng ngọn lửa từ một đám lửa là bất tận, và ánh sáng của toàn thể Vũ Trụ có thể được thắp lên từ một ngọn đèn bấc đơn sơ mà không làm suy giảm ngọn lửa ấy.

 148

 148

Chap. viii., p. 80, Telang’s Translation.

Chương viii., tr. 80, bản dịch của Telang.

 149

 149

Deuteronomy, iv 24

Đệ Nhị Luật, iv 24

 150

 150

Thess., i. 7, 8

Thess., i. 7, 8

 151

 151

Acts, ii. 3

Công Vụ, ii. 3

 152

 152

Rev., xix. 13

Khải Huyền, xix. 13

 153

 153

Telang’s Translation, Sacred Books of the East, viii. 278

Bản dịch của Telang, Thánh Thư Phương Đông, viii. 278

 154

 154

Dhyân Chohans.

Dhyân Chohans.

 155

 155

Formless.

Vô hình tướng.

 156

 156

With Bodies.

Có các thể.

 157

 157

Pitris.

Pitris.

 158

 158

The Four, represented in the Occult numerals by the Tetraktys, the Sacred or Perfect Square, is a Sacred Number with the Mystics of every nation and race. It has one and the same significance in Brâhmanism, Buddhism, in Kabalism and in the Egyptian, Chaldean and other numerical systems.

Bộ Bốn, được biểu thị trong các con số huyền bí bằng Tetraktys, Hình Vuông Thiêng Liêng hay Hoàn Hảo, là một Con Số Thiêng Liêng đối với các nhà thần bí của mọi quốc gia và mọi nhân loại. Nó có cùng một thâm nghĩa trong Bà-la-môn giáo, Phật giáo, trong Kabalism và trong các hệ thống số học Ai Cập, Chaldea cùng những hệ thống khác.

 159

 159

In the Kabalah, the same numbers, viz., 1065 are a value of Jehovah, since the numerical values of the three letters which compose his name—Jod, Vau and twice Hé—are respectively 10 (י), 6 (ו) and 5 (ה); or again thrice seven, 21 “Ten is the Mother of the Soul, for Life and Light are therein united,” says Hermes. “For number one is born of the Spirit and the number ten from Matter [Chaos, feminine]; the unity has made the ten, the ten the unity.” (Book of the Keys.) By means of Temura, the anagrammatical method of the Kabalah, and the knowledge of 1065 (21), a universal science may be obtained regarding Cosmos and its mysteries (Rabbi Yogel). The Rabbis regard the numbers 10, 6, and 5 as the most sacred of all.

Trong Kabalah, cũng những con số ấy, tức 1065, là một trị số của Jehovah, vì các trị số số học của ba chữ cái cấu thành danh Ngài—Jod, Vau và hai lần Hé—lần lượt là 10 (chữ Jod), 6 (chữ Vau) và 5 (chữ Hé); hoặc lại nữa là ba lần bảy, 21. “Mười là Mẹ của Linh Hồn, vì Sự Sống và Ánh Sáng hợp nhất trong đó,” Hermes nói. “Vì số một sinh ra từ Tinh thần và số mười từ Vật Chất [Hỗn Mang, giống cái]; đơn nhất đã tạo nên số mười, số mười tạo nên đơn nhất.” (Sách Chìa Khóa.) Nhờ Temura, phương pháp đảo chữ của Kabalah, và nhờ tri thức về 1065 (21), người ta có thể đạt được một khoa học phổ quát liên quan đến Vũ Trụ và các bí nhiệm của nó (Rabbi Yogel). Các Rabbi xem các số 10, 6 và 5 là thiêng liêng hơn hết thảy.

 160

 160

The reader may be told that an American Kabalist has now discovered the same number for the Elohim. It came to the Jews from Chaldæa. See “Hebrew Metrology,” in The Masonic Review, July, 1885, McMillan Lodge, No. 141

Có thể nói với độc giả rằng một nhà Kabalah người Mỹ hiện nay đã khám phá cùng con số ấy cho Elohim. Nó đến với người Do Thái từ Chaldea. Xem “Đo Lường Học Hebrew,” trong Tạp Chí Tam Điểm, tháng Bảy, 1885, Chi hội McMillan, số 141

 161

 161

We find the same expression in Egypt. Mout signifies, for one thing, “Mother,” and shows the character assigned to her in the triad of that country. She was no less the mother than the wife of Ammon, one of the principal titles of the god being “the husband of his mother.” The goddess Mout, or Mût, is addressed as “Our Lady,” the “Queen of Heaven” and “of the Earth,” thus “sharing these titles with the other mother goddesses, Isis, Hathor, etc.” (Maspero).

Chúng ta gặp cùng cách diễn đạt ấy ở Ai Cập. Mout, trong một nghĩa, có nghĩa là “Mẹ,” và cho thấy đặc tính được gán cho bà trong bộ ba của xứ ấy. Bà vừa là mẹ không kém gì là vợ của Ammon, một trong những tước hiệu chính của vị thần này là “người chồng của mẹ mình.” Nữ thần Mout, hay Mût, được xưng tụng là “Đức Bà của Chúng Ta,” “Nữ Hoàng của Trời” và “của Đất,” như vậy “cùng chia sẻ các tước hiệu này với các nữ thần mẹ khác, Isis, Hathor, v.v.” (Maspero).

 162

 162

The Sparks.

Các Tia Lửa.

 163

 163

The permutation of Oeaohoo. The literal signification of the word is, among the Eastern Occultists of the North, a circular wind, whirlwind; but in this instance, it is a term to denote the ceaseless and eternal Cosmic Motion, or rather the Force that moves it, which Force is tacitly accepted as the Deity, but never named. It is the eternal Kârana, the ever-acting Cause.

Sự hoán vị của Oeaohoo. Ý nghĩa sát chữ của từ này, nơi các nhà huyền bí học phương Đông ở phương Bắc, là một luồng gió tròn, cơn lốc; nhưng trong trường hợp này, đó là một thuật ngữ chỉ Chuyển Động Vũ Trụ không ngừng và vĩnh cửu, hay đúng hơn là Mãnh lực làm cho nó chuyển động, Mãnh lực ấy được mặc nhiên chấp nhận như Thượng đế, nhưng không bao giờ được nêu tên. Đó là Kârana vĩnh cửu, Nguyên Nhân luôn luôn hoạt động.

 164

 164

vi. 15 The Anugîtâ forms part of the Ashvamedha Parvan of the Mahâbhârata. The translator of the Bhagavadgîtâ, edited by Max Müller, regards it as a continuation of the Bhagavadgîtâ. Its original is one of the oldest Upanishads.

vi. 15 Anugîtâ là một phần của Ashvamedha Parvan trong Mahâbhârata. Dịch giả của Bhagavadgîtâ, do Max Müller biên tập, xem nó là phần tiếp nối của Bhagavadgîtâ. Nguyên bản của nó là một trong những Upanishad cổ xưa nhất.

 165

 165

This shows the modern metaphysicians, added to all past and present Hegels, Berkeleys, Schopenhauers, Hartmanns, Herbert Spencers, and even the modern Hylo-Idealists to boot, no better than the pale copyists of hoary antiquity.

Điều này cho thấy các nhà siêu hình học hiện đại, cộng thêm tất cả các Hegel, Berkeley, Schopenhauer, Hartmann, Herbert Spencer trong quá khứ và hiện tại, và cả các nhà Hylo-Idealist hiện đại nữa, chẳng hơn gì những kẻ sao chép nhợt nhạt của thời cổ đại xa xưa.

 166

 166

It is the knowledge of this law that permits and helps the Arhat to perform his Siddhis, or various phenomena, such as the disintegration of matter, the transport of objects from one place to another, etc.

Chính tri thức về định luật này cho phép và trợ giúp vị Arhat thực hiện các Siddhi của mình, hay các hiện tượng khác nhau, như sự phân rã vật chất, sự di chuyển đồ vật từ nơi này sang nơi khác, v.v.

 167

 167

These are ancient Commentaries attached with modern Glossaries to the Stanzas, for the Commentaries in their symbolical language are usually as difficult to understand as the Stanzas themselves.

Đây là các Luận Giải cổ xưa kèm theo các Bảng Thuật Ngữ hiện đại cho các Bài Kệ, vì các Luận Giải, trong ngôn ngữ biểu tượng của chúng, thường cũng khó thấu hiểu như chính các Bài Kệ.

 168

 168

In a polemical scientific work, The Modern Genesis (p. 48), the Rev. W. B. Slaughter, criticizing the position assumed by the astronomers, says: “It is to be regretted that the advocates of this [nebular] theory have not entered more largely into the discussion of it [the beginning of rotation] No one condescends to give us the rationale of it. How does the process of cooling and contracting the mass impart to it a rotatory motion?” (Quoted by Winchell, World-Life, p. 94) It is not materialistic Science that can ever solve it. “Motion is eternal in the unmanifested, and periodical in the manifest,” says an Occult teaching. It is “when heat caused by the descent of Flame into primordial matter causes its particles to move, which motion becomes the Whirlwind.” A drop of liquid assumes a spheroidal form owing to its atoms moving around themselves in their ultimate, unresolvable, and noumenal essence; unresolvable for Physical Science, at any rate. The question is amply treated later on.

Trong một công trình khoa học luận chiến, Sáng Thế Hiện Đại (tr. 48), Mục sư W. B. Slaughter, khi phê bình lập trường do các nhà thiên văn học nêu ra, nói: “Đáng tiếc là những người ủng hộ thuyết [tinh vân] này đã không đi sâu hơn vào việc thảo luận về nó [khởi đầu của sự quay]. Không ai hạ cố cho chúng ta biết cơ sở lý giải của nó. Tiến trình làm nguội và co rút khối ấy truyền cho nó chuyển động quay bằng cách nào?” (Winchell trích dẫn, Sự Sống Thế Giới, tr. 94) Khoa học duy vật không bao giờ có thể giải quyết điều đó. “Chuyển động là vĩnh cửu trong cái chưa biểu hiện, và có chu kỳ trong cái biểu hiện,” một giáo huấn huyền bí nói. Đó là “khi nhiệt, do sự giáng xuống của Lửa vào vật chất nguyên sơ, khiến các hạt của nó chuyển động, và chuyển động ấy trở thành Cơn Lốc.” Một giọt chất lỏng mang lấy hình dạng cầu dẹt nhờ các nguyên tử của nó chuyển động quanh chính chúng trong tinh túy tối hậu, bất khả phân giải và bản thể luận của chúng; ít nhất là bất khả phân giải đối với Khoa học Hồng trần. Vấn đề này sẽ được bàn đến đầy đủ về sau.

 169

 169

The x, the unknown quantity.

Chữ x, đại lượng chưa biết.

 170

 170

Which makes Ten, or the perfect number, applied to the “Creator,” the name given to the totality of the Creators blended by the Monotheists into One, as the “Elohim,” Adam Kadmon or Sephira, the Crown—are the androgyne synthesis of the ten Sephiroth, who stand for the symbol of the manifested Universe in the popularized Kabalah. The Esoteric Kabalists, however, following the Eastern Occultists, divide the upper Sephirothal triangle (or Sephira, Chokmah and Binah) from the rest, which leaves seven Sephiroth. As for Svabhâvat, the Orientalists explain the term as meaning the universal plastic matter diffused through space, with, perhaps, half an eye to the Ether of Science. But the Occultists identify it with “Father-Mother” on the mystic plane.

Điều này tạo thành Mười, hay con số hoàn hảo, được áp dụng cho “Đấng Sáng Tạo,” danh xưng được đặt cho tổng thể các Đấng Sáng Tạo mà những người độc thần hòa trộn thành Một, như “Elohim,” Adam Kadmon hay Sephira, Vương Miện—là sự tổng hợp lưỡng tính của mười Sephiroth, vốn tượng trưng cho Vũ Trụ biểu hiện trong Kabalah phổ thông hóa. Tuy nhiên, các nhà Kabalah Nội Môn, theo các nhà huyền bí học phương Đông, tách tam giác Sephiroth thượng tầng (hay Sephira, Chokmah và Binah) khỏi phần còn lại, như thế còn lại bảy Sephiroth. Còn về Svabhâvat, các nhà Đông phương học giải thích thuật ngữ này là chất liệu dẻo phổ quát lan tỏa khắp không gian, có lẽ với một phần ý nghĩ hướng đến Ê-te của Khoa học. Nhưng các nhà huyền bí học đồng nhất nó với “Cha-Mẹ” trên cõi thần bí.

 171

 171

Arûpa.

Arûpa.

 172

 172

Boundless Circle.

Vòng Tròn Vô Biên.

 173

 173

Subjective, Formless.

Chủ quan, Vô hình tướng.

 174

 174

Bhâskara.

Bhâskara.

 175

 175

This refers to the Abstract Thought and concrete Voice, or the manifestation thereof, the effect of the Cause. Adam Kadmon, or Tetragrammaton, is the Logos in the Kabalah. Therefore this Triad answers in the latter to the highest Triangle of Kether, Chokmah and Binah, the last a female potency, and at the same time the male Jehovah, as partaking of the nature of Chokmah, or the male Wisdom.

Điều này nói đến Tư Tưởng Trừu Tượng và Tiếng Nói cụ thể, hay sự biểu hiện của nó, tức hiệu quả của Nguyên Nhân. Adam Kadmon, hay Tetragrammaton, là Logos trong Kabalah. Vì vậy, trong hệ thống sau, Tam nguyên tinh thần này tương ứng với Tam Giác tối cao gồm Kether, Chokmah và Binah, trong đó Binah sau cùng là một quyền năng nữ tính, đồng thời là Jehovah nam tính, vì dự phần vào bản chất của Chokmah, hay Minh triết nam tính.

 176

 176

The Secret Doctrine teaches that the Sun is a central star and not a planet. Yet the ancients knew of and worshipped seven great gods, excluding the Sun and Earth. Which was that “Mystery God” they set apart? Of course not Uranus, only discovered by Herschel in 1781 But could it not be known by another name? Says Ragon: “Occult Sciences having discovered through astronomical calculations that the number of the planets must be seven, the ancients were led to introduce the Sun into the scale of the celestial harmonies, and make him occupy the vacant place. Thus, every time they perceived an influence that pertained to none of the six planets known, they attributed it to the Sun…. The error seems important, but was not so in practical results, if the astrologers replaced Uranus by the Sun, which… is a central Star relatively motionless, turning only on its axis and regulating time and measure; and which cannot be turned aside from its true functions.” (Maçonnerie Occulte, p. 447) The nomenclature of the days of the week is also faulty. “The Sun-day ought to be Uranus-day (Urani dies, Urandi),” adds the learned writer.

Giáo Lý Bí Nhiệm dạy rằng Mặt Trời là một ngôi sao trung tâm chứ không phải một hành tinh. Tuy vậy, người xưa biết và tôn thờ bảy vị thần vĩ đại, không kể Mặt Trời và Trái Đất. Vậy “Thần Bí Nhiệm” mà họ đặt riêng ra là vị nào? Dĩ nhiên không phải Sao Thiên Vương, chỉ được Herschel khám phá năm 1781. Nhưng chẳng lẽ vị ấy không thể được biết đến dưới một danh xưng khác sao? Ragon nói: “Các Khoa Học Huyền Bí, nhờ các tính toán thiên văn, đã khám phá rằng số hành tinh phải là bảy, nên người xưa được dẫn đến việc đưa Mặt Trời vào thang hòa âm thiên giới, và khiến nó chiếm chỗ còn khuyết. Vì thế, mỗi khi họ nhận thấy một ảnh hưởng không thuộc về bất cứ hành tinh nào trong sáu hành tinh đã biết, họ quy nó cho Mặt Trời…. Sai lầm này có vẻ quan trọng, nhưng trong kết quả thực tiễn thì không phải vậy, nếu các nhà chiêm tinh thay Sao Thiên Vương bằng Mặt Trời, vốn… là một Ngôi Sao trung tâm tương đối bất động, chỉ quay quanh trục của nó và điều hòa thời gian cùng độ đo; và không thể bị làm lệch khỏi các chức năng đích thực của nó.” (Maçonnerie Occulte, tr. 447) Danh pháp các ngày trong tuần cũng sai lệch. “Ngày Mặt Trời lẽ ra phải là ngày Sao Thiên Vương (Urani dies, Urandi),” tác giả uyên bác ấy nói thêm.

 177

 177

Planetary System.

Hệ Hành Tinh.

 178

 178

“The Sun rotates on its axis always in the same direction in which the planets revolve in their respective orbits,” astronomy teaches us.

“Mặt Trời luôn quay quanh trục của nó theo cùng chiều với chiều các hành tinh quay trong các quỹ đạo tương ứng của chúng,” thiên văn học dạy chúng ta như vậy.

 179

 179

See Anugîtâ, Telang, x. 9; and Aitareya Brâhmana, Haug, p. 1

Xem Anugîtâ, Telang, x. 9; và Aitareya Brâhmana, Haug, tr. 1

 180

 180

This essence of cometary matter, Occult Science teaches, is totally different from any of the chemical or physical characteristics with which Modern Science is acquainted. It is homogeneous in its primitive form beyond the Solar Systems, and differentiates entirely once it crosses the boundaries of our Earth’s region; vitiated by the atmospheres of the planets and the already compound matter of the interplanetary stuff, it is heterogeneous only in our manifested world.

Khoa Học Huyền Bí dạy rằng tinh chất này của vật chất sao chổi hoàn toàn khác với bất cứ đặc tính hóa học hay hồng trần nào mà Khoa học Hiện đại biết đến. Nó đồng nhất trong hình thái nguyên thủy của nó bên ngoài các Hệ Mặt Trời, và hoàn toàn biến phân một khi vượt qua các ranh giới của vùng Trái Đất chúng ta; bị làm biến chất bởi các bầu khí quyển của các hành tinh và bởi vật chất đã hợp thành của chất liệu liên hành tinh, nó chỉ trở nên dị chất trong thế giới biểu hiện của chúng ta.

 181

 181

Manas—the Mind-Principle, or the Human Soul.

Manas—Nguyên Khí Trí Tuệ, hay Linh Hồn Nhân Loại.

 182

 182

Buddhi—the Divine Soul.

Buddhi—Linh Hồn Thiêng Liêng.

 183

 183

See Correlation of Physical Forces, 1843, p. 81; and Address to the British Association, 1866

Xem Tương Quan của các Mãnh Lực Hồng Trần, 1843, tr. 81; và Diễn Văn trước Hội Anh Quốc, 1866

 184

 184

Very similar ideas were those of W. Mattieu Williams, in The Fuel of the Sun; of Dr. C. William Siemens, On the Conservation of Solar Energy (Nature, XXV, 440-444, March 9, 1882); and also of Dr. P. Martin Duncan in an Address, as the President of the Geological Society, London, May, 1877 See World-Life, by Alexander Winchell, LL.D., p. 53, et seq.

Những ý tưởng rất tương tự là của W. Mattieu Williams, trong Nhiên Liệu của Mặt Trời; của Tiến sĩ C. William Siemens, Về Sự Bảo Tồn Năng Lượng Mặt Trời (Nature, XXV, 440-444, ngày 9 tháng Ba, 1882); và cũng của Tiến sĩ P. Martin Duncan trong một Diễn Văn, với tư cách Chủ tịch Hội Địa Chất, London, tháng Năm, 1877. Xem Sự Sống Thế Giới, của Alexander Winchell, LL.D., tr. 53, và tiếp theo.

 185

 185

When we speak of Neptune, it is not as an Occultist but as a European. The true Eastern Occultist will maintain that, whereas there are many yet undiscovered planets in our system, Neptune does not really belong to it, in spite of its apparent connection with our Sun and the influence of the latter upon it. This connection is mâyâvic, imaginary, they say.

Khi chúng ta nói về Sao Hải Vương, đó không phải với tư cách một nhà huyền bí học mà với tư cách một người Âu châu. Nhà huyền bí học phương Đông đích thực sẽ khẳng định rằng, tuy còn nhiều hành tinh chưa được khám phá trong hệ của chúng ta, Sao Hải Vương thật ra không thuộc về hệ ấy, bất chấp mối liên hệ có vẻ của nó với Mặt Trời chúng ta và ảnh hưởng của Mặt Trời lên nó. Họ nói rằng mối liên hệ này có tính ảo lực, do tưởng tượng.

 186

 186

Word, Voice and Spirit.

Linh từ, Tiếng Nói và Tinh thần.

 187

 187

These are the four “Immortals,” which are mentioned in the Atharva Veda as the “Watchers” or Guardians of the four quarters of the sky. (See Ch. lxxvi., 1-4, et seq.)

Đây là bốn “Đấng Bất Tử,” được nhắc đến trong Atharva Veda như các “Đấng Canh Giữ” hay các Đấng Hộ Vệ bốn phương trời. (Xem Ch. lxxvi., 1-4, và tiếp theo.)

 188

 188

Conflict between Religion and Science, pp. 132 and 133

Xung Đột giữa Tôn Giáo và Khoa Học, tr. 132 và 133

 189

 189

Principles of Science, II. 455

Các Nguyên Lý của Khoa Học, II. 455

 190

 190

Les Mystères de l’Horoscope, Ely Star, p. xi.

Các Bí Nhiệm của Lá Số Chiêm Tinh, Ely Star, tr. xi.

 191

 191

Psalms, civ. 4

Thánh Vịnh, civ. 4

 192

 192

The difference between the Builders, the Planetary Spirits, and the Lipika must not be lost sight of. (See Shlokas 5 and 6 of this Commentary.)

Không được quên sự khác biệt giữa các Đấng Kiến Tạo, các Chân Linh Hành Tinh và các Lipika. (Xem các Câu Kệ 5 và 6 của Luận Giải này.)

 193

 193

That is, he is under the influence of their guiding thought.

Nghĩa là, y chịu ảnh hưởng của tư tưởng dẫn dắt của các Ngài.

 194

 194

Cosmic mists.

Các màn sương vũ trụ.

 195

 195

The World to be.

Thế Giới sẽ thành.

 196

 196

Atoms.

Các nguyên tử.

 197

 197

See A. P. Sinnett’s Esoteric Buddhism, 5th annotated edition, pp. 171-173

Xem Phật Giáo Nội Môn của A. P. Sinnett, ấn bản chú giải lần thứ 5, tr. 171-173

 198

 198

The first and greatest Tibetan Reformer who founded the “Yellow-Caps,” Gelukpas. He was born in the year 1355 a.d., in the district of Amdo, and was the Avatâra of Amitâbha, the celestial name of Gautama Buddha.

Nhà Cải Cách Tây Tạng đầu tiên và vĩ đại nhất, người sáng lập phái “Mũ Vàng,” Gelukpas. Ngài sinh năm 1355 sau Công nguyên, tại vùng Amdo, và là Đấng Hoá Thân của Amitâbha, danh xưng thiên giới của Gautama Buddha.

 199

 199

T. Subba Row seems to identify him with, and to call him, the Logos. (See his Lectures on the Bhagavadgîtâ, in the Theosophist, vol. ix.)

T. Subba Row dường như đồng nhất Ngài với Logos, và gọi Ngài là Logos. (Xem các Bài Giảng của ông về Bhagavadgîtâ, trong Theosophist, tập ix.)

 200

 200

Helmholtz, Faraday Lecture, 1881

Helmholtz, Bài Giảng Faraday, 1881

 201

 201

It is well known that sand, when placed on a metal plate in vibration, assumes a series of regular figures of various descriptions. Can Science give a complete explanation of this fact?

Ai cũng biết rằng cát, khi được đặt trên một tấm kim loại đang rung động, sẽ mang lấy một chuỗi các hình thể đều đặn thuộc nhiều loại khác nhau. Khoa học có thể đưa ra một lời giải thích đầy đủ về sự kiện này chăng?

 202

 202

See The Masonic Cyclopædia, Mackenzie; and The Pythagorean Triangle, Oliver.

Xem Bách Khoa Tam Điểm, Mackenzie; và Tam Giác Pythagoras, Oliver.

 203

 203

Ormazd is the Logos, the “First Born,” and the Sun.

Ormazd là Logos, “Đấng Sinh Đầu Tiên,” và Mặt Trời.

 204

 204

Against Apion, I, 25

Chống Apion, I, 25

 205

 205

See Isis Unveiled, II., 430-438

Xem Isis Hé Mở, II., 430-438

 206

 206

See Dowson’s Hindû Classical Dictionary.

Xem Từ Điển Cổ Điển Ấn Độ Giáo của Dowson.

 207

 207

The mineral atoms.

Các nguyên tử khoáng vật.

 208

 208

Gaseous clouds.

Các đám mây khí.

 209

 209

See Kabbalah Denudata, “De Anima,” p. 113

Xem Kabbalah Denudata, “De Anima,” tr. 113

 210

 210

“The doctrine of the rotation of the earth about an axis was taught by the Pythagorean Hicetas, probably as early as 500 b.c. It was also taught by his pupil Ecphantus, and by Heraclides, a pupil of Plato. The immobility of the sun and the orbital rotation of the earth were shown by Aristarchus of Samos as early as 281 b.c. to be suppositions accordant with facts of observation. The heliocentric theory was also taught about 150 b.c., by Seleucus of Seleucia on the Tigris. [It was taught 500 b.c. by Pythagoras. —H.P.B.] It is said also that Archimedes, in a work entitled Psammites, inculcated the heliocentric theory. The sphericity of the earth was distinctly taught by Aristotle, who appealed for proof to the figure of the earth’s shadow on the moon in eclipses. (Aristotle, De Cælo, lib. II., cap, XIV.) The same idea was defended by Pliny. (Nat. Hist., II., 65) These views seem to have been lost from knowledge for more than a thousand years….” (Winchell, World-Life, 551-2)

“Giáo lý về sự quay của Trái Đất quanh một trục đã được Hicetas thuộc phái Pythagoras giảng dạy, có lẽ sớm từ năm 500 trước Công nguyên. Giáo lý này cũng được môn sinh của ông là Ecphantus, và Heraclides, một môn sinh của Plato, giảng dạy. Sự bất động của mặt trời và chuyển động quỹ đạo của Trái Đất đã được Aristarchus xứ Samos, sớm từ năm 281 trước Công nguyên, chứng minh là những giả thuyết phù hợp với các sự kiện quan sát được. Thuyết nhật tâm cũng được Seleucus xứ Seleucia bên sông Tigris giảng dạy vào khoảng năm 150 trước Công nguyên. [Thuyết này đã được Pythagoras giảng dạy năm 500 trước Công nguyên. —H.P.B.] Người ta cũng nói rằng Archimedes, trong một tác phẩm nhan đề Psammites, đã truyền dạy thuyết nhật tâm. Tính hình cầu của Trái Đất đã được Aristotle giảng dạy rõ ràng; ông viện dẫn làm bằng chứng hình dạng bóng của Trái Đất trên mặt trăng trong các kỳ nguyệt thực. (Aristotle, De Cælo, quyển II., chương XIV.) Cùng ý tưởng ấy đã được Pliny bênh vực. (Nat. Hist., II., 65) Những quan điểm này dường như đã mất khỏi tri thức nhân loại trong hơn một ngàn năm….” (Winchell, World-Life, 551-2)

 211

 211

On Vortex Atoms.

Về các Nguyên tử Xoáy.

 212

 212

Op. cit., 567

Tác phẩm đã dẫn, 567

 213

 213

Abridged from Principia Rerum Naturalium.

Lược từ Principia Rerum Naturalium.

 214

 214

The Lipika.

Các Lipika.

 215

 215

That is: the First is now the Second World.

Nghĩa là: Cõi thứ Nhất nay là Cõi thứ Hai.

 216

 216

The Formless Universe of Thought.

Vũ trụ Vô Hình Tướng của Tư Tưởng.

 217

 217

The Shadowy World of Primal Form, or the Intellectual.

Thế giới Bóng Mờ của Hình Tướng Nguyên Sơ, hay Thế giới Trí Tuệ.

 218

 218

In the Rig Veda, we find the names Brahmanaspati and Brihaspati alternating with, and equivalent to, each other. Also see Brihadâranyaka Upanishad; Brihaspati is a deity called the “Father of the Gods.”

Trong Rig Veda, chúng ta thấy các danh xưng Brahmanaspati và Brihaspati luân phiên xuất hiện và tương đương với nhau. Cũng xem Brihadâranyaka Upanishad; Brihaspati là một vị thần được gọi là “Cha của các Thần.”

 219

 219

Logic, II. 125

Logic, II. 125

 220

 220

Having already taken the first three.

Đã lấy ba cõi đầu rồi.

 221

 221

Hosts.

Các Đạo quân.

 222

 222

The four Aspects are the body, its life or vitality, and the “double” of the body—the triad which disappears with the death of the person—and the Kâma Rûpa which disintegrates in Kâma Loka.

Bốn Phương diện là thể, sự sống hay sinh lực của nó, và “bản sao” của thể—tam nguyên biến mất cùng với cái chết của con người—và Kâma Rûpa vốn tan rã trong Kâma Loka.

 223

 223

On Amos, iv.

Về Amos, iv.

 224

 224

Theol. Cir., I. vii.

Theol. Cir., I. vii.

 225

 225

See The Occult World, pp. 89, 90

Xem The Occult World, tr. 89, 90

 226

 226

Thus the sentence, “Natura Elementorum obtinet revelationem Dei” (Clemens, Stromata, IV. 6), is applicable to both or neither. Consult the Zends, II. 228, and Plutarch De Iside, as compared by Layard, Académie des Inscriptions, 1854, Vol. XV.

Như vậy câu, “Natura Elementorum obtinet revelationem Dei” (Clemens, Stromata, IV. 6), có thể áp dụng cho cả hai, hoặc không cho bên nào. Hãy tham khảo Zends, II. 228, và Plutarch De Iside, như được Layard so sánh, Académie des Inscriptions, 1854, Tập XV.

 227

 227

Exodus xxvi, xxvii.

Xuất Hành xxvi, xxvii.

 228

 228

Antiquities, I. VIII, ch. xxii.

Antiquities, I. VIII, chương xxii.

 229

 229

Chinese Buddhism, p. 216

Chinese Buddhism, tr. 216

 230

 230

“Man” was here substituted for “Dragon.” Compare the Ophite Spirits. The Angels recognized by the Roman Catholic Church, who correspond to these “Faces,” were with the Ophites: Dragon—Raphael; Lion—Michael; Bull, or Ox—Uriel; and Eagle—Gabriel. The four keep company with the four Evangelists, and preface the Gospels.

“Người” ở đây đã được thay cho “Rồng.” Hãy so sánh với các Tinh thần Ophite. Các Thiên thần được Giáo hội Công giáo La Mã thừa nhận, tương ứng với những “Khuôn mặt” này, đối với người Ophite là: Rồng—Raphael; Sư tử—Michael; Bò đực, hay Bò thiến—Uriel; và Đại bàng—Gabriel. Bốn vị này đi cùng với bốn Thánh sử, và mở đầu các sách Phúc Âm.

 231

 231

Ezekiel, i.

Ezekiel, i.

 232

 232

The Jews, save the Kabalists, having no names for East, West, South, and North, expressed the idea by words signifying before, behind, right and left, and very often confounded the terms exoterically, thus making the blinds in the Bible more confused and difficult to interpret. Add to this the fact that out of the forty-seven translators of King James’ Bible “only three understood Hebrew, and of these two died before the Psalms were translated” (Royal Masonic Cyclopædia), and one may easily understand what reliance can be placed on the English version of the Bible. In this work the Douay Roman Catholic version is generally followed.

Người Do Thái, ngoại trừ các nhà Kabbalah, không có danh xưng cho Đông, Tây, Nam và Bắc, nên đã diễn đạt ý tưởng ấy bằng những từ có nghĩa là trước, sau, phải và trái, và rất thường lẫn lộn các thuật ngữ một cách ngoại môn, do đó làm cho các màn che trong Kinh Thánh càng thêm rối rắm và khó giải thích. Thêm vào đó sự kiện rằng trong bốn mươi bảy dịch giả của Kinh Thánh bản Vua James “chỉ có ba người hiểu tiếng Hebrew, và trong số này hai người đã mất trước khi các Thánh Vịnh được dịch” (Royal Masonic Cyclopædia), thì người ta có thể dễ dàng hiểu mức độ đáng tin cậy nào có thể đặt vào bản tiếng Anh của Kinh Thánh. Trong tác phẩm này, bản Công giáo La Mã Douay thường được theo.

 233

 233

The vertical line or the figure 1

Đường thẳng đứng hay hình số 1

 234

 234

Circle.

Vòng tròn.

 235

 235

Also for those who, etc.

Cũng dành cho những ai, v.v.

 236

 236

The Formless World and the World of Forms.

Thế giới Vô Hình Tướng và Thế giới của các Hình Tướng.

 237

 237

Theosophist, Feb., 1877, p. 303

Theosophist, tháng Hai, 1877, tr. 303

 238

 238

These voluntary reincarnations are referred to in our Doctrine as Nirmânakâyas—the surviving spiritual principles of men.

Những lần tái sinh tự nguyện này được nhắc đến trong Giáo lý của chúng ta như là Nirmânakâyas—các nguyên khí tinh thần còn tồn tại của con người.

 239

 239

Sûkshma Sharîra, “dream-like” illusive body, with which are clothed the inferior Dhyânis of the celestial Hierarchy.

Sûkshma Sharîra, thể hư ảo “như mộng”, mà các Dhyâni thấp thuộc Thánh Đoàn thiên giới khoác lấy.

 240

 240

Compare this Esoteric tenet with the Gnostic doctrine found in Pistis-Sophia (Knowledge-Wisdom), in which treatise Sophia (Achamôth) is shown lost in the waters of Chaos (Matter), on her way to the Supreme Light, and Christos delivering and helping her on the right Path. Note well, that “Christos” with the Gnostics meant the Impersonal Principle, the Âtman of the Universe, and the Âtmâ within every man’s soul—and not Jesus; though in the old Coptic MS., in the British Museum, “Christos” is replaced by “Jesus” and other terms.

Hãy so sánh giáo điều Nội môn này với giáo lý Ngộ đạo được thấy trong Pistis-Sophia (Tri Thức-Minh Triết), trong khảo luận ấy Sophia (Achamôth) được trình bày như lạc mất trong các dòng nước của Hỗn Mang (Vật Chất), trên đường đến Ánh Sáng Tối Thượng, và Christos giải thoát cũng như trợ giúp nàng trên chánh đạo. Hãy đặc biệt lưu ý rằng “Christos” đối với các nhà Ngộ đạo có nghĩa là Nguyên khí Phi Ngã, Âtman của Vũ trụ, và Âtmâ trong linh hồn của mỗi con người—chứ không phải Đức Jesus; mặc dù trong bản thảo Coptic cổ, tại Bảo tàng Anh, “Christos” được thay bằng “Jesus” và các thuật ngữ khác.

 241

 241

A Catechism of the Visishthadvaita Philosophy, by N. Bhâshiyacharya, F.T.S., late Pandit of the Adyar Library.

A Catechism of the Visishthadvaita Philosophy, của N. Bhâshiyacharya, F.T.S., cố Pandit của Thư viện Adyar.

 242

 242

Traume eines Geistersehers, quoted by C. C. Massey, in his preface to Von Hartmann’s Spiritismus.

Traume eines Geistersehers, được C. C. Massey trích dẫn trong lời tựa của ông cho Spiritismus của Von Hartmann.

 243

 243

Le Livre des Morts, Paul Pierret, Chap. xvii. p. 61

Le Livre des Morts, Paul Pierret, Chương xvii. tr. 61

 244

 244

See also for other data on this peculiar expression, the Day of “Come To Us,” The Funerary Ritual of the Egyptians, by Viscount de Rougé.

Cũng xem các dữ liệu khác về thành ngữ đặc biệt này, Ngày của “Hãy Đến Với Chúng Ta,” The Funerary Ritual of the Egyptians, của Tử tước de Rougé.

 245

 245

Chaos.

Hỗn Mang.

 246

 246

Our Universe.

Vũ trụ của chúng ta.

 247

 247

The Theosophist, Feb., 1887, p. 305

The Theosophist, tháng Hai, 1887, tr. 305

 248

 248

Op. cit., p. 306

Tác phẩm đã dẫn, tr. 306

 249

 249

Madhya is said of something whose commencement and end are unknown, and Para means infinite. These expressions all relate to infinitude and to division of time.

Madhya được nói về một điều gì mà khởi đầu và kết thúc đều không được biết, còn Para có nghĩa là vô hạn. Tất cả những thành ngữ này đều liên hệ đến tính vô tận và sự phân chia thời gian.

 250

 250

Op. cit., p. 307

Tác phẩm đã dẫn, tr. 307

 251

 251

From the Sanskrit Laya, the point of matter where every differentiation has ceased.

Từ tiếng Sanskrit Laya, điểm của vật chất nơi mọi biến phân đã chấm dứt.

 252

 252

Five Years of Theosophy, Art., “Personal and Impersonal God,” p. 200

Five Years of Theosophy, bài “Thượng đế Hữu ngã và Phi ngã,” tr. 200

 253

 253

Elements.

Các Nguyên tố.

 254

 254

Fraction.

Phân số.

 255

 255

Presidential Address before the Royal Society of Chemists, March, 1888

Diễn văn Chủ tịch trước Hội Hoá học Hoàng gia, tháng Ba, 1888

 256

 256

P. 242

Tr. 242

 257

 257

Worlds.

Các Thế giới.

 258

 258

A period of 311,040,000,000,000 years, according to Brâhmanical calculations.

Một chu kỳ dài 311.040.000.000.000 năm, theo các tính toán Bà-la-môn.

 259

 259

See the Scientific Arena, a monthly journal devoted to current philosophical teaching and its bearing upon the religious thought of the age. New York: A. Wilford Hall, Ph.D., LL.D., Editor, July, August, and September, 1886

Xem Scientific Arena, một tạp chí nguyệt san dành cho giáo huấn triết học đương thời và ảnh hưởng của nó đối với tư tưởng tôn giáo của thời đại. New York: A. Wilford Hall, Ph.D., LL.D., Chủ biên, tháng Bảy, tháng Tám và tháng Chín, 1886

 260

 260

Such, we believe, is the name applied to what he also calls “Etheric Centres,” by J. W. Keely, of Philadelphia, the inventor of the famous “Motor”—destined, as his admirers have hoped, to revolutionize the motor power of the world.

Chúng tôi tin rằng đó là tên gọi do J. W. Keely ở Philadelphia áp dụng cho điều mà ông cũng gọi là “Các Trung tâm Dĩ thái”; ông là người phát minh ra “Động cơ” nổi tiếng—được định sẵn, như những người ái mộ ông từng hy vọng, sẽ cách mạng hóa năng lực động cơ của thế giới.

 261

 261

The moon is dead only so far as regards her inner principles—i.e., psychically and spiritually, however absurd the statement may seem. Physically, she is only as a semi-paralysed body may be. She is aptly referred to in Occultism as the “Insane Mother,” the great sidereal lunatic.

Mặt trăng đã chết chỉ trong chừng mực liên quan đến các nguyên khí bên trong của nó—nghĩa là, về mặt thông linhtinh thần, dù phát biểu ấy có vẻ phi lý đến đâu. Về mặt hồng trần, nó chỉ giống như một thể bán bại liệt. Trong Huyền bí học, nó được gọi rất thích đáng là “Người Mẹ Điên Loạn,” kẻ điên vĩ đại của tinh tú.

 262

 262

Occultists, however, having the most perfect faith in their own exact records, astronomical and mathematical, calculate the age of humanity, and assert that men (as separate sexes) have existed in this Round just 18,618,727 years, as the Brâhmanical teachings and even some Hindû calendars declare.

Tuy nhiên, các nhà huyền bí học, có niềm tin hoàn hảo nhất vào những ghi chép chính xác của chính họ, cả thiên văn lẫn toán học, tính tuổi của nhân loại và khẳng định rằng con người (như các giới tính riêng biệt) đã tồn tại trong cuộc tuần hoàn này đúng 18.618.727 năm, như các giáo huấn Bà-la-môn và thậm chí một số lịch Hindu tuyên bố.

 263

 263

The commentaries on the Stanzas are resumed on p. 213

Các chú giải về những Bài kệ được tiếp tục ở tr. 213

 264

 264

In Esoteric Buddhism and Man: Fragments of Forgotten History.

Trong Esoteric Buddhism và Man: Fragments of Forgotten History.

 265

 265

Many more planets are enumerated in the Secret Books than in modern astronomical works.

Trong các Sách Bí Truyền, nhiều hành tinh hơn nữa được liệt kê so với trong các công trình thiên văn học hiện đại.

 266

 266

p. 48

tr. 48

 267

 267

See, in Esoteric Buddhism, “The Constitution of Man,” and the “Planetary Chain.”

Xem trong Esoteric Buddhism, “Cấu tạo của Con người,” và “Dãy Hành tinh.”

 268

 268

Winchell’s World-Life.

World-Life của Winchell.

 269

 269

P. 113 (5th edition).

Tr. 113 (ấn bản thứ 5).

 270

 270

pp. 185-6

tr. 185-6

 271

 271

Kosha is “sheath” literally, the sheath of every principle.

Kosha theo nghĩa đen là “bao thể,” bao thể của mỗi nguyên khí.

 272

 272

Sthûla-upâdhi, or basis of the principle.

Sthûla-upâdhi, hay nền tảng của nguyên khí.

 273

 273

Life.

Sự Sống.

 274

 274

The Astral Body, or Linga Sharîra.

Thể cảm dục, hay Linga Sharîra.

 275

 275

Buddhi.

Bồ đề.

 276

 276

See Diagram II, p. 195

Xem Sơ đồ II, tr. 195

 277

 277

Extract from the Teacher’s letters on various topics.

Trích từ các thư của Huấn sư về nhiều chủ đề khác nhau.

 278

 278

We are not concerned with the other Globes in this work except incidentally.

Trong tác phẩm này, chúng ta không quan tâm đến các Bầu hành tinh khác, ngoại trừ một cách ngẫu nhiên.

 279

 279

Esoteric Buddhism, p. 136

Esoteric Buddhism, tr. 136

 280

 280

Lucifer, May, 1888

Lucifer, tháng Năm, 1888

 281

 281

Esoteric Buddhism (5th ed.), p. 46

Esoteric Buddhism (ấn bản thứ 5), tr. 46

 282

 282

Op. cit., p. 49

Tác phẩm đã dẫn, tr. 49

 283

 283

Op. cit., p. 140

Tác phẩm đã dẫn, tr. 140

 284

 284

p. 177 supra.

tr. 177 ở trên.

 285

 285

Occultism divides the periods of Rest (Pralaya) into several kinds: there is the Individual Pralaya of each Globe, as humanity and life pass on to the next—seven minor Pralayas in each Round; the Planetary Pralaya, when seven Rounds are completed; the Solar Pralaya, when the whole system is at an end; and finally the Universal Pralaya, Mahâ or Brahmâ Pralaya, at the close of the Age of Brahmâ. These are the chief Pralayas or “destruction periods.” There are many other minor ones, but with these we are not concerned at present.

Huyền bí học chia các thời kỳ Nghỉ ngơi (Giai kỳ qui nguyên) thành nhiều loại: có Giai kỳ qui nguyên Cá nhân của mỗi Bầu hành tinh, khi nhân loại và sự sống chuyển sang bầu kế tiếp—bảy Giai kỳ qui nguyên nhỏ trong mỗi cuộc tuần hoàn; Giai kỳ qui nguyên Hành tinh, khi bảy Cuộc tuần hoàn hoàn tất; Giai kỳ qui nguyên Thái dương, khi toàn bộ hệ thống đi đến kết thúc; và sau cùng là Giai kỳ qui nguyên Vũ trụ, Mahâ hay Brahmâ Pralaya, vào lúc kết thúc Kỷ nguyên của Brahmâ. Đây là các Giai kỳ qui nguyên chính, hay “các thời kỳ hủy diệt.” Có nhiều loại nhỏ khác nữa, nhưng hiện nay chúng ta không bàn đến chúng.

 286

 286

Pp. 48, 49

Tr. 48, 49

 287

 287

Ibid.

Như trên.

 288

 288

“Physical” here means differentiated for cosmical purposes and work; that “physical side,” nevertheless, if objective to the apperception of beings from other planes, is yet quite subjective to us on our plane.

“Hồng trần” ở đây có nghĩa là đã biến phân cho các mục đích và công việc vũ trụ; tuy nhiên, “phương diện hồng trần” ấy, nếu là khách quan đối với sự nhận thức của các hữu thể từ những cõi khác, thì đối với chúng ta trên cõi của mình vẫn hoàn toàn chủ quan.

 289

 289

Pp. 276 et seq.

Tr. 276 và tiếp theo.

 290

 290

Ibid.

Như trên.

 291

 291

See diagram, op. cit., p. 277

Xem sơ đồ, tác phẩm đã dẫn, tr. 277

 292

 292

Op. cit., pp. 273-4

Tác phẩm đã dẫn, tr. 273-4

 293

 293

Op. cit., p. 274-5

Tác phẩm đã dẫn, tr. 274-5

 294

 294

II. 278-9

II. 278-9

 295

 295

P. 48

Tr. 48

 296

 296

The Natures of the seven Hierarchies or Classes of Pitris and Dhyân Chohans which compose our nature and bodies are here meant.

Ở đây muốn nói đến Bản chất của bảy Thánh Đoàn hay Giai cấp Pitris và Dhyani Chohans, vốn cấu thành bản chất và các thể của chúng ta.

 297

 297

Round, or revolution of Life and Being round the seven smaller Wheels.

Cuộc tuần hoàn, hay vòng quay của Sự Sống và Bản Thể quanh bảy Bánh Xe nhỏ hơn.

 298

 298

Thirds.

Các phần ba.

 299

 299

Race.

Nhân loại.

 300

 300

P. 235

Tr. 235

 301

 301

Rev., xii. 7-9

Khải Huyền, xii. 7-9

 302

 302

See Vol. II, Shloka 17

Xem Quyển II, Bài kệ 17

 303

 303

Isis Unveiled, I. 299, 300 Compare also Dunlap, Sôd: the Son of the Man, pp. 51 et seq.

Isis Vén Màn, I. 299, 300. Cũng so sánh Dunlap, Sod: Con của Con Người, tr. 51 và tiếp theo.

 304

 304

On the authority of Irenæus, of Justin Martyr and of the Codex itself, Dunlap shows that the Nazarenes regarded “Spirit” as a female and evil Power, in its connection with our Earth.

Dựa trên thẩm quyền của Irenaeus, Justin Martyr và chính Codex, Dunlap cho thấy rằng người Nazarene xem “Tinh thần” như một Quyền Năng nữ tính và tà ác, trong mối liên hệ của nó với Trái Đất chúng ta.

 305

 305

Fetahil is identical with the host of the Pitris, who “created man” as a “shell” only. He was, with the Nazarenes, the King of Light, and the Creator; but in this instance he is the unlucky Prometheus, who fails to get hold of the Living Fire necessary for the formation of the Divine Soul, as he is ignorant of the secret name, the ineffable or incommunicable name of the Kabalists.

Fetahil đồng nhất với đạo quân Pitris, những vị chỉ “tạo ra con người” như một “lớp vỏ”. Với người Nazarene, y là Vua Ánh Sáng và Đấng Sáng Tạo; nhưng trong trường hợp này, y là Prometheus bất hạnh, thất bại trong việc nắm được Lửa Sống cần thiết cho sự hình thành Linh hồn Thiêng liêng, vì y không biết danh xưng bí mật, danh xưng bất khả ngôn hay bất khả truyền của các nhà Kabbalah.

 306

 306

The spirit of Matter and Concupiscence; Kâma Rûpa minus Manas, Mind.

Tinh thần của Vật chất và Dục vọng; Kama Rupa trừ Manas, Trí Tuệ.

 307

 307

Codex Nazaræus, ii. 233

Codex Nazaraeus, ii. 233

 308

 308

This Mano of the Nazarenes strangely resembles the Hindû Manu, the Heavenly Man of the Rig Veda.

Mano này của người Nazarene giống một cách lạ lùng với Đức Manu của Ấn Độ, Đấng Thiên Nhân của Rig Veda.

 309

 309

“I am the true Vine, and my father is the husbandman.” (John, xv. 1)

“Ta là cây nho thật, và cha ta là người trồng nho.” (John, xv. 1)

 310

 310

With the Gnostics, Christ, as well as Michael who is identical with him in some respects, was the “Chief of the Æons.”

Với các nhà Ngộ đạo, Đức Christ, cũng như Michael vốn đồng nhất với Ngài theo một vài phương diện, là “Thủ Lãnh của các Aeon”.

 311

 311

Codex Nazaræus, i. 135

Codex Nazaraeus, i. 135

 312

 312

See the Cosmogony of Pherecydes.

Xem Vũ trụ khởi nguyên luận của Pherecydes.

 313

 313

I. 301, note.

I. 301, chú thích.

 314

 314

They are found, however, in the Chaldean Book of Numbers.

Tuy nhiên, chúng được tìm thấy trong Sách Số của Chaldea.

 315

 315

Op. cit., II. 183 et seq.

Tác phẩm đã dẫn, II. 183 và tiếp theo.

 316

 316

For the difference between nous, the higher divine Wisdom, and psyche, the lower and terrestrial, see St. James, iii. 15-17

Về sự khác biệt giữa nous, Minh triết thiêng liêng cao siêu, và psyche, thứ thấp hơn và thuộc địa cầu, xem Thánh James, iii. 15-17

 317

 317

Jehovah’s connection with the Moon in the Kabalah is well known to students.

Mối liên hệ của Jehovah với Mặt Trăng trong Kabbalah đã được các đạo sinh biết rõ.

 318

 318

For the Nazarenes, see Isis Unveiled, II. 131 and 132 The true followers of the true Christos were all Nazarenes and Christians, and were the opponents of the later Christians.

Về người Nazarene, xem Isis Vén Màn, II. 131 và 132. Những người theo chân chính của Christos chân chính đều là người Nazarene và Kitô hữu, và là những người chống lại các Kitô hữu về sau.

 319

 319

See the diagram of the Lunar Chain of seven worlds, p. 195, where, as in our own or any other Chain, the upper worlds are spiritual, while the lowest, whether Moon, Earth, or any other planet, is dark with matter.

Xem sơ đồ Dãy Mặt Trăng gồm bảy thế giới, tr. 195, nơi mà, cũng như trong Dãy của chính chúng ta hay bất cứ Dãy nào khác, các thế giới bên trên là tinh thần, trong khi thế giới thấp nhất, dù là Mặt Trăng, Trái Đất hay bất cứ hành tinh nào khác, đều tối tăm vì vật chất.

 320

 320

The whole Kosmos. The reader is reminded that in the Stanzas Kosmos often means only our own Solar System, not the Infinite Universe.

Toàn bộ Kosmos. Độc giả được nhắc rằng trong các Bài kệ, Kosmos thường chỉ có nghĩa là hệ mặt trời của chính chúng ta, chứ không phải Vũ Trụ Vô Hạn.

 321

 321

This is purely astronomical.

Điều này thuần túy thuộc thiên văn học.

 322

 322

For a clearer explanation of the above, see “Saptaparna” in the Index.

Để có lời giải thích rõ hơn về điều trên, xem “Saptaparna” trong Mục lục.

 323

 323

Op. cit., III. 346

Tác phẩm đã dẫn, III. 346

 324

 324

Book of Dzyan.

Sách Dzyan.

 325

 325

See Index, at the words “Evolution,” “Darwin,” “Kapila,” “Battle of Life,” etc.

Xem Mục lục, tại các từ “Tiến hóa”, “Darwin”, “Kapila”, “Cuộc Chiến của Sự Sống”, v.v.

 326

 326

Isis Unveiled, II. 260

Isis Vén Màn, II. 260

 327

 327

Vishnu Purâna.

Vishnu Purana.

 328

 328

Chain.

Dãy.

 329

 329

Earth.

Trái Đất.

 330

 330

Kenealy, Book of God, p. 118

Kenealy, Sách của Thượng đế, tr. 118

 331

 331

Acosta, vi. 14

Acosta, vi. 14

 332

 332

Kenealy, Ibid.

Kenealy, cùng sách.

 333

 333

I, 587-93

I, 587-93

 334

 334

That which was natural in the sight of primitive man, has only now become miracle to us; and that which was to him a miracle, could never be expressed in our language.

Điều vốn là tự nhiên trong mắt con người nguyên thủy, chỉ đến nay mới trở thành phép lạ đối với chúng ta; và điều đối với y là phép lạ thì không bao giờ có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ của chúng ta.

 335

 335

There is no nation in the world in which the feeling of devotion, or of religious mysticism, is more developed and prominent than in the Hindû people. See what Max Müller says of this idiosyncrasy and national feature in his works. This is a direct inheritance from the primitive conscious men of the Third Race.

Không có dân tộc nào trên thế giới mà nơi đó cảm thức sùng tín, hay thần bí học tôn giáo, lại phát triển và nổi bật hơn nơi dân tộc Ấn Độ. Hãy xem Max Muller nói gì về nét cá biệt và đặc tính dân tộc này trong các tác phẩm của ông. Đây là di sản trực tiếp từ những con người có ý thức nguyên thủy của Giống dân Thứ Ba.

 336

 336

Lectures on Heroes.

Các bài giảng về Anh hùng.

 337

 337

Vehicle.

Vận cụ.

 338

 338

Âtman.

Atman.

 339

 339

Âtmâ-Buddhi, Spirit-Soul. This relates to the cosmic principles.

Atma-Buddhi, Tinh thần-Linh hồn. Điều này liên hệ đến các nguyên khí vũ trụ.

 340

 340

Again.

Một lần nữa.

 341

 341

Avalokiteshvara.

Avalokiteshvara.

 342

 342

Builders. The seven creative Rishis, now connected with the constellation of the Great Bear.

Các đấng kiến tạo. Bảy Rishi sáng tạo, nay liên hệ với chòm sao Đại Hùng.

 343

 343

Earth.

Trái Đất.

 344

 344

Rosenroth, Liber Mysterii IV. 1

Rosenroth, Liber Mysterii IV. 1

 345

 345

Genesis i.

Sáng Thế Ký i.

 346

 346

Auszüge aus dem Zohar, pp. 13-15

Trích đoạn từ Zohar, tr. 13-15

 347

 347

See Vishnu Purâna, Book I.

Xem Vishnu Purana, Quyển I.

 348

 348

Ch. lxxxviii.

Ch. lxxxviii.

 349

 349

Ch. lxiv. 29, 30

Ch. lxiv. 29, 30

 350

 350

Ibid., 34, 35

Cùng sách, 34, 35

 351

 351

A World, when called a “higher World,” is not higher by reason of its location, but because it is superior in quality or essence. Yet such a World is generally understood by the profane as “Heaven,” and located above our heads.

Một Thế giới, khi được gọi là “Thế giới cao hơn”, không cao hơn vì vị trí của nó, mà vì nó ưu việt hơn về phẩm tính hay tinh túy. Tuy vậy, người phàm tục thường hiểu một Thế giới như thế là “Thiên đường”, và đặt nó ở phía trên đầu chúng ta.

 352

 352

Of Form, the Sthûla Sharîra, External Body.

Của Hình tướng, Sthula Sharira, Thể Bên Ngoài.

 353

 353

Pearls.

Ngọc trai.

 354

 354

Ἄνθρωπος, a work on Occult Embryology, Book I.

Anthropos, một tác phẩm về Phôi thai học Huyền bí, Quyển I.

 355

 355

Namely, a congenital idiot.

Nghĩa là, một kẻ đần độn bẩm sinh.

 356

 356

John iii, 8

John iii, 8

 357

 357

Ch. cxlviii.

Ch. cxlviii.

 358

 358

Ibid., cxlix. 51

Cùng sách, cxlix. 51

 359

 359

The Seven Souls of Man, p. 2; a Lecture by Gerald Massey.

Bảy Linh Hồn của Con Người, tr. 2; một bài thuyết giảng của Gerald Massey.

 360

 360

De Iside et Osiride, xliii.

De Iside et Osiride, xliii.

 361

 361

Ch. xli.

Ch. xli.

 362

 362

iv. 5

iv. 5

 363

 363

Mariette’s Abydos, plate 51

Abydos của Mariette, bản khắc 51

 364

 364

P. Pierret, Études Égyptologiques.

P. Pierret, Nghiên cứu Ai Cập học.

 365

 365

Ritual, ch. ii.

Nghi thức, ch. ii.

 366

 366

Linked into.

Được liên kết vào.

 367

 367

Op. cit., xvii. 4

Tác phẩm đã dẫn, xvii. 4

 368

 368

Several inimical critics are anxious to prove that no Seven Principles of Man, or Septenary Constitution of our Chain, were taught in our earlier volumes, Isis Unveiled. Though in that work the doctrine could only be hinted at, there are many passages, nevertheless, in which the Septenary Constitution of both Man and the Chain is openly mentioned. Speaking of the Elohim (II. 420), it is said: “They remain over the seventh heaven (or spiritual world), for it is they who, according to the Kabalists, formed in succession the six material worlds, or rather, attempts at worlds, that preceded our own, which, they say, is the seventh.” Our Globe, in the diagram representing the Chain, is, of course, the seventh and lowest; though, as the evolution on these Globes is cyclic, it is the fourth, on the descending arc of matter. And again (II. 367) it is written: “In the Egyptian notions, as in those of all other faiths founded on philosophy, man was not merely… a union of soul and body; he was a trinity, when spirit was added to it. Besides, that doctrine made him consist of… body,… astral form, or shadow,… animal soul,… the higher soul, and… terrestrial intelligence… [and] a sixth principle, etc., etc.”—the seventh—Spirit. So clearly are these principles mentioned, that even in the Index (II. 683), one finds “Six Principles of Man,” the seventh being, in strict truth, the synthesis of the six, and not a principle but a ray of the Absolute All.

Một số nhà phê bình thù nghịch nóng lòng chứng minh rằng không có Bảy Nguyên Khí của Con Người, hay Cấu tạo Thất phân của Dãy chúng ta, được giảng dạy trong các quyển trước đây của chúng tôi, Isis Vén Màn. Dù trong tác phẩm đó giáo lý này chỉ có thể được gợi ý, tuy nhiên vẫn có nhiều đoạn trong đó Cấu tạo Thất phân của cả Con Người lẫn Dãy được nêu rõ ràng. Khi nói về Elohim (II. 420), có câu: “Các Ngài ở lại trên tầng trời thứ bảy (hay thế giới tinh thần), vì chính Các Ngài, theo các nhà Kabbalah, đã lần lượt tạo thành sáu thế giới vật chất, hay đúng hơn, những thử nghiệm về thế giới, vốn đi trước thế giới của chúng ta, mà họ nói là thế giới thứ bảy.” Bầu hành tinh của chúng ta, trong sơ đồ biểu thị Dãy, dĩ nhiên là bầu thứ bảy và thấp nhất; tuy nhiên, vì sự tiến hóa trên các Bầu hành tinh này có tính chu kỳ, nên nó là bầu thứ tư, trên cung đi xuống của vật chất. Và một lần nữa (II. 367), có viết: “Trong các quan niệm Ai Cập, cũng như trong quan niệm của mọi tín ngưỡng khác đặt nền trên triết học, con người không đơn thuần là… một sự kết hợp giữa linh hồn và thể xác; y là một tam vị, khi tinh thần được thêm vào đó. Ngoài ra, giáo lý ấy khiến y gồm có… thể xác,… hình tướng cảm dục, hay bóng,… linh hồn động vật,… linh hồn cao hơn, và… trí năng thuộc địa cầu… [và] một nguyên khí thứ sáu, v.v., v.v.” — nguyên khí thứ bảy — Tinh thần. Những nguyên khí này được nêu rõ đến mức ngay cả trong Mục lục (II. 683), người ta cũng thấy “Sáu Nguyên Khí của Con Người”, nguyên khí thứ bảy, theo đúng sự thật nghiêm ngặt, là tổng hợp của sáu nguyên khí, và không phải là một nguyên khí mà là một tia của Toàn Thể Tuyệt Đối.

 369

 369

See Diagram III, p. 221

Xem Sơ đồ III, tr. 221

 370

 370

pp. 340-351, “Genesis of the Soul.”

tr. 340-351, “Sự phát sinh của Linh hồn”.

 371

 371

De Mysteriis, ii. 3

De Mysteriis, ii. 3

 372

 372

Asiatic Researches, xi. 99, 100

Asiatic Researches, xi. 99, 100

 373

 373

Ch. xxxii. 9

Ch. xxxii. 9

 374

 374

Their Upper Triad.

Tam nguyên tinh thần Thượng của họ.

 375

 375

Bhûmi or Prithivî.

Bhumi hay Prithivi.

 376

 376

Book of the Dead, i. 7 Compare also Mysteries of Rostan.

Sách của Người Chết, i. 7. Cũng so sánh Mysteries of Rostan.

 377

 377

Kingdom.

Giới.

 378

 378

Kingdom.

Giới.

 379

 379

The first Shadow of the Physical Man.

Cái Bóng đầu tiên của Con Người Hồng Trần.

 380

 380

Man.

Con người.

 381

 381

The Moon.

Mặt Trăng.

 382

 382

See Mantuan Codex.

Xem Mantuan Codex.

 383

 383

The formation of the “Living Soul,” or Man, would render the idea more clearly. A “Living Soul” is a synonym of Man in the Bible. These are our seven “Principles.”

Sự hình thành “Linh Hồn Sống”, hay Con Người, sẽ làm cho ý tưởng ấy rõ ràng hơn. “Linh Hồn Sống” là một từ đồng nghĩa với Con Người trong Kinh Thánh. Đây là bảy “Nguyên Khí” của chúng ta.

 384

 384

Ha Idra Zuta Kadisha, xxii. 746

Ha Idra Zuta Kadisha, xxii. 746

 385

 385

xviii. 12

xviii. 12

 386

 386

Hebrews, iv.

Hebrews, iv.

 387

 387

Cruden, sub voce.

Cruden, dưới mục từ.

 388

 388

Book of Numbers, 1 viii. 3

Sách Số, 1 viii. 3

 389

 389

p. 389

tr. 389

 390

 390

Plate VII. p. 37

Bảng VII, tr. 37

 391

 391

Esotericism teaches the same. But Manas is not Nephesh; nor is the latter the Astral, but the Fourth Principle, and also the Second, Prâna, for Nephesh is the “Breath of Life” in man, as in beast or insect; of physical, material life, which has no spirituality in it.

Huyền bí học cũng dạy như vậy. Nhưng Manas không phải là Nephesh; và Nephesh cũng không phải là cõi cảm dục, mà là Nguyên khí thứ tư, và cũng là nguyên khí thứ hai, Prâna, vì Nephesh là “Hơi Thở của Sự Sống” trong con người, cũng như trong thú vật hay côn trùng; đó là sự sống hồng trần, vật chất, không có tinh thần trong đó.

 392

 392

Éliphas Lévi, whether purposely or otherwise, has confused the numbers: with us his No. 2 is No. 1 (Spirit); and by making of Nephesh both the Plastic Mediator and Life, he thus makes in reality only six principles, because he repeats the first two.

Éliphas Lévi, dù cố ý hay không, đã làm lẫn lộn các con số: đối với chúng ta, số 2 của ông là số 1, tức Tinh thần; và khi biến Nephesh thành cả Trung Gian Tạo Hình lẫn Sự Sống, thực ra ông chỉ lập thành sáu nguyên khí, vì ông lặp lại hai nguyên khí đầu.

 393

 393

Zohar, “Idra Suta,” Book iii., p. 292b.

Zohar, “Idra Suta,” Quyển iii., tr. 292b.

 394

 394

1 302

1 302

 395

 395

Read, in Isis Unveiled (ii. 297-303), the doctrine of the Codex Nazaræus. Every tenet of our teaching is found there under a different form and allegory.

Hãy đọc, trong Isis Unveiled (ii. 297-303), giáo lý của Codex Nazaræus. Mọi tín điều trong giáo huấn của chúng ta đều có ở đó dưới một hình thức và ẩn dụ khác.

 396

 396

Manu, Bk. I.

Manu, Quyển I.

 397

 397

The word “Sin” is curious, but has a particular Occult relation to the Moon, besides being its Chaldean equivalent.

Từ “Sin” thật kỳ lạ, nhưng có một liên hệ Huyền bí đặc biệt với Mặt Trăng, ngoài việc nó là từ tương đương trong tiếng Chaldea.

 398

 398

Professor Zöllner’s theory has been more than welcomed by several Scientists, who are also Spiritualists; Professors Butlerof and Wagner, of St. Petersburg, for instance.

Lý thuyết của Giáo sư Zöllner đã được nhiều Nhà khoa học, đồng thời cũng là các nhà thần linh học, hết sức hoan nghênh; chẳng hạn như các Giáo sư Butlerof và Wagner ở St. Petersburg.

 399

 399

“The giving reality to abstractions is the error of Realism. Space and Time are frequently viewed as separated from all the concrete experiences of the mind, instead of being generalizations of these in certain aspects.” (Bain, Logic, Part II. p. 389)

“Việc gán thực tại cho các khái niệm trừu tượng là sai lầm của Chủ nghĩa hiện thực. Không gian và Thời gian thường được xem như tách rời khỏi mọi kinh nghiệm cụ thể của thể trí, thay vì được xem là những khái quát hóa từ các kinh nghiệm ấy theo một vài phương diện.” (Bain, Logic, Phần II. tr. 389)

 400

 400

The Mysteries of Magic, by A. E. Waite.

The Mysteries of Magic, của A. E. Waite.

 401

 401

Wilson, I. 23, 24

Wilson, I. 23, 24

 402

 402

Five Years of Theosophy, p. 169

Five Years of Theosophy, tr. 169

 403

 403

In the Sânkhya philosophy, the seven Prakritis, or “productive productions,” are Mahat, Ahamkâra, and the five Tanmâtras. See Sânkhya Kârikâ, III., and the Commentary thereon.

Trong triết học Sânkhya, bảy Prakriti, hay “những sản phẩm sản sinh,” là Mahat, Ahamkâra, và năm Tanmâtra. Xem Sânkhya Kârikâ, III., và phần Bình luận về đoạn ấy.

 404

 404

See Linga Purâna, Prior Section, lxx. 12 et seq.; and Vâyu Purâna, ch. iv., but especially the former Purâna—Prior Section, viii. 67-74

Xem Linga Purâna, Phần Trước, lxx. 12 và tiếp theo; và Vâyu Purâna, chương iv., nhưng đặc biệt là Purâna trước — Phần Trước, viii. 67-74

 405

 405

Vishnu Purâna, Book vi., ch. iv. No use to say so to the Hindûs, who know their Purânas by heart, but very useful to remind our Orientalists and those Westerns who regard Wilson’s translations as authoritative, that, in his English translation of the Vishnu Purâna, he is guilty of the most ludicrous contradictions and errors. So on this identical subject of the seven Prakritis, or the seven zones of Brahmâ’s Egg, the two accounts differ totally. In Vol. i. p. 40, the Egg is said to be externally invested by seven envelopes. Wilson comments: “by Water, Air, Fire, Ether, and Ahamkâra”—which last word does not exist in the Sanskrit texts. And in Vol. v. p. 198, of the same Purâna, it is written: “in this manner were the seven forms of nature (Prakriti) reckoned from Mahat to Earth” (?). Between Mahat, or Mahâ-Buddhi, and “Water, etc.”, the difference is very considerable.

Vishnu Purâna, Quyển vi., chương iv. Không cần nói điều này với người Hindû, những người thuộc lòng các Purâna của họ, nhưng rất hữu ích khi nhắc các nhà Đông phương học của chúng ta và những người phương Tây xem các bản dịch của Wilson là có thẩm quyền rằng, trong bản dịch tiếng Anh của ông về Vishnu Purâna, ông mắc những mâu thuẫn và sai lầm hết sức buồn cười. Như vậy, về chính đề tài bảy Prakriti, hay bảy vùng của Trứng Brahmâ, hai tường thuật hoàn toàn khác nhau. Trong Tập i. tr. 40, Trứng được nói là được bao bọc bên ngoài bởi bảy lớp vỏ. Wilson chú thích: “bởi Nước, Khí, Lửa, Dĩ thái, và Ahamkâra” — trong đó từ cuối cùng không có trong các văn bản Sanskrit. Và trong Tập v. tr. 198, của cùng Purâna ấy, có viết: “theo cách này, bảy hình thức của bản chất (Prakriti) được kể từ Mahat đến Đất” (?). Giữa Mahat, hay Mahâ-Buddhi, và “Nước, v.v.,” có một khác biệt rất lớn.

 406

 406

According to the great metaphysician Hegel also. For him Nature was a perpetual becoming. A purely Esoteric conception. Creation or Origin, in the Christian sense of the term, is absolutely unthinkable. As the above-quoted thinker said: “God (the Universal Spirit) objectivizes himself as Nature, and again rises out of it.”

Theo cả nhà siêu hình học vĩ đại Hegel cũng vậy. Đối với ông, Thiên nhiên là một sự đang trở thành không ngừng. Đó là một quan niệm thuần túy Nội môn. Sáng tạo hay Khởi nguyên, theo nghĩa Kitô giáo của thuật ngữ này, là điều tuyệt đối không thể nghĩ bàn. Như nhà tư tưởng được trích dẫn ở trên đã nói: “Thượng đế, tức Tinh thần Vũ trụ, khách thể hóa chính mình thành Thiên nhiên, rồi lại vươn lên khỏi nó.”

 407

 407

Book of Dzyan, Comm. III, par. 18

Book of Dzyan, Bình luận III, đoạn 18

 408

 408

P. 19

Tr. 19

 409

 409

Primitive, or First Man.

Con Người Nguyên thủy, hay Con Người Đầu tiên.

 410

 410

Reincarnation.

Tái sinh.

 411

 411

Vehicle.

Vận cụ.

 412

 412

See, for example, Sacred Mysteries among the Mayas and the Quichés, by Augustus le Plongeon, who shows the identity between the Egyptian rites and beliefs and those of the people he describes. The ancient hieratic alphabets of the Mayas and the Egyptians are almost identical.

Xem, chẳng hạn, Sacred Mysteries among the Mayas and the Quichés, của Augustus le Plongeon, người cho thấy sự đồng nhất giữa các nghi lễ và tín ngưỡng Ai Cập với các nghi lễ và tín ngưỡng của dân tộc mà ông mô tả. Các mẫu tự tư tế cổ của người Maya và người Ai Cập gần như đồng nhất.

 413

 413

In The Theosophist, 1881

Trong The Theosophist, 1881

 414

 414

T. Subba Row, Five Years of Theosophy, p. 154

T. Subba Row, Five Years of Theosophy, tr. 154

 415

 415

Also called the “Sons of Wisdom” and of the “Fire-Mist,” and the “Brothers of the Sun,” in the Chinese records. Si-dzang (Tibet) is mentioned, in the MSS. of the sacred library of the province of Fo-Kien, as the great seat of Occult learning from time immemorial, ages before Buddha. The Emperor Yu, the “Great” (2,207 b.c.), a pious Mystic and great Adept, is said to have obtained his Knowledge from the “Great Teachers of the Snowy Range” in Si-dzang.

Trong các ghi chép Trung Hoa, các Ngài cũng được gọi là “Các Con của Minh triết” và của “Sương Mù Lửa,” và “Các Huynh đệ của Mặt Trời.” Si-dzang, tức Tây Tạng, được nhắc đến trong các bản thảo của thư viện thiêng liêng thuộc tỉnh Fo-Kien như là trung tâm vĩ đại của tri thức Huyền bí từ thời xa xưa, nhiều thời đại trước Đức Phật. Hoàng đế Yu, vị “Đại Đế” (2.207 trước Công nguyên), một nhà Thần bí mộ đạo và chân sư vĩ đại, được nói là đã nhận được Tri thức của ông từ “Các Huấn sư Vĩ Đại của Dãy Núi Tuyết” tại Si-dzang.

 416

 416

Matt. vi. 5, 6

Ma-thi-ơ vi. 5, 6

 417

 417

The Virgin of the World, pp. 134-5

The Virgin of the World, tr. 134-5

 418

 418

Paracelsus, Franz Hartmann, M.D., p. 44

Paracelsus, Franz Hartmann, M.D., tr. 44

 419

 419

This word is explained by Dr. Hartmann, from the original texts of Paracelsus before him, as follows. According to this great Rosicrucian; “Mysterium is everything out of which something may be developed, which is only germinally contained in it. A seed is the ‘Mysterium’ of a plant, an egg that of a living bird, etc.”

Từ này được Tiến sĩ Hartmann, dựa trên các văn bản nguyên thủy của Paracelsus trước ông, giải thích như sau. Theo nhà Hoa Hồng Thập Tự vĩ đại này: “Mysterium là mọi thứ từ đó một điều gì đó có thể được phát triển, điều vốn chỉ chứa đựng trong nó dưới dạng mầm. Một hạt giống là ‘Mysterium’ của một cây, một quả trứng là Mysterium của một con chim sống, v.v.”

 420

 420

Op. cit., pp. 41, 42

Tác phẩm đã dẫn, tr. 41, 42

 421

 421

It is only the mediæval Kabalists who, following the Jewish and one or two Neo-Platonists, applied the term Microcosm to man. Ancient philosophy called the Earth the Microcosm of the Macrocosm, and man the outcome of the two.

Chỉ các nhà Kabbalah thời trung cổ, theo sau người Do Thái và một hoặc hai nhà Tân Platon, mới áp dụng thuật ngữ Tiểu thiên địa cho con người. Triết học cổ đại gọi Trái Đất là Tiểu thiên địa của Đại thiên địa, và con người là kết quả của cả hai.

 422

 422

“This doctrine, preached 300 years ago,” remarks the translator, “is identical with the one that has revolutionized modern thought, after having been put into new shape and elaborated by Darwin. It is still more elaborated by Kapila in the Sânkhya philosophy.”

“Giáo lý này, được thuyết giảng 300 năm trước,” dịch giả nhận xét, “đồng nhất với giáo lý đã cách mạng hóa tư tưởng hiện đại, sau khi được Darwin đặt vào hình thức mới và khai triển. Nó còn được Kapila khai triển hơn nữa trong triết học Sânkhya.”

 423

 423

The Eastern Occultist says that they are guided and informed by Spiritual Beings, the Workmen in the invisible Worlds, and behind the veil of Occult Nature, or Nature in abscondito.

Nhà huyền bí học Đông phương nói rằng họ được các Hữu Thể Tinh thần, những Người Thợ trong các Thế giới vô hình, hướng dẫn và thấm nhuần; các Ngài ở sau bức màn của Thiên nhiên Huyền bí, hay Thiên nhiên trong trạng thái ẩn kín.

 424

 424

Wilson, I. ii., (Vol. I. 35).

Wilson, I. ii., (Tập I. 35).

 425

 425

A frequent expression in the said “Fragments,” to which we take exception. The Universal Mind is not a Being or “God.”

Một cách diễn đạt thường gặp trong các “Mảnh đoạn” nói trên, mà chúng tôi phản đối. Vũ Trụ Trí không phải là một Hữu Thể hay “Thượng đế.”

 426

 426

The Virgin of the World, p. 47 “Asclepios,” Pt. I.

The Virgin of the World, tr. 47 “Asclepios,” Phần I.

 427

 427

Divine Pymander, ix. 64

Divine Pymander, ix. 64

 428

 428

The Virgin of the World, p. 153

The Virgin of the World, tr. 153

 429

 429

Op. cit., pp. 139, 140 Fragments from the “Physical Eclogues” and “Florilegium” of Stobæus.

Tác phẩm đã dẫn, tr. 139, 140 Các mảnh đoạn từ “Physical Eclogues” và “Florilegium” của Stobæus.

 430

 430

Vishnu Purâna, I. ii, Wilson, I. 13-15

Vishnu Purâna, I. ii, Wilson, I. 13-15

 431

 431

Op. cit., pp. 135-138

Tác phẩm đã dẫn, tr. 135-138

 432

 432

This teaching does not refer to Prakriti-Purusha beyond the boundaries of our small universe.

Giáo huấn này không đề cập đến Prakriti-Purusha vượt ngoài ranh giới vũ trụ nhỏ bé của chúng ta.

 433

 433

The ultimate quiescent state; the Nirvânic condition of the Seventh Principle.

Trạng thái tĩnh lặng tối hậu; tình trạng Niết Bàn của Nguyên khí thứ bảy.

 434

 434

The teaching is all given from our plane of consciousness.

Toàn bộ giáo huấn được trình bày từ cõi tâm thức của chúng ta.

 435

 435

Or the “dream of Science,” the primeval really homogeneous matter, which no mortal can make objective in this Race, or Round either.

Hay “giấc mơ của Khoa học,” vật chất nguyên sơ thật sự đồng nhất, mà không một phàm nhân nào có thể làm cho trở thành khách quan trong Nhân loại này, hay cả trong cuộc tuần hoàn này.

 436

 436

“Vishnu, in the form of his active energy, neither ever rises nor sets, and is at once, the seven-fold sun and distinct from it,” says Vishnu Purâna, II. xi., (Wilson, II. 296).

“Vishnu, trong hình thức năng lượng hoạt động của Ngài, không bao giờ mọc cũng không bao giờ lặn, và vừa là mặt trời thất phân vừa khác biệt với nó,” Vishnu Purâna, II. xi., nói như vậy (Wilson, II. 296).

 437

 437

“In the same manner as a man approaching a mirror placed upon a stand, beholds in it his own image, so the energy (or reflection) of Vishnu [the Sun] is never disjoined but remains… in the Sun (as in a mirror), that is there stationed.” (Ibid., loc. cit.)

“Cũng như một người tiến đến gần một tấm gương đặt trên giá và nhìn thấy trong đó hình ảnh của chính mình, năng lượng, hay phản ảnh, của Vishnu [Mặt Trời] cũng không bao giờ bị tách rời mà vẫn còn… trong Mặt Trời, như trong một tấm gương, tức là được an vị ở đó.” (Cùng nguồn, chỗ đã dẫn.)

 438

 438

Compare the Hermetic “Nature” “going down cyclically into matter when she meets the ‘Heavenly Man’.”

Hãy so sánh với “Thiên nhiên” theo Hermetic, “đi xuống theo chu kỳ vào vật chất khi nàng gặp ‘Đấng Thiên Nhân’.”

 439

 439

The writers of the above knew perfectly well the physical cause of the tides, of the waves, etc. It is the informing Spirit of the whole cosmic solar body that is meant here, and which is referred to whenever such expressions are used from the mystic point of view.

Các tác giả của đoạn trên hoàn toàn biết rõ nguyên nhân hồng trần của thủy triều, của sóng, v.v. Điều được nói đến ở đây là Tinh thần thấm nhuần toàn bộ thân thể thái dương vũ trụ, và chính điều ấy được ám chỉ mỗi khi những cách diễn đạt như vậy được dùng theo quan điểm thần bí.

 440

 440

Five Years of Theosophy, pp. 110, 111, art., “The Twelve Signs of the Zodiac.”

Five Years of Theosophy, tr. 110, 111, bài “Mười Hai Dấu hiệu Hoàng đạo.”

 441

 441

See Stanzas III and IV, and the Commentaries thereupon, and especially compare the comments on Stanza IV, concerning the Lipika and the four Mahârâjahs, the agents of Karma.

Xem các Bài kệ III và IV, cùng các Bình luận về chúng, và đặc biệt hãy so sánh các chú giải về Bài kệ IV, liên quan đến Lipika và bốn Mahârâjah, các tác nhân của nghiệp quả.

 442

 442

And “Gods” or Dhyânis, too, not only the Genii or “guided Forces.”

Và cả “Các Thượng đế” hay Dhyâni nữa, chứ không chỉ các Thiên tài hay “các Mãnh lực được hướng dẫn.”

 443

 443

The meaning of this is that as man is composed of all the Great Elements—Fire, Air, Water, Earth and Ether—the Elementals which respectively belong to these Elements feel attracted to man by reason of their coessence. That Element which predominates in a certain constitution will be the ruling Element throughout life. For instance, if man has a preponderance of the earthly, gnomic Element, the Gnomes will lead him towards assimilating metals—money and wealth, and so on. “Animal man is the son of the animal elements out of which his Soul [life] was born, and animals are the mirrors of man,” says Paracelsus. (De Fundamento Sapientiæ.) Paracelsus was cautious, and wanted the Bible to agree with what he said, and therefore did not say all.

Ý nghĩa của điều này là: vì con người được cấu thành bởi tất cả các Nguyên tố Vĩ Đại — Lửa, Khí, Nước, Đất và Dĩ thái — nên các hành khí lần lượt thuộc về các Nguyên tố ấy cảm thấy bị thu hút về phía con người do sự đồng bản chất của chúng. Nguyên tố nào chiếm ưu thế trong một thể trạng nhất định sẽ là Nguyên tố cai quản suốt đời. Chẳng hạn, nếu con người có sự trội vượt của Nguyên tố đất, thuộc loại gnome, thì các Gnome sẽ dẫn y đến việc đồng hóa kim loại — tiền bạc và của cải, v.v. “Người thú là con của các nguyên tố thú tính từ đó Linh hồn [sự sống] của y được sinh ra, và các loài vật là những tấm gương của con người,” Paracelsus nói như vậy. (De Fundamento Sapientiæ.) Paracelsus thận trọng, và muốn Kinh Thánh phù hợp với điều ông nói, nên vì thế ông đã không nói hết.

 444

 444

Cyclic progress in development.

Sự tiến bộ theo chu kỳ trong phát triển.

 445

 445

The God in man and often the incarnation of a God, a highly Spiritual Dhyân Chohan in him, besides the presence of his own Seventh Principle.

Thượng đế trong con người, và thường là sự nhập thể của một Thượng đế, một Dhyân Chohan có tinh thần rất cao trong y, ngoài sự hiện diện của Nguyên khí thứ bảy riêng của y.

 446

 446

Now, what “God” is meant here? Not God the “Father,” the anthropomorphic fiction; for that God is the Elohim collectively, and has no being apart from the Host. Besides, such a God is finite and imperfect. It is the high Initiates and Adepts who are meant here by the “few in number.” And it is precisely such men who believe in “Gods”, and know no “God” but one Universal unrelated and unconditioned Deity.

Vậy, “Thượng đế” nào được nói đến ở đây? Không phải Thượng đế “Cha,” hư cấu nhân hình; vì Thượng đế ấy là tập thể Elohim, và không có hiện hữu nào tách rời khỏi Đạo quân. Hơn nữa, một Thượng đế như thế là hữu hạn và bất toàn. Chính các Điểm đạo đồ cao cấp và các Chân sư mới là những người được nói đến ở đây bằng cụm “ít về số lượng.” Và chính những người như thế tin vào “Các Thượng đế,” và không biết đến “Thượng đế” nào ngoài một Thượng đế Vũ trụ duy nhất, vô liên hệ và vô điều kiện.

 447

 447

The Virgin of the World, pp. 104-5, “The Definitions of Asclepios.”

The Virgin of the World, tr. 104-5, “Các Định nghĩa của Asclepios.”

 448

 448

P. 120

Tr. 120

 449

 449

National Reformer, January 9th, 1887 Article “Phreno-Kosmo-Biology,” by Dr. Lewins.

National Reformer, ngày 9 tháng Giêng, 1887, bài “Phreno-Kosmo-Biology,” của Tiến sĩ Lewins.

 450

 450

This is Cyclic law; but this law itself is often defied by human stubbornness.

Đây là Định luật chu kỳ; nhưng chính định luật này thường bị sự cố chấp của con người thách thức.

 451

 451

Vol. I. p. 256

Tập I. tr. 256

 452

 452

Sepher Jetzirah.

Sepher Jetzirah.

Leave a Comment

Scroll to Top