Proem: Pages From A Pre-Historic Record.
|
An archaic Manuscript—a collection of palm leaves made impermeable to water, fire, and air, by some specific and unknown process—is before the writer’s eye. On the first page is an immaculate white disk within a dull black ground. On the following page, the same disk, but with a central point. The first, the student knows, represents Kosmos in Eternity, before the reawakening of still slumbering Energy, the Emanation of the World in later systems. The point in the hitherto immaculate disk, Space and Eternity in Pralaya, denotes the dawn of differentiation. It is the Point in the Mundane Egg, the Germ within it which will become the Universe, the All, the boundless, periodical Kosmos—a Germ which is latent and active, periodically and by turns. The one circle is divine Unity, from which all proceeds, whither all returns: its circumference—a forcibly limited symbol, in view of the limitation of the human mind—indicates the abstract, ever incognizable Presence, and its plane, the Universal Soul, although the two are one. Only, the face of the disk being white, and the surrounding ground black, clearly shows that its plane is the sole knowledge, dim and hazy though it still is, that is attainable by man. It is on this plane that the manvantaric manifestations begin; for it is in this Soul, that slumbers, during the Pralaya, the Divine Thought, 27 wherein lies concealed the plan of every future cosmogony and theogony. |
Một Thủ Bản cổ xưa—một tập lá cọ được làm cho không thấm nước, lửa và khí, bằng một tiến trình đặc biệt nào đó chưa được biết—đang ở trước mắt người viết. Trên trang đầu là một đĩa trắng tinh khôi nằm trong một nền đen mờ đục. Trên trang kế tiếp, cũng đĩa ấy, nhưng có một điểm ở trung tâm. Cái thứ nhất, đạo sinh biết, tượng trưng cho Vũ Trụ trong Vĩnh Cửu, trước khi Năng Lượng còn đang ngủ say thức dậy lại, tức Xuất lộ của Thế Giới trong các hệ thống về sau. Điểm trong đĩa vốn cho đến lúc ấy vẫn tinh khôi, Không Gian và Vĩnh Cửu trong Giai kỳ qui nguyên, biểu thị buổi bình minh của sự biến phân. Đó là Điểm trong Trứng Thế Gian, là Mầm bên trong nó sẽ trở thành Vũ Trụ, Toàn Thể, Vũ Trụ vô biên, có chu kỳ—một Mầm vừa tiềm tàng vừa hoạt động, theo chu kỳ và luân phiên. Vòng tròn duy nhất là Hợp Nhất thiêng liêng, từ đó mọi sự phát sinh, và về đó mọi sự trở về: chu vi của nó—một biểu tượng bị giới hạn một cách cưỡng bức, xét theo sự giới hạn của thể trí con người—chỉ Sự Hiện Diện trừu tượng, mãi mãi bất khả tri, và cõi của nó, Linh Hồn Vũ Trụ, dù cả hai là một. Chỉ có điều, mặt đĩa trắng và nền bao quanh đen cho thấy rõ rằng cõi của nó là tri thức duy nhất, dù vẫn còn mờ nhạt và lờ mờ, mà con người có thể đạt tới. Chính trên cõi này các biểu hiện thuộc Giai kỳ sinh hóa bắt đầu; vì chính trong Linh Hồn này, trong suốt Giai kỳ qui nguyên, Tư Tưởng Thiêng Liêng ngủ yên, 27 trong đó ẩn giấu Thiên Cơ của mọi vũ trụ khởi nguyên và thần hệ khởi nguyên tương lai. |
|
It is the One Life, eternal, invisible, yet omnipresent, without beginning or end, yet periodical in its regular manifestations—between which periods reigns the dark mystery of Non-Being; unconscious, yet absolute Consciousness, unrealizable, yet the one self-existing Reality; truly, “a Chaos to the sense, a Kosmos to the reason.” Its one absolute attribute, which is Itself, eternal, ceaseless Motion, is called in esoteric parlance the Great Breath, 28 which is the perpetual motion of the Universe, in the sense of limitless, ever-present Space. That which is motionless cannot be Divine. But then there is nothing in fact and reality absolutely motionless within the Universal Soul. |
Đó là Sự Sống Duy Nhất, vĩnh cửu, vô hình, nhưng hiện diện khắp nơi, không khởi đầu cũng không kết thúc, nhưng có chu kỳ trong các biểu hiện đều đặn của nó—giữa các chu kỳ ấy ngự trị huyền nhiệm tối tăm của Phi-Hữu; vô thức, nhưng là Tâm Thức tuyệt đối; không thể chứng nghiệm, nhưng là Thực Tại tự tồn duy nhất; quả thật là “một Hỗn Mang đối với giác quan, một Vũ Trụ đối với lý trí.” Thuộc tính tuyệt đối duy nhất của nó, vốn chính là Nó, Chuyển Động vĩnh cửu, không ngừng, được gọi trong ngôn ngữ huyền bí là Hơi Thở Vĩ Đại, 28 tức chuyển động thường hằng của Vũ Trụ, theo nghĩa Không Gian vô hạn, luôn hiện diện. Cái gì bất động thì không thể là thiêng liêng. Nhưng trong thực tế và chân thực, không có gì tuyệt đối bất động bên trong Linh Hồn Vũ Trụ. |
|
Almost five centuries b.c. Leucippus, the instructor of Democritus, maintained that Space was eternally filled with atoms actuated by a ceaseless motion, which, in due course of time, as they aggregated, generated rotatory motion, through mutual collisions producing lateral movements. Epicurus and Lucretius taught the same doctrine, adding however to the lateral motion of the atoms the idea of affinity—an Occult teaching. |
Gần năm thế kỷ trước Công nguyên, Leucippus, thầy của Democritus, chủ trương rằng Không Gian được lấp đầy vĩnh viễn bởi các nguyên tử được thúc đẩy bởi một chuyển động không ngừng; theo dòng thời gian thích hợp, khi chúng tụ hợp lại, chúng sinh ra chuyển động quay, và qua các va chạm lẫn nhau tạo nên những chuyển động bên. Epicurus và Lucretius cũng dạy cùng giáo lý ấy, tuy thêm vào chuyển động bên của các nguyên tử ý tưởng về ái lực—một giáo huấn Huyền bí. |
|
From the beginning of man’s inheritance, from the first appearance of the architects of the globe he lives on, the unrevealed Deity was recognized and considered under its only philosophical aspect—Universal Motion, the thrill of the creative Breath in Nature. Occultism sums up the One Existence thus: “Deity is an arcane, living [or moving] Fire, and the eternal witnesses to this unseen Presence, are Light, Heat, Moisture,”—this trinity including, and being the cause of, every phenomenon in Nature. 29 Intra-cosmic motion is eternal and ceaseless; cosmic motion—the visible, or that which is subject to perception—is finite and periodical. As an eternal abstraction it is the Ever-Present; as a manifestation, it is finite both in the coming direction and the opposite, the two being the Alpha and Omega of successive reconstructions. Kosmos—the Noumenon—has nought to do with the causal relations of the phenomenal World. It is only with reference to the intra-cosmic Soul, the ideal Kosmos in the immutable Divine Thought, that we may say: “It never had a beginning nor will it have an end.” With regard to its body or cosmic organization, though it cannot be said that it had a first, or will ever have a last construction, yet at each new Manvantara, its organization may be regarded as the first and the last of its kind, as it evolves every time on a higher plane. |
Từ buổi đầu của di sản con người, từ lần xuất hiện đầu tiên của các kiến trúc sư của bầu hành tinh mà y sống trên đó, Thượng đế chưa được mặc khải đã được nhận biết và xem xét dưới phương diện triết học duy nhất của nó—Chuyển Động Vũ Trụ, sự rung động của Hơi Thở sáng tạo trong Thiên Nhiên. Huyền bí học tóm lược Hiện Tồn Duy Nhất như sau: “Thượng đế là một Lửa huyền nhiệm, sống động hay chuyển động, và các chứng nhân vĩnh cửu của Sự Hiện Diện vô hình này là Ánh Sáng, Nhiệt, Độ Ẩm”—bộ ba này bao gồm, và là nguyên nhân của, mọi hiện tượng trong Thiên Nhiên. 29 Chuyển động nội-vũ trụ là vĩnh cửu và không ngừng; chuyển động vũ trụ—cái hữu hình, hay cái chịu sự nhận thức—là hữu hạn và có chu kỳ. Như một trừu tượng vĩnh cửu, nó là Cái Luôn Hiện Diện; như một biểu hiện, nó hữu hạn cả theo chiều đến và chiều ngược lại, hai chiều ấy là Alpha và Omega của các cuộc tái kiến tạo kế tiếp. Vũ Trụ—Bản thể luận—không liên hệ gì đến các tương quan nhân quả của Thế Giới hiện tượng. Chỉ khi nói đến Linh Hồn nội-vũ trụ, Vũ Trụ lý tưởng trong Tư Tưởng Thiêng Liêng bất biến, chúng ta mới có thể nói: “Nó chưa từng có khởi đầu và sẽ không có kết thúc.” Đối với thể của nó, hay tổ chức vũ trụ của nó, dù không thể nói rằng nó đã có một lần kiến tạo đầu tiên, hay sẽ từng có một lần kiến tạo cuối cùng, song ở mỗi Giai kỳ sinh hóa mới, tổ chức của nó có thể được xem là đầu tiên và cuối cùng trong loại của nó, vì mỗi lần nó tiến hoá trên một cõi cao hơn. |
|
A few years ago only, it was stated that: The esoteric doctrine, like Buddhism and Brâhmanism, and even Kabalism, teaches that the one infinite and unknown Essence exists from all eternity, and in regular and harmonious successions is either passive or active. In the poetical phraseology of Manu these conditions are called the Days and the Nights of Brahmâ. The latter is either “awake” or “asleep.” The Svâbhâvikas, or philosophers of the oldest school of Buddhism, which still exists in Nepaul, speculate only upon the active condition of this “Essence,” which they call Svabhâvat, and deem it foolish to theorize upon the abstract and “unknowable” power in its passive condition. Hence they are called Atheists by both Christian theologians and modern scientists, for neither of the two are able to understand the profound logic of their philosophy. The former will allow of no other God than the personified secondary powers which have worked out the visible universe, and which becomes with them the anthropomorphic God of the Christians—the male Jehovah, roaring amid thunder and lightning. In its turn, rationalistic science greets the Buddhists and the Svâbhâvikas as the “Positivists” of the archaic ages. If we take a one-sided view of the philosophy of the latter, our materialists may be right in their own way. The Buddhists maintain that there is no Creator, but an infinitude of creative powers, which collectively form the one eternal substance, the essence of which is inscrutable—hence not a subject for speculation for any true philosopher. Socrates invariably refused to argue upon the mystery of universal being, yet no one would ever have thought of charging him with atheism, except those who were bent upon his destruction. Upon inaugurating an active period, says the Secret Doctrine, an expansion of this Divine Essence from without inwardly and from within outwardly, occurs in obedience to eternal and immutable law, and the phenomenal or visible universe is the ultimate result of the long chain of cosmical forces thus progressively set in motion. In like manner, when the passive condition is resumed, a contraction of the Divine Essence takes place, and the previous work of creation is gradually and progressively undone. The visible universe becomes disintegrated, its material dispersed; and “darkness” solitary and alone, broods once more over the face of the “deep.” To use a metaphor from the secret books, which will convey the idea still more clearly, an out-breathing of the “unknown essence” produces the world; and an inhalation causes it to disappear. This process has been going on from all eternity, and our present universe is but one of an infinite series, which had no beginning and will have no end. 30 |
Chỉ vài năm trước đây, người ta đã nêu rằng: Giáo lý huyền bí, cũng như Phật giáo và Bà-la-môn giáo, và cả Kabbalah, dạy rằng Tinh Túy duy nhất, vô hạn và chưa được biết, hiện hữu từ muôn đời, và trong những chuỗi kế tiếp đều đặn, hài hòa, hoặc thụ động hoặc hoạt động. Trong ngôn ngữ thi ca của Manu, các trạng thái này được gọi là Ngày và Đêm của Brahma. Vị sau hoặc “thức” hoặc “ngủ.” Các Svabhavika, hay những triết gia thuộc trường phái cổ nhất của Phật giáo, hiện vẫn tồn tại ở Nepal, chỉ suy tư về trạng thái hoạt động của “Tinh Túy” này, mà họ gọi là Svabhavat, và cho rằng thật ngu xuẩn khi lập thuyết về quyền năng trừu tượng và “bất khả tri” trong trạng thái thụ động của nó. Vì thế họ bị cả các nhà thần học Kitô giáo lẫn các nhà khoa học hiện đại gọi là vô thần, bởi không bên nào trong hai bên có thể thấu hiểu luận lý sâu xa của triết học họ. Bên trước không thừa nhận Thượng đế nào khác ngoài các quyền năng thứ cấp đã được nhân cách hóa, vốn đã tạo tác vũ trụ hữu hình, và đối với họ trở thành Thượng đế có hình người của Kitô giáo—Jehovah nam tính, gầm thét giữa sấm sét và chớp lòa. Đến lượt mình, khoa học duy lý chào đón các Phật tử và các Svabhavika như những “nhà thực chứng” của các thời đại cổ xưa. Nếu chúng ta nhìn triết học của những người sau theo một chiều, các nhà duy vật của chúng ta có thể đúng theo cách của họ. Các Phật tử chủ trương rằng không có Đấng Sáng Tạo, mà có vô số quyền năng sáng tạo, hợp lại thành chất liệu vĩnh cửu duy nhất, tinh túy của nó không thể dò xét—do đó không phải là đề tài suy luận cho bất cứ triết gia chân chính nào. Socrates luôn luôn từ chối tranh luận về huyền nhiệm của bản thể vũ trụ, thế nhưng không ai từng nghĩ đến việc buộc tội ông là vô thần, ngoại trừ những kẻ quyết tâm hủy diệt ông. Khi khai mở một thời kỳ hoạt động, Giáo Lý Bí Nhiệm nói, một sự mở rộng của Tinh Túy Thiêng Liêng này từ bên ngoài vào trong và từ bên trong ra ngoài diễn ra theo định luật vĩnh cửu và bất biến, và vũ trụ hiện tượng hay hữu hình là kết quả cuối cùng của chuỗi dài các mãnh lực vũ trụ do đó được đưa vào chuyển động một cách tiến triển. Tương tự, khi trạng thái thụ động được khôi phục, một sự co rút của Tinh Túy Thiêng Liêng diễn ra, và công trình sáng tạo trước đó dần dần, từng bước, được tháo gỡ. Vũ trụ hữu hình tan rã, vật chất của nó phân tán; và “bóng tối,” đơn độc một mình, lại ấp ủ trên mặt “vực sâu.” Dùng một ẩn dụ từ các sách bí truyền, có thể truyền đạt ý tưởng rõ hơn nữa: một lần thở ra của “tinh túy chưa được biết” tạo ra thế giới; và một lần hít vào khiến nó biến mất. Tiến trình này đã tiếp diễn từ muôn đời, và vũ trụ hiện tại của chúng ta chỉ là một trong chuỗi vô hạn, vốn không có khởi đầu và sẽ không có kết thúc. 30 |
|
This passage will be explained, as far as it is possible, in the present work. Though it contains nothing new to the Orientalist, as it now stands, its esoteric interpretation may contain a good deal which has hitherto remained entirely unknown to the Western student. |
Đoạn này sẽ được giải thích, trong chừng mực có thể, trong tác phẩm hiện tại. Dù theo hình thức hiện nay nó không chứa điều gì mới đối với nhà Đông phương học, sự diễn giải huyền bí của nó có thể chứa khá nhiều điều cho đến nay vẫn hoàn toàn xa lạ với đạo sinh phương Tây. |
|
The first illustration is a plain disk, [circle]. The second in the archaic symbol shows a disk with a point in it, [circle with dot]—the first differentiation in the periodical manifestations of the ever-eternal Nature, sexless and infinite, “Aditi in That,” 31 or potential Space within abstract Space. In its third stage the point is transformed into a diameter, [circle with line]. It now symbolizes a divine immaculate Mother-Nature within the all-embracing absolute Infinitude. When the horizontal diameter is crossed by a vertical one, [circle with cross], it becomes the Mundane Cross. Humanity has reached its Third Root-Race; it is the sign for the origin of human Life. When the circumference disappears and leaves only the [cross], it is a sign that the fall of man into matter is accomplished, and the Fourth Race begins. The cross within a circle symbolizes pure Pantheism; when the cross is left uninscribed, it becomes phallic. It had the same and yet other meanings as a Tau inscribed within a circle, [circle with lines (Tau)]; or as a Thor’s Hammer—the so-called Jaina cross, or Svastika, within a circle, [circle with swastika]. |
Minh họa thứ nhất là một đĩa trơn, [circle]. Minh họa thứ hai trong biểu tượng cổ xưa cho thấy một đĩa có một điểm trong đó, [circle with dot]—sự biến phân đầu tiên trong các biểu hiện có chu kỳ của Thiên Nhiên vĩnh hằng, vô tính và vô hạn, “Aditi trong Cái Đó,” 31 hay Không Gian tiềm năng bên trong Không Gian trừu tượng. Ở giai đoạn thứ ba, điểm ấy được chuyển đổi thành một đường kính, [circle with line]. Bấy giờ nó tượng trưng cho Mẹ-Thiên Nhiên thiêng liêng, tinh khôi, bên trong Vô Hạn tuyệt đối bao trùm tất cả. Khi đường kính ngang bị cắt bởi một đường kính dọc, [circle with cross], nó trở thành Thập Giá Thế Gian. Nhân loại đã đạt đến Giống dân gốc Thứ Ba; đó là dấu hiệu cho nguồn gốc của Sự Sống nhân loại. Khi chu vi biến mất và chỉ còn lại [cross], đó là dấu hiệu rằng sự sa ngã của con người vào vật chất đã hoàn tất, và Giống dân Thứ Tư bắt đầu. Thập giá trong một vòng tròn tượng trưng cho Phiếm thần luận thuần khiết; khi thập giá không còn nằm trong vòng tròn, nó trở thành biểu tượng sinh thực khí. Nó có cùng ý nghĩa và đồng thời những ý nghĩa khác như chữ Tau được ghi trong một vòng tròn, [circle with lines (Tau)]; hoặc như Búa của Thor—cái gọi là thập giá Jaina, hay Svastika, trong một vòng tròn, [circle with swastika]. |
|
By the third symbol—the circle divided in two by a horizontal diameter—was meant the first manifestation of creative Nature—still passive, because feminine. The first shadowy perception of man connected with procreation is feminine, because man knows his mother more than his father. Hence female deities were more sacred than male. Nature is therefore feminine, and, to a degree, objective and tangible, and the Spirit Principle which fructifies it, is concealed. 32 By adding to the horizontal line in the circle, a perpendicular, the Tau was formed, [T], the oldest form of the letter. It was the glyph of the Third Root-Race to the day of its symbolical Fall—i.e., when the separation of sexes by natural evolution took place—when the figure became [circle with vertical line], or sexless life modified or separated—a double glyph or symbol. With the sub-races of our Fifth Race it became in symbology the Sacr’, and in Hebrew N’cabvah, of the first-formed Races; 33 then it changed into the Egyptian emblem of life, [Ankh], and still later into the sign of Venus, [female symbol]. Then comes the Svastika (Thor’s Hammer, now the Hermetic Cross), entirely separated from its circle, thus becoming purely phallic. The esoteric symbol of Kali Yuga is the five-pointed star reversed, with its two points (horns) turned heavenward, thus [five-pointed star], the sign of human sorcery, a position every Occultist will recognize as one of the “left-hand,” and used in ceremonial magic. |
Biểu tượng thứ ba—vòng tròn bị chia đôi bởi một đường kính ngang—được hiểu là biểu hiện đầu tiên của Thiên Nhiên sáng tạo—vẫn còn thụ động, vì là nữ tính. Nhận thức mờ nhạt đầu tiên của con người liên hệ với sinh sản là nữ tính, vì con người biết mẹ mình hơn cha mình. Do đó các nữ thần linh thiêng hơn nam thần. Vì vậy Thiên Nhiên là nữ tính, và ở một mức độ nào đó, khách quan và hữu hình, còn Nguyên Khí Tinh Thần làm cho nó thụ thai thì bị che giấu. 32 Khi thêm vào đường ngang trong vòng tròn một đường thẳng đứng, chữ Tau được tạo thành, [T], hình thức cổ nhất của chữ cái. Đó là ký hiệu của Giống dân gốc Thứ Ba cho đến ngày Sa Ngã biểu tượng của nó—nghĩa là khi sự phân chia giới tính do tiến hoá tự nhiên diễn ra—khi hình ấy trở thành [circle with vertical line], hay sự sống vô tính được biến đổi hoặc phân tách—một ký hiệu hay biểu tượng kép. Với các giống dân phụ của Giống dân Thứ Năm chúng ta, trong biểu tượng học nó trở thành Sacr’, và trong tiếng Hebrew là N’cabvah, của các Giống dân được hình thành đầu tiên; 33 rồi nó biến thành biểu tượng Ai Cập của sự sống, [Ankh], và về sau nữa thành dấu hiệu của Sao Kim, [female symbol]. Rồi đến Svastika, Búa của Thor, nay là Thập Giá Hermetic, hoàn toàn tách khỏi vòng tròn của nó, do đó trở nên thuần túy sinh thực khí. Biểu tượng huyền bí của Kali Yuga là ngôi sao năm cánh đảo ngược, với hai điểm hay sừng quay lên trời, như thế này [five-pointed star], dấu hiệu của ma thuật nhân loại, một vị trí mà mọi nhà huyền bí học sẽ nhận ra là thuộc “tả đạo,” và được dùng trong huyền thuật nghi lễ. |
|
It is hoped that during the perusal of this work the erroneous ideas of the public in general with regard to Pantheism will be modified. It is wrong and unjust to regard the Buddhists and Advaitin Occultists as Atheists. If not all of them philosophers, they are, at any rate, all logicians, their objections and arguments being based on strict reasoning. Indeed, if the Parabrahman of the Hindûs may be taken as a representative of the hidden and nameless deities of other nations, this absolute Principle will be found to be the prototype from which all the others were copied. Parabrahman is not “God,” because It is not a God. “It is that which is supreme, and not supreme (paravara).” 34 It is supreme as cause, not supreme as effect. Parabrahman is simply, as a Secondless Reality, the all-inclusive Kosmos—or rather the infinite Cosmic Space—in the highest spiritual sense, of course. Brahman (neuter) being the unchanging, pure, free, undecaying supreme Root, the “One true Existence, Paramârthika,” and the absolute Chit and Chaitanya (Intelligence, Consciousness), cannot be a cognizer, “for That can have no subject of cognition.” Can the Flame be called the Essence of Fire? This Essence is “the Life and Light of the Universe, the visible fire and flame are destruction, death, and evil.” “Fire and Flame destroy the body of an Arhat, their essence makes him immortal.” 35 “The knowledge of the absolute Spirit, like the effulgence of the sun, or like heat in fire, is naught else than the absolute Essence itself,” says Shankarâchârya. It—is “the Spirit of the Fire,” not Fire itself; therefore, “the attributes of the latter, Heat or Flame, are not the attributes of the Spirit, but of that of which that Spirit is the unconscious cause.” Is not the above sentence the true key-note of later Rosicrucian philosophy? Parabrahman is, in short, the collective aggregate of Kosmos in its infinity and eternity, the “That” and “This” to which distributive aggregates can not be applied. 36 “In the beginning This was the Self, one only;” 37 and the great Shankarâchârya explains that “This” refers to the Universe (Jagat); the words, “in the beginning,” meaning before the reproduction of the phenomenal Universe. |
Hy vọng rằng trong khi đọc tác phẩm này, những ý niệm sai lầm của công chúng nói chung về Phiếm thần luận sẽ được điều chỉnh. Việc xem các Phật tử và các nhà Huyền bí học Advaita là người vô thần là sai lầm và bất công. Nếu không phải tất cả họ đều là triết gia, thì dù sao họ cũng đều là những nhà luận lý, vì các phản bác và lập luận của họ dựa trên lý luận nghiêm ngặt. Quả thật, nếu Parabrahman của người Hindu có thể được xem là đại diện cho các thần linh ẩn tàng và vô danh của các dân tộc khác, thì Nguyên Khí tuyệt đối này sẽ được thấy là nguyên mẫu mà từ đó tất cả những cái khác được sao chép. Parabrahman không phải là “Thượng đế,” vì Nó không phải là một Thượng đế. “Nó là cái tối cao, và không tối cao.” 34 Nó tối cao như nguyên nhân, không tối cao như kết quả. Parabrahman chỉ đơn giản, như Thực Tại không hai, là Vũ Trụ bao gồm tất cả—hay đúng hơn là Không Gian Vũ Trụ vô hạn—dĩ nhiên theo ý nghĩa tinh thần cao nhất. Brahman trung tính, là Cội Rễ tối cao bất biến, thanh khiết, tự do, không suy hoại, “Hiện Tồn chân thật duy nhất, Paramarthika,” và là Chit cùng Chaitanya tuyệt đối, tức Trí Tuệ và Tâm Thức, không thể là một chủ thể nhận biết, “vì Cái Đó không thể có đối tượng nhận thức.” Có thể gọi Ngọn Lửa là Tinh Túy của Lửa chăng? Tinh Túy này là “Sự Sống và Ánh Sáng của Vũ Trụ; lửa và ngọn lửa hữu hình là hủy diệt, chết chóc và tà ác.” “Lửa và Ngọn Lửa hủy diệt thể của một Arhat; tinh túy của chúng làm cho y bất tử.” 35 “Tri thức về Tinh Thần tuyệt đối, như ánh huy hoàng của mặt trời, hay như nhiệt trong lửa, chẳng là gì khác ngoài chính Tinh Túy tuyệt đối,” Shankaracharya nói. Nó là “Tinh Thần của Lửa,” không phải chính Lửa; vì vậy, “các thuộc tính của cái sau, Nhiệt hay Ngọn Lửa, không phải là các thuộc tính của Tinh Thần, mà là của cái mà Tinh Thần ấy là nguyên nhân vô thức.” Chẳng phải câu trên là chủ âm chân thật của triết học Rosicrucian về sau sao? Tóm lại, Parabrahman là tổng hợp tập thể của Vũ Trụ trong tính vô hạn và vĩnh cửu của nó, là “Cái Đó” và “Cái Này” mà các tập hợp phân bố không thể áp dụng vào. 36 “Ban đầu Cái Này là Tự Ngã, duy nhất;” 37 và Shankaracharya vĩ đại giải thích rằng “Cái Này” chỉ Vũ Trụ; các từ “ban đầu” có nghĩa là trước sự tái sinh của Vũ Trụ hiện tượng. |
|
Therefore, when the Pantheists echo the Upanishads, which state, as in the Secret Doctrine, that “This” cannot create, they do not deny a Creator, or rather a collective aggregate of creators; they simply refuse, very logically, to attribute “creation” and especially formation—something finite—to an Infinite Principle. With them, Parabrahman is a passive because an absolute Cause, the unconditioned Mukta. It is only limited omniscience and omnipotence that are refused to the latter, because these are still attributes, reflected in man’s perceptions; and because Parabrahman, being the Supreme All, the ever invisible Spirit and Soul of Nature, changeless and eternal, can have no attributes, the term Absoluteness very naturally precluding any idea of the finite or conditioned from being connected with it. And if the Vedântins postulate attributes as belonging simply to its emanation, calling it Îshvara plus Mâyâ, and Avidyâ (Agnosticism and Nescience rather than Ignorance), it is difficult to find any Atheism in this conception. 38 Since there can be neither two Infinites nor two Absolutes in a Universe supposed to be boundless, this Self-Existence can hardly be conceived of as creating personally. To the senses and in the perceptions of finite beings, That is Non-Being, in the sense that it is the One Be-ness; for, in this All lies concealed its coeternal and coeval emanation or inherent radiation, which, becoming periodically Brahmâ (the male-female Potency), expands itself into the manifested Universe. “Nârâyana moving on the [abstract] Waters of Space,” is transformed into the Waters of concrete substance moved by him, who now becomes the manifested Word or Logos. |
Vì vậy, khi các nhà Phiếm thần luận lặp lại Upanishad, vốn tuyên bố, cũng như trong Giáo Lý Bí Nhiệm, rằng “Cái Này” không thể sáng tạo, họ không phủ nhận một Đấng Sáng Tạo, hay đúng hơn là một tổng hợp tập thể các đấng sáng tạo; họ chỉ đơn giản, và rất hợp lý, từ chối gán “sáng tạo,” đặc biệt là sự hình thành—một điều hữu hạn—cho một Nguyên Khí Vô Hạn. Đối với họ, Parabrahman là Nguyên Nhân thụ động vì tuyệt đối, là Mukta vô điều kiện. Họ chỉ phủ nhận sự toàn tri và toàn năng hữu hạn đối với cái sau, vì đó vẫn là các thuộc tính, phản chiếu trong nhận thức của con người; và vì Parabrahman, là Toàn Thể Tối Cao, Tinh Thần và Linh Hồn của Thiên Nhiên mãi mãi vô hình, bất biến và vĩnh cửu, không thể có thuộc tính, nên thuật ngữ Tính Tuyệt Đối rất tự nhiên loại trừ mọi ý tưởng về cái hữu hạn hay bị điều kiện hóa khỏi việc liên hệ với nó. Và nếu các Vedantin giả định rằng các thuộc tính chỉ thuộc về xuất lộ của nó, gọi đó là Ishvara cộng Maya, và Avidya, tức Bất khả tri và Vô tri hơn là Vô minh, thì thật khó tìm thấy bất cứ chủ nghĩa vô thần nào trong quan niệm này. 38 Vì không thể có hai Vô Hạn cũng không thể có hai Tuyệt Đối trong một Vũ Trụ được giả định là vô biên, nên Tự Tồn này khó có thể được quan niệm là sáng tạo một cách cá nhân. Đối với các giác quan và trong nhận thức của các hữu thể hữu hạn, Cái Đó là Phi-Hữu, theo nghĩa nó là Tồn-Tại Duy Nhất; vì trong Toàn Thể này ẩn giấu xuất lộ đồng vĩnh cửu và đồng thời của nó, hay bức xạ nội tại của nó, vốn theo chu kỳ trở thành Brahma, Quyền Năng nam-nữ, và tự mở rộng thành Vũ Trụ biểu hiện. “Narayana chuyển động trên các Nước trừu tượng của Không Gian,” được chuyển đổi thành các Nước của chất liệu cụ thể được Ngài làm chuyển động, Đấng bấy giờ trở thành Linh từ hay Logos biểu hiện. |
|
The orthodox Brâhmans, those who rise the most against the Pantheists and Advaitins, calling them Atheists, are forced, if Manu is any authority in this matter, to accept the death of Brahmâ, the Creator, at the expiration of every Age of this deity—100 Divine Years, a period which in our years requires fifteen figures to express. Yet no philosopher among them will view this “death” in any other sense than as a temporary disappearance from the manifested plane of existence, or as a periodical rest. |
Các Bà-la-môn chính thống, những người phản đối mạnh mẽ nhất các nhà Phiếm thần luận và Advaitin, gọi họ là vô thần, nếu Manu là một thẩm quyền trong vấn đề này, buộc phải chấp nhận cái chết của Brahma, Đấng Sáng Tạo, vào lúc kết thúc mỗi Thời Đại của vị thần này—một trăm Năm Thiêng Liêng, một thời kỳ mà theo năm của chúng ta cần mười lăm chữ số để biểu thị. Thế nhưng không triết gia nào trong số họ sẽ xem “cái chết” này theo bất cứ nghĩa nào khác ngoài một sự biến mất tạm thời khỏi cõi biểu hiện của hiện tồn, hay như một thời kỳ nghỉ ngơi có chu kỳ. |
|
The Occultists are, therefore, at one with the Advaita Vedântin philosophers as to the above tenet. They show, on philosophical grounds, the impossibility of accepting the idea of the absolute All creating or even evolving the Golden Egg, into which it is said to enter in order to transform itself into Brahmâ, the Creator, who later expands himself into the Gods and all the visible Universe. They say that absolute Unity cannot pass to Infinity, for Infinity presupposes the limitless extension of something, and the duration of that something; and the One All—like Space, which is its only mental and physical representation on this earth, or our plane of existence—is neither an object of, nor a subject to, perception. If one could suppose the eternal infinite All, the omnipresent Unity, instead of being in Eternity, becoming through periodical manifestation a manifold Universe or a multiple Personality, that Unity would cease to be one. Locke’s idea, that “pure space is capable of neither resistance nor motion,” is incorrect. Space is neither a “limitless void,” nor a “conditioned fulness,” but both. Being—on the plane of absolute abstraction—the ever-incognizable Deity, which is void only to finite minds, 39 and on that of mâyâvic perception, the Plenum, the absolute Container of all that is, whether manifested or unmanifested, it is, therefore, that Absolute All. There is no difference between the Christian Apostle’s “in Him we live and move and have our being,” and the Hindû Rishi’s “the Universe lives in, proceeds from, and will return to, Brahmâ”: for Brahman (neuter), the unmanifested, is that Universe in abscondito, and Brahmâ, the manifested, is the Logos, made male-female 40 in the symbolical orthodox dogmas, the God of the Apostle-Initiate and of the Rishi being both the Unseen and the Visible Space. Space is called, in esoteric symbolism, the “Seven-Skinned Eternal Mother-Father.” From its undifferentiated to its differentiated surface it is composed of seven layers. |
Do đó, các nhà Huyền bí học đồng thuận với các triết gia Advaita Vedantin về tín điều trên. Họ chỉ ra, trên nền tảng triết học, sự bất khả của việc chấp nhận ý tưởng rằng Toàn Thể tuyệt đối sáng tạo, hay thậm chí tiến hoá, Trứng Vàng mà người ta nói rằng nó bước vào để chuyển đổi chính mình thành Brahma, Đấng Sáng Tạo, về sau tự mở rộng thành các Thượng đế và toàn thể Vũ Trụ hữu hình. Họ nói rằng Hợp Nhất tuyệt đối không thể chuyển sang Vô Hạn, vì Vô Hạn giả định sự mở rộng vô hạn của một cái gì đó, và thời hạn của cái gì đó ấy; còn Toàn Thể Duy Nhất—giống như Không Gian, vốn là biểu hiện trí tuệ và hồng trần duy nhất của nó trên trái đất này, hay trên cõi hiện tồn của chúng ta—không phải là đối tượng của nhận thức, cũng không lệ thuộc vào nhận thức. Nếu người ta có thể giả định Toàn Thể vĩnh cửu vô hạn, Hợp Nhất hiện diện khắp nơi, thay vì ở trong Vĩnh Cửu, lại trở thành, qua biểu hiện có chu kỳ, một Vũ Trụ đa tạp hay một Phàm ngã đa phân, thì Hợp Nhất ấy sẽ không còn là một. Ý tưởng của Locke rằng “không gian thuần túy không có khả năng kháng cự cũng không có khả năng chuyển động” là không đúng. Không Gian không phải là “hư không vô hạn,” cũng không phải là “sự đầy tràn bị điều kiện hóa,” mà là cả hai. Là—trên cõi trừu tượng tuyệt đối—Thượng đế mãi mãi bất khả tri, vốn chỉ là hư không đối với các thể trí hữu hạn, 39 và trên cõi nhận thức maya, là Plenum, Vật Chứa tuyệt đối của tất cả những gì hiện hữu, dù biểu hiện hay không biểu hiện, do đó nó là Toàn Thể Tuyệt Đối ấy. Không có sự khác biệt giữa câu của Tông đồ Kitô giáo “trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và có hiện tồn của mình,” và câu của Rishi Hindu “Vũ Trụ sống trong, phát sinh từ, và sẽ trở về với Brahma”: vì Brahman trung tính, không biểu hiện, là Vũ Trụ ấy trong trạng thái ẩn tàng, còn Brahma, biểu hiện, là Logos, được làm thành nam-nữ 40 trong các giáo điều chính thống biểu tượng, Thượng đế của vị Tông đồ-Điểm đạo đồ và của Rishi đều là Không Gian Vô Hình và Hữu Hình. Trong biểu tượng học huyền bí, Không Gian được gọi là “Mẹ-Cha Vĩnh Cửu Bảy Lớp Da.” Từ bề mặt chưa biến phân đến bề mặt đã biến phân, nó được cấu thành bởi bảy lớp. |
|
“What is that which was, is, and will be, whether there is a Universe or not; whether there be gods or none?” asks the esoteric Senzar Catechism. And the answer made is— “Space.” |
“Cái gì đã là, đang là, và sẽ là, dù có Vũ Trụ hay không; dù có các thần hay không?” Giáo lý vấn đáp Senzar huyền bí hỏi. Và câu trả lời là— “Không Gian.” |
|
It is not the One unknown ever-present God in Nature, or Nature in abscondito, that is rejected, but the “God” of human dogma, and his humanized “Word.” Man, in his infinite conceit and inherent pride and vanity, shaped it himself with his sacrilegious hand out of the material he found in his own small brain-fabric, and forced it upon his fellows as a direct revelation from the one unrevealed Space. 41 The Occultist accepts revelation as coming from divine yet still finite Beings, the manifested Lives, never from the unmanifestable One Life; from those Entities, called Primordial Man, Dhyâni-Buddhas, or Dhyân Chohans, the Rishi-Prajâpati of the Hindus, the Elohim or Sons of God of the Jews, the Planetary Spirits of all nations, who have become Gods for men. The Occultist also regards the Âdi-Shakti—the direct emanation of Mûlaprakriti, the eternal Root of That, and the female aspect of the Creative Cause, Brahmâ, in her âkâshic form of the Universal Soul—as philosophically a Mâyâ, and cause of human Mâyâ. But this view does not prevent him from believing in its existence so long as it lasts, to wit, for one Mahâmanvantara; nor from applying Âkâsha, the radiation of Mûlaprakriti, 42 to practical purposes, connected as this World-Soul is with all natural phenomena known or unknown to Science. |
Không phải Đấng Thượng đế duy nhất chưa được biết, luôn hiện diện trong Thiên Nhiên, hay Thiên Nhiên trong trạng thái ẩn tàng, bị bác bỏ, mà là “Thượng đế” của giáo điều nhân loại, và “Linh từ” được nhân tính hóa của y. Con người, trong tính tự phụ vô hạn và niềm kiêu hãnh cùng hư vinh cố hữu, đã tự tay mình nặn ra nó bằng bàn tay phạm thánh, từ vật liệu y tìm thấy trong cấu trúc bộ não nhỏ bé của chính mình, rồi áp đặt nó lên đồng loại như một sự mặc khải trực tiếp từ Không Gian duy nhất chưa được mặc khải. 41 Nhà Huyền bí học chấp nhận sự mặc khải như đến từ các Hữu Thể thiêng liêng nhưng vẫn hữu hạn, các Sự Sống biểu hiện, chứ không bao giờ từ Sự Sống Duy Nhất không thể biểu hiện; từ các Thực Thể ấy, được gọi là Con Người Nguyên Thủy, Dhyani-Buddha, hay Dhyani Chohan, Rishi-Prajapati của người Hindu, Elohim hay Các Con của Thượng đế của người Do Thái, các Chân Linh Hành Tinh của mọi dân tộc, những Đấng đã trở thành các Thượng đế đối với con người. Nhà Huyền bí học cũng xem Adi-Shakti—xuất lộ trực tiếp của Mulaprakriti, Cội Rễ vĩnh cửu của Cái Đó, và phương diện nữ của Nguyên Nhân Sáng Tạo, Brahma, trong hình thức akasha của Linh Hồn Vũ Trụ—về mặt triết học là một Maya, và là nguyên nhân của Maya nhân loại. Nhưng quan điểm này không ngăn y tin vào sự hiện hữu của nó chừng nào nó còn kéo dài, nghĩa là trong một Đại giai kỳ sinh hóa; cũng không ngăn y áp dụng Akasha, bức xạ của Mulaprakriti, 42 vào các mục đích thực tiễn, vì Linh Hồn Thế Giới này liên hệ với mọi hiện tượng tự nhiên, đã biết hay chưa biết đối với Khoa học. |
|
The oldest religions of the world—exoterically, for the esoteric root or foundation is one—are the Indian, the Mazdean, and the Egyptian. Next comes the Chaldean, the outcome of these, now entirely lost to the world, except in its disfigured Sabeanism as at present rendered by the archæologists. Then, passing over a number of religions that will be mentioned later, comes the Jewish, esoterically following in the line of Babylonian Magism, as in the Kabalah; exoterically, a collection of allegorical legends, as in Genesis and the Pentateuch. Read by the light of the Zohar, the four initial chapters of Genesis are the fragment of a highly philosophical page in the world’s cosmogony. Left in their symbolical disguise, they are a nursery tale, an ugly thorn in the side of science and logic, an evident effect of Karma. To let them serve as a prologue to Christianity was a cruel revenge on the part of the Rabbis, who knew better what their Pentateuch meant. It was a silent protest against their spoliation, and the Jews have now certainly the better of their traditional persecutors. The above-named exoteric creeds will be explained in the light of the universal doctrine as we proceed. |
Các tôn giáo cổ nhất của thế giới—xét theo ngoại môn, vì cội rễ hay nền tảng nội môn là một—là Ấn Độ, Mazdean và Ai Cập. Kế đến là Chaldean, kết quả của những tôn giáo này, nay hoàn toàn mất đối với thế giới, ngoại trừ trong Sabeanism bị biến dạng của nó như hiện nay được các nhà khảo cổ trình bày. Rồi, bỏ qua một số tôn giáo sẽ được đề cập về sau, đến Do Thái giáo, về mặt huyền bí đi theo dòng của Ma thuật Babylon, như trong Kabalah; về mặt ngoại môn, là một tập hợp các truyền thuyết ẩn dụ, như trong Sáng Thế Ký và Ngũ Kinh. Được đọc dưới ánh sáng của Zohar, bốn chương đầu của Sáng Thế Ký là mảnh vỡ của một trang hết sức triết học trong vũ trụ khởi nguyên của thế giới. Bị để lại trong lớp ngụy trang biểu tượng của chúng, chúng là một câu chuyện trẻ thơ, một cái gai xấu xí bên sườn khoa học và luận lý, một hiệu quả hiển nhiên của nghiệp quả. Để chúng phục vụ như lời mở đầu cho Kitô giáo là một sự trả thù tàn nhẫn của các Rabbi, những người biết rõ hơn Ngũ Kinh của họ có nghĩa gì. Đó là một phản kháng im lặng chống lại sự tước đoạt của họ, và người Do Thái nay chắc chắn chiếm ưu thế hơn những kẻ bách hại truyền thống của họ. Những tín ngưỡng ngoại môn kể trên sẽ được giải thích dưới ánh sáng của giáo lý phổ quát khi chúng ta tiếp tục. |
|
The Occult Catechism contains the following questions and answers: What is it that ever is?—Space, the eternal Anupâdaka [Parentless]. What is it that ever was?—The Germ in the Root. What is it that is ever coming and going?—The Great Breath. Then, there are three Eternals?—No,the three are one. That which ever is is one, that which ever was is one, that which is ever being and becoming is also one: and this is Space. |
Giáo lý vấn đáp Huyền bí chứa các câu hỏi và đáp sau: Cái gì luôn luôn là?—Không Gian, Anupadaka vĩnh cửu, không cha mẹ. Cái gì đã luôn luôn là?—Mầm trong Cội Rễ. Cái gì luôn luôn đến và đi?—Hơi Thở Vĩ Đại. Vậy thì có ba Vĩnh Cửu sao?—Không, ba là một. Cái luôn luôn là thì là một; cái đã luôn luôn là thì là một; cái luôn luôn hiện tồn và trở thành cũng là một: và cái này là Không Gian. |
|
Explain, O Lanoo [disciple]. —The One is an unbroken Circle [Ring] with no circumference, for it is nowhere and everywhere; the One is the boundless Plane of the Circle, manifesting a Diameter only during the manvantaric periods; the One is the indivisible Point found nowhere, perceived everywhere during those periods; it is the Vertical and the Horizontal, the Father and the Mother, the summit and base of the Father, the two extremities of the Mother, reaching in reality nowhere, for the One is the Ring as also the Rings that are within that Ring. Light in Darkness and Darkness in Light: the “Breath which is eternal.” It proceeds from without inwardly, when it is everywhere, and from within outwardly, when it is nowhere—(i.e., Mâyâ, 43 one of the Centres). 44 It expands and contracts [exhalation and inhalation]. When it expands, the Mother diffuses and scatters; when it contracts, the Mother draws back and ingathers. This produces the periods of Evolution and Dissolution, Manvantara and Pralaya. The Germ is invisible and fiery; the Root [the Plane of the Circle] is cool; but during Evolution and Manvantara her garment is cold and radiant. Hot Breath is the Father who devours the progeny of the many-faced Element [heterogeneous], and leaves the single-faced ones [homogeneous]. Cool Breath is the Mother, who conceives, forms, brings forth, and receives them back into her bosom, to reform them at the Dawn [of the Day of Brahmâ, or Manvantara]. |
Hãy giải thích, hỡi Lanoo, đệ tử. —Đấng Duy Nhất là một Vòng Tròn không đứt đoạn, không có chu vi, vì Ngài không ở đâu và ở khắp nơi; Đấng Duy Nhất là Mặt Phẳng vô biên của Vòng Tròn, chỉ biểu hiện một Đường Kính trong các thời kỳ Giai kỳ sinh hóa; Đấng Duy Nhất là Điểm bất khả phân không tìm thấy ở đâu, nhưng được nhận biết khắp nơi trong các thời kỳ ấy; Ngài là Chiều Dọc và Chiều Ngang, Cha và Mẹ, đỉnh và đáy của Cha, hai cực của Mẹ, thực ra không vươn tới đâu, vì Đấng Duy Nhất là Vòng cũng như các Vòng nằm trong Vòng ấy. Ánh Sáng trong Bóng Tối và Bóng Tối trong Ánh Sáng: “Hơi Thở vĩnh cửu.” Nó phát sinh từ ngoài vào trong khi nó ở khắp nơi, và từ trong ra ngoài khi nó không ở đâu—nghĩa là Maya, 43 một trong các Trung Tâm. 44 Nó mở rộng và co rút, tức thở ra và hít vào. Khi nó mở rộng, Mẹ lan tỏa và phân tán; khi nó co rút, Mẹ rút lại và thu gom. Điều này tạo ra các thời kỳ Tiến hoá và Tan rã, Giai kỳ sinh hóa và Giai kỳ qui nguyên. Mầm thì vô hình và bốc lửa; Cội Rễ, tức Mặt Phẳng của Vòng Tròn, thì mát; nhưng trong Tiến hoá và Giai kỳ sinh hóa, y phục của bà lạnh và rạng rỡ. Hơi Thở Nóng là Cha, Đấng nuốt chửng hậu duệ của Nguyên tố nhiều mặt, tức dị chất, và để lại những cái một mặt, tức đồng chất. Hơi Thở Mát là Mẹ, Đấng thụ thai, tạo hình, sinh ra, và nhận chúng trở lại vào lòng mình, để tái tạo chúng vào Bình Minh, tức Ngày của Brahma, hay Giai kỳ sinh hóa. |
|
For clearer understanding on the part of the general reader, it must be stated that Occult Science recognizes seven Cosmic Elements—four entirely physical, and the fifth (Ether) semi-material, which will become visible in the Air towards the end of our Fourth Round, to reign supreme over the others during the whole of the Fifth. The remaining two are as yet absolutely beyond the range of human perception. They will, however, appear as presentments during the Sixth and Seventh Races of this Round, and will be fully known in the Sixth and Seventh Rounds respectively. 45 These seven Elements with their numberless sub-elements, which are far more numerous than those known to Science, are simply conditional modifications and aspects of the One and only Element. This latter is not Ether, 46 not even Âkâsha, but the source of these. The Fifth Element, now quite freely advocated by Science, is not the Ether hypothesized by Sir Isaac Newton—although he calls it by that name, having probably associated it in his mind with Æther, the “Father-Mother” of antiquity. As Newton intuitionally says, “Nature is a perpetual circulatory worker, generating fluids out of solids, fixed things out of volatile, and volatile out of fixed, subtile out of gross, and gross out of subtile…. Thus, perhaps, may all things be originated from Ether.” 47 |
Để độc giả phổ thông thấu hiểu rõ hơn, cần nói rằng Khoa học Huyền bí thừa nhận bảy Nguyên tố Vũ Trụ—bốn hoàn toàn hồng trần, và nguyên tố thứ năm, Dĩ thái, bán vật chất, sẽ trở nên hữu hình trong Khí vào cuối Cuộc tuần hoàn Thứ Tư của chúng ta, để ngự trị tối cao trên các nguyên tố khác trong suốt Cuộc tuần hoàn Thứ Năm. Hai nguyên tố còn lại hiện vẫn hoàn toàn vượt ngoài phạm vi nhận thức của con người. Tuy nhiên, chúng sẽ xuất hiện như các linh cảm trong Giống dân Thứ Sáu và Thứ Bảy của Cuộc tuần hoàn này, và sẽ được biết trọn vẹn trong Cuộc tuần hoàn Thứ Sáu và Thứ Bảy tương ứng. 45 Bảy Nguyên tố này cùng vô số nguyên tố phụ của chúng, nhiều hơn rất xa những nguyên tố Khoa học biết đến, chỉ đơn giản là các biến thái và phương diện có điều kiện của Nguyên tố Duy Nhất. Cái sau không phải là Dĩ thái, 46 thậm chí cũng không phải Akasha, mà là nguồn của những cái này. Nguyên tố Thứ Năm, hiện nay được Khoa học khá tự do bênh vực, không phải là Dĩ thái do Sir Isaac Newton giả thuyết—dù ông gọi nó bằng tên ấy, có lẽ vì trong trí ông đã liên hệ nó với Aether, “Cha-Mẹ” của thời cổ. Như Newton nói bằng trực giác, “Thiên Nhiên là một tác nhân tuần hoàn thường hằng, tạo ra các lưu chất từ chất rắn, những cái cố định từ những cái dễ bay hơi, và những cái dễ bay hơi từ cái cố định, cái tinh tế từ cái thô trược, và cái thô trược từ cái tinh tế…. Như vậy, có lẽ mọi sự có thể phát sinh từ Dĩ thái.” 47 |
|
The reader has to bear in mind that the Stanzas treat only of the cosmogony of our own planetary system and of what is visible around it, after a Solar Pralaya. The secret teachings with regard to the evolution of the Universal Kosmos cannot be given, since they could not be understood by even the highest minds in this age, and there seem to be very few Initiates, even among the greatest, who are allowed to speculate upon this subject. Moreover the Teachers say openly that not even the highest Dhyâni-Chohans have ever penetrated the mysteries beyond those boundaries that separate the milliards of solar systems from the Central Sun, as it is called. Therefore, that which is given relates only to our visible Cosmos, after a Night of Brahmâ. |
Độc giả phải ghi nhớ rằng các Bài kệ chỉ đề cập đến vũ trụ khởi nguyên của chính hệ hành tinh chúng ta và những gì hữu hình quanh nó, sau một Giai kỳ qui nguyên Thái Dương. Các giáo huấn bí truyền liên quan đến sự tiến hoá của Vũ Trụ Phổ Quát không thể được đưa ra, vì ngay cả những thể trí cao nhất trong thời đại này cũng không thể thấu hiểu chúng, và dường như rất ít Điểm đạo đồ, ngay cả trong số những vị vĩ đại nhất, được phép suy luận về đề tài này. Hơn nữa, các Huấn sư công khai nói rằng ngay cả những Dhyani-Chohan cao nhất cũng chưa từng xuyên thấu các huyền nhiệm bên ngoài những ranh giới phân cách hàng tỷ hệ mặt trời với Mặt Trời Trung Tâm, như nó được gọi. Vì vậy, điều được trao truyền chỉ liên hệ đến Vũ Trụ hữu hình của chúng ta, sau một Đêm của Brahma. |
|
Before the reader proceeds to the consideration of the Stanzas from the Book of Dzyan which form the basis of the present work, it is absolutely necessary that he should be made acquainted with the few fundamental conceptions which underlie and pervade the entire system of thought to which his attention is invited. These basic ideas are few in number, but on their clear apprehension depends the understanding of all that follows; therefore no apology is required for asking the reader to make himself familiar with these first, before entering on the perusal of the work itself. |
Trước khi độc giả tiến vào việc xem xét các Bài kệ từ Sách Dzyan, vốn tạo thành nền tảng của tác phẩm hiện tại, điều tuyệt đối cần thiết là y phải được làm quen với vài quan niệm căn bản làm nền và thấm nhuần toàn bộ hệ thống tư tưởng mà sự chú ý của y được mời hướng tới. Những ý tưởng căn bản này không nhiều, nhưng sự thấu hiểu rõ ràng chúng quyết định việc thấu hiểu tất cả những gì tiếp theo; do đó không cần xin lỗi khi yêu cầu độc giả làm quen với chúng trước, trước khi bước vào việc đọc chính tác phẩm. |
|
The Secret Doctrine then, establishes three fundamental propositions: I. An Omnipresent, Eternal, Boundless and Immutable Principle, on which all speculation is impossible, since it transcends the power of human conception and can only be dwarfed by any human expression or similitude. It is beyond the range and reach of thought—in the words of the Mândûkya, “unthinkable and unspeakable.” |
Vậy Giáo Lý Bí Nhiệm thiết lập ba mệnh đề căn bản: I. Một Nguyên Khí Hiện Diện Khắp Nơi, Vĩnh Cửu, Vô Biên và Bất Biến, mà mọi suy luận về nó đều bất khả, vì nó vượt quá quyền năng quan niệm của con người và chỉ có thể bị làm cho nhỏ bé đi bởi bất cứ cách diễn đạt hay ví dụ nào của con người. Nó vượt ngoài phạm vi và tầm với của tư tưởng—theo lời của Mandukya, “không thể nghĩ bàn và không thể nói ra.” |
|
To render these ideas clearer to the general reader, let him set out with the postulate that there is One Absolute Reality which antecedes all manifested, conditioned Being. This Infinite and Eternal Cause—dimly formulated in the “Unconscious” and “Unknowable” of current European philosophy—is the Rootless Root of “all that was, is, or ever shall be.” It is of course devoid of all attributes and is essentially without any relation to manifested, finite Being. It is “Be-ness” rather than Being, Sat in Sanskrit, and is beyond all thought or speculation. |
Để làm cho các ý tưởng này rõ hơn đối với độc giả phổ thông, hãy để y bắt đầu với định đề rằng có Một Thực Tại Tuyệt Đối đi trước mọi Hữu Thể biểu hiện, bị điều kiện hóa. Nguyên Nhân Vô Hạn và Vĩnh Cửu này—được hình dung lờ mờ trong “Vô Thức” và “Bất Khả Tri” của triết học châu Âu hiện hành—là Cội Rễ Không Cội của “tất cả những gì đã là, đang là, hoặc sẽ từng là.” Dĩ nhiên nó không có mọi thuộc tính và về bản chất không có bất cứ tương quan nào với Hữu Thể hữu hạn, biểu hiện. Nó là “Tồn-Tại” hơn là Hữu Thể, Sat trong Sanskrit, và vượt ngoài mọi tư tưởng hay suy luận. |
|
This Be-ness is symbolized in the Secret Doctrine under two aspects. On the one hand, absolute Abstract Space, representing bare subjectivity, the one thing which no human mind can either exclude from any conception, or conceive of by itself. On the other, absolute Abstract Motion representing Unconditioned Consciousness. Even our Western thinkers have shown that consciousness is inconceivable to us apart from change, and motion best symbolizes change, its essential characteristic. This latter aspect of the One Reality, is also symbolized by the term the Great Breath, a symbol sufficiently graphic to need no further elucidation. Thus, then, the first fundamental axiom of the Secret Doctrine is this metaphysical One Absolute Be-ness—symbolized by finite intelligence as the theological Trinity. |
Tồn-Tại này được biểu tượng hóa trong Giáo Lý Bí Nhiệm dưới hai phương diện. Một mặt là Không Gian Trừu Tượng tuyệt đối, tượng trưng cho tính chủ quan thuần túy, điều duy nhất mà không thể trí con người nào có thể loại trừ khỏi bất cứ quan niệm nào, hay tự nó quan niệm riêng biệt được. Mặt khác là Chuyển Động Trừu Tượng tuyệt đối, tượng trưng cho Tâm Thức Vô Điều Kiện. Ngay cả các nhà tư tưởng phương Tây của chúng ta cũng đã chỉ ra rằng tâm thức là điều chúng ta không thể quan niệm nếu tách khỏi biến đổi, và chuyển động tượng trưng tốt nhất cho biến đổi, đặc tính thiết yếu của nó. Phương diện sau này của Thực Tại Duy Nhất cũng được biểu tượng hóa bằng thuật ngữ Hơi Thở Vĩ Đại, một biểu tượng đủ sống động để không cần giải thích thêm. Như vậy, tiên đề căn bản thứ nhất của Giáo Lý Bí Nhiệm là Tồn-Tại Tuyệt Đối Duy Nhất siêu hình này—được trí tuệ hữu hạn biểu tượng hóa như Ba Ngôi thần học. |
|
It may, however, assist the student if a few further explanations are here given. |
Tuy nhiên, điều này có thể trợ giúp đạo sinh nếu ở đây đưa thêm vài giải thích. |
|
Herbert Spencer has of late so far modified his Agnosticism, as to assert that the nature of the “First Cause,” 48 which the Occultist more logically derives from the Causeless Cause, the “Eternal,” and the “Unknowable,” may be essentially the same as that of the consciousness which wells up within us: in short, that the impersonal Reality pervading the Kosmos is the pure noumenon of thought. This advance on his part brings him very near to the Esoteric and Vedântin tenet. 49 |
Gần đây Herbert Spencer đã điều chỉnh Thuyết Bất khả tri của ông đến mức khẳng định rằng bản chất của “Nguyên Nhân Đầu Tiên,” 48 mà nhà Huyền bí học rút ra một cách hợp lý hơn từ Nguyên Nhân Vô Nhân, “Vĩnh Cửu,” và “Bất Khả Tri,” có thể về bản chất giống như bản chất của tâm thức tuôn trào bên trong chúng ta: tóm lại, rằng Thực Tại phi ngã thấm nhuần Vũ Trụ là bản thể luận thuần túy của tư tưởng. Bước tiến này của ông đưa ông đến rất gần với tín điều Nội môn và Vedantin. 49 |
|
Parabrahman, the One Reality, the Absolute, is the field of Absolute Consciousness, i.e., that Essence which is out of all relation to conditioned existence, and of which conscious existence is a conditioned symbol. But once that we pass in thought from this (to us) Absolute Negation, duality supervenes in the contrast of Spirit (or Consciousness) and Matter, Subject and Object. |
Parabrahman, Thực Tại Duy Nhất, Tuyệt Đối, là trường của Tâm Thức Tuyệt Đối, nghĩa là Tinh Túy nằm ngoài mọi tương quan với hiện hữu bị điều kiện hóa, và hiện hữu có tâm thức là biểu tượng bị điều kiện hóa của nó. Nhưng một khi trong tư tưởng chúng ta vượt khỏi Phủ Định Tuyệt Đối này, đối với chúng ta, nhị nguyên xuất hiện trong sự tương phản giữa Tinh Thần, hay Tâm Thức, và Vật Chất, Chủ Thể và Khách Thể. |
|
Spirit (or Consciousness) and Matter are, however, to be regarded, not as independent realities, but as the two symbols or aspects of the Absolute, Parabrahman, which constitute the basis of conditioned Being whether subjective or objective. |
Tuy nhiên, Tinh Thần, hay Tâm Thức, và Vật Chất phải được xem không phải như các thực tại độc lập, mà như hai biểu tượng hay phương diện của Tuyệt Đối, Parabrahman, tạo thành nền tảng của Hữu Thể bị điều kiện hóa, dù chủ quan hay khách quan. |
|
Considering this metaphysical triad as the Root from which proceeds all manifestation, the Great Breath assumes the character of Pre-cosmic Ideation. It is the fons et origo of Force and of all individual Consciousness, and supplies the guiding intelligence in the vast scheme of cosmic Evolution. On the other hand, Pre-cosmic Root-Substance (Mûlaprakriti) is that aspect of the Absolute which underlies all the objective planes of Nature. |
Khi xét bộ ba siêu hình này như Cội Rễ từ đó mọi biểu hiện phát sinh, Hơi Thở Vĩ Đại mang tính chất của Ý Niệm Tiền-vũ-trụ. Nó là nguồn gốc và nguyên ủy của Mãnh lực và của mọi Tâm thức cá biệt, đồng thời cung ứng trí tuệ hướng dẫn trong hệ thống bao la của Tiến hoá vũ trụ. Mặt khác, Chất Liệu Cội Rễ Tiền-vũ-trụ là phương diện của Tuyệt Đối làm nền tảng cho mọi cõi khách quan của Thiên nhiên. |
|
Just as Pre-cosmic Ideation is the root of all individual Consciousness, so Pre-cosmic Substance is the substratum of Matter in the various grades of its differentiation. |
Cũng như Ý Niệm Tiền-vũ-trụ là cội rễ của mọi Tâm thức cá biệt, thì Chất Liệu Tiền-vũ-trụ là nền tảng của Vật chất trong nhiều cấp độ biến phân khác nhau của nó. |
|
Hence it will be apparent that the contrast of these two aspects of the Absolute is essential to the existence of the Manifested Universe. Apart from Cosmic Substance, Cosmic Ideation could not manifest as individual Consciousness, since it is only through a vehicle (upâdhi) of matter that consciousness wells up as “I am I,” a physical basis being necessary to focus a Ray of the Universal Mind at a certain stage of complexity. Again, apart from Cosmic Ideation, Cosmic Substance would remain an empty abstraction, and no emergence of Consciousness could ensue. |
Vì thế, sẽ thấy rõ rằng sự tương phản giữa hai phương diện này của Tuyệt Đối là thiết yếu đối với sự tồn tại của Vũ Trụ Biểu Hiện. Tách khỏi Chất Liệu Vũ Trụ, Ý Niệm Vũ Trụ không thể biểu hiện thành Tâm thức cá biệt, bởi chỉ qua một vận cụ bằng vật chất mà tâm thức mới trào dâng như “Tôi là Tôi”, vì cần có một nền tảng hồng trần để tập trung một Cung của Vũ Trụ Trí ở một giai đoạn phức hợp nhất định. Lại nữa, tách khỏi Ý Niệm Vũ Trụ, Chất Liệu Vũ Trụ sẽ vẫn chỉ là một trừu tượng rỗng không, và không thể có sự xuất hiện nào của Tâm thức tiếp theo. |
|
The Manifested Universe, therefore, is pervaded by duality, which is, as it were, the very essence of its Ex-istence as Manifestation. But just as the opposite poles of Subject and Object, Spirit and Matter, are but aspects of the One Unity in which they are synthesized, so, in the Manifested Universe, there is “that” which links Spirit to Matter, Subject to Object. |
Do đó, Vũ Trụ Biểu Hiện thấm nhuần nhị nguyên, vốn, có thể nói, là chính tinh túy của sự hiện-hữu của nó với tư cách là Biểu Hiện. Nhưng cũng như hai cực đối lập của Chủ thể và Khách thể, Tinh thần và Vật chất, chỉ là các phương diện của Một Nhất Thể trong đó chúng được tổng hợp, thì trong Vũ Trụ Biểu Hiện cũng có “cái đó” liên kết Tinh thần với Vật chất, Chủ thể với Khách thể. |
|
This something, at present unknown to Western speculation, is called by Occultists Fohat. It is the “bridge” by which the Ideas existing in the Divine Thought are impressed on Cosmic Substance as the Laws of Nature. Fohat is thus the dynamic energy of Cosmic Ideation; or, regarded from the other side, it is the intelligent medium, the guiding power of all manifestation, the Thought Divine transmitted and made manifest through the Dhyân Chohans, 50 the Architects of the visible World. Thus from Spirit, or Cosmic Ideation, comes our Consciousness, from Cosmic Substance the several Vehicles in which that Consciousness is individualized and attains to self—or reflective—consciousness; while Fohat, in its various manifestations, is the mysterious link between Mind and Matter, the animating principle electrifying every atom into life. |
Điều gì đó, hiện nay còn chưa được tư tưởng suy luận Tây phương biết đến, được các nhà huyền bí học gọi là Fohat. Đó là “cây cầu” nhờ đó các Ý tưởng hiện hữu trong Tư Tưởng Thiêng Liêng được in dấu lên Chất Liệu Vũ Trụ như các Định luật của Thiên nhiên. Vì vậy, Fohat là năng lượng động lực của Ý Niệm Vũ Trụ; hoặc, xét từ phía bên kia, nó là môi giới thông minh, quyền năng hướng dẫn mọi biểu hiện, Tư Tưởng Thiêng Liêng được truyền đạt và làm cho biểu hiện qua các Dhyani Chohan, 50 những Kiến Trúc Sư của Thế Giới hữu hình. Như vậy, từ Tinh thần, hay Ý Niệm Vũ Trụ, phát sinh Tâm thức của chúng ta; từ Chất Liệu Vũ Trụ phát sinh nhiều Vận cụ trong đó Tâm thức ấy được cá biệt hóa và đạt tới ngã thức, hay tâm thức phản tỉnh; còn Fohat, trong nhiều biểu hiện khác nhau của nó, là mối liên kết huyền nhiệm giữa Trí tuệ và Vật chất, nguyên khí làm linh hoạt, điện hóa từng nguyên tử thành sự sống. |
|
The following summary will afford a clearer idea to the reader. |
Bản tóm lược sau đây sẽ đem lại cho độc giả một ý niệm rõ ràng hơn. |
|
(1.) Absoluteness: the Parabrahman of the Vedântins or the One Reality, Sat, which is, as Hegel says, both Absolute Being and Non-Being. |
(1.) Tính Tuyệt Đối: Parabrahman của phái Vedanta, hay Thực Tại Duy Nhất, Sat, vốn, như Hegel nói, vừa là Bản Thể Tuyệt Đối vừa là Phi-Bản Thể. |
|
(2.) The First Logos: the impersonal, and, in philosophy, Unmanifested Logos, the precursor of the Manifested. This is the “First Cause,” the “Unconscious” of European Pantheists. |
(2.) Thượng đế thứ nhất: Thượng đế vô ngã, và trong triết học là Thượng đế Không Biểu Hiện, vị tiền thân của Đấng Biểu Hiện. Đây là “Nguyên Nhân Đầu Tiên”, là “Vô Thức” của các nhà Phiếm Thần luận châu Âu. |
|
(3.) The Second Logos: Spirit-Matter, Life; the “Spirit of the Universe,” Purusha and Prakriti. |
(3.) Thượng đế thứ hai: Tinh thần-Vật chất, Sự sống; “Tinh thần của Vũ Trụ”, Purusha và Prakriti. |
|
(4.) The Third Logos: Cosmic Ideation, Mahat or Intelligence, the Universal World-Soul; the Cosmic Noumenon of Matter, the basis of the intelligent operations in and of Nature, also called Mahâ-Buddhi. |
(4.) Thượng đế thứ ba: Ý Niệm Vũ Trụ, Mahat hay Trí Tuệ, Đại Hồn Vũ Trụ; Bản Thể Vũ Trụ của Vật chất, nền tảng của các hoạt động thông minh trong và của Thiên nhiên, cũng được gọi là Maha-Buddhi. |
|
The One Reality: its dual aspects in the conditioned Universe. |
Thực Tại Duy Nhất: các phương diện kép của nó trong Vũ Trụ bị điều kiện hóa. |
|
Further, the Secret Doctrine affirms: II. The Eternity of the Universe in toto as a boundless plane; periodically “the playground of numberless Universes incessantly manifesting and disappearing,” called the “Manifesting Stars,” and the “Sparks of Eternity.” “The Eternity of the Pilgrim 51 is like a wink of the Eye of Self-Existence,” as the Book of Dyzan puts it. “The appearance and disappearance of Worlds is like a regular tidal ebb of flux and reflux.” |
Hơn nữa, Giáo Lý Bí Nhiệm khẳng định: II. Tính Vĩnh Cửu của Vũ Trụ trong toàn thể như một cõi vô biên; theo chu kỳ là “sân chơi của vô số Vũ Trụ không ngừng biểu hiện và biến mất”, được gọi là “Các Sao Biểu Hiện” và “Những Tia Lửa của Vĩnh Cửu”. “Tính Vĩnh Cửu của Kẻ Hành Hương 51 giống như một cái chớp của Con Mắt Tự Hữu”, như Sách Dzyan diễn tả. “Sự xuất hiện và biến mất của các Thế Giới giống như nhịp triều lên xuống đều đặn của dòng chảy và dòng hồi lưu.” |
|
This second assertion of the Secret Doctrine is the absolute universality of that law of periodicity, of flux and reflux, ebb and flow, which physical science has observed and recorded in all departments of nature. An alternation such as that of Day and Night, Life and Death, Sleeping and Waking, is a fact so common, so perfectly universal and without exception, that it is easy to comprehend that in it we see one of the absolutely fundamental Laws of the Universe. |
Khẳng định thứ hai này của Giáo Lý Bí Nhiệm là tính phổ quát tuyệt đối của định luật chu kỳ, của dòng chảy và dòng hồi lưu, triều xuống và triều lên, mà khoa học hồng trần đã quan sát và ghi nhận trong mọi ngành của thiên nhiên. Một sự luân phiên như Ngày và Đêm, Sống và Chết, Ngủ và Thức, là một sự kiện quá thông thường, quá hoàn toàn phổ quát và không có ngoại lệ, đến nỗi ta dễ thấu hiểu rằng trong đó chúng ta thấy một trong những Định luật tuyệt đối nền tảng của Vũ Trụ. |
|
Moreover, the Secret Doctrine teaches: III. The fundamental identity of all Souls with the Universal Over-Soul, the latter being itself an aspect of the Unknown Root; and the obligatory pilgrimage for every Soul—a spark of the former—through the Cycle of Incarnation, or Necessity, in accordance with Cyclic and Karmic Law, during the whole term. In other words, no purely spiritual Buddhi (Divine Soul) can have an independent conscious existence before the spark which issued from the pure Essence of the Universal Sixth Principle—or the Over-Soul—has (a) passed through every elemental form of the phenomenal world of that Manvantara, and (b) acquired individuality, first by natural impulse, and then by self-induced and self-devised efforts, checked by its Karma, thus ascending through all the degrees of intelligence, from the lowest to the highest Manas, from mineral and plant, up to the holiest Archangel (Dhyâni-Buddha). The pivotal doctrine of the Esoteric Philosophy admits no privileges or special gifts in man, save those won by his own Ego through personal effort and merit throughout a long series of metempsychoses and reincarnations. This is why the Hindûs say that the Universe is Brahman and Brahmâ, for Brahman is in every atom of the universe, the six Principles in Nature being all the outcome—the variously differentiated aspects—of the Seventh and One, the only Reality in the Universe whether cosmic or micro-cosmic; and also why the permutations, psychic, spiritual and physical, on the plane of manifestation and form, of the Sixth (Brahmâ the vehicle of Brahman) are viewed by metaphysical antiphrasis as illusive and mâyâvic. For although the root of every atom individually and of every form collectively, is that Seventh Principle or the One Reality, still, in its manifested phenomenal and temporary appearance, it is no better than an evanescent illusion of our senses. |
Hơn nữa, Giáo Lý Bí Nhiệm dạy rằng: III. Sự đồng nhất căn bản của mọi Linh hồn với Đại Hồn Vũ Trụ, chính Đại Hồn này là một phương diện của Cội Rễ Bất Khả Tri; và cuộc hành hương bắt buộc dành cho mỗi Linh hồn—một tia lửa của Đại Hồn ấy—qua Chu Kỳ Nhập Thể, hay Tất Yếu, phù hợp với Định luật Chu Kỳ và Định luật Nghiệp Quả, trong suốt toàn kỳ hạn. Nói cách khác, không một Buddhi thuần tinh thần nào có thể có một sự tồn tại hữu thức độc lập trước khi tia lửa phát xuất từ Tinh Túy thuần khiết của Nguyên Khí Thứ Sáu Vũ Trụ—hay Đại Hồn—đã (a) đi qua mọi hình tướng hành khí của thế giới hiện tượng thuộc Giai kỳ sinh hóa ấy, và (b) đạt được cá tính, trước hết do xung lực tự nhiên, rồi sau đó bằng những nỗ lực tự phát sinh và tự hoạch định, bị nghiệp quả của nó kiềm chế; nhờ vậy đi lên qua mọi cấp độ trí tuệ, từ thấp nhất đến Manas cao nhất, từ khoáng vật và thực vật, lên tới Tổng Lãnh Thiên Thần chí thánh. Giáo lý then chốt của Triết Học Nội Môn không thừa nhận đặc quyền hay ân huệ đặc biệt nào nơi con người, ngoại trừ những gì do chính Chân ngã của y giành được bằng nỗ lực cá nhân và công đức xuyên qua một chuỗi dài các lần chuyển sinh và tái sinh. Đây là lý do người Hindu nói rằng Vũ Trụ là Brahman và Brahma, vì Brahman ở trong từng nguyên tử của vũ trụ; sáu Nguyên Khí trong Thiên nhiên đều là kết quả—những phương diện được biến phân khác nhau—của Nguyên Khí Thứ Bảy và Duy Nhất, Thực Tại duy nhất trong Vũ Trụ, dù là vũ trụ hay tiểu-vũ-trụ; và cũng là lý do những biến thái thông linh, tinh thần và hồng trần, trên cõi biểu hiện và hình tướng, của Nguyên Khí Thứ Sáu được nhìn nhận, theo phép phản ngữ siêu hình, là ảo huyễn và mang tính ảo lực. Vì tuy cội rễ của từng nguyên tử riêng lẻ và của mọi hình tướng nói chung là Nguyên Khí Thứ Bảy ấy, hay Thực Tại Duy Nhất, nhưng trong vẻ ngoài hiện tượng, biểu hiện và tạm thời của nó, nó chẳng hơn gì một ảo tưởng thoáng qua của các giác quan chúng ta. |
|
In its absoluteness, the One Principle under its two aspects, Parabrahman and Mûlaprakriti, is sexless, unconditioned and eternal. Its periodical manvantaric emanation, or primal radiation, is also One, androgynous and phenomenally finite. When the radiation radiates in its turn, all its radiations are also androgynous, to become male and female principles in their lower aspects. After Pralaya, whether the Great or Minor Pralaya—the latter leaving the worlds in statu quo 52—the first that reawakes to active life is the plastic Âkâsha, Father-Mother, the Spirit and Soul of Ether, or the Plane of the Circle. Space is called the Mother before its cosmic activity, and Father-Mother at the first stage of reawakening. In the Kabalah it is also Father-Mother-Son. But whereas in the Eastern Doctrine, these are the Seventh Principle of the Manifested Universe, or its Atmâ-Buddhi-Manas (Spirit-Soul-Intelligence), the Triad branching off and dividing into seven cosmical and seven human Principles, in the Western Kabalah of the Christian Mystics it is the Triad or Trinity, and with their Occultists, the male-female Jehovah, Jah-Havah. In this lies the whole difference between the Esoteric and the Christian Trinities. The Mystics and the Philosophers, the Eastern and Western Pantheists, synthesize their pregenetic Triad in the pure divine abstraction. The orthodox, anthropomorphize it. Hiranyagarbha, Hari, and Shankara—the three Hypostases of the manifesting “Spirit of the Supreme Spirit,” by which title Prithivî, the Earth, greets Vishnu in his first Avatâra—are the purely metaphysical abstract qualities of Formation, Preservation, and Destruction, and are the three divine Avasthâs (Hypostases) of that which “does not perish with created things,” Achyuta, a name of Vishnu; whereas the orthodox Christian separates his Personal Creative Deity into the three Personages of the Trinity, and admits of no higher Deity. The latter, in Occultism, is the abstract Triangle; with the orthodox, the perfect Cube. The creative god or the aggregate gods are regarded by the Eastern philosopher as Bhrântidarshanatah, “false appearances,” something “conceived of, by reason of erroneous appearances, as a material form,” and explained as arising from the illusive conception of the egotistic personal and human Soul (lower Fifth Principle). It is beautifully expressed in a revised translation in Fitzedward Hall’s notes to Wilson’s translation of the Vishnu Purâna. “That Brahma in its totality, has essentially the aspect of Prakriti, both evolved and unevolved [Mûlaprakriti], and also the aspect of Spirit and the aspect of Time. Spirit, O twice born, is the leading aspect of the Supreme Brahma. 53 The next is a two-fold aspect,—Prakriti, both evolved and unevolved, and Time is the last.” Cronus is shown in the Orphic Theogony also as being a generated god or agent. |
Trong tính tuyệt đối của nó, Nguyên Khí Duy Nhất dưới hai phương diện, Parabrahman và Mulaprakriti, là vô tính, không bị điều kiện hóa và vĩnh cửu. Sự xuất lộ theo chu kỳ trong Giai kỳ sinh hóa của nó, hay sự phóng xạ nguyên sơ, cũng là Một, lưỡng tính và hữu hạn về mặt hiện tượng. Khi phóng xạ ấy đến lượt nó phóng xạ, mọi phóng xạ của nó cũng đều lưỡng tính, để trở thành các nguyên khí nam và nữ trong các phương diện thấp hơn của chúng. Sau Giai kỳ qui nguyên, dù là Đại Giai kỳ qui nguyên hay Tiểu Giai kỳ qui nguyên—tiểu kỳ này để các thế giới trong nguyên trạng 52—điều đầu tiên thức tỉnh trở lại vào sự sống hoạt động là Akasha linh hoạt, Cha-Mẹ, Tinh thần và Linh hồn của Dĩ thái, hay Cõi của Vòng Tròn. Không gian được gọi là Mẹ trước hoạt động vũ trụ của nó, và là Cha-Mẹ ở giai đoạn đầu của sự thức tỉnh trở lại. Trong Kabalah, nó cũng là Cha-Mẹ-Con. Nhưng trong khi trong Giáo Lý Đông phương, những điều này là Nguyên Khí Thứ Bảy của Vũ Trụ Biểu Hiện, hay Atma-Buddhi-Manas của nó, bộ ba phân nhánh và chia thành bảy Nguyên Khí vũ trụ và bảy Nguyên Khí nhân loại, thì trong Kabalah Tây phương của các nhà thần bí Cơ Đốc, đó là Bộ Ba hay Ba Ngôi, và với các nhà huyền bí học của họ, là Jehovah nam-nữ, Jah-Havah. Chính trong điều này có toàn bộ sự khác biệt giữa các Tam Vị Nội Môn và Cơ Đốc. Các nhà thần bí và các triết gia, các nhà Phiếm Thần luận Đông phương và Tây phương, tổng hợp Bộ Ba tiền sinh của họ trong trừu tượng thiêng liêng thuần khiết. Những người chính thống thì nhân hình hóa nó. Hiranyagarbha, Hari và Shankara—ba Bản Thể của “Tinh thần của Tinh thần Tối Cao” đang biểu hiện, tước hiệu mà Prithivi, Trái Đất, dùng để chào Vishnu trong Đấng Hoá Thân đầu tiên của Ngài—là các phẩm tính trừu tượng thuần siêu hình của Hình Thành, Bảo Tồn và Hủy Diệt, và là ba Avastha thiêng liêng của cái “không tiêu mất cùng các vật được tạo thành”, Achyuta, một danh hiệu của Vishnu; trong khi người Cơ Đốc chính thống tách Thượng đế Sáng Tạo Cá Nhân của mình thành ba Ngôi Vị của Ba Ngôi, và không thừa nhận Thượng đế nào cao hơn. Đấng sau, trong huyền bí học, là Tam Giác trừu tượng; với người chính thống, là Khối Lập Phương hoàn hảo. Vị thần sáng tạo hay tập hợp các thần được triết gia Đông phương xem là “những vẻ ngoài giả dối”, một điều “được quan niệm, do các vẻ ngoài sai lầm, như một hình tướng vật chất”, và được giải thích là phát sinh từ quan niệm ảo huyễn của Linh hồn con người cá nhân và vị ngã. Điều này được diễn đạt đẹp đẽ trong một bản dịch hiệu đính trong các ghi chú của Fitzedward Hall cho bản dịch Vishnu Purana của Wilson. “Brahma ấy trong toàn thể của nó, về bản chất có phương diện Prakriti, vừa đã tiến hóa vừa chưa tiến hóa, và cũng có phương diện Tinh thần và phương diện Thời gian. Hỡi người hai lần sinh, Tinh thần là phương diện chủ đạo của Brahma Tối Cao. 53 Kế đó là phương diện nhị phân—Prakriti, vừa đã tiến hóa vừa chưa tiến hóa, và Thời gian là phương diện cuối cùng.” Cronus trong Thần Phả Orpheus cũng được trình bày như một vị thần hay tác nhân được sinh ra. |
|
At this stage of the reawakening of the Universe, the sacred symbolism represents it as a perfect Circle with the Point (Root) in the centre. This sign was universal, therefore we find it in the Kabalah also. The Western Kabalah, however, now in the hands of Christian Mystics, ignores it altogether, though it is plainly shown in the Zohar. These sectarians begin at the end, and give, as the symbol of pregenetic Kosmos, [cross], calling it the “Union of the Rose and Cross,” the great mystery of occult generation, from whence the name—Rosicrucian (Rose Cross)! This may be seen from one of the most important and best known of their symbols, one which has never been hitherto understood even by modern Mystics. It is that of the Pelican tearing open its breast to feed its seven little ones—the real creed of the Brothers of the Rosie-Cross and a direct outcome from the Eastern Secret Doctrine. |
Ở giai đoạn thức tỉnh trở lại này của Vũ Trụ, biểu tượng học thiêng liêng trình bày nó như một Vòng Tròn hoàn hảo với Điểm ở trung tâm. Dấu hiệu này có tính phổ quát, vì vậy chúng ta cũng thấy nó trong Kabalah. Tuy nhiên, Kabalah Tây phương, hiện nằm trong tay các nhà thần bí Cơ Đốc, hoàn toàn bỏ qua nó, dù nó được trình bày rõ ràng trong Zohar. Những người theo giáo phái này bắt đầu từ đoạn cuối, và đưa ra, như biểu tượng của Kosmos tiền sinh, [cross], gọi đó là “Sự Hợp Nhất của Hoa Hồng và Thập Giá”, đại huyền nhiệm của sự sinh sản huyền bí, từ đó phát sinh danh xưng Rosicrucian. Điều này có thể được thấy qua một trong những biểu tượng quan trọng nhất và nổi tiếng nhất của họ, một biểu tượng cho đến nay ngay cả các nhà thần bí hiện đại cũng chưa từng thấu hiểu. Đó là biểu tượng Chim Bồ Nông tự xé ngực mình để nuôi bảy con nhỏ—tín điều thực sự của các Huynh đệ Hoa Hồng-Thập Giá và là kết quả trực tiếp từ Giáo Lý Bí Nhiệm Đông phương. |
|
Brahman (neuter) is called Kâlahamsa, meaning, as explained by Western Orientalists, the Eternal Swan (or goose), and so is Brahmâ, the Creator. A great mistake is thus brought under notice; it is Brahman (neuter) which ought to be referred to as Hamsa-vâhana (that which uses the Swan as its Vehicle), and not Brahmâ, the Creator, who is the real Kâlahamsa; while Brahman (neuter) is Hamsa, and A-hamsa, as will be explained in the Commentaries. Let it be understood that the terms Brahmâ and Parabrahman are not used here because they belong to our Esoteric nomenclature, but simply because they are more familiar to the students in the West. Both are the perfect equivalents of our one, three, and seven vowelled terms, which stand for the One All, and the One “All in All.” |
Brahman trung tính được gọi là Kalahamsa, nghĩa là, như các nhà Đông phương học Tây phương giải thích, Thiên Nga vĩnh cửu, và Brahma, Đấng Sáng Tạo, cũng được gọi như vậy. Như vậy, một sai lầm lớn được nêu ra; chính Brahman trung tính mới phải được gọi là Hamsa-vahana, tức cái dùng Thiên Nga làm Vận cụ của mình, chứ không phải Brahma, Đấng Sáng Tạo, vốn là Kalahamsa thực sự; trong khi Brahman trung tính là Hamsa và A-hamsa, như sẽ được giải thích trong các Bình Giảng. Cần thấu hiểu rằng các thuật ngữ Brahma và Parabrahman không được dùng ở đây vì chúng thuộc về danh pháp Nội Môn của chúng ta, mà chỉ vì chúng quen thuộc hơn với các đạo sinh ở Tây phương. Cả hai đều là những tương đương hoàn hảo của các thuật ngữ một, ba và bảy nguyên âm của chúng ta, vốn đại diện cho Một Tất Cả, và Một “Tất Cả trong Tất Cả”. |
|
Such are the basic conceptions on which the Secret Doctrine rests. |
Đó là những quan niệm căn bản trên đó Giáo Lý Bí Nhiệm đặt nền tảng. |
|
It would not be in place here to enter upon any defence or proof of their inherent reasonableness; nor can I pause to show how they are, in fact, contained—though too often under a misleading guise—in every system of thought or philosophy worthy of the name. |
Ở đây không thích hợp để đi vào bất kỳ sự biện hộ hay chứng minh nào về tính hợp lý nội tại của chúng; tôi cũng không thể dừng lại để chỉ ra rằng thật ra chúng được chứa đựng—dù quá thường xuyên dưới một lớp vỏ gây lầm lạc—trong mọi hệ thống tư tưởng hay triết học xứng đáng với danh xưng ấy. |
|
Once that the reader has gained a clear comprehension of them and realized the light which they throw on every problem of life, they will need no further justification in his eyes, because their truth will be to him as evident as the sun in heaven. I pass on, therefore, to the subject matter of the Stanzas as given in this volume, adding a skeleton outline of them, in the hope of thereby rendering the task of the student more easy, by placing before him in a few words the general conception therein explained. |
Một khi độc giả đã đạt được sự thấu hiểu rõ ràng về chúng và nhận ra ánh sáng mà chúng chiếu rọi lên mọi vấn đề của đời sống, chúng sẽ không cần thêm sự biện minh nào trước mắt y, bởi chân lý của chúng sẽ hiển nhiên đối với y như mặt trời trên trời. Vì vậy, tôi chuyển sang nội dung của các Bài kệ như được trình bày trong tập này, kèm theo một dàn ý khung của chúng, với hy vọng nhờ đó làm cho nhiệm vụ của đạo sinh dễ dàng hơn bằng cách đặt trước y trong vài lời quan niệm tổng quát được giải thích trong đó. |
|
The history of Cosmic Evolution, as traced in the Stanzas, is, so to say, the abstract algebraical formula of that evolution. Hence the student must not expect to find there an account of all the stages and transformations which intervene between the first beginnings of Universal Evolution and our present state. To give such an account would be as impossible as it would be incomprehensible to men who cannot grasp the nature of even the plane of existence next to that to which, for the moment, their consciousness is limited. |
Lịch sử Tiến hoá Vũ trụ, như được truy nguyên trong các Bài kệ, có thể nói là công thức đại số trừu tượng của tiến hoá ấy. Vì thế, đạo sinh không nên mong tìm thấy ở đó một tường thuật về tất cả các giai đoạn và các chuyển đổi nằm giữa những khởi đầu đầu tiên của Tiến hoá Vũ Trụ và trạng thái hiện tại của chúng ta. Đưa ra một tường thuật như vậy sẽ vừa bất khả thi vừa không thể lĩnh hội đối với những người không thể nắm bắt ngay cả bản chất của cõi tồn tại kế tiếp cõi mà trong lúc này tâm thức của họ bị giới hạn vào đó. |
|
The Stanzas, therefore, give an abstract formula which can be applied, mutatis mutandis, to all evolution: to that of our tiny Earth, to that of the Chain of Planets of which that Earth forms one, to the Solar Universe to which that Chain belongs and so on, in an ascending scale, till the mind reels and is exhausted in the effort. |
Do đó, các Bài kệ đưa ra một công thức trừu tượng có thể được áp dụng, với những điều chỉnh cần thiết, cho mọi tiến hoá: cho tiến hoá của Trái Đất nhỏ bé của chúng ta, cho tiến hoá của Dãy Hành Tinh mà Trái Đất ấy là một phần, cho Vũ Trụ Thái Dương mà Dãy ấy thuộc về, và cứ thế, theo một thang đi lên, cho đến khi thể trí choáng váng và kiệt sức trong nỗ lực. |
|
The seven Stanzas given in this volume represent the seven terms of this abstract formula. They refer to, and describe, the seven great stages of the evolutionary process, which are spoken of in the Purânas as the “Seven Creations,” and in the Bible as the “Days” of Creation. |
Bảy Bài kệ được trình bày trong tập này đại diện cho bảy thuật ngữ của công thức trừu tượng ấy. Chúng liên hệ đến và mô tả bảy giai đoạn lớn của tiến trình tiến hoá, được nói đến trong các Purana như “Bảy Sáng Tạo”, và trong Kinh Thánh như các “Ngày” của Sáng Tạo. |
|
Stanza I describes the state of the One All during Pralaya, before the first flutter of reawakening Manifestation. |
Bài kệ I mô tả trạng thái của Một Tất Cả trong Giai kỳ qui nguyên, trước rung động đầu tiên của Biểu Hiện đang thức tỉnh trở lại. |
|
A moment’s thought shows that such a state can only be symbolized; to describe it is impossible. Nor can it be symbolized except in negatives; for, since it is the state of Absoluteness per se, it can possess none of those specific attributes which serve us to describe objects in positive terms. Hence that state can only be suggested by the negatives of all those most abstract attributes which men feel rather than conceive, as the remotest limits attainable by their power of conception. |
Chỉ một thoáng suy nghĩ cũng cho thấy rằng một trạng thái như thế chỉ có thể được biểu tượng hóa; mô tả nó là điều bất khả. Nó cũng không thể được biểu tượng hóa ngoại trừ bằng phủ định; bởi vì, vì đó là trạng thái của chính Tính Tuyệt Đối, nó không thể sở hữu bất kỳ thuộc tính đặc thù nào giúp chúng ta mô tả các đối tượng bằng những thuật ngữ khẳng định. Vì thế, trạng thái ấy chỉ có thể được gợi lên bằng các phủ định của tất cả những thuộc tính trừu tượng nhất mà con người cảm nhận hơn là quan niệm, như những giới hạn xa nhất mà năng lực quan niệm của họ có thể đạt tới. |
|
Stanza II describes a stage which, to a Western mind, is so nearly identical with that mentioned in Stanza I, that to express the idea of its difference would require a treatise in itself. Hence it must be left to the intuition and the higher faculties of the reader to grasp, as far as he can, the meaning of the allegorical phrases used. Indeed it must be remembered that all these Stanzas appeal to the inner faculties rather than to the ordinary comprehension of the physical brain. |
Bài kệ II mô tả một giai đoạn mà đối với trí tuệ Tây phương, gần như đồng nhất với giai đoạn được đề cập trong Bài kệ I, đến nỗi để diễn đạt ý niệm về sự khác biệt của nó sẽ cần đến cả một khảo luận riêng. Vì thế, cần để cho trực giác và các năng lực cao hơn của độc giả nắm bắt, trong phạm vi y có thể, ý nghĩa của những cụm từ ngụ ngôn được dùng. Thật vậy, cần nhớ rằng tất cả các Bài kệ này kêu gọi các năng lực bên trong hơn là sự lĩnh hội thông thường của bộ não hồng trần. |
|
Stanza III describes the Reawakening of the Universe to life after Pralaya. It depicts the emergence of the Monads from their state of absorption within the One, the earliest and highest stage in the formation of Worlds—the term Monad being one which may apply equally to the vastest Solar System or the tiniest atom. |
Bài kệ III mô tả sự Thức Tỉnh Trở Lại của Vũ Trụ vào sự sống sau Giai kỳ qui nguyên. Nó khắc họa sự xuất hiện của các chân thần từ trạng thái hòa nhập của chúng trong Đấng Duy Nhất, giai đoạn sớm nhất và cao nhất trong sự hình thành các Thế Giới—thuật ngữ chân thần là một thuật ngữ có thể áp dụng như nhau cho hệ mặt trời bao la nhất hoặc nguyên tử nhỏ bé nhất. |
|
Stanza IV shows the differentiation of the “Germ” of the Universe into the Septenary Hierarchy of conscious Divine Powers, which are the active manifestations of the One Supreme Energy. They are the framers, shapers, and ultimately the creators of all the manifested Universe, in the only sense in which the name “creator” is intelligible; they inform and guide it; they are the intelligent Beings who adjust and control evolution, embodying in themselves those manifestations of the One Law, which we know as the “Laws of Nature.” |
Bài kệ IV cho thấy sự biến phân của “Mầm” Vũ Trụ thành Thánh Đoàn Thất Phân gồm các Quyền Năng Thiêng Liêng có ý thức, vốn là những biểu hiện hoạt động của Năng Lượng Tối Cao Duy Nhất. Các Ngài là những vị tạo khuôn, định hình, và cuối cùng là các đấng sáng tạo của toàn thể Vũ Trụ biểu hiện, theo nghĩa duy nhất mà danh xưng “đấng sáng tạo” có thể hiểu được; Các Ngài thấm nhuần và hướng dẫn nó; Các Ngài là những Hữu Thể thông minh điều chỉnh và kiểm soát tiến hoá, hiện thân trong chính mình những biểu hiện của Định luật Duy Nhất mà chúng ta gọi là các “Định luật của Thiên nhiên”. |
|
Generically, they are known as the Dhyân Chohans, though each of the various groups has its own designation in the Secret Doctrine. |
Nói chung, Các Ngài được biết đến như các Dhyani Chohan, dù mỗi nhóm khác nhau có danh xưng riêng trong Giáo Lý Bí Nhiệm. |
|
This stage of evolution is spoken of in Hindû mythology as the “Creation of the Gods.” |
Giai đoạn tiến hoá này được nói đến trong thần thoại Hindu như “Sự Sáng Tạo của các Thần”. |
|
Stanza V describes the process of world-formation. First, diffused Cosmic Matter, then the “Fiery Whirlwind,” the first stage in the formation of a nebula. This nebula condenses, and after passing through various transformations, forms a Solar Universe, a Planetary Chain, or a single Planet, as the case may be. |
Bài kệ V mô tả tiến trình hình thành thế giới. Trước hết là Vật Chất Vũ Trụ phân tán, rồi đến “Cơn Lốc Lửa”, giai đoạn đầu tiên trong sự hình thành một tinh vân. Tinh vân này ngưng tụ, và sau khi trải qua nhiều chuyển đổi khác nhau, hình thành một Vũ Trụ Thái Dương, một Dãy Hành Tinh, hay một Hành Tinh đơn lẻ, tùy trường hợp. |
|
Stanza VI indicates the subsequent stages in the formation of a “World” and brings the evolution of such a World down to its fourth great period, corresponding to the period in which we are now living. |
Bài kệ VI chỉ ra các giai đoạn tiếp theo trong sự hình thành một “Thế Giới” và đưa tiến hoá của một Thế Giới như vậy xuống đến đại kỳ thứ tư của nó, tương ứng với thời kỳ mà hiện nay chúng ta đang sống. |
|
Stanza VII continues the history, tracing the descent of life down to the appearance of Man; and thus closes the First Book of the Secret Doctrine. |
Bài kệ VII tiếp tục lịch sử ấy, truy nguyên sự giáng xuống của sự sống cho đến sự xuất hiện của Con Người; và như vậy khép lại Quyển Thứ Nhất của Giáo Lý Bí Nhiệm. |
|
The development of “Man” from his first appearance on this earth in this Round to the state in which we now find him will form the subject of Book II. |
Sự phát triển của “Con Người” từ lần xuất hiện đầu tiên của y trên Trái Đất này trong cuộc tuần hoàn này cho đến trạng thái mà hiện nay chúng ta thấy y sẽ là chủ đề của Quyển II. |
|
The Stanzas which form the thesis of every section are given throughout in their modern translated version, as it would be worse than useless to make the subject still more difficult by introducing the archaic phraseology of the original, with its puzzling style and words. Extracts are given from the Chinese, Tibetan and Sanskrit translations of the original Senzar Commentaries and Glosses on the Book of Dzyan—now rendered for the first time into a European language. It is almost unnecessary to state that only portions of the seven Stanzas are here given. Were they published complete they would remain incomprehensible to all save a few high Occultists. Nor is there any need to assure the reader that no more than most of the profane, does the writer, or rather the humble recorder, understand those forbidden passages. To facilitate the reading, and to avoid the too frequent reference to foot-notes, it was thought best to blend together texts and glosses, using the Sanskrit and Tibetan proper names whenever these could not be avoided, in preference to giving the originals: the more so as the said terms are all accepted synonyms, the latter only being used between a Master and his Chelâs (or Disciples). |
Các Bài kệ tạo thành luận đề của mỗi phần được trình bày xuyên suốt trong bản dịch hiện đại của chúng, vì sẽ còn tệ hơn vô ích nếu làm cho chủ đề thêm khó bằng cách đưa vào văn phong cổ xưa của nguyên bản, với lối hành văn và từ ngữ gây bối rối. Các trích đoạn được đưa ra từ các bản dịch Trung Hoa, Tây Tạng và Sanskrit của những Bình Giảng và Chú Giải Senzar nguyên thủy về Sách Dzyan—nay lần đầu tiên được chuyển sang một ngôn ngữ châu Âu. Hầu như không cần nói rằng ở đây chỉ trình bày một phần của bảy Bài kệ. Nếu chúng được xuất bản đầy đủ, chúng sẽ vẫn không thể lĩnh hội đối với tất cả ngoại trừ một vài nhà huyền bí học cao cấp. Cũng không cần bảo đảm với độc giả rằng không hơn gì phần lớn người phàm tục, tác giả, hay đúng hơn là người ghi chép khiêm tốn, cũng không thấu hiểu những đoạn bị cấm ấy. Để làm cho việc đọc dễ dàng hơn và tránh việc phải quá thường xuyên tham chiếu đến chú thích cuối trang, người ta cho rằng tốt nhất là hòa trộn bản văn và chú giải, dùng các danh xưng riêng Sanskrit và Tây Tạng bất cứ khi nào không thể tránh được, thay vì đưa ra nguyên bản; càng nên như vậy vì các thuật ngữ nói trên đều là các từ đồng nghĩa được chấp nhận, còn các thuật ngữ sau chỉ được dùng giữa một Chân sư và các đệ tử của Ngài. |
|
Thus, were one to translate into English, using only the substantives and technical terms as employed in one of the Tibetan and Senzar versions, shloka 1 would read as follows: Tho-ag in Zhi-gyu slept seven Khorlo. Zodmanas zhiba. All Nyug bosom. Konch-hog not; Thyan-Kam not; Lha-Chohan not; Tenbrel Chugnyi not; Dharmakâya ceased; Tgenchang not become; Barnang and Ssa in Ngovonyidj; alone Tho-og Yinsin in night of Sun-chan and Yong-Grub [Paranishpanna], etc., etc. |
Như vậy, nếu dịch sang tiếng Anh, chỉ dùng các danh từ và thuật ngữ kỹ thuật như được dùng trong một trong các bản Tây Tạng và Senzar, câu kệ 1 sẽ đọc như sau: Tho-ag trong Zhi-gyu ngủ bảy Khorlo. Zodmanas zhiba. Tất cả Nyug trong lòng. Konch-hog không; Thyan-Kam không; Lha-Chohan không; Tenbrel Chugnyi không; Dharmakaya chấm dứt; Tgenchang chưa trở thành; Barnang và Ssa trong Ngovonyidj; chỉ một mình Tho-og Yinsin trong đêm của Sun-chan và Yong-Grub, vân vân. |
|
This would sound like pure Abracadabra. |
Điều này nghe chẳng khác gì một thứ thần chú khó hiểu thuần túy. |
|
As this work is written for the instruction of students of Occultism, and not for the benefit of Philologists, we may well avoid such foreign terms wherever it is possible to do so. The untranslateable terms alone, incomprehensible unless their meanings are explained, are left, but all such terms are rendered in their Sanskrit form. Needless to remind the reader that these are, in almost every case, the late developments of the latter language, and pertain to the Fifth Root-Race. Sanskrit, as now known, was not spoken by the Atlanteans, and most of the philosophical terms used in the systems of the India of the Post-Mahâbhâratan period are not found in the Vedas, nor are they to be met with in the original Stanzas, but only their equivalents. The reader who is not a Theosophist, is once more invited to regard all that follows as a fairy tale, if he likes; at best as one of the yet unproven speculations of dreamers; and, at the worst, as an additional hypothesis to the many scientific hypotheses past, present and future, some exploded, others still lingering. It is not in any sense less scientific than are many of the so-called scientific theories; and it is in every case more philosophical and probable. |
Vì tác phẩm này được viết để giáo huấn các đạo sinh huyền bí học, chứ không phải vì lợi ích của các nhà ngữ văn học, chúng ta rất có thể tránh những thuật ngữ ngoại lai như thế bất cứ nơi nào có thể. Chỉ những thuật ngữ không thể dịch, không thể hiểu nếu ý nghĩa của chúng không được giải thích, mới được giữ lại, nhưng tất cả các thuật ngữ như vậy đều được chuyển sang dạng Sanskrit. Không cần nhắc độc giả rằng trong hầu hết mọi trường hợp, chúng là những phát triển muộn của ngôn ngữ sau này, và thuộc về Giống Dân Gốc thứ năm. Sanskrit, như hiện nay được biết, không được người Atlantis nói, và phần lớn các thuật ngữ triết học được dùng trong các hệ thống của Ấn Độ thời hậu Mahabharata không tìm thấy trong các Veda, cũng không gặp trong các Bài kệ nguyên thủy, mà chỉ có các tương đương của chúng. Độc giả không phải là nhà Thông Thiên Học một lần nữa được mời xem tất cả những gì theo sau như một truyện thần tiên, nếu y muốn; tốt nhất là như một trong những suy luận chưa được chứng minh của những kẻ mộng tưởng; và tệ nhất là như một giả thuyết bổ sung vào nhiều giả thuyết khoa học trong quá khứ, hiện tại và tương lai, một số đã bị bác bỏ, số khác vẫn còn tồn tại dai dẳng. Nó không hề kém khoa học hơn nhiều lý thuyết được gọi là khoa học; và trong mọi trường hợp, nó có tính triết học hơn và có khả năng đúng hơn. |
|
In view of the abundant comments and explanations required, the references to the footnotes are marked in the usual way, while the sentences to be commented upon are marked with letters. Additional matter will be found in the Chapters on Symbolism, which are often more full of information than the Commentaries. |
Do cần có nhiều bình luận và giải thích, các tham chiếu đến chú thích cuối trang được đánh dấu theo cách thông thường, trong khi những câu cần được bình luận được đánh dấu bằng chữ cái. Tài liệu bổ sung sẽ được tìm thấy trong các Chương về Biểu Tượng Học, vốn thường chứa nhiều thông tin hơn các Bình Giảng. |
Footnotes
|
27 |
|
|
It is hardly necessary to remind the reader that the term Divine Thought, like that of Universal Mind, must not be regarded as even vaguely shadowing forth an intellectual process akin to that exhibited by man. The “Unconscious,” according to von Hartmann, arrived at the vast creative, or rather evolutionary plan, “by a clairvoyant wisdom superior to all consciousness,” which in Vedântic language would mean absolute Wisdom. Only those who realize how far intuition soars above the tardy processes of ratiocinative thought can form the faintest conception of that absolute Wisdom which transcends the ideas of Time and Space. Mind, as we know it, is resolvable into states of consciousness, of varying duration, intensity, complexity, etc., all, in the ultimate, resting on sensation, which is again Mâyâ. Sensation, again, necessarily postulates limitation. The Personal God of orthodox Theism perceives, thinks, and is affected by emotion; he repents and feels “fierce anger.” But the notion of such mental states clearly involves the unthinkable postulate of the externality of the exciting stimuli, to say nothing of the impossibility of ascribing changelessness to a being whose emotions fluctuate with events in the worlds he presides over. The conceptions of a Personal God as changeless and infinite are thus unpsychological and, what is worse, unphilosophical. |
Hầu như không cần nhắc độc giả rằng thuật ngữ Tư Tưởng Thiêng Liêng, cũng như Vũ Trụ Trí, không được xem là dù chỉ mơ hồ gợi ra một tiến trình trí năng tương tự tiến trình được con người biểu lộ. Theo von Hartmann, “Vô thức” đạt tới Thiên Cơ sáng tạo bao la, hay đúng hơn là Thiên Cơ tiến hoá, “bằng một minh triết thông nhãn vượt trên mọi tâm thức,” điều mà theo ngôn ngữ Vedanta sẽ có nghĩa là Minh Triết tuyệt đối. Chỉ những ai nhận ra trực giác vươn cao hơn các tiến trình chậm chạp của tư tưởng lý luận đến mức nào mới có thể hình thành được ý niệm mờ nhạt nhất về Minh Triết tuyệt đối ấy, vốn siêu việt các ý tưởng về Thời gian và Không gian. Thể trí, như chúng ta biết, có thể phân giải thành các trạng thái tâm thức, khác nhau về thời lượng, cường độ, mức độ phức tạp, v.v., và rốt cuộc tất cả đều đặt nền trên cảm giác, mà cảm giác lại là maya. Cảm giác, một lần nữa, tất yếu giả định sự giới hạn. Thượng đế Cá nhân của Thần luận chính thống nhận biết, suy nghĩ, và chịu tác động của cảm xúc; Ngài hối tiếc và cảm thấy “cơn thịnh nộ dữ dội.” Nhưng ý niệm về những trạng thái trí tuệ như thế rõ ràng bao hàm giả định không thể nghĩ bàn rằng các kích thích gây nên chúng là ngoại tại, chưa kể đến sự bất khả trong việc gán tính bất biến cho một Hữu Thể có các cảm xúc dao động theo những biến cố trong các thế giới mà Ngài chủ trì. Vì vậy, các quan niệm về một Thượng đế Cá nhân vừa bất biến vừa vô hạn là phi tâm lý học, và tệ hơn nữa, phi triết học. |
|
28 |
|
|
Plato proves himself an Initiate, when saying in Cratylus that θεός is derived from θέειν, to move, to run, for the first astronomers who observed the motions of the heavenly bodies called the planets θεοί, gods. Later the word produced another term, ἀλήθεια—the breath of God. |
Plato chứng tỏ mình là một điểm đạo đồ khi nói trong Cratylus rằng từ chỉ Thượng đế có nguồn gốc từ từ có nghĩa là chuyển động, chạy; bởi các nhà thiên văn đầu tiên, khi quan sát những chuyển động của các thiên thể, đã gọi các hành tinh là các thần. Về sau, từ ấy sinh ra một thuật ngữ khác, nghĩa là chân lý — hơi thở của Thượng đế. |
|
29 |
|
|
Nominalists, arguing with Berkeley that “it is impossible… to form the abstract idea of motion distinct from the body moving” (Principles of Human Knowledge, Introd., par. 10), may put the question, What is that body, the producer of that motion? Is it a substance? Then you are believers in a Personal God? etc., etc. This will be answered farther on, in a further part of this work; meanwhile, we claim our rights of Conceptionalists as against Roscelini’s materialistic views of Realism and Nominalism. “Has science,” says one of its ablest advocates, Edward Clodd, “revealed anything that weakens or opposes itself to the ancient words in which the essence of all religion, past, present, and to come, is given; to do justly, to love mercy, to walk humbly before thy God?” And we agree, provided we connote by the word God, not the crude anthropomorphism which is still the backbone of our current theology, but the symbolic conception of that which is the Life and Motion of the Universe, to know which in the physical order is to know time past, present, and to come, in the existence of successions of phenomena; to know which, in the moral, is to know what has been, is, and will be, within human consciousness. (See Science and the Emotions, a Discourse delivered at South Place Chapel, Finsbury, London, December 27th, 1885) |
Những người duy danh, khi cùng Berkeley lập luận rằng “không thể… hình thành ý tưởng trừu tượng về chuyển động tách khỏi vật thể đang chuyển động” (Các Nguyên lý của Tri thức Con người, Dẫn nhập, đoạn 10), có thể nêu câu hỏi: Vật thể ấy là gì, vật thể tạo ra chuyển động ấy? Nó có phải là một chất thể chăng? Vậy thì các bạn là những người tin vào một Thượng đế Cá nhân? v.v., v.v. Điều này sẽ được trả lời ở phần sau, trong một phần tiếp theo của tác phẩm này; trong khi đó, chúng tôi đòi quyền của mình với tư cách những người duy niệm, đối lại các quan điểm duy vật của Roscelini về chủ nghĩa thực tại và chủ nghĩa duy danh. “Khoa học,” Edward Clodd, một trong những người biện hộ có năng lực nhất của nó, nói, “đã mặc khải điều gì làm suy yếu hoặc chống lại những lời cổ xưa trong đó tinh hoa của mọi tôn giáo, quá khứ, hiện tại và tương lai, được nêu ra: hành động công chính, yêu lòng từ bi, và bước đi khiêm cung trước Thượng đế của ngươi chăng?” Và chúng tôi đồng ý, miễn là bằng từ Thượng đế, chúng ta không hàm ý thuyết nhân hình thô thiển vẫn còn là xương sống của thần học hiện hành, mà là quan niệm biểu tượng về Cái vốn là Sự Sống và Chuyển Động của Vũ Trụ; biết Cái ấy trong trật tự hồng trần là biết thời gian quá khứ, hiện tại và tương lai, trong sự tồn tại của các chuỗi hiện tượng; biết Cái ấy trong trật tự đạo đức là biết những gì đã từng là, đang là, và sẽ là, bên trong tâm thức con người. (Xem Khoa học và Cảm xúc, một diễn từ được trình bày tại Nhà nguyện South Place, Finsbury, London, ngày 27 tháng 12 năm 1885) |
|
30 |
|
|
Isis Unveiled, II, 264-5 |
Isis Vén Màn, II, 264-5 |
|
31 |
|
|
Rig Veda. |
Rig Veda. |
|
32 |
|
|
We are told by the Western mathematicians and some American Kabalists, that in the Kabalah also “the value of the Jehovah name is that of the diameter of a circle.” Add to this the fact that Jehovah is the third of the Sephiroth, Binah, a feminine word, and you have the key to the mystery. By certain Kabalistic transformations this name, which is androgynous in the first chapters of Genesis, becomes in its transformations entirely masculine, Cainite and phallic. The choosing of a deity among the pagan gods and making of it a special national God, to call upon it as the “One Living God,” the “God of Gods,” and then proclaiming this worship monotheistic, does not change it into the One Principle whose “Unity admits not of multiplication, change, or form,” especially in the case of a priapic deity, as Jehovah is now demonstrated to be. |
Các nhà toán học phương Tây và một số nhà Kabbalah Mỹ cho chúng ta biết rằng trong Kabbalah, “giá trị của danh Jehovah cũng là giá trị của đường kính một hình tròn.” Thêm vào đó sự kiện rằng Jehovah là Sephiroth thứ ba, Binah, một từ giống cái, và các bạn có chìa khóa của bí nhiệm. Qua những phép chuyển hóa Kabbalah nhất định, danh này, vốn mang tính lưỡng tính trong các chương đầu của Sáng Thế Ký, trở nên hoàn toàn nam tính, mang tính Cain và mang tính sinh thực khí trong các chuyển hóa của nó. Việc chọn một vị thần trong số các thần ngoại giáo và biến vị ấy thành Thượng đế dân tộc đặc biệt, để khẩn cầu vị ấy như “Thượng đế Hằng Sống Duy Nhất,” “Thượng đế của các Thượng đế,” rồi tuyên bố sự thờ phượng này là độc thần, không biến vị ấy thành Nguyên Khí Duy Nhất mà “Tính Hợp Nhất không cho phép nhân bội, biến đổi hay hình tướng,” đặc biệt trong trường hợp một vị thần mang tính sinh thực khí như Jehovah nay đã được chứng minh là như vậy. |
|
33 |
|
|
See that suggestive work, The Source of Measures, where the author explains the real meaning of the word Sacr’ from which “sacred,” “sacrament,” are derived, words which have now become synonyms of holiness, though purely phallic! |
Xem tác phẩm đầy gợi ý ấy, Nguồn Gốc của các Đơn Vị Đo, trong đó tác giả giải thích ý nghĩa thật của từ Sacr, từ đó phát sinh “thiêng liêng,” “bí tích,” những từ hiện nay đã trở thành đồng nghĩa với sự thánh thiện, dù thuần túy mang tính sinh thực khí! |
|
34 |
|
|
Mândûkya Upanishad, I. 28 |
Mandukya Upanishad, I. 28 |
|
35 |
|
|
Bodhimür, Book II. |
Bodhimur, Quyển II. |
|
36 |
|
|
See the Vedânta Sâra, by Major G. A. Jacob; and also The Aphorisms of Shândilya, translated by Cowell, p. 42 |
Xem Vedanta Sara, của Thiếu tá G. A. Jacob; và cả Các Cách Ngôn của Shandilya, do Cowell dịch, tr. 42 |
|
37 |
|
|
Aitareya Upanishad. |
Aitareya Upanishad. |
|
38 |
|
|
Nevertheless, prejudiced and rather fanatical Christian Orientalists would like to prove this to be pure Atheism. For proof of this, compare Major Jacob’s Vedânta Sâra. Yet, the whole of antiquity echoes the thought: Omnis enim per se divom natura necesse est |
Tuy nhiên, các nhà Đông phương học Cơ Đốc giáo đầy thành kiến và khá cuồng tín muốn chứng minh điều này là chủ nghĩa vô thần thuần túy. Để có bằng chứng về điều này, hãy so sánh Vedanta Sara của Thiếu tá Jacob. Thế nhưng, toàn bộ cổ đại đều vọng lại tư tưởng: Bản chất của các thần, tự nó, tất yếu |
|
Immortali ævo summa cum pace fruatur— |
được hưởng sự an bình tối thượng trong đời sống bất tử— |
|
as Lucretius has it—a purely Vedântic conception. |
như Lucretius diễn đạt — một quan niệm thuần Vedanta. |
|
39 |
|
|
The very names of the two chief deities, Brahmâ and Vishnu, ought to have long ago suggested their esoteric meanings. Brahman, or Brahm, is derived by some from the root brih, to grow or to expand (see Calcutta Review, vol. lxvi., p. 14); Vishnu, from the root vish, to pervade, to enter into the nature of the essence; Brahmâ-Vishnu thus being infinite Space, of which the Gods, the Rishis, the Manus, and all in this Universe are simply the Potencies (Vibhûtayah). |
Chính tên gọi của hai vị thần chủ yếu, Brahma và Vishnu, lẽ ra từ lâu đã gợi ý những ý nghĩa nội môn của các vị ấy. Brahman, hay Brahm, được một số người dẫn xuất từ căn brih, nghĩa là lớn lên hay mở rộng (xem Calcutta Review, tập lxvi., tr. 14); Vishnu, từ căn vish, nghĩa là thấm nhập, đi vào bản chất của tinh túy; Brahma-Vishnu như vậy là Không Gian vô hạn, trong đó các Thần, các Rishi, các Manu, và tất cả trong Vũ Trụ này chỉ đơn giản là các Quyền Năng. |
|
40 |
|
|
See Manu’s account of Brahmâ separating his body into male and female, the latter the female Vâch, in whom he creates Virâj, and compare this with the esotericism of Chapters II, III, and IV of Genesis. |
Xem tường thuật của Manu về việc Brahma phân chia thể của mình thành nam và nữ, phần sau là Vach nữ tính, trong đó Ngài sáng tạo Viraj, và hãy so sánh điều này với huyền bí học của các Chương II, III và IV của Sáng Thế Ký. |
|
41 |
|
|
Occultism is indeed “in the air” at the close of this our century. Among many other works recently published, we would recommend especially to students of theoretical Occultism who would not venture beyond the realm of our special human plane, New Aspects of Life and Religion, by Henry Pratt, M.D. It is full of esoteric dogmas and philosophy, the latter, however, in the concluding chapters, rather limited by what seems to be a spirit of conditioned positivism. Nevertheless, what is said of Space as “the Unknown First Cause,” merits quotation. |
Huyền bí học quả thật đang “ở trong không khí” vào lúc khép lại thế kỷ này của chúng ta. Trong số nhiều tác phẩm khác được xuất bản gần đây, chúng tôi đặc biệt khuyến nghị các đạo sinh huyền bí học lý thuyết, những người không muốn mạo hiểm vượt ra ngoài lĩnh vực của cõi nhân loại đặc thù của chúng ta, đọc Những Phương Diện Mới của Đời Sống và Tôn Giáo, của Henry Pratt, M.D. Tác phẩm này đầy những giáo điều và triết học nội môn; tuy nhiên, trong các chương kết luận, phần triết học ấy có phần bị giới hạn bởi điều dường như là một tinh thần thực chứng bị điều kiện hóa. Dù vậy, những gì được nói về Không Gian như “Nguyên Nhân Đầu Tiên Bất Khả Tri” đáng được trích dẫn. |
|
“This unknown something, thus recognized as, and identified with, the primary embodiment of Simple Unity, is invisible and impalpable [as abstract space, granted]: and because invisible and impalpable, therefore incognizable. And this incognizability has led to the error of supposing it to be a simple void, a mere receptive capacity. But, even viewed as an absolute void, space must be admitted to be either self-existent, infinite, and eternal, or to have had a first cause outside, behind, and beyond itself. |
“Cái gì đó bất khả tri này, khi được nhận biết và đồng hoá với hiện thân nguyên sơ của Tính Hợp Nhất Đơn Nhất, là vô hình và không thể sờ chạm [như không gian trừu tượng, xin thừa nhận]: và vì vô hình, không thể sờ chạm, nên bất khả tri. Và tính bất khả tri này đã dẫn đến sai lầm khi cho rằng nó là một khoảng không đơn thuần, một năng lực tiếp nhận đơn thuần. Nhưng, ngay cả khi được xem như một khoảng không tuyệt đối, không gian phải được thừa nhận hoặc là tự tồn, vô hạn và vĩnh cửu, hoặc đã có một nguyên nhân đầu tiên ở bên ngoài, phía sau và vượt ngoài chính nó. |
|
“And yet could such a cause be found and defined, this would only lead to the transferring thereto of the attributes otherwise accruing to space, and thus merely throw the difficulty of origination a step farther back, without gaining additional light as to primary causation.” (Op. cit., p. 5) This is precisely what has been done by the believers in an anthropomorphic creator, an extra-cosmic, instead of an intra-cosmic God. Many of Dr. Pratt’s subjects—most of them we may say—are old Kabalistic ideas and theories which he presents in quite a new garb— “New Aspects” of the Occult in Nature, indeed. Space, however, viewed as a Substantial Unity—the living Source of Life—is, as the Unknown Causeless Cause, the oldest dogma in Occultism, millenniums earlier than the Pater-Æther of the Greeks and Latins. So are “Force and Matter, as Potencies of Space, inseparable, and the unknown revealers of the Unknown.” They are all found in Âryan philosophy personified as Vishvakarman, Indra, Vishnu, etc., etc. Still they are expressed very philosophically, and under many unusual aspects, in the work referred to. |
“Thế nhưng, nếu có thể tìm thấy và định nghĩa một nguyên nhân như thế, điều này chỉ dẫn đến việc chuyển sang cho nguyên nhân ấy những thuộc tính vốn lẽ ra quy về không gian, và như vậy chỉ đơn thuần đẩy khó khăn về nguồn gốc lùi thêm một bước, mà không đạt thêm ánh sáng nào về nhân quả nguyên sơ.” (Sđd., tr. 5) Đây chính xác là điều những người tin vào một đấng sáng tạo theo nhân hình, một Thượng đế ngoại vũ trụ thay vì nội vũ trụ, đã làm. Nhiều chủ đề của Tiến sĩ Pratt — có thể nói là phần lớn — là các ý tưởng và lý thuyết Kabbalah cổ mà ông trình bày trong một y phục khá mới — quả thật là “Những Phương Diện Mới” của Huyền Môn trong Thiên Nhiên. Tuy nhiên, Không Gian, được xem như một Tính Hợp Nhất Có Thực Chất — Nguồn Sống của Sự Sống — với tư cách Nguyên Nhân Vô Nhân Bất Khả Tri, là giáo điều cổ xưa nhất trong huyền bí học, sớm hơn hàng thiên niên kỷ so với Cha-Dĩ Thái của người Hy Lạp và La Mã. “Mãnh lực và Vật chất, với tư cách các Quyền Năng của Không Gian, bất khả phân, và là những vị mặc khải bất khả tri của Cái Bất Khả Tri” cũng vậy. Tất cả đều được tìm thấy trong triết học Arya, được nhân cách hóa thành Vishvakarman, Indra, Vishnu, v.v., v.v. Tuy thế, trong tác phẩm được nhắc tới, chúng được diễn đạt rất có tính triết học và dưới nhiều phương diện khác thường. |
|
42 |
|
|
In contradistinction to the manifested Universe of matter, the term Mûlaprakriti (from mûla, root, and prakriti, nature), or the unmanifested primordial Matter—called by Western Alchemists Adam’s Earth—is applied by the Vedântins to Parabrahman. Matter is dual in religious metaphysics, and in esoteric teachings septenary, like everything else in the Universe. As Mûlaprakriti, it is undifferentiated and eternal: as Vyakta, it becomes differentiated and conditioned, according to Shvetâshvatara Upanishad, I, 8, and Devî Bhâgavata Purâna. The author of the Four lectures on the Bhagavad Gîtâ, in speaking of Mûlaprakriti, says: “From its [the Logos’] objective standpoint, Parabrahman appears to it as Mûlaprakriti…. Of course this Mûlaprakriti is material to it, as any material object is material to us…. Parabrahman is an unconditioned and absolute reality, and Mûlaprakriti is a sort of veil thrown over it.” (Theosophist, VIII, 304) |
Đối lập với Vũ Trụ vật chất đã biểu hiện, thuật ngữ Mulaprakriti (từ mula, căn, và prakriti, thiên nhiên), hay Vật chất nguyên sơ chưa biểu hiện — được các nhà luyện kim phương Tây gọi là Đất của Adam — được các nhà Vedanta áp dụng cho Parabrahman. Vật chất có tính nhị nguyên trong siêu hình học tôn giáo, và trong các giáo huấn nội môn thì có tính thất phân, như mọi sự khác trong Vũ Trụ. Với tư cách Mulaprakriti, nó bất biến phân và vĩnh cửu: với tư cách Vyakta, nó trở nên biến phân và bị điều kiện hóa, theo Shvetashvatara Upanishad, I, 8, và Devi Bhagavata Purana. Tác giả của Bốn bài giảng về Bhagavad Gita, khi nói về Mulaprakriti, viết: “Từ lập trường khách quan của nó [Thượng đế], Parabrahman hiện ra với nó như Mulaprakriti…. Dĩ nhiên Mulaprakriti này là vật chất đối với nó, như bất kỳ đối tượng vật chất nào là vật chất đối với chúng ta…. Parabrahman là thực tại tuyệt đối và không bị điều kiện hóa, còn Mulaprakriti là một thứ màn che phủ lên nó.” (Theosophist, VIII, 304) |
|
43 |
|
|
Esoteric Philosophy, regarding every finite thing as Mâyâ (or the illusion of ignorance), must necessarily view in the same light every intra-cosmic planet and body, seeing that it is something organized, hence finite. The sentence, therefore, “it proceeds from without inwardly, etc.”, in its first clause, refers to the dawn of the Mahâmanvantara, or the great reevolution after one of the complete periodical dissolutions of every compound form in Nature, from planet to molecule, into its ultimate essence or element; and in its second clause, to the partial or local Manvantara, which may be a solar or even a planetary one. |
Triết Học Nội Môn, khi xem mọi sự hữu hạn là maya (hay ảo tưởng của vô minh), tất yếu phải nhìn dưới cùng ánh sáng ấy mọi hành tinh và thể nội vũ trụ, bởi nó là một cái gì có tổ chức, do đó hữu hạn. Vì vậy, câu “nó tiến từ bên ngoài vào bên trong, v.v.”, trong mệnh đề đầu, quy chiếu đến buổi bình minh của Mahamanvantara, hay cuộc tái tiến hoá vĩ đại sau một trong những kỳ tan rã chu kỳ hoàn toàn của mọi hình tướng hợp thành trong Thiên Nhiên, từ hành tinh đến phân tử, vào tinh túy hay nguyên tố tối hậu của nó; và trong mệnh đề thứ hai, quy chiếu đến Manvantara từng phần hay cục bộ, có thể là một Manvantara thái dương hoặc thậm chí hành tinh. |
|
44 |
|
|
By Centre, a centre of energy or a cosmic focus is meant; when the so-called “creation,” or formation, of a planet, is accomplished by that force which is designated by Occultists Life and by Science Energy, then the process takes place from within outwardly, every atom being said to contain in itself the creative energy of the divine Breath. And, whereas after an Absolute Pralaya, when the preexisting material consists but of One Element, and Breath “is everywhere,” the latter acts from without inwardly; after a Minor Pralaya, when everything having remained in statu quo—in a refrigerated state, so to say, like the moon—then at the first flutter of Manvantara, the planet or planets begin their resurrection to life from within outwardly. |
Bằng Trung Tâm, ý nói một trung tâm năng lượng hay một tiêu điểm vũ trụ; khi cái gọi là “sự sáng tạo,” hay sự hình thành, của một hành tinh được hoàn thành bởi mãnh lực mà các nhà huyền bí học gọi là Sự Sống và Khoa học gọi là Năng Lượng, thì tiến trình diễn ra từ bên trong ra bên ngoài, mỗi nguyên tử được nói là chứa trong chính nó năng lượng sáng tạo của Hơi Thở thiêng liêng. Và trong khi sau một Giai kỳ qui nguyên Tuyệt đối, khi vật liệu tiền tồn chỉ gồm Một Nguyên tố, và Hơi Thở “ở khắp nơi,” thì Hơi Thở ấy tác động từ bên ngoài vào bên trong; sau một Giai kỳ qui nguyên Nhỏ, khi mọi sự vẫn còn nguyên trạng — có thể nói là trong một trạng thái đông lạnh, như mặt trăng — thì vào rung động đầu tiên của Manvantara, hành tinh hay các hành tinh bắt đầu sự phục sinh vào đời sống từ bên trong ra bên ngoài. |
|
45 |
|
|
In the evolutionary cycles of ideas, it is curious to notice how ancient thought seems to be reflected in modern speculation. Had Mr. Herbert Spencer read and studied ancient Hindû philosophers when he wrote a certain passage in his First Principles (p. 482)? Or is it an independent flash of inner perception that made him say half correctly, half incorrectly, “motion as well as matter, being fixed in quantity [?], it would seem that the change in the distribution of matter which motion effects, coming to a limit in whichever direction it is carried [?], the indestructible motion thereupon necessitates a reverse distribution. Apparently, the universally coexistent forces of attraction and repulsion which, as we have seen, necessitate rhythm in all minor changes throughout the Universe, also necessitate rhythm in the totality of its changes—produce now an immeasurable period during which the attracting forces predominating, cause universal concentration, and then an immeasurable period, during which the repulsive forces predominating, cause universal diffusion—alternate eras of evolution and dissolution.” |
Trong các chu kỳ tiến hoá của ý tưởng, thật thú vị khi nhận thấy tư tưởng cổ xưa dường như được phản chiếu trong suy đoán hiện đại. Phải chăng ông Herbert Spencer đã đọc và nghiên cứu các triết gia Hindu cổ đại khi ông viết một đoạn nào đó trong Những Nguyên Lý Đầu Tiên của mình (tr. 482)? Hay đó là một tia lóe độc lập của tri giác nội tâm khiến ông nói nửa đúng, nửa sai rằng “chuyển động cũng như vật chất, cố định về lượng [?], dường như sự thay đổi trong phân bố vật chất mà chuyển động tạo ra, khi đi đến một giới hạn theo bất cứ hướng nào nó được đưa tới [?], thì chuyển động bất hoại từ đó tất yếu đòi hỏi một sự phân bố ngược lại. Rõ ràng, các mãnh lực hấp dẫn và đẩy lùi cùng hiện hữu phổ quát, như chúng ta đã thấy, vốn tất yếu tạo ra nhịp điệu trong mọi biến đổi nhỏ khắp Vũ Trụ, cũng tất yếu tạo ra nhịp điệu trong toàn thể các biến đổi của nó — nay tạo ra một thời kỳ vô lượng trong đó các mãnh lực hấp dẫn chiếm ưu thế, gây nên sự tập trung phổ quát, rồi một thời kỳ vô lượng trong đó các mãnh lực đẩy lùi chiếm ưu thế, gây nên sự khuếch tán phổ quát — những kỷ nguyên luân phiên của tiến hoá và tan rã.” |
|
46 |
|
|
Whatever the news of Physical Science upon the subject, Occult Science has been teaching for ages that Âkâsha (of which Ether is the grossest form), the Fifth universal cosmic Principle—to which corresponds and from which proceeds human Manas—is, cosmically, a radiant, cool, diathermanous plastic matter, creative in its physical nature, correlative in its grossest aspects and portions, immutable in its higher principles. In the creative condition it is called the Sub-Root; and in conjunction with radiant heat, it recalls “dead worlds to life.” In its higher aspect it is the Soul of the World; in its lower—the Destroyer. |
Dù Khoa Học Hồng Trần có tin tức gì về đề tài này, Khoa Học Huyền Bí đã dạy từ bao thời đại rằng Akasha (trong đó Dĩ Thái là hình thức thô nhất), Nguyên Khí vũ trụ phổ quát thứ Năm — tương ứng với và từ đó phát sinh Manas của con người — về mặt vũ trụ, là một vật chất dẻo, bức xạ, mát, truyền nhiệt xuyên qua, có tính sáng tạo trong bản chất hồng trần của nó, tương liên trong các phương diện và phần thô nhất của nó, bất biến trong các nguyên khí cao hơn của nó. Trong trạng thái sáng tạo, nó được gọi là Căn Phụ; và khi kết hợp với nhiệt bức xạ, nó gọi “các thế giới chết trở lại với sự sống.” Trong phương diện cao hơn, nó là Linh Hồn của Thế Giới; trong phương diện thấp hơn — Kẻ Hủy Diệt. |
|
47 |
|
|
Hypoth., 1675 |
Giả thuyết, 1675 |
|
48 |
|
|
The “First” presupposes necessarily something which is the “first brought forth,” “the first in time, space, and rank”—and therefore finite and conditioned. The “first” cannot be Absolute for it is a manifestation. Therefore, Eastern Occultism calls the Abstract All the One Causeless Cause, the Rootless Root, and limits the “First Cause” to the Logos, in the sense that Plato gives to this term. |
“Đầu tiên” tất yếu giả định một cái gì là “được đưa ra đầu tiên,” “đầu tiên trong thời gian, không gian và đẳng cấp” — và do đó hữu hạn và bị điều kiện hóa. “Đầu tiên” không thể là Tuyệt Đối vì nó là một biểu hiện. Vì vậy, Huyền bí học Đông phương gọi Toàn Thể Trừu Tượng là Nguyên Nhân Vô Nhân Duy Nhất, Căn Nguyên Vô Căn, và giới hạn “Nguyên Nhân Đầu Tiên” vào Thượng đế, theo nghĩa Plato dành cho thuật ngữ này. |
|
49 |
|
|
See T. Subba Row’s four able lectures on the Bhagavad Gîtâ, in The Theosophist, Feb. 1887 |
Xem bốn bài giảng đầy năng lực của T. Subba Row về Bhagavad Gita, trong The Theosophist, tháng 2 năm 1887 |
|
50 |
|
|
Called by Christian theology, Archangels, Seraphs, etc., etc. |
Được thần học Cơ Đốc gọi là các Tổng lãnh Thiên thần, Seraph, v.v., v.v. |
|
51 |
|
|
“Pilgrim” is the appellation given to our Monad (the Two in one) during its cycle of incarnations. It is the only immortal and eternal Principle in us, being an indivisible part of the integral whole—the Universal Spirit, from which it emanates, and into which it is absorbed at the end of the cycle. When it is said to emanate from the One Spirit, an awkward and incorrect expression has to be used for lack of appropriate words in English. The Vedântins call it Sûtrâtmâ (Thread-Soul), but their explanation differs somewhat from that of the Occultists; to explain which difference, however, is left to the Vedântins themselves. |
“Kẻ Hành Hương” là danh xưng dành cho chân thần của chúng ta (Hai trong một) trong chu kỳ các kiếp lâm phàm của nó. Đó là Nguyên Khí bất tử và vĩnh cửu duy nhất trong chúng ta, vì là phần bất khả phân của toàn thể nguyên vẹn — Tinh Thần Vũ Trụ, từ đó nó phát xạ, và vào đó nó được hấp thu khi kết thúc chu kỳ. Khi nói nó phát xạ từ Tinh Thần Duy Nhất, người ta buộc phải dùng một cách diễn đạt vụng về và không chính xác vì thiếu từ ngữ thích hợp trong tiếng Anh. Các nhà Vedanta gọi nó là Sutratma (Linh Hồn-Sợi Dây), nhưng cách giải thích của họ hơi khác với cách giải thích của các nhà huyền bí học; tuy nhiên, việc giải thích sự khác biệt ấy xin để cho chính các nhà Vedanta. |
|
52 |
|
|
It is not the physical organisms that remain in statu quo, least of all their psychic principles, during the great Cosmic or even Solar Pralayas, but only their âkâshic or astral “photographs.” But during the Minor Pralayas, once overtaken by the “Night,” the planets remain intact, though dead, just as a huge animal, caught and embedded in the polar ice, remains the same for ages. |
Không phải các cơ thể hồng trần vẫn còn nguyên trạng, càng không phải các nguyên khí thông linh của chúng, trong các Giai kỳ qui nguyên Vũ Trụ vĩ đại hay ngay cả Thái Dương, mà chỉ các “bức ảnh” akasha hay cảm dục của chúng. Nhưng trong các Giai kỳ qui nguyên Nhỏ, một khi bị “Đêm” bắt kịp, các hành tinh vẫn nguyên vẹn, dù đã chết, giống như một con vật khổng lồ bị bắt và vùi trong băng cực, vẫn giữ nguyên như thế qua nhiều thời đại. |
|
53 |
|
|
Thus Spencer, who, nevertheless, like Schopenhauer and von Hartmann, only reflects an aspect of the old esoteric philosophers, and hence lands his readers on the bleak shore of Agnostic despair—reverently formulates the grand mystery; “that which persists unchanging in quantity, but ever changing in form, under these sensible appearances which the Universe presents to us, is an unknown and unknowable power, which we are obliged to recognize as without limit in Space and without beginning or end in Time.” It is only daring Theology—never Science or Philosophy—which seeks to gauge the Infinite and unveil the Fathomless and Unknowable. |
Như vậy Spencer, người tuy nhiên, giống như Schopenhauer và von Hartmann, chỉ phản chiếu một phương diện của các triết gia nội môn cổ xưa, và do đó đưa độc giả của mình lên bờ biển hoang lạnh của tuyệt vọng bất khả tri — đã kính cẩn diễn đạt bí nhiệm vĩ đại: “cái vẫn tồn tại không đổi về lượng, nhưng luôn biến đổi về hình tướng, dưới những vẻ ngoài khả giác mà Vũ Trụ trình hiện trước chúng ta, là một quyền năng bất khả tri và không thể biết được, mà chúng ta buộc phải thừa nhận là vô hạn trong Không Gian và không có khởi đầu hay kết thúc trong Thời Gian.” Chỉ có Thần học táo bạo — chứ không bao giờ là Khoa học hay Triết học — mới tìm cách đo lường Vô Hạn và vén màn Cái Vô Đáy và Bất Khả Tri. |