Secret Doctrine I – Part III (Section X-XIII)

📘 Sách: Secret Doctrine I – Tác giả: Blavatsky

Section X. On the Elements and Atoms. — Tiết X. Về các Nguyên tố và Nguyên tử.

When the Occultist speaks of Elements, and of human Beings who lived during those geological ages, the duration of which it is found as impossible to determine—according to the opinion of one of the best English Geologists 960—as the nature of Matter, it is because he knows what he is talking about. When he says Man and Elements, he means neither man in his present physiological and anthropological form, nor the elemental Atoms, those hypothetical conceptions, existing at present in scientific minds, the entitative abstractions of Matter in its highly attenuated state; nor, again, does he mean the compound Elements of Antiquity. In Occultism the word Element in every case means Rudiment. When we say “Elementary Man,” we mean either the proemial, incipient sketch of man, in its unfinished and undeveloped condition, hence in that form which now lies latent in physical man during his life-time, and takes shape only occasionally and under certain conditions; or, that form which for a time survives the material body, and which is better known as an Elementary. 961 With regard to Element, when the term is used metaphysically, it means, in distinction to the mortal, the incipient Divine Man; and, in its physical usage, it means inchoate Matter in its first undifferentiated condition, or in the Laya state, the eternal and normal condition of Substance, which differentiates only periodically; during that differentiation, Substance is really in an abnormal state—in other words, it is but a transitory illusion of the senses.

Khi nhà huyền bí học nói về các Nguyên tố, và về các Hữu Thể nhân loại đã sống trong những thời đại địa chất mà thời hạn của chúng, theo ý kiến của một trong những nhà Địa chất học Anh xuất sắc nhất, được thấy là không thể xác định 960 chẳng khác gì bản chất của Vật chất, đó là vì y biết mình đang nói về điều gì. Khi y nói Con người và các Nguyên tố, y không muốn nói đến con người trong hình thức sinh lý học và nhân học hiện nay của y, cũng không nói đến các Nguyên tử hành khí, những quan niệm giả thuyết hiện đang tồn tại trong trí của khoa học, những trừu tượng thực thể của Vật chất trong trạng thái cực kỳ loãng của nó; và cũng không muốn nói đến các Nguyên tố hỗn hợp của Thời cổ đại. Trong huyền bí học, từ Nguyên tố trong mọi trường hợp đều có nghĩa là Mầm nguyên thủy. Khi chúng ta nói “Con người Sơ nguyên”, chúng ta muốn nói hoặc là phác thảo mở đầu, chớm nở của con người, trong tình trạng chưa hoàn tất và chưa phát triển của nó, do đó trong hình thức hiện nay còn tiềm tàng trong con người hồng trần suốt đời sống của y, và chỉ thỉnh thoảng mới thành hình dưới những điều kiện nhất định; hoặc là hình thức ấy, trong một thời gian, sống sót sau thể vật chất, và được biết rõ hơn dưới tên gọi một vong linh sơ đẳng. 961 Đối với Nguyên tố, khi thuật ngữ này được dùng theo nghĩa siêu hình, nó có nghĩa, phân biệt với cái hữu tử, là Con Người Thiêng Liêng chớm nở; và trong cách dùng hồng trần, nó có nghĩa là Vật chất sơ khởi trong tình trạng đầu tiên chưa biến phân, hay trong trạng thái Laya, tình trạng vĩnh cửu và bình thường của Chất liệu, vốn chỉ biến phân theo chu kỳ; trong suốt sự biến phân ấy, Chất liệu thật ra ở trong một trạng thái bất thường — nói cách khác, nó chỉ là một ảo tưởng thoáng qua của các giác quan.

As to the Elemental Atoms, so-called, the Occultists refer to them by that name with a meaning analogous to that which is given by the Hindû to Brahmâ, when he calls him Anu, the Atom. Every Elemental Atom, in search of which more than one Chemist has followed the path indicated by the Alchemists, is, in their firm belief, when not knowledge, a Soul; not necessarily a disembodied Soul, but a Jîva, as the Hindûs call it, a centre of Potential Vitality, with latent intelligence in it, and, in the case of compound Souls, an intelligent active Existence, from the highest to the lowest order, a form composed of more or less differentiations. It requires a Metaphysician—and an Eastern Metaphysician—to understand our meaning. All those Atom-Souls are differentiations from the One, and are in the same relation to it as is the Divine Soul, Buddhi, to its informing and inseparable Spirit, Âtmâ.

Đối với cái gọi là các Nguyên tử hành khí, các nhà huyền bí học gọi chúng bằng tên ấy với một ý nghĩa tương tự ý nghĩa mà người Ấn giáo gán cho Brahma, khi gọi Ngài là Anu, Nguyên tử. Mỗi Nguyên tử hành khí, mà hơn một nhà Hóa học đã theo con đường do các nhà luyện kim chỉ ra để tìm kiếm, trong niềm tin vững chắc của họ, khi chưa phải là tri thức, là một Linh hồn; không nhất thiết là một Linh hồn lìa xác, mà là một Jiva, như người Ấn giáo gọi, một trung tâm của Sinh lực Tiềm tàng, có trí tuệ tiềm ẩn trong nó, và, trong trường hợp các Linh hồn hợp thành, là một Sự Tồn Tại linh hoạt có trí tuệ, từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất, một hình tướng gồm nhiều hay ít biến phân. Cần một nhà Siêu hình học — và là một nhà Siêu hình học Đông phương — mới thấu hiểu được ý nghĩa của chúng tôi. Tất cả những Linh hồn-Nguyên tử ấy là những biến phân từ Đấng Duy Nhất, và có cùng tương quan với Đấng ấy như Linh hồn Thiêng Liêng, Buddhi, có với Tinh thần thấm nhuần và bất khả phân của nó, Atma.

Modern Physics, in borrowing from the Ancients their Atomic Theory, forgot one point, the most important point of the doctrine; hence they have got only the husks and will never be able to get the kernel. In adopting physical Atoms, they omitted the suggestive fact that, from Anaxagoras to Epicurus, to the Roman Lucretius, and finally even to Galileo, all these Philosophers believed more or less in animated Atoms, not in invisible specks of so-called “brute” matter. According to them, rotatory motion was generated by larger (read, more divine and pure) Atoms forcing other Atoms downwards; the lighter ones being simultaneously thrust upward. The Esoteric meaning of this is the ever cyclic curve of differentiated Elements downward and upward through intercyclic phases of existence, until each again reaches its starting-point or birthplace. The idea was metaphysical as well as physical; the hidden interpretation embracing Gods or Souls, in the shape of Atoms, as the causes of all the effects produced on Earth by the secretions from the divine bodies. 962 No Ancient Philosopher, not even the Jewish Kabalists, ever dissociated Spirit from Matter, or Matter from Spirit. Everything originated in the One, and, proceeding from the One, must finally return to the One.

Vật lý học hiện đại, khi vay mượn Thuyết Nguyên tử của người xưa, đã quên một điểm, điểm quan trọng nhất của giáo lý; vì thế họ chỉ nắm được lớp vỏ và sẽ không bao giờ có thể có được phần nhân. Khi chấp nhận các Nguyên tử hồng trần, họ đã bỏ qua sự kiện gợi ý rằng, từ Anaxagoras đến Epicurus, đến Lucretius người La Mã, và cuối cùng ngay cả đến Galileo, tất cả các Triết gia này ít nhiều đều tin vào các Nguyên tử được phú linh, chứ không phải những đốm vô hình của cái gọi là vật chất “thô bạo”. Theo họ, chuyển động quay được sinh ra bởi các Nguyên tử lớn hơn, hãy đọc là thiêng liêng và tinh khiết hơn, đẩy các Nguyên tử khác xuống dưới; đồng thời những nguyên tử nhẹ hơn bị đẩy lên trên. Ý nghĩa nội môn của điều này là đường cong chu kỳ vĩnh viễn của các Nguyên tố đã biến phân đi xuống và đi lên qua các giai đoạn liên chu kỳ của tồn tại, cho đến khi mỗi nguyên tố lại đạt đến điểm khởi đầu hay nơi sinh của nó. Ý tưởng này vừa siêu hình vừa hồng trần; lối giải thích ẩn tàng bao gồm các Thần linh hay Linh hồn, trong hình dạng các Nguyên tử, như những nguyên nhân của mọi hiệu quả được tạo ra trên Trái Đất bởi các tiết xuất từ các thể thiêng liêng. 962 Không một Triết gia Cổ đại nào, ngay cả các nhà Kabbalah Do Thái, từng tách rời Tinh thần khỏi Vật chất, hay Vật chất khỏi Tinh thần. Mọi sự bắt nguồn từ Đấng Duy Nhất, và, khi phát xuất từ Đấng Duy Nhất, cuối cùng phải trở về Đấng Duy Nhất.

Light becomes heat, and consolidates into fiery particles; which, from being ignited, become cold, hard particles, round and smooth. And this is called Soul, imprisoned in its robe of matter. 963

Ánh sáng trở thành nhiệt, và cô đặc thành các hạt lửa; những hạt ấy, do bị nung sáng, trở thành những hạt lạnh, cứng, tròn và nhẵn. Và điều này được gọi là Linh hồn, bị giam trong chiếc áo vật chất của nó. 963

Atoms and Souls were synonymous in the language of the Initiates. The doctrine of “whirling Souls,” Gilgoolem, in which so many learned Jews have believed, 964 had no other meaning esoterically. The learned Jewish Initiates never meant Palestine alone by the Promised Land, but they meant the same Nirvâna as do the learned Buddhist and Brahman—the bosom of the Eternal One, symbolized by that of Abraham, and by Palestine as its substitute on Earth.

Nguyên tử và Linh hồn là đồng nghĩa trong ngôn ngữ của các điểm đạo đồ. Giáo lý về “các Linh hồn xoay vần”, Gilgoolem, mà rất nhiều người Do Thái uyên bác đã tin, 964 không có ý nghĩa nào khác về mặt huyền bí. Các điểm đạo đồ Do Thái uyên bác không bao giờ chỉ muốn nói riêng Palestine bằng Đất Hứa, mà họ muốn nói đến cùng một Nirvana như các Phật tử và Bà-la-môn uyên bác — lòng của Đấng Vĩnh Cửu, được tượng trưng bởi lòng Abraham, và bởi Palestine như vật thay thế của nó trên Trái Đất.

Surely no educated Jew ever believed this allegory in its literal sense, that the bodies of Jews contain within them a principle of Soul which cannot rest, if the bodies are deposited in a foreign land, until, by a process called the “whirling of the Soul” the immortal particle reaches once more the sacred soil of the “Promised Land.” 965 The meaning of this is evident to an Occultist. The process was supposed to be accomplished by a kind of metempsychosis, the psychic spark being conveyed through bird, beast, fish, and the most minute insect. 966 The allegory relates to the Atoms of the body, each of which has to pass through every form, before all reach the final state, which is the first starting-point of the departure of every Atom—its primitive Laya state. But the primitive meaning of Gilgoolem, or the “Revolution of Souls,” was the idea of the reincarnating Souls or Egos. “All the Souls go into the Gilgoolah,” into a cyclic or revolving process; i.e., they all proceed on the cyclic path of re-births. Some Kabalists interpret this doctrine to mean only a kind of purgatory for the souls of the wicked. But this is not so.

Chắc chắn không một người Do Thái có học nào từng tin câu ngụ ngôn này theo nghĩa đen của nó, rằng các thể xác của người Do Thái chứa trong chúng một nguyên khí của Linh hồn không thể nghỉ yên, nếu các thể xác ấy được đặt ở một xứ lạ, cho đến khi, bằng một tiến trình gọi là “sự xoay vần của Linh hồn”, hạt tử bất tử một lần nữa đạt đến mảnh đất thiêng của “Đất Hứa”. 965 Ý nghĩa của điều này hiển nhiên đối với một nhà huyền bí học. Tiến trình ấy được cho là hoàn thành bằng một loại luân hồi chuyển thể, tia lửa thông linh được truyền qua chim, thú, cá, và loài côn trùng nhỏ bé nhất. 966 Câu ngụ ngôn liên hệ đến các Nguyên tử của thể xác, mỗi nguyên tử trong đó phải đi qua mọi hình tướng, trước khi tất cả đạt đến trạng thái cuối cùng, vốn là điểm khởi đầu thứ nhất của sự ra đi của mỗi Nguyên tử — trạng thái Laya nguyên thủy của nó. Nhưng ý nghĩa nguyên thủy của Gilgoolem, hay “Cuộc Luân chuyển của các Linh hồn”, là ý tưởng về các Linh hồn hay Chân ngã tái sinh. “Tất cả các Linh hồn đi vào Gilgoolah”, vào một tiến trình chu kỳ hay xoay vòng; tức là tất cả đều tiến trên con đường chu kỳ của các lần tái sinh. Một số nhà Kabbalah giải thích giáo lý này chỉ có nghĩa là một loại luyện ngục cho linh hồn của kẻ ác. Nhưng không phải vậy.

The passage of the Soul-Atom “through the seven Planetary Chambers” had the same metaphysical and physical meaning. It had the latter when it was said to dissolve into Ether. Even Epicurus, the model Atheist and Materialist, knew so much and believed so much in the ancient Wisdom, that he taught that the Soul—entirely distinct from immortal Spirit, when the former is enshrined latent in it, as it is in every atomic speck—was composed of a fine, tender essence, formed from the smoothest, roundest, and finest atoms. 967

Sự đi qua của Linh hồn-Nguyên tử “xuyên qua bảy Phòng Hành Tinh” có cùng ý nghĩa siêu hình và hồng trần. Nó có ý nghĩa hồng trần khi được nói là tan vào Dĩ thái. Ngay cả Epicurus, mẫu mực của người vô thần và duy vật, cũng biết nhiều đến thế và tin nhiều đến thế vào Minh Triết cổ xưa, đến nỗi ông dạy rằng Linh hồn — hoàn toàn khác biệt với Tinh thần bất tử, khi cái trước được tôn trí tiềm tàng trong cái sau, như trong mỗi đốm nguyên tử — được cấu thành từ một tinh chất mịn, mềm, hình thành từ những nguyên tử nhẵn nhất, tròn nhất và tinh tế nhất. 967

And this shows that the ancient Initiates, who were followed more or less closely by all profane Antiquity, meant by the term Atom, a Soul, a Genius or Angel, the first-born of the ever-concealed Cause of all causes; and in this sense their teachings become comprehensible. They asserted, as do their successors, the existence of Gods and Genii, Angels or Demons, not outside, nor independent of, the Universal Plenum, but within it. Only this Plenum, during the life-cycles, is infinite. They admitted and taught a good deal of that which modern Science now teaches—namely, the existence of a primordial World-Stuff or Cosmic Substance, eternally homogeneous, except during its periodic existence; then, universally diffused throughout infinite Space, it differentiates, and gradually forms sidereal bodies from itself. They taught the revolution of the Heavens, the Earth’s rotation, the Heliocentric System, and the Atomic Vortices—Atoms being in reality Souls and Intelligences. These “Atomists” were spiritual, most transcendental, and philosophical Pantheists. It is not they who would have ever conceived or dreamed that monstrous contrasted progeny, the nightmare of our modern civilized race: inanimate material and self-guiding Atoms, on the one hand, and an extra-cosmic God on the other.

Và điều này cho thấy rằng các điểm đạo đồ cổ xưa, những vị mà toàn thể Cổ đại ngoại môn ít nhiều noi theo sát sao, khi dùng thuật ngữ Nguyên tử, muốn nói đến một Linh hồn, một Thiên tài hay Thiên thần, đứa con đầu lòng của Nguyên nhân luôn luôn ẩn tàng của mọi nguyên nhân; và theo nghĩa này, giáo huấn của họ trở nên dễ hiểu. Họ khẳng định, cũng như những người kế tục họ, sự hiện hữu của các Thần linh và Thiên tài, Thiên thần hay Ma quỷ, không ở bên ngoài, cũng không độc lập với, Đại Mãn Vũ Trụ, mà ở bên trong nó. Chỉ có Đại Mãn này, trong các chu kỳ sự sống, là vô hạn. Họ thừa nhận và giảng dạy khá nhiều điều mà Khoa học hiện đại hiện nay giảng dạy — tức là sự hiện hữu của một Chất liệu Thế giới nguyên sơ hay Chất liệu Vũ trụ, đồng nhất vĩnh viễn, ngoại trừ trong thời kỳ tồn tại chu kỳ của nó; khi đó, được khuếch tán phổ quát khắp Không gian vô hạn, nó biến phân, và dần dần tự nó hình thành các thiên thể. Họ dạy về sự quay vòng của các Bầu trời, sự tự quay của Trái Đất, Hệ Nhật tâm, và các Xoáy Nguyên tử — các Nguyên tử trong thực tại là các Linh hồn và Trí tuệ. Những “nhà nguyên tử luận” này là các nhà Phiếm thần luận tinh thần, cực kỳ siêu việt và triết học. Không phải họ là những người từng có thể quan niệm hay mơ tưởng đến hậu duệ tương phản quái dị ấy, cơn ác mộng của nhân loại văn minh hiện đại chúng ta: một bên là các Nguyên tử vật chất vô hồn và tự dẫn dắt, bên kia là một Thượng đế ngoại vũ trụ.

It may be useful to show what the Monad was, and what its origin, in the teachings of the old Initiates.

Có thể hữu ích khi trình bày Chân thần là gì, và nguồn gốc của nó là gì, trong giáo huấn của các điểm đạo đồ xưa.

Modern exact Science, as soon as it began to grow out of its teens, perceived the great, and to it hitherto esoteric, axiom, that nothing, whether in the spiritual, psychic, or physical realm of Being, could come into existence out of nothing. There is no cause in the manifested Universe without its adequate effects, whether in Space or Time; nor can there be an effect without its primal cause, which itself owes its existence to a still higher one—the final and absolute Cause having to remain to man for ever an incomprehensible Causeless Cause. But even this is no solution, and must be viewed, if at all, from the highest philosophical and metaphysical standpoints, otherwise the problem had better be left unapproached. It is an abstraction, on the verge of which human reason—however trained in metaphysical subtleties—trembles, threatening to collapse. This may be demonstrated to any European, who would undertake to solve the problem of existence, by the articles of faith of the true Vedântin for instance. Let him read and study the sublime teachings of Shankarâchârya, on the subject of Soul and Spirit, and the reader will realize what is now said. 968

Khoa học chính xác hiện đại, ngay khi bắt đầu vượt khỏi tuổi niên thiếu của mình, đã nhận ra tiên đề lớn lao, và đối với nó cho đến nay vẫn là nội môn, rằng không có gì, dù trong cõi tinh thần, thông linh hay hồng trần của Bản Thể, có thể đi vào hiện hữu từ hư vô. Không có nguyên nhân nào trong Vũ trụ biểu hiện mà không có các hiệu quả tương xứng của nó, dù trong Không gian hay Thời gian; cũng không thể có một hiệu quả mà không có nguyên nhân nguyên thủy của nó, nguyên nhân ấy tự nó lại mắc nợ sự hiện hữu của mình đối với một nguyên nhân còn cao hơn nữa — Nguyên nhân tối hậu và tuyệt đối buộc phải mãi mãi là một Nguyên nhân Vô nhân không thể hiểu thấu đối với con người. Nhưng ngay cả điều này cũng không phải là một lời giải, và nếu có xét đến, phải được nhìn từ những lập trường triết học và siêu hình cao nhất; nếu không thì tốt hơn là đừng tiếp cận vấn đề. Đó là một trừu tượng, bên bờ của nó lý trí con người — dù được rèn luyện đến đâu trong những tinh vi siêu hình — cũng run rẩy, có nguy cơ sụp đổ. Điều này có thể được chứng minh cho bất cứ người châu Âu nào muốn đảm nhận việc giải quyết vấn đề tồn tại, chẳng hạn bằng các tín điều của nhà Vedanta chân chính. Hãy để y đọc và nghiên cứu các giáo huấn cao cả của Shankaracharya về chủ đề Linh hồn và Tinh thần, và người đọc sẽ nhận ra điều đang được nói ở đây. 968

While the Christian is taught that the human Soul is a breath of God, being created by him for sempiternal existence, having a beginning, but no end—and therefore never to be called eternal—the Occult Teaching says: Nothing is created, it is only transformed. Nothing can manifest itself in this Universe—from a globe down to a vague, rapid thought—that was not in the Universe already; everything on the subjective plane is an eternal is; as everything on the objective plane is an ever-becoming—because all is transitory.

Trong khi người Ki-tô hữu được dạy rằng Linh hồn con người là hơi thở của Thượng đế, do Ngài tạo ra để tồn tại vô tận, có khởi đầu nhưng không có kết thúc — và vì thế không bao giờ được gọi là vĩnh cửu — thì Giáo huấn Huyền bí nói: Không có gì được tạo ra, nó chỉ được chuyển đổi. Không điều gì có thể tự biểu hiện trong Vũ trụ này — từ một bầu hành tinh cho đến một tư tưởng mơ hồ, thoáng nhanh — mà đã không có sẵn trong Vũ trụ; mọi sự trên cõi chủ quan là một cái đang là vĩnh cửu; cũng như mọi sự trên cõi khách quan là một cái luôn đang trở thành — bởi vì tất cả đều thoáng qua.

The Monad—a truly “indivisible thing,” as defined by Good, who did not give it the sense we now do—is here rendered as the Âtmâ, in conjunction with Buddhi and the higher Manas. This trinity is one and eternal, the latter being absorbed in the former at the termination of all conditioned and illusive life. The Monad, then, can be traced through the course of its pilgrimage and in its changes of transitory vehicles, only from the incipient stage of the manifested Universe. In Pralaya, the intermediate period between two Manvantaras, it loses its name, as it loses it when the real One Self of man merges into Brahman, in cases of high Samâdhi (the Turîya state), or final Nirvâna; in the words of Shankara: When the disciple having attained that primeval consciousness, absolute bliss, of which the nature is truth, which is without form and action, abandons this illusive body that has been assumed by the Âtmâ just as an actor (abandons) the dress (put on).

Chân thần — một “vật thật sự bất khả phân”, như Good định nghĩa, dù ông không trao cho nó ý nghĩa mà hiện nay chúng ta dùng — ở đây được diễn đạt như Atma, kết hợp với Buddhi và Manas cao. Ba Ngôi này là một và vĩnh cửu, cái sau được hấp thu vào cái trước khi tất cả đời sống bị điều kiện hóa và hư ảo chấm dứt. Vậy, Chân thần chỉ có thể được truy nguyên qua tiến trình hành hương của nó và trong các biến đổi của những hiện thể thoáng qua của nó, kể từ giai đoạn khởi đầu của Vũ trụ biểu hiện. Trong Pralaya, giai đoạn trung gian giữa hai Manvantara, nó mất tên gọi của nó, cũng như nó mất tên gọi khi Bản Ngã Duy Nhất thực sự của con người hòa nhập vào Brahman, trong các trường hợp Samadhi cao, trạng thái Turiya, hay Nirvana cuối cùng; theo lời của Shankara: Khi người đệ tử, đã đạt đến tâm thức nguyên sơ ấy, chí phúc tuyệt đối, mà bản chất là chân lý, không hình tướng và hành động, từ bỏ thể hư ảo này, vốn đã được Atma khoác lấy cũng như một diễn viên từ bỏ y phục đã mặc.

For Buddhi, the Anandamaya Sheath, is but a mirror which reflects absolute bliss; and, moreover, that reflection itself is yet not free from ignorance, and is not the Supreme Spirit, since it is subject to conditions, is a spiritual modification of Prakriti, and is an effect; Âtmâ alone is the one real and eternal substratum of all, the Essence and Absolute Knowledge, the Kshetrajña. Now that the Revised Version of the Gospels has been published and the most glaring mistranslations of the old versions are corrected, one can understand better the words in 1 John v. 6: “It is the Spirit that beareth witness because the Spirit is truth.” The words that follow in the mistranslated version about the “three witnesses,” hitherto supposed to stand for “the Father, the Word, and the Holy Ghost,” show the real meaning of the writer very clearly, thus still more forcibly identifying his teaching in this respect with that of Shankarâchârya. For what can the sentence mean, “there are three that bear witness… the Spirit and the Water and the Blood”—if it bears no relation to, nor connection with, the more philosophical statement of the great Vedântin teacher, who, speaking of the Sheaths—the principles in man—Jîva, Vijñânamaya, etc., which are, in their physical manifestation, “Water and Blood” or Life, adds that Âtmâ, Spirit, alone is what remains after the subtraction of the Sheaths and that it is the Only Witness, or synthesized unity. The less spiritual and philosophical school, solely with an eye to a Trinity, made three witnesses out of “one,” thus connecting it more with Earth than with Heaven. It is called in Esoteric Philosophy the “One Witness,” and, while it rests in Devachan, is referred to as the “Three Witnesses to Karma.”

Vì Buddhi, Bao Anandamaya, chỉ là một tấm gương phản chiếu chí phúc tuyệt đối; và hơn nữa, chính sự phản chiếu ấy vẫn chưa thoát khỏi vô minh, và không phải là Tinh thần Tối cao, vì nó còn lệ thuộc vào điều kiện, là một biến thái tinh thần của Prakriti, và là một hiệu quả; chỉ Atma mới là nền tảng duy nhất chân thực và vĩnh cửu của tất cả, Tinh chất và Tri thức Tuyệt đối, Kshetrajna. Nay khi Bản Dịch Hiệu Đính của các Phúc Âm đã được xuất bản và những lỗi dịch sai lộ liễu nhất của các bản cũ đã được sửa chữa, người ta có thể hiểu rõ hơn những lời trong thư thứ nhất của John, chương năm, câu sáu: “Chính Tinh thần làm chứng, vì Tinh thần là chân lý.” Những lời tiếp theo trong bản dịch sai về “ba chứng nhân”, cho đến nay được cho là tượng trưng cho “Cha, Linh từ, và Chúa Thánh Thần”, cho thấy rất rõ ý nghĩa thật sự của tác giả, do đó càng mạnh mẽ hơn nữa đồng nhất giáo huấn của ông về phương diện này với giáo huấn của Shankaracharya. Vì câu “có ba điều làm chứng… Tinh thần, Nước và Máu” có thể mang nghĩa gì, nếu nó không có liên hệ hay mối nối nào với lời tuyên bố triết học hơn của vị đại huấn sư Vedanta, người, khi nói về các Bao — các nguyên khí trong con người — Jiva, Vijnanamaya, v.v., vốn , trong biểu hiện hồng trần của chúng, “Nước và Máu” hay Sự sống, đã thêm rằng Atma, Tinh thần, là cái duy nhất còn lại sau khi trừ bỏ các Bao, và rằng nó là Chứng Nhân Duy Nhất, hay nhất thể được tổng hợp. Trường phái kém tinh thần và kém triết học hơn, chỉ nhắm đến một Ba Ngôi, đã làm thành ba chứng nhân từ “một”, do đó nối nó với Trái Đất nhiều hơn với Thiên Đàng. Trong Triết học Nội môn, nó được gọi là “Chứng Nhân Duy Nhất”, và khi an nghỉ trong Devachan, nó được gọi là “Ba Chứng Nhân đối với Nghiệp quả”.

Âtmâ, our seventh principle, being identical with the Universal Spirit, and man being one with it in his essence, what is then the Monad proper? It is that homogeneous spark which radiates in millions of rays from the primeval Seven;—of which Seven something will be said further on. It is the emanating Spark from the uncreated Ray—a mystery. In the esoteric, and even exoteric Buddhism of the North, Âdi-Buddha (Chogi Dangpoi Sangye), the One Unknown, without beginning or end, identical with Parabrahman and Ain Suph, emits a bright Ray from its Darkness.

Atma, nguyên khí thứ bảy của chúng ta, đồng nhất với Tinh thần Vũ trụ, và con người là một với nó trong tinh chất của mình, vậy Chân thần đúng nghĩa là gì? Nó là tia lửa đồng nhất phóng chiếu thành hàng triệu tia từ Bảy nguyên sơ; về Bảy này sẽ được nói thêm sau. Nó là Tia Lửa xuất lộ từ Tia không được tạo sinh — một huyền nhiệm. Trong Phật giáo phương Bắc, cả nội môn lẫn ngoại môn, Adi-Buddha, Đấng Duy Nhất Bất Tri, không khởi đầu và không kết thúc, đồng nhất với Parabrahman và Ain Suph, phát ra một Tia sáng từ Bóng Tối của mình.

This is the Logos, the First, or Vajradhara, the Supreme Buddha, also called Dorjechang. As the Lord of all Mysteries he cannot manifest, but sends into the world of manifestation his Heart—the “Diamond Heart,” Vajrasattva or Dorjesempa. This is the Second Logos of Creation, from whom emanate the seven—in the exoteric blind the five—Dhyâni-Buddhas, called the Anupâdaka, the “Parentless.” These Buddhas are the primeval Monads from the World of Incorporeal Being, the Arûpa World, wherein the Intelligences (on that plane only) have neither shape nor name, in the exoteric system, but have their distinct seven names in the Esoteric Philosophy. These Dhyâni-Buddhas emanate, or create from themselves, by virtue of Dhyâna, celestial Selves—the super-human Bodhisattvas. These, incarnating at the beginning of every human cycle on Earth as mortal men, become occasionally, owing to their personal merit, Bodhisattvas among the Sons of Humanity, after which they may reappear as Mânushi, or Human, Buddhas. The Anupâdaka, or Dhyâni-Buddhas, are thus identical with the Brâhmanical Mânasaputra, Mind-born Sons—whether of Brahmâ, or of either of the other two Trimûrtian Hypostases; they are identical also with the Rishis and Prajâpatis. Thus, a passage is found in Anugîtâ, which, read esoterically, shows plainly, though under another imagery, the same idea and system. It says: Whatever entities there are in this world, moveable or immoveable, they are the very first to be dissolved [at Pralaya]; and next the developments produced from the elements [from which the visible universe is fashioned]; and (after) these developments [evolved entities], all the elements. Such is the upward gradation among entities. Gods, Men, Gandharvas, Pishâchas, Asuras, Râkshasas, all have been created by Nature [Svabhâva, or Prakriti, plastic Nature], not by actions, nor by a cause [not by any physical cause]. These Brâhmanas [the Rishi Prajâpati?], the creators of the world, are born here (on earth) again and again. And whatever is produced from them is dissolved in due time in those very five great elements [the five, or rather seven, Dhyâni-Buddhas, also called “Elements”of Mankind], like billows in the ocean. These great elements are in every way (beyond) the elements that make up the world [the gross elements]. And he who is released, even from these five elements [the Tanmâtras], 969 goes to the highest goal. The Lord Prajâpati [Brahmâ] created all this by the mind only [by Dhyâna, or abstract meditation and mystic powers, like the Dhyâni-Buddhas]. 970

Đây là Logos, Đấng Thứ Nhất, hay Vajradhara, Đức Phật Tối Cao, cũng được gọi là Dorjechang. Là Chúa Tể của mọi Huyền nhiệm, Ngài không thể biểu hiện, nhưng gửi vào thế giới biểu hiện Trái Tim của Ngài — “Trái Tim Kim Cương”, Vajrasattva hay Dorjesempa. Đây là Logos Thứ Hai của Sáng tạo, từ Ngài xuất lộ bảy — trong ngoại môn mù quáng là năm — Dhyani-Buddha, được gọi là Anupadaka, “Không Cha Mẹ”. Các vị Phật này là các Chân thần nguyên sơ từ Thế Giới Bản Thể Vô Hình Thể, Thế Giới Arupa, nơi các Trí tuệ, chỉ trên cõi ấy, không có hình dạng cũng không có tên gọi trong hệ thống ngoại môn, nhưng có bảy tên riêng biệt trong Triết học Nội môn. Các Dhyani-Buddha này xuất lộ, hay sáng tạo từ chính mình, nhờ Dhyana, các Bản Ngã thiên giới — các Bồ Tát siêu nhân. Các Ngài, khi nhập thể vào đầu mỗi chu kỳ nhân loại trên Trái Đất như những người hữu tử, đôi khi trở thành, nhờ công đức cá nhân, các Bồ Tát giữa những Người Con của Nhân Loại, sau đó các Ngài có thể tái xuất hiện như các Đức Phật Manushi, hay Nhân Loại. Anupadaka, hay các Dhyani-Buddha, do đó đồng nhất với Manasaputra của Bà-la-môn giáo, các Con sinh từ Trí — dù của Brahma, hay của một trong hai Ngôi vị khác của Trimurti; các Ngài cũng đồng nhất với các Rishi và Prajapati. Vì vậy, trong Anugita có một đoạn, khi đọc một cách huyền bí, cho thấy rõ ràng, dù dưới một hình ảnh khác, cùng một ý tưởng và hệ thống. Đoạn ấy nói: Bất cứ thực thể nào trong thế giới này, chuyển động hay bất động, đều là những thực thể đầu tiên bị tan rã trong Pralaya; kế đến là các phát triển được tạo ra từ các nguyên tố, từ đó vũ trụ hữu hình được tạo hình; và sau các phát triển này, các thực thể đã tiến hóa, là tất cả các nguyên tố. Đó là thứ bậc đi lên giữa các thực thể. Thần linh, Con người, Gandharva, Pishacha, Asura, Rakshasa, tất cả đều do Thiên nhiên tạo ra, Svabhava hay Prakriti, Thiên nhiên dẻo nắn, không do các hành động, cũng không do một nguyên nhân nào, tức không do bất cứ nguyên nhân hồng trần nào. Các Brahmana này, các Rishi Prajapati chăng, những đấng sáng tạo thế giới, được sinh ra ở đây, trên trái đất, hết lần này đến lần khác. Và bất cứ điều gì được tạo ra từ các ngài đều tan rã đúng thời vào chính năm đại nguyên tố ấy, năm hay đúng hơn là bảy Dhyani-Buddha, cũng được gọi là “Nguyên tố” của Nhân loại, như các làn sóng trong đại dương. Các đại nguyên tố này, về mọi mặt, vượt ngoài các nguyên tố tạo nên thế giới, tức các nguyên tố thô. Và người nào được giải thoát, ngay cả khỏi năm nguyên tố này, các Tanmatra, 969 sẽ đi đến mục tiêu cao nhất. Chúa Tể Prajapati, Brahma, đã tạo ra tất cả điều này chỉ bằng thể trí, bằng Dhyana, hay tham thiền trừu tượng và các quyền năng thần bí, như các Dhyani-Buddha. 970

Evidently then, these Brâhmanas are identical with the terrestrial Bodhisattvas of the heavenly Dhyâni-Buddhas. Both, as primordial, intelligent “Elements,” become the Creators or the Emanators of the Monads destined to become human in that cycle; after which they evolve themselves, or, so to say, expand into their own Selves as Bodhisattvas or Brâhmanas, in heaven and earth, to become at last simple men. “The creators of the world are born here, on earth again and again”—truly. In the Northern Buddhist system, or the popular exoteric religion, it is taught that every Buddha, while preaching the Good Law on Earth, manifests himself simultaneously in three Worlds: in the Formless World as a Dhyâni-Buddha, in the World of Forms as a Bodhisattva, and in the World of Desire, the lowest or our World, as a man. Esoterically the teaching differs. The divine, purely Âdi-Buddhic Monad manifests as the universal Buddhi, the Mahâ-Buddhi or Mahat, in Hindû philosophies, the spiritual, omniscient and omnipotent Root of divine Intelligence, the highest Anima Mundi or the Logos. This descends “like a flame spreading from the eternal Fire, immoveable, without increase or decrease, ever the same to the end” of the cycle of existence, and becomes Universal Life on the Mundane Plane. From this Plane of conscious Life shoot out, like seven fiery tongues, the Sons of Light, the Logoi of Life; then the Dhyâni-Buddhas of contemplation, the concrete forms of their formless Fathers, the Seven Sons of Light, still themselves, to whom maybe applied the Brâhmanical mystic phrase: “Thou art That”—Brahman. It is from these Dhyâni-Buddhas that emanate their Chhâyâs or Shadows, the Bodhisattvas of the celestial realms, the prototypes of the super-terrestrial Bodhisattvas, and of the terrestrial Buddhas, and finally of men. The Seven Sons of Light are also called Stars.

Hiển nhiên, vậy thì, các Brahmana này đồng nhất với các Bồ Tát thế gian của các Dhyani-Buddha thiên giới. Cả hai, như các “Nguyên tố” thông tuệ nguyên thủy, trở thành các Đấng Sáng tạo hay các Đấng Xuất lộ của các Chân thần được định sẽ trở thành nhân loại trong chu kỳ ấy; sau đó chính các Ngài tiến hóa, hay có thể nói là mở rộng vào chính các Bản Ngã của mình như các Bồ Tát hay Brahmana, trên trời và dưới đất, để cuối cùng trở thành những con người giản dị. “Những đấng sáng tạo thế giới được sinh ra ở đây, trên trái đất, hết lần này đến lần khác” — quả thật vậy. Trong hệ thống Phật giáo phương Bắc, hay tôn giáo ngoại môn phổ thông, người ta dạy rằng mỗi Đức Phật, trong khi thuyết giảng Chánh Pháp trên Trái Đất, đồng thời tự biểu hiện trong ba Thế giới: trong Thế giới Vô Hình Tướng như một Dhyani-Buddha, trong Thế giới Hình Tướng như một Bồ Tát, và trong Thế giới Dục vọng, thấp nhất hay thế giới của chúng ta, như một con người. Về mặt huyền bí, giáo huấn khác đi. Chân thần thiêng liêng, thuần túy Adi-Buddha, biểu hiện như Buddhi vũ trụ, Maha-Buddhi hay Mahat trong các triết học Ấn giáo, Cội Rễ tinh thần, toàn tri và toàn năng của Trí tuệ thiêng liêng, Anima Mundi cao nhất hay Logos. Điều này giáng xuống “như một ngọn lửa lan ra từ Lửa vĩnh cửu, bất động, không tăng không giảm, luôn luôn là chính nó cho đến tận cùng” của chu kỳ tồn tại, và trở thành Sự Sống Vũ trụ trên Cõi Trần gian. Từ Cõi Sự Sống có ý thức này phóng ra, như bảy lưỡi lửa, các Con của Ánh sáng, các Logoi của Sự sống; rồi các Dhyani-Buddha của chiêm ngưỡng, những hình tướng cụ thể của các Cha vô hình tướng của các Ngài, Bảy Con của Ánh sáng, vẫn là chính các Ngài, đối với các Ngài có thể áp dụng cụm từ thần bí của Bà-la-môn giáo: “Ngươi là Cái Đó” — Brahman. Chính từ các Dhyani-Buddha này mà xuất lộ các Chhaya hay Bóng của các Ngài, các Bồ Tát của những cõi thiên giới, các nguyên mẫu của các Bồ Tát siêu thế, và của các Đức Phật thế gian, và cuối cùng của con người. Bảy Con của Ánh sáng cũng được gọi là các Ngôi Sao.

The star under which a human Entity is born, says the Occult Teaching, will remain for ever its star, throughout the whole cycle of its incarnations in one Manvantara. But this is not his astrological star. The latter is concerned and connected with the Personality; the former with the Individuality. The Angel of that Star, or the Dhyâni-Buddha connected with it, will be either the guiding, or simply the presiding, Angel, so to say, in every new rebirth of the Monad, which is part of his own essence, though his vehicle, man, may remain for ever ignorant of this fact. The Adepts have each their Dhyâni-Buddha, their elder “Twin-Soul,” and they know it, calling it “Father-Soul,” and “Father-Fire.” It is only at the last and supreme Initiation, however, when placed face to face with the bright “Image” that they learn to recognize it. How much did Bulwer Lytton know of this mystic fact, when describing, in one of his highest inspirational moods, Zanoni face to face with his Augoeides?

Ngôi sao mà dưới đó một Thực Thể nhân loại được sinh ra, Giáo huấn Huyền bí nói, sẽ mãi mãi là ngôi sao của y, suốt toàn bộ chu kỳ các lần nhập thể của y trong một Manvantara. Nhưng đây không phải là ngôi sao chiêm tinh của y. Ngôi sao sau liên quan và kết nối với Phàm ngã; ngôi sao trước với Cá thể tính. Thiên thần của Ngôi Sao ấy, hay Dhyani-Buddha liên hệ với nó, sẽ là Thiên thần dẫn dắt, hoặc chỉ là Thiên thần chủ trì, có thể nói như vậy, trong mỗi lần tái sinh mới của Chân thần, vốn là một phần của chính tinh chất của Ngài, dù hiện thể của Ngài, con người, có thể mãi mãi không biết sự kiện này. Mỗi chân sư đều có Dhyani-Buddha của mình, “Linh hồn Song sinh” trưởng thượng của mình, và các Ngài biết điều đó, gọi nó là “Linh hồn Cha”, và “Lửa Cha”. Tuy nhiên, chỉ ở lần Điểm đạo cuối cùng và tối thượng, khi được đặt mặt đối mặt với “Hình Ảnh” rực sáng, các Ngài mới học nhận ra nó. Bulwer Lytton đã biết được bao nhiêu về sự kiện thần bí này, khi mô tả, trong một trong những tâm trạng cảm hứng cao nhất của ông, Zanoni mặt đối mặt với Augoeides của mình?

The Logos, or both the unmanifested and the manifested Word, is called by the Hindûs, Îshvara, the Lord, though the Occultists give it another name. Îshvara, say the Vedântins, is the highest consciousness in Nature. “This highest consciousness,” answer the Occultists, “is only a synthetic unit in the World of the manifested Logos—or on the plane of illusion; for it is the sum total of Dhyân Chohanic consciousness.” “O wise man, remove the conception that Not-Spirit is Spirit”—says Shankarâchârya. Âtmâ is Not-Spirit in its final Parabrahmic state; Îshvara, or Logos, is Spirit; or, as Occultism explains, it is a compound unity of manifested living Spirits, the parent-source and nursery of all the mundane and terrestrial Monads, plus their divine Reflection, which emanate from, and return into, the Logos, each in the culmination of its time. There are seven chief Groups of such Dhyân Chohans, which groups will be found and recognized in every religion, for they are the primeval Seven Rays. Humanity, Occultism teaches us, is divided into seven distinct Groups, with their sub-divisions, mental, spiritual, and physical. Hence there are seven chief planets, the spheres of the indwelling seven Spirits, under each of which is born one of the human Groups which is guided and influenced thereby. There are only seven planets specially connected with Earth, and twelve houses, but the possible combinations of their aspects are countless. As each planet can stand to each of the others in twelve different aspects, their combinations must be almost infinite; as infinite, in fact, as the spiritual, psychic, mental, and physical capacities in the numberless varieties of the genus homo, each of which varieties is born under one of the seven planets and one of the said countless planetary combinations. 971

Logos, hay cả Linh từ không biểu hiện lẫn Linh từ biểu hiện, được người Ấn giáo gọi là Ishvara, Chúa Tể, dù các nhà huyền bí học trao cho nó một tên khác. Các nhà Vedanta nói rằng Ishvara là tâm thức cao nhất trong Thiên nhiên. “Tâm thức cao nhất này,” các nhà huyền bí học đáp, “chỉ là một đơn vị tổng hợp trong Thế giới của Logos biểu hiện — hay trên cõi ảo tưởng; vì nó là tổng số của tâm thức Dhyani Chohan.” “Hỡi người hiền trí, hãy loại bỏ quan niệm rằng Phi-Tinh thần là Tinh thần” — Shankaracharya nói. Atma là Phi-Tinh thần trong trạng thái Parabrahman tối hậu của nó; Ishvara, hay Logos, là Tinh thần; hay, như huyền bí học giải thích, đó là một nhất thể hợp thành của các Tinh thần sống đã biểu hiện, nguồn-cha và vườn ươm của tất cả các Chân thần thế gian và địa cầu, cộng với Sự Phản Chiếu thiêng liêng của các vị ấy, vốn xuất lộ từ và trở về trong Logos, mỗi vị vào thời điểm viên mãn của mình. Có bảy Nhóm chính của các Dhyani Chohan như thế, các nhóm này sẽ được tìm thấy và nhận ra trong mọi tôn giáo, vì các Ngài là Bảy Cung nguyên sơ. Huyền bí học dạy chúng ta rằng nhân loại được chia thành bảy Nhóm riêng biệt, với các phân bộ trí tuệ, tinh thần và hồng trần của chúng. Do đó có bảy hành tinh chính, các khối cầu của bảy Tinh thần nội tại, dưới mỗi hành tinh ấy một trong các Nhóm nhân loại được sinh ra, được nó dẫn dắt và ảnh hưởng. Chỉ có bảy hành tinh đặc biệt liên hệ với Trái Đất, và mười hai nhà, nhưng các tổ hợp khả hữu của các góc hợp của chúng là vô số. Vì mỗi hành tinh có thể đứng đối với mỗi hành tinh khác trong mười hai góc hợp khác nhau, các tổ hợp của chúng hẳn gần như vô hạn; thật ra vô hạn như các khả năng tinh thần, thông linh, trí tuệ và hồng trần trong vô số biến thể của giống người, mỗi biến thể trong đó được sinh ra dưới một trong bảy hành tinh và một trong vô số tổ hợp hành tinh đã nói. 971

The Monad, then, viewed as One, is above the seventh principle in Kosmos and man; and as a Triad, it is the direct radiant progeny of the said compound Unit, not the Breath of “God,” as that Unit is called, nor creating out of nihil; for such an idea is quite unphilosophical, and degrades Deity, dragging It down to a finite, attributive condition. As well expressed by the translator of the Crest-Jewel of Wisdom—though Îshvara is “God.”

Vậy, Chân thần, khi được nhìn như Một, ở trên nguyên khí thứ bảy trong Kosmos và con người; và khi là một Tam nguyên, nó là hậu duệ rực sáng trực tiếp của Đơn vị hợp thành đã nói, không phải Hơi Thở của “Thượng đế”, như Đơn vị ấy được gọi, cũng không sáng tạo từ hư vô; vì một ý tưởng như thế hoàn toàn phi triết học, và hạ thấp Thượng đế, kéo Ngài xuống một tình trạng hữu hạn, có thuộc tính. Như dịch giả của Bảo Châu Minh Triết đã diễn đạt rất hay — dù Ishvara là “Thượng đế”.

Unchanged in the profoundest depths of Pralayas and in the intensest activity of Manvantaras, [still] beyond [him] is âtmâ, round whose pavilion is the darkness of eternal mâyâ. 972

Không đổi thay trong những vực sâu thẳm nhất của các Pralaya và trong hoạt động mãnh liệt nhất của các Manvantara, vẫn vượt ngoài Ngài là Atma, quanh điện đường của nó là bóng tối của ảo lực vĩnh cửu. 972

The “Triads” born under the same Parent-Planet, or rather the Radiations of one and the same Planetary Spirit or Dhyâni-Buddha are, in all their after lives and rebirths, sister, or “twin” souls, on this Earth. The idea is the same as that of the Christian Trinity, the “Three in One,” only it is still more metaphysical: the Universal “Over-Spirit,” manifesting on the two higher planes, those of Buddhi and Mahat. These are the three Hypostases, metaphysical, but never personal.

Các “Tam nguyên” được sinh ra dưới cùng một Hành Tinh Cha, hay đúng hơn là các Bức Xạ của một và cùng một Chân Linh Hành Tinh hay Dhyani-Buddha, trong tất cả các đời sống và tái sinh về sau của họ, là các linh hồn chị em, hay “song sinh”, trên Trái Đất này. Ý tưởng ấy giống với ý tưởng về Ba Ngôi Ki-tô giáo, “Ba trong Một”, chỉ có điều nó còn siêu hình hơn nữa: “Siêu Tinh thần” Vũ trụ, biểu hiện trên hai cõi cao, các cõi Buddhi và Mahat. Đây là ba Ngôi vị, có tính siêu hình, nhưng không bao giờ có tính cá nhân.

This was known to every high Initiate in every age and in every country: “I and my Father are one,” said Jesus. 973 When he is made to say, elsewhere: “I ascend to my Father and your Father,” 974 it meant that which has just been stated. The identity, and at the same time the illusive differentiation of the Angel-Monad and the Human-Monad is shown in the sentences: “My Father is greater than I”; 975 “Glorify your Father which is in Heaven”; 976 “Then shall the righteous shine forth as the sun in the kingdom of their Father” (not our Father). 977 So again Paul asks: “Know ye not ye are the temple of God, and that the Spirit of God dwelleth in you?” 978 All this was simply meant to show that the group of disciples and followers attracted to him belonged to the same Dhyâni-Buddha, Star, or Father, and that this again belonged to the same planetary realm and division as he did. It is the knowledge of this Occult Doctrine that found expression in the review of The Idyll of the White Lotus, when T. Subba Row wrote: Every Buddha meets at his last Initiation all the great Adepts who reached Buddhahood during the preceding ages… every class of Adepts has its own bond of spiritual communion which knits them together…. The only possible and effectual way of entering into such brotherhood… is by bringing oneself within the influence of the Spiritual light which radiates from one’s own Logos. I may further point out here… that such communion is only possible between persons whose souls derive their life and sustenance from the same divine Ray, and that, as seven distinct Rays radiate from the “Central Spiritual Sun,” all Adepts and Dhyân Chohans are divisible into seven classes, each of which is guided, controlled, and overshadowed by one of the seven forms or manifestations of the divine Wisdom. 979

Điều này đã được mọi điểm đạo đồ cao cấp trong mọi thời đại và mọi xứ sở biết đến: “Tôi và Cha tôi là một,” Đức Jesus nói. 973 Khi ở nơi khác, người ta khiến Ngài nói: “Tôi lên cùng Cha tôiCha các bạn,” 974 điều đó hàm ý chính điều vừa được nêu. Sự đồng nhất, đồng thời là sự biến phân hư ảo, giữa Chân thần-Thiên thần và Chân thần-Nhân loại được chỉ ra trong các câu: “Cha tôi cao cả hơn tôi”; 975 “Hãy tôn vinh Cha của các bạn ở trên Trời”; 976 “Bấy giờ những người công chính sẽ sáng rực như mặt trời trong Thiên Giới của Cha họ” chứ không phải Cha chúng ta. 977 Vì vậy, một lần nữa, Paul hỏi: “Các bạn há chẳng biết mình là đền thờ của Thượng đế, và Tinh thần của Thượng đế ngự trong các bạn sao?” 978 Tất cả những điều này chỉ nhằm cho thấy rằng nhóm đệ tử và tín đồ được thu hút đến với Ngài thuộc về cùng một Dhyani-Buddha, Ngôi Sao, hay Cha, và rằng vị này lại thuộc cùng một cõi giới hành tinh và phân bộ như Ngài. Chính tri thức về Giáo Lý Huyền Môn này đã tìm được sự biểu hiện trong bài điểm sách The Idyll of the White Lotus, khi T. Subba Row viết: Mỗi vị Buddha, vào lần điểm đạo cuối cùng của mình, đều gặp tất cả các chân sư vĩ đại đã đạt Phật quả trong các thời đại trước… mỗi lớp chân sư có mối dây hiệp thông tinh thần riêng, liên kết các Ngài với nhau…. Cách duy nhất khả hữu và hữu hiệu để đi vào tình huynh đệ như thế… là đưa chính mình vào trong ảnh hưởng của ánh sáng tinh thần tỏa ra từ Logos của chính mình. Tôi còn có thể chỉ ra thêm ở đây… rằng sự hiệp thông như thế chỉ khả hữu giữa những người mà linh hồn của họ rút lấy sự sống và dưỡng chất từ cùng một cung thiêng liêng, và rằng, vì bảy cung riêng biệt tỏa ra từ “Mặt trời Tinh thần Trung Ương,” nên tất cả các chân sư và Dhyani Chohan đều có thể được chia thành bảy lớp, mỗi lớp được một trong bảy hình thức hay biểu hiện của minh triết thiêng liêng hướng dẫn, kiểm soát và phủ bóng. 979

It is then the Seven Sons of Light,—called after their planets and often identified with them by the rabble, namely, Saturn, Jupiter, Mercury, Mars, Venus, and presumably the Sun and Moon, for the modern critic, who goes no deeper than the surface of old religions 980—which are, according to the Occult Teachings, our heavenly Parents, or synthetically our “Father.” Hence, as already remarked, Polytheism is really more philosophical and correct, as to fact and Nature, than is anthropomorphic Monotheism. Saturn, Jupiter, Mercury, and Venus, the four exoteric planets, and the three others, which must remain unnamed, were the heavenly bodies in direct astral and psychic communication, morally and physically, with the Earth, its Guides, and Watchers; the visible orbs furnishing our Humanity with its outward and inward characteristics, and their Regents or Rectors with our Monads and spiritual faculties. In order to avoid creating new misconceptions, let it be stated that among the three Secret Orbs, or Star-Angels, neither Uranus nor Neptune were included; not only because they were unknown under these names to the ancient Sages, but because they, like all other planets, however many there may be, are the Gods and Guardians of other septenary Chains of Globes within our System.

Vậy chính Bảy Con của Ánh Sáng—được gọi theo tên các hành tinh của các Ngài, và thường bị đám đông đồng nhất với chúng, tức Saturn, Jupiter, Mercury, Mars, Venus, và có lẽ cả Mặt Trời và Mặt Trăng, đối với nhà phê bình hiện đại vốn không đi sâu hơn bề mặt của các tôn giáo cổ 980—theo Giáo Huấn Huyền Môn, là Cha Mẹ thiên thượng của chúng ta, hay xét tổng hợp là “Cha” của chúng ta. Do đó, như đã nhận xét, đa thần giáo thật ra có tính triết học hơn và đúng hơn, xét theo sự kiện và Thiên Nhiên, so với nhất thần giáo nhân hình hóa. Saturn, Jupiter, Mercury và Venus, bốn hành tinh ngoại môn, cùng ba hành tinh khác phải được giữ kín danh xưng, là các thiên thể có giao tiếp cảm dục và thông linh trực tiếp, về mặt đạo đức lẫn hồng trần, với Trái Đất, với các Đấng Hướng Đạo và các Đấng Canh Giữ của nó; các cầu thể hữu hình cung cấp cho nhân loại chúng ta những đặc tính bên ngoài và bên trong, còn các Đấng Nhiếp Chính hay Chủ Quản của chúng cung cấp các chân thần và các năng lực tinh thần của chúng ta. Để tránh tạo ra những ngộ nhận mới, cần nói rõ rằng trong ba Cầu Thể Bí Mật, hay Thiên thần-Ngôi Sao, không có Uranus hay Neptune; không chỉ vì các Hiền giả cổ xưa không biết đến chúng dưới những tên gọi này, mà còn vì chúng, cũng như mọi hành tinh khác, dù số lượng có nhiều đến đâu, đều là các Thần và các Đấng Hộ Trì của những Dãy bầu hành tinh thất phân khác trong Hệ của chúng ta.

Nor do the two great planets last discovered depend entirely on the Sun, as do the rest of the planets. Otherwise, how can we explain the fact that Uranus receives 1/390th part of the light received by our Earth, while Neptune receives only 1/900th part; and that their satellites show a peculiarity of inverse rotation found in no other planets of the Solar System? At any rate, what we say applies to Uranus, though the fact has again been disputed recently.

Hai hành tinh lớn được phát hiện sau cùng cũng không hoàn toàn lệ thuộc vào Mặt Trời như các hành tinh còn lại. Nếu không, làm sao chúng ta giải thích được sự kiện Uranus chỉ nhận một phần ba trăm chín mươi lượng ánh sáng mà Trái Đất chúng ta nhận được, trong khi Neptune chỉ nhận một phần chín trăm; và các vệ tinh của chúng lại cho thấy một đặc điểm quay ngược chiều không thấy nơi bất kỳ hành tinh nào khác của hệ mặt trời? Dù sao đi nữa, điều chúng tôi nói áp dụng cho Uranus, tuy sự kiện ấy gần đây lại bị tranh luận.

This subject will, of course, be considered as a mere vagary, by all those who confuse the universal order of Being with their own systems of classification. Here, however, simple facts from Occult Teachings are stated, to be either accepted or rejected, as the case may be. There are details which, on account of their great metaphysical abstraction, cannot be entered upon. Hence, we merely state that only seven of our planets are as intimately related to our Globe, as the Sun is to all the bodies subject to him in his System. Of these bodies the poor little number of primary and secondary planets known to Astronomy, looks wretched enough, in truth. 981 Therefore, it stands to reason that there are a great number of planets, small and large, that have not been discovered yet, but of the existence of which ancient Astronomers—all of them initiated Adepts—must certainly have been aware. But, as the relation of these to the Gods was sacred, it had to remain arcane, as did also the names of various other planets and stars.

Dĩ nhiên, đề tài này sẽ bị tất cả những ai lẫn lộn trật tự phổ quát của Bản Thể với các hệ thống phân loại riêng của mình xem như một điều viển vông. Tuy nhiên, ở đây chỉ nêu ra những sự kiện giản dị từ Giáo Huấn Huyền Môn, để tùy trường hợp mà chấp nhận hay bác bỏ. Có những chi tiết, vì tính trừu tượng siêu hình rất lớn của chúng, không thể được đi sâu vào. Do đó, chúng tôi chỉ nói rằng chỉ có bảy hành tinh của chúng ta liên hệ mật thiết với bầu hành tinh của chúng ta như Mặt Trời liên hệ với mọi thiên thể chịu quyền Ngài trong Hệ của Ngài. Trong số các thiên thể ấy, con số nhỏ bé đáng thương gồm các hành tinh chínhphụ mà Thiên văn học biết đến quả thật trông thật thảm hại. 981 Vì vậy, hiển nhiên là có rất nhiều hành tinh, nhỏ và lớn, chưa được khám phá, nhưng sự tồn tại của chúng chắc chắn đã được các nhà Thiên văn cổ đại—tất cả đều là các chân sư được điểm đạo—biết đến. Nhưng vì mối liên hệ của chúng với các Thần là thiêng liêng, nên nó phải được giữ bí truyền, cũng như tên của nhiều hành tinh và ngôi sao khác.

Besides this, even the Roman Catholic Theology speaks of “seventy planets that preside over the destinies of the nations of this globe;” and, save the erroneous application, there is more truth in this tradition than in exact modern Astronomy. The seventy planets are connected with the seventy elders of the people of Israel, 982 and the Regents of these planets are meant, not the orbs themselves; the word seventy is a play and a blind upon the 7 × 7 of the subdivisions. Each people and nation, as we have already said, has its direct Watcher, Guardian and Father in Heaven—a Planetary Spirit. We are willing to leave their own national God, Jehovah, to the descendants of Israel, the worshippers of Sabaoth or Saturn; for, indeed, the Monads of the people chosen by him are his own, and the Bible has never made any secret of it. Only the text of the Protestant English Bible is, as usual, in disagreement with those of the Septuagint and the Vulgate. Thus, while in the former we read: When the Most High [not Jehovah] divided to the nations their inheritance… he set the bounds of the people according to the number of the children of Israel. 983

Ngoài điều này, ngay cả Thần học Công giáo La Mã cũng nói đến “bảy mươi hành tinh chủ trì vận mệnh của các quốc gia trên bầu hành tinh này”; và, ngoại trừ cách áp dụng sai lầm, truyền thống này có nhiều chân lý hơn so với Thiên văn học hiện đại chính xác. Bảy mươi hành tinh được liên kết với bảy mươi trưởng lão của dân Israel, 982 và điều được nói đến là các Đấng Nhiếp Chính của những hành tinh ấy, chứ không phải bản thân các cầu thể; từ bảy mươi là một lối chơi chữ và một bức màn che cho bảy nhân bảy của các phân bộ. Mỗi dân tộc và quốc gia, như chúng tôi đã nói, đều có Đấng Canh Giữ, Hộ Trì và Cha trên Trời trực tiếp của mình—một Chân Linh Hành Tinh. Chúng tôi sẵn lòng để vị Thượng đế quốc gia riêng của họ, Jehovah, lại cho hậu duệ Israel, những người thờ phụng Sabaoth hay Saturn; vì quả thật, các chân thần của dân tộc được ông chọn là của riêng ông, và Kinh Thánh chưa bao giờ che giấu điều đó. Chỉ có bản văn Kinh Thánh Anh ngữ Tin Lành, như thường lệ, là bất đồng với bản Bảy Mươi và bản Vulgate. Như vậy, trong bản trước chúng ta đọc: Khi Đấng Tối Cao chứ không phải Jehovah phân chia cơ nghiệp cho các dân tộc… Ngài ấn định ranh giới của các dân theo số con cái Israel. 983

In the Septuagint the text reads “according to the number of the Angels,” Planet-Angels, a version more concordant with truth and fact. Moreover, all the texts agree that “the Lord’s [Jehovah’s] portion is his people; Jacob is the lot of his inheritance”; 984 and this settles the question. The “Lord” Jehovah took Israel for his portion; what have other nations to do with that particular national Deity? Let then, the “Angel Gabriel” watch over Iran and “Mikael-Jehovah” over the Hebrews. These are not the Gods of other nations, and it is difficult to see why Christians should have selected a God against whose commandments Jesus was the first to rise in rebellion.

Trong bản Bảy Mươi, bản văn ghi “theo số các Thiên thần,” tức các Thiên thần-Hành tinh, một bản dịch phù hợp hơn với chân lý và sự kiện. Hơn nữa, mọi bản văn đều đồng ý rằng “phần của Chúa tức Jehovah là dân Ngài; Jacob là phần cơ nghiệp của Ngài”; 984 và điều này giải quyết vấn đề. “Chúa” Jehovah đã nhận Israel làm phần của mình; các quốc gia khác có liên hệ gì với vị Thượng đế quốc gia đặc thù ấy? Vậy hãy để “Thiên thần Gabriel” canh giữ Iran và “Mikael-Jehovah” canh giữ người Hebrew. Các vị này không phải là Thần của những quốc gia khác, và thật khó hiểu vì sao người Kitô hữu lại chọn một Thượng đế mà Đức Jesus là người đầu tiên nổi dậy chống lại các điều răn của ông.

The planetary origin of the Monad, or Soul, and of its faculties was taught by the Gnostics. On its way to the Earth, as on its way back from the Earth, each soul born in, and from, the “Boundless Light,” 985 had to pass through the seven planetary regions either way. The pure Dhyâni and Devas of the oldest religions had become, in course of time, with the Zoroastrians, the Seven Devs, the ministers of Ahriman, “each chained to his planet”; 986 with the Brâhmans, the Asuras and some of the Rishis—good, bad and indifferent; among the Egyptian Gnostics it was Thoth, or Hermes, who was the chief of the Seven whose names are given by Origen as Adonai, genius of the Sun; Tao, of the Moon; Eloi, of Jupiter; Sabaoth, of Mars; Orai, of Venus; Astaphai, of Mercury; and Ildabaoth (Jehovah), of Saturn. Finally, the Pistis-Sophia, which the greatest modern authority on exoteric Gnostic beliefs, the late Mr. C. W. King, refers to as “that precious monument of Gnosticism”—this old document echoes the archaic belief of the ages, while distorting it to suit sectarian purposes. The Astral Rulers of the Spheres, the planets, create the Monads, or Souls, from their own substance out of “the tears of their eyes, and the sweat of their torments,” endowing the Monads with a spark of their substance which is the Divine Light. It will be shown in Volume II why these “Lords of the Zodiac and Spheres” have been transformed by sectarian Theology into the Rebellious Angels of the Christians, who took them from the Seven Devs of the Magi, without understanding the significance of the allegory. 987

Nguồn gốc hành tinh của chân thần, hay linh hồn, và các năng lực của nó đã được các nhà Ngộ Đạo truyền dạy. Trên đường đến Trái Đất, cũng như trên đường trở về từ Trái Đất, mỗi linh hồn sinh ra trong, và từ, “Ánh Sáng Vô Biên,” 985 đều phải đi qua bảy vùng hành tinh theo cả hai chiều. Các Dhyani và Deva thanh khiết của những tôn giáo cổ xưa nhất, theo thời gian, nơi người Zoroaster, đã trở thành Bảy Dev, các phụ tá của Ahriman, “mỗi vị bị xiềng vào hành tinh của mình”; 986 nơi người Brahman, là các Asura và một số Rishi—tốt, xấu và trung tính; trong số các nhà Ngộ Đạo Ai Cập, chính Thoth, hay Hermes, là vị đứng đầu trong Bảy vị mà Origen nêu tên là Adonai, thiên tài của Mặt Trời; Tao, của Mặt Trăng; Eloi, của Jupiter; Sabaoth, của Mars; Orai, của Venus; Astaphai, của Mercury; và Ildabaoth tức Jehovah, của Saturn. Cuối cùng, Pistis-Sophia, mà thẩm quyền hiện đại lớn nhất về các tín ngưỡng Ngộ Đạo ngoại môn, cố ông C. W. King, gọi là “di tích quý báu ấy của Ngộ Đạo thuyết”—tài liệu cổ này vang vọng niềm tin cổ sơ của các thời đại, đồng thời bóp méo nó cho phù hợp với các mục đích giáo phái. Các Đấng Cai Quản Cảm Dục của các Khối Cầu, tức các hành tinh, tạo ra các chân thần, hay linh hồn, từ chính chất liệu của mình, từ “nước mắt của mắt họ, và mồ hôi của những thống khổ của họ,” ban cho các chân thần một tia lửa từ chất liệu của họ, tức Ánh Sáng Thiêng Liêng. Trong Quyển II sẽ cho thấy vì sao các “Chúa Tể của Hoàng Đạo và các Khối Cầu” này đã bị Thần học giáo phái biến thành các Thiên thần Nổi Loạn của Kitô giáo, vốn lấy các vị ấy từ Bảy Dev của các Magi mà không thấu hiểu thâm nghĩa của ẩn dụ. 987

As usual, that which is, and was from its beginning, divine, pure, and spiritual in its earliest unity, became—by reason of its differentiation through the distorted prism of man’s conceptions—human and impure, as reflecting man’s own sinful nature. Thus, in time, the planet Saturn became reviled by the worshippers of other Gods. The nations born under Saturn—the Jewish, for instance, with whom he became Jehovah, after being considered as a son of Saturn, or Ilda-Baoth, by the Ophites, and in the Book of Jasher—were eternally fighting with those born under Jupiter, Mercury, or any other planet, except Saturn-Jehovah; genealogies and prophecies notwithstanding, Jesus the Initiate (or Jehoshua)—the type from whom the “historical” Jesus was copied—was not of pure Jewish blood, and thus recognized no Jehovah; nor did he worship any planetary God beside his own “Father,” whom he knew, and with whom he communed, as every high Initiate does, “Spirit to Spirit and Soul to Soul.” This can hardly be taken exception to, unless the critic explains to every one’s satisfaction the strange sentences put into the mouth of Jesus during his disputes with the Pharisees by the author of the Fourth Gospel: I know that ye are Abraham’s seed 988…. I speak that which I have seen with my Father; and ye do that which ye have seen with your Father…. Ye do the deeds of your Father…. Ye are of your Father, the Devil…. He was a murderer from the beginning, and abode not in the truth, because there is no truthin him. When he speaketh a lie he speaketh of his own: for he is a liar and the father of it. 989

Như thường lệ, điều vốn , và đã là từ khởi thủy của nó, thiêng liêng, thanh khiết và tinh thần trong sự thống nhất ban sơ, đã trở thành—do sự biến phân của nó qua lăng kính méo mó của các quan niệm con người—nhân tính và bất tịnh, như phản chiếu chính bản chất tội lỗi của con người. Vì vậy, theo thời gian, hành tinh Saturn bị những người thờ phụng các Thần khác phỉ báng. Các quốc gia sinh ra dưới Saturn—chẳng hạn dân Do Thái, với họ vị này trở thành Jehovah, sau khi được người Ophite và trong Sách Jasher xem là con của Saturn, hay Ilda-Baoth—đã vĩnh viễn chiến đấu với những dân sinh ra dưới Jupiter, Mercury, hay bất kỳ hành tinh nào khác, ngoại trừ Saturn-Jehovah; bất kể gia phả và lời tiên tri, Đức Jesus vị điểm đạo đồ hay Jehoshua—mẫu hình mà từ đó Đức Jesus “lịch sử” được sao chép—không thuộc dòng máu Do Thái thuần chủng, và vì vậy không thừa nhận Jehovah; Ngài cũng không thờ phụng bất kỳ Thượng đế hành tinh nào ngoài “Cha” của riêng Ngài, Đấng Ngài biết và cùng Ngài hiệp thông, như mọi điểm đạo đồ cao cấp đều làm, “Tinh thần với Tinh thần và Linh hồn với Linh hồn.” Điều này khó có thể bị phản đối, trừ phi nhà phê bình giải thích thỏa đáng cho mọi người những câu kỳ lạ được tác giả Phúc Âm thứ tư đặt vào miệng Đức Jesus trong các cuộc tranh luận của Ngài với người Pharisee: Tôi biết các ông là dòng dõi Abraham 988…. Tôi nói điều tôi đã thấy nơi Cha tôi; còn các ông làm điều các ông đã thấy nơi Cha các ông…. Các ông làm các việc của Cha các ông…. Các ông thuộc về Cha các ông, là Quỷ dữ…. Nó là kẻ sát nhân từ ban đầu, và không đứng trong chân lý, vì trong nó không có chân lý. Khi nó nói dối, nó nói từ chính mình: vì nó là kẻ nói dối và là cha của sự dối trá. 989

This “Father” of the Pharisees was Jehovah, for he was identical with Cain, Saturn, Vulcan, etc. —the planet under which they were born, and the God whom they worshipped. Evidently there must be an Occult meaning sought in these words and admonitions, however mistranslated, since they are pronounced by one who threatened with hell-fire anyone who says to his brother simply Raca, fool. 990 And evidently, again, the planets are not merely spheres, twinkling in Space, and made to shine for no purpose, but they are the domains of various Beings with whom the uninitiated are so far unacquainted, but who have, nevertheless, a mysterious, unbroken, and powerful connection with men and globes. Every heavenly body is the temple of a God, and these Gods themselves are the temples of God, the Unknown “Not Spirit.” There is nothing profane in the Universe. All Nature is a consecrated place, as Young says: Each of these Stars is a religious house.

“Cha” này của người Pharisee là Jehovah, vì ông đồng nhất với Cain, Saturn, Vulcan, v.v.—hành tinh mà dưới đó họ được sinh ra, và là Thượng đế mà họ thờ phụng. Hiển nhiên, phải tìm một ý nghĩa Huyền Môn trong những lời này và những lời khuyên răn ấy, dù chúng đã bị dịch sai đến đâu, bởi chúng được thốt ra bởi Đấng đã đe dọa lửa địa ngục đối với bất kỳ ai chỉ nói với huynh đệ mình rằng: Raca, đồ ngu. 990 Và một lần nữa, hiển nhiên rằng các hành tinh không chỉ là những khối cầu lấp lánh trong Không gian, được làm cho tỏa sáng mà không có mục đích, mà là các lãnh vực của nhiều Hữu Thể khác nhau, những Đấng mà người chưa được điểm đạo cho đến nay chưa quen biết, nhưng tuy vậy vẫn có một mối liên hệ huyền bí, không gián đoạn và mạnh mẽ với con người và các bầu hành tinh. Mỗi thiên thể là đền thờ của một Thượng đế, và chính các Thượng đế ấy là đền thờ của Thượng đế, “Phi Tinh thần” Vô Danh. Không có gì phàm tục trong Vũ Trụ. Toàn thể Thiên Nhiên là một nơi thánh hiến, như Young nói: Mỗi Ngôi Sao này là một ngôi nhà tôn giáo.

Thus can all exoteric religions be shown to be the falsified copies of the Esoteric Teaching. It is the priesthood which has to be held responsible for the reaction of our day in favour of Materialism. It is by worshipping and enforcing on the masses the worship of the shells of pagan ideals—personified for purposes of allegory—that the latest exoteric religion has made of Western lands a Pandemonium, in which the higher classes worship the golden calf, and the lower and ignorant masses are made to worship an idol with feet of clay.

Như vậy, có thể chỉ ra rằng mọi tôn giáo ngoại môn đều là những bản sao bị làm sai lệch của Giáo Huấn Nội Môn. Chính giới giáo sĩ phải chịu trách nhiệm về phản ứng của thời đại chúng ta nghiêng về Chủ nghĩa Duy vật. Chính bằng việc thờ phụng và áp đặt lên quần chúng sự thờ phụng các lớp vỏ của những lý tưởng ngoại giáo—được nhân cách hóa vì mục đích ẩn dụ—mà tôn giáo ngoại môn mới nhất đã biến các vùng đất phương Tây thành một Pandemonium, trong đó các giai cấp cao thờ phụng con bê vàng, còn các quần chúng thấp kém và vô minh bị khiến phải thờ phụng một ngẫu tượng có đôi chân bằng đất sét.

Section XI. Ancient Thought in Modern Dress. — Tiết XI. Tư Tưởng Cổ Xưa Trong Y Phục Hiện Đại.

Modern Science is Ancient Thought distorted, and no more. We have seen, however, what intuitional Scientists think, and are busy about; and now the reader shall be given a few more proofs of the fact that more than one F.R.S. is unconsciously approaching the derided Secret Sciences.

Khoa học Hiện đại chỉ là Tư tưởng Cổ xưa bị bóp méo, không hơn. Tuy nhiên, chúng ta đã thấy các Nhà Khoa học có trực giác nghĩ gì và đang bận tâm điều gì; và giờ đây, độc giả sẽ được trao thêm vài bằng chứng về sự kiện rằng hơn một hội viên F.R.S. đang vô thức tiến gần đến các Khoa học Bí truyền từng bị chế giễu.

With regard to Cosmogony and primeval matter, modern speculations are undeniably ancient thought, “improved” by contradictory theories of recent origin. The whole foundation belongs to Grecian and Indian Archaic Astronomy and Physics, in those days called always Philosophy. In all the Âryan and Greek speculations, we meet with the conception of an all-pervading, unorganized, and homogeneous Matter, or Chaos, re-named by modern Scientists “nebular condition of the world-stuff.” What Anaxagoras called Chaos in his Homoiomeria is now called “primitive fluid” by Sir William Thomson. The Hindû and Greek Atomists—Kanâda, Leucippus, Democritus, Epicurus, Lucretius, etc. —are now reflected, as in a clear mirror, in the supporters of the Atomic Theory of our modern days, beginning with Leibnitz’s Monads, and ending with the Vortical Atoms of Sir William Thomson. 991 True, the corpuscular theory of old is rejected, and the undulatory theory has taken its place. But the question is, whether the latter is so firmly established as not to be liable to be dethroned like its predecessor? Light, from its metaphysical aspect, has been fully treated in Isis Unveiled: Light is the first begotten, and the first emanation of the Supreme, and Light is Life, says the Evangelist [and the Kabalist]. Both are electricity—the life principle, the Anima Mundi—pervading the Universe, the electric vivifier of all things. Light is the great Protean magician, and under the divine Will of the Architect 992[or rather the Architects, the “Builders,” called One collectively], its multifarious, omnipotent waves gave birth to every form as well as to every living being. From its swelling electric bosom, spring Matter and Spirit. Within its beams lie the beginnings of all physical and chemical action, and of all cosmic and spiritual phenomena; it vitalizes and disorganizes; it gives life and produces death, and from its Primordial Point gradually emerged into existence the myriads of worlds, visible and invisible celestial bodies. It was at the ray of this First Mother, one in three, that “God,” according to Plato, “lighted a Fire which we now call the Sun,” 993 and which is not the cause of either light or heat, but merely the focus, or, as we might say, the lens, by which the Rays of the Primordial Light become materialized, are concentrated upon our Solar System, and produce all the correlations of forces. 994

Về Vũ trụ khởi nguyên và vật chất nguyên sơ, các suy đoán hiện đại không thể phủ nhận là tư tưởng cổ xưa, được “cải tiến” bằng những lý thuyết mâu thuẫn có nguồn gốc gần đây. Toàn bộ nền tảng thuộc về Thiên văn học và Vật lý học cổ sơ Hy Lạp và Ấn Độ, vào thời ấy luôn được gọi là Triết học. Trong mọi suy đoán Arya và Hy Lạp, chúng ta gặp quan niệm về một Vật Chất hay Hỗn Mang thấm khắp, chưa tổ chức và đồng nhất, được các Nhà Khoa học hiện đại đổi tên thành “trạng thái tinh vân của chất liệu thế giới.” Điều Anaxagoras gọi là Hỗn Mang trong học thuyết các phần đồng chất của ông, nay được Sir William Thomson gọi là “lưu chất nguyên thủy.” Các nhà Nguyên tử luận Ấn Độ và Hy Lạp—Kanada, Leucippus, Democritus, Epicurus, Lucretius, v.v.—nay được phản chiếu như trong một tấm gương trong sáng nơi những người ủng hộ Thuyết Nguyên tử thời hiện đại của chúng ta, bắt đầu với các Chân thần của Leibnitz và kết thúc với các Nguyên tử Xoáy của Sir William Thomson. 991 Đúng là thuyết hạt cũ đã bị bác bỏ, và thuyết sóng đã thay thế nó. Nhưng vấn đề là liệu thuyết sau có được thiết lập vững chắc đến mức không thể bị truất ngôi như thuyết tiền nhiệm hay không? Ánh sáng, xét theo phương diện siêu hình của nó, đã được bàn đầy đủ trong Isis Unveiled: Ánh sáng là con đầu lòng, và là xuất lộ đầu tiên của Đấng Tối Cao, và Ánh sáng là Sự Sống, vị Tác giả Phúc Âm và nhà Kabbalah nói. Cả hai đều là điện lực—nguyên khí sự sống, Anima Mundi—thấm khắp Vũ Trụ, là tác nhân tiếp sinh lực bằng điện của mọi sự vật. Ánh sáng là nhà huyền thuật Proteus vĩ đại, và dưới Ý Chí thiêng liêng của Kiến Trúc Sư 992hay đúng hơn là các Kiến Trúc Sư, các “Đấng Kiến Tạo,” được gọi tập thể là Một, các làn sóng muôn hình vạn trạng, toàn năng của nó đã sinh ra mọi hình tướng cũng như mọi sinh linh sống động. Từ lồng ngực điện lực trào dâng của nó, Vật ChấtTinh Thần phát sinh. Trong các tia sáng của nó ẩn chứa khởi nguyên của mọi tác động hồng trần và hóa học, cũng như của mọi hiện tượng vũ trụ và tinh thần; nó tiếp sinh lực và làm tan rã; nó ban sự sống và tạo ra cái chết, và từ Điểm Nguyên Thủy của nó, vô số thế giới, các thiên thể hữu hình và vô hình, dần dần hiện ra trong hiện tồn. Chính bằng tia sáng của Mẹ Đầu Tiên này, một trong ba, mà “Thượng đế,” theo Plato, “đã thắp một Ngọn Lửa mà nay chúng ta gọi là Mặt Trời,” 993 và nó không phải là nguyên nhân của ánh sáng hay nhiệt, mà chỉ là tiêu điểm, hay có thể nói là thấu kính, nhờ đó các Tia của Ánh Sáng Nguyên Thủy được hiện hình trong vật chất, được tập trung vào hệ mặt trời của chúng ta, và tạo ra mọi tương quan của các mãnh lực. 994

This is the Ether, as just explained in the views of Metcalfe, repeated by Dr. Richardson, save for the submission of the former to some details of the modern undulatory theory. We do not say that we deny the theory; we assert only that it needs completion and rearrangement. But the Occultists are by no means the only heretics in this respect; for Mr. Robert Hunt, F.R.S. finds that: The undulatory theory does not account for the results of his experiments. 995 Sir David Brewster, in his Treatise on Optics, showing “that the colours of vegetable life arise… from a specific attraction which the particles of these bodies exercise over the differently-coloured rays of light,” and that “it is by the light of the sun that the coloured juices of plants are elaborated, that the colours of bodies are changed, etc.,” remarks that it is not easy to allow “that such effects can be produced by the mere vibration of an ethereal medium.” And he is forced, he says, “by this class of facts, to reason as if light was material” [?]. Professor Josiah P. Cooke, of Harvard University, says that he “cannot agree… with those who regard the wave-theory of light as an established principle of science.” 996Herschell’s doctrine, that the intensity of light, in effect of each undulation, “is inversely as the square of the distance from the luminous body,” if correct, damages a good deal, if it does not kill, the undulatory theory. That he is right, was proved repeatedly by experiments with photometers; and though it begins to be much doubted, the undulatory theory is still alive. 997

Đây là Dĩ Thái, như vừa được giải thích trong quan điểm của Metcalfe, được Tiến sĩ Richardson lặp lại, ngoại trừ việc người trước chấp nhận một số chi tiết của thuyết sóng hiện đại. Chúng tôi không nói rằng chúng tôi phủ nhận thuyết ấy; chúng tôi chỉ khẳng định rằng nó cần được hoàn chỉnh và sắp xếp lại. Nhưng các nhà huyền bí học tuyệt nhiên không phải là những kẻ dị giáo duy nhất về phương diện này; vì ông Robert Hunt, F.R.S. nhận thấy rằng: Thuyết sóng không giải thích được các kết quả thí nghiệm của ông. 995 Sir David Brewster, trong Treatise on Optics của ông, khi chỉ ra “rằng màu sắc của sự sống thực vật phát sinh… từ một sức hút đặc thù mà các hạt của những thể này tác động lên các tia sáng có màu khác nhau,” và rằng “chính nhờ ánh sáng mặt trời mà các dịch màu của cây cối được chế luyện, màu sắc của các thể được biến đổi, v.v.,” đã nhận xét rằng không dễ gì chấp nhận “rằng những hiệu quả như thế có thể được tạo ra bởi sự rung động đơn thuần của một môi trường dĩ thái.” Và ông nói rằng ông bị buộc, “bởi loại sự kiện này, phải lý luận như thể ánh sáng là vật chất” [?]. Giáo sư Josiah P. Cooke, thuộc Đại học Harvard, nói rằng ông “không thể đồng ý… với những người xem thuyết sóng của ánh sáng là một nguyên lý đã được xác lập của khoa học.” 996Học thuyết của Herschell, rằng cường độ ánh sáng, xét theo hiệu quả của mỗi dao động, “tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách từ vật thể phát sáng,” nếu đúng, sẽ làm tổn hại khá nhiều, nếu không muốn nói là giết chết, thuyết sóng. Việc ông đúng đã nhiều lần được chứng minh bằng các thí nghiệm với quang kế; và tuy nó bắt đầu bị nghi ngờ nhiều, thuyết sóng vẫn còn sống. 997

To this remark of Sir David Brewster— “forced to reason as if light was material”—there is a good deal to reply. Light, in one sense, is certainly as material as is electricity itself. And if electricity is not material, if it is only a “mode of motion,” how is it that it can be stored up in Faure’s accumulators? Helmholtz says that electricity must be as atomic as matter; and Mr. W. Crookes, F.R.S., supported the view in his address at Birmingham, in 1886, to the Chemical Section of the British Association, of which he was President. This is what Helmholtz says: If we accept the hypothesis that the elementary substances are composed of atoms, we cannot avoid concluding that electricity also, positive as well as negative, is divided into definite elementary portions, which behave like atoms of electricity. 998

Đối với nhận xét này của Sir David Brewster—“bị buộc phải lý luận như thể ánh sáng là vật chất”—có rất nhiều điều để đáp lại. Theo một nghĩa nào đó, ánh sáng chắc chắn cũng vật chất như chính điện lực. Và nếu điện lực không phải là vật chất, nếu nó chỉ là một “cách thức chuyển động,” thì làm sao nó có thể được tích trữ trong các bình tích điện của Faure? Helmholtz nói rằng điện lực cũng phải có tính nguyên tử như vật chất; và ông W. Crookes, F.R.S., đã ủng hộ quan điểm này trong diễn văn của ông tại Birmingham, năm 1886, trước Phân ban Hóa học của Hiệp hội Anh quốc, mà ông là Chủ tịch. Đây là điều Helmholtz nói: Nếu chúng ta chấp nhận giả thuyết rằng các chất nguyên tố được cấu tạo bởi các nguyên tử, chúng ta không thể tránh kết luận rằng điện lực cũng vậy, cả dương lẫn âm, được chia thành những phần tử sơ cấp xác định, hành xử như các nguyên tử điện lực. 998

Here we have to repeat that which was already said in Section VIII, that there is but one science that can henceforth direct modern research into the one path which will lead to the discovery of the whole, hitherto Occult, truth, and it is the youngest of all—Chemistry, as it now stands reformed. There is no other, not excluding Astronomy, that can so unerringly guide scientific intuition, as can Chemistry. Two proofs of this are to be found in the world of Science—two great Chemists, each among the greatest in his own country, namely, Mr. Crookes and the late Professor Butlerof: the one is a thorough believer in abnormal phenomena; the other was as fervid a Spiritualist, as he was great in the natural sciences. It becomes evident that, while pondering over the ultimate divisibility of Matter, and in the hitherto fruitless chase after the element of negative atomic weight, the scientifically trained mind of the Chemist must feel irresistibly drawn towards those ever-shrouded worlds, to that mysterious Beyond, whose measureless depths seem to close against the approach of the too materialistic hand that would fain draw aside its veil. “It is the unknown and the ever-unknowable,” warns the Monist-Agnostic. “Not so,” answers the persevering Chemist. “We are on the track and we are not daunted, and fain would we enter the mysterious region which ignorance tickets unknown.”

Ở đây chúng ta phải lặp lại điều đã nói trong Tiết VIII, rằng từ nay chỉ có một khoa học có thể hướng dẫn nghiên cứu hiện đại vào con đường duy nhất sẽ dẫn đến sự khám phá toàn bộ chân lý cho đến nay vẫn còn Huyền Môn, và đó là khoa học trẻ nhất trong tất cả—Hóa học, trong hình thức đã được cải cách hiện nay. Không có khoa học nào khác, kể cả Thiên văn học, có thể hướng dẫn trực giác khoa học một cách chắc chắn như Hóa học. Hai bằng chứng về điều này được tìm thấy trong thế giới Khoa học—hai nhà Hóa học vĩ đại, mỗi người thuộc hàng vĩ đại nhất trong xứ sở mình, tức ông Crookes và cố Giáo sư Butlerof: người thứ nhất là một người tin tưởng triệt để vào các hiện tượng bất thường; người thứ hai là một nhà thần linh học nhiệt thành chẳng kém gì ông vĩ đại trong các khoa học tự nhiên. Điều trở nên hiển nhiên là, khi suy ngẫm về khả năng phân chia tối hậu của Vật Chất, và trong cuộc săn đuổi cho đến nay vẫn vô hiệu quả đối với nguyên tố có trọng lượng nguyên tử âm, thể trí được rèn luyện khoa học của nhà Hóa học hẳn phải cảm thấy bị lôi cuốn không cưỡng lại được về những thế giới luôn bị che phủ ấy, về Cõi Bên Kia huyền bí ấy, những vực sâu không đo lường của nó dường như khép lại trước sự tiếp cận của bàn tay quá duy vật muốn vén bức màn của nó. “Đó là cái chưa biết và mãi mãi không thể biết,” nhà Nhất nguyên-Bất khả tri cảnh báo. “Không phải vậy,” nhà Hóa học kiên trì đáp. “Chúng ta đang lần theo dấu vết và không hề nao núng, và chúng ta tha thiết muốn đi vào miền huyền bí mà vô minh dán nhãn là chưa biết.”

In his Presidential Address at Birmingham Mr. Crookes said: There is but one unknown—the ultimate substratum of Spirit [Space]. That which is not the Absolute and the One is, in virtue of that very differentiation, however far removed from the physical senses, always accessible to the spiritual human mind, which is a coruscation of the undifferentiable Integral.

Trong Diễn văn Chủ tịch tại Birmingham, ông Crookes nói: Chỉ có một cái chưa biết—nền tảng tối hậu của Tinh thần tức Không gian. Cái gì không phải là Tuyệt Đối và Đấng Duy Nhất thì, chính do sự biến phân ấy, dù xa lìa các giác quan hồng trần đến đâu, vẫn luôn có thể được thể trí tinh thần của con người tiếp cận, thể trí ấy là một tia lóe sáng của Toàn Thể không thể biến phân.

Two or three sentences, at the very close of his lecture on the Genesis of the Elements, showed the eminent Scientist to be on the royal road to the greatest discoveries. He has been for some time overshadowing “the original protyle,” and he has come to the conclusion that “he who grasps the Key will be permitted to unlock some of the deepest mysteries of creation.” Protyle, as the great Chemist explains:… is a word analogous to protoplasm, to express the idea of the original primal matter existing before the evolution of the chemical elements. The word I have ventured to use for this purpose is compounded of πρὸ (earlier than) and ὕλη (the stuff of which things are made). The word is scarcely a new coinage, for 600 years ago Roger Bacon wrote in his Arte Chymiae, “The elements are made out of ὕλη and every element is converted into the nature of another element.”

Hai hay ba câu ở phần kết thúc bài giảng của ông về Sự Phát Sinh của các Nguyên Tố cho thấy nhà Khoa học lỗi lạc ấy đang đi trên con đường vương giả dẫn đến những khám phá vĩ đại nhất. Trong một thời gian, ông đã phủ bóng “protyle nguyên thủy,” và đi đến kết luận rằng “ai nắm được Chìa khóa sẽ được phép mở khóa một số bí nhiệm sâu xa nhất của sáng tạo.” Protyle, như nhà Hóa học vĩ đại giải thích:… là một từ tương tự protoplasm, nhằm diễn đạt ý tưởng về vật chất nguyên sơ ban đầu hiện hữu trước sự tiến hoá của các nguyên tố hóa học. Từ mà tôi mạo muội dùng cho mục đích này được ghép từ những yếu tố có nghĩa là trước đó và chất liệu mà từ đó sự vật được tạo thành. Từ này hầu như không phải là một cách đặt mới, vì sáu trăm năm trước Roger Bacon đã viết trong Arte Chymiae của ông: “Các nguyên tố được tạo ra từ chất liệu nguyên sơ và mỗi nguyên tố được chuyển đổi thành bản chất của một nguyên tố khác.”

The knowledge of Roger Bacon did not come to this wonderful old magician 999 by inspiration, but because he studied ancient works on Magic and Alchemy, and had a key to the real meaning of their language. But see what Mr. Crookes says of Protyle, next neighbour to the unconscious Mûlaprakriti of the Occultists: Let us start at the moment when the first element came into existence. Before this time, matter, as we know it, was not. It is equally impossible to conceive of matter without energy, as of energy without matter; from one point of view both are convertible terms. Before the birth of atoms, all those forms of energy, which become evident when matter acts upon matter, could not have existed 1000—they were locked up in the protyle as latent potentialities only. Coincident with the creation of atoms, all those attributes and properties, which form the means of discriminating one chemical element from another, start into existence fully endowed with energy. 1001

Tri thức của Roger Bacon không đến với nhà huyền thuật già kỳ diệu này 999 bằng cảm hứng, mà bởi vì ông đã nghiên cứu các tác phẩm cổ về Huyền thuật và Thuật luyện kim, và có chìa khóa đi vào ý nghĩa thật của ngôn ngữ trong đó. Nhưng hãy xem ông Crookes nói gì về Protyle, láng giềng gần nhất của Mulaprakriti vô thức của các nhà huyền bí học: Chúng ta hãy bắt đầu vào khoảnh khắc nguyên tố đầu tiên đi vào hiện tồn. Trước thời điểm này, vật chất như chúng ta biết chưa có. Việc quan niệm vật chất không có năng lượng cũng bất khả như quan niệm năng lượng không có vật chất; từ một quan điểm, cả hai là những thuật ngữ có thể chuyển đổi cho nhau. Trước khi các nguyên tử ra đời, mọi hình thức năng lượng trở nên hiển nhiên khi vật chất tác động lên vật chất đều không thể đã hiện hữu 1000—chúng chỉ bị khóa kín trong protyle như các tiềm năng tiềm tàng. Đồng thời với sự tạo lập các nguyên tử, mọi thuộc tính và tính chất tạo thành phương tiện để phân biện nguyên tố hóa học này với nguyên tố hóa học khác bừng hiện vào hiện tồn, được phú đầy đủ năng lượng. 1001

With every respect due to the great knowledge of the lecturer, the Occultist would put it otherwise. He would say that no Atom is ever “created,” for the Atoms are eternal within the bosom of the One Atom— “the Atom of Atoms”—viewed during Manvantara as the Jagad-Yoni, the material causative womb of the World. Pradhâna, unmodified Matter—that which is the first form of Prakriti, or material, visible, as well as invisible Nature—and Purusha, Spirit, are eternally one; and they are Nirupâdhi, without adventitious qualities or attributes, only during Pralaya, and when beyond any of the planes of consciousness of existence. The Atom, as known to modern science, is inseparable from Purusha, which is Spirit, but is now called “energy” in Science. The Protyle Atom has not been comminuted or subtilized: it has simply passed into that plane, which is no plane, but the eternal state of everything beyond the planes of illusion. Both Purusha and Pradhâna are immutable and unconsumable, or Aparinâmin and Avyaya, in eternity; and both may be referred to during the Mâyâvic periods as Vyaya and Parinâmin, or that which can expand, pass away and disappear, and which is “modifiable.” In this sense Purusha, must, of course, be held distinct in our conceptions from Parabrahman. Nevertheless that, which is called “energy” or “force” in Science, and which has been explained as a dual force by Metcalfe, is never, in fact, and cannot be, energy alone; for it is the Substance of the World, its Soul, the All-permeant, Sarvaga, in conjunction with Kâla, Time. The three are the trinity in one, during Manvantara, the all-potential Unity, which acts as three distinct things on Mâyâ, the plane of illusion. In the Orphic philosophy of ancient Greece they were called Phanes, Chaos, and Chronos—the triad of the Occult Philosophers of that period.

Với tất cả sự kính trọng dành cho tri thức vĩ đại của diễn giả, nhà huyền bí học sẽ trình bày khác đi. Y sẽ nói rằng không Nguyên tử nào từng được “tạo ra,” vì các Nguyên tử là vĩnh cửu trong lòng của Nguyên Tử Duy Nhất—“Nguyên Tử của các Nguyên tử”—được nhìn trong Giai kỳ sinh hóa như Jagad-Yoni, tử cung vật chất nhân quả của Thế Giới. Pradhana, Vật Chất chưa biến đổi—tức hình thức đầu tiên của Prakriti, hay Thiên Nhiên vật chất, hữu hình cũng như vô hình—và Purusha, Tinh thần, là một cách vĩnh cửu; và chúng là Nirupadhi, không có phẩm tính hay thuộc tính phụ thêm, chỉ trong Giai kỳ qui nguyên, và khi vượt ngoài mọi cõi tâm thức của hiện tồn. Nguyên tử, như khoa học hiện đại biết đến, không thể tách rời khỏi Purusha, vốn là Tinh thần, nhưng nay được Khoa học gọi là “năng lượng.” Nguyên tử Protyle không bị nghiền nhỏ hay làm tinh vi hóa: nó chỉ đơn giản đi vào cõi ấy, vốn không phải là cõi, mà là trạng thái vĩnh cửu của mọi sự vượt ngoài các cõi ảo tưởng. Cả Purusha và Pradhana đều bất biến và không tiêu hao, hay Aparinamin và Avyaya, trong vĩnh cửu; và cả hai, trong các thời kỳ ảo lực, có thể được gọi là Vyaya và Parinamin, hay cái có thể mở rộng, qua đi và biến mất, và cái “có thể được biến đổi.” Theo nghĩa này, dĩ nhiên, trong các quan niệm của chúng ta, Purusha phải được giữ phân biệt với Parabrahman. Tuy nhiên, cái được Khoa học gọi là “năng lượng” hay “mãnh lực,” và đã được Metcalfe giải thích như một mãnh lực kép, trên thực tế không bao giờ là, và không thể là, năng lượng đơn thuần; vì nó là Chất liệu của Thế Giới, Linh hồn của Thế Giới, cái Thấm Khắp, Sarvaga, kết hợp với Kala, Thời gian. Ba điều ấy là Ba Ngôi trong một, trong Giai kỳ sinh hóa, Hợp Nhất toàn năng lực, tác động như ba sự vật riêng biệt trên ảo lực, cõi của ảo tưởng. Trong triết học Orphic của Hy Lạp cổ đại, chúng được gọi là Phanes, Chaos và Chronos—tam nguyên của các Triết gia Huyền Môn thời ấy.

But see how closely Mr. Crookes brushes the “Unknowable,” and what potentialities there are for the acceptance of Occult truths in his discoveries. He continues, speaking of the evolution of Atoms: Let us pause at the end of the first complete vibration and examine the result. We have already found the elements of water, ammonia, carbonic acid, the atmosphere, plant and animal life, phosphorus for the brain, salt for the seas, clay for the solid earth… phosphates and silicates sufficient for a world and inhabitants not so very different from what we enjoy at the present day. True the human inhabitants would have to live in a state of more than Arcadian simplicity, and the absence of calcic phosphate would be awkward as far as the bone is concerned. 1002… At the lower end of our curve… we see a great hiatus…. This oasis, and the blanks which precede and follow it, may be referred with much probability to the particular way in which our earth developed into a member of our solar system. If this be so, it may be that on our earth only these blanks occur, and not generally throughout the universe.

Nhưng hãy xem ông Crookes chạm sát “Cái Không Thể Biết” đến mức nào, và có những tiềm năng nào cho việc chấp nhận các chân lý Huyền Môn trong các khám phá của ông. Ông tiếp tục, khi nói về sự tiến hoá của các Nguyên tử: Chúng ta hãy dừng lại ở cuối rung động hoàn chỉnh đầu tiên và khảo sát kết quả. Chúng ta đã tìm thấy các nguyên tố của nước, ammonia, acid carbonic, bầu khí quyển, sự sống thực vật và động vật, phosphorus cho bộ não, muối cho biển cả, đất sét cho trái đất rắn chắc… các phosphate và silicate đủ cho một thế giới và những cư dân không khác lắm với những gì chúng ta đang hưởng ngày nay. Đúng là các cư dân nhân loại sẽ phải sống trong một trạng thái giản dị hơn cả Arcadia, và sự vắng mặt của calcium phosphate sẽ gây bất tiện xét về xương. 1002… Ở đầu thấp của đường cong của chúng ta… chúng ta thấy một khoảng trống lớn…. Ốc đảo này, và những khoảng trống đi trước và theo sau nó, rất có thể được quy về cách đặc thù mà trái đất chúng ta đã phát triển thành một thành viên của hệ mặt trời. Nếu đúng như vậy, có thể chỉ trên trái đất chúng ta những khoảng trống này mới xảy ra, chứ không phổ biến khắp vũ trụ.

This justifies several assertions in the Occult works.

Điều này biện minh cho nhiều khẳng định trong các tác phẩm Huyền Môn.

Firstly, that neither the stars nor the Sun can be said to be constituted of those terrestrial elements with which the Chemist is familiar, though they are all present in the Sun’s outward robes—as well as a host more of elements so far unknown to Science.

Thứ nhất, không thể nói rằng các ngôi sao hay Mặt Trời được cấu tạo bởi những nguyên tố địa cầu mà nhà Hóa học quen thuộc, dù tất cả chúng đều hiện diện trong các lớp áo bên ngoài của Mặt Trời—cùng với vô số nguyên tố khác cho đến nay Khoa học chưa biết.

Secondly, that our globe has its own special laboratory on the far-away outskirts of its atmosphere, crossing which, every Atom and molecule changes and differentiates from its primordial nature.

Thứ hai, bầu hành tinh của chúng ta có phòng thí nghiệm đặc thù riêng của nó ở những vùng ngoại vi xa xôi của bầu khí quyển, khi vượt qua đó, mỗi Nguyên tử và phân tử đều biến đổi và biến phân khỏi bản chất nguyên thủy của nó.

And thirdly, that though no element present on our Earth could ever possibly be found wanting in the Sun, there are many others there which have either not reached, or not as yet been discovered on our globe.

Và thứ ba, dù không một nguyên tố nào hiện diện trên Trái Đất chúng ta có thể thiếu vắng trong Mặt Trời, ở đó vẫn có nhiều nguyên tố khác hoặc chưa đến được, hoặc chưa được khám phá trên bầu hành tinh của chúng ta.

Some may be missing in certain stars and heavenly bodies in the process of formation; or, though present in them, these elements, on account of their present state, may not respond as yet to the usual scientific tests. 1003

Một số có thể vắng mặt trong vài ngôi sao và thiên thể đang trong tiến trình hình thành; hoặc dù hiện diện trong chúng, các nguyên tố ấy, do trạng thái hiện nay của chúng, có thể chưa đáp ứng với các phép thử khoa học thông thường. 1003

Mr. Crookes speaks of helium, an element of still lower atomic weight than hydrogen, an element purely hypothetical as far as our earth is concerned, though existing in abundance in the chromosphere of the Sun. Occult Science adds that not one of the elements regarded as such by Chemistry really deserves the name.

Ông Crookes nói về helium, một nguyên tố có trọng lượng nguyên tử còn thấp hơn hydrogen, một nguyên tố hoàn toàn giả thuyết xét theo Trái Đất chúng ta, dù hiện hữu dồi dào trong sắc cầu của Mặt Trời. Khoa học Huyền Môn thêm rằng không một nguyên tố nào được Hóa học xem là như thế thật sự xứng đáng với danh xưng ấy.

Again we find Mr. Crookes speaking with approbation of Dr. Carnelly’s weighty argument in favour of the compound nature of the so-called elements, from their analogy to the compound radicles.

Một lần nữa, chúng ta thấy ông Crookes nói với sự tán thành về lập luận có trọng lượng của Tiến sĩ Carnelly ủng hộ bản chất hợp thành của cái gọi là các nguyên tố, dựa trên sự tương đồng của chúng với các gốc hợp chất.

Hitherto, Alchemy alone, within the historical period, and in the so-called civilized countries, has succeeded in obtaining a real element, or a particle of homogeneous Matter, the Mysterium Magnum of Paracelsus. But then that was before Lord Bacon’s day. 1004

Cho đến nay, chỉ có Thuật luyện kim, trong thời kỳ lịch sử và tại các xứ sở được gọi là văn minh, đã thành công trong việc thu được một nguyên tố thật sự, hay một hạt Vật Chất đồng nhất, Mysterium Magnum của Paracelsus. Nhưng điều đó xảy ra trước thời của Lord Bacon. 1004

… Let us now turn to the upper portion of the scheme. With hydrogen of atomic weight = 1, there is little room for other elements, save, perhaps, for hypothetical Helium. But what if we get “through the looking-glass,” and cross the zero line in search of new principles—what shall we find on the other side of zero? Dr. Carnelly asks for an element of negative atomic weight; here is ample room and verge enough for a shadow series of such unsubstantialities. Helmholtz says that electricity is probably as atomic as matter; is electricity one of the negative elements, and the luminiferous ether another? Matter, as we now know it, does not here exist; the forms of energy which are apparent in the motions of matter are as yet only latent possibilities. A substance of negative weight is not inconceivable. 1005 But can we form a clear conception of a body which combines with other bodies in proportions expressible by negative qualities? 1006

… Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang phần trên của sơ đồ. Với hydrogen có trọng lượng nguyên tử bằng một, hầu như không còn chỗ cho các nguyên tố khác, ngoại trừ, có lẽ, Helium giả thuyết. Nhưng nếu chúng ta đi “xuyên qua tấm gương,” và vượt qua đường số không để tìm kiếm các nguyên khí mới—chúng ta sẽ tìm thấy gì ở phía bên kia số không? Tiến sĩ Carnelly yêu cầu một nguyên tố có trọng lượng nguyên tử âm; ở đây có không gian và phạm vi rộng rãi cho một chuỗi bóng của những phi thực thể như thế. Helmholtz nói rằng điện lực có lẽ cũng có tính nguyên tử như vật chất; vậy điện lực có phải là một trong các nguyên tố âm, và dĩ thái truyền sáng là một nguyên tố khác chăng? Vật chất, như chúng ta hiện biết, không hiện hữu ở đây; các hình thức năng lượng biểu lộ trong chuyển động của vật chất cho đến nay chỉ là những khả năng tiềm tàng. Một chất liệu có trọng lượng âm không phải là điều không thể quan niệm. 1005 Nhưng liệu chúng ta có thể hình thành một quan niệm rõ ràng về một thể kết hợp với các thể khác theo những tỷ lệ có thể biểu thị bằng các phẩm tính âm chăng? 1006

A genesis of the elements such as is here sketched out would not be confined to our little solar system, but would probably follow the same general sequence of events in every centre of energy now visible as a star.

Một sự phát sinh của các nguyên tố như được phác họa ở đây sẽ không bị giới hạn trong hệ mặt trời nhỏ bé của chúng ta, mà có lẽ sẽ theo cùng một chuỗi biến cố tổng quát trong mọi trung tâm năng lượng hiện nay có thể thấy được như một ngôi sao.

Before the birth of atoms to gravitate towards one another, no pressure could be exercised; but at the outskirts of the fire-mist sphere, within which all is protyle—at the shell on which the tremendous forces involved in the birth of a chemical element exert full sway—the fierce heat would be accompanied by gravitation sufficient to keep the newly-born elements from flying off into space. As temperature increases, expansion and molecular motion increase, molecules tend to fly asunder, and their chemical affinities become deadened; but the enormous: pressure of the gravitation of the mass of atomic matter, outside what I may for brevity call the birth-shell, would counteract the action of heat.

Trước khi các nguyên tử ra đời để hút nhau, không thể có áp lực nào được vận dụng; nhưng ở vùng ngoại vi của khối cầu sương-lửa, trong đó tất cả đều là nguyên chất sơ khai — tại lớp vỏ nơi những mãnh lực khủng khiếp liên quan đến sự ra đời của một nguyên tố hóa học phát huy toàn quyền — sức nóng dữ dội sẽ đi kèm với lực hấp dẫn đủ để giữ các nguyên tố mới sinh khỏi bay tung vào không gian. Khi nhiệt độ tăng, sự giãn nở và chuyển động phân tử tăng, các phân tử có khuynh hướng bay tách khỏi nhau, và ái lực hóa học của chúng trở nên tê liệt; nhưng áp lực khổng lồ của lực hấp dẫn từ khối vật chất nguyên tử, ở bên ngoài điều mà cho ngắn gọn tôi có thể gọi là lớp-vỏ-sinh-thành, sẽ chống lại tác động của nhiệt.

Beyond the birth-shell would be a space in which no chemical action could take place, owing to the temperature there being above what is called the dissociation-point for compounds. In this space the lion and the lamb would lie down together: phosphorus and oxygen would mix without union; hydrogen and chlorine would show no tendency to closer bonds; and even fluorine, that energetic gas which chemists have only isolated within the last month or two, would float about free and uncombined.

Bên ngoài lớp-vỏ-sinh-thành sẽ là một khoảng không trong đó không thể xảy ra tác động hóa học nào, do nhiệt độ ở đó cao hơn điều được gọi là điểm phân ly của các hợp chất. Trong khoảng không này, sư tử và chiên con sẽ nằm xuống bên nhau: phốt pho và ôxy sẽ hòa lẫn mà không kết hợp; hiđrô và clo sẽ không biểu lộ khuynh hướng tiến tới những liên kết chặt chẽ hơn; và ngay cả flo, thứ khí năng động mà các nhà hóa học chỉ mới cô lập được trong một hai tháng gần đây, cũng sẽ trôi nổi tự do và không kết hợp.

Outside this space of free atomic matter would be another shell, in which the formed chemical elements would have cooled down to the combination point, and the sequence of events so graphically described by Mr. Mattieu Williams in The Fuel of the Sun would now take place, culminating in the solid earth and the commencement of geological time (p. 19).

Bên ngoài khoảng không của vật chất nguyên tử tự do này sẽ là một lớp vỏ khác, trong đó các nguyên tố hóa học đã thành hình sẽ nguội xuống đến điểm kết hợp, và chuỗi biến cố được ông Mattieu Williams mô tả thật sinh động trong Nhiên Liệu của Mặt Trời bấy giờ sẽ diễn ra, đạt đến cao điểm là trái đất rắn đặc và sự khởi đầu của thời gian địa chất (tr. 19).

This is, in strictly scientific, but beautiful language, the description of the evolution of the differentiated Universe in the Secret Teachings. The learned gentleman closes his address in words, every sentence of which is like a flash of light from beyond the dark veil of materiality, hitherto thrown upon the exact sciences, and is a step forward towards the Sanctum Sanctorum of the Occult. Thus he says: We have glanced at the difficulty of defining an element; we have noticed, too, the revolt of many leading physicists and chemists against the ordinary acceptation of the term element; we have weighed the improbability of their eternal existence, 1007 or their origination by chance. As a remaining alternative, we have suggested their origin by a process of evolution like that of the heavenly bodies according to Laplace, and the plants and animals of our globe according to Lamarck, Darwin, and Wallace. 1008In the general array of the elements, as known to us, we have seen a striking approximation to that of the organic world. 1009 In lack of direct evidence of the decomposition of any element, we have sought and found indirect evidence…. We have next glanced at the view of the genesis of the elements; and lastly we have reviewed a scheme of their origin suggested by Professor Reynolds’ method of illustrating the periodic classification 1010…. Summing up all the above considerations we cannot, indeed, venture to assert positively that our so-called elements have been evolved from one primordial matter; but we may contend that the balance of evidence, I think, fairly weighs in favour of this speculation.

Đây là, bằng ngôn ngữ nghiêm ngặt khoa học nhưng đẹp đẽ, sự mô tả về tiến hoá của Vũ Trụ đã biến phân trong các Giáo Huấn Bí Nhiệm. Vị học giả ấy kết thúc bài diễn thuyết của mình bằng những lời mà mỗi câu đều như một tia sáng lóe lên từ bên kia bức màn tối của vật chất tính, vốn từ trước đến nay phủ lên các khoa học chính xác, và là một bước tiến về phía Thánh Điện của Huyền Môn. Do đó ông nói: Chúng ta đã thoáng nhìn vào khó khăn trong việc định nghĩa một nguyên tố; chúng ta cũng đã ghi nhận sự phản kháng của nhiều nhà vật lý và hóa học hàng đầu đối với cách hiểu thông thường về thuật ngữ nguyên tố; chúng ta đã cân nhắc tính bất khả hữu của sự tồn tại vĩnh cửu của chúng, 1007 hoặc sự phát sinh ngẫu nhiên của chúng. Như một khả năng còn lại, chúng ta đã gợi ý nguồn gốc của chúng bằng một tiến trình tiến hoá tương tự như tiến hoá của các thiên thể theo Laplace, và của thực vật cùng động vật trên bầu hành tinh của chúng ta theo Lamarck, Darwin và Wallace. 1008Trong sự sắp xếp tổng quát của các nguyên tố, như chúng ta biết, chúng ta đã thấy một sự xấp xỉ nổi bật với thế giới hữu cơ. 1009 Khi thiếu bằng chứng trực tiếp về sự phân giải của bất kỳ nguyên tố nào, chúng ta đã tìm kiếm và tìm thấy bằng chứng gián tiếp…. Kế đó chúng ta đã thoáng xét quan điểm về sự phát sinh của các nguyên tố; và sau cùng chúng ta đã duyệt lại một hệ thống về nguồn gốc của chúng, do phương pháp minh họa phân loại tuần hoàn của Giáo sư Reynolds gợi ý 1010…. Tóm lược tất cả những cân nhắc trên, quả thật chúng ta không thể mạo muội khẳng định một cách chắc chắn rằng các nguyên tố gọi là của chúng ta đã tiến hoá từ một vật chất nguyên thủy duy nhất; nhưng, tôi nghĩ, chúng ta có thể chủ trương rằng cán cân bằng chứng nghiêng khá rõ về phía giả thuyết này.

Thus inductive Science, in its branches of Astronomy, Physics, and Chemistry, while advancing timidly towards the conquest of Nature’s secrets in her final effects on our terrestrial plane, recedes to the days of Anaxagoras and the Chaldees in its discoveries of (a) the origin of our phenomenal world, and (b) the modes of formation of the bodies that compose the Universe. And having, for their cosmogonical hypotheses to turn back to the beliefs of the earliest philosophers, and the systems of the latter—systems that were all based on the teachings of a universal Secret Doctrine with regard to primeval Matter, with its properties, functions, and laws—have we not the right to hope that the day is not far off when Science will show a better appreciation of the Wisdom of the Ancients than it has hitherto done?

Như vậy, Khoa học quy nạp, trong các ngành Thiên văn học, Vật lý học và Hóa học, trong khi tiến tới một cách rụt rè nhằm chinh phục các bí mật của Thiên Nhiên nơi những hiệu quả cuối cùng của bà trên cõi hồng trần của chúng ta, lại lùi về thời Anaxagoras và người Chaldea trong các khám phá của mình về (a) nguồn gốc của thế giới hiện tượng của chúng ta, và (b) các phương thức hình thành những thể cấu thành Vũ Trụ. Và khi các giả thuyết vũ trụ luận của họ phải quay trở lại các niềm tin của những triết gia cổ xưa nhất, cùng các hệ thống của những vị ấy — những hệ thống đều đặt nền trên giáo huấn của một Giáo Lý Bí Nhiệm phổ quát liên quan đến Vật Chất nguyên sơ, với các đặc tính, chức năng và định luật của nó — há chúng ta không có quyền hy vọng rằng ngày ấy không còn xa, khi Khoa học sẽ biểu lộ sự trân trọng Minh Triết của Cổ Nhân hơn trước kia sao?

No doubt Occult Philosophy could learn a good deal from exact Modern Science; but the latter, on the other hand, might profit by ancient learning in more than one way, and chiefly in Cosmogony. It might learn, for instance, the mystical signification, alchemical and transcendental, of the many imponderable substances that fill interplanetary space, and which, interpenetrating each, are the direct cause, at the lower end, of the production of natural phenomena manifesting through so-called vibration. The knowledge of the real, not the hypothetical, nature of Ether, or rather of the Âkâsha, and other mysteries, in short, can alone lead to the knowledge of Forces. It is that Substance against which the Materialistic school of the Physicists rebels with such fury, especially in France, 1011 and which exact Science has to advocate notwithstanding. They cannot make away with it without incurring the risk of pulling down the pillars of the Temple of Science, like a modern Samson, and of getting buried under its roof.

Không nghi ngờ gì, Triết học Huyền môn có thể học được nhiều điều từ Khoa học Hiện đại chính xác; nhưng mặt khác, khoa học này cũng có thể hưởng lợi từ học thuật cổ xưa theo nhiều cách, và chủ yếu trong Vũ Trụ Khởi Nguyên Luận. Chẳng hạn, nó có thể học thâm nghĩa thần bí, luyện kim và siêu việt của nhiều chất không thể cân đo lấp đầy không gian liên hành tinh, và khi thâm nhập lẫn nhau, chúng là nguyên nhân trực tiếp, ở đầu thấp, của sự sản sinh các hiện tượng tự nhiên biểu hiện qua điều gọi là rung động. Nói ngắn gọn, chỉ tri thức về bản chất thực, chứ không phải giả thuyết, của Dĩ Thái, hay đúng hơn của Akasha, và các bí nhiệm khác, mới có thể dẫn đến tri thức về các Mãnh lực. Đó là Chất liệu mà trường phái Duy vật của các nhà Vật lý chống lại với sự dữ dội như thế, đặc biệt ở Pháp, 1011 và là điều mà Khoa học chính xác vẫn phải bênh vực. Họ không thể thủ tiêu nó mà không gặp nguy cơ kéo đổ các cột trụ của Đền Thờ Khoa học, như một Samson thời hiện đại, và bị chôn vùi dưới mái đền ấy.

The theories built upon the rejection of Force, outside and independent of Matter pure and simple, have all been shown to be fallacious. They do not, and cannot, cover the ground, and many of the scientific data are thus proved to be unscientific. “Ether produced Sound” is said in the Purânas, and the statement is laughed at. Sound is the result of the vibrations of the air, we are corrected. And what is air? Could it exist if there were no etheric medium in Space to buoy up its molecules? The case stands simply thus. Materialism cannot admit the existence of anything outside Matter, because with the acceptance of an imponderable Force—the source and head of all the physical Forces—other intelligent Forces would have to be virtually admitted, and that would lead Science very far. For it would have to accept as a sequel the presence in Man of a still more spiritual power—entirely independent, for once, of any kind of Matter about which Physicists know anything. Hence, apart from a hypothetical Ether of Space and gross physical bodies, the whole sidereal and unseen Space is, in the sight of Materialists, one boundless void in Nature—blind, unintelligent, useless.

Những lý thuyết được xây dựng trên sự phủ nhận Mãnh lực, ở bên ngoài và độc lập với Vật Chất thuần túy đơn giản, đều đã được chứng minh là sai lầm. Chúng không, và không thể, bao quát toàn bộ vấn đề, và do đó nhiều dữ kiện khoa học bị chứng tỏ là phi khoa học. “Dĩ Thái sinh ra Âm Thanh” được nói trong các Purana, và lời khẳng định ấy bị chế giễu. Người ta sửa chúng ta rằng Âm Thanh là kết quả của các rung động của không khí. Và không khí là gì? Nó có thể tồn tại nếu không có một môi trường dĩ thái trong Không Gian để nâng đỡ các phân tử của nó chăng? Vấn đề đơn giản là như sau. Chủ nghĩa Duy vật không thể thừa nhận sự tồn tại của bất cứ điều gì bên ngoài Vật Chất, vì với sự chấp nhận một Mãnh lực không thể cân đo — nguồn và đầu mối của mọi Mãnh lực hồng trần — thì những Mãnh lực thông tuệ khác trên thực tế cũng sẽ phải được thừa nhận, và điều đó sẽ đưa Khoa học đi rất xa. Vì như một hệ quả, nó sẽ phải chấp nhận sự hiện diện trong Con Người của một quyền năng còn tinh thần hơn nữa — lần này hoàn toàn độc lập với bất kỳ loại Vật Chất nào mà các nhà Vật lý biết đến. Vì thế, ngoài một Dĩ Thái Không Gian giả thuyết và các thể hồng trần thô trọng, toàn bộ Không Gian tinh tú và vô hình, dưới mắt những người Duy vật, là một khoảng không vô biên trong Thiên Nhiên — mù lòa, không thông tuệ, vô dụng.

And now the next question is: What is that Cosmic Substance, and how far can one go in suspecting its nature or in wrenching from it its secrets, thus feeling justified in giving it a name? How far, especially, has Modern Science gone in the direction of those secrets, and what is it doing to solve them? The latest hobby of Science, the Nebular Theory, may afford us some answer to this question. Let us then examine the credentials of this Nebular Theory.

Và bây giờ câu hỏi kế tiếp là: Chất liệu Vũ Trụ ấy là gì, và người ta có thể đi xa đến đâu trong việc phỏng đoán bản chất của nó hay cưỡng đoạt từ nó các bí mật của nó, rồi cảm thấy có lý do chính đáng để đặt tên cho nó? Đặc biệt, Khoa học Hiện đại đã tiến xa đến đâu theo hướng các bí mật ấy, và đang làm gì để giải quyết chúng? Mối say mê mới nhất của Khoa học, Thuyết Tinh Vân, có thể đem lại cho chúng ta một vài câu trả lời cho câu hỏi này. Vậy chúng ta hãy khảo sát các chứng cứ của Thuyết Tinh Vân này.

Section XII. Scientific and Esoteric Evidence for, and Objections to, the Modern Nebular Theory. — Phần XII. Bằng chứng khoa học và nội môn ủng hộ, cùng các phản bác đối với, Thuyết Tinh Vân Hiện Đại.

Of late, Esoteric Cosmogony has been frequently opposed by the phantom of this theory and its ensuing hypotheses. “Can this most scientific teaching be denied by your Adepts?” it is asked. “Not entirely,” is the reply, “but the admissions of the men of Science themselves kill it; and there remains nothing for the Adepts to deny.”

Gần đây, Vũ Trụ Khởi Nguyên Luận Nội Môn thường bị đem đối lập với bóng ma của thuyết này và các giả thuyết phát sinh từ nó. “Liệu giáo huấn khoa học nhất này có thể bị các Chân sư của các ông phủ nhận không?” người ta hỏi. “Không hoàn toàn,” là câu trả lời, “nhưng những thừa nhận của chính những người Khoa học giết chết nó; và chẳng còn gì để các Chân sư phải phủ nhận.”

To make of Science an integral whole necessitates, indeed, the study of spiritual and psychic, as well as of physical, Nature. Otherwise it will ever be like the anatomy of man, discussed of old by the profane from the point of view of his shell-side, and in ignorance of the interior work. Even Plato, the greatest Philosopher of his country, was guilty, before his Initiation, of such statements as that liquids pass into the stomach through the lungs. Without metaphysics, as Mr. H. J. Slack says, real Science is inadmissible.

Quả thật, để làm cho Khoa học thành một toàn thể tích hợp, cần phải nghiên cứu Thiên Nhiên tinh thần và thông linh, cũng như Thiên Nhiên hồng trần. Nếu không, nó sẽ mãi giống như giải phẫu học về con người, mà xưa kia kẻ phàm tục bàn luận từ quan điểm lớp vỏ bên ngoài của y, trong sự vô tri về công trình bên trong. Ngay cả Plato, Triết gia vĩ đại nhất của đất nước ông, trước khi được Điểm Đạo, cũng từng phạm những phát biểu như rằng chất lỏng đi vào dạ dày qua phổi. Không có siêu hình học, như ông H. J. Slack nói, Khoa học thực là điều không thể chấp nhận được.

The nebulæ exist; yet the Nebular Theory is wrong. A nebula exists in a state of entire elemental dissociation. It is gaseous and—something else besides, which can hardly be connected with gases as these are known to Physical Science; and it is self-luminous. But that is all. The sixty-two “coincidences” enumerated by Professor Stephen Alexander, 1012 confirming the Nebular Theory, may all be explained by Esoteric Science; though, as this is not an astronomical work, the refutations are not attempted at present. Laplace and Faye come nearer to the correct theory than any; but of the speculations of Laplace there remains little in the present theory beyond its general features.

Các tinh vân tồn tại; tuy vậy Thuyết Tinh Vân là sai. Một tinh vân tồn tại trong trạng thái phân ly hành khí hoàn toàn. Nó là khí và — thêm một điều gì khác nữa, hầu như không thể liên hệ với các khí như Khoa học Hồng trần biết đến; và nó tự phát sáng. Nhưng chỉ có thế. Sáu mươi hai “sự trùng hợp” do Giáo sư Stephen Alexander liệt kê, 1012 xác nhận Thuyết Tinh Vân, đều có thể được Khoa học Nội môn giải thích; tuy nhiên, vì đây không phải là một công trình thiên văn học, hiện tại không thử tiến hành các phản bác. Laplace và Faye đến gần lý thuyết đúng hơn bất kỳ ai; nhưng trong lý thuyết hiện nay, ngoài các đặc điểm tổng quát, còn lại rất ít từ những suy đoán của Laplace.

Nevertheless, says John Stuart Mill:

Tuy nhiên, John Stuart Mill nói:

There is in Laplace’s theory nothing hypothetical; it is an example of legitimate reasoning from present effect to its past cause; it assumes nothing more than that objects which really exist obey the laws which are known to be obeyed by all terrestrial objects resembling them. 1013

Trong lý thuyết của Laplace không có gì là giả thuyết; đó là một ví dụ về suy luận hợp pháp từ hiệu quả hiện tại đến nguyên nhân quá khứ của nó; nó không giả định gì hơn ngoài việc các đối tượng thật sự tồn tại tuân theo những định luật mà mọi đối tượng trên trái đất giống chúng đều được biết là tuân theo. 1013

From such an eminent logician as was Mill, this would be valuable, if it could only be proved that “terrestrial objects resembling” celestial objects at such a distance as are the nebulæ, resemble those objects in reality, and not only in appearance.

Từ một nhà luận lý lỗi lạc như Mill, điều này sẽ có giá trị, nếu chỉ có thể chứng minh rằng “các đối tượng trên trái đất giống” các đối tượng thiên thể ở một khoảng cách như các tinh vân, thật sự giống các đối tượng ấy, chứ không chỉ giống về vẻ ngoài.

Another of the fallacies, from the Occult standpoint, embodied in the modern theory as it now stands, is the hypothesis that the Planets were all detached from the Sun; that they are bone of his bone, and flesh of his flesh; whereas the Sun and the Planets are only co-uterine brothers, having the same nebular origin, but in a different mode from that postulated by modern Astronomy.

Một sai lầm khác, theo quan điểm Huyền môn, hàm chứa trong lý thuyết hiện đại như hiện nay, là giả thuyết cho rằng tất cả các Hành tinh đều tách ra từ Mặt Trời; rằng chúng là xương bởi xương Ngài, thịt bởi thịt Ngài; trong khi Mặt Trời và các Hành tinh chỉ là những huynh đệ cùng một bào thai, có cùng nguồn gốc tinh vân, nhưng theo một cách khác với cách mà Thiên văn học hiện đại giả định.

The many objections raised by some opponents of the modern Nebular Theory against the homogeneity of original diffuse Matter, on the ground of the uniformity in the composition of the fixed Stars, do not affect the question of that homogeneity at all, but only the theory itself. Our solar nebula may not be completely homogeneous, or, rather, it may fail to reveal itself as such to the Astronomers, and yet be de facto homogeneous. The Stars do differ in their constituent materials, and even exhibit elements quite unknown on Earth; nevertheless, this does not affect the point that Primeval Matter—Matter as it appeared even in its first differentiation from its laya-condition 1014—is yet to this day homogeneous, at immense distances, in the depths of infinitude, and likewise at points not far removed from the outskirts of our Solar System.

Nhiều phản bác do một số người chống đối Thuyết Tinh Vân hiện đại nêu lên nhằm chống lại tính đồng nhất của Vật Chất khuếch tán nguyên thủy, dựa trên sự đồng đều trong cấu tạo của các Định tinh, không hề ảnh hưởng đến vấn đề tính đồng nhất ấy, mà chỉ ảnh hưởng đến chính lý thuyết. Tinh vân mặt trời của chúng ta có thể không hoàn toàn đồng nhất, hay đúng hơn, nó có thể không tự biểu lộ như thế cho các nhà Thiên văn, song trên thực tế vẫn đồng nhất. Các Ngôi sao quả có khác nhau về vật liệu cấu thành, và thậm chí biểu lộ những nguyên tố hoàn toàn không được biết đến trên Trái Đất; tuy nhiên, điều này không ảnh hưởng đến điểm rằng Vật Chất Nguyên Sơ — Vật Chất như nó đã xuất hiện ngay cả trong biến phân đầu tiên khỏi trạng thái laya của nó 1014 — cho đến ngày nay vẫn đồng nhất, ở những khoảng cách mênh mông, trong chiều sâu của vô tận, và cũng vậy tại những điểm không xa lắm khỏi vùng ngoại vi của Hệ Mặt Trời chúng ta.

Finally, there does not exist one single fact brought forward by the learned objectors against the Nebular Theory (false as it is, and hence, illogically enough, fatal to the hypothesis of the homogeneity of Matter), that can withstand criticism. One error leads to another. A false premiss will naturally lead to a false conclusion, although an inadmissible inference does not necessarily affect the validity of the major proposition of the syllogism. Thus, one may leave every side-issue and inference from the evidence of spectra and lines, as simply provisional for the present, and abandon all matters of detail to Physical Science. The duty of the Occultist lies with the Soul and Spirit of Cosmic Space, not merely with its illusive appearance and behaviour. That of official Physical Science is to analyze and study its shell—the Ultima Thule of the Universe and Man, in the opinion of Materialism.

Sau cùng, không tồn tại một sự kiện đơn lẻ nào do các học giả phản bác đưa ra chống lại Thuyết Tinh Vân — tuy nó sai, và do đó, một cách khá phi lý, lại chí tử đối với giả thuyết về tính đồng nhất của Vật Chất — có thể đứng vững trước sự phê bình. Một sai lầm dẫn đến sai lầm khác. Một tiền đề sai tự nhiên sẽ dẫn đến một kết luận sai, mặc dù một suy luận không thể chấp nhận không nhất thiết ảnh hưởng đến giá trị của mệnh đề lớn trong tam đoạn luận. Do đó, người ta có thể tạm gác mọi vấn đề phụ và suy luận từ bằng chứng của quang phổ và các vạch quang phổ, như chỉ có tính tạm thời trong hiện tại, và phó thác mọi vấn đề chi tiết cho Khoa học Hồng trần. Bổn phận của nhà Huyền bí học liên quan đến Linh HồnTinh Thần của Không Gian Vũ Trụ, chứ không chỉ với vẻ ngoài và cách vận hành hư ảo của nó. Bổn phận của Khoa học Hồng trần chính thống là phân tích và nghiên cứu lớp vỏ của nó — ranh giới tận cùng của Vũ Trụ và Con Người, theo quan điểm của Chủ nghĩa Duy vật.

With the latter, Occultism has nought to do. It is only with the theories of such men of learning as Kepler, Kant, Oersted, and Sir William Herschell, who believed in a Spiritual World, that Occult Cosmogony might treat, and attempt a satisfactory compromise. But the views of those Physicists differed vastly from the latest modern speculations. Kant and Herschell had in their mind’s eye speculations upon the origin and the final destiny, as well as upon the present aspect, of the Universe, from a far more philosophical and psychic standpoint; whereas modern Cosmology and Astronomy now repudiate anything like research into the mysteries of Being. The result is what might be expected: complete failure and inextricable contradictions in the thousand and one varieties of so-called Scientific Theories, and in this Theory as in all others.

Với điều sau, Huyền bí học không có gì để làm. Chỉ với các lý thuyết của những học giả như Kepler, Kant, Oersted và Sir William Herschell, những người tin vào một Thế Giới Tinh Thần, Vũ Trụ Khởi Nguyên Luận Huyền môn mới có thể bàn đến, và cố gắng đạt một sự thỏa hiệp thỏa đáng. Nhưng quan điểm của các nhà Vật lý ấy khác xa những suy đoán hiện đại mới nhất. Kant và Herschell trong con mắt của trí tuệ đã có những suy đoán về nguồn gốc và vận mệnh sau cùng, cũng như về phương diện hiện tại, của Vũ Trụ, từ một lập trường triết học và thông linh hơn nhiều; trong khi Vũ trụ học và Thiên văn học hiện đại nay bác bỏ bất cứ điều gì giống như nghiên cứu vào các bí nhiệm của Bản Thể. Kết quả là điều có thể dự đoán: thất bại hoàn toàn và những mâu thuẫn không thể gỡ trong muôn vàn dạng của các Lý thuyết gọi là Khoa học, và trong Lý thuyết này cũng như trong mọi lý thuyết khác.

The nebular hypothesis, involving the theory of the existence of a Primeval Matter, diffused in a nebulous condition, is of no modern date in Astronomy, as everyone knows. Anaximenes, of the Ionian school, had already taught that the sidereal bodies were formed through the progressive condensation of a primordial pregenetic Matter, which had almost a negative weight, and was spread out through Space in an extremely sublimated condition.

Như mọi người đều biết, giả thuyết tinh vân, hàm chứa lý thuyết về sự tồn tại của một Vật Chất Nguyên Sơ, khuếch tán trong trạng thái tinh vân, không phải là điều hiện đại trong Thiên văn học. Anaximenes, thuộc trường phái Ionia, đã dạy rằng các thể tinh tú được hình thành qua sự ngưng tụ dần dần của một Vật Chất nguyên thủy tiền sinh thành, có trọng lượng gần như âm, và lan tỏa khắp Không Gian trong một trạng thái cực kỳ tinh luyện.

Tycho Brahé, who viewed the Milky Way as an ethereal substance, thought the new star that appeared in Cassiopeia, in 1572, had been formed out of that Matter. 1015 Kepler believed that the star of 1606 had likewise been formed out of the ethereal substance that fills the universe. 1016 He attributed to that same Ether the apparition of a luminous ring round the Moon, during the total eclipse of the Sun observed at Naples in 1605. 1017 Still later, in 1714 the existence of a self-luminous Matter was recognized by Halley in the Philosophical Transactions. Finally, the journal of this name published in 1811 the famous hypothesis of the eminent Astronomer, Sir William Herschell, on the transformation of the nebulæ into Stars, 1018 and after this the Nebular Theory was accepted by the Royal Academies.

Tycho Brahe, người xem Ngân Hà như một chất liệu dĩ thái, nghĩ rằng ngôi sao mới xuất hiện trong Cassiopeia, năm 1572, đã được hình thành từ Vật Chất ấy. 1015 Kepler tin rằng ngôi sao năm 1606 cũng đã được hình thành từ chất liệu dĩ thái lấp đầy vũ trụ. 1016 Ông quy cho cùng Dĩ Thái ấy sự xuất hiện của một vòng sáng quanh Mặt Trăng, trong kỳ nhật thực toàn phần quan sát tại Naples năm 1605. 1017 Muộn hơn nữa, vào năm 1714, sự tồn tại của một Vật Chất tự phát sáng đã được Halley thừa nhận trong Giao Dịch Triết Học. Sau cùng, tạp chí mang tên này đã công bố vào năm 1811 giả thuyết nổi tiếng của nhà Thiên văn lỗi lạc, Sir William Herschell, về sự chuyển đổi các tinh vân thành các Ngôi sao, 1018 và sau đó Thuyết Tinh Vân được các Viện Hàn Lâm Hoàng Gia chấp nhận.

In Five Years of Theosophy, on p. 245, may be read an article headed, “Do the Adepts deny the Nebular Theory?” The answer there given is: No; they do not deny its general propositions, nor the approximative truth of the scientific hypotheses. They only deny the completeness of the present, as well as the entire error of the many so-called “exploded” old theories, which, during the last century, have followed each other in such rapid succession.

Trong Năm Năm Thông Thiên Học, trang 245, có thể đọc một bài mang tiêu đề, “Các Chân sư có phủ nhận Thuyết Tinh Vân không?” Câu trả lời đưa ra ở đó là: Không; Các Ngài không phủ nhận các mệnh đề tổng quát của nó, cũng như chân lý xấp xỉ của các giả thuyết khoa học. Các Ngài chỉ phủ nhận tính hoàn chỉnh của thuyết hiện tại, cũng như phủ nhận rằng nhiều lý thuyết cũ gọi là “đã bị phá bỏ”, vốn trong thế kỷ trước đã nối tiếp nhau nhanh chóng như vậy, là hoàn toàn sai lầm.

This was asserted at the time to be “an evasive answer.” Such disrespect to official Science, it was argued, must be justified by the replacement of the orthodox speculation by another theory more complete, and having a firmer ground to stand upon. To this there is but one reply: It is useless to give out isolated theories with regard to things embodied in a complete and consecutive system, for, when separated from the main body of the teaching, they would necessarily lose their vital coherence and would thus do no good when studied independently. To be able to appreciate and accept the Occult views on the Nebular Theory, we must study the whole Esoteric cosmogonical system. And the time has hardly arrived for the Astronomers to be asked to accept Fohat and the Divine Builders. Even the undeniably correct surmises of Sir William Herschell, which had nothing “supernatural” in them, as to the Sun’s being called a “globe of fire,” perhaps metaphorically, and his early speculations about the nature of that which is now called the Nasmyth Willow-leaf Theory, only caused that most eminent of all Astronomers to be smiled at by other, far less eminent, colleagues, who saw and now see in his ideas purely “imaginative and fanciful theories.” Before the whole Esoteric System could be given out and appreciated by the Astronomers, the latter would have to return to some of those “antiquated ideas,” not only to those of Herschell, but also to the dreams of the oldest Hindû Astronomers, and thus abandon their own theories, which are none the less “fanciful” because they have appeared nearly eighty years later than the one, and many thousands of years later than the others. Foremost of all they would have to repudiate their ideas of the Sun’s solidity and incandescence; the Sun “glowing” most undeniably, but not “burning.” Then the Occultists state, with regard to the “willow-leaves,” that those “objects,” as Sir William Herschell called them, are the immediate sources of the solar light and heat. And though the Esoteric Teaching does not regard these as he did—namely, as “organisms” partaking of the nature of life, for the Solar “Beings” will hardly place themselves within telescopic focus—yet it asserts that the whole Universe is full of such “organisms,” conscious and active according to the proximity or distance of their planes to, or from, our plane of consciousness; and finally that the great Astronomer was right while speculating on those supposed “organisms,” in saying that “we do not know that vital action is incompetent to develop at once heat, light, and electricity.” For, at the risk of being laughed at by the whole world of Physicists, the Occultists maintain that all the “Forces” of the Scientists have their origin in the Vital Principle, the One Life collectively of our Solar System—that “Life” being a portion, or rather one of the aspects, of the One Universal Life.

Vào thời đó, điều này bị khẳng định là “một câu trả lời né tránh.” Người ta lập luận rằng sự thiếu tôn trọng như thế đối với Khoa học chính thống phải được biện minh bằng việc thay thế suy đoán chính thống bằng một lý thuyết khác hoàn chỉnh hơn, và có nền tảng vững chắc hơn để đứng vững. Đối với điều này chỉ có một câu trả lời: Thật vô ích khi đưa ra những lý thuyết rời rạc liên quan đến các sự vật vốn được bao hàm trong một hệ thống hoàn chỉnh và liên tục, vì khi tách khỏi phần thân chính của giáo huấn, chúng tất yếu sẽ mất sự cố kết thiết yếu và do đó chẳng đem lại lợi ích gì khi được nghiên cứu độc lập. Để có thể trân trọng và chấp nhận các quan điểm Huyền môn về Thuyết Tinh Vân, chúng ta phải nghiên cứu toàn bộ hệ thống vũ trụ luận Nội môn. Và thời điểm hầu như chưa đến để yêu cầu các nhà Thiên văn chấp nhận Fohat và các Đấng Kiến Tạo Thiêng Liêng. Ngay cả những phỏng đoán không thể phủ nhận là đúng của Sir William Herschell — vốn không có gì “siêu nhiên” trong đó — về việc Mặt Trời được gọi là một “bầu lửa”, có lẽ theo nghĩa ẩn dụ, và những suy đoán ban đầu của ông về bản chất của điều nay được gọi là Thuyết Lá Liễu Nasmyth, cũng chỉ khiến nhà Thiên văn lỗi lạc nhất trong tất cả ấy bị các đồng nghiệp kém lỗi lạc hơn nhiều mỉm cười, những người đã thấy và nay vẫn thấy trong các ý tưởng của ông chỉ là “những lý thuyết thuần túy tưởng tượng và hoang đường.” Trước khi toàn bộ Hệ Thống Nội Môn có thể được đưa ra và được các nhà Thiên văn trân trọng, những người sau sẽ phải quay trở lại một số “ý tưởng cổ lỗ” ấy, không chỉ của Herschell, mà cả những giấc mộng của các nhà Thiên văn Hindu cổ xưa nhất, và như thế từ bỏ các lý thuyết của chính họ, vốn chẳng kém phần “hoang đường” chỉ vì chúng xuất hiện muộn hơn lý thuyết kia gần tám mươi năm, và muộn hơn các lý thuyết khác nhiều nghìn năm. Trước hết, họ sẽ phải bác bỏ các ý tưởng của mình về tính rắn đặc và sự nóng sáng của Mặt Trời; Mặt Trời “phát sáng” một cách không thể phủ nhận, nhưng không “cháy.” Khi ấy, các nhà Huyền bí học phát biểu, liên quan đến “những lá liễu”, rằng các “đối tượng” ấy, như Sir William Herschell gọi chúng, là những nguồn trực tiếp của ánh sáng và nhiệt mặt trời. Và dù Giáo Huấn Nội Môn không xem chúng như ông đã xem — nghĩa là như “các cơ thể sống” dự phần vào bản chất của sự sống, vì các “Hữu Thể” Mặt Trời hầu như sẽ không đặt mình trong tiêu điểm kính viễn vọng — nhưng giáo huấn ấy khẳng định rằng toàn thể Vũ Trụ đầy dẫy những “cơ thể sống” như vậy, hữu thức và hoạt động tùy theo sự gần hay xa của các cõi của chúng đối với cõi tâm thức của chúng ta; và sau cùng rằng nhà Thiên văn vĩ đại ấy đã đúng khi suy đoán về những “cơ thể sống” giả định kia, trong lời nói rằng “chúng ta không biết rằng hoạt động sinh lực không đủ khả năng phát triển đồng thời nhiệt, ánh sáng và điện.” Vì, dù có nguy cơ bị toàn thể thế giới các nhà Vật lý chế giễu, các nhà Huyền bí học vẫn chủ trương rằng tất cả các “Mãnh lực” của các nhà Khoa học đều có nguồn gốc trong Nguyên Khí Sinh Lực, Sự Sống Duy Nhất hợp nhất của Hệ Mặt Trời chúng ta — “Sự Sống” ấy là một phần, hay đúng hơn là một trong những phương diện, của Sự Sống Phổ Quát Duy Nhất.

We may, therefore—as in the article under consideration, wherein, on the authority of the Adepts, it was maintained that it is “sufficient to make a résumé of what the solar Physicists do not know”—we may, we maintain, define our position with regard to the modern Nebular Theory and its evident incorrectness, by simply pointing out facts diametrically opposed to it in its present form. And to begin with, what does it teach?

Do đó, chúng ta có thể — như trong bài đang được xét đến, trong đó, dựa trên thẩm quyền của các Chân sư, đã chủ trương rằng chỉ “cần tóm lược những gì các nhà Vật lý mặt trời không biết” — chúng ta có thể, chúng tôi khẳng định, xác định lập trường của mình đối với Thuyết Tinh Vân hiện đại và sự không đúng hiển nhiên của nó, bằng cách đơn giản chỉ ra những sự kiện hoàn toàn đối lập với nó trong hình thức hiện tại. Và để bắt đầu, nó dạy điều gì?

Summarizing the aforesaid hypotheses, it becomes plain that Laplace’s theory—now made quite unrecognizable, moreover—was an unfortunate one. He postulates in the first place Cosmic Matter, existing in a state of diffuse nebulosity “so fine that its presence could hardly have been suspected.” No attempt is made by him to penetrate into the Arcana of Being, except as regards the immediate evolution of our small Solar System.

Tóm tắt các giả thuyết vừa nêu, điều trở nên rõ ràng là lý thuyết của Laplace — hơn nữa nay đã bị làm cho hầu như không còn nhận ra được — là một lý thuyết bất hạnh. Trước hết ông giả định Vật Chất Vũ Trụ, tồn tại trong trạng thái tinh vân khuếch tán “tinh tế đến nỗi sự hiện diện của nó hầu như không thể bị nghi ngờ.” Ông không cố gắng thâm nhập vào các Bí Mật của Bản Thể, ngoại trừ liên quan đến sự tiến hoá trực tiếp của Hệ Mặt Trời nhỏ bé của chúng ta.

Consequently, whether one accepts or rejects his theory in its bearing upon the immediate cosmological problems presented for solution, he can only be said to have thrown back the mystery a little further. To the eternal query: “Whence Matter itself; whence the evolutionary impetus determining its cyclic aggregations and dissolutions; whence the exquisite symmetry and order into which the primeval Atoms arrange and group themselves?” no answer is attempted by Laplace. All we are confronted with, is a sketch of the probable broad principles on which the actual process is assumed to be based. Well, and what is this now celebrated note on the said process? What has he given so wonderfully new and original, that its ground-work, at any rate, should have served as a basis for the modern Nebular Theory? The following is what one gathers from various astronomical works.

Do đó, dù người ta chấp nhận hay bác bỏ lý thuyết của ông trong quan hệ với các vấn đề vũ trụ học trực tiếp được đưa ra để giải quyết, chỉ có thể nói rằng ông đã đẩy bí nhiệm lùi xa thêm một chút. Đối với câu hỏi vĩnh cửu: “Vật Chất tự thân từ đâu đến; xung lực tiến hoá quyết định các sự kết tụ và tan rã chu kỳ của nó từ đâu đến; sự đối xứng và trật tự tinh diệu, trong đó các Nguyên tử nguyên sơ tự sắp xếp và nhóm lại, từ đâu đến?” Laplace không hề cố gắng trả lời. Tất cả những gì đối diện với chúng ta chỉ là một phác thảo về các nguyên lý rộng lớn có thể có mà tiến trình thực tế được giả định là đặt nền trên đó. Vậy thì, ghi chú nay đã nổi tiếng này về tiến trình ấy là gì? Ông đã đưa ra điều gì mới mẻ và độc đáo đến mức kỳ diệu, để ít nhất nền tảng của nó phải được dùng làm cơ sở cho Thuyết Tinh Vân hiện đại? Điều sau đây là những gì người ta thu nhận từ nhiều công trình thiên văn khác nhau.

Laplace thought that, in consequence of the condensation of the atoms of the primeval nebula, according to the “law” of gravity, the now gaseous, or perhaps, partially liquid mass, acquired a rotatory motion. As the velocity of this rotation increased, it assumed the form of a thin disc; finally, the centrifugal force overpowering that of cohesion, huge rings were detached from the edge of the whirling incandescent masses, and these rings contracted necessarily by gravitation (as accepted) into spheroidal bodies, which would necessarily still continue to preserve the orbit previously occupied by the outer zone from which they were separated. 1019 The velocity of the outer edge of each nascent planet, he said, exceeding that of the inner, there results a rotation on its axis. The more dense bodies would be thrown off last; and finally, during the preliminary state of their formation, the newly-segregated orbs in their turn throw off one or more satellites. In formulating the history of the rupture and planetation of rings Laplace says: Almost always each ring of vapours must have broken up into numerous masses, which, moving with a nearly uniform velocity, must have continued to circulate at the same distance around the sun. These masses must have taken a spheroidal form with a motion of rotation in the same direction as their revolution, since the inner molecules (those nearest the sun) would have less actual velocity than the exterior ones. They must then have formed as many planets in a state of vapour. But, if one of them was sufficiently powerful to unite successively, by its attraction, all the others around its centre, the ring of vapours must have been thus transformed into a single spheroidal mass of vapours circulating around the sun with a rotation in the same direction as its revolution. The latter case has been the more common, but the solar system presents us the first case, in the four small planets which move between Jupiter and Mars.

Laplace nghĩ rằng, do sự ngưng tụ của các nguyên tử của tinh vân nguyên sơ, theo “định luật” hấp dẫn, khối nay ở trạng thái khí, hay có lẽ một phần ở trạng thái lỏng, đã có được chuyển động quay. Khi vận tốc của chuyển động quay này tăng lên, nó mang hình dạng một đĩa mỏng; sau cùng, mãnh lực ly tâm vượt thắng mãnh lực cố kết, các vòng khổng lồ tách khỏi rìa của những khối nóng sáng đang xoáy, và các vòng này tất yếu co lại do hấp dẫn (như được chấp nhận) thành các thể hình cầu dẹt, vốn tất yếu vẫn tiếp tục giữ quỹ đạo trước đó do vùng ngoài mà chúng tách ra chiếm giữ. 1019 Vận tốc của rìa ngoài mỗi hành tinh đang sinh, ông nói, vượt quá vận tốc của rìa trong, từ đó phát sinh sự quay quanh trục của nó. Các thể đậm đặc hơn sẽ bị phóng ra sau cùng; và cuối cùng, trong trạng thái sơ khởi của sự hình thành, đến lượt các bầu mới tách ra phóng ra một hay nhiều vệ tinh. Khi trình bày lịch sử sự vỡ ra và hành tinh hóa của các vòng, Laplace nói: Hầu như luôn luôn mỗi vòng hơi phải vỡ ra thành nhiều khối, những khối này, chuyển động với vận tốc gần như đồng đều, hẳn đã tiếp tục lưu chuyển ở cùng một khoảng cách quanh mặt trời. Các khối này hẳn đã mang hình dạng cầu dẹt với một chuyển động quay cùng hướng với sự vận hành quanh quỹ đạo của chúng, vì các phân tử bên trong (những phân tử gần mặt trời nhất) sẽ có vận tốc thực nhỏ hơn các phân tử bên ngoài. Khi ấy chúng hẳn đã hình thành thành từng ấy hành tinh trong trạng thái hơi. Nhưng nếu một trong chúng đủ mạnh để, bằng lực hút của mình, lần lượt hợp nhất tất cả những khối khác quanh trung tâm của nó, thì vòng hơi ấy hẳn đã được chuyển đổi như vậy thành một khối hơi hình cầu dẹt duy nhất lưu chuyển quanh mặt trời với một sự quay cùng hướng với sự vận hành quanh quỹ đạo của nó. Trường hợp sau đã phổ biến hơn, nhưng hệ mặt trời trình bày cho chúng ta trường hợp thứ nhất, trong bốn hành tinh nhỏ chuyển động giữa Sao Mộc và Sao Hỏa.

While few will be found to deny the “magnificent audacity of this hypothesis,” it is impossible not to recognize the insurmountable difficulties with which it is attended. Why, for instance, do we find that the satellites of Neptune and Uranus display a retrograde motion? Why, in spite of its closer proximity to the Sun, is Venus less dense than the Earth? Why, again, is the more distant Uranus denser than Saturn? How is it that there are so many variations in the inclination of their axes and orbits in the supposed progeny of the central orb; that such startling variations in the size of the Planets are noticeable; that the satellites of Jupiter are more dense by ·288 than their primary; that the phenomena of meteoric and cometary systems still remain unaccounted for? To quote the words of a Master: They [the Adepts] find that the centrifugal theory of Western birth is unable to cover all the ground. That, unaided, it can neither account for every oblate spheroid, nor explain away such evident difficulties as are presented by the relative density of some planets. How, indeed, can any calculation of centrifugal force explain to us, for instance, why Mercury, whose rotation is, we are told, only “about one-third that of the Earth, and its density only about one-fourth greater than the Earth,” should have a polar compression more than ten times greater than the latter? And again, why Jupiter, whose equatorial rotation is said to be “twenty-seven times greater, and its density only about one-fifth that of the Earth” should have its polar compression seventeen times greater than that of the Earth? Or why Saturn, with an equatorial velocity fifty-five times greater than Mercury for centripetal force to contend with, should have its polar compression only three times greater than Mercury’s? To crown the above contradictions, we are asked to believe in the Central Forces, as taught by Modern Science, even when told that the equatorial matter of the Sun, with more than four times the centrifugal velocity of the Earth’s equatorial surface, and only about one-fourth part of the gravitation of the equatorial matter, has not manifested any tendency to bulge at the solar equator, nor shown the least flattening at the poles of the solar axis. In other and clearer words, the Sun, with only one-fourth of our Earth’s density for the centrifugal force to work upon, has no polar compression at all! We find this objection made by more than one astronomer, yet never explained away satisfactorily, so far as the “Adepts” are aware.

Trong khi ít ai phủ nhận “sự táo bạo huy hoàng của giả thuyết này,” không thể không nhận ra những khó khăn không thể vượt qua đi kèm với nó. Chẳng hạn, vì sao chúng ta thấy các vệ tinh của Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương biểu lộ chuyển động nghịch hành? Vì sao, bất chấp vị trí gần Mặt Trời hơn, Sao Kim lại kém đậm đặc hơn Trái Đất? Lại nữa, vì sao Sao Thiên Vương xa hơn lại đậm đặc hơn Sao Thổ? Làm sao có quá nhiều biến thiên trong độ nghiêng của trục và quỹ đạo của chúng nơi hậu duệ giả định của bầu trung tâm; làm sao những biến thiên gây kinh ngạc như thế về kích thước của các Hành tinh lại có thể nhận thấy; làm sao các vệ tinh của Sao Mộc lại đậm đặc hơn hành tinh chính của chúng 0,288; làm sao các hiện tượng của hệ thống thiên thạch và sao chổi vẫn còn chưa được giải thích? Trích lời một Chân sư: Các Ngài thấy rằng lý thuyết ly tâm sinh ra từ phương Tây không thể bao quát toàn bộ vấn đề. Rằng, nếu không được trợ giúp, nó không thể giải thích mọi cầu dẹt, cũng không thể giải trừ những khó khăn hiển nhiên như được đưa ra bởi mật độ tương đối của một số hành tinh. Quả thật, làm sao bất kỳ phép tính nào về mãnh lực ly tâm có thể giải thích cho chúng ta, chẳng hạn, vì sao Sao Thủy, mà sự quay của nó, như chúng ta được bảo, chỉ “khoảng một phần ba của Trái Đất, và mật độ của nó chỉ lớn hơn Trái Đất khoảng một phần tư,” lại có độ dẹt ở cực lớn hơn của Trái Đất hơn mười lần? Và nữa, vì sao Sao Mộc, mà sự quay ở xích đạo được nói là “lớn hơn hai mươi bảy lần, và mật độ chỉ khoảng một phần năm của Trái Đất,” lại có độ dẹt ở cực lớn hơn của Trái Đất mười bảy lần? Hay vì sao Sao Thổ, với vận tốc xích đạo lớn hơn Sao Thủy năm mươi lăm lần để mãnh lực hướng tâm phải đối phó, lại có độ dẹt ở cực chỉ lớn hơn Sao Thủy ba lần? Để làm đỉnh điểm cho các mâu thuẫn trên, chúng ta được yêu cầu tin vào các Mãnh lực Trung tâm, như Khoa học Hiện đại dạy, ngay cả khi được bảo rằng vật chất xích đạo của Mặt Trời, với vận tốc ly tâm lớn hơn bốn lần vận tốc của bề mặt xích đạo Trái Đất, và chỉ khoảng một phần tư lực hấp dẫn của vật chất xích đạo, đã không biểu lộ bất kỳ khuynh hướng nào phình ra ở xích đạo mặt trời, cũng không cho thấy sự dẹt nhỏ nhất ở các cực của trục mặt trời. Nói cách khác và rõ hơn, Mặt Trời, với mật độ chỉ bằng một phần tư Trái Đất của chúng ta để mãnh lực ly tâm tác động, lại hoàn toàn không có độ dẹt ở cực! Chúng ta thấy phản bác này do hơn một nhà thiên văn nêu ra, tuy nhiên, theo như các “Chân sư” biết, nó chưa bao giờ được giải thích thỏa đáng.

Therefore, do they [the Adepts] say, that the great men of Science of the West, knowing… next to nothing either about cometary matter, centrifugal and centripetal forces, the nature of the nebulæ, or the physical constitution of the Sun, the Stars, or even the Moon, are imprudent to speak so confidently as they do about the “central mass of the Sun,”whirling out into space planets, comets, and what not…. We maintain that it [the Sun] evolves out only the life-principle, the Soul of these bodies, giving and receiving it back, in our little Solar System, as the “Universal Life-Giver”… in the Infinitude and Eternity; that the Solar System is as much the Microcosm of the One Macrocosm as man is the former when compared with his own little Solar Cosmos. 1020

Do đó, Các Ngài, tức các Chân sư, nói rằng các vĩ nhân Khoa học của phương Tây, khi biết… gần như không gì cả về vật chất sao chổi, các mãnh lực ly tâm và hướng tâm, bản chất của các tinh vân, hay cấu tạo hồng trần của Mặt Trời, các Ngôi sao, hay ngay cả Mặt Trăng, thật thiếu thận trọng khi nói một cách tự tin như họ đã nói về “khối trung tâm của Mặt Trời” xoáy tung vào không gian các hành tinh, sao chổi, và đủ thứ khác…. Chúng tôi chủ trương rằng nó, tức Mặt Trời, chỉ làm tiến hoá ra nguyên khí sự sống, Linh Hồn của các thể này, ban ra và nhận lại nó, trong Hệ Mặt Trời nhỏ bé của chúng ta, như “Đấng Ban Sự Sống Phổ Quát”… trong Vô Tận và Vĩnh Cửu; rằng Hệ Mặt Trời là Tiểu thiên địa của Đại thiên địa Duy Nhất không kém gì con người là cái trước khi so với Tiểu Vũ Trụ Mặt Trời nhỏ bé của chính y. 1020

The essential power of all the cosmic and terrestrial Elements to generate within themselves a regular and harmonious series of results, a concatenation of causes and effects, is an irrefutable proof that they are either animated by an Intelligence, ab extrâ or ab intrâ, or conceal such within or behind the “manifested veil.” Occultism does not deny the certainty of the mechanical origin of the Universe; it only claims the absolute necessity of mechanicians of some sort behind or within those Elements—a dogma with us. It is not the fortuitous assistance of the Atoms of Lucretius, as he himself knew well, that built the Kosmos and all in it. Nature herself contradicts such a theory. Celestial Space, containing Matter so attenuated as Ether, cannot be called on, with or without attraction, to explain the common motion of the sidereal hosts. Although the perfect accord of their inter-revolution indicates clearly the presence of a mechanical cause in Nature, Newton, who of all men had most right to trust to his deductions, was nevertheless forced to abandon the idea of ever explaining the original impulse given to the millions of orbs, by merely the laws of known Nature and its material Forces. He recognized fully the limits that separate the action of natural Forces from that of the Intelligences that set the immutable laws in order and action. And if a Newton had to renounce such hope, which of the modern materialistic pigmies has the right of saying: “I know better?”

Quyền năng thiết yếu của tất cả các Nguyên tố vũ trụ và địa cầu để sinh ra bên trong chính chúng một chuỗi kết quả đều đặn và hài hòa, một sự nối kết các nguyên nhân và hiệu quả, là bằng chứng không thể bác bỏ rằng chúng hoặc được làm sinh động bởi một Trí Thông Tuệ, từ bên ngoài hoặc từ bên trong, hoặc che giấu Trí Thông Tuệ ấy ở bên trong hay đằng sau “bức màn biểu hiện.” Huyền bí học không phủ nhận sự chắc chắn của nguồn gốc cơ giới của Vũ Trụ; nó chỉ khẳng định sự tất yếu tuyệt đối của một loại thợ máy nào đó ở đằng sau hay bên trong các Nguyên tố ấy — với chúng tôi, đó là một tín điều. Không phải sự hỗ trợ ngẫu nhiên của các Nguyên tử của Lucretius, như chính ông biết rõ, đã xây dựng Kosmos và mọi sự trong đó. Chính Thiên Nhiên mâu thuẫn với một lý thuyết như thế. Không Gian Thiên Thể, chứa Vật Chất tinh vi như Dĩ Thái, không thể được viện đến, dù có hay không có lực hút, để giải thích chuyển động chung của các đoàn tinh tú. Dù sự hòa hợp hoàn hảo trong cuộc vận hành tương hỗ của chúng chỉ rõ sự hiện diện của một nguyên nhân cơ giới trong Thiên Nhiên, Newton, người hơn ai hết có quyền tin vào các suy luận của mình, tuy nhiên đã buộc phải từ bỏ ý tưởng có thể giải thích xung lực nguyên thủy ban cho hàng triệu bầu cầu, chỉ bằng các định luật của Thiên Nhiên đã biết và các Mãnh lực vật chất của nó. Ông nhận thức đầy đủ các giới hạn phân cách tác động của các Mãnh lực tự nhiên với tác động của các Trí Thông Tuệ thiết lập các định luật bất biến vào trật tự và hoạt động. Và nếu một Newton đã phải từ bỏ hy vọng như thế, thì kẻ lùn duy vật hiện đại nào có quyền nói: “Tôi biết hơn”?

A cosmogonical theory, to become complete and comprehensible, has to start with a Primordial Substance diffused throughout boundless Space, of an intellectual and divine nature. That Substance must be the Soul and Spirit, the Synthesis and Seventh Principle of the manifested Kosmos, and, to serve as a spiritual Upâdhi to this, there must be the sixth, its vehicle—Primordial Physical Matter, so to speak, though its nature must escape for ever our limited normal senses. It is easy for an Astronomer, if endowed with an imaginative faculty, to build a theory of the emergence of the Universe out of Chaos, by simply applying to it the principles of mechanics. But such a Universe will always prove a Frankenstein’s monster with respect to its scientific human creator; it will lead him into endless perplexities. The application of mechanical laws only can never carry the speculator beyond the objective world; nor will it unveil to men the origin and final destiny of Kosmos. This is whither the Nebular Theory has led Science. In sober fact and truth this Theory is twin sister to that of Ether, and both are the offspring of necessity; one is as indispensable to account for the transmission of light, as is the other to explain the problem of the origin of the Solar Systems. The question with Science is, how the same homogeneous Matter 1021 could, obeying the laws of Newton, give birth to bodies—Sun, Planets, and their satellites—subject to conditions of identity of motion, and formed of such heterogeneous elements.

Một lý thuyết vũ trụ luận, để trở nên hoàn chỉnh và có thể hiểu được, phải bắt đầu với một Chất Liệu Nguyên Thủy khuếch tán khắp Không Gian vô biên, thuộc bản chất trí tuệ và thiêng liêng. Chất Liệu ấy phải là Linh Hồn và Tinh Thần, Tổng Hợp và Nguyên Khí Thứ Bảy của Kosmos biểu hiện, và để làm một Upadhi tinh thần cho nó, phải có nguyên khí thứ sáu, vận cụ của nó — có thể nói là Vật Chất Hồng Trần Nguyên Thủy, dù bản chất của nó mãi mãi phải vượt khỏi các giác quan bình thường hạn hẹp của chúng ta. Đối với một nhà Thiên văn, nếu được phú cho năng lực tưởng tượng, thật dễ dàng để xây dựng một lý thuyết về sự xuất hiện của Vũ Trụ từ Hỗn Mang, bằng cách đơn giản áp dụng vào đó các nguyên lý cơ học. Nhưng một Vũ Trụ như vậy sẽ luôn tỏ ra là quái vật Frankenstein đối với người sáng tạo khoa học nhân loại của nó; nó sẽ dẫn y vào những bối rối vô tận. Việc áp dụng chỉ các định luật cơ học không bao giờ có thể đưa nhà suy đoán vượt khỏi thế giới khách quan; cũng sẽ không vén màn cho con người thấy nguồn gốc và vận mệnh sau cùng của Kosmos. Đây là nơi Thuyết Tinh Vân đã dẫn Khoa học đến. Trong sự thật giản dị và nghiêm cẩn, Thuyết này là chị em sinh đôi với thuyết về Dĩ Thái, và cả hai đều là con đẻ của sự tất yếu; một thuyết cần thiết để giải thích sự truyền ánh sáng, cũng như thuyết kia cần thiết để giải thích vấn đề nguồn gốc của các Hệ Mặt Trời. Vấn đề đối với Khoa học là làm sao cùng một Vật Chất đồng nhất 1021 có thể, khi tuân theo các định luật của Newton, sinh ra các thể — Mặt Trời, các Hành tinh, và các vệ tinh của chúng — chịu những điều kiện đồng nhất về chuyển động, và được hình thành từ những nguyên tố dị biệt như thế.

Has the Nebular Theory helped to solve the problem, even if applied solely to bodies considered as inanimate and material? We say: most decidedly not. What progress has it made since 1811, when first Sir William Herschell’s paper, with its facts based on observation and showing the existence of nebular matter, made the sons of the Royal Society “shout for joy”? Since then a still greater discovery, through spectrum analysis, has permitted the verification and corroboration of Sir William Herschell’s conjecture. Laplace demanded some kind of primitive “world-stuff” to prove the idea of progressive world-evolution and growth. Here it is, as offered two millenniums ago.

Thuyết Tinh Vân có giúp giải quyết vấn đề không, ngay cả khi chỉ áp dụng cho các thể được xem là vô tri và vật chất? Chúng tôi nói: dứt khoát là không. Nó đã đạt tiến bộ gì kể từ năm 1811, khi lần đầu tiên bài khảo cứu của Sir William Herschell, với các sự kiện đặt nền trên quan sát và cho thấy sự tồn tại của vật chất tinh vân, khiến các con trai của Hội Hoàng Gia “reo vui”? Từ đó, một khám phá còn lớn hơn, qua phân tích quang phổ, đã cho phép kiểm chứng và xác nhận phỏng đoán của Sir William Herschell. Laplace đòi hỏi một loại “chất liệu-thế giới” nguyên thủy nào đó để chứng minh ý tưởng về sự tiến hoá và tăng trưởng dần dần của thế giới. Nó đây, như đã được đưa ra hai thiên niên kỷ trước.

The “world-stuff,” now called nebulæ, was known from the highest antiquity. Anaxagoras taught that, upon differentiation, the resulting commixture of heterogeneous substances remained motionless and unorganized, until finally the “Mind”—the collective body of Dhyân Chohans, we say—began to work upon, and communicated to, them motion and order. 1022 This theory is now taken up, so far as concerns its first portion; the last, that of any “Mind” interfering, being rejected. Spectrum analysis reveals the existence of nebulæ formed entirely of gases and luminous vapours. Is this the primitive nebular Matter? The spectra reveal, it is said, the physical conditions of the Matter which emits cosmic light. The spectra of the resolvable and the irresolvable nebulæ are shown to be entirely different, the spectra of the latter showing their physical state to be that of glowing gas or vapour. The bright lines of one nebula reveal the existence of hydrogen, and of other material substances known and unknown. The same as to the atmospheres of the Sun and Stars. This leads to the direct inference that a Star is formed by the condensation of a nebula; hence that even the metals themselves are formed on earth by the condensation of hydrogen or of some other primitive matter, some ancestral cousin to helium, perhaps, or some yet unknown stuff. This does not clash with the Occult Teachings. And this is the problem that Chemistry is trying to solve; and it must succeed sooner or later in the task, accepting nolens volens, when it does, the Esoteric Teaching. But when this does happen, it will kill the Nebular Theory as it now stands.

“Chất liệu-thế giới”, nay được gọi là các tinh vân, đã được biết đến từ thời cổ xưa nhất. Anaxagoras dạy rằng, khi biến phân, sự pha trộn phát sinh của các chất dị biệt vẫn bất động và vô tổ chức, cho đến khi cuối cùng “Trí Tuệ” — chúng tôi nói là đoàn thể tập thể của các Dhyani Chohan — bắt đầu tác động lên chúng, và truyền cho chúng chuyển động cùng trật tự. 1022 Lý thuyết này nay được tiếp nhận, trong chừng mực liên quan đến phần đầu của nó; phần cuối, tức sự can thiệp của bất kỳ “Trí Tuệ” nào, thì bị bác bỏ. Phân tích quang phổ tiết lộ sự tồn tại của các tinh vân được hình thành hoàn toàn bằng khí và hơi sáng. Đây có phải là Vật Chất tinh vân nguyên thủy không? Người ta nói rằng quang phổ tiết lộ các điều kiện hồng trần của Vật Chất phát ra ánh sáng vũ trụ. Quang phổ của các tinh vân có thể phân giải và không thể phân giải được cho thấy hoàn toàn khác nhau, quang phổ của loại sau cho thấy trạng thái hồng trần của chúng là khí hay hơi phát sáng. Các vạch sáng của một tinh vân tiết lộ sự tồn tại của hiđrô, và của các chất vật chất khác, đã biết và chưa biết. Điều tương tự cũng đúng đối với khí quyển của Mặt Trời và các Ngôi sao. Điều này dẫn đến suy luận trực tiếp rằng một Ngôi sao được hình thành bởi sự ngưng tụ của một tinh vân; do đó, ngay cả chính các kim loại cũng được hình thành trên trái đất bởi sự ngưng tụ của hiđrô hay của một vật chất nguyên thủy nào khác, có lẽ là một họ hàng tổ tiên nào đó của heli, hoặc một chất liệu nào đó còn chưa biết. Điều này không mâu thuẫn với các Giáo Huấn Huyền môn. Và đây là vấn đề mà Hóa học đang cố gắng giải quyết; sớm hay muộn nó phải thành công trong nhiệm vụ ấy, và khi làm được, dù muốn hay không, nó sẽ chấp nhận Giáo Huấn Nội Môn. Nhưng khi điều này xảy ra, nó sẽ giết chết Thuyết Tinh Vân như hiện nay.

Meanwhile Astronomy cannot accept in any way, if it is to be regarded as an exact Science, the present theory of the filiation of Stars—even if Occultism does so in its own way, seeing that it explains this filiation differently—because Astronomy has not one single physical datum to show for it. Astronomy could anticipate Chemistry in proving the existence of the fact, if it could show a planetary nebula exhibiting a spectrum of three or four bright lines, gradually condensing and transforming into a Star, with a spectrum all covered with a number of dark lines. But The question of the variability of the nebulæ, even as to their form, is yet one of the mysteries of Astronomy. The data of observation possessed so far are of too recent an origin, too uncertain, to permit us to affirm anything. 1023

Trong khi đó, Thiên văn học không thể chấp nhận theo bất cứ cách nào, nếu nó muốn được xem là một Khoa học chính xác, lý thuyết hiện tại về sự nối dòng của các Ngôi sao — ngay cả nếu Huyền bí học làm như vậy theo cách riêng của mình, vì nó giải thích sự nối dòng này khác đi — bởi Thiên văn học không có một dữ kiện hồng trần đơn lẻ nào để chứng minh điều đó. Thiên văn học có thể đi trước Hóa học trong việc chứng minh sự tồn tại của sự kiện này, nếu nó có thể chỉ ra một tinh vân hành tinh biểu lộ quang phổ gồm ba hay bốn vạch sáng, dần dần ngưng tụ và chuyển đổi thành một Ngôi sao, với quang phổ phủ đầy nhiều vạch tối. Nhưng vấn đề về tính biến thiên của các tinh vân, ngay cả về hình dạng của chúng, vẫn còn là một trong các bí nhiệm của Thiên văn học. Các dữ kiện quan sát hiện có cho đến nay còn quá mới, quá bất định, không cho phép chúng ta khẳng định điều gì. 1023

Since its discovery, the magic power of the spectroscope has revealed to its adepts only one single transformation of a Star of this kind; and even that showed directly the reverse of what is needed as proof in favour of the Nebular Theory; for it revealed a Star transforming itself into a planetary nebula. As related in The Observatory, 1024 the temporary Star, discovered by J. F. J. Schmidt in the constellation Cygnus, in November, 1876, exhibited a spectrum broken by very brilliant lines. Gradually, the continuous spectrum and most of the lines disappeared, leaving finally one single brilliant line, which appeared to coincide with the green line of the nebula.

Từ khi được phát hiện, quyền năng huyền thuật của máy quang phổ chỉ tiết lộ cho các chân sư của nó một sự chuyển đổi duy nhất của một Ngôi Sao loại này; và ngay cả điều đó cũng trực tiếp cho thấy điều ngược lại với điều cần thiết để làm bằng chứng ủng hộ Thuyết Tinh Vân; vì nó tiết lộ một Ngôi Sao tự chuyển đổi thành một tinh vân hành tinh. Như đã được kể lại trong tạp chí Đài Quan Sát, 1024 Ngôi Sao tạm thời, do J. F. J. Schmidt phát hiện trong chòm Thiên Nga vào tháng mười một năm 1876, đã biểu lộ một quang phổ bị ngắt đoạn bởi những vạch rất rực sáng. Dần dần, quang phổ liên tục và phần lớn các vạch biến mất, cuối cùng chỉ còn lại một vạch sáng duy nhất, dường như trùng với vạch xanh lục của tinh vân.

Though this metamorphosis is not irreconcileable with the hypothesis of the nebular origin of the Stars, nevertheless this single solitary case rests on no observation whatever, least of all on direct observation. The occurrence may have been due to several other causes. Since Astronomers are inclined to think our Planets are tending toward precipitation into the Sun, why should not that Star have blazed up owing to a collision of such precipitated Planets, or, as many suggest, the appulse of a Comet? Be that as it may, the only known instance of star-transformation since 1811 is not favourable to the Nebular Theory. Moreover, on the question of this Theory, as on all others, Astronomers disagree.

Dù sự biến thái này không phải là không thể dung hòa với giả thuyết về nguồn gốc tinh vân của các Ngôi Sao, tuy nhiên trường hợp đơn độc duy nhất này không dựa trên bất kỳ quan sát nào, càng không dựa trên quan sát trực tiếp. Sự kiện ấy có thể do nhiều nguyên nhân khác. Vì các Nhà Thiên Văn có khuynh hướng nghĩ rằng các Hành Tinh của chúng ta đang hướng tới sự ngưng tụ vào Mặt Trời, tại sao Ngôi Sao ấy lại không thể bùng sáng do sự va chạm của những Hành Tinh bị ngưng tụ như thế, hoặc, như nhiều người gợi ý, do sự tiếp cận của một Sao Chổi? Dù thế nào đi nữa, trường hợp duy nhất được biết về sự chuyển đổi của sao kể từ năm 1811 không thuận lợi cho Thuyết Tinh Vân. Hơn nữa, về vấn đề của Thuyết này, cũng như về mọi vấn đề khác, các Nhà Thiên Văn không đồng ý với nhau.

In our own age, and before Laplace ever thought of it, Buffon, being very much struck by the identity of motion in the Planets, was the first to propose the hypothesis that the Planets and their satellites originated in the bosom of the Sun. Forthwith and for this purpose, he invented a special Comet, supposed to have torn out, by a powerful oblique blow, the quantity of matter necessary for their formation. Laplace gave its dues to the “Comet” in his Exposition du Système du Monde. 1025 But the idea was seized and even improved upon by a conception of the alternate evolution, from the Sun’s central mass, of Planets apparently without weight or influence on the motion of the visible Planets—and as evidently without any more existence than the likeness of Moses in the Moon.

Trong thời đại của chính chúng ta, và trước khi Laplace từng nghĩ đến nó, Buffon, rất bị ấn tượng bởi sự đồng nhất của chuyển động nơi các Hành Tinh, là người đầu tiên đề xuất giả thuyết rằng các Hành Tinh và những vệ tinh của chúng phát sinh trong lòng Mặt Trời. Ngay lập tức và vì mục đích này, ông đã phát minh ra một Sao Chổi đặc biệt, được giả định là đã xé bật ra, bằng một cú va chạm xiên mạnh mẽ, lượng vật chất cần thiết cho sự hình thành của chúng. Laplace đã dành phần xứng đáng cho “Sao Chổi” ấy trong Trình Bày về Hệ Thống Thế Giới của ông. 1025 Nhưng ý tưởng ấy đã được nắm lấy và thậm chí còn được cải tiến bằng một quan niệm về sự tiến hoá luân phiên, từ khối trung tâm của Mặt Trời, của các Hành Tinh dường như không có trọng lượng hay ảnh hưởng nào lên chuyển động của các Hành Tinh hữu hình — và hiển nhiên cũng không có hiện hữu nào hơn hình dạng Moses trên Mặt Trăng.

But the modern theory is also a variation on the systems elaborated by Kant and Laplace. The idea of both was that, at the origin of things, all that Matter which now enters into the composition of the planetary bodies was spread over all the space comprized in the Solar System—and even beyond. It was a nebula of extremely small density, and its condensation gradually gave birth, by a mechanism that has hitherto never been explained, to the various bodies of our System. This is the original Nebular Theory, an incomplete yet faithful repetition—a short chapter out of the large volume of universal Esoteric Cosmogony—of the teachings of the Secret Doctrine. And both systems, Kant’s and Laplace’s, differ greatly from the modern Theory, redundant with conflicting sub-theories and fanciful hypotheses. Say the Teachers: The essence of cometary matter [and of that which composes the Stars]… is totally different from any of the chemical or physical characteristics with which the greatest Chemists and Physicists of the earth are familiar…. While the spectroscope has shown the probable similarity[owing to the chemical action of terrestrial light upon the intercepted rays] of terrestrial and sidereal substance, the chemical actions peculiar to the variously progressed orbs of space, have not been detected, nor proven to be identical with those observed on our own planet. 1026

Nhưng lý thuyết hiện đại cũng là một biến thể của những hệ thống do Kant và Laplace khai triển. Ý tưởng của cả hai là, vào nguồn gốc của vạn vật, toàn bộ Vật Chất hiện đang đi vào thành phần cấu tạo của các thiên thể hành tinh đã trải rộng khắp mọi không gian nằm trong hệ mặt trời — và thậm chí vượt ra ngoài nữa. Đó là một tinh vân có mật độ cực kỳ nhỏ, và sự ngưng tụ của nó dần dần sinh ra, bằng một bộ máy cho đến nay chưa từng được giải thích, các thiên thể khác nhau trong Hệ của chúng ta. Đây là Thuyết Tinh Vân nguyên thủy, một sự lặp lại không hoàn chỉnh nhưng trung thành — một chương ngắn trích từ quyển sách lớn của Vũ Trụ Luận Nội Môn phổ quát — về các giáo huấn của Giáo Lý Bí Nhiệm. Và cả hai hệ thống, của Kant và của Laplace, đều khác rất xa với Thuyết hiện đại, vốn đầy rẫy những phụ-thuyết xung đột và những giả thuyết tưởng tượng. Các Huấn Sư nói: Tinh chất của vật chất sao chổi [và của vật chất cấu tạo nên các Ngôi Sao]… hoàn toàn khác với bất cứ đặc tính hoá học hay hồng trần nào mà các Nhà Hoá Học và Vật Lý Học vĩ đại nhất của Trái Đất quen thuộc…. Trong khi máy quang phổ đã cho thấy sự tương đồng khả dĩ [do tác động hoá học của ánh sáng địa cầu lên các tia bị chặn lại] giữa chất liệu địa cầu và chất liệu tinh tú, thì các tác động hoá học riêng biệt của những thiên cầu không gian tiến triển khác nhau vẫn chưa được phát hiện, cũng chưa được chứng minh là đồng nhất với những tác động quan sát được trên hành tinh của chính chúng ta. 1026

Mr. Crookes says almost the same in the fragment quoted from his lecture, Elements and Meta-Elements. C. Wolf, Member of the Institute, Astronomer of the Observatory, Paris, observes: At the utmost the nebular hypothesis can only show in its favour, with W. Herschell, the existence of planetary nebulæ in various degrees of condensation, and of spiral nebulæ, with nuclei of condensation on the branches and centre. 1027But, in fact, the knowledge of the bond that unites the nebulæ to the stars is yet denied to us; and lacking as we do direct observation, we are even debarred from establishing it on the analogy of chemical composition. 1028

Ông Crookes nói gần như điều tương tự trong đoạn trích từ bài giảng của ông, Các Nguyên Tố và Siêu Nguyên Tố. C. Wolf, Thành viên của Viện, Nhà Thiên Văn của Đài Quan Sát Paris, nhận xét: Nhiều nhất, giả thuyết tinh vân chỉ có thể nêu lên để ủng hộ mình, cùng với W. Herschell, sự hiện hữu của các tinh vân hành tinh ở nhiều mức độ ngưng tụ khác nhau, và của các tinh vân xoắn ốc, với những nhân ngưng tụ trên các nhánh và tại trung tâm. 1027Nhưng, thật ra, tri thức về mối dây liên kết các tinh vân với các sao vẫn còn bị khước từ đối với chúng ta; và vì thiếu quan sát trực tiếp, chúng ta thậm chí còn bị ngăn không thể thiết lập nó dựa trên sự tương đồng của thành phần hoá học. 1028

Even if the men of Science—leaving aside the difficulty arising out of such undeniable variety and heterogeneity of matter in the constitution of nebulæ—did admit, with the Ancients, that the origin of all the visible and invisible heavenly bodies must be sought for in one primordial homogeneous world-stuff, in a kind of Pre-Protyle, 1029 it is evident that this would not put an end to their perplexities. Unless they admit also that our actual visible Universe is merely the Sthûla Sharîra, the gross body, of the sevenfold Kosmos, they will have to face another problem; especially if they venture to maintain that its now visible bodies are the result of the condensation of that one and single Primordial Matter. For mere observation shows them that the operations which produced the actual Universe are far more complex than could ever be embraced in that theory.

Ngay cả nếu những người của Khoa Học — gạt sang một bên khó khăn phát sinh từ sự đa dạng và dị biệt không thể phủ nhận của vật chất trong cấu tạo của các tinh vân — có thừa nhận, cùng với Người Xưa, rằng nguồn gốc của mọi thiên thể hữu hình và vô hình phải được tìm kiếm trong một chất liệu-thế giới đồng nhất nguyên sơ, trong một loại Tiền-Nguyên Chất, 1029 thì hiển nhiên điều này cũng sẽ không chấm dứt những điều khiến họ bối rối. Trừ phi họ cũng thừa nhận rằng Vũ Trụ hữu hình hiện tại của chúng ta chỉ là Thể Thô của Vũ Trụ thất phân, họ sẽ phải đối diện với một vấn đề khác; đặc biệt nếu họ dám duy trì rằng các thiên thể hiện đang hữu hình của nó là kết quả của sự ngưng tụ từ một Vật Chất Nguyên Sơ duy nhất ấy. Vì chỉ riêng quan sát đã cho họ thấy rằng các vận hành tạo ra Vũ Trụ hiện tại phức tạp hơn rất nhiều so với bất cứ điều gì có thể được bao hàm trong lý thuyết ấy.

First of all, there are two distinct classes of “irresolvable” nebulæ, as Science itself teaches.

Trước hết, có hai loại tinh vân “không thể phân giải” khác nhau, như chính Khoa Học dạy.

The telescope is unable to distinguish between these two classes, but the spectroscope can do so, and notices an essential difference between their physical constitutions.

Kính viễn vọng không thể phân biệt giữa hai loại này, nhưng máy quang phổ có thể làm điều đó, và nhận thấy một khác biệt cốt yếu giữa các cấu tạo hồng trần của chúng.

The question of the resolvability of the nebulæ has been often presented in too affirmative a manner and quite contrary to the ideas expressed by the illustrious experimenter with the spectra of these constellations—Mr. Huggins. Every nebula whose spectrum contains only bright lines is gaseous, it is said, and hence is irresolvable; every nebula with a continuous spectrum must end by resolving into stars with an instrument of sufficient power. This assumption is contrary at once to the results obtained, and to spectroscopic theory. The “Lyra” nebula, the “Dumb-bell” nebula, the central region of the nebula of Orion, appear resolvable, and show a spectrum of bright lines; the nebula of Canes Venatici is not resolvable, and gives a continuous spectrum. Because, indeed, the spectroscope informs us of the physical state of the constituent matter of the stars, but affords us no notions of their modes of aggregation. A nebula formed of gaseous globes (or even of nuclei, faintly luminous, surrounded by a powerful atmosphere) would give a spectrum of lines and be still resolvable; such seems to be the state of Huggins’ region in the Orion nebula. A nebula formed of solid or fluidic particles in a state of incandescence, a true cloud, will give a continuous spectrum and will be irresolvable.

Vấn đề về khả năng phân giải của các tinh vân thường được trình bày theo một cách quá khẳng định và hoàn toàn trái với những ý tưởng do nhà thực nghiệm lừng danh về quang phổ của các chòm sao này — ông Huggins — phát biểu. Người ta nói rằng mọi tinh vân có quang phổ chỉ chứa các vạch sáng đều là khí, và do đó không thể phân giải; mọi tinh vân có quang phổ liên tục cuối cùng phải phân giải thành các sao với một công cụ đủ mạnh. Giả định này đồng thời trái với các kết quả đã thu được và với lý thuyết quang phổ. Tinh vân “Thiên Cầm”, tinh vân “Quả Tạ”, vùng trung tâm của tinh vân Orion, dường như có thể phân giải, và cho thấy một quang phổ gồm các vạch sáng; tinh vân Canes Venatici thì không thể phân giải, và cho một quang phổ liên tục. Vì, thật vậy, máy quang phổ cho chúng ta biết trạng thái hồng trần của vật chất cấu thành các sao, nhưng không cung cấp cho chúng ta khái niệm nào về các phương thức tụ hợp của chúng. Một tinh vân được hình thành bởi những khối cầu khí thể, hoặc thậm chí bởi các nhân mờ sáng được bao quanh bởi một bầu khí quyển mạnh mẽ, sẽ cho một quang phổ vạch mà vẫn có thể phân giải; đó dường như là trạng thái của vùng Huggins trong tinh vân Orion. Một tinh vân được hình thành bởi những hạt rắn hoặc linh động trong trạng thái nóng sáng, một đám mây thật sự, sẽ cho một quang phổ liên tục và sẽ không thể phân giải.

Some of these nebulæ, Wolf tells us,

Một số tinh vân này, Wolf nói với chúng ta,

Have a spectrum of three or four bright lines, others a continuous spectrum. The first are gaseous, the others formed of a pulverulent matter. The former must constitute a veritable atmosphere: it is among these that the solar nebula of Laplace has to be placed. The latter form an ensemble of particles that may be considered as independent, and the rotation of which obeys the laws of internal weight: such are the nebulæ adopted by Kant and Faye. Observation allows us to place the one as the other at the very origin of the planetary world. But when we try to go beyond and ascend to the primitive chaos which has produced the totality of the heavenly bodies, we have first to account for the actual existence of these two classes of nebulæ. If the primitive chaos were a cold luminous gas, 1030 one could understand how the contraction resulting from attraction could have heated it and made it luminous. We have to explain the condensation of this gas to the state of incandescent particles, the presence of which is revealed to us in certain nebulæ by the spectroscope. If the original chaos was composed of such particles, how did certain of their portions pass into the gaseous state, while others have preserved their primitive condition?

Có quang phổ gồm ba hoặc bốn vạch sáng, những tinh vân khác có quang phổ liên tục. Loại thứ nhất là khí thể, loại kia được hình thành từ một vật chất dạng bụi. Loại trước phải cấu thành một bầu khí quyển thật sự: chính trong số này mà tinh vân mặt trời của Laplace phải được đặt vào. Loại sau tạo thành một toàn thể gồm các hạt có thể được xem là độc lập, và sự xoay của chúng tuân theo các định luật về trọng lượng nội tại: đó là những tinh vân được Kant và Faye chấp nhận. Quan sát cho phép chúng ta đặt cả loại này lẫn loại kia ở ngay nguồn gốc của thế giới hành tinh. Nhưng khi chúng ta cố gắng đi xa hơn và vươn lên tới hỗn mang nguyên thủy đã sản sinh ra toàn thể các thiên thể, trước hết chúng ta phải giải thích sự hiện hữu thực tế của hai loại tinh vân này. Nếu hỗn mang nguyên thủy là một khí lạnh phát sáng, 1030 người ta có thể hiểu bằng cách nào sự co rút do hấp dẫn có thể làm nóng nó và khiến nó phát sáng. Chúng ta phải giải thích sự ngưng tụ của khí này đến trạng thái các hạt nóng sáng, mà sự hiện diện của chúng được máy quang phổ tiết lộ cho chúng ta trong một số tinh vân. Nếu hỗn mang nguyên thủy được cấu thành từ những hạt như thế, thì bằng cách nào một số phần của chúng chuyển sang trạng thái khí, trong khi những phần khác vẫn giữ nguyên tình trạng nguyên thủy của mình?

Such is the synopsis of the objections and difficulties in the way of the acceptance of the Nebular Theory, brought forward by the French savant, who concludes this interesting argument by declaring that: The first part of the cosmogonical problem—what is the primitive matter of chaos; and how did that matter give birth to the sun and stars?—thus remains to this day in the domain of romance and of mere imagination. 1031

Đó là bản tóm lược những phản bác và khó khăn trên con đường chấp nhận Thuyết Tinh Vân, do nhà bác học Pháp đưa ra; ông kết luận lập luận thú vị này bằng cách tuyên bố rằng: Phần đầu của vấn đề vũ trụ luận — vật chất nguyên thủy của hỗn mang là gì; và vật chất ấy đã sinh ra mặt trời và các sao như thế nào? — như vậy cho đến ngày nay vẫn còn nằm trong lĩnh vực của chuyện tưởng tượng và của sự tưởng tượng thuần túy. 1031

If this is the last word of Science upon the subject, whither then should we turn in order to learn what the Nebular Theory is supposed to teach? What, in fact, is this theory? What it is, no one seems to know for certain. What it is not—we learn from the erudite author of World-Life. He tells us that it: i. Is not a theory of the evolution of the Universe. It is primarily a genetic explanation of the phenomena of the solar system, and accessorily a co-ordination in a common conception of the principal phenomena in the stellar and nebular firmament, as far as human vision has been able to penetrate.

Nếu đây là lời cuối cùng của Khoa Học về đề tài này, vậy chúng ta nên quay về đâu để học biết Thuyết Tinh Vân được cho là dạy điều gì? Thật ra, lý thuyết này là gì? Nó gì, dường như không ai biết chắc. Nó không phải là gì — chúng ta học được từ tác giả uyên bác của Đời Sống Thế Giới. Ông nói với chúng ta rằng nó: i. Không phải là một lý thuyết về sự tiến hoá của Vũ Trụ. Trước hết, nó là một lời giải thích mang tính phát sinh về các hiện tượng của hệ mặt trời, và phụ thêm là một sự phối hợp, trong một quan niệm chung, các hiện tượng chính yếu trong vòm trời sao và tinh vân, trong chừng mực tầm nhìn của con người đã có thể thâm nhập.

ii. It does not regard the comets as involved in that particular evolution which has produced the Solar System. [The Esoteric Doctrine does, because it, too, “recognizes the comets as forms of cosmic existence co-ordinated with earlier stages of nebular evolution”; and it actually assigns to them chiefly the formation of all worlds.]

ii. Nó không xem các sao chổi là có liên quan đến sự tiến hoá đặc thù đã tạo ra hệ mặt trời. [Giáo Lý Nội Môn thì có, vì giáo lý này cũng “nhận ra các sao chổi như những hình thức hiện hữu vũ trụ được phối hợp với các giai đoạn sớm hơn của tiến hoá tinh vân”; và thật sự gán chủ yếu cho chúng sự hình thành của mọi thế giới.]

iii. It does not deny an antecedent history of the luminous fire mist—[the secondarystage of evolution in the Secret Doctrine] [and]… makes no claim to having reached an absolute beginning. [And even it allows that this] fire mist may have previously existed in a cold, non-luminous and invisible condition.

iii. Nó không phủ nhận một lịch sử có trước của màn sương lửa sáng — [giai đoạn thứ cấp của tiến hoá trong Giáo Lý Bí Nhiệm] [và]… không tuyên bố rằng mình đã đạt đến một khởi nguyên tuyệt đối. [Và thậm chí nó thừa nhận rằng] màn sương lửa này trước kia có thể đã hiện hữu trong một tình trạng lạnh, không phát sáng và vô hình.

iv. [And that finally] it does not profess to discover the origin of things, but only a stadium in material history…. [leaving] the philosopher and the theologian as free as they ever were to seek the origin of the modes of being. 1032

iv. [Và cuối cùng] nó không tự nhận là khám phá nguồn gốc của vạn vật, mà chỉ một giai đoạn trong lịch sử vật chất…. [để] nhà triết học và nhà thần học vẫn tự do như xưa trong việc tìm kiếm nguồn gốc của các phương thức hiện tồn. 1032

But this is not all. Even the greatest philosopher of England—Mr. Herbert Spencer—arrayed himself against this fantastic theory by saying that (a) “The problem of existence is not resolved” by it; (b) the nebular hypothesis “throws no light upon the origin of diffused matter”; and (c) that “the nebular hypothesis (as it now stands) implies a First Cause.” 1033

Nhưng đó chưa phải là tất cả. Ngay cả nhà triết học vĩ đại nhất của nước Anh — ông Herbert Spencer — cũng đứng lên chống lại lý thuyết kỳ ảo này khi nói rằng (a) “Vấn đề hiện hữu không được giải quyết” bởi nó; (b) giả thuyết tinh vân “không làm sáng tỏ gì về nguồn gốc của vật chất khuếch tán”; và (c) “giả thuyết tinh vân, như hiện nay, hàm ý một Nguyên Nhân Đầu Tiên.” 1033

The latter, we are afraid, is more than our modern Physicists have bargained for. Thus, it seems that the poor “hypothesis” can hardly expect to find help or corroboration even in the world of the Metaphysicians.

Điều sau cùng này, e rằng, vượt quá điều mà các Nhà Vật Lý hiện đại của chúng ta đã mặc cả. Vì vậy, dường như “giả thuyết” đáng thương ấy khó có thể hy vọng tìm được sự trợ giúp hay xác nhận ngay cả trong thế giới của các Nhà Siêu Hình Học.

Considering all this, the Occultists believe they have a right to present their Philosophy, however misunderstood and ostracized it may be at present. And they maintain that this failure of the Scientists to discover the truth is entirely due to their Materialism and their contempt for transcendental Sciences. Yet although the scientific minds in our century are as far from the true and correct doctrine of Evolution as ever, there may be still some hope left for the future, for even now we find another Scientist giving us a faint glimmer of it.

Xét tất cả những điều này, các Nhà Huyền Bí Học tin rằng họ có quyền trình bày Triết Học của họ, dù hiện nay nó có thể bị hiểu lầm và bị tẩy chay đến đâu. Và họ khẳng định rằng sự thất bại này của các Nhà Khoa Học trong việc khám phá chân lý hoàn toàn do Chủ Nghĩa Duy Vật của họ và sự khinh miệt của họ đối với các Khoa Học siêu việt. Tuy nhiên, mặc dù các trí tuệ khoa học trong thế kỷ của chúng ta vẫn xa cách giáo lý chân thật và đúng đắn về Tiến Hoá như bao giờ, vẫn có thể còn chút hy vọng cho tương lai, vì ngay cả bây giờ chúng ta cũng thấy một Nhà Khoa Học khác đem lại cho chúng ta một tia sáng le lói của nó.

In an article in the Popular Science Review on “Recent Researches in Minute Life,” we find Mr. H. J. Slack, F.C.S., Sec. R.M.S., saying: There is an evident convergence of all sciences, from physics to chemistry and physiology, toward some doctrine of evolution and development, of which the facts of Darwinism will form part, but what ultimate aspect this doctrine will take, there is little, if any, evidence to show, and perhaps it will not be shaped by the human mind until metaphysical as well as physical inquiries are much more advanced. 1034

Trong một bài viết trên tạp chí Phổ Biến Khoa Học về “Những Nghiên Cứu Gần Đây về Đời Sống Vi Tế”, chúng ta thấy ông H. J. Slack, Hội Viên Hội Hoá Học, Thư Ký Hội Hiển Vi Hoàng Gia, nói rằng: Có một sự hội tụ rõ rệt của mọi khoa học, từ vật lý đến hoá học và sinh lý học, hướng tới một giáo lý nào đó về tiến hoá và phát triển, trong đó các sự kiện của học thuyết Darwin sẽ tạo thành một phần; nhưng giáo lý ấy cuối cùng sẽ mang phương diện nào thì có rất ít, nếu có, bằng chứng để cho thấy, và có lẽ nó sẽ không được thể trí con người định hình cho đến khi các khảo cứu siêu hình cũng như hồng trần tiến bộ hơn nhiều. 1034

This is a happy forecast indeed. The day may come, then, when “Natural Selection,” as taught by Mr. Darwin and Mr. Herbert Spencer, will, in its ultimate modification, form only a part of our Eastern doctrine of Evolution, which will be Manu and Kapila Esoterically explained.

Đây quả thật là một dự báo tốt đẹp. Như vậy, ngày ấy có thể sẽ đến, khi “Sự Chọn Lọc Tự Nhiên”, như ông Darwin và ông Herbert Spencer đã dạy, trong sự biến đổi tối hậu của nó, sẽ chỉ tạo thành một phần của giáo lý Đông phương của chúng ta về Tiến Hoá, vốn sẽ là Manu và Kapila được giải thích một cách nội môn.

Section XIII. Forces—Modes of Motion or Intelligences? — Tiết XIII. Các Mãnh Lực — Những Phương Thức Chuyển Động hay Những Trí Tuệ?

This is, then, the last word of Physical Science up to the present year, 1888. Mechanical laws will never be able to prove the homogeneity of Primeval Matter, except inferentially and as a desperate necessity, when there will remain no other issue—as in the case of Ether. Modern Science is secure only in its own domain and region; within the physical boundaries of our Solar System, beyond which everything, every particle of Matter, is different from the Matter it knows, and where Matter exists in states of which Science can form no idea. This Matter, which is truly homogeneous, is beyond human perception, if perception is tied down merely to the five senses. We feel its effects through those Intelligences which are the results of its primeval differentiation, whom we name Dhyân Chohans, called in the Hermetic works the “Seven Governors”; those to whom Pymander, the “Thought Divine,” refers as the “Building Powers,” and whom Asklepios calls the “Supernal Gods.” This Matter—the real Primordial Substance, the Noumenon of all the “matter” we know of—some of our Astronomers even have been led to believe in, for they despair of the possibility of ever accounting for rotation, gravitation, and the origin of any mechanical physical laws, unless these Intelligences be admitted by Science. In the above-quoted work upon Astronomy by Wolf, 1035 the author endorses fully the theory of Kant, and the latter theory, if not in its general aspect, at any rate in some of its features, reminds one strongly of certain Esoteric Teachings. Here we have the world’s system “reborn from its ashes,” through a nebula—the emanation from the bodies, dead and dissolved in Space, resultant of the incandescence of the Solar Centre—reanimated by the combustible matter of the Planets. In this theory, generated and developed in the brain of a young man hardly twenty-five years of age, who had never left his native place, Königsberg, a small town of Northern Prussia, one can hardly fail to recognize either the presence of an inspiring external power, or an evidence of the reincarnation which the Occultists see in it. It fills a gap which Newton, with all his genius, failed to bridge. And surely it is our Primeval Matter, Âkâsha, that Kant had in view, when he postulated a universally pervading primordial Substance, in order to solve Newton’s difficulty, and his failure to explain, by natural forces alone, the primitive impulse imparted to the Planets. For, as he remarks in Chapter viii, if it is once admitted that the perfect harmony of the Stars and Planets and the coincidence of their orbital planes prove the existence of a natural Cause, which would thus be the Primal Cause, “that Cause cannot really be the matter which fills to-day the heavenly spaces.” It must be that which filled Space—was Space—originally, whose motion in differentiated Matter was the origin of the actual movements of the sidereal bodies; and which, “in condensing itself in those very bodies, thus abandoned the space that is to-day found void.” In other words, it is of that same Matter that are now composed the Planets, Comets, and the Sun himself, and that Matter, having originally formed itself into those bodies, has preserved its inherent quality of motion; which quality, now centred in their nuclei, directs all motion. A very slight alteration of words in this is needed, and a few additions, to make of it our Esoteric Doctrine.

Vậy, đây là lời cuối cùng của Khoa Học Hồng Trần cho đến năm hiện tại, 1888. Các định luật cơ học sẽ không bao giờ có thể chứng minh tính đồng nhất của Vật Chất Nguyên Sơ, ngoại trừ bằng suy luận và như một nhu cầu tuyệt vọng, khi không còn lối thoát nào khác — như trong trường hợp của Dĩ Thái. Khoa Học hiện đại chỉ an toàn trong lãnh vực và khu vực riêng của nó; trong các ranh giới hồng trần của hệ mặt trời của chúng ta, bên ngoài đó mọi sự, mọi hạt Vật Chất, đều khác với Vật Chất mà nó biết, và nơi Vật Chất hiện hữu trong những trạng thái mà Khoa Học không thể hình thành ý niệm. Vật Chất này, vốn thật sự đồng nhất, vượt ngoài tri giác của con người, nếu tri giác chỉ bị trói buộc vào năm giác quan. Chúng ta cảm nhận các hiệu quả của nó thông qua những Trí Tuệ vốn là kết quả của sự biến phân nguyên thủy của nó, những Đấng mà chúng ta gọi là Dhyân Chohans, được gọi trong các tác phẩm Hermetic là “Bảy Đấng Cai Quản”; những Đấng mà Pymander, “Tư Tưởng Thiêng Liêng”, nhắc đến như “Các Quyền Năng Kiến Tạo”, và Asklepios gọi là “Các Thượng Đế Thiên Thượng”. Vật Chất này — Chất Liệu Nguyên Sơ thật sự, Bản Thể ẩn sau mọi “vật chất” mà chúng ta biết — ngay cả một số Nhà Thiên Văn của chúng ta cũng đã được dẫn đến tin vào nó, vì họ tuyệt vọng trước khả năng có thể giải thích được sự quay, trọng lực, và nguồn gốc của bất cứ định luật cơ học hồng trần nào, trừ phi các Trí Tuệ này được Khoa Học thừa nhận. Trong tác phẩm về Thiên Văn Học của Wolf được trích dẫn ở trên, 1035 tác giả hoàn toàn tán thành lý thuyết của Kant, và lý thuyết sau này, nếu không ở phương diện tổng quát, thì ít nhất trong một số đặc điểm của nó, gợi mạnh cho người ta nhớ đến một số Giáo Huấn Nội Môn. Ở đây chúng ta có hệ thống thế giới “tái sinh từ tro tàn của nó”, thông qua một tinh vân — sự xuất lộ từ các thiên thể đã chết và tan rã trong Không Gian, là kết quả của sự nóng sáng của Trung Tâm Mặt Trời — được tái sinh lực bởi vật chất dễ cháy của các Hành Tinh. Trong lý thuyết này, được sinh ra và phát triển trong bộ não của một thanh niên chưa đầy hai mươi lăm tuổi, người chưa bao giờ rời khỏi nơi sinh của mình, Königsberg, một thành phố nhỏ ở Bắc Phổ, người ta khó lòng không nhận ra hoặc sự hiện diện của một quyền năng bên ngoài truyền cảm hứng, hoặc một bằng chứng về sự tái sinh mà các Nhà Huyền Bí Học thấy trong đó. Nó lấp đầy một khoảng trống mà Newton, với tất cả thiên tài của ông, đã không thể bắc cầu. Và chắc chắn chính Vật Chất Nguyên Sơ của chúng ta, Akasha, là điều Kant đã nghĩ đến, khi ông đặt định một Chất Liệu nguyên thủy thấm nhuần khắp nơi, nhằm giải quyết khó khăn của Newton, và sự thất bại của ông trong việc giải thích, chỉ bằng các mãnh lực tự nhiên, xung lực nguyên thủy được truyền cho các Hành Tinh. Vì, như ông nhận xét trong Chương tám, một khi đã thừa nhận rằng sự hài hòa hoàn hảo của các Ngôi Sao và Hành Tinh, cùng sự trùng hợp của các mặt phẳng quỹ đạo của chúng, chứng minh sự hiện hữu của một Nguyên Nhân tự nhiên, vốn như vậy sẽ là Nguyên Nhân Nguyên Thủy, thì “Nguyên Nhân ấy thật sự không thể là vật chất đang lấp đầy các không gian thiên giới ngày nay.” Nó phải là cái đã lấp đầy Không Gian — đã là Không Gian — ngay từ đầu, mà chuyển động của nó trong Vật Chất đã biến phân là nguồn gốc của các chuyển động hiện tại của những thiên thể tinh tú; và cái đó, “khi tự ngưng tụ trong chính các thiên thể ấy, do đó đã bỏ lại không gian ngày nay được thấy là trống rỗng.” Nói cách khác, chính từ Vật Chất ấy mà hiện nay các Hành Tinh, Sao Chổi, và chính Mặt Trời được cấu thành; và Vật Chất ấy, sau khi ban đầu tự hình thành thành những thiên thể ấy, đã bảo tồn phẩm tính chuyển động cố hữu của nó; phẩm tính ấy, nay được tập trung trong các nhân của chúng, điều khiển mọi chuyển động. Chỉ cần một sự thay đổi rất nhỏ về từ ngữ trong điều này, và thêm vài điểm, là có thể biến nó thành Giáo Lý Nội Môn của chúng ta.

The latter teaches that it is this original, primordial Prima Materia, divine and intelligent, the direct emanation of the Universal Mind, the Daiviprakriti—the Divine Light 1036 emanating from the Logos—which formed the nuclei of all the “self-moving” orbs in Kosmos. It is the informing, ever-present moving-power and life-principle, the Vital Soul of the Suns, Moons, Planets, and even of our Earth; the former latent, the latter active—the invisible Ruler and Guide of the gross body attached to, and connected with, its Soul, which is the spiritual emanation, after all, of these respective Planetary Spirits.

Giáo lý sau dạy rằng chính Vật Chất Nguyên Thủy đầu tiên này, thiêng liêng và thông tuệ, sự xuất lộ trực tiếp của Vũ Trụ Trí, Daiviprakriti — Ánh Sáng Thiêng Liêng 1036 phát ra từ Thượng Đế — đã hình thành các nhân của mọi thiên cầu “tự chuyển động” trong Vũ Trụ. Nó là quyền năng chuyển động thấm nhuần, luôn hiện diện, và là nguyên khí-sự sống, Linh Hồn Sinh Lực của các Mặt Trời, Mặt Trăng, Hành Tinh, và thậm chí của Trái Đất chúng ta; cái trước tiềm tàng, cái sau hoạt động — Đấng Cai Quản và Dẫn Dắt vô hình của thể thô gắn liền với Linh Hồn của nó và được nối kết với Linh Hồn ấy, vốn rốt cuộc là sự xuất lộ tinh thần của các Chân Linh Hành Tinh tương ứng này.

Another quite Occult Doctrine is the theory of Kant, that the Matter of which the inhabitants and the animals of other Planets are formed is of a lighter and more subtle nature and of a more perfect conformation, in proportion to their distance from the Sun. The latter is too full of Vital Electricity, of the physical, life-giving principle. Therefore, the men on Mars are more ethereal than we are, while those on Venus are more gross, though far more intelligent, if less spiritual.

Một Giáo Lý hoàn toàn Huyền Bí khác là lý thuyết của Kant, rằng Vật Chất mà từ đó cư dân và thú vật của các Hành Tinh khác được hình thành có bản chất nhẹ hơn và tinh tế hơn, và có cấu tạo hoàn hảo hơn, tùy theo khoảng cách của chúng với Mặt Trời. Mặt Trời thì quá đầy Điện Lực Sinh Động, đầy nguyên khí hồng trần ban sự sống. Vì thế, những người trên Sao Hỏa thì dĩ thái hơn chúng ta, trong khi những người trên Sao Kim thì thô hơn, mặc dù thông tuệ hơn nhiều, nếu kém tinh thần hơn.

The last doctrine is not quite ours—yet these Kantian theories are as metaphysical, and as transcendental as any Occult Doctrines; and more than one man of Science would, if he but dared speak his mind, accept them as Wolf does. From this Kantian Mind and Soul of the Suns and Stars to the Mahat (Mind) and Prakriti of the Purânas there is but a step. After all, the admission of this by Science would be only the admission of a natural cause, whether it would or would not stretch its belief to such metaphysical heights. But then Mahat, the Mind, is a “God,” and Physiology admits “mind” only as a temporary function of the material brain, and no more.

Giáo lý cuối cùng không hoàn toàn là của chúng ta — tuy nhiên các lý thuyết Kant này cũng siêu hình và siêu việt như bất cứ Giáo Lý Huyền Bí nào; và hơn một người của Khoa Học, nếu y chỉ dám nói ra ý nghĩ của mình, sẽ chấp nhận chúng như Wolf đã làm. Từ Trí Tuệ và Linh Hồn theo Kant này của các Mặt Trời và Ngôi Sao đến Mahat, tức Trí Tuệ, và Prakriti của các Purana, chỉ còn một bước. Rốt cuộc, việc Khoa Học thừa nhận điều này chỉ là sự thừa nhận một nguyên nhân tự nhiên, dù nó có hay không kéo dài niềm tin của mình đến những độ cao siêu hình như thế. Nhưng khi ấy Mahat, Trí Tuệ, là một “Thượng Đế”, còn Sinh Lý Học chỉ thừa nhận “trí tuệ” như một chức năng tạm thời của bộ não vật chất, và không hơn.

The Satan of Materialism now laughs at all alike, and denies the visible as well as the invisible. Seeing in light, heat, electricity, and even in the phenomenon of life, only properties inherent in Matter, it laughs whenever life is called the Vital Principle, and derides the idea of its being independent of and distinct from the organism.

Satan của Chủ Nghĩa Duy Vật hiện nay cười nhạo tất cả như nhau, và phủ nhận cả cái hữu hình lẫn cái vô hình. Khi thấy trong ánh sáng, nhiệt, điện, và ngay cả trong hiện tượng sự sống, chỉ những thuộc tính cố hữu trong Vật Chất, nó cười nhạo mỗi khi sự sống được gọi là Nguyên Khí Sinh Lực, và chế giễu ý tưởng rằng sự sống độc lập với và khác biệt với cơ thể.

But here again scientific opinions differ as in everything else, and there are several men of Science who accept views very similar to ours. Consider, for instance, what Dr. Richardson, F.R.S. (elsewhere quoted at length) says of that “Vital Principle,” which he calls “Nervous Ether”: I speak only of a veritable material agent, refined, it may be, to the world at large, but actual and substantial: an agent having quality of weight and of volume, an agent susceptible of chemical combination, and thereby of change of physical state and condition, an agent passive in its action, moved always, that is to say, by influences apart from itself, 1037 obeying other influences, an agent possessing no initiative power, no vis or energeia naturæ, 1038 but still playing a most important, if not a primary part in the production of the phenomena resulting from the action of the energeia upon visible matter. 1039

Nhưng ở đây một lần nữa các ý kiến khoa học khác nhau như trong mọi điều khác, và có vài người của Khoa Học chấp nhận những quan điểm rất giống với quan điểm của chúng ta. Chẳng hạn, hãy xét điều Tiến sĩ Richardson, Hội Viên Hội Hoàng Gia, người được trích dẫn dài ở nơi khác, nói về “Nguyên Khí Sinh Lực” ấy, mà ông gọi là “Dĩ Thái Thần Kinh”: Tôi chỉ nói về một tác nhân vật chất đích thực, có thể là tinh luyện đối với thế giới nói chung, nhưng thực hữu và có chất thể: một tác nhân có phẩm tính của trọng lượng và thể tích, một tác nhân có thể kết hợp hoá học và nhờ đó thay đổi trạng thái và tình trạng hồng trần, một tác nhân thụ động trong hoạt động của nó, nghĩa là luôn luôn bị chuyển động bởi những ảnh hưởng tách biệt với chính nó, 1037 tuân theo những ảnh hưởng khác, một tác nhân không sở hữu quyền năng khởi xướng, không có sức sống hay năng lực tự nhiên, 1038 nhưng vẫn đóng một vai trò hết sức quan trọng, nếu không phải là vai trò chính yếu, trong việc tạo ra những hiện tượng phát sinh từ tác động của năng lực ấy lên vật chất hữu hình. 1039

As Biology and Physiology now deny, in toto, the existence of a Vital Principle, this extract, together with De Quatrefages’ admission, is a clear confirmation that there are men of Science who take the same views about “things Occult” as do Theosophists and Occultists. These recognize a distinct Vital Principle independent of the organism—material, of course, as physical Force cannot be divorced from Matter, but of a Substance existing in a state unknown to Science. Life for them is something more than the mere interaction of molecules and atoms. There is a Vital Principle without which no molecular combinations could ever have resulted in a living organism, least of all in the so-called “inorganic” Matter of our plane of consciousness.

Vì Sinh Học và Sinh Lý Học hiện nay phủ nhận hoàn toàn sự hiện hữu của một Nguyên Khí Sinh Lực, đoạn trích này, cùng với sự thừa nhận của De Quatrefages, là một sự xác nhận rõ ràng rằng có những người của Khoa Học có cùng quan điểm về “những điều Huyền Bí” như các Nhà Thông Thiên Học và các Nhà Huyền Bí Học. Những người này nhận ra một Nguyên Khí Sinh Lực riêng biệt, độc lập với cơ thể — dĩ nhiên là vật chất, vì Mãnh Lực hồng trần không thể bị tách rời khỏi Vật Chất, nhưng thuộc về một Chất Liệu hiện hữu trong một trạng thái mà Khoa Học không biết. Đối với họ, Sự Sống là điều gì hơn sự tương tác thuần túy của các phân tử và nguyên tử. Có một Nguyên Khí Sinh Lực mà nếu không có nó, không tổ hợp phân tử nào từng có thể dẫn đến một cơ thể sống, càng không thể trong Vật Chất được gọi là “vô cơ” thuộc cõi tâm thức của chúng ta.

By “molecular combinations” are meant, of course, those of the Matter of our present illusive perceptions, which Matter energizes only on this, our plane. And this is the chief point at issue. 1040

Dĩ nhiên, “các tổ hợp phân tử” được hiểu là những tổ hợp của Vật Chất thuộc các tri giác hư ảo hiện tại của chúng ta, Vật Chất chỉ hoạt động bằng năng lực trên cõi này, cõi của chúng ta. Và đây là điểm chính đang tranh luận. 1040

Thus the Occultists are not alone in their beliefs. Nor are they so foolish, after all, in rejecting even the “gravity” of Modern Science along with other physical laws, and in accepting instead attraction and repulsion. They see, moreover, in these two opposite Forces only the two aspects of the Universal Unit, called Manifesting Mind; in which aspects, Occultism, through its great Seers, perceives an innumerable Host of operative Beings: cosmic Dhyân Chohans, Entities, whose essence, in its dual nature, is the Cause of all terrestrial phenomena. For that essence is con-substantial with the universal Electric Ocean, which is Life; and being dual, as said—positive and negative—it is the emanations of that duality that act now on Earth under the name of “modes of motion”; even Force having now become objectionable as a word, for fear it should lead someone, even in thought, to separate it from Matter! It is, as Occultism says, the dual effects of that dual essence, which have now been called centripetal and centrifugal forces, now negative and positive poles, or polarity, heat and cold, light and darkness, etc.

Như vậy, các Nhà Huyền Bí Học không đơn độc trong niềm tin của họ. Và rốt cuộc họ cũng không quá ngu dại khi bác bỏ ngay cả “trọng lực” của Khoa Học Hiện Đại cùng với các định luật hồng trần khác, và thay vào đó chấp nhận sự hấp dẫnsự đẩy lùi. Hơn nữa, trong hai Mãnh Lực đối nghịch này, họ chỉ thấy hai phương diện của Đơn Vị Phổ Quát, được gọi là Trí Tuệ Đang Biểu Hiện; trong các phương diện ấy, Huyền Bí Học, qua các nhà thông nhãn vĩ đại của mình, nhận ra một Đạo Quân vô số các Hữu Thể đang hoạt động: các Dhyân Chohans vũ trụ, các Thực Thể, mà tinh chất của các Ngài, trong bản chất kép của nó, là Nguyên Nhân của mọi hiện tượng trên địa cầu. Vì tinh chất ấy đồng bản chất với Đại Dương Điện Lực phổ quát, vốn là Sự Sống; và vì nó là kép, như đã nói — dương và âm — chính các xuất lộ của nhị nguyên ấy hiện nay hoạt động trên Trái Đất dưới danh xưng “các phương thức chuyển động”; ngay cả Mãnh Lực nay cũng trở thành một từ bị phản đối, vì sợ rằng nó có thể dẫn một người nào đó, ngay cả trong tư tưởng, đến chỗ tách nó khỏi Vật Chất! Như Huyền Bí Học nói, chính các hiệu quả kép của tinh chất kép ấy nay được gọi khi thì là các lực hướng tâm và ly tâm, khi thì là các cực âm và dương, hay sự phân cực, nhiệt và lạnh, ánh sáng và bóng tối, vân vân.

And it is further maintained that even the Greek and Roman Catholic Christians are wiser in believing, as they do—even if blindly connecting and tracing them all to an anthropomorphic God—in Angels, Archangels, Archons, Seraphs, and Morning Stars, in all those theological deliciæ humani generis, in short, that rule the Cosmic Elements, than Science is, in disbelieving in them altogether, and in advocating its mechanical Forces. For these act very often with more than human intelligence and pertinency. Nevertheless, that intelligence is denied and attributed to blind chance. But, as De Maistre was right in calling the law of gravitation merely a word which replaced “the thing unknown,” so are we right in applying the same remark to all the other Forces of Science. And if it is objected that the Count was an ardent Roman Catholic, then we may cite Le Couturier, as ardent a Materialist, who said the same thing, as did also Herschell and many others. 1041

Và còn được khẳng định thêm rằng ngay cả các Kitô hữu Hy Lạp và Công Giáo La Mã cũng khôn ngoan hơn khi tin, như họ vẫn tin — dù có mù quáng liên kết và truy nguyên tất cả về một Thượng Đế hình nhân — vào các Thiên Thần, Tổng Thiên Thần, Archons, Seraphs, và các Sao Mai, tóm lại vào tất cả những điều thần học được nhân loại yêu thích ấy, vốn cai quản các Nguyên Tố Vũ Trụ, hơn là Khoa Học khi hoàn toàn không tin vào chúng và chủ trương các Mãnh Lực cơ học của mình. Vì các mãnh lực này rất thường hoạt động với một trí tuệ và sự thích đáng hơn cả con người. Tuy nhiên, trí tuệ ấy bị phủ nhận và được gán cho ngẫu nhiên mù quáng. Nhưng, cũng như De Maistre đã đúng khi gọi định luật hấp dẫn chỉ là một từ thay thế cho “sự vật chưa biết”, thì chúng ta cũng đúng khi áp dụng nhận xét tương tự cho tất cả các Mãnh Lực khác của Khoa Học. Và nếu người ta phản đối rằng Bá tước ấy là một tín đồ Công Giáo La Mã nhiệt thành, thì chúng ta có thể trích dẫn Le Couturier, một Nhà Duy Vật cũng nhiệt thành không kém, người đã nói điều tương tự, cũng như Herschell và nhiều người khác. 1041

From Gods to men, from Worlds to atoms, from a Star to a rush-light, from the Sun to the vital heat of the meanest organic being—the world of Form and Existence is an immense chain, the links of which are all connected. The Law of Analogy is the first key to the world-problem, and these links have to be studied coördinately in their Occult relations to each other.

Từ các Thượng Đế đến con người, từ các Thế Giới đến các nguyên tử, từ một Ngôi Sao đến một ngọn đèn bấc, từ Mặt Trời đến sức nóng sinh lực của sinh linh hữu cơ thấp kém nhất — thế giới của Hình Tướng và Hiện Hữu là một chuỗi xích mênh mông, mà mọi mắt xích đều liên kết với nhau. Định luật tương đồng là chìa khóa đầu tiên cho vấn đề thế giới, và các mắt xích này phải được nghiên cứu một cách phối hợp trong những quan hệ Huyền Bí của chúng với nhau.

When, therefore, the Secret Doctrine—postulating that conditioned or limited space (location) has no real being except in this world of illusion, or, in other words, in our perceptive faculties—teaches that every one of the higher, as of the lower worlds, is interblended with our own objective world; that millions of things and beings are, in point of localization, around and in us, as we are around, with, and in them; this is no mere metaphysical figure of speech, but a sober fact in Nature, however incomprehensible to our senses.

Vì vậy, khi Giáo Lý Bí Nhiệm — đặt định rằng không gian bị điều kiện hóa hay giới hạn, tức vị trí, không có bản thể thật sự ngoại trừ trong thế giới ảo tưởng này, hay nói cách khác, trong các năng lực tri giác của chúng ta — dạy rằng mỗi một trong các thế giới cao hơn, cũng như các thế giới thấp hơn, đều hòa trộn với thế giới khách quan của chính chúng ta; rằng hàng triệu sự vật và sinh linh, xét về mặt định vị, ở quanh và trong chúng ta, cũng như chúng ta ở quanh, cùng với, và trong chúng; thì đây không phải là một hình ảnh ẩn dụ siêu hình đơn thuần, mà là một sự kiện tỉnh táo trong Thiên Nhiên, dù không thể hiểu được đối với các giác quan của chúng ta.

But one has to understand the phraseology of Occultism before criticizing what it asserts. For example, the Doctrine refuses—as Science does, in one sense—to use the words “above” and “below,” “higher” and “lower,” in reference to invisible spheres, since here they are without meaning. Even the terms “East” and “West” are merely conventional, necessary only to aid our human perceptions. For though the Earth has its two fixed points in the poles, North and South, yet both East and West are variable relatively to our own position on the Earth’s surface, and in consequence of its rotation from West to East. Hence, when “other worlds” are mentioned—whether better or worse, more spiritual or still more material, though both invisible—the Occultist does not locate these spheres either outside or inside our Earth, as the theologians and the poets do; for their location is nowhere in the space known to, or conceived by, the profane. They are, as it were, blended with our world—interpenetrating it and interpenetrated by it. There are millions and millions of worlds and firmaments visible to us; there are still greater numbers beyond those visible to the telescope, and many of the latter kind do not belong to our objective sphere of existence. Although as invisible as if they were millions of miles beyond our Solar System, they are yet with us, near us, within our own world, as objective and material to their respective inhabitants as ours is to us. But, again, the relation of these worlds to ours is not that of a series of egg-shaped boxes enclosed one within the other, like the toys called Chinese nests; each is entirely under its own special laws and conditions, having no direct relation to our sphere. The inhabitants of these, as already said, may be, for all we know, or feel, passing through and around us as if through empty space, their very habitations and countries being interblended with ours, though not disturbing our vision, because we have not yet the faculties necessary for discerning them. Yet by their spiritual sight the Adepts, and even some seers and sensitives, are always able to discern, whether in a greater or smaller degree, the presence and close proximity to us of Beings pertaining to other spheres of life. Those of the spiritually higher worlds communicate only with those terrestrial mortals who ascend to them, through individual efforts, on to the higher plane they are occupying.

Nhưng người ta phải thấu hiểu thuật ngữ của Huyền Bí Học trước khi phê bình điều nó khẳng định. Chẳng hạn, Giáo Lý từ chối — cũng như Khoa Học, theo một nghĩa nào đó — sử dụng các từ “trên” và “dưới”, “cao hơn” và “thấp hơn”, khi nói đến các khối cầu vô hình, vì ở đây chúng không có ý nghĩa. Ngay cả các thuật ngữ “Đông” và “Tây” cũng chỉ là quy ước, cần thiết chỉ để trợ giúp các tri giác nhân loại của chúng ta. Vì mặc dù Trái Đất có hai điểm cố định của nó ở hai cực, Bắc và Nam, nhưng cả Đông lẫn Tây đều thay đổi tương đối với vị trí của chính chúng ta trên bề mặt Trái Đất, và do sự quay của nó từ Tây sang Đông. Do đó, khi “các thế giới khác” được nhắc đến — dù tốt hơn hay xấu hơn, tinh thần hơn hay vẫn vật chất hơn, mặc dù cả hai đều vô hình — Nhà Huyền Bí Học không định vị các khối cầu này ở bên ngoài hay bên trong Trái Đất của chúng ta, như các nhà thần học và thi sĩ vẫn làm; vì vị trí của chúng không ở đâu trong không gian mà người phàm biết đến hoặc quan niệm được. Chúng, có thể nói, hòa trộn với thế giới của chúng ta — thâm nhập vào nó và được nó thâm nhập. Có hàng triệu triệu thế giới và vòm trời hữu hình đối với chúng ta; còn có những số lượng lớn hơn nữa vượt ngoài những gì kính viễn vọng thấy được, và nhiều thế giới thuộc loại sau không thuộc về khối cầu hiện hữu khách quan của chúng ta. Dù vô hình như thể chúng ở cách hệ mặt trời của chúng ta hàng triệu dặm, chúng vẫn ở cùng chúng ta, gần chúng ta, bên trong chính thế giới của chúng ta, cũng khách quan và vật chất đối với các cư dân tương ứng của chúng như thế giới của chúng ta đối với chúng ta. Nhưng, một lần nữa, quan hệ của những thế giới này với thế giới của chúng ta không phải là quan hệ của một chuỗi các hộp hình trứng lồng vào nhau, như những món đồ chơi gọi là tổ Trung Hoa; mỗi thế giới hoàn toàn ở dưới các định luật và điều kiện riêng đặc thù của nó, không có quan hệ trực tiếp nào với khối cầu của chúng ta. Cư dân của những thế giới này, như đã nói, có thể, trong tất cả những gì chúng ta biết hay cảm nhận, đang đi xuyên quaquanh chúng ta như thể xuyên qua không gian trống rỗng, chính nơi cư trú và xứ sở của họ hòa trộn với của chúng ta, dù không làm rối loạn tầm nhìn của chúng ta, vì chúng ta chưa có các năng lực cần thiết để phân biện họ. Tuy nhiên, bằng thị giác tinh thần của mình, các Chân sư, và ngay cả một số nhà thông nhãn cùng những người nhạy cảm, luôn có thể phân biện, ở mức độ lớn hay nhỏ, sự hiện diện và sự gần gũi sát bên chúng ta của các Hữu Thể thuộc về các khối cầu sự sống khác. Những Hữu Thể thuộc các thế giới cao hơn về tinh thần chỉ giao tiếp với những người phàm trên địa cầu nào vươn lên đến các Ngài, qua nỗ lực cá nhân, tới cõi cao hơn mà các Ngài đang cư ngụ.

The sons of Bhûmi [Earth] regard the Sons of Deva-lokas [Angel-spheres] as their Gods; and the Sons of lower kingdoms look up to the men of Bhûmi as to their Devas [Gods]; men remaining unaware of it in their blindness…. They [men] tremble before them while using them [for magical purposes]…. The First Race of Men were the “Mind-born Sons” of the former. They [the Pitris and Devas] are our progenitors. 1042

Các con của Bhumi [Trái Đất] xem các Con của Deva-lokas [các khối cầu Thiên Thần] như các Thượng Đế của họ; và các Con của các giới thấp nhìn lên con người của Bhumi như nhìn lên các Deva [Thượng Đế] của họ; con người vẫn không hay biết điều đó trong sự mù lòa của mình…. Họ [con người] run sợ trước các Ngài trong khi sử dụng các Ngài [cho các mục đích huyền thuật]…. Giống Dân Đầu Tiên của Con Người là “Các Con Sinh Ra Từ Trí Tuệ” của những Đấng trước đó. Các Ngài [Pitris và Devas] là tổ tiên của chúng ta. 1042

“Educated people,” so-called, deride the idea of Sylphs, Salamanders, Undines, and Gnomes; the men of Science regard any mention of such superstitions as an insult; and with a contempt of logic and common good sense, that is often the prerogative of “accepted authority,” they allow those, whom it is their duty to instruct, to labour under the absurd impression that in the whole Kosmos, or at any rate in our own atmosphere, there are no other conscious, intelligent beings, save ourselves. 1043 Any other humanity (composed of distinct human beings) save a mankind with two legs, two arms, and a head with man’s features on it, would not be called human; though the etymology of the word would seem to have little to do with the general appearance of a creature. Thus, while Science sternly rejects even the possibility of there being such (to us, generally) invisible creatures, Society, while believing in it all secretly, is made to deride the idea openly. It hails with mirth such works as the Comte de Gabalis, and fails to understand that open satire is the securest mask.

“Những người có giáo dục”, như người ta gọi, chế giễu ý tưởng về Sylphs, Salamanders, Undines, và Gnomes; những người của Khoa Học xem bất cứ sự nhắc đến nào về những mê tín như thế là một sự xúc phạm; và với sự khinh miệt đối với luận lý và lương tri thông thường, vốn thường là đặc quyền của “quyền uy được chấp nhận”, họ để cho những người mà bổn phận của họ là phải chỉ dạy phải vất vả dưới ấn tượng phi lý rằng trong toàn thể Vũ Trụ, hoặc ít nhất trong bầu khí quyển của chính chúng ta, không có những sinh linh có ý thức, thông tuệ nào khác ngoài chính chúng ta. 1043 Bất cứ nhân loại nào khác, được cấu thành từ những con người riêng biệt, ngoài một nhân loại có hai chân, hai tay, và một cái đầu mang các nét của con người, sẽ không được gọi là nhân loại; mặc dù từ nguyên của từ này dường như chẳng liên quan bao nhiêu đến dáng vẻ tổng quát của một sinh vật. Vì vậy, trong khi Khoa Học nghiêm khắc bác bỏ ngay cả khả năng có những sinh vật vô hình như thế, nói chung đối với chúng ta, thì Xã Hội, dù thầm kín tin vào tất cả điều ấy, lại bị khiến phải công khai chế giễu ý tưởng đó. Nó hoan nghênh bằng tiếng cười những tác phẩm như Bá Tước de Gabalis, và không thấu hiểu rằng sự châm biếm công khai là chiếc mặt nạ an toàn nhất.

Nevertheless, such invisible worlds do exist. Inhabited as thickly as is our own, they are scattered throughout apparent Space in immense numbers; some far more material than our own world, others gradually etherealizing until they become formless and are as “breaths.” The fact that our physical eye does not see them, is no reason for disbelieving in them. Physicists cannot see their Ether, Atoms, “modes of motion,” or Forces. Yet they accept and teach them.

Tuy nhiên, những thế giới vô hình như thế vẫn hiện hữu. Được cư ngụ dày đặc như thế giới của chính chúng ta, chúng rải rác khắp Không Gian biểu kiến với số lượng mênh mông; một số vật chất hơn thế giới của chúng ta rất nhiều, những thế giới khác dần dần trở nên dĩ thái cho đến khi chúng trở thành vô hình tướng và như những “hơi thở”. Việc mắt hồng trần của chúng ta không thấy chúng không phải là lý do để không tin vào chúng. Các Nhà Vật Lý không thể thấy Dĩ Thái, Nguyên Tử, “các phương thức chuyển động”, hay các Mãnh Lực của họ. Tuy nhiên họ vẫn chấp nhận và giảng dạy chúng.

If we find, even in the natural world with which we are acquainted, Matter affording a partial analogy to the difficult conception of such invisible worlds, there seems little difficulty in recognizing the possibility of such a presence. The tail of a Comet, which, though attracting our attention by virtue of its luminosity, yet does not disturb or impede our vision of objects, which we perceive through and beyond it, affords the first stepping-stone toward a proof of the same. The tail of a Comet passes rapidly across our horizon, and we should neither feel it, nor be cognizant of its passage, but for the brilliant coruscation, often perceived only by a few interested in the phenomenon, while everyone else remains ignorant of its presence and of its passage through, or across, a portion of our globe. This tail may, or may not, be an integral portion of the being of the Comet, but its tenuity subserves our purpose as an illustration. Indeed, it is no question of superstition, but simply a result of transcendental Science, and of logic still more, to admit the existence of worlds formed of even far more attenuated Matter than the tail of a Comet. By denying such a possibility, Science has for the last century played into the hands of neither Philosophy nor true Religion, but simply into those of Theology. To be able to dispute the better the plurality of even material worlds, a belief thought by many churchmen incompatible with the teachings and doctrines of the Bible, 1044 Maxwell had to calumniate the memory of Newton, and to try and convince his public that the principles contained in the Newtonian philosophy are those “which lie at the foundation of all atheistical systems.” 1045

Nếu, ngay cả trong thế giới tự nhiên mà chúng ta quen biết, chúng ta thấy Vật Chất cung cấp một sự tương đồng phần nào với quan niệm khó nắm bắt về những thế giới vô hình như thế, thì dường như không có mấy khó khăn trong việc thừa nhận khả năng có một sự hiện diện như vậy. Cái đuôi của một Sao Chổi, tuy thu hút sự chú ý của chúng ta nhờ độ sáng của nó, nhưng lại không làm xáo trộn hay cản trở tầm nhìn của chúng ta đối với các vật thể mà chúng ta nhận thấy xuyên qua và vượt bên kia nó, cung cấp bậc thang đầu tiên hướng tới một bằng chứng về điều ấy. Cái đuôi của một Sao Chổi lướt nhanh qua chân trời của chúng ta, và chúng ta sẽ chẳng cảm thấy nó, cũng chẳng biết đến sự đi qua của nó, nếu không nhờ ánh lóe rực rỡ, thường chỉ được một số ít người quan tâm đến hiện tượng ấy nhận thấy, trong khi mọi người khác vẫn không hay biết gì về sự hiện diện của nó và về việc nó đi xuyên qua, hoặc băng ngang, một phần bầu hành tinh của chúng ta. Cái đuôi này có thể, hoặc không thể, là một phần toàn vẹn trong bản thể của Sao Chổi, nhưng tính mỏng nhẹ của nó phục vụ mục đích của chúng ta như một minh họa. Thật vậy, việc thừa nhận sự tồn tại của những thế giới được tạo thành bằng Vật Chất còn tinh vi hơn rất nhiều so với cái đuôi của một Sao Chổi không hề là vấn đề mê tín, mà đơn giản là kết quả của Khoa học siêu nghiệm, và hơn nữa là của luận lý. Bằng cách phủ nhận một khả năng như thế, trong thế kỷ vừa qua, Khoa học đã không phục vụ cho Triết học hay Tôn giáo chân chính, mà đơn giản là phục vụ cho Thần học. Để có thể tranh luận hữu hiệu hơn chống lại tính đa nguyên của ngay cả các thế giới vật chất, một niềm tin mà nhiều giáo sĩ cho là không tương hợp với các giáo huấn và giáo lý của Kinh Thánh, 1044 Maxwell đã phải vu khống ký ức về Newton, và cố thuyết phục công chúng của ông rằng những nguyên lý chứa trong triết học Newton là những nguyên lý “nằm ở nền tảng của mọi hệ thống vô thần.” 1045

“Dr. Whewell disputed the plurality of worlds by appeal to scientific evidence,” writes Professor Winchell. 1046 And if even the habitability of physical worlds, of Planets, and distant Stars which shine in myriads over our heads is so disputed, how little chance is there for the acceptance of invisible worlds within the apparently transparent space of our own!

“Tiến sĩ Whewell đã phản bác tính đa nguyên của các thế giới bằng cách viện dẫn bằng chứng khoa học,” Giáo sư Winchell viết. 1046 Và nếu ngay cả khả năng cư trú của các thế giới hồng trần, của các Hành Tinh và những Ngôi Sao xa xôi chiếu sáng muôn vàn trên đầu chúng ta còn bị tranh cãi như thế, thì còn ít cơ hội biết bao cho việc chấp nhận những thế giới vô hình trong khoảng không gian có vẻ trong suốt của chính chúng ta!

But, if we can conceive of a world composed of Matter still more attenuated to our senses than the tail of a Comet, hence of inhabitants in it who are as ethereal, in proportion to their Globe, as we are in comparison with our rocky, hard-crusted Earth, no wonder if we do not perceive them, nor sense their presence or even existence. Only, in what is the idea contrary to Science? Cannot men and animals, plants and rocks, be supposed to be endowed with quite a different set of senses from those we possess? Cannot their organisms be born, develop, and exist, under other laws of being than those that rule our little world? Is it absolutely necessary that every corporeal being should be clothed in “coats of skin” like those that Adam and Eve were provided with in the legend of Genesis? Corporeality, we are told, however, by more than one man of Science, “may exist under very divergent conditions.” Professor A. Winchell—arguing upon the plurality of worlds—makes the following remarks: It is not at all improbable that substances of a refractory nature might be so mixed with other substances, known or unknown to us, as to be capable of enduring vastly greater vicissitudes of heat and cold than is possible with terrestrial organisms. The tissues of terrestrial animals are simply suited to terrestrial conditions. Yet even here we find different types and species of animals adapted to the trials of extremely dissimilar situations…. That an animal should be a quadruped or a biped is something not depending on the necessities of organization, or instinct, or intelligence. That an animal should possess just five senses is not a necessity of percipient existence. There may be animals on the earth with neither smell nor taste. There may be beings on other worlds, and even on this, who possess more numerous senses than we. The possibility of this is apparent when we consider the high probability that other properties and other modes of existence lie among the resources of the Cosmos, and even of terrestrial matter. There are animals which subsist where rational man would perish—in the soil, in the river, and the sea… [and why not human beings of different organizations, in such case?]…. Nor is incorporated rational existence conditioned on warm blood, nor on any temperature which does not change the forms of matter of which the organism may be composed. There may be intelligences corporealized after some concept not involving the processes of injection, assimilation, and reproduction. Such bodies would not require daily food and warmth. They might be lost in the abysses of the ocean, or laid up on a stormy cliff through the tempests of an Arctic winter, or plunged in a volcano for a hundred years, and yet retain consciousness and thought. It is conceivable. Why might not psychic natures be enshrined in indestructible flint and platinum? These substances are no further from the nature of intelligence than carbon, hydrogen, oxygen, and lime. But, not to carry the thought to such an extreme [?], might not high intelligence be embodied in frames as indifferent to external conditions as the sage of the western plains, or the lichens of Labrador, the rotifers which remain dried for years, or the bacteria which pass living through boiling water…. These suggestions are made simply to remind the reader how little can be argued respecting the necessary conditions of intelligent, organized existence, from the standard of corporeal existence found upon the earth. Intelligence is, from its nature, as universal and as uniform as the laws of the universe. Bodies are merely the local fitting of intelligence to particular modifications of universal matter or force. 1047

Nhưng, nếu chúng ta có thể quan niệm một thế giới được cấu tạo bằng Vật Chất còn tinh vi hơn đối với các giác quan của chúng ta so với cái đuôi của một Sao Chổi, và do đó có những cư dân trong đó cũng dĩ thái, theo tương quan với Bầu hành tinh của họ, như chúng ta so với Trái Đất đá cứng, có lớp vỏ rắn của mình, thì không có gì đáng ngạc nhiên nếu chúng ta không nhận thấy họ, cũng không cảm nhận sự hiện diện hay ngay cả sự tồn tại của họ. Chỉ có điều, ý tưởng ấy trái với Khoa học ở điểm nào? Chẳng lẽ không thể giả định rằng con người và động vật, thực vật và đá, được phú cho một bộ giác quan hoàn toàn khác với những giác quan chúng ta sở hữu sao? Chẳng lẽ các cơ thể của họ không thể được sinh ra, phát triển và tồn tại dưới những định luật hiện tồn khác với những định luật cai quản thế giới nhỏ bé của chúng ta sao? Có tuyệt đối cần thiết rằng mọi sinh linh hữu hình đều phải được khoác “áo da” giống như những áo mà Adam và Eve được ban cho trong truyền thuyết Sáng Thế Ký không? Tuy nhiên, hơn một nhà Khoa học đã nói với chúng ta rằng tính hữu hình “có thể tồn tại dưới những điều kiện rất khác nhau.” Giáo sư A. Winchell—khi lập luận về tính đa nguyên của các thế giới—đưa ra những nhận xét sau: Hoàn toàn không phải là điều khó tin rằng các chất có bản chất chịu lửa có thể được pha trộn với những chất khác, dù đã biết hay chưa biết đối với chúng ta, đến mức có khả năng chịu đựng những biến thiên nhiệt và lạnh vô cùng lớn hơn so với điều có thể có nơi các cơ thể trên địa cầu. Các mô của động vật trên địa cầu đơn giản chỉ thích hợp với các điều kiện trên địa cầu. Thế nhưng ngay cả ở đây, chúng ta cũng thấy những kiểu và loài động vật khác nhau thích nghi với các thử thách của những hoàn cảnh cực kỳ khác biệt…. Việc một con vật là bốn chân hay hai chân không phải là điều tùy thuộc vào những tất yếu của tổ chức cơ thể, bản năng hay trí thông minh. Việc một con vật chỉ có đúng năm giác quan không phải là một tất yếu của sự tồn tại có tri giác. Có thể có những động vật trên Trái Đất không có khứu giác lẫn vị giác. Có thể có những sinh linh trên các thế giới khác, và ngay cả trên thế giới này, sở hữu nhiều giác quan hơn chúng ta. Khả năng này hiển nhiên khi chúng ta xét đến xác suất cao rằng những thuộc tính khác và những phương thức tồn tại khác nằm trong các nguồn lực của Vũ Trụ, và ngay cả của vật chất trên địa cầu. Có những động vật sinh tồn ở nơi con người có lý trí sẽ chết—trong đất, trong sông và biển… [và tại sao không có những sinh linh nhân loại với những tổ chức cơ thể khác biệt, trong trường hợp như thế?]…. Sự tồn tại có lý trí được nhập thể cũng không bị điều kiện hóa bởi máu nóng, hay bởi bất kỳ nhiệt độ nào không làm thay đổi các hình thái vật chất mà cơ thể có thể được cấu tạo nên. Có thể có những trí tuệ được hữu hình hóa theo một quan niệm nào đó không bao hàm các tiến trình đưa vào, đồng hóa và sinh sản. Những thể như vậy sẽ không cần thức ăn và hơi ấm hằng ngày. Chúng có thể bị mất hút trong các vực thẳm đại dương, hoặc nằm trên một vách đá đầy bão tố suốt những cơn cuồng phong của mùa đông Bắc Cực, hoặc bị dìm vào một núi lửa trong một trăm năm, mà vẫn giữ được tâm thức và tư tưởng. Điều ấy có thể quan niệm được. Tại sao các bản chất thông linh lại không thể được tôn trí trong đá lửa và bạch kim bất hoại? Những chất này không xa rời bản chất của trí tuệ hơn carbon, hydrogen, oxygen và vôi. Nhưng, không cần đẩy tư tưởng đến một cực đoan như thế [?], chẳng lẽ trí tuệ cao không thể được hiện thân trong những khung thể dửng dưng với các điều kiện bên ngoài như nhà hiền triết của các bình nguyên miền tây, hoặc địa y của Labrador, những loài luân trùng vẫn khô trong nhiều năm, hoặc vi khuẩn đi qua nước sôi mà vẫn sống…. Những gợi ý này được đưa ra đơn giản để nhắc người đọc rằng từ tiêu chuẩn về sự tồn tại hữu hình được tìm thấy trên Trái Đất, ta có thể lập luận được ít biết bao về các điều kiện tất yếu của sự tồn tại thông minh và có tổ chức. Trí tuệ, theo bản chất của nó, phổ quát và đồng nhất như các định luật của vũ trụ. Các thể chỉ là sự thích ứng cục bộ của trí tuệ với những biến thái đặc thù của vật chất hay mãnh lực phổ quát. 1047

Do not we know through the discoveries of that same all-denying Science that we are surrounded by myriads of invisible lives? If these microbes, bacteria and the tutti quanti of the infinitesimally small, are invisible to us by virtue of their minuteness, cannot there be, at the other pole, beings as invisible owing to the quality of their texture or matter—to its tenuity, in fact? Conversely, as to the effects of cometary matter, have we not another example of a half visible form of Life and Matter? The ray of sunlight entering our apartment reveals in its passage myriads of tiny beings living their little life and ceasing to be, independent and heedless of whether they are or are not perceived by our grosser materiality. And so again, of the microbes and bacteria and such-like unseen beings in other elements. We passed them by, during those long centuries of dreary ignorance, after the lamp of knowledge in the heathen and highly philosophical systems had ceased to throw its bright light on the ages of intolerance and bigotry of early Christianity; and we would fain pass them by again now.

Chẳng phải nhờ những khám phá của chính Khoa học phủ nhận tất cả ấy mà chúng ta biết rằng mình được bao quanh bởi vô số sự sống vô hình sao? Nếu các vi sinh vật, vi khuẩn và tất cả những thứ tương tự thuộc cái cực kỳ nhỏ bé này vô hình đối với chúng ta nhờ sự bé li ti của chúng, thì ở cực kia, chẳng lẽ không thể có những sinh linh cũng vô hình do phẩm tính của kết cấu hay vật chất của họ—thật ra là do tính mỏng nhẹ của nó sao? Ngược lại, về các hiệu quả của vật chất sao chổi, chẳng phải chúng ta có một ví dụ khác về một hình thái Sự Sống và Vật Chất nửa hữu hình sao? Tia nắng đi vào căn phòng của chúng ta, trên đường đi của nó, hé lộ vô số sinh linh nhỏ bé đang sống đời sống nhỏ nhoi của chúng rồi ngừng hiện hữu, độc lập và dửng dưng trước việc chúng có được tính vật chất thô hơn của chúng ta nhận thấy hay không. Và cũng như thế, đối với vi sinh vật, vi khuẩn và những sinh linh vô hình tương tự trong các nguyên tố khác. Chúng ta đã bỏ qua chúng trong những thế kỷ dài tăm tối của vô minh, sau khi ngọn đèn tri thức trong các hệ thống ngoại giáo và có tính triết học cao đã thôi chiếu ánh sáng rực rỡ của nó lên các thời đại bất dung và cuồng tín của Cơ Đốc giáo sơ kỳ; và nay chúng ta lại muốn bỏ qua chúng lần nữa.

And yet these lives surrounded us then as they do now. They have worked on, obedient to their own laws, and it is only as they have been gradually revealed by Science that we have begun to take cognizance of them and of the effects produced by them.

Thế nhưng những sự sống này đã bao quanh chúng ta khi ấy cũng như hiện nay. Chúng đã hoạt động, vâng theo các định luật riêng của chúng, và chỉ khi chúng dần dần được Khoa học hé lộ, chúng ta mới bắt đầu nhận biết chúng và các hiệu quả do chúng tạo ra.

How long has it taken the world to become what it now is? If it can be said that even up to the present day cosmic dust, “which has never belonged to the earth before,” 1048 reaches our Globe, how much more logical is it to believe—as the Occultists do—that through the countless millions of years that have rolled away since that dust aggregated and formed the Globe we live in round its nucleus of intelligent Primeval Substance, many humanities—differing from our present mankind as greatly as the humanity which will evolve millions of years hence will differ from our races—appeared but to disappear from the face of the Earth, as will our own. These primitive and far-distant humanities are denied, because, as Geologists think, they have left no tangible relics of themselves. All trace of them is swept away, and therefore they have never existed. Yet their relics—though very few of them, truly—are to be found, and they must be discovered by geological research. But, even if they were never to be met with, there would be no reason to say that no men could have ever lived in the geological periods to which their presence on earth is assigned. For their organisms needed no warm blood, no atmosphere, no feeding; the author of World-Life is right, and there is no extravagance in believing as we do, that as, on scientific hypotheses, there may be to this day “psychic natures enshrined in indestructible flint and platinum,” so there were psychic natures enshrined in forms of equally indestructible Primeval Matter—the real forefathers of our Fifth Race.

Thế giới đã mất bao lâu để trở thành như hiện nay? Nếu có thể nói rằng ngay cả cho đến ngày nay, bụi vũ trụ, “vốn trước kia chưa từng thuộc về Trái Đất,” 1048 vẫn đến bầu hành tinh của chúng ta, thì còn hợp lý hơn biết bao khi tin—như các nhà huyền bí học tin—rằng qua vô số triệu năm đã trôi qua kể từ khi bụi ấy kết tụ và hình thành bầu hành tinh mà chúng ta đang sống, quanh hạt nhân bằng Chất Liệu Nguyên thủy thông minh của nó, nhiều nhân loại—khác với nhân loại hiện tại của chúng ta cũng lớn lao như nhân loại sẽ tiến hóa sau hàng triệu năm nữa sẽ khác với các giống dân của chúng ta—đã xuất hiện chỉ để rồi biến mất khỏi mặt Trái Đất, cũng như chính chúng ta sẽ biến mất. Những nhân loại nguyên thủy và xa xưa ấy bị phủ nhận, bởi vì, như các Nhà Địa chất học nghĩ, họ không để lại di tích hữu hình nào của chính mình. Mọi dấu vết của họ đã bị quét sạch, và vì thế họ chưa từng tồn tại. Tuy nhiên, các di tích của họ—dù thật sự rất ít—vẫn có thể được tìm thấy, và chúng phải được khám phá bằng nghiên cứu địa chất. Nhưng, ngay cả nếu không bao giờ gặp được chúng, cũng không có lý do gì để nói rằng không người nào từng có thể sống trong các thời kỳ địa chất mà sự hiện diện của họ trên Trái Đất được gán cho. Vì các cơ thể của họ không cần máu nóng, không cần bầu khí quyển, không cần dinh dưỡng; tác giả của World-Life đã đúng, và không có gì quá đáng khi tin như chúng tôi rằng, cũng như theo các giả thuyết khoa học, cho đến nay có thể có “các bản chất thông linh được tôn trí trong đá lửa và bạch kim bất hoại,” thì cũng đã có những bản chất thông linh được tôn trí trong các hình thái bằng Vật Chất Nguyên thủy bất hoại tương đương—những tổ tiên thật sự của Giống Dân Thứ Năm của chúng ta.

When, therefore, as in Volume II, we speak of men who inhabited this Globe 18,000,000 years ago, we have in mind neither the men of our present races, nor the present atmospheric laws, thermal conditions, etc. The Earth and Mankind, like the Sun, Moon, and Planets, all have their growth, changes, development, and gradual evolution in their life-periods; they are born, become infants, then children, adolescent, grown-up, they grow old, and finally die. Why should not Mankind be also under this universal law? Says Uriel to Enoch: Behold, I have showed thee all things, O Enoch…. Thou seest the sun, the moon, and those which conduct the stars of heaven, which cause all their operations, seasons, and arrivals to return. In the days of sinners the years shall be shortened… everything done on earth shall be subverted… the moon shall change its laws. 1049

Vì vậy, khi, như trong Quyển II, chúng tôi nói về những con người đã cư trú trên bầu hành tinh này 18.000.000 năm trước, chúng tôi không nghĩ đến những người thuộc các giống dân hiện tại của chúng ta, cũng không nghĩ đến các định luật khí quyển, điều kiện nhiệt, v.v. hiện nay. Trái Đất và Nhân Loại, giống như Mặt Trời, Mặt Trăng và các Hành Tinh, đều có sự tăng trưởng, biến đổi, phát triển và tiến hóa dần dần trong các chu kỳ sống của chúng; chúng sinh ra, trở thành ấu nhi, rồi trẻ nhỏ, thiếu niên, trưởng thành, chúng già đi, và cuối cùng chết. Tại sao Nhân Loại lại không cũng ở dưới định luật phổ quát này? Uriel nói với Enoch: Hãy xem, ta đã chỉ cho ngươi mọi điều, hỡi Enoch…. Ngươi thấy mặt trời, mặt trăng, và những vị dẫn dắt các tinh tú trên trời, khiến mọi hoạt động, mùa tiết và sự xuất hiện của chúng trở lại. Trong những ngày của tội nhân, năm tháng sẽ bị rút ngắn… mọi điều thực hiện trên đất sẽ bị đảo lộn… mặt trăng sẽ thay đổi các định luật của nó. 1049

The “days of sinners” meant the days when Matter would be in its full sway on Earth, and man would have reached the apex of physical development in stature and animality. That came to pass during the period of the Atlanteans, about the middle point of their Race, the Fourth, which was drowned, as prophesied by Uriel. Since then man has been decreasing in physical stature, strength, and years, as will be shown in Volume II. But as we are at the mid-point of our sub-race of the Fifth Root-Race—the acme of materiality in each—the animal propensities, though more refined, are none the less developed; and this is most marked in civilized countries.

“Những ngày của tội nhân” hàm ý những ngày khi Vật Chất sẽ ở trong quyền lực trọn vẹn của nó trên Trái Đất, và con người sẽ đạt đến đỉnh cao của sự phát triển hồng trần về tầm vóc và tính thú vật. Điều ấy đã xảy ra trong thời kỳ của người Atlantis, vào khoảng điểm giữa của Giống Dân họ, Giống Dân Thứ Tư, vốn đã bị nhận chìm, như Uriel đã tiên tri. Từ đó về sau, con người đã giảm dần về tầm vóc thể xác, sức mạnh và tuổi thọ, như sẽ được trình bày trong Quyển II. Nhưng vì chúng ta đang ở điểm giữa của giống dân phụ thuộc Giống Dân Gốc Thứ Năm—đỉnh cao của tính vật chất trong mỗi giống—những khuynh hướng thú tính, tuy tinh tế hơn, vẫn phát triển không kém; và điều này biểu lộ rõ nhất ở các quốc gia văn minh.

Footnotes

 960

 960

In answer to a friend, that eminent Geologist writes: “I can only say, in reply to your letter, that it is at present, and perhaps always will be, impossible to reduce, even approximately, geological time into years, or even into millenniums.” (Signed, William Pengelly, F.R.S.)

Đáp lời một người bạn, nhà Địa chất học lỗi lạc ấy viết: “Để trả lời thư của bạn, tôi chỉ có thể nói rằng hiện nay, và có lẽ sẽ luôn luôn, không thể quy thời gian địa chất thành số năm, dù chỉ xấp xỉ, hay thậm chí thành số thiên niên kỷ.” (Ký tên, William Pengelly, F.R.S.)

 961

 961

Plato, in speaking of the irrational, turbulent Elements, “composed of fire, air, water, and earth,” means Elementary Dæmons. (See Timæus.)

Plato, khi nói về các Nguyên tố phi lý trí, hỗn loạn, “hợp thành từ lửa, khí, nước và đất,” muốn nói đến các Ma quỷ hành khí. (Xem Timaeus.)

 962

 962

Plato in the Timæus uses the word “secretions” of turbulent Elements.

Plato trong Timaeus dùng từ “các tiết xuất” của những Nguyên tố hỗn loạn.

 963

 963

Valentinus’ Esoteric Treatise on the Doctrine of Gilgul.

Khảo luận Nội môn của Valentinus về Giáo lý Gilgul.

 964

 964

See Mackenzie’s Royal Masonic Cyclopædia.

Xem Bách khoa Hoàng gia Tam Điểm của Mackenzie.

 965

 965

See Isis Unveiled, II. 152

Xem Isis Không Màn Che, II. 152

 966

 966

See Mackenzie, ibid., sub voc.

Xem Mackenzie, cùng sách đã dẫn, dưới mục từ ấy.

 967

 967

Isis Unveiled, I. 317

Isis Không Màn Che, I. 317

 968

 968

Viveka Chudamani, translated by Mohini M. Chatterji, as “The Crest Jewel of Wisdom.” See Theosophist, July and August, 1886

Viveka Chudamani, do Mohini M. Chatterji dịch là “Bảo Châu Tối Thượng của Minh Triết.” Xem Theosophist, tháng Bảy và tháng Tám, 1886

 969

 969

The Tanmâtras are literally the type or rudiment of an element devoid of qualities; but esoterically, they are the primeval Noumena of that which becomes in the progress of evolution, a Cosmic Element, in the sense given to the term in Antiquity, not in that of Physics. They are the Logoi, the seven emanations or rays of the Logos.

Các Tanmatra, theo nghĩa đen, là kiểu mẫu hay mầm mống của một nguyên tố chưa có phẩm tính; nhưng xét một cách huyền bí, chúng là các Bản thể tiên thiên nguyên sơ của cái, trong tiến trình tiến hoá, trở thành một Nguyên tố Vũ trụ, theo nghĩa mà cổ đại đã gán cho thuật ngữ này, chứ không theo nghĩa của Vật lý học. Chúng là Các Thượng đế, bảy xuất lộ hay bảy cung của Thượng đế.

 970

 970

Ch. xxxvi; Telang’s translation, pp. 387-8

Ch. xxxvi; bản dịch của Telang, tr. 387-8

 971

 971

See Theosophist, August, 1886

Xem Theosophist, tháng Tám, 1886

 972

 972

The now universal error of attributing to the Ancients the knowledge of only seven planets, simply because they mentioned no others, is based on the same general ignorance of their Occult doctrines. The question is not whether they were, or were not, aware of the existence of the later discovered planets; but whether the reverence paid by them to the four exoteric and three secret Great Gods—the Star-Angels, had not some special reason. The writer ventures to say there was such a reason, and it is this. Had they known of as many planets as we do now—and this question can hardly be decided at present, either way—they would still have only connected the seven with their religious worship, because these seven are directly and specially connected with our Earth, or, using esoteric phraseology, with our septenary Ring of Spheres.

Sai lầm hiện nay đã trở nên phổ biến, tức gán cho người xưa chỉ có tri thức về bảy hành tinh, đơn giản vì họ không nhắc đến hành tinh nào khác, đặt nền trên cùng một sự thiếu hiểu biết tổng quát về các giáo lý Huyền bí của họ. Vấn đề không phải là họ có biết hay không biết đến sự tồn tại của các hành tinh được phát hiện về sau; mà là sự tôn kính họ dành cho bốn Đại Thần công truyền và ba Đại Thần bí truyền—các Thiên Thần Ngôi Sao—há chẳng có một lý do đặc biệt nào hay sao. Người viết mạo muội nói rằng đã có một lý do như thế, và lý do ấy là như sau. Dù họ đã biết đến nhiều hành tinh như chúng ta hiện nay—và câu hỏi này hiện tại khó có thể được quyết định theo bất cứ hướng nào—thì họ vẫn chỉ liên kết bảy hành tinh với sự thờ phụng tôn giáo của mình, vì bảy hành tinh này liên hệ trực tiếp và đặc biệt với Trái Đất của chúng ta, hay, dùng thuật ngữ nội môn, với Vòng thất phân gồm các Khối Cầu của chúng ta.

 973

 973

John, x. 30

John, x. 30

 974

 974

Ibid., xx. 17

Cùng sách đã dẫn, xx. 17

 975

 975

Ibid., xiv. 28

Cùng sách đã dẫn, xiv. 28

 976

 976

Matt., v. 16

Matthew, v. 16

 977

 977

Ibid., xiii. 43

Cùng sách đã dẫn, xiii. 43

 978

 978

1 Cor., iii. 16

1 Corinthians, iii. 16

 979

 979

Theosophist, Aug., 1886

Theosophist, tháng Tám, 1886

 980

 980

These are planets accepted for purposes of Judicial Astrology only. The astro-theogonical division differed from the above. The Sun, being a central star and not a planet, stands, with its seven planets, in more occult and mysterious relations to our Globe than is generally known. The Sun was, therefore, considered the great Father of all the Seven “Fathers,” and this accounts for the variations found between the Seven and Eight Great Gods of Chaldean and other countries. Neither the Earth, nor the Moon, its satellite, nor yet the stars, for another reason, were anything more than substitutes used for Esoteric purposes. Yet, even with the exclusion of the Sun and the Moon from the calculation, the Ancients seem to have known of seven planets. How many more are known to us, so far, if we throw out the Earth and Moon? Seven, and no more: Seven primary or principal planets, the rest planetoids rather than planets.

Đây là những hành tinh được chấp nhận chỉ cho các mục đích của Chiêm tinh phán đoán. Sự phân chia thiên-thần học chiêm tinh khác với điều trên. Mặt Trời, vì là một ngôi sao trung tâm chứ không phải một hành tinh, đứng cùng với bảy hành tinh của nó trong những quan hệ huyền bí và nhiệm mầu hơn với Bầu hành tinh của chúng ta so với điều người ta thường biết. Vì thế, Mặt Trời được xem là Cha vĩ đại của tất cả Bảy “Người Cha,” và điều này giải thích những dị biệt thấy có giữa Bảy và Tám Đại Thần của người Chaldea và các xứ khác. Cả Trái Đất, lẫn Mặt Trăng, vệ tinh của nó, và cũng không phải các ngôi sao, vì một lý do khác, đều chẳng là gì hơn ngoài những vật thay thế được dùng cho các mục đích Nội môn. Tuy nhiên, ngay cả khi loại Mặt Trời và Mặt Trăng khỏi phép tính, người xưa dường như đã biết đến bảy hành tinh. Cho đến nay, chúng ta biết thêm được bao nhiêu hành tinh nữa, nếu gạt Trái Đất và Mặt Trăng ra? Bảy, và không hơn: bảy hành tinh chủ yếu hay chính yếu, phần còn lại là tiểu hành tinh hơn là hành tinh.

 981

 981

When one remembers that under the powerful telescope of Sir William Herschell, that eminent Astronomer—gauging merely that portion of heaven in the equatorial plane, the approximate centre of which is occupied by our Earth—saw in one quarter of an hour, 16,000 stars pass; and applying this calculation to the totality of the “Milky Way” he found in it no less than eighteen millions of Suns, one wonders no longer that Laplace, in conversation with Napoleon I, should have called God a hypothesis—perfectly useless to speculate upon for exact Physical Science, at any rate. Occult Metaphysics and transcendental Philosophy will alone be able to lift the smallest corner of the impenetrable veil in this direction.

Khi nhớ rằng dưới kính viễn vọng mạnh mẽ của Sir William Herschell, nhà Thiên văn học lỗi lạc ấy—chỉ đo lường phần bầu trời nằm trong mặt phẳng xích đạo, mà trung tâm xấp xỉ của nó do Trái Đất chúng ta chiếm giữ—đã thấy trong một phần tư giờ có 16.000 ngôi sao đi qua; và khi áp dụng phép tính này cho toàn bộ “Dải Ngân Hà,” ông tìm thấy trong đó không dưới mười tám triệu Mặt Trời, người ta không còn ngạc nhiên nữa khi Laplace, trong cuộc trò chuyện với Napoleon I, đã gọi Thượng đế là một giả thuyết—ít nhất là hoàn toàn vô ích để suy đoán đối với Khoa học Hồng trần chính xác. Chỉ có Siêu hình học Huyền bí và Triết học siêu nghiệm mới có thể nhấc lên một góc nhỏ nhất của tấm màn không thể xuyên thấu theo hướng này.

 982

 982

Numb., xi. 16

Numbers, xi. 16

 983

 983

Deut., xxxii. 8, 9

Deuteronomy, xxxii. 8, 9

 984

 984

Ibid., 9

Cùng sách đã dẫn, 9

 985

 985

C. W. King in The Gnostics and their Remains (p. 344), identifies it with “that summum bonum of Oriental aspiration, the Buddhist Nirvâna, ‘perfect repose, the Epicurean Indolentia’;” a view that looks flippant enough in its expression, though not quite untrue.

C. W. King trong The Gnostics and their Remains (tr. 344), đồng nhất nó với “summum bonum của khát vọng Đông phương, Niết Bàn Phật giáo, ‘sự an nghỉ hoàn hảo, Indolentia của phái Epicurus’;” một quan điểm có vẻ đủ nhẹ dạ trong cách diễn đạt, dù không hoàn toàn sai.

 986

 986

See Origen’s Copy of the Chart, or Diagramma of the Ophites.

Xem Bản sao Biểu đồ, hay Diagramma của Origen về phái Ophite.

 987

 987

See also Section XIV.

Xem thêm Mục XIV.

 988

 988

Abraham and Saturn are identical in astro-symbology, and he is the forefather of the Jehovistic Jews.

Abraham và Saturn đồng nhất trong biểu tượng học chiêm tinh, và ông là tổ phụ của người Do Thái theo Jehovah.

 989

 989

John, viii. 37, 38, 41, 44

John, viii. 37, 38, 41, 44

 990

 990

Matthew, v. 22

Matthew, v. 22

 991

 991

The Elemental Vortices inaugurated by the “Mind” have not been improved by their modern transformation.

Những Vòng xoáy Hành khí do “Trí Tuệ” khai mở đã không được cải thiện nhờ sự chuyển đổi hiện đại của chúng.

 992

 992

I have often been taken to task for using expressions in Isis denoting belief in a personal and anthropomorphic God. This is not my idea. Kabalistically speaking, the “Architect” is the generic name for the Sephiroth, the Builders of the Universe, as the “Universal Mind” represents the collectivity of the Dhyân Chohanic Minds.

Tôi thường bị khiển trách vì đã dùng trong Isis những cách diễn đạt hàm ý niềm tin vào một Thượng đế cá nhân và nhân hình. Đây không phải là ý tưởng của tôi. Nói theo Kabbalah, “Kiến trúc sư” là danh xưng chung cho Sephiroth, các Đấng Kiến tạo Vũ trụ, cũng như “Vũ Trụ Trí” biểu thị tập hợp các Trí của Dhyani Chohan.

 993

 993

Timæus.

Timaeus.

 994

 994

I. 258

I. 258

 995

 995

Researches on Light in its Chemical Relations.

Các Nghiên cứu về Ánh sáng trong những Quan hệ Hóa học của nó.

 996

 996

Modern Chemistry.

Hóa học Hiện đại.

 997

 997

Isis Unveiled, I. 137

Isis Không Màn Che, I. 137

 998

 998

Faraday Lectures, 1881

Các Bài giảng Faraday, 1881

 999

 999

Thus, what the writer of the present work said ten years ago in Isis Unveiled was, it seems, prophetic. These are the words: “Many of these mystics, by following what they were taught by some treatises, secretly preserved from one generation to another, achieved discoveries which would not be despised even in our modern days of exact sciences. Roger Bacon, the friar, was laughed at as a quack, and is now generally numbered among ‘pretenders’ to magic art; but his discoveries were nevertheless accepted, and are now used by those who ridicule him the most. Roger Bacon belonged by right, if not by fact, to that Brotherhood which includes all those who study the Occult Sciences. Living in the thirteenth century, almost a contemporary, therefore, of Albertus Magnus and Thomas Aquinas, his discoveries—such as gunpowder and optical glasses, and his mechanical achievements—were considered by everyone as so many miracles. He was accused of having made a compact with the Evil One.” (Vol. I, pp. 64, 65)

Như vậy, điều mà tác giả của công trình hiện tại đã nói mười năm trước trong Isis Không Màn Che dường như có tính tiên tri. Đây là những lời ấy: “Nhiều nhà thần bí trong số này, bằng cách theo những gì họ được dạy từ một số khảo luận được bí mật gìn giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác, đã đạt được những khám phá mà ngay cả trong thời hiện đại của chúng ta, thời của các khoa học chính xác, cũng sẽ không bị khinh thường. Roger Bacon, vị tu sĩ, từng bị chế giễu như một lang băm, và nay thường bị xếp vào hàng những ‘kẻ giả mạo’ trong nghệ thuật huyền thuật; tuy nhiên các khám phá của ông vẫn được chấp nhận, và nay được dùng bởi chính những người chế nhạo ông nhiều nhất. Roger Bacon, theo quyền chính đáng nếu không theo thực tế, thuộc về Huynh đệ Đoàn bao gồm tất cả những ai nghiên cứu các Khoa học Huyền bí. Sống vào thế kỷ mười ba, do đó gần như là người cùng thời với Albertus Magnus và Thomas Aquinas, các khám phá của ông—như thuốc súng và kính quang học, cùng những thành tựu cơ học của ông—được mọi người xem như từng ấy phép lạ. Ông bị cáo buộc đã lập giao ước với Ác Quỷ.” (Tập I, tr. 64, 65)

 1000

 1000

Just so; “those forms of energy… which become evident…” in the laboratory of the Chemist and Physicist; but there are other forms of energy wedded to other forms of matter, which are supersensuous, yet are known to the Adepts.

Đúng như vậy; “những hình thức năng lượng ấy… trở nên hiển nhiên…” trong phòng thí nghiệm của Nhà Hóa học và Nhà Vật lý; nhưng có những hình thức năng lượng khác gắn liền với những hình thức khác của vật chất, vốn siêu cảm giác, tuy vậy các Chân sư đều biết chúng.

 1001

 1001

Presidential Address, p. 16

Diễn văn Chủ tịch, tr. 16

 1002

 1002

It is just the existence of such worlds on other planes of consciousness that is asserted by the Occultist. The Secret Science teaches that the primitive race was boneless, and that there are worlds invisible to us, peopled as our own, besides the populations of Dhyân Chohans.

Chính sự tồn tại của những thế giới như thế trên các cõi khác của tâm thức là điều nhà Huyền bí học khẳng định. Khoa học Bí truyền dạy rằng nhân loại nguyên thủy không có xương, và rằng có những thế giới vô hình đối với chúng ta, cũng có cư dân như thế giới của chính chúng ta, ngoài các quần thể Dhyani Chohan.

 1003

 1003

Five Years of Theosophy, p. 258 et seq.

Năm Năm Thông Thiên Học, tr. 258 và tiếp theo.

 1004

 1004

Says Mr. Crookes in the same address: “The first riddle which we encounter in chemistry is: ‘What are the elements?’ Of the attempts hitherto made to define or explain an element, none satisfy the demands of the human intellect. The text books tell us that an element is ‘a body which has not been decomposed;’ that it is ‘a something to which we can add, but from which we can take nothing,’ or ‘a body which increases in weight with every chemical change.’ Such definitions are doubly unsatisfactory: they are provisional, and may cease to-morrow to be applicable in any given case. They take their stand, not on any attribute of the things to be defined, but on the limitations of human power: they are confessions of intellectual impotence.”

Ông Crookes nói trong cùng bài diễn văn: “Câu đố đầu tiên mà chúng ta gặp trong hóa học là: ‘Các nguyên tố là gì?’ Trong những nỗ lực từ trước đến nay nhằm định nghĩa hay giải thích một nguyên tố, không có nỗ lực nào thỏa mãn các đòi hỏi của trí tuệ con người. Các sách giáo khoa nói với chúng ta rằng một nguyên tố là ‘một vật thể chưa bị phân giải;’ rằng đó là ‘một cái gì mà chúng ta có thể thêm vào, nhưng từ đó chúng ta không thể lấy đi điều gì,’ hoặc ‘một vật thể tăng trọng lượng qua mỗi biến đổi hóa học.’ Những định nghĩa như thế bất thỏa đáng gấp đôi: chúng chỉ là tạm thời, và ngày mai có thể không còn áp dụng được trong bất cứ trường hợp nào. Chúng đặt nền không trên bất cứ thuộc tính nào của những sự vật cần được định nghĩa, mà trên những giới hạn của quyền năng con người: chúng là những lời thú nhận về sự bất lực trí tuệ.”

 1005

 1005

And the lecturer quotes Sir George Airy, who says (in Faraday’s Life and Letters, Vol. II., p. 354): “I can easily conceive that there are plenty of bodies about us not subject to this intermutual action, and therefore not subject to the law of gravitation.”

Và diễn giả trích lời Sir George Airy, người nói (trong Đời sống và Thư từ của Faraday, Tập II., tr. 354): “Tôi có thể dễ dàng hình dung rằng có vô số vật thể quanh chúng ta không chịu tác động hỗ tương này, và do đó không chịu sự chi phối của định luật hấp dẫn.”

 1006

 1006

The Vedântic philosophy conceives of such; but then it is not physics, but metaphysics, called by Mr. Tyndall “poetry” and “fiction.”

Triết học Vedanta quan niệm những điều như thế; nhưng bấy giờ đó không phải là vật lý học, mà là siêu hình học, bị ông Tyndall gọi là “thi ca” và “hư cấu.”

 1007

 1007

In the form they are now, we conceive?

Chúng ta hiểu là trong hình thức hiện nay của chúng chăng?

 1008

 1008

And to Kapila and Manu—especially and originally.

Và đặc biệt, nguyên thủy là đối với Kapila và Đức Manu.

 1009

 1009

Here is a scientific corroboration of the eternal law of correspondences and analogy.

Đây là một sự xác chứng khoa học cho định luật tương ứng và tương đồng vĩnh cửu.

 1010

 1010

This method of illustrating the periodic law in the classification of elements is, in the words of Mr. Crookes, proposed by Professor Emerson Reynolds, of Dublin University, who… “points out that in each period, the general properties of the elements vary from one to another, with approximate regularity until we reach the seventh member, which is in more or less striking contrast with the first element of the same period, as well as with the first of the next. Thus chlorine, the seventh member of Mendeleef’s third period, contrasts sharply with both sodium, the first member of the same series, and with potassium, the first member of the next series; whilst on the other hand, sodium and potassium are closely analogous. The six elements, whose atomic weights intervene between sodium and potassium, vary in properties, step by step, until chlorine, the contrast to sodium, is reached. But from chlorine to potassium, the analogue of sodium, there is a change in properties per saltum….. If we thus recognize a contrast in properties—more or less decided—between the first and the last members of each series, we can scarcely help admitting the existence of a point of mean variation within each system. In general the fourth element of each series possesses the property we might expect a transition-element to exhibit…. Thus for the purpose of graphic translation, Professor Reynolds considers that the fourth member of a period—silicon, for example—may be placed at the apex of a symmetrical curve, which shall represent for that particular period, the direction in which the properties of the series of elements vary with rising atomic weights.”

Phương pháp minh họa định luật tuần hoàn trong sự phân loại các nguyên tố này, theo lời ông Crookes, do Giáo sư Emerson Reynolds, thuộc Đại học Dublin, đề xuất; ông… “chỉ ra rằng trong mỗi chu kỳ, các tính chất chung của các nguyên tố biến đổi từ nguyên tố này sang nguyên tố khác, với sự đều đặn xấp xỉ cho đến khi chúng ta đạt tới thành viên thứ bảy, vốn tương phản ít nhiều nổi bật với nguyên tố đầu tiên của cùng chu kỳ, cũng như với nguyên tố đầu tiên của chu kỳ kế tiếp. Như vậy, chlorine, thành viên thứ bảy trong chu kỳ thứ ba của Mendeleef, tương phản rõ rệt với cả sodium, thành viên đầu tiên của cùng loạt, và với potassium, thành viên đầu tiên của loạt kế tiếp; trong khi mặt khác, sodium và potassium lại tương đồng chặt chẽ. Sáu nguyên tố, có trọng lượng nguyên tử xen giữa sodium và potassium, biến đổi từng bước trong các tính chất, cho đến khi đạt tới chlorine, cái tương phản với sodium. Nhưng từ chlorine đến potassium, cái tương đồng với sodium, có một biến đổi về tính chất theo bước nhảy….. Nếu như vậy chúng ta nhận ra một sự tương phản về tính chất—ít nhiều rõ rệt—giữa các thành viên đầu và cuối của mỗi loạt, thì chúng ta hầu như không thể không thừa nhận sự tồn tại của một điểm biến thiên trung bình trong mỗi hệ thống. Nói chung, nguyên tố thứ tư của mỗi loạt sở hữu tính chất mà chúng ta có thể mong đợi một nguyên tố chuyển tiếp biểu lộ…. Vì vậy, nhằm mục đích diễn dịch bằng đồ hình, Giáo sư Reynolds cho rằng thành viên thứ tư của một chu kỳ—chẳng hạn silicon—có thể được đặt tại đỉnh của một đường cong đối xứng, đường cong ấy sẽ biểu thị, đối với chu kỳ đặc thù đó, chiều hướng mà trong đó các tính chất của loạt nguyên tố biến đổi cùng với trọng lượng nguyên tử tăng lên.”

Now, the writer humbly confesses complete ignorance of modern Chemistry and its mysteries. But she is pretty well acquainted with the Occult Doctrine with regard to correspondences of types and antetypes in nature, and to perfect analogy as a fundamental law in Occultism. Hence she ventures on a remark which will strike every Occultist, however it may be derided by orthodox Science. This method of illustrating the periodic law in the behaviour of elements, whether or not still a hypothesis in Chemistry, is a law in Occult Sciences. Every well-read Occultist knows that the seventh and fourth members—whether in a septenary chain of worlds, the septenary hierarchy of angels, or in the constitution of man, animal, plant, or mineral atom—that the seventh and fourth members, we say, in the geometrically and mathematically uniform workings of the immutable laws of Nature, always play a distinct and specific part in the septenary system. From the stars twinkling high in heaven, to the sparks flying asunder from the rude fire built by the savage in his forest; from the hierarchies and the essential constitution of the Dhyân Chohans—organized for diviner apprehensions and a loftier range of perception than the greatest Western Psychologist ever dreamed of, down to Nature’s classification of species among the humblest insects; finally from Worlds to Atoms, everything in the Universe, from great to small, proceeds in its spiritual and physical evolution, cyclically and septennially, showing its seventh and fourth number (the latter the turning point) behaving in the same way as is shown in that periodic law of Atoms. Nature never proceeds per saltum. Therefore, when Mr. Crookes remarks on this that he does not “wish to infer that the gaps in Mendeleef’s table, and in this graphic representation of it [the diagram showing the evolution of Atoms] necessarily mean that there are elements actually existing to fill up the gaps; these gaps may only mean that at the birth of the elements there was an easy potentiality of the formation of an element which would fit into the place”—an Occultist would respectfully remark to him that the latter hypothesis can only hold good, if the septenary arrangement of Atoms is not interfered with. This is the one law, and an infallible method that must always lead one who follows it to success.

Giờ đây, người viết khiêm tốn thú nhận sự hoàn toàn không biết của mình về Hóa học hiện đại và các bí nhiệm của nó. Nhưng bà khá quen thuộc với Giáo lý Huyền bí liên quan đến các tương ứng giữa nguyên mẫu và đối nguyên mẫu trong thiên nhiên, và với sự tương đồng hoàn hảo như một định luật nền tảng trong Huyền bí học. Do đó bà mạo muội đưa ra một nhận xét sẽ gây ấn tượng với mọi nhà Huyền bí học, dù Khoa học chính thống có thể chế nhạo nó thế nào. Phương pháp minh họa định luật tuần hoàn này trong cách ứng xử của các nguyên tố, dù trong Hóa học nó có còn là một giả thuyết hay không, là một định luật trong các Khoa học Huyền bí. Mọi nhà Huyền bí học uyên bác đều biết rằng các thành viên thứ bảythứ tư—dù trong một dãy thất phân các thế giới, trong Thánh đoàn thất phân của các thiên thần, hay trong cấu tạo của con người, con vật, cây cỏ, hoặc nguyên tử khoáng vật—rằng các thành viên thứ bảythứ tư, chúng tôi nói, trong sự vận hành đồng nhất về hình học và toán học của các định luật bất biến của Thiên nhiên, luôn luôn đóng một vai trò riêng biệt và đặc thù trong hệ thống thất phân. Từ những ngôi sao lấp lánh cao trên bầu trời, đến những tia lửa bay tứ tán từ đống lửa thô sơ do người man dã nhóm lên trong rừng; từ các Thánh đoàn và cấu tạo thiết yếu của các Dhyani Chohan—được tổ chức cho những tri nhận thiêng liêng hơn và một phạm vi nhận thức cao cả hơn điều mà nhà Tâm lý học Tây phương vĩ đại nhất từng mơ tưởng—cho đến sự phân loại của Thiên nhiên về các loài trong số những côn trùng khiêm tốn nhất; sau cùng, từ các Thế giới đến các Nguyên tử, mọi sự trong Vũ trụ, từ lớn đến nhỏ, đều tiến hành trong tiến hoá tinh thần và hồng trần của nó theo chu kỳ và theo thất niên, cho thấy số thứ bảy và thứ tư của nó—số sau là điểm ngoặt—hành xử theo cùng một cách như được trình bày trong định luật tuần hoàn ấy của các Nguyên tử. Thiên nhiên không bao giờ tiến hành bằng bước nhảy. Vì vậy, khi ông Crookes nhận xét về điều này rằng ông không “muốn suy ra rằng các khoảng trống trong bảng của Mendeleef, và trong biểu diễn đồ hình này của nó [sơ đồ chỉ sự tiến hoá của các Nguyên tử] nhất thiết có nghĩa là có các nguyên tố thực sự tồn tại để lấp đầy những khoảng trống ấy; các khoảng trống này có thể chỉ có nghĩa rằng vào lúc các nguyên tố ra đời đã có một tiềm năng dễ dàng cho sự hình thành một nguyên tố sẽ khớp vào vị trí đó”—một nhà Huyền bí học sẽ kính cẩn nhận xét với ông rằng giả thuyết sau chỉ có thể đứng vững nếu sự sắp xếp thất phân của các Nguyên tử không bị can thiệp. Đây là định luật duy nhất, và là một phương pháp không sai lầm, luôn phải dẫn người nào theo nó đến thành công.

 1011

 1011

A group of electricians has just protested against the new theory of Clausius, the famous professor of the University of Bonn. The character of the protest is shown in the signature, which has “Jules Bourdin, in the name of the group of Electricians, which had the honour of being introduced to Professor Clausius in 1881, and whose war-cry (cri de ralliement) is À bas l’Ether”—down with Ether, even; they want Universal Void, you see!

Một nhóm các nhà điện học vừa phản đối học thuyết mới của Clausius, vị giáo sư nổi tiếng của Đại học Bonn. Tính chất của sự phản đối được biểu lộ trong chữ ký, ghi rằng “Jules Bourdin, nhân danh nhóm các Nhà điện học, những người đã có vinh dự được giới thiệu với Giáo sư Clausius vào năm 1881, và khẩu hiệu tập hợp của họ là Đả đảo Dĩ thái”—ngay cả dĩ thái cũng đả đảo; các vị thấy đó, họ muốn Hư Không Vũ trụ!

 1012

 1012

Smithsonian Contributions, xxi., Art. 1 pp. 79-97

Đóng góp của Smithsonian, xxi., Bài 1, tr. 79-97

 1013

 1013

System of Logic, p. 229

Hệ thống Luận lý, tr. 229

 1014

 1014

Beyond the zero-line of action.

Vượt ngoài đường số không của tác động.

 1015

 1015

Progymnasmata, p. 795

Progymnasmata, tr. 795

 1016

 1016

De Stellâ Novâ in Pede Serpentarii, p. 115

De Stella Nova in Pede Serpentarii, tr. 115

 1017

 1017

Hypothèses Cosmogoniques, p. 2, C. Wolf, 1886

Các Giả thuyết Vũ trụ khởi nguyên, tr. 2, C. Wolf, 1886

 1018

 1018

See Philosophical Transactions, p. 269, et seq.

Xem Philosophical Transactions, tr. 269, và tiếp theo.

 1019

 1019

Laplace conceived that the external and internal zones of the ring would rotate with the same angular velocity, which would be the case with a solid ring; but the principle of equal areas requires the inner zones to rotate more rapidly than the outer. (World-Life, p. 121) Prof. Winchell points out a good many mistakes of Laplace; but as a geologist he is not infallible himself in his “astronomical speculations.”

Laplace quan niệm rằng các đới bên ngoài và bên trong của vành sẽ quay với cùng một vận tốc góc, điều này sẽ đúng đối với một vành rắn; nhưng nguyên lý các diện tích bằng nhau đòi hỏi các đới bên trong phải quay nhanh hơn các đới bên ngoài. (Đời sống Thế giới, tr. 121) Giáo sư Winchell chỉ ra khá nhiều sai lầm của Laplace; nhưng với tư cách một nhà địa chất học, chính ông cũng không phải là không thể sai lầm trong “những suy đoán thiên văn” của mình.

 1020

 1020

Five Years of Theosophy, pp. 249-251, Art. “Do the Adepts deny the Nebular Theory?”

Năm Năm Thông Thiên Học, tr. 249-251, bài “Các Chân sư có phủ nhận Thuyết Tinh vân không?”

 1021

 1021

Had Astronomers, in their present state of knowledge, merely held to the hypothesis of Laplace, which was simply the formation of the Planetary System, it might in time have resulted in something like an approximate truth. But the two parts of the general problem—that of the formation of the Universe, or the formation of the Suns and Stars from the Primitive Matter, and then the development of the Planets round their Sun—rest on quite different facts in Nature and are even so viewed by Science itself. They are at the opposite poles of Being.

Nếu các Nhà thiên văn học, trong trạng thái tri thức hiện tại của họ, chỉ bám vào giả thuyết của Laplace, vốn đơn giản là sự hình thành Hệ Hành tinh, thì theo thời gian nó có thể đã dẫn đến một điều gì đó gần như chân lý xấp xỉ. Nhưng hai phần của vấn đề tổng quát—phần về sự hình thành Vũ trụ, hay sự hình thành các Mặt Trời và các Ngôi Sao từ Vật chất Nguyên thủy, rồi sau đó là sự phát triển của các Hành tinh quanh Mặt Trời của chúng—dựa trên những sự kiện hoàn toàn khác nhau trong Thiên nhiên và ngay cả chính Khoa học cũng nhìn nhận như vậy. Chúng ở hai cực đối nghịch của Bản Thể.

 1022

 1022

Aristotle’s Physica, viii. 1

Vật lý học của Aristotle, viii. 1

 1023

 1023

Hypothèses Cosmogoniques, p. 3, Wolf.

Các Giả thuyết Vũ trụ khởi nguyên, tr. 3, Wolf.

 1024

 1024

Vol. I., p. 185, quoted by Wolf, p. 3 Wolf’s argument is here summarised.

Tập I., tr. 185, được Wolf trích, tr. 3. Lập luận của Wolf ở đây được tóm lược.

 1025

 1025

Note vii. Summarized from Wolf, p. 6

Chú thích vii. Tóm lược từ Wolf, tr. 6

 1026

 1026

Five Years of Theosophy, pp. 241, 242, and 239

Năm Năm Thông Thiên Học, tr. 241, 242, và 239

 1027

 1027

But the spectra of these nebulæ have never yet been ascertained. When they are found with bright lines, then only may they be cited.

Nhưng quang phổ của những tinh vân này cho đến nay vẫn chưa được xác định. Chỉ khi chúng được phát hiện có các vạch sáng, bấy giờ mới có thể viện dẫn chúng.

 1028

 1028

Hypothèses Cosmogoniques, p. 3

Các Giả thuyết Vũ trụ khởi nguyên, tr. 3

 1029

 1029

Mr. Crookes’ Protyle must not be regarded as the primary stuff, out of which the Dhyân Chohans, in accordance with the immutable laws of Nature, wove our Solar System. This Protyle cannot even be the Prima Materia of Kant, which that great mind saw used up in the formation of the worlds, and thus existing no longer in a diffused state. Protyle is a mediate phase in the progressive differentiation of Cosmic Substance from its normal undifferentiated state. It is, then, the aspect assumed by Matter in its middle passage into full objectivity.

Protyle của ông Crookes không được xem là chất liệu nguyên sơ, từ đó các Dhyani Chohan, phù hợp với các định luật bất biến của Thiên nhiên, đã dệt nên hệ mặt trời của chúng ta. Protyle này thậm chí không thể là Prima Materia của Kant, điều mà trí tuệ vĩ đại ấy đã thấy được dùng hết trong sự hình thành các thế giới, và do đó không còn tồn tại trong trạng thái khuếch tán nữa. Protyle là một giai đoạn trung gian trong sự biến phân lũy tiến của Chất liệu Vũ trụ từ trạng thái bình thường chưa biến phân của nó. Vậy, đó là phương diện mà Vật chất khoác lấy trong đoạn chuyển tiếp giữa đường đi của nó vào tính khách quan trọn vẹn.

 1030

 1030

See Stanza III, Commentary 9, (p. 109) about “Light,” or “Cold Flame,” where it is explained that the “Mother”—Chaos—is a cold Fire, a cool Radiance, colourless, formless, devoid of every quality. “Motion as the One Eternal is, and contains the potentialities of every quality in the Manvantaric Worlds,” it is said.

Xem Bài kệ III, Bình giảng 9, (tr. 109) về “Ánh sáng,” hay “Lạnh Hỏa Diệm,” nơi đó giải thích rằng “Mẹ”—Hỗn Mang—là một Lửa lạnh, một Ánh Quang mát, vô sắc, vô hình tướng, không có mọi phẩm tính. “Chuyển động, với tư cách là Đấng Duy Nhất Vĩnh Cửu, hiện hữu và chứa đựng các tiềm năng của mọi phẩm tính trong các Thế Giới thuộc Giai kỳ sinh hóa,” đã được nói như vậy.

 1031

 1031

Hypothèses Cosmogoniques, pp. 4, 5

Các Giả Thuyết Vũ Trụ Luận, tr. 4, 5

 1032

 1032

World-Life, p. 196

Sự Sống Thế Giới, tr. 196

 1033

 1033

Westminster Review, XX., July 27, 1868

Tạp chí Westminster, tập XX., 27 tháng Bảy, 1868

 1034

 1034

Vol. XIV. p. 252

Tập XIV. tr. 252

 1035

 1035

Hypothèses Cosmogoniques.

Các Giả Thuyết Vũ Trụ Luận.

 1036

 1036

Which “Light” we call Fohat.

“Ánh sáng” ấy, chúng tôi gọi là Fohat.

 1037

 1037

This is a mistake, which implies a material agent, distinct from the influences which move it, i.e., blind matter and perhaps “God” again, whereas this One Life is the very God and Gods “Itself.”

Đây là một sai lầm, hàm ý một tác nhân vật chất, phân biệt với những ảnh hưởng làm nó chuyển động, tức là vật chất mù quáng và có lẽ lại là “Thượng đế,” trong khi Sự Sống Duy Nhất này chính là Thượng đế và các Thượng đế “tự thân.”

 1038

 1038

The same error.

Cùng một sai lầm ấy.

 1039

 1039

Popular Science Review, Vol. X.

Tạp chí Khoa Học Phổ Thông, tập X.

 1040

 1040

“Is the Jîva a myth, as Science says, or is it not?” ask some Theosophists, wavering between materialistic and idealistic Science. The difficulty of really grasping Esoteric problems concerning the “ultimate state of Matter” is again the old crux of the objective and the subjective. What is Matter? Is the Matter of our present objective consciousness anything but our sensations? True, the sensations we receive come from without, but can we really—except in terms of phenomena—speak of the “gross matter” of this plane as an entity apart from and independent of us? To all such arguments Occultism answers: True, in reality Matter is not independent of, or existent outside, our perceptions. Man is an illusion: granted. But the existence and actuality of other, still more illusive, but not less actual, entities than we are, is not a claim which is lessened, but rather strengthened, by this doctrine of Vedântic and even Kantian Idealism.

“Jiva có phải là một huyền thoại như Khoa học nói, hay không?” một số nhà Thông Thiên Học hỏi như vậy, dao động giữa Khoa học duy vật và Khoa học duy tâm. Khó khăn trong việc thực sự nắm bắt các vấn đề huyền bí liên quan đến “trạng thái tối hậu của Vật chất” lại chính là nan đề xưa cũ giữa cái khách quan và cái chủ quan. Vật chất là gì? Vật chất của tâm thức khách quan hiện nay của chúng ta có là gì khác ngoài các cảm giác của chúng ta chăng? Đúng là những cảm giác chúng ta nhận được đến từ bên ngoài, nhưng liệu chúng ta có thể thực sự—ngoại trừ bằng ngôn từ của hiện tượng—nói về “vật chất thô” của cõi này như một thực thể tách biệt và độc lập với chúng ta chăng? Trước mọi lập luận như thế, Huyền bí học trả lời: Đúng vậy, trong thực tại, Vật chất không độc lập với, cũng không hiện hữu bên ngoài, các tri giác của chúng ta. Con người là một ảo tưởng: điều đó được thừa nhận. Nhưng sự hiện hữu và tính thực tại của những thực thể khác, còn ảo huyễn hơn nữa, song không kém thực hữu hơn chúng ta, không phải là một chủ trương bị giảm nhẹ, mà đúng hơn được củng cố, bởi học thuyết Duy tâm của Vedanta và thậm chí của Kant này.

 1041

 1041

See Musée des Sciences, August, 1856

Xem Bảo Tàng Khoa Học, tháng Tám, 1856

 1042

 1042

Book II. of the Commentary on the Book of Dzyan.

Quyển II của Bình giảng về Sách Dzyan.

 1043

 1043

Even the question of the plurality of worlds inhabited by sentient creatures is rejected, or is approached with the greatest caution! And yet see what the great astronomer, Camille Flammarion, says in his Pluralité des Mondes.

Ngay cả vấn đề về tính đa nguyên của các thế giới có những sinh linh hữu cảm cư ngụ cũng bị bác bỏ, hoặc được tiếp cận với sự thận trọng lớn nhất! Thế nhưng hãy xem nhà thiên văn học vĩ đại Camille Flammarion nói gì trong tác phẩm Tính Đa Nguyên của các Thế Giới của ông.

 1044

 1044

Nevertheless, it may be shown on the testimony of the Bible itself, and of such good Christian theologians as Cardinal Wiseman, that this plurality is taught in both the Old and the New Testaments.

Tuy nhiên, có thể chỉ ra, dựa trên chứng cứ của chính Kinh Thánh, và của những nhà thần học Kitô giáo đáng tin như Hồng y Wiseman, rằng tính đa nguyên này được giảng dạy trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước.

 1045

 1045

See Plurality of Worlds, Vol. II.

Xem Tính Đa Nguyên của các Thế Giới, tập II.

 1046

 1046

See on this La Pluralité des Mondes Habités, par C. Flammarion, wherein is given a list of the many men of Science who have written to prove the theory.

Về điều này, xem Các Thế Giới Có Cư Dân, của C. Flammarion, trong đó có đưa ra danh sách nhiều nhà khoa học đã viết để chứng minh lý thuyết ấy.

 1047

 1047

World-Life, pp. 496-498, et seq.

Sự Sống Thế Giới, tr. 496-498, và tiếp theo.

 1048

 1048

World-Life.

Sự Sống Thế Giới.

 1049

 1049

The Book of Enoch. Trans. by Archbishop Laurence, Ch. LXXIX.

Sách Enoch. Dịch bởi Tổng giám mục Laurence, chương LXXIX.

Leave a Comment

Scroll to Top