Chiêm tinh học Linh hồn: PHẦN 1.5 – Mười Tiên Đề của các Giáo Huấn Minh Triết Cổ Xưa

📘 Sách: Chiêm tinh học Linh hồn: Chìa khóa mở ra Chân ngã đang khai mở – Tác giả: Alan Oken

PART ONE – PHẦN 1: CHÌA KHÓA CHO SỰ PHÁT TRIỂN BẢN THÂN

5. Ten Postulates of the Ancient Wisdom Teachings—Mười Tiên Đề của các Giáo Huấn Minh Triết Cổ Xưa

We are living in one of the great crisis eros in all human history. Issues of peace and war, poverty and abundance, of racial, political, and industrial conflict face us on every side. Religious divisions and the clash between age and youth ore likewise prominent, and underlying all Is the basic conflict between material and spiritual values, between self-interest and world service.

Chúng ta đang sống trong một trong những kỷ nguyên khủng hoảng lớn của toàn bộ lịch sử nhân loại. Những vấn đề về hòa bình và chiến tranh, nghèo đói và sung túc, về xung đột chủng tộc, chính trị và công nghiệp đang đối diện chúng ta ở khắp mọi phía.Những chia rẽ tôn giáo và sự va chạm giữa tuổi già với tuổi trẻ cũng nổi bật không kém, và nằm bên dưới tất cả là cuộc xung đột căn bản giữa các giá trị vật chất và tinh thần, giữa tư lợi và phụng sự thế giới.

And yet there is a universal recognition that mankind is entering a New Age, Science has mode the world one, and human knowledge and intelligence ore greater than ever before. Countless movements based on goodwill ore attempting to create a better world, and there is a growing recognition of humanity’s essential unity.[1]

Tuy nhiên, có một sự nhìn nhận phổ quát rằng nhân loại đang bước vào một Kỷ Nguyên Mới. Khoa học đã làm cho thế giới thành một, và tri thức cùng trí tuệ của con người lớn hơn bao giờ hết. Vô số phong trào dựa trên thiện chí đang nỗ lực tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn, và ngày càng có sự nhìn nhận rằng nhân loại vốn có sự hợp nhất cốt yếu.

The Ancient Wisdom Teachings are a great compendium of factors which comprise the structure of the unfolding of the manifested universe.[2] As we endeavor to utilize astrology as a tool of intuitive perception into the essential nature and life purpose of a given individual, it is absolutely necessary that we attune ourselves to some of the more important of these factors. Thus the esoteric, Soul-centered astrologer may apply the insights gleaned from these Teachings to the astrological information revealed from the natal horoscope. The scope of vision thus attained will not only allow for a more accurate and profound treatment of the natal chart, but will also facilitate the astrologer’s 2 own life Path. It is this scope of reference, plus a focus of service, an attunement to Truth and the Teachers, an orientation to the Soul, as well as the skills inherent in mastering certain techniques of delineation, which all contribute to preparing the astrologer and student for participation in the Greater Life.

Các Giáo Huấn Minh Triết Cổ Xưa là một bộ tổng tập lớn lao của những yếu tố cấu thành nên cấu trúc của sự khai mở của vũ trụ biểu hiện. Khi chúng ta cố gắng sử dụng chiêm tinh học như một công cụ của sự tri nhận trực giác để đi vào bản chất cốt yếu và mục đích sống của một cá nhân nhất định, thì điều tuyệt đối cần thiết là chúng ta phải chỉnh hợp mình với một số yếu tố quan trọng hơn trong các yếu tố ấy. Do đó, nhà chiêm tinh học nội môn lấy linh hồn làm trung tâm có thể áp dụng những minh triết rút ra từ các Giáo Huấn này vào thông tin chiêm tinh được tiết lộ từ lá số chiêm tinh sinh. Tầm nhìn nhờ vậy mà đạt được sẽ không chỉ cho phép một sự xử lý lá số chiêm tinh sinh chính xác và sâu sắc hơn, mà còn tạo thuận lợi cho chính Con Đường sống của nhà chiêm tinh 2. Chính phạm vi quy chiếu này, cộng với một trọng tâm phụng sự, một sự chỉnh hợp với Chân Lý và các Huấn sư, một định hướng về linh hồn, cũng như những kỹ năng vốn có trong việc làm chủ một số kỹ thuật luận giải, tất cả đều góp phần chuẩn bị cho nhà chiêm tinh và đạo sinh tham dự vào Sự sống Vĩ Đại hơn.

The following are ten important postulates of the Ancient Wisdom Teachings. I believe that once they are studied and contemplated, they will be most helpful in the delineation of the horoscope and in counseling others. There are many more such postulates, laws, and principles, some of which we have already discussed. Through the study and consideration of these postulates, the reader will have a wider approach to those factors and techniques of esoteric interpretation which comprise the rest of the present work.

Sau đây là mười định đề quan trọng của các Giáo Huấn Minh Triết Cổ Xưa. Tôi tin rằng một khi chúng được nghiên cứu và chiêm ngưỡng, chúng sẽ rất hữu ích trong việc luận giải lá số chiêm tinh và trong việc tư vấn cho người khác. Còn có nhiều định đề, định luật và nguyên khí như thế nữa, một số trong đó chúng ta đã bàn đến rồi. Qua việc nghiên cứu và suy xét các định đề này, độc giả sẽ có được một cách tiếp cận rộng hơn đối với những yếu tố và kỹ thuật diễn giải nội môn vốn cấu thành phần còn lại của công trình hiện tại này.

Postulate I: Hylozoism—All substances and organisms, either organic or inorganic, are imbued with life. This is true from the most microscopic atomic particle to the Galaxy of galaxies.

Định đề I: Hylozoism—Mọi chất liệu và mọi cơ thể, dù hữu cơ hay vô cơ, đều được thấm nhuần sự sống. Điều này đúng từ hạt nguyên tử vi thể nhất cho đến Thiên Hà của các thiên hà.

The word hylozoism comes from two Greek roots: hylo, meaning “wood,” and hence referring to the material out of which something is created; and zoe meaning “life.” This term signifies that there is life in all matter. The majority of today’s scientific community will say that anything that is inorganic is not alive, but this is a matter of perception and measurement. If the rational mind is doing the perceiving (which it cannot—it can only observe and judge, analyze and communicate) and measuring, then most certainly, a rock or a quantity of lead will appear lifeless. If one is experiencing the energy of that stone or mineral through the intuitive focus of the Soul, then the Life within—the Life that is those substances—will be very clearly seen, as well as felt, sensed, and to a certain extent, even communicated to the consciousness of the perceiver.

Từ hylozoism xuất phát từ hai gốc Hy Lạp: hylo, nghĩa là “gỗ,” và do đó chỉ chất liệu mà từ đó một vật nào đó được tạo thành; và zoe nghĩa là “sự sống.” Thuật ngữ này biểu thị rằng có sự sống trong mọi vật chất. Phần lớn cộng đồng khoa học ngày nay sẽ nói rằng bất cứ điều gì là vô cơ thì không sống, nhưng đó là vấn đề của tri nhận và đo lường. Nếu trí cụ thể đang thực hiện việc tri nhận (điều mà nó không thể làm—nó chỉ có thể quan sát và phán đoán, phân tích và truyền đạt) và đo lường, thì chắc chắn một hòn đá hay một lượng chì sẽ có vẻ vô sinh. Nếu một người đang trải nghiệm năng lượng của hòn đá hay khoáng vật ấy qua tiêu điểm trực giác của linh hồn, thì Sự sống bên trong—Sự sống vốn những chất liệu ấy—sẽ được thấy rất rõ ràng, cũng như được cảm nhận, được tri giác, và ở một mức độ nào đó, thậm chí còn được truyền đạt đến tâm thức của người tri nhận.

The rock or the piece of lead will send out an emission—an emanation that can be easily experienced by one who has either not developed a strong rational, mental body, or by one who has synthesized the mental vehicle into the intuitive.

Hòn đá hay mẩu chì sẽ phát ra một sự phát xạ—một sự xuất lộ mà người nào hoặc chưa phát triển mạnh một thể trí tuệ lý trí, hoặc đã tổng hợp vận cụ trí tuệ vào trực giác, đều có thể dễ dàng trải nghiệm.

The religion of Bali, Indonesia, is a form of animistic Hinduism. A Balinese will find a stone whose shape and resonance “speaks” to the finder. It would be very common to see that rock enshrined thereafter on a pillar, with daily offerings made to its Living Presence. The rock is perceived as an embodiment of Divine Energy, and so it is. This rock does not know that it is alive, but it lives, and in some alchemical way, it gives life to its finder and his family. An animal doesn’t know that it is alive, but try to capture or kill it, and see how quickly it runs!

Tôn giáo của Bali, Indonesia, là một hình thức Ấn giáo vật linh. Một người Bali sẽ tìm thấy một hòn đá mà hình dạng và âm hưởng của nó “nói chuyện” với người tìm thấy. Sẽ là điều rất thông thường khi thấy hòn đá ấy sau đó được tôn trí trên một trụ cột, với những lễ vật hằng ngày dâng lên Hiện Diện Sống động của nó. Hòn đá được tri nhận như một hiện thân của Năng Lượng thiêng liêng, và quả đúng là như vậy. Hòn đá này không biết rằng nó đang sống, nhưng nó sống, và theo một cách nào đó mang tính luyện kim, nó ban sự sống cho người tìm thấy nó và gia đình người ấy. Một con vật không biết rằng nó đang sống, nhưng hãy thử bắt hay giết nó, rồi xem nó chạy nhanh đến mức nào!

What differentiates humans from beings of the lower kingdoms in nature is that we know that we’re alive; some of us also know that we are filled with Life. Those Beings Who live on planes of consciousness and manifestation more highly evolved than our own human kingdom know something else. They know that They are Life. We know that we are alive; They know that They are Life Itself. As the Tibetan Master would say, “Ponder on this.”

Điều phân biệt con người với các hữu thể của những giới thấp hơn trong thiên nhiên là chúng ta biết rằng mình đang sống; một số chúng ta còn biết rằng mình tràn đầy Sự sống. Những Hữu Thể sống trên các cõi tâm thức và biểu hiện tiến hóa cao hơn giới nhân loại của chúng ta thì biết một điều khác nữa. Các Ngài biết rằng Các Ngài Sự sống. Chúng ta biết rằng mình đang sống; Các Ngài biết rằng Các Ngài là Chính Sự sống. Như Chân sư Tây Tạng sẽ nói, “Hãy suy gẫm về điều này.”

The greater a person’s ability to perceive and experience the life which embodies all forms, the greater the Presence of the Soul in actuality. The healthy and whole person is one who can see with the rational mind and perceive with the intuition simultaneously. This indicates that a great degree of fusion between the Soul and the personality has already taken place. The esoteric planetary rulers of the signs may then be said to be operative in the life, and the horoscope can be interpreted accordingly. (See chapter 9.)

Khả năng của một người càng lớn trong việc tri nhận và trải nghiệm sự sống vốn hiện thân trong mọi hình tướng, thì Hiện Diện của linh hồn trong thực tại càng lớn. Người lành mạnh và toàn vẹn là người có thể thấy bằng trí tuệ lý trí và tri nhận bằng trực giác cùng một lúc. Điều này cho thấy rằng một mức độ dung hợp rất lớn giữa linh hồn và phàm ngã đã diễn ra rồi. Khi đó có thể nói rằng các chủ tinh nội môn của các dấu hiệu đang hoạt động trong đời sống, và lá số chiêm tinh có thể được diễn giải tương ứng. (Xem chương 9.)

Postulate 2: What we identify as matter and spirit are the same thing vibrating at different intensities. Matter is spirit expressing in its densest form, and spirit is matter vibrating in its most subtle. The solidity and tangibility of the material world around us is illusionary.

Định đề 2: Điều mà chúng ta nhận diện là vật chất và tinh thần thực ra là cùng một thứ, rung động ở những cường độ khác nhau. Vật chất là tinh thần biểu lộ trong hình thức đậm đặc nhất của nó, còn tinh thần là vật chất rung động trong trạng thái vi tế nhất của nó. Tính rắn chắc và khả xúc của thế giới vật chất quanh ta là có tính ảo tưởng.

Thus we can state, as Einstein did in his theory of relativity, that energy and matter are interchangeable. We also know that all life is energy, that all the energy which is life is in motion. The rate of the vibration of that motion determines the form of the manifestation of that energy. This is of primary concern to the metaphysician. It is also one of the basic principles which explains the differences in the effects of planetary and sign vibrations upon individuals, relative to their evolutionary level. A more evolved, Soul-oriented individual will vibrate at a much higher frequency than a more materially attached, personality-centered one. The nature of the frequency of the vibratory rate will very much determine if an individual will respond to the exoteric or the esoteric planetary rulers. Additionally, the vibratory rate will also indicate which of the three levels of the zodiacal sign expression will predominate in the life. (See chapter 9.)

Do đó, chúng ta có thể phát biểu, như Einstein đã làm trong thuyết tương đối của ông, rằng năng lượng và vật chất có thể hoán chuyển cho nhau. Chúng ta cũng biết rằng mọi sự sống đều là năng lượng, rằng toàn bộ năng lượng vốn là sự sống đều đang chuyển động. Tốc độ rung động của chuyển động ấy quyết định hình thức biểu hiện của năng lượng đó. Đây là điều được nhà siêu hình học đặc biệt quan tâm. Nó cũng là một trong những nguyên khí căn bản giải thích sự khác biệt trong tác động của các rung động hành tinh và dấu hiệu lên các cá nhân, tùy theo cấp độ tiến hoá của họ. Một cá nhân tiến hóa hơn, định hướng về linh hồn, sẽ rung động ở một tần số cao hơn rất nhiều so với một người gắn chặt hơn với vật chất và tập trung vào phàm ngã. Bản chất của tần số của nhịp độ rung động sẽ quyết định rất nhiều việc một cá nhân sẽ đáp ứng với các chủ tinh ngoại môn hay các chủ tinh nội môn. Ngoài ra, nhịp độ rung động cũng sẽ cho biết mức nào trong ba cấp độ biểu hiện của dấu hiệu hoàng đạo sẽ chiếm ưu thế trong đời sống. (Xem chương 9.)

The energy we perceive as a rock is moving at a much slower rate than that of a human being. We perceive the rock as solid stone, but the rock “perceives” us as light. We see our dog as our pet. Our dog sees us as its god. As a person evolves and the Path of the Soul unfolds to the awakening consciousness, he begins to see the things and people in his life more as energy and less as tangible forms by themselves. Such a person’s perception and struggle involve the consideration of the constant interrelationship between the two. The development of this kind of intuitive vision is absolutely essential to the Soul-centered astrologer. In order to read the horoscope correctly, the astrologer must be in tune with the level of consciousness of the individual for whom he is reading, and not just with the patterns of planetary arrangement. Such an attunement justifies the astrologer’s focus of delineation and level of interpretation of the celestial energy sources to their terrestrial counterparts. The more that an individual is able to perceive people, places, things, and especially ideas as combinations of various frequencies and intensities of energy, the greater the Soul attunement, and consequently the greater the ability to love impersonally and universally.

Năng lượng mà chúng ta tri nhận như một hòn đá đang chuyển động với tốc độ chậm hơn rất nhiều so với con người. Chúng ta tri nhận hòn đá như đá rắn, nhưng hòn đá “tri nhận” chúng ta như ánh sáng. Chúng ta thấy con chó của mình là thú cưng. Con chó của chúng ta thấy chúng ta là thần của nó. Khi một người tiến hóa và Con Đường của linh hồn khai mở trước tâm thức đang thức tỉnh, người ấy bắt đầu nhìn sự vật và con người trong đời mình như năng lượng nhiều hơn và như những hình tướng khả xúc tự thân ít hơn. Sự tri nhận và cuộc đấu tranh của một người như thế liên quan đến việc xem xét mối tương quan liên tục giữa hai mặt ấy. Sự phát triển loại linh thị trực giác này là điều tuyệt đối thiết yếu đối với nhà chiêm tinh học lấy linh hồn làm trung tâm. Muốn đọc lá số chiêm tinh cho đúng, nhà chiêm tinh phải hòa điệu với cấp độ tâm thức của người mà mình đang đọc cho, chứ không chỉ với các mô hình sắp xếp hành tinh. Sự chỉnh hợp như vậy biện minh cho trọng tâm luận giải của nhà chiêm tinh và cấp độ diễn giải của y đối với các nguồn năng lượng thiên thể trong mối tương ứng với các đối phần trần thế của chúng. Một cá nhân càng có khả năng tri nhận con người, nơi chốn, sự vật, và đặc biệt là các ý tưởng như những tổ hợp của nhiều tần số và cường độ năng lượng khác nhau, thì sự chỉnh hợp với linh hồn càng lớn, và do đó khả năng yêu thương một cách vô ngã và phổ quát càng lớn.

One of the benefits of not having any planets in the element of earth in the natal chart is the potential for just this kind of “energized” perception. When Soul-centered, a person without any (or with very litde) earth in the natal horoscope is apt to see “through” things, situations, people, and ideas rather than experiencing the magnetizing, confrontational, or confining qualities of their various forms. Such individuals may easily know themselves to be vehicles through whom higher energies work and externalize. On the personality level, the situation will manifest very differently. In this case, a natal horoscope without the element of earth either at the Ascendant or in any planet/sign combination would give the individual very little practical focus to his life. A certain naivete would be present, and there would be a distinct need to learn the lessons of a materially grounded life. One of his needs in the present incarnation would be to integrate and synthesize the rest of his life energy with the physical plane.

Một trong những lợi ích của việc không có hành tinh nào trong nguyên tố đất trong lá số chiêm tinh sinh là tiềm năng cho chính loại tri nhận “được năng lượng hóa” này. Khi lấy linh hồn làm trung tâm, một người không có chút nào (hoặc có rất ít) nguyên tố đất trong lá số chiêm tinh sinh sẽ có khuynh hướng nhìn “xuyên qua” sự vật, hoàn cảnh, con người và ý tưởng hơn là trải nghiệm các phẩm tính từ hóa, đối đầu hay giam hãm của các hình tướng khác nhau của chúng. Những cá nhân như vậy có thể dễ dàng biết mình là những vận cụ mà qua đó các năng lượng cao hơn hoạt động và ngoại hiện. Ở cấp độ phàm ngã, tình huống sẽ biểu hiện rất khác. Trong trường hợp này, một lá số chiêm tinh sinh không có nguyên tố đất hoặc ở dấu hiệu mọc hoặc trong bất kỳ tổ hợp hành tinh/dấu hiệu nào sẽ khiến cá nhân ấy có rất ít trọng tâm thực tiễn trong đời sống. Một sự ngây thơ nhất định sẽ hiện diện, và sẽ có một nhu cầu rõ rệt phải học những bài học của một đời sống bám rễ trong vật chất. Một trong những nhu cầu của y trong lần lâm phàm hiện tại sẽ là tích hợp và tổng hợp phần còn lại của năng lượng sống của mình với cõi hồng trần.

If there are many planets in the earth element, two tendencies are likely. On the personality level, the individual would tend to see everything as form. Intuition would become extremely limited and he would tend to become stuck, trapped, and totally attached to form as essence. If the level of evolution is especially developed, the “earthy” individual has been trained through previous karmic experiences to be able to perceive the relationship between form and essence very clearly. Thus he may not only be able to see the plan within the form and the form as an extension of the plan, but to effect some sort of transformative action on the Earth as a result of these perceptions. The person without any earth in the chart may indeed have the same perception, but be less likely to create such terrestrial transformations materially. Such an individual would tend to work more on the mental, intuitive, or emotional planes, depending on the elemental emphasis of air, fire, or water in the chart. By “plan,” I am referring to the focus of essential divinity—the Will, as It seeks to express Itself through the given form of Its creation. This latter is, as previously indicated, the primary Spirit-Soul relationship inherent in all of life.

Nếu có nhiều hành tinh trong nguyên tố đất, thì có khả năng xuất hiện hai khuynh hướng. Ở cấp độ phàm ngã, cá nhân ấy sẽ có xu hướng nhìn mọi thứ như hình tướng. Trực giác sẽ trở nên cực kỳ hạn chế và y sẽ có xu hướng bị mắc kẹt, bị giam hãm, và hoàn toàn gắn chặt với hình tướng như là bản chất. Nếu cấp độ tiến hoá đặc biệt phát triển, cá nhân “thuộc đất” đã được huấn luyện qua những kinh nghiệm nghiệp quả trước đây để có thể tri nhận rất rõ mối liên hệ giữa hình tướng và bản chất. Do đó, y không chỉ có thể thấy Thiên Cơ bên trong hình tướng và hình tướng như một sự mở rộng của Thiên Cơ, mà còn có thể tạo ra một loại hành động chuyển đổi nào đó trên Trái Đất như kết quả của những tri nhận này. Người không có nguyên tố đất nào trong lá số quả thực cũng có thể có cùng tri nhận ấy, nhưng ít có khả năng tạo ra những chuyển đổi trần thế như vậy trên bình diện vật chất hơn. Một cá nhân như thế sẽ có xu hướng hoạt động nhiều hơn trên các cõi trí tuệ, trực giác hoặc cảm xúc, tùy theo sự nhấn mạnh nguyên tố khí, lửa hay nước trong lá số. Bởi “Thiên Cơ,” tôi muốn nói đến trọng tâm của thiên tính cốt yếu—Ý Chí, khi Nó tìm cách biểu lộ Chính Nó qua hình thức nhất định của sáng tạo của Nó. Điều sau này, như đã chỉ ra trước đó, là mối quan hệ Tinh thần-Linh hồn sơ yếu vốn có trong toàn bộ sự sống.

There are some people who will prepare their oatmeal in the morning, sit down to eat it, and that is that—they are eating their oatmeal. There are others who will make this same oatmeal, but as they recognize the Divinity present in all things and in all acts, they will make it differently. They know that God is making that oatmeal, that God is that oatmeal, and that God will sit down at the table and begin eating Itself. The form is the same: “I am eating my oatmeal.” The difference is the focus of perception, and that focus is created through a variance in the vibrational rate of the consciousness of the individual.

Có những người sẽ nấu bột yến mạch vào buổi sáng, ngồi xuống ăn, và thế là xong—họ đang ăn bột yến mạch của mình. Có những người khác cũng nấu món yến mạch ấy, nhưng vì họ nhận ra thiên tính hiện diện trong mọi sự vật và trong mọi hành vi, nên họ sẽ làm nó theo cách khác. Họ biết rằng Thượng đế đang làm món yến mạch ấy, rằng Thượng đế là món yến mạch ấy, và rằng Thượng đế sẽ ngồi xuống bàn và bắt đầu ăn Chính Mình. Hình tướng vẫn như nhau: “Tôi đang ăn bột yến mạch của tôi.” Sự khác biệt nằm ở trọng tâm tri nhận, và trọng tâm ấy được tạo ra qua sự sai khác trong nhịp độ rung động của tâm thức cá nhân.

Postulates three, four, and five are actually three facets of a very great Law. This is the fundamental principle upon which the entire science of astrology—both exoteric and esoteric—is based. It is called the Law of Correspondences, and may also be expressed by the phrase, “As Above, So Below.” These three postulates and this Law are so very inter-connected that we will first list the three and then discuss them together.

Các định đề ba, bốn và năm thực ra là ba phương diện của một Định luật rất lớn. Đây là nguyên khí căn bản mà toàn bộ khoa học chiêm tinh học—cả ngoại môn lẫn nội môn—đều dựa trên đó. Nó được gọi là định luật tương ứng, và cũng có thể được diễn đạt bằng cụm từ “trên sao, dưới vậy.” Ba định đề này và Định luật này liên kết với nhau chặt chẽ đến mức trước hết chúng ta sẽ liệt kê cả ba rồi sau đó bàn về chúng cùng nhau.

Postulate 3: Space is not empty. What appears to be space is the field of consciousness, the “body” of a great Cosmic Life within which all manifestation lives, moves, and has its being.

Định đề 3: Không gian không trống rỗng. Điều có vẻ là không gian chính là trường tâm thức, là “thể” của một Sự sống Vũ trụ vĩ đại mà trong đó mọi biểu hiện sống, chuyển động và hiện hữu.

Postulate 4: All of the infinite number of parts of this great Life are interconnected through an energy substance called aether. Thus the smallest cell does not pulsate, nor the largest sun emanate, without their vibrations and energies being felt throughout the Cosmos.

Định đề 4: Tất cả vô số phần của Sự sống vĩ đại này đều liên kết với nhau qua một chất liệu năng lượng gọi là dĩ thái. Do đó, tế bào nhỏ nhất không rung động, cũng như mặt trời lớn nhất không phát xạ, mà không khiến các rung động và năng lượng của chúng được cảm nhận khắp Vũ trụ.

Postulate 5: Each and every one of these “lesser lives” lives within the body and consciousness of a Greater Life.

Định đề 5: Mỗi một trong những “sự sống nhỏ hơn” này đều sống trong thể và tâm thức của một Sự sống Vĩ Đại hơn.

To the student of the Ancient Wisdom Teachings, and to the Soul-centered astrologer in particular, the planets are perceived as individual living Entities within that Greater Organism we call the Solar System. The electromagnetic force fields existing between these globes are viewed as the vehicles for the expression of the interrelating consciousnesses of these planetary Beings. The modifications by cosmic geometry of these force fields (which the astrologer calls the “planetary aspects”) are viewed as the outworking of the ordered Plan of Divine Intelligence as revealed through the planets. And as we shall soon observe, the natures of the Seven Rays also play a very important part in the unfolding of the Creative Consciousness. All of this interplay of Forces and Lives is conscious and alive. All of the apparent “space” that exists between the planets in our solar system— indeed, in the Universe—is occupied and is the very fabric of the body of that Divine Organism within which we live, move, and have our being. Astrology, in both its esoteric and exoteric modes, is an evolving system which works to measure and define some of the facets of this cosmic drama.

Đối với đạo sinh của các Giáo Huấn Minh Triết Cổ Xưa, và đặc biệt là đối với nhà chiêm tinh học lấy linh hồn làm trung tâm, các hành tinh được tri nhận như những Thực Thể sống cá biệt bên trong Cơ Thể lớn hơn mà chúng ta gọi là hệ mặt trời. Các trường lực điện từ tồn tại giữa các bầu hành tinh này được xem là những vận cụ cho sự biểu lộ của các tâm thức tương liên của các Hữu Thể hành tinh ấy. Những biến đổi của các trường lực này do hình học vũ trụ tạo ra (điều mà nhà chiêm tinh gọi là “các góc hợp hành tinh”) được xem là sự triển khai của Thiên Cơ có trật tự của Trí Tuệ thiêng liêng như được tiết lộ qua các hành tinh. Và như chúng ta sẽ sớm quan sát, bản chất của bảy Cung cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong sự khai mở của Tâm thức Sáng Tạo. Toàn bộ sự tương tác này của các Mãnh Lực và các Sự Sống đều có ý thức và sống động. Toàn bộ “không gian” biểu kiến tồn tại giữa các hành tinh trong hệ mặt trời của chúng ta—thực ra, trong Vũ trụ—đều được chiếm đầy và chính là kết cấu của thể của Cơ Thể thiêng liêng mà trong đó chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu. Chiêm tinh học, trong cả hai phương thức nội môn và ngoại môn, là một hệ thống đang tiến hóa, hoạt động để đo lường và xác định một số phương diện của vở kịch vũ trụ này.

As a person strives to increase his or her own conscious awareness, the expansive nature of such efforts at individual growth brings him ever closer to the awareness of his own inclusion within the scheme of this universal Plan. We begin to see that what may appear to be an empty space in our own lives—left there perhaps by a lost lover, the abandonment of an intellectual frame of reference that has outworn its usefulness, the change in our professional creative focus, or any other facet of our human lives—is not an empty space at all. The true nature of such apparent emptiness consists of the energy of process and transformation. That process does not consist of empty space! The previous form of the manifestation of the life energy may have dissolved, but what remains are the particles and pieces that have to be transformed and reassembled. This often requires substantial concentration and inner work on emotional, mental, and higher levels in order to bring forth another lover, another mental structure of related thought-forms, or another focus of professional interest. The spaces required to do this work are filled with the energy of the Life Force which we bring into conscious manifestation through the joining of our own creative energy—our own right use of will; our own Will- to-Be. The Law of Correspondences tells us that just as such spaces exist in our own lives for the creative purposes we may bring to manifestation, so too the Life of Lives has Its enormous, but creatively pregnant spaces in the universe, for Its creative furtherance.

Khi một người cố gắng gia tăng sự tỉnh thức hữu thức của chính mình, bản chất mở rộng của những nỗ lực tăng trưởng cá nhân như vậy đưa y ngày càng đến gần hơn với sự nhận biết về việc mình được bao hàm trong hệ thống của Thiên Cơ phổ quát này. Chúng ta bắt đầu thấy rằng điều có vẻ là một khoảng trống trong chính đời sống mình—có lẽ do một người yêu đã mất để lại, do sự từ bỏ một khung quy chiếu trí tuệ đã hết công dụng, do sự thay đổi trọng tâm sáng tạo nghề nghiệp của chúng ta, hay do bất kỳ phương diện nào khác của đời sống con người—thực ra hoàn toàn không phải là khoảng trống. Bản chất thật sự của sự trống rỗng biểu kiến ấy bao gồm năng lượng của tiến trình và chuyển đổi. Tiến trình ấy không hề bao gồm không gian trống rỗng! Hình thức biểu hiện trước đó của năng lượng sự sống có thể đã tan rã, nhưng điều còn lại là những hạt và mảnh phải được chuyển hoá và tái lắp ráp. Điều này thường đòi hỏi sự tập trung đáng kể và công việc bên trong ở các cấp độ cảm xúc, trí tuệ và cao hơn để mang đến một người yêu khác, một cấu trúc trí tuệ khác của các hình tư tưởng liên hệ, hay một trọng tâm nghề nghiệp khác. Những khoảng không cần thiết để thực hiện công việc này được lấp đầy bằng năng lượng của Sinh Lực mà chúng ta đưa vào biểu hiện hữu thức qua sự kết hợp với năng lượng sáng tạo của chính mình—việc sử dụng đúng đắn ý chí của chính mình; Ý Chí-để-Tồn Tại của chính mình. Định luật tương ứng cho chúng ta biết rằng cũng như những khoảng không như vậy tồn tại trong đời sống chúng ta cho những mục đích sáng tạo mà chúng ta có thể đưa vào biểu hiện, thì Sự sống của các sự sống cũng có những khoảng không khổng lồ nhưng đầy thai nghén sáng tạo của Nó trong vũ trụ, cho sự tiếp diễn sáng tạo của Nó.

All of Life comes from the One Life. There is thus an essential affinity between all forms of that Life. In our solar system, the quality of the consciousness of that affinity—that which underlies the nature of the Law of Attraction—is Love. The structure of Divine Intelligence at work (which in our solar system is embodied by the planet Saturn) is the vehicle of the interconnectedness of these natural affinities. These structures are created from various densities of cosmic aether, the primordial building substance of the universe—the “threads of manifestation” which are woven together into the various “cloths and fabrics” of life. Metaphysics speaks to us about this process of weaving, while astrology reveals much about the nature and purpose of the doth, as well as the time needed to create it.

Mọi Sự sống đều đến từ Sự sống Duy Nhất. Do đó có một sự tương hợp cốt yếu giữa mọi hình thức của Sự sống ấy. Trong hệ mặt trời của chúng ta, phẩm tính của tâm thức của sự tương hợp ấy—điều nằm dưới bản chất của Định luật Hấp Dẫn—là Bác ái. Cấu trúc của Trí Tuệ thiêng liêng đang hoạt động (mà trong hệ mặt trời của chúng ta được hiện thân bởi hành tinh Thổ Tinh) là vận cụ của tính liên kết của những sự tương hợp tự nhiên này. Những cấu trúc này được tạo nên từ nhiều mật độ khác nhau của dĩ thái vũ trụ, chất liệu kiến tạo nguyên sơ của vũ trụ—những “sợi chỉ của biểu hiện” được dệt lại với nhau thành những “tấm vải và kết cấu” khác nhau của sự sống. Siêu hình học nói với chúng ta về tiến trình dệt này, trong khi chiêm tinh học tiết lộ nhiều điều về bản chất và mục đích của tấm vải ấy, cũng như thời gian cần thiết để tạo ra nó.

The nature of the interconnectedness of life, as well as the inherent magnetic affinities between all forms of manifestation, are major facets of the Law of Correspondences. This allows the personality to link with the Soul, as well as for the Soul to link with its Source, the Monad—our Spiritual Self (see diagram 6). It is through the Law of Correspondences that we are able to become One with our own Spiritual Essence. This linkage is made possible through several dynamic processes of spiritual growth: meditation, prayer, and invocation. Briefly stated, meditation fosters the focus of magnetic attraction between the Soul and the personality. Prayer acknowledges Divine Presence in our life and as our Life, while invocation (which is actually a science in itself) brings Power into manifestation. Affirmation is a technique of invocation which is becoming increasingly popular in terms of the New Age approach to spiritual responsibility.

Bản chất của tính liên kết của sự sống, cũng như những sự tương hợp từ tính vốn có giữa mọi hình thức biểu hiện, là những phương diện chính của định luật tương ứng. Điều này cho phép phàm ngã liên kết với linh hồn, cũng như linh hồn liên kết với Nguồn của nó, Chân Thần—Bản Ngã Tinh thần của chúng ta (xem sơ đồ 6). Chính qua định luật tương ứng mà chúng ta có thể trở nên Một với Tinh Túy Tinh thần của chính mình. Sự liên kết này được làm cho khả hữu qua một số tiến trình năng động của tăng trưởng tinh thần: tham thiền, cầu nguyện và khẩn cầu. Nói ngắn gọn, tham thiền nuôi dưỡng trọng tâm hấp dẫn từ tính giữa linh hồn và phàm ngã. Cầu nguyện thừa nhận Hiện Diện thiêng liêng trong đời sống chúng ta và như chính Sự sống của chúng ta, trong khi khẩn cầu (thực ra tự nó là một khoa học) mang Quyền năng vào biểu hiện. Khẳng định là một kỹ thuật khẩn cầu đang ngày càng trở nên phổ biến theo cách tiếp cận của Kỷ Nguyên Mới đối với trách nhiệm tinh thần.

The human Monad is the originating Source of all of our incarnations. It is that individualized “Point of Light in the Mind of God” which links us direcdy to the Universal-Creative-Mind-Spirit and which is that Spirit. This Monad is Divinity eventuating and incarnating into human form. As the following diagram shows, the Monad is also triune in nature, and each of the three parts of this Trinity corresponds to one of the three parts of the other two. Together, the Personality-Soul-Monad comprise the Holy Trinity of Man, and are the archetype for Creative Expression as we know It to be. These three triangles, their nine component parts, and the Ray Energies which correspond to them, form essential facets of Soul-centered astrology.

Chân Thần con người là Nguồn khởi nguyên của tất cả các lần nhập thể của chúng ta. Đó là “Điểm Ánh Sáng trong Trí của Thượng đế” đã được biệt ngã hóa, vốn liên kết chúng ta trực tiếp với Tinh thần-Trí Sáng Tạo-Phổ Quát và vốn chính là Tinh thần ấy. Chân Thần này là thiên tính đang thành tựu và nhập thể vào hình tướng con người. Như sơ đồ sau cho thấy, Chân Thần cũng có bản chất tam vị, và mỗi một trong ba phần của Tam Vị này tương ứng với một trong ba phần của hai bộ ba kia. Cùng nhau, Phàm ngã-Linh hồn-Chân Thần cấu thành Tam Vị thiêng liêng của Con Người, và là nguyên mẫu cho Biểu Hiện Sáng Tạo như chúng ta biết Nó. Ba tam giác này, chín thành phần cấu tạo của chúng, và các Năng Lượng Cung tương ứng với chúng, tạo thành những phương diện cốt yếu của chiêm tinh học lấy linh hồn làm trung tâm.

image001.jpg

Diagram 6: The Triune Nature of Man

Sơ đồ 6: Bản chất Tam Vị của Con Người

Postulate 6: Each of these “lesser lives” is made in the image of God.

Định đề 6: Mỗi một trong những “sự sống nhỏ hơn” này đều được tạo ra theo hình ảnh của Thượng đế.

Each of us has a direct line of correspondence and intimacy between ourself and our Divinity. In this respect, a human being is made in the image of God. Postulates seven, eight, and nine will further outline the structure of this Divine imprinting. Yet even though Man is a god and one with God, God is not a man, except when incarnating in human form. There is a quote from that incredibly beautiful and ancient Hindu text, the Bhagavad Gita, which may clarify this statement. It is spoken by Brahma, God the Creator, to His Disciple, Arjuna. The Lord Brahma says: “After having pervaded the universe with a fragment of myself, I remain.”

Mỗi chúng ta đều có một đường tương ứng và thân mật trực tiếp giữa bản thân mình và thiên tính của mình. Xét theo phương diện này, con người được tạo ra theo hình ảnh của Thượng đế. Các định đề bảy, tám và chín sẽ phác họa thêm cấu trúc của sự in dấu thiêng liêng này. Tuy nhiên, dù Con Người là một vị thần và là một với Thượng đế, Thượng đế không phải là con người, ngoại trừ khi nhập thể trong hình tướng con người. Có một trích dẫn từ bản văn Ấn giáo cổ xưa và đẹp đẽ đến kinh ngạc, Bhagavad Gita, có thể làm sáng tỏ phát biểu này. Đó là lời Brahma, Thượng đế Sáng Tạo, nói với Đệ tử của Ngài là Arjuna. Đức Brahma phán: “Sau khi thấm nhập vũ trụ bằng một mảnh của chính Ta, Ta vẫn còn lại.”

This statement is a succinct expression of all that is contained within postulates three, four, and five, as well as the great Law of Correspondences itself. The meaning of this phrase is that Divinity is always whole, even though It may manifest Itself through Its infinity of parts. Even in parts, It is whole, and It is whole beyond Its parts. Divinity is immanently Whole and transcendentally Whole. It is greater than the sum of Its parts and it is the sum of Its parts.

Phát biểu này là một biểu đạt súc tích của tất cả những gì chứa đựng trong các định đề ba, bốn và năm, cũng như trong chính định luật tương ứng vĩ đại. Ý nghĩa của cụm từ này là thiên tính luôn luôn toàn vẹn, dù Nó có thể biểu lộ Chính Nó qua vô số phần của Nó. Ngay cả trong các phần, Nó vẫn toàn vẹn, và Nó toàn vẹn vượt ngoài các phần của Nó. Thiên tính toàn vẹn một cách nội tại và toàn vẹn một cách siêu việt. Nó lớn hơn tổng các phần của Nó và Nó cũng là tổng các phần của Nó.

The duality of the Age of Pisces was based primarily on the transcendental nature of Divinity. This emphasized God as being “above,” and humanity as being “below.” In effect, this paradigm diminished humanity’s ability to use and take responsibility for its creative will. The duality of the Aquarian Age is focused on the unity of the two natures of Divine Expression: the transcendental as well as the immanent. The essential unified focus of the manifested universe is becoming more and more the frame of spiritual reference for the New Era. It is thus that an individual recognizes his or her inherent spiritual creative will as well as his link with all of humanity. This will in time eventuate into the Group Consciousness that will mark our Age.

Tính nhị nguyên của Kỷ Nguyên Song Ngư chủ yếu dựa trên bản chất siêu việt của thiên tính. Điều này nhấn mạnh Thượng đế như ở “trên cao,” còn nhân loại như ở “bên dưới.” Trên thực tế, mô hình này đã làm suy giảm khả năng của nhân loại trong việc sử dụng và chịu trách nhiệm về ý chí sáng tạo của mình. Tính nhị nguyên của Kỷ Nguyên Bảo Bình tập trung vào sự hợp nhất của hai bản chất của Biểu Hiện thiêng liêng: siêu việt cũng như nội tại. Trọng tâm hợp nhất cốt yếu của vũ trụ biểu hiện đang ngày càng trở thành khung quy chiếu tinh thần cho Kỷ Nguyên Mới. Do đó, một cá nhân nhận ra ý chí sáng tạo tinh thần vốn có của mình cũng như mối liên kết của mình với toàn thể nhân loại. Ý chí này theo thời gian sẽ thành tựu thành Tâm thức Nhóm, vốn sẽ đánh dấu Kỷ Nguyên của chúng ta.

Postulate 7: All of manifestation is energy in differentiating forms. This energy emanates from a Source which reabsorbs it after it has expressed itself through its forms and cycles.

Định đề 7: Toàn bộ biểu hiện là năng lượng trong những hình thức biến phân. Năng lượng này phát xạ từ một Nguồn, Đấng sẽ tái hấp thu nó sau khi nó đã biểu lộ qua các hình thức và chu kỳ của nó.

Postulate 8: There is no absolute death. There is only change of form and state. The cycle of birth and rebirth is endless until the Law of Cause and Effect (karma) is satisfied. It is then that unity is reached and reincarnation ceases.

Định đề 8: Không có cái chết tuyệt đối. Chỉ có sự thay đổi hình thức và trạng thái. Chu kỳ sinh và tái sinh là vô tận cho đến khi Định luật Nhân Quả (nghiệp quả) được thỏa mãn. Khi đó sự hợp nhất đạt được và luân hồi chấm dứt.

All of the creative substance in any one cycle of manifestation was birthed at the same time, during its Big Bang. The Law of Rebirth and the Law of the Recycling of Matter tell us that there have been and will be many such Big Bangs. The Universe began from this cyclic inception and unfolds through the creation of the myriad forms of its expression, yet it always remains essentially One. All of its forms emanate from the same Source and are created from the same primordial aether as its fundamental building material. Just as we alternate our breathing through a lifelong cycle of inhalations and exhalations, the present cycle of universal manifestation will once again be “inhaled” into its Source after it has passed through its cycle of incarnation. Then, after a certain interlude, the Universe will birth itself again into yet another expression of manifestation. The Ancient Wisdom Teachings tell us that cosmic reincarnation is an infinite process.

Toàn bộ chất liệu sáng tạo trong bất kỳ một chu kỳ biểu hiện nào đều được sinh ra cùng một lúc, trong Vụ Nổ Lớn của nó. Định luật Tái Sinh và Định luật Tái Chế Vật Chất cho chúng ta biết rằng đã có và sẽ có nhiều Vụ Nổ Lớn như thế. Vũ trụ bắt đầu từ sự khởi đầu có tính chu kỳ này và khai mở qua việc tạo ra vô số hình thức biểu hiện của nó, nhưng nó luôn luôn vẫn là Một về bản chất. Tất cả các hình thức của nó đều phát xạ từ cùng một Nguồn và được tạo ra từ cùng một dĩ thái nguyên sơ như chất liệu kiến tạo căn bản của nó. Cũng như chúng ta luân phiên hít vào và thở ra trong suốt chu kỳ sống của mình, chu kỳ biểu hiện vũ trụ hiện tại rồi sẽ lại được “hít vào” trở lại Nguồn của nó sau khi nó đã đi qua chu kỳ nhập thể của mình. Rồi sau một quãng gián đoạn nhất định, Vũ trụ sẽ lại tự sinh ra trong một biểu hiện khác nữa. Các Giáo Huấn Minh Triết Cổ Xưa cho chúng ta biết rằng luân hồi vũ trụ là một tiến trình vô hạn.

The above process has its definite parallel in terms of human existence. Each of us is born through a process by which an aspect of the Soul “cloaks” itself in the bodies of mental, astral/emotional, and physical matter. Each of us has a life span through which the opportunity for Soul infusion and evolutionary growth is made possible on both the individual and collective levels. At the appropriate time in this cycle, the Soul begins to remove itself from its three lower vehicles and absorbs the information of its experiences in that incarnation back into Itself. Then, at yet another proper moment, It comes forth again through the various densities of the three “lower worlds” which are appropriate to karma. The natal horoscope is, of course, based upon these “appropriate” and karmically induced moments. The interpretation by exoteric methodology reveals the nature of the interplay of the energies as they manifest in and through these three densest vehicles. The delineation of the horoscope through the Soul- centered approach reveals the purpose of the incarnating Soul, as well as its relationship to the trinity of the personality.

Tiến trình trên có sự tương đồng rõ rệt trong phương diện hiện hữu của con người. Mỗi chúng ta được sinh ra qua một tiến trình mà trong đó một phương diện của linh hồn “khoác” lên mình các thể bằng vật chất trí tuệ, cảm dục/cảm xúc và hồng trần. Mỗi chúng ta có một khoảng đời mà trong đó cơ hội cho sự thấm nhuần của linh hồn và sự tăng trưởng tiến hoá được làm cho khả hữu ở cả cấp độ cá nhân lẫn tập thể. Vào thời điểm thích hợp trong chu kỳ này, linh hồn bắt đầu rút mình ra khỏi ba vận cụ thấp của nó và hấp thu thông tin từ những kinh nghiệm của nó trong lần nhập thể ấy trở lại vào Chính Nó. Rồi, vào một thời điểm thích hợp khác, Nó lại xuất hiện qua các mật độ khác nhau của “ba cõi thấp” vốn thích hợp với nghiệp quả. Dĩ nhiên, lá số chiêm tinh sinh được đặt nền trên những thời điểm “thích hợp” và do nghiệp quả cảm ứng này. Sự diễn giải bằng phương pháp ngoại môn tiết lộ bản chất của sự tương tác của các năng lượng khi chúng biểu hiện trong và qua ba vận cụ đậm đặc nhất này. Sự luận giải lá số chiêm tinh qua cách tiếp cận lấy linh hồn làm trung tâm tiết lộ mục đích của linh hồn nhập thể, cũng như mối liên hệ của nó với bộ ba của phàm ngã.

There is another facet to this cycling of births. The process of birth, life span, what we call death, and the synthesizing, absorbative process which occurs after the Life Force is removed from the physical body, is the essential key to the rhythm of evolution. It also reveals the essential quality of Love which is at the root of all manifestation in our particular solar system.

Còn có một phương diện khác của chu kỳ sinh này. Tiến trình sinh ra, khoảng đời, điều mà chúng ta gọi là cái chết, và tiến trình tổng hợp, hấp thu xảy ra sau khi Sinh Lực được rút khỏi thể xác, là chìa khóa cốt yếu cho nhịp điệu của tiến hoá. Nó cũng tiết lộ phẩm tính cốt yếu của Bác ái vốn là cội rễ của toàn bộ biểu hiện trong hệ mặt trời đặc thù của chúng ta.

The purpose of involution is to allow Spirit to penetrate deeper and deeper into matter; for matter and all things of matter to realize their spiritual essence. Evolution is the process by which this increasingly spiritual, self-realizing matter is reabsorbed back into the Source of its creation. Yet as each of us “returns Home,” we come back with more than what we were when we left. The Path of Return is such that the closer we get to our spiritual Self, the greater our realization of our own Divinity. This realization comes through our expanding consciousness, and the development of consciousness is a function of the Soul—the Love aspect of Divinity.

Mục đích của giáng hạ tiến hoá là để Tinh thần thấm nhập ngày càng sâu hơn vào vật chất; để vật chất và mọi sự thuộc vật chất nhận ra tinh túy tinh thần của mình. Tiến hoá là tiến trình mà qua đó vật chất ngày càng tinh thần hóa và tự chứng nghiệm này được tái hấp thu trở lại Nguồn sáng tạo của nó. Tuy nhiên, khi mỗi chúng ta “trở về Nhà,” chúng ta trở về với nhiều hơn những gì mình đã là khi ra đi. Con Đường Trở Về là như thế: chúng ta càng đến gần Bản Ngã tinh thần của mình, thì sự chứng nghiệm về thiên tính của chính mình càng lớn. Sự chứng nghiệm này đến qua tâm thức đang mở rộng của chúng ta, và sự phát triển của tâm thức là một chức năng của linh hồn—phương diện Bác ái của thiên tính.

The Grace of God is contained within this ever-expanding Self- realization. Divinity as Spiritual Will continues to manifest Itself while Soul as Love continues to create the vehicles for Its expression. The more we realize ourselves as Souls, the more we come to identify the Spiritual Will which is our essential being. The personality provides the vehicle for the Intelligence or linking aspects of Life to mix and interplay, thus creating new opportunities for the expression of Spirit in form. Thus, as Divinity comes to “know Itself’ through the creation of Its forms of manifestation, we (as Its forms) come to know ourselves as It. This is the essential purpose for being alive—to know through our consciousness that we are Life Itself. In the Aquarian Age, this realization will come to each individual through service to humanity and through the application of the Laws and Principles of the New Age.

Ân Sủng của Thượng đế được chứa đựng trong sự tự chứng nghiệm ngày càng mở rộng này. Thiên tính như Ý Chí Tinh thần tiếp tục biểu lộ Chính Nó trong khi linh hồn như Bác ái tiếp tục tạo ra các vận cụ cho sự biểu lộ của Nó. Chúng ta càng nhận ra mình là các linh hồn, chúng ta càng đi đến chỗ đồng hoá với Ý Chí Tinh thần vốn là bản thể cốt yếu của mình. Phàm ngã cung cấp vận cụ để các phương diện Trí Tuệ hay liên kết của Sự sống hòa trộn và tương tác, nhờ đó tạo ra những cơ hội mới cho sự biểu lộ của Tinh thần trong hình tướng. Do đó, khi thiên tính đi đến chỗ “biết Chính Nó” qua việc tạo ra các hình thức biểu hiện của Nó, thì chúng ta (với tư cách là các hình thức của Nó) đi đến chỗ biết chính mình là Nó. Đây là mục đích cốt yếu của việc sống—biết qua tâm thức của mình rằng chúng ta là Chính Sự sống. Trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, sự chứng nghiệm này sẽ đến với mỗi cá nhân qua phụng sự nhân loại và qua việc áp dụng các Định luật và Nguyên khí của Kỷ Nguyên Mới.

The next two postulates outline a very major occult principle—the Law of Sevens.

Hai định đề tiếp theo phác họa một nguyên khí huyền bí rất quan trọng—Định luật của Bảy.

Postulate 9: Our solar system has a septenary nature. It responds and interplays with seven cosmic emanating sources within our immediate universe. The energy radiations of these sources are called the Seven Rays, each of which has specific qualities of vibration and manifestation.

Định đề 9: Hệ mặt trời của chúng ta có bản chất thất phân. Nó đáp ứng và tương tác với bảy nguồn phát xạ vũ trụ trong vũ trụ gần nhất của chúng ta. Các bức xạ năng lượng của những nguồn này được gọi là bảy Cung, mỗi Cung có những phẩm tính rung động và biểu hiện đặc thù.

The number seven was called “worthy of veneration” by the Pythagoreans. These students of esoteric mathematics knew that the number seven was highly significant to the Sacred Teachings. It represents the creative powers of the Seven Spirits before the Throne of God, also known as the Archangels. Seven is thus the number of Cosmic Law, for it is through these seven primary forces that the One creates and builds the primary structures of the manifested universe. This heptad of forces is essential to Soul-centered astrology, and is here known as the Seven Rays.

Con số bảy được những người Pythagoras gọi là “xứng đáng được tôn kính.” Những đạo sinh của toán học nội môn này biết rằng số bảy có ý nghĩa rất lớn đối với các Giáo Huấn Thiêng Liêng. Nó tượng trưng cho các quyền năng sáng tạo của Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thượng đế, cũng được biết đến như các Tổng Thiên Thần. Do đó, bảy là con số của Định luật Vũ trụ, vì chính qua bảy mãnh lực sơ yếu này mà Đấng Duy Nhất sáng tạo và xây dựng các cấu trúc sơ yếu của vũ trụ biểu hiện. Bộ bảy mãnh lực này là điều cốt yếu đối với chiêm tinh học lấy linh hồn làm trung tâm, và ở đây được biết đến như bảy Cung.

There are many sevens, both in the Ancient Wisdom Teachings and in Soul-centered astrology. Primary among these are:

Có nhiều bộ bảy, cả trong các Giáo Huấn Minh Triết Cổ Xưa lẫn trong chiêm tinh học lấy linh hồn làm trung tâm. Nổi bật nhất trong số đó là:

the Seven Planes of Manifestation

bảy Cõi Biểu Hiện

the Seven Kingdoms in Nature

bảy Giới trong Thiên Nhiên

the Seven Levels of Consciousness

bảy Cấp độ Tâm thức

the Seven Chakras, or Centers of Force

bảy Luân xa, hay các Trung Tâm Mãnh Lực

the Seven Sacred Planets

bảy Hành Tinh Thiêng Liêng

the Seven Root Races of Man

bảy Giống dân gốc của Con Người

the Seven Rays

bảy Cung

The Ancient Wisdom Teachings tell us that our solar system is one of seven related star systems. Each of these is a tremendous center or vortex of life energy in the body of a Great Entity. This Divinity is called the “One About Whom Naught May Be Said,” so vast is Its consciousness and scope of Being. Each of these systems is also the primary vehicle for the expression of one or the other of the Seven Rays. Our particular solar system is said to be the Heart Center of the “One,” and is thus the vehicle of expression for the Second of the Seven Rays—the Ray of Love/Wisdom. This endows the consciousness of our Solar System (for It, too, is alive and is the immediate Divinity within Whom we “live, move, and have our being”) with Love/Wisdom as the primary quality of the expression of Its Life Force. Thus the more conscious a person becomes, the more loving, and the more loving, the more conscious. In our solar system, the words “love” and “consciousness” mean and are the same thing. All the problems of the individual and of humanity have to do with a block in (and most important, may be resolved by) the flow of love/consciousness. Once this block is freed—once a channel is opened up to the flow of love/Consciousness—the needed healing takes place. Then abundance replaces lack on any level and balance is restored.

Các Giáo Huấn Minh Triết Cổ Xưa cho chúng ta biết rằng hệ mặt trời của chúng ta là một trong bảy hệ sao có liên hệ với nhau. Mỗi hệ trong số này là một trung tâm hay xoáy năng lượng sự sống khổng lồ trong thể của một Thực Thể Vĩ Đại. Thiên tính này được gọi là “Đấng Bất Khả Tư Nghị,” vì tâm thức và phạm vi Bản Thể của Ngài quá bao la. Mỗi hệ này cũng là vận cụ sơ yếu cho sự biểu lộ của một hay một Cung khác trong bảy Cung. Hệ mặt trời đặc thù của chúng ta được nói là Trung Tâm Tim của “Đấng ấy,” và do đó là vận cụ biểu lộ cho Cung thứ hai trong bảy Cung—Cung Bác Ái – Minh Triết. Điều này ban cho tâm thức của hệ mặt trời chúng ta (vì Nó cũng sống và là thiên tính trực tiếp mà trong Ngài chúng ta “sống, chuyển động và hiện hữu”) Bác Ái – Minh Triết như phẩm tính sơ yếu của sự biểu lộ Sinh Lực của Nó. Do đó, một người càng trở nên hữu thức, thì càng yêu thương hơn, và càng yêu thương, thì càng hữu thức hơn. Trong hệ mặt trời của chúng ta, các từ “bác ái” và “tâm thức” có cùng nghĩa và là cùng một điều. Mọi vấn đề của cá nhân và của nhân loại đều liên quan đến một sự bế tắc trong dòng chảy của bác ái/tâm thức (và quan trọng nhất, có thể được giải quyết bằng) dòng chảy ấy. Một khi sự bế tắc này được giải phóng—một khi một kênh dẫn được mở ra cho dòng chảy của bác ái/Tâm thức—thì sự chữa lành cần thiết sẽ diễn ra. Khi đó sung túc thay thế thiếu thốn ở bất kỳ cấp độ nào và sự quân bình được phục hồi.

Human beings have seven vortices of life energy; so does each planet and solar system. The occult term for these centers of force is chakra, from the Sanskrit word for “wheel.” In our solar system the seven chakras, or expressions for the Second Ray of Love/Wisdom, are: Vulcan, Mercury, Venus, Jupiter, Saturn, Uranus, and Neptune. Each of these planets also corresponds to one or. the other of the Seven Rays. Finally, each of these seven planets, Rays, and chakras corresponds to an endocrine gland and/or a part of the human body. Thus there is a direct linkage from the human heart into the Heart of the One About Whom Naught May Be Said. This relationship is based on the Law of Correspondences, and is expressed through the Law of Sevens. Nothing happens in the universe that doesn’t have its correspondence on all the planes of manifestation. The Law of Cause and Effect (karma) intimately interrelates and interconnects all of these structures. It is the extension of our awareness that perceives that reality, and it is the realization of Love which allows us to be conscious of this unity. The interplay of planets, Rays, chakras, and physical organs is vital to the nature of the structure of those laws, energies, and methods of horoscope delineation fundamental to the outworking of Soul-centered astrology. (See tabulation 3 on p. 155.)

Con người có bảy xoáy năng lượng sự sống; mỗi hành tinh và hệ mặt trời cũng vậy. Thuật ngữ huyền bí cho các trung tâm mãnh lực này là chakra, từ tiếng Phạn nghĩa là “bánh xe.” Trong hệ mặt trời của chúng ta, bảy chakra, hay những biểu hiện của Cung hai Bác Ái – Minh Triết, là: Vulcan, Thủy Tinh, Kim Tinh, Mộc Tinh, Thổ Tinh, Thiên Vương Tinh và Hải Vương Tinh. Mỗi hành tinh này cũng tương ứng với một hay một Cung khác trong bảy Cung. Sau cùng, mỗi một trong bảy hành tinh, Cung và chakra này tương ứng với một tuyến nội tiết và/hoặc một phần của cơ thể con người. Do đó có một sự liên kết trực tiếp từ trái tim con người vào Trái Tim của Đấng Bất Khả Tư Nghị. Mối liên hệ này dựa trên định luật tương ứng, và được biểu lộ qua Định luật của Bảy. Không có gì xảy ra trong vũ trụ mà lại không có sự tương ứng của nó trên mọi cõi biểu hiện. Định luật Nhân Quả (nghiệp quả) liên hệ và kết nối mật thiết tất cả các cấu trúc này. Chính sự mở rộng nhận biết của chúng ta tri nhận thực tại ấy, và chính sự chứng nghiệm Bác ái cho phép chúng ta hữu thức về sự hợp nhất này. Sự tương tác của các hành tinh, Cung, chakra và các cơ quan thể xác là điều thiết yếu đối với bản chất của cấu trúc của những định luật, năng lượng và phương pháp luận giải lá số chiêm tinh vốn là nền tảng cho sự triển khai của chiêm tinh học lấy linh hồn làm trung tâm. (Xem bảng 3 ở trang 155.)

Postulate 10: This sevenfold nature is, for the purposes of manifestation, divided into the three (symbolized by the triangle) and the four (symbolized by the square and the equal-armed cross).

Định đề 10: Bản chất thất phân này, vì các mục đích biểu hiện, được chia thành bộ ba (được tượng trưng bằng tam giác) và bộ bốn (được tượng trưng bằng hình vuông và thập giá có bốn cánh bằng nhau).

The three is always the Trinity. In its most fundamental, this Trinity may be expressed as Spirit, Soul, Matter. We have also discussed the outworking of the three as Monad, Soul, and Personality. We shall shortly discuss the three as the Trinity of the major Rays: Ray One of Will, Ray Two of Love, and Ray Three of Intelligence.

Ba luôn luôn là Tam Vị. Ở mức căn bản nhất, Tam Vị này có thể được biểu lộ như Tinh thần, Linh hồn, Vật chất. Chúng ta cũng đã bàn về sự triển khai của bộ ba như Chân Thần, Linh hồn và Phàm ngã. Chúng ta sẽ sớm bàn đến bộ ba như Tam Vị của các Cung chính: Cung một của Ý Chí, Cung hai của Bác ái, và Cung ba của Trí Tuệ.

As the One, Spirit is the Divine Father as Creator. As the Two, Spirit is the Great Mother, the Sustainer of Life. But as the Three, we see Divinity giving birth to the forms of Itself out of Itself, and it is thus that the Triad represents the expression of the interplay of Spirit and Soul, Male and Female. The three can thus be said to be the Creative Force of Life in the action of manifestation.

Là Đấng Duy Nhất, Tinh thần là Cha thiêng liêng với tư cách Đấng Sáng Tạo. Là Hai, Tinh thần là Đại Mẫu, Đấng Duy Trì Sự sống. Nhưng là Ba, chúng ta thấy thiên tính sinh ra các hình thức của Chính Nó từ Chính Nó, và do đó Tam nguyên tinh thần tượng trưng cho sự biểu lộ của sự tương tác giữa Tinh thần và Linh hồn, Nam và Nữ. Vì vậy, ba có thể được nói là Mãnh Lực Sáng Tạo của Sự sống trong hành động biểu hiện.

Four is representative of the crystallization of manifestation into all of its myriad and infinite forms. Four is Spirit, Soul, and Matter concretized, birthed. It is also the number of foundation, structure, and roots. Four is halfway between one and seven, and as such, it is always representative of a turning point in a cycle, as well as the point of sustained tension in any given equilibrium. The Fourth Ray, for example, is called Harmony through Conflict. The Fourth Kingdom of the Seven is the Human, standing as it does halfway between the three lower kingdoms of nature and the three higher. As we shall soon discover, the fourth chakra is the heart center, and it, like humanity itself, rests halfway between the three centers of personality expression and the three centers of the Soul.

Bốn tượng trưng cho sự kết tinh của biểu hiện thành toàn bộ vô số và vô hạn hình thức của nó. Bốn là Tinh thần, Linh hồn và Vật chất được cụ thể hóa, được sinh ra. Nó cũng là con số của nền tảng, cấu trúc và cội rễ. Bốn ở giữa một và bảy, và như thế, nó luôn luôn tượng trưng cho một bước ngoặt trong một chu kỳ, cũng như điểm tập trung nhất tâm được duy trì trong bất kỳ trạng thái quân bình nào. Thí dụ, Cung bốn được gọi là Hài Hòa qua Xung Đột. Giới thứ tư trong bảy giới là giới Nhân Loại, đứng đúng ở giữa ba giới thấp của thiên nhiên và ba giới cao hơn. Như chúng ta sẽ sớm khám phá, chakra thứ tư là trung tâm tim, và nó, cũng như chính nhân loại, nằm ở giữa ba trung tâm biểu hiện của phàm ngã và ba trung tâm của linh hồn.

When we add three and four together—when Spirit interplays through the birth of Its forms—we have a cycle of manifestation, a seven. But should we multiply three times four, we have another very important number (especially to astrologers), the twelve. Multiplication allows for a greater differentiation of energy than does addition. Thus twelve is indicative of all the potential which comes through the distribution and dissemination of energy. Yet when we add the two numbers which comprise the twelve, we get (1 + 2) = 3. Thus twelve is a direct extension of the powers inherent in three when multiplied by four, the number of the concretization of matter. Twelve allows for a wide range of building to occur and for a multiplicity of life expressions to manifest through it. Some of the more important twelves are:

Khi chúng ta cộng ba và bốn lại với nhau—khi Tinh thần tương tác qua sự sinh ra các hình thức của Nó—chúng ta có một chu kỳ biểu hiện, một số bảy. Nhưng nếu chúng ta nhân ba với bốn, chúng ta có một con số rất quan trọng khác (đặc biệt đối với các nhà chiêm tinh), đó là mười hai. Phép nhân cho phép một sự biến phân năng lượng lớn hơn phép cộng. Do đó, mười hai biểu thị toàn bộ tiềm năng đến qua sự phân phối và truyền tỏa năng lượng. Tuy nhiên, khi chúng ta cộng hai con số cấu thành mười hai, ta được (1 + 2) = 3. Vì vậy, mười hai là một sự mở rộng trực tiếp của các quyền năng vốn có trong ba khi được nhân với bốn, con số của sự cụ thể hóa vật chất. Mười hai cho phép một phạm vi kiến tạo rộng lớn diễn ra và cho phép nhiều biểu hiện sự sống hiển lộ qua nó. Một số bộ mười hai quan trọng hơn là:

1. The twelve signs of the zodiac (based on the three qualities of the motion of energy: cardinal, fixed, and mutable; and the four basic elements: fire, earth, air, and water).

1. mười hai dấu hiệu của Hoàng đạo (dựa trên ba phẩm tính của chuyển động năng lượng: chính yếu, cố định và biến đổi; và bốn nguyên tố căn bản: lửa, đất, khí và nước).

The twelve tribes of Israel (as well as the twelve Prophets and the twelve Patriarchs).

mười hai bộ tộc của Israel (cũng như mười hai Nhà Tiên Tri và mười hai Tổ Phụ).

The twelve Gates of Heaven.

mười hai Cổng Trời.

The twelve Apostles of Jesus.

mười hai Tông Đồ của Đức Jesus.

Finally, let us mention another number that, from an astrological and metaphysical perspective, is very interesting. This is the number eighty-four, produced by multiplying seven times twelve. This number is also reached by adding three cycles of seven times four, or twenty- eight. Eighty-four years is the length of the orbit of Uranus around the Sun. It thus takes this planet seven years to pass through each of the twelve signs. The passage of Uranus through four signs takes twenty-eight years (2 + 8 = 10; 1 + 0 = /); eight signs take fifty-six years (5 +6 = 11; 1 + 1 = 2); while the entire orbit takes the full eighty-four years (8 + 4 = 12; 1 + 2=3).

Sau cùng, hãy nhắc đến một con số khác mà, từ góc nhìn chiêm tinh và siêu hình học, rất thú vị. Đó là con số tám mươi bốn, được tạo ra bằng cách nhân bảy với mười hai. Con số này cũng đạt được bằng cách cộng ba chu kỳ của bảy nhân bốn, tức hai mươi tám. Tám mươi bốn năm là độ dài quỹ đạo của Thiên Vương Tinh quanh Mặt Trời. Do đó, hành tinh này mất bảy năm để đi qua mỗi một trong mười hai dấu hiệu. Sự đi qua của Thiên Vương Tinh qua bốn dấu hiệu mất hai mươi tám năm (2 + 8 = 10; 1 + 0 = /); tám dấu hiệu mất năm mươi sáu năm (5 +6 = 11; 1 + 1 = 2); trong khi toàn bộ quỹ đạo mất trọn tám mươi bốn năm (8 + 4 = 12; 1 + 2=3).

Uranus is closely associated with the functions of the Collective Mind which, by permeating all of humanity, creates those connective links between the individual and Mankind. The length of its orbit and its passage of seven years through each of the twelve signs is highly significant in this respect. The orbit of Uranus reveals the cycle of common human development.

Thiên Vương Tinh liên hệ mật thiết với các chức năng của Trí Tuệ Tập Thể, vốn bằng cách thấm nhập toàn thể nhân loại, tạo ra những mối liên kết nối kết giữa cá nhân và Nhân Loại. Độ dài quỹ đạo của nó và việc nó đi qua mỗi một trong mười hai dấu hiệu trong bảy năm có ý nghĩa rất lớn về phương diện này. Quỹ đạo của Thiên Vương Tinh tiết lộ chu kỳ phát triển chung của con người.

Since seven is indicative of the entirety of a cycle of manifestation, when it is multiplied by four, the resulting number—twenty-eight— reveals an anchoring, a concretization, and a readiness to move on through some major turning point or crisis of completion into a new phase of life. The astrologer will note that the twenty-eighth, fifty- sixth, and eighty-fourth years of life coincide with major phases of the progressed lunar and transiting Saturn cycles. These two planetary passages are representative of the nature of the psychological, developmental growth of an individual in his or her relationship to tribe, family, society, and eventually, his participation in the planetary life.

Vì bảy là dấu hiệu chỉ toàn thể một chu kỳ biểu hiện, nên khi nó được nhân với bốn, con số kết quả—hai mươi tám—bộc lộ một sự neo giữ, một sự cụ thể hóa, và một sự sẵn sàng để tiến qua một bước ngoặt lớn hay một cuộc khủng hoảng hoàn tất nào đó để đi vào một giai đoạn mới của đời sống. Nhà chiêm tinh sẽ lưu ý rằng các năm thứ hai mươi tám, năm mươi sáu và tám mươi bốn của đời người trùng hợp với những giai đoạn lớn của các chu kỳ Mặt Trăng tiến trình và Thổ Tinh quá cảnh. Hai cuộc vận hành hành tinh này tiêu biểu cho bản chất của sự tăng trưởng tâm lý, phát triển của một cá nhân trong mối liên hệ của người ấy với bộ tộc, gia đình, xã hội, và cuối cùng là sự tham dự của người ấy vào sự sống hành tinh.

These three twenty-eight-year periods of life may be viewed as follows:

Ba giai đoạn hai mươi tám năm này của đời sống có thể được xem như sau:

Years 1—28: the period for the establishment and potential integration of the personality. The anchoring of self-awareness through tribal and family associations; the unfoldment of the biological karma.

Năm 1—28: giai đoạn để thiết lập và có khả năng tích hợp phàm ngã. Sự neo giữ của ngã thức thông qua các liên hệ bộ tộc và gia đình; sự khai mở của nghiệp quả sinh học.

Years 29—56: the period of the expansion of the personality into the dynamics of its social roles. The unfolding of self-awareness through societal karma. The awakening to the presence of the Soul is quickened by the tensions produced through one’s social responsibilities, as well as through the urge for recognition by one’s society.

Năm 29—56: giai đoạn mở rộng của phàm ngã vào động lực của các vai trò xã hội của nó. Sự khai mở của ngã thức thông qua nghiệp quả xã hội. Sự thức tỉnh đối với sự hiện diện của linh hồn được thúc đẩy nhanh hơn bởi những căng thẳng phát sinh qua các trách nhiệm xã hội của một người, cũng như qua sự thôi thúc được xã hội mình công nhận.

Years 57—84: the period of the lessening of the hold of the personality on the three lower vehicles and the increase of their control by the Soul. The detachment of responsibilities on the personal level and the increase of awareness of the need to contribute with developing impersonality to the collective. The assumption of responsibility for a greater role in the planetary life.

Năm 57—84: giai đoạn sự nắm giữ của phàm ngã trên ba vận cụ thấp giảm bớt và sự kiểm soát của linh hồn đối với chúng gia tăng. Sự tách rời khỏi các trách nhiệm ở cấp độ cá nhân và sự gia tăng nhận thức về nhu cầu đóng góp cho tập thể với tính vô ngã đang phát triển. Sự đảm nhận trách nhiệm cho một vai trò lớn lao hơn trong sự sống hành tinh.




[1] These two paragraphs appeared in ‘World Service through the Power of Thought.” Published by the Lucis Trust, New York, 1974.

[2] See Bibliography for further information on this subject.

Leave a Comment

Scroll to Top