Trị Liệu Huyền môn – MỞ Đầu – Chương 1 – Những Nguyên Nhân Cơ Bản Của Bệnh tật

📘 Sách: Trị Liệu Huyền Môn – Tác giả: Alice Bailey

1.-ph-n-m-t-nh-ng-nguy-n-nh-n-c-n-b-n-c-a-b-nh-ch-ng-i-01.png

ESOTERIC HEALING

TRỊ LIỆU HUYỀN MÔN

Volume IV

Tập IV

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS

LUẬN VỀ BẢY CUNG

by

của

ALICE A. BAILEY

ALICE A. BAILEY

Index Edition

Ấn bản Chỉ mục

Published by the Lucis Publishing Companies

Xuất bản bởi các công ty xuất bản Lucis

The first and only publisher of the

Nhà xuất bản đầu tiên và duy nhất của

24 books of Alice A. Bailey

24 cuốn sách của Alice A. Bailey

www.lucistrust.org/books

www.lucistrust.org/books

EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETANTRÍCH TỪ MỘT TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG

Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names.

Chỉ cần nói rằng, tôi là một đệ tử Tây Tạng ở một cấp độ nào đó, và điều này nói với bạn rất ít, vì tất cả đều là đệ tử từ người chí nguyện khiêm tốn nhất cho đến, và vượt lên trên, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác như những người nam và nữ khác, ở vùng biên giới Tây Tạng, và đôi khi (xét theo quan điểm ngoại môn) chủ trì một nhóm lớn các lạt ma Tây Tạng, khi những nhiệm vụ khác của tôi cho phép. Chính sự kiện này đã khiến người ta truyền rằng tôi là viện trưởng của tu viện lạt ma đặc biệt này. Những người cộng tác với tôi trong công việc của Thánh đoàn (và mọi đệ tử chân chính đều cộng tác trong công việc này) biết tôi dưới một tên gọi và chức vụ khác nữa. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi qua hai tên của tôi.

I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity-not to the Master.

Tôi là một huynh đệ của bạn, người đã đi trên Con Đường lâu hơn một chút so với đạo sinh trung bình, và vì thế đã gánh lấy những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là người đã vật lộn và chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng lớn hơn so với người chí nguyện sẽ đọc bài này, và vì vậy tôi phải hành động như một kẻ truyền đạt ánh sáng, bất kể giá nào. Tôi không phải là một người già, xét theo tuổi tác giữa các huấn sư, nhưng tôi cũng không trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá tri thức về Minh Triết Ngàn Đời ở bất cứ nơi nào tôi có thể tìm thấy sự đáp ứng, và tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách giúp Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã gắn bó lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với bạn nhiều; tuy nhiên đồng thời tôi cũng không nói với bạn điều gì có thể khiến bạn dành cho tôi sự phục tùng mù quáng và lòng sùng kính ngu xuẩn mà người chí nguyện phân cực cảm xúc dành cho Guru và Chân sư mà y còn chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không tạo được sự tiếp xúc mong muốn đó cho đến khi y đã chuyển hoá lòng sùng kính cảm xúc thành sự phụng sự vô ngã đối với nhân loại—không phải đối với Chân sư.

The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said.

Những cuốn sách mà tôi đã viết được gửi ra mà không đòi hỏi phải được chấp nhận. Chúng có thể đúng, hoặc không đúng, chân thực và hữu ích. Việc xác định chân lý của chúng bằng thực hành đúng đắn và bằng sự vận dụng trực giác là phần việc của bạn. Cả tôi lẫn A.A.B. đều hoàn toàn không quan tâm đến việc chúng được tung hô như những trước tác được cảm hứng, hay việc có ai đó nói về chúng (với hơi thở nín lại) như là công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày chân lý theo cách tiếp nối tuần tự với điều đã được cống hiến trong các giáo huấn thế gian, nếu thông tin được đưa ra nâng khát vọng và Ý Chí-Phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi mà tại đó có thể tìm thấy các Chân sư) thì chúng sẽ hoàn thành mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền đạt khơi dậy sự đáp ứng từ trí tuệ được soi sáng của người hoạt động trong thế gian, và mang lại sự bừng sáng của trực giác của y, thì hãy chấp nhận giáo huấn đó. Nhưng không phải cách khác. Nếu các phát biểu ấy gặp được sự xác nhận về sau, hoặc được xem là đúng dưới phép thử của định luật tương ứng, thì điều đó là tốt đẹp. Nhưng nếu không phải như vậy, thì đạo sinh đừng chấp nhận điều được nói ra.

AUGUST 1934

AUGUST 1934

THE GREAT INVOCATIONĐẠI KHẤN NGUYỆN

From the point of Light within the Mind of God

Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế

Let light stream forth into the minds of men.

Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người

Let Light descend on Earth.

Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian

From the point of Love within the Heart of God

Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế

Let love stream forth into the hearts of men.

Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người

May Christ return to Earth.

Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian

From the centre where the Will of God is known

Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế

Let purpose guide the little wills of men—

Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người

The purpose which the Masters know and serve.

Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự

From the centre which we call the race of men

Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người

Let the Plan of Love and Light work out.

Cầu xin Thiên Cơ, Tình thương và Ánh sáng được thực thi

And may it seal the door where evil dwells.

Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác

Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.

Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian

“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”

“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi Sắc tướng, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể Tính vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.”

ALICE A. BAILEY

ALICE A. BAILEY

INTRODUCTORY REMARKSNHỮNG NHẬN XÉT MỞ ĐẦU

[1]

[1]

The entire subject of healing is as old as the ages themselves, and has ever been the subject of investigation and experiment. But as to the right use of the healing faculty and forces, the knowledge is in its infancy. Only in this age and generation is it at last possible to impart the laws of magnetic healing, and to indicate the causes of those diseases—originating in the three inner bodies—which today devastate the human frame, cause endless suffering and pain, and usher man through the portal which leads to the world of bodiless existence. Only today is man at the point in the evolution of his consciousness where he can begin to realise the power of the subjective worlds, and the new and vast science of psychology is his response to this growing interest. Processes of adjustment, of elimination and of cure engage the minds of all thoughtful people as well as of all suffering people. We have much to do, and I ask therefore for patience on your part.

Toàn bộ đề tài trị liệu xưa như chính các thời đại, và luôn luôn là đối tượng của sự khảo cứu và thử nghiệm. Nhưng về việc sử dụng đúng đắn năng lực và các mãnh lực trị liệu thì tri thức vẫn còn ở thời kỳ ấu trĩ. Chỉ trong thời đại và thế hệ này, cuối cùng mới có thể truyền đạt các định luật của trị liệu từ tính, và chỉ ra các nguyên nhân của những bệnh tật đó—phát sinh trong ba thể bên trong—mà ngày nay tàn phá cơ thể con người, gây ra đau khổ và đau đớn vô tận, và đưa con người đi qua cánh cổng dẫn đến thế giới tồn tại không thân xác. Chỉ ngày nay con người mới ở vào điểm tiến hoá trong tâm thức của mình mà tại đó y có thể bắt đầu chứng nghiệm quyền năng của các thế giới chủ quan, và khoa học mới mẻ và bao la về tâm lý học là sự đáp ứng của y đối với mối quan tâm đang lớn dần này. Các tiến trình điều chỉnh, loại bỏ và chữa trị đang thu hút trí óc của mọi người biết suy nghĩ cũng như của mọi người đang đau khổ. Chúng ta còn nhiều việc phải làm, và vì vậy tôi yêu cầu nơi bạn sự kiên nhẫn.

When one enters the realm of healing, one enters a world of much esoteric knowledge, and of an infinity of conclusions, and one is faced with the formulations of many minds, who, through the ages, have sought to heal and to help. The why and the wherefore of disease have been the subject of endless investigations and speculations, and much definite deduction has been made as to the cures of such complaints; there has been also much formulation of methods, of techniques, of formulae, of prescription, of varied manipulations and of [2] theories. All these serve to fill the mind with many ideas—some correct, some erroneous—and this makes it most difficult for new ideas to enter and for the student to assimilate the hitherto unknown.

Khi một người bước vào lĩnh vực trị liệu, người ấy bước vào một thế giới của nhiều tri thức huyền bí và của vô số kết luận, và phải đối diện với những công thức của nhiều trí tuệ, những người qua các thời đại đã tìm cách chữa lành và giúp đỡ. Cái tại sao và vì sao của bệnh tật đã là đối tượng của vô số cuộc khảo cứu và suy đoán, và nhiều suy luận xác định đã được đưa ra về cách chữa những chứng bệnh như thế; cũng đã có nhiều sự hình thành các phương pháp, kỹ thuật, công thức, toa thuốc, những thao tác đa dạng và các [2] lý thuyết. Tất cả những điều này làm đầy trí óc bằng nhiều ý tưởng—một số đúng, một số sai—và điều này khiến cho các ý tưởng mới rất khó đi vào và khiến đạo sinh khó đồng hoá điều từ trước đến nay chưa biết.

Aspirants lose much by refusing to let go of that which the lower mind cherishes. When they do succeed in being entirely open minded and are ready to accept the new theories and hypotheses, they discover that the old and dearly held truth is not really lost, but only relegated to its rightful place in a larger scheme.

Người chí nguyện mất mát nhiều khi từ chối buông bỏ điều mà hạ trí trân quý. Khi họ thực sự thành công trong việc hoàn toàn cởi mở và sẵn sàng chấp nhận các lý thuyết và giả thuyết mới, họ khám phá rằng chân lý cũ từng được gìn giữ tha thiết không thật sự mất đi, mà chỉ được đặt vào đúng vị trí của nó trong một hệ thống lớn hơn.

All initiates of the Ageless Wisdom are necessarily healers, though all may not heal the physical body. The reason for this is that all souls that have achieved any measure of true liberation are transmitters of spiritual energy. This automatically affects some aspect of the mechanism which is used by the souls they contact. When I employ the word “mechanism” in these instructions I refer to different aspects of the instrument, the body or form nature, through which all souls seek manifestation. I refer, therefore, to:

Mọi điểm đạo đồ của Minh Triết Ngàn Đời tất yếu đều là những người chữa lành, dù không phải tất cả đều chữa lành thể xác. Lý do là mọi linh hồn đã đạt được một mức độ giải thoát chân thực nào đó đều là những kẻ truyền dẫn năng lượng tinh thần. Điều này tự động ảnh hưởng đến một phương diện nào đó của bộ máy được các linh hồn mà họ tiếp xúc sử dụng. Khi tôi dùng từ “bộ máy” trong các chỉ dẫn này, tôi muốn nói đến những phương diện khác nhau của công cụ, của thể hay bản chất hình tướng, qua đó mọi linh hồn tìm cách biểu hiện. Vì vậy, tôi muốn nói đến:

1. The dense physical body, which is the sumtotal of all the organisms which compose it; these possess the varying functions which enable the soul to express itself on the physical or objective plane as part of a greater and more inclusive organism. The physical body is the response apparatus of the indwelling spiritual man and serves to put that spiritual entity en rapport with the response apparatus of the planetary Logos, the Life in which we live and move and have our being.

1. Thể xác đậm đặc, là tổng thể của mọi cơ quan cấu thành nên nó; chúng có những chức năng khác nhau giúp linh hồn biểu lộ chính mình trên cõi hồng trần hay cõi khách quan như một phần của một cơ thể lớn hơn và bao gồm hơn. Thể xác là bộ máy đáp ứng của con người tinh thần nội tại và dùng để đặt thực thể tinh thần đó vào mối tương quan với bộ máy đáp ứng của Hành Tinh Thượng đế, Sự sống mà trong đó chúng ta sống, vận động và hiện hữu.

2. The etheric body, which has one main objective. This is to vitalise and energise the physical body and thus integrate it into the energy body of the Earth and of the solar system. It is a web of energy streams, of lines of force and of light. It constitutes part of the vast network [3] of energies which underlies all forms whether great or small (microcosmic or macrocosmic). Along these lines of energy the cosmic forces flow, as the blood flows through the veins and arteries. This constant, individual—human, planetary and solar—circulation of life-forces through the etheric bodies of all forms is the basis of all manifested life, and the expression of the essential non-separateness of all life.

2. Thể dĩ thái, có một mục tiêu chính. Đó là tiếp sinh lực và cấp năng lượng cho thể xác và nhờ đó tích hợp nó vào thể năng lượng của Trái Đất và của hệ mặt trời. Nó là một mạng lưới các dòng năng lượng, các đường mãnh lực và ánh sáng. Nó cấu thành một phần của mạng lưới bao la [3] các năng lượng làm nền cho mọi hình tướng dù lớn hay nhỏ (tiểu thiên địa hay đại thiên địa). Dọc theo các đường năng lượng này, các mãnh lực vũ trụ lưu chuyển, như máu chảy qua các tĩnh mạch và động mạch. Sự tuần hoàn liên tục, riêng biệt—nhân loại, hành tinh và thái dương—của các mãnh lực sự sống qua các thể dĩ thái của mọi hình tướng là nền tảng của mọi sự sống biểu hiện, và là biểu hiện của tính bất khả phân ly cốt yếu của mọi sự sống.

3. The astral or desire body (sometimes called the emotional body) is the effect of the interplay of desire and of sentient response upon the self at the centre, and the resultant effect—in that body—is experienced as emotion and as pain and pleasure and the other pairs of opposites. In these two bodies, the etheric and astral bodies, ninety percent of the causes of physical disease and troubles is to be found.

3. Thể cảm dục hay thể dục vọng (đôi khi được gọi là thể cảm xúc) là hiệu quả của sự tương tác giữa dục vọng và sự đáp ứng cảm giác lên cái ngã ở trung tâm, và hiệu quả phát sinh—trong thể đó—được kinh nghiệm như cảm xúc, như đau đớn và khoái lạc cùng các cặp đối đãi khác. Trong hai thể này, thể dĩ thái và thể cảm dục, có thể tìm thấy chín mươi phần trăm các nguyên nhân của bệnh tật và rối loạn thể xác.

4. The mental body, or that much of the chitta or mind stuff which an individual human unit can use and impress, constitutes the fourth of the series of mechanisms at the disposal of the soul. At the same time let it not be forgotten that these four constitute one mechanism. Five percent of all modern disease originates in this body or state of consciousness, and here I wish to enunciate the truth that the constant reiteration by certain schools of healers that the mind is the cause of all sickness is not as yet a fact. A million years hence, when the focus of human attention has shifted from the emotional nature to the mind, and when men are essentially mental as today they are essentially emotional, then the causes of disease must be sought in the mind realm. They are today to be found (except in a few rare cases) in lack of vitality or in too much stimulation, and in the realm of feeling, of desires (thwarted or over-indulged) and in the moods, suppressions, or expressions of the deep-seated [4] longings, irritations, secret delights and the many hidden impulses which emanate from the desire life of the subject.

4. Thể trí, hay phần chitta hoặc chất liệu trí tuệ mà một đơn vị nhân loại cá biệt có thể sử dụng và gây ấn tượng lên, cấu thành cơ chế thứ tư trong chuỗi các cơ chế sẵn có cho linh hồn. Đồng thời, đừng quên rằng bốn thể này cấu thành một cơ chế duy nhất. Năm phần trăm mọi bệnh tật hiện đại phát sinh trong thể này hay trong trạng thái tâm thức này, và ở đây tôi muốn tuyên bố chân lý rằng việc một số trường phái trị liệu liên tục lặp đi lặp lại rằng trí tuệ là nguyên nhân của mọi bệnh tật hiện vẫn chưa phải là sự thật. Một triệu năm nữa, khi tiêu điểm chú ý của nhân loại đã chuyển từ bản chất cảm xúc sang trí tuệ, và khi con người về bản chất là trí tuệ như ngày nay họ về bản chất là cảm xúc, thì khi ấy các nguyên nhân của bệnh tật phải được tìm trong lĩnh vực trí tuệ. Ngày nay chúng được tìm thấy (trừ một vài trường hợp hiếm hoi) trong sự thiếu sinh lực hoặc trong sự kích thích quá mức, và trong lĩnh vực cảm giác, dục vọng (bị ngăn trở hoặc được nuông chiều quá độ) và trong các tâm trạng, các sự dồn nén, hay các biểu lộ của những [4] khát vọng sâu kín, những bực bội, những khoái lạc bí mật và nhiều xung lực ẩn giấu phát ra từ đời sống dục vọng của chủ thể.

This urge to be and to have has first of all built, and is building, the outer physical response apparatus, and is today forcing a mechanism that has been constructed essentially for physical ends, to serve more subjective purposes. This again produces trouble, and only when man realises that within the outer physical sheath there exist other bodies which serve more subtle response purposes will we see the gradual readjustment and health of the physical body. With these more subtle sheaths we shall later deal.

Sự thôi thúc được hiện hữu và được sở hữu này trước hết đã xây dựng, và đang xây dựng, bộ máy đáp ứng thể xác bên ngoài, và ngày nay đang buộc một cơ chế vốn được kiến tạo chủ yếu cho các mục đích thể xác phải phục vụ những mục đích chủ quan hơn. Điều này lại gây ra rắc rối, và chỉ khi con người chứng nghiệm rằng bên trong lớp vỏ thể xác bên ngoài còn có những thể khác phục vụ các mục đích đáp ứng tinh tế hơn, chúng ta mới thấy sự điều chỉnh dần dần và sức khỏe của thể xác. Với những lớp vỏ tinh tế hơn này, chúng ta sẽ bàn đến sau.

You naturally ask here: What is the general plan which I shall seek to follow as I instruct you in the laws of healing, those laws which guide the initiates and must gradually supersede the more physical methods of the present art of healing? You naturally also seek to know what is the special technique which you—as healers—must learn to employ, both as regards yourselves and as regards those you seek to heal. I will briefly outline the teaching I shall endeavour to give and point out where you must lay the emphasis, as you commence the study of this subject.

Tại đây, dĩ nhiên bạn hỏi: Kế hoạch tổng quát mà tôi sẽ cố gắng theo đuổi khi chỉ dạy bạn về các định luật trị liệu, những định luật hướng dẫn các điểm đạo đồ và phải dần dần thay thế các phương pháp thiên về thể xác hơn của nghệ thuật trị liệu hiện nay là gì? Dĩ nhiên bạn cũng muốn biết kỹ thuật đặc biệt nào mà bạn—với tư cách những người chữa lành—phải học để sử dụng, cả đối với chính mình lẫn đối với những người mà bạn tìm cách chữa lành. Tôi sẽ phác thảo ngắn gọn giáo huấn mà tôi sẽ cố gắng truyền đạt và chỉ ra nơi bạn phải đặt trọng tâm khi bắt đầu nghiên cứu đề tài này.

I shall endeavour first of all to touch upon the causes of disease, for the occult student must ever begin in the world of origins and not in the world of effects.

Trước hết, tôi sẽ cố gắng đề cập đến các nguyên nhân của bệnh tật, vì đạo sinh huyền bí học phải luôn luôn bắt đầu trong thế giới của các nguyên nhân chứ không phải trong thế giới của các hiệu quả.

In the second place, I shall elaborate the seven methods of healing which govern the “work of restitution” (as it is called in the occult terminology) as practiced by the initiates of the world. These determine the techniques which must be employed. You will note that these methods and techniques are conditioned by the rays (of which I have written in A Treatise on the Seven Rays Vol I & Vol II) and that therefore the healer has to take into [5] consideration not only his own ray but also the ray of the patient. There are therefore seven ray techniques, and these require elucidation before they can be applied intelligently.

Thứ hai, tôi sẽ khai triển bảy phương pháp trị liệu chi phối “công việc hoàn nguyên” (như nó được gọi trong thuật ngữ huyền bí học) như được các điểm đạo đồ của thế giới thực hành. Chúng quyết định các kỹ thuật phải được sử dụng. Bạn sẽ lưu ý rằng các phương pháp và kỹ thuật này được các cung quy định (mà tôi đã viết trong Luận về Bảy Cung Tập I & Tập II) và vì vậy người chữa lành phải xét đến [5] không chỉ cung của chính mình mà còn cả cung của bệnh nhân. Do đó có bảy kỹ thuật cung, và chúng cần được làm sáng tỏ trước khi có thể được áp dụng một cách thông minh.

In the third place, I shall lay emphasis upon psychological healing and upon the need to deal with the patient in his inner life, for the basic law underlying all occult healing may be stated to be as follows:

Thứ ba, tôi sẽ nhấn mạnh đến trị liệu tâm lý và đến nhu cầu phải đề cập đến bệnh nhân trong đời sống bên trong của y, vì định luật căn bản làm nền cho mọi trị liệu huyền bí có thể được phát biểu như sau:

LAW I

ĐỊNH LUẬT I

All disease is the result of inhibited soul life, and that is true of all forms in all kingdoms. The art of the healer consists in releasing the soul, so that its life can flow through the aggregate of organisms which constitute any particular form.

Mọi bệnh tật đều là kết quả của đời sống linh hồn bị ngăn trở, và điều đó đúng với mọi hình tướng trong mọi giới. Nghệ thuật của người chữa lành nằm ở việc giải phóng linh hồn, để sự sống của nó có thể tuôn chảy qua tập hợp các cơ quan cấu thành bất kỳ hình tướng riêng biệt nào.

It is interesting to note that the attempt of the scientist to release the energy of the atom is of the same general nature as the work of the esotericist when he endeavours to release the energy of the soul. In this release the nature of the true art of healing is hidden. Herein lies an occult hint.

Điều đáng chú ý là nỗ lực của nhà khoa học nhằm giải phóng năng lượng của nguyên tử có cùng bản chất tổng quát với công việc của nhà bí truyền học khi y cố gắng giải phóng năng lượng của linh hồn. Trong sự giải phóng này, bản chất của nghệ thuật trị liệu chân chính được ẩn giấu. Chính trong đó có một gợi ý huyền bí.

In the fourth place, we will consider the physical body, its diseases and ills, but only after we have studied that part of man which lies behind and surrounding the dense physical body. In that way we shall work from the world of inner causes to the world of outer happenings. We shall see that all that concerns the health of man originates from:

Thứ tư, chúng ta sẽ xem xét thể xác, các bệnh tật và đau yếu của nó, nhưng chỉ sau khi chúng ta đã nghiên cứu phần con người nằm phía sau và bao quanh thể xác đậm đặc. Bằng cách đó, chúng ta sẽ làm việc từ thế giới của các nguyên nhân bên trong đến thế giới của các biến cố bên ngoài. Chúng ta sẽ thấy rằng mọi điều liên quan đến sức khỏe của con người đều phát sinh từ:

1. The sumtotal of forces, feelings, desires and occasional mental processes which characterises the three subtler bodies and determines the life and experience of the physical body.

1. Tổng số các mãnh lực, cảm giác, dục vọng và những tiến trình trí tuệ thỉnh thoảng xuất hiện, vốn đặc trưng cho ba thể tinh tế hơn và quyết định đời sống cùng kinh nghiệm của thể xác.

2. The effect upon the physical body of the condition of humanity as a whole. A human being is an integral part of humanity, an organism in a greater organism. Conditions existing in the whole will be reflected in [6] the unit self, and many of the ills from which man suffers today are the effect upon him of conditions existing in the fourth kingdom in nature as a whole. For these he is not held responsible.

2. Hiệu quả lên thể xác của tình trạng của nhân loại như một toàn thể. Một con người là một phần không thể tách rời của nhân loại, một cơ thể trong một cơ thể lớn hơn. Những điều kiện hiện hữu trong toàn thể sẽ được phản ánh trong bản ngã đơn vị, và nhiều chứng bệnh mà con người đang chịu đựng ngày nay là hiệu quả nơi y của những điều kiện hiện hữu trong toàn bộ giới thứ tư trong thiên nhiên. Về những điều này, y không phải chịu trách nhiệm.

3. The effect upon his physical body of the planetary life, which is the expression of the life of the planetary Logos, Who is an evolving entity. The implications of this are largely beyond our ken, but the effects are discernible.

3. Hiệu quả lên thể xác của y của sự sống hành tinh, vốn là biểu hiện của sự sống của Hành Tinh Thượng đế, Đấng là một thực thể đang tiến hoá. Những hàm ý của điều này phần lớn vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta, nhưng các hiệu quả thì có thể nhận thấy.

I am not interested primarily in training individuals in order to make them more efficient healers. It is group healing at which I aim, and it is the work which is done in formation which interests me at this time. But no group of people can work as a unit unless they love and serve each other. The healing energy of the spiritual Hierarchy cannot flow through the group if there is disharmony and criticism. The first work, therefore, of any group of healers, is to establish themselves in love and to work towards group unity and understanding.

Mối quan tâm chính của tôi không phải là huấn luyện các cá nhân để làm cho họ thành những người chữa lành hữu hiệu hơn. Điều tôi nhắm đến là trị liệu nhóm, và điều khiến tôi quan tâm vào lúc này là công việc được thực hiện trong sự hình thành. Nhưng không một nhóm người nào có thể hoạt động như một đơn vị trừ phi họ yêu thương và phụng sự lẫn nhau. Năng lượng trị liệu của Huyền Giai Tinh Thần không thể tuôn chảy qua nhóm nếu có bất hòa và chỉ trích. Vì vậy, công việc đầu tiên của bất kỳ nhóm chữa lành nào là thiết lập chính mình trong tình thương và hướng đến sự hợp nhất cùng thấu hiểu nhóm.

I would like to point out here the need for patience as a healing group integrates and the auras of the group members blend. It takes a little time for people to learn to work together in perfect understanding and impersonality, and at the same time to achieve, during their work, a one-pointedness which will produce the needed group rhythm—a rhythm of such unity and intensity that the work can synchronise internally. Aspirants and students as they work along these lines must train themselves to think as a group, and to give to the group (without a niggardly or reticent spirit) the best that is in them, and also the fruit of their meditation upon these matters.

Tôi muốn chỉ ra ở đây nhu cầu về sự kiên nhẫn khi một nhóm chữa lành tích hợp và các hào quang của các thành viên trong nhóm hòa trộn với nhau. Cần một ít thời gian để con người học cách làm việc cùng nhau trong sự thấu hiểuvô ngã hoàn hảo, đồng thời đạt được, trong khi làm việc, một trạng thái nhất tâm sẽ tạo ra nhịp điệu nhóm cần thiết—một nhịp điệu hợp nhất và mãnh liệt đến mức công việc có thể đồng bộ hóa bên trong. Người chí nguyện và đạo sinh khi làm việc theo các đường lối này phải tự rèn luyện để suy nghĩ như một nhóm, và cống hiến cho nhóm (không với tinh thần keo kiệt hay dè dặt) điều tốt đẹp nhất nơi mình, cũng như thành quả của sự tham thiền của mình về các vấn đề này.

I might also add that these instructions must be as concise as possible. I shall have to endeavour to put much truth [7] and information into a brief space, so as to make each sentence convey some real idea and give some real light on the problems which confront a healing group. That which I have to say will fall into two parts: First, we will deal with the general work of healing and teaching, and this will involve the impartation by me of laws, of techniques and methods. Secondly, we will consider the healer and how he can perfect himself in the art of healing.

Tôi cũng có thể nói thêm rằng các chỉ dẫn này phải càng súc tích càng tốt. Tôi sẽ phải cố gắng đưa nhiều chân lý [7] và thông tin vào trong một không gian ngắn gọn, để mỗi câu truyền đạt một ý tưởng thực sự và soi sáng thực sự cho những vấn đề mà một nhóm chữa lành phải đối diện. Điều tôi phải nói sẽ chia thành hai phần: Thứ nhất, chúng ta sẽ đề cập đến công việc trị liệu và giảng dạy tổng quát, và điều này sẽ bao gồm việc tôi truyền đạt các định luật, kỹ thuật và phương pháp. Thứ hai, chúng ta sẽ xem xét người chữa lành và cách y có thể hoàn thiện chính mình trong nghệ thuật trị liệu.

Is it not true that the prime requisite of all healers is a sympathetic rapport with the patient, so that the healer achieves insight into the trouble and establishes the confidence of the patient?

Chẳng phải điều kiện tiên quyết hàng đầu của mọi người chữa lành là một mối tương giao cảm thông với bệnh nhân, để người chữa lành đạt được sự thấu suốt về chứng bệnh và thiết lập được lòng tin của bệnh nhân sao?

Two words I give you which embody the requirements of all true healers, and towards which you must work. They are Magnetism and Radiation. A healer must be magnetic above everything else, and he must attract to him:

Tôi trao cho bạn hai từ bao hàm các yêu cầu của mọi người chữa lành chân chính, và là điều mà bạn phải hướng đến. Đó là Từ điệnBức xạ. Trên hết mọi sự, một người chữa lành phải có từ tính, và y phải thu hút về mình:

a. The power of his own soul; this involves alignment through individual meditation.

a. Quyền năng của chính linh hồn mình; điều này bao hàm sự chỉnh hợp thông qua tham thiền cá nhân.

b. Those whom he can help; this involves a decentralised attitude.

b. Những người mà y có thể giúp; điều này bao hàm một thái độ phi tập trung vào bản thân.

c. Those energies, when need arises, which will stimulate the patient to the desired activity. This involves occult knowledge and a trained mind.

c. Những năng lượng, khi nhu cầu phát sinh, sẽ kích thích bệnh nhân đến hoạt động mong muốn. Điều này bao hàm tri thức huyền bí học và một trí tuệ được rèn luyện.

The healer must understand also how to radiate, for the radiation of the soul will stimulate to activity the soul of the one to be healed and the healing process will be set in motion; the radiation of his mind will illumine the other mind and polarise the will of the patient; the radiation of his astral body, controlled and selfless, will impose a rhythm upon the agitation of the patient’s astral body, and so enable the patient to take right action, whilst the radiation of the vital body, working through the splenic centre, will aid in [8] organising the patient’s force-body and so facilitate the work of healing. Therefore, the healer has the duty of rendering himself effective, and according to what he is, so will be the effect upon the patient. When a healer works magnetically and radiates his soul force to the patient, that patient is enabled more easily to achieve the end desired—which may be complete healing, or it may be the establishing of a state of mind which will enable the patient to live with himself and with his complaint, unhandicapped by the karmic limitations of the body. Or it may be enabling the patient to achieve (with joy and facility) the right liberation from the body and, through the portal of death, to pass to complete health.

Người chữa lành cũng phải thấu hiểu cách bức xạ, vì bức xạ của linh hồn sẽ kích thích linh hồn của người được chữa lành đi vào hoạt động và tiến trình trị liệu sẽ được khởi động; bức xạ của trí tuệ y sẽ soi sáng trí tuệ kia và phân cực ý chí của bệnh nhân; bức xạ của thể cảm dục của y, được kiểm soát và vô ngã, sẽ áp đặt một nhịp điệu lên sự xáo động của thể cảm dục của bệnh nhân, và nhờ đó giúp bệnh nhân có hành động đúng đắn, trong khi bức xạ của thể sinh lực, hoạt động qua Luân xa lá lách, sẽ hỗ trợ trong việc [8] tổ chức thể lực của bệnh nhân và nhờ đó tạo thuận lợi cho công việc trị liệu. Vì vậy, người chữa lành có bổn phận làm cho mình trở nên hữu hiệu, và tùy theo y là gì, hiệu quả lên bệnh nhân sẽ như thế. Khi một người chữa lành hoạt động một cách từ tính và bức xạ mãnh lực linh hồn của mình đến bệnh nhân, bệnh nhân đó sẽ dễ dàng hơn trong việc đạt đến mục đích mong muốn—có thể là sự chữa lành hoàn toàn, hoặc có thể là việc thiết lập một trạng thái tâm trí giúp bệnh nhân sống với chính mình và với chứng bệnh của mình mà không bị cản trở bởi những giới hạn nghiệp quả của thể xác. Hoặc có thể là giúp bệnh nhân đạt được (với sự hoan hỉ và dễ dàng) sự giải thoát đúng đắn khỏi thể xác và, qua cánh cổng tử vong, đi đến sức khỏe hoàn toàn.

PART ONE – The Basic Causes of DiseasePHẦN MỘT – Những Nguyên Nhân Căn Bản của Bệnh Tật

[9]

[9]

This is the problem with which all medical practice down the ages has wrestled. In our present mechanistic age we have wandered far to the surface of things and away from the partially true point of view of earlier centuries which traced disease back of the “evil humours” bred and festering in the inner subjective life of the patient. In the evolution of knowledge on every hand we are now on the surface of things (note I do not use the word “superficial”), and the hour has struck in which knowledge can again re-enter the realm of the subjective and transmute itself into wisdom. There is today a dawning recognition on the part of the best minds in the medical and allied professions, that in the subjective and hidden attitudes of the mind and of the emotional nature, and in the life of inhibited or excessive sex expression, must be sought the causes of all disease.

Đây là vấn đề mà mọi thực hành y khoa qua các thời đại đã vật lộn. Trong thời đại cơ giới hiện nay của chúng ta, chúng ta đã đi quá xa ra bề mặt của sự vật và rời xa quan điểm phần nào đúng đắn của các thế kỷ trước, vốn truy nguyên bệnh tật về những “dịch thể xấu” được sinh ra và nung mủ trong đời sống chủ quan bên trong của bệnh nhân. Trong sự tiến hoá của tri thức ở khắp nơi, hiện nay chúng ta đang ở trên bề mặt của sự vật (xin lưu ý tôi không dùng từ “hời hợt”), và giờ đây đã đến lúc tri thức có thể một lần nữa đi vào lĩnh vực chủ quan và chuyển hoá chính nó thành minh triết. Ngày nay đang có một sự nhận biết đang ló rạng nơi những trí tuệ ưu tú nhất trong ngành y và các ngành liên hệ, rằng trong những thái độ chủ quan và ẩn kín của trí tuệ và của bản chất cảm xúc, cũng như trong đời sống biểu lộ tính dục bị ngăn trở hay quá mức, phải tìm ra các nguyên nhân của mọi bệnh tật.

From the beginning of our studies, I would like to point out that the ultimate cause of disease, even if known to me, would fail to be comprehended by you. The cause lies back in the history of the distant past of our planet, in the career (occultly understood) of the planetary Life, and that it has its roots in what is largely designated “cosmic evil.” This is a perfectly meaningless phrase, but one that is symbolically descriptive of a condition in consciousness which is that of [10] certain of the “imperfect Gods.” Given the initial premise that Deity itself is working towards a perfection past our comprehension, it may be inferred that there may exist for the Gods Themselves and for GOD (as the LIFE of the solar system), certain limitations and certain areas or states of consciousness which still await mastering. These limitations and relative imperfections may cause definite effects in Their bodies of manifestation—the various planets as expressions of Lives, and the solar system as the expression of a LIFE. Given also the hypothesis that these outer bodies of divinity, the planets, are the forms through which certain Deities express Themselves, it may be a true and logical deduction that all lives and forms within those bodies may be necessarily subject also to these limitations, and to the imperfections growing out of these unconquered areas of consciousness and these states of awareness, hitherto unrealised by the Deities, incarnated in planetary and solar form. Given the postulate that every form is a part of a still greater form, and that we do indeed “live and move and have our being” within the body of God (as St. Paul expresses it) we, as integral parts of the fourth kingdom in nature, share in this general limitation and imperfection.

Ngay từ đầu các nghiên cứu của chúng ta, tôi muốn chỉ ra rằng nguyên nhân tối hậu của bệnh tật, ngay cả nếu tôi biết, cũng sẽ không thể được bạn thấu hiểu. Nguyên nhân ấy nằm lui về trong lịch sử quá khứ xa xăm của hành tinh chúng ta, trong sự nghiệp (được hiểu theo huyền bí học) của Sự Sống hành tinh, và nó có gốc rễ trong điều phần lớn được gọi là “điều ác vũ trụ.” Đây là một cụm từ hoàn toàn vô nghĩa, nhưng lại mô tả một cách biểu tượng về một tình trạng trong tâm thức vốn là tình trạng của [10] một số “Thượng đế bất toàn.” Nếu chấp nhận tiền đề ban đầu rằng chính Thượng đế cũng đang tiến đến một sự hoàn hảo vượt ngoài sự hiểu biết của chúng ta, thì có thể suy ra rằng đối với chính các Thượng đế và đối với THƯỢNG ĐẾ (với tư cách là SỰ SỐNG của hệ mặt trời), có thể tồn tại những giới hạn nhất định và những khu vực hay trạng thái tâm thức nào đó vẫn còn chờ được làm chủ. Những giới hạn và bất toàn tương đối này có thể gây ra những hiệu quả xác định trong các thể biểu hiện của Các Ngài—các hành tinh khác nhau như những biểu hiện của các Sự Sống, và hệ mặt trời như biểu hiện của một SỰ SỐNG. Nếu cũng chấp nhận giả thuyết rằng những thể bên ngoài của thiên tính này, các hành tinh, là những hình tướng qua đó một số Thượng đế biểu lộ Chính Các Ngài, thì có thể là một suy luận đúng đắn và hợp lý rằng mọi sự sống và hình tướng bên trong những thể ấy cũng tất yếu phải chịu những giới hạn này, và những bất toàn phát sinh từ các khu vực tâm thức chưa được chinh phục và các trạng thái nhận biết mà cho đến nay các Thượng đế, đang nhập thể trong hình tướng hành tinh và thái dương, vẫn chưa chứng nghiệm. Nếu chấp nhận định đề rằng mọi hình tướng là một phần của một hình tướng còn lớn hơn nữa, và rằng quả thật chúng ta “sống, vận động và hiện hữu” trong thể của Thượng đế (như Thánh Paul diễn đạt) thì chúng ta, với tư cách là những phần không thể tách rời của giới thứ tư trong thiên nhiên, cùng chia sẻ giới hạn và bất toàn chung này.

More than this general premise is beyond our powers to grasp and to express, for the general mental equipment of the average aspirant and disciple is inadequate to the task. Such terms as “cosmic evil, divine imperfection, limited areas of consciousness, the freedom of pure spirit, divine mind,” which are so freely bandied about by the mystical and occult thinkers of the time: What do they really mean? The affirmations of many schools of healing as to ultimate divine perfection, and the formulation of their beliefs in the real freedom of humanity from ordinary ills of the flesh, are they not frequently high sounding phrases, embodying an ideal, and based often on selfish desire? Do they not constitute [11] utterly meaningless sentences in their mystical implications? How can it be otherwise, when only the perfected man has any real idea of what constitutes divinity?

Ngoài tiền đề tổng quát này, mọi điều khác đều vượt ngoài khả năng nắm bắt và diễn đạt của chúng ta, vì trang bị trí tuệ tổng quát của người chí nguyện và đệ tử trung bình không đủ cho nhiệm vụ ấy. Những thuật ngữ như “ác vũ trụ, bất toàn thiêng liêng, các khu vực tâm thức bị giới hạn, sự tự do của tinh thần thuần túy, trí tuệ thiêng liêng,” vốn được các nhà tư tưởng thần bí và huyền bí học của thời đại này tung ra quá dễ dàng: chúng thực sự có nghĩa là gì? Những khẳng định của nhiều trường phái trị liệu về sự hoàn hảo thiêng liêng tối hậu, và việc hình thành các niềm tin của họ về sự tự do thực sự của nhân loại khỏi những đau yếu thông thường của xác thân, chẳng phải thường chỉ là những cụm từ kêu vang, hàm chứa một lý tưởng, và thường dựa trên dục vọng ích kỷ sao? Chẳng phải chúng cấu thành [11] những câu hoàn toàn vô nghĩa trong các hàm ý thần bí của chúng sao? Làm sao có thể khác được, khi chỉ con người hoàn hảo mới có một ý niệm thực sự về điều gì cấu thành thiên tính?

It is surely better for us to admit that it is not possible for man to understand the deep-seated causes of that which can be seen emerging in the evolution of form life. Is it not wise to face the issue and the facts, as they exist for our present realisation, and understand that just as man can enter more intelligently into the mind of God than can the lesser mind of the animal, so there may exist other and greater Minds, functioning in other and higher kingdoms in nature which will surely see life more truly and more accurately than does mankind? It is possible, is it not, that the objective of evolution (as outlined and emphasised by man) may (in the last analysis) be only that partial fragment of a greater objective than he, with his finite understanding, can grasp. The whole intent, as it lies hid in the mind of God, may be very different to what man may conceive today, and cosmic evil and cosmic good, reduced to terminologies, may lose their significance altogether, and are only to be seen through the glamour and the illusion with which man surrounds all things. The best minds of this age are only just beginning to see the first dim ray of light which is piercing this glamour, and serving first of all to reveal the fact of illusion. Through the light thus cast, the following truth may stand revealed to those who have the expectant attitude and the open mind: Deity itself is on the road towards perfection. The implications of that statement are many.

Chắc chắn tốt hơn cho chúng ta là thừa nhận rằng con người không thể thấu hiểu những nguyên nhân sâu xa của điều có thể thấy đang xuất hiện trong sự tiến hoá của đời sống hình tướng. Chẳng phải là khôn ngoan khi đối diện với vấn đề và với các sự kiện như chúng hiện hữu đối với sự chứng nghiệm hiện nay của chúng ta, và hiểu rằng cũng như con người có thể đi vào trí của Thượng đế một cách thông minh hơn so với trí tuệ thấp hơn của con vật, thì cũng có thể tồn tại những Trí Tuệ khác và lớn lao hơn, hoạt động trong những giới khác và cao hơn trong thiên nhiên, chắc chắn sẽ thấy sự sống chân thực và chính xác hơn nhân loại sao? Có thể chăng mục tiêu của tiến hoá (như được con người phác họa và nhấn mạnh) rốt cuộc chỉ là một mảnh vụn bộ phận của một mục tiêu lớn hơn mà y, với sự hiểu biết hữu hạn của mình, không thể nắm bắt. Toàn bộ ý định, như nó ẩn trong trí của Thượng đế, có thể rất khác với điều con người có thể hình dung ngày nay, và ác vũ trụ cùng thiện vũ trụ, khi bị giản lược thành thuật ngữ, có thể hoàn toàn mất đi thâm nghĩa của chúng, và chỉ được nhìn thấy qua ảo cảm và ảo tưởng mà con người bao phủ lên mọi sự. Những trí tuệ ưu tú nhất của thời đại này mới chỉ bắt đầu thấy tia sáng mờ nhạt đầu tiên đang xuyên thủng ảo cảm này, và trước hết giúp phơi bày sự kiện của ảo tưởng. Qua ánh sáng được chiếu rọi như thế, chân lý sau đây có thể được mặc khải cho những ai có thái độ chờ đợi và trí tuệ cởi mở: Chính Thượng đế cũng đang trên con đường tiến đến hoàn hảo. Những hàm ý của phát biểu đó thật nhiều.

In dealing with the causes of disease, we will take the position that the foundational and ultimate cosmic cause lies beyond our comprehension, and that only as the kingdom of God is revealed on earth shall we enter into some real understanding of the general widespread disease to be found upon our planet in all the four kingdoms in nature. A few [12] basic statements can be made, however, which will be found true eventually in the macrocosmic sense, and can already be demonstrated to be true where the microcosm is intelligently concerned.

Khi đề cập đến các nguyên nhân của bệnh tật, chúng ta sẽ giữ lập trường rằng nguyên nhân vũ trụ nền tảng và tối hậu nằm ngoài sự hiểu biết của chúng ta, và chỉ khi Thiên Giới được mặc khải trên trần gian thì chúng ta mới đi vào một sự thấu hiểu thực sự nào đó về bệnh tật phổ biến rộng khắp được tìm thấy trên hành tinh chúng ta trong cả bốn giới trong thiên nhiên. Tuy nhiên, có thể đưa ra một vài [12] phát biểu căn bản, mà cuối cùng sẽ được thấy là đúng theo nghĩa đại thiên địa, và đã có thể được chứng minh là đúng khi tiểu thiên địa được xét đến một cách thông minh.

1. All disease (and this is a platitude) is caused by lack of harmony—a disharmony to be found existing between the form aspect and the life. That which brings together form and life, or rather, that which is the result of this intended union, we call the soul, the self where humanity is concerned, and the integrating principle where the subhuman kingdoms are concerned. Disease appears where there is a lack of alignment between these various factors, the soul and the form, the life and its expression, the subjective and the objective realities. Consequently, spirit and matter are not freely related to each other. This is one mode of interpreting Law I, and the entire thesis is intended to be an exposition of that Law.

1. Mọi bệnh tật (và đây là một điều sáo mòn) đều do thiếu hài hòa gây ra—một sự bất hòa được tìm thấy giữa phương diện hình tướng và sự sống. Điều kết hợp hình tướng và sự sống lại với nhau, hay đúng hơn, điều là kết quả của sự kết hợp được chủ định này, chúng ta gọi là linh hồn, là bản ngã trong trường hợp nhân loại, và là nguyên lý tích hợp trong trường hợp các giới dưới nhân loại. Bệnh tật xuất hiện nơi nào có sự thiếu chỉnh hợp giữa các yếu tố khác nhau này, linh hồn và hình tướng, sự sống và biểu hiện của nó, các thực tại chủ quan và khách quan. Do đó, tinh thần và vật chất không liên hệ tự do với nhau. Đây là một cách diễn giải Định luật I, và toàn bộ luận đề này nhằm trình bày định luật đó.

2. This lack of harmony, producing what we call disease, runs through all the four kingdoms in nature, and causes those conditions which produce pain (where the sentiency is exquisite and developed) and everywhere congestion, corruption and death. Ponder on these words: Inharmony, Disease, Pain, Congestion, Corruption, Death, for they are descriptive of the general condition governing the conscious life of all forms, macrocosmic and microcosmic. They are not causes.

2. Sự thiếu hài hòa này, tạo ra điều mà chúng ta gọi là bệnh tật, xuyên suốt cả bốn giới trong thiên nhiên, và gây ra những điều kiện tạo nên đau đớn (nơi cảm năng tinh tế và phát triển) và ở khắp nơi là sự tắc nghẽn, hư hoại và cái chết. Hãy suy ngẫm về những từ này: Bất hòa, Bệnh tật, Đau đớn, Tắc nghẽn, Hư hoại, Cái chết, vì chúng mô tả tình trạng chung chi phối đời sống hữu thức của mọi hình tướng, đại thiên địa và tiểu thiên địa. Chúng không phải là nguyên nhân.

3. All these conditions, however, can be regarded as purificatory in their effects, and must be so regarded by humanity if the right attitude towards disease is to be assumed. This is oft forgotten by the fanatical healer and by the radical exponent of an idea, finitely grasped and in most cases only part of a greater idea. [13]

3. Tuy nhiên, tất cả những điều kiện này có thể được xem là có tác dụng thanh lọc, và nhân loại phải xem như vậy nếu muốn có thái độ đúng đối với bệnh tật. Điều này thường bị quên lãng bởi người chữa lành cuồng tín và bởi người chủ trương cực đoan của một ý tưởng, được nắm bắt một cách hữu hạn và trong hầu hết trường hợp chỉ là một phần của một ý tưởng lớn hơn. [13]

4. Methods of healing and techniques of alleviation are peculiar to humanity and are the result of man’s mental activity. They indicate his latent power as a creator, and as one who progresses towards freedom. They indicate his discriminative ability to sense perfection, to vision the goal, and hence to work towards that ultimate liberation. His error at this time consists in:

4. Các phương pháp trị liệu và kỹ thuật làm giảm nhẹ là đặc thù của nhân loại và là kết quả của hoạt động trí tuệ của con người. Chúng chỉ ra quyền năng tiềm ẩn của y với tư cách một đấng sáng tạo, và như một kẻ đang tiến đến tự do. Chúng chỉ ra khả năng phân biện của y để cảm nhận sự hoàn hảo, để có linh ảnh về mục tiêu, và do đó để hướng đến sự giải thoát tối hậu ấy. Sai lầm của y vào lúc này nằm ở:

a. His inability to see the true uses of pain.

a. Sự bất lực của y trong việc thấy những công dụng chân thực của đau đớn.

b. His resentment at suffering.

b. Sự oán giận của y đối với đau khổ.

c. His misunderstanding of the law of nonresistance.

c. Sự hiểu sai của y về định luật không kháng cự.

d. His over-emphasis of the form nature.

d. Sự nhấn mạnh quá mức của y vào bản chất hình tướng.

e. His attitude to death, and his feeling that the disappearance of the life out of visual perception through the medium of form, and the consequent disintegration of that form, indicates disaster.

e. Thái độ của y đối với cái chết, và cảm giác của y rằng sự biến mất của sự sống khỏi nhận thức thị giác qua trung gian của hình tướng, và sự tan rã tiếp theo của hình tướng đó, là một tai họa.

5. When human thought reverses the usual ideas as to disease, and accepts disease as a fact in nature, man will begin to work with the law of liberation, with right thought, leading to nonresistance. At present, by the power of his directed thought and his intense antagonism to disease, he only tends to energise the difficulty. When he reorients his thought to truth and the soul, physical plane ills will begin to disappear. This will become apparent as we study later the method of eradication. Disease exists. Forms in all kingdoms are full of inharmony and out of alignment with the indwelling life. Disease and corruption and the tendency towards dissolution are found everywhere. I am choosing my words with care.

5. Khi tư tưởng của con người đảo ngược những quan niệm thông thường về bệnh tật, và chấp nhận bệnh tật như một sự kiện trong thiên nhiên, con người sẽ bắt đầu làm việc với định luật giải thoát, với tư tưởng đúng đắn, dẫn đến không kháng cự. Hiện nay, bằng quyền năng của tư tưởng được định hướng và sự đối kháng mãnh liệt của mình đối với bệnh tật, y chỉ có khuynh hướng tiếp năng lượng cho khó khăn mà thôi. Khi y tái định hướng tư tưởng của mình về chân lý và linh hồn, những đau yếu cõi hồng trần sẽ bắt đầu biến mất. Điều này sẽ trở nên rõ ràng khi sau này chúng ta nghiên cứu phương pháp loại trừ. Bệnh tật hiện hữu. Các hình tướng trong mọi giới đều đầy bất hòa và không chỉnh hợp với sự sống nội tại. Bệnh tật, hư hoại và khuynh hướng tan rã được tìm thấy ở khắp nơi. Tôi đang chọn từ ngữ của mình một cách cẩn trọng.

6. Disease is not, therefore, the result of wrong human thought. It existed among the many forms of life long before the human family appeared on earth. If you seek verbal expression, and if you want to talk within the limits of the human mind, you can say with a measure of accuracy: God, [14] the planetary Deity, is guilty of wrong thinking. But you will not be expressing the truth, but only a tiny fraction of the cause, as it appears to your feeble finite mind, through the medium of the general world glamour and illusion.

6. Vì vậy, bệnh tật không phải là kết quả của tư tưởng sai lầm của con người. Nó đã tồn tại giữa nhiều hình tướng sự sống từ lâu trước khi gia đình nhân loại xuất hiện trên trần gian. Nếu bạn tìm kiếm một cách diễn đạt bằng lời, và nếu bạn muốn nói trong giới hạn của trí tuệ con người, bạn có thể nói với một mức độ chính xác nào đó: Thượng đế, [14] Hành Tinh Thượng đế, có lỗi vì tư tưởng sai lầm. Nhưng bạn sẽ không diễn đạt chân lý, mà chỉ một phần rất nhỏ của nguyên nhân, như nó hiện ra đối với trí tuệ hữu hạn yếu ớt của bạn, qua trung gian của ảo cảm và ảo tưởng chung của thế gian.

7. From one angle, disease is a process of liberation, and the enemy of that which is static and crystallised. Think not, from what I say, that therefore disease should be welcomed, and that the process of death should be cherished. Were that the case, one would cultivate disease and put a premium on suicide. Fortunately for humanity, the whole tendency of life is against disease, and the reaction of the form life upon the thought of man fosters the fear of death. This has been rightly so, for the instinct of self-preservation and the preservation of form integrity is a vital principle in matter, and the tendency to self-perpetuation of the life within the form is one of our greatest God-given capacities and will persist. But in the human family this must eventually give place to the use of death as the organised, freeing process in order to conserve force and give to the soul a better instrument of manifestation. For this liberty of action, mankind as a whole is not yet ready. The disciples and aspirants of the world should now, however, begin to grasp these newer principles of existence. The instinct to self-preservation governs the relation of spirit and matter, of life and form as long as the Deity Himself wills to incarnate within His body of manifestation—a planet, or a solar system. I have in the above statement given to you a hint as to one of the basic causes of disease, and to the endless fight between the imprisoned spirit and the imprisoning form. This fight uses for its method that innate quality which expresses itself as the urge to preserve and the urge to perpetuate—both the present form and the species. [15]

7. Từ một góc độ, bệnh tật là một tiến trình giải phóng, và là kẻ thù của điều tĩnh tại và kết tinh. Từ những gì tôi nói, đừng nghĩ rằng vì vậy bệnh tật nên được hoan nghênh, và tiến trình chết nên được trân trọng. Nếu đúng như thế, người ta sẽ nuôi dưỡng bệnh tật và treo giải thưởng cho tự sát. May thay cho nhân loại, toàn bộ khuynh hướng của sự sống là chống lại bệnh tật, và phản ứng của đời sống hình tướng đối với tư tưởng của con người nuôi dưỡng nỗi sợ cái chết. Điều này là đúng đắn, vì bản năng tự bảo tồn và bảo tồn tính toàn vẹn của hình tướng là một nguyên khí thiết yếu trong vật chất, và khuynh hướng tự duy trì của sự sống bên trong hình tướng là một trong những năng lực lớn lao nhất do Thượng đế ban cho chúng ta và sẽ còn tồn tại. Nhưng trong gia đình nhân loại, điều này cuối cùng phải nhường chỗ cho việc sử dụng cái chết như một tiến trình giải phóng có tổ chức nhằm bảo tồn mãnh lực và trao cho linh hồn một công cụ biểu hiện tốt hơn. Đối với sự tự do hành động này, toàn thể nhân loại vẫn chưa sẵn sàng. Tuy nhiên, các đệ tử và người chí nguyện của thế giới giờ đây nên bắt đầu nắm bắt những nguyên lý hiện hữu mới mẻ hơn này. Bản năng tự bảo tồn chi phối mối liên hệ giữa tinh thần và vật chất, giữa sự sống và hình tướng chừng nào chính Thượng đế còn muốn nhập thể trong thể biểu hiện của Ngài—một hành tinh, hay một hệ mặt trời. Trong phát biểu trên, tôi đã trao cho bạn một gợi ý về một trong những nguyên nhân căn bản của bệnh tật, và về cuộc chiến vô tận giữa tinh thần bị giam cầm và hình tướng giam cầm. Cuộc chiến này sử dụng làm phương pháp của nó phẩm tính bẩm sinh biểu lộ như sự thôi thúc bảo tồn và sự thôi thúc duy trì—cả hình tướng hiện tại lẫn loài. [15]

8. The law of cause and effect, called Karma in the East, governs all this. Karma must be regarded in reality as the effect (in the form life of our planet) of causes, deep-seated and hidden in the mind of God. The causes that we may trace in relation to disease and death are in reality only the working out of certain basic principles which govern—rightly or wrongly, who shall say?—the life of God in form, and they must ever remain incomprehensible to man until such time as he takes the great initiation which is symbolised for us in the Transfiguration. All along in our studies, we shall be dealing with secondary causes and their effects, with the phenomenal results of those subjective effects which emanate from causes too far away for us to grasp. This should be admitted and grasped. This is the best man can do with his present mental apparatus. When the intuition rarely works, and the mind is seldom illumined, why should man arrogantly expect to understand everything? Let him work at the development of his intuition and at achieving illumination. Understanding may then come his way. He will have earned the right to divine knowledge. But the above recognition will suffice for our work and will enable us to lay down those laws and principles which will indicate the way humanity may gain release from the form consciousness and consequent immunity from the victory of death and those disease-dealing conditions which govern today our planetary manifestation.

8. Định luật nhân quả, được gọi là Karma ở phương Đông, chi phối tất cả điều này. Thực ra, Karma phải được xem là hiệu quả (trong sự sống hình tướng của hành tinh chúng ta) của những nguyên nhân ăn sâu và ẩn kín trong Trí của Thượng đế. Những nguyên nhân mà chúng ta có thể truy tìm liên quan đến bệnh tật và cái chết, thực ra chỉ là sự triển khai của một số nguyên lý căn bản chi phối—đúng hay sai, ai có thể nói được?—sự sống của Thượng đế trong hình tướng, và chúng mãi mãi vẫn không thể hiểu nổi đối với con người cho đến khi y trải qua cuộc điểm đạo lớn được tượng trưng cho chúng ta trong Biến hình. Trong suốt quá trình nghiên cứu của chúng ta, chúng ta sẽ bàn đến các nguyên nhân thứ yếu và các hiệu quả của chúng, đến các kết quả hiện tượng của những hiệu quả chủ quan phát xuất từ những nguyên nhân quá xa vời để chúng ta nắm bắt. Điều này cần được thừa nhận và nắm vững. Đó là điều tốt nhất con người có thể làm với bộ máy trí tuệ hiện nay của mình. Khi trực giác hiếm khi hoạt động, và trí tuệ hiếm khi được soi sáng, tại sao con người lại kiêu ngạo mong hiểu được mọi sự? Hãy để y nỗ lực phát triển trực giác của mình và đạt đến sự soi sáng. Khi đó, sự thấu hiểu có thể đến với y. Y sẽ xứng đáng với quyền được biết tri thức thiêng liêng. Nhưng sự nhìn nhận trên đây là đủ cho công việc của chúng ta và sẽ giúp chúng ta nêu ra những định luật và nguyên lý chỉ ra con đường mà nhân loại có thể đạt được sự giải thoát khỏi tâm thức hình tướng và do đó miễn nhiễm khỏi sự chiến thắng của cái chết cùng những tình trạng gây bệnh đang chi phối sự biểu hiện hành tinh của chúng ta ngày nay.

We will divide our consideration of the causes of disease into three parts, eliminating from our quest for truth the quite understandable but equally futile desire to apprehend the mind of Deity.

Chúng ta sẽ chia việc xem xét các nguyên nhân của bệnh tật thành ba phần, loại bỏ khỏi cuộc truy tầm chân lý của mình khát vọng hoàn toàn dễ hiểu nhưng cũng hoàn toàn vô ích là nắm bắt Trí của Thượng đế.

I. The psychological causes.

I. Các nguyên nhân tâm lý.

II. Causes emanating from group life.

II. Các nguyên nhân phát xuất từ đời sống nhóm.

III. Our karmic liabilities, the karmic causes.

III. Các món nợ nghiệp quả của chúng ta, các nguyên nhân nghiệp quả.

[16]

[16]

In all this we shall but gain a general idea (all that is now possible) as to the presence of disease in the human family, and of that to be found also, in part, in the animal kingdom. When this general idea is grasped, we shall have a clearer understanding of our problem and can then proceed with our consideration of the methods which will enable us to handle the undesirable effects with greater facility. Students of the Art of Healing should likewise remember that there are three ways in which healing can be brought about, and that all three ways have their place and value, dependent upon the point in evolution of the subject being healed.

Trong tất cả điều này, chúng ta chỉ đạt được một ý niệm tổng quát (là tất cả những gì hiện nay có thể có) về sự hiện diện của bệnh tật trong gia đình nhân loại, và cả về điều cũng được tìm thấy, phần nào, trong giới động vật. Khi ý niệm tổng quát này được nắm vững, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn vấn đề của mình và khi đó có thể tiến tới xem xét các phương pháp giúp chúng ta xử lý những hiệu quả không mong muốn một cách dễ dàng hơn. Các đạo sinh của Nghệ Thuật Chữa Lành cũng nên nhớ rằng có ba cách mà sự chữa lành có thể được thực hiện, và cả ba cách đều có vị trí và giá trị của chúng, tùy thuộc vào điểm tiến hoá của đối tượng được chữa lành.

First, there is the application of those palliatives and ameliorating methods which gradually cure disease and eliminate undesirable conditions; they build up the form life and foster the vitality, so that disease can be thrown off. Of these methods the allopathic and the homeopathic schools and the various osteopathic and chiropractic and other therapeutic schools are good exponents. They have done much good and constructive work, and the debt of humanity to the wisdom, skill and unselfish attentions of the physicians is great. They are dealing all the time with urgent conditions and dangerous effects of causes which are not apparent on the surface. Under these methods, the patient is in the hands of an outside party, and should be passive, quiescent and negative.

Thứ nhất, có sự áp dụng những phương pháp làm dịu và cải thiện, dần dần chữa lành bệnh tật và loại bỏ những tình trạng không mong muốn; chúng xây dựng sự sống hình tướng và nuôi dưỡng sinh lực, để bệnh tật có thể bị loại bỏ. Trong số những phương pháp này, các trường phái đối chứng và đồng căn cùng các trường phái nắn xương, chỉnh cột sống và các trường phái trị liệu khác là những đại diện tốt. Chúng đã làm được nhiều công việc tốt đẹp và có tính xây dựng, và món nợ của nhân loại đối với minh triết, kỹ năng và sự chăm sóc vô ngã của các y sĩ là rất lớn. Họ luôn luôn xử lý những tình trạng khẩn cấp và những hiệu quả nguy hiểm của các nguyên nhân không biểu lộ trên bề mặt. Theo những phương pháp này, bệnh nhân ở trong tay một tác nhân bên ngoài, và nên thụ động, yên lặng và tiêu cực.

Secondly, there is the appearance of the work and methods of the modern psychologist, who seeks to deal with subjective conditions and to straighten out those wrong attitudes of mind, those inhibitions, psychoses, and complexes which bring about the outer states or disease, the morbid conditions and neurotic and mental disasters. Under this method, the patient is taught to cooperate as much as he can with the psychologist, so that he may arrive at a proper [17] understanding of himself, and so learn to eradicate those inner compelling situations which are responsible for the outer results. He is trained to be positive and active, and this is a great step in the right direction. The tendency to combine psychology with the outer physical treatment is sound and right.

Thứ hai, có sự xuất hiện của công việc và các phương pháp của nhà tâm lý học hiện đại, người tìm cách xử lý các tình trạng chủ quan và điều chỉnh những thái độ sai lầm của trí tuệ, những sự ức chế, loạn tâm thần và phức cảm gây ra các trạng thái bên ngoài hay bệnh tật, các tình trạng bệnh hoạn và những tai họa thần kinh và trí tuệ. Theo phương pháp này, bệnh nhân được dạy phải hợp tác tối đa với nhà tâm lý học, để y có thể đi đến một sự [17] thấu hiểu đúng đắn về chính mình, và nhờ đó học cách loại trừ những tình huống cưỡng bách bên trong vốn chịu trách nhiệm về các kết quả bên ngoài. Y được huấn luyện để tích cực và chủ động, và đây là một bước tiến lớn theo đúng hướng. Khuynh hướng kết hợp tâm lý học với việc điều trị thể xác bên ngoài là lành mạnh và đúng đắn.

Thirdly, the highest and the newest method is that of calling into positive activity a man’s own soul. The true and the future healing is brought about when the life of the soul can flow without any impediment and hindrance throughout every aspect of the form nature. It can then vitalise it with its potency, and can also eliminate those congestions and obstructions which are such a fruitful source of disease.

Thứ ba, phương pháp cao nhất và mới nhất là phương pháp kêu gọi linh hồn của chính một người vào hoạt động tích cực. Sự chữa lành chân chính và của tương lai được thực hiện khi sự sống của linh hồn có thể tuôn chảy không bị cản trở hay ngăn ngại qua mọi phương diện của bản chất hình tướng. Khi đó, nó có thể tiếp sinh lực cho bản chất ấy bằng mãnh lực của mình, và cũng có thể loại bỏ những chỗ tắc nghẽn và bế tắc vốn là nguồn gốc rất phong phú của bệnh tật.

This gives you much to ponder upon. If we go slowly as regards the practical application of techniques and methods, it is because I seek to lay a sound foundation for that which I shall later impart.

Điều này cho bạn nhiều điều để suy ngẫm. Nếu chúng ta tiến chậm về phương diện áp dụng thực tiễn các kỹ thuật và phương pháp, đó là vì tôi tìm cách đặt một nền tảng vững chắc cho điều mà về sau tôi sẽ truyền đạt.

THE TRAINING OF THE HEALER

SỰ HUẤN LUYỆN CỦA NGƯỜI CHỮA LÀNH

As regards the training of the healer, I will give from time to time the six rules which govern (or should govern) his activity. Bear in mind the two words which I earlier gave. They sum up the healer’s story: MAGNETISM and RADIATION. They are different in their effects as we shall later see.

Về sự huấn luyện của người chữa lành, thỉnh thoảng tôi sẽ đưa ra sáu quy luật chi phối (hoặc nên chi phối) hoạt động của y. Hãy ghi nhớ hai từ mà trước đây tôi đã đưa ra. Chúng tóm lược toàn bộ câu chuyện của người chữa lành: TỪ ĐIỆN và BỨC XẠ. Chúng khác nhau trong các hiệu quả của chúng, như sau này chúng ta sẽ thấy.

RULE ONE

QUY LUẬT MỘT

The healer must seek to link his soul, his heart, his brain and his hands. Thus can he pour the vital healing force upon the patient. This is magnetic work. It cures disease, or may increase the so-called evil state, according to the knowledge of the healer.

Người chữa lành phải tìm cách nối kết linh hồn, tim, bộ não và hai bàn tay của mình. Nhờ đó y có thể tuôn đổ mãnh lực chữa lành thiết yếu lên bệnh nhân. Đây là công việc từ tính. Nó chữa lành bệnh tật, hoặc có thể làm gia tăng tình trạng được gọi là xấu xa, tùy theo tri thức của người chữa lành.

The healer must seek to link his soul, his brain, his heart and auric emanation. Thus can his presence feed the [18] soul life of the patient. This is the work of radiation. The hands are needed not. The soul displays its power. The patient’s soul responds through the response of his aura to the radiation of the healer’s aura, flooded with soul energy.

Người chữa lành phải tìm cách nối kết linh hồn, bộ não, tim và sự phát xạ hào quang của mình. Nhờ đó sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng [18] sự sống linh hồn của bệnh nhân. Đây là công việc của bức xạ. Không cần đến đôi tay. Linh hồn biểu lộ quyền năng của nó. Linh hồn của bệnh nhân đáp ứng thông qua sự đáp ứng của hào quang y đối với bức xạ của hào quang người chữa lành, được tràn ngập năng lượng linh hồn.

In considering the Causes of Disease, I find it necessary to speak a word in connection with conditions—external and internal. It will be apparent to the casual thinker that many diseases and many causes of death are due to environing conditions for which he is in no way responsible. These range all the way from purely external occurrences to hereditary predispositions. They might be listed as follows:

Khi xem xét các Nguyên nhân của Bệnh tật, tôi thấy cần phải nói một lời liên quan đến các tình trạng—bên ngoài và bên trong. Đối với người suy nghĩ hời hợt, hiển nhiên là nhiều bệnh tật và nhiều nguyên nhân của cái chết là do các điều kiện môi trường mà y hoàn toàn không chịu trách nhiệm. Chúng trải dài từ những biến cố hoàn toàn bên ngoài đến những khuynh hướng di truyền. Chúng có thể được liệt kê như sau:

1. Accidents, which may be due to personal negligence, group happenings, the carelessness of other people, and the results of fighting, as in labour strikes or war. They can also be brought about by attacks from the animal or the snake world, accidental poisonings and many other causes.

1. Tai nạn, có thể do sự bất cẩn cá nhân, các biến cố tập thể, sự cẩu thả của người khác, và kết quả của xung đột, như trong các cuộc đình công lao động hay chiến tranh. Chúng cũng có thể do sự tấn công từ giới động vật hay loài rắn, do ngộ độc ngẫu nhiên và nhiều nguyên nhân khác.

2. Infections coming to a man from outside and not as the result of his own peculiar blood condition. Such infections are the various so-called infectious and contagious diseases, and prevalent epidemics. These may come to a man in the line of duty, through his daily contacts, or through a widespread condition of disease in his environment.

2. Sự nhiễm bệnh đến với một người từ bên ngoài chứ không phải là kết quả của tình trạng máu đặc thù của chính y. Những sự nhiễm bệnh như vậy là các bệnh được gọi là truyền nhiễm và lây lan, cùng các dịch bệnh phổ biến. Chúng có thể đến với một người trong khi thi hành bổn phận, qua các tiếp xúc hằng ngày của y, hoặc qua một tình trạng bệnh lan rộng trong môi trường của y.

3. Diseases due to malnutrition, particularly when found in the young. This state of undernourishment predisposes the body to disease, lowers the resistance and the vitality, and of offsets the “fighting powers” of the man, leading to premature death.

3. Bệnh do suy dinh dưỡng, đặc biệt khi thấy ở người trẻ. Tình trạng thiếu dinh dưỡng này khiến thể xác dễ mắc bệnh, làm giảm sức đề kháng và sinh lực, và làm suy giảm “năng lực chiến đấu” của con người, dẫn đến cái chết sớm.

4. Heredity. There are, as you well know, certain forms of hereditary weaknesses, which either predispose a person to certain illnesses and consequent death, or produce in him those conditions which lead to a steady weakening [19] of his hold on life; there are also those tendencies which constitute a form of dangerous appetite, which lead to undesirable habits, a letting down of the morale, and are dangerous to the will of the person, rendering him futile to fight these predispositions. He succumbs to them and pays the price of such habits, which is disease and death.

4. Di truyền. Như các bạn đều biết rõ, có một số dạng suy yếu di truyền, hoặc khiến một người dễ mắc một số bệnh nhất định và hậu quả là cái chết, hoặc tạo ra nơi y những tình trạng dẫn đến sự suy yếu dần dần [19] của sự bám giữ vào sự sống; cũng có những khuynh hướng cấu thành một dạng ham muốn nguy hiểm, dẫn đến những thói quen không mong muốn, làm suy giảm tinh thần, và gây nguy hại cho ý chí của người ấy, khiến y bất lực trong việc chống lại những khuynh hướng này. Y khuất phục trước chúng và phải trả giá cho những thói quen ấy, mà cái giá đó là bệnh tật và cái chết.

These four types of disease and causes of death account for much that we see happening around us in people’s lives, but they are not to be classed definitely under any of the psychological causes of disease, and will only be considered, and that very briefly, under the section dealing with group life and its predisposing causes of disease. Infectious diseases are there dealt with, but such situations as arise out of an automobile or railroad accident, for instance, are not to be considered as coming under the heading of causes producing disease. That the work of the healer may be involved in these cases is quite true, but the work to be done is somewhat different to that accomplished when dealing with those diseases which have their roots in some subtle body or other, or in the results of group disease, etc. The ills growing out of malnutrition and the wrong feeding of our modern life and civilisation will not here be considered. For these no child is individually responsible. I am concerned with the diseases arising in wrong internal conditions.

Bốn loại bệnh tật và nguyên nhân của cái chết này giải thích phần lớn những gì chúng ta thấy xảy ra quanh mình trong đời sống con người, nhưng chúng không được xếp rõ ràng vào bất kỳ nguyên nhân tâm lý nào của bệnh tật, và sẽ chỉ được xét đến, mà rất ngắn gọn, trong phần bàn về đời sống nhóm và các nguyên nhân khiến dễ mắc bệnh của nó. Các bệnh truyền nhiễm được bàn đến ở đó, nhưng những tình huống phát sinh từ một tai nạn xe hơi hay xe lửa chẳng hạn, thì không được xem là thuộc đề mục các nguyên nhân gây ra bệnh tật. Đúng là công việc của người chữa lành có thể liên quan đến những trường hợp này, nhưng công việc phải làm có phần khác với công việc được thực hiện khi xử lý những bệnh có gốc rễ trong một thể vi tế nào đó, hoặc trong các kết quả của bệnh nhóm, v.v. Những chứng bệnh phát sinh từ suy dinh dưỡng và sự ăn uống sai lầm của đời sống và nền văn minh hiện đại của chúng ta sẽ không được xét ở đây. Không một đứa trẻ nào phải chịu trách nhiệm cá nhân về những điều đó. Tôi quan tâm đến những bệnh phát sinh từ các tình trạng nội tại sai lầm.

The responsibility of a child for his living conditions is practically nil, unless you admit karma as a predisposing factor, and its power to produce those re-adjustments which emerge out of the past and affect the present. I shall deal with this more fully under our third point, dealing with our karmic liabilities. I would only suggest here that the whole subject of disease could be treated from the angle of karma and be definite and conclusive in its value [20] had there been right teaching on this abstruse subject from the time that it was given out in the West. But the truth as it has come to us from the East has been as much distorted by the Eastern theologian as the doctrines of the Atonement and of the Virgin Birth have been misinterpreted and taught by the Western theologian. The real truth bears little resemblance to our modern formulations. I am, therefore, seriously handicapped when dealing with the subject of disease from the angle of karma. It is difficult for me to convey to you anything of the truth as it really exists, owing to the pre-conceived ideas as to the ancient Law of Cause and Effect which are necessarily in your mind. When I say to you that the doctrine of Emergent Evolution and the modern theories of the work of a catalyst upon two substances which—when brought into relation with each other under the effect of the catalyst produce a third and different substance—carry in them much of the truth anent karma, will you understand? I question it. When I say to you that the emphasis given to the Law of Karma as it explains apparent injustices and stresses always the appearance of pain, disease, and suffering gives only partial presentation of the basic cosmic truth, is your mind in any way clarified? When I point out that the Law of Karma, rightly understood and rightly wielded, can bring that which produces happiness, good, and freedom from pain more easily than it brings pain, with its chain of consequences, do you feel able to grasp the significance of what I am saying?

Trách nhiệm của một đứa trẻ đối với các điều kiện sống của nó thực tế là bằng không, trừ phi bạn chấp nhận nghiệp quả như một yếu tố khiến dễ mắc phải, và quyền năng của nó trong việc tạo ra những sự tái điều chỉnh phát sinh từ quá khứ và ảnh hưởng đến hiện tại. Tôi sẽ bàn đầy đủ hơn về điều này dưới điểm thứ ba của chúng ta, liên quan đến các món nợ nghiệp quả của chúng ta. Ở đây tôi chỉ muốn gợi ý rằng toàn bộ chủ đề bệnh tật có thể được xử lý từ góc độ nghiệp quả và sẽ có giá trị xác định và kết luận [20] nếu đã có giáo huấn đúng đắn về chủ đề thâm áo này từ khi nó được truyền ra ở phương Tây. Nhưng chân lý như nó đến với chúng ta từ phương Đông đã bị nhà thần học phương Đông bóp méo nhiều chẳng kém gì các giáo lý về Sự Chuộc Tội và về Sự Giáng Sinh Đồng Trinh đã bị nhà thần học phương Tây diễn giải sai và giảng dạy sai. Chân lý thực sự rất ít giống với những công thức hiện đại của chúng ta. Vì vậy, tôi bị cản trở nghiêm trọng khi bàn về chủ đề bệnh tật từ góc độ nghiệp quả. Tôi khó có thể truyền đạt cho các bạn bất cứ điều gì về chân lý như nó thực sự hiện hữu, do những ý niệm có sẵn về Định luật Nhân Quả cổ xưa vốn tất yếu có trong trí các bạn. Khi tôi nói với các bạn rằng học thuyết về tiến hoá phát sinh và các lý thuyết hiện đại về tác động của một chất xúc tác lên hai chất liệu—mà khi được đặt vào tương quan với nhau dưới tác động của chất xúc tác sẽ tạo ra một chất liệu thứ ba và khác biệt—mang trong chúng nhiều chân lý liên quan đến karma, liệu các bạn có hiểu không? Tôi nghi ngờ điều đó. Khi tôi nói với các bạn rằng sự nhấn mạnh đặt vào Định luật Karma như một lời giải thích cho những bất công bề ngoài và luôn nhấn mạnh đến sự xuất hiện của đau đớn, bệnh tật và đau khổ chỉ đưa ra một sự trình bày từng phần về chân lý vũ trụ căn bản, liệu trí các bạn có được sáng tỏ phần nào không? Khi tôi chỉ ra rằng Định luật Karma, nếu được hiểu đúng và vận dụng đúng, có thể mang lại điều tạo ra hạnh phúc, điều thiện và sự giải thoát khỏi đau đớn dễ dàng hơn là nó mang lại đau đớn cùng chuỗi hậu quả của đau đớn, liệu các bạn có cảm thấy mình có thể nắm bắt được thâm nghĩa của điều tôi đang nói không?

The world of glamour is at this time so strong and the sense of illusion so potent and vital that we fail to see these basic laws in their true significance.

Thế giới của ảo cảm hiện nay quá mạnh và cảm thức về ảo tưởng quá mãnh liệt và sống động đến nỗi chúng ta không thấy được những định luật căn bản này trong thâm nghĩa chân thực của chúng.

The Law of Karma is not the Law of Retribution, as one would surmise as one reads the current books upon the subject; that is but one aspect of the working of the Law [21] of Karma. The Law of Cause and Effect is not to be understood as we now interpret it. There is, to illustrate, a law called the Law of Gravitation, which has long imposed itself upon the minds of men; such a law exists, but it is only an aspect of a greater law, and its power can be, as we know, relatively offset, for each time that we see an aeroplane soaring overhead, we see a demonstration of the offsetting of this law by mechanical means, symbolising the ease with which it can be surmounted by human beings. If they could but realise it, they are learning the ancient technique of which the power to levitate is one of the easiest and simplest initial exercises.

Định luật Karma không phải là Định luật Báo Ứng, như người ta có thể suy ra khi đọc những sách hiện hành về chủ đề này; đó chỉ là một phương diện trong sự vận hành của [21] Định luật Karma. Định luật Nhân Quả không được hiểu theo cách chúng ta hiện đang diễn giải nó. Chẳng hạn, có một định luật gọi là Định luật Hấp Dẫn, từ lâu đã áp đặt chính nó lên trí con người; một định luật như thế quả có tồn tại, nhưng nó chỉ là một phương diện của một định luật lớn hơn, và quyền năng của nó có thể, như chúng ta biết, được hóa giải tương đối, vì mỗi khi chúng ta thấy một chiếc máy bay lượn trên đầu, chúng ta thấy một minh chứng cho việc hóa giải định luật này bằng phương tiện cơ giới, tượng trưng cho sự dễ dàng mà con người có thể vượt lên trên nó. Nếu họ chỉ có thể nhận ra điều đó, thì họ đang học kỹ thuật cổ xưa mà trong đó năng lực bay lên là một trong những bài tập khởi đầu dễ nhất và đơn giản nhất.

The Law of Consequences is not the inevitable and set affair which modern thought surmises, but is related to the Laws of Thought far more closely than has been believed; towards an understanding of this, mental science has been groping. Its orientation and purposes are right and good and hopeful of results; its conclusions and modes of work are at present woefully at fault, and most misleading.

Định luật Hệ Quả không phải là một sự việc tất yếu và cố định như tư tưởng hiện đại suy đoán, mà liên hệ với các Định luật của Tư tưởng chặt chẽ hơn nhiều so với điều người ta đã tin; khoa học trí tuệ đã lần mò hướng tới sự thấu hiểu điều này. Định hướng và mục đích của nó là đúng đắn, tốt đẹp và đầy hy vọng về kết quả; nhưng các kết luận và phương thức làm việc của nó hiện nay lại sai lầm một cách đáng buồn và rất dễ gây ngộ nhận.

I have referred to this misunderstanding of the Law of Karma as I am anxious to have you set out on this study of the Laws of Healing with a free and open mind as far as may be, realising that your understanding of these laws is limited by:

Tôi đã đề cập đến sự hiểu sai này về Định luật Karma vì tôi mong các bạn bắt đầu việc nghiên cứu các Định luật Chữa Lành này với một trí tuệ tự do và cởi mở hết mức có thể, nhận ra rằng sự hiểu biết của các bạn về những định luật này bị giới hạn bởi:

1. Old theologies, with their static, distorted, and erroneous points of view. The teaching of theology is most misleading, but is, alas, generally accepted.

1. Các nền thần học cũ, với những quan điểm tĩnh tại, bóp méo và sai lầm của chúng. Giáo huấn thần học rất dễ gây ngộ nhận, nhưng than ôi, lại thường được chấp nhận.

2. World thought, strongly tinged with the desire element, and with little in it of real thought. Men interpret these dimly sensed laws in terms of finality and from their little point of view. The idea of retribution runs through much of the teaching on Karma, for instance, because men seek a plausible explanation of things as [22] they appear to be, and are themselves fond of dealing out retribution. Yet there is far more general good karma than bad, little as you may think it when immersed in such a period as the present.

2. Tư tưởng thế gian, bị nhuốm đậm yếu tố ham muốn, và trong đó có rất ít tư tưởng thực sự. Con người diễn giải những định luật được cảm nhận mơ hồ này theo những thuật ngữ mang tính chung quyết và từ quan điểm nhỏ hẹp của mình. Chẳng hạn, ý niệm báo ứng xuyên suốt phần lớn giáo huấn về Karma, vì con người tìm kiếm một lời giải thích có vẻ hợp lý cho sự vật như [22] chúng dường như là, và bản thân họ cũng thích ban phát sự báo ứng. Tuy nhiên, nghiệp tốt nói chung nhiều hơn nghiệp xấu rất nhiều, dù bạn có thể ít nghĩ như vậy khi đang chìm trong một thời kỳ như hiện nay.

3. The world illusion and glamour, which prevents the average and ignorant man from seeing life as it truly is. Even the advanced man and the disciples are only beginning to get a fleeting and inadequate glance at a glorious reality.

3. Ảo tưởng và ảo cảm của thế gian, ngăn cản con người trung bình và vô minh thấy được sự sống như nó thực sự là. Ngay cả người tiến bộ và các đệ tử cũng chỉ mới bắt đầu có được một cái nhìn thoáng qua và chưa đầy đủ về một thực tại huy hoàng.

4. Uncontrolled minds and unreleased and unawakened brain cells also hinder man from correct realisation. This fact is often unrecognised. The apparatus of realisation is as yet inadequate. This point needs emphasising.

4. Những trí tuệ không được kiểm soát và những tế bào não chưa được giải phóng và chưa được đánh thức cũng cản trở con người đạt đến sự chứng nghiệm đúng đắn. Sự kiện này thường không được nhận ra. Bộ máy của sự chứng nghiệm vẫn còn chưa đầy đủ. Điểm này cần được nhấn mạnh.

5. National and racial temperaments, with their predisposing temperaments, and prejudices. These factors again prevent a just appreciation of these realities.

5. Các khí chất quốc gia và chủng tộc, cùng những khí chất và thành kiến khiến dễ thiên lệch của chúng. Những yếu tố này một lần nữa ngăn cản sự đánh giá công bằng về các thực tại này.

I have given enough here to indicate to you the stupidity of attempting to state that you understand these laws towards which you are groping and which you seek to understand. Nowhere in human thought is the darkness greater than in connection with the laws concerning disease and death.

Tôi đã nói đủ ở đây để chỉ cho các bạn thấy sự ngu xuẩn của việc cố tuyên bố rằng các bạn hiểu những định luật mà các bạn đang lần mò hướng tới và đang tìm cách thấu hiểu. Không nơi nào trong tư tưởng nhân loại mà bóng tối lại lớn hơn trong mối liên hệ với các định luật liên quan đến bệnh tật và cái chết.

It is necessary, therefore, to realise that, from the start, in all I have to say, under the heading The Psychological Causes of Disease, I am not dealing with those complaints or predispositions to disease which emerge out of the environment, or with those definitely physical taints which are inherited from parents who have carried in their bodies and transmitted to their children disease germs which they, in their turn, may have inherited from their parents. I would like to point out that these inherited diseases are far fewer than is at present surmised; of these, the predisposition [23] to tuberculosis, to syphilis and to cancer are the most important where our present humanity is concerned; they are inherited and also can be imparted by contact. These I will deal with under our second major heading on the diseases emanating from the group.

Vì vậy, cần phải nhận ra rằng ngay từ đầu, trong tất cả những gì tôi phải nói dưới đề mục Các Nguyên Nhân Tâm Lý của Bệnh Tật, tôi không bàn đến những chứng bệnh hay những khuynh hướng dễ mắc bệnh phát sinh từ môi trường, cũng không bàn đến những nhiễm độc rõ rệt về mặt thể xác được thừa hưởng từ cha mẹ, những người đã mang trong cơ thể mình các mầm bệnh và truyền chúng cho con cái, mà đến lượt chúng, có thể đã thừa hưởng từ cha mẹ của chúng. Tôi muốn chỉ ra rằng những bệnh di truyền này ít hơn nhiều so với điều hiện nay người ta suy đoán; trong số đó, khuynh hướng [23] mắc bệnh lao, giang mai và ung thư là quan trọng nhất đối với nhân loại hiện nay của chúng ta; chúng được di truyền và cũng có thể được truyền qua tiếp xúc. Tôi sẽ bàn đến những bệnh này dưới đề mục lớn thứ hai của chúng ta về các bệnh phát xuất từ nhóm.

CHAPTER I – The Psychological Causes of DiseaseCHƯƠNG I – Các Nguyên Nhân Tâm Lý của Bệnh Tật

[24]

[24]

The point I would like to make here, before proceeding further, is that I shall seek to avoid, as far as possible, all technicalities. Our theme is the esoteric consideration of disease and its forms; it seeks to elucidate the subject of and the vital causes of such diseases, and to indicate the general laws with which the healer must work and the six rules which he must impose upon himself—and to which he gives obedience, through discipline and understanding.

Điểm tôi muốn nêu ra ở đây, trước khi đi xa hơn, là tôi sẽ cố tránh, càng nhiều càng tốt, mọi thuật ngữ chuyên môn. Chủ đề của chúng ta là sự xem xét một cách huyền bí về bệnh tật và các hình thức của nó; nó tìm cách làm sáng tỏ chủ đề này cùng các nguyên nhân thiết yếu của những bệnh như thế, và chỉ ra các định luật tổng quát mà người chữa lành phải làm việc với chúng và sáu quy luật mà y phải áp đặt lên chính mình—và tuân phục chúng bằng kỷ luật và sự thấu hiểu.

You will have noted that I listed the psychological causes under four headings:

Các bạn hẳn đã lưu ý rằng tôi đã liệt kê các nguyên nhân tâm lý dưới bốn đề mục:

1. Those arising out of the emotional-feeling nature.

1. Những nguyên nhân phát sinh từ bản chất cảm xúc-cảm giác.

2. Those which have their origin in the etheric body.

2. Những nguyên nhân bắt nguồn trong thể dĩ thái.

3. Those which are based on wrong thought.

3. Những nguyên nhân dựa trên tư tưởng sai lầm.

4. The peculiar complaints and psychological troubles of disciples.

4. Những chứng bệnh đặc thù và những rối loạn tâm lý của các đệ tử.

It may have interested you to see that I place the ills of the etheric body in the second place and not the first. The reason for this is that the group ills and diseases which have fastened upon the race, work primarily through the etheric body and find their way out into manifestation via the etheric bodies of all forms. But I have placed them second, even though they are in the last analysis the most numerous, owing to the fact that humanity cannot as yet deal with [25] these en masse. The approach has to be through individuals, and men must clear their astral or emotional bodies of those conditions which pre-dispose them to disease, as individuals. At present, the race is astrally polarised. The emotional sentient nature is all-powerful in the masses. This leads to a relatively negative etheric body which is tuned in on the entire etheric substance of the planet. This substance, which underlies all forms, is simply a transferring and transmitting agency for vital energy to the outer dense physical body. Energy sweeps through this etheric substance, free from all control by the individual human being, and quite unrealised by him because his focus of attention is astral. From the astral or emotional state of consciousness, much concerning individual physical conditions can be deduced. We must, however, eliminate those ills which are group ills and which have swept into and through all mankind from the world of etheric force, leaving him in some way depleted, or overstimulated, or in such a condition that Death naturally supervenes. It might be stated as a basic generalisation that personal physical trouble has its seat at present in the emotional body, and that that vehicle of expression is the one predominant predisposing agent in the ill health of the individual, just as group ills and the sweep of epidemics of any kind through the masses are founded in some condition in the etheric substance of the planet. Those diseases which are general, national, racial and planetary find their way to an individual via his etheric body, but are not so personal in their implications. Upon this I will later enlarge. Today I but lay down the general proposition.

Có thể các bạn thấy thú vị khi thấy tôi đặt các chứng bệnh của thể dĩ thái ở vị trí thứ hai chứ không phải thứ nhất. Lý do là vì các chứng bệnh và bệnh tật của nhóm đã bám chặt vào nhân loại, hoạt động chủ yếu qua thể dĩ thái và tìm đường đi ra biểu hiện qua các thể dĩ thái của mọi hình tướng. Nhưng tôi đã đặt chúng ở vị trí thứ hai, dù xét cho cùng chúng là nhiều nhất, bởi vì nhân loại hiện chưa thể xử lý [25] chúng trên quy mô lớn. Sự tiếp cận phải thông qua các cá nhân, và con người phải thanh lọc các thể cảm dục hay cảm xúc của mình khỏi những tình trạng khiến họ dễ mắc bệnh, với tư cách cá nhân. Hiện nay, nhân loại phân cực cảm xúc. Bản chất cảm xúc cảm giác có tri giác là toàn năng trong quần chúng. Điều này dẫn đến một thể dĩ thái tương đối tiêu cực, được chỉnh hợp với toàn bộ chất liệu dĩ thái của hành tinh. Chất liệu này, vốn nằm bên dưới mọi hình tướng, đơn giản là một tác nhân chuyển giao và truyền dẫn năng lượng thiết yếu đến thể xác đậm đặc bên ngoài. Năng lượng quét qua chất liệu dĩ thái này, không hề chịu sự kiểm soát nào của cá nhân con người, và hoàn toàn không được y nhận biết vì tiêu điểm chú ý của y là cảm dục. Từ trạng thái tâm thức cảm dục hay cảm xúc, có thể suy ra nhiều điều liên quan đến các tình trạng thể xác cá nhân. Tuy nhiên, chúng ta phải loại bỏ những chứng bệnh là bệnh nhóm và đã tràn vào rồi xuyên qua toàn thể nhân loại từ thế giới của mãnh lực dĩ thái, khiến con người theo một cách nào đó bị suy kiệt, hoặc bị kích thích quá mức, hoặc ở trong một tình trạng mà Cái Chết tự nhiên xảy đến. Có thể nêu như một khái quát căn bản rằng rắc rối thể xác cá nhân hiện nay có chỗ ngồi trong thể cảm dục, và vận cụ biểu lộ ấy là tác nhân khiến dễ mắc bệnh chủ yếu trong tình trạng sức khỏe kém của cá nhân, cũng như các chứng bệnh nhóm và làn sóng dịch bệnh đủ loại quét qua quần chúng được đặt nền trên một tình trạng nào đó trong chất liệu dĩ thái của hành tinh. Những bệnh có tính tổng quát, quốc gia, chủng tộc và hành tinh tìm đường đến một cá nhân qua thể dĩ thái của y, nhưng không mang hàm ý cá nhân nhiều đến thế. Về điều này tôi sẽ khai triển thêm sau. Hôm nay tôi chỉ nêu ra mệnh đề tổng quát.

I would also like to point out that the diseases for the masses, for the average citizen, for the intelligentsia, and for the disciples of the world may, and do, differ widely—not so much in their expression as in their field of expression. [26] This is a point most difficult for the average healer to recognise; it is not easy or possible for him to grasp these distinctions and to gauge the point in evolution which a man may have reached. Some diseases must be dealt with from the mental plane, and will call in the mind of the healer; others require a concentration of emotional energy by the healing agent; and again, in other cases, the healer should seek to be only a transmitter of pranic energy to the etheric body of the patient, via his own etheric body. How many healers are really consciously aware of the focus of the consciousness or the life force in the patient with whom they may be concerned? How many realise anything of the type of healing which it is possible and necessary to apply to a disciple? How few realise that no disciple, for instance, can place himself in the hands of the average magnetic healer or radiatory worker, or psychological expert of any kind! A disciple dare not subject himself to the auric emanations of any chance healer, nor put himself in the power of the inexperienced academic psychologist, no matter how prominent he may be. He may, however, subject himself to the wise skill of the physical plane physician or surgeon, as—for him—the physical body is but an automaton. He can therefore avail himself of physical means for its benefiting. Much of the failure of the healing methods at present employed consists in the inability of the healer to:

Tôi cũng muốn chỉ ra rằng các bệnh của quần chúng, của công dân trung bình, của giới trí thức, và của các đệ tử thế gian có thể, và thực sự, khác nhau rất nhiều—không phải nhiều ở biểu hiện của chúng cho bằng ở lĩnh vực biểu hiện của chúng. [26] Đây là một điểm mà người chữa lành trung bình rất khó nhận ra; đối với y, không dễ và cũng không thể nắm bắt những khác biệt này và đánh giá điểm tiến hoá mà một người có thể đã đạt tới. Một số bệnh phải được xử lý từ cõi trí, và sẽ đòi hỏi thể trí của người chữa lành; những bệnh khác đòi hỏi tác nhân chữa lành phải tập trung năng lượng cảm xúc; và trong những trường hợp khác nữa, người chữa lành chỉ nên tìm cách là một tác nhân truyền dẫn năng lượng prana đến thể dĩ thái của bệnh nhân, qua chính thể dĩ thái của mình. Có bao nhiêu người chữa lành thực sự có ý thức về tiêu điểm của tâm thức hay của sinh lực nơi bệnh nhân mà họ có thể đang quan tâm? Có bao nhiêu người nhận ra được điều gì đó về loại chữa lành có thể và cần phải áp dụng cho một đệ tử? Có quá ít người nhận ra rằng chẳng hạn, không một đệ tử nào có thể đặt mình vào tay người chữa lành từ tính trung bình hay người hoạt động bằng bức xạ, hoặc chuyên gia tâm lý thuộc bất kỳ loại nào! Một đệ tử không dám đặt mình dưới các phát xạ hào quang của bất kỳ người chữa lành ngẫu nhiên nào, cũng không đặt mình vào quyền lực của một nhà tâm lý học hàn lâm thiếu kinh nghiệm, bất kể ông ta nổi tiếng đến đâu. Tuy nhiên, y có thể đặt mình dưới kỹ năng minh triết của vị y sĩ hay phẫu thuật gia trên cõi hồng trần, vì—đối với y—thể xác chỉ là một cỗ máy tự động. Do đó y có thể sử dụng các phương tiện thể xác để làm lợi cho nó. Phần lớn sự thất bại của các phương pháp chữa lành hiện đang được sử dụng nằm ở chỗ người chữa lành không thể:

1. Gauge the extent of the trouble, where it may be located basically, and in what body it principally arises and lies.

1. Đánh giá mức độ của rắc rối, nơi nó có thể được định vị một cách căn bản, và trong thể nào nó chủ yếu phát sinh và nằm ở đó.

2. Know where the patient stands upon the ladder of evolution, and where, therefore, he must look first for the source of the difficulty.

2. Biết bệnh nhân đang đứng ở đâu trên nấc thang tiến hoá, và do đó trước hết phải tìm nguồn gốc của khó khăn ở đâu.

3. Differentiate between the diseases which are due to inner personal conditions, or to inherited tendencies, or to group distribution. [27]

3. Phân biệt giữa những bệnh do các tình trạng nội tại cá nhân, hay do các khuynh hướng di truyền, hay do sự phân phối của nhóm. [27]

4. To know whether the disease should be handled,

4. Biết liệu bệnh ấy nên được xử lý,

a. Allopathically or homeopathically, for both can play their part at times, or through any of the other media of modern skill and science.

a. Bằng đối chứng hay đồng căn, vì cả hai đôi khi đều có thể đóng vai trò của mình, hoặc qua bất kỳ phương tiện nào khác của kỹ năng và khoa học hiện đại.

b. Through radiation or magnetisation, or both.

b. Bằng bức xạ hay từ hóa, hoặc cả hai.

c. Through right inner psychological adjustment, aided by true insight on the part of the healing agent.

c. Bằng sự điều chỉnh tâm lý bên trong đúng đắn, được hỗ trợ bởi linh thị chân chính nơi tác nhân chữa lành.

d. Through calling in the power of a man’s own soul—a thing that is not possible except to advanced people.

d. Bằng cách kêu gọi quyền năng của chính linh hồn một người—điều này không thể thực hiện ngoại trừ đối với những người tiến bộ.

e. Through definite occult means, such as forming a healing triangle of—

e. Bằng những phương tiện huyền bí xác định, như hình thành một tam giác chữa lành gồm—

1.-ph-n-m-t-nh-ng-nguy-n-nh-n-c-n-b-n-c-a-b-nh-ch-ng-i-02.png

This method involves much knowledge and a high point of spiritual attainment on the part of the healer;—it also presupposes the healer’s link with a Master and the Master’s group, plus the earned right to call upon that group for energy on behalf of the patient—a thing as yet rarely granted.

Phương pháp này đòi hỏi nhiều tri thức và một điểm thành tựu tinh thần cao nơi người chữa lành; nó cũng giả định sự liên kết của người chữa lành với một Chân sư và nhóm của Chân sư, cộng với quyền đã được xứng đáng để kêu gọi nhóm ấy ban năng lượng thay cho bệnh nhân—một điều hiện nay hiếm khi được cho phép.

I would like first of all to point out that my purpose and intent is not to write a medical treatise. I shall not, therefore, deal with the anatomy of the body, nor shall I discuss the symptoms of diseases, except quite incidentally. I do not intend to elaborate symptoms or consider the many [28] diseases with long names which distinguish the race at this time; all such information you can gather from the ordinary textbooks, if you so choose, and these you can study, if you care to do so. I find it personally not particularly satisfying. We will start with the premise that there is disease; that disease is an effect of inner causes; that man has made as vast strides in the understanding of the effect of these causes as they produce changes in the outer garment of man, as science has made in the understanding of the outer garment of God, the world of phenomenal nature.

Trước hết tôi muốn chỉ ra rằng mục đích và ý định của tôi không phải là viết một luận văn y học. Vì vậy, tôi sẽ không bàn đến giải phẫu của thể xác, cũng không thảo luận các triệu chứng của bệnh tật, ngoại trừ rất tình cờ. Tôi không có ý định khai triển các triệu chứng hay xem xét nhiều [28] bệnh có tên dài vốn phân biệt nhân loại vào thời điểm này; mọi thông tin như thế các bạn có thể thu thập từ các sách giáo khoa thông thường, nếu các bạn muốn, và các bạn có thể nghiên cứu chúng, nếu các bạn muốn làm như vậy. Cá nhân tôi thấy điều đó không đặc biệt thỏa đáng. Chúng ta sẽ bắt đầu với tiền đề rằng có bệnh tật; rằng bệnh tật là một hiệu quả của các nguyên nhân bên trong; rằng con người đã đạt được những bước tiến lớn lao trong việc hiểu hiệu quả của những nguyên nhân này khi chúng tạo ra những thay đổi trong chiếc áo khoác bên ngoài của con người, cũng như khoa học đã đạt được trong việc hiểu chiếc áo khoác bên ngoài của Thượng đế, tức thế giới của bản chất hiện tượng.

The ameliorative and palliative and curative work of medicine and surgery are proved beyond all controversial discussion. The methods employed, such as the vivisection of animals, may rightly cause distress. In spite of all this the indebtedness of mankind to the medical profession is great, and the service rendered to humanity by the profession does largely offset the evil. That they know not everything is true; that there is a small percentage of physicians and surgeons (less than in any other profession) who are self-seeking and no credit to their craft is equally true; that they already know enough to be willing to admit how very much more there is to be known is also correct. But that it is a great and good and self-sacrificing group within the human family, is equally true. Forget this not.

Công việc cải thiện, làm dịu và chữa trị của y học và phẫu thuật đã được chứng minh vượt ngoài mọi tranh luận. Những phương pháp được sử dụng, như mổ xẻ động vật sống, có thể đúng là gây đau lòng. Dù vậy, món nợ của nhân loại đối với ngành y là rất lớn, và sự phụng sự mà ngành này cống hiến cho nhân loại phần lớn hóa giải điều xấu. Đúng là họ không biết mọi sự; cũng đúng là có một tỷ lệ nhỏ các y sĩ và phẫu thuật gia (ít hơn bất kỳ ngành nghề nào khác) là những người vụ lợi và không đem lại danh dự cho nghề nghiệp của họ; cũng đúng là họ đã biết đủ để sẵn sàng thừa nhận còn biết bao điều nữa cần phải biết. Nhưng cũng đúng không kém rằng đó là một nhóm lớn lao, tốt đẹp và đầy tinh thần hi sinh trong gia đình nhân loại. Đừng quên điều này.

I deal with the subjective aspect of man, and with the secondary causes which have their roots in man’s inner bodies and in the subjective side of nature itself. The major primary causes, as I earlier explained, are impossible for you to grasp. They lie beyond the capacity of the concrete mind. I seek to make clear what man may do to free himself increasingly from the accumulation of the past, both individually and as a group, and in so doing to clear his physical body of the germs of disease. It must, however, be borne in mind that many diseases are of a group [29] nature, and are consequently inherent in humanity itself. Just as the insect world devastates and destroys the vegetable kingdom, as any chance walker through the woods can note, so germs—individual and group—today devastate and destroy the human kingdom. They are agents of destruction and are performing a definite office and duty in the great scheme of things at present.

Tôi bàn đến phương diện chủ quan của con người, và đến các nguyên nhân thứ yếu có gốc rễ trong các thể bên trong của con người và trong chính phương diện chủ quan của bản chất. Những nguyên nhân sơ cấp lớn lao, như tôi đã giải thích trước đây, là điều các bạn không thể nắm bắt. Chúng nằm ngoài khả năng của trí cụ thể. Tôi tìm cách làm sáng tỏ điều con người có thể làm để ngày càng giải thoát mình khỏi sự tích lũy của quá khứ, cả với tư cách cá nhân lẫn nhóm, và khi làm như vậy thì thanh lọc thể xác của mình khỏi các mầm bệnh. Tuy nhiên, phải ghi nhớ rằng nhiều bệnh có bản chất [29] nhóm, và do đó vốn cố hữu trong chính nhân loại. Cũng như thế giới côn trùng tàn phá và hủy diệt giới thực vật, như bất kỳ người đi bộ nào trong rừng cũng có thể nhận thấy, thì các mầm bệnh—cá nhân và nhóm—ngày nay cũng tàn phá và hủy diệt giới nhân loại. Chúng là những tác nhân hủy diệt và hiện đang thực hiện một chức năng và bổn phận xác định trong đại kế hoạch của vạn vật.

The intent is for men to die, as every man has to die, at the demand of this own soul. When man has reached a higher stage in evolution, with deliberation and definite choice of time, he will consciously withdraw from his physical body. It will be left silent and empty of the soul; devoid of light, yet sound and whole: it will then disintegrate, under the natural process, and its constituent atoms will pass back into “the pool of waiting units,” until they are again required for the use of incarnating souls. Again, on the subjective side of life, the process is repeated, but many have already learnt to withdraw from the astral body without being subject to that “impact in the fog,” which is the symbolic way of describing the death of a man upon the astral plane. He then withdraws on to the mental level, and leaves his astral carcass to swell the fog and increase its density.

Mục đích là để con người chết, như mọi người đều phải chết, theo đòi hỏi của chính linh hồn mình. Khi con người đã đạt đến một giai đoạn tiến hoá cao hơn, với sự cân nhắc và lựa chọn thời điểm rõ ràng, y sẽ có ý thức rút ra khỏi thể xác của mình. Thể xác ấy sẽ được để lại im lặng và trống rỗng linh hồn; không còn ánh sáng, nhưng vẫn lành lặn và nguyên vẹn: khi đó nó sẽ tan rã theo tiến trình tự nhiên, và các nguyên tử cấu thành của nó sẽ quay trở lại “hồ các đơn vị đang chờ đợi,” cho đến khi chúng lại được cần đến để các linh hồn nhập thể sử dụng. Một lần nữa, ở phương diện chủ quan của sự sống, tiến trình ấy được lặp lại, nhưng nhiều người đã học được cách rút ra khỏi thể cảm dục mà không phải chịu “cú va chạm trong sương mù,” là cách biểu tượng để mô tả cái chết của một người trên cõi cảm dục. Khi đó y rút lên cấp độ trí tuệ, và để lại xác cảm dục của mình làm dày thêm sương mù và tăng mật độ của nó.

I seek to point out, therefore, that my avoidance of medical technicalities will be deliberate, though we shall refer often to the physical body and to the diseases of which it is a prey.

Vì vậy, tôi tìm cách chỉ ra rằng việc tôi tránh các thuật ngữ y học sẽ là có chủ ý, dù chúng ta sẽ thường xuyên đề cập đến thể xác và những bệnh mà nó là nạn nhân.

Secondly, I seek today to give you another of the Laws of Healing, as well as one of the Rules for the Healer. Study these with care.

Thứ hai, hôm nay tôi tìm cách trao cho các bạn một Định luật Chữa Lành khác, cũng như một trong các Quy luật dành cho Người Chữa Lành. Hãy nghiên cứu chúng cẩn thận.

LAW II

ĐỊNH LUẬT II

Disease is the Product of, and subject to, three influences. First, a man’s past, wherein he pays the price of [30] ancient error. Second, his inheritance, wherein he shares with all mankind those tainted streams of energy which are of group origin. Thirdly, he shares with all the natural forms that which the Lord of Life imposes on His body. These three influences are called “The Ancient Law of Evil Sharing.” This must give place some day to that new Law of Ancient Dominating Good which lies behind all that God made. This law must be brought into activity by the spiritual will of man.

Bệnh tật là sản phẩm của, và chịu sự chi phối của, ba ảnh hưởng. Thứ nhất, quá khứ của một người, trong đó y trả giá cho [30] những sai lầm cổ xưa. Thứ hai, di sản của y, trong đó y chia sẻ với toàn thể nhân loại những dòng năng lượng nhiễm độc có nguồn gốc nhóm. Thứ ba, y chia sẻ với mọi hình tướng tự nhiên điều mà Chúa Tể của Sự Sống áp đặt lên thể của Ngài. Ba ảnh hưởng này được gọi là “Định luật Cổ xưa về Sự Chia sẻ Điều Ác.” Một ngày nào đó nó phải nhường chỗ cho Định luật mới về Điều Thiện Cổ xưa Chi Phối, vốn nằm phía sau mọi điều mà Thượng đế đã tạo ra. Định luật này phải được đưa vào hoạt động bởi ý chí tinh thần của con người.

What is a law, my brother? It is the imposition (upon both the lesser and the more important) of the will and purpose of that which is superlatively great. Therefore, it lies beyond man’s ken. Man has some day to learn that all the laws of nature have their higher, spiritual counterparts, and of these we shall shortly be in search. Our laws today are but secondary laws. They are the laws of group life and they govern the kingdoms of nature and find their expression (for the human kingdom) through the medium of the mind, of the emotional nature, and through a physical plane agent. It is not my intention in this present short treatise to elucidate the primary laws. I but state them, and at a future time (dependent upon certain factors yet undeveloped) I may deal with them.

Huynh đệ của Tôi, định luật là gì? Đó là sự áp đặt (lên cả cái nhỏ hơn lẫn cái quan trọng hơn) ý chí và mục đích của cái gì đó siêu việt lớn lao. Vì vậy, nó nằm ngoài tầm hiểu biết của con người. Một ngày nào đó con người phải học rằng mọi định luật của bản chất đều có các đối phần cao hơn, tinh thần của chúng, và chúng ta sẽ sớm đi tìm những đối phần ấy. Các định luật của chúng ta ngày nay chỉ là những định luật thứ yếu. Chúng là những định luật của đời sống nhóm và chúng chi phối các giới trong thiên nhiên và tìm thấy biểu hiện của chúng (đối với giới nhân loại) qua trung gian của trí tuệ, của bản chất cảm xúc, và qua một tác nhân trên cõi hồng trần. Trong luận văn ngắn hiện tại này, tôi không có ý định làm sáng tỏ các định luật sơ cấp. Tôi chỉ nêu chúng ra, và vào một thời điểm tương lai (tùy thuộc vào một số yếu tố còn chưa phát triển) tôi có thể bàn đến chúng.

In this treatise, the third part of it is stated to deal with the basic laws of Healing. These deal not with the Laws referred to above, but with the practical aspects of the healing art.

Trong luận văn này, phần thứ ba của nó được nói là sẽ bàn đến các định luật căn bản của Chữa Lành. Những định luật này không bàn đến các Định luật được nhắc ở trên, mà bàn đến các phương diện thực tiễn của nghệ thuật chữa lành.

The second rule for the healer is as follows:

Quy luật thứ hai dành cho người chữa lành như sau:

RULE TWO

QUY LUẬT HAI

The healer must achieve magnetic purity through purity of life. He must attain that dispelling radiance which shows itself in every man when he has linked the centres in the head. When this magnetic field is established, the radiation too goes forth. [31]

Người chữa lành phải đạt được sự thanh khiết từ tính qua sự thanh khiết của đời sống. Y phải đạt được bức xạ xua tan ấy, vốn biểu lộ nơi mỗi người khi y đã nối kết các trung tâm trong đầu. Khi từ trường này được thiết lập, bức xạ cũng phát ra. [31]

The significance of this will be somewhat apparent to the advanced esoteric student. As you know, the magnetic field is established when the powerful vibration of the centre in front of the pituitary body, and the centre around and above the pineal gland, swing into each other’s orbit. The only controversial point in connection with the above rule (which we shall have later to consider) is how and in what manner magnetic purity is to be achieved, and how the two centres in the head can form together one magnetic field. Later, in our conclusion, which is intended to be intensely practical, I will touch upon these two points.

Ý nghĩa của điều này sẽ phần nào hiển nhiên đối với đạo sinh nội môn tiến bộ. Như các bạn biết, từ trường được thiết lập khi rung động mạnh mẽ của trung tâm ở phía trước thể tuyến yên, và trung tâm ở quanh và phía trên tuyến tùng quả, đi vào quỹ đạo của nhau. Điểm duy nhất còn có thể tranh luận liên quan đến quy luật trên (mà sau này chúng ta sẽ phải xem xét) là làm thế nào và bằng cách nào sự thanh khiết từ tính được đạt tới, và làm thế nào hai trung tâm trong đầu có thể cùng nhau tạo thành một từ trường. Sau này, trong phần kết luận của chúng ta, vốn được dự định là hết sức thực tiễn, tôi sẽ đề cập đến hai điểm này.

One of the things which should definitely emerge in our studies is the fact that disease is seldom of individual origin, unless a man misspends his life and definitely misuses his body (through drink or sexual dissipation), and that the bulk of the disease to be found in the world today is almost entirely of group origin, is inherited, is the result of infection, or the result of undernourishment. The last named cause is primarily an evil of civilisation; it is the result of economic maladjustment or the corruption of food. As I earlier pointed out, these latter causes of disease are not primarily the result of inner subtle forces, but are the pouring upwards, into the etheric body, of energies from the physical plane itself and from the outer world of forces.

Một trong những điều chắc chắn phải nổi lên trong quá trình nghiên cứu của chúng ta là sự kiện rằng bệnh tật hiếm khi có nguồn gốc cá nhân, trừ phi một người phung phí đời mình và rõ ràng lạm dụng thể xác của mình (qua rượu chè hay phóng túng tình dục), và rằng phần lớn bệnh tật hiện thấy trên thế giới ngày nay hầu như hoàn toàn có nguồn gốc nhóm, là di truyền, là kết quả của sự lây nhiễm, hoặc là kết quả của suy dinh dưỡng. Nguyên nhân được nêu sau cùng chủ yếu là một điều ác của nền văn minh; nó là kết quả của sự mất điều chỉnh kinh tế hoặc của thực phẩm bị hư hỏng. Như tôi đã chỉ ra trước đây, những nguyên nhân bệnh tật sau này không chủ yếu là kết quả của các mãnh lực vi tế bên trong, mà là sự tuôn lên, vào thể dĩ thái, của các năng lượng từ chính cõi hồng trần và từ thế giới bên ngoài của các mãnh lực.

Little attention has been paid by occult teachers to these forces which come from without, which originate upon the physical plane, and which affect the inner bodies. There are physical energy and streams of force entering into the etheric bodies of all forms, just as the world illusion and the miasmas of the astral plane oft have their causes in physical plane conditions. The energies entering into the centres of man from the subtler levels have oft been considered in occult books, but the forces which find their way into the centres from the world of physical plane life [32] are seldom realised or discussed. This is a somewhat new thought which I offer for your consideration.

Các huấn sư huyền bí học ít chú ý đến những mãnh lực đến từ bên ngoài, bắt nguồn trên cõi hồng trần, và ảnh hưởng đến các thể bên trong. Có những năng lượng hồng trần và những dòng mãnh lực đi vào các thể dĩ thái của mọi hình tướng, cũng như ảo tưởng thế gian và những chướng khí của cõi cảm dục thường có nguyên nhân trong các điều kiện của cõi hồng trần. Các năng lượng đi vào các trung tâm của con người từ các cấp độ vi tế hơn thường đã được xét đến trong các sách huyền bí học, nhưng những mãnh lực tìm đường vào các trung tâm từ thế giới của đời sống cõi hồng trần [32] thì hiếm khi được nhận ra hay thảo luận. Đây là một ý tưởng phần nào mới mẻ mà tôi đưa ra để các bạn suy xét.

I have asked A.A.B. to insert a very brief synopsis of some of the points I have already made under the heading, What is Disease? I suggest the following:

Tôi đã yêu cầu A.A.B. chèn vào đây một bản tóm lược rất ngắn về một số điểm tôi đã nêu dưới đề mục, Bệnh Tật là gì? Tôi gợi ý như sau:

1. All disease is disharmony and lack of alignment and control.

1. Mọi bệnh tật đều là sự bất hòa và thiếu chỉnh hợp cùng kiểm soát.

a. Disease is found in all the four kingdoms in nature.

a. Bệnh tật được tìm thấy trong cả bốn giới trong thiên nhiên.

b. Disease is purificatory in effect.

b. Bệnh tật có tác dụng thanh lọc.

c. Definite methods of healing are peculiar to humanity, and mental in origin.

c. Những phương pháp chữa lành xác định là đặc thù của nhân loại, và có nguồn gốc trí tuệ.

2. Disease is a fact in nature.

2. Bệnh tật là một sự kiện trong thiên nhiên.

a. Antagonism to disease simply energises it.

a. Sự đối kháng với bệnh tật chỉ tiếp năng lượng cho nó.

b. Disease is not the result of wrong human thought.

b. Bệnh tật không phải là kết quả của tư tưởng sai lầm của con người.

3. Disease is a process of liberation and the enemy of that which is static.

3. Bệnh tật là một tiến trình giải thoát và là kẻ thù của cái gì tĩnh tại.

4. The law of cause and effect governs disease as it governs all else in manifestation.

4. Định luật nhân quả chi phối bệnh tật cũng như nó chi phối mọi điều khác trong biểu hiện.

We found also that healing is brought about in three ways:

Chúng ta cũng đã thấy rằng sự chữa lành được thực hiện theo ba cách:

1. Through the application of the methods of the many schools of medicine and surgery, and allied groups.

1. Qua việc áp dụng các phương pháp của nhiều trường phái y học và phẫu thuật, cùng các nhóm liên hệ.

2. Through the use of psychology.

2. Qua việc sử dụng tâm lý học.

3. Through the activity of the soul.

3. Qua hoạt động của linh hồn.

I have also stated that the major causes of disease are three in number: they are psychological in nature; they are inherited through group contact; and they are karmic. Remember, however, that these are the secondary causes and with the first of these we will now deal.

Tôi cũng đã nói rằng các nguyên nhân chính của bệnh tật có ba loại: chúng có bản chất tâm lý; chúng được thừa hưởng qua tiếp xúc nhóm; và chúng có tính nghiệp quả. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng đây là những nguyên nhân thứ yếu và giờ đây chúng ta sẽ bàn đến nguyên nhân thứ nhất trong số đó.

1. CAUSES ARISING IN THE EMOTIONAL-DESIRE NATURE — 1. CÁC NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH TRONG BẢN CHẤT CẢM XÚC-HAM MUỐN

[33]

[33]

In A Treatise on White Magic, I gave the world for the first time information as to the nature and the control of the astral body. This book is practically the first one ever given out to the public on this theme. Much has been given in the past on the subject of the physical body and its care, both by exoteric and esoteric science. Much of it is true, and some of it is illusion. It is illusion because it is based on false premises. Modern esotericists have dealt with the subject of the etheric body, and this too has been partially true and partially false, but it is more generally true from the occult point of view than it is exoterically. I may surprise you here if I tell you that A Treatise on White Magic is also true as far as it goes, but it is necessarily limited, and because of these limitations it is also partially incorrect. Does the above statement astonish you? Remember, how can it be entirely true when we consider the limitations of your power to comprehend? It is impossible for me to convey to you the truth, because there exist neither the terminology nor an adequate groundwork of knowledge on your part. This makes my task difficult. This teaching on healing is likewise the hardest I have yet undertaken, and this for two reasons. First (the real nature of) the phrase “subtler bodies” is somewhat meaningless, is it not? They are not bodies like the physical body. They can be regarded as centres or reservoirs of particular types of force, attached to each individual, and possessing their proper inlets and outlets. They are collections of atoms, vibrating at high speed and coloured (according to some schools of occultism) by certain definite hues; they emit a certain tone, and are at varying points of evolution. According to others, they are states of consciousness and some regard them as made in the likeness of a man. What is your definition, Brother of mine?

Trong Luận về Chánh Thuật, lần đầu tiên tôi đã cung cấp cho thế giới thông tin về bản chất và sự kiểm soát của thể cảm dục. Cuốn sách này thực tế là cuốn đầu tiên từng được công bố cho công chúng về chủ đề này. Trong quá khứ, nhiều điều đã được đưa ra về chủ đề thể xác và sự chăm sóc nó, bởi cả khoa học ngoại môn lẫn nội môn. Phần lớn trong đó là đúng, và một phần là ảo tưởng. Nó là ảo tưởng vì nó dựa trên những tiền đề sai lầm. Các nhà bí truyền học hiện đại đã bàn đến chủ đề thể dĩ thái, và điều này cũng phần nào đúng và phần nào sai, nhưng từ quan điểm huyền bí học thì nó nhìn chung đúng hơn là từ quan điểm ngoại môn. Ở đây tôi có thể làm các bạn ngạc nhiên nếu tôi nói với các bạn rằng Luận về Chánh Thuật cũng đúng trong chừng mực của nó, nhưng tất yếu là có giới hạn, và vì những giới hạn ấy nên nó cũng phần nào không chính xác. Lời phát biểu trên có làm các bạn ngạc nhiên không? Hãy nhớ, làm sao nó có thể hoàn toàn đúng khi chúng ta xét đến những giới hạn trong năng lực lĩnh hội của các bạn? Tôi không thể truyền đạt chân lý cho các bạn, vì không có sẵn thuật ngữ cũng như nền tảng tri thức đầy đủ nơi các bạn. Điều này làm cho nhiệm vụ của tôi trở nên khó khăn. Giáo huấn này về chữa lành cũng là công việc khó nhất mà tôi từng đảm nhận, và điều này vì hai lý do. Thứ nhất, cụm từ “các thể vi tế” (bản chất thực sự của nó) có phần vô nghĩa, phải không? Chúng không phải là những thể như thể xác. Chúng có thể được xem như những trung tâm hay những bể chứa của các loại mãnh lực đặc thù, gắn với mỗi cá nhân, và có những lối vào và lối ra thích hợp của chúng. Chúng là những tập hợp nguyên tử, rung động với tốc độ cao và được tô màu (theo một số trường phái huyền bí học) bằng những sắc thái xác định; chúng phát ra một âm điệu nhất định, và ở những điểm tiến hoá khác nhau. Theo những người khác, chúng là những trạng thái tâm thức và có người xem chúng được tạo ra theo hình dáng của một con người. Định nghĩa của bạn là gì, Huynh Đệ của tôi?

[34]

[34]

The astral body is, for the majority of mankind, the major determining factor to be considered. It is an outstanding cause of ill health. The reason for this is that it has a potent and predisposing effect upon the vital and etheric body. The physical body is an automaton of whichever inner body is the strongest. When you remember that the vital body is the recipient of the streams of energy, and is in fact composed and formed of such streams, and that the physical body is driven into activity by these streams, it is apparent that that stream which is the most potent is the one which will control the action of the physical body upon the physical plane. There are, however, two streams of energy which must be considered in studying the factors leading to physical plane actions. I would remind you in this connection that disease is an activity of the physical plane.

Thể cảm dục, đối với đa số nhân loại, là yếu tố quyết định chủ yếu cần được xét đến. Nó là một nguyên nhân nổi bật của tình trạng sức khỏe kém. Lý do là vì nó có một tác động mạnh mẽ và tạo khuynh hướng lên thể sinh lực và thể dĩ thái. Thể xác là một bộ máy tự động của bất cứ thể nội tại nào mạnh nhất. Khi bạn nhớ rằng thể sinh lực là cơ quan tiếp nhận các dòng năng lượng, và thực ra được cấu tạo và hình thành từ các dòng ấy, và rằng thể xác được thúc đẩy vào hoạt động bởi các dòng này, thì hiển nhiên là dòng nào mạnh nhất sẽ là dòng kiểm soát hoạt động của thể xác trên cõi hồng trần. Tuy nhiên, có hai dòng năng lượng phải được xét đến khi nghiên cứu các yếu tố dẫn đến những hành động trên cõi hồng trần. Tôi muốn nhắc bạn trong mối liên hệ này rằng bệnh tật là một hoạt động của cõi hồng trần.

1. The stream of life itself, anchored in the heart, which determines the vitality of the man, his capacity for work, and the term of his existence.

1. Chính dòng sự sống, được neo trong tim, quyết định sinh lực của con người, khả năng làm việc của y, và thời hạn tồn tại của y.

2. The predominating stream of energy coming from the astral, mental or soul bodies. These control his expression upon the physical plane.

2. Dòng năng lượng trội hơn đến từ thể cảm dục, thể trí hoặc thể linh hồn. Các dòng này kiểm soát sự biểu hiện của y trên cõi hồng trần.

With the masses of people throughout the world, and those whom we call the vast unthinking public, the dominating factors are the stream of life and the stream of astral or desire energy. This can be either of a low or medium calibre.

Đối với quần chúng trên khắp thế giới, và những người mà chúng ta gọi là công chúng đông đảo không suy tư, các yếu tố chi phối là dòng sự sống và dòng năng lượng cảm dục hay dục vọng. Dòng này có thể thuộc phẩm cấp thấp hoặc trung bình.

With the thinking public, the dominating factors are these two streams, plus a steady inflowing and increasing tide of mental energy.

Đối với công chúng biết suy nghĩ, các yếu tố chi phối là hai dòng này, cộng thêm một làn sóng năng lượng trí tuệ đều đặn tuôn vào và ngày càng gia tăng.

With the intelligentsia of the world and the aspirant (those ready for, or already on, the probationary path) [35] we find the above three streams reaching a point of equilibrium, and thus producing an integrating or coordinating personality. These number amongst them also the mystics of the world and the creative workers, who are conscious of the inspiration and the spiritual contact which indicates a beginning of the inflow of soul energy.

Đối với giới trí thức của thế giới và người chí nguyện (những người đã sẵn sàng cho, hoặc đã ở trên, Con Đường Dự Bị) [35] chúng ta thấy ba dòng trên đạt đến một điểm quân bình, và do đó tạo ra một phàm ngã tích hợp hay phối hợp. Trong số họ cũng có các nhà thần bí của thế giới và những người hoạt động sáng tạo, những người có ý thức về cảm hứng và sự tiếp xúc tinh thần, điều cho thấy sự khởi đầu của dòng năng lượng linh hồn tuôn vào.

With the disciples of the world, we find a group of men and women coming under the control of soul energy, whilst the other three energies are being increasingly subordinated to this higher type of control.

Đối với các đệ tử của thế giới, chúng ta thấy một nhóm những người nam và nữ đang chịu sự kiểm soát của năng lượng linh hồn, trong khi ba năng lượng kia ngày càng bị đặt dưới loại kiểm soát cao hơn này.

It should be borne in mind that there are two other types of energy with which to reckon, when considering intelligent man.

Cần ghi nhớ rằng còn có hai loại năng lượng khác phải được tính đến khi xét con người thông minh.

1. The energy which is composed of the fused and blended forces of a coordinated personality.

1. Năng lượng được cấu thành từ các mãnh lực dung hợp và hòa trộn của một phàm ngã phối hợp.

2. The energy of the physical plane itself, which is finally identified by the aspirant or disciple, and becomes so utterly negated that eventually it constitutes one of the major factors in the release of the centres.

2. Năng lượng của chính cõi hồng trần, cuối cùng được người chí nguyện hay đệ tử đồng hoá với, và trở nên bị phủ định hoàn toàn đến nỗi rốt cuộc nó cấu thành một trong những yếu tố chủ yếu trong sự giải phóng các trung tâm.

Finally the time comes when the initiate works simply with three types of energy whilst expressing himself in incarnation: the energy of life itself, the negative energy of the personality, and the positive energy of the soul. Thus he is an expression in conscious manifestation of the three aspects of the Trinity.

Cuối cùng, thời điểm đến khi điểm đạo đồ chỉ làm việc với ba loại năng lượng trong khi biểu hiện chính mình đang lâm phàm: năng lượng của chính sự sống, năng lượng âm của phàm ngã, và năng lượng dương của linh hồn. Như vậy y là một biểu hiện trong sự hiển lộ có ý thức của ba phương diện của Ba Ngôi/Tam Vị.

Certain things should be established as occult facts in the consciousness of the healer before he is able to work constructively.

Một số điều cần được xác lập như những sự kiện huyền bí trong tâm thức của nhà chữa lành trước khi y có thể làm việc một cách xây dựng.

1. First of all, that there is nothing but energy and this energy manifests itself as many differing and varying [36] energies. Of these many energies, the universe is composed. Likewise man’s bodies or vehicles of manifestation are without exception constituted of energy units. These we call atoms, and these atomic units are held together in body form by the coherent force of more potent energies.

1. Trước hết, không có gì ngoài năng lượng và năng lượng này biểu hiện thành nhiều năng lượng khác nhau và biến thiên [36]. Vũ trụ được cấu thành từ nhiều năng lượng ấy. Tương tự như vậy, các thể hay vận cụ biểu hiện của con người, không ngoại lệ, đều được cấu thành từ các đơn vị năng lượng. Chúng ta gọi chúng là các nguyên tử, và các đơn vị nguyên tử này được giữ lại với nhau trong hình thể nhờ mãnh lực cố kết của những năng lượng mạnh hơn.

2. The major focal point of energy to be found in human beings is that of the soul, but its potency as an agent of cohesion and of integration is as yet greater than its quality potency. In the earlier stages of human evolution, it is the coherence aspect that demonstrates. Later as man’s response apparatus, or bodies, becomes more developed, the quality aspect of the soul begins to demonstrate increasingly.

2. Tiêu điểm năng lượng chủ yếu được tìm thấy nơi con người là linh hồn, nhưng tiềm lực của nó như một tác nhân của sự cố kết và của sự tích hợp hiện vẫn lớn hơn tiềm lực phẩm tính của nó. Trong các giai đoạn đầu của tiến hoá nhân loại, chính phương diện cố kết biểu lộ. Về sau, khi bộ máy đáp ứng của con người, hay các thể của y, trở nên phát triển hơn, phương diện phẩm tính của linh hồn bắt đầu biểu lộ ngày càng nhiều.

3. Seen from the inner side where time is not, the human creature demonstrates as an amazing kaleidoscopic mutable phenomenon. Bodies, so called, or rather aggregates of atomic units, fade out and disappear, or flash again into manifestation. Streams of colours pass and repass; they twine or intertwine. Certain areas will then suddenly intensify their brightness and blaze forth with brilliance; or again they can be seen dying out and the phenomenon in certain areas will be colourless and apparently non-existent. But always there is a persistent over-shadowing light, from which a stream of lights pours down into the phenomenal man; this can be seen attaching itself in two major localities to the dense inner core of the physical man. These two points of attachment are to be found in the head and in the heart. There can also be seen, dimly at first but with increasing brightness, seven other pale disks of light which are the early evidence of the seven centres. [37]

3. Nhìn từ mặt bên trong, nơi không có thời gian, tạo vật con người biểu lộ như một hiện tượng biến đổi kỳ diệu, giống kính vạn hoa. Những cái gọi là các thể, hay đúng hơn là những tập hợp các đơn vị nguyên tử, mờ dần rồi biến mất, hoặc lại lóe lên vào sự biểu hiện. Những dòng màu sắc qua lại không ngừng; chúng quấn vào nhau hay đan xen nhau. Khi ấy, một số khu vực bỗng tăng cường độ sáng và bừng cháy rực rỡ; hoặc ngược lại, có thể thấy chúng tắt dần và hiện tượng ở một số khu vực trở nên không màu và dường như không hiện hữu. Nhưng luôn luôn có một ánh sáng phủ bóng bền bỉ, từ đó một dòng ánh sáng tuôn xuống con người hiện tượng; có thể thấy nó gắn vào lõi nội tại đậm đặc của con người hồng trần tại hai vị trí chính. Hai điểm gắn kết này nằm ở đầu và ở tim. Cũng có thể thấy, lúc đầu mờ nhạt nhưng ngày càng sáng hơn, bảy đĩa ánh sáng nhạt khác, là bằng chứng ban đầu của bảy trung tâm. [37]

1.-ph-n-m-t-nh-ng-nguy-n-nh-n-c-n-b-n-c-a-b-nh-ch-ng-i-03.png

4. These centres, which constitute the quality aspects and the consciousness aspects, and whose function it is to colour the appearance or outer expression of man and use it as a response apparatus, are (during the evolutionary process) subject to three types of unfoldment.

4. Các trung tâm này, vốn cấu thành các phương diện phẩm tính và các phương diện tâm thức, và có chức năng tô màu cho sắc tướng hay biểu hiện bên ngoài của con người và dùng nó như một bộ máy đáp ứng, thì (trong tiến trình tiến hoá) chịu ba loại khai mở.

a. That unfoldment which takes place as a physical plane child grows from an infant to a man. By the time he is twenty-one, the centres should normally have reached the same quality of expression as they had attained when he passed out of life in a previous incarnation. The man then takes up life where he had previously left it off.

a. Sự khai mở diễn ra khi một đứa trẻ trên cõi hồng trần lớn lên từ trẻ sơ sinh thành người trưởng thành. Vào lúc y hai mươi mốt tuổi, các trung tâm thông thường phải đạt đến cùng phẩm tính biểu hiện như chúng đã đạt được khi y rời bỏ sự sống trong một lần nhập thể trước. Khi ấy con người tiếp tục sự sống tại chỗ trước đây y đã dừng lại.

b. The awakening of the centres through life experience. Occasionally only one centre may be dealt with in any one life; sometimes several are brought into greater functioning consciousness.

b. Sự thức tỉnh các trung tâm qua kinh nghiệm sống. Đôi khi chỉ một trung tâm được đề cập đến trong một đời sống; đôi khi vài trung tâm được đưa vào tâm thức hoạt động lớn hơn.

c. There is, finally, the awakening of these centres through the process of initiation. This of course only happens when the man is consciously upon the Path.

c. Cuối cùng là sự thức tỉnh các trung tâm này qua tiến trình điểm đạo. Dĩ nhiên điều này chỉ xảy ra khi con người có ý thức ở trên Con Đường.

5. The centres determine the man’s point of evolution as far as his phenomenal expression is concerned; they work directly upon the physical body through the medium [38] of the endocrine system. This point should be borne in mind, for the future occult healer will approach his patient with this knowledge. He will then work through those centres and glands which govern the particular area of the body wherein the disease or discomfort is located. The time, however, for this has not yet come, for man’s ignorance is great. Over-stimulation of the centres, and consequently of the glands, could easily be brought about, and the diseased condition might be stimulated also and increased, instead of dissipated or healed.

5. Các trung tâm quyết định điểm tiến hoá của con người xét theo biểu hiện hiện tượng của y; chúng tác động trực tiếp lên thể xác qua trung gian [38] của hệ nội tiết. Điểm này cần được ghi nhớ, vì nhà chữa lành huyền bí trong tương lai sẽ tiếp cận bệnh nhân của mình với tri thức này. Khi ấy y sẽ làm việc qua những trung tâm và tuyến kiểm soát khu vực đặc thù của cơ thể nơi bệnh tật hay sự khó chịu tọa lạc. Tuy nhiên, thời điểm cho việc này vẫn chưa đến, vì sự vô minh của con người còn lớn. Sự kích thích quá mức các trung tâm, và do đó các tuyến, có thể dễ dàng bị gây ra, và tình trạng bệnh cũng có thể bị kích thích và gia tăng, thay vì được làm tiêu tan hay chữa lành.

A. Uncontrolled and Ill-Regulated Emotion.

A. Cảm xúc không được kiểm soát và điều hòa kém.

Given these basic facts, it can be seen how wrong emotional attitudes and a general unhealthy condition of the astral body must be potent factors in producing discomfort and disease. This is due to the fact that the vital or etheric bodies of the masses of humanity are governed primarily and swept into activity through the action of the astral body. Agitation in that body, any violent activity under stress of temper, intense worry or prolonged irritation will pour a stream of astral energy into and through the solar plexus centre, and will galvanise that centre into a condition of intense disturbance. This next affects the stomach, the pancreas, the gall duct and bladder. Few people (and I might well ask who is exempt at this particular time in the world’s history) are free from indigestion, from undesirable gastric conditions, or from trouble connected with the gall bladder.

Với những sự kiện căn bản này, có thể thấy những thái độ cảm xúc sai lầm và tình trạng không lành mạnh nói chung của thể cảm dục hẳn phải là những yếu tố mạnh mẽ gây ra sự khó chịu và bệnh tật. Điều này là do thể sinh lực hay thể dĩ thái của quần chúng nhân loại chủ yếu bị chi phối và bị cuốn vào hoạt động qua tác động của thể cảm dục. Sự kích động trong thể ấy, bất kỳ hoạt động dữ dội nào dưới áp lực của nóng giận, lo âu mãnh liệt hay bực bội kéo dài sẽ tuôn một dòng năng lượng cảm dục vào và xuyên qua trung tâm tùng thái dương, và sẽ kích hoạt trung tâm đó vào một trạng thái xáo trộn dữ dội. Điều này tiếp theo ảnh hưởng đến dạ dày, tuyến tụy, ống mật và túi mật. Ít người nào (và tôi hoàn toàn có thể hỏi ai là người được miễn trừ vào thời điểm đặc biệt này trong lịch sử thế giới) thoát khỏi chứng khó tiêu, khỏi những tình trạng dạ dày không mong muốn, hay khỏi những rắc rối liên quan đến túi mật.

The tendency to criticism, to violent dislikes, and to hatreds based on criticism or a superiority complex, produces much of the acidity from which the majority of people suffer. I would like to add in passing that I am here generalising. So many people are prone to an inferiority complex [39] in relation to themselves, but to a superiority complex where their relation to other people is concerned! Stomachic physical plane effects are closely tied up with the desire aspect of the physical body, which finds expression in the eating and drinking of that which is desired, leading subsequently to those attacks of biliousness to which so many are prone.

Khuynh hướng chỉ trích, những ác cảm dữ dội, và những hận thù dựa trên sự chỉ trích hay mặc cảm tự cao tạo ra phần lớn chứng tăng axit mà đa số người ta phải chịu. Nhân tiện tôi muốn nói thêm rằng ở đây tôi đang khái quát hóa. Rất nhiều người có xu hướng mắc mặc cảm tự ti [39] đối với chính mình, nhưng lại mắc mặc cảm tự cao trong mối quan hệ với người khác! Những hậu quả nơi dạ dày trên cõi hồng trần gắn chặt với phương diện dục vọng của thể xác, vốn tìm thấy sự biểu hiện trong việc ăn uống những gì mình ham muốn, rồi sau đó dẫn đến những cơn rối loạn mật mà rất nhiều người dễ mắc phải.

I offer these above illustrations to demonstrate the effect of the prevalent wrong attitudes to life and people which today distinguish mankind and produce the above mentioned conditions.

Tôi đưa ra những minh họa trên để chứng minh tác động của những thái độ sai lầm phổ biến đối với sự sống và con người, những điều ngày nay phân biệt nhân loại và tạo ra các tình trạng đã nêu trên.

The ills which are based on criticism, upon hatred, and upon the capacity to judge each other (usually unkindly) work through from the throat centre to the solar plexus. This inter-relation existing between the centres is one that has never been properly considered. The centres in the etheric body pass varying kinds of energies amongst themselves, and a great deal of the energy transmitted from one centre to another is undesirable, flowing from the centres below the diaphragm to those above.

Những bệnh tật dựa trên sự chỉ trích, trên hận thù, và trên khả năng phán xét lẫn nhau (thường là thiếu thiện ý) tác động từ trung tâm cổ họng xuống tùng thái dương. Mối tương quan hiện hữu giữa các trung tâm này là điều chưa bao giờ được xem xét đúng mức. Các trung tâm trong thể dĩ thái truyền qua lại giữa chúng nhiều loại năng lượng khác nhau, và rất nhiều năng lượng được truyền từ trung tâm này sang trung tâm khác là không mong muốn, chảy từ các trung tâm dưới cơ hoành lên các trung tâm phía trên.

The physical body (etheric and dense) can be pictured as a house with two telephonic installations—one bringing in energies from without the house and the other being in the nature of a house telephone from room to room. The analogy is far more accurate than appears to the casual thinker. In every modern house, light and water and gas and telephonic interchange are brought. Light, the symbol of the soul; water, the symbol of the emotions; telephonic interchange, the symbol of mind with its intercommunication of knowledges; and gas, the symbol of the etheric nature.

Thể xác (dĩ thái và đậm đặc) có thể được hình dung như một ngôi nhà với hai hệ thống điện thoại—một hệ thống đưa năng lượng từ bên ngoài ngôi nhà vào và hệ thống kia có tính chất như điện thoại nội bộ từ phòng này sang phòng khác. Sự tương đồng này chính xác hơn nhiều so với điều mà người suy nghĩ hời hợt nhận ra. Trong mọi ngôi nhà hiện đại, ánh sáng, nước, khí đốt và sự liên lạc điện thoại đều được đưa vào. Ánh sáng, biểu tượng của linh hồn; nước, biểu tượng của cảm xúc; sự liên lạc điện thoại, biểu tượng của trí tuệ với sự truyền thông tri thức của nó; và khí đốt, biểu tượng của bản chất dĩ thái.

It is interesting and saddening to note that that which at present goes out of the average house is the refuse that is undesirable—this is the correspondence to that which is [40] selfish and sad and the demand for the satisfaction of personal needs and desires.

Thật thú vị mà cũng đáng buồn khi lưu ý rằng điều hiện nay đi ra khỏi ngôi nhà trung bình là rác thải không mong muốn—đây là sự tương ứng với điều [40] ích kỷ và buồn bã cùng với đòi hỏi thỏa mãn các nhu cầu và dục vọng cá nhân.

It can be seen, therefore, why I have so emphatically impressed the need of harmlessness upon all of you, for it is the scientific method, par excellence and esoterically speaking, of cleaning house and of purifying the centres. Its practice clears the clogged channels and permits the entrance of the higher energies.

Do đó có thể thấy vì sao tôi đã nhấn mạnh mạnh mẽ đến nhu cầu về tính vô tổn hại nơi tất cả các bạn, vì đó là phương pháp khoa học, tuyệt hảo nhất và nói theo huyền bí học, để dọn sạch ngôi nhà và thanh lọc các trung tâm. Việc thực hành nó làm thông các kênh bị tắc nghẽn và cho phép các năng lượng cao hơn đi vào.

The emotional causes of disease and the mental attitudes which produce physical discomfort are at this particular time those which are the most prevalent. When they are persisted in over a long period of time, and are carried over from life to life, they cause the more violent aspects of the conditions referred to above, and from them serious and destructive diseases can emerge, necessitating, for instance, the removal of the gall bladder or those operations incident to the appearance of chronic gastric ulcers. Other diseases grow from a constant pandering to the desire nature, though sexual diseases come under another category. It can be seen from the above how desirable it is that the true healer should combine in himself, not only a measure of esoteric knowledge, but—until he is an initiate—something of psychology, something of the work of a magnetic healer, and also be a trained medical man or surgeon.

Các nguyên nhân cảm xúc của bệnh tật và những thái độ trí tuệ tạo ra sự khó chịu nơi thể xác hiện nay là những điều phổ biến nhất. Khi chúng được duy trì trong một thời gian dài, và được mang từ đời này sang đời khác, chúng gây ra những phương diện dữ dội hơn của các tình trạng đã nói ở trên, và từ đó những bệnh nghiêm trọng và có tính hủy hoại có thể xuất hiện, chẳng hạn đòi hỏi phải cắt bỏ túi mật hoặc những cuộc phẫu thuật đi kèm với sự xuất hiện của loét dạ dày mãn tính. Những bệnh khác phát sinh từ việc liên tục nuông chiều bản chất dục vọng, dù các bệnh tình dục thuộc một loại khác. Từ những điều trên có thể thấy điều mong muốn biết bao là nhà chữa lành chân chính phải kết hợp trong chính mình không chỉ một mức độ tri thức huyền bí, mà còn—cho đến khi y là một điểm đạo đồ—một phần nào tâm lý học, một phần nào công việc của một nhà chữa lành từ tính, và đồng thời phải là một bác sĩ hay phẫu thuật gia được đào tạo.

Much of the healing now done is worse than useless, because the three above mentioned conditions are lacking. Most doctors, especially those who are called general practitioners, are good psychologists and they have also a sound knowledge of symptoms and of anatomy and of curative measures which are usually lacking in the average metaphysical healer. But they are entirely ignorant of one great field of knowledge—that concerning the energies which meet and war within the human frame and of the [41] potencies which can be set in motion if certain esoteric truths are admitted in place. Until they work with the etheric body and study the science of the centres, they can make little further progress. The esoteric healer knows much about the inner forces and energies and has some understanding of the basic causes of the exoteric diseases, but his ignorance of man’s mechanism is deplorable, and he fails to realise two things:

Phần lớn việc chữa lành hiện nay còn tệ hơn là vô ích, vì thiếu ba điều kiện nêu trên. Hầu hết các bác sĩ, đặc biệt là những người được gọi là bác sĩ đa khoa, đều là những nhà tâm lý học giỏi và họ cũng có tri thức vững chắc về triệu chứng, giải phẫu học và các biện pháp chữa trị mà nhà chữa lành siêu hình trung bình thường thiếu. Nhưng họ hoàn toàn không biết một lĩnh vực tri thức lớn—đó là lĩnh vực liên quan đến các năng lượng gặp gỡ và giao chiến trong cơ cấu con người và những [41] tiềm lực có thể được khởi động nếu một số chân lý huyền bí được chấp nhận đúng chỗ. Chừng nào họ chưa làm việc với thể dĩ thái và nghiên cứu khoa học về các trung tâm, họ còn ít có thể tiến xa hơn. Nhà chữa lành huyền bí biết nhiều về các mãnh lực và năng lượng bên trong và có phần nào thấu hiểu các nguyên nhân căn bản của các bệnh ngoại môn, nhưng sự thiếu hiểu biết của y về bộ máy của con người thật đáng tiếc, và y không nhận ra hai điều:

First, that disease is sometimes the working out into manifestation of undesirable subjective conditions. These, when externalised and brought to the surface of the human body, can then be known, dealt with and eliminated. It is well to remember also that sometimes this working out and elimination may well bring about the death of that particular body. But the soul goes on. One short life counts for very little in the long cycle of the soul, and it is counted well worthwhile if a period of ill health (even if it eventuates in death) brings about the clearing away of wrong emotional and mental conditions.

Thứ nhất, bệnh tật đôi khi là sự vận hành đi vào biểu hiện của những tình trạng chủ quan không mong muốn. Khi những tình trạng này được ngoại hiện và đưa lên bề mặt của thể người, khi ấy chúng có thể được biết đến, được xử lý và được loại bỏ. Cũng nên nhớ rằng đôi khi sự vận hành và loại bỏ này rất có thể dẫn đến cái chết của thể đặc thù ấy. Nhưng linh hồn vẫn tiếp tục. Một đời sống ngắn ngủi có giá trị rất ít trong chu kỳ dài của linh hồn, và hoàn toàn đáng giá nếu một giai đoạn sức khỏe kém (ngay cả khi kết thúc bằng cái chết) đem lại sự quét sạch những tình trạng cảm xúc và trí tuệ sai lầm.

Second, disease is sometimes incident upon and part of the process of the withdrawal of the soul from its habitation. This we call death, and it can come quickly and unexpectedly when the soul withdraws with suddenness from its body. Or death can spread itself over a long period of time, and the soul may take several months or years for its slow and gradual emergence from the body, with the body dying by inches all the time.

Thứ hai, bệnh tật đôi khi là điều đi kèm và là một phần của tiến trình linh hồn rút ra khỏi nơi cư ngụ của nó. Chúng ta gọi điều này là cái chết, và nó có thể đến nhanh chóng và bất ngờ khi linh hồn đột ngột rút khỏi thể của nó. Hoặc cái chết có thể trải ra trong một thời gian dài, và linh hồn có thể mất vài tháng hay vài năm để từ từ và dần dần thoát ra khỏi thể, trong khi thể cứ chết dần từng chút một suốt thời gian đó.

There is not sufficient knowledge yet among healers to enable them to deal with wisdom in these matters. We might therefore conclude that: [42]

Hiện nay giữa các nhà chữa lành vẫn chưa có đủ tri thức để giúp họ xử lý những vấn đề này một cách minh triết. Vì vậy chúng ta có thể kết luận rằng: [42]

1. Disease is a purificatory process, carried out in order to produce a purer expression, life aroma, influence and soul usefulness. When this is the case, a cure is possible.

1. Bệnh tật là một tiến trình thanh lọc, được thực hiện nhằm tạo ra một biểu hiện, hương thơm sự sống, ảnh hưởng và tính hữu dụng của linh hồn tinh khiết hơn. Khi là trường hợp này, việc chữa khỏi là có thể.

2. Disease can be a gradual and slow process of dying and of thus releasing the soul. A cure then will not be possible, though palliative and ameliorative measures are needed and should most certainly be used. The length of the life can be prolonged, but a permanent and final cure is out of the question. This the average mental healer fails to realise. They make a horror out of death, whereas death is a beneficent friend.

2. Bệnh tật có thể là một tiến trình chết dần dần và chậm chạp, nhờ đó giải phóng linh hồn. Khi ấy việc chữa khỏi sẽ không thể có, dù các biện pháp giảm nhẹ và cải thiện là cần thiết và chắc chắn nên được sử dụng. Thời gian sống có thể được kéo dài, nhưng một sự chữa khỏi thường trực và cuối cùng là điều không thể. Nhà chữa lành trí tuệ trung bình không nhận ra điều này. Họ biến cái chết thành một điều kinh hoàng, trong khi cái chết là một người bạn nhân từ.

3. Disease can be the sudden and final call to the body to relinquish the soul and set it free for other service.

3. Bệnh tật có thể là tiếng gọi đột ngột và cuối cùng đối với thể xác để từ bỏ linh hồn và giải thoát nó cho một sự phụng sự khác.

In all these cases everything possible should be done from the standpoint of modern medical and surgical science and the allied sciences of which there are today so many. Much too can be done from the angle of mental and spiritual healing, aided by the science of psychology. Some day there must come cooperation in these various fields and a synthesising of their efforts.

Trong mọi trường hợp này, mọi điều có thể đều nên được thực hiện từ quan điểm của khoa học y khoa và phẫu thuật hiện đại cùng các khoa học liên hệ mà ngày nay có rất nhiều. Cũng có thể làm được nhiều điều từ góc độ chữa lành bằng trí tuệ và tinh thần, được hỗ trợ bởi khoa học tâm lý học. Một ngày nào đó phải có sự hợp tác trong các lĩnh vực khác nhau này và sự tổng hợp các nỗ lực của chúng.

I have earlier pointed out that the astral body is the prime motivating factor in the lives of the majority. This is caused by the fact that:

Trước đây tôi đã chỉ ra rằng thể cảm dục là yếu tố thúc đẩy chính trong đời sống của đa số người ta. Điều này là do sự kiện rằng:

1. It is the body in which the bulk of human beings are today centering their consciousness.

1. Đó là thể trong đó phần lớn nhân loại ngày nay đang tập trung tâm thức của mình.

2. It is the most developed of the bodies at this time, and therefore receives the bulk of the life energy as it comes down the life stream, from the soul, and likewise receives the energy of the stream of consciousness. [43]

2. Đó là thể phát triển nhất vào thời điểm này, và vì thế tiếp nhận phần lớn năng lượng sự sống khi nó đi xuống theo dòng sự sống từ linh hồn, đồng thời cũng tiếp nhận năng lượng của dòng tâm thức. [43]

3. It is oriented, if I may so express it, outwards or towards the plane of physical experience. That orientation shifts at times and, temporarily in the case of the aspirant, turns inwards. Just as the centres in man, the “lotuses of life,” are depicted as turned downwards and with the stalk upwards in the undeveloped man, but are turned upwards in the case of the developed, so there are conditions in the astral body analogous to this. In the case of the highly evolved man, of the initiate or the Master, the astral body is steadily oriented towards the soul. In the mystic, the aspirant and the disciple, the process of thus definitely changing the direction of the forces is going on and producing, therefore, a temporary chaos.

3. Nó được định hướng, nếu tôi có thể nói như vậy, ra bên ngoài hay hướng về cõi kinh nghiệm hồng trần. Sự định hướng ấy đôi khi thay đổi và, tạm thời trong trường hợp người chí nguyện, quay vào bên trong. Cũng như các trung tâm nơi con người, “những hoa sen của sự sống,” được mô tả là quay xuống dưới và cuống quay lên trên nơi con người chưa phát triển, nhưng lại quay lên trên trong trường hợp người đã phát triển, thì trong thể cảm dục cũng có những điều kiện tương tự như vậy. Trong trường hợp con người tiến hoá cao, điểm đạo đồ hay Chân sư, thể cảm dục được định hướng vững chắc về phía linh hồn. Trong nhà thần bí, người chí nguyện và đệ tử, tiến trình thay đổi dứt khoát hướng đi của các mãnh lực như thế đang diễn ra và vì vậy tạo ra một tình trạng hỗn loạn tạm thời.

4. The astral body of man, being the latest to develop (the physical and the etheric being the first two in order of time) is still the most alive and potent. It reached its acme of development in late Atlantean days and its potency is still great, constituting the mass potency, the mass emphasis, and the mass polarisation. This is also augmented by energies coming from the animal kingdom, which is entirely astral in its point of attainment.

4. Thể cảm dục của con người, vì là thể phát triển sau cùng (thể xác và thể dĩ thái là hai thể đầu tiên theo thứ tự thời gian), vẫn còn sống động và mạnh mẽ nhất. Nó đạt đến cực điểm phát triển vào cuối thời Atlantis và sức mạnh của nó vẫn còn lớn, cấu thành sức mạnh quần chúng, sự nhấn mạnh quần chúng, và sự phân cực quần chúng. Điều này còn được tăng cường bởi các năng lượng đến từ giới động vật, vốn hoàn toàn là cảm dục trong điểm thành tựu của nó.

I would remind you here that the use of the word “body” is most misleading and unfortunate. It produces in the consciousness the idea of a defined form and a specific shape. The astral body is an aggregate of forces, working through into the consciousness in the form of desires, impulses, longings, wishes, determinations, incentives, and projections, thus laying the basis for much of the truth of the teachings of modern psychology. Psychologists have discovered (or rather uncovered) the nature of some of these forces, and their terminology in this connection is frequently more truly occult and accurate than is that of [44] the orthodox esotericist and theosophist.

Tôi muốn nhắc bạn ở đây rằng việc dùng từ “thể” rất dễ gây hiểu lầm và đáng tiếc. Nó tạo ra trong tâm thức ý niệm về một hình thể xác định và một hình dạng đặc thù. Thể cảm dục là một tập hợp các mãnh lực, tác động vào tâm thức dưới hình thức các dục vọng, xung lực, khát khao, ước muốn, quyết tâm, động cơ thúc đẩy, và các sự phóng chiếu, nhờ đó đặt nền tảng cho phần lớn chân lý trong giáo huấn của tâm lý học hiện đại. Các nhà tâm lý học đã khám phá ra (hay đúng hơn là đã vén lộ) bản chất của một số mãnh lực này, và thuật ngữ của họ trong mối liên hệ này thường huyền bí và chính xác hơn thuật ngữ của [44] nhà bí truyền học và nhà Thông Thiên Học chính thống.

It may be of interest to you if I do two things. First of all, give you some technical information in connection with the working through of the forces from the astral plane into the physical body, and then give you the effects of that working through, as they take the form—owing to man’s wrong use of them—of disease and the many varying disorders to which man is prone. With their cure we are not at this time concerned. I am here simply laying down the structure of fact upon which we can later base our conclusions. We shall, in this connection, only consider the average man. The problems of the disciple will be dealt with under Part I.4.

Có thể bạn sẽ thấy thú vị nếu tôi làm hai việc. Trước hết, cung cấp cho bạn một số thông tin kỹ thuật liên quan đến sự tác động xuyên qua của các mãnh lực từ cõi cảm dục vào thể xác, rồi sau đó nêu ra các hiệu quả của sự tác động ấy, khi chúng mang hình thức—do con người sử dụng sai chúng—của bệnh tật và nhiều chứng rối loạn khác nhau mà con người dễ mắc phải. Hiện nay chúng ta không quan tâm đến việc chữa trị chúng. Ở đây tôi chỉ đơn giản đặt ra cấu trúc của các sự kiện mà sau này chúng ta có thể dựa vào đó để xây dựng các kết luận của mình. Trong mối liên hệ này, chúng ta sẽ chỉ xét con người trung bình. Các vấn đề của đệ tử sẽ được bàn đến trong Phần I.4.

I pointed out earlier that the three major groups of diseases for the masses are—

Trước đây tôi đã chỉ ra rằng ba nhóm bệnh chính đối với quần chúng là—

1. Tuberculosis.

1. Bệnh lao.

2. The social diseases, as they are called: the venereal diseases and syphilis.

2. Các bệnh xã hội, như chúng được gọi: các bệnh hoa liễu và giang mai.

3. Cancer.

3. Ung thư.

To these we must add two other groups of disease which predominantly affect those who are a little above the average and whose general level of intelligence is higher than that of the mass; this includes also the aspirants of the world.

Vào đó chúng ta phải thêm hai nhóm bệnh khác, chủ yếu ảnh hưởng đến những người cao hơn mức trung bình đôi chút và có trình độ thông minh chung cao hơn quần chúng; điều này cũng bao gồm những người chí nguyện của thế giới.

4. Heart diseases, but not what is called heart failure.

4. Bệnh tim, nhưng không phải điều được gọi là suy tim.

5. The nervous diseases so prevalent at this time.

5. Các bệnh thần kinh rất phổ biến vào thời điểm này.

These five groups of disease, and their various sub-divisions are responsible for the bulk of the physical ills which attack humanity. A right grasp of their preponderating causes will be of definite assistance to future medicine. How much will be accepted is at this time doubtful.

Năm nhóm bệnh này, cùng các phân nhóm khác nhau của chúng, chịu trách nhiệm cho phần lớn các bệnh tật thể xác tấn công nhân loại. Sự nắm bắt đúng đắn các nguyên nhân trội hơn của chúng sẽ là một trợ giúp rõ rệt cho y học tương lai. Hiện nay còn đáng ngờ là bao nhiêu điều trong đó sẽ được chấp nhận.

I would like to point out here that, as you well know, there are physical correspondences to the seven centres of [45] forces located in the etheric body, and fed from the astral body. These we call the endocrine glands. These glands are effects of or testifying evidence to, the centres, and are in their turn initiating causes of lesser effects in the physical body. It will be of value if we here tabulate some of the things we know, and aid comprehension.

Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng, như bạn đã biết rõ, có những đối phần hồng trần với bảy trung tâm [45] mãnh lực nằm trong thể dĩ thái và được nuôi dưỡng từ thể cảm dục. Chúng ta gọi chúng là các tuyến nội tiết. Các tuyến này là những hiệu quả của, hay bằng chứng xác nhận cho, các trung tâm, và đến lượt chúng lại là những nguyên nhân khởi phát của các hiệu quả nhỏ hơn trong thể xác. Sẽ có giá trị nếu ở đây chúng ta lập bảng một số điều mình biết và hỗ trợ sự thấu hiểu.

Centre

Gland

Physical Organs

Type of Force

Origin

Body

1.

Head Brahmarandra. 1000-petalled lotus.

Pineal

Upper brain Right eye

Spiritual will. Synthetic. Dynamic.

Atma Monad via soul Will.

Causal body. Jewel in the lotus.

Occultist.

Initiate.

Master.

Dominant after 3rd Initiation.

2.

Centre between the eyes. Ajna centre

Pituitary body.

Lower brain. Left eye. Nose. Nervous system.

Soul force Love. Magnetic. Light. Intuition. Vision.

Petals of egoic lotus, as a whole.

Buddhic vehicle Causal body. Higher mental.

Aspirant.

Disciple.

Mystic.

Dominant after 2nd Initiation.

3.

Heart. Anahata.

Thymus

Heart Circulatory system. Blood. Also Vagus nerve.

Life force Group consciousness

Love petals

Higher. mental. Causal body.

All types of Spiritual People.

Dominant after 1st Initiation.

4.

Throat centre

Thyroid

Breathing apparatus. Alimentary canal

Creative energy. Sound. Self-consciousness

Knowledge petals

Mental body.

Creative Artists.

All advanced humanity.

The Intelligentsia.

5.

Solar plexus

Pancreas

Stomach. Liver. Gall bladder. Nervous system.

Astral force. Emotion. Desire. Touch.

Astral centres

Astral body.

Average humanity.

Ordinary people.

6.

Sacral centre.

Gonads

Sex organs

Life force. Physical plane force. Vital energy. Animal life

Physical plane

Etheric body.

Low grade animal type of men.

7.

Base of spine. Muladhara.

Adrenals

Kidneys Spinal column.

Will energy. Universal life. Kundalini

The Mother of the World.

[46] This tabulation is simply an outline and, like the tabulation of the principles and their correspondences, as given by H.P.B. in the third volume of The Secret Doctrine, its interpretation will be dependent upon the point of view of the student. We shall employ it later and add further columns to it and further correspondences. In all our considerations, what we have to say will have the following synthesis of structure behind it:

[46] Bảng này chỉ là một phác thảo và, giống như bảng về các nguyên khí và các đối phần của chúng do H.P.B. đưa ra trong quyển ba của Giáo Lý Bí Nhiệm, sự diễn giải nó sẽ tùy thuộc vào quan điểm của đạo sinh. Chúng ta sẽ dùng nó về sau và thêm vào đó các cột khác cùng các đối phần khác nữa. Trong mọi xem xét của chúng ta, điều chúng ta phải nói sẽ có sự tổng hợp cấu trúc sau đây ở phía sau:

1. The soul.

1. Linh hồn.

2. The subtler bodies of the mind and the emotions, which are simply qualified energy centres.

2. Các thể vi tế hơn của trí tuệ và cảm xúc, vốn chỉ đơn giản là các trung tâm năng lượng được phẩm tính hóa.

3. The vital body with its seven major centres of force.

3. Thể sinh lực với bảy trung tâm mãnh lực chính của nó.

4. The endocrine system, which is an effect of the seven centres, and the determining controlling factor in the physical body of man.

4. Hệ nội tiết, là một hiệu quả của bảy trung tâm, và là yếu tố quyết định kiểm soát trong thể xác của con người.

5. The nervous system in its three divisions.

5. Hệ thần kinh trong ba phân bộ của nó.

6. The blood stream.

6. Dòng máu.

All the subsidiary organs of man are effects; they are not pre-determining causes. The determining causes in man, and that which makes him what he is, are the glands. They are externalisations of the types of force pouring through the etheric centres from the subtler worlds of being. They express the point in evolution which the man has reached; they are vital and active or non-vital and inactive, according to the condition of the centres. They demonstrate a sufficiency, an oversufficiency or a deficiency, according to the condition of the etheric vortices.

Tất cả các cơ quan phụ thuộc của con người đều là các hiệu quả; chúng không phải là những nguyên nhân tiền quyết định. Những nguyên nhân quyết định nơi con người, và điều làm cho y là chính y, là các tuyến. Chúng là những sự ngoại hiện của các loại mãnh lực tuôn qua các trung tâm dĩ thái từ những thế giới vi tế hơn của bản thể. Chúng biểu lộ điểm tiến hoá mà con người đã đạt đến; chúng sinh động và hoạt động hoặc không sinh động và bất hoạt, tùy theo tình trạng của các trung tâm. Chúng biểu lộ sự đầy đủ, quá đầy đủ hoặc thiếu hụt, tùy theo tình trạng của các xoáy dĩ thái.

Again, the process of control may be stated to be via the nervous system; the close interlocking directorate of the nervous system, the brain and the blood stream (as a carrier of the life principle) governs the activities of the man—conscious, sub-conscious, self-conscious, and finally, [47] super-conscious. The three centres in supreme control today for the majority are:

Một lần nữa, tiến trình kiểm soát có thể được nói là diễn ra qua hệ thần kinh; sự điều hành liên kết chặt chẽ của hệ thần kinh, bộ não và dòng máu (với tư cách là vật mang nguyên khí sự sống) chi phối các hoạt động của con người—hữu thức, tiềm thức, ngã thức, và cuối cùng, [47] siêu thức. Ba trung tâm hiện nay nắm quyền kiểm soát tối cao đối với đa số là:

1. The ajna centre, the centre between the eyebrows.

1. Trung tâm ajna, trung tâm giữa hai chân mày.

2. The solar plexus.

2. Tùng thái dương.

3. The sacral centre.

3. Trung tâm xương cùng.

Eventually, when man will have “become that which he is” (that paradoxical esoteric phrase), the centres of control will be:

Cuối cùng, khi con người sẽ “trở thành điều mà y là” (cụm từ huyền bí nghịch lý ấy), các trung tâm kiểm soát sẽ là:

1. The head centre, the brahmarandra.

1. Trung tâm đầu, brahmarandra.

2. The heart centre.

2. Trung tâm tim.

3. The centre at the base of the spine.

3. Trung tâm ở đáy cột sống.

Between the present and the future, the emphasis will be laid upon a constantly shifting triplicity, and each man will be different from his fellowmen as to emphasis, as to the conditions of his centres, as to their glandular correspondences in the physical body, and therefore as to the diseases and the ills, inhibitions, and difficulties to which his flesh will fall heir. It is in this connection that it becomes obvious that the work of the physician and of the psychologist must eventually go hand in hand. The three most important aspects of all diagnoses are:

Giữa hiện tại và tương lai, sự nhấn mạnh sẽ được đặt lên một bộ ba luôn luôn thay đổi, và mỗi người sẽ khác với đồng loại của mình về sự nhấn mạnh, về tình trạng các trung tâm của mình, về các đối phần tuyến của chúng trong thể xác, và do đó về các bệnh tật, sự ức chế và khó khăn mà xác thân của y sẽ thừa hưởng. Chính trong mối liên hệ này mà trở nên hiển nhiên rằng công việc của bác sĩ và của nhà tâm lý học cuối cùng phải song hành với nhau. Ba phương diện quan trọng nhất của mọi chẩn đoán là:

1. The psychological, or the gauging of the inner bodies of man from the angle of their development, their integration and the total coordination of the personality, as these subtler aspects of the human being express themselves in consciousness.

1. Tâm lý học, hay sự đánh giá các thể bên trong của con người từ góc độ sự phát triển của chúng, sự tích hợp của chúng và sự phối hợp tổng thể của phàm ngã, khi các phương diện vi tế hơn này của con người biểu lộ trong tâm thức.

2. The work of the endocrinologist, as he deals with the endocrine glands, viewing them as power stations through which energy—dynamic and illuminating—can pour through from the centres.

2. Công việc của nhà nội tiết học, khi ông xử lý các tuyến nội tiết, xem chúng như những trạm năng lượng qua đó năng lượng—năng động và soi sáng—có thể tuôn qua từ các trung tâm.

3. The physician, who, taking into consideration the conclusions of the two above experts, diagnoses the [48] disease, and treats it in collaboration with the other two.

3. Bác sĩ, người, có xét đến các kết luận của hai chuyên gia trên, chẩn đoán [48] bệnh và điều trị nó trong sự cộng tác với hai người kia.

These three may call in other experts and specialists in electro-therapy, osteopathy and chiropractic, but it is in the combination of the knowledge of the physician, the psychologist and the endocrinologist that the medical profession can take on a new expression of usefulness, and enter the new age equipped to deal with the people who will gradually assume the new types and a changing physical organism. Electricity, in relation to human ills, is as yet an infant science, but it has in it the germs of the new techniques and methods of healing. The work done by the chiropractors is good and needed but should, with osteopathy, constitute a definite subsidiary technique to that of the other three. The work of the chiropractors and of the osteopaths forms two halves of one whole, little as their practitioners may like to recognise it. The former group need a more careful and lengthy training, and a higher standard of technical knowledge should be required.

Ba người này có thể mời thêm các chuyên gia và nhà chuyên môn khác về điện trị liệu, nắn xương và chiropractic, nhưng chính trong sự kết hợp tri thức của bác sĩ, nhà tâm lý học và nhà nội tiết học mà ngành y có thể mang lấy một biểu hiện hữu dụng mới, và bước vào kỷ nguyên mới được trang bị để xử lý những con người sẽ dần dần mang những loại hình mới và một cơ thể hồng trần đang thay đổi. Điện lực, trong mối liên hệ với các bệnh tật của con người, hiện vẫn là một khoa học non trẻ, nhưng trong nó có những mầm mống của các kỹ thuật và phương pháp chữa lành mới. Công việc do các nhà chiropractic thực hiện là tốt và cần thiết nhưng, cùng với nắn xương, nên cấu thành một kỹ thuật phụ trợ xác định cho kỹ thuật của ba ngành kia. Công việc của các nhà chiropractic và của các nhà nắn xương tạo thành hai nửa của một toàn thể, dù những người hành nghề của họ có ít thích thừa nhận điều đó đến đâu. Nhóm trước cần được đào tạo cẩn thận và lâu dài hơn, và một tiêu chuẩn tri thức kỹ thuật cao hơn cần được đòi hỏi.

Medicine is entering slowly into a new usefulness. Once the cause of disease is shifted out of an organ or bodily system into a more subtle and vital realm, we shall see radical and needed changes, leading to simplification and not to a greater complexity and difficulty.

Y học đang chậm rãi bước vào một tính hữu dụng mới. Một khi nguyên nhân của bệnh tật được chuyển ra khỏi một cơ quan hay hệ thống cơ thể sang một lĩnh vực vi tế và sinh động hơn, chúng ta sẽ thấy những thay đổi triệt để và cần thiết, dẫn đến sự đơn giản hóa chứ không phải đến sự phức tạp và khó khăn lớn hơn.

From the above remarks it will be seen that disease emerges into the physical body from the world of the unseen, and from the use, or misuse, of the subtler forces on the inner planes. It must be remembered, however, that disease—as it expresses itself in man—can be generally regarded as due to the following causes, and students would do well to have this most carefully in mind as they ponder on these matters:

Từ những nhận xét trên sẽ thấy rằng bệnh tật xuất hiện vào thể xác từ thế giới vô hình, và từ việc sử dụng, hay sử dụng sai, các mãnh lực vi tế hơn trên các cõi bên trong. Tuy nhiên, cần nhớ rằng bệnh tật—khi nó biểu lộ nơi con người—nói chung có thể được xem là do các nguyên nhân sau đây, và các đạo sinh nên hết sức cẩn thận ghi nhớ điều này khi suy ngẫm về các vấn đề ấy:

1. Individual disease, due to interior conditions in a man’s own equipment, to his mental state, or to an emotional [49] condition which can produce serious ills. This is inherited from the past.

1. Bệnh cá nhân, do những điều kiện nội tại trong chính bộ máy của một người, do trạng thái trí tuệ của y, hoặc do một tình trạng cảm xúc [49] có thể tạo ra những bệnh nghiêm trọng. Điều này được thừa hưởng từ quá khứ.

2. Disease inherent in humanity as a whole. There are certain diseases to which all men are prone; the germs of these diseases are latent in the physical vehicles of the majority of men, only awaiting predisposing conditions in order to manifest. They might be regarded as group diseases.

2. Bệnh vốn có trong toàn thể nhân loại. Có những bệnh nhất định mà mọi người đều dễ mắc; mầm mống của các bệnh này tiềm ẩn trong các vận cụ hồng trần của đa số người ta, chỉ chờ những điều kiện tạo khuynh hướng để biểu lộ. Chúng có thể được xem như những bệnh nhóm.

3. Diseases which are, curiously enough, accidental. To these a man falls heir when, for instance, he succumbs to some infectious or contagious complaint.

3. Những bệnh, kỳ lạ thay, là ngẫu nhiên. Một người thừa hưởng chúng khi, chẳng hạn, y mắc phải một chứng bệnh truyền nhiễm hay lây lan nào đó.

4. Diseases inherent in the soil. Of these as yet but little is known. The soil of our earth, however, is very ancient, and is impregnated with disease germs which take their toll of the vegetable, animal and human kingdoms, manifesting differently in each, yet being due basically to the same causes.

4. Những bệnh vốn có trong đất. Về những bệnh này hiện vẫn biết rất ít. Tuy nhiên, đất của Trái Đất chúng ta rất cổ xưa, và đã thấm đầy các mầm bệnh gây tổn hại cho giới thực vật, giới động vật và giới nhân loại, biểu lộ khác nhau trong mỗi giới, nhưng về căn bản đều do cùng những nguyên nhân.

5. Diseases which are the difficulties of mysticism. These are the peculiar ills and complaints which attack the disciples and aspirants of the world. These can be traced in every case to the pouring in of energy through centres which are not properly equipped, or adequately developed, to handle the force.

5. Những bệnh là các khó khăn của thần bí học. Đây là những bệnh và chứng đặc thù tấn công các đệ tử và người chí nguyện của thế giới. Trong mọi trường hợp, chúng có thể được truy nguyên về sự tuôn vào của năng lượng qua các trung tâm chưa được trang bị đúng mức, hay chưa phát triển đầy đủ, để xử lý mãnh lực.

The above is a generalisation which may be found useful.

Những điều trên là một sự khái quát hóa có thể thấy hữu ích.

The method whereby these astral forces (which are, as we know, preeminently the determining life forces for the majority of men at this time) work out into manifestation is a relatively simple matter. In the astral vehicle of expression there are, as you may realise, the correspondences of the seven centres in the etheric body. These are essentially the seven major focal points of force, and each of them is expressive of one of the seven ray energies. Let me first of all make clear which centres express these seven ray types:[50]

Phương pháp nhờ đó các mãnh lực cảm dục này (vốn, như chúng ta biết, hiện nay nổi bật là các mãnh lực sự sống quyết định đối với đa số người ta) vận hành đi vào biểu hiện là một vấn đề tương đối đơn giản. Trong vận cụ biểu hiện cảm dục có, như bạn có thể nhận ra, các đối phần của bảy trung tâm trong thể dĩ thái. Về bản chất, đây là bảy tiêu điểm mãnh lực chính, và mỗi tiêu điểm biểu lộ một trong bảy năng lượng cung. Trước hết, hãy để tôi làm rõ những trung tâm nào biểu lộ bảy loại cung này:[50]

Centre

Ray

Quality

Origin

1.

Head Centre

1st

The Divine Will.

Monadic

2.

Ajna Centre

7th

Organisation. Direction.

Atmic

3.

Heart Centre

2nd

Love-Wisdom. Group love.

Buddhic

4.

Throat Centre

5th

Creativity.

Mental

5.

Solar Plexus

6th

Emotion. Desire.

Astral

6.

Sacral Centre

3rd

Reproduction.

Etheric.

7.

Base of Spine

4th

Harmony. Union through conflict.

Physical

Note: In the fourth kingdom, the human, it is the energy of the fourth ray which, cooperating with the first ray, eventually brings synthesis. There is a close relation between the highest centre (the head centre), and that at the base of the spine. This fourth type of energy thus expresses itself in cooperation with the first type because we are still Atlantean in our polarisation, and that civilisation was the fourth in order. It is very largely the work done in our fifth civilisation, our present Aryan race, which will, in cooperation with the fifth principle of the mind, bring a shift into a higher level of consciousness. This will produce a harmonising of all the centres through an act of the will, intellectually and intelligently applied, with the objective of producing harmony. This point warrants thought.

Lưu ý: Trong giới thứ tư, giới nhân loại, chính năng lượng của cung bốn, hợp tác với cung một, cuối cùng mang lại sự tổng hợp. Có một mối liên hệ chặt chẽ giữa trung tâm cao nhất (trung tâm đầu), và trung tâm ở đáy cột sống. Loại năng lượng thứ tư này do đó biểu lộ trong sự hợp tác với loại thứ nhất vì chúng ta vẫn còn là Atlantis trong sự phân cực của mình, và nền văn minh ấy là nền văn minh thứ tư theo thứ tự. Chính phần lớn công việc được thực hiện trong nền văn minh thứ năm của chúng ta, nhân loại Arya hiện nay của chúng ta, sẽ, trong sự hợp tác với nguyên khí thứ năm của trí tuệ, mang lại một sự chuyển dịch lên một cấp độ tâm thức cao hơn. Điều này sẽ tạo ra sự hài hòa hóa mọi trung tâm bằng một hành động của ý chí, được áp dụng một cách trí tuệ và thông minh, với mục tiêu tạo ra sự hài hòa. Điểm này đáng để suy ngẫm.

On the astral plane there will also be found in every astral body seven corresponding focal points through which energy can enter, raying forth then into the vital centres in the etheric physical body as seven differentiated types of force. These types of force produce both bad and good effects, according to the quality of the negative dense physical body. These differ according to the type of ray or force, and it may be interesting if I here indicate to you the good and the bad effects and the corresponding diseases. [51]

Trên cõi cảm dục cũng sẽ được tìm thấy trong mỗi thể cảm dục bảy tiêu điểm tương ứng qua đó năng lượng có thể đi vào, rồi từ đó phát ra vào các trung tâm sinh lực trong thể hồng trần dĩ thái như bảy loại mãnh lực phân biệt. Các loại mãnh lực này tạo ra cả hiệu quả xấu lẫn tốt, tùy theo phẩm tính của thể hồng trần đậm đặc âm. Chúng khác nhau tùy theo loại cung hay mãnh lực, và có thể sẽ thú vị nếu ở đây tôi chỉ cho bạn các hiệu quả tốt và xấu cùng các bệnh tương ứng. [51]

Astral Force

Centre

Bad Aspect

Disease

Good Aspect

First ray. Will or Power.

Head

Self-pity. The Dramatic I

Cancer.

Sacrfice. Dedication of the I.

Second ray. Love-Wisdom.

Heart

Self-love. Personality.

Heart trouble. Stomach trouble.

Soul Love. Group Love.

Third ray. Activity.

Sacral

Sexuality. Over-activity.

Social diseases.

Parental love. Group life.

Fourth ray Harmony.

Ajna

Selfishness. Dogmatism.

Insanities.

Mysticism.

Fifth ray. Knowledge.

Throat

Lower psychism.

Wrong metabolism. Certain Cancers.

Creativity. Sensitivity. Inspiration

Sixth ray. Devotion.

Solar Plexus

Emotionalism.

Nervous diseases. Gastritis. Liver trouble.

Aspiration. Right direction.

Seventh ray. Organisation.

Base of the spine.

Self-interest. Pure selfishness. Black Magic.

Heart diseases. Tumors.

White Magic.

[52] Please remember in studying this tabulation that it is a generalisation, and only a partial listing of the types of disease which can be the result of the inflow of energy. It is only intended to be suggestive; the complexity of the human equipment and the intricacy of the ray energies are such that no hard and fast rules can be laid down. The ray forces manifest differently, according to ray type and point in evolution. There is therefore no contradiction here to the previous tabulations. If you bear in mind that every human being is basically an expression of five ray forces:

[52] Xin nhớ khi nghiên cứu bảng này rằng đó là một sự khái quát hóa, và chỉ là một danh sách từng phần các loại bệnh có thể là kết quả của dòng năng lượng tuôn vào. Nó chỉ nhằm gợi ý; sự phức tạp của bộ máy con người và tính rắc rối của các năng lượng cung là như thế nên không thể đặt ra những quy luật cứng nhắc. Các mãnh lực cung biểu lộ khác nhau, tùy theo loại cung và điểm tiến hoá. Vì vậy ở đây không có mâu thuẫn nào với các bảng trước. Nếu bạn ghi nhớ rằng mỗi con người về căn bản là một biểu hiện của năm mãnh lực cung:

1. The ray of the soul,

1. Cung của linh hồn,

2. The ray of the personality,

2. Cung của phàm ngã,

3. The ray governing the mental body,

3. Cung chi phối thể trí,

4. The ray governing the astral equipment,

4. Cung chi phối bộ máy cảm dục,

5. The ray of the physical nature,

5. Cung của bản chất hồng trần,

it will become apparent that for the average person two such tabulations would have to be drawn up.

thì sẽ trở nên hiển nhiên rằng đối với người trung bình cần phải lập hai bảng như vậy.

1. There would be required the positive analysis of the astral forces as they express the personality.

1. Cần có sự phân tích dương các mãnh lực cảm dục khi chúng biểu lộ phàm ngã.

2. An analysis of the soul forces as they are faintly indicated. A negative analysis concerning what is not present in the equipment can be of little value here.

2. Một sự phân tích các mãnh lực linh hồn như chúng được chỉ ra một cách mờ nhạt. Một sự phân tích âm liên quan đến điều không hiện diện trong bộ máy thì ở đây ít có giá trị.

It will again be necessary to have an analysis of the forces, playing through into the physical body from the astral plane, which are received directly from the soul and are therefore a combination of soul-force plus the highest type of astral energy. This would be in the nature of a synthetic analysis and would only be possible in the case of a disciple or an initiate. You will therefore eventually have for each person: [53]

Một lần nữa, sẽ cần có một sự phân tích các mãnh lực tác động xuyên vào thể xác từ cõi cảm dục, được tiếp nhận trực tiếp từ linh hồn và do đó là một sự kết hợp của mãnh lực linh hồn cộng với loại năng lượng cảm dục cao nhất. Điều này sẽ có tính chất của một sự phân tích tổng hợp và chỉ có thể thực hiện trong trường hợp một đệ tử hay một điểm đạo đồ. Vì vậy cuối cùng bạn sẽ có đối với mỗi người: [53]

1. A positive analysis of the personality forces, primarily of the astral force as that is the predominating force pouring into the etheric centres.

1. Một sự phân tích dương các mãnh lực phàm ngã, chủ yếu là mãnh lực cảm dục vì đó là mãnh lực trội hơn tuôn vào các trung tâm dĩ thái.

2. A negative analysis of those aspects of soul energy which are not present.

2. Một sự phân tích âm những phương diện của năng lượng linh hồn không hiện diện.

3. A synthetic analysis, based on both the above. but combining also the record of positive soul expression.

3. Một sự phân tích tổng hợp, dựa trên cả hai điều trên, nhưng cũng kết hợp hồ sơ của sự biểu lộ linh hồn dương.

In these tabulations and statements I have given you much food for thought.

Trong các bảng và các phát biểu này tôi đã cho bạn nhiều điều đáng suy ngẫm.

B. Desire, Inhibited or Rampant.

B. Dục vọng bị kìm hãm hoặc buông thả.

It would be of value to you here if I made clear that one of the first things a student has to remember is that—for the majority of human beings, for the huge majority—the influences and impulses which emanate from the astral plane are a predisposing factor in all matters with which the individual concerns himself, apart from those conditions which (being imposed upon him from his environment and the period in which he lives) are, for him, unavoidable. The astral plane is a centre of dynamic emanating force, which is fundamentally conditioning in its effect because of the stage of the individual consciousness at which that majority finds itself. Men are swayed by the impulse of desire of a high or low calibre. This is, of course, a broad generalisation, for that basic condition is becoming steadily modified by impulses coming from the mental plane. This necessarily complicates the problem. Influences emanating from the soul are also becoming appreciably present, and still further complicate the problem of the advanced human being. This “problem of complication” (if I might so call it) constitutes a “hard saying” for the student to understand in relation to his own physical condition or to that of any one whom he may be seeking to help.

Ở đây sẽ có giá trị cho bạn nếu tôi làm rõ rằng một trong những điều đầu tiên mà đạo sinh phải nhớ là—đối với đa số con người, đối với đại đa số—những ảnh hưởng và xung lực phát ra từ cõi cảm dục là một yếu tố tạo khuynh hướng trong mọi vấn đề mà cá nhân quan tâm đến, ngoài những điều kiện vốn được áp đặt lên y từ môi trường và thời kỳ mà y đang sống, và vì thế đối với y là không thể tránh khỏi. Cõi cảm dục là một trung tâm của mãnh lực phát xạ năng động, về căn bản có tác dụng định hình vì giai đoạn tâm thức cá nhân mà đa số ấy đang ở. Con người bị chi phối bởi xung lực của dục vọng thuộc phẩm cấp cao hay thấp. Dĩ nhiên đây là một sự khái quát rộng, vì điều kiện căn bản ấy đang đều đặn được biến đổi bởi các xung lực đến từ cõi trí. Điều này tất yếu làm vấn đề phức tạp thêm. Những ảnh hưởng phát ra từ linh hồn cũng đang hiện diện một cách đáng kể, và càng làm phức tạp thêm vấn đề của con người tiến bộ. “Vấn đề của sự phức tạp” này (nếu tôi có thể gọi như vậy) là một “lời khó hiểu” đối với đạo sinh khi tìm cách thấu hiểu nó trong mối liên hệ với tình trạng thể xác của chính mình hay của bất kỳ ai mà y có thể đang tìm cách giúp đỡ.

[54]

[54]

I should like here, in this connection, to give you the third of the Laws which govern the sacred art of healing.

Ở đây, trong mối liên hệ này, tôi muốn trao cho bạn định luật thứ ba trong các Định luật chi phối nghệ thuật thiêng liêng của sự chữa lành.

LAW III

ĐỊNH LUẬT III

Diseases are an effect of the basic centralisation of a man’s life energy. From the Plane whereon those energies are focussed, proceed those determining conditions which produce ill health, and which, therefore, work out as disease or as freedom from disease.

Bệnh tật là một hiệu quả của sự tập trung căn bản của năng lượng sự sống của con người. Từ Cõi nơi các năng lượng ấy được tập chú, phát sinh những điều kiện quyết định tạo ra sức khỏe kém, và vì thế biểu lộ thành bệnh tật hoặc thành sự tự do khỏi bệnh tật.

It will be apparent to you, therefore, that a shift of the inner attention (the mental attitude) of the patient can and will produce either real freedom from physical ills or an intensification of those reactions which produce discomfort, disease or death.

Do đó, hiển nhiên với bạn rằng một sự chuyển dịch của sự chú ý bên trong (thái độ trí tuệ) của bệnh nhân có thể và sẽ tạo ra hoặc sự giải thoát thực sự khỏi các bệnh tật thể xác hoặc sự tăng cường những phản ứng tạo ra khó chịu, bệnh tật hay cái chết.

In the three laws which I have given you and which you now have before you for consideration, it is obvious that the following facts emerge. These should form the basis of your reflection:

Trong ba định luật mà tôi đã trao cho bạn và hiện bạn đang có trước mắt để suy xét, rõ ràng là các sự kiện sau đây xuất hiện. Chúng nên tạo thành nền tảng cho sự suy tư của bạn:

1. Disease is the result of the blocking of the free flow of the life of the SOUL.

1. Bệnh tật là kết quả của sự ngăn chặn dòng chảy tự do của sự sống của LINH HỒN.

2. It is the product, or the result, of three influences:

2. Nó là sản phẩm, hay kết quả, của ba ảnh hưởng:

a. Ancient error, emanating from the past history of the person involved.

a. Sai lầm cổ xưa, phát ra từ lịch sử quá khứ của người liên hệ.

b. Human taints, inherited because one is a member of the human family.

b. Những ô nhiễm của nhân loại, được thừa hưởng vì người ta là một thành viên của gia đình nhân loại.

c. Planetary evil, imposed upon all forms on earth by the basic condition, and by time.

c. Điều ác hành tinh, áp đặt lên mọi hình tướng trên Trái Đất bởi điều kiện căn bản và bởi thời gian.

3. It is conditioned by the forces emanating from that plane whereon a man’s consciousness is primarily centred.

3. Nó được định hình bởi các mãnh lực phát ra từ cõi nơi tâm thức của con người chủ yếu được tập trung.

To the above statements should be added a further fact, already mentioned, that: [55]

Vào các phát biểu trên cần thêm một sự kiện nữa, đã được nhắc đến, rằng: [55]

4. There are five major groups of diseases, with their allied complaints and subsidiary diseases.

4. Có năm nhóm bệnh chính, cùng với các chứng bệnh liên hệ và các bệnh phụ thuộc của chúng.

a. Tuberculosis.

a. Lao.

b. The syphilitic diseases.

b. Các bệnh giang mai.

c. Cancer.

c. Ung thư.

d. Heart difficulties.

d. Các chứng bệnh tim.

e. Nervous diseases.

e. Các bệnh thần kinh.

I am not dividing what I have to say into organic and functional troubles, nor do I here refer to illnesses induced by epidemics or by accidents. I refer to those basic taints or predispositions that are the dubious heritage of humanity as a whole, and to those difficulties which are incident to those stages in evolutionary development which are characteristic of those upon the more advanced stages of the Path. It will be seen, therefore, that man comes into incarnation having inherited predispositions to disease which come:

Tôi không phân chia điều tôi phải nói thành các rối loạn thực thể và chức năng, cũng không đề cập ở đây đến các bệnh do dịch tễ hay do tai nạn gây ra. Tôi nói đến những ô nhiễm căn bản hay những khuynh hướng dễ mắc bệnh vốn là di sản đáng ngờ của toàn thể nhân loại, và đến những khó khăn gắn liền với các giai đoạn phát triển tiến hoá vốn là đặc trưng của những người ở các giai đoạn cao hơn trên Con Đường. Do đó, sẽ thấy rằng con người đi vào lâm phàm với những khuynh hướng dễ mắc bệnh được thừa hưởng từ:

1. From his own past; i.e., effects which are the result of causes initiated in earlier incarnations.

1. Quá khứ riêng của y; tức là các hậu quả là kết quả của những nguyên nhân đã được khởi phát trong các kiếp sống trước.

2. From the general racial heritage of humanity.

2. Di sản chủng tộc chung của nhân loại.

3. From the condition of the planetary life. These latter causes lift the whole problem out of the usual comprehension of the average man.

3. Tình trạng của sự sống hành tinh. Những nguyên nhân sau cùng này đưa toàn bộ vấn đề vượt ra ngoài sự thấu hiểu thông thường của người trung bình.

A human being is also predisposed to trouble if he has succeeded (as a result of a long evolutionary history) in awakening in some fashion, however slight, the centres above the diaphragm. The moment that that occurs he becomes subject, for a long cycle of lives, to difficulties connected with the heart or with the nervous system in its various branches. Frequently an advanced human being, such as an aspirant or a disciple, may have freed himself from the inherited taints, but will succumb to heart trouble, to nervous disorders, mental imbalance, and overstimulation. They are [56] classified occasionally as the “diseases of the Mystics.”

Một con người cũng dễ mắc rối loạn nếu y đã thành công (do kết quả của một lịch sử tiến hoá lâu dài) trong việc đánh thức theo một cách nào đó, dù rất nhẹ, các trung tâm ở phía trên cơ hoành. Ngay khi điều đó xảy ra, trong một chu kỳ dài của nhiều kiếp sống, y trở nên dễ mắc các khó khăn liên quan đến tim hoặc hệ thần kinh trong các phân nhánh khác nhau của nó. Thường thường một con người tiến bộ, như một người chí nguyện hay một đệ tử, có thể đã giải thoát mình khỏi các ô nhiễm di truyền, nhưng lại khuất phục trước bệnh tim, các rối loạn thần kinh, sự mất quân bình trí tuệ, và sự kích thích quá mức. Chúng đôi khi được [56] xếp loại là “các bệnh của các nhà thần bí.”

I would like to make it clear that it is not my intention to enter into the realm of physiological discussion, to elaborate the symptoms of disease, or to deal with the lesions, the pathological conditions, and the distressing details attendant upon the breakdown of any human organism. I am not going to write a treatise on anatomy or on the various sciences which have grown up from a study of the mechanism of the human being, connected as they are with the framework and structure, the organs, nerves, brain tissue and interrelated systems which compose that intricate piece of machinery, the human body. As far as the exoteric science is concerned, two things would successfully deter me:

Tôi muốn nói rõ rằng ý định của tôi không phải là đi vào lĩnh vực bàn luận sinh lý học, khai triển các triệu chứng của bệnh tật, hay đề cập đến các thương tổn, các tình trạng bệnh lý, và những chi tiết đau đớn đi kèm với sự suy sụp của bất kỳ cơ thể con người nào. Tôi sẽ không viết một luận thuyết về giải phẫu học hay về các khoa học khác nhau đã phát triển từ việc nghiên cứu bộ máy của con người, liên hệ như chúng vốn có với khung sườn và cấu trúc, các cơ quan, dây thần kinh, mô não và các hệ thống tương liên hợp thành cỗ máy phức tạp ấy, tức thân thể con người. Xét theo khoa học ngoại môn, có hai điều sẽ ngăn tôi làm như vậy:

1. The whole subject is marvelously dealt with in the many books which embody the literature of medicine and of surgery. There is little that I could add which would be of profit in such a discussion as this.

1. Toàn bộ chủ đề này đã được xử lý một cách kỳ diệu trong nhiều sách thuộc văn liệu y học và phẫu thuật. Tôi có rất ít điều có thể thêm vào mà lại có ích trong một cuộc bàn luận như thế này.

2. The readers of my words are not, with few exceptions, versed in the construction and constitution of the human body; and pathological details, the description of diseases, and the various unpleasant symptoms of human degeneration are unwholesome reading for the average man or woman. A little knowledge along these lines can be a most dangerous thing.

2. Những người đọc lời tôi, trừ rất ít ngoại lệ, không tinh thông về cấu tạo và cơ chế của thân thể con người; và các chi tiết bệnh lý, sự mô tả bệnh tật, cùng các triệu chứng khó chịu khác nhau của sự suy thoái nơi con người là loại đọc không lành mạnh đối với người nam hay nữ trung bình. Một ít hiểu biết theo những đường hướng này có thể là một điều cực kỳ nguy hiểm.

I seek to deal primarily with causes, with the inner sources of dis-ease and deal with those states of consciousness (I do not say states of mind only) which induce wrong functioning, and eventually wrong conditions.

Tôi chủ yếu tìm cách đề cập đến các nguyên nhân, đến các nguồn gốc bên trong của bệnh tật và đề cập đến những trạng thái tâm thức (tôi không chỉ nói các trạng thái trí tuệ) gây ra sự vận hành sai lệch, và cuối cùng là các tình trạng sai lệch.

The problem of the healer, therefore, is twofold: First, he must know whether the difficulty lies above or below the diaphragm; this takes him definitely into the realm of occult as well as of psychological knowledge. Secondly, he must [57] have a clear grasp of the patient’s inner emphasis; this last aids him in the diagnosis of the first.

Do đó, vấn đề của người chữa bệnh có hai mặt: Thứ nhất, y phải biết khó khăn nằm ở trên hay dưới cơ hoành; điều này đưa y dứt khoát vào lĩnh vực của tri thức huyền bí cũng như tri thức tâm lý học. Thứ hai, y phải [57] nắm thật rõ trọng điểm bên trong của bệnh nhân; điều sau cùng này giúp y chẩn đoán điều thứ nhất.

This statement brings me to the formulation of the third Rule for Healers.

Phát biểu này đưa tôi đến việc hình thành Quy luật thứ ba cho những người chữa bệnh.

RULE THREE

QUY LUẬT BA

Let the healer train himself to know the inner stage of thought or of desire of the one who seeks his help. He can thereby know the source from which the trouble comes. Let him relate the cause and the effect, and know the point exact through which relief must come.

Hãy để người chữa bệnh tự rèn luyện để biết giai đoạn bên trong của tư tưởng hay của dục vọng nơi người tìm kiếm sự giúp đỡ của mình. Nhờ đó y có thể biết nguồn gốc từ đó rối loạn phát sinh. Hãy để y liên hệ nguyên nhân với hậu quả, và biết chính xác điểm mà qua đó sự giải nhẹ phải đến.

I would like to call your attention to those last few words, and would emphasise to you the fact that disease primarily is an effort on the part of the natural physical body to seek relief and achieve release from inner pressures, from subjective inhibitions and hidden retentions. Primarily, from the point of view of esotericism, all physical disease is the result of:

Tôi muốn kêu gọi sự chú ý của bạn đến vài lời cuối ấy, và muốn nhấn mạnh với bạn sự kiện rằng bệnh tật trước hết là một nỗ lực từ phía thể xác tự nhiên nhằm tìm kiếm sự giải nhẹ và đạt được sự giải thoát khỏi các áp lực bên trong, khỏi các sự ức chế chủ quan và các sự giữ lại ẩn kín. Trước hết, theo quan điểm của huyền bí học, mọi bệnh tật hồng trần là kết quả của:

1. Wrong stimulation, or overstimulation, or wrongfully placed stimulation and of inner tensions in some part of the mechanism.

1. Sự kích thích sai lầm, hay kích thích quá mức, hay kích thích đặt sai chỗ và của các căng thẳng bên trong tại một phần nào đó của bộ máy.

2. Inhibitions, psychical starvation, and those accumulated subjective forces which dam the flow of the life forces.

2. Các sự ức chế, sự đói khát tâm linh, và những mãnh lực chủ quan tích lũy làm ngăn dòng chảy của các mãnh lực sự sống.

You will see, therefore, that again (in the domain of health) all problems resolve themselves into the right use and the correct handling of force, in order to effect the free flow of energy.

Do đó, bạn sẽ thấy rằng một lần nữa (trong lĩnh vực sức khỏe) mọi vấn đề đều quy về việc sử dụng đúng đắn và xử lý chính xác mãnh lực, nhằm tạo ra dòng chảy tự do của năng lượng.

The following questions will inevitably arise: From whence come these inherited taints? Is it possible to arrive at their source? The problem of the past, and the present effects of that past, is too vast for consideration, nor can any statements anent the situation possibly help humanity. [58] One generalisation I can, however, make, and even that may convey but little to your understanding.

Những câu hỏi sau đây tất yếu sẽ nảy sinh: Những ô nhiễm di truyền này đến từ đâu? Có thể truy đến nguồn gốc của chúng không? Vấn đề của quá khứ, và các hậu quả hiện tại của quá khứ ấy, quá rộng lớn để xem xét, và cũng không có phát biểu nào liên quan đến tình trạng ấy có thể giúp ích cho nhân loại. [58] Tuy nhiên, tôi có thể đưa ra một khái quát, và ngay cả điều đó cũng có thể truyền đạt rất ít đến sự thấu hiểu của bạn.

Of the three major diseases which have been inherited from the past, it might be said that the syphilitic or so-called social diseases are remainders of the excesses indulged in in Lemurian times; they are of such ancient origin that the very soil is permeated with the germs of these diseases—a fact quite unknown to modern science. Down the ages, men have suffered from these groups of infections; they have died and been buried and in their millions have contributed their quota of infection to the earth. In Lemurian times, the emphasis of the life force was upon the physical body, upon its development, its use and control, and also upon its perpetuation or reproduction. It was in Lemurian times that troubles connected with the misuse of the sex life began; this was, in a peculiar sense, the essential primeval evil, and concerning this fact, ancient legends and hints are found throughout the earliest records and writings. There is much misinterpreted testimony to this effect, and when men can read the records more correctly and with right interpretation, they will understand the way out, because they will see more clearly the underlying causes.

Về ba bệnh lớn được thừa hưởng từ quá khứ, có thể nói rằng các bệnh giang mai hay cái gọi là các bệnh xã hội là tàn dư của những sự thái quá được buông thả trong thời Lemuria; chúng có nguồn gốc cổ xưa đến mức chính đất đai cũng đã thấm đầy mầm bệnh của các bệnh này—một sự kiện hoàn toàn không được khoa học hiện đại biết đến. Qua các thời đại, con người đã chịu đựng các nhóm nhiễm bệnh này; họ đã chết và được chôn cất, và hàng triệu người trong số họ đã góp phần lây nhiễm của mình vào lòng đất. Trong thời Lemuria, trọng điểm của mãnh lực sự sống đặt trên thể xác, trên sự phát triển, việc sử dụng và kiểm soát nó, và cả trên sự duy trì hay sinh sản của nó. Chính trong thời Lemuria mà các rối loạn liên quan đến việc lạm dụng đời sống tính dục bắt đầu; theo một nghĩa đặc biệt, đây là điều ác nguyên thủy cốt yếu, và liên quan đến sự kiện này, các truyền thuyết cổ và những ám chỉ được tìm thấy khắp các biên niên và trước tác sớm nhất. Có nhiều chứng cứ bị diễn giải sai theo hướng này, và khi con người có thể đọc các biên niên một cách đúng đắn hơn và với sự giải thích chính xác, họ sẽ hiểu được lối thoát, bởi vì họ sẽ thấy rõ hơn các nguyên nhân nền tảng.

Cancer is a gift to modern man from the Atlantean humanity, and the scourge of this disease was the major factor which devastated the inhabitants of old Atlantis. The roots of this dire evil are deep-seated in the emotional or desire nature, and are grounded in the astral body. Cancer is partially the result of a reaction to the diseases connected with the sex life which became so rampant in later Lemurian times and early Atlantean days. The people of those times, seeing the fearful evils and the extent of the disease which grew up out of the fertile Lemurian life, resulting from the promiscuous sex life on every hand, for the sake of self-preservation dammed back the natural flow of desire (the [59] flow of life as it expresses itself through the centres of reproduction and procreation), and this in due time produced other evils. Cancer is primarily a disease of inhibition, just as the syphilitic diseases are those of over-expression and overuse of one aspect of the mechanism of man.

Ung thư là một món quà mà nhân loại Atlantis để lại cho con người hiện đại, và tai họa của căn bệnh này là yếu tố chính đã tàn phá cư dân của Atlantis cổ. Cội rễ của điều ác khủng khiếp này nằm sâu trong bản chất cảm xúc hay dục vọng, và được đặt nền trong thể cảm dục. Ung thư phần nào là kết quả của một phản ứng đối với các bệnh liên quan đến đời sống tính dục đã trở nên quá lan tràn trong thời kỳ Lemuria muộn và những ngày đầu Atlantis. Người của các thời ấy, khi thấy những điều ác đáng sợ và mức độ của bệnh tật phát sinh từ đời sống Lemuria sung mãn, do đời sống tính dục bừa bãi khắp nơi gây ra, vì mục đích tự bảo tồn đã ngăn chặn dòng chảy tự nhiên của dục vọng (dòng chảy [59] của sự sống khi nó biểu lộ qua các trung tâm sinh sản và truyền giống), và điều này đến lúc thích hợp đã tạo ra những điều ác khác. Ung thư trước hết là một bệnh của sự ức chế, cũng như các bệnh giang mai là những bệnh của sự biểu lộ quá mức và lạm dụng quá mức một phương diện của bộ máy con người.

Today, owing to the vast reaches of time involved and to the untold generations of those who have died upon the earth, the “germs” (so-called by the unlearned thinker) of the dread complaint of cancer are to be found in the very soil on which we live, infecting the vegetable kingdom and also the human family. A correspondence to the syphilitic complaints of man are to be found in the mineral kingdom.

Ngày nay, do khoảng thời gian bao la liên hệ và do vô số thế hệ đã chết trên mặt đất, các “mầm bệnh” (được nhà tư tưởng thiếu học gọi như vậy) của chứng bệnh ung thư đáng sợ có thể được tìm thấy ngay trong chính đất đai nơi chúng ta sống, lây nhiễm cho giới thực vật và cả gia đình nhân loại. Một sự tương ứng với các chứng bệnh giang mai của con người có thể được tìm thấy trong giới kim thạch.

Tuberculosis, which was devastatingly rampant at a certain stage in Atlantean times, is nevertheless a disease which has been generated principally in our Aryan race, and one which we are bequeathing to the animal kingdom and are sharing with them. This is beginning to be realised. So close, however, is the relation between men and animals (particularly the domestic animals) that they today share with men practically all his ailments in some form or another, sometimes recognisable and sometimes not. Curiously enough, the cause of this great white scourge is to be found in the fact of the shift of the life emphasis away from the emotional nature into that of the mind nature, producing a temporary starvation of the emotional nature. It is largely a disease of depletion. Cancer, in its turn, was based similarly on a previous shift of the life force from the physical body into that of the emotional nature, producing an overdevelopment of the cellular life, through overstimulation. I realise the difficulty of grasping these statements. I can only give you these unsubstantiated hints. Later discoveries alone can prove the truth of my suggestions. Let us here tabulate our conclusions: [60]

Bệnh lao, tuy đã lan tràn một cách tàn phá ở một giai đoạn nào đó trong thời Atlantis, nhưng nevertheless là một bệnh đã được tạo ra chủ yếu trong nhân loại Arya của chúng ta, và là một bệnh mà chúng ta đang để lại cho giới động vật và đang cùng chia sẻ với chúng. Điều này đang bắt đầu được nhận ra. Tuy nhiên, mối liên hệ giữa con người và động vật (đặc biệt là các động vật nuôi trong nhà) gần gũi đến mức ngày nay chúng chia sẻ với con người hầu như mọi bệnh tật của y dưới hình thức này hay hình thức khác, đôi khi nhận ra được và đôi khi không. Điều khá lạ là nguyên nhân của tai họa trắng lớn lao này được tìm thấy trong sự chuyển dịch trọng điểm của sự sống ra khỏi bản chất cảm xúc sang bản chất trí tuệ, tạo ra một sự đói khát tạm thời nơi bản chất cảm xúc. Phần lớn đây là một bệnh của sự suy kiệt. Đến lượt mình, ung thư cũng tương tự như vậy, được đặt nền trên một sự chuyển dịch trước đó của mãnh lực sự sống từ thể xác sang bản chất cảm xúc, tạo ra sự phát triển quá mức của sự sống tế bào, do kích thích quá mức. Tôi nhận ra sự khó khăn trong việc nắm bắt các phát biểu này. Tôi chỉ có thể đưa cho bạn những gợi ý không được chứng minh này. Chỉ những khám phá về sau mới có thể chứng minh chân lý của các gợi ý của tôi. Ở đây, chúng ta hãy lập bảng các kết luận của mình: [60]

Disease

Race

Body

Kingdom

Organ

Syphilitic

Lemurian

Physical

Mineral

Sex organs. Sacral Centre.

Cancer

Atlantean

Astral

Vegetable

Solar Plexus

Tuberculosis

Aryan

Mental

Animal

Breathing apparatus. Throat centre.

In referring above to the centres I am referring to the centre for the distribution of the life force, wherein the emphasis for the mass will be found. From the above it will be apparent where the emphasis of the possible cure will have to lie. Already, and because it is the latest, and therefore the least deep-seated of the three major diseases inherited by modern man, we have learnt how to cure tuberculosis. It has been discovered (when the mind was intelligently applied to the problem) that sunshine and good food could cure, or at any rate arrest, the disease. It is an interesting item in the field of esoteric correspondence that just as the light of the soul, pouring into the mind, can be depended upon to solve any problem, so that light of the sun and its prophylactic rays can dispel the dread symptoms of tuberculosis.

Khi đề cập ở trên đến các trung tâm, tôi đang nói đến trung tâm phân phối mãnh lực sự sống, nơi sẽ tìm thấy trọng điểm đối với quần chúng. Từ điều trên, sẽ rõ nơi mà trọng điểm của sự chữa trị khả dĩ phải đặt vào. Ngay từ bây giờ, và bởi vì nó là bệnh mới nhất, do đó ít ăn sâu nhất trong ba bệnh lớn được con người hiện đại thừa hưởng, chúng ta đã học được cách chữa bệnh lao. Người ta đã khám phá ra (khi trí tuệ được áp dụng một cách thông minh vào vấn đề) rằng ánh nắng mặt trời và thực phẩm tốt có thể chữa khỏi, hay ít nhất là ngăn chặn, căn bệnh này. Đây là một chi tiết thú vị trong lĩnh vực định luật tương ứng huyền bí rằng cũng như ánh sáng của linh hồn, tuôn vào trí tuệ, có thể được tin cậy để giải quyết bất kỳ vấn đề nào, thì ánh sáng mặt trời và các tia phòng bệnh của nó cũng có thể xua tan các triệu chứng đáng sợ của bệnh lao.

Similarly, as the race develops right emotional control we shall see the gradual disappearance of the phenomena of cancer. I said right emotional control; inhibition and the suppression of the desire impulses by the force of the will is not right control. It is interesting also to note that though both men and women suffer from the disease of cancer, the general cause is not identical, though the basic cause (reaction from an over-expression of the sex life through the cultivation of the desire nature) remains the same. Women, owing to the risks they run in childbearing, through the turning of the life emphasis to the sex aspect of life, have revolted on a large scale (as did the Atlanteans) against this form of life expression, and it is along this line—the sex [61] line—that their major inhibitions are found. They do not suffer so much from the general inhibition of the emotional-desire-feeling expression. Men do suffer from this latter inhibition and have a tradition or a marked tendency to greater emotional control in the handling of life than have women. Men do not require or acquire so marked a sex control. The general field of their inhibited life tendency is therefore of greater extent, and consequently (if statistics can be trusted) more men suffer from cancer than do women, though it is a dread disease, feared by all.

Tương tự như vậy, khi nhân loại phát triển sự kiểm soát cảm xúc đúng đắn, chúng ta sẽ thấy hiện tượng ung thư dần dần biến mất. Tôi đã nói sự kiểm soát cảm xúc đúng đắn; sự ức chế và sự đè nén các xung lực dục vọng bằng sức mạnh của ý chí không phải là sự kiểm soát đúng đắn. Cũng thú vị khi lưu ý rằng dù cả nam lẫn nữ đều mắc bệnh ung thư, nguyên nhân chung không giống hệt nhau, mặc dù nguyên nhân căn bản (phản ứng từ sự biểu lộ quá mức của đời sống tính dục qua việc nuôi dưỡng bản chất dục vọng) vẫn như nhau. Phụ nữ, do những nguy cơ họ phải chịu trong việc sinh con, qua việc chuyển trọng điểm của sự sống sang phương diện tính dục của đời sống, đã phản kháng trên quy mô lớn (như người Atlantis đã làm) chống lại hình thức biểu lộ sự sống này, và chính theo đường hướng này—đường hướng tính dục [61]—mà các sự ức chế lớn nhất của họ được tìm thấy. Họ không chịu đựng nhiều đến thế sự ức chế chung của sự biểu lộ cảm xúc-dục vọng-cảm giác. Nam giới quả thật chịu đựng sự ức chế sau này và có một truyền thống hay một khuynh hướng rõ rệt hướng đến sự kiểm soát cảm xúc lớn hơn trong việc xử lý đời sống so với phụ nữ. Nam giới không cần đến hay đạt được sự kiểm soát tính dục rõ rệt đến thế. Do đó, lĩnh vực chung của khuynh hướng sống bị ức chế nơi họ rộng lớn hơn, và vì vậy (nếu có thể tin vào thống kê) số nam giới mắc ung thư nhiều hơn nữ giới, dù đây là một căn bệnh đáng sợ mà mọi người đều e ngại.

In the secret of right transmutation lies the cure of cancer, and this will eventually be realised. I am using this phrase not only symbolically but also technically and scientifically. This again will later be seen. In the secret of right rhythmic living and in a right proportional accent upon all phases of life will come (and it is rapidly coming) complete immunity from tuberculosis. In the secret of right understanding of times and cycles and of periodic reproductive creation, will come the emergence of the race from the evils of the social diseases.

Trong bí mật của sự chuyển hoá đúng đắn có phương thuốc chữa ung thư, và điều này cuối cùng sẽ được nhận ra. Tôi dùng cụm từ này không chỉ theo nghĩa biểu tượng mà còn theo nghĩa kỹ thuật và khoa học. Điều này rồi đây cũng sẽ được thấy. Trong bí mật của đời sống nhịp điệu đúng đắn và trong sự nhấn mạnh cân xứng đúng đắn trên mọi phương diện của đời sống sẽ đến (và đang đến rất nhanh) sự miễn nhiễm hoàn toàn đối với bệnh lao. Trong bí mật của sự thấu hiểu đúng đắn về thời gian và chu kỳ và về sự sáng tạo sinh sản có tính chu kỳ, sẽ đến sự xuất hiện của nhân loại thoát khỏi các tai họa của các bệnh xã hội.

It will be apparent to you, therefore, that the syphilitic diseases will be the last to disappear, just as they were the first to devastate the race. Tuberculosis is disappearing. The attention of the experts is now being given to the cure of cancer.

Do đó, bạn sẽ thấy rõ rằng các bệnh giang mai sẽ là những bệnh biến mất sau cùng, cũng như chúng là những bệnh đầu tiên tàn phá nhân loại. Bệnh lao đang biến mất. Sự chú ý của các chuyên gia hiện đang được dành cho việc chữa trị ung thư.

I would like to add one or two comments which will be of general or rather modern interest. I have said that these taints to which humanity is prone are found in the soil, and that their presence there is largely due to the burial, down the ages, of millions of corpses. By the increased use of the processes of cremation, this condition will be steadily improved. Gradually, very gradually, the taint will thus die out. It is therefore highly desirable that there be as much propaganda as possible for the use of this method of [62] disposing of the discarded physical vehicles of the souls who are passing out of incarnation. As the soil becomes less tainted, and as soul contact is established, we can hope to see a steady decrease in the number of those who succumb to the inherited taints. Curiously enough, the free use of salt sea bathing has a definite effect on the healthiness of the physical body. The water, incidentally absorbed through the medium of the skin and by the mouth, has a vitally prophylactic effect.

Tôi muốn thêm một hay hai nhận xét sẽ có ích chung, hay đúng hơn là có ích hiện đại. Tôi đã nói rằng những ô nhiễm mà nhân loại dễ mắc phải này được tìm thấy trong đất, và sự hiện diện của chúng ở đó phần lớn là do việc chôn cất, qua các thời đại, hàng triệu xác chết. Với việc gia tăng sử dụng các tiến trình hỏa táng, tình trạng này sẽ được cải thiện đều đặn. Dần dần, rất dần dần, ô nhiễm ấy sẽ theo đó mà chết đi. Vì vậy, rất đáng mong muốn là phải có càng nhiều sự cổ động càng tốt cho việc sử dụng phương pháp này để [62] xử lý các vận cụ hồng trần bị bỏ lại của các linh hồn đang rời khỏi lâm phàm. Khi đất đai bớt ô nhiễm hơn, và khi sự tiếp xúc linh hồn được thiết lập, chúng ta có thể hy vọng thấy số người khuất phục trước các ô nhiễm di truyền giảm đi đều đặn. Điều khá lạ là việc tự do sử dụng tắm biển mặn có một tác động rõ rệt lên tính lành mạnh của thể xác. Nước, tình cờ được hấp thụ qua da và qua miệng, có một tác dụng phòng bệnh hết sức quan trọng.

One of the major problems today to the psychologist and in a lesser degree to the medical man, is the growth of homosexuality, both female and male. Specious arguments are brought forth in order to prove that this abnormal development (and the consequent interest in this morbid tendency) is due to the fact that the race is slowly becoming androgynous in its development, and that the future hermaphroditic man or woman is gradually making its appearance. This, again, is not true. Homosexuality is what you call a “left-over” from the sexual excesses of Lemurian times, an inherited taint, if you like. Egos who individualised and incarnated in that vast period of time are the ones who today demonstrate homosexual tendencies. In those days, so urgent was the sexual appetite, the normal processes of human intercourse did not satisfy the insatiable desire of the advanced man of the period. Soul force, flowing in through the processes of individualisation, served to stimulate the lowest centres. Hence, forbidden methods were practised. Those who thus practised them are today, in great numbers, in incarnation, and the ancient habits are too strong for them. They are now far enough advanced upon the evolutionary path so that the cure lies ready at this time—if they choose to employ it. They can, with relative ease, transfer the sex impulse to the throat centre, and thus become creative in the higher sense, employing the energy [63] sensed and circulating in right and constructive ways. Many of them are beginning automatically to do this. However, it is well known that, among the so-called artistic types, homosexuality is very prevalent. I say “so-called” for the truly creative artist is not the victim of these ancient evil predisposing habits.

Một trong những vấn đề lớn ngày nay đối với nhà tâm lý học và ở mức độ thấp hơn đối với y sĩ, là sự gia tăng của đồng tính luyến ái, cả nữ lẫn nam. Những lập luận có vẻ hợp lý được đưa ra nhằm chứng minh rằng sự phát triển bất thường này (và sự quan tâm kéo theo đối với khuynh hướng bệnh hoạn này) là do nhân loại đang chậm rãi trở nên lưỡng tính trong sự phát triển của mình, và rằng người nam hay nữ lưỡng tính trong tương lai đang dần dần xuất hiện. Điều này, một lần nữa, không đúng. Đồng tính luyến ái là điều mà bạn gọi là một “tàn dư” từ những sự thái quá tính dục của thời Lemuria, một ô nhiễm di truyền, nếu bạn muốn gọi như vậy. Những chân ngã đã biệt ngã hóa và nhập thể trong giai đoạn thời gian bao la ấy là những người ngày nay biểu lộ các khuynh hướng đồng tính. Trong những ngày đó, dục vọng tính dục mãnh liệt đến mức các tiến trình giao hợp bình thường của con người không làm thỏa mãn được ham muốn vô độ của con người tiến bộ thời ấy. Mãnh lực linh hồn, tuôn vào qua các tiến trình biệt ngã hóa, đã phục vụ để kích thích các trung tâm thấp nhất. Vì thế, các phương pháp bị cấm đã được thực hành. Những ai đã thực hành như vậy ngày nay đang lâm phàm với số lượng lớn, và các thói quen cổ xưa quá mạnh đối với họ. Hiện nay họ đã tiến đủ xa trên con đường tiến hoá để phương thuốc đã sẵn có vào lúc này—nếu họ chọn sử dụng nó. Họ có thể, tương đối dễ dàng, chuyển dịch xung lực tính dục lên trung tâm cổ họng, và nhờ đó trở nên sáng tạo theo nghĩa cao hơn, sử dụng năng lượng [63] được cảm nhận và lưu chuyển theo những cách đúng đắn và có tính xây dựng. Nhiều người trong số họ đang tự động bắt đầu làm điều này. Tuy nhiên, ai cũng biết rằng trong số những kiểu người được gọi là nghệ sĩ, đồng tính luyến ái rất phổ biến. Tôi nói “được gọi là” vì người nghệ sĩ thực sự sáng tạo không là nạn nhân của những thói quen cổ xưa xấu xa dễ dẫn đến này.

It might be pointed out here that homosexuality is of three kinds:

Ở đây có thể chỉ ra rằng đồng tính luyến ái có ba loại:

1. That which is the result of ancient evil habits. This is the major cause today and indicates:

1. Loại là kết quả của những thói quen xấu xa cổ xưa. Đây là nguyên nhân chính ngày nay và cho thấy:

a. Individualisation upon this planet; for those who individualised upon the moon chain are not susceptible to these dangerous characteristics.

a. Sự biệt ngã hóa trên hành tinh này; vì những ai đã biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng thì không dễ bị các đặc tính nguy hiểm này.

b. A relatively advanced stage upon the evolutionary path which was achieved by the Lemurian egos who succumbed to this desire-satisfaction.

b. Một giai đoạn tương đối tiến bộ trên con đường tiến hoá mà các chân ngã Lemuria đã đạt được, những người đã khuất phục trước sự thỏa mãn dục vọng này.

c. A consequent study of sex magic, plus a constant insatiable physical and sexual urge.

c. Hệ quả là sự nghiên cứu huyền thuật tính dục, cộng với một thôi thúc hồng trần và tính dục liên tục, vô độ.

2. Imitative homosexuality. A number of persons of all classes imitated their betters (if I might use so paradoxical a term) and so developed evil habits in sexual intercourse from which they might otherwise have remained free. This is one of the prevalent reasons today, among many men and women, and is based upon a too active imagination, plus a powerful physical or sex nature, and a prurient curiosity. This I say with advisement. This category accounts for many of our Sodomites and Lesbians.

2. Đồng tính luyến ái do bắt chước. Một số người thuộc mọi giai cấp đã bắt chước những người hơn mình (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ nghịch lý như vậy) và do đó phát triển những thói quen xấu trong giao hợp tính dục mà nếu không thì họ có thể đã tránh được. Đây là một trong những lý do phổ biến ngày nay nơi nhiều người nam và nữ, và được đặt nền trên một sự tưởng tượng quá hoạt động, cộng với một bản chất hồng trần hay tính dục mạnh mẽ, và một sự tò mò dâm ô. Tôi nói điều này một cách cân nhắc. Loại này giải thích cho nhiều người đồng tính nam và đồng tính nữ của chúng ta.

3. A few rare, very rare, cases of hermaphroditism. These people, combining in themselves both aspects of the sex life, are faced with a very real problem. It is a problem which is greatly increased by human ignorance, human refusal to face facts, wrong early training and teaching, [64] and a widespread misunderstanding. These cases are to be found in small numbers everywhere, even though their numbers, in relation to the world population, is still negligible. But that they exist is of real interest to the medical profession and a subject of deep pity and commiseration to the humanitarian and the understanding psychologist. They face a difficult situation.

3. Một vài trường hợp hiếm, rất hiếm, của lưỡng tính thật sự. Những người này, kết hợp trong chính mình cả hai phương diện của đời sống tính dục, đang đối diện với một vấn đề rất thực tế. Đó là một vấn đề bị làm tăng lên rất nhiều bởi sự thiếu hiểu biết của con người, sự từ chối đối diện sự thật của con người, sự huấn luyện và dạy dỗ sai lầm từ sớm, [64] và một sự hiểu lầm lan rộng. Những trường hợp này được tìm thấy với số lượng nhỏ ở khắp nơi, dù số lượng của họ, so với dân số thế giới, vẫn không đáng kể. Nhưng việc họ hiện hữu là điều thực sự đáng quan tâm đối với giới y khoa và là một chủ đề của lòng thương xót sâu sắc và sự cảm thông đối với nhà nhân đạo và nhà tâm lý học biết thấu hiểu. Họ đối diện với một hoàn cảnh khó khăn.

I have somewhat elaborated this matter as it is of use for you to know such facts and the information is of value to you. It serves to throw light upon a problem which an increasingly large number of people are called upon to face. Psychologists, social workers, physicians, and all those occupied with group training constantly meet with this problem, and it is just as well that some distinction is made between the types which must be considered, thus clarifying the issue. (The Problem of Sex. Pages 268-307. Esoteric Psychology Vol I)

Tôi đã khai triển phần nào vấn đề này vì việc bạn biết những sự kiện như vậy là hữu ích và thông tin này có giá trị đối với bạn. Nó giúp soi sáng một vấn đề mà ngày càng nhiều người được kêu gọi phải đối diện. Các nhà tâm lý học, nhân viên xã hội, y sĩ, và tất cả những ai bận tâm với việc huấn luyện nhóm thường xuyên gặp vấn đề này, và cũng tốt khi có một vài sự phân biệt được thực hiện giữa các loại cần được xem xét, nhờ đó làm sáng tỏ vấn đề. (Vấn Đề Tính Dục. Trang 268-307. Tâm Lý Học Nội Môn, Tập I)

You will find in these instructions many hints which, though they may not be classified definitely as instructions in healing, yet fall into that category, for they will make those of you who read more efficient in understanding.

Bạn sẽ tìm thấy trong các chỉ dẫn này nhiều gợi ý mà, dù có thể không được xếp loại rõ ràng là chỉ dẫn về chữa bệnh, vẫn thuộc vào loại đó, vì chúng sẽ làm cho những ai trong các bạn đọc chúng trở nên hữu hiệu hơn trong sự thấu hiểu.

You will note also from the above how this taint, as might well be expected, has its roots in the astral or sentient body, the body of sensation. It is for this reason that I have included it. It would be an interesting experiment in analysis if these various well-known difficulties, diseases and complaints could be classified under their originating impulses. So few of them have a mental origin, in spite of all that Christian Science or Mental Science may say to the contrary. Perhaps I should say, rather, that they are not based on wrong human thought, though all evil can be aggravated and intensified by wrong thought. Many or perhaps most of the [65] complaints from which average man suffers are based upon astral causes or upon some clearly defined desire. A formulated desire is one that finds expression in some form of activity. Of these homosexuality is one of the clearest to define. The other diseases to which humanity is heir are sometimes not so easy to clarify and define. The man or woman is a victim but the cause producing the illness or difficulty—physical or psychological—lies hid in a long past which the victim (with his limited knowledge) is unable to investigate, nor can he arrive at the cause producing the effect. All that he can affirm is that, in all probability, desire was the initiating impulse. What human beings are today and what they suffer is the result of their long past, and the past presupposes long and well-established habits. Such habits are inevitably the result of one of two factors:

Bạn cũng sẽ lưu ý từ phần trên rằng ô nhiễm này, như có thể chờ đợi, có cội rễ trong thể cảm dục hay thể cảm giác, thể của cảm thọ. Chính vì lý do này mà tôi đã đưa nó vào. Sẽ là một thí nghiệm thú vị trong phân tích nếu các khó khăn, bệnh tật và chứng bệnh quen thuộc khác nhau này có thể được phân loại theo các xung lực khởi nguyên của chúng. Rất ít trong số chúng có nguồn gốc trí tuệ, bất chấp mọi điều mà Khoa Học Cơ Đốc hay Khoa Học Tinh Thần có thể nói ngược lại. Có lẽ đúng hơn tôi nên nói rằng chúng không dựa trên tư tưởng sai lầm của con người, mặc dù mọi điều ác đều có thể bị làm trầm trọng và tăng cường bởi tư tưởng sai lầm. Nhiều hay có lẽ phần lớn các [65] chứng bệnh mà con người trung bình phải chịu đựng đều dựa trên các nguyên nhân cảm dục hay trên một dục vọng được xác định rõ ràng nào đó. Một dục vọng được hình thành là dục vọng tìm được sự biểu lộ trong một hình thức hoạt động nào đó. Trong số này, đồng tính luyến ái là một trong những điều rõ ràng nhất để xác định. Các bệnh khác mà nhân loại là kẻ thừa hưởng đôi khi không dễ làm sáng tỏ và xác định đến thế. Người nam hay nữ là nạn nhân nhưng nguyên nhân tạo ra bệnh tật hay khó khăn—hồng trần hay tâm lý—lại ẩn giấu trong một quá khứ xa xưa mà nạn nhân (với tri thức hạn hẹp của mình) không thể khảo cứu, cũng không thể đi đến nguyên nhân tạo ra hậu quả. Tất cả những gì y có thể khẳng định là, rất có thể, dục vọng là xung lực khởi đầu. Con người ngày nay là gì và chịu đựng điều gì là kết quả của quá khứ lâu dài của họ, và quá khứ ấy giả định những thói quen lâu đời và đã được thiết lập vững chắc. Những thói quen như vậy tất yếu là kết quả của một trong hai yếu tố:

1. Desire, dominating and controlling action,

1. Dục vọng, chi phối và kiểm soát hành động,

or

hoặc

2. Mental control which substitutes for desire a planned campaign which will run counter in many cases to the normally sensed, defined desire.

2. Sự kiểm soát trí tuệ thay thế dục vọng bằng một chiến dịch có kế hoạch, trong nhiều trường hợp sẽ đi ngược lại dục vọng bình thường được cảm nhận và xác định.

You will note from the above that it is my wish that you grasp the importance of the emotional sentient body and its power to initiate those secondary causes which, in this life, demonstrate as disease.

Bạn sẽ lưu ý từ phần trên rằng điều tôi mong muốn là bạn nắm được tầm quan trọng của thể cảm giác cảm xúc và quyền năng của nó trong việc khởi phát những nguyên nhân thứ yếu mà, trong kiếp này, biểu lộ thành bệnh tật.

You will note consequently the emphasis I have laid upon the astral body as a promoter of wrong physical conditions, and the necessity for astral understanding and control on the part of the patient, if there is to be a true overcoming of disease. Will you understand me if I say that the true overcoming may mean an acceptance of the Way of Death as the way out, should it come normally, or of healing, if the causes [66] which are the initial impulses are exhausted? Ponder on this.

Do đó, bạn sẽ lưu ý sự nhấn mạnh mà tôi đã đặt vào thể cảm dục như một tác nhân thúc đẩy các tình trạng hồng trần sai lệch, và sự cần thiết của sự thấu hiểu và kiểm soát cảm dục nơi bệnh nhân, nếu muốn có sự vượt thắng bệnh tật chân chính. Bạn có hiểu tôi không nếu tôi nói rằng sự vượt thắng chân chính có thể có nghĩa là chấp nhận Con Đường Chết như lối thoát, nếu nó đến một cách tự nhiên, hoặc chấp nhận sự chữa lành, nếu các nguyên nhân [66] là những xung lực ban đầu đã cạn kiệt? Hãy suy ngẫm về điều này.

In all the above, even in connection with what I have said concerning homosexuality, I have considered either rampant or inhibited desire, but I have only considered it in general terms and in a broad outline. Will you misunderstand if I point out to you that where desire is inhibited (which is the case with many aspirants today) all kinds of diseases—cancer, congestion of the lungs and certain liver complaints—become possible, as well as the dread malady of tuberculosis? The diseases of inhibition are numerous and serious, as you will note from the above enumeration. It should be noted that where desire is rampant and uncontrolled and no inhibition is present, such diseases as the syphilitic disorders, homosexuality and inflammations and fevers appear. According to the temperament so will be the types of disease, and the temperament is dependent upon the ray quality. People on the different rays are predisposed to certain disorders. The psychologists are right in their basic differentiation of human beings into the two major types—extroverts and introverts. These two types produce their own qualities of disease, which demonstrate as ill health through over-expression or inhibition.

Trong tất cả phần trên, ngay cả liên quan đến điều tôi đã nói về đồng tính luyến ái, tôi đã xét đến dục vọng hoặc là bộc phát hoặc là bị ức chế, nhưng tôi chỉ xét nó theo những thuật ngữ tổng quát và trong một phác thảo rộng. Bạn có hiểu sai không nếu tôi chỉ ra với bạn rằng nơi nào dục vọng bị ức chế (điều này đúng với nhiều người chí nguyện ngày nay), thì đủ loại bệnh—ung thư, sung huyết phổi và một số chứng bệnh gan—đều có thể xảy ra, cũng như căn bệnh đáng sợ là lao? Các bệnh của sự ức chế thì nhiều và nghiêm trọng, như bạn sẽ thấy từ sự liệt kê trên. Cần lưu ý rằng nơi nào dục vọng bộc phát và không được kiểm soát và không có sự ức chế hiện diện, thì các bệnh như các rối loạn giang mai, đồng tính luyến ái, các chứng viêm và sốt sẽ xuất hiện. Tùy theo khí chất mà sẽ có các loại bệnh tương ứng, và khí chất tùy thuộc vào phẩm tính cung. Những người thuộc các cung khác nhau dễ mắc một số rối loạn nhất định. Các nhà tâm lý học đúng trong sự phân biệt căn bản của họ về con người thành hai loại chính—hướng ngoại và hướng nội. Hai loại này tạo ra những phẩm tính bệnh tật riêng của chúng, biểu lộ thành sức khỏe kém qua sự biểu lộ quá mức hoặc sự ức chế.

We have considered our second point under the healing of diseases which arise in the emotional or desire nature. Our first point deals with uncontrolled emotion. I would remind you of our premise that we would only consider the ills to which advanced humanity, the aspirants and disciples of all degrees are prone. We will not deal (in this short treatise) with the whole gamut of diseases which affect humanity as a whole, or down the ages. The more advanced the aspirant, the greater probability there is that the diseases from which he suffers will be pronounced and powerfully demonstrating, on account of the inflow to a greater [67] or less degree of the stimulating force of the soul. Subsidiary to the five major groups of diseases to which I earlier referred, and working out in connection with them in the human frame, are a group of symptoms which are loosely covered by the terms: fevers, tumors, congested areas, plus general debility and the auto-intoxication which lies behind so many symptoms. I would have you remember this with care and bear steadily in mind that I am here only generalising, but that this generalisation is basic and therefore of importance.

Chúng ta đã xem xét điểm thứ hai của mình dưới đề mục chữa trị các bệnh phát sinh trong bản chất cảm xúc hay dục vọng. Điểm thứ nhất của chúng ta đề cập đến cảm xúc không được kiểm soát. Tôi xin nhắc bạn về tiền đề của chúng ta rằng chúng ta sẽ chỉ xem xét những bệnh tật mà nhân loại tiến bộ, những người chí nguyện và các đệ tử ở mọi cấp độ dễ mắc phải. Chúng ta sẽ không đề cập (trong luận thuyết ngắn này) đến toàn bộ phổ bệnh tật ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại, hay xuyên suốt các thời đại. Người chí nguyện càng tiến bộ thì xác suất các bệnh mà y mắc phải càng rõ rệt và biểu lộ mạnh mẽ hơn, do sự tuôn vào ở mức độ lớn [67] hay nhỏ của mãnh lực kích thích của linh hồn. Phụ thuộc vào năm nhóm bệnh chính mà tôi đã nói đến trước đây, và biểu lộ liên hệ với chúng trong cơ thể con người, là một nhóm triệu chứng được gọi một cách lỏng lẻo bằng các thuật ngữ: sốt, khối u, các vùng sung huyết, cộng với sự suy nhược toàn thân và sự tự nhiễm độc nằm sau rất nhiều triệu chứng. Tôi muốn bạn ghi nhớ điều này cẩn thận và luôn luôn nhớ rằng ở đây tôi chỉ đang khái quát hóa, nhưng sự khái quát hóa này là căn bản và do đó quan trọng.

C. Diseases of Worry and Irritation.

C. Các Bệnh của Lo Âu và Kích Ứng.

The third category of complaints which arise in the emotional or astral body is synthesised esoterically under the term: diseases of irritation. These are the insidious poisons which lurk behind the phenomena of disease.

Loại chứng bệnh thứ ba phát sinh trong thể cảm xúc hay cảm dục được tổng hợp một cách huyền bí dưới thuật ngữ: các bệnh của kích ứng. Đây là những chất độc ngấm ngầm ẩn sau hiện tượng bệnh tật.

It might be said that all diseases can be covered by two definitions, from the standpoint of occultism:

Có thể nói rằng mọi bệnh tật đều có thể được bao quát bởi hai định nghĩa, theo quan điểm của huyền bí học:

1. Diseases which are the result of auto-intoxication. These are the most general.

1. Các bệnh là kết quả của sự tự nhiễm độc. Đây là loại tổng quát nhất.

2. Diseases which are the result of irritation. These are very common amongst disciples.

2. Các bệnh là kết quả của sự kích ứng. Đây là loại rất phổ biến nơi các đệ tử.

We hear much today about auto-intoxication, and many efforts are made to cure this by diet and the regulation of the life in terms of rhythmic living. All this is good and of help, but it does not constitute a basic cure, as its protagonists would lead us to believe. Irritation is a basic psychological complaint and has its roots in the intensification of the astral body, which definitely produces abnormal effects upon the nervous system. It is a disease of self-interest, of self-sufficiency, and of self-satisfaction. Again I would say, ponder on these terms, for these three aspects of irritation are of general discovery. We will therefore [68] deal with irritation, “imperil,” as it is called by exponents of the first ray, such as the Master M.

Ngày nay chúng ta nghe nhiều về sự tự nhiễm độc, và nhiều nỗ lực được thực hiện để chữa trị điều này bằng chế độ ăn uống và sự điều chỉnh đời sống theo nhịp điệu sống. Tất cả điều đó đều tốt và hữu ích, nhưng không cấu thành một sự chữa trị căn bản, như những người chủ trương nó muốn chúng ta tin. Kích ứng là một chứng bệnh tâm lý căn bản và có cội rễ trong sự tăng cường của thể cảm dục, điều chắc chắn tạo ra những tác động bất thường lên hệ thần kinh. Đây là một bệnh của sự tập trung vào bản thân, của sự tự mãn tự túc, và của sự tự thỏa mãn. Một lần nữa tôi xin nói, hãy suy ngẫm về các thuật ngữ này, vì ba phương diện kích ứng này thường được phát hiện. Do đó, chúng ta sẽ [68] đề cập đến kích ứng, “imperil,” như nó được những người thuộc cung một, như Chân sư M., gọi như vậy.

We have nearly completed our first section under the heading Psychological Causes of Disease, and have very briefly, yet I believe suggestively, considered those problems which arise from the overactivity and wrong condition of the astral body. All I can do in this short treatise is to generalise, because most of the statements I may make are, in any case, so new and revolutionary (from the standpoint of orthodox medicine) that it will take time for even this first inner structure of ideas and this somewhat new formulation of truth to make its impact upon the thinkers of the race. Then, if accepted as hypothetical possibilities by the open-minded among them, a long period of time must elapse before there has been enough investigation, leading to definitely formulated conclusions, which will make the ideas of popular recognition and use. In saying this, I am not reflecting critically upon the medical profession. The money-grasping specialist and the charlatan are rare; they of course exist, as do the corrupt and the undesirable in every profession. Where are they not to be found? The closed minds are many; but again, where are they not found? The pioneers along the new lines of thought and the man who has grasped some of the New Age concepts have often equally closed minds and see nothing but the new ways, modes and methods, and throw overboard all the old, losing much thereby. The medical profession has one of the greatest and most beautiful records in the world of its purpose and field of activity, and has developed some of the greatest of the soul qualities—self-sacrifice, compassion and service. But the ways and the techniques of the New Age are hard to grasp. Much of the old ways have to be given up and much sacrificed before the new art of healing becomes possible.

Chúng ta gần như đã hoàn tất phần thứ nhất của mình dưới đề mục Các Nguyên Nhân Tâm Lý của Bệnh Tật, và đã rất ngắn gọn, nhưng tôi tin là có tính gợi mở, xem xét những vấn đề phát sinh từ sự hoạt động quá mức và tình trạng sai lệch của thể cảm dục. Tất cả những gì tôi có thể làm trong luận thuyết ngắn này là khái quát hóa, bởi vì hầu hết các phát biểu tôi có thể đưa ra, trong bất kỳ trường hợp nào, đều mới mẻ và có tính cách mạng đến mức (theo quan điểm của y học chính thống) sẽ cần thời gian để ngay cả cấu trúc nội tại đầu tiên này của các ý tưởng và sự hình thành chân lý phần nào mới mẻ này tạo được tác động lên các nhà tư tưởng của nhân loại. Rồi sau đó, nếu được những người cởi mở trong số họ chấp nhận như những khả năng giả thuyết, thì phải trải qua một thời gian dài trước khi có đủ sự khảo cứu dẫn đến những kết luận được hình thành rõ rệt, khiến các ý tưởng ấy được công nhận và sử dụng rộng rãi. Khi nói điều này, tôi không phê phán giới y khoa. Chuyên gia tham tiền và kẻ lang băm thì hiếm; dĩ nhiên họ có tồn tại, cũng như những kẻ đồi bại và không đáng mong muốn trong mọi ngành nghề. Có nơi nào mà không có họ? Những đầu óc khép kín thì nhiều; nhưng một lần nữa, có nơi nào mà không có? Những người tiên phong theo các đường lối tư tưởng mới và người đã nắm bắt được một số khái niệm của Kỷ Nguyên Mới cũng thường có những đầu óc khép kín tương tự và không thấy gì ngoài những con đường, phương thức và phương pháp mới, rồi vứt bỏ tất cả cái cũ, do đó đánh mất nhiều điều. Giới y khoa có một trong những thành tích lớn lao và đẹp đẽ nhất trên thế giới về mục đích và lĩnh vực hoạt động của mình, và đã phát triển một số phẩm tính linh hồn lớn lao nhất—hy sinh, từ bi và phụng sự. Nhưng các đường lối và kỹ thuật của Kỷ Nguyên Mới thì khó nắm bắt. Nhiều đường lối cũ phải được từ bỏ và nhiều điều phải được hy sinh trước khi nghệ thuật chữa bệnh mới trở nên khả hữu.

[69]

[69]

Until the fact of the subtler bodies is properly recognised by the world thinkers, and their existence is established through a right and true science of psychology and the development of the faculty of clairvoyance, the tracing of the causes of disease back to the subtler bodies is relatively meaningless. The best reaction which the most open-minded physician can (I say can and not will) produce or admit is that the psychological attitude, the mental state, and the emotional condition of the patient do either help or hinder. Many are already admitting that. That in itself is much.

Cho đến khi sự kiện về các thể vi tế hơn được các nhà tư tưởng thế giới công nhận đúng đắn, và sự hiện hữu của chúng được xác lập qua một khoa học tâm lý học đúng đắn và chân thực cùng sự phát triển của năng lực thông nhãn, thì việc truy nguyên các nguyên nhân của bệnh tật trở lại các thể vi tế hơn tương đối vô nghĩa. Phản ứng tốt nhất mà vị y sĩ cởi mở nhất có thể (tôi nói có thể chứ không phải sẽ) tạo ra hay thừa nhận là thái độ tâm lý, trạng thái trí tuệ, và tình trạng cảm xúc của bệnh nhân quả thật có giúp ích hoặc cản trở. Nhiều người đã thừa nhận điều đó. Tự thân điều ấy đã là nhiều.

When, therefore, I say that cancer, for instance, has its roots in an astral condition and began its career in Atlantean times, it means but little to the average man today. He does not realise that large numbers of people today are Atlantean in their consciousness.

Do đó, khi tôi nói rằng chẳng hạn ung thư có cội rễ trong một tình trạng cảm dục và đã bắt đầu sự nghiệp của nó trong thời Atlantis, điều đó có ý nghĩa rất ít đối với người trung bình ngày nay. Y không nhận ra rằng ngày nay có rất nhiều người mang tâm thức Atlantis.

I want briefly to touch upon the most common of all causes of trouble: Worry and Irritation. They are more prevalent at this time than ever before, and for the following reasons:

Tôi muốn ngắn gọn đề cập đến nguyên nhân phổ biến nhất của mọi rối loạn: Lo Âu và Kích Ứng. Chúng phổ biến vào lúc này hơn bao giờ hết, vì những lý do sau đây:

1. The world situation is such, the problems and uncertainty are such, that scarcely a person in the world at this time is exempt. Everyone is more or less involved in the planetary situation.

1. Tình hình thế giới là như vậy, các vấn đề và sự bất định là như vậy, đến nỗi hầu như không một ai trên thế giới vào lúc này được miễn trừ. Mọi người đều ít nhiều bị cuốn vào tình hình hành tinh.

2. The intercommunication between people has increased so much, and men live so much in massed groups—large or small—that it is inevitable that they produce an effect upon each other as never before. “If one member suffers, all the members suffer with it” is a statement of truth, ancient but new in application and today realised for the first time.

2. Sự liên lạc giữa con người đã gia tăng rất nhiều, và con người sống quá nhiều trong các nhóm quần tụ—lớn hay nhỏ—đến mức tất yếu họ tạo tác động lên nhau như chưa từng có trước đây. “Nếu một chi thể đau khổ, mọi chi thể đều cùng đau khổ với nó” là một phát biểu chân thật, cổ xưa nhưng mới trong sự áp dụng và ngày nay lần đầu tiên được nhận ra.

3. The increased sensitivity of the human mechanism is also such that men “tune in” on each other’s emotional conditions and mental attitudes in a new and more potent [70] manner. To their own engrossing concerns and worries are added those of their fellowmen with whom they may be en rapport.

3. Sự nhạy cảm gia tăng của bộ máy con người cũng đến mức con người “bắt sóng” các tình trạng cảm xúc và thái độ trí tuệ của nhau theo một cách mới và mạnh mẽ hơn [70]. Vào những mối quan tâm và lo âu vốn đã chiếm trọn họ, nay còn được thêm vào những mối lo của đồng loại mà họ có thể có sự liên hệ.

4. Telepathically, and also with a developed sense of prevision, men are today adding the difficulties that belong to someone else, or to some other group of thinkers and of people, to the difficulties that may be. It is not sure that they will be.

4. Một cách viễn cảm, và cũng với một cảm nhận tiên tri đã phát triển, ngày nay con người đang cộng thêm những khó khăn thuộc về người khác, hay thuộc về một nhóm nhà tư tưởng và con người nào khác, vào những khó khăn có thể xảy ra. Không chắc rằng chúng sẽ xảy ra.

These problems will demonstrate to you how intensely difficult it is for men to face up to life. It will be obvious that the problems of worry and irritation (called by the Master Morya “imperil”) are many and must be considered.

Những vấn đề này sẽ cho bạn thấy việc con người đối diện với đời sống khó khăn đến mức nào. Sẽ rõ ràng rằng các vấn đề của lo âu và kích ứng (được Chân sư Morya gọi là “imperil”) thì rất nhiều và phải được xem xét.

Why are these difficulties of the astral body so “perilous” and so serious? Worry and Irritation are dangerous because:

Tại sao những khó khăn của thể cảm dục này lại “nguy hiểm” và nghiêm trọng đến vậy? Lo Âu và Kích Ứng nguy hiểm vì:

1. They lower the vitality of the man to such a point that he becomes susceptible to disease. The scourge of influenza has its roots in fear and worry, and once the world settles down to freedom from the present “fearful” condition, we shall see the disease die out.

1. Chúng hạ thấp sinh lực của con người đến mức y trở nên dễ mắc bệnh. Tai họa cúm có cội rễ trong sợ hãi và lo âu, và một khi thế giới ổn định trở lại, thoát khỏi tình trạng “đầy sợ hãi” hiện nay, chúng ta sẽ thấy bệnh này biến mất.

2. They are so highly infectious from the astral point of view that they lower in a peculiar manner the astral atmosphere, and thus make it hard for people—in the astral sense—to breathe freely.

2. Chúng có tính lây nhiễm rất cao theo quan điểm cảm dục đến mức chúng làm hạ thấp bầu khí quyển cảm dục theo một cách đặc biệt, và do đó khiến con người khó “thở” tự do theo nghĩa cảm dục.

3. Because the astral conditions of fear, worry and irritation are so widespread today that they might be regarded as epidemic, in a planetary sense.

3. Bởi vì các tình trạng cảm dục của sợ hãi, lo âu và kích ứng ngày nay lan rộng đến mức chúng có thể được xem là dịch bệnh, theo nghĩa hành tinh.

4. Because irritation (I speak not here of worry) is inflammatory in its effects—and inflammation is hard to bear—and leads to much difficulty. It is interesting to note that certain forms of eye trouble are caused by this.[71]

4. Bởi vì kích ứng (ở đây tôi không nói về lo âu) có tính gây viêm trong các tác động của nó—mà viêm thì khó chịu đựng—và dẫn đến nhiều khó khăn. Thật thú vị khi lưu ý rằng một số dạng bệnh về mắt là do điều này gây ra.[71]

5. Because worry and irritation prevent true vision. They shut out the view. The man who is the victim of these conditions sees nothing but the cause of his complaints and is so submerged through self-pity, self-consideration, or in a focussed negative condition, that his vision is narrowed and his group hindered. Remember that there is group selfishness as well as individual selfishness.

5. Bởi vì lo âu và kích ứng ngăn cản linh thị chân chính. Chúng che khuất tầm nhìn. Người là nạn nhân của các tình trạng này không thấy gì ngoài nguyên nhân của những than phiền của mình và bị chìm ngập trong sự tự thương hại, sự tự lưu tâm, hay trong một tình trạng tiêu cực tập trung đến mức tầm nhìn của y bị thu hẹp và nhóm của y bị cản trở. Hãy nhớ rằng có sự ích kỷ nhóm cũng như sự ích kỷ cá nhân.

I have cited sufficient reasons for the effects of Worry and Irritation to demonstrate to you the wideness of the difficulty. It is not much use at this time to talk of the remedy. One does not say to an influenza patient (when the worst throes of the disease are upon him), “There is nothing the matter. Pay no attention. Get up and go about your business.” It is no use saying to men today, “Do not fear. Leave off worrying. All will be well.” They will not believe you, for one thing—and that is fortunate, for it is not true. Things are not well and humanity and the Planetary life are not well. This, the Hierarchy knows, and is working for the amelioration of the conditions. When the throes of the “planetary influenza” are over (and the patient will not die), then investigation can be made and effort produced which can prevent a recurrence. At present, all that can be done is to keep the patient quiet and also keep the fever down. This is the work of the New Group of World Servers and the intelligent men of goodwill. Their name is Legion.

Tôi đã nêu đủ lý do về các tác động của Lo Âu và Kích Ứng để cho bạn thấy mức độ rộng lớn của khó khăn này. Vào lúc này, nói về phương thuốc không ích lợi gì nhiều. Người ta không nói với một bệnh nhân cúm (khi cơn bệnh dữ dội nhất đang giày vò y), “Không có gì đâu. Đừng để ý. Hãy đứng dậy và đi làm việc của anh.” Cũng vô ích khi nói với con người ngày nay, “Đừng sợ. Hãy thôi lo âu. Mọi sự sẽ ổn.” Trước hết, họ sẽ không tin bạn—và điều đó là may mắn, vì điều ấy không đúng. Mọi sự không ổn và nhân loại cùng sự sống Hành tinh đều không ổn. Điều này, Thánh Đoàn biết, và đang hoạt động để cải thiện các điều kiện. Khi những cơn co giật của “bệnh cúm hành tinh” qua đi (và bệnh nhân sẽ không chết), khi ấy có thể tiến hành khảo cứu và tạo ra nỗ lực có thể ngăn ngừa sự tái phát. Hiện tại, tất cả những gì có thể làm là giữ cho bệnh nhân yên tĩnh và cũng giữ cho cơn sốt hạ xuống. Đây là công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và những người thiện chí thông minh. Tên của họ là Legion.

2. CAUSES ARISING IN THE ETHERIC BODY2. CÁC NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH TRONG THỂ DĨ THÁI

It will be wise for you to bear in mind that I am not here going to deal with those causes which, producing effects in the physical body, arise in the mind or in the astral body. Necessarily they pass through the etheric body. The etheric body is a transmitter of all energies to the physical body, [72] and all types of force pass through it to different parts of the physical form, producing good and bad results, negative or positive results, as the case may be. This is a fact which we accept. I am here considering the diseases, problems and physical difficulties which arise in the etheric body itself and work out in its relations to the physical body. These are quite widespread and usual. It is essential that you keep these two lines of force-activity clearly differentiated in your mind. Both pass through and from the etheric body into the physical body, but only one of them originates in or is concerned with difficulties which have an etheric origin.

Bạn nên ghi nhớ rằng ở đây tôi sẽ không đề cập đến những nguyên nhân, tuy tạo ra các hậu quả trong thể xác, nhưng phát sinh trong trí tuệ hay trong thể cảm dục. Tất yếu chúng đi qua thể dĩ thái. Thể dĩ thái là một bộ truyền dẫn mọi năng lượng đến thể xác, [72] và mọi loại mãnh lực đều đi qua nó đến các phần khác nhau của hình tướng hồng trần, tạo ra kết quả tốt hay xấu, kết quả tiêu cực hay tích cực, tùy trường hợp. Đây là một sự kiện mà chúng ta chấp nhận. Ở đây tôi đang xem xét các bệnh tật, vấn đề và khó khăn hồng trần phát sinh trong chính thể dĩ thái và biểu lộ trong các quan hệ của nó với thể xác. Những điều này khá phổ biến và thông thường. Điều cốt yếu là bạn phải giữ cho hai đường hoạt động của mãnh lực này được phân biệt rõ ràng trong trí tuệ của mình. Cả hai đều đi qua và từ thể dĩ thái vào thể xác, nhưng chỉ một trong hai phát sinh trong hoặc liên quan đến những khó khăn có nguồn gốc dĩ thái.

The etheric body is a body composed entirely of lines of force and of points where these lines of force cross each other and thus form (in crossing) centres of energy. Where many such lines of force cross each other, you have a larger centre of energy, and where great streams of energy meet and cross, as they do in the head and up the spine, you have seven major centres. There are seven such, plus twenty-one lesser centres and forty-nine smaller centres known to the esotericists. However, we will confine ourselves at this time to the etheric body as a whole and to the seven major centres. It might be of interest to you, nevertheless, to be told where the twenty-one minor centres are to be found. They can be located at the following points:

Thể dĩ thái là một thể được cấu tạo hoàn toàn bằng các đường mãnh lực và các điểm nơi những đường mãnh lực này cắt nhau và nhờ đó hình thành (trong sự giao cắt) các trung tâm năng lượng. Nơi nhiều đường mãnh lực như vậy cắt nhau, bạn có một trung tâm năng lượng lớn hơn, và nơi các dòng năng lượng lớn gặp nhau và cắt nhau, như chúng xảy ra trong đầu và dọc theo cột sống, bạn có bảy trung tâm chính. Có bảy trung tâm như vậy, cộng với hai mươi mốt trung tâm nhỏ hơn và bốn mươi chín trung tâm nhỏ hơn nữa mà các nhà bí truyền học biết đến. Tuy nhiên, vào lúc này chúng ta sẽ giới hạn vào thể dĩ thái như một toàn thể và vào bảy trung tâm chính. Dẫu vậy, có lẽ bạn sẽ thấy thú vị nếu được cho biết hai mươi mốt trung tâm phụ được tìm thấy ở đâu. Chúng có thể được định vị tại các điểm sau:

There are two of them in front of the ears close to where the jaw bones are connected.

Có hai trung tâm ở phía trước tai, gần nơi các xương hàm nối với nhau.

There are two of them just above the two breasts.

Có hai trung tâm ngay phía trên hai bầu ngực.

There is one where the breast bones meet, close to the thyroid gland. This, with the two breast centres, makes a triangle of force.

Có một trung tâm ở nơi các xương ngực gặp nhau, gần tuyến giáp. Trung tâm này cùng với hai trung tâm ngực tạo thành một tam giác mãnh lực.

There are two, one each in the palms of the hands. [73]

Có hai trung tâm, mỗi lòng bàn tay một trung tâm. [73]

There are two, one each in the soles of the feet.

Có hai trung tâm, mỗi lòng bàn chân một trung tâm.

There are two, just behind the eyes.

Có hai trung tâm, ngay phía sau mắt.

There are two also connected with the gonads.

Cũng có hai trung tâm liên hệ với các tuyến sinh dục.

There is one close to the liver.

Có một trung tâm ở gần gan.

There is one connected with the stomach; it is related, therefore, to the solar plexus, but is not identical with it.

Có một trung tâm liên hệ với dạ dày; vì vậy, nó có liên quan đến tùng thái dương, nhưng không đồng nhất với trung tâm ấy.

There are two connected with the spleen. These form one centre in reality, but such a centre is formed by the two being superimposed one on the other.

Có hai trung tâm liên hệ với lá lách. Thực ra, chúng tạo thành một trung tâm, nhưng một trung tâm như thế được hình thành do hai trung tâm chồng lên nhau.

There are two—one at the back of each knee.

Có hai trung tâm—một ở phía sau mỗi đầu gối.

There is one powerful centre which is closely connected with the vagus nerve. This is most potent and is regarded by some schools of occultism as a major centre; it is not in the spine, but is no great distance from the thymus gland.

Có một trung tâm mạnh mẽ liên hệ mật thiết với dây thần kinh phế vị. Trung tâm này rất mãnh liệt và được một số trường phái huyền bí học xem là một trung tâm chính; nó không ở trong cột sống, nhưng cũng không cách xa tuyến ức bao nhiêu.

There is one which is close to the solar plexus, and relates it to the centre at the base of the spine, thus making a triangle of the sacral centre, the solar plexus, and the centre at the base of the spine.

Có một trung tâm ở gần tùng thái dương, và liên hệ trung tâm này với trung tâm ở đáy cột sống, nhờ đó tạo thành một tam giác gồm trung tâm xương cùng, tùng thái dương, và trung tâm ở đáy cột sống.

The two triangles referred to in this tabulation are of real importance. One is above and the other below the diaphragm.

Hai tam giác được nhắc đến trong bảng liệt kê này thực sự quan trọng. Một ở trên và một ở dưới cơ hoành.

It is of course apparent that where there is a free flow of force through the etheric body into the dense physical body there will be less likelihood of disease or sickness. There may, however, be increased tendency to difficulties arising from overstimulation and its consequent results of overactivity of the nervous system, with all the attendant problems. These forces, seeking inlet into the dense vehicle, are emanations from three directions (if I may use such a term): [74]

Dĩ nhiên, hiển nhiên là ở đâu có sự lưu chuyển tự do của mãnh lực qua thể dĩ thái vào thể xác đậm đặc thì ở đó sẽ ít có khả năng phát sinh bệnh tật hay đau yếu hơn. Tuy nhiên, có thể có xu hướng gia tăng những khó khăn phát sinh từ sự kích thích quá mức và các hậu quả tiếp theo của nó là sự hoạt động quá độ của hệ thần kinh, cùng mọi vấn đề đi kèm. Các mãnh lực này, tìm cách đi vào vận cụ đậm đặc, là những phát xạ từ ba hướng (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ như vậy): [74]

1. From the personality vehicles—the astral and mental bodies.

1. Từ các vận cụ của phàm ngã—thể cảm dục và thể trí.

2. From the soul, if contact, recognised or unrecognised, has been established.

2. Từ linh hồn, nếu sự tiếp xúc, được nhận biết hay không được nhận biết, đã được thiết lập.

3. From the environing world to which the vehicles of the soul and of the personality have acted as “doors of entrance.” Incidentally, in connection with this last phrase, I would call your attention to a possible relation between these “doors of entrance” and the phrase “door of initiation.”

3. Từ thế giới bao quanh mà các vận cụ của linh hồn và của phàm ngã đã hoạt động như những “cửa ngõ đi vào.” Nhân đây, liên quan đến cụm từ cuối này, tôi muốn lưu ý bạn đến một mối liên hệ khả dĩ giữa những “cửa ngõ đi vào” này và cụm từ “cửa điểm đạo.”

In the case where these centres, through which the inflowing energy from these sources of supply flow, are quiescent, unawakened or only functioning partially or too slowly (as far as their vibratory rhythm is concerned), then you will have a condition of blocking. This will produce congestion in the etheric vehicle, and consequent and subsequent difficulties in the functioning of the physical body. One of the most common of these is congestion of the lungs which—though it may be exoterically traced to certain and definite physical causes—is in reality those causes, plus an inner condition of etheric congestion. It is the bringing together of the outer apparent cause and the apparent inner true cause which is responsible for the outbreak of the trouble. When these two conditions are brought into conjunction with each other, and you have a physical handicap and an etheric situation which is undesirable, then you will have disease, illness, or weakness of some kind. Every outer congestion can always be traced to these two causes—an inner and an outer cause. In these cases, the outer cause is not an effect of the individual inner cause, which is interesting. You will note, therefore, that all ills are not purely subjective or psychological in origin as far as an individual is concerned, [75] but are sometimes both exoteric and esoteric. Hence the complication of the problem.

Trong trường hợp các trung tâm này, qua đó năng lượng tuôn vào từ các nguồn cung ứng ấy lưu chuyển, lại tĩnh lặng, chưa thức tỉnh hoặc chỉ hoạt động từng phần hay quá chậm (xét về nhịp điệu rung động của chúng), thì bạn sẽ có một tình trạng bế tắc. Điều này sẽ tạo ra sự tắc nghẽn trong thể dĩ thái, và kéo theo những khó khăn tiếp diễn trong hoạt động của thể xác. Một trong những biểu hiện thông thường nhất là sự sung huyết ở phổi; tuy bề ngoài có thể truy nguyên đến những nguyên nhân hồng trần nhất định và rõ rệt, nhưng thực ra đó là những nguyên nhân ấy cộng thêm một tình trạng tắc nghẽn dĩ thái bên trong. Chính sự kết hợp giữa nguyên nhân bên ngoài biểu kiến và nguyên nhân bên trong có vẻ là chân thực mới là điều chịu trách nhiệm cho sự bộc phát của chứng bệnh. Khi hai tình trạng này kết hợp với nhau, và bạn có một khiếm khuyết hồng trần cùng một tình trạng dĩ thái không mong muốn, thì bạn sẽ có bệnh tật, đau yếu, hoặc một loại suy nhược nào đó. Mọi sự tắc nghẽn bên ngoài luôn luôn có thể truy nguyên về hai nguyên nhân này—một nguyên nhân bên trong và một nguyên nhân bên ngoài. Trong những trường hợp này, nguyên nhân bên ngoài không phải là một hiệu quả của nguyên nhân bên trong cá nhân, điều này thật đáng chú ý. Vì vậy, bạn sẽ lưu ý rằng không phải mọi bệnh tật đều hoàn toàn có nguồn gốc chủ quan hay tâm lý xét theo phương diện cá nhân, [75] mà đôi khi vừa ngoại môn vừa nội môn. Do đó, vấn đề trở nên phức tạp.

The above statement opens up the whole question of the activity of the seven centres of force in the etheric body. These can be regarded as dormant or unawakened, awakening but only as yet sluggishly alive, or functioning normally, which means that some of the energies which produce the form of the centre are moving rhythmically, and are therefore receptive to inflow, while others are still entirely inactive and unresponsive. Other centres will be fully active, and therefore predominantly attractive to any inflowing forces; still others will be only partially so. For the majority of people, the centres below the diaphragm are more active than those above the diaphragm (I am referring here to the seven major centres and not to the twenty-one minor centres). For aspirants, centres below the diaphragm are active and the heart and throat centres are slowly coming into activity, while in the case of disciples, the ajna centre, plus those centres below it in the body, are rapidly awakening. In the initiate, the head centre is coming into vibrant activity, thus swinging all the centres into real and coordinated rhythm. Each patient or human being, being on some ray, responds differently; the time factor also differs; the pattern of the unfoldment varies, and the response to the inflowing forces is slightly differentiated.

Phát biểu trên mở ra toàn bộ vấn đề về hoạt động của bảy trung tâm mãnh lực trong thể dĩ thái. Chúng có thể được xem là đang ngủ yên hay chưa thức tỉnh, đang thức tỉnh nhưng cho đến nay vẫn chỉ sống động một cách trì trệ, hoặc đang hoạt động bình thường, nghĩa là một số năng lượng tạo nên hình tướng của trung tâm đang vận động có nhịp điệu và vì vậy tiếp nhận được dòng tuôn vào, trong khi những năng lượng khác vẫn hoàn toàn bất hoạt và không đáp ứng. Những trung tâm khác sẽ hoàn toàn hoạt động, và vì vậy chủ yếu có tính hấp dẫn đối với bất kỳ mãnh lực nào tuôn vào; còn những trung tâm khác nữa thì chỉ hoạt động từng phần. Đối với đa số người, các trung tâm dưới cơ hoành hoạt động mạnh hơn các trung tâm trên cơ hoành (ở đây tôi nói đến bảy trung tâm chính chứ không phải hai mươi mốt trung tâm phụ). Đối với người chí nguyện, các trung tâm dưới cơ hoành hoạt động và các trung tâm tim cùng cổ họng đang chậm rãi đi vào hoạt động, trong khi ở trường hợp các đệ tử, trung tâm ajna, cùng với các trung tâm bên dưới nó trong thể, đang nhanh chóng thức tỉnh. Ở điểm đạo đồ, trung tâm đầu đang đi vào hoạt động rung động, nhờ đó đưa tất cả các trung tâm vào nhịp điệu thực sự và phối hợp. Mỗi bệnh nhân hay mỗi con người, vì thuộc một cung nào đó, đáp ứng khác nhau; yếu tố thời gian cũng khác nhau; mô hình khai mở cũng biến đổi, và sự đáp ứng đối với các mãnh lực tuôn vào cũng hơi khác biệt.

All of this we will consider with due care when we deal with Chapter IX, which concerns itself with the seven modes of healing. I simply mention it here so as to lay the foundation for what must later be considered, and thus show you how the whole question of the relation of the etheric body to the physical body is connected with the problem of healing. It will be apparent, therefore, how important it is—before real healing can take place—that the healer should know the point in evolution reached by [76] the patient, and should also know his ray type, both personality and egoic. If to this you add some knowledge of his astrological inclinations and indications, a far more accurate diagnosis can be produced. The key to all release (either through the physical cure of disease or through death) lies in the understanding of the condition of the centres in the etheric body. These determine the rate of the bodily vibratory activity and the general responsiveness of the physical body. They even condition the activity and accuracy of the instinctual nature and its relation to the outer plane life and the “wholeness” and general health of the sympathetic nervous system.

Tất cả điều này chúng ta sẽ xem xét cẩn trọng khi bàn đến Chương IX, chương đề cập đến bảy phương thức trị liệu. Tôi chỉ nhắc đến ở đây để đặt nền tảng cho điều về sau phải được xem xét, và nhờ đó cho bạn thấy toàn bộ vấn đề về mối liên hệ của thể dĩ thái với thể xác gắn liền với vấn đề trị liệu như thế nào. Vì vậy, sẽ hiển nhiên rằng trước khi sự trị liệu thực sự có thể diễn ra, điều quan trọng là người chữa trị phải biết điểm tiến hoá mà [76] bệnh nhân đã đạt tới, và cũng phải biết loại cung của y, cả cung phàm ngã lẫn cung chân ngã. Nếu thêm vào đó một ít hiểu biết về các khuynh hướng và chỉ dấu chiêm tinh của y, thì có thể đưa ra một chẩn đoán chính xác hơn nhiều. Chìa khóa của mọi sự giải thoát (hoặc qua việc chữa lành bệnh về thể xác hoặc qua cái chết) nằm trong sự thấu hiểu tình trạng của các trung tâm trong thể dĩ thái. Chúng quyết định tốc độ hoạt động rung động của cơ thể và khả năng đáp ứng tổng quát của thể xác. Chúng thậm chí còn tác động lên hoạt động và độ chính xác của bản chất bản năng cùng mối liên hệ của nó với đời sống cõi ngoài và với “tính toàn vẹn” cùng sức khỏe tổng quát của hệ thần kinh giao cảm.

A. Congestion.

A. Tắc nghẽn.

Much real difficulty can be traced to congestion or to the lack of the free play of the forces. In this connection it might be pointed out that the etheric body is a mechanism for intake and for outlet. There is consequently a curious and intimate relation between it and such organs as the lungs, the stomach, and the kidneys. The symbology here present, when correctly understood, will tend to show that there is a deep underlying esoteric relation between:

Nhiều khó khăn thực sự có thể truy nguyên về sự tắc nghẽn hoặc về sự thiếu vắng sự vận hành tự do của các mãnh lực. Liên quan đến điều này, có thể chỉ ra rằng thể dĩ thái là một bộ máy để tiếp nhận và để thoát ra. Do đó, có một mối liên hệ kỳ lạ và mật thiết giữa nó với những cơ quan như phổi, dạ dày và thận. Tính biểu tượng hiện diện ở đây, khi được thấu hiểu đúng đắn, sẽ có khuynh hướng cho thấy rằng có một mối liên hệ nội môn sâu xa tiềm ẩn giữa:

1. The mind and the lungs. The process of breathing, with its stages of inhalation, the interlude, and exhalation, works out in connection with both aspects of force, mental and physical.

1. Trí tuệ và phổi. Tiến trình hô hấp, với các giai đoạn hít vào, khoảng ngừng, và thở ra, được triển khai liên hệ với cả hai phương diện của mãnh lực, trí tuệ và hồng trần.

2. The desire nature and the stomach. Here again is the process of intake, of assimilation, and of elimination.

2. Bản chất ham muốn và dạ dày. Ở đây lại có tiến trình tiếp nhận, đồng hoá, và loại bỏ.

3. The etheric body itself and the kidneys, with the processes clearly defined in both cases of absorption, chemicalisation, and transmission.

3. Chính thể dĩ thái và thận, với các tiến trình được xác định rõ ràng trong cả hai trường hợp là hấp thụ, hoá học hoá, và truyền dẫn.

There is no symbol so relatively accurate to the whole [77] creative process as the human frame.

Không có biểu tượng nào tương đối chính xác đối với toàn bộ [77] tiến trình sáng tạo bằng cơ thể con người.

Congestion in the etheric body, producing much distress in the physical body, can exist. therefore, at the point of intake from the astral body or from the astral plane (Note the phrasing and the difference.) or at the point of outlet, in relation to the centre to which the particular type of etheric force most easily flows and through which it most easily passes. Where there is no free play between the etheric body and the astral body, you will have trouble. Where there is no free play between the etheric body and the physical body, involving also the nerve ganglia and the endocrine system, you will also have trouble. The close relation between the seven major centres and the seven major glands of the physical system must never be forgotten. The two systems form one close interlocking directorate, with the glands and their functions determined by the condition of the etheric centres. These, in their turn, are conditioned by the point in evolution and gained experience of the incarnate soul, by the specific polarisation of the soul in incarnation, and by the rays (personality and soul) of the man. Forget not, that the five aspects of man (as he functions in the three worlds) are determined by certain ray forces; you have the ray of the soul, the ray of the personality, and the rays of the mental, the astral and the physical bodies. All these will, in the coming New Age, be definitely considered and discovered, and this knowledge will reveal to the healer the probable condition of the centres, the order of their awakening, and their individual and basic note or notes. The new medical science will be outstandingly built upon the science of the centres, and upon this knowledge all diagnosis and possible cure will be based. The endocrinologist is only beginning to glimpse possibilities, and much that he is now considering has in it the seeds of future truth. The “balancing of the glandular system” [78] and the relation of the glands to the blood stream, and also to character and predispositions of many kinds, are considerations of real value and worth following. Much, however, remains to be discovered before it will be really safe to work with the glands, making them a major subject of attention (as some day will be the case in all forms of illness).

Vì vậy, sự tắc nghẽn trong thể dĩ thái, gây ra nhiều đau khổ trong thể xác, có thể tồn tại tại điểm tiếp nhận từ thể cảm dục hoặc từ cõi cảm dục (Hãy lưu ý cách diễn đạt và sự khác biệt.) hoặc tại điểm thoát ra, liên hệ với trung tâm mà loại mãnh lực dĩ thái đặc thù ấy dễ dàng chảy đến nhất và dễ dàng đi qua nhất. Ở đâu không có sự vận hành tự do giữa thể dĩ thái và thể cảm dục, ở đó bạn sẽ có rắc rối. Ở đâu không có sự vận hành tự do giữa thể dĩ thái và thể xác, đồng thời liên quan cả đến các hạch thần kinh và hệ nội tiết, ở đó bạn cũng sẽ có rắc rối. Mối liên hệ mật thiết giữa bảy trung tâm chính và bảy tuyến chính của hệ thống hồng trần không bao giờ được quên. Hai hệ thống này tạo thành một ban điều hành đan kết chặt chẽ, với các tuyến và chức năng của chúng được quyết định bởi tình trạng của các trung tâm dĩ thái. Đến lượt mình, các trung tâm này được tác động bởi điểm tiến hoá và kinh nghiệm đã đạt được của linh hồn đang nhập thể, bởi sự phân cực đặc thù của linh hồn đang lâm phàm, và bởi các cung (phàm ngã và linh hồn) của con người. Đừng quên rằng năm phương diện của con người (khi y hoạt động trong ba cõi giới) được quyết định bởi những mãnh lực cung nhất định; bạn có cung của linh hồn, cung của phàm ngã, và các cung của thể trí, thể cảm dục và thể xác. Tất cả những điều này, trong Kỷ Nguyên Mới sắp đến, sẽ được xem xét và khám phá một cách rõ rệt, và tri thức này sẽ tiết lộ cho người chữa trị tình trạng có thể có của các trung tâm, trật tự thức tỉnh của chúng, và âm điệu hay các âm điệu cá biệt và căn bản của chúng. Khoa học y học mới sẽ được xây dựng nổi bật trên khoa học về các trung tâm, và trên tri thức này mọi chẩn đoán và việc chữa trị khả dĩ sẽ được đặt nền. Nhà nội tiết học chỉ mới bắt đầu thoáng thấy các khả năng, và nhiều điều mà hiện nay ông đang xem xét chứa trong đó những hạt giống của chân lý tương lai. “Sự quân bình của hệ tuyến” [78] và mối liên hệ của các tuyến với dòng máu, cũng như với tính cách và các khuynh hướng thuộc nhiều loại, là những điều đáng giá thực sự và đáng được theo đuổi. Tuy nhiên, còn nhiều điều phải được khám phá trước khi thực sự an toàn để làm việc với các tuyến, biến chúng thành một đối tượng chú ý chính yếu (như một ngày kia sẽ là trường hợp trong mọi dạng bệnh tật).

Throughout this short treatise I will give many hints which will serve to guide the open minded investigator in the right direction. Before passing on to the consideration of the relation of the etheric body, as a unit, to the physical body, I would like to point out that I place the complications of congestion first upon the list of diseases arising in the etheric body, because it is at this time—and will be for a couple of centuries—the major cause of difficulty for the bulk of humanity or of those people whom we esoterically call “solar-sacral” people. This is partly due to the age-long habits of suppression and of inhibition which the race, as a whole, has developed. It is this congestion at the point of intake and of outlet in the etheric body which is responsible for the impeding of the free flow of the life force, with the results of a rapid succumbing to diseases. Hence, also, you will see how carefully assigned breathing exercises, with their subtle effects of reorganising and readjusting the subtler bodies (particularly the etheric and astral bodies) will become more and more generally used. The widespread interest in breathing today evidences a subjective recognition of this fact, though not enough is yet known about methods and effects.

Xuyên suốt chuyên luận ngắn này, tôi sẽ đưa ra nhiều gợi ý để hướng dẫn nhà nghiên cứu có đầu óc cởi mở đi đúng hướng. Trước khi chuyển sang xem xét mối liên hệ của thể dĩ thái, như một đơn vị, với thể xác, tôi muốn chỉ ra rằng tôi đặt các biến chứng của sự tắc nghẽn lên đầu danh sách các bệnh phát sinh trong thể dĩ thái, bởi vì vào lúc này—và sẽ còn như vậy trong vài thế kỷ nữa—đó là nguyên nhân chính gây khó khăn cho phần lớn nhân loại hoặc cho những người mà chúng tôi một cách huyền bí gọi là những người “thái dương-xương cùng”. Điều này một phần là do những thói quen lâu đời về sự đè nén và ức chế mà toàn thể nhân loại đã phát triển. Chính sự tắc nghẽn này tại điểm tiếp nhận và điểm thoát ra trong thể dĩ thái chịu trách nhiệm cho việc cản trở sự lưu chuyển tự do của sinh lực, với kết quả là nhanh chóng khuất phục trước bệnh tật. Vì vậy, bạn cũng sẽ thấy những bài tập thở được chỉ định cẩn thận, với các tác động vi tế của chúng trong việc tái tổ chức và tái điều chỉnh các thể vi tế hơn (đặc biệt là thể dĩ thái và thể cảm dục), sẽ ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn. Sự quan tâm lan rộng đối với hơi thở ngày nay chứng tỏ có một sự nhận biết chủ quan về sự kiện này, dù các phương pháp và tác dụng của nó vẫn chưa được biết đủ.

One other thing I would like to call to your attention is that the points of congestion may exist either in the astral body centre or in the etheric body, and this situation the healer will have to investigate. [79]

Còn một điều khác tôi muốn lưu ý bạn là các điểm tắc nghẽn có thể tồn tại hoặc trong trung tâm của thể cảm dục hoặc trong thể dĩ thái, và người chữa trị sẽ phải khảo sát tình trạng này. [79]

B. Lack of Coordination and Integration.

B. Thiếu phối hợp và tích hợp.

We come now to a brief consideration of our second point of difficulty to be found in the etheric body, which in our tabulation we have called lack of coordination or integration. This is exceedingly prevalent today and is responsible for a good deal of trouble. The etheric body is the inner “substantial” form upon which the physical body is built or constructed. It is the inner scaffolding which underlies every part of the whole outer man; it is the framework which sustains the whole; it is that upon which the outer form is patterned; and it is the network of nadis (infinitely intricate) which constitutes the counterpart or the duplicate aspect of the entire nervous system which forms such an important part of the human mechanism. It is thus definitely, with the blood stream, the instrument of the life force. If, therefore, there is weakness in the relation between this inner structure and the outer form, it will be immediately apparent to you that real difficulty is bound to supervene. This difficulty will take three forms:

Giờ đây chúng ta đi đến một sự xem xét ngắn gọn về điểm khó khăn thứ hai được tìm thấy trong thể dĩ thái, điều mà trong bảng liệt kê của chúng ta đã được gọi là thiếu phối hợp hoặc tích hợp. Điều này hiện nay cực kỳ phổ biến và chịu trách nhiệm cho khá nhiều rắc rối. Thể dĩ thái là hình tướng “chất liệu” bên trong mà trên đó thể xác được xây dựng hay cấu tạo. Nó là giàn khung bên trong làm nền cho mọi phần của toàn bộ con người bên ngoài; nó là bộ khung nâng đỡ toàn thể; nó là cái mà trên đó hình tướng bên ngoài được mô phỏng theo; và nó là mạng lưới các nadis (vô cùng phức tạp) cấu thành đối phần hay phương diện sao bản của toàn bộ hệ thần kinh, vốn tạo thành một phần rất quan trọng của bộ máy con người. Vì vậy, cùng với dòng máu, nó rõ rệt là công cụ của sinh lực. Do đó, nếu có sự yếu kém trong mối liên hệ giữa cấu trúc bên trong này và hình tướng bên ngoài, thì bạn sẽ thấy ngay rằng khó khăn thực sự chắc chắn sẽ phát sinh. Khó khăn này sẽ mang ba hình thức:

1. The physical form in its dense aspect is too loosely connected with the etheric form or counterpart. This leads to a devitalised and debilitated condition, which predisposes man to sickness or ill health.

1. Hình tướng hồng trần trong phương diện đậm đặc của nó được nối kết quá lỏng lẻo với hình tướng dĩ thái hay đối phần của nó. Điều này dẫn đến một tình trạng mất sinh lực và suy nhược, khiến con người dễ mắc bệnh hoặc sức khỏe kém.

2. The connection is poor in certain directions or aspects of the equipment. Through certain focal points or centres the life force cannot adequately flow, and therefore you have a definite weakness in some part of the physical body. For instance, impotence is such a difficulty and a tendency to laryngitis is another—to mention two widely different disorders.

2. Sự nối kết kém trong một số hướng hay phương diện của bộ máy. Qua một số tiêu điểm hay trung tâm nhất định, sinh lực không thể lưu chuyển đầy đủ, và vì vậy bạn có một sự suy yếu rõ rệt ở một phần nào đó của thể xác. Chẳng hạn, bất lực là một khó khăn như thế và khuynh hướng viêm thanh quản là một khó khăn khác—để nêu ra hai chứng rối loạn rất khác nhau.

3. The connection can also be so basically loose and poor that the soul has very little hold upon its vehicle [80] for outer manifestation, and obsession or possession is easily established. This is an extreme example of the difficulties incident to this condition. Others are certain forms of fainting or loss of consciousness and “petit mal.”

3. Sự nối kết cũng có thể lỏng lẻo và kém đến mức căn bản đến nỗi linh hồn có rất ít sự nắm giữ đối với vận cụ của mình [80] để biểu hiện ra bên ngoài, và sự ám nhập hay chiếm hữu dễ dàng được thiết lập. Đây là một ví dụ cực đoan về những khó khăn gắn liền với tình trạng này. Những biểu hiện khác là một số dạng ngất xỉu hay mất tâm thức và “petit mal.”

There are also, as will be apparent, the exactly reverse conditions when the etheric body is so closely knit or integrated with the personality—whether it is of a highly evolved nature or simply an example of an ordinary etheric body—that every part of the physical body is in a constant condition of stimulation, of galvanic effort, with a resultant activity in the nervous system which—if not correctly regulated—can lead to a great deal of distress. It is to this that I refer in the third heading, “Overstimulation of the Centres.” Too loose a connection or too close a connection leads to trouble, though the first kind of difficulty is usually more serious than the others. I have here given enough to show how interesting and how important a study of the etheric body may be. The whole theme of healing is “tied up” (to use a modern phrase which I find difficult) with the development, unfoldment and control of the seven major centres.

Cũng có, như sẽ hiển nhiên, những tình trạng hoàn toàn ngược lại khi thể dĩ thái được đan kết hay tích hợp quá chặt với phàm ngã—dù đó là một bản chất tiến hoá cao hay chỉ đơn giản là một ví dụ của một thể dĩ thái thông thường—đến mức mọi phần của thể xác đều ở trong một tình trạng kích thích liên tục, nỗ lực điện hoá, với kết quả là một hoạt động trong hệ thần kinh mà—nếu không được điều chỉnh đúng—có thể dẫn đến rất nhiều đau khổ. Chính điều này mà tôi đề cập trong tiêu đề thứ ba, “Sự kích thích quá mức của các trung tâm.” Sự nối kết quá lỏng lẻo hoặc quá chặt chẽ đều dẫn đến rắc rối, dù loại khó khăn thứ nhất thường nghiêm trọng hơn các loại khác. Ở đây tôi đã đưa ra đủ để cho thấy việc nghiên cứu thể dĩ thái có thể thú vị và quan trọng đến mức nào. Toàn bộ chủ đề trị liệu “gắn chặt” (dùng một cụm từ hiện đại mà tôi thấy khó dùng) với sự phát triển, khai mở và kiểm soát của bảy trung tâm chính.

C. Overstimulation of the Centres.

C. Sự kích thích quá mức của các trung tâm.

There is much that I could add to what I have said on the cause of disease arising in the etheric body, but in Part II (when dealing with the section on certain basic requirements) I shall elaborate the theme much further. Congestion, lack of integration and over-stimulation of the centres, are obviously fundamental causes as far as the dense physical body is concerned, but they themselves are frequently effects of subtler causes, hidden in the life of the astral and mental bodies and, in the case of overstimulation, [81] the result sometimes of soul contacts. The etheric body reacts normally, and by design, to all the conditions found in the subtler vehicles. It is essentially a transmitter and not an originator and it is only the limitations of the observer which lead him to ascribe the causes of bodily ills to the etheric body. It is a clearing house for all the forces reaching the physical body, provided the point in evolution has brought the various force centres to a condition wherein they are receptive to any particular type of force. Esoterically speaking, the centres can be in one of five conditions or states of being. These can be described in the following terms:

Còn nhiều điều tôi có thể thêm vào những gì tôi đã nói về nguyên nhân bệnh phát sinh trong thể dĩ thái, nhưng trong Phần II (khi bàn đến phần về một số yêu cầu căn bản) tôi sẽ khai triển chủ đề này xa hơn nhiều. Sự tắc nghẽn, thiếu tích hợp và sự kích thích quá mức của các trung tâm rõ ràng là những nguyên nhân căn bản xét theo phương diện thể xác đậm đặc, nhưng bản thân chúng thường lại là những hiệu quả của các nguyên nhân vi tế hơn, ẩn giấu trong đời sống của thể cảm dục và thể trí, và trong trường hợp kích thích quá mức, [81] đôi khi là kết quả của những tiếp xúc với linh hồn. Thể dĩ thái phản ứng một cách bình thường, và theo đúng thiết kế, với mọi tình trạng được tìm thấy trong các vận cụ vi tế hơn. Về bản chất, nó là một bộ truyền dẫn chứ không phải một nguồn khởi phát, và chỉ những giới hạn của người quan sát mới khiến ông quy các nguyên nhân của bệnh tật thể xác cho thể dĩ thái. Nó là một trạm phân phối cho mọi mãnh lực đi đến thể xác, miễn là điểm tiến hoá đã đưa các trung tâm mãnh lực khác nhau đến một tình trạng trong đó chúng tiếp nhận được bất kỳ loại mãnh lực đặc thù nào. Nói theo nội môn, các trung tâm có thể ở trong một trong năm tình trạng hay trạng thái hiện hữu. Chúng có thể được mô tả bằng các thuật ngữ sau:

1. Closed, still and shut, and yet with signs of life, silent and full of deep inertia.

1. Khép kín, tĩnh lặng và đóng chặt, nhưng vẫn có dấu hiệu của sự sống, im lìm và đầy quán tính sâu xa.

2. Opening, unsealed, and faintly tinged with colour; the life pulsates.

2. Đang mở ra, được tháo niêm phong, và phảng phất sắc màu; sự sống đang đập nhịp.

3. Quickened, alive, alert in two directions; the two small doors are open wide.

3. Được tiếp sinh lực, sống động, tỉnh thức theo hai hướng; hai cánh cửa nhỏ mở rộng.

4. Radiant and reaching forth with vibrant note to all related centres.

4. Rạng ngời và vươn ra với âm điệu rung động đến mọi trung tâm liên hệ.

5. Blended they are and each with each works rhythmically. The vital force flows through from all the planes. The world stands open wide.

5. Chúng được dung hợp và mỗi cái với mỗi cái hoạt động có nhịp điệu. Sinh lực tuôn chảy xuyên qua từ mọi cõi. Thế giới mở rộng thênh thang.

Related to these five stages, wherein the etheric body expands and becomes the vital livingness of all expression upon the physical plane, are the five races of men, beginning with the Lemurian race, the five planes of human and superhuman expression, the five stages of consciousness and the various other groupings of five with which you meet in the esoteric philosophy. Incidentally it might be of value and of interest to point out that the five-pointed star is not only the sign and symbol of initiation and finally perfected man, but it is also the basic symbol of the etheric [82] body and of the five centres which control perfected man—the two head centres, the heart centre, the throat centre and the centre at the base of the spine. When these centres are fully awakened and functioning in right rhythm with each other, the various quintuplets to which I have referred above form an integral part of the consciousness of the perfected man.

Liên hệ với năm giai đoạn này, trong đó thể dĩ thái mở rộng và trở thành sự sống động sinh lực của mọi biểu hiện trên cõi hồng trần, là năm nhân loại, bắt đầu với nhân loại Lemuria, năm cõi biểu hiện của con người và siêu nhân, năm giai đoạn của tâm thức và nhiều nhóm năm khác nhau mà bạn gặp trong triết học nội môn. Nhân đây, có lẽ sẽ có giá trị và thú vị nếu chỉ ra rằng ngôi sao năm cánh không chỉ là dấu hiệu và biểu tượng của điểm đạo và của con người cuối cùng được hoàn thiện, mà còn là biểu tượng căn bản của thể dĩ thái [82] và của năm trung tâm kiểm soát con người hoàn thiện—hai trung tâm đầu, trung tâm tim, trung tâm cổ họng và trung tâm ở đáy cột sống. Khi các trung tâm này hoàn toàn thức tỉnh và hoạt động trong nhịp điệu đúng đắn với nhau, thì các bộ năm khác nhau mà tôi đã nhắc đến ở trên tạo thành một phần toàn vẹn của tâm thức của con người hoàn thiện.

Though this particular piece of information is not definitely related to the Science of Healing, yet the entire subject is related to energy, and energy in some form or another is related to the causes and the effects of disease, because disease is the undesirable effect of energy upon the energy unit which we call the atom.

Dù mẩu thông tin đặc thù này không liên hệ trực tiếp với Khoa Học Trị Liệu, toàn bộ chủ đề vẫn liên hệ với năng lượng, và năng lượng dưới hình thức này hay hình thức khác thì liên hệ với các nguyên nhân và các hiệu quả của bệnh tật, bởi vì bệnh tật là hiệu quả không mong muốn của năng lượng tác động lên đơn vị năng lượng mà chúng ta gọi là nguyên tử.

It should be remembered that the etheric body of the human being is an integral part of the etheric body of the planetary Logos and is, therefore, related to all forms found within that body in any and all the kingdoms in nature. It is part of the substance of the universe, coordinated with planetary substance, and hence provides the scientific basis for unity.

Cần nhớ rằng thể dĩ thái của con người là một phần toàn vẹn của thể dĩ thái của Hành Tinh Thượng đế và vì vậy có liên hệ với mọi hình tướng được tìm thấy trong thể ấy ở bất kỳ và mọi giới nào trong thiên nhiên. Nó là một phần của chất liệu của vũ trụ, được phối hợp với chất liệu hành tinh, và do đó cung cấp nền tảng khoa học cho sự hợp nhất.

If you were to ask me what, in reality, lies behind all disease, all frustrations, error and lack of divine expression in the three worlds, I would say it was separativeness which produces the major difficulties arising in the etheric body, plus the inability of the outer tangible form to respond adequately to the inner and subtler impulses. Here is found the cause (the secondary cause, as I pointed out above) of the bulk of the trouble. The etheric body of the planet does not yet freely transmit and circulate the forces which are seeking entrance into the consciousness and the expression of man upon the physical plane. These forces emanate from within himself as he functions on the subtler levels of consciousness and from the soul; they come also from associated and contacted groups, from the planetary life, [83] and eventually, in the last analysis, from the entire universe. Each of the centres can, when fully awakened and consciously and scientifically employed, serve as an open door through which awareness of that which lies beyond the individual human life can enter. The etheric body is fundamentally the most important response apparatus which man possesses, producing not only the right functioning of the five senses and consequently providing five major points of contact with the tangible world, but it also enables a man to register sensitively the subtler worlds, and, when energised and controlled by the soul, the spiritual realms stand wide open also.

Nếu bạn hỏi tôi điều gì thực sự nằm sau mọi bệnh tật, mọi thất bại, sai lầm và sự thiếu vắng biểu hiện thiêng liêng trong ba cõi giới, tôi sẽ nói đó là tính phân ly tạo ra những khó khăn chính phát sinh trong thể dĩ thái, cộng với sự bất lực của hình tướng hữu hình bên ngoài trong việc đáp ứng đầy đủ với các xung lực bên trong và vi tế hơn. Ở đây tìm thấy nguyên nhân (nguyên nhân thứ yếu, như tôi đã chỉ ra ở trên) của phần lớn rắc rối. Thể dĩ thái của hành tinh vẫn chưa tự do truyền dẫn và lưu chuyển các mãnh lực đang tìm cách đi vào tâm thức và sự biểu hiện của con người trên cõi hồng trần. Các mãnh lực này phát ra từ bên trong chính y khi y hoạt động trên các cấp độ vi tế hơn của tâm thức và từ linh hồn; chúng cũng đến từ các nhóm có liên hệ và tiếp xúc, từ sự sống hành tinh, [83] và cuối cùng, trong phân tích rốt ráo, từ toàn thể vũ trụ. Mỗi trung tâm, khi hoàn toàn thức tỉnh và được sử dụng một cách hữu thức và khoa học, có thể phục vụ như một cánh cửa mở qua đó sự nhận biết về điều nằm vượt ngoài đời sống cá nhân của con người có thể đi vào. Thể dĩ thái về căn bản là bộ máy đáp ứng quan trọng nhất mà con người sở hữu, không những tạo ra sự hoạt động đúng đắn của năm giác quan và do đó cung cấp năm điểm tiếp xúc chính với thế giới hữu hình, mà còn giúp con người ghi nhận một cách nhạy bén các thế giới vi tế hơn, và khi được linh hồn tiếp sinh lực và kiểm soát, các cõi tinh thần cũng mở rộng thênh thang.

The etheric body is a potent receiver of impressions, which are conveyed to the human consciousness through the medium of the awakened centres. There is, for instance, no true clairvoyance until either the solar plexus or the ajna centre is awakened. These transmitted impressions and information become the incentive whereby conscious activity is initiated. There are many words used to describe these forces and their actuating effects: such as impulses, incentives, influences, potencies, desires, aspirations, and many such terms which are only synonyms for force or energy and thus convey the same general idea. All of these words refer to forms of activity of the etheric body, but only as the physical body registers them and acts under their impression. The whole theme of motivating force is one of great interest.

Thể dĩ thái là một bộ tiếp nhận mạnh mẽ các ấn tượng, được chuyển đến tâm thức con người qua trung gian của các trung tâm đã thức tỉnh. Chẳng hạn, không có thông nhãn chân chính cho đến khi hoặc tùng thái dương hoặc trung tâm ajna được thức tỉnh. Những ấn tượng và thông tin được truyền đạt này trở thành động lực nhờ đó hoạt động hữu thức được khởi xướng. Có nhiều từ được dùng để mô tả các mãnh lực này và các tác động thúc đẩy của chúng: như xung lực, động cơ, ảnh hưởng, tiềm lực, ham muốn, khát vọng, và nhiều thuật ngữ tương tự chỉ là những từ đồng nghĩa của mãnh lực hay năng lượng và do đó chuyển tải cùng một ý niệm tổng quát. Tất cả những từ này đều chỉ đến các hình thức hoạt động của thể dĩ thái, nhưng chỉ trong chừng mực thể xác ghi nhận chúng và hành động dưới ấn tượng của chúng. Toàn bộ chủ đề về mãnh lực thúc đẩy là một chủ đề rất đáng quan tâm.

The vastness of the subject is, however, so real that only little by little can humanity grasp the situation and come to the realisation that man is essentially (through his etheric body) an integral part of a great and vibrant Whole; only in time will he learn that, through the processes of evolution, can he hope to register all the different areas of divine expression. Only when the etheric body is swept into [84] activity under the influence and through the “impressed forces” of the soul, the mind, and temporarily, of the astral body, can man become aware of all worlds, all phenomena, and all states of consciousness, and so achieve that omniscience which is the birth right of all the sons of God.

Tuy nhiên, tính bao la của chủ đề này là quá thực đến nỗi chỉ từng chút một nhân loại mới có thể nắm bắt tình hình và đi đến chỗ chứng nghiệm rằng con người về bản chất (qua thể dĩ thái của mình) là một phần toàn vẹn của một Toàn Thể vĩ đại và rung động; chỉ theo thời gian y mới học được rằng, qua các tiến trình tiến hoá, y mới có thể hy vọng ghi nhận mọi lĩnh vực khác nhau của biểu hiện thiêng liêng. Chỉ khi thể dĩ thái được đưa vào [84] hoạt động dưới ảnh hưởng và qua các “mãnh lực được in dấu” của linh hồn, trí tuệ, và tạm thời của thể cảm dục, con người mới có thể nhận biết mọi thế giới, mọi hiện tượng, và mọi trạng thái tâm thức, và nhờ đó đạt được sự toàn tri vốn là quyền thừa sinh của mọi con của Thượng đế.

But, during the period wherein this state of being is in process of achievement, the lack of development, the failure to register, the life work of awakening and organising the various centres and of then correctly relating them to each other, produces much difficulty. It is this condition which is the fruitful source of those difficulties which, when carried down into the physical body, produce disease of various kinds, the many tensions and congestions, the overstimulation of the centres in one part of the etheric vehicle and their underdevelopment in another, plus the unequal unfoldment and wrong balance of the centres.

Nhưng trong giai đoạn mà trạng thái hiện hữu này đang trong tiến trình thành tựu, sự thiếu phát triển, sự thất bại trong ghi nhận, công việc suốt đời là thức tỉnh và tổ chức các trung tâm khác nhau rồi sau đó liên hệ chúng đúng đắn với nhau, tạo ra nhiều khó khăn. Chính tình trạng này là nguồn phong phú của những khó khăn mà, khi được chuyển xuống thể xác, tạo ra nhiều loại bệnh tật khác nhau, nhiều căng thẳng và tắc nghẽn, sự kích thích quá mức của các trung tâm ở một phần của vận cụ dĩ thái và sự kém phát triển của chúng ở phần khác, cộng với sự khai mở không đồng đều và sự mất quân bình sai lệch của các trung tâm.

Much is said today in modern medical investigation anent the “imbalance” of the endocrine glands, and many physical difficulties are ascribed to this frequent imbalance. But behind this condition of the glandular system lies the basic imbalance of the centres themselves. Only when there is a right understanding of force and its reception and consequent use, will right balance be achieved and the human endocrine system control the physical man in the manner that is intended.

Ngày nay, trong nghiên cứu y học hiện đại, người ta nói nhiều về sự “mất quân bình” của các tuyến nội tiết, và nhiều khó khăn hồng trần được quy cho sự mất quân bình thường xuyên này. Nhưng đằng sau tình trạng của hệ tuyến này là sự mất quân bình căn bản của chính các trung tâm. Chỉ khi có sự thấu hiểu đúng đắn về mãnh lực và sự tiếp nhận cùng việc sử dụng tiếp theo của nó, thì sự quân bình đúng đắn mới đạt được và hệ nội tiết của con người mới kiểm soát được phàm nhân hồng trần theo cách đã được dự định.

There is much need today for the study of the following problems:

Ngày nay rất cần nghiên cứu các vấn đề sau:

1. The problem of the right reception of force through the appropriate centre. An instance of this might be found in the correct control of the solar plexus centre as the one in which astral sensitivity can be registered and properly handled.[85]

1. Vấn đề tiếp nhận đúng đắn mãnh lực qua trung tâm thích hợp. Một ví dụ về điều này có thể được tìm thấy trong việc kiểm soát đúng đắn trung tâm tùng thái dương như là trung tâm trong đó sự nhạy cảm cảm dục có thể được ghi nhận và xử lý thích đáng.[85]

2. The problem of the right relation of a particular centre to its related gland, permitting the free play of the force pouring through the centre to the allied glandular correspondence, thus conditioning its peculiar hormone and eventually conditioning the blood stream. If you grasp this sequence of contact, you will understand more clearly the occult significance of the words in the Old Testament that “the blood is the life.” It is the vitality coming from the etheric body which works through into the blood stream, via the centre which is responsive to one of the seven peculiar types of force, and its allied gland. It will be apparent, therefore, that there is a close relation between:

2. Vấn đề về mối liên hệ đúng đắn của một trung tâm đặc thù với tuyến liên hệ của nó, cho phép sự vận hành tự do của mãnh lực tuôn qua trung tâm đến đối ứng tuyến liên kết, nhờ đó tác động lên hormone đặc thù của nó và cuối cùng tác động lên dòng máu. Nếu bạn nắm được chuỗi tiếp xúc này, bạn sẽ hiểu rõ hơn ý nghĩa huyền bí của những lời trong Cựu Ước rằng “máu là sự sống.” Chính sinh lực đến từ thể dĩ thái hoạt động xuyên vào dòng máu, qua trung tâm đáp ứng với một trong bảy loại mãnh lực đặc thù, và tuyến liên kết của nó. Vì vậy, sẽ hiển nhiên rằng có một mối liên hệ mật thiết giữa:

a. The etheric body as a transmitter of a vast aggregate of energies and forces.

a. Thể dĩ thái như một bộ truyền dẫn của một tổng thể rộng lớn các năng lượng và mãnh lực.

b. The endocrine system whose various glands are in reality the externalisation or materialisation of the centres, major and minor.

b. Hệ nội tiết mà các tuyến khác nhau của nó thực ra là sự ngoại hiện hay hiện hình của các trung tâm, chính và phụ.

c. The heart, which is the centre of life as the brain is the centre of consciousness. From the heart, the blood circulates and is controlled. Thus these three great systems are related.

c. Tim, là trung tâm của sự sống cũng như não là trung tâm của tâm thức. Từ tim, máu lưu thông và được kiểm soát. Như vậy, ba hệ thống lớn này có liên hệ với nhau.

d. The entire glandular system to the nervous system through the medium of the network of nerves and the “nadis” which underlie this network. These nadis are the threads of life force which underlie every part of the body and particularly the nervous system in all its aspects.

d. Toàn bộ hệ tuyến với hệ thần kinh qua trung gian của mạng lưới thần kinh và các “nadis” làm nền cho mạng lưới này. Các nadis này là những sợi dây sinh lực làm nền cho mọi phần của cơ thể và đặc biệt là hệ thần kinh trong mọi phương diện của nó.

To these problems and relationships another might be added. This is the interrelation which must be established between all the centres, permitting the free play of force in correct rhythm throughout the physical vehicle.

Vào các vấn đề và các mối liên hệ này có thể thêm một vấn đề khác. Đó là mối tương liên phải được thiết lập giữa tất cả các trung tâm, cho phép sự vận hành tự do của mãnh lực trong nhịp điệu đúng đắn xuyên suốt vận cụ hồng trần.

[86]

[86]

You have, therefore, certain great interlocking directorates which control or fail to control the physical body. Where there is lack of control it is due to the failure to establish right relations within the body, or to lack of development. These interlocking groups are:

Vì vậy, bạn có một số ban điều hành đan kết lớn kiểm soát hoặc không kiểm soát được thể xác. Ở đâu có sự thiếu kiểm soát, điều đó là do thất bại trong việc thiết lập các mối liên hệ đúng đắn bên trong cơ thể, hoặc do thiếu phát triển. Những nhóm đan kết này là:

1. That of the etheric body, which works primarily through its seven major centres but also through many other centres.

1. Nhóm của thể dĩ thái, hoạt động chủ yếu qua bảy trung tâm chính của nó nhưng cũng qua nhiều trung tâm khác.

2. That of the endocrine system, which works primarily through the seven major glandular groups, but also through many other less important glands.

2. Nhóm của hệ nội tiết, hoạt động chủ yếu qua bảy nhóm tuyến chính, nhưng cũng qua nhiều tuyến khác ít quan trọng hơn.

3. That of the nervous system (the sympathetic and the cerebro-spinal) with a peculiar emphasis laid upon the vagus nerve with its effect upon the heart and consequently upon the blood stream.

3. Nhóm của hệ thần kinh (giao cảm và não-tủy) với sự nhấn mạnh đặc biệt đặt vào dây thần kinh phế vị cùng tác động của nó lên tim và do đó lên dòng máu.

All these points have to be considered and correlated in any system of occult healing, and the technical matter to be covered is, in the last analysis, less intricate than the vast system built up by orthodox medicine and surgery. It is because of the lack of coordination of these three systems that the healing art is at this time failing to achieve all that it desires. It has done much, but must move another step onto the etheric plane before the real clue to disease and its cure can be ascertained.

Tất cả những điểm này phải được xem xét và tương liên trong bất kỳ hệ thống trị liệu huyền bí nào, và về phân tích rốt ráo, vấn đề kỹ thuật cần được bao quát ít phức tạp hơn hệ thống đồ sộ do y học và phẫu thuật chính thống xây dựng. Chính vì thiếu phối hợp của ba hệ thống này mà nghệ thuật trị liệu hiện nay chưa đạt được tất cả những gì nó mong muốn. Nó đã làm được nhiều, nhưng phải tiến thêm một bước nữa lên cõi dĩ thái trước khi đầu mối thực sự của bệnh tật và cách chữa trị nó có thể được xác định.

For instance, lack of vitality and the common subnormal conditions with which we are so familiar, indicate the inertia of the etheric body and its lack of vitality. The results of this inertness of the vital body can be both physical and psychological, because the glands in the physical body will not function normally and, as is well known, they condition the physical expression of man as well as his emotional and mental states, in so far as those are able or not able to [87] find expression through the medium of the physical vehicle. The glands do not condition the inner man or his states of consciousness, but they can and do prevent those inner states finding manifestation outwardly. In the reverse situation, too powerful an etheric body and the overstimulation of the centres concerned, may put too great a strain upon the nervous system and produce, as a consequence, definite nervous trouble, migraine, mental and emotional imbalance and, in some cases, lead to insanity.

Chẳng hạn, sự thiếu sinh lực và những tình trạng dưới mức bình thường thông thường mà chúng ta quá quen thuộc cho thấy tính trì trệ của thể dĩ thái và sự thiếu sinh lực của nó. Kết quả của sự trì trệ này của thể sinh lực có thể vừa là hồng trần vừa là tâm lý, bởi vì các tuyến trong thể xác sẽ không hoạt động bình thường và, như ai cũng biết, chúng tác động lên sự biểu hiện hồng trần của con người cũng như lên các trạng thái cảm xúc và trí tuệ của y, trong chừng mực các trạng thái ấy có thể hay không thể [87] tìm được sự biểu hiện qua trung gian của vận cụ hồng trần. Các tuyến không tác động lên con người bên trong hay các trạng thái tâm thức của y, nhưng chúng có thể và thực sự ngăn cản các trạng thái bên trong ấy tìm được biểu hiện ra ngoài. Trong tình huống ngược lại, một thể dĩ thái quá mạnh và sự kích thích quá mức của các trung tâm liên quan có thể đặt một áp lực quá lớn lên hệ thần kinh và do đó tạo ra những rối loạn thần kinh rõ rệt, chứng đau nửa đầu, sự mất quân bình trí tuệ và cảm xúc, và trong một số trường hợp dẫn đến điên loạn.

I have elaborated this matter somewhat because the relation of the etheric body to the physical body and its receptivity to the inner energies most decidedly condition the man. It will be necessary for us to have this ever in mind as we study the causes of the diseases arising in the mental body, or due to the activity of the soul in the life of the disciple, or as we investigate the processes whereby a man is prepared for initiation. The etheric body must always, and invariably does, act as the transmitting agent of the inner energies to the outer plane, and the physical body has to learn to respond to and recognise that which is transmitted. The effectiveness of the transmission and the resultant physical activity depend always upon the centres, which, in their turn, condition the glands; these, later, determine the nature and the expressed consciousness of the man. If the centres are awakened and receptive, there will be found a physical apparatus which will be responsive to the forces flowing through. If the centres are asleep, and thus little force can be transmitted, you will find a physical apparatus which will be equally slow and unresponsive. If the centres below the diaphragm are awakened and those above are not, you will have a man whose consciousness will be focussed in the animal and the emotional natures, and much of his physical disease will lie below the diaphragm also. You will see, therefore, how intricate and complex [88] this whole matter is—so complex that it will only be truly understood when human beings regain the lost power to “see the light” of the etheric body and of its seven major centres and, through a developed sense of touch in the hands and fingers, to ascertain the rate of vibration in the various centres. When these two means of knowledge are available, the entire subject of the etheric body will take on a new importance and be correctly understood.

Tôi đã khai triển vấn đề này hơi nhiều vì mối liên hệ của thể dĩ thái với thể xác và tính tiếp nhận của nó đối với các năng lượng bên trong rõ ràng là tác động lên con người. Chúng ta cần luôn luôn ghi nhớ điều này khi nghiên cứu các nguyên nhân của bệnh phát sinh trong thể trí, hoặc do hoạt động của linh hồn trong đời sống của đệ tử, hoặc khi khảo sát các tiến trình nhờ đó con người được chuẩn bị cho điểm đạo. Thể dĩ thái luôn luôn, và thực sự luôn luôn, phải hoạt động như tác nhân truyền dẫn các năng lượng bên trong ra cõi ngoài, và thể xác phải học cách đáp ứng và nhận biết điều được truyền đạt. Hiệu quả của sự truyền dẫn và hoạt động hồng trần phát sinh từ đó luôn luôn tùy thuộc vào các trung tâm, mà đến lượt chúng tác động lên các tuyến; rồi về sau các tuyến này quyết định bản chất và tâm thức được biểu hiện của con người. Nếu các trung tâm đã thức tỉnh và tiếp nhận, sẽ tìm thấy một bộ máy hồng trần đáp ứng được với các mãnh lực đang tuôn qua. Nếu các trung tâm đang ngủ, và do đó ít mãnh lực có thể được truyền đi, bạn sẽ thấy một bộ máy hồng trần cũng chậm chạp và không đáp ứng tương ứng. Nếu các trung tâm dưới cơ hoành đã thức tỉnh còn các trung tâm trên đó thì chưa, bạn sẽ có một con người mà tâm thức của y sẽ tập trung trong bản chất động vật và cảm xúc, và phần lớn bệnh tật hồng trần của y cũng sẽ nằm dưới cơ hoành. Vì vậy, bạn sẽ thấy toàn bộ vấn đề này phức tạp và rắc rối đến mức nào [88]—phức tạp đến nỗi nó chỉ thực sự được thấu hiểu khi con người lấy lại được năng lực đã mất là “thấy ánh sáng” của thể dĩ thái và của bảy trung tâm chính của nó và, qua một xúc giác đã phát triển ở bàn tay và các ngón tay, xác định được tốc độ rung động trong các trung tâm khác nhau. Khi hai phương tiện tri thức này sẵn có, toàn bộ chủ đề về thể dĩ thái sẽ mang một tầm quan trọng mới và được hiểu đúng đắn.

3. CAUSES ARISING IN THE MENTAL BODY3. CÁC NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH TRONG THỂ TRÍ

I started this section of our study with the causes arising in the astral and etheric bodies because they are the major sources of trouble, owing to the fact that the bulk of humanity is astrally focussed, just as the bulk of the forms in the animal kingdom are etherically focussed. The forces pouring into the animal kingdom come predominantly from etheric levels and from the dense physical levels of life. The higher animals, however, owing to the development brought about through their contact with human beings, are becoming susceptible to forces coming from the astral plane, and they thus develop actions and reactions which are not purely instinctual.

Tôi đã bắt đầu phần này của công trình nghiên cứu của chúng ta với các nguyên nhân phát sinh trong thể cảm dục và thể dĩ thái bởi vì chúng là những nguồn gốc chính của rắc rối, do sự kiện là phần lớn nhân loại tập trung trong cảm dục, cũng như phần lớn các hình tướng trong giới động vật tập trung trong dĩ thái. Các mãnh lực tuôn vào giới động vật đến chủ yếu từ các cấp độ dĩ thái và từ các cấp độ hồng trần đậm đặc của sự sống. Tuy nhiên, các động vật cao cấp hơn, do sự phát triển có được nhờ tiếp xúc với con người, đang trở nên nhạy cảm với các mãnh lực đến từ cõi cảm dục, và do đó chúng phát triển những hành động và phản ứng không hoàn toàn chỉ là bản năng.

Today, owing to the development of the mind in the Aryan race, certain difficulties may arise in the physical body. Their origin is not basically mental but primarily due to the fact that the mental body is the transmitter (when active and rightly aligned) of soul energy and this soul energy, pouring into the physical body, can produce certain conditions of overstimulation and difficulties connected with the nervous system. But it is the transmitted energy which causes the trouble and not the factor arising from the mind itself. I will elaborate this a little later. [89]

Ngày nay, do sự phát triển của trí tuệ trong nhân loại Arya, một số khó khăn có thể phát sinh trong thể xác. Nguồn gốc của chúng không căn bản là trí tuệ mà chủ yếu là do thể trí là bộ truyền dẫn (khi hoạt động và được chỉnh hợp đúng) của năng lượng linh hồn, và năng lượng linh hồn này, tuôn vào thể xác, có thể tạo ra một số tình trạng kích thích quá mức và những khó khăn liên hệ với hệ thần kinh. Nhưng chính năng lượng được truyền dẫn gây ra rắc rối chứ không phải yếu tố phát sinh từ chính trí tuệ. Tôi sẽ khai triển điều này thêm một chút sau. [89]

A. Wrong Mental Attitudes.

A. Những thái độ trí tuệ sai lầm.

I would like to deal, first of all, with the basic premise that disease and physical liabilities are not the result of wrong thought. They are far more likely to be the result of no thought at all, or are caused by the failure to follow those fundamental laws which govern the Mind of God. One interesting instance of this failure is the fact that man does not follow the basic Law of Rhythm, which governs all the processes of nature, and man is a part of nature. It is to this failure to work with the Law of Periodicity that we can trace much of the difficulty inherent in the use and the misuse of the sex urge. Instead of man being governed by the cyclic manifestation of the sex impulse, and his life, therefore, being ruled by a definite rhythm, there exists at this time no such thing, except in the cycles through which the female passes, and little attention is paid to these. The male, however, is not governed by any such cycles, and has broken in also on the rhythm to which the female body should be subordinated, and which—rightly understood—would determine the use of the sex relationship, including naturally the male impulse also. This failure to live by the Law of Periodicity and to subordinate the appetites to cyclic control is one of the major causes of disease; and as these laws are given form on the mental plane, one might legitimately say that their infringement has a mental basis. This might be the case if the race were working mentally, but it is not. It is in the modern world of today that there is beginning a widespread infringement of these mental laws, particularly of the Law of Cycles, which determines the tides, controls world events and should also condition the individual and so establish rhythmic life habits—one of the major predisposing incentives to good health.

Trước hết, tôi muốn đề cập đến tiền đề căn bản rằng bệnh tật và những yếu kém hồng trần không phải là kết quả của tư tưởng sai lầm. Chúng rất có thể là kết quả của việc hoàn toàn không suy nghĩ, hoặc do thất bại trong việc tuân theo những định luật căn bản chi phối Trí của Thượng đế. Một ví dụ thú vị về sự thất bại này là sự kiện con người không tuân theo Định luật Nhịp điệu căn bản, vốn chi phối mọi tiến trình của thiên nhiên, và con người là một phần của thiên nhiên. Chính từ sự thất bại trong việc làm việc với Định luật Chu kỳ này mà chúng ta có thể truy nguyên phần lớn khó khăn vốn có trong việc sử dụng và lạm dụng xung lực tính dục. Thay vì con người được chi phối bởi sự biểu hiện có chu kỳ của xung lực tính dục, và do đó đời sống của y được cai quản bởi một nhịp điệu xác định, thì hiện nay không hề có điều như vậy, ngoại trừ trong các chu kỳ mà người nữ trải qua, và người ta cũng ít chú ý đến các chu kỳ ấy. Tuy nhiên, người nam không bị chi phối bởi bất kỳ chu kỳ nào như thế, và cũng đã phá vỡ nhịp điệu mà thể nữ đáng lẽ phải phục tùng, và nhịp điệu ấy—nếu được hiểu đúng—sẽ quyết định việc sử dụng mối quan hệ tính dục, dĩ nhiên bao gồm cả xung lực nam giới. Sự thất bại trong việc sống theo Định luật Chu kỳ và trong việc đặt các dục vọng dưới sự kiểm soát có chu kỳ là một trong những nguyên nhân chính của bệnh tật; và vì các định luật này được định hình trên cõi trí, nên người ta có thể chính đáng nói rằng sự vi phạm chúng có một nền tảng trí tuệ. Điều này có thể đúng nếu nhân loại đang hoạt động bằng trí tuệ, nhưng không phải vậy. Chính trong thế giới hiện đại ngày nay mới bắt đầu có một sự vi phạm rộng khắp các định luật trí tuệ này, đặc biệt là Định luật Chu kỳ, vốn quyết định thủy triều, kiểm soát các biến cố thế giới và cũng phải tác động lên cá nhân để từ đó thiết lập các thói quen sống có nhịp điệu—một trong những động lực chính khiến sức khỏe tốt được hình thành.

[90]

[90]

By breaking this Law of Rhythm, man has disorganised the forces which, rightly used, tend to bring the body into a sound and healthy condition; by so doing, he has laid the foundation for that general debility and those inherent organic tendencies which predispose a man to ill health and which permit entrance into the system of those germs and bacteria which produce the outer forms of malignant disease. When humanity regains an understanding of the right use of time (which determines the Law of Rhythm on the physical plane), and can determine the proper cycles for the various manifestations of the life force upon the physical plane, then what was earlier an instinctual habit will become the intelligent usage of the future. This will constitute an entirely new science, and the rhythm of the natural processes and the establishing, as habits, the correct cycles of physical functioning, will bring about a new era of health and of sound physical conditions for the entire race. I used the word “establishing,” for as the focus of racial attention shifts into the region of the higher values the physical vehicle will gain enormously, and good health—through right rhythmic living, plus correct thinking and soul contact—will become permanently established.

Bằng cách phá vỡ Định luật Nhịp điệu này, con người đã làm rối loạn các mãnh lực mà, nếu được sử dụng đúng, có khuynh hướng đưa thể xác vào một tình trạng lành mạnh và khỏe mạnh; khi làm như vậy, y đã đặt nền tảng cho sự suy nhược tổng quát và những khuynh hướng hữu cơ cố hữu khiến con người dễ đau yếu và cho phép những vi trùng và vi khuẩn tạo ra các hình thức bên ngoài của bệnh ác tính xâm nhập vào hệ thống. Khi nhân loại lấy lại được sự thấu hiểu về việc sử dụng đúng đắn thời gian (điều quyết định Định luật Nhịp điệu trên cõi hồng trần), và có thể xác định các chu kỳ thích hợp cho những biểu hiện khác nhau của sinh lực trên cõi hồng trần, thì điều trước kia là một thói quen bản năng sẽ trở thành cách sử dụng thông minh của tương lai. Điều này sẽ cấu thành một khoa học hoàn toàn mới, và nhịp điệu của các tiến trình tự nhiên cùng việc thiết lập, như những thói quen, các chu kỳ đúng đắn của hoạt động hồng trần sẽ mang lại một kỷ nguyên mới của sức khỏe và những điều kiện hồng trần lành mạnh cho toàn thể nhân loại. Tôi đã dùng từ “thiết lập,” vì khi tiêu điểm chú ý của nhân loại chuyển vào lĩnh vực của các giá trị cao hơn thì vận cụ hồng trần sẽ được lợi rất nhiều, và sức khỏe tốt—nhờ đời sống có nhịp điệu đúng đắn, cộng với tư tưởng đúng đắn và tiếp xúc linh hồn—sẽ được thiết lập một cách bền vững.

There are, therefore, very few ills to which flesh is heir which are mentally based. It is exceedingly difficult to establish what they are. There are two reasons for this statistical failure:

Do đó, có rất ít bệnh tật mà xác thịt phải gánh chịu lại có nền tảng trí tuệ. Việc xác định chúng là gì cực kỳ khó khăn. Có hai lý do cho sự thất bại về mặt thống kê này:

1. The fact that very few, relatively speaking of the race are mentally polarised and therefore thinking.

1. Sự kiện là tương đối rất ít người trong nhân loại được phân cực trí tuệ và do đó thực sự suy nghĩ.

2. The fact that the bulk of diseases are etheric or astral.

2. Sự kiện là phần lớn bệnh tật thuộc về dĩ thái hoặc cảm dục.

Another factor producing this difficulty is that the thinking and the emotional reactions of man are so closely interrelated that it is not easy at this stage in evolution to [91] separate feeling and thought, or to say that such or such ills arise in the astral or the mental body, or that certain ills are due to wrong feeling and others to wrong thinking. Speaking in terms of the entire human family, the thinking that is done in the world of today, is done by the relatively few. The rest are occupied with feeling, with sensuous perception and with the many and differing aspects of emotionalism such as irritability, worry, acute anxiety, aspiration towards some desired end or goal, depression, plus the dramatic life of the senses and of the “I in the centre” consciousness. Few live in the world of thought and fewer still in the world of reality. When they do, the result is inevitably a better average of health, because there is better integration, and as a result a freer play of the life forces throughout the vehicles of expression.

Một yếu tố khác tạo ra khó khăn này là tư tưởng và các phản ứng cảm xúc của con người liên hệ chặt chẽ với nhau đến mức ở giai đoạn tiến hoá này không dễ [91] tách biệt cảm giác và tư tưởng, hoặc nói rằng bệnh này hay bệnh kia phát sinh trong thể cảm dục hay thể trí, hoặc rằng một số bệnh là do cảm xúc sai lầm còn những bệnh khác là do tư tưởng sai lầm. Nói theo toàn thể gia đình nhân loại, sự suy nghĩ đang được thực hiện trong thế giới ngày nay là do số ít tương đối. Phần còn lại bận rộn với cảm giác, với tri giác cảm quan và với nhiều phương diện khác nhau của cảm xúc tính như tính dễ cáu, lo lắng, ưu tư gay gắt, khát vọng hướng đến một cứu cánh hay mục tiêu mong muốn, trầm uất, cộng với đời sống kịch tính của các giác quan và của tâm thức “cái tôi ở trung tâm”. Ít người sống trong thế giới của tư tưởng và còn ít hơn nữa trong thế giới của thực tại. Khi họ làm được như vậy, kết quả tất yếu là mức sức khỏe trung bình tốt hơn, bởi vì có sự tích hợp tốt hơn, và do đó có sự vận hành tự do hơn của các sinh lực xuyên suốt các vận cụ biểu hiện.

B. Mental Fanaticism. The Dominance of Thoughtforms.

B. Sự cuồng tín trí tuệ. Sự thống trị của các hình tư tưởng.

I would point out here that the diseases and difficulties which arise from what I have called wrong mental attitudes, fanaticisms and frustrated idealisms and thwarted hopes, fall into three categories, and a study of these will show you that, in the last analysis, they are not of mental origin at all, but primarily are the result of emotionalism entering in.

Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng các bệnh tật và khó khăn phát sinh từ điều mà tôi gọi là những thái độ trí tuệ sai lầm, những sự cuồng tín và những lý tưởng bị thất bại cùng những hy vọng bị ngăn trở, thuộc vào ba loại, và việc nghiên cứu chúng sẽ cho bạn thấy rằng, trong phân tích rốt ráo, chúng hoàn toàn không có nguồn gốc trí tuệ, mà chủ yếu là kết quả của cảm xúc tính xen vào.

1. Those incident to the imposed physical plane activity and work which find their incentive in these mental conditions. They lead, for instance, to furious activity and overwork, due to the determination not to be frustrated but to make the plan work. The result is frequently the breaking down of the nervous system, which could have been avoided had the mental condition been changed and right rhythm on the physical plane achieved. But it was the work of a physical nature which caused the trouble far more than the mental condition. [92]

1. Những điều gắn liền với hoạt động và công việc trên cõi hồng trần bị áp đặt, vốn tìm thấy động lực của chúng trong các tình trạng trí tuệ này. Chẳng hạn, chúng dẫn đến hoạt động cuồng nhiệt và làm việc quá sức, do quyết tâm không để bị thất bại mà phải làm cho kế hoạch thành công. Kết quả thường là sự suy sụp của hệ thần kinh, điều lẽ ra có thể tránh được nếu tình trạng trí tuệ được thay đổi và nhịp điệu đúng đắn trên cõi hồng trần được đạt tới. Nhưng chính công việc có tính chất hồng trần gây ra rắc rối nhiều hơn là tình trạng trí tuệ. [92]

2. Those brought about by the state of rebellion which colours all the life, and the registering of violent emotional reactions. These may be based upon a mental realisation of the Plan, for instance, plus a recognition that those plans are not materialising, owing often to the inadequacy of the physical equipment; but the basic cause of the disease is the emotional rebellion, and therefore not the mental condition. Bitterness, disgust, hatred and a sense of frustration can and do produce many of the prevalent toxic conditions and a state of general poisoning and ill health from which many people habitually suffer. Their vision is bigger than their accomplishment, and this causes emotional suffering. The cure for this condition is to be found in the simple word acceptance. This is not a negative state of settling down to a submissive nonactive life, but it is a positive acceptance (in thought and in practical expression) of a condition which seems at present unavoidable. This leads to an avoidance of the waste of time in attempting the impossible and to right effort to carry forward that which is possible.

2. Những bệnh do trạng thái phản kháng gây ra, trạng thái này nhuốm màu toàn bộ đời sống, và do sự ghi nhận các phản ứng cảm xúc dữ dội. Chúng có thể dựa trên một sự chứng nghiệm trí tuệ về Thiên Cơ, chẳng hạn, cộng với sự nhận biết rằng các kế hoạch ấy không được hiện thực hóa, thường là do sự bất toàn của bộ máy thể xác; nhưng nguyên nhân căn bản của bệnh là sự phản kháng cảm xúc, và vì thế không phải là tình trạng trí tuệ. Sự cay đắng, chán ghét, thù hận và cảm giác thất bại có thể và thực sự tạo ra nhiều tình trạng nhiễm độc phổ biến cùng một trạng thái đầu độc tổng quát và sức khỏe suy nhược mà nhiều người thường xuyên phải chịu. Tầm nhìn của họ lớn hơn thành tựu của họ, và điều này gây ra đau khổ cảm xúc. Cách chữa trị cho tình trạng này được tìm thấy trong từ đơn giản là sự chấp nhận. Đây không phải là một trạng thái tiêu cực của việc cam chịu một đời sống phục tùng, không hoạt động, mà là một sự chấp nhận tích cực (trong tư tưởng và trong biểu hiện thực tiễn) đối với một tình trạng hiện nay dường như không thể tránh khỏi. Điều này dẫn đến việc tránh lãng phí thời gian trong nỗ lực làm điều bất khả, và đến nỗ lực đúng đắn để tiếp tục điều khả thi.

3. Those difficulties which are caused by the failure of the physical apparatus to measure up to the demands of the thought life of the individual. These are, naturally and usually, a part of the physical inheritance, and where this is the case there is normally nothing much to do, though where the aspiration is real and persistent, a great deal might be accomplished in bringing about improvement and laying the ground for better functioning in another life cycle.

3. Những khó khăn do sự thất bại của bộ máy thể xác trong việc đáp ứng các đòi hỏi của đời sống tư tưởng của cá nhân. Một cách tự nhiên và thông thường, đây là một phần của di truyền thể xác, và khi đúng như vậy thì thường không có nhiều điều phải làm, mặc dù ở nơi nào khát vọng là chân thật và bền bỉ, rất nhiều điều có thể được thực hiện để đem lại sự cải thiện và đặt nền tảng cho sự hoạt động tốt hơn trong một chu kỳ sống khác.

It is necessary here that I should deal, as briefly as possible, with the problem of mental healing and with the teaching that all disease is the product of wrong thought. You are starting out to work, and I would have clear thinking on this point. The two problems which I have posited [93] are closely related. We could express them in the form of two questions:

Ở đây, tôi cần đề cập, càng ngắn gọn càng tốt, đến vấn đề trị liệu trí tuệ và đến giáo huấn cho rằng mọi bệnh tật đều là sản phẩm của tư tưởng sai lầm. Các bạn đang bắt đầu công việc, và tôi muốn có sự suy nghĩ rõ ràng về điểm này. Hai vấn đề mà tôi đã nêu ra [93] có liên hệ chặt chẽ với nhau. Chúng ta có thể diễn đạt chúng dưới hình thức hai câu hỏi:

1. Is disease the result of thought?

1. Bệnh tật có phải là kết quả của tư tưởng không?

2. Can the power of thought produce healing effects when used by an individual or a group?

2. Quyền năng của tư tưởng có thể tạo ra các hiệu quả chữa lành khi được một cá nhân hay một nhóm sử dụng không?

In view of the fact that many diseases are, as I have told you, latent in the very material of the planet itself, it is obvious that human thought is not responsible for disease. It antedates the arrival of humanity upon the planet. There is disease in the mineral world, in the vegetable kingdom, and also among animals, even in their wild states and in their natural habitat, uncontaminated by man. Hence, man cannot be held responsible for this, nor is it the result of human wrong thinking. It provides no answer to the question to say that it must therefore be due to the wrong thinking of the planetary Logos or of the solar Logos. This is only a begging of the question and an evasion of the issue.

Xét theo sự kiện rằng nhiều bệnh tật, như tôi đã nói với các bạn, tiềm ẩn ngay trong chính vật chất của hành tinh này, thì hiển nhiên là tư tưởng của con người không chịu trách nhiệm về bệnh tật. Nó có trước sự xuất hiện của nhân loại trên hành tinh. Có bệnh trong giới kim thạch, trong giới thực vật, và cả nơi giới động vật, ngay cả trong trạng thái hoang dã và trong môi trường sống tự nhiên của chúng, không bị con người làm ô nhiễm. Vì thế, con người không thể bị quy trách nhiệm về điều này, cũng không phải đó là kết quả của tư tưởng sai lầm của con người. Không thể trả lời câu hỏi bằng cách nói rằng vì vậy nó hẳn phải là do tư tưởng sai lầm của Hành Tinh Thượng đế hay của Thái dương Thượng đế. Điều này chỉ là lẩn tránh vấn đề và né tránh trọng điểm.

I would here remind you of the two definitions of the causes of disease which I earlier gave. Let me call them to your careful attention:

Ở đây tôi muốn nhắc các bạn về hai định nghĩa về nguyên nhân của bệnh mà trước đây tôi đã đưa ra. Hãy để tôi kêu gọi sự chú ý cẩn trọng của các bạn đến chúng:

“All disease is the result of inhibited soul life. This is true of all forms in all kingdoms.”

“Mọi bệnh tật đều là kết quả của sự sống linh hồn bị ngăn trở. Điều này đúng với mọi hình tướng trong mọi giới.”

“Disease is the product of and subject to three influences. First, a man’s past wherein he pays the price of ancient error. Second, his inheritance wherein he shares with all mankind those tainted streams of energy which are of group origin. Thirdly, he shares with all the natural forms that which the Lord of Life imposes on those forms. Those three influences are called the Ancient Law of evil Sharing. This must give place some day to that new Law of Ancient Dominating Good. This law will be brought into activity by the spiritual will of man.”

“Bệnh tật là sản phẩm của và chịu sự chi phối của ba ảnh hưởng. Thứ nhất, quá khứ của một người, trong đó y trả giá cho lỗi lầm xưa cũ. Thứ hai, di truyền của y, trong đó y chia sẻ với toàn thể nhân loại những dòng năng lượng nhiễm độc có nguồn gốc nhóm. Thứ ba, y chia sẻ với mọi hình tướng tự nhiên điều mà Chúa Tể của Sự Sống áp đặt lên các hình tướng ấy. Ba ảnh hưởng đó được gọi là Định luật Cổ xưa của sự Chia sẻ điều ác. Một ngày nào đó, nó phải nhường chỗ cho Định luật Mới của Điều Thiện Cổ xưa Thống Trị. Định luật này sẽ được đưa vào hoạt động bởi ý chí tinh thần của con người.”

[94]

[94]

If you analyse the four causes of disease here given, you will note that disease will eventually be controlled by the release of the soul in all forms, and that this will be done by the active use by man of his spiritual will. We could word this otherwise and say that when soul energy and the right use of the will (which in the individual is the reflection and the agent of the will energy of the soul) is released and rightly directed by the mind, then disease can be handled and brought eventually to an end. It is therefore by the imposition of a higher energy and of a higher rhythm upon the lower forces that disease can be controlled. Disease is therefore the result in the physical body of the failure to bring in these higher energies and rhythms, and that, in its turn, is dependent upon the point in evolution.

Nếu các bạn phân tích bốn nguyên nhân của bệnh được nêu ở đây, các bạn sẽ nhận thấy rằng bệnh tật rốt cuộc sẽ được kiểm soát bằng sự giải phóng linh hồn trong mọi hình tướng, và điều này sẽ được thực hiện bằng việc con người sử dụng tích cực ý chí tinh thần của mình. Chúng ta có thể diễn đạt điều này theo cách khác và nói rằng khi năng lượng linh hồn và việc sử dụng đúng đắn ý chí (vốn trong cá nhân là sự phản chiếu và là tác nhân của năng lượng ý chí của linh hồn) được giải phóng và được trí tuệ hướng dẫn đúng đắn, thì bệnh tật có thể được xử lý và cuối cùng được chấm dứt. Vì vậy, chính bằng việc áp đặt một năng lượng cao hơn và một nhịp điệu cao hơn lên các lực thấp hơn mà bệnh tật có thể được kiểm soát. Do đó, bệnh là kết quả trong thể xác của sự thất bại trong việc đưa các năng lượng và nhịp điệu cao hơn này vào, và điều đó đến lượt nó lại tùy thuộc vào điểm tiến hoá.

It is the dim sensing of this failure and the realisation of these facts that has brought so many groups to believe in the cure of disease by thought power and to ascribe the appearance of disease to wrong thinking. But in reality, humanity must some day learn that it is only the higher consciousness of the soul, working through the mind, that can finally solve this difficult problem.

Chính sự cảm nhận mơ hồ về sự thất bại này và sự chứng nghiệm các sự kiện này đã khiến nhiều nhóm tin vào việc chữa bệnh bằng quyền năng tư tưởng và quy sự xuất hiện của bệnh cho tư tưởng sai lầm. Nhưng trên thực tế, một ngày nào đó nhân loại phải học rằng chỉ có tâm thức cao hơn của linh hồn, hoạt động qua trí tuệ, mới có thể rốt ráo giải quyết vấn đề khó khăn này.

We cannot consequently affirm that disease, as a general rule, has any relation to thought. It is simply the misuse of the forces of the etheric, the astral and of the dense physical levels. The majority of people are helpless to do anything about it, as the forces which constitute the physical body, for instance, and which pass through and play upon it, are inherited from a very ancient past, are a constituent part of the environment and of the group life into which they are integrated and which they share with all their fellowmen. Such force-matter is coloured with the results of ancient wrong rhythms, misused forces and inherited qualities. Soul energy, expressed through right thinking, can cure diseases to which man is prone. It is failure to think and to register [95] and express the higher states of consciousness which leads to wrong rhythms. Consequently, I repeat that disease is not the result of thought.

Do đó, chúng ta không thể khẳng định rằng bệnh tật, như một quy luật chung, có bất kỳ liên hệ nào với tư tưởng. Nó chỉ đơn giản là sự sử dụng sai các lực của các cấp dĩ thái, cảm dục và hồng trần đậm đặc. Đa số mọi người bất lực không thể làm gì về điều đó, vì các lực cấu thành thể xác, chẳng hạn, và đi xuyên qua cũng như tác động lên nó, được thừa hưởng từ một quá khứ rất xa xưa, là một phần cấu thành của môi trường và của đời sống nhóm mà họ được tích hợp vào và chia sẻ với tất cả đồng loại của mình. Loại vật chất-lực ấy nhuốm màu các kết quả của những nhịp điệu sai lầm cổ xưa, những lực bị sử dụng sai và những phẩm tính di truyền. Năng lượng linh hồn, được biểu lộ qua tư tưởng đúng đắn, có thể chữa các bệnh mà con người dễ mắc phải. Chính sự thất bại trong việc suy nghĩ, ghi nhận [95] và biểu lộ các trạng thái tâm thức cao hơn dẫn đến những nhịp điệu sai lầm. Vì vậy, tôi nhắc lại rằng bệnh tật không phải là kết quả của tư tưởng.

C. Frustrated Idealism.

C. Chủ nghĩa lý tưởng bị thất bại.

There are, however, certain diseases which appear in the physical mechanism and which are definitely rooted in the fact that activity (which is the result of thinking specifically) has been coloured and conditioned by the emotional life of the individual, and the emotional life is a fruitful source of disease and of establishing wrong rhythms. It is therefore the predominance of the astral force, and not of the mental energy, which really causes the physical trouble. I am not referring here to the diseases of the nervous system and of the brain, which are the result of overstimulation and of the impact of energy (often from the mind and the soul) upon an instrument unfitted to handle it. These we will consider later. I refer simply to the following sequence of events in the psychological life and the consequent resultant activities:

Tuy nhiên, có một số bệnh xuất hiện trong bộ máy thể xác và rõ ràng bắt nguồn từ sự kiện rằng hoạt động (vốn là kết quả đặc biệt của tư tưởng) đã bị nhuốm màu và bị tác động bởi đời sống cảm xúc của cá nhân, và đời sống cảm xúc là một nguồn phong phú của bệnh tật và của việc thiết lập những nhịp điệu sai lầm. Vì vậy, chính sự trội vượt của lực cảm dục, chứ không phải của năng lượng trí tuệ, mới thật sự gây ra rắc rối thể xác. Ở đây tôi không nói đến các bệnh của hệ thần kinh và của bộ não, vốn là kết quả của sự kích thích quá mức và của tác động của năng lượng (thường từ trí tuệ và linh hồn) lên một công cụ không thích hợp để xử lý nó. Chúng ta sẽ xét đến những điều này sau. Tôi chỉ đề cập đến chuỗi sự kiện sau đây trong đời sống tâm lý và các hoạt động hệ quả phát sinh từ đó:

Disease is a form of activity.

Bệnh tật là một hình thức hoạt động.

1. Mental activity and energy produces (through the power of thought) certain registration of plans, idealisms and ambitions.

1. Hoạt động và năng lượng trí tuệ tạo ra (qua quyền năng của tư tưởng) một sự ghi nhận nào đó về các kế hoạch, các lý tưởng và các tham vọng.

2. This energy, blended with astral energy, becomes dominated and controlled by astral reactions of an undesirable kind, such as worry over non-accomplishment, the failure to materialise the plans, etc. The life becomes consequently embittered.

2. Năng lượng này, hòa trộn với năng lượng cảm dục, trở nên bị chi phối và kiểm soát bởi các phản ứng cảm dục không mong muốn, như lo lắng vì không hoàn thành, thất bại trong việc hiện thực hóa các kế hoạch, v.v. Do đó đời sống trở nên cay đắng.

3. Disease then appears in the physical body, according to the predisposing tendencies of the body and its inherent, inherited weaknesses.

3. Khi ấy bệnh xuất hiện trong thể xác, tùy theo các khuynh hướng dễ mắc bệnh của thể xác và các điểm yếu nội tại, di truyền của nó.

[96]

[96]

You will note that, in reality, the mental body, and the power of thought, have in no case been the cause of trouble. It has been caused by the obliteration of the original thought and its stepping down to the level of emotionalism. When this stepping down and eventual control by astral forces does not take place, and the thought remains clear and untouched upon the mental plane, there may be trouble of another kind, due to a failure to “carry through” the thought into effective action upon the physical plane. This failure produces not only the cleavage in the personality so well known to the practicing psychologist, but also a cutting off of a much needed stream of energy. As a consequence, the physical body is devitalised and falls heir to bad health. When the thought can be carried through to the physical brain and there becomes a directing agent of the life force, you will usually have a condition of good health, and this has proved true whether the individual thought has been good or bad, rightly motivated or wrongly oriented. It is simply the effect of integration, because saints and sinners, the selfish and the unselfish and all kinds of people, can achieve integration and a thought-directed life.

Các bạn sẽ lưu ý rằng, trên thực tế, thể trí và quyền năng của tư tưởng trong không trường hợp nào là nguyên nhân của rắc rối. Rắc rối do sự xóa mờ tư tưởng nguyên thủy và việc hạ thấp nó xuống cấp độ cảm tính gây ra. Khi sự hạ thấp này và sự kiểm soát cuối cùng bởi các lực cảm dục không xảy ra, và tư tưởng vẫn rõ ràng, không bị chạm đến trên cõi trí, thì có thể có một loại rắc rối khác, do sự thất bại trong việc “thực hiện đến cùng” tư tưởng thành hành động hữu hiệu trên cõi hồng trần. Sự thất bại này không những tạo ra sự phân ly trong phàm ngã vốn rất quen thuộc với nhà tâm lý học thực hành, mà còn cắt đứt một dòng năng lượng rất cần thiết. Hệ quả là thể xác bị mất sinh lực và rơi vào tình trạng sức khỏe kém. Khi tư tưởng có thể được chuyển đến bộ não thể xác và ở đó trở thành một tác nhân chỉ đạo của sinh lực, các bạn thường sẽ có một tình trạng sức khỏe tốt, và điều này đã được chứng minh là đúng dù tư tưởng cá nhân ấy là tốt hay xấu, được thúc đẩy đúng hay định hướng sai. Đó đơn giản là hiệu quả của sự tích hợp, bởi vì các thánh nhân và tội nhân, người ích kỷ và người vị tha cùng mọi loại người đều có thể đạt được sự tích hợp và một đời sống được tư tưởng chỉ đạo.

The second question asks whether an individual or a group can heal by thought power.

Câu hỏi thứ hai đặt ra rằng liệu một cá nhân hay một nhóm có thể chữa lành bằng quyền năng tư tưởng hay không.

Most certainly the generalisation can be made that an individual and a group can heal and that thought can play its potent part in the healing process, but not thought alone and unaided. Thought can be the directing agency of forces and energies which can disrupt and dispel disease, but the process must be aided by the power to visualise, by an ability to work with particular forces as is deemed advisable, by an understanding of the rays and their types of energies, and also by a capacity to handle light substance, as it is called. To these powers must be added the ability to be en rapport with the one to be healed, plus a loving heart. In [97] fact, once these conditions are met, too much use of the thinking faculty and too potent a use of the mind processes can arrest and hinder the healing work. Thought has to condition the initial incentive, bringing the intelligence of the man to bear upon the problem of healing and a comprehension of the nature of the one to be healed; but once it has aided in focussing the attention of the healer and the healing group, it should become a steady but subconscious directive agent and nothing more than that.

Chắc chắn có thể khái quát rằng một cá nhân và một nhóm có thể chữa lành và rằng tư tưởng có thể đóng vai trò mạnh mẽ của nó trong tiến trình chữa lành, nhưng không phải chỉ có tư tưởng và không có trợ lực. Tư tưởng có thể là tác nhân chỉ đạo của các lực và năng lượng có thể phá vỡ và làm tiêu tan bệnh tật, nhưng tiến trình ấy phải được hỗ trợ bởi quyền năng hình dung, bởi khả năng làm việc với những lực đặc thù khi được xem là thích hợp, bởi sự thấu hiểu các cung và các loại năng lượng của chúng, và cũng bởi năng lực xử lý chất liệu ánh sáng, như nó được gọi. Vào các quyền năng này còn phải thêm khả năng thiết lập sự tương thông với người được chữa lành, cộng với một trái tim đầy yêu thương. Thực [97] ra, một khi các điều kiện này được đáp ứng, việc sử dụng quá nhiều năng lực suy nghĩ và việc vận dụng quá mạnh các tiến trình của trí tuệ có thể ngăn chặn và cản trở công việc chữa lành. Tư tưởng phải tác động lên động lực ban đầu, đem trí thông minh của con người áp dụng vào vấn đề chữa lành và vào sự hiểu biết bản chất của người được chữa lành; nhưng một khi nó đã giúp tập trung sự chú ý của người chữa lành và của nhóm chữa lành, nó nên trở thành một tác nhân chỉ đạo vững vàng nhưng tiềm thức, và không hơn thế.

The healing is accomplished, when possible, by the use of energy rightly directed and by detailed visualisation; love also plays a great part, as does the mind in the early stage. Perhaps I should say that a loving heart is one of the most potent of all the energies employed.

Việc chữa lành được thực hiện, khi có thể, bằng việc sử dụng năng lượng được hướng dẫn đúng đắn và bằng sự hình dung chi tiết; tình thương cũng đóng một vai trò lớn, cũng như trí tuệ trong giai đoạn đầu. Có lẽ tôi nên nói rằng một trái tim đầy yêu thương là một trong những năng lượng mạnh mẽ nhất trong tất cả các năng lượng được sử dụng.

I have brought these two questions to your attention because I am anxious for your minds to be clear upon these problems before you start any group work in healing.

Tôi đã đưa hai câu hỏi này ra để các bạn chú ý vì tôi mong trí tuệ của các bạn được sáng tỏ về các vấn đề này trước khi các bạn bắt đầu bất kỳ công việc chữa lành theo nhóm nào.

Thought neither cures disease nor causes it. Thought must be employed in the processes, but it is not the sole or the most important agent. It is on this point that many groups and healers go astray. The mind can direct energy and this energy can, in its turn, produce overstimulation of the brain and of the body cells and so cause nervous trouble and sometimes brain disease, but the mind itself and thinking, per se, cannot cause disease and trouble in the physical body. As the race learns to think clearly and definitely, and as the laws of thought begin to control the racial consciousness, disease—as we now know it—will be greatly lessened and more and more people will achieve integration. Where there is integration there is the free play of force and of energy throughout the material body. The problems of stimulation will, however, steadily increase with the growing sensitivity of the physical man and the developing focus of his consciousness in the mind nature. This will go on until [98] man learns how to handle the higher energies and to recognise the need for a rhythmic life, paying attention to the Law of Periodicity.

Tư tưởng không chữa bệnh cũng không gây bệnh. Tư tưởng phải được sử dụng trong các tiến trình ấy, nhưng nó không phải là tác nhân duy nhất hay quan trọng nhất. Chính ở điểm này mà nhiều nhóm và nhiều người chữa lành đi lạc đường. Trí tuệ có thể hướng dẫn năng lượng và năng lượng này, đến lượt nó, có thể tạo ra sự kích thích quá mức của bộ não và của các tế bào cơ thể và do đó gây ra rối loạn thần kinh và đôi khi là bệnh não, nhưng bản thân trí tuệ và tư tưởng, chính chúng, không thể gây ra bệnh và rắc rối trong thể xác. Khi nhân loại học cách suy nghĩ rõ ràng và dứt khoát, và khi các quy luật của tư tưởng bắt đầu kiểm soát tâm thức của nhân loại, thì bệnh tật—như chúng ta hiện biết—sẽ giảm đi rất nhiều và ngày càng nhiều người sẽ đạt được sự tích hợp. Nơi nào có sự tích hợp, nơi đó có sự vận hành tự do của lực và năng lượng khắp thể vật chất. Tuy nhiên, các vấn đề về kích thích sẽ đều đặn gia tăng cùng với sự nhạy cảm ngày càng lớn của phàm nhân thể xác và sự tập trung đang phát triển của tâm thức y vào bản chất trí tuệ. Điều này sẽ tiếp diễn cho đến khi [98] con người học được cách xử lý các năng lượng cao hơn và nhận ra nhu cầu của một đời sống có nhịp điệu, chú ý đến Định luật Chu Kỳ.

In healing work, certain rules should be mastered and followed by the healer. I have given three important rules already. Briefly they are as follows, and I am dividing the first one into its component parts for the sake of clarity.

Trong công việc chữa lành, người chữa lành cần nắm vững và tuân theo một số quy luật. Tôi đã đưa ra ba quy luật quan trọng rồi. Tóm lại, chúng như sau, và tôi chia quy luật thứ nhất thành các phần cấu thành của nó cho rõ ràng.

1. a. The healer must seek to link his soul, his heart, his brain, and his hands. Thus can he pour the vital force with healing power upon his patient. This is magnetic work.

1. a. Người chữa lành phải tìm cách nối kết linh hồn, tim, bộ não và hai bàn tay của mình. Nhờ vậy y có thể tuôn đổ sinh lực với quyền năng chữa lành lên bệnh nhân của mình. Đây là công việc từ tính.

b. The healer must seek to link his soul, his brain, his heart and auric emanation. Thus can his presence feed the soul life of the patient. This is the work of radiation. The hands are needed not. The soul displays its power.

b. Người chữa lành phải tìm cách nối kết linh hồn, bộ não, tim và sự phát xạ hào quang của mình. Nhờ vậy sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng sự sống linh hồn của bệnh nhân. Đây là công việc của sự bức xạ. Không cần đến hai bàn tay. Linh hồn biểu lộ quyền năng của nó.

2. The healer must achieve magnetic purity, through purity of life. He must achieve that dispelling radiance which shows itself in every man once he has linked the centres in the head. When this magnetic field has been established, the radiance then goes forth.

2. Người chữa lành phải đạt được sự thanh khiết từ tính, qua sự thanh khiết của đời sống. Y phải đạt được sự bức xạ làm tiêu tan, điều tự biểu lộ nơi mỗi người một khi y đã nối kết các trung tâm trong đầu. Khi từ trường này đã được thiết lập, bức xạ khi ấy sẽ phát ra.

3. Let the healer train himself to know the inner stage of thought or of desire of the one who seeks his help. He can thereby know the source from which the trouble comes. Let him relate the cause and the effect, and know the point exact through which relief must come.

3. Hãy để người chữa lành tự rèn luyện để biết giai đoạn bên trong của tư tưởng hay của ham muốn nơi người tìm kiếm sự giúp đỡ của y. Nhờ đó y có thể biết nguồn gốc từ đó rắc rối phát sinh. Hãy để y liên hệ nguyên nhân với kết quả, và biết chính xác điểm mà qua đó sự giải tỏa phải đến.

I would here give you, as a group, another rule, making four major rules:

Ở đây tôi muốn đưa cho các bạn, với tư cách một nhóm, thêm một quy luật nữa, thành bốn quy luật chính:

RULE FOUR

QUY LUẬT BỐN

The healer and the healing group must keep the will in leash. It is not will that must be used, but love.

Người chữa lành và nhóm chữa lành phải giữ ý chí trong vòng kiềm chế. Điều phải được sử dụng không phải là ý chí, mà là tình thương.

This last rule is of great importance. The concentrated will of any individual and the directed will of a united group [99] should never be employed. The free will of the individual must never be subjected to the impact of a powerfully focussed group or individual; it is far too dangerous a procedure to be permitted. Will energy (particularly that of a number of people simultaneously playing upon the subtle and physical bodies of the one to be healed) can greatly increase the trouble instead of curing it. It can stimulate the disease itself to dangerous proportions and disrupt instead of cooperating with nature’s healing forces, and can even eventually kill the person concerned by so increasing the disease that the patient’s normal resistance can prove futile. I would ask you, therefore, in any group work of healing, to keep the will (and even keen desire) in abeyance. Only initiates of high degree are permitted to cure by the power of the will, focussed in the WORD OF POWER, and this only because they can test the capacity of the patient, the tension of the disease, and know also whether or no it is the will of the soul that the disease should be cured.

Quy luật cuối cùng này vô cùng quan trọng. Ý chí tập trung của bất kỳ cá nhân nào và ý chí được hướng dẫn của một nhóm hợp nhất [99] không bao giờ được sử dụng. Ý chí tự do của cá nhân không bao giờ được đặt dưới tác động của một nhóm hay một cá nhân được tập trung mãnh liệt; đó là một thủ tục quá nguy hiểm để có thể cho phép. Năng lượng ý chí (đặc biệt là của một số người đồng thời tác động lên các thể vi tế và thể xác của người được chữa lành) có thể làm tăng rắc rối rất nhiều thay vì chữa nó. Nó có thể kích thích chính bệnh ấy đến mức nguy hiểm và phá hoại thay vì hợp tác với các lực chữa lành của thiên nhiên, và thậm chí cuối cùng có thể giết chết người liên hệ bằng cách làm bệnh tăng lên đến mức sức đề kháng bình thường của bệnh nhân trở nên vô hiệu. Vì vậy, tôi yêu cầu các bạn, trong bất kỳ công việc chữa lành theo nhóm nào, hãy giữ ý chí (và ngay cả ham muốn mãnh liệt) ở trạng thái đình chỉ. Chỉ các điểm đạo đồ cấp cao mới được phép chữa lành bằng quyền năng của ý chí, được tập trung trong Quyền năng từ, và điều này chỉ vì Các Ngài có thể kiểm tra năng lực của bệnh nhân, mức độ tập trung nhất tâm của bệnh, và cũng biết liệu có phải ý chí của linh hồn là bệnh ấy nên được chữa khỏi hay không.

We have covered much ground of importance in this section and it will warrant your careful study. In the next one we will take up the peculiar problems of the disciple; I would ask you, in preparation for this, to study with attention, the teaching which I gave earlier on the diseases of the mystics. (A Treatise on the Seven Rays, Vol II, Pages 520-625) Much said there need not be repeated by me, but should be incorporated in our teachings on healing. I suggest that you read them and know something of the problems themselves, both theoretically and from an understanding of yourself. You should be aware of some of these difficulties in your own experience, at least to some degree.

Chúng ta đã bao quát nhiều điểm quan trọng trong phần này và nó xứng đáng để các bạn nghiên cứu cẩn thận. Trong phần kế tiếp, chúng ta sẽ bàn đến những vấn đề đặc thù của đệ tử; để chuẩn bị cho điều này, tôi yêu cầu các bạn chú ý nghiên cứu giáo huấn mà trước đây tôi đã đưa ra về các bệnh của các nhà thần bí. (Luận về Bảy Cung, Tập II, Trang 520-625) Nhiều điều đã nói ở đó tôi không cần lặp lại, nhưng nên được kết hợp vào giáo huấn của chúng ta về chữa lành. Tôi gợi ý rằng các bạn hãy đọc chúng và biết đôi điều về chính các vấn đề ấy, cả về mặt lý thuyết lẫn từ sự thấu hiểu chính mình. Các bạn nên ý thức được một số khó khăn này trong kinh nghiệm riêng của mình, ít nhất ở một mức độ nào đó.

The Sacred Art of Healing

Nghệ Thuật Thiêng Liêng của Sự Chữa Lành

I do not intend, in this treatise, to deal with the pathology of disease, with its systems and their maleficent indications. [100] These are fully covered in any ordinary medical treatise and textbook and I, my brothers, am no trained physician or medical authority, nor have I the time to be engrossed with the technicalities. What I am concerned with is to give the world some idea of the true and occult causes of disease and their hidden origins, and with the work of healing, as it is carried on and sanctioned by the Great White Lodge.

Trong bộ luận này, tôi không có ý đề cập đến bệnh lý học của bệnh tật, đến các hệ thống của nó và các biểu hiện tai hại của chúng. [100] Những điều này đã được trình bày đầy đủ trong bất kỳ bộ luận và giáo trình y học thông thường nào, và tôi, Huynh đệ của Tôi, không phải là một thầy thuốc được đào tạo hay một thẩm quyền y khoa, cũng không có thời gian để bị cuốn vào các chi tiết kỹ thuật. Điều tôi quan tâm là đem đến cho thế giới một vài ý niệm về các nguyên nhân chân thực và huyền bí của bệnh tật cùng các nguồn gốc ẩn kín của chúng, và về công việc chữa lành như nó được tiến hành và được Thánh đoàn chuẩn nhận.

The work is, in reality, that of the judicious use of energy, applied with love and science. All that I tell you is the result of experiment. Such healing falls into two categories:

Công việc ấy, trên thực tế, là việc sử dụng năng lượng một cách khôn ngoan, được áp dụng với tình thương và khoa học. Tất cả những gì tôi nói với các bạn đều là kết quả của thực nghiệm. Việc chữa lành như thế thuộc vào hai loại:

1. In magnetic healing, the healer, or the healing group. does two things:

1. Trong chữa lành từ tính, người chữa lành, hay nhóm chữa lành, làm hai việc:

a. He attracts to the healing centre that type of energy which will counteract the disease.

a. Y thu hút vào trung tâm chữa lành loại năng lượng sẽ đối kháng với bệnh.

This is necessarily a vast subject and one of deep scientific import. Certain types of ray force can be used with certain types of disease, necessitating the use of certain specific centres for the distribution. These we shall consider and outline when we come to the section entitled The Seven Modes of Healing.

Đây tất yếu là một đề tài rộng lớn và có ý nghĩa khoa học sâu xa. Một số loại lực cung nhất định có thể được dùng với một số loại bệnh nhất định, đòi hỏi phải sử dụng những trung tâm đặc thù nhất định để phân phối. Chúng ta sẽ xem xét và phác thảo những điều này khi đến phần mang tên Bảy Phương Thức Chữa Lành.

b. He attracts to himself and absorbs those forces which are producing the disease, drawing it forth from the patient.

b. Y thu hút vào chính mình và hấp thụ những lực đang tạo ra bệnh, kéo chúng ra khỏi bệnh nhân.

This latter process necessitates a careful guarding of the healer from all contamination by the disease, so that the forces can find no place in his body. There must also be the supplying of fresh energy to the patient, in order to take the place of that which has been withdrawn. This process sets up a definite interplay between the healer and the patient. There is consequently some real [101] danger in this work of occult healing, and for this reason the healers in training should bear in mind that they will work as a group and not as individuals. The free circulation of force produces good health in the individual or group. The free circulation of force between a healer or a healing group and the person to be healed can produce the cure of disease, provided it is the destiny of the man to be healed at any given time and his cooperation is given when possible, though this is not really essential. It facilitates more rapid results in many cases. In others, the patient’s anxiety can negate the desired effects.

Tiến trình sau này đòi hỏi phải bảo vệ cẩn thận người chữa lành khỏi mọi sự lây nhiễm của bệnh, để các lực ấy không tìm được chỗ nào trong thể của y. Cũng phải cung cấp năng lượng mới cho bệnh nhân, để thay thế điều đã được rút ra. Tiến trình này thiết lập một sự tương tác rõ rệt giữa người chữa lành và bệnh nhân. Vì vậy, có một mối nguy hiểm thực sự nào đó [101] trong công việc chữa lành huyền bí này, và vì lý do đó, những người chữa lành đang được huấn luyện nên ghi nhớ rằng họ sẽ làm việc như một nhóm chứ không phải như những cá nhân. Sự lưu thông tự do của lực tạo ra sức khỏe tốt nơi cá nhân hay nhóm. Sự lưu thông tự do của lực giữa một người chữa lành hay một nhóm chữa lành và người được chữa lành có thể tạo ra sự chữa khỏi bệnh, miễn là đó là số mệnh của người ấy được chữa lành vào thời điểm nhất định nào đó và sự hợp tác của y được trao ra khi có thể, dù điều này thực ra không thật sự thiết yếu. Trong nhiều trường hợp, nó tạo điều kiện cho kết quả nhanh hơn. Trong những trường hợp khác, sự lo âu của bệnh nhân có thể phủ nhận các hiệu quả mong muốn.

2. In radiatory healing, the process is simpler and safer for the healer simply gathers power into himself and then radiates it out on to the patient in the form of a steadily outflowing stream of radiant energy. This stream of energy should be directed to the centre nearest to the location of the disease.

2. Trong chữa lành bằng bức xạ, tiến trình đơn giản hơn và an toàn hơn vì người chữa lành chỉ thu tập quyền năng vào chính mình rồi bức xạ nó ra bệnh nhân dưới hình thức một dòng năng lượng bức xạ tuôn chảy đều đặn. Dòng năng lượng này nên được hướng đến trung tâm gần nhất với vị trí của bệnh.

In this work there is no risk to the healer, but if the element of will enters into his thought or the stream of energy projected is too strong, there may be danger to the patient. The impact of the force which is being radiated upon him may not only produce nervous tension, but may lead to an increase in the power of the disease and its intensification by stimulating the atoms and cells involved in the activity of the force responsible for the trouble. For this reason beginners must avoid any concentration upon the disease itself or the area in the physical body involved and carefully keep all thought in abeyance, once the preliminary work has been done, for energy ever follows thought and goes where the thought is focussed. [102]

Trong công việc này không có nguy cơ cho người chữa lành, nhưng nếu yếu tố ý chí đi vào tư tưởng của y hoặc dòng năng lượng được phóng chiếu quá mạnh, thì có thể có nguy hiểm cho bệnh nhân. Tác động của lực đang được bức xạ lên y không những có thể tạo ra căng thẳng thần kinh, mà còn có thể dẫn đến sự gia tăng quyền năng của bệnh và sự tăng cường của nó bằng cách kích thích các nguyên tử và tế bào liên quan đến hoạt động của lực chịu trách nhiệm về rắc rối ấy. Vì lý do này, những người mới bắt đầu phải tránh bất kỳ sự tập trung nào vào chính căn bệnh hay vào vùng thể xác có liên quan và cẩn thận giữ mọi tư tưởng ở trạng thái đình chỉ, một khi công việc sơ bộ đã được thực hiện, vì năng lượng luôn luôn đi theo tư tưởng và đi đến nơi tư tưởng được tập trung vào. [102]

The healers have to determine the effectiveness of what they are attempting and the potency of their united group work and of the force which they can wield. They have also to discover their ability to keep the will in the background and to send the healing radiance out upon a stream of love-energy. Have ever in mind that love is energy and that it is a substance as real as dense matter. That substance can be used to drive out diseased tissue and provide a healthy substitute in place of the diseased material which has been eliminated.

Những người chữa lành phải xác định hiệu quả của điều họ đang cố gắng thực hiện và tiềm lực của công việc nhóm hợp nhất của họ cũng như của lực mà họ có thể vận dụng. Họ cũng phải khám phá khả năng giữ ý chí ở hậu cảnh và gửi bức xạ chữa lành ra trên một dòng năng lượng tình thương. Hãy luôn ghi nhớ rằng tình thương là năng lượng và rằng nó là một chất liệu cũng thực như vật chất đậm đặc. Chất liệu ấy có thể được dùng để đẩy mô bệnh ra ngoài và cung cấp một sự thay thế lành mạnh thay cho vật chất bệnh đã bị loại bỏ.

They will, therefore, in the first cycle of work, attempt the radiatory method. It is simpler and far more easily mastered. Later, they can experiment with the method of magnetic healing.

Vì vậy, trong chu kỳ công việc đầu tiên, họ sẽ thử phương pháp bức xạ. Nó đơn giản hơn và dễ nắm vững hơn nhiều. Sau này, họ có thể thử nghiệm với phương pháp chữa lành từ tính.

You will now see the purpose of the rules anent the modes of healing which I gave early in this series of instructions. You will realise why, in this radiatory work, the linking process involves the soul, the brain and the entire aura or the magnetic field of individual or group activity. The mind is not mentioned or involved, and the brain acts solely as the focussing point of the love and the healing force to be projected into the stream of energy which issues from the ajna centre.

Bây giờ các bạn sẽ thấy mục đích của các quy luật liên quan đến các phương thức chữa lành mà tôi đã đưa ra sớm hơn trong loạt chỉ dẫn này. Các bạn sẽ nhận ra vì sao, trong công việc bức xạ này, tiến trình nối kết bao gồm linh hồn, bộ não và toàn bộ hào quang hay từ trường của hoạt động cá nhân hoặc nhóm. Trí tuệ không được nhắc đến hay tham dự, và bộ não chỉ hoạt động như điểm tập trung của tình thương và lực chữa lành sẽ được phóng vào dòng năng lượng phát ra từ trung tâm ajna.

The healer will, therefore, keep all the forces focussed in the head, and his attention must be concentrated there also. The heart will be automatically involved, as he will be using the energy of love—at first entirely.

Vì vậy, người chữa lành sẽ giữ mọi lực được tập trung trong đầu, và sự chú ý của y cũng phải được tập trung ở đó. Tim sẽ tự động được bao hàm, vì y sẽ sử dụng năng lượng của tình thương—thoạt đầu hoàn toàn là như vậy.

Let us now tabulate the rules under which all healing groups must work. I would like to interpolate here that it is not always necessary or possible to meet and work together in group formation. This work can be carried forward efficiently and potently, if the members work as a subjective group; each should then follow the instructions each day [103] and as if he were working in his group in tangible form. This real linking is brought about by imagining himself as in the presence of his brothers. If they were to meet as a group upon the physical plane, it would be hard to prevent the dissipation of force through discussion, through the ordinary pleasantries of meeting, and through the physical interplay between personalities. It would be inevitable that there would be too much conversation, and the work done would not be adequately effective. From the physical standpoint, they work alone; from the true inner standpoint, they work in the closest cooperation.

Bây giờ chúng ta hãy lập bảng các quy luật mà mọi nhóm chữa lành phải làm việc theo. Ở đây tôi muốn xen vào rằng không phải lúc nào cũng cần hay có thể gặp nhau và làm việc cùng nhau trong hình thức nhóm. Công việc này có thể được tiến hành hữu hiệu và mạnh mẽ nếu các thành viên làm việc như một nhóm chủ quan; khi đó mỗi người nên làm theo các chỉ dẫn mỗi ngày [103] như thể y đang làm việc trong nhóm của mình dưới hình thức hữu hình. Sự nối kết thực sự này được tạo ra bằng cách hình dung mình đang ở trong sự hiện diện của các huynh đệ của mình. Nếu họ gặp nhau như một nhóm trên cõi hồng trần, sẽ khó ngăn chặn sự làm tiêu tan lực qua thảo luận, qua những xã giao thông thường khi gặp gỡ, và qua sự tương tác thể xác giữa các phàm ngã. Sẽ không tránh khỏi việc có quá nhiều chuyện trò, và công việc được thực hiện sẽ không đủ hiệu quả. Từ quan điểm thể xác, họ làm việc một mình; từ quan điểm nội tại chân thực, họ làm việc trong sự hợp tác mật thiết nhất.

Here are the first rules which I would have the student master:

Đây là những quy luật đầu tiên mà tôi muốn đạo sinh nắm vững:

Preliminary Rules for Radiatory Healing

Các Quy Luật Sơ Bộ cho Chữa Lành bằng Bức Xạ

1. By an act of the will, after making your own quick, conscious alignment, link up as a soul with the souls of your group brothers. Then link up with their minds, and then with their emotional natures. Do this by the use of the imagination, realising that energy follows thought and that the linking process is inevitable, if correctly done. You can then function as a group. Then forget about the group relation and concentrate upon the work to be done.

1. Bằng một hành động của ý chí, sau khi thực hiện sự chỉnh hợp nhanh chóng và có ý thức của riêng bạn, hãy nối kết như một linh hồn với các linh hồn của các huynh đệ trong nhóm của bạn. Sau đó nối kết với trí tuệ của họ, rồi với bản chất cảm xúc của họ. Hãy làm điều này bằng cách sử dụng sự tưởng tượng, nhận ra rằng năng lượng đi theo tư tưởng và rằng tiến trình nối kết là điều tất yếu, nếu được thực hiện đúng. Khi ấy bạn có thể hoạt động như một nhóm. Sau đó hãy quên mối liên hệ nhóm đi và tập trung vào công việc phải làm.

2. Within yourself, then, link soul and brain and gather together the forces of love that are to be found in your aura and focus yourself and all that you have to offer within the head, picturing yourself as a radiant centre of energy or a point of vivid light. This light is to be projected upon the patient through the ajna centre between the eyes.

2. Rồi trong chính bạn, hãy nối kết linh hồn và bộ não và tập hợp các lực tình thương có thể tìm thấy trong hào quang của bạn, rồi tập trung chính bạn và tất cả những gì bạn có thể cống hiến vào trong đầu, hình dung mình như một trung tâm năng lượng bức xạ hay một điểm sáng rực rỡ. Ánh sáng này sẽ được phóng lên bệnh nhân qua trung tâm ajna giữa hai mắt.

3. Then say the following group mantram:

3. Sau đó hãy đọc mantram nhóm sau đây:

“With purity of motive, inspired by a loving heart, we offer ourselves for this work of healing. This offer we make as a group and to the one we seek to heal.”

“Với sự thanh khiết của động cơ, được cảm hứng bởi một trái tim đầy yêu thương, chúng tôi hiến mình cho công việc chữa lành này. Sự hiến dâng này chúng tôi thực hiện như một nhóm và cho người mà chúng tôi tìm cách chữa lành.”

[104]

[104]

As you do this, visualise the linking process going on. See it as moving lines of living light substance, linking you to your brothers on the one hand, and to the patient on the other. See these lines going out from you to the heart centre of the group and to the patient. But work ever from the ajna centre until instructed to do differently. In this way, the ajna centre and the heart centre of all the persons involved will be closely interrelated. You see here where the value of visualisation comes in. It is in reality the etheric externalisation of the creative imagination. Think this last sentence out.

Khi làm điều này, hãy hình dung tiến trình nối kết đang diễn ra. Hãy thấy nó như những đường chuyển động của chất liệu ánh sáng sống động, nối kết bạn với các huynh đệ của bạn ở một phía, và với bệnh nhân ở phía kia. Hãy thấy những đường này đi ra từ bạn đến trung tâm tim của nhóm và đến bệnh nhân. Nhưng hãy luôn làm việc từ trung tâm ajna cho đến khi được chỉ dẫn làm khác đi. Bằng cách này, trung tâm ajna và trung tâm tim của tất cả những người liên hệ sẽ được tương liên chặt chẽ. Ở đây các bạn thấy giá trị của sự hình dung xuất hiện ở đâu. Trên thực tế, đó là sự ngoại hiện dĩ thái của Sự tưởng tượng sáng tạo. Hãy suy nghĩ về câu cuối này.

4. Then use thought, directed thought, for a brief moment and think of the one you seek to heal, linking up with him, and focussing your attention on him so that he becomes a reality in your consciousness and close to you. When you are aware what the physical difficulty is, then simply recall it to your mind and then dismiss it. Forget now the details of the work, such as the group, yourself and the difficulty of the patient, and concentrate upon the type of force you are going to handle, which is, in this case and for the present, second ray force, the force of love. What I am here giving out is an adaptation of the second ray method of healing, arranged for beginners.

4. Sau đó hãy dùng tư tưởng, tư tưởng được hướng dẫn, trong một khoảnh khắc ngắn và nghĩ đến người mà bạn tìm cách chữa lành, nối kết với y, và tập trung sự chú ý của bạn vào y để y trở thành một thực tại trong tâm thức của bạn và ở gần bạn. Khi bạn biết khó khăn thể xác là gì, thì chỉ đơn giản gợi nó lại trong trí bạn rồi gạt nó đi. Bây giờ hãy quên các chi tiết của công việc, như nhóm, chính bạn và khó khăn của bệnh nhân, và tập trung vào loại lực mà bạn sắp xử lý, trong trường hợp này và hiện tại là lực cung hai, lực của tình thương. Điều tôi đang truyền ra ở đây là một sự thích nghi của phương pháp chữa lành cung hai, được sắp xếp cho người mới bắt đầu.

5. Feel a deep love pouring into you. Regard it as substantial light which you can and will manipulate. Then send it out as a stream of radiant light from the ajna centre and direct it through the medium of your hands to the patient. In doing this, hold the hands before the eyes, palms outward and with the hacks of the hands next to the eyes and about six inches away from the face. In this way, the stream which is issuing from the ajna centre, becomes divided into two and pours out through the two hands. It is thus directed on to the patient. Visualise it as pouring out [105] and sense the patient receiving it. As you do this, say aloud in a low voice:

5. Hãy cảm nhận một tình thương sâu sắc đang tuôn vào bạn. Hãy xem nó như ánh sáng có chất liệu mà bạn có thể và sẽ vận dụng. Sau đó hãy gửi nó ra như một dòng ánh sáng bức xạ từ trung tâm ajna và hướng nó qua trung gian của hai bàn tay bạn đến bệnh nhân. Khi làm điều này, hãy giữ hai bàn tay trước mắt, lòng bàn tay hướng ra ngoài và mu bàn tay gần mắt, cách mặt chừng sáu inch. Bằng cách này, dòng phát ra từ trung tâm ajna được chia làm hai và tuôn ra qua hai bàn tay. Như thế nó được hướng đến bệnh nhân. Hãy hình dung nó đang tuôn ra [105] và cảm nhận bệnh nhân đang tiếp nhận nó. Khi làm điều này, hãy nói lớn bằng giọng thấp:

“May the love of the One Soul, focussed in this group, radiate upon you, my brother, and permeate every part of your body—healing, soothing, strengthening; and dissipating all that hinders service and good health.”

“Nguyện tình thương của Linh Hồn Duy Nhất, được tập trung trong nhóm này, bức xạ lên bạn, Huynh đệ của Tôi, và thấm nhuần mọi phần trong thể bạn—chữa lành, xoa dịu, tăng cường; và làm tiêu tan mọi điều cản trở sự phụng sự và sức khỏe tốt.”

Say this slowly and deliberately, believing in the results. See that no thought-power or will-power enters into the stream of healing energy, but only a concentrated radiating love. The use of the visualising faculty and of the creative imagination, plus a sense of deep and steadfast love, will keep the mind and the will in abeyance.

Hãy nói điều này chậm rãi và có chủ ý, tin tưởng vào kết quả. Hãy bảo đảm rằng không có quyền năng tư tưởng hay quyền năng ý chí nào đi vào dòng năng lượng chữa lành, mà chỉ có một tình thương bức xạ được tập trung. Việc sử dụng năng lực hình dung và sự tưởng tượng sáng tạo, cộng với cảm thức về một tình thương sâu sắc và bền vững, sẽ giữ trí tuệ và ý chí ở trạng thái đình chỉ.

I would emphasise the urgent necessity for complete silence and reticence in relation to all healing work. Never let it be known by anyone that you are working in this manner, and never mention to anyone the names of those you are seeking to aid. Do not discuss the patient under treatment even among yourselves. If this basic rule of silence is not kept, it will indicate that you are not yet ready for this work and should discontinue it. This injunction is far more important than you can realise; for speech and discussion not only tend to deflect and dissipate force, but violate a fundamental rule which all healers are trained to keep, and even the medical profession on the physical plane follows the same general procedure.

Tôi muốn nhấn mạnh sự cần thiết khẩn cấp của sự im lặng và kín đáo hoàn toàn liên quan đến mọi công việc chữa lành. Đừng bao giờ để bất kỳ ai biết rằng các bạn đang làm việc theo cách này, và đừng bao giờ nhắc với ai tên của những người mà các bạn đang tìm cách trợ giúp. Đừng bàn luận về bệnh nhân đang được điều trị ngay cả giữa chính các bạn. Nếu quy luật căn bản về sự im lặng này không được giữ, điều đó sẽ cho thấy rằng các bạn chưa sẵn sàng cho công việc này và nên ngưng nó lại. Mệnh lệnh này quan trọng hơn nhiều so với điều các bạn có thể nhận ra; vì lời nói và sự bàn luận không những có khuynh hướng làm lệch hướng và làm tiêu tan lực, mà còn vi phạm một quy luật căn bản mà mọi người chữa lành đều được huấn luyện để giữ, và ngay cả ngành y trên cõi hồng trần cũng tuân theo cùng một thủ tục tổng quát.

Three Major Laws of Health

Ba Định Luật Chính của Sức Khỏe

There are three major laws of health and seven minor laws. These work out in the three worlds, which is all that concerns you at this time. In all teaching to be given in the immediate future, the main emphasis will eventually be laid upon the technique of the etheric body, for that is the next step forward. The three major laws are: [106]

Có ba định luật chính của sức khỏe và bảy định luật phụ. Chúng vận hành trong ba cõi giới, là điều duy nhất liên quan đến các bạn vào lúc này. Trong mọi giáo huấn sẽ được đưa ra trong tương lai gần, trọng tâm chính cuối cùng sẽ được đặt vào kỹ thuật của thể dĩ thái, vì đó là bước tiến kế tiếp. Ba định luật chính là: [106]

1. The law controlling the will to live, a manifestation of the first aspect of the Logos, will or power.

1. Định luật kiểm soát ý chí sống, một biểu lộ của phương diện thứ nhất của Thượng đế, ý chí hay quyền năng.

2. The law controlling equality of rhythm, a manifestation of the second aspect of the Logos, love or wisdom.

2. Định luật kiểm soát sự bình đẳng của nhịp điệu, một biểu lộ của phương diện thứ hai của Thượng đế, bác ái hay minh triết.

3. The law controlling crystallisation, a manifestation of the third aspect of the Logos, the activity or foundational aspect.

3. Định luật kiểm soát sự kết tinh, một biểu lộ của phương diện thứ ba của Thượng đế, hoạt động hay phương diện nền tảng.

These three governing factors or laws manifest themselves through the three major divisions of the human entity.

Ba yếu tố hay định luật chi phối này biểu lộ qua ba phân bộ chính của thực thể con người.

1. The will aspect manifests through the organs of respiration. Another of its expressions is the faculty of sleep. In both of these you have a repetition or an analogy in the microcosm of Logoic manifestation and Logoic pralaya.

1. Phương diện ý chí biểu lộ qua các cơ quan hô hấp. Một biểu hiện khác của nó là năng lực ngủ. Trong cả hai điều này, các bạn có một sự lặp lại hay một sự tương đồng trong tiểu thiên địa của biểu lộ Logoic và của giai kỳ qui nguyên Logoic.

2. The love aspect shows itself through the heart, the circulatory system and the nervous system. This is in many ways most important for you to understand, for it controls paramountly the etheric body and its assimilation of prana or vitality. This prana works through both the blood and the nerves, for the life force uses the blood stream and psychic force works through the nervous system. These two departments of the human organism are those which cause the greatest amount of trouble at this time and will even more in the future. The race learns through suffering, and only dire need drives man to seek solution and relief. From the present standpoint of healing, man forms again a lesser trinity of importance:

2. Phương diện bác ái biểu lộ qua tim, hệ tuần hoàn và hệ thần kinh. Điều này theo nhiều cách là quan trọng nhất để các bạn thấu hiểu, vì nó kiểm soát một cách tối cao thể dĩ thái và sự đồng hóa prana hay sinh lực của nó. Prana này hoạt động qua cả máu lẫn thần kinh, vì sinh lực sử dụng dòng máu và mãnh lực thông linh hoạt động qua hệ thần kinh. Hai bộ phận này của cơ thể con người là những bộ phận gây ra nhiều rắc rối nhất vào lúc này và sẽ còn hơn thế trong tương lai. Nhân loại học qua đau khổ, và chỉ nhu cầu cấp bách mới thúc đẩy con người tìm kiếm giải pháp và sự giải thoát. Từ quan điểm chữa lành hiện nay, con người lại hình thành một tam vị nhỏ hơn nhưng quan trọng:

a. The dense physical body, of which science and medicine know much. [107]

a. Thể xác đậm đặc, điều mà khoa học và y học biết nhiều. [107]

b. The etheric body, which is the next field of endeavour, of experiment and of discovery.

b. Thể dĩ thái, là lĩnh vực nỗ lực, thực nghiệm và khám phá kế tiếp.

c. The astral body which, simultaneously with the etheric, is the next object for scientific control. The science of psychology will work here.

c. Thể cảm dục, cùng lúc với thể dĩ thái, là đối tượng kế tiếp cho sự kiểm soát khoa học. Khoa học tâm lý học sẽ làm việc ở đây.

3. The activity aspect, which manifests primarily through the organs of assimilation and elimination. I seek here to emphasise one point. Just as our solar system is developing the love aspect, which is the second aspect, and just as the human being is polarised in the astral body, which is the reflection of that second aspect, so the second of the three above mentioned departments of the human organism, the etheric, is the one of paramount importance. Up to date it has been the transmitter primarily of astral energy to the physical body. This is now in process of changing.

3. Phương diện hoạt động, biểu lộ chủ yếu qua các cơ quan đồng hóa và bài tiết. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh một điểm. Cũng như hệ mặt trời của chúng ta đang phát triển phương diện bác ái, tức phương diện thứ hai, và cũng như con người được phân cực trong thể cảm dục, vốn là sự phản chiếu của phương diện thứ hai ấy, thì bộ phận thứ hai trong ba bộ phận vừa nêu của cơ thể con người, tức thể dĩ thái, là bộ phận có tầm quan trọng tối cao. Cho đến nay nó chủ yếu là bộ truyền dẫn năng lượng cảm dục đến thể xác. Điều này hiện đang trong tiến trình thay đổi.

The whole trend of medical science should now be awake to the concrete facts of the dense physical body and moving towards the study of vitalisation and circulation, for these two are closely related. The nervous system is controlled principally today from the astral body, via the etheric, and the basis of all nervous trouble lies hidden in the emotional body wherein humanity at this time is polarised. The circulatory system of the physical body is controlled principally from the etheric body. When you have an etheric body that is not functioning properly and does not transmit prana sufficiently, and when you have an astral or emotional body that is not adequately or properly controlled, you have in these two the source of the majority of the diseases and nervous and mental conditions that are annually increasing. The reflex action of inadequate circulation upon the physical brain (again due to the etheric body) leads to mental strain and eventual collapse. From this you can see the importance of the etheric vehicle.

Toàn bộ xu hướng của khoa học y học hiện nay nên thức tỉnh trước các sự kiện cụ thể của thể xác đậm đặc và tiến tới việc nghiên cứu sự tiếp sinh lực và sự tuần hoàn, vì hai điều này có liên hệ chặt chẽ. Hệ thần kinh ngày nay chủ yếu được kiểm soát từ thể cảm dục, qua trung gian thể dĩ thái, và nền tảng của mọi rối loạn thần kinh nằm ẩn trong thể cảm xúc, nơi mà nhân loại hiện đang phân cực. Hệ tuần hoàn của thể xác chủ yếu được kiểm soát từ thể dĩ thái. Khi các bạn có một thể dĩ thái không hoạt động đúng và không truyền đủ prana, và khi các bạn có một thể cảm dục hay cảm xúc không được kiểm soát đầy đủ hay đúng đắn, thì trong hai điều này các bạn có nguồn gốc của phần lớn các bệnh tật và các tình trạng thần kinh và trí tuệ đang gia tăng hằng năm. Tác động phản hồi của sự tuần hoàn không đầy đủ lên bộ não thể xác (lại do thể dĩ thái) dẫn đến căng thẳng trí tuệ và cuối cùng là suy sụp. Từ đó các bạn có thể thấy tầm quan trọng của vận cụ dĩ thái.

[108]

[108]

The first aspect, which has for its expression and field of control the organs of respiration and the faculty of sleep, when not functioning properly, produces death, insanity and some of the diseases of the brain.

Phương diện thứ nhất, có biểu hiện và lĩnh vực kiểm soát là các cơ quan hô hấp và năng lực ngủ, khi không hoạt động đúng sẽ tạo ra cái chết, sự điên loạn và một số bệnh của bộ não.

The third aspect, when not functioning properly, causes stomach troubles, bowel complaints and the various diseases that are located beneath and below the solar plexus in the abdomen.

Phương diện thứ ba, khi không hoạt động đúng, gây ra các rối loạn dạ dày, các bệnh đường ruột và các bệnh khác nằm bên dưới tùng thái dương trong vùng bụng.

You see, therefore, how medical science must eventually seek solution in a simplification of methods and a return from a complexity of drugs and operations to an understanding of the right use of the energies which pour through from the inner man, via the etheric body, to the physical.

Vì vậy, các bạn thấy khoa học y học cuối cùng phải tìm giải pháp trong sự đơn giản hóa các phương pháp và trong sự quay trở lại từ sự phức tạp của thuốc men và phẫu thuật đến sự thấu hiểu việc sử dụng đúng đắn các năng lượng tuôn xuống từ con người bên trong, qua thể dĩ thái, đến thể xác.

The following suggestions may help:

Những gợi ý sau đây có thể hữu ích:

1. By the development of goodwill, which is the will of good intention and motive, will come the healing of diseases of the respiratory tract, lungs and throat, the stabilising of the cells of the brain, the cure of insanities and obsessions, and an attainment of equilibrium and of rhythm. Longevity will ensue, for death should be the recognition by the soul of work consummated and pralaya earned. It will only take place later at long and separated periods, and will be controlled by the will of the man. He will cease to breathe when he has finished his work, and then will send the atoms of his body into pralaya. That is the sleep of the physical, the end of manifestation, and the occult significance of this is not yet comprehended.

1. Qua sự phát triển thiện chí, vốn là ý chí của thiện ý và động cơ đúng đắn, sẽ đến sự chữa lành các bệnh của đường hô hấp, phổi và cổ họng, sự ổn định các tế bào của bộ não, sự chữa trị các chứng điên loạn và ám nhập, và sự đạt được quân bình cùng nhịp điệu. Sự trường thọ sẽ theo sau, vì cái chết phải là sự nhận biết của linh hồn rằng công việc đã hoàn tất và giai kỳ qui nguyên đã được заслуж. Nó sẽ chỉ xảy ra về sau vào những thời kỳ dài và cách biệt, và sẽ được kiểm soát bởi ý chí của con người. Y sẽ ngừng thở khi đã hoàn tất công việc của mình, rồi sẽ gửi các nguyên tử của thể mình vào giai kỳ qui nguyên. Đó là giấc ngủ của thể xác, sự chấm dứt biểu lộ, và ý nghĩa huyền bí của điều này vẫn chưa được thấu hiểu.

2. By a comprehension of the laws of vitality—and in this phrase are comprehended the laws governing prana, radiation and magnetism—will come the healing of the diseases in the blood, of the arteries and veins, of certain nervous complaints, lack of vitality, senile decay, poor circulation and similar ills. This too will result in the [109] prolongation of life. The laws of electrical energy will also be better understood in this connection.

2. Qua sự thấu hiểu các định luật của sinh lực—và trong cụm từ này bao hàm các định luật chi phối prana, bức xạ và từ điện—sẽ đến sự chữa lành các bệnh trong máu, trong động mạch và tĩnh mạch, một số rối loạn thần kinh, sự thiếu sinh lực, sự suy tàn tuổi già, tuần hoàn kém và các bệnh tương tự. Điều này cũng sẽ dẫn đến sự [109] kéo dài đời sống. Các định luật của năng lượng điện cũng sẽ được hiểu rõ hơn trong mối liên hệ này.

3. By the understanding of right methods of assimilation and elimination will come the healing of diseases connected with the bodily tissues, the stomach and bowels and the male and female organs of generation. It will some day be understood that these latter are only another system of assimilation and elimination, centred this time in the feminine aspect or woman, for again remember that this is the second or love system. The order is thus:

3. Qua sự thấu hiểu các phương pháp đúng đắn của đồng hóa và bài tiết sẽ đến sự chữa lành các bệnh liên quan đến các mô cơ thể, dạ dày và ruột, cùng các cơ quan sinh sản nam và nữ. Một ngày nào đó người ta sẽ hiểu rằng các cơ quan sau này chỉ là một hệ thống khác của đồng hóa và bài tiết, lần này tập trung trong phương diện nữ tính hay người nữ, vì một lần nữa hãy nhớ rằng đây là hệ thống thứ hai hay hệ thống bác ái. Trật tự là như sau:

a. The first system was masculine.

a. Hệ thống thứ nhất là nam tính.

b. The present system, the second, is feminine.

b. Hệ thống hiện tại, thứ hai, là nữ tính.

c. The third system will be hermaphroditic.

c. Hệ thống thứ ba sẽ là lưỡng tính.

E’en though the evolving human Hierarchy is masculine or positive, yet that is no guarantee that all that is found in the present system is masculine too. The fact is that the negative faculty or the feminine aspect dominates, even though this may be unrecognised by you. Let me demonstrate and give some indication by figures of this hypothesis:

Dù Huyền Giai con người đang tiến hoá là nam tính hay dương tính, điều đó vẫn không bảo đảm rằng mọi điều được tìm thấy trong hệ thống hiện tại cũng đều là nam tính. Sự thật là năng lực âm hay phương diện nữ tính đang chi phối, dù điều này có thể không được các bạn nhận ra. Hãy để tôi chứng minh và đưa ra một vài chỉ dẫn bằng các con số cho giả thuyết này:

1. In the first solar system there was one dominant evolution, and it consisted of one hundred thousand million monads.

1. Trong hệ mặt trời thứ nhất có một tiến hoá chi phối, và nó gồm một trăm ngàn triệu chân thần.

2. In the present system, the second, there are two dominant evolutions, the human and the deva; there are—as earlier stated—sixty thousand million human monads. Add to this the feminine evolution of the devas, consisting of 140 thousand million, and you have the necessary two hundred thousand million. This elucidates my statement anent this being a feminine system. [110]

2. Trong hệ thống hiện tại, thứ hai, có hai tiến hoá chi phối, nhân loại và thiên thần; có—như đã nói trước đây—sáu mươi ngàn triệu chân thần nhân loại. Cộng thêm vào đó tiến hoá nữ tính của thiên thần, gồm một trăm bốn mươi ngàn triệu, và các bạn có đủ hai trăm ngàn triệu cần thiết. Điều này làm sáng tỏ phát biểu của tôi về việc đây là một hệ thống nữ tính. [110]

3. In the third solar system, the total number in evolution will be the needed three hundred thousand million that perfection requires of the threefold Logos.

3. Trong hệ mặt trời thứ ba, tổng số đang tiến hoá sẽ là ba trăm ngàn triệu cần thiết mà sự toàn hảo đòi hỏi nơi Thượng đế tam phân.

Our discussion has necessarily been sketchy for all that I am here attempting to do is to give indications as to the lines along which the new art of healing must eventually run, and to give certain hints which will point the way to the cause of the prevalent diseases, and so enable the wise to negate effects. This brevity and this system of imparting knowledge through the medium of hints is essentially occult, and will be the only mode of dealing with this relatively dangerous subject until such time as a sound medical, surgical and neurological training of a technical nature is combined with an equally sound psychological understanding, plus a measure of spiritual vision. The ideal physician and surgeon is the man who is also a metaphysician; to the lack of this combination much of the present difficulty and confusion can be ascribed. The metaphysical header today is so engrossed by that which is not the body that he is far less useful to the sick, diseased and damaged human being than is the practical physician. The average metaphysician, no matter by what label he calls himself, has a closed mind; he overemphasises the divine possibilities to the exclusion of the material or physical probabilities. Complete spiritual healing will be divinely possible ultimately; but this is not materially possible at certain given moments in time and space and with people at widely differing points on the ladder of evolution. Right timing and a sound knowledge of the working of the Law of Karma, plus a large measure of intuitive perception, are essential to the high art of spiritual healing. To this must be added the knowledge that the form nature and the physical [111] body are not essentially the major considerations or of the vast importance that some may think.

Cuộc bàn luận của chúng ta tất yếu chỉ có tính phác thảo, vì tất cả những gì tôi đang cố gắng làm ở đây là đưa ra những chỉ dẫn về các đường hướng mà nghệ thuật chữa bệnh mới rốt cuộc phải đi theo, và nêu ra một số gợi ý sẽ chỉ đường đến nguyên nhân của những bệnh tật phổ biến, nhờ đó giúp người minh triết vô hiệu hóa các hậu quả. Sự vắn tắt này và hệ thống truyền đạt tri thức qua phương tiện các gợi ý về bản chất là huyền bí học, và sẽ là phương thức duy nhất để đề cập đến chủ đề tương đối nguy hiểm này cho đến khi nào một sự đào luyện y khoa, giải phẫu và thần kinh học vững chắc về mặt kỹ thuật được kết hợp với một sự thấu hiểu tâm lý học cũng vững chắc không kém, cộng thêm một mức độ linh thị tinh thần. Vị thầy thuốc và nhà giải phẫu lý tưởng là người đồng thời cũng là một nhà siêu hình học; phần lớn khó khăn và hỗn loạn hiện nay có thể quy về sự thiếu vắng sự kết hợp này. Nhà chữa trị siêu hình ngày nay quá mải mê với điều không phải là thể xác đến nỗi y kém hữu ích cho con người đau yếu, bệnh hoạn và tổn thương hơn nhiều so với vị thầy thuốc thực tiễn. Nhà siêu hình học trung bình, bất kể y tự gọi mình bằng nhãn hiệu nào, đều có một trí tuệ khép kín; y nhấn mạnh quá mức các khả năng thiêng liêng đến mức loại trừ các xác suất vật chất hay hồng trần. Sự chữa lành tinh thần hoàn toàn rốt cuộc sẽ có thể thực hiện được một cách thiêng liêng; nhưng về mặt vật chất, điều đó không thể có ở những thời điểm nhất định trong thời gian và không gian, và với những người ở những điểm tiến hoá rất khác nhau trên chiếc thang tiến hoá. Đúng thời điểm và một tri thức vững chắc về sự vận hành của Định luật Karma, cộng với một mức độ lớn về linh thị trực giác, là điều thiết yếu đối với nghệ thuật cao cả của sự chữa lành tinh thần. Cần phải thêm vào đó tri thức rằng bản chất hình tướng và thể [111] xác hồng trần về căn bản không phải là những điều cân nhắc chủ yếu hay có tầm quan trọng to lớn như một số người có thể nghĩ.

Various cultists and healers usually take the position that it is of major importance that the physical vehicle be rendered free from disease and clutched away from the processes of death. It might, however, be desirable (and it often is) that the disease be permitted to do its work and death open the door to the escape of the soul from imprisonment. The time comes inevitably to all incarnated beings when the soul demands liberation from the body and from form life, and nature has her own wise ways of doing this. Disease and death must be recognised as liberating factors when they come as the result of right timing by the soul. It must be realised by students that the physical form is an aggregate of atoms, built into organisms and finally into a coherent body, and that this body is held together by the will of the soul. Withdraw that will onto its own plane or (as it is occultly expressed) “let the soul’s eye turn in another direction” and, in this present cycle, disease and death will inevitably supervene. This is not mental error, or failure to recognise divinity, or succumbing to evil. It is, in reality, the resolution of the form nature into its component parts and basic essence. Disease is essentially an aspect of death. It is the process by which the material nature and the substantial form prepares itself for separation from the soul.

Nhiều người theo giáo phái và các nhà chữa bệnh thường giữ lập trường rằng điều cực kỳ quan trọng là vận cụ hồng trần phải được làm cho thoát khỏi bệnh tật và được giật khỏi các tiến trình của cái chết. Tuy nhiên, có thể điều đáng mong muốn (và thường đúng là như vậy) là để cho bệnh tật được phép làm công việc của nó và để cái chết mở cánh cửa cho linh hồn thoát khỏi sự giam cầm. Thời điểm ấy tất yếu đến với mọi hữu thể đang lâm phàm khi linh hồn đòi được giải thoát khỏi thể xác và khỏi đời sống hình tướng, và bản chất có những cách thức minh triết riêng của nó để thực hiện điều này. Bệnh tật và cái chết phải được nhìn nhận như những yếu tố giải thoát khi chúng đến như kết quả của đúng thời điểm do linh hồn định ra. Các đạo sinh phải chứng ngộ rằng hình thể hồng trần là một tập hợp các nguyên tử, được xây dựng thành các cơ quan và cuối cùng thành một thể xác cố kết, và thể xác này được giữ lại với nhau bởi ý chí của linh hồn. Hãy rút ý chí đó về cõi riêng của nó hoặc (như được diễn tả một cách huyền bí) “hãy để mắt của linh hồn quay sang một hướng khác”, và trong chu kỳ hiện tại này, bệnh tật và cái chết tất yếu sẽ xảy đến. Đây không phải là sai lầm trí tuệ, hay không nhận ra thiên tính, hay khuất phục trước điều ác. Thực ra, đó là sự phân giải bản chất hình tướng thành các thành phần cấu tạo và tinh chất căn bản của nó. Bệnh tật về bản chất là một phương diện của cái chết. Đó là tiến trình mà qua đó bản chất vật chất và hình tướng chất liệu tự chuẩn bị cho sự tách rời khỏi linh hồn.

It must be borne in mind however that where there is illness or discomfort or disease which is not related to the final dissolution, the causes thereof are to be found in many factors; they can be found in the surroundings, for a number of diseases are environmental and epidemic; in the tuning in of the individual to streams of poison emanating from world hate, or from psychological complexes with some of which we have already dealt, and in the diseases [112] (if I might so call them) which are indigenous to the matter of which humanity has chosen to construct its physical vehicle, isolating it and separating it from the general substance of manifestation, and thus creating a type of matter which is consecrated to the task of forming the outer expression of the inward reality. This constitutes, therefore, a unique and peculiar aspect of the universal substance, perfected to a certain point in the last solar system and of a necessarily higher order than the substance which vibrates creatively to the call of the three subhuman kingdoms in nature.

Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng ở đâu có đau ốm hay khó chịu hay bệnh tật không liên hệ đến sự tan rã cuối cùng, thì nguyên nhân của chúng phải được tìm thấy trong nhiều yếu tố; chúng có thể được tìm thấy trong môi trường xung quanh, vì một số bệnh là do môi trường và có tính dịch tễ; trong sự chỉnh hợp của cá nhân với các luồng độc tố phát ra từ lòng thù hận của thế giới, hoặc từ các phức cảm tâm lý mà một số trong đó chúng ta đã bàn đến, và trong các bệnh [112] (nếu tôi có thể gọi như vậy) vốn là bản địa của chính vật chất mà nhân loại đã chọn để cấu tạo nên vận cụ hồng trần của mình, cô lập nó và tách nó ra khỏi chất liệu chung của biểu hiện, và như thế tạo ra một loại vật chất được thánh hiến cho nhiệm vụ hình thành biểu hiện bên ngoài của thực tại bên trong. Vì vậy, điều này cấu thành một phương diện độc nhất và đặc thù của chất liệu vũ trụ, đã được hoàn thiện đến một mức độ nào đó trong hệ mặt trời trước và tất yếu thuộc một trật tự cao hơn chất liệu rung động một cách sáng tạo trước tiếng gọi của ba giới dưới nhân loại trong bản chất.

The Causes of Disease Summarised

Các Nguyên Nhân của Bệnh Tật Tóm Lược

In every occult consideration of disease it must be accepted as a basic proposition that all disease is a result of the misuse of force in some earlier life or in this. This is fundamental. In connection with this I would remind you of some statements I have earlier made on this matter.

Trong mọi sự xem xét huyền bí học về bệnh tật, phải chấp nhận như một mệnh đề căn bản rằng mọi bệnh tật đều là kết quả của việc sử dụng sai mãnh lực trong một kiếp sống trước hay trong kiếp này. Đây là điều nền tảng. Liên quan đến điều này, tôi muốn nhắc bạn nhớ đến một số phát biểu mà trước đây tôi đã đưa ra về vấn đề này.

1. Ninety per cent of the causes of disease are to be found in the etheric and astral bodies. Wrong use of mental energy and misapplied desire are paramount factors, yet with the bulk of humanity still in the Atlantean stages of consciousness, only five per cent of the prevalent diseases are due to mental causes. The percentage varies with the development of the race and its evolution. Disease is therefore the working out into manifestation of undesirable, subjective conditions—vital, emotional and mental.

1. Chín mươi phần trăm nguyên nhân của bệnh tật được tìm thấy trong thể dĩ thái và thể cảm dục. Việc sử dụng sai năng lượng trí tuệ và dục vọng bị áp dụng sai là những yếu tố tối quan trọng, tuy nhiên với phần lớn nhân loại vẫn còn ở các giai đoạn tâm thức Atlantis, chỉ có năm phần trăm các bệnh phổ biến là do nguyên nhân trí tuệ. Tỷ lệ phần trăm thay đổi theo sự phát triển của nhân loại và sự tiến hoá của nó. Vì vậy, bệnh tật là sự biểu lộ ra ngoài của những trạng thái chủ quan không mong muốn—sinh lực, cảm xúc và trí tuệ.

2. Everything concerning the health of man can be approached from three angles:

2. Mọi điều liên quan đến sức khỏe của con người có thể được tiếp cận từ ba góc độ:

a. That of the personality life…of this we are learning much. [113]

a. Góc độ của đời sống phàm ngã…về điều này chúng ta đang học hỏi được nhiều. [113]

b. That of humanity as a whole..this is beginning to be appreciated.

b. Góc độ của toàn thể nhân loại…điều này đang bắt đầu được đánh giá.

c. That of the planetary life….of this we can know little.

c. Góc độ của sự sống hành tinh….về điều này chúng ta có thể biết rất ít.

3. All disease is caused by lack of harmony between form and life, between soul and personality; this lack of harmony runs through all the kingdoms in nature.

3. Mọi bệnh tật đều do sự thiếu hài hòa giữa hình tướng và sự sống, giữa linh hồn và phàm ngã; sự thiếu hài hòa này xuyên suốt mọi giới trong bản chất.

4. The bulk of diseases are of:

4. Phần lớn bệnh tật là:

a. Group origin.

a. Có nguồn gốc nhóm.

b. The result of infection.

b. Kết quả của sự lây nhiễm.

c. Malnutrition, physically, subjectively and occultly understood.

c. Suy dinh dưỡng, được hiểu theo nghĩa hồng trần, chủ quan và huyền bí học.

5. Diseases for the masses, for the average citizen, for the intelligentsia and for disciples differ widely and have differing fields of expression.

5. Bệnh tật của quần chúng, của công dân trung bình, của giới trí thức và của các đệ tử khác nhau rất xa và có những lĩnh vực biểu hiện khác nhau.

a. The three major groups of diseases for the first two classes are:

a. Ba nhóm bệnh chính đối với hai hạng đầu là:

Tuberculosis.

Bệnh lao.

The social diseases.

Các bệnh xã hội.

Cancer.

Ung thư.

b. The two major diseases for the intelligentsia and for disciples are:

b. Hai bệnh chính đối với giới trí thức và các đệ tử là:

Heart complaints.

Bệnh tim.

Nervous diseases.

Các bệnh thần kinh.

6. Disease is a fact in nature. When this is accepted, men will begin to work with the Law of Liberation, with right thought, leading to right attitudes and orientation, and with the principle of nonresistance. Of this nonresistance, the overpowering willingness to die which is so frequently a characteristic of the final stage immediately preceding death is the lowest manifestation. It is nonresistance which psychologically governs coma. [114]

6. Bệnh tật là một sự kiện trong bản chất. Khi điều này được chấp nhận, những người nam và nữ sẽ bắt đầu làm việc với Định luật Giải Thoát, với tư tưởng đúng đắn dẫn đến thái độ và định hướng đúng đắn, và với nguyên lý không kháng cự. Về sự không kháng cự này, sự sẵn lòng áp đảo muốn chết vốn thường là đặc điểm của giai đoạn cuối ngay trước cái chết là biểu hiện thấp nhất. Chính sự không kháng cự này chi phối trạng thái hôn mê về mặt tâm lý. [114]

7. The Law of Cause and Effect, or of Karma, governs all disease. This embraces individual, group, national and total human karma.

7. Định luật Nhân Quả, hay Karma, chi phối mọi bệnh tật. Điều này bao gồm karma cá nhân, nhóm, quốc gia và toàn thể nhân loại.

If you will pause at this point and review what I have re-stated, and if you will reread and reflect upon the four Laws and the four Rules you will possess the needed groundwork upon which to proceed with our future studies, beginning with the diseases incident to the life of discipleship. Some of this I have already dealt with in the second volume of A Treatise on the Seven Rays (pages 520-625). There the approach was largely from the angle of the mystic, whereas I am here going to touch upon the problems of the accepted disciple.

Nếu bạn dừng lại ở điểm này và ôn lại điều tôi đã tái khẳng định, và nếu bạn đọc lại và suy ngẫm về bốn Định luật và bốn quy luật, bạn sẽ có được nền tảng cần thiết để tiếp tục các nghiên cứu tương lai của chúng ta, bắt đầu với những bệnh tật gắn liền với đời sống địa vị đệ tử. Một phần điều này tôi đã bàn đến trong tập hai của Luận về Bảy Cung (trang 520-625). Ở đó cách tiếp cận phần lớn là từ góc độ của nhà thần bí, trong khi ở đây tôi sẽ đề cập đến các vấn đề của người đệ tử được chấp nhận.

4. DISEASES DUE TO THE LIFE OF DISCIPLESHIP4. NHỮNG BỆNH TẬT DO ĐỜI SỐNG ĐỊA VỊ ĐỆ TỬ

Earlier I told you that disease originated in the four following causes:

Trước đây tôi đã nói với bạn rằng bệnh tật phát sinh từ bốn nguyên nhân sau đây:

1. It is the result of blocking the free life of the soul.

1. Nó là kết quả của việc ngăn chặn sự sống tự do của linh hồn.

2. It is caused by three influences or sources of contamination:

2. Nó do ba ảnh hưởng hay nguồn ô nhiễm gây ra:

a. Ancient mistakes, so-called sins and errors of the individual concerned, committed in this life or another earlier incarnation.

a. Những sai lầm cổ xưa, những cái gọi là tội lỗi và lỗi lầm của cá nhân liên hệ, đã phạm trong kiếp này hay một lần nhập thể trước đó.

b. Human taints and predispositions, inherited in common with all the rest of humanity.

b. Những ô nhiễm và khuynh hướng di truyền của nhân loại, được thừa hưởng chung với toàn thể phần còn lại của nhân loại.

c. Planetary evil, incident to the point achieved by the planetary Logos and conditioned by planetary Karma.

c. Điều ác hành tinh, gắn liền với điểm đã đạt được bởi Hành Tinh Thượng đế và bị karma hành tinh tác động.

3. It is conditioned by the forces emanating from the plane upon which the man’s consciousness is primarily focussed. [115]

3. Nó bị tác động bởi các mãnh lực phát ra từ cõi mà trên đó tâm thức của con người chủ yếu được tập trung. [115]

4. The five major types of disease, with their allied and subsidiary effects, can and do produce results where the disciple is concerned; he is not immune until after the third initiation.

4. Năm loại bệnh chính, cùng với các hậu quả liên đới và phụ thuộc của chúng, có thể và thực sự tạo ra kết quả nơi người đệ tử; y không được miễn nhiễm cho đến sau lần điểm đạo thứ ba.

A. The Diseases of Mystics.

A. Những Bệnh Tật của Các Nhà Thần Bí.

However, the disciple is seldom tubercular (except when karmically conditioned), nor is he prone to succumb to the social diseases except as they may affect him physically through his sacrificial life of service. Contagion can affect him but not seriously so. Cancer may claim him as a victim, but he is more liable to succumb to heart complaints and to nervous trouble of some kind or another. The straight mystic succumbs more to purely psychological situations connected with the integrated personality, and therefore incident to his being focussed largely on the astral plane. The disciple is more prone to mental difficulties and to those complaints which are concerned with energy and are due to fusion—either completed or in process—of soul and personality.

Tuy nhiên, người đệ tử hiếm khi mắc bệnh lao (trừ khi bị karma tác động), và y cũng không dễ khuất phục trước các bệnh xã hội ngoại trừ khi chúng có thể ảnh hưởng đến y về mặt hồng trần qua đời sống phụng sự hi sinh của y. Sự lây nhiễm có thể ảnh hưởng đến y nhưng không nghiêm trọng lắm. Ung thư có thể biến y thành nạn nhân, nhưng y dễ khuất phục hơn trước các bệnh tim và một loại rối loạn thần kinh nào đó. Nhà thần bí thuần túy khuất phục nhiều hơn trước các tình huống hoàn toàn tâm lý liên hệ với phàm ngã tích hợp, và vì vậy gắn liền với việc y chủ yếu tập trung trên cõi cảm dục. Người đệ tử dễ mắc hơn các khó khăn trí tuệ và những bệnh liên quan đến năng lượng và do sự dung hợp—hoặc đã hoàn tất hoặc đang trong tiến trình—giữa linh hồn và phàm ngã.

The first cause which I listed earlier in this treatise was summed up in the statement that disease is the result of the blocking of the free life and the inpouring energy of the soul. This blockage is brought about by the mystic when he succumbs to his own thoughtforms, created constantly in response to his mounting aspiration. These become barriers between him and the free life of the soul and block his contact and the consequent resulting inflow of soul energy.

Nguyên nhân thứ nhất mà trước đây tôi đã liệt kê trong bộ luận này được tóm lại trong phát biểu rằng bệnh tật là kết quả của việc ngăn chặn sự sống tự do và năng lượng tuôn đổ vào của linh hồn. Sự ngăn chặn này do nhà thần bí tạo ra khi y khuất phục trước các hình tư tưởng của chính mình, được tạo ra liên tục để đáp ứng với khát vọng ngày càng tăng của y. Chúng trở thành những rào cản giữa y và sự sống tự do của linh hồn và ngăn chặn sự tiếp xúc của y cùng dòng năng lượng linh hồn tuôn vào do đó mà có.

The disciple reverses the entire situation and falls a victim (prior to the third initiation) to the terrific inflow of soul energy—the energy of the second aspect—coming to him from: [116]

Người đệ tử đảo ngược toàn bộ tình thế và trở thành nạn nhân (trước lần điểm đạo thứ ba) của dòng năng lượng linh hồn tuôn vào mãnh liệt—năng lượng của phương diện thứ hai—đến với y từ: [116]

a. His own soul, with which centre of energy fusion is rapidly taking place.

a. Chính linh hồn của y, trung tâm năng lượng mà với nó sự dung hợp đang diễn ra nhanh chóng.

b. His group or the Ashram with which he, as an accepted disciple, is affiliated.

b. Nhóm của y hay ashram mà với nó y, với tư cách một đệ tử được chấp nhận, có liên hệ.

c. His Master, with Whom he has spiritual relation and to Whose vibratory influence he is ever susceptible.

c. Chân sư của y, với Ngài y có liên hệ tinh thần và với ảnh hưởng rung động của Ngài y luôn luôn nhạy cảm.

d. The Hierarchy, the energy of which can reach him through the medium of all the three above factors.

d. Thánh Đoàn, năng lượng của Thánh Đoàn có thể đến với y qua trung gian của cả ba yếu tố trên.

All these streams of energy have a definite effect upon the centres of the disciple, according to his ray and his specific polarisation in this incarnation. As each centre is related to one or other of the glands, and these in their turn condition the blood stream, and also have a specific effect upon the organic structure within the range of their vibratory influence (i.e. the stomach, close to the solar plexus, and the heart, close to the heart centre, etc.), you will see how it is possible that the major diseases from which a disciple can suffer (which are unique and confined primarily to advanced humanity) will be the result of overstimulation or the inflow of energy to one particular centre, producing excessive and localised trouble.

Tất cả các dòng năng lượng này đều có một tác động xác định lên các trung tâm của người đệ tử, tùy theo cung của y và sự phân cực đặc thù của y trong lần nhập thể này. Vì mỗi trung tâm liên hệ với một tuyến nội tiết nào đó, và các tuyến này đến lượt chúng tác động lên dòng máu, đồng thời cũng có một ảnh hưởng đặc thù lên cấu trúc cơ quan trong phạm vi ảnh hưởng rung động của chúng (tức là dạ dày, gần tùng thái dương, và tim, gần trung tâm tim, v.v.), bạn sẽ thấy làm sao có thể xảy ra việc những bệnh chính mà một người đệ tử có thể mắc phải (vốn là đặc thù và chủ yếu giới hạn trong nhân loại tiến bộ) sẽ là kết quả của sự kích thích quá mức hoặc của dòng năng lượng tuôn vào một trung tâm đặc biệt nào đó, tạo ra rối loạn quá mức và cục bộ.

To these conditions the mystic is not so prone unless he is rapidly becoming the practical mystic or occultist. This is a definite transitional cycle between the mystical attitude and that more definite position which the occultist assumes. I shall not therefore deal with the diseases to which mystics fall heir, except that I would like to point out one interesting fact: The mystic is ever conscious of duality. He is the seeker in search of light, of the soul, of the beloved, of that higher something which he senses as existing and as that which can be found. He strives after recognition of and by the divine: he is the follower of the [117] vision, a disciple of the Christ, and this conditions his thinking and his aspiration. He is a devotee and one who loves the apparently unattainable—the Other than himself.

Nhà thần bí không dễ mắc những trạng thái này như vậy, trừ khi y đang nhanh chóng trở thành nhà thần bí thực tiễn hay nhà huyền bí học. Đây là một chu kỳ chuyển tiếp xác định giữa thái độ thần bí và lập trường xác định hơn mà nhà huyền bí học đảm nhận. Vì vậy, tôi sẽ không bàn đến những bệnh mà các nhà thần bí thừa hưởng, ngoại trừ việc tôi muốn chỉ ra một sự kiện thú vị: Nhà thần bí luôn luôn ý thức về nhị nguyên tính. Y là người tìm kiếm đang đi tìm ánh sáng, linh hồn, đấng yêu dấu, cái gì đó cao hơn mà y cảm nhận là hiện hữu và là điều có thể tìm thấy. Y phấn đấu để được nhận biết và được cái thiêng liêng nhận biết: y là người theo đuổi [117] linh ảnh, một đệ tử của Đức Christ, và điều này tác động lên tư tưởng và khát vọng của y. Y là một người sùng tín và là người yêu mến cái dường như không thể đạt tới—Cái Khác hơn chính y.

Only when he becomes the occultist does the mystic learn that all the time the magnet which attracted him, and the dualism which coloured his life and thoughts and which gave motive to all he sought to do, was his true self, that one Reality. He recognises then that assimilation into and identification with that one reality enables duality to be transmuted into unity and the sense of search to be transformed into the effort to become what he essentially is—a Son of God, one with all Sons of God. Having accomplished that, he finds himself one with the ONE in Whom we live and move and have our being.

Chỉ khi trở thành nhà huyền bí học, nhà thần bí mới học được rằng suốt mọi thời gian nam châm đã thu hút y, và tính nhị nguyên đã nhuốm màu đời sống và tư tưởng của y và đã tạo động cơ cho mọi điều y tìm cách làm, chính là chân ngã thật sự của y, thực tại duy nhất ấy. Khi đó y nhận ra rằng sự đồng hóa vào và sự đồng nhất với thực tại duy nhất ấy khiến nhị nguyên tính được chuyển hoá thành hợp nhất và cảm thức tìm kiếm được chuyển đổi thành nỗ lực trở thành điều mà về bản chất y vốn là—một Con của Thượng đế, một với tất cả các Con của Thượng đế. Khi đã hoàn thành điều đó, y thấy mình là một với Đấng Duy Nhất, trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.

Next, I would point out that the lowest expression of the mystical condition, and one with which we are becoming increasingly familiar, is that which is called a “split personality”; when this condition is present, the personal lower self expresses itself through a basic condition of duality and two persons express themselves, apparently, instead of the integrated personality-soul. This necessarily creates a dangerous psychological condition and one which warrants trained scientific handling. That is largely lacking at this time, as so few trained psychologists and psychiatrists recognise the fact of the soul. I mention this as it is of value today, and will be increasingly so in the later years when it will be necessary to trace and comprehend the analogies existing in the human consciousness to great unexplored areas of awareness. The split personality and the mystic are two aspects of one whole—the aspect which is right, and along the line of high spiritual unfoldment, and the aspect which is a reflection and a distortion of that grade of development which precedes that of trained occultist. There are many conditions prevalent in humanity [118] at this time which can be subjected to the same reasoning, and one of the modes of healing which will be worked out later is the discovery of the higher correspondences to the lower difficulties and diseases, and the recognition that they are but distortions of a great reality. This leads to the transference of the attention of the one under the care of the healer to that recognised higher aspect.

Tiếp theo, tôi muốn chỉ ra rằng biểu hiện thấp nhất của trạng thái thần bí, và là điều mà chúng ta đang ngày càng quen thuộc hơn, là cái được gọi là “nhân cách phân liệt”; khi trạng thái này hiện diện, phàm ngã thấp cá nhân tự biểu lộ qua một trạng thái căn bản của nhị nguyên tính và hai con người biểu lộ ra, dường như vậy, thay vì phàm ngã-linh hồn tích hợp. Điều này tất yếu tạo ra một trạng thái tâm lý nguy hiểm và là điều cần được xử lý bằng khoa học được đào luyện. Điều đó phần lớn đang thiếu vào lúc này, vì quá ít nhà tâm lý học và bác sĩ tâm thần được đào luyện thừa nhận sự kiện về linh hồn. Tôi nêu điều này vì nó có giá trị ngày nay, và sẽ ngày càng có giá trị hơn trong những năm sau khi cần phải truy tìm và thấu hiểu các tương đồng hiện hữu trong tâm thức con người với những lĩnh vực nhận biết rộng lớn chưa được khám phá. Nhân cách phân liệt và nhà thần bí là hai phương diện của một toàn thể—phương diện đúng đắn, và theo đường hướng của sự khai mở tinh thần cao, và phương diện là sự phản chiếu và bóp méo của cấp độ phát triển đi trước cấp độ của nhà huyền bí học được đào luyện. Có nhiều trạng thái phổ biến trong nhân loại [118] vào lúc này có thể được đặt dưới cùng một lối lý luận, và một trong những phương thức chữa lành sẽ được triển khai về sau là khám phá ra các tương ứng cao hơn đối với những khó khăn và bệnh tật thấp hơn, và nhận ra rằng chúng chỉ là những sự bóp méo của một thực tại vĩ đại. Điều này dẫn đến việc chuyển sự chú ý của người đang được nhà chữa bệnh chăm sóc sang phương diện cao hơn đã được nhận biết ấy.

The whole Science of Integration is involved in this matter. This science, if properly understood, will open up an entirely new field of psychological approach to disease, whether physiological or nervous. A small beginning has already been made along this line by spiritually minded psychologists and educators. The system of helping people psychologically is definitely along these new lines, and might be expressed as follows: the average psychologist employs the method (when dealing with nervous cases, with those on the borderland, and with neurotically inclined people) of discovering the deep-seated complexes, the scars, the ancient shocks or the fears which lie behind the experience of the present and which have made the man what he is today. These conditioning factors can usually be traced back to the subconscious by the process of unearthing the past, of taking into consideration the present environment, of reckoning with heredity, and of studying the effects of education—either academic or based upon life itself. Then the factor which has been a major handicap, and which has turned the man into a psychological problem, is brought (with his assistance, if possible) to the surface of his consciousness, is then intelligently explained and related to the existing condition, and the man is consequently brought to an understanding of his personality, its problems and its impending opportunity.

Toàn bộ Khoa Học Tích Hợp đều liên quan đến vấn đề này. Khoa học này, nếu được thấu hiểu đúng đắn, sẽ mở ra một lĩnh vực hoàn toàn mới của cách tiếp cận tâm lý học đối với bệnh tật, dù là sinh lý hay thần kinh. Một khởi đầu nhỏ đã được thực hiện theo đường hướng này bởi các nhà tâm lý học và các nhà giáo dục có tinh thần. Hệ thống giúp đỡ con người về mặt tâm lý rõ ràng đang đi theo những đường hướng mới này, và có thể được diễn tả như sau: nhà tâm lý học trung bình sử dụng phương pháp (khi xử lý các trường hợp thần kinh, những người ở ranh giới, và những người có khuynh hướng loạn thần kinh) là khám phá các phức cảm ăn sâu, các vết sẹo, các cú sốc xưa cũ hay các nỗi sợ nằm phía sau kinh nghiệm hiện tại và đã làm cho con người trở thành như ngày nay. Những yếu tố tác động này thường có thể được truy ngược về tiềm thức bằng tiến trình khai quật quá khứ, xét đến môi trường hiện tại, tính đến di truyền, và nghiên cứu các ảnh hưởng của giáo dục—dù là học thuật hay dựa trên chính đời sống. Sau đó yếu tố từng là một trở ngại chính, và đã biến con người thành một vấn đề tâm lý, được đưa lên bề mặt tâm thức của y (với sự trợ giúp của chính y, nếu có thể), rồi được giải thích một cách thông minh và liên hệ với tình trạng hiện hữu, và do đó con người được dẫn đến sự thấu hiểu phàm ngã của mình, các vấn đề của nó và cơ hội sắp đến của nó.

The spiritual technique, however, is entirely different. The personality problem and the process of delving into [119] the subconscious are ignored, because the conditions which are undesirable are regarded as the result of lack of soul contact and of soul control. The patient (if I might so call him) is taught to take his eyes, and consequently his attention, away from himself, his feelings, his complexes and his fixed ideas and undesirable thoughts, and to focus them upon the soul, the divine Reality within the form, and the Christ consciousness. This could well be called the process of scientific substitution of a fresh dynamic interest for that which has hitherto held the stage; it brings into functioning activity a cooperative factor whose energy sweeps through the lower life of the personality and carries away wrong psychological tendencies, undesirable complexes, leading to erroneous approaches to life. This eventually regenerates the mental or thought life, so that the man is conditioned by right thinking under the impulse or the illumination of the soul. This produces the “dynamic expulsive power of a new affection”; the old idées fixes, the old depressions and miseries, the hindering and handicapping ancient desires—these all disappear, and the man stands free as a soul and master of his life processes.

Tuy nhiên, kỹ thuật tinh thần thì hoàn toàn khác. Vấn đề phàm ngã và tiến trình đào sâu vào [119] tiềm thức bị bỏ qua, vì các trạng thái không mong muốn được xem là kết quả của sự thiếu tiếp xúc với linh hồn và thiếu sự kiểm soát của linh hồn. Bệnh nhân (nếu tôi có thể gọi y như vậy) được dạy phải rời mắt mình, và do đó rời sự chú ý của mình, khỏi chính mình, khỏi các cảm xúc, các phức cảm và các ý tưởng cố chấp cùng những tư tưởng không mong muốn của mình, và tập trung chúng vào linh hồn, thực tại thiêng liêng bên trong hình tướng, và tâm thức Christ. Điều này hoàn toàn có thể được gọi là tiến trình thay thế một cách khoa học một mối quan tâm năng động mới cho điều từ trước đến nay đã chiếm sân khấu; nó đưa vào hoạt động chức năng một yếu tố hợp tác mà năng lượng của nó quét qua đời sống thấp của phàm ngã và cuốn đi những khuynh hướng tâm lý sai lầm, những phức cảm không mong muốn, dẫn đến những cách tiếp cận sai lầm đối với đời sống. Điều này cuối cùng tái sinh đời sống trí tuệ hay đời sống tư tưởng, để con người được tác động bởi tư tưởng đúng đắn dưới xung lực hay sự soi sáng của linh hồn. Điều này tạo ra “quyền năng xua đuổi năng động của một tình cảm mới”; những ý niệm cố chấp cũ, những nỗi u uất và khổ sở cũ, những dục vọng xưa cũ cản trở và làm tê liệt—tất cả những điều này đều biến mất, và con người đứng tự do như một linh hồn và là chủ nhân của các tiến trình đời sống của mình.

I have discussed these two conditions at length because it is essential that another law anent healing be understood before we proceed any further. The discussion about the split personality, the problems of the mystic and the new mode of approach to disease (from the soul angle and the realm of causes, instead of from the personality angle and the realm of effects) can clarify this law in your minds and indicate at least its reasonableness and its valuable application to human need.

Tôi đã bàn dài về hai trạng thái này vì điều thiết yếu là phải hiểu thêm một định luật liên quan đến chữa lành trước khi chúng ta đi xa hơn nữa. Cuộc thảo luận về nhân cách phân liệt, các vấn đề của nhà thần bí và phương thức mới để tiếp cận bệnh tật (từ góc độ linh hồn và lĩnh vực nguyên nhân, thay vì từ góc độ phàm ngã và lĩnh vực hậu quả) có thể làm sáng tỏ định luật này trong trí bạn và ít nhất chỉ ra tính hợp lý của nó cùng sự áp dụng có giá trị của nó đối với nhu cầu của con người.

LAW IV

ĐỊNH LUẬT IV

Disease, both physical and psychological, has its roots in the good, the beautiful and the true. It is but a distorted [120] refection of divine possibilities. The thwarted soul, seeking full expression of some divine characteristic or inner spiritual reality, produces within the substance of its sheaths a point of friction. Upon this point the eyes of the personality are focussed, and this leads to disease.

Bệnh tật, cả hồng trần lẫn tâm lý, đều có gốc rễ trong điều thiện, điều mỹ và điều chân. Nó chỉ là một sự phản [120] chiếu méo mó của các khả năng thiêng liêng. Linh hồn bị ngăn trở, tìm cách biểu lộ trọn vẹn một đặc tính thiêng liêng nào đó hay một thực tại tinh thần nội tại nào đó, tạo ra trong chất liệu của các thể bọc của nó một điểm ma sát. Trên điểm này mắt của phàm ngã tập trung vào, và điều này dẫn đến bệnh tật.

The art of the healer is concerned with the lifting of the downward focussed eyes unto the soul, the Healer within the form. The spiritual or third eye then directs the healing force, and all is well.

Nghệ thuật của nhà chữa bệnh liên quan đến việc nâng đôi mắt đang hướng xuống ấy lên linh hồn, Đấng Chữa Lành bên trong hình tướng. Khi đó con mắt tinh thần hay con mắt thứ ba sẽ hướng dẫn mãnh lực chữa lành, và mọi sự đều tốt đẹp.

B. Diseases of Disciples.

B. Những Bệnh Tật của Các Đệ Tử.

We will divide what we have to say anent the diseases of disciples into two parts: the specific problems of all disciples, and the difficulties incident to soul contact.

Chúng ta sẽ chia điều phải nói liên quan đến những bệnh tật của các đệ tử thành hai phần: những vấn đề đặc thù của mọi đệ tử, và những khó khăn gắn liền với sự tiếp xúc linh hồn.

We need here to remember that all disciples are susceptible to the major categories of disease. They are attempting to be one with all humanity, and this includes, therefore, all the ills to which flesh is heir. They may not, however, succumb to the frailties of the ordinary man, and should remember that diseases of the heart and of the nerves constitute their major problem. In this connection it might be pointed out that the disciples are found in two major groups: Those who live above the diaphragm and who are, therefore, prone to heart diseases, to thyroid and throat troubles, and those who are in process of transferring the energies of the centres below the diaphragm into the centres above the diaphragm. Most of these at this time are transferring solar plexus energies into the heart, and the world agony is profoundly hastening the process. Stomachic, liver and respiratory troubles accompany this transference.

Ở đây chúng ta cần nhớ rằng mọi đệ tử đều dễ bị các loại bệnh chính tác động. Họ đang cố gắng trở thành một với toàn thể nhân loại, và vì vậy điều này bao gồm mọi bệnh tật mà xác thịt phải thừa hưởng. Tuy nhiên, họ có thể không khuất phục trước những yếu đuối của con người bình thường, và nên nhớ rằng các bệnh về tim và thần kinh cấu thành vấn đề chính của họ. Liên quan đến điều này, có thể chỉ ra rằng các đệ tử được tìm thấy trong hai nhóm chính: những người sống phía trên cơ hoành và vì vậy dễ mắc bệnh tim, các rối loạn tuyến giáp và cổ họng, và những người đang trong tiến trình chuyển các năng lượng của các trung tâm dưới cơ hoành lên các trung tâm trên cơ hoành. Phần lớn những người này hiện nay đang chuyển các năng lượng của tùng thái dương vào tim, và nỗi thống khổ của thế giới đang thúc đẩy tiến trình ấy một cách sâu sắc. Các rối loạn dạ dày, gan và hô hấp đi kèm với sự chuyển dịch này.

1. The Specific Problems of Disciples.

1. Những Vấn Đề Đặc Thù của Các Đệ Tử.

These special problems are, as you know, peculiar to those who have lifted themselves in consciousness out of the life of the personality into that of the soul. They [121] are primarily related to energy, its inflow, its assimilation or non-assimilation, and its rightly directed use. The other ills to which all flesh is heir at this time in human evolution (for it must be remembered that diseases vary according to the point in evolution and are also cyclic in their appearance), and to which disciples can and do succumb, are not dealt with here; suffice it to say that the three major diseases of humanity to which reference has been made take their toll of disciples, particularly in bringing about the liberation of the soul from its vehicle. They are, however—little as it may appear—controlled in these cases from soul levels, and the departure is planned to take place as a result of soul decision, and not as a result of the efficiency of the disease. The reason that these three major diseases, indigenous to the planetary life in which we live and move and have our being, have this power over disciples is that disciples are themselves an integral part of the planetary life, and in the earlier stages of their recognition of this unity they are prone to fall a ready prey to the disease. This is a fact little known or realised, but explains why disciples and advanced people are susceptible to these diseases.

Những vấn đề đặc biệt này, như bạn biết, là đặc thù đối với những người đã nâng mình trong tâm thức ra khỏi đời sống của phàm ngã để đi vào đời sống của linh hồn. Chúng [121] chủ yếu liên hệ đến năng lượng, sự tuôn vào của nó, sự đồng hóa hay không đồng hóa nó, và việc sử dụng nó được hướng dẫn đúng đắn. Những bệnh khác mà mọi xác thịt hiện nay trong tiến trình tiến hoá của con người đều phải thừa hưởng (vì cần nhớ rằng bệnh tật thay đổi tùy theo điểm tiến hoá và cũng có tính chu kỳ trong sự xuất hiện của chúng), và những bệnh mà các đệ tử có thể và thực sự khuất phục, không được bàn đến ở đây; chỉ cần nói rằng ba bệnh chính của nhân loại đã được nhắc đến cũng lấy đi phần cống nạp của các đệ tử, đặc biệt trong việc đem lại sự giải thoát của linh hồn khỏi vận cụ của nó. Tuy nhiên—dù có vẻ ít như thế nào đi nữa—trong những trường hợp này chúng được kiểm soát từ các cấp độ linh hồn, và sự ra đi được hoạch định diễn ra như kết quả của quyết định của linh hồn, chứ không phải như kết quả của hiệu lực của bệnh tật. Lý do khiến ba bệnh chính này, vốn bản địa của đời sống hành tinh trong đó chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu, có quyền lực này đối với các đệ tử là vì chính các đệ tử là một phần không thể tách rời của đời sống hành tinh, và trong các giai đoạn đầu của sự nhận biết của họ về tính hợp nhất này, họ dễ trở thành con mồi sẵn có của bệnh tật. Đây là một sự kiện ít được biết đến hay chứng nghiệm, nhưng nó giải thích vì sao các đệ tử và những người tiến bộ lại dễ mắc các bệnh này.

We could divide these problems into four categories:

Chúng ta có thể chia những vấn đề này thành bốn loại:

1. Those which are connected with the blood or with the life aspect, for “the blood is the life.” These have specific effect upon the heart, but usually of a functional nature only. Organic disease of the heart arises in more deeply seated causes.

1. Những vấn đề liên hệ với máu hay với phương diện sự sống, vì “máu là sự sống.” Chúng có ảnh hưởng đặc thù lên tim, nhưng thường chỉ có tính chức năng. Bệnh tim thực thể phát sinh từ những nguyên nhân ăn sâu hơn.

2. Those which are a direct effect of energy, playing upon and through the nervous system, via the directing brain.

2. Những vấn đề là hậu quả trực tiếp của năng lượng, tác động lên và xuyên qua hệ thần kinh, qua trung gian của bộ não chỉ đạo.

3. Those which are related to the respiratory system and have an occult source.

3. Những vấn đề liên hệ với hệ hô hấp và có một nguồn gốc huyền bí học.

4. Those which are specifically due to the receptivity or the non-receptivity, to the functioning or the non-functioning, [122] and to the influence of the centre. Necessarily, these fall into seven groups, affecting seven major areas of the body. For the average disciple, before there is complete soul control and monadic direction, the major directing agent, via the brain, is the vagus nerve, along which the energies (entering via the head centre) are distributed to the rest of the body. A definite science of the centres and their relation to kundalini has been built up by a certain powerful esoteric school in the orient. It has in it much truth, but also much error.

4. Những vấn đề đặc biệt do tính tiếp nhận hay không tiếp nhận, do sự hoạt động hay không hoạt động, [122] và do ảnh hưởng của trung tâm. Tất yếu, chúng rơi vào bảy nhóm, ảnh hưởng đến bảy khu vực chính của thể. Đối với người đệ tử trung bình, trước khi có sự kiểm soát hoàn toàn của linh hồn và sự chỉ đạo của chân thần, tác nhân chỉ đạo chính, qua trung gian bộ não, là dây thần kinh phế vị, dọc theo đó các năng lượng (đi vào qua trung tâm đầu) được phân phối đến phần còn lại của thể. Một khoa học xác định về các trung tâm và mối liên hệ của chúng với kundalini đã được xây dựng bởi một trường phái huyền bí học quyền lực nào đó ở phương Đông. Trong đó có nhiều chân lý, nhưng cũng có nhiều sai lầm.

I have differentiated between problems and physical reactions and disease because the inflow, distribution and direction of energy do not necessarily produce disease. Always, however, during the novitiate which precedes all the initiations, they do produce difficulties and problems of some kind or another, either within the consciousness of the disciple or in his relation to those around him. Hence his environment is affected, and consequently his own reciprocal action.

Tôi đã phân biệt giữa các vấn đề và các phản ứng hồng trần cùng bệnh tật vì sự tuôn vào, phân phối và định hướng năng lượng không nhất thiết tạo ra bệnh tật. Tuy nhiên, trong suốt thời kỳ tập sự đi trước mọi lần điểm đạo, chúng luôn luôn tạo ra những khó khăn và vấn đề thuộc loại này hay loại khác, hoặc trong tâm thức của người đệ tử hoặc trong mối liên hệ của y với những người xung quanh. Vì thế môi trường của y bị ảnh hưởng, và do đó chính phản ứng tương hỗ của y cũng vậy.

It should be remembered in this connection that all disciples are energy centres in the body of humanity and are in process of becoming points of focussed, directed energy. Their function and activity always and inevitably produce effects, results, awakenings, disruptions and reorientations in the lives of those around them. In the early stages, they produce this unconsciously, and hence frequently the results on those they contact is not desirable, nor is the energy wisely directed, deflected or retained. Intelligent intent must lie behind all wise direction of energy. Later, when they are learning consciously to be and are becoming radiatory centres of healing force, consciously directed, this informing and then transmitted energy is more constructively employed along both psychological and physical lines. Nevertheless, in any case, the disciple becomes [123] an effective influence and can never be what is esoterically called “unnoticed in his place and minus impact on other souls.” His influence, emanation and forceful energy inevitably produce problems and difficulties for him; these are based on the human relations which he has karmically established and the reactions of those he contacts, either for good or for ill.

Cần nhớ trong mối liên hệ này rằng mọi đệ tử đều là những trung tâm năng lượng trong thể của nhân loại và đang trong tiến trình trở thành những điểm năng lượng tập trung, được định hướng. Chức năng và hoạt động của họ luôn luôn và tất yếu tạo ra các hiệu quả, kết quả, sự thức tỉnh, sự phá vỡ và sự tái định hướng trong đời sống của những người xung quanh họ. Trong các giai đoạn đầu, họ tạo ra điều này một cách vô thức, và vì vậy thường các kết quả nơi những người họ tiếp xúc không đáng mong muốn, và năng lượng cũng không được định hướng, chuyển hướng hay giữ lại một cách minh triết. Ý định thông minh phải nằm phía sau mọi sự định hướng năng lượng minh triết. Về sau, khi họ đang học một cách hữu thức để hiện hữu và đang trở thành những trung tâm bức xạ của mãnh lực chữa lành, được định hướng một cách hữu thức, thì năng lượng thấm nhuần rồi được truyền đi này được sử dụng một cách xây dựng hơn theo cả đường hướng tâm lý lẫn hồng trần. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, người đệ tử trở thành [123] một ảnh hưởng hữu hiệu và không bao giờ có thể là điều được gọi một cách huyền bí là “không bị nhận thấy ở vị trí của mình và không gây tác động lên các linh hồn khác.” Ảnh hưởng, phát xạ và năng lượng mãnh liệt của y tất yếu tạo ra các vấn đề và khó khăn cho y; những điều này dựa trên các quan hệ con người mà y đã thiết lập theo karma và các phản ứng của những người y tiếp xúc, hoặc tốt hoặc xấu.

Essentially the influence of a disciple of the Great White Lodge is fundamentally good and spiritually conditioning; superficially and in its outer effects—particularly where the disciple is concerned—difficult situations, apparent cleavages and the emergence of faults as well as virtues upon the part of those affected make their appearance, and often persist for many lives, until the person thus influenced becomes what is called “occultly reconciled to the emanating energy.” Ponder on this. The adjustment has to come from the side of those influenced, and not from the disciple.

Về bản chất, ảnh hưởng của một đệ tử của Thánh đoàn về căn bản là tốt lành và tác động theo hướng tinh thần; trên bề mặt và trong các hiệu quả bên ngoài—đặc biệt nơi người đệ tử—những tình huống khó khăn, những chia rẽ bề ngoài và sự xuất hiện của các lỗi lầm cũng như các đức tính nơi những người bị ảnh hưởng sẽ lộ ra, và thường kéo dài qua nhiều kiếp sống, cho đến khi người bị ảnh hưởng như vậy trở thành điều được gọi là “được hòa giải một cách huyền bí với năng lượng phát xạ.” Hãy suy ngẫm về điều này. Sự điều chỉnh phải đến từ phía những người bị ảnh hưởng, chứ không phải từ phía người đệ tử.

Let us now consider the four problems from the psychological angle, not the physical:

Bây giờ chúng ta hãy xem xét bốn vấn đề này từ góc độ tâm lý, chứ không phải hồng trần:

a. The problems arising from the awakened heart centre of the disciple are perhaps the commonest and frequently some of the most difficult to handle. These problems are based on living relationships and the interplay of the energy of love with the forces of desire. In the early stages, this inflowing love-force establishes personality contacts which veer between the stages of wild devotion and utmost hate on the part of the person affected by the disciple’s energy. This produces constant turmoil in the disciple’s life, until he has become adjusted to the effects of his energy distribution, and also frequent disruption of relationships and frequent reconciliations. When the disciple is of sufficient importance to become the organising centre of a group, or is in a position to begin to form, esoterically, his own ashram (prior to taking some of the major initiations), [124] then the difficulty can be very real and most disturbing. There is, however, little that can be done by the disciple, except to attempt to regulate the outgoing energy of love. The problem remains fundamentally that of the one affected; the adjustments, as I have remarked above, have to be made from the other side, with the disciple standing ready to cooperate at the first indication of a willingness to recognise relationship and intention to cooperate in group service. This is a point which both parties—the disciple and the person reacting to his influence—need to consider. The disciple stands ready; the responsive party usually withdraws or approaches according to the urge of his soul or of his personality—probably the latter in the early stages. Eventually, however, he stands with the disciple in full cooperative understanding, and the trying time of difficulty is ended.

a. Những vấn đề phát sinh từ trung tâm tim đã thức tỉnh của người đệ tử có lẽ là phổ biến nhất và thường là một số vấn đề khó xử lý nhất. Những vấn đề này dựa trên các mối liên hệ sống động và sự tương tác của năng lượng bác ái với các mãnh lực của dục vọng. Trong các giai đoạn đầu, mãnh lực bác ái tuôn vào này thiết lập những tiếp xúc phàm ngã dao động giữa các giai đoạn sùng tín cuồng nhiệt và thù ghét tột độ nơi người bị ảnh hưởng bởi năng lượng của người đệ tử. Điều này tạo ra sự xáo trộn liên tục trong đời sống của người đệ tử, cho đến khi y đã chỉnh hợp với các hiệu quả của sự phân phối năng lượng của mình, và cũng tạo ra sự đổ vỡ thường xuyên của các mối liên hệ cùng những sự hòa giải thường xuyên. Khi người đệ tử đủ quan trọng để trở thành trung tâm tổ chức của một nhóm, hoặc ở vào vị trí bắt đầu hình thành, một cách huyền bí, ashram riêng của mình (trước khi nhận một số lần điểm đạo lớn), [124] thì khó khăn có thể rất thực và cực kỳ xáo trộn. Tuy nhiên, người đệ tử có thể làm được rất ít, ngoại trừ cố gắng điều hòa năng lượng bác ái phát ra. Vấn đề về căn bản vẫn là của người bị ảnh hưởng; như tôi đã nhận xét ở trên, các sự điều chỉnh phải được thực hiện từ phía bên kia, với người đệ tử đứng sẵn sàng hợp tác ngay khi có dấu hiệu đầu tiên của thiện chí thừa nhận mối liên hệ và ý định hợp tác trong phụng sự nhóm. Đây là một điểm mà cả hai bên—người đệ tử và người phản ứng với ảnh hưởng của y—đều cần xem xét. Người đệ tử đứng sẵn sàng; phía đáp ứng thường rút lui hoặc tiến đến tùy theo thúc đẩy của linh hồn hay của phàm ngã của mình—có lẽ là cái sau trong các giai đoạn đầu. Tuy nhiên, cuối cùng y đứng cùng người đệ tử trong sự thấu hiểu hợp tác trọn vẹn, và thời kỳ thử thách khó khăn chấm dứt.

It is not possible for me to enter into explicit detail in considering these problems connected with the heart and the life energy of the disciple. They are conditioned by his ray, the initiation for which he is being prepared, and the quality, evolutionary status and the ray of those affected.

Tôi không thể đi vào chi tiết minh bạch khi xem xét những vấn đề này liên hệ với tim và năng lượng sự sống của người đệ tử. Chúng bị tác động bởi cung của y, lần điểm đạo mà y đang được chuẩn bị, và phẩm tính, tình trạng tiến hoá cùng cung của những người bị ảnh hưởng.

There are also difficulties and problems of a more subtle nature arising from the same cause, but not localised in certain definite human relationships. A disciple serves; he writes and speaks; his words and influence permeate into the masses of men, arousing them to activity of some kind—often good and spiritual, sometimes evil, antagonistic and dangerous. He has therefore to deal not only with his own reactions to the work he is doing, but also, in a general and specific sense, to deal with the masses whom he is beginning to affect. This is not an easy thing to do, particularly for an inexperienced worker with the Plan. He fluctuates between the mental plane, where he normally [125] attempts to function, and the astral plane, where the masses of men are focussed, and this brings him into the realm of glamour and consequent danger. He goes out in consciousness towards those he seeks to help, but it is sometimes as a soul (and then he frequently overstimulates his hearers), and sometimes as a personality (and then he feeds and enhances their personality reactions).

Cũng có những khó khăn và vấn đề thuộc bản chất tinh tế hơn phát sinh từ cùng nguyên nhân, nhưng không khu trú trong những mối liên hệ con người xác định nào. Một người đệ tử phụng sự; y viết và nói; lời nói và ảnh hưởng của y thấm vào quần chúng, khơi dậy nơi họ một loại hoạt động nào đó—thường là tốt và tinh thần, đôi khi là xấu, đối kháng và nguy hiểm. Vì vậy y không chỉ phải xử lý các phản ứng của chính mình đối với công việc mình đang làm, mà còn, theo nghĩa chung và riêng, phải xử lý quần chúng mà y đang bắt đầu ảnh hưởng. Đây không phải là điều dễ làm, đặc biệt đối với một người hoạt động thiếu kinh nghiệm với Thiên Cơ. Y dao động giữa cõi trí, nơi y bình thường [125] cố gắng hoạt động, và cõi cảm dục, nơi quần chúng tập trung, và điều này đưa y vào lĩnh vực của ảo cảm và do đó là nguy hiểm. Y vươn ra trong tâm thức đến những người y tìm cách giúp đỡ, nhưng đôi khi là như một linh hồn (và khi đó y thường kích thích quá mức những người nghe mình), và đôi khi là như một phàm ngã (và khi đó y nuôi dưỡng và làm tăng cường các phản ứng phàm ngã của họ).

As time goes on he learns—through the difficulties brought about by the necessary heart approach—to stand firm at the centre, sending forth the note, giving his message, distributing directed love energy, and influencing those around him, but he remains impersonal, a directing agency only and an understanding soul. This impersonality (which can be defined as a withdrawing of personality energy) produces its own problems, as all disciples well know; there is nothing, however, that they can do about it but wait for time to lead the other person forward into clear understanding of the significance and esoteric meaning of right human relations. The problem of workers with individuals and with groups is basically connected with the energy of the heart and with the vivifying force of its embodied life. In connection with this problem and its reactions upon the disciple, certain definite physical difficulties are apt to occur, and with these I will shortly deal.

Theo thời gian y học được—qua những khó khăn do cách tiếp cận bằng tim tất yếu gây ra—cách đứng vững ở trung tâm, phát ra chủ âm, trao thông điệp của mình, phân phối năng lượng bác ái được định hướng, và ảnh hưởng đến những người xung quanh, nhưng y vẫn vô ngã, chỉ là một tác nhân định hướng và một linh hồn thấu hiểu. Tính vô ngã này (có thể được định nghĩa là sự rút năng lượng phàm ngã lại) tạo ra những vấn đề riêng của nó, như mọi đệ tử đều biết rõ; tuy nhiên, họ không thể làm gì về điều đó ngoài việc chờ thời gian dẫn người kia tiến tới sự thấu hiểu rõ ràng về thâm nghĩa và ý nghĩa huyền bí của các quan hệ con người đúng đắn. Vấn đề của những người hoạt động với cá nhân và với nhóm về căn bản liên hệ với năng lượng của tim và với mãnh lực tiếp sinh lực của sự sống được thể hiện của nó. Liên quan đến vấn đề này và các phản ứng của nó lên người đệ tử, một số khó khăn hồng trần xác định dễ xảy ra, và tôi sẽ sớm bàn đến chúng.

It should also be pointed out that difficulties of rhythm are apt to occur, and problems connected with the cyclic life of the disciple. The heart and the blood are esoterically related, and symbolically define the pulsating life of the soul which demonstrates upon the physical plane in the outgoing and the withdrawing dual life of discipleship, each phase of which presents its own problems. Once a disciple has mastered the rhythm of his outer and inner life, and has organised his reactions so that he extracts the utmost meaning from them but is not conditioned by them, he then [126] enters upon the relatively simple life of the initiate. Does that phrase astonish you? You need to remember that the initiate has freed himself, after the second initiation, from the complexities of emotional and astral control. Glamour can no longer overpower him. He can stand with steadfastness in spite of all that he may do and feel. He realises that the cyclic condition is related to the pairs of opposites and is part of the life manifestation of existence itself. In the process of learning this, he passes through great difficulties. He, as a soul, subjects himself to a life of outgoing, of magnetic influence and of extroversion. He may follow this immediately with a life of withdrawal, of apparent lack of interest in his relationships and environment, and with an intense introspective, introverted expression. Between these two extremes he may flounder distressingly—sometimes for many lives—until he learns to fuse and blend the two expressions. Then the dual life of the accepted disciple, in its various grades and stages, becomes clear to him; he knows what he is doing. Constantly and systematically, both outgoing and withdrawing, serving in the world and living the life of reflection, play their useful part.

Cũng cần chỉ ra rằng những khó khăn về nhịp điệu dễ xảy ra, và những vấn đề liên hệ với đời sống chu kỳ của người đệ tử. Tim và máu liên hệ với nhau một cách huyền bí, và tượng trưng xác định cho sự sống rung động của linh hồn, vốn biểu lộ trên cõi hồng trần trong đời sống nhị nguyên của địa vị đệ tử gồm sự hướng ngoại và sự rút lui, mỗi giai đoạn đều trình bày những vấn đề riêng của nó. Một khi người đệ tử đã làm chủ được nhịp điệu của đời sống bên ngoài và bên trong của mình, và đã tổ chức các phản ứng của mình sao cho y rút ra được ý nghĩa tối đa từ chúng nhưng không bị chúng tác động, thì khi đó y [126] bước vào đời sống tương đối đơn giản của điểm đạo đồ. Cụm từ đó có làm bạn ngạc nhiên không? Bạn cần nhớ rằng điểm đạo đồ, sau lần điểm đạo thứ hai, đã giải thoát mình khỏi những phức tạp của sự kiểm soát cảm xúc và cảm dục. Ảo cảm không còn có thể áp đảo y nữa. Y có thể đứng vững vàng bất chấp mọi điều y có thể làm và cảm thấy. Y nhận ra rằng trạng thái chu kỳ liên hệ với các cặp đối đãi và là một phần của chính biểu hiện sự sống của hiện hữu. Trong tiến trình học điều này, y trải qua những khó khăn lớn. Y, với tư cách một linh hồn, tự đặt mình vào một đời sống hướng ngoại, ảnh hưởng từ tính và biểu lộ hướng ngoại. Ngay sau đó y có thể theo bằng một đời sống rút lui, dường như thiếu quan tâm đến các mối liên hệ và môi trường của mình, và với một biểu hiện nội quan, hướng nội mãnh liệt. Giữa hai cực đoan này y có thể chao đảo một cách đau đớn—đôi khi trong nhiều kiếp sống—cho đến khi y học được cách dung hợp và hòa trộn hai biểu hiện ấy. Khi đó đời sống nhị nguyên của người đệ tử được chấp nhận, trong các cấp độ và giai đoạn khác nhau của nó, trở nên rõ ràng đối với y; y biết mình đang làm gì. Một cách liên tục và có hệ thống, cả sự hướng ngoại lẫn sự rút lui, phụng sự trong thế giới và sống đời sống chiêm ngưỡng, đều đóng vai trò hữu ích của chúng.

Many psychological difficulties arise whilst this process is being mastered, leading to psychological cleavages, both deep-seated and superficial. The goal of all development is integration—integration as a personality, integration with the soul, integration into the Hierarchy, integration with the Whole, until complete unity and identification has been achieved. In order to master this science of integration whose basic goal is identity with the One Reality, the disciple progresses from one unification to another, making mistakes, arriving often at complete discouragement, identifying himself with that which is undesirable until, as soul-personality, he repudiates the earlier relationships; he pays [127] the penalty again and again of misplaced fervour, distorted aspiration, the overpowering effect of glamour, and the many conditions of psychological and physical disarrangement which must arise whilst cleavages are being healed, right identification achieved and correct orientation established.

Nhiều khó khăn tâm lý phát sinh trong khi tiến trình này đang được làm chủ, dẫn đến những phân rẽ tâm lý, cả sâu xa lẫn bề mặt. Mục tiêu của mọi phát triển là sự tích hợp—tích hợp như một phàm ngã, tích hợp với linh hồn, tích hợp vào Thánh Đoàn, tích hợp với Toàn Thể, cho đến khi đạt được sự hợp nhất và đồng nhất hoàn toàn. Để làm chủ khoa học tích hợp này mà mục tiêu căn bản là bản sắc với thực tại Duy Nhất, người đệ tử tiến từ sự hợp nhất này sang sự hợp nhất khác, phạm sai lầm, thường đi đến chỗ hoàn toàn nản lòng, đồng hóa mình với điều không mong muốn cho đến khi, như linh hồn-phàm ngã, y từ bỏ các mối liên hệ trước kia; y phải trả [127] giá hết lần này đến lần khác cho nhiệt tâm đặt sai chỗ, khát vọng méo mó, ảnh hưởng áp đảo của ảo cảm, và nhiều trạng thái rối loạn tâm lý và hồng trần tất yếu phát sinh trong khi các phân rẽ đang được chữa lành, sự đồng nhất đúng đắn được đạt tới và định hướng đúng đắn được thiết lập.

Whilst this basic, inescapable and necessary process is taking place, a definite work is going forward in the etheric body. The disciple is learning to lift the energies, gathered from the lower centres, into the solar plexus and from that centre into the heart centre, thus bringing about a re-focussing of the energies above the diaphragm instead of putting the emphasis below. This leads frequently to profound complications, because—from the personality angle—the solar plexus centre is the most potent, being the clearing house for the personality forces. It is that process of decentralisation and “elevation” of the lower consciousness to the higher which produces the main difficulties to which the disciple is subjected. It is this process also which is going on in the world as a whole today, causing the appalling disruption of human affairs, culture, and civilisation. The entire focus of humanity’s consciousness is being changed; the selfish life (characteristic of the man centred in his desires and consequently in the solar plexus centre) is giving place to the decentralised life of the man who is unselfish (centred in the Self or soul), aware of his relationships and responsibility to the Whole and not to the part. This sublimation of the lower life into the higher is one of deepest moment to the individual and to the race. Once the individual disciple, and humanity as well, symbolising the world disciple, have mastered the process of transference in this respect, we shall see the new order of individual service and of world service established, and therefore the coming in of the awaited new order.

Trong khi tiến trình căn bản, không thể tránh và cần thiết này đang diễn ra, một công việc xác định đang tiến hành trong thể dĩ thái. Người đệ tử đang học cách nâng các năng lượng, được tập hợp từ các trung tâm thấp, lên tùng thái dương và từ trung tâm đó lên trung tâm tim, nhờ đó tạo ra một sự tái tập trung các năng lượng phía trên cơ hoành thay vì đặt trọng tâm ở phía dưới. Điều này thường dẫn đến những biến chứng sâu sắc, bởi vì—từ góc độ phàm ngã—trung tâm tùng thái dương là mạnh nhất, là trạm thanh toán cho các mãnh lực phàm ngã. Chính tiến trình phi tập trung vào bản thân và “nâng cao” tâm thức thấp lên cao hơn này tạo ra những khó khăn chính mà người đệ tử phải chịu. Chính tiến trình này cũng đang diễn ra trong toàn thế giới ngày nay, gây ra sự phá vỡ khủng khiếp của các công việc nhân loại, văn hóa và văn minh. Toàn bộ tiêu điểm của tâm thức nhân loại đang được thay đổi; đời sống ích kỷ (đặc trưng của con người tập trung trong các dục vọng của mình và do đó trong trung tâm tùng thái dương) đang nhường chỗ cho đời sống phi tập trung vào bản thân của con người vô ngã (tập trung trong Bản Ngã hay linh hồn), ý thức về các mối liên hệ và trách nhiệm của mình đối với Toàn Thể chứ không phải đối với bộ phận. Sự thăng hoa đời sống thấp vào đời sống cao này là điều có ý nghĩa sâu xa nhất đối với cá nhân và đối với nhân loại. Một khi người đệ tử cá nhân, và cả nhân loại nữa, tượng trưng cho người đệ tử thế giới, đã làm chủ được tiến trình chuyển dịch theo phương diện này, chúng ta sẽ thấy trật tự mới của phụng sự cá nhân và phụng sự thế giới được thiết lập, và do đó sự xuất hiện của trật tự mới được mong đợi.

[128]

[128]

Of all these processes, the circulation of the blood stream is the symbol, and the clue to the establishment of the world order lies hid in this symbology—free circulation of all that is needed to all parts of the great framework of humanity. The blood is the life, and free interchange, free sharing, free circulation of all that is required for right human living will characterise the world to be. Today these conditions do not exist, the body of humanity is diseased and its internal life disrupted. Instead of free circulation between all parts of the life aspect, there has been separation, blocked channels, congestion and stagnation. It has needed the terrific crisis of the present to arouse humanity to its diseased condition, to the extent of the evil which is now discovered to be so great, and the diseases of the “blood of humanity” (symbolically understood) so severe that only the most drastic measures—pain, agony, despair and terror—can suffice to establish a cure.

Trong tất cả các tiến trình này, sự tuần hoàn của dòng máu là biểu tượng, và đầu mối cho việc thiết lập trật tự thế giới nằm ẩn trong biểu tượng học này—sự lưu thông tự do của mọi điều cần thiết đến mọi phần của bộ khung lớn lao của nhân loại. Máu là sự sống, và sự trao đổi tự do, chia sẻ tự do, lưu thông tự do của mọi điều cần thiết cho đời sống con người đúng đắn sẽ là đặc trưng của thế giới tương lai. Ngày nay những điều kiện này không tồn tại, thể của nhân loại đang bệnh hoạn và đời sống nội tại của nó bị phá vỡ. Thay vì sự lưu thông tự do giữa mọi phần của phương diện sự sống, đã có sự phân ly, các kênh bị bế tắc, sự tắc nghẽn và đình trệ. Cuộc khủng hoảng khủng khiếp của hiện tại đã cần đến để đánh thức nhân loại về tình trạng bệnh hoạn của mình, về mức độ của điều ác nay được phát hiện là quá lớn, và những bệnh tật của “máu của nhân loại” (được hiểu theo nghĩa biểu tượng) nghiêm trọng đến mức chỉ những biện pháp quyết liệt nhất—đau đớn, thống khổ, tuyệt vọng và kinh hoàng—mới có thể đủ để thiết lập một sự chữa lành.

Healers would do well to remember this, and to have in mind that disciples and all good men and aspirants share in this universal disease of humanity which must take its toll psychologically or physically or both. The trouble is of ancient origin and of long established habit and inevitably affects the physical vehicle of the soul. Exemption from the effects of human ills is no indication of spiritual superiority. It might simply indicate what one of the Masters has called “the depths of spiritual selfishness and self-satisfaction.” The initiate of the third degree can hold himself exempt, but this is only because he has completely freed himself from glamour and no aspect of the personality life has any further power over him. All the ray types are equally subjected to these particular problems. The seventh ray, however, is more susceptible to the problems, difficulties and diseases incident to the blood stream than are any of the other ray types. The reason is that this is the ray which has [129] to do with the expression and manifestation of life upon the physical plane and with the organisation of the relationship between spirit and matter into form. It is concerned therefore today, as it seeks to create the new order, with free circulation and with a consequently intended freedom of humanity from the ills and problems of the past. This is of interest to remember, and students would find it helpful at this time, if they want to cooperate intelligently with the happenings of the day, to collect and study all that I have written about the seventh ray of ceremonial order and magic.

Các nhà trị liệu nên ghi nhớ điều này, và nên nhớ rằng các đệ tử cùng tất cả những người thiện lành và những người chí nguyện đều chia sẻ căn bệnh phổ quát này của nhân loại, căn bệnh phải đòi cái giá của nó về mặt tâm lý hoặc thể xác hoặc cả hai. Rắc rối này có nguồn gốc xa xưa và là một thói quen đã được thiết lập từ lâu, tất yếu ảnh hưởng đến vận cụ hồng trần của linh hồn. Việc được miễn khỏi các hậu quả của những nỗi khổ của con người không phải là dấu hiệu của sự vượt trội tinh thần. Điều đó có thể chỉ cho thấy điều mà một trong các Chân sư đã gọi là “chiều sâu của sự ích kỷ tinh thần và tự mãn.” Điểm đạo đồ ở cấp ba có thể giữ mình được miễn trừ, nhưng điều này chỉ vì y đã hoàn toàn giải thoát mình khỏi ảo cảm và không một phương diện nào của đời sống phàm ngã còn có quyền lực gì đối với y nữa. Mọi loại cung đều chịu những vấn đề đặc thù này như nhau. Tuy nhiên, cung bảy dễ bị các vấn đề, khó khăn và bệnh tật liên quan đến dòng máu hơn bất kỳ loại cung nào khác. Lý do là vì đây là cung có [129] liên quan đến sự biểu lộ và hiện hình của sự sống trên cõi hồng trần và với việc tổ chức mối liên hệ giữa tinh thần và vật chất thành hình tướng. Vì vậy, ngày nay nó liên quan, khi tìm cách tạo ra trật tự mới, đến sự lưu thông tự do và do đó đến sự tự do mà nhân loại được dự định có khỏi những nỗi khổ và vấn đề của quá khứ. Điều này đáng ghi nhớ, và các đạo sinh sẽ thấy hữu ích vào lúc này, nếu họ muốn hợp tác một cách thông minh với những biến cố của thời đại, khi thu thập và nghiên cứu tất cả những gì tôi đã viết về cung bảy của trật tự nghi lễ và huyền thuật.

b. Diseases of the nervous system, due to the flow of energy to all parts of the body, directed by either the personality, some aspect of the personal lower self, or by the soul, via the brain, are many and become acute as the disciple nears initiation or becomes an initiate. Apart from the physiological ills which this produces, there are many other conditions brought about by this inflow of force. The disciple becomes, for instance, overstimulated, and therefore overactive; he becomes unbalanced, and when I say this I do not refer to mental imbalance (though that can happen), but to overdevelopment and overexpression in some part of his nature. He can become extravagantly overorganised through the medium of some overactive centre, or underorganised and inactive. He is therefore subject to the imbalance of the glandular system, with all its attendant difficulties. His overstimulation or his undevelopment, where the centres are concerned, normally affects the glands, and they in their turn produce character difficulties which necessarily, in their turn, produce environmental problems as well as personality handicaps.

b. Các bệnh của hệ thần kinh, do dòng năng lượng đi đến mọi phần của thể, được điều khiển hoặc bởi phàm ngã, hoặc bởi một phương diện nào đó của phàm ngã thấp, hoặc bởi linh hồn qua bộ não, thì rất nhiều và trở nên trầm trọng khi đệ tử tiến gần điểm đạo hoặc trở thành một điểm đạo đồ. Ngoài những bệnh lý sinh lý mà điều này tạo ra, còn có nhiều trạng thái khác do sự tuôn vào của mãnh lực này gây nên. Chẳng hạn, đệ tử trở nên bị kích thích quá mức, và vì vậy quá hoạt động; y trở nên mất quân bình, và khi tôi nói điều này tôi không ám chỉ sự mất quân bình trí tuệ (dù điều đó có thể xảy ra), mà là sự phát triển quá mức và biểu lộ quá mức ở một phần nào đó trong bản chất của y. Y có thể trở nên được tổ chức quá mức một cách thái quá qua trung gian của một trung tâm quá hoạt động, hoặc bị tổ chức kém và bất hoạt. Vì vậy y dễ bị mất quân bình của hệ tuyến, với tất cả những khó khăn đi kèm. Sự kích thích quá mức hoặc sự kém phát triển của y, xét về các trung tâm, thông thường ảnh hưởng đến các tuyến, và đến lượt chúng tạo ra những khó khăn về Tính cách, mà đến lượt chúng tất yếu tạo ra những vấn đề môi trường cũng như những trở ngại của phàm ngã.

It is then a vicious circle, and is all due to wrong direction of force and the inflow of force from one or other of the [130] personality vehicles to its related centre (i.e., the astral force and its relation to the solar plexus), and then the appearance of the problems of health, of character and of influence. Over-radiatory activity, through the medium of some centre, attracts attention and the disciple becomes the victim of his own achievement. I shall deal with these at greater length when I take up the diseases which develop from the four categories.

Khi đó, đây là một vòng luẩn quẩn, và tất cả đều do sự định hướng sai của mãnh lực và sự tuôn vào của mãnh lực từ một hoặc một phương tiện nào khác của [130] phàm ngã đến trung tâm liên hệ của nó (tức là mãnh lực cảm dục và mối liên hệ của nó với tùng thái dương), rồi sau đó là sự xuất hiện của các vấn đề về sức khỏe, về Tính cách và về ảnh hưởng. Hoạt động bức xạ quá mức, qua trung gian của một trung tâm nào đó, thu hút sự chú ý và đệ tử trở thành nạn nhân của chính thành tựu của mình. Tôi sẽ bàn đến những điều này dài hơn khi tôi đề cập đến các bệnh phát triển từ bốn loại.

These difficulties are of a most general kind but do affect primarily second and sixth ray disciples. The one because the second ray is the building ray, and is therefore concerned predominantly with outer manifestation and with the utilisation of all the centres, and the other because it is primarily the ray of tension—a tension which can work out in the form of the most evil fanaticism or the most altruistic devotion. All the rays present the same problems, needless to say, but the second ray deals largely with the soul’s activity through all the centres (those above and those below the diaphragm) but with the heart as the prime centre of attention. The sixth ray has a close relation to the solar plexus centre as the clearing house and the place of reorientation of the life force in the personality. Bear this constantly in mind.

Những khó khăn này thuộc loại rất phổ biến nhưng chủ yếu ảnh hưởng đến các đệ tử cung hai và cung sáu. Một bên là vì cung hai là cung kiến tạo, và do đó chủ yếu liên quan đến biểu hiện bên ngoài và việc sử dụng tất cả các trung tâm, còn bên kia là vì đó chủ yếu là cung của sự căng thẳng—một sự căng thẳng có thể biểu lộ dưới hình thức cuồng tín xấu xa nhất hoặc tận tụy vị tha nhất. Dĩ nhiên, mọi cung đều trình hiện cùng những vấn đề ấy, nhưng cung hai phần lớn xử lý hoạt động của linh hồn qua tất cả các trung tâm (những trung tâm ở trên và ở dưới cơ hoành), nhưng với tim là trung tâm chính của sự chú ý. Cung sáu có mối liên hệ mật thiết với trung tâm tùng thái dương như là trạm chuyển tiếp và nơi tái định hướng của sinh lực trong phàm ngã. Hãy luôn ghi nhớ điều này.

c. The problems connected with the respiratory or breathing system are all related to the heart, and therefore concerned with the establishing of right rhythm and right contact with the environment. The drawing in of the life breath, the sharing of the air with all other human beings, denotes both an individual centre of life and participation also in the general life of all. To these problems of individual or separative existence and of its opposite, the Sacred Word, the OM, is intimately related. It might be said [131] in the words of an occult manual on healing, given to advanced disciples, that

c. Các vấn đề liên quan đến hệ hô hấp hay hệ thở đều liên hệ với tim, và do đó liên quan đến việc thiết lập nhịp điệu đúng và tiếp xúc đúng với môi trường. Việc hít vào hơi thở sự sống, việc chia sẻ không khí với mọi con người khác, biểu thị cả một trung tâm sự sống cá nhân lẫn sự tham dự vào sự sống chung của tất cả. Với những vấn đề này của sự tồn tại cá nhân hay phân ly và của đối cực của nó, Linh từ Thiêng, OM, có liên hệ mật thiết. Có thể nói [131] bằng lời của một cẩm nang huyền bí về trị liệu, được trao cho các đệ tử cao cấp, rằng

“He who lives under the sound of the AUM knows himself. He who lives sounding the OM knows his brother. He who knows the SOUND knows all.”

“Người sống dưới âm thanh của AUM biết chính mình. Người sống khi xướng OM biết huynh đệ của mình. Người biết ÂM THANH biết tất cả.”

Then, in the cryptic and symbolic language of the initiate, the manual goes on:

Rồi, bằng ngôn ngữ kín đáo và biểu tượng của điểm đạo đồ, cẩm nang tiếp tục:

“The breath of life becomes the cause of death to the one who lives within a shell. He exists but he is not; the breath then leaves and spirals to the whole.

“Hơi thở của sự sống trở thành nguyên nhân của cái chết đối với kẻ sống trong một cái vỏ. Y hiện hữu nhưng y không là; khi ấy hơi thở rời đi và xoắn ốc về toàn thể.

“He who breathes forth the OM knows not himself alone. He knows the breath is prana, life, the fluid of connection. The ills of life are his because they are the lot of man—not generated in a shell, because the shell is not.

“Kẻ thở ra OM không chỉ biết riêng mình. Y biết hơi thở là prana, là sự sống, là lưu chất của sự nối kết. Những nỗi khổ của sự sống là của y vì chúng là số phận của con người—không được tạo ra trong một cái vỏ, bởi vì cái vỏ không hiện hữu.

“He who is the SOUND and sounding forth knows not disease, knows not the hand of death.”

“Kẻ là ÂM THANH và đang xướng ra không biết bệnh tật, không biết bàn tay của cái chết.”

In these few words the whole problem of the third group of problems and diseases is summed up. They are concerned with the circulation of soul energy, which is the energy of love, and they are not concerned with the circulation of the life essence. These two basic energies, as they play upon the forces of the personality, bring about the bulk of the problems to which humanity falls heir. These are lack of love, lack of life, failure to sound forth correctly the note of the soul and of the ray, and failure to transmit. The secret of constituting a pure channel (to use mystic but not occult phraseology), is considered in the first group of problems; and the establishing of right relation by right sounding forth of the attractive note of the soul, is considered in the last two groups.

Trong vài lời này, toàn bộ vấn đề của nhóm thứ ba các vấn đề và bệnh tật được tóm lược. Chúng liên quan đến sự lưu thông của năng lượng linh hồn, vốn là năng lượng của bác ái, và không liên quan đến sự lưu thông của tinh chất sự sống. Hai năng lượng căn bản này, khi tác động lên các mãnh lực của phàm ngã, tạo ra phần lớn những vấn đề mà nhân loại phải thừa hưởng. Đó là thiếu bác ái, thiếu sự sống, không xướng ra đúng chủ âm của linh hồn và của cung, và không chuyển truyền. Bí mật để cấu thành một kênh dẫn thanh khiết (dùng thuật ngữ thần bí chứ không phải huyền bí học) được xét trong nhóm vấn đề thứ nhất; còn việc thiết lập mối liên hệ đúng bằng cách xướng ra đúng nốt hấp dẫn của linh hồn được xét trong hai nhóm cuối.

[132]

[132]

This third group of difficulties, problems and diseases are of course those of people upon all the rays, but first ray people have a definite predisposition to these specific troubles. At the same time, when they rightly utilise their latent powers, they can overcome by the right use of the OM, and finally of the SOUND, the incidental problems and difficulties far more easily than those on other rays. You have here a reference to the Lost Word of Masonry and to the SOUND of the Ineffable Name.

Nhóm thứ ba này của những khó khăn, vấn đề và bệnh tật dĩ nhiên là của những người trên mọi cung, nhưng những người cung một có một khuynh hướng rõ rệt đối với các rắc rối đặc thù này. Đồng thời, khi họ sử dụng đúng các quyền năng tiềm ẩn của mình, họ có thể vượt qua bằng cách sử dụng đúng OM, và cuối cùng là ÂM THANH, những vấn đề và khó khăn ngẫu phát dễ dàng hơn nhiều so với những người ở các cung khác. Ở đây bạn có một ám chỉ đến Linh từ Thất Truyền của Hội Tam Điểm và đến ÂM THANH của Danh Xưng Bất Khả Ngôn.

The sound of the AUM, the sound of the OM, and the SOUND itself, are all related to vibration and its differing and varied effects. The secret of the Law of Vibration is progressively revealed as people learn to sound forth the WORD in its three aspects. Students would do well to ponder on the distinction between the breath and the sound, between the process of breathing and the process of creating vibratory activity. They are related but distinct from each other. One is related to Time and the other to Space and (as the Old Commentary puts it) “the sound, the final and yet initiating sound, concerns that which is neither Time nor Space; it lies outside the manifested All, the Source of all that is and yet is naught” (or no-thing. A.A.B.).

Âm thanh của AUM, âm thanh của OM, và chính ÂM THANH, tất cả đều liên hệ với rung động và những hiệu quả khác nhau, đa dạng của nó. Bí mật của Định luật Rung động được mặc khải dần dần khi con người học cách xướng LINH TỪ trong ba phương diện của nó. Các đạo sinh nên suy ngẫm về sự phân biệt giữa hơi thở và âm thanh, giữa tiến trình hô hấp và tiến trình tạo ra hoạt động rung động. Chúng có liên hệ nhưng khác biệt với nhau. Một cái liên hệ với Thời gian và cái kia với Không gian và (như Cổ Luận nói) “âm thanh, âm thanh tối hậu nhưng đồng thời khai mở, liên quan đến cái không phải là Thời gian cũng không phải là Không gian; nó nằm ngoài Toàn Thể biểu hiện, Nguồn Cội của mọi cái đang là mà vẫn là hư vô” (hay không-vật. A.A.B.).

For this reason, disciples on the fourth ray usually can develop by the power of the intuition an understanding of the OM. This ray of harmony through conflict (the conflict of the pairs of opposites) is necessarily concerned with the bringing in of that vibratory activity which will lead to unity, to harmony and to right relations, and to the release of the intuition.

Vì lý do này, các đệ tử cung bốn thường có thể phát triển, bằng quyền năng của trực giác, một sự thấu hiểu về OM. Cung của hòa điệu qua xung đột này (xung đột của các cặp đối cực) tất yếu liên quan đến việc đưa vào hoạt động rung động sẽ dẫn đến hợp nhất, hòa điệu và các mối liên hệ đúng, và đến sự giải phóng trực giác.

d. The problems incident to the activity of inactivity of the centres are perhaps the most important from the standpoint of disease, because the centres govern the glandular [133] system and the glands have a direct relation to the blood stream and they condition also the major and most important areas in the human body; they have both a physiological and a psychological effect upon the personality and its interior and exterior contacts and relations. The reaction is primarily physical but the effects are largely psychological, and it is therefore this fourth group upon which I shall principally enlarge, dealing with the diseases of disciples and giving some definite instructions upon the centres. This will indicate more clearly than elsewhere the causes of the many human ills and physical difficulties.

d. Các vấn đề liên quan đến hoạt động hay bất hoạt động của các trung tâm có lẽ là quan trọng nhất từ quan điểm bệnh tật, vì các trung tâm chi phối hệ tuyến [133] và các tuyến có liên hệ trực tiếp với dòng máu, đồng thời chúng cũng tác động lên các khu vực chính và quan trọng nhất trong thể người; chúng có cả tác động sinh lý lẫn tâm lý lên phàm ngã và lên các tiếp xúc cùng mối liên hệ bên trong và bên ngoài của nó. Phản ứng trước hết là hồng trần nhưng các hiệu quả phần lớn là tâm lý, và vì vậy chính nhóm thứ tư này là nhóm mà tôi sẽ chủ yếu khai triển, khi bàn đến các bệnh của đệ tử và đưa ra một số chỉ dẫn rõ ràng về các trung tâm. Điều này sẽ chỉ ra rõ hơn ở nơi khác các nguyên nhân của nhiều nỗi khổ và khó khăn thể xác của con người.

Before proceeding to our next point, try to grasp somewhat more fully the Laws of Healing and the Rules given thus far and repeated here to facilitate your endeavours.

Trước khi tiếp tục sang điểm kế tiếp, hãy cố nắm bắt đầy đủ hơn đôi chút các Định luật Trị liệu và các Quy luật đã được đưa ra cho đến nay và được lặp lại ở đây để tạo thuận lợi cho nỗ lực của các bạn.

LAW I

ĐỊNH LUẬT I

All disease is the result of inhibited soul life and this is true of all forms of all kingdoms. The art of the healer consists in releasing the soul so that its life can flow through the aggregate of organisms which constitute any particular form.

Mọi bệnh tật đều là kết quả của đời sống linh hồn bị ức chế và điều này đúng với mọi hình tướng của mọi giới. Nghệ thuật của nhà trị liệu nằm ở việc giải phóng linh hồn để sự sống của nó có thể tuôn chảy qua tổng thể các cơ cấu tạo thành bất kỳ hình tướng đặc thù nào.

LAW II

ĐỊNH LUẬT II

Disease is the product of, and subject to, three influences: first, a man’s past, wherein he pays the price of ancient error; second, his inheritance, wherein he shares with all mankind those tainted streams of energy which are of group origin; third, he shares with all the natural forms that which the Lord of Life imposes on His body. These three influences are called “The Ancient Law of Evil Sharing.” This must give place someday to that new “Law of Ancient Dominating Good” which lies behind all that God made. This law must be brought into activity by the spiritual will of man.

Bệnh tật là sản phẩm của, và chịu sự chi phối của, ba ảnh hưởng: thứ nhất, quá khứ của một người, trong đó y trả giá cho lỗi lầm xa xưa; thứ hai, di truyền của y, trong đó y chia sẻ với toàn thể nhân loại những dòng năng lượng nhiễm độc có nguồn gốc nhóm; thứ ba, y chia sẻ với mọi hình tướng tự nhiên điều mà Chúa Tể của Sự Sống áp đặt lên thể của Ngài. Ba ảnh hưởng này được gọi là “Định luật Cổ xưa về Sự Chia sẻ Điều Ác.” Một ngày nào đó nó phải nhường chỗ cho “Định luật mới về Điều Thiện Cổ xưa Chi Phối” nằm phía sau mọi điều mà Thượng đế đã tạo ra. Định luật này phải được đưa vào hoạt động bởi ý chí tinh thần của con người.

LAW III

ĐỊNH LUẬT III

Diseases are an effect of the basic centralisation of a man’s life energy. From the Plane whereon those energies [134] are focussed, proceed those determining conditions which produce ill health, and which, therefore, work out as disease or as freedom from disease.

Bệnh tật là một hiệu quả của sự tập trung căn bản của năng lượng sự sống của một người. Từ Cõi mà trên đó những năng lượng ấy [134] được tập chú, phát sinh những điều kiện quyết định tạo ra tình trạng sức khỏe xấu, và do đó biểu lộ thành bệnh tật hoặc thành sự tự do khỏi bệnh tật.

LAW IV

ĐỊNH LUẬT IV

Disease, both physical and psychological, has its roots in the good, the beautiful and the true. It is but a distorted rejection of divine possibilities. The thwarted soul, seeking full expression of some divine characteristic or inner spiritual reality, produces within the substance of its sheaths a point of friction. Upon this point the eyes of the personality are focussed, and this leads to disease. The art of the healer is concerned with the lifting of the downward focussed eyes unto the soul, the Healer within the form. The spiritual or third eye then directs the healing force, and all is well.

Bệnh tật, cả hồng trần lẫn tâm lý, có gốc rễ trong điều thiện, điều đẹp và điều chân thật. Nó chỉ là một sự khước từ méo mó đối với các khả năng thiêng liêng. Linh hồn bị ngăn trở, tìm cách biểu lộ trọn vẹn một đặc tính thiêng liêng nào đó hay một thực tại tinh thần nội tại nào đó, tạo ra trong chất liệu của các thể của nó một điểm ma sát. Trên điểm này, mắt của phàm ngã được tập trung, và điều này dẫn đến bệnh tật. Nghệ thuật của nhà trị liệu liên quan đến việc nâng đôi mắt đang hướng xuống ấy lên linh hồn, Đấng Trị Liệu bên trong hình tướng. Khi ấy con mắt tinh thần hay con mắt thứ ba sẽ định hướng mãnh lực trị liệu, và mọi sự đều ổn.

RULE ONE

QUY LUẬT MỘT

The healer must seek to link his soul, his heart, his brain and his hands. Thus can he pour the vital healing force upon the patient. This is magnetic work. It cures disease, or increases the evil state, according to the knowledge of the healer.

Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, tim, bộ não và đôi tay của mình. Nhờ vậy y có thể tuôn mãnh lực trị liệu sinh lực lên bệnh nhân. Đây là công việc từ tính. Nó chữa bệnh, hoặc làm tăng tình trạng xấu, tùy theo tri thức của nhà trị liệu.

The healer must seek to link his soul, his brain, his heart and auric emanation. Thus can his presence feed the soul life of the patient. This is the work of radiation. The hands are needed not. The soul displays its power. The patient’s soul responds through the response of his aura to the radiation of the healer’s aura, flooded with soul energy.

Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, bộ não, tim và phát xạ hào quang của mình. Nhờ vậy sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng đời sống linh hồn của bệnh nhân. Đây là công việc bức xạ. Không cần đến đôi tay. Linh hồn biểu lộ quyền năng của nó. Linh hồn của bệnh nhân đáp ứng qua sự đáp ứng của hào quang của y đối với bức xạ của hào quang nhà trị liệu, được tràn ngập năng lượng linh hồn.

RULE TWO

QUY LUẬT HAI

The healer must achieve magnetic purity, through purity of life. He must attain that dispelling radiance which shows itself in every man when he links the centres in the head. When this magnetic field is established, the radiation too goes forth.

Nhà trị liệu phải đạt được sự thanh khiết từ tính, qua sự thanh khiết của đời sống. Y phải đạt đến bức xạ xua tan ấy, bức xạ tự biểu lộ nơi mọi người khi y nối kết các trung tâm trong đầu. Khi trường từ tính này được thiết lập, bức xạ cũng phát ra.

RULE THREE

QUY LUẬT BA

Let the healer train himself to know the inner stage of thought or of desire of the one who seeks his help. He [135] can thereby know the source from which the trouble comes. Let him relate the cause and the effect, and know the point exact through which the help must come.

Nhà trị liệu hãy tự rèn luyện để biết giai đoạn bên trong của tư tưởng hay khát vọng của người tìm kiếm sự giúp đỡ của mình. Nhờ đó y [135] có thể biết nguồn gốc từ đó rắc rối phát sinh. Hãy để y liên hệ nguyên nhân với kết quả, và biết chính xác điểm mà qua đó sự trợ giúp phải đến.

RULE FOUR

QUY LUẬT BỐN

The healer and the healing group must keep the will in leash. It is not will that must be used but love.

Nhà trị liệu và nhóm trị liệu phải giữ ý chí trong vòng kiềm chế. Không phải ý chí cần được dùng mà là bác ái.

2. Difficulties Incident to Soul Contact.

2. Những khó khăn liên quan đến tiếp xúc linh hồn.

Today we begin a study of the difficulties, the diseases and the psychological troubles (neurological and mental) of the aspirants and of the disciples of the world. These we shall study definitely from the angle of the seven centres, as well as considering the results of the forces and energies (I use these distinctive words advisedly) which pour through them. Much that I shall say will be open to question from the viewpoint of orthodox medicine, yet, at the same time, orthodox medicine has been steadily drifting towards the occult point of view. I shall not attempt to relate the esoteric attitude of healing, its propositions and methods, to the modern schools of therapy. The two are gradually approaching each other, in any case. The lay reader, for whom these teachings are intended, will get a clearer comprehension of my thesis if it is kept relatively free from the technical terms and the academic attitudes of the medical sciences. They would but serve to confuse, and my effort is to give a general picture of the underlying causes of outer physical ills. I seek to present certain aspects of occult therapy for which mankind is now ready, reminding you that the presentation is naturally inadequate and partial, and for that reason may appear incorrect and to be challenging to those who look ever for outlets for human credulity. That, however, concerns me not. Time will prove the accuracy of my statements.

Hôm nay chúng ta bắt đầu nghiên cứu những khó khăn, bệnh tật và các rắc rối tâm lý (thần kinh học và trí tuệ) của những người chí nguyện và các đệ tử của thế giới. Chúng ta sẽ nghiên cứu chúng một cách rõ rệt từ góc độ của bảy trung tâm, đồng thời xem xét các kết quả của những mãnh lực và năng lượng (tôi dùng những từ phân biệt này một cách có chủ ý) tuôn qua chúng. Nhiều điều tôi sẽ nói sẽ có thể bị chất vấn từ quan điểm y học chính thống, tuy nhiên đồng thời y học chính thống đã đều đặn trôi dần về phía quan điểm huyền bí học. Tôi sẽ không cố gắng liên hệ thái độ trị liệu nội môn, các mệnh đề và phương pháp của nó với các trường phái trị liệu hiện đại. Dù sao đi nữa, hai bên đang dần dần tiến gần nhau. Người đọc phổ thông, đối tượng mà các giáo huấn này nhắm đến, sẽ có được sự hiểu biết rõ hơn về luận đề của tôi nếu nó được giữ tương đối thoát khỏi các thuật ngữ kỹ thuật và các thái độ hàn lâm của khoa học y học. Chúng chỉ làm rối trí thêm, và nỗ lực của tôi là đưa ra một bức tranh tổng quát về các nguyên nhân nền tảng của những bệnh tật hồng trần bên ngoài. Tôi tìm cách trình bày một số phương diện của trị liệu huyền bí học mà nhân loại hiện nay đã sẵn sàng tiếp nhận, đồng thời nhắc các bạn rằng sự trình bày này tự nhiên là không đầy đủ và phiến diện, và vì lý do đó có thể có vẻ không đúng và có vẻ thách thức đối với những ai luôn tìm lối thoát cho tính cả tin của con người. Tuy nhiên, điều đó không liên quan đến tôi. Thời gian sẽ chứng minh tính chính xác của những phát biểu của tôi.

[136]

[136]

The new medicine will deal with factors which are dimly recognised at present and which are not, as yet, brought into any real or factual relationship to man and his body. The basic theory upon which the new medical teaching will rest can best be summed up in the statement that there is in reality nothing but energy to be considered, and the forces which are resistant to or assimilative of higher or different types of energy. Let me therefore start by giving you a new Law to add to the four already communicated. The previous Laws have been in the nature of abstract propositions, and unless related to this fifth Law will remain somewhat vague and meaningless.

Nền y học mới sẽ bàn đến những yếu tố hiện nay mới chỉ được nhận ra một cách mơ hồ và chưa được đặt vào bất kỳ mối liên hệ thực sự hay thực tế nào với con người và thể của y. Lý thuyết căn bản mà trên đó giáo huấn y học mới sẽ đặt nền tốt nhất có thể được tóm lược trong phát biểu rằng thực ra không có gì ngoài năng lượng cần được xem xét, và những mãnh lực kháng cự hoặc đồng hoá các loại năng lượng cao hơn hay khác biệt. Vì vậy, hãy để tôi bắt đầu bằng cách trao cho các bạn một Định luật mới để thêm vào bốn Định luật đã được truyền đạt. Các Định luật trước có tính chất của những mệnh đề trừu tượng, và nếu không được liên hệ với Định luật thứ năm này, chúng sẽ vẫn còn phần nào mơ hồ và vô nghĩa.

LAW V

ĐỊNH LUẬT V

There is naught but energy, for God is life. Two energies meet in man, but other five are present. For each is to be found a central point of contact. The conflict of these energies with forces and of the forces twixt themselves produce the bodily ills of man. The conflict of the first and second persists for ages until the mountain top is reached—the first great mountain top. The fight between the forces produces all disease, all ills and bodily pain, which seek release in death. The two, the five, and thus the seven, plus that which they produce, possess the secret. This is the fifth Law of Healing within the world of form.

Không có gì ngoài năng lượng, vì Thượng đế là sự sống. Hai năng lượng gặp nhau trong con người, nhưng năm năng lượng khác cũng hiện diện. Với mỗi năng lượng đều có thể tìm thấy một điểm tiếp xúc trung tâm. Xung đột của các năng lượng này với các mãnh lực và của các mãnh lực với nhau tạo ra những bệnh tật thể xác của con người. Xung đột của năng lượng thứ nhất và thứ hai kéo dài qua nhiều thời đại cho đến khi đỉnh núi được đạt tới—đỉnh núi lớn đầu tiên. Cuộc chiến giữa các mãnh lực tạo ra mọi bệnh tật, mọi nỗi khổ và đau đớn thể xác, những thứ tìm sự giải thoát trong cái chết. Hai, năm, và như vậy là bảy, cộng với điều mà chúng tạo ra, nắm giữ bí mật. Đây là Định luật Trị liệu thứ năm trong thế giới hình tướng.

This Law can be resolved into certain basic statements which can be tabulated as follows:

Định luật này có thể được phân giải thành một số phát biểu căn bản có thể được liệt kê như sau:

1. We live in a world of energies and are a constituent part of them ourselves.

1. Chúng ta sống trong một thế giới của các năng lượng và bản thân chúng ta là một phần cấu thành của chúng.

2. The physical vehicle is a fusion of two energies and seven forces.

2. Vận cụ hồng trần là một sự dung hợp của hai năng lượng và bảy mãnh lực.

3. The first energy is that of the soul, the ray energy. It is the producer of conflict as the soul energy seeks to control the forces.

3. Năng lượng thứ nhất là năng lượng của linh hồn, năng lượng cung. Nó là tác nhân tạo ra xung đột khi năng lượng linh hồn tìm cách kiểm soát các mãnh lực.

[137]

[137]

4. The second energy is that of the threefold personality—the personality ray as it is resistant to the higher energy.

4. Năng lượng thứ hai là năng lượng của phàm ngã tam phân—cung phàm ngã khi nó kháng cự năng lượng cao hơn.

5. The forces are the other energies or ray potencies which control the seven centres and are dominated either by the energy of the personality or by that of the soul.

5. Các mãnh lực là những năng lượng khác hay những tiềm lực cung kiểm soát bảy trung tâm và bị chi phối hoặc bởi năng lượng của phàm ngã hoặc bởi năng lượng của linh hồn.

6. Two conflicts, therefore, proceed between the two major energies and between the other energies, focussed through the seven centres.

6. Vì vậy, hai cuộc xung đột diễn ra giữa hai năng lượng chính và giữa các năng lượng khác, được tập trung qua bảy trung tâm.

7. It is the interplay of these energies which produces good health or bad.

7. Chính sự tương tác của các năng lượng này tạo ra sức khỏe tốt hay xấu.

There has been much teaching given anent the age-long struggle between personality and soul, but it has always been presented in the language of spiritual approach, of mysticism and of religion, or else in terms of character reaction, of abstract aspiration and of purity or non-purity. With these I shall not deal. My theme is the effects of this conflict in the physical body. I wish, therefore, to confine myself only to the physiological and psychological problems incident to the struggle which, in the main, make hard the lot of the disciple. It might be posited that:

Đã có nhiều giáo huấn được đưa ra về cuộc đấu tranh lâu đời giữa phàm ngã và linh hồn, nhưng nó luôn được trình bày bằng ngôn ngữ của tiếp cận tinh thần, của thần bí học và tôn giáo, hoặc bằng các thuật ngữ của phản ứng Tính cách, của khát vọng trừu tượng và của sự thanh khiết hay không thanh khiết. Với những điều đó tôi sẽ không bàn đến. Chủ đề của tôi là các hiệu quả của cuộc xung đột này trong thể xác. Vì vậy, tôi chỉ muốn giới hạn mình vào các vấn đề sinh lý và tâm lý liên quan đến cuộc đấu tranh mà nhìn chung làm cho số phận của đệ tử trở nên khó khăn. Có thể nêu ra rằng:

A. All diseases and physical difficulties are caused by one or more of three things or conditions:

A. Mọi bệnh tật và khó khăn thể xác đều do một hay nhiều trong ba điều hay ba trạng thái sau gây ra:

1. A developed soul contact, thus producing the vitalisation of all the centres in ordered rhythm, according to the soul ray. This necessarily produces stress and strain in the physical vehicle.

1. Một tiếp xúc linh hồn đã phát triển, do đó tạo ra sự tiếp sinh lực cho tất cả các trung tâm theo nhịp điệu có trật tự, tùy theo cung linh hồn. Điều này tất yếu tạo ra áp lực và căng thẳng trong vận cụ hồng trần.

2. Personality life and focus, which attempts to negate this soul control, and which is largely expressed through the activity of the throat centre (predisposing an activity of the thyroid gland) and of the centres below the diaphragm.

2. Đời sống và sự tập chú của phàm ngã, vốn cố gắng phủ nhận sự kiểm soát của linh hồn này, và phần lớn được biểu lộ qua hoạt động của trung tâm cổ họng (khiến hoạt động của tuyến giáp dễ phát sinh) và của các trung tâm dưới cơ hoành.

[138]

[138]

3. A cycle in the life of the aspirant wherein personality control begins to weaken and in which the emphasis and consequent activity shifts into the centres above the diaphragm—again causing trouble and readjustment.

3. Một chu kỳ trong đời sống của người chí nguyện trong đó sự kiểm soát của phàm ngã bắt đầu suy yếu và trong đó sự nhấn mạnh cùng hoạt động hệ quả chuyển sang các trung tâm trên cơ hoành—một lần nữa gây ra rắc rối và sự điều chỉnh lại.

B. Certain objectives present themselves to the aspirant at various stages, and each involves progress, but at the same time certain attendant difficulties.

B. Một số mục tiêu tự trình hiện trước người chí nguyện ở các giai đoạn khác nhau, và mỗi mục tiêu đều bao hàm tiến bộ, nhưng đồng thời cũng bao hàm một số khó khăn đi kèm.

1. The objective before the initiate is to have every centre in the etheric body responsive to the ray energy of the soul and with all the other seven ray energies subsidiary to it. This process of stimulation, of readjustment, and the attainment of established control goes on until after the third initiation. Then, when that initiation has been taken, the physical vehicle is of a totally different calibre and quality, and the Rules and Laws of Health no longer apply.

1. Mục tiêu trước điểm đạo đồ là làm cho mọi trung tâm trong thể dĩ thái đáp ứng với năng lượng cung của linh hồn và khiến tất cả bảy năng lượng cung khác đều phụ thuộc vào nó. Tiến trình kích thích, điều chỉnh lại và đạt đến sự kiểm soát được thiết lập này tiếp diễn cho đến sau lần điểm đạo thứ ba. Khi lần điểm đạo ấy đã được tiếp nhận, vận cụ hồng trần có một tầm mức và phẩm tính hoàn toàn khác, và các Quy luật cùng Định luật về Sức khỏe không còn áp dụng nữa.

2. The objective before the disciple is to promote control of the centres in the body, via the soul, through stimulation, elimination and eventual stabilisation. This inevitably produces difficulty, and the vitalisation or inspiration (either of these words would be appropriate), or their lack or deficiency, affect the bodily organs within the areas around the centres and affect all substances surrounding the centres.

2. Mục tiêu trước đệ tử là thúc đẩy sự kiểm soát các trung tâm trong thể, qua linh hồn, bằng sự kích thích, loại trừ và cuối cùng là ổn định hóa. Điều này tất yếu tạo ra khó khăn, và sự tiếp sinh lực hay cảm hứng (một trong hai từ này đều thích hợp), hoặc sự thiếu vắng hay thiếu hụt của chúng, ảnh hưởng đến các cơ quan thể xác trong những vùng quanh các trung tâm và ảnh hưởng đến mọi chất liệu bao quanh các trung tâm.

3. The objective before the aspirant or the probationary disciple is to transfer the forces from the centres below the diaphragm, via the solar plexus centre, to the centres above the diaphragm. The energy of the base of the spine has to be transferred to the head; the energy of the sacral centre must be lifted to the throat, whilst the energy of the solar plexus must be transferred to the heart. This is done in response to the magnetic “pull” of the soul ray as it begins to dominate the personality ray. It is a long and painful [139] process, covering many lives and carrying, as the result, many physical ills.

3. Mục tiêu trước người chí nguyện hay đệ tử dự bị là chuyển các mãnh lực từ các trung tâm dưới cơ hoành, qua trung tâm tùng thái dương, đến các trung tâm trên cơ hoành. Năng lượng của đáy cột sống phải được chuyển lên đầu; năng lượng của trung tâm xương cùng phải được nâng lên cổ họng, trong khi năng lượng của tùng thái dương phải được chuyển lên tim. Điều này được thực hiện để đáp ứng với “sức hút” từ tính của cung linh hồn khi nó bắt đầu chi phối cung phàm ngã. Đây là một tiến trình dài và đau đớn [139], kéo dài qua nhiều kiếp sống và mang theo, như một kết quả, nhiều bệnh tật thể xác.

4. The objective before the average man (unconsciously effective) is to respond fully to personality force, focussed primarily at the middle point, the solar plexus, and then steadily and intelligently to coordinate these forces so that an integrated personality is presented eventually to the soul for control and use.

4. Mục tiêu trước con người trung bình (có hiệu lực một cách vô thức) là đáp ứng trọn vẹn với mãnh lực phàm ngã, chủ yếu được tập trung tại điểm giữa, tùng thái dương, rồi sau đó đều đặn và một cách thông minh phối hợp các mãnh lực này để cuối cùng một phàm ngã tích hợp được trình lên linh hồn để kiểm soát và sử dụng.

5. The objective before the primitive or undeveloped man (again unconsciously effective) is to live a full animal and emotional life, thereby gaining experience of growth, of contact, and eventually of understanding. By this means the response apparatus of the soul in the three worlds is built.

5. Mục tiêu trước con người nguyên thủy hay chưa phát triển (một lần nữa có hiệu lực một cách vô thức) là sống một đời sống động vật và cảm xúc trọn vẹn, nhờ đó thu được kinh nghiệm về tăng trưởng, về tiếp xúc, và cuối cùng là về thấu hiểu. Bằng phương tiện này, bộ máy đáp ứng của linh hồn trong ba cõi giới được xây dựng.

I would also call attention to the thought which I have here interjected, that the objectives intrinsically in themselves have an effect upon that towards which man is striving. This is a thought warranting careful consideration.

Tôi cũng muốn lưu ý đến tư tưởng mà tôi đã xen vào ở đây, rằng các mục tiêu tự thân chúng có một hiệu quả lên điều mà con người đang phấn đấu hướng tới. Đây là một tư tưởng đáng được cân nhắc cẩn thận.

These generalisations will be useful only if you remember that they are generalisations. No aspirant at any stage is perfectly clear cut in his endeavour until after the third initiation, nor is he entirely particularised in his life and effort. Men are at all imaginable stages of development, and many of these stages are intermediate to the five stages above mentioned. These all merge and blend into each other, and often constitute a formidable and confusing arena for thought and activity. It is only in the life of the undeveloped individual that clear simplicity is to be found. In between—from the stage of infancy of the race or of the man to that of the state of liberation from personality life—there is nothing but complexity, the overlapping of states of consciousness, difficulty, disease, psychological problems, illness and death.

Những khái quát hóa này sẽ chỉ hữu ích nếu các bạn nhớ rằng chúng là những khái quát hóa. Không một người chí nguyện nào ở bất kỳ giai đoạn nào hoàn toàn rạch ròi trong nỗ lực của mình cho đến sau lần điểm đạo thứ ba, cũng như y không hoàn toàn được biệt định trong đời sống và nỗ lực của mình. Con người ở mọi giai đoạn phát triển có thể hình dung được, và nhiều giai đoạn trong số đó là trung gian giữa năm giai đoạn đã nêu trên. Tất cả những giai đoạn này hòa lẫn và dung hợp vào nhau, và thường tạo thành một đấu trường đáng sợ và gây rối cho tư tưởng và hoạt động. Chỉ trong đời sống của cá nhân chưa phát triển mới có thể tìm thấy sự đơn giản rõ rệt. Ở khoảng giữa—từ giai đoạn ấu thơ của nhân loại hay của con người cho đến trạng thái giải thoát khỏi đời sống phàm ngã—không có gì ngoài sự phức tạp, sự chồng lấn của các trạng thái tâm thức, khó khăn, bệnh tật, các vấn đề tâm lý, đau ốm và cái chết.

[140]

[140]

This must obviously be so when the vast number of energies and forces which constitute man’s being and form his environment are brought into relation with each other. Every human being is, in reality, like a miniature whirlpool in that great ocean of Being in which he lives and moves—ceaselessly in motion until such time as the soul “breathes upon the waters” (or forces) and the Angel of the Presence descends into the whirlpool. Then all becomes still. The waters stirred by the rhythm of life, and later stirred violently by the descent of the Angel, respond to the Angel’s healing power and are changed “into a quiet pool into which the little ones can enter and find the healing which they need.” So says the Old Commentary.

Điều này hiển nhiên phải như vậy khi số lượng khổng lồ các năng lượng và mãnh lực cấu thành bản thể con người và tạo nên môi trường của y được đặt vào mối liên hệ với nhau. Mỗi con người, trên thực tế, giống như một xoáy nước thu nhỏ trong đại dương lớn của Bản Thể mà trong đó y sống và vận động—chuyển động không ngừng cho đến khi linh hồn “thở trên mặt nước” (hay các mãnh lực) và Thiên Thần của Hiện Diện giáng xuống xoáy nước. Khi ấy mọi sự trở nên tĩnh lặng. Những làn nước bị khuấy động bởi nhịp điệu của sự sống, và về sau bị khuấy động dữ dội bởi sự giáng xuống của Thiên Thần, đáp ứng với quyền năng trị liệu của Thiên Thần và được biến đổi “thành một hồ nước yên lặng mà trong đó những kẻ bé nhỏ có thể bước vào và tìm thấy sự trị liệu mà chúng cần.” Cổ Luận nói như vậy.

The Centres and the Glandular System

Các Trung Tâm và Hệ Tuyến

It will therefore be apparent to you that disease (when not of a group origin, or the result of planetary karma or based on accident) takes its rise in the activity or the non-activity of the centres. This is a statement of a basic truth, given in the simplest manner. The centres, as you know, govern the endocrine system which, in its turn, controls the seven major areas of the physical body and is responsible for the correct functioning of the entire organism, producing both physiological and psychological effects.

Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng bệnh tật (khi không có nguồn gốc nhóm, hoặc không phải là kết quả của nghiệp quả hành tinh hay dựa trên tai nạn) phát sinh từ hoạt động hoặc sự bất hoạt động của các trung tâm. Đây là một phát biểu về một chân lý căn bản, được đưa ra theo cách đơn giản nhất. Như các bạn biết, các trung tâm chi phối hệ nội tiết, và đến lượt hệ này kiểm soát bảy khu vực chính của thể xác và chịu trách nhiệm cho sự vận hành đúng đắn của toàn bộ cơ thể, tạo ra cả các hiệu quả sinh lý lẫn tâm lý.

The importance of this glandular system cannot be overestimated. It is a replica in miniature of the septenary constitution of the universe and the medium of expression and the instrument of contact for the seven ray forces, the seven Spirits before the Throne of God. Around this at present unrecognised truth the medicine and the healing methods of the future civilisation will be built.

Tầm quan trọng của hệ tuyến này không thể bị đánh giá quá cao. Nó là một bản sao thu nhỏ của cấu tạo thất phân của vũ trụ và là phương tiện biểu lộ cùng công cụ tiếp xúc cho bảy mãnh lực cung, Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thượng đế. Chung quanh chân lý hiện nay chưa được nhận ra này, nền y học và các phương pháp trị liệu của nền văn minh tương lai sẽ được xây dựng.

The glands constitute a great relating system in the body; they bring all parts of the physical vehicle into relation with each other; they also relate the man to the etheric [141] body—both individual and planetary—and likewise to the blood stream, the carrier of the life principle to all parts of the body. There are consequently four major agents of distribution to be found in the physical body. They are all complete in themselves, all contributory to both the functional and the organic life of the body, all closely interrelated and all producing both physiological and psychological results according to their potency, the response of the centres to the higher inflow, the point in evolution achieved, and the free expression, or the reverse, of the incoming energies. These four agents of distribution of energy are:

Các tuyến cấu thành một hệ thống liên hệ lớn trong thể; chúng đưa mọi phần của vận cụ hồng trần vào mối liên hệ với nhau; chúng cũng liên hệ con người với thể dĩ thái [141]—cả cá nhân lẫn hành tinh—và cũng với dòng máu, là vật mang nguyên khí sự sống đến mọi phần của thể. Do đó, có bốn tác nhân phân phối chính được tìm thấy trong thể xác. Tất cả chúng đều hoàn chỉnh trong chính mình, tất cả đều góp phần vào cả đời sống chức năng lẫn đời sống cơ quan của thể, tất cả đều liên hệ mật thiết với nhau và tất cả đều tạo ra cả kết quả sinh lý lẫn tâm lý tùy theo tiềm lực của chúng, sự đáp ứng của các trung tâm đối với sự tuôn vào cao hơn, điểm tiến hoá đã đạt được, và sự biểu lộ tự do hay ngược lại của các năng lượng đi vào. Bốn tác nhân phân phối năng lượng này là:

1. The etheric vehicle itself. This with its myriads of lines of force and of energy, the incoming and the outgoing energies, its responsiveness to energy impacts coming from the environment as well as from the inner spiritual man and the subtle bodies, underlies the entire physical body. In it are to be found the seven centres as focal points of reception and of distribution; they are the recipients of seven types of energy, and they distribute these seven energies through the entire little human system.

1. Chính vận cụ dĩ thái. Với vô số đường mãnh lực và năng lượng của nó, các năng lượng đi vào và đi ra, sự đáp ứng của nó đối với các tác động năng lượng đến từ môi trường cũng như từ con người tinh thần bên trong và các thể vi tế, nó làm nền cho toàn bộ thể xác. Trong đó có thể tìm thấy bảy trung tâm như những tiêu điểm tiếp nhận và phân phối; chúng là những kẻ tiếp nhận bảy loại năng lượng, và chúng phân phối bảy năng lượng này qua toàn bộ tiểu hệ thống con người.

2. The nervous system and its various interlocking directorates. This is a relatively tangible network of energies and forces which are the outer expression of the inner, vital, dynamic network of the etheric body and the millions of nadis or the prototype of the nerves which underlie the more substantial body. These nerves and plexi and their many ramifications are the negative aspects of the positive energies which condition or are attempting to condition the man.

2. Hệ thần kinh và các ban điều hành đan xen khác nhau của nó. Đây là một mạng lưới tương đối hữu hình của các năng lượng và mãnh lực, là biểu hiện bên ngoài của mạng lưới nội tại, sinh động, năng động của thể dĩ thái và của hàng triệu nadi hay nguyên mẫu của các dây thần kinh làm nền cho thể đặc hơn. Những dây thần kinh và đám rối này cùng vô số phân nhánh của chúng là các phương diện âm của những năng lượng dương đang tác động lên hoặc đang cố gắng tác động lên con người.

3. The endocrine system. This is the tangible and exoteric expression of the activity of the vital body and its seven centres. The seven centres of force are to be found in the same region where the seven major glands are located, and [142] each centre of force provides, according to the esoteric teaching, the power and the life of the corresponding gland which is, in fact, its externalisation.

3. Hệ nội tiết. Đây là biểu hiện hữu hình và ngoại môn của hoạt động của thể sinh lực và bảy trung tâm của nó. Bảy trung tâm mãnh lực được tìm thấy trong cùng khu vực nơi bảy tuyến chính tọa lạc, và [142] mỗi trung tâm mãnh lực cung cấp, theo giáo huấn nội môn, quyền năng và sự sống cho tuyến tương ứng, vốn thực ra là sự ngoại hiện của nó.

Centres

Glands

Head centre

Pineal gland

Centre between eyebrows

Pituitary body

Throat centre

Thyroid gland

Heart centre

Thymus gland

Solar plexus centre

Pancreas

Sacral centre

The gonads

Centre at base of spine

Adrenal glands

These three systems are very closely related to each other and constitute an interlocking directorate of energies and forces which are essentially vital, galvanic, dynamic and creative. They are basically interdependent, and upon them the entire interior health of the physical organism depends. They are responsive first to one or other of the bodies (emotional or mental), then to the integrated personality and its ray, and finally to the soul ray as it begins to assume control. They are, in reality, responsible for the production of the physical body and—after birth—they condition its psychological quality, and this in its turn produces the developing physical man. They are the agents for the three divine aspects of all manifestation: life quality appearance.

Ba hệ thống này liên hệ rất mật thiết với nhau và cấu thành một ban điều hành đan xen của các năng lượng và mãnh lực vốn về bản chất là sinh động, điện lực, năng động và sáng tạo. Về căn bản chúng phụ thuộc lẫn nhau, và toàn bộ sức khỏe nội tại của cơ thể hồng trần tùy thuộc vào chúng. Trước hết chúng đáp ứng với một hay một thể khác (cảm xúc hay trí tuệ), rồi đến phàm ngã tích hợp và cung của nó, và cuối cùng đến cung linh hồn khi nó bắt đầu nắm quyền kiểm soát. Trên thực tế, chúng chịu trách nhiệm cho việc tạo ra thể xác và—sau khi sinh—chúng tác động lên phẩm tính tâm lý của nó, và điều này đến lượt nó tạo ra con người thể xác đang phát triển. Chúng là các tác nhân cho ba phương diện thiêng liêng của mọi biểu hiện: sự sống phẩm tính sắc tướng.

4. The blood stream. This is the carrier of the life principle and of the combined energies and forces of the three above systems. This will be an idea of some novelty to the orthodox. The relationship of the circulatory system of the blood to the nervous system has not been as yet adequately developed in modern medicine. Much, however, has been done to relate the glandular system to the blood.

4. Dòng máu. Đây là vật mang nguyên khí sự sống và các năng lượng cùng mãnh lực kết hợp của ba hệ thống trên. Đây sẽ là một ý tưởng phần nào mới lạ đối với giới chính thống. Mối liên hệ của hệ tuần hoàn máu với hệ thần kinh cho đến nay vẫn chưa được phát triển đầy đủ trong y học hiện đại. Tuy nhiên, đã có nhiều việc được thực hiện để liên hệ hệ tuyến với máu.

[143]

[143]

Only when these four interrelated systems are viewed as one integrated whole and as the four aspects of one vital circulatory system will the truth emerge. Only as they are acknowledged to be the four major distributing agents of the combined rays of the individual man will the true nature of material phenomena be grasped. It might be added here that:

Chỉ khi nào bốn hệ thống liên hệ qua lại này được nhìn như một toàn thể tích hợp và như bốn phương diện của một hệ tuần hoàn sinh động duy nhất thì chân lý mới xuất hiện. Chỉ khi nào chúng được thừa nhận là bốn tác nhân phân phối chính của các cung kết hợp của cá nhân con người thì bản chất thực sự của các hiện tượng vật chất mới được nắm bắt. Có thể thêm ở đây rằng:

1. The etheric vehicle from the circulatory angle, is governed by the Moon, as it veils Vulcan.

1. Vận cụ dĩ thái, xét từ góc độ tuần hoàn, được cai quản bởi Mặt Trăng, khi nó che giấu Vulcan.

2. The nervous system is ruled by Venus.

2. Hệ thần kinh được cai quản bởi Sao Kim.

3. The endocrine system is governed by Saturn.

3. Hệ nội tiết được cai quản bởi Sao Thổ.

4. The blood stream is governed by Neptune.

4. Dòng máu được cai quản bởi Sao Hải Vương.

These four systems are in reality the manifestation of the four aspects of matter in its lowest or purely physical expression. There are other aspects of expression of the fundamental substance, but these are the four of greatest importance.

Bốn hệ thống này trên thực tế là biểu hiện của bốn phương diện của vật chất trong biểu lộ thấp nhất hay thuần hồng trần của nó. Có những phương diện biểu lộ khác của chất liệu căn bản, nhưng đây là bốn phương diện quan trọng nhất.

Each of these is essentially dual, and each duality corresponds to the ray of the soul or of the personality. Each is therefore both positive and negative; each can be described as a unit of resistant force and of dynamic energy; each is a combination of certain aspects of matter and substance—the matter being the relatively static aspect, and the substance the relatively fluid or quality-endowing agent. Their interplay, relationship and unified function are an expression of the One Life Principle, and when they have reached a point of perfected fusion or synthesis or coordinated activity there then appears that “life more abundantly” of which Christ spoke and of which we, as yet, know nothing. The four aspects of matter produce the correspondence also to the four divine attributes as well as to the three divine aspects.

Mỗi phương diện này về bản chất là kép, và mỗi tính kép tương ứng với cung của linh hồn hay của phàm ngã. Vì vậy mỗi cái vừa dương vừa âm; mỗi cái có thể được mô tả như một đơn vị của mãnh lực kháng cự và của năng lượng năng động; mỗi cái là một sự kết hợp của một số phương diện của vật chất và chất liệu—vật chất là phương diện tương đối tĩnh, còn chất liệu là tác nhân tương đối lưu động hay ban phẩm tính. Sự tương tác, mối liên hệ và chức năng hợp nhất của chúng là một biểu hiện của Nguyên Khí Sự Sống Duy Nhất, và khi chúng đạt đến một điểm dung hợp hay tổng hợp hay hoạt động phối hợp hoàn hảo thì khi ấy xuất hiện “sự sống dồi dào hơn” mà Đức Christ đã nói đến và điều mà chúng ta, cho đến nay, vẫn chưa biết gì. Bốn phương diện của vật chất cũng tạo ra sự tương ứng với bốn thuộc tính thiêng liêng cũng như với ba phương diện thiêng liêng.

[144]

[144]

The analogy of the basic dualism of all manifestation is also preserved, thus making the nine of initiation—the three, the four and the two. This correspondence to the initiatory process is, however, in the reverse direction, for it is initiation into the creative third aspect, the matter aspect and the world of intelligent activity. It is not initiation into the second or soul aspect, as is the case with the hierarchical initiations for which the disciple is preparing. It is the initiation of the soul into the experience of physical incarnation, into physical plane existence, and into the art of functioning as a human being. The door into this experience is the “Gate of Cancer.” Initiation into the kingdom of God is entered through the “Gate of Capricorn.” These four attributes and the three aspects of matter, plus their dual activity, are the correspondence to the four aspects of the personality and the Spiritual Triad and their dual active relationship. In this statement is hidden the key to liberation.

Sự tương đồng của nhị nguyên tính căn bản của mọi biểu hiện cũng được bảo tồn, do đó tạo thành số chín của điểm đạo—ba, bốn và hai. Tuy nhiên, sự tương ứng này với tiến trình điểm đạo lại theo chiều ngược lại, vì đó là điểm đạo vào phương diện sáng tạo thứ ba, phương diện vật chất và thế giới của hoạt động thông minh. Đó không phải là điểm đạo vào phương diện thứ hai hay phương diện linh hồn, như trường hợp của các cuộc điểm đạo của Thánh đoàn mà đệ tử đang chuẩn bị. Đó là điểm đạo của linh hồn vào kinh nghiệm lâm phàm hồng trần, vào sự hiện hữu trên cõi hồng trần, và vào nghệ thuật hoạt động như một con người. Cánh cửa đi vào kinh nghiệm này là “Cổng Cự Giải.” Điểm đạo vào Thiên Giới được bước vào qua “Cổng Ma Kết.” Bốn thuộc tính này và ba phương diện của vật chất, cộng với hoạt động kép của chúng, là sự tương ứng với bốn phương diện của phàm ngã và Tam Nguyên Tinh Thần cùng mối liên hệ hoạt động kép của chúng. Trong phát biểu này ẩn giấu chìa khóa của sự giải thoát.

The Seven Major Centres

Bảy Trung Tâm Chính

It would be of value here if we consider for a moment the nature of the centres themselves, summarising somewhat the teaching already given in my other books, and so presenting a clear picture of the energy body which underlies the dense physical vehicle.

Sẽ có giá trị ở đây nếu chúng ta xét trong chốc lát bản chất của chính các trung tâm, tóm lược phần nào giáo huấn đã được đưa ra trong các sách khác của tôi, và như vậy trình bày một bức tranh rõ ràng về thể năng lượng làm nền cho vận cụ hồng trần đậm đặc.

There are many focal points of force within the body, but we shall deal only with the major seven which control in some degree or other all the remaining. In that way we shall not be confused. We shall consider the five centres found upon the spinal column and the two which are found in the head.

Có nhiều tiêu điểm mãnh lực trong thể, nhưng chúng ta sẽ chỉ bàn đến bảy trung tâm chính, những trung tâm kiểm soát ở mức độ nào đó tất cả các trung tâm còn lại. Bằng cách đó chúng ta sẽ không bị rối. Chúng ta sẽ xét năm trung tâm nằm trên cột sống và hai trung tâm nằm trong đầu.

1. The Head Centre. This is located at the very top of the head. It is frequently called “the thousand-petalled lotus” or the Brahmarandra. [145]

1. Trung tâm đầu. Trung tâm này nằm ở đỉnh đầu. Nó thường được gọi là “hoa sen ngàn cánh” hay Brahmarandra. [145]

a. It corresponds to the central spiritual sun.

a. Nó tương ứng với Mặt trời Tinh thần Trung Ương.

b. It is brought into functioning activity after the third initiation and is the organ for the distribution of monadic energy, of the will aspect of divinity.

b. Nó được đưa vào hoạt động chức năng sau lần điểm đạo thứ ba và là cơ quan để phân phối năng lượng chân thần, phương diện ý chí của thiên tính.

c. It is related to the triple personality by the antahkarana, which disciples and initiates are in process of constructing and which reaches its full usefulness only after the destruction of the causal body at the fourth initiation.

c. Nó liên hệ với phàm ngã tam phân bằng antahkarana, mà các đệ tử và điểm đạo đồ đang trong tiến trình xây dựng và chỉ đạt đến tính hữu dụng trọn vẹn sau khi thể nguyên nhân bị hủy diệt ở lần điểm đạo thứ tư.

d. It is the Shamballa centre in the physical body and the agent of the Father or of the first divine aspect.

d. Nó là trung tâm Shamballa trong thể xác và là tác nhân của Chúa Cha hay của phương diện thiêng liêng thứ nhất.

e. It registers purpose, corresponds to the “electric fire” of the solar system, and is dynamic in quality.

e. Nó ghi nhận mục đích, tương ứng với “Lửa Điện” của hệ mặt trời, và có phẩm tính năng động.

f. Its dense physical externalisation is the pineal gland in the head. This remains active during infancy and until the will-to-be is sufficiently established so that the incarnating person is firmly anchored in physical incarnation. In the final stages of divine expression in man it again comes into activity and usefulness as the agent for the accomplishment on earth of the will energy of established Being.

f. Sự ngoại hiện hồng trần đậm đặc của nó là tuyến tùng trong đầu. Tuyến này vẫn hoạt động trong thời thơ ấu và cho đến khi ý chí-hiện-hữu được thiết lập đầy đủ để con người đang nhập thể được neo vững chắc trong sự lâm phàm hồng trần. Trong các giai đoạn cuối của biểu lộ thiêng liêng nơi con người, nó lại đi vào hoạt động và hữu dụng như tác nhân để hoàn thành trên Trái Đất năng lượng ý chí của Bản Thể đã được thiết lập.

g. It is the organ of synthesis because, after the third initiation and prior to the destruction of the causal body, it gathers into itself the energies of all the three aspects of manifested life. Where man is concerned, this means the energies of the Spiritual Triad, of the threefold egoic lotus and of the triple personality, thus again making the nine of initiation. The energies thus synchronised and focussed in, around and above [146] the head are of great beauty and extensive radiation, plus dynamic effectiveness. They serve to relate the initiate to all parts of the planetary life, to the Great Council at Shamballa, and to the Lord of the World, the final Initiator—via the Buddha and one of the three Buddhas of Activity. The Buddha, in a most peculiar sense, relates the initiate to the second aspect of divinity—that of love—and therefore to the Hierarchy; the Buddhas of Activity relate him to the third aspect of divinity, that of active intelligence. Thus the energy of will, of consciousness and of creativity meet in him, providing the synthesis of the divine aspects.

g. Nó là cơ quan của tổng hợp bởi vì, sau lần điểm đạo thứ ba và trước khi thể nguyên nhân bị hủy diệt, nó thu tập vào chính nó các năng lượng của cả ba phương diện của sự sống biểu hiện. Xét nơi con người, điều này có nghĩa là các năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần, của Hoa Sen Chân Ngã tam phân và của phàm ngã tam phân, như vậy một lần nữa tạo thành số chín của điểm đạo. Các năng lượng được đồng bộ hóa và tập trung như thế trong, quanh và trên [146] đầu có vẻ đẹp lớn lao và bức xạ rộng khắp, cộng với hiệu quả năng động. Chúng dùng để liên hệ điểm đạo đồ với mọi phần của sự sống hành tinh, với Đại Hội Đồng tại Shamballa, và với Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Điểm đạo tối hậu—qua Đức Phật và một trong ba vị Phật Hoạt Động. Đức Phật, theo một ý nghĩa rất đặc biệt, liên hệ điểm đạo đồ với phương diện thứ hai của thiên tính—đó là bác ái—và do đó với Thánh Đoàn; các vị Phật Hoạt Động liên hệ y với phương diện thứ ba của thiên tính, đó là trí tuệ hoạt động. Như vậy năng lượng của ý chí, của tâm thức và của sáng tạo gặp nhau trong y, cung cấp sự tổng hợp của các phương diện thiêng liêng.

h. This is the only one of the seven centres which at the time of perfected liberation retains the position of an inverted lotus, with the stem of the lotus (the antahkarana, in reality) reaching up into “the seventh Heaven,” thus linking the initiate with the first major planetary centre, Shamballa. All the other centres start by being inverted, with all the petals turned downwards towards the base of the spine; all, in the process of evolution, gradually unfold their petals and then slowly turn upwards “towards the summit of the rod,” as it is called in the Old Commentary. The above is a piece of information which is of small value, except in so far as it presents a truth, completes a picture, and gives the student a symbolic idea of that which is essentially a distributing agent of the will energy of Deity.

h. Đây là trung tâm duy nhất trong bảy trung tâm mà vào lúc giải thoát hoàn hảo vẫn giữ vị trí của một hoa sen đảo ngược, với cuống hoa sen (thực ra là antahkarana) vươn lên “cõi trời thứ bảy,” nhờ đó liên kết điểm đạo đồ với trung tâm hành tinh lớn thứ nhất, Shamballa. Tất cả các trung tâm khác khởi đầu bằng việc bị đảo ngược, với mọi cánh hoa quay xuống dưới về phía đáy cột sống; tất cả, trong tiến trình tiến hoá, dần dần mở các cánh hoa của mình rồi chậm rãi quay lên trên “về phía đỉnh của thần trượng,” như được gọi trong Cổ Luận. Điều trên là một mẩu thông tin ít giá trị, ngoại trừ ở chỗ nó trình bày một chân lý, hoàn chỉnh một bức tranh, và cho đạo sinh một ý niệm biểu tượng về điều vốn về bản chất là một tác nhân phân phối năng lượng ý chí của Thượng đế.

2. The Ajna Centre. This is the centre between the eyebrows and is found in the region of the head just above [147] the two eyes, where it “acts as a screen for the radiant beauty and the glory of the spiritual man.”

2. Trung tâm Ajna. Đây là trung tâm giữa hai chân mày và được tìm thấy trong vùng đầu ngay phía trên [147] hai mắt, nơi nó “hoạt động như một tấm màn cho vẻ đẹp rạng ngời và vinh quang của con người tinh thần.”

a. It corresponds to the physical sun and is the expression of the personality, integrated and functioning—first of all as the disciple, and finally as the initiate. This is the true persona or mask.

a. Nó tương ứng với mặt trời hồng trần và là biểu hiện của phàm ngã, đã được tích hợp và đang hoạt động—trước hết như đệ tử, và cuối cùng như điểm đạo đồ. Đây là persona hay chiếc mặt nạ đích thực.

b. It achieves this functioning activity fully by the time the third initiation is taken. I would remind you that this initiation is regarded by the Hierarchy as the first major initiation, a fact which I have already communicated. It is the organ for the distribution of the energy of the third aspect—the energy of active intelligence.

b. Nó đạt được hoạt động chức năng này một cách trọn vẹn vào lúc lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận. Tôi xin nhắc bạn rằng lần điểm đạo này được Thánh đoàn xem là lần điểm đạo lớn đầu tiên, một sự kiện mà tôi đã truyền đạt trước đây. Nó là cơ quan để phân phối năng lượng của phương diện thứ ba—năng lượng của trí tuệ linh hoạt.

c. It is related to the personality by the creative thread of life, and is therefore closely connected with the throat centre (the centre of creative activity), just as the head centre is related to the centre at the base of the spine. An active interplay, once established between the ajna centre and the throat centre, produces a creative life and a manifested expression of the divine idea on the part of the initiate. In the same way, the active interplay between the head centre and the centre at the base of the spine produces the manifestation of the divine will or purpose. The forces of the ajna and the throat centres, when combined, produce the highest manifestation of “fire by friction,” just as the energies of the head centre and the basic centre produce the individual “electric fire” which, when fully expressing itself, we call the kundalini fire.

c. Nó liên hệ với phàm ngã qua sợi dây sáng tạo của sự sống, và vì thế gắn bó mật thiết với trung tâm cổ họng (trung tâm của hoạt động sáng tạo), cũng như trung tâm đầu liên hệ với trung tâm ở đáy cột sống. Một sự tương tác linh hoạt, một khi đã được thiết lập giữa trung tâm ajna và trung tâm cổ họng, sẽ tạo ra một đời sống sáng tạo và một biểu hiện hiển lộ của ý tưởng thiêng liêng nơi điểm đạo đồ. Cũng theo cách đó, sự tương tác linh hoạt giữa trung tâm đầu và trung tâm ở đáy cột sống tạo ra sự biểu hiện của ý chí hay mục đích thiêng liêng. Các lực của trung tâm ajna và trung tâm cổ họng, khi kết hợp, tạo ra biểu hiện cao nhất của “Lửa ma sát,” cũng như các năng lượng của trung tâm đầu và trung tâm đáy tạo ra “Lửa Điện” cá nhân mà khi tự biểu lộ trọn vẹn, chúng ta gọi là lửa kundalini.

d. It is the centre through which the fourth Creative Hierarchy on its own plane finds expression, [148] and here also this Hierarchy and fourth kingdom in nature, the human family are fused and blended. The head centre relates the monad and the personality. The ajna centre relates the Spiritual Triad (the expression of the monad in the formless worlds) to the personality. Ponder on this statement, because you have here—in the symbolism of the head centre, physically considered—the reflection of the spiritual will, atma, and spiritual love, buddhi. Here also comes in the teaching on the place of the eyes in the development of conscious expression, creatively carrying forward the divine purpose.

d. Nó là trung tâm mà qua đó Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư trên cõi riêng của mình tìm được sự biểu lộ, [148] và cũng chính tại đây Huyền Giai này và giới thứ tư trong thiên nhiên, gia đình nhân loại, được dung hợp và hòa trộn. Trung tâm đầu liên hệ chân thần với phàm ngã. Trung tâm ajna liên hệ Tam Nguyên Tinh Thần (sự biểu lộ của chân thần trong các thế giới vô tướng) với phàm ngã. Hãy suy ngẫm về phát biểu này, vì ở đây—trong biểu tượng của trung tâm đầu, xét về mặt thể xác—bạn có sự phản ánh của ý chí tinh thần, atma, và tình thương tinh thần, Bồ đề. Ở đây cũng xuất hiện giáo huấn về vị trí của đôi mắt trong sự phát triển của biểu hiện hữu thức, mang mục đích thiêng liêng tiến lên một cách sáng tạo.

The Third Eye….. the head centre….. Will. Atma.

Con Mắt Thứ Ba….. trung tâm đầu….. Ý chí. Atma.

The eye of the Father, the Monad. SHAMBALLA.

Con mắt của Cha, Chân thần. SHAMBALLA.

The first aspect of will or power and purpose.

Phương diện thứ nhất của ý chí hay quyền năng và mục đích.

Related to the pineal gland.

Liên hệ với tuyến tùng quả.

The Right Eye….. the ajna centre…..Love. Buddhi.

Mắt Phải….. trung tâm ajna….. Bác ái. Bồ đề.

The eye of the Son, the Soul. HIERARCHY.

Con mắt của Con, Linh hồn. THÁNH ĐOÀN.

The second aspect of love-wisdom.

Phương diện thứ hai của Bác Ái – Minh Triết.

Related to the pituitary body.

Liên hệ với thể tuyến yên.

The Left Eye….. the throat centre….. Active Intelligence.

Mắt Trái….. trung tâm cổ họng….. Trí Tuệ Linh Hoạt.

The eye of the Mother, the personality. HUMANITY.

Con mắt của Mẹ, phàm ngã. NHÂN LOẠI.

The third aspect of intelligence.

Phương diện thứ ba của trí tuệ.

Related to the carotid gland.

Liên hệ với tuyến cảnh.

When these three eyes are functioning and all of them “seeing” simultaneously, you will then have insight into divine purpose (the initiate), intuitive vision of the plan (the disciple), and a spiritual direction of the resulting creative activity (the Master).

Khi ba con mắt này hoạt động và tất cả đều “thấy” đồng thời, khi ấy bạn sẽ có sự thấu suốt về mục đích thiêng liêng (điểm đạo đồ), linh thị trực giác về Thiên Cơ (đệ tử), và sự định hướng tinh thần đối với hoạt động sáng tạo phát sinh từ đó (Chân sư).

e. The ajna centre registers or focusses the intention to create. It is not the organ of creation in the [149] same sense that the throat centre is, but it embodies the idea lying behind active creativity, the subsequent act of creation producing eventually the ideal form for the idea.

e. Trung tâm ajna ghi nhận hay tập trung ý định sáng tạo. Nó không phải là cơ quan sáng tạo theo cùng ý nghĩa như trung tâm cổ họng, [149] nhưng nó thể hiện ý tưởng nằm phía sau tính sáng tạo linh hoạt, còn hành vi sáng tạo tiếp theo rốt cuộc tạo ra hình tướng lý tưởng cho ý tưởng đó.

f. Its dense physical externalisation is the pituitary body: the two lobes of this gland correspond to the two multiple petals of the ajna centre. It expresses imagination and desire in their two highest forms, and these are the dynamic factors lying behind all creation.

f. Sự ngoại hiện hồng trần đậm đặc của nó là thể tuyến yên: hai thùy của tuyến này tương ứng với hai cánh hoa đa phân của trung tâm ajna. Nó biểu lộ sự tưởng tượng và dục vọng trong hai hình thức cao nhất của chúng, và đây là các yếu tố năng động nằm phía sau mọi sáng tạo.

g. It is the organ of idealism therefore, and,—curiously enough—it is closely related to the sixth ray, just as the head centre is essentially related to the first ray. The sixth is peculiarly linked to the third ray and the third aspect of divinity as well as to the second ray and the second aspect. It fuses, anchors and expresses. This is a fact which I have not hitherto emphasised in my other writings. The ajna centre is the point in the head where the dualistic nature of manifestation in the three worlds is symbolised. It fuses the creative energies of the throat and the sublimated energies of desire or the true love of the heart.

g. Vì vậy, nó là cơ quan của chủ nghĩa lý tưởng, và—điều khá lạ lùng—nó liên hệ mật thiết với cung sáu, cũng như trung tâm đầu về bản chất liên hệ với cung một. Cung sáu được nối kết một cách đặc biệt với cung ba và phương diện thứ ba của thiên tính cũng như với cung hai và phương diện thứ hai. Nó dung hợp, neo giữ và biểu lộ. Đây là một sự kiện mà cho đến nay tôi chưa nhấn mạnh trong các trước tác khác của tôi. Trung tâm ajna là điểm trong đầu nơi bản chất nhị nguyên tính của sự biểu hiện trong ba cõi thấp được tượng trưng. Nó dung hợp các năng lượng sáng tạo của cổ họng và các năng lượng đã được thăng hoa của dục vọng hay tình thương chân chính của tim.

h. This centre, having only two real petals, is not a true lotus in the same sense as are the other centres. Its petals are composed of 96 lesser petals or units of force (48 + 48 = 96) but these do not assume the flower shape of the other lotuses. They spread out like the wings of an airplane to the right and left of the head, and are symbolic of the right hand path and the left hand path, of the way of matter and the way of spirit. They constitute symbolically, therefore, the two [150] arms of the Cross upon which the man is crucified—two streams of energy or light placed athwart the stream of life descending from the monad to the base of the spine and passing through the head.

h. Trung tâm này, chỉ có hai cánh hoa thực sự, không phải là một hoa sen đích thực theo cùng ý nghĩa như các trung tâm khác. Các cánh hoa của nó được cấu thành bởi 96 cánh hoa nhỏ hơn hay đơn vị lực (48 + 48 = 96) nhưng chúng không mang hình dạng hoa như các hoa sen khác. Chúng xòe ra như cánh của một chiếc máy bay về bên phải và bên trái đầu, và là biểu tượng của chánh đạo và tả đạo, của con đường vật chất và con đường tinh thần. Vì vậy, về mặt biểu tượng, chúng cấu thành hai [150] cánh tay của Thập Giá mà trên đó con người bị đóng đinh—hai dòng năng lượng hay ánh sáng đặt ngang qua dòng sự sống đi xuống từ chân thần đến đáy cột sống và đi qua đầu.

The idea of relativity is one that must ever be held in mind as the student seeks to comprehend the centres, interiorly related within the etheric body, related at the same time to the subtler bodies, to the states of consciousness which are synonymous to states of being and of expression, to ray energies, to environing conditions, to the three periodical vehicles (as H. P. B. calls the personality, the threefold soul and the Spiritual Triad), to Shamballa and to the totality of manifested Lives. The complexity of the subject is extreme, but when the disciple or initiate is functioning in the three worlds and the various energies of the whole man are “grounded” in the earthbound man, then the situation becomes clearer. I use the expression “grounded” in its true and correct sense, and not as the description of a man who has discarded his physical body as the spiritualists use the term. Certain recognitions in time and space become possible; certain effects can be noted, certain ray influences appear more dominant than others; certain “patterns of being” appear; an expression of a spiritual Being at a certain point of conscious experience emerges into clarity and can then be spiritually diagnosed. Its aspects and attributes, its forces and energies, can be determined at that time and for a particular created expression of life. This must be borne in mind, and the thoughts of the student must not be permitted to rove too far afield but must be concentrated upon the appearance of the man (himself or another) and upon the emerging quality. When that student is a disciple or an initiate, he will be able also to study the life aspect.

Ý tưởng về tính tương đối là điều mà đạo sinh phải luôn ghi nhớ khi tìm cách thấu hiểu các trung tâm, vốn liên hệ nội tại bên trong thể dĩ thái, đồng thời liên hệ với các thể vi tế hơn, với các trạng thái tâm thức đồng nghĩa với các trạng thái hiện hữu và biểu lộ, với các năng lượng cung, với các điều kiện chung quanh, với ba vận cụ chu kỳ (như H. P. B. gọi phàm ngã, linh hồn tam phân và Tam Nguyên Tinh Thần), với Shamballa và với tổng thể các Sự Sống đã biểu hiện. Tính phức tạp của đề tài này là cực độ, nhưng khi đệ tử hay điểm đạo đồ đang hoạt động trong ba cõi giới và các năng lượng khác nhau của toàn thể con người được “nối đất” trong con người bị ràng buộc vào đất, thì tình hình trở nên rõ ràng hơn. Tôi dùng từ “nối đất” theo ý nghĩa chân chính và đúng đắn của nó, chứ không phải như cách các nhà thần linh học dùng để mô tả một người đã bỏ thể xác của mình. Một số sự nhận biết trong thời gian và không gian trở nên khả hữu; một số hiệu quả có thể được ghi nhận, một số ảnh hưởng cung xuất hiện trội hơn những ảnh hưởng khác; một số “mô hình hiện hữu” xuất hiện; một biểu hiện của một Hữu thể tinh thần tại một điểm kinh nghiệm hữu thức nhất định nổi lên rõ ràng và khi ấy có thể được chẩn đoán một cách tinh thần. Các phương diện và thuộc tính, các lực và năng lượng của nó, có thể được xác định vào lúc đó và đối với một biểu hiện sự sống được sáng tạo cụ thể. Điều này phải được ghi nhớ, và tư tưởng của đạo sinh không được phép lang thang quá xa mà phải tập trung vào vẻ ngoài của con người (chính y hay người khác) và vào phẩm tính đang xuất hiện. Khi đạo sinh ấy là một đệ tử hay một điểm đạo đồ, y cũng sẽ có thể nghiên cứu phương diện sự sống.

[151]

[151]

Our study will, however, be somewhat different, for we shall attempt to discover the diseases and difficulties incident to the energy stimulation or the lack of stimulation of the centres, and so arrive at some of the effects which this energy inflow and conflict with forces will produce.

Tuy nhiên, việc nghiên cứu của chúng ta sẽ có phần khác đi, vì chúng ta sẽ cố gắng khám phá các bệnh tật và khó khăn phát sinh từ sự kích thích năng lượng hay sự thiếu kích thích của các trung tâm, và nhờ đó đi đến một số hiệu quả mà dòng năng lượng tuôn vào này và sự xung đột với các lực sẽ tạo ra.

3. The Throat Centre. This centre is to be found at the back of the neck, reaching up into the medulla oblongata, thus involving the carotid gland, and down towards the shoulder blades. It is an exceedingly powerful and well developed centre where average humanity is concerned. It is interesting to note in this connection that

3. Trung Tâm Cổ Họng. Trung tâm này nằm ở phía sau cổ, vươn lên vào hành tủy, do đó bao gồm tuyến cảnh, và kéo xuống về phía hai xương bả vai. Đây là một trung tâm cực kỳ mạnh mẽ và phát triển tốt nơi nhân loại trung bình. Điều đáng chú ý trong mối liên hệ này là

a. The throat centre is ruled by Saturn just as the two head centres are ruled respectively by Uranus (ruling the head centre) and Mercury (ruling the ajna centre). This is only where the disciple is concerned; the rulership changes after the third initiation or before the first. These three planets constitute a most interesting triangle of forces and in the following triplicities and their inevitable inter-relations you have—again only in the case of disciples—a most amazing picture story or symbol of the ninefold of initiation:

a. Trung tâm cổ họng do Sao Thổ cai quản cũng như hai trung tâm đầu lần lượt do Sao Thiên Vương (cai quản trung tâm đầu) và Sao Thủy (cai quản trung tâm ajna) cai quản. Điều này chỉ đúng trong trường hợp đệ tử; sự cai quản thay đổi sau lần điểm đạo thứ ba hoặc trước lần điểm đạo thứ nhất. Ba hành tinh này tạo thành một tam giác lực rất đáng chú ý và trong các bộ ba sau đây cùng những tương liên tất yếu của chúng, bạn có—một lần nữa chỉ trong trường hợp các đệ tử—một bức tranh biểu tượng hết sức kỳ diệu về tính cửu phân của điểm đạo:

1. The head centre

1. Trung tâm đầu

The ajna centre

Trung tâm ajna

The throat centre

Trung tâm cổ họng

2. The third eye

2. Con mắt thứ ba

The right eye

Mắt phải

The left eye

Mắt trái

3. The pineal gland

3. Tuyến tùng quả

The pituitary body

Thể tuyến yên

The carotid gland

Tuyến cảnh

thus presenting the mechanism through which the Spiritual Triad, the soul and the personality work. [152] The key to a right understanding of process lies in the relation of the three planets: Uranus, Mercury and Saturn, as they pour their energies through these nine “points of spiritual contact” upon the physical plane into the “grounded sphere of light and power which is the man in time and space.”

như thế trình bày bộ máy mà qua đó Tam Nguyên Tinh Thần, linh hồn và phàm ngã hoạt động. [152] Chìa khóa để thấu hiểu đúng tiến trình nằm trong mối liên hệ của ba hành tinh: Sao Thiên Vương, Sao Thủy và Sao Thổ, khi chúng tuôn các năng lượng của mình qua chín “điểm tiếp xúc tinh thần” này trên cõi hồng trần vào “khối cầu ánh sáng và quyền năng đã được nối đất, tức là con người trong thời gian và không gian.”

b. This centre is related to the first initiation and develops great activity when that point in experience is achieved, as it has been achieved by the vast majority of men who are at this time the aspirants and the probationary disciples of the world. (Forget not that, technically speaking, the first major initiation from the hierarchical angle is the third. The first initiation is regarded by the Masters as signifying admission to the Path. It is called an initiation, by humanity, because in Lemurian days, it was then the first initiation, signifying entrance into complete physical control). It is the organ for the distribution of creative energy, of the energy of the third aspect by souls at the above point of evolution. There are three centres in the human being which are related to and the major expression of the third ray or aspect at certain differing stages of development upon the path:

b. Trung tâm này liên hệ với lần điểm đạo thứ nhất và phát triển hoạt động mạnh khi điểm kinh nghiệm đó đạt được, như đã được đạt tới bởi đại đa số những người nam và nữ hiện nay là những người chí nguyện và các đệ tử dự bị của thế giới. (Đừng quên rằng, nói theo kỹ thuật, lần điểm đạo lớn đầu tiên theo góc nhìn của Thánh đoàn là lần thứ ba. Lần điểm đạo thứ nhất được các Chân sư xem là biểu thị sự gia nhập vào Con Đường. Nó được nhân loại gọi là một lần điểm đạo vì trong thời Lemuria, khi ấy đó là lần điểm đạo thứ nhất, biểu thị sự bước vào sự kiểm soát thể xác hoàn toàn). Nó là cơ quan để phân phối năng lượng sáng tạo, năng lượng của phương diện thứ ba bởi các linh hồn ở điểm tiến hoá nói trên. Có ba trung tâm trong con người liên hệ với và là biểu hiện chính của cung ba hay phương diện thứ ba ở những giai đoạn phát triển khác nhau trên đường đạo:

1. The sacral centre for the undeveloped and the average man.

1. Trung tâm xương cùng dành cho người chưa phát triển và người trung bình.

2. The throat centre for the aspirant and probationary disciple.

2. Trung tâm cổ họng dành cho người chí nguyện và đệ tử dự bị.

3. The ajna centre for disciples and initiates.

3. Trung tâm ajna dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ.

Here again you have a great triplicity of energies, containing great potencies today, owing to the fact that the expression of the third aspect of active intelligence [153] has reached such heights through human development and consciousness.

Ở đây một lần nữa bạn có một bộ ba lớn của các năng lượng, chứa đựng những tiềm lực lớn lao ngày nay, do sự kiện rằng biểu hiện của phương diện thứ ba là trí tuệ linh hoạt [153] đã đạt đến những đỉnh cao như thế qua sự phát triển và tâm thức của nhân loại.

c. It is related to the personality by the creative thread, to the soul by the thread of consciousness, and to the monad by the sutratma or life thread. It is not related to any of the divine aspects by the antahkarana because that thread which links monad and personality directly (and finally independently of the soul) simply anchors the monadic expression of life in the head, at the head centre. Then direct consciousness is established between the monad and the personality, and a great duality comes into being. Life, consciousness and form are then all focussed creatively and actively in the head, and their activity is directed from the head via the two head centres. The ajna centre only comes into creative activity when the antahkarana has been built. In the earlier stages it is the throat centre which is the creative agent, and in the earliest period of all the sacral centre is active. You have, however, one interesting thing to remember. The building of the antahkarana only becomes genuinely possible when the creative life of the aspirant shifts from the sacral centre into the throat and is becoming factual and expressive. Of this connecting “bridge,” the neck itself is the symbol, as it relates the head—alone and isolated—to the dual torso, consisting of that which lies above the diaphragm and that which lies below—the symbol of the soul and the personality united, fused and blended into one. The head is the symbol of what Patanjali describes as the state of “isolated unity.”

c. Nó liên hệ với phàm ngã qua sợi dây sáng tạo, với linh hồn qua Sợi dây Tâm thức, và với chân thần qua sutratma hay sinh mệnh tuyến. Nó không liên hệ với bất kỳ phương diện thiêng liêng nào qua antahkarana bởi vì sợi dây nối kết trực tiếp chân thần và phàm ngã (và cuối cùng độc lập với linh hồn) chỉ đơn giản neo giữ biểu hiện sự sống chân thần trong đầu, tại trung tâm đầu. Khi ấy tâm thức trực tiếp được thiết lập giữa chân thần và phàm ngã, và một nhị nguyên tính lớn xuất hiện. Sự sống, tâm thức và hình tướng khi ấy đều được tập trung một cách sáng tạo và linh hoạt trong đầu, và hoạt động của chúng được điều khiển từ đầu qua hai trung tâm đầu. Trung tâm ajna chỉ đi vào hoạt động sáng tạo khi antahkarana đã được xây dựng. Trong các giai đoạn sớm hơn, chính trung tâm cổ họng là tác nhân sáng tạo, và trong thời kỳ sớm nhất thì trung tâm xương cùng hoạt động. Tuy nhiên, có một điều thú vị bạn cần nhớ. Việc xây dựng antahkarana chỉ thực sự trở nên khả hữu khi đời sống sáng tạo của người chí nguyện chuyển từ trung tâm xương cùng lên cổ họng và đang trở nên thực tế và biểu lộ. Chính cổ là biểu tượng của “cây cầu” nối kết này, vì nó liên hệ cái đầu—đơn độc và cô lập—với thân mình nhị phân, gồm phần ở trên cơ hoành và phần ở dưới—biểu tượng của linh hồn và phàm ngã được hợp nhất, dung hợp và hòa trộn thành một. Cái đầu là biểu tượng của điều mà Patanjali mô tả là trạng thái “Hợp Nhất Cô Lập.”

d. It is the centre through which the intelligence aspect of humanity focusses creatively. It is therefore the [154] centre through which the creative energy of that great planetary centre called Humanity flows. The three major planetary centres are Shamballa, Hierarchy and Humanity. When perfection has been achieved, the Shamballa energy of will, power and purpose will pour freely through the head centre, the love-wisdom energies of the Hierarchy will flow through the heart centre, and the energy of humanity will focus through the throat centre, with the ajna centre acting as the agent of all three. Then will take place a new activity on the part of mankind. It is the task of relating the three superhuman kingdoms to the three subhuman kingdoms, and thus establishing the new heavens and the new earth. Then humanity will have reached the summit of its evolutionary goal on this Earth.

d. Nó là trung tâm mà qua đó phương diện trí tuệ của nhân loại tập trung một cách sáng tạo. Vì vậy, nó là [154] trung tâm mà qua đó năng lượng sáng tạo của đại trung tâm hành tinh gọi là Nhân Loại tuôn chảy. Ba trung tâm hành tinh chính là Shamballa, Thánh đoàn và Nhân Loại. Khi sự hoàn thiện đã đạt được, năng lượng ý chí, quyền năng và mục đích của Shamballa sẽ tuôn chảy tự do qua trung tâm đầu, các năng lượng bác ái-minh triết của Thánh đoàn sẽ chảy qua trung tâm tim, và năng lượng của nhân loại sẽ tập trung qua trung tâm cổ họng, với trung tâm ajna hoạt động như tác nhân của cả ba. Khi ấy một hoạt động mới nơi nhân loại sẽ diễn ra. Đó là nhiệm vụ liên hệ ba giới siêu nhân với ba giới hạ nhân, và nhờ đó thiết lập trời mới và đất mới. Khi ấy nhân loại sẽ đạt tới đỉnh cao của mục tiêu tiến hoá của mình trên Trái Đất này.

e. The throat centre is the organ specifically of the creative WORD. It registers the intention or creative purpose of the soul, transmitted to it by the inflow of energy from the ajna centre; the fusion of the two energies, thus brought about, will lead to some type of creative activity. This is the higher correspondence to the creativity of the sacral centre. In that centre the negative and the positive creative energies are embodied in the separate male and female organisms and are brought into relation in an act of creation, consciously undertaken, though as yet without much definite purpose.

e. Trung tâm cổ họng là cơ quan đặc biệt của LINH TỪ sáng tạo. Nó ghi nhận ý định hay mục đích sáng tạo của linh hồn, được truyền đến nó bởi dòng năng lượng tuôn vào từ trung tâm ajna; sự dung hợp của hai năng lượng, do đó được tạo ra, sẽ dẫn đến một loại hoạt động sáng tạo nào đó. Đây là sự tương ứng cao hơn với tính sáng tạo của trung tâm xương cùng. Trong trung tâm đó, các năng lượng sáng tạo âm và dương được thể hiện trong các cơ thể nam và nữ riêng biệt và được đưa vào liên hệ trong một hành vi sáng tạo, được thực hiện một cách có ý thức, dù cho đến nay vẫn chưa có nhiều mục đích xác định.

f. The dense physical externalisation of this centre is the thyroid gland. This gland is regarded as of supreme importance in the well-being of the average human being of today. Its purpose is to guard health, to balance the bodily equilibrium in certain important aspects of the physical nature, and it symbolises [155] the third aspect of intelligence and of substance impregnated with mind. It is in reality connected with the Holy Ghost, or the third divine aspect in manifestation, “overshadowing” (as the Bible expresses it), the Mother, the Virgin Mary. The parathyroids are symbolic of Mary and Joseph and the relation they hold to the overshadowing Holy Ghost. It will eventually be determined that there is a close physiological relation existing between the thyroid gland and the pineal gland, and between the parathyroids and the two lobes of the pituitary body, thus bringing into one related system the entire area of the throat and of the head.

f. Sự ngoại hiện hồng trần đậm đặc của trung tâm này là tuyến giáp trạng. Tuyến này được xem là có tầm quan trọng tối cao đối với sự an lành của con người trung bình ngày nay. Mục đích của nó là bảo vệ sức khỏe, quân bình trạng thái cân bằng của cơ thể trong một số phương diện quan trọng của bản chất hồng trần, và nó tượng trưng cho [155] phương diện thứ ba của trí tuệ và của chất liệu được thấm nhuần bởi trí tuệ. Thực ra nó liên hệ với Chúa Thánh Thần, hay phương diện thiêng liêng thứ ba trong biểu hiện, “phủ bóng” (như Kinh Thánh diễn tả) lên Mẹ, Đức Trinh Nữ Mary. Các tuyến cận giáp tượng trưng cho Mary và Joseph và mối liên hệ mà họ giữ với Chúa Thánh Thần đang phủ bóng. Rốt cuộc người ta sẽ xác định được rằng có một mối liên hệ sinh lý chặt chẽ giữa tuyến giáp trạng và tuyến tùng quả, cũng như giữa các tuyến cận giáp và hai thùy của thể tuyến yên, nhờ đó đưa toàn bộ vùng cổ họng và đầu vào trong một hệ thống liên hệ thống nhất.

g. Just as the head symbolises the essentially dualistic nature of the manifested God, so the throat centre symbolises the triple nature of the divine expression. The dualistic nature appears fused and blended in the head in the relation between the two centres and their two dense physical reflections. The three great energies which are brought into play during the divine creative activity are unified in activity by the full expression of the energy flowing through the throat centre, through the apparatus of speech and the two lungs. You have in this relation: Life or Breath, the Word or the Soul, and the throat centre of Substance in activity.

g. Cũng như đầu tượng trưng cho bản chất nhị nguyên tính cốt yếu của Thượng đế biểu hiện, thì trung tâm cổ họng tượng trưng cho bản chất tam phân của biểu hiện thiêng liêng. Bản chất nhị nguyên tính xuất hiện được dung hợp và hòa trộn trong đầu qua mối liên hệ giữa hai trung tâm và hai phản ánh hồng trần đậm đặc của chúng. Ba năng lượng lớn được đưa vào hoạt động trong suốt hoạt động sáng tạo thiêng liêng được hợp nhất trong hoạt động nhờ sự biểu lộ trọn vẹn của năng lượng tuôn qua trung tâm cổ họng, qua bộ máy phát âm và hai lá phổi. Trong mối liên hệ này bạn có: Sự sống hay Hơi thở, Linh từ hay Linh hồn, và trung tâm cổ họng của Chất liệu trong hoạt động.

h. This lotus of the throat is inverted in the early stages of evolution, and its petals reach out towards the shoulders and include the two lungs or parts of them. During the life cycle of the soul, it slowly reverses itself, and its petals then reach out towards the two ears and include the medulla oblongata and the carotid gland. This gland is more closely related [156] to the thyroid gland than it is to the two other glands in the head.

h. Hoa sen cổ họng này bị đảo ngược trong các giai đoạn đầu của tiến hoá, và các cánh hoa của nó vươn ra về phía hai vai và bao gồm hai lá phổi hay các phần của chúng. Trong chu kỳ sống của linh hồn, nó từ từ tự đảo lại, và khi ấy các cánh hoa của nó vươn ra về phía hai tai và bao gồm hành tủy cùng tuyến cảnh. Tuyến này liên hệ mật thiết hơn [156] với tuyến giáp trạng hơn là với hai tuyến kia trong đầu.

Thus it will be apparent to you how whole areas of the physical organism can be brought into active and correct functioning, can be vitalised and kept in good and true condition by the activity in some form or another of the centre nearest to the area of the body under consideration. It will also be apparent to you that deficiency and disease can result from the inactivity of a centre.

Như vậy, bạn sẽ thấy rõ làm thế nào toàn bộ các vùng của cơ thể hồng trần có thể được đưa vào hoạt động đúng đắn và linh hoạt, có thể được tiếp sinh lực và được giữ trong tình trạng tốt và đúng đắn nhờ hoạt động dưới hình thức nào đó của trung tâm gần nhất với vùng cơ thể đang được xem xét. Bạn cũng sẽ thấy rõ rằng sự thiếu hụt và bệnh tật có thể phát sinh từ sự bất hoạt của một trung tâm.

4. The Heart Centre. This is located between the shoulder blades and is—in this day and age—the centre which is receiving the most attention from Those Who are responsible for the unfoldment of the human consciousness. It might be truly said, brother of mine, that the rapid unfoldment of this lotus is one of the reasons why the world war could not be avoided. In one sense, it was a necessary happening (given the blind selfishness of the bulk of humanity) because it had become necessary to do away with all the old forms of government, of religion and of the crystallised social order. Humanity has now reached a point of group awareness and of group interplay of a deeply spiritual kind, and new forms were required through which this new spirit could function more adequately.

4. Trung Tâm Tim. Trung tâm này nằm giữa hai xương bả vai và—trong thời đại hiện nay—là trung tâm đang nhận được nhiều sự chú ý nhất từ Các Ngài chịu trách nhiệm về sự khai mở tâm thức nhân loại. Có thể nói thật rằng, huynh đệ của tôi, sự khai mở nhanh chóng của hoa sen này là một trong những lý do khiến chiến tranh thế giới không thể tránh khỏi. Theo một nghĩa nào đó, đó là một biến cố cần thiết (xét đến sự ích kỷ mù quáng của phần lớn nhân loại) vì đã trở nên cần thiết phải loại bỏ mọi hình thức cũ của chính quyền, tôn giáo và trật tự xã hội đã kết tinh. Nhân loại hiện nay đã đạt tới một điểm của nhận thức nhóm và tương tác nhóm mang tính tinh thần sâu sắc, và cần có những hình thức mới để tinh thần mới này có thể hoạt động một cách thích đáng hơn.

a. The heart centre corresponds to the “heart of the Sun,” and therefore to the spiritual source of light and love.

a. Trung tâm tim tương ứng với “trái tim của Mặt Trời,” và do đó với nguồn tinh thần của ánh sáng và tình thương.

b. It is brought into functioning activity after the second initiation. That initiation marks the completion of the process whereby the emotional nature (with its outstanding quality of desire) is brought under soul control, and the desire of the personal lower self has been transmuted into love. It is the organ for the distribution of hierarchical energy, poured out [157] via the soul into the heart centre of all aspirants, disciples and initiates; in this way this energy is made available and brings about two results:

b. Nó được đưa vào hoạt động chức năng sau lần điểm đạo thứ hai. Lần điểm đạo đó đánh dấu sự hoàn tất của tiến trình mà qua đó bản chất cảm xúc (với phẩm tính nổi bật là dục vọng) được đặt dưới sự kiểm soát của linh hồn, và dục vọng của phàm ngã thấp đã được chuyển hoá thành tình thương. Nó là cơ quan để phân phối năng lượng của Thánh đoàn, được tuôn đổ [157] qua linh hồn vào trung tâm tim của mọi người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ; bằng cách này năng lượng ấy được làm cho khả dụng và đem lại hai kết quả:

1. The regeneration of humanity through love.

1. Sự tái sinh của nhân loại qua tình thương.

2. The relationship, firmly established, between a rapidly developing humanity and the Hierarchy. In this way two great planetary centres—the Hierarchy and Humanity—are brought into a close contact and relationship.

2. Mối liên hệ, được thiết lập vững chắc, giữa một nhân loại đang phát triển nhanh chóng và Thánh đoàn. Bằng cách này hai trung tâm hành tinh lớn—Thánh đoàn và Nhân Loại—được đưa vào sự tiếp xúc và liên hệ mật thiết.

As the Bible says: “the love of God is shed abroad” in the human heart, and its transforming, magnetic and radiatory power is essential for the reconstruction of the world and for the establishment of the new world order. Upon the unfoldment of the heart centre, and on an intelligent relation of mankind to the Hierarchy, with the consequent response of man to the energy of love, all disciples are asked at this time to ponder and reflect, for as a “man thinketh in his heart, so is he.” Thinking in the heart becomes truly possible only when the mental faculties have been adequately developed and have reached a fairly high stage of unfoldment. Feeling in the heart is often confused with thinking. The ability to think in the heart is the result of the process of transmuting desire into love during the task of elevating the forces of the solar plexus into the heart centre. Heart thinking is also one of the indications that the higher aspect of the heart centre, the twelve-petalled lotus found at the very centre of the thousand-petalled lotus, has reached a point of real activity. Thinking as a result of correct feeling is then substituted for personal sensitivity. It gives us the first faint indications, likewise, of [158] that state of being which is characteristic of the monad and which cannot be called consciousness—as we understand the term.

Như Kinh Thánh nói: “tình thương của Thượng đế được tuôn đổ rộng khắp” trong tim con người, và quyền năng chuyển đổi, từ tính và phóng xạ của nó là điều thiết yếu cho việc tái thiết thế giới và cho việc thiết lập trật tự thế giới mới. Về sự khai mở của trung tâm tim, và về mối liên hệ thông minh của nhân loại với Thánh đoàn, cùng với sự đáp ứng tất yếu của con người đối với năng lượng tình thương, mọi đệ tử hiện nay đều được yêu cầu suy ngẫm và phản tỉnh, vì “con người nghĩ trong tim mình thế nào, y là như vậy.” Suy nghĩ trong tim chỉ thực sự trở nên khả hữu khi các năng lực trí tuệ đã được phát triển đầy đủ và đã đạt tới một giai đoạn khai mở khá cao. Cảm nhận trong tim thường bị lẫn lộn với suy nghĩ. Khả năng suy nghĩ trong tim là kết quả của tiến trình chuyển hoá dục vọng thành tình thương trong công việc nâng các lực của tùng thái dương lên trung tâm tim. Suy nghĩ bằng tim cũng là một trong những dấu hiệu cho thấy phương diện cao hơn của trung tâm tim, hoa sen mười hai cánh nằm ngay tại trung tâm của hoa sen ngàn cánh, đã đạt tới một điểm hoạt động thực sự. Khi ấy suy nghĩ như là kết quả của cảm nhận đúng đắn được thay thế cho tính nhạy cảm cá nhân. Nó cũng cho chúng ta những chỉ dấu mờ nhạt đầu tiên về [158] trạng thái hiện hữu vốn là đặc trưng của chân thần và không thể được gọi là tâm thức—như chúng ta hiểu thuật ngữ ấy.

c. The heart centre becomes essentially related to the personality when the process of alignment with the soul is being mastered. This process is today being taught in all the newer and sounder esoteric schools, and has been emphasised in The Arcane School from the start; it is that procedure (distinguished by right orientation, concentration and meditation) which relates the personality to the soul, and thus to the Hierarchy. Relationship to the Hierarchy automatically takes place as this alignment goes forward and direct soul contact is thereby established. Personality consciousness is superseded by group consciousness, and the inflow of hierarchical energy follows as a natural consequence, for all souls are only aspects of the Hierarchy. It is this established relationship, with its subsequent interplay (magnetic and radiatory), which brings about the final destruction of the soul body or causal body as the relationship reaches its highest point of intensified recognition.

c. Trung tâm tim trở nên liên hệ cốt yếu với phàm ngã khi tiến trình chỉnh hợp với linh hồn đang được làm chủ. Tiến trình này hiện nay đang được giảng dạy trong tất cả các trường nội môn mới hơn và lành mạnh hơn, và đã được nhấn mạnh trong Trường Arcane ngay từ đầu; đó là thủ tục (được phân biệt bởi định hướng đúng, tập trung và tham thiền) liên hệ phàm ngã với linh hồn, và nhờ đó với Thánh đoàn. Mối liên hệ với Thánh đoàn tự động diễn ra khi sự chỉnh hợp này tiến triển và nhờ đó sự tiếp xúc trực tiếp với linh hồn được thiết lập. Tâm thức phàm ngã được thay thế bằng tâm thức nhóm, và dòng năng lượng của Thánh đoàn tuôn vào theo như một hệ quả tự nhiên, vì mọi linh hồn chỉ là các phương diện của Thánh đoàn. Chính mối liên hệ đã được thiết lập này, cùng với sự tương tác tiếp theo của nó (từ tính và phóng xạ), đem lại sự hủy diệt cuối cùng của thể linh hồn hay thể nguyên nhân khi mối liên hệ ấy đạt tới điểm cao nhất của sự nhận biết được tăng cường.

d. It is that centre, therefore, in the physical body through the medium of which the Hierarchy works; it is also the agent of the soul. When I here use the word “soul” I refer not only to the individual soul of man but to the soul also of the planetary Logos, both of which are the result of the union of spirit and matter, of the Father aspect and the Mother aspect. This is a great mystery which only initiation can reveal.

d. Vì vậy, đó là trung tâm trong thể xác mà qua trung gian của nó Thánh đoàn hoạt động; nó cũng là tác nhân của linh hồn. Khi ở đây tôi dùng từ “linh hồn” tôi không chỉ nói đến linh hồn cá nhân của con người mà còn nói đến linh hồn của Hành Tinh Thượng đế, cả hai đều là kết quả của sự hợp nhất giữa tinh thần và vật chất, giữa phương diện Cha và phương diện Mẹ. Đây là một huyền nhiệm lớn mà chỉ điểm đạo mới có thể mặc khải.

e. The heart centre registers the energy of love. It might here be stated that when the antahkarana has been finally constructed, the three aspects of the [159] Spiritual Triad will each find a point of contact within the etheric mechanism of the initiate who is functioning upon the physical plane. The initiate is now a fusion of soul and personality through which the full life of the monad can be poured.

e. Trung tâm tim ghi nhận năng lượng của tình thương. Ở đây có thể nói rằng khi antahkarana cuối cùng đã được kiến tạo, mỗi một trong ba phương diện của [159] Tam Nguyên Tinh Thần sẽ tìm được một điểm tiếp xúc trong bộ máy dĩ thái của điểm đạo đồ đang hoạt động trên cõi hồng trần. Điểm đạo đồ lúc này là một sự dung hợp của linh hồn và phàm ngã mà qua đó sự sống trọn vẹn của chân thần có thể được tuôn đổ.

1. The head centre becomes the point of contact for the spiritual will, Atma.

1. Trung tâm đầu trở thành điểm tiếp xúc cho ý chí tinh thần, Atma.

2. The heart centre becomes the agent for spiritual love, Buddhi.

2. Trung tâm tim trở thành tác nhân cho tình thương tinh thần, Bồ đề.

3. The throat centre becomes the expression of the universal mind, Manas.

3. Trung tâm cổ họng trở thành biểu hiện của Vũ Trụ Trí, Manas.

In the work of the initiate, as he works out the divine purpose according to the plan, the ajna centre becomes the directing agent or the distributor of the blended energies of the divine man. The heart centre corresponds to “solar fire” within the solar system, and is magnetic in quality and radiatory in activity. It is the organ of the energy which brings about inclusiveness.

Trong công việc của điểm đạo đồ, khi y thực hiện mục đích thiêng liêng theo Thiên Cơ, trung tâm ajna trở thành tác nhân điều khiển hay phân phối các năng lượng đã được hòa trộn của con người thiêng liêng. Trung tâm tim tương ứng với “Lửa Thái dương” trong hệ mặt trời, và có phẩm tính từ tính cùng hoạt động phóng xạ. Nó là cơ quan của năng lượng đem lại tính bao gồm.

f. Its dense physical externalisation is the thymus gland. Of this gland little is known at present, though much will be learned as investigators accept and experiment with the hypotheses which the occult sciences present, and as the heart centre develops and the thymus gland is returned to adult functioning activity. This is not as yet the case. The nature of its secretion is not yet established, and the effects of this gland are better known from their psychological angle than from the physical. Modern psychology, when allied to medicine, recognises that this gland when overactive will produce the irresponsible and amoral person. As the race of men learns the nature of responsibility we shall have [160] the first indications of soul alignment, of personality decentralisation and of group awareness, and then—paralleling this development—we shall find the thymus gland becoming correctly active. At present, the general imbalance of the endocrine system militates against the safe and full functioning of the thymus gland in the adult. There is as yet an unrecognised relation existing between the pineal gland and the thymus gland, as well as between both of these and the centre at the base of the spine. As the Spiritual Triad becomes active through the medium of the personality, these three centres and their three externalisations will work in synthesis, governing and directing the whole man. As the pineal gland is returned to full adult functioning (as is not the case with adult man) the divine will-to-good will make itself felt and divine purpose be achieved; when the thymus gland similarly becomes active in the adult, goodwill will become apparent and the divine plan will begin to work out. This is the first step towards love, right human relations and peace. This goodwill is already making its presence felt in the world today, indicating the coming into activity of the heart centre, and proving that the heart centre in the head is beginning to unfold as a result of the growing activity of the heart centre up the spine.

f. Sự ngoại hiện hồng trần đậm đặc của nó là tuyến ức. Hiện nay người ta biết rất ít về tuyến này, dù sẽ học được nhiều khi các nhà nghiên cứu chấp nhận và thử nghiệm các giả thuyết mà các khoa học huyền bí trình bày, và khi trung tâm tim phát triển cùng tuyến ức được phục hồi vào hoạt động chức năng nơi người trưởng thành. Điều này hiện chưa phải như vậy. Bản chất của sự tiết xuất của nó vẫn chưa được xác lập, và các hiệu quả của tuyến này được biết đến rõ hơn từ góc độ tâm lý học hơn là từ góc độ thể chất. Tâm lý học hiện đại, khi kết hợp với y học, thừa nhận rằng tuyến này khi hoạt động quá mức sẽ tạo ra con người vô trách nhiệm và phi đạo đức. Khi nhân loại học được bản chất của trách nhiệm, chúng ta sẽ có [160] những chỉ dấu đầu tiên của sự chỉnh hợp với linh hồn, của sự phi tập trung vào bản thân nơi phàm ngã và của nhận thức nhóm, và khi ấy—song song với sự phát triển này—chúng ta sẽ thấy tuyến ức trở nên hoạt động đúng đắn. Hiện nay, sự mất quân bình chung của hệ nội tiết cản trở hoạt động an toàn và trọn vẹn của tuyến ức nơi người trưởng thành. Hiện vẫn còn một mối liên hệ chưa được nhận biết giữa tuyến tùng quả và tuyến ức, cũng như giữa cả hai tuyến này với trung tâm ở đáy cột sống. Khi Tam Nguyên Tinh Thần trở nên linh hoạt qua trung gian của phàm ngã, ba trung tâm này và ba sự ngoại hiện của chúng sẽ hoạt động trong tổng hợp, cai quản và điều khiển toàn thể con người. Khi tuyến tùng quả được phục hồi vào hoạt động trọn vẹn nơi người trưởng thành (điều hiện không xảy ra nơi người trưởng thành), Ý Chí-hướng Thiện thiêng liêng sẽ tự làm cho được cảm nhận và mục đích thiêng liêng sẽ được hoàn thành; khi tuyến ức cũng trở nên linh hoạt tương tự nơi người trưởng thành, thiện chí sẽ trở nên hiển nhiên và Thiên Cơ thiêng liêng sẽ bắt đầu được thực hiện. Đây là bước đầu tiên hướng tới tình thương, các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người và hòa bình. Thiện chí này đã bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trong thế giới ngày nay, cho thấy trung tâm tim đang đi vào hoạt động, và chứng minh rằng trung tâm tim trong đầu đang bắt đầu khai mở như là kết quả của hoạt động ngày càng tăng của trung tâm tim dọc theo cột sống.

g. It is the organ of fusion, just as the head centre is the organ of synthesis. As the heart centre becomes active, the individual aspirant is slowly drawn into an increasingly closer relation to his soul, and then two expansions of consciousness take place which are interpreted by him as events or happenings:[161]

g. Nó là cơ quan của sự dung hợp, cũng như trung tâm đầu là cơ quan của sự tổng hợp. Khi trung tâm tim trở nên linh hoạt, người chí nguyện cá nhân từ từ được kéo vào một mối liên hệ ngày càng mật thiết hơn với linh hồn của y, và khi ấy hai sự mở rộng tâm thức diễn ra mà y diễn giải như những biến cố hay sự kiện:[161]

1. He is drawn into the Ashram of one of the Masters, according to his soul ray, and becomes an accepted disciple in the technical sense. The Master is Himself the heart centre of the Ashram and He can now reach His disciple, via the soul, because that disciple, through alignment and contact, has put his heart into close rapport with the soul. He then becomes responsive to the heart of all things which, as far as humanity is at present concerned, is the Hierarchy.

1. Y được kéo vào ashram của một trong các Chân sư, tùy theo cung linh hồn của y, và trở thành một đệ tử được chấp nhận theo nghĩa kỹ thuật. Chính Chân sư là trung tâm tim của ashram và giờ đây Ngài có thể tiếp cận đệ tử của Ngài, qua linh hồn, bởi vì đệ tử ấy, nhờ chỉnh hợp và tiếp xúc, đã đặt tim mình vào sự tương thông mật thiết với linh hồn. Khi ấy y trở nên đáp ứng với trái tim của vạn vật, mà xét theo mức độ hiện nay của nhân loại, đó là Thánh đoàn.

2. He is drawn into close service relationship with humanity. His growing sense of responsibility, due to heart activity, leads him to serve and work. Eventually he too becomes the heart of a group or of an organisation—small at first but becoming worldwide as his spiritual power develops and he thinks in terms of the group and of humanity. These two relationships on his part are reciprocal. Thus the love aspect of divinity becomes active in the three worlds, and love is anchored on earth and takes the place of emotion, of desire and of the material aspects of feeling. Note that phrase.

2. Y được kéo vào mối liên hệ phụng sự mật thiết với nhân loại. Ý thức trách nhiệm ngày càng tăng của y, do hoạt động của tim, dẫn y đến phụng sự và làm việc. Cuối cùng chính y cũng trở thành trái tim của một nhóm hay một tổ chức—lúc đầu nhỏ nhưng dần trở nên toàn cầu khi quyền năng tinh thần của y phát triển và y suy nghĩ theo nhóm và theo nhân loại. Hai mối liên hệ này về phía y là có tính tương hỗ. Như vậy phương diện bác ái của thiên tính trở nên linh hoạt trong ba cõi giới, và tình thương được neo giữ trên Trái Đất và thay thế cảm xúc, dục vọng và các phương diện vật chất của cảm nhận. Hãy lưu ý cụm từ đó.

h. In the early stages of unfoldment, of both the individual and the race, the inverted heart lotus with its twelve petals reaches downwards towards the solar plexus centre. This last centre, since Atlantean days, has been reversed, and its petals are now reaching upwards towards the next centre up the spine, the heart centre, owing to the slowly mounting energies from the solar plexus centre which are seeking to escape from the “prison of the lower regions” through a process of transmutation.

h. Trong các giai đoạn đầu của sự khai mở, của cả cá nhân lẫn nhân loại, hoa sen tim đảo ngược với mười hai cánh của nó vươn xuống dưới về phía trung tâm tùng thái dương. Trung tâm sau cùng này, kể từ thời Atlantis, đã được đảo lại, và các cánh hoa của nó hiện đang vươn lên trên về phía trung tâm kế tiếp ở phía trên dọc cột sống, tức trung tâm tim, do các năng lượng từ trung tâm tùng thái dương đang từ từ dâng lên và tìm cách thoát khỏi “nhà tù của các vùng thấp” qua một tiến trình chuyển hoá.

[162]

[162]

As a result the heart centre is beginning slowly to unfold and also to reverse itself. The reversal of the “lotus centres” is always brought about as the result of a dual action—the pushing from below and the pull from above.

Kết quả là trung tâm tim đang bắt đầu từ từ khai mở và cũng tự đảo lại. Sự đảo ngược của các “trung tâm hoa sen” luôn luôn được tạo ra như là kết quả của một tác động kép—sự đẩy từ bên dưới và sự hút từ bên trên.

The reversal of the heart lotus and its upward unfolding is due to the following factors:

Sự đảo ngược của hoa sen tim và sự khai mở hướng lên trên của nó là do các yếu tố sau:

1. The growing potency of the hierarchical approach.

1. Hiệu lực ngày càng tăng của sự tiếp cận từ Thánh đoàn.

2. A rapidly establishing soul contact.

2. Sự tiếp xúc với linh hồn đang nhanh chóng được thiết lập.

3. The response of the unfolding heart lotus to the pull of the Master’s Ashram.

3. Sự đáp ứng của hoa sen tim đang khai mở đối với lực hút của ashram của Chân sư.

4. The surging upwards of the transmuted energies from below the diaphragm, via the solar plexus, in response to spiritual will.

4. Sự dâng trào đi lên của các năng lượng đã được chuyển hoá từ bên dưới cơ hoành, qua tùng thái dương, để đáp ứng với ý chí tinh thần.

5. The growing understanding by man as to the nature of love.

5. Sự thấu hiểu ngày càng tăng của con người về bản chất của tình thương.

There are other factors but these are the ones you will most easily understand if you will regard them as symbolic and not too literally. Until the year, 1400 A.D., the relation of the solar plexus centre to the heart centre might be pictorially expressed as indicated in this diagram.*

Còn có những yếu tố khác nhưng đây là những yếu tố mà bạn sẽ dễ hiểu nhất nếu xem chúng là biểu tượng và không quá theo nghĩa đen. Cho đến năm 1400 sau Công nguyên, mối liên hệ của trung tâm tùng thái dương với trung tâm tim có thể được diễn tả bằng hình ảnh như được chỉ ra trong sơ đồ này.*

Eventually, at the close of the next root race, you will have the full expression of love and the lotuses up the spine will appear—all five of them—differing only in the number of petals found in each.

Cuối cùng, vào lúc kết thúc giống dân gốc kế tiếp, bạn sẽ có sự biểu lộ trọn vẹn của tình thương và các hoa sen dọc cột sống sẽ xuất hiện—cả năm hoa sen—chỉ khác nhau ở số cánh hoa nơi mỗi hoa.

Finally at the close of the great world cycle when all the lotuses have reversed themselves, all will be opening and presenting free channels for the inflow and the transmission of the three major divine energies and the four lesser forces.

Sau hết, vào lúc kết thúc đại chu kỳ thế giới khi mọi hoa sen đã tự đảo lại, tất cả sẽ mở ra và trình bày các kênh tự do cho sự tuôn vào và truyền dẫn của ba năng lượng thiêng liêng chính và bốn lực nhỏ hơn.

To this constant movement of the centres and to the constant inflow of energies we can trace much of the discomfort of humanity in its various bodies; it is the inability of the centres to respond or to unfold which in many cases produces disease and difficulty; it is the unbalanced unfoldment of the centres, their arrested development and their lack of response which creates problems in other cases; it is their premature unfoldment and their overactivity which in other cases brings about danger; it is the failure of the physical mechanism to measure up to the inner unfoldment which causes so much trouble. Thus again you can see the complexity of the subject. The stage of theory is a simple one, except in so far as it sets forces in motion which eventually lead to difficulty. The stage of reaction to response and of adjustment to the theory also institutes a cycle of intense difficulty and complexity, because it leads to a cycle of experiment and experience during which the disciple learns much and suffers much. Then as experience is gained, the stage of spiritual expression supervenes and freedom from danger and emancipation from difficulty and liberation from disease takes place. Simplicity is restored.[163]

Chính từ sự chuyển động liên tục này của các trung tâm và từ sự tuôn vào liên tục của các năng lượng mà chúng ta có thể truy nguyên phần lớn sự khó chịu của nhân loại trong các thể khác nhau của mình; chính sự bất lực của các trung tâm trong việc đáp ứng hay khai mở là điều trong nhiều trường hợp tạo ra bệnh tật và khó khăn; chính sự khai mở mất quân bình của các trung tâm, sự phát triển bị đình trệ và sự thiếu đáp ứng của chúng tạo ra vấn đề trong những trường hợp khác; chính sự khai mở quá sớm và hoạt động quá mức của chúng trong những trường hợp khác đem lại nguy hiểm; chính sự thất bại của bộ máy hồng trần trong việc theo kịp sự khai mở bên trong gây ra quá nhiều rắc rối. Như vậy một lần nữa bạn có thể thấy tính phức tạp của đề tài này. Giai đoạn lý thuyết là một giai đoạn đơn giản, ngoại trừ ở chỗ nó khởi động các lực mà rốt cuộc dẫn đến khó khăn. Giai đoạn phản ứng đối với sự đáp ứng và sự điều chỉnh theo lý thuyết cũng mở ra một chu kỳ khó khăn và phức tạp mãnh liệt, vì nó dẫn đến một chu kỳ thử nghiệm và kinh nghiệm trong đó đệ tử học được nhiều và chịu đau khổ nhiều. Rồi khi kinh nghiệm đã đạt được, giai đoạn của biểu hiện tinh thần xuất hiện và sự thoát khỏi nguy hiểm, sự giải phóng khỏi khó khăn và sự giải thoát khỏi bệnh tật diễn ra. Sự đơn giản được phục hồi.[163]

The Body, Phenomenal Appearance

Thể, Sắc Tướng Hiện Tượng

Not much need be written here anent this, for the body nature and the form aspect have been the object of investigation and the subject of thought and discussion of thinking men for many centuries. Much at which they have arrived is basically correct. The modern investigator will admit the Law of Analogy as the basis of his premises and recognises, sometimes, that the Hermetic theory, “As above, so below,” may throw much light on the present problems. The following postulates may serve to clarify:

Không cần viết nhiều ở đây về điều này, vì bản chất thể và phương diện hình tướng đã là đối tượng khảo cứu và là chủ đề suy tư cùng thảo luận của những người biết suy nghĩ trong nhiều thế kỷ. Phần lớn những gì họ đạt tới về căn bản là đúng. Nhà nghiên cứu hiện đại sẽ thừa nhận định luật tương đồng như nền tảng cho các tiền đề của mình và đôi khi nhận ra rằng lý thuyết Hermes, “trên sao, dưới vậy,” có thể soi sáng nhiều cho các vấn đề hiện tại. Những định đề sau đây có thể giúp làm sáng tỏ:

1. Man, in his body nature, is a sumtotal, a unity.

1. Con người, trong bản chất thể của mình, là một tổng thể, một hợp nhất.

2. This sumtotal is subdivided into many parts and organisms.

2. Tổng thể này được phân chia thành nhiều phần và cơ quan.

3. Yet these many subdivisions function in a unified manner, and the body is a correlated whole.

3. Tuy nhiên, nhiều phân bộ này hoạt động theo một cách thống nhất, và thể là một toàn thể có tương quan.

4. Each of its parts differs in form and in function, but all are interdependent.

4. Mỗi phần của nó khác nhau về hình dạng và chức năng, nhưng tất cả đều phụ thuộc lẫn nhau.

5. Each part and each organism is, in its turn, composed of molecules, cells and atoms, and these are held together in the form of the organism by the life of the sumtotal.

5. Mỗi phần và mỗi cơ quan, đến lượt mình, được cấu thành bởi các phân tử, tế bào và nguyên tử, và chúng được giữ lại với nhau trong hình tướng của cơ quan nhờ sự sống của tổng thể.

6. The sumtotal called man is roughly divided into five parts, some of greater importance than others, but all completing that living organism we call a human being.

6. Tổng thể được gọi là con người được chia đại khái thành năm phần, có phần quan trọng hơn những phần khác, nhưng tất cả đều hoàn tất cơ thể sống mà chúng ta gọi là một con người.

a. The head

a. Đầu

b. The upper torso, or that part which lies above the diaphragm.

b. Phần thân trên, hay phần nằm trên cơ hoành.

c. The lower torso, or that part lying below the diaphragm.

c. Phần thân dưới, hay phần nằm dưới cơ hoành.

d. The arms

d. Hai cánh tay

e. The legs

e. Hai chân

[164]

[164]

7. These organisms serve varied purposes, and upon their due functioning and proper adjustment the comfort of the whole depends.

7. Các cơ quan này phục vụ những mục đích khác nhau, và sự an ổn của toàn thể tùy thuộc vào chức năng đúng đắn và sự điều chỉnh thích hợp của chúng.

8. Each of these has its own life, which is the sum total of the life of its atomic structure, and is also animated by the unified life of the whole, directed from the head by the intelligent will or energy of the spiritual man.

8. Mỗi cơ quan này có sự sống riêng của nó, là tổng số sự sống của cấu trúc nguyên tử của nó, và cũng được làm sinh động bởi sự sống hợp nhất của toàn thể, được điều khiển từ đầu bởi ý chí hay năng lượng thông minh của con người tinh thần.

9. The important part of the body is that triple division, the head, upper and lower torso. A man can function and live without his arms and legs.

9. Phần quan trọng của thể là sự phân chia tam phân đó: đầu, thân trên và thân dưới. Một người có thể hoạt động và sống mà không có tay và chân.

10. Each of these three parts is also triple from the physical side, making the analogy of the three parts of man’s nature and the nine of perfected monadic life. There are other organs, but those enumerated are those which have an esoteric significance of greater value than the other parts.

10. Mỗi phần trong ba phần này cũng là tam phân xét từ phương diện hồng trần, tạo nên sự tương đồng với ba phần của bản chất con người và chín phần của sự sống chân thần hoàn thiện. Còn có những cơ quan khác, nhưng những cơ quan được liệt kê là những cơ quan có ý nghĩa huyền bí có giá trị lớn hơn các phần khác.

a. Within the head are:

a. Bên trong đầu có:

1. The five ventricles of the brain, or what we might call the brain as a unified organism.

1. Năm não thất của bộ não, hay điều mà chúng ta có thể gọi là bộ não như một cơ quan thống nhất.

2. The three glands, carotid, pineal and pituitary.

2. Ba tuyến, tuyến cảnh, tuyến tùng quả và thể tuyến yên.

3. The two eyes.

3. Hai mắt.

b. Within the upper body are:

b. Bên trong phần thân trên có:

1. The throat

1. Cổ họng

2. The lungs

2. Hai lá phổi

3. The heart

3. Tim

c. Within the lower body are:

c. Bên trong phần thân dưới có:

1. The spleen

1. Lá lách

2. The stomach

2. Dạ dày

3. The sex organs

3. Các cơ quan sinh dục

11. The sumtotal of the body is also triple:

11. Tổng thể của cơ thể cũng là tam phân:

a. The skin and bony structure. [165]

a. Da và cấu trúc xương. [165]

b. The vascular or blood system.

b. Hệ mạch hay hệ máu.

c. The threefold nervous system.

c. Hệ thần kinh tam phân.

12. Each of these triplicities corresponds to the three parts of man’s nature:

12. Mỗi bộ ba này tương ứng với ba phần của bản chất con người:

a. Physical nature: The skin and bony structure are the analogy to the dense and etheric body of man.

a. Bản chất hồng trần: Da và cấu trúc xương là sự tương đồng với thể đậm đặc và thể dĩ thái của con người.

b. Soul nature: The blood vessels and circulatory system are the analogy to that all pervading soul which penetrates to all parts of the solar system, as the blood goes to all parts of the body.

b. Bản chất linh hồn: Các mạch máu và hệ tuần hoàn là sự tương đồng với linh hồn bao trùm khắp mọi nơi, thấm nhập vào mọi phần của hệ mặt trời, như máu đi đến mọi phần của cơ thể.

c. Spirit nature: The nervous system, as it energises and acts throughout the physical man is the correspondence to the energy of spirit.

c. Bản chất tinh thần: Hệ thần kinh, khi nó tiếp năng lượng và hoạt động khắp con người hồng trần, là sự tương ứng với năng lượng của tinh thần.

13. In the head we have the analogy to the spirit aspect, the directing will, the monad, the One.

13. Trong đầu chúng ta có sự tương đồng với phương diện tinh thần, ý chí điều khiển, chân thần, Đấng Duy Nhất.

a. The brain with its five ventricles is the analogy to the physical form which the spirit animates in connection with man, the fivefold sumtotal which is the medium through which the spirit on the physical plane has to express itself.

a. Bộ não với năm não thất của nó là sự tương đồng với hình tướng hồng trần mà tinh thần làm sinh động trong mối liên hệ với con người, tổng thể ngũ phân là môi trường mà qua đó tinh thần trên cõi hồng trần phải biểu lộ chính mình.

b. The three glands in the head are closely related to the soul or psychic nature (higher and lower).

b. Ba tuyến trong đầu liên hệ mật thiết với bản chất linh hồn hay thông linh (cao và thấp).

c. The two eyes are the physical plane correspondences to the monad, who is will and love-wisdom, or atma-buddhi, according to the occult terminology.

c. Hai mắt là những tương ứng trên cõi hồng trần với chân thần, vốn là ý chí và bác ái-minh triết, hay atma-buddhi, theo thuật ngữ huyền bí.

14. In the upper body we have an analogy to the triple soul nature.

14. Trong phần thân trên, chúng ta có một sự tương đồng với bản chất tam phân của linh hồn.

a. The throat, corresponding to the third creative aspect or the body nature, the active intelligence of the soul.

a. Cổ họng, tương ứng với phương diện sáng tạo thứ ba hay bản chất thể, tức trí tuệ linh hoạt của linh hồn.

b. The heart, the love-wisdom of the soul, the buddhi or Christ principle. [166]

b. Tim, Bác Ái – Minh Triết của linh hồn, Bồ đề hay nguyên khí Christ. [166]

c. The lungs, the analogy for the breath of life, is the correspondence to spirit.

c. Phổi, sự tương đồng cho hơi thở của sự sống, là sự tương ứng với tinh thần.

15. In the lower torso again we have this triple system carried out.

15. Trong phần thân dưới, chúng ta lại có hệ thống tam phân này được triển khai.

a. The sex organs, the creative aspect, the fashioner of the body.

a. Các cơ quan sinh dục, phương diện sáng tạo, tác nhân tạo tác thể.

b. The stomach as the physical manifestation of the solar plexus is the analogy to the soul nature.

b. Dạ dày, như sự biểu hiện hồng trần của tùng thái dương, là sự tương đồng với bản chất linh hồn.

c. The spleen, the receiver of energy and therefore the physical plane expression of the centre which receives this energy, is the analogy to the energizing spirit.

c. Lá lách, cơ quan tiếp nhận năng lượng và vì vậy là biểu hiện cõi hồng trần của trung tâm tiếp nhận năng lượng này, là sự tương đồng với tinh thần tiếp sinh lực.

I realise well the technicalities which I have given here and their difficulty and apparent uselessness. It might be asked: Why should it be necessary to be so meticulous in enumerating the physical, psychological and systemic details of a purely academic nature when, by an act of the will and of divine power, and by the use of certain Words of Power, healing can be accomplished? These ideas are basically true, but are based upon a misapprehension—in time and space. If all healers were Masters of the Wisdom, if they were all clairvoyant, if they comprehended the Law of Karma and its working out in the life of the patient, if they had the full cooperation of the patient, and if they had the ability to add to all the above requirements the use of certain Words and Mantrams, then the academic knowledge would indeed be needless. But these requirements are not and can not be met. Healers, as a rule, have none of these powers. That they frequently heal (though not as often as they think they do) is true, but when successful they have succeeded in doing one or other of the following:

Tôi hiểu rõ những chi tiết kỹ thuật mà tôi đã đưa ra ở đây, cùng sự khó khăn và vẻ vô dụng bề ngoài của chúng. Có thể người ta sẽ hỏi: Tại sao lại cần phải tỉ mỉ đến thế trong việc liệt kê các chi tiết hồng trần, tâm lý và hệ thống có tính thuần học thuật, khi mà bằng một hành vi của ý chí và quyền năng thiêng liêng, cùng bằng việc sử dụng một số Quyền năng từ, sự chữa lành có thể được thực hiện? Về căn bản, các ý tưởng này là đúng, nhưng chúng dựa trên một sự hiểu sai—trong thời gian và không gian. Nếu tất cả những người chữa lành đều là các Chân sư Minh triết, nếu tất cả họ đều là nhà thông nhãn, nếu họ thấu hiểu Định luật Nghiệp quả và sự vận hành của nó trong đời sống bệnh nhân, nếu họ có được sự hợp tác trọn vẹn của bệnh nhân, và nếu họ có khả năng bổ sung vào tất cả các đòi hỏi trên việc sử dụng một số Linh từ và mantram, thì tri thức học thuật quả thật sẽ không cần thiết. Nhưng các đòi hỏi này không có và không thể được đáp ứng. Những người chữa lành, theo quy luật chung, không có năng lực nào trong số đó. Việc họ thường chữa lành được (dù không thường xuyên như họ nghĩ) là đúng, nhưng khi thành công thì họ đã thành công trong việc làm một hay việc khác trong những điều sau đây:

[167]

[167]

Healed the patient when his destiny and fate so willed it and his soul had therefore drawn its vehicle (the physical man) into the radiatory aura of a healer or a healing group. The probability is that the patient would have recovered in any case but that the process was hastened by the applied effort and attention, plus faith.

Chữa lành bệnh nhân khi định mệnh và số phận của y muốn như vậy, và do đó linh hồn của y đã kéo vận cụ của mình (con người hồng trần) vào trong hào quang phóng xạ của một người chữa lành hay một nhóm chữa lành. Khả năng lớn là trong mọi trường hợp bệnh nhân cũng sẽ hồi phục, nhưng tiến trình đã được thúc đẩy nhanh hơn nhờ nỗ lực và sự chú tâm được áp dụng, cộng với đức tin.

Interfered with the immediate design or pattern of the patient’s life, and so postponed certain processes of spiritual tuition which were needed. This is very apt to be forgotten. It is too intricate a subject to be dealt with here, but I may be able to make it somewhat clearer as we deal with our final section.

Can thiệp vào thiết kế hay mô hình tức thời của đời sống bệnh nhân, và do đó trì hoãn một số tiến trình huấn luyện tinh thần vốn cần thiết. Điều này rất dễ bị quên lãng. Đây là một đề tài quá phức tạp để bàn đến ở đây, nhưng có lẽ tôi sẽ có thể làm cho nó sáng tỏ phần nào khi chúng ta bàn đến phần cuối cùng của mình.

Therefore (until there is full knowledge) it is vitally necessary that the structure of power and vitality and the network of energies and forces which compose the human organism should be studied. A mental grasp of the processes of healing is needed; and the reasons which make them seem difficult and complicated, unnecessary and wasteful of time, are as follows:

Do đó, cho đến khi có tri thức đầy đủ, việc nghiên cứu cấu trúc của quyền năng và sinh lực cùng mạng lưới các năng lượng và mãnh lực cấu thành cơ thể con người là điều tối cần thiết. Cần có một sự nắm bắt bằng trí tuệ về các tiến trình chữa lành; và những lý do khiến chúng dường như khó khăn và phức tạp, không cần thiết và lãng phí thời gian là như sau:

The inability of even the most advanced human mind to grasp themes and subjects as a whole. The synthetic element is as yet lacking. At present, the teaching and processes involved must be mastered step by step, detail by detail, precept by precept, application by application. But the future holds the promise clear, and the ability of the human eye to function synthetically, to grasp a landscape, for instance, in its broad and salient outlines and to do this simultaneously and in a flash of vision is the guarantee of the future technique of the race. One look by the illumined mind, one great radiation of love, and the healer or the healing group [168] will know whether to heal, to aid the effort of the patient—a much slower process—or to refrain from healing.

Sự bất lực của ngay cả trí tuệ con người tiến bộ nhất trong việc nắm bắt các chủ đề và đề tài như một toàn thể. Yếu tố tổng hợp vẫn còn thiếu. Hiện nay, giáo huấn và các tiến trình liên hệ phải được lĩnh hội từng bước một, từng chi tiết một, từng giới luật một, từng ứng dụng một. Nhưng tương lai chứa đựng một lời hứa rõ ràng, và khả năng của mắt người trong việc hoạt động một cách tổng hợp, chẳng hạn nắm bắt một phong cảnh trong những đường nét rộng lớn và nổi bật của nó, và làm điều này đồng thời trong một thoáng linh thị, chính là sự bảo đảm cho kỹ thuật tương lai của nhân loại. Một cái nhìn của trí tuệ được soi sáng, một sự phóng xạ lớn lao của tình thương, và người chữa lành hay nhóm chữa lành [168] sẽ biết có nên chữa lành, có nên trợ giúp nỗ lực của bệnh nhân—một tiến trình chậm hơn nhiều—hay nên kiêng không chữa lành.

The inertia of the average man or woman, which rebels against the effort needed to master the technical side of healing. It is so much easier to fall back on divinity (a divinity in reality latent but not expressive) and “let God do it.” It is so much easier to recognise love and the outpouring of love than to master the processes whereby it can be made effective—or the nature of that which must be affected.

Tính trì trệ của người nam hay nữ trung bình, vốn phản kháng nỗ lực cần thiết để làm chủ mặt kỹ thuật của việc chữa lành. Dựa vào thiên tính thì dễ hơn nhiều (một thiên tính thực ra tiềm ẩn nhưng chưa biểu lộ) và “để Thượng đế làm điều đó.” Nhận biết tình thương và sự tuôn đổ của tình thương thì dễ hơn nhiều so với việc làm chủ các tiến trình nhờ đó nó có thể trở nên hữu hiệu—hay bản chất của điều phải được tác động đến.

These are points requiring careful attention and consideration. They merit reflection. The synthetic power of the mind, aided by true love, will some day be the instrument of all true healers. In the meantime, for the sake of the future and in order to aid the formulation of the coming healing art—based on the understanding of energy, its inflow and circulation—this treatise will deal somewhat with the academic side. After all, the facts given are facts in existence and are truly present, as are those emotions which the average healer calls love.

Đó là những điểm đòi hỏi sự chú ý và cân nhắc cẩn trọng. Chúng đáng để suy ngẫm. Quyền năng tổng hợp của trí tuệ, được trợ giúp bởi tình thương chân chính, một ngày kia sẽ là công cụ của mọi người chữa lành chân chính. Trong lúc này, vì tương lai và để trợ giúp việc hình thành nghệ thuật chữa lành sắp đến—đặt nền trên sự thấu hiểu năng lượng, sự tuôn vào và lưu chuyển của nó—bộ luận này sẽ bàn phần nào đến mặt học thuật. Rốt cuộc, các sự kiện được nêu ra là những sự kiện hiện hữu và thực sự hiện diện, cũng như những cảm xúc mà người chữa lành trung bình gọi là tình thương.

The Seven Major Centres—(Continued)

Bảy Trung Tâm Chính—(Tiếp theo)

Let us now continue with our consideration of the centres. We have dealt with the four above the diaphragm—the three centres through which the Spiritual Triad must eventually work, and the synthetic centre, the ajna centre, which finally expresses the integrated personality and becomes the direct agent of the soul. We now have three more centres to consider, all of them to be found below the diaphragm—the solar plexus centre, the sacral centre, [169] and the centre at the base of the spine. The most important for all aspirants at this time is the solar plexus centre; the most active—generally speaking—in humanity as a whole, is still the sacral centre; the most quiescent centre in the body (from the angle of the spiritual man) is the basic centre.

Giờ đây chúng ta hãy tiếp tục việc khảo sát các trung tâm. Chúng ta đã bàn đến bốn trung tâm phía trên cơ hoành—ba trung tâm mà qua đó Tam Nguyên Tinh Thần rốt cuộc phải hoạt động, và trung tâm tổng hợp, trung tâm ajna, vốn cuối cùng biểu lộ phàm ngã tích hợp và trở thành tác nhân trực tiếp của linh hồn. Giờ đây chúng ta còn ba trung tâm nữa để xem xét, tất cả đều nằm dưới cơ hoành—trung tâm tùng thái dương, trung tâm xương cùng, [169] và trung tâm ở đáy cột sống. Quan trọng nhất đối với mọi người chí nguyện vào lúc này là trung tâm tùng thái dương; trung tâm hoạt động mạnh nhất—nói chung—trong toàn thể nhân loại vẫn là trung tâm xương cùng; trung tâm tĩnh lặng nhất trong thể (xét từ góc độ con người tinh thần) là trung tâm căn bản.

5. The Solar Plexus Centre. This is located well below the shoulder blades in the spine and is exceedingly active. In Atlantean days, it was brought to a high stage of development, just as in Aryan days, the throat centre is being rapidly awakened. This centre is peculiarly related to two other centres: The heart and the ajna centre, and they form at this time an interesting triangle of energies in the human body and one which is receiving much attention from the Hierarchy. There is a downflow of energy from the ajna centre to the heart from the soul, just in so far as the aspirant is in touch with his soul. This leads to three things:

5. Trung Tâm Tùng Thái Dương. Trung tâm này nằm khá thấp dưới xương bả vai trong cột sống và cực kỳ hoạt động. Trong thời Atlantis, nó đã được đưa đến một giai đoạn phát triển cao, cũng như trong thời Arya, trung tâm cổ họng đang được đánh thức nhanh chóng. Trung tâm này có liên hệ đặc biệt với hai trung tâm khác: tim và trung tâm ajna, và vào lúc này chúng tạo thành một tam giác năng lượng lý thú trong thể người, một tam giác đang nhận được nhiều sự chú ý từ Thánh Đoàn. Có một dòng năng lượng tuôn xuống từ trung tâm ajna đến tim từ linh hồn, trong chừng mực người chí nguyện tiếp xúc được với linh hồn của mình. Điều này dẫn đến ba việc:

A stimulation of the heart centre.

Một sự kích thích trung tâm tim.

A responsive reaction from the heart which evokes a stimulation of the ajna centre and produces eventually the recognition of group consciousness by the personality.

Một phản ứng đáp ứng từ tim, gợi lên sự kích thích trung tâm ajna và cuối cùng tạo ra sự nhận biết tâm thức nhóm bởi phàm ngã.

The evocation of the heart centre in the head.

Sự gợi lên trung tâm tim trong đầu.

All this, however, is facilitated by the advanced development of the solar plexus in the aspirant, which has its own effect upon the heart and a reciprocal effect upon the ajna centre. There are, consequently, two important triangles to consider: [170]

Tuy nhiên, tất cả điều này được tạo điều kiện bởi sự phát triển tiến bộ của tùng thái dương nơi người chí nguyện, vốn có tác động riêng của nó lên tim và một tác động hỗ tương lên trung tâm ajna. Vì vậy, có hai tam giác quan trọng cần xem xét: [170]

1.-ph-n-m-t-nh-ng-nguy-n-nh-n-c-n-b-n-c-a-b-nh-ch-ng-i-04.png

Just as there is, astrologically, a Science of Triangles, so there will later be developed a science of triangles in relation to the human system. But the time is not yet. I but give occasional indications of such a science upon which the intuition of disciples may play.

Cũng như trong chiêm tinh học có một Khoa Học về các Tam Giác, thì về sau cũng sẽ phát triển một khoa học về các tam giác liên hệ đến hệ thống con người. Nhưng thời điểm ấy chưa đến. Tôi chỉ đưa ra đôi khi những chỉ dẫn về một khoa học như thế để trực giác của các đệ tử có thể vận dụng trên đó.

a. The solar plexus is a reflection in the personality of the “heart of the sun,” just as the heart centre is. It is the central factor in the life of the personality for all humanity below the grade of probationary disciple. At that point the mind definitely begins to function, however faintly. It is the outlet—if such a word can be used—of the astral body into the outer world, and the instrument through which emotional energy flows. It is the organ of desire. It is of supreme importance in the life of the average man, and its control is a vital goal for the aspirant. He must transmute desire into aspiration.

a. Tùng thái dương là một phản ánh trong phàm ngã của “trái tim của mặt trời”, cũng như trung tâm tim vậy. Nó là yếu tố trung tâm trong đời sống phàm ngã đối với toàn thể nhân loại dưới cấp độ đệ tử dự bị. Ở điểm đó, trí tuệ bắt đầu hoạt động một cách rõ rệt, dù rất mờ nhạt. Nó là lối thoát—nếu có thể dùng từ như vậy—của thể cảm dục ra thế giới bên ngoài, và là công cụ qua đó năng lượng cảm xúc tuôn chảy. Nó là cơ quan của dục vọng. Nó có tầm quan trọng tối thượng trong đời sống của con người trung bình, và việc kiểm soát nó là một mục tiêu sống còn đối với người chí nguyện. Y phải chuyển hoá dục vọng thành khát vọng.

b. The solar plexus came into full functioning in Atlantean times, during the period wherein the second great human race was developing. These lower centres are not so specifically related to initiations as are the centres above the diaphragm, for they are personality centres and have [171] to be under the full control of the soul when initiations of a certain degree are taken.

b. Tùng thái dương đã đi vào hoạt động đầy đủ trong thời Atlantis, trong giai đoạn mà nhân loại lớn thứ hai đang phát triển. Các trung tâm thấp này không liên hệ đặc biệt với các lần điểm đạo như các trung tâm phía trên cơ hoành, vì chúng là các trung tâm phàm ngã và phải [171] nằm dưới sự kiểm soát trọn vẹn của linh hồn khi các lần điểm đạo ở một mức độ nào đó được tiếp nhận.

c. The solar plexus centre is the great clearing-house for all energies below the diaphragm. This refers to the three major centres and the minor centres which were enumerated on page 72. The relation of this centre to the astral plane is (to use a peculiar but most expressive word) acute. It is the recipient of all emotional reactions and of desire impulses and energies and, because humanity is today becoming active in a group sense and is more inclusive than ever before in human history, the situation is one of acute and extreme difficulty. Mankind, through the individual and also through the collective solar plexus, is being subjected to almost unendurable pressure. Such are the tests of initiation! It is not my intention to deal here with the processes of attracting the lower energies, the mode of centralising them in the solar plexus, and there transmuting them and refining them to the point where transference into the heart centre becomes possible. Much of this is connected with the training given to accepted disciples, prior to the second initiation. It would be too intricate a matter to discuss, as well as carrying with it certain peculiar dangers for those not ready for the process; it is, however, one that—under living effort—goes forward almost automatically. The solar plexus is thus the most separative of all the centres (except the ajna centre, in the case of the man on the left-hand path) because it stands at the midway point, between the throat and the heart centres—above the diaphragm—and the sacral and basic centres—below the diaphragm. This is a consideration of major importance.

c. Trung tâm tùng thái dương là trạm thanh lọc lớn cho mọi năng lượng dưới cơ hoành. Điều này liên quan đến ba trung tâm chính và các trung tâm phụ đã được liệt kê ở trang 72. Liên hệ của trung tâm này với cõi cảm dục là, dùng một từ hơi lạ nhưng rất biểu cảm, hết sức gay gắt. Nó là nơi tiếp nhận mọi phản ứng cảm xúc cùng các xung lực và năng lượng dục vọng, và bởi vì ngày nay nhân loại đang trở nên hoạt động theo ý thức nhóm và bao gồm hơn bao giờ hết trong lịch sử loài người, nên tình hình là một tình hình cực kỳ gay gắt và khó khăn. Nhân loại, qua tùng thái dương cá nhân và cả tập thể, đang chịu một áp lực gần như không thể chịu nổi. Đó là những thử thách của điểm đạo! Chủ ý của tôi ở đây không phải là bàn đến các tiến trình thu hút các năng lượng thấp, phương thức tập trung chúng trong tùng thái dương, và tại đó chuyển hoá và tinh luyện chúng đến mức có thể chuyển dịch vào trung tâm tim. Phần lớn điều này liên hệ với sự huấn luyện được ban cho các đệ tử được chấp nhận trước lần điểm đạo thứ hai. Đây sẽ là một vấn đề quá phức tạp để thảo luận, đồng thời cũng mang theo những nguy hiểm đặc biệt cho những ai chưa sẵn sàng cho tiến trình ấy; tuy nhiên, dưới nỗ lực sống động, nó tiến triển gần như tự động. Vì vậy, tùng thái dương là trung tâm có tính phân ly nhất trong tất cả các trung tâm (ngoại trừ trung tâm ajna, trong trường hợp con người trên tả đạo) bởi vì nó đứng ở điểm ở giữa, giữa các trung tâm cổ họng và tim—phía trên cơ hoành—và các trung tâm xương cùng và căn bản—phía dưới cơ hoành. Đây là một điều có tầm quan trọng lớn.

d. The solar plexus is the centre in the etheric vehicle through which humanity (average, unenlightened humanity) [172] lives and moves and has its being. Humanity is conditioned by desire—good desire, selfish desire, wrong desire, and spiritual desire. It is the centre through which most of the energies flow which make a man progressive because he is ambitious, selfish because his personal desires are of importance, and fluidic because astrally polarised. Through it the “bright light generated in Atlantis” is poured, and the astral light is contacted. It is therefore the centre through which most mediums work and clairvoyants function. Later, these people will learn to work as intermediaries, consciously and intelligently using their powers; they will possess clear perception, and this will supersede clairvoyance. They will then be polarised in the ajna centre. It is consequently a most disturbing centre in the body, and is a basic cause of the majority of stomach complaints and troubles connected with the liver. The entire area immediately below the diaphragm is in a constant state of turmoil, where average man is concerned; this is due to individual and collective causes.

d. Tùng thái dương là trung tâm trong thể dĩ thái mà qua đó nhân loại (nhân loại trung bình, chưa giác ngộ) [172] sống, vận động và tồn tại. Nhân loại bị dục vọng tác động—dục vọng tốt, dục vọng ích kỷ, dục vọng sai lầm, và dục vọng tinh thần. Đây là trung tâm mà qua đó phần lớn các năng lượng tuôn chảy, khiến một người tiến bộ vì y đầy tham vọng, ích kỷ vì các dục vọng cá nhân của y là quan trọng, và linh động vì phân cực cảm dục. Qua nó, “ánh sáng rực rỡ được tạo ra trong Atlantis” được tuôn đổ, và ánh sáng cảm dục được tiếp xúc. Vì vậy, đây là trung tâm mà qua đó phần lớn các đồng tử hoạt động và các nhà thông nhãn vận hành. Về sau, những người này sẽ học cách hoạt động như các trung gian, một cách hữu thức và thông minh sử dụng các năng lực của mình; họ sẽ sở hữu tri giác sáng tỏ, và điều này sẽ thay thế thông nhãn. Khi ấy họ sẽ được phân cực trong trung tâm ajna. Do đó, đây là một trung tâm rất gây xáo trộn trong thể, và là nguyên nhân căn bản của phần lớn các chứng bệnh dạ dày và các rối loạn liên hệ đến gan. Toàn bộ vùng ngay dưới cơ hoành ở trong trạng thái xáo động thường xuyên, xét nơi con người trung bình; điều này là do các nguyên nhân cá nhân và tập thể.

It is interesting to note here that just as the ajna centre (the synthesis of the personality forces, when highly developed) is a great directing and distributing agent, so the solar plexus centre (the synthesis of the average developed personality energies, prior to the process of integration) is a centre for collection, for a gathering-in of all the lower energies, and is finally a focal point for the direction and distribution of these collected energies—remitting them to their receptive higher centres:

Điều thú vị cần lưu ý ở đây là cũng như trung tâm ajna (sự tổng hợp các mãnh lực phàm ngã, khi được phát triển cao) là một tác nhân chỉ đạo và phân phối lớn, thì trung tâm tùng thái dương (sự tổng hợp các năng lượng phàm ngã phát triển trung bình, trước tiến trình tích hợp) là một trung tâm để thu gom, để tập hợp mọi năng lượng thấp, và cuối cùng là một tiêu điểm cho việc chỉ đạo và phân phối các năng lượng đã được thu gom này—chuyển chúng đến các trung tâm cao hơn có tính tiếp nhận của chúng:

1. The energies of the solar plexus centre itself have to be directed to the heart centre.

1. Các năng lượng của chính trung tâm tùng thái dương phải được chỉ đạo đến trung tâm tim.

2. The energies of the sacral centre have to be transmitted to the throat centre. [173]

2. Các năng lượng của trung tâm xương cùng phải được truyền đến trung tâm cổ họng. [173]

3. The energies of the centre at the base of the spine have to be transferred to the head centre. After the third initiation, these basic energies are raised, controlled or distributed by an act of the will of the Spiritual Triad. Then “the light generated in Lemuria” (the sacral light) and “the light generated in Atlantis” (solar plexus light) will die out, and those two centres will simply be recipients of spiritual energies from on high; they will possess no direct, inherent light of their own; the light which they will transmit will come to them from collective sources on etheric planes.

3. Các năng lượng của trung tâm ở đáy cột sống phải được chuyển dịch đến trung tâm đầu. Sau lần điểm đạo thứ ba, các năng lượng căn bản này được nâng lên, kiểm soát hay phân phối bằng một hành vi của ý chí của Tam Nguyên Tinh Thần. Khi ấy “ánh sáng được tạo ra trong Lemuria” (ánh sáng xương cùng) và “ánh sáng được tạo ra trong Atlantis” (ánh sáng tùng thái dương) sẽ tắt đi, và hai trung tâm đó sẽ chỉ đơn giản là những nơi tiếp nhận các năng lượng tinh thần từ trên cao; chúng sẽ không có ánh sáng trực tiếp, cố hữu của riêng mình; ánh sáng mà chúng truyền đi sẽ đến với chúng từ các nguồn tập thể trên các cõi dĩ thái.

The dense physical externalisation of this centre is the pancreas, with a secondary externalisation in the stomach. There is, in relation to the solar plexus centre, a curious relation which is symbolic both in form and in implication. You have

Sự ngoại hiện hồng trần đậm đặc của trung tâm này là tuyến tụy, với một ngoại hiện thứ yếu ở dạ dày. Có, liên hệ với trung tâm tùng thái dương, một mối liên hệ kỳ lạ vừa mang tính biểu tượng về hình thức vừa về hàm ý. Bạn có

1.-ph-n-m-t-nh-ng-nguy-n-nh-n-c-n-b-n-c-a-b-nh-ch-ng-i-05.png

Here again appears the theme of a centre of spiritual force (for astral force is spiritual in essence) and its three manifestations. All these three dense materialisations are fed and nurtured by the forces and energies of the solar plexus centre. I have here given a very important fact to those who are interested in the study of medicine from the esoteric angle; rightly appreciated, it will lead to an understanding [174] of the healing art. Control of the solar plexus centre, and the right reception and release of the energies focussed in that centre would bring about a major purification, an intensive strengthening and a vital protection of the three vital organs to be found in that area of the human physical mechanism.

Ở đây lại xuất hiện chủ đề về một trung tâm mãnh lực tinh thần (vì mãnh lực cảm dục về bản chất là tinh thần) và ba biểu hiện của nó. Cả ba sự vật chất hóa đậm đặc này đều được nuôi dưỡng và duy trì bởi các mãnh lực và năng lượng của trung tâm tùng thái dương. Ở đây tôi đã đưa ra một sự kiện rất quan trọng cho những ai quan tâm đến việc nghiên cứu y học từ góc độ huyền bí; nếu được đánh giá đúng, nó sẽ dẫn đến một sự thấu hiểu [174] nghệ thuật chữa lành. Việc kiểm soát trung tâm tùng thái dương, cùng sự tiếp nhận và giải phóng đúng đắn các năng lượng được tập trung trong trung tâm ấy, sẽ mang lại một sự thanh lọc lớn, một sự tăng cường mạnh mẽ và một sự bảo vệ sống động cho ba cơ quan sinh lực nằm trong vùng đó của bộ máy hồng trần con người.

As I have earlier pointed out, this centre is an organ of synthesis and gathers into itself all the lower energies at a certain point in the higher development of the human being. It is factually then an instrument (when rightly understood and rightly directed) for aiding in the integration of the personality life. The major problem of the man who is highly developed but not yet spiritually inclined is that of desire. What are his goals? To what are his aims directed? What is the nature of his realised ambitions? To what does he aspire? According to the nature of the forces and the energies which his thought life brings to bear upon the solar plexus centre, so will be his decision to move forward along the path of light, to remain statically self-centred, or to take the lower way which leads to the blotting out of the soul light.

Như tôi đã chỉ ra trước đây, trung tâm này là một cơ quan tổng hợp và thu gom vào chính nó mọi năng lượng thấp ở một điểm nào đó trong sự phát triển cao hơn của con người. Khi ấy, trên thực tế, nó là một công cụ (khi được hiểu đúng và chỉ đạo đúng) để trợ giúp trong việc tích hợp đời sống phàm ngã. Vấn đề lớn của con người phát triển cao nhưng chưa nghiêng về tinh thần là dục vọng. Các mục tiêu của y là gì? Các mục đích của y hướng đến đâu? Bản chất của những tham vọng đã được chứng nghiệm của y là gì? Y khát vọng điều gì? Tùy theo bản chất của các mãnh lực và năng lượng mà đời sống tư tưởng của y đem tác động lên trung tâm tùng thái dương, quyết định của y sẽ là tiến bước trên con đường ánh sáng, ở yên trong trạng thái tập trung vào bản thân một cách tĩnh tại, hay đi theo con đường thấp dẫn đến sự xóa mờ ánh sáng linh hồn.

As we have seen, the petals of the solar plexus centre are reaching upwards towards the heart centre. This, in reality, means that emotional energy, desire and ambition (in the race of men as a whole) are striving upwards towards the higher way.

Như chúng ta đã thấy, các cánh hoa của trung tâm tùng thái dương đang vươn lên phía trung tâm tim. Điều này, trên thực tế, có nghĩa là năng lượng cảm xúc, dục vọng và tham vọng (trong toàn thể nhân loại) đang nỗ lực hướng lên con đường cao hơn.

It should be noted here that the transference of solar plexus energy per se is the task of all aspirants to the Path of Discipleship at this particular time, plus the gradual awakening of the heart centre. The first members of the human family to become group conscious are naturally the aspirants and the disciples, and these set the pace for the rest of humanity. This they achieve through the pressure of life itself and of circumstances, and not by the following [175] of set rules or specific meditations. Later, prior to a certain major initiation, such rules and measures may be applied so as to give the initiate immediate and conscious control over the astral body and its focal point of entry into the physical organism, the solar plexus centre, and again at the time that certain major transferences are consciously made. Of these transferences there are three of primary importance:

Cần lưu ý ở đây rằng việc chuyển dịch năng lượng tùng thái dương chính nó là nhiệm vụ của mọi người chí nguyện vào Con Đường Đệ Tử trong thời điểm đặc biệt này, cùng với sự thức tỉnh dần dần của trung tâm tim. Những thành viên đầu tiên của gia đình nhân loại trở nên có tâm thức nhóm dĩ nhiên là những người chí nguyện và các đệ tử, và họ đặt nhịp độ cho phần còn lại của nhân loại. Điều này họ đạt được qua áp lực của chính đời sống và hoàn cảnh, chứ không phải bằng việc tuân theo [175] các quy luật cố định hay các bài thiền đặc biệt. Về sau, trước một lần điểm đạo lớn nào đó, các quy luật và biện pháp như thế có thể được áp dụng để trao cho điểm đạo đồ sự kiểm soát tức thời và hữu thức đối với thể cảm dục và tiêu điểm đi vào cơ thể hồng trần của nó, tức trung tâm tùng thái dương, và một lần nữa vào lúc một số chuyển dịch lớn được thực hiện một cách hữu thức. Trong các chuyển dịch này có ba chuyển dịch quan trọng hàng đầu:

1. From the three centres below the diaphragm into the heart, throat and ajna centres.

1. Từ ba trung tâm dưới cơ hoành vào các trung tâm tim, cổ họng và ajna.

2. From the two centres above the diaphragm—the heart and throat centres—into the ajna centre and the thousand-petalled lotus of the head.

2. Từ hai trung tâm trên cơ hoành—các trung tâm tim và cổ họng—vào trung tâm ajna và hoa sen ngàn cánh của đầu.

3. From the ajna centre into the head centre, signifying the complete unification of all the energies throughout the entire etheric body into one central focal point of distribution—under direct control of the Spiritual Triad.

3. Từ trung tâm ajna vào trung tâm đầu, biểu thị sự hợp nhất hoàn toàn của mọi năng lượng trong toàn bộ thể dĩ thái vào một tiêu điểm phân phối trung tâm duy nhất—dưới sự kiểm soát trực tiếp của Tam Nguyên Tinh Thần.

The processes involved in these three great experiences (each preceded by much testing and experiment) naturally put a strain upon the physical body and are the cause of many of the ills to which disciples fall heir.

Các tiến trình liên hệ trong ba kinh nghiệm lớn này (mỗi kinh nghiệm đều được đi trước bởi nhiều thử nghiệm và thực nghiệm) dĩ nhiên gây căng thẳng lên thể xác và là nguyên nhân của nhiều chứng bệnh mà các đệ tử phải gánh chịu.

It will be obvious to you, for instance, that the transference of all the accumulated energies in the solar plexus centre into the heart centre will cause difficulty, very frequently of a serious nature; this is the reason why today so many advanced people die of heart disease. In the long cycle of the soul life and experience, this is of relatively small moment; in the short cycle of the individual disciple’s life it is of great difficulty and oft of tragedy. Similarly, the transference of the energies of the five centres up the spine into the head centres will carry with it its own problems. The stimulation of the ajna centre by the focussing of these energies may lead to disastrous psychological problems. A [176] man may become an ego-maniac temporarily (all is temporary in the long life of the soul!) and become such a human monster as Hitler and others of his ilk, though in lesser degree; there may be also violent conditions of epilepsy, or the eyesight may be affected and a man may become blind. All these points warrant careful thought.

Chẳng hạn, bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng việc chuyển dịch mọi năng lượng tích lũy trong trung tâm tùng thái dương vào trung tâm tim sẽ gây khó khăn, rất thường là nghiêm trọng; đó là lý do vì sao ngày nay rất nhiều người tiến bộ chết vì bệnh tim. Trong chu kỳ dài của đời sống và kinh nghiệm linh hồn, điều này tương đối ít quan trọng; trong chu kỳ ngắn của đời sống cá nhân của đệ tử, đó là một khó khăn lớn và thường là bi kịch. Tương tự, việc chuyển dịch các năng lượng của năm trung tâm dọc cột sống vào các trung tâm đầu sẽ mang theo những vấn đề riêng của nó. Sự kích thích trung tâm ajna bằng việc tập trung các năng lượng này có thể dẫn đến những vấn đề tâm lý tai hại. Một [176] người có thể tạm thời trở thành một kẻ cuồng ngã (mọi sự đều là tạm thời trong đời sống dài lâu của linh hồn!) và trở thành một quái vật nhân loại như Hitler và những kẻ cùng loại với ông, dù ở mức độ thấp hơn; cũng có thể có những trạng thái động kinh dữ dội, hoặc thị lực có thể bị ảnh hưởng và một người có thể bị mù. Tất cả những điểm này đều đáng được suy nghĩ cẩn trọng.

6. The Sacral Centre. This centre is located in the lower part of the lumbar area and is a very powerful centre, controlling as it does the sex life. One of the interesting things about this centre is that it must always remain a powerful centre until two-thirds of mankind have taken initiation, for the generative processes must go on and remain active in order to provide bodies for incoming souls. But as the race progresses, this centre will be controlled and its activities will be carried forward intelligently and as the result of knowledge, of insight and of higher and subtler contacts, and not as the result of unlimited and uncontrolled desire, as is now the case. I cannot enlarge further upon this matter as the theme is too big. I can, however, bring to your attention what I have already written, and suggest that someone with the interest and the time should collect all I have said in all my books anent the subject of sex so that a pamphlet on the subject may be compiled.

6. Trung Tâm Xương Cùng. Trung tâm này nằm ở phần dưới của vùng thắt lưng và là một trung tâm rất mạnh, vì nó kiểm soát đời sống tính dục. Một trong những điều thú vị về trung tâm này là nó luôn luôn phải vẫn là một trung tâm mạnh cho đến khi hai phần ba nhân loại đã tiếp nhận điểm đạo, vì các tiến trình sinh sản phải tiếp tục và vẫn hoạt động để cung cấp các thể cho những linh hồn đi vào. Nhưng khi nhân loại tiến bộ, trung tâm này sẽ được kiểm soát và các hoạt động của nó sẽ được tiến hành một cách thông minh và như kết quả của tri thức, của linh thị và của những tiếp xúc cao hơn và tinh tế hơn, chứ không phải như kết quả của dục vọng vô hạn độ và không được kiểm soát như hiện nay. Tôi không thể khai triển thêm về vấn đề này vì đề tài quá lớn. Tuy nhiên, tôi có thể nhắc bạn chú ý đến điều tôi đã viết, và gợi ý rằng một ai đó có quan tâm và có thời gian nên thu thập tất cả những gì tôi đã nói trong mọi sách của tôi liên quan đến đề tài tính dục để có thể biên soạn một tập sách nhỏ về chủ đề này.

a. The sacral centre corresponds to the physical sun, the source of vitality, and the life-giving agent on our planet.

a. Trung tâm xương cùng tương ứng với mặt trời hồng trần, nguồn sinh lực, và tác nhân ban sự sống trên hành tinh chúng ta.

b. The symbolism of the sacral centre is concerned primarily with the gestation period prior to birth, and in its right understanding can be traced and expanded the whole story of conception, of form-building, and this whether it is the physical form of a human being, the form of an idea, an organisation [177] built around a central truth, the form of a planet or of a solar system. It is perhaps above everything else else the centre through which the forces of IMPERSONALITY must eventually express themselves, and the whole problem of dualism must be resolved. This solution and interpretation of the symbol must come from the realm of the mind, thereby controlling the physical reaction and occupying itself with purposes and not with desire. Ponder on this. When it is thus understood, then we shall be reaching the point where a great transference can take place into the higher centre of creation, the throat centre.

b. Biểu tượng của trung tâm xương cùng chủ yếu liên hệ đến thời kỳ thai nghén trước khi sinh, và trong sự thấu hiểu đúng đắn về nó có thể truy ra và khai triển toàn bộ câu chuyện về sự thụ thai, về sự tạo dựng hình tướng, dù đó là hình tướng hồng trần của một con người, hình tướng của một ý tưởng, một tổ chức [177] được xây dựng quanh một chân lý trung tâm, hình tướng của một hành tinh hay của một hệ mặt trời. Có lẽ trên hết mọi thứ, đây là trung tâm mà qua đó các mãnh lực của TÍNH VÔ NGÃ rốt cuộc phải biểu lộ, và toàn bộ vấn đề nhị nguyên tính phải được giải quyết. Sự giải quyết và diễn giải biểu tượng này phải đến từ lĩnh vực của trí tuệ, nhờ đó kiểm soát phản ứng hồng trần và bận tâm đến các mục đích chứ không phải dục vọng. Hãy suy ngẫm về điều này. Khi được thấu hiểu như vậy, khi ấy chúng ta sẽ tiến đến điểm mà một sự chuyển dịch lớn có thể diễn ra vào trung tâm sáng tạo cao hơn, tức trung tâm cổ họng.

c. The sacral centre is therefore closely related to matter, and there is a flow of energy between three points in the lower part of the human body:

c. Vì vậy, trung tâm xương cùng có liên hệ chặt chẽ với vật chất, và có một dòng năng lượng giữa ba điểm ở phần dưới của thể người:

1. The spleen, the organ of prana or of physical vitality coming from the sun.

1. Lá lách, cơ quan của prana hay sinh lực hồng trần đến từ mặt trời.

2. The sacral centre, the predisposing agent towards physical generation.

2. Trung tâm xương cùng, tác nhân tạo khuynh hướng đối với sự sinh sản hồng trần.

3. The centre at the base of the spine which (until the will aspect is aroused in man) feeds the life-giving principle, the will-to-live, to all parts of the human frame.

3. Trung tâm ở đáy cột sống, trung tâm này (cho đến khi phương diện ý chí được khơi dậy nơi con người) nuôi dưỡng nguyên khí ban sự sống, ý chí muốn sống, cho mọi phần của khung thể con người.

These create a great triangle of force, concerned with matter, with substance, form-building, creation, vitality and persistence in form. This triangle is a reflection of a much higher one, composed of

Ba điểm này tạo thành một tam giác mãnh lực lớn, liên hệ đến vật chất, chất liệu, việc tạo dựng hình tướng, sáng tạo, sinh lực và sự bền bỉ trong hình tướng. Tam giác này là một phản ánh của một tam giác cao hơn nhiều, gồm có

1. The throat centre, corresponding to the sacral centre.

1. Trung tâm cổ họng, tương ứng với trung tâm xương cùng.

2. The pituitary body, corresponding to the splenic centre.

2. Tuyến yên, tương ứng với trung tâm lá lách.

[178]

[178]

3. The pineal gland, corresponding to the basic centre.

3. Tuyến tùng, tương ứng với trung tâm căn bản.

In the relation of these two triangles lies the clue to the instinct of self-preservation, the survival of the subtle bodies after death, and the principle of immortality which is seated in the soul and functions when self-preservation and survival no longer hold sway. This constitutes a triplicity of ideas which requires most careful study and which—if I might so express it—gives the key to the spiritualistic movement.

Trong mối liên hệ của hai tam giác này có manh mối cho bản năng tự bảo tồn, sự tồn tại của các thể vi tế sau khi chết, và nguyên khí bất tử vốn ngự trong linh hồn và hoạt động khi sự tự bảo tồn và sự tồn tại không còn chi phối nữa. Điều này tạo thành một bộ ba ý tưởng đòi hỏi sự nghiên cứu hết sức cẩn trọng và—nếu tôi có thể diễn đạt như vậy—trao chìa khóa cho phong trào thần linh học.

d. The sacral centre is also connected with the ajna centre in the last analysis; the two together create a functioning duality which is productive of that subtle quality which we call personality. There is a wide field for investigation in the theme of personality as an integrated whole and in the quality of personality, which is the aroma, the influence, the effect and the radiation of a personality. I throw out these ideas to students, hoping that some research may follow which will relate this subject of the centres to the recognised facts of coordination, integration and their effects in producing greatness.

d. Trung tâm xương cùng cũng được nối kết với trung tâm ajna trong phân tích cuối cùng; cả hai cùng nhau tạo nên một nhị nguyên tính hoạt động, sản sinh ra phẩm tính vi tế mà chúng ta gọi là phàm ngã. Có một lĩnh vực rộng lớn để khảo cứu trong chủ đề phàm ngã như một toàn thể tích hợp và trong phẩm tính của phàm ngã, vốn là hương thơm, ảnh hưởng, hiệu quả và sự phóng xạ của một phàm ngã. Tôi nêu ra những ý tưởng này cho các đạo sinh, hy vọng rằng sẽ có một số nghiên cứu tiếp theo, liên hệ chủ đề các trung tâm này với các sự kiện đã được công nhận về sự phối hợp, sự tích hợp và các hiệu quả của chúng trong việc tạo ra sự vĩ đại.

For those of you who are students of The Secret Doctrine, there is much to be unfolded anent the relation of the “lunar Lords,” the Barhishad Pitris, to the solar Lord or Angel. The field of work of the former is the sacral centre, par excellence; that of the solar Angel is the throat centre.

Đối với những ai trong các bạn là đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm, có nhiều điều cần được khai mở liên quan đến mối liên hệ của các “nguyệt tinh quân”, các Barhishad Pitris, với nhật tinh quân hay Thiên Thần thái dương. Lĩnh vực hoạt động của các vị trước là trung tâm xương cùng, theo nghĩa nổi bật nhất; của Thái dương Thiên Thần là trung tâm cổ họng.

e. The sacral centre registers the energy of the third aspect of divinity, just as the solar plexus centre registers that of the second aspect and the basic centre expresses the energy of the first aspect. Here [179] again you have the lower centres reflecting the throat, heart and head centres and thus completing the higher and the lower manifestation of the divine Trinity in man. This centre was brought into full functioning activity in old Lemuria, the first human race; its energy is that of the Holy Spirit, overshadowing virgin substance. Here again we find also another divine reflection in the following:

e. Trung tâm xương cùng ghi nhận năng lượng của phương diện thứ ba của thiên tính, cũng như trung tâm tùng thái dương ghi nhận năng lượng của phương diện thứ hai và trung tâm căn bản biểu lộ năng lượng của phương diện thứ nhất. Ở đây [179] một lần nữa bạn có các trung tâm thấp phản ánh các trung tâm cổ họng, tim và đầu, và như vậy hoàn tất biểu hiện cao và thấp của Tam Vị thiêng liêng trong con người. Trung tâm này đã được đưa vào hoạt động đầy đủ trong thời Lemuria cổ, nhân loại đầu tiên; năng lượng của nó là năng lượng của Chúa Thánh Thần, phủ bóng chất liệu đồng trinh. Ở đây một lần nữa chúng ta cũng thấy một phản ánh thiêng liêng khác trong điều sau đây:

1.-ph-n-m-t-nh-ng-nguy-n-nh-n-c-n-b-n-c-a-b-nh-ch-ng-i-06.png

Eventually, in the Divine Hermaphrodite (later to appear) you will have another combination:

Cuối cùng, trong Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng (sẽ xuất hiện về sau), bạn sẽ có một sự kết hợp khác:

1.-ph-n-m-t-nh-ng-nguy-n-nh-n-c-n-b-n-c-a-b-nh-ch-ng-i-07.png

Again you will note, my brother, how the Science of Triangles governs the human frame in all its aspects, as well as the frame of a solar system. This is to be expected.

Một lần nữa, Huynh đệ của Tôi, bạn sẽ lưu ý cách Khoa Học về các Tam Giác chi phối khung thể con người trong mọi phương diện của nó, cũng như khung thể của một hệ mặt trời. Điều này là điều có thể chờ đợi.

f. The dense physical externalisation of this centre is to be found in the gonads, the human organs of generation—[180] viewing them as a basic unity, though temporarily separated in the present dualistic expression of the human being. It must be remembered that this separation fosters a powerful impulse towards fusion, and this urge to blend we call sex. Sex is, in reality, the instinct towards unity: first of all, a physical unity. It is the innate (though much understood) principle of mysticism, which is the name we give to the urge to union with the divine. Like all else that undeveloped man has touched, we have perverted and distorted a divine idea and prostituted an immaterial urge to material desire. We have reversed the direction of the sacral energy, hence the over-developed animal nature and functions of average humanity.

f. Sự ngoại hiện hồng trần đậm đặc của trung tâm này được tìm thấy trong các tuyến sinh dục, các cơ quan sinh sản của con người—[180] xét chúng như một hợp nhất căn bản, dù tạm thời bị tách biệt trong biểu hiện nhị nguyên hiện nay của con người. Cần nhớ rằng sự tách biệt này nuôi dưỡng một xung lực mạnh mẽ hướng đến sự dung hợp, và sự thôi thúc hòa trộn này chúng ta gọi là tính dục. Tính dục, trên thực tế, là bản năng hướng đến hợp nhất: trước hết là một hợp nhất hồng trần. Nó là nguyên khí bẩm sinh (dù được hiểu nhiều) của thần bí học, là tên chúng ta đặt cho sự thôi thúc hướng đến hợp nhất với cái thiêng liêng. Giống như mọi điều khác mà con người chưa phát triển đã chạm đến, chúng ta đã làm sai lệch và bóp méo một ý tưởng thiêng liêng và biến một thôi thúc phi vật chất thành dục vọng vật chất. Chúng ta đã đảo ngược hướng của năng lượng xương cùng, do đó mới có bản chất và chức năng động vật phát triển quá mức của nhân loại trung bình.

There is necessarily much more that I could add to the above, but the theme would require much careful analysis, elucidation and wording that time permits not, or the established balance of this Treatise would not be preserved.

Dĩ nhiên còn nhiều điều nữa mà tôi có thể thêm vào phần trên, nhưng đề tài này sẽ đòi hỏi rất nhiều sự phân tích cẩn trọng, sự làm sáng tỏ và cách diễn đạt mà thời gian không cho phép, hoặc sự quân bình đã được thiết lập của bộ Luận này sẽ không được giữ gìn.

There is also little that I can say anent the centre at the base of the spine. Before, however, I take up whatever information is fruitful or possible, I would like to point out that the diagram on page 162 portrays the point in evolution of a disciple and not of an advanced initiate. It is not a description either of the everyday, average human being. This is indicated by the fact that the reflection of the heart centre in the head is turning upwards in response to an increased activity of the heart centre itself, and that the definition of the ajna centre is clear and exact, demonstrating an integrated, coordinated personality. This is not therefore the diagram of the centres of the ordinary or undeveloped person. It is impossible for such diagrams to do more than give some point of consummation, but it should be remembered [181] that these points of consummation are not static attainments but are each of them preceded by phases and stages of activity which produce constantly changing results and varying aspects of the centres; these, in their turn, are succeeded by other cycles of movement, of change and of a renewed release of energies. The effects of the deep underlying causes themselves become causes, for in the cycle of manifestation there is nothing static or fixed or finally determined. This is a point of extreme importance. Be not therefore misled by apparent moments of achievement. They are but prefaces to change, for such is the Law of Being.

Cũng có rất ít điều tôi có thể nói liên quan đến trung tâm ở đáy cột sống. Tuy nhiên, trước khi tôi đề cập đến bất cứ thông tin nào hữu ích hay khả dĩ, tôi muốn chỉ ra rằng biểu đồ ở trang 162 mô tả điểm tiến hoá của một đệ tử chứ không phải của một điểm đạo đồ tiến bộ. Nó cũng không phải là mô tả về con người trung bình thường nhật. Điều này được chỉ ra bởi sự kiện rằng phản ánh của trung tâm tim trong đầu đang quay lên trên để đáp ứng với hoạt động gia tăng của chính trung tâm tim, và rằng sự xác định của trung tâm ajna là rõ ràng và chính xác, chứng tỏ một phàm ngã tích hợp, phối hợp. Vì vậy, đây không phải là biểu đồ các trung tâm của người bình thường hay chưa phát triển. Những biểu đồ như thế không thể làm gì hơn là đưa ra một điểm thành tựu, nhưng cần nhớ [181] rằng các điểm thành tựu này không phải là những thành quả tĩnh tại mà mỗi điểm đều được đi trước bởi các pha và giai đoạn hoạt động tạo ra những kết quả luôn thay đổi và những phương diện biến thiên của các trung tâm; đến lượt chúng, các điều này lại được tiếp nối bởi những chu kỳ khác của chuyển động, của thay đổi và của một sự giải phóng năng lượng mới mẻ. Chính các hiệu quả của những nguyên nhân nền tảng sâu xa ấy lại trở thành nguyên nhân, vì trong chu kỳ biểu hiện không có gì là tĩnh tại hay cố định hay được quyết định sau cùng. Đây là một điểm cực kỳ quan trọng. Vì vậy, đừng để bị đánh lừa bởi những khoảnh khắc thành tựu bề ngoài. Chúng chỉ là lời mở đầu cho thay đổi, vì đó là Định luật của Bản Thể.

7. The Centre at the Base of the Spine. This centre is, above everything else, controlled and governed by the Law of Being, above referred to, and is established where spirit and matter meet and where matter, the Virgin Mary—under the influence of the Holy Spirit, the energy of the etheric vehicle—is translated “into Heaven,” there (as the Christian phraseology puts it) “to be seated beside her Son in the house of the Father.”

7. Trung Tâm ở Đáy Cột Sống. Trung tâm này, trên hết mọi thứ, được kiểm soát và chi phối bởi Định luật của Bản Thể vừa được nhắc đến ở trên, và được thiết lập tại nơi tinh thần và vật chất gặp nhau, và nơi vật chất, Đức Mẹ Đồng Trinh—dưới ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần, năng lượng của thể dĩ thái—được chuyển dịch “lên Thiên Đàng”, tại đó (theo cách nói của Cơ Đốc giáo) “ngồi bên Con của mình trong nhà của Cha.”

This centre is found at the very base of the spine, and supports all the other centres. It is relatively quiescent at this time, for it is only roused into full activity by an act of the will, directed and controlled by the initiate. It is responsive only to the will aspect, and the will-to-be in incarnation is the factor which at present controls its life and produces its effects as it feeds and directs the life principle in matter and form. Just as we are told that the life principle is “seated in the heart,” so the will-to-be is seated in the base of the spine. There has been much idle and dangerous talk anent this centre, and the whole subject of the “kundalini fire” has proved an exciting and enticing tale by the pseudo-occultists of the world. The true occultist in training has naught to do with the kundalini fire—as usually [182] understood. It is not possible for me to do more than make certain facts somewhat clearer to you, and yet at the same time I must refrain from indicating modes and methods of arousing the activity of this centre, on account of the extreme danger involved in any premature work on the basic centre. The best I can do is to make a series of statements which will be comprehended in the right way by those who know (and these are as yet few and far between), which will aid the thinking of those who are in training and give them a somewhat more complete picture, but which will protect the ignorant from disaster. I shall make these statements as clearly and briefly as possible, but shall give practically no explanatory matter with them.

Trung tâm này được tìm thấy ở chính đáy cột sống, và nâng đỡ mọi trung tâm khác. Hiện nay nó tương đối tĩnh lặng, vì chỉ được khơi dậy vào hoạt động đầy đủ bằng một hành vi của ý chí, được điểm đạo đồ chỉ đạo và kiểm soát. Nó chỉ đáp ứng với phương diện ý chí, và ý chí muốn hiện hữu trong lâm phàm là yếu tố hiện đang kiểm soát đời sống của nó và tạo ra các hiệu quả của nó khi nó nuôi dưỡng và chỉ đạo nguyên khí sự sống trong vật chất và hình tướng. Cũng như chúng ta được bảo rằng nguyên khí sự sống “ngự trong tim”, thì ý chí muốn hiện hữu ngự ở đáy cột sống. Đã có rất nhiều lời bàn tán vô ích và nguy hiểm liên quan đến trung tâm này, và toàn bộ chủ đề về “lửa kundalini” đã trở thành một câu chuyện kích thích và quyến rũ do các nhà huyền bí giả hiệu của thế giới dựng nên. Nhà huyền bí học chân chính đang được huấn luyện không có gì phải làm với lửa kundalini—như thường [182] được hiểu. Tôi không thể làm gì hơn là làm sáng tỏ phần nào một số sự kiện cho bạn, nhưng đồng thời tôi cũng phải tránh chỉ ra các phương thức và phương pháp khơi dậy hoạt động của trung tâm này, vì mối nguy cực lớn liên quan đến bất kỳ công việc nào quá sớm trên trung tâm căn bản. Điều tốt nhất tôi có thể làm là đưa ra một loạt phát biểu, những phát biểu sẽ được những ai biết hiểu theo cách đúng đắn (và những người này hiện còn rất ít và thưa thớt), sẽ trợ giúp tư duy của những ai đang được huấn luyện và cho họ một bức tranh phần nào đầy đủ hơn, nhưng sẽ bảo vệ người thiếu hiểu biết khỏi tai họa. Tôi sẽ đưa ra những phát biểu này rõ ràng và ngắn gọn nhất có thể, nhưng hầu như không kèm theo phần giải thích nào.

1. This basic centre is the point where, under the evolutionary law, spirit and matter meet, and life is related to form.

1. Trung tâm căn bản này là điểm mà tại đó, dưới định luật tiến hoá, tinh thần và vật chất gặp nhau, và sự sống được liên hệ với hình tướng.

2. It is therefore the centre where the essential dualism of the manifested divinity—man or planetary Logos—meet and produce form.

2. Vì vậy, đây là trung tâm nơi nhị nguyên tính cốt yếu của thiên tính biểu hiện—con người hay Hành Tinh Thượng đế—gặp nhau và tạo ra hình tướng.

3. The nature of this divinity is only revealed when the second aspect has accomplished its work, through the medium of the third aspect, but under the directing will of the first aspect.

3. Bản chất của thiên tính này chỉ được mặc khải khi phương diện thứ hai đã hoàn thành công việc của nó, qua trung gian của phương diện thứ ba, nhưng dưới ý chí chỉ đạo của phương diện thứ nhất.

4. It is the centre where the “serpent of God” undergoes two transformations:

4. Đây là trung tâm nơi “con rắn của Thượng đế” trải qua hai sự chuyển đổi:

a. The serpent of matter lies coiled.

a. Con rắn của vật chất nằm cuộn lại.

b. This serpent is transformed into the serpent of wisdom.

b. Con rắn này được chuyển đổi thành con rắn minh triết.

c. The serpent of wisdom is translated and becomes the “dragon of living light.”

c. Con rắn minh triết được chuyển dịch và trở thành “con rồng của ánh sáng sống.”

5. These three stages are nurtured by the life and energy pouring down through the entire length of the spinal [183] column, via the etheric correspondence of the spinal cord, and—in time and space—this downpouring (plus the simultaneously uprising life) produces:

5. Ba giai đoạn này được nuôi dưỡng bởi sự sống và năng lượng tuôn xuống qua toàn bộ chiều dài của cột sống [183], qua đối phần dĩ thái của tủy sống, và—trong thời gian và không gian—sự tuôn đổ này (cộng với sự sống đồng thời dâng lên) tạo ra:

a. The awakening in a gradual and orderly manner of the centres, according to ray types.

a. Sự thức tỉnh các trung tâm một cách dần dần và có trật tự, tùy theo các loại cung.

b. The reversal of the centres so that the consciousness of the indwelling man is adequate to his environment.

b. Sự đảo ngược các trung tâm để tâm thức của con người nội tại thích ứng đầy đủ với môi trường của mình.

c. The synthesis of the life energies of all the centres, and adequacy to the demands of the initiate and the service of the Hierarchy and of Humanity.

c. Sự tổng hợp các năng lượng sự sống của mọi trung tâm, và sự thích ứng đầy đủ với các đòi hỏi của điểm đạo đồ và sự phụng sự Thánh Đoàn và Nhân loại.

6. The spinal column (from the angle of the esoteric sciences) houses a threefold thread. This is the externalisation of the antahkarana, composed of the antahkarana proper, the sutratma or life thread, and the creative thread. This threefold thread within the spinal column is therefore composed of three threads of energy which have channeled for themselves in the substance of the interior of the column a “threefold way of approach and of withdrawal.” These are called in the Hindu terminology: the ida, the pingala and the sushumna paths, and they together form the path of life for the individual man and are awakened into activity sequentially and according to ray type and the point of evolution. The sushumna path is not used correctly and safely until the antahkarana has been built and the Monad and Personality are thereby related, even if it is only by the most tenuous thread. Then the Monad, the Father, the will aspect, can reach the personality in a direct manner, and can arouse the basic centre, and with it blend, unify and raise the three fires. [184]

6. Cột sống (xét từ góc độ các khoa học huyền bí) chứa một sợi dây tam phân. Đây là sự ngoại hiện của antahkarana, gồm antahkarana đúng nghĩa, sutratma hay sợi dây sự sống, và sợi dây sáng tạo. Vì vậy, sợi dây tam phân này trong cột sống gồm ba sợi năng lượng đã tự tạo cho mình trong chất liệu bên trong cột sống một “con đường tam phân để tiếp cận và rút lui.” Trong thuật ngữ Ấn giáo, chúng được gọi là các đường ida, pingalasushumna, và cùng nhau chúng tạo thành con đường sự sống cho con người cá nhân và được đánh thức vào hoạt động một cách tuần tự tùy theo loại cung và điểm tiến hoá. Đường sushumna không được sử dụng đúng đắn và an toàn cho đến khi antahkarana đã được xây dựng và Chân thần và phàm ngã nhờ đó được liên hệ, dù chỉ bằng sợi dây mong manh nhất. Khi ấy Chân thần, Đức Cha, phương diện ý chí, có thể tiếp cận phàm ngã một cách trực tiếp, và có thể khơi dậy trung tâm căn bản, và cùng với nó hòa trộn, hợp nhất và nâng ba ngọn lửa lên. [184]

7. One of these paths is the one along which the energy which feeds matter is poured. Another is related to the path of consciousness and of sensitive psychic unfoldment. The third is the path of pure spirit. Thus in every living form the work of the Father, of the Mother and of the Son is carried on. Life-consciousness-form and life-quality-appearance are blended, and the response apparatus of the divine man is perfected, enabling him to contact and recognise the major divine aspects in the kingdoms in nature, in the planet and in the solar system—eventually.

7. Một trong các đường này là đường mà qua đó năng lượng nuôi dưỡng vật chất được tuôn đổ. Một đường khác liên hệ đến con đường của tâm thức và sự khai mở thông linh nhạy cảm. Đường thứ ba là con đường của tinh thần thuần túy. Như vậy trong mọi hình tướng sống động, công việc của Cha, của Mẹ và của Con được tiến hành. Sự sống-tâm thức-hình tướng và sự sống-phẩm tính-sắc tướng được hòa trộn, và bộ máy đáp ứng của con người thiêng liêng được hoàn thiện, giúp y tiếp xúc và nhận biết các phương diện thiêng liêng chính trong các giới trong thiên nhiên, trong hành tinh và trong hệ mặt trời—cuối cùng là như vậy.

1.-ph-n-m-t-nh-ng-nguy-n-nh-n-c-n-b-n-c-a-b-nh-ch-ng-i-08.png

Be not betrayed into placing these interlaced spheres of living energy on the right or the left of the spinal cord. Constantly a movement, an interplay and a reversal is going on. I can but portray the nature of a symbol which will indicate the special path of the three energies of the divine Trinity. I indicate not a fact in location or place, for it is this materialising and localising of the main concept which has produced so much danger. The initiate-student seeks to grasp the relation of the three basic energies, the three paths of living fire, their relation and inter-relation and their sequential polarisation. He seeks not to narrow the teaching down to points and lines and place until such [185] time when these terms mean little to him and he knows more.

Đừng để bị dẫn dắt đến chỗ đặt các khối cầu đan xen này của năng lượng sống ở bên phải hay bên trái của tủy sống. Luôn luôn có một chuyển động, một tương tác và một sự đảo ngược đang diễn ra. Tôi chỉ có thể mô tả bản chất của một biểu tượng sẽ chỉ ra con đường đặc biệt của ba năng lượng của Tam Vị thiêng liêng. Tôi chỉ ra không phải một sự kiện về vị trí hay nơi chốn, vì chính việc vật chất hóa và định vị khái niệm chính này đã tạo ra quá nhiều nguy hiểm. Đạo sinh-điểm đạo đồ tìm cách nắm bắt mối liên hệ của ba năng lượng căn bản, ba con đường của lửa sống, mối liên hệ và tương liên của chúng cùng sự phân cực tuần tự của chúng. Y không tìm cách thu hẹp giáo huấn thành các điểm, các đường và vị trí cho đến khi [185] những thuật ngữ này ít còn ý nghĩa đối với y và y biết nhiều hơn.

8. These three paths of life are the channels for electric fire, solar fire and fire by friction, and are related in their usage to the three stages of the path of evolution: the path of evolution in the material, earlier stages; the Path of Probation, and the early stages of the Path of Discipleship until the third initiation; and the Path of Initiation itself.

8. Ba con đường sự sống này là các kênh cho Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát, và trong cách sử dụng của chúng, chúng liên hệ đến ba giai đoạn của con đường tiến hoá: con đường tiến hoá trong các giai đoạn vật chất ban đầu; Con Đường Dự Bị, và các giai đoạn đầu của Con Đường Đệ Tử cho đến lần điểm đạo thứ ba; và chính Con Đường Điểm Đạo.

9. The Kundalini Fire, about which so much is taught and written in the East, and increasingly in the West, is in reality the union of these three fires, which are focussed by an act of the enlightened will, under the impulse of love, in the basic centre. This unified fire is then raised by the use of a Word of Power (sent forth by the will of the Monad) and by the united authority of the soul and personality, integrated and alive. The human being who can do this in full consciousness is therefore an initiate who has left the third initiation behind him. He, and he alone, can safely raise this triple fire from the base of the spine to the head centre.

9. Lửa Kundalini, điều đã được giảng dạy và viết nhiều ở phương Đông, và ngày càng nhiều ở phương Tây, trên thực tế là sự hợp nhất của ba ngọn lửa này, được tập trung bằng một hành vi của ý chí được soi sáng, dưới xung lực của tình thương, trong trung tâm căn bản. Ngọn lửa hợp nhất này sau đó được nâng lên bằng việc sử dụng một Quyền năng từ (được phát ra bởi ý chí của Chân thần) và bởi thẩm quyền hợp nhất của linh hồn và phàm ngã, đã được tích hợp và sống động. Vì vậy, con người có thể làm điều này trong tâm thức trọn vẹn là một điểm đạo đồ đã vượt qua lần điểm đạo thứ ba. Chỉ y, và chỉ riêng y, mới có thể an toàn nâng ngọn lửa tam phân này từ đáy cột sống lên trung tâm đầu.

10. As usually interpreted by the ignorant esotericist in the various occult groups, the kundalini fire is something which must be “raised,” and when it is raised all the centres will then come into functioning activity and the channels up and down the spine will be cleared of all obstruction. This is a dangerous generalisation and a reversal of the facts. The kundalini fire will be raised and carried up into heaven when all the centres are awakened and the channels up the spine are unimpeded. This removal of all obstruction is the result of the livingness of the individual centres which, [186] through the potency of their life, themselves are effective in destroying all hindrances and obstructions. They can “burn up” all that hinders their radiation. What usually happens in those accidental cases (which do so much harm) is that the aspirant, through his ignorant curiosity and by an effort of the mind (not of the spiritual will, but purely as an expression of personality will), succeeds in arousing the lowest of the three fires, the fire of matter, fire by friction; this produces a premature burning and destroys the etheric web in the etheric body. These circular disks or webs are to be found between each pair of the centres up the spine and also in the head. They are normally dissipated as purity of life, the discipline of the emotions, and the development of the spiritual will are carried forward.

10. Như thường được nhà bí truyền học vô minh trong các nhóm huyền bí khác nhau diễn giải, lửa kundalini là một cái gì đó phải được “nâng lên,” và khi được nâng lên thì mọi trung tâm sẽ đi vào hoạt động chức năng và các kinh mạch lên xuống dọc cột sống sẽ được khai thông khỏi mọi chướng ngại. Đây là một sự khái quát hóa nguy hiểm và là sự đảo ngược các sự kiện. Lửa kundalini sẽ được nâng lên và mang lên thiên thượng khi mọi trung tâm đều được thức tỉnh và các kinh mạch dọc cột sống không còn bị ngăn trở. Việc loại bỏ mọi chướng ngại này là kết quả của sức sống nơi các trung tâm cá biệt; chính chúng, [186] nhờ quyền năng của sự sống mình, có hiệu quả trong việc tự hủy diệt mọi cản trở và chướng ngại. Chúng có thể “thiêu hủy” mọi điều ngăn trở sự bức xạ của chúng. Điều thường xảy ra trong những trường hợp ngẫu nhiên ấy (vốn gây rất nhiều tổn hại) là người chí nguyện, do tính tò mò vô minh của y và bằng một nỗ lực của trí tuệ (không phải của ý chí tinh thần, mà hoàn toàn như một biểu hiện của ý chí phàm ngã), đã thành công trong việc khơi dậy ngọn lửa thấp nhất trong ba ngọn lửa, lửa của vật chất, Lửa ma sát; điều này tạo ra một sự thiêu đốt non sớm và phá hủy mạng lưới dĩ thái trong thể dĩ thái. Những đĩa tròn hay mạng lưới này được tìm thấy giữa mỗi cặp trung tâm dọc cột sống và cả trong đầu nữa. Bình thường, chúng được làm tiêu tan khi sự thanh khiết của đời sống, sự kỷ luật cảm xúc và sự phát triển của ý chí tinh thần được xúc tiến.

1.-ph-n-m-t-nh-ng-nguy-n-nh-n-c-n-b-n-c-a-b-nh-ch-ng-i-09.png

[187]

[187]

There are four of these webs. When the fourfold personality is highly developed and the ajna centre is awakening, then these webs slowly and gradually, normally and automatically disappear. The webs in the head are of much higher quality and bisect the skull horizontally and vertically. Thus they symbolise the Cross upon which a Son of God is crucified.

Có bốn mạng lưới như vậy. Khi phàm ngã tứ phân được phát triển cao và trung tâm ajna đang thức tỉnh, thì các mạng lưới này chậm rãi và dần dần, một cách bình thường và tự động, biến mất. Các mạng lưới trong đầu có phẩm tính cao hơn nhiều và chia hộp sọ theo chiều ngang và chiều dọc. Vì vậy chúng tượng trưng cho thập giá mà trên đó một Con của Thượng đế bị đóng đinh.

11. The three channels up the spine are responsive in their totality to the three major centres:

11. Ba kinh mạch dọc cột sống trong toàn thể của chúng đáp ứng với ba trung tâm chính:

a. To the solar plexus centre, providing thus the impulse of desire and feeding the physical life and the creative urge.

a. Với trung tâm tùng thái dương, nhờ đó cung cấp xung lực của dục vọng và nuôi dưỡng đời sống thể xác cùng thôi thúc sáng tạo.

b. To the heart centre, providing the impulse to love and to conscious contact with ever widening areas of divine expression.

b. Với trung tâm tim, nhờ đó cung cấp xung lực yêu thương và sự tiếp xúc hữu thức với những phạm vi ngày càng mở rộng của biểu hiện thiêng liêng.

c. To the head centre, providing the dynamic impulse of the will to live.

c. Với trung tâm đầu, nhờ đó cung cấp xung lực năng động của ý chí sống.

I do not indicate which channel is responsive to which centre, except in the case of the sushumna channel which is responsive only to the energy of the head centre and the directing will, centred in the 1000-petalled lotus. This can be safely stated, as the spiritual will is as yet undeveloped in those who seek to arouse kundalini. When it is aroused, they will know what they can safely do.

Tôi không chỉ ra kinh mạch nào đáp ứng với trung tâm nào, ngoại trừ trường hợp kinh mạch sushumna chỉ đáp ứng với năng lượng của trung tâm đầu và ý chí chỉ đạo, được định tâm trong hoa sen ngàn cánh. Điều này có thể được nói ra một cách an toàn, vì ý chí tinh thần vẫn chưa phát triển nơi những ai tìm cách khơi dậy kundalini. Khi nó được khơi dậy, họ sẽ biết họ có thể làm gì một cách an toàn.

12. The three centres in the head are also related to this triple channel:

12. Ba trung tâm trong đầu cũng liên hệ với kinh mạch tam phân này:

a. The medulla oblongata area (the alta major centre) and the carotid gland.

a. Vùng hành tủy (trung tâm alta major) và tuyến cảnh.

b. The ajna centre and the pituitary body.

b. Trung tâm ajna và tuyến yên.

c. The 1000-petalled lotus and the pineal gland.

c. Hoa sen ngàn cánh và tuyến tùng.

Students will find it interesting to relate all these triplicities to the three major rays:[188]

Các đạo sinh sẽ thấy thú vị khi liên hệ tất cả các bộ ba này với ba cung chính:[188]

a. The first ray of will or power,

a. cung một của ý chí hay quyền lực,

b. The second ray of love-wisdom,

b. cung hai của bác ái-minh triết,

c. The third ray of active intelligence,

c. cung ba của trí tuệ linh hoạt,

and also to the three human races which are endowed with the power to unfold the seed of these divine aspects: Lemuria, Atlantis and the Aryan race. These can be linked, as seed, to the two final races which will fuse and synthesise all the above powers, qualities, achievements and goals into one perfected planetary life.

và cũng với ba nhân loại được phú cho quyền năng khai mở hạt giống của các phương diện thiêng liêng này: Lemuria, Atlantis và nhân loại Arya. Các nhân loại này có thể được nối kết, như hạt giống, với hai nhân loại cuối cùng, là những nhân loại sẽ dung hợp và tổng hợp mọi quyền năng, phẩm tính, thành tựu và mục tiêu nói trên thành một sự sống hành tinh hoàn thiện duy nhất.

Another synthesis is also possible and of importance:

Một sự tổng hợp khác cũng có thể có và rất quan trọng:

a. Path of Evolution……..centres below the diaphragm.

a. Con Đường tiến hoá……..các trung tâm dưới cơ hoành.

b. Path of Discipleship……..centres above the diaphragm.

b. Con Đường Đệ Tử……..các trung tâm trên cơ hoành.

c. Path of Initiation……..centres in the head.

c. Con Đường Điểm Đạo……..các trung tâm trong đầu.

These groups and triplicities are all related in time and space to the triple spinal cord.

Các nhóm và các bộ ba này đều liên hệ trong thời gian và không gian với tủy sống tam phân.

13. There is also—again in relation to all the above points of synthesis in the body—one consummating point of complete fusion. I give each of these in the sequence of their work of fusion:

13. Cũng còn có—một lần nữa liên hệ với mọi điểm tổng hợp nói trên trong thể—một điểm hoàn tất của sự dung hợp trọn vẹn. Tôi nêu ra từng điểm này theo trình tự công việc dung hợp của chúng:

a. The solar plexus centre, fusing the centres below the diaphragm.

a. Trung tâm tùng thái dương, dung hợp các trung tâm dưới cơ hoành.

b. The ajna centre, fusing centres both above and below the diaphragm.

b. Trung tâm ajna, dung hợp các trung tâm cả trên lẫn dưới cơ hoành.

c. The base of the spine, fusing all six centres.

c. Đáy cột sống, dung hợp cả sáu trung tâm.

d. The thousand-petalled lotus of the head, fusing all the seven energies.

d. Hoa sen ngàn cánh nơi đầu, dung hợp cả bảy năng lượng.

Bear in mind, in connection with all the above, that we are dealing entirely with forces and energies, functioning through the etheric body; that we are dealing with [189] the tertiary world of causes, which is responsible for the organic world of the dense physical manifestation. This physical manifestation is itself subject to the influence of the secondary world of conscious life, which in its turn is responsive in time and space to the dynamic world of purpose and of Being.

Hãy ghi nhớ, liên hệ với tất cả những điều trên, rằng chúng ta hoàn toàn đang đề cập đến các mãnh lực và năng lượng, vận hành qua thể dĩ thái; rằng chúng ta đang đề cập đến [189] thế giới tam cấp của các nguyên nhân, thế giới chịu trách nhiệm cho thế giới hữu cơ của biểu hiện hồng trần đậm đặc. Bản thân biểu hiện hồng trần này lại chịu ảnh hưởng của thế giới thứ cấp của sự sống hữu thức, mà đến lượt nó trong thời gian và không gian đáp ứng với thế giới năng động của mục đích và của Bản Thể.

The key to the full life of the soul lies hidden in my words, but it takes the dedicated life and the illumined mind to profit by the knowledge conveyed, and to see behind the form of words the key thought which gives it life and—occultly speaking—generative warmth.

Chìa khóa cho sự sống trọn vẹn của linh hồn được ẩn giấu trong lời tôi, nhưng cần có đời sống tận hiến và trí tuệ được soi sáng mới có thể hưởng lợi từ tri thức được truyền đạt, và thấy được đằng sau hình thức ngôn từ tư tưởng chủ chốt ban cho nó sự sống và—nói theo huyền bí học—hơi ấm sinh thành.

Have clearly in mind the concepts of stimulation or lack of stimulation, of interplay or of separativeness, of quiescence or of activity, for in these dualities are to be found the causes of health or of disease.

Hãy ghi rõ trong trí các khái niệm về sự kích thích hay thiếu kích thích, về sự tương tác hay tính biệt lập, về sự tĩnh tại hay hoạt động, vì trong các nhị nguyên này có thể tìm thấy các nguyên nhân của sức khỏe hay bệnh tật.

The Etheric Body, Nervous and Endocrine Systems

Thể Dĩ Thái, Hệ Thần Kinh và Hệ Nội Tiết

What I have to say here is based upon certain remarks in the previous pages wherein I pointed out that

Điều tôi phải nói ở đây dựa trên một số nhận xét trong các trang trước, nơi tôi đã chỉ ra rằng

1. The etheric body itself

1. Chính thể dĩ thái

2. The nervous system

2. Hệ thần kinh

3. The endocrine system

3. Hệ nội tiết

are closely “related to each other and constitute an interlocking directorate of energies and forces which are essentially vital, galvanic, dynamic and creative…. Upon them, the entire interior health of the body depends.” To these three I then added the blood stream as the conveyor throughout the body of

có liên hệ mật thiết với nhau và tạo thành một ban chỉ đạo đan kết của các năng lượng và mãnh lực vốn về bản chất là sinh lực, điện lực, năng động và sáng tạo…. Toàn bộ sức khỏe nội tại của thể xác tùy thuộc vào chúng.” Sau đó tôi đã thêm vào ba yếu tố này dòng máu như tác nhân chuyên chở khắp cơ thể

1. The Life Principle.

1. Nguyên khí Sự Sống.

2. The combined energies of the three above systems,

2. Các năng lượng kết hợp của ba hệ thống trên,

and pointed out that the great combination of forces which we call the pairs of opposites or the major dualities, govern [190] the underlying causes of health and disease. In making these statements, I am endeavouring to reduce our entire theme to one of the utmost simplicity. In so doing, some of the truth is lost, but it is essential that certain broad generalisations are grasped by the student before he begins to study the exceptions and to deal with minutiae and the detail of bodily defects or their opposites.

và đã chỉ ra rằng sự kết hợp lớn lao của các mãnh lực mà chúng ta gọi là các cặp đối lập hay các nhị nguyên chính chi phối [190] các nguyên nhân nền tảng của sức khỏe và bệnh tật. Khi đưa ra các phát biểu này, tôi đang cố gắng giản lược toàn bộ chủ đề của chúng ta thành một điều hết sức đơn giản. Khi làm như vậy, một phần chân lý bị mất đi, nhưng điều cốt yếu là đạo sinh phải nắm được một số khái quát rộng lớn trước khi bắt đầu nghiên cứu các ngoại lệ và đề cập đến các chi tiết vụn vặt cùng các khuyết tật của cơ thể hay các đối cực của chúng.

It has become a truism with students of the occult that the etheric body conditions, controls and determines the life expression of the incarnated individual. It is a secondary truism that this etheric body is the conveyor of the forces of the personality, through the medium of the centres, and thereby galvanises the physical body into activity. These forces, routed through the centres, are those of the integrated personality as a whole, or are simply the forces of the astral or emotional body and the mind body; they also transmit the force of the personality ray or the energy of the soul ray, according to the point in evolution reached by the man. The physical body, therefore, is not a principle. It is conditioned and does not condition—a point oft forgotten. It is a victim of personality life or the triumphant expression of soul energy. It is for this reason that the science of psychology will, during the next two centuries, dominate modern medical science, except in the category of those diseases with which we will deal in our next section—those emanating from group life, such as tuberculosis, venereal diseases and cancer. Until the race is more definitely group conscious (something as yet far distant) it will not be possible to apply broad psychological generalisations to the diseases indigenous to our planet. We can, however, consider the handling of similar difficulties which arise in the individual unit; these are based on the conflict of the pairs of opposites and upon the lack of harmony to be found in the three major interlocking, directing systems.

Đối với các đạo sinh huyền bí học, việc thể dĩ thái tác động lên, kiểm soát và quyết định biểu hiện sự sống của cá nhân đang lâm phàm đã trở thành một điều hiển nhiên. Một điều hiển nhiên thứ hai là thể dĩ thái này là tác nhân chuyên chở các mãnh lực của phàm ngã, qua trung gian các trung tâm, và nhờ đó kích hoạt thể xác đi vào hoạt động. Các mãnh lực này, được dẫn truyền qua các trung tâm, là những mãnh lực của toàn bộ Phàm ngã tích hợp, hoặc đơn giản là các mãnh lực của thể cảm dục hay thể cảm xúc và thể trí; chúng cũng truyền dẫn mãnh lực của cung phàm ngã hay năng lượng của cung linh hồn, tùy theo điểm tiến hoá mà con người đã đạt tới. Vì vậy, thể xác không phải là một nguyên khí. Nó bị tác động và không tác động—một điểm thường bị quên lãng. Nó là nạn nhân của đời sống phàm ngã hoặc là biểu hiện chiến thắng của năng lượng linh hồn. Chính vì lý do này mà khoa học tâm lý học, trong hai thế kỷ tới, sẽ chi phối khoa học y học hiện đại, ngoại trừ trong loại bệnh mà chúng ta sẽ đề cập đến trong phần kế tiếp—những bệnh phát sinh từ đời sống nhóm, như lao, bệnh hoa liễu và ung thư. Chừng nào nhân loại chưa có tâm thức nhóm rõ rệt hơn (điều hiện vẫn còn rất xa) thì sẽ không thể áp dụng các khái quát tâm lý học rộng lớn vào những bệnh tật bản địa của hành tinh chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta có thể xem xét việc xử lý những khó khăn tương tự phát sinh trong đơn vị cá nhân; những khó khăn này dựa trên xung đột của các cặp đối lập và trên sự thiếu hài hòa nơi ba hệ thống chỉ đạo đan kết chính.

[191]

[191]

You have, therefore, three systems to carry in your minds, and one carrier or conveying agent, plus the basic occult fact that certain great opposing energies, working within the body, produce what we call disease. To the above factors I would add another needed correlation. I would remind you that we are concerned with forms of life, and that all these forms are creative within themselves, and can create potentially more forms or can provide environments in which these forms can live. Please note this mode of expressing a fundamental truth. The basis of all the occult teaching as regards manifestation is that the building forces exist, and that this statement is true whether you are concerned with the Life of a solar system or only with the consciousness of that body in which the human being moves and lives—along sound or unsound lines; we are dealing with the world body in which a human being lives. Owing to this, we come up against another great natural Law which can be expressed simply as follows:

Vì vậy, bạn có ba hệ thống cần ghi nhớ, và một tác nhân chuyên chở hay truyền dẫn, cộng thêm sự kiện huyền bí học căn bản rằng một số năng lượng đối nghịch lớn lao, hoạt động trong cơ thể, tạo ra điều chúng ta gọi là bệnh tật. Vào các yếu tố trên tôi muốn thêm một sự tương quan cần thiết khác. Tôi muốn nhắc bạn rằng chúng ta đang quan tâm đến các hình tướng sự sống, và rằng tất cả các hình tướng này đều sáng tạo trong chính chúng, và có thể tiềm tàng tạo ra thêm nhiều hình tướng hoặc cung cấp những môi trường trong đó các hình tướng ấy có thể sống. Xin lưu ý cách diễn đạt này của một chân lý căn bản. Nền tảng của mọi giáo huấn huyền bí học liên quan đến biểu hiện là các mãnh lực kiến tạo hiện hữu, và phát biểu này là đúng dù bạn đang quan tâm đến Sự Sống của một hệ mặt trời hay chỉ đến tâm thức của thể mà trong đó con người vận động và sống—theo những đường lối lành mạnh hay không lành mạnh; chúng ta đang đề cập đến thể thế giới mà trong đó con người sống. Do đó, chúng ta đối diện với một Định luật tự nhiên lớn khác có thể được diễn đạt đơn giản như sau:

LAW VI

ĐỊNH LUẬT VI

When the building energies of the soul are active in the body, then there is health, clean interplay and right activity. When the builders are the lunar lords and those who work under the control of the moon and at the behest of the lower Personal self, then you have disease, ill health and death.

Khi các năng lượng kiến tạo của linh hồn hoạt động trong thể, thì có sức khỏe, sự tương tác thanh sạch và hoạt động đúng đắn. Khi các đấng kiến tạo là các nguyệt tinh quân và những ai hoạt động dưới sự kiểm soát của mặt trăng và theo mệnh lệnh của phàm ngã thấp, thì bạn có bệnh tật, sức khỏe suy kém và cái chết.

This is a profoundly simple rule, but it gives the clue to the causes of disease and to the reason for an established immortality; it will be understood with great clarity and comprehension in a few years’ time and will then supersede those idealistic but factually unsound and untrue systems to which we give the name Unity, Mental Science and Christian Science. These systems present as immediate, demonstrable possibilities the stage of final liberation [192] from the natural and material limitations which today control all forms; they ignore the time factor, and overlook the evolutionary process and also the point of development of the person concerned; their position is based on wishful thinking and on the innate desire of the average human being for comfort and physical harmony, and gloss the innate selfishness of their presentation of truth with the concept that all is to the eternal glory of God. Unquestionably, disease and physical limitations of any kind will vanish, but this will only happen when the soul of the individual controls and the lower personal self becomes as much an automaton of the soul as the physical body is at this time the automaton of the emotional nature, of the mind, and occasionally (and only very occasionally for the majority of people) of the soul.

Đây là một quy luật hết sức đơn giản nhưng sâu xa, song nó đưa ra đầu mối về các nguyên nhân của bệnh tật và về lý do của sự bất tử đã được thiết lập; trong vài năm nữa nó sẽ được hiểu với sự sáng tỏ và thấu hiểu lớn lao, và khi đó sẽ thay thế những hệ thống duy tâm nhưng không vững chắc về mặt sự kiện và không chân thực mà chúng ta gọi là Unity, Mental Science và Christian Science. Các hệ thống này trình bày như những khả năng tức thời, có thể chứng minh được, giai đoạn giải thoát cuối cùng [192] khỏi những giới hạn tự nhiên và vật chất hiện đang kiểm soát mọi hình tướng; chúng bỏ qua yếu tố thời gian, xem nhẹ tiến trình tiến hoá và cả điểm phát triển của người liên hệ; lập trường của chúng dựa trên tư duy mong muốn và trên khát vọng bẩm sinh của con người trung bình đối với sự tiện nghi và hài hòa thể xác, đồng thời che đậy tính ích kỷ bẩm sinh trong cách trình bày chân lý của chúng bằng khái niệm rằng mọi sự đều vì vinh quang vĩnh cửu của Thượng đế. Không nghi ngờ gì nữa, bệnh tật và các giới hạn thể xác dưới bất kỳ hình thức nào sẽ biến mất, nhưng điều này chỉ xảy ra khi linh hồn của cá nhân kiểm soát và phàm ngã thấp trở thành một tự động cơ của linh hồn cũng nhiều như thể xác hiện nay là tự động cơ của bản chất cảm xúc, của trí tuệ, và đôi khi (và chỉ rất hiếm khi đối với đa số người) của linh hồn.

Only when the soul, consciously and with the cooperation of the personality, builds the temple of the body, and then keeps it full of light, will disease disappear; this building is, however, a scientific process, and in the early stages of discipleship (which is the time wherein the soul begins to grasp its instrument, the personality) this leads inevitably to conflict, increased strain and frequently aggravated disease and disharmony. This dis-harmony and dis-ease lead to much necessary trouble and consequent undesirable effects. These effects will be overcome but—in the interim of adjustment—whilst they are registering and expressing themselves, there will be much distress, physical and psychological, and all the major and minor difficulties to which humanity seems heir.

Chỉ khi linh hồn, một cách hữu thức và với sự hợp tác của phàm ngã, xây dựng ngôi đền của thể xác, rồi giữ cho nó đầy ánh sáng, thì bệnh tật mới biến mất; tuy nhiên, việc xây dựng này là một tiến trình khoa học, và trong các giai đoạn đầu của địa vị đệ tử (là thời kỳ linh hồn bắt đầu nắm lấy công cụ của mình là phàm ngã) điều này tất yếu dẫn đến xung đột, gia tăng căng thẳng và thường là bệnh tật cùng bất hòa trầm trọng hơn. Sự bất hòa và bất an này dẫn đến nhiều rắc rối cần thiết và các hậu quả không mong muốn tiếp theo. Những hậu quả này sẽ được vượt qua nhưng—trong giai đoạn điều chỉnh tạm thời—khi chúng đang ghi nhận và biểu lộ chính mình, sẽ có nhiều đau khổ, cả thể xác lẫn tâm lý, và mọi khó khăn lớn nhỏ mà nhân loại dường như phải thừa hưởng.

In undeveloped humanity, the conflict (from the angle of consciousness) is practically nil; you have less susceptibility to the subtler diseases emanating from the three interlocking systems, but at the same time a much greater responsiveness to the three indigenous diseases, to infectious [193] and contagious diseases, and to the great epidemics which sweep through nations and great planetary areas. As humanity develops, diseases become more personal (if I might express it in this manner) and are not so definitely related to the herd or mass condition. They arise within the persons themselves, and though they may be related to the mass diseases, they are based on individual causes.

Trong nhân loại chưa phát triển, xung đột (xét từ góc độ tâm thức) hầu như không có; bạn có ít tính nhạy cảm hơn đối với các bệnh tinh tế hơn phát sinh từ ba hệ thống đan kết, nhưng đồng thời lại đáp ứng mạnh hơn nhiều với ba bệnh bản địa, với các bệnh truyền nhiễm [193] và lây lan, và với những trận dịch lớn quét qua các quốc gia và những vùng hành tinh rộng lớn. Khi nhân loại phát triển, bệnh tật trở nên mang tính cá nhân hơn (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) và không còn liên hệ quá rõ rệt với tình trạng bầy đàn hay quần chúng nữa. Chúng phát sinh bên trong chính con người, và dù có thể liên hệ với các bệnh quần chúng, chúng vẫn dựa trên các nguyên nhân cá nhân.

When a man steps out of the general mass and steps upon the probationary path, and thus becomes a candidate for discipleship, then the diseases of the flesh and the inharmony of his entire threefold system, plus the conveying stream, constitute a conscious problem and one which the aspirant must himself tackle—thus revealing to him the need for conscious, creative building.

Khi một người bước ra khỏi khối quần chúng chung và bước lên Con Đường Dự Bị, và nhờ đó trở thành một ứng viên cho địa vị đệ tử, thì các bệnh của xác thân và sự bất hòa của toàn bộ hệ thống tam phân của y, cộng với dòng truyền dẫn, tạo thành một vấn đề hữu thức mà chính người chí nguyện phải tự mình giải quyết—nhờ đó bộc lộ cho y nhu cầu về sự kiến tạo hữu thức, sáng tạo.

It is at this point that the doctrine of reincarnation becomes of supreme value; the disciple begins to institute those conditions, to create those forms and build those vehicles which, in another life, will prove more suitable for soul control and more adequate instruments with which tocarry forward the perfecting process which the soul demands. Let me point out that the disciple does not concentrate upon the physical body at any time, or begin with any physical emphasis to work at the elimination of disease or disharmony. He begins with the psychology which the soul teaches and commences with the causes which are producing the effects upon the physical plane. It is a slower process, but endures. Much of the violent auto-suggestion of the systems allied to Christian Science and Unity are only temporary in their effects and are based upon a process of scientific suppression, plus a refusal to recognise existent factors. They are not based on truth. In a later life, the suppressed condition will again emerge in ever greater potency and will continue so to do until such time as it is ignored altogether and the life emphasis is laid on soul contact [194] and the life expression is extroverted into service to others.

Chính tại điểm này mà giáo lý luân hồi trở nên có giá trị tối thượng; đệ tử bắt đầu thiết lập những điều kiện, tạo ra những hình tướng và xây dựng những vận cụ mà trong một kiếp sống khác sẽ tỏ ra thích hợp hơn cho sự kiểm soát của linh hồn và là những công cụ đầy đủ hơn để tiếp tục tiến trình hoàn thiện mà linh hồn đòi hỏi. Xin để tôi chỉ ra rằng đệ tử không tập trung vào thể xác vào bất kỳ lúc nào, cũng không bắt đầu bằng bất kỳ sự nhấn mạnh hồng trần nào để làm việc loại trừ bệnh tật hay bất hòa. Y bắt đầu với tâm lý học mà linh hồn dạy và khởi sự từ các nguyên nhân đang tạo ra các kết quả trên cõi hồng trần. Đó là một tiến trình chậm hơn, nhưng bền vững. Phần lớn sự tự ám thị mãnh liệt của các hệ thống liên hệ với Christian Science và Unity chỉ có tác dụng tạm thời và dựa trên một tiến trình đàn áp có tính khoa học, cộng với sự từ chối thừa nhận các yếu tố hiện hữu. Chúng không dựa trên chân lý. Trong một kiếp sống sau, tình trạng bị đàn áp ấy sẽ lại xuất hiện với năng lực ngày càng lớn hơn và sẽ tiếp tục như vậy cho đến khi nó bị hoàn toàn phớt lờ và trọng tâm đời sống được đặt vào sự tiếp xúc linh hồn [194] và biểu hiện sự sống được hướng ngoại vào việc phụng sự tha nhân.

In connection with physical disease and its relation to the centres (regarding these as focal points for incoming energies from some source or another) it might be useful if certain broad generalisations were made here, remembering that to all of these there may be exceptions, particularly in the case of the health or the non-health of disciples.

Liên hệ với bệnh thể xác và mối quan hệ của nó với các trung tâm (xem các trung tâm như những tiêu điểm cho các năng lượng đi vào từ nguồn này hay nguồn khác), sẽ hữu ích nếu ở đây đưa ra một số khái quát rộng lớn, đồng thời nhớ rằng đối với tất cả những điều này đều có thể có ngoại lệ, đặc biệt trong trường hợp sức khỏe hay tình trạng không khỏe của các đệ tử.

1. Each of the seven major centres governs or conditions—from the material angle as well as from that of the soul and of the life principle—the area of the physical body in which it is found, including the multitude of lesser centres of energy and plexi of force which may be found therein.

1. Mỗi một trong bảy trung tâm chính chi phối hay tác động—từ góc độ vật chất cũng như từ góc độ của linh hồn và của nguyên khí sự sống—lên khu vực của thể xác nơi nó tọa lạc, kể cả vô số trung tâm năng lượng nhỏ hơn và các đám rối mãnh lực có thể được tìm thấy trong đó.

2. The three great basic and manifesting divisions of divinity are to be found symbolically present in every centre:

2. Ba phân bộ lớn căn bản và biểu hiện của thiên tính hiện diện một cách tượng trưng trong mọi trung tâm:

a. The life principle, the first aspect, discloses itself when the entire centre is esoterically unfolded or awakened. It is present all the time in latency, but it is not a dynamic factor producing monadic stimulation until the end of the great cycle of evolution.

a. Nguyên khí sự sống, phương diện thứ nhất, tự bộc lộ khi toàn bộ trung tâm được khai mở hay thức tỉnh một cách huyền bí. Nó luôn hiện diện trong trạng thái tiềm ẩn, nhưng không phải là một yếu tố năng động tạo ra sự kích thích chân thần cho đến cuối đại chu kỳ tiến hoá.

b. The quality or soul aspect is gradually disclosed in the process of evolutionary unfoldment and produces, in time and space, the definite effect which the centre has upon its environment. This quality is dependent upon the ray (either of the personality or the soul) which is the source of the incoming energy, or upon the ray governing the astral body in the case of the little evolved: it is also dependent upon the point in evolution and upon the radiatory influence of other centres.

b. Phẩm tính hay phương diện linh hồn dần dần được bộc lộ trong tiến trình khai mở tiến hoá và tạo ra, trong thời gian và không gian, hiệu quả xác định mà trung tâm gây ra lên môi trường của nó. Phẩm tính này tùy thuộc vào cung (hoặc của phàm ngã hoặc của linh hồn) là nguồn của năng lượng đi vào, hoặc vào cung chi phối thể cảm dục trong trường hợp người ít tiến hóa; nó cũng tùy thuộc vào điểm tiến hoá và vào ảnh hưởng bức xạ của các trung tâm khác.

c. The appearance in the etheric body of a developed or a developing centre indicates the place of the man upon the ladder of evolution, his racial affiliations, and his conscious goal; this latter can range all the [195] way from an emphasis upon the sex life, and consequent activity of the sacral centre, to the goal of the initiate, which brings the head centre into activity. All this produces a consequent effect upon the surrounding tissue, substance and organic forms within the radius of influence of the centre. The area of this influence is variable according to the activity of the centre and this is dependent upon the point of development reached by the individual and the preponderant type of energy to which the individual reacts.

c. Sắc tướng trong thể dĩ thái của một trung tâm đã phát triển hay đang phát triển cho biết vị trí của con người trên nấc thang tiến hoá, các liên hệ chủng tộc của y, và mục tiêu hữu thức của y; mục tiêu sau cùng này có thể trải dài [195] từ sự nhấn mạnh vào đời sống tính dục, và do đó là hoạt động của trung tâm xương cùng, cho đến mục tiêu của điểm đạo đồ, vốn đưa trung tâm đầu vào hoạt động. Tất cả điều này tạo ra một hiệu quả tương ứng lên mô, chất liệu và các hình tướng hữu cơ xung quanh trong bán kính ảnh hưởng của trung tâm. Khu vực ảnh hưởng này thay đổi tùy theo hoạt động của trung tâm, và điều này lại tùy thuộc vào điểm phát triển mà cá nhân đã đạt tới và loại năng lượng trội hơn mà cá nhân đáp ứng.

3. The incoming energy is transmuted within the centre into forces. This involves a process of differentiation into secondary energies of the primary energy involved, and is an automatic happening; the rate of transmutation process, the strength of the resultant aggregation of forces, and the subsequent radiatory activity producing conditioning results upon the dense physical body) are dependent upon the extent of the unfoldment of the particular centre involved and its awakened or unawakened state.

3. Năng lượng đi vào được chuyển hoá trong trung tâm thành các mãnh lực. Điều này bao hàm một tiến trình biến phân thành các năng lượng thứ cấp của năng lượng sơ cấp liên hệ, và đó là một diễn biến tự động; tốc độ của tiến trình chuyển hoá, sức mạnh của tập hợp mãnh lực kết quả, và hoạt động bức xạ tiếp theo tạo ra các kết quả tác động lên thể xác hồng trần đậm đặc) đều tùy thuộc vào mức độ khai mở của trung tâm liên hệ và trạng thái thức tỉnh hay chưa thức tỉnh của nó.

4. The outgoing forces from a centre play upon the etheric counterpart of the entire intricate network of nerves which constitute the nervous system. These counterparts of identical subjective correspondences are called in the Hindu philosophy, the “nadis”; they constitute an intricate and most extensive network of fluid energies which are an intangible, interior, paralleling system to that of the bodily nerves, which latter system is in fact an externalisation of the inner pattern of energies. There is as yet no word in the. English language or in any European tongue for the ancient word “nadi,” because the existence of this subjective system is not yet recognised, and only the materialistic concept of the nerves as a system built up in response to a tangible [196] environment yet holds sway in the West. The idea of these nerves being the dense physical result of an inner sensitive response apparatus is still undefined and unrecognised by modern Western science. When recognition is accorded to this subtle substance (composed of threads of energy) underlying the more tangible nerves, we shall have moved forward in our approach to the entire problem of health and disease, and the world of causes will be that much nearer. This network of nadis forms a definite life pattern which varies according to the personality ray.

4. Các mãnh lực đi ra từ một trung tâm tác động lên đối phần dĩ thái của toàn bộ mạng lưới thần kinh phức tạp cấu thành hệ thần kinh. Những đối phần của các tương ứng chủ quan đồng nhất này được gọi trong triết học Ấn Độ là “nadis”; chúng tạo thành một mạng lưới phức tạp và hết sức rộng lớn của các năng lượng lưu chất, là một hệ thống song hành vô hình, nội tại với hệ thần kinh của cơ thể, mà hệ sau này thực ra là sự ngoại hiện của mô hình năng lượng bên trong. Hiện nay trong tiếng Anh hay trong bất kỳ ngôn ngữ châu Âu nào vẫn chưa có từ nào cho từ cổ “nadi,” vì sự hiện hữu của hệ thống chủ quan này vẫn chưa được thừa nhận, và chỉ có quan niệm duy vật về thần kinh như một hệ thống được xây dựng để đáp ứng với một môi trường hữu hình [196] vẫn còn thống trị ở phương Tây. Ý tưởng cho rằng các dây thần kinh này là kết quả hồng trần đậm đặc của một bộ máy đáp ứng nhạy cảm bên trong vẫn còn chưa được xác định và chưa được khoa học phương Tây hiện đại công nhận. Khi sự công nhận được dành cho chất liệu tinh tế này (được cấu thành từ các sợi năng lượng) nằm dưới các dây thần kinh hữu hình hơn, chúng ta sẽ tiến thêm một bước trong cách tiếp cận toàn bộ vấn đề sức khỏe và bệnh tật, và thế giới của các nguyên nhân sẽ gần hơn rất nhiều. Mạng lưới nadis này tạo thành một mô hình sự sống xác định, thay đổi theo cung phàm ngã.

5. The nadis, therefore, determine the nature and the quality of the nervous system with its extensive network of nerves and plexi covering the entire physical body. The nadis, and consequently the network of nerves, are related primarily to two aspects of man’s physical equipment—the seven major centres in the etheric body (the substantial body which underlies the dense physical body), and the spinal column with the head. It must always be remembered that the etheric body is a physical body, though composed of subtler material than the one we can see and touch. It is made of substance or of that which “substands,” or underlies, every part and particle of the dense physical vehicle. This is a point which will later receive attention from healers and from enlightened medical men in the New Age. When this relationship existing between the nadis and the nerves, and their joint relationship to the centres and spinal column is recognised, we shall see a great revolution in medical and psychiatric methods. Experience will tend to show that the more closely the interplay between these two—the nadis and the nerves—can be brought about, the more rapidly will the control of disease also be implemented.

5. Vì vậy, các nadis quyết định bản chất và phẩm tính của hệ thần kinh với mạng lưới rộng lớn các dây thần kinh và đám rối bao phủ toàn bộ thể xác. Các nadis, và do đó mạng lưới thần kinh, liên hệ chủ yếu với hai phương diện của trang bị hồng trần của con người—bảy trung tâm chính trong thể dĩ thái (thể chất liệu nằm dưới thể xác hồng trần đậm đặc), và cột sống cùng đầu. Phải luôn nhớ rằng thể dĩ thái là một thể hồng trần, dù được cấu thành bằng vật chất tinh tế hơn thể mà chúng ta có thể thấy và chạm vào. Nó được làm bằng chất liệu hay bằng cái “nâng đỡ,” hay nằm dưới, mọi phần và mọi hạt của vận cụ hồng trần đậm đặc. Đây là một điểm mà sau này các nhà trị liệu và các y sĩ được soi sáng trong Kỷ Nguyên Mới sẽ chú ý. Khi mối quan hệ hiện hữu giữa các nadis và các dây thần kinh, cùng mối quan hệ chung của chúng với các trung tâm và cột sống được công nhận, chúng ta sẽ thấy một cuộc cách mạng lớn trong các phương pháp y học và tâm thần học. Kinh nghiệm sẽ có xu hướng cho thấy rằng sự tương tác giữa hai hệ này—các nadis và các dây thần kinh—càng được thiết lập chặt chẽ bao nhiêu, thì việc kiểm soát bệnh tật cũng sẽ được thực hiện nhanh chóng bấy nhiêu.

[197]

[197]

6. The nadis in the physical body correspond to the life or spirit aspect; the nerves are the correspondence to the soul or quality aspect. That which demonstrates as their united externalisation is the endocrine system which corresponds to the form or matter aspect. These three—the nadis, the nervous system and the glands—are the material correspondences to the three divine aspects; they are esoterically responsive to these three aspects and they make the man upon the physical plane what he is. These three groups are themselves conditioned (via the seven centres, as we have earlier seen) by the astral or mental vehicles, or by the integrated personality, or by the soul which begins to use the personality as a transmitting and transmuting agency, and—at the close of the Path of Discipleship—by the monad, via the antahkarana, using that self-created path as a direct channel of communication to the seven centres and from there to the threefold system of nadis, nerves and glands.

6. Các nadis trong thể hồng trần tương ứng với phương diện sự sống hay tinh thần; các dây thần kinh là tương ứng với phương diện linh hồn hay phẩm tính. Điều biểu lộ như sự ngoại hiện hợp nhất của chúng là hệ nội tiết, tương ứng với phương diện hình tướng hay vật chất. Ba yếu tố này—các nadis, hệ thần kinh và các tuyến—là những tương ứng vật chất với ba phương diện thiêng liêng; chúng đáp ứng một cách huyền bí với ba phương diện này và chúng làm cho con người trên cõi hồng trần trở thành như y là. Bản thân ba nhóm này được tác động (qua bảy trung tâm, như chúng ta đã thấy trước đây) bởi các vận cụ cảm dục hay trí tuệ, hoặc bởi phàm ngã tích hợp, hoặc bởi linh hồn bắt đầu sử dụng phàm ngã như một tác nhân truyền dẫn và chuyển hoá, và—vào cuối Con Đường Đệ Tử—bởi chân thần, qua antahkarana, sử dụng con đường do chính mình tạo ra ấy như một kênh giao tiếp trực tiếp đến bảy trung tâm và từ đó đến hệ tam phân gồm nadis, thần kinh và tuyến.

7. These three major systems within the human being express through the medium of the physical body the condition or the state of development of the centres. The life, the quality and the energy which they represent are conveyed to every part of the physical vehicle via the blood stream. This, modern science is already recognising as a fact, indicating that the blood stream conveys certain elements released by the glands. It does not yet recognise the fact of the relationship of the glands to the centres, with the intermediate systems of nadis and nerves. The next great move in medicine will be to recognise the fact of the etheric body, the physical substance which underlies dense matter.

7. Ba hệ thống chính này bên trong con người biểu lộ qua trung gian thể xác tình trạng hay trạng thái phát triển của các trung tâm. Sự sống, phẩm tính và năng lượng mà chúng biểu hiện được truyền đến mọi phần của vận cụ hồng trần qua dòng máu. Khoa học hiện đại đã công nhận điều này như một sự kiện, cho thấy rằng dòng máu chuyên chở một số yếu tố do các tuyến tiết ra. Nó vẫn chưa công nhận sự kiện về mối quan hệ của các tuyến với các trung tâm, cùng các hệ trung gian là nadis và thần kinh. Bước tiến lớn tiếp theo trong y học sẽ là công nhận sự kiện về thể dĩ thái, chất liệu hồng trần nằm dưới vật chất đậm đặc.

8. when the centres are awakened throughout the body, there will then be present a highly electric nervous system, responsive with immediacy to the energy carried by [198] the nadis; the result of this will be a well-balanced endocrine system. The vitality and life pouring through the entire body will then be of such potency that automatically the physical body will be resistant to disease, either innate, hereditary, or of group origin. In these words I express for you a future probability but not an immediate possibility. Man will some day have the three systems perfectly coordinated, psychically responsive to the inner pattern of nadis and centres, and consciously integrated with the soul, and later—via the antahkarana—with the Life principle.

8. Khi các trung tâm được thức tỉnh khắp cơ thể, khi đó sẽ hiện diện một hệ thần kinh có điện tính cao, đáp ứng tức thời với năng lượng được chuyên chở bởi [198] các nadis; kết quả của điều này sẽ là một hệ nội tiết cân bằng tốt. Sinh lực và sự sống tuôn chảy qua toàn bộ cơ thể khi đó sẽ có quyền năng đến mức tự động làm cho thể xác kháng cự được bệnh tật, dù là bẩm sinh, di truyền hay có nguồn gốc nhóm. Trong những lời này tôi diễn đạt cho bạn một xác suất tương lai chứ không phải một khả năng tức thời. Một ngày nào đó con người sẽ có ba hệ thống được phối hợp hoàn hảo, đáp ứng thông linh với mô hình bên trong của các nadis và các trung tâm, và được tích hợp hữu thức với linh hồn, rồi sau đó—qua antahkarana—với Nguyên khí Sự Sống.

9. Today as there is uneven development, with some centres unawakened, others overstimulated, and with the centres below the diaphragm overactive, you have consequently, whole areas of the body where the nadis are in an embryonic state, other areas where they are highly energised but with their flow arrested because some centre along the path of their activity is still unawakened or—if awakened—is still non-radiatory. These uneven conditions produce potent effects upon the nervous system and upon the glands, leading to overstimulation in some cases, subnormal conditions in others, lack of vitality, overactivity, and other undesirable reactions which inevitably produce disease. Such diseases either arise from within the body itself as the result of inherent (or should I say indigenous) or hereditary tendencies or predispositions, present in the bodily tissue; or they arise as the result of the radiation or the non-radiation of the centres, which work through the nadis; they can also arise as a result of external impacts or contact (such as infectious or contagious diseases and epidemics). These, the subject is unable to resist, owing to the lack of development of his centres.

9. Ngày nay, vì có sự phát triển không đồng đều, với một số trung tâm chưa thức tỉnh, những trung tâm khác bị kích thích quá mức, và với các trung tâm dưới cơ hoành hoạt động quá mạnh, nên hậu quả là có những vùng toàn bộ của cơ thể nơi các nadis ở trong trạng thái phôi thai, những vùng khác nơi chúng được nạp năng lượng cao nhưng dòng chảy của chúng bị ngưng lại vì một trung tâm nào đó trên đường hoạt động của chúng vẫn chưa thức tỉnh hoặc—nếu đã thức tỉnh—vẫn chưa bức xạ. Những tình trạng không đồng đều này tạo ra các hiệu quả mạnh mẽ lên hệ thần kinh và lên các tuyến, dẫn đến sự kích thích quá mức trong một số trường hợp, tình trạng dưới mức bình thường trong những trường hợp khác, thiếu sinh lực, hoạt động quá độ, và những phản ứng không mong muốn khác tất yếu gây ra bệnh tật. Những bệnh này hoặc phát sinh từ bên trong chính cơ thể như kết quả của các khuynh hướng hay thiên hướng bẩm sinh (hay tôi nên nói là bản địa) hoặc di truyền, hiện diện trong mô cơ thể; hoặc chúng phát sinh như kết quả của sự bức xạ hay không bức xạ của các trung tâm, vốn hoạt động qua các nadis; chúng cũng có thể phát sinh như kết quả của các tác động hay tiếp xúc bên ngoài (như các bệnh truyền nhiễm hay lây lan và các trận dịch). Những điều này, chủ thể không thể kháng cự, do sự thiếu phát triển của các trung tâm của y.

10. To sum all up: Disease, physical disability of any kind except of course those due to accidents and, to some [199] extent, to planetary conditions inducing epidemics of a peculiarly virulent nature such as war oft produces), and the many differing aspects of ill health can be directly traced to the condition of the centres, as they determine the activity or the non-activity of the nadis; these, in their turn, affect the nervous system, making the endocrine system what it is in the individual man, and the blood stream is responsible for this condition reaching every part of the body.

10. Tóm lại tất cả: Bệnh tật, sự tàn tật hồng trần dưới bất kỳ hình thức nào ngoại trừ dĩ nhiên những gì do tai nạn gây ra và, ở một mức độ nào đó, do [199] các điều kiện hành tinh gây nên những trận dịch có tính độc lực đặc biệt như chiến tranh thường tạo ra), và nhiều phương diện khác nhau của tình trạng sức khỏe kém đều có thể được truy nguyên trực tiếp đến tình trạng của các trung tâm, vì chúng quyết định hoạt động hay không hoạt động của các nadis; đến lượt mình, các nadis này ảnh hưởng đến hệ thần kinh, làm cho hệ nội tiết trở thành như nó là nơi con người cá biệt, và dòng máu chịu trách nhiệm đưa tình trạng này đến mọi phần của cơ thể.

Effects Produced in Specific Areas

Các Hiệu Quả Được Tạo Ra Trong Những Khu Vực Cụ Thể

Let us now consider certain of the effects of the above facts, and their effect upon the areas governed by the centres and in which disease appears.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét một số hiệu quả của các sự kiện trên, và ảnh hưởng của chúng lên những khu vực do các trung tâm chi phối và nơi bệnh tật xuất hiện.

It will be apparent to you that as the energy pours through the centres, via the nadis and the nerves and potently affecting the glandular system and the blood stream, the areas of the body become vitally involved and responsive. This covers, of course, the head, the throat and the torso. The energy thus despatched penetrates to every part of the physical vehicle, to every organism and to every cell and atom. It is the working of the quality of energy upon the body which induces, stimulates, removes or palliates disease. I am not here referring to the three major indigenous diseases (if I may call them that)—cancer, syphilis and tuberculosis. With these I will deal later because they are planetary in scope, present in the substance of which all forms are made, and are responsible for producing a host of lesser diseases which are sometimes recognised as affiliates but are frequently not so known.

Bạn sẽ thấy rõ rằng khi năng lượng tuôn qua các trung tâm, qua các nadis và các dây thần kinh và tác động mạnh mẽ lên hệ tuyến cùng dòng máu, thì các khu vực của cơ thể trở nên bị cuốn vào một cách sinh động và đáp ứng. Điều này dĩ nhiên bao gồm đầu, cổ họng và thân mình. Năng lượng được phóng đi như vậy thâm nhập vào mọi phần của vận cụ hồng trần, vào mọi cơ quan và mọi tế bào cùng nguyên tử. Chính sự tác động của phẩm tính năng lượng lên cơ thể gây ra, kích thích, loại bỏ hay làm dịu bệnh tật. Ở đây tôi không đề cập đến ba bệnh bản địa chính (nếu tôi có thể gọi như vậy)—ung thư, giang mai và lao. Tôi sẽ đề cập đến chúng sau vì chúng có phạm vi hành tinh, hiện diện trong chất liệu mà từ đó mọi hình tướng được tạo nên, và chịu trách nhiệm tạo ra vô số bệnh nhỏ hơn đôi khi được công nhận là có liên hệ nhưng thường thì không được biết như vậy.

Those diseases which are loosely called mental diseases, and which are related to the brain, are little understood as yet. There was very little mental trouble in the last rootrace, the Atlantean; the mind nature was then quiescent and little stimulation was conveyed through mental [200] levels via the head centre to the pineal gland and the brain. There was very little eye trouble either, and no nasal difficulties, for the ajna centre was unawakened and the third eye rapidly becoming inactive. The ajna centre is the organ of the integrated personality, the instrument of direction, and is closely related to the pituitary body and the two eyes, as well as to all the frontal areas of the head. In Atlantean days, personality integration was largely unknown, except in the case of disciples and initiates, and the goal of the initiate then, and the sign of his achievement, was this triple integration. Today, the goal is that of a still higher fusion—that of the soul and personality. Speaking in terms of energy, this involves the formation, activity and related interplay of the following triangles of force:

Những bệnh được gọi một cách lỏng lẻo là bệnh tâm thần, và có liên hệ với bộ não, cho đến nay vẫn còn ít được hiểu. Trong giống dân gốc trước, giống Atlantis, có rất ít rối loạn tâm thần; bản chất trí tuệ khi đó tĩnh lặng và rất ít kích thích được truyền qua các [200] cấp độ trí tuệ qua trung tâm đầu đến tuyến tùng và bộ não. Cũng có rất ít bệnh về mắt, và không có khó khăn về mũi, vì trung tâm ajna chưa thức tỉnh và con mắt thứ ba đang nhanh chóng trở nên bất hoạt. Trung tâm ajna là cơ quan của phàm ngã tích hợp, công cụ chỉ đạo, và liên hệ mật thiết với tuyến yên và hai mắt, cũng như với mọi vùng phía trước của đầu. Trong thời Atlantis, sự tích hợp phàm ngã phần lớn chưa được biết đến, ngoại trừ trong trường hợp các đệ tử và các điểm đạo đồ, và mục tiêu của điểm đạo đồ khi ấy, cũng như dấu hiệu thành tựu của y, là sự tích hợp tam phân này. Ngày nay, mục tiêu là một sự dung hợp còn cao hơn nữa—đó là sự dung hợp của linh hồn và phàm ngã. Nói theo thuật ngữ năng lượng, điều này bao hàm sự hình thành, hoạt động và tương tác liên hệ của các tam giác mãnh lực sau đây:

I. 1. The soul, the spiritual man on his own plane.

I. 1. Linh hồn, con người tinh thần trên cõi riêng của mình.

2. The personality, the threefold integrated man in the three worlds.

2. Phàm ngã, con người tam phân tích hợp trong ba cõi giới.

3. The head centre.

3. Trung tâm đầu.

II. 1. The head centre, the point of the second fusion.

II. 1. Trung tâm đầu, điểm của sự dung hợp thứ hai.

2. The ajna centre, the point of the first fusion.

2. Trung tâm ajna, điểm của sự dung hợp thứ nhất.

3. The centre in the medulla oblongata, controlling the spine.

3. Trung tâm ở hành tủy, kiểm soát cột sống.

III. 1. The pineal gland, the externalisation of the head centre.

III. 1. Tuyến tùng, sự ngoại hiện của trung tâm đầu.

2. The pituitary body, related to the ajna centre.

2. Tuyến yên, liên hệ với trung tâm ajna.

3. The carotid gland, the externalisation of the third head centre.

3. Tuyến cảnh, sự ngoại hiện của trung tâm đầu thứ ba.

All these triplicities, present within the circumference of the head, constitute the mechanism through which:

Tất cả các bộ ba này, hiện diện trong chu vi của đầu, cấu thành bộ máy qua đó:

1. The soul controls its instrument, the personality.

1. Linh hồn kiểm soát công cụ của nó là phàm ngã.

2. The personality directs the activities of the physical body.

2. Phàm ngã chỉ đạo các hoạt động của thể xác.

[201]

[201]

The spinal column (esoterically, the ida, pingala and sushumna channels), the two eyes and the total brain tissue are receptive to, stimulated by, or nonreceptive to these energies in the head. In the latter case, the entire area is in a quiescent state, spiritually speaking, and the focus of energy is elsewhere.

Cột sống (một cách huyền bí là các kinh mạch ida, pingala và sushumna), hai mắt và toàn bộ mô não tiếp nhận, được kích thích bởi, hoặc không tiếp nhận các năng lượng này trong đầu. Trong trường hợp sau, toàn bộ khu vực ở trong trạng thái tĩnh tại, xét về mặt tinh thần, và tiêu điểm năng lượng ở nơi khác.

This deficiency or this stimulation, if unbalanced or if misapplied, will produce some definite type of trouble, frequently of a physiological nature as well as psychological, and in our Aryan times we shall see an increasing amount of diseases of the brain (a constantly increasing mental imbalance), and of eye difficulties, until the nature of the centres and the type of incoming force and their regulation are recognised and carefully and scientifically studied. Then we shall see the science of the regulation of energy, as it conditions the human being, developed. In the meantime, there is much difficulty everywhere, and mental diseases, neurotic conditions, insanities and, perhaps even more prevalent, glandular imbalance, are on an expanding arc. To date, in the West, little is known as to the methods of control or cure, and in the East, where some knowledge can be found, nothing is done, owing to the apathy there present.

Sự thiếu hụt hay sự kích thích này, nếu mất cân bằng hoặc bị áp dụng sai, sẽ tạo ra một loại rối loạn xác định nào đó, thường mang tính sinh lý cũng như tâm lý, và trong thời Arya của chúng ta, chúng ta sẽ thấy số lượng bệnh về não gia tăng (một sự mất cân bằng trí tuệ ngày càng tăng), cùng các khó khăn về mắt, cho đến khi bản chất của các trung tâm và loại mãnh lực đi vào cùng sự điều hòa của chúng được công nhận và được nghiên cứu cẩn trọng, khoa học. Khi đó chúng ta sẽ thấy khoa học điều hòa năng lượng, khi nó tác động lên con người, được phát triển. Trong lúc này, ở khắp nơi có rất nhiều khó khăn, và các bệnh tâm thần, các tình trạng thần kinh, chứng điên loạn và, có lẽ còn phổ biến hơn, sự mất cân bằng tuyến, đang trên một vòng cung mở rộng. Cho đến nay, ở phương Tây, người ta biết rất ít về các phương pháp kiểm soát hay chữa trị, và ở phương Đông, nơi có thể tìm thấy một ít tri thức, thì không làm gì cả, do sự thờ ơ hiện diện ở đó.

The spinal column is primarily intended to be the channel through which the energising of the centres and the distribution of energy to the surrounding areas of the body is carried forward by the intelligent, integrated personality, acting under the conscious direction of the soul. I refer not here to the bony structure of the spinal column, but to the cord, its esoteric counterpart, and to the nerves which issue from the spine. Today this planned, directed esoteric control of energy is not present, except in the case of those with the initiate consciousness and certain advanced disciples. There are inhibitions, blockages, unawakened areas, deficiency of vitality, lack of free flow and consequent lack [202] of development within the whole man; or else there is too much stimulation, a too rapid vibratory activity, a premature awakening of the centres, leading to the overactivity of the atoms and cells governed by any particular centre. All these conditions, along with others not mentioned, affect the nervous system, condition the glands and produce psychological difficulty and disease in some form or another. You have the following simple yet suggestive and symbolic diagram of the spinal column and the head, looking at both from the angle of the centres and the glands:

Cột sống trước hết được dự định là kênh qua đó việc tiếp sinh lực cho các trung tâm và sự phân phối năng lượng đến các khu vực xung quanh của cơ thể được thực hiện bởi phàm ngã tích hợp, thông minh, hành động dưới sự chỉ đạo hữu thức của linh hồn. Ở đây tôi không nói đến cấu trúc xương của cột sống, mà nói đến tủy sống, đối phần huyền bí của nó, và các dây thần kinh phát ra từ cột sống. Ngày nay, sự kiểm soát năng lượng huyền bí có kế hoạch và có định hướng này không hiện diện, ngoại trừ trong trường hợp những người có tâm thức điểm đạo và một số đệ tử tiến bộ. Có những sự ức chế, tắc nghẽn, những vùng chưa thức tỉnh, thiếu sinh lực, thiếu dòng chảy tự do và hậu quả là thiếu [202] phát triển trong toàn bộ con người; hoặc ngược lại có quá nhiều kích thích, hoạt động rung động quá nhanh, sự thức tỉnh non sớm của các trung tâm, dẫn đến hoạt động quá mức của các nguyên tử và tế bào do bất kỳ trung tâm nào chi phối. Tất cả những tình trạng này, cùng với những tình trạng khác không được nêu ra, ảnh hưởng đến hệ thần kinh, tác động lên các tuyến và tạo ra khó khăn tâm lý cùng bệnh tật dưới hình thức này hay hình thức khác. Bạn có sơ đồ đơn giản nhưng gợi ý và tượng trưng sau đây về cột sống và đầu, nhìn cả hai từ góc độ các trung tâm và các tuyến:

1.-ph-n-m-t-nh-ng-nguy-n-nh-n-c-n-b-n-c-a-b-nh-ch-ng-i-10.png

[203]

[203]

You will note that the spleen is not included in this diagram. Its function is a peculiar one, being the centre of vitality in relation to the planetary vitality and the radiation from the sun. It is not controlled in any way from the spinal column. It must be borne in mind that this diagram is simply an effort to relate in pictorial form the centres, the glands which they condition, and the organs which are affected by both. It is not intended to be a true picture of any physiological organic relations.

Bạn sẽ lưu ý rằng lá lách không được đưa vào sơ đồ này. Chức năng của nó là một chức năng đặc biệt, vì nó là trung tâm sinh lực liên hệ với sinh lực hành tinh và bức xạ từ mặt trời. Nó không bị kiểm soát theo bất kỳ cách nào từ cột sống. Cần ghi nhớ rằng sơ đồ này chỉ đơn giản là một nỗ lực nhằm liên hệ dưới hình thức minh họa các trung tâm, các tuyến mà chúng tác động, và các cơ quan bị ảnh hưởng bởi cả hai. Nó không nhằm là một bức tranh chân thực về bất kỳ mối quan hệ sinh lý hữu cơ nào.

The centre at the base of the spine has a unique function. It is to the substance of the body, to the physical tissue and to all matter not included in the organs mentioned above, the source of life. In the perfected man, the two centres (the highest head centre and the basic centre) represent the great duality of spirit and matter, and they then control and govern, in perfect unison, the entire direction of the vehicle of the soul. Finally, you will have the spiritual aspect of the human being expressing itself perfectly through the related monad and personality (which is brought about by a third great major fusion). The material man is then responsive to these two, via the head centre (the monad) and the basic centre (the spiritually energised personality). These two centres will then be in complete rapport, expressing the full nature of the spiritual man.

Trung tâm ở đáy cột sống có một chức năng độc đáo. Đối với chất liệu của cơ thể, đối với mô hồng trần và đối với mọi vật chất không bao gồm trong các cơ quan đã nêu ở trên, nó là nguồn của sự sống. Trong con người hoàn thiện, hai trung tâm (trung tâm đầu cao nhất và trung tâm căn bản) biểu hiện nhị nguyên tính lớn lao của tinh thần và vật chất, và khi đó chúng kiểm soát và cai quản, trong sự hợp nhất hoàn hảo, toàn bộ sự chỉ đạo của vận cụ của linh hồn. Cuối cùng, bạn sẽ có phương diện tinh thần của con người biểu lộ một cách hoàn hảo qua chân thần và phàm ngã có liên hệ (điều này được thực hiện nhờ một sự dung hợp lớn thứ ba). Khi đó con người vật chất đáp ứng với hai yếu tố này, qua trung tâm đầu (chân thần) và trung tâm căn bản (phàm ngã được tiếp sinh lực một cách tinh thần). Khi đó hai trung tâm này sẽ ở trong sự tương thông hoàn toàn, biểu lộ trọn vẹn bản chất của con người tinh thần.

It is essential that spiritual healers should get clearly in their minds the picture of the areas in the body which are governed by the head centres and the other centres, because within those areas are the various organs which react to disease. The health of these organs is largely dependent upon the centres, as they condition the glands and as the energy is distributed throughout the body. A full and balanced flow of energy from the centre into the area which it controls leads to resistance to so-called disease; [204] where there is lack of development and an unbalanced situation, where the centres are concerned, there will be no power to resist. The healing process in the New Age will start with definitely planned work with the centres, and the general trend of the healing art will then be—as you can easily see—preventive in nature rather than curative. The whole emphasis will be upon the energy centres, energy currents and the direction of energy to the organs within the radius of the influence of any particular centre. From a study of the glands (a study so much in its infancy that it hardly merits the word “embryonic”) much will be later learned of their relationship to the centres, and much experimental work will be done. From the standpoint of the esotericist who admits the fact of the centres, the glands are, par excellence, the major determining factor in connection with the general health of an individual; they indicate not only his psychological development far more than is today grasped, but they have (as is suspected by the orthodox medical science) a most potent effect upon the whole organic system; their influence, via the blood stream, reaches into every part of the body and to the extremities. The glands are the result of the activity of the centres; they are first, last, and all the time effects of inner predisposing causes, and it is through the centres and their affiliated glands that the soul builds the apparatus upon the physical plane which we call the physical man.

Điều cốt yếu là các nhà trị liệu tinh thần phải có rõ trong trí bức tranh về các khu vực trong cơ thể do các trung tâm đầu và các trung tâm khác chi phối, vì trong những khu vực ấy có các cơ quan khác nhau phản ứng với bệnh tật. Sức khỏe của các cơ quan này phần lớn tùy thuộc vào các trung tâm, vì chúng tác động lên các tuyến và vì năng lượng được phân phối khắp cơ thể. Một dòng năng lượng đầy đủ và cân bằng từ trung tâm vào khu vực mà nó kiểm soát dẫn đến sự kháng cự đối với cái gọi là bệnh tật; [204] nơi nào có sự thiếu phát triển và một tình trạng mất cân bằng, xét về các trung tâm, thì sẽ không có năng lực kháng cự. Tiến trình trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới sẽ bắt đầu bằng công việc có kế hoạch rõ rệt với các trung tâm, và xu hướng chung của nghệ thuật trị liệu khi đó sẽ—như bạn có thể dễ dàng thấy—mang tính phòng ngừa hơn là chữa trị. Toàn bộ sự nhấn mạnh sẽ đặt trên các trung tâm năng lượng, các dòng năng lượng và sự hướng dẫn năng lượng đến các cơ quan nằm trong bán kính ảnh hưởng của bất kỳ trung tâm nào. Từ việc nghiên cứu các tuyến (một nghiên cứu còn ở giai đoạn sơ khai đến mức hầu như không xứng với từ “phôi thai”) về sau người ta sẽ học được nhiều điều về mối quan hệ của chúng với các trung tâm, và nhiều công trình thực nghiệm sẽ được tiến hành. Từ quan điểm của nhà bí truyền học, người thừa nhận sự kiện về các trung tâm, thì các tuyến là, một cách xuất sắc, yếu tố quyết định chính liên hệ với sức khỏe tổng quát của một cá nhân; chúng không chỉ cho thấy sự phát triển tâm lý của y nhiều hơn mức ngày nay được hiểu, mà còn có (như khoa học y học chính thống nghi ngờ) một tác động hết sức mạnh mẽ lên toàn bộ hệ hữu cơ; ảnh hưởng của chúng, qua dòng máu, lan đến mọi phần của cơ thể và đến các đầu chi. Các tuyến là kết quả của hoạt động của các trung tâm; trước hết, sau hết, và luôn luôn chúng là các kết quả của những nguyên nhân nội tại tạo thiên hướng, và chính qua các trung tâm cùng các tuyến liên hệ của chúng mà linh hồn xây dựng bộ máy trên cõi hồng trần mà chúng ta gọi là con người hồng trần.

Therefore, the group of related factors with which we have been dealing must be carefully studied and grasped by any practicing healer, for he will eventually have to work through his own centres in relation to the patient whose ills he is endeavouring to heal. He must remember, consequently, three factors: The centres, their related glands, and the group of organs for which these two are responsible. You have in the seven areas of the body, governed by the [205] seven major centres and their affiliated glands, the appearance again of the basic trinity of manifestation:

Vì vậy, nhóm các yếu tố liên hệ mà chúng ta đã đề cập phải được bất kỳ nhà trị liệu hành nghề nào nghiên cứu cẩn thận và nắm vững, vì cuối cùng y sẽ phải làm việc qua chính các trung tâm của mình trong mối liên hệ với bệnh nhân mà y đang cố gắng chữa lành các bệnh tật. Do đó, y phải nhớ ba yếu tố: các trung tâm, các tuyến liên hệ của chúng, và nhóm cơ quan mà hai yếu tố này chịu trách nhiệm. Bạn có trong bảy khu vực của cơ thể, do [205] bảy trung tâm chính và các tuyến liên hệ của chúng chi phối, sự xuất hiện một lần nữa của bộ ba căn bản của biểu hiện:

1. Life or spirit……….the energy centre.

1. Sự sống hay tinh thần……….trung tâm năng lượng.

2. Soul or quality……the gland.

2. Linh hồn hay phẩm tính……tuyến.

3. Form or matter…..the organs in any particular area governed by any one centre.

3. Hình tướng hay vật chất…..các cơ quan trong bất kỳ khu vực đặc thù nào được cai quản bởi bất kỳ trung tâm nào.

This brings us to another law which the healer must ever have in mind.

Điều này đưa chúng ta đến một định luật khác mà nhà chữa lành phải luôn ghi nhớ.

LAW VII

ĐỊNH LUẬT VII

When life or energy flows unimpeded and through right direction to its precipitation (the related gland), then the form responds and ill health disappears.

Khi sự sống hay năng lượng tuôn chảy không bị ngăn trở và, dưới sự định hướng đúng đắn, đi đến sự ngưng tụ của nó (tuyến liên hệ), thì hình tướng đáp ứng và bệnh tật biến mất.

This is a basic law in healing and concerns the true art of relating spiritual energy with form life, and upon this the health and the vitality of the organs depend. Therefore we come to the next rule which the healer has to master. This is concisely expressed, and those phrases which convey instruction must be understood and applied intelligently.

Đây là một định luật căn bản trong việc chữa lành và liên quan đến nghệ thuật chân chính của việc liên kết năng lượng tinh thần với sự sống hình tướng, và sức khỏe cùng sinh lực của các cơ quan tùy thuộc vào đó. Vì vậy, chúng ta đến với quy luật kế tiếp mà nhà chữa lành phải làm chủ. Quy luật này được diễn đạt ngắn gọn, và những cụm từ chuyển tải chỉ dẫn ấy phải được thấu hiểu và áp dụng một cách thông minh.

RULE FIVE

QUY LUẬT NĂM

Let the healer concentrate the needed energy within the needed centre.

Hãy để nhà chữa lành tập trung năng lượng cần thiết trong trung tâm cần thiết.

Let that centre correspond to the centre which has need.

Hãy để trung tâm ấy tương ứng với trung tâm đang cần.

Let the two synchronise and together augment force.

Hãy để hai trung tâm đồng bộ và cùng nhau gia tăng mãnh lực.

Thus shall the waiting form be balanced in its work.

Như thế hình tướng đang chờ đợi sẽ được quân bình trong công việc của nó.

Thus shall the two and the one, under right direction, heal.

Như thế hai và một, dưới sự định hướng đúng đắn, sẽ chữa lành.

It will be obvious to you, therefore, that healers at the present time (I refer not here to the medical profession but to the multitude of the many schools of thought) have not yet got back to the basic factor, in spite of all their talk anent love being the healing force. They are in reality [206] emphasising and dealing with the motive which impels the healer to ply his healing art. They are concerned with the instrumentality whereby contact can be made with the patient to be healed. That contact must ever be established in LOVE—fresh, compelling and selfless. But once that relation is established, the healer must grasp the fact that, as far as he is concerned, he must work scientifically; he must apply knowledge and—after right diagnosis, after right modern therapeutic methods, after due common sense, which includes the best that the tried science of medicine can give—he must then begin to work through his own centre, putting it en rapport with the centre in the patient which governs the distressed area or diseased organ.

Do đó, hiển nhiên đối với bạn rằng các nhà chữa lành vào lúc này (ở đây tôi không nói đến giới y khoa mà nói đến vô số trường phái tư tưởng) vẫn chưa quay trở lại với yếu tố căn bản, bất chấp mọi lời họ nói về tình thương như là mãnh lực chữa lành. Thực ra họ đang [206] nhấn mạnh và đề cập đến động cơ thúc đẩy nhà chữa lành thực hành nghệ thuật chữa lành của y. Họ quan tâm đến phương tiện nhờ đó có thể thiết lập tiếp xúc với bệnh nhân cần được chữa lành. Sự tiếp xúc ấy phải luôn luôn được thiết lập trong TÌNH THƯƠNG—mới mẻ, mạnh mẽ và vô ngã. Nhưng một khi mối liên hệ ấy đã được thiết lập, nhà chữa lành phải nắm được sự kiện rằng, xét về phần mình, y phải làm việc một cách khoa học; y phải áp dụng tri thức và—sau khi chẩn đoán đúng, sau khi áp dụng các phương pháp trị liệu hiện đại đúng đắn, sau khi vận dụng lương tri thích đáng, bao gồm điều tốt nhất mà khoa học y học đã được kiểm chứng có thể cung cấp—thì y phải bắt đầu làm việc qua chính trung tâm của mình, đặt nó vào mối tương quan với trung tâm nơi bệnh nhân đang cai quản khu vực đau yếu hay cơ quan bệnh hoạn.

As he thus works, the energy which loving intent and skilled knowledge has tapped and brought in is not permitted (during the healing process) to stimulate or affect the healer’s own related glands or produce action in the connected area of his own body. The healer must learn to insulate himself from the energy to be used on behalf of the patient. He blends it with the energy of the patient’s centre, governing the diseased area; the allied gland is then doubly energised (or lessened, as the case may be and diagnosis requires), and the blood stream releases into the diseased tissue that which is needed to cure or prevent the growth of the disease.

Khi làm việc như thế, năng lượng mà ý định đầy thương yêu và tri thức thiện xảo đã khai mở và đưa vào sẽ không được phép (trong tiến trình chữa lành) kích thích hay tác động đến các tuyến liên hệ của chính nhà chữa lành hoặc tạo ra hoạt động trong khu vực tương ứng của thân thể y. Nhà chữa lành phải học cách cách ly mình khỏi năng lượng được dùng thay mặt cho bệnh nhân. Y hòa trộn nó với năng lượng của trung tâm nơi bệnh nhân đang cai quản khu vực bệnh hoạn; khi ấy tuyến liên hệ được tiếp sinh lực gấp đôi (hoặc được giảm bớt, tùy trường hợp và theo yêu cầu của chẩn đoán), và dòng máu giải phóng vào mô bệnh điều cần thiết để chữa lành hoặc ngăn chặn sự phát triển của bệnh.

In this instruction I have given you much food for thought. I have emphasised an aspect of scientific esoteric healing which has not before been brought to the attention of students. I would have you grasp the general picture and get the outlines of process clear; I would have you study the relation between the healer and the patient as he passes out of the stage of just loving and sending out love or of seeing the patient in the light of love, and goes on to the scientific work of augmenting the patient’s own spiritual [207] energy. He thus enables him to effect his own cure, consciously or unconsciously.

Trong huấn thị này tôi đã cho bạn nhiều điều đáng suy ngẫm. Tôi đã nhấn mạnh một phương diện của việc chữa lành huyền bí học khoa học mà trước đây chưa được đưa ra cho các đạo sinh chú ý. Tôi muốn bạn nắm được bức tranh tổng quát và làm cho các nét chính của tiến trình trở nên rõ ràng; tôi muốn bạn nghiên cứu mối liên hệ giữa nhà chữa lành và bệnh nhân khi y vượt ra khỏi giai đoạn chỉ yêu thương và gửi tình thương ra ngoài hoặc nhìn bệnh nhân trong ánh sáng của tình thương, để tiến tới công việc khoa học là gia tăng năng lượng tinh thần [207] của chính bệnh nhân. Như thế y giúp người ấy tự thực hiện sự chữa lành của mình, một cách hữu thức hay vô thức.

You have, therefore, the healer, the patient and the reservoir of spiritual energy, plus the scientific process of bringing all three into a close and healing rapport. This is done via the centre concerned in the equipment of the patient, the corresponding centre in the equipment of the healer, and the direction (by an act of the will of the healer or of the healing group) of the united streams of required specific energy to the area diseased. This is usually done via the related gland, though it is not always so.

Vì vậy, bạn có nhà chữa lành, bệnh nhân và kho dự trữ năng lượng tinh thần, cộng thêm tiến trình khoa học đưa cả ba vào một mối tương quan chặt chẽ và chữa lành. Điều này được thực hiện qua trung tâm liên hệ trong bộ máy của bệnh nhân, trung tâm tương ứng trong bộ máy của nhà chữa lành, và sự định hướng (bằng một hành vi của ý chí nơi nhà chữa lành hay của nhóm chữa lành) các dòng năng lượng đặc thù cần thiết đã hợp nhất đến khu vực bệnh hoạn. Điều này thường được thực hiện qua tuyến liên hệ, dù không phải lúc nào cũng vậy.

Ponder on these things and see, if you can, the simplicity of the process which is based on loving intent, which isolates the specific area in which the trouble exists, which identifies itself with the spiritual centre of energy in the patient, and which then applies and directs the fused and blended energies.

Hãy suy ngẫm về những điều này và, nếu có thể, hãy thấy sự đơn giản của tiến trình vốn dựa trên ý định đầy thương yêu, vốn cô lập khu vực đặc thù nơi rắc rối hiện hữu, vốn đồng hoá với trung tâm năng lượng tinh thần nơi bệnh nhân, và rồi áp dụng cũng như định hướng các năng lượng đã được dung hợp và hòa trộn.

Effects of Under-Stimulation and Over-Stimulation of the Centres

Những Hậu Quả của Sự Kích Thích Thiếu và Kích Thích Quá Mức đối với các Trung tâm

We have been for some time studying the centres and their relation to the dense physical body. We have also noted the areas which are conditioned by these centres and the mediating work of the ductless glands. We have seen that two major predisposing causes of physical trouble, arising within the physical organism, are the understimulation or the overstimulation of the centres. There are also, as you will recall, three diseases which are inherent in substance itself, and which therefore create basic predispositions within the human body: cancer, syphilis and tuberculosis. With these three we are not at this time dealing. But the condition of the centres produces, basically, all the difficulties, permitting entrance to infections and germs which might not otherwise cause trouble, producing those situations [208] where the diseases inherent in the form nature can be fostered, and making undesirable tendencies powerful. We might consequently lay down the premise (one which the medical profession will later accept in its entirety) that diseases which are self-engendered (if I may use so curious and inadequate a phrase), and which are not the result of contagion or infection or of accidents, are caused by the failure, the limitation, the deficiency or the excess, and by the overdevelopment or the underdevelopment, of the endocrine system. This ductless glandular system, via the hormones, affects every part of the physical organism—via the blood stream—and it may therefore be truly posited that when the ductless glands are perfectly balanced and functioning correctly, there will be no diseased areas in the body. The blood stream will then be kept also in perfect condition. The clue to perfect physical health as it is expressed by a Master of the Wisdom can consequently be directly traced to His full control of the centres, to their balanced state of energy reception and distribution, and to the effect which they produce upon the entire ductless glandular system. By this means every area of the body is properly supplied with the needed forces and is thus kept in perfect condition.

Từ một thời gian nay chúng ta đã nghiên cứu các trung tâm và mối liên hệ của chúng với thể xác đậm đặc. Chúng ta cũng đã lưu ý các khu vực được các trung tâm này tác động và công việc trung gian của các tuyến nội tiết. Chúng ta đã thấy rằng hai nguyên nhân chính gây khuynh hướng dẫn đến rắc rối thể xác, phát sinh bên trong cơ thể hồng trần, là sự kích thích thiếu hoặc sự kích thích quá mức của các trung tâm. Ngoài ra, như bạn sẽ nhớ, còn có ba bệnh vốn cố hữu trong chính chất liệu, và vì thế tạo ra những khuynh hướng căn bản bên trong thân thể con người: ung thư, giang mai và lao. Với ba bệnh này hiện nay chúng ta không bàn đến. Nhưng tình trạng của các trung tâm, về căn bản, tạo ra mọi khó khăn, cho phép các nhiễm trùng và vi trùng xâm nhập mà nếu không thì có thể không gây rắc rối, tạo ra những tình huống [208] trong đó các bệnh cố hữu trong bản chất hình tướng có thể được nuôi dưỡng, và làm cho các khuynh hướng không mong muốn trở nên mạnh mẽ. Do đó, chúng ta có thể nêu ra tiền đề (một điều mà giới y khoa về sau sẽ chấp nhận trọn vẹn) rằng những bệnh do tự thân phát sinh (nếu tôi có thể dùng một cụm từ kỳ lạ và không đầy đủ như thế), và không phải là kết quả của sự lây nhiễm, nhiễm trùng hay tai nạn, đều do sự thất bại, giới hạn, thiếu hụt hay dư thừa, và do sự phát triển quá mức hay kém phát triển của hệ nội tiết. Hệ tuyến không ống này, qua các hormone, tác động đến mọi phần của cơ thể hồng trần—qua dòng máu—và vì vậy có thể thực sự khẳng định rằng khi các tuyến không ống được quân bình hoàn hảo và hoạt động đúng đắn, sẽ không có khu vực bệnh hoạn nào trong thân thể. Khi ấy dòng máu cũng sẽ được giữ trong tình trạng hoàn hảo. Do đó, chìa khóa của sức khỏe thể xác hoàn hảo như được biểu lộ nơi một Chân sư Minh triết có thể được truy nguyên trực tiếp đến sự kiểm soát trọn vẹn của Ngài đối với các trung tâm, đến trạng thái quân bình của chúng trong việc tiếp nhận và phân phối năng lượng, và đến hiệu quả mà chúng tạo ra trên toàn bộ hệ tuyến không ống. Nhờ phương tiện này, mọi khu vực của thân thể đều được cung cấp đúng đắn các mãnh lực cần thiết và nhờ đó được giữ trong tình trạng hoàn hảo.

Coming midway between the centres and the corresponding endocrine glands, and acting as the agent for the distribution of energy, is the nervous system. Here, however, difficulty is usually to be found. There is a lack of adequate flow of energy; the energy distributed by its means to the body, via the centres, is unevenly distributed; some centres receive an undue supply; others receive an inadequate amount; some centres are still unawakened, and therefore are nonreceptive; others are prematurely developed and transmit too much force to the areas they govern. In esoteric medicine and its philosophical interpretation (which is in the last analysis the effective and practical application [209] of the known facts) it is the cerebro-spinal aspect which conditions and governs the entire nervous system, for it is by means of this aspect and through its agency that the centres work and affect the bodily organism, supplying the body with the needed vital energy; thus the nervous system becomes eventually responsive, via the seven centres, to the seven major energies or the seven ray forces.

Nằm ở khoảng giữa các trung tâm và các tuyến nội tiết tương ứng, và hoạt động như tác nhân phân phối năng lượng, là hệ thần kinh. Tuy nhiên, chính ở đây thường có khó khăn. Có sự thiếu hụt dòng năng lượng thích đáng; năng lượng được phân phối qua phương tiện của nó đến thân thể, qua các trung tâm, được phân phối không đồng đều; một số trung tâm nhận được nguồn cung quá mức; những trung tâm khác nhận được lượng không đầy đủ; một số trung tâm vẫn chưa thức tỉnh, và vì vậy không tiếp nhận; những trung tâm khác phát triển quá sớm và truyền quá nhiều mãnh lực đến các khu vực chúng cai quản. Trong y học nội môn và cách diễn giải triết học của nó (xét cho cùng là sự áp dụng hữu hiệu và thực tiễn [209] các sự kiện đã biết), chính phương diện não-tủy điều kiện hóa và cai quản toàn bộ hệ thần kinh, vì chính nhờ phương diện này và qua tác động của nó mà các trung tâm hoạt động và ảnh hưởng đến cơ thể, cung cấp cho thân thể năng lượng sinh lực cần thiết; như thế hệ thần kinh cuối cùng trở nên đáp ứng, qua bảy trung tâm, với bảy năng lượng chính hay bảy mãnh lực cung.

In no human being, except a Master, are all the centres properly awakened and functioning in a balanced manner, nor are they properly related through intensive radiation; in no human being is the nervous system correctly responsive to the centres. There are two reasons for this, and both are related to the cerebro-spinal system:

Không có con người nào, ngoại trừ một Chân sư, mà tất cả các trung tâm đều được thức tỉnh đúng đắn và hoạt động một cách quân bình, cũng không được liên hệ đúng đắn qua sự bức xạ mãnh liệt; không có con người nào mà hệ thần kinh đáp ứng đúng đắn với các trung tâm. Có hai lý do cho điều này, và cả hai đều liên hệ đến hệ não-tủy:

1. The head centre is not yet awakened, or is only slowly being developed, as the disciple submits himself to training.

1. Trung tâm đầu chưa được thức tỉnh, hoặc chỉ đang được phát triển chậm chạp, khi đệ tử tự đặt mình dưới sự huấn luyện.

2. The flow of energy through the head to the centres up the spine is uneven, owing to the fact that the inflow is uneven, and that the etheric web—between the centres—permits as yet only a very little energy to flow through to all the centres.

2. Dòng năng lượng chảy qua đầu đến các trung tâm dọc cột sống không đồng đều, do sự kiện rằng dòng nhập vào không đồng đều, và rằng mạng dĩ thái—giữa các trung tâm—cho đến nay chỉ cho phép rất ít năng lượng chảy xuyên qua đến tất cả các trung tâm.

It must be remembered that the life of the centres is founded, in the initial stage, upon the inherent life of the organism itself, with the focus of the emanating life to be found in the centre at the base of the spine. This is a point oft forgotten by esotericists. This basic centre is the one through which the life of matter itself works; this is the life or energy of the Holy Spirit aspect, the third aspect. Through its life each atom in the body is fed. This process of animating the substance of the physical form is started in the prenatal stage; after birth, this type of force is aided and paralleled by the inflow of planetary prana or vital energy from the planetary life itself, via the spleen. [210] This is the essential relating organ between the inherent life of matter itself, as present in the microcosm, and the inherent life in the planet.

Phải nhớ rằng sự sống của các trung tâm, trong giai đoạn đầu, được đặt nền trên chính sự sống cố hữu của cơ thể, với tiêu điểm của sự sống phát xạ được tìm thấy trong trung tâm ở đáy cột sống. Đây là một điểm mà các nhà bí truyền học thường quên. Trung tâm căn bản này là trung tâm qua đó chính sự sống của vật chất hoạt động; đây là sự sống hay năng lượng của phương diện Chúa Thánh Thần, phương diện thứ ba. Qua sự sống của nó, mỗi nguyên tử trong thân thể được nuôi dưỡng. Tiến trình làm sinh động chất liệu của hình tướng hồng trần này bắt đầu trong giai đoạn tiền sản; sau khi sinh, loại mãnh lực này được hỗ trợ và song hành bởi dòng prana hành tinh hay năng lượng sinh lực từ chính sự sống hành tinh, qua lá lách. [210] Đây là cơ quan liên kết thiết yếu giữa sự sống cố hữu của chính vật chất, như hiện diện trong tiểu thiên địa, và sự sống cố hữu trong hành tinh.

As evolution proceeds, there is gradually added to this inherent force an inflow of “qualified” energy which is expressive of the consciousness aspect of divinity, and indicates to the esotericist the state of awareness of the man and also the ray type of his soul. This inflow comes from the second divine aspect, from the soul or the indwelling Christ. It might therefore be stated anent the two head centres that:

Khi tiến hoá tiếp diễn, dần dần có thêm vào mãnh lực cố hữu này một dòng năng lượng “được phẩm định”, biểu lộ phương diện tâm thức của thiên tính, và chỉ cho nhà bí truyền học biết trạng thái nhận biết của con người cũng như loại cung của linh hồn y. Dòng nhập này đến từ phương diện thiêng liêng thứ hai, từ linh hồn hay Đức Christ nội tại. Vì vậy, có thể phát biểu liên quan đến hai trung tâm đầu rằng:

1. The ajna centre, or the personality centre, focussed between the eyebrows and conditioning the pituitary body, is related to the entire life of the integrated threefold organism. Through this organism the consciousness must perforce express itself, and the physical, emotional and mental vehicles demonstrate its point in evolution.

1. Trung tâm ajna, hay trung tâm phàm ngã, tập trung giữa hai chân mày và điều kiện hóa tuyến yên, liên hệ với toàn bộ sự sống của cơ thể tam phân tích hợp. Qua cơ thể này, tâm thức tất yếu phải biểu lộ, và các vận cụ hồng trần, cảm xúc và trí tuệ chứng tỏ điểm tiến hoá của nó.

2. The head centre (called in the Hindu philosophy, the thousand-petalled lotus) conditions the pineal gland and is related to the life of the soul and—after the third initiation—to the life of the monad; it conveys to the centres the energy of the three major types of spiritual being of which the three forces of the personality are the reflections or physical counterparts.

2. Trung tâm đầu (được gọi trong triết học Ấn giáo là hoa sen ngàn cánh) điều kiện hóa tuyến tùng và liên hệ với sự sống của linh hồn và—sau lần điểm đạo thứ ba—với sự sống của chân thần; nó chuyển đến các trung tâm năng lượng của ba loại hiện hữu tinh thần chính mà ba mãnh lực của phàm ngã là những phản chiếu hay đối phần hồng trần.

Later, energy from the spirit aspect, the first or Father aspect, will become available and will pour down through the head centre to the ajna centre, combining personality energy and soul energy. Then, by an act of the will, it is projected down the spinal column, via the alta major centre, which conditions the carotid gland. As it passes down the spinal column it vitalises two aspects of the centres; when [211] it reaches the basic centre, it combines with the latent energy of substance itself, and you have, therefore, the union of all three divine energies and the manifestation in man of the three divine aspects. These combined energies then rush up the central channel in the spinal column, and the third or highest receptive aspect of the centres is energised. All the centres are thus brought into full expression; all limitations are destroyed; every part of the body is vitalised and material perfection is produced, plus the full play of the enlightened consciousness and also of the life aspect.

Về sau, năng lượng từ phương diện tinh thần, phương diện thứ nhất hay phương diện Cha, sẽ trở nên khả dụng và sẽ tuôn xuống qua trung tâm đầu đến trung tâm ajna, kết hợp năng lượng phàm ngã và năng lượng linh hồn. Rồi, bằng một hành vi của ý chí, nó được phóng chiếu xuống cột sống, qua trung tâm alta major, trung tâm này điều kiện hóa tuyến cảnh. Khi đi xuống cột sống, nó tiếp sinh lực cho hai phương diện của các trung tâm; khi [211] đến trung tâm căn bản, nó kết hợp với năng lượng tiềm ẩn của chính chất liệu, và vì vậy bạn có sự hợp nhất của cả ba năng lượng thiêng liêng và sự biểu hiện nơi con người của ba phương diện thiêng liêng. Những năng lượng kết hợp này sau đó lao lên kênh trung ương trong cột sống, và phương diện tiếp nhận thứ ba hay cao nhất của các trung tâm được tiếp sinh lực. Như thế mọi trung tâm đều được đưa vào biểu hiện trọn vẹn; mọi giới hạn đều bị phá hủy; mọi phần của thân thể đều được tiếp sinh lực và sự hoàn hảo vật chất được tạo ra, cộng thêm sự vận hành trọn vẹn của tâm thức được soi sáng và cả phương diện sự sống.

The nervous system then comes under the complete control of the spiritual man, and the blood stream is purified and becomes an unimpeded and satisfactory channel for the circulation of that which the energised glands discharge. This is the esoteric significance of the Biblical words, “The blood is the life,” and also of the words “saved by the blood of Christ.” It is not by the blood of a Christ dying two thousand years ago upon the cross in Palestine that man is saved, but by the livingness of the blood of those in whom the Christ life and consciousness, and the quality of the Christ, is perfectly demonstrating and expressed. Then, when the nature of the indwelling Christ is fully, spontaneously and automatically expressing itself in and through the personality, the three fires of the creative process—the fire of matter, the fire of the soul, and the electric fire of spirit—are blended, and there is then a perfect manifestation on Earth of physical living, of the emotional and mental life, and also of the spiritual life of an incarnated Son of God, a Christ.

Khi ấy hệ thần kinh nằm dưới sự kiểm soát hoàn toàn của con người tinh thần, và dòng máu được thanh lọc và trở thành một kênh không bị ngăn trở và thỏa đáng cho sự lưu thông của điều mà các tuyến đã được tiếp sinh lực tiết ra. Đây là thâm nghĩa huyền bí của những lời trong Kinh Thánh, “Máu là sự sống,” và cũng của những lời “được cứu bởi máu của Đức Christ.” Con người không được cứu bởi máu của một Đức Christ đã chết cách đây hai ngàn năm trên thập giá ở Palestine, mà bởi sức sống của máu nơi những ai trong đó sự sống và tâm thức của Đức Christ, cùng phẩm tính của Đức Christ, đang được biểu lộ và thể hiện một cách hoàn hảo. Khi ấy, khi bản chất của Đức Christ nội tại đang biểu lộ chính nó một cách trọn vẹn, tự phát và tự động trong và qua phàm ngã, thì ba ngọn lửa của tiến trình sáng tạo—lửa của vật chất, lửa của linh hồn, và lửa điện của tinh thần—được hòa trộn, và khi đó có một biểu hiện hoàn hảo trên Trái Đất của sự sống hồng trần, của đời sống cảm xúc và trí tuệ, và cả của đời sống tinh thần của một Con của Thượng đế đang lâm phàm, một Đức Christ.

It is on this point of understanding that so many worthy people go astray, particularly in the mental science movements, in the Unity movement, and in Christian Science. Instead of focussing their effort on achieving the pure life [212] of Christ in every day life, and acting as consecrated servers of their fellowmen and as channels for love, and becoming aware only of the consciousness of the whole, they are focussed on affirming a future perfection—mentally and vocally—in order to have good health and physical comfort. They regard it as their right and due, to be gained by affirmation, and forget the hard work necessary to bring about within themselves those conditions which will make the divine manifested Christ present. They need to bear in mind that good health will be normal and declarative if the inner consciousness is harmless (and the majority of these people are guilty of a superior spirit of criticism), if they are decentralised from the lower self in the three worlds, and if they are “focussed in heaven, thereby enabling the heavenly Son of Man Who is the Son of God to lead the heavenly life when far from the heavenly realm”—as an old Christian mystic, long forgotten, used to say. His words have been remembered by the Master M—and thus recalled to my attention.

Chính ở điểm thấu hiểu này mà rất nhiều người đáng kính đi lạc hướng, đặc biệt trong các phong trào khoa học tinh thần, trong phong trào Unity, và trong Christian Science. Thay vì tập trung nỗ lực của họ vào việc đạt được sự sống thuần khiết [212] của Đức Christ trong đời sống hằng ngày, và hành động như những người phụng sự đã được thánh hiến cho đồng loại của mình và như những kênh dẫn của tình thương, và chỉ trở nên nhận biết tâm thức của toàn thể, họ lại tập trung vào việc khẳng định một sự hoàn hảo tương lai—bằng trí tuệ và bằng lời nói—để có được sức khỏe tốt và sự thoải mái thể xác. Họ xem đó là quyền lợi và phần đáng được hưởng của mình, có thể đạt được bằng sự khẳng định, và quên mất công việc khó nhọc cần thiết để tạo ra bên trong chính họ những điều kiện sẽ làm cho Đức Christ thiêng liêng biểu hiện hiện diện. Họ cần ghi nhớ rằng sức khỏe tốt sẽ là điều bình thường và tự chứng tỏ nếu tâm thức bên trong là vô tổn hại (và đa số những người này phạm lỗi với tinh thần chỉ trích tự cho mình cao hơn), nếu họ được phi tập trung vào bản thân khỏi phàm ngã trong ba cõi giới, và nếu họ “được tập trung ở thiên giới, nhờ đó làm cho Con Người thiên thượng là Con của Thượng đế có thể sống đời sống thiên thượng khi ở xa cõi thiên thượng”—như một nhà thần bí Cơ Đốc xưa, đã bị lãng quên từ lâu, thường nói. Những lời của ông đã được Chân sư M. ghi nhớ—và nhờ đó được gợi lại cho tôi chú ý.

Another school of thought, branding themselves untruthfully as occultists, are equally in error. They work, or rather profess to work, with the centres, only fortunately for them nature protects them often from themselves. They endeavour consciously to vitalise the centres, to burn away the protective web, and to raise the fires of matter before the fire of spirit has combined with the fire of the soul. They then fall victims to premature stimulation of the fires of substance before the balancing of the forces can take place. Disease, insanities, and many neurotic conditions, plus serious pathological conditions, then occur. Some of the glands become overactive; others are overlooked, and the entire glandular system and the dependent nervous system are in a state of complete imbalance.

Một trường phái tư tưởng khác, tự gán cho mình danh xưng nhà huyền bí học một cách không chân thật, cũng sai lầm không kém. Họ làm việc, hay đúng hơn là tự xưng làm việc, với các trung tâm, chỉ có điều may mắn cho họ là bản chất thường bảo vệ họ khỏi chính họ. Họ cố ý tiếp sinh lực cho các trung tâm, đốt cháy mạng bảo vệ, và nâng các ngọn lửa của vật chất lên trước khi lửa của tinh thần kết hợp với lửa của linh hồn. Khi ấy họ trở thành nạn nhân của sự kích thích quá sớm các ngọn lửa của chất liệu trước khi sự quân bình các mãnh lực có thể diễn ra. Bệnh tật, điên loạn, và nhiều trạng thái thần kinh, cộng với các tình trạng bệnh lý nghiêm trọng, khi ấy xuất hiện. Một số tuyến trở nên hoạt động quá mức; những tuyến khác bị bỏ quên, và toàn bộ hệ tuyến cùng hệ thần kinh phụ thuộc vào nó ở trong trạng thái hoàn toàn mất quân bình.

[213]

[213]

Disciples need to learn to focus their attention upon the reality and upon the factors of primary spiritual importance. When they do this, the energies in the head, the correct use of the spinal area with its “beaded centres,” and the awakening of the basic centre and its consequent fusion with the higher energies will be an automatic and perfectly safe happening.

Các đệ tử cần học cách tập trung sự chú ý của mình vào thực tại và vào những yếu tố có tầm quan trọng tinh thần hàng đầu. Khi họ làm điều này, các năng lượng trong đầu, việc sử dụng đúng đắn vùng cột sống với các “trung tâm như chuỗi hạt” của nó, và sự thức tỉnh của trung tâm căn bản cùng sự dung hợp tiếp theo của nó với các năng lượng cao hơn sẽ là một diễn biến tự động và hoàn toàn an toàn.

The orderly rhythm of the glandular system and the free, safe use of the controlled nervous system will then be possible; the energies, projected from the centre, via the nadis, will be safely related and brought into a synthetic functioning within the body, and the disciple will experience not only a fully awakened consciousness, and a brain which is ever intelligently receptive, but a constant inflow of spiritual life. There will then be that perfect balance and perfect health which characterise a Master of the Wisdom.

Khi ấy nhịp điệu có trật tự của hệ tuyến và việc sử dụng tự do, an toàn hệ thần kinh đã được kiểm soát sẽ trở nên khả hữu; các năng lượng, được phóng chiếu từ trung tâm, qua các nadis, sẽ được liên hệ an toàn và được đưa vào một hoạt động tổng hợp bên trong thân thể, và đệ tử sẽ kinh nghiệm không chỉ một tâm thức hoàn toàn thức tỉnh, và một bộ não luôn tiếp nhận một cách thông minh, mà còn một dòng nhập liên tục của sự sống tinh thần. Khi ấy sẽ có sự quân bình hoàn hảo và sức khỏe hoàn hảo vốn đặc trưng cho một Chân sư Minh triết.

Knowledge concerning the endocrine or ductless glands is as yet in an embryonic state. Much is known anent the glands connected with the sacral centre and about the thyroid gland, but to date, naturally, the medical profession does not admit that they are effects of the activity or the nonactivity of the centres, or that a line of least resistance exists between the sacral centre and the throat centre. Something is known (not much) about the pituitary body, but its extreme importance as it affects the psychological response of the person is not adequately grasped. Nothing is known, factually speaking, about the pineal or the thymus glands, and this because neither the head centre nor the heart centre is awakened in undeveloped man, or even in the average citizen. That there is a considerable wealth of knowledge anent the sacral centre (as the source of physical creation) and the conditioning effects of the thyroid gland is due to the fact that both these centres are awakened in the average man, and when the functioning is adequate [214] and the necessary interplay is established, you then have a highly sexed individual who is also a creative artist along some artistic line. This is very frequently seen, as you well know. When the ajna centre and its externalisation, the pituitary body, are also active, and the relation between the three centres—sacral, throat and ajna centre—is awakened and beginning to function, and definite conscious relationship is being set up between it and the other centres (dependent upon ray, upon conscious objective and training), then you will have the practical mystic, the humanitarian and the occultist.

Tri thức liên quan đến các tuyến nội tiết hay tuyến không ống hiện vẫn còn ở trạng thái phôi thai. Người ta biết khá nhiều liên quan đến các tuyến nối với trung tâm xương cùng và về tuyến giáp, nhưng cho đến nay, dĩ nhiên, giới y khoa không thừa nhận rằng chúng là những hiệu quả của hoạt động hay sự bất hoạt động của các trung tâm, hoặc rằng có một con đường ít trở ngại nhất tồn tại giữa trung tâm xương cùng và trung tâm cổ họng. Người ta biết đôi chút (không nhiều) về tuyến yên, nhưng tầm quan trọng cực độ của nó trong việc ảnh hưởng đến đáp ứng tâm lý của con người chưa được nắm bắt đầy đủ. Không có gì được biết, nói theo sự kiện, về tuyến tùng hay tuyến ức, và điều này là vì cả trung tâm đầu lẫn trung tâm tim đều chưa được thức tỉnh nơi con người chưa phát triển, hay ngay cả nơi công dân trung bình. Việc có một kho tri thức đáng kể liên quan đến trung tâm xương cùng (như nguồn của sự sáng tạo thể xác) và các hiệu quả điều kiện hóa của tuyến giáp là do sự kiện rằng cả hai trung tâm này đều được thức tỉnh nơi con người trung bình, và khi hoạt động là thích đáng [214] và sự tương tác cần thiết được thiết lập, khi ấy bạn có một cá nhân đầy tính dục, đồng thời cũng là một nghệ sĩ sáng tạo theo một đường lối nghệ thuật nào đó. Điều này rất thường thấy, như bạn biết rõ. Khi trung tâm ajna và sự ngoại hiện của nó, tuyến yên, cũng hoạt động, và mối liên hệ giữa ba trung tâm—xương cùng, cổ họng và ajna—được thức tỉnh và bắt đầu hoạt động, và mối liên hệ hữu thức rõ rệt đang được thiết lập giữa nó với các trung tâm khác (tùy thuộc vào cung, vào mục tiêu hữu thức và sự huấn luyện), khi ấy bạn sẽ có nhà thần bí thực tiễn, nhà nhân đạo và nhà huyền bí học.

Students should remember that there is both an upward and a downward trend of energy within the entire structure of centres, where the aspirant and the disciple are concerned:

Các đạo sinh nên nhớ rằng có cả một xu hướng đi lên lẫn một xu hướng đi xuống của năng lượng trong toàn bộ cấu trúc các trung tâm, xét nơi người chí nguyện và đệ tử:

1. The upward trend…producing Transmutation.

1. Xu hướng đi lên…tạo ra Sự chuyển hoá.

From the sacral centre to the throat centre. Physical creation is transmuted into artistic creativity.

Từ trung tâm xương cùng đến trung tâm cổ họng. Sự sáng tạo thể xác được chuyển hoá thành tính sáng tạo nghệ thuật.

From the solar centre to the heart centre. Individual, emotional consciousness is transmuted into group consciousness.

Từ trung tâm tùng thái dương đến trung tâm tim. Tâm thức cảm xúc cá nhân được chuyển hoá thành tâm thức nhóm.

From the base of the spine to the head centre. Material force is transmuted into spiritual energy.

Từ đáy cột sống đến trung tâm đầu. Mãnh lực vật chất được chuyển hoá thành năng lượng tinh thần.

From any or all of the five spinal centres to the ajna centre. Uncoordinated living is transmuted into personality integration.

Từ bất kỳ hay tất cả năm trung tâm cột sống đến trung tâm ajna. Đời sống không phối hợp được chuyển hoá thành sự tích hợp phàm ngã.

From the six centres in relationship into the highest head centre. Personality activity is transmuted into spiritual living.

Từ sáu trung tâm trong mối liên hệ đến trung tâm đầu cao nhất. Hoạt động phàm ngã được chuyển hoá thành đời sống tinh thần.

This is a wide generalisation, and the process is not carried forward in any sequential fashion or smoothly and in order as the tabulation above might suggest. The process involved is spread over many lives of unconscious transmutation in [215] the earlier stages, and as a result of bitter experience and of conscious effort in the later stages, and becomes increasingly dynamic and effective as the various stages upon the Path area trodden by the aspirant. The five rays with which a disciple has to work (two major conditioning rays and three subsidiary rays) have a definite active effect; karmic adjustments provide opportunity or hindrance, and the intricacies of the entire process (within the relatively limited experience of the disciple) are so confusing whilst in process that all that he can do is to grasp the general outline as here given and not pay too much attention to the immediate factual detail.

Đây là một sự khái quát rộng, và tiến trình không được thực hiện theo bất kỳ trình tự tuần tự nào hay một cách êm xuôi và có trật tự như bảng liệt kê trên có thể gợi ý. Tiến trình liên hệ này trải dài qua nhiều kiếp sống của sự chuyển hoá vô thức trong [215] các giai đoạn đầu, và là kết quả của kinh nghiệm cay đắng cùng nỗ lực hữu thức trong các giai đoạn sau, và ngày càng trở nên năng động và hữu hiệu khi các giai đoạn khác nhau trên Con Đường được người chí nguyện bước qua. Năm cung mà một đệ tử phải làm việc với (hai cung điều kiện hóa chính và ba cung phụ) có một hiệu quả hoạt động rõ rệt; các điều chỉnh nghiệp quả tạo ra cơ hội hay chướng ngại, và những phức tạp của toàn bộ tiến trình (trong kinh nghiệm tương đối giới hạn của đệ tử) gây bối rối đến mức, trong khi tiến trình đang diễn ra, tất cả những gì y có thể làm là nắm lấy đại cương tổng quát như được nêu ở đây và không chú ý quá nhiều đến chi tiết sự kiện trước mắt.

2. The downward trend…producing Transformation.

2. Xu hướng đi xuống...tạo ra Sự chuyển đổi.

Once the head centre is awakening and the disciple is consciously active in the work of directing the energies to the centres and thereby governing his personality life, there is a scientific undertaking of energising the centres in a certain ordered rhythm which is again determined by the rays, by circumstance and by karma; thus all the bodily energies are swung into correct spiritual activity. With the process involved we cannot here deal, beyond pointing out that this downward trend can be roughly regarded as falling into three stages:

Một khi trung tâm đầu đang thức tỉnh và đệ tử hoạt động một cách hữu thức trong công việc định hướng các năng lượng đến các trung tâm và nhờ đó cai quản đời sống phàm ngã của mình, thì có một nỗ lực khoa học nhằm tiếp sinh lực cho các trung tâm theo một nhịp điệu có trật tự nhất định, nhịp điệu này lại được quyết định bởi các cung, bởi hoàn cảnh và bởi nghiệp quả; như thế mọi năng lượng của thân thể được đưa vào hoạt động tinh thần đúng đắn. Với tiến trình liên hệ này, ở đây chúng ta không thể bàn đến, ngoài việc chỉ ra rằng xu hướng đi xuống này có thể được xem một cách đại khái là rơi vào ba giai đoạn:

1. The stage of energising the creative life, via the throat centre, thus bringing:

1. Giai đoạn tiếp sinh lực cho đời sống sáng tạo, qua trung tâm cổ họng, nhờ đó đưa:

a. The head centre and the throat centre,

a. Trung tâm đầu và trung tâm cổ họng,

b. These two and the sacral centre,

b. Hai trung tâm này và trung tâm xương cùng,

c. All three, consciously and simultaneously, into conscious relation.

c. Cả ba, một cách hữu thức và đồng thời, vào mối liên hệ hữu thức.

This relation, when properly established, will solve the individual problem of sex, and without recourse to either inhibition or suppression, but by bringing [216] about right control and making the disciple, at the same time, creative in a worldly sense, and therefore of use to his fellowmen.

Mối liên hệ này, khi được thiết lập đúng đắn, sẽ giải quyết vấn đề tính dục cá nhân, không cần đến sự ức chế hay đàn áp, mà bằng cách [216] tạo ra sự kiểm soát đúng đắn và đồng thời làm cho đệ tử trở nên sáng tạo theo nghĩa thế gian, và vì vậy hữu ích cho đồng loại của mình.

2. The stage of energising the conscious life of relationship via the heart centre, thus bringing:

2. Giai đoạn tiếp sinh lực cho đời sống tâm thức của mối liên hệ qua trung tâm tim, nhờ đó đưa:

a. The head centre and the heart centre,

a. Trung tâm đầu và trung tâm tim,

b. These two and the solar plexus centre,

b. Hai trung tâm này và trung tâm tùng thái dương,

c. All three, simultaneously and consciously, into close cooperation.

c. Cả ba, đồng thời và một cách hữu thức, vào sự hợp tác chặt chẽ.

This serves to establish right human relations, right group relations, and right spiritual relations throughout a man’s entire life expression. Just as the stage of regulating the creative life has a paramount effect upon the physical body, so this stage affects the astral vehicle with great potency; emotional reactions are transformed into aspiration and service; selfish individual love is transformed into group love, and then divinity rules the life.

Điều này giúp thiết lập các mối liên hệ nhân loại đúng đắn, các mối liên hệ nhóm đúng đắn, và các mối liên hệ tinh thần đúng đắn xuyên suốt toàn bộ biểu hiện sự sống của một con người. Cũng như giai đoạn điều hòa đời sống sáng tạo có một hiệu quả tối quan trọng trên thể xác, thì giai đoạn này tác động lên thể cảm dục với mãnh lực lớn lao; các phản ứng cảm xúc được chuyển đổi thành khát vọng và phụng sự; tình yêu ích kỷ cá nhân được chuyển đổi thành tình yêu nhóm, và rồi thiên tính cai quản đời sống.

3. The stage of energising the entire man, via the basic centre thus bringing:

3. Giai đoạn tiếp sinh lực cho toàn bộ con người, qua trung tâm căn bản, nhờ đó đưa:

a. The head centre and the basic centre,

a. Trung tâm đầu và trung tâm căn bản,

b. These two and the ajna centre,

b. Hai trung tâm này và trung tâm ajna,

c. All the three, simultaneously and consciously, into rhythmic, coordinated expression. This is a final stage of great importance, and only takes place in its completeness at the time of the third initiation, that of the Transfiguration.

c. Cả ba, đồng thời và một cách hữu thức, vào biểu hiện nhịp nhàng, phối hợp. Đây là một giai đoạn cuối cùng có tầm quan trọng lớn lao, và chỉ diễn ra trọn vẹn vào lúc lần điểm đạo thứ ba, cuộc Biến hình.

You can see, therefore, how three important words convey the purpose of the scientific unfoldment and the right direction of the centres:

Vì vậy, bạn có thể thấy ba từ quan trọng chuyển tải mục đích của sự khai mở khoa học và sự định hướng đúng đắn của các trung tâm như thế nào:

Transmutation. Transformation. Transfiguration.

Sự chuyển hoá. Sự chuyển đổi. Biến hình.

[217]

[217]

This process is wisely and safely carried out over a long period of time and—returning to our theme of health and of disease—when consummated, perfect physical health is the result; in the interim process of adjustment and of change, the reverse is frequently the case. The danger involved in a large number of physical ills can be traced to the condition of the centres, to the interplay or their lack of interplay, to an undeveloped condition, unawakened and sluggish, and to an overstimulation or an unbalanced activity. If one centre is prematurely awakened, it is frequently at the expense of other centres. The rude health of the savage or of the unskilled and unintelligent labourer or peasant (a state of being which is rapidly passing as the mind development and the process of evolution take effect) is largely due to the quiescent state of practically all the centres, with the exception of the sacral centre. The fact of their falling easy prey to the infectious diseases can also be traced to the same quiescence. As the emotional nature is developed and the mind begins to function, the centres then become more active. Definite trouble then ensues, largely because psychological conditions begin to appear. The man is no longer simply an animal. The wear and tear of the emotional life (the major predisposing factor in ill health) floods the lower nature with ill-directed energy (or should I say mis-directed?). The solar plexus centre then becomes unduly active and this activity falls into four stages:

Tiến trình này được thực hiện một cách khôn ngoan và an toàn trong một thời gian dài và—quay lại chủ đề của chúng ta về sức khỏe và bệnh tật—khi hoàn tất, sức khỏe thể xác hoàn hảo là kết quả; trong tiến trình trung gian của sự điều chỉnh và thay đổi, điều ngược lại thường là trường hợp xảy ra. Mối nguy liên hệ đến một số lượng lớn các bệnh thể xác có thể được truy nguyên đến tình trạng của các trung tâm, đến sự tương tác hay thiếu tương tác của chúng, đến một tình trạng chưa phát triển, chưa thức tỉnh và trì trệ, và đến sự kích thích quá mức hay hoạt động mất quân bình. Nếu một trung tâm được thức tỉnh quá sớm, điều đó thường xảy ra với cái giá phải trả của các trung tâm khác. Sức khỏe thô sơ của người man dã hay của người lao động hoặc nông dân không lành nghề và không có trí tuệ (một trạng thái hiện hữu đang nhanh chóng qua đi khi sự phát triển trí tuệ và tiến trình tiến hoá phát huy tác dụng) phần lớn là do trạng thái yên lặng của hầu như tất cả các trung tâm, ngoại trừ trung tâm xương cùng. Sự kiện họ dễ dàng trở thành mồi ngon của các bệnh truyền nhiễm cũng có thể được truy nguyên đến cùng trạng thái yên lặng ấy. Khi bản chất cảm xúc được phát triển và trí tuệ bắt đầu hoạt động, các trung tâm khi ấy trở nên hoạt động hơn. Khi đó rắc rối rõ rệt phát sinh, phần lớn vì các điều kiện tâm lý bắt đầu xuất hiện. Con người không còn đơn thuần là một con vật nữa. Sự hao mòn của đời sống cảm xúc (yếu tố chính tạo khuynh hướng dẫn đến bệnh tật) làm ngập bản chất thấp bằng năng lượng bị định hướng sai (hay tôi nên nói là bị định hướng lệch chăng?). Khi ấy trung tâm tùng thái dương trở nên hoạt động quá mức và hoạt động này rơi vào bốn giai đoạn:

1. The stage of its awakening, as the astral body becomes steadily more powerful.

1. Giai đoạn thức tỉnh của nó, khi thể cảm dục trở nên ngày càng mạnh hơn.

2. The stage of its potency when, for lives, it is the conditioning centre in the etheric or vital body and the man is consequently entirely conditioned by his emotional-astral life.

2. Giai đoạn mãnh lực của nó khi, qua nhiều kiếp sống, nó là trung tâm điều kiện hóa trong thể dĩ thái hay thể sinh lực và do đó con người hoàn toàn bị điều kiện hóa bởi đời sống cảm dục-cảm xúc của mình.

[218]

[218]

3. The stage wherein the solar plexus centre becomes the clearing house for all the centres (major and minor) below the diaphragm.

3. Giai đoạn trong đó trung tâm tùng thái dương trở thành trạm phân phối cho tất cả các trung tâm (chính và phụ) bên dưới cơ hoành.

4. The stage wherein the solar plexus energies are raised to the heart.

4. Giai đoạn trong đó các năng lượng của tùng thái dương được nâng lên tim.

All these stages bring, temporarily, their own physical ills.

Tất cả các giai đoạn này tạm thời mang đến những bệnh thể xác riêng của chúng.

You will note that, beyond certain generalisations, I am not relating specific diseases to specific centres. I have indicated the areas conditioned by the centres, and far more powerfully conditioned than you have any means yet of ascertaining; I have said that fundamentally the ductless glands—as externalisations of the centres—are the determining factors in the health of the body, and that where there is imbalance, overdevelopment or underdevelopment you will have trouble; I have suggested that the medical profession in the New Age will deal increasingly with the theory of energy direction and its relation to the ductless glands, and that it will admit, at least hypothetically and for the purpose of experimentation, that the theory of the energy centres may be correct and that they are the primary conditioning factors, working through the ductless glands which, in their turn, guard the body, produce the necessary resistance, keep the blood stream supplied with the essentials to health and—when rightly interrelated—produce a balanced expression of the spiritual man throughout the entire physical body—physiological and psychological balance. When this desirable condition is not the case, then the ductless glands, through wrong relationship and incorrect and unbalanced development, are not adequate to the task; they cannot protect the body from disease, and are unable to pour into the blood stream what the physical vehicle needs. Owing to their inadequacy, the body is unable to resist infections, is in a constant state of ill health, [219] and cannot cope with disease coming from without or latent within the organism of the body; this weakness often produces mortal disease.

Bạn sẽ lưu ý rằng, ngoài một số khái quát nhất định, tôi không liên hệ các bệnh đặc thù với các trung tâm đặc thù. Tôi đã chỉ ra các khu vực được các trung tâm tác động, và được tác động mạnh mẽ hơn nhiều so với bất kỳ phương tiện nào hiện bạn có để xác định; tôi đã nói rằng về căn bản các tuyến không ống—như những ngoại hiện của các trung tâm—là những yếu tố quyết định trong sức khỏe của thân thể, và rằng ở đâu có sự mất quân bình, phát triển quá mức hay kém phát triển thì ở đó bạn sẽ có rắc rối; tôi đã gợi ý rằng giới y khoa trong Kỷ Nguyên Mới sẽ ngày càng đề cập đến lý thuyết định hướng năng lượng và mối liên hệ của nó với các tuyến không ống, và rằng họ sẽ thừa nhận, ít nhất là trên giả thuyết và vì mục đích thực nghiệm, rằng lý thuyết về các trung tâm năng lượng có thể là đúng và rằng chúng là những yếu tố điều kiện hóa sơ cấp, hoạt động qua các tuyến không ống, đến lượt chúng bảo vệ thân thể, tạo ra sức đề kháng cần thiết, giữ cho dòng máu được cung cấp những yếu tố thiết yếu cho sức khỏe và—khi được liên hệ đúng đắn—tạo ra một biểu hiện quân bình của con người tinh thần xuyên suốt toàn bộ thể xác—sự quân bình sinh lý và tâm lý. Khi tình trạng đáng mong muốn này không hiện hữu, thì các tuyến không ống, do mối liên hệ sai lạc và sự phát triển không đúng và mất quân bình, không đủ sức đảm đương nhiệm vụ; chúng không thể bảo vệ thân thể khỏi bệnh tật, và không thể đổ vào dòng máu điều mà vận cụ hồng trần cần. Do sự bất toàn của chúng, thân thể không thể chống lại các nhiễm trùng, ở trong tình trạng bệnh hoạn thường xuyên, [219] và không thể đối phó với bệnh tật đến từ bên ngoài hay tiềm ẩn bên trong cơ thể của thân thể; sự yếu kém này thường tạo ra bệnh chết người.

Medicine in the next century will be built around certain major premises:

Y học trong thế kỷ tới sẽ được xây dựng quanh một số tiền đề chính:

1. Preventive medicine will be the goal, producing the attempt to keep the body in proper balanced order.

1. Y học phòng ngừa sẽ là mục tiêu, tạo ra nỗ lực giữ cho thân thể ở trong trật tự quân bình thích đáng.

2. Sound sanitation and the providing of healthy conditions will be regarded as essential.

2. Vệ sinh lành mạnh và việc cung cấp các điều kiện khỏe mạnh sẽ được xem là thiết yếu.

3. The supply of the right chemical properties to the physical body will be studied—a science of chemistry which is yet in its infancy, though it is becoming a flourishing infant.

3. Việc cung cấp các đặc tính hóa học đúng đắn cho thể xác sẽ được nghiên cứu—một khoa học hóa học hiện vẫn còn trong thời kỳ sơ sinh, dù nó đang trở thành một đứa trẻ sơ sinh phát triển mạnh.

4. An understanding of the laws of vitality will be regarded as of prime importance, and of this the emphasis today on vitamins and the influence of the sun are wholesome indications.

4. Sự thấu hiểu các định luật của sinh lực sẽ được xem là tối quan trọng, và sự nhấn mạnh ngày nay vào vitamin cùng ảnh hưởng của mặt trời là những dấu hiệu lành mạnh về điều đó.

5. The use of the mind will be regarded, above everything else, as a factor of major importance: the mind will be seen as the prime influence as regards the centres, for people will be taught to work on their centres through mental power and thus produce a right reaction from the endocrine system. This will necessarily involve the right directing of thought to a centre, or the withdrawal of attention from a centre, with consequent effect upon the glandular system. This will all be based upon the occult law that “Energy follows thought.”

5. Việc sử dụng trí tuệ sẽ được xem, trên hết mọi sự, như một yếu tố có tầm quan trọng lớn lao: trí tuệ sẽ được nhìn nhận là ảnh hưởng chủ yếu đối với các trung tâm, vì con người sẽ được dạy cách làm việc trên các trung tâm của mình bằng quyền năng trí tuệ và nhờ đó tạo ra một phản ứng đúng đắn từ hệ nội tiết. Điều này tất yếu sẽ bao hàm việc định hướng tư tưởng đúng đắn đến một trung tâm, hoặc rút sự chú ý khỏi một trung tâm, với hậu quả tác động lên hệ tuyến. Tất cả điều này sẽ dựa trên quy luật huyền bí rằng “Năng lượng đi theo tư tưởng.”

Owing to the fact that disciples have a greater development of mental power than the average man, and also to the fact that ray type is more easily ascertained, involving consequently a more correct determination of the condition of the glandular system, they will be the first to cooperate [220] with the medical profession and to demonstrate the relation of the centres to the glands, and therefore to the body as a whole. Through concentration and right meditation, carried on in the head centre, and directed towards some one or other of the centres, disciples will demonstrate such definite changes in the ductless glands that the medical profession will be convinced of the importance and the factual existence of the centres and of their power, and also of the possibility of controlling the physical organism through the power of thought. This all lies in the future. I am but pointing the way and indicating a future technique whereby disease will be overcome. The various mental schools of thought, Unity and Christian Science, have been fantastic and fanciful in their claims and definitely unscientific in their approach. But they have had hold of at least one thread in the great process of right adjustment to life and to right relationships. They had the dream and the vision; they lacked perception and commonsense and ignored the evolutionary process.

Do sự kiện rằng các đệ tử có sự phát triển quyền năng trí tuệ lớn hơn con người trung bình, và cũng do sự kiện rằng loại cung được xác định dễ dàng hơn, vì vậy kéo theo sự xác định đúng đắn hơn về tình trạng của hệ tuyến, họ sẽ là những người đầu tiên hợp tác [220] với giới y khoa và chứng minh mối liên hệ của các trung tâm với các tuyến, và do đó với toàn bộ thân thể. Qua sự tập trung và tham thiền đúng đắn, được thực hiện trong trung tâm đầu, và được định hướng đến trung tâm này hay trung tâm khác, các đệ tử sẽ chứng minh những thay đổi rõ rệt như thế trong các tuyến không ống đến mức giới y khoa sẽ bị thuyết phục về tầm quan trọng và sự hiện hữu thực tế của các trung tâm cùng quyền năng của chúng, và cả về khả năng kiểm soát cơ thể hồng trần qua quyền năng của tư tưởng. Tất cả điều này còn nằm trong tương lai. Tôi chỉ đang chỉ đường và nêu ra một kỹ thuật tương lai nhờ đó bệnh tật sẽ được vượt qua. Các trường phái tư tưởng trí tuệ khác nhau, Unity và Christian Science, đã quá hoang đường và tưởng tượng trong các tuyên bố của họ và rõ ràng là phi khoa học trong cách tiếp cận. Nhưng ít nhất họ đã nắm được một sợi dây trong tiến trình lớn lao của sự điều chỉnh đúng đắn với đời sống và với các mối liên hệ đúng đắn. Họ có giấc mơ và tầm nhìn; họ thiếu phân biện tinh thần và lương tri, và đã bỏ qua tiến trình tiến hoá.

Physiological science and psychological power, plus the cooperation of the trained disciple with the trained medical man (particularly with the open-minded endocrinologist), will eventually succeed in solving many human ills and will bring about the cure of the bulk of the diseases now troubling humanity.

Khoa học sinh lý và quyền năng tâm lý, cộng với sự hợp tác của đệ tử đã được huấn luyện với nhà y khoa đã được huấn luyện (đặc biệt với nhà nội tiết học có đầu óc cởi mở), cuối cùng sẽ thành công trong việc giải quyết nhiều bệnh tật của con người và sẽ mang lại sự chữa lành cho phần lớn các bệnh hiện đang làm khổ nhân loại.

We have, therefore, studied to some purpose our first section: The Psychological Causes of Disease. We have carried the idea down from the inner and more subtle causes of disease to the major physical conditioning factor, the ductless glands. We can now briefly consider certain far more occult causes and deal with those which emanate from the group life of humanity and from the karmic liabilities of mankind. Here we shall enter the realm of occult knowledge and of esoteric information, and this will be far more difficult for the orthodox thinker to accept.

Vì vậy, chúng ta đã nghiên cứu có mục đích phần đầu tiên của mình: Các Nguyên Nhân Tâm Lý của Bệnh Tật. Chúng ta đã đưa ý tưởng đi xuống từ các nguyên nhân bên trong và vi tế hơn của bệnh tật đến yếu tố điều kiện hóa hồng trần chính, các tuyến không ống. Giờ đây chúng ta có thể ngắn gọn xem xét một số nguyên nhân huyền bí hơn nhiều và bàn đến những nguyên nhân phát xuất từ đời sống nhóm của nhân loại và từ các món nợ nghiệp quả của loài người. Ở đây chúng ta sẽ bước vào lĩnh vực của tri thức huyền bí và thông tin nội môn, và điều này sẽ khó được nhà tư tưởng chính thống chấp nhận hơn nhiều.

Leave a Comment

Scroll to Top