Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến Phần Bình Giảng tương ứng
Cosmic Fire S6
2. The Laws of Thought. |
2. Các Định luật của Tư tưởng. |
|
There are three great laws, that we might term the fundamental laws of the cosmos, of that greater system (recognised by all astronomers), of which we form a part, and seven laws inherent in the solar system. These seven we might consider secondary laws, though, from the standpoint of humanity, they appear as major ones. |
Có ba định luật lớn mà chúng ta có thể gọi là các định luật nền tảng của vũ trụ, của hệ thống lớn hơn ấy (được mọi nhà thiên văn học công nhận) mà chúng ta là một phần trong đó, và có bảy định luật vốn có trong hệ mặt trời. Bảy định luật này chúng ta có thể xem là các định luật thứ yếu, mặc dù, từ quan điểm của nhân loại, chúng xuất hiện như những định luật chính yếu. |
|
a. Three Cosmic Laws. The first of the cosmic laws is the Law of Synthesis. It is almost impossible for those of us who have not the buddhic faculty in any way developed, to comprehend the scope of this law. It is the law that demonstrates the fact that all things—abstract and concrete—exist as one; it is the law governing the thought form of that One of the cosmic Logoi [Page 568] in Whose consciousness both our system, and our greater centre, have a part. It is a unit of His thought, a thought form in its entirety, a concrete whole, and not the differentiated process that we feel our evolving system to be. It is the sumtotal, the centre and the periphery, and the circle of manifestation regarded as a unit. |
a. Ba Định luật Vũ trụ. Định luật vũ trụ thứ nhất là Định luật Tổng Hợp. Hầu như không thể để những người trong chúng ta, là những người chưa phát triển năng lực Bồ đề theo bất kỳ cách nào, có thể hiểu được phạm vi của định luật này. Đây là định luật biểu thị sự kiện rằng mọi sự—trừu tượng và cụ thể—đều hiện hữu như một; đây là định luật chi phối hình tư tưởng của một trong các Thượng đế vũ trụ ấy [Page 568] trong tâm thức của Ngài, cả hệ thống của chúng ta lẫn trung tâm lớn hơn của chúng ta đều có một phần. Nó là một đơn vị trong tư tưởng của Ngài, một hình tư tưởng trong tính toàn vẹn của nó, một toàn thể cụ thể, chứ không phải tiến trình phân biệt mà chúng ta cảm thấy hệ thống đang tiến hoá của mình là như vậy. Nó là tổng thể, là trung tâm và chu vi, và là vòng tròn biểu hiện được xem như một đơn vị. |
|
The second law is the Law of Attraction and Repulsion. Fundamentally, the law describes the compelling force of attraction that holds our solar system to the Sirian; that holds our planets revolving around our central unit, the sun; that holds the lesser systems of atomic and molecular matter circulating around a centre in the planet; and that holds the matter of all physical plane bodies, and that of the subtle bodies co-ordinated around their microcosmic centre. |
Định luật thứ hai là Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Về căn bản, định luật này mô tả mãnh lực hấp dẫn cưỡng bách giữ hệ mặt trời của chúng ta với hệ Sirian; giữ các hành tinh của chúng ta quay quanh đơn vị trung tâm của chúng ta là mặt trời; giữ các hệ thống nhỏ hơn của vật chất nguyên tử và phân tử lưu chuyển quanh một trung tâm trong hành tinh; và giữ vật chất của mọi thể cõi hồng trần, cũng như của các thể vi tế, được phối hợp quanh trung tâm tiểu thiên địa của chúng. |
|
The third law is the Law of Economy, and is the law which adjusts all that concerns the material and spiritual evolution of the cosmos to the best possible advantage and with the least expenditure of force. It makes perfect each atom of time, and each eternal period, and carries all onward, and upward, and through, with the least possible effort, with the proper adjustment of equilibrium, and with the necessary rate of rhythm. Unevenness of rhythm is really an illusion of time, and does not exist in the cosmic centre. We need to ponder on this, for it holds the secret of peace, and we need to grasp the significance of that word through, for it describes the next racial expansion of consciousness, and has an occult meaning. |
Định luật thứ ba là Định luật Tiết Kiệm, và là định luật điều chỉnh mọi điều liên quan đến sự tiến hoá vật chất và tinh thần của vũ trụ sao cho đạt lợi ích tốt nhất có thể với sự tiêu hao mãnh lực ít nhất. Nó làm cho mỗi nguyên tử thời gian và mỗi chu kỳ vĩnh cửu trở nên hoàn hảo, và mang mọi sự tiến lên, đi lên, và xuyên qua, với nỗ lực ít nhất có thể, với sự điều chỉnh quân bình thích đáng, và với nhịp điệu cần thiết. Sự không đều của nhịp điệu thật ra là một ảo tưởng của thời gian, và không tồn tại trong trung tâm vũ trụ. Chúng ta cần suy ngẫm về điều này, vì nó nắm giữ bí mật của bình an, và chúng ta cần nắm được thâm nghĩa của từ xuyên qua, vì nó mô tả sự mở rộng tâm thức kế tiếp của nhân loại, và có một ý nghĩa huyền bí. |
|
In the nomenclature of these laws much is lost, for it is well nigh impossible to resolve abstractions into the terms of speech, and not lose the inner sense in the process. In these laws we again have the threefold idea demonstrated, and the correspondence, as might be expected, holds good. [Page 569] |
Trong danh xưng của các định luật này, nhiều điều bị mất đi, vì gần như không thể chuyển các điều trừu tượng thành ngôn từ mà không làm mất ý nghĩa bên trong trong tiến trình ấy. Trong các định luật này, chúng ta lại thấy ý tưởng tam phân được biểu lộ, và sự tương ứng, như có thể mong đợi, vẫn đúng. [Page 569] |
|
The Law of Synthesis |
The Will Aspect |
1st Aspect. |
|
The Law of Attraction |
The Love Aspect |
2nd Aspect. |
|
The Law of Economy |
The Activity Aspect |
3rd Aspect. |
|
b. Seven Systemic Laws.—Subsidiary to the three major laws, we find the seven laws of our solar system. Again we find the law of analogy elucidating, and the three becoming the seven as elsewhere in the logoic scheme. In each of these seven laws we find an interesting correlation with the seven planes. They are: |
b. Bảy Định luật của Hệ thống.—Phụ thuộc vào ba định luật chính yếu, chúng ta thấy có bảy định luật của hệ mặt trời chúng ta. Một lần nữa, chúng ta thấy định luật tương đồng làm sáng tỏ, và ba trở thành bảy như ở nơi khác trong hệ thống của Thượng đế. Trong mỗi định luật trong bảy định luật này, chúng ta thấy một sự tương quan thú vị với bảy cõi. Chúng là: |
|
1. The Law of Vibration, the basis of manifestation, starting on the first plane. This is the atomic law of the system, in the same sense that on each of our planes the first subplane is the atomic plane. |
1. Định luật Rung động, nền tảng của biểu hiện, khởi đầu trên cõi thứ nhất. Đây là định luật nguyên tử của hệ thống, theo cùng ý nghĩa như trên mỗi cõi của chúng ta, cõi phụ thứ nhất là cõi nguyên tử. |
|
2. The law of Cohesion. On the second plane cohesion is first apparent. It is the first molecular plane of the system, and is the home of the Monad. Divine coherency is demonstrated. |
2. Định luật Kết dính. Trên cõi thứ hai, sự kết dính lần đầu tiên trở nên hiển nhiên. Đây là cõi phân tử thứ nhất của hệ thống, và là nơi cư ngụ của chân thần. Sự kết dính thiêng liêng được biểu lộ. |
|
3. The Law of Disintegration. On the third plane comes the final casting-off, the ultimate shedding of the sheaths, of the fivefold superman. A Chohan of the sixth Initiation discards all the sheaths beneath the monadic vehicle, from the atmic to the physical. |
3. Định luật Phân giải. Trên cõi thứ ba diễn ra sự từ bỏ sau cùng, sự cởi bỏ tối hậu các lớp vỏ của siêu nhân ngũ phân. Một Chohan của lần điểm đạo thứ sáu loại bỏ tất cả các lớp vỏ bên dưới vận cụ chân thần, từ atma xuống đến hồng trần. |
|
4. The Law of Magnetic Control holds sway paramountly on the buddhic plane, and in the development of the control of this law lies hid the control of the personality by the Monad via the egoic body. |
4. Định luật Kiểm soát Từ tính ngự trị tối cao trên cõi Bồ đề, và trong sự phát triển của việc kiểm soát định luật này ẩn giấu sự kiểm soát phàm ngã của chân thần thông qua thể chân ngã. |
|
5. The Law of Fixation demonstrates principally on the mental plane and has a close connection with manas, the fifth principle. The mind controls and stabilises, and cohereney is the result. |
5. Định luật Cố định biểu lộ chủ yếu trên cõi trí và có liên hệ mật thiết với manas, nguyên khí thứ năm. Trí tuệ kiểm soát và ổn định, và kết quả là sự kết dính. |
|
6. Định luật Bác ái là định luật của cõi cảm dục. Nó nhắm đến sự chuyển hoá bản chất dục vọng, và nối kết nó với từ điện lớn hơn của phương diện bác ái trên cõi Bồ đề. |
|
|
7. The Law of Sacrifice and Death is the controlling factor on the physical plane. The destruction of the form, in order that the evolving life may progress, is one of the fundamental methods in evolution. |
7. Định luật Hi sinh và Tử vong là yếu tố kiểm soát trên cõi hồng trần. Sự hủy diệt hình tướng, để sự sống đang tiến hoá có thể tiến bộ, là một trong những phương pháp nền tảng trong tiến hoá. |
|
The Intermediate Law of Karma.—There is also an intermediate law, which is the synthetic law of the system [Page 570] of Sirius. This law is called by the generic term, the Law of Karma, and really predicates the effect the Sirian system has on our solar system. Each of the two systems, as regards its internal economy, is independent in time and space, or (in other words), in manifestation. We have practically no effect on our parent system, the reflex action is so slight as to be negligible, but very definite effects are felt in our system through causes arising in Sirius. These causes, when experienced as effects, are called by us the Law of Karma, and at the beginning they started systemic Karma which, once in effect, constitutes that which is called Karma in our occult and oriental literature. |
Định luật Trung gian của Nghiệp quả.—Cũng có một định luật trung gian, là định luật tổng hợp của hệ thống [Page 570] của Sirius. Định luật này được gọi bằng thuật ngữ tổng quát là Định luật Nghiệp quả, và thực sự xác định ảnh hưởng mà hệ thống Sirian có trên hệ mặt trời của chúng ta. Mỗi hệ thống trong hai hệ thống này, xét về sự vận hành nội tại của nó, đều độc lập trong thời gian và không gian, hay nói cách khác, trong biểu hiện. Chúng ta hầu như không có ảnh hưởng nào trên hệ thống mẹ của mình; phản tác động quá nhỏ đến mức có thể bỏ qua, nhưng những ảnh hưởng rất xác định được cảm nhận trong hệ thống chúng ta qua các nguyên nhân phát sinh trong Sirius. Các nguyên nhân này, khi được trải nghiệm như các kết quả, được chúng ta gọi là Định luật Nghiệp quả, và lúc khởi đầu chúng đã tạo ra nghiệp quả của hệ thống, một khi đã có hiệu lực thì cấu thành điều được gọi là Nghiệp quả trong văn liệu huyền bí và Đông phương của chúng ta. |
|
The Lipika Lords of our system, the systemic Lords of Karma, are under the rule of a greater corresponding Lord on Sirius. |
Các Đấng Lipika của hệ thống chúng ta, các Đấng Chúa Tể Nghiệp quả của hệ thống, ở dưới quyền cai quản của một Đấng Chúa Tể tương ứng lớn hơn trên Sirius. |
|
We have therefore: |
Do đó, chúng ta có: |
|
1. The three cosmic laws of Synthesis, Attraction and Economy. |
1. Ba định luật vũ trụ là Tổng Hợp, Hấp Dẫn và Tiết Kiệm. |
|
2. The Sirian law of Karma. |
2. Định luật Nghiệp quả của Sirius. |
|
3. The seven laws of the solar system. |
3. Bảy định luật của hệ mặt trời. |
|
As we have been told, our seven major vibrations are the vibrations of the lowest cosmic plane; there is our habitat. Our Logos Himself, the heart of His system, is on the cosmic astral plane; he is polarised there. Just as the units of the fourth Creative Hierarchy, the human, are evolving through the use of physical bodies, but are polarised at this time in their astral vehicles, so we have seen that the objective solar system forms the physical body of the Logos, though His polarity is in His astral body. It is significant that in this greater manvantara, the Logos is to take the fourth cosmic Initiation. A hint which may enlighten lies in the correspondence which exists between this statement and the [Page 571] fourth root-race development, and this, the fourth or astral round. (181) |
Như chúng ta đã được cho biết, bảy rung động chính yếu của chúng ta là các rung động của cõi vũ trụ thấp nhất; đó là nơi cư ngụ của chúng ta. Chính Thượng đế của chúng ta, trái tim của hệ thống của Ngài, ở trên cõi cảm dục vũ trụ; Ngài phân cực ở đó. Cũng như các đơn vị của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức nhân loại, đang tiến hoá qua việc sử dụng các thể xác, nhưng hiện nay lại phân cực trong các vận cụ cảm dục của họ, thì chúng ta đã thấy rằng hệ mặt trời khách quan tạo thành thể xác của Thượng đế, mặc dù sự phân cực của Ngài ở trong thể cảm dục của Ngài. Điều đáng lưu ý là trong đại giai kỳ sinh hóa lớn hơn này, Thượng đế sẽ tiếp nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ tư. Một gợi ý có thể soi sáng nằm trong sự tương ứng hiện tồn giữa phát biểu này và sự phát triển của giống dân gốc thứ tư, [Page 571] và cuộc tuần hoàn thứ tư này, tức cuộc tuần hoàn cảm dục. (181) |
|
(181) The present Round, which is the fourth, is the one in which desire, or response to contact and sensation is being brought to its fullest expression. In the next round, the fifth, the fifth principle of mind, or manas, will reach fruition. (back) |
(181) Cuộc tuần hoàn hiện nay, là cuộc tuần hoàn thứ tư, là cuộc tuần hoàn trong đó dục vọng, hay sự đáp ứng với tiếp xúc và cảm giác, đang được đưa đến biểu hiện đầy đủ nhất. Trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, cuộc tuần hoàn thứ năm, nguyên khí thứ năm là trí tuệ, hay manas, sẽ đạt đến kết quả viên mãn. (trở lại) |
|
The system of the Sirian Logos is on the cosmic mental plane, and in a subtle way, incomprehensible to us, our Logos, with His system, forms a part of a still greater Logos. This does not involve loss of identity, though the matter is too abstruse to express more adequately. It is in this analogy that the basic idea can be found of all teaching given out about the Grand Heavenly Man. The whole conception of these laws is bound up in this idea. We have the three laws of the cosmic higher planes, holding in a synthesis of beauty the greater and the lesser system. Next we have the great law of Sirius, the Law of Karma, on the third subplane of the cosmic mental plane, which law really controls our Logos, and His actions, in the same way as the ego—in due course of evolution—controls the human personality. |
Hệ thống của Thượng đế Sirian ở trên cõi trí vũ trụ, và theo một cách vi tế, không thể hiểu được đối với chúng ta, Thượng đế của chúng ta, cùng với hệ thống của Ngài, tạo thành một phần của một Thượng đế còn lớn hơn nữa. Điều này không bao hàm sự mất đi bản sắc, mặc dù vấn đề này quá thâm áo để có thể diễn đạt đầy đủ hơn. Chính trong sự tương đồng này mà có thể tìm thấy ý tưởng nền tảng của mọi giáo huấn được ban ra về Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại. Toàn bộ quan niệm về các định luật này gắn liền với ý tưởng ấy. Chúng ta có ba định luật của các cõi cao vũ trụ, giữ trong một tổng hợp mỹ lệ hệ thống lớn hơn và hệ thống nhỏ hơn. Tiếp theo, chúng ta có định luật lớn của Sirius, Định luật Nghiệp quả, trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ; định luật này thực sự kiểm soát Thượng đế của chúng ta và các hành động của Ngài, theo cùng cách như chân ngã—đến đúng giai đoạn tiến hoá—kiểm soát phàm ngã của con người. |
|
We need to remember that, under the Law of Correspondences, we shall have a relationship in the Cosmos, similar to that existing in the microcosm between the ego and the personality. The suggestion holds much that we might consider with benefit. We must not, however, carry the analogy too far; as we have not yet evolved to where we have planetary consciousness, still less systemic, how can we really expect even to conceive of the A B C of cosmic truth? Just broad hints, wide conceptions, and generalities, are as yet possible. Of one thing we can be sure, and that is that identity ever remains. |
Chúng ta cần nhớ rằng, theo định luật tương ứng, chúng ta sẽ có một mối liên hệ trong Vũ trụ tương tự như mối liên hệ hiện tồn trong tiểu thiên địa giữa chân ngã và phàm ngã. Gợi ý này chứa đựng nhiều điều mà chúng ta có thể suy xét một cách hữu ích. Tuy nhiên, chúng ta không được đẩy sự tương đồng đi quá xa; vì chúng ta chưa tiến hoá đến mức có tâm thức hành tinh, lại càng chưa nói đến tâm thức hệ thống, làm sao chúng ta thực sự có thể mong đợi ngay cả việc quan niệm được ABC của chân lý vũ trụ? Hiện nay chỉ có thể có những gợi ý rộng, những quan niệm bao quát, và những khái quát mà thôi. Nhưng có một điều chúng ta có thể chắc chắn, và đó là rằng bản sắc luôn luôn còn nguyên. |
|
Let me explain by illustration: |
Hãy để tôi giải thích bằng một minh họa: |
|
Each one of us, in due process of evolution, forms part of one of the Heavenly Men, Who Themselves form the [Page 572] seven centres in that greater Heavenly Man, the Logos. Yet, though we are merged with the whole, we do not lose our identity, but forever remain separated units of consciousness, though one with all that lives or is. In like manner our Logos loses not His identity, even though He forms part of the Consciousness of the Logos of Sirius. In His turn, the Sirian Logos forms one of the seven Grand Heavenly Men, who are the centres in the body of ONE OF WHOM NOUGHT MAY BE SAID. |
Mỗi người trong chúng ta, trong tiến trình tiến hoá thích đáng, tạo thành một phần của một trong các Đấng Thiên Nhân, mà chính Các Ngài lại tạo thành [Page 572] bảy trung tâm trong Đấng Thiên Nhân lớn hơn ấy, tức Thượng đế. Tuy nhiên, dù chúng ta được hòa nhập vào toàn thể, chúng ta không mất đi bản sắc của mình, mà mãi mãi vẫn là những đơn vị tâm thức biệt lập, dù là một với tất cả những gì sống hay hiện hữu. Cũng vậy, Thượng đế của chúng ta không mất đi bản sắc của Ngài, dù Ngài tạo thành một phần của Tâm thức của Thượng đế Sirius. Đến lượt mình, Thượng đế Sirian tạo thành một trong bảy Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại, là các trung tâm trong thể của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ. |
|
The Laws and the Planes.—We might, while studying the seven laws of the solar system, take them plane by plane, showing certain things—three in all: |
Các Định luật và Các Cõi.—Trong khi nghiên cứu bảy định luật của hệ mặt trời, chúng ta có thể xét chúng từng cõi một, chỉ ra một số điều—tổng cộng là ba: |
|
1. We might study their effect as they demonstrate on the path of involution. |
1. Chúng ta có thể nghiên cứu tác động của chúng khi chúng biểu lộ trên con đường giáng hạ tiến hoá. |
|
2. As they manifest on the path of evolution, or return. |
2. Khi chúng biểu hiện trên con đường tiến hoá, hay trở về. |
|
3. We might also touch on the laws as they affect the human and deva organisms that evolve by means of them. |
3. Chúng ta cũng có thể đề cập đến các định luật này khi chúng ảnh hưởng đến các cơ thể người và thiên thần tiến hoá nhờ chúng. |
|
As we do this, we shall gradually get a broad general idea of how this system of ours (the thought-form of the Logos), was gradually built up, how it is controlled and held together, and how numerous and intricate are the interrelations. Certain fundamental hypotheses are assumed, which must form the background for all we would say. We must assume first that a Builder, or some Creative Mind, is working to bring about an ordered production, and is seeking to manifest through a demonstrable objective. The objective universe is but the product of some subjective mind. Next we must posit that the material for the building of this universe lay ready to the hand of the Builder, and that this material itself is the fruit of some previous system, all that is left of some past consummated product. Given, therefore, the Builder and the material, we must next accede [Page 573] to the proposition that this Builder proceeds with His building under some definite laws that guide His choice of material, that control the form that He erects, and that indicate to Him the process to be followed in the consummating of His idea. We must not forget that three great symbols stand, in the mind of the Logos, for each of His three systems, that the whole exists for Him as a concrete thought-form, for He is learning to manipulate the matter of the cosmic mental plane on concrete levels, in the same way that man is working on the laws of thought, and on the building of thought-forms. |
Khi làm điều này, chúng ta sẽ dần dần có được một ý niệm khái quát rộng lớn về cách hệ thống của chúng ta (hình tư tưởng của Thượng đế) đã được xây dựng dần dần ra sao, nó được kiểm soát và giữ vững ra sao, và các mối tương liên thì nhiều và phức tạp đến mức nào. Có một số giả thuyết nền tảng được giả định, và chúng phải tạo thành hậu cảnh cho mọi điều chúng ta muốn nói. Trước hết, chúng ta phải giả định rằng một Đấng kiến tạo, hay một Trí Tuệ Sáng Tạo nào đó, đang hoạt động để đem lại một sự sản sinh có trật tự, và đang tìm cách biểu hiện qua một mục tiêu khách quan có thể chứng minh được. Vũ trụ khách quan chỉ là sản phẩm của một trí tuệ chủ quan nào đó. Kế đến, chúng ta phải xác định rằng vật liệu để xây dựng vũ trụ này đã sẵn trong tay của Đấng kiến tạo, và chính vật liệu này là kết quả của một hệ thống trước đó, là tất cả những gì còn lại của một sản phẩm quá khứ đã hoàn tất. Do đó, khi đã có Đấng kiến tạo và vật liệu, tiếp theo chúng ta phải chấp nhận [Page 573] mệnh đề rằng Đấng kiến tạo này tiến hành công việc xây dựng của Ngài dưới những định luật xác định nào đó, là những định luật hướng dẫn sự lựa chọn vật liệu của Ngài, kiểm soát hình tướng mà Ngài dựng nên, và chỉ cho Ngài tiến trình phải theo trong việc hoàn tất ý tưởng của Ngài. Chúng ta không được quên rằng trong trí của Thượng đế có ba biểu tượng lớn tượng trưng cho mỗi một trong ba hệ thống của Ngài, rằng toàn thể hiện hữu đối với Ngài như một hình tư tưởng cụ thể, vì Ngài đang học cách vận dụng vật chất của cõi trí vũ trụ trên các cấp độ cụ thể, cũng như con người đang làm việc với các định luật của tư tưởng và với việc xây dựng các hình tư tưởng. |
|
It is impossible to do more than sense the symbols of the systems past and present. Perhaps if we could visualise a swastika of ten arms revolving at right angles, of a radiant green colour, all the ten arms emanating from a central blazing sun, we might have some idea of the thought-form that formed the basis of System I, the activity system. The basic thought-form for the second system embodies the green swastika of the first manifestation, and adds to it concentric and interlaced circles in blue, in groups of three, linked by one large circle. Both symbols are, of course, in the higher dimensions. The symbol for the next system is unknown. After grasping and conceding these three basic ideas, we can now proceed to the working out of the laws of the system on the seven planes, remembering always that these seven laws hold good on the numerically corresponding subplane on each plane. Let me briefly illustrate: |
Không thể làm gì hơn ngoài việc cảm nhận các biểu tượng của các hệ thống quá khứ và hiện tại. Có lẽ nếu chúng ta có thể hình dung một chữ vạn có mười cánh tay quay vuông góc, màu lục rực sáng, cả mười cánh tay phát ra từ một mặt trời trung tâm chói lòa, thì chúng ta có thể có được một ý niệm nào đó về hình tư tưởng làm nền tảng cho Hệ thống I, hệ thống hoạt động. Hình tư tưởng nền tảng cho hệ thống thứ hai bao hàm chữ vạn màu lục của biểu hiện thứ nhất, và thêm vào đó các vòng tròn đồng tâm và đan xen màu lam, theo từng nhóm ba, được nối với nhau bằng một vòng tròn lớn. Dĩ nhiên, cả hai biểu tượng đều ở trong các chiều kích cao hơn. Biểu tượng cho hệ thống kế tiếp thì chưa được biết. Sau khi nắm được và chấp nhận ba ý tưởng nền tảng này, giờ đây chúng ta có thể tiến tới việc triển khai các định luật của hệ thống trên bảy cõi, luôn luôn nhớ rằng bảy định luật này có hiệu lực trên cõi phụ tương ứng về số của mỗi cõi. Hãy để tôi minh họa ngắn gọn: |
|
The fourth law, Magnetic Control, for instance, holds sway on the fourth subplane of each plane, in the fourth round, and in the fourth root-race specially. We shall then have the correspondence as follows: [Page 574] |
Chẳng hạn, định luật thứ tư, Kiểm soát Từ tính, ngự trị trên cõi phụ thứ tư của mỗi cõi, trong cuộc tuần hoàn thứ tư, và đặc biệt trong giống dân gốc thứ tư. Khi đó chúng ta sẽ có sự tương ứng như sau: [Page 574] |
|
4th Law |
Magnetic Control. |
|
4th Ray |
Harmony or beauty. |
|
4th Plane |
The buddhic. |
|
4th Subplane |
Buddhic Magnetic Control. |
|
4th Round |
Dense Physical Magnetism, controlling sex manifestation on the physical plane, and inspired by astral desire, the reflection of the buddhic. |
|
4th Root-Race |
The Atlantean, in which the above qualities specially demonstrated. |
|
1. The Law of Vibration.—This is the law of the first plane, and it governs all the atomic subplanes of each plane. It marks the beginning of the work of the Logos, the first setting in motion of mulaprakriti. On each plane the vibration of the atomic subplane sets in motion the matter of that plane. It is the key measure. We might sum up the significance of this law in the words, “light” or “fire.” It is the law of fire; it governs the transmutation of differentiated colours back to their synthesis. It controls the breaking up of the One into the seven, and then the reabsorption back into the One. It is really the basic law of evolution, which necessitates involution. It is analogous to the first movement the Logos made to express Himself through this solar system. He uttered the Sound, a threefold Sound, one sound for each of His three systems, and started a ripple on the ocean of space. The Sound grows in volume as time progresses, and when it has reached its full volume, when it is fully completed, it forms one of the notes in the major cosmic chord. Each note has six subtones, which, with the first, make the seven; the Law of Vibration, therefore, comprises eighteen lesser vibrations and three major, making the twenty-one of our three systems. Two multiplied by nine (2×9), makes the necessary eighteen, which is the key number of our love system. Twenty-seven holds hid the mystery of the third system. |
1. Định luật Rung động.—Đây là định luật của cõi thứ nhất, và nó chi phối mọi cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi. Nó đánh dấu sự khởi đầu công việc của Thượng đế, sự khởi động đầu tiên của mulaprakriti. Trên mỗi cõi, rung động của cõi phụ nguyên tử làm cho vật chất của cõi ấy chuyển động. Đó là nhịp điệu chủ chốt. Chúng ta có thể tóm lược ý nghĩa của định luật này trong các từ “ánh sáng” hay “lửa”. Đây là định luật của lửa; nó chi phối sự chuyển hoá các màu sắc đã biến phân trở lại tổng hợp của chúng. Nó kiểm soát sự phân tách Đấng Duy Nhất thành bảy, rồi sự tái hấp thu trở lại vào Đấng Duy Nhất. Thật ra, đây là định luật nền tảng của tiến hoá, định luật khiến cho giáng hạ tiến hoá trở nên cần thiết. Nó tương tự với chuyển động đầu tiên mà Thượng đế đã thực hiện để biểu lộ chính Ngài qua hệ mặt trời này. Ngài đã phát ra Âm Thanh, một Âm Thanh tam phân, một âm cho mỗi một trong ba hệ thống của Ngài, và khởi lên một gợn sóng trên đại dương không gian. Âm Thanh tăng dần về cường độ theo thời gian, và khi nó đạt đến âm lượng trọn vẹn, khi hoàn toàn viên mãn, nó tạo thành một trong các âm trong hợp âm vũ trụ lớn. Mỗi âm có sáu âm phụ, cùng với âm đầu tiên tạo thành bảy; do đó, Định luật Rung động bao gồm mười tám rung động nhỏ hơn và ba rung động lớn, tạo thành hai mươi mốt của ba hệ thống chúng ta. Hai nhân chín (2×9) tạo thành mười tám cần thiết, là con số chủ chốt của hệ thống bác ái của chúng ta. Hai mươi bảy che giấu huyền nhiệm của hệ thống thứ ba. |
|
On the path of involution, the seven great Breaths or Sounds drove to the atomic subplane of each plane, and [Page 575] there the basic vibration repeated in its own little world the method of logoic vibration, giving rise itself to six subsidiary breaths. We get the same correspondence here as we did in the matter of the Rays, for we shall find that the lines of vibration are 1-2-4-6. Logically this would be so, for involution is negative, receptive, and corresponds to the feminine pole, just as the abstract rays were 2-4-6. This truth requires meditation, and an attempt to think abstractly; it is linked to the fact that the whole second system is receptive and feminine; it concerns the evolution of consciousness of the psyche. |
Trên con đường giáng hạ tiến hoá, bảy Hơi Thở hay Âm Thanh lớn đã thúc đẩy đến cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi, và [Page 575] ở đó rung động nền tảng đã lặp lại trong thế giới nhỏ bé riêng của nó phương pháp rung động của Thượng đế, tự nó phát sinh sáu hơi thở phụ. Ở đây chúng ta có cùng sự tương ứng như đã có trong vấn đề các cung, vì chúng ta sẽ thấy rằng các đường rung động là 1-2-4-6. Về mặt luận lý, điều này phải là như vậy, vì giáng hạ tiến hoá là âm, tiếp nhận, và tương ứng với cực nữ, cũng như các cung trừu tượng là 2-4-6. Chân lý này đòi hỏi tham thiền và một nỗ lực suy nghĩ một cách trừu tượng; nó gắn liền với sự kiện rằng toàn bộ hệ thống thứ hai là tiếp nhận và nữ tính; nó liên quan đến sự tiến hoá của tâm thức của tâm hồn. |
|
On the path of evolution this law controls the positive aspect of the process. All is rhythm and movement, and when all that evolves on each plane attains the vibration of the atomic subplane, then the goal is reached. When, therefore, we have achieved the first main vibrations, and have perfected vehicles for all evolutions (not merely the human), of fivefold atomic subplane matter, then we have completed the round of evolution for this system. In the coming system we shall add the next two vibrations that complete the scale, and our Logos will then have completed His building. |
Trên con đường tiến hoá, định luật này kiểm soát phương diện dương của tiến trình. Mọi sự đều là nhịp điệu và chuyển động, và khi mọi thứ tiến hoá trên mỗi cõi đạt đến rung động của cõi phụ nguyên tử, thì mục tiêu được đạt tới. Do đó, khi chúng ta đã đạt được các rung động chính yếu đầu tiên, và đã hoàn thiện các vận cụ cho mọi sự tiến hoá (không chỉ riêng nhân loại) bằng vật chất cõi phụ nguyên tử ngũ phân, thì chúng ta đã hoàn tất vòng tiến hoá cho hệ thống này. Trong hệ thống sắp tới, chúng ta sẽ thêm hai rung động kế tiếp để hoàn tất âm giai, và khi đó Thượng đế của chúng ta sẽ hoàn tất công trình xây dựng của Ngài. |
|
The fourth Creative Hierarchy, that of the human Monads, has to learn to vibrate positively, but the devas proceed along the line of least resistance; they remain negative, taking the line of acquiescence, of falling in with the law. Only the human Monads, and only in the three worlds, follow the positive line, and by resistance, struggle, battle and strife learn the lesson of divine acquiescence. Yet, owing to the increase of friction through that very struggle, they progress with a relatively greater rapidity than the devas. They have need to do this, for they have lost ground to make up. |
Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức các chân thần nhân loại, phải học cách rung động một cách dương; nhưng các thiên thần tiến hành theo con đường ít trở ngại nhất; họ vẫn âm, đi theo đường thuận phục, đường thuận theo định luật. Chỉ các chân thần nhân loại, và chỉ trong ba cõi thấp, mới đi theo đường dương, và nhờ sự kháng cự, đấu tranh, chiến đấu và xung đột mà học được bài học về sự thuận phục thiêng liêng. Tuy nhiên, do sự gia tăng ma sát qua chính cuộc đấu tranh ấy, họ tiến bộ với một tốc độ tương đối nhanh hơn các thiên thần. Họ cần phải làm như vậy, vì họ có phần bị tụt lại cần phải bù đắp. |
|
The Law of Vibration is the law of progress, of movement and of rotation. On the seventh or lowest plane, the vibration is slow, clogged and lethargic from the [Page 576] standpoint of the first, and it is in learning to vibrate or to rotate more rapidly, that we mount the path of return. It involves, therefore necessarily, the building in of finer matter into the vehicles, both deva and human. In this second system, on the five planes of human evolution, we have the five vehicles—physical, astral, mental, buddhic and atmic—which have all to be purified, rarefied, intensified and refined. In the two lowest, the physical and the astral, only matter of the five higher subplanes, of their respective planes, is to be found, for the two lowest subplanes are too low for deva or human bodies; they were dominated in the first system. The mental body is the first in which we find matter of all the subplanes. The aim of evolution for us is love dominated by intelligence—or intelligence dominated by love, for the interaction will be complete. The human race came into the chain at a point where it naturally took bodies of the fifth astral and physical subplanes, and we can see here an analogy to the coming into the fourth root-race of the more advanced Egos. |
Định luật Rung động là định luật của sự tiến bộ, của chuyển động và của sự quay. Trên cõi thứ bảy hay thấp nhất, rung động thì chậm, trì trệ và lờ đờ theo [Page 576] quan điểm của cõi thứ nhất, và chính trong việc học cách rung động hay quay nhanh hơn mà chúng ta leo lên Con Đường Trở Về. Do đó, điều này tất yếu bao hàm việc xây dựng vật chất tinh tế hơn vào trong các vận cụ, cả thiên thần lẫn con người. Trong hệ thống thứ hai này, trên năm cõi của sự tiến hoá nhân loại, chúng ta có năm vận cụ—hồng trần, cảm dục, trí tuệ, Bồ đề và atma—tất cả đều phải được thanh lọc, làm tinh vi, tăng cường và tinh luyện. Trong hai cõi thấp nhất, hồng trần và cảm dục, chỉ có thể tìm thấy vật chất của năm cõi phụ cao hơn thuộc các cõi tương ứng của chúng, vì hai cõi phụ thấp nhất quá thấp đối với các thể thiên thần hay con người; chúng đã bị chi phối trong hệ thống thứ nhất. Thể trí là thể đầu tiên trong đó chúng ta thấy vật chất của mọi cõi phụ. Mục tiêu tiến hoá đối với chúng ta là bác ái được trí tuệ chi phối—hay trí tuệ được bác ái chi phối, vì sự tương tác sẽ hoàn toàn. Nhân loại đã đi vào Dãy ở một điểm mà theo tự nhiên họ nhận các thể của cõi phụ thứ năm của cõi cảm dục và cõi hồng trần, và ở đây chúng ta có thể thấy một sự tương đồng với việc các chân ngã tiến bộ hơn đi vào giống dân gốc thứ tư. |
|
2. The Law of Cohesion.—This is one of the branch laws of the cosmic Law of Attraction. It is interesting to notice how this law demonstrates in this Love-System in a threefold manner: |
2. Định luật Kết dính.—Đây là một trong các định luật nhánh của Định luật Hấp Dẫn vũ trụ. Thật thú vị khi lưu ý cách định luật này biểu lộ trong Hệ thống Bác ái này theo một cách tam phân: |
|
On the plane of the Monad, as the law of cohesion, the law of birth, if we might use that term, resulting in the appearance of the Monads in their seven groups. Love the source, and the Monad of love, the result. |
Trên cõi của chân thần, như định luật kết dính, định luật sinh ra, nếu chúng ta có thể dùng thuật ngữ đó, đưa đến sự xuất hiện của các chân thần trong bảy nhóm của chúng. Bác ái là nguồn, và chân thần của bác ái là kết quả. |
|
On the plane of buddhi, as the law of magnetic control. It shows itself as the love-wisdom aspect, irradiating the ego, and eventually gathering to itself the essence of all experience, garnered, via the Ego, through the personality lives, and controlled throughout from the plane of buddhi. Magnetism, and the capacity to show love, are occultly synonymous. |
Trên cõi Bồ đề, như định luật kiểm soát từ tính. Nó biểu lộ như phương diện bác ái-minh triết, chiếu rọi chân ngã, và cuối cùng thu hút về cho chính nó tinh chất của mọi kinh nghiệm, được tích lũy, thông qua chân ngã, qua các kiếp sống phàm ngã, và được kiểm soát xuyên suốt từ cõi Bồ đề. Từ điện và năng lực biểu lộ bác ái, về mặt huyền bí, là đồng nghĩa. |
|
On the astral plane, as love demonstrating through the [Page 577] personality. All branches of the law of attraction, demonstrating in this system, show themselves as a force that ingathers, that tends to coherence, that results in adhesion, and leads to absorption. All these terms are needed to give a general idea of the basic quality of this law. |
Trên cõi cảm dục, như bác ái biểu lộ qua [Page 577] phàm ngã. Mọi nhánh của định luật hấp dẫn biểu lộ trong hệ thống này đều cho thấy chính chúng như một mãnh lực thu hút vào, có khuynh hướng kết dính, đưa đến sự bám dính, và dẫn đến sự hấp thu. Tất cả các thuật ngữ này đều cần thiết để đem lại một ý niệm tổng quát về phẩm tính nền tảng của định luật này. |
|
This law is one of the most important of the systemic laws, if it is permissible to differentiate at all; we might term it the law of coalescence. |
Định luật này là một trong những định luật quan trọng nhất của hệ thống, nếu quả thực được phép phân biệt như vậy; chúng ta có thể gọi nó là định luật hợp nhất. |
|
On the path of involution it controls the primal gathering together of molecular matter, beneath the atomic subplane. It is the basis of the attractive quality that sets in motion the molecules and draws them into the needed aggregations. It is the measure of the subplanes. The atomic subplane sets the rate of vibration; the Law of Cohesion might be said to fix the colouring of each plane. It is the same thing in other words. We need always to remember in discussing these abstract fundamentals that words but dim the meaning, and serve but as suggestions and not as elucidations. |
Trên con đường giáng hạ tiến hoá, nó kiểm soát sự tụ họp nguyên sơ của vật chất phân tử bên dưới cõi phụ nguyên tử. Nó là nền tảng của phẩm tính hấp dẫn làm cho các phân tử chuyển động và kéo chúng vào các tập hợp cần thiết. Nó là thước đo của các cõi phụ. Cõi phụ nguyên tử đặt ra nhịp độ rung động; có thể nói Định luật Kết dính cố định sắc thái của mỗi cõi. Nói cách khác cũng là cùng một điều. Chúng ta luôn cần nhớ khi bàn về các nền tảng trừu tượng này rằng ngôn từ chỉ làm mờ ý nghĩa, và chỉ đóng vai trò gợi ý chứ không phải giải minh. |
|
In manifestation the cosmic Law of Attraction controls all these subsidiary laws, just as the Law of Synthesis governs pralaya and obscuration, and the law of Economy deals with the general working out, along the line of least resistance, of the logoic scheme. During manifestation we have most to do with the Law of Attraction, and it will be found, on study, that each subsidiary law is but a differentiation of that law. |
Trong biểu hiện, Định luật Hấp Dẫn vũ trụ kiểm soát tất cả các định luật phụ này, cũng như Định luật Tổng Hợp chi phối giai kỳ qui nguyên và sự che khuất, còn Định luật Tiết Kiệm xử lý sự triển khai tổng quát, theo con đường ít trở ngại nhất, của hệ thống của Thượng đế. Trong thời kỳ biểu hiện, chúng ta liên hệ nhiều nhất với Định luật Hấp Dẫn, và khi nghiên cứu sẽ thấy rằng mỗi định luật phụ chỉ là một sự biến phân của định luật ấy. |
|
This second law of the system governs specially the second plane, and the second subplane on each plane. It might be interesting to work this out and trace the underlying correspondence, bearing in mind always that all that can be done is to point out certain things, and indicate lines of thought that may lead, if pursued, to illumination. |
Định luật thứ hai này của hệ thống đặc biệt chi phối cõi thứ hai, và cõi phụ thứ hai trên mỗi cõi. Sẽ là điều thú vị nếu triển khai điều này và truy tìm sự tương ứng nền tảng, luôn luôn ghi nhớ rằng tất cả những gì có thể làm được chỉ là chỉ ra một số điều và nêu lên những đường hướng tư tưởng mà nếu được theo đuổi có thể dẫn đến sự soi sáng. |
|
Ray Two and Law Two are closely allied, and it is [Page 578] interesting to realise that it is on the second subplane of the monadic plane that the majority of the Monads have their habitat; there are a few Monads of power or will on the atomic subplane, but their numbers are not many, and they simply form a nucleus in evolutionary preparation for System III, the power system. The majority of the Monads are on the second subplane and they are the Monads of love; on the third subplane can be found quite a number of the Monads of activity, but numerically not as many as the Monads of love. They are the failures of System I. |
Cung hai và Định luật hai có liên hệ mật thiết, và thật [Page 578] thú vị khi chứng nghiệm rằng chính trên cõi phụ thứ hai của cõi chân thần mà đa số các chân thần cư ngụ; có một ít chân thần quyền lực hay ý chí ở trên cõi phụ nguyên tử, nhưng số lượng của họ không nhiều, và họ chỉ đơn giản tạo thành một hạt nhân trong sự chuẩn bị tiến hoá cho Hệ thống III, hệ thống quyền lực. Đa số các chân thần ở trên cõi phụ thứ hai và họ là các chân thần bác ái; trên cõi phụ thứ ba có thể tìm thấy khá nhiều chân thần hoạt động, nhưng về số lượng không nhiều bằng các chân thần bác ái. Họ là những kẻ thất bại của Hệ thống I. |
|
There is a direct channel, as we know, between the atomic subplane on each plane. This is more or less true of each subplane and its corresponding higher subplane numerically, and there is, therefore, a direct and quite expansive channel between the second subplane on all planes, enabling the Monads of love to link up with peculiar facility with all their vehicles when composed of second subplane matter. After initiation, the causal body is found on the second subplane of the mental plane, and monadic control then commences. |
Như chúng ta biết, có một kênh trực tiếp giữa cõi phụ nguyên tử trên mỗi cõi. Điều này ít nhiều cũng đúng đối với mỗi cõi phụ và cõi phụ cao hơn tương ứng về số của nó, và do đó có một kênh trực tiếp và khá rộng mở giữa cõi phụ thứ hai trên mọi cõi, cho phép các chân thần bác ái nối kết với các vận cụ của mình một cách đặc biệt dễ dàng khi các vận cụ ấy được cấu tạo bằng vật chất cõi phụ thứ hai. Sau điểm đạo, thể nguyên nhân được thấy ở trên cõi phụ thứ hai của cõi trí, và khi đó sự kiểm soát của chân thần bắt đầu. |
|
The Monads of love return (after life in the three worlds and the attainment of the goal) to their originating second subplane, that being also the goal for the monads of activity who have to develop the love aspect. In the five worlds of human evolution both groups of Monads have to control atomic and molecular matter as well and this is done by the utilisation to the full (as full as may be possible in this second system), of the will or power aspect. |
Các chân thần bác ái trở về (sau đời sống trong ba cõi thấp và sự đạt đến mục tiêu) với cõi phụ thứ hai nguyên thủy của mình; đó cũng là mục tiêu cho các chân thần hoạt động, là những chân thần phải phát triển phương diện bác ái. Trong năm thế giới của sự tiến hoá nhân loại, cả hai nhóm chân thần đều phải kiểm soát cả vật chất nguyên tử lẫn phân tử, và điều này được thực hiện bằng việc sử dụng đến mức tối đa (tối đa như có thể trong hệ thống thứ hai này) phương diện ý chí hay quyền lực. |
|
The “Kingdom of God suffereth violence and the violent take it by force,” or by Will or power. It is not Will, as we shall know it in the final system but it is Will as known in this system, and it has to be utilised to the uttermost by the evolving Monad in his struggle to control each atomic subplane. The Monads of power have [Page 579] a much greater struggle, and hence the fact so often apparent that people on what we term the power Ray, have so often a hard time, and are so frequently unlovable. They have to build in on all the six planes the love aspect, which is not prominent in their development. |
“Thiên Giới phải chịu sức mạnh cưỡng chiếm và những kẻ mạnh bạo đoạt lấy nó bằng sức mạnh,” hay bằng ý chí hoặc quyền lực. Đó không phải là Ý Chí như chúng ta sẽ biết nó trong hệ thống cuối cùng, nhưng là Ý Chí như được biết trong hệ thống này, và nó phải được chân thần đang tiến hoá sử dụng đến mức tận cùng trong cuộc đấu tranh của y để kiểm soát mỗi cõi phụ nguyên tử. Các chân thần quyền lực có [Page 579] một cuộc đấu tranh lớn hơn nhiều, và do đó mới có sự kiện thường thấy rằng những người thuộc điều chúng ta gọi là cung quyền lực thường có cuộc đời khó khăn, và thường không đáng mến. Họ phải xây dựng vào trong cả sáu cõi phương diện bác ái, là phương diện không nổi trội trong sự phát triển của họ. |
|
A hint has been given us as to the approximate figures governing the Monads: |
Một gợi ý đã được ban cho chúng ta về các con số gần đúng chi phối các chân thần: |
|
35 Thousand million Monads of love |
35 ngàn triệu chân thần bác ái |
|
20 Thousand million Monads of activity |
20 ngàn triệu chân thần hoạt động |
|
5 Thousand million Monads of power |
5 ngàn triệu chân thần quyền lực |
|
making a total of sixty thousand million human Monads. The Monads of power, though in manifestation, are as yet very rare in incarnation. They came in, in large numbers, at the close of the moon chain, and will come in again in full numerical strength in the last two rounds of the present chain. |
tạo thành tổng cộng sáu mươi ngàn triệu chân thần nhân loại. Các chân thần quyền lực, dù đang trong biểu hiện, cho đến nay vẫn rất hiếm khi lâm phàm. Họ đã đi vào với số lượng lớn vào lúc kết thúc Dãy Mặt Trăng, và sẽ lại đi vào với đầy đủ sức mạnh số lượng trong hai cuộc tuần hoàn cuối của Dãy hiện nay. |
|
We might now briefly trace the correspondence in the second round and the second root-race, showing how the Law of Cohesion was specially active at these periods. A condition of nebulosity of a pronouncedly volatile condition, marked the first round and race. Movement, and the accompaniment of heat, is their distinguishing quality, much as in System I, but in the second round, and also in the second race, a definite cohesion is noticeable, and form is more clearly recognisable in outline. Cohesion is also plainly to be seen as the distinguishing feature of our present system, the second. It is the aim of all things to unite; approximation, unification, a simultaneous attraction between two or more is ever to be seen as a governing principle, whether we look at the sex problem, or whether it demonstrates in business organisation, in scientific development, in manufacture, or in politics. Well might we say that the At-one-ment of the many separated is the keynote of our system. |
Giờ đây, chúng ta có thể ngắn gọn truy tìm sự tương ứng trong cuộc tuần hoàn thứ hai và giống dân gốc thứ hai, cho thấy Định luật Kết dính đã hoạt động đặc biệt ra sao trong các thời kỳ ấy. Một trạng thái tinh vân có tính chất đặc biệt dễ bay hơi đã đánh dấu cuộc tuần hoàn và nhân loại thứ nhất. Chuyển động, cùng với nhiệt đi kèm, là phẩm tính phân biệt của chúng, cũng như trong Hệ thống I; nhưng trong cuộc tuần hoàn thứ hai, và cả trong nhân loại thứ hai, một sự kết dính xác định trở nên đáng chú ý, và hình tướng được nhận ra rõ ràng hơn về đường nét. Sự kết dính cũng được thấy rõ như đặc điểm phân biệt của hệ thống hiện nay của chúng ta, hệ thống thứ hai. Mục tiêu của mọi sự là hợp nhất; sự xích lại gần, sự hợp nhất, một lực hút đồng thời giữa hai hay nhiều hơn luôn luôn được thấy như một nguyên lý chi phối, dù chúng ta nhìn vào vấn đề giới tính, hay dù nó biểu lộ trong tổ chức kinh doanh, trong sự phát triển khoa học, trong sản xuất, hay trong chính trị. Quả thật, chúng ta có thể nói rằng sự Nhất Thể hóa của nhiều cái bị tách rời là chủ âm của hệ thống chúng ta. |
|
One more suggestion may be given: On the path of [Page 580] involution this law governs the gathering together and the segregation of matter; on the evolutionary path it controls the building of forms. It has been stated that the matter of the lowest subplane forms the basis of a new plane; therefore we have on the atomic subplane a point where merging takes place, which makes it a plane of synthesis, just as in the same way the first or logoic plane is the plane of synthesis for this system. There takes place the merging of evolution into an inconceivably higher state. |
Có thể nêu thêm một gợi ý nữa: Trên con đường [Page 580] giáng hạ tiến hoá, định luật này chi phối sự tụ họp và sự phân tách của vật chất; trên con đường tiến hoá, nó kiểm soát việc xây dựng các hình tướng. Đã có lời nói rằng vật chất của cõi phụ thấp nhất tạo thành nền tảng của một cõi mới; do đó, trên cõi phụ nguyên tử chúng ta có một điểm nơi sự hòa nhập diễn ra, khiến nó trở thành một cõi tổng hợp, cũng như theo cùng cách đó cõi thứ nhất hay cõi của Thượng đế là cõi tổng hợp cho hệ thống này. Tại đó diễn ra sự hòa nhập của tiến hoá vào một trạng thái cao hơn không thể nghĩ bàn. |
|
3. The Law of Disintegration.—This is the law that governs the destruction of the form in order that the indwelling life may shine forth in fullness. It is another aspect of the Law of Cohesion—the reverse side (if one might so express it), and is just as much a part of the divine plan as that of attraction. It is one of the laws that ends with the solar system, for the great laws of attraction, cohesion and love last on into that which is to come. The Law of Disintegration has its correspondence in cosmic law, but it is almost incomprehensible to us. The Law of Economy holds the key to this law. When the Monad has circled through all disintegrating forms, and has achieved the sixth Initiation, it is resolved into its primal monadic source, and the five lesser sheaths are destroyed. Later on the Monads themselves are synthesised, not disintegrated. This law controls only from the third plane, and ceases action in this particular fashion when the third plane is transcended. |
3. Định luật Phân giải.—Đây là định luật chi phối sự hủy diệt hình tướng để sự sống nội tại có thể chiếu tỏa trọn vẹn. Nó là một phương diện khác của Định luật Kết dính—mặt trái của nó (nếu có thể diễn đạt như vậy), và cũng là một phần của Thiên Cơ chẳng kém gì hấp dẫn. Đây là một trong những định luật chấm dứt cùng với hệ mặt trời, vì các định luật lớn của hấp dẫn, kết dính và bác ái còn kéo dài sang điều sẽ đến. Định luật Phân giải có sự tương ứng của nó trong định luật vũ trụ, nhưng điều đó hầu như không thể hiểu được đối với chúng ta. Định luật Tiết Kiệm nắm giữ chìa khóa của định luật này. Khi chân thần đã đi vòng qua mọi hình tướng đang phân giải, và đã đạt lần điểm đạo thứ sáu, nó được phân giải vào nguồn chân thần nguyên thủy của nó, và năm lớp vỏ nhỏ hơn bị hủy diệt. Về sau, chính các chân thần được tổng hợp lại, chứ không bị phân giải. Định luật này chỉ kiểm soát từ cõi thứ ba, và chấm dứt hoạt động theo cách đặc thù này khi cõi thứ ba được vượt qua. |
|
This law is one of the most difficult for the race to understand. Some of its workings (those on the path of evolution), can be seen and somewhat comprehended, but on the path of involution, or of construction, the working out of the law is not so apparent to the superficial observer. |
Đây là một trong những định luật khó hiểu nhất đối với nhân loại. Một số hoạt động của nó (những hoạt động trên con đường tiến hoá) có thể được thấy và phần nào được hiểu, nhưng trên con đường giáng hạ tiến hoá, hay con đường kiến tạo, sự triển khai của định luật này không hiển nhiên đối với người quan sát hời hợt. |
|
On the path of involution it controls the process of the [Page 581] breaking up of group souls; it governs the periods when the permanent triads are transferred from one form to another; it works through the great world cataclysms, and we need to remember that it governs, not only the physical plane catastrophes (as we erroneously term them), but the corresponding cataclysms on the astral plane, and the lower levels of the mental plane. It governs physical plane disruptions, especially those affecting the mineral world; it controls the disintegration, on the astral plane, of thought-forms; it dissolves the astral vehicle when left behind, and the mental likewise. The dissipation of the etheric double is the result of its working. |
Trên con đường giáng hạ tiến hoá, nó kiểm soát tiến trình của sự [Page 581] phân tách các hồn nhóm; nó chi phối các thời kỳ khi các tam nguyên trường tồn được chuyển dịch từ hình tướng này sang hình tướng khác; nó hoạt động qua các đại biến động thế giới, và chúng ta cần nhớ rằng nó không chỉ chi phối các tai biến cõi hồng trần (như chúng ta gọi một cách sai lầm), mà còn cả các biến động tương ứng trên cõi cảm dục và các cấp thấp của cõi trí. Nó chi phối các sự đổ vỡ trên cõi hồng trần, đặc biệt là những gì ảnh hưởng đến giới kim thạch; nó kiểm soát sự phân giải, trên cõi cảm dục, của các hình tư tưởng; nó làm tan rã vận cụ cảm dục khi bị bỏ lại phía sau, và thể trí cũng vậy. Sự tiêu tan của bản sao dĩ thái là kết quả của hoạt động của nó. |
|
Again we can correlate this law with that of Attraction, for the two interact upon each other. This law breaks up the forms, and the Law of Attraction draws back to primal sources the material of those forms, prior to rebuilding them anew. |
Một lần nữa, chúng ta có thể liên hệ định luật này với Định luật Hấp Dẫn, vì cả hai tương tác với nhau. Định luật này phá vỡ các hình tướng, còn Định luật Hấp Dẫn kéo vật liệu của các hình tướng ấy trở về các nguồn nguyên thủy trước khi xây dựng chúng lại mới mẻ. |
|
On the path of evolution the effects of this law are well known, not only in the destruction of the discarded vehicles touched upon above, but in the breaking up of the forms in which great ideals are embodied,—the forms of political control, the forms in which nature itself evolves, apart from those in which individual consciousness manifests, the great religious thought-forms, the philanthropic concepts and all the forms which science, art, and religion take at any one particular time. All eventually break under the working of this law. |
Trên con đường tiến hoá, các hiệu quả của định luật này được biết rõ, không chỉ trong sự hủy diệt các vận cụ bị loại bỏ đã được đề cập ở trên, mà còn trong sự phá vỡ các hình tướng mà trong đó các lý tưởng lớn được thể hiện,—các hình tướng của sự kiểm soát chính trị, các hình tướng mà trong đó chính bản chất tiến hoá, tách biệt với những hình tướng mà tâm thức cá nhân biểu hiện, các hình tư tưởng tôn giáo lớn, các quan niệm từ thiện và mọi hình tướng mà khoa học, nghệ thuật và tôn giáo mang lấy vào bất kỳ thời điểm đặc thù nào. Tất cả cuối cùng đều tan vỡ dưới tác động của định luật này. |
|
Its workings are more apparent to the average human mind in its manifestations at this time on the physical plane. We can trace the connection between the atmic and the physical plane (demonstrating on the lower plane as the law of sacrifice and death), but its effect can be seen on all the five planes as well. It is the law that destroys the final sheath that separates the perfected Jiva. It has not yet been fully brought out [Page 582] (for the law of correspondences has been little studied, nor is it readily apparent) that on the third subplane of each plane this law works in a special manner, causing a very definite breaking-up of something that is tending to separation. Like all that works in the system, the process is slow; the work of disintegration begins on the third subplane, and is finished on the second, when the Law of Disintegration comes under the influence of the Law of Cohesion, the disintegration having effected that which makes cohesion possible. We can see an illustration of this on the mental plane. The causal body of the average man is on the third subplane, and as a man becomes fit for the merging into the Triad, that causal body has to be discarded and done away with. Under the Law of Sacrifice and Death, the disintegration is begun on the third level and is consummated on the second, when the man merges with the Triad, preparatory to the final merging with the Monad. |
Hoạt động của nó hiển nhiên hơn đối với trí tuệ con người trung bình trong các biểu hiện của nó hiện nay trên cõi hồng trần. Chúng ta có thể truy ra mối liên hệ giữa cõi atma và cõi hồng trần (biểu lộ trên cõi thấp như định luật hi sinh và tử vong), nhưng hiệu quả của nó cũng có thể được thấy trên cả năm cõi. Đây là định luật hủy diệt lớp vỏ cuối cùng ngăn cách Jiva đã hoàn thiện. Điều này vẫn chưa được trình bày đầy đủ [Page 582] (vì định luật tương ứng ít được nghiên cứu, và cũng không dễ thấy) rằng trên cõi phụ thứ ba của mỗi cõi, định luật này hoạt động theo một cách đặc biệt, gây ra một sự tan vỡ rất xác định của một cái gì đó đang có khuynh hướng tách biệt. Giống như mọi điều hoạt động trong hệ thống, tiến trình này chậm; công việc phân giải bắt đầu trên cõi phụ thứ ba, và hoàn tất trên cõi phụ thứ hai, khi Định luật Phân giải đi vào dưới ảnh hưởng của Định luật Kết dính, sự phân giải đã tạo ra điều khiến cho sự kết dính trở nên khả hữu. Chúng ta có thể thấy một minh họa về điều này trên cõi trí. Thể nguyên nhân của người trung bình ở trên cõi phụ thứ ba, và khi một người trở nên thích hợp cho sự hòa nhập vào Tam nguyên tinh thần, thể nguyên nhân ấy phải bị loại bỏ và xóa đi. Dưới Định luật Hi sinh và Tử vong, sự phân giải được bắt đầu trên cấp thứ ba và được hoàn tất trên cấp thứ hai, khi con người hòa nhập với Tam nguyên tinh thần, để chuẩn bị cho sự hòa nhập cuối cùng với chân thần. |
|
Another illustration of the same thing can be found on the physical plane. When a man has reached the point where he can sense and see the fourth ether, he is ready for the burning away of the etheric web, which has its location midway between the third and second subplane matter which composes his physical body. When this disintegration is effected, the man merges with his astral vehicle, establishing a consequent continuity of consciousness. This correspondence, and this disintegration, can be traced on each plane, till finally on the atmic level on its third subplane comes the final disintegration, which results in a merging with the monadic consciousness. |
Một minh họa khác của cùng điều ấy có thể được tìm thấy trên cõi hồng trần. Khi một người đã đạt đến điểm mà y có thể cảm nhận và thấy được dĩ thái thứ tư, y đã sẵn sàng cho việc đốt cháy màng lưới dĩ thái, mà vị trí của nó ở khoảng giữa vật chất cõi phụ thứ ba và thứ hai cấu thành thể hồng trần của y. Khi sự phân giải này được thực hiện, con người hòa nhập với vận cụ cảm dục của mình, nhờ đó thiết lập sự liên tục của tâm thức. Sự tương ứng này, và sự phân giải này, có thể được truy ra trên mỗi cõi, cho đến cuối cùng trên cấp atma ở cõi phụ thứ ba của nó diễn ra sự phân giải cuối cùng, đưa đến sự hòa nhập với tâm thức chân thần. |
|
The third Ray, that of adaptability or activity, has a close connection with this law. It is through activity (or the adaptation of matter to need), that the form comes into being; through activity it is employed, and through that very adaptation it becomes a perfect form, [Page 583] and at the moment of perfection loses its usefulness; it crystallises, breaks, and the evolving life escapes to find for itself new forms of greater capacity and adequacy. It is so in the life of the reincarnating Ego; it is so in the rounds and races of humanity; it is so in the solar system; it is so in all cosmic processes. |
Cung ba, tức cung của khả năng thích ứng hay hoạt động, có liên hệ mật thiết với định luật này. Chính nhờ hoạt động (hay sự thích ứng của vật chất với nhu cầu) mà hình tướng đi vào hiện hữu; nhờ hoạt động mà nó được sử dụng, và cũng nhờ chính sự thích ứng ấy mà nó trở thành một hình tướng hoàn hảo, nhờ hoạt động mà nó được sử dụng, và cũng nhờ chính sự thích ứng ấy mà nó trở thành một hình tướng hoàn hảo, [Page 583] và vào lúc đạt đến hoàn hảo thì nó mất đi tính hữu dụng; nó kết tinh, vỡ tan, và sự sống đang tiến hoá thoát ra để tự tìm cho mình những hình tướng mới có năng lực và sự thích đáng lớn hơn. Điều này đúng trong đời sống của chân ngã tái sinh; đúng trong các cuộc tuần hoàn và các giống dân của nhân loại; đúng trong hệ mặt trời; đúng trong mọi tiến trình vũ trụ. |
|
In the third chain, the moon chain, we have an interesting related fact. On the moon chain the point of attainment for the individual was the arhat or fourth Initiation,—the initiation which marks the final breaking with the three worlds, and the disintegration of the egoic body. |
Trong dãy thứ ba, tức Dãy Mặt Trăng, chúng ta có một sự kiện liên hệ thú vị. Trên Dãy Mặt Trăng, điểm thành tựu của cá nhân là arhat hay lần điểm đạo thứ tư,—cuộc điểm đạo đánh dấu sự đoạn tuyệt cuối cùng với ba cõi giới, và sự tan rã của thể chân ngã. |
|
At the end of the third root-race came the first of the great cataclysms that broke the race form, and inaugurated a new one, for it was the first definitely human race as we now know it. The analogy will be found to hold good no matter from what angle the subject may be studied. In the third subrace a correspondence can be traced, though it is not yet apparent to the circumscribed vision which characterises most of us. Close proximity to an effect often veils a cause. |
Vào cuối giống dân gốc thứ ba đã xảy ra trận đại biến động đầu tiên làm tan vỡ hình tướng của giống dân ấy, và khai mở một giống dân mới, vì đó là giống dân đầu tiên rõ rệt mang tính nhân loại như chúng ta hiện biết. Sự tương đồng sẽ được thấy là hoàn toàn đúng bất kể đề tài được nghiên cứu từ góc độ nào. Trong giống dân phụ thứ ba, cũng có thể truy ra một sự tương ứng, dù điều đó chưa hiện rõ đối với tầm nhìn hạn hẹp vốn đặc trưng cho phần lớn chúng ta. Sự gần kề quá mức với một hiệu quả thường che khuất nguyên nhân. |
|
4. The law of Magnetic Control (182)—This law is the basic law controlling the Spiritual Triad. Through this law, the force of evolution drives the Ego to progress through the cycle of reincarnation back to union with his kind. Through separation he finds himself, and then—driven by the indwelling buddhic or Christ principle—transcends himself, and finds himself again in all selves. This law holds the evolving lower self in a coherent form. It controls the Ego in the causal body, in the same way that the Logos controls the Monad on the second plane. It is the law of the buddhic plane; the [Page 584] Master is one Who can function on the buddhic levels, and Who has magnetic control in the three worlds. The lower is always controlled from above, and the effect the buddhic levels have on the three lower is paramount, though that is scarcely yet conceded by our thinkers. It is the Law of Love, in the three worlds, that holds all together, and that draws all upward. It is the demonstration, in the Triad, of the Law of Attraction. |
4. Định luật Kiểm Soát Từ Tính (182)—Đây là định luật căn bản kiểm soát Tam Nguyên Tinh Thần. Qua định luật này, mãnh lực tiến hoá thúc đẩy chân ngã tiến bộ qua chu kỳ tái sinh để trở về hợp nhất với đồng loại của y. Qua sự phân ly, y tìm thấy chính mình, rồi—được nguyên khí Bồ đề hay Christ nội tại thúc đẩy—y vượt lên chính mình, và lại tìm thấy mình trong mọi bản ngã. Định luật này giữ phàm ngã đang tiến hoá trong một hình tướng kết hợp chặt chẽ. Nó kiểm soát chân ngã trong thể nguyên nhân, cũng như Thượng đế kiểm soát chân thần trên cõi thứ hai. Đây là định luật của cõi Bồ đề; [Page 584] Chân sư là Đấng có thể hoạt động trên các cấp độ Bồ đề, và có sự kiểm soát từ tính trong ba cõi giới. Cái thấp luôn luôn được kiểm soát từ trên cao, và ảnh hưởng mà các cấp độ Bồ đề tác động lên ba cõi thấp là tối quan trọng, dù điều đó hầu như chưa được các nhà tư tưởng của chúng ta thừa nhận. Chính Định luật Bác ái, trong ba cõi giới, giữ cho mọi sự gắn kết với nhau, và kéo mọi sự đi lên. Đó là sự biểu lộ, trong Tam nguyên tinh thần, của Định luật Hấp dẫn. |
|
(182) Hãy lưu ý sự tương ứng có thể được truy ra ở đây. Trên cõi thứ hai, chúng ta có Định luật Cố kết—bác ái. Trên cõi thứ hai của Tam nguyên tinh thần biểu hiện, có Định luật Kiểm Soát Từ Tính—bác ái. Lại thấp hơn nữa, trên cõi thứ hai của phàm ngã, có Định luật Bác ái. Sự chính xác của phép tương đồng này thật khá thú vị, và mở ra chỗ cho sự suy đoán. (back) |
|
|
On the path of involution this law works with the permanent atoms in the causal body. It is the buddhic principle, and its relation with the lower permanent atom of the Triad is the mainspring of the life of the Ego. On the path of descent it has much to do with the placing of the permanent atoms, but this matter is very abstruse, and the time has not yet come for further elucidation. At the third outpouring, (in which the fourth kingdom, the human, was formed), it was this Law of Magnetic Control that effected the juncture of astro-animal man, and the descending Monad, using the spark of mind as the method of at-one-ment. Again we can see how it works. The monadic plane, the buddhic plane, and the astral plane are all three closely allied, and we find there the line of least resistance. Hence the facility with which the mystic contacts the buddhic and even higher planes. The lines of least resistance in the three systems are: |
Trên con đường giáng hạ tiến hoá, định luật này tác động với các nguyên tử trường tồn trong thể nguyên nhân. Nó là nguyên khí Bồ đề, và mối liên hệ của nó với nguyên tử trường tồn thấp của Tam nguyên tinh thần là động lực chính của đời sống chân ngã. Trên con đường đi xuống, nó có liên quan rất nhiều đến việc định vị các nguyên tử trường tồn, nhưng vấn đề này rất thâm áo, và thời điểm để làm sáng tỏ thêm vẫn chưa đến. Vào lần tuôn đổ thứ ba, (trong đó giới thứ tư, tức giới nhân loại, được hình thành), chính Định luật Kiểm Soát Từ Tính này đã tạo nên sự kết hợp giữa người thú tinh tú và chân thần giáng hạ, dùng tia lửa trí tuệ như phương pháp hợp nhất. Một lần nữa chúng ta có thể thấy nó vận hành như thế nào. Cõi chân thần, cõi Bồ đề, và cõi cảm dục cả ba đều liên hệ mật thiết với nhau, và ở đó chúng ta thấy con đường ít trở ngại nhất. Do đó mới có sự dễ dàng mà nhà thần bí tiếp xúc được với cõi Bồ đề và thậm chí các cõi cao hơn. Các đường ít trở ngại nhất trong ba hệ là: |
|
System |
I. |
Physical, mental, and atmic. |
|
The atmic was the highest point of achievement in that system. |
||
|
II. |
Astral, buddhic and monadic. |
|
|
III. |
Mental, atmic and logoic |
|
Note the correspondence therefore to be seen between the fourth kingdom and the working of this, the fourth law. It is of vital moment in this fourth chain. |
Vì vậy, hãy lưu ý sự tương ứng có thể thấy giữa giới thứ tư và sự vận hành của định luật thứ tư này. Nó có tầm quan trọng thiết yếu trong dãy thứ tư này. |
|
As regards human evolution, this fourth law is of prime importance at this time. The aim of human endeavour [Page 585] is both to be controlled by this law, and likewise to wield it in service. It is the law whereby sex expression, as we know it, is transmuted and elevated; sex is only the physical plane demonstration of the Law of Attraction; it is the working out of that law in the human kingdom, and in all the lower kingdoms, too. The love of all that breathes, and the attraction that works out in service, is the same thing as demonstrated in the Triad. Sex expression, the coming together of two, becomes transmuted into the coming together of many for acts of service, which will give birth to new ideals, and to a new race—the spiritual. |
Xét về tiến hoá nhân loại, định luật thứ tư này hiện nay có tầm quan trọng hàng đầu. Mục tiêu của nỗ lực nhân loại [Page 585] vừa là được định luật này kiểm soát, vừa là vận dụng nó trong phụng sự. Đây là định luật nhờ đó sự biểu lộ tính dục như chúng ta biết được chuyển hoá và nâng cao; tính dục chỉ là sự biểu lộ trên cõi hồng trần của Định luật Hấp dẫn; đó là sự triển khai của định luật ấy trong giới nhân loại, và cả trong mọi giới thấp nữa. Tình thương đối với mọi sự sống đang hô hấp, và sức hút được biểu lộ trong phụng sự, cũng chính là điều ấy như được biểu lộ trong Tam nguyên tinh thần. Sự biểu lộ tính dục, sự đến với nhau của hai, được chuyển hoá thành sự đến với nhau của nhiều người trong các hành vi phụng sự, những hành vi sẽ sinh ra các lý tưởng mới, và một nhân loại mới—nhân loại tinh thần. |
|
Here I might point out a numerical fact that may be of interest in connection with the fourth hierarchy. This human hierarchy is the fourth, as we know, yet if we count the five hierarchies that have passed on, it is in reality the ninth. Nine is the number of initiation, the number of the adept, and of the man who functions in his buddhic vehicle. |
Ở đây tôi có thể chỉ ra một sự kiện số học có thể đáng quan tâm liên quan đến Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Huyền giai nhân loại này là thứ tư, như chúng ta biết, nhưng nếu tính cả năm huyền giai đã đi qua, thì trên thực tế nó là thứ chín. Chín là con số của điểm đạo, con số của chân sư, và của con người hoạt động trong vận cụ Bồ đề của mình. |
|
The fourth Ray also operates in close connection with the fourth Law. It is the Ray of Harmony or Beauty—Harmony through control, that control entailing the knowledge of wisdom. It is the harmony of similarity; it is the equilibrising of all through the realisation of the laws of magnetism that produce the co-ordination of the many diverse into the one homogeneous; magnetism governs the synthesis of the many aspects into a form of unity. This harmony is reached through the fifth plane, and the fifth Ray of Concrete Knowledge acts as a step to the fourth, for many who work on the fifth Ray pass eventually to the fourth. In this system the fifth Ray is of paramount importance in the development of all egos. Each must pass some time on it before definitely remaining on his monadic Ray. In many incarnations much time is spent on the fifth subplane of each plane, which is governed principally by the fifth Ray. All pass [Page 586] then on the fourth subplane governed by the fourth Ray, and in this particular period of the fourth round in the fourth chain, more time is spent on the fourth subplane by evolving Egos than on any other. Many come into incarnation directly on to this plane, and it is here that they begin to think harmoniously. |
Cung bốn cũng vận hành trong liên hệ mật thiết với Định luật thứ tư. Đó là Cung của Hài Hoà hay Mỹ Đẹp—Hài Hoà thông qua kiểm soát, mà sự kiểm soát ấy bao hàm tri thức về minh triết. Đó là sự hài hoà của tính tương đồng; là sự quân bình hoá mọi sự thông qua sự chứng nghiệm các định luật từ điện vốn tạo ra sự phối hợp của nhiều yếu tố dị biệt thành một thể đồng nhất; từ điện chi phối sự tổng hợp của nhiều phương diện thành một hình thức hợp nhất. Sự hài hoà này đạt được qua cõi thứ năm, và cung năm của Tri Thức Cụ Thể hoạt động như một nấc thang dẫn đến cung bốn, vì nhiều người hoạt động trên cung năm cuối cùng chuyển sang cung bốn. Trong hệ này, cung năm có tầm quan trọng tối cao trong sự phát triển của mọi chân ngã. Mỗi chân ngã đều phải trải qua một thời gian trên cung ấy trước khi dứt khoát an trụ trên cung chân thần của mình. Trong nhiều kiếp lâm phàm, nhiều thời gian được trải qua trên cõi phụ thứ năm của mỗi cõi, vốn chủ yếu do cung năm chi phối. Tất cả rồi đều đi qua [Page 586]cõi phụ thứ tư do cung bốn chi phối, và trong giai đoạn đặc biệt này của cuộc tuần hoàn thứ tư trong dãy thứ tư, các chân ngã đang tiến hoá dành nhiều thời gian trên cõi phụ thứ tư hơn bất kỳ cõi nào khác. Nhiều chân ngã đi vào lâm phàm trực tiếp trên cõi này, và chính tại đây họ bắt đầu suy nghĩ một cách hài hoà. |
|
The Laws in the Three Worlds.—We will now take up and briefly study the three most important laws affecting the evolving human being, as he lives his life in the three worlds. These laws are: |
Các Định luật trong Ba Cõi Giới.—Giờ đây chúng ta sẽ đề cập đến và nghiên cứu ngắn gọn ba định luật quan trọng nhất ảnh hưởng đến con người đang tiến hoá, khi y sống đời mình trong ba cõi giới. Các định luật ấy là: |
|
1. The Law of Fixation. |
1. Định luật Cố Định. |
|
2. The Law of Love. |
2. Định luật Bác ái. |
|
3. The Law of Sacrifice and Death. |
3. Định luật Hi sinh và Tử vong. |
|
These laws are all dominated and controlled eventually by the three higher laws in the system—the Laws of Magnetic Control, of Disintegration, and of Cohesion. There is a direct connection between these seven laws and the seven Rays or Vibrations, and if we study the correspondence we shall recognise the fact that the first law, that of Vibration, is the controlling law of the six, demonstrating through the second law, that of Cohesion, just as the solar Logos is at this time manifesting Himself through His second aspect in this the second solar system. |
Rốt cuộc, các định luật này đều bị chi phối và kiểm soát bởi ba định luật cao hơn trong hệ—các Định luật Kiểm Soát Từ Tính, Tan Rã, và Cố Kết. Có một mối liên hệ trực tiếp giữa bảy định luật này và bảy cung hay rung động, và nếu chúng ta nghiên cứu sự tương ứng, chúng ta sẽ nhận ra sự kiện rằng định luật thứ nhất, tức Định luật Rung động, là định luật kiểm soát của sáu định luật kia, biểu lộ qua định luật thứ hai, tức Định luật Cố Kết, cũng như Thái dương Thượng đế hiện nay đang biểu lộ chính Ngài qua phương diện thứ hai của Ngài trong hệ mặt trời thứ hai này. |
|
The first Ray of Will or Power is the first aspect of the All-self, and in the third outpouring, (183) came [Page 587] down to the fifth plane, along with the other monads. A subtle correspondence exists between the monads of Will on the fifth plane, the fifth law, and the fifth Ray. |
Cung một của Ý Chí hay Quyền năng là phương diện thứ nhất của Đại Ngã, và trong lần tuôn đổ thứ ba, (183) đã đi xuống [Page 587]đến cõi thứ năm, cùng với các chân thần khác. Có một sự tương ứng vi tế giữa các chân thần của Ý Chí trên cõi thứ năm, định luật thứ năm, và cung năm. |
|
(183) The Three Outpourings. “In the diagram the symbols of the three Aspects (of the Logos) are placed outside of time and space, and only the streams of influence from them descend into our system of planes….They represent in due order what are commonly called the three Persons of the Trinity….It will be seen that from each of them an outpouring of life or force is projected into the planes below. The first of these in order is the straight line which descends from the third Aspect; the second is that part of the large oval which lies on our left hand—the stream which descends from the second Aspect until it has touched the lowest point in matter, and then rises again up the side on our right hand until it reaches the lower mental level. It will be noted that in both of these outpourings the divine life becomes darker and more veiled as it descends into matter, until at the lowest point we might almost fail to recognise it as divine life at all; but as it rises again when it has passed its nadir it shows itself somewhat more clearly. The third outpouring which descends from the highest aspect of the Logos differs from the others in that it is in no way clouded by the matter through which it passes, but retains its virgin purity and splendour untarnished. It will be noted that this outpouring descends only to the level of the buddhic plane (the fourth plane) and that the link between the two is formed by a triangle in a circle, representing the individual soul of man—the reincarnating ego. Here the triangle is contributed by the third outpouring and the circle by the second….”—The Christian Creed, by C. W. Leadbeater, pp. 39, 40. (back) |
(183) Ba Lần Tuôn Đổ. “Trong biểu đồ, các biểu tượng của ba Phương diện (của Thượng đế) được đặt ra ngoài thời gian và không gian, và chỉ các dòng ảnh hưởng từ các Ngài mới đi xuống vào hệ cõi của chúng ta…. Chúng lần lượt biểu thị điều thường được gọi là ba Ngôi của Tam Vị…. Sẽ thấy rằng từ mỗi Ngài, một lần tuôn đổ sự sống hay mãnh lực được phóng chiếu vào các cõi bên dưới. Lần tuôn đổ đầu tiên theo thứ tự là đường thẳng đi xuống từ Phương diện thứ ba; lần thứ hai là phần của hình bầu dục lớn nằm bên tay trái chúng ta—dòng đi xuống từ Phương diện thứ hai cho đến khi chạm tới điểm thấp nhất trong vật chất, rồi lại đi lên phía bên tay phải chúng ta cho đến khi đạt tới cấp độ hạ trí. Cần lưu ý rằng trong cả hai lần tuôn đổ này, sự sống thiêng liêng trở nên tối hơn và bị che phủ nhiều hơn khi đi xuống vào vật chất, cho đến tại điểm thấp nhất chúng ta hầu như không còn nhận ra đó là sự sống thiêng liêng nữa; nhưng khi nó đi lên trở lại sau khi đã qua điểm thấp nhất của mình, nó biểu lộ phần nào rõ ràng hơn. Lần tuôn đổ thứ ba đi xuống từ phương diện cao nhất của Thượng đế khác với hai lần kia ở chỗ nó hoàn toàn không bị chất liệu mà nó đi qua làm mờ đục, mà giữ nguyên sự tinh khiết trinh nguyên và vẻ huy hoàng không tì vết của nó. Cần lưu ý rằng lần tuôn đổ này chỉ đi xuống đến cấp độ của cõi Bồ đề (cõi thứ tư) và mối liên kết giữa hai bên được tạo thành bởi một tam giác trong một vòng tròn, tượng trưng cho linh hồn cá nhân của con người—chân ngã tái sinh. Ở đây tam giác do lần tuôn đổ thứ ba đóng góp và vòng tròn do lần tuôn đổ thứ hai….”—The Christian Creed, của C. W. Leadbeater, tr. 39, 40. (back) |
|
The second Ray or the Love-Wisdom aspect wields a control on the fourth and sixth planes, and dominates the Laws of Cohesion and Magnetic Control, and the astral Law of Love. There is a direct interlinking between the abstract Rays and the laws of the planes where they specially control. |
Cung hai hay phương diện Bác Ái – Minh Triết thực thi sự kiểm soát trên các cõi thứ tư và thứ sáu, và chi phối các Định luật Cố Kết và Kiểm Soát Từ Tính, cùng Định luật Bác ái trên cõi cảm dục. Có một sự liên kết trực tiếp giữa các cung trừu tượng và các định luật của những cõi mà chúng đặc biệt kiểm soát. |
|
Cung ba, tức phương diện Hoạt động, kiểm soát các Định luật Tan Rã và Tử vong, trên các cõi thứ ba và thứ bảy. |
|
|
Therefore, it will be apparent to the careful student of the wisdom that: |
Do đó, điều sẽ hiển nhiên đối với đạo sinh cẩn trọng của minh triết là: |
|
1. The Power Aspect—Ray 1, Planes 1 and 5, and the Laws of Fixation and Vibration, form one interlocking whole. |
1. Phương diện Quyền năng—cung một, các cõi 1 và 5, và các Định luật Cố Định và Rung động, tạo thành một toàn thể móc nối với nhau. |
|
2. The Love Aspect—Ray 2, Planes 2, 4, 6, and the Laws of Cohesion, Magnetic Control, and of Love, form another unit. |
2. Phương diện Bác ái—cung hai, các cõi 2, 4, 6, và các Định luật Cố Kết, Kiểm Soát Từ Tính, và Bác ái, tạo thành một đơn vị khác. |
|
3. The Activity Aspect—Ray 3, Planes 3 and 7, and the Laws of Disintegration, Sacrifice and Death, make still another group. |
3. Phương diện Hoạt động—cung ba, các cõi 3 và 7, và các Định luật Tan Rã, Hi sinh và Tử vong, tạo thành một nhóm khác nữa. |
|
It is logical for the first Ray only to have control, as yet, on two planes, for the Power Aspect waits for another system in order to demonstrate in full development. Ray two, the synthetic Ray for our system, controls [Page 588] on three planes; it has the preponderance, for paramountly we are the Monads of Love, and Love is our synthesis. Ray three, the dominant Ray of the system which is past, its synthetic Ray, controls on two planes, and on one that is little understood, for, just as the physical body is not considered a principle, so there is a sphere of activity that is not included in our enumeration, it is past and gone. Some explanation of this lies hid in the occult words, “The Eighth Sphere.” |
Việc cung một hiện nay chỉ kiểm soát trên hai cõi là điều hợp lý, vì Phương diện Quyền năng chờ một hệ khác để biểu lộ trong sự phát triển trọn vẹn. Cung hai, cung tổng hợp của hệ chúng ta, kiểm soát [Page 588]trên ba cõi; nó chiếm ưu thế, vì về căn bản chúng ta là các chân thần của Bác ái, và Bác ái là sự tổng hợp của chúng ta. Cung ba, cung chi phối của hệ đã qua, tức cung tổng hợp của hệ ấy, kiểm soát trên hai cõi, và trên một cõi ít được thấu hiểu, vì cũng như thể xác không được xem là một nguyên khí, nên có một khối cầu hoạt động không được kể vào sự liệt kê của chúng ta, nó đã qua và đã mất. Một phần giải thích cho điều này ẩn giấu trong những lời huyền bí: “Khối Cầu Thứ Tám.” |
|
In regard to the four minor Rays of Harmony, Concrete Science, Devotion and Ceremonial Order, their control exists in degrees on all the planes, but they have their particular emphasis in the evolution of the reincarnating ego in the three worlds at this time. These four Rays control, in a subtle and peculiar manner, the four kingdoms of nature—mineral, vegetable, animal and human—and at their merging into the three Rays of Aspect (the Activity Ray of the Mahachohan being the synthesiser of the lower four in our planetary scheme) have a correspondence with the merging of man (the product of the three kingdoms and the fourth) into the superman kingdom, the spiritual. The fourth Ray and the fourth Kingdom form a point of harmony for the lower three, and all four then pass into the major or upper three. This is worthy of our serious thought, and the analogy of the fourth plane will also be apparent. For this system, the buddhic plane, the human kingdom, and the fourth Ray of Harmony or Beauty or Synthesis, have a point of correspondence, just as the fourth rootrace is the one in which the synthesis is first observed—the door into the fifth kingdom of Spirit being then opened; the fourth rootrace also developed the astral capacity that made contact with the fourth or buddhic level possible. |
Đối với bốn cung phụ là Hài Hoà, Khoa Học Cụ Thể, Sùng tín và Trật Tự Nghi Lễ, sự kiểm soát của chúng tồn tại ở những mức độ khác nhau trên mọi cõi, nhưng chúng có điểm nhấn đặc biệt trong sự tiến hoá của chân ngã tái sinh trong ba cõi giới vào thời điểm này. Bốn cung này kiểm soát, theo một cách vi tế và đặc thù, bốn giới trong thiên nhiên—giới kim thạch, giới thực vật, giới động vật và giới nhân loại—và khi chúng hợp nhất vào ba Các Cung Trạng Thái (cung Hoạt động của Đức Mahachohan là cung tổng hợp của bốn cung thấp trong hệ hành tinh của chúng ta), chúng có một sự tương ứng với sự hợp nhất của con người (sản phẩm của ba giới và giới thứ tư) vào giới siêu nhân, tức giới tinh thần. Cung bốn và giới thứ tư tạo thành một điểm hài hoà cho ba giới thấp, và rồi cả bốn cùng đi vào ba giới lớn hay ba giới cao. Điều này đáng để chúng ta suy nghĩ nghiêm túc, và phép tương đồng của cõi thứ tư cũng sẽ hiển nhiên. Đối với hệ này, cõi Bồ đề, giới nhân loại, và cung bốn của Hài Hoà hay Mỹ Đẹp hay Tổng Hợp, có một điểm tương ứng, cũng như giống dân gốc thứ tư là giống dân trong đó sự tổng hợp lần đầu tiên được quan sát—cánh cửa vào giới thứ năm của tinh thần khi ấy được mở ra; giống dân gốc thứ tư cũng phát triển năng lực cảm dục khiến cho việc tiếp xúc với cấp độ thứ tư hay Bồ đề trở nên khả hữu. |
|
In a subtle way too (I use the word subtle for lack of a better, meaning a statement of actuality that seems an [Page 589] illusion), the three minor Rays, Concrete Science, Devotion and Ceremonial Law, have each a connection with the three kingdoms of nature below the human, and with the three laws of the three lower worlds. |
Cũng theo một cách vi tế (tôi dùng từ vi tế vì thiếu một từ tốt hơn, muốn nói đến một phát biểu về thực tại mà dường như là một [Page 589] ảo tưởng), ba cung phụ là Khoa Học Cụ Thể, Sùng tín và Định luật Nghi Lễ, mỗi cung đều có một liên hệ với ba giới thiên nhiên bên dưới giới nhân loại, và với ba định luật của ba cõi thấp. |
|
The Ray of Ceremonial Order has special significance at this time; it controls life in the mineral world, and in the final stages of involutionary life at the point where the upward turn of evolution is made. Through Ceremonial Order comes the control of the lesser builders, the elemental forces, the point of synthesis in the lowest plane of all, the period of transition. In all such periods the seventh Ray comes in (as now) the Ray of Law and Order, of accurate arrangement and formation. It is the reflection on the physical plane of the Power and Activity Aspects working in synthesis. Rays 1, 3, 7, have an interplay, as we know. Ray seven is the appearance in combination of the forces of evolution. It is the manifestation of Power and Activity on the lowest plane of all. It is allied to the laws of the third and seventh planes, Disintegration and Death, for all periods of transition are periods of the destruction and building of forms, and the shattering of the old in order that newer and better chalices of life may be constructed. |
Cung của Trật Tự Nghi Lễ hiện nay có ý nghĩa đặc biệt; nó kiểm soát sự sống trong giới kim thạch, và trong các giai đoạn cuối của sự sống giáng hạ tiến hoá tại điểm mà bước ngoặt đi lên của tiến hoá được thực hiện. Qua Trật Tự Nghi Lễ mà có sự kiểm soát các vị tiểu kiến tạo, các mãnh lực hành khí, điểm tổng hợp trên cõi thấp nhất trong tất cả, giai đoạn chuyển tiếp. Trong mọi giai đoạn như thế, cung bảy đều đi vào (như hiện nay), cung của Định luật và Trật tự, của sự sắp xếp và hình thành chính xác. Nó là sự phản chiếu trên cõi hồng trần của các phương diện Quyền năng và Hoạt động đang vận hành trong tổng hợp. Các cung 1, 3, 7 có sự tương tác, như chúng ta biết. Cung bảy là sắc tướng kết hợp của các mãnh lực tiến hoá. Nó là sự biểu lộ của Quyền năng và Hoạt động trên cõi thấp nhất trong tất cả. Nó liên hệ với các định luật của cõi thứ ba và thứ bảy, Tan Rã và Tử vong, vì mọi giai đoạn chuyển tiếp đều là những giai đoạn huỷ diệt và xây dựng hình tướng, và đập tan cái cũ để những chén thánh mới hơn và tốt hơn của sự sống có thể được kiến tạo. |
|
The Ray of Devotion has a definite though little known connection with the vegetable kingdom. We must remember that it is linked to a subsidiary law of the cosmic Law of Attraction. It is in the vegetable kingdom that we find one of the first and temporary approximations between the evolving human Monad, and the evolving deva Monad. The two parallel evolutions touch in that kingdom, and then again follow their own paths, finding their next point of contact on the fourth or buddhic level, and a final merging on the second. |
Cung của Sùng tín có một liên hệ xác định tuy ít được biết đến với giới thực vật. Chúng ta phải nhớ rằng nó gắn với một định luật phụ của Định luật Hấp dẫn vũ trụ. Chính trong giới thực vật mà chúng ta tìm thấy một trong những sự tiếp cận đầu tiên và tạm thời giữa chân thần nhân loại đang tiến hoá và chân thần thiên thần đang tiến hoá. Hai đường tiến hoá song song chạm nhau trong giới ấy, rồi lại đi theo con đường riêng của mình, tìm thấy điểm tiếp xúc kế tiếp trên cấp độ thứ tư hay Bồ đề, và sự hợp nhất cuối cùng trên cấp độ thứ hai. |
|
The concrete Rays have an especial effect on the negative evolution of the devas, who form the feminine aspect of the divine hermaphroditic Man, working along [Page 590] the lines of more positive development. The abstract Rays do a similar work on the positive human hierarchy, tending towards a more receptive attitude. This hierarchy forms the masculine aspect of the divine Hermaphrodite. But at three points on the path of evolution the Monads of Love, working on the abstract qualities, touch the devas of activity working on concrete faculty. The perfection of the two evolutions marks the point of attainment of the divine Heavenly Man; it is the perfecting of the two major centres, creative activity and love, of the Logos. In their lower aspect these centres are known as the centres of generation and the solar plexus, but are transmuted, as evolution proceeds, into the throat and heart centres. Then, in a dual synthesis, they will pass on into the third system, that in which the Power aspect is developed, and the head centres will be complete. This achieved, our Logos has triumphed, and measured up to the sixth cosmic Initiation, just as He should measure up in this system to the fourth. |
Các cung cụ thể có một ảnh hưởng đặc biệt lên sự tiến hoá âm của các thiên thần, những vị tạo thành phương diện nữ của Con Người lưỡng tính thiêng liêng, đang hoạt động theo [Page 590] các đường phát triển tích cực hơn. Các cung trừu tượng làm một công việc tương tự trên huyền giai nhân loại dương, khiến nó có xu hướng tiến đến một thái độ tiếp nhận hơn. Huyền giai này tạo thành phương diện nam của Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng. Nhưng tại ba điểm trên con đường tiến hoá, các chân thần của Bác ái, hoạt động trên các phẩm tính trừu tượng, chạm đến các thiên thần của hoạt động đang làm việc trên năng lực cụ thể. Sự hoàn thiện của hai đường tiến hoá đánh dấu điểm thành tựu của Đấng Thiên Nhân thiêng liêng; đó là sự hoàn thiện của hai trung tâm lớn, hoạt động sáng tạo và bác ái, của Thượng đế. Trong phương diện thấp của chúng, các trung tâm này được biết là các trung tâm sinh sản và tùng thái dương, nhưng được chuyển hoá, khi tiến hoá tiến triển, thành trung tâm cổ họng và trung tâm tim. Rồi, trong một tổng hợp kép, chúng sẽ chuyển sang hệ thứ ba, hệ trong đó phương diện Quyền năng được phát triển, và các trung tâm đầu sẽ hoàn tất. Khi điều này đạt được, Thượng đế của chúng ta đã chiến thắng, và đạt đến lần điểm đạo vũ trụ thứ sáu, cũng như trong hệ này Ngài phải đạt đến lần điểm đạo thứ tư. |
|
Cung của Khoa Học Cụ Thể có một mối liên hệ đặc biệt với giới động vật, ở chỗ đó là cung chi phối sự hợp nhất của giới ấy vào giới nhân loại. Hành tinh Sao Kim, trong cuộc tuần hoàn thứ năm của nó, đã tạo ra xung lực sản sinh tia lửa trí tuệ trong người thú—một sự kiện ai cũng biết. Nó cũng là cung năm, và có một liên hệ thú vị với Định luật Cố Định thứ năm. Chúng ta cũng có thể nghiên cứu, một cách hữu ích, phép tương đồng có thể thấy giữa các yếu tố này và giống dân gốc thứ năm, giống dân có sự phát triển đặc biệt mạnh mẽ của trí cụ thể. Định luật Tương đồng luôn luôn đúng. |
|
|
With this as a basis, the three laws of the personality become replete with life, and can be summed up in the well-known term, “The Law of Rebirth and Death in the three worlds.” The fifth law governs a fixed point in the personality, that of the fifth principle. |
Lấy điều này làm nền tảng, ba định luật của phàm ngã trở nên tràn đầy sự sống, và có thể được tóm lược trong thuật ngữ quen thuộc, “Định luật Tái sinh và Tử vong trong ba cõi giới.” Định luật thứ năm chi phối một điểm cố định trong phàm ngã, tức nguyên khí thứ năm. |
|
[Page 591] The Law of Love in the astral body also has its points for consideration. There is a direct link between the astral body (love in the personality), the buddhic vehicle (love in the Triad), and the Monads of Love. Later on, this will be understood more fully, but it is the main channel for the basic law of the system, Love. These three points mark periods of completion, and likewise starting-points for fresh endeavour in the life of the evolving Monad—from the personality to the Triad, from the Triad to the Monad, from the Monad back again to its source. |
[Page 591] Định luật Bác ái trong thể cảm dục cũng có những điểm cần được xem xét. Có một mối liên kết trực tiếp giữa thể cảm dục (bác ái trong phàm ngã), vận cụ Bồ đề (bác ái trong Tam nguyên tinh thần), và các chân thần của Bác ái. Về sau, điều này sẽ được thấu hiểu đầy đủ hơn, nhưng đó là kênh chính cho định luật căn bản của hệ, tức Bác ái. Ba điểm này đánh dấu các giai đoạn hoàn tất, và đồng thời cũng là các điểm khởi đầu cho nỗ lực mới trong đời sống của chân thần đang tiến hoá—từ phàm ngã đến Tam nguyên tinh thần, từ Tam nguyên tinh thần đến chân thần, từ chân thần trở lại nguồn cội của nó. |
|
5. The Law of Fixation.—This is the governing law of the mental plane, finding its greater correspondence in the Law of Karma on cosmic mental levels. “As a man thinks, so is he;” according to his thoughts are his desires and acts, and so results the future. He fixes for himself the resultant karma. The word “Fixation” is chosen for two purposes: First, because the word implies the capacity of the thinker to shape his own destiny, and secondly because the word implies a stabilising idea, for as evolution progresses, the Ego evolves the faculty of forming definite concrete thought-forms, and, through these stable products, of subduing the fluctuations of the astral body. |
5. Định luật Cố Định.—Đây là định luật chi phối cõi trí, tìm thấy sự tương ứng lớn hơn của nó trong Định luật Nghiệp quả trên các cấp độ trí tuệ vũ trụ. “Con người nghĩ sao, y là vậy;” theo tư tưởng của y mà có các ham muốn và hành động của y, và như thế tương lai được tạo thành. Y tự cố định cho mình nghiệp quả kết thành. Từ “Cố Định” được chọn vì hai mục đích: thứ nhất, vì từ này hàm ý năng lực của thức giả trong việc định hình số phận của chính mình, và thứ hai, vì từ này hàm ý một ý tưởng ổn định, bởi lẽ khi tiến hoá tiến triển, chân ngã phát triển năng lực tạo thành những hình tư tưởng cụ thể xác định, và qua các sản phẩm ổn định ấy, chế ngự những dao động của thể cảm dục. |
|
This law of the fifth, or mental plane is one of the most important laws with which we have to do at any time, and it will find its most complete demonstration in the next, or fifth round. In relation to this fourth round the following facts may be gathered about its working: |
Định luật của cõi thứ năm, hay cõi trí, là một trong những định luật quan trọng nhất mà chúng ta phải đề cập đến vào bất kỳ lúc nào, và nó sẽ tìm thấy sự biểu lộ đầy đủ nhất của mình trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, hay cuộc tuần hoàn thứ năm. Liên hệ với cuộc tuần hoàn thứ tư này, có thể rút ra các sự kiện sau đây về sự vận hành của nó: |
|
It is the law under which the evolving personality builds up, during the course of many lives, the causal body; it fixes the matter inhering in that body, placed there by the man as the ages slip away, and crystallises it. Before the fourth Initiation the crystallisation is complete, and the inevitable shattering that is the result of crystallisation in all forms, takes place, setting the [Page 592] indwelling life free for further progress. All forms are but hindrances and limitations, and ultimately must go, but they have their needed place in the development of the race. Eventually the causal body of the entire race itself disintegrates. |
Đây là định luật mà dưới đó phàm ngã đang tiến hoá xây dựng thể nguyên nhân trong tiến trình của nhiều kiếp sống; nó cố định chất liệu vốn có trong thể ấy, được con người đặt vào đó khi các thời đại trôi qua, và kết tinh nó. Trước lần điểm đạo thứ tư, sự kết tinh hoàn tất, và sự đập vỡ tất yếu vốn là kết quả của sự kết tinh trong mọi hình tướng sẽ xảy ra, giải thoát sự sống [Page 592]nội tại để tiến bộ thêm. Mọi hình tướng chỉ là những chướng ngại và giới hạn, và rốt cuộc đều phải ra đi, nhưng chúng có vị trí cần thiết của mình trong sự phát triển của nhân loại. Cuối cùng, chính thể nguyên nhân của toàn thể nhân loại cũng tan rã. |
|
This law governs the crystallisation of all forms prior to their shattering in the process of evolution. |
Định luật này chi phối sự kết tinh của mọi hình tướng trước khi chúng bị đập vỡ trong tiến trình tiến hoá. |
|
It governs the time of rebirth, being one of the subsidiary branches of the Law of Karma. Each of the seven subsidiary laws is linked to one of the cosmic laws, or with the Sirian Law of Karma. We need always to remember that the consciousness of the cosmic mental plane is the logoic goal of attainment, and that the Sirian Logos is to our solar Logos what the human Ego is to the personality. The Law of Karma, or cosmic Fixation, is the law of the cosmic mental plane, and controls the corresponding law in our system. |
Nó chi phối thời điểm tái sinh, là một trong những nhánh phụ của Định luật Nghiệp quả. Mỗi một trong bảy định luật phụ đều gắn với một trong các định luật vũ trụ, hoặc với Định luật Nghiệp quả của Sirius. Chúng ta luôn cần nhớ rằng tâm thức của cõi trí tuệ vũ trụ là mục tiêu thành tựu của Thượng đế, và rằng Thượng đế Sirius đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng như chân ngã nhân loại đối với phàm ngã. Định luật Nghiệp quả, hay sự Cố Định vũ trụ, là định luật của cõi trí tuệ vũ trụ, và kiểm soát định luật tương ứng trong hệ của chúng ta. |
|
In the fifth round this law will act as the divider, temporarily crystallising and fixing into two great classes the human Monads, as they evolve. One group then (containing those who will reach the goal), will pass gradually out from under the domination of this law, and will come under the Law of Magnetic Control. The other will remain under the law in a static condition, until in a later period a fresh opportunity will come; old forms will break, and in another mahamanvantara, and in its fifth period, will come the chance for which they will have waited, when they can again swing into the current of evolution and the imprisoned spirits may mount again towards their source. |
Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, định luật này sẽ hoạt động như yếu tố phân chia, tạm thời kết tinh và cố định các chân thần nhân loại đang tiến hoá thành hai nhóm lớn. Khi ấy, một nhóm (gồm những vị sẽ đạt mục tiêu) sẽ dần dần thoát khỏi sự chi phối của định luật này, và sẽ đi vào dưới Định luật Kiểm Soát Từ Tính. Nhóm kia sẽ vẫn ở dưới định luật ấy trong một trạng thái tĩnh, cho đến khi trong một thời kỳ sau một cơ hội mới xuất hiện; các hình tướng cũ sẽ vỡ tan, và trong một Đại giai kỳ sinh hóa khác, và trong thời kỳ thứ năm của nó, sẽ đến cơ hội mà họ đã chờ đợi, khi họ có thể lại hòa vào dòng tiến hoá và các tinh thần bị giam hãm có thể lại vươn lên về nguồn cội của mình. |
|
In an occult sense this law is for us the one with which we are the most intimately concerned. It plays an important part in the hands of the Lords of Flame, and is one of Their main factors in controlling the three worlds. Note here an interesting fact, that Venus is the sixth planet (esoterically the second), and is in her [Page 593] fifth round, and hence is ahead of us along every line. |
Theo nghĩa huyền bí, đối với chúng ta đây là định luật mà chúng ta liên hệ mật thiết nhất. Nó đóng một vai trò quan trọng trong tay các Đấng Chúa Tể của Lửa, và là một trong những yếu tố chính của Các Ngài trong việc kiểm soát ba cõi giới. Hãy lưu ý ở đây một sự kiện thú vị, rằng Sao Kim là hành tinh thứ sáu (một cách huyền bí là thứ hai), và đang ở trong [Page 593] cuộc tuần hoàn thứ năm của nó, và do đó đi trước chúng ta trên mọi phương diện. |
|
This law demonstrates the static quality of love, static temporarily, but necessarily so when viewed from the standpoint of time, the great deluder. On the path of involution this law again works with the permanent atoms in the three worlds, with the building in of material around those atoms, in connection with the building devas and the reincarnating Egos. The devas are the mother aspect, the builders of the body, and the reincarnating Jivas are the son aspect; yet the two are but one, and the result is the divine hermaphroditic man. (See page 512) |
Định luật này biểu lộ phẩm tính tĩnh của bác ái, tạm thời là tĩnh, nhưng tất yếu là như vậy khi được nhìn từ quan điểm của thời gian, kẻ đại mê hoặc. Trên con đường giáng hạ tiến hoá, định luật này lại tác động với các nguyên tử trường tồn trong ba cõi giới, với việc xây dựng chất liệu quanh các nguyên tử ấy, liên hệ với các thiên thần kiến tạo và các chân ngã tái sinh. Các thiên thần là phương diện mẹ, những đấng kiến tạo thể, còn các jiva tái sinh là phương diện con; tuy nhiên cả hai chỉ là một, và kết quả là con người lưỡng tính thiêng liêng. (Xem trang 512) |
|
6. The Law of Love.—It is not easy, in this brief digest, to approach the tremendous problem of the place love plays in the evolving scheme of things as understood by three-dimensional man. A treatise could be written on the subject, and yet leave it unexhausted. Much light comes if we can ponder deeply on the three expressions of Love: Love in the Personality, Love in the Ego, and Love in the Monad. Love in the Personality gradually develops through the stages of love of self, pure and simple and entirely selfish, to love of family and friends, to love of men and women, until it arrives at the stage of love of humanity or group love consciousness which is the predominant characteristic of the Ego. A Master of Compassion loves, suffers with, and remains with His kind and with His kin. Love in the Ego gradually develops from love of humanity into love universal—a love that expresses not only love of humanity, but also love of the deva evolutions in their totality, and of all forms of divine manifestation. Love in the Personality is love in the three worlds; love in the Ego is love in the solar system, and all that it contains; whilst love in the Monad demonstrates a measure of cosmic love, and embraces much that is outside the solar system altogether. |
6. Định luật Bác ái.—Trong bản tóm lược ngắn này, không dễ để tiếp cận vấn đề to lớn về vị trí mà bác ái giữ trong sơ đồ tiến hoá của vạn vật như được con người ba chiều thấu hiểu. Có thể viết cả một chuyên luận về đề tài này mà vẫn chưa cạn. Nhiều ánh sáng sẽ đến nếu chúng ta có thể suy gẫm sâu xa về ba biểu lộ của Bác ái: Bác ái trong phàm ngã, Bác ái trong chân ngã, và Bác ái trong chân thần. Bác ái trong phàm ngã dần dần phát triển qua các giai đoạn từ tình yêu bản thân, thuần tuý và hoàn toàn ích kỷ, đến tình yêu gia đình và bạn hữu, đến tình yêu đối với những người nam và nữ, cho đến khi đạt tới giai đoạn yêu thương nhân loại hay tâm thức bác ái nhóm vốn là đặc tính nổi trội của chân ngã. Một Chân sư của Lòng Từ Bi yêu thương, cùng chịu khổ với, và ở lại với đồng loại và thân tộc của Ngài. Bác ái trong chân ngã dần dần phát triển từ tình yêu nhân loại thành tình yêu phổ quát—một tình yêu biểu lộ không chỉ tình yêu đối với nhân loại, mà còn cả tình yêu đối với các đường tiến hoá thiên thần trong toàn thể của chúng, và đối với mọi hình thức biểu lộ thiêng liêng. Bác ái trong phàm ngã là bác ái trong ba cõi giới; bác ái trong chân ngã là bác ái trong hệ mặt trời, và mọi điều nó chứa đựng; còn bác ái trong chân thần biểu lộ một mức độ bác ái vũ trụ, và bao trùm nhiều điều hoàn toàn ở ngoài hệ mặt trời. |
|
[Page 594] This term “The Law of Love,” is after all too generic a term to apply to one law governing one plane, but will have to suffice for the present, as it conveys the type of idea that is needed, to our minds. The Law of Love is in reality but the law of the system in demonstration on all the planes. Love was the impelling motive for manifestation, and love it is that keeps all in ordered sequence; love bears all on the path of return to the Father’s bosom, and love eventually perfects all that is. It is love that builds the forms that cradle temporarily the inner hidden life, and love is the cause of the disruption of those forms, and their utter shattering, so that the life may further progress. Love manifests on each plane as the urge that drives the evolving Monad onwards to its goal, and love is the key to the deva kingdom, and the reason of the blending of the two kingdoms eventually into the divine Hermaphrodite. Love works through the concrete rays in the building of the system, and in the rearing of the structure that shelters the Spirit, and love works through the abstract rays for the full and potent development of that inherent divinity. Love demonstrates, through the concrete rays, the aspects of divinity, forming the persona that hides the one Self; love demonstrates through the abstract rays in developing the attributes of divinity, in evolving to fullest measure the kingdom of God within. Love in the concrete rays leads to the path of occultism; love in the abstract rays leads to that of the mystic. Love forms the sheath and inspires the life; love causes the logoic vibration to surge forward, carrying all on its way, and bringing all to perfected manifestation. |
[Page 594] Thuật ngữ này, “Định luật Bác ái,” rốt cuộc vẫn là một thuật ngữ quá khái quát để áp dụng cho một định luật chi phối một cõi, nhưng hiện thời sẽ phải tạm dùng như vậy, vì nó chuyển tải loại ý tưởng mà trí tuệ chúng ta cần. Trên thực tế, Định luật Bác ái chỉ là định luật của hệ đang biểu lộ trên mọi cõi. Bác ái là động cơ thúc đẩy sự biểu hiện, và chính bác ái giữ cho mọi sự ở trong trình tự điều hoà; bác ái mang mọi sự trên Con Đường Trở Về về với lòng Cha, và bác ái cuối cùng hoàn thiện mọi cái đang hiện hữu. Chính bác ái xây dựng các hình tướng tạm thời ấp ủ sự sống ẩn kín bên trong, và bác ái là nguyên nhân của sự tan vỡ các hình tướng ấy, và sự đập tan hoàn toàn của chúng, để sự sống có thể tiến bộ thêm. Bác ái biểu lộ trên mỗi cõi như sự thôi thúc đẩy chân thần đang tiến hoá tiến về mục tiêu của nó, và bác ái là chìa khóa của giới thiên thần, và là lý do của sự dung hợp của hai giới cuối cùng thành Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng. Bác ái hoạt động qua các cung cụ thể trong việc xây dựng hệ, và trong việc dựng nên cấu trúc che chở Tinh thần, còn bác ái hoạt động qua các cung trừu tượng để phát triển đầy đủ và mạnh mẽ thiên tính nội tại ấy. Bác ái biểu lộ, qua các cung cụ thể, các phương diện của thiên tính, tạo thành persona che giấu cái Ngã duy nhất; bác ái biểu lộ qua các cung trừu tượng trong việc phát triển các thuộc tính của thiên tính, trong việc tiến hoá đến mức trọn vẹn nhất Thiên Giới bên trong. Bác ái trong các cung cụ thể dẫn đến con đường huyền bí học; bác ái trong các cung trừu tượng dẫn đến con đường của nhà thần bí. Bác ái tạo thành vỏ bọc và truyền cảm hứng cho sự sống; bác ái khiến rung động của Thượng đế dâng trào tiến tới, mang mọi sự theo đường đi của nó, và đưa mọi sự đến sự biểu lộ hoàn hảo. |
|
In System I, Activity, Desire for Expression, and the Impulse to Move was the basic note. That activity produced certain results, certain permanent effects, and thus formed the nucleus for the present system. Ordered Activity is the foundation of this system of ordered [Page 595] Love, and leads to system three, wherein ordered Activity, with ordered Love for its impulse, results in ordered loving Power. |
Trong Hệ I, Hoạt động, Khát vọng Biểu lộ, và Xung lực Vận động là chủ âm căn bản. Hoạt động ấy tạo ra những kết quả nhất định, những hiệu quả trường tồn nhất định, và như thế hình thành hạt nhân cho hệ hiện tại. Hoạt động Có Trật Tự là nền tảng của hệ Bác ái Có Trật Tự này, và dẫn đến hệ ba, trong đó Hoạt động Có Trật Tự, với Bác ái Có Trật Tự làm xung lực của nó, sẽ tạo ra Quyền năng yêu thương Có Trật Tự.[Page 595] |
|
The sixth Ray of devotion and the sixth law of love have a close alliance, and on the sixth plane comes the powerful working out in the lower Triad, the Personality, of the Law of Love. On the astral plane, the home of the desires, originate those feelings which we call personal love; in the lowest type of human being this shows itself as animal passion; as evolution proceeds it shows itself as a gradual expansion of the love faculty, passing through the stages of love of mate, love of family, love of surrounding associates, to love of one’s entire environment; patriotism gives place later to love of humanity, often humanity as exemplified in one of the Great Ones. The astral plane is, at the present time, the most important for us, for in desire—not corrected or transmuted—lies the difference between the personal consciousness and that of the Ego. (185) |
Cung sáu của sùng tín và định luật bác ái thứ sáu có một sự liên minh mật thiết, và trên cõi thứ sáu diễn ra sự triển khai mạnh mẽ trong Tam nguyên tinh thần thấp, tức phàm ngã, của Định luật Bác ái. Trên cõi cảm dục, nơi cư ngụ của các ham muốn, phát sinh những cảm xúc mà chúng ta gọi là tình yêu cá nhân; nơi loại người thấp nhất, điều này biểu lộ thành dục vọng thú tính; khi tiến hoá tiến triển, nó biểu lộ thành sự mở rộng dần dần của năng lực yêu thương, đi qua các giai đoạn yêu bạn đời, yêu gia đình, yêu những người chung quanh, đến yêu toàn bộ môi trường của mình; về sau lòng yêu nước nhường chỗ cho tình yêu nhân loại, thường là nhân loại được tiêu biểu nơi một trong Các Đấng Cao Cả. Cõi cảm dục hiện nay là cõi quan trọng nhất đối với chúng ta, vì trong dục vọng—khi không được điều chỉnh hay chuyển hoá—nằm sự khác biệt giữa tâm thức cá nhân và tâm thức của chân ngã. (185) |
|
(185) Tại sao chúng ta lại xem xét vấn đề các thiên thần của hệ trung gian (như chúng ta có thể gọi những vị liên hệ với hệ này và với Bồ đề cùng trí-cảm) trong khi khảo cứu các hình tư tưởng? Vì hai lý do: Một là vì mọi thứ trong hệ mặt trời chỉ là chất liệu được tiếp sinh lực từ các cõi trí tuệ và cảm dục vũ trụ, và được xây dựng thành hình tướng nhờ quyền năng của định luật điện; mọi điều có thể được biết chỉ là những hình tướng được phú linh bởi các ý tưởng. Thứ hai, vì trong tri thức về các tiến trình sáng tạo của hệ, con người tự học cho mình cách để theo thời gian trở thành một đấng sáng tạo. Chúng ta có thể minh hoạ điều này bằng cách nhận xét rằng một trong những chức năng chính của phong trào Thông Thiên Học trong mọi ngành nhánh của nó là xây dựng một hình tướng mà đến đúng lúc có thể được phú linh bởi ý tưởng về Tình Huynh Đệ. (back) |
|
|
In the sixth Scheme, that of Venus, this can be seen clearly; it is the scheme of love. Viewed from one angle, the Venusian Scheme is the second, and from another it is the sixth. It depends upon whether we reason from the circumference to the centre or the reverse. |
Trong hệ hành tinh thứ sáu, tức hệ của Sao Kim, điều này có thể được thấy rõ; đó là hệ của bác ái. Nhìn từ một góc độ, hệ Sao Kim là thứ hai, và từ góc độ khác nó là thứ sáu. Điều đó phụ thuộc vào việc chúng ta suy luận từ chu vi vào trung tâm hay theo chiều ngược lại. |
|
It is the home of the planetary Logos of the sixth Ray. This may sound like a contradiction, but it is not so really; we must remember the interlocking, the gradual shifting and changing, that takes place in time on all [Page 596] the Rays. In the same way the Earth chain is the third if viewed from one aspect and the fifth viewed from another. |
Đó là nơi cư ngụ của Hành Tinh Thượng đế thuộc cung sáu. Điều này có thể nghe như một mâu thuẫn, nhưng thực ra không phải vậy; chúng ta phải nhớ đến sự móc nối, sự chuyển dịch và biến đổi dần dần, vốn diễn ra theo thời gian trên mọi [Page 596] cung. Cũng theo cách ấy, Dãy Địa Cầu là thứ ba nếu nhìn từ một phương diện và là thứ năm nếu nhìn từ một phương diện khác. |
|
In the sixth chain of each scheme, this sixth law and the sixth Ray have a very important significance, whilst the seventh chain of each scheme is always synthetic—Love and Activity in a perfect balance. The same effect can be demonstrated in the sixth Round. In the sixth Round of the present chain of the Earth scheme, the sixth law will demonstrate with great clarity and force, as love shown in brotherhood, love translated or transmuted from the astral to the buddhic. So in the sixth rootrace and the sixth subrace a similar analogy will be seen. Out of the shattered form of the fifth subrace of the fifth root race, built up under the fifth Ray of Concrete Knowledge, with the aid of the fifth Law of Fixation, will emerge the sixth subrace of brotherly love—love shown in the realisation of the one life latent in each Son of God. |
Trong dãy thứ sáu của mỗi hệ hành tinh, định luật thứ sáu này và cung sáu có một ý nghĩa rất quan trọng, trong khi dãy thứ bảy của mỗi hệ hành tinh luôn luôn là tổng hợp—Bác ái và Hoạt động trong thế quân bình hoàn hảo. Hiệu quả tương tự có thể được chứng minh trong cuộc tuần hoàn thứ sáu. Trong cuộc tuần hoàn thứ sáu của dãy hiện tại thuộc hệ Địa Cầu, định luật thứ sáu sẽ biểu lộ với sự rõ ràng và mãnh liệt lớn lao, như bác ái được biểu lộ trong tình huynh đệ, bác ái được chuyển dịch hay chuyển hoá từ cảm dục sang Bồ đề. Vì vậy, trong giống dân gốc thứ sáu và giống dân phụ thứ sáu cũng sẽ thấy một phép tương đồng tương tự. Từ hình tướng tan vỡ của giống dân phụ thứ năm của giống dân gốc thứ năm, được xây dựng dưới cung năm của Tri Thức Cụ Thể, với sự trợ giúp của Định luật Cố Định thứ năm, sẽ xuất hiện giống dân phụ thứ sáu của tình thương huynh đệ—bác ái được biểu lộ trong sự chứng nghiệm một sự sống duy nhất tiềm ẩn trong mỗi Con của Thượng đế. |
|
7. The Law of Sacrifice and Death. This law links itself to the third law, that of Disintegration following the connection that always exists between the atmic and the physical plane. The Law of Disintegration controls the fivefold destruction of forms in the five lower worlds, and the Law of Death controls similarly in the three worlds. It is subsidiary to the third law. The Law of Sacrifice is the Law of Death in the subtle bodies, whilst what we call death is the analogous thing in the physical body. This law governs the gradual disintegration of concrete forms and their sacrifice to the evolving life, and is closely linked in its manifestation with the seventh Ray. This Ray is the one that largely controls, that manipulates, that geometrises and that holds sway over the form side, governing the elemental forces of nature. The physical plane is the most concrete exemplification of the form side; it holds the divine life imprisoned or [Page 597] enmeshed at its densest point, and it works at this time in line with the seventh law. In a mysterious way this law is the reverse side of the first, or the Law of Vibration. It is Vulcan and Neptune in opposition, which is as yet an almost incomprehensible thing for us. The densest form of expression on the physical plane is after all but a form of synthesis; just as the rarest form of expression on the highest plane is but unity or synthesis of a finer kind. One is the synthesis of matter, and the other the synthesis of life. |
7. Định luật Hi sinh và Tử vong. Định luật này tự nối kết với định luật thứ ba, tức Định luật Tan Rã, theo mối liên hệ luôn tồn tại giữa cõi atma và cõi hồng trần. Định luật Tan Rã kiểm soát sự huỷ diệt ngũ phân của các hình tướng trong năm thế giới thấp, và Định luật Tử vong cũng kiểm soát tương tự trong ba cõi giới. Nó là định luật phụ thuộc của định luật thứ ba. Định luật Hi sinh là Định luật Tử vong trong các thể vi tế, trong khi điều chúng ta gọi là cái chết là điều tương tự trong thể xác. Định luật này chi phối sự tan rã dần dần của các hình tướng cụ thể và sự hi sinh của chúng cho sự sống đang tiến hoá, và trong sự biểu lộ của nó, nó liên hệ mật thiết với cung bảy. Đây là cung phần lớn kiểm soát, thao tác, hình học hoá và nắm quyền trên phương diện hình tướng, chi phối các mãnh lực hành khí của thiên nhiên. Cõi hồng trần là sự minh hoạ cụ thể nhất của phương diện hình tướng; nó giữ sự sống thiêng liêng bị giam cầm hay [Page 597] mắc kẹt tại điểm đậm đặc nhất của nó, và hiện nay nó hoạt động phù hợp với định luật thứ bảy. Theo một cách huyền nhiệm, định luật này là mặt trái của định luật thứ nhất, hay Định luật Rung động. Đó là Vulcan và Sao Hải Vương ở thế đối vị, điều mà hiện nay đối với chúng ta hầu như không thể hiểu nổi. Hình thức biểu lộ đậm đặc nhất trên cõi hồng trần rốt cuộc cũng chỉ là một dạng tổng hợp; cũng như hình thức biểu lộ tinh tế nhất trên cõi cao nhất cũng chỉ là sự hợp nhất hay tổng hợp của một loại tinh tế hơn. Một bên là sự tổng hợp của vật chất, và bên kia là sự tổng hợp của sự sống. |
|
This law governs the seventh chain in each scheme; each chain having achieved the fullest expression possible in the scheme, comes under the Law of Death, and obscuration and disintegration supervenes. In a cosmic sense and analogy, it is the law that governs the coming in of pralaya at the end of a system. It is the law that shatters the cross of the cosmic Christ, and places the form of the Christ within the tomb for a period of time. |
Định luật này chi phối dãy thứ bảy trong mỗi hệ hành tinh; mỗi dãy, sau khi đã đạt đến sự biểu lộ đầy đủ nhất có thể trong hệ hành tinh, sẽ đi vào dưới Định luật Tử vong, và sự che mờ cùng tan rã sẽ tiếp diễn. Theo nghĩa vũ trụ và phép tương đồng, đó là định luật chi phối sự xuất hiện của giai kỳ qui nguyên vào cuối một hệ. Đó là định luật đập tan thập giá của Đức Christ vũ trụ, và đặt hình tướng của Đức Christ vào trong mộ phần trong một thời kỳ. |
|
The Principle of Mutation. In concluding the above information about the laws, it is needful that we all recognise the extreme danger of dogmatising about these matters, and the risk of laying down hard and fast rules. Much must remain unexplained and untouched, and much also will serve to raise only questions in our minds. Comprehension is as yet impossible. Until fourth-dimensional sight is ours, it will scarcely be possible for us to do more than hint at, and get a passing vision of, the complexity and the interweaving in the system. It is not easy for us to do more than grip as a mental concept the fact that the rays, schemes, planets, chains, rounds, races and laws form a unit; seen from the angle of human vision the confusion seems unimaginable, and the key of its solution to be so hidden as to be useless; yet, seen from the angle of logoic sight, [Page 598] the whole moves in unison, and is geometrically accurate. In order to give some idea of the complexity of the arrangement, I would like here to point out that the Rays themselves circulate, the Law of Karma controlling the interweaving. For instance, Ray I may pass around a scheme (if it is the paramount Ray of the scheme) with its first subray manifesting in a chain, its second in a round, its third in a world period, its fourth in a root race, its fifth in a subrace, and its sixth in a branch race. I give this in illustration, and not as the statement of a fact in present manifestation. This gives us some idea of the vastness of the process, and of its wonderful beauty. It is impossible for us, sweeping through on some one Ray, to visualise or in any way to apprehend this beauty; yet, to those on higher levels and with a wider range of vision, the gorgeousness of the design is apparent. |
Nguyên lý Biến Dịch. Khi kết thúc phần thông tin trên về các định luật, điều cần thiết là tất cả chúng ta phải nhận ra mối nguy cực lớn của việc giáo điều hoá về những vấn đề này, và rủi ro của việc đặt ra những quy luật cứng nhắc. Nhiều điều phải còn lại chưa được giải thích và chưa được chạm đến, và nhiều điều cũng sẽ chỉ làm nảy sinh những câu hỏi trong trí chúng ta. Sự thấu hiểu hiện vẫn là bất khả. Chừng nào linh thị bốn chiều chưa là của chúng ta, chừng đó chúng ta hầu như không thể làm gì hơn ngoài việc gợi ý, và có được một linh ảnh thoáng qua về tính phức tạp và sự đan xen trong hệ. Đối với chúng ta, không dễ làm gì hơn ngoài việc nắm bắt như một khái niệm trí tuệ sự kiện rằng các cung, hệ hành tinh, hành tinh, dãy, cuộc tuần hoàn, giống dân và định luật tạo thành một đơn vị; nhìn từ góc độ tầm nhìn nhân loại, sự rối rắm dường như không thể tưởng tượng nổi, và chìa khóa giải đáp của nó dường như ẩn kín đến mức vô dụng; tuy nhiên, nhìn từ góc độ linh thị của Thượng đế, [Page 598]toàn thể vận động trong sự đồng nhất, và chính xác về mặt hình học. Để đưa ra một vài ý niệm về tính phức tạp của sự sắp xếp này, ở đây tôi muốn chỉ ra rằng chính các cung cũng tuần hoàn, với Định luật Nghiệp quả kiểm soát sự đan xen. Chẳng hạn, cung I có thể đi vòng quanh một hệ hành tinh (nếu đó là cung tối quan trọng của hệ hành tinh ấy) với cung phụ thứ nhất của nó biểu lộ trong một dãy, cung phụ thứ hai trong một cuộc tuần hoàn, cung phụ thứ ba trong một thời kỳ thế giới, cung phụ thứ tư trong một giống dân gốc, cung phụ thứ năm trong một giống dân phụ, và cung phụ thứ sáu trong một giống dân nhánh. Tôi nêu điều này như một minh hoạ, chứ không phải như một phát biểu về một sự kiện đang biểu lộ hiện nay. Điều này cho chúng ta một vài ý niệm về sự bao la của tiến trình, và về vẻ đẹp kỳ diệu của nó. Đối với chúng ta, khi đang đi xuyên qua trên một cung nào đó, không thể hình dung hay bằng bất kỳ cách nào lĩnh hội vẻ đẹp này; tuy nhiên, đối với những vị ở các cấp độ cao hơn và có tầm nhìn rộng lớn hơn, vẻ huy hoàng của mô hình ấy là điều hiển nhiên. |
|
This complexity is for us very much increased because we do not yet understand the principle governing this mutation. Nor is it possible for even the highest human mind in the three worlds to do more than sense and approximate that principle. By mutation I mean the fact that there is a constant changing and shifting, an endless interweaving and interlocking, and a ceaseless ebb and flow, in the dramatic interplay of the forces that stand for the dual synthesis of Spirit and matter. There is constant rotation in the Rays and planes, in their relative importance from the standpoint of time which is the standpoint most closely associated with us. But we can rest assured that there is some fundamental principle directing all the activities of the Logos in His system, and by wrestling to discover the basic principle on which our microcosmic lives rest, we may discover aspects of this inherent logoic principle. This opens to our consideration a wide range of vision, and [Page 599] though it emphasises the complexity of the subject, it also demonstrates the divine magnitude of the scheme, with its magnificent intricacies. The reason the fourth is a major round is because in this round two things happened—the spark of mind was implanted and the door was opened from the animal kingdom into the human; and later, another door opened, on to the Path leading from the human kingdom into the spiritual—again a dual reason. The fifth round is a major round because it marks a point in evolution where those who will achieve the goal, and those who will not, are sharply differentiated into two groups; the seventh is a major round because it will mark the merging of the two evolutions, the human and the deva. |
Sự phức tạp này đối với chúng ta càng tăng lên rất nhiều vì chúng ta chưa hiểu nguyên khí chi phối sự biến đổi này. Ngay cả trí tuệ nhân loại cao nhất trong ba cõi giới cũng không thể làm gì hơn ngoài việc cảm nhận và xấp xỉ nguyên khí đó. Bởi sự biến đổi, tôi muốn nói đến sự kiện rằng có một sự thay đổi và chuyển dịch liên tục, một sự đan xen và móc nối vô tận, cùng một sự lên xuống không ngừng, trong sự tương tác đầy kịch tính của các mãnh lực tượng trưng cho sự tổng hợp nhị nguyên của tinh thần và vật chất. Có sự luân chuyển liên tục trong các cung và các cõi, trong tầm quan trọng tương đối của chúng theo quan điểm thời gian, vốn là quan điểm gắn bó mật thiết nhất với chúng ta. Nhưng chúng ta có thể yên tâm rằng có một nguyên khí căn bản nào đó đang chỉ đạo mọi hoạt động của Thượng đế trong hệ của Ngài, và bằng cách vật lộn để khám phá nguyên khí nền tảng trên đó các sự sống vi mô của chúng ta đặt nền, chúng ta có thể khám phá các phương diện của nguyên khí logoic cố hữu này. Điều này mở ra cho sự xem xét của chúng ta một phạm vi tầm nhìn rộng lớn, và [Page 599] tuy nó nhấn mạnh tính phức tạp của đề tài, nó cũng chứng minh tầm vóc thiêng liêng của hệ hành tinh, với những sự tinh vi tráng lệ của nó. Lý do cuộc tuần hoàn thứ tư là một cuộc tuần hoàn chính yếu là vì trong cuộc tuần hoàn này đã xảy ra hai điều—tia lửa trí tuệ được cấy vào và cánh cửa được mở từ giới động vật sang giới nhân loại; và về sau, một cánh cửa khác được mở ra, dẫn vào Con Đường đưa từ giới nhân loại sang giới tinh thần—một lần nữa lại là một lý do nhị nguyên. Cuộc tuần hoàn thứ năm là một cuộc tuần hoàn chính yếu vì nó đánh dấu một điểm tiến hoá nơi những ai sẽ đạt mục tiêu, và những ai sẽ không đạt, được phân biệt rõ rệt thành hai nhóm; cuộc tuần hoàn thứ bảy là một cuộc tuần hoàn chính yếu vì nó sẽ đánh dấu sự hợp nhất của hai tiến hoá, nhân loại và thiên thần. |
|
The major root races are chosen under the Law of Correspondence. In the third root race came the third Outpouring, the merging and the point of contact between the Spiritual Triad and the Lower Quaternary. The fifth root race marks a point where higher and lower manas approximate, and where the concrete mind, meeting its highest development of this round, gives place to the intuition from above. Here again we have a twofold reason. The seventh root race again demonstrates dual attainment, love in activity, the basis of the third system of Will or Power. |
Các giống dân gốc chính yếu được chọn theo định luật tương ứng. Trong giống dân gốc thứ ba đã đến lần tuôn đổ thứ ba, sự hợp nhất và điểm tiếp xúc giữa Tam Nguyên Tinh Thần và Bộ Tứ Hạ. Giống dân gốc thứ năm đánh dấu một điểm mà manas cao và thấp xích lại gần nhau, và nơi trí cụ thể, đạt đến sự phát triển cao nhất của nó trong cuộc tuần hoàn này, nhường chỗ cho trực giác từ bên trên. Ở đây một lần nữa chúng ta có một lý do nhị phân. Giống dân gốc thứ bảy lại chứng minh sự thành tựu kép, bác ái trong hoạt động, nền tảng của hệ thứ ba của Ý Chí hay Quyền Năng. |
|
The three major Rays, being dual, are their own sufficient explanation. They are at present the mode of expression of the three aspects, and demonstrate under their appropriate Logoi, Who manipulate world affairs through the three departments, of which the rulers on our planet are the Lord Maitreya, the Manu, and the Mahachohan. The three major planes demonstrate easily their unique position—on plane two we have the home of the Monads of Love, on plane five we find the habitat of their reflections, the reincarnating Egos, and [Page 600] on the physical plane we find the working out at its densest point of the life of the Spirit. |
Ba cung chính yếu, vì là nhị nguyên, tự chúng đã là lời giải thích đầy đủ. Hiện nay chúng là phương thức biểu lộ của ba phương diện, và biểu hiện dưới các Thượng đế thích hợp của Các Ngài, Đấng vận dụng các công việc thế gian qua ba ban, mà những vị cai quản trên hành tinh chúng ta là Đức Maitreya, Đức Manu, và Đức Mahachohan. Ba cõi chính yếu dễ dàng chứng minh vị trí độc đáo của chúng—trên cõi thứ hai chúng ta có nơi cư ngụ của các chân thần Bác Ái, trên cõi thứ năm chúng ta thấy nơi ở của các phản chiếu của các ngài, các chân ngã tái sinh, và [Page 600] trên cõi hồng trần chúng ta thấy sự triển khai ở điểm đậm đặc nhất của đời sống tinh thần. |
|
This principle of mutation governs every department in the Law of Correspondences, and certain things can be stated as regards the system, and its component parts which will be found illuminating if we remember that they are facts for the present. Let me again illustrate: we have been told that the three major Rays at this time are the first, the second, and the seventh. But later, the Rays now major may become subsidiary, and others take their place, though for this solar system the second Ray, being the synthetic Ray, will always be a major Ray. Perhaps we can here get a hint on this great principle, though we must be careful not to draw it out to too fine a conclusion. For this system the major Rays will always be the dual Rays—the negative-positive Rays, the masculine-feminine Rays—this being the dual system. The major Rays for system three will be those in triple manifestation. |
Nguyên khí biến đổi này chi phối mọi bộ môn trong định luật tương ứng, và có thể nêu ra một số điều liên quan đến hệ và các thành phần cấu tạo của nó, những điều sẽ được thấy là soi sáng nếu chúng ta nhớ rằng chúng là các sự kiện ở hiện tại. Hãy để tôi lại minh hoạ: chúng ta đã được bảo rằng ba cung chính yếu là vào lúc này cung một, cung hai, và cung bảy. Nhưng về sau, các cung hiện nay là chính yếu có thể trở thành thứ yếu, và các cung khác thay thế vị trí của chúng, mặc dù đối với hệ mặt trời này, cung hai, vì là cung tổng hợp, sẽ luôn luôn là một cung chính yếu. Có lẽ ở đây chúng ta có thể nhận được một gợi ý về nguyên khí vĩ đại này, dù chúng ta phải cẩn thận không rút nó ra thành một kết luận quá tinh vi. Đối với hệ này, các cung chính yếu sẽ luôn luôn là các cung nhị nguyên—các cung âm-dương, các cung nam-nữ—vì đây là hệ nhị nguyên. Các cung chính yếu của hệ thứ ba sẽ là những cung trong biểu hiện tam phân. |
|
The following table may be found of interest, if regarded as relative, and as holding information for the present time, but also as being subject to change and circulation: |
Bảng sau đây có thể được thấy là đáng quan tâm, nếu được xem là tương đối, và như chứa đựng thông tin cho thời điểm hiện tại, nhưng cũng là điều có thể thay đổi và luân chuyển: |
|
7 Rays |
Major 1-2-7 |
Four subsidiary converging on the fifth. |
|
7 Principles |
3 Major |
Monad, Ego and Personality, synthesising at various stages the four subsidiary. |
|
7 Chains |
Major 1-4-7 |
|
|
7 Planes |
Major 2-5-7 |
|
|
7 Manvantaras |
Major 3-4-7 |
|
|
7 Rounds |
Major 4-5-7 |
|
|
7 Root races |
Major 3-5-7 |
|
|
7 Sub races |
Major 1-5-6 |
|
|
7 Initiations |
Major 1 4 5 |
if viewed from the angle of human attainment, and 1-5-7 if viewed from a higher. |
|
[Page 601] |
|
II. THOUGHT ELEMENTALS AND DEVAS. |
II. HÀNH KHÍ TƯ TƯỞNG VÀ THIÊN THẦN. |
1. THE RULER OF FIRE—AGNI. |
1. CHÚA TỂ CỦA LỬA—AGNI. |
|
a. Agni and the Solar Logos. |
a. Agni và Thái dương Thượng đế. |
|
Thus far in this treatise we have considered the first section of the book which has dealt somewhat with the internal fires of the system, both macrocosmic and microcosmic. In this the second section we are dealing with the fire of mind. This section, together with the nine introductory questions, constitutes the main part of the treatise. In it we have dealt with the nature and function of mind and with the egoic ray. We have dealt also, somewhat, with the form side of thought, with its material manifestation and with its substance. |
Cho đến nay trong bộ luận này chúng ta đã xem xét phần thứ nhất của quyển sách, phần đã bàn phần nào về các nội hỏa của hệ, cả đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa. Trong phần thứ hai này chúng ta đang bàn đến lửa của trí tuệ. Phần này, cùng với chín câu hỏi nhập đề, cấu thành phần chính của bộ luận. Trong đó chúng ta đã bàn đến bản chất và chức năng của trí tuệ và đến cung chân ngã. Chúng ta cũng đã bàn, phần nào, đến phương diện hình tướng của tư tưởng, đến biểu hiện vật chất của nó và đến chất liệu của nó. |
|
We proceed now to take up the consideration of the Ruler of Fire, AGNI, and are brought to the study of the vitality that energises and the Life that animates; to the contemplation of the Fire that drives, propels, and produces the activity and organisation of all forms. The realisation of this will reveal the fact that what we are dealing with is the “Life and the lives,” (186, 187) as it is called [Page 602] in the Secret Doctrine; with Agni, the Lord of Fire, the Creator, the Preserver, and the Destroyer; and with the forty-nine fires through which He manifests. We are dealing with solar fire per se, with the essence of thought, with the coherent life of all forms, with the consciousness in its evolving aspect, or with Agni, the sumtotal of the Gods. He is Vishnu and the Sun in His glory; He is the fire of matter and the fire of mind blended and fused; He is the intelligence which throbs in every atom; He is the Mind that actuates the system; He is the fire of substance and the substance of the fire; He is the Flame and that which the Flame destroys. |
Giờ đây chúng ta tiếp tục xem xét Chúa Tể của Lửa, AGNI, và được đưa đến việc nghiên cứu sinh lực tiếp sinh lực và Sự sống làm sinh động; đến sự chiêm ngưỡng Lửa thúc đẩy, đẩy tới, và tạo ra hoạt động cùng tổ chức của mọi hình tướng. Sự chứng nghiệm điều này sẽ tiết lộ sự kiện rằng điều chúng ta đang bàn đến là “Sự sống và các sự sống,” (186, 187) như được gọi [Page 602] trong Giáo Lý Bí Nhiệm; với Agni, Chúa Tể của Lửa, Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn, và Đấng Hủy Diệt; và với bốn mươi chín ngọn lửa qua đó Ngài biểu lộ. Chúng ta đang bàn đến chính lửa thái dương, đến tinh chất của tư tưởng, đến sự sống cố kết của mọi hình tướng, đến tâm thức trong phương diện tiến hoá của nó, hay đến Agni, tổng thể của các Thượng đế. Ngài là Vishnu và Mặt Trời trong vinh quang của Ngài; Ngài là lửa của vật chất và lửa của trí tuệ được hoà trộn và dung hợp; Ngài là trí tuệ rung động trong mọi nguyên tử; Ngài là Trí thúc đẩy hệ; Ngài là lửa của chất liệu và chất liệu của lửa; Ngài là Ngọn Lửa và là điều mà Ngọn Lửa hủy diệt. |
|
(186) The Life and the Lives. H. P. B. says in the Secret Doctrine. |
(186) Sự sống và các sự sống. H. P. B. nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm. |
|
“Occultism does not accept anything inorganic in the Kosmos. The expression employed by Science ‘inorganic substance’ means simply that the latent life, slumbering in the molecules of so-called ‘inert matter’ is incognisable. All is Life, and every atom of even mineral dust is a Life, though beyond our comprehension and perception….Life therefore is everywhere in the Universe…wherever there is an atom of matter, a particle or a molecule, even in its most gaseous condition, there is life in it however latent and unconscious.”—S. D., I, 269, 281, 282.` (back) |
“Huyền bí học không chấp nhận bất cứ điều gì là vô cơ trong Vũ trụ. Cách diễn đạt mà Khoa Học dùng là ‘chất liệu vô cơ’ chỉ đơn giản có nghĩa rằng sự sống tiềm ẩn, đang ngủ trong các phân tử của cái gọi là ‘vật chất trơ’, là điều không thể nhận biết. Tất cả đều là Sự sống, và mỗi nguyên tử ngay cả của bụi khoáng vật cũng là một sự sống, dù vượt ngoài sự thấu hiểu và tri giác của chúng ta….Vì vậy Sự sống ở khắp nơi trong Vũ trụ…ở bất cứ nơi nào có một nguyên tử vật chất, một hạt hay một phân tử, ngay cả trong trạng thái khí thể nhất của nó, đều có sự sống trong đó dù tiềm ẩn và vô thức đến đâu.”—S. D., I, 269, 281, 282.` (back) |
|
Students of the Secret Doctrine when they read carelessly are apt to consider Him only as the fire of matter and omit to note that He is Himself the sumtotal—and this is especially the case when they find that Agni is the Lord of the mental plane. (188) He is the animating life of the solar system, and that life is the life of [Page 603] God, the energy of the Logos, and the manifestation of the radiance which veils the Central Sun. Only as He is recognised as Fohat, the energy of matter, as Wisdom, the nature of the Ego and its motivation, and as essential unity, can any due conception be arrived at as to His nature or being. He is not the solar Logos on the cosmic mental plane, for the egoic consciousness of the Logos is more than His physical manifestation, but Agni is the sumtotal of that portion of the logoic Ego which is reflected down into His physical vehicle; He is the life of the logoic Personality, with all that is included in that expression. He is to the solar Logos on His own plane what the coherent personality of a human being is to his Ego in the causal body. This is a very important point to be grasped, and if meditated upon will bring to the student much enlightenment. His is the life that fuses and blends the threefold nature of the Logos when in physical incarnation; His is the coherent force that makes a unity of the triple logoic Personality, but man can only arrive at His essential nature by the study of the logoic physical vehicle—hence the difficulty; he can only understand by a consideration of His psychic emanation as it can be sensed and viewed by passing the history of the races in retrospect. Man’s personality reveals his nature as his life progresses; his psychic quality unfolds as the years slip away, and when he passes out of incarnation he is spoken of in terms of quality, good or bad, selfish or unselfish; the effect of his “emanation” during life is that which remains in men’s minds. Thus only can the logoic personality express itself, and our knowledge of His nature is consequently limited by our close perspective, and handicapped by the fact that we are participants in His life, and integral parts of His manifestation. |
Các đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm khi đọc một cách cẩu thả thường có khuynh hướng chỉ xem Ngài như lửa của vật chất và không lưu ý rằng chính Ngài là tổng thể—và điều này đặc biệt đúng khi họ thấy rằng Agni là Chúa Tể của cõi trí. (188) Ngài là sự sống làm sinh động của hệ mặt trời, và sự sống đó là sự sống của [Page 603] Thượng đế, năng lượng của Thượng đế, và biểu hiện của sự rạng ngời che phủ Mặt Trời Trung Tâm. Chỉ khi Ngài được nhận biết như Fohat, năng lượng của vật chất, như minh triết, bản chất của chân ngã và động lực của nó, và như sự hợp nhất cốt yếu, thì mới có thể đạt được một quan niệm đúng đắn nào đó về bản chất hay hữu thể của Ngài. Ngài không phải là Thái dương Thượng đế trên cõi trí vũ trụ, vì tâm thức chân ngã của Thượng đế còn hơn cả biểu hiện hồng trần của Ngài, nhưng Agni là tổng thể của phần chân ngã logoic được phản chiếu xuống vận cụ hồng trần của Ngài; Ngài là sự sống của phàm ngã logoic, với tất cả những gì bao hàm trong cách diễn đạt đó. Đối với Thái dương Thượng đế trên cõi riêng của Ngài, Ngài cũng như phàm ngã cố kết của một con người đối với chân ngã của y trong thể nguyên nhân. Đây là một điểm rất quan trọng cần nắm bắt, và nếu được tham thiền về nó sẽ đem lại cho đạo sinh nhiều sự soi sáng. Sự sống của Ngài là sự sống dung hợp và hoà trộn bản chất tam phân của Thượng đế khi đang lâm phàm hồng trần; mãnh lực cố kết của Ngài là điều tạo nên sự hợp nhất của phàm ngã logoic tam phân, nhưng con người chỉ có thể đạt đến bản chất cốt yếu của Ngài bằng việc nghiên cứu vận cụ hồng trần logoic—do đó mới có khó khăn; y chỉ có thể thấu hiểu bằng cách xem xét sự phát xạ thông linh của Ngài như có thể được cảm nhận và quan sát bằng cách nhìn lại lịch sử các nhân loại. Phàm ngã của con người tiết lộ bản chất của y khi đời sống của y tiến triển; phẩm tính thông linh của y khai mở khi năm tháng trôi qua, và khi y rời khỏi lâm phàm, người ta nói về y theo phẩm tính, tốt hay xấu, ích kỷ hay vị tha; hiệu quả của “sự phát xạ” của y trong đời sống là điều còn lại trong tâm trí con người. Chỉ bằng cách đó phàm ngã logoic mới có thể biểu lộ chính nó, và vì thế tri thức của chúng ta về bản chất của Ngài bị giới hạn bởi góc nhìn quá gần của chúng ta, và bị cản trở bởi sự kiện rằng chúng ta là những người tham dự vào đời sống của Ngài, và là những phần toàn vẹn trong biểu hiện của Ngài. |
|
(188) “…Agni, Đấng là nguồn gốc của mọi điều ban ánh sáng và nhiệt. Vì vậy có nhiều loại Agni (lửa) khác nhau; nhưng ‘dù có bất kỳ loại lửa nào khác, chúng chỉ là những phân nhánh của Agni, Đấng bất tử’ (Rig Veda, L, 59 I). Sự phân chia sơ khởi của Agni là tam phân. ‘Agni,’ Vishnu Parana nói, ‘có ba con trai, Suchi, Pavamana, và Pavaka’ (I, x). Suchi có nghĩa là Saura, hay lửa Thái dương; Pavamana có nghĩa là Nirmathana, lửa được tạo ra bởi ma sát, như ma sát của hai mảnh gỗ; và Pavaka có nghĩa là vaidyuta hay lửa của bầu trời, tức lửa của sấm chớp, hay Lửa Điện. |
|
|
The sources of these three fires I may observe in passing, constitute the three principal deities spoken of in the Veda, namely, Surya, the sun, representing the solar fire; Indra (and sometimes, Vayu) the rain-producing deity, representing the fire of the firmament; and Agni, representing the terrestrial fire, the fire produced by friction (Nirukta, VII, 4); and all these three, be it remembered, are merely the ramifications of one Agni; which in its turn is an emanation from the Supreme One, as the reader will find from the allegorical description given of Agni as being the mouth-born son of Brahma, in the Vishnu purana. |
Nhân tiện tôi có thể nhận xét rằng nguồn gốc của ba loại lửa này cấu thành ba thần tính chính được nói đến trong Veda, tức là Surya, mặt trời, tượng trưng cho lửa thái dương; Indra (và đôi khi là Vayu), thần tạo mưa, tượng trưng cho lửa của bầu trời; và Agni, tượng trưng cho lửa trần thế, lửa được tạo ra bởi ma sát (Nirukta, VII, 4); và xin nhớ rằng cả ba vị này chỉ là những phân nhánh của một Agni; mà đến lượt mình, Agni là một phát xạ từ Đấng Tối Cao, như độc giả sẽ thấy từ mô tả ngụ ngôn về Agni như người con sinh từ miệng của Brahma, trong Vishnu purana. |
|
Now, each of the triple forms of Agni has numerous subdivisions. The solar fire is distinguished by several divisions according to the nature of the rays emitted by the great luminary.”—The Theosophist, Vol VII, p. 196. (back) |
Giờ đây, mỗi hình thức tam phân của Agni đều có nhiều phân bộ. Lửa thái dương được phân biệt thành nhiều loại theo bản chất của các tia phát ra từ thiên thể lớn.”—The Theosophist, Tập VII, tr. 196. (back) |
|
It is only as we begin to function upon the buddhic plane that we can in any way “live in the subjective” [Page 604] side of nature, and it is only as our knowledge of the spiritual life increases, and as we pass definitely through the portal of initiation into the fifth kingdom that we can appreciate the distinction between the dense physical, and the vital body. Only as we become polarised in the cosmic etheric body and are no longer held prisoner by a dense material sheath (for the three lower planes are but the dense body of the Logos) do we come to a fuller understanding of the psychic nature of the Logos, for we stand then in the body which bridges the gulf between the dense physical, and the astral body of the Logos. Only when this is the case do we understand the function of the Lord Agni as the vital life of the cosmic etheric, as the vitality of the Heavenly Men and the activity of Their sheaths. |
Chỉ khi chúng ta bắt đầu hoạt động trên cõi Bồ đề thì chúng ta mới có thể theo bất kỳ cách nào “sống trong phương diện chủ quan” [Page 604] của bản chất, và chỉ khi tri thức của chúng ta về đời sống tinh thần gia tăng, và khi chúng ta dứt khoát đi qua cánh cổng điểm đạo vào giới thứ năm thì chúng ta mới có thể đánh giá được sự phân biệt giữa thể xác đậm đặc và thể sinh lực. Chỉ khi chúng ta trở nên phân cực trong thể dĩ thái vũ trụ và không còn bị giam giữ bởi một vỏ bọc vật chất đậm đặc nữa (vì ba cõi thấp chỉ là thể đậm đặc của Thượng đế) thì chúng ta mới đi đến một sự thấu hiểu đầy đủ hơn về bản chất thông linh của Thượng đế, vì khi ấy chúng ta đứng trong thể bắt cầu qua vực ngăn cách giữa thể xác đậm đặc và thể cảm dục của Thượng đế. Chỉ khi điều này xảy ra chúng ta mới hiểu được chức năng của Chúa Agni như sự sống sinh lực của dĩ thái vũ trụ, như sinh lực của các Đấng Thiên Nhân và hoạt động của các vỏ bọc của Các Ngài. |
|
b. Agni and the Mental Plane. |
b. Agni và cõi trí. |
|
I seek to deal with a very important point here, emphasising the close connection between Agni, the sumtotal of the life force of the logoic threefold personality, as He is seen at work on the mental plane (which closely concerns man), and that manifesting driving force or intelligent will which emanates from the cosmic mental plane. There is a very interesting series of correspondences to be worked out here and we might briefly indicate the lines to be followed in this connection by the ensuing tabulation: |
Ở đây tôi muốn bàn đến một điểm rất quan trọng, nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa Agni, tổng thể của sinh lực của phàm ngã logoic tam phân, như Ngài được thấy đang hoạt động trên cõi trí (điều liên hệ mật thiết với con người), và mãnh lực thúc đẩy biểu lộ hay ý chí thông tuệ phát ra từ cõi trí vũ trụ. Ở đây có một chuỗi tương ứng rất thú vị cần được triển khai và chúng ta có thể ngắn gọn chỉ ra các đường hướng cần theo trong mối liên hệ này bằng bảng sau: |
|
The 5th cosmic plane |
The cosmic mental. |
|
The 5th systemic plane |
The mental plane. |
|
The 5th subplane of the physical |
The gaseous. |
|
The 5th principle |
Manas. |
|
The 5th Law |
Fixation, the Law of Concretion. |
|
The 5th Ray |
Concrete knowledge. |
|
The 5th round |
The round of manasic attainment. |
|
The 5th root-race |
The Aryan. Mental development. |
|
The 5th sub-race |
The Teutonic and Anglo-Saxon. Concrete mind. |
|
The 5th group of Devas |
Fire Devas of the mental plane. |
|
The 5th Manvantara |
Three-fifths of the manasaputras achieve. |
|
The 5th scheme |
The Lord of concrete science. |
|
The 5th Mahamanvantara (or solar system) |
The solar Logos achieves His fifth major Initiation. |
|
The 5th chain |
Principal evolution—fire devas. |
|
The 5th Hierarchy |
The greater Builders. |
|
Vibrations of fifth order |
Manasic. |
|
[Page 605] It will, therefore, be apparent that when the system is viewed in reverse order and the physical plane is counted as the first (as it often is when considering it as the field of strictly human evolution), that the third plane—the mental plane—comes under the same group of correspondences and Agni, as the energising factor of the dense physical body of the Logos, or as the fire of His most concrete manifestation, vitalising, warming and holding all together, has to be considered. |
[Page 605] Do đó, sẽ rõ ràng rằng khi hệ được nhìn theo thứ tự đảo ngược và cõi hồng trần được tính là cõi thứ nhất (như thường được làm khi xem nó là trường tiến hoá thuần túy của con người), thì cõi thứ ba—cõi trí—thuộc cùng một nhóm tương ứng và Agni, như yếu tố tiếp sinh lực cho thể xác đậm đặc của Thượng đế, hay như lửa của biểu hiện cụ thể nhất của Ngài, tiếp sinh lực, sưởi ấm và giữ mọi sự lại với nhau, phải được xem xét. |
|
Three hierarchies are, in this mahamanvantara, of profound significance, the fourth or human Creative Hierarchy, and the two deva hierarchies, the fifth and sixth. |
Ba Huyền Giai, trong đại giai kỳ sinh hóa này, có ý nghĩa sâu xa, Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư hay nhân loại, và hai Huyền Giai thiên thần, thứ năm và thứ sáu. |
|
The fourth Hierarchy in the larger scheme is literally the ninth, for five hierarchies have earlier passed on and are considered as pure abstractions. In this system concretion concerns us, and the blending of form and of energy into one coherent whole. In the ninth, tenth and eleventh Hierarchies lie the clue to the nature of Agni, the Lord of fire, the sumtotal of systemic vitality. He who understands the significance of these figures, and their relation to each other as the triple division of a Unity in time and space will have discovered [Page 606] one of the keys which will unlock a door hitherto fast closed. They are the numbers of achievement, of potentiality brought into full activity and of innate capacity demonstrating in perfect fruition. All potentiality lies in the vitalising, energising power of Agni, and in His ability to stimulate. He is life itself, and the driving force of evolution, of psychic development and of consciousness. This fact is hidden in these figures, and not the evolution of substance, which is but a result, emanating from psychic causes. These three numbers are the basis of the cyclic calculations which concern the egoic cycles, and the cycles of Vishnu, as distinguished from the cycles dealing with the third aspect. Occult students have not sufficiently grasped the fact that objectivity is an inevitable result of an inner conscious subjective life. When this is better apprehended, bodies on the physical plane, for instance, will be purified, developed and beautified through a scientific attention paid to the development of the psyche, to the unfoldment of the Ego, and to the stimulation of the egoic vibration. The cause will be dealt with and not the effect, and hence the growing appreciation by the human family of the study of psychology, even though as yet they are but studying the kama-manasic body, and have not reached back to the egoic consciousness. The lunar Lords have had their day; now Agni, as the solar Lord of life and energy, will assume due importance in human life. |
Huyền Giai thứ tư trong hệ lớn hơn theo nghĩa đen là thứ chín, vì năm Huyền Giai đã đi qua trước đó và được xem là những trừu tượng thuần túy. Trong hệ này, sự kết tinh cụ thể là điều liên quan đến chúng ta, và sự hoà trộn hình tướng với năng lượng thành một toàn thể cố kết. Trong Huyền Giai thứ chín, thứ mười và thứ mười một có manh mối về bản chất của Agni, Chúa Tể của lửa, tổng thể của sinh lực hệ thống. Ai hiểu được ý nghĩa của các con số này, và mối liên hệ của chúng với nhau như sự phân chia tam phân của một Hợp Nhất trong thời gian và không gian sẽ khám phá ra [Page 606] một trong những chìa khóa sẽ mở một cánh cửa từ trước đến nay vẫn đóng chặt. Chúng là những con số của thành tựu, của tiềm năng được đưa vào hoạt động trọn vẹn và của năng lực bẩm sinh biểu lộ trong sự viên mãn hoàn hảo. Mọi tiềm năng đều nằm trong quyền năng tiếp sinh lực và tiếp năng lượng của Agni, và trong khả năng kích thích của Ngài. Ngài là chính sự sống, và là mãnh lực thúc đẩy của tiến hoá, của sự phát triển thông linh và của tâm thức. Sự kiện này được ẩn giấu trong các con số này, chứ không phải sự tiến hoá của chất liệu, vốn chỉ là một kết quả, phát ra từ các nguyên nhân thông linh. Ba con số này là nền tảng của các tính toán chu kỳ liên quan đến các chu kỳ chân ngã, và các chu kỳ của Vishnu, phân biệt với các chu kỳ liên quan đến phương diện thứ ba. Các đạo sinh huyền bí học chưa nắm đủ sự kiện rằng tính khách quan là kết quả tất yếu của một đời sống chủ quan hữu thức bên trong. Khi điều này được lĩnh hội tốt hơn, chẳng hạn các thể trên cõi hồng trần sẽ được thanh lọc, phát triển và làm đẹp thông qua sự chú ý có tính khoa học dành cho sự phát triển của psyche, cho sự khai mở của chân ngã, và cho sự kích thích rung động chân ngã. Nguyên nhân sẽ được đề cập đến chứ không phải kết quả, và do đó gia đình nhân loại ngày càng đánh giá cao việc nghiên cứu tâm lý học, dù hiện nay họ mới chỉ nghiên cứu thể trí cảm, và chưa vươn ngược lên đến tâm thức chân ngã. Các thái âm tổ phụ đã có thời của họ; giờ đây Agni, như nhật tinh quân của sự sống và năng lượng, sẽ đảm nhận tầm quan trọng thích đáng trong đời sống con người. |
|
c. Agni and the Three Fires. |
c. Agni và Ba Lửa. |
|
In studying the manifestation of Agni in the solar system it should be remembered that we are considering here His essential nature as actuating fire. We have seen that He is the threefold logoic personality, but He is the threefold Logos in a subjective sense, and the form aspect is only subsidiary. Perhaps a tabulation may make this point clearer.[Page 607] |
Khi nghiên cứu biểu hiện của Agni trong hệ mặt trời, cần nhớ rằng ở đây chúng ta đang xem xét bản chất cốt yếu của Ngài như lửa thúc đẩy. Chúng ta đã thấy rằng Ngài là phàm ngã logoic tam phân, nhưng Ngài là Logos tam phân theo nghĩa chủ quan, và phương diện hình tướng chỉ là thứ yếu. Có lẽ một bảng biểu sẽ làm điểm này rõ hơn.[Page 607] |
|
TABULATION V |
BẢNG V |
|
AGNI—LORD OF FIRE |
AGNI—CHÚA TỂ CỦA LỬA |
|
Aspect |
Fire |
Result |
Subjective Manifestation |
Origin of Energy |
Objective Manifestation |
|
First, Will |
Electric Fire |
Activity of Spirit |
The One Life. Unity. Spiritual. Dynamic. Coherence. Synthesis. |
Central Spiritual Sun |
The solar system (etheric and dense) |
|
Second, Love-Wisdom |
Solar Fire |
Activity of Consciousness. Egoism. Vitality. Magnetism. |
The seven Heavenly Men. The seven Rays The seven types of Mind. |
The Heart of the Sun |
The seven Rays.manifesting through the seven planetary schemes |
|
Third, Activity |
Fire by Friction |
Activity in Matter. Atomic vitality. Energy. |
The seven fires. The akasha. |
The physical Sun |
The seven planes |
|
[Page 608] Each of these three aspects of the One Fire, showing as the Creative Fire, Preserving Fire, and Destroying Fire, must be studied as electrical phenomena, and this under the aspects of light, flame, and heat, of electricity, radiance and motion, of will, desire and action. Only thus will the true nature of Agni be apprehended. As the logoic personality He is demonstrating through a triplicity of sheaths forming a unity, and only thus will it become apparent why at this stage in evolution the material aspect is the most considered. |
[Page 608] Mỗi một trong ba phương diện này của Một Lửa, biểu lộ như Lửa Sáng Tạo, Lửa Bảo Tồn, và Lửa Hủy Diệt, phải được nghiên cứu như các hiện tượng điện, và điều này dưới các phương diện ánh sáng, ngọn lửa, và nhiệt; của điện, sự rạng ngời và chuyển động; của ý chí, dục vọng và hành động. Chỉ như thế bản chất chân thực của Agni mới được lĩnh hội. Là phàm ngã logoic, Ngài đang biểu lộ qua một bộ ba vỏ bọc tạo thành một hợp nhất, và chỉ như thế mới trở nên rõ ràng vì sao ở giai đoạn tiến hoá này phương diện vật chất lại được xem xét nhiều nhất. |
|
The entire system is the physical sheath of the Logos and consequently the most easily cognised, for the Logos is as yet centred in His cosmic sheaths and can only reveal Himself through their medium. |
Toàn bộ hệ là vỏ bọc hồng trần của Thượng đế và do đó là điều dễ nhận biết nhất, vì Thượng đế hiện vẫn còn tập trung trong các vỏ bọc vũ trụ của Ngài và chỉ có thể tự biểu lộ qua trung gian của chúng. |
|
Man’s just apprehension of this mystery of electricity will only come about as he studies himself, and knows himself to be a triple fire, manifesting in many aspects. |
Sự lĩnh hội đúng đắn của con người về huyền nhiệm điện này sẽ chỉ đến khi y nghiên cứu chính mình, và biết mình là một lửa tam phân, biểu lộ trong nhiều phương diện. |
|
MAN, A FIRE |
CON NGƯỜI, MỘT NGỌN LỬA |
|
Monadic fire |
Electric fire |
Spirit Will |
The Central Spiritual Sun. |
|
Egoic fire |
Solar fire |
Consciousness Love-Wisdom |
The Heart of the Sun. |
|
Personality fire |
Fire by friction |
Physical man |
Physical Sun. |
|
Each of these fires can also be studied in a threefold manner and under three aspects. |
Mỗi ngọn lửa này cũng có thể được nghiên cứu theo cách tam phân và dưới ba phương diện. |
|
THE MONAD |
CHÂN THẦN |
|
Will aspect |
Electric fire |
Flame |
Spiritual Will. |
|
Love-wisdom |
Solar fire |
Light |
Spiritual Love. |
|
Active Intelligence |
Fire by friction |
Heat |
Spiritual Intelligence. |
|
[Page 609] |
|
|
THE EGO |
CHÂN NGÃ |
|
Will |
Atma |
Electric fire |
The spark The Jewel in the Lotus |
Conscious Will. |
|
Love-Wisdom |
Buddhi |
Solar fire |
The rays The twelve-petalled lotus. |
Conscious Love. |
|
Active Intelligence |
Manas |
Fire by friction |
Substance The permanent atoms. |
Conscious Activity |
|
THE PERSONALITY |
PHÀM NGÃ |
|
Will |
Mental body |
Electric fire |
Lower mind |
Thought |
|
Love |
Astral body |
Solar fire |
Kama |
Desire |
|
Activity |
Physical body |
Fire by friction |
Prana |
Activity |
|
I seek to emphasise here the fact that in this threefold manifestation there is a ninefold unfoldment. It should ever be borne in mind that seven is the number which governs the evolution of substance and of form building in the solar system, but that nine is the number governing the development of the consciousness within that form of the psyche. This is seen in the sevenfold display of logoic life through the planetary scheme, and the ninefold nature of egoic unfoldment. |
Ở đây tôi muốn nhấn mạnh sự kiện rằng trong biểu hiện tam phân này có một sự khai mở cửu phân. Cần luôn ghi nhớ rằng bảy là con số chi phối sự tiến hoá của chất liệu và của việc kiến tạo hình tướng trong hệ mặt trời, nhưng chín là con số chi phối sự phát triển của tâm thức bên trong hình tướng đó của psyche. Điều này được thấy trong sự biểu lộ thất phân của đời sống logoic qua hệ hành tinh, và bản chất cửu phân của sự khai mở chân ngã. |
|
If the student here substitutes for the words, Monad, Ego and personality, the three aspects of the Logos, and will bear in mind that as yet all that he can ascertain or cognise is the lowest of the logoic manifestations—the personality—it will be apparent why so much must remain mysterious to even the higher grades of initiates, and why even the perfected Dhyan Chohan cannot penetrate the secrets of the Logos outside His system. (189) They [Page 610] can cognise much concerning Agni, the Lord of Fire, but until They can contact that of which He is an emanation, a reflection or a ray, there is a limit to what may be known.. |
Nếu ở đây đạo sinh thay thế các từ chân thần, chân ngã và phàm ngã bằng ba phương diện của Thượng đế, và ghi nhớ rằng hiện nay tất cả những gì y có thể xác định hay nhận biết chỉ là phương diện thấp nhất của các biểu hiện logoic—phàm ngã—thì sẽ rõ vì sao quá nhiều điều vẫn phải còn huyền nhiệm ngay cả đối với các cấp điểm đạo đồ cao hơn, và vì sao ngay cả Dhyan Chohan hoàn hảo cũng không thể xuyên thấu các bí mật của Thượng đế bên ngoài hệ của Ngài. (189) Các Ngài [Page 610] có thể nhận biết nhiều điều về Agni, Chúa Tể của Lửa, nhưng cho đến khi Các Ngài có thể tiếp xúc với điều mà Ngài là một phát xạ, một phản chiếu hay một tia của nó, thì vẫn có một giới hạn đối với điều có thể được biết. |
|
(189) H. P. B. in the Secret Doctrine refers to “…the solution of the riddle…before which even the highest Dhyan Chohan must bow in silence and ignorance—the Unspeakable Mystery of that which is called by the Vedantins, Parabrahman.”—S. D., I, 352. (back) |
(189) H. P. B. trong Giáo Lý Bí Nhiệm nhắc đến “…lời giải của câu đố…trước đó ngay cả Dhyan Chohan cao nhất cũng phải cúi đầu trong im lặng và vô minh—Huyền Nhiệm Bất Khả Ngôn Thuyết của điều mà các nhà Vedanta gọi là Parabrahman.”—S. D., I, 352. (back) |
|
Agni is Fohat, the threefold Energy (emanating from the logoic Ego) which produces the solar system, the physical vehicle of the Logos, and animates the atoms of substance. He is the basis of the evolutionary process, or the cause of the psychic unfoldment of the Logos, and He is that vitality which ultimately brings about a divine synthesis in which the form approximates subjective demand, and after being consciously directed, and manipulated, is finally discarded. This is the goal for the Logos as it is for man; this marks the final liberation of a human being, of a Heavenly Man and of a solar Logos. |
Agni là Fohat, Năng Lượng tam phân (phát ra từ chân ngã logoic) tạo ra hệ mặt trời, vận cụ hồng trần của Thượng đế, và làm sinh động các nguyên tử của chất liệu. Ngài là nền tảng của tiến trình tiến hoá, hay nguyên nhân của sự khai mở thông linh của Thượng đế, và Ngài là sinh lực cuối cùng đem lại một sự tổng hợp thiêng liêng trong đó hình tướng xích lại gần đòi hỏi chủ quan, và sau khi được chỉ đạo và vận dụng một cách hữu thức, cuối cùng bị loại bỏ. Đây là mục tiêu đối với Thượng đế cũng như đối với con người; điều này đánh dấu sự giải thoát cuối cùng của một con người, của một Đấng Thiên Nhân và của một Thái dương Thượng đế. |
|
We could divide the process into three periods: |
Chúng ta có thể chia tiến trình thành ba thời kỳ: |
|
First. The period wherein the fire of matter (the heat of mother) hides, nourishes and brings to birth the infant Ego. This is the period of purely personality life, when the third aspect dominates, and man is in the veil of illusion. |
Thứ nhất. Thời kỳ trong đó lửa của vật chất (nhiệt của mẹ) che giấu, nuôi dưỡng và sinh ra chân ngã sơ sinh. Đây là thời kỳ của đời sống thuần túy phàm ngã, khi phương diện thứ ba chi phối, và con người ở trong màn ảo tưởng. |
|
Second. The period wherein the Ego, or subjective life within the form, passes through certain stages of unfoldment, and comes to an ever fuller consciousness. This is the period of egoic development, and is produced by the gradual merging and blending of the two fires. It is the life of service and of the Path. |
Thứ hai. Thời kỳ trong đó chân ngã, hay sự sống chủ quan bên trong hình tướng, đi qua một số giai đoạn khai mở, và đi đến một tâm thức ngày càng đầy đủ hơn. Đây là thời kỳ phát triển chân ngã, và được tạo ra bởi sự hợp nhất và hoà trộn dần dần của hai ngọn lửa. Đây là đời sống phụng sự và của Con Đường. |
|
Thứ ba. Thời kỳ trong đó chính tâm thức chân ngã bị vượt qua bởi sự chứng nghiệm tinh thần, và lửa của tinh thần hoà trộn với hai ngọn lửa kia. |
|
|
At first the personality acts the part of mother, or of material aspect, to the germ of the inner life. Then [Page 611] the Ego manifests its life within the personal life, and produces a shining forth which “groweth ever more and more until the perfect day.” (Bible. Proverbs IV, 18.) At that perfect day of revelation it is seen what man in essence is, and the Spirit within is revealed. This can be studied from the Christian angle, and Paul was but voicing an occult truth when he enunciated the facts concerning the birth of the Christ within the heart, and the growth of the higher life at the expense of the lower. Thus also can it be taught along occult, and not mystic, lines in the recognition (by science) of the vitalisation of the permanent atoms (the force centres of the sheaths or substance), of the unfoldment of the egoic lotus, and the awakening of its petals, and in the final revelation of the jewel in the lotus. |
Thoạt đầu phàm ngã đóng vai người mẹ, hay phương diện vật chất, đối với mầm sống bên trong. Rồi [Page 611] chân ngã biểu lộ sự sống của nó bên trong đời sống cá nhân, và tạo ra một sự toả sáng “càng lúc càng tăng cho đến ngày trọn lành.” (Kinh Thánh. Châm Ngôn IV, 18.) Vào ngày trọn lành của sự mặc khải đó, người ta thấy con người trong bản chất cốt yếu là gì, và tinh thần bên trong được tiết lộ. Điều này có thể được nghiên cứu từ góc độ Cơ Đốc giáo, và Paul chỉ đang phát biểu một chân lý huyền bí khi ông nêu ra các sự kiện liên quan đến sự sinh ra của Đức Christ trong tim và sự tăng trưởng của đời sống cao hơn bằng cái giá của đời sống thấp hơn. Cũng vậy, điều này có thể được giảng dạy theo các đường lối huyền bí học, chứ không phải thần bí học, trong việc khoa học thừa nhận sự tiếp sinh lực cho các nguyên tử trường tồn (các trung tâm lực của các vỏ bọc hay chất liệu), sự khai mở của Hoa Sen Chân Ngã, và sự thức tỉnh của các cánh hoa của nó, và trong sự mặc khải cuối cùng của ngọc châu trong hoa sen. |
|
All that can be said of man can be predicated of the Logos on an inconceivably greater scale. As man discovers the laws of his own material sheaths—the laws of substance—he is ascertaining the nature of the fires of the outer man or Fohat, as he vitalises the logoic vehicle; the fires of his own sheaths are aspects of Agni as the fire of matter. As he ascertains the nature of consciousness, and the laws of psychical unfoldment he is studying the nature of the vitality of the subjective man, and the laws of conscious being, thus studying Agni as He manifests as Light and Cool Radiance, shining through the vehicle. Later (for the time is not yet) as he comes to comprehend the nature of his Monad, the spiritual or essential life which is developing consciousness by means of the sheaths, he will discover the nature of Agni as He shews forth as pure electricity. Even though this is not yet possible, nevertheless the statement as to the lines of investigation which can be pursued, and the realisation of that which may eventually [Page 612] be achieved, may cause men’s minds to turn to the study of the real and of the true. |
Tất cả những gì có thể nói về con người đều có thể được khẳng định về Thượng đế trên một quy mô lớn hơn không thể tưởng tượng nổi. Khi con người khám phá các định luật của các vỏ bọc vật chất của chính mình—các định luật của chất liệu—y đang xác định bản chất của các ngọn lửa của con người bên ngoài hay Fohat, khi y tiếp sinh lực cho vận cụ logoic; các ngọn lửa của chính các vỏ bọc của y là các phương diện của Agni như lửa của vật chất. Khi y xác định bản chất của tâm thức, và các định luật của sự khai mở thông linh, y đang nghiên cứu bản chất của sinh lực của con người chủ quan, và các định luật của hữu thể hữu thức, nhờ đó nghiên cứu Agni như Ngài biểu lộ như Ánh Sáng và Sự Rạng Ngời Mát Dịu, chiếu xuyên qua vận cụ. Về sau (vì thời điểm ấy chưa đến) khi y đi đến chỗ hiểu được bản chất của chân thần của mình, sự sống tinh thần hay cốt yếu đang phát triển tâm thức bằng phương tiện các vỏ bọc, y sẽ khám phá bản chất của Agni như Ngài biểu lộ như điện thuần túy. Dù cho điều này hiện chưa thể có, tuy nhiên việc nêu ra các đường hướng nghiên cứu có thể được theo đuổi, và sự chứng nghiệm về điều cuối cùng có thể [Page 612] đạt được, có thể khiến tâm trí con người hướng đến việc nghiên cứu cái thực và cái chân. |
2.The fire devas, the Greater Builders |
2. Các thiên thần lửa, các đấng đại kiến tạo |
|
I have divided the groups of devas and elementals into evolutionary and involutionary Builders—those who are in themselves positive force, and those which are negative force, the conscious and the blind workers. It is absolutely essential that students bear in mind here that we are studying the mystery of electricity and therefore must remember the following facts:— |
Tôi đã chia các nhóm thiên thần và hành khí thành các đấng kiến tạo thăng thượng tiến hoá và giáng hạ tiến hoá—những vị tự thân là mãnh lực dương, và những vị là mãnh lực âm, những người hoạt động hữu thức và những người hoạt động mù quáng. Điều tuyệt đối thiết yếu là các đạo sinh ở đây phải ghi nhớ rằng chúng ta đang nghiên cứu huyền nhiệm điện và do đó phải nhớ các sự kiện sau đây:— |
|
a. Introductory Remarks. |
a. Nhận xét nhập đề. |
|
The Mystery of Electricity. The greater Builders are the positive aspect of substance or of electrical phenomena whilst the lesser Builders are the negative aspect. |
Huyền nhiệm Điện. Các đấng đại kiến tạo là phương diện dương của chất liệu hay của các hiện tượng điện trong khi các vị tiểu kiến tạo là phương diện âm. |
|
Two types of force are represented in the activities of these two groups and it is their interaction and interplay which produces Light, or the manifested solar system. |
Hai loại mãnh lực được biểu hiện trong các hoạt động của hai nhóm này và chính sự tương tác cùng giao động qua lại của chúng tạo ra Ánh Sáng, hay hệ mặt trời biểu lộ. |
|
Their sumtotal is substance in its totality, the intelligent active form, built for the purpose of providing a habitation for a central subjective life. |
Tổng thể của chúng là chất liệu trong toàn bộ của nó, hình tướng thông tuệ hoạt động, được xây dựng nhằm cung cấp một nơi cư ngụ cho một sự sống chủ quan trung tâm. |
|
They are also the sumtotal of the Pitris, (191) or Fathers of mankind, viewing mankind as the race itself, the fourth kingdom in nature, the Heavenly Men in physical manifestation. This is a most important point to emphasise. These deva activities in relation to Self-Consciousness (which is the distinctive characteristic of humanity) can best be studied in the large, or through [Page 613] the consideration of groups, of races, and of the life of the scheme, the manifestation of one of the Heavenly Men. When the student brings his study of deva work down to the terms of his own individual life he is apt to become confused through too close a juxtaposition. |
Chúng cũng là tổng thể của các Pitris, (191) hay các Cha của nhân loại, nếu xem nhân loại như chính chủng tộc, giới thứ tư trong thiên nhiên, các Đấng Thiên Nhân trong biểu hiện hồng trần. Đây là một điểm cực kỳ quan trọng cần nhấn mạnh. Các hoạt động thiên thần này trong liên hệ với Ngã thức (vốn là đặc tính phân biệt của nhân loại) có thể được nghiên cứu tốt nhất trên quy mô lớn, hay qua [Page 613] việc xem xét các nhóm, các nhân loại, và đời sống của hệ hành tinh, biểu hiện của một trong các Đấng Thiên Nhân. Khi đạo sinh đưa việc nghiên cứu công việc thiên thần xuống các thuật ngữ của chính đời sống cá nhân của mình, y thường trở nên rối rắm vì sự đặt cạnh quá gần. |
|
(191) Các thái âm tổ phụ. |
|
|
“The great Chohans called the Lords of the Moon, of the airy bodies: “Bring forth Men,” they were told, “men of your nature. Give them their forms within. She (Mother Earth) will build coverings without (for external bodies). Males—females will they be. Lords of the Flame also….They went each on his allotted lands: Seven of them each on his lot. The Lords of the Flame remained behind. They would not go. They would not create.”—Stanza III, 12, 13, S. D., II, 79, 81. (back) |
“Các Chohan vĩ đại được gọi là Chúa Tể của Mặt Trăng, của các thể khí: ‘Hãy sinh ra Con Người,’ họ được bảo, ‘những con người theo bản chất của các ngươi. Hãy cho họ các hình tướng bên trong của họ. Bà (Mẹ Đất) sẽ xây các lớp bao bọc bên ngoài (cho các thể bên ngoài). Họ sẽ là nam—nữ. Các Chúa Tể của Ngọn Lửa cũng vậy….Mỗi vị đi đến vùng đất được phân cho mình: bảy vị, mỗi vị trên phần của mình. Các Chúa Tể của Ngọn Lửa ở lại phía sau. Họ không muốn đi. Họ không muốn sáng tạo.’—Bài kệ III, 12, 13, S. D., II, 79, 81. (back) |
|
(!92) The Lunar Pitris created the physical man.—S. D., I, 114, 197. |
(!92) Các thái âm tổ phụ đã tạo ra con người hồng trần.—S. D., I, 114, 197. |
|
They exist in three great classes. |
Các ngài tồn tại trong ba loại lớn. |
|
1. The most developed. They form, in Round one, the sumtotal of the three kingdoms, and achieve a human form.—S. D., I, 203. |
1. Loại phát triển nhất. Trong cuộc tuần hoàn một, các ngài tạo thành tổng thể của ba giới, và đạt được hình tướng con người.—S. D., I, 203. |
|
In Rounds two and three they are the sumtotal of that which will eventually be human. |
Trong các cuộc tuần hoàn hai và ba, các ngài là tổng thể của điều cuối cùng sẽ trở thành con người. |
|
In Round four at the beginning they form the etheric bodies of our Earth humanity. |
Trong cuộc tuần hoàn bốn lúc khởi đầu, các ngài tạo thành các thể dĩ thái của nhân loại Trái Đất chúng ta. |
|
2. Those whose bodies are taken by the Solar Angels.—S. D., I, 203. |
2. Những vị có các thể được các Thái dương Thiên Thần tiếp nhận.—S. D., I, 203. |
|
3. The sum total of the three kingdoms at present known. (back) |
3. Tổng thể của ba giới hiện nay đã được biết. (back) |
|
The greater Builders are the solar Pitris, whilst the lesser Builders are the lunar ancestors. I would here explain the occult meaning of the word “ancestor,” as used in esotericism. It means literally initiatory life impulse. It is that subjective activity which produces objectivity, and concerns those emanatory impulses which come from any positive centre of force, and which sweep the negative aspect into the line of that force, and thus produce a form of some kind. The word “ancestor” is used in connection with both aspects. |
Các đấng đại kiến tạo là các thái dương tổ phụ, trong khi các vị tiểu kiến tạo là các tổ tiên thái âm. Ở đây tôi muốn giải thích ý nghĩa huyền bí của từ “tổ tiên,” như được dùng trong huyền bí học. Nó có nghĩa đen là xung lực sự sống khởi phát. Đó là hoạt động chủ quan tạo ra tính khách quan, và liên quan đến những xung lực phát xạ đến từ bất kỳ trung tâm mãnh lực dương nào, và cuốn phương diện âm vào đường của mãnh lực đó, nhờ đó tạo ra một hình tướng nào đó. Từ “tổ tiên” được dùng liên hệ với cả hai phương diện. |
|
The solar Logos is the initiatory impulse or Father of the Son in His physical incarnation, a solar system. He is the sumtotal of the Pitris, in the process of providing form. The union of Father (positive force) and Mother (negative force) produces that central blaze which we call the form, the body of manifestation of the Son. A Heavenly Man holds an analogous position in relation to a planetary scheme. He is the central germ of positive life or force, which, in due course of time, demonstrates as a planetary scheme, or an incarnation of the planetary Logos. A man similarly is the positive life or energy which, through action on negative force, creates bodies of manifestation through which he can shine or radiate. (192) (193) (194) |
Thái dương Thượng đế là xung lực khởi phát hay Cha của Con trong lần lâm phàm hồng trần của Ngài, một hệ mặt trời. Ngài là tổng thể của các Pitris, trong tiến trình cung cấp hình tướng. Sự kết hợp của Cha (mãnh lực dương) và Mẹ (mãnh lực âm) tạo ra ngọn lửa trung tâm mà chúng ta gọi là hình tướng, thể biểu lộ của Con. Một Đấng Thiên Nhân giữ một vị trí tương tự trong liên hệ với một hệ hành tinh. Ngài là mầm trung tâm của sự sống hay mãnh lực dương, điều theo tiến trình thời gian thích hợp biểu lộ thành một hệ hành tinh, hay một lần lâm phàm của Hành Tinh Thượng đế. Một con người cũng tương tự là sự sống hay năng lượng dương, qua tác động lên mãnh lực âm, tạo ra các thể biểu lộ qua đó y có thể chiếu sáng hay phát xạ. (192) (193) (194) |
|
(193) Trái Đất cho con người thể của y; các Thượng đế cho y năm nguyên khí bên trong…Tinh thần là một.—S. D., I, 248. |
|
|
1. The Earth gives the dense physical. |
1. Trái Đất cho thể xác đậm đặc. |
|
2. The Lunar Gods give him three lower principles— |
2. Các Thượng đế Thái Âm cho y ba nguyên khí thấp— |
|
a. Etheric body |
a. thể dĩ thái |
|
b. Prana |
b. prana |
|
c. Kama—manas |
c. trí-cảm |
|
3. The Solar Gods give him two principles— |
3. Các Thượng đế Thái Dương cho y hai nguyên khí— |
|
d. Lower mind |
d. Hạ trí |
|
e. Higher mind |
e. Thượng trí |
|
4. The Monad is the unified two highest principles— |
4. Chân thần là hai nguyên khí cao nhất được hợp nhất— |
|
f. Buddhi |
f. Bồ đề |
|
g. atma |
|
|
—S. D., I, 248. D., I, 352. (back) |
—S. D., I, 248. D., I, 352. (back) |
|
(194) Tính toàn thể của hình tướng. Thượng đế là “Một, bất chấp vô số hình tướng ở trong Ngài,” con người cũng vậy, trên trái đất là tiểu thiên địa của đại thiên địa.—S. D., II, 197; II, 303; III, 584. |
|
|
Everything is comprised in man. |
Mọi sự đều được bao hàm trong con người. |
|
He unites in himself all forms. |
Y hợp nhất trong chính mình mọi hình tướng. |
|
The mystery of the earthly man is the mystery of the Heavenly Man. |
Huyền nhiệm của con người trần thế là huyền nhiệm của Đấng Thiên Nhân. |
|
The potentiality of every organ useful to animal life is locked up in man, the Microcosm of the Macrocosm.—S. D., II, 723. (back) |
Tiềm năng của mọi cơ quan hữu ích cho đời sống động vật đều được khóa kín trong con người, Tiểu thiên địa của Đại thiên địa.—S. D., II, 723. (back) |
|
The lesser Builders (195) are the negative aspect and are swept into action in group formation through the play [Page 614] of positive force upon them, or through the action of the conscious Minds of the system. At the present stage of evolution—during the period of Light—it is difficult for the human being (until he has attained the consciousness of the Ego) to differentiate between the types of force, and to work consciously with these dual aspects. An Adept of the Light works with force in substance, viewing substance as that which is negative, and therefore occultly to be moved, and He can do this because He has (in the three worlds of His endeavour) achieved unity, or the point of balance and equilibrium, and can therefore balance forces and deal with positive and negative energies as appears best in the interests of the plan of evolution. The Brother of Darkness, knowing himself to be positive force in essence, works with negative substance, or with the lesser Builders to bring about ends [Page 615] of his own, incited thereto by selfish motive. The Brothers of Light co-operate with the positive aspect in, and of, all forms—the building devas of evolutionary intent—in order to bring about the purposes of the Heavenly Man Who is the sumtotal of planetary physical manifestation. |
Các vị tiểu kiến tạo (195) là phương diện âm và bị cuốn vào hoạt động trong sự hình thành nhóm qua tác động [Page 614] của mãnh lực dương lên chúng, hay qua tác động của các Trí Tuệ hữu thức của hệ. Ở giai đoạn tiến hoá hiện nay—trong thời kỳ Ánh Sáng—con người rất khó (cho đến khi y đạt được tâm thức chân ngã) phân biệt giữa các loại mãnh lực, và hoạt động một cách hữu thức với các phương diện nhị nguyên này. Một chân sư của Ánh Sáng làm việc với mãnh lực trong chất liệu, xem chất liệu là điều âm, và do đó một cách huyền bí là để được vận động, và Ngài có thể làm điều này vì Ngài đã (trong ba cõi giới của nỗ lực của Ngài) đạt được sự hợp nhất, hay điểm quân bình và cân bằng, và do đó có thể cân bằng các mãnh lực và xử lý các năng lượng dương và âm theo cách tốt nhất cho lợi ích của Thiên Cơ tiến hoá. Huynh Đệ của Bóng Tối, biết mình về bản chất là mãnh lực dương, làm việc với chất liệu âm, hay với các vị tiểu kiến tạo để đạt đến các mục đích [Page 615] riêng của y, bị thúc đẩy bởi động cơ ích kỷ. Các Huynh Đệ của Ánh Sáng hợp tác với phương diện dương trong, và của, mọi hình tướng—các thiên thần kiến tạo có ý hướng tiến hoá—để thực hiện các mục đích của Đấng Thiên Nhân là tổng thể của biểu hiện hồng trần hành tinh. |
|
(195) Pitris—Các tổ tiên hay các đấng sáng tạo của nhân loại. Các ngài thuộc bảy loại, ba loại là vô thể và bốn loại là hữu thể. Các ngài thường được gọi là các thái âm tổ phụ hay Tổ Tiên và không được nhầm lẫn với các thái dương tổ phụ hay các Thiên Thần, những vị ban trí tuệ cho con người, và tạo ra thể tương đối trường tồn của chân ngã, hay Bản Ngã Cao Siêu. của mọi cơ quan hữu ích cho đời sống động vật đều được khóa kín trong con người, Tiểu thiên địa của Đại thiên địa.—S. D., II, 723. (back) |
|
|
It can be seen, therefore, how necessary it is that the functions of the devas of all grades be comprehended. It is however equally important that man should refrain from the manipulation of these forces of nature until such time as he “knows” himself, and his own powers, and until he has fully unfolded the consciousness of the ego; then, and only then, can he safely, wisely, and intelligently co-operate in the plan. As yet, for the average man or even the advanced man this is dangerous to attempt and impossible to accomplish. |
Do đó, có thể thấy việc thấu hiểu các chức năng của các thiên thần thuộc mọi cấp bậc là cần thiết biết bao. Tuy nhiên, điều cũng quan trọng không kém là con người phải tránh thao túng các mãnh lực thiên nhiên này cho đến khi y “biết” chính mình, và các quyền năng của chính y, và cho đến khi y đã khai mở trọn vẹn tâm thức của chân ngã; khi ấy, và chỉ khi ấy, y mới có thể hợp tác một cách an toàn, minh triết và thông tuệ vào Thiên Cơ. Hiện nay, đối với người trung bình hay ngay cả người tiến bộ, việc thử làm điều này là nguy hiểm và không thể thực hiện được. |
|
Now, let us add a few more statements upon which the student can ponder before we pass on to study specifically the three main groups of building devas on the three planes in the three worlds which most intimately concern man. |
Giờ đây, chúng ta hãy thêm một vài phát biểu nữa để đạo sinh có thể suy ngẫm trước khi chúng ta chuyển sang nghiên cứu một cách chuyên biệt ba nhóm chính của các thiên thần kiến tạo trên ba cõi trong ba cõi giới có liên hệ mật thiết nhất với con người. |
|
The building devas (196) are the Ah-hi, or Universal Mind. They contain within their consciousness the plan logoic, [Page 616] and inherently possess the power to work it out in time and space, being the conscious forces of evolution. |
Các thiên thần kiến tạo (196) là các Ah-hi, hay Vũ Trụ Trí. Các vị này chứa đựng trong tâm thức của mình Thiên Cơ của Thượng đế, [Page 616] và vốn sẵn có quyền năng triển khai Thiên Cơ ấy trong thời gian và không gian, vì là các mãnh lực hữu thức của tiến hoá. |
|
(196) Các thiên thần. “…ông ấy hẳn đã (1) chia các thiên thần thành hai loại—và gọi họ là các “Rupa-devas” và các “Arupa-devas” (các Dhyan Chohans “có hình tướng” hay khách quan, và “vô tướng” hay chủ quan; và (2) cũng sẽ làm như vậy đối với loại “người” của ông ấy vì có các Vỏ và các “Mara-rupas”—tức là các thể bị định phải tiêu diệt. Tất cả những điều này là: |
|
|
They not only embody the Divine Thought but are that through which it manifests, and its actuating activity. They are essentially motion. The lesser builders are more particularly the material form which is actuated, and in their cohorts are the substance of matter (considering substance as that which lies back of matter). |
Các vị ấy không những hiện thân cho Tư Tưởng thiêng liêng mà còn là cái qua đó Tư Tưởng ấy biểu lộ, và là hoạt động thúc đẩy của nó. Về bản chất, các vị ấy là chuyển động. Các vị tiểu kiến tạo đặc biệt là hình tướng vật chất được tác động, và trong các đoàn ngũ của họ có chất liệu của vật chất (xét chất liệu như cái nằm phía sau vật chất). |
|
They are that which produces concretion and which gives form to the abstract. The terms “ rupa” and “arupa” devas are relative, (197) for the formless levels and the formless lives are only so from the standpoint of man in the three worlds; the formless lives are those which are functioning in and through the etheric body of the Logos, formed of the matter of the four higher planes of the system. From this point of view the mental plane provides an interesting consideration:—its three higher subplanes are positive, and centralise the positive force of the plane. This focussing of the positive affects the negative substance of the four lower planes and brings about likewise: |
Các vị ấy là cái tạo ra sự kết tụ và cái ban hình tướng cho điều trừu tượng. Các thuật ngữ “rupa” và “arupa” thiên thần là tương đối, (197) vì các cấp độ vô tướng và các sự sống vô tướng chỉ là như vậy theo quan điểm của con người trong ba cõi giới; các sự sống vô tướng là những sự sống đang hoạt động trong và qua thể dĩ thái của Thượng đế, được tạo thành từ vật chất của bốn cõi cao của hệ thống. Từ quan điểm này, cõi trí đem lại một điều đáng suy xét thú vị:—ba cõi phụ cao của nó là dương, và tập trung mãnh lực dương của cõi. Sự hội tụ của yếu tố dương này tác động đến chất liệu âm của bốn cõi thấp và cũng đưa đến: |
|
(197) Rupa…… có hình tướng hay thể. |
|
|
Arupa…… formless or bodiless. |
Arupa…… vô tướng hay vô thể. |
|
Generally speaking, the term rupa is applied to all forms in the three worlds whilst the term arupa is applied to all forms through which existences manifest on the four higher levels of the solar system and the abstract levels of the mental plane. (back) |
Nói chung, thuật ngữ rupa được áp dụng cho mọi hình tướng trong ba cõi giới trong khi thuật ngữ arupa được áp dụng cho mọi hình tướng qua đó các hiện hữu biểu lộ trên bốn cấp độ cao của hệ mặt trời và các cấp độ trừu tượng của cõi trí. (back) |
|
a. The formation of force centres on the causal levels, those force centres being egoic groups in their various divisions. |
a. Sự hình thành các trung tâm lực trên các cấp độ nguyên nhân, các trung tâm lực ấy là các nhóm chân ngã trong những phân bộ khác nhau của chúng. |
|
b. The concretion of substance, or the building of the dense physical body of the Logos. |
b. Sự kết tụ của chất liệu, hay sự kiến tạo thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế. |
|
On the physical plane of the solar system an analogous process can be seen taking place as regards the physical [Page 617] body of man, or his concrete manifestation. In his case, the fourth subplane is the focal point of positive force. On that plane are located the etheric centres of man, which have, in the evolutionary process and in the work of force direction, a relationship to his physical body similar to the relationship which groups of Egos on the mental plane have to the dense physical body of the Logos. This is a profound occult hint. |
Trên cõi hồng trần của hệ mặt trời, có thể thấy một tiến trình tương tự đang diễn ra liên quan đến thể xác hồng trần của con người, hay sự biểu lộ cụ thể của y. Trong trường hợp của y, cõi phụ thứ tư là tiêu điểm của mãnh lực dương. Trên cõi ấy tọa lạc [Page 617] các trung tâm dĩ thái của con người, những trung tâm này, trong tiến trình tiến hoá và trong công việc định hướng mãnh lực, có một mối liên hệ với thể xác hồng trần của y tương tự như mối liên hệ mà các nhóm chân ngã trên cõi trí có với thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế. Đây là một gợi ý huyền bí sâu xa. |
|
In the words “prana and the etheric body” (or life force and form) we have the key to the mystery of the solar and lunar pitris, and a hint as to the place of the physical body in the scheme of things. |
Trong các từ “prana và thể dĩ thái” (hay sinh lực và hình tướng), chúng ta có chiếc chìa khóa mở ra huyền nhiệm của các thái dương tổ phụ và thái âm tổ phụ, cùng một gợi ý về vị trí của thể xác hồng trần trong hệ thống sự vật. |
|
Các thái dương tổ phụ và các thiên thần tìm thấy sự biểu lộ mãnh lực của mình đầy đủ nhất qua con người, với tất cả những gì được bao hàm trong thuật ngữ đó. Các vị ấy là nguồn gốc của ngã thức của con người, và chính tác động của các vị ấy lên phương diện âm tạo ra chân ngã con người (trên quy mô lớn, khi xem các vị ấy trong tính tổng thể như mãnh lực vũ trụ); chính tác động của các vị ấy lên phương diện âm hay phương diện Mẹ, trên các cấp độ vũ trụ, tạo ra Hợp Nhất hữu ngã thức ấy, một Thái dương Thượng đế, đang hoạt động qua vận cụ hồng trần của Ngài. Theo quan điểm Cơ Đốc giáo, các đấng đại kiến tạo là Chúa Thánh Thần, hay mãnh lực phủ bóng và làm thụ thai vật chất, trong khi các đấng kiến tạo âm hay tiểu kiến tạo tương ứng với Đức Trinh Nữ Maria. |
|
|
The lunar Pitris, and lesser builders from the systemic point of view find their fullest expression in the animal kingdom. When they, as the initiatory impulse, had produced animal man they had performed their prime function, and just as (on a smaller scale and in connection with only one of the Heavenly Men) the moon is a dying and decadent world, so on a systemic scale and therefore covering a vast period of time, the work of the lunar Pitris is slowly coming to a conclusion as the power of the third kingdom, the animal, over the human is being [Page 618] superseded by spiritual power; the systemic correspondence to lunar pitric activity will occultly die out. |
Các thái âm tổ phụ, và các vị tiểu kiến tạo theo quan điểm hệ thống, tìm thấy sự biểu lộ đầy đủ nhất của mình trong giới động vật. Khi các vị ấy, như xung lực khai nguyên, đã tạo ra người thú thì các vị ấy đã hoàn thành chức năng chính yếu của mình, và cũng như (trên quy mô nhỏ hơn và chỉ liên hệ với một trong các Đấng Thiên Nhân) mặt trăng là một thế giới đang chết và suy tàn, thì trên quy mô hệ thống và do đó bao trùm một thời kỳ vô cùng dài, công việc của các thái âm tổ phụ đang chậm rãi đi đến kết thúc khi quyền lực của giới thứ ba, giới động vật, trên giới nhân loại đang bị [Page 618] quyền năng tinh thần thay thế; sự tương ứng hệ thống với hoạt động của thái âm tổ phụ sẽ huyền bí mà tàn lụi. |
|
The lunar Pitris, (198,199) the builders of man’s lunar body and their correspondence in the other kingdoms of nature, are the sumtotal of the dense physical body of the Logos, or the substance of the mental, astral and physical planes (the gaseous, liquid and dense bodies which form a unity, His physical vehicle, viewing it apart from the etheric). They are the product of an earlier solar system; their activities date from there. That system stands to the present one as the lunar chain to ours. That is why the physical body is considered no principle (either for man or the solar Logos); that is why the lower nature is considered evil, and why man must “slay his lunar body.” (201) Evil is that which can be controlled and subdued but which is permitted to govern. The positive can always manipulate the negative. When the negative line is followed and the line of least resistance to that which is no principle, is pursued, then we have evil. |
Các thái âm tổ phụ, (198,199) những đấng kiến tạo thể thái âm của con người và các tương ứng của họ trong những giới khác của thiên nhiên, là tổng thể của thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế, hay là chất liệu của các cõi trí, cảm dục và hồng trần (các thể khí, lỏng và đậm đặc tạo thành một hợp nhất, vận cụ hồng trần của Ngài, khi xét riêng khỏi thể dĩ thái). Các vị ấy là sản phẩm của một hệ mặt trời trước; các hoạt động của họ bắt đầu từ đó. Hệ thống ấy đứng đối với hệ thống hiện nay như Dãy Mặt Trăng đối với dãy của chúng ta. Đó là lý do vì sao thể xác hồng trần được xem là không phải nguyên khí nào cả (đối với con người cũng như đối với Thái dương Thượng đế); đó là lý do vì sao bản chất thấp được xem là ác, và vì sao con người phải “giết thể thái âm của mình.” (201) Điều ác là cái có thể bị kiểm soát và chế ngự nhưng lại được phép cai quản. Yếu tố dương luôn có thể thao túng yếu tố âm. Khi đường lối âm được theo đuổi và con đường ít trở ngại nhất hướng về cái không phải là nguyên khí được đi theo, thì khi ấy chúng ta có điều ác. |
|
(198) The Lunar, or Barhishad Pitris have the following function:—S. D., II, 99. |
(198) Các thái âm tổ phụ, hay Barhishad Pitris, có chức năng sau đây:—S. D., II, 99. |
|
1. They are the Ancestors of Man.—S. D., II, 107. |
1. Các vị ấy là Tổ tiên của Con người.—S. D., II, 107. |
|
2. They are the Fashioners of his form. |
2. Các vị ấy là những đấng tạo hình cho thể của y. |
|
3. They possessed the physical creative fire. |
3. Các vị ấy sở hữu lửa sáng tạo hồng trần. |
|
4. They could only clothe the human monads. |
4. Các vị ấy chỉ có thể khoác áo cho các chân thần con người. |
|
5. They could not make man in their likeness. |
5. Các vị ấy không thể tạo ra con người theo hình ảnh của mình. |
|
6. They could not give him mind.—S. D., II, 82. |
6. Các vị ấy không thể ban cho y trí tuệ.—S. D., II, 82. |
|
7. They build his external form. |
7. Các vị ấy xây dựng hình tướng bên ngoài của y. |
|
8. They give the lower principle.—S. D., II, 92. (back) |
8. Các vị ấy ban nguyên khí thấp.—S. D., II, 92. (back) |
|
(201) Trong Tiếng Nói của Im Lặng có những lời như sau: |
|
|
“Before that Path is entered, thou must destroy thy lunar body, cIeanse thy mind body, and make clean thy heart.” (back) |
“Trước khi bước vào Con Đường ấy, ngươi phải hủy diệt thể thái âm của mình, thanh tẩy thể trí của mình, và làm cho trái tim mình thanh sạch.” (back) |
|
In the first solar system the negative substance aspect, the Mother aspect or matter, was perfected. The lower Pitris dominated. In this system force activity lies in the hands of the solar Pitris or greater devas. At the close of the mahamanvantara they will have built according [Page 619] to the plan a perfect sheath or vehicle of expression for the Divine Thought, and this through the manipulation of negative substance; they utilise the heat of the Mother to nourish the germ of the Divine Thought, and to bring it to fruition. When the germ has developed to maturity the Mother aspect no longer has a place, and the Man occultly is freed or liberated. This idea runs through all manifestations, and the kingdoms of nature or the form (no matter what form it may be) nourish the germ of that which is the next step on in the evolutionary process, and are considered the Mother aspect. This aspect is eventually discarded and superseded. For example, the third kingdom, the animal, in the early stages nourishes and preserves the germ of that which will some day be a man; the personality is the preserver of that which will some day unfold into spiritual man. |
Trong hệ mặt trời thứ nhất, phương diện chất liệu âm, phương diện Mẹ hay vật chất, đã được hoàn thiện. Các thái âm tổ phụ thấp chi phối. Trong hệ thống này, hoạt động mãnh lực nằm trong tay các thái dương tổ phụ hay các đại thiên thần. Vào lúc kết thúc Đại giai kỳ sinh hóa, các vị ấy sẽ kiến tạo theo [Page 619] Thiên Cơ một vỏ bọc hay vận cụ biểu lộ hoàn hảo cho Tư Tưởng thiêng liêng, và điều này thông qua sự thao túng chất liệu âm; các vị ấy sử dụng nhiệt của Mẹ để nuôi dưỡng mầm của Tư Tưởng thiêng liêng, và đưa nó đến kết quả viên mãn. Khi mầm ấy đã phát triển đến chín muồi thì phương diện Mẹ không còn chỗ đứng nữa, và Con Người được giải thoát hay giải phóng một cách huyền bí. Ý tưởng này xuyên suốt mọi biểu lộ, và các giới trong thiên nhiên hay hình tướng (dù là hình tướng nào) nuôi dưỡng mầm của cái là bước kế tiếp trong tiến trình tiến hoá, và được xem là phương diện Mẹ. Phương diện này rốt cuộc bị loại bỏ và được thay thế. Thí dụ, giới thứ ba, giới động vật, trong các giai đoạn đầu nuôi dưỡng và bảo tồn mầm của cái mà một ngày kia sẽ là con người; phàm ngã là kẻ bảo tồn cái mà một ngày kia sẽ khai mở thành con người tinh thần. |
|
It will thus become apparent to students how the Heavenly Man, viewing Him as a solar Deity, a self-conscious Entity, works with His negative aspect through positive force, from logoic etheric levels upon the three aspects of the logoic dense physical, thus bringing to maturity the atoms and cells of His Body, fostering the germ of self-consciousness, fanning the flame until each unit becomes fully group conscious and aware of his place within the body corporate. Each human being likewise, functioning in the three worlds, works in a corresponding way upon the conscious cells of his bodies, until each atom eventually achieves its goal. The Heavenly Man works necessarily through egoic groups, pouring positive force upon them until they emerge from passivity and negativity into potency and activity. Man works correspondingly through his centres upon his sheaths, and has a responsibility to the lesser lives which under the karmic law must be worked out. This is the basis of the evolutionary process. |
Như vậy, đạo sinh sẽ thấy rõ cách Đấng Thiên Nhân, khi xem Ngài như một Thượng đế Thái dương, một Thực Thể hữu ngã thức, hoạt động với phương diện âm của Ngài bằng mãnh lực dương, từ các cấp độ dĩ thái của Thượng đế lên ba phương diện của thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế, nhờ đó đưa các nguyên tử và tế bào trong Thể của Ngài đến chín muồi, nuôi dưỡng mầm ngã thức, quạt bùng ngọn lửa cho đến khi mỗi đơn vị trở nên hoàn toàn có tâm thức nhóm và ý thức được vị trí của mình trong toàn thể cơ cấu. Tương tự như vậy, mỗi con người, hoạt động trong ba cõi giới, cũng làm việc theo cách tương ứng trên các tế bào hữu thức của các thể của mình, cho đến khi mỗi nguyên tử cuối cùng đạt được mục tiêu của nó. Đấng Thiên Nhân tất yếu hoạt động qua các nhóm chân ngã, tuôn mãnh lực dương lên họ cho đến khi họ thoát khỏi tính thụ động và âm tính để đi vào năng lực và hoạt động. Con người tương ứng hoạt động qua các trung tâm của mình trên các vỏ bọc của mình, và có một trách nhiệm đối với các sự sống nhỏ hơn mà theo định luật nghiệp quả phải được giải quyết. Đây là nền tảng của tiến trình tiến hoá. |
|
[Page 620] b. The Functions of the Devas. |
[Page 620] b. Các Chức Năng của các Thiên thần. |
|
Having predicated certain basic facts about the devas, viewing them as the sum total of the energy of substance and of substance itself, we come down to more technical details and to the more detailed consideration of these building forces as they construct the thought-form of the Logos, the solar System. From this consideration of them certain practical knowledge will eventuate: |
Sau khi đã xác định một số sự kiện căn bản về các thiên thần, xem họ như tổng thể của năng lượng của chất liệu và của chính chất liệu, chúng ta đi xuống các chi tiết kỹ thuật hơn và xem xét chi tiết hơn các mãnh lực kiến tạo này khi chúng xây dựng Hình tư tưởng của Thượng đế, tức hệ mặt trời. Từ việc xem xét này, một số tri thức thực tiễn sẽ phát sinh: |
|
First. Knowledge of how to build in mental matter in the three worlds, and how to employ the devas of the gaseous plane of the cosmic physical. |
Thứ nhất. Tri thức về cách xây dựng trong vật chất trí tuệ trong ba cõi giới, và cách sử dụng các thiên thần của cõi khí của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
Second. Realisation of how to combine the pairs of opposites, and thus give body and form to concept. |
Thứ hai. Chứng nghiệm cách kết hợp các cặp đối cực, và nhờ đó ban thể và hình tướng cho ý niệm. |
|
Third. Materialisation upon the physical plane of the embodied idea. |
Thứ ba. Sự hiện hình trên cõi hồng trần của ý tưởng đã nhập thể. |
|
1. Manifestation of the Logoic Aspects. This is achieved through the close consideration of the laws of being, and of the method pursued by the Logos in giving His conception form, thus working out His purpose, or will, through that form. In the three planes of man’s endeavour we have reflected the three aspects of the Logos as they produce manifestation: |
1. Sự Biểu lộ của các Phương diện Thượng đế. Điều này đạt được qua việc xem xét kỹ lưỡng các định luật của bản thể, và phương pháp mà Thượng đế theo đuổi khi ban hình tướng cho quan niệm của Ngài, nhờ đó triển khai mục đích, hay ý chí, của Ngài qua hình tướng ấy. Trong ba cõi của nỗ lực con người, chúng ta có sự phản chiếu của ba phương diện của Thượng đế khi chúng tạo ra biểu lộ: |
|
Cõi Trí… phản chiếu của phương diện thứ nhất. Cõi của ý niệm, của sự hợp nhất giữa Cha-Tinh thần-Ý chí và Mẹ-Vật chất-Năng lượng. Đây là công việc của Thượng đế, và sự hợp nhất này sinh ra Người Con, vì Tư Tưởng thiêng liêng mang lấy hình tướng. Thể của chân ngã được tìm thấy ở đó. |
|
|
Astral Plane… reflection of the second aspect, the Son. Materialisation proceeds through desire, and the form grows and evolves, becoming more adequate. |
Cõi Cảm Dục… phản chiếu của phương diện thứ hai, Người Con. Sự hiện hình tiến hành qua dục vọng, và hình tướng tăng trưởng và tiến hoá, trở nên thích hợp hơn. |
|
Physical Plane… Manifestation. The thought-form (of man or the Logos) appears in activity. The Son is born on the physical plane, the thought of the Thinker (divine or human) becomes an entity, separated [Page 621] from its originating source, yet energised by the vitality emanating from him. |
Cõi Hồng Trần… Biểu lộ. Hình tư tưởng (của con người hay của Thượng đế) xuất hiện trong hoạt động. Người Con được sinh ra trên cõi hồng trần, tư tưởng của Đấng Tư Tưởng (thiêng liêng hay nhân loại) trở thành một thực thể, tách biệt [Page 621] khỏi nguồn gốc phát sinh của nó, tuy vậy vẫn được tiếp năng lượng bởi sinh lực phát xạ từ ông. |
|
All this becomes possible—speaking now from the human standpoint—through the action of the devas who are that which embodies thought, and that which give it its separated energy, as distinct from the purpose which will work out to fruition as the form becomes adequate as a medium of expression. |
Tất cả điều này trở nên khả hữu—nay nói từ quan điểm con người—nhờ hoạt động của các thiên thần là cái hiện thân cho tư tưởng, và là cái ban cho nó năng lượng biệt lập của nó, khác với mục đích sẽ được triển khai đến viên mãn khi hình tướng trở nên thích hợp như một môi trường biểu lộ. |
|
2. Deva force substance. As we consider the devas of the seven planes of the solar system, and especially as we consider those who work in the three worlds, we must bear in mind the following statements: |
2. Chất liệu mãnh lực thiên thần. Khi chúng ta xem xét các thiên thần của bảy cõi của hệ mặt trời, và đặc biệt khi xem xét những vị hoạt động trong ba cõi giới, chúng ta phải ghi nhớ các phát biểu sau đây: |
|
The First Statement. They are the devas who are the dual force-substance of the lowest cosmic plane, the cosmic physical. As regards the three worlds, they are the deva force and substance (202) which compose the dense physical body of the Logos, hence man is limited, as he works on these planes, to those devas who are primarily regarded (from the higher levels) as having no part in the seven principles of the Logos; to those devas who form the gaseous, liquid, and concrete form of the Logos, the devas of concrete fire, of water and of earth in its densest aspect; to those devas who are the automatic, subconscious builders, carrying on the work of the dense physical vehicle of the Logos in the same sense as the builders in man’s body work automatically and unconsciously, producing the cells and energising the bodily functions. This is the basis of the danger to man in tampering with these forces. He is too close to them in many ways; he identifies himself with them and until [Page 622] he has attained the consciousness of the Ego, and has with full knowledge established his identity with the Spirit aspect and not with substance, he is liable to be swept into the line of blind force, and become a lost soul should he trespass ignorantly, and curiously, into their domain. |
Phát biểu thứ nhất. Họ là các thiên thần là chất liệu-mãnh lực nhị nguyên của cõi vũ trụ thấp nhất, cõi hồng trần vũ trụ. Xét về ba cõi giới, họ là mãnh lực thiên thần và chất liệu (202) cấu thành thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế, do đó con người bị giới hạn, khi y hoạt động trên các cõi này, vào những thiên thần mà chủ yếu được xem (từ các cấp độ cao hơn) là không có phần nào trong bảy nguyên khí của Thượng đế; vào những thiên thần tạo thành hình tướng khí, lỏng và cụ thể của Thượng đế, các thiên thần của lửa cụ thể, của nước và của đất trong phương diện đậm đặc nhất của nó; vào những thiên thần là các đấng kiến tạo tự động, tiềm thức, tiếp tục công việc của vận cụ hồng trần đậm đặc của Thượng đế theo cùng ý nghĩa như các đấng kiến tạo trong thể con người hoạt động tự động và vô thức, tạo ra các tế bào và tiếp năng lượng cho các chức năng của thể. Đây là cơ sở của sự nguy hiểm đối với con người khi can thiệp vào các mãnh lực này. Y quá gần gũi với chúng theo nhiều cách; y đồng hoá mình với chúng và cho đến khi [Page 622] y đã đạt được tâm thức của chân ngã, và với tri thức trọn vẹn đã xác lập bản sắc của mình với phương diện Tinh thần chứ không phải với chất liệu, y có thể bị cuốn vào đường lối của mãnh lực mù quáng, và trở thành một linh hồn lạc mất nếu y xâm phạm một cách ngu dốt và tò mò vào lĩnh vực của chúng. |
|
(202) Các Thái dương Thiên Thần có bản chất nhị nguyên. |
|
|
“Manas is dual—Lunar in the lower, Solar in its upper portion.”—S. D., II, 520, 675. |
“Manas là nhị nguyên—thái âm ở phần thấp, thái dương ở phần cao của nó.”—S. D., II, 520, 675. |
|
a. The solar aspect is attracted towards Buddhi. |
a. Phương diện thái dương bị thu hút về phía Bồ đề. |
|
b. The other descends into, or is attracted by the lower animal. |
b. Phương diện kia đi xuống vào, hay bị thu hút bởi, con thú thấp. |
|
c. The Solar Angels form the “Soul” or Second Aspect. |
c. Các Thái dương Thiên Thần tạo thành “Linh hồn” hay Phương diện thứ hai. |
|
d. The chief “Soul” is Manas, or mind.”—S. D., II, 521. (back) |
d. “Linh hồn” chủ yếu là Manas, hay trí tuệ.”—S. D., II, 521. (back) |
|
He is concerned also with those devas who are as yet animated by the life and purpose which distinguished the evolution of the first solar system. That life is the life of God, and that purpose is the working out of His will, but it is evil from our present standpoint, for it is superseded as far as man is concerned by a different purpose and goal. Therefore, identification with that which is past, retrogression and the methods of the old are for a man a return along the path of self-conscious evolution, and lead eventually to a loss of the egoic principle, or of ego-ism, which distinguishes a man (human or heavenly) from the rest of evolution. |
Y cũng liên hệ với những thiên thần mà hiện vẫn được làm sinh động bởi sự sống và mục đích vốn đặc trưng cho tiến hoá của hệ mặt trời thứ nhất. Sự sống ấy là sự sống của Thượng đế, và mục đích ấy là sự triển khai ý chí của Ngài, nhưng từ quan điểm hiện nay của chúng ta thì đó là điều ác, vì đối với con người nó đã bị thay thế bởi một mục đích và cứu cánh khác. Do đó, sự đồng hoá với cái đã qua, sự thoái bộ và các phương pháp cũ, đối với con người là một sự quay trở lại trên con đường tiến hoá hữu ngã thức, và cuối cùng dẫn đến sự mất đi nguyên khí chân ngã, hay tính chân ngã, vốn phân biệt con người (nhân loại hay thiên giới) với phần còn lại của tiến hoá. |
|
The Second Statement. The hope for the devas and for the form aspect lies in the fact that each of the subplanes of the cosmic physical plane comes under the direct influence of cosmic forces, originating on the six other cosmic planes. Of these forces everything is unknown and inconceivable, except the vague and general indications of these currents and forces as they may be felt as emanating from the cosmic planes. |
Phát biểu thứ hai. Niềm hy vọng cho các thiên thần và cho phương diện hình tướng nằm ở sự kiện rằng mỗi cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ đều chịu ảnh hưởng trực tiếp của các mãnh lực vũ trụ, phát sinh trên sáu cõi vũ trụ khác. Về các mãnh lực này, mọi sự đều chưa được biết đến và không thể quan niệm được, ngoại trừ những chỉ dẫn mơ hồ và tổng quát về các dòng và mãnh lực này như chúng có thể được cảm nhận như phát ra từ các cõi vũ trụ. |
|
The cosmic mental plane. This manifests for us in the three types of force to be seen on the systemic mental plane. These three types have not been sufficiently studied, and are: |
Cõi trí vũ trụ. Điều này biểu lộ đối với chúng ta trong ba loại mãnh lực có thể thấy trên cõi trí của hệ thống. Ba loại này chưa được nghiên cứu đầy đủ, và là: |
|
a. Mãnh lực vận hành qua tất cả các nguyên tử trường tồn manas, và về căn bản tạo ra biểu lộ mà chúng ta gọi là ba cõi giới. |
|
|
b. The force which animates those groups of “lotuses” [Page 623] which we call egoic groups or centres-aggregations of causal bodies. |
b. Mãnh lực làm sinh động những nhóm “hoa sen” mà chúng ta gọi là các nhóm chân ngã hay các trung tâm—những tập hợp của các thể nguyên nhân.[Page 623] |
|
c. The force which vitalises all the mental units and which is distributed thence to all the other permanent atoms. |
c. Mãnh lực tiếp sinh lực cho tất cả các đơn vị hạ trí và từ đó được phân phối đến mọi nguyên tử trường tồn khác. |
|
These three types of force deal with the substance aspect—permanent atoms, causal vehicle, and mental units, and are therefore directly impressing themselves upon the devas who build these forms out of their own substance, and thus develop the divine plan. These three types of force affect substance, but with a psychic intent, being themselves swayed and actuated according to divine purpose, and from high levels. They emanate from the concrete levels of the cosmic mental plane (being therefore the force flowing through the mental unit of the Logos), and are concerned with the force centre which focalises the logoic mental body. They are the force of Agni in His first aspect. He is that fire which is distinctive of the cosmic mental plane, reflected in the cosmic gaseous subplane of the cosmic physical plane—our systemic mental plane. |
Ba loại mãnh lực này đề cập đến phương diện chất liệu—các nguyên tử trường tồn, vận cụ nguyên nhân, và các đơn vị hạ trí, và do đó trực tiếp in dấu chính mình lên các thiên thần xây dựng các hình tướng này từ chính chất liệu của họ, và nhờ đó phát triển Thiên Cơ thiêng liêng. Ba loại mãnh lực này tác động lên chất liệu, nhưng với một ý hướng thông linh, vì bản thân chúng bị chi phối và thúc đẩy theo mục đích thiêng liêng, và từ các cấp độ cao. Chúng phát ra từ các cấp độ cụ thể của cõi trí vũ trụ (do đó là mãnh lực chảy qua đơn vị hạ trí của Thượng đế), và liên hệ với trung tâm lực tập trung thể trí của Thượng đế. Chúng là mãnh lực của Agni trong phương diện thứ nhất của Ngài. Ngài là ngọn lửa đặc trưng cho cõi trí vũ trụ, được phản chiếu trong cõi phụ khí của cõi hồng trần vũ trụ—cõi trí của hệ thống chúng ta. |
|
The Cosmic Astral Plane. The force from this plane plays through our systemic astral plane, the cosmic liquid physical sub-plane, and it is practically subject only to two differentiations, each of them occultly embodied in two great groups of devas: |
Cõi cảm dục vũ trụ. Mãnh lực từ cõi này vận hành qua cõi cảm dục của hệ thống chúng ta, cõi phụ lỏng của cõi hồng trần vũ trụ, và trên thực tế chỉ chịu hai sự biến phân, mỗi sự được hiện thân một cách huyền bí trong hai nhóm lớn các thiên thần: |
|
First. The devas who are the substance or force of the astral plane, viewing it as the sumtotal of desire, of feeling and of sensation. They are, therefore, the nerve centers, or nerve plexi, of the logoic physical body, for the systemic astral plane provides the nervous system of the logoic physical body. It is the body of intensest vibration from the physical standpoint, and the vehicle through which all is transmitted to that portion of the logoic physical body which corresponds to the brain [Page 624] in man. I can elucidate this no further, but the few words here imparted open up a tremendous range of thought, and give the key to much which transpires and which is distressing in solar evolution as well as human. |
Thứ nhất. Các thiên thần là chất liệu hay mãnh lực của cõi cảm dục, khi xem nó như tổng thể của dục vọng, cảm xúc và cảm giác. Do đó, họ là các trung tâm thần kinh, hay các đám rối thần kinh, của thể hồng trần của Thượng đế, vì cõi cảm dục của hệ thống cung cấp hệ thần kinh cho thể hồng trần của Thượng đế. Đây là thể có rung động mãnh liệt nhất từ quan điểm hồng trần, và là vận cụ qua đó mọi sự được truyền đến phần của thể hồng trần của Thượng đế tương ứng với bộ não ở con người. Tôi không thể làm sáng tỏ điều này thêm nữa, nhưng vài lời được truyền đạt ở đây mở ra một phạm vi tư tưởng vô cùng rộng lớn, và trao chìa khóa cho nhiều điều xảy ra và gây đau khổ trong tiến hoá thái dương cũng như nhân loại.[Page 624] |
|
Second. Those devas who are the sumtotal of the astral light. They are the agents of the karmic lords, who are in themselves deva entities of an inconceivably advanced evolution and who, in their own substance, |
Thứ hai. Những thiên thần là tổng thể của ánh sáng cảm dục. Họ là các tác nhân của các Chúa Tể nghiệp quả, mà bản thân các Ngài là các thực thể thiên thần có một tiến hoá cao siêu đến mức không thể quan niệm được và là những vị, trong chính chất liệu của mình, |
|
1. Record. |
1. Ghi nhận. |
|
2. Produce effects from cause. |
2. Tạo ra kết quả từ nguyên nhân. |
|
3. Direct force. |
3. Định hướng mãnh lực. |
|
This particular group of devas emanate from a great force centre which we generalise by calling it by the name of the sun Sirius. Sirius-kama-manas—the cosmic astral plane—and the systemic astral plane—make a close interlocking chain, and form the line of least resistance for a particular type of negative force to pour through. |
Nhóm thiên thần đặc biệt này phát ra từ một trung tâm lực lớn mà chúng ta khái quát gọi bằng tên mặt trời Sirius. Sirius-kama-manas—cõi cảm dục vũ trụ—và cõi cảm dục của hệ thống—tạo thành một chuỗi móc nối chặt chẽ, và hình thành con đường ít trở ngại nhất để một loại mãnh lực âm đặc biệt tuôn qua. |
|
The Cosmic Physical Plane. This is the force (external and internal) of the solar system itself, and of its environing space. It might be regarded as the pranic forces, pouring through the logoic etheric body (our four higher subplanes) which are positive to the lower three, impregnating these lower three planes (a reflection in substance, or in the Brahma aspect, of the union of Father-Mother) and producing the purely concrete manifestation. This is why the physical vehicle has such control during long stages of man’s evolution, for the force of this type of energy is necessarily felt more strongly than any other. It is deva force, and substance, which is so close to us as powerfully to delude us. Here lies the mystery of maya, and here is to be found the secret of illusion. Here exists for man the first great stage of the battle for full Self-consciousness, and for identification with the God-aspect, and not with the [Page 625] matter-aspect. Here lies the occult reason why man is called by his father’s name and not his mother’s. When man has dominated the deva essences of the physical plane, he controls next those of the astral and dominates the mental essences. Having achieved this in his own nature he can then safely become a magician and contact, control and work with, the devas in connection with the plans of the Heavenly Man. In the realisation of the three types of force, will be found for man the key to the mystery of his centres. |
Cõi hồng trần vũ trụ. Đây là mãnh lực (bên ngoài và bên trong) của chính hệ mặt trời, và của không gian bao quanh nó. Nó có thể được xem như các mãnh lực prana, tuôn qua thể dĩ thái của Thượng đế (bốn cõi phụ cao của chúng ta), vốn là dương đối với ba cõi thấp, thấm nhuần ba cõi thấp này (một phản chiếu trong chất liệu, hay trong phương diện Brahma, của sự hợp nhất Cha-Mẹ) và tạo ra biểu lộ thuần túy cụ thể. Đây là lý do vì sao vận cụ hồng trần có quyền kiểm soát mạnh mẽ trong những giai đoạn dài của tiến hoá con người, vì mãnh lực của loại năng lượng này tất yếu được cảm nhận mạnh hơn bất kỳ loại nào khác. Chính mãnh lực thiên thần, và chất liệu, quá gần gũi với chúng ta đến nỗi đánh lừa chúng ta một cách mạnh mẽ. Chính trong đây có huyền nhiệm của ảo lực, và ở đây có thể tìm thấy bí mật của ảo tưởng. Ở đây tồn tại đối với con người giai đoạn lớn đầu tiên của cuộc chiến giành trọn vẹn ngã thức, và để đồng hoá với phương diện Thượng đế, chứ không phải với phương diện vật chất. Chính trong đây có lý do huyền bí vì sao con người được gọi bằng tên cha mình chứ không phải tên mẹ mình. Khi con người đã chế ngự các tinh chất hành khí của cõi hồng trần, kế đó y kiểm soát các tinh chất của cõi cảm dục và chế ngự các tinh chất trí tuệ. Khi đã đạt được điều này[Page 625] trong chính bản chất của mình, khi ấy y mới có thể an toàn trở thành một nhà huyền thuật và tiếp xúc, kiểm soát và làm việc với các thiên thần liên hệ đến các Thiên Cơ của Đấng Thiên Nhân. Trong sự chứng nghiệm ba loại mãnh lực này, con người sẽ tìm thấy chìa khóa mở ra huyền nhiệm của các trung tâm của mình. |
|
The secret of the note of the head, the heart, and the throat centre is found here and their blending with the lower centres so that the note of the higher sounds out, and the lower produces only harmony. Upon the note of nature the Logos has to superimpose a higher note. To the natural note of the centre (which is found through the development of the lower centre, which is its reflection or correspondence) must be added the dominant note of the higher centre, and, in the dual harmony the centre vibrates as desired. The note is the result of correct activity. That is why the lower centres of man are (in the early stages of his career) the controlling factor. He has to learn their note, and from it to attain the key of the higher. Then the higher takes the prominent place, and the lower only serves the purpose of providing that which is understood as occult “depth.” Why is this? Because in these notes those groups of devas who are the force and energy of the centres (which are centres in substance) are contacted and controlled. Through their activity, directed through the centres, the material sheaths—physical, astral and mental—are built. |
Bí mật của âm điệu của trung tâm đầu, tim và cổ họng được tìm thấy ở đây cùng với sự hòa trộn của chúng với các trung tâm thấp để âm điệu của trung tâm cao vang lên, còn trung tâm thấp chỉ tạo ra hòa âm. Trên âm điệu của bản chất, Thượng đế phải chồng lên một âm điệu cao hơn. Vào âm điệu tự nhiên của trung tâm (được tìm thấy qua sự phát triển của trung tâm thấp, là phản chiếu hay tương ứng của nó) phải được thêm vào âm điệu chủ đạo của trung tâm cao, và trong sự hòa âm nhị nguyên ấy trung tâm rung động như mong muốn. Âm điệu là kết quả của hoạt động đúng đắn. Đó là lý do vì sao các trung tâm thấp của con người là (trong các giai đoạn đầu của cuộc đời y) yếu tố kiểm soát. Y phải học âm điệu của chúng, và từ đó đạt đến khóa của trung tâm cao. Khi ấy trung tâm cao chiếm vị trí nổi bật, và trung tâm thấp chỉ phục vụ mục đích cung cấp cái được hiểu trong huyền bí học là “chiều sâu.” Vì sao vậy? Bởi vì trong các âm điệu này, những nhóm thiên thần là mãnh lực và năng lượng của các trung tâm (vốn là các trung tâm trong chất liệu) được tiếp xúc và kiểm soát. Qua hoạt động của họ, được định hướng qua các trung tâm, các vỏ bọc vật chất—hồng trần, cảm dục và trí tuệ—được xây dựng. |
|
These ideas of force and the sheaths are the basis of the astrological teaching that is one of the keys to the Secret Doctrine.(203) We should therefore bear in mind that [Page 626] the Deva Lords, Agni, Varuna, Kshiti, (204) represent in the exoteric teaching the substance aspect of the dense body of the Logos whilst the force aspect as flowing through the etheric body of the Logos is considered under various names, such as Shiva, Surya, Brahma. Yet the two aspects are but one. |
Những ý tưởng này về mãnh lực và các vỏ bọc là nền tảng của giáo huấn chiêm tinh học, vốn là một trong những chìa khóa của Giáo Lý Bí Nhiệm.(203) Do đó, chúng ta nên ghi nhớ rằng [Page 626] các Chúa Tể Thiên thần, Agni, Varuna, Kshiti, (204) trong giáo huấn ngoại môn tượng trưng cho phương diện chất liệu của thể đậm đặc của Thượng đế trong khi phương diện mãnh lực khi chảy qua thể dĩ thái của Thượng đế được xét dưới nhiều danh xưng khác nhau, như Shiva, Surya, Brahma. Tuy nhiên, hai phương diện ấy chỉ là một. |
|
(203) The Astrological Key is referred to in the S. D., Vol. II, 26. (back) |
(203) Chìa khóa Chiêm tinh được nhắc đến trong S. D., Quyển II, 26. (back) |
|
(204) Agni, Thượng đế của Lửa trong Veda; cổ xưa nhất và được tôn kính nhất trong các Thượng đế ở Ấn Độ. Ngài là phương diện tam phân của Lửa và do đó là tổng thể của biểu lộ. Ngài cũng được xem là Chúa Tể của cõi trí (cõi thứ 5) mà biểu tượng là Lửa. |
|
|
Varuna, the God of Water, in the sense of the waters of space, or the waters of matter. He is regarded also as the Ruler of the astral plane (the 6th plane) whose symbol is water. |
Varuna, Thượng đế của Nước, theo nghĩa là các nước của không gian, hay các nước của vật chất. Ngài cũng được xem là chủ tinh của cõi cảm dục (cõi thứ 6) mà biểu tượng là nước. |
|
Kshiti, the God of the Earth in the sense of dense substance, and not a planetary body; he is the God of the physical plane, the seventh plane. (back) |
Kshiti, Thượng đế của Đất theo nghĩa là chất liệu đậm đặc, chứ không phải một thiên thể hành tinh; ông là Thượng đế của cõi hồng trần, cõi thứ bảy. (back) |
|
The Third Statement. The final point I seek to make here is that in connection with these three lower planes and their many groups of devas it must be remembered that their polar opposites are to be found in the great devas of the highest three planes. |
Phát biểu thứ ba. Điểm cuối cùng tôi muốn nêu ra ở đây là rằng liên hệ đến ba cõi thấp này và nhiều nhóm thiên thần của chúng, cần nhớ rằng các cực đối lập của chúng được tìm thấy trong các đại thiên thần của ba cõi cao nhất. |
|
Divine |
1st Cosmic ether |
Primordial Fire |
Mental Plane |
Fire. |
|
Monadic |
2nd Cosmic ether |
Akasha |
AstralPlane |
Astral light. |
|
Spiritual or Atmic |
3rd Cosmic ether |
Aether |
Physical Plane |
Ether |
|
The particular type of differentiated force which they embody, when brought into union with each other is that which causes concretion, or the appearance, in space and time, of the dense physical body. This should be carefully considered, along with the very interesting fact that on the fourth plane of our system (the fourth cosmic ether, or buddhic plane) we have the sphere of certain occult happenings which cannot be more than hinted at, because their true significance is one of the secrets of initiation. They are an aspect of the plan of the Logos which can be contacted direct by those who have expanded their consciousness adequately. |
Loại mãnh lực biến phân đặc biệt mà họ hiện thân, khi được đưa vào hợp nhất với nhau, chính là cái gây ra sự kết tụ, hay sự xuất hiện, trong không gian và thời gian, của thể xác hồng trần đậm đặc. Điều này cần được suy xét cẩn thận, cùng với sự kiện rất thú vị rằng trên cõi thứ tư của hệ thống chúng ta (dĩ thái vũ trụ thứ tư, hay cõi Bồ đề) chúng ta có khối cầu của một số biến cố huyền bí nào đó mà không thể nói hơn là gợi ý, vì ý nghĩa chân thực của chúng là một trong những bí mật của điểm đạo. Chúng là một phương diện của Thiên Cơ của Thượng đế mà có thể được tiếp xúc trực tiếp bởi những ai đã mở rộng tâm thức của mình một cách đầy đủ. |
|
[Page 627] The buddhic plane, or fourth cosmic ether, is the plane whereon: |
[Page 627] Cõi Bồ đề, hay dĩ thái vũ trụ thứ tư, là cõi nơi: |
|
a. The sacred planets function. |
a. Các hành tinh thiêng liêng hoạt động. |
|
b. Man will eventually function freed from the triple lower man. |
b. Con người cuối cùng sẽ hoạt động, được giải thoát khỏi phàm ngã tam phân. |
|
c. The true meaning of the words “Divine Hermaphrodite” is there to be comprehended. |
c. Ý nghĩa chân thực của các từ “Lưỡng tính thiêng liêng” được thấu hiểu tại đó. |
|
d. It is predominantly the plane of life-force, and one of the planes of generation. |
d. Đây chủ yếu là cõi của sinh lực, và là một trong các cõi của sự sinh thành. |
|
e. Here man will for the first time understand and utilize his relationship with the devas. |
e. Ở đây con người lần đầu tiên sẽ thấu hiểu và sử dụng mối liên hệ của mình với các thiên thần. |
|
f. It will see the fruition of the combined evolutionary process of the two solar systems. |
f. Nó sẽ chứng kiến kết quả viên mãn của tiến trình tiến hoá kết hợp của hai hệ mặt trời. |
|
g. It is the plane from whence all planetary avatars emanate. |
g. Đây là cõi từ đó mọi Đấng Hoá Thân hành tinh phát xuất. |
|
h. The Heavenly Men take the first Initiation on this plane. |
h. Các Đấng Thiên Nhân nhận lần điểm đạo thứ nhất trên cõi này. |
|
i. On this plane the true inner significance of the “Sun” is apprehended. |
i. Trên cõi này, thâm nghĩa nội tại chân thực của “Mặt Trời” được lĩnh hội. |
|
More I cannot say, but careful study of that which is here given may open up much that is of significance in the study of the macrocosm and the microcosm. |
Tôi không thể nói thêm nữa, nhưng việc nghiên cứu cẩn thận điều được trao ra ở đây có thể mở ra nhiều điều có thâm nghĩa trong việc nghiên cứu đại thiên địa và tiểu thiên địa. |
|
c. The Devas and the Planes. |
c. Các Thiên thần và các Cõi. |
|
Preliminary Remarks. We have considered in broad and general terms the various types of force which animate deva substance, and its origin. Now we can study more specifically the deva entities in their various groups, having laid down the fundamentals in connection with them. |
Nhận xét sơ bộ. Chúng ta đã xem xét theo những nét rộng và tổng quát các loại mãnh lực khác nhau làm sinh động chất liệu thiên thần, và nguồn gốc của nó. Giờ đây chúng ta có thể nghiên cứu chuyên biệt hơn các thực thể thiên thần trong những nhóm khác nhau của họ, sau khi đã đặt ra các nền tảng căn bản liên hệ đến họ. |
|
In this particular section students must remember that we are not considering those builders of involutionary development which are spoken of in theosophical and occult literature as the elemental essences. We are discussing those who are on the evolutionary arc, and who are the agents of cosmic force, whilst the lesser builders are the agents specifically of solar and of lunar force. Solar force implies the various differentiations of the threefold cosmic force as it manifests within the solar [Page 628] system. Solar force can also (as far as the creative or building faculty of man is concerned) be termed planetary force, for every human being (be he Adept or ordinary man) builds and creates his thought forms—consciously or unconsciously—within the planetary spheres in the three worlds. |
Trong phần đặc biệt này, đạo sinh phải nhớ rằng chúng ta không xét đến những đấng kiến tạo của sự phát triển giáng hạ tiến hoá vốn được nói đến trong văn liệu Thông Thiên Học và huyền bí học như các tinh chất hành khí. Chúng ta đang bàn đến những vị ở trên cung tiến hoá, và là các tác nhân của mãnh lực vũ trụ, trong khi các vị tiểu kiến tạo là các tác nhân đặc biệt của mãnh lực thái dương và thái âm. Mãnh lực thái dương hàm ý các sự biến phân khác nhau của mãnh lực vũ trụ tam phân khi nó biểu lộ trong hệ mặt trời. Mãnh lực thái dương cũng có thể (xét theo khả năng sáng tạo hay kiến tạo của con người) được gọi là mãnh lực hành tinh, vì mỗi con người (dù là chân sư hay người thường) đều xây dựng và sáng tạo các hình tư tưởng của mình—một cách hữu thức hay vô thức—trong các khối cầu hành tinh ở ba cõi giới.[Page 628] |
|
We shall now come to a considerable amount of tabulation, for all that it is wise and possible to give at this time are certain facts, names and outlines which can only be demonstrated through the law of correspondence. The key to comprehension is always this law. The basic differentiation in the solar system is as follows: |
Giờ đây chúng ta sẽ đi vào một lượng đáng kể các bảng biểu, vì tất cả những gì khôn ngoan và có thể trao ra vào lúc này chỉ là một số sự kiện, danh xưng và đại cương mà chỉ có thể được chứng minh qua định luật tương ứng. Chìa khóa của sự thấu hiểu luôn luôn là định luật này. Sự biến phân căn bản trong hệ mặt trời như sau: |
|
Agni |
Electric fire |
Spirit |
Central Spiritual Sun |
Energy |
|
Surya |
Solar fire |
Vishnu |
Heart of the Sun |
Light |
|
Brahma |
Fire by friction |
Physical visible Sun |
Fohat |
|
As electric fire the Logos manifests as the seven aspects of Will, spiritual impulse or purpose. |
Như Lửa Điện, Thượng đế biểu lộ như bảy phương diện của Ý chí, xung lực tinh thần hay mục đích. |
|
As solar fire He manifests as the seven Rays, or as the Light of Wisdom, the Consciousness, radiating through the form. |
Như Lửa Thái dương, Ngài biểu lộ như bảy cung, hay như Ánh sáng của Minh triết, Tâm thức, đang bức xạ qua hình tướng. |
|
As fire by friction He manifests as the seven Sons of Fohat, the seven great fires, or the active heat of intelligent substance. |
Như Lửa ma sát, Ngài biểu lộ như bảy Con của Fohat, bảy ngọn lửa lớn, hay nhiệt hoạt động của chất liệu thông tuệ. |
|
These three aspects of the God of Fire, and of the fire of God, are the three Entities of the logoic Trinity, and each in turn manifests through seven other Entities Who form their total manifestation. |
Ba phương diện này của Thượng đế của Lửa, và của lửa của Thượng đế, là ba Thực Thể của Tam Vị Thượng đế, và mỗi vị lần lượt biểu lộ qua bảy Thực Thể khác tạo thành tổng thể biểu lộ của các vị ấy. |
|
Sevenfold electric fire. The seven types of spiritual existences, or the seven Spirits before the Throne in Their essential essence; the dynamic force or will lying back of all manifestation. They form on their own plane in a peculiar sense the logoic “Jewel in the Lotus,” and [Page 629] hence are inconceivable to our intelligence in this solar system, as They are not revealed until the “Son be made perfect,” or the logoic consciousness is fully awakened. They are esoterically the “Spirits of Darkness.” |
Lửa Điện thất phân. Bảy loại hiện hữu tinh thần, hay Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai trong tinh chất cốt yếu của Các Ngài; mãnh lực động hay ý chí nằm phía sau mọi biểu lộ. Các Ngài tạo thành trên cõi của mình, theo một ý nghĩa đặc biệt, “Ngọc trong Hoa Sen” của Thượng đế, và [Page 629] do đó không thể được trí tuệ của chúng ta trong hệ mặt trời này quan niệm nổi, vì Các Ngài không được mặc khải cho đến khi “Người Con được làm cho hoàn hảo,” hay tâm thức của Thượng đế được thức tỉnh trọn vẹn. Một cách huyền bí, Các Ngài là “Các Thánh Linh của Bóng Tối.” |
|
Sevenfold solar fire. The seven Heavenly Men, the sumtotal of Light, the seven Rays of manifestation of the Spiritual Sun. In time and space these seven Rays of Light become the nine (the major three, with the third demonstrating as seven) and are thus esoterically the nine petals of the logoic Ego as He manifests in His physical vehicle. They are esoterically the “Sons of Light.” |
Lửa Thái dương thất phân. Bảy Đấng Thiên Nhân, tổng thể của Ánh sáng, bảy cung biểu lộ của Mặt Trời Tinh thần. Trong thời gian và không gian, bảy Cung Ánh sáng này trở thành chín (ba cung chính, với cung thứ ba biểu lộ thành bảy) và do đó một cách huyền bí là chín cánh hoa của chân ngã Thượng đế khi Ngài biểu lộ trong vận cụ hồng trần của Ngài. Một cách huyền bí, các vị ấy là “Các Con của Ánh sáng.” |
|
Sevenfold fire by friction. The seven brothers of Fohat. The seven manifestations of electricity, or of electrical phenomena. These are the seven Raja-Lords or Devas of the seven planes; they are the seven Fires, or those seven states of activity through which consciousness is expressing itself. They are the vehicles of consciousness and the seven vibrations. They are esoterically the “Brothers of energy.” |
Lửa ma sát thất phân. Bảy huynh đệ của Fohat. Bảy biểu lộ của điện, hay của các hiện tượng điện. Đây là bảy Raja-Lords hay các thiên thần của bảy cõi; họ là bảy Ngọn Lửa, hay bảy trạng thái hoạt động qua đó tâm thức đang biểu lộ chính nó. Họ là các vận cụ của tâm thức và là bảy rung động. Một cách huyền bí, họ là “Các Huynh Đệ của năng lượng.” |
|
Therefore it will be apparent that the sumtotal of logoic manifestation as it can be seen in existence in time and space is: |
Do đó, sẽ rõ ràng rằng tổng thể biểu lộ của Thượng đế như có thể được thấy đang hiện hữu trong thời gian và không gian là: |
|
Seven Spirits |
sevenfold will. |
|
Seven Rays |
sevenfold quality or psyche. |
|
Seven Deva Lords |
sevenfold form. |
|
The latter are literally the seven spirillae, or force vibrations within the logoic physical permanent atom. This needs to be carefully borne in mind and pondered upon. The seven Rays are the sumtotal of the psychic nature of the Logos, as it radiates through His physical form—His seven qualities, the aggregate of the expression of His desire, or love nature. The seven Spirits are the sumtotal of His Will-to-be aspect, the synthetic Life of His total manifestation, that which causes the persistence [Page 630] of the form, and its evolution for as long as the logoic Ego seeks physical existence. |
Những vị sau theo nghĩa đen là bảy loa tuyến, hay các rung động mãnh lực bên trong nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế. Điều này cần được ghi nhớ cẩn thận và suy ngẫm. Bảy cung là tổng thể bản chất thông linh của Thượng đế, khi nó bức xạ qua hình tướng hồng trần của Ngài—bảy phẩm tính của Ngài, tổng hợp của sự biểu lộ dục vọng, hay bản chất bác ái của Ngài. Bảy Thánh Linh là tổng thể phương diện Ý chí-hướng-tồn-tại của Ngài, Sự sống tổng hợp của toàn bộ biểu lộ của Ngài, cái gây ra sự bền vững [Page 630] của hình tướng, và sự tiến hoá của nó chừng nào chân ngã Thượng đế còn tìm kiếm sự hiện hữu hồng trần. |
|
Để tiếp tục phép so sánh, hay phép loại suy, lùi xa hơn nữa và nhờ đó ghi nhớ sự tương tự giữa sự phát triển của tiểu thiên địa và đại thiên địa, chúng ta có: |
|
|
1. The seven Spirits who find Their originating incentive on: |
1. Bảy Thánh Linh tìm thấy động lực khởi nguyên của Các Ngài trên: |
|
a. The cosmic lower mental levels. |
a. Các cấp độ hạ trí vũ trụ. |
|
b. The logoic “Jewel in the Lotus.” |
b. “Ngọc trong Hoa Sen” của Thượng đế. |
|
c. The cosmic atmic plane. |
c. Cõi atma vũ trụ. |
|
2. The seven Heavenly Men are in the line of force from: |
2. Bảy Đấng Thiên Nhân nằm trên tuyến mãnh lực từ: |
|
a. The cosmic astral plane. |
a. Cõi cảm dục vũ trụ. |
|
b. The logoic nine-petalled lotus. |
b. Hoa sen chín cánh của Thượng đế. |
|
c. The cosmic buddhic plane (the seven Rishis of the Great Bear). |
c. Cõi Bồ đề vũ trụ (bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh). |
|
3. The seven Sons of Fohat find their vital force emanating from: |
3. Bảy Con của Fohat tìm thấy mãnh lực sinh động của mình phát ra từ: |
|
a. The cosmic physical plane. |
a. Cõi hồng trần vũ trụ. |
|
b. The logoic permanent atoms (within the causal body). |
b. Các nguyên tử trường tồn của Thượng đế (bên trong thể nguyên nhân). |
|
c. The cosmic higher mental levels. |
c. Các cấp độ thượng trí vũ trụ. |
|
Yet these three are but the expressions of One Existence, for behind the Logos in physical incarnation is to be found the logoic Monad, expressing Itself through the logoic Ego, and its reflection, the logoic Personality. |
Tuy nhiên, ba điều này chỉ là những biểu hiện của Một Hiện Hữu, vì đằng sau Thượng đế đang lâm phàm trong thể xác là chân thần của Thượng đế, tự biểu lộ qua chân ngã của Thượng đế, và sự phản chiếu của nó là phàm ngã của Thượng đế. |
|
All these spiritual Essences are individualised self-conscious Identities, and the “Fiery Lives” are real, and conscious, vital Existences. Thus we see the Logos manifesting as One Unity yet Three in One; we see the threefold Unity differentiating into the seven great Lives, containing within Themselves all lesser lives. |
Tất cả các Tinh Chất tinh thần này đều là những Bản Sắc hữu thức đã được biệt ngã hóa, và các “Sự Sống Rực Lửa” là những Hiện Hữu sống động, hữu thức, đầy sinh lực có thực. Vì vậy chúng ta thấy Thượng đế biểu lộ như Một Hợp Nhất nhưng Ba trong Một; chúng ta thấy Hợp Nhất tam phân phân hóa thành bảy Sự sống vĩ đại, chứa trong Chính Các Ngài mọi sự sống nhỏ hơn. |
|
Another broad differentiation must next be touched upon: [Page 631] |
Tiếp theo cần đề cập đến một sự phân biệt rộng lớn khác: [Page 631] |
|
a. The seven Fires form the forty-nine Fires. |
a. Bảy Lửa tạo thành bốn mươi chín Lửa. |
|
b. The seven Heavenly Men manifest through forty-nine lesser Rays. |
b. Bảy Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua bốn mươi chín cung nhỏ hơn. |
|
c. The seven Spirits shew forth as forty-nine Existences. |
c. Bảy Thánh Linh hiển lộ thành bốn mươi chín Hiện Hữu. |
|
In connection with the Spirit aspect it will prove unprofitable to carry the thought any further. Of Spirit per se we can know nothing, and beyond predicating the forty-nine (205) solar Manus (each of the Heavenly Men is expressing Himself on the physical plane through seven Manus) it is impossible to go. Therefore, in discussing these abstract questions, we will concern ourselves only with the seven Rays of Light, or Heavenly Men, and the seven Fires. |
Liên quan đến phương diện tinh thần, sẽ không ích lợi gì nếu đẩy tư tưởng đi xa hơn nữa. Về chính tinh thần, chúng ta không thể biết gì cả, và ngoài việc khẳng định bốn mươi chín (205) Đức Manu thái dương (mỗi Đấng Thiên Nhân đang biểu lộ Chính Ngài trên cõi hồng trần qua bảy Đức Manu) thì không thể đi xa hơn. Do đó, khi bàn về những vấn đề trừu tượng này, chúng ta sẽ chỉ quan tâm đến bảy Cung Ánh Sáng, hay bảy Đấng Thiên Nhân, và bảy Lửa. |
|
(205) Bốn mươi chín Đức Manu. Các Ngài là những vị bảo trợ hay hộ trì cho các chu kỳ nhân loại trong một giai kỳ sinh hóa, hay một Ngày của Brahma. Có bảy nhân loại trong một thời kỳ thế giới, và có bảy thời kỳ thế giới. (back) |
|
|
Each of the seven Rays of Light differentiates into seven making the forty-nine aspects of the logoic psychic nature, as it shews itself on the cosmic physical plane, and each of the seven Fires manifests as seven lesser Fires, making the forty-nine Fires referred to by H. P. B. in the Secret Doctrine. (S. D., I, 567.) The seven Heavenly Men manifest each through seven lesser Entities, Who form the psychic centres in Their body in the same manner as They—in Their turn—form the psychic centres in the logoic vahan or vehicle. Each of the seven Fires, or Deva Lords, of a plane manifest through seven lesser devas, who form the central fire, and consciousness of the substance of a subplane. It is with their mutual interplay and work that we are now concerned, or with the study of matter as it is affected and built into form through the medium of Divine Thought or Will. |
Mỗi một trong bảy Cung Ánh Sáng phân hóa thành bảy, tạo nên bốn mươi chín phương diện của bản chất thông linh của Thượng đế, như nó hiển lộ trên cõi hồng trần vũ trụ, và mỗi một trong bảy Lửa biểu lộ thành bảy Lửa nhỏ hơn, tạo nên bốn mươi chín Lửa được H. P. B. nhắc đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm. (S. D., I, 567.) Bảy Đấng Thiên Nhân mỗi vị biểu lộ qua bảy Thực Thể nhỏ hơn, các Đấng này tạo thành những trung tâm thông linh trong thể của Các Ngài cũng theo cùng cách mà Chính Các Ngài—đến lượt mình—tạo thành những trung tâm thông linh trong vahan hay vận cụ của Thượng đế. Mỗi một trong bảy Lửa, hay các Chúa Tể thiên thần, của một cõi biểu lộ qua bảy thiên thần nhỏ hơn, những vị này tạo thành lửa trung tâm, và tâm thức của chất liệu của một cõi phụ. Điều hiện nay chúng ta quan tâm là sự tương tác và công việc hỗ tương của họ, hay là việc nghiên cứu vật chất khi nó bị tác động và được xây dựng thành hình tướng qua trung gian của Tư Tưởng hay Ý Chí thiêng liêng. |
|
Of the higher Fires (the Lords of the four higher planes) I do not seek to deal, for it only profits us to [Page 632] study the construction of thought-forms in the three worlds through the medium of deva essences; these are vitalised and manipulated by the Builders, the Dhyan Chohans, the Heavenly Men through the force of Their Life, through Their knowledge of the logoic Will or purpose, and through the power of Their psychic nature. Thus They are occupied in building the logoic physical body, and in carrying out His plans in that body, in this way fulfilling the purpose for which He incarnated. Their work is infinitely greater than this, for it lies primarily on cosmic levels, but this is what concerns us, and all that we can, in any way grasp. Man in the three worlds of human endeavour works at two things: |
Tôi không tìm cách bàn đến các Lửa cao hơn (các Đấng Chúa Tể của bốn cõi cao), vì điều ích lợi cho chúng ta chỉ là [Page 632] nghiên cứu việc kiến tạo các hình tư tưởng trong ba cõi giới qua trung gian của các tinh chất thiên thần; chúng được các Đấng Kiến Tạo, các Dhyan Chohan, các Đấng Thiên Nhân tiếp sinh lực và điều khiển bằng mãnh lực Sự sống của Các Ngài, bằng tri thức của Các Ngài về Ý Chí hay mục đích của Thượng đế, và bằng quyền năng của bản chất thông linh của Các Ngài. Vì vậy Các Ngài bận rộn xây dựng thể xác hồng trần của Thượng đế, và thực hiện các kế hoạch của Ngài trong thể đó, nhờ đó hoàn thành mục đích mà Ngài đã lâm phàm. Công việc của Các Ngài còn lớn lao hơn vô hạn điều này, vì nó chủ yếu nằm trên các cấp độ vũ trụ, nhưng đây là điều liên quan đến chúng ta, và là tất cả những gì chúng ta có thể nắm bắt được phần nào. Con người trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại làm hai việc: |
|
First. The building of his body of manifestation, a threefold body. |
Thứ nhất. Xây dựng thể biểu lộ của y, một thể tam phân. |
|
Second. The construction of thought-forms, which he builds of mental matter and vitalises by desire, and which he holds within his aura, thus constructing a tiny system of his own. |
Thứ hai. Kiến tạo các hình tư tưởng, mà y xây dựng bằng chất liệu trí tuệ và tiếp sinh lực bằng dục vọng, rồi giữ chúng trong hào quang của y, nhờ đó kiến tạo một hệ thống nhỏ bé của riêng mình. |
|
Both man, and the Heavenly Men, work in deva substance; both co-operate with the devas; both manifest will, psychic quality and intelligent activity as they pursue their work but a difference lies, not only in degree, but in consciousness. Man works usually unconsciously. The Heavenly Men, on cosmic levels, work for the most part consciously. Herein lies a hint as to the stage of evolution of our Logos. |
Cả con người lẫn các Đấng Thiên Nhân đều làm việc trong chất liệu thiên thần; cả hai đều hợp tác với các thiên thần; cả hai đều biểu lộ ý chí, phẩm tính thông linh và hoạt động thông tuệ khi theo đuổi công việc của mình, nhưng có một khác biệt không chỉ về mức độ mà còn về tâm thức. Con người thường làm việc một cách vô thức. Các Đấng Thiên Nhân, trên các cấp độ vũ trụ, phần lớn làm việc một cách hữu thức. Chính trong đây có một gợi ý về giai đoạn tiến hoá của Thượng đế của chúng ta. |
|
This matter is of real difficulty, for the subject is abstruse and profound. We will now leave these basic ideas, and deal more specifically with the devas with whom we are immediately concerned, or with the three groups I have outlined—the Agnichaitans, the Agnisuryans, and the Agnishvattas. They are concerned primarily with the evolution of the dense body of the Logos, the liquid, gaseous and dense subplanes of the [Page 633] cosmic physical, or the three worlds of human endeavour; with the magnetic radiation of the Logos through His physical vehicle, and with the radiatory emanations of the particular Heavenly Man Who is expressing Himself through our planet. Finally they are concerned with the evolution of consciousness (207) in the three worlds, and particularly with the individualisation of the human unit of consciousness, and with the vitalisation of the centres in the body of the Heavenly Man with Whom we are peculiarly connected. |
Vấn đề này thực sự khó khăn, vì chủ đề thì trừu tượng và sâu xa. Giờ đây chúng ta sẽ rời những ý tưởng căn bản này, và bàn cụ thể hơn về các thiên thần mà chúng ta trực tiếp quan tâm, hay ba nhóm mà tôi đã phác họa—các Agnichaitan, các Agnisuryan, và các Agnishvatta. Họ chủ yếu liên quan đến sự tiến hoá của thể đậm đặc của Thượng đế, các cõi phụ lỏng, khí và đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ, hay ba cõi giới của nỗ lực nhân loại; đến bức xạ từ tính của Thượng đế qua vận cụ hồng trần của Ngài, và đến các phát xạ bức xạ của Đấng Thiên Nhân đặc biệt đang biểu lộ Chính Ngài qua hành tinh của chúng ta. Sau cùng họ liên quan đến sự tiến hoá của tâm thức (207) trong ba cõi giới, và đặc biệt là với sự biệt ngã hóa của đơn vị tâm thức nhân loại, và với việc tiếp sinh lực cho các trung tâm trong thể của Đấng Thiên Nhân mà chúng ta có liên hệ đặc biệt. |
|
(207) The Lunar Angels have to reach the plane of the Solar Angels.—S. D., I, 203. |
(207) Các Thiên Thần Thái Âm phải đạt đến cõi của các Thái dương Thiên Thần.—S. D., I, 203. |
|
They have to win immortality.—S. D., III, 518, 519. |
Họ phải giành được sự bất tử.—S. D., III, 518, 519. |
|
Self-consciousness is their goal.—S. D., I, 205; II, 622. (back) |
Ngã thức là mục tiêu của họ.—S. D., I, 205; II, 622. (back) |
|
Chủ đề chúng ta đang xem xét bây giờ là các thiên thần lửa của cõi hồng trần, những thiên thần kiến tạo vĩ đại đang thực hiện các mục đích của Thượng đế trong thể xác hồng trần đậm đặc của ngài. Chúng ta hãy làm cho các ý tưởng của mình rõ ràng nhất có thể về vấn đề này; trong bảng liệt kê sau đây, địa vị của các thiên thần này sẽ hiện rõ chỉ trong một cái nhìn: |
|
|
Systemic |
Hệ thống |
|
Name |
Cosmic Plane |
Plane |
Nature |
Ruler |
|
Agnichaitan |
7th subplane – cosmic physical |
Physical |
Densest concretion |
Kshiti |
|
Agnisuryan |
6th subplane – cosmic physical |
Astral |
Liquid |
Varuna |
|
Agnishvatta |
5th subplane – cosmic physical |
Mental |
Gaseous |
Agni |
|
The Agnichaitans. These are the devas who construct, and build in matter of the densest kind in connection with logoic manifestation. They function on the seventh subplane of the cosmic physical plane, and are the producers of the greatest concretion. In the planetary body of our planetary Logos they are the builders of the Earth, His densest form, and throughout the entire solar system they are the sum-total of that activity and vibration [Page 634] which demonstrates through what we call “solid substance.” |
Các Agnichaitan. Đây là những thiên thần kiến tạo và xây dựng trong loại vật chất đậm đặc nhất liên quan đến sự biểu lộ của Thượng đế. Họ hoạt động trên cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần vũ trụ, và là những tác nhân tạo ra sự kết tụ lớn nhất. Trong thể hành tinh của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, họ là những đấng kiến tạo Trái Đất, hình tướng đậm đặc nhất của Ngài, và trong toàn thể hệ mặt trời họ là tổng thể của hoạt động và rung động [Page 634] biểu lộ qua điều mà chúng ta gọi là “chất liệu rắn.” |
|
Therefore, it will be apparent that under the law they will have a peculiarly powerful effect on the lowest subplane of the systemic physical plane; hence their esoteric appellation of the “Agnichaitans of the inner or central heat.” They are the totality of the lowest vibration in the cosmic physical vehicle. |
Do đó, hiển nhiên là dưới định luật, họ sẽ có một tác động đặc biệt mạnh mẽ trên cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần hệ thống; vì thế mới có danh xưng huyền bí của họ là “các Agnichaitan của nhiệt bên trong hay trung tâm.” Họ là tổng thể của rung động thấp nhất trong vận cụ hồng trần vũ trụ. |
|
The Agnisuryans are the builders on the sixth subplane of the cosmic physical plane, our systemic astral plane. They represent, as I have before hinted, the sympathetic nervous system in the logoic physical body, just as their brothers of the seventh vibration represent the sumtotal of the circulatory or blood system. A hint to the student who is interested in the physiological key lies in the relationship between the two great groups of devas who build and construct the most objective portion of logoic manifestation, and the two groups of corpuscles which in their mutual interaction hold the body in health; there is an analogy also in the relationship between the devas of the astral plane, and the motor and sensory nerves of the physical body. I will not enlarge upon this angle of vision. |
Các Agnisuryan là những đấng kiến tạo trên cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ, tức cõi cảm dục hệ thống của chúng ta. Như tôi đã gợi ý trước đây, họ tượng trưng cho hệ thần kinh giao cảm trong thể xác hồng trần của Thượng đế, cũng như các huynh đệ của họ thuộc rung động thứ bảy tượng trưng cho tổng thể của hệ tuần hoàn hay hệ máu. Một gợi ý cho đạo sinh quan tâm đến chìa khóa sinh lý học nằm trong mối liên hệ giữa hai nhóm thiên thần lớn kiến tạo và xây dựng phần khách quan nhất của sự biểu lộ của Thượng đế, và hai nhóm huyết cầu mà trong sự tương tác hỗ tương của chúng giữ cho cơ thể được khỏe mạnh; cũng có một sự tương tự trong mối liên hệ giữa các thiên thần của cõi cảm dục và các dây thần kinh vận động cùng cảm giác của thể xác. Tôi sẽ không khai triển thêm góc nhìn này. |
|
These devas have to do, in a very esoteric sense, with the nerve plexus in the: |
Các thiên thần này, theo một ý nghĩa rất huyền bí, có liên quan đến các đám rối thần kinh trong: |
|
a. Solar system. (Physical Sun) |
a. Hệ mặt trời. (Mặt Trời hồng trần) |
|
b. Planetary scheme. (Dense Planet) |
b. Hệ hành tinh. (Hành tinh đậm đặc) |
|
c. Human physical body. (Dense Body) |
c. Thể xác hồng trần của con người. (Thể đậm đặc) |
|
and are therefore a powerful factor in the eventual vitalisation of the centres in man. The etheric centres, or the focal points of force of a Heavenly Man are on the fourth cosmic ether, the buddhic plane. The astral plane is closely allied to the buddhic, and as the etheric centres of our Heavenly Man, for instance, come into full activity, the force is transmitted through the astral correspondence [Page 635] to the fourth physical ether, in which the centres of man exist. |
và vì vậy là một yếu tố mạnh mẽ trong việc tiếp sinh lực sau cùng cho các trung tâm trong con người. Các trung tâm dĩ thái, hay các tiêu điểm mãnh lực của một Đấng Thiên Nhân, nằm trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề. Cõi cảm dục liên hệ chặt chẽ với cõi Bồ đề, và chẳng hạn khi các trung tâm dĩ thái của Đấng Thiên Nhân của chúng ta đi vào hoạt động đầy đủ, mãnh lực được truyền qua sự tương ứng cảm dục [Page 635] đến dĩ thái hồng trần thứ tư, nơi các trung tâm của con người hiện hữu. |
|
The Agnishvattas are the builders on the fifth or gaseous subplane of the cosmic physical, and—from the human standpoint—are the most profoundly important, for they are the builders of the body of consciousness per se. From the psychic standpoint of occult physiology, they have a close connection with the physical brain, the seat or empire of the Thinker, and as at this stage all that we can know must be viewed kama-manasically, it will be apparent that between the sympathetic nervous system and the brain is such a close interaction as to make one organised whole. This microcosmic correspondence is of interest, but in studying these groups of devas at present we will view them principally in their work as systemic and planetary builders, leaving the student to trace out for himself the human analogy. He will learn thereby. Having indicated certain lines of thought, we will now take up these groups one at a time and consider them. |
Các Agnishvatta là những đấng kiến tạo trên cõi phụ thứ năm hay cõi khí của cõi hồng trần vũ trụ, và—xét từ quan điểm con người—là quan trọng sâu xa nhất, vì họ là những đấng kiến tạo của thể tâm thức chính nó. Từ quan điểm thông linh của sinh lý học huyền bí, họ có liên hệ mật thiết với bộ não hồng trần, chỗ ngự hay đế quốc của Đấng Tư Tưởng, và vì ở giai đoạn này mọi điều chúng ta có thể biết đều phải được nhìn theo cách trí-cảm, nên hiển nhiên là giữa hệ thần kinh giao cảm và bộ não có một sự tương tác mật thiết đến mức tạo thành một toàn thể có tổ chức. Sự tương ứng vi mô này thật đáng quan tâm, nhưng khi nghiên cứu các nhóm thiên thần này hiện nay chúng ta sẽ chủ yếu xem xét họ trong công việc của họ như những đấng kiến tạo hệ thống và hành tinh, để đạo sinh tự mình truy ra sự tương tự nơi con người. Nhờ đó y sẽ học được. Sau khi đã chỉ ra một số tuyến tư tưởng, giờ đây chúng ta sẽ lần lượt xét từng nhóm này và khảo sát họ. |
|
The Agnichaitans—Physical Plane Devas. |
Các Agnichaitan—Thiên thần cõi hồng trần. |
|
These devas are the sumtotal of physical plane substance. This plane is, as we know, divided into two parts: |
Các thiên thần này là tổng thể của chất liệu cõi hồng trần. Cõi này, như chúng ta biết, được chia thành hai phần: |
|
The four ethers, four subplanes. |
Bốn dĩ thái, bốn cõi phụ. |
|
The demonstrably concrete or dense three subplanes. |
Ba cõi phụ cụ thể hay đậm đặc có thể chứng minh được. |
|
We have here a subdivision of the seventh subplane of the cosmic physical plane making the lowest manifestation one that is divided into forty-nine subplanes or states of activity. For purposes of active work, the devas of the system are divided into forty-nine groups—the forty-nine fires. The Agnichaitans in turn are also divided into forty-nine groups, thus reflecting the whole. [Page 636] |
Ở đây chúng ta có một sự phân chia của cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần vũ trụ, khiến cho biểu lộ thấp nhất trở thành một biểu lộ được chia thành bốn mươi chín cõi phụ hay trạng thái hoạt động. Vì mục đích công việc tích cực, các thiên thần của hệ thống được chia thành bốn mươi chín nhóm—bốn mươi chín lửa. Đến lượt mình, các Agnichaitan cũng được chia thành bốn mươi chín nhóm, nhờ đó phản chiếu toàn thể. [Page 636] |
|
1. The Raja-Lord. Kshiti. The life of the physical plane. |
1. Raja-Lord. Kshiti. Sự sống của cõi hồng trần. |
|
2. Three groups of Agnichaitans concerned with: |
2. Ba nhóm Agnichaitan liên quan đến: |
|
A. The force or energy of physical substance. That electrical aspect which produces activity. |
A. Mãnh lực hay năng lượng của chất liệu hồng trần. Phương diện điện tạo ra hoạt động đó. |
|
B. The construction of forms. They produce the union of negative and positive substance, and thus bring into being all that can be seen, and touched in the exoteric and ordinary connotation. |
B. Việc kiến tạo các hình tướng. Họ tạo ra sự kết hợp của chất liệu âm và dương, và nhờ đó làm phát sinh mọi điều có thể được nhìn thấy và chạm đến theo nghĩa ngoại môn và thông thường. |
|
C. The internal heat of substance which nourishes and causes reproduction. They form the purely mother aspect. |
C. Nhiệt bên trong của chất liệu, thứ nuôi dưỡng và gây ra sự sinh sản. Họ tạo thành phương diện mẫu thân thuần túy. |
|
These three groups are subdivided again into seven groups which form the matter of each subplane, viewing that matter as the body of manifestation of one of the seven devas through whom the Raja-Lord of the plane is manifesting. |
Ba nhóm này lại được chia nhỏ thành bảy nhóm, tạo thành vật chất của mỗi cõi phụ, nếu xem vật chất đó như thể biểu lộ của một trong bảy thiên thần mà qua đó Raja-Lord của cõi đang biểu lộ. |
|
These seven groups are again divided into seven, making forty-nine. |
Bảy nhóm này lại được chia thành bảy, thành ra bốn mươi chín. |
|
The three groups function as follows: |
Ba nhóm hoạt động như sau: |
|
Group A. on the first subplane. They are the sumtotal of the atomic matter of the physical plane. |
Nhóm A. trên cõi phụ thứ nhất. Họ là tổng thể của vật chất nguyên tử của cõi hồng trần. |
|
Group B. on the second, third and fourth etheric subplanes. They are the substance of those planes, the transmitters of prana, through which prana flows to the most concrete aspects of the logoic dense vahan, or vehicle. |
Nhóm B. trên các cõi phụ dĩ thái thứ hai, thứ ba và thứ tư. Họ là chất liệu của các cõi đó, là những tác nhân truyền prana, qua đó prana chảy đến các phương diện cụ thể nhất của vahan hay vận cụ đậm đặc của Thượng đế. |
|
Group C. the lowest three subplanes; they are the devas who are the essences of all that is tangible, visible and objective. |
Nhóm C. ba cõi phụ thấp nhất; họ là những thiên thần là tinh chất của mọi điều hữu hình, khả kiến và khách quan. |
|
A very real distinction must be made by students between the centres and the remainder of the body, as they investigate the construction of the body of the solar Logos or of a planetary Logos. |
Đạo sinh phải tạo ra một sự phân biệt rất thực giữa các trung tâm và phần còn lại của thể, khi nghiên cứu việc kiến tạo thể của Thái dương Thượng đế hay của một Hành Tinh Thượng đế. |
|
[Page 637] The centres are allied or connected with consciousness, and are composed of self-conscious units—the human Monads. The remainder of the body is composed of deva substance, yet the two together form a unity. The deva units therefore far outnumber the human, and deva substance is also feminine and negative, the human Hierarchy being masculine. Through the positive activity of the centres, the negative deva substance is influenced, built and energized. This is true of a solar Logos, a planetary Logos and a human being. |
[Page 637] Các trung tâm liên kết hay gắn với tâm thức, và được cấu thành bởi các đơn vị hữu thức—các Chân thần nhân loại. Phần còn lại của thể được cấu thành bởi chất liệu thiên thần, tuy nhiên cả hai cùng nhau tạo thành một hợp nhất. Vì vậy các đơn vị thiên thần đông hơn rất nhiều so với các đơn vị nhân loại, và chất liệu thiên thần cũng là nữ tính và âm, còn Huyền Giai nhân loại là nam tính. Qua hoạt động dương của các trung tâm, chất liệu thiên thần âm bị tác động, được xây dựng và được tiếp năng lượng. Điều này đúng với một Thái dương Thượng đế, một Hành Tinh Thượng đế và một con người. |
|
Three types of force, therefore, play upon or through these devas: |
Vì vậy, ba loại mãnh lực tác động lên hay xuyên qua các thiên thần này: |
|
a. That energizing the devas of the first subplane, the atomic. This emanates directly from the first aspect of Brahma, or Agni, considering Him as a self-conscious Identity, the third Person of the logoic Trinity, and therefore Spirit, Soul and Body Himself in His separated essential nature. |
a. Mãnh lực tiếp năng lượng cho các thiên thần của cõi phụ thứ nhất, tức cõi nguyên tử. Mãnh lực này phát ra trực tiếp từ phương diện thứ nhất của Brahma, hay Agni, khi xem Ngài như một Bản Sắc hữu thức, Ngôi thứ ba của Tam Vị Thượng đế, và do đó chính Ngài là Tinh thần, Linh hồn và Thể trong bản chất cốt yếu biệt lập của Ngài. |
|
b. Mãnh lực tiếp năng lượng cho các thiên thần kiến tạo, hay các nhóm xây dựng hình tướng; mãnh lực này đến từ phương diện thứ hai của Brahma, và là prana, phát ra từ Mặt Trời hồng trần, hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn. |
|
|
c. That energizing the devas of the lowest three orders, emanating from Brahma in His third aspect. Thus in the dual force, or the aspects of matter itself, interacting the one upon the other, densest forms of all are produced. Yet these three function as one. |
c. Mãnh lực tiếp năng lượng cho các thiên thần của ba cấp thấp nhất, phát ra từ Brahma trong phương diện thứ ba của Ngài. Như vậy trong mãnh lực kép, hay các phương diện của chính vật chất, tương tác lẫn nhau, các hình tướng đậm đặc nhất được tạo ra. Tuy nhiên ba nhóm này hoạt động như một. |
|
Group C. Agnichaitans. In considering these groups of Agnichaitans, we must remember that we are dealing with that manifestation of the Logos with which exoteric science is dealing, and that as regards Group C, science is already making fair progress in the accumulation of knowledge; it remains yet for science to [Page 638] acknowledge the “entified” nature of substance, (208, 209) and thus account for the life that energizes the substance of the three lower subplanes. This recognition by science that all forms are built of intelligent lives will come about when the science of magic begins again to come to the fore, and when the laws of being are better understood. Magic concerns itself with the manipulation of the lesser lives by a greater life; when the scientist begins to work with the consciousness that animates substance (atomic or electronic), and when he brings under his conscious control the forms built of this substance, he will gradually become cognizant of the fact that all entities of all grades and of varying constitutions go to the construction of that which is seen. This will not be until science has definitely admitted the existence of etheric matter as understood by the occultist, and until it has developed the hypothesis that this ether is in differing vibrations. When the etheric counterpart of all that exists is allocated to its rightful place, and known to be of more importance in the scale of being than the dense vehicle, being essentially the body of the [Page 639] life, or vitality, then the role of the scientist and the occultist will merge. |
Nhóm C. Các Agnichaitan. Khi xem xét các nhóm Agnichaitan này, chúng ta phải nhớ rằng mình đang bàn đến biểu lộ của Thượng đế mà khoa học ngoại môn đang nghiên cứu, và xét về Nhóm C, khoa học đã đạt được tiến bộ khá tốt trong việc tích lũy tri thức; điều còn lại là khoa học phải [Page 638] thừa nhận bản chất “thực thể hóa” của chất liệu, (208, 209) và nhờ đó giải thích sự sống tiếp năng lượng cho chất liệu của ba cõi phụ thấp. Sự thừa nhận này của khoa học rằng mọi hình tướng đều được xây dựng bằng những sự sống thông tuệ sẽ đến khi khoa học huyền thuật lại bắt đầu nổi lên, và khi các định luật của hiện hữu được thấu hiểu tốt hơn. Huyền thuật liên quan đến việc điều khiển các sự sống nhỏ hơn bởi một sự sống lớn hơn; khi nhà khoa học bắt đầu làm việc với tâm thức làm sinh động chất liệu (nguyên tử hay điện tử), và khi ông đặt dưới sự kiểm soát hữu thức của mình các hình tướng được xây dựng bằng chất liệu này, ông sẽ dần dần nhận biết được sự kiện rằng mọi thực thể thuộc mọi cấp bậc và có các cấu tạo khác nhau đều góp phần vào việc kiến tạo cái được nhìn thấy. Điều này sẽ chưa xảy ra cho đến khi khoa học dứt khoát thừa nhận sự hiện hữu của vật chất dĩ thái như nhà huyền bí học hiểu, và cho đến khi nó phát triển giả thuyết rằng dĩ thái này có những rung động khác nhau. Khi đối phần dĩ thái của mọi cái hiện hữu được đặt vào đúng vị trí của nó, và được biết là quan trọng hơn trong thang bậc hiện hữu so với vận cụ đậm đặc, vì về bản chất nó là thể của [Page 639] sự sống, hay sinh lực, thì vai trò của nhà khoa học và nhà huyền bí học sẽ hòa nhập. |
|
(208) Bản chất “thực thể hóa” của mọi chất liệu về mặt kỹ thuật được gọi là Hylozoism. H. P. B. nói: “Hylozoism, khi được hiểu theo triết học, là phương diện cao nhất của Phiếm thần luận. Đó là lối thoát khả hữu duy nhất khỏi thuyết Vô thần ngu xuẩn dựa trên tính vật chất chết chóc, và khỏi những quan niệm nhân hình còn ngu xuẩn hơn của những người Nhất thần luận; giữa hai điều đó, nó đứng trên nền tảng hoàn toàn trung lập của riêng nó. Hylozoism đòi hỏi Tư Tưởng thiêng liêng tuyệt đối, tư tưởng này sẽ thấm nhuần vô số Mãnh Lực sáng tạo tích cực, hay các “Đấng Sáng Tạo,” những Thực Thể này được vận động bởi, và có sự hiện hữu của mình trong, từ và qua Tư Tưởng thiêng liêng đó….Những “Đấng Sáng Tạo” tích cực như thế được biết là hiện hữu và được tin là có thật vì được Nội Nhân nơi nhà huyền bí học tri giác và cảm nhận.”—S. D., II, 167, 168. (back) |
|
|
H. P. B. has said (S.D., II. 621) that the dense physical is not a principle, and this point is frequently overlooked in connection with man and the Logos. Its importance cannot be too strongly realised for it has the effect of transferring the point of centralisation, or of polarisation in the case of man into his etheric body, composed of matter of the four higher subplanes of the systemic physical plane, and in the case of the Logos, of the four higher subplanes of the cosmic physical plane. The point is one of a very real complexity, for it involves the realisation that, from the standpoint of the occultist, the lowest vibration with which he may concern himself is that of the systemic etheric in its four lesser allied vibrations; similarly macrocosmically the lowest logoic vibration with which the greater Adepts are concerned is the cosmic etheric. The three lowest systemic and cosmic vibrations are the result of: |
H. P. B. đã nói (S.D., II. 621) rằng cõi hồng trần đậm đặc không phải là một nguyên khí, và điểm này thường bị bỏ qua khi liên hệ với con người và Thượng đế. Tầm quan trọng của nó không thể được chứng nghiệm quá mạnh, vì nó có tác dụng chuyển điểm tập trung, hay điểm phân cực trong trường hợp con người, vào thể dĩ thái của y, được cấu thành bằng vật chất của bốn cõi phụ cao hơn của cõi hồng trần hệ thống, và trong trường hợp của Thượng đế, vào bốn cõi phụ cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ. Điểm này thực sự rất phức tạp, vì nó bao hàm sự chứng nghiệm rằng, từ quan điểm của nhà huyền bí học, rung động thấp nhất mà ông có thể quan tâm là rung động của cõi dĩ thái hệ thống trong bốn rung động liên hệ thấp hơn của nó; tương tự như vậy về mặt đại thiên địa, rung động thấp nhất của Thượng đế mà các chân sư cao cả hơn quan tâm là cõi dĩ thái vũ trụ. Ba rung động thấp nhất của hệ thống và của vũ trụ là kết quả của: |
|
Reflex action on the part of negative substance for the lower three are negative to the higher four. |
Phản ứng phản xạ từ phía chất liệu âm vì ba cõi thấp là âm đối với bốn cõi cao hơn. |
|
Synchronous vibration, inherent in negative substance, the residue of an earlier system, and embodying therefore past karma for the Logos and for man. |
Rung động đồng bộ, vốn có trong chất liệu âm, là tàn dư của một hệ thống trước, và do đó hiện thân cho nghiệp quả quá khứ của Thượng đế và của con người. |
|
Vibrations that are gradually being superseded by the imposition of a higher note; therefore for both man and the Logos, they occultly form the “body of death.” |
Những rung động đang dần bị thay thế bởi sự áp đặt của một âm điệu cao hơn; vì vậy đối với cả con người lẫn Thượng đế, về mặt huyền bí chúng tạo thành “thể chết.” |
|
This brings us to the point which we are seeking to make anent this third group of the lowest devas. They are very destructive where man is concerned, for they embody the final and therefore powerful vibration of the past system, the conscious activity of dense matter. Hence there is consequently a profound truth in the [Page 640] statement that man is at the “mercy of the elements.” Man can physically be burned and destroyed by fire; he is helpless before volcanic action, and cannot protect himself from the ravages of fire, unless in the initial stages of such deva endeavour. The occult importance of the war man wages on the fire devas for instance is very real in connection with the fire department in any city. The time lies far ahead as yet, but it will surely come, when the personnel of these departments will be chosen for their ability to control the agnichaitans when manifesting destructively, and their methods will no longer be that of water (or the calling in of the water devas to neutralise the fire devas), but that of incantation, and a knowledge of the sounds that will swing into action forces which will control the fiery destructive elements. |
Điều này đưa chúng ta đến điểm mà chúng ta đang tìm cách nêu ra liên quan đến nhóm thứ ba này của các thiên thần thấp nhất. Họ rất có tính hủy diệt đối với con người, vì họ hiện thân cho rung động cuối cùng và do đó mạnh mẽ của hệ thống quá khứ, tức hoạt động hữu thức của vật chất đậm đặc. Vì thế có một chân lý sâu xa trong [Page 640] lời phát biểu rằng con người ở dưới “sự chi phối của các nguyên tố.” Con người có thể bị lửa thiêu đốt và hủy diệt về mặt thể xác; y bất lực trước hoạt động núi lửa, và không thể tự bảo vệ mình khỏi sự tàn phá của lửa, trừ trong những giai đoạn đầu của nỗ lực thiên thần như thế. Tầm quan trọng huyền bí của cuộc chiến mà con người tiến hành chống lại các thiên thần lửa, chẳng hạn, là rất thực trong mối liên hệ với sở cứu hỏa ở bất kỳ thành phố nào. Thời điểm đó còn ở rất xa, nhưng chắc chắn sẽ đến, khi nhân sự của các sở này sẽ được chọn vì khả năng kiểm soát các agnichaitan khi chúng biểu lộ một cách hủy diệt, và phương pháp của họ sẽ không còn là dùng nước (hay kêu gọi các thiên thần nước để hóa giải các thiên thần lửa), mà là dùng thần chú, và tri thức về các âm thanh sẽ đưa vào hoạt động những mãnh lực có thể kiểm soát các nguyên tố lửa hủy diệt. |
|
The third group of these devas is very definitely connected with the control of the Manu’s department, and of the great devas associated with that department on this planet. Through their activity during certain cycles the entire surface of the Earth is changed through the medium of volcanic action; continents are raised and submerged; volcanoes are active or quiescent, and thus the world is purified by fire. In their own department these Agnichaitans are kept busy building the mineral forms through the agency of fire; they are the alchemists of the lower regions, and through contact with them, and through the knowledge of “the words” by which they are controlled, the future scientific alchemists (I use this expression in contradistinction to the idealistic alchemists of the past) will work with minerals and with the lives embodied in all mineral forms. |
Nhóm thứ ba của các thiên thần này có liên hệ rất rõ rệt với sự kiểm soát của bộ phận của Đức Manu, và của các thiên thần vĩ đại liên kết với bộ phận đó trên hành tinh này. Qua hoạt động của họ trong một số chu kỳ nhất định, toàn bộ bề mặt Trái Đất được thay đổi qua trung gian của hoạt động núi lửa; các lục địa được nâng lên và chìm xuống; các núi lửa hoạt động hay yên lặng, và nhờ đó thế giới được thanh lọc bằng lửa. Trong bộ phận riêng của mình, các Agnichaitan này luôn bận rộn xây dựng các hình tướng khoáng vật qua tác nhân của lửa; họ là các nhà luyện kim của những vùng thấp, và qua sự tiếp xúc với họ, cùng qua tri thức về “các lời” mà nhờ đó họ được kiểm soát, các nhà luyện kim khoa học tương lai (tôi dùng cách diễn đạt này để phân biệt với các nhà luyện kim duy tâm của quá khứ) sẽ làm việc với khoáng vật và với các sự sống hiện thân trong mọi hình tướng khoáng vật. |
|
The secret of the transmutation of the baser metals into gold will be revealed when world conditions are such that gold is no longer the standard and hence the free manufacture of gold will not lead to disaster, and [Page 641] when scientists work with the life aspect, or with positive electrical life, and not with the substance or form aspect. |
Bí mật của sự chuyển hoá các kim loại hèn thành vàng sẽ được tiết lộ khi các điều kiện thế giới trở nên sao cho vàng không còn là tiêu chuẩn nữa và vì thế việc chế tạo vàng tự do sẽ không dẫn đến tai họa, và [Page 641] khi các nhà khoa học làm việc với phương diện sự sống hay với sự sống điện dương, chứ không phải với phương diện chất liệu hay hình tướng. |
|
We have seen that the work of the lowest group of Agnichaitans is to build continents by fire, to purify by fire during alternate cycles, and to construct the metals and the minerals. It is also concerned with the tending of the fires of the hearth, or those fires which warm, cheer and produce livable conditions in a planet, and incidentally in a home. This is of very vital import, for it means that they are connected with the central basic fires in the bowels of the Earth, with the central basic fire that nourishes and warms the physical forms of all the kingdoms of nature, and consequently with the kundalini fire at the base of the spine in individual man. |
Chúng ta đã thấy rằng công việc của nhóm Agnichaitan thấp nhất là xây dựng các lục địa bằng lửa, thanh lọc bằng lửa trong các chu kỳ xen kẽ, và kiến tạo các kim loại cùng khoáng vật. Nó cũng liên quan đến việc chăm nom các ngọn lửa nơi lò sưởi, hay những ngọn lửa sưởi ấm, làm vui tươi và tạo ra các điều kiện có thể sinh sống được trên một hành tinh, và ngẫu nhiên là trong một ngôi nhà. Điều này có tầm quan trọng rất thiết yếu, vì nó có nghĩa là họ liên kết với các ngọn lửa căn bản trung tâm trong lòng Trái Đất, với ngọn lửa căn bản trung tâm nuôi dưỡng và sưởi ấm các hình tướng hồng trần của mọi giới trong thiên nhiên, và do đó với lửa kundalini ở đáy cột sống nơi từng con người. |
|
It is not advisable for us further to enlarge upon their functions. It should be noted that in connection with the matter aspect there is less to be said than on consciousness, and on the hylozoistic aspect of manifestation. The reason lies in the fact that exoteric science is slowly, yet steadily, finding out the nature of phenomena, and discovering for itself the character of electrical manifestation. In their slowness of discovery lies safety. It is not wise nor right yet for the true nature of these different forces and powers to be fully known; therefore, it is not possible for us to do more than indicate certain broad general lines. In due course of time, as the human family becomes centred in the higher, and not in the lower nature, and as the force from the higher planes can more easily impose itself on the lower, the facts concerning these Lives and Builders, their methods of work, and the laws of their being will be known. Knowledge at this time would be productive of two results. It would first of all bring the human family into the power (as yet blind and destructive) of [Page 642] certain elementals, who are of a nature analogous to that of the physical body. Hence destruction of the form would ensue, or paralysis and insanity on a large scale would eventuate. Secondly, it would put power into the hands of certain of the Brothers of the Left Hand Path (211) and of a number of unconscious magicians (of whom there are quite a number) who would use it only for selfish, evil and material ends. Hence no more can be said anent dense physical substance and its embodiers. The Agnichaitans of the third group are as yet a menace to man, and are only handled in group formation, and on a large scale by the head of the Manu’s department through their own rulers-certain devas of a development equal to that of the sixth Initiation. |
Chúng ta không nên khai triển thêm về các chức năng của họ. Cần lưu ý rằng liên quan đến phương diện vật chất thì có ít điều để nói hơn là về tâm thức, và về phương diện hylozoistic của sự biểu lộ. Lý do nằm ở chỗ khoa học ngoại môn đang chậm rãi nhưng vững chắc khám phá ra bản chất của các hiện tượng, và tự mình phát hiện đặc tính của sự biểu lộ điện. Trong sự chậm chạp khám phá của nó có sự an toàn. Hiện nay việc bản chất chân thực của các mãnh lực và quyền năng khác nhau này được biết đầy đủ vẫn chưa khôn ngoan cũng chưa đúng đắn; vì vậy, chúng ta không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra một số đường nét tổng quát rộng lớn. Đến đúng thời, khi gia đình nhân loại trở nên tập trung trong bản chất cao hơn chứ không phải bản chất thấp hơn, và khi mãnh lực từ các cõi cao hơn có thể dễ dàng áp đặt chính nó lên cõi thấp hơn hơn, thì các sự kiện liên quan đến các Sự Sống và các Đấng Kiến Tạo này, các phương pháp làm việc của họ, và các định luật hiện hữu của họ sẽ được biết đến. Tri thức vào lúc này sẽ tạo ra hai kết quả. Trước hết, nó sẽ đưa gia đình nhân loại vào quyền lực (hiện còn mù quáng và hủy diệt) của [Page 642] một số hành khí, có bản chất tương tự với bản chất của thể xác. Vì thế sự hủy diệt hình tướng sẽ xảy ra, hoặc sự tê liệt và điên loạn trên quy mô lớn sẽ phát sinh. Thứ hai, nó sẽ đặt quyền năng vào tay một số huynh đệ của tả đạo (211) và một số nhà huyền thuật vô thức (mà có khá nhiều) là những kẻ sẽ chỉ dùng nó cho các mục đích ích kỷ, xấu ác và vật chất. Vì vậy không thể nói thêm gì nữa liên quan đến chất liệu hồng trần đậm đặc và các thực thể hiện thân của nó. Các Agnichaitan của nhóm thứ ba hiện vẫn là một mối đe dọa đối với con người, và cho đến nay chỉ được xử lý trong đội hình nhóm, và trên quy mô lớn bởi vị đứng đầu bộ phận của Đức Manu thông qua các vị cai quản riêng của họ—một số thiên thần có mức phát triển ngang với lần điểm đạo thứ sáu. |
|
(211) Con Đường tả đạo là con đường được nhà hắc thuật và các Huynh Đệ của Bóng Tối đi theo. Nó bắt nguồn từ việc sử dụng các mãnh lực của thiên nhiên cho những mục đích ích kỷ; nó được đặc trưng bởi tính ích kỷ mãnh liệt và tính phân ly, và kết thúc trong Avitchi, khối cầu thứ 8, nơi cư ngụ của các linh hồn lạc mất, hay những vỏ của phàm nhân đã bị tách rời khỏi nguyên khí sự sống chân ngã hay cá nhân của chúng. (back) |
|
|
The occult Hierarchy of our planet is primarily concerned with the development of self-consciousness in man, and with the intelligent interpretation of the happenings of Nature; it is concerned with a wise co-operation with the building Forces of nature; and the object of its main endeavour is the vitalisation and activity of the centres in the Heavenly Man of our planet, and in the individual units of the human family. |
Thánh Đoàn huyền bí của hành tinh chúng ta chủ yếu quan tâm đến sự phát triển ngã thức nơi con người, và đến sự diễn giải thông tuệ các biến cố của Thiên Nhiên; Thánh Đoàn quan tâm đến sự hợp tác khôn ngoan với các Mãnh Lực kiến tạo của thiên nhiên; và mục tiêu của nỗ lực chính yếu của Thánh Đoàn là việc tiếp sinh lực và hoạt động của các trung tâm trong Đấng Thiên Nhân của hành tinh chúng ta, và trong các đơn vị cá thể của gia đình nhân loại. |
|
The occult Hierarchy is a great force centre, the heart, head, and throat of the Heavenly Man as these three centres function in a triple co-ordination. Paralleling their activities along the line of consciousness (and primarily consciousness or intelligence as it demonstrates through the third and fourth kingdoms) is to be found a great hierarchy of devas who concern themselves with the development of that portion of the body of a Heavenly Man which is not included in the active centres. Perhaps some idea of what I seek to convey [Page 643] may be gathered from an illustration. The occult Hierarchy is concerned with the unfoldment of the nine-petalled Lotus in the Heavenly Man, and in man (the former through reflex action between the cosmic physical and the cosmic mental), while the great deva Hierarchy is concerned with the permanent atoms, with the egoic body, and with the development of the spirillae. Thus the function of the Agnichaitans of the lowest furnaces—macrocosmically and microcosmically—will be seen and comprehended by the wise student. |
Thánh Đoàn huyền bí là một trung tâm mãnh lực vĩ đại, là tim, đầu và cổ họng của Đấng Thiên Nhân khi ba trung tâm này hoạt động trong một sự phối hợp tam phân. Song song với các hoạt động của chúng theo tuyến tâm thức (và chủ yếu là tâm thức hay trí tuệ như nó biểu lộ qua giới thứ ba và giới thứ tư) là một huyền giai thiên thần vĩ đại quan tâm đến sự phát triển của phần thể của một Đấng Thiên Nhân không được bao gồm trong các trung tâm hoạt động. Có lẽ một vài ý niệm về điều tôi tìm cách truyền đạt [Page 643] có thể được nắm bắt qua một minh họa. Thánh Đoàn huyền bí quan tâm đến sự khai mở của Hoa sen chín cánh trong Đấng Thiên Nhân, và trong con người (điều trước qua phản ứng phản xạ giữa cõi hồng trần vũ trụ và cõi trí vũ trụ), trong khi huyền giai thiên thần vĩ đại quan tâm đến các nguyên tử trường tồn, đến thể chân ngã, và đến sự phát triển của các loa tuyến. Nhờ đó chức năng của các Agnichaitan của những lò lửa thấp nhất—về mặt đại thiên địa và tiểu thiên địa—sẽ được đạo sinh minh triết nhìn thấy và thấu hiểu. |
|
Group B. Agnichaitans. In taking up the matter of the second group of Agnichaitans—Group B—we are dealing with that important group of devas who are designated in some works as the “devas of the shadows.” Their function is primarily a fourfold one, and they are the basis of motion or of activity on all planes, which activity is produced by the interplay of the negative and positive aspects of Brahma, the manifested God. |
Nhóm B. Các Agnichaitan. Khi đề cập đến vấn đề của nhóm Agnichaitan thứ hai—Nhóm B—chúng ta đang bàn đến nhóm thiên thần quan trọng được gọi trong một số tác phẩm là “các thiên thần của bóng tối.” Chức năng của họ chủ yếu có bốn mặt, và họ là nền tảng của chuyển động hay hoạt động trên mọi cõi, hoạt động này được tạo ra bởi sự tương tác giữa các phương diện âm và dương của Brahma, Thượng đế biểu lộ. |
|
First, they are the builders of the etheric bodies of all sentient existences, and primarily of all the etheric bodies of men. |
Thứ nhất, họ là những đấng kiến tạo các thể dĩ thái của mọi hiện hữu có tri giác, và chủ yếu là của mọi thể dĩ thái của con người. |
|
Second, they are the transmitters of prana. |
Thứ hai, họ là những tác nhân truyền prana. |
|
Third, they perform a very definite function in the evolutionary process of linking up the four kingdoms of nature, being essentially the transmuters and transmitters of the lower into the higher. They build between each kingdom—mineral, vegetable, animal and human—that which in each case corresponds to the antaskarana, or the bridge linking higher and lower manas, and which therefore is the channel for the transmission of the life from out of the lower human kingdom into the higher spiritual one. It will be found that between each of the different stages of consciousness (from the subconscious through the self-conscious to the superconscious) there is a period of linking, of building, and of bridging, and this is carried out by the agency of [Page 644] certain groups of devas on all the planes. These three groups on the physical plane find their counterparts and their work paralleled on higher levels. The point to be remembered is that this work of bridging from one stage or from one kingdom to another has to be performed under the following conditions: |
Thứ ba, họ thực hiện một chức năng rất xác định trong tiến trình tiến hoá là nối kết bốn giới trong thiên nhiên, vì về bản chất họ là những tác nhân chuyển hoá và truyền dẫn từ thấp lên cao. Họ xây dựng giữa mỗi giới—kim thạch, thực vật, động vật và nhân loại—điều mà trong mỗi trường hợp tương ứng với antaskarana, hay cây cầu nối manas cao và thấp, và do đó là kênh để truyền sự sống từ giới nhân loại thấp lên giới tinh thần cao hơn. Sẽ thấy rằng giữa mỗi giai đoạn tâm thức khác nhau (từ tiềm thức qua ngã thức đến siêu thức) có một thời kỳ nối kết, xây dựng và bắt cầu, và điều này được thực hiện nhờ tác nhân của [Page 644] một số nhóm thiên thần trên mọi cõi. Ba nhóm này trên cõi hồng trần có các đối phần của chúng và công việc của chúng được song hành trên các cấp độ cao hơn. Điểm cần ghi nhớ là công việc bắt cầu từ giai đoạn này sang giai đoạn khác hay từ giới này sang giới khác phải được thực hiện dưới các điều kiện sau: |
|
a. Là kết quả của một xung lực phát ra từ phía thấp hơn, hay khởi nguồn trong dục vọng tích cực của phía thấp hơn muốn ôm lấy hay tiếp xúc với phía cao hơn. Điều này có tầm quan trọng tối cao, vì mọi tiến bộ đều phải do chính mình khởi phát, do chính mình khởi xướng, và là kết quả của một hoạt động bên trong. |
|
|
b. As the result of reflex action from the higher stage or kingdom; it is brought about by the activity of the lower which calls forth a response from the higher. All vibration, it must be remembered, travels along waves of living substance. |
b. Là kết quả của phản ứng phản xạ từ giai đoạn hay giới cao hơn; nó được tạo ra bởi hoạt động của phía thấp hơn, hoạt động này gọi ra một đáp ứng từ phía cao hơn. Cần nhớ rằng mọi rung động đều truyền đi trên những làn sóng của chất liệu sống. |
|
c. As the result of extraneous stimulation produced by the activity of certain conscious powers, interested in the process of evolutionary development. |
c. Là kết quả của sự kích thích từ bên ngoài do hoạt động của một số quyền năng hữu thức tạo ra, những quyền năng này quan tâm đến tiến trình phát triển tiến hoá. |
|
All these conditions can be seen in the process of the initiation of man, and of his transference from the fourth kingdom into the spiritual. His efforts must be self-induced, or the effect of his own self-conscious endeavour; they will meet with a response from his superconsciousness, the atmic aspect or Spirit and this dual interplay will be further aided by the Guardians of the Rites of Initiation. Yet all three effects are felt in spirit-matter; all proceed under the law of vibration, and this law is literally the response of deva substance to force emanating from some conscious or unconscious source. |
Tất cả các điều kiện này có thể được thấy trong tiến trình điểm đạo của con người, và trong sự chuyển dịch của y từ giới thứ tư sang giới tinh thần. Các nỗ lực của y phải do chính y khởi phát, hay là kết quả của nỗ lực hữu thức của chính y; chúng sẽ gặp được một đáp ứng từ siêu thức của y, phương diện atma hay tinh thần, và sự tương tác kép này sẽ còn được các Đấng Hộ Trì các Nghi Lễ Điểm Đạo trợ giúp thêm. Tuy nhiên cả ba hiệu quả đều được cảm nhận trong tinh thần-vật chất; tất cả đều tiến hành dưới định luật rung động, và định luật này theo nghĩa đen là sự đáp ứng của chất liệu thiên thần đối với mãnh lực phát ra từ một nguồn hữu thức hay vô thức nào đó. |
|
Fourth, these “devas of the shadows,” perform certain activities of an interesting and varied kind, but [Page 645] of such diversity as to make enumeration wellnigh impossible. We might attempt with brevity to state a few of these functions, remembering ever that what can be predicated of them on the physical plane can also be predicated of their correspondences on all the planes. This we can leave to the student to work out for himself, begging him again to bear in mind that we are dealing with the devas on the evolutionary arc, which may be divided into the following classes, amongst many others. |
Thứ tư, các “thiên thần của bóng tối” này thực hiện một số hoạt động thú vị và đa dạng, nhưng [Page 645] đa dạng đến mức gần như không thể liệt kê. Chúng ta có thể thử nêu ngắn gọn một vài chức năng trong số đó, luôn ghi nhớ rằng điều gì có thể được khẳng định về họ trên cõi hồng trần thì cũng có thể được khẳng định về các đối phần của họ trên mọi cõi. Điều này chúng ta có thể để cho đạo sinh tự mình tìm ra, đồng thời lại xin y ghi nhớ rằng chúng ta đang bàn đến các thiên thần trên cung tiến hoá, những vị có thể được chia thành các loại sau đây, trong số nhiều loại khác. |
|
Loại 1. Các tác nhân đặc biệt của huyền thuật. Họ đặc biệt nhạy cảm với các rung động kiến tạo của bảy cung. |
|
|
Class 2. A group of Agnichaitans who manifest as physical plane electricity. They are a group who are coming somewhat under the control of man, and will be more and more dominated by him. |
Loại 2. Một nhóm Agnichaitan biểu lộ thành điện của cõi hồng trần. Họ là một nhóm đang phần nào đi vào dưới sự kiểm soát của con người, và sẽ ngày càng bị con người chi phối hơn. |
|
Class 3. A group who form the health auras of all the three middle kingdoms of nature (vegetable, animal and human) either collectively or individually. Man is coming into contact with them along medical lines and beginning somewhat to recognise them. One of the great errors into which the human family has fallen has been the endeavour to administer mineral drugs to man for medicinal purposes. It has resulted in a combination of deva substances which was never intended. The relation of man to the lower kingdoms, and particularly to the animal and mineral, has brought about a peculiar condition in the deva world and has tended to complicate deva evolution. The use of animal food (and the use of minerals as medicine in a lesser degree) has produced a commingling of deva substance, and of vibrations which are not attuned to each other. The vegetable kingdom is in a totally different situation, and part of its karma has lain in the providing of food for man; this has resulted in a needed transmutation of the life [Page 646] of that kingdom into the higher stage (the animal) which is its goal. The transmutation of vegetable life takes place necessarily on the physical plane. Hence its availability as food. The transmutation of the life of the animal into the human kingdom takes place on kamamanasic levels. Hence the non-availability, esoterically understood, of the animal as food for man. This is an argument for vegetarian living which needs due consideration. |
Loại 3. Một nhóm tạo thành các hào quang sức khỏe của cả ba giới giữa trong thiên nhiên (thực vật, động vật và nhân loại), hoặc tập thể hoặc cá thể. Con người đang tiếp xúc với họ theo hướng y học và bắt đầu phần nào nhận ra họ. Một trong những sai lầm lớn mà gia đình nhân loại đã sa vào là nỗ lực dùng dược chất khoáng vật cho con người vì mục đích chữa bệnh. Điều đó đã dẫn đến một sự kết hợp các chất liệu thiên thần vốn không bao giờ được dự định. Mối liên hệ của con người với các giới thấp hơn, và đặc biệt với động vật và khoáng vật, đã tạo ra một tình trạng đặc biệt trong thế giới thiên thần và có xu hướng làm phức tạp sự tiến hoá thiên thần. Việc dùng thức ăn động vật (và việc dùng khoáng vật làm thuốc ở mức độ thấp hơn) đã tạo ra một sự pha trộn của chất liệu thiên thần, và của những rung động không hòa điệu với nhau. Giới thực vật ở trong một tình thế hoàn toàn khác, và một phần nghiệp quả của nó là cung cấp thức ăn cho con người; điều này đã dẫn đến một sự chuyển hoá cần thiết của sự sống [Page 646] của giới đó sang giai đoạn cao hơn (động vật), vốn là mục tiêu của nó. Sự chuyển hoá của sự sống thực vật tất yếu diễn ra trên cõi hồng trần. Vì thế nó có thể dùng làm thức ăn. Sự chuyển hoá của sự sống động vật vào giới nhân loại diễn ra trên các cấp độ trí-cảm. Vì thế, theo cách hiểu huyền bí, động vật không thích hợp làm thức ăn cho con người. Đây là một luận cứ ủng hộ đời sống ăn chay cần được cân nhắc thích đáng. |
|
Class 4. A very important class of etheric devas (as far as man is concerned) who are definitely the constituent substance of his centres. They occupy this position for karmic reasons, and are, from many angles, some of the most highly evolved of the devas of the shadows. They are distinguished by their ability to respond to a particular set of planetary vibrations in a peculiar manner, and in their essential essence, and in their own peculiar sphere enable man to react to Ray stimulation. Each centre is under the influence of one or other of the planets. In this fact lies the ability of man eventually—through the agency of his centres—to put himself en rapport with the sevenfold soul of the world. |
Loại 4. Một loại thiên thần dĩ thái rất quan trọng (xét theo phương diện con người), vốn rõ ràng là chất liệu cấu thành nên các trung tâm của y. Họ chiếm giữ vị trí này vì những lý do nghiệp quả, và xét từ nhiều góc độ, là một số trong những thiên thần của bóng tối tiến hoá cao nhất. Họ được phân biệt bởi khả năng đáp ứng với một tập hợp rung động hành tinh đặc thù theo một cách riêng biệt, và trong tinh chất cốt yếu của mình, cũng như trong khối cầu đặc thù của mình, giúp con người phản ứng với sự kích thích của cung. Mỗi trung tâm đều ở dưới ảnh hưởng của một hành tinh này hay hành tinh khác. Chính trong sự kiện này có khả năng để con người cuối cùng—thông qua tác động của các trung tâm của y—đặt mình vào sự tương thông với linh hồn thất phân của thế giới. |
|
Class 5. We have here a very important group of devas, who are peculiarly active and esoterically dominant during this round; they are the Agnichaitans who form the centre which vibrates to the measure of kundalini in its many forms and demonstrations; this is the centre at the base of the spine. In this centre we have a very effective display of the two polarities, for the petals of the centre which is the seat of kundalini, and the fire or vitality which animates them are negative and positive to each other. This centre is to be found in some form or other in all sentient beings and upon it largely depends: [Page 647] |
Loại 5. Ở đây chúng ta có một nhóm thiên thần rất quan trọng, đặc biệt hoạt động và chiếm ưu thế một cách huyền bí trong cuộc tuần hoàn này; họ là các Agnichaitan tạo thành trung tâm rung động theo mức độ của kundalini trong nhiều hình thức và biểu hiện của nó; đây là trung tâm ở đáy cột sống. Trong trung tâm này chúng ta có một sự biểu lộ rất hữu hiệu của hai cực tính, vì các cánh hoa của trung tâm là nơi ngự của kundalini, và lửa hay sinh lực làm linh hoạt chúng, là âm và dương đối với nhau. Trung tâm này được tìm thấy dưới hình thức này hay hình thức khác trong mọi hữu thể có tri giác và phần lớn tùy thuộc vào nó: [Page 647] |
|
a. Consciousness at one of its seven stages. |
a. Tâm thức ở một trong bảy giai đoạn của nó. |
|
b. Continuity of existence. |
b. Sự liên tục của tồn tại. |
|
c. Perpetuation of species or reproduction on some or other of the planes. |
c. Sự duy trì giống loài hay sự sinh sản trên một cõi nào đó. |
|
It might be of interest here to note that this centre is literally a fourfold radiation, and the “Cross of the Holy Spirit,” the equal armed Cross, is its symbol. This four-petalled lotus is the result of evolution. In the first kingdom of nature, the mineral, through which a specific Entity is manifesting, this centre is a unity on etheric levels, for only one petal is to be seen. In the vegetable kingdom, viewing it as the expression of a great Existence, two petals are becoming active. In the third kingdom, the animal, the centre at the base of the spine will be found to have three petals, whereas in man, the lotus is vibrating in a fourfold manner. At each initiation of the great Being Who is manifesting through our planet, one of these petals becomes unfolded on etheric levels, so that at individualisation, the four became active, and His selfconscious activity was brought right down on to the physical plane. The analogy can be seen typified at His great Initiation which took place in the fourth round and the third rootrace; the correspondence between the third kingdom and the fourth, and their production of the esoteric seven is one of the lines of study for the occultist. |
Ở đây, có thể đáng quan tâm khi lưu ý rằng trung tâm này theo nghĩa đen là một bức xạ tứ phân, và “Thập Giá của Chúa Thánh Thần”, Thập Giá có bốn cánh bằng nhau, là biểu tượng của nó. Hoa sen bốn cánh này là kết quả của tiến hoá. Trong giới thứ nhất của tự nhiên, giới kim thạch, qua đó một Thực Thể đặc thù đang biểu hiện, trung tâm này là một hợp nhất trên các cõi dĩ thái, vì chỉ có thể thấy một cánh hoa. Trong giới thực vật, khi xem nó như biểu hiện của một Sự Tồn Tại vĩ đại, hai cánh hoa đang trở nên hoạt động. Trong giới thứ ba, giới động vật, trung tâm ở đáy cột sống sẽ được thấy có ba cánh hoa, trong khi ở con người, hoa sen rung động theo cách tứ phân. Ở mỗi lần điểm đạo của Đấng Vĩ Đại đang biểu hiện qua hành tinh của chúng ta, một trong các cánh hoa này được khai mở trên các cõi dĩ thái, đến nỗi vào lúc biệt ngã hóa, cả bốn đều trở nên hoạt động, và hoạt động ngã thức của Ngài được đưa thẳng xuống cõi hồng trần. Sự tương đồng có thể được thấy được tiêu biểu trong Cuộc Điểm đạo vĩ đại của Ngài diễn ra trong cuộc tuần hoàn thứ tư và giống dân gốc thứ ba; sự tương ứng giữa giới thứ ba và giới thứ tư, và việc chúng tạo ra số bảy huyền bí, là một trong những đường nghiên cứu dành cho nhà huyền bí học. |
|
As each of the petals of the etheric centres becomes vibrant, or an at-one-ment is brought about in deva substance, a quickening takes place on allied levels in the cosmic etheric body of the planetary Logos, and of the solar Logos. Certain correspondences in the petals of the egoic lotus of the different units of the human family, and (on cosmic levels) in the solar and planetary egoic bodies become apparent. It should also be borne in mind that these basic centres, wherein the [Page 648] kundalini fire lies hidden, are found in the following Existences, as They function in physical bodies: |
Khi mỗi cánh hoa của các trung tâm dĩ thái trở nên rung động, hay một sự hợp nhất được tạo ra trong chất liệu thiên thần, thì một sự tăng tốc diễn ra trên các cấp độ tương ứng trong thể dĩ thái vũ trụ của Hành Tinh Thượng đế và của Thái dương Thượng đế. Những sự tương ứng nhất định trong các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã của các đơn vị khác nhau trong gia đình nhân loại, và (trên các cấp độ vũ trụ) trong các thể chân ngã thái dương và hành tinh trở nên hiển nhiên. Cũng nên ghi nhớ rằng các trung tâm căn bản này, nơi [Page 648] lửa kundalini ẩn tàng, được tìm thấy trong các Sự Tồn Tại sau đây, khi Các Ngài hoạt động trong các thể xác: |
|
1. A solar Logos. |
1. Một Thái dương Thượng đế. |
|
2. A planetary Logos. |
2. Một Hành Tinh Thượng đế. |
|
3. Those Entities Who are the sumtotal of consciousness as it expresses itself through the different kingdoms of nature—manifesting through them as a man manifests through his body. |
3. Những Thực Thể là tổng thể của tâm thức khi nó biểu lộ qua các giới khác nhau của tự nhiên—biểu hiện qua chúng như con người biểu hiện qua thể của y. |
|
4. The Lord of a chain. |
4. Chúa Tể của một Dãy. |
|
5. The Lord of a globe. |
5. Chúa Tể của một bầu hành tinh. |
|
6. Certain Beings Who form the life of specific groups. They are esoteric, and Their function is one of the secrets of initiation. |
6. Một số Đấng tạo thành sự sống của các nhóm đặc thù. Các Ngài có tính huyền bí, và chức năng của Các Ngài là một trong những bí mật của điểm đạo. |
|
7. Man. |
7. Con người. |
|
8. Động vật. |
|
|
It should be here also remarked that in the logoic manifestation one of the planetary schemes forms the centre in the logoic body which harbours kundalini. This scheme, whose name must not as yet be revealed, is largely given over to deva control—the two groups of devas meeting there, and performing their function of animating the dense physical body of the Logos in the same way as the kundalini in man at this stage animates his dense physical vehicle. Later, as the third major scheme assimilates the life-activity of the lower four, this kundalini fire will be withdrawn, and will be transmuted into the activity of the logoic Throat centre. |
Ở đây cũng nên nhận xét rằng trong sự biểu hiện logoi, một trong các hệ hành tinh tạo thành trung tâm trong thể logoi chứa đựng kundalini. Hệ hành tinh này, mà tên của nó hiện chưa được phép tiết lộ, phần lớn được giao cho sự kiểm soát của thiên thần—hai nhóm thiên thần gặp nhau ở đó, và thực hiện chức năng làm linh hoạt thể xác đậm đặc của Logos theo cùng cách như kundalini trong con người ở giai đoạn này làm linh hoạt vận cụ hồng trần đậm đặc của y. Về sau, khi hệ hành tinh lớn thứ ba đồng hoá hoạt động sự sống của bốn hệ thấp, lửa kundalini này sẽ được rút đi, và sẽ được chuyển hoá thành hoạt động của trung tâm cổ họng logoi. |
|
In planetary manifestation, one of the chains performs a similar work in the evolutionary process of the planetary Logos. Again the same can be predicated of one of the globes in a chain. In this fourth round, therefore, it can be seen why the fire at the base of the spine (viewing it in its esoteric significance, and in connection with the Logos, and the Logoi, and not only in connection with man) plays so dominant a part in the stimulation of [Page 649] the logoic Quaternary, or of His Lower Self. Herein is found the mystery of present evil, the source of present distress, and the basis of planetary experience. The kundalini fire in the logoic body is at the height of its activity in stimulating His physical body—our lower three systemic planes—and the four petals of that particular centre are coming into full activity in this fourth round. It must be remembered that He is the sum-total of all the centres in manifestation, and the aggregate of all the fires of kundalini in every department of nature. The trouble in our planet, and likewise the hope for our planet, lies in this very fact. The etheric centre of our planetary Logos being in matter of the fourth cosmic ether (the buddhic plane) stimulates at present His lower quaternary, our three worlds of human endeavour. The direction of the force lies here, and not until the next round (when three-fifths of the human kingdom will be developing the buddhic vehicle), will the point of equilibrium for Him be reached, and the direction of the serpent fire be directed higher. |
Trong sự biểu hiện hành tinh, một trong các dãy thực hiện một công việc tương tự trong tiến trình tiến hoá của Hành Tinh Thượng đế. Một lần nữa, điều tương tự có thể được khẳng định về một trong các bầu hành tinh trong một dãy. Vì vậy, trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, có thể thấy vì sao lửa ở đáy cột sống (khi xem nó trong thâm nghĩa huyền bí của nó, và trong liên hệ với Logos, và các Logoi, chứ không chỉ trong liên hệ với con người) lại đóng một vai trò chi phối đến thế trong việc kích thích [Page 649] Bộ Tứ logoi, hay phàm ngã của Ngài. Chính trong đây tìm thấy bí ẩn của điều ác hiện nay, nguồn gốc của nỗi khốn khổ hiện nay, và nền tảng của kinh nghiệm hành tinh. Lửa kundalini trong thể logoi đang ở đỉnh cao hoạt động của nó trong việc kích thích thể xác của Ngài—ba cõi giới hệ thống thấp của chúng ta—và bốn cánh hoa của trung tâm đặc thù ấy đang đi vào hoạt động trọn vẹn trong cuộc tuần hoàn thứ tư này. Phải nhớ rằng Ngài là tổng thể của mọi trung tâm đang biểu hiện, và là tổng hợp của mọi lửa kundalini trong mọi bộ phận của tự nhiên. Sự rắc rối trên hành tinh chúng ta, và cũng vậy niềm hy vọng cho hành tinh chúng ta, nằm chính trong sự kiện này. Trung tâm dĩ thái của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, ở trong vật chất của dĩ thái vũ trụ thứ tư (cõi Bồ đề), hiện đang kích thích bộ tứ thấp của Ngài, ba cõi giới của nỗ lực nhân loại của chúng ta. Hướng của mãnh lực nằm ở đây, và mãi cho đến cuộc tuần hoàn kế tiếp (khi ba phần năm của giới nhân loại sẽ phát triển vận cụ Bồ đề), điểm quân bình đối với Ngài mới đạt tới, và hướng của hỏa xà mới được hướng lên cao hơn. |
|
This holds the clue to much. A further clue to the sad condition to be seen in the world (especially along sex lines) lies in the fact that those units of the human family who contribute to the constitution of this particular centre out of the seven, are frequently at this stage over-vitalised, the physical vehicle vitality indicating to them the line of least resistance. To word it otherwise: The deva forces who form the centre, and are likewise the activity of the centre, are as yet over-dominant, and the power they acquired in the earlier solar system has not yet been transmuted into spiritual power. |
Điều này nắm giữ chìa khóa cho nhiều điều. Một chìa khóa khác đối với tình trạng đáng buồn đang thấy trong thế giới (đặc biệt theo các đường lối tính dục) nằm trong sự kiện rằng những đơn vị của gia đình nhân loại góp phần vào cấu tạo của trung tâm đặc thù này trong số bảy trung tâm, ở giai đoạn này thường bị tiếp sinh lực quá mức, sinh lực của vận cụ hồng trần chỉ cho họ con đường ít trở ngại nhất. Nói cách khác: các mãnh lực thiên thần tạo thành trung tâm, và cũng chính là hoạt động của trung tâm, vẫn còn chiếm ưu thế quá mức, và quyền năng mà họ đạt được trong hệ mặt trời trước vẫn chưa được chuyển hoá thành quyền năng tinh thần. |
|
We have above considered a few of the devas of the ethers but have of necessity left many untouched. The vastness of our subject will be apparent when it is remembered that in dealing with the devas we are dealing [Page 650] with that which is the basic substance of manifestation, or Spirit-matter; with the negative or the mother aspect, in the divine duality, and with the sum total of all that is. We are concerned with the tangible form, using the word “tangible” as that which can be apprehended by consciousness in one or other of its many states. The utter impossibility of cataloguing the forms and aspects of deva substance, or of tabulating the myriad groups and classes will be borne in on our comprehension. On all the planes these three groups will be found, and all are recipients of force. An analogy likewise exists between these three groups of devas on the systemic physical plane, and their correspondences on the cosmic physical plane. Briefly it might be pointed out that we have: |
Ở trên, chúng ta đã khảo sát một vài thiên thần của các dĩ thái nhưng tất yếu đã để lại nhiều vị chưa được đề cập đến. Tính bao la của đề tài chúng ta sẽ trở nên hiển nhiên khi nhớ rằng khi bàn đến các thiên thần, chúng ta đang bàn [Page 650] đến cái là chất liệu căn bản của biểu hiện, hay Tinh thần-vật chất; đến phương diện âm hay phương diện mẫu thân trong nhị nguyên tính thiêng liêng, và đến tổng thể của tất cả những gì hiện hữu. Chúng ta quan tâm đến hình tướng khả xúc, dùng từ “khả xúc” theo nghĩa là cái có thể được tâm thức nắm bắt trong một trạng thái nào đó của nhiều trạng thái của nó. Sự bất khả hoàn toàn trong việc liệt kê các hình tướng và phương diện của chất liệu thiên thần, hay lập bảng vô số nhóm và loại, sẽ dần dần in sâu vào sự thấu hiểu của chúng ta. Trên mọi cõi, ba nhóm này sẽ được tìm thấy, và tất cả đều là những kẻ tiếp nhận mãnh lực. Một sự tương đồng cũng tồn tại giữa ba nhóm thiên thần này trên cõi hồng trần hệ thống và các tương ứng của chúng trên cõi hồng trần vũ trụ. Vắn tắt, có thể chỉ ra rằng chúng ta có: |
|
Group A |
The plane Adi |
Divine evolution. |
|
Systemic atomic |
||
|
Group B |
The three worlds of the Triad |
Spiritual evolution. |
|
Logoic etheric. |
||
|
Group C |
The three worlds |
Human evolution. |
|
Logoic dense physical. |
|
In this lies much of interest for the student as it makes clear the correspondence between the evolution of substance and the evolution of spirit. |
Chính trong đây có nhiều điều đáng quan tâm đối với đạo sinh vì nó làm sáng tỏ sự tương ứng giữa sự tiến hoá của chất liệu và sự tiến hoá của tinh thần. |
|
As regards the devas of Group B, little more can be said. Only a few more generalities are advisable. |
Về các thiên thần của Nhóm B, không thể nói thêm được bao nhiêu. Chỉ nên nêu thêm một vài nhận định tổng quát. |
|
These devas, especially those of the fourth ether, are so closely connected with man that one of the immediate developments ahead will be his awakening to a realisation of their existence, and his consequent gradual domination of them. This domination will be the result of several things but will only be complete when he can function on the fourth cosmic ether, the buddhic plane. One of the things the Hierarchy at this stage is seeking to do, is to retard this awakening of the mass of mankind to this realisation, for that event will necessitate [Page 651] many adjustments, and, at the beginning, may produce many apparently evil effects. The development of the physical eye is a thing which is proceeding under the Law, and inevitably the whole race of men will at length attain that dual focus which will enable man to see both the dense and the etheric forms. At this stage his inability to do so is largely due to a lack of pranic vitality. This is mainly the result of wrong conditions of living, and the misuse of food. The present general trend towards juster and purer conditions of life, the return of man to simpler and saner ways, the widespread feeling for bathing, fresh air, and sunlight, and the greater desire for vegetable, and nut foods, will result inevitably in a more ready assimilation of the pranic fluids. This will produce certain changes, and improvements, in the physical organs, and in the vitality of the etheric body. |
Các thiên thần này, đặc biệt là những vị của dĩ thái thứ tư, liên hệ chặt chẽ với con người đến nỗi một trong những phát triển trước mắt sẽ là sự thức tỉnh của y để chứng nghiệm sự hiện hữu của họ, và do đó dần dần thống ngự họ. Sự thống ngự này sẽ là kết quả của nhiều điều nhưng chỉ hoàn toàn khi y có thể hoạt động trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề. Một trong những điều mà Thánh đoàn hiện đang tìm cách thực hiện là làm chậm lại sự thức tỉnh này của đại đa số nhân loại đối với sự chứng nghiệm ấy, vì biến cố đó sẽ đòi hỏi [Page 651] nhiều sự điều chỉnh, và lúc ban đầu có thể tạo ra nhiều hiệu quả có vẻ là xấu ác. Sự phát triển của mắt hồng trần là một điều đang tiến hành theo Định luật, và tất yếu toàn thể nhân loại cuối cùng sẽ đạt đến tiêu điểm kép ấy, khiến con người có thể thấy cả các hình tướng đậm đặc lẫn dĩ thái. Ở giai đoạn này, sự bất lực của y trong việc làm điều đó phần lớn là do thiếu sinh lực prana. Điều này chủ yếu là kết quả của những điều kiện sống sai lầm, và sự lạm dụng thực phẩm. Khuynh hướng chung hiện nay hướng đến những điều kiện sống công bằng hơn và thanh khiết hơn, sự trở về của con người với những lối sống đơn giản hơn và lành mạnh hơn, cảm nhận lan rộng về việc tắm rửa, không khí trong lành và ánh nắng mặt trời, cùng khát vọng lớn hơn đối với thức ăn thực vật và các loại hạt, sẽ tất yếu dẫn đến sự đồng hoá dễ dàng hơn các lưu chất prana. Điều này sẽ tạo ra một số thay đổi và cải thiện trong các cơ quan hồng trần, và trong sinh lực của thể dĩ thái. |
|
Therefore, those of us who see somewhat of the Plan are urged to spread the knowledge of the Wisdom Religion, and above all to break loose from the preconceived dogmas of pre-war days. It should be pointed out here that the war was a great occult event, and caused a vital change in many of the plans and arrangements of the Hierarchy. Modifications have been necessitated, and some events will have to be delayed whilst others will be hastened. One of the profoundest effects of the war was felt among the devas of the shadows, and primarily among those of the fourth order. The etheric web which protected certain groups in the human and animal kingdoms was rent in various places, and the results of that disaster have to be offset. Another effect upon the devas resulting from the war, as it worked, can be seen among the devas of Group A, or those devas who are (in an occult sense) the physical permanent atoms of all self-conscious beings. The fourth spirilla was tremendously stimulated, and its evolution hastened [Page 652] to an extraordinary degree, so that some of the lesser evolved men, through the stress of danger and experience, had this fourth spirilla brought up to, and beyond, that of normal humanity. Through this stimulation of the fourth spirilla of the units of the fourth Creative Hierarchy in this fourth round on the fourth globe in this fourth scheme, a tremendous push onward along the evolutionary path has been effected, and hence one of the great objects of the war has been achieved. A still more terrific stimulation was given in the fourth rootrace during the war of that period, and the result was the passing on to the Path of Initiation of many who normally would not even now be treading it. A similar effect can be looked for at this time, and the Hierarchy is preparing itself for the taking over of much of an extra-planetary nature owing to the almost immediate availability of comparatively large numbers of the sons of man. We must not forget that this stimulation of the spirillae affects the matter aspect, or deva substance. Man is literally deva substance, and a God, thus being a true reflection of the solar Logos. (212) (213) |
Vì vậy, những ai trong chúng ta thấy được phần nào Thiên Cơ được thúc giục truyền bá tri thức về Minh Triết Ngàn Đời, và trên hết là thoát khỏi các giáo điều định sẵn của những ngày trước chiến tranh. Ở đây cần chỉ ra rằng chiến tranh là một biến cố huyền bí lớn, và đã gây ra một thay đổi thiết yếu trong nhiều kế hoạch và sắp đặt của Thánh đoàn. Những sửa đổi đã trở nên cần thiết, và một số biến cố sẽ phải trì hoãn trong khi những biến cố khác sẽ được thúc đẩy nhanh hơn. Một trong những ảnh hưởng sâu xa nhất của chiến tranh được cảm nhận giữa các thiên thần của bóng tối, và trước hết là giữa những vị thuộc loại thứ tư. Mạng lưới dĩ thái bảo vệ một số nhóm trong giới nhân loại và giới động vật đã bị xé rách ở nhiều chỗ, và các kết quả của tai họa đó phải được hóa giải. Một ảnh hưởng khác lên các thiên thần do chiến tranh gây ra, khi nó diễn tiến, có thể thấy nơi các thiên thần của Nhóm A, hay những thiên thần là (theo nghĩa huyền bí) các nguyên tử trường tồn hồng trần của mọi hữu thể ngã thức. Loa tuyến thứ tư đã được kích thích mạnh mẽ, và sự tiến hoá của nó được thúc đẩy đến một mức độ phi thường, [Page 652] đến nỗi một số người ít tiến hoá hơn, qua áp lực của hiểm nguy và kinh nghiệm, đã có loa tuyến thứ tư này được nâng lên ngang bằng, và vượt quá, mức của nhân loại bình thường. Qua sự kích thích loa tuyến thứ tư của các đơn vị thuộc Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư trong cuộc tuần hoàn thứ tư này trên bầu hành tinh thứ tư trong hệ hành tinh thứ tư này, một sự thúc đẩy tiến lên mãnh liệt dọc theo con đường tiến hoá đã được thực hiện, và do đó một trong những mục tiêu lớn của chiến tranh đã đạt được. Một sự kích thích còn dữ dội hơn nữa đã được ban ra trong giống dân gốc thứ tư trong cuộc chiến của thời kỳ đó, và kết quả là nhiều người đã bước lên Con Đường Điểm Đạo mà bình thường ngay cả bây giờ họ cũng chưa đi trên đó. Một hiệu quả tương tự có thể được mong đợi vào lúc này, và Thánh đoàn đang chuẩn bị để tiếp nhận nhiều điều có tính ngoài hành tinh do sự sẵn sàng gần như tức thời của những số lượng khá lớn những người con của nhân loại. Chúng ta không được quên rằng sự kích thích các loa tuyến này ảnh hưởng đến phương diện vật chất, hay chất liệu thiên thần. Con người theo nghĩa đen là chất liệu thiên thần, và là một Thượng đế, do đó là một phản ánh chân thực của Thái dương Thượng đế. (212) (213) |
|
(213) 1. Con người là một động vật, cộng với một Thượng đế sống động, bên trong vỏ bọc hồng trần của y.—S. D., II, 85. S. D., II, 284. |
|
|
a. Man is the Macrocosm for the animal, therefore he contains all that is meant by the term animal.—S. D., II, 179, 187. |
a. Con người là Đại thiên địa đối với động vật, vì vậy y chứa đựng tất cả những gì được hàm ý bởi thuật ngữ động vật.—S. D., II, 179, 187. |
|
b. Divine consciousness is received from the living God.—S. D., II, 103. |
b. Tâm thức thiêng liêng được tiếp nhận từ Thượng đế sống động.—S. D., II, 103. |
|
c. The animal forms the basis and the contrast for the divine.—S. D., II, 100. |
c. Động vật tạo thành nền tảng và sự tương phản cho cái thiêng liêng.—S. D., II, 100. |
|
d. The light of the Logos is awakened in animal man.—S. D., II, 45. |
d. Ánh sáng của Logos được đánh thức trong người thú.—S. D., II, 45. |
|
2. Man is the Tabernacle, the vehicle only, of his God.—S. D., I, 233, 281; II, 316; III, 66. |
2. Con người là Nhà Tạm, chỉ là vận cụ của Thượng đế của y.—S. D., I, 233, 281; II, 316; III, 66. |
|
Compare S. D., II, 174. Read Proverbs VIII. |
So sánh S. D., II, 174. Đọc Châm Ngôn VIII. |
|
Study Biblical description of Tabernacle:— |
Nghiên cứu mô tả trong Kinh Thánh về Nhà Tạm:— |
|
a. Outer court, the place of animal sacrifice and purification. |
a. Tiền đình bên ngoài, nơi hiến tế động vật và thanh tẩy. |
|
b. The Holy place, the place of consecration and service. |
b. Nơi Thánh, nơi thánh hiến và phụng sự. |
|
c. The Holy of Holies. |
c. Nơi Chí Thánh. |
|
The first corresponds to the life of the personality. |
Điều thứ nhất tương ứng với đời sống của phàm ngã. |
|
The second to that of the Ego, or Higher Self. |
Điều thứ hai tương ứng với đời sống của Chân ngã, hay Bản Ngã Cao Siêu. |
|
The last to that of the Monad, or Divine Self. |
Điều cuối cùng tương ứng với đời sống của chân thần, hay Bản Ngã Thiêng liêng. |
|
3. Man contains in himself every element found in the universe.—S. D., I, 619; III, 584. |
3. Con người chứa trong chính mình mọi nguyên tố được tìm thấy trong vũ trụ.—S. D., I, 619; III, 584. |
|
a. All in nature tends to become Man.—S. D., II, 179. |
a. Mọi sự trong tự nhiên đều có xu hướng trở thành Con người.—S. D., II, 179. |
|
b. All the impulses of the dual, centripetal and centrifugal force are directed towards one point—Man.—S. D., II, 179. |
b. Mọi xung lực của mãnh lực kép, hướng tâm và ly tâm, đều được hướng về một điểm—Con người.—S. D., II, 179. |
|
c. Man is the storehouse…he unites in himself all forms.—S. D. II, 303. |
c. Con người là kho tàng… y hợp nhất trong chính mình mọi hình tướng.—S. D. II, 303. |
|
d. The potentiality of every organ useful to animal life is locked up in Man.—S. D., II, 723. |
d. Tiềm năng của mọi cơ quan hữu ích cho đời sống động vật đều được khóa kín trong Con người.—S. D., II, 723. |
|
4. Man tends to become a God and then God, like every other atom in the universe.—S. D., I, 183. |
4. Con người có xu hướng trở thành một Thượng đế rồi thành Thượng đế, giống như mọi nguyên tử khác trong vũ trụ.—S. D., I, 183. |
|
Compare the atom and the Microcosm, man. Illustration:—S. D., I, 174. Every atom has seven planes of being.—S. D., I, 205. Read S. D., I, 201. |
So sánh nguyên tử và Tiểu thiên địa, con người. Minh họa:—S. D., I, 174. Mọi nguyên tử đều có bảy cõi hiện hữu.—S. D., I, 205. Đọc S. D., I, 201. |
|
a. Every atom contains the germ from which he may raise the tree of knowledge. (Of good and evil, therefore conscious discrimination).—S. D., II, 622. |
a. Mọi nguyên tử đều chứa mầm giống từ đó y có thể nâng lên cây tri thức. (Về thiện và ác, do đó là sự phân biện có ý thức).—S. D., II, 622. |
|
b. It is the spiritual evolution of the inner immortal man that forms the fundamental tenet of the occult sciences.—S. D., I, 694. |
b. Chính sự tiến hoá tinh thần của con người bất tử bên trong tạo thành giáo điều căn bản của các khoa học huyền bí.—S. D., I, 694. |
|
c. Atoms and souls are synonymous terms in the language of the initiates.—S. D., I, 620-621. |
c. Nguyên tử và linh hồn là những thuật ngữ đồng nghĩa trong ngôn ngữ của các điểm đạo đồ.—S. D., I, 620-621. |
|
5. Human beings…those Intelligences who have reached the appropriate equilibrium between Spirit and Matter.—S. D., I, 132. |
5. Các hữu thể nhân loại… những Trí Tuệ đã đạt đến sự quân bình thích hợp giữa Tinh thần và Vật chất.—S. D., I, 132. |
|
Read also carefully:—S. D., I, 267, 449; S. D., II, 190. |
Cũng hãy đọc cẩn thận:—S. D., I, 267, 449; S. D., II, 190. |
|
a. On the descending arc Spirit becomes material.—S. D., I, 693. |
a. Trên cung đi xuống, Tinh thần trở nên vật chất.—S. D., I, 693. |
|
b. On the middle turn of the base both meet in man.—S. D., I, 214, 271. |
b. Ở khúc quanh giữa của đáy, cả hai gặp nhau trong con người.—S. D., I, 214, 271. |
|
c. On the ascending arc Spirit asserts itself at the expense of the material. |
c. Trên cung đi lên, Tinh thần tự khẳng định mình với cái giá của vật chất. |
|
d. This is true of Gods and of men. See S. D., II, 88. |
d. Điều này đúng với các Thượng đế và với con người. Xem S. D., II, 88. |
|
e. Man is therefore a compound of Spirit and matter.—S. D., II, 45. |
e. Vì vậy, con người là một hợp thể của Tinh thần và vật chất.—S. D., II, 45. |
|
f. In man the intelligence links the two.—S. D., II, 102, 103. |
f. Trong con người, trí tuệ nối kết hai điều ấy.—S. D., II, 102, 103. |
|
See note to S. D., II, 130. Compare S. D., II, 394. (back) |
Xem chú thích ở S. D., II, 130. So sánh S. D., II, 394. (back) |
|
[Page 653] Group A. Agnichaitans. We have seen that on all planes the groups of devas can be divided into three [Page 654] main groups, even though usually studied in their dual capacity of involutionary and evolutionary force units. Broadly speaking, these groups can be viewed as: |
[Page 653] Nhóm A. Agnichaitan. Chúng ta đã thấy rằng trên mọi cõi, các nhóm thiên thần có thể được chia thành ba [Page 654] nhóm chính, dù thường được nghiên cứu trong năng lực kép của chúng như các đơn vị mãnh lực giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá. Nói rộng ra, các nhóm này có thể được xem như: |
|
a. Those which embody the positive aspect, or positive electrical phenomena. |
a. Những nhóm thể hiện phương diện dương, hay các hiện tượng điện dương. |
|
b. Those which embody the negative aspect. |
b. Những nhóm thể hiện phương diện âm. |
|
c. That group which—in time and space—is the union of the two aspects and which—during evolution—demonstrates the third type of electrical phenomena. |
c. Nhóm mà—trong thời gian và không gian—là sự hợp nhất của hai phương diện và mà—trong tiến hoá—biểu lộ loại hiện tượng điện thứ ba. |
|
Another grouping of this triplicity can be made which brings them into line with the order of manifestation as laid down in the ancient cosmogony, and this we followed when we enumerated the groups of Agnichaitans. |
Một cách phân nhóm khác của bộ ba này có thể được thực hiện, đưa chúng phù hợp với trật tự biểu hiện như đã được nêu trong vũ trụ luận cổ xưa, và đây là cách chúng ta đã theo khi liệt kê các nhóm Agnichaitan. |
|
Group A—Corresponds to the manifestations of existence as seen on the highest plane, or that aspect which is understood by the term Agni. |
Nhóm A—Tương ứng với các biểu hiện của tồn tại như được thấy trên cõi cao nhất, hay phương diện được hiểu bằng thuật ngữ Agni. |
|
Group B—Corresponds to the Vishnu-Surya aspect. |
Nhóm B—Tương ứng với phương diện Vishnu-Surya. |
|
Group C—Corresponds to the Brahma or the creative Logos aspect. |
Nhóm C—Tương ứng với phương diện Brahma hay Logos sáng tạo. |
|
We have recapitulated thus, as it is desirable to have the thought clearly defined. |
Chúng ta đã tóm lược như vậy vì điều mong muốn là tư tưởng được xác định rõ ràng. |
|
We have touched upon the two lower groups of devas. Now, we might take up the consideration of Group A, the most important group on the physical plane from the standpoint of creation, and of objectivity, for they are the life of matter itself and the intelligence animating the forms of all that exists on the systemic physical [Page 655] plane; they are not self-conscious intelligence, but consciousness as understood by the occultist. |
Chúng ta đã chạm đến hai nhóm thiên thần thấp hơn. Giờ đây, chúng ta có thể bắt đầu xem xét Nhóm A, nhóm quan trọng nhất trên cõi hồng trần theo quan điểm sáng tạo và khách quan tính, vì họ là chính sự sống của vật chất và là trí tuệ làm linh hoạt các hình tướng của mọi điều hiện hữu trên cõi hồng trần hệ thống [Page 655]; họ không phải là trí tuệ ngã thức, mà là tâm thức theo cách nhà huyền bí học hiểu. |
|
Each of the atomic subplanes in the solar system is closely interrelated with the others, and the seven atomic subplanes of all the planes form a unity, and are essentially the cosmic physical plane as the term is occultly understood. The subplanes of which they are the originating source bear the same relationship to them as the six principles do to the seventh. Therefore, the devas of Group A are the concentrated creative force of the subplanes, the origin of the objective side of physical manifestation, and the source of the seven Breaths of the creative Logos on the physical plane. But it must be remembered that in each scheme the creative impulse or will is the planetary Logos of the scheme, Who as truly creates His body of Manifestation under the Law (His dense physical planet) as man—under the same Law—creates his physical body, or as the solar Logos (at the other end of the scale) creates His body, a solar system. |
Mỗi cõi phụ nguyên tử trong hệ mặt trời đều liên hệ rất chặt chẽ với các cõi khác, và bảy cõi phụ nguyên tử của mọi cõi tạo thành một hợp nhất, và về bản chất là cõi hồng trần vũ trụ theo cách thuật ngữ này được hiểu một cách huyền bí. Các cõi phụ mà chúng là nguồn gốc phát sinh mang cùng mối liên hệ với chúng như sáu nguyên khí đối với nguyên khí thứ bảy. Vì vậy, các thiên thần của Nhóm A là mãnh lực sáng tạo tập trung của các cõi phụ, là nguồn gốc của mặt khách quan của biểu hiện hồng trần, và là nguồn của bảy Hơi Thở của Logos sáng tạo trên cõi hồng trần. Nhưng phải nhớ rằng trong mỗi hệ hành tinh, xung lực sáng tạo hay ý chí là Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh ấy, Đấng tạo ra thể Biểu Hiện của Ngài dưới Định luật (hành tinh hồng trần đậm đặc của Ngài) cũng chân thực như con người—dưới cùng Định luật ấy—tạo ra thể xác của mình, hay như Thái dương Thượng đế (ở đầu kia của thang bậc) tạo ra thể của Ngài, một hệ mặt trời. |
|
This has a definite and esoteric bearing upon the subject under discussion, and the essential differences between the Heavenly Men seeking manifestation will be seen in Their schemes, and therefore in the types of devas through whom They function, and out of whose essence Their form is made. |
Điều này có một liên hệ xác định và huyền bí với chủ đề đang được bàn đến, và những khác biệt cốt yếu giữa các Đấng Thiên Nhân đang tìm cách biểu hiện sẽ được thấy trong các hệ hành tinh của Các Ngài, và do đó trong các loại thiên thần qua đó Các Ngài hoạt động, và từ tinh chất của họ mà hình tướng của Các Ngài được tạo thành. |
|
It might be expressed thus: Just as each man has a body which, in its main characteristics and form, resembles other bodies, yet in its quality and personal distinctive features is unique, so each of the Heavenly Men builds for Himself a body out of deva substance or spirit-matter which is of the same nature as that of His brothers, and yet which is distinctive, coloured by His own peculiar colouring, vibrant to His own particular key, and able to demonstrate His own unique quality. This is produced through the peculiar type of deva [Page 656] essence He chooses, or (to word it perhaps more occultly) it has involved the response of certain peculiar groups of devas to His note. They embody in themselves just those constituents which He requires to build His body or scheme. It will, therefore, be recognised that the devas of Group A, being what we might call the key-devas, are of prime importance, and, from our present standpoint, must remain abstract and esoteric. If we consider this under the Law of Analogy, and study the essentially esoteric nature of the plane of the Logos (the first plane, called Adi) the reason for this will be apparent. If the devas of Group A could be recognised, or even contacted by advanced men, the study of their nature, colouring and tone would reveal to unprepared humanity the colouring and tone of our particular planetary Logos. For this knowledge the race is not ready. It would reveal also, through the study of the Law of Action and Reaction, which of the incarnating Egos were on the ray of this Logos; the deductions from this would lead men into dangerous realms, and put power into hands as yet unprepared to wield it wisely. |
Có thể diễn đạt như sau: Cũng như mỗi người có một thể mà, trong các đặc điểm chính và hình thức, giống các thể khác, nhưng trong phẩm tính và các nét riêng biệt cá nhân lại là độc nhất, thì mỗi Đấng Thiên Nhân cũng kiến tạo cho Chính Ngài một thể từ chất liệu thiên thần hay tinh thần-vật chất, có cùng bản chất như của các huynh đệ của Ngài, nhưng vẫn đặc thù, được nhuốm màu bởi màu sắc riêng của Ngài, rung động theo chủ âm riêng của Ngài, và có khả năng biểu lộ phẩm tính độc nhất của chính Ngài. Điều này được tạo ra qua loại tinh chất thiên thần đặc thù [Page 656]mà Ngài chọn, hay (có lẽ nói theo cách huyền bí hơn) nó đã bao hàm sự đáp ứng của một số nhóm thiên thần đặc thù đối với âm điệu của Ngài. Họ tự thân thể hiện đúng những thành phần mà Ngài cần để kiến tạo thể hay hệ hành tinh của Ngài. Vì vậy, sẽ được nhận ra rằng các thiên thần của Nhóm A, là những gì chúng ta có thể gọi là các thiên thần chủ âm, có tầm quan trọng hàng đầu, và theo quan điểm hiện nay của chúng ta, phải vẫn còn trừu tượng và huyền bí. Nếu chúng ta xem xét điều này dưới định luật tương đồng, và nghiên cứu bản chất huyền bí cốt yếu của cõi của Logos (cõi thứ nhất, gọi là Adi) thì lý do của điều này sẽ hiển nhiên. Nếu các thiên thần của Nhóm A có thể được nhận biết, hay thậm chí được tiếp xúc bởi những người tiến bộ, thì việc nghiên cứu bản chất, màu sắc và âm điệu của họ sẽ tiết lộ cho nhân loại chưa chuẩn bị màu sắc và âm điệu của Hành Tinh Thượng đế đặc thù của chúng ta. Nhân loại chưa sẵn sàng cho tri thức này. Nó cũng sẽ tiết lộ, qua việc nghiên cứu Định luật Tác Động và Phản Ứng, những Chân ngã nhập thể nào thuộc cung của Logos này; những suy diễn từ đó sẽ dẫn con người vào những lĩnh vực nguy hiểm, và đặt quyền năng vào những bàn tay chưa sẵn sàng để sử dụng nó một cách minh triết. |
|
Therefore, Group A of Agnichaitans must remain profoundly esoteric, and their true nature can only be revealed to the Adept of the great Law. |
Vì vậy, Nhóm A của các Agnichaitan phải vẫn còn hết sức huyền bí, và bản chất chân thực của họ chỉ có thể được tiết lộ cho chân sư của Đại Định luật. |
|
Thus only a few hints are permissible, and these deal simply with the relationship of man to these entities. He is related to them primarily because his physical permanent atom is directly energised by them, being a part of their essential nature, and having a place in their form. It will be apparent to any student that if the permanent atoms of the lower man are within the causal periphery the devas of the three worlds on the atomic subplanes must work in the closest co-operation; there must be unity of purpose and of plan. |
Do đó, chỉ một vài gợi ý là được phép, và những gợi ý này chỉ bàn đến mối liên hệ của con người với các thực thể này. Y liên hệ với họ trước hết vì nguyên tử trường tồn hồng trần của y được họ trực tiếp tiếp năng lượng, vì nó là một phần của bản chất cốt yếu của họ, và có một vị trí trong hình tướng của họ. Sẽ hiển nhiên đối với bất kỳ đạo sinh nào rằng nếu các nguyên tử trường tồn của phàm nhân ở trong chu vi nhân thể thì các thiên thần của ba cõi giới trên các cõi phụ nguyên tử phải hoạt động trong sự hợp tác chặt chẽ nhất; phải có sự hợp nhất về mục đích và về Thiên Cơ. |
|
The devas of the atomic levels of all the planes in our scheme work in close affiliation: [Page 657] |
Các thiên thần của các cấp độ nguyên tử của mọi cõi trong hệ hành tinh chúng ta hoạt động trong sự liên kết chặt chẽ: [Page 657] |
|
a. With each other, thus making seven groups who are the sumtotal of the Brahma aspect of our planetary Logos. |
a. Với nhau, do đó tạo thành bảy nhóm là tổng thể của phương diện Brahma của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. |
|
b. With the seven groups who constitute the atomic matter of that scheme which is the polar opposite of ours. |
b. Với bảy nhóm cấu thành vật chất nguyên tử của hệ hành tinh là cực đối nghịch của hệ chúng ta. |
|
c. With that particular group in that scheme which is one of the points in a systemic triangle of which our scheme and our opposite scheme are the other two. |
c. Với nhóm đặc thù trong hệ hành tinh ấy là một trong các điểm trong một tam giác hệ thống mà hệ hành tinh chúng ta và hệ đối nghịch của chúng ta là hai điểm kia. |
|
d. With corresponding groups in lesser degree in all the systemic schemes. |
d. Với các nhóm tương ứng ở mức độ thấp hơn trong mọi hệ hành tinh của hệ thống. |
|
e. With the scheme which corresponds to the first aspect, or the plane of Adi. |
e. Với hệ hành tinh tương ứng với phương diện thứ nhất, hay cõi Adi. |
|
f. With those devas who form the spirit-substance of the manifestation of that particular Rishi of the Great Bear Who is the prototype of our particular planetary Logos. |
f. Với những thiên thần tạo thành tinh thần-chất liệu của sự biểu hiện của vị Rishi đặc thù của Đại Hùng Tinh là nguyên mẫu của Hành Tinh Thượng đế đặc thù của chúng ta. |
|
g. With those devas who form the substance of that one of those esoteric existences who are spoken of in the Secret Doctrine (II, 579-582) as “The wives of the seven Rishis,” or the seven sisters, the Pleiades. One of these seven sisters has a close connection with our Heavenly Man, and therefore we have an interesting cosmic interplay as follows: |
g. Với những thiên thần tạo thành chất liệu của một trong những sự tồn tại huyền bí được nói đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm (II, 579-582) như “Những người vợ của bảy vị Rishi,” hay bảy chị em, chòm Pleiades. Một trong bảy chị em này có liên hệ chặt chẽ với Đấng Thiên Nhân của chúng ta, và vì vậy chúng ta có một sự tương tác vũ trụ thú vị như sau: |
|
1. One of the seven Rishis of the Great Bear. |
1. Một trong bảy vị Rishi của Đại Hùng Tinh. |
|
2. One of the seven Sisters, or a Pleiad. |
2. Một trong bảy Chị Em, hay một Pleiad. |
|
3. The Heavenly Man of our scheme. |
3. Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta. |
|
This interplay will be threefold and as far as we are concerned just now will involve a transmission of life force through the atomic matter of our planes, circulating in deva substance. This will materially affect certain types of humanity more than others, according to their ray and nature, and this effect will demonstrate in [Page 658] a vivification of the spirillae of the permanent atoms and of the centres. |
Sự tương tác này sẽ là tam phân và, theo điều hiện nay liên quan đến chúng ta, sẽ bao hàm một sự truyền dẫn sinh lực qua vật chất nguyên tử của các cõi chúng ta, lưu chuyển trong chất liệu thiên thần. Điều này sẽ ảnh hưởng đáng kể đến một số loại nhân loại hơn những loại khác, tùy theo cung và bản chất của họ, và hiệu quả này sẽ biểu lộ trong [Page 658] sự làm sống động các loa tuyến của các nguyên tử trường tồn và của các trung tâm. |
|
Agnisuryans—Astral Plane Devas. |
Agnisuryan—Các thiên thần cõi cảm dục. |
|
We start here upon a consideration of those groups of devas who are the substance of the astral plane, the Agnisuryans. They may be considered in the following manner, and by the employment of synonymous terms, some general idea of their function may be arrived at before we begin to differentiate them into groups and study their relation to: |
Ở đây chúng ta bắt đầu xem xét những nhóm thiên thần là chất liệu của cõi cảm dục, các Agnisuryan. Họ có thể được xem xét theo cách sau, và bằng việc dùng các thuật ngữ đồng nghĩa, có thể đạt được một ý niệm tổng quát nào đó về chức năng của họ trước khi chúng ta bắt đầu phân biệt họ thành các nhóm và nghiên cứu mối liên hệ của họ với: |
|
1. The various entities who are the soul of the differing kingdoms, or groups, such as the animal kingdom, the human kingdom, and higher in the scale of consciousness than men—the planetary Logos. |
1. Các thực thể khác nhau là linh hồn của các giới hay các nhóm khác nhau, như giới động vật, giới nhân loại, và cao hơn trên thang tâm thức so với con người—Hành Tinh Thượng đế. |
|
2. Man himself. |
2. Chính con người. |
|
3. The plane as a totality. |
3. Cõi như một tổng thể. |
|
We might consider these devas: |
Chúng ta có thể xem xét các thiên thần này: |
|
First, as the substance of the astral plane in its seven grades. |
Thứ nhất, như chất liệu của cõi cảm dục trong bảy cấp độ của nó. |
|
Second, as that aspect of logoic manifestation which corresponds to the liquid subplane in the systemic physical plane. |
Thứ hai, như phương diện của sự biểu hiện logoi tương ứng với cõi phụ lỏng trong cõi hồng trần hệ thống. |
|
Third, as the vehicle of the deva lord Varuna. |
Thứ ba, như vận cụ của thiên thần chúa Varuna. |
|
Fourth, as the animating lives of that involutionary matter of the astral plane which we call the elemental essence, and as the vitality energising the desire elementals of all that is sentient. Viewed in this aspect in connection especially with man, they are the correspondence on the astral plane to the “devas of the shadows,” for the desire bodies of all human beings are composed of matter of the second, third and fourth subplanes of the astral plane. This is a point which should be closely considered, and the analogy between the etheric body, the vehicle of prana vitalising the dense physical, and [Page 659] man’s astral body, and the method of its vitalisation will be found illuminating. |
Thứ tư, như các sự sống làm linh hoạt chất liệu giáng hạ tiến hoá của cõi cảm dục mà chúng ta gọi là Tinh chất hành khí, và như sinh lực tiếp năng lượng cho các hành khí dục vọng của mọi điều có tri giác. Khi được xem trong phương diện này, đặc biệt trong liên hệ với con người, họ là sự tương ứng trên cõi cảm dục với “các thiên thần của bóng tối”, vì các thể dục vọng của mọi con người đều được cấu tạo từ vật chất của các cõi phụ thứ hai, thứ ba và thứ tư của cõi cảm dục. Đây là một điểm cần được xem xét kỹ lưỡng, và sự tương đồng giữa thể dĩ thái, vận cụ của prana làm tiếp sinh lực cho thể xác đậm đặc, và [Page 659] thể cảm dục của con người, cùng phương pháp tiếp sinh lực cho nó, sẽ được thấy là soi sáng. |
|
Fifth, from the standpoint of the physical plane, as the sumtotal of material activity (even though subjective) which produces that which is tangible and objective. Just as the solar system is a “Son of Necessity,” or of desire, so the physical bodies of all that exist are the product of the desire of some greater or lesser entity within the system. |
Thứ năm, theo quan điểm của cõi hồng trần, như tổng thể của hoạt động vật chất (dù là chủ quan) tạo ra cái hữu hình và khách quan. Cũng như hệ mặt trời là một “Con của Tất Yếu”, hay của dục vọng, thì các thể xác của mọi điều hiện hữu là sản phẩm của dục vọng của một thực thể lớn hơn hay nhỏ hơn nào đó trong hệ thống. |
|
It might be apposite here to point out the lines along which energy—whether manasic, pranic, or astral—enters the system and reaches a particular plane, thus finding its way to all units of consciousness, from an atom to a solar Logos. |
Ở đây, có lẽ thích hợp để chỉ ra các đường mà theo đó năng lượng—dù là manas, prana, hay cảm dục—đi vào hệ thống và đạt đến một cõi đặc thù, do đó tìm đường đến mọi đơn vị tâm thức, từ một nguyên tử đến một Thái dương Thượng đế. |
|
The dense physical plane itself is energised via: |
Chính cõi hồng trần đậm đặc được tiếp năng lượng qua: |
|
a. The planetary etheric body. |
a. Thể dĩ thái hành tinh. |
|
b. The mental plane, or the cosmic gaseous subplane. |
b. Cõi trí, hay cõi phụ khí vũ trụ. |
|
c. The atmic plane, or the third cosmic ether. |
c. Cõi atma, hay dĩ thái vũ trụ thứ ba. |
|
d. The plane of adi, or the first cosmic ether. |
d. Cõi adi, hay dĩ thái vũ trụ thứ nhất. |
|
and inferentially (by means of the logoic permanent atom) a similar flow of force enters from cosmic levels. |
và theo suy luận (bằng nguyên tử trường tồn logoi) một dòng mãnh lực tương tự đi vào từ các cấp độ vũ trụ. |
|
The astral plane is energised via: |
Cõi cảm dục được tiếp năng lượng qua: |
|
a. The buddhic plane, the fourth cosmic ether. |
a. Cõi Bồ đề, dĩ thái vũ trụ thứ tư. |
|
b. The monadic plane, the second cosmic ether. |
b. Cõi chân thần, dĩ thái vũ trụ thứ hai. |
|
c. The cosmic astral plane, and thus to the Heart of all Being. |
c. Cõi cảm dục vũ trụ, và do đó đến Trái Tim của mọi Hữu Thể. |
|
The mental plane is energised via: |
Cõi trí được tiếp năng lượng qua: |
|
a. The atmic plane, the third cosmic ether. |
a. Cõi atma, dĩ thái vũ trụ thứ ba. |
|
b. The plane adi, the first cosmic ether. |
b. Cõi adi, dĩ thái vũ trụ thứ nhất. |
|
c. The cosmic mental plane, beyond which it is unnecessary for us to go. |
c. Cõi trí vũ trụ, vượt quá đó thì chúng ta không cần đi xa hơn. |
|
It will be noted by the careful student that these planes might be looked at in connection with the three worlds [Page 660] as demonstrating two types of force,—first, a force which tends to differentiation such as on the mental plane (the plane of inherent separation) and on the physical plane (the plane of actual separation); secondly, a force which tends to unity, such as on the astral plane, and on the plane of essential harmony, the buddhic plane. It must be remembered that we are considering force as it flows through, or permeates, deva substance. A hint as to the truth lies in the fact that at present the astral body of man is positive to the physical plane, negative to the mental, and positive to the buddhic plane. As evolution proceeds, the astral body should become positive to the mental, and thus prove incapable of being swayed by thought currents, and the separative processes of that plane, and negative to the buddhic plane, or receptive to the forces from that plane. When it has attained equilibrium, and the forces are evenly balanced, the astral body should become the transmitter from the buddhic plane, the fourth cosmic ether, via the gaseous, to the dense physical plane. This thought should be studied in connection with the burning of the etheric web of the planet, thus illumination may come. Literally, there is no such division on the astral plane as we find on the mental or on the physical planes. On both those planes, we have a division into two: the mental plane being divided into higher and lower, rupa and arupa, concrete and abstract, and the physical plane into the etheric levels and the dense subplanes. |
Cần lưu ý rằng đối với đạo sinh cẩn trọng, các cõi này có thể được nhìn trong liên hệ với ba cõi giới [Page 660] như biểu lộ hai loại mãnh lực,—thứ nhất, một mãnh lực có xu hướng dẫn đến biến phân như trên cõi trí (cõi của sự phân ly cố hữu) và trên cõi hồng trần (cõi của sự phân ly thực sự); thứ hai, một mãnh lực có xu hướng dẫn đến hợp nhất, như trên cõi cảm dục, và trên cõi của sự hài hòa cốt yếu, cõi Bồ đề. Phải nhớ rằng chúng ta đang xem xét mãnh lực khi nó chảy qua, hay thấm nhuần, chất liệu thiên thần. Một gợi ý về chân lý nằm trong sự kiện rằng hiện nay thể cảm dục của con người là dương đối với cõi hồng trần, âm đối với cõi trí, và dương đối với cõi Bồ đề. Khi tiến hoá tiếp diễn, thể cảm dục phải trở nên dương đối với cõi trí, và do đó chứng tỏ không thể bị các dòng tư tưởng và các tiến trình phân ly của cõi ấy làm dao động, và âm đối với cõi Bồ đề, hay tiếp nhận các mãnh lực từ cõi ấy. Khi nó đã đạt đến quân bình, và các mãnh lực được cân bằng đồng đều, thể cảm dục phải trở thành kẻ truyền dẫn từ cõi Bồ đề, dĩ thái vũ trụ thứ tư, qua cõi phụ khí, đến cõi hồng trần đậm đặc. Tư tưởng này nên được nghiên cứu trong liên hệ với việc đốt cháy mạng lưới dĩ thái của hành tinh, nhờ đó sự soi sáng có thể đến. Theo nghĩa đen, không có sự phân chia như vậy trên cõi cảm dục như chúng ta thấy trên cõi trí hay trên cõi hồng trần. Trên cả hai cõi ấy, chúng ta có một sự phân chia thành hai: cõi trí được chia thành thượng và hạ, rupa và arupa, cụ thể và trừu tượng, còn cõi hồng trần thì chia thành các cấp độ dĩ thái và các cõi phụ đậm đặc. |
|
There is, therefore, a correspondence between these two. The reason for this apparent division (considering the question apart from the states of consciousness of a human being) is due to the stage of development of the great devas who embody the plane, who ensoul it, and who manifest through it as a man manifests through his body. Varuna, the Lord of the astral plane, has achieved a more unified conscious control than His brothers of [Page 661] the mental and physical planes. He comes into manifestation in connection with one of the Heavenly Men, Who is the Lord of a major Ray. The other two are linked up with the Lords of a minor Ray. There is a suggestive hint for students in this information. We may justly ask why, if this is so, it should apparently manifest so disastrously in connection with man? There are several reasons for this, one being that the force flowing through the vehicle of the great deva, the plane, is consequently stronger than in the other two cases, and this is owing to His more advanced stage of development and also to the fact that the Logos Himself is polarised in His astral body. Another reason is that he has a peculiar link with the Ruler of the animal kingdom, and as the human being has not yet dissociated himself from, nor learnt to control, his animal nature, he too comes under the influence of this tremendous force. There are other reasons hidden in the karma of our Heavenly Man, but the above reasons suffice. |
Do đó, có một sự tương ứng giữa hai điều này. Lý do của sự phân chia biểu kiến này (nếu xét vấn đề tách biệt khỏi các trạng thái tâm thức của một con người) là do giai đoạn phát triển của các thiên thần lớn đang thể hiện cõi ấy, đang phú linh cho nó, và đang biểu hiện qua nó cũng như con người biểu hiện qua thể của mình. Varuna, Chúa Tể của cõi cảm dục, đã đạt được một sự kiểm soát tâm thức hợp nhất hơn các huynh đệ của Ngài trên [Page 661] cõi trí và cõi hồng trần. Ngài đi vào biểu hiện có liên hệ với một trong các Đấng Thiên Nhân, là Chúa Tể của một cung chính. Hai vị kia được nối kết với các Chúa Tể của một cung phụ. Trong thông tin này có một gợi ý đầy ám chỉ cho các đạo sinh. Chúng ta có thể chính đáng hỏi rằng tại sao, nếu đúng là như vậy, nó lại dường như biểu hiện tai hại đến thế trong liên hệ với con người? Có vài lý do cho điều này, một trong số đó là mãnh lực tuôn chảy qua vận cụ của vị thiên thần lớn, tức cõi ấy, vì thế mạnh hơn trong hai trường hợp kia, và điều này là do giai đoạn phát triển cao hơn của Ngài, đồng thời cũng do sự kiện chính Thượng đế đang phân cực trong thể cảm dục của Ngài. Một lý do khác là vị ấy có một mối liên kết đặc biệt với Chúa Tể của giới động vật, và vì con người vẫn chưa tự tách mình ra khỏi, cũng chưa học được cách kiểm soát, bản chất động vật của mình, nên y cũng chịu ảnh hưởng của mãnh lực to lớn này. Còn có những lý do khác ẩn giấu trong nghiệp quả của Đấng Thiên Nhân của chúng ta, nhưng các lý do trên là đủ. |
|
1. The Function of the Agnisuryans. The devas of the astral plane are those with whom man is very specially connected at this time owing to his astral polarisation, and to the place desire and feeling play in his development. Consciousness expands through contact, through intelligent appreciation of that which is contacted, and through realisation of that which is to be gained through a specific contact. That which is contacted depends upon reciprocal vibration, and the place therefore of desire (which is the going out after sensation) and of feeling (which is the reflex of that desire) is of real importance; they put man constantly in touch—even though he realises it not—with deva substance of some kind or another. Even when man has reached a relatively high stage of evolution, the demonstration of that point of attainment is seen in the type of not-self which he contacts; it is only when he is an initiate that [Page 662] he begins to approximate, and to know the meaning of the essential unity which lies at the heart of Being, and to comprehend the oneness of the Universal Soul, and the Unity of that subjective Life which secretes itself behind form of every kind. It should never be forgotten that the matter aspect is found on all planes; also that forms are ever to be found, until the solar ring-pass-not is transcended and the Logos escapes from His present limitation. Owing to this the devas of the astral plane assume a very important place in the three worlds. |
1. Chức năng của các Agnisuryan. Các thiên thần của cõi cảm dục là những vị mà con người hiện nay có liên hệ đặc biệt mật thiết do sự phân cực cảm xúc của mình, và do vị trí mà dục vọng cùng cảm xúc giữ trong sự phát triển của y. Tâm thức mở rộng qua tiếp xúc, qua sự đánh giá thông minh về điều được tiếp xúc, và qua sự chứng nghiệm điều sẽ đạt được nhờ một tiếp xúc đặc thù. Điều được tiếp xúc tùy thuộc vào rung động tương hỗ, và vì vậy vị trí của dục vọng (là sự vươn ra tìm cảm giác) và của cảm xúc (là phản xạ của dục vọng ấy) có tầm quan trọng thực sự; chúng khiến con người thường xuyên tiếp xúc—dù y không nhận ra điều đó—với chất liệu thiên thần thuộc loại này hay loại khác. Ngay cả khi con người đã đạt đến một giai đoạn tiến hoá tương đối cao, sự biểu lộ của điểm thành tựu ấy vẫn được thấy trong loại không-phải-ngã mà y tiếp xúc; chỉ khi y là một điểm đạo đồ thì [Page 662] y mới bắt đầu tiến gần đến, và biết được ý nghĩa của sự hợp nhất cốt yếu nằm ở trung tâm của Bản Thể, và thấu hiểu tính nhất như của Đại Hồn, và Sự Hợp Nhất của Sự sống chủ quan ấy, vốn tự ẩn mình đằng sau mọi loại hình tướng. Không bao giờ nên quên rằng phương diện vật chất được tìm thấy trên mọi cõi; và rằng các hình tướng luôn luôn hiện hữu, cho đến khi vòng-giới-hạn thái dương được vượt qua và Thượng đế thoát khỏi sự giới hạn hiện tại của Ngài. Vì điều này, các thiên thần của cõi cảm dục giữ một vị trí rất quan trọng trong ba cõi thấp. |
|
Previously, we considered them in a fivefold aspect, dividing them into five groups. At this point we will limit our consideration to the relationship of self-conscious units such as Man and the planetary Logos to this deva substance. A great distinction exists between man and his prototype, a Heavenly Man. |
Trước đây, chúng ta đã xem xét họ dưới phương diện ngũ phân, chia họ thành năm nhóm. Tại điểm này, chúng ta sẽ giới hạn sự xem xét của mình vào mối liên hệ của các đơn vị ngã thức như Con Người và Hành Tinh Thượng đế với chất liệu thiên thần này. Có một sự khác biệt lớn giữa con người và nguyên mẫu của y, một Đấng Thiên Nhân. |
|
The astral plane plays a very real part in the evolution of man, having a close connection with one of his principles. Astral matter and vibration is one of the controlling factors in the lives of the great majority of people. To the Heavenly Man, astral matter corresponds to the liquid portion in the physical body of man, and is for Him therefore no principle. |
Cõi cảm dục đóng một vai trò rất thực trong sự tiến hoá của con người, vì có liên hệ mật thiết với một trong các nguyên khí của y. Vật chất và rung động cảm dục là một trong những yếu tố kiểm soát đời sống của đại đa số nhân loại. Đối với Đấng Thiên Nhân, vật chất cảm dục tương ứng với phần lỏng trong thể xác của con người, và vì vậy đối với Ngài nó không phải là một nguyên khí. |
|
The astral plane is man’s principal battle-ground and the area of his most intense field of sensation,—mental sensation (esoterically understood) is for him as yet only a possibility. The astral body is the seat of man’s most violent vibration, and these vibrations are a potent cause of his physical plane activities. If man only realised it, the devas of the astral plane at present very largely control what he does and says, and his goal of evolution (his immediate goal) is to liberate himself from their control in order that he, the real Ego or thinker, may be the dominating influence. To be explicit, and thus to illustrate this point: the little elemental lives which form the body of the emotions, and the positive [Page 663] life of any evolutionary deva who (through similarity of vibration) is linked to any particular man and who gives to him an astral body of a coherent and positive power, are as yet practically in control of the majority. Man usually does as his desires and instincts prompt him. If this evolutionary deva is of a high order (as will be the case in a highly developed man) the vibration will be high, and the desires and instincts will be good and exoterically right. Nevertheless, if the man is controlled by them, he is as yet under deva influence, and must free himself. If the deva life is of a low order, the man will demonstrate low and vicious instincts, and desires of a vile calibre. |
Cõi cảm dục là chiến trường chính của con người và là khu vực của trường cảm giác mãnh liệt nhất của y,—cảm giác trí tuệ (được hiểu theo nghĩa huyền bí) đối với y hiện vẫn chỉ là một khả năng. Thể cảm dục là chỗ ngự của những rung động dữ dội nhất nơi con người, và các rung động này là một nguyên nhân mạnh mẽ của các hoạt động trên cõi hồng trần của y. Nếu con người chỉ cần nhận ra điều đó, thì hiện nay các thiên thần của cõi cảm dục phần lớn kiểm soát điều y làm và nói, và mục tiêu tiến hoá của y (mục tiêu trước mắt của y) là giải thoát mình khỏi sự kiểm soát của họ để y, chân ngã hay thức giả thực sự, có thể là ảnh hưởng chi phối. Nói rõ hơn, và như thế để minh họa điểm này: các sự sống hành khí nhỏ bé tạo thành thể cảm xúc, và sự sống tích cực [Page 663] của bất kỳ thiên thần thăng thượng tiến hoá nào mà (do sự tương đồng rung động) được nối kết với một con người cụ thể nào đó và ban cho y một thể cảm dục có năng lực kết hợp và tích cực, hiện nay trên thực tế vẫn đang kiểm soát đa số. Con người thường làm theo điều mà dục vọng và bản năng thúc đẩy y. Nếu thiên thần thăng thượng tiến hoá này thuộc một cấp cao (như sẽ là trường hợp nơi một người phát triển cao) thì rung động sẽ cao, và các dục vọng cùng bản năng sẽ tốt đẹp và đúng đắn theo ngoại môn. Tuy nhiên, nếu con người bị chúng kiểm soát, thì y vẫn còn ở dưới ảnh hưởng thiên thần, và phải tự giải thoát. Nếu sự sống thiên thần thuộc một cấp thấp, con người sẽ biểu lộ các bản năng thấp kém và xấu xa, cùng những dục vọng có phẩm cấp đê tiện. |
|
If these remarks are rightly apprehended, some understanding will come of what is meant when the deva evolution is spoken of as being a “parallel evolution” to that of man. In the three worlds the two lines of evolution parallel each other, and must not be consciously one. In the planes of the Triad they are known as a unity, producing the Divine Hermaphrodite, or the Heavenly Man,—the self-conscious human units embodying the three aspects of divinity, while the conscious deva units embody the divine attributes. The two, blended together, form the body of manifestation, the centres and substance of the Heavenly Man. Great is the mystery, and until man knows his place within the conscious whole, he should reserve his opinion as to the meaning thereof. It will be apparent, therefore, in view of the connection between the astral plane with its unified work, and the buddhic plane with the conscious harmony there experienced, that the astral body of man calls for the closest study and understanding. A link will be found through its medium with the buddhic plane and harmonious activity on the physical plane will be produced. The student of occultism should study carefully in this connection: [Page 664] |
Nếu những nhận xét này được lĩnh hội đúng đắn, thì sẽ có được một phần thấu hiểu về điều được hàm ý khi nói rằng sự tiến hoá thiên thần là một “sự tiến hoá song song” với sự tiến hoá của con người. Trong ba cõi giới, hai đường tiến hoá song song với nhau, và không được hữu thức là một. Trên các cõi của Tam nguyên tinh thần, chúng được biết như một hợp nhất, tạo ra Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng, hay Đấng Thiên Nhân,—các đơn vị nhân loại ngã thức thể hiện ba phương diện của thiên tính, trong khi các đơn vị thiên thần hữu thức thể hiện các thuộc tính thiêng liêng. Hai bên, khi hòa trộn với nhau, tạo thành thể biểu hiện, các trung tâm và chất liệu của Đấng Thiên Nhân. Mầu nhiệm này thật lớn lao, và cho đến khi con người biết được vị trí của mình trong toàn thể hữu thức, y nên dè dặt trong ý kiến của mình về ý nghĩa của điều đó. Do đó, sẽ thấy rõ, xét theo mối liên hệ giữa cõi cảm dục với công việc hợp nhất của nó, và cõi Bồ đề với sự hài hòa hữu thức được kinh nghiệm ở đó, rằng thể cảm dục của con người đòi hỏi sự nghiên cứu và thấu hiểu sát sao nhất. Qua trung gian của nó, sẽ tìm thấy một mối nối kết với cõi Bồ đề và hoạt động hài hòa trên cõi hồng trần sẽ được tạo ra. Đạo sinh huyền bí học nên nghiên cứu cẩn thận trong mối liên hệ này: [Page 664] |
|
a. The physical sun, and its relation to prana and the etheric body. |
a. Mặt trời vật lý, và mối liên hệ của nó với prana và thể dĩ thái. |
|
b. Mặt trời chủ quan, và mối liên hệ của nó với cõi cảm dục, với nguyên khí trí-cảm, và thể cảm dục. |
|
|
c. The central spiritual sun, and its relation to the Spirit or atma in man. (S. D., II, 250, 251.) |
c. Mặt trời Tinh thần Trung Ương, và mối liên hệ của nó với Tinh thần hay atma trong con người. (S. D., II, 250, 251.) |
|
d. The heart of the sun, and its relation to the lower and higher mental bodies, producing that peculiar manifestation we call the causal body. In this connection it must be remembered that the force which flows from the heart of the sun, works through a triangle formed by the Venusian scheme, the Earth and the sun. |
d. Trái tim của mặt trời, và mối liên hệ của nó với thể trí thấp và cao, tạo ra biểu hiện đặc thù mà chúng ta gọi là thể nguyên nhân. Trong mối liên hệ này cần nhớ rằng mãnh lực tuôn chảy từ trái tim của mặt trời hoạt động qua một tam giác được tạo thành bởi hệ hành tinh Kim Tinh, Trái Đất và mặt trời. |
|
That another triangle was also formed involving two planets was to be expected under the law, and the triangles vary according to the scheme involved. |
Rằng một tam giác khác cũng được hình thành, bao gồm hai hành tinh, là điều có thể chờ đợi theo định luật, và các tam giác thay đổi tùy theo hệ hành tinh liên hệ. |
|
Cosmically there is a very interesting series of triangles which will be found by the student of esoteric astronomy and of occult cycles. They originate in the central sun of our particular group of solar systems. This series involves the Pleiades. The fact that this is so will not be known until the last decade of the present century, and will not be recognised by science till that time when certain lines of knowledge and discovery will bring scientists to a realisation that there is a third type of electricity, which ever balances and forms the apex of the triangle. But the time is not yet. |
Về mặt vũ trụ, có một chuỗi tam giác rất lý thú mà đạo sinh thiên văn học huyền bí và các chu kỳ huyền bí sẽ tìm thấy. Chúng phát sinh trong mặt trời trung tâm của nhóm hệ mặt trời đặc thù của chúng ta. Chuỗi này bao gồm chòm Pleiades. Sự kiện này sẽ không được biết đến cho đến thập niên cuối của thế kỷ hiện tại, và sẽ không được khoa học công nhận cho đến thời điểm mà một số đường hướng tri thức và khám phá nhất định sẽ đưa các nhà khoa học đến chỗ nhận ra rằng có một loại điện thứ ba, luôn luôn quân bình và tạo thành đỉnh của tam giác. Nhưng thời điểm ấy vẫn chưa đến. |
|
All that is here said is expressed in terms of deva groups and deva forces, which form (in their aggregate) substance responsive to analogous vibration. This is occultly expressed under certain definite names. It is possible, therefore, to transmit safely information of a character incomprehensible to the profane in such a phrase, for instance, as: “The triangle of…of…and of Group…of the Agnisuryans formed itself, and in the turning of the Wheel produced the third.” This conveys to the mind of the occultist the knowledge [Page 665] that in the flow of force from a particular constellation, outside our system altogether, through a particular planetary scheme, and thus through the astral body of a planetary Logos, a condition was brought about which produced the appearance of the third kingdom in nature, the sentient conscious animal kingdom. Some such similar phrase embodies also the deva connection with man’s individualisation, but it profits not to pass it on; the above is only quoted in order to do three things: |
Mọi điều được nói ở đây đều được diễn đạt bằng các thuật ngữ của những nhóm thiên thần và các mãnh lực thiên thần, vốn tạo thành (trong tổng thể của chúng) chất liệu đáp ứng với rung động tương đồng. Điều này được diễn đạt một cách huyền bí dưới những danh xưng xác định nào đó. Vì vậy, có thể truyền đạt một cách an toàn thông tin có tính chất không thể hiểu nổi đối với người phàm tục trong một cụm từ chẳng hạn như: “Tam giác của… của… và của Nhóm… của các Agnisuryan đã tự hình thành, và trong sự quay của Bánh Xe đã tạo ra cái thứ ba.” Điều này truyền đạt cho trí của nhà huyền bí học tri thức [Page 665] rằng trong dòng chảy của mãnh lực từ một chòm sao đặc thù, hoàn toàn ở ngoài hệ của chúng ta, qua một hệ hành tinh đặc thù, và như thế qua thể cảm dục của một Hành Tinh Thượng đế, một điều kiện đã được tạo ra khiến xuất hiện giới thứ ba trong thiên nhiên, tức giới động vật hữu cảm hữu thức. Một cụm từ tương tự nào đó cũng bao hàm mối liên hệ thiên thần với sự biệt ngã hóa của con người, nhưng không ích gì khi truyền lại nó; điều trên chỉ được trích dẫn nhằm làm ba việc: |
|
1. Demonstrate somewhat the nature and extent of the forces flowing through our system. |
1. Minh họa phần nào bản chất và phạm vi của các mãnh lực tuôn chảy qua hệ của chúng ta. |
|
2. Show the close connection we have with the deva evolution. |
2. Cho thấy mối liên hệ mật thiết của chúng ta với sự tiến hoá thiên thần. |
|
3. Emphasise the triangular nature and interrelation of all that eventuates. |
3. Nhấn mạnh bản chất tam giác và sự tương liên của mọi điều xảy ra. |
|
It might be advisable here to bring out a point in connection with the devas of the lower planes (those with whom man is peculiarly connected). They can be divided into certain groups, indicating their place in the scale of consciousness. Perhaps the question may here be asked why we are dealing only with those deva groups which are to be found in the three worlds. Occultly understood, these devas (of the type we are considering) are only found in the dense physical body of the Logos,—being the substance of the lower three subplanes of the cosmic physical. The old Commentary says as follows: |
Có lẽ ở đây nên nêu ra một điểm liên quan đến các thiên thần của các cõi thấp (những vị mà con người có liên hệ đặc biệt). Họ có thể được chia thành những nhóm nhất định, cho thấy vị trí của họ trên thang tâm thức. Có lẽ ở đây có thể đặt câu hỏi tại sao chúng ta chỉ bàn đến những nhóm thiên thần được tìm thấy trong ba cõi giới. Theo cách hiểu huyền bí, các thiên thần này (thuộc loại chúng ta đang xem xét) chỉ được tìm thấy trong thể xác đậm đặc của Thượng đế,—vì họ là chất liệu của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ. Cổ Luận nói như sau: |
|
“The spheres of fire seek location upon the lower three. They originate by medium of the fifth, yet merge upon the planes of yoga. When the fiery essences permeate all, then there is no more the fifth nor sixth, nor seventh, but only the three shining by medium of the fourth.” |
“Các khối cầu lửa tìm chỗ định vị trên ba cõi thấp. Chúng phát sinh qua trung gian của cõi thứ năm, nhưng hòa nhập trên các cõi yoga. Khi các tinh chất lửa thấm khắp mọi sự, thì không còn cõi thứ năm, thứ sáu, hay thứ bảy nữa, mà chỉ còn ba cõi tỏa sáng qua trung gian của cõi thứ tư.” |
|
Therefore, for the purposes of our present study, the devas are only to be found in the three worlds. Beyond those three planes we have the three aspects of [Page 666] the major three manifesting through the fourth; we have consequently the spheres of the planetary Logoi upon the plane of buddhi. They synthesise all that has been developing through the denser manifestation. From the standpoint of the esoteric philosophy, the cosmic physical plane on which our entire solar system has its place must be studied in a dual manner: |
Vì vậy, cho mục đích của sự nghiên cứu hiện tại của chúng ta, các thiên thần chỉ được tìm thấy trong ba cõi giới. Vượt lên trên ba cõi ấy, chúng ta có ba phương diện của [Page 666] bộ ba chính biểu hiện qua phương diện thứ tư; do đó chúng ta có các khối cầu của các Hành Tinh Thượng đế trên cõi Bồ đề. Chúng tổng hợp mọi điều đã phát triển qua biểu hiện đậm đặc hơn. Từ quan điểm của triết học huyền bí, cõi hồng trần vũ trụ mà trên đó toàn bộ hệ mặt trời của chúng ta có vị trí của nó phải được nghiên cứu theo hai cách: |
|
1. From the point of view of the Heavenly Men, covering the evolutions of the four higher planes, or the etheric levels. Of these we can know practically nothing until after initiation, at which time the consciousness of the human being is transferred gradually on to the cosmic etheric planes. |
1. Từ quan điểm của các Đấng Thiên Nhân, bao quát các sự tiến hoá của bốn cõi cao hơn, hay các cấp dĩ thái. Về những điều này, trên thực tế chúng ta không thể biết gì cho đến sau điểm đạo, khi tâm thức của con người được chuyển dịch dần dần lên các cõi dĩ thái vũ trụ. |
|
2. From the standpoint of the human being in the three worlds. Man is the consummating evolution in the three worlds, just as the Heavenly Men are in the higher four. |
2. Từ quan điểm của con người trong ba cõi giới. Con người là sự tiến hoá hoàn tất trong ba cõi giới, cũng như các Đấng Thiên Nhân là như vậy trong bốn cõi cao hơn. |
|
In the three worlds, we have the parallel evolutions—deva and human in their many varying grades—the human naturally concerning us the most intimately, though the two evolve through interaction with each other. In the higher four worlds, we have this duality viewed as a unity, and the aspect of the synthetic evolution of the Heavenly Men is the one considered. It would interest us much could we but understand a little of the point of view of those great devas Who co-operate intelligently in the plan of evolution. They have Their own method of expressing these ideas, the medium being colour which can be heard, and sound which can be seen. Man reverses the process and sees colors and hears sounds. A hint lies here as to the necessity for symbols, for they are signs which convey cosmic truths, and instruction, and can be comprehended alike by the evolved of both evolutions. It should be borne in mind, as earlier pointed out, that: [Page 667] |
Trong ba cõi giới, chúng ta có các sự tiến hoá song song—thiên thần và nhân loại trong nhiều cấp độ khác nhau của chúng—mà dĩ nhiên sự tiến hoá nhân loại liên hệ đến chúng ta mật thiết nhất, dù cả hai tiến hoá qua sự tương tác với nhau. Trong bốn cõi cao hơn, chúng ta có nhị nguyên tính này được nhìn như một hợp nhất, và phương diện của sự tiến hoá tổng hợp của các Đấng Thiên Nhân là điều được xem xét. Sẽ rất đáng quan tâm đối với chúng ta nếu chúng ta có thể hiểu được đôi chút quan điểm của những thiên thần lớn đang hợp tác một cách thông minh trong Thiên Cơ tiến hoá. Các Ngài có phương pháp riêng để diễn đạt những ý tưởng này, với phương tiện là màu sắc có thể được nghe thấy, và âm thanh có thể được nhìn thấy. Con người đảo ngược tiến trình và nhìn thấy màu sắc, nghe thấy âm thanh. Ở đây có một gợi ý về sự cần thiết của các biểu tượng, vì chúng là những dấu hiệu truyền đạt các chân lý vũ trụ và giáo huấn, và có thể được cả những thực thể tiến hoá của hai dòng tiến hoá cùng thấu hiểu như nhau. Cần ghi nhớ, như đã chỉ ra trước đây, rằng: [Page 667] |
|
a. Man is demonstrating the aspects of divinity. The devas are demonstrating the attributes of divinity. |
a. Con người đang biểu lộ các phương diện của thiên tính. Các thiên thần đang biểu lộ các thuộc tính của thiên tính. |
|
b. Con người đang phát triển linh thị bên trong và phải học cách nhìn. |
|
|
The devas are evolving the inner hearing and must learn to hear. |
Các thiên thần đang phát triển sự nghe bên trong và phải học cách nghe. |
|
c. Both are as yet imperfect, and an imperfect world is the result. |
c. Cả hai hiện vẫn chưa hoàn hảo, và một thế giới bất toàn là kết quả. |
|
d. Man is evolving by means of contact and experience. He expands. |
d. Con người tiến hoá bằng tiếp xúc và kinh nghiệm. Y mở rộng. |
|
The devas evolve by means of the lessening of contact. Limitation is the law for them. |
Các thiên thần tiến hoá bằng sự giảm bớt tiếp xúc. Sự giới hạn là định luật đối với họ. |
|
e. Man aims at self-control. |
e. Con người nhắm đến sự tự kiểm soát. |
|
Devas must develop by being controlled. |
Các thiên thần phải phát triển bằng cách được kiểm soát. |
|
f. Man is innately Love,—the Force which produces coherency. The devas are innately intelligence,—the force which produces activity. |
f. Con người bẩm sinh là Tình thương,—Mãnh lực tạo ra sự kết hợp. Các thiên thần bẩm sinh là trí tuệ,—mãnh lực tạo ra hoạt động. |
|
g. The third type of force, that of Will, the balancing equilibrium of electrical phenomena, has to play equally upon and through both evolutions, but in the one it demonstrates as self-consciousness, and in the other as constructive vibration. |
g. Loại mãnh lực thứ ba, tức Ý Chí, sự quân bình cân xứng của các hiện tượng điện, phải tác động như nhau lên và qua cả hai dòng tiến hoá, nhưng trong một bên nó biểu lộ như ngã thức, còn trong bên kia như rung động kiến tạo. |
|
In the Heavenly Man these two great aspects of divinity are equally blended, and in the course of the mahamanvantara the imperfect Gods become perfect. These broad and general distinctions are pointed out as they throw light upon the relationship of Man to the devas. |
Trong Đấng Thiên Nhân, hai phương diện lớn này của thiên tính được hòa trộn đồng đều, và trong tiến trình của Đại giai kỳ sinh hóa, các vị Thượng đế bất toàn trở nên hoàn hảo. Những phân biệt rộng lớn và tổng quát này được nêu ra vì chúng soi sáng mối liên hệ của Con Người với các thiên thần. |
|
The devas of the physical plane, though divided into the three groups A, B, C, are under another grouping spoken of as “the Devas of the Seventh Order.” The seventh order is peculiarly linked to the devas of the first order on the first plane. They are the reflectors of the mind of God of which the first order is the expression, and manifest it as it has worked through from the [Page 668] archetypal plane. This seventh order of devas is directly under the influence of the seventh Ray, and the planetary Logos of that Ray works in close co-operation with the Raja-Lord of the seventh plane. As the goal of evolution for the devas is the inner hearing, it will be apparent why mantric sounds and balanced modulations are the method of contacting them, and of producing varying phenomena. This seventh order of devas is the one with which the workers on the left hand path are concerned, working through vampirism and the devitalisation of their victims. They deal with the etheric bodies of their enemies, and by means of sounds affect deva substance, thus producing the desired results. The white Magician does not work on the physical plane with physical substance. He transfers His activities to a higher level, and hence deals with desires and motives. He works through the devas of the sixth order. |
Các thiên thần của cõi hồng trần, dù được chia thành ba nhóm A, B, C, vẫn nằm dưới một cách phân nhóm khác được gọi là “các Thiên thần của Đẳng cấp Thứ Bảy.” Đẳng cấp thứ bảy có liên hệ đặc biệt với các thiên thần của đẳng cấp thứ nhất trên cõi thứ nhất. Họ là những phản chiếu của Trí của Thượng đế mà đẳng cấp thứ nhất là biểu hiện, và biểu lộ nó như nó đã vận hành từ [Page 668] cõi nguyên mẫu. Đẳng cấp thiên thần thứ bảy này trực tiếp ở dưới ảnh hưởng của cung bảy, và Hành Tinh Thượng đế của cung ấy hoạt động trong sự hợp tác mật thiết với Raja-Chúa Tể của cõi thứ bảy. Vì mục tiêu tiến hoá của các thiên thần là sự nghe bên trong, nên sẽ thấy rõ tại sao các âm thanh mantram và những điều biến quân bình là phương pháp để tiếp xúc với họ, và để tạo ra các hiện tượng khác nhau. Đẳng cấp thiên thần thứ bảy này là đẳng cấp mà những người hoạt động trên tả đạo quan tâm đến, hoạt động qua sự hút sinh lực và sự làm mất sinh lực nơi các nạn nhân của họ. Họ xử lý các thể dĩ thái của kẻ thù mình, và bằng âm thanh tác động lên chất liệu thiên thần, nhờ đó tạo ra các kết quả mong muốn. Nhà huyền thuật chánh đạo không hoạt động trên cõi hồng trần với chất liệu hồng trần. Ngài chuyển các hoạt động của mình lên một cấp cao hơn, và vì thế xử lý các dục vọng và động cơ. Ngài hoạt động qua các thiên thần của đẳng cấp thứ sáu. |
|
The devas of the sixth order are those of the astral plane, and are the devas who have the most to do with the forces which produce the phenomena we call love, sex impulse, instinct, or the driving urge and motive which demonstrates later on the physical plane in activity of some kind. The positive vibration set up on the astral plane produces results on the physical and that is why the White Brother, if He works with the devas at all, works only on the astral plane and with the positive aspect. |
Các thiên thần của đẳng cấp thứ sáu là những vị của cõi cảm dục, và là các thiên thần có liên hệ nhiều nhất với các mãnh lực tạo ra những hiện tượng mà chúng ta gọi là tình yêu, xung lực tính dục, bản năng, hay sự thôi thúc và động cơ thúc đẩy, vốn về sau biểu lộ trên cõi hồng trần trong một loại hoạt động nào đó. Rung động tích cực được thiết lập trên cõi cảm dục tạo ra các kết quả trên cõi hồng trần, và đó là lý do tại sao Huynh đệ Chánh đạo, nếu Ngài có hoạt động với các thiên thần đi nữa, thì chỉ hoạt động trên cõi cảm dục và với phương diện tích cực. |
|
These devas of the sixth order, as might be expected, are closely linked with those of the second order on the monadic plane, and with the heart centre of the particular Heavenly Man on Whose Ray they may be found. They are allied too to the deva forces on the buddhic plane and in these three great orders of devas we have a powerful triangle of electrical force,—the three types of electricity which are met with in occult books. It should be borne in mind that the equilibrising [Page 669] type of force (at present an unknown type) flows in from the buddhic plane at this time, and the apex of the triangle is there. |
Như có thể chờ đợi, các thiên thần của đẳng cấp thứ sáu này có liên hệ mật thiết với những vị của đẳng cấp thứ hai trên cõi chân thần, và với trung tâm tim của Đấng Thiên Nhân đặc thù mà trên cung của Ngài họ có thể được tìm thấy. Họ cũng liên kết với các mãnh lực thiên thần trên cõi Bồ đề, và trong ba đẳng cấp thiên thần lớn này, chúng ta có một tam giác mãnh lực điện đầy quyền năng,—ba loại điện được gặp trong các sách huyền bí. Cần ghi nhớ rằng loại mãnh lực quân bình [Page 669] (hiện nay là một loại chưa được biết đến) đang tuôn vào từ cõi Bồ đề vào lúc này, và đỉnh của tam giác ở đó. |
|
These three orders are (in this solar system) the most potent, especially in this fourth round. They influence particularly the fourth kingdom of nature, and are the basis of that search for balance, of that aspiration towards harmony, union and yoga which distinguishes man in all grades; it shows in its lower manifestation as the sex instinct as we know it, and in its higher as longing for union with God. |
Ba đẳng cấp này là (trong hệ mặt trời này) mạnh mẽ nhất, đặc biệt trong cuộc tuần hoàn thứ tư này. Chúng ảnh hưởng đặc biệt đến giới thứ tư trong thiên nhiên, và là nền tảng của sự tìm kiếm quân bình ấy, của khát vọng hướng tới hài hòa, hợp nhất và yoga vốn phân biệt con người ở mọi cấp độ; nó biểu lộ trong biểu hiện thấp hơn của nó như bản năng tính dục như chúng ta biết, và trong biểu hiện cao hơn như sự khao khát hợp nhất với Thượng đế. |
|
These devas of the sixth order come under the special influence of the Lord of the sixth Ray of Abstract Idealism, and it is their connection with Him which facilitates the working through of the archetypal idea on to the physical plane. The sixth Creative Hierarchy likewise is specially connected with this particular order of devas, and through this dual influence is produced that physical manifestation which is definitely objective,—one type of force working through the etheric manifestation, and the other through the dense physical. |
Các thiên thần của đẳng cấp thứ sáu này ở dưới ảnh hưởng đặc biệt của Đấng Chúa Tể Cung sáu của Chủ nghĩa Duy tâm Trừu tượng, và chính mối liên hệ của họ với Ngài tạo điều kiện cho ý tưởng nguyên mẫu được vận hành xuống cõi hồng trần. Huyền Giai Sáng Tạo thứ sáu cũng được nối kết đặc biệt với đẳng cấp thiên thần đặc thù này, và qua ảnh hưởng kép này mà biểu hiện hồng trần rõ rệt khách quan được tạo ra,—một loại mãnh lực hoạt động qua biểu hiện dĩ thái, và loại kia qua cõi hồng trần đậm đặc. |
|
This will as yet prove an insoluble mystery to the student, but in the significance of numbers much can be discovered. This angle of the matter should be studied in order to bring out the true meaning of this sixth order of devas, whose symbol is the six-pointed Star set at a particular angle and in full manifestation. The six-pointed star is the sign that a “Son of Necessity” [Page 670] (no matter whether God or man) has sought physical incarnation. The devas of the sixth order, the Agnisuryans, are a prime factor in bringing this about. In the sixth round these devas will begin to make their presence felt more and more potently, but the strength of their vibration will be very gradually turned upwards, and not downwards into the physical plane. This will involve the transmutation of desire into aspiration, and will produce eventually the liberation of the planetary Logos, and bring a manvantara (or His cycle of physical incarnation) to a close. Withdrawal of the force of desire results likewise in the cessation of man’s physical existence. The old Commentary expresses this truth in the following words: |
Điều này hiện vẫn sẽ là một mầu nhiệm không thể giải được đối với đạo sinh, nhưng trong thâm nghĩa của các con số có thể khám phá được nhiều điều. Phương diện này của vấn đề nên được nghiên cứu để làm nổi bật ý nghĩa chân thực của đẳng cấp thiên thần thứ sáu này, mà biểu tượng của nó là Ngôi Sao sáu cánh được đặt ở một góc độ đặc thù và trong sự biểu hiện đầy đủ. Ngôi sao sáu cánh là dấu hiệu cho thấy một “Con của Sự Cần Thiết” [Page 670] (dù là Thượng đế hay con người) đã tìm kiếm sự nhập thể hồng trần. Các thiên thần của đẳng cấp thứ sáu, các Agnisuryan, là một yếu tố chủ yếu trong việc làm cho điều này xảy ra. Trong cuộc tuần hoàn thứ sáu, các thiên thần này sẽ bắt đầu làm cho sự hiện diện của họ được cảm nhận ngày càng mạnh mẽ hơn, nhưng sức mạnh rung động của họ sẽ rất từ từ được chuyển hướng lên trên, chứ không hướng xuống cõi hồng trần. Điều này sẽ bao hàm sự chuyển hoá dục vọng thành khát vọng, và cuối cùng sẽ tạo ra sự giải thoát của Hành Tinh Thượng đế, đồng thời đưa một giai kỳ sinh hóa (hay chu kỳ nhập thể hồng trần của Ngài) đến chỗ kết thúc. Sự rút lui của mãnh lực dục vọng cũng dẫn đến sự chấm dứt sự tồn tại hồng trần của con người. Cổ Luận diễn đạt chân lý này bằng những lời sau: |
|
“The Sixth retire within themselves; they turn towards the Fifth, leaving the Seventh alone.” |
“Thứ Sáu rút vào bên trong chính mình; họ quay về phía Thứ Năm, để Thứ Bảy lại một mình.” |
|
In continuing our consideration of these deva orders, it should be pointed out that these three lower deva orders—the lower fifth, the sixth and the seventh—have a close connection with the moon. They are the building agents which (working on the involutionary matter of the three worlds) construct the lower three bodies of incarnating man. They are a branch of the lunar Pitris, but the fact should be remembered that this particular branch of pitris are those functioning in our particular scheme, and are closely allied to our planetary Logos. Groups of these Pitris are found wherever man is in incarnation in all the schemes, but in other schemes they differ somewhat from ours, as the “Mystery of the Moon” is connected with a peculiar esoteric condition which concerns our own planetary Logos. |
Khi tiếp tục xem xét các đẳng cấp thiên thần này, cần chỉ ra rằng ba đẳng cấp thiên thần thấp này—thứ năm thấp, thứ sáu và thứ bảy—có liên hệ mật thiết với mặt trăng. Họ là các tác nhân kiến tạo, những vị (hoạt động trên vật chất giáng hạ tiến hoá của ba cõi giới) xây dựng ba thể thấp của con người đang nhập thể. Họ là một nhánh của các thái âm tổ phụ, nhưng cần nhớ rằng nhánh tổ phụ đặc thù này là những vị đang hoạt động trong hệ hành tinh đặc thù của chúng ta, và có liên hệ rất mật thiết với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Các nhóm Pitri này được tìm thấy ở bất cứ nơi nào con người đang lâm phàm trong mọi hệ hành tinh, nhưng trong các hệ khác họ có phần khác với của chúng ta, vì “Mầu nhiệm của Mặt Trăng” có liên hệ với một điều kiện huyền bí đặc thù liên quan đến chính Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. |
|
Wherever man is in incarnation, the Builders of his bodies are to be found but they will differ in: |
Ở bất cứ nơi nào con người đang lâm phàm, các Đấng kiến tạo các thể của y đều được tìm thấy, nhưng họ sẽ khác nhau về: |
|
a. Their rate of vibration. |
a. Tốc độ rung động của họ. |
|
b. Giai đoạn phát triển của họ. [Page 671] |
|
|
c. Consciousness. |
c. Tâm thức. |
|
d. Fohatic, magnetic and dynamic force. |
d. Mãnh lực fohat, từ tính và động lực. |
|
It should be remembered also that each round sees the deva substance or the deva evolution changing; they also evolve and, therefore, the subject of the devas in their dual aspect as the negative and positive substance which produces objectivity must be studied in a threefold manner if a true idea is to be approximated. Therefore, the devas—who are the sum-total of substance—must be considered from: |
Cũng cần nhớ rằng mỗi cuộc tuần hoàn đều chứng kiến chất liệu thiên thần hay sự tiến hoá thiên thần thay đổi; họ cũng tiến hoá, và vì vậy chủ đề về các thiên thần trong phương diện kép của họ như chất liệu tiêu cực và tích cực tạo ra tính khách quan phải được nghiên cứu theo cách tam phân nếu muốn tiến gần đến một ý niệm chân thực. Vì vậy, các thiên thần—là tổng thể của chất liệu—phải được xem xét từ: |
|
The standpoint of round development. |
Quan điểm của sự phát triển theo cuộc tuần hoàn. |
|
The standpoint of any particular planetary Logos as they form His body of manifestation, a scheme. |
Quan điểm của bất kỳ Hành Tinh Thượng đế đặc thù nào khi họ tạo thành thể biểu hiện của Ngài, một hệ hành tinh. |
|
The standpoint of the human kingdom. |
Quan điểm của giới nhân loại. |
|
When this is not done, a wrong and narrow idea is the result. In future time, as may be seen from a study of the Secret Doctrine, (I, 288; II, 179, 187.) the Logos in His septenary Nature will be seen as the Macrocosm for Man, whilst the Microcosm, Man himself, will be seen also as the Macrocosm for the three lower kingdoms. This is simply one way of studying the evolution of the conscious Entity—God, Man, or lesser life—by means of deva substance; it involves the study of the positive and negative interaction. As says the old Commentary again: |
Khi điều này không được thực hiện, kết quả là một ý niệm sai lầm và hẹp hòi. Trong tương lai, như có thể thấy qua việc nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm, (I, 288; II, 179, 187.) Thượng đế trong Bản chất thất phân của Ngài sẽ được thấy là Đại thiên địa đối với Con Người, trong khi Tiểu thiên địa, chính con người, cũng sẽ được thấy là Đại thiên địa đối với ba giới thấp. Đây chỉ đơn giản là một cách nghiên cứu sự tiến hoá của Thực Thể hữu thức—Thượng đế, Con Người, hay sự sống nhỏ hơn—bằng chất liệu thiên thần; nó bao hàm việc nghiên cứu sự tương tác tích cực và tiêu cực. Như Cổ Luận lại nói: |
|
“When Father approaches Mother, that which will be taketh form. The union of the two concealeth the true mystery of Being. |
“Khi Cha đến gần Mẹ, điều sẽ là sẽ mang hình tướng. Sự hợp nhất của hai vị che giấu mầu nhiệm chân thực của Bản Thể. |
|
When the two great devas seek each other, when they meet and merge, the promise of life is fulfilled. |
Khi hai thiên thần lớn tìm đến nhau, khi họ gặp nhau và hòa nhập, lời hứa của sự sống được hoàn thành. |
|
When the one who sees and knows stands midway between his parents, then can be seen the fruition of knowledge, and all is known upon the planes of consciousness. |
Khi đấng nhìn thấy và biết đứng ở giữa cha mẹ mình, khi ấy có thể thấy được quả thành của tri thức, và mọi sự được biết trên các cõi tâm thức. |
|
When Anu, the infinitesimal, is seen to contain Ishvara in His potency, when the lesser spheres and cycles expand into the [Page 672] circle of the Heavens, then shall the essential Unity be cognised and manifested fully. |
Khi Anu, cái vô cùng nhỏ bé, được thấy là chứa đựng Ishvara trong tiềm năng của Ngài, khi các khối cầu và chu kỳ nhỏ hơn mở rộng vào [Page 672] vòng tròn của các Cõi Trời, khi ấy Sự Hợp Nhất cốt yếu sẽ được nhận biết và biểu lộ trọn vẹn. |
|
When the One that holds the life becomes the three behind which that life is hidden; when the three by revolution become the seven and the ten; when the thirty million crores of deva lives repeat the revolution; when the central point is reached and reveals the three, the nine, and the inner blazing JEWEL, then is the circle of manifestation consummated, and the One again becomes the ten, the seven, the three and the point.” |
Khi Đấng nắm giữ sự sống trở thành ba đằng sau đó sự sống ấy ẩn giấu; khi ba, bằng sự quay vòng, trở thành bảy và mười; khi ba mươi triệu crore sự sống thiên thần lặp lại sự quay vòng; khi điểm trung tâm đạt đến và tiết lộ ba, chín, và VIÊN NGỌC rực cháy bên trong, khi ấy vòng tròn biểu hiện được hoàn tất, và Đấng Duy Nhất lại trở thành mười, bảy, ba và điểm.” |
|
Herein lies the key to the mystic marriage, and to the student of occultism much may be revealed through the study of these pairs of opposites; it will cause the revelation of the process (in time and space) whereby this union and its fruit is consummated, and the resultant creation of the divine Hermaphrodite is seen upon His Own high plane. |
Chính trong đây có chìa khóa của cuộc hôn phối thần bí, và đối với đạo sinh huyền bí học, nhiều điều có thể được mặc khải qua việc nghiên cứu những cặp đối cực này; nó sẽ dẫn đến sự mặc khải về tiến trình (trong thời gian và không gian) nhờ đó sự hợp nhất này và quả của nó được hoàn tất, và sự sáng tạo kết quả của Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng được thấy trên cõi cao riêng của Ngài. |
|
We must ever keep clearly in mind that we are dealing in this section with the evolutionary devas who are the positive Life animating involutionary matter or deva substance. Consequently, the correspondence of the mystic marriage of Spirit and matter can be seen working out also in deva substance itself, through the interaction of negative and positive deva lives. Substance itself represents essential duality; forms repeat the same duality, and when we arrive at man himself again, we have duality plus a third factor. These three orders of deva substance—the lower fifth, the sixth and seventh—are a very mysterious group as far as man is concerned.(217) [Page 673] They have scarcely been hinted at as yet in occult literature, but they contain within themselves the secret of our planetary individualisation. They were the group which had much to do with the “sin of the mindless,” and are very closely associated with animal man. To the power and control which these pitris assumed must be ascribed much of the disastrous early happenings referred to in the Secret Doctrine, such as the above mentioned “sin,” and also the early “failures” in building suitable vehicles for Spirits seeking incarnation. Here also may be found the beginnings of that mysterious divergence which we call the “left and right hand paths,” which conditions (existing within the body logoic and consequently being part of the divine consciousness) originated in the remote “space of time,” when the sons of God were seeking form. It has to do with a special condition in the astral body of our planetary Logos, and with His history as it lies hidden in the astral light. |
Chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ rõ rằng trong phần này chúng ta đang bàn đến các thiên thần thăng thượng tiến hoá là Sự sống tích cực làm sinh động vật chất giáng hạ tiến hoá hay chất liệu thiên thần. Do đó, sự tương ứng của cuộc hôn phối thần bí giữa Tinh thần và vật chất cũng có thể được thấy đang vận hành trong chính chất liệu thiên thần, qua sự tương tác của các sự sống thiên thần tiêu cực và tích cực. Bản thân chất liệu biểu hiện nhị nguyên tính cốt yếu; các hình tướng lặp lại cùng nhị nguyên tính ấy, và khi chúng ta lại đến với chính con người, chúng ta có nhị nguyên tính cộng thêm một yếu tố thứ ba. Ba đẳng cấp chất liệu thiên thần này—thứ năm thấp, thứ sáu và thứ bảy—là một nhóm rất huyền nhiệm đối với con người.(217) [Page 673] Cho đến nay chúng hầu như chưa được ám chỉ trong văn liệu huyền bí, nhưng chúng chứa trong chính mình bí mật của sự biệt ngã hóa hành tinh của chúng ta. Chúng là nhóm có liên hệ rất nhiều đến “tội lỗi của những kẻ vô trí,” và được kết hợp rất chặt chẽ với người thú. Chính cho quyền lực và sự kiểm soát mà các pitri này đã nắm giữ mà phải quy phần lớn những biến cố tai hại thời kỳ đầu được nhắc đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm, như “tội lỗi” vừa nêu trên, và cả những “thất bại” ban đầu trong việc xây dựng những vận cụ thích hợp cho các Tinh thần tìm kiếm nhập thể. Ở đây cũng có thể tìm thấy những khởi đầu của sự phân kỳ huyền nhiệm mà chúng ta gọi là “tả đạo và chánh đạo,” những điều kiện ấy (tồn tại trong thể của Thượng đế và do đó là một phần của tâm thức thiêng liêng) đã phát sinh trong “khoảng thời gian” xa xôi khi các Con của Thượng đế đang tìm kiếm hình tướng. Nó có liên hệ với một điều kiện đặc biệt trong thể cảm dục của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, và với lịch sử của Ngài như nó được ẩn giấu trong ánh sáng cảm dục. |
|
(217) Sankaracharya and Buddha. The great sage Sankaracharya who is known to us all as the leading head of the adwaitic movement that was set on foot subsequent to the time of the equally great Sage known as Gautama Buddha, the head of the doctrine of Buddhi or Buddhism. Both are great Masters of compassion and may be conceived as the two hemispheres of the burning globe of light that is placed on the central mental mount to impart light to the East and the West. The two great Masters are mystically connected, if you will listen to H. P. B., and to understand the natures of these two beings is to understand the nature of the entire cosmos divisible as two hemispheres, the one being the land of the sun-rise of thought eternal and the other being “the Pillar to the West upon whose face the rising sun of thought eternal poureth forth its most glorious waves.” They are representatives for us (the poor children of the dust of the ground) of the two great powers known in the Puranas as Siva and Vishnu, the universal sower and reaper, who by their interaction are said to support the universe of progress.—Some Thoughts on the Gita, pp. 92-3. (back) |
(217) Sankaracharya và Đức Phật. Đại hiền triết Sankaracharya, người mà tất cả chúng ta đều biết là vị lãnh đạo hàng đầu của phong trào bất nhị được khởi xướng sau thời của vị Đại Hiền Triết cũng vĩ đại không kém được biết đến là Gautama Buddha, vị đứng đầu giáo lý Bồ đề hay Phật giáo. Cả hai đều là những Chân sư vĩ đại của lòng từ bi và có thể được hình dung như hai bán cầu của quả cầu ánh sáng rực cháy được đặt trên ngọn núi trí tuệ trung tâm để ban ánh sáng cho Đông và Tây. Hai vị Chân sư vĩ đại này được nối kết một cách thần bí, nếu bạn chịu lắng nghe H. P. B., và hiểu được bản chất của hai Đấng này tức là hiểu được bản chất của toàn thể vũ trụ có thể chia thành hai bán cầu, một bên là miền đất của bình minh của tư tưởng vĩnh cửu và bên kia là “Cột Trụ về phương Tây mà trên mặt của nó mặt trời đang lên của tư tưởng vĩnh cửu tuôn đổ những làn sóng huy hoàng nhất của mình.” Đối với chúng ta (những đứa con nghèo nàn của bụi đất), các Ngài là những vị đại diện của hai quyền năng lớn được biết trong các Purana là Siva và Vishnu, đấng gieo và gặt phổ quát, mà nhờ sự tương tác của các Ngài, vũ trụ tiến bộ được nói là được nâng đỡ.—Một vài suy tưởng về Gita, tr. 92-3. (back) |
|
It concerns that which He has to surmount and many of the problems which face the occultist, including the “sin of the mindless,” the failure in Atlantean days, and even that mysterious “failure” of the Buddha (which has a planetary significance only hinted at in the Secret Doctrine) (218) can be traced back to the condition of the deva substance of which the astral body of our planet, and the astral bodies of all forms are formed. Our planetary Logos is one of the Lords spoken of as being a lesser lord, and more “full of passion” than the higher three. Not even yet is His work completed, and deva [Page 674] substance in its various living orders is not yet brought fully under His control. The deva evolution has far to travel. |
Nó liên quan đến điều mà Ngài phải vượt qua và nhiều vấn đề mà nhà huyền bí học phải đối diện, bao gồm “tội lỗi của những kẻ vô trí,” thất bại trong thời Atlantis, và thậm chí cả “thất bại” huyền nhiệm của Đức Phật (chỉ có ý nghĩa hành tinh và chỉ được ám chỉ trong Giáo Lý Bí Nhiệm) (218) đều có thể được truy nguyên về điều kiện của chất liệu thiên thần mà từ đó thể cảm dục của hành tinh chúng ta, và các thể cảm dục của mọi hình tướng, được tạo thành. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta là một trong các Chúa Tể được nói đến như là một vị chúa tể nhỏ hơn, và “đầy đam mê” hơn ba vị cao hơn. Công việc của Ngài thậm chí đến nay vẫn chưa hoàn tất, và chất liệu thiên thần [Page 674] trong các đẳng cấp sống khác nhau của nó vẫn chưa được đưa hoàn toàn dưới sự kiểm soát của Ngài. Sự tiến hoá thiên thần còn phải đi một chặng đường dài. |
|
(218) The Stanzas at the beginning of Volume II of the Secret Doctrine make these failures apparent.—S. D., II, 195, 201, 721, 728. The Failure of the Buddha. See S. D., III, 376-588. The Imperfect Gods are referred to in S. D., I, 214, 449; II, 223; III, 209. (back) |
(218) Các Bài Kệ ở đầu Quyển II của Giáo Lý Bí Nhiệm làm cho những thất bại này trở nên rõ ràng.—S. D., II, 195, 201, 721, 728. Thất bại của Đức Phật. Xem S. D., III, 376-588. Các vị Thượng đế Bất Toàn được nhắc đến trong S. D., I, 214, 449; II, 223; III, 209. (back) |
|
If this idea be extended to the solar system, it will be apparent that the astral vehicles of the different planetary Logoi differ. This difference is necessarily dependent upon Their cosmic astral life which directly affects the systemic astral, or the physical liquid subplane of the cosmic physical. This is a point but little realised. The dense physical body of the planetary Logos exists, as we know, in a threefold condition—dense, liquid, and gaseous—and each is acted upon directly from the corresponding cosmic plane. The condition of the various physical planets will some day be found to be dependent upon this fact. |
Nếu ý tưởng này được mở rộng đến hệ mặt trời, sẽ thấy rõ rằng các vận cụ cảm dục của các Hành Tinh Thượng đế khác nhau là khác nhau. Sự khác biệt này tất yếu tùy thuộc vào đời sống cảm dục vũ trụ của Các Ngài, vốn trực tiếp ảnh hưởng đến cõi cảm dục hệ thống, hay cõi phụ lỏng của cõi hồng trần vũ trụ. Đây là một điểm rất ít được nhận ra. Thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế tồn tại, như chúng ta biết, trong một tình trạng tam phân—đậm đặc, lỏng, và khí—và mỗi tình trạng đều bị tác động trực tiếp từ cõi vũ trụ tương ứng. Tình trạng của các hành tinh hồng trần khác nhau một ngày nào đó sẽ được thấy là tùy thuộc vào sự kiện này. |
|
When the psychic nature of the planetary Logos is understood (which knowledge is entered upon after initiation, being a part of the Wisdom) the nature of the different schemes, as regards their watery aspect, for instance, will be found to be connected with a particular astral state. As the initiate progresses in wisdom, he intuitively comprehends the essential nature of the seven groups, or of the logoic Septenate, which is that concerning their colour or quality. This colour or quality is dependent upon the psychic nature of any particular planetary Logos, and His emotional or desire nature can thereby be somewhat studied by the initiate. This will lead eventually to a scientific consideration of the effect of this nature upon His dense physical body, and particularly that portion of it which we call the astral plane, the liquid sub-plane of the cosmic physical plane. A reflection of this (or a further working out, if that term is preferred) is found in the liquid portions of the physical planet. |
Khi bản chất thông linh của Hành Tinh Thượng đế được thấu hiểu (tri thức này được bước vào sau điểm đạo, vì là một phần của Minh triết) thì bản chất của các hệ hành tinh khác nhau, chẳng hạn về phương diện thủy tính của chúng, sẽ được thấy là có liên hệ với một trạng thái cảm dục đặc thù. Khi điểm đạo đồ tiến bộ trong minh triết, y thấu hiểu bằng trực giác bản chất cốt yếu của bảy nhóm, hay Thất Nguyên của Thượng đế, tức là điều liên quan đến màu sắc hay phẩm tính của chúng. Màu sắc hay phẩm tính này tùy thuộc vào bản chất thông linh của bất kỳ Hành Tinh Thượng đế đặc thù nào, và nhờ đó bản chất cảm xúc hay dục vọng của Ngài có thể phần nào được điểm đạo đồ nghiên cứu. Điều này cuối cùng sẽ dẫn đến một sự xem xét khoa học về ảnh hưởng của bản chất ấy lên thể xác đậm đặc của Ngài, và đặc biệt là phần của nó mà chúng ta gọi là cõi cảm dục, cõi phụ lỏng của cõi hồng trần vũ trụ. Một phản ánh của điều này (hay một sự triển khai thêm, nếu thích dùng thuật ngữ ấy) được tìm thấy trong các phần lỏng của hành tinh hồng trần. |
|
The seventh subplane of the cosmic physical plane can be subdivided into seven, which are our seven physical [Page 675] subplanes. It is this knowledge which enables a magician to work. Given a certain physical phenomenon—such as the weight of water, for instance, upon a planet—and an initiate of the higher orders can form deductions from it as to the quality of the exalted Life manifesting through a plane. He arrives at this knowledge through a process of reasoning from the liquid (sixth) subplane of the systemic physical plane to: |
Cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần vũ trụ có thể được chia thành bảy, tức là bảy cõi phụ hồng trần của chúng ta. Chính tri thức này giúp cho một nhà huyền thuật có thể hoạt động. Với một hiện tượng hồng trần nhất định—chẳng hạn như trọng lượng của nước trên một hành tinh—một điểm đạo đồ của các cấp cao hơn có thể suy luận từ đó về phẩm tính của Sự sống siêu việt đang biểu hiện qua một cõi. Y đạt đến tri thức này qua một tiến trình lý luận từ cõi phụ lỏng (thứ sáu) của cõi hồng trần hệ thống đến: |
|
a. The liquid subplane of the cosmic physical, our systemic astral plane. |
a. Cõi phụ lỏng của cõi hồng trần vũ trụ, tức cõi cảm dục hệ thống của chúng ta. |
|
b. The fourth cosmic ether, the buddhic plane. |
b. Dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề. |
|
c. The second cosmic ether, the monadic plane, or the plane of the seven Heavenly Men. |
c. Dĩ thái vũ trụ thứ hai, cõi chân thần, hay cõi của bảy Đấng Thiên Nhân. |
|
d. The cosmic astral plane, thus getting in touch with the desire nature of the God. |
d. Cõi cảm dục vũ trụ, nhờ đó tiếp xúc với bản chất dục vọng của Thượng đế. |
|
This method naturally involves a vast knowledge of the deva substance and predicates an intuitive realisation of their orders and groups, the keynotes of those orders and of the planes, and also of the triple nature of substance and a knowledge of how to work with the third type of electrical force, which is the type of energy which puts a man in touch with extra-systemic phenomena. Hence that force still remains unknown, and is only contacted as yet by high Initiates. |
Phương pháp này dĩ nhiên bao hàm một tri thức rộng lớn về chất liệu thiên thần và giả định một sự chứng nghiệm trực giác về các đẳng cấp và nhóm của họ, các chủ âm của những đẳng cấp ấy và của các cõi, cũng như về bản chất tam phân của chất liệu và tri thức về cách hoạt động với loại mãnh lực điện thứ ba, là loại năng lượng đặt con người vào tiếp xúc với các hiện tượng ngoài hệ thống. Vì thế mãnh lực ấy vẫn còn chưa được biết đến, và cho đến nay chỉ được các điểm đạo đồ cao cấp tiếp xúc mà thôi. |
|
It will again be apparent why the Agnisuryans are of such supreme importance; they embody force which is a direct emanation from the cosmic astral plane and which reveals—when triply blended—the desire nature of our Heavenly Man, and of any particular planetary Logos. In the two opposites, which are called by the theologians “Heaven and Hell,” we have two of these types of force hinted at, and in this thought we have indicated one of the keys to the astral plane. |
Sẽ lại thấy rõ tại sao các Agnisuryan có tầm quan trọng tối thượng đến vậy; họ thể hiện mãnh lực là một phát xạ trực tiếp từ cõi cảm dục vũ trụ và là điều tiết lộ—khi được hòa trộn tam phân—bản chất dục vọng của Đấng Thiên Nhân của chúng ta, và của bất kỳ Hành Tinh Thượng đế đặc thù nào. Trong hai đối cực, được các nhà thần học gọi là “Thiên Đàng và Địa Ngục,” chúng ta có hai trong các loại mãnh lực này được ám chỉ đến, và trong tư tưởng này chúng ta có một trong những chìa khóa của cõi cảm dục. |
|
2. Summary. Before passing to the consideration of [Page 676] those devas who are concerned with the construction of man’s causal body, and who are the linking group between the Triad and the Quaternary, both in man and the Logos, we will briefly enumerate the principal groups of Agnisuryans on the systemic astral plane, as they, in their totality, form the body of manifestation of the great deva or Raja-Lord of the plane. |
2. Tóm lược. Trước khi chuyển sang xem xét [Page 676] những thiên thần liên quan đến việc kiến tạo thể nguyên nhân của con người, và là nhóm nối kết giữa Tam nguyên tinh thần và Tứ nguyên, cả trong con người lẫn trong Thượng đế, chúng ta sẽ vắn tắt liệt kê các nhóm chính của các Agnisuryan trên cõi cảm dục hệ thống, vì trong tổng thể của họ, họ tạo thành thể biểu hiện của vị thiên thần lớn hay Raja-Chúa Tể của cõi ấy. |
|
First. The Raja-Lord of the Plane, the great deva Varuna, Who is the central Life of the substance of the astral plane of our planetary scheme. He is Himself an outpost of the consciousness of that greater Deva Who embodies the substance of the solar astral plane, or the sixth subplane of the cosmic physical plane. He again in His turn reflects His prototype, that great cosmic Entity Who ensouls the cosmic astral plane. |
Thứ nhất. Raja-Chúa Tể của Cõi, vị thiên thần lớn Varuna, là Sự sống trung tâm của chất liệu của cõi cảm dục trong hệ hành tinh của chúng ta. Chính Ngài là một tiền đồn của tâm thức của vị Thiên thần lớn hơn đang thể hiện chất liệu của cõi cảm dục thái dương, hay cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ. Đến lượt mình, Ngài lại phản chiếu nguyên mẫu của Ngài, tức Thực Thể vũ trụ vĩ đại đang phú linh cho cõi cảm dục vũ trụ. |
|
Second. Seven great Devas, who are the positive force of each of the seven subplanes of the systemic astral plane. |
Thứ hai. Bảy thiên thần lớn, là mãnh lực tích cực của mỗi một trong bảy cõi phụ của cõi cảm dục hệ thống. |
|
Third. Various groups of devas, performing different functions carrying out varying activities, and producing constructive results. They might be enumerated as follows, bearing in mind the fact that we are but touching upon a few of the many groups, and that there are numbers whose name is utterly unknown to man and would be unintelligible if mentioned: |
Thứ ba. Nhiều nhóm thiên thần khác nhau, thực hiện các chức năng khác nhau, tiến hành các hoạt động đa dạng, và tạo ra các kết quả kiến tạo. Có thể liệt kê họ như sau, đồng thời ghi nhớ sự kiện rằng chúng ta chỉ mới chạm đến một vài trong số rất nhiều nhóm, và rằng có những số lượng mà tên gọi hoàn toàn không được con người biết đến và sẽ không thể hiểu được nếu được nêu ra: |
|
1. Those devas who form the permanent atomic substance of all the Monads, both in and out of physical incarnation. They are divided into seven groups according to the Ray of the Monad. |
1. Những thiên thần tạo thành chất liệu nguyên tử trường tồn của mọi chân thần, cả đang lâm phàm lẫn không lâm phàm. Họ được chia thành bảy nhóm tùy theo cung của chân thần. |
|
2. Those devas who form the “liquid” aspect in the physical body of the planetary Logos and of the solar Logos. They are myriads in number, and include deva existences ranging all the way from those who ensoul the astral plane, and the astral currents of the highest religious and aspirational nature, to the little water [Page 677] spirits which are reflections of such astral entities precipitated in watery physical matter. |
2. Những thiên thần tạo thành phương diện “lưu chất” trong thể xác hồng trần của Hành Tinh Thượng đế và của Thái dương Thượng đế. Họ có số lượng vô vàn, và bao gồm những sự tồn tại thiên thần trải dài từ những vị phú linh cho cõi cảm dục, và các dòng cảm dục có bản chất tôn giáo và chí nguyện cao nhất, cho đến những tinh linh nước nhỏ bé [Page 677] là những phản ánh của các thực thể cảm dục như thế được ngưng tụ trong vật chất hồng trần thuộc nước. |
|
3. A group of devas, who form the desire body of that great entity who ensouls the animal kingdom. They are the total kamic manifestation (divorced from mentality) of animal desire in its incentive impulsive aspect. |
3. Một nhóm thiên thần tạo thành thể dục vọng của thực thể vĩ đại đang phú linh cho giới động vật. Họ là biểu hiện kama toàn bộ (tách rời khỏi trí tuệ) của dục vọng động vật trong phương diện xung lực thúc đẩy của nó. |
|
4. Certain devas who—being of the third order—form the Heaven of the average orthodox Christian or believer of any faith. Another group—being the seventh order—form the Hell for the same class of thinker. |
4. Một số thiên thần nhất định—vì thuộc bậc thứ ba—tạo thành cõi thượng thiên của người Ki-tô hữu chính thống trung bình hay của tín đồ thuộc bất kỳ đức tin nào. Một nhóm khác—vì thuộc bậc thứ bảy—tạo thành Địa ngục cho cùng hạng người suy tưởng ấy. |
|
5. Those devas who form the astral life of any thought-form. These we will deal with later when studying thought-form construction. |
5. Những thiên thần tạo thành sự sống cảm dục của bất kỳ Hình tư tưởng nào. Chúng ta sẽ bàn đến các vị này sau khi nghiên cứu việc kiến tạo hình tư tưởng. |
|
6. Một nhóm thiên thần huyền bí có liên hệ mật thiết vào lúc này với sự biểu lộ tính dục trong gia đình nhân loại trên cõi hồng trần. Họ là một nhóm hiện đang được cuốn vào hiện hữu ở bước ngoặt này, và họ thể hiện lửa của sự biểu lộ tính dục như chúng ta hiểu nó. Họ là xung lực, hay bản năng, đứng sau dục vọng tính dục hồng trần. Họ đặc biệt chiếm ưu thế trong giống dân gốc thứ tư, vào thời kỳ mà các điều kiện tính dục đã đạt đến một giai đoạn kinh hoàng không thể tin nổi theo quan điểm của chúng ta. Họ đang dần dần bị kiểm soát, và khi chân ngã cuối cùng của Lemuria đã chuyển sang giống dân gốc thứ năm thì họ sẽ từ từ bị loại ra khỏi hệ mặt trời hoàn toàn. Họ có liên hệ với “lửa” đam mê của Thái dương Thượng đế và đặc biệt với một trong các trung tâm của Ngài; trung tâm này đang dần dần bị che mờ và lửa của nó được chuyển dịch vào một trung tâm cao hơn. |
|
|
7. There is also a group of devas connected with the Lodge of Masters, whose work it is to build the aspirational forms towards which average man may aspire. They are divided into certain groups—three in number—connected with science, religion and philosophy, and through these groups of deva substance the Heads of the three departments reach men. It is one of Their [Page 678] channels for work. The Master Jesus is particularly active at this time along this line, working in collaboration with certain adepts on the scientific line, who—through the desired union of science and religion—seek to shatter the materialism of the west on the one hand and on the other the sentimental devotion of the many devotees of all faiths. This is made possible now through the passing out of the sixth Ray and the coming in of the seventh. It should be borne in mind by all students when considering the planes, plane substance and energy that they are in a condition of flux and change all the time. The matter of all planes circulates, and cyclically certain portions become more energised than others; the matter of the planes is thus under a threefold influence, or—to word it otherwise—deva substance is subjected to a threefold cyclic stimulation: |
7. Cũng có một nhóm thiên thần liên hệ với Thánh đoàn các Chân sư, mà công việc của họ là kiến tạo những hình tướng chí nguyện mà con người trung bình có thể khát vọng hướng tới. Họ được chia thành một số nhóm nhất định—ba nhóm—liên hệ với khoa học, tôn giáo và triết học, và thông qua các nhóm chất liệu thiên thần này, các Đấng đứng đầu ba ban tiếp cận con người. Đó là một trong những[Page 678] kênh hoạt động của Các Ngài. Đức Jesus đặc biệt hoạt động mạnh vào lúc này theo đường lối này, cộng tác với một số chân sư trên đường lối khoa học, những vị—thông qua sự hợp nhất mong muốn giữa khoa học và tôn giáo—tìm cách phá tan chủ nghĩa duy vật của phương Tây một mặt, và mặt khác là lòng sùng tín cảm tính của nhiều tín đồ tận tụy thuộc mọi đức tin. Điều này hiện nay có thể thực hiện được nhờ cung sáu đang rút đi và cung bảy đang đi vào. Mọi đạo sinh cần ghi nhớ khi xem xét các cõi, chất liệu cõi và năng lượng rằng chúng luôn ở trong tình trạng lưu chuyển và biến đổi. Vật chất của mọi cõi tuần hoàn, và theo chu kỳ một số phần nhất định trở nên được tiếp năng lượng hơn những phần khác; vì thế vật chất của các cõi ở dưới một ảnh hưởng tam phân, hay—nói cách khác—chất liệu thiên thần chịu một sự kích thích chu kỳ tam phân: |
|
1. Ray stimulation, dependent upon any Ray being in or out of power. It is inter-systemic and planetary. |
1. Kích thích cung, tùy thuộc vào việc một cung nào đó đang ở trong hay ngoài quyền lực. Nó có tính liên-hệ-mặt-trời và hành tinh. |
|
2. Zodiacal stimulation, which is an extra-systemic stimulation, and is also cosmic and cyclic. |
2. Kích thích hoàng đạo, là một kích thích ngoài-hệ, đồng thời cũng có tính vũ trụ và chu kỳ. |
|
3. Solar stimulation, or the impact of direct solar force or energy upon the substance of a plane; this emanates from the “Heart of the Sun” and is peculiarly potent. |
3. Kích thích thái dương, hay sự tác động của mãnh lực hay năng lượng thái dương trực tiếp lên chất liệu của một cõi; điều này phát ra từ “Trái Tim của Mặt Trời” và đặc biệt mãnh liệt. |
|
All the planes are subjected to this threefold influence but in the case of the buddhic and the astral planes, the force of this third stimulation is very great. The adepts—working in conjunction with the great devas—utilise cyclic opportunity to effect definitely constructive results. |
Mọi cõi đều chịu ảnh hưởng tam phân này nhưng trong trường hợp cõi Bồ đề và cõi cảm dục, mãnh lực của sự kích thích thứ ba này rất lớn. Các chân sư—làm việc phối hợp với các thiên thần vĩ đại—sử dụng cơ hội chu kỳ để tạo ra những kết quả có tính kiến tạo rõ rệt. |
|
8. A group of devas closely connected with the mysteries of initiation. They form what is esoterically called the “path of the Heart,” and are the bridge between the astral and the buddhic planes. They are in no way [Page 679] connected with the permanent atoms in the causal body, but are very definitely associated with the central tier of petals in the egoic lotus, or with the “petals of love.” Force interacts between these three petals on the one hand, and the devas who form the “Path of the Heart” upon the other, those who are the bridge of astral-buddhic matter whereby initiates of a certain mystic type make the “great approach.” |
8. Một nhóm thiên thần có liên hệ chặt chẽ với các huyền nhiệm của điểm đạo. Họ tạo thành điều được gọi một cách huyền bí là “con đường của Trái Tim,” và là cây cầu giữa cõi cảm dục và cõi Bồ đề. Họ hoàn toàn không[Page 679] liên hệ với các Nguyên tử trường tồn trong thể nguyên nhân, nhưng lại rất rõ ràng gắn liền với hàng cánh hoa trung tâm trong Hoa Sen Chân Ngã, hay với “các cánh hoa bác ái.” Mãnh lực tương tác giữa ba cánh hoa này một mặt, và các thiên thần tạo thành “Con Đường của Trái Tim” mặt khác, tức những vị là cây cầu của chất liệu cảm dục-Bồ đề nhờ đó các điểm đạo đồ thuộc một loại thần bí nhất định thực hiện “cuộc tiếp cận vĩ đại.” |
|
9. Devas of all degrees and vibratory capacity who make up the bulk of the desire forms of every kind. |
9. Các thiên thần thuộc mọi cấp độ và khả năng rung động tạo nên phần lớn các hình tướng dục vọng thuộc mọi loại. |
|
10. The devas of transmutative force. They are a peculiar group of devas who embody the “fires of transmutation” and are called by various names, such as: |
10. Các thiên thần của mãnh lực chuyển hoá. Họ là một nhóm thiên thần đặc biệt thể hiện “những ngọn lửa chuyển hoá” và được gọi bằng nhiều tên khác nhau, như: |
|
The furnaces of purifications. |
Những lò thanh luyện. |
|
Những nguyên tố nung chảy. |
|
|
The gods of incense. |
Những vị thần của hương trầm. |
|
It is impossible to enumerate more now, and likewise profitless and it has only been deemed advisable to bring these many types of deva substance to the notice of students on account of the pre-eminent importance of the astral body in the three worlds. It is by the domination of these deva lives, and the “transmutation of desire” into aspiration, and by the purificatory fires of the astral plane that man eventually succeeds in attaining buddhic consciousness. |
Hiện giờ không thể liệt kê thêm, và cũng không ích lợi; chỉ thấy nên lưu ý cho đạo sinh về nhiều loại chất liệu thiên thần này vì tầm quan trọng nổi bật của thể cảm dục trong ba cõi thấp. Chính nhờ sự chế ngự các sự sống thiên thần này, và nhờ “sự chuyển hoá dục vọng” thành khát vọng, cùng nhờ những ngọn lửa thanh luyện của cõi cảm dục mà con người cuối cùng thành công trong việc đạt đến tâm thức Bồ đề. |
|
It has been the recognition of the cleansing power of the occult fluids—water and blood—that has led to the emphasis laid by Christians (even though erroneously interpreted) upon these two. |
Chính sự công nhận quyền năng thanh tẩy của các lưu chất huyền bí—nước và máu—đã dẫn đến sự nhấn mạnh mà người Ki-tô hữu đặt lên hai điều này (dù được giải thích sai lạc). |
3. The Solar Angels, The Agnishvattas. |
3. Các Thái dương Thiên Thần, Các Agnishvatta. |
|
Introductory Remarks. |
Nhận xét mở đầu. |
|
We start here upon the consideration of the Agnishvattas, or the Fire devas of the mental plane, and are [Page 680] thus launched upon the most stupendous subject in connection with our planetary evolution; it is the one having the most occult significance for man, for these solar Angels (219) concern his own essential nature, and are also the creative power by which he works. For all practical purposes, and for the elucidation of the spiritual evolution of man, this immediate section is of the greatest interest and importance; it should be one of the most widely studied sections of this treatise. Man is ever profoundly interested in himself, and before he can duly develop must comprehend scientifically the laws of his own nature, and the constitution of his own “mode of expression.” He must realise likewise somewhat of the inter-relation of the three fires in order that he may himself at some future date “blaze forth.” |
Ở đây chúng ta bắt đầu xem xét các Agnishvatta, hay các thiên thần Lửa của cõi trí, và như thế bước vào chủ đề kỳ vĩ nhất liên quan đến tiến hoá hành tinh của chúng ta; đó là chủ đề có ý nghĩa huyền bí sâu xa nhất đối với con người, vì các Thái dương Thiên Thần này ([Page 680]) liên quan đến chính bản chất cốt yếu của y, và cũng là quyền năng sáng tạo nhờ đó y hoạt động. Vì mọi mục đích thực tiễn, và để làm sáng tỏ sự tiến hoá tinh thần của con người, phần trước mắt này có mối quan tâm và tầm quan trọng lớn lao nhất; nó nên là một trong những phần được nghiên cứu rộng rãi nhất của bộ luận này. Con người luôn luôn quan tâm sâu sắc đến chính mình, và trước khi có thể phát triển đúng mức, y phải thấu hiểu một cách khoa học các định luật của bản chất riêng của y, và cấu tạo của “phương thức biểu lộ” riêng của y. Y cũng phải chứng nghiệm phần nào mối tương quan giữa ba ngọn lửa để rồi chính y vào một ngày nào đó trong tương lai có thể “bừng cháy.” |
|
(219) Solar angels are therefore entities of a high spiritual order—with a refined consciousness that corresponds to the material substance in which they are clothed. In order to connect this with what I have said already, you may consider the solar angels as collectively forming the Lord Brahma of the lotus isle. The angels are called by various names as planetary spirits, Asuras, etc., but in order to get a proper idea of their nature, you may consider them as standing in the same relation to the spiritually regenerated and released world Brahmins or the Nirmanakayas as these stand to the ordinary humanity. The angels were such Brahmins in previous Mahamanvantaras, who spent those enormous periods in suffering and toil for the sake of rearing wisdom in the world and hence they emerged as angels from the infinite womb of Aditi under their karmic impulse after a period of Mahapralaya.—Some Thoughts on the Gita, page 137. (back) |
(219) Vì vậy, các thái dương thiên thần là những thực thể thuộc một trật tự tinh thần cao—với một tâm thức tinh luyện tương ứng với chất liệu vật chất mà họ khoác lấy. Để nối điều này với những gì tôi đã nói trước đây, bạn có thể xem các thái dương thiên thần như cùng nhau tạo thành Đức Brahma của đảo hoa sen. Các thiên thần được gọi bằng nhiều tên khác nhau như các tinh thần hành tinh, Asura, v.v., nhưng để có được một ý niệm đúng đắn về bản chất của họ, bạn có thể xem họ như đứng trong cùng một tương quan đối với các Brahmin thế giới đã được tái sinh tinh thần và giải thoát hay các Nirmanakaya, như các vị này đứng đối với nhân loại bình thường. Các thiên thần đã từng là những Brahmin như thế trong các Đại giai kỳ sinh hóa trước kia, những vị đã trải qua các thời kỳ mênh mông ấy trong đau khổ và lao nhọc vì mục đích nuôi dưỡng minh triết trong thế gian, và do đó họ xuất hiện như các thiên thần từ lòng vô tận của Aditi dưới xung lực nghiệp quả của mình sau một thời kỳ Đại giai kỳ qui nguyên.—Một vài tư tưởng về Gita, trang 137. (back) |
|
Vấn đề về các Hỏa Dhyani này và mối liên hệ của họ với con người là một huyền nhiệm hết sức sâu xa, và toàn bộ vấn đề được bao phủ trong những truyền thuyết rắc rối đến mức các đạo sinh dễ tuyệt vọng vì không bao giờ đạt được sự sáng tỏ tư tưởng cần thiết và mong muốn. Chưa thể hoàn toàn xua tan những đám mây che phủ huyền nhiệm trung tâm, nhưng có lẽ, bằng cách lập bảng và tổng hợp thích đáng, cùng bằng sự khai triển thận trọng dữ kiện đã được truyền dạy, tư tưởng của đạo sinh minh triết có thể bớt phần nào rối rắm. |
|
|
There are two statements in the Secret Doctrine which are often overlooked by the casual reader but which, if [Page 681] duly pondered upon, convey much information. Let us make note of these two statements: |
Có hai phát biểu trong Giáo Lý Bí Nhiệm thường bị độc giả thông thường bỏ qua nhưng nếu[Page 681] được suy ngẫm đúng mức, sẽ chuyển tải nhiều thông tin. Chúng ta hãy lưu ý hai phát biểu này: |
|
1. Two connecting principles are needed. This requires a living spiritual Fire of the middle principle from the Fifth and third states of Pleroma. This fire is the possession of the Triangles. |
1. Cần có hai nguyên khí nối kết. Điều này đòi hỏi một Lửa tinh thần sống động của nguyên khí trung gian từ trạng thái thứ năm và thứ ba của Pleroma. Lửa này là sở hữu của các Tam Giác. |
|
2. These Beings are Nirvanis from a preceding Mahamanvantara. |
2. Các Đấng này là các nirvani từ một Đại giai kỳ sinh hóa trước đó. |
|
We have been considering somewhat the devas of evolutionary tendency who are grouped roughly together as the lunar Pitris. (220) These lunar Pitris are divided into four groups and are concerned with the building of man’s dual physical body, with his astral body and with his lower mental body; these sheaths are energised by their force through the medium of the permanent atoms. But for the purposes of the subjective nature of man, they are to be considered in their three groups—etheric, astral and lower mental. The work of the Agnishvattas (the self-conscious principles, the Builders or constructors of the egoic body on the higher mental levels) is to unite the higher three principles—atma, buddhi, manas—and the lower three, and thus become in very truth the middle principle in man. They themselves originate from the logoic middle principle. (S. D., II, 83.) Thus the esoteric seven is completed. The physical body in its denser manifestation is, as we know, not esoterically considered a principle. |
Chúng ta đã phần nào xem xét các thiên thần có khuynh hướng tiến hoá được gom lại một cách khái quát dưới tên thái âm tổ phụ. (220) Các thái âm tổ phụ này được chia thành bốn nhóm và liên hệ đến việc xây dựng thể xác hồng trần kép của con người, thể cảm dục của y và thể hạ trí của y; các vỏ bọc này được tiếp năng lượng bởi mãnh lực của họ thông qua các Nguyên tử trường tồn. Nhưng đối với mục đích của bản chất chủ quan của con người, họ phải được xét trong ba nhóm của mình—dĩ thái, cảm dục và hạ trí. Công việc của các Agnishvatta (các nguyên khí ngã thức, các Đấng kiến tạo hay cấu tạo thể chân ngã trên các cấp độ thượng trí) là hợp nhất ba nguyên khí cao hơn—atma, Bồ đề, manas—và ba nguyên khí thấp hơn, và như thế thực sự trở thành nguyên khí trung gian trong con người. Chính họ phát sinh từ nguyên khí trung gian của Thượng đế. (S. D., II, 83.) Như vậy bộ bảy huyền bí được hoàn tất. Thể xác hồng trần trong biểu hiện đậm đặc hơn của nó, như chúng ta biết, không được xem là một nguyên khí theo nghĩa huyền bí. |
|
(220) The Lunar Pitris are all Nature Spirits.—S. D., II, 107. |
(220) Các thái âm tổ phụ đều là tinh linh tự nhiên.—S. D., II, 107. |
|
1. They possess, or are the containers of the fire of the third aspect.—S. D., II, 81. |
1. Họ sở hữu, hay là những vật chứa của lửa thuộc phương diện thứ ba.—S. D., II, 81. |
|
2. Their work precedes that of the Solar Angels.—S. D., I, 268. |
2. Công việc của họ đi trước công việc của các Thái dương Thiên Thần.—S. D., I, 268. |
|
3. They exist in seven classes as do the Solar Angels.—S. D., II, 96. |
3. Họ tồn tại trong bảy loại cũng như các Thái dương Thiên Thần.—S. D., II, 96. |
|
a. Three incorporeal, which are the three elemental kingdoms of nature, providing man with his etheric, astral and mental bodies. |
a. Ba loại vô thể, là ba giới hành khí của bản chất, cung cấp cho con người thể dĩ thái, thể cảm dục và thể trí. |
|
b. Four corporeal which are the forms of the four kingdoms of nature.—S. D., II, 93. |
b. Bốn loại hữu thể là các hình tướng của bốn giới của bản chất.—S. D., II, 93. |
|
c. See S. D., II, 233. (back) |
c. Xem S. D., II, 233. (back) |
|
The devas of the lower mental levels in relation to [Page 682] man work through the mental unit, and are, roughly speaking, divided into four groups, being in fact the first condensation of the threefold lower body of man. They form part of his lunar body. They are directly linked with the highest spiritual essences, and represent the lowest manifestation of force emanating from the cosmic mental plane, and finding its link with the human Hierarchy through the mental units. They are the gaseous devas of the logoic physical body. We will not deal with them in greater detail at this moment for as we study the subject of the fifth principle certain points will become clearer; their work in connection with man can be enlarged upon as we proceed. More detail at this moment would but serve to complicate. |
Các thiên thần của các cấp độ hạ trí trong liên hệ với[Page 682] con người hoạt động thông qua đơn vị hạ trí, và nói khái quát được chia thành bốn nhóm, thực ra là sự cô đọng đầu tiên của thể thấp tam phân của con người. Họ tạo thành một phần của thể thái âm của y. Họ được nối kết trực tiếp với các tinh chất tinh thần cao nhất, và biểu hiện sự biểu lộ thấp nhất của mãnh lực phát ra từ cõi trí vũ trụ, đồng thời tìm thấy mối liên hệ của nó với Huyền Giai Tinh Thần nhân loại thông qua các đơn vị hạ trí. Họ là các thiên thần thể khí của thể xác Thượng đế. Chúng ta sẽ không bàn chi tiết hơn về họ vào lúc này vì khi nghiên cứu chủ đề nguyên khí thứ năm, một số điểm sẽ trở nên sáng tỏ hơn; công việc của họ liên hệ với con người có thể được khai triển thêm khi chúng ta tiếp tục. Chi tiết hơn vào lúc này chỉ làm cho vấn đề thêm phức tạp. |
|
Let us be quite clear in our minds just what we are in process of considering. We are dealing with: |
Chúng ta hãy thật rõ trong tâm trí mình về chính điều mà chúng ta đang xem xét. Chúng ta đang bàn đến: |
|
1. That fifth state of consciousness called the mental plane, |
1. Trạng thái tâm thức thứ năm gọi là cõi trí, |
|
2. The substance of that plane as it exists in its dual aspect, rupa and arupa, (222) |
2. Chất liệu của cõi ấy như nó tồn tại trong phương diện kép của nó, rupa và arupa, (222) |
|
(222) For rupa and arupa definitions see pages 615, 616. (back) |
(222) Về định nghĩa rupa và arupa xem các trang 615, 616. (back) |
|
3. The lives who ensoul that matter, especially in their relation to man, |
3. Các sự sống phú linh cho vật chất ấy, đặc biệt trong mối liên hệ của chúng với con người, |
|
4. The Egos or the self-conscious units who form the middle point in manifestation, |
4. Các Chân ngã hay các đơn vị ngã thức tạo thành điểm trung gian trong biểu hiện, |
|
5. The building of the causal body, the opening of the egoic Lotus, and the construction of those groups we call egoic groups, |
5. Việc xây dựng thể nguyên nhân, sự khai mở Hoa Sen Chân Ngã, và sự kiến tạo những nhóm mà chúng ta gọi là các nhóm chân ngã, |
|
6. The individuality of those Existences whom we call: |
6. Cá thể tính của những Sự Tồn Tại mà chúng ta gọi là: |
|
a. Agnishvattas. |
a. Agnishvatta. |
|
b. Manasa devas. |
b. Các thiên thần manas. |
|
c. Hỏa dhyani. |
|
|
d. Solar angels, or solar Pitris. |
d. Các thái dương thiên thần, hay thái dương tổ phụ. |
|
e. The Asuras. |
e. Các Asura. |
|
and many other names mentioned in the occult books. |
và nhiều tên khác nữa được nhắc đến trong các sách huyền bí học. |
|
[Page 683] Much confusion exists in the minds of students as to the distinction between the Agnishvattas who incarnated in man, and those who simply were responsible for the implanting of the manasic or mental spark in animal man. This opens up for us the entire question of individualisation itself, and the incarnation of certain spiritual existences who—when in bodily form—are spoken of as Avatars, as Buddhas of Activity, or as direct manifestations of the Logos. The entire mystery is hidden in the relationship of the individual Monads who form the various centres in the body of a planetary Logos and the self-conscious Identity of that planetary Logos Himself. The student must here bear in mind the fact that the mental plane is the first aspect of the dense physical body of the planetary Logos, the buddhic plane being a cosmic etheric plane, and the one whereon are to be found the etheric centres of a Heavenly Man. |
[Page 683] Có rất nhiều nhầm lẫn trong tâm trí các đạo sinh về sự phân biệt giữa các Agnishvatta đã nhập thể vào con người, và những vị chỉ đơn thuần chịu trách nhiệm cấy vào tia lửa manas hay trí tuệ trong người thú. Điều này mở ra cho chúng ta toàn bộ vấn đề về chính biệt ngã hóa, và sự nhập thể của một số sự tồn tại tinh thần mà—khi ở trong hình hài thể xác—được nói đến như các Đấng Hoá Thân, như các Đức Phật Hoạt Động, hay như những biểu lộ trực tiếp của Thượng đế. Toàn bộ huyền nhiệm được ẩn giấu trong mối liên hệ giữa các chân thần cá biệt tạo thành các trung tâm khác nhau trong thể của một Hành Tinh Thượng đế và Bản Sắc ngã thức của chính Hành Tinh Thượng đế ấy. Ở đây đạo sinh phải ghi nhớ sự kiện rằng cõi trí là phương diện đầu tiên của thể xác hồng trần đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế, còn cõi Bồ đề là một cõi dĩ thái vũ trụ, và là cõi nơi có thể tìm thấy các trung tâm dĩ thái của một Đấng Thiên Nhân. |
|
From the buddhic plane (in a planetary or solar sense) comes the vitality and impulse which galvanises the dense physical vehicle into purposeful and coherent action; it is on the mental plane, therefore, that this impulse is first felt and the contact between the two realised. Herein lies a hint which will serve a purpose if pondered upon. The student should study the place and purpose of the mental plane, and its relation to the planetary Logos and a solar Logos. As he investigates more closely the nature of his own etheric body, he must extend that knowledge to higher levels, and must endeavour to comprehend the constitution of the greater sphere of which he is but a part. As the nature of his own centres, and their effective action upon his own dense physical body, is better understood, he will pass to a fuller comprehension of the corresponding effect in the body of the Logos. |
Từ cõi Bồ đề (theo nghĩa hành tinh hay thái dương) phát ra sinh lực và xung lực làm cho vận cụ hồng trần đậm đặc vận hành một cách có mục đích và nhất quán; vì vậy chính trên cõi trí mà xung lực này được cảm nhận đầu tiên và sự tiếp xúc giữa hai cõi được chứng nghiệm. Chính trong đây có một gợi ý sẽ hữu ích nếu được suy ngẫm. Đạo sinh nên nghiên cứu vị trí và mục đích của cõi trí, và mối liên hệ của nó với Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế. Khi y khảo sát kỹ hơn bản chất của thể dĩ thái riêng của mình, y phải mở rộng tri thức ấy lên các cấp độ cao hơn, và phải cố gắng thấu hiểu cấu tạo của khối cầu lớn hơn mà y chỉ là một phần. Khi bản chất của các trung tâm riêng của y, và tác động hữu hiệu của chúng lên thể xác hồng trần đậm đặc của y được hiểu rõ hơn, y sẽ tiến đến sự thấu hiểu đầy đủ hơn về hiệu quả tương ứng trong thể của Thượng đế. |
|
It is on the mental plane (the reflection in the three worlds of the third and fifth states of Pleroma), that the full force of etheric vitality is felt. A hint as to the [Page 684] significance of this may be found in the fact that the etheric body of man receives, and transmits prana directly to the physical body, and that the vitality of the physical frame is to be gauged largely by the condition and action of the heart. The heart circulates vitality to the myriads of cells that constitute the dense physical sheath; something analogous is seen in the fact that these fire devas are “the Heart of the Dhyan chohanic body,” (223) for their energy comes from the spiritual sun, in the same sense that the energy of the pranic devas of the etheric body comes from the physical sun. This energy of the Agnishvattas manifests on the mental plane, the gaseous subplane of the cosmic physical just as the energy of the etheric centres on the fourth etheric subplane manifests first and potently on the gaseous matter of the physical body. This is why the Sons of Wisdom, embodying the buddhic principle, the life force, or love aspect, are nevertheless known on the fifth plane as the self-conscious principles; buddhi uses manas as a vehicle, and occult writers often speak in terms of the vehicle. The Ego, or the self-conscious Identity is in essence and in truth Love-Wisdom, but manifests primarily as intelligent consciousness. |
Chính trên cõi trí (sự phản ánh trong ba cõi giới của các trạng thái thứ ba và thứ năm của Pleroma), mà toàn bộ mãnh lực của sinh lực dĩ thái được cảm nhận. Một gợi ý về [Page 684] ý nghĩa của điều này có thể được tìm thấy trong sự kiện rằng thể dĩ thái của con người tiếp nhận và truyền prana trực tiếp đến thể xác hồng trần, và rằng sinh lực của khung thể hồng trần phần lớn được đo bằng tình trạng và hoạt động của tim. Tim luân chuyển sinh lực đến vô số tế bào cấu thành vỏ bọc hồng trần đậm đặc; một điều tương tự được thấy trong sự kiện rằng các thiên thần lửa này là “Trái Tim của thể Dhyan chohanic,” (223) vì năng lượng của họ đến từ mặt trời tinh thần, theo cùng ý nghĩa mà năng lượng của các thiên thần prana của thể dĩ thái đến từ mặt trời vật lý. Năng lượng này của các Agnishvatta biểu lộ trên cõi trí, cõi phụ thể khí của cõi hồng trần vũ trụ, cũng như năng lượng của các trung tâm dĩ thái trên cõi phụ dĩ thái thứ tư biểu lộ trước tiên và mạnh mẽ trên vật chất thể khí của thể hồng trần. Đây là lý do vì sao các Con của Minh Triết, thể hiện nguyên khí Bồ đề, mãnh lực sự sống, hay phương diện bác ái, tuy vậy vẫn được biết đến trên cõi thứ năm như các nguyên khí ngã thức; Bồ đề dùng manas như một vận cụ, và các tác giả huyền bí học thường nói theo thuật ngữ của vận cụ. Chân ngã, hay Bản Sắc ngã thức, về bản chất và chân lý là Bác Ái – Minh Triết, nhưng biểu lộ chủ yếu như tâm thức thông tuệ. |
|
(223) This name is given to them in the Secret Doctrine, Volume II, page 96.initions see pages 615, 616. (back) |
(223) Tên gọi này được dành cho họ trong Giáo Lý Bí Nhiệm, Quyển II, trang 96.initions see pages 615, 616. (back) |
|
We should endeavor to study carefully the following statement which is concerned with kama-manas, and which deals with the conditions which produce individualisation, or which call forth into self-conscious Being the Monads seeking full self-expression. It is as follows: |
Chúng ta nên cố gắng nghiên cứu cẩn thận phát biểu sau đây liên quan đến kama-manas, và bàn đến các điều kiện tạo ra biệt ngã hóa, hay gọi các chân thần đang tìm kiếm sự tự biểu lộ trọn vẹn đi vào Bản Thể ngã thức. Phát biểu ấy như sau: |
|
Only as the heart centre of a Heavenly Man (each in His cycle and each differing cyclically) becomes vitalised and attains a certain vibratory capacity does the individualisation of the Monads become possible under the Law. |
Chỉ khi trung tâm tim của một Đấng Thiên Nhân (mỗi vị trong chu kỳ của Ngài và mỗi vị khác nhau theo chu kỳ) được tiếp sinh lực và đạt đến một khả năng rung động nhất định thì biệt ngã hóa của các chân thần mới trở nên khả hữu dưới Định luật. |
|
Again, it is only as the threefold dense physical body of a planetary Logos (as expressed by our three worlds, the mental, astral and dense physical planes) has reached [Page 685] a corresponding vibration and retraced the cyclic development of the previous mahamanvantara, that there is produced that vibratory contact which causes the shining out upon the mental plane of the egoic groups. It brings forth a manifestation of the heart impulses of the Heavenly Man, and thus swings into objectivity those Monads (energised by the life of the Heart) who form various centres. The old Commentary says: |
Lại nữa, chỉ khi thể xác hồng trần đậm đặc tam phân của một Hành Tinh Thượng đế (như được biểu lộ bởi ba cõi giới của chúng ta, cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần đậm đặc) đã đạt đến[Page 685] một rung động tương ứng và lần theo lại sự phát triển chu kỳ của đại giai kỳ sinh hóa trước đó, thì sự tiếp xúc rung động gây ra sự chiếu sáng của các nhóm chân ngã trên cõi trí mới được tạo ra. Nó làm xuất hiện một biểu lộ của các xung lực tim của Đấng Thiên Nhân, và như thế đưa vào khách quan tính những chân thần ấy (được tiếp năng lượng bởi sự sống của Trái Tim) vốn tạo thành các trung tâm khác nhau. Cổ Luận nói: |
|
“When the Heart of the Body throbs with spiritual energy, when its sevenfold content thrills under the spiritual impulse, then the currents spread and circulate and divine manifestation becomes a Reality; the divine Man incarnates.” |
“Khi Trái Tim của Thể rung động với năng lượng tinh thần, khi nội dung thất phân của nó rung lên dưới xung lực tinh thần, khi ấy các dòng chảy lan tỏa và tuần hoàn và biểu lộ thiêng liêng trở thành một Thực Tại; Con Người thiêng liêng nhập thể.” |
|
The physical plane analogy is seen at the life stimulation which is felt between the third and fourth month during the prenatal period, when the heart of the child thrills with life and individual existence becomes a possibility. |
Sự tương đồng trên cõi hồng trần được thấy trong sự kích thích sự sống được cảm nhận giữa tháng thứ ba và thứ tư trong thời kỳ tiền sản, khi tim của đứa trẻ rung lên với sự sống và sự tồn tại cá biệt trở thành một khả năng. |
|
This life vibration emanates from the soul of the mother (the correspondence to the Pleroma or universal soul) and is coincident with the awakening of the third spirilla in the permanent physical atom of the infant. It must be borne in mind that just as in each round all the preceding stages are rapidly recapitulated, and just as in the prenatal period the foetus recapitulates during the formative process the history of the preceding kingdoms, so in the solar system a similar procedure can be seen. When a certain point is reached and the lower three planes are vibrating, or energised, then cosmic incarnation becomes a possibility; the “Heart” occultly awakens, and the “Son of God,” the expression of the desire and love of the Logos, is born.(224, 225) The cosmic incarnation of certain exalted Beings is consummated, and one of the indications of this is the appearance of the egoic groups [Page 686] on mental levels, and the resultant individualisation. Method and time may vary according to the nature of any particular planetary Logos, but for each and all the “Heart of the Body” has to thrill with awakening life before the response comes from the lower. The lunar Pitris have to carry on their work in our scheme and system before the solar angels, thrilling with expectancy, take possession of the forms prepared through their endeavour, and stimulate them into self-conscious life and separated existence. Thus the four great schemes in the solar system, which are the vehicles for four of the planetary Logoi (Who constitute the logoic Quaternary), have to reach a certain stage of vibratory capacity, and of consciousness before a similar happening occurs in its fullness in the solar system, and the lower four and higher three are synthesised. The logoic heart is thrilling, and response comes already from all the schemes, as three spirillae are vibrating in all of them, but the Son of God is not yet fully and cosmically self-conscious. As response comes the centres awaken. One logoic centre is responding fully to the heart stimulation, and that is Venus, who is passing through the final round. |
Rung động sự sống này phát ra từ linh hồn của người mẹ (sự tương ứng với Pleroma hay đại hồn vũ trụ) và trùng hợp với sự thức tỉnh của loa tuyến thứ ba trong Nguyên tử trường tồn hồng trần của đứa trẻ. Cần ghi nhớ rằng cũng như trong mỗi cuộc tuần hoàn tất cả các giai đoạn trước đó đều được lặp lại nhanh chóng, và cũng như trong thời kỳ tiền sản bào thai lặp lại trong tiến trình hình thành lịch sử của các giới trước đó, thì trong hệ mặt trời cũng có thể thấy một tiến trình tương tự. Khi đạt đến một điểm nhất định và ba cõi thấp đang rung động, hay được tiếp năng lượng, thì sự nhập thể vũ trụ trở thành một khả năng; “Trái Tim” thức tỉnh theo nghĩa huyền bí, và “Con của Thượng đế,” biểu lộ của dục vọng và bác ái của Thượng đế, được sinh ra.(224, 225) Sự nhập thể vũ trụ của một số Đấng cao cả được hoàn tất, và một trong những dấu hiệu của điều này là sự xuất hiện của các nhóm chân ngã[Page 686] trên các cấp độ trí tuệ, và kết quả là biệt ngã hóa. Phương pháp và thời gian có thể thay đổi tùy theo bản chất của bất kỳ Hành Tinh Thượng đế riêng biệt nào, nhưng đối với mỗi vị và tất cả các vị, “Trái Tim của Thể” phải rung lên với sự sống thức tỉnh trước khi đáp ứng đến từ phần thấp. Các thái âm tổ phụ phải tiếp tục công việc của họ trong hệ hành tinh và hệ thống của chúng ta trước khi các thái dương thiên thần, rung lên với sự mong đợi, chiếm lấy các hình tướng đã được chuẩn bị nhờ nỗ lực của họ, và kích thích chúng vào sự sống ngã thức và sự tồn tại biệt lập. Vì vậy bốn hệ hành tinh lớn trong hệ mặt trời, là các vận cụ cho bốn Hành Tinh Thượng đế (Đấng tạo thành Bộ Tứ của Thượng đế), phải đạt đến một giai đoạn nhất định về khả năng rung động và tâm thức trước khi một biến cố tương tự xảy ra trọn vẹn trong hệ mặt trời, và bốn phần thấp cùng ba phần cao được tổng hợp. Trái tim Thượng đế đang rung động, và đáp ứng đã đến từ tất cả các hệ hành tinh, vì ba loa tuyến đang rung động trong tất cả chúng, nhưng Con của Thượng đế vẫn chưa hoàn toàn ngã thức theo nghĩa vũ trụ. Khi đáp ứng đến, các trung tâm thức tỉnh. Một trung tâm Thượng đế đang đáp ứng trọn vẹn với sự kích thích của tim, và đó là Sao Kim, đang đi qua cuộc tuần hoàn cuối cùng. |
|
(224) Compare S. D., I, 203; II, 108, 122, 279. (back) |
(224) So sánh S. D., I, 203; II, 108, 122, 279. (back) |
|
If the student endeavours to dissociate our solar system from that which preceded it, and if he considers the pralaya at the close of this mahamanvantara to be a final one, and the utter consummation of all things, he errs. In the preceding system the cosmic physical plane attained a certain vibratory capacity, and the devas of the internal furnaces became (relatively speaking) highly evolved, the “fires of matter” then blazing forth. Certain Existences attained self-consciousness in that earlier system, and are the “nirvanis” spoken of by H. P. B. (See S. D., II, 83, 84, 243.) As might be expected, they are characterised by active intelligence, achieved and developed by means of material evolution during a previous mahamanvantara. They [Page 687] are the Manasa devas and in their totality are the vehicles of the Divine mind, the dhyan-chohanic forces, the aggregate of the Ah-hi. In this solar system the vibration of the cosmic astral plane is becoming dominant, and through that vibration, travelling via the fourth cosmic ether (whereon as earlier stated are the etheric centres of the planetary Logoi) and our systemic astral plane, certain eventualities become possible. The “Sons of desire,” logoic or human, can learn certain lessons, undergo certain experiences, and add the faculty of love-wisdom to the intelligence earlier gained. |
Nếu đạo sinh cố gắng tách rời hệ mặt trời của chúng ta khỏi hệ thống đi trước nó, và nếu y xem giai kỳ qui nguyên vào cuối đại giai kỳ sinh hóa này là một giai kỳ cuối cùng, và là sự hoàn tất tuyệt đối của mọi sự, thì y sai lầm. Trong hệ thống trước đó, cõi hồng trần vũ trụ đã đạt đến một khả năng rung động nhất định, và các thiên thần của những lò bên trong đã trở nên (nói tương đối) rất tiến hoá, khi ấy “những ngọn lửa của vật chất” bừng cháy. Một số Sự Tồn Tại đã đạt đến ngã thức trong hệ thống trước đó, và là các “nirvani” được H. P. B. nói đến (Xem S. D., II, 83, 84, 243.) Như có thể dự đoán, họ được đặc trưng bởi trí tuệ linh hoạt, đạt được và phát triển bằng phương tiện tiến hoá vật chất trong một đại giai kỳ sinh hóa trước đó. Họ[Page 687] là các thiên thần manas và trong tổng thể của mình là các vận cụ của Trí của Thượng đế, các mãnh lực dhyan-chohan, tổng thể của các Ah-hi. Trong hệ mặt trời này, rung động của cõi cảm dục vũ trụ đang trở nên chi phối, và thông qua rung động ấy, truyền qua dĩ thái vũ trụ thứ tư (nơi như đã nói trước đó là các trung tâm dĩ thái của các Hành Tinh Thượng đế) và cõi cảm dục hệ thống của chúng ta, một số khả năng kết cuộc trở nên có thể xảy ra. Các “Con của dục vọng,” thuộc Thượng đế hay nhân loại, có thể học một số bài học, trải qua một số kinh nghiệm, và thêm năng lực Bác Ái – Minh Triết vào trí tuệ đã đạt được trước đó. |
|
Our solar Logos, and the Heavenly Men, are polarised on the cosmic astral plane, and the effect of Their life energy as it flows through the systemic “Heart” can be seen in the activity of the astral plane, and in the part sex and passion play in the development of man. At the close of this mahamanvantara there will be ready for manifestation in the coming third system nirvanis who will be, in very essence, “active intelligent love”; they will have to wait until the five lower planes of the system have reached a stage of vibratory development which will permit them to enter, as the nirvanis in this system waited until the three lower planes became adequate in vibratory response. We are here speaking in terms of the Heavenly Men. In the Earth scheme, the analogy is hidden in the advent of the Egos in the third round, in the third root race and in the third chain. Individualisation, as we understand it, was not possible until the “third state of pleroma” was reached, either universally where a Heavenly Man is concerned, or relatively in connection with a human unit. |
Thái dương Thượng đế của chúng ta, và các Đấng Thiên Nhân, được phân cực trên cõi cảm dục vũ trụ, và hiệu quả của năng lượng sự sống của Các Ngài khi chảy qua “Trái Tim” của hệ thống có thể được thấy trong hoạt động của cõi cảm dục, và trong vai trò mà tính dục và đam mê đóng trong sự phát triển của con người. Vào cuối đại giai kỳ sinh hóa này sẽ có sẵn để biểu hiện trong hệ thống thứ ba sắp đến những nirvani mà về bản chất đích thực sẽ là “bác ái thông tuệ linh hoạt”; họ sẽ phải chờ cho đến khi năm cõi thấp của hệ thống đạt đến một giai đoạn phát triển rung động cho phép họ đi vào, cũng như các nirvani trong hệ thống này đã chờ cho đến khi ba cõi thấp trở nên đầy đủ về đáp ứng rung động. Ở đây chúng ta đang nói theo thuật ngữ của các Đấng Thiên Nhân. Trong hệ Địa Cầu, sự tương đồng được ẩn giấu trong sự xuất hiện của các Chân ngã ở cuộc tuần hoàn thứ ba, trong giống dân gốc thứ ba và trong dãy thứ ba. Biệt ngã hóa, như chúng ta hiểu, không thể có cho đến khi “trạng thái thứ ba của pleroma” được đạt đến, hoặc theo nghĩa phổ quát khi liên quan đến một Đấng Thiên Nhân, hoặc theo nghĩa tương đối trong liên hệ với một đơn vị nhân loại. |
|
Considering the same subject from below upwards it is the animal in the third kingdom which individualises. Viewing it from above downwards it is the fifth kingdom, the spiritual, which ensouls the third and produces the fourth, or self-conscious human kingdom. These figures [Page 688] should be studied for they hold the mystery hid, and though the true occult meaning will not be revealed until the third major Initiation, nor fully comprehended until the fifth, yet light may stream in on a difficult point. Equally so in the next solar system, individualisation (if such an inadequate term may be applied to a state of consciousness inconceivable even to an initiate of the third Initiation) will not be possible until the second or sixth stage of Pleroma. Consciousness will blaze forth then on the Monadic plane, and it will be the plane of individualisation. All states of consciousness below that high level will be to the Logos what the consciousness of the three worlds is to Him now. Just as the physical body of man is not a principle, so all planes at this time below the fourth cosmic ether are not considered by the Logos to be a principle. |
Xét cùng chủ đề ấy từ dưới lên trên thì chính con vật trong giới thứ ba biệt ngã hóa. Xét nó từ trên xuống dưới thì chính giới thứ năm, giới tinh thần, phú linh cho giới thứ ba và tạo ra giới thứ tư, hay giới nhân loại ngã thức. Những con số này[Page 688] cần được nghiên cứu vì chúng nắm giữ huyền nhiệm ẩn kín, và dù ý nghĩa huyền bí chân thực sẽ không được tiết lộ cho đến lần điểm đạo lớn thứ ba, cũng như không được thấu hiểu trọn vẹn cho đến lần điểm đạo thứ năm, ánh sáng vẫn có thể tuôn vào một điểm khó. Tương tự như vậy trong hệ mặt trời kế tiếp, biệt ngã hóa (nếu có thể áp dụng thuật ngữ không đầy đủ ấy cho một trạng thái tâm thức không thể nghĩ bàn ngay cả đối với một điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ ba) sẽ không thể có cho đến trạng thái thứ hai hay thứ sáu của Pleroma. Khi ấy tâm thức sẽ bừng cháy trên cõi chân thần, và đó sẽ là cõi của biệt ngã hóa. Mọi trạng thái tâm thức dưới cấp độ cao ấy sẽ đối với Thượng đế giống như tâm thức của ba cõi giới đối với Ngài hiện nay. Cũng như thể xác hồng trần của con người không phải là một nguyên khí, thì mọi cõi hiện nay dưới dĩ thái vũ trụ thứ tư cũng không được Thượng đế xem là một nguyên khí. |
|
Our present solar Angels or fire devas will then have a position analogous to that of the lunar Pitris now, for all will form a part of the divine consciousness, and yet, will be esoterically considered as “below the threshold” of consciousness. Man has to learn to control, guide and use the deva substances of which his lower sheaths are made; this goal involves the development of full self-consciousness, which is brought about through the agency of the solar Angels or builders and vitalisers of the egoic body; they are those through whom self-consciousness becomes a fact. In the next solar system they too will no longer embody the type of consciousness towards which man aspires; he will have to rise to still greater realisations, and again by occultly “putting his foot upon” them these higher realisations will become possible. In this solar system he has to mount by the putting his foot upon the serpent of matter. He rises by domination of matter and becomes himself a serpent of wisdom. In the next solar system he will mount upward by means of the “serpent of wisdom,” and by the domination [Page 689] and control of the Agnishvattas, achieve something of which even the illuminated mind of the highest Dhyan-chohan can not yet conceive. |
Khi ấy các Thái dương Thiên Thần hay thiên thần lửa hiện nay của chúng ta sẽ có một vị trí tương tự như vị trí của các thái âm tổ phụ hiện nay, vì tất cả sẽ tạo thành một phần của tâm thức thiêng liêng, nhưng vẫn sẽ được xem theo nghĩa huyền bí là “ở dưới ngưỡng” của tâm thức. Con người phải học cách kiểm soát, hướng dẫn và sử dụng các chất liệu thiên thần mà từ đó các vỏ bọc thấp của y được tạo nên; mục tiêu này bao hàm sự phát triển ngã thức trọn vẹn, được mang lại thông qua tác nhân của các Thái dương Thiên Thần hay các đấng kiến tạo và tiếp sinh lực cho thể chân ngã; họ là những vị nhờ đó ngã thức trở thành một sự kiện. Trong hệ mặt trời kế tiếp, họ cũng sẽ không còn thể hiện loại tâm thức mà con người khát vọng hướng tới; y sẽ phải vươn lên những chứng nghiệm còn lớn hơn nữa, và một lần nữa bằng cách huyền bí “đặt chân lên” họ mà những chứng nghiệm cao hơn này trở nên khả hữu. Trong hệ mặt trời này y phải leo lên bằng cách đặt chân lên con rắn của vật chất. Y vươn lên nhờ chế ngự vật chất và chính y trở thành một con rắn minh triết. Trong hệ mặt trời kế tiếp y sẽ đi lên bằng phương tiện của “con rắn minh triết,” và nhờ sự chế ngự[Page 689] và kiểm soát các Agnishvatta, đạt được điều gì đó mà ngay cả trí tuệ được soi sáng của vị Dhyan-chohan cao nhất hiện nay cũng chưa thể quan niệm. |
|
a. The Fifth Principle. |
a. Nguyên khí thứ năm. |
|
The solar Angels are the Pitris, the builders of the body of the Ego, and the producers of individualisation or the realised consciousness, the Agnishvattas, the great devas of Mind. |
Các Thái dương Thiên Thần là các tổ phụ, các đấng kiến tạo thể của chân ngã, và là những vị tạo ra biệt ngã hóa hay tâm thức được chứng nghiệm, các Agnishvatta, các thiên thần vĩ đại của Trí Tuệ. |
|
Certain broad and general affirmations have been laid down with the purpose in view of opening up this stupendous and practical subject, and in an endeavour to link up this solar system in its fundamental manasic aspect with the past and the future. |
Một số khẳng định rộng lớn và tổng quát đã được nêu ra nhằm mục đích khai mở chủ đề kỳ vĩ và thực tiễn này, và trong nỗ lực nối kết hệ mặt trời này trong phương diện manas căn bản của nó với quá khứ và tương lai. |
|
The section we are now approaching concerns the development of the divine Manasaputras, viewing them as a collective whole, containing the Divine Mind, and considering the individual Monad, who responds to Their life as a part of the body of these Dhyani Buddhas. |
Phần mà hiện nay chúng ta đang tiến đến liên quan đến sự phát triển của các Manasaputra thiêng liêng, xét họ như một toàn thể tập thể, chứa đựng Trí Tuệ thiêng liêng, và xét chân thần cá biệt, là vị đáp ứng với sự sống của Các Ngài như một phần của thể của các Dhyani Buddha này. |
|
(a.) Cosmically considered. An occult sentence has its place here. It holds the key to the mystery of the fivefold Dhyanis: |
(a.) Xét theo vũ trụ. Ở đây có chỗ cho một câu huyền bí. Nó nắm giữ chìa khóa cho huyền nhiệm của các Dhyani ngũ phân: |
|
“The higher Three in cyclic unison sought to know and to be known. The lower Three (for we count not here the eighth) knew not nor saw; they only heard and touched. The fourth had not a place. The Fifth (which also is the fourth) formed at the middle point a cosmic TAU, which was reflected on the cosmic Seventh.” |
“Ba phần cao trong sự hợp nhất chu kỳ tìm cách biết và được biết. Ba phần thấp (vì ở đây chúng ta không tính phần thứ tám) không biết cũng không thấy; chúng chỉ nghe và chạm. Phần thứ tư không có chỗ. Phần thứ năm (cũng là phần thứ tư) tạo thành tại điểm ở giữa một TAU vũ trụ, được phản chiếu trên phần thứ bảy vũ trụ.” |
|
H. P. B. states (S. D., I, 200, 201. II, 251, 252.) that the individualised Monad has more spiritual consciousness than the monad itself on its own plane, the second. It must be remembered here that the planetary Logoi are only in physical incarnation in our system, their bodies of individualisation being on the cosmic mental plane, therefore full expression for them [Page 690] is impossible during manifestation. Relatively therefore, during manifestation, man is able to express himself fully when he attains the “consciousness of the high places.” It should, therefore, be pointed out at the very beginning of our study of this fifth principle that the divine Manasaputras on their own plane must be considered from the standpoint of physical incarnation, whereas man can be considered from what is, for him, a spiritual aspect. (229) |
H. P. B. nói rằng (S. D., I, 200, 201. II, 251, 252.) chân thần đã biệt ngã hóa có tâm thức tinh thần nhiều hơn chính chân thần trên cõi riêng của nó, cõi thứ hai. Ở đây cần ghi nhớ rằng các Hành Tinh Thượng đế chỉ đang lâm phàm hồng trần trong hệ thống của chúng ta, các thể biệt ngã hóa của các Ngài ở trên cõi trí vũ trụ, vì vậy sự biểu lộ trọn vẹn đối với các Ngài[Page 690] là điều bất khả trong thời kỳ biểu hiện. Do đó, theo nghĩa tương đối, trong thời kỳ biểu hiện, con người có thể biểu lộ chính mình trọn vẹn khi y đạt đến “tâm thức của những nơi cao.” Vì vậy, ngay từ lúc bắt đầu nghiên cứu nguyên khí thứ năm này, cần chỉ ra rằng các Manasaputra thiêng liêng trên cõi riêng của họ phải được xét từ quan điểm nhập thể hồng trần, trong khi con người có thể được xét từ phương diện, đối với y, là tinh thần. (229) |
|
Human individualisation, or the emergence of the self-conscious units on the mental plane, is involved in a larger development, for it synchronizes with the appropriation of a dense physical body by the Planetary Logos; this body is composed of matter of our three lower planes. As the etheric centres of the Manasaputras on the fourth cosmic etheric plane become vitalised, they produce increased activity on the systemic mental plane, the cosmic gaseous, and the consciousness of the Heavenly Man and His life energy begins to make itself felt. Simultaneously, under the Law, mind force or manasic energy pours in from the fifth cosmic plane, the cosmic mental. This dual energy, contacting that which is inherent in the dense physical body of the Logos itself, produces correspondences to the centres upon that plane and the egoic groups appear. They blend in latency the three types of electricity, and are themselves electrical phenomena. They are composed of those atoms, or types of lives, which are a part of the fourth [Page 691] Creative Hierarchy, the aggregate of purely human Monads. Similarly, this triple force, produced by this conscious appropriation by the Heavenly Man, animates deva substance and the dense physical body of the planetary Logos is manifested objectively. This is what is meant by the statements that devas are found only in the three worlds. It is a statement analogous to the one that humanity is only found in the three worlds; nevertheless, the human Monads in their seven types are found on the plane of spirit—as it is the plane of duality—the deva monads are likewise found there. |
Biệt ngã hóa của con người, hay sự xuất hiện của các đơn vị ngã thức trên cõi trí, nằm trong một sự phát triển lớn hơn, vì nó đồng bộ với việc Hành Tinh Thượng đế chiếm hữu một thể xác hồng trần đậm đặc; thể này được cấu thành từ vật chất của ba cõi thấp của chúng ta. Khi các trung tâm dĩ thái của các Manasaputra trên cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư được tiếp sinh lực, chúng tạo ra hoạt động gia tăng trên cõi trí của hệ thống, tức cõi thể khí vũ trụ, và tâm thức của Đấng Thiên Nhân cùng năng lượng sự sống của Ngài bắt đầu được cảm nhận. Đồng thời, dưới Định luật, mãnh lực trí tuệ hay năng lượng manas tuôn vào từ cõi vũ trụ thứ năm, cõi trí vũ trụ. Năng lượng kép này, tiếp xúc với điều vốn tiềm tàng trong chính thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế, tạo ra các tương ứng với các trung tâm trên cõi ấy và các nhóm chân ngã xuất hiện. Chúng hòa trộn trong trạng thái tiềm ẩn ba loại điện, và bản thân chúng là các hiện tượng điện. Chúng được cấu thành từ những nguyên tử, hay những loại sự sống, là một phần của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư [Page 691], tổng thể của các chân thần thuần túy nhân loại. Tương tự như vậy, mãnh lực tam phân này, được tạo ra bởi sự chiếm hữu có ý thức này của Đấng Thiên Nhân, làm sinh động chất liệu thiên thần và thể xác hồng trần đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế được biểu lộ khách quan. Đây là điều được hàm ý bởi các phát biểu rằng thiên thần chỉ được tìm thấy trong ba cõi giới. Đó là một phát biểu tương tự với phát biểu rằng nhân loại chỉ được tìm thấy trong ba cõi giới; tuy nhiên, các chân thần nhân loại trong bảy loại của chúng được tìm thấy trên cõi tinh thần—vì đó là cõi của nhị nguyên tính—các chân thần thiên thần cũng được tìm thấy ở đó. |
|
Students should ever bear in mind that these occult subjects can be expressed in a twofold manner: |
Các đạo sinh nên luôn ghi nhớ rằng các chủ đề huyền bí này có thể được diễn đạt theo hai cách: |
|
In terms of the three worlds, or from the standpoint of the logoic dense physical body. |
Theo thuật ngữ của ba cõi giới, hay từ quan điểm của thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế. |
|
In terms of force or energy, or from the standpoint of the logoic body of prana or vitality, the four cosmic ethers. |
Theo thuật ngữ của mãnh lực hay năng lượng, hay từ quan điểm của thể prana hay sinh lực của Thượng đế, bốn dĩ thái vũ trụ. |
|
What we understand by the fifth principle is but the expression on the causal plane of that force or energy which emanates from the logoic causal body on the fifth cosmic plane, via the logoic correspondence to the mental unit. (These correspondences involve a concept far in advance of what is possible even to an initiate at this time). In the fifth round, the inner significance may become more apparent to the disciple. As the logoic will is gradually transmuted into desire and thus the physical incarnation is produced, a tremendous downflow of vitalising force from the fifth cosmic plane takes place, until it arrives at our fifth plane, the mental. This force it is which—at the correct cyclic moment—causes certain eventualities in time and space and in the three worlds, His dense physical body. The first of these events is the appropriation by the Logos of that dense physical vehicle, and the flashing into manifestation [Page 692] of the physical Sun and the physical planets. Though this, from our standpoint, covers an inconceivably vast period of time, to the Logos it is but the brief period of gestation which all bodies undergo. A second momentous occurrence is the appropriation by the various Prajapatis, (230) or Heavenly Men of their physical bodies—again at varying times and according to their evolutionary stage. This is of later date for the seven than for the three. An idea of the meaning of this distinction can be gleaned by the student, as he studies the process of the incarnating ego. |
Điều mà chúng ta hiểu là nguyên khí thứ năm chỉ là sự biểu lộ trên cõi nguyên nhân của mãnh lực hay năng lượng phát ra từ thể nguyên nhân của Thượng đế trên cõi vũ trụ thứ năm, qua sự tương ứng của Thượng đế với đơn vị hạ trí. (Những sự tương ứng này bao hàm một khái niệm vượt xa điều có thể có ngay cả đối với một điểm đạo đồ vào lúc này). Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, ý nghĩa bên trong có thể trở nên hiển nhiên hơn đối với đệ tử. Khi ý chí Thượng đế dần dần được chuyển hoá thành dục vọng và như thế sự nhập thể hồng trần được tạo ra, một dòng chảy xuống khổng lồ của mãnh lực tiếp sinh lực từ cõi vũ trụ thứ năm diễn ra, cho đến khi nó đến cõi thứ năm của chúng ta, cõi trí. Chính mãnh lực này—vào đúng thời điểm chu kỳ—gây ra một số biến cố trong thời gian và không gian và trong ba cõi giới, thể xác hồng trần đậm đặc của Ngài. Biến cố đầu tiên trong số này là sự chiếm hữu bởi Thượng đế đối với vận cụ hồng trần đậm đặc ấy, và sự bừng lóe vào biểu hiện [Page 692] của Mặt Trời vật lý và các hành tinh vật lý. Dù điều này, theo quan điểm của chúng ta, bao trùm một thời kỳ dài không thể tưởng tượng nổi, đối với Thượng đế nó chỉ là thời kỳ thai nghén ngắn ngủi mà mọi thể đều trải qua. Một biến cố trọng đại thứ hai là sự chiếm hữu bởi các Prajapati khác nhau, (230) hay các Đấng Thiên Nhân đối với các thể hồng trần của các Ngài—một lần nữa vào những thời điểm khác nhau và tùy theo giai đoạn tiến hoá của các Ngài. Điều này xảy ra muộn hơn đối với bảy vị so với ba vị. Đạo sinh có thể nắm được một ý niệm về ý nghĩa của sự phân biệt này khi nghiên cứu tiến trình của chân ngã nhập thể. |
|
(230) Prajapati. Các Đấng Tiên Tổ; những vị ban sự sống cho mọi loài trên trái đất này. Họ là bảy rồi đến mười, tương ứng với bảy và mười Sephiroth. Theo vũ trụ, họ là bảy Rishi của Đại Hùng; theo hệ thống, họ là bảy Hành Tinh Thượng đế, và từ quan điểm của hành tinh chúng ta, họ là bảy Kumaras. |
|
|
See S. D., I, 109, 122, 459, 661; II, 33, 36; footnote 80. (back) |
Xem Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 109, 122, 459, 661; II, 33, 36; chú thích 80. (back) |
|
What do we consequently find? First of all, impulse, or the will-to-be, emanating from the mental plane; then desire, emanating from the astral plane, producing manifestation on the dense physical. |
Do đó, chúng ta thấy gì? Trước hết là xung lực, hay ý chí-hướng-tồn tại, phát ra từ cõi trí; rồi đến dục vọng, phát ra từ cõi cảm dục, tạo ra sự biểu hiện trên cõi hồng trần đậm đặc. |
|
This idea must be extended to the three Logoi or logoic Aspects and we then have the key to the mystery of the nine Sephiroth, the triple Trimurti. |
Ý tưởng này phải được mở rộng đến ba Logoi hay các Phương diện logoi và khi đó chúng ta có chìa khóa cho huyền nhiệm của chín Sephiroth, bộ ba Trimurti. |
|
The other event might be noted,—the appropriation at a still later period in time and space by the individual Monads of their bodies of manifestation. |
Một biến cố khác cũng cần được lưu ý,—đó là sự chiếm hữu, vào một giai đoạn còn muộn hơn nữa trong thời gian và không gian, bởi các chân thần cá biệt đối với các thể biểu hiện của chúng. |
|
The pouring in of this force of energy, emanating from the fifth logoic Principle, brings about two things: |
Sự tuôn vào của mãnh lực năng lượng này, phát ra từ Nguyên khí logoi thứ năm, đem lại hai điều: |
|
The appropriation by the sevenfold Logos of His dense physical body. |
Sự chiếm hữu bởi Logos thất phân đối với thể xác hồng trần đậm đặc của Ngài. |
|
The appearance on the fifth systemic plane of the causal bodies of the human Monads. |
Sự xuất hiện trên cõi hệ thống thứ năm của các thể nguyên nhân của các chân thần nhân loại. |
|
or |
hay |
|
For the greater Life it was incarnation. |
Đối với Sự sống lớn hơn, đó là sự nhập thể. |
|
For the lesser lives it was individualisation. |
Đối với các sự sống nhỏ hơn, đó là sự biệt ngã hóa. |
|
This needs pondering upon. |
Điều này cần được suy ngẫm. |
|
[Page 693] It will, therefore, be apparent to all thinkers why this fifth principle stirred the third aspect into self-conscious activity. |
[Page 693] Vì vậy, mọi nhà tư tưởng sẽ thấy rõ vì sao nguyên khí thứ năm này đã khuấy động phương diện thứ ba vào hoạt động ngã thức. |
|
(b.) Hylozoistically considered. (231) In continuing our consideration of the fifth logoic Principle, we will now view it in its hylozoistic aspect. We have seen that it can be regarded as the force, the energy or the quality which emanates from the logoic mental unit on the cosmic mental plane; this necessarily has a definite effect on the fifth systemic plane, and on the fifth subplane of the physical plane, the gaseous. Before taking up the subject of the Agnishvattas in detail, there are three points which should be borne in mind. |
(b.) Xét theo thuyết vật hoạt. (231) Khi tiếp tục xem xét Nguyên khí logoi thứ năm, giờ đây chúng ta sẽ nhìn nó trong phương diện vật hoạt của nó. Chúng ta đã thấy rằng nó có thể được xem như mãnh lực, năng lượng hay phẩm tính phát ra từ đơn vị hạ trí logoi trên cõi trí vũ trụ; điều này tất nhiên có một tác động xác định trên cõi hệ thống thứ năm, và trên cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần, tức cõi khí. Trước khi bàn chi tiết về các Agnishvatta, có ba điểm cần được ghi nhớ. |
|
(231) Thuyết vật hoạt:—Từ tiếng Hy Lạp “ule,” vật chất; “zoon,” động vật; và “ism.” Ism là một hậu tố bao hàm học thuyết hay ý niệm trừu tượng của danh từ mà nó gắn vào. Thuyết vật hoạt là học thuyết cho rằng mọi vật chất đều được phú cho sự sống. |
|
|
“When we have attained to this conception of hylozoism of a living material universe, the mystery of nature will be solved.”—Standard Dictionary. (back) |
“Khi chúng ta đạt đến quan niệm này về thuyết vật hoạt của một vũ trụ vật chất sống động, huyền nhiệm của thiên nhiên sẽ được giải đáp.”—Từ điển Chuẩn. (back) |
|
First, it should be remembered that all the planes of our system, viewing them as deva substance, form the spirillae in the physical permanent atom of the solar Logos. This has earlier been pointed out, but needs re-emphasising here. All consciousness, all memory, all faculty is stored up in the permanent atoms, and we are consequently dealing here with that consciousness; the student should nevertheless bear in mind that it is on the atomic subplanes that the logoic consciousness (remote as even that may be from the Reality) centres itself. This permanent atom of the solar system, which holds the same relation to the logoic physical body as the human permanent atom does to that of a man, is a recipient of force, and is, therefore, receptive to force emanations from another extra-systemic source. Some idea of the illusory character of manifestation, both human and logoic, may be gathered from the relation of the permanent atoms to the rest of the structure. Apart [Page 694] from the permanent atom, the human physical body does not exist. |
Thứ nhất, cần nhớ rằng mọi cõi của hệ thống chúng ta, nếu nhìn chúng như chất liệu thiên thần, đều tạo thành các loa tuyến trong nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế. Điều này đã được chỉ ra trước đây, nhưng cần được nhấn mạnh lại ở đây. Mọi tâm thức, mọi ký ức, mọi năng lực đều được tích trữ trong các nguyên tử trường tồn, và do đó ở đây chúng ta đang bàn đến tâm thức ấy; tuy nhiên đạo sinh nên ghi nhớ rằng chính trên các cõi phụ nguyên tử mà tâm thức logoi (dù điều đó vẫn còn xa xôi đối với Thực Tại) tự tập trung. Nguyên tử trường tồn này của hệ mặt trời, vốn giữ cùng một tương quan với thể hồng trần logoi như nguyên tử trường tồn hồng trần của con người giữ đối với thể của một người, là một cơ quan tiếp nhận mãnh lực, và vì vậy tiếp nhận được các phát xạ mãnh lực từ một nguồn ngoài hệ thống khác. Một vài ý niệm về tính chất ảo huyễn của sự biểu hiện, cả nơi con người lẫn nơi logoi, có thể được rút ra từ mối liên hệ của các nguyên tử trường tồn với phần còn lại của cấu trúc. Tách [Page 694] khỏi nguyên tử trường tồn, thể xác hồng trần của con người không tồn tại. |
|
Again, forms differ as do kingdoms according to the nature of the force flowing through them. In the animal kingdom that which corresponds to the permanent atom responds to force of an involutionary character, emanating from a particular group. The human permanent atom responds to force emanating from a group on the evolutionary arc and the Ray of a particular planetary Logos in Whose body a human Monad has a definite place. |
Hơn nữa, các hình tướng khác nhau cũng như các giới khác nhau tùy theo bản chất của mãnh lực chảy qua chúng. Trong giới động vật, cái tương ứng với nguyên tử trường tồn đáp ứng với mãnh lực có tính giáng hạ tiến hoá, phát ra từ một nhóm đặc biệt. Nguyên tử trường tồn của con người đáp ứng với mãnh lực phát ra từ một nhóm trên cung tiến hoá và từ cung của một Hành Tinh Thượng đế đặc biệt mà trong thể của Ngài, một chân thần nhân loại có một vị trí xác định. |
|
Secondly, it must be noted that in view of the above it will be apparent that we are, at this period of manasic inflow and development, concerned with the coming into full vitality and activity of the fifth logoic spirilla; this vitalisation shows itself in the intense activity of the mental plane, and the threefold nature of the electrical phenomena to be witnessed upon it. |
Thứ hai, cần lưu ý rằng theo những điều trên, sẽ rõ ràng rằng vào giai đoạn hiện nay của sự tuôn vào và phát triển manas, chúng ta đang quan tâm đến sự đi vào sinh lực và hoạt động trọn vẹn của loa tuyến logoi thứ năm; sự tiếp sinh lực này biểu lộ trong hoạt động mãnh liệt của cõi trí, và trong bản chất tam phân của các hiện tượng điện có thể được chứng kiến trên cõi ấy. |
|
a. |
The atomic subplane |
manasic permanent atoms |
Positive |
|
b. |
The fourth subplane |
mental units |
Negative |
|
c. |
The egoic groups |
causal bodies |
Equilibrium or neutral |
|
This is in process of demonstration during the course of evolution. We are dealing here with the substance aspect and considering energy in its various manifestations. The response of deva substance to the inflow of force on the mental plane has a threefold effect in connection with the Logos or the Septenate: |
Điều này đang được chứng minh trong tiến trình tiến hoá. Ở đây chúng ta đang bàn đến phương diện chất liệu và xem xét năng lượng trong các biểu hiện khác nhau của nó. Sự đáp ứng của chất liệu thiên thần đối với sự tuôn vào của mãnh lực trên cõi trí tạo ra một hiệu quả tam phân liên hệ với Logos hay Thất Nguyên: |
|
1. It produces a greatly increased vitality in the logoic centres on the fourth cosmic ether, due to reflex action, which is felt both above and below the plane of activity. |
1. Nó tạo ra một sinh lực gia tăng rất lớn trong các trung tâm logoi trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, do tác động phản xạ, được cảm nhận cả trên lẫn dưới cõi hoạt động. |
|
2. It stimulates the efforts of the highest specimens of the third kingdom, and a dual effect is produced [Page 695] through this, for the fourth kingdom in nature makes its appearance on the physical plane and the Triads are reflected on the mental plane in the causal bodies to be found thereon. |
2. Nó kích thích các nỗ lực của những mẫu mực cao nhất của giới thứ ba, và qua đó tạo ra một hiệu quả kép, vì [Page 695]giới thứ tư trong thiên nhiên xuất hiện trên cõi hồng trần và các Tam nguyên tinh thần được phản chiếu trên cõi trí trong các thể nguyên nhân hiện diện ở đó. |
|
3. As earlier said, the dense physical is linked and co-ordinated with the etheric bodies of the solar logos and of the planetary Logos. Therefore, the lower three planes are synthesised with the higher four, and the devas of an earlier mahamanvantara or solar cycle are brought into conjunction with those of a newer order who were awaiting just conditions. The physical incarnation of the Logos is completed. The lower three kingdoms, being negative to the higher force, the mutual attraction of these two and their interaction bring into being the fourth or human kingdom. The three fires of mind, Spirit and matter are brought together and the work of full self-consciousness begun. |
3. Như đã nói trước đây, cõi hồng trần đậm đặc được nối kết và phối hợp với các thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế và của Hành Tinh Thượng đế. Do đó, ba cõi thấp được tổng hợp với bốn cõi cao, và các thiên thần của một Đại giai kỳ sinh hóa hay chu kỳ thái dương trước được đưa vào đồng vị với những thiên thần của một trật tự mới hơn vốn đang chờ đúng điều kiện. Sự nhập thể hồng trần của Logos được hoàn tất. Ba giới thấp, vì là âm đối với mãnh lực cao hơn, nên sự hấp dẫn hỗ tương của hai bên này và sự tương tác của chúng làm phát sinh giới thứ tư hay giới nhân loại. Ba ngọn lửa của trí tuệ, tinh thần và vật chất được đưa lại với nhau và công việc của ngã thức trọn vẹn bắt đầu. |
|
Finally, the student should very carefully study here the significance of the numbers three, four and five in the evolution of consciousness. Numerology has hitherto been studied primarily, and rightly, from the substance aspect, but not so much from the standpoint of conscious energy. The Triad, for instance, is usually looked upon by our students as the triangle formed by the manasic-buddhic and atmic permanent atoms; the cube stands for the lower material man, and the five-pointed star has frequently a very material interpretation. All these angles of vision are necessary, and must precede the study of the subjective aspect, but they lay the emphasis upon the material rather than upon the subjective; the subject nevertheless should be studied psychologically. In this solar system, the above numbers are the most important from the angle of the evolution of consciousness. [Page 696] In the earlier system, the numbers six and seven held the mystery hid. In the next system, it will be two and one. This refers only to the psychical development. Let me illustrate: The five-pointed star on the mental plane signifies (among other things) the evolution, by means of the five senses in the three worlds (which are also capable of a fivefold differentiation) of the fifth principle, the attainment of self-consciousness, and the development of the fifth spirilla. |
Sau cùng, đạo sinh nên hết sức cẩn thận nghiên cứu ở đây thâm nghĩa của các số ba, bốn và năm trong sự tiến hoá của tâm thức. Cho đến nay, số học chủ yếu đã được nghiên cứu, và đúng như vậy, từ phương diện chất liệu, nhưng chưa nhiều từ quan điểm của năng lượng hữu thức. Chẳng hạn, Tam nguyên tinh thần thường được các đạo sinh của chúng ta xem như tam giác được tạo thành bởi các nguyên tử trường tồn manas-bồ đề và atma; khối lập phương tượng trưng cho con người vật chất thấp, và ngôi sao năm cánh thường có một cách giải thích rất vật chất. Tất cả các góc nhìn này đều cần thiết, và phải đi trước việc nghiên cứu phương diện chủ quan, nhưng chúng nhấn mạnh vào vật chất hơn là vào chủ quan; tuy nhiên chủ đề này nên được nghiên cứu theo tâm lý học. Trong hệ mặt trời này, các con số trên là quan trọng nhất từ góc độ tiến hoá của tâm thức. [Page 696] Trong hệ thống trước, các số sáu và bảy che giấu huyền nhiệm. Trong hệ thống kế tiếp, sẽ là hai và một. Điều này chỉ liên quan đến sự phát triển thông linh. Hãy để tôi minh họa: ngôi sao năm cánh trên cõi trí biểu thị (trong nhiều điều khác) sự tiến hoá, bằng năm giác quan trong ba cõi giới (vốn cũng có khả năng biến phân ngũ phân), của nguyên khí thứ năm, sự đạt được ngã thức, và sự phát triển của loa tuyến thứ năm. |
|
On the buddhic plane, when flashing forth at initiation, this number signifies the full development of the fifth principle or quality, the completed cycle of the Ego upon the five Rays under the Mahachohan, and the assimilation of all that is to be learned upon them, and the attainment—not only of full self-consciousness, but also of the consciousness of the group wherein a man is found. It infers the full unfoldment of five of the egoic petals, leaving four to open before the final initiation. |
Trên cõi Bồ đề, khi lóe sáng vào lúc điểm đạo, con số này biểu thị sự phát triển trọn vẹn của nguyên khí hay phẩm tính thứ năm, chu kỳ hoàn tất của Chân ngã trên năm cung dưới Đức Mahachohan, và sự đồng hóa tất cả những gì phải học trên các cung ấy, cùng sự đạt được—không chỉ ngã thức trọn vẹn mà còn cả tâm thức của nhóm mà trong đó một người hiện diện. Nó hàm ý sự khai mở trọn vẹn của năm cánh hoa chân ngã, để lại bốn cánh sẽ mở ra trước lần điểm đạo cuối cùng. |
|
The five-pointed star at the initiations on the mental plane flashes out above the head of the initiate. This concerns the first three initiations which are undergone in the causal vehicle. It has been said that the first two initiations take place upon the astral plane and this is correct, but has given rise to a misunderstanding. They are felt profoundly in connection with the astral and physical bodies and with the lower mental, and effect their control. The chief effect being felt in those bodies, the initiate may interpret them as having taken place on the planes concerned, for the vividness of the effect, and the stimulation works out largely in the astral body. But it must ever be remembered that the major initiations are taken in the causal body or—dissociated from that body—on the buddhic plane. At the final two initiations, which set a man free from the three worlds and enable him to function in the logoic body of vitality and to wield the force which animates that logoic [Page 697] vehicle, the initiate becomes the five-pointed star, and it descends upon him, merges in him, and he is seen at its very centre. This descent is brought about through the action of the Initiator, wielding the Rod of Power, and puts a man in touch with the centre in the Body of the planetary Logos of which he is a part; this is consciously effected. The two initiations, called the sixth and seventh, take place on the atmic plane; the five-pointed star “blazes forth from within itself” as the esoteric phrase has it, and becomes the seven-pointed star; it descends upon the man and he enters into the Flame. |
Ngôi sao năm cánh trong các cuộc điểm đạo trên cõi trí lóe ra phía trên đầu điểm đạo đồ. Điều này liên quan đến ba lần điểm đạo đầu tiên được trải qua trong vận cụ nguyên nhân. Đã có nói rằng hai lần điểm đạo đầu tiên diễn ra trên cõi cảm dục và điều này là đúng, nhưng đã gây ra một sự hiểu lầm. Chúng được cảm nhận sâu sắc liên hệ với thể cảm dục và thể xác cùng với hạ trí, và tạo ra sự kiểm soát đối với chúng. Vì hiệu quả chính được cảm nhận trong các thể ấy, điểm đạo đồ có thể giải thích rằng chúng đã diễn ra trên các cõi liên hệ, do tính sống động của hiệu quả, và sự kích thích phần lớn biểu lộ trong thể cảm dục. Nhưng phải luôn ghi nhớ rằng các cuộc điểm đạo chính yếu được thực hiện trong thể nguyên nhân hoặc—khi tách khỏi thể đó—trên cõi Bồ đề. Trong hai lần điểm đạo cuối cùng, vốn giải thoát con người khỏi ba cõi giới và giúp y hoạt động trong thể sinh lực logoi và vận dụng mãnh lực làm sinh động vận cụ logoi ấy, điểm đạo đồ trở thành ngôi sao năm cánh, và nó giáng xuống trên y, hòa nhập vào y, và y được [Page 697]thấy ở chính trung tâm của nó. Sự giáng xuống này được tạo ra nhờ tác động của Đấng Điểm đạo, vận dụng Thần Trượng Điểm đạo, và đặt con người vào tiếp xúc với trung tâm trong Thể của Hành Tinh Thượng đế mà y là một phần của nó; điều này được thực hiện một cách hữu thức. Hai cuộc điểm đạo, được gọi là thứ sáu và thứ bảy, diễn ra trên cõi atma; ngôi sao năm cánh “bừng cháy từ bên trong chính nó” như cụm từ thần bí đã nói, và trở thành ngôi sao bảy cánh; nó giáng xuống trên con người và y đi vào trong Ngọn Lửa. |
|
Initiation and the mystery of numbers primarily concern consciousness, and not fundamentally “ability to function on a plane,” nor the energy of matter, as might be gathered from so many occult books. They deal with the subjective life, life as part of the consciousness and self-realization of a planetary Logos, or Lord of a Ray, and not life in matter as we understand it. A Heavenly Man functions in His pranic vehicle, and there His consciousness is to be found as far as we are concerned in this system; He works consciously through His centres. |
Điểm đạo và huyền nhiệm của các con số chủ yếu liên quan đến tâm thức, chứ không căn bản liên quan đến “khả năng hoạt động trên một cõi,” cũng không liên quan đến năng lượng của vật chất như có thể suy ra từ rất nhiều sách huyền bí học. Chúng liên quan đến sự sống chủ quan, sự sống như một phần của tâm thức và sự chứng nghiệm bản ngã của một Hành Tinh Thượng đế, hay Chúa Tể của một cung, chứ không phải sự sống trong vật chất như chúng ta hiểu. Một Đấng Thiên Nhân hoạt động trong vận cụ prana của Ngài, và ở đó tâm thức của Ngài được tìm thấy đối với chúng ta trong hệ thống này; Ngài hoạt động một cách hữu thức thông qua các trung tâm của Ngài. |
|
To sum up: There is a stage in the evolution of consciousness where the three, the four and the five blend and merge perfectly. Confusion on this point arises from two causes which are the point of individual achievement of the student. We interpret and colour statements according to the state of our own inner consciousness. H. P. B. hints at this (S. D., III, 456.) when dealing with the principles; also the interpretation of these figures varies according to the key employed. The fifth or spiritual kingdom is entered when the units of the fourth kingdom have succeeded in vitalizing the fifth spirilla in all the atoms of the threefold lower man; when they [Page 698] have unfolded three of the egoic petals and are in process of unfolding the fourth and fifth and when they are becoming conscious of the pranic force of the Heavenly Man. |
Tóm lại: Có một giai đoạn trong sự tiến hoá của tâm thức mà ở đó ba, bốn và năm hòa trộn và dung nhập hoàn hảo. Sự lẫn lộn về điểm này phát sinh từ hai nguyên nhân, vốn là điểm thành tựu cá nhân của đạo sinh. Chúng ta giải thích và tô màu các phát biểu tùy theo trạng thái tâm thức bên trong của chính mình. H. P. B. ám chỉ điều này (Giáo Lý Bí Nhiệm, III, 456.) khi bàn về các nguyên khí; ngoài ra, cách giải thích các con số này thay đổi tùy theo chìa khóa được dùng. Giới thứ năm hay giới tinh thần được bước vào khi các đơn vị của giới thứ tư đã thành công trong việc tiếp sinh lực cho loa tuyến thứ năm trong mọi nguyên tử của con người thấp tam phân; khi họ [Page 698]đã khai mở ba cánh hoa chân ngã và đang trong tiến trình khai mở cánh thứ tư và thứ năm, và khi họ đang trở nên có ý thức về mãnh lực prana của Đấng Thiên Nhân. |
|
(c.) The Solar Angels and the Fifth Principle. We can now study the Entities concerned with this fifth principle and their effect upon the evolution of consciousness. Where man is concerned these solar Angels, the Agnishvattas, produce the union of the spiritual Triad, or divine Self, and the Quaternary, or lower self. Where the Logos is concerned, whether solar or planetary, they produce conditions whereby the etheric, and the dense physical become a unit. |
(c.) Các Thái dương Thiên Thần và Nguyên khí thứ năm. Giờ đây chúng ta có thể nghiên cứu các Thực thể liên quan đến nguyên khí thứ năm này và ảnh hưởng của các Ngài lên sự tiến hoá của tâm thức. Xét nơi con người, các Thái dương Thiên Thần này, các Agnishvatta, tạo ra sự hợp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần, hay Bản Ngã thiêng liêng, với Bộ Tứ, hay phàm ngã. Xét nơi Logos, dù là thái dương hay hành tinh, các Ngài tạo ra những điều kiện nhờ đó thể dĩ thái và thể xác hồng trần đậm đặc trở thành một đơn vị. |
|
They represent a peculiar type of electrical force; their work is to blend and fuse, and above all else they are the “transmuting fires” of the system, and are those agents who pass the life of God through their bodies of flame as it descends from the higher into the lower, and again as it ascends from the lower into the higher. They are connected in their highest groups with that portion of the logoic head centre which corresponds to the heart, and here is the clue to the mystery of kama-manas. The kamic angels are vitalised from the “heart” centre and the manasic angels from the logoic head centre, via the point within that centre connected with the heart. These two dominating groups are the sumtotal of kama-manas in all its manifestations. The solar angels exist in three groups, all of which are concerned with the self-consciousness aspect, all of which are energised and connected with the fifth spirilla of the logoic permanent atom, and all of which work as a unit. |
Các Ngài tượng trưng cho một loại mãnh lực điện đặc biệt; công việc của các Ngài là hòa trộn và dung hợp, và trên hết các Ngài là “những ngọn lửa chuyển hoá” của hệ thống, là những tác nhân truyền sự sống của Thượng đế qua các thể lửa của mình khi nó giáng từ cao xuống thấp, và lại một lần nữa khi nó thăng từ thấp lên cao. Trong các nhóm cao nhất của mình, các Ngài liên kết với phần đó của trung tâm đầu logoi tương ứng với tim, và ở đây có đầu mối cho huyền nhiệm của kama-manas. Các thiên thần kamic được tiếp sinh lực từ trung tâm “tim” và các thiên thần manasic từ trung tâm đầu logoi, qua điểm bên trong trung tâm ấy nối với tim. Hai nhóm chi phối này là tổng thể của kama-manas trong mọi biểu hiện của nó. Các Thái dương Thiên Thần tồn tại trong ba nhóm, tất cả đều liên quan đến phương diện ngã thức, tất cả đều được tiếp năng lượng và liên kết với loa tuyến thứ năm của nguyên tử trường tồn logoi, và tất cả đều hoạt động như một đơn vị. |
|
One group, the highest, is connected with the logoic head centre, whether solar or planetary. They work with the manasic permanent atoms and embody the will-to-be in dense physical incarnation. Their power is felt on the atomic subplane and on the second; they are the [Page 699] substance and the life of those planes. Another group is connected definitely with the causal bodies of all Egos and are of prime importance in this solar system. They come from the heart centre, and express that force. The third group, corresponding to the throat centre, show forth their power on the fourth subplane through the mental units. They are the sumtotal of the power of the Ego to see, to hear and to speak (or sound) in the strictly occult sense. |
Một nhóm, cao nhất, liên kết với trung tâm đầu logoi, dù là thái dương hay hành tinh. Họ làm việc với các nguyên tử trường tồn manasic và hiện thân cho ý chí-hướng-tồn tại trong sự nhập thể hồng trần đậm đặc. Quyền năng của họ được cảm nhận trên cõi phụ nguyên tử và cõi phụ thứ hai; họ là [Page 699] chất liệu và sự sống của các cõi ấy. Một nhóm khác liên kết rõ rệt với các thể nguyên nhân của mọi Chân ngã và có tầm quan trọng hàng đầu trong hệ mặt trời này. Họ đến từ trung tâm tim, và biểu lộ mãnh lực ấy. Nhóm thứ ba, tương ứng với trung tâm cổ họng, biểu lộ quyền năng của mình trên cõi phụ thứ tư thông qua các đơn vị hạ trí. Họ là tổng thể quyền năng của Chân ngã để thấy, nghe và nói (hay xướng) theo nghĩa huyền bí học nghiêm ngặt. |
|
A hint may here be given to those who have power to see. Three constellations are connected with the fifth logoic principle in its threefold manifestation: Sirius, two of the Pleiades, and a small constellation whose name must be ascertained by the intuition of the student. These three govern the appropriation by the Logos of His dense body. When the last pralaya ended, and the etheric body had been co-ordinated, a triangle in the Heavens was formed under law which permitted a flow of force, producing vibration on the fifth systemic plane. That triangle still persists, and is the cause of the continued inflow of manasic force; it is connected with the spirillae in the logoic mental unit and as long as His will-to-be persists, the energy will continue to flow through. In the fifth round, it will be felt at its height. |
Ở đây có thể đưa ra một gợi ý cho những ai có năng lực thấy. Ba chòm sao liên kết với nguyên khí logoi thứ năm trong biểu hiện tam phân của nó: Sirius, hai ngôi trong Pleiades, và một chòm sao nhỏ mà tên của nó phải được trực giác của đạo sinh khám phá. Ba chòm sao này cai quản sự chiếm hữu của Logos đối với thể đậm đặc của Ngài. Khi kỳ pralaya cuối cùng chấm dứt, và thể dĩ thái đã được phối hợp, một tam giác trên các tầng trời được hình thành theo định luật, cho phép một dòng mãnh lực chảy vào, tạo ra rung động trên cõi hệ thống thứ năm. Tam giác đó vẫn còn tồn tại, và là nguyên nhân của sự tuôn vào liên tục của mãnh lực manasic; nó liên kết với các loa tuyến trong đơn vị hạ trí logoi và chừng nào ý chí-hướng-tồn tại của Ngài còn kéo dài, năng lượng sẽ tiếp tục chảy qua. Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, nó sẽ được cảm nhận ở mức cao nhất. |
|
In considering the Entities (233) who gave the manasic principle to man, we must remember that they are the beings who, in earlier manvantaras have achieved, and who—in this round—waited for a specific moment at [Page 700] which to enter, and so continue their work. A parallel case can be seen at the entry—in Atlantean days—of Egos from the moon-chain. The parallel is not exact, as a peculiar condition prevailed on the moon, and a peculiar karmic purpose brought them all in at that time. |
Khi xem xét các Thực thể (233) đã ban nguyên khí manasic cho con người, chúng ta phải nhớ rằng các Ngài là những hữu thể đã thành tựu trong các giai kỳ sinh hóa trước, và—trong cuộc tuần hoàn này—đã chờ một thời điểm đặc biệt [Page 700]để đi vào, và nhờ đó tiếp tục công việc của mình. Một trường hợp song song có thể được thấy nơi sự đi vào—trong những ngày Atlantis—của các Chân ngã từ Dãy Mặt Trăng. Sự song song này không hoàn toàn chính xác, vì một điều kiện đặc biệt đã chi phối trên mặt trăng, và một mục đích nghiệp quả đặc biệt đã đưa tất cả họ vào lúc ấy. |
|
(233) A very natural question might here be asked:—Why do we consider this matter of the devas of the middle system (as we might call those connected with this system and with buddhi and kama-manas) in our consideration of thought forms? For two reasons:—One is that all that is in the solar system is but substance energised from the cosmic mental and astral planes, and built into form through the power of electrical Law; all that can be known is but forms ensouled by ideas. Secondly, that in the knowledge of the creative processes of the system, man learns for himself how in time to become a creator. We might illustrate this by remarking that one of the main functions of the Theosophical movement in all its many branches is to build a form which can be ensouled, in due time, by the idea of Brotherhood. (back) |
(233) Một câu hỏi rất tự nhiên có thể được nêu ra ở đây:—Tại sao chúng ta lại xem xét vấn đề các thiên thần của hệ thống trung gian (như chúng ta có thể gọi những vị liên kết với hệ thống này và với bồ đề cùng kama-manas) trong khi bàn về các Hình tư tưởng? Vì hai lý do:—Một là vì mọi thứ trong hệ mặt trời chỉ là chất liệu được tiếp năng lượng từ các cõi trí và cảm dục vũ trụ, và được xây dựng thành hình tướng nhờ quyền năng của Định luật điện; mọi điều có thể biết chỉ là các hình tướng được phú linh bởi các ý tưởng. Thứ hai, vì trong sự hiểu biết về các tiến trình sáng tạo của hệ thống, con người tự học cho mình cách để theo thời gian trở thành một đấng sáng tạo. Chúng ta có thể minh họa điều này bằng cách nhận xét rằng một trong những chức năng chính của phong trào Thông Thiên Học trong mọi ngành nhánh của nó là xây dựng một hình tướng mà đến đúng lúc có thể được phú linh bởi ý tưởng về Tình Huynh Đệ. (back) |
|
It should here be remembered that in the moon the fifth principle of manas incubated normally, and instinct gradually developed until it imperceptibly merged into manas, being of a similar nature; in this round a peculiar condition necessitated extra-planetary stimulation, and this special group of Pitris effected a transition of the lower into the higher through a downflow of energy via the Earth’s Primary from an extra-systemic centre. |
Ở đây cần nhớ rằng trên mặt trăng, nguyên khí thứ năm của manas nơi con người đã được ấp ủ một cách bình thường, và bản năng dần dần phát triển cho đến khi không thể nhận ra lúc nào nó hòa nhập vào manas, vì có bản chất tương tự; trong cuộc tuần hoàn này, một điều kiện đặc biệt đòi hỏi sự kích thích ngoài hành tinh, và nhóm Pitri đặc biệt này đã tạo ra một sự chuyển tiếp từ thấp lên cao thông qua một dòng năng lượng tuôn xuống qua Nguyên khí Sơ cấp của Trái Đất từ một trung tâm ngoài hệ thống. |
|
The central three rounds, as in the planes and principles, are the most important for the evolution of the self-conscious units in this system, and this working towards perfection of the three, the four, and the five, mark, for the planetary Logos, as for man, the cycle of maturity. The earlier and later cycles mark that of growth towards maturity, and the garnering of the fruits of earlier experience. The three Halls again can be here considered from this aspect, and the central period allocated to the Hall of Learning. |
Ba cuộc tuần hoàn trung tâm, cũng như trong các cõi và các nguyên khí, là quan trọng nhất đối với sự tiến hoá của các đơn vị ngã thức trong hệ thống này, và sự vận hành hướng đến hoàn thiện của ba, bốn và năm đánh dấu, đối với Hành Tinh Thượng đế cũng như đối với con người, chu kỳ trưởng thành. Các chu kỳ sớm hơn và muộn hơn đánh dấu sự tăng trưởng hướng đến trưởng thành, và sự thu hoạch các quả của kinh nghiệm trước đó. Ba Phòng cũng có thể được xem xét lại từ phương diện này, và thời kỳ trung tâm được dành cho Phòng Học Hỏi. |
|
On all the planets these manasadevas are found working, ever in their three groups but varying the methods employed according to the stage of the evolution of the planet concerned, and the karma of its planetary Lord. Their method of work on the Earth can be studied in the Secret Doctrine and has a most significant interest for men at this time. (234) The three groups should be carefully considered from the standpoint of their occult work, which is hinted at under the terms of: |
Trên mọi hành tinh, các manasadeva này đều được thấy đang hoạt động, luôn luôn trong ba nhóm của mình nhưng thay đổi phương pháp được dùng tùy theo giai đoạn tiến hoá của hành tinh liên hệ, và nghiệp quả của Chúa Tể hành tinh của nó. Phương pháp làm việc của họ trên Trái Đất có thể được nghiên cứu trong Giáo Lý Bí Nhiệm và có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với con người vào lúc này. (234) Ba nhóm này nên được xem xét cẩn thận từ quan điểm công việc huyền bí học của họ, vốn được ám chỉ dưới các thuật ngữ: |
|
(234) See all the earlier part of the Secret Doctrine, Volume II. (back) |
(234) Xem toàn bộ phần đầu của Giáo Lý Bí Nhiệm, Quyển II. (back) |
|
a. Those who refused to incarnate. |
a. Những vị từ chối nhập thể. |
|
b. Those who implanted the spark of manas. |
b. Những vị cấy tia lửa manas. |
|
c. Those who took bodies and moulded the type. |
c. Những vị nhận lấy các thể và nắn đúc kiểu mẫu. |
|
[Page 701] The second group, the intermediate, can be subdivided into two lesser groups: |
[Page 701] Nhóm thứ hai, nhóm trung gian, có thể được chia thành hai nhóm nhỏ hơn: |
|
a. Those who implant the spark of manas, |
a. Những vị cấy tia lửa manas, |
|
b. Those who fan and feed the latent flame in the best types of animal man, |
b. Những vị quạt bùng và nuôi dưỡng ngọn lửa tiềm ẩn trong những kiểu người thú tốt nhất, |
|
thus again making five. These statements have been accepted at their face value, but little attention is paid to the real meaning. Much profit would come if the student would study the subject from the standpoint of energy, and of magnetic interaction. Those who refused to incarnate or to energise with their life the prepared forms, were acting under Law, and their opposition to incarnation in these forms was based on magnetic repulsion. They could not energise the forms provided, for it involved the opposition of that which is occultly the same. The lesser was not negative to the greater Life. Where the Spark was implanted we have the receptivity of the negative aspect to the positive force and therefore the progress of the work. In every case we have deva substance of one polarity energised by another polarity with the goal in view of producing—through their mutual interaction—a balancing of forces, and the attainment of a third type of electrical phenomena. |
như vậy lại thành năm. Những phát biểu này đã được chấp nhận theo nghĩa bề mặt của chúng, nhưng ít chú ý đến ý nghĩa thực sự. Sẽ rất có ích nếu đạo sinh nghiên cứu chủ đề này từ quan điểm năng lượng và sự tương tác từ tính. Những vị từ chối nhập thể hay từ chối tiếp năng lượng bằng sự sống của mình cho các hình tướng đã được chuẩn bị, đã hành động theo Định luật, và sự chống đối của họ đối với việc nhập thể vào các hình tướng này dựa trên sự đẩy lùi từ tính. Họ không thể tiếp năng lượng cho các hình tướng được cung cấp, vì điều đó bao hàm sự đối kháng của cái mà về mặt huyền bí học là cùng một thứ. Cái nhỏ hơn không âm đối với Sự sống lớn hơn. Nơi nào tia lửa được cấy vào, ở đó chúng ta có tính tiếp nhận của phương diện âm đối với mãnh lực dương và do đó công việc tiến triển. Trong mọi trường hợp, chúng ta có chất liệu thiên thần của một cực tính được tiếp năng lượng bởi một cực tính khác với mục tiêu là tạo ra—qua sự tương tác hỗ tương của chúng—một sự quân bình các mãnh lực, và đạt được một loại hiện tượng điện thứ ba. |
|
The question of the coming of the Lords of Flame is discussed hereafter under the heading “Individualisation.” At this point we are only dealing with the work of these chohanic forces in a systemic and cosmic sense. These solar entities, being liberated intelligent Essences were in pralaya of a secondary nature when the time came for their reappearance in manifestation. When the WORD sounded forth which produced desire in the Triad for self-expression, and when the sound of the lower manifestation had blended with it, and had risen up into the Heavens, as the occult books express it, [Page 702] an effect was produced which caused a response in certain allied constellations; this set loose energy which swept into the solar system, carrying with it those solar angels who “rested in the Heart of God until the hour was come.” Their appearance upon the mental plane brought about the union of Spirit and matter, and from this union was born a self-conscious Identity, the Ego. On cosmic levels, an analogous process occurs in connection with such stupendous Identities as a solar Logos, and the septenary Lives. |
Vấn đề sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa sẽ được bàn sau dưới tiêu đề “Biệt ngã hóa.” Ở điểm này chúng ta chỉ đang bàn đến công việc của các mãnh lực chohanic này theo ý nghĩa hệ thống và vũ trụ. Các thực thể thái dương này, vì là các Tinh chất thông tuệ đã được giải thoát, đang ở trong một pralaya có tính thứ yếu khi thời điểm đến cho sự tái xuất hiện của họ trong biểu hiện. Khi LINH TỪ được xướng lên tạo ra dục vọng trong Tam nguyên tinh thần đối với sự tự biểu lộ, và khi âm thanh của biểu hiện thấp đã hòa trộn với nó, rồi dâng lên các tầng trời, như các sách huyền bí học diễn tả, [Page 702] một hiệu quả đã được tạo ra khiến một số chòm sao đồng loại đáp ứng; điều này giải phóng năng lượng tràn vào hệ mặt trời, mang theo những Thái dương Thiên Thần “đã an nghỉ trong Trái Tim của Thượng đế cho đến khi giờ điểm đến.” Sự xuất hiện của họ trên cõi trí đã tạo ra sự hợp nhất của tinh thần và vật chất, và từ sự hợp nhất này đã sinh ra một Bản Sắc ngã thức, tức Chân ngã. Trên các cấp độ vũ trụ, một tiến trình tương tự xảy ra liên hệ với những Bản Sắc vĩ đại như một Thái dương Thượng đế, và các Sự sống thất phân. |
|
As the energy of a human being, seeking incarnation, passes down from the plane of intensive purpose, the mental plane, into the physical vehicle on the gaseous or fifth subplane, so a somewhat analogous stimulation takes place in the body logoic. A somewhat similar process can also be seen in connection with this energy in a human body as it stimulates the life of the individual cell, and brings about relatively its intelligent co-operation in group work, and its ability to take its place in the body corporate. It is so with the human Monads, the cells in the body logoic. When science recognizes this fact (which will scarcely be yet awhile) attention will be turned to the volatile essences of the body, to the heart centre particularly, and its relation to these gaseous elements. The heart will be found to be not only the engine which circulates the life fluids, but also the generator of a certain type of intelligent essence which is the positive factor in the life of the cell. |
Cũng như năng lượng của một con người, đang tìm cách nhập thể, đi xuống từ cõi của mục đích mãnh liệt, tức cõi trí, vào vận cụ hồng trần trên cõi phụ khí hay cõi phụ thứ năm, thì một sự kích thích phần nào tương tự cũng diễn ra trong thể logoi. Một tiến trình khá giống cũng có thể được thấy liên hệ với năng lượng này trong thể người khi nó kích thích sự sống của tế bào cá biệt, và tương đối tạo ra sự hợp tác thông tuệ của nó trong công việc nhóm, cùng khả năng đảm nhận vị trí của nó trong cơ thể tập thể. Với các chân thần nhân loại, là các tế bào trong thể logoi, cũng vậy. Khi khoa học nhận ra sự kiện này (điều đó còn chưa thể xảy ra trong một thời gian nữa) sự chú ý sẽ được hướng đến các tinh chất dễ bay hơi của thể, đặc biệt là trung tâm tim, và mối liên hệ của nó với các nguyên tố khí này. Tim sẽ được phát hiện không chỉ là động cơ tuần hoàn các lưu chất sự sống, mà còn là bộ phát sinh của một loại tinh chất thông tuệ nào đó, là yếu tố dương trong sự sống của tế bào. |
|
Từ đây có thể rút ra một vài ý niệm về tiến trình vi mô, vì sự biệt ngã hóa của các đơn vị được tạo ra thông qua một biến cố đại vũ trụ tạo ra các hiệu quả trong tiểu thiên địa. |
|
|
A final point here needs emphasising. Occultly understood, the five Kumaras or the five Mind-born Sons of Brahma are the embodiers of this manasic force on [Page 703] our planet; but They only reflect (in the Hierarchy of our planet) the function of the five Kumaras or Rishis who are the Lords of the five Rays manifesting through the four lesser planets and the synthesising planet. |
Một điểm cuối cùng ở đây cần được nhấn mạnh. Theo nghĩa huyền bí học, năm Kumara hay năm Người Con do Tâm sinh của Brahma là những Đấng hiện thân cho mãnh lực manasic này trên [Page 703]hành tinh của chúng ta; nhưng các Ngài chỉ phản chiếu (trong Thánh Đoàn của hành tinh chúng ta) chức năng của năm Kumara hay Rishi là các Chúa Tể của năm cung biểu hiện qua bốn hành tinh nhỏ hơn và hành tinh tổng hợp. |
|
These five Kumaras are the channels for this force and one of Them, the Lord of the planet Venus, embodies in Himself the function of the fifth Hierarchy. This accounts for the activity of Venus at the moment of individualisation in this round. In the next round, this fifth Hierarchy will be utilising our Earth scheme in this way, and we shall then see manas in full fruition working out in the human family. This fifth Hierarchy of Agnishvattas in their many grades embody the “I principle” and are the producers of self-consciousness, and the builders of man’s body of realisation. In time and space, and on the mental plane, they are Man himself in essential essence; they enable him to build his own body of causes, to unfold his own egoic lotus, and gradually to free himself from the limitations of the form which he has constructed, and thus to put himself—in due course of time—into the line of another type of energy, that of buddhi. To word it otherwise, through Their work man can become conscious without the manasic vehicle, for manas is but the form through which a higher principle is making itself known. The life of God comes cyclically under the influence of the different Hierarchies or forces, all of which temporarily build for it a vehicle, pass it through their substance, give to it in this way a certain quality or colouring, and increase thereby its vibratory capacity until eventually the life is set free from hierarchical limitation. It then returns to its eternal Source plus the gain of its experiences and with the increased energy which is the result of its various transitions. |
Năm Kumara này là các kênh dẫn cho mãnh lực này và một trong các Ngài, Chúa Tể của hành tinh Sao Kim, hiện thân trong chính Ngài chức năng của Huyền Giai thứ năm. Điều này giải thích hoạt động của Sao Kim vào thời điểm biệt ngã hóa trong cuộc tuần hoàn này. Trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, Huyền Giai thứ năm này sẽ sử dụng hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta theo cách ấy, và khi đó chúng ta sẽ thấy manas kết trái trọn vẹn biểu hiện trong gia đình nhân loại. Huyền Giai thứ năm của các Agnishvatta này trong nhiều cấp bậc của mình hiện thân cho “nguyên khí Tôi” và là những Đấng tạo ra ngã thức, và là các đấng kiến tạo thể chứng nghiệm của con người. Trong thời gian và không gian, và trên cõi trí, các Ngài chính là Con Người trong tinh chất cốt yếu; các Ngài giúp y xây dựng thể nguyên nhân của chính mình, khai mở hoa sen chân ngã của chính mình, và dần dần giải thoát chính mình khỏi các giới hạn của hình tướng mà y đã kiến tạo, và nhờ đó đặt chính mình—đúng theo tiến trình thời gian—vào đường hướng của một loại năng lượng khác, đó là bồ đề. Nói cách khác, nhờ công việc của các Ngài, con người có thể trở nên có ý thức mà không cần vận cụ manasic, vì manas chỉ là hình tướng qua đó một nguyên khí cao hơn tự biểu lộ. Sự sống của Thượng đế theo chu kỳ chịu ảnh hưởng của các Huyền Giai hay các mãnh lực khác nhau, tất cả đều tạm thời xây dựng cho nó một vận cụ, truyền nó qua chất liệu của mình, nhờ đó ban cho nó một phẩm tính hay sắc thái nào đó, và do đó gia tăng năng lực rung động của nó cho đến khi cuối cùng sự sống được giải thoát khỏi giới hạn huyền giai. Khi ấy nó trở về Nguồn cội vĩnh cửu của mình cộng thêm thành quả của các kinh nghiệm và với năng lượng gia tăng là kết quả của các chuyển tiếp khác nhau của nó. |
|
Let us bear carefully in mind, that the Rays are the positive aspect in manifestation and pass down into [Page 704] negative matter, deva or hierarchical substance, thus causing certain evidences of activity. The Hierarchies are the negative aspect as far as the Rays are concerned and are responsive to Ray impulse. But within each Ray and each Hierarchy in this system a dual force again will be found. The Sons of God are bisexual. The deva substance is also dual, for the evolutionary devas are the positive energy of the atom, cell or subhuman form, for instance, while the electrons or lesser lives within the form are negative. |
Chúng ta hãy cẩn thận ghi nhớ rằng các cung là phương diện dương trong biểu hiện và đi xuống vào [Page 704]vật chất âm, tức chất liệu thiên thần hay huyền giai, nhờ đó gây ra những biểu hiện hoạt động nhất định. Các Huyền Giai là phương diện âm xét theo các cung và đáp ứng với xung lực cung. Nhưng bên trong mỗi cung và mỗi Huyền Giai trong hệ thống này, lại có thể tìm thấy một mãnh lực kép. Các Con của Thượng đế là lưỡng tính. Chất liệu thiên thần cũng là kép, vì các thiên thần tiến hoá là năng lượng dương của nguyên tử, tế bào hay hình tướng dưới nhân loại chẳng hạn, trong khi các điện tử hay các sự sống nhỏ hơn bên trong hình tướng là âm. |
|
The mystery of the Manasaputras is hidden in this, and in the function of the fifth Hierarchy, and it is not possible to reveal more of it. The secret of Buddhi, the sixth or Christ principle, which concerns these Sons of God, and the secret of the fifth Hierarchy which is the vehicle or recipient of buddhi, cannot be mentioned outside initiated circles. It holds hid the possibility of egoic unfoldment, and keeps secret the karma of the Heavenly Men, the five Kumaras. |
Huyền nhiệm của các Manasaputra được ẩn giấu trong điều này, và trong chức năng của Huyền Giai thứ năm, và không thể tiết lộ thêm. Bí mật của Bồ đề, nguyên khí thứ sáu hay nguyên khí Christ, vốn liên quan đến các Con của Thượng đế này, và bí mật của Huyền Giai thứ năm là vận cụ hay cơ quan tiếp nhận bồ đề, không thể được nói đến ngoài các vòng điểm đạo. Nó che giấu khả năng khai mở chân ngã, và giữ kín nghiệp quả của các Đấng Thiên Nhân, năm Kumara. |
|
The fifth principle of manas is embodied in the five Kumaras, and if the student studies the significance of the first five petals which are unfolded in the egoic lotus, he may touch upon the fringe of the mystery. The fifth Ray, which is the Ray of the fifth Kumara, is potently responsive to the energy flowing through the fifth Hierarchy. As the student of occultism knows, the Lord of the fifth Ray holds that place in the Septenary enumeration, but under the fivefold classification, he holds the third or middle place. |
Nguyên khí thứ năm của manas được hiện thân trong năm Kumara, và nếu đạo sinh nghiên cứu ý nghĩa của năm cánh hoa đầu tiên được khai mở trong hoa sen chân ngã, y có thể chạm đến rìa của huyền nhiệm. Cung năm, là cung của Kumara thứ năm, đáp ứng mạnh mẽ với năng lượng chảy qua Huyền Giai thứ năm. Như đạo sinh huyền bí học biết, Chúa Tể của cung năm giữ vị trí đó trong cách liệt kê Thất Nguyên, nhưng dưới cách phân loại ngũ phân, ngài giữ vị trí thứ ba hay vị trí trung tâm. |
|
1. |
The cosmic Lord of Will or Power. |
|
|
2. |
The cosmic Lord of Love-Wisdom. |
|
|
3. |
The cosmic Lord of Active Intelligence |
1. |
|
4. |
The cosmic Lord of Harmony |
2. |
|
5. |
The cosmic Lord of Concrete Knowledge |
3. |
|
6. |
The cosmic Lord of Abstract Idealism |
4. |
|
7. |
The cosmic Lord of Ceremonial Magic |
5. |
|
[Page 705] This should be pondered on, and His close connection therefore, as a transmitter of force within the Moon chain, the third chain, in connection with the third kingdom, the animal, and with the third round, must be borne in mind. One symbol that may be found in the archaic records in lieu of His Name or description is an inverted five-pointed star, with the luminous Triangle at the centre. It will be noted that the points involved in this symbol number eight—a picture of that peculiar state of consciousness brought about when the mind is seen to be the slayer of the Real. The secret of planetary avitchi (235) is hidden here, just as the third major scheme can be viewed as systemic avitchi, and the moon at one time held an analogous position in connection with our scheme. This must be interpreted in terms of consciousness, and not of locality. |
[Page 705] Điều này cần được suy ngẫm, và do đó mối liên hệ mật thiết của Ngài, với tư cách là một kênh truyền mãnh lực trong Dãy Mặt Trăng, dãy thứ ba, liên hệ với giới thứ ba, giới động vật, và với cuộc tuần hoàn thứ ba, phải được ghi nhớ. Một biểu tượng có thể được tìm thấy trong các cổ thư thay cho Danh xưng hay mô tả của Ngài là một ngôi sao năm cánh đảo ngược, với Tam giác sáng chói ở trung tâm. Cần lưu ý rằng các điểm liên quan trong biểu tượng này là tám—một bức tranh về trạng thái tâm thức đặc biệt được tạo ra khi trí tuệ được thấy là kẻ sát hại Cái Thực. Bí mật của avitchi hành tinh (235) được ẩn giấu ở đây, cũng như hệ hành tinh lớn thứ ba có thể được xem như avitchi của hệ thống, và mặt trăng đã từng giữ một vị trí tương tự liên hệ với hệ hành tinh của chúng ta. Điều này phải được giải thích theo các thuật ngữ của tâm thức, chứ không phải của địa điểm. |
|
(235) Avitchi. A state of consciousness, not necessarily after death or between births for it can take place on earth as well. Literally it means “uninterrupted hell.” The last of the eight hells we are told where “the culprits die and are reborn without interruption—yet not without hope of final redemption.” See S. D., III, 510, 521, 528, 529. (back) |
(235) Avitchi. Một trạng thái tâm thức, không nhất thiết sau khi chết hay giữa các lần sinh, vì nó cũng có thể xảy ra trên trái đất. Nghĩa đen là “địa ngục không gián đoạn.” Chúng ta được cho biết đó là địa ngục cuối cùng trong tám địa ngục, nơi “những kẻ phạm tội chết đi và tái sinh không gián đoạn—nhưng không phải là không có hy vọng được cứu chuộc cuối cùng.” Xem Giáo Lý Bí Nhiệm, III, 510, 521, 528, 529. (back) |
|
In the fifth round, at its middle point, certain things will eventuate. |
Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, tại điểm ở giữa của nó, một số việc sẽ xảy ra. |
|
The fifth Hierarchy will rise to its full power. This will precede the Judgment Day, and will mark a point of tremendous struggle, for the manasic vehicle “manas” (which they embody) will rebel against the translation of the life within (the buddhi). There will, therefore, be seen on a racial scale and involving millions simultaneously, a repetition of the self-same struggle which embroils the man who seeks to transcend mind and to live the life of Spirit. This will be the final Armageddon, the planetary kurukshetra, and will be succeeded by the Judgment Day when the Sons of Manas will be cast out and the Dragons of Wisdom rule. This only means that those in whom the manasic principle is over-potent or under-developed will be considered as failures and will [Page 706] have to wait for a more suitable period for development, while those who are living the buddhic life, and in whom it is waxing stronger—spiritual men, aspirants, disciples of various degrees, initiates and adepts—will be left to pursue the natural course of evolution on this scheme. |
Huyền Giai thứ năm sẽ vươn lên đến toàn bộ quyền năng của nó. Điều này sẽ đi trước Ngày Phán Xét, và sẽ đánh dấu một điểm đấu tranh ghê gớm, vì vận cụ manasic “manas” (mà họ hiện thân) sẽ nổi loạn chống lại sự chuyển dịch của sự sống bên trong (bồ đề). Do đó, trên quy mô nhân loại và liên quan đồng thời đến hàng triệu người, sẽ thấy một sự lặp lại của chính cuộc đấu tranh đã cuốn con người vào khi y tìm cách vượt lên trên trí tuệ và sống đời sống của tinh thần. Đây sẽ là Armageddon cuối cùng, kurukshetra của hành tinh, và tiếp theo sẽ là Ngày Phán Xét khi các Con của Manas bị loại ra và các Rồng Minh Triết cai quản. Điều này chỉ có nghĩa là những ai trong đó nguyên khí manasic quá mạnh hoặc kém phát triển sẽ bị xem là thất bại và sẽ [Page 706]phải chờ một thời kỳ thích hợp hơn để phát triển, trong khi những ai đang sống đời sống bồ đề, và trong họ nó đang mạnh dần lên—những người tinh thần, người chí nguyện, các đệ tử ở nhiều cấp độ, các điểm đạo đồ và các chân sư—sẽ được để tiếp tục tiến trình tiến hoá tự nhiên trên hệ hành tinh này. |
|
The mystery of Capricorn is hidden in these five and in the Biblical words “the sheep and the goats.” (Bible. Rev., 20:6-7. Matt., 25:32.) The Christian hints at this when he speaks of the Christ reigning on earth a thousand years during which the serpent is imprisoned. The Christ principle will triumph for the remainder of the manvantara, and the lower material nature and mind will be held in abeyance until the next round, when fresh opportunity will arise for certain groups of the discarded, though the majority will be held over until another system. Something similar again will take place on the fifth chain but as it concerns a centre in the planetary Logos of which we know but little, we need not here enlarge upon it. |
Huyền nhiệm của Ma Kết được ẩn giấu trong năm vị này và trong những lời trong Kinh Thánh “cừu và dê.” (Kinh Thánh. Rev., 20:6-7. Matt., 25:32.) Người Kitô hữu ám chỉ điều này khi nói về Đức Christ trị vì trên trái đất một ngàn năm trong thời gian đó con rắn bị giam cầm. Nguyên khí Christ sẽ chiến thắng trong phần còn lại của giai kỳ sinh hóa, và bản chất vật chất thấp cùng trí tuệ sẽ bị giữ trong trạng thái đình chỉ cho đến cuộc tuần hoàn kế tiếp, khi cơ hội mới sẽ xuất hiện cho một số nhóm bị loại bỏ, dù đa số sẽ bị trì hoãn cho đến một hệ thống khác. Một điều tương tự cũng sẽ diễn ra trên dãy thứ năm nhưng vì nó liên quan đến một trung tâm trong Hành Tinh Thượng đế mà chúng ta biết rất ít, nên ở đây không cần nói rộng thêm. |
|
The planetary chains embody centres, and as they are awakened and come under stimulation, they swing into physical incarnation certain types of manasaputras. The type dominated by the fifth chain energy is little known as it is yet in process of evolution within another scheme, the fifth, so it is waste of our time to consider it. It is connected with the unfoldment of the fifth egoic petal of a planetary Logos on His Own plane and consequently with the activity of the fifth spirilla. When the hour strikes, these units of energy will “come in” from another scheme on a stream of cosmic energy which will swing through a particular systemic triangle, just as when the egos came in this round. |
Các dãy hành tinh hiện thân cho các trung tâm, và khi chúng được thức tỉnh và chịu sự kích thích, chúng đưa vào nhập thể hồng trần một số loại manasaputra nhất định. Loại bị chi phối bởi năng lượng dãy thứ năm ít được biết đến vì nó còn đang trong tiến trình tiến hoá trong một hệ hành tinh khác, hệ thứ năm, nên việc xem xét nó là lãng phí thời gian của chúng ta. Nó liên hệ với sự khai mở cánh hoa chân ngã thứ năm của một Hành Tinh Thượng đế trên cõi riêng của Ngài và do đó với hoạt động của loa tuyến thứ năm. Khi giờ điểm đến, các đơn vị năng lượng này sẽ “đi vào” từ một hệ hành tinh khác trên một dòng năng lượng vũ trụ sẽ quét qua một tam giác hệ thống đặc biệt, cũng như khi các Chân ngã đã đi vào trong cuộc tuần hoàn này.a particular systemic triangle, just as when the egos came in this round. |
|
It might here be pointed out that the solar Angels concerned with the fifth Hierarchy are naturally a potent factor in the evolution of the fifth or spiritual kingdom; they are that which make it possible, for they not only [Page 707] bridge the gap between the fourth and third kingdoms, but bridge that found between the fourth and fifth. |
Ở đây có thể chỉ ra rằng các Thái dương Thiên Thần liên quan đến Huyền Giai thứ năm tự nhiên là một yếu tố mạnh mẽ trong sự tiến hoá của giới thứ năm hay giới tinh thần; các Ngài là điều làm cho điều đó trở nên khả hữu, vì các Ngài không chỉ [Page 707]bắc cầu khoảng cách giữa giới thứ tư và giới thứ ba, mà còn bắc cầu khoảng cách giữa giới thứ tư và giới thứ năm. |
|
We need not consider any further this question of the fifth principle, for two reasons: |
Chúng ta không cần xem xét thêm vấn đề này về nguyên khí thứ năm, vì hai lý do: |
|
First, that the subject has been sufficiently covered for our purpose in an earlier section, and secondly, that the full revelation in connection with cosmic manas and the entities who come in on that influence may not further be revealed at this moment. That which is given in the Secret Doctrine, and supplemented here by further details, will suffice for the investigations of students for another generation. Each generation should produce those able to ascertain subjective fact for themselves; they will utilize that which is exoteric and known as stepping stones on the path to perfect knowledge. They will know, and they will give out, and only the next cycle of fifty years after their work is accomplished will see the recognition by the many of the truth revealed by the few. In the case of H. P. B. this is apparent. On the tide of the present endeavour, the Secret Doctrine will be vindicated and her work justified. |
Thứ nhất, vì chủ đề này đã được trình bày đầy đủ cho mục đích của chúng ta trong một phần trước, và thứ hai, vì sự mặc khải trọn vẹn liên hệ với manas vũ trụ và các thực thể đi vào dưới ảnh hưởng đó hiện không thể được tiết lộ thêm. Điều đã được nêu trong Giáo Lý Bí Nhiệm, và được bổ sung ở đây bằng các chi tiết thêm, sẽ đủ cho các cuộc khảo cứu của các đạo sinh trong một thế hệ nữa. Mỗi thế hệ nên sản sinh ra những người có thể tự mình xác định sự kiện chủ quan; họ sẽ sử dụng điều ngoại môn và đã biết như những viên đá bước trên con đường dẫn đến tri thức hoàn hảo. Họ sẽ biết, và họ sẽ công bố, và chỉ đến chu kỳ năm mươi năm kế tiếp sau khi công việc của họ hoàn tất thì số đông mới công nhận chân lý được số ít mặc khải. Trong trường hợp của H. P. B. điều này là hiển nhiên. Trên làn sóng của nỗ lực hiện tại, Giáo Lý Bí Nhiệmsẽ được minh oan và công trình của bà sẽ được biện minh. |
|
b. On Individualisation. |
b. Về Biệt ngã hóa. |
|
(a.) The Work of the Solar Angels. Let us briefly consider the general construction of the body of the Ego enumerating its component parts and bearing in mind that the form is ever prepared prior to occupancy. From the study of this body, we can get some idea of, and some light upon macrocosmic Individualisation. |
(a.) Công việc của các Thái dương Thiên Thần. Chúng ta hãy ngắn gọn xem xét cấu trúc tổng quát của thể của Chân ngã bằng cách liệt kê các thành phần của nó và ghi nhớ rằng hình tướng luôn luôn được chuẩn bị trước khi có sự cư ngụ. Từ việc nghiên cứu thể này, chúng ta có thể có được một vài ý niệm và một vài ánh sáng về Biệt ngã hóa đại vũ trụ. |
|
The causal body, called sometimes (though inaccurately) the “karana sarira,” has its place on the third subplane of the mental plane, the lowest abstract plane, and the one whereon the Ray of the third Logos provides the necessary “light for construction.” (This is because each subplane comes specially under the influence of its Number, Name, or Lord.) When the hour [Page 708] strikes and the vehicles for buddhi are to be co-ordinated certain great Beings, Lords of the Flame, or Manasadevas, through driving external force, come in conjunction with the material of that subplane, and vitalise it with Their Own energy. They form a new and positive impulse which co-ordinates the material of the plane and produces a temporary balancing of forces. Hence the meaning of the “white,” or transparent condition of the new causal body. It remains with the new-born ego first to upset the equilibrium, and then to regain it, at the close of the process, producing a radiant form, full of primal colours. |
Thể nguyên nhân, đôi khi được gọi (dù không chính xác) là “karana sarira,” có vị trí của nó trên cõi phụ thứ ba của cõi trí, cõi trí trừu tượng thấp nhất, và là cõi mà trên đó cung của Logos thứ ba cung cấp “ánh sáng cần thiết cho việc kiến tạo.” (Điều này là vì mỗi cõi phụ đặc biệt chịu ảnh hưởng của Con số, Danh xưng, hay Chúa Tể của nó.) Khi giờ điểm [Page 708]đến và các vận cụ cho bồ đề phải được phối hợp, một số Đấng vĩ đại, các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa, hay các Manasadeva, thông qua mãnh lực bên ngoài thúc đẩy, đi vào đồng vị với chất liệu của cõi phụ ấy, và tiếp sinh lực cho nó bằng chính năng lượng của Các Ngài. Các Ngài tạo thành một xung lực mới và dương, phối hợp chất liệu của cõi và tạo ra một sự quân bình tạm thời của các mãnh lực. Do đó mới có ý nghĩa của trạng thái “trắng,” hay trong suốt, của thể nguyên nhân mới. Chân ngã mới sinh trước hết phải phá vỡ sự quân bình ấy, rồi sau đó tái lập nó vào lúc kết thúc tiến trình, tạo ra một hình tướng rực rỡ, đầy các màu sắc nguyên sơ. |
|
At the coming in of the Manasadevas to produce self-consciousness and to bring about the incarnation of the divine Egos, four things occur on that plane. If the student adds to these four those which have been already imparted in various occult books anent the effect of individualisation on animal man and his appearance as a self-conscious identity on the physical plane, a working hypothesis is provided whereby man can scientifically undertake his own unfoldment. These four are given in the order of their appearance in time and space: |
Khi các Manasadeva đi vào để tạo ra ngã thức và đem lại sự nhập thể của các Chân ngã thiêng liêng, bốn điều xảy ra trên cõi ấy. Nếu đạo sinh cộng thêm vào bốn điều này những điều đã được truyền đạt trong nhiều sách huyền bí học khác liên quan đến hiệu quả của sự biệt ngã hóa trên người thú và sự xuất hiện của y như một bản sắc ngã thức trên cõi hồng trần, thì sẽ có được một giả thuyết làm việc nhờ đó con người có thể một cách khoa học đảm nhận sự khai mở của chính mình. Bốn điều này được nêu ra theo thứ tự xuất hiện của chúng trong thời gian và không gian: |
|
First. There appear upon the third subplane of the mental plane certain vibratory impulses—nine in number—corresponding to the fivefold vibration of these Manasadevas in conjunction with the fourfold vibration set up from below and inherent in the matter of this subplane, the fifth from the lower standpoint. This produces “the ninefold egoic lotus,” which is at this stage tightly closed, the nine petals folded one upon the other. They are vibrant, and scintillating “light” but not of excessive brightness. These “lotus buds” are in groups, according to the influence of the particular ones of the fivefold Dhyanis Who are acting upon it and Who form it out of Their own substance, colouring it faintly with the “fire of manas.” |
Thứ nhất. Trên cõi phụ thứ ba của cõi trí xuất hiện một số xung lực rung động—gồm chín xung lực—tương ứng với rung động ngũ phân của các Manasadeva này phối hợp với rung động tứ phân được thiết lập từ bên dưới và vốn có trong vật chất của cõi phụ này, tức cõi phụ thứ năm theo quan điểm từ dưới lên. Điều này tạo ra “hoa sen chân ngã cửu phân”, vào giai đoạn này vẫn khép kín chặt chẽ, chín cánh hoa gập chồng lên nhau. Chúng rung động, và lấp lánh “ánh sáng” nhưng không quá rực rỡ. Các “nụ sen” này ở thành nhóm, tùy theo ảnh hưởng của những vị đặc thù trong các Dhyanis ngũ phân đang tác động lên chúng và tạo thành chúng từ chính chất liệu của Các Ngài, nhuộm chúng một cách mờ nhạt bằng “lửa của trí tuệ.” |
|
[Page 709] Second. There appears a triangle on the mental plane, produced by manasic activity, and this triangle of fire begins slowly to circulate between the manasic permanent atom, and a point at the centre of the egoic lotus, and thence to the mental unit, which has appeared upon the fourth subplane through innate instinct approximating mentality. This triangle of fire, which is formed of pure electrical manasic force, waxes ever brighter until it produces an answering vibration from both the lower and the higher. This triangle is the nucleus of the antaskarana. The work of the highly evolved man is to reduce this triangle to a unity, and by means of high aspiration (which is simply transmuted desire affecting mental matter) turn it into the Path and thus reproduce in a higher synthetic form the earlier “path” along which the descending Spirit came to take possession of its vehicle, the causal body, and from thence again work through the lower personal self. |
[Page 709] Thứ hai. Trên cõi trí xuất hiện một tam giác, được tạo ra bởi hoạt động manas, và tam giác lửa này bắt đầu tuần hoàn chậm rãi giữa nguyên tử trường tồn manas, một điểm ở trung tâm hoa sen chân ngã, rồi từ đó đến đơn vị hạ trí, vốn đã xuất hiện trên cõi phụ thứ tư nhờ bản năng bẩm sinh tiến gần đến trí tuệ. Tam giác lửa này, được cấu thành bằng mãnh lực manas điện thuần túy, ngày càng sáng hơn cho đến khi tạo ra một rung động đáp ứng từ cả bên dưới lẫn bên trên. Tam giác này là hạt nhân của antaskarana. Công việc của con người tiến hóa cao là quy tam giác này về nhất thể, và bằng khát vọng cao cả (vốn chỉ là dục vọng đã được chuyển hoá tác động lên vật chất trí tuệ) biến nó thành Con Đường, nhờ đó tái tạo dưới một hình thức tổng hợp cao hơn “con đường” trước kia mà theo đó Tinh thần giáng xuống để chiếm hữu vận cụ của nó, thể nguyên nhân, rồi từ đó lại hoạt động qua phàm ngã thấp. |
|
Third. At a certain stage of vibratory activity, the work of the Lords of the Flame having produced a body or form and a vibration calling for response, there occurs a practically simultaneous happening. |
Thứ ba. Ở một giai đoạn nhất định của hoạt động rung động, khi công việc của các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa đã tạo ra một thể hay hình tướng và một rung động kêu gọi sự đáp ứng, thì xảy ra một biến cố gần như đồng thời. |
|
A downflow of buddhi takes place along the line of the manasic triangle until it reaches a point at the very centre of the lotus. There, by the power of its own vibration, it causes a change in the appearance of the lotus. At the very heart of the lotus, three more petals appear which close in on the central flame, covering it closely, and remaining closed until the time comes for the revelation of the “jewel in the Lotus.” The egoic lotus is now composed of twelve petals, nine of these appear at this stage in bud form and three are completely hidden and mysterious. |
Một dòng Bồ đề tuôn xuống theo đường của tam giác manas cho đến khi đạt tới một điểm ngay tại trung tâm hoa sen. Ở đó, bằng quyền năng của chính rung động của nó, nó gây ra một sự thay đổi trong sắc tướng của hoa sen. Ngay nơi tâm điểm của hoa sen, xuất hiện thêm ba cánh hoa nữa khép lại quanh ngọn lửa trung tâm, che phủ nó kín mít, và vẫn khép kín cho đến khi đến lúc mặc khải “ngọc trong Hoa Sen.” Hoa sen chân ngã lúc này gồm mười hai cánh hoa, trong đó chín cánh ở giai đoạn này hiện ra dưới dạng nụ và ba cánh hoàn toàn ẩn kín và huyền nhiệm. |
|
At the same time, the three permanent atoms are enclosed within the lotus, and are seen by the clairvoyant as three points of light in the lower part of the bud, beneath [Page 710] the central portion. They form at this stage a dimly burning triangle. The causal body, though only in an embryonic condition, is now ready for full activity as the eons slip away, and is complete in all its threefold nature. The matter aspect, which concerns the material form of the man in the three worlds, or his active intelligent personal self call be developed and controlled through the medium of the mental unit, the astral permanent atom and the physical permanent atom. The Spirit aspect lies concealed at the heart of the lotus, in due course of time to stand revealed when the manasadevas have done their work. The will that persists forever is there. The consciousness aspect embodying the love-wisdom of the divine Ego as it reveals itself by the means of mind is predominantly there, and in the nine petals and their vibratory capacity lies hid all opportunity, all innate capacity to progress, and all the ability to function as a self-conscious unit, that entity we call Man. (237) Mahadeva sits at the heart, Surya or Vishnu reveals Him in His essence as the Wisdom of Love and the Love of Wisdom, and Brahma, the Creative Logos makes that revelation possible. The Father in [Page 711] Heaven is to be revealed through the Christ, the Son, by the method of incarnation made possible through the work of the Holy Spirit. All this has been brought about by the sacrifice and instrumentality of certain cosmic entities who “offer Themselves” up in order that Man may be. From their very essence, they give out that which is needed to produce the individualising principle, and that which we call “self-consciousness,” and thus enable the divine Spirit to enter into fuller life by means of limitation by form, by means of the lessons garnered through a long pilgrimage, and through the “assimilation of manifold existences.” |
Đồng thời, ba nguyên tử trường tồn được bao bọc bên trong hoa sen, và được nhà thông nhãn thấy như ba điểm sáng ở phần dưới của nụ, bên dưới [Page 710] phần trung tâm. Ở giai đoạn này, chúng tạo thành một tam giác cháy mờ nhạt. Thể nguyên nhân, tuy mới chỉ ở tình trạng phôi thai, nay đã sẵn sàng cho hoạt động trọn vẹn khi các đại kiếp trôi qua, và hoàn chỉnh trong toàn bộ bản chất tam phân của nó. Phương diện vật chất, liên quan đến hình tướng vật chất của con người trong ba cõi giới, hay phàm ngã hoạt động thông minh của y, có thể được phát triển và kiểm soát qua trung gian của đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục và nguyên tử trường tồn hồng trần. Phương diện Tinh thần nằm ẩn kín nơi tâm hoa sen, để theo thời gian sẽ được mặc khải khi các manasadeva đã hoàn tất công việc của họ. Ý chí tồn tại mãi mãi ở đó. Phương diện tâm thức thể hiện Bác Ái – Minh Triết của chân ngã thiêng liêng khi nó tự biểu lộ qua phương tiện của trí tuệ thì hiện diện nổi trội ở đó, và trong chín cánh hoa cùng năng lực rung động của chúng ẩn giấu mọi cơ hội, mọi năng lực bẩm sinh để tiến bộ, và toàn bộ khả năng hoạt động như một đơn vị ngã thức, thực thể mà chúng ta gọi là Con Người. (237) Mahadeva ngự tại tâm điểm, Surya hay Vishnu mặc khải Ngài trong bản chất của Ngài như Minh Triết của Bác Ái và Bác Ái của Minh Triết, còn Brahma, Đấng Sáng Tạo Thượng đế, làm cho sự mặc khải đó trở nên khả hữu. Đức Cha trên [Page 711] Thiên Đàng sẽ được mặc khải qua Đức Christ, Người Con, bằng phương pháp nhập thể được làm cho khả hữu nhờ công việc của Chúa Thánh Thần. Tất cả điều này đã được thực hiện nhờ sự hi sinh và vai trò công cụ của một số thực thể vũ trụ, những Đấng “hiến dâng Chính Mình” để Con Người có thể hiện hữu. Từ chính bản chất của mình, các Ngài ban ra điều cần thiết để tạo nên nguyên khí biệt ngã hóa, và điều mà chúng ta gọi là “ngã thức,” nhờ đó làm cho Tinh thần thiêng liêng có thể đi vào sự sống đầy đủ hơn bằng phương tiện sự giới hạn bởi hình tướng, bằng những bài học thu lượm qua một cuộc hành hương dài lâu, và qua “sự đồng hoá nhiều hiện hữu đa tạp.” |
|
(237) The Solar Lord, the Divine Ego. Of the two courses of soul development referred to by H. P. B. in her “Voice of the Silence” as the path of “Dhyana” and “Dharma” or the “Paramitas,” Ramayana is based upon the latter. The “Seven Portals,” referred to in the book of the same name, correspond very probably to the seven cantos of this sacred poem. But I have read only the first canto, and I shall give you the analysis of it, so far as I know. Excluding the preface to the poem, the first thing, in the first canto, is a description of the peculiar circumstances that attended Rama’s birth in Dasaratha’s family. Dasaratha is, as you all know, a descendant of solar kings, who began to rule over this earth from the time of Manu the Vyvaswatha. As his name implies, he is a king whose car can travel in ten directions, or taking the occult microcosmic sense he is king of the human body, which has ten senses of action and perception that connect it with the ten directions. You are thoroughly familiar with the idea that our ancient philosophers used to describe the body as a town with nine gates. The nine gates are, as the nine orifices of the human body. If you add to the nine one more for the orifice known as the Brahma-rundra or the door of Brahma, you get ten gates corresponding to the ten directions. The word “Dasaratha” indicates the consciousness connected with our senses, which consciousness is inferior to the consciousness which we call mind.—The Theosophist, Vol. XIII, p. 340. (back) |
(237) Nhật tinh quân, Chân ngã thiêng liêng. Trong hai lộ trình phát triển linh hồn được H. P. B. đề cập trong “Tiếng Nói của Im Lặng” của bà như con đường “Dhyana” và “Dharma” hay các “Paramitas,” Ramayana dựa trên con đường sau. “Bảy Cổng,” được nói đến trong cuốn sách cùng tên, rất có thể tương ứng với bảy khúc ca của bài thơ thiêng liêng này. Nhưng tôi chỉ mới đọc khúc ca thứ nhất, và tôi sẽ trình bày cho bạn phần phân tích của nó, trong phạm vi tôi biết. Không kể lời tựa của bài thơ, điều đầu tiên trong khúc ca thứ nhất là mô tả những hoàn cảnh đặc biệt đi kèm sự ra đời của Rama trong gia đình Dasaratha. Như tất cả các bạn đều biết, Dasaratha là hậu duệ của các vị vua mặt trời, những vị bắt đầu cai quản trái đất này từ thời Đức Manu Vyvaswatha. Như tên của ông hàm ý, ông là một vị vua có cỗ xe có thể đi theo mười hướng, hoặc nếu lấy ý nghĩa huyền bí vi mô thì ông là vua của thân thể con người, vốn có mười giác quan hành động và tri giác nối nó với mười phương. Các bạn rất quen thuộc với ý niệm rằng các triết gia cổ xưa của chúng ta thường mô tả thân thể như một thành phố có chín cổng. Chín cổng ấy là chín lỗ của thân thể con người. Nếu thêm vào chín cổng ấy một cổng nữa là lỗ được gọi là Brahma-rundra hay cửa của Brahma, ta có mười cổng tương ứng với mười phương. Từ “Dasaratha” chỉ tâm thức gắn với các giác quan của chúng ta, mà tâm thức ấy thấp hơn tâm thức mà chúng ta gọi là trí tuệ.—The Theosophist, Tập XIII, tr. 340. (back) |
|
The fourth point to be noted is that when these three events have occurred, the light or fire that circulates along the manasic triangle is withdrawn to the centre of the lotus, and this “prototype” of the future antaskarana, if so it may be expressed, disappears. The threefold energy of the petals, the atoms and the “jewel” is now centralised, because impulse must now be generated which will produce a downflow of energy from the newly made causal vehicle into the three worlds of human endeavour. |
Điểm thứ tư cần lưu ý là khi ba biến cố này đã xảy ra, ánh sáng hay lửa tuần hoàn dọc theo tam giác manas được rút về trung tâm hoa sen, và “nguyên mẫu” này của antaskarana tương lai, nếu có thể nói như vậy, biến mất. Năng lượng tam phân của các cánh hoa, các nguyên tử và “viên ngọc” nay được tập trung vào trung tâm, vì lúc này phải phát sinh một xung lực sẽ tạo ra một dòng năng lượng tuôn xuống từ vận cụ nguyên nhân vừa được tạo thành vào ba cõi giới của nỗ lực nhân loại. |
|
We have dealt with the method of individualisation through the coming in of the Lords of the Flame because it is the prime method in this solar system; whatever methods may be pursued in the varying schemes and chains, this—at the middle stage—is the universal rule. Karmic conditions having to do with a planetary Logos may effect modifications, and bring into action manasadevas whose activity may not be the same in working detail, but the results are ever similar, and the divine Egos in their causal bodies have analogous instruments to work through…. |
Chúng ta đã bàn đến phương pháp biệt ngã hóa qua sự xuất hiện của các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa vì đó là phương pháp chủ yếu trong hệ mặt trời này; dù những phương pháp nào có thể được theo đuổi trong các hệ hành tinh và các dãy khác nhau, thì đây—ở giai đoạn giữa—vẫn là quy luật phổ quát. Những điều kiện nghiệp quả liên quan đến một Hành Tinh Thượng đế có thể tạo ra các biến đổi, và đưa vào hoạt động những manasadeva mà hoạt động của họ có thể không giống nhau trong chi tiết vận hành, nhưng kết quả luôn tương tự, và các chân ngã thiêng liêng trong các thể nguyên nhân của họ có những công cụ tương đồng để hoạt động qua đó…. |
|
A final point which is of profound significance is that the Agnishvattas construct the petals out of Their Own substance, which is substance energised by the principle [Page 712] of “I-ness,” or ahamkara. They proceed to energise the permanent atoms with Their own positive force, so as to bring the fifth spirilla in due course of time into full activity and usefulness. All possibility, all hopefulness and optimism, and all future success lies hid in these two points. |
Một điểm sau cùng có ý nghĩa thâm sâu là các Agnishvatta kiến tạo các cánh hoa từ chính chất liệu của Các Ngài, tức chất liệu được tiếp sinh lực bởi nguyên khí [Page 712] “tính tôi,” hay ahamkara. Các Ngài tiếp tục tiếp sinh lực cho các nguyên tử trường tồn bằng mãnh lực dương của chính Các Ngài, để đến đúng thời điểm loa tuyến thứ năm đi vào hoạt động và công dụng trọn vẹn. Mọi khả năng, mọi niềm hy vọng và lạc quan, cùng mọi thành công tương lai đều ẩn giấu trong hai điểm này. |
|
As we have seen, the work of the Agnishvattas on the mental plane resulted in a downflow of force or energy from the Monad (or Spirit) and this, in conjunction with the energy of the lower quaternary produced the appearance of the body of the Ego on the mental plane. In ordinary electric light, we have a faint illustration of the thought I seek to convey. By the approximation of the two polarities, light is created. By an analogous type of electrical phenomena, the light of the Monad shines forth, but we have to extend the idea to the subtler planes, and deal with seven types of force or energy in connection with the one polarity and with four in connection with the other. A scientific formula for the process of individualisation conveys this dual approximation with its differing types of energy in one symbol and a number, but it cannot here be revealed. |
Như chúng ta đã thấy, công việc của các Agnishvatta trên cõi trí đã dẫn đến một dòng mãnh lực hay năng lượng tuôn xuống từ chân thần (hay Tinh thần), và điều này, phối hợp với năng lượng của bộ tứ thấp, đã tạo ra sự xuất hiện của thể của chân ngã trên cõi trí. Trong ánh sáng điện thông thường, chúng ta có một minh họa mờ nhạt cho tư tưởng mà tôi muốn truyền đạt. Do sự tiến gần của hai cực tính, ánh sáng được tạo ra. Bằng một loại hiện tượng điện tương tự, ánh sáng của chân thần chiếu rạng, nhưng chúng ta phải mở rộng ý niệm này lên các cõi vi tế hơn, và xét đến bảy loại mãnh lực hay năng lượng liên hệ với một cực tính và bốn loại liên hệ với cực tính kia. Một công thức khoa học cho tiến trình biệt ngã hóa diễn đạt sự tiến gần nhị nguyên này cùng các loại năng lượng khác nhau của nó trong một biểu tượng và một con số, nhưng ở đây không thể tiết lộ. |
|
The Manasadevas are themselves energised by force from the cosmic mental plane—a force which has been in operation ever since the individualisation of the solar Logos in kalpas far distant. They, in Their corporate nature, embody the will or purpose of the Logos, and are the cosmic “prototypes” of our solar Angels. The solar Angels on the mental plane of the system embody as much of that will and purpose as the Logos can work through in one single incarnation and as They, in Their groups, can develop. They work, therefore, through egoic groups and primarily, after individualisation, upon the mental units of the separated identities who go to the constituency of the groups. This is Their secondary work. Their work in part might be described as follows: |
Bản thân các Manasadeva được tiếp sinh lực bởi mãnh lực từ cõi trí vũ trụ—một mãnh lực đã hoạt động kể từ sự biệt ngã hóa của Thái dương Thượng đế trong những kalpa xa xăm. Trong bản chất tập thể của mình, họ thể hiện ý chí hay mục đích của Thượng đế, và là những “nguyên mẫu” vũ trụ của các Thái dương Thiên Thần của chúng ta. Các Thái dương Thiên Thần trên cõi trí của hệ thống thể hiện chừng nào ý chí và mục đích ấy mà Thượng đế có thể vận dụng qua trong một lần nhập thể duy nhất và chừng nào mà chính họ, trong các nhóm của mình, có thể phát triển. Vì vậy, họ hoạt động qua các nhóm chân ngã và chủ yếu, sau khi biệt ngã hóa, trên các đơn vị hạ trí của những bản sắc biệt lập tạo thành thành phần của các nhóm ấy. Đây là công việc thứ yếu của họ. Công việc của họ phần nào có thể được mô tả như sau: |
|
[Page 713] Primarily, they bring about the union of the divine Ego and the lower personal self. This has been dealt with. |
[Page 713] Trước hết, họ mang lại sự hợp nhất giữa chân ngã thiêng liêng và phàm ngã thấp. Điều này đã được bàn đến. |
|
Secondly, they work through the mental units, impressing upon the atom that portion, microscopic as it may be, of the logoic purpose which the individual can work out on the physical plane. At first their influence is unconsciously assimilated, and the man responds to the plan blindly and ignorantly. Later, as evolution proceeds, their work is recognised by the man in a conscious co-operation with the plan of evolution. (238) After the third initiation, the will or purpose aspect predominates. |
Thứ hai, họ hoạt động qua các đơn vị hạ trí, ghi khắc lên nguyên tử ấy phần mục đích của Thượng đế, dù vi mô đến đâu, mà cá nhân có thể thực hiện trên cõi hồng trần. Lúc đầu, ảnh hưởng của họ được đồng hoá một cách vô thức, và con người đáp ứng với Thiên Cơ một cách mù quáng và vô minh. Về sau, khi tiến hoá tiếp diễn, công việc của họ được con người nhận biết trong sự hợp tác có ý thức với Thiên Cơ tiến hoá. (238) Sau lần điểm đạo thứ ba, phương diện ý chí hay mục đích chiếm ưu thế. |
|
(238) The Sacrificer or Yajamana. The yajamana is the person who has sacrificed himself for the good of the world and who has undertaken to mould the affairs of it, in obedience to the law. If the human body be taken as the sacrificial ground, the manas in him is the yajamana. All the doings of man in all his life from birth to death, form one grand yagnic process that is conducted by the true human entity called the Manas. He, who is willing to sacrifice his body, speech, and thought to the good of all the world, is a real yagnika and all the higher lokas are reserved for him. The central keynote of yagnika’s life is to do good unto all, irrespective of caste and creed even as the sun shines for all.—Some Thoughts on the Gita, page 90. (back) |
(238) Người Hiến Tế hay Yajamana. Yajamana là người đã hi sinh chính mình vì lợi ích của thế gian và đã đảm nhận việc uốn nắn các sự vụ của thế gian ấy, trong sự tuân phục định luật. Nếu thân thể con người được xem như bãi hiến tế, thì manas trong y là yajamana. Mọi hành động của con người trong suốt cuộc đời từ sinh đến tử tạo thành một tiến trình yagnic vĩ đại được điều hành bởi thực thể nhân loại chân chính gọi là Manas. Người nào sẵn lòng hi sinh thân thể, lời nói và tư tưởng của mình cho lợi ích của toàn thế giới thì là một yagnika chân chính và mọi cõi loka cao hơn đều dành cho y. Chủ âm trung tâm của đời sống yagnika là làm điều thiện cho tất cả mọi người, bất kể giai cấp hay tín ngưỡng, cũng như mặt trời chiếu sáng cho tất cả.—Some Thoughts on the Gita, trang 90. (back) |
|
It might here be noted that it is the positive force of the Manasadevas that produces initiation. Their function is embodied by the Hierophant. He, seeing before Him the vehicle for buddhi, passes the voltage from the higher planes through His body, and by means of the Rod (charged with positive manasic force) transmits this higher manasic energy to the initiate so that he is enabled to know consciously and to recognise the plan for his group-centre through the immensely increased stimulation. This force descends from the manasic permanent atom via the antaskarana and is directed to whichever centre the Hierophant—under the Law—sees should be stimulated. He stabilises the force, and regulates its flow as it circulates throughout the egoic Lotus, so that when the work of unfoldment is accomplished the sixth principle at the Heart of the Lotus can stand revealed. After each initiation the Lotus is more unfolded [Page 714] and light from the centre begins to blaze forth—a light or fire which ultimately burns through the three enshrining petals, and permits the full inner glory to be seen, and the electric fire of spirit to be manifested. As this is brought about on the second subplane of the mental plane (whereon the egoic lotus is now situated) a corresponding stimulation takes place in the dense substance which forms the petals or wheels of the centres on the astral and etheric levels. |
Ở đây có thể lưu ý rằng chính mãnh lực dương của các Manasadeva tạo ra điểm đạo. Chức năng của họ được hiện thân bởi Đấng Điểm đạo. Ngài, khi thấy trước Ngài vận cụ dành cho Bồ đề, sẽ truyền điện thế từ các cõi cao qua thể của Ngài, và bằng Thần Trượng Điểm đạo (được nạp mãnh lực manas dương) truyền năng lượng manas cao này cho điểm đạo đồ để y có thể biết một cách hữu thức và nhận ra Thiên Cơ dành cho trung tâm nhóm của mình nhờ sự kích thích tăng lên vô cùng lớn. Mãnh lực này giáng xuống từ nguyên tử trường tồn manas qua antaskarana và được hướng đến bất cứ trung tâm nào mà Đấng Điểm đạo—dưới Định luật—thấy cần phải được kích thích. Ngài ổn định mãnh lực ấy, và điều hòa dòng chảy của nó khi nó tuần hoàn khắp Hoa sen chân ngã, để khi công việc khai mở được hoàn tất thì nguyên khí thứ sáu tại Tâm Hoa Sen có thể được mặc khải. Sau mỗi lần điểm đạo, Hoa Sen lại khai mở hơn và ánh sáng từ trung tâm bắt đầu bừng cháy—một ánh sáng hay ngọn lửa cuối cùng đốt xuyên qua ba cánh hoa bao bọc, cho phép toàn bộ vinh quang nội tại được nhìn thấy, và lửa điện của tinh thần được biểu lộ. Khi điều này được thực hiện trên cõi phụ thứ hai của cõi trí (nơi hoa sen chân ngã hiện tọa lạc) thì một sự kích thích tương ứng diễn ra trong chất liệu đậm đặc tạo thành các cánh hoa hay các bánh xe của các trung tâm ở các cấp độ cảm dục và dĩ thái.[Page 714] |
|
(b.) Individualisation and the races. If this treatise serves no other purpose than to direct the attention of the scientific and philosophic students to the study of force or energy in man and in groups, and to interpret man and the human family in terms of electrical phenomena, much good will have been accomplished. The polarity of a man, of a group, and of a congery of groups, the polarity of the planets and their relationship to each other and to the Sun, the polarity of the solar system and its relationship to other systems, the polarity of one plane to another, and of one principle to another, the polarity of the subtler vehicles, and the scientific application of the laws of electricity to the totality of existence on the physical plane will bring about a revolution upon the planet second only to that effected at the time of individualisation. I would point out here a certain significant fact which students will do well carefully to consider. |
(b.) Biệt ngã hóa và các nhân loại. Nếu chuyên luận này không phục vụ mục đích nào khác ngoài việc hướng sự chú ý của các đạo sinh khoa học và triết học đến việc nghiên cứu mãnh lực hay năng lượng trong con người và trong các nhóm, và diễn giải con người cùng gia đình nhân loại theo các hiện tượng điện, thì cũng đã đạt được nhiều điều tốt đẹp. Cực tính của một con người, của một nhóm, và của một tập hợp các nhóm, cực tính của các hành tinh và mối liên hệ của chúng với nhau và với Mặt Trời, cực tính của hệ mặt trời và mối liên hệ của nó với các hệ khác, cực tính của cõi này với cõi khác, và của nguyên khí này với nguyên khí khác, cực tính của các vận cụ vi tế hơn, cùng việc áp dụng khoa học các định luật điện vào toàn thể hiện hữu trên cõi hồng trần sẽ mang lại một cuộc cách mạng trên hành tinh chỉ đứng sau cuộc cách mạng đã diễn ra vào thời kỳ biệt ngã hóa. Ở đây tôi muốn chỉ ra một sự kiện có ý nghĩa mà các đạo sinh nên cẩn trọng suy xét. |
|
In the third rootrace (239) individualisation took place. It was an event which became possible through certain conditions and polar relationships, and because the scientific laws were understood and the Knowers took [Page 715] advantage of a peculiar electrical condition to hasten the evolution of the race. It was electrical phenomena of a stupendous kind, and produced the “lights which ever burn.” It was the result of the knowledge of natural law and its adaptation to opportunity. |
Trong giống dân gốc thứ ba (239) đã diễn ra biệt ngã hóa. Đó là một biến cố trở nên khả hữu nhờ những điều kiện nhất định và những tương quan cực tính, và vì các định luật khoa học đã được thấu hiểu nên các thức giả đã [Page 715] tận dụng một điều kiện điện đặc biệt để thúc đẩy nhanh sự tiến hoá của nhân loại. Đó là những hiện tượng điện có quy mô phi thường, và đã tạo ra “những ánh sáng luôn cháy.” Đó là kết quả của tri thức về định luật tự nhiên và sự thích ứng của nó với cơ hội. |
|
(239) Các giống dân gốc. Giáo Lý Bí Nhiệm dạy rằng bảy nhóm đơn vị nhân loại này cư ngụ trên bảy châu lục trong tiến trình tiến hoá.—S. D., II, 6, 7, 8. |
|
|
a. First race………..The Imperishable Sacred Land. |
a. Giống dân thứ nhất………..Vùng Đất Thiêng Bất Hoại. |
|
b. The 2nd race……..The Hyperborean Land. |
b. Giống dân thứ 2……..Vùng Đất Hyperborea. |
|
c. The 3rd race…….. Lemurian. |
c. Giống dân thứ 3…….. Lemuria. |
|
d. The 4th race…….. Atlantean. |
d. Giống dân thứ 4…….. Atlantis. |
|
e. The 5th race…….. Aryan. |
e. Giống dân thứ 5…….. Arya. |
|
f. Sẽ còn hai giống dân nữa tiếp nối giống dân hiện nay. (back) |
|
|
In the fourth rootrace another adaptation of force occurred. Again time and opportunity were taken advantage of to open the door into the fifth kingdom by the method of forced initiation. A third type of electricity played its part in bringing about this event, and it is the effect of this electrical phenomenon upon the units (who are themselves centres of energy) which—scientifically viewed—indicates a man’s suitability for the ceremony of initiation, and his availability as a transmitter of spiritual energy to the world. Every initiate is technically a transmitter of force and his work is consequently threefold: |
Trong giống dân gốc thứ tư đã xảy ra một sự thích ứng khác của mãnh lực. Một lần nữa, thời gian và cơ hội đã được tận dụng để mở cánh cửa vào giới thứ năm bằng phương pháp điểm đạo cưỡng bức. Một loại điện thứ ba đã góp phần tạo nên biến cố này, và chính tác động của hiện tượng điện này lên các đơn vị (vốn tự chúng là những trung tâm năng lượng) — xét theo khoa học — cho thấy sự thích hợp của một người đối với nghi lễ điểm đạo, và khả năng của y như một kẻ truyền dẫn năng lượng tinh thần cho thế giới. Mỗi điểm đạo đồ về mặt kỹ thuật đều là một kẻ truyền dẫn mãnh lực và vì thế công việc của y có tính tam phân: |
|
1. To provide a threefold vehicle capable of the necessary resistance to the force and able to receive and hold it. |
1. Cung cấp một vận cụ tam phân có khả năng chịu được sức kháng cần thiết đối với mãnh lực và có thể tiếp nhận và giữ nó. |
|
2. To transmit it as energy to the world which he serves. |
2. Truyền nó như năng lượng đến thế giới mà y phụng sự. |
|
3. To store up a certain amount of it for a twofold purpose: |
3. Tích trữ một lượng nhất định của nó cho mục đích nhị phân: |
|
a. Tạo ra một hồ chứa mãnh lực cho những tình huống khẩn cấp và cho công việc đặc biệt theo yêu cầu của Các Đấng Cao Cả. |
|
|
b. To act as a dynamo for the immediate group which all advanced souls, disciples and initiates gather around them on some one or other of the planes in the three worlds. |
b. Hoạt động như một máy phát điện cho nhóm trực tiếp mà mọi linh hồn tiến hóa, đệ tử và điểm đạo đồ đều quy tụ quanh mình trên cõi này hay cõi khác trong ba cõi thấp. |
|
In the fifth rootrace, another tremendous happening may be looked for, and the time lies immediately ahead. It had its beginning in the energy which eventually culminated in the world war. The first effect of the appearance of fresh electrical stimulation from extra-systemic [Page 716] centres, is ever to bring about a primary destruction leading on to revelation. That which is imprisoned must be loosed. So it will be in this rootrace, the fifth. Certain cosmic forces are at work and the full effect of their energy is not yet apparent. This incoming force, the Hierarchy will avail itself of in order to push forward the planetary plans. In every case the effect of the phenomenon is felt in some one or other of the kingdoms beside the human. In the individualisation period, it is apparent that a tremendous stimulation took place in the animal kingdom—a stimulation which has persisted, and which has led to the phenomenon of “domestic animals” as we call them, and their relatively high stage of intelligence as compared to the wild animals. In Atlantean days the opening of the door into the fifth kingdom, or into the stage of buddhic consciousness, had a profound effect upon the vegetable kingdom. This effect can be seen working out in such results as are achieved by Burbank, and which are of a nature corresponding to the initiatory process in man, involving a rapid achievement of relative perfection. |
Trong giống dân gốc thứ năm, có thể trông đợi một biến cố to lớn khác, và thời điểm ấy đang ở ngay phía trước. Nó đã khởi đầu trong năng lượng cuối cùng lên đến tột đỉnh trong cuộc thế chiến. Tác động đầu tiên của sự xuất hiện một kích thích điện mới từ các trung tâm [Page 716] ngoài hệ thống luôn là gây ra một sự hủy diệt ban đầu dẫn đến mặc khải. Điều bị giam hãm phải được giải phóng. Trong giống dân gốc này, giống dân thứ năm, cũng sẽ như vậy. Một số mãnh lực vũ trụ đang hoạt động và tác động trọn vẹn của năng lượng của chúng vẫn chưa biểu lộ rõ. Thánh đoàn sẽ tận dụng mãnh lực đang đi vào này để thúc đẩy các kế hoạch hành tinh. Trong mọi trường hợp, tác động của hiện tượng ấy được cảm nhận trong một giới nào đó ngoài giới nhân loại. Trong thời kỳ biệt ngã hóa, rõ ràng là đã có một sự kích thích to lớn diễn ra trong giới động vật—một sự kích thích vẫn còn kéo dài, và đã dẫn đến hiện tượng “thú nuôi trong nhà” như chúng ta gọi, cùng trình độ trí tuệ tương đối cao của chúng so với thú hoang. Trong thời Atlantis, việc mở cánh cửa vào giới thứ năm, hay vào giai đoạn tâm thức Bồ đề, đã có một tác động sâu sắc lên giới thực vật. Tác động này có thể thấy đang biểu hiện qua những kết quả mà Burbank đạt được, vốn có bản chất tương ứng với tiến trình điểm đạo nơi con người, bao hàm sự đạt đến nhanh chóng một mức hoàn thiện tương đối. |
|
In the tremendous event which is impending, in the great revelation which is near at hand, the Hierarchy will again take advantage of the time and the energy to bring about certain events which will work out primarily in the human kingdom but which will also be seen as force regeneration in the mineral kingdom. The energy, when first felt in the human kingdom, brought about the conditions which caused the tremendous activity which resulted in war, and which is causing the present world stress; in the mineral kingdom it affected certain of the minerals and elements, and the radioactive substances made their appearance. This characteristic (or radioactivity) of pitchblende and the other involved units is comparatively a new development under the evolutionary law, and one which, though latent, only [Page 717] needed the drawing forth of the type of energy now beginning to pour in on the earth. This force began to flow in at the end of the eighteenth century, and its full effect is by no means yet felt, for it will be several hundred years before it passes away. By means of it, certain discoveries are possible, and the new order comes in upon it. The Great Ones, Who know the time and the hour, will bring about, in our rootrace, that which corresponds to the occurrences in the earlier third and fourth races. |
Trong biến cố to lớn đang cận kề, trong cuộc mặc khải vĩ đại đang ở gần trước mắt, Thánh đoàn sẽ lại tận dụng thời gian và năng lượng để tạo ra một số biến cố trước hết sẽ biểu hiện trong giới nhân loại nhưng cũng sẽ được thấy như sự tái sinh lực của mãnh lực trong giới kim thạch. Năng lượng ấy, khi lần đầu được cảm nhận trong giới nhân loại, đã tạo ra những điều kiện gây nên hoạt động mãnh liệt dẫn đến chiến tranh, và đang gây ra sự căng thẳng thế giới hiện nay; trong giới kim thạch, nó tác động lên một số khoáng chất và nguyên tố, và các chất phóng xạ đã xuất hiện. Đặc tính này (hay tính phóng xạ) của pitchblende và các đơn vị liên quan khác tương đối là một sự phát triển mới dưới định luật tiến hoá, và tuy tiềm ẩn, nhưng chỉ [Page 717] cần được lôi ra bởi loại năng lượng hiện đang bắt đầu tuôn vào trái đất. Mãnh lực này bắt đầu tuôn vào từ cuối thế kỷ mười tám, và tác động trọn vẹn của nó còn lâu mới được cảm nhận hết, vì phải vài trăm năm nữa nó mới qua đi. Nhờ nó, một số khám phá trở nên khả hữu, và trật tự mới đi vào trên nền tảng đó. Các Đấng Cao Cả, những Đấng biết thời gian và giờ khắc, sẽ tạo ra trong giống dân gốc của chúng ta điều tương ứng với những biến cố trong các giống dân thứ ba và thứ tư trước kia. |
|
(c.) Methods of Individualisation. We have seen how the characteristic method of individualisation in this solar system is the result of force emanating from the cosmic mental plane, which sweeps into activity those entities whose function it is to form the body of the ego out of their own living substance on the mental plane and thus, through their own quality and nature, endow human units on the physical plane with the faculty of self-consciousness, thus producing Man. It is their work also to energise the mental units of all men, and to co-ordinate, by means of the force which they embody, and to energise the sheaths of the threefold lower man, so that they may in due course of time intelligently express the will and purpose of the indwelling Thinker. Through the carrying out of this function in the case of the human family, certain planetary and systemic conditions are brought about. The dense and etheric bodies of the Logos and of the planetary Logoi are merged, and one coherent vehicle of expression is provided for these cosmic Entities. |
(c.) Các phương pháp biệt ngã hóa. Chúng ta đã thấy phương pháp đặc trưng của biệt ngã hóa trong hệ mặt trời này là kết quả của mãnh lực phát ra từ cõi trí vũ trụ, quét vào hoạt động những thực thể có chức năng tạo thành thể của chân ngã từ chính chất liệu sống của họ trên cõi trí và nhờ đó, qua chính phẩm tính và bản chất của họ, phú cho các đơn vị nhân loại trên cõi hồng trần năng lực ngã thức, nhờ đó tạo ra Con Người. Công việc của họ cũng là tiếp sinh lực cho các đơn vị hạ trí của mọi người, và điều hợp, bằng mãnh lực mà họ thể hiện, đồng thời tiếp sinh lực cho các vỏ bọc của phàm nhân tam phân, để đến đúng thời điểm chúng có thể biểu lộ một cách thông minh ý chí và mục đích của Đấng Tư Tưởng nội tại. Qua việc thực hiện chức năng này trong trường hợp gia đình nhân loại, một số điều kiện hành tinh và hệ thống được tạo ra. Các thể đậm đặc và dĩ thái của Thượng đế và của các Hành Tinh Thượng đế được hòa nhập, và một vận cụ biểu lộ nhất quán được cung cấp cho các Thực Thể vũ trụ này. |
|
In the producing of self-consciousness in the human family, the full conscious occupation by the Logos involved is consummated. It is the moment of fruition, and (from a certain esoteric standpoint) marks the attainment of one perfected Septenary. The three involutionary or elemental kingdoms and the three sub-human [Page 718] kingdoms find their seventh principle in the fourth kingdom in nature, 3 + 4 = 7. When the life of God has circled through these seven kingdoms, then full self-consciousness is achieved from a certain relative standpoint, and the Son is on the way to attainment. This relative perfection has then to be carried on to other stages, but they are stages in which the separated self-consciousness of the Identities concerned (whether human or planetary) must eventually merge itself in universal consciousness. |
Trong việc tạo ra ngã thức trong gia đình nhân loại, sự chiếm hữu hoàn toàn có ý thức của Thượng đế liên quan được hoàn tất. Đó là khoảnh khắc kết quả viên mãn, và (theo một quan điểm huyền bí nhất định) đánh dấu sự đạt thành một Thất Phân hoàn hảo. Ba giới giáng hạ tiến hoá hay giới hành khí và ba giới dưới nhân loại [Page 718] tìm thấy nguyên khí thứ bảy của chúng trong giới thứ tư trong thiên nhiên, 3 + 4 = 7. Khi Sự sống của Thượng đế đã tuần hoàn qua bảy giới này, thì ngã thức trọn vẹn được đạt đến từ một quan điểm tương đối nhất định, và Người Con đang trên đường đạt thành. Sự hoàn thiện tương đối này sau đó phải được tiếp tục đến các giai đoạn khác, nhưng đó là những giai đoạn trong đó ngã thức biệt lập của các Bản Sắc liên hệ (dù là nhân loại hay hành tinh) cuối cùng phải hòa nhập vào tâm thức phổ quát. |
|
Certain centres in the bodies logoic and planetary are also stimulated and the Rays (if it might be so expressed) become radioactive. It is this radiation which will eventually bring about conscious group activity, which will lead to interaction between the planets, and which, under the Law of Attraction and Repulsion, will bring about eventual synthesis. |
Một số trung tâm trong các thể của Thượng đế và hành tinh cũng được kích thích và các cung (nếu có thể diễn đạt như vậy) trở nên có tính phóng xạ. Chính bức xạ này cuối cùng sẽ mang lại hoạt động nhóm có ý thức, dẫn đến sự tương tác giữa các hành tinh, và dưới Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi, sẽ mang lại sự tổng hợp sau cùng. |
|
On extra-systemic or cosmic levels, the individualisation process produces a corresponding activity in the egoic body of the Logos, and hence increased vibration in that centre in the body of the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID, which our Logos represents. It also produces a reaction or “occult recognition” in the prototype of the Septenate, or in the seven Rishis of the Great Bear, and this reaction in cosmic circles will persist until the end of the mahamanvantara, when the Logos is set free (even though temporarily), from physical plane existence. |
Trên các cấp độ ngoài hệ thống hay vũ trụ, tiến trình biệt ngã hóa tạo ra một hoạt động tương ứng trong thể chân ngã của Thượng đế, và do đó làm tăng rung động trong trung tâm ấy trong thể của Đấng Bất Khả Tư Nghị mà Thượng đế của chúng ta đại diện. Nó cũng tạo ra một phản ứng hay “sự nhận biết huyền bí” trong nguyên mẫu của Thất Phân, hay trong bảy vị Rishi của Đại Hùng Tinh, và phản ứng này trong các vòng tròn vũ trụ sẽ kéo dài cho đến hết Đại giai kỳ sinh hóa, khi Thượng đế được giải thoát (dù chỉ tạm thời) khỏi sự hiện hữu trên cõi hồng trần. |
|
It also brings about a setting loose of force from the cosmic mental plane which is cyclic in character. In this round, the fourth, the maximum force of this cycle was felt in the third root race. In the next round, during the fourth root race, and for a very brief period, a fresh cycle will reach its zenith, and will again open the door of individualisation in order to permit the entry of certain very advanced Egos who are seeking [Page 719] incarnation in order to carry out a special piece of work. This round will provide no bodies adequate to their need. The next round may do so if the plans proceed as anticipated. In this case the Manasadevas concerned will not individualise animal men as in the previous round, but will stimulate the mental germ in those members of the present human family who—as H. P. B. says—though apparently men, are without the spark of mind. (240) During the next seven hundred years, these low aboriginal races will practically die out and will not—in this round—reincarnate. They will be rejected. In the next round opportunity will again occur, and the Manasadevas will again renew their work of forming individualistic nuclei for the development of self-consciousness. The Egos awaiting opportunity will not, of course, enter in until the human type of that era is sufficiently refined for their purpose. They are concerned with the unfoldment of the sixth petal of the logoic egoic Lotus, and are of such a nature that we can scarcely conceive of them. They are on the line of the Buddhas of Activity, but the above named are free for this mahamanvantara, whereas these particular Egos have yet somewhat to work out. They could only “come in” in the middle of the fifth round, and were a group of initiates who arrested their own evolution (technically speaking) in order to take up a special piece of work on the planet Vulcan; therefore, they must return to continue and complete that which has been left undone. Owing to the results of their experience on Vulcan, the physical vehicle necessitated is of such an order that they could not at this time, and in this round, incarnate without disaster. |
Nó cũng gây ra sự giải phóng một mãnh lực từ cõi trí vũ trụ có tính chu kỳ. Trong cuộc tuần hoàn này, cuộc tuần hoàn thứ tư, mãnh lực tối đa của chu kỳ này đã được cảm nhận trong giống dân gốc thứ ba. Trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, trong giống dân gốc thứ tư, và trong một thời kỳ rất ngắn, một chu kỳ mới sẽ đạt đến cực điểm, và sẽ lại mở cánh cửa biệt ngã hóa để cho phép một số chân ngã rất tiến hóa đi vào [Page 719] lâm phàm nhằm thực hiện một công việc đặc biệt. Cuộc tuần hoàn này sẽ không cung cấp những thể thích hợp với nhu cầu của họ. Cuộc tuần hoàn kế tiếp có thể làm được điều đó nếu các kế hoạch tiến triển như dự kiến. Trong trường hợp này, các Manasadeva liên hệ sẽ không biệt ngã hóa những người thú như trong cuộc tuần hoàn trước, mà sẽ kích thích mầm trí tuệ nơi những thành viên của gia đình nhân loại hiện nay mà—như H. P. B. nói—dù bề ngoài là người, nhưng không có tia lửa trí tuệ. (240) Trong bảy trăm năm tới, các nhân loại thổ dân thấp kém này trên thực tế sẽ tuyệt chủng và sẽ không—trong cuộc tuần hoàn này—tái sinh. Họ sẽ bị loại bỏ. Trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, cơ hội sẽ lại đến, và các Manasadeva sẽ lại tiếp tục công việc tạo thành các hạt nhân biệt ngã cho sự phát triển ngã thức. Dĩ nhiên, các chân ngã đang chờ cơ hội sẽ không đi vào cho đến khi loại hình nhân loại của thời đại ấy được tinh luyện đủ cho mục đích của họ. Họ liên quan đến sự khai mở cánh hoa thứ sáu của Hoa Sen chân ngã của Thượng đế, và có bản chất đến mức chúng ta hầu như không thể hình dung được. Họ thuộc tuyến của các Đức Phật Hoạt Động, nhưng các Đấng vừa nêu ở trên thì tự do trong Đại giai kỳ sinh hóa này, còn các chân ngã đặc thù này vẫn còn đôi điều phải hoàn tất. Họ chỉ có thể “đi vào” vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm, và là một nhóm điểm đạo đồ đã tự đình lại sự tiến hoá của chính mình (nói theo thuật ngữ kỹ thuật) để đảm nhận một công việc đặc biệt trên hành tinh Vulcan; vì thế, họ phải trở lại để tiếp tục và hoàn tất điều đã bị bỏ dở. Do kết quả kinh nghiệm của họ trên Vulcan, vận cụ hồng trần cần thiết có trật tự đến mức hiện nay, và trong cuộc tuần hoàn này, họ không thể nhập thể mà không gây tai họa. |
|
(240) Such are the Veddhas of Ceylon, the Bushman of Australia, and certain of the lowest of the African races. See S. D., II, 206, 300, 439. (back) |
(240) Đó là những người Veddhas ở Ceylon, người Bushman ở Australia, và một số chủng tộc thấp nhất ở châu Phi. Xem S. D., II, 206, 300, 439. (back) |
|
Individualisation in the next round will begin to show indications of the third method,—that of the next system. [Page 720] This method has been described as that of “occult abstraction.” It will concern itself with the withdrawal from out of the lowest type of the then existing men (through knowledge of the etheric constitution of the body) of the vitality latent in it, and a temporary turning of that latent fire to the increase of the activity of the germ or spark of mind; this will be effected by a dynamic action of the will. This seems impossible, and well nigh senseless phraseology when considered in terms of consciousness and of spirituality, but let the student study the phenomenon in terms of the cosmic physical plane, and from the standpoint of the gaseous and etheric subplanes, and he will see that in all these septenary fires it is ever the fire of matter in reality, and these sevenfold diversifications of electrical phenomena can ever affect each other. |
Biệt ngã hóa trong cuộc tuần hoàn kế tiếp sẽ bắt đầu cho thấy dấu hiệu của phương pháp thứ ba,—phương pháp của hệ thống kế tiếp. [Page 720] Phương pháp này đã được mô tả là phương pháp “trừu xuất huyền bí.” Nó sẽ liên quan đến việc rút ra khỏi loại người thấp nhất lúc bấy giờ đang tồn tại (thông qua tri thức về cấu tạo dĩ thái của thể) sinh lực tiềm ẩn trong đó, và tạm thời chuyển ngọn lửa tiềm ẩn ấy sang làm tăng hoạt động của mầm hay tia lửa trí tuệ; điều này sẽ được thực hiện bằng một tác động năng động của ý chí. Điều này có vẻ bất khả và gần như vô nghĩa khi xét theo tâm thức và tinh thần, nhưng hãy để đạo sinh nghiên cứu hiện tượng ấy theo các thuật ngữ của cõi hồng trần vũ trụ, và từ quan điểm của các cõi phụ khí và dĩ thái, thì y sẽ thấy rằng trong tất cả các ngọn lửa thất phân này, thực ra luôn là lửa của vật chất, và các biến phân thất phân này của hiện tượng điện luôn có thể tác động lẫn nhau. |
|
Thus, in the mahamanvantara, the three methods of individualisation in connection with our planetary scheme are to be seen |
Như vậy, trong Đại giai kỳ sinh hóa, có thể thấy ba phương pháp biệt ngã hóa liên hệ với hệ hành tinh của chúng ta |
|
a. In the Moon chain, the gradual evolution of self-consciousness under natural law. |
a. Trong Dãy Mặt Trăng, sự tiến hoá dần dần của ngã thức dưới định luật tự nhiên. |
|
b. In the Earth chain that of achieved self-consciousness through the aid of extraneous agencies. It is the distinctive method of this system. |
b. Trong Dãy Địa Cầu là ngã thức đạt được nhờ sự trợ giúp của các tác nhân bên ngoài. Đó là phương pháp đặc thù của hệ thống này. |
|
c. In the next round and chain the method will be abstraction through will power, but this in an embryonic manner. |
c. Trong cuộc tuần hoàn và dãy kế tiếp phương pháp sẽ là trừu xuất bằng quyền năng ý chí, nhưng theo cách phôi thai. |
|
I have dealt with these three from the standpoint of our own scheme. In all the schemes whereon man is found at some period or another, these three methods will be contacted. They mark the gradual control by the Logos on cosmic levels of His threefold lower nature. In the first, the correspondence lies in the latent consciousness of matter, and works under the Law of Economy. It concerns primarily the Self-consciousness of the Logos [Page 721] in His dense physical body, and His polarisation therein. It is likewise the same for a Heavenly Man, and a part of the mystery of evil is to be found in the readiness of certain of these cosmic entities (particularly our planetary Logos in the moon chain) to remain polarised in the physical etheric body after having supposedly dominated the material aspect, or gained the control of the third Fire in an earlier system. A hint lies here for the wise student anent present evil on this planet. |
Tôi đã bàn đến ba phương pháp này từ quan điểm của hệ hành tinh riêng của chúng ta. Trong mọi hệ hành tinh nơi con người được tìm thấy vào giai đoạn này hay giai đoạn khác, ba phương pháp này đều sẽ được tiếp xúc. Chúng đánh dấu sự kiểm soát dần dần của Thượng đế trên các cấp độ vũ trụ đối với bản chất thấp tam phân của Ngài. Trong phương pháp thứ nhất, sự tương ứng nằm trong tâm thức tiềm ẩn của vật chất, và hoạt động dưới Định luật Tiết Kiệm. Nó chủ yếu liên quan đến ngã thức của Thượng đế trong thể hồng trần đậm đặc của Ngài, và sự phân cực của Ngài trong đó. Điều này cũng tương tự đối với một Đấng Thiên Nhân, và một phần của huyền nhiệm về điều ác có thể được tìm thấy trong sự sẵn lòng của một số thực thể vũ trụ này (đặc biệt là Hành Tinh Thượng đế của chúng ta trong Dãy Mặt Trăng) tiếp tục phân cực trong thể dĩ thái hồng trần sau khi được cho là đã chế ngự phương diện vật chất, hay đã đạt quyền kiểm soát ngọn Lửa thứ ba trong một hệ thống trước đó. Ở đây có một gợi ý cho đạo sinh minh triết liên quan đến điều ác hiện nay trên hành tinh này.[Page 721] |
|
The second correspondence concerns the latent “consciousness of desire,” and works under the Law of Attraction; it is the law for this system, and deals with the ability of the Logos to “love wisely,” in the occult sense of the term. It has relation to the polarisation of the Logos in His astral body, and produces the phenomenon called “sex activity” on all planes in the system. In the earlier system, emancipation was effected through the faculty of discrimination, though that word as used to-day is but a faint indication of the systemic process in those days. Through the force engendered during the process that vibration was set up which persists to-day in matter. It is evidenced by the active intelligence and the discriminative selective capacity of the atom of substance. In this system emancipation will be brought about through the line of occult dispassion; this likewise will leave its mark upon matter, tinging it in such a way that in the third system, primordial substance will demonstrate a second quality. In the next system “non-attachment through abstraction” is as near as we can get to the method of the liberating process but it is useless for man to speculate upon this as his mind cannot conceive of the condition. |
Sự tương ứng thứ hai liên quan đến “tâm thức của dục vọng” tiềm ẩn, và hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn; đó là định luật của hệ thống này, và liên quan đến khả năng của Thượng đế “yêu thương một cách minh triết,” theo nghĩa huyền bí của thuật ngữ ấy. Nó có liên hệ với sự phân cực của Thượng đế trong thể cảm dục của Ngài, và tạo ra hiện tượng gọi là “hoạt động tính dục” trên mọi cõi trong hệ thống. Trong hệ thống trước, sự giải thoát đã được thực hiện qua năng lực phân biện, dù từ ấy như được dùng ngày nay chỉ là một chỉ dấu mờ nhạt về tiến trình hệ thống trong những thời kỳ đó. Qua mãnh lực được tạo ra trong tiến trình ấy, rung động đó đã được thiết lập và vẫn còn tồn tại trong vật chất cho đến ngày nay. Nó được chứng tỏ qua trí thông minh hoạt động và năng lực chọn lọc phân biện của nguyên tử chất liệu. Trong hệ thống này, sự giải thoát sẽ được mang lại qua con đường vô dục huyền bí; điều này cũng sẽ để lại dấu ấn của nó trên vật chất, nhuộm nó theo cách mà trong hệ thống thứ ba, chất liệu nguyên sơ sẽ biểu lộ một phẩm tính thứ hai. Trong hệ thống kế tiếp, “vô chấp qua trừu xuất” là cách gần nhất mà chúng ta có thể diễn đạt phương pháp của tiến trình giải thoát, nhưng con người suy đoán về điều này là vô ích vì trí tuệ của y không thể hình dung được trạng thái ấy. |
|
(d.) Avatars, Their nature and Their Work. We have, in our discussion above, connected the phenomenon of individualisation with the appropriation by the Logos, or by a planetary Logos, of Their dense physical vehicles, [Page 722] and Their self-conscious existence through the medium of the physical body. A very difficult and mysterious subject might be touched upon here,—that of AVATARS, and though it will not be possible for us to expound it fully, as it is one of the most occult and secret of the mysteries, perhaps a little light may be thrown upon this profound subject. For purposes of clarity and in order to elucidate a matter of extreme difficulty to the occidental mind above all (on account of the fact that it has not yet grasped the rationale of the process of reincarnation), it would be wise to divide the differing types of avatars into five groups, bearing in mind that every avatar is a Ray, emanated from a pure spiritual source, and that a self-conscious entity only earns the right to this peculiar form of work through a previous series of lives of achievement. |
(d.) Các Đấng Hoá Thân, bản chất và Công việc của Các Ngài. Trong phần bàn luận trên, chúng ta đã liên kết hiện tượng biệt ngã hóa với việc Thượng đế, hay một Hành Tinh Thượng đế, chiếm hữu các vận cụ hồng trần đậm đặc của Các Ngài, [Page 722] và sự hiện hữu ngã thức của Các Ngài qua trung gian thể hồng trần. Ở đây có thể chạm đến một chủ đề rất khó và huyền nhiệm,—đó là các Đấng Hoá Thân, và dù chúng ta không thể trình bày đầy đủ, vì đó là một trong những huyền nhiệm huyền bí và bí mật nhất, có lẽ vẫn có thể soi rọi đôi chút ánh sáng lên chủ đề thâm sâu này. Vì mục đích minh bạch và để làm sáng tỏ một vấn đề cực kỳ khó đối với tâm trí phương Tây trên hết (do thực tế là nó vẫn chưa nắm được căn cứ hợp lý của tiến trình tái sinh), sẽ là khôn ngoan nếu chia các loại Đấng Hoá Thân khác nhau thành năm nhóm, đồng thời ghi nhớ rằng mỗi Đấng Hoá Thân là một cung, phát ra từ một nguồn tinh thần thuần khiết, và rằng chỉ một thực thể ngã thức mới giành được quyền đối với hình thức công việc đặc thù này qua một chuỗi đời sống thành tựu trước đó. |
|
1. Cosmic Avatars. |
1. Các Đấng Hoá Thân vũ trụ. |
|
2. Solar Avatars. |
2. Các Đấng Hoá Thân thái dương. |
|
3. Inter-planetary Avatars. |
3. Các Đấng Hoá Thân liên hành tinh. |
|
4. Planetary Avatars. |
4. Các Đấng Hoá Thân hành tinh. |
|
5. Human Avatars. |
5. Các Đấng Hoá Thân nhân loại. |
|
As just said, an avatar is a Ray of effulgent and perfected glory, clothing itself in matter for the purpose of service. All avatars in the strict sense of the word are liberated souls, but the cosmic and solar avatars are liberated from the two lower planes of the cosmic planes. While the planetary and the interplanetary avatars are liberated from the cosmic physical plane, our systemic planes, the human avatar has achieved freedom from the five planes of human endeavour. In a strictly technical and lower sense, a Master in physical plane incarnation is a type of avatar, for He is a “freed soul” and therefore only chooses to incarnate for specific purpose, but we [Page 723] will not deal with Them. Let us again subdivide these groups so as still further to clarify our ideas: |
Như vừa nói, một Đấng Hoá Thân là một cung của vinh quang rực sáng và hoàn hảo, khoác lấy vật chất vì mục đích phụng sự. Mọi Đấng Hoá Thân theo nghĩa nghiêm ngặt của từ này đều là những linh hồn được giải thoát, nhưng các Đấng Hoá Thân vũ trụ và thái dương được giải thoát khỏi hai cõi thấp của các cõi vũ trụ. Trong khi đó, các Đấng Hoá Thân hành tinh và liên hành tinh được giải thoát khỏi cõi hồng trần vũ trụ, tức các cõi của hệ thống chúng ta, còn Đấng Hoá Thân nhân loại đã đạt tự do khỏi năm cõi của nỗ lực nhân loại. Theo nghĩa kỹ thuật nghiêm ngặt và thấp hơn, một Chân sư đang lâm phàm trên cõi hồng trần là một loại Đấng Hoá Thân, vì Ngài là một “linh hồn được giải thoát” và do đó chỉ chọn nhập thể vì một mục đích đặc thù, nhưng chúng ta [Page 723] sẽ không bàn đến Các Ngài. Chúng ta hãy lại chia nhỏ các nhóm này để làm sáng tỏ hơn nữa các ý niệm của mình: |
|
1. Cosmic Avatars: They represent embodied force from the following cosmic centres among others: |
1. Các Đấng Hoá Thân vũ trụ: Các Ngài đại diện cho mãnh lực nhập thể từ những trung tâm vũ trụ sau đây, cùng những trung tâm khác: |
|
a. Sirius. |
a. Sirius. |
|
b. That one of the seven stars of the Great Bear which is ensouled by the prototype of the Lord of our third major Ray. |
b. Ngôi sao trong bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh được phú linh bởi nguyên mẫu của Đấng Chúa Tể cung chính thứ ba của chúng ta. |
|
c. Our cosmic centre. |
c. Trung tâm vũ trụ của chúng ta. |
|
They represent entities as far removed from the consciousness of Man, as man is from the consciousness of the atom of substance. Thousands of those great cycles which we call “a hundred years of Brahma” have passed since They approximated the human stage, and They embody force and consciousness which is concerned with the intelligent co-ordination of the starry Heavens. |
Các Ngài đại diện cho những thực thể cách xa tâm thức của Con Người cũng như con người cách xa tâm thức của nguyên tử chất liệu. Hàng ngàn đại chu kỳ mà chúng ta gọi là “một trăm năm của Brahma” đã trôi qua kể từ khi Các Ngài tiến gần giai đoạn nhân loại, và Các Ngài thể hiện mãnh lực và tâm thức liên quan đến sự điều hợp thông minh của các Thiên giới đầy sao. |
|
They have achieved all that man can conceive of as the transcendence of will, of love and of intelligence, and in the synthesis of those three have added qualities and vibrations for which we have no terms, and which cannot be visioned by even our highest adepts. Their appearance in a solar system is very unusual, and is only recognised on the highest two planes. Yet, owing to the material nature of our solar system, Their advent is literally the appearance in a physical form of a spiritual Being Who is fully conscious. |
Các Ngài đã đạt được mọi điều mà con người có thể hình dung là sự siêu vượt của ý chí, của bác ái và của trí tuệ, và trong sự tổng hợp của ba điều ấy, Các Ngài đã thêm vào những phẩm tính và rung động mà chúng ta không có từ ngữ để diễn tả, và ngay cả các chân sư cao nhất của chúng ta cũng không thể có linh ảnh về chúng. Sự xuất hiện của Các Ngài trong một hệ mặt trời là điều rất hiếm, và chỉ được nhận biết trên hai cõi cao nhất. Tuy nhiên, do bản chất vật chất của hệ mặt trời chúng ta, sự giáng lâm của Các Ngài theo nghĩa đen là sự xuất hiện trong một hình tướng hồng trần của một Thực Thể tinh thần hoàn toàn hữu thức. |
|
Such entities from Sirius appear at the occasion of the initiation of the solar Logos, and They have a peculiar connection with the five Kumaras and through Them (using Them as focal points for force) with the Mahachohan’s department in all the occult Hierarchies of the system. Only once has such a Being visited our system, in connection with the appearance in time and space of the five mind-born Sons of Brahma. The effect of such a visit as that of the Avatar from Sirius is seen [Page 724] as the sumtotal of civilisation and culture, viewing these from the standpoint of the entire system and in one flash of time. |
Những thực thể như vậy từ Sirius xuất hiện vào dịp điểm đạo của Thái dương Thượng đế, và Các Ngài có một mối liên hệ đặc biệt với năm vị Kumara và qua các Ngài (dùng các Ngài như những tiêu điểm của mãnh lực) với bộ phận của Đức Mahachohan trong mọi Huyền Giai huyền bí của hệ thống. Chỉ một lần duy nhất một Thực Thể như vậy đã viếng thăm hệ thống của chúng ta, liên quan đến sự xuất hiện trong thời gian và không gian của năm Người Con do tâm sinh của Brahma. Tác động của một cuộc viếng thăm như của Đấng Hoá Thân từ Sirius được thấy [Page 724] như tổng thể của văn minh và văn hóa, nếu nhìn chúng từ quan điểm của toàn bộ hệ thống và trong một khoảnh khắc thời gian duy nhất. |
|
An avatar from the cosmic centre will appear as pralaya is nearing and will produce in the body of the Logos that which we call “Death.” He is the cosmic Reaper, and (to reduce the above to words of an understandable nature) He belongs to a group which represents the abstracting energy of the cosmos, of which we find faint correspondences in the work of the “destroyer” aspect of the Logos, and in the forces which produce physical death, and the disintegration of the physical body of man. It is not possible to say more on these fundamentally esoteric matters, and the value of what is said lies largely in the bringing to the mind of the student the reality of our cosmic interrelation. |
Một Đấng Hoá Thân từ trung tâm vũ trụ sẽ xuất hiện khi Giai kỳ qui nguyên đang đến gần và sẽ tạo ra trong thể của Thượng đế điều mà chúng ta gọi là “Cái Chết.” Ngài là Đấng Gặt Hái vũ trụ, và (để giản lược điều trên thành những lời có thể hiểu được) Ngài thuộc về một nhóm tiêu biểu cho năng lượng rút tách của vũ trụ, mà chúng ta thấy những tương ứng mờ nhạt trong công việc của phương diện “hủy diệt” của Thượng đế, và trong các mãnh lực tạo ra cái chết hồng trần, cùng sự tan rã của thể xác con người. Không thể nói thêm gì về những vấn đề nội môn căn bản này, và giá trị của điều được nói ra phần lớn nằm ở chỗ đem đến cho trí tuệ của đạo sinh thực tại về sự tương liên vũ trụ của chúng ta. |
|
2. Solar Avatars: These avatars are of three types though there are really many more. They are also extra-systemic visitors, and are mainly concerned with certain processes in the system, among others the administration of the law of cause and effect, or of karma. They embody the karma of the past kalpas as far as our Logos is concerned, and give the initiatory impulse to the processes of adjustment, of expiation and of recognition as it concerns the present system as a whole. One such Entity, the “Karmic Avatar” appeared upon the second logoic vibration, being swept in on the second Breath; He has stayed until now: He will remain with us until all the schemes have entered upon their fifth round, and are nearing their “Judgment Day.” At that time, He can withdraw, leaving the planetary Logoi concerned to fulfil the karmic purpose unwatched. The vibratory impulse will then be so strong and the realisation of the buddhic principle so consciously vivid that nothing can then arrest the onward march of affairs. Under Him work a number of cosmic entities who, as stated in the Secret [Page 725] Doctrine, (241) have the privilege of “passing the ring-pass-not”; these are, nevertheless, not avatars for They are Themselves evolving through the administration of karma. It is Their work, and opportunity to progress. An avatar can learn nothing from the place of His appearance. His work is to apply the force of some type of electrical energy to substance in one of its many grades, and thus bring about anticipated results. |
2. Các Đấng Hoá Thân Thái Dương: Những Đấng Hoá Thân này có ba loại dù thực ra còn nhiều hơn nữa. Các Ngài cũng là những vị khách ngoài hệ, và chủ yếu liên quan đến một số tiến trình trong hệ, trong đó có việc quản trị định luật nhân quả, hay nghiệp quả. Các Ngài hiện thân cho nghiệp quả của các giai kỳ sinh hóa quá khứ xét theo Thượng đế của chúng ta, và ban xung lực điểm đạo cho các tiến trình điều chỉnh, đền bù và nhận biết khi liên quan đến toàn bộ hệ hiện tại. Một Thực Thể như thế, “Đấng Hoá Thân Nghiệp Quả,” đã xuất hiện trên rung động logoi thứ hai, được cuốn vào theo Hơi Thở thứ hai; Ngài đã lưu lại cho đến nay: Ngài sẽ ở với chúng ta cho đến khi mọi hệ hành tinh đã bước vào cuộc tuần hoàn thứ năm của chúng, và đang tiến gần “Ngày Phán Xét” của chúng. Khi đó, Ngài có thể rút lui, để lại các Hành Tinh Thượng đế liên hệ tự hoàn thành mục đích nghiệp quả mà không bị giám sát. Khi ấy xung lực rung động sẽ mạnh đến mức và sự chứng nghiệm nguyên khí Bồ đề sẽ sống động một cách hữu thức đến mức không gì còn có thể ngăn cản bước tiến đi lên của các sự việc. Dưới quyền Ngài hoạt động một số thực thể vũ trụ, những vị mà, như được nói trong Giáo Lý [Page 725]Bí Nhiệm, (241) có đặc quyền “vượt qua vòng-giới-hạn”; tuy nhiên, các vị này không phải là các Đấng Hoá Thân vì chính Các Ngài đang tiến hoá thông qua việc quản trị nghiệp quả. Đó là công việc của Các Ngài, và là cơ hội để tiến bộ. Một Đấng Hoá Thân không thể học được gì từ nơi Ngài xuất hiện. Công việc của Ngài là áp dụng mãnh lực của một loại năng lượng điện nào đó lên chất liệu ở một trong nhiều cấp độ của nó, và nhờ đó mang lại những kết quả đã được dự liệu trước. |
|
(241) These are the Lipika Lords. See S. D., I, 157. (back) |
(241) Đây là các Đấng Lipika. Xem G. L. B. N., I, 157. (back) |
|
Another type of solar avatar, Who can be seen appearing in the schemes, has relation to the heart centre of a planetary Logos, and appears on the higher planes (never on the lower) when the heart activity is making itself felt, and when the energising process is seen to bring about three things: |
Một loại Đấng Hoá Thân thái dương khác, có thể được thấy xuất hiện trong các hệ hành tinh, có liên hệ với trung tâm tim của một Hành Tinh Thượng đế, và xuất hiện trên các cõi cao (không bao giờ trên các cõi thấp) khi hoạt động tim đang tự biểu lộ, và khi tiến trình tiếp năng lượng được thấy là mang lại ba điều: |
|
a. An expansion of consciousness. |
a. Một sự mở rộng tâm thức. |
|
b. An increase of spiritual light and brilliancy. |
b. Một sự gia tăng ánh sáng tinh thần và sự rực rỡ. |
|
c. Planetary radioactivity. |
c. Tính phóng xạ hành tinh. |
|
It is this planetary phenomenon which produces (in connection with the fourth kingdom in nature) the throwing open of the door of initiation to man. Such avatars do not come in connection with any particular Hierarchy but only in relation to the total system. They produce the blending of the colours, and the synthesis of the units in their groups. |
Chính hiện tượng hành tinh này tạo ra (liên quan đến giới thứ tư trong thiên nhiên) việc mở rộng cánh cửa điểm đạo cho con người. Những Đấng Hoá Thân như thế không đến trong liên hệ với bất kỳ Thánh đoàn riêng biệt nào mà chỉ trong liên hệ với toàn bộ hệ. Các Ngài tạo ra sự hòa trộn các màu sắc, và sự tổng hợp các đơn vị trong các nhóm của chúng. |
|
At the initiation of a planetary Logos, an avatar may appear in His scheme on the seventh globe from that cosmic centre or star which is ensouled by the particular Rishi Who (in the constellation of the Great Bear) is His cosmic prototype. This is, for the Entity concerned, the taking of a physical form, for our higher planes are but matter from Their standpoint. This has been emphasised frequently, as its significance is not yet sufficiently grasped. By means of the appearance of this Avatar on the seventh globe, the planetary Logos is [Page 726] enabled to preserve continuity of cosmic consciousness even when in physical incarnation; this solar avatar performs the same function for the planetary Logos as the Guru does for His disciple. He makes certain events possible by means of the stimulation and protection of His aura, and He acts as a transmitter of electrical energy from the cosmic centre. We must be careful to hold this analogy very lightly, for the real work accomplished cannot be grasped by man. This avatar has naturally a direct effect upon the centres of the Heavenly Man and therefore upon the units or human Monads, but only indirectly and upon the Monad on its own plane. This influence meets with little response from the Monad until after the third Initiation when its conscious life becomes so strong that it grips afresh its egoic expression in one direction, and awakens to planetary realisation in another. This type of avatar appears only at the time of the initiation of a planetary Logos. The number of initiations taken by a planetary Logos in this system vary from two to four. |
Vào lúc điểm đạo của một Hành Tinh Thượng đế, một Đấng Hoá Thân có thể xuất hiện trong hệ hành tinh của Ngài trên bầu hành tinh thứ bảy từ trung tâm vũ trụ hay ngôi sao được phú linh bởi vị Rishi đặc biệt là nguyên mẫu vũ trụ của Ngài (trong chòm Đại Hùng Tinh). Đối với Thực Thể liên hệ, đây là việc mang lấy một hình thể hồng trần, vì các cõi cao của chúng ta chỉ là vật chất theo quan điểm của Các Ngài. Điều này đã được nhấn mạnh nhiều lần, vì ý nghĩa của nó vẫn chưa được nắm bắt đầy đủ. Nhờ sự xuất hiện của Đấng Hoá Thân này trên bầu hành tinh thứ bảy, Hành Tinh Thượng đế được [Page 726] giúp duy trì tính liên tục của tâm thức vũ trụ ngay cả khi đang lâm phàm; Đấng Hoá Thân thái dương này thực hiện cùng một chức năng đối với Hành Tinh Thượng đế như Guru đối với đệ tử của Ngài. Ngài làm cho một số biến cố trở nên khả hữu nhờ sự kích thích và bảo vệ của hào quang Ngài, và Ngài hành động như một kênh truyền năng lượng điện từ trung tâm vũ trụ. Chúng ta phải cẩn trọng khi nắm giữ phép loại suy này một cách rất nhẹ nhàng, vì công việc thực sự được hoàn thành thì con người không thể hiểu được. Đấng Hoá Thân này dĩ nhiên có một tác động trực tiếp lên các trung tâm của Đấng Thiên Nhân và do đó lên các đơn vị hay các chân thần nhân loại, nhưng chỉ gián tiếp và lên chân thần trên chính cõi của nó. Ảnh hưởng này ít nhận được đáp ứng từ chân thần cho đến sau lần điểm đạo thứ ba khi sự sống hữu thức của nó trở nên mạnh đến mức nó lại nắm lấy biểu hiện chân ngã của mình theo một hướng, và thức tỉnh đối với sự chứng nghiệm hành tinh theo một hướng khác. Loại Đấng Hoá Thân này chỉ xuất hiện vào lúc điểm đạo của một Hành Tinh Thượng đế. Số lần điểm đạo mà một Hành Tinh Thượng đế tiếp nhận trong hệ này thay đổi từ hai đến bốn. |
|
3. Interplanetary Avatars. A very interesting group of avatars is here to be found. They are mainly concerned with three things: first with the superintendence of the transfer of force units or egoic groups from one scheme to another (not with individual units from chain to chain). They appear usually twice in the history of a scheme, and though unable to take physical bodies of grosser material than those formed of atmic and the buddhic substance, they work with impulse in mental matter and thus effect these group transfers. They Themselves are subdivided into three groups: |
3. Các Đấng Hoá Thân Liên Hành Tinh. Ở đây có thể tìm thấy một nhóm Đấng Hoá Thân rất thú vị. Các Ngài chủ yếu liên quan đến ba điều: thứ nhất là việc giám sát sự chuyển dịch các đơn vị mãnh lực hay các nhóm chân ngã từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác (không phải các đơn vị cá biệt từ dãy này sang dãy khác). Các Ngài thường xuất hiện hai lần trong lịch sử của một hệ hành tinh, và dù không thể mang các thể xác hồng trần bằng vật chất thô nặng hơn những thể được tạo thành từ chất liệu atma và Bồ đề, Các Ngài vẫn hoạt động với xung lực trong chất liệu trí tuệ và nhờ đó thực hiện các sự chuyển dịch nhóm này. Chính Các Ngài lại được phân chia thành ba nhóm: |
|
a. Those effecting the transfer from the minor schemes or Ray manifestations on to the third Ray; They concern Themselves with the result of the merging of the polar opposites in the four [Page 727] lesser schemes until but one is left; and then with the transference of the life and quality of this remaining one on to the third Ray. |
a. Những vị thực hiện sự chuyển dịch từ các hệ hành tinh nhỏ hay các biểu hiện cung sang cung ba; Các Ngài quan tâm đến kết quả của sự hợp nhất các cực đối lập trong bốn [Page 727] hệ hành tinh nhỏ cho đến khi chỉ còn lại một; rồi sau đó đến sự chuyển dịch sự sống và phẩm tính của hệ còn lại này sang cung ba. |
|
b. Those dealing with the transference and interaction of the life forces between the three major Rays. |
b. Những vị xử lý sự chuyển dịch và tương tác của các mãnh lực sự sống giữa ba Cung chính yếu. |
|
c. Those producing the final systemic transfer at the end of the age. |
c. Những vị tạo ra sự chuyển dịch hệ thống cuối cùng vào cuối thời đại. |
|
Secondly, certain avatars from the fourth Creative Hierarchy, for esoteric and for us inexplicable reasons, leave Their Own Hierarchy, and appear in one or other of the deva Hierarchies. This happens only once in the history of each scheme and occurs at the time of its densest physical appearance, and has relation to the transference of deva impulse from one scheme to another. They are connected in this way with the appearance of the self-conscious units, being the primal embodiment of the latent self-consciousness of the atom of deva substance. They set the type for the devas of any particular scheme. |
Thứ hai, một số Đấng Hoá Thân từ Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, vì những lý do huyền bí và không thể giải thích đối với chúng ta, rời khỏi chính Huyền Giai của Các Ngài, và xuất hiện trong một hay một Huyền Giai thiên thần khác. Điều này chỉ xảy ra một lần trong lịch sử của mỗi hệ hành tinh và diễn ra vào lúc biểu hiện hồng trần đậm đặc nhất của nó, và có liên hệ đến sự chuyển dịch xung lực thiên thần từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác. Theo cách này, Các Ngài liên hệ với sự xuất hiện của các đơn vị ngã thức, là hiện thân nguyên sơ của ngã thức tiềm tàng của nguyên tử chất liệu thiên thần. Các Ngài đặt ra kiểu mẫu cho các thiên thần của bất kỳ hệ hành tinh đặc biệt nào. |
|
Once in the history of each scheme, an avatar from the constellation Capricorn appears on mental levels. This level is the lowest one on which these interplanetary deities appear. No more can be communicated on this matter. “The mystery of the goat” lies hidden here. This avatar makes His appearance in the third round of the third chain, and disappears in the fifth round of the fourth chain. |
Một lần trong lịch sử của mỗi hệ hành tinh, một Đấng Hoá Thân từ chòm Ma Kết xuất hiện trên các cấp độ trí tuệ. Đây là cấp độ thấp nhất mà trên đó các thần linh liên hành tinh này xuất hiện. Không thể truyền đạt thêm gì về vấn đề này. “Bí nhiệm của con dê” được ẩn giấu ở đây. Đấng Hoá Thân này xuất hiện trong cuộc tuần hoàn thứ ba của dãy thứ ba, và biến mất trong cuộc tuần hoàn thứ năm của Dãy Thứ Tư. |
|
These interplanetary avatars come in, as the products of much earlier kalpas when systemic conditions are refined enough to permit of Their appearance. They are the nirmanakayas of an earlier solar cycle Who now again take the opportunity to effect (in an active sense and through physical manifestation) certain uncompleted work. |
Các Đấng Hoá Thân liên hành tinh này đi vào như những sản phẩm của các giai kỳ sinh hóa sớm hơn rất nhiều khi các điều kiện hệ thống đã đủ tinh luyện để cho phép Các Ngài xuất hiện. Các Ngài là các nirmanakaya của một chu kỳ thái dương trước kia, nay lại nắm lấy cơ hội để thực hiện (theo nghĩa chủ động và thông qua biểu hiện hồng trần) một số công việc chưa hoàn tất. |
|
4. Planetary Avatars. These emanate from the central [Page 728] planetary Logos of a scheme and embody His will and purpose. They are of two different kinds. The first type is a manifestation on etheric physical levels of the planetary Logos Himself for a specific length of time. It involves the definite taking of a physical body by one of the Kumaras. Such an avatar is to be seen in Sanat Kumara, Who, with the three other Kumaras, embodies the four planetary quaternic principles. In a very real sense, Sanat Kumara is the incarnation of the Lord of the Ray Himself; He is the Silent Watcher, the great Sacrifice for humanity. (S. D., I, 494; II, 112, 149, 333.) |
4. Các Đấng Hoá Thân Hành Tinh. Các Ngài xuất lộ từ Hành Tinh Thượng đế trung tâm của một hệ hành tinh và hiện thân cho ý chí và mục đích của Ngài. Các Ngài có hai loại khác nhau. Loại thứ nhất là một biểu hiện [Page 728] trên các cấp độ hồng trần dĩ thái của chính Hành Tinh Thượng đế trong một khoảng thời gian xác định. Điều này bao hàm việc một trong các Kumara nhất định mang lấy một thể xác hồng trần. Một Đấng Hoá Thân như thế có thể thấy nơi Đức Sanat Kumara, Đấng cùng với ba Kumara khác hiện thân cho bốn nguyên khí tứ phân hành tinh. Theo một ý nghĩa rất thực, Đức Sanat Kumara là sự nhập thể của chính Chúa Tể của Cung; Ngài là Đấng Quan Sát Thầm Lặng, là Sự Hy Sinh vĩ đại cho nhân loại. (G. L. B. N., I, 494; II, 112, 149, 333.) |
|
As noted in the above paragraph, there are secondly three Entities Who embody planetary principles. They are (speaking from the present standpoint) the dynamic energy which holds together the three lower kingdoms, viewing these kingdoms as units and not as differentiations. They are closely connected with the energy aspect of the three earlier chains, and it only needed the work of an interplanetary avatar (at the formation of the triangle which resulted in the individualisation period in Lemurian days) to enable Them to take etheric bodies and incarnate among men. They act as focal points for the energy of the planetary Logos on His own plane. The first Kumara is in a mysterious sense the energy which produces self-consciousness in the human family. The three other kumaras, or the three Buddhas of Activity, act as similar focal points for the energy which animates the three lower kingdoms, and which produces their differing grades of consciousness. It is not possible to express this great mystery more clearly but if the student couples these few hints with those earlier given in the Secret Doctrine, the mystery of the “Holy Four” may be somewhat clarified from the standpoint of energy and evolution. |
Như đã lưu ý trong đoạn trên, thứ hai có ba Thực Thể hiện thân cho các nguyên khí hành tinh. Các Ngài là (nói từ quan điểm hiện tại) năng lượng động lực giữ ba giới thấp lại với nhau, xét các giới này như những đơn vị chứ không phải như những sự biến phân. Các Ngài liên hệ mật thiết với phương diện năng lượng của ba dãy trước đó, và chỉ cần công việc của một Đấng Hoá Thân liên hành tinh (vào lúc hình thành tam giác dẫn đến thời kỳ biệt ngã hóa trong những ngày Lemuria) là đủ để giúp Các Ngài mang lấy các thể dĩ thái và nhập thể giữa loài người. Các Ngài hành động như những điểm hội tụ cho năng lượng của Hành Tinh Thượng đế trên chính cõi của Ngài. Kumara thứ nhất, theo một ý nghĩa huyền nhiệm, là năng lượng tạo ra ngã thức trong gia đình nhân loại. Ba Kumara khác, hay ba Đức Phật Hoạt Động, hành động như những điểm hội tụ tương tự cho năng lượng làm sinh động ba giới thấp, và tạo ra các cấp độ tâm thức khác nhau của chúng. Không thể diễn đạt bí nhiệm lớn lao này rõ hơn, nhưng nếu đạo sinh kết hợp vài gợi ý này với những điều đã được đưa ra trước đó trong Giáo Lý Bí Nhiệm, thì bí nhiệm của “Bốn Đấng Thiêng Liêng” có thể phần nào được làm sáng tỏ từ quan điểm năng lượng và tiến hoá. |
|
The times and seasons of their appearing vary according [Page 729] to the particular karma of the Lord of the Ray, and nothing in connection with these great cycles, and incarnation periods, can be revealed to the unpledged and the profane. |
Thời điểm và mùa kỳ xuất hiện của Các Ngài thay đổi tùy theo [Page 729] nghiệp quả đặc biệt của Chúa Tể của Cung, và không điều gì liên quan đến các chu kỳ lớn lao này, cùng các thời kỳ nhập thể, có thể được tiết lộ cho những người chưa tuyên thệ và kẻ phàm tục. |
|
5. Các Đấng Hoá Thân Nhân Loại. Các Ngài đã được H. P. B. bàn đến đầy đủ và không còn gì để thêm vào thông tin của bà, vì thời cơ chưa chín muồi. (G. L. B. N., III, Phần 41; III, 345.) Tất cả những điều trên đều có chỗ đứng ở đây, vì chúng liên quan đến bí nhiệm của mãnh lực và tâm thức, và sự biểu hiện đầy đủ nhất của một Hành Tinh Thượng đế và của một Thái dương Thượng đế trong một thể xác hồng trần đậm đặc được ẩn giấu trong sự xuất hiện của các Đấng Hoá Thân khác nhau này và trong tác động của Các Ngài. |
|
|
(e.) Individualisation, a form of Initiation. There is but little more that can be said at this time anent individualisation. What has been said here and in the Secret Doctrine is but a manner of endeavouring to express profound and significant facts, concerning existence and manifestation, in terms of human thought, and through the limiting medium of language. From the most esoteric standpoint “Man is a deva;” he is Spirit and deva substance, united through the work of conscious deva energy. He unites within himself the three aspects of the Deity. He is, while in objectivity: |
(e.) Biệt ngã hóa, một hình thức điểm đạo. Hiện nay chỉ có thể nói thêm rất ít về biệt ngã hóa. Điều đã được nói ở đây và trong Giáo Lý Bí Nhiệm chỉ là một cách cố gắng diễn đạt những sự kiện sâu xa và đầy ý nghĩa liên quan đến hiện hữu và biểu hiện bằng những thuật ngữ của tư tưởng con người, và thông qua môi trường hạn chế của ngôn ngữ. Từ quan điểm huyền bí nhất, “Con người là một thiên thần;” y là tinh thần và chất liệu thiên thần, được hợp nhất nhờ công việc của năng lượng thiên thần hữu thức. Y hợp nhất trong chính mình ba phương diện của Thượng đế. Khi ở trong tính khách quan, y là: |
|
1. The Self, the Not-Self, and the intelligent link in a very vital sense. |
1. Bản Ngã, Phi Ngã, và mối liên kết thông tuệ theo một ý nghĩa rất sinh động. |
|
2. He is Shiva, Vishnu, and Brahma, in synthetic manifestation. |
2. Y là Shiva, Vishnu, và Brahma, trong biểu hiện tổng hợp. |
|
3. He is the medium whereby the Will of God, the Love of God, and the Mind of God become intelligible and apparent. |
3. Y là môi trường nhờ đó Ý Chí của Thượng Đế, Tình thương/Bác ái của Thượng đế, và Trí của Thượng đế trở nên có thể hiểu được và hiển lộ. |
|
4. He is positive electrical force, plus negative electrical force, plus the equilibrising medium. |
4. Y là mãnh lực điện dương, cộng với mãnh lực điện âm, cộng với môi trường quân bình hóa. |
|
5. He is the Flame, the Fire, and the Spark in essential manifestation. |
5. Y là Ngọn Lửa, Lửa, và Tia Lửa trong biểu hiện cốt yếu. |
|
6. He is electric fire, solar fire and fire by friction. |
6. Y là Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát. |
|
[Page 730] But the point which it is necessary here to emphasise, is that man does not, in space and time and in the three worlds, demonstrate all these aspects simultaneously, but only simultaneously towards the close of the process of evolution. As in the Macrocosm, Brahma manifests activity first, then the second or middle aspect and finally the first or purposeful will makes itself seen, so with the microcosm. |
[Page 730] Nhưng điểm cần được nhấn mạnh ở đây là con người không biểu lộ tất cả các phương diện này đồng thời trong không gian và thời gian và trong ba cõi giới, mà chỉ đồng thời vào gần cuối tiến trình tiến hoá. Cũng như trong Đại thiên địa, Brahma biểu lộ hoạt động trước tiên, rồi đến phương diện thứ hai hay trung gian, và cuối cùng ý chí thứ nhất hay có mục đích mới tự biểu lộ, thì với tiểu thiên địa cũng vậy. |
|
The Brahma aspect, that in which the Not-Self or material aspect is apparent and predominant. This covers the sub-human stages, and the first three cycles of the Personality Life: |
Phương diện Brahma, tức phương diện trong đó Phi Ngã hay phương diện vật chất là hiển nhiên và chiếm ưu thế. Điều này bao trùm các giai đoạn dưới nhân loại, và ba chu kỳ đầu của Đời Sống Phàm ngã: |
|
a. |
First cycle |
savage state. |
|
|
b. |
Second cycle |
average man. |
|
|
c. |
Third cycle |
intellectual successful man. |
|
The Vishnu aspect, that in which the love-wisdom aspect gradually predominates and emerges through the medium of the Brahma aspect. It covers the final two stages of the human personality life, and that period of egoic growth which embraces the final two Initiations: |
Phương diện Vishnu, tức phương diện trong đó phương diện bác ái – minh triết dần dần chiếm ưu thế và xuất hiện thông qua môi trường của phương diện Brahma. Nó bao trùm hai giai đoạn cuối của đời sống phàm ngã con người, và giai đoạn tăng trưởng chân ngã bao gồm hai lần điểm đạo cuối cùng: |
|
a. |
First cycle |
The Path of Probation. |
|
|
b. |
Second cycle |
The Path of Initiation.(till the third Initiation) |
|
|
c. |
Third cycle |
That covering the fourth and fifth Initiations. |
|
This is the temporary consummation, but just as in the animal kingdom, the human mind was latent and instinctive, and just as in the human kingdom the buddhic aspect is latent and instinctive, so during the final cycle of human endeavour, the Atma, or highest aspect of the Monad, is also latent and instinctive. This must produce later stages of development. There are no gaps in evolution, and no periods wherein there is total absence of any one aspect; all are ever present but they [Page 731] “show forth” in alternation. Only when the fires of matter are blazing brightly, and become radiatory, does it become possible for the fire of mind to show forth, even though ever inherently present. Only when these two fires of matter and of mind have reached a stage of energetic heat and light, can the electric fire of Spirit show forth in its glory. Only again when these three are unitedly burning does the fire of matter die down for lack of that which it may consume, and only when that occurs is it possible for the fires of mind (on mental levels) to burn up that which it has hitherto animated. When this is accomplished, the fire of pure Spirit (increased and intensified by the gaseous essence of the fire of matter, or “fire by friction,” and coloured, and rendered radiatory by the fire of mind) blazes forth in perfected glory, so that naught is seen save one vibrant flame. This idea can be extended away from Man to a Heavenly Man, and again to the Logos in His cosmic relationship. |
Đây là sự viên mãn tạm thời, nhưng cũng như trong giới động vật, trí tuệ con người còn tiềm tàng và bản năng, và cũng như trong giới nhân loại, phương diện Bồ đề còn tiềm tàng và bản năng, thì trong chu kỳ cuối cùng của nỗ lực nhân loại, Atma, hay phương diện cao nhất của chân thần, cũng còn tiềm tàng và bản năng. Điều này tất phải tạo ra các giai đoạn phát triển về sau. Không có khoảng trống nào trong tiến hoá, và không có thời kỳ nào mà ở đó có sự vắng mặt hoàn toàn của bất kỳ phương diện nào; tất cả đều luôn hiện diện nhưng chúng [Page 731] “tự biểu lộ” luân phiên. Chỉ khi các lửa của vật chất đang bùng cháy sáng rực và trở nên phóng xạ thì lửa của trí tuệ mới có thể biểu lộ, dù vốn luôn hiện diện nội tại. Chỉ khi hai lửa này của vật chất và của trí tuệ đã đạt đến một giai đoạn nhiệt và quang năng mãnh liệt thì Lửa Điện của tinh thần mới có thể biểu lộ trong vinh quang của nó. Chỉ khi ba lửa này cùng cháy hợp nhất thì lửa của vật chất mới lắng xuống vì thiếu cái để nó có thể tiêu thụ, và chỉ khi điều đó xảy ra thì lửa của trí tuệ (trên các cấp độ trí tuệ) mới có thể thiêu rụi cái mà trước đây nó đã làm sinh động. Khi điều này được hoàn tất, lửa của tinh thần thuần túy (được tăng cường và làm mãnh liệt bởi tinh chất khí của lửa vật chất, hay “lửa ma sát,” và được nhuốm màu, được làm cho phóng xạ bởi lửa của trí tuệ) bùng lên trong vinh quang hoàn hảo, đến nỗi không còn gì được thấy ngoài một ngọn lửa rung động duy nhất. Ý tưởng này có thể được mở rộng từ Con người đến một Đấng Thiên Nhân, và rồi lại đến Thượng đế trong mối liên hệ vũ trụ của Ngài. |
|
Individualisation marks one stage of the process in the intensification of “fire by friction.” It has relation to the achievement of Brahma, and marks a point in the energising of substance. Certain forms are ready for self-consciousness. Two cosmic Rays of differing polarities are mutually attracted. |
Biệt ngã hóa đánh dấu một giai đoạn của tiến trình tăng cường “lửa ma sát.” Nó có liên hệ đến thành tựu của Brahma, và đánh dấu một điểm trong sự tiếp năng lượng cho chất liệu. Một số hình tướng đã sẵn sàng cho ngã thức. Hai cung vũ trụ có cực tính khác nhau hút nhau lẫn nhau. |
|
Initiation marks a stage in the intensification of “solar Fire.” It has relation to the achievement of Vishnu, and marks a point in the evolution of consciousness, through self-consciousness to group consciousness, or universal consciousness. |
Điểm đạo đánh dấu một giai đoạn trong sự tăng cường của “Lửa Thái dương.” Nó có liên hệ đến thành tựu của Vishnu, và đánh dấu một điểm trong sự tiến hoá của tâm thức, từ ngã thức đến tâm thức nhóm, hay tâm thức vũ trụ. |
|
Identification with the aggregate of all groups might be the term used to express the final stages of the evolutionary process; it marks a period towards the close of the mahamanvantara when all groups begin consciously to work out the eternal Will. It involves a type of realisation, incredible to man now but which is conceivable [Page 732] (though not yet practicable) to the Chohans of the Hierarchy now on Earth. They work consciously carrying out the Will of the planetary Logos in the planet, but even They are as yet far from appreciating fully the Will and purpose of the Logos as He works through the system. Glimpses They may get, and an idea of the general plan, but the details are as yet unrecognisable. |
Đồng hoá với tổng thể của mọi nhóm có thể là thuật ngữ dùng để diễn tả các giai đoạn cuối cùng của tiến trình tiến hoá; nó đánh dấu một thời kỳ vào gần cuối Đại giai kỳ sinh hóa khi mọi nhóm bắt đầu một cách hữu thức thực hiện Ý Chí vĩnh cửu. Nó bao hàm một loại chứng nghiệm mà hiện nay con người không thể tin nổi nhưng lại có thể hình dung được [Page 732] (dù chưa thể thực hành) đối với các Chohan của Thánh đoàn hiện đang ở trên Trái Đất. Các Ngài hoạt động một cách hữu thức để thực hiện Ý Chí của Hành Tinh Thượng đế trên hành tinh, nhưng ngay cả Các Ngài cũng còn rất xa mới có thể đánh giá đầy đủ Ý Chí và mục đích của Thượng đế khi Ngài hoạt động thông qua hệ. Các Ngài có thể thoáng thấy, và có một ý niệm về kế hoạch tổng quát, nhưng các chi tiết thì hiện vẫn chưa thể nhận biết được. |
