Commentary LOM 28
Tóm Tắt
Nguy cơ của sự gắn bó với các nhóm
Bên cạnh những nguy cơ của tham thiền đối với thể trí, thể cảm dục, thể dĩ thái, bộ não và hệ thần kinh, Thư Về Tham thiền Huyền môn xét đến nguy cơ phát sinh từ các nhóm mà đạo sinh thuộc về, cả ngoại môn lẫn nội môn. Chân sư DK chỉ đưa ra những nét chính để người học tự suy ngẫm: một tư tưởng hạt giống được nghiền ngẫm và tự triển khai có giá trị bền lâu hơn điều chỉ đọc hoặc nghe rồi ghi nhớ. Kinh nghiệm cá nhân được nêu để minh họa: 28 quy luật dành cho cá nhân và nhóm từng được thuộc lòng vẫn có thể phai nhạt, trong khi những tư tưởng khó nhọc tự hình thành thì dễ được tái hiện.
Phụng sự thay vì tích lũy cho bản thân
Mục tiêu trước mắt của người bước vào Con Đường Dự Bị không phải hoàn tất sự phát triển của mình, mà là chuẩn bị để phụng sự nhân loại. Trong kỳ công của Hercules tại dấu hiệu Song Tử, sự giúp đỡ người khác đến trước khi chàng nhận được những quả táo vàng; tương tự, người chí nguyện có thể dùng điều mình đã biết để phụng sự ngay, thay vì chờ thêm sách vở hoặc khóa học. Theo cách diễn giải được đề xuất, việc chia sẻ hiểu biết đưa nó vào sự lưu chuyển và tạo chỗ cho hiểu biết mới; tích lũy mà không vận dụng dễ dẫn đến trì trệ và kiêu hãnh. Nếu sự trưởng thành bên trong không được thể hiện qua phụng sự các nhóm gần gũi, người học có nguy cơ kết tinh, kiêu hãnh và tiến bước đầu tiên về phía tả đạo.
Nghiệp quả, mục đích và phạm vi phụng sự
Các nhóm gắn với một người thay đổi qua từng giai đoạn khi những ràng buộc nghiệp quả được giải quyết. Ngoài món nợ phải trả, khả năng đã tích lũy còn tạo ra trách nhiệm nâng đỡ người khác; mục đích phụng sự gắn với vị trí của mỗi người trong Thiên Cơ, chứ không chỉ với nghiệp quả quá khứ. Khi năng lực phụng sự tăng, số lượng và quy mô nhóm được tiếp xúc cũng tăng, cho đến một kiếp sau mà cả thế giới trở thành phạm vi phụng sự. Hình ảnh Sao Thổ canh giữ lối đi diễn tả một cách lý giải về việc không thể bỏ dở trách nhiệm trong phạm vi cũ để vội chuyển sang công việc lớn hơn.
Ba phương thức phụng sự
Phương thức thứ nhất là dùng trí tuệ và những năng lực được bồi đắp để giúp nhân loại; chính quá trình ấy dạy người phụng sự nhận ra mình còn biết ít đến đâu và vượt qua kiêu hãnh. Phương thức thứ hai là phụng sự bằng bác ái, hiến dâng đời sống cho huynh đệ; câu “chết để người khác được sống” được liên hệ với lần điểm đạo thứ tư và chủ đề hy sinh của Đức Christ. Phương thức thứ ba là phụng sự bằng quyền năng: chỉ sau khi lòng ích kỷ được thanh lọc, người phụng sự mới có thể được tin cậy giao quyền năng nảy sinh từ bác ái được vận dụng một cách thông tuệ. Cả ba phương thức đều đòi hỏi khả năng làm việc với nhóm.
Các nhóm trên những cõi cao
Một đối chiếu với bảng phân nhóm trước đó nêu bảy nhóm lớn trên cõi chân thần, 14 nhóm trên cõi phụ nguyên tử của cõi atma, cùng 21 và 28 nhóm trên hai cõi phụ của cõi Bồ đề. Trên ba cõi phụ cao của cõi trí, các con số lần lượt là 35, 42 và 49 nhóm; thể nguyên nhân của phần lớn nhân loại được đặt ở cõi phụ thứ ba trong số này. Mối liên hệ giữa các con số ấy với 35, 42 và 49 xoáy lửa được nêu như hướng khảo sát, không phải điều đã chứng minh. Giả thuyết riêng còn mở rộng khả năng có những xoáy tương ứng trên các cõi cảm dục và trí tuệ vũ trụ.
Ba loại nhóm trên cõi hồng trần
Gia đình là nhóm thứ nhất: sự gắn bó có thể giúp trả nghiệp quả và cung cấp loại thể xác cần cho linh hồn biểu lộ trong một kiếp. Nhóm thứ hai gồm bạn bè, đồng nghiệp, cộng đồng tôn giáo, người quen và cả những tiếp xúc thoáng qua; các quan hệ ấy vừa có thể liên quan đến nghĩa vụ cũ, vừa thử khả năng nhận ra nhu cầu và gây ảnh hưởng tốt. Nhóm thứ ba là những người cùng phụng sự dưới sự hướng dẫn của một Đấng Cao Cả, từ hoạt động tôn giáo, xã hội và chính trị đến Thông Thiên Học và những phong trào tiên phong khác. Văn bản cũng kể cả phong trào Xô viết ở Nga và các nhóm cấp tiến chân thành muốn cải thiện đời sống quần chúng, dù có thể lầm lạc hoặc mất cân bằng.
Hoàn thành trách nhiệm trước khi chuyển bước
Nguy cơ xuất hiện khi tham thiền và khát vọng tiến xa khiến người học xem nhẹ bổn phận đối với nhóm mà nghiệp quả vẫn đang ràng buộc mình. Trách nhiệm nhỏ trong gia đình không thể bị bỏ mặc để theo đuổi vai trò phụng sự lớn hơn; cách diễn giải dùng hình ảnh Bethlehem để nhấn mạnh rằng việc chăm sóc người thân dễ tổn thương tạo nền tảng cho công việc rộng hơn. Đồng thời, bổn phận không nên bị lấy làm cớ để né tránh sự phát triển: mỗi người cần làm tròn phần việc của mình, giúp nhóm trở nên hữu ích hơn, rồi mới tiến lên khi ràng buộc đã được giải quyết. Việc xem lại những lựa chọn đã lãng phí thời gian cũng giúp phân biệt giữa chậm trễ do thói quen và thời gian cần thiết để hoàn thành trách nhiệm.
Trách nhiệm đối với các nhóm liên hệ
Sự tiến bộ hay sa sút của một cá nhân ảnh hưởng đến những người cùng nhóm, kể cả những người họ không biết; phạm vi liên hệ có thể còn mở rộng tới giới động vật và giới thực vật. Theo đoạn giáo lý được bình giải, tham thiền không thích hợp khiến một người lơ là bổn phận, trì hoãn mục đích đời mình và có thể phải hoàn tất công việc ấy trong một kiếp khác. Cảm giác cấp thiết phải làm một việc khó khăn ở hiện tại có thể liên quan đến trách nhiệm từng bị bỏ dở, dù không phải lúc nào cũng xác định được nguồn gốc của nó.
Bổ sung phẩm tính cho thể nguyên nhân của nhóm
Mỗi thành viên góp phần tạo nên nội dung thể nguyên nhân của nhóm; đưa vào đó điều không phù hợp với nhu cầu của nhóm có thể gây trở ngại thay vì trợ giúp. Ví dụ trong giáo lý mô tả một đạo sinh được đặt vào nhóm có quá nhiều người sùng tín để mang đến khả năng phân biện sáng suốt và quân bình trí tuệ: nếu thuận theo hình tư tưởng chung và trở thành một người sùng tín nữa, người ấy làm tổn hại cả bản thân lẫn nhóm. Vì vậy, câu hỏi thiết yếu không chỉ là cá nhân có phẩm tính gì, mà là phẩm tính ấy bổ sung ra sao cho điều nhóm còn thiếu.
Các ví dụ về quân bình năng lượng Cung
Charles Hill được nêu như một trường hợp có thể đã giúp quân bình một nhóm nghiên cứu ảo cảm có nhiều người mang cung sáu mạnh: ông có linh hồn cung một, phàm ngã và thể trí cung năm, thể cảm dục cung sáu, thể xác cung bảy, đồng thời có thể có Chân Thần cung hai. Trong một nhóm Alice Bailey thiên về trí tuệ, thêm tư duy cụ thể có thể làm tăng sự mất quân bình, còn nhấn mạnh Trí trừu tượng hoặc sự phát triển của tim có thể đem lại điều cần thiết. Ít nhất tám linh hồn cung một được đưa vào nhóm chủ yếu mang cung hai gắn với Alice Bailey và Chân sư Tây Tạng; Foster Bailey, một luật sư có linh hồn cung một, đã giúp Alice Bailey tránh những sai sót pháp lý. Những ví dụ này minh họa khả năng các năng lượng Cung bổ sung cho nhau, kể cả giữa các ashram khác Cung.
Di sản lâu dài của thể nguyên nhân
Một biểu đồ Cung và một lá số chiêm tinh hiện tại không giải thích hết con người, vì thể nguyên nhân lưu giữ thành quả được bồi đắp qua nhiều đời với những cấu hình Cung và chiêm tinh khác nhau. Những phẩm tính lâu dài ấy vẫn cần tìm đường biểu lộ qua cấu hình hiện tại. Việc một linh hồn được đặt vào một nhóm hay một gia đình cũng được liên hệ với nghiệp quả và tầm nhìn rộng hơn của Thái dương Thiên Thần; mức độ cá nhân tự chọn cha mẹ được nêu như một câu hỏi, không phải điều đã xác quyết.
Gia đình cảm dục và những liên hệ vượt ngoài huyết thống
Gia đình trên cõi cảm dục có thể gần gũi với một người hơn gia đình họ sinh ra trên cõi hồng trần; khi các thành viên của gia đình cảm dục gặp nhau ngoài đời, sự nhận ra nhau có thể đến tức thì. Điều này giúp lý giải vì sao một thiếu niên thấy thuộc về nhóm bạn hoặc nhóm kịch hơn gia đình, đôi khi dẫn tới xung đột với cha mẹ. Quan hệ huyết thống có thể đồng thời mang mức tương đồng cảm xúc, trí tuệ hoặc tinh thần khác nhau; các năng lượng Cung được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng trong những khác biệt đó.
Các nhóm học tập và phụng sự trên cõi cảm dục
Những liên hệ cảm dục khác gồm lớp học trong Phòng Hiểu Biết, được gắn với chương trình phát triển các cánh hoa bác ái thứ tư, thứ năm và thứ sáu, cùng những nhóm người trợ giúp vô hình và người phụng sự. Một lời kể về những người trợ giúp vô hình nâng đỡ binh sĩ dưới làn đạn trong cuộc đổ bộ Normandy được dùng để gợi khả năng có hoạt động hỗ trợ từ các cõi bên trong; đây là lời kể được dẫn lại, không phải sự kiện được xác minh trong phần bình giảng. Việc nhớ lại những gì học hoặc làm khi ngủ được đặt ra như một khả năng có thể phát triển, tùy sự phân cực của mỗi người.
Bổn phận nhóm và thời điểm rời đi
Tham thiền đúng đắn cần tăng khả năng trả nợ nghiệp quả, đem lại tầm nhìn rõ ràng, phán đoán sáng suốt và sự thấu hiểu công việc trước mắt. Bổn phận với gia đình và các nhóm không thể bị né tránh, nhưng việc ở lại một môi trường cản trở sự phát triển của linh hồn cũng có thể nguy hại; có lúc cần rời bạn bè cũ, nghề gia đình hoặc một nhóm không còn phù hợp. Chướng ngại đôi khi trở thành cơ hội, như lời dạy được liên hệ với Chân sư Morya, nhưng không phải mọi tình trạng kìm hãm đều có thể chuyển đổi nếu cứ tiếp tục ở lại.
Nhóm đệ tử trên cõi trí và nguy cơ tham thiền sai hướng
Các nhóm đệ tử của một Chân sư thuộc những liên hệ cao hơn trên cõi trí; nhóm của Chân sư DK được nhắc đến với khoảng 50–51 đạo sinh, dù họ tham gia các nhóm hạt giống khác nhau. Khi một người đang nhanh chóng giải quyết nghiệp quả và tiến gần Con Đường Đệ Tử, phương pháp tham thiền cần phù hợp nhu cầu riêng dưới sự hướng dẫn của Chân sư, vì các mãnh lực được khơi dậy trên cõi trí mạnh hơn ở những cấp thấp. Câu chuyện đạo sinh tìm đến ba huấn sư rồi không chịu nổi các luồng trợ lực khác nhau minh họa nguy cơ kết hợp những đường tham thiền mâu thuẫn, khiến sự nhất tâm bị phân tán.
Nhóm chân ngã và các phân chia trên những cõi cao
Nhóm chân ngã được xem là đặc biệt quan trọng khi phân định phép tham thiền theo Cung của Hoa Sen Chân Ngã hoặc thể nguyên nhân. Phần bình giảng cũng nhắc tới sơ đồ gồm bảy nhóm trên cõi chân thần, 14 nhóm trên cõi atma và những phân chia tiếp theo, tới 49 nhóm trên cõi trí. Khả năng các nhóm này phân bố trong bốn cõi phụ cao của mỗi cõi được nêu như một giả thuyết dựa trên sự tương ứng với cách phân bố các trung tâm, chứ chưa phải kết luận đã xác lập.
Giới hạn của chỉ dẫn huyền môn
Việc không liệt kê mọi nguy hiểm riêng cho từng thể phản ánh giới hạn của tài liệu và khả năng tiếp nhận của đạo sinh; nghiên cứu khoa học hơn về tham thiền huyền môn có thể bổ sung dữ liệu về sau. Lời dạy của Chân sư DK chủ yếu cảnh báo và chỉ đường, thay vì giải sẵn mọi vấn đề. Đích hướng tới là những người biết tự suy nghĩ, lập luận rõ ràng, giải quyết vấn đề của mình và tự lập hạnh.
Nguy cơ từ các mãnh lực ở cõi vi tế
Việc bàn về các thực thể và nhóm hoạt động trên cõi vi tế gặp ba khó khăn: đạo sinh thường không biết rõ bản chất của họ; công bố quá nhiều có thể thiếu khôn ngoan; và sự tập trung tư tưởng vào họ có thể tạo những làn sóng tư tưởng, thu hút sự chú ý không mong muốn. Ánh sáng và sự bảo vệ sẵn có trên các cõi bên trong không được mặc nhiên xem là bảo đảm tương tự trong mọi hoàn cảnh bên ngoài. Sự thận trọng ở đây nhằm tránh tiếp xúc với những mãnh lực mà đạo sinh chưa đủ sức xử lý, chứ không nhằm khơi dậy hoang tưởng.
Ba tình trạng dẫn tới nguy hiểm khi tham thiền
Tình trạng thứ nhất là sự thụ động tiêu cực khiến ba thể của phàm ngã dễ bị các thực thể cõi khác xâm nhập; tình trạng thứ hai là thiếu hiểu biết hoặc liều lĩnh dùng hình thức tham thiền và mantram chưa được huấn sư cho phép, từ đó tiếp xúc với các nhóm thiên thần cảm dục hoặc trí tuệ không thể kiểm soát. Tình trạng thứ ba trái ngược với hai tình trạng đầu: một người vận dụng mãnh lực theo quy luật và dưới sự hướng dẫn đúng đắn, nhưng chính năng lực đang tăng trưởng lại thu hút sự chú ý của các lực chống lại Huynh đệ Đoàn Chánh đạo. Hai nguy cơ đầu cần được sửa bằng phương pháp tham thiền phù hợp và sự thực hành cẩn trọng hơn; nguy cơ thứ ba có thể là hệ quả của thành công và đòi hỏi cách ứng phó khác.
Cảnh giác trong thực hành huyền môn
Tham thiền có thể khơi dậy những trạng thái nhất định trong các thể, nhưng cũng có thể bị dùng để trốn tránh bổn phận. Người chí nguyện cần cảnh giác trước những mãnh lực chống lại sự tiến bộ của mình, song không nên rơi vào tâm thế nghi kỵ thường trực; nỗi ám ảnh về huynh đệ bóng tối tự nó cũng có thể trở thành một vấn đề.
Các trường huyền môn mới
Chân sư Tây Tạng đang chuẩn bị chương trình cho các trường huyền môn mới, nhưng những trường này chưa xuất hiện ngay dưới hình thức đích thực. Giai đoạn hiện nay chỉ là thời kỳ bắt cầu; về sau, các trường có thể bắt đầu ở quy mô nhỏ, dưới sự giám sát ít nhất ở hậu trường của các chân sư đang ngoại hiện và trong tâm thức của Đức Christ. Hai phân ngành của trường sẽ đề cập đến Tiểu thiên địa và Đại thiên địa.
Học hỏi để chuẩn bị cho thời đại Bảo Bình
Kiến thức nền tảng hiện được tiếp nhận có thể giúp ổn định cách tiếp cận những hiểu biết và hoạt động sẽ mở ra trong thời đại của dấu hiệu Bảo Bình. Đây vẫn là giai đoạn chuẩn bị, đòi hỏi đồng hóa thêm nhiều giáo huấn của Chân sư DK; không ai có thể tiếp thu toàn bộ trước tác ấy, và mỗi người làm việc theo đường hướng Cung khác nhau. Cuốn sách đang được nghiên cứu được xem là nền tảng cho các công việc huyền bí học mang tính tinh thần.
Đại Mật Nghị và trách nhiệm phân định
Trong khoảng năm năm trước Đại Mật Nghị ở các cõi bên trong, việc học hỏi cần được đào sâu để có thể giúp người khác hiểu những biến chuyển có thể gây hoang mang hoặc bị diễn giải sai. Thời gian, sinh lực, nguồn lực và sự chú tâm đều là những thứ con người sử dụng và định hướng, chứ không chỉ có tiền bạc. Việc chọn hướng vận dụng chúng gắn với khả năng góp phần thúc đẩy Thiên Cơ.
Huynh đệ bóng tối, sự bảo vệ và giữ kín thông tin
Các dòng tư tưởng đôi khi thu hút sự chú ý của những thế lực đối nghịch; theo lời Chân sư DK được dẫn lại, người tham gia công việc có thể được đánh dấu để bảo vệ vì hiện chưa đủ sức tự ứng phó với một số cuộc tấn công. Những người tận lực cho sự tái xuất của Đức Christ và Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn có thể nằm trong số mục tiêu đầu tiên. Nhận định về năm năm tới là Hắc đoàn sẽ tìm cách cản trở thành quả của Đại Mật Nghị và trì hoãn các tiến trình ấy; vì họ không biết mọi chi tiết của Thiên Cơ và tìm cách dò biết, điều cần thiết là không tiết lộ những gì không thích hợp, đồng thời vẫn hỗ trợ Thiên Cơ tiến triển.
Kẻ thù kín đáo qua lá số chiêm tinh
Nhà mười hai trong lá số chiêm tinh có thể biểu thị kẻ thù kín đáo hoặc sự bảo vệ kín đáo. Một cách diễn giải được nêu là Sao Hỏa ở nhà này, đối với nhà huyền bí học, có thể chỉ sự chống đối quyết liệt từ kẻ thù ẩn khuất; Sao Mộc có thể mang lại bảo vệ, còn Sao Thổ gợi sự thận trọng.
Text LOM 28 – Văn bản LOM 28
|
AUGUST 2, 1920. |
NGÀY 2 THÁNG 8 NĂM 1920. |
|
Dangers attendant on group affiliations. |
Những nguy hiểm đi kèm với các mối liên kết nhóm. |
|
[1] Very briefly would I seek this morning to take up the question of the dangers involved in meditation that are incidental to a man’s group affiliations, whether exoteric or esoteric. [2] There is not much that can be said on this particular matter, save broad indications. Each of these various subjects that I have touched upon might warrant the writing of a weighty treatise, [3] and I shall not, therefore, attempt to cover what might be said but only point out certain aspects of the matter that will (if pondered on with care) open up to the earnest seeker after truth many avenues of knowledge. [4] All occult training has this in view,—to give to the pupil some seed thought which (when brooded over in the silence of his own heart) [5] [Page 115] will produce much fruit of real value, and which the pupil can then conscientiously consider his own. [6] What we produce through wrestling and strenuous endeavor remains forever our own, and vanishes not into forgetfulness as do the thoughts that enter through the eye from the printed page, or through the ear from the lips of any teacher no matter how revered. |
[1] Sáng nay, Tôi muốn bàn thật ngắn gọn về những nguy hiểm trong tham thiền phát sinh từ các mối liên kết nhóm của một người, dù là ngoại môn hay nội môn. [2] Về vấn đề cụ thể này, không thể nói nhiều ngoài những chỉ dẫn khái quát. Mỗi chủ đề khác nhau mà Tôi đã đề cập đều có thể đòi hỏi một khảo luận đồ sộ, [3] vì vậy, Tôi sẽ không cố trình bày mọi điều có thể nói, mà chỉ nêu một số phương diện của vấn đề; nếu suy ngẫm cẩn thận, chúng sẽ mở ra nhiều con đường dẫn tới tri thức cho người chân thành tìm kiếm chân lý. [4] Mọi sự huấn luyện huyền bí đều hướng đến mục đích này,—trao cho môn sinh một tư tưởng hạt giống mà khi y suy ngẫm trong sự im lặng của chính trái tim mình, [5] [Page 115] tư tưởng ấy sẽ sinh nhiều hoa trái có giá trị thực sự, và khi ấy môn sinh có thể thành thật xem đó là thành quả của chính mình. [6] Những gì chúng ta tạo ra qua sự vật lộn và nỗ lực bền bỉ sẽ mãi thuộc về chúng ta, không tan vào quên lãng như những tư tưởng đi vào qua mắt từ trang sách in, hay qua tai từ lời nói của bất kỳ huấn sư nào, dù vị ấy được tôn kính đến đâu. |
|
[7] One thing that is oft overlooked by the pupil when he enters upon the path of probation and starts meditation is that the goal ahead for him is not primarily the completing of his own development, but his equipping for service to humanity. [8] His own growth and development are necessarily incidental [9] but are not the goal. [10] His immediate environment and his close associates on the physical plane are his objectives in service, and if in the endeavor to attain certain qualifications and capacities he overlooks the groups to which he is affiliated and neglects to serve wisely and to spend himself [11] loyally on their behalf he runs the danger of crystallization, falls under the spell of sinful pride, and mayhap even takes the first step toward the left-hand path. [12] Unless inner growth finds expression in group service the man treads a dangerous road. |
[7] Một điều môn sinh thường bỏ qua khi bước vào Con Đường Dự Bị và bắt đầu tham thiền là mục tiêu trước mắt y không chủ yếu nằm ở việc hoàn tất sự phát triển của chính mình, mà ở việc trang bị cho mình để phụng sự nhân loại. [8] Sự trưởng thành và phát triển của y tất yếu là những kết quả đi kèm, [9] nhưng không phải là mục tiêu. [10] Môi trường trực tiếp và những người gần gũi với y trên cõi hồng trần là các đối tượng phụng sự của y; nếu trong nỗ lực đạt được những phẩm chất và năng lực nhất định, y bỏ qua các nhóm mà mình liên kết, sao nhãng việc phụng sự một cách minh triết và tận tụy dốc sức [11] vì họ, thì y có nguy cơ trở nên kết tinh, rơi vào sự mê hoặc của lòng kiêu hãnh tội lỗi, và có lẽ còn bước bước đầu tiên về phía tả đạo. [12] Nếu sự trưởng thành bên trong không biểu lộ qua việc phụng sự nhóm, con người đang đi trên một con đường nguy hiểm. |
|
[12b] Three types of affiliated groups. |
[12b] Ba loại nhóm liên kết. |
|
[13] Perhaps I could here give some indications of the groups on the various planes to which a man is assigned. [14] These groups are many and diverse and at different periods of a man’s life may change and differ, as he works out from under the obligating karma that governs the affiliations. [15] Let us remember too that as a man enlarges his capacity to serve he at the same time increases the size and number of the groups he contacts till he reaches a point in some later incarnation when the world [Page 116] itself is his sphere of service and the multitude those whom he assists. [16] He has to serve [17] in a threefold manner before he is permitted to change his line of action and pass on to other work,—planetary. systemic or cosmic. |
[13] Có lẽ ở đây Tôi có thể đưa ra một số chỉ dẫn về những nhóm trên các cõi khác nhau mà một người được phân vào. [14] Những nhóm này rất nhiều và đa dạng, có thể thay đổi và khác nhau vào những giai đoạn khác nhau trong đời một người, khi y giải trừ những ràng buộc nghiệp quả chi phối các mối liên kết ấy. [15] Chúng ta cũng hãy nhớ rằng khi một người mở rộng năng lực phụng sự, đồng thời y cũng gia tăng quy mô và số lượng các nhóm mình tiếp xúc, cho đến khi đạt tới một thời điểm trong một kiếp nhập thể về sau, lúc chính thế giới [Page 116] là phạm vi phụng sự của y và đông đảo quần chúng là những người y trợ giúp. [16] Y phải phụng sự [17] theo cách tam phân trước khi được phép đổi hướng hoạt động và chuyển sang công việc khác,—thuộc hành tinh, hệ mặt trời hoặc vũ trụ. |
|
[18] a—He serves first through activity, through the use of his intelligence, using the high faculties of mind and the product of his genius [19] to aid the sons of men. He builds slowly great powers of intellect and in the building overcomes the snare of pride. [20] He takes, then, that active intelligence of his and lays it at the feet of collective humanity, giving of his best for the helping of the race. |
[18] a—Trước hết, y phụng sự qua hoạt động, qua việc sử dụng trí thông minh, vận dụng những năng lực cao của trí tuệ và thành quả từ thiên tài của mình [19] để trợ giúp những người con của nhân loại. Y dần xây dựng những năng lực trí năng lớn lao và trong quá trình ấy vượt qua cạm bẫy của lòng kiêu hãnh. [20] Khi ấy, y đem trí thông minh hoạt động của mình đặt dưới chân toàn thể nhân loại, cống hiến những gì tốt nhất để trợ giúp nhân loại. |
|
[21] b—He serves through love, becoming, as time elapses, one of the saviors of men, [22] spending his life and giving of his all through perfect love of his brothers. A [23] life then comes when the utmost sacrifice is made and in love he dies that others may live. |
[21] b—Y phụng sự qua tình thương, theo thời gian trở thành một trong những người cứu giúp nhân loại, [22] dốc cả cuộc đời và hiến dâng tất cả qua tình thương hoàn hảo dành cho các huynh đệ của mình. Rồi một [23] kiếp sống đến, trong đó y thực hiện sự hy sinh tột bậc, và trong tình thương, y chết để những người khác được sống. |
|
[24] c—He serves then through power. [25] Proved in the furnace to have no thought save the good of all around, [26] he is trusted with the power that follows from active love intelligently applied. [27] He works with the law, [28] and bends all his will to make the power of the law felt in the three-fold realms of death. |
[24] c—Sau đó, y phụng sự qua quyền năng. [25] Sau khi thử thách trong lò lửa chứng tỏ y không nghĩ đến điều gì ngoài lợi ích của tất cả những người xung quanh, [26] y được tin cậy trao cho quyền năng phát sinh từ tình thương tích cực được vận dụng một cách thông minh. [27] Y làm việc với định luật, [28] và dốc toàn bộ ý chí để khiến quyền năng của định luật được cảm nhận trong các cõi giới tam phân của sự chết. |
|
[29] In all these three branches of service you will notice that the faculty of working with groups is one of paramount importance. These groups are diverse, as before I have said, and vary on different planes. Let us briefly enumerate them:— |
[29] Trong cả ba nhánh phụng sự này, các bạn sẽ nhận thấy năng lực làm việc với các nhóm có tầm quan trọng hàng đầu. Như Tôi đã nói, các nhóm này rất đa dạng và khác nhau trên những cõi khác nhau. Chúng ta hãy liệt kê ngắn gọn:— |
|
[30] 1—On the physical plane. The following groups will be found:— |
[30] 1—Trên cõi hồng trần. Có những nhóm sau đây:— |
|
[31] a—His family group to which he is usually affiliated for two reasons, one to work out karma and repay his debts; the second, to receive a certain type of physical vehicle that the Ego needs for adequate expression. [Page 117] |
[31] a—Nhóm gia đình của y, mà y thường liên kết vì hai lý do: thứ nhất, để giải quyết nghiệp quả và trả những món nợ của mình; thứ hai, để nhận một loại hiện thể hồng trần nhất định mà chân ngã cần để biểu lộ thích đáng. [Page 117] |
|
[32] b—His associates and friends; the people his environment throws him with, his [33] business associates, his [34] church affiliations, his [35] acquaintances and casual friends, [36] and the people he touches for a brief period and then sees no more. [37] His work with them is twofold again; first to repay an obligation should such a debt have been incurred; and secondly to test out his powers to influence for good those around him, to recognize responsibility and to direct or help. [38] In doing thus, the Guides of the race find out the actions and reactions of a man, his capacity for service, and his response to any surrounding need. |
[32] b—Những người cộng sự và bạn bè của y; những người mà môi trường đưa đến với y, các [33] cộng sự kinh doanh của y, các [34] mối liên kết giáo hội của y, những [35] người quen và bạn bè tình cờ của y, [36] cùng những người y tiếp xúc trong một thời gian ngắn rồi không gặp lại nữa. [37] Công việc của y với họ cũng có hai mặt: trước hết, để hoàn trả một nghĩa vụ nếu y đã mắc món nợ ấy; thứ hai, để thử nghiệm năng lực tạo ảnh hưởng tốt lên những người xung quanh, nhận biết trách nhiệm và hướng dẫn hoặc trợ giúp. [38] Qua đó, các Đấng Hướng Dẫn nhân loại nhận biết những hành động và phản ứng của một người, năng lực phụng sự và sự đáp ứng của y trước bất kỳ nhu cầu nào xung quanh. |
|
[39] c—His associated band of servers, the group under some Great One that is definitely united for work of an occult and spiritual nature. [40] It may be either a band of church workers among the orthodox (beginners are tried out here); [41] it may be in social work such as in the labor movements or in the political arena; or it may be in the more definitely pioneer movements of the world, such as the Theosophical Society, the Christian Science movement, the New Thought workers and the Spiritualists. I would add to this, one branch of endeavor that may surprise you,—I mean the movement of the Soviet in Russia and all the aggressive radical bodies that sincerely serve under their leaders (even when misguided and unbalanced) for the betterment of the condition of the masses. |
[39] c—Đoàn người phụng sự mà y liên kết, nhóm dưới sự hướng dẫn của một Đấng Cao Cả, nhất định hợp nhất để thực hiện công việc có bản chất huyền bí và tinh thần. [40] Đó có thể là một đoàn người hoạt động trong giáo hội thuộc hàng ngũ chính thống (những người mới bắt đầu được thử nghiệm tại đây); [41] có thể là trong công tác xã hội, như các phong trào lao động hoặc chính trường; hoặc trong những phong trào tiên phong rõ nét hơn của thế giới, như Hội Thông Thiên Học, phong trào Khoa Học Cơ Đốc, những người hoạt động thuộc phong trào Tư Tưởng Mới và các nhà thần linh học. Tôi muốn bổ sung vào đây một lĩnh vực nỗ lực có thể khiến các bạn ngạc nhiên,—Tôi muốn nói đến phong trào Xô viết ở Nga và tất cả các tổ chức cấp tiến quyết liệt chân thành phụng sự dưới sự lãnh đạo của họ (ngay cả khi lầm đường và mất quân bình) để cải thiện hoàn cảnh của quần chúng. |
|
[42] Thus on the physical plane you have three groups to which a man belongs. He owes a duty to them and he must play his part. [43] Now wherein could danger enter through meditation? [44] Simply in this: that as long as a man’s karma holds him to some particular group the thing that he must aim at is to play his part perfectly, [45] so that he may work out from under karmic obligation [Page 118] and advance toward ultimate liberation; [46] besides this he must carry on his group with him to greater heights and usefulness. [47] Therefore, if through meditation of an unsuitable nature he neglects his proper obligation he delays the purpose of his life, and in another incarnation he will have to play it out. [48] If he builds into that group’s causal body (the composite product of the several lines) aught that has not its place properly there, he aids not but hinders, and again that involves danger. [49] Let me illustrate, for clarity is desired:—A student is affiliated with a group that has an over-preponderance of devotees, and he has come in for the express purpose of balancing that quality with another factor, that of wise discrimination and mental balance. [50] If he permits himself to be overcome by the group thoughtform and becomes himself a devotee, following a devotional meditation and unwisely omitting to balance that group’s causal body, he runs into a danger that hurts not only himself but the group to which he belongs. |
[42] Như vậy, trên cõi hồng trần, có ba nhóm mà một người thuộc về. Y có bổn phận đối với họ và phải làm tròn phần việc của mình. [43] Vậy nguy hiểm có thể phát sinh qua tham thiền ở đâu? [44] Đơn giản là ở điều này: chừng nào nghiệp quả còn ràng buộc một người với một nhóm nhất định, điều y phải hướng tới là hoàn thành phần việc của mình một cách hoàn hảo, [45] để có thể thoát khỏi ràng buộc nghiệp quả [Page 118] và tiến tới sự giải thoát tối hậu; [46] ngoài ra, y phải cùng đưa nhóm của mình lên những tầm cao hơn và trở nên hữu ích hơn. [47] Vì vậy, nếu do thực hành một loại tham thiền không thích hợp mà y sao nhãng nghĩa vụ chính đáng, y sẽ trì hoãn mục đích đời mình và phải hoàn thành phần việc ấy trong một kiếp nhập thể khác. [48] Nếu y đưa vào thể nguyên nhân của nhóm ấy (sản phẩm tổng hợp của nhiều đường phát triển) bất cứ điều gì không có chỗ thích đáng ở đó, thì y không trợ giúp mà gây trở ngại, và điều này cũng hàm chứa nguy hiểm. [49] Để làm rõ, Tôi xin minh họa:—Một đạo sinh liên kết với một nhóm có số người sùng tín chiếm ưu thế quá mức, và y gia nhập với mục đích rõ ràng là cân bằng phẩm tính ấy bằng một yếu tố khác, đó là sự phân biện sáng suốt và quân bình trí tuệ. [50] Nếu y để hình tư tưởng của nhóm lấn át mình và chính y trở thành người sùng tín, thực hành tham thiền sùng tín và thiếu sáng suốt khi bỏ qua việc cân bằng thể nguyên nhân của nhóm ấy, thì y rơi vào một nguy hiểm gây tổn hại không chỉ cho bản thân mà còn cho nhóm mình thuộc về. |
|
[50b] 2—On the emotional plane: Here he belongs to several groups such as:— |
[50b] 2—Trên cõi cảm xúc: Ở đây, y thuộc về một số nhóm như:— |
|
[51] a—His emotional plane family group, which is more thoroughly his own group than the family into which he happens to be born on the physical plane. [52] You will see this demonstrated many times in life when members of an emotional plane family contact each other on the physical plane. Instant recognition ensues. |
[51] a—Nhóm gia đình của y trên cõi cảm xúc, vốn thực sự là nhóm của y hơn gia đình mà y tình cờ sinh vào trên cõi hồng trần. [52] Các bạn sẽ thấy điều này được chứng minh nhiều lần trong cuộc sống khi những thành viên của một gia đình trên cõi cảm xúc tiếp xúc với nhau trên cõi hồng trần. Họ lập tức nhận ra nhau. |
|
[53] b—The class within the Hall of Learning to which he is assigned and in which he receives much instruction. |
[53] b—Lớp học trong Phòng Học Tập mà y được phân vào và nhận nhiều sự chỉ dạy. |
|
[54] c—The band of Invisible Helpers with whom he may be working and the band of Servers. |
[54] c—Đoàn Người Trợ Giúp Vô Hình mà y có thể đang cùng làm việc, và đoàn Người Phụng Sự. |
|
[55] All these groups involve obligation and work and all must be allowed for in studying the wise use of meditation. [Page 119] [56] Meditation should increase a man’s capacity to discharge his karmic debts, giving clear vision, wise judgment and a comprehension of the work of the immediate moment. Anything that militates against this is dangerous. |
[55] Tất cả những nhóm này đều kéo theo nghĩa vụ và công việc, và tất cả đều phải được tính đến khi nghiên cứu cách sử dụng tham thiền một cách minh triết. [Page 119] [56] Tham thiền phải gia tăng năng lực thanh toán những món nợ nghiệp quả của một người, đem lại tầm nhìn rõ ràng, sự phán đoán sáng suốt và khả năng thấu hiểu công việc của thời điểm hiện tại. Bất cứ điều gì đi ngược lại điều này đều nguy hiểm. |
|
[56b] 3—On the mental plane: The groups to be found there may be enumerated as follows: |
[56b] 3—Trên cõi trí: Có thể liệt kê những nhóm ở đó như sau: |
|
[57] a—The groups of pupils of some one Master to Whom he may be attached, and with Whom he may be working. [58] This is usually only the case when the man is rapidly working out his karma and is nearing the entrance to the Path. [59] His meditation, therefore, should be directly under the guidance of his Master, and any formula followed that is not adjusted to a man’s need carries with it elements of danger, [60] for the vibrations set up on the mental plane and the forces engendered there are so much more potent than on the lower levels. |
[57] a—Các nhóm môn sinh của một Chân sư mà y có thể gắn bó và cùng làm việc. [58] Điều này thường chỉ xảy ra khi người ấy đang nhanh chóng giải quyết nghiệp quả và tiến gần đến lối vào Đường Đạo. [59] Vì vậy, việc tham thiền của y phải trực tiếp nằm dưới sự hướng dẫn của Chân sư của y; bất kỳ công thức nào y thực hành mà không được điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của y đều mang theo những yếu tố nguy hiểm, [60] vì những rung động được thiết lập trên cõi trí và những mãnh lực phát sinh ở đó mạnh hơn rất nhiều so với trên các cấp độ thấp hơn. |
|
[61] b—The egoic group to which he belongs. [62] This is most important for it involves the consideration of the man’s ray in the apportioning of meditation. [63] This matter has already been somewhat touched upon. |
[61] b—Nhóm chân ngã mà y thuộc về. [62] Điều này quan trọng nhất, vì nó đòi hỏi phải xét đến cung của người ấy khi chỉ định bài tham thiền. [63] Vấn đề này đã được đề cập phần nào. |
|
[64] As you will see, I have not specified certain dangers attacking any particular body. [65] It is not possible to cover the subject thus. [66] In later days, when occult meditation is more comprehended and the matter scientifically studied, students will prepare the necessary data [67] and treatises covering the entire subject as far as then may be. [68] I sound, however, a note of warning, I indicate the way,—the teachers on the inner side seldom do more. [69] We aim at developing thinkers and men of clear vision, capable of logical reasoning. To do this we teach men to develop themselves, to do their own thinking, reason out their own problems, and build their own characters. Such is the Path…. we trod,—such is the path we aim to see you tread. [Page 120] |
[64] Như các bạn thấy, Tôi chưa nêu cụ thể những nguy hiểm tấn công bất kỳ thể riêng biệt nào. [65] Không thể trình bày toàn bộ chủ đề theo cách ấy. [66] Trong những ngày về sau, khi tham thiền huyền bí được thấu hiểu hơn và vấn đề được nghiên cứu một cách khoa học, các đạo sinh sẽ chuẩn bị những dữ liệu cần thiết [67] và các khảo luận bao quát toàn bộ chủ đề trong phạm vi có thể vào lúc ấy. [68] Tuy nhiên, Tôi lên tiếng cảnh báo và chỉ ra con đường,—các huấn sư ở phía bên trong hiếm khi làm nhiều hơn thế. [69] Chúng ta hướng tới việc phát triển những người biết tư duy và có tầm nhìn rõ ràng, có khả năng suy luận hợp lý. Để làm điều này, chúng ta dạy con người tự phát triển, tự suy nghĩ, tự lý giải những vấn đề của mình và xây dựng tính cách của chính mình. Đường Đạo là như thế…. chúng ta đã bước đi—đó là con đường chúng ta mong thấy các bạn bước đi. [Page 120] |
|
[69b] AUGUST 3, 1920. |
[69b] NGÀY 3 THÁNG 8 NĂM 1920. |
|
[69c] 3 – Dangers arising from subtle forces. |
[69c] 3 – Những nguy hiểm phát sinh từ các mãnh lực vi tế. |
|
August 3rd, 1920. |
Ngày 3 tháng 8 năm 1920. |
|
During these coming days, brother of mine, application to the immediate duty is the part of wisdom. It is desired that much should be accomplished both in your individual work and in the work that you and FB have undertaken for the section. The future holdeth changes and in the finished scheme lieth hope for that which is hidden in the lap of destiny. |
Trong những ngày sắp tới, huynh đệ của Tôi, chuyên tâm vào bổn phận trước mắt là hành động minh triết. Mong rằng nhiều điều sẽ được hoàn thành, cả trong công việc cá nhân của huynh đệ lẫn công việc mà huynh đệ và FB đã đảm nhận cho phân bộ. Tương lai chứa đựng những thay đổi, và trong kế hoạch hoàn chỉnh có niềm hi vọng cho điều đang ẩn giấu trong lòng định mệnh. |
|
[70] …We have for our topic this morning the final section of our letter on the dangers incidental to meditation. [71] We have dealt somewhat with individual dangers inherent in the three bodies; we have touched upon the risks that may be run when the karma of the student and his group affiliations are overlooked. [72] Today the subject involves real difficulty. We have to deal with the dangers that may arise from forces and persons, from entities and groups working on the subtler planes. The difficulty arises in three ways:— |
[70] …Chủ đề sáng nay của chúng ta là phần cuối của bức thư về những nguy hiểm đi kèm với tham thiền. [71] Chúng ta đã bàn phần nào về những nguy hiểm cá nhân vốn có trong ba thể của phàm ngã; chúng ta đã đề cập những rủi ro có thể gặp phải khi bỏ qua nghiệp quả và các mối liên kết nhóm của đạo sinh. [72] Hôm nay, chủ đề thực sự khó khăn. Chúng ta phải bàn về những nguy hiểm có thể phát sinh từ các mãnh lực và những cá nhân, từ các thực thể và những nhóm hoạt động trên các cõi vi tế hơn. Khó khăn nảy sinh theo ba cách:— |
|
[73] l—The ignorance of the average student as to the nature of those forces and as to the personnel of the groups on the subtler planes. |
[73] 1—Sự thiếu hiểu biết của đạo sinh thông thường về bản chất của những mãnh lực ấy và về thành phần các nhóm trên những cõi vi tế hơn. |
|
[74] 2—The risk of revealing more than would be wise in an exoteric publication. |
[74] 2—Nguy cơ tiết lộ nhiều hơn mức khôn ngoan cho phép trong một ấn phẩm ngoại môn. |
|
[75] 3—An occult risk that is little comprehended by the uninitiated. It lies in the fact that in the concentration of thought that necessarily arises in discussing these problems, thought-waves are set in motion, currents are contacted and thoughtforms circulated that attract the attention of those under discussion. This may lead at times to undesirable results. Therefore, I shall with brevity touch upon the subject. Upon the inner planes the needed light and protection are afforded. |
[75] 3—Một nguy cơ huyền bí mà những người chưa được điểm đạo ít thấu hiểu. Nguy cơ ấy nằm ở chỗ: trong sự tập trung tư tưởng tất yếu phát sinh khi thảo luận những vấn đề này, các làn sóng tư tưởng được khởi động, các dòng lưu chuyển được tiếp xúc và những hình tư tưởng được lưu truyền, thu hút sự chú ý của những đối tượng đang được bàn đến. Đôi khi, điều này có thể dẫn đến những kết quả không mong muốn. Vì vậy, Tôi sẽ đề cập chủ đề này một cách ngắn gọn. Trên các cõi bên trong, ánh sáng và sự bảo vệ cần thiết luôn sẵn có. |
|
Three groups of entities:— |
Ba nhóm thực thể:— |
|
[76] These groups of entities can be differentiated in a threefold manner:— |
[76] Có thể phân biệt những nhóm thực thể này theo ba loại:— |
|
[76b] l—Groups of discarnate beings on either the emotional or the mental planes. |
[76b] 1—Các nhóm sinh linh không còn thân xác trên cõi cảm xúc hoặc cõi trí. |
|
[76c] 2—Devas, either singly or in groups. |
[76c] 2—Các thiên thần, riêng lẻ hoặc theo nhóm. |
|
[76d] 3—The dark Brotherhood. [Page 121] |
[76d] 3—Huynh đệ đoàn bóng tối. [Page 121] |
|
[77] Let us take each division and deal with it carefully, first laying the foundation of knowledge by pointing out that the dangers arise from a threefold condition of the bodies of the student which may be the result sometimes of meditation. These conditions are: |
[77] Chúng ta hãy xem xét cẩn thận từng loại, trước hết đặt nền tảng tri thức bằng cách chỉ ra rằng những nguy hiểm phát sinh từ ba trạng thái của các thể phàm ngã của đạo sinh, đôi khi có thể là kết quả của tham thiền. Những trạng thái ấy là: |
|
[78] A negative condition that makes the entire three bodies of the personality receptive and quiescent, and open therefore to the attack of the watching denizens of other planes. |
[78] Một trạng thái thụ động khiến cả ba thể của phàm ngã trở nên tiếp nhận và tĩnh lặng, do đó mở cửa cho sự tấn công của những cư dân đang rình rập trên các cõi khác. |
|
[79] A condition of ignorance or foolhardiness that, in attempting to use certain forms and mantrams without the permission of the Teacher, involves the student with certain groups of devas, bringing him into contact with the devas of the emotional or mental planes and making him therefore (through his ignorance) the butt of their attack and the plaything of their destructive instincts. |
[79] Một trạng thái thiếu hiểu biết hoặc liều lĩnh, trong đó việc cố sử dụng những hình thức và mantram nhất định mà không được Huấn sư cho phép khiến đạo sinh vướng vào một số nhóm thiên thần, đưa y tiếp xúc với các thiên thần trên cõi cảm xúc hoặc cõi trí, và do đó, vì thiếu hiểu biết, y trở thành mục tiêu tấn công và món đồ chơi cho những bản năng phá hoại của họ. |
|
[80] A condition which is the reverse of the above, which makes a man positive and a channel, therefore, for force or power. [81] When this is the case, the man proceeds, under occult rule or law and with the aid of his Teacher, to wield the electrical fluid of the inner planes. [82] He becomes then a center of the attention of those who strive against the Brothers of Light. |
[80] Một trạng thái ngược với trạng thái trên, khiến một người trở nên chủ động và do đó trở thành một kênh dẫn mãnh lực hoặc quyền năng. [81] Khi điều này xảy ra, người ấy tiến hành vận dụng lưu chất điện của các cõi bên trong, theo quy luật hoặc định luật huyền bí và với sự trợ giúp của Huấn sư của y. [82] Khi ấy, y trở thành tâm điểm chú ý của những kẻ chống lại các Huynh Đệ Ánh Sáng. |
|
[83] The first two conditions are all the result of meditation unwisely and ignorantly practiced, the last state of affairs is frequently the reward of success. [84] In the first two, the remedy lies within the student himself and in the wise correction of the type of meditation and its more careful following; [85] in the third case the remedy must be sought in various ways which I will later indicate. |
[83] Hai trạng thái đầu đều là kết quả của việc thực hành tham thiền thiếu sáng suốt và thiếu hiểu biết; trạng thái cuối thường là phần thưởng của thành công. [84] Trong hai trường hợp đầu, biện pháp khắc phục nằm trong chính đạo sinh, ở việc điều chỉnh sáng suốt loại tham thiền và thực hành cẩn thận hơn; [85] trong trường hợp thứ ba, phải tìm biện pháp khắc phục bằng nhiều cách khác nhau mà Tôi sẽ chỉ ra sau. |
Commentary
Commentary 28 – Thư Về Tham thiền Huyền môn
|
Hi everybody, and welcome to our 28th program. We’re on page 114 of Letters on Occult Meditation, and this is the 28th of August. We’re well into Virgo now. |
Xin chào tất cả các bạn, và chào mừng đến với chương trình thứ 28 của chúng ta. Chúng ta đang ở trang 114 của Thư Về Tham thiền Huyền môn, và hôm nay là ngày 28 tháng 8. Giờ chúng ta đã tiến khá sâu vào giai đoạn Xử Nữ. |
|
We’ve been looking at dangers associated with meditation, and I kind of have a list here of the dangers of inhibition, which means basically locking down the free flow of energy within the mental body, and then there’s atrophy, which is about being so focused mentally that one allows the emotional and etheric physical vehicles to go unattended and to be diminished in their work. Dangers to the physical brain, dangers to the nervous system, dangers to the sexual organs, dangers from the karma of the student, and dangers based on national heredity and body type. |
Chúng ta đã xem xét những nguy hiểm liên quan đến tham thiền, và ở đây tôi có một danh sách những nguy hiểm do sự ức chế, về cơ bản có nghĩa là ngăn chặn dòng năng lượng lưu chuyển tự do trong thể trí. Tiếp đến là sự teo yếu, tức là tập trung vào trí tuệ đến mức để các hiện thể cảm dục, dĩ thái và hồng trần không được chăm sóc, khiến hoạt động của chúng suy giảm. Những nguy hiểm đối với bộ não hồng trần, những nguy hiểm đối với hệ thần kinh, những nguy hiểm đối với các cơ quan sinh dục, những nguy hiểm từ nghiệp quả của đạo sinh, và những nguy hiểm do đặc điểm di truyền của dân tộc và kiểu thân thể. |
|
Now we’re into a new type of danger, the dangers attendant on group affiliation. This letter was submitted August 2nd, 1920, 100 years ago. So let us work on that. |
Giờ chúng ta chuyển sang một loại nguy hiểm mới: những nguy hiểm đi kèm với việc liên kết nhóm. Bức thư này được gửi ngày 2 tháng 8 năm 1920, cách đây 100 năm. Vậy chúng ta hãy nghiên cứu phần này. |
|
[1] Very briefly would I seek this morning to take up the question of the dangers involved in meditation that are incidental to a man’s group affiliations, whether exoteric or esoteric. |
[1] Sáng nay, Tôi muốn bàn thật ngắn gọn về những nguy hiểm trong tham thiền phát sinh từ các mối liên kết nhóm của một người, dù là ngoại môn hay nội môn. |
|
Maybe this is some kind of danger that normally we might not have thought of. |
Có lẽ đây là một loại nguy hiểm mà thông thường chúng ta có thể chưa từng nghĩ đến. |
|
[2] There is not much that can be said on this particular matter, save broad indications. Each of these various subjects that I have touched upon might warrant the writing of a weighty treatise, |
[2] Về vấn đề cụ thể này, không thể nói nhiều ngoài những chỉ dẫn khái quát. Mỗi chủ đề khác nhau mà Tôi đã đề cập đều có thể đòi hỏi một khảo luận đồ sộ, |
|
He sees so many possibilities of describing in detail, but he can’t do that. He basically, given the time that he has, has to basically outline the main points of what he would seek to have us think about, a weighty treatise. |
Ngài thấy có rất nhiều điều có thể mô tả chi tiết, nhưng Ngài không thể làm vậy. Với thời gian hiện có, về cơ bản Ngài phải phác thảo những điểm chính mà Ngài muốn chúng ta suy ngẫm trong một khảo luận có nội dung sâu sắc. |
|
[3] and I shall not, therefore, attempt to cover what might be said but only point out certain aspects of the matter that will (if pondered on with care) open up to the earnest seeker after truth many avenues of knowledge. |
[3] vì vậy, Tôi sẽ không cố trình bày mọi điều có thể nói, mà chỉ nêu một số phương diện của vấn đề; nếu suy ngẫm cẩn thận, chúng sẽ mở ra nhiều con đường dẫn tới tri thức cho người chân thành tìm kiếm chân lý. |
|
So he is leaving much to us and giving us, in a way, an outline that we are obliged to ponder on, |
Như vậy, Ngài để lại nhiều điều cho chúng ta tự tìm hiểu và, theo một nghĩa nào đó, trao cho chúng ta một bản phác thảo mà chúng ta có bổn phận suy ngẫm, |
|
[4] All occult training has this in view,—to give to the pupil some seed thought which (when brooded over in the silence of his own heart) |
[4] Mọi sự huấn luyện huyền bí đều hướng đến mục đích này,—trao cho môn sinh một tư tưởng hạt giống mà khi y suy ngẫm trong sự im lặng của chính trái tim mình, |
|
you know, and let us say brooding is rather a ray-two technique, |
như các bạn biết, có thể nói rằng suy ngẫm như vậy thiên về một kỹ thuật cung hai, |
|
[5] will produce much fruit of real value, and which the pupil can then conscientiously consider his own. |
[5] [Page 115] tư tưởng ấy sẽ sinh nhiều hoa trái có giá trị thực sự, và khi ấy môn sinh có thể thành thật xem đó là thành quả của chính mình. |
|
because after all he did come up with the thoughts himself, taking the seed thought and extending it according to his own light. |
vì xét cho cùng, chính y đã nảy sinh những tư tưởng ấy, tiếp nhận tư tưởng hạt giống rồi mở rộng nó theo ánh sáng của riêng mình. |
|
[6] What we produce through wrestling and strenuous endeavour remains forever our own, and vanishes not into forgetfulness as do the thoughts that enter through the eye from the printed page, or through the ear from the lips of any teacher no matter how revered. |
[6] Những gì chúng ta tạo ra qua sự vật lộn và nỗ lực bền bỉ sẽ mãi thuộc về chúng ta, không tan vào quên lãng như những tư tưởng đi vào qua mắt từ trang sách in, hay qua tai từ lời nói của bất kỳ huấn sư nào, dù vị ấy được tôn kính đến đâu. |
|
So we have to work at conceiving our own thoughts, wrestling into a greater measure of the light, and then the thoughts which occur to us, and hopefully those which are of real value, remain with us. And it’s so true, I was thinking about how I and maybe some other friends have worked at memorizing the Tibetan. Maybe two years ago, I had all the techniques of integration, techniques of healing, the third formula, other mantrams, solidly in my memory, so that I could walk along and repeat them almost without error to myself. |
Vì vậy, chúng ta phải nỗ lực hình thành những tư tưởng của riêng mình, vật lộn để đạt đến một mức độ ánh sáng lớn hơn; khi ấy những tư tưởng nảy sinh trong chúng ta, hy vọng là những tư tưởng có giá trị thực sự, sẽ ở lại với chúng ta. Điều này thật đúng. Tôi đang nghĩ đến việc tôi và có lẽ một số người bạn khác đã cố học thuộc lời Chân sư Tây Tạng như thế nào. Có lẽ hai năm trước, tôi đã ghi nhớ vững chắc tất cả các kỹ thuật tích hợp, các kỹ thuật trị liệu, công thức thứ ba và những mantram khác, đến mức tôi có thể vừa đi vừa tự nhắc lại chúng gần như không sai. |
|
But you know, life intervenes. And where are they now? Oh, yes, and the 14 rules for group initiation and the 14 rules for the individual, 28 rules altogether, solidly in mind. Where are they now? Because other things have come up, they have vanished into forgetfulness, and I probably could revive them more easily than what it took to at first memorize them. |
Nhưng các bạn biết đấy, cuộc sống xen vào. Và giờ chúng ở đâu? À, phải rồi, còn 14 quy luật điểm đạo nhóm và 14 quy luật dành cho cá nhân, tổng cộng 28 quy luật, đều đã được ghi nhớ vững chắc trong thể trí. Giờ chúng ở đâu? Vì những việc khác đã xuất hiện, chúng đã tan vào quên lãng; có lẽ tôi có thể khôi phục chúng dễ dàng hơn so với công sức học thuộc ban đầu. |
|
I probably could do that, but you know, so much maintenance is required, so much repetition, where as, let’s say, certain difficult thoughts in the question of being and infinity and that third ray category of thoughts that I struggled to formulate without guidance, except for the ancient, Brahmanical Vedic trend of thought, are with me, and I can reproduce them rapidly. So what the Tibetan… My experience tells me that what the Tibetan has said here is true, and that’s the thing. |
Có lẽ tôi có thể làm được điều đó, nhưng các bạn biết đấy, cần duy trì rất nhiều, cần lặp lại rất nhiều. Trong khi đó, một số tư tưởng khó về vấn đề bản thể và vô hạn, cùng loại tư tưởng thuộc cung ba mà tôi đã vật lộn để hình thành mà không có sự hướng dẫn nào ngoài dòng tư tưởng Veda cổ xưa của truyền thống Bà-la-môn, vẫn ở lại với tôi, và tôi có thể tái hiện chúng nhanh chóng. Vì vậy, điều Chân sư Tây Tạng… Kinh nghiệm của tôi cho thấy những gì Chân sư Tây Tạng nói ở đây là đúng, và đó chính là điểm cốt yếu. |
|
Before we accept something as true, let us have the experience which indicates that something as true. |
Trước khi chấp nhận điều gì là đúng, hãy có kinh nghiệm cho thấy điều ấy là đúng. |
|
[7] One thing that is oft overlooked by the pupil when he enters upon the path of probation and starts meditation is that the goal ahead for him is not primarily the completing of his own development, but his equipping for service to humanity. |
[7] Một điều môn sinh thường bỏ qua khi bước vào Con Đường Dự Bị và bắt đầu tham thiền là mục tiêu trước mắt y không chủ yếu nằm ở việc hoàn tất sự phát triển của chính mình, mà ở việc trang bị cho mình để phụng sự nhân loại. |
|
We enter with one thought in mind, and before long, we realize that our original thought was erroneous. |
Chúng ta bước vào với một tư tưởng trong thể trí, rồi chẳng bao lâu sau nhận ra rằng tư tưởng ban đầu của mình là sai lầm. |
|
Yes, we will be equipped to a degree. We will not complete our own development, but we will have sufficient development to aid, to assist, and after all, that’s the important thing. In the labors of Gemini, in the labors of Hercules, Hercules did not have in his hand the golden apples of the Hesperides and then go to work helping. |
Đúng vậy, chúng ta sẽ được trang bị đến một mức độ nào đó. Chúng ta sẽ không hoàn tất sự phát triển của riêng mình, nhưng sẽ phát triển đủ để giúp đỡ, hỗ trợ; xét cho cùng, đó mới là điều quan trọng. Trong kỳ công thuộc Song Tử, trong các kỳ công của Hercules, Hercules không cầm sẵn trong tay những quả táo vàng của các nàng Hesperides rồi mới bắt tay vào giúp đỡ. |
|
First he helped, and the golden apples of certain knowledge only then came to him. |
Trước tiên, chàng giúp đỡ, và chỉ sau đó những quả táo vàng của tri thức chắc chắn mới đến với chàng. |
|
[8] His own growth and development are necessarily incidental |
[8] Sự trưởng thành và phát triển của y tất yếu là những kết quả đi kèm, |
|
They will occur, |
Chúng sẽ diễn ra, |
|
[9] but are not the goal. |
[9] nhưng không phải là mục tiêu. |
|
Well, I think we’ve heard this many times, and, it’s a question of whether we live by that idea, whether we know it to be so. Otherwise, we could just keep going forever, accumulating, accumulating, learning more and more without application, and that would lead ultimately to defeat, to becoming crushed under the load of knowledge that we have acquired, because there’s something about service that sets everything in circulatory motion so that we are not excluded from the divine circulatory flow. |
Tôi nghĩ chúng ta đã nghe điều này nhiều lần; vấn đề là liệu chúng ta có sống theo ý tưởng ấy, có biết rằng sự việc đúng là như vậy hay không. Nếu không, chúng ta có thể cứ tiếp tục mãi, tích lũy, tích lũy, học ngày càng nhiều mà không áp dụng; cuối cùng điều đó sẽ dẫn đến thất bại, khiến chúng ta bị đè bẹp dưới gánh nặng tri thức đã thu nhận, bởi trong phụng sự có điều gì đó đưa mọi thứ vào vận động tuần hoàn, để chúng ta không bị loại khỏi dòng tuần hoàn thiêng liêng. |
|
We are integrated into it. So if we ever think, oh, I don’t know enough to serve, maybe one more seminar, one more book will equip me so I can serve and impart what I do know, we know we are following an erroneous assumption. We serve with what we have at the moment, and because that creates a kind of a vacuum, more knowledge pours in. |
Chúng ta được tích hợp vào dòng ấy. Vì vậy, nếu bao giờ chúng ta nghĩ: “Ồ, tôi chưa biết đủ để phụng sự; có lẽ thêm một hội thảo, thêm một cuốn sách sẽ trang bị cho tôi để tôi có thể phụng sự và truyền đạt những gì mình biết”, thì chúng ta biết mình đang theo một giả định sai lầm. Chúng ta phụng sự bằng những gì hiện có, và vì điều đó tạo ra một khoảng trống, tri thức sẽ tuôn vào nhiều hơn. |
|
To those who give all, all is given. It’s not just about money. To those who give all their knowledge, or the most giveable part of it, impartable part, more knowledge pours in so that they may give again. |
Những ai cho đi tất cả sẽ được trao tất cả. Điều này không chỉ nói về tiền bạc. Với những ai cho đi toàn bộ tri thức của mình, hoặc phần có thể cho đi, có thể truyền đạt nhiều nhất, tri thức sẽ tuôn vào nhiều hơn để họ lại có thể cho đi. |
|
Of the aspirant, we’re saying that |
Về người chí nguyện, chúng ta đang nói rằng |
|
[10] His immediate environment and his close associates on the physical plane are his objectives in service, and if in the endeavour to attain certain qualifications and capacities he overlooks the groups to which he is affiliated and neglects to serve wisely and to spend himself |
[10] Môi trường trực tiếp và những người gần gũi với y trên cõi hồng trần là các đối tượng phụng sự của y; nếu trong nỗ lực đạt được những phẩm chất và năng lực nhất định, y bỏ qua các nhóm mà mình liên kết, sao nhãng việc phụng sự một cách minh triết và tận tụy dốc sức |
|
note that, spend himself |
hãy lưu ý điều đó, tận hiến bản thân |
|
[11] loyally on their behalf he runs the danger of crystallisation, falls under the spell of sinful pride, and mayhap even takes the first step toward the left-hand path. |
[11] vì họ, thì y có nguy cơ trở nên kết tinh, rơi vào sự mê hoặc của lòng kiêu hãnh tội lỗi, và có lẽ còn bước bước đầu tiên về phía tả đạo. |
|
He’s not on it yet, but he could then more easily, symbolically step upon the left-hand path more easily. That is when compared to people who use in service what they have at the time they have it. |
Y chưa ở trên con đường ấy, nhưng khi đó, theo nghĩa biểu tượng, y có thể dễ bước lên tả đạo hơn. Đó là khi so với những người dùng những gì mình có để phụng sự ngay khi có chúng. |
|
So, pause for a moment and think, which really is another way of me saying meditate, about whether we give what we have or whether we are ever in the acquisitive mode, accumulating more and more so that the strain of knowing grows greater and greater, and even is it true knowing unless one gives it? Can true knowing arise if one does not give what one has? And I think I’ll put that down. Can true knowing arise if one does not give what one has in the moment? |
Vì vậy, hãy dừng lại một lát và suy nghĩ — thực ra đó là một cách khác để tôi nói rằng hãy tham thiền — xem chúng ta có cho đi những gì mình có hay luôn ở trong trạng thái thu gom, tích lũy ngày càng nhiều, khiến sức nặng của sự hiểu biết ngày càng lớn. Và liệu đó có thực sự là hiểu biết nếu ta không cho đi? Sự hiểu biết chân thực có thể nảy sinh nếu ta không cho đi những gì mình có không? Tôi nghĩ tôi sẽ ghi điều ấy lại. Sự hiểu biết chân thực có thể nảy sinh nếu ta không cho đi những gì mình có ngay lúc này không? |
|
[12] Unless inner growth finds expression in group service the man treads a dangerous road. |
[12] Nếu sự trưởng thành bên trong không biểu lộ qua việc phụng sự nhóm, con người đang đi trên một con đường nguy hiểm. |
|
Well, to accumulate and to have much compared to the little that others have can induce a prideful response, unwarranted prideful response. |
Tích lũy và có nhiều so với chút ít mà người khác có, có thể gây ra một đáp ứng kiêu hãnh, một đáp ứng kiêu hãnh không chính đáng. |
|
Just imagine if the Great Ones compared themselves to us and measured what they have compared to what we have, but no, Master DK says, except for the development of certain faculties, I’m just like you. I think that’s the way to consider it. |
Hãy thử hình dung nếu Các Đấng Cao Cả so sánh chính Các Ngài với chúng ta và cân đo những gì Các Ngài có so với những gì chúng ta có, nhưng không, Chân sư DK nói: ngoài sự phát triển của một số năng lực, Tôi cũng giống như các bạn. Tôi nghĩ đó là cách nên nhìn nhận. |
|
Ultimately, there is no difference along the horizontal axis of being and brotherhood. Vertically, there is a difference in experience and in the accumulations which experience is made possible, but those things are overcome in time and space. |
Rốt cuộc, trên trục ngang của bản thể và tình huynh đệ, không có sự khác biệt. Trên trục dọc, có sự khác biệt về kinh nghiệm và những gì tích lũy được nhờ kinh nghiệm, nhưng những khác biệt ấy sẽ được vượt qua trong thời gian và không gian. |
|
And, we can’t blame a child for being a child. I’m 20 and you’re five. So I blame you for being five because you’re not 20. |
Chúng ta không thể trách một đứa trẻ vì nó là trẻ con. Tôi 20 tuổi, còn bạn năm tuổi. Thế là tôi trách bạn vì bạn năm tuổi chứ không phải 20 tuổi. |
|
You haven’t learned what I’ve learned in my 20 years. Why? Because you’re five. And that’s the way we have to look at those who have less experience than we and less opportunity to build up faculty. |
Bạn chưa học được những gì tôi đã học trong 20 năm của mình. Vì sao? Vì bạn mới năm tuổi. Và đó là cách chúng ta phải nhìn những người có ít kinh nghiệm hơn mình và ít cơ hội hơn để phát triển năng lực. |
|
We can be sure that we are looked at in a similar way by those whose accumulations and experience dwarf ours entirely. Now we have here three types of affiliated groups. We’re talking about the dangers of group affiliation. |
Chúng ta có thể chắc chắn rằng những vị có sự tích lũy và kinh nghiệm vượt xa chúng ta cũng nhìn chúng ta theo cách tương tự. Giờ đây, ở đây chúng ta có ba loại nhóm gắn kết. Chúng ta đang nói về những nguy hiểm của sự gắn kết nhóm. |
|
These are dangers in meditation and they come from our group affiliations. |
Đây là những nguy hiểm trong tham thiền, và chúng xuất phát từ những mối gắn kết nhóm của chúng ta. |
|
[12b] Three types of affiliated groups. |
[12b] Ba loại nhóm liên kết. |
|
[13] Perhaps I could here give some indications of the groups on the various planes to which a man is assigned. |
[13] Có lẽ ở đây Tôi có thể đưa ra một số chỉ dẫn về những nhóm trên các cõi khác nhau mà một người được phân vào. |
|
This, will be interesting because we actually give credit to far fewer groups than the ones with which we may be affiliated or in which we function. |
Điều này sẽ thú vị, vì thực ra chúng ta nhận biết số nhóm ít hơn rất nhiều so với những nhóm mà mình có thể gắn kết hoặc hoạt động trong đó. |
|
[14] These groups are many and diverse and at different periods of a man’s life may change and differ, as he works out from under the obligating karma that governs the affiliations. |
[14] Những nhóm này rất nhiều và đa dạng, có thể thay đổi và khác nhau vào những giai đoạn khác nhau trong đời một người, khi y giải trừ những ràng buộc nghiệp quả chi phối các mối liên kết ấy. |
|
works out from under. It almost seems like Pluto is at work along with Saturn, become kind of a grave digger for unexpiated karma, and so naturally the groups in which we participate change. |
Dần thoát khỏi. Gần như có vẻ Sao Diêm Vương đang hoạt động cùng Sao Thổ, trở thành một kiểu người đào huyệt cho nghiệp quả chưa được thanh toán; vì thế, các nhóm mà chúng ta tham gia tự nhiên sẽ thay đổi. |
|
I think of some of the early groups in which I participated, and I couldn’t imagine myself doing so now. Things have moved on. Works out from under the obligating karma that governs the affiliations. |
Tôi nghĩ đến một số nhóm mình tham gia thuở đầu, và không thể hình dung giờ đây mình lại tham gia như vậy. Mọi việc đã tiến triển. Dần thoát khỏi nghiệp quả ràng buộc chi phối những mối gắn kết ấy. |
|
There are other types of obligation. I was quoting this morning that French statement, noblesse oblige, nobility obliges. If you have a superior accumulation, you are obligated to use it for the edification of others and to promote a similar accumulation in them, or equipping, or building of faculty. |
Còn có những loại bổn phận khác. Sáng nay tôi đã trích câu nói tiếng Pháp rằng địa vị cao quý kéo theo bổn phận. Nếu bạn có sự tích lũy vượt trội, bạn có bổn phận dùng nó để mở mang cho người khác và thúc đẩy sự tích lũy tương tự nơi họ, hoặc trang bị cho họ, hoặc xây dựng năng lực. |
|
So it’s not—what we do is not just a question of our karma, but of our dharma as well. That for which we are created in the matter of expressing an aspect of the Divine Plan, we have a purpose, and that purpose is not about what we owe, what we’ve done amiss, what we’ve done correctly. |
Vì vậy, những gì chúng ta làm không chỉ là vấn đề nghiệp quả, mà còn là thiên chức của chúng ta. Chúng ta có một mục đích, gắn với điều mà vì đó chúng ta được tạo ra để biểu lộ một phương diện của Thiên Cơ, và mục đích ấy không liên quan đến những gì chúng ta còn mắc nợ, những gì chúng ta đã làm sai hay đã làm đúng. |
|
It’s about our energy placement within the wholeness as the plan moves towards manifestation. Well, is karma green? It really has something to do with the third aspect of divinity, and returning to incarnation, each time we find certain unfinished business left behind. |
Nó liên quan đến vị trí năng lượng của chúng ta trong toàn thể khi Thiên Cơ tiến đến biểu hiện. Nghiệp quả có màu xanh lục chăng? Nó thực sự có liên quan đến phương diện thứ ba của thiên tính, và mỗi lần trở lại nhập thể, chúng ta lại thấy những công việc dang dở còn để lại. |
|
It’s the contained within the atomic triangle and the vehicles built by the atomic triangle of mental unit, astral permanent atom, and etheric permanent atoms, oftentimes referred to as the physical permanent atom. So, we have to examine the groups that we are affiliated with, and see where in danger might lie as we attempt to pursue the suggested meditative process. |
Chúng nằm trong tam giác nguyên tử và trong các hiện thể do tam giác nguyên tử xây dựng, gồm đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục và nguyên tử trường tồn dĩ thái, thường được gọi là nguyên tử trường tồn hồng trần. Vì vậy, chúng ta phải xem xét những nhóm mà mình gắn kết và nhận ra nguy hiểm có thể nằm ở đâu khi cố theo đuổi tiến trình tham thiền đã được đề nghị. |
|
[15] Let us remember too that as a man enlarges his capacity to serve he at the same time increases the size and number of the groups he contacts till he reaches a point in some later incarnation when the world itself is his sphere |
[15] Chúng ta cũng hãy nhớ rằng khi một người mở rộng năng lực phụng sự, đồng thời y cũng gia tăng quy mô và số lượng các nhóm mình tiếp xúc, cho đến khi đạt tới một thời điểm trong một kiếp nhập thể về sau, lúc chính thế giới [Page 116] là phạm vi phụng sự của y và đông đảo quần chúng là những người y trợ giúp. |
|
So, what we’re doing here is comparing the sphere of service to conditions earlier when we did not have such a sphere. |
Như vậy, ở đây chúng ta đang so sánh phạm vi phụng sự với những hoàn cảnh trước kia, khi chúng ta chưa có một phạm vi như thế. |
|
If you look back at what your earlier life may be, your sphere of service has expanded. If you have intimations about your previous incarnations, maybe you notice that in this life your sphere of service has expanded until, eventually it’s the whole planet, but it wouldn’t stop there. In expanding the sphere of service, one ring-pass-not after another is extended or destroyed. |
Nếu nhìn lại cuộc sống trước đây của mình, bạn sẽ thấy phạm vi phụng sự đã mở rộng. Nếu có những cảm nhận thoáng qua về các kiếp nhập thể trước, có lẽ bạn nhận thấy rằng trong kiếp này, phạm vi phụng sự đã mở rộng, cho đến cuối cùng bao trùm toàn bộ hành tinh; nhưng nó sẽ không dừng ở đó. Khi phạm vi phụng sự mở rộng, hết vòng-giới-hạn này đến vòng-giới-hạn khác được mở rộng hoặc phá bỏ. |
|
Eventually, the entirety of cosmos becomes our sphere of service, even as it is for the universal logos, and of course, since we re-become in awareness the universal logos, that the sphere of his identity is the sphere of service. So, we’re in this process wherein the increasing of the size of the number of groups contacted indicates an expansion of the sphere of service. |
Cuối cùng, toàn bộ vũ trụ trở thành phạm vi phụng sự của chúng ta, cũng như đối với Thượng đế Vũ Trụ. Dĩ nhiên, vì trong nhận biết chúng ta lại trở thành Thượng đế Vũ Trụ, phạm vi bản sắc của Ngài cũng là phạm vi phụng sự. Vì vậy, chúng ta đang ở trong tiến trình mà sự gia tăng quy mô và số lượng các nhóm được tiếp xúc cho thấy phạm vi phụng sự đang mở rộng. |
|
So, later and to come, the world itself will become our sphere of service, even as it is for the dragon of wisdom, our Planetary Logos, and for all the lesser dragons of wisdom, the masters that is, who are attempting to help the greater dragon execute the work within his sphere of service in the right way. |
Vì vậy, về sau, trong tương lai, chính thế giới sẽ trở thành phạm vi phụng sự của chúng ta, cũng như đối với Rồng Minh Triết, Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, và với tất cả những rồng minh triết nhỏ hơn, tức các Chân sư, những vị đang cố giúp Rồng lớn hơn thực hiện công việc đúng cách trong phạm vi phụng sự của Ngài. |
|
[16] He has to serve |
[16] Y phải phụng sự |
|
says the Tibetan, |
Chân sư Tây Tạng nói, |
|
[17] in a threefold manner before he is permitted to change his line of action and pass on to other work,—planetary. systemic or cosmic. |
[17] theo cách tam phân trước khi được phép đổi hướng hoạt động và chuyển sang công việc khác,—thuộc hành tinh, hệ mặt trời hoặc vũ trụ. |
|
So, we have to, we have, sorry, even in this life, just compare. |
Vì vậy, chúng ta phải, chúng ta có — xin lỗi — ngay trong kiếp sống này, hãy cứ so sánh. |
|
What was your earlier personality sphere of service? Because usually that’s what appears first. It’s the rare soul for whom the eventual soul sphere of service appears early on. How does your present sphere of service compare to the sphere of service, or at least the involvement and activity which appeared when you became a more integrated personality and could work as an effective person in the world? And, maybe you will find yourself reaching more people, reaching them with greater depth, reaching them in such a way that you can more effectively help them align with the Divine Plan. |
Phạm vi phụng sự của phàm ngã bạn trước đây là gì? Bởi thường đó là điều xuất hiện trước tiên. Hiếm có linh hồn nào mà phạm vi phụng sự cuối cùng của linh hồn lại xuất hiện sớm. Phạm vi phụng sự hiện tại của bạn so với phạm vi phụng sự, hoặc ít nhất sự tham gia và hoạt động xuất hiện khi bạn trở thành một phàm ngã tích hợp hơn và có thể hoạt động hiệu quả trong thế giới, như thế nào? Và có lẽ bạn sẽ thấy mình tiếp cận nhiều người hơn, tiếp cận họ sâu sắc hơn, theo cách có thể giúp họ chỉnh hợp với Thiên Cơ hiệu quả hơn. |
|
I mean, it’s up to you what you see, but the master, of course, looks on and he does see. He does see what we’ve done with our talents. |
Ý tôi là bạn thấy gì thì tùy bạn, nhưng dĩ nhiên, Chân sư quan sát và Ngài thực sự thấy. Ngài thực sự thấy chúng ta đã làm gì với những tài năng của mình. |
|
He sees if we’ve been given five talents, do we produce ten? When the master goes away, so to speak, during the time of an incarnation, if we’ve been given two talents, do we produce four? Or do we hide the talent? If we’ve been given one for fear that it might be exposed and might vanish or might disappear, that would be the disloyal worker who did not multiply his talents and improve his effectiveness. Has your effectiveness in service improved? And there come certain decision points in the life where if the correct decision is taken, the sphere of your service would expand and deepen. And if not taken, we’ll be thrown back into the, more into the dweller state of consciousness and we will hover on the threshold of divinity but not pass through the electrical door through similarity of vibration with that which is on the other side of the door. |
Ngài thấy rằng nếu chúng ta được trao năm phần tài năng, liệu chúng ta có tạo ra mười phần không? Có thể nói, khi Chân sư đi xa trong thời gian một kiếp nhập thể, nếu chúng ta được trao hai phần tài năng, liệu chúng ta có tạo ra bốn phần không? Hay chúng ta giấu tài năng ấy đi? Nếu được trao một phần mà chúng ta giấu đi vì sợ nó có thể bị phơi bày rồi tan biến hoặc mất đi, thì đó là người làm việc bất trung, không nhân lên tài năng và nâng cao hiệu quả của mình. Hiệu quả phụng sự của bạn đã cải thiện chưa? Trong đời sống có những thời điểm phải quyết định; nếu quyết định đúng, phạm vi phụng sự của bạn sẽ mở rộng và sâu sắc hơn. Nếu không quyết định đúng, chúng ta sẽ bị đẩy lùi sâu hơn vào trạng thái tâm thức của Kẻ Chận Ngõ, sẽ quanh quẩn nơi ngưỡng cửa thiên tính nhưng không vượt qua cánh cửa điện bằng sự tương đồng rung động với những gì ở phía bên kia cửa. |
|
Speaking, of course, in symbols. So anyway, the man has to serve in a threefold manner before he is permitted to change his line of action and pass on to other work, planetary, systemic, and cosmic. We can say that Saturn guards the way and prevents immature passage, and we must say fulfillment before passage. |
Dĩ nhiên, đây là cách nói bằng biểu tượng. Dù sao, con người phải phụng sự theo cách tam phân trước khi được phép thay đổi đường hướng hành động và chuyển sang công việc khác thuộc hành tinh, hệ mặt trời và vũ trụ. Chúng ta có thể nói Sao Thổ canh giữ con đường và ngăn việc vượt qua khi chưa chín muồi; và phải nói rằng cần hoàn thành trước khi vượt qua. |
|
You know, sometimes try as you might to change your sphere of activity and your sphere of service. Something holds you. It’s often Saturn and karma, and you say, well, I just can’t. |
Các bạn biết đấy, đôi khi dù cố đến đâu để thay đổi phạm vi hoạt động và phạm vi phụng sự, vẫn có điều gì đó giữ bạn lại. Thường đó là Sao Thổ và nghiệp quả, và bạn nói: “Tôi đơn giản là không thể.” |
|
I have to take care of certain things before I can move on, and if you do mistakenly move on before you fulfill what has been given to you to fulfill in an earlier sphere, you regret it, and you simply have to come back under more difficult circumstances to fulfill that which was left behind in an unfinished state. Those choices confront us, and I hope we do not waste time by leaving behind what we have only partially accomplished as part of our soul assignment. |
Tôi phải lo xong một số việc trước khi có thể đi tiếp. Nếu lầm lỡ đi tiếp trước khi hoàn thành điều đã được giao trong một phạm vi trước đó, bạn sẽ hối tiếc và phải trở lại trong hoàn cảnh khó khăn hơn để hoàn thành những gì đã bỏ lại dang dở. Những lựa chọn ấy đặt ra trước chúng ta, và tôi hy vọng chúng ta không lãng phí thời gian bằng cách bỏ lại những việc mới chỉ hoàn thành một phần trong nhiệm vụ linh hồn của mình. |
|
So, what do the three methods serve in a threefold manner? Now, D.K. will kind of develop this idea. Excuse my voice. I’ve been talking constantly. |
Vậy ba phương thức phụng sự theo cách tam phân là gì? Giờ đây, Chân sư DK sẽ triển khai ý tưởng này. Xin thứ lỗi cho giọng nói của tôi. Tôi đã nói liên tục. |
|
Mercury on the midheaven, you know. There are liabilities to that position. Well, |
Sao Thủy ở Thiên Đỉnh, các bạn biết đấy. Vị trí ấy có những bất lợi. |
|
[18] a—He serves first through activity, through the use of his intelligence, using the high faculties of mind and the product of his genius |
[18] a—Trước hết, y phụng sự qua hoạt động, qua việc sử dụng trí thông minh, vận dụng những năng lực cao của trí tuệ và thành quả từ thiên tài của mình |
|
largely, that means the content of his causal body, |
phần lớn, điều đó hàm ý nội dung thể nguyên nhân của y, |
|
[19] to aid the sons of men. He builds slowly great powers of intellect and in the building overcomes the snare of pride. |
[19] để trợ giúp những người con của nhân loại. Y dần xây dựng những năng lực trí năng lớn lao và trong quá trình ấy vượt qua cạm bẫy của lòng kiêu hãnh. |
|
He learns to know how little he, in fact, knows. |
Y học cách biết rằng thực ra mình biết ít đến mức nào. |
|
[20] He takes, then, that active intelligence of his and lays it at the feet of collective humanity, giving of his best for the helping of the race. |
[20] Khi ấy, y đem trí thông minh hoạt động của mình đặt dưới chân toàn thể nhân loại, cống hiến những gì tốt nhất để trợ giúp nhân loại. |
|
It’s, you might say, continuous from the seventh petal of the Egoic Lotus, ruled by Libra and the third ray. So, he’s offering up his growing intelligence on the altar of service to the human race. So, that’s the first sphere. |
Có thể nói, điều này tiếp nối từ cánh hoa thứ bảy của Hoa Sen Chân Ngã, do Thiên Bình và cung ba cai quản. Vì vậy, y đang dâng trí thông minh ngày càng phát triển của mình lên bàn thờ phụng sự nhân loại. Đó là phạm vi thứ nhất. |
|
That’s the first sphere of threefold service. Next, |
Đó là phạm vi thứ nhất của phụng sự tam phân. Tiếp theo, |
|
[21] b—He serves through love, becoming, as time elapses, one of the saviours of men, spending his life |
[21] b—Y phụng sự qua tình thương, theo thời gian trở thành một trong những người cứu giúp nhân loại, |
|
note that spending, giving forth to acquire something needed, something higher, |
hãy lưu ý sự tận hiến ấy, cho đi để đạt được điều cần thiết, điều cao hơn, |
|
[22] spending his life and giving of his all through perfect love of his brothers. |
[22] dốc cả cuộc đời và hiến dâng tất cả qua tình thương hoàn hảo dành cho các huynh đệ của mình. Rồi một |
|
Can you spend yourself in love? Love can flow forth, and it is a radiation of energy, so, I would say, yes, you can, and first must come intelligence. |
Bạn có thể tận hiến bản thân trong tình thương không? Tình thương có thể tuôn ra, và đó là sự phát xạ năng lượng, vì vậy, tôi sẽ nói: có, bạn có thể, và trước tiên phải có trí thông minh. |
|
He serves through love. Becoming as time elapses, one of the saviors of men, spending his life, his life force, and giving of his all to those who give all, all is given. Giving of his all through perfect love, without mixed motive, through perfect love of his brothers. |
Y phụng sự qua tình thương. Theo thời gian, y trở thành một trong những vị cứu độ con người, tận hiến đời mình, mãnh lực sự sống của mình, và trao tất cả những gì mình có — những ai cho đi tất cả sẽ được trao tất cả. Trao tất cả những gì mình có qua tình thương hoàn hảo, không pha tạp động cơ, qua tình thương hoàn hảo dành cho các huynh đệ. |
|
[23] life then comes when the utmost sacrifice is made and in love he dies that others may live. |
[23] kiếp sống đến, trong đó y thực hiện sự hy sinh tột bậc, và trong tình thương, y chết để những người khác được sống. |
|
A great sentence, and one that connotes the fourth initiation, initiation four. |
Một câu tuyệt vời, và là câu hàm chứa lần điểm đạo thứ tư, điểm đạo bốn. |
|
He dies that others may live. Well, that’s the whole Christ theme, isn’t it? Now, of course, it was Master Jesus who died in the conventional way, but what was the death through which the Christ passed as he relinquished his own methods and said, not my will, Father, but thine be done. So, sometimes you might say, well, Jesus had it harder because he went through an agonizing death and lost his body and suffered in great pain. |
Y chết để những người khác có thể sống. Đó là toàn bộ chủ đề Đức Christ, phải không? Dĩ nhiên, chính Chân sư Jesus đã chết theo cách thông thường, nhưng cái chết mà Đức Christ trải qua khi Ngài từ bỏ những phương pháp riêng và nói: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con, mà xin ý Cha được thực hiện”, là gì? Vì vậy, đôi khi bạn có thể nói rằng Đức Jesus chịu đựng nặng nề hơn, vì Ngài đã trải qua một cái chết đau đớn, mất thân thể và chịu đau đớn cùng cực. |
|
But can we honestly assess the death, the kind of death that the Christ went through to pass into the chohenship, the sixth initiation, and to become a member of Shambhala? Just think, as high as he was already head of the hierarchy, probably since around 500 BC, he was still not yet a chohan until he ascended. Now, probably so many events in that life were part of the ascension, but we do have him being gathered up into a cloud, as it were, and that’s the only way in those days his disciples of limited thought and limited esoteric understanding could describe his disappearance at the ascension. All right, so that’s yet another mode of service. |
Nhưng liệu chúng ta có thể thực sự đánh giá cái chết, loại cái chết mà Đức Christ đã trải qua để bước vào địa vị Chohan, lần điểm đạo thứ sáu, và trở thành một thành viên của Shamballa không? Hãy nghĩ xem, dù Ngài đã ở địa vị cao như thế, đứng đầu Thánh đoàn, có lẽ từ khoảng năm 500 trước Công nguyên, Ngài vẫn chưa là một Chohan cho đến khi thăng thiên. Có lẽ rất nhiều sự kiện trong kiếp sống ấy là một phần của sự thăng thiên, nhưng chúng ta có sự kiện Ngài được đưa lên trong một đám mây, có thể nói như vậy; và vào thời ấy, đó là cách duy nhất các đệ tử của Ngài, với tư tưởng hạn hẹp và sự thấu hiểu huyền bí còn hạn chế, có thể mô tả việc Ngài biến mất khi thăng thiên. Như vậy, đó lại là một phương thức phụng sự khác. |
|
Activity is one, and the easiest, closest to humanity, and love is another. What is the third? |
Hoạt động là một phương thức, dễ nhất, gần với nhân loại nhất; tình thương là một phương thức khác. Phương thức thứ ba là gì? |
|
[24] c—He serves then through power. |
[24] c—Sau đó, y phụng sự qua quyền năng. |
|
Well, it’s pretty much a three, two, one, isn’t it? He serves through power, and now the returning Christ will more readily display the power aspect along with the love and the wisdom and the activity in service. |
Đó gần như là ba, hai, một, phải không? Y phụng sự qua quyền năng; và giờ đây, Đức Christ trở lại sẽ biểu lộ phương diện quyền năng rõ ràng hơn, cùng với tình thương, minh triết và hoạt động trong phụng sự. |
|
Christ is such a great being that we, we really cannot conceive the nature of his being in any kind of fullness, as much as we might like to, but when we practice possessing the mind as it is in Christ, we will approximate his attitude, and by passing through it, according—passing through life regulated by his attitude, we will learn of those things which were simply words to us before. |
Đức Christ là một Đấng vĩ đại đến mức chúng ta thực sự không thể hình dung bản chất hiện tồn của Ngài một cách đầy đủ, dù mong muốn đến đâu. Nhưng khi thực hành để có thể trí như nơi Đức Christ, chúng ta sẽ tiến gần đến thái độ của Ngài; và khi đi qua cuộc đời với thái độ của Ngài dẫn dắt, chúng ta sẽ học được những điều trước kia chỉ là ngôn từ đối với mình. |
|
[25] Proved in the furnace to have no thought save the good of all around, |
[25] Sau khi thử thách trong lò lửa chứng tỏ y không nghĩ đến điều gì ngoài lợi ích của tất cả những người xung quanh, |
|
—the furnace, the grounds, the purifying fire, the dross burnt away, the dross of selfishness, the dross which is thought of the good of himself before the good of others— |
—lò lửa, những vùng đất, lửa thanh luyện, cặn bã bị thiêu rụi, cặn bã ích kỷ, cặn bã là tư tưởng đặt lợi ích của mình trước lợi ích của người khác— |
|
[26] he is trusted with the power that follows from active love intelligently applied. |
[26] y được tin cậy trao cho quyền năng phát sinh từ tình thương tích cực được vận dụng một cách thông minh. |
|
Pause and reflect on your life. |
Hãy dừng lại và suy ngẫm về cuộc đời mình. |
|
Do we have no thought save the good of all around? It’s a consummation devoutly to be wished, but unlikely, because as has been stated in the Glamour book, when comparing the presence, the soul, and the dweller, we are still pretty much identified as that radiating third aspect vehicle or point of tension called the dweller. |
Chúng ta có thực sự không nghĩ đến điều gì ngoài lợi ích của tất cả những người xung quanh không? Đó là một thành tựu rất đáng thiết tha mong cầu, nhưng khó có khả năng đạt được, bởi như đã nói trong sách Ảo Cảm, khi so sánh Sự Hiện Diện, linh hồn và Kẻ Chận Ngõ, chúng ta vẫn còn phần lớn đồng hoá với hiện thể phát xạ thuộc phương diện thứ ba, hay điểm tập trung nhất tâm được gọi là Kẻ Chận Ngõ. |
|
[27] He works with the law, |
[27] Y làm việc với định luật, |
|
one and seven governing the Path of Initiation, and also the rays of law, |
cung một và cung bảy cai quản Con Đường Điểm Đạo, và cũng là những cung của định luật, |
|
[28] and bends all his will to make the power of the law felt in the three-fold realms of death. |
[28] và dốc toàn bộ ý chí để khiến quyền năng của định luật được cảm nhận trong các cõi giới tam phân của sự chết. |
|
That’s how DK slips in yet another perspective on the location in which we live. |
Đó là cách Chân sư DK khéo đưa vào thêm một góc nhìn khác về nơi chúng ta đang sống. |
|
We are in, are we not? And think of it, bouncing around there, but maybe that’ll be better. We are in the threefold realms of death, even now, which is the threefold unprincipled field of the personality, when cosmically considered. The threefold unprincipled—okay, what will that be? The threefold unprincipled field of the personality. |
Chúng ta đang ở trong đó, phải không? Hãy nghĩ xem, cứ bật qua bật lại trong đó, nhưng có lẽ diễn đạt thế này sẽ rõ hơn. Ngay lúc này, chúng ta đang ở trong các miền tam phân của sự chết; xét từ góc độ vũ trụ, đó là trường tam phân không có nguyên khí của phàm ngã. Trường tam phân không có nguyên khí — vậy sẽ gọi là gì? Trường tam phân không có nguyên khí của phàm ngã. |
|
We are in the realm of death, and then to die by entering into that light wherein consciousness awakens free from the bonds of flesh—this is a quotation of the Tibetan to Jean Monchart. I’m always forgetting the letters, maybe P.D. something. He was that Jesuit that was killed by the Nazis. |
Chúng ta đang ở trong miền của sự chết, rồi chết bằng cách đi vào ánh sáng ấy, nơi tâm thức thức tỉnh, thoát khỏi những ràng buộc của xác thịt — đây là một câu trích lời Chân sư Tây Tạng gửi Jean Monchart. Tôi luôn quên các chữ cái, có lẽ là P.D. gì đó. Ông là tu sĩ Dòng Tên đã bị Đức Quốc xã giết. |
|
To enter into that field of light is not death. It is part of the revelation of the eternally lovely secret of death. So death is life, and normal containment of the vitality to the worlds of form is death to consciousness. |
Đi vào trường ánh sáng ấy không phải là chết. Đó là một phần của sự mặc khải về bí mật đẹp đẽ vĩnh cửu của sự chết. Vì vậy, chết là sống; còn việc sinh lực thông thường bị giới hạn trong các cõi hình tướng lại là sự chết đối với tâm thức. |
|
So we are living, walking, breathing, and living in the threefold realm of death. |
Như vậy, chúng ta đang sống, đi lại, hít thở và sống trong miền tam phân của sự chết. |
|
[29] In all these three branches of service you will notice that the faculty of working with groups is one of paramount importance. These groups are diverse, as before I have said, and vary on different planes. Let us briefly enumerate them:— |
[29] Trong cả ba nhánh phụng sự này, các bạn sẽ nhận thấy năng lực làm việc với các nhóm có tầm quan trọng hàng đầu. Như Tôi đã nói, các nhóm này rất đa dạng và khác nhau trên những cõi khác nhau. Chúng ta hãy liệt kê ngắn gọn:— |
|
Well, you remember, I think it’s page 39. We have several groups listed. |
Các bạn nhớ đấy, tôi nghĩ là trang 39. Chúng ta có một số nhóm được liệt kê. |
|
Note these groups, and I will try to be present in the right way. Okay, seven great groups on the Monadic plane, 14 elevated groups on the atomic subplane, the first of the atmic plane, two collections of triadal groups on the buddhic plane, the one on the first subplane, 21 groups there, and the one on the third subplane, first and third. The third has 28 groups. |
Hãy lưu ý những nhóm này, và tôi sẽ cố hiện diện đúng cách. Bảy nhóm lớn trên cõi chân thần, 14 nhóm cao trên cõi phụ nguyên tử, cõi phụ thứ nhất của cõi atma, hai tập hợp nhóm Tam Nguyên Tinh Thần trên cõi Bồ đề: một tập hợp trên cõi phụ thứ nhất, có 21 nhóm ở đó, và một tập hợp trên cõi phụ thứ ba — thứ nhất và thứ ba. Cõi phụ thứ ba có 28 nhóm. |

|
I do believe we are counting from above to below, and then the groups proliferate once the mental plane is reached, and we’re here talking about the higher subplanes of the mental plane and their groups. 49 groups, third subplane. |
Tôi tin rằng chúng ta đang đếm từ trên xuống dưới; rồi khi đến cõi trí, các nhóm tăng lên rất nhiều. Ở đây chúng ta đang nói về những cõi phụ cao của cõi trí và các nhóm của chúng. Có 49 nhóm trên cõi phụ thứ ba. |
|
Well, let’s start from the top. 35 groups, first subplane, and so they have a connection with the 35 vortices which make the master. 42 groups on the second subplane, and so these groups have a connection with the 42 vortices of fours which make a Chohan, and where the numbers are the same, you really do look for lines of connection. |
Hãy bắt đầu từ trên cùng. Có 35 nhóm trên cõi phụ thứ nhất, vì vậy chúng có liên hệ với 35 xoáy tạo nên Chân sư. Có 42 nhóm trên cõi phụ thứ hai, vì vậy những nhóm này có liên hệ với 42 xoáy theo bộ bốn tạo nên một Chohan; nơi nào các con số giống nhau, bạn thực sự nên tìm những đường liên hệ. |
|
Then on the normal third subplane where the causal bodies of most human beings are found, we have 49 groups, and interestingly then, this particular grouping must be related to the 49 vortices of fire, which are accumulated by the time we reach the atomic subplane of the cosmic physical plane. 49 vortices make up the vehicles of the kinds of beings who have achieved planetary logoic development in full, at least on the cosmic physical plane. |
Rồi trên cõi phụ thứ ba thông thường, nơi có thể nguyên nhân của phần lớn con người, chúng ta có 49 nhóm. Điều thú vị là cách phân nhóm đặc biệt này hẳn phải liên quan đến 49 xoáy lửa, được tích lũy vào lúc chúng ta đạt đến cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ. Có 49 xoáy hợp thành các hiện thể của những Đấng đã đạt đến sự phát triển trọn vẹn ở cấp Hành Tinh Thượng Đế, ít nhất trên cõi hồng trần vũ trụ. |
|
There’s still more to develop, but cosmic physically, when there are 49 vortices of fire, there is a completeness in the in the vorticular equipment of the initiate of the seventh degree. Now, who knows? Do the vortices go on onto the cosmic astral, cosmic mental, and so forth? My thought tells me yes, they do, but I have no way of proving that except the vortex is the means by which higher animating and inspirational energy reaches the lower existences. So, I rather do expect to find chakric vortices on the cosmic astral, and cosmic mental, and so forth. |
Vẫn còn nhiều điều phải phát triển, nhưng xét về phương diện hồng trần vũ trụ, khi có 49 xoáy lửa, hệ thống xoáy của điểm đạo đồ cấp bảy đã hoàn chỉnh. Giờ đây, ai biết được? Các xoáy có tiếp tục lên cõi cảm dục vũ trụ, cõi trí vũ trụ, v.v. không? Suy nghĩ của tôi cho rằng có, nhưng tôi không có cách chứng minh, ngoài việc xoáy là phương tiện qua đó năng lượng cao hơn, mang lại sự sống và cảm hứng, đến với những sự hiện tồn thấp hơn. Vì vậy, tôi thực sự mong sẽ tìm thấy các xoáy luân xa trên cõi cảm dục vũ trụ, cõi trí vũ trụ, v.v. |
|
I think it’s one of the ways that God, the universal logos, descends into diversity, I think, because the descent into diversity is involutionary, but it leads to an evolutionary re-ascent and to a gathering of material that is vibration and general encounter and experience that was not in the possession of the universal logos when first it was extruded from the state of super universal absolute infinitude. All right, so what else then? Well, it’s written good at understatement. I’ve given a few hints here, maybe quite a few, more than a few. |
Tôi nghĩ đó là một trong những cách Thượng đế, Thượng đế Vũ Trụ, đi xuống sự đa dạng; bởi sự đi xuống sự đa dạng là giáng hạ tiến hoá, nhưng nó dẫn đến sự tái thăng lên trong thăng thượng tiến hoá và thu góp chất liệu — tức rung động cùng những gặp gỡ và kinh nghiệm nói chung — mà Thượng đế Vũ Trụ chưa có khi lần đầu xuất lộ khỏi trạng thái vô hạn tuyệt đối vượt trên vũ trụ. Vậy còn gì nữa? Lối viết này thật giỏi nói ít mà hàm ý nhiều. Tôi đã đưa ra vài gợi ý ở đây, có lẽ khá nhiều, nhiều hơn chỉ vài gợi ý. |
|
While we cannot follow out every hint, we have to follow out those that really hit us, and we feel the impact of what we’ve read, but we don’t know exactly why we feel that impact. So, we have to investigate. All right. |
Dù không thể lần theo mọi gợi ý đến cùng, chúng ta phải lần theo những gợi ý thực sự tác động mạnh đến mình. Chúng ta cảm nhận tác động của những gì đã đọc, nhưng không biết chính xác vì sao mình cảm thấy tác động ấy. Vì vậy, chúng ta phải tìm hiểu. |
|
I was thinking From Bethlehem to Calvary. We have to prove ourselves in Bethlehem, as limited as it may seem to us. It’s our original home, and we cannot run from Bethlehem out onto the world stage and say, I’m going to do big things and not the little things at home, because we build no foundation for those bigger things unless we fulfill Bethlehem, the house of bread. |
Tôi đang nghĩ đến cuốn Từ Bethlehem đến Calvary. Chúng ta phải chứng tỏ mình ở Bethlehem, dù nơi ấy có vẻ hạn hẹp đến đâu. Đó là mái nhà ban đầu của chúng ta, và chúng ta không thể chạy từ Bethlehem ra sân khấu thế giới rồi nói: Tôi sẽ làm những việc lớn chứ không làm những việc nhỏ ở nhà, bởi chúng ta không xây được nền tảng cho những việc lớn ấy nếu chưa hoàn thành bổn phận tại Bethlehem, ngôi nhà bánh mì. |
|
It’s true that man does not live by bread alone, but it’s necessary to fulfill the sustaining function of those who are less powerful and more vulnerable than we are. Often our children and relatives, and that will prepare us to encounter the bigger tasks. He who is faithful in little is also faithful in much. |
Đúng là con người không sống chỉ bằng bánh mì, nhưng chúng ta cần chu toàn việc nâng đỡ những người yếu thế và dễ bị tổn thương hơn mình. Thường đó là con cái và người thân của chúng ta, và việc ấy sẽ chuẩn bị cho chúng ta đương đầu với những nhiệm vụ lớn hơn. Ai trung tín trong việc nhỏ cũng trung tín trong việc lớn. |
|
So, watch for the little things, because they give a hint as to how the larger things will be handled, and they are a check in humility against an overweening attitude. That’s one of the things that the Cancerian Virgoan home life provides, a kind of reduction to humility through understanding the basics of life. Otherwise, we’re left in the air without being able to ground the higher impulses. |
Vì vậy, hãy chú ý đến những việc nhỏ, bởi chúng gợi cho thấy chúng ta sẽ xử lý những việc lớn như thế nào, đồng thời nhắc chúng ta giữ lòng khiêm nhường để tránh thái độ quá tự cao. Đó là một trong những điều mà đời sống gia đình mang phẩm tính Cự Giải và Xử Nữ đem lại: giúp chúng ta trở nên khiêm nhường qua việc thấu hiểu những điều căn bản của cuộc sống. Nếu không, chúng ta sẽ lơ lửng trên không, không thể đưa những thôi thúc cao cả vào thực tế. |
|
So, in all these three branches of service, you will notice that the faculty of working with groups is one of paramount importance. Did you notice that? Did I notice that? Let’s see. We don’t know where the next foundational piece of information will come from nor how it will fit, but it will come and it will fit. |
Vì vậy, trong cả ba nhánh phụng sự này, các bạn sẽ nhận thấy năng lực làm việc với các nhóm có tầm quan trọng hàng đầu. Các bạn có nhận thấy điều đó không? Tôi có nhận thấy điều đó không? Hãy xem. Chúng ta không biết mảnh thông tin nền tảng tiếp theo sẽ đến từ đâu, cũng không biết nó sẽ ăn khớp như thế nào, nhưng nó sẽ đến và sẽ ăn khớp. |
|
We have to have an alertness to the little thing, which may indicate a much bigger thing. You know, from one point of view, the old saying, the smallest grain of sand can stop the largest wheel. Well, that’s the negative, but the possibility is the smallest unit of information can complete a puzzle which leads to the acquisition of much higher and deeper and more expansive pieces of information as we try to pursue an understanding of the great science of relations. |
Chúng ta phải nhạy bén với điều nhỏ bé, vì nó có thể chỉ ra một điều lớn hơn nhiều. Các bạn biết đấy, xét từ một góc độ, có câu nói xưa rằng hạt cát nhỏ nhất có thể làm bánh xe lớn nhất ngừng quay. Đó là mặt tiêu cực, nhưng cũng có khả năng mẩu thông tin nhỏ nhất sẽ hoàn tất một bức tranh ghép, dẫn đến việc tiếp nhận những thông tin cao hơn, sâu hơn và rộng lớn hơn nhiều, khi chúng ta cố gắng theo đuổi sự thấu hiểu khoa học vĩ đại về các mối quan hệ. |
|
So, these groups are diverse, as I have said, and vary on different planes. Let us briefly enumerate them. So, what are the groups to which we belong? And, because we’re talking about dangers arising from the disciples or the aspirants group affiliations. |
Vì vậy, như Tôi đã nói, những nhóm này rất đa dạng và khác nhau trên các cõi khác nhau. Chúng ta hãy liệt kê ngắn gọn. Vậy chúng ta thuộc về những nhóm nào? Bởi chúng ta đang nói đến những nguy hiểm phát sinh từ các mối liên kết nhóm của đệ tử hoặc người chí nguyện. |
|
So, number one, |
Vậy, thứ nhất, |
|
[30] 1—On the physical plane. The following groups will be found:— |
[30] 1—Trên cõi hồng trần. Có những nhóm sau đây:— |
|
A, |
A, |
|
[31] a—His family group to which he is usually affiliated for two reasons, one to work out karma and repay his debts; the second, to receive a certain type of physical vehicle that the Ego needs for adequate expression. |
[31] a—Nhóm gia đình của y, mà y thường liên kết vì hai lý do: thứ nhất, để giải quyết nghiệp quả và trả những món nợ của mình; thứ hai, để nhận một loại hiện thể hồng trần nhất định mà chân ngã cần để biểu lộ thích đáng. [Page 117] |
|
you know, in that impending life. |
Các bạn biết đấy, trong kiếp sống sắp tới ấy. |
|
We don’t have that perspective yet, so maybe we don’t completely know why we’re born in a certain nation or a certain race, but karmic repayment is one, and on the more positive side, the qualities of that kind of body are needed. Okay, these are the groups. |
Chúng ta chưa có tầm nhìn đó, nên có lẽ chưa hoàn toàn biết vì sao mình sinh ra trong một quốc gia hay một cộng đồng nhân loại nào đó. Nhưng trả nợ nghiệp quả là một lý do; còn ở mặt tích cực hơn, những phẩm tính của loại thân thể ấy là điều cần thiết. Đây là những nhóm ấy. |
|
[32] b—His associates and friends; the people his environment throws him with, |
[32] b—Những người cộng sự và bạn bè của y; những người mà môi trường đưa đến với y, các |
|
Just think, when you’re in grade school and you’re coming in with people who are all born more or less in the same year, and are now taking the path of education together, where did you know these people? Because you probably did. So, we are thrown together with various people in our environment. So, let’s call this here the general family group, which we usually consider to be our main group. |
Hãy nghĩ xem, khi học tiểu học, các bạn vào trường cùng những người gần như đều sinh trong cùng một năm, và giờ đây cùng đi trên con đường học vấn. Các bạn đã quen những người này ở đâu? Bởi có lẽ các bạn từng quen họ. Vì vậy, hoàn cảnh đưa chúng ta đến với nhiều người khác nhau. Chúng ta hãy gọi nhóm ở đây là nhóm gia đình nói chung, mà chúng ta thường xem là nhóm chính của mình. |
|
At least for a long time it is, and we have to learn how to leave the family group in its proper place. It doesn’t mean to ignore it, but to get on with groups perhaps at a higher turn of the spiral. All of this has to do with the third aspect of divinity. |
Ít nhất, trong một thời gian dài, đó là nhóm chính, và chúng ta phải học cách đặt nhóm gia đình vào đúng vị trí của nó. Điều ấy không có nghĩa là bỏ mặc gia đình, mà là tiếp tục tham gia những nhóm có lẽ nằm ở một vòng xoắn cao hơn. Tất cả những điều này đều liên quan đến phương diện thứ ba của thiên tính. |
|
I was thinking about that green interval, the note Fa. I don’t have my pitch pipe here right now, but it’s the sort of, here comes the bride, wedding march. It lays the material foundation for the continuance of the race, and it has to be in some measure associated with the sacral center, which provides the physical body, and also the concrete mind at first. |
Tôi đang nghĩ đến quãng âm màu xanh lá ấy, nốt Fa. Lúc này Tôi không có ống lấy âm ở đây, nhưng nó có âm điệu kiểu như bài “Cô dâu đang đến”, khúc hành tiến đám cưới. Nó đặt nền tảng vật chất cho sự tiếp nối của nhân loại, và ở một mức độ nào đó, hẳn phải gắn với trung tâm xương cùng, vốn cung cấp thể xác, và lúc đầu cả trí cụ thể nữa. |
|
Another group is associates and friends, the people whose environment throws him with. I can’t help it, you know. You enter school, let’s say, at the same time as others your age enter school. |
Một nhóm khác là những cộng sự và bạn bè, những người mà hoàn cảnh đưa đến cùng y. Các bạn biết đấy, chuyện ấy không thể tránh được. Các bạn vào trường cùng lúc với những người khác cùng tuổi. |
|
You live in a certain neighborhood, maybe, on a certain block, and certain people live there too, and you are thrown together as |
Có lẽ các bạn sống trong một khu phố nào đó, trên một dãy phố nào đó, và một số người cũng sống ở đó; rồi các bạn đến với nhau với tư cách là |
|
[33] business associates, |
[33] cộng sự kinh doanh của y, các |
|
You want to pursue a certain type, line of work, a certain profession, and there you are with others who necessarily become your associates due to shared interests, |
Các bạn muốn theo đuổi một loại công việc, một lĩnh vực hay một nghề nghiệp nào đó, và ở đó các bạn gặp những người tất yếu trở thành cộng sự của mình do có chung mối quan tâm, |
|
[34] church affiliations, |
[34] mối liên kết giáo hội của y, những |
|
Maybe your family is religious, and you’ve chosen a certain denomination of church to attend, and there you find the others, and you are affiliated with them in terms of your religious pursuits, and again, maybe old affiliations are coming forward. |
Có lẽ gia đình các bạn theo tôn giáo, và các bạn đã chọn tham dự một giáo phái nào đó. Ở đó, các bạn gặp những người khác và gắn bó với họ qua những hoạt động tôn giáo của mình, và một lần nữa, có lẽ những mối liên kết xưa đang xuất hiện trở lại. |
|
[35] acquaintances and casual friends, |
[35] người quen và bạn bè tình cờ của y, |
|
These are friendships based largely on personality, we are told. |
Chúng ta được cho biết đây là những tình bạn phần lớn dựa trên phàm ngã. |
|
In the treatise on White Magic, |
Trong khảo Luận về Chánh Thuật, |
|
[36] and the people he touches for a brief period and then sees no more. |
[36] cùng những người y tiếp xúc trong một thời gian ngắn rồi không gặp lại nữa. |
|
Well, you can almost imagine walking on one of the busy streets. I was always amazed when a child to go downtown in Chicago and find the sidewalk so crowded with hundreds of people. |
Các bạn gần như có thể hình dung mình đang đi trên một con phố đông đúc. Khi còn nhỏ, Tôi luôn kinh ngạc mỗi lần đến trung tâm Chicago và thấy vỉa hè đông nghịt hàng trăm người. |
|
In a way you’re rubbing elbows, but it’s just a passing relationship, and oftentimes we gather in groups or little crowds with people that are no more to be seen once the little gathering is over. So, these are kinds of affiliations, some of them deep and of long antiquated origin, and others super casual, so that there is nothing really to hold you together in friendship, nothing deep, and maybe nothing even shallow. |
Theo một nghĩa nào đó, các bạn đang kề vai sát cánh với họ, nhưng đó chỉ là một mối quan hệ thoáng qua, và nhiều khi chúng ta tụ họp thành nhóm hoặc thành những đám đông nhỏ với những người mà sau khi buổi tụ họp kết thúc, chúng ta không còn gặp lại nữa. Đó là những kiểu liên kết: một số sâu sắc và có nguồn gốc từ rất xa xưa, số khác hết sức thoáng qua, đến mức thực sự không có gì gắn kết các bạn trong tình bạn, không có gì sâu sắc, và có lẽ ngay cả điều hời hợt cũng không. |
|
[37] His work with them is twofold again; first to repay an obligation should such a debt have been incurred; and secondly to test out his powers to influence for good those around him, to recognise responsibility and to direct or help. |
[37] Công việc của y với họ cũng có hai mặt: trước hết, để hoàn trả một nghĩa vụ nếu y đã mắc món nợ ấy; thứ hai, để thử nghiệm năng lực tạo ảnh hưởng tốt lên những người xung quanh, nhận biết trách nhiệm và hướng dẫn hoặc trợ giúp. |
|
So, even in relation to the more casual, hardly even friendships, but acquaintances, we can see that our association, even under these casual circumstances, has a rather definite outworking. |
Vì vậy, ngay cả với những mối quan hệ thoáng qua hơn, hầu như chưa thể gọi là tình bạn mà chỉ là quen biết, chúng ta vẫn có thể thấy rằng sự kết giao của mình, ngay trong những hoàn cảnh tình cờ ấy, vẫn dẫn đến những kết quả khá rõ ràng. |
|
So, karma and dharma are at work in all of these associations, however casual. Family bonds are very, very close, but as we move from Cancer to Aquarius, the bonds of friendship due to affinity maybe become closer, and closer still the bonds of relationship due to shared dharma, or duty, or work in the world. Okay. |
Vì vậy, nghiệp quả và bổn phận đều vận hành trong tất cả những mối liên kết này, dù thoáng qua đến đâu. Mối dây gia đình rất, rất gần gũi, nhưng khi chúng ta chuyển từ Cự Giải sang Bảo Bình, những mối dây tình bạn do đồng điệu có lẽ trở nên gần gũi hơn; và còn gần gũi hơn nữa là những mối quan hệ do cùng chung bổn phận, nghĩa vụ hoặc công việc trong thế gian. |
|
So, his work with all of these is twofold. First to repay an obligation should such a debt have been incurred, and secondly to test out his powers to influence for good those around him to recognize responsibility and to direct or help. So, first to repay an obligation. |
Vậy công việc của y với tất cả những người này có hai mặt. Thứ nhất, hoàn trả một nghĩa vụ nếu y đã mắc món nợ như vậy; thứ hai, thử nghiệm khả năng của mình trong việc tạo ảnh hưởng tốt đến những người quanh y, nhận biết trách nhiệm và hướng dẫn hoặc giúp đỡ. Vậy, trước hết là hoàn trả một nghĩa vụ. |
|
Secondly, to test out his powers to influence for good those around him to recognize responsibility and to direct or help. |
Thứ hai, thử nghiệm khả năng của mình trong việc tạo ảnh hưởng tốt đến những người quanh y, nhận biết trách nhiệm và hướng dẫn hoặc giúp đỡ. |
|
So, |
Vì vậy, |
|
[38] In doing thus, the Guides of the race find out the actions and reactions of a man, his capacity for service, and his response to any surrounding need. |
[38] Qua đó, các Đấng Hướng Dẫn nhân loại nhận biết những hành động và phản ứng của một người, năng lực phụng sự và sự đáp ứng của y trước bất kỳ nhu cầu nào xung quanh. |
|
We are being tested out all the time, and we are being observed in terms of our responses. |
Chúng ta luôn được thử nghiệm, và người ta quan sát cách chúng ta đáp ứng. |
|
Who are the people with whom you’ve been thrown together? Who are the people you’ve met along the way, and either temporarily or for a longer period of time, have been involved in group affiliation? What has been your response to them? Thus far, we have family affiliations. |
Những người mà hoàn cảnh đã đưa đến cùng các bạn là ai? Những người các bạn gặp trên đường, rồi cùng tham gia một mối liên kết nhóm trong thời gian ngắn hoặc dài hơn, là ai? Các bạn đã đáp ứng với họ như thế nào? Đến đây, chúng ta đã có những mối liên kết gia đình. |
|
We have friends, associates, and more casual affiliations, maybe drawn from emotional proclivities, and then the associated band of servers. Maybe this ends up being the most important, most closely related to soul proclivities. |
Chúng ta có bạn bè, cộng sự và những mối liên kết thoáng qua hơn, có lẽ xuất phát từ những khuynh hướng cảm xúc. Rồi đến đoàn người phụng sự mà chúng ta cùng tham gia. Có lẽ cuối cùng đây là nhóm quan trọng nhất, liên hệ mật thiết nhất với những khuynh hướng của linh hồn. |
|
[39] c—His associated band of servers, the group under some Great One that is definitely united for work of an occult and spiritual nature. |
[39] c—Đoàn người phụng sự mà y liên kết, nhóm dưới sự hướng dẫn của một Đấng Cao Cả, nhất định hợp nhất để thực hiện công việc có bản chất huyền bí và tinh thần. |
|
That’s the last type of group that we’re going to deal with here. Now, of course, you have to wonder what the dangers could be. |
Đó là loại nhóm cuối cùng mà chúng ta sẽ bàn đến ở đây. Dĩ nhiên, lúc này các bạn phải tự hỏi những nguy hiểm có thể là gì. |
|
Already you can imagine that family is often inimical to one’s discipleship service, because there may be a physical bond, but psychologically, the parents, the siblings, and so forth, may have many other objectives and be differently developed. But friends and associates based on emotional response are more superficial, and maybe the friends want to go one way, but your higher duties tell you you should go in a different way. Conflict, you see. |
Các bạn đã có thể hình dung rằng gia đình thường cản trở việc phụng sự của một người trên Con Đường Đệ Tử, bởi có thể có mối dây huyết thống, nhưng về tâm lý, cha mẹ, anh chị em v.v. có thể có nhiều mục tiêu khác và trình độ phát triển khác nhau. Còn những tình bạn và mối quan hệ cộng sự dựa trên sự đáp ứng cảm xúc thì hời hợt hơn; có lẽ bạn bè muốn đi theo một hướng, nhưng những bổn phận cao hơn lại bảo các bạn phải đi theo hướng khác. Các bạn thấy đấy, xung đột. |
|
Here are the associated band of servers. I’ll use purple, which means it’s got to manifest. |
Đây là đoàn người phụng sự cùng liên kết. Tôi sẽ dùng màu tím, nghĩa là điều này phải biểu hiện. |
|
[40] It may be either a band of church workers among the orthodox (beginners are tried out here); |
[40] Đó có thể là một đoàn người hoạt động trong giáo hội thuộc hàng ngũ chính thống (những người mới bắt đầu được thử nghiệm tại đây); |
|
You know, the hierarchy tests you first, and without proving something, either your fitness or your unfitness, the decision to accept or reject it is not made. So trying out the beginners. |
Các bạn biết đấy, trước hết Thánh đoàn thử nghiệm các bạn, và khi chưa chứng tỏ được điều gì, dù là sự thích hợp hay không thích hợp, thì chưa có quyết định chấp nhận hoặc từ chối. Vì vậy, những người mới bắt đầu được thử nghiệm. |
|
[41] it may be in social work such as in the labor movements or in the political arena; or it may be in the more definitely pioneer movements of the world, such as the Theosophical Society, the Christian Science movement, the New Thought workers and the Spiritualists. I would add to this, one branch of endeavour that may surprise you,— I mean the movement of the Soviet in Russia and all the aggressive radical bodies that sincerely serve under their leaders (even when misguided and unbalanced) for the betterment of the condition of the masses. |
[41] có thể là trong công tác xã hội, như các phong trào lao động hoặc chính trường; hoặc trong những phong trào tiên phong rõ nét hơn của thế giới, như Hội Thông Thiên Học, phong trào Khoa Học Cơ Đốc, những người hoạt động thuộc phong trào Tư Tưởng Mới và các nhà thần linh học. Tôi muốn bổ sung vào đây một lĩnh vực nỗ lực có thể khiến các bạn ngạc nhiên,—Tôi muốn nói đến phong trào Xô viết ở Nga và tất cả các tổ chức cấp tiến quyết liệt chân thành phụng sự dưới sự lãnh đạo của họ (ngay cả khi lầm đường và mất quân bình) để cải thiện hoàn cảnh của quần chúng. |
|
These are possibilities where the trying out of our responses occurs, and where our responses are noted. So in all of the above, we are seen as subjects, subject to experimental experience, and our responses are noted. |
Đây là những môi trường có thể thử nghiệm cách chúng ta đáp ứng và ghi nhận những đáp ứng ấy. Vì vậy, trong tất cả những trường hợp trên, chúng ta được xem là những đối tượng trải qua kinh nghiệm thử nghiệm, và cách chúng ta đáp ứng được ghi nhận. |
|
I think, hierarchy is very careful. Maybe the master is looking in over a student, potential student anyway, once in 300 years, maybe even a longer period of time, until that student is drawing nearer and nearer to the note being sounded by the master’s ashram, and then a more frequent super vision occurs. Super vision. |
Tôi nghĩ Thánh đoàn rất thận trọng. Có lẽ Chân sư chỉ xem xét một đạo sinh, dù mới là đạo sinh tiềm năng, một lần trong ba trăm năm, thậm chí có thể lâu hơn, cho đến khi đạo sinh ấy ngày càng tiến gần âm điệu mà ashram của Chân sư đang xướng lên. Khi ấy, sự giám sát từ trên mới diễn ra thường xuyên hơn. Sự giám sát từ trên. |
|
Vision from above, and not even by the master first. It’s the chela in the light phenomenon, whereby a senior disciple looks over and supervises and reports to the master. Such a relationship apparently existed between Master Kuthumi, the initiate DK, and the aspirant Alice Bailey. |
Sự quan sát từ trên cao, mà lúc đầu thậm chí chưa phải do Chân sư thực hiện. Đó là hiện tượng đệ tử trong ánh sáng, qua đó một đệ tử cao niên quan sát, giám sát và báo cáo với Chân sư. Dường như một mối quan hệ như vậy từng tồn tại giữa Chân sư Kuthumi, điểm đạo đồ Chân sư DK và người chí nguyện Alice Bailey. |
|
DK was the reporting disciple to his master, Master Kuthumi. Under the law of economy, the work, the time of a master, dispensable time, is very carefully guarded, because if it is not, then potential is set aside and is not fully developed. Time is of the essence, and that time must be as wisely used as possible. |
Chân sư DK là đệ tử báo cáo với Chân sư của mình, Chân sư Kuthumi. Theo Định luật Tiết Kiệm, công việc và thời gian của một Chân sư, phần thời gian Ngài có thể dành ra, được gìn giữ hết sức cẩn trọng, bởi nếu không, tiềm năng sẽ bị bỏ phí và không phát triển đầy đủ. Thời gian là yếu tố thiết yếu, và phải sử dụng thời gian ấy một cách minh triết nhất có thể. |
|
We have to also think of the disciple in a reflection of the master’s consideration of time. Well, our friend Hercules, he was running around looking for the golden apples. He would have been mistaken though. |
Chúng ta cũng phải nghĩ đến việc người đệ tử phản ánh cách Chân sư coi trọng thời gian. Người bạn Hercules của chúng ta đã chạy khắp nơi tìm những quả táo vàng. Tuy nhiên, ông hẳn đã sai lầm. |
|
Well, he did waste time with Nereus, whom he didn’t recognize. He didn’t waste much time with Antaeus, because he recognized glamour and lifted it up in the air a little bit, destroying its sustaining energy. He wasted time with Busiris, the false teacher. |
Ông quả đã lãng phí thời gian với Nereus, người mà ông không nhận ra. Ông không lãng phí nhiều thời gian với Antaeus, bởi ông nhận ra ảo cảm và nhấc nó lên khỏi mặt đất một chút, phá hủy năng lượng duy trì nó. Ông đã lãng phí thời gian với Busiris, vị huấn sư giả. |
|
But at the same time, he learned the lesson of independence upon the spiritual path. So if you learn something, maybe that even in unfortunate circumstances, maybe the time is not wasted. He would have been wrong had he said, I don’t have time to look after Prometheus. |
Nhưng đồng thời, ông học được bài học về sự độc lập trên con đường tinh thần. Vì vậy, nếu các bạn học được điều gì đó, thì có lẽ ngay cả trong hoàn cảnh không may, thời gian cũng không bị lãng phí. Ông hẳn đã sai nếu nói: Tôi không có thời gian chăm lo cho Prometheus. |
|
He had better have time to look after Prometheus and learn to release the Solar Angel in his, fourth encounter, and he would have been wrong if he had said, oh, I don’t have time to help Atlas uphold the world, because I’m after the golden apples of the Hesperides. I’m after the apples of wisdom. |
Ông nhất thiết phải dành thời gian chăm lo cho Prometheus và học cách giải thoát Thái dương Thiên Thần trong cuộc gặp gỡ thứ tư của mình, và ông hẳn đã sai nếu nói: Tôi không có thời gian giúp Atlas nâng đỡ thế giới, bởi Tôi đang tìm những quả táo vàng của các Hesperides. Tôi đang tìm những quả táo minh triết. |
|
So I don’t have time for these acts of service along the way. That would be a serious mistake. There is no rush, there is no hurry, and yet there is no time to lose. |
Vì vậy, Tôi không có thời gian cho những hành động phụng sự dọc đường này. Đó sẽ là một sai lầm nghiêm trọng. Không có sự vội vã, không có sự hấp tấp, nhưng cũng không có thời gian để lãng phí. |
|
Each pilgrim sensing this, presses his footsteps forward until he finds himself surrounded by his fellow men. You know, it’s the rules of the road that those two should be memorized, and maybe they’re not too hard to retain. So what we do with our time is really a crucial decision. |
Mỗi người hành hương cảm nhận điều này đều tiến bước, cho đến khi thấy mình ở giữa những người đồng loại. Các bạn biết đấy, đó là các quy luật của Đường Đạo; hai quy luật ấy cần được ghi nhớ, và có lẽ cũng không quá khó để nhớ. Vì vậy, cách chúng ta sử dụng thời gian thực sự là một quyết định then chốt. |
|
You can pause, you can pause and reflect over your long life. Most people are mature people who enter into this field, at least mature in terms of their age, and you can discriminate what have been the time wasters, even now. Not just then, but now. |
Các bạn có thể dừng lại, dừng lại để suy ngẫm về cuộc đời dài của mình. Phần lớn những người bước vào lĩnh vực này đều đã trưởng thành, ít nhất về tuổi tác, và các bạn có thể phân biện những điều đã làm mình lãng phí thời gian, ngay cả lúc này. Không chỉ khi ấy, mà cả bây giờ. |
|
Time wasters pursued simply because of habitual inclination. What do we wish we had not spent time doing? How would we have redirected, reorganized the use of time? I’m sure when an accurate vision of that dynamic is accorded, we will find that months and even years cumulatively have been wasted along the path. And really the only thing you can do is say, well, when I face similar circumstances again, I will feel that inner warning, that inner yes or that inner no that would advise me, am I about to enter a time-wasting enterprise? I think the numbers will be at first deflating, except that we will know, that we’ve learned something through some kind of failure. |
Những việc làm lãng phí thời gian mà chúng ta theo đuổi chỉ vì khuynh hướng đã thành thói quen. Chúng ta ước mình đã không dành thời gian làm điều gì? Chúng ta sẽ định hướng lại và tổ chức lại việc sử dụng thời gian ra sao? Tôi chắc rằng khi có được một tầm nhìn chính xác về động lực ấy, chúng ta sẽ thấy mình đã lãng phí tổng cộng nhiều tháng, thậm chí nhiều năm trên Đường Đạo. Và thực sự, điều duy nhất các bạn có thể làm là nói: Khi lại đối diện những hoàn cảnh tương tự, Tôi sẽ cảm nhận lời cảnh báo bên trong, tiếng đồng ý hoặc từ chối bên trong, để chỉ dẫn cho Tôi: liệu Tôi có sắp bước vào một công việc làm lãng phí thời gian không? Tôi nghĩ ban đầu những con số ấy sẽ khiến chúng ta nản lòng, ngoại trừ việc chúng ta biết mình đã học được điều gì đó qua một dạng thất bại nào đó. |
|
[42] Thus on the physical plane you have three groups to which a man belongs. He owes a duty to them and he must play his part. |
[42] Như vậy, trên cõi hồng trần, có ba nhóm mà một người thuộc về. Y có bổn phận đối với họ và phải làm tròn phần việc của mình. |
|
Family, friendship, associates, and one’s connection with testing progressive groups and actual progressive groups, about which there is no question. |
Gia đình, tình bạn, cộng sự, và mối liên hệ của một người với những nhóm tiến bộ đang thử nghiệm, cũng như những nhóm thực sự tiến bộ, không có gì phải nghi ngờ. |
|
They are definitely progressive, and their virtues outweigh their liabilities. With the other types of progressive groups, there are a lot of mistakes being made, but still their motive is often correct. |
Họ rõ ràng là tiến bộ, và những ưu điểm của họ vượt trội những mặt hạn chế. Với các loại nhóm tiến bộ khác, có rất nhiều sai lầm đang xảy ra, nhưng động cơ của họ thường vẫn đúng đắn. |
|
[43] Now wherein could danger enter through meditation? |
[43] Vậy nguy hiểm có thể phát sinh qua tham thiền ở đâu? |
|
That is the question in this particular area of study. |
Đó là câu hỏi trong lĩnh vực nghiên cứu cụ thể này. |
|
[44] Simply in this: that as long as a man’s karma holds him to some particular group the thing that he must aim at is to play his part perfectly, |
[44] Đơn giản là ở điều này: chừng nào nghiệp quả còn ràng buộc một người với một nhóm nhất định, điều y phải hướng tới là hoàn thành phần việc của mình một cách hoàn hảo, |
|
I play my part with stern resolve, with earnest aspiration, even though it’s a small part. You know, I’m not going to rush out and save the world and leave the family in a mess. |
Tôi làm tròn phần việc của mình với quyết tâm kiên định, với khát vọng tha thiết, dù đó chỉ là một phần việc nhỏ. Các bạn biết đấy, Tôi sẽ không vội chạy ra cứu thế giới rồi để gia đình trong tình trạng hỗn loạn. |
|
Bethlehem must be fulfilled before one can step out and look for the teacher, and even become the teacher, or the leader. that as long as a man’s karma holds him to some particular group the thing that he must aim at is to play his part perfectly, |
Phải hoàn thành bổn phận tại Bethlehem trước khi một người có thể bước ra tìm huấn sư, thậm chí trở thành huấn sư hoặc người lãnh đạo. chừng nào nghiệp quả của một người còn giữ y trong một nhóm nào đó, thì điều y phải hướng đến là làm tròn phần việc của mình một cách hoàn hảo, |
|
[45] so that he may work out from under karmic obligation and advance toward ultimate liberation; |
[45] để có thể thoát khỏi ràng buộc nghiệp quả [Page 118] và tiến tới sự giải thoát tối hậu; |
|
He’s used that phrase, work out from under, seems to suggest pressure, confining pressure from above. |
Ngài đã dùng cách nói “tự thoát khỏi sự đè giữ”, dường như gợi một áp lực, một sức ép giam hãm từ trên. |
|
this phrase suggests a confining pressure from above, and advance towards ultimate liberation. Well, ultimate, ultimate for any phase, or any particular phase. Let’s say, mastership, or arhatship, those higher initiations which give what looks to us like ultimate liberation. |
Cách nói này gợi một sức ép giam hãm từ trên, và tiến đến sự giải thoát tối hậu. Tối hậu, nghĩa là tối hậu đối với một giai đoạn nào đó, một giai đoạn cụ thể. Chẳng hạn, địa vị Chân sư hoặc địa vị La Hán, những lần điểm đạo cao hơn đem lại điều mà đối với chúng ta có vẻ là sự giải thoát tối hậu. |
|
They are never ultimate, even, well, maybe for any universe, the great pralaya is an ultimate within the context of a universe. But in the matter of being, how does one improve upon being? One can improve on one’s access to the realization of being, but one does not improve the presence. The presence is the presence. |
Chúng không bao giờ là tối hậu; có lẽ đối với một vũ trụ nào đó, giai kỳ qui nguyên lớn là tối hậu trong phạm vi vũ trụ ấy. Nhưng về vấn đề Bản Thể, làm sao người ta có thể cải thiện Bản Thể? Người ta có thể cải thiện khả năng tiếp cận sự chứng nghiệm Bản Thể, nhưng không cải thiện sự hiện diện. Sự hiện diện vẫn là sự hiện diện. |
|
There are many instances of the presence, and they are never the pure presence. We may have the presence of Sanat Kumara, or the presence of the Planetary Logos, or the presence of the Solar Logos, way beyond our conception to experience. But even those are limitations upon the ultimate universal presence, which is a severe infinitesimalized limitation upon the presence of the super universal deity. |
Có nhiều biểu hiện của sự hiện diện, và chúng không bao giờ là sự hiện diện thuần túy. Chúng ta có thể có sự hiện diện của Đức Sanat Kumara, hoặc sự hiện diện của Đức Hành Tinh Thượng Đế, hoặc sự hiện diện của Thái dương Thượng đế, vượt xa khả năng hình dung và trải nghiệm của chúng ta. Nhưng ngay cả những sự hiện diện ấy cũng là những giới hạn đối với sự hiện diện vũ trụ tối hậu, mà chính sự hiện diện ấy lại là một giới hạn cực kỳ thu nhỏ đối với sự hiện diện của Thượng đế siêu vũ trụ. |
|
Which itself, because it is split into the observer and the observed, is a severe limitation upon the one and only presence, which is the absoluteness itself. Well, just throwing in the theory here a little bit. So when the word ultimate is used, we have to say ultimate within a certain context, and otherwise not ultimate. |
Chính sự hiện diện đó, vì phân chia thành người quan sát và đối tượng được quan sát, cũng là một giới hạn nghiêm ngặt đối với sự hiện diện duy nhất, tức chính tính tuyệt đối. Tôi chỉ đưa thêm một chút lý thuyết vào đây. Vì vậy, khi dùng từ tối hậu, chúng ta phải nói rằng đó là tối hậu trong một phạm vi nhất định; ngoài phạm vi ấy thì không phải tối hậu. |
|
So you’ve got to care, where you are, what’s the old saying? It’s a good one for people who love gardening, bloom where you are planted. It didn’t originate with me, and I never would think of such a thing, but I’ve been connected with people who have the green thumb, and made the transference from handling the plant kingdom to handling their own psychology. Bloom where you are planted. |
Vì vậy, các bạn phải biết chăm lo ngay tại nơi mình đang ở. Câu nói xưa ấy là gì nhỉ? Đó là một câu rất hay dành cho những người yêu làm vườn: Hãy nở hoa nơi bạn được trồng. Câu ấy không bắt nguồn từ Tôi, và Tôi sẽ chẳng bao giờ nghĩ ra một điều như vậy, nhưng Tôi từng gắn bó với những người mát tay trồng cây, và họ đã chuyển từ việc chăm sóc giới thực vật sang chăm sóc đời sống tâm lý của chính mình. Hãy nở hoa nơi bạn được trồng. |
|
So let’s see where we are here. As long as a man’s karma holds him to some particular group, oh, I’ve got to take care of mother, or my brother, or my children. I’ve got to take care of them. |
Vậy hãy xem chúng ta đang ở đâu. Chừng nào nghiệp quả của một người còn giữ y trong một nhóm nào đó: Tôi phải chăm sóc mẹ, hoặc huynh đệ của mình, hoặc con cái mình. Tôi phải chăm sóc họ. |
|
I can’t abandon them. As long as the karma, Saturn, holding you in place, holds you in place, fulfill that well, and don’t evade it while pretending to perform it. So I’ll put that in, don’t evade while pretending to perform. |
Tôi không thể bỏ rơi họ. Chừng nào nghiệp quả, Sao Thổ, còn giữ các bạn ở vị trí ấy, hãy chu toàn việc đó thật tốt, và đừng né tránh trong khi giả vờ thực hiện. Vì vậy, Tôi sẽ thêm điều này: đừng né tránh trong khi giả vờ thực hiện. |
|
So that he may work himself out from under the karmic obligation, the pressure that holds you down. Well, the confining pressure, the pressure that holds you in place, and advance towards ultimate, semi-ultimate liberation. Yeah, that’s what we have to do, and again, it’s not necessarily pleasant, but it is necessary. |
Để y có thể tự thoát khỏi nghĩa vụ nghiệp quả, áp lực đè giữ các bạn xuống. Sức ép giam hãm, áp lực giữ các bạn tại chỗ, và tiến đến sự giải thoát tối hậu, hoặc gần tối hậu. Đúng vậy, đó là điều chúng ta phải làm, và một lần nữa, điều ấy không nhất thiết dễ chịu, nhưng là cần thiết. |
|
[46] besides this he must carry on his group with him to greater heights and usefulness. |
[46] ngoài ra, y phải cùng đưa nhóm của mình lên những tầm cao hơn và trở nên hữu ích hơn. |
|
We say that the progressive individual will uplift his group while being progressive, so the old saying, if you rise, other rise with you. You may not even know who they are. |
Chúng ta nói rằng người tiến bộ sẽ nâng nhóm của mình lên trong khi bản thân tiến bộ, vì vậy, có câu nói xưa: nếu bạn vươn lên, những người khác cũng vươn lên cùng bạn. Các bạn thậm chí có thể không biết họ là ai. |
|
If you fall, you drag others down, and you may not even know who they are. So we have that group responsibility to the unknown connected person, and maybe not just the person, but members of other kingdoms, the animal kingdom, the plant kingdom, etc. |
Nếu các bạn sa xuống, các bạn kéo những người khác xuống, và thậm chí có thể không biết họ là ai. Vì vậy, chúng ta có trách nhiệm nhóm đối với người có liên hệ với mình mà mình chưa biết, và có lẽ không chỉ con người, mà còn những thành viên của các giới khác, giới động vật, giới thực vật v.v. |
|
[47] Therefore, if through meditation of an unsuitable nature he neglects his proper obligation he delays the purpose of his life, and in another incarnation he will have to play it out. |
[47] Vì vậy, nếu do thực hành một loại tham thiền không thích hợp mà y sao nhãng nghĩa vụ chính đáng, y sẽ trì hoãn mục đích đời mình và phải hoàn thành phần việc ấy trong một kiếp nhập thể khác. |
|
It’s kind of a horrific possibility, but I’m sure we can catch ourselves in acts of preferential neglect. |
Đó là một khả năng khá đáng sợ, nhưng Tôi chắc rằng chúng ta có thể bắt gặp chính mình đang sao nhãng bổn phận vì những sở thích riêng. |
|
Oh, I don’t really want to do that now. Tomorrow, mañana, I’ll do it tomorrow, and then tomorrow never comes, until it comes in another life. |
Tôi thực sự không muốn làm việc ấy lúc này. Ngày mai, để ngày mai, Tôi sẽ làm vào ngày mai; rồi ngày mai ấy không bao giờ đến, cho đến khi nó đến trong một kiếp sống khác. |
|
So you kind of wonder if the many things that we feel we have to do now, how many of them arise from neglect in the past? Maybe not possible to tell, but we could get a feeling about it. When you get that feeling, oh, I’ve just got to do this, even though it is onerous, difficult, not necessarily the most fun, it may be due to the unfinished business of the past, really unfinished in the past, when it should have been finished. And there’s the unfinished business of the past that couldn’t be finished in the past, and has to be finished now. |
Vì vậy, các bạn có thể tự hỏi: trong nhiều điều chúng ta cảm thấy mình phải làm lúc này, có bao nhiêu điều xuất phát từ sự sao nhãng trong quá khứ? Có lẽ không thể xác định, nhưng chúng ta có thể cảm nhận đôi chút về điều ấy. Khi có cảm giác rằng mình nhất thiết phải làm việc này, dù nặng nề, khó khăn và không nhất thiết vui vẻ nhất, thì có thể đó là do công việc chưa hoàn tất trong quá khứ, thực sự bị bỏ dở khi lẽ ra phải hoàn tất. Và cũng có những công việc của quá khứ chưa thể hoàn tất lúc ấy, nay phải hoàn tất. |
|
[48] If he builds into that group’s causal body (the composite product of the several lines) aught that has not its place properly there, he aids not but hinders, and again that involves danger. |
[48] Nếu y đưa vào thể nguyên nhân của nhóm ấy (sản phẩm tổng hợp của nhiều đường phát triển) bất cứ điều gì không có chỗ thích đáng ở đó, thì y không trợ giúp mà gây trở ngại, và điều này cũng hàm chứa nguy hiểm. |
|
So we are, I guess he’s saying, we are responsible to the content of the group’s causal body. |
Vậy chúng ta, Tôi đoán Ngài đang nói, có trách nhiệm đối với nội dung của thể nguyên nhân của nhóm. |
|
We are responsible to the content, or for the content part of the group’s causal body. And then it’s nice to illustrate, which he does not. |
Chúng ta có trách nhiệm đối với nội dung, hoặc phần nội dung của thể nguyên nhân của nhóm. Và sẽ rất hay nếu có ví dụ minh họa, điều mà Ngài chưa đưa ra. |
|
[49] Let me illustrate, for clarity is desired:— A student is affiliated with a group that has an over-preponderance of devotees, and he has come in for the express purpose of balancing that quality with another factor, that of wise discrimination and mental balance. |
[49] Để làm rõ, Tôi xin minh họa:—Một đạo sinh liên kết với một nhóm có số người sùng tín chiếm ưu thế quá mức, và y gia nhập với mục đích rõ ràng là cân bằng phẩm tính ấy bằng một yếu tố khác, đó là sự phân biện sáng suốt và quân bình trí tuệ. |
|
Well, one of his disciples has done that. Is it DLR? Is it a man by the name of Charles Hill, who had a most interesting combination of rays, first ray soul, fifth ray personality, fifth ray mind, sixth ray astral body, seventh ray physical body, very mental, but, being essentially, I think, a second ray monad, he still had considerable sensitivity, even though all those hard lines were there. |
Một trong các đệ tử của Ngài đã làm điều đó. Có phải DLR không? Có phải người tên Charles Hill không, người có sự kết hợp các cung hết sức thú vị: linh hồn cung một, phàm ngã cung năm, thể trí cung năm, thể cảm dục cung sáu, thể xác cung bảy. Ông rất thiên về trí tuệ, nhưng về bản chất, Tôi nghĩ ông có chân thần cung hai, nên vẫn có sự nhạy cảm đáng kể, dù có tất cả những đường cung cứng ấy. |
|
So he was introduced into the glamour group, I think, and everybody there, so many people there had a very powerful sixth ray. I guess he was a counterbalance to much of that, and maybe he succeeded fairly well in being that counterbalance. |
Vì vậy, Tôi nghĩ ông được đưa vào nhóm ảo cảm, và ở đó, rất nhiều người có cung sáu rất mạnh. Tôi đoán ông là đối trọng cho phần lớn điều ấy, và có lẽ ông đã khá thành công trong vai trò đối trọng đó. |
|
But whereas success, I think, to a degree was his, it’s not the case with all people. They can emphasize something the group doesn’t need, or more of the same, and they don’t uphold the responsibility of building into the causal body what must be built in, the group causal body. So here’s this person. |
Nhưng dù Tôi nghĩ ông đã thành công ở một mức độ nào đó, không phải ai cũng như vậy. Họ có thể nhấn mạnh điều nhóm không cần, hoặc bổ sung thêm điều đã có quá nhiều, và không chu toàn trách nhiệm xây dựng vào thể nguyên nhân những gì cần phải xây dựng, thể nguyên nhân của nhóm. Vậy đây là người ấy. |
|
He’s put in a group of devotees. It just reminded me, because so many people in that glamour group needed something to connect them with the astral plane number six. They needed the sixth ray, and while he did have a sixth ray, that was his only soft line ray, and it connected with the astral plane. |
Ông được đưa vào một nhóm những người sùng tín. Điều ấy khiến Tôi nhớ đến trường hợp này, bởi rất nhiều người trong nhóm ảo cảm ấy cần một yếu tố kết nối họ với cõi cảm dục, số sáu. Họ cần cung sáu; và dù ông có cung sáu, đó là cung thuộc đường mềm duy nhất của ông, và nó liên hệ với cõi cảm dục. |
|
I think he played the violin, you know. I mean, the ray chart that he has now does not entirely define the character. We’ve been building up in the causal body the result of many ray charts, and many astrological charts, all of which have their lingering effect passing through the present ray chart and present astrological chart. |
Tôi nghĩ ông chơi vĩ cầm. Ý Tôi là sơ đồ cung hiện tại của ông không hoàn toàn xác định tính cách. Chúng ta đã xây dựng trong thể nguyên nhân kết quả của nhiều sơ đồ cung và nhiều lá số chiêm tinh, tất cả đều có ảnh hưởng lưu lại, đi xuyên qua sơ đồ cung và lá số chiêm tinh hiện tại. |
|
I don’t think you can account for all you are or seem emphatically to be by looking at one ray chart and one astrological chart. It may describe some pretty prominent traits, but behind that, what else is there that is very essential and in a way has nothing to do with your present ray chart or horoscope, except maybe the solar ray, and which must be guided through your present ray chart and astrological chart into expression? What you are causally after millions and millions of years doesn’t just go away and get totally veiled or covered by your present ray and astrological chart. You have to find that something that lingers in which you have built. |
Tôi không nghĩ các bạn có thể giải thích toàn bộ những gì mình là, hoặc có vẻ biểu lộ hết sức rõ rệt, chỉ bằng cách xem một sơ đồ cung và một lá số chiêm tinh. Chúng có thể mô tả vài nét rất nổi bật, nhưng phía sau đó còn điều gì rất thiết yếu, theo một nghĩa nào đó không liên quan đến sơ đồ cung hay lá số chiêm tinh hiện tại của các bạn, có lẽ ngoại trừ cung thái dương, và phải được dẫn qua sơ đồ cung cùng lá số chiêm tinh hiện tại để biểu lộ? Những gì các bạn đã trở thành ở cấp độ nguyên nhân sau hàng triệu, hàng triệu năm không đơn giản biến mất rồi hoàn toàn khuất sau sơ đồ cung và lá số chiêm tinh hiện tại. Các bạn phải tìm ra điều vẫn còn lưu lại trong những gì mình đã xây dựng. |
|
So anyway, here is this individual, an example, a student, and there he is in a group, because he has an over preponderance. There’s an over preponderance of devotees, and he’s supposed to balance. It’s almost like he’s talking about Charles Hill, who had Libra, I think, as the, what was the sun or rising sign? I think it was the rising sign. |
Dù sao, đây là cá nhân ấy, một ví dụ, một đạo sinh trong một nhóm, bởi có sự chiếm ưu thế quá mức. Có quá nhiều người sùng tín, và y phải đem lại sự cân bằng. Gần như Ngài đang nói về Charles Hill, người có Thiên Bình, Tôi nghĩ vậy, là dấu hiệu Mặt Trời hay Dấu hiệu mọc nhỉ? Tôi nghĩ đó là Dấu hiệu mọc. |
|
So hence the balance, balancing ability. So that quality had to be balanced by this person, let us say. Wise discrimination and mental balance. |
Do đó mới có sự cân bằng, khả năng cân bằng. Vậy phẩm tính ấy cần người này cân bằng lại. Sự phân biện minh triết và sự cân bằng trí tuệ. |
|
[50] If he permits himself to be overcome by the group thoughtform and becomes himself a devotee, following a devotional meditation and unwisely omitting to balance that group’s causal body, he runs into a danger that hurts not only himself but the group to which he belongs. |
[50] Nếu y để hình tư tưởng của nhóm lấn át mình và chính y trở thành người sùng tín, thực hành tham thiền sùng tín và thiếu sáng suốt khi bỏ qua việc cân bằng thể nguyên nhân của nhóm ấy, thì y rơi vào một nguy hiểm gây tổn hại không chỉ cho bản thân mà còn cho nhóm mình thuộc về. |
|
I always love it when the Tibetan gives a nice juicy example which makes things super clear, and this he does. |
Tôi luôn thích khi Chân sư Tây Tạng đưa ra một ví dụ sinh động, làm mọi điều trở nên hết sức rõ ràng, và ở đây Ngài làm như vậy. |
|
So we must see what the group needs and whether we can provide it with our own complement of energies. Logical and re-o-logical, however that’s spelled. So think about yourself now and the groups you know. |
Vì vậy, chúng ta phải thấy nhóm cần gì và liệu mình có thể cung cấp điều đó bằng tập hợp năng lượng riêng của mình hay không. Mang tính lôgic và lôgic dòng chảy, dù từ ấy viết thế nào đi nữa. Vậy bây giờ hãy nghĩ về bản thân và những nhóm các bạn biết. |
|
What do they need? Are you due to your recognition of what they need? Are you helping them achieve it? I sometimes talk to my youngest son and I say, because he teaches or has taught philosophy and especially logic, and I say, well why don’t you come into one of our groups and give some lessons in logical thinking? You know, because sometimes people like ourselves get so swept away in a leap of faith that we don’t think straight, and then maybe something from a more concrete logical thinker could be of assistance. So far he’s declined my invitation to teach symbolic logic to the esotericists. |
Họ cần gì? Các bạn có nhận ra họ cần gì không? Các bạn có giúp họ đạt được điều ấy không? Đôi khi Tôi nói chuyện với con trai út của mình, bởi cậu ấy dạy hoặc từng dạy triết học, đặc biệt là lôgic học, và Tôi nói: Sao con không tham gia một trong các nhóm của chúng ta và dạy vài bài về tư duy lôgic? Bởi đôi khi những người như chúng ta bị cuốn quá mạnh vào một bước nhảy của đức tin đến mức không suy nghĩ sáng suốt, và khi ấy có lẽ điều gì đó từ một người tư duy lôgic cụ thể hơn có thể giúp ích. Cho đến nay, cậu ấy vẫn từ chối lời mời của Tôi về việc dạy lôgic ký hiệu cho các nhà bí truyền học. |
|
But it would definitely be something that could be added as a balance. Now let’s say the Alice Bailey groups have a reputation for intellectuality and for a slower development of the heart and a very emphasized development of the head, the mind. If one comes in and simply emphasizes more of the same, one is increasing the imbalance. |
Nhưng chắc chắn đó sẽ là một yếu tố có thể bổ sung để đem lại sự cân bằng. Giả sử các nhóm Alice Bailey có tiếng là thiên về trí năng, phát triển trái tim chậm hơn, và hết sức nhấn mạnh sự phát triển của đầu, của thể trí. Nếu một người gia nhập rồi chỉ nhấn mạnh thêm những điều tương tự, người ấy đang làm tăng sự mất cân bằng. |
|
But suppose it’s the concrete mind, basically, that the group is well equipped with, and the new member comes in and emphasizes more of the abstract mind and how to reason purely from the abstract mental levels. Well then that’s providing a balance. So think about your groups and whether you can carry something into their context which will truly be fulfilling rather than emphasizing what is already unbalanced and there in abundance. |
Nhưng giả sử về cơ bản nhóm đã có trí cụ thể phát triển tốt, còn thành viên mới gia nhập lại nhấn mạnh hơn vào trí trừu tượng và cách suy luận thuần túy từ các cấp độ trí tuệ trừu tượng. Khi ấy, người đó đang đem lại sự cân bằng. Vậy hãy nghĩ về những nhóm của các bạn và liệu mình có thể đưa vào đó một điều thực sự giúp họ trở nên đầy đủ hơn, thay vì nhấn mạnh những gì vốn đã mất cân bằng và có quá nhiều. |
|
Usually the question is what does the group need and what will supplement the possessions, the treasures of the group’s causal body so that a rounding out can occur? This was always happening in these groups. A bunch of, was it eight? At least eight first-ray souls were brought into the Alice Bailey Tibetan essentially second-ray group. Why? Balance. |
Thông thường, câu hỏi là nhóm cần gì, và điều gì sẽ bổ sung cho những vốn liếng, những kho báu trong thể nguyên nhân của nhóm để nhóm có thể phát triển toàn diện? Điều này luôn diễn ra trong những nhóm ấy. Một số người, có phải tám người không nhỉ? Ít nhất tám linh hồn cung một đã được đưa vào nhóm Alice Bailey–Chân sư Tây Tạng, vốn về cơ bản thuộc cung hai. Vì sao? Để cân bằng. |
|
The second, and Alice Bailey herself said thank goodness for Foster Bailey who was first-ray soul, a lawyer, and she says I would have made so many mistakes, legal mistakes, without Foster. Foster Bailey advised her from the first-ray perspective so she didn’t make those errors. And then I’ve mentioned it before, but when I asked the head of the Agni Yoga Society what master he felt he responded to and why, he felt he was responding to Master Kuthumi on the second ray. |
Cung hai, và chính Alice Bailey đã nói rằng thật may có Foster Bailey, người có linh hồn cung một, một luật sư. Bà nói: Nếu không có Foster, Tôi hẳn đã mắc rất nhiều sai lầm, những sai lầm pháp lý. Foster Bailey tư vấn cho Bà từ góc nhìn cung một để Bà không mắc những sai lầm ấy. Và Tôi đã nhắc điều này trước đây, nhưng khi Tôi hỏi người đứng đầu Hội Agni Yoga rằng ông cảm thấy mình đáp ứng với Chân sư nào và vì sao, ông cảm thấy mình đang đáp ứng với Chân sư Kuthumi thuộc cung hai. |
|
Interesting for a very first-ray group. When I, Madame Roerich was on the first ray, and some of the inheritors of her work were strongly on the first ray, and the teaching partner, so to speak, of the head of this Agni Yoga Society was, clearly you could see it, it was the first ray. |
Thật thú vị đối với một nhóm rất thiên về cung một. Khi Tôi… Bà Roerich thuộc cung một, và một số người kế thừa công việc của Bà cũng rất thiên về cung một, và người cộng tác giảng dạy, có thể nói như vậy, của người đứng đầu Hội Agni Yoga này rõ ràng thuộc cung một, các bạn có thể thấy rõ điều đó. |
|
You know, in all of its restraint, but definitely if you put a beard on him he would have looked like Abraham Lincoln. There were some similarities there, but here was this man who basically had control of it all, and he said, well I’m responding to Kuthumi. |
Bạn biết đấy, trong tất cả vẻ điềm chế ấy, nhưng chắc chắn nếu thêm bộ râu thì ông ấy sẽ trông giống Abraham Lincoln. Có một vài nét tương đồng, nhưng đây là một người về cơ bản nắm quyền kiểm soát tất cả, và ông ấy nói: “Tôi đang đáp ứng Chân sư Kuthumi.” |
|
So this is supplementation, this is balance, this is loaning certain rays to different ray ashrams for the purpose of helping to achieve balance. Mostly this is going on in terms of detectability between the first and second ray ashrams, but I’m sure we will find it in the other ray ashrams as well. So what about the balance of rays in ourselves? DK sometimes remarks upon it. |
Vậy đây là sự bổ sung, là sự cân bằng, là việc cho các ashram thuộc những cung khác nhau mượn một số cung nhất định nhằm giúp đạt được sự cân bằng. Xét những gì có thể nhận biết, điều này chủ yếu diễn ra giữa các ashram cung một và cung hai, nhưng Tôi chắc rằng chúng ta cũng sẽ thấy điều đó trong các ashram thuộc những cung khác. Vậy sự cân bằng các cung trong chính chúng ta thì sao? Chân sư DK đôi khi nhận xét về điều này. |
|
What about the in groups? So anyway, this is the example. An example. He neglects what has to be done on the stage which the soul has staged for him. |
Còn sự cân bằng trong các nhóm thì sao? Dù sao, đây là ví dụ. Một ví dụ. Y bỏ bê những gì phải làm trên sân khấu mà linh hồn đã dựng lên cho y. |
|
He’s been placed. You know, you kind of wonder how much choice we have about where we’re going to be born, and to which parents, and the old saying goes, well you select your parents, but I’m sure your karma and your Solar Angel have a lot to do with that selection. |
Y đã được đặt vào đó. Bạn biết đấy, chúng ta phần nào tự hỏi mình có bao nhiêu quyền lựa chọn nơi sẽ sinh ra và cha mẹ của mình; câu nói xưa cho rằng bạn chọn cha mẹ mình, nhưng Tôi chắc rằng nghiệp quả và Thái dương Thiên Thần của bạn đóng vai trò rất lớn trong sự lựa chọn ấy. |
|
You can’t work out from under all karma at the same time, but maybe a certain part of working out is due at this, at the present moment, and so with the greater perspective of the Solar Angel, and your own onlooking and understanding to a certain degree, then the choice is made. What about number two here? |
Bạn không thể cùng lúc giải quyết để thoát khỏi mọi nghiệp quả, nhưng có lẽ đến thời điểm hiện tại, một phần nào đó đã đến hạn phải giải quyết, và như vậy, với tầm nhìn rộng lớn hơn của Thái dương Thiên Thần, cùng sự quan sát và thấu hiểu của chính bạn ở một mức độ nhất định, sự lựa chọn được đưa ra. Còn mục hai ở đây thì sao? |
|
[50b] 2—On the emotional plane: Here he belongs to several groups such as:— |
[50b] 2—Trên cõi cảm xúc: Ở đây, y thuộc về một số nhóm như:— |
|
This is the focus on the emotional plane, and here he belongs to several groups such as, and we’ll look for the danger, right? |
Đây là sự tập trung trên cõi cảm xúc, và ở đây y thuộc về một số nhóm như sau; chúng ta sẽ tìm xem nguy hiểm nằm ở đâu, đúng không? |
|
[51] a—His emotional plane family group, which is more thoroughly his own group than the family into which he happens to be born on the physical plane. |
[51] a—Nhóm gia đình của y trên cõi cảm xúc, vốn thực sự là nhóm của y hơn gia đình mà y tình cờ sinh vào trên cõi hồng trần. |
|
You know, with my friends I share a lot of similarities which I don’t share with my family at all. That’s what’s being said here. |
Bạn biết đấy, Tôi có nhiều điểm tương đồng với bạn bè mà hoàn toàn không có với gia đình mình. Đó là điều đang được nói đến ở đây. |
|
[52] You will see this demonstrated many times in life when members of an emotional plane family contact each other on the physical plane. Instant recognition ensues. |
[52] Các bạn sẽ thấy điều này được chứng minh nhiều lần trong cuộc sống khi những thành viên của một gia đình trên cõi cảm xúc tiếp xúc với nhau trên cõi hồng trần. Họ lập tức nhận ra nhau. |
|
So then comes the battle between the parents and the friends, and the parents have a tough time. More so than the one who is recognizing his emotional similarities with others. |
Rồi cuộc đấu tranh giữa cha mẹ và bạn bè bắt đầu, và cha mẹ gặp nhiều khó khăn hơn người đang nhận ra những điểm tương đồng về cảm xúc của mình với người khác. |
|
Sometimes, this happens in adolescence, in what we call in America high school, or maybe what we call in Europe gymnasium. Let’s suppose you have a very staid family, and you join a drama group with whom you share some kind of emotional exuberance. You feel at home there, more at home than you might in the physical confines of your family. |
Đôi khi điều này xảy ra ở tuổi thiếu niên, trong giai đoạn mà ở Mỹ chúng ta gọi là trung học phổ thông, hoặc ở châu Âu có thể gọi là trường trung học dự bị đại học. Giả sử gia đình bạn rất nghiêm nghị, còn bạn tham gia một nhóm kịch có chung với mình một kiểu cảm xúc sôi nổi. Bạn cảm thấy mình thuộc về nơi ấy, hơn là trong phạm vi vật chất của gia đình. |
|
You feel more at home with your emotional family than with your physically based family. Family is interesting because, it gives the kind of right of aggregation. You come together based on similarity of vibration. |
Bạn cảm thấy gắn bó với gia đình cảm xúc hơn là với gia đình dựa trên quan hệ thể xác. Gia đình thật thú vị vì nó đem lại một kiểu quyền quy tụ. Các bạn đến với nhau dựa trên sự tương đồng về rung động. |
|
So we are speaking of coming together based on similarity of vibration, but sometimes, of course, the physical family, or certain members of it, and the emotional family have a lot in common, and sometimes a relative is a measure of both. |
Vậy chúng ta đang nói đến việc đến với nhau dựa trên sự tương đồng về rung động, nhưng tất nhiên, đôi khi gia đình hồng trần, hoặc một số thành viên trong đó, có rất nhiều điểm chung với gia đình cảm xúc, và đôi khi một người thân phần nào thuộc về cả hai. |
|
I have a relative who’s a member of my physical family, and I would say emotional family, but only partly due to Ray, a member of my mental family, or I of hers. We have very strong similarities in the charts, except for the Ray of the mind, and possibly the Monadic Ray. So there’s never going to be complete mental family relationships characterizing that particular relationship. |
Tôi có một người thân thuộc gia đình hồng trần của mình, và Tôi cũng có thể nói là thuộc gia đình cảm xúc; nhưng do cung, bà chỉ phần nào thuộc gia đình trí tuệ của Tôi, hoặc Tôi thuộc gia đình trí tuệ của bà. Lá số của chúng tôi có những điểm tương đồng rất mạnh, ngoại trừ cung của thể trí và có thể cả cung chân thần. Vì vậy, mối quan hệ cụ thể ấy sẽ không bao giờ mang đầy đủ đặc điểm của quan hệ trong gia đình trí tuệ. |
|
With another person in my physical family, I think I share very little in the personality, except maybe some reactive tendencies, but in terms of the mode of spiritual quest, a lot. But we’ll get to, maybe you’ll talk about mental families. |
Với một người khác trong gia đình hồng trần, Tôi nghĩ chúng tôi có rất ít điểm chung về phàm ngã, ngoại trừ có lẽ một vài khuynh hướng phản ứng, nhưng về cách tìm kiếm tinh thần thì có rất nhiều điểm chung. Chúng ta sẽ đi đến đó; có lẽ sẽ nói về các gia đình trí tuệ. |
|
Another, with another, I share strong emotional and mental similarities, but a much different approach to what might be called spirituality. It’s all governed by the rays. Not so much even by the astrological signs, but by the rays. |
Với một người khác nữa, Tôi có những điểm tương đồng mạnh về cảm xúc và trí tuệ, nhưng cách tiếp cận điều có thể gọi là tinh thần lại rất khác. Tất cả đều do các cung chi phối. Thậm chí không phải các dấu hiệu chiêm tinh chi phối nhiều đến thế, mà là các cung. |
|
It’s just very interesting to assess one’s really close relationships, and see which families are shared with that individual with whom one has a close relationship. Okay, we’ll go on here. |
Thật thú vị khi đánh giá những mối quan hệ thực sự gần gũi của mình, và xem mình cùng thuộc những gia đình nào với người có quan hệ gần gũi ấy. Chúng ta sẽ tiếp tục ở đây. |
|
[53] b—The class within the Hall of Learning to which he is assigned and in which he receives much instruction. |
[53] b—Lớp học trong Phòng Học Tập mà y được phân vào và nhận nhiều sự chỉ dạy. |
|
So this is the curriculum of the love petals, the central petals of the nine, four, five, and six. So these are emotional groups. He’s kind of saying we are, we tend to be members of these emotional groups. |
Vậy đây là chương trình học của các cánh hoa bác ái, những cánh hoa ở giữa trong chín cánh: bốn, năm và sáu. Như vậy, đây là các nhóm cảm xúc. Ngài phần nào đang nói rằng chúng ta có khuynh hướng là thành viên của những nhóm cảm xúc này. |
|
Point C, |
Mục c, |
|
[54] c—The band of Invisible Helpers with whom he may be working and the band of Servers. |
[54] c—Đoàn Người Trợ Giúp Vô Hình mà y có thể đang cùng làm việc, và đoàn Người Phụng Sự. |
|
This is the higher group within the emotional grouping. I’ve talked to some people who really have their memories pretty much intact about invisible helpership. |
Đây là nhóm cao hơn trong các nhóm cảm xúc. Tôi đã trò chuyện với một số người thực sự giữ được khá nguyên vẹn ký ức về việc làm người trợ giúp vô hình. |
|
I was talking to one person who said, oh yes, we were there at the invasion of Normandy, holding the soldiers up in the water, because they had these landing craft under a barrage of machine gun bullets. Very, so many were killed, so dangerous, and the invisible helpers were there. |
Tôi trò chuyện với một người nói rằng: “Ồ, đúng vậy, chúng tôi đã có mặt trong cuộc đổ bộ Normandy, nâng đỡ những người lính trong nước, vì các tàu đổ bộ của họ đang hứng chịu một trận mưa đạn súng máy.” Rất nhiều người đã thiệt mạng, vô cùng nguy hiểm, và những người trợ giúp vô hình đã có mặt ở đó. |
|
It was an invasion of Europe with the objective of overcoming Germany eventually, but it wasn’t just a physical assault, which was appreciable. There was help from the inside too. How are you helping? What is your assignment? Who are those with whom you are helping? Now maybe there’s, a tendency to move on from emotional family affiliation into something higher. |
Đó là một cuộc tiến công vào châu Âu với mục tiêu cuối cùng là đánh bại nước Đức, nhưng không chỉ có cuộc tấn công hồng trần mà người ta có thể nhận thấy. Còn có sự trợ giúp từ bên trong nữa. Bạn đang trợ giúp như thế nào? Nhiệm vụ của bạn là gì? Những người cùng bạn trợ giúp là ai? Có lẽ ở đây có một khuynh hướng chuyển từ sự gắn kết với gia đình cảm xúc sang điều gì đó cao hơn. |
|
Let’s see. So this is the class in the Hall of Learning to which he is assigned, and in which he learns a lot. I guess one day we’re going to know all that we’re taught on the inner planes, and it’ll become familiar. |
Hãy xem. Đây là lớp học trong Phòng Học Tập mà y được phân vào, và nơi y học được rất nhiều. Tôi nghĩ một ngày nào đó chúng ta sẽ biết tất cả những gì mình được dạy trên các cõi bên trong, và chúng sẽ trở nên quen thuộc. |
|
He tells us that death is a most familiar experience. And, such that we might end up saying, oh, this again. And maybe, falling asleep past a certain point reveals that as well. |
Ngài nói với chúng ta rằng cái chết là một trải nghiệm hết sức quen thuộc. Quen đến mức cuối cùng chúng ta có thể nói: “Ồ, lại chuyện này.” Và có lẽ khi đi vào giấc ngủ vượt quá một điểm nhất định, điều ấy cũng hiển lộ. |
|
We’ll recognize what we’ve been doing at night. You can get a lot done in a short period of time, but maybe it depends on one’s polarization, one’s focus, and maybe the strictly mental workers are already emphasizing other kinds of groups that are not, let us say, particularly emotionally based. |
Chúng ta sẽ nhận ra những gì mình đã làm vào ban đêm. Bạn có thể làm được rất nhiều trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng có lẽ điều đó tùy thuộc vào sự phân cực, vào trọng tâm của mỗi người, và có lẽ những người hoạt động thuần túy bằng trí tuệ đã nhấn mạnh những loại nhóm khác, không đặc biệt dựa trên cảm xúc. |
|
So, so far what do we have? Well, I’ll just have to remember it. We have the outer physical family, and we, okay, we have so far. So far we have classifications within the general physical family, and within the general emotional family. |
Vậy đến đây chúng ta có những gì? Tôi sẽ phải nhớ lại. Chúng ta có gia đình hồng trần bên ngoài; đến đây, chúng ta có các phân loại trong gia đình hồng trần nói chung và trong gia đình cảm xúc nói chung. |
|
Subdivisions. I mean, really, do we have an idea, even of the families to which we belong? The conventional way of thinking is, this is my family, physical, and it’s really important here on the physical plane. |
Các phân nhóm. Ý Tôi là, chúng ta thực sự có hình dung nào về ngay cả những gia đình mà mình thuộc về không? Cách nghĩ thông thường là: đây là gia đình hồng trần của Tôi, và nó thực sự quan trọng ở đây, trên cõi hồng trần. |
|
But who are we working with? We don’t necessarily stay in a family business, do we? Some people rebel. I have two brothers, and, okay, they stayed more or less in the family business for a while, and one permanently. We had different inclinations. |
Nhưng chúng ta đang làm việc cùng ai? Chúng ta không nhất thiết phải ở lại trong việc kinh doanh của gia đình, đúng không? Một số người phản kháng. Tôi có hai người anh em trai; họ ít nhiều đã ở lại trong việc kinh doanh của gia đình một thời gian, và một người thì ở lại lâu dài. Chúng tôi có những khuynh hướng khác nhau. |
|
Sometimes you stay in a context where you don’t belong, but I had no business with that business, and I know of another, or others, who left two brothers in terms of interest, and then got into something completely different, whereas the brothers stayed for many years in the family business. |
Đôi khi bạn ở lại trong một hoàn cảnh mà mình không thuộc về. Nhưng Tôi chẳng có duyên gì với việc kinh doanh ấy. Tôi cũng biết một người khác, hoặc những người khác, đã rời xa hai người anh em về mặt sở thích rồi chuyển sang một lĩnh vực hoàn toàn khác, trong khi những người anh em vẫn tiếp tục việc kinh doanh của gia đình suốt nhiều năm. |
|
Then, interestingly enough, the youngest brother who never wanted to be there anyway gradually faded from it. So, it’s a type of non-growth to stay anchored in that which the physical family produces, and ignore the wider scene toward which the emotional family would incline. Such a battle goes on, in adolescence when you’re really finding your emotional family, and it may be quite contradictory to what’s going on in the physical family. |
Khá thú vị là người em út, vốn chưa bao giờ muốn ở đó, dần dần cũng rút lui. Vì vậy, cứ neo mình vào những gì gia đình hồng trần tạo ra và phớt lờ khung cảnh rộng lớn hơn mà gia đình cảm xúc hướng mình đến là một kiểu không phát triển. Cuộc đấu tranh ấy diễn ra ở tuổi thiếu niên, khi bạn thực sự đang tìm ra gia đình cảm xúc của mình, và điều ấy có thể khá trái ngược với những gì đang diễn ra trong gia đình hồng trần. |
|
There may be conflicts. Don’t bring your friends here. |
Có thể có xung đột. “Đừng đưa bạn bè của con đến đây.” |
|
Don’t bring them home. I can’t stand them, that kind of thing uttered from a parent, let us say, under, not so understanding circumstances. But a big difference. |
“Đừng đưa chúng về nhà. Cha mẹ không chịu nổi chúng”, những lời như thế từ một người cha hay mẹ trong hoàn cảnh thiếu sự thấu hiểu. Nhưng có một khác biệt lớn. |
|
Why are you associated with persons like that? They hold completely different values than our family holds. Why? Well, it’s just that they are more members of the emotional family than the parents or other brothers may be. We’re all of us so different, you know. |
“Tại sao con lại giao du với những người như thế? Các giá trị của họ hoàn toàn khác với gia đình mình. Tại sao?” Đơn giản là họ thuộc gia đình cảm xúc của bạn nhiều hơn cha mẹ hay những người anh em khác có thể thuộc về. Bạn biết đấy, tất cả chúng ta đều rất khác nhau. |
|
When there are a number of siblings born in a family, they’re carrying different astrology, different ray energies. No guarantee whatsoever that they will be in the same emotional family or mental family. So |
Khi có nhiều anh chị em sinh ra trong một gia đình, họ mang những yếu tố chiêm tinh khác nhau, những năng lượng cung khác nhau. Hoàn toàn không có gì bảo đảm rằng họ sẽ thuộc cùng một gia đình cảm xúc hay gia đình trí tuệ. Vì vậy, |
|
[55] All these groups involve obligation and work and all must be allowed for in studying the wise use of meditation. |
[55] Tất cả những nhóm này đều kéo theo nghĩa vụ và công việc, và tất cả đều phải được tính đến khi nghiên cứu cách sử dụng tham thiền một cách minh triết. [Page 119] |
|
The master assigning meditation has to know what types of groups a person is naturally affiliated with. The factor of obligation cannot be evaded. We have certain duties to our groups, and a number of these problems involve ignoring our duties. |
Chân sư giao bài tham thiền phải biết một người tự nhiên gắn kết với những loại nhóm nào. Không thể né tránh yếu tố nghĩa vụ. Chúng ta có những bổn phận nhất định đối với các nhóm của mình, và một số vấn đề này liên quan đến việc bỏ bê bổn phận. |
|
So we might say ignoring our duties to various groups is an ongoing problem. Now, sometimes in the East, or in the Ten Commandments, honor thy father and thy mother that thy days may be long upon the land. There’s much of virtue in that, but at a certain point, one must honor one’s own inner nature and understandingly depart from what otherwise would be a Saturnian situation in an oppressive mode. |
Vậy chúng ta có thể nói rằng bỏ bê bổn phận đối với các nhóm khác nhau là một vấn đề dai dẳng. Đôi khi ở phương Đông, hoặc trong Mười Điều Răn, có lời dạy: “Hãy hiếu kính cha mẹ để những ngày con sống trên đất được dài lâu.” Điều ấy chứa đựng nhiều đức hạnh, nhưng đến một thời điểm nhất định, mỗi người phải tôn trọng bản chất bên trong của mình và rời đi với sự thấu hiểu, khỏi điều nếu không sẽ trở thành một hoàn cảnh mang tính Sao Thổ theo kiểu áp bức. |
|
That would be problematic to stay in a group that inhibited the expression to be found in a more extensive and subtle group. |
Ở lại trong một nhóm ngăn cản sự biểu đạt mà ta có thể tìm thấy trong một nhóm rộng lớn và tinh tế hơn sẽ là điều có vấn đề. |
|
[56] Meditation should increase a man’s capacity to discharge his karmic debts, giving clear vision, wise judgment and a comprehension of the work of the immediate moment. Anything that militates against this is dangerous. |
[56] Tham thiền phải gia tăng năng lực thanh toán những món nợ nghiệp quả của một người, đem lại tầm nhìn rõ ràng, sự phán đoán sáng suốt và khả năng thấu hiểu công việc của thời điểm hiện tại. Bất cứ điều gì đi ngược lại điều này đều nguy hiểm. |
|
So if, let’s just say you try to lead the meditative life, but the groups that you are members of inhibit leading that life, there is danger. |
Vậy nếu bạn cố gắng sống đời tham thiền, nhưng các nhóm mà bạn là thành viên lại ngăn cản đời sống ấy, thì có nguy hiểm. |
|
You know, sometimes people grow and their friends don’t grow, or at least they were in a phase with their friends that the friends will never transcend, but they transcend it. Then comes that tearing. I can’t be with these people anymore. |
Bạn biết đấy, đôi khi người ta phát triển còn bạn bè thì không; hoặc ít nhất họ từng ở cùng bạn bè trong một giai đoạn mà những người bạn ấy sẽ không bao giờ vượt qua, nhưng họ thì vượt qua. Rồi sự giằng xé xuất hiện. “Tôi không thể ở bên những người này nữa.” |
|
They used to be my friend. Friends, I don’t know what happened. We just went our separate ways. |
“Họ từng là bạn của Tôi. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra. Chúng tôi chỉ đi những con đường riêng.” |
|
Well, something awoke in you that has not yet awakened in them, so one has to depart, and the same thing with one’s physical family. You know, you could, quote unquote, stay in the family business, which may be right for you, but it might be entirely wrong, and you have to depart. |
Một điều gì đó đã thức tỉnh trong bạn nhưng chưa thức tỉnh trong họ, nên bạn phải rời đi. Với gia đình hồng trần của mình cũng vậy. Bạn có thể, nói theo cách thường dùng, “ở lại trong việc kinh doanh của gia đình”; điều ấy có thể đúng với bạn, nhưng cũng có thể hoàn toàn sai, và bạn phải rời đi. |
|
Otherwise, compromise your integrity. Maybe make your parents happy for a while until they can look on and say, well, I’m looking back now, and when you wanted to be an actor, and I was so much against it, preventing you, insisting that you stay in the family business, I was wrong. I should have let you go. |
Nếu không, bạn sẽ đánh đổi sự chính trực của mình. Có lẽ bạn làm cha mẹ vui lòng một thời gian, cho đến khi họ có thể nhìn lại và nói: “Giờ cha mẹ nhìn lại chuyện con muốn làm diễn viên mà cha mẹ đã phản đối dữ dội, ngăn cản con, nhất quyết bắt con ở lại trong việc kinh doanh của gia đình; cha mẹ đã sai. Lẽ ra cha mẹ phải để con đi.” |
|
It’s a drama that’s happening all the time, so we have to know when is the right time to arrive, and when is the right time to depart. I’m a classical musician, but I oftentimes like country music. There’s that song by Kenny Rogers, you gotta know when to hold them and know when to fold them. |
Đó là một vở kịch luôn diễn ra, nên chúng ta phải biết khi nào là lúc thích hợp để đến và khi nào là lúc thích hợp để rời đi. Tôi là một nhạc sĩ cổ điển, nhưng thường cũng thích nhạc đồng quê. Có bài hát của Kenny Rogers: “Bạn phải biết khi nào giữ bài và khi nào bỏ bài.” |
|
Speaking of card games, poker probably. You have to know when you can hold your cards and hope for the best, because you have a sense of what you’ve got compared to what others have got, and you have to know when you just say, that’s it for me. Fold your cards. |
Đang nói về trò chơi bài, có lẽ là bài xì tố. Bạn phải biết khi nào có thể giữ bài và hy vọng điều tốt nhất, vì bạn cảm nhận được bài mình có so với bài người khác; và phải biết khi nào nên nói: “Đến đây là đủ với Tôi.” Bỏ bài. |
|
There’s so many practical lessons from the things we do and the games we play, and we’re here to make a success of our soul inclinations. Anything that prevents us from doing that, really prevents us, is dangerous. Now that doesn’t mean that you can’t do that when you’re busy fulfilling your karma, because there’s a lot of ways in which we can turn karmic obstacles into possibilities. |
Có rất nhiều bài học thực tế từ những việc chúng ta làm và những trò chúng ta chơi; chúng ta có mặt ở đây để thực hiện thành công những khuynh hướng của linh hồn. Bất cứ điều gì ngăn cản, thực sự ngăn cản chúng ta làm điều ấy, đều nguy hiểm. Điều đó không có nghĩa là bạn không thể làm được trong khi đang bận giải quyết nghiệp quả, vì có nhiều cách để biến những trở ngại nghiệp quả thành cơ hội. |
|
Master Morya is forever speaking about that. Obstacles are possibilities. When will you ever learn that obstacles are possibilities? But sometimes obstacles are no possibilities, and they will just remain what they are unless you depart them. |
Chân sư Morya luôn nói về điều đó. Trở ngại là cơ hội. Bao giờ bạn mới học được rằng trở ngại là cơ hội? Nhưng đôi khi trở ngại không phải là cơ hội, và chúng sẽ vẫn nguyên như vậy trừ khi bạn rời khỏi chúng. |
|
So anyway, meditation should help us deal with these apparent obstacles, and when there are blockages to our discharging of karmic debts, and to the clarification of our vision, and to the onset of wise judgment, and the comprehension of work in the immediate moment when we’re really somehow blocked from dealing with these things, there is a danger—and there will be certain kind of groups with their culture that will prevent these developments here listed as valuable. Of course, if we are strong enough in spirit, we can probably make any obstacle a possibility, but oftentimes people are overcome by their obstacles. |
Dù sao, tham thiền phải giúp chúng ta xử lý những trở ngại có vẻ hiện hữu này. Khi có những rào cản đối với việc thanh toán các món nợ nghiệp quả, làm sáng tỏ tầm nhìn, hình thành sự phán đoán minh triết và thấu hiểu công việc của thời điểm hiện tại, khi chúng ta thực sự bị ngăn trở theo cách nào đó trong việc xử lý những điều này, thì có nguy hiểm. Sẽ có những loại nhóm với văn hóa của chúng ngăn cản các bước phát triển có giá trị được liệt kê ở đây. Tất nhiên, nếu đủ mạnh về tinh thần, chúng ta có lẽ có thể biến bất cứ trở ngại nào thành cơ hội, nhưng người ta thường bị trở ngại khuất phục. |
|
Finally, we get to the mental plane, and the groups found thereon. We can see, what may be the dangers. So far we’ve seen that so far our dangers, let’s see if I can remember here, so far the dangers, one, fleeing group responsibility, and two, being truly stifled by a group from which one could have moved on. |
Cuối cùng, chúng ta đến cõi trí và các nhóm ở đó. Chúng ta có thể thấy những nguy hiểm có thể là gì. Đến đây, hãy xem Tôi có nhớ không, chúng ta đã thấy hai nguy hiểm: một là trốn tránh trách nhiệm nhóm, và hai là thực sự bị một nhóm kìm hãm trong khi lẽ ra mình có thể rời nhóm ấy để tiến lên. |
|
So far, are all the, have we fulfilled our responsibility to the various groups of which we may be a member? Family responsibilities can go on a long time, and you can outgrow those with whom you originally had a very friendly and mutually supportive relationship based upon a certain level of appreciation and response, certain orientation. You know, you used to go out with friends, do something, and you begin to lose interest. You don’t know why. |
Đến đây, chúng ta đã hoàn thành trách nhiệm đối với các nhóm khác nhau mà mình có thể là thành viên chưa? Trách nhiệm gia đình có thể kéo dài rất lâu, và bạn có thể phát triển vượt những người mà ban đầu mình có mối quan hệ rất thân thiện, hỗ trợ lẫn nhau, dựa trên một mức độ trân trọng và đáp ứng nhất định, một định hướng nhất định. Bạn từng đi chơi với bạn bè, làm một điều gì đó, rồi bắt đầu mất hứng thú. Bạn không biết tại sao. |
|
You don’t want to do that anymore, because something higher is calling to you, and then you split. There was an old, old song, and it has a line in it, those wedding bells are breaking up that good old gang of mine. The song is probably 50, 60 years old, meaning you have to move on to the phase of marriage and family, and can no longer run with your friends. |
Bạn không muốn làm điều ấy nữa, vì một điều gì đó cao hơn đang kêu gọi bạn, rồi các bạn tách ra. Có một bài hát rất xưa với câu: “Những tiếng chuông cưới ấy đang chia lìa nhóm bạn thân thuở trước của Tôi.” Bài hát có lẽ đã năm mươi, sáu mươi năm tuổi, hàm ý rằng bạn phải chuyển sang giai đoạn hôn nhân và gia đình, không thể tiếp tục rong chơi cùng bạn bè. |
|
There’s a duty, an obligation felt. It’s time to leave that, and sometimes in a marriage, where are you going? Oh, I got to get out, got to go out with the boys, got to go out with the girls. You know, it’s a kind of a—well, maybe one does. |
Bạn cảm thấy có bổn phận, có nghĩa vụ. Đã đến lúc rời bỏ điều ấy; và đôi khi trong một cuộc hôn nhân: “Anh đi đâu thế?” “Ồ, anh phải ra ngoài, phải đi chơi với đám bạn trai”; hoặc “em phải đi chơi với đám bạn gái”. Bạn biết đấy, đó là một kiểu—có lẽ người ta cũng cần làm vậy. |
|
It’s kind of a retrogression. It’s a relief to get back to that old pattern, but we have to learn when to move on, and to what. Now, the next thing here is the mental plane, the groups on the mental plane, and what are they? And what might be the dangers involved? Maybe something else, you know. |
Đó là một kiểu thoái lui. Trở lại khuôn mẫu cũ đem đến cảm giác nhẹ nhõm, nhưng chúng ta phải học khi nào nên tiến lên, và tiến đến điều gì. Giờ điều tiếp theo ở đây là cõi trí, các nhóm trên cõi trí; đó là những nhóm nào? Và có thể có những nguy hiểm gì? Có lẽ là điều gì khác. |
|
Not that you failed to fulfill your duty, not that you are stifled. Something else, maybe. Let’s see. |
Không phải bạn không làm tròn bổn phận, cũng không phải bạn bị kìm hãm. Có lẽ là điều gì khác. Hãy xem. |
|
These can be enumerated as follows, and generally, we’re climbing now into a higher types of groupings. |
Có thể liệt kê các nhóm này như sau; nhìn chung, giờ chúng ta đang tiến lên những loại nhóm cao hơn. |
|
[56b] 3—On the mental plane: The groups to be found there may be enumerated as follows: |
[56b] 3—Trên cõi trí: Có thể liệt kê những nhóm ở đó như sau: |
|
[57] a—The groups of pupils of some one Master to Whom he may be attached, and with Whom he may be working. |
[57] a—Các nhóm môn sinh của một Chân sư mà y có thể gắn bó và cùng làm việc. |
|
Well, Master DK had some 50, 51 students who were, in a sense, no matter what seed group they were affiliated with, were all part of one group. |
Chân sư DK có khoảng năm mươi, năm mươi mốt môn sinh; theo một nghĩa nào đó, dù gắn kết với nhóm hạt giống nào, họ đều là thành viên của một nhóm. |
|
[58] This is usually only the case when the man is rapidly working out his karma and is nearing the entrance to the Path. |
[58] Điều này thường chỉ xảy ra khi người ấy đang nhanh chóng giải quyết nghiệp quả và tiến gần đến lối vào Đường Đạo. |
|
The real path, let’s say, beginning at the first initiation. The path of aspiration is before the first initiation. |
Đường Đạo thực sự bắt đầu từ lần điểm đạo thứ nhất. Con đường khát vọng nằm trước lần điểm đạo thứ nhất. |
|
The Path of Probation, depending on how we consider it, may be before the first initiation. The real Path of Discipleship is the path of probationary initiation. |
Con Đường Dự Bị, tùy cách chúng ta xem xét, có thể nằm trước lần điểm đạo thứ nhất. Con Đường Đệ Tử thực sự là Con Đường Điểm Đạo dự bị. |
|
[59] His meditation, therefore, should be directly under the guidance of his Master, and any formula followed that is not adjusted to a man’s need carries with it elements of danger, |
[59] Vì vậy, việc tham thiền của y phải trực tiếp nằm dưới sự hướng dẫn của Chân sư của y; bất kỳ công thức nào y thực hành mà không được điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của y đều mang theo những yếu tố nguy hiểm, |
|
you know, inappropriate pursuits, even though they might seem to be spiritual. |
bạn biết đấy, những sự theo đuổi không thích hợp, dù chúng có vẻ mang tính tinh thần. |
|
[60] for the vibrations set up on the mental plane and the forces engendered there are so much more potent than on the lower levels. |
[60] vì những rung động được thiết lập trên cõi trí và những mãnh lực phát sinh ở đó mạnh hơn rất nhiều so với trên các cấp độ thấp hơn. |
|
So, these are mental groups. Sort of here discussed is a mental-spiritual group affiliation, but they are under correct guidance, and do not wander. |
Vậy đây là các nhóm trí tuệ. Điều được bàn ở đây phần nào là sự gắn kết với một nhóm trí tuệ–tinh thần, nhưng họ ở dưới sự hướng dẫn đúng đắn và không đi chệch hướng. |
|
An old story in Agni Yoga. The ambitious student thought he’d go faster if he had three teachers, and not just one. So, he arranged that, and he thought he was making progress with each teacher, and would be ahead of the game, progressing faster. |
Có một câu chuyện xưa trong Agni Yoga. Người môn sinh đầy tham vọng nghĩ rằng mình sẽ tiến nhanh hơn nếu có ba huấn sư thay vì chỉ một. Y thu xếp như thế và nghĩ rằng mình đang tiến bộ với từng huấn sư, sẽ vượt lên, tiến nhanh hơn. |
|
But then each teacher sent what is called a whirlwind to help the student fly. You know, some of this may be symbolic, and the student, not being able to handle these diverse currents, or winds, was torn apart by them, rather than progressing. |
Nhưng rồi mỗi huấn sư gửi đến điều được gọi là một cơn lốc để giúp môn sinh bay lên. Một phần điều này có thể mang tính biểu tượng, và môn sinh không thể xử lý những luồng năng lượng hay luồng gió khác nhau ấy, nên chúng xé y ra từng mảnh thay vì giúp y tiến bộ. |
|
So, this also maybe is the Arcane School’s insistence that you follow one line of meditation with them, and not diverse lines which can contradict. Not that there’s necessarily anything wrong with the diversity, but there can be contradictions which the student does not handle well, and things can be moving spiritually, but in different directions, and it can cause conflict, and confusion, and delay, non-accomplishment. You have difficulty becoming the one-pointed disciple. |
Vì vậy, có lẽ đây cũng là lý do Trường Arcane nhất quyết yêu cầu bạn theo một đường hướng tham thiền cùng trường, chứ không theo nhiều đường hướng khác nhau có thể mâu thuẫn. Không phải sự đa dạng nhất thiết có gì sai, nhưng có thể có những mâu thuẫn mà môn sinh xử lý không tốt; mọi việc có thể vận động về mặt tinh thần nhưng theo những hướng khác nhau, gây xung đột, bối rối, trì hoãn và không đạt thành tựu. Bạn gặp khó khăn trong việc trở thành đệ tử nhất tâm. |
|
So, I guess you have to know what to emphasize. So, here it is. Any formula followed that is not adjusted to a man’s need, as maybe a single master sees it, carries with it elements of danger. |
Vậy Tôi nghĩ bạn phải biết nên nhấn mạnh điều gì. Đây là điều được nói đến: bất cứ công thức nào được tuân theo mà không điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của một người, có lẽ theo cách một Chân sư nhìn nhận nhu cầu ấy, đều mang những yếu tố nguy hiểm. |
|
Danger through diversification, for the vibrations set upon the mental plane and the forces engendered there are so much more potent than on lower levels. So, that’s one kind of group to which we belong, and a danger affiliated with it. Something within you will warn you when you are treading the path of danger. |
Nguy hiểm do phân tán theo nhiều hướng, vì những rung động được thiết lập trên cõi trí và những mãnh lực phát sinh ở đó mạnh hơn rất nhiều so với trên các cấp độ thấp. Vậy đó là một loại nhóm mà chúng ta thuộc về, và một nguy hiểm gắn với nó. Một điều gì đó bên trong bạn sẽ cảnh báo khi bạn đang bước trên con đường nguy hiểm. |
|
It’s kind of, called maybe the inner monitor, the inner regulator. Maybe that’s what that star Regulus is all about. If you have Regulus on the ascendant, or conjunct your Sun in Leo at the present time, self-regulation, according to law, will be an important strand, very important strand in your life. |
Có lẽ có thể gọi đó là người giám sát bên trong, người điều chỉnh bên trong. Có lẽ đó là ý nghĩa của ngôi sao Regulus. Nếu hiện tại bạn có Regulus tại Điểm mọc, hoặc đồng vị với Mặt Trời của bạn trong Sư Tử, thì sự tự điều chỉnh theo định luật sẽ là một mạch quan trọng, rất quan trọng trong cuộc đời bạn. |
|
Conjunctions of the so-called fixed stars with important points in the chart can tell a story about the access of certain stellar energies, which have to be considered when considering the overall energy dynamics of your energy system. And B, and I showed you this on, I showed you this when it came to page 39 of this book, seven groups monad, 14 atmic, no, is it 14? No, seven. And let’s see, oh, have I forgotten how many? Here it is. |
Các đồng vị của những ngôi sao được gọi là định tinh với các điểm quan trọng trong lá số có thể cho biết về sự tiếp cận của những năng lượng tinh tú nhất định; phải tính đến chúng khi xem xét toàn bộ động lực năng lượng trong hệ thống năng lượng của bạn. Và mục b, Tôi đã cho các bạn xem điều này khi đến trang 39 của sách: bảy nhóm chân thần, mười bốn nhóm atma—không, có phải mười bốn không? Không, bảy. Hãy xem, Tôi đã quên số lượng rồi sao? Đây rồi. |
|
14 groups atmic, 21 and 28 groups buddhic, and all the way up to 49 groups on the mental plane. These are the higher groups. And how we would know which ones of these to which we belong would be a real exercise in discrimination. |
Mười bốn nhóm atma, hai mươi mốt và hai mươi tám nhóm Bồ đề, rồi đến tận bốn mươi chín nhóm trên cõi trí. Đây là các nhóm cao hơn. Biết mình thuộc nhóm nào trong số này sẽ thực sự là một bài tập phân biện. |
|
First of all, we’d have to define the kinds of pursuits that each one of these groups engages in, and that would not be easy. Maybe there are some hints when it comes to the higher mental plane, spiritual discernment, subplane three, response to group vibration, subplane two, spiritual telepathy, subplane one, how does it go? Don’t have subplane one on the buddhic plane. |
Trước hết, chúng ta phải xác định những loại hoạt động mà mỗi nhóm này theo đuổi, và điều đó không dễ. Có lẽ có một vài gợi ý khi nói đến Cõi thượng trí: phân biện tinh thần, cõi phụ ba; đáp ứng với rung động nhóm, cõi phụ hai; viễn cảm tinh thần, cõi phụ một—thứ tự là thế nào nhỉ? Không có thông tin về cõi phụ một trên cõi Bồ đề. |
|
Or well, we, yeah, buddhic plane, no. The third subplane of the buddhic plane, idealism, I think, but nothing given. |
Cõi Bồ đề, không. Cõi phụ thứ ba của cõi Bồ đề là chủ nghĩa lý tưởng, Tôi nghĩ vậy, nhưng không có gì được đưa ra. |
|
On the first subplane of the buddhic plane, and the siddhi, the power there involved, may be very high indeed, such that it’s not even the province of the master’s application. When we get to the atmic plane, it’s subplane one, and we just don’t know. If it had been subplane seven through three, we might know, according to what DK gave, in A Treatise on Cosmic Fire, page 188 or thereabouts, as far as the seven Monadic planes, and it doesn’t tell you, interestingly, it doesn’t tell you what subplane. Could be a combination of subplane four, subplane three, subplane two, subplane one. Just the way below, on the etheric plane, we have, and on the astral plane, we have that kind of division. |
Trên cõi phụ thứ nhất của cõi Bồ đề, quyền năng liên quan có thể thực sự rất cao, đến mức thậm chí không thuộc phạm vi vận dụng của Chân sư. Khi đến cõi atma, đó là cõi phụ một, và chúng ta hoàn toàn không biết. Nếu là các cõi phụ từ bảy đến ba, chúng ta có thể biết theo những gì Chân sư DK đưa ra trong Luận về Lửa Vũ Trụ, khoảng trang 188. Còn về bảy cõi chân thần, thật thú vị là sách không cho biết đó là cõi phụ nào. Có thể là sự kết hợp của cõi phụ bốn, ba, hai và một. Cũng như ở dưới, trên cõi dĩ thái và cõi cảm dục, chúng ta có kiểu phân chia ấy. |
|
Here I will demonstrate that. And that’s it. Notice how there are seven, but four subplanes are involved. |
Ở đây Tôi sẽ minh họa điều đó. Đây rồi. Hãy chú ý rằng có bảy, nhưng liên quan đến bốn cõi phụ. |

|
Now, are these seven Monadic groups going to be found on the second subplane of the second plane, or will they be more distributed the way these chakras seem to be distributed? A three here, one on the higher subplane, another on the second subplane, another on the third subplane, with four, including the spleen, on the fourth subplane. Of course, what we could do, I think, is add, take away the spleen, and we could add another chakra or vortex on the first subplane that would represent the ajna centre placed on one of the sub-subplanes. But anyway, it looks like the higher four subplanes are the place where the activity is going on, and that somehow the seven on the Monadic plane and the 14 on the atmic plane and so forth would be found in the, what might be called, the etheric portion of any plane, namely the higher four subplanes, just the way, given this entire cosmic physical plane, the etheric portion is the higher four cosmic subplanes. |
Vậy bảy nhóm chân thần này sẽ nằm trên cõi phụ thứ hai của cõi thứ hai, hay sẽ phân bố rộng hơn như cách các luân xa này dường như phân bố? Có ba ở đây: một trên cõi phụ cao hơn, một trên cõi phụ thứ hai, một trên cõi phụ thứ ba; còn bốn, bao gồm luân xa lá lách, trên cõi phụ thứ tư. Tất nhiên, Tôi nghĩ chúng ta có thể bỏ luân xa lá lách và thêm một luân xa hay xoáy năng lượng khác trên cõi phụ thứ nhất, đại diện cho trung tâm ajna nằm trên một trong các cõi phụ của cõi phụ ấy. Dù sao, dường như bốn cõi phụ cao hơn là nơi hoạt động diễn ra; và theo cách nào đó, bảy nhóm trên cõi chân thần, mười bốn nhóm trên cõi atma, v.v., sẽ nằm trong phần có thể gọi là phần dĩ thái của bất kỳ cõi nào, tức bốn cõi phụ cao hơn; cũng như trong toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ này, phần dĩ thái là bốn cõi phụ vũ trụ cao hơn. |
|
so |
vì vậy |
|
[61] b—The egoic group to which he belongs. |
[61] b—Nhóm chân ngã mà y thuộc về. |
|
Now, at this, when the time this was written, probably this referred to the higher mental plane, and not to any egoic or, or soul group on the buddhic plane. |
Vào thời điểm viết điều này, có lẽ đây là nói đến Cõi thượng trí, chứ không phải bất kỳ nhóm chân ngã hay nhóm linh hồn nào trên cõi Bồ đề. |
|
[62] This is most important for it involves the consideration of the man’s ray in the apportioning of meditation. |
[62] Điều này quan trọng nhất, vì nó đòi hỏi phải xét đến cung của người ấy khi chỉ định bài tham thiền. |
|
and it is a higher ray, ray of the Egoic Lotus or causal body. |
và đó là một cung cao hơn, cung của Hoa Sen Chân Ngã hay thể nguyên nhân. |
|
[63] This matter has already been somewhat touched upon. |
[63] Vấn đề này đã được đề cập phần nào. |
|
and it was touched upon in the early part of the book around page 15, 16, 17, 18, right in there. |
và nó đã được đề cập ở phần đầu sách, khoảng các trang 15, 16, 17, 18, ngay trong khoảng đó. |
|
[64] As you will see, I have not specified certain dangers attacking any particular body. |
[64] Như các bạn thấy, Tôi chưa nêu cụ thể những nguy hiểm tấn công bất kỳ thể riêng biệt nào. |
|
I guess maybe he doesn’t want us to get too specific in our thoughts. |
Tôi nghĩ có lẽ Ngài không muốn chúng ta suy nghĩ quá cụ thể. |
|
[65] It is not possible to cover the subject thus. |
[65] Không thể trình bày toàn bộ chủ đề theo cách ấy. |
|
The Tibetan has to learn, well, I mean, he does learn, he knows what to leave out. When there’s just too much detail, we would be overwhelmed, and there’s only so much time space in which we have to study and absorb. |
Chân sư Tây Tạng phải học—ý Tôi là Ngài thực sự học, Ngài biết nên lược bỏ điều gì. Khi có quá nhiều chi tiết, chúng ta sẽ choáng ngợp, trong khi khoảng thời gian và không gian dành cho việc nghiên cứu, tiếp thu chỉ có hạn. |
|
[66] In later days, when occult meditation is more comprehended and the matter scientifically studied, students will prepare the necessary data |
[66] Trong những ngày về sau, khi tham thiền huyền bí được thấu hiểu hơn và vấn đề được nghiên cứu một cách khoa học, các đạo sinh sẽ chuẩn bị những dữ liệu cần thiết |
|
Let’s see, |
Hãy xem, |
|
[67] and treatises covering the entire subject as far as then may be. |
[67] và các khảo luận bao quát toàn bộ chủ đề trong phạm vi có thể vào lúc ấy. |
|
We’re always limited by the time as to how much can be exposed. |
Thời đại luôn giới hạn mức độ những gì chúng ta có thể tiết lộ. |
|
[68] I sound, however, a note of warning, I indicate the way,—the teachers on the inner side seldom do more. |
[68] Tuy nhiên, Tôi lên tiếng cảnh báo và chỉ ra con đường,—các huấn sư ở phía bên trong hiếm khi làm nhiều hơn thế. |
|
Remember what it says about China, its motto, I indicate the way. Interesting. And one day in China, western China, an advanced school. |
Hãy nhớ điều được nói về Trung Quốc, phương châm của nước này: “Tôi chỉ đường.” Thật thú vị. Và một ngày nào đó ở Trung Quốc, miền tây Trung Quốc, sẽ có một trường cao cấp. |
|
Sounds a lot like Tibet. We aim at developing thinkers and men, well, okay. So, he goes on to say, |
Nghe rất giống Tây Tạng. “Chúng tôi hướng đến việc phát triển những người biết tư duy và những người…” Vậy Ngài tiếp tục nói, |
|
[69] We aim at developing thinkers and men of clear vision, capable of logical reasoning. To do this we teach men to develop themselves, to do their own thinking, reason out their own problems, and build their own characters. Such is the Path…. we trod,—such is the path we aim to see you tread. |
[69] Chúng ta hướng tới việc phát triển những người biết tư duy và có tầm nhìn rõ ràng, có khả năng suy luận hợp lý. Để làm điều này, chúng ta dạy con người tự phát triển, tự suy nghĩ, tự lý giải những vấn đề của mình và xây dựng tính cách của chính mình. Đường Đạo là như thế…. chúng ta đã bước đi—đó là con đường chúng ta mong thấy các bạn bước đi. |
|
with an ellipse and a period after it, so, always maybe indicating something that is left out. |
với một dấu chấm lửng và một dấu chấm theo sau, vì vậy, có lẽ luôn gợi đến một điều gì đó đã được lược bỏ. |
|
Well, we’re about to come in to a new section, and, I don’t really know how long this has lasted. Maybe about two and a half hours altogether, and I’ll try to carry on shortly, see if I succeed. |
Chúng ta sắp bước sang một phần mới, và Tôi thực sự không biết đã kéo dài bao lâu. Có lẽ tổng cộng khoảng hai tiếng rưỡi; Tôi sẽ cố tiếp tục ngay sau đây, xem mình có làm được không. |
|
[69b] AUGUST 3, 1920. |
[69b] NGÀY 3 THÁNG 8 NĂM 1920. |
|
We’re going to August 3rd, 1920. |
Chúng ta chuyển đến ngày 3 tháng 8 năm 1920. |
|
We’re on page 120, and this is August 28th, 2020. Hopefully we see, increasingly see, with subtle—see the subtlety, of course, but see with clear vision. There’s another one of these dangers here that we’re going to take up, but this looks like, well, let’s see. |
Chúng ta đang ở trang 120, và hôm nay là ngày 28 tháng 8 năm 2020. Hy vọng chúng ta ngày càng nhìn thấy rõ hơn—tất nhiên, nhìn thấy sự tinh tế, nhưng nhìn bằng tầm nhìn rõ ràng. Ở đây có một nguy hiểm khác mà chúng ta sẽ bàn đến; nhưng có vẻ như—hãy xem. |
|
[69c] 3 – Dangers arising from subtle forces. |
[69c] 3 – Những nguy hiểm phát sinh từ các mãnh lực vi tế. |
|
August 3rd, 1920. |
Ngày 3 tháng 8 năm 1920. |
|
During these coming days, brother of mine, application to the immediate duty is the part of wisdom. It is desired that much should be accomplished both in your individual work and in the work that you and FB have undertaken for the section. The future holdeth changes and in the finished scheme lieth hope for that which is hidden in the lap of destiny. |
Trong những ngày sắp tới, huynh đệ của Tôi, chuyên tâm vào bổn phận trước mắt là hành động minh triết. Mong rằng nhiều điều sẽ được hoàn thành, cả trong công việc cá nhân của huynh đệ lẫn công việc mà huynh đệ và FB đã đảm nhận cho phân bộ. Tương lai chứa đựng những thay đổi, và trong kế hoạch hoàn chỉnh có niềm hi vọng cho điều đang ẩn giấu trong lòng định mệnh. |
|
I do think I will go on a little bit—not too much—because there’s a whole section that continues with dangers that is very long, and it’s about the dangers of obsession. So I will leave that to its own program or two, and I’ll just finish up here with the dangers arising from subtle forces, and we’ll see what he has to say about that. Gosh, there’s plenty of dangers, aren’t there? |
Tôi nghĩ mình sẽ tiếp tục thêm một chút, không quá nhiều, vì có cả một phần rất dài tiếp tục bàn về những nguy hiểm, nói đến các nguy hiểm của sự ám nhập. Vì vậy, Tôi sẽ dành phần ấy cho một hoặc hai chương trình riêng, và chỉ hoàn tất ở đây phần những nguy hiểm phát sinh từ các mãnh lực tinh tế; chúng ta sẽ xem Ngài nói gì về điều đó. Thật là có quá nhiều nguy hiểm, phải không? |
|
[70] …We have for our topic this morning the final section of our letter on the dangers incidental to meditation. |
[70] …Chủ đề sáng nay của chúng ta là phần cuối của bức thư về những nguy hiểm đi kèm với tham thiền. |
|
Well, maybe it’s quite a long section. |
Có lẽ đây là một phần khá dài. |
|
[71] We have dealt somewhat with individual dangers inherent in the three bodies; we have touched upon the risks that may be run when the karma of the student and his group affiliations are overlooked. |
[71] Chúng ta đã bàn phần nào về những nguy hiểm cá nhân vốn có trong ba thể của phàm ngã; chúng ta đã đề cập những rủi ro có thể gặp phải khi bỏ qua nghiệp quả và các mối liên kết nhóm của đạo sinh. |
|
That’s the point, isn’t it? That is the point. So here, in each body, there are problems, potential, and this is one that has to do with overlooking and neglect. And now, |
Đó chính là điểm cốt yếu, phải không? Chính là điểm ấy. Vậy ở đây, trong mỗi thể của phàm ngã, đều có những vấn đề và tiềm năng, và đây là một vấn đề liên quan đến sự bỏ qua và sao nhãng. Và giờ đây, |
|
[72] Today the subject involves real difficulty. We have to deal with the dangers that may arise from forces and persons, from entities and groups working on the subtler planes. The difficulty arises in three ways:— |
[72] Hôm nay, chủ đề thực sự khó khăn. Chúng ta phải bàn về những nguy hiểm có thể phát sinh từ các mãnh lực và những cá nhân, từ các thực thể và những nhóm hoạt động trên các cõi vi tế hơn. Khó khăn nảy sinh theo ba cách:— |
|
So, okay, this is about what is hidden. |
Đây là những điều ẩn giấu. |
|
We begin to look at hidden dangers. Yeah, okay, and these are hidden dangers. So, let’s look at the three ways why the difficulty arises. |
Chúng ta bắt đầu xem xét những nguy hiểm ẩn giấu. Đây chính là những nguy hiểm ẩn giấu. Vậy hãy xem xét ba nguyên nhân làm phát sinh khó khăn. |
|
[73] 1—The ignorance of the average student as to the nature of those forces and as to the personnel of the groups on the subtler planes. |
[73] 1—Sự thiếu hiểu biết của đạo sinh thông thường về bản chất của những mãnh lực ấy và về thành phần các nhóm trên những cõi vi tế hơn. |
|
[74] 2—The risk of revealing more than would be wise in an exoteric publication. |
[74] 2—Nguy cơ tiết lộ nhiều hơn mức khôn ngoan cho phép trong một ấn phẩm ngoại môn. |
|
and |
và |
|
[75] 3—An occult risk that is little comprehended by the uninitiated. It lies in the fact that in the concentration of thought that necessarily arises in discussing these problems, thought-waves are set in motion, currents are contacted and thoughtforms circulated that attract the attention of those under discussion. This may lead at times to undesirable results. Therefore, I shall with brevity touch upon the subject. Upon the inner planes the needed light and protection are afforded. |
[75] 3—Một nguy cơ huyền bí mà những người chưa được điểm đạo ít thấu hiểu. Nguy cơ ấy nằm ở chỗ: trong sự tập trung tư tưởng tất yếu phát sinh khi thảo luận những vấn đề này, các làn sóng tư tưởng được khởi động, các dòng lưu chuyển được tiếp xúc và những hình tư tưởng được lưu truyền, thu hút sự chú ý của những đối tượng đang được bàn đến. Đôi khi, điều này có thể dẫn đến những kết quả không mong muốn. Vì vậy, Tôi sẽ đề cập chủ đề này một cách ngắn gọn. Trên các cõi bên trong, ánh sáng và sự bảo vệ cần thiết luôn sẵn có. |
|
but apparently not extending to circumstances on the outer planes. |
nhưng dường như không mở rộng đến những hoàn cảnh trên các cõi bên ngoài. |
|
I think I’ll just take the three together like that, and boost them, and look at certain words that tell us what the problem may be. Ignorance is one. Who are the force? What are the forces? Who are the personnel inwardly working? The risk of revealing, okay, that’s another difficulty. |
Tôi nghĩ mình sẽ gom cả ba lại như vậy, làm nổi bật chúng, rồi xem xét một số từ cho chúng ta biết vấn đề có thể là gì. Một là sự thiếu hiểu biết. Ai là mãnh lực ấy? Những mãnh lực ấy là gì? Những ai đang hoạt động ở bên trong? Nguy cơ tiết lộ, đó là một khó khăn khác. |
|
The occult risk that is little comprehended. So, attract the attention of those under discussion, and usually we’re not in a position to deal intelligently or effectively with them. They are more powerful. |
Nguy cơ huyền bí mà ít người thấu hiểu. Như vậy, chúng ta thu hút sự chú ý của những đối tượng đang được bàn đến, và thường chúng ta chưa ở vị thế có thể ứng phó với họ một cách sáng suốt hay hiệu quả. Họ mạnh hơn. |
|
So, three groups of entities. |
Vậy có ba nhóm thực thể. |
|
[76] These groups of entities can be differentiated in a threefold manner:— |
[76] Có thể phân biệt những nhóm thực thể này theo ba loại:— |
|
[76b] l—Groups of discarnate beings on either the emotional or the mental planes. |
[76b] 1—Các nhóm sinh linh không còn thân xác trên cõi cảm xúc hoặc cõi trí. |
|
[76c] 2—Devas, either singly or in groups. |
[76c] 2—Các thiên thần, riêng lẻ hoặc theo nhóm. |
|
[76d] 3—The dark Brotherhood. [Page 121] |
[76d] 3—Huynh đệ đoàn bóng tối. [Page 121] |
|
Let’s see what we have here. |
Hãy xem chúng ta có gì ở đây. |
|
Upon the inner planes, the needed light is there, and that is good. I would say that where we are, that inner light is not afforded. The protection is not afforded. |
Trên các cõi bên trong, ánh sáng cần thiết hiện hữu, và điều đó là tốt. Tôi cho rằng ở nơi chúng ta đang hiện diện, ánh sáng bên trong ấy không được cung cấp. Sự bảo vệ cũng không được cung cấp. |
|
So, always DK has that sheltering attitude of the second ray, not out of proportion, but at least guarding his students. He tells us of the second ray soldier or commanding officer that he would never needlessly send his soldiers into danger, knowingly do so, and it’s the same here. He’s kind of the director. He is the director of our approach, and he’s not going to needlessly send us into danger or attract forces we cannot handle. |
Vì vậy, Chân sư DK luôn có thái độ che chở của cung hai, không quá mức, nhưng ít nhất vẫn bảo vệ các đạo sinh của Ngài. Ngài nói với chúng ta về người lính hoặc vị chỉ huy cung hai rằng người ấy sẽ không bao giờ cố ý đưa binh sĩ của mình vào nguy hiểm một cách không cần thiết, và ở đây cũng vậy. Ngài có thể xem là người chỉ đạo. Ngài chỉ đạo cách tiếp cận của chúng ta, và Ngài sẽ không đưa chúng ta vào nguy hiểm một cách không cần thiết, hay thu hút những mãnh lực mà chúng ta không thể ứng phó. |
|
So, three difficulties we have discussed. We have to deal with the dangers that may arise from forces and persons, from entities and groups working on the subtle planes. Sometimes we’re told that they war militantly against the efforts of the aspirant, and attack his vehicles, and sometimes all vehicles at once. So, here are these groups. |
Vậy chúng ta đã bàn đến ba khó khăn. Chúng ta phải bàn đến những nguy hiểm có thể phát sinh từ các mãnh lực và cá nhân, từ các thực thể và nhóm hoạt động trên các cõi vi tế. Đôi khi chúng ta được cho biết rằng họ quyết liệt chống lại những nỗ lực của người chí nguyện và tấn công các hiện thể của y, đôi khi tấn công tất cả các hiện thể cùng lúc. Vậy đây là những nhóm ấy. |
|
Groups of entities can be differentiated in a threefold manner, and here we’re going to take them up. |
Có thể phân biệt các nhóm thực thể theo ba loại, và ở đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét chúng. |
|
[77] Let us take each division and deal with it carefully, first laying the foundation of knowledge by pointing out that the dangers arise from a threefold condition of the bodies of the student which may be the result sometimes of meditation. |
[77] Chúng ta hãy xem xét cẩn thận từng loại, trước hết đặt nền tảng tri thức bằng cách chỉ ra rằng những nguy hiểm phát sinh từ ba trạng thái của các thể phàm ngã của đạo sinh, đôi khi có thể là kết quả của tham thiền. Những trạng thái ấy là: |
|
[78] A negative condition that makes the entire three bodies of the personality receptive and quiescent, and open therefore to the attack of the watching denizens of other planes. |
[78] Một trạng thái thụ động khiến cả ba thể của phàm ngã trở nên tiếp nhận và tĩnh lặng, do đó mở cửa cho sự tấn công của những cư dân đang rình rập trên các cõi khác. |
|
you know, those who live in the dens of evil, denizens. And then number two, so we cannot, we have to have a certain positivity that resists those incursions, and we’ve been told by Master Morya that the heart center is a great protection in all matters of obsession. Number two, |
Các bạn biết đấy, những kẻ sống trong các hang ổ của cái ác, những cư dân ấy. Rồi đến điều thứ hai; vậy chúng ta không thể như thế, chúng ta phải có một tính dương nhất định để chống lại những cuộc xâm nhập ấy, và Chân sư Morya đã cho chúng ta biết rằng trung tâm tim là một sự bảo vệ lớn lao trong mọi vấn đề liên quan đến sự ám nhập. Điều thứ hai, |
|
[79] A condition of ignorance or foolhardiness that, in attempting to use certain forms and mantrams without the permission of the Teacher, involves the student with certain groups of devas, bringing him into contact with the devas of the emotional or mental planes and making him therefore (through his ignorance) the butt of their attack and the plaything of their destructive instincts. |
[79] Một trạng thái thiếu hiểu biết hoặc liều lĩnh, trong đó việc cố sử dụng những hình thức và mantram nhất định mà không được Huấn sư cho phép khiến đạo sinh vướng vào một số nhóm thiên thần, đưa y tiếp xúc với các thiên thần trên cõi cảm xúc hoặc cõi trí, và do đó, vì thiếu hiểu biết, y trở thành mục tiêu tấn công và món đồ chơi cho những bản năng phá hoại của họ. |
|
Well, this has something to do with the white magical work. We’re told the magician may die of drowning. It’s the wrong relationship with the Agnisuryans, and maybe that poisonous, gaseous condition of the mental body that comes about when it is overly crowded. |
Điều này có liên quan đến công việc chánh thuật. Chúng ta được cho biết rằng nhà huyền thuật có thể chết đuối. Đó là mối quan hệ sai lệch với các thiên thần lửa cảm dục, và có lẽ cả trạng thái khí độc của thể trí phát sinh khi thể này quá chật ních. |
|
[80] A condition which is the reverse of the above, which makes a man positive and a channel, therefore, for force or power. |
[80] Một trạng thái ngược với trạng thái trên, khiến một người trở nên chủ động và do đó trở thành một kênh dẫn mãnh lực hoặc quyền năng. |
|
So, let’s just say the opposite of vulnerable negativity. |
Vậy đó là trạng thái đối lập với tính âm dễ bị tổn thương. |
|
[81] When this is the case, the man proceeds, under occult rule or law and with the aid of his Teacher, to wield the electrical fluid of the inner planes. |
[81] Khi điều này xảy ra, người ấy tiến hành vận dụng lưu chất điện của các cõi bên trong, theo quy luật hoặc định luật huyền bí và với sự trợ giúp của Huấn sư của y. |
|
Reminds one a little bit of the special effects in the Harry Potter movies in magician’s battles, the wielding of etheric fluids through wands and so forth. |
Điều này gợi nhớ đôi chút đến những hiệu ứng đặc biệt trong các bộ phim Harry Potter, trong những trận đấu giữa các nhà huyền thuật, việc vận dụng những lưu chất dĩ thái qua đũa phép, v.v. |
|
[82] He becomes then a centre of the attention of those who strive against the Brothers of Light. |
[82] Khi ấy, y trở thành tâm điểm chú ý của những kẻ chống lại các Huynh Đệ Ánh Sáng. |
|
Well, that doesn’t sound like he’s violating any law. |
Điều đó nghe không giống như y đang vi phạm bất kỳ định luật nào. |
|
It’s just, it sounds like one of the hazards through which the developing initiate will pass. So, we have the condition of foolish experimentation, let’s say. We have the condition of a negative condition, which is, we might call it undue passivity. |
Nghe như đó chỉ là một trong những hiểm nguy mà điểm đạo đồ đang phát triển sẽ trải qua. Vậy chúng ta có trạng thái thử nghiệm dại dột. Chúng ta có trạng thái âm tính, có thể gọi là sự thụ động quá mức. |
|
Undue passivity, and we have the condition of growing power, which is also attracting the attention of those who strive, war against, the brothers of the light. |
Sự thụ động quá mức, và chúng ta có trạng thái quyền năng ngày càng tăng, cũng thu hút sự chú ý của những kẻ chống đối, giao chiến với các Huynh đệ Ánh sáng. |
|
[83] The first two conditions are all the result of meditation unwisely and ignorantly practised, the last state of affairs is frequently the reward of success. |
[83] Hai trạng thái đầu đều là kết quả của việc thực hành tham thiền thiếu sáng suốt và thiếu hiểu biết; trạng thái cuối thường là phần thưởng của thành công. |
|
but can lead to difficult experiences. So, indicating the success of the initiate, wrong meditation through the use of certain forms that the disciple has no business using, and prematurely bringing him in contact with devic forces he can’t handle, passivity, foolhardiness, and success. Successful wielding that makes him stand out. |
nhưng có thể dẫn đến những trải nghiệm khó khăn. Vậy điều đó cho thấy sự thành công của điểm đạo đồ; tham thiền sai lầm qua việc sử dụng một số hình thức mà đệ tử không nên sử dụng, sớm đưa y vào tiếp xúc với những mãnh lực thiên thần mà y không thể ứng phó; sự thụ động, sự liều lĩnh và sự thành công. Việc vận dụng thành công khiến y trở nên nổi bật. |
|
These internal forces do exist, invisible though they may be to us. So, the first two conditions are all the result of meditation. We approach passively. |
Những mãnh lực bên trong này quả thực tồn tại, dù đối với chúng ta chúng có thể vô hình. Vậy hai trạng thái đầu đều là kết quả của tham thiền. Chúng ta tiếp cận một cách thụ động. |
|
We approach in a foolhardy manner. So, approaching passively, or approaching in a foolhardy, paramental manner, unsupervised. And the last state of affairs is frequently the reward of success, being able to confront, or being required to confront these negative forces. |
Chúng ta tiếp cận một cách liều lĩnh. Vậy đó là tiếp cận thụ động, hoặc tiếp cận liều lĩnh theo cách vượt ngoài trí tuệ thông thường, không có sự giám sát. Và trạng thái cuối thường là phần thưởng của thành công: có khả năng đối diện, hoặc buộc phải đối diện với những mãnh lực tiêu cực này. |
|
I remember in case of the disciple RSW, she was told, yes, there is an attack being instigated against you internally. However, I could stop it. I could prevent it, says the Tibetan, but thereby you would learn nothing. |
Tôi nhớ trường hợp đệ tử RSW, bà được cho biết: đúng vậy, đang có một cuộc tấn công nhằm vào bạn từ bên trong. Tuy nhiên, Tôi có thể ngăn nó lại. Tôi có thể ngăn chặn nó, Chân sư Tây Tạng nói, nhưng như vậy bạn sẽ chẳng học được gì. |
|
[84] In the first two, the remedy lies within the student himself and in the wise correction of the type of meditation and its more careful following; |
[84] Trong hai trường hợp đầu, biện pháp khắc phục nằm trong chính đạo sinh, ở việc điều chỉnh sáng suốt loại tham thiền và thực hành cẩn thận hơn; |
|
So, we don’t want to meditate our way into trouble by incorrect methods of meditation or methods that are unsuitable to us. We use forms and mantrams which might be better for others, and we use them for ourselves and get into trouble. |
Vậy chúng ta không muốn qua tham thiền mà tự đưa mình vào rắc rối do những phương pháp sai lầm hoặc không phù hợp với chúng ta. Chúng ta sử dụng những hình thức và mantram có thể phù hợp hơn với người khác, áp dụng cho chính mình rồi gặp rắc rối. |
|
[85] in the third case the remedy must be sought in various ways which I will later indicate. |
[85] trong trường hợp thứ ba, phải tìm biện pháp khắc phục bằng nhiều cách khác nhau mà Tôi sẽ chỉ ra sau. |
|
Now begins a lengthy section, which I think it not wise at the moment to pursue. I don’t want to mix too many subjects together here, and this is of such an interesting nature. |
Giờ bắt đầu một phần dài mà tôi nghĩ lúc này chưa nên tiếp tục. Tôi không muốn trộn lẫn quá nhiều chủ đề ở đây, và chủ đề này lại rất thú vị. |
|
It’s a whole subject in itself, and, leads into questions of exorcism, the way it is practiced in the Catholic Church. It’s rather complex, rather long, and it leads up to this point, through eight pages, to dangers arising from the Deva evolution, and we’ll see how far that goes. Dangers from the Dark Brothers. |
Đây là cả một chủ đề riêng, và dẫn đến những vấn đề về trừ tà theo cách thực hành trong Giáo hội Công giáo. Chủ đề này khá phức tạp, khá dài, và qua tám trang sẽ dẫn đến điểm này: những nguy hiểm phát sinh từ sự tiến hoá của thiên thần; rồi chúng ta sẽ xem phần ấy dài đến đâu. Những nguy hiểm từ các huynh đệ bóng tối. |
|
Goodness, the number of dangers. And I think this is, well, the Dark Brotherhood maybe has something to do with the dangers of meditation, but maybe it’s a subject all on its own, taking us all the way up to letter four. So, I imagine, letter six, rather. |
Ôi, biết bao nguy hiểm. Và tôi nghĩ Huynh đệ đoàn bóng tối có lẽ liên quan đến những nguy hiểm của tham thiền, nhưng có lẽ đó là một chủ đề hoàn toàn riêng, đưa chúng ta đến tận bức thư thứ tư. Tôi nghĩ là, đúng hơn, bức thư thứ sáu. |
|
So, I imagine that a few programs will be found here, because we have to cover 18 pages. That’s quite a bit, and I think there’s no sense to extend it. There are three big subjects. |
Vậy tôi hình dung sẽ có vài chương trình ở đây, vì chúng ta phải đi qua 18 trang. Khá nhiều, và tôi nghĩ không có lý do gì để kéo dài thêm. Có ba chủ đề lớn. |
|
The dangers of meditation, of obsession, the dangers from the Deva evolution, the dangers from the Dark Brotherhood. So, we’ll stop here, and this has taken us approximately, basically from 114 to 121, and now we’ll work from 121 onward, and we’ll see when I can do that. |
Những nguy hiểm của tham thiền, của sự ám nhập; những nguy hiểm từ sự tiến hoá của thiên thần; những nguy hiểm từ Huynh đệ đoàn bóng tối. Vậy chúng ta sẽ dừng ở đây. Phần này về cơ bản đã đưa chúng ta từ trang 114 đến trang 121, và tiếp theo chúng ta sẽ bắt đầu từ trang 121 trở đi; rồi xem khi nào tôi có thể làm điều đó. |
|
Well, what is instilled in us may be a very healthy respect for the area that we are entering. From every side, and from within ourselves, the dangers arise. So, we don’t want to be characterized by that old saying, fools rush in where angels fear to tread. |
Điều được khơi dậy trong chúng ta có lẽ là một sự kính trọng rất lành mạnh đối với lĩnh vực mà chúng ta đang bước vào. Nguy hiểm phát sinh từ mọi phía và từ bên trong chính chúng ta. Vậy chúng ta không muốn rơi vào câu nói xưa: kẻ dại lao vào nơi thiên thần còn ngại đặt chân. |
|
I wonder, do angels experience fear? Maybe. Maybe a certain class of them. It’s a certain, fear is a certain inhibitory vibration, and maybe it’s not just limited to human beings, because it seems to be built into the very substance of the planet itself. |
Tôi tự hỏi, thiên thần có trải nghiệm sợ hãi không? Có lẽ có. Có lẽ một lớp thiên thần nào đó. Sợ hãi là một loại rung động có tính ức chế, và có lẽ không chỉ giới hạn ở con người, vì nó dường như đã gắn vào chính chất liệu của hành tinh. |
|
So, when we undertake meditation, we cannot any longer be ignorant of these matters. We have to know something about what we might encounter, and we have to be very wary. I don’t mean paranoid. |
Vì vậy, khi bắt đầu tham thiền, chúng ta không thể tiếp tục thiếu hiểu biết về những vấn đề này. Chúng ta phải biết đôi chút về những gì mình có thể gặp, và phải hết sức thận trọng. Tôi không có ý nói là hoang tưởng. |
|
I don’t mean always suspicious, but I do mean vigilant, because we can arouse certain conditions in our vehicles. We can ignore certain duties using meditation as an escape, and we can be preyed upon by those forces which are warring militantly against the progress of the aspirant. We can see how, the curriculum for the new esoteric schools is being prepared by the Tibetan. |
Tôi không có ý nói là luôn nghi ngờ, nhưng tôi muốn nói rằng phải cảnh giác, vì chúng ta có thể khơi dậy một số trạng thái trong các hiện thể của mình. Chúng ta có thể sao nhãng một số bổn phận khi dùng tham thiền làm cách trốn tránh, và có thể trở thành con mồi cho những mãnh lực đang quyết liệt chống lại sự tiến bộ của người chí nguyện. Chúng ta có thể thấy Chân sư Tây Tạng đang chuẩn bị chương trình học cho các trường nội môn mới như thế nào. |
|
Those schools, in their true mode, are not going to appear right away. We’re just, we’re simply in a bridging period, bridging towards the real new schools, which will be more active, and even then, beginning in a small way, under the supervision of externalizing masters, at least behind the scenes, and taking place within the consciousness of the Christ. So, we can’t rush the whole proposition, but we can learn something about the microcosm and, by extension, the macrocosm, because the schools and their two divisions will deal with those two areas, microcosm and macrocosm. |
Những trường ấy, trong hình thức đích thực của chúng, sẽ không xuất hiện ngay. Chúng ta chỉ đang ở trong một giai đoạn bắt cầu, hướng đến những trường mới thực sự, vốn sẽ hoạt động tích cực hơn; ngay cả khi đó, chúng cũng khởi đầu ở quy mô nhỏ, dưới sự giám sát của các Chân sư đang ngoại hiện, ít nhất là ở hậu trường, và diễn ra trong tâm thức của Đức Christ. Vậy chúng ta không thể thúc ép toàn bộ việc này, nhưng có thể học đôi chút về tiểu thiên địa và, mở rộng ra, về đại thiên địa, vì các trường cùng hai phân bộ của chúng sẽ đề cập đến hai lĩnh vực ấy, tiểu thiên địa và đại thiên địa. |
|
We’re getting some foundational knowledge that, maybe with what the Tibetan gives out before long, will be really useful in stabilizing our approach to the knowledge which must come to us during the Aquarian age, and the pursuits which then can be activated. So, we’re still in the rehearsal stage, the preparatory stage, and there is much, much, much to assimilate, and that’s what we are attempting to do. I mean, DK has written so much that no one is going to assimilate it all, and we have different rays and work along different ray lines, but we can assimilate far more than presently is assimilated in our consciousness. |
Chúng ta đang có được một số tri thức nền tảng mà có lẽ, cùng với những điều Chân sư Tây Tạng sẽ sớm truyền đạt, sẽ thực sự hữu ích trong việc làm vững vàng cách chúng ta tiếp cận tri thức phải đến với chúng ta trong kỷ nguyên Bảo Bình, cũng như những hoạt động theo đuổi có thể triển khai khi ấy. Vậy chúng ta vẫn đang ở giai đoạn tập dượt, giai đoạn chuẩn bị, và có rất, rất nhiều điều cần đồng hoá; đó chính là điều chúng ta đang cố gắng thực hiện. Chân sư DK đã viết nhiều đến mức không ai có thể đồng hoá tất cả, và chúng ta có những cung khác nhau, hoạt động theo những đường cung khác nhau, nhưng chúng ta có thể đồng hoá nhiều hơn hẳn những gì hiện đã được đồng hoá trong tâm thức mình. |
|
This little book, well, maybe it’s not so little, it really is a foundational book for all of our spiritually esoteric, spiritually occult pursuits. So, let’s work very hard over the next five years as the great conclave approaches on the inner side of life, because there will be many changes that are the result of this conclave, and the more we understand, the more we can help others understand many bewildering things may happen, and be wrongly interpreted if we do not become educated ourselves about the nature of these potential changes, and help others similarly be educated. So, I’ll get into this whole question of obsession, and the dangers from the dark brotherhood, and the dangers from the deva kingdom, and what he wants to say to us at this early phase of the writing about the dark brotherhood. |
Cuốn sách nhỏ này, có lẽ cũng không nhỏ lắm, thực sự là một cuốn sách nền tảng cho mọi hoạt động theo đuổi nội môn và huyền bí mang tính tinh thần của chúng ta. Vậy hãy nỗ lực hết sức trong năm năm tới khi Đại Mật Nghị đang đến gần ở phía bên trong của sự sống, vì mật nghị này sẽ dẫn đến nhiều thay đổi; càng thấu hiểu, chúng ta càng có thể giúp người khác thấu hiểu. Nhiều điều gây hoang mang có thể xảy ra và bị diễn giải sai nếu chúng ta không tự trang bị kiến thức về bản chất của những thay đổi tiềm tàng này, đồng thời giúp người khác cũng có được kiến thức ấy. Vậy tôi sẽ đi vào toàn bộ vấn đề ám nhập này, những nguy hiểm từ Huynh đệ đoàn bóng tối, những nguy hiểm từ giới thiên thần, và những điều Ngài muốn nói với chúng ta về Huynh đệ đoàn bóng tối trong giai đoạn viết ban đầu này. |
|
Sometimes, thought currents are set up, and they do attract attention, and then it’s very important that, as D.K. said, we be marked out for protection, because we really can’t yet handle those kinds of attacks. And since The Reappearance of the Christ work is so crucial to the Divine Plan, especially those who are working assiduously on the reappearance project, and the externalization project, are marked out for protection, because they will be maybe among the first to be attacked. We don’t want to get into a paranoid state of mind where there’s a dark brother hiding behind every tree. |
Đôi khi các dòng tư tưởng được khởi động, và chúng quả thực thu hút sự chú ý; khi ấy, như Chân sư DK đã nói, việc chúng ta được chỉ định để bảo vệ là rất quan trọng, vì chúng ta thực sự chưa thể ứng phó với những kiểu tấn công ấy. Và vì công việc Sự Tái Lâm của Đức Christ vô cùng thiết yếu đối với Thiên Cơ, nên đặc biệt những người đang chuyên tâm thực hiện dự án tái lâm và dự án ngoại hiện được chỉ định để bảo vệ, vì họ có thể nằm trong số những người đầu tiên bị tấn công. Chúng ta không muốn rơi vào trạng thái hoang tưởng, cho rằng sau mỗi cái cây đều có một huynh đệ bóng tối đang ẩn nấp. |
|
You know how it gets, how paranoia can become an obsession in itself, but we do want to be wary, and we do want to be vigilant, because these subtle enemies do exist, and the fact that we cannot customarily see them renders them even more effective. Okay, so I’ll move on to the next subject when the time is indicated, and hopefully before long. |
Các bạn biết chuyện ấy diễn ra thế nào, sự hoang tưởng có thể tự nó trở thành một nỗi ám ảnh ra sao, nhưng chúng ta thực sự muốn thận trọng và cảnh giác, vì những kẻ thù vi tế này quả thực tồn tại, và việc chúng ta thông thường không thể nhìn thấy họ càng khiến họ hiệu quả hơn. Vậy tôi sẽ chuyển sang chủ đề tiếp theo khi đến thời điểm thích hợp, và hy vọng là không lâu nữa. |
|
Meanwhile, Tuija and I and the whole communications team are sending you a lot of love and blessings and encouragement to go as deeply into these matters as you can, and as your time allows. Many decisions have to be made about how you will spend yourself, how you will spend your time, how you spend your substance, not your energy, and not just the money. Spending applies to a lot more than money. |
Trong lúc này, Tuija, tôi và toàn thể nhóm truyền thông gửi đến các bạn nhiều tình thương, phúc lành và sự khích lệ để đi sâu vào những vấn đề này hết mức có thể, trong giới hạn thời gian của các bạn. Các bạn phải đưa ra nhiều quyết định về cách sử dụng bản thân, thời gian và chất liệu của mình, không phải năng lượng, và không chỉ là tiền bạc. Việc sử dụng áp dụng cho nhiều thứ hơn tiền bạc. |
|
It’s all about the direction and flow of energy. So let us hope that we all choose aright in this regard, because the attention of the Dark Brotherhood will be very focused in the next five years. They want to thwart the good effects of the Great Conclave, and they certainly want to delay the externalization and reappearance. |
Tất cả đều liên quan đến hướng đi và dòng chảy của năng lượng. Vậy chúng ta hãy hy vọng rằng tất cả chúng ta đều lựa chọn đúng trong vấn đề này, vì sự chú ý của Huynh đệ đoàn bóng tối sẽ tập trung rất cao trong năm năm tới. Họ muốn cản trở những tác động tốt đẹp của Đại Mật Nghị, và chắc chắn muốn trì hoãn sự ngoại hiện và tái lâm. |
|
Probably in a sense they know they can’t, but they want to frustrate the manifestation of the Divine Plan, and they don’t know about it in every particular, and so they seek to find out, we are told. We don’t want to be part of that kind of disclosure. We want to keep our silence when it comes to inappropriate spreading of that which may reveal itself as a part of the Divine Plan, and at the same time we want to make sure that the plan progresses. |
Có lẽ theo một nghĩa nào đó, họ biết mình không thể làm được, nhưng họ muốn làm thất bại sự biểu hiện của Thiên Cơ; họ không biết mọi chi tiết của Thiên Cơ, nên tìm cách dò biết, như chúng ta được cho biết. Chúng ta không muốn góp phần vào kiểu tiết lộ ấy. Chúng ta muốn giữ im lặng, tránh phổ biến không thích hợp những điều có thể hiển lộ như một phần của Thiên Cơ, đồng thời muốn bảo đảm rằng Thiên Cơ vẫn tiến triển. |
|
onward then, and as soon as I can I’ll take up this, and now we’re really getting into the occult as it were, these hidden enemies. Even your horoscope will show hidden enemies in the Twelfth House, or hidden protection in the Twelfth House. |
Vậy hãy tiếp tục tiến bước, và ngay khi có thể, tôi sẽ tiếp tục chủ đề này; giờ đây chúng ta thực sự đang bước vào lĩnh vực huyền bí, có thể nói như vậy, với những kẻ thù ẩn giấu này. Ngay cả lá số chiêm tinh của các bạn cũng sẽ cho thấy những kẻ thù ẩn giấu ở nhà 12, hoặc sự bảo vệ ẩn giấu ở nhà 12. |
|
It all depends. Mars in the Twelfth House for an occultist can be the militant warring of the hidden enemy against your process. Jupiter can bring protection, and Saturn brings caution. |
Tất cả còn tuỳ. Với một nhà huyền bí học, Sao Hỏa ở nhà 12 có thể biểu thị sự giao chiến quyết liệt của kẻ thù ẩn giấu chống lại tiến trình của bạn. Sao Mộc có thể mang lại sự bảo vệ, còn Sao Thổ mang lại sự thận trọng. |
|
Well, there’s a lot to be said, so, and a lot to be thought about. We’ll see you soon then. Bye-bye. |
Có rất nhiều điều để nói, và rất nhiều điều để suy ngẫm. Hẹn sớm gặp lại các bạn. Tạm biệt. |