Bình Giảng Thư Về Tham Thiền Huyền Môn – 42

📘 Sách: Bình Giảng Thư Về Tham Thiền Huyền Môn – Tác giả: Michael D. Robbins

Commentary LOM 42

Tóm Tắt

Từ tham thiền cá nhân đến sử dụng hình thức tập thể

Phần cuối của bức thư thứ sáu trong Thư Về Tham thiền Huyền môn chuyển từ tham thiền cá nhân sang việc sử dụng hình thức tập thể, xét theo âm thanh, nhịp điệu và những dịp áp dụng đặc biệt. Cách phát âm, nhịp đọc và âm điệu đều quan trọng; chỉ nghe hoặc đọc một lần không đủ để nắm được tài liệu. Theo cách diễn giải riêng của Thầy MDR, sự kết hợp cung hai và cung ba trong lối trình bày của Chân sư DK, tương tự ở Đức Phật, đem lại nhiều góc tiếp cận nhưng cũng đòi hỏi nghiên cứu kỹ thay vì đọc lướt.

Từ khái niệm đến tri thức được kiểm chứng

Giáo lý được trích phân biệt giữa “tôi nghe”, “tôi tin” và lời khẳng định “tôi biết”: lý thuyết chỉ thực sự hữu ích khi được kiểm chứng trong kinh nghiệm bên trong và biểu hiện qua thực hành ở cõi hồng trần. Người biết còn ít, nhưng khả năng biết tùy thuộc vào sự chuyên cần, chân thành và năng lực đứng vững trước đau khổ. Khoảng cách giữa biết và làm còn liên quan đến động lực của thể cảm dục và quán tính của thể xác; ngay cả bài tập đồng hoá với bản thể cũng chỉ có lợi ích bền vững khi thực hiện được trong đời sống. Liên hệ với giai đoạn đen tối sau Thế chiến thứ nhất, Thầy MDR đối chiếu dấu hiệu Song Ngư, nơi niềm tin và sự vâng phục nổi bật, với dấu hiệu Bảo Bình, nơi sự vâng theo thúc đẩy bên trong của linh hồn sẽ ngày càng dựa trên tri thức.

Hiệu quả và giới hạn của thực hành tập thể

Nghi lễ và sự thờ phụng chung hiện diện trong nhiều tôn giáo, tạo ra những kết quả từ bình an đến trạng thái kích động mãnh liệt; khác biệt tùy vào khả năng tiếp nhận, giữ và chuyên chở mãnh lực, cũng như mức kiểm soát cảm xúc và trí tuệ của người tham dự. Khi nhắc đến cách mô tả khắc nghiệt về một số cộng đồng trong văn bản nguồn, Thầy MDR lưu ý rằng ngôn ngữ ấy không phù hợp ngày nay; điểm cần xét là sự khác nhau giữa lối thờ phụng tĩnh lặng và cuồng nhiệt, không phải phủ nhận chiều sâu văn hóa của họ. Tham thiền tập thể ngày càng phổ biến và có hiệu quả lớn, song cũng có thể nguy hiểm; những biểu hiện xuất thần bắt chước kinh nghiệm của các môn đồ Đức Christ không nhất thiết mang cùng nguồn cảm hứng tinh thần.

Phễu giao tiếp và khoa học rung động

Theo giáo lý được trích, âm thanh và nhịp điệu được sử dụng đúng trong hình thức tập thể sẽ mở một “phễu” giao tiếp từ người tham dự đến các Trí Tuệ hoặc Quyền Năng mà họ tìm cách tiếp cận. Phễu có thể xuyên từ cõi hồng trần qua cõi cảm dục đến các cấp độ trí tuệ, cho phép ánh sáng hoặc quyền năng tuôn xuống theo nguyên lý Khẩn Cầu và Gợi Lên. Một cách lý giải được đề xuất là phễu hình thành nhờ chênh lệch tần số rung động, giống một kênh có độ mở điều tiết lưu lượng; vì thế mở rộng kênh quá mức có thể gây suy yếu cho người quá nhạy cảm. Antahkarana cũng được liên hệ với tiến trình nâng dần điểm tập trung nhất tâm, chứ không chỉ là một đường nối được hình dung.

Sự tạo khoảng trống và nguy cơ lạm dụng

Văn bản nguồn mô tả việc xướng đúng một số âm thanh như cách tạo khoảng trống giữa cấp độ cao và thấp; theo định luật, một biểu hiện của năng lượng fohat sẽ tuôn qua đó đến mục tiêu. Thầy MDR gợi ý hiểu khoảng trống ấy như sự chênh lệch rung động, đồng thời nhận xét cơ chế chính xác vẫn chưa rõ và việc truyền dạy âm thanh có thể cần trực tiếp hoặc qua viễn cảm. Cùng tri thức khẩn cầu và sử dụng hình thức có thể bị huynh đệ bóng tối dùng để tiếp cận các trí tuệ đen tối, hoặc được dùng để tiếp nhận những mãnh lực ánh sáng phục vụ tiến hoá. Vì vậy, thái độ thích hợp là khiêm nhường, kiên nhẫn và tránh thử nghiệm với năng lượng chưa đủ khả năng xử lý.

Bốn tác dụng của âm thanh và vai trò các trung tâm

Linh từ thiêng liêng có ba tác dụng được nêu trong giáo lý: phá hủy chất liệu không thích hợp, kiến tạo bằng cách thu hút chất liệu tốt hơn, và kích thích các trung tâm trong cơ thể. Khi nhiều người cùng xướng, ba tác dụng ấy vẫn hiện diện; tác dụng thứ tư, tạo phễu giao tiếp, là sự tổng hợp của chúng qua việc điều chỉnh chất liệu ở ba cõi thấp. Việc phóng chiếu âm thanh trong chất liệu trí tuệ qua một trung tâm chính được xem là bí quyết của cách sử dụng âm thanh mạnh mẽ nhất. Ví dụ về những đám đông Estonia cùng ca hát chống sự chiếm đóng được Thầy MDR nêu như một liên tưởng thực tế về sức mạnh tập thể của âm thanh, không phải bằng chứng xác lập cho cơ chế huyền bí được mô tả.

Điều kiện để một nhóm sử dụng quyền năng

Một nhóm có thể tạo hiệu quả rất lớn nếu các thành viên cùng làm việc trên cấp độ trí tuệ và đồng thời sử dụng trung tâm đầu, hoặc một trung tâm chính khác phối hợp với trung tâm tương ứng trong đầu. Quy luật XI trong Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo được liên hệ với hình ảnh nhóm chuyển lửa trong Hoa Sen Chân Ngã sang Tam Nguyên Tinh Thần bằng Linh từ và Ý Chí tập thể. Giáo lý nhấn mạnh quyền năng này chỉ nên trở lại khi có động cơ thuần khiết và sự tận tâm vô tư đối với lợi ích chung; hiện vẫn rất khó tập hợp đủ người cùng điểm tiến hoá, trung tâm sử dụng, rung động Cung và âm điệu. Theo suy luận của Thầy MDR, chính sự khó khăn ấy đang bảo vệ nhân loại, trong khi các nhóm tham thiền về sau có thể chuyển từ tìm kiếm soi sáng cho mình sang hợp tác phụng sự có mục đích; phụng sự cũng có thể tạo một phễu cho sự phát triển tinh thần.

Jericho và mặt phá hủy của âm thanh

Câu chuyện những bức tường Jericho sụp đổ sau khi đoàn người đi vòng theo nhịp và thổi kèn được văn bản nguồn dùng để minh họa tri thức về tác dụng phá hủy và kiến tạo của âm thanh. Thầy MDR xem khả năng xảy ra một sự kiện thực tế là điều có thể, nhưng phân biệt điều ấy với câu hỏi liệu cuộc chinh phục có chính đáng hay không. Ông nêu khả năng câu chuyện còn tượng trưng cho việc phá bỏ các ranh giới cản đường, đồng thời đặt vấn đề về sự tự biện minh cho bạo lực, nghiệp quả của cuộc chinh phục và những tương đồng được nhận thấy trong xung đột tại cùng khu vực về sau.

Cùng xướng Linh từ thiêng liêng

Việc cùng xướng Linh từ thiêng liêng được giới thiệu là một phương pháp trực tiếp để tạo phễu truyền mãnh lực, rất hiệu quả nhưng cũng tiềm ẩn nguy hiểm. Theo văn bản nguồn, sự thất truyền cách sử dụng đúng đã làm giảm hiệu quả của các tín ngưỡng ngoại môn; khi cộng đồng có thể xướng đúng âm điệu và nhịp, mãnh lực tuôn xuống sẽ tiếp sinh lực không chỉ cho con người mà còn cho môi trường và các giới trong bản chất. Thầy MDR đặt câu hỏi liệu OM có chính là Linh từ đã mất hay chỉ là âm thanh thay thế, chứ không khẳng định một đáp án. Tác động rộng hơn ấy gắn với vị trí của giới nhân loại như một cầu nối giữa các giới cao và ba giới thấp, trong sự phối hợp với giới thiên thần.

Linh từ được xướng trong nhóm

Trong ví dụ do Chân sư DK nêu, một nhóm muốn tiếp xúc với dòng mãnh lực khơi dậy khát vọng và tình thương sẽ đứng yên lặng, rồi theo hiệu lệnh của người hướng dẫn, mỗi người tập trung tâm thức tại trung tâm tim và cùng xướng Linh từ. Người hướng dẫn có thông nhãn quan sát hào quang để xác định âm điệu và giọng phù hợp với đa số; âm thanh đúng sẽ tạo một đường dẫn, tạm thời mở rộng phạm vi thể cảm dục và tiếp sinh lực mạnh cho các trung tâm tim. Mối liên hệ với cõi Bồ đề, tùng thái dương và các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã là những khả năng được gợi ra, không phải các chi tiết Chân sư DK xác nhận trong ví dụ này.

Độ chính xác của âm thanh và vai trò của tưởng tượng

Âm điệu khởi đầu không đủ để xác định giọng: cùng bắt đầu từ một nốt, giọng trưởng và giọng thứ dùng những chuỗi âm khác nhau và có thể gợi những trạng thái vui tươi hoặc hoài niệm khác nhau. Tần số, cách xướng và nhịp điệu cũng cần chính xác; việc dàn nhạc hiện nay thường chỉnh nốt La ở 440 Hz, so với mức khoảng 416 Hz được nhắc đến cho thời Bach, cho thấy câu hỏi về cao độ chưa đơn giản. Chân sư DK khuyến khích đạo sinh tham thiền dùng sự tưởng tượng để hình dung thêm các ứng dụng, qua đó phát triển mối liên hệ giữa tưởng tượng và trực giác, đồng thời nhận ra nhóm có thể đạt tới những điều từng cá nhân không thể đạt riêng lẻ.

Ứng dụng của mantram tập thể và giới hạn truyền dạy

Các mục đích được Chân sư DK liệt kê gồm thanh lọc một thành phố, tạo từ tính cho khu đất dùng làm trung tâm chữa lành, làm sáng tỏ trí tuệ để đón nhận sự soi sáng, chữa lành người tụ họp, tác động đến các mãnh lực tự nhiên và đưa người tham dự vào các Bí nhiệm Nhỏ. Cách hiểu được đề xuất cho Bí nhiệm Nhỏ là các lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai; tác động lên tự nhiên được liên tưởng đến việc tạo mưa, nhưng đó chỉ là ví dụ suy đoán. Những tri thức cần thiết chưa được trao rộng rãi vì nguy cơ lạm dụng: nguồn giảng giải liên hệ việc dùng sai quyền năng trong quá khứ với trận đại hồng thủy thời Atlantis, đồng thời phân biệt trận ấy với các trận lụt khác được nhắc đến ở những niên đại về sau.

Nền văn minh tương lai và giới thiên thần

Việc xướng mantram đúng cách được đặt trong viễn cảnh khôi phục Chánh Thuật và xây dựng một nền văn minh có khả năng tiếp nhận mãnh lực tinh thần sâu rộng hơn. Các hình thức chữa lành bằng màu sắc và âm thanh, những trường học tương lai, cùng các nghi lễ điểm đạo dưới sự chủ trì của Đức Christ được nêu như những khả năng đang dần thành hình; nhận định rằng nhiều ứng dụng còn cách nhân loại hàng trăm năm là một ước lượng của phần bình giảng. Một loại mantram tập thể khác dùng để giao tiếp với giới thiên thần được gắn với bộ phận của Đức Mahachohan, song cách vận dụng cụ thể chưa được tiết lộ. Câu hỏi liệu OM là Linh từ đầy đủ hay một hình thức thay thế vẫn được để ngỏ, dù hiệu quả của việc xướng OM được thừa nhận.

Nhịp điệu và ba tác động lên nhóm

Theo định nghĩa được trích, nhịp điệu là chuyển động có tiết nhịp đưa những người tham dự vào sự chỉnh hợp với các mãnh lực nhất định của bản chất. Nó có ba tác động chính: đưa một hay nhiều hiện thể vào phạm vi ảnh hưởng của một dòng mãnh lực; điều chỉnh chất liệu của một hoặc toàn bộ các thể; và, trong những cách sắp xếp hình học thích hợp, hòa các hào quang riêng thành một hào quang nhóm để mãnh lực tuôn chảy theo hướng xác định. Hình ngôi sao năm cánh, sáu cánh hoặc một tam giác có thêm tam giác ở mỗi đỉnh chỉ được nêu như những khả năng hình dung cho cách bố trí ấy, không phải những sơ đồ được xác nhận. Âm từ, cao độ, giọng và nhịp phải phối hợp chính xác; việc thiếu tri thức đầy đủ là một lý do khiến các phương pháp quyền năng này chưa được truyền dạy phổ biến.

Chuyển động nhịp nhàng và sự chỉnh hợp các thể

Sự đung đưa hay di chuyển thân thể theo nhịp có thể hướng mãnh lực đến một trung tâm, tái sắp xếp chất liệu thể cảm dục và thể trí, hoặc ảnh hưởng đến sự chỉnh hợp của các thể với thể nguyên nhân. Nghi lễ cổ, điệu múa của David và những người xoay tròn trong truyền thống Sufi được dùng để gợi khả năng tồn tại một cơ sở huyền bí phía sau chuyển động có nhịp; liên hệ ấy, đặc biệt với điệu múa Sufi, là một cách diễn giải. Chân sư DK cảnh báo rằng chuyển động sai có thể kích thích chất liệu cảm dục thấp và cơ quan sinh dục, trong khi cách dùng đúng, kết hợp khát vọng mãnh liệt, có thể chỉnh hợp phàm ngã tam phân với thể nguyên nhân, làm sinh động ba trung tâm chính và đem lại sự soi sáng. Phần bình giảng lưu ý “điệu múa hiện đại” trong lời cảnh báo có thể chỉ các điệu múa phổ thông gợi bản năng thấp, chứ không nhất thiết phủ nhận mọi thành tựu của nghệ thuật múa hiện đại.

Lễ Wesak và đường dẫn của âm thanh

Lễ Wesak được Chân sư DK đưa ra làm ví dụ về hiệu quả có thể lan rộng khắp thế giới khi hào quang của nhiều người hợp thành một đường dẫn. Đức Phật là tiêu điểm tiếp nhận quyền năng và phúc lành từ những cấp độ cao, rồi truyền qua hào quang của Ngài đến nhân loại bằng đường dẫn do các Đấng Cao Cả, Chân sư, điểm đạo đồ và đệ tử trong Thánh Đoàn tạo thành. Mantram được tụng cùng những chuyển động chậm, đều đặn tạo nên đường dẫn hướng lên; các hình hình học hình thành trên cõi cao hơn cõi hồng trần cũng mở những lối tiếp cận cho thiên thần và các thực thể khác. Chi tiết về tốc độ chuyển động khiến phần bình giảng tự điều chỉnh hình dung trước đó: một bài hát từng sáng tác về lễ này có nhịp quá nhanh so với mô tả được trích.

Nghiên cứu khoa học về nghệ thuật nghi lễ

Trong tương lai, sự kết hợp âm nhạc, tụng xướng và chuyển động nhịp nhàng sẽ được nghiên cứu theo những kết quả cụ thể, thay vì chỉ được vận dụng theo cảm hứng. Các nhóm sẽ quan sát bằng thông nhãn tác động kiến tạo và thanh lọc lên ba thể, ghi nhận chất liệu bị loại bỏ, phẩm tính của mãnh lực tiếp xúc, cùng sự đáp ứng và chuyển động xoay của các trung tâm. Cách nhìn này gợi một nghệ thuật khẩn cầu có cơ sở khoa học: hình thức phối hợp âm thanh và chuyển động đã từng xuất hiện trong sân khấu hoặc nghi lễ, nhưng chưa đồng nghĩa với việc người thực hiện nắm được phương pháp huyền bí mà Chân sư DK mô tả.

Các nhóm dẫn truyền mãnh lực

Chân sư DK dự báo những nhóm sẽ tiếp xúc với một số loại mãnh lực thượng đế, dẫn mãnh lực ấy qua nhóm như một chiếc phễu rồi phân phối vào thế gian vì mục đích kiến tạo, chứ không chủ yếu vì lợi ích của nhóm. “Mãnh lực thượng đế” ở đây có thể chỉ mãnh lực của Hành Tinh Thượng Đế, có lẽ qua Sanat Kumara; khả năng liên hệ đến Thái dương Thượng đế được nêu ra như một suy đoán dành cho những nhóm ở cấp độ rất cao.

Nirmanakaya và sự chỉnh hợp nhóm

Công việc của các Nirmanakaya, những Đấng Phân Phối Mãnh Lực được mô tả là các điểm đạo đồ bậc sáu, hiện tập trung chủ yếu ở cõi trí và phần nào ở cõi cảm dục. Khi bí quyết chỉnh hợp với thể nguyên nhân được thấu hiểu hơn và những người đang lâm phàm có thể hợp tác thực sự, các Ngài sẽ dùng nhóm làm tiêu điểm để tác động trực tiếp đến cõi hồng trần; hiện nay sự nổi trội của phàm ngã khiến điều đó chưa thể xảy ra. Vận động nhịp nhàng, âm nhạc và âm thanh được xem là những phương tiện để tạo kênh dẫn thích hợp, dù các thử nghiệm ban đầu còn khiêm tốn và cần được chỉ dẫn, điều chỉnh.

Nhóm chữa lành và các quy luật âm thanh

Trong mô hình chữa lành được trích dẫn, những người hoạt động đứng thành vòng tròn quanh người bệnh, dùng mantram định sẵn và các động tác nhất định để tập trung dòng mãnh lực tuôn xuống vào người ấy. Mãnh lực có thể kích thích, tái tạo, hoặc phá hủy và loại bỏ điều cần loại bỏ, khiến những việc nay gọi là phép lạ trở nên thường ngày. Điều kiện cho sự phát triển ấy gồm khả năng hợp nhất cao hơn, nhiều người bước trên Con Đường Dự Bị, tỉ lệ điểm đạo đồ tăng lên và nhân loại chỉnh hợp trực tiếp hơn với thể nguyên nhân.

Triển vọng và nguy cơ của năng lực mới

Sự vận dụng khoa học các quy luật âm thanh và nhịp điệu được đặt trong viễn cảnh chữa lành tương lai; âm thanh và màu sắc được nhận định là những phương pháp có thể xuất hiện sớm, ít xâm lấn và thô bạo hơn. Một cách liên hệ được đề xuất là chu kỳ cung bảy sẽ thúc đẩy nhịp điệu, còn ảnh hưởng cung bốn hỗ trợ âm thanh và màu sắc. Chân sư DK đồng thời cảnh báo việc lạm dụng các năng lực này có thể dẫn đến một trong những cuộc đối đầu cuối cùng giữa các Chúa Tể Ánh Sáng và các Chúa Tể Bóng Tối, gây đại biến và tai họa; việc gắn cuộc đối đầu ấy với Ngày Phán Xét ở cuộc tuần hoàn thứ năm, hoặc với một biến cố xảy ra sớm hơn, vẫn chỉ là suy đoán.

Hình tướng biến đổi và sự trở về

Các thảm họa được đặt cạnh quá trình hủy diệt và tái tạo liên tục của hình tướng, trong khi bản thể cốt yếu được nhìn nhận là bất biến. Những hình thức mantram, vận động, nhịp điệu và âm nhạc, kể cả thang âm và điệu thức, về sau có thể được kết hợp để hỗ trợ con người đi ngược con đường đi sâu vào vật chất và tiến đến những điểm tập trung nhất tâm cao hơn. Các hình thức ấy chưa được biết đầy đủ, nên việc tiếp nhận và sử dụng chúng đòi hỏi sự thận trọng.

Lễ Wesak và thời điểm chỉnh hợp lớn hơn

Lễ Wesak được gọi là sự kiện lớn của hành tinh liên hệ trực tiếp với nhân loại. Hình thức hiện nay của lễ này có thể dần mất đi, nhưng dòng năng lượng gắn với Đức Phật và Đức Christ vẫn tiếp tục; nhận định về các vị đại diện của hai Đấng tại từng quốc gia được nêu như một khả năng diễn giải. Văn bản còn nói đến một thời điểm lớn hơn, khi Thánh Đoàn và các Chúa Tể Thiên Thần của các cõi cùng dùng mantram để tạo kênh dẫn giữa Trái Đất và Thái dương Thượng đế, nhưng chưa công bố ngày theo cách ngoại môn. Việc liên hệ thời điểm ấy với lễ tháng Tám, dấu hiệu Sư Tử và Sirius chỉ là giả thuyết, không phải sự xác định.

Nghi lễ trong ba ban của Thánh Đoàn

Ba đường hoạt động của Đức Manu, Đức Chưởng Giáo và Mahachohan đều có nhóm, Linh từ, mantram và quy luật nhịp điệu riêng. Theo viễn cảnh được trích, những người làm việc dưới Đức Manu trong chính trị, lập pháp và xét xử sẽ bắt đầu công việc bằng nghi lễ nhịp nhàng, chỉnh hợp các thể rồi đặt một hoặc hai người làm tiêu điểm để tìm hiểu ý định của Ngài đối với vấn đề đang bàn. Cách diễn giải bổ sung phân biệt sự sắp đặt mang tính kiến tạo với sự thao túng tiêu cực, đồng thời liên hệ năng lực tổ chức của cung bảy với cung một.

Tiêu điểm trong tôn giáo và giáo dục

Trong ban của Đức Chưởng Giáo, người chủ lễ sẽ là tiêu điểm truyền đạt sau khi cộng đồng cùng thực hiện nghi lễ và nhịp điệu. Vai trò ấy không còn thuộc độc quyền của một giới tu sĩ tách biệt: bất cứ ai được chọn và có khả năng chỉnh hợp với điều cao hơn, hợp tác với cộng đồng đều có thể đảm nhiệm. Trong ban của Mahachohan, trường học và đại học sẽ mở đầu buổi học bằng nghi lễ chỉnh hợp, với huấn sư làm tiêu điểm; cách làm này được dự báo sẽ kích thích thể trí, củng cố kênh giữa Thượng trí và Hạ trí, hỗ trợ xây dựng antahkarana và phát triển trực giác.

Học giáo lý và tiếp xúc với các Chân sư

Những mô tả về tương lai chỉ phác ra đại cương, nên người học có thể mở rộng tầm nhìn dù ban đầu còn hiểu chưa chính xác và khó tiếp thu. Việc tìm cách tiếp xúc với Chân sư cần nền tảng học hỏi, tham thiền và phụng sự, thay vì nóng vội tìm kinh nghiệm trực tiếp; một cách tiếp xúc thích hợp được đề xuất là hết lòng phụng sự phù hợp với Thiên Cơ để sự trợ giúp xuất hiện khi cần. Tri thức được trao truyền chỉ trở thành minh triết của chính mình qua áp dụng, trải nghiệm và tự kiểm chứng, kể cả những trải nghiệm khó khăn.

Tự do của nhân loại và sức bền tinh thần

Nhân loại tự quyết định hướng hành động của mình; Thánh Đoàn không thể cưỡng ép lựa chọn mà không vi phạm quy luật, dù việc chứng kiến những quyết định sai lầm có thể đem lại đau khổ tinh thần. Tấm gương lao động và từ bỏ của Alice Bailey được dùng để làm rõ sức ép của công việc phụng sự, song cấp độ điểm đạo được gán cho bà chỉ là ước định riêng. Người chí nguyện còn dễ dao động, trong khi đệ tử dần vững vàng hơn; sức bền trước trở ngại được xem là một phần của con đường để linh hồn, rồi Tam Nguyên Tinh Thần và Chân Thần ngày càng giữ vai trò chủ đạo.

Sự cứu rỗi như nhận ra bản thể

Theo suy tư riêng của Thầy MDR, được cứu rỗi không chủ yếu là đến một nơi gọi là thiên đường, mà là trở về với bản sắc bản thể vốn bị che phủ và nhận ra sự hợp nhất với mọi sự sống. Sự bền bỉ, kể cả việc bắt đầu lại sau thất bại, dẫn tới tính liên tục của tâm thức và của sự đồng hoá với bản thể. Cách hiểu này được nêu như một chiêm nghiệm cá nhân, không phải một kết luận được xác lập từ đoạn giáo lý trích dẫn.

Text LOM 42 – Văn bản LOM 42

AUGUST 21, 1920.

NGÀY 21 THÁNG 8 NĂM 1920.

We come now to the last division of our sixth letter.

Giờ đây chúng ta đến phần cuối của bức thư thứ sáu.

[1] 4 – The use of Form collectively.

[1] 4 – Việc sử dụng Hình Tướng trong tập thể.

[2] I propose to take this up under three heads which for purposes of clarity we will call:—

[2] Tôi dự định bàn về điều này dưới ba đề mục mà để làm rõ, chúng ta sẽ gọi là:—

[3] l—The use of sound collectively in a meditation form.

[3] 1—Việc sử dụng âm thanh trong tập thể theo một hình thức tham thiền.

[4] 2—The use of rhythm collectively in meditation.

[4] 2—Việc sử dụng nhịp điệu trong tập thể khi tham thiền.

[5] 3—Special occasions on which these forms are used.

[5] 3—Những dịp đặc biệt sử dụng các hình thức này.

[5b] (You can, Brother of Mine, word these first two heads more euphoniously, you have got my thought but the wording is heavy and faulty)

[5b] (Huynh đệ của Tôi, bạn có thể diễn đạt hai đề mục đầu này sao cho thuận tai hơn; bạn đã nắm được ý Tôi, nhưng cách diễn đạt còn nặng nề và chưa chuẩn.)

…… [6] We have rather exhaustively [7] considered in this series of letters individual meditation and have taken up the subject from many and varied angles. [8] In all our handling of the matter only enough has been communicated to arouse the interest of the student and to incite him to greater effort, closer study, and deeper investigation. [9] Only that which is understood and grasped as a fact in experience by the inner consciousness avails aught in the hard path of occult development. Theories and mental concepts avail not. They but increase responsibility. Only when these theories are put to the test, and are consequently known to be facts in nature, and only when mental concepts are brought down and demonstrated on the physical plane in practical experience, can the student be in a position to point the way to other searchers, and to hold out a helping hand to those following behind. [10] To say: “I hear” may prove helpful and encouraging; to add to that the words “I believe” may carry added assurance, but to sound forth a trumpet note and say “I know” is the thing needed in this one of the darkest hours of the Kali Yuga. [11] The knowers are as yet few. Yet to know is fully possible and is subject only to the diligence, the sincerity, and the capacity of the pupil on the path to stand firm in suffering. [Page 191]

…… [6] Trong loạt thư này, chúng ta đã xem xét khá tường tận [7] việc tham thiền cá nhân và đã bàn về đề tài ấy từ nhiều góc độ khác nhau. [8] Trong toàn bộ phần bàn luận, chúng ta chỉ truyền đạt vừa đủ để khơi dậy sự quan tâm của đạo sinh và thúc đẩy y nỗ lực hơn, nghiên cứu kỹ hơn và tìm hiểu sâu hơn. [9] Chỉ những gì tâm thức bên trong thấu hiểu và nắm bắt như một sự thật qua trải nghiệm mới có ích trên con đường phát triển huyền bí đầy gian khó. Các lý thuyết và khái niệm trí tuệ không có ích. Chúng chỉ làm tăng trách nhiệm. Chỉ khi các lý thuyết ấy trải qua thử nghiệm và do đó được biết là những sự thật trong tự nhiên, và chỉ khi các khái niệm trí tuệ được đưa xuống và chứng minh trên cõi hồng trần bằng trải nghiệm thực tế, đạo sinh mới có thể chỉ đường cho những người tìm kiếm khác và đưa tay giúp đỡ những người theo sau. [10] Nói: “Tôi nghe” có thể hữu ích và mang lại sự khích lệ; thêm vào đó những lời “Tôi tin” có thể đem lại sự vững tin hơn, nhưng cất lên một tiếng kèn vang và nói “Tôi biết” mới là điều cần thiết trong giờ phút này, một trong những giờ phút tăm tối nhất của thời đại đen tối. [11] Những thức giả hiện vẫn còn ít. Tuy nhiên, việc biết là hoàn toàn có thể và chỉ tùy thuộc vào sự chuyên cần, lòng chân thành và khả năng đứng vững trong đau khổ của môn sinh trên Đường Đạo. [Page 191]

[12] Now having some dim idea [13] of the results to be achieved, and the methods to be employed in individual meditation, and having enlarged a little on the use of forms by individuals, we can now take up the consideration of the matter from the collective standpoints.

[12] Giờ đây, khi đã có một ý tưởng mơ hồ [13] về những kết quả cần đạt được và những phương pháp cần sử dụng trong tham thiền cá nhân, đồng thời đã bàn rộng thêm đôi chút về việc cá nhân sử dụng các hình thức, chúng ta có thể xem xét vấn đề từ những góc nhìn tập thể.

[14] Some of the most important things to note about the collective use of forms are that it has a universal vogue, is very effective, and can also be very dangerous. [15] The collective worshipping of the Deity and the performance of religious rites in unison is so much a part of the public life of all peoples that its raison d’etre, and the results achieved, are apt to be overlooked. [16] Every religion—Christian, Buddhist, Hindu, Mohammedan, down to the distorted fetish worship of the most degraded race— [17] has emphasized the value and efficiency of a united attempt to contact the Divine. [18] Results are inevitably achieved, ranging all the way from the calm and peaceful feeling that rests upon the participant in the Christian mysteries, to the frenzy and gyrations of the wildest dervish or the most benighted Zulu. [19] The difference lies in the ability of the worshipper to assimilate force, and in his capacity to hold and carry it. These points are decided by his place on the ladder of evolution, and by the emotional and mental control of which he may be possessed.

[14] Một số điều quan trọng nhất cần lưu ý về việc sử dụng các hình thức trong tập thể là việc ấy phổ biến khắp nơi, rất hiệu quả và cũng có thể rất nguy hiểm. [15] Việc cùng nhau thờ phụng Thượng đế và đồng loạt cử hành các nghi lễ tôn giáo đã trở thành một phần quá quen thuộc trong đời sống cộng đồng của mọi dân tộc, đến mức người ta dễ bỏ qua lý do tồn tại và những kết quả đạt được của việc ấy. [16] Mọi tôn giáo—Kitô giáo, Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, cho đến việc thờ vật linh méo mó của bộ phận nhân loại suy đồi nhất— [17] đều nhấn mạnh giá trị và hiệu quả của một nỗ lực hợp nhất nhằm tiếp xúc với điều Thiêng Liêng. [18] Những kết quả tất yếu xuất hiện, trải dài từ cảm giác bình tâm và an hòa bao phủ người tham dự các nghi lễ huyền nhiệm Kitô giáo cho đến sự cuồng loạn và những vòng xoay của tu sĩ khổ hạnh cuồng nhiệt nhất hay người Zulu mê muội nhất. [19] Sự khác biệt nằm ở khả năng hấp thu mãnh lực của người thờ phụng và khả năng giữ cũng như mang mãnh lực ấy. Những điều này tùy thuộc vào vị trí của y trên thang tiến hóa và mức độ làm chủ cảm xúc cùng trí tuệ mà y có thể có.

[20] The first postulate to remember in considering the collective use of form in meditation is that those forms, in employing sound and rhythm, should open up a funnel of communication between those taking part in them and the Intelligences or Powers they are seeking to approach. [21] By the means of this funnel which penetrates from the physical to the emotional, or still higher to one or other of the mental levels, the Intelligences or Powers are enabled to pour forth illuminating light or power of some kind or other into those who thus approach Them. [22] The funnel [Page 192] forms a channel whereby the contact can be made. The whole process is purely scientific and is based on vibration, and on a knowledge of dynamics. [23] It is dependent upon the accurate formation, through occult knowledge, of a vacuum. The occult statement that “Nature abhors a vacuum” [24] is entirely true. When through the correct intoning of certain sounds, this vacuum or empty funnel [25] between the higher and the lower is formed, force or power of some manifestation of fohatic energy pours into the funnel under the inevitable working of the law, and, via that funnel, reaches its objective.

[20] Tiền đề đầu tiên cần nhớ khi xem xét việc sử dụng hình thức trong tham thiền tập thể là: thông qua âm thanh và nhịp điệu, các hình thức ấy phải mở ra một phễu giao tiếp giữa những người tham dự và các Đấng Trí Tuệ hay Quyền Năng mà họ đang tìm cách tiếp cận. [21] Nhờ phễu này, xuyên từ cõi hồng trần đến cõi cảm xúc, hoặc còn cao hơn đến một cấp độ trí tuệ nào đó, các Đấng Trí Tuệ hay Quyền Năng có thể tuôn ánh sáng soi sáng hoặc một loại quyền năng nào đó vào những người tiếp cận Các Ngài theo cách ấy. [22] Phễu này [Page 192] tạo thành một kênh để thiết lập sự tiếp xúc. Toàn bộ tiến trình hoàn toàn mang tính khoa học, dựa trên rung động và sự hiểu biết về động lực học. [23] Tiến trình này tùy thuộc vào việc tạo chính xác một khoảng chân không thông qua tri thức huyền bí. Phát biểu huyền bí rằng “Tự nhiên không dung chứa khoảng chân không” [24] là hoàn toàn đúng. Khi việc xướng đúng một số âm thanh tạo nên khoảng chân không hay phễu rỗng này [25] giữa cái cao và cái thấp, mãnh lực hay quyền năng của một biểu hiện nào đó của năng lượng lửa vũ trụ sẽ tuôn vào phễu theo sự vận hành tất yếu của định luật, rồi qua phễu ấy đạt đến mục tiêu.

[26] It is on the misuse of this knowledge that much of what we call black art or evil magic is based. By means of invocation and forms [27] the Dark Brothers (or those who tamper with what you ignorantly term the powers of evil) [28] tap forces connected with dark intelligences in high places. [29] Thus they set in motion happenings on the physical plane that have their origination in the dark mysterious caves of cosmic evil as found within our solar system. [30] Equally so, it is possible to tap the still greater forces of light and good and to make application of them on the side of evolution.

[26] Phần lớn những gì chúng ta gọi là thuật đen hay huyền thuật tà ác đều dựa trên việc lạm dụng tri thức này. Bằng sự khẩn cầu và các hình thức [27] các huynh đệ bóng tối (hay những kẻ thao túng thứ mà do thiếu hiểu biết, các bạn gọi là những quyền năng tà ác) [28] khai thác những mãnh lực liên kết với các trí tuệ hắc ám ở những cõi cao. [29] Như vậy, họ khởi động những biến cố trên cõi hồng trần có nguồn gốc từ những hang động tối tăm, bí hiểm của cái ác vũ trụ tồn tại trong hệ mặt trời của chúng ta. [30] Tương tự, người ta có thể khai thác những mãnh lực còn lớn hơn của ánh sáng và điều thiện, rồi vận dụng chúng để hỗ trợ tiến hóa.

[30b] (Sit up, Brother of Mine, for in the reception of my dictated word it is essential that there should be direct alignment betwixt the major head centre which you employ and the base of the spine via the spinal column.)

[30b] (Hãy ngồi thẳng lên, huynh đệ của Tôi, vì khi tiếp nhận lời Tôi đọc cho bạn ghi, điều thiết yếu là phải có sự chỉnh hợp trực tiếp giữa trung tâm đầu chính mà bạn sử dụng và đáy cột sống qua cột sống.)

[31] The use of sound collectively in meditation forms.

[31] Việc sử dụng âm thanh trong tập thể theo các hình thức tham thiền.

[32] We will now take up the matter specifically from the standpoint of sound. [33] In the study of the Sacred Word and its use we found that it had a triple effect, destructive, constructive and personal,—if I might so express it—or acting directly in a stimulating sense on the centers of the body. [34] These three effects may be seen in the use of all sound collectively and by a large body of persons. [35] We might enumerate still further for the sake of clarity a fourth effect, that of the creation of a funnel. This fourth effect is but a synthesis of the others in actuality, for adjustments [Page 193] in the matter of the three lower planes have to be made in this creation of a funnel of communication. [36] Those adjustments result first of all in the destruction of obstructing matter, and then in the construction of a funnel for use. [37] This is very definitely effected [38] through the instrumentality of the centers. This latter point is of fundamental interest, and holds hid the secret of the most potent use of sound. [39] That use is its projection in mental matter by means of one or other of the major centers. [40] The effects achieved by a group of persons who have the power to work on mental levels, [41] and to employ simultaneously one of the major centers (either entirely the head center or one of the other major centers in connection with its corresponding head center) [42] can be unbelievably powerful. [43] It is well for the race that as yet that power is not theirs. Only when united purity of motive and an unselfish adherence to the good of all can be found, will this power be permitted to return to the common knowledge of men. [44] As yet it is practically impossible to get a sufficient number of people at the same stage of evolution, at the same point on the ladder, employing the same center and responding to the same ray vibration to meet in unison, and sound together the same note or mantram. [45] They must also be animated by pure love, and work intelligently for the spiritual uplift of all.

[32] Giờ đây chúng ta sẽ bàn cụ thể về vấn đề từ góc độ âm thanh. [33] Khi nghiên cứu Linh Từ Thiêng Liêng và cách sử dụng, chúng ta thấy linh từ ấy có tác động tam phân: phá hủy, kiến tạo và tác động đến cá nhân,—nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy—hay trực tiếp kích thích các trung tâm trong thân thể. [34] Có thể thấy ba tác động này khi một tập thể đông người cùng sử dụng bất kỳ âm thanh nào. [35] Để làm rõ hơn, chúng ta có thể kể thêm một tác động thứ tư: tạo ra một phễu. Thực ra, tác động thứ tư này chỉ là sự tổng hợp của những tác động kia, vì cần có những điều chỉnh [Page 193] trong vật chất của ba cõi thấp khi tạo nên phễu giao tiếp này. [36] Trước hết, những điều chỉnh ấy phá hủy vật chất gây cản trở, rồi kiến tạo một phễu để sử dụng. [37] Điều này diễn ra hết sức rõ rệt [38] nhờ các trung tâm làm phương tiện. Điểm sau cùng này có tầm quan trọng căn bản và ẩn chứa bí mật về cách sử dụng âm thanh mạnh mẽ nhất. [39] Cách sử dụng ấy là phóng chiếu âm thanh vào vật chất trí tuệ qua một trong các trung tâm chính. [40] Những kết quả mà một nhóm người có khả năng hoạt động trên các cấp độ trí tuệ, [41] đồng thời sử dụng một trong các trung tâm chính (hoặc chỉ trung tâm đầu, hoặc một trung tâm chính khác kết hợp với trung tâm tương ứng của nó trong đầu) [42] đạt được có thể mạnh mẽ đến mức khó tin. [43] Thật may cho nhân loại là hiện họ chưa có quyền năng ấy. Chỉ khi có sự thuần khiết chung về động cơ và sự tận tâm vô vị kỷ vì lợi ích của tất cả, quyền năng này mới được phép trở lại thành tri thức phổ biến của con người. [44] Hiện nay, thực tế gần như không thể tập hợp đủ số người ở cùng một giai đoạn tiến hóa, cùng một bậc trên thang tiến hóa, sử dụng cùng một trung tâm và đáp ứng cùng một rung động cung, để cùng hòa hợp và xướng một âm điệu hay mantram. [45] Họ cũng phải có tình thương thuần khiết làm động lực và hoạt động một cách sáng suốt để nâng cao tất cả về mặt tinh thần.

[46] Part of the power of the Hierarchy is based on Their ability to do just this very thing. As evolution progresses, and the matter is more fully comprehended, meditation groups will change from their present status, which is that of bands of earnest aspirants seeking illumination, to bands of workers constructively and intelligently working together for certain ends. [47] You have in the Christian Bible the remnant of a tale which has descended to us from Atlantean days. In those days the use of sound on physical [Page 194] and emotional levels was understood and practiced, being utilized for selfish ends in most of the cases. [48] You read that at the sound of trumpets, [49] sounded a certain number of times after a rhythmical circuit of the walls of Jericho those walls collapsed. [50] This was made possible by the occult knowledge of the leaders of the people who—being versed in the science of sound and having studied its destructive and creative effects,—knew just the moment to apply that science and effect the desired end.

[46] Một phần quyền năng của Thánh đoàn dựa trên khả năng thực hiện chính điều này của Các Ngài. Khi tiến hóa tiếp diễn và vấn đề này được thấu hiểu đầy đủ hơn, các nhóm tham thiền sẽ chuyển từ trạng thái hiện nay—những nhóm người chí nguyện chân thành tìm kiếm sự soi sáng—thành những nhóm người hoạt động cùng nhau một cách kiến tạo và sáng suốt vì những mục tiêu nhất định. [47] Trong Kinh Thánh Kitô giáo, các bạn có phần còn lại của một câu chuyện truyền đến chúng ta từ thời Atlantis. Vào thời ấy, người ta thấu hiểu và thực hành việc sử dụng âm thanh trên các cấp độ hồng trần [Page 194] và cảm xúc, phần lớn nhằm phục vụ những mục đích ích kỷ. [48] Các bạn đọc thấy rằng khi những tiếng kèn vang lên, [49] với một số lần nhất định sau cuộc đi vòng theo nhịp quanh tường thành Jericho, những bức tường ấy sụp đổ. [50] Điều này có thể xảy ra nhờ tri thức huyền bí của những người lãnh đạo dân chúng; vì am tường khoa học về âm thanh và đã nghiên cứu những tác động phá hủy cùng sáng tạo của nó, họ biết chính xác thời điểm vận dụng khoa học ấy để đạt mục đích mong muốn.

These sounds can be grouped under three heads:—

Có thể phân những âm thanh này thành ba nhóm:—

[51] The united sounding of the Sacred Word.

[51] Việc cùng xướng Linh Từ Thiêng Liêng.

[52] This is one of the most usual methods, and the most direct way of forming a funnel for the transmission of power. If it is so effective in the case of the individual, as has been again and again demonstrated, surely its united use will be tremendously effective, and even dangerously potent. [53] It is the loss of the use of this Word that has crippled and hindered the efficiency of all the present exoteric faiths, but this loss has been deliberately brought about owing to the dangers incident to the low point of evolution of the human hierarchy. [54] When the use of this word is restored collectively, [55] and when congregations of men [56] can sound it correctly on the right note and in the right cadence or rhythm, [57] then the downflow of force from above (the quality of that force depending on key and tone) will be such that the vivification of the microcosm will affect the surrounding country and environment. [58] It will cause corresponding stimulation in all the kingdoms of nature, for the human kingdom forms a link between the higher and the lower, and, in conjunction with the deva kingdom, provides a meeting ground for the forces of life.

[52] Đây là một trong những phương pháp thông dụng nhất và là cách trực tiếp nhất để tạo một phễu truyền quyền năng. Nếu phương pháp ấy hiệu quả như vậy đối với cá nhân, như đã được chứng minh hết lần này đến lần khác, thì chắc chắn việc cùng sử dụng nó sẽ vô cùng hiệu quả, thậm chí mạnh đến mức nguy hiểm. [53] Chính việc đánh mất cách sử dụng Linh Từ này đã làm suy yếu và cản trở hiệu quả của mọi tín ngưỡng ngoại môn hiện nay, nhưng sự mất mát ấy là điều có chủ ý do những nguy hiểm gắn với trình độ tiến hóa thấp của Huyền Giai nhân loại. [54] Khi việc sử dụng linh từ này trong tập thể được khôi phục, [55] và khi các cộng đồng người [56] có thể xướng linh từ ấy chính xác, đúng âm điệu và đúng tiết tấu hay nhịp điệu, [57] thì dòng mãnh lực từ trên tuôn xuống (phẩm tính của mãnh lực ấy tùy thuộc vào giọng và âm sắc) sẽ mạnh đến mức việc tiếp sinh lực cho tiểu thiên địa sẽ tác động đến vùng đất và môi trường xung quanh. [58] Nó sẽ tạo sự kích thích tương ứng trong mọi giới của tự nhiên, vì giới nhân loại tạo thành một mắt xích giữa cái cao và cái thấp, và cùng với giới thiên thần cung cấp một nơi hội tụ cho các mãnh lực của sự sống.

[59] These effects upon the different centers will be definitely felt on one or other plane in the three worlds. Let [Page 195] me illustrate, for clarity is desired. I must warn you however to bear in mind that no importance must be attached to the order specified here. The time is not ripe for the opening up of accurate information on this matter.

[59] Người ta sẽ cảm nhận rõ những tác động này lên các trung tâm khác nhau trên một cõi nào đó trong ba cõi giới. Hãy để [Page 195] Tôi minh họa, vì điều cần thiết là sự rõ ràng. Tuy nhiên, Tôi phải cảnh báo các bạn ghi nhớ rằng không nên coi trọng thứ tự nêu ở đây. Chưa đến lúc tiết lộ thông tin chính xác về vấn đề này.

[60] We will presume [61] that a congregation of people is desirous of linking up with that channel of force that works through the emotions, and so stimulates to greater aspiration and love. [62] In united silence they will stand until, at a given word from the leader, [63] each unit in the group will deliberately withdraw his consciousness into the heart center, and then from that heart center (keeping the consciousness steadily there) he will drive forth the sound of the Sacred Word, pitched in the key to which the majority of the group respond. [64] This key will be ascertained by the clairvoyant group leader reviewing rapidly the auras gathered before him. This sound [65] will create the necessary funnel, and the result will be an immense temporary extension of the peripheries of the emotional bodies of the participants, and an intense vitalization of their heart centers. [66] By means of this the people will be enabled to reach heights and receive blessings otherwise not separately possible. You can for yourself think out other conditions. The use of the imagination in these matters is of real importance and develops a connection between that faculty [67] and its higher counterpart, the intuition. [68] Students of meditation must learn to imagine more.

[60] Chúng ta hãy giả định [61] rằng một cộng đồng người mong muốn kết nối với kênh mãnh lực hoạt động thông qua cảm xúc, nhờ đó kích thích khát vọng và tình thương lớn hơn. [62] Họ sẽ cùng đứng trong im lặng cho đến khi người hướng dẫn ra hiệu bằng một lời nhất định, [63] mỗi thành viên trong nhóm sẽ chủ động thu tâm thức vào trung tâm tim, rồi từ trung tâm tim ấy (giữ tâm thức ổn định tại đó), y sẽ phát ra âm thanh của Linh Từ Thiêng Liêng, với giọng mà đa số thành viên trong nhóm đáp ứng. [64] Người hướng dẫn nhóm có khả năng thông nhãn sẽ xác định giọng này bằng cách nhanh chóng xem xét những hào quang tụ họp trước mình. Âm thanh này [65] sẽ tạo ra phễu cần thiết, và kết quả sẽ là chu vi các thể cảm dục của những người tham dự mở rộng hết sức lớn lao trong một thời gian, đồng thời các trung tâm tim của họ nhận được sinh lực mạnh mẽ. [66] Nhờ đó, họ có thể vươn đến những tầm cao và đón nhận những ân phúc mà nếu riêng lẻ thì không thể đạt được. Các bạn có thể tự suy nghĩ về những điều kiện khác. Việc sử dụng sự tưởng tượng trong những vấn đề này thực sự quan trọng và phát triển một mối liên hệ giữa năng lực ấy [67] và đối phần cao hơn của nó là trực giác. [68] Các đạo sinh tham thiền phải học cách tưởng tượng nhiều hơn.

[69] The united sounding of certain mantrams which will be employed for specific purposes. [70] Instances of such purposes are:—

[69] Việc cùng xướng một số mantram sẽ được sử dụng cho những mục đích cụ thể. [70] Ví dụ về những mục đích ấy là:—

[71] a. The purification of a city.

[71] a. Thanh lọc một thành phố.

[72] b. The magnetization of grounds that are to be employed as healing centers. [Page 196]

[72] b. Từ hóa những khu đất sẽ dùng làm các trung tâm trị liệu. [Page 196]

[73] c. The clarification of the minds of the congregation in order that they may be able to receive the higher illumination.

[73] c. Làm sáng rõ thể trí của những người tụ họp để họ có thể tiếp nhận sự soi sáng cao hơn.

[74] d. The healing of people gathered together for that purpose.

[74] d. Chữa lành những người tụ họp vì mục đích ấy.

[75] e. The controlling of the forces of nature so that physical plane occurrences may be brought about.

[75] e. Kiểm soát các mãnh lực của tự nhiên để tạo ra những sự kiện trên cõi hồng trần.

[76] f. The initiating of people into the Lesser Mysteries.

[76] f. Điểm đạo cho con người vào các Tiểu Bí Pháp.

[77] In this paragraph, as you rightly think, lies material that enlarged would fill a volume. [78] It is part of that white magic that again will be restored to the race and by means of which a glory and a civilization will be attained that was hinted at in Atlantean days, and is one of the dreams of the visionaries of the race.

[77] Đúng như các bạn nghĩ, trong đoạn này có nội dung mà nếu triển khai rộng sẽ đầy cả một quyển sách. [78] Đó là một phần của chánh thuật sẽ lại được khôi phục cho nhân loại, và nhờ đó, con người sẽ đạt đến một nền văn minh cùng sự huy hoàng từng hé lộ vào thời Atlantis, vốn là một trong những giấc mơ của những người có tầm nhìn trong nhân loại.

[79] Mantrams or words sounded forth collectively by which the deva, or angel kingdom, will be communicated with. These are a peculiar set of mantrams connected with the Mahachohan’s department and I will take them up more specifically later……

[79] Các mantram hay linh từ được tập thể cùng xướng lên để giao tiếp với giới thiên thần. Đây là một nhóm mantram đặc thù liên quan đến bộ môn của Đức Mahachohan, và Tôi sẽ bàn cụ thể hơn về chúng sau……

AUGUST 22, 1920.

NGÀY 22 THÁNG 8 NĂM 1920.

The use of Rhythm Collectively in Meditation.

Việc sử dụng Nhịp Điệu trong Tham Thiền Tập Thể.

[80] Rhythm might be expressed as that cadenced movement which automatically sways those who employ it into line with certain of Nature’s forces. [81] It is that directed action, followed in unison by a body of people, which results in certain alignments and effects upon one or other of the bodies or on all. It has for its objects therefore:

[80] Có thể diễn tả nhịp điệu là chuyển động có tiết tấu tự động đưa những người sử dụng nó vào sự hòa hợp với một số mãnh lực của Tự Nhiên. [81] Đó là hành động có định hướng mà một tập thể người cùng thực hiện, tạo ra những sự chỉnh hợp và tác động nhất định lên một hay tất cả các thể phàm ngã của họ. Vì vậy, nó có những mục tiêu sau:

[82] a. The swinging of a body, or a concourse of bodies, into the radius of action of a stream of force.

[82] a. Đưa một thể, hoặc một tập hợp các thể của phàm ngã, vào phạm vi tác động của một dòng mãnh lực.

[83] b. It causes an adjustment of the matter of one of the various bodies or of all the bodies that go to the make-up of the personnel of a group. [Page 197]

[83] b. Điều chỉnh vật chất của một trong những thể khác nhau hoặc của tất cả các thể cấu thành những thành viên của một nhóm. [Page 197]

[84] c. It blends—under certain geometrical balances [85] and arrangements—the auras of the differentiated units in a group, [86] and causes these auras to form one united group aura, thereby permitting of the rhythmic flow of force in certain specified directions, for certain specified ends.

[84] c. Hòa trộn—dưới những thế cân bằng hình học [85] và cách sắp xếp nhất định—các hào quang của những đơn vị đã biến phân trong một nhóm, [86] khiến những hào quang này tạo thành một hào quang nhóm hợp nhất, nhờ đó cho phép mãnh lực tuôn chảy nhịp nhàng theo những hướng xác định, vì những mục đích xác định.

[87] This has been well understood right down the ages, even though the methods, procedure and results have not been scientifically comprehended or tabulated, except by various occult and esoteric bodies. [88] In the old, so-called pagan rites the value of rhythm was well understood and even David, the psalmist of Israel, danced before the Lord. The swaying of the body to a certain tempo, and the swinging of the framework of the physical vehicle in various directions, subject at times to the musical sound of instruments, has a peculiar and definite effect upon the matter of the two subtler vehicles. By this rhythmic movement:

[87] Người ta đã thấu hiểu điều này qua suốt các thời đại, dù chưa hiểu hay hệ thống hóa một cách khoa học các phương pháp, trình tự và kết quả, ngoại trừ một số đoàn thể huyền bí và nội môn. [88] Trong những nghi lễ cổ xưa được gọi là ngoại giáo, người ta thấu hiểu giá trị của nhịp điệu; ngay cả David, người sáng tác thánh vịnh của Israel, cũng đã nhảy múa trước Chúa. Việc đung đưa thân thể theo một nhịp độ nhất định và đưa khung thân của hiện thể hồng trần chuyển động theo nhiều hướng, đôi khi theo tiếng nhạc của các nhạc cụ, có một tác động đặc thù và rõ rệt lên vật chất của hai hiện thể tinh tế hơn. Nhờ chuyển động nhịp nhàng này:

[89] 1. The force that is tapped in this manner is directed (according to the rhythm) to some one or other centre in the body.

[89] 1. Mãnh lực được khai thác theo cách này sẽ hướng đến một trung tâm nào đó trong thân thể (tùy theo nhịp điệu).

[90] 2. The matter of the emotional and mental bodies is entirely re-adjusted and re-blended, resulting in certain effects having probably a physical manifestation.

[90] 2. Vật chất của các thể cảm dục và thể trí được điều chỉnh và hòa trộn lại hoàn toàn, tạo ra những tác động nhất định có thể biểu hiện trên cõi hồng trần.

[91] 3. The alignment of the vehicles is affected, and may be distorted or misplaced, or they may be correctly aligned and put in touch with the causal. [92] This is one of the main objects of the true rhythmic movement, distortions of which come down to us through the centuries, and have their apotheosis in the low type of modern dance. [93] In the modern dance is found the corruptest [94] manifestation of rhythmic movement, and the main effect of the rhythm is the direction of the force tapped by its means to the emotional vehicle, and to the lowest type of matter in that vehicle. [95] This results on the physical [Page 198] plane in a most undesirable stimulation of the sex organs. [96] In the true use of rhythmic movement the effect is to align the three lower vehicles with the causal vehicle, and this lining up [97] —when coupled with intensest aspiration and ardent desire— [98] results in a downflow of force from above. This causes a vivification of the three major centers and a definite illumination.

[91] 3. Sự chỉnh hợp của các hiện thể chịu tác động và có thể méo mó hay lệch vị trí, hoặc chúng có thể chỉnh hợp đúng và tiếp xúc với thể nguyên nhân. [92] Đây là một trong những mục tiêu chính của chuyển động nhịp nhàng chân chính; những dạng méo mó của nó đã truyền đến chúng ta qua nhiều thế kỷ và đạt đến đỉnh điểm trong loại hình khiêu vũ hiện đại thấp kém. [93] Trong khiêu vũ hiện đại có biểu hiện suy đồi nhất [94] của chuyển động nhịp nhàng, và tác động chính của nhịp điệu là hướng mãnh lực mà nó khai thác vào hiện thể cảm dục và vào loại vật chất thấp nhất trong hiện thể ấy. [95] Trên cõi hồng trần, điều này [Page 198] gây ra sự kích thích hết sức không mong muốn đối với các cơ quan sinh dục. [96] Khi sử dụng chuyển động nhịp nhàng đúng cách, tác động là chỉnh hợp ba hiện thể thấp với hiện thể nguyên nhân, và sự chỉnh hợp này [97] —khi kết hợp với khát vọng mãnh liệt nhất và ước muốn thiết tha— [98] sẽ tạo ra một dòng mãnh lực tuôn xuống từ trên cao. Điều này tiếp sinh lực cho ba trung tâm chính và mang lại sự soi sáng rõ rệt.

[99] When an entire concourse of people is thus animated by a single high desire, when their auras blend and form one united channel for the downflow, [100] the effect is tremendously intensified and can be world-wide in its radius. [101] You have an instance of this in the wonderful Wesak festival, kept so universally in India to this day, when the Hierarchy forms itself into a channel for the transmission of power and blessing from the levels on which the Buddha may be found. [102] He [103] acts as a focal point for that power, and—passing it through His Aura—pours it out over mankind by means of the channel provided by the assembled Lords, Masters, graded initiates and disciples. [104] This channel is formed by the use of sound and rhythm simultaneously employed. By the chanting of a certain mantram by means of the slow, measured movements that accompany that chanting, the funnel is formed that reaches upwards to the desired locality. The geometrical figures formed in the matter of the plane higher than the physical (which are the result of the geometrical movement of the concourse gathered in that Himalayan center) form themselves into wonderful avenues of approach to the center of blessing for the inhabitants, deva or otherwise, from any particular plane. [105] For those who can clairvoyantly view the scene, the beauty of the geometrical forms is unbelievable, and that beauty is enhanced by the radiant auras of the Great Ones Who are gathered there. [Page 199]

[99] Khi cả một tập thể cùng nhận động lực từ một ước muốn cao cả duy nhất như vậy, khi hào quang của họ hòa trộn và tạo thành một kênh hợp nhất cho dòng tuôn xuống, [100] tác động sẽ tăng cường vô cùng mạnh mẽ và có thể lan rộng khắp thế giới. [101] Các bạn có một ví dụ về điều này trong lễ hội Wesak kỳ diệu, đến nay vẫn được cử hành rộng khắp tại Ấn Độ, khi Thánh đoàn tạo thành một kênh truyền quyền năng và ân phúc từ những cấp độ nơi Đức Phật hiện diện. [102] Ngài [103] làm tiêu điểm cho quyền năng ấy và—đưa nó qua Hào Quang của Ngài—tuôn nó xuống nhân loại qua kênh do các Chúa Tể, Chân sư, điểm đạo đồ thuộc các cấp bậc và đệ tử đang tụ họp tạo nên. [104] Kênh này hình thành nhờ sử dụng đồng thời âm thanh và nhịp điệu. Qua việc tụng một mantram nhất định và những chuyển động chậm rãi, đều đặn đi kèm việc tụng ấy, một phễu hình thành vươn lên đến địa điểm mong muốn. Những hình hình học tạo ra trong vật chất của cõi cao hơn cõi hồng trần (là kết quả của chuyển động hình học của tập thể tụ họp tại trung tâm ấy ở vùng Hy Mã Lạp Sơn) tạo thành những lối tiếp cận kỳ diệu đến trung tâm ban ân phúc cho các cư dân, thiên thần hay những sinh linh khác, từ bất kỳ cõi cụ thể nào. [105] Đối với những người có thể quan sát cảnh tượng ấy bằng thông nhãn, vẻ đẹp của các hình hình học thật khó tin, và những hào quang rực rỡ của Các Đấng Cao Cả tụ họp tại đó càng làm tăng vẻ đẹp ấy. [Page 199]

[106] In time to come [107] the value of the combination of music, chanting, and rhythmic movement will be comprehended, and it will be utilized for the achieving of certain results. [108] Groups of people will gather together to study the creative effects, or the purificatory efficacy of ordered sound joined to movement and unity; the constructive effect on the three bodies will be clairvoyantly studied; the eliminative effect on the matter of those bodies will be schematically tabulated and all knowledge gained will be definitely applied to the improvement of those bodies. The quality of the force tapped, and its exhilarating, vivifying and stimulating effects will be closely watched. The centers will be studied in their relation to the streams of force contacted, and their culture and the intensification of the rotary movement will be definitely undertaken.

[106] Trong thời gian tới [107] người ta sẽ thấu hiểu giá trị của việc kết hợp âm nhạc, tụng niệm và chuyển động nhịp nhàng, rồi sử dụng sự kết hợp này để đạt những kết quả nhất định. [108] Các nhóm người sẽ tụ họp để nghiên cứu những tác động sáng tạo hay hiệu quả thanh lọc của âm thanh có trật tự kết hợp với chuyển động và sự hợp nhất; họ sẽ nghiên cứu bằng thông nhãn tác động kiến tạo lên ba thể phàm ngã của con người; tác động loại bỏ vật chất trong những thể ấy sẽ được hệ thống hóa thành bảng, và mọi tri thức thu được sẽ được vận dụng cụ thể để cải thiện các thể ấy. Phẩm tính của mãnh lực được khai thác cùng những tác động gây hưng phấn, tiếp sinh lực và kích thích của nó sẽ được theo dõi sát sao. Người ta sẽ nghiên cứu các trung tâm trong mối quan hệ với những dòng mãnh lực đã tiếp xúc, đồng thời chủ động phát triển chúng và tăng cường chuyển động xoay.

[109] Another angle of the whole matter resolves itself into work in the world, and though dependent on the status and personnel of the group, it is not primarily for group purposes. [110] Groups will apply themselves to the work of contacting certain types of logoic force, of passing it through the group funnel, and of sending it out through the world for certain constructive ends. [111] This work is closely allied to that undertaken by the Nirmanakayas or Distributors of Force, and will be largely under their direction, [112] for—when the right time comes—They [113] will be able to use these groups as focal points for Their activities. Their work now has its focal point primarily on the mental plane and somewhat on the emotional. When the secret of causal alignment is better grasped, and when groups of people in physical incarnation can work in real co-operation (an impossibility at present, for the personality looms as yet too large) then the Nirmanakayas will be able to directly contact the physical plane, and so act with great force upon the evolutions found thereon. [Page 200]

[109] Một góc độ khác của toàn bộ vấn đề thể hiện thành công việc trong thế gian, và dù tùy thuộc vào trình độ cùng thành viên của nhóm, công việc ấy không chủ yếu phục vụ mục đích của nhóm. [110] Các nhóm sẽ chuyên tâm tiếp xúc với một số loại mãnh lực của Thượng đế, đưa mãnh lực ấy qua phễu của nhóm rồi truyền nó ra thế gian vì những mục đích kiến tạo nhất định. [111] Công việc này liên hệ mật thiết với công việc của các Đấng Ứng Hóa Thân hay các Đấng Phân Phối Mãnh Lực, và phần lớn sẽ do Các Ngài hướng dẫn, [112] vì—khi đúng thời điểm—Các Ngài [113] sẽ có thể sử dụng những nhóm này làm tiêu điểm cho các hoạt động của mình. Hiện nay, công việc của Các Ngài có tiêu điểm chủ yếu trên cõi trí và phần nào trên cõi cảm xúc. Khi bí mật của sự chỉnh hợp với thể nguyên nhân được nắm bắt rõ hơn, và khi những nhóm người đang nhập thể trên cõi hồng trần có thể thật sự hợp tác (hiện nay chưa thể, vì phàm ngã vẫn còn quá nổi trội), các Đấng Ứng Hóa Thân sẽ có thể tiếp xúc trực tiếp với cõi hồng trần, nhờ đó tác động bằng mãnh lực lớn lao lên những dòng tiến hóa tồn tại ở đó. [Page 200]

[114] Healing groups will work as follows. The circle of workers, with the unit to be healed placed in their midst, [115] will definitely apply themselves to the healing of that unit by the use of set mantrams, and by the following of certain movements they will cause the focal point of the downpouring force to be the sick member in their midst. [116] By the stimulating power of that force, by its re-building quality, or by its capacity to destroy and eliminate, what you call miracles will be matters of everyday occurrence. The subject is too vast to be more than hinted at here. But as the race progresses and the secret of making the at-one-ment is more comprehended, when many people tread the Probationary Path, [117] when the percentage of initiates is greater than it is now, [118] and when large numbers of the human race are more directly aligned with the egoic body, you will see the scientific application of the laws of sound and rhythm.

[114] Các nhóm trị liệu sẽ hoạt động như sau. Những người hoạt động đứng thành vòng tròn, với người cần chữa lành ở giữa, [115] sẽ chuyên tâm chữa lành cho người ấy bằng những mantram đã định; qua việc thực hiện một số chuyển động, họ sẽ khiến người bệnh ở giữa trở thành tiêu điểm của mãnh lực tuôn xuống. [116] Nhờ quyền năng kích thích, phẩm tính tái kiến tạo hay khả năng phá hủy và loại bỏ của mãnh lực ấy, những gì các bạn gọi là phép lạ sẽ trở thành chuyện hằng ngày. Đề tài này quá rộng lớn nên ở đây chỉ có thể gợi đôi nét. Nhưng khi nhân loại tiến bộ và thấu hiểu hơn bí mật tạo nên sự hợp nhất, khi nhiều người bước trên Con Đường Dự Bị, [117] khi tỷ lệ điểm đạo đồ cao hơn hiện nay, [118] và khi đông đảo con người chỉnh hợp trực tiếp hơn với thể chân ngã, các bạn sẽ thấy việc vận dụng khoa học những định luật của âm thanh và nhịp điệu.

[119] At the same time you will see the misuse of those powers—a misuse that will herald in one of the final struggles between the Lords of Light and the Lords of Darkness. [120] Great will be the cataclysm and terrific the disaster, but ever the Light shines in darkness, and He Who reigns above all, and Who holds all within the circumference of His Aura knows the hour of opportunity, and knows too how to utilize that which can protect.

[119] Đồng thời, các bạn sẽ thấy sự lạm dụng những quyền năng ấy—một sự lạm dụng sẽ báo hiệu một trong những cuộc đấu tranh cuối cùng giữa các Chúa Tể Ánh Sáng và các Chúa Tể Bóng Tối. [120] Biến động sẽ vô cùng lớn lao và tai họa sẽ hết sức khủng khiếp, nhưng Ánh Sáng luôn chiếu rọi trong bóng tối, và Đấng ngự trị trên tất cả, Đấng giữ tất cả trong chu vi Hào Quang của Ngài, biết giờ phút thuận lợi và cũng biết cách vận dụng những gì có thể bảo vệ.

[121] Special occasions on which these forms will be employed.

[121] Những dịp đặc biệt sẽ sử dụng các hình thức này.

[122] The great event on the planet in direct relation to the human race is the Wesak festival. [123] There is one still greater moment in the calendar when a funnel is created directly between the earth and the supreme Ruler himself, the Logos of our system. [124] This is accomplished through the power of certain mantrams and the united efforts of the Hierarchy and the Deva Lords of the planes. [125] These Deva Lords are aided by the deva evolution, and the Hierarchy [Page 201] by those of the human race who are steady. They focus through the Lords of the Rays then in manifestation as well as through the Planetary Logos of this planet. The date of this event is not yet for exoteric communication.

[122] Sự kiện lớn lao trên hành tinh liên quan trực tiếp đến nhân loại là lễ hội Wesak. [123] Trong lịch còn có một thời điểm trọng đại hơn, khi một phễu được tạo trực tiếp giữa Trái Đất và chính Đấng Cai Quản tối cao, Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta. [124] Điều này thành tựu nhờ quyền năng của một số mantram và nỗ lực hợp nhất của Thánh đoàn cùng các Chúa Tể Thiên Thần của các cõi. [125] Dòng tiến hóa thiên thần trợ giúp các Chúa Tể Thiên Thần này, còn Thánh đoàn [Page 201] nhận sự trợ giúp của những người vững vàng trong nhân loại. Các Ngài tập trung qua các Chúa Tể của các Cung đang biểu hiện khi ấy, cũng như qua Đức Hành Tinh Thượng Đế của hành tinh này. Chưa thể công bố ngày của sự kiện này ra ngoại môn.

[126] On all the three main lines of approach—that of the Manu, or Ruler, the Bodhisattva, or World Teacher, and the Mahachohan, or Lord of Civilization—their own specific groups will be found, subject to certain mantrams and words, and moving under certain rhythmic laws. [127] One hint only can I give here but I think you will find it interesting. The time is coming when those who work under the Manu, manipulating nations, directing their attention to government and politics, sitting in the assemblies of the people, giving out the laws and apportioning justice, [128] will begin all their work with great rhythmic ceremonies. By means of their united rhythm and chanted words, they will seek to put themselves in touch with the consciousness of the Manu and with His great governing department, so bringing more clearly into practice the working out of His plans and the formulation of His intentions. Having aligned their bodies and made the necessary funnel, they will proceed with business after having placed in their midst as a focal point of illumination one or two men who will give their entire attention to finding out the intention of the Manu and His subordinates upon the matter in hand.

[126] Trên cả ba đường tiếp cận chính—đường của Đức Manu hay Đấng Cai Quản, của Đức Bồ Tát hay Đức Chưởng Giáo, và của Đức Mahachohan hay Chúa Tể của Văn Minh—đều có những nhóm đặc thù riêng, tuân theo một số mantram và linh từ, đồng thời chuyển động theo những định luật nhịp điệu nhất định. [127] Ở đây Tôi chỉ có thể đưa ra một gợi ý, nhưng Tôi nghĩ các bạn sẽ thấy thú vị. Thời điểm đang đến khi những người hoạt động dưới quyền Đức Manu, điều hành các quốc gia, chú tâm đến việc cai trị và chính trị, tham gia các hội đồng nhân dân, ban hành luật pháp và thực thi công lý, [128] sẽ khởi đầu mọi công việc bằng những nghi lễ nhịp nhàng lớn lao. Nhờ nhịp điệu hợp nhất và những linh từ cùng tụng, họ sẽ tìm cách tiếp xúc với tâm thức của Đức Manu và bộ môn cai quản vĩ đại của Ngài, qua đó đưa việc thực hiện những kế hoạch và diễn đạt những ý định của Ngài vào thực tiễn rõ ràng hơn. Sau khi chỉnh hợp các thể phàm ngã của mình và tạo phễu cần thiết, họ sẽ tiến hành công việc, sau khi đặt ở giữa một hay hai người làm tiêu điểm soi sáng; những người này sẽ dành trọn sự chú tâm để tìm hiểu ý định của Đức Manu và các vị phụ tá của Ngài đối với vấn đề đang bàn.

[129] So in the department of the Bodhisattva will a similar procedure be followed, for which the construction is already organized. [130] The priest will be the focal point, and, after due ceremony and rhythm on the part of the united congregation, [131] they will be the transmitters of information from on high. But here is a momentous point of interest: The priesthood will not in those days be a separated body of men. All will then be priests and a [Page 202] layman can hold that office when duly chosen at the beginning of the ceremony. The only qualification required will be the capacity to align with the higher, and to co-operate with all the other units in the concourse.

[129] Trong bộ môn của Đức Bồ Tát cũng sẽ có một trình tự tương tự, mà cơ cấu dành cho nó đã được tổ chức sẵn. [130] Vị tư tế sẽ là tiêu điểm, và sau khi cộng đồng hợp nhất thực hiện nghi lễ cùng nhịp điệu thích hợp, [131] các vị ấy sẽ truyền đạt thông tin từ trên cao. Nhưng đây là một điểm đáng chú ý hết sức quan trọng: vào thời ấy, hàng tư tế sẽ không còn là một đoàn thể tách biệt. Khi đó, tất cả đều sẽ là tư tế, và một [Page 202] người thế tục có thể đảm nhiệm chức vụ ấy nếu được chọn đúng cách vào đầu nghi lễ. Điều kiện duy nhất cần có là khả năng chỉnh hợp với cái cao hơn và hợp tác với mọi thành viên khác trong tập thể.

[132] In the department of the Mahachohan, the Lord of Civilization and Culture [133] and the head of the third line of evolution, you will see again similar action. No university or school will start its sessions without the ceremony of alignment, the teacher this time being the focal line of information [134] from the department controlling the activity of the mind. [135] In this way the stimulation of the mental bodies of the students, and the strengthening of the channel between higher and lower mind will be greatly aided. [136] The intuition will also be developed and contacted. [137] In the above statements I have by no means covered the ground. [138] I have but indicated the broad outlines of what will some day be facts in physical plane demonstration. The thought conveys much matter for consideration and for speculation [139] and is full of helpfulness for the wise student. [140] Aught that enlarges his horizon and increases the range of his vision is to be welcomed, even though his apprehension of these facts may be at fault [141] and his capacity to assimilate leaves much to be desired.

[132] Trong bộ môn của Đức Mahachohan, Chúa Tể của Văn Minh và Văn Hóa [133] và là Đấng đứng đầu đường tiến hóa thứ ba, các bạn cũng sẽ thấy hoạt động tương tự. Không một trường đại học hay trường học nào sẽ bắt đầu các buổi học mà không có nghi lễ chỉnh hợp; lần này, huấn sư sẽ là tuyến tập trung thông tin [134] từ bộ môn kiểm soát hoạt động của thể trí. [135] Bằng cách này, việc kích thích các thể trí của môn sinh và củng cố kênh giữa thượng trí với hạ trí sẽ nhận được sự trợ giúp lớn lao. [136] Trực giác cũng sẽ được phát triển và tiếp xúc. [137] Trong những điều trình bày trên, Tôi hoàn toàn chưa bao quát hết đề tài. [138] Tôi chỉ phác họa những nét lớn của điều một ngày kia sẽ trở thành sự thật biểu hiện trên cõi hồng trần. Ý tưởng này mang lại nhiều điều để xem xét và suy tưởng [139] và rất hữu ích cho đạo sinh sáng suốt. [140] Bất cứ điều gì mở rộng chân trời và tầm nhìn của y đều đáng đón nhận, dù sự lĩnh hội của y về những sự thật này có thể sai lệch [141] và khả năng hấp thu của y vẫn còn nhiều điều cần cải thiện.

Commentary Thư Về Tham thiền Huyền môn 42

Hi everybody, and welcome back to Letters on Occult Meditation Video Commentary, Program 42. It’s been a few days, as you see, since I’ve been able to work on this. We’ve been working particularly in an area having to do with mantrams and various forms which are useful in contacting higher states of consciousness, and purifying and rendering fit the mechanism which has to receive the downflow of energy from these higher states.

Xin chào tất cả các bạn, và chào mừng các bạn trở lại với chương trình video bình giảng Thư Về Tham thiền Huyền môn, số 42. Như các bạn thấy, đã vài ngày rồi tôi mới có thể tiếp tục công việc này. Chúng ta đã đặc biệt tập trung vào lĩnh vực liên quan đến các mantram và những hình tướng khác nhau, hữu ích cho việc tiếp xúc với các trạng thái tâm thức cao hơn, cũng như thanh lọc và làm cho bộ máy trở nên thích hợp để tiếp nhận dòng năng lượng tuôn xuống từ những trạng thái cao hơn ấy.

We come now to a section called “The use of Form collectively,” and it’s the last division of the sixth letter, which has been a lengthy one. Now, in what I try to do here, it’s never enough to just listen one time or to look. One has to enter into a close study of each section.

Giờ đây, chúng ta đến phần có tên “Sử dụng Hình tướng trong tập thể”, và đây là phần cuối của bức thư thứ sáu, một bức thư khá dài. Với những gì tôi đang cố gắng thực hiện ở đây, chỉ nghe hoặc xem một lần thì không bao giờ đủ. Chúng ta phải nghiên cứu kỹ từng phần.

Obviously, as the Tibetan says, he’s given us more than we can ever absorb. That’s quite obvious. Nevertheless, we can do our best to assimilate as we go, and inevitably there will be a sufficiency of knowledge to really help us advance in this work.

Hiển nhiên, như Chân sư Tây Tạng nói, Ngài đã trao cho chúng ta nhiều hơn mức chúng ta có thể tiếp thu hết. Điều đó rất rõ ràng. Tuy nhiên, trong quá trình học, chúng ta có thể cố gắng hết sức để lĩnh hội, và chắc chắn sẽ có đủ tri thức để thực sự giúp chúng ta tiến bước trong công việc này.

[1] 4 – The use of Form collectively.

[1] 4 – Việc sử dụng Hình Tướng trong tập thể.

[2] I propose to take this up under three heads which for purposes of clarity we will call:—

[2] Tôi dự định bàn về điều này dưới ba đề mục mà để làm rõ, chúng ta sẽ gọi là:—

[3] 1—The use of sound collectively in a meditation form.

[3] 1—Việc sử dụng âm thanh trong tập thể theo một hình thức tham thiền.

[4] 2—The use of rhythm collectively in meditation.

[4] 2—Việc sử dụng nhịp điệu trong tập thể khi tham thiền.

So much of that has disappeared. There are not only issues regarding pronunciation of words and sounds; there’s the rhythm in which they have to be spoken, and then there are the notes upon which they are to be intoned, and then—

Rất nhiều điều trong đó đã thất truyền. Không chỉ có những vấn đề liên quan đến cách phát âm các từ và âm thanh; còn có nhịp điệu mà chúng phải được đọc theo, rồi những âm điệu mà chúng phải được ngân theo, và rồi—

[5] 3—Special occasions on which these forms are used.

[5] 3—Những dịp đặc biệt sử dụng các hình thức này.

[5b] (You can, Brother of Mine, word these first two heads more euphoniously, you have got my thought but the wording is heavy and faulty)

[5b] (Huynh đệ của Tôi, bạn có thể diễn đạt hai đề mục đầu này sao cho thuận tai hơn; bạn đã nắm được ý Tôi, nhưng cách diễn đạt còn nặng nề và chưa chuẩn.)

It’s such a joy to be able to work with what the Tibetan has given us. The depth and extent of the gift will only later be made obvious to us. Right now, we just wade in and try to take advantage of what has been imparted, but the scope of the gift is extraordinary, and of course it comes from permissions granted by Master K.H., by the Christ, by Sanat Kumara.

Có thể làm việc với những gì Chân sư Tây Tạng đã trao cho chúng ta quả là một niềm hoan hỉ. Chỉ về sau chúng ta mới thấy rõ chiều sâu và tầm vóc của món quà ấy. Hiện giờ, chúng ta cứ bước vào và cố tận dụng những gì đã được truyền đạt, nhưng phạm vi của món quà này thật phi thường, và dĩ nhiên, nó đến từ sự cho phép của Chân sư KH, Đức Christ và Đức Sanat Kumara.

Then ellipses, and it would be, of course, interesting to know what’s omitted, but for whatever reason the omissions exist, and we just have to live with them.

Tiếp theo là những dấu chấm lửng; dĩ nhiên, sẽ rất thú vị nếu biết những gì đã bị lược bỏ, nhưng dù vì lý do nào, những phần lược bỏ ấy vẫn tồn tại, và chúng ta đành chấp nhận.

[6]……We have rather exhaustively

[6] Trong loạt thư này, chúng ta đã xem xét khá tường tận

—yes—

—đúng vậy—

[7] considered in this series of letters individual meditation and have taken up the subject from many and varied angles.

[7] việc tham thiền cá nhân và đã bàn về đề tài ấy từ nhiều góc độ khác nhau.

That is the great gift when you combine the second ray and the third ray, which I think the Tibetan does, just as the Buddha had done.

Đó là món quà lớn lao khi kết hợp cung hai với cung ba, điều mà Tôi nghĩ Chân sư Tây Tạng thực hiện, cũng như Đức Phật đã từng làm.

[8] In all our handling of the matter only enough has been communicated to arouse the interest of the student and to incite him to greater effort, closer study, and deeper investigation.

[8] Trong toàn bộ phần bàn luận, chúng ta chỉ truyền đạt vừa đủ để khơi dậy sự quan tâm của đạo sinh và thúc đẩy y nỗ lực hơn, nghiên cứu kỹ hơn và tìm hiểu sâu hơn.

So, think about that incitement. That has been the Tibetan’s motive: to arouse our interest, and to incite us to greater effort. Think of it: closer study, closer study, and deeper investigation. All of this hints at the idea that we are likely to be a bit superficial in how we read, and we cannot tolerate, with hope of success, any kind of superficiality with regard to this material.

Vì vậy, hãy suy nghĩ về sự thôi thúc ấy. Đó chính là động cơ của Chân sư Tây Tạng: khơi dậy sự quan tâm của chúng ta và thôi thúc chúng ta nỗ lực hơn. Hãy nghĩ đến điều này: nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, và tìm hiểu sâu hơn. Tất cả những điều này đều gợi ra ý tưởng rằng có lẽ chúng ta hơi hời hợt trong cách đọc; nếu hy vọng thành công, chúng ta không thể chấp nhận bất kỳ sự hời hợt nào đối với tài liệu này.

[9] Only that which is understood and grasped as a fact in experience by the inner consciousness avails aught in the hard path of occult development. Theories and mental concepts avail not. They but increase responsibility. Only when these theories are put to the test, and are consequently known to be facts in nature, and only when mental concepts are brought down and demonstrated on the physical plane in practical experience, can the student be in a position to point the way to other searchers, and to hold out a helping hand to those following behind.

[9] Chỉ những gì tâm thức bên trong thấu hiểu và nắm bắt như một sự thật qua trải nghiệm mới có ích trên con đường phát triển huyền bí đầy gian khó. Các lý thuyết và khái niệm trí tuệ không có ích. Chúng chỉ làm tăng trách nhiệm. Chỉ khi các lý thuyết ấy trải qua thử nghiệm và do đó được biết là những sự thật trong tự nhiên, và chỉ khi các khái niệm trí tuệ được đưa xuống và chứng minh trên cõi hồng trần bằng trải nghiệm thực tế, đạo sinh mới có thể chỉ đường cho những người tìm kiếm khác và đưa tay giúp đỡ những người theo sau.

Of course, this is precisely what the Tibetan can do. He and other Masters have made these theories factual in their own experience. Sometimes I’m working with some students on the idea of identifying as being, and there’s a lot of Ray 3 type of philosophy going into it, but only when the exercises proposed can be rendered effective right here on the physical plane is there any real and lasting benefit. And the successful performing of those exercises is elusive.

Dĩ nhiên, đây chính là điều Chân sư Tây Tạng có thể làm. Ngài và các Chân sư khác đã biến những lý thuyết này thành sự thật trong trải nghiệm của Các Ngài. Đôi khi Tôi cùng một số đạo sinh làm việc với ý tưởng đồng hoá với Bản Thể, và rất nhiều triết học thuộc cung ba được đưa vào đó, nhưng chỉ khi các bài tập đề xuất có thể phát huy hiệu quả ngay tại đây, trên cõi hồng trần, mới có lợi ích thực sự và lâu dài. Và việc thực hiện thành công những bài tập ấy không dễ đạt được.

So, as he says, the hard path of occult development, and of course we know there is one who has accomplished something, and we have yet to accomplish even a slight approximation of that which he has accomplished. But what man has done, man can do, and so we press forward.

Vì vậy, như Ngài nói, con đường phát triển huyền bí gian nan; dĩ nhiên, chúng ta biết có một Đấng đã thành tựu được điều gì đó, còn chúng ta vẫn chưa đạt được dù chỉ một phần nhỏ gần với những gì Ngài đã thành tựu. Nhưng điều con người đã làm được thì con người có thể làm được, và vì thế, chúng ta tiếp tục tiến bước.

[10] To say: “I hear” may prove helpful and encouraging; to add to that the words “I believe” may carry added assurance, but to sound forth a trumpet note and say “I know” is the thing needed in this one of the darkest hours of the Kali Yuga.

[10] Nói: “Tôi nghe” có thể hữu ích và mang lại sự khích lệ; thêm vào đó những lời “Tôi tin” có thể đem lại sự vững tin hơn, nhưng cất lên một tiếng kèn vang và nói “Tôi biết” mới là điều cần thiết trong giờ phút này, một trong những giờ phút tăm tối nhất của thời đại đen tối.

Well, when did that Kali Yuga begin? Something like—by one measure—3002 BC, the way we look at our calendar at this time. And here, this is written in the 20s, and it’s dark, because the war has only gone underground, the great war, the war to end all wars. Recently there have been some films, because it’s been 100 years since the ending of the First World War, so naturally this is commemorated in films. And they’ve shown just how awful it was—war is hell—and what trench warfare was like: dark, very dark. And following that war—this being written in August of 1920—the darkness had not abated; it had just temporarily gone underground, and even now, the potential for darkness is very great. 100 years later, it is somewhat underground, but capable of affecting people’s choices and the coming of the Aquarian Age. So this is one of the darkest periods.

Thời đại suy đồi ấy bắt đầu khi nào? Theo một cách tính, vào khoảng năm 3002 trước Công nguyên, theo lịch mà hiện nay chúng ta sử dụng. Đoạn này được viết vào những năm 1920, và đó là thời kỳ tăm tối, bởi cuộc chiến chỉ mới lui vào ngấm ngầm—cuộc đại chiến, cuộc chiến được cho là sẽ chấm dứt mọi cuộc chiến. Gần đây có một số bộ phim, bởi đã tròn 100 năm kể từ khi Thế chiến thứ nhất kết thúc, nên dĩ nhiên người ta tưởng niệm sự kiện này qua phim ảnh. Những bộ phim ấy cho thấy cuộc chiến khủng khiếp đến mức nào—chiến tranh là địa ngục—và chiến tranh chiến hào diễn ra ra sao: tăm tối, vô cùng tăm tối. Sau cuộc chiến ấy—đoạn này được viết vào tháng Tám năm 1920—bóng tối chưa hề giảm bớt; nó chỉ tạm thời lui vào ngấm ngầm. Ngay cả hiện nay, tiềm năng của bóng tối vẫn rất lớn. Một trăm năm sau, nó phần nào vẫn ngấm ngầm, nhưng có khả năng tác động đến những lựa chọn của con người và sự xuất hiện của Kỷ Nguyên Bảo Bình. Vì vậy, đây là một trong những thời kỳ tăm tối nhất.

The trumpet sound of “I know.” Now, we’re told that the age of Aquarius is an age of knowledge rather than of belief and obedience, as was the case during the age of Pisces. When it comes to the question of obedience, of course, it’s necessary at all times—obedience to the inward impulses of the soul, necessary at all times, but under Pisces, there’s a special type of acquiescence and surrender. So the obedience, so-called obedience, that will be prominent in the age of Aquarius will be based also upon knowledge, and because the knowledge becomes more certain, the obedience becomes more sincere and more frequently, readily practiced.

Tiếng kèn vang của lời “Tôi biết”. Giờ đây, chúng ta được cho biết rằng Kỷ Nguyên Bảo Bình là một thời đại của tri thức, thay vì của niềm tin và sự vâng phục như trong Kỷ Nguyên Song Ngư. Khi nói đến sự vâng phục, dĩ nhiên điều ấy luôn cần thiết—vâng phục những thôi thúc bên trong của linh hồn, luôn luôn cần thiết, nhưng dưới ảnh hưởng Song Ngư, có một kiểu thuận theo và quy phục đặc biệt. Vì vậy, sự vâng phục, cái gọi là sự vâng phục sẽ nổi bật trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, cũng sẽ dựa trên tri thức, và vì tri thức trở nên chắc chắn hơn, sự vâng phục sẽ chân thành hơn, được thực hành thường xuyên và sẵn lòng hơn.

[11] The knowers are as yet few. Yet to know is fully possible and is subject only to the diligence, the sincerity, and the capacity of the pupil on the path to stand firm in suffering.

[11] Những thức giả hiện vẫn còn ít. Tuy nhiên, việc biết là hoàn toàn có thể và chỉ tùy thuộc vào sự chuyên cần, lòng chân thành và khả năng đứng vững trong đau khổ của môn sinh trên Đường Đạo. [Page 191]

Well, there are some requirements to become a true knower. We can say, “Well, come on now, is it not going to give me what I want? Let’s see how this works.” And the hope is that it does work. So, requirements to become a true knower. It is a question, isn’t it, friends, of doing these things? I mean, we can be advised endlessly by the best sources of advice, but will we actually do? Of course, as I ask you, I ask myself. So many times knowing and doing are separated by some kind of hiatus: I know, but I do not do. It’s kind of a cleavage, isn’t it, between the mental nature and the physical nature of performance. And the astral vehicle gets into a tune, because you have to be motivated to do, and you have to overcome the inertia of the physical nature, which becomes more difficult as you get older, as DK has reminded us. We begin to—what does he say?—creak a bit.

Có một số yêu cầu để trở thành một thức giả chân chính. Chúng ta có thể nói: “Nào, chẳng lẽ điều này không mang lại cho tôi điều tôi muốn sao? Hãy xem nó vận hành thế nào.” Và chúng ta hy vọng nó thực sự có hiệu quả. Vậy, những yêu cầu để trở thành một thức giả chân chính. Các bạn của Tôi, vấn đề chẳng phải là thực hiện những điều này sao? Ý Tôi là, chúng ta có thể nhận lời khuyên mãi từ những nguồn chỉ dẫn tốt nhất, nhưng liệu chúng ta có thực sự làm không? Dĩ nhiên, khi hỏi các bạn, Tôi cũng tự hỏi mình. Biết bao lần, giữa biết và làm có một khoảng gián đoạn nào đó: Tôi biết, nhưng Tôi không làm. Đó là một dạng chia cắt, phải không, giữa bản chất trí tuệ và bản chất hồng trần của việc thực hiện. Và vận cụ cảm dục cũng tham gia vào sự phối hợp ấy, vì bạn phải có động lực để làm, và bạn phải vượt qua tính trì trệ của bản chất hồng trần; điều này càng khó hơn khi bạn lớn tuổi, như Chân sư DK đã nhắc chúng ta. Chúng ta bắt đầu—Ngài nói thế nào nhỉ?—hơi kẽo kẹt.

[12] Now having some dim idea

[12] Giờ đây, khi đã có một ý tưởng mơ hồ

—he’s putting himself in our consciousness—

—Ngài đang đặt mình vào tâm thức của chúng ta—

[13] of the results to be achieved, and the methods to be employed in individual meditation, and having enlarged a little on the use of forms by individuals, we can now take up the consideration of the matter from the collective standpoints.

[13] về những kết quả cần đạt được và những phương pháp cần sử dụng trong tham thiền cá nhân, đồng thời đã bàn rộng thêm đôi chút về việc cá nhân sử dụng các hình thức, chúng ta có thể xem xét vấn đề từ những góc nhìn tập thể.

He says “a little” and “somewhat,” but for us it’s a lot of information, and we have only dim ideas. The little, in his eyes, that he has given us is a lot when we consider what we have and what we know. So we’ve looked at the microcosmic approach to meditation, and now something more regarding the collective, as group meditation is becoming more and more important. Maybe it didn’t start out that way when introduced to the West in a great flood of revelation, but now group meditation is much more common. It’s been growing all these years.

Ngài nói “đôi chút” và “phần nào”, nhưng đối với chúng ta, đó là rất nhiều thông tin, và chúng ta chỉ có những ý niệm mơ hồ. Theo cách nhìn của Ngài, những gì Ngài đã trao cho chúng ta là ít ỏi, nhưng xét những gì chúng ta có và biết, thì đó lại là rất nhiều. Vậy, chúng ta đã xem xét cách tiếp cận tham thiền ở cấp độ tiểu thiên địa, và giờ đây sẽ tìm hiểu thêm về phương diện tập thể, vì tham thiền nhóm đang ngày càng trở nên quan trọng. Có lẽ ban đầu không phải như vậy khi tham thiền được đưa vào phương Tây trong một làn sóng mặc khải lớn lao, nhưng giờ đây tham thiền nhóm phổ biến hơn nhiều. Nó đã phát triển suốt những năm qua.

[14] Some of the most important things to note about the collective use of forms are that it has a universal vogue, is very effective, and can also be very dangerous.

[14] Một số điều quan trọng nhất cần lưu ý về việc sử dụng các hình thức trong tập thể là việc ấy phổ biến khắp nơi, rất hiệu quả và cũng có thể rất nguy hiểm.

Gosh, we are certainly warned—warmed, yes, but warned. We are warned over and again about the dangers of occult meditation, but of course, the benefits far outweigh those dangers, and we have to take the risk.

Chà, chắc chắn chúng ta được cảnh báo—được sưởi ấm, đúng vậy, nhưng là được cảnh báo. Chúng ta được cảnh báo hết lần này đến lần khác về những nguy hiểm của tham thiền huyền bí, nhưng dĩ nhiên, lợi ích vượt xa những nguy hiểm ấy, và chúng ta phải chấp nhận rủi ro.

[15] The collective worshipping of the Deity and the performance of religious rites in unison is so much a part of the public life of all peoples that its raison d’etre, and the results achieved, are apt to be overlooked.

[15] Việc cùng nhau thờ phụng Thượng đế và đồng loạt cử hành các nghi lễ tôn giáo đã trở thành một phần quá quen thuộc trong đời sống cộng đồng của mọi dân tộc, đến mức người ta dễ bỏ qua lý do tồn tại và những kết quả đạt được của việc ấy.

As I say, more and more collective worship, and maybe now more collective meditation. Worship we’ve had, certainly in the West, in group form for a long time. I was in old town Tallinn, Estonia, in a church that was prominent in the 17th century, and those very straight and uncomfortable pews were there. And one just imagines how filled it was in the old days, people worshipping together under the spell of fear and awe, and also occasionally of exultation and joy, I suppose. So this is indeed a part of life, and has been for a long time. And the festivals in the East are very populated.

Như Tôi nói, ngày càng có nhiều hoạt động thờ phụng tập thể, và có lẽ giờ đây cũng có nhiều hoạt động tham thiền tập thể hơn. Chắc chắn ở phương Tây, chúng ta đã có việc thờ phụng theo nhóm từ lâu. Tôi từng đến khu phố cổ Tallinn, Estonia, vào một nhà thờ nổi bật trong thế kỷ XVII, nơi vẫn còn những hàng ghế rất thẳng và không thoải mái ấy. Người ta có thể hình dung ngày xưa nhà thờ chật kín thế nào, mọi người cùng thờ phụng trong bầu không khí sợ hãi và kính sợ, và đôi khi, Tôi cho là, cũng có niềm hân hoan và sự hoan hỉ. Vì vậy, đây quả thực là một phần của đời sống, và đã như vậy từ lâu. Còn những lễ hội ở phương Đông thì có rất đông người tham dự.

[16] Every religion—Christian, Buddhist, Hindu, Mohammedan, down to the distorted fetish worship of the most degraded race—

[16] Mọi tôn giáo—Kitô giáo, Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, cho đến việc thờ vật linh méo mó của bộ phận nhân loại suy đồi nhất—

where basically you’re taking some material item to be the deity itself. I remember there was a movie called The Gods Must Be Crazy, where a can of Coca-Cola fell from a plane. Was it an empty can? I don’t remember. And it was odd. It fell in the midst of a jungle atmosphere. It was picked up by one of the native people and worshipped as a deity. Well, we’ve all been through it, haven’t we? So, every religion

trong đó, về cơ bản, bạn xem một vật thể nào đó chính là Thượng đế. Tôi nhớ có một bộ phim tên là Đến Thượng Đế Cũng Phải Cười, trong đó một lon Coca-Cola rơi xuống từ máy bay. Có phải là lon rỗng không? Tôi không nhớ. Và chuyện ấy thật kỳ lạ. Nó rơi xuống giữa một khung cảnh rừng rậm. Một người bản địa nhặt nó lên và thờ phụng nó như một vị thần. Tất cả chúng ta đều đã trải qua điều đó, phải không? Vậy, mọi tôn giáo

[17] has emphasised the value and efficiency of a united attempt to contact the Divine.

[17] đều nhấn mạnh giá trị và hiệu quả của một nỗ lực hợp nhất nhằm tiếp xúc với điều Thiêng Liêng.

This is going back, I’m sure, a very long time.

Tôi chắc rằng điều này đã có từ rất lâu.

[18] Results are inevitably achieved, ranging all the way from the calm and peaceful feeling that rests upon the participant in the Christian mysteries, to the frenzy and gyrations of the wildest dervish or the most benighted Zulu.

[18] Những kết quả tất yếu xuất hiện, trải dài từ cảm giác bình tâm và an hòa bao phủ người tham dự các nghi lễ huyền nhiệm Kitô giáo cho đến sự cuồng loạn và những vòng xoay của tu sĩ khổ hạnh cuồng nhiệt nhất hay người Zulu mê muội nhất.

Well, this kind of language would not go today, because obviously the dervish culture and the Zulu culture have much to recommend them, and much of a deeper nature. But I guess we’re talking about the peacefulness of worship and the wildness of worship. Basically, that’s the point he’s trying to make.

Ngày nay, cách diễn đạt này sẽ không được chấp nhận, bởi rõ ràng văn hóa của các tu sĩ khổ hạnh Hồi giáo và văn hóa Zulu có nhiều điều đáng trân trọng, cùng nhiều khía cạnh sâu sắc hơn. Nhưng Tôi nghĩ chúng ta đang nói đến sự bình an trong thờ phụng và sự cuồng nhiệt trong thờ phụng. Về cơ bản, đó là điều Ngài muốn nói.

[19] The difference lies in the ability of the worshipper to assimilate force, and in his capacity to hold and carry it. These points are decided by his place on the ladder of evolution, and by the emotional and mental control of which he may be possessed.

[19] Sự khác biệt nằm ở khả năng hấp thu mãnh lực của người thờ phụng và khả năng giữ cũng như mang mãnh lực ấy. Những điều này tùy thuộc vào vị trí của y trên thang tiến hóa và mức độ làm chủ cảm xúc cùng trí tuệ mà y có thể có.

So, basically, we have to take this as telling us there are effects to group worship, but they are different kinds of effects, and much depends upon the condition of the instrument, the group instrument. There are Christian groups that love to enter ecstatic states, and they wish to imitate the speaking in tongues which came to the disciples of the Christ through the Holy Spirit in the upper room, but so many of these imitations are simply missing the Holy Spirit. They are imitations, and I think there is gradually a reduction in activity, so that the stillness required and indicated by the statement “Be still and know that I am God” —so that stillness develops.

Vì vậy, về cơ bản, chúng ta phải hiểu rằng đoạn này cho biết việc thờ phụng nhóm có những tác động, nhưng đó là những loại tác động khác nhau, và rất nhiều điều tùy thuộc vào tình trạng của công cụ, công cụ nhóm. Có những nhóm Kitô giáo thích bước vào các trạng thái ngây ngất, và họ muốn bắt chước việc nói các thứ tiếng đã đến với các đệ tử của Đức Christ qua Chúa Thánh Thần trong căn phòng trên lầu, nhưng rất nhiều sự bắt chước ấy đơn giản là thiếu Chúa Thánh Thần. Chúng chỉ là những sự bắt chước, và Tôi nghĩ hoạt động dần dần giảm bớt, để sự tĩnh lặng mà lời “Hãy tĩnh lặng và biết rằng Tôi là Thượng đế” yêu cầu và chỉ ra có thể phát triển.

[20] The first postulate to remember in considering the collective use of form in meditation is that those forms, in employing sound and rhythm, should open up a funnel of communication between those taking part in them and the Intelligences or Powers they are seeking to approach.

[20] Tiền đề đầu tiên cần nhớ khi xem xét việc sử dụng hình thức trong tham thiền tập thể là: thông qua âm thanh và nhịp điệu, các hình thức ấy phải mở ra một phễu giao tiếp giữa những người tham dự và các Đấng Trí Tuệ hay Quyền Năng mà họ đang tìm cách tiếp cận.

I’m a little daunted by DK’s outlines, because somehow I always manage to lose my way. But let’s try to do something here that is a little bit indicative. First—so, that’s the first postulate: it should open up a funnel of communication. Now, this idea of the funnel, of the vortex, of the cleared line of communication is very prominent in occultism and in the general science of invocation seeking evocation. I mean, that is the principle: invocation seeks evocation.

Tôi hơi ngại những dàn ý của Chân sư DK, vì không hiểu sao Tôi luôn bị lạc hướng. Nhưng chúng ta hãy thử làm điều gì đó ở đây để chỉ ra đôi chút. Trước hết—đó là tiên đề đầu tiên: phải mở ra một phễu giao tiếp. Ý tưởng về phễu, về xoáy, về đường giao tiếp đã được khai thông này rất nổi bật trong huyền bí học và trong khoa học khẩn cầu nói chung nhằm tìm kiếm sự gợi lên. Ý Tôi là, đó chính là nguyên lý: khẩn cầu tìm kiếm sự gợi lên.

[21] By the means of this funnel which penetrates from the physical to the emotional, or still higher to one or other of the mental levels, the Intelligences or Powers are enabled to pour forth illuminating light or power of some kind or other into those who thus approach Them.

[21] Nhờ phễu này, xuyên từ cõi hồng trần đến cõi cảm xúc, hoặc còn cao hơn đến một cấp độ trí tuệ nào đó, các Đấng Trí Tuệ hay Quyền Năng có thể tuôn ánh sáng soi sáng hoặc một loại quyền năng nào đó vào những người tiếp cận Các Ngài theo cách ấy.

So, I want to make sure that this word “funnel” is emphasized. We will see this more and more depicted through animation, and some of our close associates and long-term disciples are actually artistically adept at either producing or finding representations of the funnel, so that we can get a better idea of really what’s happening when, via the funnel, there can be a downflow from these Intelligences and Powers. And, of course, the funnel can go higher than the mind as well, obviously.

Vì vậy, Tôi muốn bảo đảm rằng từ “phễu” này được nhấn mạnh. Chúng ta sẽ ngày càng thấy nhiều hình ảnh mô tả điều này qua hoạt hình, và một số cộng sự thân thiết cùng các đệ tử lâu năm của chúng ta thực sự có tài nghệ thuật trong việc tạo ra hoặc tìm kiếm những hình ảnh biểu đạt phễu, để chúng ta có thể hiểu rõ hơn điều gì thực sự đang diễn ra khi, qua phễu, có thể có một dòng tuôn xuống từ các Đấng Trí Tuệ và Quyền Năng này. Và dĩ nhiên, phễu cũng có thể vươn cao hơn thể trí.

The funnel—it’s interesting—maybe when I was a kid I experimented with funnels. At least I used to like to play with them, and I would notice that, of course, the way they were constructed, the downflow was always less than the content of the widened portion of the funnel. It wasn’t a sudden downrush; it was a channel, and depending on how wide the aperture was, so would be the rate of flow. I’m recalling that Master Kuthumi and Master DK were having a discussion about the disciple F.C.D., and they were debating whether to widen the channel between some higher state and his present state. He was very sensitive already, and they decided, well, it’s wide enough, because any further widening might be debilitating. So, channel or funnel, it’s pretty much the same.

Phễu—thật thú vị—có lẽ khi còn nhỏ Tôi đã thử nghiệm với những chiếc phễu. Ít nhất, Tôi từng thích chơi với chúng, và Tôi nhận thấy rằng, dĩ nhiên, với cách cấu tạo của chúng, dòng chảy xuống luôn ít hơn lượng chứa trong phần mở rộng của phễu. Nó không phải một dòng ào xuống đột ngột; nó là một kênh dẫn, và tốc độ dòng chảy tùy thuộc vào độ rộng của miệng thoát. Tôi nhớ Chân sư Kuthumi và Chân sư DK từng thảo luận về đệ tử F.C.D., và Các Ngài cân nhắc liệu có nên mở rộng kênh dẫn giữa một trạng thái cao hơn nào đó và trạng thái hiện tại của y hay không. Y vốn đã rất nhạy cảm, và Các Ngài quyết định rằng kênh ấy đã đủ rộng, bởi mở rộng thêm có thể khiến y suy nhược. Vì vậy, kênh dẫn hay phễu cũng gần như giống nhau.

[22] The funnel forms a channel whereby the contact can be made. The whole process is purely scientific and is based on vibration, and on a knowledge of dynamics.

[22] Phễu này [Page 192] tạo thành một kênh để thiết lập sự tiếp xúc. Toàn bộ tiến trình hoàn toàn mang tính khoa học, dựa trên rung động và sự hiểu biết về động lực học.

This is interesting. And maybe we’re not talking so much about fluid dynamics as we would in physics, but we are talking about a range of vibrations and the adjustment of frequencies. So there is an adjustment of frequency producing the flow, some kind of gradient or incline or flow from a higher frequency to the area where a lower frequency existed before. So, the antahkarana is pretty much that way too. I mean, we’re really imagining a line when we visualize the antahkarana that way, but what’s really happening is a heightening of a point of tension. The antahkarana is really a progressive heightening of a point of tension.

Điều này thật thú vị. Và có lẽ chúng ta không nói nhiều về động lực học lưu chất như trong vật lý học, mà đang nói đến một dải rung động và việc điều chỉnh các tần số. Vì vậy, có sự điều chỉnh tần số tạo ra dòng chảy, một dạng độ chênh, độ dốc hay dòng chảy từ một tần số cao hơn đến vùng trước đó có tần số thấp hơn. Antahkarana cũng khá giống như vậy. Ý Tôi là, khi hình dung antahkarana theo cách ấy, chúng ta thực sự đang tưởng tượng một đường nối, nhưng điều thực sự diễn ra là sự nâng cao một điểm tập trung nhất tâm. Antahkarana thực sự là sự nâng cao dần dần một điểm tập trung nhất tâm.

So, purely scientific. And so, in that sense, the fifth ray has to be brought to bear on these dynamics, and of course, it’s one thing to talk about it and another thing to be able to do it, but the analogy in one way is: you have to read the menu in order to order the meal, in order to eat the meal. So, you have to study first, and then, according to the studies, you can invoke, call upon, or build, and finally evoke what is needed to experience a new state in a practical manner.

Vậy, hoàn toàn mang tính khoa học. Và theo nghĩa ấy, phải vận dụng cung năm vào những động lực này. Dĩ nhiên, nói về điều đó là một chuyện, còn có thể thực hiện lại là chuyện khác, nhưng có thể dùng phép tương đồng này: bạn phải đọc thực đơn để gọi món, rồi mới ăn món ấy. Vì vậy, trước hết bạn phải nghiên cứu. Sau đó, dựa trên những gì đã nghiên cứu, bạn có thể khẩn cầu, kêu gọi hoặc xây dựng, và cuối cùng gợi lên những gì cần thiết để trải nghiệm một trạng thái mới một cách thực tiễn.

[23] It is dependent upon the accurate formation, through occult knowledge, of a vacuum. The occult statement that “Nature abhors a vacuum”

[23] Tiến trình này tùy thuộc vào việc tạo chính xác một khoảng chân không thông qua tri thức huyền bí. Phát biểu huyền bí rằng “Tự nhiên không dung chứa khoảng chân không”

—or maybe let us say a differential regarding rates of vibration—

—hoặc có lẽ hãy nói là một độ chênh về tốc độ rung động—

[24] is entirely true. When through the correct intoning of certain sounds, this vacuum or empty funnel

[24] là hoàn toàn đúng. Khi việc xướng đúng một số âm thanh tạo nên khoảng chân không hay phễu rỗng này

—empty in what sense?—

—rỗng theo nghĩa nào?—

[25] between the higher and the lower is formed, force or power of some manifestation of fohatic energy pours into the funnel under the inevitable working of the law, and, via that funnel, reaches its objective.

[25] giữa cái cao và cái thấp, mãnh lực hay quyền năng của một biểu hiện nào đó của năng lượng lửa vũ trụ sẽ tuôn vào phễu theo sự vận hành tất yếu của định luật, rồi qua phễu ấy đạt đến mục tiêu.

Very important little section there, and something that, as we gain more knowledge about occult meditation, we will be employing knowingly. All of this flow from the higher to the lower, and, I suppose, the reciprocal communication eventually, is dependent upon the accurate formation, through occult knowledge, of a vacuum.

Đây là một đoạn ngắn rất quan trọng, và là điều mà khi có thêm tri thức về tham thiền huyền bí, chúng ta sẽ vận dụng một cách có hiểu biết. Toàn bộ dòng chảy này từ cái cao xuống cái thấp, và Tôi cho là cuối cùng cả sự giao tiếp qua lại, đều tùy thuộc vào việc tạo lập chính xác một khoảng chân không thông qua tri thức huyền bí.

The occult statement that “Nature abhors a vacuum” is entirely true. When through the correct intoning of certain sounds

Phát biểu huyền bí rằng “Tự nhiên không dung nạp chân không” là hoàn toàn đúng. Khi xướng đúng một số âm thanh

—now obviously this has to be given in the oral tradition, from mouth to ear, or telepathically; it’s the same—it’s entirely true, nature abhors a vacuum.

—dĩ nhiên, điều này phải được truyền theo truyền thống khẩu truyền, từ miệng đến tai, hoặc bằng viễn cảm; cũng như nhau—đó là điều hoàn toàn đúng, tự nhiên không dung nạp chân không.

When through the correct intoning of certain sounds, this vacuum or empty funnel between the higher and the lower is formed,

Khi việc xướng đúng một số âm thanh tạo ra khoảng chân không hay phễu rỗng này giữa cái cao và cái thấp,

—a kind of gravitational response involving frequencies—

—một dạng đáp ứng hấp dẫn liên quan đến các tần số—

this vacuum or empty funnel between the higher and the lower is formed, force or power of some manifestation,

khoảng chân không hay phễu rỗng này hình thành giữa cái cao và cái thấp, mãnh lực hoặc quyền năng của một biểu hiện nào đó,

probably evidenced in an increase of frequency,

có lẽ biểu lộ qua sự gia tăng tần số,

of fohatic energy,

của năng lượng điện vũ trụ,

cosmic electricity,

điện vũ trụ,

pours into the funnel under the inevitable working of the law, and, via that funnel, reaches its objective.

tuôn vào phễu theo sự vận hành tất yếu của định luật, và qua phễu ấy, đến được mục tiêu của nó.

We might say the dynamics are still obscure to us, but analogies can be made. And the funnels are formed best in stillness. But it strikes me—you begin to wonder whether those dervishes, with their very disciplined turning, are not somehow creating a funnel through rotation. There’s a whole occultism behind the whirling, obviously.

Chúng ta có thể nói rằng những động lực này vẫn còn mơ hồ đối với chúng ta, nhưng có thể dùng các phép tương đồng. Và những phễu ấy hình thành tốt nhất trong sự tĩnh lặng. Nhưng Tôi chợt nghĩ—bạn bắt đầu tự hỏi liệu những tu sĩ khổ hạnh Hồi giáo ấy, với những vòng xoay rất có kỷ luật, có đang tạo ra một phễu bằng chuyển động xoay theo cách nào đó hay không. Rõ ràng, có cả một hệ thống huyền bí học đằng sau việc xoay vòng ấy.

[26] It is on the misuse of this knowledge that much of what we call black art or evil magic is based. By means of invocation and forms

[26] Phần lớn những gì chúng ta gọi là thuật đen hay huyền thuật tà ác đều dựa trên việc lạm dụng tri thức này. Bằng sự khẩn cầu và các hình thức

—certain forms that they will use—

—những hình tướng nhất định mà họ sẽ sử dụng—

[27] the Dark Brothers (or those who tamper with what you ignorantly term the powers of evil)

[27] các huynh đệ bóng tối (hay những kẻ thao túng thứ mà do thiếu hiểu biết, các bạn gọi là những quyền năng tà ác)

—probably the forces of involution and slowing down of frequencies, descent into matter, that would be. These powers of evil, these Dark Brothers—

—có lẽ đó là những mãnh lực của giáng hạ tiến hoá và sự giảm tốc độ của các tần số, sự đi xuống vào vật chất. Những quyền năng của điều ác này, những huynh đệ bóng tối này—

[28] tap forces connected with dark intelligences in high places.

[28] khai thác những mãnh lực liên kết với các trí tuệ hắc ám ở những cõi cao.

They just want to work within certain realms, and there they seek to rule certain lower realms, and they are, if I remember correctly, trapped by a great material deva from which they cannot gain freedom.

Họ chỉ muốn hoạt động trong một số cảnh giới nhất định, và tại đó họ tìm cách cai quản một số cảnh giới thấp hơn; nếu Tôi nhớ đúng, họ bị một thiên thần vật chất vĩ đại giam giữ, không thể thoát ra để được tự do.

[29] Thus they set in motion happenings on the physical plane that have their origination in the dark mysterious caves of cosmic evil as found within our solar system.

[29] Như vậy, họ khởi động những biến cố trên cõi hồng trần có nguồn gốc từ những hang động tối tăm, bí hiểm của cái ác vũ trụ tồn tại trong hệ mặt trời của chúng ta.

But also even on the cosmic astral plane. I’m not sure that the cosmic astral plane can be included in what we call the solar system, and I suppose there’s a question of whether this kind of evil can be found on the cosmic mental plane, or whether it is limited to the cosmic astral plane.

Nhưng còn cả trên cõi cảm dục vũ trụ nữa. Tôi không chắc có thể bao gồm cõi cảm dục vũ trụ trong cái chúng ta gọi là hệ mặt trời, và Tôi cho rằng còn có câu hỏi liệu loại điều ác này có thể tồn tại trên cõi trí vũ trụ hay chỉ giới hạn ở cõi cảm dục vũ trụ.

[30] Equally so, it is possible to tap the still greater forces of light and good and to make application of them on the side of evolution.

[30] Tương tự, người ta có thể khai thác những mãnh lực còn lớn hơn của ánh sáng và điều thiện, rồi vận dụng chúng để hỗ trợ tiến hóa.

I guess we see how careful we have to be, because fools are always rushing in where angels fear to tread, and there is such scientific complexity involving these occult matters that, unless we proceed with caution, it will certainly lead to our temporary undoing. So they too, the Dark Brothers, have their invocations, they have their forms, and there are dark intelligences in high places. Their focus is simply more material, and involves a level of density over which they seek to rule, and from which we seek liberation. So that gives us some idea, I think, of what has been called here the use of form collectively.

Tôi nghĩ chúng ta thấy mình phải cẩn trọng đến mức nào, bởi những kẻ khờ luôn lao vào nơi các thiên thần còn ngại bước tới; những vấn đề huyền bí này liên quan đến sự phức tạp khoa học đến mức, nếu không thận trọng tiến hành, chúng chắc chắn sẽ dẫn đến sự suy sụp tạm thời của chúng ta. Vì vậy, họ cũng vậy, các huynh đệ bóng tối cũng có những lời khẩn cầu, những hình tướng của họ, và có những trí tuệ hắc ám ở những tầng cao. Trọng tâm của họ đơn giản là thiên về vật chất hơn, liên quan đến một cấp độ đậm đặc mà họ tìm cách cai quản, còn chúng ta thì tìm cách giải thoát khỏi đó. Vì vậy, Tôi nghĩ điều này cho chúng ta đôi chút ý niệm về điều ở đây gọi là việc sử dụng hình tướng tập thể.

Now we’re going into this in greater detail, looking at the group utilization of certain forms. I guess the best attitude is one of patient humility, and not avoiding the temptation of unwarranted experimentation, and even tampering with energies and forces which we just can’t understand or handle yet. So he’s giving us hints here about how to proceed upon the occult path when dealing with these occult matters. This is actually a very esoteric book; there’s no question about it. I mean, people may come to criticize it and say, “Oh, it’s about occultism, therefore it’s evil.” Well, that misconception has to be straightened out. This is simply a science which can be used in a spiritual manner to raise our point of tension in consciousness, and bring us closer to the state of oneness and identification and real usefulness in the manifestation of the Divine Plan.

Giờ đây chúng ta sẽ đi sâu hơn, xem xét việc nhóm sử dụng một số hình tướng nhất định. Tôi nghĩ thái độ tốt nhất là khiêm nhường kiên nhẫn, và không tránh sự cám dỗ muốn thử nghiệm thiếu cơ sở, thậm chí can thiệp vào những năng lượng và mãnh lực mà chúng ta chưa thể thấu hiểu hay xử lý. Vì vậy, ở đây Ngài đang gợi ý cho chúng ta cách tiến bước trên con đường huyền bí khi làm việc với những vấn đề huyền bí này. Đây thực sự là một cuốn sách rất nội môn; không có gì phải nghi ngờ. Ý Tôi là, người ta có thể phê phán nó và nói: “Ồ, nó nói về huyền bí học, vì thế nó là tà ác.” Quan niệm sai lầm ấy cần được chỉnh lại. Đây đơn giản là một khoa học có thể được sử dụng theo cách tinh thần để nâng cao điểm tập trung nhất tâm của chúng ta trong tâm thức, đưa chúng ta đến gần hơn với trạng thái nhất thể và đồng hoá, cũng như sự hữu ích thực sự trong việc biểu hiện Thiên Cơ.

The next section is having to do with:

Phần tiếp theo liên quan đến:

[30b] (Sit up, Brother of Mine, for in the reception of my dictated word it is essential that there should be direct alignment betwixt the major head centre which you employ and the base of the spine via the spinal column.)

[30b] (Hãy ngồi thẳng lên, huynh đệ của Tôi, vì khi tiếp nhận lời Tôi đọc cho bạn ghi, điều thiết yếu là phải có sự chỉnh hợp trực tiếp giữa trung tâm đầu chính mà bạn sử dụng và đáy cột sống qua cột sống.)

[31] The use of sound collectively in meditation forms.

[31] Việc sử dụng âm thanh trong tập thể theo các hình thức tham thiền.

[32] We will now take up the matter specifically from the standpoint of sound.

[32] Giờ đây chúng ta sẽ bàn cụ thể về vấn đề từ góc độ âm thanh.

Sound is a great creative agent, issuing forth from the throat center or higher correspondences, and the throat center is a creative center, assisting with the manifestation of form not only on the mental level; it’s possible to speak the words of magic and develop a materializing ability, bring about a manifestation on lower levels than the mental.

Âm thanh là một tác nhân sáng tạo lớn lao, phát ra từ trung tâm cổ họng hoặc những trung tâm tương ứng cao hơn; trung tâm cổ họng là một trung tâm sáng tạo, hỗ trợ sự biểu hiện của hình tướng không chỉ ở cấp độ trí tuệ; người ta có thể nói ra những linh từ huyền thuật và phát triển khả năng hiện hình, tạo nên sự biểu hiện ở những cấp độ thấp hơn cấp độ trí tuệ.

We will now take up the matter specifically from the standpoint of sound.

Giờ đây, chúng ta sẽ đề cập cụ thể đến vấn đề này từ quan điểm âm thanh.

[33] In the study of the Sacred Word and its use we found that it had a triple effect, destructive, constructive and personal,—if I might so express it—or acting directly in a stimulating sense on the centres of the body.

[33] Khi nghiên cứu Linh Từ Thiêng Liêng và cách sử dụng, chúng ta thấy linh từ ấy có tác động tam phân: phá hủy, kiến tạo và tác động đến cá nhân,—nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy—hay trực tiếp kích thích các trung tâm trong thân thể.

It was a long time ago in the book, wasn’t it? We have to do our best to remember what he said. triple effect, destructive, constructive. One of the things about it is the casting out of the unfit matter and the magnetic attraction of matter of a higher quality, and then also the effect upon the chakras.

Phần đó đã ở khá xa trước đây trong cuốn sách, phải không? Chúng ta phải cố hết sức nhớ lại những gì Ngài đã nói. tác dụng tam phân: phá huỷ, kiến tạo. Một trong những tác dụng ấy là loại bỏ vật chất không thích hợp và thu hút bằng từ tính vật chất có phẩm tính cao hơn, rồi còn có tác dụng lên các luân xa.

[34] These three effects may be seen in the use of all sound collectively and by a large body of persons.

[34] Có thể thấy ba tác động này khi một tập thể đông người cùng sử dụng bất kỳ âm thanh nào.

Well, I’ve mentioned—I heard the story—I was in Estonia, it’s not far from Finland, and there was a huge outdoor, semi-covered theater or stage. I mean, there’s just room for thousands. And the story goes that thousands, tens of thousands of Estonians gathered at a certain point and basically sang the Russian occupiers out of the country. This was the power of sound. Maybe they sang great patriotic hymns and other things that had the occult effect of removing, or at least contributed to the removing of, the occupiers. Well, there’s a kind of practical example, if true, and I think it is true. So these three effects, which we can say are destructive, constructive, and personal—personal chakra—can work collectively too.

Tôi đã nhắc đến—Tôi đã nghe câu chuyện này—Tôi từng ở Estonia, không xa Phần Lan, và ở đó có một nhà hát hay sân khấu ngoài trời khổng lồ, có mái che một phần. Ý Tôi là nơi ấy đủ chỗ cho hàng nghìn người. Và câu chuyện kể rằng hàng nghìn, hàng chục nghìn người Estonia đã tụ họp vào một thời điểm nhất định và về cơ bản đã dùng tiếng hát đẩy những người Nga chiếm đóng ra khỏi đất nước. Đó là quyền năng của âm thanh. Có lẽ họ đã hát những bài thánh ca yêu nước hùng tráng cùng những bài khác có tác dụng huyền bí là loại bỏ, hoặc ít nhất góp phần loại bỏ, những người chiếm đóng. Đó là một ví dụ thực tiễn, nếu đúng, và Tôi nghĩ là đúng. Vì vậy, ba tác dụng này, mà chúng ta có thể gọi là phá huỷ, kiến tạo và cá nhân—luân xa cá nhân—cũng có thể hoạt động trên bình diện tập thể.

These three effects may be seen in the use of all sound collectively and by a large body of persons.

Có thể thấy ba tác dụng này khi một tập thể đông người cùng sử dụng toàn bộ âm thanh.

So he’s giving us hints here about how to really accomplish something when we learn how to stand with massed intent, according to the spiritual will, and utilize sound under law.

Như vậy, ở đây Ngài đang gợi ý cho chúng ta cách thực sự hoàn thành một việc gì đó khi chúng ta học cách đứng vững với ý hướng tập trung hợp nhất, theo ý chí tinh thần, và sử dụng âm thanh theo định luật.

[35] We might enumerate still further for the sake of clarity a fourth effect, that of the creation of a funnel. This fourth effect is but a synthesis of the others in actuality, for adjustments in the matter of the three lower planes have to be made in this creation of a funnel of communication.

[35] Để làm rõ hơn, chúng ta có thể kể thêm một tác động thứ tư: tạo ra một phễu. Thực ra, tác động thứ tư này chỉ là sự tổng hợp của những tác động kia, vì cần có những điều chỉnh [Page 193] trong vật chất của ba cõi thấp khi tạo nên phễu giao tiếp này.

The fourth effect, the creation of a funnel: destructive, constructive, personal, and regarding the creation of a funnel. We’re going to be using that funnel more and more as we are rightly instructed. You can understand what a great task the externalizing Masters have taken upon themselves: to supervise the development of their students in person and, as it were, on the spot, and able to correct mistakes and ward off dangers. All of this is coming.

Tác dụng thứ tư, tạo ra một cái phễu: phá huỷ, kiến tạo, cá nhân và liên quan đến việc tạo ra một cái phễu. Chúng ta sẽ ngày càng sử dụng cái phễu ấy nhiều hơn khi được chỉ dẫn đúng đắn. Các bạn có thể thấu hiểu nhiệm vụ lớn lao mà các Chân sư đang ngoại hiện đã tự đảm nhận: đích thân giám sát sự phát triển của các môn sinh của Các Ngài, có thể nói là ngay tại chỗ, để có thể sửa chữa sai lầm và ngăn ngừa nguy hiểm. Tất cả những điều này đang đến.

[36] Those adjustments result first of all in the destruction of obstructing matter, and then in the construction of a funnel for use.

[36] Trước hết, những điều chỉnh ấy phá hủy vật chất gây cản trở, rồi kiến tạo một phễu để sử dụng.

Anyway, adjustments in the matter of the three lower planes have to be made in this creation of a funnel for communication. Now, maybe he’s going to tell us about the adjustments. First of all, destruction of obstructing matter, and then the construction of the funnel.

Dù sao, phải thực hiện những điều chỉnh trong vật chất của ba cõi thấp khi tạo ra cái phễu này để giao tiếp. Giờ đây, có lẽ Ngài sẽ nói với chúng ta về những điều chỉnh ấy. Trước hết, phá huỷ vật chất gây cản trở, rồi kiến tạo cái phễu.

[37] This is very definitely effected

[37] Điều này diễn ra hết sức rõ rệt

—brought about—

—được tạo nên—

[38] through the instrumentality of the centres. This latter point is of fundamental interest, and holds hid the secret of the most potent use of sound.

[38] nhờ các trung tâm làm phương tiện. Điểm sau cùng này có tầm quan trọng căn bản và ẩn chứa bí mật về cách sử dụng âm thanh mạnh mẽ nhất.

So we have the sequence of four, again: destruction, construction, chakric, and regarding funnels. Adjustments are made through destruction. Then a constructive act takes place. It depends, to a certain extent, upon the use of the centers. And finally, we have the funnel to use. Now, all of this has to be imparted clearly and by the teacher in presence. So it just makes sense to do everything we can to promote The Reappearance of the Christ and the prior emergence of members of his Hierarchy, setting up the conditions on the physical plane whereby such instruction can be safely imparted—remembering the surprising thought that DK presents, that before long many initiates of the fifth degree will be required to bring about the changes which the Plan demands.

Vậy một lần nữa, chúng ta có trình tự gồm bốn tác dụng: phá huỷ, kiến tạo, tác động lên luân xa và liên quan đến các phễu. Những điều chỉnh diễn ra thông qua sự phá huỷ. Sau đó, một hành động kiến tạo diễn ra. Ở một mức độ nhất định, điều này phụ thuộc vào việc sử dụng các trung tâm. Và cuối cùng, chúng ta có cái phễu để sử dụng. Tất cả những điều này phải do huấn sư trực tiếp hiện diện truyền đạt một cách rõ ràng. Vì vậy, việc làm mọi điều có thể để thúc đẩy sự tái lâm của Đức Christ và sự xuất hiện trước đó của các thành viên Thánh đoàn của Ngài là hoàn toàn hợp lý, nhằm thiết lập những điều kiện trên cõi hồng trần để có thể truyền đạt sự chỉ dẫn như thế một cách an toàn—đồng thời nhớ đến ý tưởng đáng ngạc nhiên mà Chân sư DK đưa ra: chẳng bao lâu nữa, sẽ cần nhiều điểm đạo đồ bậc năm để tạo nên những thay đổi mà Thiên Cơ đòi hỏi.

So, the instrumentality of the centres. Yes, the funnel is created through the instrumentality of the centers. The latter point, about the funnel being created through the instrumentality of the centers—is of fundamental interest, and holds hid the secret of the most potent use of sound.

Vậy, thông qua các trung tâm. Đúng vậy, cái phễu được tạo ra thông qua các trung tâm. Điểm sau này, về việc cái phễu được tạo ra thông qua các trung tâm—có tầm quan trọng nền tảng và ẩn chứa bí mật về cách sử dụng âm thanh có quyền năng mạnh mẽ nhất.

[39] That use is its projection in mental matter by means of one or other of the major centres.

[39] Cách sử dụng ấy là phóng chiếu âm thanh vào vật chất trí tuệ qua một trong các trung tâm chính.

He’s really giving us as much of the occultism as he can. projection in mental matter. Now, this sounds a lot like the antahkarana. So this sounds like the antahkarana.

Ngài thực sự đang truyền cho chúng ta nhiều kiến thức huyền bí học nhất có thể. phóng chiếu vào vật chất trí tuệ. Điều này nghe rất giống antahkarana. Vậy điều này nghe giống antahkarana.

[40] The effects achieved by a group of persons who have the power to work on mental levels,

[40] Những kết quả mà một nhóm người có khả năng hoạt động trên các cấp độ trí tuệ,

—from where the antahkarana is projected; it’s an antahkarana-like process—

—từ đó antahkarana được phóng chiếu; đây là một tiến trình giống antahkarana—

[41] and to employ simultaneously one of the major centres (either entirely the head centre or one of the other major centres in connection with its corresponding head centre)

[41] đồng thời sử dụng một trong các trung tâm chính (hoặc chỉ trung tâm đầu, hoặc một trung tâm chính khác kết hợp với trung tâm tương ứng của nó trong đầu)

So, we might say throat center and its corresponding center, and heart center and its corresponding head center.

Vậy, chúng ta có thể nói là trung tâm cổ họng và trung tâm tương ứng của nó, cùng trung tâm tim và trung tâm đầu tương ứng của nó.

[42] can be unbelievably powerful.

[42] đạt được có thể mạnh mẽ đến mức khó tin.

I’ll read that together:

Tôi sẽ đọc liền đoạn đó:

The effects achieved by a group of persons who have the power to work on mental levels, and to employ simultaneously one of the major centres (either entirely the head centre or one of the other major centres in connection with its corresponding head centre)

Những tác dụng mà một nhóm người có khả năng hoạt động trên các cấp độ trí tuệ đạt được, và đồng thời sử dụng một trong các trung tâm chính (hoặc hoàn toàn dùng trung tâm đầu, hoặc dùng một trong các trung tâm chính khác kết hợp với trung tâm đầu tương ứng của nó)

—one of the major seven head centers—

—một trong bảy trung tâm đầu chính—

can be unbelievably powerful.

có thể mạnh mẽ đến mức khó tin.

Now, something that reminds us of this kind of working is found here in The Rays and the Initiations, in a later rule. And here is where we would find it: in Rule number 11 for disciples and initiates. This would be such a group working in that way.

Ở đây, trong Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, tại một quy luật về sau, có điều gợi chúng ta nhớ đến cách hoạt động này. Và đây là nơi chúng ta tìm thấy điều đó: Quy luật số 11 dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ. Đây chính là một nhóm hoạt động theo cách ấy.

Let the group together move the fire within the Jewel in the Lotus into the Triad

Hãy để nhóm cùng nhau chuyển lửa bên trong Bảo Châu trong Hoa Sen vào Tam Nguyên Tinh Thần

—first the Triad, then the monad—

—trước hết là Tam Nguyên Tinh Thần, rồi đến chân thần—

and let them find the Word which will carry out that task. Let them destroy by their dynamic Will that which has been created at the midway point.

và hãy để họ tìm ra Linh từ sẽ thực hiện nhiệm vụ ấy. Hãy để họ dùng Ý Chí năng động của mình phá huỷ những gì đã được tạo ra tại Điểm ở giữa.

That is the group causal body.

Đó là thể nguyên nhân của nhóm.

When the point of tension is reached by the brothers at the fourth great cycle of attainment, then will this work be done. (RI, tr. 22–23)

Khi các huynh đệ đạt đến điểm tập trung nhất tâm trong chu kỳ thành tựu lớn thứ tư, công việc này sẽ hoàn tất. (RI, tr. 22–23)

Page 22 and 23 of The Rays and the Initiations, and the group is working in an unbelievably powerful way. You can imagine what would have to be done to move the fire in the Jewel in the Lotus—with all of them en rapport at their relatively high stage of development—into the Triad, and they know the occult means to do that. So, does it begin to unfold for us what we have to patiently learn and prove ourselves worthy to receive? Again, I’m going to read it:

Trang 22 và 23 của Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, và nhóm đang hoạt động một cách mạnh mẽ đến mức khó tin. Các bạn có thể hình dung những gì phải làm để chuyển lửa trong Bảo Châu trong Hoa Sen—khi tất cả họ đều giao cảm với nhau ở giai đoạn phát triển tương đối cao của mình—vào Tam Nguyên Tinh Thần, và họ biết những phương thức huyền bí để làm điều đó. Vậy, điều này có bắt đầu mở ra cho chúng ta thấy những gì mình phải kiên nhẫn học hỏi và chứng tỏ mình xứng đáng tiếp nhận không? Tôi sẽ đọc lại:

The effects achieved by a group of persons who have the power to work on mental levels, and to employ simultaneously one of the major centres (either entirely the head centre

Những tác dụng mà một nhóm người có khả năng hoạt động trên các cấp độ trí tuệ đạt được, và đồng thời sử dụng một trong các trung tâm chính (hoặc hoàn toàn dùng trung tâm đầu

—which includes of course also the seven, what we call the seven major centers ruled by Vulcan—

—dĩ nhiên cũng bao gồm bảy trung tâm mà chúng ta gọi là bảy trung tâm chính do Vulcan cai quản—

either entirely the head centre or one of the other major centres in connection with its corresponding head centre)

hoặc hoàn toàn dùng trung tâm đầu, hoặc dùng một trong các trung tâm chính khác kết hợp với trung tâm đầu tương ứng của nó)

—so, head, heart, and throat, basically—

—vậy, về cơ bản là đầu, tim và cổ họng—

can be unbelievably powerful.

có thể mạnh mẽ đến mức khó tin.

[43] It is well for the race that as yet that power is not theirs. Only when united purity of motive and an unselfish adherence to the good of all can be found, will this power be permitted to return to the common knowledge of men.

[43] Thật may cho nhân loại là hiện họ chưa có quyền năng ấy. Chỉ khi có sự thuần khiết chung về động cơ và sự tận tâm vô vị kỷ vì lợi ích của tất cả, quyền năng này mới được phép trở lại thành tri thức phổ biến của con người.

So, it was withdrawn, by not being re-emphasized and allowed to fade out as those who knew passed on. And we run into so many examples of powers which would presently be misused by man in his present moral state. At least DK seems to be telling us that.

Vậy, quyền năng ấy đã bị thu hồi bằng cách không nhấn mạnh lại nó và để nó phai nhạt khi những người hiểu biết qua đời. Và chúng ta gặp rất nhiều ví dụ về những quyền năng mà con người, với tình trạng đạo đức hiện nay, sẽ sử dụng sai lệch. Ít nhất, dường như Chân sư DK đang nói với chúng ta như vậy.

[44] As yet it is practically impossible to get a sufficient number of people at the same stage of evolution, at the same point on the ladder, employing the same centre and responding to the same ray vibration to meet in unison, and sound together the same note or mantram.

[44] Hiện nay, thực tế gần như không thể tập hợp đủ số người ở cùng một giai đoạn tiến hóa, cùng một bậc trên thang tiến hóa, sử dụng cùng một trung tâm và đáp ứng cùng một rung động cung, để cùng hòa hợp và xướng một âm điệu hay mantram.

Well, this is just factual, and this inability to assemble people accordingly is a great protection at this time. As yet it is practically impossible to get a sufficient number of people—what is that, nine, ten?—at the same stage of evolution, I would say, approximately; at the same point on the ladder, which is another way of saying at the same stage of evolution; employing the same centre—I suppose according to their Monadic ray: first ray monads, the head; second, the heart; third, the throat—employing the same centre and responding to the same ray vibration to meet in unison. Well, we would say on the physical plane, but now we have other options through the computer internet technology—and sound together the same note or mantram. So, this is the method through unreadiness, a method of protection.

Đây đơn giản là một thực tế, và việc không thể tập hợp những người đáp ứng các điều kiện ấy là một sự bảo vệ lớn lao vào lúc này. Cho đến nay gần như không thể tập hợp đủ số người—là bao nhiêu, chín hay mười?—ở cùng giai đoạn tiến hoá, Tôi muốn nói là gần như vậy; cùng bậc trên chiếc thang, cũng là một cách khác để nói ở cùng giai đoạn tiến hoá; sử dụng cùng một trung tâm—Tôi cho là theo cung chân thần của họ: chân thần cung một, trung tâm đầu; cung hai, trung tâm tim; cung ba, trung tâm cổ họng—sử dụng cùng một trung tâm và đáp ứng với cùng rung động cung, để hội tụ trong sự hợp nhất. Chúng ta có thể nói là trên cõi hồng trần, nhưng giờ đây có những lựa chọn khác nhờ công nghệ máy tính và mạng internet—và cùng xướng một âm điệu hay mantram. Vậy, đây là phương thức bảo vệ thông qua sự chưa sẵn sàng.

[45] They must also be animated by pure love, and work intelligently for the spiritual uplift of all.

[45] Họ cũng phải có tình thương thuần khiết làm động lực và hoạt động một cách sáng suốt để nâng cao tất cả về mặt tinh thần.

So, what a lot of requirements. One can only hope that the access to these requirements speeds up as the spiral of development tightens and becomes more rapid in its spiral cyclic motion.

Thật nhiều yêu cầu. Người ta chỉ có thể hy vọng rằng việc đạt được những yêu cầu này sẽ nhanh hơn khi vòng xoắn phát triển thu hẹp lại và chuyển động theo chu kỳ xoắn ốc ngày càng nhanh hơn.

[46] Part of the power of the Hierarchy is based on Their ability to do just this very thing. As evolution progresses, and the matter is more fully comprehended, meditation groups will change from their present status, which is that of bands of earnest aspirants seeking illumination, to bands of workers constructively and intelligently working together for certain ends.

[46] Một phần quyền năng của Thánh đoàn dựa trên khả năng thực hiện chính điều này của Các Ngài. Khi tiến hóa tiếp diễn và vấn đề này được thấu hiểu đầy đủ hơn, các nhóm tham thiền sẽ chuyển từ trạng thái hiện nay—những nhóm người chí nguyện chân thành tìm kiếm sự soi sáng—thành những nhóm người hoạt động cùng nhau một cách kiến tạo và sáng suốt vì những mục tiêu nhất định.

Are we there yet? Perhaps there are some groups that can do a little bit of this. Having gone through the selfish, acquisitional stage, meditation groups will change from their present status. So, the putting aside of self-seeking, the putting aside of a principal hope for one’s own development, and instead investing oneself in the development of others, is the surest way to acquire the energies which will elevate one’s own self. To those who give shall be given, so that they may give again. It has a financial implication, but also it deals with the energies of progress. If we use what we have to advance others, that being our primary motive, we are creating—in other words, service creates a funnel, is what we’re basically saying. Service creates a funnel, and a funnel is a developmental structure. So, service creates a funnel, which is a spiritually developmental structure.

Chúng ta đã đến đó chưa? Có lẽ có một số nhóm có thể làm được chút ít điều này. Sau khi đã đi qua giai đoạn ích kỷ, tìm cách thu nhận, các nhóm tham thiền sẽ chuyển từ tình trạng hiện nay. Vì vậy, gạt bỏ sự mưu cầu cho bản thân, gạt bỏ niềm hy vọng chủ yếu hướng vào sự phát triển của chính mình, và thay vào đó dốc sức cho sự phát triển của người khác, là con đường chắc chắn nhất để tiếp nhận những năng lượng sẽ nâng cao chính mình. Những ai cho đi sẽ được ban cho, để họ có thể lại cho đi. Điều này có hàm ý về tài chính, nhưng cũng đề cập đến những năng lượng của sự tiến bộ. Nếu chúng ta sử dụng những gì mình có để giúp người khác tiến lên, lấy đó làm động cơ chủ yếu, thì chúng ta đang tạo ra—nói cách khác, về cơ bản, điều chúng ta muốn nói là phụng sự tạo ra một cái phễu. Phụng sự tạo ra một cái phễu, và cái phễu là một cấu trúc phát triển. Vậy, phụng sự tạo ra một cái phễu, vốn là một cấu trúc phát triển tinh thần.

So maybe that’s why he sometimes says that to truly serve is even more effective than meditation, though I must say meditation will be done in a spirit of service, and service will be done in a spirit of meditation. We never want to leave the meditative life. We want to remain as much as possible tuned in on the higher dimensions while being practical about the lower dimensions. So, if we can perform service in an attitude of alignment with the higher energies, which in essence is meditation, then it is ever so much more effective.

Có lẽ vì thế mà đôi khi Ngài nói rằng thực sự phụng sự còn hiệu quả hơn tham thiền, dù Tôi phải nói rằng tham thiền sẽ diễn ra trong tinh thần phụng sự, và phụng sự sẽ diễn ra trong tinh thần tham thiền. Chúng ta không bao giờ muốn rời bỏ đời sống tham thiền. Chúng ta muốn duy trì sự hoà nhịp với các chiều kích cao hơn nhiều nhất có thể, đồng thời vẫn thực tế với những chiều kích thấp hơn. Vì vậy, nếu chúng ta có thể phụng sự trong thái độ chỉnh hợp với các năng lượng cao hơn, mà về bản chất chính là tham thiền, thì việc ấy sẽ hiệu quả hơn rất nhiều.

[47] You have in the Christian Bible the remnant of a tale which has descended to us from Atlantean days. In those days the use of sound on physical and emotional levels was understood and practised, being utilised for selfish ends in most of the cases.

[47] Trong Kinh Thánh Kitô giáo, các bạn có phần còn lại của một câu chuyện truyền đến chúng ta từ thời Atlantis. Vào thời ấy, người ta thấu hiểu và thực hành việc sử dụng âm thanh trên các cấp độ hồng trần [Page 194] và cảm xúc, phần lớn nhằm phục vụ những mục đích ích kỷ.

So, it’s really impossible to tell sometimes where a story comes from. How would we know? How would we know that the name for Virgo is arising from an old Atlantean root word? We can’t trace that history to Atlantis, but those who can read the record, such as the Tibetan can do, can understand the history with greater clarity. So, a story coming from Atlantean days:

Vì vậy, đôi khi thực sự không thể biết một câu chuyện bắt nguồn từ đâu. Làm sao chúng ta biết được? Làm sao chúng ta biết tên gọi Xử Nữ bắt nguồn từ một từ gốc Atlantis cổ xưa? Chúng ta không thể truy nguyên lịch sử ấy về Atlantis, nhưng những ai có thể đọc được ký lục, như Chân sư Tây Tạng, có thể thấu hiểu lịch sử rõ ràng hơn. Vậy, một câu chuyện đến từ thời Atlantis:

[48] You read that at the sound of trumpets,

[48] Các bạn đọc thấy rằng khi những tiếng kèn vang lên,

That’s interesting. It’s a story originating in Atlantis. Now, the question is: did Joshua, sounding the trumpets, really break down the walls of Jericho? Joshua being the commander—the former Master Jesus being the commander at that time of the Hebrew armies—which was not in Atlantean days, as far as we know. They took place in Aryan times, maybe 4,000 years ago or so, but then so often our chronology is not accurate. We cannot agree with Bishop Ussher that the world was created at 9 a.m. in 4004 BC, or something of that nature. People don’t realize the implications of what they are saying and the contradictions involved. So, anyway, you read that at the sound of trumpets,

Điều đó thật thú vị. Đây là một câu chuyện bắt nguồn từ Atlantis. Giờ đây, câu hỏi là: Joshua, khi cho thổi kèn, có thực sự phá đổ những bức tường Jericho không? Joshua là vị chỉ huy—tức Chân sư Jesus trong một kiếp trước, khi ấy là vị chỉ huy các đạo quân Hebrew—mà theo những gì chúng ta biết, đó không phải thời Atlantis. Những sự kiện ấy diễn ra vào thời Arya, có lẽ khoảng 4.000 năm trước. Nhưng niên đại của chúng ta rất thường không chính xác. Chúng ta không thể đồng ý với Giám mục Ussher rằng thế giới được tạo ra lúc 9 giờ sáng năm 4004 trước Công nguyên, hay điều gì tương tự. Người ta không nhận ra những hàm ý trong lời mình nói và những mâu thuẫn liên quan. Dù sao, các bạn đọc thấy rằng khi tiếng kèn vang lên,

[49] sounded a certain number of times after a rhythmical circuit of the walls of Jericho those walls collapsed.

[49] với một số lần nhất định sau cuộc đi vòng theo nhịp quanh tường thành Jericho, những bức tường ấy sụp đổ.

Well, apparently it did happen. So, let’s just say apparently this did occur. Of course, there’s going to be symbolism regarding the meaning of Jericho, and it probably has to do with the breaking down of certain boundaries and rings-pass-not which have been blocking our access to our objective.

Dường như điều đó đã xảy ra. Vậy, dường như sự kiện này thực sự đã diễn ra. Dĩ nhiên, sẽ có tính biểu tượng liên quan đến ý nghĩa của Jericho, và có lẽ nó gắn với việc phá bỏ những ranh giới và vòng-giới-hạn nào đó đã ngăn chúng ta tiếp cận mục tiêu của mình.

At the time, though, it was a very powerful first ray cycle. And DK said that the Hebrews fell under that first ray expression and were the perpetrators of great slaughter—men, women, and children. Were they Canaanites? My knowledge of that kind of biblical history is inadequate, but they were the occupiers of—well, they were the residents of that land. And somehow the Hebrew group convinced themselves that the residents were corrupt, and that God had promised them this land anyway, and so they took it by the sword—such is the self-justification, and the consequences, the karmic consequences, of that aggression have been with us ever since, and Jesus was part of that karma, because he was the main general of those battles of conquest.

Tuy nhiên, lúc ấy là một chu kỳ cung một rất mạnh mẽ. Và Chân sư DK nói rằng người Hebrew chịu ảnh hưởng của sự biểu hiện cung một ấy và đã gây ra cuộc tàn sát lớn—đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Những người bị sát hại có phải người Canaan không? Kiến thức của Tôi về loại lịch sử Kinh Thánh ấy còn thiếu, nhưng họ là những người chiếm giữ—họ là cư dân của vùng đất đó. Và bằng cách nào đó, nhóm người Hebrew đã tự thuyết phục mình rằng những cư dân ấy suy đồi, và dù sao Thượng đế cũng đã hứa ban vùng đất ấy cho họ, nên họ chiếm lấy nó bằng gươm giáo—đó là cách tự biện minh, và những hậu quả, những hậu quả nghiệp quả, của hành vi xâm lấn ấy vẫn ở cùng chúng ta kể từ đó, và Đức Jesus là một phần của nghiệp quả ấy, vì Ngài là vị tướng chủ chốt trong những trận chiến chinh phục đó.

So, the walls collapsed, and apparently this did occur with the circling and the sounding in rhythm—and I suppose on certain pitches and with certain repetitions—the sounding of trumpets. Interestingly, because the trumpet seems very much associated with the fourth ray, but also somewhat with the sixth, and maybe with the first: sounded a certain number of times, the trumpet, after a rhythmical circuit of the walls of Jericho. It seems in our civilization, which is both Jewish and Christian, that it was justified, and we act as if it was justified, and that God granted to the children of Israel that land, but we don’t examine carefully what was involved in the taking of that land. And now we have the repetition of this going on in the same area, with regard to the Arabic residents of that area—or sometimes we call them the Palestinians. In the formation of Israel, we have a repetition, on a different turn of the spiral, of that same kind of conquest. One wonders deeply: what is the karma there?

Vậy, những bức tường đã sụp đổ, và dường như điều này thực sự xảy ra khi người ta đi vòng quanh và thổi kèn theo nhịp—và Tôi cho là ở những cao độ nhất định, với những lần lặp lại nhất định. Điều thú vị là kèn dường như gắn rất nhiều với cung bốn, nhưng cũng phần nào với cung sáu, và có lẽ với cung một: vang lên với một số lần nhất định, tiếng kèn, sau khi đi vòng quanh các bức tường Jericho theo nhịp điệu. Trong nền văn minh của chúng ta, vừa mang tính Do Thái vừa mang tính Kitô giáo, dường như việc đó được xem là chính đáng, và chúng ta hành xử như thể nó chính đáng, như thể Thượng đế đã ban vùng đất ấy cho con dân Israel, nhưng chúng ta không xem xét kỹ những gì đã diễn ra trong việc chiếm lấy vùng đất ấy. Và giờ đây, điều này đang lặp lại tại cùng khu vực, liên quan đến những cư dân Ả Rập ở đó—hay đôi khi chúng ta gọi họ là người Palestine. Trong sự hình thành Israel, chúng ta có sự lặp lại, ở một vòng xoắn khác, của cùng kiểu chinh phục ấy. Người ta không khỏi tự hỏi sâu sắc: nghiệp quả ở đó là gì?

So,

Vậy,

[50] This was made possible by the occult knowledge of the leaders of the people

[50] Điều này có thể xảy ra nhờ tri thức huyền bí của những người lãnh đạo dân chúng; vì am tường khoa học về âm thanh và đã nghiên cứu những tác động phá hủy cùng sáng tạo của nó, họ biết chính xác thời điểm vận dụng khoa học ấy để đạt mục đích mong muốn.

—among whom was Moses, who never did enter the promised land, it is said, and that would have a significance, which is also occult, because the promised land, in a way, is the city of peace. It’s Shamballa. It’s Jerusalem, and it tells us something about Moses’ status at that time—Moses probably being the present Master Morya. So, there’s a lot of previous solar system karma working out through Morya and Jesus and some of the other Masters. So this crashing down of the walls of Jericho, which looks like an actual event, did apparently occur. The leaders were versed in the science of sound and having studied its destructive and creative effects,—knew just the moment to apply that science and effect the desired end.

—trong số đó có Moses, người mà theo lời kể chưa bao giờ bước vào miền đất hứa, và điều đó hẳn có một thâm nghĩa, cũng mang tính huyền bí, vì theo một nghĩa nào đó, miền đất hứa là thành phố hoà bình. Đó là Shamballa. Đó là Jerusalem, và điều ấy cho chúng ta biết đôi điều về địa vị của Moses vào lúc đó—Moses có lẽ chính là Chân sư Morya hiện nay. Vì vậy, rất nhiều nghiệp quả từ hệ mặt trời trước đang được giải quyết thông qua Chân sư Morya, Đức Jesus và một số Chân sư khác. Vậy, sự sụp đổ của các bức tường Jericho, có vẻ là một sự kiện có thật, dường như đã thực sự xảy ra. Những người lãnh đạo thông thạo khoa học âm thanh và đã nghiên cứu các tác dụng phá huỷ và sáng tạo của nó,—biết chính xác thời điểm để áp dụng khoa học ấy và đạt được mục đích mong muốn.

Well, was it good that that city was conquered? Certainly the city and all of those people in that civilization were accused of corruption and of ungodliness and of abomination and all those things, whereby any conqueror or conquering group justifies their conquest. Was it good that that happened, or was that really not a sanctioned movement? Anyway, occult knowledge was used to that destructive effect.

Việc chinh phục thành phố ấy có tốt không? Chắc chắn thành phố và tất cả những người thuộc nền văn minh ấy đã bị cáo buộc là suy đồi, bất kính với Thượng đế, đáng ghê tởm và đủ mọi điều như vậy, qua đó bất kỳ kẻ chinh phục hay nhóm chinh phục nào cũng biện minh cho cuộc chinh phục của mình. Việc ấy xảy ra có tốt không, hay thực ra đó không phải một hành động được chấp thuận? Dù sao, kiến thức huyền bí đã được sử dụng để tạo nên tác dụng phá huỷ ấy.

Now, we all have our walls of Jericho, and within our chakra system we have certain conquests to be made of one energy over another, certain transferences. There are analogies, but we have to see it from the esoteric perspective and realize that the very things we hold up as the sanction or permission of God may be our own imagination regarding the justification of those activities, and that, in fact, maybe they weren’t justified at all.

Giờ đây, tất cả chúng ta đều có những bức tường Jericho của mình, và trong hệ thống luân xa của chúng ta có những cuộc chinh phục nhất định mà một năng lượng phải thực hiện đối với năng lượng khác, những sự chuyển dịch nhất định. Có những phép tương đồng, nhưng chúng ta phải nhìn điều này từ góc độ nội môn và nhận ra rằng chính những điều chúng ta viện dẫn như sự chấp thuận hay cho phép của Thượng đế có thể chỉ là sự tưởng tượng của chúng ta để biện minh cho những hoạt động ấy, và thực ra, có lẽ chúng hoàn toàn không chính đáng.

So, anyway, sounds—that’s what we’re looking at here. We’re looking at sounds and their effects—destructive, constructive, and chakric—and eventually relating to the funnel. So, three and one. And we’re going to group sounds under three headings, three heads. So now we’re going to look at the sounds being grouped under three headings:

Dù sao, âm thanh—đó là điều chúng ta đang xem xét ở đây. Chúng ta đang xem xét âm thanh cùng những tác dụng của chúng—phá huỷ, kiến tạo và tác động lên luân xa—rồi cuối cùng liên quan đến cái phễu. Vậy, ba và một. Và chúng ta sẽ xếp âm thanh dưới ba đề mục, ba mục. Giờ đây, chúng ta sẽ xem xét âm thanh được xếp dưới ba đề mục:

[51] The united sounding of the Sacred Word.

[51] Việc cùng xướng Linh Từ Thiêng Liêng.

This apparently is heading number one, I guess. So, again, trying to locate this so that the outlines don’t become lost.

Dường như đây là đề mục số một, Tôi đoán vậy. Một lần nữa, Tôi đang cố xác định vị trí của phần này để không đánh mất bố cục.

[52] This is one of the most usual methods, and the most direct way of forming a funnel for the transmission of power. If it is so effective in the case of the individual, as has been again and again demonstrated, surely its united use will be tremendously effective, and even dangerously potent.

[52] Đây là một trong những phương pháp thông dụng nhất và là cách trực tiếp nhất để tạo một phễu truyền quyền năng. Nếu phương pháp ấy hiệu quả như vậy đối với cá nhân, như đã được chứng minh hết lần này đến lần khác, thì chắc chắn việc cùng sử dụng nó sẽ vô cùng hiệu quả, thậm chí mạnh đến mức nguy hiểm.

Well, we take it for granted, don’t we? We simply are together, and we sound the Sacred Word, maybe somewhat mindlessly. We have to have the full understanding of what can be achieved by such a sounding.

Chúng ta xem đó là điều đương nhiên, phải không? Chúng ta chỉ đơn giản ở cùng nhau và xướng Linh Từ Thiêng Liêng, có lẽ phần nào thiếu suy xét. Chúng ta phải thấu hiểu đầy đủ những gì có thể đạt được qua việc xướng như thế.

[53] It is the loss of the use of this Word that has crippled and hindered the efficiency of all the present exoteric faiths, but this loss has been deliberately brought about owing to the dangers incident to the low point of evolution of the human hierarchy.

[53] Chính việc đánh mất cách sử dụng Linh Từ này đã làm suy yếu và cản trở hiệu quả của mọi tín ngưỡng ngoại môn hiện nay, nhưng sự mất mát ấy là điều có chủ ý do những nguy hiểm gắn với trình độ tiến hóa thấp của Huyền Giai nhân loại.

Well, we certainly have the OM, and we have the legend of the lost word in Masonry. We’re always searching for the lost word, as Manly Hall describes it, and I think as the Tibetan describes it. So, one begins to wonder: is the Sacred Word really the OM, or is the OM a substitute for the Sacred Word? So somehow there has been a loss, and somehow this loss has contributed to the reduction of effectiveness. He calls it crippling of the invocative attempts of the present esoteric religions.

Chắc chắn chúng ta có OM, và có truyền thuyết về linh từ thất truyền trong Hội Tam Điểm. Chúng ta luôn tìm kiếm linh từ thất truyền, như Manly Hall mô tả, và Tôi nghĩ Chân sư Tây Tạng cũng mô tả như vậy. Vì thế, người ta bắt đầu tự hỏi: Linh Từ Thiêng Liêng có thực sự là OM, hay OM là một linh từ thay thế cho Linh Từ Thiêng Liêng? Bằng cách nào đó đã có một sự mất mát, và bằng cách nào đó sự mất mát này đã góp phần làm giảm hiệu lực. Ngài gọi đó là sự làm suy yếu những nỗ lực khẩn cầu của các tôn giáo nội môn hiện nay.

[54] When the use of this word is restored collectively,

[54] Khi việc sử dụng linh từ này trong tập thể được khôi phục,

—well, we certainly use it collectively. Now, is there something special about the use, or is it not even the same word?—

—chắc chắn chúng ta đang sử dụng nó tập thể. Giờ đây, có điều gì đặc biệt trong cách sử dụng, hay thậm chí đó không phải cùng một linh từ?—

[55] and when congregations of men

[55] và khi các cộng đồng người

—gatherings of men—

—những tập hợp người—

[56] can sound it correctly on the right note and in the right cadence or rhythm,

[56] có thể xướng linh từ ấy chính xác, đúng âm điệu và đúng tiết tấu hay nhịp điệu,

and there we have the question of meter, all the meters that have come down to us through Western occultism, and also the still more complicated meters of Eastern occultism. So, when people can sound it correctly, and on the right note and in the right cadence or rhythm,

và ở đây chúng ta có vấn đề về luật nhịp, tất cả những luật nhịp truyền đến chúng ta qua huyền bí học phương Tây, cùng những luật nhịp còn phức tạp hơn của huyền bí học phương Đông. Vậy, khi người ta có thể xướng linh từ ấy đúng cách, và đúng âm điệu và đúng tiết tấu hay nhịp điệu,

[57] then the downflow of force from above (the quality of that force depending on key and tone) will be such that the vivification of the microcosm will affect the surrounding country and environment.

[57] thì dòng mãnh lực từ trên tuôn xuống (phẩm tính của mãnh lực ấy tùy thuộc vào giọng và âm sắc) sẽ mạnh đến mức việc tiếp sinh lực cho tiểu thiên địa sẽ tác động đến vùng đất và môi trường xung quanh.

So, through our radiation, the sounding of the true Sacred Word will affect our environment powerfully. I am somehow remembering that the OM has been considered a substitute word. Certainly in Masonry we don’t really find the lost word. We find placeholders for the lost word. We find substituted sounds. Can it be that the OM itself, though effective, is really a substituted sound? Can that be?

Vậy, thông qua sự toả chiếu của chúng ta, việc xướng Linh Từ Thiêng Liêng đích thực sẽ tác động mạnh mẽ đến môi trường của chúng ta. Tôi chợt nhớ rằng OM từng được xem là một linh từ thay thế. Chắc chắn trong Hội Tam Điểm, chúng ta không thực sự tìm thấy linh từ thất truyền. Chúng ta tìm thấy những từ giữ chỗ cho linh từ thất truyền. Chúng ta tìm thấy những âm thanh thay thế. Liệu chính OM, dù có hiệu lực, thực ra có thể là một âm thanh thay thế không? Có thể như vậy chăng?

[58] It will cause corresponding stimulation in all the kingdoms of nature, for the human kingdom forms a link between the higher and the lower, and, in conjunction with the deva kingdom, provides a meeting ground for the forces of life.

[58] Nó sẽ tạo sự kích thích tương ứng trong mọi giới của tự nhiên, vì giới nhân loại tạo thành một mắt xích giữa cái cao và cái thấp, và cùng với giới thiên thần cung cấp một nơi hội tụ cho các mãnh lực của sự sống.

So, the sounding of the Word affects the kingdoms of nature and the local entities who are members of those kingdoms. So the Sacred Word is indeed potent, and has not just an effect within our own aura when properly sounded—although DK has said not much is going beyond your own ring-pass-not, because you just aren’t effective. But when we are effective, it will affect our whole environing circumstance, and we will be a force for good through the sounding of the Sacred Word. Corresponding stimulation will occur because we human beings are the macrocosm for kingdoms which are still microcosmic to us, namely the three lower kingdoms. So it does give us an incentive to learn to sound rightly this Word, and even to learn what it really is. It may be the OM, and maybe for some time we have to utilize the OM in the sounding, but there may be other words involved.

Vì vậy, việc xướng Linh từ tác động đến các giới trong tự nhiên và những thực thể tại chỗ thuộc các giới ấy. Quả thật, Linh từ Thiêng Liêng có quyền năng mạnh mẽ, và khi được xướng đúng cách, tác động của nó không chỉ giới hạn trong hào quang của chúng ta—mặc dù Chân sư DK đã nói rằng không có bao nhiêu tác động vượt ra ngoài vòng-giới-hạn của bạn, vì bạn chưa xướng có hiệu quả. Nhưng khi chúng ta xướng có hiệu quả, nó sẽ tác động đến toàn bộ hoàn cảnh chung quanh, và qua việc xướng Linh từ Thiêng Liêng, chúng ta sẽ trở thành một mãnh lực hướng thiện. Sự kích thích tương ứng sẽ xảy ra vì chúng ta, những con người, là đại thiên địa đối với các giới vẫn là tiểu thiên địa so với chúng ta, tức ba giới thấp. Vì vậy, điều này quả thật khuyến khích chúng ta học cách xướng Linh từ này cho đúng, và thậm chí học để biết nó thực sự là gì. Đó có thể là OM, và có lẽ trong một thời gian chúng ta phải dùng OM khi xướng, nhưng cũng có thể có những linh từ khác liên quan.

[59] These effects upon the different centres will be definitely felt on one or other plane in the three worlds. Let me illustrate, for clarity is desired. I must warn you however to bear in mind that no importance must be attached to the order specified here. The time is not ripe for the opening up of accurate information on this matter.

[59] Người ta sẽ cảm nhận rõ những tác động này lên các trung tâm khác nhau trên một cõi nào đó trong ba cõi giới. Hãy để [Page 195] Tôi minh họa, vì điều cần thiết là sự rõ ràng. Tuy nhiên, Tôi phải cảnh báo các bạn ghi nhớ rằng không nên coi trọng thứ tự nêu ở đây. Chưa đến lúc tiết lộ thông tin chính xác về vấn đề này.

So, DK is indicating, but not conferring, the scientific detail regarding the process.

Vì vậy, Chân sư DK đang chỉ dẫn, nhưng không truyền trao các chi tiết khoa học về tiến trình này.

[60] We will presume

[60] Chúng ta hãy giả định

—now here’s an example—

—đây là một ví dụ—

[61] that a congregation of people is desirous of linking up with that channel of force that works through the emotions, and so stimulates to greater aspiration and love.

[61] rằng một cộng đồng người mong muốn kết nối với kênh mãnh lực hoạt động thông qua cảm xúc, nhờ đó kích thích khát vọng và tình thương lớn hơn.

Without going further, this sounds like a buddhic link-up. At least it sounds that way initially. Let’s see if in fact it is.

Không cần đọc thêm, điều này có vẻ là một sự kết nối với Bồ đề. Ít nhất thoạt đầu nghe có vẻ như vậy. Hãy xem thực sự có phải thế không.

[62] In united silence they will stand until, at a given word from the leader,

[62] Họ sẽ cùng đứng trong im lặng cho đến khi người hướng dẫn ra hiệu bằng một lời nhất định,

who must know—feel—when a sufficient degree of integration has occurred for this united sounding. So, at a given word from the leader,

người ấy phải biết—cảm nhận—khi nào đã đạt đủ mức độ tích hợp để cùng xướng như vậy. Vì thế, theo hiệu lệnh của người hướng dẫn,

[63] each unit in the group will deliberately withdraw his consciousness into the heart centre, and then from that heart centre (keeping the consciousness steadily there) he will drive forth the sound of the Sacred Word, pitched in the key to which the majority of the group respond.

[63] mỗi thành viên trong nhóm sẽ chủ động thu tâm thức vào trung tâm tim, rồi từ trung tâm tim ấy (giữ tâm thức ổn định tại đó), y sẽ phát ra âm thanh của Linh Từ Thiêng Liêng, với giọng mà đa số thành viên trong nhóm đáp ứng.

Well, maybe we’re talking about the note of the solar plexus or the note of the heart. Maybe, for instance, the note G would be a good example, I think, of a heart center note. So, in united silence, we would withdraw to the heart center, withdraw attention to the heart center. And maybe—earlier he said that a head center, one of the major head centers, may be involved as well; I’m not sure he’s mentioning it right here—but we have to pitch.

Có lẽ chúng ta đang nói đến âm điệu của tùng thái dương hoặc âm điệu của tim. Chẳng hạn, Tôi nghĩ nốt Sol có thể là một ví dụ thích hợp về âm điệu của trung tâm tim. Vì vậy, trong sự im lặng hợp nhất, chúng ta sẽ thu vào trung tâm tim, thu sự chú ý vào trung tâm tim. Và có lẽ—trước đó Ngài đã nói rằng một trung tâm đầu, một trong những trung tâm đầu chính, cũng có thể tham gia; Tôi không chắc Ngài có đề cập đến điều đó ngay ở đây hay không—nhưng chúng ta phải định cao độ.

Pitch is very important, and we don’t even have necessarily the proper vibration for each pitch. Our orchestras tune to an A, which is 440 cycles per second. But is that correct? One of my musician friends tells me that in Bach’s day we would be tuning to 416, which is almost, I think, a half tone lower. So, we do have a frequency to which we might attune, but finding the exact frequency of an A, B, C, D, E, F, G—or C, D, E, F, G, A, B, C—finding the exact frequency is one of those pieces of information which gives a lot of power. So, we have to pitch it in the key to which the majority of the group respond. And a key is not a question of a single note. It’s a question of a scale you might use—major or minor or some other scale—when starting on that pitch. Somewhere is my pitch pipe. But not having it, I can do, let’s say, a major scale. I think it’s kind of a Lydian mode. Or maybe, starting on the same pitch, a minor scale, or I can modify it in another way. Various ways to use scales, even when starting on the same pitch. But anyway:

Cao độ rất quan trọng, và chúng ta thậm chí chưa chắc đã có rung động đúng cho từng cao độ. Các dàn nhạc của chúng ta lên dây theo nốt La, với tần số 440 chu kỳ mỗi giây. Nhưng như vậy có đúng không? Một người bạn nhạc sĩ của Tôi nói rằng vào thời Bach, người ta lên dây theo tần số 416, mà Tôi nghĩ gần như thấp hơn nửa cung. Vì vậy, chúng ta có một tần số để có thể hòa theo, nhưng việc tìm ra tần số chính xác của La, Si, Đô, Rê, Mi, Fa, Sol—hoặc Đô, Rê, Mi, Fa, Sol, La, Si, Đô—việc tìm ra tần số chính xác ấy là một trong những thông tin mang lại rất nhiều quyền năng. Vì vậy, chúng ta phải định cao độ cho nó trong giọng mà đa số thành viên trong nhóm đáp ứng. Và giọng không chỉ là vấn đề của một nốt đơn lẻ. Đó là vấn đề về thang âm mà bạn có thể dùng—trưởng, thứ hoặc một thang âm khác—khi bắt đầu từ cao độ ấy. Ống định âm của Tôi ở đâu đó, nhưng không có nó, Tôi có thể hát một thang âm trưởng. Tôi nghĩ nó hơi giống điệu thức Lydia, hoặc có lẽ, bắt đầu từ cùng một cao độ, Tôi hát một thang âm thứ, hoặc Tôi có thể biến đổi nó theo một cách khác. Có nhiều cách dùng thang âm, ngay cả khi bắt đầu từ cùng một cao độ. Nhưng dù sao:

[64] This key will be ascertained by the clairvoyant group leader reviewing rapidly the auras gathered before him.

[64] Người hướng dẫn nhóm có khả năng thông nhãn sẽ xác định giọng này bằng cách nhanh chóng xem xét những hào quang tụ họp trước mình. Âm thanh này

Apparently it will not be a lengthy process, but a practical and effective process. So, we start at a particular note, but we use a particular key. I mean, the key of C major is considered, in our modern music, different from the key of C minor, and there are, what, harmonic minors and natural minors and different orders of notes. But anyway, the leader has to be clairvoyant. And this sound of the Sacred Word, beginning on the right note and in the right key,

Dường như đây sẽ không phải là một tiến trình kéo dài, mà là một tiến trình thiết thực và hiệu quả. Vì vậy, chúng ta bắt đầu ở một nốt nhất định, nhưng dùng một giọng nhất định. Ý Tôi là trong âm nhạc hiện đại, giọng Đô trưởng được xem là khác với giọng Đô thứ, và còn có các thang âm thứ hòa thanh, thứ tự nhiên cùng những trình tự nốt khác nhau. Nhưng dù sao, người hướng dẫn phải có khả năng thông nhãn. Và âm thanh của Linh từ Thiêng Liêng này, bắt đầu đúng nốt và đúng giọng,

[65] will create the necessary funnel, and the result will be an immense temporary extension of the peripheries of the emotional bodies of the participants, and an intense vitalisation of their heart centres.

[65] sẽ tạo ra phễu cần thiết, và kết quả sẽ là chu vi các thể cảm dục của những người tham dự mở rộng hết sức lớn lao trong một thời gian, đồng thời các trung tâm tim của họ nhận được sinh lực mạnh mẽ.

So we have emotional—probably solar plexus somewhere involved—the heart center, and the egoic plane, maybe the love petals of the Egoic Lotus: different kinds of resonances as we ascend. So, the clairvoyant group leader will review the auras and find the right note, and thus the right key, on which the Sacred Word can be sounded. Now, all of this has to be done with real occult accuracy, and the result will be, of course, a real enhancement and refinement of the emotional vehicle, which will become increasingly a vehicle for the expression of love.

Như vậy, chúng ta có phương diện cảm xúc—có lẽ tùng thái dương tham gia ở đâu đó—trung tâm tim, và cõi chân ngã, có thể là các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã: những kiểu cộng hưởng khác nhau khi chúng ta đi lên. Vì vậy, người hướng dẫn nhóm có khả năng thông nhãn sẽ xem xét các hào quang và tìm ra đúng nốt, nhờ đó tìm ra đúng giọng để xướng Linh từ Thiêng Liêng. Tất cả những điều này phải được thực hiện với sự chính xác huyền bí đích thực, và dĩ nhiên, kết quả sẽ là sự tăng cường và tinh luyện thực sự của hiện thể cảm dục, vốn sẽ ngày càng trở thành một hiện thể để biểu lộ tình thương.

[66] By means of this the people will be enabled to reach heights and receive blessings otherwise not separately possible. You can for yourself think out other conditions. The use of the imagination in these matters is of real importance and develops a connection between that faculty

[66] Nhờ đó, họ có thể vươn đến những tầm cao và đón nhận những ân phúc mà nếu riêng lẻ thì không thể đạt được. Các bạn có thể tự suy nghĩ về những điều kiện khác. Việc sử dụng sự tưởng tượng trong những vấn đề này thực sự quan trọng và phát triển một mối liên hệ giữa năng lực ấy

—the imagination—

—sự tưởng tượng—

[67] and its higher counterpart, the intuition.

[67] và đối phần cao hơn của nó là trực giác.

The imagination is found on the second subplane of the emotional plane, the astral plane, but the intuition is found particularly on the fourth subplane of the buddhic plane. But really, in a way, it’s the second subplane, because the first and second are not areas into which we can really venture, and nor are the powers or siddhis for those sublevels given. So,

Sự tưởng tượng nằm trên cõi phụ thứ hai của cõi cảm xúc, cõi cảm dục, nhưng trực giác đặc biệt nằm trên cõi phụ thứ tư của cõi Bồ đề. Tuy nhiên, theo một cách nào đó, thực ra đó là cõi phụ thứ hai, vì cõi phụ thứ nhất và thứ hai không phải là những vùng mà chúng ta thực sự có thể đi vào, và các quyền năng hay thần thông của những cõi phụ ấy cũng không được truyền trao. Vì vậy,

[68] Students of meditation must learn to imagine more.

[68] Các đạo sinh tham thiền phải học cách tưởng tượng nhiều hơn.

Via the group, we can do more than we can separately. Now, maybe right now that group enhancement is not obvious to everyone, but sometimes it may be, and we have to think this out. So, what sound is it? On what note does it originate? Do we employ it with respect to a certain key? Because the key does not necessarily depend only on the note. As I say, C major and C minor both begin on C, but they are different scales and considered to be different keys. The whole science of harmony is pervaded by the necessity for mathematical exactitude. We may not realize this as we think of music as largely inspirational, but it’s a most exacting science underlying the art of music.

Thông qua nhóm, chúng ta có thể làm được nhiều hơn khi riêng lẻ. Có lẽ ngay lúc này, sự tăng cường nhờ nhóm ấy chưa rõ ràng với mọi người, nhưng đôi khi nó có thể rõ ràng, và chúng ta phải suy xét điều này. Vậy đó là âm thanh gì? Nó bắt đầu ở nốt nào? Chúng ta có sử dụng nó trong mối liên hệ với một giọng nhất định không? Vì giọng không nhất thiết chỉ phụ thuộc vào nốt. Như Tôi đã nói, Đô trưởng và Đô thứ đều bắt đầu ở Đô, nhưng đó là những thang âm khác nhau và được xem là những giọng khác nhau. Toàn bộ khoa học hòa âm đều thấm nhuần yêu cầu về sự chính xác toán học. Chúng ta có thể không nhận ra điều này khi nghĩ rằng âm nhạc phần lớn thuộc về cảm hứng, nhưng nền tảng của nghệ thuật âm nhạc là một khoa học đòi hỏi sự chính xác hết sức nghiêm ngặt.

So, what is the Sacred Word, actually? Is it only the OM, or is there more to it? And how do we sound it, and in what rhythm might we sound it? On what note, and in relation to what key? Do we always stay on the same note, or do we somehow articulate what the key is? Even psychologically we get very different results. When we sing a song in the minor key compared to the major key, the opening up of joy seems to come with the singing in the major key, and sorrow and nostalgia and a backward-lookingness, a longing, a pining, seems to be connected with singing in the minor key. And I’m not even dealing with all the different modes and the different kinds of minor keys that might be relevant—harmonic minor, natural minor, maybe there are others. It’s been a long time since I’ve been in music school.

Vậy thực sự Linh từ Thiêng Liêng là gì? Có phải chỉ là OM, hay còn điều gì khác nữa? Và chúng ta xướng nó thế nào, có thể xướng theo nhịp điệu nào? Trên nốt nào, và trong mối liên hệ với giọng nào? Chúng ta luôn giữ nguyên một nốt, hay bằng cách nào đó diễn đạt rõ giọng ấy? Ngay cả về mặt tâm lý, chúng ta cũng có những kết quả rất khác nhau. Khi hát một bài ở giọng thứ so với giọng trưởng, sự khai mở của niềm hoan hỉ dường như đến với việc hát ở giọng trưởng, còn nỗi buồn, sự hoài niệm, tâm trạng hướng về quá khứ, niềm khao khát, nỗi mong mỏi dường như gắn với việc hát ở giọng thứ. Và Tôi thậm chí chưa bàn đến tất cả các điệu thức khác nhau và những loại giọng thứ khác nhau có thể liên quan—thứ hòa thanh, thứ tự nhiên, có lẽ còn những loại khác. Đã lâu lắm rồi kể từ khi Tôi học ở trường nhạc.

Now, here are some of the applications:

Bây giờ, đây là một số ứng dụng:

[69] The united sounding of certain mantrams which will be employed for specific purposes.

[69] Việc cùng xướng một số mantram sẽ được sử dụng cho những mục đích cụ thể.

He’s going to take these up.

Ngài sẽ bàn đến những điều này.

[70] Instances of such purposes are:—

[70] Ví dụ về những mục đích ấy là:—

This is quite amazing material when you think about our possibilities in a future age, on the cusp of which we find ourselves at this time. So, the potentials are amazing, and for those who visualize the higher states in very limited ways, material of this kind can be encouraging, incentivizing, bring them closer to the wisdom. So, we have here what?

Đây là tài liệu hết sức đáng kinh ngạc khi các bạn nghĩ đến những khả năng của chúng ta trong một thời đại tương lai, mà hiện nay chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa. Vì vậy, những tiềm năng này thật đáng kinh ngạc. Với những người hình dung các trạng thái cao hơn theo những cách rất hạn hẹp, tài liệu như thế này có thể khích lệ, tạo động lực và đưa họ đến gần minh triết hơn. Vậy ở đây chúng ta có gì?

[71] a. The purification of a city.

[71] a. Thanh lọc một thành phố.

[72] b. The magnetisation of grounds that are to be employed as healing centres.

[72] b. Từ hóa những khu đất sẽ dùng làm các trung tâm trị liệu. [Page 196]

[73] c. The clarification of the minds of the congregation in order that they may be able to receive the higher illumination.

[73] c. Làm sáng rõ thể trí của những người tụ họp để họ có thể tiếp nhận sự soi sáng cao hơn.

I mean, we’re talking about general processes that lie hundreds of years ahead, I think, in general, that is.

Ý Tôi là chúng ta đang nói về những tiến trình nói chung còn ở phía trước hàng trăm năm, Tôi nghĩ vậy—tức là xét trên bình diện chung.

[74] d. The healing of people gathered together for that purpose.

[74] d. Chữa lành những người tụ họp vì mục đích ấy.

Because groups can heal groups.

Vì các nhóm có thể chữa lành các nhóm.

[75] e. The controlling of the forces of nature so that physical plane occurrences may be brought about.

[75] e. Kiểm soát các mãnh lực của tự nhiên để tạo ra những sự kiện trên cõi hồng trần.

Why do I think of rain making? But there are conditions needing adjustment, and one can, of course, manipulate the elements in a constructive way. And:

Tại sao Tôi lại nghĩ đến việc tạo mưa? Nhưng có những điều kiện cần điều chỉnh, và dĩ nhiên người ta có thể vận dụng các nguyên tố theo cách mang tính xây dựng. Và:

[76] f. The initiating of people into the Lesser Mysteries.

[76] f. Điểm đạo cho con người vào các Tiểu Bí Pháp.

By the Lesser Mysteries, I presume we mean the initiations of the threshold, the first and second initiations. So, think of all that can be accomplished through the united sounding of certain mantrams, but certain things must be known, and DK is basically telling us they have not been given to humanity in general yet. When they were more common property, there was a really unfortunate misuse that led to dire results and the destruction of the then world, the then known world, through submergence. And in that submergence, it’s quite likely—as a matter of fact, almost 100% likely—that all of us who are here now participated in it, except for a few of those who were not with us yet, coming in from other planetary spheres during the Aryan age, the fifth root race.

Với các Tiểu Bí Pháp, Tôi cho rằng chúng ta muốn nói đến những cuộc điểm đạo ở ngưỡng cửa, lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai. Vì vậy, hãy nghĩ đến tất cả những gì có thể thành tựu qua việc cùng xướng một số mantram, nhưng cần phải biết một số điều. Về cơ bản, Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng những điều ấy chưa được truyền trao cho nhân loại nói chung. Khi chúng từng là kiến thức phổ biến hơn, đã xảy ra sự lạm dụng thực sự đáng tiếc, dẫn đến những hậu quả khủng khiếp và sự hủy diệt thế giới lúc bấy giờ, thế giới mà người ta biết lúc bấy giờ, do bị nhấn chìm. Và trong lần nhấn chìm ấy, rất có thể—thực ra gần như chắc chắn 100%—tất cả chúng ta hiện có mặt ở đây đều đã trải qua, ngoại trừ một vài người khi ấy chưa ở cùng chúng ta, đến từ những khối cầu hành tinh khác trong thời đại Arya, giống dân gốc thứ năm.

But yet, there were floods also during the Aryan age. Let’s say the Aryan age has been lasting a million years—really longer, actually. Blavatsky speaks of a flood about 270,000 years ago, another flood more than 800,000 years ago. These are different ones. Another one, more local, involving what’s called Poseidonis, maybe 11,000 years ago, or 11,000 BC—one or the other, and none of those is the great flood which occurred in Atlantean times. So, we’ve been through some floods. And what’s happening in various countries now, very unfortunate in a way, and unhappy, are just tiny reverberations of the greater floods which once occurred.

Tuy nhiên, cũng đã có những trận lụt trong thời đại Arya. Thời đại Arya đã kéo dài một triệu năm—thực ra còn lâu hơn. Bà Blavatsky nói đến một trận lụt khoảng 270.000 năm trước, một trận khác hơn 800.000 năm trước. Đó là những trận lụt khác nhau. Một trận khác mang tính địa phương hơn, liên quan đến nơi gọi là Poseidonis, có lẽ vào 11.000 năm trước, hoặc năm 11.000 trước Công nguyên—một trong hai mốc ấy, và không trận nào trong số đó là trận đại hồng thủy xảy ra vào thời Atlantis. Vì vậy, chúng ta đã trải qua một số trận lụt, và những gì đang xảy ra ở nhiều quốc gia hiện nay, theo một cách nào đó rất đáng tiếc và đau buồn, chỉ là những dư chấn nhỏ bé của các trận lụt lớn hơn từng xảy ra.

We’re told that the attempt will be made to destroy the Aryan race—we mean the fifth root race—by fire, and we certainly do see the proliferation of fires, but of course, we can also deal with atomic fire, and that can hint at some kind of atomic war. So, are we really out of the woods yet when it comes to that attempt? And who will engineer that attempt to destroy the fifth root race by fire? We’re still pretty much within that possibility, even though we can hope that, as Foster Bailey said, the Tibetan assured him that there would not be an atomic war, and this assurance was given somewhere in the early 50s, maybe 1952 or something, but we have no certain assurance, because he did warn us of the results of religious war involving Shamballa, and we know how fanatical certain people upon the sixth ray—probably aided and abetted by the first ray, and the fourth, the conflict side of the fourth ray—can be. We know how destructive they can be.

Chúng ta được cho biết rằng sẽ có một nỗ lực hủy diệt nhân loại Arya—chúng ta muốn nói đến giống dân gốc thứ năm—bằng lửa. Quả thật, chúng ta đang thấy các vụ cháy gia tăng khắp nơi. Nhưng dĩ nhiên, chúng ta cũng có thể phải đối phó với lửa nguyên tử, và điều đó có thể gợi ý một dạng chiến tranh nguyên tử nào đó. Vậy chúng ta đã thực sự thoát khỏi nguy hiểm trước nỗ lực ấy chưa? Và ai sẽ dàn dựng nỗ lực hủy diệt giống dân gốc thứ năm bằng lửa? Chúng ta vẫn còn nằm khá sâu trong khả năng ấy, dù có thể hy vọng rằng, như ông Foster Bailey đã nói, Chân sư Tây Tạng bảo đảm với ông rằng sẽ không có chiến tranh nguyên tử, và lời bảo đảm này được đưa ra vào khoảng đầu thập niên 50, có lẽ năm 1952 hay gần đó. Nhưng chúng ta không có sự bảo đảm chắc chắn, vì Ngài đã cảnh báo chúng ta về những hậu quả của chiến tranh tôn giáo có liên quan đến Shamballa. Và chúng ta biết một số người thuộc cung sáu—có lẽ được cung một và cung bốn, phương diện xung đột của cung bốn, hỗ trợ và tiếp tay—có thể cuồng tín đến mức nào. Chúng ta biết họ có thể gây hủy diệt đến mức nào.

So anyway, the idea here is that great results can be achieved when people use the Sacred Word correctly, and the sounding of certain mantrams will have considerable effects in preparing physical plane conditions for heightened spiritual infusion. Talismans have been planted where a number of the schools of the future are to appear, and we can see—or we can imagine—that the planting, the implantation, of the talismans would have occurred with the use of certain mantrams. And just imagine that we want to have light really affect the consciousness of people, and mantrams which prepare the mental body for the inflow of that light. Right now, they don’t exist—at least human beings of the normal development cannot use them, and are not even aware of them.

Dù sao, ý tưởng ở đây là có thể đạt được những kết quả lớn lao khi con người sử dụng Linh từ Thiêng Liêng đúng cách, và việc xướng một số mantram sẽ có những tác động đáng kể trong việc chuẩn bị các điều kiện trên cõi hồng trần để tiếp nhận sự thấm nhuần tinh thần mạnh mẽ hơn. Những linh phù đã được đặt tại nơi một số trường học trong tương lai sẽ xuất hiện, và chúng ta có thể thấy—hoặc có thể tưởng tượng—rằng việc đặt, việc cấy các linh phù ấy hẳn đã diễn ra với việc sử dụng một số mantram. Và hãy hình dung rằng chúng ta muốn ánh sáng thực sự tác động đến tâm thức con người, cùng những mantram chuẩn bị thể trí cho dòng ánh sáng ấy tuôn vào. Hiện nay, chúng chưa tồn tại—ít nhất những người có mức phát triển bình thường không thể sử dụng, và thậm chí không biết đến chúng.

Of course, healing will be a great eye-opener, and that is emerging: the subtle forms of healing, especially through color and sound, being one of the first modalities to actually make its presence felt and be recognized. And then the coming of the Mysteries officiated over by the Christ, and at least the first initiation celebrated more or less publicly. It’s going to be quite a different civilization, and even through the decaying of the present civilization, we can already begin to see the outlines of what is possible.

Dĩ nhiên, việc chữa lành sẽ mở mang nhận thức rất nhiều. Điều đó đang xuất hiện: những hình thức chữa lành tinh tế, đặc biệt qua màu sắc và âm thanh, là một trong những phương thức đầu tiên thực sự cho thấy sự hiện diện và được công nhận. Rồi đến sự xuất hiện của các Bí Pháp do Đức Christ chủ trì, và ít nhất lần điểm đạo thứ nhất sẽ được cử hành ít nhiều công khai. Đó sẽ là một nền văn minh rất khác, và ngay trong sự suy tàn của nền văn minh hiện tại, chúng ta đã có thể bắt đầu thấy những đường nét của điều có thể thành hiện thực.

So,

Vì vậy,

[77] In this paragraph, as you rightly think, lies material that enlarged would fill a volume.

[77] Đúng như các bạn nghĩ, trong đoạn này có nội dung mà nếu triển khai rộng sẽ đầy cả một quyển sách.

DK in some ways is so Jupiterian. He can see the potential of the seed, and how we would be able, in a Jupiterian sense, to expand the indicative seed, the seed of knowledge that we are given. But of course, everything he would say—what I’m giving you now is condensed. So just accept that fact, and build in the structure of thought, which will help us have a foundation, and then the missing areas will be filled in. So it could fill a volume, what has just been given.

Theo một số phương diện, Chân sư DK mang đậm phẩm tính Sao Mộc. Ngài có thể thấy tiềm năng của hạt giống, và cách chúng ta có thể, theo ý nghĩa Sao Mộc, mở rộng hạt giống gợi mở, hạt giống tri thức được trao cho chúng ta. Nhưng dĩ nhiên, trong tất cả những gì Ngài nói, Ngài đều sẽ cho biết—những gì Tôi đang trao cho các bạn đã được cô đọng. Vì vậy, hãy chấp nhận sự thật ấy và xây dựng cấu trúc tư tưởng, điều sẽ giúp chúng ta có một nền tảng, rồi những phần còn thiếu sẽ được bổ sung. Như vậy, những gì vừa được trao có thể lấp đầy một quyển sách.

[78] It is part of that white magic that again will be restored to the race and by means of which a glory and a civilisation will be attained that was hinted at in Atlantean days, and is one of the dreams of the visionaries of the race.

[78] Đó là một phần của chánh thuật sẽ lại được khôi phục cho nhân loại, và nhờ đó, con người sẽ đạt đến một nền văn minh cùng sự huy hoàng từng hé lộ vào thời Atlantis, vốn là một trong những giấc mơ của những người có tầm nhìn trong nhân loại.

So, the Masters have this tremendous incentive to promote the development of the planetary will, the planetary purpose, and they have this tremendous incentive to help all beings who must participate in this building of a new civilization. I guess vision produces incentive, especially a positive vision. A negative vision may induce fear and recoil, but at the same time, among the brave, it may induce an attitude that seeks to negate its possible appearance.

Vì vậy, các Chân sư có động lực vô cùng lớn để thúc đẩy sự phát triển của ý chí hành tinh, mục đích hành tinh, và Các Ngài có động lực vô cùng lớn để giúp đỡ tất cả những sinh linh phải tham gia xây dựng nền văn minh mới này. Tôi cho rằng tầm nhìn tạo ra động lực, đặc biệt là một tầm nhìn tích cực. Một tầm nhìn tiêu cực có thể gây sợ hãi và chùn bước, nhưng đồng thời, ở những người can đảm, nó có thể khơi dậy một thái độ tìm cách ngăn không cho điều ấy xuất hiện.

[79] Mantrams or words sounded forth collectively by which the deva, or angel kingdom, will be communicated with. These are a peculiar set of mantrams connected with the Mahachohan’s department and I will take them up more specifically later……

[79] Các mantram hay linh từ được tập thể cùng xướng lên để giao tiếp với giới thiên thần. Đây là một nhóm mantram đặc thù liên quan đến bộ môn của Đức Mahachohan, và Tôi sẽ bàn cụ thể hơn về chúng sau……

Then some sort of indication that he said more, which is not being printed. So we’re still into listing the mantrams, and we still have that question in the air about the Sacred Word. Is the OM a substitute Sacred Word? Even if it is a substitute Sacred Word, is it still effective? It does seem to be effective. And if it is a substitute Sacred Word, what is the real Sacred Word?

Rồi có một dấu hiệu nào đó cho thấy Ngài đã nói thêm, nhưng phần ấy không được in ra. Vì vậy, chúng ta vẫn đang liệt kê các mantram, và câu hỏi về Linh từ Thiêng Liêng vẫn còn bỏ ngỏ. OM có phải là một linh từ thiêng liêng thay thế không? Ngay cả nếu là một linh từ thiêng liêng thay thế, nó vẫn có hiệu quả chứ? Dường như nó quả thật có hiệu quả. Và nếu đó là một linh từ thiêng liêng thay thế, thì Linh từ Thiêng Liêng thực sự là gì?

I’m thinking about how much communication with the deva kingdom was explored, I think, in the Old Testament, which is the sum total of the wisdom which existed in the previous major solar system, which was on the third ray, and which would therefore be related to the Mahachohan’s department. And even today, when we study the Tarot and the Kabbalah, we’re dealing with a third ray system, which was prominent in a previous solar system. The Mahachohan, though, is the link there within humanity to the knowledge, and presumably the wisdom, of that previous solar system. So the deva or angel kingdom can be communicated with. There are just so many specifics here, so many specific antidotes to our negative conditions, which can be applied by esoteric means, and which eventually we have to learn to apply.

Tôi đang nghĩ đến việc giao tiếp với giới thiên thần đã được tìm hiểu sâu rộng đến mức nào, theo Tôi, trong Cựu Ước, vốn là tổng thể minh triết đã tồn tại trong hệ mặt trời lớn trước đây, thuộc cung ba, và do đó hẳn liên quan đến ban của Đức Mahachohan. Ngay cả ngày nay, khi nghiên cứu Tarot và Kabbalah, chúng ta đang bàn đến một hệ thống cung ba từng nổi bật trong một hệ mặt trời trước đây. Tuy nhiên, Đức Mahachohan là mối liên kết trong nhân loại với tri thức, và có lẽ cả minh triết, của hệ mặt trời trước ấy. Vì vậy, có thể giao tiếp với giới thiên thần. Ở đây có biết bao điều cụ thể, biết bao phương thuốc cụ thể cho những tình trạng tiêu cực của chúng ta, có thể áp dụng bằng những phương tiện huyền bí, và cuối cùng chúng ta phải học cách áp dụng.

Now we can take up—and it’s a fairly lengthy—well, I’m going slowly, so maybe everything seems lengthy, but this is “The use of rhythm collectively in meditation.” So it’s not just what is the Sacred Word, or what is the sound to be enunciated; not only what pitch do you use to enunciate it, or what key is related to the enunciation, but in what rhythm do you enunciate this? DK talks about trumpeted words on a certain pitch, or in a certain key, and unless we have all of that going for us, and really understand it, we cannot access the power that the mantrams are supposed to have. So we’re just humbly learning around the edges of this great subject.

Bây giờ chúng ta có thể bàn đến—và phần này khá dài—Tôi đang đi chậm, nên có lẽ mọi thứ đều có vẻ dài, nhưng đây là “Việc tập thể sử dụng nhịp điệu trong tham thiền”. Vì vậy, không chỉ là Linh từ Thiêng Liêng là gì, hoặc âm thanh nào cần phát ra; không chỉ là các bạn dùng cao độ nào để phát ra nó, hay giọng nào liên quan đến việc phát âm ấy, mà còn là các bạn phát ra nó theo nhịp điệu nào? Chân sư DK nói đến những linh từ vang lên như tiếng kèn ở một cao độ nhất định, hoặc trong một giọng nhất định, và nếu chúng ta chưa có đủ tất cả những yếu tố ấy, chưa thực sự thấu hiểu chúng, thì không thể tiếp cận quyền năng mà các mantram được cho là có. Vì vậy, chúng ta chỉ đang khiêm tốn học hỏi ở phần rìa của chủ đề lớn lao này.

We’re dealing with the use of rhythm collectively in meditation. The unusual definition of rhythm, surrounding the word “cadence”: cadence is usually an ending of a phrase of music, but here it appears to be used differently. So,

Chúng ta đang bàn đến việc tập thể sử dụng nhịp điệu trong tham thiền. Định nghĩa khác thường về nhịp điệu xoay quanh từ “kết nhịp”: kết nhịp thường là sự kết thúc của một câu nhạc, nhưng ở đây dường như từ này được dùng theo cách khác. Vì vậy,

[80] Rhythm might be expressed as that cadenced movement which automatically sways those who employ it into line with certain of Nature’s forces.

[80] Có thể diễn tả nhịp điệu là chuyển động có tiết tấu tự động đưa những người sử dụng nó vào sự hòa hợp với một số mãnh lực của Tự Nhiên.

I mean, here are some, maybe, examples of rhythms. I think I forgot the names of all the meters, but the iambic: da-dum, da-dum, da-dum. And maybe the cadence is to stop it. Da-dum, da-dum, da-dum. Da-dum, da-dum, da-dum. Da-dum, da-dum, da-dum. The cadence involves a finality of the phrase. Then maybe—is this the trochaic?—dum-da, dum-da, dum-da, dum-da. Long, short, long, short. And there are two more. I think one of them is called anapestic. Now, these are certainly not all the rhythms by any means, but at least in Western poetry these particular kinds of rhythms are commonly found. Da-da-dum, da-da-dum, da-da-dum: short, short, long; short, short, long; short, short, long. And then long, short, short; long, short, short: dum-pa-pa, pum-pa-pa. And probably there are others. So maybe the stoppage of the particular unit—an iambic unit is da-dum—now, how many of those do you put together before you stop? Which would be maybe cadenced movement, and then start again. At least this is my guess for the moment.

Ý Tôi là đây có lẽ là một số ví dụ về nhịp điệu. Tôi nghĩ mình đã quên tên của tất cả các thể nhịp, nhưng nhịp đoản–trường là: ta-tum, ta-tum, ta-tum. Và có lẽ kết nhịp là dừng nó lại. Ta-tum, ta-tum, ta-tum. Ta-tum, ta-tum, ta-tum. Ta-tum, ta-tum, ta-tum. Kết nhịp bao hàm sự kết thúc của câu. Rồi có lẽ—đây có phải nhịp trường–đoản không?—tum-ta, tum-ta, tum-ta, tum-ta. Dài, ngắn, dài, ngắn. Và còn hai loại nữa. Tôi nghĩ một loại gọi là nhịp đoản–đoản–trường. Dĩ nhiên, đây hoàn toàn không phải tất cả các nhịp điệu, nhưng ít nhất trong thơ phương Tây, những kiểu nhịp đặc biệt này thường xuất hiện. Ta-ta-tum, ta-ta-tum, ta-ta-tum: ngắn, ngắn, dài; ngắn, ngắn, dài; ngắn, ngắn, dài. Rồi dài, ngắn, ngắn; dài, ngắn, ngắn: tum-pa-pa, pum-pa-pa. Và có lẽ còn những loại khác. Vì vậy, có lẽ là sự dừng lại của một đơn vị nhất định—một đơn vị nhịp đoản–trường là ta-tum—vậy bạn ghép bao nhiêu đơn vị như thế trước khi dừng? Có lẽ đó là sự vận động theo nhịp phách, rồi lại bắt đầu. Ít nhất đó là phỏng đoán của Tôi lúc này.

[81] It is that directed action, followed in unison by a body of people, which results in certain alignments and effects upon one or other of the bodies or on all.

[81] Đó là hành động có định hướng mà một tập thể người cùng thực hiện, tạo ra những sự chỉnh hợp và tác động nhất định lên một hay tất cả các thể phàm ngã của họ. Vì vậy, nó có những mục tiêu sau:

So the rhythm is very important to add to the note, the key, and the proper word, of course, or the proper phrase. At least we can talk about some generalities here, even if we don’t have the specifics yet, because they are of tremendous power. They say a little knowledge is a dangerous thing, and from another perspective, all knowledge that we might have on earth is a little knowledge, and therefore knowledge is a dangerous thing, but we have to be worthy, trusted, to have that knowledge conferred upon us. So it has for its objectives—how many? Well, at least it looks like three objectives.

Vì vậy, nhịp điệu là yếu tố rất quan trọng cần bổ sung vào nốt, giọng, và dĩ nhiên, linh từ đúng hoặc câu đúng. Ít nhất chúng ta có thể bàn về một số điểm khái quát ở đây, dù chưa có các chi tiết cụ thể, vì chúng mang quyền năng vô cùng lớn. Người ta nói biết ít là điều nguy hiểm. Và từ một góc nhìn khác, tất cả tri thức mà chúng ta có thể có trên Trái Đất đều chỉ là chút ít tri thức, nên tri thức là điều nguy hiểm, nhưng chúng ta phải xứng đáng, đáng tin cậy, để được truyền trao tri thức ấy. Vậy nó có bao nhiêu mục tiêu? Ít nhất có vẻ là ba mục tiêu.

[82] a. The swinging of a body, or a concourse of bodies, into the radius of action of a stream of force.

[82] a. Đưa một thể, hoặc một tập hợp các thể của phàm ngã, vào phạm vi tác động của một dòng mãnh lực.

So whether it’s one body, or several, or many, they are swung into a condition of being impacted by a certain stream of force. The force reaches only so far; it has a certain radius beyond which it is not effective, and the mantram in a certain rhythm brings the recipient or recipients within that radius.

Vì vậy, dù là một thân thể, vài thân thể hay nhiều thân thể, chúng đều được đưa vào trạng thái chịu tác động của một dòng mãnh lực nhất định. Mãnh lực chỉ vươn xa đến một mức nào đó; nó có một bán kính nhất định mà vượt ra ngoài thì không còn hiệu quả, và mantram theo một nhịp điệu nhất định đưa người hoặc những người tiếp nhận vào trong bán kính ấy.

[83] b. It causes an adjustment of the matter of one of the various bodies or of all the bodies that go to the make-up of the personnel of a group.

[83] b. Điều chỉnh vật chất của một trong những thể khác nhau hoặc của tất cả các thể cấu thành những thành viên của một nhóm. [Page 197]

So we’re in a group, let’s say, and the objective is to condition the etheric-physical in a certain way, or the astral in a certain way, or the mental in a certain way, and perhaps all of them collectively in a certain way, the entire personality. That also is possible. And:

Vì vậy, giả sử chúng ta ở trong một nhóm, và mục tiêu là làm biến đổi và điều chỉnh phương diện dĩ thái–hồng trần theo một cách nhất định, hoặc phương diện cảm dục theo một cách nhất định, hoặc phương diện trí tuệ theo một cách nhất định, và có lẽ tất cả cùng được điều chỉnh theo một cách nhất định, tức toàn bộ phàm ngã. Điều đó cũng có thể xảy ra. Và:

[84] c. It blends—under certain geometrical balances

[84] c. Hòa trộn—dưới những thế cân bằng hình học

—he’s using very occult terms—

—Ngài đang dùng những thuật ngữ rất huyền bí—

[85] and arrangements—the auras of the differentiated units in a group,

[85] và cách sắp xếp nhất định—các hào quang của những đơn vị đã biến phân trong một nhóm,

Well, maybe certain patterns are likely here. We have examples of a few of those things: certain patterns in which he arranges his group members, like the triangle with another triangle at each of the vertices. So maybe that’s a kind of geometrical balance; could be, and we might say then that certain patterns emerge, certain arrangements, so rhythm blends under certain geometrical balances. I guess we can have patterns that have geometrical balances and arrangements—the auras of the differentiated units in a group,

Có lẽ ở đây sẽ có một số mô hình nhất định. Chúng ta có ví dụ về vài điều như thế: một số mô hình mà Ngài dùng để bố trí các thành viên trong nhóm, như một tam giác với một tam giác khác tại mỗi đỉnh. Vì vậy, có lẽ đó là một dạng cân bằng hình học; có thể là vậy, và khi ấy chúng ta có thể nói rằng một số mô hình, một số cách bố trí xuất hiện, vì vậy, nhịp điệu hòa trộn dưới những thế cân bằng hình học nhất định. Tôi cho rằng chúng ta có thể có những mô hình mang các thế cân bằng và cách bố trí hình học—các hào quang của những cá nhân đã biến phân trong một nhóm,

[86] and causes these auras to form one united group aura, thereby permitting of the rhythmic flow of force in certain specified directions, for certain specified ends.

[86] khiến những hào quang này tạo thành một hào quang nhóm hợp nhất, nhờ đó cho phép mãnh lực tuôn chảy nhịp nhàng theo những hướng xác định, vì những mục đích xác định.

Well, this is very specific language, and it has a deep esotericism to it. The radius of action of a stream of force—that’s number one. And adjustment of matter of one of the various bodies, or of all bodies—that’s another. And blending the diverse members of a group by using certain arrangements—maybe a five-pointed star, maybe a six-pointed star, maybe that triangular formation I talked about—into one united group aura. And maybe the positioning of those people in that ninefold and yet four-triangled arrangement blends them all together.

Đây là ngôn ngữ rất cụ thể, mang chiều sâu huyền bí học. Bán kính tác động của một dòng mãnh lực—đó là mục thứ nhất. Và điều chỉnh vật chất của một trong các thể khác nhau, hoặc của tất cả các thể ấy—đó là một mục khác. Và hòa trộn các thành viên khác nhau của một nhóm bằng những cách bố trí nhất định—có lẽ một ngôi sao năm cánh, có lẽ một ngôi sao sáu cánh, có lẽ đội hình tam giác mà Tôi đã nói đến—thành một hào quang nhóm hợp nhất. Và có lẽ việc đặt những người ấy trong cách bố trí cửu phân nhưng gồm bốn tam giác sẽ hòa trộn tất cả họ với nhau.

[87] This has been well understood right down the ages, even though the methods, procedure and results have not been scientifically comprehended or tabulated, except by various occult and esoteric bodies.

[87] Người ta đã thấu hiểu điều này qua suốt các thời đại, dù chưa hiểu hay hệ thống hóa một cách khoa học các phương pháp, trình tự và kết quả, ngoại trừ một số đoàn thể huyền bí và nội môn.

There’s always a kind of hermetic sealing that goes on, and really, knowledge that pertains to one type of group with certain capacities is not allowed to those groups that do not have those capacities or developments or capabilities, but still, somehow, without understanding the science, people have hit upon certain methods, or at least they’ve hit upon the idea that arranging a group in a particular way unifies the group according to that arrangement.

Luôn có một sự giữ kín nghiêm ngặt nào đó. Thật vậy, tri thức thuộc về một loại nhóm có những năng lực nhất định không được truyền cho những nhóm chưa có các năng lực, mức phát triển hay khả năng ấy. Tuy nhiên, bằng cách nào đó, dù không thấu hiểu khoa học này, người ta vẫn tìm ra một số phương pháp, hoặc ít nhất cũng nảy ra ý tưởng rằng việc sắp xếp một nhóm theo một cách nhất định sẽ hợp nhất nhóm theo cách sắp xếp ấy.

[88] In the old, so-called pagan rites the value of rhythm was well understood and even David, the psalmist of Israel, danced before the Lord. The swaying of the body to a certain tempo, and the swinging of the framework of the physical vehicle in various directions, subject at times to the musical sound of instruments, has a peculiar and definite effect upon the matter of the two subtler vehicles.

[88] Trong những nghi lễ cổ xưa được gọi là ngoại giáo, người ta thấu hiểu giá trị của nhịp điệu; ngay cả David, người sáng tác thánh vịnh của Israel, cũng đã nhảy múa trước Chúa. Việc đung đưa thân thể theo một nhịp độ nhất định và đưa khung thân của hiện thể hồng trần chuyển động theo nhiều hướng, đôi khi theo tiếng nhạc của các nhạc cụ, có một tác động đặc thù và rõ rệt lên vật chất của hai hiện thể tinh tế hơn. Nhờ chuyển động nhịp nhàng này:

So, underneath common statements like “David danced before the Lord” is an occult reason, a motive. He must have had a lot of the fourth ray—the David and Goliath myth, and of course, he was subject to many temptations. We have that figure immortalized in the statue, the sculpture of Michelangelo, the David. And here again, the swaying of the body to a certain tempo. And we might say—I keep wanting to redeem the dervishes. I know that people who have studied their dance and their work with Sufism do not think that it is simply a mad whirl, but it looks graceful and rhythmic, and probably has its own occultism beneath it. I mean, it seems like some kind of vortex, some kind of vacuum, is being created by their rhythmic movements.

Vì vậy, bên dưới những lời kể thông thường như “David nhảy múa trước Chúa” có một lý do huyền bí, một động cơ. Hẳn ông mang nhiều phẩm tính của cung bốn—câu chuyện huyền thoại David và Goliath, và dĩ nhiên, ông đã trải qua nhiều cám dỗ. Hình tượng ấy đã trở nên bất hủ trong pho tượng David của Michelangelo. Và ở đây, một lần nữa, việc đung đưa thân thể theo một tiết tấu nhất định. Tôi cứ muốn minh oan cho các tu sĩ khổ hạnh xoay múa. Tôi biết những người đã nghiên cứu điệu múa và công việc của họ trong truyền thống thần bí Hồi giáo không cho rằng đó chỉ là một sự xoay cuồng điên loạn; trái lại, nó có vẻ duyên dáng, nhịp nhàng, và có lẽ ẩn chứa huyền bí học riêng. Ý tôi là dường như những chuyển động nhịp nhàng của họ tạo ra một dạng xoáy, một dạng chân không nào đó.

So anyway, the two subtler vehicles are affected—a definite effect upon the two subtler vehicles. And what happens? Several things.

Dù sao, hai hiện thể tinh tế hơn chịu tác động—một tác động rõ rệt lên hai hiện thể ấy. Và điều gì xảy ra? Có vài điều.

[89] 1. The force that is tapped in this manner is directed according to the rhythm to some one or other centre in the body.

[89] 1. Mãnh lực được khai thác theo cách này sẽ hướng đến một trung tâm nào đó trong thân thể (tùy theo nhịp điệu).

So this is a specific cultivation, a cultivation of a vehicle according to a certain rhythm. That’s number one.

Như vậy, đây là một sự rèn luyện cụ thể, rèn luyện một hiện thể theo một nhịp điệu nhất định. Đó là điều thứ nhất.

[90] 2. The matter of the emotional and mental bodies is entirely readjusted and re-blended, resulting in certain effects having probably a physical manifestation.

[90] 2. Vật chất của các thể cảm dục và thể trí được điều chỉnh và hòa trộn lại hoàn toàn, tạo ra những tác động nhất định có thể biểu hiện trên cõi hồng trần.

So we think about the art, the occult nature of the art of dance. Now, so much of it maybe is just personal movement, but it can slip into something that is far more meaningful. And we’re told about the arts of the future, how they must all be preceded by meditation, and that their purpose will be somehow esoteric or occult revelation.

Vì vậy, chúng ta suy nghĩ về nghệ thuật, về bản chất huyền bí của nghệ thuật múa. Hiện nay, có lẽ phần lớn chỉ là chuyển động cá nhân, nhưng nó có thể chuyển sang một điều có ý nghĩa sâu sắc hơn nhiều. Và chúng ta được cho biết về các nghệ thuật trong tương lai: tất cả đều phải có tham thiền đi trước, và mục đích của chúng sẽ là một sự mặc khải nội môn hay huyền bí nào đó.

[91] 3. The alignment of the vehicles is affected and may be distorted or misplaced, or they may be correctly aligned and put in touch with the causal.

[91] 3. Sự chỉnh hợp của các hiện thể chịu tác động và có thể méo mó hay lệch vị trí, hoặc chúng có thể chỉnh hợp đúng và tiếp xúc với thể nguyên nhân.

Again, via the correct rhythm. I’ll just say rhythm, because there can be rhythmic sounding or rhythmic movement, either one or both. So this is the result of arranging the body, arranging people together in patterns, moving according to certain rhythms. This of course in the arts is common, but maybe there is simply an unconscious knowledge of what is to be achieved. Probably conscious occult technique is not a part of the creative process for most yet.

Một lần nữa, thông qua nhịp điệu đúng đắn. Tôi chỉ nói nhịp điệu, vì có thể là xướng âm theo nhịp điệu hoặc chuyển động theo nhịp điệu, một trong hai hoặc cả hai. Như vậy, đây là kết quả của việc bố trí thân thể, sắp xếp mọi người cùng nhau theo những mô hình, chuyển động theo những nhịp điệu nhất định. Dĩ nhiên, điều này phổ biến trong nghệ thuật, nhưng có lẽ chỉ có một hiểu biết vô thức về điều cần đạt được. Có lẽ đối với phần lớn mọi người, kỹ thuật huyền bí hữu thức vẫn chưa là một phần của tiến trình sáng tạo.

I spent a lot of time in my life being a stage director for opera, and inevitably dance was included, and group movement was included, especially in the musical rituals later created. Their very coherent movement was part of the presentation. Now, where that all came from, I don’t know. Something one is born with, perhaps; it seems for me to be a leftover, coming back to old Greek theater days. And did I know the occultism of it, if such there was? No, I didn’t, but I felt the effect when certain gestures were used in unison by the group, or in a balanced manner by one part of the group or another part of the group. So that was a kind of recreation of past tendencies, abilities, and maybe understanding.

Tôi đã dành nhiều thời gian trong đời làm đạo diễn sân khấu nhạc kịch, và tất nhiên có cả múa lẫn chuyển động tập thể, đặc biệt trong các nghi lễ âm nhạc được sáng tác về sau. Những chuyển động rất ăn khớp của họ là một phần của buổi trình diễn. Tôi không biết tất cả những điều ấy đến từ đâu. Có lẽ là điều người ta đã mang theo khi sinh ra; đối với tôi, dường như đó là một dấu tích còn lại, gợi về những ngày sân khấu Hy Lạp cổ xưa. Và tôi có biết huyền bí học của nó, nếu quả có, hay không? Không, tôi không biết, nhưng tôi cảm nhận được tác động khi nhóm cùng thực hiện một số động tác, hoặc khi bộ phận này hay bộ phận kia của nhóm thực hiện chúng một cách cân đối. Như vậy, đó là một dạng tái hiện những khuynh hướng, khả năng, và có lẽ cả sự thấu hiểu từ quá khứ.

But DK is really talking about a science here that has to be imparted. So there’s the direction to some one or other center, and then there is a kind of readjustment of the emotional or mental bodies, matter re-blended, and he must mean a specific thing. We maybe can’t know exactly the specificity of the act. And then alignment. And I suppose we have to be very careful. Sometimes you look at the alignment that might be achieved by certain quite violent musical groups, maybe certain rock groups that are called black rock, satanic rock, heavy metal. I don’t want to be involved in saying that there is no value, but the alignment there can be distorted and misplaced. And I’ve seen some demonstrations of this negative kind of rock. I myself like rock sometimes. It’s really good, and they certainly use the rhythm; they use that rhythm a lot. And you have to wonder what it evokes, but I’ve seen some demonstrations that truly are an invocation of that which is negative. And if we want to call Satan the personality as the beast, then I’ve seen some of these demonstrations where they don’t even sing. They roar like beasts, growl and roar. It’s an invocation literally of the beast, of animality.

Nhưng ở đây, Chân sư DK thực sự đang nói về một khoa học cần được truyền dạy. Có việc dẫn mãnh lực đến một trung tâm nào đó, rồi có một dạng điều chỉnh lại thể cảm dục hoặc thể trí, hòa phối lại vật chất. Và hẳn Ngài muốn nói đến một điều cụ thể. Có lẽ chúng ta không thể biết chính xác tính chất cụ thể của hành động ấy. Rồi đến sự chỉnh hợp. Và tôi cho rằng chúng ta phải hết sức thận trọng. Đôi khi các bạn nhìn vào sự chỉnh hợp mà một số nhóm nhạc khá dữ dội có thể tạo ra, có lẽ là những nhóm nhạc kích động được gọi là nhạc đen, nhạc thờ quỷ, nhạc kim loại nặng. Tôi không muốn khẳng định rằng chúng không có giá trị, nhưng sự chỉnh hợp ở đó có thể bị biến dạng và lệch vị trí. Và tôi đã xem một số màn trình diễn thuộc dạng nhạc tiêu cực này. Bản thân tôi đôi khi cũng thích nhạc kích động. Nó thực sự hay, và chắc chắn họ sử dụng nhịp điệu; họ sử dụng nhịp điệu ấy rất nhiều. Các bạn phải tự hỏi nó gợi lên điều gì. Nhưng tôi đã xem một số màn trình diễn thực sự là sự khẩn cầu những điều tiêu cực. Và nếu chúng ta muốn gọi Satan là phàm ngã dưới dạng con thú, thì tôi đã xem một số màn trình diễn như thế, trong đó họ thậm chí không hát. Họ gầm như thú, gầm gừ và gào rống. Đó đúng nghĩa là sự khẩn cầu con thú, thú tính.

But there’s also the opposite side, and that’s what we’re looking for: to be put in touch with the causal vehicle and that which is even higher, higher than the causal vehicle. So all of this is about the use of rhythm in the body and the use of rhythm in the voice. We have been studying the use of rhythm in the body and the use of rhythm through the throat center, involving mantrams and songs and simply sequences of sounds. Well, now we know these things exist, and that’s, I think, his point: that we should know that they exist. He’s not going to reveal the content.

Nhưng cũng có mặt đối lập, và đó là điều chúng ta đang tìm kiếm: nối kết với hiện thể nguyên nhân và với điều còn cao hơn, cao hơn hiện thể nguyên nhân. Như vậy, tất cả điều này liên quan đến việc sử dụng nhịp điệu trong thân thể và trong giọng nói. Chúng ta đã nghiên cứu việc sử dụng nhịp điệu trong thân thể và qua trung tâm cổ họng, bao gồm các mantram, bài hát và đơn thuần là những chuỗi âm thanh. Giờ đây chúng ta biết những điều này tồn tại, và tôi nghĩ đó là điều Ngài muốn nhấn mạnh: chúng ta nên biết rằng chúng tồn tại. Ngài sẽ không tiết lộ nội dung.

[92] This is one of the main objects of the true rhythmic movement, distortions of which come down to us through the centuries, and have their apotheosis in the low type of modern dance.

[92] Đây là một trong những mục tiêu chính của chuyển động nhịp nhàng chân chính; những dạng méo mó của nó đã truyền đến chúng ta qua nhiều thế kỷ và đạt đến đỉnh điểm trong loại hình khiêu vũ hiện đại thấp kém.

Now, I would say that we have also seen genius in modern dance, but of course also the evocation of that which is low. It’s interesting that he does at least mention this, because the thought came to me about modern dance, that it must be a leftover of some kind of great knowledge of these things. Now I think about the Greek chorus, in regard to which I seem to have some ancient memory, and the chorus didn’t just stand still. The chorus moved as they spoke, and they spoke in rhythm, and it must have been a very impressive kind of presentation. You see these little snippets of memory and things, patterns, which awaken in you the sense of affinity: yes, I relate to that.

Tôi muốn nói rằng chúng ta cũng đã thấy thiên tài trong múa hiện đại, nhưng dĩ nhiên cũng có việc gợi lên những điều thấp kém. Thật thú vị là ít nhất Ngài có đề cập đến điều này, vì tôi đã nghĩ về múa hiện đại rằng nó hẳn là dấu tích của một dạng tri thức lớn lao về những điều ấy. Giờ tôi nghĩ đến đội đồng diễn Hy Lạp, dường như tôi có một ký ức cổ xưa nào đó về nó. Đội đồng diễn không chỉ đứng yên. Họ chuyển động khi nói, và nói theo nhịp điệu. Hẳn đó là một hình thức trình diễn rất ấn tượng. Các bạn thấy những mảnh ký ức nhỏ và những mô hình khơi dậy trong mình cảm giác tương hợp: đúng vậy, tôi có sự gắn bó với điều ấy.

I remember an experience I had where I heard—it’s gorgeous—music of the early 16th century from Spain. And it was Ponce. I guess he was a lutenist. I don’t think they had guitar in those days, but the lute as the precursor. And I was in a restaurant on a patio, and I had gone to get something, and then the guitarist began to play some of these pieces by Ponce, and I literally froze in my tracks. I just could not move. I was so hypnotized by what I considered the beauty of the music, and it has such resonance with me that maybe it’s a way of tracing an incarnation. I think people will find different doors for the tracing of incarnations. It may be through the eye, through the ear, through taste—any one of the senses could be involved in that—through certain words. And that lightning of memory will at least make an arc to the original, and perhaps a link with where one has been, and the circumstances under which one found himself or herself in those days will be a little bit clarified. Maybe it’s dance. We have an affinity for certain patterns, having been through them.

Tôi nhớ một trải nghiệm khi nghe thứ âm nhạc tuyệt đẹp của Tây Ban Nha đầu thế kỷ 16. Đó là nhạc của Ponce. Tôi đoán ông là người chơi đàn luýt. Tôi không nghĩ thời ấy họ đã có đàn ghi-ta, mà có đàn luýt như một tiền thân. Tôi đang ở sân ngoài của một nhà hàng, và vừa đi lấy một thứ gì đó. Rồi người chơi ghi-ta bắt đầu chơi vài bản nhạc này của Ponce, và tôi đứng sững ngay tại chỗ. Tôi hoàn toàn không thể cử động. Tôi bị mê hoặc đến vậy trước vẻ đẹp mà tôi cảm nhận trong âm nhạc ấy. Nó cộng hưởng sâu sắc với tôi đến mức có lẽ đó là một cách truy tìm một kiếp nhập thể. Tôi nghĩ mọi người sẽ tìm thấy những cánh cửa khác nhau để truy tìm các kiếp nhập thể. Có thể qua thị giác, thính giác, vị giác—bất kỳ giác quan nào cũng có thể tham gia—hoặc qua một số từ ngữ, và tia chớp ký ức ấy ít nhất sẽ bắc một vòng cung đến nguồn gốc, có lẽ tạo một mối nối với nơi mình từng ở, và làm sáng tỏ phần nào hoàn cảnh mình đã sống trong những ngày ấy. Có lẽ đó là múa. Chúng ta có sự tương hợp với một số mô hình vì đã từng trải qua chúng.

And—little autobiographical stuff here—I always found that as a stage director I would direct mass, coordinated, simultaneous movement, just like the Greek chorus, as I maybe later discovered. So the vestiges, the momentum from the past—maybe they call them skandhas—they come forward into the future, and they are links, if one can again pick up the thread. Now, eventually, I think the discovery of past incarnations will be a lot about picking up the thread that is extended from the past. Some methods of remembering past lives have you look down toward your feet and see if you’re wearing some kind of footwear, and then, on the basis of what you see there, the whole costume, the clothing, can be built up. I don’t know what it is about the feet. Maybe it’s just that they are on the ground and provide some stability or foundation for the whole process of recollection. Now, that is recollection, yet there’s part of a rule that says, “Let there be no recollection, and yet let memory exist.” It’s something like that.

Và—đây là chút chuyện tự thuật—tôi luôn thấy rằng với vai trò đạo diễn sân khấu, tôi thường chỉ đạo những chuyển động tập thể, phối hợp và đồng thời, giống như đội đồng diễn Hy Lạp, điều mà có lẽ sau này tôi mới nhận ra. Như vậy, những dấu tích, đà thúc đẩy từ quá khứ—có lẽ người ta gọi chúng là những tập hợp khuynh hướng—tiếp tục đi vào tương lai, và chúng là những mối nối, nếu người ta có thể nắm lại sợi dây. Tôi nghĩ cuối cùng, việc khám phá các kiếp nhập thể quá khứ sẽ chủ yếu là nắm lấy sợi dây kéo dài từ quá khứ. Một số phương pháp nhớ lại tiền kiếp yêu cầu các bạn nhìn xuống bàn chân và xem mình có đang mang loại giày dép nào không. Rồi dựa vào những gì thấy ở đó, toàn bộ trang phục có thể dần hiện ra. Tôi không biết bàn chân có điều gì đặc biệt. Có lẽ chỉ vì chúng đặt trên mặt đất và tạo một sự ổn định hay nền tảng cho toàn bộ tiến trình hồi tưởng. Đó là hồi tưởng, nhưng có một phần của một quy luật nói rằng: “Đừng có sự hồi tưởng, nhưng hãy để ký ức tồn tại.” Đại ý như thế.

So,

Vì vậy,

[93] In the modern dance is found the corruptest

[93] Trong khiêu vũ hiện đại có biểu hiện suy đồi nhất

—is there such a word? the most corrupt—

—có từ như thế không? suy đồi nhất—

[94] manifestation of rhythmic movement, and the main effect of the rhythm is the direction of the force tapped by its means to the emotional vehicle, and to the lowest type of matter in that vehicle.

[94] của chuyển động nhịp nhàng, và tác động chính của nhịp điệu là hướng mãnh lực mà nó khai thác vào hiện thể cảm dục và vào loại vật chất thấp nhất trong hiện thể ấy.

The lowest type of matter would not be in the astral body at all, says DK. So I don’t know what he means by modern dance, but we’ve all seen many different kinds of modern dance. Sometimes I’ve seen great dance pieces created by Martha Graham, and in some of them there’s a great majesty to it all, and others are more violent, twisted, contorted, obscene, whatever. But from either DK’s perspective, or through the mind of Alice Bailey too, what they’re talking about here is just activating the very lowest part of the human being.

Chân sư DK nói rằng loại vật chất thấp nhất hoàn toàn không thuộc thể cảm dục. Vì vậy, tôi không biết Ngài muốn nói gì khi nhắc đến múa hiện đại, nhưng chúng ta đều đã thấy nhiều loại múa hiện đại khác nhau. Đôi khi tôi đã xem những tác phẩm múa lớn do Martha Graham sáng tạo; trong một số tác phẩm có một vẻ uy nghi lớn lao bao trùm, còn những tác phẩm khác thì dữ dội hơn, vặn vẹo, méo mó, tục tĩu, hay đại loại vậy. Nhưng dù từ góc nhìn của Chân sư DK hay qua thể trí của Alice Bailey, điều Các Ngài và Bà đang nói ở đây chỉ là kích hoạt phần thấp nhất của con người.

[95] This results on the physical plane in a most undesirable stimulation of the sex organs.

[95] Trên cõi hồng trần, điều này [Page 198] gây ra sự kích thích hết sức không mong muốn đối với các cơ quan sinh dục.

Maybe by modern dance he may not mean the art at all. Maybe he means not the art form, but the popular dance movements of ordinary dancing people—the, as it was called, jitterbug. You can imagine that esoterically it would not be a very constructive method of dance. Maybe he’s not talking about the great choreography at all. I would call it more popular dance movements. Would we include the tango and the rumba, all of those different sorts of ballroom dancing moves? What would he say about Dancing with the Stars today? Is that modern dance? It seems to be a blend of very conscious choreography along with maybe some movements that he would say are evocative mostly of the lower instincts. So we have to do a little bit of translating here, see what he really means.

Có lẽ khi nói múa hiện đại, Ngài hoàn toàn không muốn nói đến nghệ thuật. Có lẽ Ngài không nói về loại hình nghệ thuật, mà về những động tác nhảy múa phổ thông của người bình thường—điệu nhảy giật tưng bừng, như người ta từng gọi. Các bạn có thể hình dung rằng, xét một cách huyền bí, đó không phải là một phương pháp nhảy múa có tính xây dựng cao. Có lẽ Ngài hoàn toàn không nói về nghệ thuật biên đạo lớn. Tôi sẽ gọi đó là những động tác nhảy múa phổ thông hơn. Liệu chúng ta có kể cả điệu tăng-gô, rum-ba và tất cả những kiểu động tác khiêu vũ khác ấy không? Ngài sẽ nói gì về chương trình Khiêu Vũ Cùng Các Ngôi Sao ngày nay? Đó có phải là múa hiện đại không? Dường như đó là sự kết hợp giữa biên đạo rất hữu thức với một số động tác mà có lẽ Ngài sẽ nói là chủ yếu gợi lên các bản năng thấp. Vì vậy, ở đây chúng ta phải diễn giải đôi chút để xem Ngài thực sự muốn nói gì.

So the result, again, on the physical plane is a most undesirable stimulation of the sex organs. And I might say—I think he would say this—just as operatic singing as presently practiced too much stimulates the solar plexus center. I think he might say that, or he has said it, basically, in that a new form of singing has to come into existence, and by that he may mean overtoning, and kind of a very ethereal method of singing that has been cultivated, I think, in the East for a long time. When I first heard it, again, I froze in my tracks, because there was a Russian man in the Agni Yoga Society who was an expert at this kind of harmonic singing, and I’d never heard it before. So I thought, “What is this?” So that was a great exposure.

Một lần nữa, kết quả trên cõi hồng trần là sự kích thích các cơ quan sinh dục hết sức không mong muốn. Và tôi có thể nói—tôi nghĩ Ngài sẽ nói như vậy—rằng cũng giống như lối hát nhạc kịch đang được thực hành hiện nay kích thích trung tâm tùng thái dương quá mức. Tôi nghĩ Ngài có thể nói thế, hoặc về cơ bản Ngài đã nói điều đó, khi cho biết một hình thức ca hát mới phải xuất hiện, và có thể Ngài muốn nói đến lối hát bồi âm, một phương pháp hát rất thanh nhẹ mà tôi nghĩ đã được trau dồi ở phương Đông từ lâu. Lần đầu nghe nó, tôi lại đứng sững tại chỗ, vì có một người Nga trong Hội Yoga Lửa rất tinh thông loại hát hòa âm này. Trước đó tôi chưa từng nghe. Vì vậy, tôi nghĩ: “Đây là gì vậy?” Đó là một trải nghiệm tiếp xúc tuyệt vời.

[96] In the true use of rhythmic movement the effect is to align the three lower vehicles with the causal vehicle, and this lining up

[96] Khi sử dụng chuyển động nhịp nhàng đúng cách, tác động là chỉnh hợp ba hiện thể thấp với hiện thể nguyên nhân, và sự chỉnh hợp này

is Sagittarius, the sign of alignment connected with dance, I think so. And this lining up—

là Nhân Mã, dấu hiệu của sự chỉnh hợp có liên quan đến múa, tôi nghĩ vậy. Và sự chỉnh hợp này—

[97] —when coupled with intensest aspiration and ardent desire—

[97] —khi kết hợp với khát vọng mãnh liệt nhất và ước muốn thiết tha—

Sagittarius—

Nhân Mã—

[98] results in a downflow of force from above. This causes a vivification of the three major centres and a definite illumination.

[98] sẽ tạo ra một dòng mãnh lực tuôn xuống từ trên cao. Điều này tiếp sinh lực cho ba trung tâm chính và mang lại sự soi sáng rõ rệt.

Let’s call it illumination through alignment. It’s like a new world, isn’t it? Or is it a very old world? These things are being revealed to us in a very coherent, well-presented manner, and helping to organize our minds accordingly. So now we begin to understand what types of rhythmic movements are allowed in the student occultist, and what types are not.

Hãy gọi đó là sự soi sáng qua chỉnh hợp. Giống như một thế giới mới, phải không? Hay đó là một thế giới rất cổ xưa? Những điều này đang được tiết lộ cho chúng ta một cách rất mạch lạc, trình bày rõ ràng, và giúp tổ chức thể trí của chúng ta theo đó. Vì vậy, giờ đây chúng ta bắt đầu thấu hiểu những loại chuyển động nhịp nhàng nào người học huyền bí học được phép thực hành, và những loại nào thì không.

What about rap? Very rhythmic, sometimes very violent, sometimes very inventive, quite hypnotic, quite compelling. There’s a lot of gangsterism that goes along with it, and rap singers are fairly frequently killed, shot. We read about it all the time. What are they invoking? Certainly it’s nothing melodic, nothing beautiful in the conventional sense of beauty, but it is effective on certain types of minds that want to be entrained by that kind of rhythm. They fall within the radius of that heavily punctuated use of words, heavily emphasized and rhythmically delivered words. Well, it’s very much with us now. It has been for some time now. I don’t know how long—10 years, 20 years—it’s hard to say.

Còn lối hát nói theo nhịp thì sao? Rất giàu nhịp điệu, đôi khi rất dữ dội, đôi khi rất sáng tạo, khá mê hoặc, khá lôi cuốn. Có nhiều hành vi băng đảng đi kèm với nó, và những ca sĩ hát nói khá thường xuyên bị giết, bị bắn. Chúng ta luôn đọc thấy những chuyện ấy. Họ đang khẩn cầu điều gì? Chắc chắn không có gì du dương, không có gì đẹp theo ý nghĩa thông thường của cái đẹp, nhưng nó tác động đến một số dạng thể trí muốn cuốn theo loại nhịp điệu ấy. Họ rơi vào phạm vi ảnh hưởng của cách sử dụng từ ngữ đầy những điểm nhấn mạnh ấy, những từ được nhấn rất mạnh và phát ra theo nhịp điệu. Hiện nay nó rất phổ biến quanh chúng ta. Nó đã hiện diện được một thời gian rồi. Tôi không biết bao lâu—10 năm, 20 năm—khó nói.

But even these common elements of speech—we have to be so careful about our use of them. We’re told how important it is to mind our words, and give every word its true value, and to rightly pronounce, and even maybe beautifully pronounce, but always apply purpose to our use of words. And how much more is this the case when we’re using words rhythmically? Master Morya obviously is using some kind of meter when he says, “Lie, lie, lie, perish.” So there’s this tremendous emphasis at the end, preceded by a repetition. Well, we may have been using these things unconsciously for quite a while, but now the science of the proper use will come to us, and we’ll probably be quite amazed at how unconscious we have been.

Nhưng ngay cả với những yếu tố thông thường này của lời nói, chúng ta cũng phải hết sức thận trọng khi sử dụng. Chúng ta được cho biết việc chú tâm đến lời nói, dành cho mỗi từ đúng giá trị của nó, phát âm đúng, và có lẽ thậm chí phát âm đẹp, quan trọng biết bao; nhưng luôn phải đặt mục đích vào việc sử dụng từ ngữ. Và điều này càng đúng biết bao khi chúng ta sử dụng từ ngữ theo nhịp điệu? Chân sư Morya rõ ràng đang sử dụng một dạng nhịp luật khi Ngài nói: “Dối trá, dối trá, dối trá, diệt vong.” Như vậy, ở cuối có một sự nhấn mạnh ghê gớm, đi trước là sự lặp lại. Có lẽ chúng ta đã sử dụng những điều này một cách vô thức từ khá lâu, nhưng giờ đây khoa học về cách sử dụng đúng đắn sẽ đến với chúng ta, và có lẽ chúng ta sẽ rất kinh ngạc trước mức độ vô thức của mình.

[99] When an entire concourse of people is thus animated by a single high desire, when their auras blend and form one united channel for the downflow,

[99] Khi cả một tập thể cùng nhận động lực từ một ước muốn cao cả duy nhất như vậy, khi hào quang của họ hòa trộn và tạo thành một kênh hợp nhất cho dòng tuôn xuống,

when their auras blend—and I want to just say, through proper arrangement and right rhythm—

khi hào quang của họ hòa vào nhau—và tôi chỉ muốn nói thêm, nhờ sự sắp xếp thích hợp và nhịp điệu đúng đắn—

[100] the effect is tremendously intensified and can be world-wide in its radius.

[100] tác động sẽ tăng cường vô cùng mạnh mẽ và có thể lan rộng khắp thế giới.

So this is a hint. Here we have a hint about the rituals of the future, and their possible good effect upon our entire globe. Probably it seems almost too much of a statement. How can that be? But the Tibetan is an accurate teacher.

Như vậy, đây là một gợi ý. Ở đây chúng ta có một gợi ý về những nghi lễ trong tương lai và tác động tốt đẹp mà chúng có thể tạo ra trên toàn bầu hành tinh của chúng ta. Có lẽ lời khẳng định này dường như gần như quá lớn lao. Làm sao có thể như vậy? Nhưng Chân sư Tây Tạng là một huấn sư chính xác.

[101] You have an instance of this in the wonderful Wesak festival, kept so universally in India to this day, when the Hierarchy forms itself into a channel for the transmission of power and blessing from the levels on which the Buddha may be found.

[101] Các bạn có một ví dụ về điều này trong lễ hội Wesak kỳ diệu, đến nay vẫn được cử hành rộng khắp tại Ấn Độ, khi Thánh đoàn tạo thành một kênh truyền quyền năng và ân phúc từ những cấp độ nơi Đức Phật hiện diện.

Shamballic levels. And we hear of their rhythmic movement in anticipation of the arrival of the Buddha. All of that is done with a real knowledge of occultism, and I suppose those who can witness it will have an eyeful of that method. The wonderful Wesak festival. We wonder: is it still meeting? There are reasons to wonder, but let’s just assume this is 1920, and it is occurring, kept so universally in India to this day, when the Hierarchy forms itself into a channel for the transmission of power and blessing from Shamballic levels.

Các cấp độ Shamballa. Và chúng ta nghe nói đến chuyển động nhịp nhàng của Các Ngài để đón chờ Đức Phật đến. Tất cả đều được thực hiện với tri thức thực sự về huyền bí học, và tôi cho rằng những ai có thể chứng kiến sẽ được tận mắt thấy đầy đủ phương pháp ấy. Lễ hội Wesak kỳ diệu. Chúng ta tự hỏi: lễ hội vẫn còn diễn ra chứ? Có những lý do để đặt câu hỏi, nhưng cứ giả định đây là năm 1920 và nó đang diễn ra, vẫn được cử hành rộng khắp tại Ấn Độ cho đến ngày nay, khi Thánh đoàn tạo thành một kênh truyền quyền năng và phúc lành từ các cấp độ Shamballa.

[102] He

[102] Ngài

—I suppose the Buddha—

—tôi cho là Đức Phật—

[103] acts as a focal point for that power, and—passing it through His Aura—pours it out over mankind by means of the channel provided by the assembled Lords, Masters, graded initiates and disciples.

[103] làm tiêu điểm cho quyền năng ấy và—đưa nó qua Hào Quang của Ngài—tuôn nó xuống nhân loại qua kênh do các Chúa Tể, Chân sư, điểm đạo đồ thuộc các cấp bậc và đệ tử đang tụ họp tạo nên.

So here is information on the Wesak festival. DK tends to give it once, and when it’s repeated in other books, it’s more the editor that’s at work, and not DK. So the Masters are part of the distribution process. So he acts as the focal point, a focal point, and then passes it through the assembled Lords and other graded spiritual beings.

Như vậy, đây là thông tin về lễ hội Wesak. Chân sư DK thường chỉ đưa ra một lần; khi nó được lặp lại trong những sách khác, phần nhiều đó là công việc của người biên tập, chứ không phải của Chân sư DK. Các Chân sư là một phần của tiến trình phân phối. Ngài đóng vai trò tiêu điểm, một tiêu điểm, rồi truyền nó qua các Chúa Tể đang tụ hội và những Sinh Mệnh tinh thần khác thuộc nhiều cấp bậc.

[104] This channel is formed by the use of sound and rhythm simultaneously employed. By the chanting of a certain mantram by means of the slow, measured movements that accompany that chanting, the funnel is formed that reaches upwards to the desired locality. The geometrical figures formed in the matter of the plane higher than the physical (which are the result of the geometrical movement of the concourse gathered in that Himalayan centre) form themselves into wonderful avenues of approach to the centre of blessing for the inhabitants, deva or otherwise, from any particular plane.

[104] Kênh này hình thành nhờ sử dụng đồng thời âm thanh và nhịp điệu. Qua việc tụng một mantram nhất định và những chuyển động chậm rãi, đều đặn đi kèm việc tụng ấy, một phễu hình thành vươn lên đến địa điểm mong muốn. Những hình hình học tạo ra trong vật chất của cõi cao hơn cõi hồng trần (là kết quả của chuyển động hình học của tập thể tụ họp tại trung tâm ấy ở vùng Hy Mã Lạp Sơn) tạo thành những lối tiếp cận kỳ diệu đến trung tâm ban ân phúc cho các cư dân, thiên thần hay những sinh linh khác, từ bất kỳ cõi cụ thể nào.

Well, we’re really learning something here, and I’m not recalling that such detail about the movements and mantrams and words chanted by the Hierarchy, and participated in by the Hierarchy, has been given anywhere else in the books. I wrote a song about this, but I realize from reading this carefully that the tempo of my song is too fast for the kinds of things that actually occur. And thus we are corrected.

Chúng ta thực sự đang học được điều gì đó ở đây, và tôi không nhớ những chi tiết như vậy về các chuyển động, mantram và lời tụng của Thánh đoàn, có Thánh đoàn cùng tham gia, đã được đưa ra ở nơi nào khác trong các sách. Tôi đã viết một bài hát về điều này, nhưng khi đọc kỹ, tôi nhận ra tiết tấu bài hát của mình quá nhanh so với những điều thực sự diễn ra. Và như vậy, chúng ta được sửa lại.

Sound and rhythm simultaneously employed: that’s how the channel is formed. And all with the great science behind it, and a certain mantram, obviously not to be given out; measured movements—not rapid movements, slow, measured movements accompanying the chanting. We’re getting an impression of how all this is done. The funnel is formed that reaches upwards to the desired locality. We’re learning quite a bit about the power of the funnel and how to generate that funnel. The geometrical figures are inviting the devas by providing avenues of approach to the very high realms that devas can utilize and men can utilize.

Sử dụng đồng thời âm thanh và nhịp điệu: đó là cách kênh hình thành. Và tất cả đều có một khoa học lớn lao làm nền tảng, cùng một mantram nhất định, rõ ràng không được tiết lộ; những chuyển động có tiết độ—không phải chuyển động nhanh, những chuyển động chậm rãi, có tiết độ đi kèm việc tụng. Chúng ta đang có được một hình dung về cách thực hiện tất cả điều này. Một cái phễu hình thành, vươn lên đến địa điểm mong muốn. Chúng ta đang học được khá nhiều về quyền năng của cái phễu và cách tạo ra nó. Những hình dạng hình học mời gọi các thiên thần bằng cách cung cấp những con đường tiếp cận các cảnh giới rất cao mà cả thiên thần lẫn con người đều có thể sử dụng.

[105] For those who can clairvoyantly view the scene, the beauty of the geometrical forms is unbelievable, and that beauty is enhanced by the radiant auras of the Great Ones Who are gathered there.

[105] Đối với những người có thể quan sát cảnh tượng ấy bằng thông nhãn, vẻ đẹp của các hình hình học thật khó tin, và những hào quang rực rỡ của Các Đấng Cao Cả tụ họp tại đó càng làm tăng vẻ đẹp ấy. [Page 199]

So, something to look forward to in completeness. I suppose people do see, and they do imagine, and maybe they do forget what they have seen. If this is done not in meditation but during the hours of sleep, that’s also possible, and yet we understand that the practice of spiritual occultism leads to the realization of an unearthly beauty. If DK says it’s unbelievably beautiful, well, then we have to trust that it is.

Như vậy, đó là điều đáng mong chờ được thấy trọn vẹn. Tôi cho rằng người ta quả có thấy, có hình dung, và có lẽ có quên những gì mình đã thấy. Nếu điều này diễn ra không phải trong tham thiền mà trong những giờ ngủ, thì cũng có thể. Tuy nhiên, chúng ta thấu hiểu rằng việc thực hành huyền bí học tinh thần dẫn đến sự chứng nghiệm một vẻ đẹp không thuộc trần gian. Nếu Chân sư DK nói nó đẹp đến khó tin, thì chúng ta phải tin rằng quả là như vậy.

[106] In time to come

[106] Trong thời gian tới

—I guess I’m saying this should interest me—

—tôi nghĩ mình đang nói rằng điều này hẳn phải khiến tôi quan tâm—

[107] the value of the combination of music, chanting, and rhythmic movement will be comprehended, and it will be utilised for the achieving of certain results.

[107] người ta sẽ thấu hiểu giá trị của việc kết hợp âm nhạc, tụng niệm và chuyển động nhịp nhàng, rồi sử dụng sự kết hợp này để đạt những kết quả nhất định.

Personal note: I’ve done this, but of course without the knowledge—without sufficient occult knowledge. Definitely all the elements were there, but without sufficient occult knowledge. So, kind of a rehearsal for what is to come.

Ghi nhận cá nhân: tôi đã làm điều này, nhưng dĩ nhiên không có tri thức—không có đủ tri thức huyền bí. Chắc chắn mọi yếu tố đều hiện diện, nhưng không có đủ tri thức huyền bí. Vì vậy, đó là một dạng diễn tập cho những gì sắp đến.

[108] Groups of people will gather together to study the creative effects, or the purificatory efficacy of ordered sound joined to movement and unity; the constructive effect on the three bodies will be clairvoyantly studied; the eliminative effect on the matter of those bodies will be schematically tabulated and all knowledge gained will be definitely applied to the improvement of those bodies. The quality of the force tapped, and its exhilarating, vivifying and stimulating effects will be closely watched. The centres will be studied in their relation to the streams of force contacted, and their culture and the intensification of the rotary movement will be definitely undertaken.

[108] Các nhóm người sẽ tụ họp để nghiên cứu những tác động sáng tạo hay hiệu quả thanh lọc của âm thanh có trật tự kết hợp với chuyển động và sự hợp nhất; họ sẽ nghiên cứu bằng thông nhãn tác động kiến tạo lên ba thể phàm ngã của con người; tác động loại bỏ vật chất trong những thể ấy sẽ được hệ thống hóa thành bảng, và mọi tri thức thu được sẽ được vận dụng cụ thể để cải thiện các thể ấy. Phẩm tính của mãnh lực được khai thác cùng những tác động gây hưng phấn, tiếp sinh lực và kích thích của nó sẽ được theo dõi sát sao. Người ta sẽ nghiên cứu các trung tâm trong mối quan hệ với những dòng mãnh lực đã tiếp xúc, đồng thời chủ động phát triển chúng và tăng cường chuyển động xoay.

—until fourth-dimensionality, fourth-dimensional movement, rotation of the centers is achieved, and thus initiation. With initiation comes this higher dimensionality of movement, until we have what’s called the wheel turning upon itself. So this is a summary statement of much that has gone before. So this is the future. Here we have the future use of music, chanting, rhythmic movement—and the chanting of course will be rhythmic, and the notes chosen, and the scales chosen, and maybe melodies also chosen.

—cho đến khi đạt được tính bốn chiều, chuyển động bốn chiều, sự xoay của các trung tâm, và nhờ đó là điểm đạo. Cùng với điểm đạo là tính chiều cao hơn này của chuyển động, cho đến khi chúng ta có điều được gọi là bánh xe tự quay trên chính nó. Đây là một lời tổng kết về nhiều điều đã trình bày trước đó. Như vậy, đây là tương lai. Ở đây chúng ta có cách sử dụng âm nhạc, tụng niệm, chuyển động nhịp nhàng trong tương lai—và dĩ nhiên việc tụng sẽ có nhịp điệu, với những nốt nhạc được lựa chọn, những thang âm được lựa chọn, và có lẽ cả những giai điệu được lựa chọn.

So, putting all these things together—people were doing this back in the 1500s, maybe even earlier. They had these masques, as they were called. They were not exactly operas, but they were kind of dramatic presentations, and they did have music. They did have melody. They did have rhythm. They had movement. We don’t know about the rhythm of the movement, but maybe in the Greek choruses we had the rhythmic movement. It paints for me a very appealing picture of scientific artistic invocation. This is a prognostication of scientific artistic invocation.

Kết hợp tất cả những điều này lại—người ta đã làm như thế vào những năm 1500, có lẽ còn sớm hơn. Họ có những vở diễn đeo mặt nạ, như người ta gọi. Chúng không hẳn là nhạc kịch, nhưng là một dạng trình diễn sân khấu và có âm nhạc. Chúng có giai điệu. Có nhịp điệu. Có chuyển động. Chúng ta không biết về nhịp điệu của chuyển động, nhưng có lẽ trong các đội đồng diễn Hy Lạp đã có chuyển động nhịp nhàng. Điều này vẽ nên cho tôi một bức tranh rất hấp dẫn về sự khẩn cầu mang tính nghệ thuật và khoa học. Đây là một dự báo về sự khẩn cầu mang tính nghệ thuật và khoa học.

Well, when we know enough, it will be a very beautiful method of approach, and I have seen that in some of the rituals we perform, and especially certain pieces. There is an invocation of the energy to be utilized, and it’s done through coordinated movement of a number of people. Of course, it doesn’t have the power that he talks about here, but there has been exhilaration, and vivification, and stimulation. Maybe not looked at from the inside, but one could see the evidences of it. There’s a little more to go here.

Khi chúng ta biết đủ, đó sẽ là một phương pháp tiếp cận rất đẹp, và tôi đã thấy điều ấy trong một số nghi lễ chúng ta thực hiện, đặc biệt là một số tiết mục. Có sự khẩn cầu năng lượng cần sử dụng, và điều đó diễn ra qua chuyển động phối hợp của một số người. Dĩ nhiên, nó không có quyền năng mà Ngài nói đến ở đây, nhưng đã có sự phấn chấn, tiếp sinh lực và kích thích. Có lẽ chưa được quan sát từ bên trong, nhưng người ta có thể thấy những dấu hiệu của nó. Ở đây còn một chút nữa.

[109] Another angle of the whole matter resolves itself into work in the world, and though dependent on the status and personnel of the group, it is not primarily for group purposes.

[109] Một góc độ khác của toàn bộ vấn đề thể hiện thành công việc trong thế gian, và dù tùy thuộc vào trình độ cùng thành viên của nhóm, công việc ấy không chủ yếu phục vụ mục đích của nhóm.

Really, he’s into prognostication here. He’s pretty well telling us what will emerge, what will emerge when we care enough to take the steps so that it can emerge. The timing has to be right, of course.

Ở đây, Ngài thực sự đang đưa ra dự báo. Ngài nói khá rõ với chúng ta điều gì sẽ xuất hiện, điều gì sẽ xuất hiện khi chúng ta đủ quan tâm để thực hiện những bước cần thiết cho nó xuất hiện. Dĩ nhiên, thời điểm phải thích hợp.

[110] Groups will apply themselves to the work of contacting certain types of logoic force, of passing it through the group funnel, and of sending it out through the world for certain constructive ends.

[110] Các nhóm sẽ chuyên tâm tiếp xúc với một số loại mãnh lực của Thượng đế, đưa mãnh lực ấy qua phễu của nhóm rồi truyền nó ra thế gian vì những mục đích kiến tạo nhất định.

Now, when he uses the word “logoic,” does he mean… It would seem, to scale, that we’d be talking about the Planetary Logos, but can he mean Solar Logos? Well, I suppose if the group is high enough, it can be the greater Logos, but it seems more likely at this point to be the Planetary Logos, maybe via Sanat Kumara. I say the word “maybe” a lot because it is speculative. If I’m certain of something, I’ll talk about certainty, or ascertaining certain knowledge, but otherwise, lots of maybes enter into the picture.

Khi Ngài dùng từ “thuộc Thượng đế”, Ngài muốn nói đến… Xét theo quy mô, có vẻ chúng ta đang nói về Đức Hành Tinh Thượng Đế, nhưng liệu Ngài có thể muốn nói đến Thái dương Thượng đế không? Tôi cho rằng nếu nhóm đạt trình độ đủ cao, đó có thể là Thượng đế cao cả hơn, nhưng ở điểm này có vẻ nhiều khả năng là Đức Hành Tinh Thượng Đế, có lẽ qua Đức Sanat Kumara. Tôi nói từ “có lẽ” rất nhiều vì đây là suy đoán. Nếu chắc chắn về một điều gì, tôi sẽ nói đến sự chắc chắn, hoặc việc xác định tri thức chắc chắn, nhưng ngoài ra, bức tranh có rất nhiều điều “có lẽ”.

[111] This work is closely allied to that undertaken by the Nirmanakayas or Distributors of Force, and will be largely under their direction,

[111] Công việc này liên hệ mật thiết với công việc của các Đấng Ứng Hóa Thân hay các Đấng Phân Phối Mãnh Lực, và phần lớn sẽ do Các Ngài hướng dẫn,

Well, this is still intraplanetary.

Điều này vẫn nằm trong phạm vi hành tinh.

[112] for—when the right time comes—They

[112] vì—khi đúng thời điểm—Các Ngài

—sixth degree initiates that they are—

—vốn là những điểm đạo đồ bậc sáu—

[113] will be able to use these groups as focal points for Their activities. Their work now has its focal point primarily on the mental plane and somewhat on the emotional. When the secret of causal alignment is better grasped, and when groups of people in physical incarnation can work in real co-operation (an impossibility at present, for the personality looms as yet too large) then the Nirmanakayas will be able to directly contact the physical plane, and so act with great force upon the evolutions found thereon.

[113] sẽ có thể sử dụng những nhóm này làm tiêu điểm cho các hoạt động của mình. Hiện nay, công việc của Các Ngài có tiêu điểm chủ yếu trên cõi trí và phần nào trên cõi cảm xúc. Khi bí mật của sự chỉnh hợp với thể nguyên nhân được nắm bắt rõ hơn, và khi những nhóm người đang nhập thể trên cõi hồng trần có thể thật sự hợp tác (hiện nay chưa thể, vì phàm ngã vẫn còn quá nổi trội), các Đấng Ứng Hóa Thân sẽ có thể tiếp xúc trực tiếp với cõi hồng trần, nhờ đó tác động bằng mãnh lực lớn lao lên những dòng tiến hóa tồn tại ở đó. [Page 200]

So this is all about the work of the Nirmanakayas. So we’re trying to create funnels, conduits of the right kind, through movement, rhythm, music, sounds, and all done in a scientific, artistic manner. And rhythmic movement, as the Hierarchy at present engages in rhythmic movement, will have much to do with creating this funnel. So, as humble as the attempts may be at first, it is not something to be dismissed, and when there is proper instruction, there will be adjustments that will make the outer movements really effective, but meanwhile, we have a lot to learn. So the Nirmanakayas too have a higher function, but they can bring through onto various planes, always going, should we say, lower and lower in terms of effectiveness on certain planes.

Như vậy, tất cả những điều này đều nói về công việc của các Đấng Ứng Thân. Chúng ta đang cố gắng tạo ra những phễu, những đường dẫn thích hợp thông qua chuyển động, nhịp điệu, âm nhạc, âm thanh, và tất cả đều được thực hiện một cách khoa học, nghệ thuật. Chuyển động có nhịp điệu, như chuyển động có nhịp điệu mà Thánh đoàn hiện đang thực hiện, sẽ góp phần rất lớn vào việc tạo ra phễu này. Vì vậy, dù những nỗ lực ban đầu có khiêm tốn đến đâu, đây cũng không phải là điều có thể xem nhẹ. Khi có sự hướng dẫn đúng đắn, sẽ có những điều chỉnh khiến các chuyển động bên ngoài thực sự hữu hiệu. Nhưng trong lúc này, chúng ta còn nhiều điều phải học. Các Đấng Ứng Thân cũng có một chức năng cao hơn, nhưng Các Ngài có thể truyền xuống các cõi khác nhau, ngày càng xuống thấp hơn, xét về hiệu quả trên những cõi nhất định.

The secret of causal alignment has to come into our possession. When the secret of causal alignment is better understood, better grasped, and when groups of people in physical incarnation can work in real co-operation—strong language here—which is impossible at present, because there’s just too much personality, then the Nirmanakayas—who are maybe custodians, registrants of the purpose; that is one of the names we can call them—will be able to reach not just the mental plane, not just the astral plane, but all the way down onto the physical plane, and so act with great force upon the evolutions found thereon, which at the moment are all of the lower kingdoms of nature, including the human kingdom, and maybe the kingdom of souls—well, partially present on the lower planes and partially abstracted—and Chohans still more abstracted, but occasionally appearing, very occasionally, and seventh degree Chohans maybe even more occasionally—less frequently is what I mean.

Chúng ta phải nắm được bí mật của sự chỉnh hợp nguyên nhân. Khi bí mật của sự chỉnh hợp nguyên nhân được thấu hiểu rõ hơn, nắm bắt rõ hơn, và khi các nhóm người đang nhập thể trên cõi hồng trần có thể thực sự hợp tác với nhau—ở đây lời lẽ rất mạnh—điều hiện nay là bất khả thi, vì phàm ngã còn quá lấn át, thì các Đấng Ứng Thân—có lẽ là những vị gìn giữ, những vị ghi nhận thiên ý; đó là một trong những danh xưng chúng ta có thể dùng cho Các Ngài—sẽ có thể vươn tới không chỉ cõi trí, không chỉ cõi cảm dục, mà xuống tận cõi hồng trần, và nhờ đó tác động bằng mãnh lực lớn lên các dòng tiến hoá trên cõi ấy; hiện nay, đó là tất cả các giới thấp trong tự nhiên, bao gồm giới nhân loại, và có lẽ cả giới linh hồn—một phần hiện diện trên các cõi thấp và một phần thoát ly khỏi các cõi ấy—còn các Chohan thì thoát ly hơn nữa, nhưng thỉnh thoảng vẫn xuất hiện, rất hiếm khi, và các Chohan cấp bảy có lẽ còn xuất hiện hiếm hơn—ý Tôi là ít thường xuyên hơn.

Now, going on just a little more: healing groups.

Bây giờ, tiếp tục thêm một chút: các nhóm trị liệu.

[114] Healing groups will work as follows. The circle of workers, with the unit to be healed placed in their midst,

[114] Các nhóm trị liệu sẽ hoạt động như sau. Những người hoạt động đứng thành vòng tròn, với người cần chữa lành ở giữa,

—either actually or maybe imaginatively, I would say—

—theo Tôi, hoặc hiện diện thực sự, hoặc có lẽ qua sự tưởng tượng—

[115] will definitely apply themselves to the healing of that unit by the use of set mantrams, and by the following of certain movements they will cause the focal point of the downpouring force to be the sick member in their midst.

[115] sẽ chuyên tâm chữa lành cho người ấy bằng những mantram đã định; qua việc thực hiện một số chuyển động, họ sẽ khiến người bệnh ở giữa trở thành tiêu điểm của mãnh lực tuôn xuống.

I’m not recalling this being discussed in Esoteric Healing. So much information—everything has to be read if the needed information is to be actually assembled. The circle of workers, the unit to be healed in the midst, the set mantrams, and certain movements. So, what do we have? We have the circle, the one to be healed, the mantrams, and movements. We have all that for some of the new forms of healing, and there it is.

Tôi không nhớ điều này có được bàn đến trong Trị Liệu Huyền Môn hay không. Có quá nhiều thông tin—phải đọc tất cả thì mới thực sự tập hợp được những thông tin cần thiết. Vòng tròn những người hoạt động, cá nhân cần được chữa lành ở giữa, các mantram quy định sẵn, và những chuyển động nhất định. Vậy chúng ta có gì? Chúng ta có vòng tròn, người cần được chữa lành, các mantram và những chuyển động. Chúng ta có tất cả những điều ấy cho một số hình thức trị liệu mới, và chúng nằm ngay đây.

[116] By the stimulating power of that force, by its re-building quality, or by its capacity to destroy and eliminate, what you call miracles will be matters of everyday occurrence. The subject is too vast to be more than hinted at here. But as the race progresses and the secret of making the at-one-ment is more comprehended, when many people tread the Probationary Path,

[116] Nhờ quyền năng kích thích, phẩm tính tái kiến tạo hay khả năng phá hủy và loại bỏ của mãnh lực ấy, những gì các bạn gọi là phép lạ sẽ trở thành chuyện hằng ngày. Đề tài này quá rộng lớn nên ở đây chỉ có thể gợi đôi nét. Nhưng khi nhân loại tiến bộ và thấu hiểu hơn bí mật tạo nên sự hợp nhất, khi nhiều người bước trên Con Đường Dự Bị,

—the many people; well, that’s certainly by the time of the Judgment Day, but that’s a long way ahead—

—nhiều người; chắc chắn đến thời điểm Ngày Phán Xét thì sẽ như vậy, nhưng đó vẫn còn là một tương lai rất xa—

[117] when the percentage of initiates is greater than it is now,

[117] khi tỷ lệ điểm đạo đồ cao hơn hiện nay,

—so maybe not so far ahead—

—vậy có lẽ cũng không quá xa—

[118] and when large numbers of the human race are more directly aligned with the egoic body, you will see the scientific application of the laws of sound and rhythm.

[118] và khi đông đảo con người chỉnh hợp trực tiếp hơn với thể chân ngã, các bạn sẽ thấy việc vận dụng khoa học những định luật của âm thanh và nhịp điệu.

So, good news, let’s say, from a truth speaker. You do wonder how anything good can come out of misrepresentations of the truth in short lives. So, miracles will be everyday occurrences, and all the many things we may be wishing for at the moment—so many of them, including the healing of dire diseases and conditions—will take place. So, the unfoldment of the human race is just in its early stages, but compared to how it has been, I’m sure we’d be quite shocked to register what the unfoldments have been—some remarkable unfoldments compared to the days when the huge animal man thundered across the earth, huge, huge tabernacles of clay, as it has been referred to, I think, maybe in The Secret Doctrine. The scientific application of the laws of sound and rhythm—and yet, in terms of healing methods, at least sound and color will be particularly emphasized as among the first to appear.

Như vậy, đó là tin tốt lành từ một người nói lên chân lý. Quả thật, người ta tự hỏi làm sao điều tốt lành có thể nảy sinh từ những sự xuyên tạc chân lý trong các kiếp sống ngắn ngủi. Phép lạ sẽ trở thành chuyện thường ngày, và rất nhiều điều mà lúc này chúng ta có thể đang mong ước—bao gồm việc chữa lành những bệnh tật và tình trạng hiểm nghèo—sẽ xảy ra. Sự khai mở của nhân loại mới chỉ ở những giai đoạn đầu, nhưng so với trước đây, Tôi chắc rằng chúng ta sẽ khá kinh ngạc khi nhận biết những sự khai mở đã diễn ra—những sự khai mở đáng kể so với thời người thú khổng lồ chạy rầm rập khắp Trái Đất, những đền tạm bằng đất sét khổng lồ, khổng lồ, như cách người ta từng gọi, có lẽ trong Giáo Lý Bí Nhiệm, theo Tôi nhớ. Sự ứng dụng khoa học các định luật về âm thanh và nhịp điệu—tuy nhiên, xét về các phương pháp trị liệu, ít nhất âm thanh và màu sắc sẽ được đặc biệt nhấn mạnh trong số những phương pháp xuất hiện đầu tiên.

When it comes to rhythm, I think we will make gains during the period of the cycle of the rhythmic seventh ray, and a fourth ray period is coming up, and we will make gains with color and sound, which will allow us to utilize those healing methods. There are color healers now, and some of them proceed, I think, in a reasonable manner, and they make suggestions about the healing potentials of color, and maybe there are some who understand what sounds can be applied, and indeed there will be positive results. So, the coming in of the fourth ray and the seventh ray—maybe the seventh ray for a longer period, though the fourth ray is in a very long cycle right now from a higher perspective—will bring methods of healing to humanity which are far less intrusive and painful and crude.

Về nhịp điệu, Tôi nghĩ chúng ta sẽ tiến bộ trong chu kỳ của cung bảy có tính nhịp điệu; một thời kỳ của cung bốn cũng đang đến, và chúng ta sẽ tiến bộ về màu sắc và âm thanh, nhờ đó có thể sử dụng các phương pháp trị liệu ấy. Hiện nay đã có những người trị liệu bằng màu sắc, và theo Tôi, một số người tiến hành khá hợp lý; họ đưa ra những gợi ý về tiềm năng chữa lành của màu sắc. Có lẽ cũng có những người thấu hiểu những âm thanh nào có thể được áp dụng, và quả thực sẽ có những kết quả tích cực. Vì vậy, sự xuất hiện của cung bốn và cung bảy—có lẽ cung bảy sẽ kéo dài lâu hơn, mặc dù từ một góc nhìn cao hơn, hiện nay cung bốn đang ở trong một chu kỳ rất dài—sẽ mang đến cho nhân loại những phương pháp trị liệu ít xâm lấn, ít đau đớn và ít thô sơ hơn nhiều.

[119] At the same time you will see the misuse of those powers—a misuse that will herald in one of the final struggles between the Lords of Light and the Lords of Darkness.

[119] Đồng thời, các bạn sẽ thấy sự lạm dụng những quyền năng ấy—một sự lạm dụng sẽ báo hiệu một trong những cuộc đấu tranh cuối cùng giữa các Chúa Tể Ánh Sáng và các Chúa Tể Bóng Tối.

One of the final struggles. A very big struggle will occur at the Judgment Day, but maybe we’re talking about some kind of precursor of that Judgment Day. It’s to occur in the fifth round, and probably in relation to our chain, the fourth chain, rather than the other kind of round, which is much greater—some millions of years ahead, I suspect, for the Judgment Day. But maybe some of these final struggles in this particular cycle will occur in relation to the misuse of these powers.

Một trong những cuộc đấu tranh cuối cùng. Một cuộc đấu tranh rất lớn sẽ xảy ra vào Ngày Phán Xét, nhưng có lẽ chúng ta đang nói về một dạng tiền thân của Ngày Phán Xét ấy. Ngày đó sẽ diễn ra trong cuộc tuần hoàn thứ năm, và có lẽ liên quan đến dãy của chúng ta, Dãy Thứ Tư, chứ không phải loại cuộc tuần hoàn kia, vốn lớn hơn nhiều—Tôi cho rằng Ngày Phán Xét còn cách đây hàng triệu năm. Nhưng có lẽ một số cuộc đấu tranh cuối cùng trong chu kỳ cụ thể này sẽ diễn ra liên quan đến sự lạm dụng những quyền năng ấy.

[120] Great will be the cataclysm and terrific the disaster, but ever the Light shines in darkness, and He Who reigns above all, and Who holds all within the circumference of His Aura knows the hour of opportunity, and knows too how to utilise that which can protect.

[120] Biến động sẽ vô cùng lớn lao và tai họa sẽ hết sức khủng khiếp, nhưng Ánh Sáng luôn chiếu rọi trong bóng tối, và Đấng ngự trị trên tất cả, Đấng giữ tất cả trong chu vi Hào Quang của Ngài, biết giờ phút thuận lợi và cũng biết cách vận dụng những gì có thể bảo vệ.

So, it sounds like something may be a little more imminent, but very, very destructive, if we can imagine withstanding that. The Judgment Day will involve a battle on the mental plane between, I think, higher and lower mind, even as now the battle is between what we normally call the soul, as the Angel of the Presence, and what we normally call the personality, as the Dweller on the Threshold. But the battle becomes more refined, and takes place at higher points of tension later.

Như vậy, có vẻ điều gì đó có thể đang đến gần hơn một chút, nhưng sẽ có sức huỷ diệt rất, rất lớn, nếu chúng ta có thể hình dung việc chịu đựng điều ấy. Ngày Phán Xét sẽ bao gồm một trận chiến trên cõi trí giữa thượng trí và hạ trí, theo Tôi nghĩ, cũng như hiện nay trận chiến diễn ra giữa điều chúng ta thường gọi là linh hồn, với tư cách Thiên Thần của Hiện Diện, và điều chúng ta thường gọi là phàm ngã, với tư cách Kẻ Chận Ngõ. Nhưng trận chiến trở nên tinh tế hơn, và về sau diễn ra tại những điểm tập trung nhất tâm cao hơn.

Great will be the cataclysm and terrific the disaster.

Biến động sẽ lớn lao và thảm hoạ sẽ khủng khiếp.

What’s he hinting at here? And when does it appear? I guess we human beings have been through so much that when we hear a prognostication, a prediction regarding cataclysms and disasters, we tend to listen, having painfully been through a number of them—maybe, who knows, killed by volcanic action in Lemuria, or killed by drowning in Atlantis, or killed by fire in the fifth race age; no death by air yet really occurring in a way that we can describe. So even in the realm of great galaxies there are collisions, and I’m sure what can be perceived as disasters by the conscious inhabitants of those galaxies. So even though the universe is a tiny, huge thing—a huge, tiny thing—we consider it very consequential, and some of us consider it to be the only life we’ve got, being the in-universe life, and when we look at the dynamics of universal living, we find a lot of destruction and rebuilding in relation to the form, but in relation to the essential being, we find changelessness, and that is different, much different, from the destruction of the form.

Ở đây Ngài đang gợi ý điều gì? Và khi nào điều ấy xuất hiện? Tôi đoán con người chúng ta đã trải qua quá nhiều, đến mức khi nghe một lời tiên báo, một dự đoán về những biến động và thảm hoạ, chúng ta thường chú ý lắng nghe, vì đã đau đớn trải qua nhiều thảm hoạ như thế—có lẽ, ai biết được, đã chết vì hoạt động núi lửa ở Lemuria, hoặc chết đuối ở Atlantis, hoặc chết vì lửa trong thời đại giống dân thứ năm; thực sự chưa có cái chết do khí diễn ra theo cách chúng ta có thể mô tả. Ngay cả trong phạm vi các thiên hà lớn cũng có những vụ va chạm, và Tôi chắc rằng những cư dân hữu thức của các thiên hà ấy có thể xem đó là thảm hoạ. Vì vậy, dù vũ trụ là một thứ nhỏ bé, khổng lồ—một thứ khổng lồ, nhỏ bé—chúng ta vẫn xem nó là vô cùng hệ trọng. Một số người trong chúng ta xem đó là sự sống duy nhất mình có, tức sự sống bên trong vũ trụ. Khi nhìn vào động lực của sự sống vũ trụ, chúng ta thấy rất nhiều sự huỷ diệt và tái tạo liên quan đến hình tướng, nhưng xét về bản thể cốt yếu, chúng ta thấy tính bất biến, và điều ấy khác, rất khác, với sự huỷ diệt hình tướng.

Let’s pause a little. And I think what I am going to do is finish off this Letter number six, because Letter number seven is looming ahead three pages hence, and that will be a natural place to re-begin at our next occasion. So we’ll get on to the subject of special occasions on which these forms—which are mantric forms, movement forms, rhythmic forms, musical forms, scalar and modal forms within music—special occasions on which these will be used, all combined simultaneously to great effect.

Chúng ta hãy tạm dừng một chút. Tôi nghĩ mình sẽ hoàn tất Bức Thư số sáu này, vì Bức Thư số bảy đang chờ phía trước, chỉ cách ba trang nữa, và đó sẽ là chỗ tự nhiên để bắt đầu lại vào lần tới. Vì vậy, chúng ta sẽ chuyển sang chủ đề những dịp đặc biệt mà các hình thức này—các hình thức mantram, hình thức chuyển động, hình thức nhịp điệu, hình thức âm nhạc, hình thức thang âm và điệu thức trong âm nhạc—sẽ được sử dụng, tất cả kết hợp đồng thời để tạo ra hiệu quả lớn.

After all, if we are going to exercise our kind of right to Monadic retraction and follow back the line of descent which we followed into the depths of matter on our pilgrimage—not just our pilgrimage starting on this planet, but a much higher universal pilgrimage—we’re going to have to know how to do that, and we’re going to have to know how to use the forms which will elevate us and lead us, now that the evolutionary period has begun, to ever higher points of tension. We don’t know those forms yet, but we are in the position of humble students of the great wisdom, and we have some idea of the caution, the solicitousness, with which we must proceed if the forms are to be imparted to us for our use in the process of re-elevation.

Xét cho cùng, nếu chúng ta muốn thực thi quyền trở về chân thần của mình và lần ngược con đường đi xuống mà chúng ta đã theo vào chiều sâu của vật chất trong cuộc hành hương—không chỉ cuộc hành hương bắt đầu trên hành tinh này, mà còn là một cuộc hành hương vũ trụ cao hơn nhiều—thì chúng ta phải biết cách thực hiện điều đó, và phải biết cách sử dụng những hình thức sẽ nâng chúng ta lên và dẫn chúng ta, giờ đây khi thời kỳ thăng thượng tiến hoá đã bắt đầu, tới những điểm tập trung nhất tâm ngày càng cao hơn. Chúng ta chưa biết những hình thức ấy, nhưng chúng ta đang ở vị thế những đạo sinh khiêm tốn của minh triết vĩ đại, và chúng ta có phần nào ý niệm về sự thận trọng, sự quan tâm chu đáo mà mình phải có khi tiến bước, nếu muốn được truyền trao những hình thức ấy để sử dụng trong tiến trình nâng cao trở lại.

So, now then, we’ll go into the very last section of this Letter VI:

Vậy bây giờ, chúng ta sẽ đi vào phần cuối cùng của Bức Thư VI này:

[121] Special occasions on which these forms will be employed.

[121] Những dịp đặc biệt sẽ sử dụng các hình thức này.

[122] The great event on the planet in direct relation to the human race is the Wesak festival.

[122] Sự kiện lớn lao trên hành tinh liên quan trực tiếp đến nhân loại là lễ hội Wesak.

Now, later he tells us this will fade out gradually, along with Good Friday, but he does give us, in Externalisation of the Hierarchy, a kind of save on that, because in every country there will be, at the normal time of the Taurus festival, a representative of the Buddha. And something similar, I think, will occur in relation to the festival of the Christ. There will be, I think, in every country, a representative of the Christ, who will be the radiatory focal point of that which is given out at the festival. So, even though the present form of the Wesak festival may not persist indefinitely—and maybe it has already ended; Mary Bailey thought so back in 1981—even though that may be the case, there will still be, of course, that downflow from the higher sources of the two great saving energies, the Christ and the Buddha.

Về sau, Ngài cho chúng ta biết lễ hội này sẽ dần phai nhạt, cùng với Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng trong Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, Ngài cũng cho chúng ta một cách duy trì điều ấy, vì ở mỗi quốc gia, vào thời điểm thông thường của lễ hội Kim Ngưu, sẽ có một đại diện của Đức Phật. Theo Tôi, điều tương tự sẽ diễn ra với lễ hội của Đức Christ. Tôi nghĩ ở mỗi quốc gia sẽ có một đại diện của Đức Christ, người sẽ là tiêu điểm phát xạ của những gì được ban ra tại lễ hội. Vì vậy, dù hình thức hiện nay của lễ hội Wesak có thể không tồn tại mãi—và có lẽ nó đã kết thúc; bà Mary Bailey từng nghĩ như vậy vào năm 1981—dù điều đó có thể đúng, dĩ nhiên vẫn sẽ có dòng tuôn xuống từ những nguồn cao hơn của hai năng lượng cứu rỗi vĩ đại, Đức Christ và Đức Phật.

[123] There is one still greater moment in the calendar when a funnel is created directly between the earth and the supreme Ruler himself, the Logos of our system.

[123] Trong lịch còn có một thời điểm trọng đại hơn, khi một phễu được tạo trực tiếp giữa Trái Đất và chính Đấng Cai Quản tối cao, Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta.

Is it yearly? We can ask that. Is this a yearly event, and is it in Leo—Sirius? That’s my question, but maybe we can ascertain, or come closer to finding out. I don’t think he’s going to easily give this out. One still greater moment, alignment with the Logos. But we’re told that at the Leo festival there is a great recognition of all those in Hierarchy, and those who have recently become members of Hierarchy, and there seems to be a very strong connection with Sanat Kumara at that point, and if with Sanat Kumara, then perhaps with the Logos himself, of which Sanat Kumara is an extension. We put up a lot of questions trying to determine what’s actually happening, and we may have to wait for the ascertainment.

Điều đó có diễn ra hằng năm không? Chúng ta có thể đặt câu hỏi ấy. Đây có phải là một sự kiện hằng năm, và có diễn ra trong Sư Tử—Thiên Lang không? Đó là câu hỏi của Tôi. Nhưng có lẽ chúng ta có thể xác định, hoặc tiến gần hơn đến việc tìm ra câu trả lời. Tôi không nghĩ Ngài sẽ dễ dàng tiết lộ điều này. Một thời điểm lớn lao hơn nữa, sự chỉnh hợp với Thượng đế. Nhưng chúng ta được cho biết rằng tại lễ hội Sư Tử có sự ghi nhận trọng đại dành cho tất cả các thành viên Thánh đoàn, và những vị mới trở thành thành viên Thánh đoàn. Dường như vào thời điểm ấy có một mối liên hệ rất mạnh với Đức Sanat Kumara, và nếu có liên hệ với Đức Sanat Kumara, thì có lẽ cũng có liên hệ với chính Thượng đế, mà Đức Sanat Kumara là một phần mở rộng. Chúng ta đặt ra nhiều câu hỏi để cố xác định điều gì thực sự đang diễn ra, và có lẽ phải chờ mới xác định được.

This is the Logos of our system. It’s beyond Sanat Kumara. It’s beyond our Planetary Logos. We are really speaking of the Solar Logos, apparently. And then maybe Leo for us has a special significance, as the Sun rules Leo. So there must be a special connection of the Solar Logos with the constellation Leo, and when we experience the sign Leo in relation to our planet, maybe we’re tuning in on that special relation. Speculative, okay?

Đây là Thượng đế của hệ chúng ta. Ngài vượt trên Đức Sanat Kumara. Ngài vượt trên Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Dường như chúng ta thực sự đang nói về Thái dương Thượng đế. Vậy có lẽ Sư Tử mang một thâm nghĩa đặc biệt đối với chúng ta, vì Mặt Trời cai quản Sư Tử. Do đó, hẳn phải có một mối liên hệ đặc biệt giữa Thái dương Thượng đế với chòm sao Sư Tử, và khi chúng ta trải nghiệm dấu hiệu Sư Tử trong mối liên hệ với hành tinh mình, có lẽ chúng ta đang hoà điệu với mối liên hệ đặc biệt ấy. Đây là suy đoán, phải không?

[124] This is accomplished through the power of certain mantrams and the united efforts of the Hierarchy and the Deva Lords of the planes.

[124] Điều này thành tựu nhờ quyền năng của một số mantram và nỗ lực hợp nhất của Thánh đoàn cùng các Chúa Tể Thiên Thần của các cõi.

Something way beyond our capability. But to know it is important—even though, I mean, how would we participate in the work done by Raja Deva Lords of the seventh degree? Mostly they’re indicated as being of the seventh degree, maybe occasionally of the sixth degree.

Một điều vượt xa khả năng của chúng ta. Nhưng biết về điều ấy là quan trọng—dù chúng ta sẽ tham gia thế nào vào công việc của các Chúa Tể Đại Thiên Thần cấp bảy? Phần lớn Các Ngài được xác định là thuộc cấp bảy, có lẽ đôi khi thuộc cấp sáu.

[125] These Deva Lords are aided by the deva evolution, and the Hierarchy by those of the human race who are steady. They focus through the Lords of the Rays then in manifestation as well as through the Planetary Logos of this planet. The date of this event is not yet for exoteric communication.

[125] Dòng tiến hóa thiên thần trợ giúp các Chúa Tể Thiên Thần này, còn Thánh đoàn [Page 201] nhận sự trợ giúp của những người vững vàng trong nhân loại. Các Ngài tập trung qua các Chúa Tể của các Cung đang biểu hiện khi ấy, cũng như qua Đức Hành Tinh Thượng Đế của hành tinh này. Chưa thể công bố ngày của sự kiện này ra ngoại môn.

Well, later he did talk about a great August—the pun—August festival, maybe. And it involves perhaps our Solar Logos, initiator Sirius, and Leo—a triangle there of Sirius, the Solar Logos, and our planet in this case. So maybe—he said a lot more about the Leo festival later, and maybe it is that. He didn’t point to it as the ultimate festival. One still greater moment in the calendar—and it still sounds yearly—it would be remarkable if it was the Leo festival, but all we can do is put up the speculation, and we cannot know for sure.

Về sau, Ngài có nói đến một lễ hội tháng Tám trọng đại—một lối chơi chữ—có lẽ là lễ hội tháng Tám. Và có lẽ nó liên quan đến Thái dương Thượng đế của chúng ta, Đấng Điểm đạo Thiên Lang, và Sư Tử—trong trường hợp này có một tam giác gồm Thiên Lang, Thái dương Thượng đế và hành tinh chúng ta. Vì vậy, có lẽ—về sau Ngài nói nhiều hơn về lễ hội Sư Tử, và có lẽ chính là lễ hội ấy. Ngài không chỉ rõ đó là lễ hội tối hậu. Trong lịch còn có một thời điểm lớn lao hơn nữa—và nghe vẫn như một sự kiện hằng năm—sẽ thật đáng chú ý nếu đó là lễ hội Sư Tử, nhưng tất cả những gì chúng ta có thể làm là đưa ra suy đoán, chứ không thể biết chắc.

[126] On all the three main lines of approach—that of the Manu, or Ruler, the Bodhisattva, or World Teacher, and the Mahachohan, or Lord of Civilisation—their own specific groups will be found, subject to certain mantrams and words, and moving under certain rhythmic laws.

[126] Trên cả ba đường tiếp cận chính—đường của Đức Manu hay Đấng Cai Quản, của Đức Bồ Tát hay Đức Chưởng Giáo, và của Đức Mahachohan hay Chúa Tể của Văn Minh—đều có những nhóm đặc thù riêng, tuân theo một số mantram và linh từ, đồng thời chuyển động theo những định luật nhịp điệu nhất định.

So every department has its own groupings and associated mantrams and words and movements and rhythms. It’s quite a well-organized picture that we are being told does exist.

Như vậy, mỗi ban đều có những nhóm riêng cùng các mantram, linh từ, chuyển động và nhịp điệu tương ứng. Đó là một bức tranh được tổ chức khá chặt chẽ mà chúng ta được cho biết là thực sự tồn tại.

[127] One hint only can I give here but I think you will find it interesting. The time is coming when those who work under the Manu, manipulating nations, directing their attention to government and politics, sitting in the assemblies of the people, giving out the laws and apportioning justice,

[127] Ở đây Tôi chỉ có thể đưa ra một gợi ý, nhưng Tôi nghĩ các bạn sẽ thấy thú vị. Thời điểm đang đến khi những người hoạt động dưới quyền Đức Manu, điều hành các quốc gia, chú tâm đến việc cai trị và chính trị, tham gia các hội đồng nhân dân, ban hành luật pháp và thực thi công lý,

These are those who work under the Manu. We just now had the first ray indication and the Libra indication regarding justice.

Đây là những người làm việc dưới quyền Đức Manu. Chúng ta vừa có dấu hiệu về cung một và dấu hiệu về Thiên Bình liên quan đến công lý.

[128] will begin all their work with great rhythmic ceremonies. By means of their united rhythm and chanted words, they will seek to put themselves in touch with the consciousness of the Manu and with His great governing department, so bringing more clearly into practice the working out of His plans and the formulation of His intentions. Having aligned their bodies and made the necessary funnel, they will proceed with business after having placed in their midst as a focal point of illumination one or two men who will give their entire attention to finding out the intention of the Manu and His subordinates upon the matter in hand.

[128] sẽ khởi đầu mọi công việc bằng những nghi lễ nhịp nhàng lớn lao. Nhờ nhịp điệu hợp nhất và những linh từ cùng tụng, họ sẽ tìm cách tiếp xúc với tâm thức của Đức Manu và bộ môn cai quản vĩ đại của Ngài, qua đó đưa việc thực hiện những kế hoạch và diễn đạt những ý định của Ngài vào thực tiễn rõ ràng hơn. Sau khi chỉnh hợp các thể phàm ngã của mình và tạo phễu cần thiết, họ sẽ tiến hành công việc, sau khi đặt ở giữa một hay hai người làm tiêu điểm soi sáng; những người này sẽ dành trọn sự chú tâm để tìm hiểu ý định của Đức Manu và các vị phụ tá của Ngài đối với vấn đề đang bàn.

This too will probably occur at a certain point in the calendar. I’m recalling that the Mahachohan has certain meeting points—I think March and September, something like that. I think basically we’re dealing with Aries and Libra, frankly. Maybe. I always give that qualified: maybe. But he says we will find this an interesting hint: that the first ray workers will also find their methods of invoking the mind, the intentions, the purpose of the Manu. That’s not how first ray workers seem to be working today. Maybe such invocations and ceremonies are more likely found on other rays, but the day will come. Giving out the laws and apportioning justice. I think we can see how these great workers will work, having overcome so many of the liabilities. On any ray path there are just weaknesses that appear at first, liabilities to be overcome, but the day will come.

Có lẽ điều này cũng sẽ diễn ra vào một thời điểm nhất định trong lịch. Tôi nhớ Đức Mahachohan có những thời điểm hội họp nhất định—hình như tháng Ba và tháng Chín, đại loại như vậy. Thành thật mà nói, Tôi nghĩ về cơ bản chúng ta đang nói đến Bạch Dương và Thiên Bình. Có lẽ. Tôi luôn kèm điều kiện ấy: có lẽ. Nhưng Ngài nói chúng ta sẽ thấy đây là một gợi ý thú vị: những người hoạt động thuộc cung một cũng sẽ tìm được các phương pháp khẩn cầu trí tuệ, các ý định và thiên ý của Đức Manu. Những người hoạt động thuộc cung một ngày nay dường như không làm việc theo cách đó. Có lẽ những sự khẩn cầu và nghi lễ như vậy thường thấy hơn ở các cung khác, nhưng ngày ấy sẽ đến. Ban hành luật pháp và thực thi công lý. Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy những người hoạt động vĩ đại này sẽ làm việc ra sao, sau khi vượt qua rất nhiều nhược điểm. Trên con đường của bất kỳ cung nào cũng có những yếu kém xuất hiện ban đầu, những nhược điểm cần vượt qua, nhưng ngày ấy sẽ đến.

That word “manipulation” comes in. There’s a positive manipulation and a negative. It just simply means to make arrangements with the hand—probably that’s what manipulation is all about—or with the mind, the making of arrangements. And the ray of right arrangement is the seventh, a reflection of the first. So within the law, within the boundaries of the law, the Manu also can work at manipulation. The Monadic types are the director, the teacher, and the manipulator, but every one of them can be the other two, to a degree. The director can be a teacher and manipulator. The teacher can be a manipulator and a director, and the manipulator can be a teacher and a director.

Từ “điều phối” xuất hiện ở đây. Có sự điều phối tích cực và sự điều phối tiêu cực. Nó đơn giản có nghĩa là sắp xếp bằng bàn tay—có lẽ đó là ý nghĩa căn bản của sự điều phối—hoặc bằng thể trí, tức việc sắp xếp. Cung của sự sắp xếp đúng đắn là cung bảy, một phản ánh của cung một. Vì vậy, trong khuôn khổ định luật, trong các giới hạn của định luật, Đức Manu cũng có thể thực hiện việc điều phối. Các loại chân thần là người chỉ đạo, huấn sư và người điều phối, nhưng mỗi loại đều có thể, ở một mức độ nào đó, đảm nhiệm hai vai trò còn lại. Người chỉ đạo có thể là huấn sư và người điều phối. Huấn sư có thể là người điều phối và người chỉ đạo, và người điều phối có thể là huấn sư và người chỉ đạo.

So, this is a book very much about the future, isn’t it? And think of it: I mean, it’s going to be used in the future for this particular generation of spiritual students, which I don’t think we can consider to be identical with the normal physical generation of some 20–25 years. So,

Như vậy, đây là một cuốn sách nói rất nhiều về tương lai, phải không? Hãy nghĩ xem: trong tương lai, nó sẽ được sử dụng cho thế hệ đạo sinh tinh thần cụ thể này, mà Tôi không nghĩ chúng ta có thể xem là đồng nhất với một thế hệ thông thường trên cõi hồng trần kéo dài khoảng 20–25 năm. Vì vậy,

[129] So in the department of the Bodhisattva will a similar procedure be followed, for which the construction is already organised.

[129] Trong bộ môn của Đức Bồ Tát cũng sẽ có một trình tự tương tự, mà cơ cấu dành cho nó đã được tổ chức sẵn.

Focal points are needed. Let’s just put that down: focal points are needed in each type of invocation in each department. So we see that there will be focal points also in the department of the Bodhisattva.

Cần có những tiêu điểm. Chúng ta hãy ghi nhận điều đó: mỗi loại khẩn cầu trong mỗi ban đều cần có những tiêu điểm. Vì vậy, chúng ta thấy trong ban của Đức Bồ Tát cũng sẽ có những tiêu điểm.

So in the department of the Bodhisattva will a similar procedure be followed, for which the construction is already organised.

Trong ban của Đức Bồ Tát cũng sẽ áp dụng một quy trình tương tự, và cơ cấu dành cho quy trình ấy đã được tổ chức sẵn.

I think coming sooner than that along the first ray line.

Tôi nghĩ điều này sẽ đến sớm hơn điều tương ứng trên đường cung một.

[130] The priest will be the focal point, and, after due ceremony and rhythm on the part of the united congregation,

[130] Vị tư tế sẽ là tiêu điểm, và sau khi cộng đồng hợp nhất thực hiện nghi lễ cùng nhịp điệu thích hợp,

—churches will have to be differently constructed now—

—lúc ấy các nhà thờ sẽ phải được xây dựng khác đi—

[131] they will be the transmitters of information from on high. But here is a momentous point of interest: The priesthood will not in those days be a separated body of men. All will then be priests and a layman can hold that office when duly chosen at the beginning of the ceremony. The only qualification required will be the capacity to align with the higher, and to co-operate with all the other units in the concourse.

[131] các vị ấy sẽ truyền đạt thông tin từ trên cao. Nhưng đây là một điểm đáng chú ý hết sức quan trọng: vào thời ấy, hàng tư tế sẽ không còn là một đoàn thể tách biệt. Khi đó, tất cả đều sẽ là tư tế, và một [Page 202] người thế tục có thể đảm nhiệm chức vụ ấy nếu được chọn đúng cách vào đầu nghi lễ. Điều kiện duy nhất cần có là khả năng chỉnh hợp với cái cao hơn và hợp tác với mọi thành viên khác trong tập thể.

“Concourse” is here being given a special kind of definition.

Ở đây, “tập hội” đang được định nghĩa theo một cách đặc biệt.

But here is a momentous point of interest: The priesthood will not in those days be a separated body of men.

Nhưng đây là một điểm đáng chú ý có ý nghĩa trọng đại: vào thời ấy, giới tư tế sẽ không phải là một đoàn người tách biệt.

That’s been one of the problems. And the Reformation was directed against the separative priesthood that acted as a forced intermediary between the congregants and God. So the idea there was that man can contact God directly and does not need the priest as an intermediary, but from a serviceable, functional aspect, the priest can be the intermediary, with humility and no exaltation of the role. If egotism attaches to the role, then the value of the role is corrupted, and we know that corruption is one of those things that must be removed, especially from the political and religious arenas.

Đó từng là một trong những vấn đề. Phong trào Cải Cách chống lại giới tư tế mang tính chia rẽ, vốn đóng vai trò trung gian bắt buộc giữa các tín hữu và Thượng đế. Vì vậy, ý tưởng ở đây là con người có thể tiếp xúc trực tiếp với Thượng đế và không cần tư tế làm trung gian. Nhưng xét về phương diện hữu dụng và chức năng, vị tư tế có thể làm trung gian, với sự khiêm nhường và không đề cao vai trò ấy. Nếu tính vị kỷ gắn vào vai trò này, thì giá trị của nó sẽ bị làm cho suy đồi, và chúng ta biết sự suy đồi là một trong những điều phải loại bỏ, đặc biệt khỏi các lĩnh vực chính trị và tôn giáo.

[132] In the department of the Mahachohan, the Lord of Civilisation and Culture

[132] Trong bộ môn của Đức Mahachohan, Chúa Tể của Văn Minh và Văn Hóa

—which is a more intense form of a quality from which the civilization is built or externalized—

—văn hoá là một hình thức mãnh liệt hơn của phẩm tính mà từ đó nền văn minh được xây dựng hoặc ngoại hiện—

[133] and the head of the third line of evolution, you will see again similar action. No university or school will start its sessions without the ceremony of alignment, the teacher this time being the focal line of information

[133] và là Đấng đứng đầu đường tiến hóa thứ ba, các bạn cũng sẽ thấy hoạt động tương tự. Không một trường đại học hay trường học nào sẽ bắt đầu các buổi học mà không có nghi lễ chỉnh hợp; lần này, huấn sư sẽ là tuyến tập trung thông tin

—the teacher—

—huấn sư—

[134] from the department controlling the activity of the mind.

[134] từ bộ môn kiểm soát hoạt động của thể trí.

So we have a teacher within the department of the Mahachohan. And that’s interesting, because we’re told that, of course, the second ray is a ray of education, but we cannot dismiss the presence of the fifth ray and the third ray in terms of our modern university systems, let us say. The Mahachohan’s color: green; emerald tablets, Hermes Trismegistus. I don’t think Master R was Hermes per se, but certainly along that line. The head of the third line of evolution, you will see again similar action—the graduation ceremonies of universities are very formal, ritualistic affairs, with kinds of regalia that suggest the different areas of academic accomplishment.

Như vậy, chúng ta có một huấn sư trong ban của Đức Mahachohan. Điều ấy thật thú vị, vì dĩ nhiên chúng ta được cho biết cung hai là một cung giáo dục, nhưng không thể xem nhẹ sự hiện diện của cung năm và cung ba trong các hệ thống đại học hiện đại của mình. Màu của Đức Mahachohan: xanh lá; các phiến ngọc lục bảo, Hermes Trismegistus. Tôi không nghĩ chính Chân sư R. từng là Hermes, nhưng chắc chắn Ngài thuộc đường ấy. Là vị đứng đầu đường tiến hoá thứ ba, các bạn sẽ lại thấy hoạt động tương tự—các lễ tốt nghiệp đại học là những sự kiện rất trang trọng, mang tính nghi lễ, với những loại lễ phục biểu thị các lĩnh vực thành tựu học thuật khác nhau.

No university or school will start its sessions without the ceremony of alignment, the teacher this time being the focal line of information,

Không trường đại học hay trường học nào sẽ bắt đầu các buổi học mà không có nghi lễ chỉnh hợp; lần này huấn sư sẽ là đường dẫn tập trung thông tin,

the teacher. Can you have a teacher in a third ray department? Yes, of course. Of course.

huấn sư. Có thể có một huấn sư trong một ban thuộc cung ba không? Có, dĩ nhiên. Dĩ nhiên.

[135] In this way the stimulation of the mental bodies of the students, and the strengthening of the channel between higher and lower mind will be greatly aided.

[135] Bằng cách này, việc kích thích các thể trí của môn sinh và củng cố kênh giữa thượng trí với hạ trí sẽ nhận được sự trợ giúp lớn lao.

This means the aiding of the building of the antahkarana.

Điều này có nghĩa là hỗ trợ việc xây dựng antahkarana.

[136] The intuition will also be developed and contacted.

[136] Trực giác cũng sẽ được phát triển và tiếp xúc.

Of course, intuition is possible for those on any ray, even though there are certain numerical affinities that may make the appearance of the intuition a more rapidly unfolding event for some ray types.

Dĩ nhiên, những người thuộc bất kỳ cung nào cũng có thể có trực giác, dù có những mối tương hợp về số nhất định có thể khiến trực giác xuất hiện và khai mở nhanh hơn ở một số loại cung.

The intuition will also be developed and contacted.

Trực giác cũng sẽ được phát triển, và con người sẽ tiếp xúc được với trực giác.

[137] In the above statements I have by no means covered the ground.

[137] Trong những điều trình bày trên, Tôi hoàn toàn chưa bao quát hết đề tài.

No, not covered the ground yet. DK is just giving us the barest outline in relation to what he actually knows. The intuition will be developed and contacted. Ah.

Không, vẫn chưa trình bày hết chủ đề. Chân sư DK chỉ đang cho chúng ta nét phác thảo sơ lược nhất so với những gì Ngài thực sự biết. Trực giác sẽ được phát triển và tiếp xúc. À.

In the above statements I have by no means covered the ground.

Trong những phát biểu trên, Tôi hoàn toàn chưa trình bày hết chủ đề này.

[138] I have but indicated the broad outlines of what will some day be facts in physical plane demonstration. The thought conveys much matter for consideration and for speculation

[138] Tôi chỉ phác họa những nét lớn của điều một ngày kia sẽ trở thành sự thật biểu hiện trên cõi hồng trần. Ý tưởng này mang lại nhiều điều để xem xét và suy tưởng

—that we can do, huh?—

—điều đó thì chúng ta làm được, phải không?—

[139] and is full of helpfulness for the wise student.

[139] và rất hữu ích cho đạo sinh sáng suốt.

So let us be those students as much as we can be.

Vì vậy, chúng ta hãy cố gắng hết sức để trở thành những đạo sinh như thế.

[140] Aught that enlarges his horizon and increases the range of his vision is to be welcomed, even though his apprehension of these facts may be at fault

[140] Bất cứ điều gì mở rộng chân trời và tầm nhìn của y đều đáng đón nhận, dù sự lĩnh hội của y về những sự thật này có thể sai lệch

—imprecise at first—

—ban đầu chưa chính xác—

[141] and his capacity to assimilate leaves much to be desired.

[141] và khả năng hấp thu của y vẫn còn nhiều điều cần cải thiện.

Well, he’s just described who we are here: faulty apprehension and some degree of difficulty in assimilation. And when we talk about the intuition—well, I could certainly put it in yellow, but I’m going to act as if love-wisdom on the buddhic plane is blue.

Ngài vừa mô tả chính chúng ta ở đây: lĩnh hội sai lệch và gặp khó khăn ở mức độ nào đó trong việc tiếp thu. Khi nói về trực giác, chắc chắn tôi có thể biểu thị nó bằng màu vàng, nhưng tôi sẽ xem bác ái–minh triết trên cõi Bồ đề là màu xanh lam.

Well, friends, that takes us to approximately a four-hour program. I’m not sure what it means when you try to download it, but it would be foolish for me to go on to Letter VII at the moment, which is 50 pages long, and will take quite a number of programs. And then let’s see what happens at page 253: Forecasts an end to the future. So maybe—and here’s Letter VIII, 253. That’s it. And so he’s given us a lot of background first. People are so interested in accessing the Masters, but they don’t have the foundation to do so. They need a lot of cautionary tales, I think, before attempting to access the Masters. He did say to some of his students, “Some of you know how to contact me. Some of you have contacted me, but know it not, and others have yet to learn the method.” I suppose the best method of contact is to be so totally immersed in constructive service in line with the Plan that contact will naturally unfold according to need, because if the Master sees someone who’s really contributing to the Plan and needs help, that help will be given, and the method of more direct contact—maybe Chela on the Thread or Chela in the Aura—will be conferred.

Các bạn của tôi, như vậy chương trình của chúng ta đã kéo dài khoảng bốn giờ. Tôi không chắc điều đó có ý nghĩa gì khi các bạn thử tải chương trình xuống, nhưng lúc này mà tiếp tục sang Thư VII thì thật thiếu khôn ngoan, vì thư ấy dài 50 trang và sẽ cần khá nhiều chương trình. Rồi hãy xem ở trang 253 có gì: Dự báo một điểm kết thúc cho tương lai. Vậy có lẽ—và đây là Thư VIII, trang 253. Đúng rồi. Như vậy, trước hết Ngài đã cung cấp cho chúng ta rất nhiều kiến thức nền tảng. Mọi người rất quan tâm đến việc tiếp cận các Chân sư, nhưng họ chưa có nền tảng để làm điều đó. Tôi nghĩ họ cần nghe nhiều câu chuyện cảnh tỉnh trước khi cố gắng tiếp cận các Chân sư. Ngài từng nói với một số đạo sinh của mình: “Một số bạn biết cách liên lạc với Tôi. Một số bạn đã liên lạc với Tôi nhưng không biết điều đó, còn những bạn khác vẫn cần học phương pháp.” Tôi cho rằng phương pháp liên lạc tốt nhất là hoàn toàn đắm mình trong việc phụng sự mang tính xây dựng, phù hợp với Thiên Cơ, đến mức sự liên lạc sẽ tự nhiên khai mở tùy theo nhu cầu. Bởi nếu Chân sư thấy một người thực sự đóng góp cho Thiên Cơ và cần giúp đỡ, Ngài sẽ ban sự giúp đỡ ấy, và phương pháp liên lạc trực tiếp hơn—có lẽ là Đệ tử trên đường dây hoặc Đệ tử trong hào quang—sẽ được trao cho y.

So we’ll be starting with Letter number six. It’s of course Cosmic Fire is back too. And maybe it is the seed of so much that follows. And although it is said that Cosmic Fire is written only for initiates, really—or that its value will evade anything but initiate understanding—a lot of that seems also true to me regarding this Letters on Occult Meditation. Not the same as Initiation, Human and Solar, which was written for the general public. Not the same.

Vì vậy, chúng ta sẽ bắt đầu với Thư số sáu. Dĩ nhiên, Lửa Vũ Trụ cũng trở lại. Và có lẽ đó là hạt giống của rất nhiều điều tiếp theo. Mặc dù người ta nói rằng Lửa Vũ Trụ thực sự chỉ viết cho các điểm đạo đồ—hoặc giá trị của sách sẽ vượt khỏi mọi sự thấu hiểu không phải của điểm đạo đồ—tôi thấy phần lớn điều đó cũng đúng với cuốn Thư Về Tham thiền Huyền môn này. Không giống cuốn Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, vốn viết cho công chúng nói chung. Không giống như vậy.

How to study these things? Well, first of all, there has to be time dedicated to study, and to meditation, and to service, all three—the tripod. Now, it may be that in your life one or the other may be a bit more emphasized. I think, for myself, it’s always been study, but of course, the stool will not stand on one leg, unless that leg is in the center and somehow a combination of all three directions, maybe with a triangular base.

Phải nghiên cứu những điều này như thế nào? Trước hết, phải dành thời gian cho nghiên cứu, tham thiền và phụng sự, cả ba—chiếc kiềng ba chân. Trong cuộc sống của các bạn, có thể một trong ba điều ấy được nhấn mạnh hơn đôi chút. Với tôi, tôi nghĩ đó luôn là nghiên cứu, nhưng dĩ nhiên, chiếc ghế không thể đứng trên một chân, trừ khi chân ấy ở chính giữa và bằng cách nào đó kết hợp cả ba hướng, có lẽ với một đế hình tam giác.

How many years remain? Five years, roughly, remain before, around the year 2025, the new installment of the teaching begins to come forward. And no doubt plans for that are already well along, at least in the mind of the Master, and the methods of communication have been greatly enhanced since those early days. What was it, November 19th, 1919, when Alice Bailey was contacted—a note in the air—by the Tibetan? So now the distribution is marvelously enhanced. And maybe, maybe the whole process of giving whatever the Tibetan intends to give in this third phase of creating bridging treatises, bridging towards the knowledge of the New Age, will occur faster than requiring 30 years of work, but maybe it will take 30 years. He does give a kind of tabulation where we have 30, 30, 30, and then a synthetic 10, where everything is sort of wrapped up and summarized.

Còn bao nhiêu năm nữa? Còn khoảng năm năm trước khi phần giáo huấn mới bắt đầu xuất hiện, vào khoảng năm 2025. Chắc chắn những kế hoạch cho việc đó đã tiến triển khá xa, ít nhất trong thể trí của Chân sư. Và các phương pháp truyền đạt đã cải thiện rất nhiều kể từ những ngày đầu ấy. Đó là khi nào nhỉ, ngày 19 tháng 11 năm 1919, khi Chân sư Tây Tạng liên lạc với Alice Bailey—một âm điệu trong không trung? Giờ đây, việc phổ biến đã cải thiện một cách kỳ diệu. Và có lẽ, có lẽ toàn bộ tiến trình trao truyền bất cứ điều gì Chân sư Tây Tạng dự định ban ra trong giai đoạn thứ ba này—giai đoạn tạo nên những khảo luận bắt cầu, bắt cầu tới tri thức của Kỷ Nguyên Mới—sẽ diễn ra nhanh hơn, không cần đến 30 năm làm việc. Nhưng có lẽ vẫn sẽ mất 30 năm. Ngài có đưa ra một dạng bảng kê gồm 30, 30, 30, rồi 10 năm tổng hợp, trong đó mọi điều phần nào được hoàn tất và tổng kết.

The world is changing so fast, and some of the change is foreseen, and some of the change even the Masters cannot foresee, because humanity does determine its own course of action. It determines what it will do. It decides, and it would be against the law for Hierarchy to force the decision. Could they even do that? Well, that would be imprisonment; that would be working supposedly for the good, but in a forceful way, which was external, and which was more characteristic of some of the methods of the Lodge of Darkness. So they can’t do it, and it must be, as DK has said, agonizing to stand by, doing all they can, and to see wrong choices or inadequate choices being made—a kind of spiritual agony, as he describes it. “Little as you may think it to be the case, because we are safe in our spiritual enclaves, we do suffer spiritually when we look at humanity”—as a type of agony, because they are so identified with humanity, as humanity, having come through humanity: a Master being the apex of humanity, but a Chohan being even more. All of us being members of the fourth Creative Hierarchy, they do suffer—just the way you would suffer loving a child, or maybe your own child, and seeing mistakes, bad mistakes, about to be made, dangerous mistakes that can lead to failure, even death, loss of opportunity. So we have to trust that, yes, they stand by according to the law and do all they can.

Thế giới đang thay đổi rất nhanh, và một số thay đổi đã được dự kiến. Có những thay đổi mà ngay cả các Chân sư cũng không thể dự kiến, vì nhân loại thực sự tự quyết định đường hướng hành động của mình. Nhân loại xác định mình sẽ làm gì. Nhân loại quyết định, và nếu Thánh đoàn ép buộc quyết định ấy thì sẽ trái với định luật. Liệu Các Ngài có thể làm như vậy không? Điều đó sẽ là giam hãm; sẽ là hành động được cho là vì điều thiện, nhưng bằng cách cưỡng ép từ bên ngoài, vốn mang đặc trưng của một số phương pháp của Hắc đoàn nhiều hơn. Vì thế, Các Ngài không thể làm như vậy, và như Chân sư DK đã nói, hẳn thật đau đớn khi phải đứng bên cạnh, làm tất cả những gì có thể, mà vẫn chứng kiến những lựa chọn sai lầm hoặc thiếu thỏa đáng—một dạng đau đớn tinh thần, như Ngài mô tả. “Dù các bạn có thể khó tin điều này, vì chúng tôi an toàn trong những nơi ẩn cư tinh thần của mình, chúng tôi vẫn đau khổ về mặt tinh thần khi nhìn nhân loại”—một dạng đau đớn, vì Các Ngài đồng hoá sâu sắc với nhân loại, như chính nhân loại, sau khi đã đi qua giai đoạn nhân loại: một Chân sư là đỉnh cao của nhân loại, nhưng một Chohan còn cao hơn nữa. Tất cả chúng ta đều là thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, và Các Ngài thực sự đau khổ—giống như các bạn đau khổ khi yêu thương một đứa trẻ, hoặc chính con mình, và thấy những sai lầm, những sai lầm nghiêm trọng, sắp xảy ra; những sai lầm nguy hiểm có thể dẫn tới thất bại, thậm chí cái chết, mất đi cơ hội. Vì vậy, chúng ta phải tin rằng, đúng vậy, Các Ngài đứng bên cạnh theo định luật và làm tất cả những gì có thể.

But for us, we have the decision on our own responsibility. So we’ve been given the banquet of esoteric knowledge and wisdom, the wisdom of the Tibetan and the higher agencies, and of course, we have to transform the knowledge imparted into our own wisdom, and wisdom will not be achieved except through experience, and oftentimes bitter experience. And that experience comes through making the attempt to apply what we know, or what we think we know, or at least to experiment with what is suggested, so that we can verify—ascertain, verify to ourselves—that, yes, these things are true. When it comes to the Yoga Sutras, there they are. Can they be followed? Can they be understood through application? Everybody has a chance to develop within himself or herself the higher possibilities there suggested.

Nhưng với chúng ta, chúng ta phải tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Chúng ta đã được ban một bữa tiệc tri thức và minh triết huyền bí, minh triết của Chân sư Tây Tạng và những tác nhân cao hơn. Dĩ nhiên, chúng ta phải chuyển đổi tri thức được truyền đạt thành minh triết của chính mình, và chỉ qua kinh nghiệm mới có thể đạt được minh triết, mà thường là kinh nghiệm cay đắng. Kinh nghiệm ấy đến từ việc cố gắng áp dụng những gì chúng ta biết, hoặc nghĩ rằng mình biết, hay ít nhất thử nghiệm những điều được gợi ý, để có thể kiểm chứng—xác định, tự kiểm chứng—rằng, đúng vậy, những điều này là chân thật. Với Kinh Yoga, những lời dạy đã có sẵn ở đó. Có thể thực hành theo không? Có thể thấu hiểu qua việc áp dụng không? Mỗi người đều có cơ hội phát triển trong chính mình những khả năng cao hơn mà sách gợi mở.

I think the further I go in all this, the more overwhelmed I am by the magnitude of the gift that has been given to us. I remember the first time I touched the Bailey book, it almost was like, “Whoa.” The first thing that came out of it seemed to put the book beyond my reach. I opened it, and it said “Atma-Buddhi-Manas.” Well, I was new to Theosophy, and I was studying The Secret Doctrine—it seemed like quite enough—and The Key to Theosophy and other theosophical books, and something in me said, “Later, I have enough to do.” I wasn’t like one of my friends who encountered the Bailey books above the cashier, all in hardback, and said, “I’ll take them all.” And I said to myself—forgive myself for saying it—I said, “How could a woman write all this?” And if it had been a man, I would have said, “How could a man write all this?” But I used the word “woman” because, of course, it was Alice Bailey. How could she do it? And then only later I found out that she was being an amanuensis, and the actual author was working through Alice Bailey. I didn’t realize that at first. Well, what I did pick up was that such a feat would not be possible to an ordinary human being. And Alice Bailey once said why she had been able to accomplish so much, and at first, when she said that, I wondered at the “so much,” what was meant by the “so much,” and then gradually I began to realize the magnitude of this work.

Tôi nghĩ càng đi sâu vào tất cả những điều này, tôi càng choáng ngợp trước tầm vóc của món quà đã được ban cho chúng ta. Tôi nhớ lần đầu chạm vào một cuốn sách của Bailey, cảm giác gần như là: “Ôi chao.” Điều đầu tiên hiện ra từ sách dường như đã đặt nó ngoài tầm với của tôi. Tôi mở sách, và thấy ghi “Atma–Bồ đề–Manas”. Khi ấy tôi mới làm quen với Thông Thiên Học và đang nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm—tôi thấy như thế đã là quá đủ—cùng Chìa Khóa Thông Thiên Học và những sách Thông Thiên Học khác, và một điều gì đó trong tôi nói: “Để sau, mình đã có đủ việc để làm rồi.” Tôi không giống một người bạn đã bắt gặp những cuốn sách của Bailey phía trên quầy thu ngân, tất cả đều bìa cứng, rồi nói: “Tôi lấy tất cả.” Và tôi tự nhủ—xin tha thứ cho tôi vì đã nói điều ấy—tôi nói: “Làm sao một phụ nữ có thể viết tất cả những điều này?” Nếu tác giả là đàn ông, tôi cũng sẽ nói: “Làm sao một người đàn ông có thể viết tất cả những điều này?” Nhưng tôi dùng từ “phụ nữ” vì, dĩ nhiên, đó là Alice Bailey. Làm sao bà có thể làm được? Chỉ về sau tôi mới biết bà là người chấp bút, còn tác giả thực sự làm việc thông qua Alice Bailey. Ban đầu tôi không nhận ra điều đó. Điều tôi thực sự nhận thấy là một thành tựu như vậy không thể nằm trong khả năng của một người bình thường. Alice Bailey từng nói vì sao bà có thể hoàn thành nhiều đến thế, và lúc đầu, khi bà nói vậy, tôi thắc mắc về chữ “nhiều đến thế”, nó hàm ý điều gì; rồi dần dần tôi bắt đầu nhận ra tầm vóc của công trình này.

I mean, can you imagine how she worked? Being a Gemini, maybe she didn’t need as much sleep as many people do. I’ve noticed that astrologically—whether it’s insomnia or the ability to get along with less sleep and to read very fast, like JFK, a page at a time almost—she was suited for the task. But can you imagine how she worked? And it was kind of what you might call no-alibi work. She couldn’t make excuses for herself. Sometimes, from what I understand, she just had too much lower amountness on her mind, and DK said, “Well, we can’t really work today together, because your consciousness is filled with lower amountness,” and it wouldn’t be possible to bring through that combination of his use of English and her use of English, which became such a distinctive method of imparting the wisdom. But I don’t think there’s any one of us that could withstand that pressure.

Ý tôi là, các bạn có thể hình dung bà đã làm việc như thế nào không? Là người thuộc dấu hiệu Song Tử, có lẽ bà không cần ngủ nhiều như phần đông mọi người. Tôi đã nhận thấy điều đó về mặt chiêm tinh—dù là mất ngủ hay khả năng hoạt động với ít giấc ngủ hơn và đọc rất nhanh, như JFK, gần như đọc cả một trang mỗi lần—bà phù hợp với nhiệm vụ ấy. Nhưng các bạn có thể hình dung bà đã làm việc như thế nào không? Đó là loại công việc mà các bạn có thể gọi là không được viện cớ. Bà không thể tìm lý do bào chữa cho mình. Theo tôi hiểu, đôi khi thể trí bà quá bận với những chuyện vụn vặt thấp hơn, và Chân sư DK nói: “Hôm nay chúng ta thực sự không thể cùng làm việc, vì tâm thức của bà đầy những chuyện vụn vặt thấp hơn”, và sẽ không thể truyền qua sự kết hợp giữa cách dùng tiếng Anh của Ngài và cách dùng tiếng Anh của bà, vốn đã trở thành một phương pháp truyền đạt minh triết rất đặc trưng. Nhưng tôi không nghĩ bất cứ ai trong chúng ta có thể chịu nổi áp lực ấy.

Sometimes the students—her students, and DK’s students—rebelled against the pressure of having to work with the Master. It was just too much to have, real or imagined, his eye upon them, and always another eye—relatively an all-seeing eye—picking up what was going on with you. Too much, too much pressure. But imagine Alice Bailey, and the pressure under which she worked. Recently one of our group members brought photographs of the ending days, the end of her life, and, well, she had been through the wars, obviously, and she was still writing. She was confined to bed, and really looking like they managed to get everything out of her, and she gave everything. But as an initiate—I estimate of the third degree and pushing the fourth degree—renouncing so much. She just had to do that. She was compelled inwardly to do that. And the road does wind uphill all the way, as the poet has said, and even though we’re building what’s called the antahkarana, or the way of escape, we’re not going to look for any easier time. It’s not coming.

Đôi khi các đạo sinh—đạo sinh của bà và đạo sinh của Chân sư DK—chống lại áp lực phải làm việc với Chân sư. Ánh mắt của Ngài dõi theo họ, dù có thật hay do họ tưởng tượng, đã là quá sức; lại luôn có một ánh mắt khác—tương đối toàn tri—nhận biết những gì đang diễn ra với họ. Quá nhiều, quá nhiều áp lực. Nhưng hãy hình dung Alice Bailey và áp lực mà bà chịu khi làm việc. Gần đây, một thành viên trong nhóm chúng ta mang đến những bức ảnh chụp những ngày cuối cùng, lúc cuối đời bà; rõ ràng bà đã trải qua biết bao gian khổ mà vẫn đang viết. Bà nằm liệt giường, trông như người ta đã khai thác đến tận cùng sức lực của bà, và bà đã hiến dâng tất cả. Nhưng với tư cách một điểm đạo đồ—tôi ước đoán ở cấp độ thứ ba và đang tiến tới cấp độ thứ tư—bà đã từ bỏ rất nhiều. Bà phải làm như vậy. Một thôi thúc nội tâm buộc bà phải làm như vậy. Và như nhà thơ đã nói, con đường uốn lượn lên dốc suốt cả hành trình; dù chúng ta đang xây dựng cái gọi là antahkarana, hay con đường thoát ra, chúng ta cũng đừng mong có một giai đoạn dễ dàng hơn. Điều đó sẽ không đến.

The pressure on the Great Ones would be like squashing a bug, for us—or, as Master Morya says, putting the load of a camel on a donkey. It wouldn’t work. And he’s reached that point where he can say, and mean it, and withstand it: “Burden me still more as I enter the beautiful garden.” He can say that, and he can advise that for us, and he can say for us, please realize the better, and please realize that obstacles are possibilities. So, I’m working on that one, and I’m sure we all are. There are lots of ways to react to obstacles—or respond is a better word—other than just saying, “Oh, that’s too much for me.” We have deep, deep resources within ourselves that we hardly appreciate.

Nếu chúng ta phải chịu áp lực đặt lên Các Đấng Cao Cả, thì cũng như một con côn trùng bị nghiền nát—hoặc, như Chân sư Morya nói, đặt gánh nặng của lạc đà lên lưng lừa. Không thể được. Và Ngài đã đạt đến điểm mà Ngài có thể nói, thực sự muốn nói như vậy, và chịu đựng được: “Hãy chất thêm gánh nặng lên Tôi khi Tôi bước vào khu vườn xinh đẹp.” Ngài có thể nói điều đó, khuyên chúng ta như thế, và nhắn nhủ chúng ta: xin hãy nhận ra điều tốt đẹp hơn, và xin hãy nhận ra rằng những trở ngại là những khả năng. Vì vậy, tôi đang rèn luyện điều ấy, và tôi chắc tất cả chúng ta cũng vậy. Có nhiều cách phản ứng với trở ngại—hay đáp ứng thì đúng hơn—ngoài việc chỉ nói: “Ôi, điều đó quá sức tôi.” Trong chính mình, chúng ta có những nguồn lực sâu thẳm, rất sâu thẳm, mà chúng ta hầu như chưa biết trân trọng.

As I’ve sometimes said, in the play The Crucible by Arthur Miller—it was about Pilgrim times, which, once the witch hunt started, were pretty grim. Just ordinary occult things: you leave your body, the astral body goes out of your physical body, and then you’d be accused of being a witch, and you’d be tortured, and finally killed. And there was this man, a character in the play called Giles Corey, and he was a good man, and he was accused, and they used to have a method of putting someone to death called pressing. They’d put stones on your chest until you just couldn’t breathe, and they’d wait for some kind of confession from you. And it was a brilliant moment for Arthur Miller. Basically, he wrote that Corey indicated he wanted to speak to his torturers. So they figured they were going to get a confession out of him. And so what he said was, “More weight.” It’s a bit like William Wallace in the film Braveheart, having a moment to speak, and using it to scream the word “Freedom.” So that’s the defiance of the unvanquishable spirit: “More weight.”

Như đôi khi tôi đã nói, trong vở kịch Lò Luyện của Arthur Miller—nói về thời những người Thanh giáo di cư, một thời trở nên hết sức u ám khi cuộc săn lùng phù thủy bắt đầu. Chỉ những hiện tượng huyền bí thông thường thôi: các bạn rời khỏi thân thể, thể cảm dục đi ra khỏi thể xác, rồi các bạn bị cáo buộc là phù thủy, bị tra tấn và cuối cùng bị giết. Có một người đàn ông, một nhân vật trong vở kịch tên là Giles Corey; ông là người tốt, và ông bị cáo buộc. Khi ấy, người ta có một phương pháp hành hình gọi là ép bằng đá. Họ đặt đá lên ngực cho đến khi người bị hành hình không còn thở được, rồi chờ người ấy thú nhận điều gì đó. Đó là một khoảnh khắc xuất sắc trong tác phẩm của Arthur Miller. Về cơ bản, ông viết rằng Corey ra hiệu muốn nói với những kẻ tra tấn mình. Họ nghĩ mình sắp lấy được lời thú tội của ông. Nhưng ông nói: “Thêm đá nữa.” Điều đó hơi giống William Wallace trong bộ phim Trái Tim Dũng Cảm, khi có một khoảnh khắc để nói và dùng nó để hét lên: “Tự do.” Đó là sự thách thức của tinh thần bất khả chiến bại: “Thêm đá nữa.”

Well, it’s a bit like being a candidate for what Master Morya talks about: “Burden me still more as I enter the beautiful garden.” We can’t maybe fathom such a point of view where we are, but we will, because we’re going to get stronger and stronger at doing what we’re doing. And the soul will take over, and then the Triad will take over, and finally the monad will take over, and it will be done regardless of what ray we have, and it will be done in a scientific manner, in a way that guarantees results, if we can but stand steady. I think DK just used the word “steady.” An aspirant is not steady. An aspirant is inspired by fleeting rushes of energy which do not stabilize him, but come and go. A disciple is more steady. An initiate can stand, and a Master is always standing in spiritual being. That’s what lies ahead of us. We can only put first things first, work with the essential—tall order—and endure, endure, endure.

Điều đó hơi giống việc trở thành ứng viên cho điều Chân sư Morya nói tới: “Hãy chất thêm gánh nặng lên Tôi khi Tôi bước vào khu vườn xinh đẹp.” Ở vị trí hiện tại, có lẽ chúng ta chưa thể hiểu thấu quan điểm ấy, nhưng rồi chúng ta sẽ hiểu, vì chúng ta sẽ ngày càng mạnh mẽ hơn trong những việc mình đang làm. Linh hồn sẽ nắm quyền, rồi Tam Nguyên Tinh Thần sẽ nắm quyền, cuối cùng chân thần sẽ nắm quyền. Điều ấy sẽ thành tựu bất kể chúng ta thuộc cung nào, và sẽ thành tựu một cách khoa học, theo cách bảo đảm kết quả, nếu chúng ta có thể đứng vững. Tôi nghĩ Chân sư DK chỉ dùng từ “vững vàng”. Người chí nguyện chưa vững vàng. Những đợt năng lượng dâng trào thoáng qua truyền cảm hứng cho người chí nguyện nhưng không giúp y ổn định; chúng đến rồi đi. Đệ tử vững vàng hơn. Điểm đạo đồ có thể đứng vững, và Chân sư luôn đứng vững trong bản thể tinh thần. Đó là những gì đang chờ chúng ta phía trước. Chúng ta chỉ có thể đặt những điều ưu tiên lên trước, làm việc với điều cốt yếu—một yêu cầu rất lớn—và bền chí, bền chí, bền chí.

I remember I had the privilege of singing with a big choir in the old days of the National Music Camp, which kind of saved my life, I must say. And I went there for six years in a row, and I sang with a festival choir of 300, 400, 500 people. And there was an oratorio—you may be familiar with it—by Felix Mendelssohn. It’s called Elijah, the Elijah—maybe an earlier incarnation of John the Baptist; it’s hard to say. And there’s this beautiful chorale section in one of the pieces early on, and the words are, “He that shall endure to the end, he that shall endure to the end shall be saved, shall be saved.” And it made such an impression on me, this idea of enduring to the end, plus the music, the heart-rending, beautiful chorale music, such as you might find in the chorales of Bach and his harmonization of those chorales. But it was Mendelssohn, 150 years later, but also in Germany. It made such an impression about the necessity of endurance no matter what.

Tôi nhớ mình từng có đặc ân hát cùng một dàn hợp xướng lớn vào những ngày xưa ở Trại Âm Nhạc Quốc Gia; phải nói rằng nơi ấy phần nào đã cứu cuộc đời tôi. Tôi đến đó sáu năm liên tiếp và hát trong một dàn hợp xướng lễ hội gồm 300, 400, 500 người. Có một bản thanh xướng kịch của Felix Mendelssohn—có thể các bạn biết tác phẩm ấy. Tác phẩm mang tên Elijah, vị Elijah ấy—có lẽ là một kiếp trước của John Tẩy Giả; khó mà nói chắc. Trong một phần đầu tác phẩm có một đoạn thánh ca hợp xướng tuyệt đẹp, với lời rằng: “Ai bền chí đến cùng, ai bền chí đến cùng sẽ được cứu, sẽ được cứu.” Ý tưởng bền chí đến cùng ấy đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc, cùng với âm nhạc, thứ âm nhạc thánh ca hợp xướng tuyệt đẹp, lay động tận đáy lòng, như các bạn có thể gặp trong những bản thánh ca hợp xướng của Bach và cách ông hòa âm cho chúng. Nhưng đây là Mendelssohn, 150 năm sau, cũng ở Đức. Tác phẩm đã để lại một ấn tượng sâu sắc về sự cần thiết phải bền chí, bất kể điều gì xảy ra.

Of course, I’m sure we all catch ourselves not enduring and giving up and doing the wrong thing, and somehow being more spasmodic than we should be, but finally, the great endurance of the Spirit does take over, and it is one of the elements of the saving force. And what does it mean to be saved anyway? I was thinking about that, and basically it is to be restored to our own true state of essential being—being restored to our real identity instead of being veiled and masked, suffocated, and somehow covered by what we consider to be objectivity. There is no real objectivity as far as I’m concerned. I mean, we can be objective in the standard sense, but everything we consider to be an object is really ourselves. So we have to come to that oneness realization, which is an identification with all beings, and with all possible perceptions, and to me, that is salvation. It’s not like going to a certain locale, environment, that we call heaven. There are all kinds of heavens, all kinds of points of tension, and they’re all limited, except for the ultimate, intra-universal state of awareness, state of being.

Dĩ nhiên, tôi chắc tất cả chúng ta đều có lúc nhận thấy mình không bền chí, bỏ cuộc, làm điều sai trái, và hành động thất thường hơn mức nên có, nhưng cuối cùng, sức bền bỉ vĩ đại của Tinh thần thực sự nắm quyền, và đó là một trong những yếu tố của Mãnh Lực Cứu Rỗi. Mà được cứu rỗi thực sự hàm ý gì? Tôi đã suy nghĩ về điều ấy, và về cơ bản, đó là trở về trạng thái chân thật của bản thể cốt yếu của chính mình—trở về bản sắc thực sự của chúng ta, thay vì bị che phủ, đeo mặt nạ, ngạt thở, và bằng cách nào đó chìm dưới những gì chúng ta xem là tính khách quan. Theo tôi, không có tính khách quan thực sự. Ý tôi là chúng ta có thể khách quan theo nghĩa thông thường, nhưng mọi thứ chúng ta xem là một đối tượng thực ra đều là chính chúng ta. Vì thế, chúng ta phải đạt tới sự chứng nghiệm tính nhất thể ấy, tức là sự đồng hoá với mọi sinh linh và mọi nhận thức khả hữu. Với tôi, đó là cứu rỗi. Không phải đến một nơi chốn, một môi trường nhất định mà chúng ta gọi là thiên đường. Có đủ loại thiên đường, đủ loại điểm tập trung nhất tâm, và tất cả đều hữu hạn, ngoại trừ trạng thái nhận biết tối hậu trong toàn vũ trụ, trạng thái bản thể.

So endure, endure. And even if we fail in our endurance, then we try again, until we succeed in enduring. We achieve continuity of consciousness, and a realized continuity of identification, which is continuity of being, and being is the one continuous something. It is the continuity. Being is that—not being something, but being itself.

Vì vậy, hãy bền chí, bền chí. Ngay cả khi không giữ được sự bền chí, chúng ta vẫn thử lại, cho đến khi thành công trong việc bền chí. Chúng ta đạt được sự liên tục của tâm thức và sự liên tục của đồng hoá đã được chứng nghiệm, tức sự liên tục của bản thể; và bản thể là cái duy nhất liên tục. Chính nó là sự liên tục. Bản thể là như vậy—không phải là một cái gì đó, mà là chính bản thể.

Well, just a little bit of musing here at the end, and getting ready then for Letter number seven, and then Letter number eight. And I still have to decide—because I’ve done quite a commentary written on all the new esoteric school material, and I’m trying to think: should I just leave it at that, or will you benefit by verbal commentary on it as well? I just don’t know the answer to that question yet, but I’ll get there. Somewhere around—is it around page 300?—the material on the new esoteric schools begins: “Future Schools of Meditation,” Letter IX, and it takes it maybe to the end of the book. Not quite: there’s a little bit of a play-out from 332 to approximately 350. But this is a long section, and when you put the text together with the commentary, it’s many pages, maybe a hundred pages. So, will it be a benefit? I’m trying to get that understood.

Đó chỉ là đôi chút suy ngẫm ở phần cuối này, rồi chuẩn bị cho Thư số bảy và Thư số tám. Tôi vẫn phải quyết định—vì tôi đã viết một bản bình giảng khá dài về toàn bộ tài liệu liên quan đến các trường nội môn mới, và đang cân nhắc: tôi nên chỉ dừng ở đó, hay các bạn cũng sẽ được lợi từ phần bình giảng bằng lời nói? Tôi chưa biết câu trả lời, nhưng rồi sẽ tìm ra. Vào khoảng—có phải khoảng trang 300 không?—tài liệu về các trường nội môn mới bắt đầu: “Các Trường Tham Thiền Tương Lai”, Thư IX, và có lẽ kéo dài đến cuối sách. Không hẳn: từ trang 332 đến khoảng trang 350 vẫn còn một phần kết. Nhưng đây là một phần dài, và khi ghép văn bản với phần bình giảng thì có rất nhiều trang, có lẽ một trăm trang. Vậy liệu điều đó có hữu ích không? Tôi đang cố hiểu rõ điều ấy.

So, I’ll say farewell to you now for the moment, and we will continue teaching and spreading the knowledge of the Ageless Wisdom, just the way Master DK would have us do. He’s the expert, and we can emulate. We can imitate, and some good will be done by that, and depending on whom we can reach, a lot of good can be done, because the potentials are there, opening up before people who don’t even suspect they exist. And we want to be in a position to help introduce them to possibilities they have not even suspected, and which can make a huge difference in the opening up of their consciousness and their state of energy access and energy expression.

Vì vậy, lúc này tôi xin tạm biệt các bạn, và chúng ta sẽ tiếp tục giảng dạy, phổ biến tri thức Minh Triết Ngàn Đời, đúng như Chân sư DK mong muốn chúng ta làm. Ngài là chuyên gia, và chúng ta có thể noi theo. Chúng ta có thể làm theo. Điều đó sẽ đem lại lợi ích nhất định; tùy theo những người chúng ta có thể tiếp cận, nó có thể đem lại rất nhiều lợi ích, vì những tiềm năng đang ở đó, mở ra trước những người thậm chí chưa hề ngờ rằng chúng tồn tại. Chúng ta muốn có khả năng giúp họ làm quen với những khả năng mà họ chưa từng ngờ tới, những khả năng có thể tạo nên sự khác biệt to lớn trong việc khai mở tâm thức, cũng như khả năng tiếp cận và biểu lộ năng lượng của họ.

So, lots of love from all of us on the communications team, the communications group, and from the faculty of the Morya Federation, and all the workers and board members—it’s all one work. And right here in Finland, from Tuija and myself, as we struggle on late into the night and up into the early hours—she’s better at that than I am—and try to bring you added light, and meanwhile adding to the light of our own consciousness, because if it’s not authentic with the one who’s trying to give it out, then how can it be useful to those who receive? Many blessings, lots of love. We’ll see you now, and onwards.

Xin gửi thật nhiều tình thương từ tất cả chúng tôi trong đội truyền thông, nhóm truyền thông, từ đội ngũ giảng viên của Liên đoàn Morya, cùng tất cả những người hoạt động và thành viên ban quản trị—tất cả đều là một công việc. Và ngay tại Phần Lan, Tuija cùng tôi xin gửi tình thương tới các bạn, khi chúng tôi miệt mài đến khuya và sang tận những giờ đầu ngày—bà ấy làm điều đó tốt hơn tôi—cố gắng mang thêm ánh sáng đến cho các bạn, đồng thời gia tăng ánh sáng trong tâm thức của chính mình; bởi nếu ánh sáng ấy không chân thật nơi người đang cố trao truyền, thì làm sao nó có thể hữu ích cho những người đón nhận? Xin gửi nhiều lời chúc lành và thật nhiều tình thương. Hẹn gặp lại các bạn, và chúng ta tiếp tục tiến bước.

Leave a Comment

Scroll to Top