DINA I · Bình giảng 2
[3] | [3] |
MY BROTHERS: | CÁC HUYNH ĐỆ CỦA TÔI: |
It is of importance that you realise that today something new is happening. There is the emergence of a new kingdom in nature, the fifth kingdom; this is the Kingdom of God on earth or the kingdom of souls. It is precipitating on earth and will be composed of those who are becoming group-conscious and who can work in group formation. This will be possible, because these people will have achieved a self-initiated perfection (even if relative in nature) and will be identified with certain group expansions of consciousness. It will also be because they have arrived at love of their fellowmen, just as they have loved themselves in the past. Think on this with clarity, my brothers, and grasp, if you can, the full significance of this last sentence. | [3] Điều quan trọng là các bạn nhận ra rằng ngày nay đang có một điều mới mẻ diễn ra. Một giới mới trong thiên nhiên đang xuất hiện, giới thứ năm; đây là Thiên Giới trên trần gian hay giới các linh hồn. Giới này đang ngưng tụ trên trần gian và sẽ gồm những người đang đạt đến tâm thức nhóm, có khả năng làm việc theo đội hình nhóm. Điều này sẽ khả thi vì những người ấy đã đạt được sự hoàn thiện do chính mình khởi xướng (dù sự hoàn thiện ấy có bản chất tương đối) và sẽ đồng hoá với những sự mở rộng tâm thức nhóm nhất định. Điều ấy cũng sẽ xảy ra vì họ đã đạt đến chỗ yêu thương đồng loại như đã từng yêu thương chính mình trong quá khứ. Hỡi các huynh đệ của Tôi, hãy suy nghĩ thật sáng tỏ về điều này và, nếu có thể, nắm bắt trọn vẹn thâm nghĩa của câu cuối cùng ấy. |
1. The Tibetan begins with the essential — the reason for which He and all the Masters are working and one of the main reasons for which the Christ is ‘Reappearing’. A major emergence is underway. | 1. Chân sư Tây Tạng bắt đầu bằng điều cốt yếu—lý do mà Ngài cùng tất cả các Chân sư đang làm việc, và một trong những lý do chính khiến Đức Christ đang ‘Tái Lâm’. Một sự xuất hiện trọng đại đang diễn ra. |
2. The fifth kingdom of nature, the kingdom of souls already exists, but it is the forthcoming precipitation of that kingdom on earth which is of moment. | 2. Giới thứ năm của thiên nhiên, giới của các linh hồn, đã hiện hữu, nhưng chính sự ngưng tụ sắp tới của giới ấy trên Trái Đất mới là điều có ý nghĩa trọng đại. |
3. Participation in that kingdom begins with the first initiation. Therefore, we can understand that the initiate of the first degree is becoming group conscious. One can be a member of that kingdom (though, perhaps, not a full member) before one is completely group conscious. | 3. Việc tham gia vào giới ấy bắt đầu từ lần điểm đạo thứ nhất. Do đó, chúng ta có thể thấu hiểu rằng điểm đạo đồ bậc một đang trở nên có tâm thức nhóm. Một người có thể là thành viên của giới ấy (dù có lẽ chưa phải là thành viên trọn vẹn) trước khi hoàn toàn có tâm thức nhóm. |
4. What is a “self-initiated perfection”? What is the self that initiates that perfection? The dedicated personality is certainly involved. Although the soul is constantly sending its streams of elevating energy to the personality, the personality must aspire towards soul-life and to the relative perfection that supervenes when the state of soul-infusion develops. | 4. Thế nào là một “sự hoàn thiện do chính mình khởi xướng”? Bản ngã nào khởi xướng sự hoàn thiện ấy? Chắc chắn phàm ngã tận hiến có dự phần. Dù linh hồn không ngừng gửi những dòng năng lượng nâng cao của nó đến phàm ngã, phàm ngã vẫn phải khát vọng hướng đến đời sống linh hồn và sự hoàn thiện tương đối nảy sinh khi trạng thái được linh hồn thấm nhuần phát triển. |
5. Perfection is another word for “completion”. If one’s soul nature is not a part of one’s personality demonstration, there is no completion. There is not even “integration”. | 5. Hoàn thiện là một từ khác để chỉ “sự hoàn tất”. Nếu bản chất linh hồn của một người không là một phần trong biểu hiện phàm ngã của người ấy, thì không có sự hoàn tất. Thậm chí còn chưa có “sự tích hợp”. |
6. What are the “expansions of consciousness” which characterize those who are members of the fifth kingdom? Perhaps one is the ability to ‘hold the group in the heart’. The group becomes strongly present in the individual’s consciousness; life is lived and decisions made with the group in heart and mind. | 6. Những “sự mở rộng tâm thức” nào là đặc trưng của các thành viên thuộc giới thứ năm? Có lẽ một trong số đó là khả năng ‘giữ nhóm trong tim’. Nhóm hiện diện mạnh mẽ trong tâm thức của cá nhân; người ấy sống và đưa ra quyết định với nhóm luôn ở trong tâm và trí. |
7. A key discriminator for those who would be members of this kingdom is to love one’s fellowman just as one has loved himself/herself in the past. | 7. Một tiêu chí phân biệt then chốt đối với những người muốn trở thành thành viên của giới này là yêu thương đồng loại của mình như đã từng yêu thương chính mình trong quá khứ. |
“Let the disciple search within the heart’s deep cave. If there the fire burns bright, warming his brother, yet heating not himself, the hour has come for making application to stand before the door”. (Rule I for Applicants) | “Hãy để đệ tử tìm kiếm trong hang sâu của trái tim. Nếu ngọn lửa nơi ấy cháy sáng, sưởi ấm huynh đệ của y mà không làm nóng chính y, thì giờ đã đến để thỉnh cầu được đứng trước cánh cửa.” (Quy luật I dành cho Những Người Thỉnh Nguyện) |
8. Life experience eventually transfers one’s focus to others and their welfare. Pain is the great sensitizer, and over millennia, the experience of pain makes it possible to feel what another feels (as if the feeling were one’s own). Pain ‘softens the Cancerian shell’, as it were. This participation in the energy states of another is the beginning of love. Selfishness “builds up a wall of separation”. The wall has to be broken so that the individual can participate in energy states outside his/her own ring-pass-not. | 8. Kinh nghiệm sống cuối cùng chuyển sự tập trung của mỗi người sang người khác và phúc lợi của họ. Đau khổ là tác nhân lớn làm tăng sự nhạy cảm, và qua hàng thiên niên kỷ, trải nghiệm đau khổ khiến con người có thể cảm nhận điều người khác cảm nhận (như thể cảm giác ấy là của chính mình). Có thể nói, đau khổ ‘làm mềm lớp vỏ Cự Giải’. Sự cùng dự phần vào các trạng thái năng lượng của người khác này là khởi đầu của tình thương. Tính ích kỷ “dựng lên một bức tường ngăn cách”. Bức tường phải bị phá vỡ để cá nhân có thể dự phần vào các trạng thái năng lượng bên ngoài vòng-giới-hạn của chính mình. |
“The selfish words, sent forth with strong intent, build up a wall of separation. Long time it takes to break that wall and so release the stored-up, selfish purpose. See to thy motive, and seek to use those words which blend the little life with the large purpose of the will of God. ” (Fifteen Counsels, TWM, 474) | “Những lời ích kỷ, phát ra với ý định mạnh mẽ, dựng lên một bức tường ngăn cách. Phải mất nhiều thời gian mới phá vỡ được bức tường ấy và nhờ đó giải phóng mục đích ích kỷ đã tích tụ. Hãy xem xét động cơ của ngươi, và tìm cách dùng những lời hòa quyện sự sống nhỏ bé với mục đích rộng lớn của Ý Chí của Thượng Đế. ” (Mười Lăm Lời Khuyên, Luận về Chánh Thuật, 474) |
9. For those who are ready to enter the fifth kingdom, ego boundaries have been challenged — penetrated, melted, shattered, vaporized, even pulverized (the work of certain great trans-Saturnian planets). The candidate for the fifth kingdom no longer lives unto himself alone. | 9. Đối với những người đã sẵn sàng bước vào giới thứ năm, các ranh giới phàm ngã đã chịu thử thách — bị xuyên thủng, làm tan chảy, đập vỡ, hóa hơi, thậm chí nghiền nát (công việc của một số hành tinh lớn nằm ngoài quỹ đạo Sao Thổ). Ứng viên vào giới thứ năm không còn chỉ sống cho riêng mình. |
10. Understanding the New Discipleship is or real importance. DK’s teachings on this subject were second in importance only to His teachings on Shamballa. (R&I 251) | 10. Việc thấu hiểu Địa Vị Đệ Tử Mới có tầm quan trọng thực sự. Giáo huấn của Chân sư DK về chủ đề này chỉ đứng sau giáo huấn của Ngài về Shamballa về tầm quan trọng. (Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, 251) |
11. A new method of spiritual approach is being enunciated. We wish to avail ourselves of the opportunity being offered — do we not? | 11. Một phương pháp tiếp cận tinh thần mới đang được trình bày. Chúng ta muốn tận dụng cơ hội đang được trao cho mình — phải vậy không? |
Their work will largely be to summarise and make effective the work of those two great Sons of God, the Buddha and the Christ. As you know, One of Them brought illumination to the world and embodied the principle of wisdom, and the Other brought love to the world and embodied in Himself a great cosmic principle — the principle of love. | Công việc của họ phần lớn sẽ là tổng hợp và làm cho công trình của hai người Con vĩ đại của Thượng đế, Đức Phật và Đức Christ, phát huy hiệu quả. Như các bạn biết, một trong hai Ngài đã đem sự soi sáng đến cho thế giới và hiện thân cho nguyên khí minh triết; Ngài kia đã đem tình thương đến cho thế giới và hiện thân nơi chính mình một nguyên khí vũ trụ vĩ đại—nguyên khí bác ái. |
1. Those who are presently entering the fifth kingdom of nature have as their exemplars the Christ and the Buddha — the two great Brothers Who, together, reflect the Love-Wisdom nature of both our Planetary Logos and (to a much lesser degree) our Solar Logos. | 1. Những người hiện đang bước vào giới thứ năm trong thiên nhiên lấy Đức Christ và Đức Phật làm gương mẫu — hai Huynh đệ vĩ đại cùng nhau phản ánh bản chất Bác Ái – Minh Triết của cả Hành Tinh Thượng đế chúng ta lẫn Thái dương Thượng đế chúng ta (ở mức độ thấp hơn nhiều). |
2. The modern disciple, then, must be familiar with the work of these two great Sons of God. He/she must know at least the essence of that work, and, as it were, summarize that essence in his/her approach to living. | 2. Vì vậy, người đệ tử hiện đại phải am hiểu công việc của hai Người Con vĩ đại này của Thượng đế. Người đệ tử ấy ít nhất phải biết tinh túy của công việc ấy và, có thể nói, thể hiện cô đọng tinh túy đó trong cách sống của mình. |
3. The Buddha is the “Lord of Light” and conveys “Mind-Wisdom”. His planet is Mercury. | 3. Đức Phật là “Chúa Tể Ánh Sáng” và truyền đạt “Trí Tuệ – Minh Triết”. Hành tinh của Ngài là Sao Thủy. |
4. The Christ is the “Lord of Love” and conveys “Love-Wisdom”. His planet is Venus. | 4. Đức Christ là “Chúa Tể Bác Ái” và truyền đạt “Bác Ái – Minh Triết”. Hành tinh của Ngài là Sao Kim. |
5. The Buddha experienced a touch of the cosmic mental plane — a feat almost inconceivable to the normal human consciousness. | 5. Đức Phật đã trải nghiệm một thoáng tiếp xúc với cõi trí vũ trụ — một thành tựu gần như không thể hình dung đối với tâm thức con người thông thường. |
6. The Christ was the embodiment of the cosmic principle of Love. | 6. Đức Christ là hiện thân của nguyên khí Bác Ái vũ trụ. |
7. We see, therefore, that both were channels for types of energy which originated ‘above’ and ‘beyond’ the cosmic physical plane. Thus Their extraordinary impact on world affairs and humanity, in particular. | 7. Do đó, chúng ta thấy cả hai Ngài đều là những kênh dẫn cho các loại năng lượng bắt nguồn từ ‘bên trên’ và ‘vượt ngoài’ cõi hồng trần vũ trụ. Vì thế, Các Ngài có ảnh hưởng phi thường đến các sự vụ thế giới và đặc biệt là nhân loại. |
How can the effectiveness of Their work be brought about? The process will follow three lines: | Làm thế nào để công trình của Các Ngài phát huy hiệu quả? Tiến trình ấy sẽ theo ba đường hướng: |
1. Individual effort, made by the individual disciple, using the technique of detachment, of dispassion and of discrimination which the Buddha taught. | 1. Nỗ lực cá nhân do từng đệ tử thực hiện, sử dụng kỹ thuật tách rời, dứt bỏ đam mê và phân biện mà Đức Phật đã dạy. |
2. Group initiation, made possible by the self-initiated effort of individual disciples, following out the injunctions of the Christ and leading to a complete subordination of the personality and of the unit to group interest and group good [4]. | 2. Điểm đạo nhóm, có thể thành tựu nhờ nỗ lực do từng đệ tử tự khởi xướng, tuân theo những lời huấn thị của Đức Christ và dẫn đến việc phàm ngã cùng đơn vị cá nhân hoàn toàn phục tùng lợi ích và điều tốt lành của nhóm. |
3. Group endeavour, carried forward as a group, to love all beings and to apprehend and understand the true significance of the Aquarian technique of group love and work. | 3. Nỗ lực nhóm, được thực hiện với tư cách một nhóm, nhằm yêu thương mọi sinh linh, lĩnh hội và thấu hiểu thâm nghĩa đích thực của kỹ thuật yêu thương và làm việc theo nhóm trong thời đại Bảo Bình. |
1. It is not that humanity does not know what is to be done. It is simply that there has been a cleavage between knowledge and performance. This cleavage must at last be overcome by the modern disciple. | 1. Không phải nhân loại không biết điều cần làm. Chỉ đơn giản là đã có một khoảng cách giữa tri thức và thực hành. Cuối cùng, người đệ tử hiện đại phải vượt qua khoảng cách này. |
2. If, in the Aquarian Age, the combined Ways of the Buddha and the Christ are instituted, that Age will have been a spiritual success. The culture of the Aquarian Age must be made to express the major quality of these two great Exemplars — Love and Wisdom. | 2. Nếu trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, các Con Đường kết hợp của Đức Phật và Đức Christ được thiết lập, thì Kỷ Nguyên ấy sẽ thành công về mặt tinh thần. Phải làm cho nền văn hóa của Kỷ Nguyên Bảo Bình biểu lộ phẩm tính chủ yếu của hai Đấng Gương Mẫu vĩ đại này — Bác Ái và Minh Triết. |
3. How shall Their work be rendered effective? | 3. Làm thế nào để công việc của Các Ngài phát huy hiệu quả? |
a. Individual effort. The Buddha taught “self-reliance” and emphasized it decisively in His “Last Sermon”. The “three D’s” which the Buddha taught led to the spiritual preparation of the individual for accepted discipleship: dispassion in relation to the emotional body, discrimination in relation to the mental body, and detachment in relation to the entire personality. Discipline (for the physical body) and decentralization, again for the entire personality, might also be added. | a. Nỗ lực cá nhân. Đức Phật dạy “tự lực” và nhấn mạnh điều ấy một cách dứt khoát trong “Bài Thuyết Pháp Cuối Cùng”. “Ba điều bắt đầu bằng chữ D” mà Đức Phật đã dạy dẫn đến sự chuẩn bị tinh thần của cá nhân cho địa vị đệ tử được chấp nhận: không đam mê đối với thể cảm xúc, phân biện đối với thể trí, và tách rời đối với toàn bộ phàm ngã. Cũng có thể thêm vào kỷ luật (đối với thể xác) và phi tập trung vào bản thân, một lần nữa đối với toàn bộ phàm ngã. |
b. Successful individual effort leads to the possibility of participating correctly in the process of group initiation. Unless the members of a group which is a candidate for initiation are, themselves, self-motivated and self-propelling disciples, group initiation is not possible, for a real group could not exist. Such a group requires the participation of strong individuals who are willing to subordinate their individual strength to group good, without vitiating that strength. | b. Nỗ lực cá nhân thành công dẫn đến khả năng tham gia đúng đắn vào tiến trình điểm đạo nhóm. Trừ khi chính các thành viên của một nhóm ứng viên điểm đạo là những đệ tử có động lực và sức thúc đẩy từ bên trong, điểm đạo nhóm không thể xảy ra, vì một nhóm thực sự sẽ không thể tồn tại. Một nhóm như vậy đòi hỏi sự tham gia của những cá nhân mạnh mẽ sẵn lòng đặt sức mạnh cá nhân của mình dưới điều thiện của nhóm mà không làm suy yếu sức mạnh ấy. |
c. Notice that the Tibetan calls for “complete” subordination of the personality to group interest and group good. The requirements are uncompromising, and many will be the tests on the way to perfection. Members of the Hierarchy have achieved this kind of subordination. A refined sense of values (soul values) is required if the personality or unit is to willingly consent to such subordination. | c. Hãy lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng kêu gọi đặt phàm ngã “hoàn toàn” dưới lợi ích và điều thiện của nhóm. Những yêu cầu này không chấp nhận sự thỏa hiệp, và trên con đường đi đến sự hoàn thiện sẽ có nhiều thử thách. Các thành viên của Thánh đoàn đã đạt được sự phục tùng như thế. Cần có một ý thức tinh tế về các giá trị (các giá trị linh hồn) để phàm ngã hay đơn vị cá nhân sẵn lòng chấp thuận sự phục tùng ấy. |
d. The group works as a group. It moves forward in love (the love of all beings). Group love and (real) group work are completely interdependent. It is impossible to have one without the other — at least not in spiritual groups. | d. Nhóm hoạt động với tư cách một nhóm. Nhóm tiến lên trong tình thương (tình thương dành cho mọi sinh linh). Tình thương nhóm và công việc nhóm (đích thực) hoàn toàn phụ thuộc lẫn nhau. Không thể có điều này mà thiếu điều kia — ít nhất là trong các nhóm tinh thần. |
e. Group endeavor could be carried forward by individuals. Older types of groups have done this. Such individual spoke for the entire group and mobilized the entire group according to their will. Therefore, it is important that group endeavor be carried forward “as a group”. This means an end to crude forms of unilateralism, acting, instead, with the other members of the group in mind and heart. At least the imagined presence of all group members will be present in any significant decision. This does not necessarily mean that every little matter will be discussed in person, but that the one who must decide will do so as if the others were part of the decision. Such an attitude will temper individualism. | e. Nỗ lực nhóm có thể do các cá nhân thực hiện. Các loại nhóm trước đây đã làm như vậy. Những cá nhân như thế lên tiếng thay cho toàn nhóm và huy động toàn nhóm theo ý chí của mình. Do đó, điều quan trọng là nỗ lực nhóm phải được thực hiện “với tư cách một nhóm”. Điều này có nghĩa là chấm dứt những hình thức đơn phương thô thiển, thay vào đó hành động với các thành viên khác của nhóm trong tâm trí và trái tim mình. Trong bất kỳ quyết định quan trọng nào, ít nhất sự hiện diện trong hình dung của mọi thành viên nhóm sẽ hiện hữu . Điều này không nhất thiết có nghĩa là mọi chuyện nhỏ đều phải được thảo luận trực tiếp, mà là người phải quyết định sẽ làm như vậy như thể những người khác cùng tham gia vào quyết định ấy. Một thái độ như thế sẽ điều hòa chủ nghĩa cá nhân. |
I have felt that a linking up of your minds in connection with the work of the Buddha and of the Christ might serve a useful purpose and give you all a glimpse and an indication of Their two systems of unfoldment — one preparatory to accepted discipleship and the other to initiation — which would be sequential and inter-related. The synthesis of Their work is easily seen by us who work with a fuller vision and a less impeded outlook than is as yet possible to you. | Tôi cảm thấy rằng việc liên kết thể trí của các bạn quanh công trình của Đức Phật và Đức Christ có thể phục vụ một mục đích hữu ích, đồng thời giúp tất cả các bạn thoáng thấy và nhận được một chỉ dẫn về hai hệ thống khai mở của Các Ngài—một hệ thống chuẩn bị cho địa vị đệ tử được chấp nhận và hệ thống kia chuẩn bị cho điểm đạo—vốn sẽ nối tiếp và liên hệ với nhau. Chúng tôi, những người làm việc với tầm nhìn đầy đủ hơn và cách nhìn ít bị cản trở hơn mức hiện nay các bạn có thể đạt tới, dễ dàng thấy được sự tổng hợp trong công trình của Các Ngài. |
1. The Masters must certainly deplore the way in which so many Christians and Buddhists perceive their religions as entirely different from each other and, even, opposed. | 1. Các Chân sư hẳn phải lấy làm tiếc trước cách rất nhiều tín đồ Kitô giáo và Phật giáo xem tôn giáo của mình hoàn toàn khác biệt, thậm chí đối lập với tôn giáo kia. |
2. The Great Brothers of the East and West function in the closest unity, and work as if one. | 2. Các Huynh đệ Vĩ đại của phương Đông và phương Tây hoạt động trong sự hợp nhất mật thiết nhất và làm việc như một. |
3. It is clear that, in the new discipleship, the ways and systems of the Buddha and the Christ are to be linked as if they were part of One Great Work, which, indeed, they are. | 3. Rõ ràng, trong địa vị đệ tử mới, các con đường và hệ thống của Đức Phật và Đức Christ phải được kết nối như thể chúng là những phần của Một Công Việc Vĩ Đại, mà quả thực chúng chính là như vậy. |
4. To link the East and West through an appreciation of the interrelated work of the Buddha and the Christ is an act of religio-philosophical inclusion suitable to Aquarian consciousness. | 4. Kết nối phương Đông và phương Tây qua việc trân trọng công việc tương liên của Đức Phật và Đức Christ là một hành động bao gồm về mặt tôn giáo và triết học, phù hợp với tâm thức Bảo Bình. |
5. Can we understand how the Buddha’s work was preparatory to accepted discipleship and the Christ’s, to initiation? Naturally, those who worked closely with the Buddha also took initiation, and some who followed the Christ’s way found themselves stepping on the path of accepted discipleship. But the principle of the statement is correct. | 5. Chúng ta có thể thấu hiểu công việc của Đức Phật đã chuẩn bị cho địa vị đệ tử được chấp nhận, còn công việc của Đức Christ chuẩn bị cho điểm đạo như thế nào không? Dĩ nhiên, những người làm việc gần gũi với Đức Phật cũng được điểm đạo, và một số người đi theo con đường của Đức Christ nhận thấy mình đang bước trên con đường dẫn đến địa vị đệ tử được chấp nhận. Nhưng về nguyên tắc, phát biểu ấy là đúng. |
6. A simple way of understanding the two systems is that the Buddha’s Teaching led to an ability to detach from a desire for “life in the three worlds”. Once that detachment was in place, it became possible to “give all” under the injunction of the Christ, Who taught service to the world through complete sacrifice. This complete giving leads directly to initiation. | 6. Một cách đơn giản để thấu hiểu hai hệ thống là Giáo Huấn của Đức Phật dẫn đến khả năng tách rời khỏi dục vọng về “sự sống trong ba cõi giới”. Một khi đã có sự tách rời ấy, con người có thể “hiến dâng tất cả” theo huấn thị của Đức Christ, Đấng đã dạy phụng sự thế gian qua sự hi sinh trọn vẹn. Sự hiến dâng trọn vẹn này dẫn thẳng đến điểm đạo. |
7. One gathers that the Tibetan is preparing the way for the New World Religion which will emphasize both the Buddha’s and the Christ’s approaches. | 7. Có thể hiểu rằng Chân sư Tây Tạng đang chuẩn bị con đường cho Tân Tôn Giáo Thế Giới, vốn sẽ nhấn mạnh cả hai cách tiếp cận của Đức Phật và Đức Christ. |
I am, therefore, dividing my disciples into groups so that they may work on different aspects of the Plan, and also laying the ground for group work which will greatly help the individual but which will also — above everything else — forward the work of the New Age. | Do đó, Tôi đang chia các đệ tử của mình thành những nhóm để họ có thể làm việc trên những phương diện khác nhau của Thiên Cơ, đồng thời đặt nền móng cho công việc nhóm sẽ giúp ích rất nhiều cho từng cá nhân nhưng cũng—trên hết—thúc đẩy công việc của Kỷ Nguyên Mới. |
1. Here the Tibetan speaks of His plan to divide His students into the “groups-of-nine”, although in this reference He is not explicit about exact numbers within the intended groups nor about the details of their functioning. | 1. Ở đây, Chân sư Tây Tạng nói về kế hoạch chia các đạo sinh của Ngài thành “các nhóm chín người”, mặc dù trong đoạn này Ngài không nói rõ số lượng chính xác trong các nhóm dự kiến, cũng như chi tiết về cách hoạt động của họ. |
2. The Tibetan’s plan (only partially fulfilled) was to form a number of “groups-of-nine” — perhaps only seven, but perhaps ten. | 2. Kế hoạch của Chân sư Tây Tạng (chỉ được thực hiện một phần) là thành lập một số “nhóm chín người” — có lẽ chỉ bảy nhóm, nhưng cũng có lẽ là mười nhóm. |
3. These groups of nine would focus on the familiar seed-group areas of service: | 3. Những nhóm chín người này sẽ tập trung vào các lĩnh vực phụng sự quen thuộc của nhóm hạt giống: |
a. Telepathy | a. Viễn cảm |
b. Glamor | b. Ảo cảm |
c. Healing | c. Trị liệu |
d. Education | d. Giáo dục |
e. Politics | e. Chính trị |
f. Religion | f. Tôn giáo |
g. Science | g. Khoa học |
h. Psychology | h. Tâm lý học |
i. Economics | i. Kinh tế học |
j. Creative Manifestation | j. Biểu hiện Sáng tạo |
4. It may have been the intention to form the last three seed-groups from those who were participating in the first seven. We cannot be sure. Probably group eight and nine would have had nine members, and group ten, perhaps twenty-seven members, drawing three from each of the previous nine groups of nine. . | 4. Có thể ý định là thành lập ba nhóm hạt giống cuối cùng từ những người đang tham gia bảy nhóm đầu tiên. Chúng ta không thể chắc chắn. Có lẽ nhóm tám và nhóm chín mỗi nhóm sẽ có chín thành viên, còn nhóm mười có lẽ có hai mươi bảy thành viên, lấy ba người từ mỗi nhóm trong chín nhóm chín người trước đó. . |
5. These groups were intended to result in four types of benefit: | 5. Những nhóm này được dự định sẽ mang lại bốn loại lợi ích: |
a. individual benefit for the group participants | a. lợi ích cá nhân cho những người tham gia nhóm |
b. benefit for those the group served | b. lợi ích cho những người mà nhóm phụng sự |
c. benefit for the group as a group. | c. lợi ích cho nhóm với tư cách một nhóm. |
d. benefit for humanity as a whole | d. lợi ích cho toàn thể nhân loại |
However, the main purpose of these three was, as will be clear, a group purpose, and was intended to have a role in forwarding the work of the New Age. | Tuy nhiên, như sẽ thấy rõ, mục đích chính của ba điều này là mục đích nhóm, và nhằm giữ một vai trò trong việc thúc đẩy công việc của Kỷ Nguyên Mới. |
6. The first volume of the discipleship books — Discipleship in the New Age, Vol. I, deals with the work done while the groups-of-nine were extant. They were disbanded in 1940 prior to reorganization under different groupings. | 6. Tập đầu tiên của bộ sách về địa vị đệ tử — Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I, bàn đến công việc đã thực hiện khi các nhóm chín người còn tồn tại. Các nhóm này giải thể vào năm 1940 trước khi được tổ chức lại theo những cách phân nhóm khác. |
It is, therefore, my intention to write a little in detail in connection with these groups. My time is very limited and I shall have to put a great deal of information into these talks and into any individual instructions which I may be led to give (probably at widely separated intervals) to my disciples. I am not basically writing for any of you at all but in order to lay the foundation for the group work to be done in the world during the coming years. What I say should be read with care, for the written word may contain several meanings and these can be sensed, according to the intuition — awakened or otherwise — of the aspirant. | Vì vậy, Tôi có ý định viết đôi điều chi tiết về những nhóm này. Thời gian của Tôi rất hạn hẹp, và Tôi sẽ phải đưa rất nhiều thông tin vào những bài nói chuyện này cũng như vào bất kỳ huấn thị cá nhân nào mà Tôi có thể thấy cần trao cho các đệ tử của mình (có lẽ cách nhau những khoảng thời gian rất dài). Về căn bản, Tôi không viết riêng cho bất cứ ai trong các bạn, mà để đặt nền móng cho công việc nhóm sẽ được thực hiện trên thế giới trong những năm tới. Cần đọc kỹ những điều Tôi nói, vì lời văn có thể hàm chứa nhiều ý nghĩa, và người chí nguyện có thể cảm nhận những ý nghĩa ấy tùy theo trực giác của mình—dù đã thức tỉnh hay chưa. |
1. The Tibetan states His intention to write about the groups which would come to be known as the “Seed Groups”. | 1. Chân sư Tây Tạng nêu ý định viết về các nhóm về sau sẽ được biết đến với tên gọi “Các Nhóm Hạt Giống”. |
2. One can only imagine what the ‘schedule’ of a Master would be like. If He says His time is very limited He means it. We have to remember the historical period in which the DINA experiment occurred; it took place in the years prior to the outset of World War II. From the Masters’ perspective, the imminent danger could already be seen. DK was, thus, writing to these students at a time of gathering world crisis when the masters were doing everything possible to prevent world disaster. Nevertheless, Master DK took time from His pressing schedule to attend to the relatively unimportant task of writing to a group of disciples whom He had accepted. He did this for the sake of their future group usefulness, not for their welfare as personalities. | 2. Người ta chỉ có thể hình dung ‘lịch làm việc’ của một Chân sư sẽ như thế nào. Nếu Ngài nói thời gian của Ngài rất hạn hẹp thì đúng là như vậy. Chúng ta phải nhớ đến giai đoạn lịch sử diễn ra cuộc thử nghiệm Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới; đó là những năm trước khi Chiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ. Từ góc nhìn của các Chân sư, đã có thể thấy mối nguy hiểm cận kề. Như vậy, Chân sư DK viết cho những đạo sinh này vào lúc cuộc khủng hoảng thế giới đang tích tụ, khi các Chân sư đang làm mọi điều có thể để ngăn chặn thảm họa thế giới. Tuy nhiên, Chân sư DK vẫn dành thời gian trong lịch làm việc dồn dập của Ngài để lo việc tương đối ít quan trọng là viết cho một nhóm đệ tử mà Ngài đã chấp nhận. Ngài làm điều này vì khả năng hữu ích của họ trong công việc nhóm tương lai, chứ không vì phúc lợi của họ với tư cách các phàm ngã. |
3. A Master is capable of conveying much in little. This is one way to economize on time. | 3. Một Chân sư có khả năng truyền đạt nhiều điều qua ít lời. Đây là một cách tiết kiệm thời gian. |
4. His words to his disciples are immediately decentralizing. They are told that the Master is not writing for any of them, really, but for larger purposes. The potentials for glamorous response were considerable, and Master DK seeks always to offset such a possibility. He begins the group approach immediately. | 4. Những lời Ngài nói với các đệ tử lập tức giúp họ phi tập trung vào bản thân. Ngài cho họ biết rằng thực ra Chân sư không viết cho riêng bất kỳ ai trong số họ, mà vì những mục đích lớn lao hơn. Khả năng xuất hiện những đáp ứng mang ảo cảm là đáng kể, và Chân sư DK luôn tìm cách hóa giải khả năng ấy. Ngài lập tức bắt đầu cách tiếp cận nhóm. |
5. Here, He gives sound advice concerning how to read a Master’s words — with care. The Master is fully aware of the several levels of interpretation of His words that may be possible. In fact, He is consciously writing for several levels of apprehension simultaneously. | 5. Ở đây, Ngài đưa ra lời khuyên xác đáng về cách đọc những lời của một Chân sư — một cách cẩn trọng. Chân sư hoàn toàn biết rõ có thể có nhiều cấp độ diễn giải những lời của Ngài. Thực ra, Ngài chủ ý viết đồng thời cho nhiều cấp độ lĩnh hội. |
6. He challenges His students to use their intuition if they are to get the most out of what He may say. | 6. Ngài thách thức các đạo sinh của mình sử dụng trực giác nếu muốn thu nhận được nhiều nhất từ những điều Ngài có thể nói. |
I, your Tibetan Brother, am supposing upon the part of each of my disciples, one basic essential at least and that is a persevering earnestness which nothing will deter. Each of you starts upon this work with certain fundamental characteristics; each of you is beginning this definite enterprise of training for initiation with certain defects which act as deterrents and as handicaps; each of you has been recognised by his light and for his potentialities and with these we must perforce do the best we can. Note, therefore, the difficult problem confronting Those Who are guiding world evolution and looking for those who can aid in Their work [5]. | Tôi, người huynh đệ Tây Tạng của các bạn, giả định rằng mỗi đệ tử của Tôi ít nhất cũng có một phẩm chất thiết yếu căn bản: lòng nhiệt thành bền bỉ mà không điều gì có thể làm nản chí. Mỗi người trong các bạn bắt đầu công việc này với những đặc điểm căn bản nhất định; mỗi người bắt đầu công cuộc huấn luyện cụ thể để chuẩn bị cho điểm đạo này với những khuyết điểm nhất định gây trở ngại và cản trở; mỗi người đã được nhận biết qua ánh sáng và những tiềm năng của mình, và với những điều ấy, chúng ta buộc phải làm hết sức có thể. Vì vậy, hãy lưu ý vấn đề khó khăn mà các Đấng đang hướng dẫn sự tiến hoá của thế giới và tìm kiếm những người có thể trợ giúp công việc của Các Ngài phải đối diện. |
1. In a factual manner, Master DK points to the sina qua non of the training He is proposing to give — “a persevering earnestness which nothing will deter”. At the very least, those in His groups must not give up. Of course, a number of them did precisely that, and some few were discontinued by DK and AAB. | 1. Một cách thực tế, Chân sư DK chỉ ra điều kiện không thể thiếu của sự huấn luyện mà Ngài dự định trao cho — “lòng nhiệt thành bền bỉ mà không gì có thể làm thoái chí”. Ít nhất, những người trong các nhóm của Ngài phải không bỏ cuộc. Dĩ nhiên, một số người trong họ đã làm đúng điều ấy, và một số ít đã được Chân sư DK và Bà AAB cho ngừng tham gia. |
2. DK is nothing if not realistic in His assessment of His students’ abilities and liabilities. He studies their character — probably for hours (though at a distance, and not just once, but, perhaps, every time He has writes them a letter). He knows somewhat the kind of responses He may expect. He sees their light, its potential and promise; He also sees their defects and, really, is far more aware of such defects than the students are. So often we are blind to our own liabilities, more easily seen by another — especially by a Master of the Wisdom. | 2. Chân sư DK hết sức thực tế khi đánh giá những khả năng và nhược điểm của các đạo sinh của Ngài. Ngài nghiên cứu tính cách của họ — có lẽ hàng giờ liền (dù từ xa, và không chỉ một lần, mà có lẽ mỗi lần Ngài viết thư cho họ). Ngài biết phần nào những loại đáp ứng mà Ngài có thể trông đợi. Ngài thấy ánh sáng của họ, tiềm năng và triển vọng của ánh sáng ấy; Ngài cũng thấy các khuyết điểm của họ và thực sự biết rõ những khuyết điểm ấy hơn các đạo sinh rất nhiều. Chúng ta rất thường không thấy những nhược điểm của chính mình, trong khi người khác dễ thấy chúng hơn — đặc biệt là một Chân sư Minh Triết. |
3. He knows He faces no easy task. The ‘material’ with which He has to work is what it is, and with it, He will do the best he can. | 3. Ngài biết mình đang đối diện một nhiệm vụ không hề dễ dàng. ‘Chất liệu’ mà Ngài phải làm việc cùng vốn là như vậy, và với chất liệu ấy, Ngài sẽ làm hết sức có thể. |
4. The Tibetan, no doubt, “looked up” a number of significant past lives of His proposed group members. Perhaps He, Himself, was present in those lives (for He so often addresses the disciples as “Brother of Old”) and readily remembered what was significant. In any case, it would be necessary for Him to evaluate whether the spiritual potentials of his would-be disciples outweighed their liabilities. Probably, if He felt this were not the case, He would not have invited these disciples to become participants in His outer groups. Probably, in some cases He gave a disciple the benefit of the doubt, realizing that, for the spirit, anything is possible, and a new level of functioning could possibly be reached, however improbable it might seem. | 4. Chắc hẳn Chân sư Tây Tạng đã “tra cứu” một số kiếp sống quá khứ quan trọng của những người Ngài dự định đưa vào nhóm. Có lẽ chính Ngài đã hiện diện trong những kiếp sống ấy (vì Ngài rất thường gọi các đệ tử là “Huynh Đệ của Ngày Xưa”) và dễ dàng nhớ lại những điều quan trọng. Dù sao, Ngài cũng cần đánh giá xem các tiềm năng tinh thần của những người có thể trở thành đệ tử của Ngài có lớn hơn những nhược điểm của họ hay không. Có lẽ, nếu Ngài cảm thấy điều này không đúng, Ngài đã không mời những đệ tử ấy tham gia các nhóm bên ngoài của Ngài. Có lẽ trong một số trường hợp, Ngài đã tin tưởng dành cho một đệ tử cơ hội dù còn nghi ngại, vì nhận ra rằng đối với tinh thần, mọi điều đều có thể, và một cấp độ hoạt động mới có thể có khả năng đạt tới, dù điều ấy dường như khó xảy ra đến đâu. |
5. The Tibetan’s remarks may have produced in some of His students an attitude of humility; that would have been a desirable response. It is always a good sign when a disciple appreciates (at least a little) the problem with which his/her Master is confronted. | 5. Những nhận xét của Chân sư Tây Tạng có thể đã khơi dậy thái độ khiêm nhường nơi một số đạo sinh của Ngài; đó hẳn là một đáp ứng đáng mong muốn. Luôn là một dấu hiệu tốt khi một đệ tử nhận thức được (ít nhất đôi chút) vấn đề mà Chân sư của mình đang đối diện. |
6. It is only a developed sense of spiritual values which will see the disciple through, as the many inevitable difficulties involved in such training descend. Venus (for values) and Vulcan (for persistence) are both required. We can see that Taurus (the sign of Wisdom and Enlightenment) must be involved in such training, and, indeed, it is the ruler of the New Group of World Servers. I have often suspected that the Tibetan’s astrology contains much Taurus (as well as Gemini — the “Messenger”). | 6. Chỉ một ý thức phát triển về các giá trị tinh thần mới giúp người đệ tử vượt qua khi nhiều khó khăn tất yếu trong sự huấn luyện như thế ập đến. Cả Sao Kim (về các giá trị) lẫn Vulcan (về sự kiên trì) đều cần thiết. Chúng ta có thể thấy Kim Ngưu (dấu hiệu của Minh Triết và Giác Ngộ) hẳn phải có liên quan đến sự huấn luyện như thế, và quả thực, đó là chủ tinh của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Tôi thường nghi rằng lá số chiêm tinh của Chân sư Tây Tạng có nhiều ảnh hưởng của Kim Ngưu (cũng như Song Tử — “Sứ Giả”). |
I will teach you. Whether or not you profit by the teaching is entirely your own affair; that is something that the disciples of the New Age need to learn. There is no such thing as occult obedience as usually taught by the current occult schools. In the olden days in the East, the Master exacted from His disciple that implicit obedience which actually made the Master responsible and placed upon His shoulders the destiny or the karma of the disciple. That condition no longer holds good. The intellectual principle in the individual is now too much developed to warrant this type of expectancy. Therefore, this condition no longer holds good. In the coming New Age, the Master is responsible for the offering of opportunity and for the right enunciation of the truth but for no more than that. In these more enlightened days, no such position is assumed by the teacher as in the past, and I do not assume it. I shall with frankness speak. I know my disciples, for no disciple is admitted into an Ashram without deep consideration on the part of the teacher. I shall convey by hint and symbol that which should be apprehended and it will be noted and understood by those among my disciples who have the opened, inner ear and true humility of heart. If it is not recognised, time will pursue its onward course and revelation will ultimately come. I exact, therefore, no blind obedience. But, however, if advice and suggestion are accepted and you choose — of your own free will — to follow my instructions, those instructions must be followed accurately. Also, there must be none of that constant looking for results and for phenomena which has deterred the course and the progress of many would-be disciples. | [5] Tôi sẽ giảng dạy các bạn. Các bạn có nhận được lợi ích từ giáo huấn ấy hay không hoàn toàn là việc của chính các bạn; đó là điều các đệ tử của Kỷ Nguyên Mới cần học. Không có cái gọi là sự vâng phục huyền bí như các trường phái huyền bí học hiện nay thường dạy. Ngày xưa ở phương Đông, Chân sư đòi hỏi đệ tử phải vâng phục tuyệt đối; điều đó thực sự khiến Chân sư phải chịu trách nhiệm và đặt vận mệnh hay nghiệp quả của người đệ tử lên vai Ngài. Điều kiện ấy không còn thích hợp nữa. Nguyên khí trí tuệ trong mỗi cá nhân hiện đã phát triển quá cao để có thể biện minh cho kiểu kỳ vọng này. Vì vậy, điều kiện ấy không còn thích hợp nữa. Trong Kỷ Nguyên Mới sắp đến, Chân sư chịu trách nhiệm đem lại cơ hội và trình bày chân lý đúng đắn, nhưng chỉ đến thế mà thôi. Trong thời đại sáng suốt hơn này, huấn sư không đảm nhận vị thế như trong quá khứ, và Tôi cũng không đảm nhận vị thế ấy. Tôi sẽ nói thẳng thắn. Tôi biết các đệ tử của mình, vì không một đệ tử nào được nhận vào một ashram mà không có sự cân nhắc sâu sắc của huấn sư. Tôi sẽ dùng gợi ý và biểu tượng để truyền đạt điều cần lĩnh hội, và những đệ tử nào của Tôi có nội nhĩ đã khai mở cùng lòng khiêm nhường chân thực sẽ nhận ra và thấu hiểu điều ấy. Nếu chưa nhận ra, thời gian vẫn tiếp tục trôi, và cuối cùng sự mặc khải sẽ đến. Do đó, Tôi không đòi hỏi sự vâng phục mù quáng. Tuy nhiên, nếu các bạn chấp nhận lời khuyên và gợi ý, rồi lựa chọn—theo ý chí tự do của chính mình—làm theo các huấn thị của Tôi, thì phải tuân theo những huấn thị ấy một cách chính xác. Cũng không được liên tục trông chờ kết quả và các hiện tượng, điều đã cản trở bước đường và sự tiến bộ của nhiều người muốn trở thành đệ tử. |
1. Master DK begins on a note or real frankness. He is always frank; that is undeniable. But at various moments (found in the personal instructions), He seems to soften His tone — always, so it would seem, purposefully. | 1. Chân sư DK mở đầu bằng một âm điệu thực sự thẳng thắn. Ngài luôn thẳng thắn; đó là điều không thể phủ nhận. Nhưng vào những lúc khác nhau (như thấy trong các huấn thị riêng), Ngài dường như làm dịu giọng — và dường như lúc nào cũng có chủ đích. |
2. Responsibility for progress is immediately placed upon the shoulders of the participating disciples. The purpose of doing so is to correct old and inapplicable ideas concerning obedience to the Master — and, therefore, dependence upon the Master. The Masters wish to see people become Masters, and, therefore, They must strengthen them rather than cultivate over-reliance. | 2. Trách nhiệm về sự tiến bộ lập tức được đặt lên vai các đệ tử tham gia. Mục đích của việc này là sửa lại những ý tưởng cũ và không còn thích hợp về sự tuân phục Chân sư — và do đó, về sự phụ thuộc vào Chân sư. Các Chân sư muốn thấy con người trở thành những Chân sư, vì thế Các Ngài phải củng cố sức mạnh nơi họ thay vì nuôi dưỡng sự lệ thuộc quá mức. |
3. DK clearly defines His responsibilities as compared with the kind of responsibility for students that Masters used to assume when working in older systems of training. He informs His students that He will not assume that kind of responsibility. His approach will be of a new order: new for Him and new for the disciples. | 3. Chân sư DK xác định rõ những trách nhiệm của Ngài so với loại trách nhiệm đối với môn sinh mà các Chân sư từng đảm nhận khi làm việc trong những hệ thống huấn luyện trước đây. Ngài cho các môn sinh biết rằng Ngài sẽ không đảm nhận loại trách nhiệm ấy. Cách tiếp cận của Ngài sẽ thuộc một kiểu mới: mới đối với Ngài và mới đối với các đệ tử. |
4. Master DK knows He is dealing with a more intelligent, independent type of disciple than existed in former days. He wishes to see that independence grow, accompanied by a new form of obedience — occult obedience — a willingness to obey the inner impulses of the soul at all costs. And of course, a willingness to follow the instructions of the Master with accuracy. | 4. Chân sư DK biết Ngài đang làm việc với một kiểu đệ tử thông minh và độc lập hơn những đệ tử thuở trước. Ngài muốn thấy tính độc lập ấy phát triển, đi kèm với một hình thức tuân phục mới — sự tuân phục huyền bí — sự sẵn lòng tuân theo những thôi thúc bên trong của linh hồn bằng mọi giá. Và dĩ nhiên, sự sẵn lòng làm theo các huấn thị của Chân sư một cách chính xác. |
5. He lets the disciples know that He knows them well, having studied them carefully. He tells something of how He will teach — through hint and symbol — which will require for understanding the “opened, inner ear and true humility of heart”. | 5. Ngài cho các đệ tử biết rằng Ngài hiểu rõ họ, vì đã nghiên cứu họ kỹ lưỡng. Ngài nói đôi điều về cách Ngài sẽ dạy — qua gợi ý và biểu tượng — mà để thấu hiểu sẽ cần có “nội nhĩ khai mở cùng lòng khiêm nhường chân thật”. |
6. There is no question but that Master DK is being firm here. He knows He may succeed; the experiment, however, may fail (as indeed, from one perspective, it did). But, as is characteristic of a second ray Master, He assures His disciples that even the liability of present non-recognition of that which He imparts, will give way someday to recognition and understanding. | 6. Không nghi ngờ gì, ở đây Chân sư DK tỏ ra kiên quyết. Ngài biết Ngài có thể thành công; tuy nhiên, cuộc thử nghiệm có thể thất bại (như thực tế đã xảy ra, xét từ một góc độ). Nhưng, đúng với đặc trưng của một Chân sư cung hai, Ngài bảo đảm với các đệ tử rằng ngay cả tình trạng bất lợi hiện thời là chưa nhận ra những điều Ngài truyền đạt, một ngày kia cũng sẽ nhường chỗ cho sự nhận biết và thấu hiểu. |
7. There is no question that the disciples gathered here will one day be enlightened. It is only a question of when. For the purposes of the immediate experiment it was hoped that the necessary enlightenment would come sooner rather than later. | 7. Không nghi ngờ gì, các đệ tử quy tụ nơi đây một ngày kia sẽ giác ngộ. Vấn đề chỉ là khi nào. Vì mục đích của cuộc thử nghiệm trước mắt, người ta hy vọng sự giác ngộ cần thiết sẽ đến sớm hơn là muộn. |
8. DK wants His students to follow His advice with accuracy. This is a reasonable expectation, as He knows so much of what is supposed to be accomplished and how, and they know so little. It became a disappointing fact that a number of these disciples did not follow the instruction He gave with accuracy; in fact, a number (at a certain point in the process) ceased doing the work he assigned and discontinued their work with Him altogether. He assured them, of course, that the Ashramic link remained inwardly unbroken. | 8. Chân sư DK muốn các môn sinh làm theo lời khuyên của Ngài một cách chính xác. Đây là một kỳ vọng hợp lý, vì Ngài biết rất nhiều về những gì cần hoàn thành và cách hoàn thành, còn họ biết rất ít. Một sự thật đáng thất vọng đã xuất hiện: một số đệ tử này đã không làm theo chính xác huấn thị Ngài ban; thực tế, một số người (vào một thời điểm nhất định trong tiến trình) đã ngừng làm công việc Ngài giao và hoàn toàn chấm dứt việc cộng tác với Ngài. Dĩ nhiên, Ngài bảo đảm với họ rằng mối liên kết ashram vẫn không đứt đoạn ở bên trong. |
9. The notes of freewill, truth and responsibility resound through this paragraph. The disciples are assumed to be mature men and women who do not have to be handled with “kid gloves”. This was the ideal, at least. Some, in fact, proved to be rather “thin-skinned” and oversensitive. It is amazing to see how Master DK functioned in such situations — so full of love and yet completely truthful and firm. | 9. Những âm điệu của ý chí tự do, chân lý và trách nhiệm vang lên xuyên suốt đoạn này. Các đệ tử được xem là những người nam và nữ trưởng thành, không cần phải đối xử một cách “quá nâng niu, dè dặt”. Ít nhất, đó là lý tưởng. Thực tế, một số người tỏ ra khá “dễ tự ái” và quá nhạy cảm. Thật đáng kinh ngạc khi thấy cách Chân sư DK hành xử trong những tình huống như vậy — tràn đầy tình thương mà vẫn hoàn toàn chân thật và kiên quyết. |
10. He closes the paragraph with the request that there be no searching for phenomena (psychic phenomena) as evidence of successful group work. Such phenomena pertain to the personality and not to the soul. He sounds a note of warning; interest in phenomena deters progress. As might be suspected, some did look for phenomena. One disciple was dismissed largely for pursuing this orientation — in his case, the orientation of an astral magician. | 10. Ngài kết thúc đoạn văn bằng lời yêu cầu đừng tìm kiếm các hiện tượng (hiện tượng thông linh) làm bằng chứng cho sự thành công của công việc nhóm. Những hiện tượng ấy thuộc về phàm ngã chứ không thuộc về linh hồn. Ngài cất lên một âm điệu cảnh báo; sự quan tâm đến các hiện tượng cản trở tiến bộ. Như có thể dự đoán, một số người quả đã tìm kiếm các hiện tượng. Một đệ tử đã bị cho rời nhóm chủ yếu vì theo đuổi khuynh hướng này — trong trường hợp của ông, đó là khuynh hướng của một nhà huyền thuật cảm dục. |
11. We can see Master DK laying out the principles by which the work would proceed. It is always good to be clear at the outset. An experiment unlike any that these individuals had ever attempted was about to commence. A clear statement of principles helps to prevent a reversion to the habitual. | 11. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK đề ra những nguyên khí mà công việc sẽ dựa vào đó để tiến hành. Rõ ràng ngay từ đầu luôn là điều tốt. Một cuộc thử nghiệm khác hẳn mọi điều những cá nhân này từng thử làm sắp bắt đầu. Việc trình bày rõ ràng các nguyên khí giúp ngăn ngừa sự quay về với lối quen thuộc. |
This is also for me an experiment, for those of us who are members of some degree of the Hierarchy are necessarily changing the old ways and adapting the old methods to the newer circumstances and to the advance of evolution. Many tried disciples and aspirants (should I have said “tired,” brother of mine, for I surmise that both words are true?) are to be subjected to experiments which will involve the application of the ancient rules in a modern way. Disciples in the olden days were the product of more peaceful times. The “chitta” (or mind-stuff as Patanjali calls it in his famous Book of Rules) was neither so highly developed nor was it tinctured by so [6] much thought or potentially so illumined. Today, knowledge is widespread and many, many people are already thinking for themselves. | Đối với Tôi, đây cũng là một cuộc thử nghiệm, vì những người trong chúng tôi thuộc một cấp bậc nào đó của Thánh đoàn tất yếu đang thay đổi những đường lối cũ và điều chỉnh các phương pháp cũ cho phù hợp với hoàn cảnh mới hơn cùng bước tiến của sự tiến hoá. Nhiều đệ tử và người chí nguyện đã qua thử thách (hỡi huynh đệ của Tôi, có lẽ Tôi nên nói là “mệt mỏi”, vì Tôi cho rằng cả hai cách nói đều đúng?) sẽ trải qua những thử nghiệm đòi hỏi áp dụng các quy luật cổ xưa theo cách hiện đại. Các đệ tử thời xưa là sản phẩm của những thời đại yên bình hơn. “Chất trí” (hay chất liệu của thể trí, như Patanjali gọi trong cuốn sách nổi tiếng về các quy luật của ông) chưa phát triển cao đến thế, cũng chưa nhuốm quá [6] nhiều tư tưởng hay có tiềm năng được soi sáng đến thế. Ngày nay, tri thức đã phổ biến rộng rãi, và rất nhiều người đã biết tự suy nghĩ. |
1. DK sounds the note of experimentation. To assume assured success would produce the wrong attitude in the participants. | 1. Chân sư DK cất lên âm điệu của sự thử nghiệm. Việc cho rằng chắc chắn sẽ thành công sẽ tạo ra thái độ sai lầm nơi những người tham gia. |
2. The Masters, ever seeking to adapt Plan to Purpose, utilize the experimental method. They are very Uranian in this respect. | 2. Các Chân sư, luôn tìm cách điều chỉnh Thiên Cơ cho phù hợp với Thiên Ý, sử dụng phương pháp thử nghiệm. Về phương diện này, Các Ngài mang đậm tính chất Sao Thiên Vương. |
3. We learn that the Hierarchy is attempting to employ new methods. If disciples have been sufficiently “tried” and tested, they might be chosen to participate in these methods. A little of the Master’s humor emerges here. He knows His “tried” disciples well enough to know that they are “tired” too! | 3. Chúng ta biết rằng Thánh đoàn đang cố gắng sử dụng những phương pháp mới. Nếu các đệ tử đã được “thử thách” và kiểm nghiệm đầy đủ, họ có thể được chọn để tham gia thực hành những phương pháp này. Một chút nét hài hước của Chân sư bộc lộ ở đây. Ngài hiểu rõ các đệ tử đã qua “thử thách” của mình đủ để biết rằng họ cũng “mệt mỏi” nữa! |
4. The note of so much of DK’s teaching is here sounded: an ancient teaching is given a modern presentation. Eastern esotericism is being adapted to the Western consciousness. | 4. Âm điệu xuyên suốt phần lớn giáo huấn của Chân sư DK vang lên ở đây: một giáo huấn cổ xưa được trình bày theo cách hiện đại. Huyền bí học phương Đông đang được điều chỉnh cho phù hợp với tâm thức phương Tây. |
5. DK recognizes the turbulence of the times — a factor which has militated against the successful growth of occultism in the West. The peace of the ancient East had its advantages but also its liabilities. In the West the mind has been assiduously cultivated and has presented an entirely different type of discipleship material to a Master willing to offer occult training. | 5. Chân sư DK nhận ra sự biến động của thời đại — một yếu tố đã cản trở sự phát triển thành công của huyền bí học ở phương Tây. Sự thanh bình của phương Đông cổ xưa có những ưu điểm nhưng cũng có những bất lợi. Ở phương Tây, trí tuệ đã được chuyên cần trau dồi, đem đến một nguồn đệ tử hoàn toàn khác cho một Chân sư sẵn lòng huấn luyện huyền bí. |
6. The potentials for the growth of occultism in the West are considerable — as are the complications. But, essentially, it is a good thing that people in the West are “thinking for themselves”. They will come closer to achieving the kind of self-exertion which the Path of Initiation requires. | 6. Tiềm năng phát triển của huyền bí học ở phương Tây rất đáng kể — và những phức tạp cũng vậy. Nhưng về cơ bản, việc người phương Tây “tự suy nghĩ” là một điều tốt. Họ sẽ tiến gần hơn đến việc đạt được sự tự nỗ lực mà Con Đường Điểm Đạo đòi hỏi. |
The material for discipleship with which the Masters have to deal and the type of person which has to be developed and led on towards illumination is of a higher quality and grade, if I may employ so inadequate a term. The experiment of changing methods and of implementing the new technique of group work has to be carried out, likewise, in the midst of the stress and strain of Western civilisation. This imposes on all chosen to participate in this work an undue effort, but if continuance is found possible and success ensues, it tempers the material to a finer degree of power. As has been said, the jungles of the Occident are of a different kind to those within the Eastern zone. They call for peace in turmoil; for power in fatigue; for persistence in spite of bad health; for understanding in spite of the clamour of Western life. Progress is, therefore, made in spite of, and not because of, existing conditions. For disciples, such as those I am now going to attempt to teach, there is no retiring from the world. There is no condition of physical peace and of quiet wherein the soul may be invoked and in which work — potent in results — may be achieved in the calm of silence and the rest of what the Hindu calls samadhi — complete detachment from the calls of the body and the emotions. The work has to go forward in clamour. The point of peace must be found in the midst of riot. Wisdom must be attained in the very midst of intellectual turmoil and the work of cooperation with the Hierarchy on the inner side of life must proceed amidst the devastating racket of modern life in the great cities. Such is your problem and such is my problem as I seek to aid you. | Chất liệu dành cho địa vị đệ tử mà các Chân sư phải xử lý, cũng như loại người cần được phát triển và dẫn dắt tiến đến sự soi sáng, đều có phẩm tính và trình độ cao hơn, nếu Tôi có thể dùng một từ không mấy thích đáng như thế. Tương tự, cuộc thử nghiệm thay đổi phương pháp và triển khai kỹ thuật mới về công việc nhóm phải diễn ra giữa những áp lực và căng thẳng của nền văn minh phương Tây. Điều này buộc tất cả những người được chọn tham gia công việc phải nỗ lực quá mức, nhưng nếu có thể tiếp tục và đạt thành công, nó sẽ tôi luyện chất liệu đến một mức độ mãnh lực tinh tế hơn. Như đã nói, những khu rừng rậm của phương Tây khác với những khu rừng ở phương Đông. Chúng đòi hỏi sự bình an giữa náo loạn; sức mạnh trong mệt mỏi; sự kiên trì bất chấp sức khỏe kém; sự thấu hiểu bất chấp tiếng huyên náo của đời sống phương Tây. Vì vậy, sự tiến bộ đạt được bất chấp những điều kiện hiện hữu, chứ không phải nhờ chúng. Với những đệ tử như những người mà giờ đây Tôi sẽ cố gắng giảng dạy, không có chuyện rút lui khỏi thế gian. Không có hoàn cảnh yên bình và tĩnh lặng về thể chất để khẩn cầu linh hồn, và để thực hiện công việc—đem lại kết quả mạnh mẽ—trong sự an tĩnh của im lặng cùng sự nghỉ ngơi của trạng thái mà người Ấn Độ gọi là đại định—hoàn toàn tách rời khỏi những đòi hỏi của thân thể và cảm xúc. Công việc phải tiếp tục giữa huyên náo. Phải tìm được điểm bình an giữa hỗn loạn. Phải đạt đến minh triết ngay giữa sự xáo động trí tuệ, và công việc hợp tác với Thánh đoàn ở phía bên trong của sự sống phải tiếp diễn giữa tiếng ồn ào tàn phá của đời sống hiện đại nơi các thành phố lớn. Đó là vấn đề của các bạn, và cũng là vấn đề của Tôi khi tìm cách trợ giúp các bạn. |
1. So, the “material” with which the Master has to work (note the objectivity in the use of the word “material”) is of a “higher quality and grade”. Thus, the potentials are considerable, for occultism is destined to move its focus from the East to the West. | 1. Vì vậy, “chất liệu” mà Chân sư phải làm việc cùng (hãy lưu ý tính khách quan trong cách dùng từ “chất liệu”) có “phẩm tính và cấp bậc cao hơn”. Do đó, tiềm năng rất đáng kể, vì huyền bí học có vận mệnh chuyển trọng tâm từ phương Đông sang phương Tây. |
2. The stress and strain of Western living, however, present a real difficulty. Again, great effort and “continuance” hold the solution to the problem. | 2. Tuy nhiên, những căng thẳng và áp lực của đời sống phương Tây tạo ra một khó khăn thực sự. Một lần nữa, nỗ lực lớn lao và sự “tiếp tục bền bỉ” chứa đựng lời giải cho vấn đề. |
3. Because the obstacles are greater in the West, the results may be more potent. | 3. Vì những trở ngại ở phương Tây lớn hơn, kết quả có thể mạnh mẽ hơn. |
4. DK acknowledges are there are “jungles” in both the East and the West. He names the qualities which are required for success in the ‘Western jungle’. | 4. Chân sư DK thừa nhận rằng có những “khu rừng rậm” ở cả phương Đông lẫn phương Tây. Ngài nêu những phẩm tính cần có để thành công trong ‘rừng rậm phương Tây’. |
5. As all of us are, to a degree, immersed in the ‘Western-jungle’, we can ponder the extent to which we are achieving or have achieved the requirements. One fact emerges — the environment will not assist the esoteric way of life. One has to make progress despite the environment. | 5. Vì tất cả chúng ta, ở một mức độ nào đó, đều đắm mình trong ‘rừng rậm phương Tây’, chúng ta có thể suy ngẫm xem mình đang đáp ứng hoặc đã đáp ứng những yêu cầu ấy đến mức nào. Một sự thật hiện rõ — môi trường sẽ không hỗ trợ lối sống huyền bí. Mỗi người phải tiến bộ bất chấp môi trường. |
6. Many of us may have been spiritually trained in relative seclusion during former centuries. That type of quiet, seclusion and removal from the world is no longer possible, and we should not expect it or long for it. The ‘game’ has changed. | 6. Nhiều người trong chúng ta có thể đã được huấn luyện tinh thần trong sự ẩn cư tương đối vào những thế kỷ trước. Kiểu yên tĩnh, ẩn cư và xa rời thế gian ấy không còn khả thi nữa, và chúng ta không nên kỳ vọng hay khao khát điều đó. ‘Cuộc chơi’ đã thay đổi. |
7. The West is said to have a ray four personality. Accordingly, we see the contradictions pile up. There must be achievement in the very midst of circumstances seemingly designed to vigorously resist that achievement. | 7. Người ta nói phương Tây có phàm ngã cung bốn. Theo đó, chúng ta thấy những mâu thuẫn chồng chất. Phải đạt thành tựu ngay giữa những hoàn cảnh dường như được tạo ra để chống lại mạnh mẽ chính thành tựu ấy. |
8. The Tibetan does not mince words: “intellectual turmoil”, “devastating racket”. If the modern disciple can brave such opposition and still triumph, something real and lasting is achieved. | 8. Chân sư Tây Tạng nói thẳng, không né tránh: “xáo động trí tuệ”, “tiếng ồn ào tàn phá”. Nếu đệ tử hiện đại có thể đương đầu với sự chống đối như vậy mà vẫn chiến thắng, thì một thành tựu thực sự và bền vững đã được đạt đến. |
9. In a way, the West is ‘occultly unsubdued’. We disciples, with our knowledge of inner patterns, are meant to impose those patterns on chaotic patterns which resist the imposition. It will be a long process; this imposition is part of creating “a new heaven and a new earth”. It is nothing if not a “Herculean labor”. | 9. Theo một nghĩa nào đó, phương Tây vẫn ‘chưa được thuần phục về mặt huyền bí’. Chúng ta, những đệ tử có tri thức về các mô hình bên trong, có nhiệm vụ áp đặt những mô hình ấy lên các mô hình hỗn loạn đang chống lại sự áp đặt đó. Đây sẽ là một tiến trình lâu dài; sự áp đặt này là một phần của việc tạo dựng “một trời mới và một đất mới”. Đó quả thực là một “kỳ công của Hercules”. |
10. For this type of labor, we have enlisted, and it will surely be with us for centuries to come. Do we imagine that we will experience our last incarnation before the end of the Aquarian Age? We might, but the odds are very much against it. | 10. Chúng ta đã tình nguyện đảm nhận loại công việc này, và chắc chắn nó sẽ còn đồng hành cùng chúng ta trong nhiều thế kỷ tới. Chúng ta có hình dung rằng mình sẽ trải qua kiếp lâm phàm cuối cùng trước khi Kỷ Nguyên Bảo Bình kết thúc không? Có thể, nhưng khả năng ấy rất thấp. |
11. We can see that Master DK is not at all minimizing the difficulties of His experiment as He talks to his disciples. He is preparing them for what they will encounter. This type of providential approach forestalls complaint, which only inhibits the way. | 11. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK hoàn toàn không giảm nhẹ những khó khăn của cuộc thử nghiệm khi nói với các đệ tử. Ngài đang chuẩn bị cho họ đối diện với những gì sẽ gặp. Cách tiếp cận có sự trù liệu này ngăn ngừa lời phàn nàn, vốn chỉ gây cản trở trên đường. |
12. The disciple must be, above all, realistic if he/she hopes to fulfill his/her full potential. | 12. Trên hết, đệ tử phải thực tế nếu mong phát huy trọn vẹn tiềm năng của mình. |
For me, there is also the problem of excessive expenditure of force as I attempt to reach each of you and to study each of you at certain intervals. There is the work, at long range, of reading your minds, of seeing your light, and of vitalising your auras. This has not hitherto been the problem of the Eastern Teachers, except in very rare cases. Those who are now working in the modern world under the Masters of the Wisdom have undergone a preliminary tuning-up process and a training in receptivity during an earlier incarnation or incarnations. [7] Forget not, therefore, that I also have a problem which I am willing to undertake for the sake of a needy world and as my contribution to hastening the coming in of the new and more fruitful era. Let us, therefore, facilitate each others’ efforts. | Đối với Tôi, còn có vấn đề tiêu hao quá nhiều mãnh lực khi cố gắng tiếp cận và nghiên cứu từng người trong các bạn vào những thời điểm nhất định. Có công việc từ xa là đọc thể trí, nhìn thấy ánh sáng và tiếp sinh lực cho hào quang của các bạn. Cho đến nay, đây chưa từng là vấn đề của các Huấn sư phương Đông, ngoại trừ những trường hợp rất hiếm hoi. Những người hiện đang làm việc trong thế giới hiện đại dưới sự hướng dẫn của các Chân sư Minh Triết đã trải qua một tiến trình điều chỉnh sơ bộ và sự huấn luyện khả năng tiếp nhận trong một hay nhiều kiếp trước. [7] Vì vậy, đừng quên rằng Tôi cũng có một vấn đề mà Tôi sẵn lòng đảm nhận vì một thế giới đang cần trợ giúp, và như phần đóng góp của Tôi để đẩy nhanh sự xuất hiện của kỷ nguyên mới, có nhiều thành quả hơn. Do đó, chúng ta hãy tạo thuận lợi cho những nỗ lực của nhau. |
1. Master DK uses the teaching technique of informing the student about the teacher’s problem. This takes the student out of his/her usual perspective, which cares little about what the teacher faces. | 1. Chân sư DK sử dụng kỹ thuật giảng dạy bằng cách cho môn sinh biết vấn đề của huấn sư. Điều này đưa môn sinh ra khỏi góc nhìn thông thường của mình, vốn ít quan tâm đến những gì huấn sư phải đối diện. |
2. Master DK was working at a distance and had to use occult means to reach His students. Under the Law of Economy, only so much expenditure of force is warranted for any task. Apparently reaching some of these students/disciples called for considerable force — so many were the auric barriers. | 2. Chân sư DK làm việc từ xa và phải sử dụng những phương tiện huyền bí để tiếp cận các môn sinh của Ngài. Theo Định luật Tiết Kiệm, mỗi nhiệm vụ chỉ cho phép tiêu hao một lượng mãnh lực nhất định. Dường như việc tiếp cận một số môn sinh/đệ tử này đòi hỏi mãnh lực đáng kể — vì có quá nhiều rào cản trong hào quang. |
3. DK clearly states the kind of occult work necessitated on His part to make the experiment a success: reading minds, seeing light and vitalizing auras (all at a great distance). Only a Master could do this successfully. | 3. Chân sư DK nêu rõ loại công việc huyền bí mà Ngài phải thực hiện để cuộc thử nghiệm thành công: đọc thể trí, nhìn thấy ánh sáng và tiếp sinh lực cho hào quang (tất cả đều từ khoảng cách rất xa). Chỉ một Chân sư mới có thể thực hiện thành công điều này. |
4. Thus, the potentials for significant achievement are great, but so are the challenges presented. | 4. Như vậy, tiềm năng đạt thành tựu đáng kể rất lớn, nhưng những thách thức đặt ra cũng lớn không kém. |
5. The Masters lay Their plans far ahead. That these particular disciples were involved in this experiment is no matter of chance or caprice. Some of the necessary work had been done during their previous incarnations. This work had, to a degree, been foreseen and training for it had been undertaken. | 5. Các Chân sư hoạch định kế hoạch của Các Ngài từ rất lâu trước đó. Việc những đệ tử cụ thể này tham gia cuộc thử nghiệm không phải là chuyện ngẫu nhiên hay tùy hứng. Một phần công việc cần thiết đã được thực hiện trong những kiếp lâm phàm trước của họ. Ở một mức độ nào đó, công việc này đã được thấy trước và việc huấn luyện cho công việc ấy đã được tiến hành. |
6. We are assured, therefore, that the participants had the necessary sensitivity; they had cultivated it in times past. Still, it was, at times, hard to get through to them. | 6. Vì thế, chúng ta được bảo đảm rằng những người tham gia có sự nhạy cảm cần thiết; họ đã vun bồi điều đó trong quá khứ. Dẫu vậy, đôi lúc vẫn khó truyền đạt đến họ. |
7. Master DK clearly states His problem, so that His students can assume a helpful and cooperative attitude. He calls for collaboration and mutual facilitation, mutual helpfulness. | 7. Chân sư DK nêu rõ vấn đề của Ngài để các môn sinh có thể có thái độ trợ giúp và hợp tác. Ngài kêu gọi sự cộng tác, tạo thuận lợi và trợ giúp lẫn nhau. |
8. DK’s motives are clear — they are not personal. They have to do with “hastening the coming in of a new and more fruitful era”. He invites these disciples to be part of a great impersonal objective. He seeks to induce the ‘group attitude’ in their thinking, seeking to decentralize them at every turn. | 8. Những động cơ của Chân sư DK rất rõ ràng — chúng không mang tính cá nhân. Chúng liên quan đến việc “thúc đẩy sự xuất hiện của một kỷ nguyên mới, phong phú thành quả hơn”. Ngài mời các đệ tử này góp phần vào một mục tiêu lớn lao, vô ngã. Ngài tìm cách khơi dậy ‘thái độ nhóm’ trong tư duy của họ, tìm cách giúp họ phi tập trung vào bản thân ở mọi bước. |
9. How would you, how would I, respond if we were invited in this manner? Probably, we could not resist. Would we have the wisdom to soberly assess what was in store? We might answer, “Yes”, just as these disciples did; and we might be wrong, just as they were. | 9. Các bạn sẽ đáp ứng thế nào, tôi sẽ đáp ứng thế nào, nếu được mời theo cách này? Có lẽ chúng ta không thể cưỡng lại. Liệu chúng ta có đủ minh triết để tỉnh táo đánh giá những gì đang chờ đợi không? Chúng ta có thể trả lời “Có”, giống như các đệ tử này đã làm; và chúng ta có thể sai, cũng như họ đã sai. |
I promise no quick results. I undertake to provide no spectacular unfoldments. The results rest entirely with you. They depend upon your patience, your exactness in detail, the discipline which you are willing to impose upon your lives and your self-forgetfulness. May I beg of you to leave results alone and to work without attachment for you know not with exactitude what are my goals for you; may I beg you to desist from that constant self-analysis which is such an outstanding characteristic of the introspective, yet ambitious Occidental mystic. . . . | Tôi không hứa hẹn những kết quả nhanh chóng. Tôi không cam kết đem lại những sự khai mở ngoạn mục. Kết quả hoàn toàn tùy thuộc vào các bạn. Chúng phụ thuộc vào lòng kiên nhẫn, sự chính xác trong từng chi tiết, kỷ luật mà các bạn sẵn lòng áp dụng cho đời sống của mình và khả năng quên mình. Tôi xin các bạn hãy để kết quả sang một bên và làm việc không chấp trước, vì các bạn không biết chính xác những mục tiêu Tôi dành cho các bạn là gì; Tôi xin các bạn hãy ngừng sự tự phân tích liên tục vốn là đặc điểm quá nổi bật của nhà thần bí phương Tây hay hướng nội mà vẫn đầy tham vọng…. |
1. The Master seeks to establish a sense of proportion, and again, the assumption of personal responsibility. | 1. Chân sư tìm cách thiết lập một Ý thức về tỉ lệ, và một lần nữa, sự đảm nhận trách nhiệm cá nhân. |
2. Four necessary qualities are put forward: | 2. Bốn phẩm tính cần thiết được nêu ra: |
a. patience, | a. sự kiên nhẫn, |
b. exactness in detail, | b. tính chính xác trong từng chi tiết, |
c. discipline and | c. kỷ luật và |
d. self-forgetfulness. | d. khả năng quên mình. |
These are not qualities common to an emotional aspirant. They require a growing mental polarization and a degree of detachment from the life of the personality. | Đây không phải là những phẩm tính thường thấy nơi một người chí nguyện thiên về cảm xúc. Chúng đòi hỏi sự phân cực trí tuệ ngày càng tăng cùng một mức độ tách rời khỏi đời sống phàm ngã. |
3. Note the use of the word “impose” with its first ray implications. Anyone transiting from the Path of Discipleship to the Path of Initiation will have to utilize the first ray. In this process, all is not comfortably accomplished, and the soul and personality will fight — this we are assured, as unpleasant as may be the prospect. A higher pattern will be, and must be, imposed on a lower one. Will this be done by others or by ourselves? Better ourselves. | 3. Hãy lưu ý việc sử dụng từ “áp đặt” cùng những hàm ý về cung một của nó. Bất cứ ai chuyển từ Con Đường Đệ Tử sang Con Đường Điểm Đạo đều sẽ phải sử dụng cung một. Trong tiến trình này, không phải mọi việc đều được hoàn thành một cách dễ chịu, và linh hồn cùng phàm ngã sẽ giao tranh — chúng ta được bảo đảm về điều ấy, dù viễn cảnh đó có khó chịu đến đâu. Một mô hình cao hơn sẽ, và phải, được áp đặt lên một mô hình thấp hơn. Điều này sẽ do người khác thực hiện hay do chính chúng ta? Tốt hơn là chính chúng ta. |
4. Master DK implores His students to “leave results alone”. When He uses such terms as “May I beg of you” (which He quite frequently does), one senses a deep experience at work, and also a realization that the normal tendency of His disciples would be to do exactly the opposite of what He hopes. | 4. Chân sư DK tha thiết khẩn khoản với các môn sinh hãy “để kết quả sang một bên”. Khi Ngài dùng những cách nói như “Tôi tha thiết xin các bạn” (điều Ngài khá thường xuyên làm), người ta cảm nhận được một kinh nghiệm sâu sắc đang phát huy tác dụng, đồng thời là sự nhận biết rằng khuynh hướng thông thường của các đệ tử sẽ là làm hoàn toàn ngược với những gì Ngài mong muốn. |
5. So, He wants them/us to work without attachment to results and to cease from constant self-analysis and introspection, which often are but indications of our own spiritual ambition. | 5. Vì vậy, Ngài muốn họ/chúng ta làm việc mà không chấp trước vào kết quả, và ngừng liên tục tự phân tích, tự xét mình, những điều thường chỉ là dấu hiệu của chính tham vọng tinh thần nơi chúng ta. |
6. In short, He is asking us to trust Him and to forget ourselves (our little selves). | 6. Nói ngắn gọn, Ngài đang yêu cầu chúng ta tin cậy Ngài và quên mình đi (những bản ngã nhỏ bé của chúng ta). |
7. Have we learned the lesson of “taking ourselves as we find ourselves” and, thus, making the best of what we are? We are not better than we are. We are what we are. Can we realistically accept our present condition and move forward without morbidly wishing, ever wishing, that we were better than we are? It is an initial test. The true server will succeed in this test because he/she loves his/her fellow human beings enough. | 7. Chúng ta đã học được bài học “chấp nhận chính mình như mình hiện có” và nhờ đó tận dụng tốt nhất những gì mình có chưa? Chúng ta không tốt đẹp hơn con người hiện tại của mình. Chúng ta là chính con người hiện tại của mình. Liệu chúng ta có thể thực tế chấp nhận tình trạng hiện tại và tiến lên mà không cứ mãi ao ước một cách bệnh hoạn rằng mình tốt đẹp hơn hiện tại không? Đó là một thử thách ban đầu. Người phụng sự chân chính sẽ vượt qua thử thách này vì đủ yêu thương đồng loại. |
What, therefore, is the position I take? That I, one of a great group of disciples who — from the humblest aspirant up to the highest Member of the Hierarchy link humanity with the spiritual kingdom — can teach you the ancient rules and give suggestions to you so that you may travel more rapidly along the Path and arrive at greater usefulness to your fellowmen. There is not the slightest suggestion of authoritative pronouncement by a member of the Hierarchy who must be obeyed and whose word is infallible. Let this be remembered, otherwise work will not be possible, elements of danger may enter in and the present effort come to naught. My anonymity has always been preserved and will continue to be so though members of this group of disciples know me for who I am. You know me as a teacher, as a Tibetan disciple and as an initiate of a certain degree — what degree being of no importance to you at all. It is the teaching that I shall give you which will matter. I am an initiate into the mysteries of being. That statement in itself conveys information to those who know. You know also that I am in a human body, and am a resident of northern India | Vậy Tôi giữ lập trường nào? Đó là Tôi, một người trong đoàn thể đệ tử đông đảo—từ người chí nguyện khiêm tốn nhất đến Thành Viên cao nhất của Thánh đoàn, những người nối liền nhân loại với giới tinh thần—có thể dạy các bạn những quy luật cổ xưa và đưa ra những gợi ý để các bạn tiến nhanh hơn trên Đường Đạo, trở nên hữu ích hơn cho đồng loại. Hoàn toàn không có hàm ý rằng đây là lời tuyên phán đầy quyền uy của một thành viên Thánh đoàn mà các bạn phải vâng phục và lời nói của vị ấy không thể sai lầm. Hãy ghi nhớ điều này, nếu không, công việc sẽ không thể thực hiện, những yếu tố nguy hiểm có thể xen vào và nỗ lực hiện tại sẽ trở nên vô ích. Danh tính của Tôi luôn được giữ kín và sẽ tiếp tục như vậy, dù các thành viên trong nhóm đệ tử này biết Tôi là ai. Các bạn biết Tôi như một huấn sư, một đệ tử Tây Tạng và một điểm đạo đồ ở một cấp độ nhất định—cấp độ nào hoàn toàn không quan trọng đối với các bạn. Điều quan trọng sẽ là giáo huấn Tôi trao cho các bạn. Tôi là một điểm đạo đồ trong những huyền nhiệm của Bản Thể. Chính lời tuyên bố ấy truyền đạt thông tin cho những người hiểu biết. Các bạn cũng biết rằng Tôi đang ở trong một thân thể con người và cư ngụ tại miền bắc Ấn Độ. |
. Let that suffice and let not curiosity blind you to the teaching. | Chừng ấy là đủ, và đừng để sự tò mò khiến các bạn không thấy được giáo huấn. |
1. Master DK does not call Himself a Master, merely a member of a “great group of disciples”. His position is one of identification with all spiritual aspirants and disciples. He is simply a link between the spiritual kingdom and humanity. | 1. Chân sư DK không tự xưng là một Chân sư, mà chỉ là một thành viên của một “nhóm đệ tử lớn”. Lập trường của Ngài là đồng hoá với tất cả những người chí nguyện tinh thần và các đệ tử. Ngài chỉ là một mắt xích giữa giới tinh thần và nhân loại. |
2. This statement bears the stamp of true humility. The promise given to His disciples is not one of spiritual advancement, but of “greater usefulness” in service “to your fellowmen”. | 2. Lời tuyên bố này mang dấu ấn của sự khiêm nhường chân chính. Lời hứa dành cho các đệ tử của Ngài không phải là sự tiến bộ tinh thần, mà là “sự hữu ích lớn hơn” trong việc phụng sự “đồng loại của các bạn”. |
3. Master DK eschews an authoritative stance. He immediately sets Himself counter to the attitude which has tainted the pronouncements of so many teachers of the past. He does not invoke ‘hierarchical authority’ so that He may be heard. He does not demand obedience and does not claim infallibility for what He says. This approach is a safeguard. | 3. Chân sư DK tránh lập trường mang tính áp đặt thẩm quyền. Ngay lập tức, Ngài đặt mình đối lập với thái độ đã làm hoen ố những lời tuyên bố của biết bao huấn sư trong quá khứ. Ngài không viện đến ‘thẩm quyền của Thánh đoàn’ để người khác lắng nghe mình. Ngài không đòi hỏi sự tuân phục và không khẳng định những điều mình nói là không thể sai lầm. Cách tiếp cận này là một biện pháp bảo vệ. |
4. We can understand that if authority or infallibility were invoked, the disciple/student would be weakened, and would simply fall back into the normal Piscean attitude of obedience and thoughtless silence. Any attempt to get the student to think for himself/herself would be frustrated. Certainly, the kind of group work with the Masters seek to see developed would not be possible with a collection of wrongly-obedient, submissive students. | 4. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng nếu viện đến thẩm quyền hoặc tính không thể sai lầm, người đệ tử/đạo sinh sẽ trở nên yếu đi và chỉ quay về thái độ tuân phục cùng sự im lặng không suy nghĩ vốn thường thấy ở Song Ngư. Mọi nỗ lực nhằm khiến đạo sinh tự suy nghĩ đều sẽ bị cản trở. Chắc chắn, một tập hợp những đạo sinh phục tùng và tuân phục sai cách sẽ không thể thực hiện loại công việc nhóm mà các Chân sư mong muốn thấy phát triển. |
5. DK emphasizes that His anonymity will be preserved as it had been preserved. These instructions were written in 1931 and so He had been working with some of these disciples for some ten years. | 5. Chân sư DK nhấn mạnh rằng danh tính của Ngài sẽ tiếp tục được giữ kín như trước đây. Những huấn thị này được viết vào năm 1931, nên khi ấy Ngài đã làm việc với một số đệ tử này được khoảng mười năm. |
6. Contemporary students of the Tibetan now know that He is a Master. It is easy to see the several hints as to His true status which He conveys in this paragraph. When He states that He is an “initiate into the mysteries of being”, we realize that He is an initiate into the realm of the monad, the source of being. The soul body has been destroyed for such initiates. They are free to focus within the world of being — without obstruction. | 6. Ngày nay, các đạo sinh theo học Chân sư Tây Tạng biết rằng Ngài là một Chân sư. Có thể dễ dàng nhận thấy một số gợi ý về địa vị thực sự của Ngài mà Ngài truyền đạt trong đoạn này. Khi Ngài nói rằng Ngài là một “điểm đạo đồ đã được khai mở vào những huyền nhiệm của bản thể”, chúng ta nhận ra rằng Ngài là một điểm đạo đồ đã được khai mở vào lĩnh vực của chân thần, cội nguồn của bản thể. Đối với những điểm đạo đồ như thế, thể linh hồn đã bị huỷ diệt. Các Ngài tự do tập trung trong Thế Giới Bản Thể — không còn chướng ngại. |
7. Nonetheless, He insists that His degree is not important. Indeed, it is not. If disciples and students accepted what He said simply because He was a Master, they would be accepting for the wrong reason. His statements would not have made an appeal to their intuitive understanding and their reason; they would have fallen victim to the glamor of authority. Obviously, the Master would not want such an outcome; it would defeat His purpose — the impartation of new modes of discipleship training. | 7. Tuy nhiên, Ngài khẳng định rằng cấp độ của mình không quan trọng. Quả thực là như vậy. Nếu các đệ tử và đạo sinh chấp nhận những điều Ngài nói chỉ vì Ngài là một Chân sư, thì họ đang chấp nhận vì một lý do sai lầm. Những lời Ngài nói khi ấy đã không khơi dậy sự thấu hiểu bằng trực giác và lý trí của họ; họ đã trở thành nạn nhân của ảo cảm về thẩm quyền. Hiển nhiên, Chân sư không mong muốn một kết quả như thế; điều đó sẽ làm thất bại mục đích của Ngài — truyền đạt những phương thức mới trong việc huấn luyện đệ tử. |
8. The important point conveyed is that the teaching comes first. All other matters (His name, His residence, His initiatory degree, etc. ) are peripheral and could become distractions from the true recognition and assimilation of the Teaching. | 8. Điểm quan trọng được truyền đạt là giáo huấn phải được đặt lên hàng đầu. Mọi vấn đề khác (tên Ngài, nơi cư trú của Ngài, cấp độ điểm đạo của Ngài, v.v. ) đều là thứ yếu và có thể khiến người ta sao lãng việc thực sự nhận biết và đồng hoá Giáo Huấn. |
9. If we think about the problem clearly, we shall see many naïve aspirants in the modern world accepting anything their teacher says simply because their teacher says it. No real evaluation is given to their teacher’s statements; the mind is not engaged. Only belief is engaged. Such aspirants cannot become Aquarian disciples. The mind is insufficiently illumined. | 9. Nếu suy nghĩ rõ ràng về vấn đề này, chúng ta sẽ thấy nhiều người chí nguyện ngây thơ trong thế giới hiện đại chấp nhận bất cứ điều gì huấn sư của họ nói, chỉ vì huấn sư của họ nói như vậy. Không có sự đánh giá thực sự nào dành cho những phát biểu của huấn sư họ; thể trí không tham gia. Chỉ có niềm tin tham gia. Những người chí nguyện như thế không thể trở thành đệ tử Bảo Bình. Thể trí chưa được soi sáng đầy đủ. |
10. For the true disciple or discipleship group, everything said must be tested against the intuition and the Law of Correspondences. If one does not fully understand, one must simply say so. The ability to admit incomplete comprehension and to await greater light is much to be desired. | 10. Đối với người đệ tử chân chính hoặc nhóm đệ tử chân chính, mọi điều được nói ra đều phải được kiểm chứng bằng trực giác và định luật tương ứng. Nếu chưa thấu hiểu đầy đủ, người ta chỉ cần nói rõ như vậy. Khả năng thừa nhận mình chưa hiểu trọn vẹn và chờ đợi ánh sáng lớn hơn là điều rất đáng mong muốn. |
11. There are some who think they have traced the Tibetan’s particular monastery and they may be correct. It is curious to see the Tibetan speaking of Himself as a “resident of Northern India | 11. Có những người nghĩ rằng họ đã tìm ra tu viện cụ thể của Chân sư Tây Tạng, và có thể họ đúng. Thật thú vị khi thấy Chân sư Tây Tạng tự nói về mình là một “người cư trú tại miền Bắc Ấn Độ |
“ rather than of Tibet | “ thay vì tại Tây Tạng |
. One day these matters will be understood, just to set the record straight. It will not be immediately, as the Tibetan was very cautious to cover His tracks. | . Một ngày nào đó, những vấn đề này sẽ được hiểu rõ, chỉ để xác lập sự thật cho chính xác. Điều đó sẽ không xảy ra ngay, vì Chân sư Tây Tạng đã rất thận trọng che giấu dấu vết của Ngài. |
12. Today, we find the Dalai Lama’s Center in Northern India | 12. Ngày nay, chúng ta thấy Trung tâm của Đức Đạt Lai Lạt Ma ở miền Bắc Ấn Độ |
. No coincidence, perhaps. | . Có lẽ đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên. |
We stand together in spiritual enterprise. All of you have voluntarily and without pressure stated your willingness to go forward into a more intensive spiritual life. This you must do in the freedom of your own souls and through the power of [8] your own intellects. You will follow such instructions as seem to you reasonable and right but — when you do choose to follow them — you will attempt to fulfil the requirements with exactitude. You will analyse and question the requirements which from time to time come from me and you will accept no belief in their verbal inspiration. Language ever handicaps and limits. You will also be guided in your work by health and circumstance, and you will ever remember that Masters are made through the achieving of mastery and not through obedience to any person. You will bear in mind that I, your teacher, am not constantly aware of your physical condition or daily doings. I concern not myself with the affairs of the personality and those misguided aspirants who claim that the Masters are forever telling them what to do and are guiding them in their personal affairs are still far from the grade of accepted discipleship. You will remember that the light will shine into a mind that is self-controlled and free from the mental dominance of another mind. With these provisos clearly understood, let us pass on to the enunciation of certain principles and to a consideration of what it may be possible to do. | Chúng ta cùng đứng trong một công cuộc tinh thần. Tất cả các bạn đã tự nguyện, không chịu áp lực, bày tỏ sự sẵn lòng tiến vào một đời sống tinh thần mãnh liệt hơn. Các bạn phải làm điều này trong sự tự do của chính linh hồn mình và bằng sức mạnh của [8] chính trí tuệ mình. Các bạn sẽ làm theo những huấn thị mà mình thấy hợp lý và đúng đắn, nhưng—khi đã lựa chọn làm theo—các bạn sẽ cố gắng đáp ứng các yêu cầu một cách chính xác. Các bạn sẽ phân tích và chất vấn những yêu cầu thỉnh thoảng đến từ Tôi, và sẽ không chấp nhận niềm tin rằng từng lời trong đó đều bắt nguồn từ cảm hứng thiêng liêng. Ngôn ngữ luôn gây trở ngại và giới hạn. Sức khỏe và hoàn cảnh cũng sẽ hướng dẫn công việc của các bạn, và các bạn sẽ luôn nhớ rằng người ta trở thành Chân sư nhờ đạt được sự làm chủ, chứ không phải nhờ vâng phục bất kỳ ai. Các bạn sẽ ghi nhớ rằng Tôi, huấn sư của các bạn, không thường xuyên biết rõ tình trạng thể chất hay những việc làm hằng ngày của các bạn. Tôi không bận tâm đến những công việc của phàm ngã, và những người chí nguyện lầm lạc, tuyên bố rằng các Chân sư luôn bảo họ phải làm gì và hướng dẫn họ trong những công việc cá nhân, vẫn còn cách xa trình độ đệ tử được chấp nhận. Các bạn sẽ nhớ rằng ánh sáng sẽ chiếu vào một thể trí biết tự chủ và không chịu sự chi phối trí tuệ của một thể trí khác. Khi đã thấu hiểu rõ những điều kiện này, chúng ta hãy chuyển sang trình bày một số nguyên khí và xem xét những gì có thể thực hiện. |
1. The Tibetan sounds the note of will. The symbol of standing is a will-symbol. The Tibetan is an expert at exhortation — at inspiring speech. | 1. Chân sư Tây Tạng xướng lên âm điệu của ý chí. Biểu tượng đứng vững là một biểu tượng của ý chí. Chân sư Tây Tạng rất giỏi khích lệ — rất giỏi dùng lời nói truyền cảm hứng. |
2. Note how often the formula “You will…. ” is used in this paragraph. He is fortifying His disciples with a kind of bracing energy. | 2. Hãy lưu ý mẫu câu “Các bạn sẽ…. ” được dùng thường xuyên đến mức nào trong đoạn này. Ngài đang củng cố các đệ tử của mình bằng một loại năng lượng tiếp thêm sức mạnh. |
3. The freewill of the participants is being emphasized and they are being encouraged to stand in the strength of their freely dedicated will. | 3. Ý chí tự do của những người tham gia đang được nhấn mạnh, và họ được khuyến khích đứng vững trong sức mạnh của ý chí mà họ đã tự do hiến dâng. |
4. Again the note of “exactitude” is sounding. DK expects that His instructions will be exactly followed by those who, though an act of their own freewill and accord, have allied themselves with this enterprise. | 4. Một lần nữa, âm điệu của “sự chính xác” lại vang lên. Chân sư DK kỳ vọng những người đã tự nguyện và đồng lòng tham gia sự nghiệp này sẽ tuân theo các huấn thị của Ngài một cách chính xác. |
5. The injunctions here given are realistic. No impractical ideals are offered. Health and circumstance are important in the life of discipleship; they are to be taken into consideration and mastered. | 5. Những chỉ dẫn được đưa ra ở đây mang tính thực tế. Không có lý tưởng thiếu thực tiễn nào được đề ra. Sức khoẻ và hoàn cảnh rất quan trọng trong đời sống đệ tử; cần xem xét và làm chủ chúng. |
6. A sense of proportion is introduced. The teacher is not always aware of what His student or disciple may be doing — in fact, rarely so. Many of us have seen such a glamor at work — some disciples claiming to ‘check in’ with the Master to see if they can eat what is being served! | 6. Một ý thức về tỉ lệ được đưa vào. Huấn sư không phải lúc nào cũng biết rõ đạo sinh hoặc đệ tử của mình đang làm gì — thực ra, điều đó hiếm khi xảy ra. Nhiều người trong chúng ta đã thấy một ảo cảm như thế đang tác động — một số đệ tử tuyên bố rằng họ ‘hỏi ý kiến’ Chân sư để xem họ có thể ăn món đang được dọn ra hay không! |
7. The Master points to certain childish practices involved in following so-called guidance. He lets us know that the Masters are not really all that interested in our personal affairs. We know that there are many who say They are. Such people, the Tibetan assures us, are still very far from the rank of “accepted disciple”. We can infer that accepted discipleship is for responsible, self-determining, mature people and not at all for dependent persons who imagine that the Master is forever telling them what to do. | 7. Chân sư chỉ ra một số cách hành xử trẻ con trong việc làm theo điều được gọi là sự hướng dẫn. Ngài cho chúng ta biết rằng các Chân sư thực sự không quan tâm đến chuyện riêng tư của chúng ta đến thế. Chúng ta biết có nhiều người nói rằng Các Ngài có quan tâm. Chân sư Tây Tạng khẳng định với chúng ta rằng những người như thế vẫn còn cách rất xa hàng ngũ “đệ tử được chấp nhận”. Chúng ta có thể suy ra rằng địa vị đệ tử được chấp nhận dành cho những người có trách nhiệm, tự quyết và trưởng thành, hoàn toàn không dành cho những người lệ thuộc, tưởng rằng Chân sư luôn bảo họ phải làm gì. |
8. The new discipleship is not the discipleship of the Piscean Age — the ‘Age of Faith, Authority and Obedience’. In telling His disciples what He will not do, He is using the sword of discrimination to separate the new way from the old. Much repetition is required as old habits die hard, and as so many of us have been Piscean aspirants and disciples for a number of centuries. | 8. Địa vị đệ tử mới không phải là địa vị đệ tử của Kỷ Nguyên Song Ngư — ‘Kỷ Nguyên của Đức Tin, Thẩm Quyền và Sự Tuân Phục’. Khi nói với các đệ tử điều Ngài sẽ không làm, Ngài đang dùng thanh kiếm phân biện để tách con đường mới khỏi con đường cũ. Cần phải lặp lại nhiều lần vì thói quen cũ khó bỏ, và vì rất nhiều người trong chúng ta đã là những người chí nguyện và đệ tử Song Ngư suốt nhiều thế kỷ. |
9. Master DK’s pedagogical technique is clear; He tells what He will not do and why He will not. Then He tells also what He will do, and, again, why. | 9. Phương pháp sư phạm của Chân sư DK rất rõ ràng; Ngài nói điều Ngài sẽ không làm và vì sao Ngài sẽ không làm. Sau đó, Ngài cũng nói điều Ngài sẽ làm, và một lần nữa, nói rõ vì sao. |
First: Let it be constantly remembered that the new discipleship is primarily an experiment in group work and that its main objective is not the perfecting of the individual disciple in the group. I regard this statement as basic and essential. The individuals are intended to supplement each other and complement each other and in the aggregate of their qualities should eventually provide a group capable of useful, spiritual expression and one through which spiritual energy can flow for the helping of humanity. The work to be done is on the mental plane. The spheres of service of individual disciples remain the same as before but to their differing fields of individual endeavour there will be added a group activity and life which will become more clear as time elapses. The first objective is, therefore, to weld and unify the group so that each person in it can work in close mental rapport and spiritual cooperation with the others. This inevitably takes time and the success of this new effort on the part of the Hierarchy will depend upon a non-critical attitude and the outpouring of a spirit of love on the part of each member of the group. This [9] will be fairly easy for some disciples to achieve but very difficult for others. So many high-grade people today have an over-development of the analytical mind. As time goes on, however, and if real effort is made, the welding process will make much progress. This, therefore, is our first effort, as it is the first effort of the group of every Master and the achievement of the Hierarchy itself — group unity. | Thứ nhất: Hãy luôn ghi nhớ rằng địa vị đệ tử mới chủ yếu là một cuộc thử nghiệm về công việc nhóm, và mục tiêu chính của nó không phải là hoàn thiện từng đệ tử trong nhóm. Tôi xem lời tuyên bố này là căn bản và thiết yếu. Các cá nhân được kỳ vọng sẽ bổ sung và bổ trợ cho nhau, và sự tổng hợp các phẩm tính của họ cuối cùng phải tạo nên một nhóm có khả năng biểu hiện tinh thần một cách hữu ích, đồng thời làm con đường cho năng lượng tinh thần tuôn chảy để trợ giúp nhân loại. Công việc cần thực hiện nằm trên cõi trí. Các lĩnh vực phụng sự của từng đệ tử vẫn như trước, nhưng bên cạnh những lĩnh vực nỗ lực cá nhân khác nhau ấy sẽ có thêm hoạt động và đời sống nhóm, vốn sẽ ngày càng rõ nét theo thời gian. Vì vậy, mục tiêu đầu tiên là gắn kết và hợp nhất nhóm để mỗi người trong nhóm có thể làm việc trong sự giao cảm trí tuệ mật thiết và hợp tác tinh thần với những người khác. Điều này tất yếu cần thời gian, và thành công của nỗ lực mới này của Thánh đoàn sẽ tùy thuộc vào thái độ không chỉ trích cùng sự tuôn tràn tinh thần yêu thương của mỗi thành viên trong nhóm. Điều này [9] sẽ khá dễ đạt được đối với một số đệ tử, nhưng rất khó đối với những người khác. Ngày nay, rất nhiều người có trình độ cao lại phát triển quá mức thể trí phân tích. Tuy nhiên, theo thời gian, nếu có nỗ lực thực sự, tiến trình gắn kết sẽ tiến triển đáng kể. Vì vậy, đây là nỗ lực đầu tiên của chúng ta, cũng như là nỗ lực đầu tiên của nhóm thuộc mỗi Chân sư và là thành tựu của chính Thánh đoàn—sự hợp nhất nhóm. |
1. The Master offers a “basic and essential” statement. He and His disciples are engaged in an experiment in group work. The purpose is not the perfecting of the individual disciple in the group. (Of course, incidentally, if all goes well, this perfecting occurs as a collateral effect. ) | 1. Chân sư đưa ra một lời tuyên bố “cơ bản và thiết yếu”. Ngài và các đệ tử của mình đang tham gia một cuộc thử nghiệm về công việc nhóm. Mục đích không phải là hoàn thiện từng đệ tử trong nhóm. (Dĩ nhiên, nếu mọi việc diễn ra tốt đẹp, sự hoàn thiện này cũng xuất hiện như một hiệu quả đi kèm. ) |
2. DK speaks of supplementation and complementation. We can see why it is important for the members of a group to know their own ray(s) and astrological qualities and the qualities of their co-workers. With this knowledge in place, they can better supplement and complement each other. | 2. Chân sư DK nói về sự bổ sung và bổ túc. Chúng ta có thể thấy vì sao các thành viên trong nhóm cần biết cung hoặc các cung của chính mình, các phẩm tính chiêm tinh của mình và các phẩm tính của những người cùng làm việc. Khi có được sự hiểu biết này, họ có thể bổ sung và bổ túc cho nhau tốt hơn. |
3. We see that DK is seeking for His groups the Aquarian virtue of “unity in diversity”. | 3. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK đang tìm kiếm cho các nhóm của Ngài đức tính Bảo Bình là “hợp nhất trong đa dạng”. |
4. The work to be done is on the mental plane. The disciples continue their already established line of service, but the new group work enriches it. | 4. Công việc cần thực hiện nằm trên cõi trí. Các đệ tử tiếp tục đường hướng phụng sự đã được xác lập của mình, nhưng công việc nhóm mới làm phong phú thêm đường hướng ấy. |
5. The first order of business is the welding and unifying of the group with the purpose of achieving “close mental rapport and spiritual cooperation with others”. What are these qualities? | 5. Việc đầu tiên cần làm là gắn kết và hợp nhất nhóm nhằm đạt được “sự tương thông trí tuệ chặt chẽ và hợp tác tinh thần với những người khác”. Những phẩm tính này là gì? |
6. Through “close mental rapport” the members of a group will understand each other and be able to reinforce each other’s thoughts and efforts. There will not be that (kama-manasically based) tendency towards misunderstanding which is so productive of schisms and cleavages within a group. | 6. Thông qua “sự tương thông trí tuệ chặt chẽ”, các thành viên trong nhóm sẽ thấu hiểu nhau và có thể củng cố những tư tưởng cùng nỗ lực của nhau. Sẽ không còn khuynh hướng hiểu lầm (dựa trên trí-cảm) vốn thường gây ra những chia rẽ và rạn nứt trong nhóm. |
7. “Spiritual cooperation” can be thought of soul-harmony and soul-reinforcement. It is necessary to deal with the fact that the group members are independent human beings who are, for the most part, geographically separated. They cannot always be talking to each other (at least not in those days) and physically working with each other. Yet still, they must be spiritually cooperative. Might we say that to do so, they can give the powers of the soul to each other, and be present to each other in a spirit of love and unity? They can learn to work with each other as souls, if not always as personalities. | 7. “Hợp tác tinh thần” có thể được xem là sự hoà hợp và củng cố lẫn nhau giữa các linh hồn. Cần xử lý thực tế rằng các thành viên trong nhóm là những con người độc lập, phần lớn sống cách xa nhau về địa lý. Họ không thể lúc nào cũng trò chuyện với nhau (ít nhất là vào thời ấy) và cùng nhau làm việc trên cõi hồng trần. Dẫu vậy, họ vẫn phải hợp tác với nhau về mặt tinh thần. Liệu chúng ta có thể nói rằng để làm được điều đó, họ có thể trao cho nhau những quyền năng của linh hồn và hiện diện bên nhau trong tinh thần bác ái và hợp nhất không? Họ có thể học cách làm việc với nhau như những linh hồn, dù không phải lúc nào cũng như những phàm ngã. |
8. The Master is clear about the process — it takes time to achieve the desired welding and unity. Success depends upon non-criticism and “the outpouring of a spirit of love on the part of each member of the group”. | 8. Chân sư nói rõ về tiến trình này — cần thời gian để đạt được sự gắn kết và hợp nhất mong muốn. Thành công phụ thuộc vào việc không chỉ trích và “tinh thần bác ái tuôn tràn từ mỗi thành viên trong nhóm”. |
9. These thoughts are so important. If we group members could only adhere to them (constantly), so much good would be achieved in our group life. The instructions are simple but so few disciples succeed in performing them. Of course, to succeed we would have to overcome the ancient habit of selfishness. We would have to negate the ancient Martian vibration, and transcend the undesirable tendency of lower Saturn to fortify the lower ego. No wonder why (though these two requirements are easy to understand) they are not easily achieved. | 9. Những tư tưởng này vô cùng quan trọng. Giá như chúng ta, những thành viên trong nhóm, có thể tuân theo chúng (một cách liên tục), thì biết bao điều tốt đẹp sẽ thành tựu trong đời sống nhóm của chúng ta. Các huấn thị rất đơn giản, nhưng rất ít đệ tử thực hiện thành công. Dĩ nhiên, để thành công, chúng ta phải vượt qua thói quen ích kỷ từ xa xưa. Chúng ta phải vô hiệu hoá rung động Sao Hỏa từ xa xưa, và vượt lên trên khuynh hướng không mong muốn của Sao Thổ ở cấp thấp là củng cố phàm ngã. Không có gì lạ khi hai yêu cầu này tuy dễ hiểu nhưng lại không dễ đạt được. |
10. The personnel of any group are diversified. Some are highly developed in the mind, and excessively analytical. Some have greater heart development and are in need of mental stimulation. Regardless of the imbalances, group love is the way for all, and a refraining from belittlement. To bless where one once criticized — this would indicate real progress. | 10. Thành phần của bất kỳ nhóm nào cũng đa dạng. Một số người có thể trí phát triển cao và thiên về phân tích quá mức. Một số người khác có tâm phát triển hơn và cần sự kích thích trí tuệ. Dù có những mất cân bằng ấy, tình thương trong nhóm là con đường dành cho tất cả mọi người, cùng với việc tránh hạ thấp người khác. Ban phúc lành ở nơi trước kia mình từng chỉ trích — điều này sẽ cho thấy sự tiến bộ thực sự. |
11. Again the Master puts first things first. He know the first task with this new group of disciples — the achievement of group unity. | 11. Một lần nữa, Chân sư đặt những việc quan trọng nhất lên hàng đầu. Ngài biết nhiệm vụ đầu tiên đối với nhóm đệ tử mới này — đạt được sự hợp nhất nhóm. |
12. This task can be approached in a number of ways: | 12. Có thể tiếp cận nhiệm vụ này bằng nhiều cách: |
a. meditatively, | a. qua tham thiền, |
b. through the cultivation of right thought, | b. qua việc vun bồi tư tưởng đúng đắn, |
c. through work pursued in common, | c. qua công việc cùng theo đuổi, |
d. through persistence. | d. qua sự kiên trì. |
The group members learn each others quality. They learn to absorb each other and, especially, to absorb inharmonies. No words about how to do this will suffice. Each member of the group and the group as a whole, learns by doing. | Các thành viên trong nhóm học cách nhận biết phẩm tính của nhau. Họ học cách đón nhận nhau và đặc biệt là dung nạp những điều bất hoà. Không lời nào nói về cách thực hiện điều này là đủ. Mỗi thành viên trong nhóm và toàn thể nhóm đều học qua thực hành. |
13. The principle is clear: when a group is filled with cleavages, group consciousness is not possible. When welding, harmonization, unification have occurred, great strides can be made. | 13. Nguyên khí ở đây rất rõ ràng: khi một nhóm đầy những rạn nứt, tâm thức nhóm không thể hình thành. Khi đã có sự gắn kết, hài hoà và hợp nhất, nhóm có thể đạt những bước tiến lớn. |
Every disciple has to learn to subordinate his own ideas of personal growth to the group requirements, for — in order to have a coordinated group, functioning as a serviceable unit — some disciples will have to hasten their progress in certain directions and others will have to slow down theirs temporarily to the pace of the majority. This will happen automatically, if the group identity is the dominant factor in the thoughts of each disciple, and desire for personal growth and for spiritual satisfaction is relegated to a secondary place. The groups within each Ashram are intended to work together eventually just as the various departments of some great organisation work together effectively as a unit. They must function smoothly and intelligently. This will be possible when the individual members in the groups and the individual groups lose sight of their own identities in an effort to make this experiment of the Hierarchy successful. The feelings, reactions, wishes and successes of the individual most emphatically do not count. | Mỗi đệ tử phải học cách đặt những ý tưởng riêng về sự phát triển cá nhân dưới các yêu cầu của nhóm, vì—để có một nhóm phối hợp nhịp nhàng, hoạt động như một đơn vị hữu ích—một số đệ tử sẽ phải đẩy nhanh tiến bộ của mình theo những hướng nhất định, còn những người khác sẽ phải tạm thời chậm lại cho phù hợp với nhịp độ của đa số. Điều này sẽ tự động xảy ra nếu bản sắc nhóm là yếu tố chi phối tư tưởng của mỗi đệ tử, còn ham muốn phát triển cá nhân và tìm kiếm sự thỏa mãn tinh thần được đặt xuống hàng thứ yếu. Các nhóm trong mỗi ashram cuối cùng phải cùng làm việc như những bộ phận khác nhau của một tổ chức lớn phối hợp hiệu quả như một đơn vị. Họ phải hoạt động trôi chảy và thông minh. Điều này sẽ khả thi khi từng thành viên trong các nhóm và từng nhóm quên đi bản sắc riêng của mình trong nỗ lực làm cho cuộc thử nghiệm này của Thánh đoàn thành công. Những cảm xúc, phản ứng, mong muốn và thành công của cá nhân hoàn toàn không được tính đến. |
1. Some of the first sacrifices required by group work are stated. Comfort is involved. We all have our own rhythms, some relatively fast, some relatively slow. But group requirements are to be understood and our own ‘habits of motion’ made to adjust, for the sake of the whole. This may not always be easy, as the habits of a lifetime (or more) may have to be challenged. | 1. Một số hi sinh đầu tiên mà công việc nhóm đòi hỏi đã được nêu ra. Sự thoải mái cũng nằm trong đó. Tất cả chúng ta đều có nhịp điệu riêng, có nhịp tương đối nhanh, có nhịp tương đối chậm. Nhưng chúng ta cần thấu hiểu các yêu cầu của nhóm và điều chỉnh những ‘thói quen vận động’ của chính mình vì lợi ích của toàn thể. Điều này có thể không phải lúc nào cũng dễ dàng, vì có thể phải thách thức những thói quen của cả một đời người (hoặc lâu hơn). |
2. Need there necessarily be a struggle over these adaptations? Not if “the group identity is the dominant factor in the thoughts of the disciple”. | 2. Có nhất thiết phải đấu tranh với những sự thích nghi này không? Không, nếu “bản sắc nhóm là yếu tố chủ đạo trong tư tưởng của người đệ tử”. |
3. Of course, this is not always the case. Many disciples are very “full of themselves” and fail to think of the group and the Ashram in any practical and immediate way. | 3. Dĩ nhiên, không phải lúc nào cũng như vậy. Nhiều đệ tử rất “tự mãn về bản thân” và không nghĩ đến nhóm cùng ashram theo bất kỳ cách nào thiết thực và trực tiếp. |
4. It is “desire for personal growth and spiritual satisfaction” which makes us discontent over the approach of our fellow group members. The selfish group member will often see the others as “getting in his/her way” or in some manner “inhibiting his/her progress”. | 4. Chính “ham muốn phát triển cá nhân và sự thoả mãn tinh thần” khiến chúng ta bất mãn với cách tiếp cận của các thành viên đồng nhóm. Thành viên ích kỷ trong nhóm thường xem những người khác là đang “cản đường mình” hoặc theo một cách nào đó đang “kìm hãm sự tiến bộ của mình”. |
5. In this paragraph there are a number of “hard sayings” — especially for the individualistic, ambitious disciple. Individual identities are to be sacrificed to group good, and yet the individual must remain in full integrity (unlike the process in groups which seek to standardized the rank and file and render them obedient to a leader). | 5. Trong đoạn này có một số “lời khó chấp nhận” — đặc biệt đối với người đệ tử có tham vọng và nặng tính cá nhân. Phải hi sinh bản sắc cá nhân vì lợi ích của nhóm, nhưng cá nhân vẫn phải giữ trọn sự toàn vẹn của mình (khác với tiến trình trong những nhóm tìm cách đồng nhất hoá các thành viên thông thường và khiến họ tuân phục một người lãnh đạo). |
6. What is important is that the group, like the Ashram which inspires it, works together effectively as a unit, functioning smoothly and intelligently, like the fingers on one hand. This can happen, and when it does there is a burst of joyous realization and accomplishment. | 6. Điều thực sự quan trọng là nhóm, cũng như ashram truyền cảm hứng cho nó, cùng làm việc hiệu quả như một đơn vị, hoạt động trôi chảy và sáng suốt như những ngón tay trên cùng một bàn tay. Điều này có thể xảy ra, và khi ấy sẽ bùng lên niềm hoan hỉ của sự nhận biết và thành tựu. |
7. DK becomes emphatic about the usual personal sensitivities: “The feelings, reactions, wishes and successes of the individual most emphatically do not count. ” | 7. Chân sư DK nhấn mạnh về những nhạy cảm cá nhân thường gặp: “Cần đặc biệt nhấn mạnh rằng những cảm xúc, phản ứng, mong muốn và thành công của cá nhân hoàn toàn không đáng kể. ” |
8. Clearly, a certain level of spiritual maturity would have to be achieved before a modern individual could willingly accept such a statement. | 8. Rõ ràng, một cá nhân hiện đại phải đạt đến một mức độ trưởng thành tinh thần nhất định mới có thể sẵn lòng chấp nhận lời tuyên bố như thế. |
9. But such group work as the Tibetan has proposed is for those who are outgrowing their customary preoccupation with the personality. They long for a larger life, and that life can only be found in loving group cooperation with others. | 9. Nhưng loại công việc nhóm mà Chân sư Tây Tạng đề xuất dành cho những người đang vượt lên trên sự bận tâm quen thuộc về phàm ngã của mình. Họ khao khát một đời sống rộng lớn hơn, và đời sống ấy chỉ có thể tìm thấy trong sự hợp tác nhóm đầy tình thương với những người khác. |
10. Many seek “God-consciousness” but they do so in a rather individualistic way. They seem to avoid the necessary intermediate stage of “group-consciousness”. It is a bit like trying to reach the monad directly from the personality and by-passing the soul. It can be done, but there are considerable dangers and something of value is often lost. | 10. Nhiều người tìm kiếm “tâm thức Thượng đế” nhưng lại làm điều đó theo một cách khá nặng tính cá nhân. Dường như họ né tránh giai đoạn trung gian cần thiết là “tâm thức nhóm”. Điều này hơi giống việc cố gắng đi thẳng từ phàm ngã đến chân thần mà bỏ qua linh hồn. Có thể làm được điều đó, nhưng có những nguy hiểm đáng kể và thường mất đi một điều gì đó có giá trị. |
11. So, how do we “lose sight of our own identities”? Well, we have to learn to value something more than we value our customary selves. Some dissatisfaction or divine discontent must enter as we ponder the force center with which we have been for so long identified — namely, the personality. Some distinct realization of the limitation which personality represents must have dawned upon us, and some flash of greater possibilities. Much experience of an individual kind may be needed before real group work becomes possible. If group involvement occurs before the personality has been sufficiently outlived, then many personality weaknesses will be dragged into the group militating against successful group process. | 11. Vậy, làm thế nào chúng ta “không còn chú mục vào bản sắc riêng của mình”? Chúng ta phải học cách coi trọng một điều gì đó hơn những bản ngã quen thuộc của mình. Một sự bất mãn hay bất mãn thiêng liêng nào đó phải xuất hiện khi chúng ta suy ngẫm về trung tâm mãnh lực mà từ lâu mình đã đồng hoá với — tức là phàm ngã. Hẳn chúng ta đã bắt đầu nhận ra rõ rệt giới hạn mà phàm ngã biểu thị, đồng thời thoáng thấy những khả năng lớn lao hơn. Có thể cần nhiều kinh nghiệm cá nhân trước khi công việc nhóm đích thực trở nên khả thi. Nếu tham gia nhóm trước khi đã vượt qua đầy đủ lối sống phàm ngã, chúng ta sẽ kéo theo nhiều nhược điểm của phàm ngã vào nhóm, cản trở tiến trình thành công của nhóm. |
12. Questions of maturity and readiness are ever present on the Occult Path. | 12. Những vấn đề về sự trưởng thành và mức độ sẵn sàng luôn hiện diện trên Đường Đạo Huyền Bí. |
Only that is regarded as of moment which will further group effort and enrich the group consciousness. Only that, for instance, attracts my attention which brings more spiritual power to my group of disciples or which increases its light or dims its radiance. You need to remember that I look at my groups of disciples always subjectively and as a group. It is the total radiance which I see; it is the united rhythm which I note and the united tone and colour; it is the sound they collectively emit which I hear. May I reiterate that in one sense your individualities are of no interest or moment to me, except in so far as you raise or lower the group vibration. As personalities, you matter not to us, the teachers on the inner side. As souls you are of vital moment. Each disciple in the group of any Master may have many weaknesses and limitations. These act as hindrances to others in the group. But, as souls, such disciples [10] are somewhat awakened and alive and have achieved a certain measure of alignment. So it is with all of you in my group. As souls, I cherish you and seek to aid and lift, to expand and enlighten. | Chỉ điều gì thúc đẩy nỗ lực nhóm và làm phong phú tâm thức nhóm mới được xem là quan trọng. Chẳng hạn, chỉ điều gì đem thêm sức mạnh tinh thần đến cho nhóm đệ tử của Tôi, hoặc làm tăng ánh sáng hay làm mờ sự rạng ngời của nhóm, mới thu hút sự chú ý của Tôi. Các bạn cần nhớ rằng Tôi luôn nhìn các nhóm đệ tử của mình từ phương diện chủ quan và như một nhóm. Điều Tôi thấy là sự rạng ngời tổng thể; điều Tôi ghi nhận là nhịp điệu hợp nhất cùng âm sắc và màu sắc hợp nhất; điều Tôi nghe là âm thanh họ cùng nhau phát ra. Tôi xin nhắc lại rằng, theo một nghĩa nào đó, cá tính riêng của các bạn không khiến Tôi quan tâm hay có tầm quan trọng đối với Tôi, ngoại trừ trong chừng mực các bạn nâng cao hoặc hạ thấp rung động của nhóm. Với tư cách các phàm ngã, các bạn không quan trọng đối với chúng tôi, những huấn sư ở phía bên trong. Với tư cách các linh hồn, các bạn có tầm quan trọng thiết yếu. Mỗi đệ tử trong nhóm của bất kỳ Chân sư nào cũng có thể có nhiều nhược điểm và giới hạn. Những điều này gây trở ngại cho những người khác trong nhóm. Nhưng với tư cách các linh hồn, những đệ tử ấy [10] đã phần nào thức tỉnh, sống động và đạt được một mức độ chỉnh hợp nhất định. Tất cả các bạn trong nhóm của Tôi cũng như vậy. Với tư cách các linh hồn, Tôi trân quý các bạn và tìm cách trợ giúp, nâng đỡ, mở rộng và soi sáng các bạn. |
1. The ideal attitudes for members of new discipleship groups are here stated. Group values are constantly reiterated, individual values minimized. | 1. Ở đây nêu rõ những thái độ lý tưởng dành cho các thành viên của các nhóm đệ tử mới. Các giá trị nhóm liên tục được nhắc lại, còn các giá trị cá nhân được giảm nhẹ. |
2. The enrichment of the group consciousness; the increase of spiritual power in the group; the increase of group light — these are the factors of moment. Any other happenings and developments are peripheral. | 2. Làm phong phú tâm thức nhóm; gia tăng quyền năng tinh thần trong nhóm; gia tăng ánh sáng nhóm — đó là những yếu tố quan trọng. Mọi sự việc và diễn biến khác đều là thứ yếu. |
3. Will there not come a time when excessive preoccupation with the little self will give way to a real concern with the welfare of one’s group? Probably this attitude cannot be forced and is a matter of growth. At length, however, it must come. | 3. Chẳng lẽ sẽ không đến lúc sự bận tâm quá mức đến bản ngã nhỏ bé nhường chỗ cho mối quan tâm thực sự đến phúc lợi của nhóm mình sao? Có lẽ không thể cưỡng ép thái độ này, vì đó là vấn đề trưởng thành. Tuy nhiên, cuối cùng thái độ ấy phải xuất hiện. |
4. Attending carefully to the Master’s words as He describes the manner in which He views His groups can facilitate that growth, at least giving a heightened incentive to outgrow personality-centeredness. | 4. Chú tâm lắng nghe lời Chân sư khi Ngài mô tả cách Ngài nhìn các nhóm của mình có thể thúc đẩy sự trưởng thành ấy, ít nhất cũng tạo thêm động lực để vượt qua sự tập trung vào phàm ngã. |
5. This is such an important paragraph. It certainly applies to us in all our group endeavors. The Master is speaking in strong terms. He is devaluing our personal selves and emphasizing our value as souls. | 5. Đây là một đoạn văn rất quan trọng. Chắc chắn nó áp dụng cho chúng ta trong mọi nỗ lực nhóm. Chân sư đang dùng những lời lẽ mạnh mẽ. Ngài đang hạ thấp giá trị những bản ngã cá nhân của chúng ta và nhấn mạnh giá trị của chúng ta với tư cách linh hồn. |
6. Is there something in us that resents this? Or feels that DK is failing to recognize who ‘we’ are? If so, the implications are clear: we are still centered in our personality and not really ready for the group work of the kind here proposed. | 6. Có điều gì trong chúng ta bất bình về việc này không? Hoặc cảm thấy Chân sư DK không nhận ra ‘chúng ta’ là ai? Nếu có, hàm ý đã rõ: chúng ta vẫn tập trung trong phàm ngã và chưa thực sự sẵn sàng cho loại công việc nhóm được đề xuất ở đây. |
7. Some important questions could arise from the Master’s statements: “Am I raising or lowering the group vibration”? “Am I dimming or enhancing the group radiation of light?” | 7. Một số câu hỏi quan trọng có thể nảy sinh từ những phát biểu của Chân sư như sau: “Tôi đang nâng cao hay hạ thấp rung động nhóm”? “Tôi đang làm mờ hay tăng cường sự tỏa chiếu ánh sáng của nhóm?” |
8. What the Master is really doing is emphasizing who we are and withdrawing His attention from who we are not. In fact, rather than showing disinterest in us, He is showing a profound interest in who we really are. Upon the Path of Occultism one must overcome the distortions of the “astral inversion” which inclines us to value that which is relatively worthless and despise that which is really of true value. Under this inversion we ‘sell’ our real self to the lunar lords and reject the Angel Who seeks to see us on familiar terms with our Higher Self. | 8. Điều Chân sư thực sự đang làm là nhấn mạnh chúng ta là ai và rút sự chú ý của Ngài khỏi những gì chúng ta không phải. Thực ra, thay vì tỏ ra không quan tâm đến chúng ta, Ngài đang thể hiện mối quan tâm sâu sắc đến con người đích thực của chúng ta. Trên Con Đường Huyền Bí Học, người ta phải vượt qua những biến dạng của sự “đảo ngược cảm dục” vốn khiến chúng ta coi trọng những gì tương đối vô giá trị và xem thường những gì thực sự có giá trị đích thực. Dưới ảnh hưởng của sự đảo ngược này, chúng ta ‘bán’ bản ngã đích thực của mình cho các nguyệt tinh quân và khước từ Thiên Thần đang tìm cách đưa chúng ta vào mối quan hệ thân thiết với chân ngã của mình. |
9. This paragraph is so typical of the way in which the Master shows His love. He uses many contrasts, setting that which is undesirable to one side and countering it with that which is profoundly desirable. In fact, very often He uses the fourth ray of Harmony through Conflict. | 9. Đoạn văn này rất tiêu biểu cho cách Chân sư biểu lộ tình thương của Ngài. Ngài dùng nhiều sự tương phản, đặt những gì không đáng mong muốn sang một bên và đối lại bằng những gì vô cùng đáng mong muốn. Thực ra, Ngài rất thường sử dụng cung bốn Hài Hòa qua Xung Đột. |
10. To the superficial reader, it could seem as if the Master did not care about ‘us’. To the reader who reads with the eyes of the soul, we learn that not only does the Master care, but that He cherishes us — as souls. | 10. Với người đọc hời hợt, dường như Chân sư không quan tâm đến ‘chúng ta’. Khi đọc bằng đôi mắt linh hồn, chúng ta hiểu rằng Chân sư không chỉ quan tâm, mà Ngài còn trân quý chúng ta — với tư cách linh hồn. |
11. It is certain that the Master’s love is profound, but His experience is also great and He cannot lavish value on that which is relatively valueless, ignoring the best in us simply to preserve our comfortable habits of consciousness. | 11. Chắc chắn tình thương của Chân sư rất sâu sắc, nhưng kinh nghiệm của Ngài cũng rất rộng lớn, và Ngài không thể đề cao quá mức những gì tương đối vô giá trị, bỏ qua điều tốt đẹp nhất trong chúng ta chỉ để duy trì những thói quen tâm thức dễ chịu của chúng ta. |
I would like here to emphasise one point as we consider the individual in the group and his group relations. Watch with care your thoughts anent each other, and kill out at once all suspicion, all criticism and seek to hold each other unwaveringly in the light of love. You have no idea of the potency of such an effort or of its power to release each other’s bonds and to lift the group to an exceedingly high place. By the pure light of love for each other, you can draw nearer to me and to the teachers on the subjective side of life and arrive more rapidly at that Gate which opens on the lighted Way. You have the opportunity to demonstrate to each other the scientific value and power of love, regarded as a force in nature. Make this demonstration your endeavour. You will thus release for each other all that is needed to bring about potent and vital changes in the life patterns and purpose of the group members. | Ở đây, khi xem xét cá nhân trong nhóm và những quan hệ nhóm của người ấy, Tôi muốn nhấn mạnh một điểm. Hãy cẩn thận quan sát những tư tưởng các bạn dành cho nhau, lập tức dập tắt mọi nghi ngờ, mọi chỉ trích, và tìm cách giữ nhau vững vàng trong ánh sáng yêu thương. Các bạn không hình dung được sức mạnh của một nỗ lực như thế, hay khả năng của nó trong việc tháo gỡ những ràng buộc cho nhau và nâng nhóm lên một vị thế hết sức cao. Bằng ánh sáng thuần khiết của tình thương dành cho nhau, các bạn có thể đến gần Tôi và các huấn sư ở phía chủ quan của sự sống hơn, và nhanh chóng hơn đến được Cánh Cổng mở ra Con Đường được Soi Sáng. Các bạn có cơ hội chứng minh cho nhau giá trị khoa học và sức mạnh của tình thương, khi xem tình thương là một mãnh lực trong thiên nhiên. Hãy nỗ lực thực hiện sự chứng minh này. Như vậy, các bạn sẽ giải phóng cho nhau mọi điều cần thiết để tạo nên những thay đổi mạnh mẽ và đầy sinh lực trong các mô hình đời sống và mục đích của những thành viên trong nhóm. |
1. This paragraph offers one of the major keys to successful group work. The three major sources of glamor are criticism, suspicion and self-pity. Here the Master discusses two of them (criticism and suspicion) and asks us to kill them out. Instead, we are to hold each other “in the light of love”, which is equivalent to saying, ‘in the revelatory vibration of love’. | 1. Đoạn văn này đưa ra một trong những chìa khóa chính cho công việc nhóm thành công. Ba nguồn chính của ảo cảm là chỉ trích, nghi ngờ và tự thương hại. Ở đây, Chân sư bàn về hai trong số đó (chỉ trích và nghi ngờ) và yêu cầu chúng ta diệt trừ chúng. Thay vào đó, chúng ta phải giữ nhau “trong ánh sáng tình thương”, điều này tương đương với cách nói ‘trong rung động mặc khải của tình thương’. |
2. To hold each other thus, is a tremendous releasing factor. Why should this be so? Each criticism, each suspicion is like a theft from the one to whom they are directed. They are ‘forces of diminishment’; they never exalt but only tear down. They fail to strengthen the soul and only weaken the personality. | 2. Giữ nhau như vậy là một yếu tố giải phóng vô cùng mạnh mẽ. Vì sao lại như vậy? Mỗi lời chỉ trích, mỗi sự nghi ngờ đều giống như lấy cắp một điều gì đó từ người mà chúng nhắm đến. Chúng là ‘những mãnh lực làm suy giảm’; chúng không bao giờ nâng cao mà chỉ hạ thấp. Chúng không củng cố linh hồn mà chỉ làm suy yếu phàm ngã. |
3. Love, on the other hand, brings out the best in us; it swells the good and helps us overflow our limitations. Through love, we restore the other to ourselves and ourselves to each other. Under the regime of selfishness, we are bound by separatism and cleavage. We are disempowered by the limitations caused by artificial ego boundaries. The power of the whole is vastly greater than the part, yet such forces as criticism and suspicion imprison us in the part. They do not see and reinforce the good. | 3. Ngược lại, tình thương khơi dậy điều tốt đẹp nhất trong chúng ta; nó làm tăng trưởng điều thiện và giúp chúng ta vượt qua các giới hạn của mình. Qua tình thương, chúng ta đưa người khác trở về với mình và đưa mình trở về với nhau. Dưới sự thống trị của tính ích kỷ, chúng ta bị trói buộc vì tính chia rẽ và sự phân ly. Chúng ta mất đi sức mạnh do những giới hạn mà các ranh giới bản ngã giả tạo gây ra. Quyền năng của toàn thể lớn hơn vô cùng so với bộ phận, thế nhưng những mãnh lực như chỉ trích và nghi ngờ lại giam hãm chúng ta trong bộ phận. Chúng không nhìn thấy và củng cố điều thiện. |
4. One day there will be groups which love with a liberating love of the kind the Tibetan writes. So simple a thing He asks, and yet where are the groups in which this kind of love flows freely? Perhaps somewhere they exist. Surely, they must come to exist. | 4. Một ngày kia sẽ có những nhóm yêu thương bằng thứ tình thương giải phóng mà Chân sư Tây Tạng viết đến. Ngài yêu cầu một điều thật đơn giản, vậy mà đâu là những nhóm trong đó thứ tình thương này tuôn chảy tự do? Có lẽ chúng tồn tại ở đâu đó. Chắc chắn chúng phải xuất hiện. |
5. Why does the “pure light of love” draw us closer to the teachers on the inner side? Theirs is a world of harmony, of freely flowing, uninterrupted harmonious interchange. They live in a world of pure patterns, unobstructed by the ugly constructs which humanity has managed to create through wrong thought. The pure light of love instantly dissolves the ugly maze and restores the power of the archetype through which there can be free flow. It is we who prevent contact with the Master by our unfit vibratory patterns; on His side, He is ever ready, when our patterns are ready. | 5. Vì sao “ánh sáng thuần khiết của tình thương” đưa chúng ta đến gần hơn với các huấn sư ở phía bên trong? Thế giới của Các Ngài là một thế giới hài hòa, nơi sự giao lưu hài hòa tuôn chảy tự do, không gián đoạn. Các Ngài sống trong một thế giới của những mô hình thuần khiết, không bị cản trở bởi những cấu trúc xấu xí mà nhân loại đã tạo ra qua tư tưởng sai lầm. Ánh sáng thuần khiết của tình thương lập tức làm tan mê cung xấu xí ấy và khôi phục quyền năng của nguyên mẫu, qua đó dòng lưu chuyển có thể diễn ra tự do. Chính chúng ta ngăn cản sự tiếp xúc với Chân sư bằng những mô hình rung động không thích hợp của mình; về phía Ngài, Ngài luôn sẵn sàng khi những mô hình của chúng ta đã sẵn sàng. |
6. “The scientific value and power of love, regarded as a force in nature” — this, the Tibetan invites us to demonstrate. How difficult it is to encourage men to love! They have so much to gain — eventually the freedom of the whole — and yet they refuse to love. It is amazing that we almost habitually refuse the benefit of this great force. | 6. “Giá trị khoa học và quyền năng của tình thương, khi xem đó là một mãnh lực trong tự nhiên” — đó là điều Chân sư Tây Tạng mời gọi chúng ta chứng minh. Khuyến khích con người yêu thương khó biết bao! Họ có thể đạt được rất nhiều — cuối cùng là sự tự do của toàn thể — vậy mà họ vẫn khước từ yêu thương. Thật đáng kinh ngạc khi chúng ta gần như theo thói quen khước từ lợi ích của mãnh lực vĩ đại này. |
7. Of course, times are now changing. The Hierarchy is drawing nearer, the Aquarian energies are drawing closer (emphasizing the powers of Venus and Jupiter among others). The Christ is nearing His humanity. It should become easier to love and demonstrate love. The Aquarian Age will be a scientific Age, and love will studied as a scientific force, as is here suggested. | 7. Dĩ nhiên, thời thế hiện đang thay đổi. Thánh đoàn đang đến gần hơn, các năng lượng Bảo Bình đang tiến đến gần hơn (nhấn mạnh quyền năng của Sao Kim và Sao Mộc cùng những hành tinh khác). Đức Christ đang đến gần nhân loại của Ngài. Việc yêu thương và biểu lộ tình thương hẳn sẽ trở nên dễ dàng hơn. Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ là một Kỷ Nguyên khoa học, và tình thương sẽ được nghiên cứu như một mãnh lực khoa học, như gợi ý ở đây. |
8. It is clear that if we do not love, we hold each other in bondage. How we see the other is often what the other becomes. The story of Don Quixote is an admirable example. We should remember the good we can do each other simply through the genuine expression of love. We have only to think of Christ’s love for us to realize what can be accomplished when love is strong and pure. There is so much talk about this energy, and so little realization of what it is. Yet its day is coming. | 8. Rõ ràng, nếu không yêu thương, chúng ta giữ nhau trong sự trói buộc. Cách chúng ta nhìn người khác thường trở thành điều mà người ấy sẽ trở nên. Câu chuyện Don Quixote là một ví dụ đáng ngưỡng mộ. Chúng ta nên nhớ điều tốt đẹp mình có thể làm cho nhau chỉ bằng cách chân thành biểu lộ tình thương. Chúng ta chỉ cần nghĩ đến tình thương của Đức Christ dành cho mình để nhận ra những gì có thể thành tựu khi tình thương mạnh mẽ và thuần khiết. Người ta nói quá nhiều về năng lượng này, nhưng lại nhận biết quá ít về bản chất của nó. Tuy vậy, thời đại của nó đang đến. |
Love is not a sentiment or an emotion nor is it desire or a selfish motive for right action in daily life. Love is the wielding of the force which guides the worlds and which leads to the integration, unity and inclusiveness which impels Deity itself to action. Love is a hard thing to cultivate — such is the inherent selfishness of human nature; it is a difficult thing to apply to all conditions of life and its expression will demand of you the utmost you have to give and the stamping out of your selfish personal activities. | Tình thương không phải là tình cảm hay cảm xúc, cũng không phải dục vọng hoặc động cơ ích kỷ thúc đẩy hành động đúng đắn trong đời sống hằng ngày. Tình thương là sự vận dụng mãnh lực hướng dẫn các thế giới, dẫn đến sự tích hợp, hợp nhất và tính bao gồm vốn thôi thúc chính Thượng đế hành động. Tình thương là điều khó vun bồi—do tính ích kỷ vốn có trong bản chất con người; đó là điều khó áp dụng vào mọi hoàn cảnh của đời sống, và để biểu lộ tình thương, các bạn phải cống hiến hết khả năng của mình và dẹp bỏ những hoạt động cá nhân ích kỷ. |
1. DK goes on to tell us what love it not. It is not a sentiment — an unclear thought tinged with a pleasant feeling. | 1. Chân sư DK tiếp tục cho chúng ta biết tình thương không phải là gì. Nó không phải là một cảm tình — một tư tưởng không rõ ràng nhuốm một cảm giác dễ chịu. |
2. It is not an emotion moving us through strong desire. | 2. Nó không phải là một cảm xúc thúc đẩy chúng ta qua dục vọng mạnh mẽ. |
3. It is not a desire, for it wants nothing for itself. It is a giving rather than a taking or getting. | 3. Nó không phải là dục vọng, vì nó không muốn gì cho riêng mình. Nó là sự cho đi hơn là lấy hay nhận về. |
4. Nor is love a “selfish motive for right action in daily life”. For instance, one might selfishly think that if all were peaceful and loving, one could more easily gratify one’s desires. | 4. Tình thương cũng không phải là một “động cơ ích kỷ thúc đẩy hành động đúng đắn trong đời sống hằng ngày”. Chẳng hạn, người ta có thể ích kỷ nghĩ rằng nếu mọi thứ đều an bình và đầy tình thương, mình có thể dễ dàng thỏa mãn những dục vọng của mình hơn. |
5. These states (familiar definitions of love) are a limitation upon the true nature of love. | 5. Những trạng thái này (những định nghĩa quen thuộc về tình thương) giới hạn bản chất đích thực của tình thương. |
6. Then, DK (echoing Dante) says something extraordinary: “Love is the wielding of the force with guides the worlds”. He seems to be saying that all that is moving is moving because of Love. Love is the cohesive, attractive force which ensures that the God-intended Archetype is realized, materialized and fulfilled. | 6. Rồi Chân sư DK (nhắc lại ý của Dante) nói một điều phi thường: “Tình thương là việc vận dụng mãnh lực hướng dẫn các thế giới”. Dường như Ngài đang nói rằng tất cả những gì chuyển động đều chuyển động nhờ Tình thương. Tình thương là mãnh lực cố kết, thu hút, bảo đảm rằng Nguyên Mẫu theo ý định của Thượng đế được hiện thực hóa, hiện hình và hoàn thành. |
7. Somehow, when a certain unity, integration and inclusiveness are achieved, this achievement is recognized as the ‘Field of Love’. When this field is realized, one is impelled to do everything possible to bring all creation into that ‘Field of Love’. | 7. Theo một cách nào đó, khi đạt được một mức độ hợp nhất, tích hợp và tính bao gồm nhất định, thành tựu này được nhận biết là ‘Trường Tình Thương’. Khi chứng nghiệm trường này, người ta được thôi thúc làm mọi điều có thể để đưa toàn thể tạo vật vào ‘Trường Tình Thương’. |
8. Love is not what people usually say it is. It is a Force so stupendous that it is forever surprising. It is the Force forgotten again and again under the spell of illusion, and yet re-emerges insistently, ever-new, demanding the total allegiance of the consciousness. | 8. Tình thương không phải là điều người ta thường nói về nó. Đó là một Mãnh Lực lớn lao đến mức luôn gây kinh ngạc. Đó là Mãnh Lực hết lần này đến lần khác bị lãng quên dưới sức mê hoặc của ảo tưởng, nhưng vẫn kiên trì tái xuất hiện, luôn mới mẻ, đòi hỏi sự tận hiến trọn vẹn của tâm thức. |
9. Then comes DK’s realism: “Love is a hard thing to cultivate”. As magnificent as is this Energy, established human nature resists the experience and presence of Love. | 9. Rồi đến nhận định thực tế của Chân sư DK như sau: “Tình thương là điều khó vun bồi”. Dù Năng Lượng này tráng lệ đến đâu, bản chất con người đã định hình vẫn chống lại trải nghiệm và sự hiện diện của Tình thương. |
10. Clearly, DK is calling for the development of the “Will-to-Love”, so that the difficulty in cultivation may at length be overcome. | 10. Rõ ràng, Chân sư DK đang kêu gọi phát triển “Ý Chí-Yêu Thương”, để cuối cùng có thể vượt qua khó khăn trong việc vun bồi tình thương. |
11. Why is Love so difficult to cultivate and apply? Might it be said that, as personalities, we are built of forces the very nature of which opposes love. Rotary motion rules, long cultivated during and since the last solar system. Spiral cyclic motion has yet to win the day. Therefore, two types of universal motion are opposed and contend with each other. | 11. Vì sao Tình thương lại khó vun bồi và áp dụng đến vậy? Có thể nói rằng, với tư cách phàm ngã, chúng ta được cấu thành từ những mãnh lực mà chính bản chất của chúng chống lại tình thương chăng. Chuyển động quay đang chi phối, sau một thời gian dài được vun bồi trong hệ mặt trời trước và kể từ đó đến nay. Chuyển động xoắn ốc theo chu kỳ vẫn chưa giành được ưu thế. Do đó, hai loại chuyển động phổ quát đối lập và tranh đấu với nhau. |
12. Matter of the present kind does not yet easily ‘hold the presence of Love’. It has to be trained to do so. Master DK is asking His disciples to train themselves in this direction. | 12. Loại vật chất hiện nay vẫn chưa dễ dàng ‘lưu giữ sự hiện diện của Tình thương’. Nó phải được rèn luyện để làm như vậy. Chân sư DK đang yêu cầu các đệ tử của Ngài tự rèn luyện theo hướng này. |
13. Selfishness is the given; love is the rarity. | 13. Tính ích kỷ là điều sẵn có; tình thương là điều hiếm hoi. |
Disciples in the group of a Master have to love each other with intelligence and an abiding strength and thus release that light and power which will eventually make the group of effective value in the world. As I work with you in the future, I shall not wait to wrap up the truths I have to say to each of you in such a way that they cannot hurt. I shall not in the future consider your personality feelings and reactions because I count upon the sincerity of your purpose. | Các đệ tử trong nhóm của một Chân sư phải yêu thương nhau bằng trí tuệ và sức mạnh bền vững, qua đó giải phóng ánh sáng và mãnh lực mà cuối cùng sẽ khiến nhóm trở nên hữu ích thực sự trong thế gian. Trong tương lai, khi làm việc với các bạn, Tôi sẽ không mất thời gian bọc những chân lý cần nói với từng người trong các bạn theo cách khiến chúng không thể gây tổn thương. Từ nay, Tôi sẽ không cân nhắc những cảm xúc và phản ứng của phàm ngã các bạn, vì Tôi tin cậy vào sự chân thành trong mục đích của các bạn. |
1. We are here given the way in which we must love each other (if we are to be in a Master’s group) — i. e. , with intelligence and an abiding strength. | 1. Ở đây, chúng ta được chỉ cho cách phải yêu thương nhau (nếu muốn ở trong nhóm của một Chân sư) — nghĩa là, bằng trí tuệ và sức mạnh bền bỉ. |
2. Over and over the idea is repeated: love brings release. We free each other through love. We strengthen each other through love. We bring fulfillment to each other through love. So great is the promise, that one would think love would be practiced ceaselessly. Perhaps people simply do not know how. | 2. Ý tưởng này được nhắc đi nhắc lại: tình thương đem lại sự giải phóng. Chúng ta giải phóng nhau qua tình thương. Chúng ta củng cố sức mạnh cho nhau qua tình thương. Chúng ta đem lại sự viên mãn cho nhau qua tình thương. Triển vọng ấy lớn lao đến mức người ta hẳn sẽ nghĩ rằng tình thương phải được thực hành không ngừng. Có lẽ người ta chỉ đơn giản là không biết cách. |
3. DK moves immediately from love to frankness. Having stated how we should love each other (which is very much the way He loves us), He assures us that He will not “wrap up the truth[s]” that He has to share with us in such a way “that they cannot hurt”. At least this is His intention. My impression, however, is that on a number of occasions (out of compassion) He did exactly that. He certainly buffered the impact of some strong thoughts He had to convey. His approach is ‘masterful’. | 3. Chân sư DK lập tức chuyển từ tình thương sang sự thẳng thắn. Sau khi nêu rõ chúng ta nên yêu thương nhau như thế nào (rất giống cách Ngài yêu thương chúng ta), Ngài bảo đảm với chúng ta rằng Ngài sẽ không “bọc chân lý [những chân lý]” mà Ngài phải chia sẻ với chúng ta sao cho “chúng không thể gây tổn thương”. Ít nhất đó là ý định của Ngài. Tuy nhiên, tôi có cảm tưởng rằng trong một số trường hợp (vì lòng từ bi), Ngài đã làm đúng như vậy. Chắc chắn Ngài đã làm dịu tác động của một số tư tưởng mạnh mẽ mà Ngài phải truyền đạt. Cách tiếp cận của Ngài thật ‘bậc thầy’. |
4. But at least at the beginning of this experimental enterprise, He takes the entirely impersonal point of view, discounting the value of feelings, and asserting that the sincerity of the student makes it unnecessary to be artificially gentle in conveying the truth. | 4. Nhưng ít nhất vào lúc khởi đầu công cuộc thử nghiệm này, Ngài giữ quan điểm hoàn toàn vô tư, giảm nhẹ giá trị của các cảm giác và khẳng định rằng sự chân thành của đạo sinh khiến việc dịu dàng một cách giả tạo khi truyền đạt chân lý trở nên không cần thiết. |
5. This paragraph seems to say that love and directness go hand in hand — that if one loves enough, one can be completely truthful and direct. | 5. Đoạn văn này dường như nói rằng tình thương và sự thẳng thắn đi đôi với nhau — rằng nếu yêu thương đủ sâu sắc, người ta có thể hoàn toàn chân thật và thẳng thắn. |
6. The corollary is that feelings, per se, are illusory and no guide to truth. One should not have to tiptoe around such unrealities. | 6. Hệ quả là chính các cảm giác mang tính ảo tưởng và không phải là kim chỉ nam dẫn đến chân lý. Người ta không nên phải rón rén né tránh những điều không thực như vậy. |
It is perhaps wise to remember here that, as a general rule, no one believes what others may tell him — no matter how apparent [11] the truth or how much the person may protest that he accepts that truth. Only those truths which are wrought out individually in the crucible of experience really penetrate into the living consciousness and bear fruit. But in this group effort which we are undertaking, the fact that all in the group are made aware of what is said to the individual may prove most useful and produce much more rapid adjustments than could otherwise be the case — provided that, unitedly and in love, they will then help their fellow disciple to change the undesirable condition. I count on one thing only, my brothers, and that is your deep sincerity. It is not a negative thing (as some claim) to point out a fault or error. As the clear light of the soul pours in, it reveals the personality for what it is. If true dispassion is practised, this group of disciples can see things as they are and remain untouched by the revelation of the desirable or the undesirable qualities. If you are depressed or irritated or hurt by such revelation, it indicates a basic lack of dispassion and proves attachment to the personality and to the opinions of others. | Có lẽ ở đây nên nhớ rằng, theo thông lệ chung, không ai tin điều người khác có thể nói với mình—dù chân lý ấy hiển nhiên đến đâu [11] hoặc dù người ấy có quả quyết đến mức nào rằng mình chấp nhận chân lý ấy. Chỉ những chân lý mà mỗi cá nhân tự rèn đúc trong lò thử thách của kinh nghiệm mới thực sự thâm nhập vào tâm thức sống động và đơm hoa kết trái. Nhưng trong nỗ lực nhóm mà chúng ta đang thực hiện, việc mọi người trong nhóm đều biết những điều được nói với từng cá nhân có thể tỏ ra hết sức hữu ích và đem lại những điều chỉnh nhanh chóng hơn nhiều so với cách khác—với điều kiện sau đó, trong sự hợp nhất và tình thương, họ trợ giúp đệ tử đồng môn của mình thay đổi tình trạng không mong muốn. Hỡi các huynh đệ của Tôi, Tôi chỉ tin cậy vào một điều: sự chân thành sâu sắc của các bạn. Chỉ ra một khuyết điểm hay sai lầm không phải là điều tiêu cực (như một số người quả quyết). Khi ánh sáng trong trẻo của linh hồn tuôn vào, nó bộc lộ phàm ngã đúng như thực trạng của phàm ngã. Nếu thực hành sự dứt bỏ đam mê chân thực, nhóm đệ tử này có thể thấy sự vật đúng như chúng là và không bị tác động khi những phẩm tính đáng mong muốn hay không đáng mong muốn được phơi bày. Nếu các bạn chán nản, bực bội hay tổn thương trước sự phơi bày ấy, điều đó cho thấy sự thiếu vắng căn bản của thái độ dứt bỏ đam mê và chứng tỏ sự chấp trước vào phàm ngã cùng ý kiến của người khác. |
1. The Tibetan opens with a surprising statement and many of us would protest that He is incorrect. “Of course”, we might say, “we can accept the truth from another when it seems obvious and agrees with what we consider true and accurate”. | 1. Chân sư Tây Tạng mở đầu bằng một phát biểu gây ngạc nhiên, và nhiều người trong chúng ta sẽ phản đối rằng Ngài không đúng. “Dĩ nhiên”, chúng ta có thể nói, “chúng ta có thể chấp nhận chân lý từ người khác khi nó có vẻ hiển nhiên và phù hợp với những gì mình cho là đúng và chính xác”. |
2. Ultimately, however, we realize that He is correct. There is a kind of protective mechanism within the human being which insists on verifying beliefs — especially in matters which lie within the believer’s range of provability. | 2. Tuy nhiên, cuối cùng chúng ta nhận ra rằng Ngài đúng. Trong con người có một loại cơ chế bảo vệ nhất quyết đòi kiểm chứng các niềm tin — nhất là trong những vấn đề nằm trong phạm vi mà người tin có thể chứng minh. |
3. In the Tibetan’s experiment, all disciples in any group-of-nine received the personal instruction sent to each disciple in that group. The value of this approach is here emphasized; DK tells us that the resultant mutual awareness may produce “much more rapid adjustments than might otherwise be the case”. It is obvious that a certain potential vulnerability is created by this kind of sharing within a group. Therefore, an attitude of united group love is required of those who are made aware of their brothers’ weaknesses. Such awareness is a tremendous responsibility. | 3. Trong cuộc thử nghiệm của Chân sư Tây Tạng, tất cả đệ tử trong bất kỳ nhóm chín người nào đều nhận được huấn thị cá nhân gửi cho từng đệ tử trong nhóm đó. Ở đây nhấn mạnh giá trị của cách tiếp cận này; Chân sư DK cho chúng ta biết rằng sự nhận biết lẫn nhau do đó tạo ra có thể dẫn đến “những điều chỉnh nhanh hơn nhiều so với trường hợp khác”. Rõ ràng, kiểu chia sẻ này trong một nhóm tạo ra một khả năng dễ bị tổn thương nhất định. Do đó, những người được biết các nhược điểm của huynh đệ mình cần có thái độ yêu thương hợp nhất của nhóm. Sự nhận biết như vậy là một trách nhiệm vô cùng lớn lao. |
4. Basically, the Tibetan is relying upon one or two foundational conditions within His disciples: persistence and sincerity. Without strong commitment, success would not be possible. | 4. Về cơ bản, Chân sư Tây Tạng đang dựa vào một hoặc hai điều kiện nền tảng nơi các đệ tử của Ngài: sự kiên trì và sự chân thành. Không có sự cam kết mạnh mẽ thì không thể thành công. |
5. As a teacher of the Ageless Wisdom and the Master the Ashram, the Tibetan is obliged to point out faults or errors when He deems it necessary for the welfare of the group or the individual. He is trying to help His disciples develop the right attitude towards such revelations. | 5. Là một huấn sư của Minh Triết Ngàn Đời và là Chân sư của ashram, Chân sư Tây Tạng có bổn phận chỉ ra những khuyết điểm hay sai lầm khi Ngài thấy điều đó cần thiết cho phúc lợi của nhóm hay cá nhân. Ngài đang cố gắng giúp các đệ tử của mình phát triển thái độ đúng đắn đối với những sự mặc khải như vậy. |
6. Even if the Tibetan refrained from revealing faults and errors, the intensifying light of the soul, pouring into the disciple’s consciousness, would bring revelation of the undesirable — not only to an individual disciple in whom the difficulty might exist, but to the disciple’s co-workers. “Each sees and knows the villainy of each”. | 6. Ngay cả khi Chân sư Tây Tạng không phơi bày các khuyết điểm và sai lầm, ánh sáng ngày càng mạnh của linh hồn tuôn vào tâm thức người đệ tử vẫn sẽ làm hiển lộ điều không đáng mong muốn — không chỉ cho cá nhân đệ tử có thể đang mang khó khăn ấy, mà còn cho những người cộng sự của người đệ tử ấy. “Mỗi người đều thấy và biết sự xấu xa của từng người khác”. |
7. Responding to such inevitable revelations in the right way requires dispassion and detachment, and, essentially, a disidentification from the ‘field of error’. After all, the disciple is not the personality. The personality is the disciple’s instrument, and if the disciple is identified with a center of being (the soul) other than that instrument, he/she will be able to respond to constructive correction in the right way. | 7. Đáp ứng đúng cách trước những sự mặc khải tất yếu như vậy đòi hỏi sự bình thản không vướng mắc và sự buông bỏ, và về cơ bản là không còn đồng hoá với ‘trường sai lầm’. Xét cho cùng, người đệ tử không phải là phàm ngã. Phàm ngã là công cụ của người đệ tử, và nếu người đệ tử đồng hoá với một trung tâm hiện tồn (linh hồn) khác với công cụ ấy, người đệ tử ấy sẽ có thể đáp ứng đúng cách trước sự sửa chữa mang tính xây dựng. |
8. In the final sentence of the paragraph DK speaks of the possible reactions of depression, irritation and hurt (i. e. , “hurt feelings”). He seeks to avoid such undesirable responses, but, as we can imagine, a number of the disciples did respond at times in this undesirable manner. To know beforehand that a certain type of response is undesirable is useful should that response arise. It can then be recognized for what it is and dealt with more effectively. There is much of pain, sorrow and suffering in the disidentification process. It seems that human consciousness has almost to be ‘pried loose’ from identification with what it is not. | 8. Trong câu cuối của đoạn văn, Chân sư DK nói đến những phản ứng có thể xảy ra như chán nản, bực bội và tổn thương (tức là , “cảm thấy bị tổn thương”). Ngài muốn tránh những đáp ứng không mong muốn ấy, nhưng như chúng ta có thể hình dung, đôi khi một số đệ tử quả đã đáp ứng theo cách không mong muốn này. Biết trước rằng một kiểu đáp ứng nào đó là không mong muốn sẽ hữu ích nếu đáp ứng ấy xuất hiện. Khi đó, chúng ta có thể nhận diện đúng bản chất của nó và xử lý hiệu quả hơn. Tiến trình thôi đồng hoá chứa đựng nhiều đau đớn, buồn khổ và thống khổ. Dường như gần như phải ‘cạy cho tâm thức con người rời ra’ khỏi sự đồng hoá với những gì vốn không phải là nó. |
9. The process of establishing a basic humility is filled with moments of perceived humiliation. This can be difficult to take — for the personality. There is, however, no escape. The lower ego must be humbled and inevitably experiences pain in the process, until the soul understands what is happening and participates more joyfully in the ‘game’ | 9. Tiến trình thiết lập lòng khiêm nhường căn bản chứa đầy những khoảnh khắc mà người ta cảm thấy mình bị hạ nhục. Điều này có thể khó chịu đựng — đối với phàm ngã. Tuy nhiên, không có lối thoát. Phàm ngã phải học cách hạ mình và tất yếu trải nghiệm đau đớn trong tiến trình ấy, cho đến khi linh hồn thấu hiểu điều đang diễn ra và tham gia một cách hoan hỉ hơn vào ‘trò chơi’ |
Secondly, it is essential that all disciples in an Ashram should be contemplatives, but contemplatives in the occult sense and not the mystical. In any meditation work which you are doing or may in the future do, your aim should be to achieve as rapidly as possible the highest point in the meditation process, passing quickly through the stages of concentration, alignment and meditation to contemplation. Having achieved that high point, you should strive to preserve it and should learn thus to function as a soul in its own world, contemplating the world of energies in which all initiates work and in which you each must some day — in this life or another — take your place. This status (if I may call it by such a name) must be carefully striven for, accurately observed when in any way attained, and an exact record of impressions kept. You should, therefore, constitute a group of active contemplatives, and the result will be facilitated if you will ponder upon and struggle for the first condition of your group existence — group unity. [[12]] | Thứ hai, điều thiết yếu là mọi đệ tử trong một ashram đều phải là những người chiêm ngưỡng, nhưng là những người chiêm ngưỡng theo nghĩa huyền bí, chứ không phải thần bí. Trong bất kỳ công việc tham thiền nào mà các bạn đang thực hiện hoặc có thể thực hiện trong tương lai, mục tiêu của các bạn phải là đạt đến điểm cao nhất của tiến trình tham thiền càng nhanh càng tốt, nhanh chóng đi qua các giai đoạn tập trung, chỉnh hợp và tham thiền để đến chiêm ngưỡng. Khi đã đạt đến điểm cao ấy, các bạn phải cố gắng duy trì nó và nhờ đó học cách hoạt động như một linh hồn trong chính thế giới của linh hồn, chiêm ngưỡng thế giới năng lượng nơi mọi điểm đạo đồ làm việc, và nơi mỗi người trong các bạn một ngày nào đó—trong kiếp này hay kiếp khác—phải đảm nhận vị trí của mình. Các bạn phải cẩn thận nỗ lực đạt đến trạng thái này (nếu Tôi có thể gọi như vậy), quan sát chính xác khi đạt được nó dưới bất kỳ hình thức nào, và lưu giữ bản ghi chép chính xác về những ấn tượng nhận được. Vì vậy, các bạn phải hợp thành một nhóm những người chiêm ngưỡng tích cực, và kết quả sẽ thuận lợi hơn nếu các bạn suy ngẫm và phấn đấu cho điều kiện đầu tiên của sự hiện hữu nhóm—sự hợp nhất nhóm. |
1. The Tibetan emphasizes the value of contemplation. His students are to learn to contemplate and become, therefore, “a group of active contemplatives”. Contemplation is a rather high stage in the meditative process and means, essentially, that the meditator can enter the dimension of the soul at will, and function as a soul in the world of soul. | 1. Chân sư Tây Tạng nhấn mạnh giá trị của sự chiêm ngưỡng. Các môn sinh của Ngài phải học cách chiêm ngưỡng và do đó trở thành “một nhóm những người chiêm ngưỡng tích cực”. Chiêm ngưỡng là một giai đoạn khá cao trong tiến trình tham thiền và về thực chất có nghĩa là người hành thiền có thể tuỳ ý đi vào chiều kích của linh hồn, và hoạt động như một linh hồn trong thế giới linh hồn. |
2. This is another way of saying that student/disciples in His groups are no longer to meditate as personalities. During the meditation process, they are to see their identity change into that of the soul. One day in the future, they are to make the transition from being able to meditate as a soul to being able to live as a soul, focussed constantly in that dimension which they entered by means of contemplation. | 2. Đây là một cách nói khác rằng các môn sinh/đệ tử trong những nhóm của Ngài không còn được tham thiền như những phàm ngã. Trong tiến trình tham thiền, họ phải nhận thấy bản sắc của mình chuyển thành bản sắc của linh hồn. Một ngày nào đó trong tương lai, họ phải chuyển từ khả năng tham thiền như một linh hồn sang khả năng sống như một linh hồn, luôn tập trung trong chiều kích mà họ đã đi vào nhờ chiêm ngưỡng. |
3. Here the Tibetan speaks of the cultivation of the subjective life. Contemplation is not a naturally-achieved state of consciousness. The necessary stages of concentration, alignment and meditation precede it. DK wants His students to recognize the contemplative stage when it is achieved — presumably, so the experience can be more readily repeated. | 3. Ở đây, Chân sư Tây Tạng nói đến việc vun bồi đời sống chủ quan. Chiêm ngưỡng không phải là một trạng thái tâm thức tự nhiên mà đạt được. Các giai đoạn cần thiết gồm tập trung, chỉnh hợp và tham thiền phải đi trước trạng thái ấy. Chân sư DK muốn các môn sinh của Ngài nhận biết giai đoạn chiêm ngưỡng khi đạt đến nó — có lẽ để trải nghiệm ấy có thể dễ dàng lặp lại hơn. |
4. A fascinating idea is offered: if group unity is achieved, contemplation is facilitated. A condition of group unity ends the many distractions that continue to force the human consciousness back into personality identification. The soul is group conscious and the soul state is entered by those who can slip easily into group consciousness. | 4. Một ý tưởng hấp dẫn được nêu ra: nếu đạt được sự hợp nhất nhóm, việc chiêm ngưỡng sẽ thuận lợi hơn. Trạng thái hợp nhất nhóm chấm dứt nhiều sự xao lãng vốn liên tục buộc tâm thức con người trở lại đồng hoá với phàm ngã. Linh hồn có tâm thức nhóm, và những ai có thể dễ dàng đi vào tâm thức nhóm sẽ đi vào trạng thái linh hồn. |
5. Group love and contemplation are closely related. Two astrological sources (Libra and Venus) are related to the contemplative stage of consciousness. These astrological factors are also related to group consciousness and especially to the second Law of the Soul (the Law of Magnetic Impulse or Polar Union). | 5. Tình thương nhóm và sự chiêm ngưỡng có quan hệ mật thiết. Hai nguồn chiêm tinh (Thiên Bình và Sao Kim) có liên hệ với giai đoạn chiêm ngưỡng của tâm thức. Những yếu tố chiêm tinh này cũng liên hệ với tâm thức nhóm và đặc biệt với Định luật thứ hai của Linh hồn (Định luật Xung Động Từ Tính hay Hợp Nhất Đối Cực). |
6. In the contemplative state there is an appreciation (Venus) of group soul-union (Libra) — embracing all personalities within the group as well. | 6. Trong trạng thái chiêm ngưỡng, có sự trân trọng (Sao Kim) đối với sự hợp nhất linh hồn trong nhóm (Thiên Bình) — đồng thời bao hàm mọi phàm ngã trong nhóm. |
7. On the Path of Occultism we so often find that the cultivation of a particular virtue strengthens another ability or virtue which, hitherto, had seemed unrelated. | 7. Trên Con Đường Huyền Bí Học, chúng ta rất thường thấy rằng việc vun bồi một đức tính cụ thể làm tăng cường một khả năng hay đức tính khác mà trước đó dường như không có liên hệ. |
Third: This group unity which will have its roots in united group meditation or in the contemplative life (wherein the soul knows itself to be one with all souls) must work out in some form of group activity. This should demonstrate at once in the group itself and later on — when the unification is more complete — in the world at large. It is in this way that the Masters’ Ashrams will be externalised on earth and the Hierarchy function openly on the physical plane and not behind the scenes as hitherto. Then will come the restoration of the Mysteries. | [12] Thứ ba: Sự hợp nhất nhóm này, vốn sẽ bắt rễ trong sự tham thiền hợp nhất của nhóm hoặc trong đời sống chiêm ngưỡng (nơi linh hồn biết mình là một với mọi linh hồn), phải biểu hiện qua một hình thức hoạt động nhóm nào đó. Điều này phải thể hiện ngay trong chính nhóm và sau đó—khi sự hợp nhất hoàn chỉnh hơn—trong thế giới nói chung. Chính bằng cách này, các ashram của các Chân sư sẽ ngoại hiện trên trần gian, và Thánh đoàn sẽ hoạt động công khai trên cõi hồng trần thay vì ở hậu trường như từ trước đến nay. Khi ấy, các Huyền Nhiệm sẽ được phục hồi. |
1. This last paragraph is full of the promise of better times to come. The cultivation of the internal states of group unity and contemplative realization will have very practical and beneficial effects in the coming civilization. | 1. Đoạn cuối này tràn đầy hứa hẹn về những thời kỳ tốt đẹp hơn sẽ đến. Việc vun bồi các trạng thái nội tâm của sự hợp nhất nhóm và sự chứng nghiệm qua chiêm ngưỡng sẽ đem lại những tác động rất thiết thực và hữu ích trong nền văn minh sắp tới. |
2. Group unity is not achieved simply by willing group unity. Rather, it grows out of meditative realization, and especially from the contemplative state. | 2. Không thể đạt được sự hợp nhất nhóm chỉ bằng cách dùng ý chí mong muốn sự hợp nhất nhóm. Đúng hơn, nó nảy sinh từ sự chứng nghiệm qua tham thiền, và đặc biệt từ trạng thái chiêm ngưỡng. |
3. We have here a ‘virtuous circle’: contemplation reinforces group unity; group unity reinforces the ability to contemplate as a soul. We should ponder on the connection between these two until we are clear about their mutual interplay. | 3. Ở đây, chúng ta có một ‘vòng tương hỗ tích cực’: chiêm ngưỡng củng cố sự hợp nhất nhóm; sự hợp nhất nhóm củng cố khả năng chiêm ngưỡng như một linh hồn. Chúng ta nên suy ngẫm về mối liên hệ giữa hai điều này cho đến khi hiểu rõ sự tương tác qua lại của chúng. |
4. Group unity is a beneficial state of consciousness for all individuals in the group and for the group as a whole. From such unity, constructive service activity will grow — first within the group and then in relation to the world at large. | 4. Sự hợp nhất nhóm là một trạng thái tâm thức có lợi cho mọi cá nhân trong nhóm và cho toàn thể nhóm. Từ sự hợp nhất ấy, hoạt động phụng sự mang tính xây dựng sẽ phát triển — trước hết trong nhóm, rồi trong mối liên hệ với thế giới nói chung. |
5. What we see is that group unity and achieved contemplation are important factors in producing the Externalization of the Hierarchy and the eventual “restoration of the Mysteries”. | 5. Điều chúng ta thấy là sự hợp nhất nhóm và việc đạt đến chiêm ngưỡng là những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn và cuối cùng là “sự phục hồi các Bí Pháp”. |
To the next commentary | Sang phần bình giảng tiếp theo |