DINA I · Bình giảng 15
commentary by Michael D. Robbins | bình giảng của Michael D. Robbins |
In considering this whole subject of discipleship there are certain things of which I would like to remind you. If you will reflect upon them you will find they may change somewhat your idea of what constitutes discipleship but they will also enrich your general concept anent this subject. | Khi xem xét toàn bộ chủ đề địa vị đệ tử này, có một số điều Tôi muốn nhắc các bạn. Nếu suy ngẫm về chúng, các bạn sẽ thấy chúng có thể phần nào thay đổi ý tưởng của các bạn về những gì cấu thành địa vị đệ tử, đồng thời cũng làm phong phú quan niệm chung của các bạn về chủ đề này. |
1. Master DK is attempting the present an understanding of the new discipleship. | 1. Chân sư DK đang cố gắng trình bày sự thấu hiểu về địa vị đệ tử mới. |
2. He has told us that, of the seven several “newer truths” for which He was responsible as a transmitting agent (seven in all), the “Teaching on the New Discipleship” was the second in importance (R&I 251) | 2. Ngài đã cho chúng ta biết rằng, trong bảy “chân lý mới hơn” mà Ngài chịu trách nhiệm truyền đạt với tư cách một tác nhân trung chuyển, tổng cộng là bảy, thì “Giáo huấn về Địa Vị Đệ Tử Mới” đứng thứ hai về tầm quan trọng (Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, 251) |
The first point which I would like to bring out is that accepted disciples are in training for initiation. If, when they [694] approach the Path of Discipleship they fail to grasp this fact and to give the fullest cooperation, they postpone the time of that initiation. Their grasp of the fact will be demonstrated in the intensity of their proffered service. Planned service is one of the modes of the training. Disciples in the early stages of their work are apt to be primarily interested in themselves and in their own reactions and attitudes to the Master. The fact that they are working in a Master’s group seems to them the fact of paramount importance. | Điểm đầu tiên Tôi muốn làm rõ là các đệ tử được chấp nhận đang được huấn luyện để điểm đạo. Nếu khi [694] bước đến Con Đường Đệ Tử, họ không nắm được sự thật này và không hợp tác hết mình, họ sẽ trì hoãn thời điểm điểm đạo ấy. Việc họ nắm được sự thật này sẽ biểu hiện qua cường độ phụng sự mà họ sẵn lòng cống hiến. Phụng sự có kế hoạch là một trong những phương thức huấn luyện. Trong những giai đoạn đầu của công việc, các đệ tử thường chủ yếu quan tâm đến bản thân, những phản ứng và thái độ của mình đối với Chân sư. Đối với họ, việc mình đang làm việc trong nhóm của một Chân sư dường như là điều quan trọng nhất. |
3. Many important points about accepted discipleship and world discipleship have been emerging. These two stages have to be clearly understood and DK is clearing up a number of misconceptions. | 3. Nhiều điểm quan trọng về địa vị đệ tử được chấp nhận và địa vị đệ tử thế giới đã dần hiện rõ. Cần thấu hiểu rõ hai giai đoạn này, và Chân sư DK đang làm sáng tỏ một số quan niệm sai lầm. |
4. DK puts pressure upon accepted disciples by reminding them that they “are in training for initiation”. This means that much forward progress is expected of them. | 4. Chân sư DK tạo áp lực lên các đệ tử được chấp nhận bằng cách nhắc họ rằng họ “đang được huấn luyện để điểm đạo”. Điều này có nghĩa là Ngài kỳ vọng họ tiến bộ nhiều. |
5. “The fullest cooperation” is expected of an accepted disciple; presumably this means cooperation with the Master Who has the disciple under direction and supervision. An accepted disciple who realizes his/her initiatory opportunity will demonstrate this realization in an intensity of proffered service. | 5. “Sự hợp tác trọn vẹn nhất” là điều được kỳ vọng ở một đệ tử được chấp nhận; có lẽ điều này hàm ý sự hợp tác với Chân sư đang chỉ dẫn và giám sát người đệ tử ấy. Một đệ tử được chấp nhận nhận ra cơ hội điểm đạo của mình sẽ thể hiện sự nhận biết ấy qua cường độ phụng sự mà mình hiến dâng. |
6. Another important principle is stated: “planned service is one of the modes of training”—training the accepted disciple for initiation. We note that the service must be planned service, which engages the both the disciple’s understanding of humanity’s needs and his/her self-knowledge (so needed for one who is to know where and how best to serve). | 6. Một nguyên tắc quan trọng khác được nêu ra: “phụng sự có kế hoạch là một trong những phương thức huấn luyện”—huấn luyện đệ tử được chấp nhận để điểm đạo. Chúng ta lưu ý rằng sự phụng sự ấy phải có kế hoạch, vận dụng cả sự thấu hiểu của người đệ tử về nhu cầu của nhân loại lẫn sự tự hiểu biết của người ấy, điều rất cần thiết cho người phải biết nên phụng sự ở đâu và như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất. |
7. DK seeks to distinguish the attitude of the accepted disciple from the attitudes of “disciples in the early stages” who are usually rather self-centered. They are overly concerned about their relationship to the Master and about His relationship to them. They forget that the Master’s group is primarily a serving group; it is an instrument of service. They think too much about the group and themselves in relation to the group rather than of the service to be rendered. The passage of time, however, will bring their attitudes into line with those of the more experienced members of the Ashram. | 7. Chân sư DK tìm cách phân biệt thái độ của đệ tử được chấp nhận với thái độ của “các đệ tử trong những giai đoạn đầu”, vốn thường khá tập trung vào bản thân. Họ quá bận tâm về mối quan hệ của mình với Chân sư và mối quan hệ của Ngài với họ. Họ quên rằng nhóm của Chân sư trước hết là một nhóm phụng sự; đó là một công cụ phụng sự. Họ nghĩ quá nhiều về nhóm và về bản thân trong mối quan hệ với nhóm, thay vì về công việc phụng sự cần thực hiện. Tuy nhiên, thời gian sẽ đưa thái độ của họ đến chỗ phù hợp với thái độ của các thành viên giàu kinh nghiệm hơn trong ashram. |
The second thing which I would like to point out is that there is a great difference between a Master’s group and His Ashram. This is seldom realised. Many people can be found in a Master’s group but the personnel of His Ashram are picked out of that of the group. In a group, the Master is in touch with and aware of the aspiring disciple and he has had a definite contact with Him, but this has involved a personality as well as a soul relation. But in an Ashram only that is to be found within the sphere of influence of an Ashram which is of the soul. Nothing of the personality is allowed to enter in—personality reactions, disabilities, limitations, personality thoughts and all that is material and connected with the lower nature, never reaches the Ashram at all. In the early stages, therefore, of a disciple’s work, it is possible that there is little or nothing that the disciple will be able to contribute of any kind for a long time. Only those positively sensed intuitions and those definite soul impressions and impulses which the disciple may succeed in evoking (through meditation and growing purity of intention) can contribute anything to the life of the Ashram. There is consequently a law which protects the Ashram from your limitations. I have been using the word “Ashram” quite definitely in my effort to lead you to discriminate between a group and an Ashram. An Ashram is basically formed of those who through their knowledge, devotion and service have worked their way out of a group into an inner centre where the Master’s energy, wisdom and effort is more easily available. In order to work their way from the group into the Ashram, disciples will need most carefully to discriminate between their high grade personality inclinations, their [695] responses to truth and ideals and their true soul reactions, spiritual wisdom and intuitive perception. | Điều thứ hai Tôi muốn chỉ ra là có một sự khác biệt lớn giữa nhóm của một Chân sư và ashram của Ngài. Người ta hiếm khi nhận ra điều này. Nhiều người có thể thuộc nhóm của một Chân sư, nhưng các thành viên trong ashram của Ngài được tuyển chọn từ nhóm ấy. Trong một nhóm, Chân sư liên lạc với người đệ tử chí nguyện và biết rõ về y, còn y đã có một sự tiếp xúc xác định với Ngài, nhưng điều này bao hàm mối quan hệ cả về phàm ngã lẫn linh hồn. Tuy nhiên, trong một ashram, chỉ những gì thuộc linh hồn mới hiện diện trong phạm vi ảnh hưởng của ashram ấy. Không một điều gì thuộc phàm ngã được phép đi vào—những phản ứng, những khiếm khuyết, những giới hạn, những tư tưởng của phàm ngã, cùng tất cả những gì mang tính vật chất và liên quan đến bản chất thấp, đều không bao giờ đến được ashram. Vì vậy, trong những giai đoạn đầu của công việc đệ tử, có thể suốt một thời gian dài, người đệ tử chỉ đóng góp được rất ít hoặc không đóng góp được gì dưới bất kỳ hình thức nào. Chỉ những trực giác được cảm nhận rõ rệt, cùng những ấn tượng và xung lực xác định của linh hồn mà người đệ tử có thể thành công trong việc gợi lên (qua tham thiền và sự thanh khiết ngày càng tăng của ý định), mới có thể đóng góp điều gì đó cho sự sống của ashram. Do đó, có một định luật bảo vệ ashram khỏi những giới hạn của các bạn. Tôi đã dùng từ “ashram” với một dụng ý rất rõ ràng, nhằm dẫn dắt các bạn phân biện giữa một nhóm và một ashram. Về cơ bản, một ashram gồm những người đã nhờ tri thức, lòng sùng tín và sự phụng sự mà nỗ lực tiến từ một nhóm vào một trung tâm bên trong, nơi họ dễ dàng tiếp cận hơn với năng lượng, minh triết và nỗ lực của Chân sư. Để tiến từ nhóm vào ashram, các đệ tử cần hết sức cẩn trọng phân biện giữa những khuynh hướng cao cấp của phàm ngã, những [695] đáp ứng của họ với chân lý và lý tưởng, với những phản ứng chân thực của linh hồn, minh triết tinh thần và tri giác trực giác của họ. |
8. Another very important discrimination which Master DK seeks to bring to our attention is the difference between a Master’s Ashram and a Master’s group. A Master’s group is the much larger of the two; the members of a Master’s Ashram are chosen from His group. Members of an Ashram have, therefore, been subjected to a discriminating process of selection. Thus, an Ashram can be considered a select group, with all of responsibility that that may imply. | 8. Một sự phân biện rất quan trọng khác mà Chân sư DK muốn chúng ta chú ý là sự khác biệt giữa ashram của một Chân sư và nhóm của một Chân sư. Nhóm của một Chân sư lớn hơn nhiều so với ashram; các thành viên trong ashram của một Chân sư được chọn từ nhóm của Ngài. Vì vậy, các thành viên của một ashram đã trải qua một tiến trình tuyển chọn có phân biện. Do đó, có thể xem một ashram là một nhóm tinh tuyển, với tất cả trách nhiệm mà điều ấy có thể hàm ý. |
9. There is definite contact between the Master and the members of His group or groups, but this contact includes the personality of the disciple. We can see that all of the DINA disciples were in the Master’s group because DK was contacting them as personalities. Some of them were also in His Ashram. Later, when the Group of Twenty-Four was formed, and all were given to know they were now accepted disciples, it could be said that all members of that outer group were in His Ashram (at least on its periphery, for most could venture no closer to the center). Though all were in His Ashram, that group was certainly not DK’s Ashram in its entirety. | 9. Quả thật có sự tiếp xúc rõ rệt giữa Chân sư và các thành viên trong nhóm hoặc các nhóm của Ngài, nhưng sự tiếp xúc này bao gồm cả phàm ngã của người đệ tử. Chúng ta có thể thấy tất cả các đệ tử trong DINA đều ở trong nhóm của Chân sư, vì Chân sư DK tiếp xúc với họ với tư cách các phàm ngã. Một số người trong họ cũng ở trong ashram của Ngài. Về sau, khi Nhóm Hai Mươi Bốn được thành lập và tất cả đều được cho biết rằng giờ đây họ là các đệ tử được chấp nhận, có thể nói rằng tất cả thành viên của nhóm bên ngoài ấy đều ở trong ashram của Ngài, ít nhất là ở ngoại vi, vì phần lớn chưa thể tiến gần trung tâm hơn. Dù tất cả đều ở trong ashram của Ngài, nhóm ấy chắc chắn không phải là toàn bộ ashram của Chân sư DK. |
10. It is fascinating and important to realize that in an Ashram, only that which is “of the soul” is allowed to penetrate. No personality states, even high personality states, enter the sacred vibratory precincts of the Ashram. Personality reactions, limitations, thoughts and all that is material and pertains to the lower nature (i. e. , all that with which we, as disciples, are all-too-familiar) are kept outside the ‘door’ (a vibratory barrier) of the Ashram. | 10. Thật thú vị và quan trọng khi nhận ra rằng trong một ashram, chỉ những gì “thuộc về linh hồn” mới được phép đi vào. Không trạng thái phàm ngã nào, dù là những trạng thái phàm ngã cao, có thể đi vào phạm vi rung động thiêng liêng của ashram. Những phản ứng, giới hạn, tư tưởng của phàm ngã cùng tất cả những gì thuộc vật chất và liên quan đến bản chất thấp—nghĩa là tất cả những gì mà chúng ta, với tư cách đệ tử, đã quá quen thuộc—đều bị giữ bên ngoài ‘cánh cửa’ của ashram, một rào chắn rung động. |
11. This causes us to pause and consider: if we think we may be members of a Master’s Ashram, just ‘how much of us’ actually enters the ashramic ‘space’. | 11. Điều này khiến chúng ta dừng lại suy xét: nếu nghĩ rằng mình có thể là thành viên trong ashram của một Chân sư, thì thực sự ‘bao nhiêu phần trong con người chúng ta’ đi vào ‘không gian’ của ashram? |
12. DK often speaks of the necessity for a disciple to contribute to the qualitative content of an Ashram. Here we learn a humbling fact; in the beginning stages of ashramic membership, there is very little a disciple can contribute. | 12. Chân sư DK thường nói về việc một đệ tử cần đóng góp vào nội dung phẩm tính của một ashram. Ở đây, chúng ta biết được một sự thật khiến mình khiêm nhường: trong những giai đoạn đầu làm thành viên ashram, người đệ tử có thể đóng góp rất ít. |
13. If we have wondered just what we can contribute to the Ashram, the following sentence clarifies the matter: | 13. Nếu từng tự hỏi mình thực sự có thể đóng góp gì cho ashram, thì câu sau đây làm sáng tỏ vấn đề: |
“Only those positively sensed intuitions and those definite soul impressions and impulses which the disciple may succeed in evoking (through meditation and growing purity of intention) can contribute anything to the life of the Ashram. ” | “Chỉ những trực giác được cảm nhận một cách xác thực cùng những ấn tượng và xung lực rõ rệt của linh hồn mà người đệ tử có thể khơi dậy thành công qua tham thiền và sự thanh khiết ngày càng tăng của chủ đích mới có thể đóng góp điều gì đó cho sự sống của ashram.” |
This is really interesting, because it means that when we succeed in touching high vibratory levels in our meditation work (or during the normal course of daily consciousness—as when an inspiration seems suddenly to arise), that success (in consciousness) is a tiny success for the Ashram. The extent, to which a disciple can improve the quality of the relationship between his soul and personality, or his personality and the spiritual triad, is a measure of his contribution to the Ashram. Every soul-illumination or triadal-illumination reaching the physical brain consciousness adds quality to the Ashram. This may be true as well of illuminations reaching the disciple when focussed on the astral or mental planes (for instance, in the hours of sleep). | Điều này thật sự thú vị, vì nó có nghĩa là khi chúng ta thành công trong việc tiếp xúc với các cấp độ rung động cao trong công việc tham thiền (hoặc trong diễn tiến bình thường của tâm thức hằng ngày—như khi một cảm hứng dường như đột nhiên nảy sinh), thì thành công ấy (trong tâm thức) là một thành công nhỏ bé của ashram. Mức độ một đệ tử có thể cải thiện phẩm tính của mối quan hệ giữa linh hồn và phàm ngã, hoặc giữa phàm ngã và Tam Nguyên Tinh Thần, là thước đo sự đóng góp của người ấy cho ashram. Mỗi sự soi sáng từ linh hồn hoặc từ Tam Nguyên Tinh Thần đến được tâm thức bộ não hồng trần đều bổ sung phẩm tính cho ashram. Điều này cũng có thể đúng với những sự soi sáng đến với đệ tử khi người ấy tập trung trên cõi cảm dục hoặc cõi trí (chẳng hạn, trong những giờ ngủ). |
14. We are told that there is a law “which protects the Ashram from your limitations”. Many new members of an Ashram (i. e. , accepted disciples) still have much within their consciousness which is unfit for inclusion in the ashramic pool of thought. The Ashram must be, in some way, ‘vibratorily sealed’ against thoughts and feelings below a certain standard. | 14. Chúng ta được cho biết rằng có một định luật “bảo vệ ashram khỏi những giới hạn của các bạn”. Nhiều thành viên mới của một ashram (tức là các đệ tử được chấp nhận) vẫn còn nhiều điều trong tâm thức chưa thích hợp để đưa vào nguồn tư tưởng chung của ashram. Theo một cách nào đó, ashram phải ‘về mặt rung động được niêm kín’ trước những tư tưởng và cảm xúc thấp hơn một chuẩn mực nhất định. |
15. We could ask why the Ashram needs protection. An Ashram is a center of light, love and purpose upon the triadal planes of the cosmic physical plane. Most Ashrams are to be found on the buddhic plane (with some upon both the atmic and higher mental planes). An Ashram is a center for hierarchical work; it holds a responsible position in the administration and manifestation of the Divine Plan for this planet. ‘Vibratory interference’ with its plans and purpose cannot be allowed as the greater good would be compromised. | 15. Chúng ta có thể hỏi tại sao ashram cần được bảo vệ. Một ashram là một trung tâm ánh sáng, bác ái và mục đích trên các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần thuộc cõi hồng trần vũ trụ. Phần lớn các ashram nằm trên cõi Bồ đề (một số nằm trên cả cõi atma và cõi thượng trí). Một ashram là một trung tâm thực hiện công việc của Thánh đoàn; ashram giữ một vị trí đầy trách nhiệm trong việc điều hành và biểu hiện Thiên Cơ cho hành tinh này. ‘Sự nhiễu loạn rung động’ đối với các kế hoạch và mục đích của ashram là điều không thể cho phép, vì lợi ích lớn lao hơn sẽ bị tổn hại. |
16. Just as at a stately and solemn gathering of cultured individuals the entry of an unwashed person with soiled garments would cause a disturbance, so all within our auras which is not cleansed cannot be allowed into the Ashram. Even more may be said—even personality energies which are (by personality standards) cleansed cannot be allowed. The vibration of such energies is still too low when compared to the quality of the energies assembled in the Ashram. | 16. Cũng như tại một cuộc hội họp trang trọng và nghiêm túc của những người có văn hóa, sự xuất hiện của một người chưa tắm rửa, mặc quần áo cáu bẩn sẽ gây xáo trộn, mọi điều chưa được thanh lọc trong hào quang của chúng ta đều không thể được phép đi vào ashram. Còn có thể nói xa hơn nữa—ngay cả những năng lượng phàm ngã đã được (theo các chuẩn mực của phàm ngã) thanh lọc cũng không thể được phép đi vào. Rung động của những năng lượng như thế vẫn quá thấp khi so với phẩm tính của các năng lượng quy tụ trong ashram. |
17. Of whom is the Ashram formed? | 17. Ashram gồm những ai? |
“An Ashram is basically formed of those who through their knowledge, devotion and service have worked their way out of a group into an inner centre where the Master’s energy, wisdom and effort are more easily available. ” | “Về cơ bản, một ashram gồm những người, nhờ tri thức, lòng sùng tín và sự phụng sự, đã nỗ lực tiến từ một nhóm vào một trung tâm bên trong, nơi năng lượng, minh triết và nỗ lực của Chân sư dễ tiếp cận hơn. ” |
We are learning that three factors—knowledge, devotion and service—enable a member of a Master’s group to work his way into the Master’s Ashram. Does it surprise us that “devotion” is one of the methods? In this case we should interpret “devotion” as ‘devotion to the Plan’ rather than to the person of the Master. | Chúng ta đang học rằng ba yếu tố—tri thức, lòng sùng tín và sự phụng sự—giúp một thành viên trong nhóm của một Chân sư nỗ lực tiến vào ashram của Chân sư ấy. Chúng ta có ngạc nhiên khi “lòng sùng tín” là một trong những phương pháp ấy không? Trong trường hợp này, chúng ta nên hiểu “lòng sùng tín” là ‘lòng tận hiến đối với Thiên Cơ’ hơn là đối với cá nhân Chân sư. |
18. We are given another discriminator between an Ashram and a Master’s group. In a Master’s Ashram, “the Master’s energy, wisdom and effort are more easily available”. This means that the Master is vibratorily closer to the members of the Ashram than to the members of His group or groups. His presence is more intensely felt and His energies more readily accessible. | 18. Chúng ta được cung cấp thêm một tiêu chí để phân biệt một ashram với nhóm của một Chân sư. Trong ashram của một Chân sư, “năng lượng, minh triết và nỗ lực của Chân sư dễ tiếp cận hơn”. Điều này có nghĩa là về mặt rung động, Chân sư gần gũi với các thành viên của ashram hơn với các thành viên trong nhóm hoặc các nhóm của Ngài. Họ cảm nhận sự hiện diện của Ngài mãnh liệt hơn và dễ tiếp cận các năng lượng của Ngài hơn. |
19. Thus far, DK is speaking of two major groupings of human beings related to a Master’s work—a Master’s group and a Master’s Ashram. It should be said, however, that not all who are merely interested in DK’s Teaching (or in any Master’s Teaching) are necessarily in a Master’s group. More that a little interest is required to be included in such a group. I would say a strong interest in His work and a pledged determination to participate in that work to the extent possible are requirements for inclusion. | 19. Cho đến đây, Chân sư DK đang nói về hai tập hợp người chủ yếu có liên hệ với công việc của một Chân sư—nhóm của một Chân sư và ashram của một Chân sư. Tuy nhiên, cần nói rằng không phải tất cả những ai chỉ quan tâm đến Giáo Huấn của Chân sư DK (hoặc Giáo Huấn của bất kỳ Chân sư nào) đều nhất thiết thuộc nhóm của một Chân sư. Để được đưa vào một nhóm như thế, cần có nhiều hơn một chút quan tâm. Tôi cho rằng sự quan tâm sâu sắc đến công việc của Ngài và quyết tâm đã được xác lập bằng lời cam kết tham gia công việc ấy trong khả năng của mình là những điều kiện để được đưa vào nhóm. |
20. Master DK established several “Groups-of-Nine” (as reflected in DINA I). These groups were all part of the group of the Master; not all members of these groups, however, were yet in His Ashram. Our groups (for instance, the 28 Rules Group, and the LAWS Group) are still further removed from the presence and supervision of Master DK than those groups, and those groups (at least those formed during the DINA I period) were not yet confirmed ashramic groups (although they were related to His Ashram). We can see that some caution and humility are needed if this subject is to be properly understood. | 20. Chân sư DK đã thành lập một số “Nhóm Chín Người” (như được phản ánh trong DINA I). Tất cả những nhóm này đều thuộc nhóm của Chân sư; tuy nhiên, chưa phải mọi thành viên của các nhóm ấy đều đã ở trong ashram của Ngài. Các nhóm của chúng ta (chẳng hạn, Nhóm 28 Quy Luật và Nhóm LAWS) còn xa sự hiện diện và giám sát của Chân sư DK hơn những nhóm ấy, mà những nhóm ấy (ít nhất là những nhóm hình thành trong thời kỳ DINA I) vẫn chưa được xác nhận là các nhóm thuộc ashram (mặc dù họ có liên hệ với ashram của Ngài). Chúng ta có thể thấy rằng cần có sự thận trọng và khiêm nhường nhất định để thấu hiểu đúng đắn chủ đề này. |
21. DK is offering this information so that a number of us can work our way out of a group of people rather interested in His work into His group, and more specifically, out of His group into His Ashram. At the present time, Master DK no longer has the kinds of outer groups He once had in the 1930’s and 1940’s, but the time when He again will is, I think, fast approaching. | 21. Chân sư DK cung cấp thông tin này để một số người trong chúng ta có thể nỗ lực tiến từ một nhóm người khá quan tâm đến công việc của Ngài vào nhóm của Ngài, và cụ thể hơn, từ nhóm của Ngài vào ashram của Ngài. Hiện nay, Chân sư DK không còn có những loại nhóm bên ngoài mà Ngài từng có trong thập niên 1930 và 1940, nhưng tôi nghĩ thời điểm Ngài lại có những nhóm như thế đang nhanh chóng đến gần. |
22. To enter His Ashram some principle discriminations are needed; He is now elaborating on the distinction between personality energies (unfit for ashramic inclusion) and soul energies (which are fit for such inclusion). | 22. Để bước vào ashram của Ngài, cần có một số sự phân biện chủ yếu; giờ đây Ngài đang giải thích rõ hơn sự khác biệt giữa các năng lượng phàm ngã (không thích hợp để đưa vào ashram) và các năng lượng linh hồn (thích hợp để đưa vào đó). |
23. On the one hand we have “high grade personality inclinations and responses to truth and ideals”. These, of course, are of great value and are to be encouraged in all aspirants and disciples, but such inclinations and responses are not the same as “soul reactions, spiritual wisdom and intuitive perception. ” Let us pause to realize the distinction. These different types of energy demonstrations come from different ‘places’. | 23. Một mặt, chúng ta có “những khuynh hướng cao cấp của phàm ngã và những đáp ứng của phàm ngã đối với chân lý và các lý tưởng”. Dĩ nhiên, những điều này có giá trị lớn lao và cần được khuyến khích ở mọi người chí nguyện và đệ tử, nhưng những khuynh hướng và đáp ứng như thế không giống với “những phản ứng của linh hồn, minh triết tinh thần và tri giác trực giác. ” Chúng ta hãy dừng lại để nhận ra sự khác biệt này. Những kiểu biểu lộ năng lượng khác nhau này bắt nguồn từ những ‘nơi chốn khác nhau’. |
24. Obviously, then, the more we learn to function consciously as souls-in-incarnation, the more rapidly we will be ‘transferred’ from the Master’s group (or from a group related to His work) to His Ashram. | 24. Vậy rõ ràng, càng học cách hoạt động hữu thức như những linh hồn đang nhập thể, chúng ta càng nhanh chóng được ‘chuyển dịch’ từ nhóm của Chân sư (hoặc từ một nhóm có liên hệ với công việc của Ngài) vào ashram của Ngài. |
25. Those who are gathered around the Teaching of Master DK (or of any other Master) cannot say with justification that they are a member of His Ashram unless, for other reasons, they know they are, and even then, they would be reluctant to say so unless in the company of those who could be trusted to understand. To say that one may be in the Ashram of a Master is not the same as claiming to be an initiate. | 25. Những người quy tụ quanh Giáo Huấn của Chân sư DK (hoặc của bất kỳ Chân sư nào khác) không có cơ sở để nói rằng mình là thành viên trong ashram của Ngài, trừ phi vì những lý do khác, họ biết mình là thành viên; và ngay cả khi ấy, họ cũng sẽ ngần ngại nói ra, trừ khi ở cùng những người mà họ tin có thể thấu hiểu. Nói rằng mình có thể ở trong ashram của một Chân sư không đồng nghĩa với việc tự nhận là một điểm đạo đồ. |
26. What is being suggested here is that accepted disciples are learning to live in such a way that they may really contribute to the content of the Ashram. This means they are learning to live beyond their personality—even beyond the higher demonstrations of that personality. | 26. Điều được gợi ý ở đây là các đệ tử được chấp nhận đang học cách sống sao cho họ có thể thật sự đóng góp vào nội dung của ashram. Điều này có nghĩa là họ đang học cách sống vượt lên trên phàm ngã của mình—thậm chí vượt lên trên cả những biểu lộ cao hơn của phàm ngã ấy. |
The third point which I would like to bring out is that disciples when they form part of an Ashram are subjecting themselves to a greatly increased pressure and are in a position to participate in much wider distribution of energy than heretofore. Today, as the Coming One nears the earth and draws closer to humanity, and as the inflow of spiritual energy from Shamballa into the hierarchical Centre becomes greater, there is a great keying up of human receptivity and a greatly augmented stimulation is taking place with varying effects. This involves an intensified aspiration and spiritual determination. It also signifies an opportunity of an unprecedented nature. | Điểm thứ ba Tôi muốn nêu rõ là khi các đệ tử trở thành một phần của ashram, họ tự đặt mình dưới một áp lực gia tăng rất lớn và có thể tham gia vào việc phân phối năng lượng rộng lớn hơn nhiều so với trước đây. Ngày nay, khi Đấng Đang Đến tiến gần Trái Đất và đến gần nhân loại hơn, và khi dòng năng lượng tinh thần từ Shamballa tuôn vào Trung tâm Thánh đoàn trở nên mạnh hơn, khả năng tiếp nhận của con người được nâng cao đáng kể, và một sự kích thích gia tăng mạnh mẽ đang diễn ra với những tác động khác nhau. Điều này bao hàm sự tăng cường khát vọng và quyết tâm tinh thần. Nó cũng biểu thị một cơ hội chưa từng có. |
27. Let us review the major points made thus far: a) accepted disciples are in training for initiation; b) there is a great difference between a Master’s group and a Master’s Ashram. | 27. Chúng ta hãy ôn lại những điểm chính đã nêu cho đến đây: a) các đệ tử được chấp nhận đang được huấn luyện để điểm đạo; b) có sự khác biệt lớn giữa nhóm của một Chân sư và ashram của một Chân sư. |
28. The third point relates to pressure—a fact of life from which many people try to flee. Those who, as accepted disciples, are entering an Ashram will be subject to ‘ashramic pressure’, and this will intensify all aspects of their personality life (the good and the bad) and their soul life (the good—though perhaps not the best). | 28. Điểm thứ ba liên quan đến áp lực—một thực tế của đời sống mà nhiều người cố trốn tránh. Những người đang bước vào một ashram với tư cách đệ tử được chấp nhận sẽ chịu ‘áp lực của ashram’, và điều này sẽ tăng cường mọi phương diện trong đời sống phàm ngã của họ (cả tốt lẫn xấu) và trong đời sống linh hồn của họ (điều tốt—dù có lẽ chưa phải điều tốt nhất). |
29. The higher energies are forcing their way into the energy system of the chela, and because of the greatly augmented reception of such energy, its distribution is also greatly enhanced. Those who can stand the pressure are in a position to give more in service. Thus the sacrifice of withstanding ashramic pressure is worth the pain which comes with that pressure. | 29. Các năng lượng cao hơn đang tìm đường xâm nhập vào hệ thống năng lượng của đệ tử, và vì khả năng tiếp nhận năng lượng ấy gia tăng rất nhiều, sự phân phối năng lượng ấy cũng được tăng cường đáng kể. Những ai có thể chịu đựng áp lực ấy đều có khả năng cống hiến nhiều hơn trong phụng sự. Vì vậy, sự hi sinh khi chịu đựng áp lực của ashram là xứng đáng với nỗi đau mà áp lực ấy mang lại. |
30. The “Coming One” (at least this particular “Coming One”) is the Lord Maitreya, the Christ. | 30. “Đấng Đang Đến” (ít nhất là vị “Đấng Đang Đến” cụ thể này) là Đức Di Lặc, Đức Christ. |
31. The Coming One is said to be nearing the earth. What may DK mean by this? Can “earth” mean the physical plane or the three lower worlds? It surely cannot mean the planet, for the Christ is already ‘here’. | 31. Người ta nói rằng Đấng Đang Đến đang tiến gần Trái Đất. Chân sư DK có thể muốn nói gì qua điều này? Liệu “Trái Đất” có thể hàm ý cõi hồng trần hoặc ba cõi thấp không? Chắc chắn không thể hàm ý hành tinh này, vì Đức Christ đã ở ‘đây’. |
32. There are, however, other Avatars who are ‘Coming Ones’, and They, at the time this group instruction was written, may have been nearing the “earth” (considered as a planet). The Avatar of Synthesis was, perhaps, the major one. It is said that He linked with the Planetary Logos at approximately the time that the Great Invocation (Stanza III) was released to humanity through Master DK and Alice Bailey. | 32. Tuy nhiên, còn có những Đấng Hoá Thân khác là ‘Các Đấng Đang Đến’, và vào thời điểm bản huấn thị nhóm này được viết, Các Ngài có thể đang tiến gần “Trái Đất” (xét như một hành tinh). Có lẽ Đấng Hoá Thân Tổng Hợp là vị chủ yếu. Người ta nói rằng Ngài đã liên kết với Hành Tinh Thượng đế vào khoảng thời gian Đại Khấn Nguyện (Bài kệ III) được truyền đến nhân loại qua Chân sư DK và Alice Bailey. |
33. We learn that Shamballa is behind the general intensification of vibration experienced by humanity, by discipleship groups, and by the individual disciple. Human receptivity is increasing along with intensified aspiration and spiritual determination. Three levels of human beings are, thus, feeling the Shamballically-driven intensification—normal human beings, aspirants and disciples. Of course, initiates and the members of Hierarchy are ‘feeling’ it even more intensely, but that subject is not under discussion at the moment. | 33. Chúng ta được biết rằng Shamballa đứng sau sự tăng cường rung động nói chung mà nhân loại, các nhóm đệ tử và từng đệ tử riêng lẻ đang trải nghiệm. Khả năng tiếp nhận của con người đang gia tăng cùng với khát vọng và quyết tâm tinh thần được tăng cường. Như vậy, ba cấp độ con người đang cảm nhận sự tăng cường do Shamballa thúc đẩy—những người bình thường, những người chí nguyện và các đệ tử. Dĩ nhiên, các điểm đạo đồ và các thành viên của Thánh đoàn đang ‘cảm nhận’ điều ấy còn mãnh liệt hơn nữa, nhưng lúc này chúng ta chưa bàn đến chủ đề ấy. |
34. If we wish to understand the source of the “unprecedented opportunity” with which we and all human beings are now presented, we learn that it is the esoteric approach of Shamballa. We are living in Shamballic-times. Never has the energy of Shamballa been constructively closer to humanity than during the last two centuries or so, beginning with the year 1825. Since the Shamballic Impact in that year, there have been at least two other Shamballic Impacts and, very likely, more which are imminent—perhaps in 2025 (though this possibility is not discussed in the Teaching). Even if there is no Shamballa Impact, per se, in that year, the Great Conclave of 2025 will be held. Such Conclaves are very strongly under Shamballic impression. | 34. Nếu muốn thấu hiểu nguồn gốc của “cơ hội chưa từng có” hiện đang mở ra cho chúng ta và toàn thể nhân loại, chúng ta được biết rằng đó là sự tiến gần của Shamballa về mặt huyền bí. Chúng ta đang sống trong thời đại của Shamballa. Chưa bao giờ năng lượng của Shamballa gần gũi với nhân loại theo chiều hướng xây dựng như trong khoảng hai thế kỷ vừa qua, bắt đầu từ năm 1825. Kể từ Tác Động Shamballa vào năm ấy, đã có ít nhất hai Tác Động Shamballa khác, và rất có thể còn có những tác động nữa sắp xảy ra—có lẽ vào năm 2025 (dù khả năng này không được bàn đến trong Giáo Huấn). Ngay cả nếu chính một Tác Động Shamballa không xảy ra trong năm ấy, Đại Mật Nghị năm 2025 vẫn sẽ được tổ chức. Những Mật Nghị như thế chịu ấn tượng rất mạnh từ Shamballa. |
You have been told that when the Buddha came and worked on earth, many aspirants entered the ranks of accepted disciples and many disciples took one or other of the major initiations. There was, therefore, a definite shift of the personnel of the Hierarchy and a great expansion towards Shamballa and, at the same time, towards humanity. When the Christ made His appearance on earth, there was a similar and still greater climaxing effort which culminated in the inclusion of disciples in the Masters’ inner Ashrams. Hitherto, these Ashrams had been kept for those who had taken the first initiation. Before the time of Christ only those who had taken the first initiation and were initiate formed the Ashram. Owing, however, to the growing sensitivity of humanity, it was then decided that disciples could be admitted into the Ashrams and so be mentally and astrally en rapport with the inner group and begin to form part of the Master’s sphere of directed influence. | Các bạn đã được cho biết rằng khi Đức Phật đến và hoạt động trên Trái Đất, nhiều người chí nguyện đã gia nhập hàng ngũ đệ tử được chấp nhận, và nhiều đệ tử đã trải qua một trong những cuộc điểm đạo lớn. Vì vậy, đã có một sự chuyển dịch rõ rệt trong thành phần của Thánh đoàn và một sự mở rộng lớn lao hướng về Shamballa, đồng thời hướng về nhân loại. Khi Đức Christ xuất hiện trên Trái Đất, cũng có một nỗ lực tương tự nhưng còn lớn lao hơn, đạt đến đỉnh cao với việc thu nhận các đệ tử vào những ashram bên trong của các Chân sư. Cho đến lúc ấy, các ashram này vẫn dành riêng cho những người đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Trước thời Đức Christ, chỉ những người đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất và là điểm đạo đồ mới hợp thành ashram. Tuy nhiên, do tính nhạy cảm ngày càng tăng của nhân loại, khi ấy đã có quyết định cho phép các đệ tử gia nhập các ashram, nhờ đó giao cảm với nhóm bên trong về mặt trí tuệ và cảm dục, và bắt đầu trở thành một phần trong phạm vi ảnh hưởng có định hướng của Chân sư. |
35. Master DK speaks of the great ingatherings of aspirants, disciples and initiates which occurred in the times of the Buddha and the Christ. | 35. Chân sư DK nói về những đợt quy tụ lớn lao của những người chí nguyện, các đệ tử và các điểm đạo đồ đã diễn ra vào thời Đức Phật và Đức Christ. |
36. The ingathering at the time of the Buddha was preliminary. Aspirants became accepted disciples and disciples (accepted disciples) took one or other of the major initiations. (If we study closely what is said here, it becomes clear that those who are not yet accepted disciples are, in a way, considered “aspirants” (sometimes called probationary disciples). | 36. Đợt quy tụ vào thời Đức Phật mang tính sơ bộ. Những người chí nguyện trở thành đệ tử được chấp nhận, và các đệ tử (đệ tử được chấp nhận) trải qua một trong những cuộc điểm đạo chủ yếu. (Nếu nghiên cứu kỹ điều được nói ở đây, chúng ta sẽ thấy rõ rằng theo một cách nào đó, những người chưa phải là đệ tử được chấp nhận được xem là “người chí nguyện” (đôi khi được gọi là đệ tử dự bị). |
37. The present dual process which sees Hierarchy moving both towards Shamballa and towards humanity seems to have begun at the time of the Buddha last physical incarnation, some 2500 years ago. | 37. Tiến trình kép hiện nay, trong đó Thánh đoàn vừa tiến về phía Shamballa vừa tiến về phía nhân loại, dường như đã bắt đầu vào lần lâm phàm hồng trần cuối cùng của Đức Phật, cách đây khoảng 2500 năm. |
38. The Buddha is now a Shamballic Being, and at that time seemed to make His first well-defined contact with Shamballa (just as the Christ made His own contact some five hundred years later in the Garden of Gethsemene). The Buddha’s Great Enlightenment was certainly a Shamballic Impression, for He contacted a measure of the “Greatest Light” which relates directly to the “Unfettered Enlightenment” of Shamballa. The Christ however anchored the first strand of Shamballic Will for the sake of humanity. What we might call the ‘Shamballic event’ in the Buddha’s life reached the mental plane; the Christ brought Shamballa all the way ‘down’ to the physical plane. | 38. Đức Phật hiện là một Đấng thuộc Shamballa, và vào thời ấy dường như Ngài đã thực hiện sự tiếp xúc rõ rệt đầu tiên với Shamballa (cũng như Đức Christ đã thực hiện sự tiếp xúc của riêng Ngài khoảng năm trăm năm sau đó trong vườn Gethsemene). Sự Đại Giác Ngộ của Đức Phật chắc chắn là một Ấn Tượng từ Shamballa, vì Ngài đã tiếp xúc phần nào với “Ánh Sáng Vĩ Đại Nhất” vốn liên hệ trực tiếp với “Sự Giác Ngộ Không Còn Ràng Buộc” của Shamballa. Tuy nhiên, Đức Christ đã neo giữ sợi đầu tiên của Ý Chí Shamballa vì lợi ích của nhân loại. Điều mà chúng ta có thể gọi là ‘sự kiện Shamballa’ trong cuộc đời Đức Phật đã vươn đến cõi trí; Đức Christ đã đưa Shamballa ‘xuống’ tận cõi hồng trần. |
39. The Christ’s initial externalizing work some two thousand years ago made an even greater impact that the Buddha’s work (in terms of ingathering) It represented, DK tells us, “a still greater climaxing effort”, and as a result disciples were included in the Masters’ inner Ashrams. | 39. Công việc ngoại hiện ban đầu của Đức Christ cách đây khoảng hai nghìn năm đã tạo ra một tác động còn lớn lao hơn công việc của Đức Phật (xét về sự quy tụ). Chân sư DK cho chúng ta biết rằng công việc ấy thể hiện “một nỗ lực đạt đến cao điểm còn lớn lao hơn”, và kết quả là các đệ tử đã được đưa vào những ashram bên trong của các Chân sư. |
40. Now we must read very carefully. We are told that before the time of the Christ “only those who had taken the first initiation and were initiate formed the Ashram. ” A little thought will reveal that the “first initiation” here discussed is probably the third initiation and that the “disciples” here referenced consist of all those who have taken the first planetary initiation (and can thus be accepted disciples, as can those who have taken the planetary second degree) but not the third initiation. (We remember that to take the first planetary degree is no assurance that one is or will immediately be an accepted disciple. ) The clue that DK means the third initiation when He writes of the first is found in the words, “and were initiate”—a phrase which usually relates to those having taken the third degree. Probationary initiates (although they are initiates of the first two degrees) are not referred to as “initiate”. | 40. Giờ đây chúng ta phải đọc thật kỹ. Chúng ta được cho biết rằng trước thời Đức Christ, “chỉ những ai đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất và là điểm đạo đồ mới hợp thành ashram. ” Suy ngẫm đôi chút sẽ thấy rằng “lần điểm đạo thứ nhất” được bàn đến ở đây có lẽ là lần điểm đạo thứ ba, và rằng “các đệ tử” được nhắc đến ở đây bao gồm tất cả những ai đã trải qua lần điểm đạo hành tinh thứ nhất (và do đó có thể là đệ tử được chấp nhận, cũng như những người đã đạt cấp điểm đạo hành tinh thứ hai), nhưng chưa trải qua lần điểm đạo thứ ba. (Chúng ta nhớ rằng việc đạt cấp điểm đạo hành tinh thứ nhất không bảo đảm một người đã là, hoặc sẽ ngay lập tức trở thành, đệ tử được chấp nhận. ) Manh mối cho thấy Chân sư DK muốn nói đến lần điểm đạo thứ ba khi Ngài viết về lần thứ nhất nằm trong những từ “và là điểm đạo đồ”—một cụm từ thường liên quan đến những người đã đạt cấp điểm đạo thứ ba. Các điểm đạo đồ dự bị (mặc dù họ là điểm đạo đồ của hai cấp đầu tiên) không được gọi là “điểm đạo đồ”. |
41. From the time that Christ last appeared in physical manifestation, it was decided that the sensitivity of humanity was such that “disciples could be admitted in the Ashrams”, thus being in closer touch with the Master. We are speaking, as DK tells us, of admittance to the “inner Ashrams”. The meaning of the term “disciples”, (as here used) is, I think, “accepted disciples” or, at least, those whom the Master has been supervising for some time and who are no longer probationary, but at least pledged. An initiate of the first planetary degree, however, is not necessarily an accepted disciple, and so, according to the terminology we have been reviewing in this paragraph, could simply be considered an “aspirant”. While an initiate of the first planetary degree, the “Birth” is not necessarily an accepted disciple, most initiates of the second degree can be considered to be so. | 41. Kể từ lần cuối Đức Christ xuất hiện trong sự biểu hiện hồng trần, đã có quyết định rằng tính nhạy cảm của nhân loại đã đạt đến mức “các đệ tử có thể được thu nhận vào các ashram”, nhờ đó tiếp xúc gần gũi hơn với Chân sư. Như Chân sư DK cho chúng ta biết, chúng ta đang nói đến việc được thu nhận vào “những ashram bên trong”. Tôi nghĩ ý nghĩa của thuật ngữ “các đệ tử” (như được dùng ở đây) là “các đệ tử được chấp nhận”, hoặc ít nhất là những người mà Chân sư đã giám sát một thời gian, không còn ở giai đoạn dự bị mà ít nhất đã cam kết. Tuy nhiên, một điểm đạo đồ của cấp điểm đạo hành tinh thứ nhất không nhất thiết là đệ tử được chấp nhận, và do đó, theo hệ thuật ngữ mà chúng ta đang xem xét trong đoạn này, người ấy có thể chỉ được xem là một “người chí nguyện”. Trong khi một điểm đạo đồ của cấp điểm đạo hành tinh thứ nhất, “Giáng Sinh”, không nhất thiết là đệ tử được chấp nhận, thì phần lớn điểm đạo đồ cấp hai có thể được xem là như thế. |
42. It is often confusing to understand how Master DK uses the terms “aspirant”, “disciple” and “initiate”. From the foregoing we may conclude that, from a perspective often used, | 42. Việc thấu hiểu cách Chân sư DK sử dụng các thuật ngữ “người chí nguyện”, “đệ tử” và “điểm đạo đồ” thường gây bối rối. Từ những điều trên, chúng ta có thể kết luận rằng, theo một góc nhìn thường được sử dụng, |
a. all who are not yet accepted disciples (even though they be initiates of the first planetary degree) are still to be considered aspirants or probationary disciples; | a. tất cả những ai chưa phải là đệ tử được chấp nhận (dù họ là điểm đạo đồ của cấp điểm đạo hành tinh thứ nhất) vẫn phải được xem là người chí nguyện hoặc đệ tử dự bị; |
b. when a disciple becomes an “accepted disciple”, he or she is no longer an aspirant, but is, well and truly, a disciple; | b. khi một đệ tử trở thành “đệ tử được chấp nhận”, người ấy không còn là người chí nguyện nữa mà đã thật sự là một đệ tử; |
c. a probationary initiate of the first or second degree may be considered an aspirant or a disciple, depending upon the perspective employed, but is not really considered “initiate”; | c. một điểm đạo đồ dự bị cấp một hoặc cấp hai có thể được xem là người chí nguyện hoặc đệ tử, tùy theo góc nhìn được sử dụng, nhưng chưa thật sự được xem là “điểm đạo đồ”; |
d. the term “disciple” can be used to indicate one who is not yet an accepted disciple, but is often used to indicate only one who is an accepted disciple; | d. thuật ngữ “đệ tử” có thể được dùng để chỉ một người chưa phải là đệ tử được chấp nhận, nhưng thường chỉ được dùng để chỉ người đã là đệ tử được chấp nhận; |
e. a true initiate (i. e. , one who is “initiate”) is an initiate of the third degree (i. e. , of the first solar degree). Sometimes DK differentiates between the first planetary initiation and the first solar initiation, but often, He simply says “first initiation”, and then it will be up to the reader to discern His meaning. | e. một điểm đạo đồ đích thực (tức là người “là điểm đạo đồ”) là một điểm đạo đồ cấp ba (tức là thuộc cấp điểm đạo thái dương thứ nhất). Đôi khi Chân sư DK phân biệt lần điểm đạo hành tinh thứ nhất với lần điểm đạo thái dương thứ nhất, nhưng thường thì Ngài chỉ nói “lần điểm đạo thứ nhất”, và khi ấy người đọc phải tự phân biện tinh thần để nhận ra ý Ngài. |
43. Important information concerning those who are members of an Ashram is here given: | 43. Ở đây có thông tin quan trọng về những người là thành viên của một ashram: |
a. members of an Ashram are mentally and astrally en rapport with the “inner group”. We note that astral rapport is included. Physical-brain and etheric rapport is not necessarily included. We would assume that mental-rapport would, naturally, be included. | a. các thành viên của một ashram có sự tương thông về trí tuệ và cảm dục với “nhóm bên trong”. Chúng ta lưu ý rằng sự tương thông cảm dục cũng được bao gồm. Sự tương thông qua bộ não hồng trần và dĩ thái không nhất thiết được bao gồm. Chúng ta có thể cho rằng sự tương thông trí tuệ đương nhiên được bao gồm. |
b. an Ashram is the “sphere of the Master’s directed influence”. This means that a Master’s group is not part of this sphere, at least not to the same extent as the “inner Ashram”. | b. một ashram là “khối cầu chịu ảnh hưởng có định hướng của Chân sư”. Điều này có nghĩa là nhóm của một Chân sư không thuộc khối cầu này, ít nhất là không ở cùng mức độ như “ashram bên trong”. |
This is the opportunity which is held out today before the aspirants and probationary disciples. This effort might be termed an externalisation of the Ashram. You have been told that it is the intention of the Hierarchy to restore the Mysteries on earth. This is the first step towards that objective. If this embryonic externalisation succeeds in functioning and if those participating in this new effort manage to work with unity, love and understanding, and if this proves so strong as to withstand all disintegrating forces, then it may be possible later to increase the membership, power and size of any Ashram. [696] This lies entirely in the hands of the group. Every new person who is put in touch with the Ashram becomes a definite responsibility. The work of integration and of absorption lies with the Ashram and not with the individual. This is not easily apparent until disciples are accepted and integral parts of the Ashram. Such disciples constitute a definite problem. | Đó là cơ hội đang mở ra ngày nay trước những người chí nguyện và các đệ tử dự bị. Có thể gọi nỗ lực này là một sự ngoại hiện của ashram. Các bạn đã được cho biết rằng Thánh đoàn có ý định khôi phục các Huyền Nhiệm trên Trái Đất. Đây là bước đầu tiên hướng tới mục tiêu ấy. Nếu sự ngoại hiện còn ở giai đoạn phôi thai này hoạt động thành công, nếu những người tham gia nỗ lực mới này có thể làm việc với sự hợp nhất, tình thương và sự thấu hiểu, và nếu điều đó tỏ ra đủ mạnh để chống chọi mọi mãnh lực gây tan rã, thì về sau có thể gia tăng số thành viên, quyền năng và quy mô của bất kỳ ashram nào. [696] Điều này hoàn toàn nằm trong tay nhóm. Mỗi người mới được đưa vào tiếp xúc với ashram đều trở thành một trách nhiệm xác định. Công việc tích hợp và thu nhận thuộc về ashram, chứ không thuộc về cá nhân. Điều này không dễ nhận thấy cho đến khi các đệ tử được chấp nhận và trở thành những thành phần không thể tách rời của ashram. Những đệ tử như thế tạo thành một vấn đề rõ rệt. |
44. DK has been speaking of the processes by means of which those upon the spiritual path ascend to the next level of spiritual attainment. The widespread opportunity to do so is even more intensely present today than it was in the days of the Buddha or the Christ. | 44. Chân sư DK đã nói về những tiến trình nhờ đó những người trên con đường tinh thần vươn lên cấp độ thành tựu tinh thần kế tiếp. Ngày nay, cơ hội rộng mở để làm điều ấy còn hiện diện mạnh mẽ hơn cả vào thời Đức Phật hay Đức Christ. |
45. Is there a distinction between the “aspirant” and the “probationary disciple”? If so, we might say that the stage of “aspirant” begins definitely before the first degree may be taken (and, as we have seen, may be considered as extending to the stage of Accepted Discipleship). The term “probationary disciple” may indicate a slightly greater degree of advancement than that of “aspirant”, per se, because the word “disciple” is included in the term (indicating, as it does, a greater degree of mental focus and, hence, of stability). From one perspective we might think of the term “probationary disciple” as beginning at the first planetary degree, the “Birth” and lasting until Accepted Discipleship. From another perspective, however, the term is used almost interchangeably with the term “aspirant”, and so can be regarded as beginning before the planetary first degree. It may be regarded as correct to consider the “Path of Aspiration” and the “Path of Probationary Discipleship” to be equivalent, though it is reasonable to think of the first path beginning earlier than the second. | 45. Có sự phân biệt nào giữa “người chí nguyện” và “đệ tử dự bị” không? Nếu có, chúng ta có thể nói rằng giai đoạn “người chí nguyện” chắc chắn bắt đầu trước khi có thể đạt bậc điểm đạo thứ nhất (và, như chúng ta đã thấy, có thể được xem là kéo dài đến giai đoạn Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận). Thuật ngữ “đệ tử dự bị” có thể chỉ một mức độ tiến bộ cao hơn đôi chút so với chính danh xưng “người chí nguyện”, vì từ “đệ tử” nằm trong thuật ngữ ấy (qua đó cho thấy một mức độ tập trung trí tuệ cao hơn và, do đó, ổn định hơn). Từ một góc nhìn, chúng ta có thể nghĩ rằng thuật ngữ “đệ tử dự bị” bắt đầu từ bậc điểm đạo hành tinh thứ nhất, tức “Giáng Sinh”, và kéo dài đến Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận. Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, thuật ngữ này được dùng gần như thay thế cho thuật ngữ “người chí nguyện”, nên có thể được xem là bắt đầu trước bậc điểm đạo hành tinh thứ nhất. Có thể xem là đúng khi coi “Con Đường Chí Nguyện” và “Con Đường Đệ Tử Dự Bị” là tương đương, dù cũng hợp lý khi nghĩ rằng con đường thứ nhất bắt đầu sớm hơn con đường thứ hai. |
46. The opportunity before aspirants and disciples today is to participate in the “externalization of the Ashram”. In these studies we are talking specifically about the externalization of Master DK’s Ashram, though some other Ashrams are, in general, part of this experimental process. | 46. Cơ hội trước mắt những người chí nguyện và các đệ tử ngày nay là tham gia vào “sự ngoại hiện của ashram”. Trong những nghiên cứu này, chúng ta đang nói cụ thể về sự ngoại hiện của ashram của Chân sư DK, dù nhìn chung một số ashram khác cũng tham gia tiến trình thử nghiệm này. |
47. Hierarchy is intent upon restoring the Mysteries on earth. The ingathering, the ‘promotions’, and the general process of externalization is all part of this Restoration. The Restoration of the Mysteries should be considered in relation to Aries and to the “Forces of Restoration” which are powerful at the Aries Full Moon (nominally, Easter). | 47. Thánh đoàn quyết tâm khôi phục các Huyền Nhiệm trên Trái Đất. Sự quy tụ, những ‘lần thăng cấp’ và tiến trình ngoại hiện nói chung đều thuộc về sự Khôi Phục này. Cần xem xét Sự Khôi Phục các Huyền Nhiệm trong mối liên hệ với Bạch Dương và với “Các Mãnh Lực Khôi Phục” vốn mạnh mẽ vào kỳ Trăng Tròn Bạch Dương (trên danh nghĩa là Lễ Phục Sinh). |
48. We can see that Master DK’s experiment with His own Ashram is a kind of test. It is an “embryonic externalisation”, an externalisation in its very earliest phases. Some sixty to seventy years ago He was writing in the present tense; now we know that the externalisation He intended did not succeed as He had hoped. His disciples did not succeed in working with sufficient unity, love and understanding and the effort, overall, did not withstand “all disintegrating forces”. | 48. Chúng ta có thể thấy rằng cuộc thử nghiệm của Chân sư DK với chính ashram của Ngài là một dạng kiểm nghiệm. Đó là một “sự ngoại hiện ở giai đoạn phôi thai”, một sự ngoại hiện trong những giai đoạn sơ khởi nhất. Khoảng sáu mươi đến bảy mươi năm trước, Ngài đã viết ở thì hiện tại; giờ đây chúng ta biết rằng sự ngoại hiện mà Ngài dự định đã không thành công như Ngài hy vọng. Các đệ tử của Ngài đã không thành công trong việc làm việc với đủ sự hợp nhất, tình thương và thấu hiểu, và xét tổng thể, nỗ lực ấy đã không chống chọi được “mọi mãnh lực gây tan rã”. |
49. Had there been success, we are told, it would have been possible to increase the size and power of any Ashram. So Master DK’s work was a kind of probe, and the ‘probation’ failed. We see that Hierarchy (under Uranus, which is the exoteric ruler of Aquarius) is an experimenting group. When a hierarchical experiment is successful, it may be deemed wise (under the Law of Economy) to conduct more experiments of the kind. We should realize that (such is the nature of Hierarchy) many experiments with externalization lie ahead. The Hierarchy will externalize, but Their methods are often unanticipated. | 49. Chúng ta được cho biết rằng nếu đã thành công, thì có thể đã gia tăng quy mô và quyền năng của bất kỳ ashram nào. Vì vậy, công việc của Chân sư DK là một dạng thăm dò, và ‘cuộc thử thách’ ấy đã thất bại. Chúng ta thấy rằng Thánh đoàn (dưới ảnh hưởng của Sao Thiên Vương, chủ tinh ngoại môn của Bảo Bình) là một nhóm tiến hành thử nghiệm. Khi một cuộc thử nghiệm của Thánh đoàn thành công, việc tiến hành thêm các cuộc thử nghiệm cùng loại có thể được xem là khôn ngoan (theo Định luật Tiết Kiệm). Chúng ta nên nhận ra rằng (bản chất của Thánh đoàn là như vậy) còn nhiều cuộc thử nghiệm về sự ngoại hiện đang ở phía trước. Thánh đoàn sẽ ngoại hiện, nhưng phương pháp của Các Ngài thường nằm ngoài dự liệu. |
50. DK speaks again of His group, composed of the several groups He had organized. Success or failure lay “entirely” in their hands. One feels the weight of responsibility which must have impressed itself upon early readers of these group instructions—readers who were, in fact, members of such groups within the Master’s group. | 50. Chân sư DK lại nói về nhóm của Ngài, gồm một số nhóm mà Ngài đã tổ chức. Thành công hay thất bại nằm “hoàn toàn” trong tay họ. Người ta cảm nhận được sức nặng của trách nhiệm hẳn đã in sâu vào những người đầu tiên đọc các huấn thị dành cho nhóm này—những độc giả thực ra là thành viên của các nhóm như thế trong nhóm của Chân sư. |
51. Then DK generalizes about the relationship of the accepted disciple to the Ashram. The newly accepted disciple is a “definite responsibility” and a “definite problem”—not only to himself, but to the Ashram. | 51. Sau đó, Chân sư DK khái quát về mối quan hệ giữa đệ tử được chấp nhận và ashram. Người đệ tử mới được chấp nhận là một “trách nhiệm rõ rệt” và một “vấn đề rõ rệt”—không chỉ đối với chính mình, mà cả với ashram. |
52. Yet the adjustments required (integration and absorption into the Ashram) must come very much from the Ashram itself. Should we become accepted disciples, or should we recognize that we already are, we probably do not realize anything like the full extent of the problem to the Ashram we are or have been. Ours is not yet the ashramic perspective. | 52. Tuy nhiên, những điều chỉnh cần thiết (sự tích hợp và thu nhận vào ashram) phải phần lớn đến từ chính ashram. Nếu chúng ta trở thành đệ tử được chấp nhận, hoặc nếu chúng ta nhận ra rằng mình đã là như thế, thì có lẽ chúng ta còn lâu mới nhận ra đầy đủ mức độ của vấn đề đối với ashram mà chúng ta đang hoặc đã tạo ra. Chúng ta chưa có góc nhìn của ashram. |
53. We can see why a Master must measure with great care the possibility of accepting a disciple. It is far from a casual choice, and the welfare of the Ashram is always at stake, as well, of course, as the welfare of the new accepted disciple who is inevitably placed under extreme pressure due to his acceptance. | 53. Chúng ta có thể thấy vì sao một Chân sư phải cân nhắc hết sức cẩn trọng khả năng chấp nhận một đệ tử. Đó hoàn toàn không phải một lựa chọn tùy tiện, và sự an lạc của ashram luôn được đặt lên bàn cân, cũng như, tất nhiên, sự an lạc của người đệ tử mới được chấp nhận, người tất yếu phải chịu áp lực cực lớn do việc được chấp nhận ấy. |
The question now arises: How does a Master form and organise His Ashram or inner group of which the personnel is provided from the outer group of aspirants? It must surely be apparent to you that a Master, in forming His Ashram, proceeds as automatically as does the Creator. He meditates; He visualises; He speaks and that which He seeks to create and to materialise (in line with the hierarchical Plan) begins to take form. By the power of His focussed and directed thought, He attracts to Him those whose type of mind synchronises with His, because of ray, karmic relationships, point in evolution and love for humanity. In the words focus and direction lay the key to any technique or method of contributing to what I might here call the reservoir of thought which is an Ashram. It is a sustained focus, plus a dynamic direction which makes this reservoir of thought contributory to world service and creatively effective. The important thing for an accepted disciple to grasp is what the Master is seeking to accomplish through the medium of His group. This entails, finally, the enquiry, in the mind of the disciple, as to whether he thinks, focusses and works along lines similar to that of the Master. How close is the disciple to the Master’s thoughts? The Master is prevented by occult law from using any pressure or power in the effort to swing the minds of those whom He is influencing into unison with His. He may not impose His will upon the disciple; His desires, aspirations and wishes must not be the enforced directing agency in the lives of those with whom He is in touch. He may impress their minds with what He feels is needed in periods of world crisis. He can express to them what He feels should be done. But it remains for the disciple to decide and prove. Disciples are in a Master’s group because of similarity of ideas, even though they sense and express those ideas far less clearly than He does and see the vision as through a glass darkly. But their innate convictions are [697] basically the same and their task is to discover the points of contact, the analogous idealism for the group effort and then to submerge their entire individual lives and activities in the recognised effort. Behind this effort stands the Master—an initiating and distributing centre of power. | Giờ đây nảy sinh câu hỏi: Một Chân sư hình thành và tổ chức ashram hay nhóm bên trong của Ngài như thế nào, khi các thành viên của nhóm ấy được tuyển từ nhóm người chí nguyện bên ngoài? Hẳn các bạn phải thấy rõ rằng khi hình thành ashram của mình, một Chân sư tiến hành một cách tự động như Đấng Sáng Tạo. Ngài tham thiền; Ngài hình dung; Ngài lên tiếng, và điều Ngài tìm cách sáng tạo và hiện hình (phù hợp với Thiên Cơ của Thánh đoàn) bắt đầu thành hình. Bằng quyền năng của tư tưởng tập trung và có định hướng, Ngài thu hút đến với mình những người có loại thể trí đồng điệu với Ngài, nhờ cung, các mối quan hệ nghiệp quả, điểm tiến hoá và tình thương dành cho nhân loại. Chính trong những từ tập trung và định hướng có chìa khóa cho bất kỳ kỹ thuật hay phương pháp nào nhằm đóng góp vào điều mà ở đây Tôi có thể gọi là kho chứa tư tưởng vốn là một ashram. Chính sự tập trung bền bỉ, cộng với sự định hướng năng động, khiến kho chứa tư tưởng này đóng góp vào việc phụng sự thế gian và có hiệu quả sáng tạo. Điều quan trọng mà một đệ tử được chấp nhận cần nắm bắt là điều Chân sư đang tìm cách hoàn thành thông qua nhóm của Ngài. Cuối cùng, điều này đòi hỏi người đệ tử tự hỏi trong thể trí mình xem liệu y có suy nghĩ, tập trung và làm việc theo những đường hướng tương tự như Chân sư hay không. Người đệ tử gần gũi đến mức nào với tư tưởng của Chân sư? Định luật huyền bí không cho phép Chân sư dùng bất kỳ áp lực hay quyền năng nào để cố gắng đưa thể trí của những người chịu ảnh hưởng của Ngài vào sự đồng điệu với thể trí Ngài. Ngài không được áp đặt ý chí của mình lên người đệ tử; những mong muốn, khát vọng và ước nguyện của Ngài không được trở thành tác nhân chỉ đạo mang tính cưỡng ép trong cuộc sống của những người mà Ngài tiếp xúc. Ngài có thể tạo ấn tượng lên thể trí họ về điều Ngài cảm thấy cần thiết trong những thời kỳ khủng hoảng thế giới. Ngài có thể bày tỏ với họ điều Ngài cảm thấy nên làm. Nhưng người đệ tử vẫn phải tự quyết định và chứng minh. Các đệ tử thuộc nhóm của một Chân sư vì có những ý tưởng tương đồng, dù họ cảm nhận và diễn đạt những ý tưởng ấy kém rõ ràng hơn Ngài rất nhiều, và thấy tầm nhìn như qua một tấm kính mờ. Nhưng những xác tín vốn có của họ [697] về cơ bản là như nhau, và nhiệm vụ của họ là khám phá những điểm tiếp xúc, lý tưởng tương đồng cho nỗ lực nhóm, rồi hòa toàn bộ cuộc sống và hoạt động cá nhân vào nỗ lực đã được nhận biết ấy. Đứng sau nỗ lực này là Chân sư—một trung tâm quyền năng khởi xướng và phân phối. |
54. DK now discusses the procedure of forming and organizing an Ashram, which is an “inner group” when compared to the “outer group” of aspirants (as He names them here). | 54. Giờ đây, Chân sư DK bàn về phương thức hình thành và tổ chức một ashram, vốn là một “nhóm bên trong” khi so với “nhóm bên ngoài” gồm những người chí nguyện (như Ngài gọi họ ở đây). |
55. To do this, the Master meditates, visualizes and speaks (each of these acts representing one of the first three aspects of divinity). He forms His Ashram through a white-magical process. We can follow similar procedures (dim reflections of the Master’s process) as we attempt to form our groups upon the physical plane. | 55. Để làm điều này, Chân sư tham thiền, hình dung và cất lời (mỗi hành động này đại diện cho một trong ba phương diện đầu tiên của thiên tính). Ngài hình thành ashram của mình qua một tiến trình chánh thuật. Chúng ta có thể làm theo những phương thức tương tự (những phản chiếu mờ nhạt của tiến trình của Chân sư) khi cố gắng hình thành các nhóm của mình trên cõi hồng trần. |
56. The Master uses the attractive power of “focussed and directed thought”. If aspirants or disciples are drawn to Him, via His thought, it will be because their type of mind synchronizes with His; because of similarity of ray; because of karmic relationships, a sufficient point in evolution and, very importantly, because of their love for humanity. We can see that the formation of an Ashram is a scientific process based on sound. We can also see that this process is very selective. Disciples do not ‘join’ and Ashram simply because they wish to. They must be fit to do so and appropriate for a particular Master’s Ashram; the criteria are specific and exacting. | 56. Chân sư sử dụng quyền năng thu hút của “tư tưởng tập trung và có định hướng”. Nếu những người chí nguyện hay các đệ tử được thu hút đến với Ngài qua tư tưởng của Ngài, thì đó là vì loại thể trí của họ đồng nhịp với thể trí của Ngài; vì sự tương đồng về cung; vì các mối quan hệ nghiệp quả, một điểm tiến hoá đủ cao và, rất quan trọng, vì tình thương của họ dành cho nhân loại. Chúng ta có thể thấy rằng sự hình thành một ashram là một tiến trình khoa học dựa trên âm thanh. Chúng ta cũng có thể thấy rằng tiến trình này có tính chọn lọc rất cao. Các đệ tử không ‘gia nhập’ một ashram chỉ vì họ muốn thế. Họ phải đủ tư cách để làm điều ấy và phù hợp với ashram của một Chân sư cụ thể; các tiêu chí đều cụ thể và khắt khe. |
57. Serious students of the Tibetan’s books should ponder on their relation to the Ageless Wisdom and more specifically, on their possible relationship to Master DK. Some of the criteria have been given and we have the opportunity to measure ourselves against them. We know of many potential students of the Bailey Books who begin reading in earnest only to discover that their mind does not synchronize with the Master’s mind; among other reasons, there may be a fundamental dissimilarity of ray. This is an important initial test. The “Blue Books” sound their own distinctive note and only those who can resonate to them to a significant degree will find themselves, eventually, within Master DK’s “inner group”. (Some, however, may be in His Ashram Who resonate closely to Him and who are not readers of His books, but reading His great Teaching is filled with advantages for knowing the nature of His thought. ) | 57. Những đạo sinh nghiêm túc nghiên cứu các sách của Chân sư Tây Tạng nên suy ngẫm về mối quan hệ của mình với Minh Triết Ngàn Đời và, cụ thể hơn, về mối quan hệ mà mình có thể có với Chân sư DK. Một số tiêu chí đã được đưa ra và chúng ta có cơ hội đối chiếu bản thân với chúng. Chúng ta biết nhiều người có tiềm năng trở thành đạo sinh nghiên cứu sách Bailey đã bắt đầu đọc một cách nghiêm túc, rồi lại khám phá ra rằng thể trí của họ không đồng nhịp với thể trí của Chân sư; trong số các nguyên nhân, có thể có sự khác biệt căn bản về cung. Đây là một phép thử ban đầu quan trọng. Những “Quyển Sách Xanh” ngân lên âm điệu đặc trưng riêng, và chỉ những ai có thể cộng hưởng với chúng ở mức độ đáng kể mới cuối cùng thấy mình ở trong “nhóm bên trong” của Chân sư DK. (Tuy nhiên, một số người có thể ở trong ashram của Ngài, cộng hưởng mật thiết với Ngài mà không đọc sách của Ngài; dù vậy, việc đọc Giáo Huấn vĩ đại của Ngài mang lại rất nhiều thuận lợi để biết bản chất tư tưởng của Ngài. ) |
58. Of course, we must remember that Master DK is busy training the disciples from several Ashrams and upon various different rays (first, third, sixth and seventh ray souls were to be found in His Groups-of-Nine), but regardless of some ray differences and various fundamental ashramic affiliations, most if not all of the disciples on the outer plane who could be trained by Him, had at least a significant attraction to what He said in book form. If they were not second ray souls, it is likely they were second ray monads. | 58. Dĩ nhiên, chúng ta phải nhớ rằng Chân sư DK bận huấn luyện các đệ tử từ nhiều ashram và thuộc nhiều cung khác nhau (trong các Nhóm Chín Người của Ngài có những linh hồn cung một, cung ba, cung sáu và cung bảy), nhưng bất kể một số khác biệt về cung và những mối liên hệ căn bản với các ashram khác nhau, phần lớn, nếu không phải tất cả, các đệ tử trên cõi bên ngoài có thể được Ngài huấn luyện ít nhất cũng cảm thấy sức thu hút đáng kể từ những điều Ngài trình bày trong sách. Nếu họ không phải là những linh hồn cung hai, thì có lẽ họ là những chân thần cung hai. |
59. DK highlights the word “focus” with regard to making a contribution to the Ashram. We receive another definition of the term, “Ashram”: it is a “reservoir of thought”, and focus is required of those who would contribute to that reservoir. | 59. Chân sư DK nhấn mạnh từ “tập trung” liên quan đến việc đóng góp cho ashram. Chúng ta nhận được một định nghĩa khác về thuật ngữ “ashram”: đó là một “kho dự trữ tư tưởng”, và những ai muốn đóng góp vào kho dự trữ ấy đều cần có sự tập trung. |
60. There are at least two perspectives from which the idea of “contribution” is to be considered. We have just considered the possibility that a disciple may (and, really, must) contribute to the Ashram. Now, we consider the Ashram’s contribution to humanity and the planet. It is “sustained focus” and “dynamic direction” that make an Ashram “contributory to world service and creatively effective”. It seems it would also be incumbent upon any accepted disciple to serve the world (and the Ashramic intent) through a ‘sustained focus of thought, dynamically directed’. The implication is that accepted disciples must learn to serve through thought. | 60. Có ít nhất hai góc nhìn để xem xét ý tưởng “đóng góp”. Chúng ta vừa xem xét khả năng một đệ tử có thể (và thực ra phải) đóng góp cho ashram. Giờ đây, chúng ta xem xét sự đóng góp của ashram ấy cho nhân loại và hành tinh. Chính “sự tập trung bền bỉ” và “sự định hướng năng động” khiến một ashram “đóng góp vào việc phụng sự thế gian và có hiệu quả sáng tạo”. Dường như bất kỳ đệ tử được chấp nhận nào cũng có bổn phận phụng sự thế gian (và ý định của ashram) thông qua một ‘sự tập trung tư tưởng bền bỉ, được định hướng một cách năng động’. Điều này hàm ý rằng các đệ tử được chấp nhận phải học cách phụng sự bằng tư tưởng. |
61. We come to the important idea that a disciple who is a prospective member of a Master’s group (or Ashram) must really come to understand the nature of a Master’s objectives when working through any particular group. What does the Master seek to see accomplished? It is a decentralizing question. | 61. Chúng ta đi đến ý tưởng quan trọng rằng một đệ tử có triển vọng trở thành thành viên trong nhóm của một Chân sư (hay ashram) phải thực sự đi đến chỗ thấu hiểu bản chất các mục tiêu của Chân sư khi Ngài làm việc qua bất kỳ nhóm cụ thể nào. Điều mà Chân sư muốn thấy hoàn thành là gì? Đó là một câu hỏi giúp phi tập trung vào bản thân. |
62. Do we, as prospective members of Master DK’s Ashram, think, focus and work along lines which are similar to the Master? How close, really, are we to the Master’s thoughts? This will not be a question easily answered, but there are many clues which can help us towards a reasonably accurate conclusion. The many books written by Master DK should reveal something about His thinking process, to which we may compare our own. (With much study of His books, of course, our thinking process may come to resemble His increasingly. ) | 62. Là những thành viên tương lai của ashram của Chân sư DK, chúng ta có suy nghĩ, tập trung và làm việc theo những đường hướng tương tự Chân sư không? Thực sự, chúng ta gần gũi đến mức nào với tư tưởng của Chân sư? Đây sẽ không phải là câu hỏi dễ trả lời, nhưng có nhiều manh mối có thể giúp chúng ta đi đến một kết luận tương đối chính xác. Nhiều cuốn sách do Chân sư DK viết hẳn phải cho thấy phần nào tiến trình tư duy của Ngài, để chúng ta có thể đối chiếu với tiến trình của mình. (Dĩ nhiên, khi nghiên cứu nhiều sách của Ngài, tiến trình tư duy của chúng ta có thể ngày càng giống với tiến trình của Ngài. ) |
63. As well, by reading the pamphlet, “My Work” and by reviewing the various activities Master DK sought to establish through the Arcane School and the Lucis Trust, the outlines of His external work should be no mystery and, again, we may measure our tendency to work in certain ways and directions against the work which He seeks to see accomplished. | 63. Ngoài ra, qua việc đọc tập sách nhỏ “Công Việc của Tôi” và xem lại các hoạt động khác nhau mà Chân sư DK đã tìm cách thiết lập thông qua Trường Arcane và Quỹ Lucis, những nét chính trong công việc bên ngoài của Ngài hẳn không còn là điều bí ẩn; một lần nữa, chúng ta có thể đối chiếu khuynh hướng làm việc theo những cách thức và đường hướng nhất định của mình với công việc mà Ngài muốn thấy hoàn thành. |
64. DK focusses on an occult law which prevents the Master from swaying a disciple’s mind. The Master may not use His will to enforce a disciple’s compliance with His thoughts, wishes, hopes and aspirations. The Master may not become an enforcing, directing agency in the lives of His disciples. The members of the Black Lodge are limited by no such constraints; they do not respect anyone’s free will. Should the Master impose His will upon His disciples, He could surely overcome them, but in the last analysis, the disciples would not evolve and, at length, would revolt from the imposition. Nothing of lasting value would be accomplished and they would be weakened instead of strengthened towards an eventual Mastership. | 64. Chân sư DK tập trung vào một định luật huyền bí ngăn Chân sư thao túng thể trí của một đệ tử. Chân sư không được sử dụng ý chí của mình để buộc một đệ tử tuân theo những tư tưởng, nguyện ước, hy vọng và khát vọng của Ngài. Chân sư không được trở thành một tác nhân cưỡng ép, chỉ đạo trong đời sống các đệ tử của Ngài. Các thành viên của Hắc đoàn không chịu những ràng buộc như vậy; họ không tôn trọng ý chí tự do của bất kỳ ai. Nếu Chân sư áp đặt ý chí của Ngài lên các đệ tử, chắc chắn Ngài có thể khuất phục họ, nhưng xét đến cùng, các đệ tử sẽ không tiến hoá và về lâu dài sẽ nổi loạn chống lại sự áp đặt ấy. Sẽ không hoàn thành được điều gì có giá trị lâu bền, và họ sẽ suy yếu thay vì được củng cố để cuối cùng đạt quả vị Chân sư. |
65. What the Master can do is to impress their minds (without imposing His will); He may express strongly that which He feels should be done. But according to the Sirian Law of Freedom, the disciple must be left free to decide the final issue. | 65. Điều Chân sư có thể làm là ghi ấn lên thể trí họ (mà không áp đặt ý chí của Ngài); Ngài có thể bày tỏ mạnh mẽ điều Ngài cảm thấy nên làm. Nhưng theo Định luật Tự Do của Sao Thiên Lang, người đệ tử phải được tự do quyết định vấn đề cuối cùng. |
66. Master DK compares the Master with His disciples; they both share a certain “similarity of ideas”, however fallible may be the disciples’ vision and however flawed may be their expression of those ideas. The passage of time will help them see the Master’s vision with increasing clarity and will develop their skill-in-action so that they may contribute usefully to the manifestation of the Master’s ideas. At first, as the Master scans the world for potential members of His Ashram, it is simply similarity in quality of thought which is sought. | 66. Chân sư DK so sánh Chân sư với các đệ tử của Ngài; cả hai đều có một mức độ “tương đồng về ý tưởng”, dù tầm nhìn của các đệ tử có thể sai lệch đến đâu và cách họ biểu đạt những ý tưởng ấy có thể khiếm khuyết đến mức nào. Thời gian trôi qua sẽ giúp họ nhìn thấy tầm nhìn của Chân sư ngày càng rõ ràng hơn và phát triển sự khéo léo trong hành động, để họ có thể đóng góp hữu ích vào sự biểu hiện các ý tưởng của Chân sư. Ban đầu, khi Chân sư dò xét thế gian để tìm những thành viên tiềm năng cho ashram của Ngài, điều Ngài tìm kiếm đơn giản là sự tương đồng về phẩm tính tư tưởng. |
67. A disciple who has the potential truly to be a member of a Master’s Ashram, shares with that particular Master certain “innate convictions”. Starting with the foundation of those shared convictions, the disciple’s task is to discover “points of contact” and “analogous idealisms”; then follows the submergence of the disciple’s life in the work of the Ashram, to the extent that the disciple may recognize that work. | 67. Một đệ tử có tiềm năng thực sự trở thành thành viên trong ashram của một Chân sư chia sẻ với chính Chân sư ấy những “xác tín vốn có”. Khởi đầu từ nền tảng những xác tín chung ấy, nhiệm vụ của người đệ tử là khám phá “những điểm tiếp xúc” và “những tinh thần lý tưởng tương đồng”; tiếp đó là sự hòa nhập đời sống của người đệ tử vào công việc của ashram, trong chừng mực người đệ tử có thể nhận biết công việc ấy. |
68. Thus, similarity of quality is the basis of future cooperation. Once that similarity is recognized, the disciple is responsible for many adjustments and modifications in individual thought and behavior. The prognosis, however, will generally be good (over time) because the energetic basis for affiliation and cooperation is harmonious and sound. | 68. Như vậy, sự tương đồng về phẩm tính là nền tảng của sự hợp tác trong tương lai. Một khi nhận ra sự tương đồng ấy, người đệ tử có trách nhiệm thực hiện nhiều điều chỉnh và thay đổi trong tư tưởng và hành vi cá nhân. Tuy nhiên, triển vọng nhìn chung sẽ tốt đẹp (theo thời gian), vì nền tảng năng lượng cho sự liên kết và hợp tác là hài hòa và vững chắc. |
69. Another important definition or description of the Master emerges: He is “an initiating and distributing centre of power”. The Master represents the monadic aspect to His Ashram. He is responsible to Shamballa for various initiatives on behalf of the Divine Plan. As well, He is the distributor of hierarchical, and to a degree, Shamballic energies and forces. | 69. Một định nghĩa hay mô tả quan trọng khác về Chân sư xuất hiện: Ngài là “một trung tâm khởi xướng và phân phối quyền năng”. Đối với ashram của mình, Chân sư đại diện cho phương diện chân thần. Ngài chịu trách nhiệm trước Shamballa về những sáng kiến khác nhau nhằm phụng sự Thiên Cơ. Đồng thời, Ngài là đấng phân phối các năng lượng và mãnh lực của Thánh đoàn và, ở một mức độ nào đó, của Shamballa. |
70. We can see why the symbol of the circle with a central dot is so apt for the Master in relation to His sphere of directed influence—the Ashram. | 70. Chúng ta có thể thấy vì sao biểu tượng vòng tròn có một chấm ở trung tâm lại thích hợp đến thế với Chân sư trong mối quan hệ với khối cầu chịu ảnh hưởng có định hướng của Ngài—ashram. |
Every Ashram or inner group is essentially a reservoir of thought and that reservoir has for its spring or source, the ideas, dreams, vision and aspiration of the Master. This is impulsed by His monadic potency, influenced by the One Who is His Master and developed and fed by His experience, unfolded as His wisdom grew and His capacity to further the hierarchical Plan had been dedicated, used and increased. Then it becomes a clear pool of thought, augmented and fed from the spring of many lives, from the pure vision and consecrated dreams of many disciples. | Mỗi ashram hay nhóm bên trong về bản chất là một kho chứa tư tưởng, và nguồn mạch của kho chứa ấy là những ý tưởng, ước mơ, tầm nhìn và khát vọng của Chân sư. Kho chứa này nhận xung lực từ uy lực chân thần của Ngài, chịu ảnh hưởng của Đấng là Chân sư của Ngài, được phát triển và nuôi dưỡng bằng kinh nghiệm của Ngài, khai mở khi minh triết của Ngài tăng trưởng và khi năng lực thúc đẩy Thiên Cơ của Thánh đoàn của Ngài được hiến dâng, sử dụng và gia tăng. Khi ấy, nó trở thành một hồ tư tưởng trong trẻo, được bồi đắp và nuôi dưỡng từ nguồn mạch của nhiều kiếp sống, từ tầm nhìn thanh khiết và những ước mơ thánh hiến của nhiều đệ tử. |
71. DK emphasizes the Ashram as a “reservoir of thought”. He uses the analogy a “spring” which feeds the reservoir. The Master’s ideas, dreams, vision and aspiration are the spring. | 71. Chân sư DK nhấn mạnh rằng ashram là một “kho dự trữ tư tưởng”. Ngài dùng hình ảnh tương đồng về một “mạch nguồn” nuôi dưỡng kho dự trữ ấy. Những ý tưởng, ước mơ, tầm nhìn và khát vọng của Chân sư chính là mạch nguồn đó. |
72. We note that a Master, too, has dreams, visions and aspirations; therefore, these three factors do not pertain only to the astral plane and its energies, for the Master works from a vibratory level far ‘above’ the astral level. | 72. Chúng ta lưu ý rằng một Chân sư cũng có những ước mơ, tầm nhìn và khát vọng; do đó, ba yếu tố này không chỉ thuộc về cõi cảm dục và các năng lượng của cõi ấy, vì Chân sư làm việc từ một cấp độ rung động ‘cao hơn’ rất nhiều so với cấp độ cảm dục. |
73. The Ashram is, more specifically, impulsed by the “monadic potency” of its Master. The Ashram is ‘will-driven’ and its processes are part of the enactment of Divine Purpose as it is empowered by Divine Will—the Purpose and Will of the Planetary Logos. | 73. Cụ thể hơn, ashram nhận xung lực từ “uy lực chân thần” của Chân sư mình. Ashram ‘do ý chí thúc đẩy’, và các tiến trình của nó là một phần của việc thực thi Thiên Ý, được Ý Chí thiêng liêng tiếp sức—Thiên Ý và Ý Chí của Hành Tinh Thượng đế. |
74. Master KH is and has been the Master of Master DK. Thus the work of Master DK’s Ashram is “influenced” by Master KH and, really, is somehow ‘included’ within Master KH’s still greater Ashram. | 74. Chân sư KH hiện là và từ lâu đã là Chân sư của Chân sư DK. Vì vậy, công việc của ashram của Chân sư DK chịu “ảnh hưởng” của Chân sư KH và, thực ra, theo một cách nào đó, được ‘bao hàm’ trong ashram còn rộng lớn hơn của Chân sư KH. |
75. From a more general point of view, the Ashram of any Master will be influenced by the One Who is to Him a Master. | 75. Theo một góc nhìn tổng quát hơn, ashram của bất kỳ Chân sư nào cũng sẽ chịu ảnh hưởng của Đấng là Chân sư của Ngài. |
76. Depending upon how we read the possibly ambiguous sentence containing the reference to the Master’s Master, we may find 1) that it refers to the unfolding wisdom and increasing capacities of the greater Master, or that 2) it simply refers to the lesser Master. My impression is that the sentence in question refers to the growth of the Master Whose Ashram is under discussion and that the reference to the Master’s Master is merely a part of the picture. | 76. Tùy theo cách chúng ta đọc câu có thể mang nghĩa mơ hồ, trong đó nhắc đến Chân sư của một Chân sư, chúng ta có thể thấy rằng 1) câu ấy nói đến minh triết đang khai mở và những năng lực ngày càng gia tăng của vị Chân sư cao hơn, hoặc 2) câu ấy chỉ nói đến vị Chân sư thấp hơn. Theo cảm nhận của tôi, câu đang xét nói đến sự tăng trưởng của vị Chân sư có ashram đang được bàn đến, còn việc nhắc đến Chân sư của Ngài chỉ là một phần của bức tranh. |
77. The monadic ray of a disciple may be different from the monadic of the Master of his Ashram, at least as concerns the disciple’s initial ashramic experience. After the second degree, however, the disciple may transfer into the Ashram of a Master whose ray is the same of his monadic ray (LOM 267). It is not stated, however, whether, in this instance, the monadic ray of the Master will be the same as the disciple’s monadic ray. The idea conveyed is that (in the new Ashram entered after the second degree) the ray of the Master inspiring the Ashram to which the disciple has transferred (whether the Master’s soul or monadic ray) will be the same as the disciple’s monadic ray. In cases where the disciple’s soul and monadic ray are the same as the soul and monadic ray of his Master, it could be said that he truly ‘belongs’ to that Master. | 77. Cung chân thần của một đệ tử có thể khác với cung chân thần của Chân sư đứng đầu ashram mà người đệ tử ấy thuộc về, ít nhất là xét đến trải nghiệm ashram của người đệ tử ấy trong giai đoạn ban đầu này. Tuy nhiên, sau cấp điểm đạo thứ hai, người đệ tử có thể chuyển sang ashram của một Chân sư có cung trùng với cung chân thần của mình (LOM 267). Tuy nhiên, không có lời xác định rằng, trong trường hợp này, cung chân thần của Chân sư có trùng với cung chân thần của người đệ tử hay không. Ý tưởng được truyền đạt là (trong ashram mới mà người đệ tử gia nhập sau cấp điểm đạo thứ hai) cung của Chân sư truyền cảm hứng cho ashram mà người đệ tử đã chuyển đến (dù đó là cung linh hồn hay cung chân thần của Chân sư) sẽ trùng với cung chân thần của người đệ tử. Trong những trường hợp mà cung linh hồn và cung chân thần của người đệ tử trùng với cung linh hồn và cung chân thần của Chân sư mình, có thể nói rằng người đệ tử ấy thực sự ‘thuộc về’ vị Chân sư ấy. |
78. The ashramic “reservoir of thought” must be a “clear pool of thought” fed from the spring of many of the Master’s lives, and fed also from the “pure vision and consecrated dreams of many disciples”. Since only soul experiences can truly contribute to an Ashram, we must conclude that “pure vision” and “consecrated dreams” are of the soul. | 78. Trong ashram, “bể chứa tư tưởng” phải là một “hồ tư tưởng trong vắt” nhận nguồn nuôi dưỡng từ nhiều kiếp sống của Chân sư, đồng thời cũng nhận nguồn nuôi dưỡng từ “tầm nhìn thuần khiết và những giấc mơ thánh hiến của nhiều đệ tử”. Vì chỉ những trải nghiệm linh hồn mới có thể thực sự đóng góp cho một ashram, chúng ta phải kết luận rằng “tầm nhìn thuần khiết” và “những giấc mơ thánh hiến” đều thuộc về linh hồn. |
79. It may be pondered with profit: “what is the thought content of a Master’s Ashram”? Do we have the experience of tapping into that reservoir of pure thought? If so, how is it different from reading the books written by the Tibetan? The question can, of course, be applied to gauging the thought content of other Ashrams. | 79. Suy ngẫm câu hỏi sau có thể mang lại lợi ích: “nội dung tư tưởng trong ashram của một Chân sư là gì”? Chúng ta có trải nghiệm tiếp cận bể chứa tư tưởng thuần khiết ấy không? Nếu có, trải nghiệm ấy khác với việc đọc những cuốn sách do Chân sư Tây Tạng viết như thế nào? Dĩ nhiên, cũng có thể dùng câu hỏi này để đánh giá nội dung tư tưởng của các ashram khác. |
To this reservoir of pure thought, every pledged disciple is asked to make his contribution and, if he can do so, it will enable the Ashram to meet the need and help every aspirant to pass off the Probationary Path on to the Path of Accepted Discipleship. Every centre or focus of power has a definite sphere of influence and a true, active Ashram is a positive force within the centre which we call humanity. | Mỗi đệ tử đã phát nguyện đều được yêu cầu đóng góp vào kho chứa tư tưởng thanh khiết này, và nếu y có thể làm được như thế, sự đóng góp ấy sẽ giúp ashram đáp ứng nhu cầu và giúp mỗi người chí nguyện rời Con Đường Dự Bị để bước sang Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận. Mỗi trung tâm hay tiêu điểm quyền năng đều có một phạm vi ảnh hưởng xác định, và một ashram chân thực, hoạt động tích cực, là một mãnh lực tích cực trong trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại. |
80. If we are “pledged disciples” we are asked to make our contribution to the ashramic reservoir of pure thought. It is obvious that, if we are to do so, our thoughts, at the very least, must be pure. | 80. Nếu chúng ta là “những đệ tử đã cam kết”, chúng ta được yêu cầu đóng góp vào bể chứa tư tưởng thuần khiết của ashram. Rõ ràng, muốn làm được điều ấy, ít nhất tư tưởng của chúng ta phải thuần khiết. |
81. The purpose of our contribution is to assist the Ashram help aspirants off the Probationary Path and onto the Path of Accepted Discipleship. When we examine the content of this sentence we find the Probationary Path (trodden by aspirants and probationary disciples) preceding the Path of Accepted Discipleship. | 81. Mục đích đóng góp của chúng ta là hỗ trợ ashram giúp những người chí nguyện rời Con Đường Dự Bị để bước sang Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận. Khi xem xét nội dung câu này, chúng ta thấy Con Đường Dự Bị (mà những người chí nguyện và đệ tử dự bị bước đi) có trước Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận. |
82. In the book Initiation: Human and Solar, the chapter on “The Probationary Path” precedes the chapter on “The Path of Discipleship”. We may conclude that the discussion on the Path of Discipleship refers primarily to those who are pledged disciples and accepted disciples. The information on “The Probationary Path” would then refer to those who are aspirants and probationary disciples. | 82. Trong cuốn sách Điểm Đạo: Nhân Loại và Thái Dương, chương về “Con Đường Dự Bị” đứng trước chương về “Con Đường Đệ Tử”. Chúng ta có thể kết luận rằng phần bàn luận về Con Đường Đệ Tử chủ yếu nói đến những người là đệ tử đã cam kết và đệ tử được chấp nhận. Như vậy, thông tin về “Con Đường Dự Bị” sẽ nói đến những người chí nguyện và đệ tử dự bị. |
83. DK speaks of the “sphere of influence” of an Ashram. An important statement is made: “a true, active Ashram is a positive force within the centre which we call humanity”. It would repay our consideration to ponder on the various Ashrams with which we may be somewhat familiar, and determine the ways in which these Ashrams may be considered positive forces within humanity. | 83. Chân sư DK nói đến “phạm vi ảnh hưởng” của một ashram. Ngài đưa ra một phát biểu quan trọng: “một ashram chân chính, hoạt động tích cực là một mãnh lực tích cực bên trong trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại”. Sẽ rất đáng để chúng ta suy ngẫm về các ashram mà mình ít nhiều biết đến, và xác định những phương diện mà theo đó có thể xem các ashram này là những mãnh lực tích cực trong nhân loại. |
The disciple now naturally and rightly questions how thought power and spiritual instinct are related, how they can work constructively and how their interdependence demonstrates. I wonder how I can make the idea clear to you? Let me first call your attention to the fact that it is instinct which leads a disciple to respond to a Master’s call or note, to His vibration and to His group. Instinct, in its early stages, is the name given to the response of the material mechanism to its environing material world—the three worlds of human evolution. Later, upon the evolutionary ladder, the mind appears as an interpreting agency and the nature of the mechanism and of the environment is slowly understood. The relationships become clarified. Spiritual instinct is the capacity of the soul to register contact with the Hierarchy of which the soul is inherently a part, just as in the body a man’s mechanical, instinctual responses, reactions and reflexes are an integral part of the material mechanism. In the case of the spiritual instincts, [698] it is the intuition which interprets and illumines the mind. The power of thought as employed in the work of the Ashram is dependent upon the power of the disciple to focus and raise the conscious mind, to contact the soul and evoke the intuition. When that has been successfully done, then comes the unison of the three factors: mental illumination, soul impulse and intuitive perception. This triple combination will produce that type of thought which will be effective in activity, productive of the Plan, conducive to selflessness and motivated by love. | Giờ đây, một cách tự nhiên và đúng đắn, người đệ tử đặt câu hỏi quyền năng tư tưởng và bản năng tinh thần có quan hệ với nhau như thế nào, chúng có thể hoạt động mang tính xây dựng ra sao, và sự phụ thuộc lẫn nhau của chúng biểu lộ như thế nào. Tôi tự hỏi làm sao có thể khiến ý tưởng này trở nên rõ ràng với các bạn? Trước hết, hãy để Tôi lưu ý các bạn rằng chính bản năng dẫn người đệ tử đến chỗ đáp ứng với lời kêu gọi hay âm điệu của một Chân sư, với rung động của Ngài và với nhóm của Ngài. Trong những giai đoạn đầu, bản năng là tên gọi dành cho sự đáp ứng của bộ máy vật chất với thế giới vật chất bao quanh nó—ba cõi giới của sự tiến hoá nhân loại. Về sau, trên thang tiến hoá, thể trí xuất hiện như một tác nhân diễn giải, và bản chất của bộ máy cùng môi trường dần dần được thấu hiểu. Các mối quan hệ trở nên sáng tỏ. Bản năng tinh thần là năng lực của linh hồn ghi nhận sự tiếp xúc với Thánh đoàn mà linh hồn vốn là một phần, cũng như trong thân thể, những đáp ứng, phản ứng và phản xạ máy móc, mang tính bản năng của con người là một phần không thể tách rời của bộ máy vật chất. Đối với các bản năng tinh thần, [698] chính trực giác diễn giải và soi sáng thể trí. Quyền năng tư tưởng được sử dụng trong công việc của ashram phụ thuộc vào năng lực của người đệ tử tập trung và nâng cao thể trí hữu thức, tiếp xúc với linh hồn và gợi lên trực giác. Khi đã thực hiện thành công điều đó, sự hòa hợp của ba yếu tố xuất hiện: sự soi sáng trí tuệ, xung lực linh hồn và tri giác trực giác. Sự kết hợp tam phân này sẽ tạo ra loại tư tưởng có hiệu quả trong hoạt động, góp phần thực hiện Thiên Cơ, đưa đến sự vô ngã và có động cơ là tình thương. |
84. The Tibetan discusses the relationship between thought power and spiritual instinct. | 84. Chân sư Tây Tạng bàn về mối quan hệ giữa quyền năng tư tưởng và bản năng tinh thần. |
85. We remember that an initiate of the first planetary degree must demonstrate spiritual instinct: | 85. Chúng ta nhớ rằng một điểm đạo đồ ở cấp điểm đạo hành tinh thứ nhất phải biểu lộ bản năng tinh thần: |
“Spiritual instinct, the lowest aspect of the intuition, indicates readiness for the first initiation; an illumined mind and spiritual intelligence are the definite sign that a man can take the second initiation, whilst spiritual perception or intuitive instinct signifies preparedness for the Transfiguration, the third initiation. ” (DINA II 267) | “Bản năng tinh thần, phương diện thấp nhất của trực giác, cho thấy sự sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ nhất; một thể trí được soi sáng và trí thông minh tinh thần là dấu hiệu rõ rệt cho thấy một người có thể trải qua lần điểm đạo thứ hai, trong khi tri giác tinh thần hay bản năng trực giác biểu thị sự chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc Biến hình, lần điểm đạo thứ ba. ” (DINA II 267) |
We read here that “spiritual instinct is the lowest aspect of the intuition”. Thought power and the intuition are to be related. | Ở đây, chúng ta đọc thấy rằng “bản năng tinh thần là phương diện thấp nhất của trực giác”. Cần thiết lập mối liên hệ giữa quyền năng tư tưởng và trực giác. |
86. Perhaps we had not realized that it is “instinct” by means of which we respond to the Master’s call, to His note, to His vibration or group. There is something inherent within us which answers to the vibration which goes forth from the Master. This is similar to, but not the same as, the unconscious instinct which directs the form nature towards gratification. Rather, it is the spiritual instinct of the incarnated soul. | 86. Có lẽ chúng ta chưa nhận ra rằng chính nhờ “bản năng” mà chúng ta đáp ứng tiếng gọi của Chân sư, đáp ứng âm điệu, rung động hay nhóm của Ngài. Có điều gì đó vốn sẵn có trong chúng ta đáp lại rung động phát ra từ Chân sư. Điều này tương tự, nhưng không đồng nhất với bản năng vô thức hướng bản chất hình tướng đến sự thoả mãn. Đúng hơn, đó là bản năng tinh thần của linh hồn đã nhập thể. |
87. We find that instinct (at whatever level it may operate) is a directing and relating agency. | 87. Chúng ta thấy rằng bản năng (dù hoạt động ở cấp độ nào) cũng là một tác nhân định hướng và liên kết. |
88. Spiritual instinct is further defined: “Spiritual instinct is the capacity of the soul to register contact with the Hierarchy of which the soul is inherently a part… In the case of the spiritual instincts, it is the intuition which interprets and illumines the mind. ” Instinct is the response of like to like; the incarnated soul answers to its source on higher planes. Just as the mind has interpreted and clarified the nature of the lower instincts, so, when spiritual instinct is operative, the intuition interprets the mind. Thus, is illusion dispelled! | 88. Bản năng tinh thần được định nghĩa thêm: “Bản năng tinh thần là năng lực của linh hồn ghi nhận sự tiếp xúc với Thánh đoàn, mà linh hồn vốn là một phần trong đó… Đối với các bản năng tinh thần, chính trực giác diễn giải và soi sáng thể trí. ” Bản năng là sự đáp ứng giữa những gì đồng loại; linh hồn đã nhập thể đáp lại cội nguồn của mình trên các cõi cao. Cũng như thể trí đã diễn giải và làm sáng tỏ bản chất của các bản năng thấp, khi bản năng tinh thần hoạt động, trực giác diễn giải thể trí. Nhờ vậy, ảo tưởng bị xua tan! |
89. Thought which is to be used in relation to the Ashram is of a special kind. This type of thought depends upon the power of the disciple to raise the conscious mind to contact with the soul, which act evokes the intuition. In short, the thought demonstrated in an Ashram is not only logical, reasonable thought; it is illumined thought—thought illumined by the intuition. | 89. Tư tưởng dùng trong mối liên hệ với ashram thuộc một loại đặc biệt. Loại tư tưởng này phụ thuộc vào năng lực của người đệ tử nâng thể trí hữu thức lên tiếp xúc với linh hồn; hành động ấy khơi dậy trực giác. Tóm lại, tư tưởng biểu lộ trong một ashram không chỉ là tư tưởng hợp lôgic, hợp lý; đó là tư tưởng được soi sáng—tư tưởng được trực giác soi sáng. |
90. A union of three factors is required of those who would think in a way that is useful to the Ashram and contributes to the Ashram: mental illumination, soul impulse and intuitive perception. Thus “Three Minds Unite”. | 90. Những ai muốn tư duy theo cách hữu ích cho ashram và đóng góp cho ashram cần có sự hợp nhất của ba yếu tố: sự soi sáng trí tuệ, xung lực linh hồn và tri giác trực giác. Như vậy, “ba trí hợp nhất”. |
91. We note the use of an unusual word, “unison” rather than merely “unity”. There is to be a “unison” (a sounding as of one note) between mental illumination, soul impulse and intuitive perception. This requires, of course, the relative completion of the antahkarana, ‘reaching’ at least ‘as far as’ the buddhic plane (the plane from which the intuition can be accessed). | 91. Chúng ta lưu ý việc sử dụng một từ khác thường, “đồng thanh” thay vì chỉ là “hợp nhất”. Cần có sự “đồng thanh” (cùng xướng như một âm điệu duy nhất) giữa sự soi sáng trí tuệ, xung lực linh hồn và tri giác trực giác. Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi antahkarana phải tương đối hoàn thiện, ‘vươn tới’ ít nhất ‘tận’ cõi Bồ đề (cõi từ đó có thể tiếp cận trực giác). |
92. Ashramic thought, then, is characterised by this ‘triple unison’; ashramic thought is “thought which will be effective in activity, productive of the Plan, conducive to selflessness and motivated by love. ” A number of divine aspects are united in ashramic thought—activity, love and the selflessness of will, all these leading to the manifestation of that portion of the Divine Plan intended by the Master, as He is inspired by still higher Chohans and Shamballic Lives. | 92. Vậy, tư tưởng ashram có đặc trưng là sự ‘đồng thanh tam phân’ này; tư tưởng ashram là “tư tưởng có hiệu quả trong hoạt động, giúp thực hiện Thiên Cơ, dẫn đến tính vô ngã và lấy tình thương làm động lực. ” Một số phương diện thiêng liêng hợp nhất trong tư tưởng ashram—hoạt động, tình thương và tính vô ngã của ý chí; tất cả đều dẫn đến sự biểu hiện của phần Thiên Cơ mà Chân sư dự định thực hiện, khi Ngài nhận cảm hứng từ các Đấng Chohan và các Sự Sống Shamballa còn cao hơn nữa. |
93. If we are to contribute to the Ashram’s reservoir of pure thought, it is in this manner that we must learn to think. The thoughts of a high-grade personality (unillumined by the soul) will be insufficient to meet the ashramic standard. | 93. Nếu muốn đóng góp vào bể chứa tư tưởng thuần khiết của ashram, chúng ta phải học tư duy theo cách này. Tư tưởng của một phàm ngã ở trình độ cao (chưa được linh hồn soi sáng) sẽ không đủ đáp ứng tiêu chuẩn của ashram. |
According to the ability of the group, as a whole, to function under the impetus of the spiritual instinct will be the success of the Master to carry out His plans through the medium of the group. Under divine law, He may not work alone; He cannot work alone. He can inspire, teach, ask for cooperation and give guidance as to the needed work. Beyond that, no Master may go. In this world cycle, the work of the Hierarchy is conditioned by the disciples, and they can well understand, therefore, why the last fetter cast off by a Master is irritation! No initiate can form a true Ashram until all capacity to misunderstand, to express irritation and to criticise has vanished. The power of thought of a Master, if misused, could be a potent destructive force. He must be able to trust Himself before His Ashram can run on right lines and with safety. | Mức độ thành công của Chân sư trong việc thực hiện các kế hoạch của Ngài thông qua nhóm sẽ tùy thuộc vào năng lực của toàn nhóm hoạt động dưới sự thúc đẩy của bản năng tinh thần. Theo định luật thiêng liêng, Ngài không được làm việc một mình; Ngài không thể làm việc một mình. Ngài có thể truyền cảm hứng, giảng dạy, yêu cầu sự hợp tác và chỉ dẫn về công việc cần thiết. Không Chân sư nào được đi xa hơn thế. Trong chu kỳ thế giới này, các đệ tử tạo ảnh hưởng đến công việc của Thánh đoàn; vì vậy, họ có thể hiểu rõ tại sao xiềng xích cuối cùng mà một Chân sư trút bỏ lại là sự bực bội! Không điểm đạo đồ nào có thể hình thành một ashram chân thực cho đến khi mọi khả năng hiểu lầm, biểu lộ sự bực bội và chỉ trích đều biến mất. Nếu bị sử dụng sai, quyền năng tư tưởng của một Chân sư có thể trở thành một mãnh lực hủy diệt mạnh mẽ. Ngài phải có thể tin cậy chính mình trước khi ashram của Ngài có thể vận hành đúng đường hướng và an toàn. |
94. The ability of the group to function under the impetus of spiritual instinct is one of the major requirements related to the success of the group. A Master will not succeed in carrying out His plans “through the medium of the group” unless the group is actuated by spiritual instinct. This means that the soul contact of the members of the group is real and assured. | 94. Khả năng của nhóm hoạt động dưới sự thúc đẩy của bản năng tinh thần là một trong những yêu cầu chính liên quan đến sự thành công của nhóm. Một Chân sư sẽ không thành công trong việc thực hiện các kế hoạch của Ngài “thông qua nhóm”, trừ khi bản năng tinh thần thúc đẩy nhóm hoạt động. Điều này có nghĩa là sự tiếp xúc với linh hồn của các thành viên trong nhóm phải có thực và vững chắc. |
95. It is of very real interest to read that a Master may not, and cannot, work alone because it would be against divine law to do so. We are in a solar system conditioned by the great Law of Attraction and the principle of Right Relationship must be fulfilled. Our second ray planet is also strongly conditioned by this cosmic law. | 95. Thật đáng quan tâm khi đọc rằng một Chân sư không được phép và không thể làm việc một mình, vì làm như vậy sẽ trái với định luật thiêng liêng. Chúng ta đang sống trong một hệ mặt trời chịu ảnh hưởng của Định luật Hấp Dẫn vĩ đại, và nguyên khí Quan Hệ Đúng Đắn phải được thực hiện trọn vẹn. Hành tinh cung hai của chúng ta cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của định luật vũ trụ này. |
96. Thus far, we see that a Master is not allowed to work alone and that He may not coerce those with whom He works. The Master inspires, teaches, guides and requests cooperation, but may not apply His will to enforce it. | 96. Đến đây, chúng ta thấy rằng một Chân sư không được phép làm việc một mình và Ngài không được phép cưỡng ép những người cùng làm việc với Ngài. Chân sư truyền cảm hứng, giảng dạy, hướng dẫn và đề nghị hợp tác, nhưng không được phép dùng ý chí của Ngài để cưỡng bách sự hợp tác ấy. |
97. We, as disciples, must come to realize just how much we can assist or retard the plans of the Hierarchy. It is arresting to read that “in this world cycle the work of the Hierarchy is conditioned by the disciples…” Finally, so it seems, humanity has reached its ‘Age of Responsibility’; it is no longer an infant humanity, and must, consequently, make those choices and self-determinations which will lead to progress or failure. | 97. Là đệ tử, chúng ta phải nhận ra mình có thể hỗ trợ hay làm chậm các kế hoạch của Thánh đoàn đến mức nào. Thật đáng chú ý khi đọc rằng “trong chu kỳ thế giới này, công việc của Thánh đoàn chịu ảnh hưởng của các đệ tử…” Dường như cuối cùng nhân loại đã bước vào ‘Thời Đại Trách Nhiệm’ của mình; nhân loại không còn ở thời kỳ ấu thơ nữa, và do đó phải đưa ra những lựa chọn cùng quyết định tự chủ sẽ dẫn đến tiến bộ hoặc thất bại. |
98. The Master speaks, almost humorously, of the need to be rid of “irritation”. He is not talking about disciples. Disciples have often been told they must cast off irritation. He is speaking of Himself, and of the other Masters Who inspire and guide Ashrams. | 98. Với giọng gần như hài hước, Chân sư nói về sự cần thiết phải loại bỏ “sự bực bội”. Ngài không nói về các đệ tử. Các đệ tử thường được nhắc rằng họ phải dứt bỏ sự bực bội. Ngài đang nói về chính Ngài và các Chân sư khác, những Đấng truyền cảm hứng và hướng dẫn các ashram. |
99. Masters are forced to work with and through Their disciples, who are, relatively, inert to say the least. Disciples do so many things which are simply at variance with the Master’s intentions and with the welfare of the Ashram, that one would think frustration a justifiable response from the Master. | 99. Các Chân sư buộc phải làm việc cùng và thông qua các đệ tử của Các Ngài, những người mà nói một cách nhẹ nhàng nhất thì cũng tương đối trì trệ. Các đệ tử làm quá nhiều điều hoàn toàn trái với những ý định của Chân sư và với lợi ích của ashram, đến mức người ta có thể cho rằng sự thất vọng là một phản ứng chính đáng của Chân sư. |
100. However frustrated a Master may ‘feel’, He is not allowed to express that frustration through irritation and criticism. No initiate can organize a “true Ashram” if He is still conditioned by the power to misunderstand (for to understand all is to forgive all—we have been told). Similarly, the Master must have transcended all tendency toward irritation or criticism. Should He not have done so, and could He have organized an Ashram, its members would be “short lived”, for a Master’s thought is extremely potent, and if misused would become, as DK tells us, “a potent destructive force”. | 100. Dù một Chân sư có ‘cảm thấy’ thất vọng đến đâu, Ngài cũng không được phép biểu lộ sự thất vọng ấy qua sự bực bội và chỉ trích. Không điểm đạo đồ nào có thể tổ chức một “ashram chân chính” nếu Ngài vẫn còn chịu ảnh hưởng của khả năng hiểu lầm (vì chúng ta đã được dạy rằng thấu hiểu tất cả là tha thứ tất cả). Tương tự, Chân sư phải vượt qua mọi khuynh hướng bực bội hay chỉ trích. Nếu Ngài chưa làm được điều ấy mà vẫn có thể tổ chức một ashram, thì các thành viên trong đó sẽ “đoản thọ”, vì tư tưởng của một Chân sư có sức mạnh vô cùng lớn, và nếu sử dụng sai, như Chân sư DK cho chúng ta biết, nó sẽ trở thành “một mãnh lực huỷ diệt mạnh mẽ”. |
101. What, really, is “irritation”? It is, I think we will recognize, a Martian and not a Venusian state. It is an identification with thwarted desire and a constrained wish to be rid of that which has thwarted the desire. Let us suppose that the source of irritation is another human being, and not circumstantial. During the moment that irritation prevails, the soul of the irritating person, is not seen—only the action or behavior which has caused the irritation is experienced. Thus, consciousness is denied an understanding of the source of the offending behavior and of the critical path by following which the offending behavior can be negated or eliminated. Thus irritation is both blinding and destructive, and works badly also on the individual who entertains it. | 101. Thực ra, “sự bực bội” là gì? Tôi nghĩ chúng ta sẽ nhận ra rằng đó là một trạng thái thuộc Sao Hỏa, chứ không thuộc Sao Kim. Đó là sự đồng hoá với dục vọng bị cản trở và một mong muốn bị dồn nén nhằm loại bỏ điều đã cản trở dục vọng ấy. Chúng ta hãy giả sử rằng nguồn gây bực bội là một người khác, chứ không phải hoàn cảnh. Trong khoảnh khắc sự bực bội chiếm ưu thế, người ta không nhìn thấy linh hồn của người gây bực bội—chỉ trải nghiệm hành động hay cách cư xử đã gây ra sự bực bội ấy. Do đó, tâm thức không thể thấu hiểu nguồn gốc của cách cư xử gây khó chịu, cũng như con đường then chốt mà nếu đi theo, người ta có thể hoá giải hoặc loại bỏ cách cư xử ấy. Vì vậy, sự bực bội vừa làm mù quáng vừa mang tính huỷ diệt, đồng thời cũng tác động xấu đến người nuôi dưỡng nó. |
102. Irritation is born of the urgency for accomplishment. It arises when the urge to accomplish is much greater than the understanding of why accomplishment is not immediately occurring. When this thwarted urgency can be transformed into understanding (and correct action taken in the light of this understanding), irritation will vanish. In the Agni Yoga Teaching we are told that irritation or “imperil” is to be worn away through “cosmic perception”. | 102. Sự bực bội nảy sinh từ sự thôi thúc cấp bách muốn hoàn thành công việc. Nó xuất hiện khi sự thôi thúc muốn hoàn thành công việc lớn hơn rất nhiều so với sự thấu hiểu lý do tại sao công việc chưa hoàn thành ngay. Khi sự thôi thúc cấp bách bị cản trở này có thể chuyển đổi thành sự thấu hiểu (và hành động đúng đắn được thực hiện dưới ánh sáng của sự thấu hiểu ấy), sự bực bội sẽ tan biến. Trong Giáo Huấn Agni Yoga, chúng ta được dạy rằng sự bực bội hay “độc tố do bực bội” cần được bào mòn dần qua “tri giác vũ trụ”. |
103. On our own much lower level of perception than that experienced by the Masters, we have all probably had experiences with the misuse of thought and speech by others, and, more importantly, by ourselves. When we ponder the damage we may have done, we can only imagine what would be the result if a Master could not control Himself!. | 103. Ở cấp độ tri giác của chúng ta, thấp hơn rất nhiều so với cấp độ mà các Chân sư trải nghiệm, có lẽ tất cả chúng ta đều từng trải nghiệm việc sử dụng sai tư tưởng và lời nói của người khác, và quan trọng hơn, của chính mình. Khi suy ngẫm về những tổn hại mình có thể đã gây ra, chúng ta chỉ có thể tưởng tượng hậu quả sẽ ra sao nếu một Chân sư không thể tự chủ!. |
104. Of course, He could hardly become a Master unless compassion and self-control had established themselves immovably in His consciousness. | 104. Dĩ nhiên, Ngài khó có thể trở thành một Chân sư nếu lòng từ bi và khả năng tự chủ chưa an trụ một cách bất lay chuyển trong tâm thức Ngài. |
105. DK says a Master “must be able to trust Himself before His Ashram can run on right lines and with safety. ” His long-training, through many lives of suffering, realization and service, builds this self-trust. I think we can see how far we all have to go before we are capable, spontaneously, of similar feats of understanding and self-control. | 105. Chân sư DK nói rằng một Chân sư “phải có khả năng tin cậy chính mình thì ashram của Ngài mới có thể vận hành đúng hướng và an toàn. ”Quá trình rèn luyện lâu dài của Ngài, qua nhiều kiếp sống đau khổ, chứng nghiệm và phụng sự, xây dựng nên lòng tin cậy bản thân ấy. Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy tất cả chúng ta còn phải tiến xa đến đâu mới có thể tự nhiên đạt được những thành tựu tương tự về sự thấu hiểu và khả năng tự chủ. |
106. Still, it is always useful to emulate the Masters. As They are now, so we shall be—sooner or later. Every effort we make to love, understand and, overall, live harmlessly, takes us towards the condition which They have already achieved. | 106. Tuy vậy, noi gương các Chân sư luôn là điều hữu ích. Sớm hay muộn, chúng ta cũng sẽ trở nên như Các Ngài hiện nay. Mỗi nỗ lực yêu thương, thấu hiểu và, trên hết, sống vô tổn hại đều đưa chúng ta đến gần trạng thái mà Các Ngài đã đạt được. |
In this work of assembling the necessary thought power for constructive work, the etheric web is definitely involved. It leads then to a reorganisation of the web. Academic explanations do not help the student to understand this. When the mind (the instrument of thought) is the vehicle of soul life, soul light and soul love, and the etheric web is responsive to the inflow of energy from the mind, then the reorganisation of the individual etheric web takes place. The individual etheric body is only a part, an aspect, of the etheric web of humanity; the steady reorganisation of the many parts leads to a transformation of the whole, when enough time has elapsed. | Trong công việc tập hợp quyền năng tư tưởng cần thiết cho hoạt động xây dựng này, mạng lưới dĩ thái chắc chắn có liên quan. Khi ấy, công việc này dẫn đến sự tái tổ chức mạng lưới. Những lời giải thích mang tính học thuật không giúp đạo sinh thấu hiểu điều này. Khi thể trí (công cụ của tư tưởng) là hiện thể của sự sống linh hồn, ánh sáng linh hồn và tình thương linh hồn, và mạng lưới dĩ thái đáp ứng với dòng năng lượng tuôn vào từ thể trí, thì sự tái tổ chức mạng lưới dĩ thái cá nhân diễn ra. Thể dĩ thái cá nhân chỉ là một phần, một phương diện, của mạng lưới dĩ thái nhân loại; sự tái tổ chức đều đặn của nhiều phần dẫn đến sự chuyển đổi của toàn thể, khi đã có đủ thời gian trôi qua. |
107. We are familiar with the idea that the mind and etheric body are related. The mental/etheric signs are Gemini and Aquarius, and people born in or under those signs will understand much about this relation. | 107. Chúng ta quen thuộc với ý tưởng rằng thể trí và thể dĩ thái có liên hệ với nhau. Các dấu hiệu trí tuệ/dĩ thái là Song Tử và Bảo Bình, và những người sinh ra trong hay dưới ảnh hưởng của các dấu hiệu ấy sẽ thấu hiểu nhiều điều về mối liên hệ này. |
108. The power of thought rightly used will lead to a reorganization of the etheric web. It is interesting to read that “academic explanations” will not help us to understand this process. Apparently, it has to be lived. | 108. Quyền năng tư tưởng được sử dụng đúng đắn sẽ dẫn đến sự tái tổ chức mạng lưới dĩ thái. Thật thú vị khi đọc rằng “những lời giải thích mang tính học thuật” sẽ không giúp chúng ta thấu hiểu tiến trình này. Dường như phải sống trải tiến trình ấy. |
109. The mind must be in a certain effective condition before it can be useful in bringing about the reorganization of the individual (and, later, planetary) etheric web. The mind must be soul-illumined and inspired, and the etheric body responsive to the inflowing energies of the mind. Then the reorganization of the etheric body will proceed. | 109. Thể trí phải ở trong một trạng thái hoạt động hữu hiệu nhất định thì mới có thể hữu ích trong việc mang lại sự tái tổ chức mạng lưới dĩ thái cá nhân (và về sau là mạng lưới dĩ thái hành tinh). Thể trí phải được linh hồn soi sáng và truyền cảm hứng, còn thể dĩ thái phải đáp ứng những năng lượng tuôn vào từ thể trí. Khi ấy, sự tái tổ chức thể dĩ thái sẽ diễn ra. |
110. Thus, if we wish to reorganize our etheric patterns, we must see to the condition of our mind and its relation to the soul. | 110. Vì vậy, nếu muốn tái tổ chức các mô hình dĩ thái của mình, chúng ta phải chú tâm đến trạng thái của thể trí và mối quan hệ của nó với linh hồn. |
111. DK envisions the transformation of the etheric body of humanity. This will only occur gradually when many people have managed to bring about the reorganization of their individual etheric body. | 111. Chân sư DK hình dung sự chuyển đổi thể dĩ thái của nhân loại. Điều này sẽ chỉ diễn ra dần dần khi nhiều người đã tái tổ chức được thể dĩ thái cá nhân của mình. |
112. We can understand that the Age of Aquarius will be a time when such reorganization (under Uranus and Aquarius) may proceed apace. The energies which will be potent during that Age are the very energies need for this transformation. The continued strength and presence of the seventh ray during the Aquarian Age is also a great factor in bringing about this desirable reorganization. | 112. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng Thời Đại Bảo Bình sẽ là thời kỳ mà sự tái tổ chức như vậy (dưới ảnh hưởng của Sao Thiên Vương và Bảo Bình) có thể tiến triển nhanh chóng. Những năng lượng sẽ có sức mạnh lớn trong Thời Đại ấy chính là những năng lượng cần thiết cho sự chuyển đổi này. Sức mạnh và sự hiện diện liên tục của cung bảy trong Thời Đại Bảo Bình cũng là một yếu tố quan trọng giúp mang lại sự tái tổ chức đáng mong muốn này. |
The medium through which this takes place is the Mind. The mind creates or formulates those thoughtforms (or embodied energies) which express, upon the mental plane, the measure of the disciple’s understanding of the Plan, and his [699] ability to convey the embodied mental energy to the etheric body—unimpeded by the emotional nature or by any lower upsurging desire. | Phương tiện để điều này diễn ra là Thể Trí. Thể trí sáng tạo hay định hình những hình tư tưởng (hay những năng lượng được hiện thân) biểu đạt trên cõi trí mức độ thấu hiểu Thiên Cơ của người đệ tử, và [699] năng lực của y truyền năng lượng trí tuệ đã được hiện thân ấy đến thể dĩ thái—không bị bản chất cảm xúc hay bất kỳ dục vọng thấp kém nào trỗi dậy cản trở. |
113. We are to understand the importance of the mind in reorganizing the etheric body. | 113. Chúng ta cần thấu hiểu tầm quan trọng của thể trí trong việc tái tổ chức thể dĩ thái. |
114. The thoughtforms created are to reflect an understanding of the Plan (to whatever degree possible). These thoughtforms are then to be conveyed to the etheric body and will have a reorganizing effect. The etheric patterns thus created will help to bring the physical plane into increasing conformity with the pattern of the Plan. | 114. Những hình tư tưởng được tạo ra phải phản ánh sự thấu hiểu Thiên Cơ (trong mức độ có thể). Sau đó, những hình tư tưởng này phải được chuyển đến thể dĩ thái và sẽ có tác dụng tái tổ chức thể ấy. Những mô hình dĩ thái được tạo ra như vậy sẽ giúp cõi hồng trần ngày càng phù hợp với mô hình của Thiên Cơ. |
115. We note that the emotional nature is often considered an obstacle in this transmission from mental body to vital body. The Tibetan is here emphasizing the importance of a particular alignment—soul, mind, brain. | 115. Chúng ta lưu ý rằng bản chất cảm xúc thường được xem là một chướng ngại trong sự truyền dẫn này từ thể trí đến thể sinh lực. Ở đây, Chân sư Tây Tạng đang nhấn mạnh tầm quan trọng của một sự chỉnh hợp đặc biệt—linh hồn, thể trí, bộ não. |
The etheric body is a web of light energy, impulsed or motivated by the type or the quality of the energies to which it responds, from the angle of evolutionary development. | Thể dĩ thái là một mạng lưới năng lượng ánh sáng, nhận xung lực hay động lực từ loại hoặc phẩm tính của những năng lượng mà nó đáp ứng, xét theo góc độ phát triển tiến hoá. |
116. The etheric body is capable of ‘carrying’ many kinds of energy—personal, transpersonal and transcendental. | 116. Thể dĩ thái có khả năng ‘mang’ nhiều loại năng lượng—cá nhân, siêu cá nhân và siêu việt. |
117. How it does so is, however, a great mystery. We may lightly use the word ‘carry’, but can the etheric body really ‘carry’ and transmit energies which are not of the etheric plane? | 117. Tuy nhiên, cách thức thể dĩ thái làm điều đó là một bí nhiệm lớn. Chúng ta có thể dễ dàng dùng từ ‘mang’, nhưng liệu thể dĩ thái có thực sự ‘mang’ và truyền dẫn những năng lượng không thuộc cõi dĩ thái hay không? |
118. Perhaps it would be best to think that etheric energies can undergo various kinds of repatterning according to the type of energy or force which is impulsing those etheric energies. On the etheric plane, there will be found etheric energies and forces; on other planes, other types of energy and forces will be found. Does astral force, for instance, really descend to the etheric plane, or does it impulse etheric energy, patterning it in a certain way? If this were the true modus operandi, then the way that mental energy impulsively patterns etheric energies would be different from the astral impulsive patterning, and soul impulsions would be different still, as would triadal impulsions—each leading to distinctive modes of repatterning. | 118. Có lẽ tốt nhất nên nghĩ rằng các năng lượng dĩ thái có thể trải qua nhiều kiểu tái định hình khác nhau tuỳ theo loại năng lượng hay mãnh lực đang thúc đẩy những năng lượng dĩ thái ấy. Trên cõi dĩ thái có các năng lượng và mãnh lực dĩ thái; trên những cõi khác có những loại năng lượng và mãnh lực khác. Chẳng hạn, mãnh lực cảm dục có thực sự giáng xuống cõi dĩ thái, hay nó thúc đẩy năng lượng dĩ thái, định hình năng lượng ấy theo một cách nhất định? Nếu đây là phương thức vận hành thực sự, thì cách năng lượng trí tuệ thúc đẩy và định hình các năng lượng dĩ thái sẽ khác với cách mãnh lực cảm dục thúc đẩy và định hình chúng; các xung lực của linh hồn lại khác nữa, cũng như các xung lực của Tam Nguyên Tinh Thần—mỗi loại dẫn đến những phương thức tái định hình riêng biệt. |
119. We do not know enough about the physics of the inner planes to understand how these ‘patterning impulsions’ would operate, but perhaps the principle is clear: energies and forces remain on the plane appropriate to them, but their impulsive effects can be ‘felt’ on lower planes, such as the etheric plane, causing (according to the distinctive nature of the impelling energies) ‘differential repatterning’ on such lower planes. | 119. Chúng ta chưa biết đủ về vật lý học của các cõi bên trong để thấu hiểu cách những ‘xung lực định hình’ này vận hành, nhưng có lẽ nguyên khí ấy đã rõ: các năng lượng và mãnh lực vẫn ở trên cõi thích hợp với chúng, nhưng những tác động thúc đẩy của chúng có thể được ‘cảm nhận’ trên các cõi thấp hơn, chẳng hạn như cõi dĩ thái, gây ra (tuỳ theo bản chất riêng biệt của những năng lượng thúc đẩy) ‘sự tái định hình khác biệt’ trên các cõi thấp hơn ấy. |
It might be stated that: | Có thể nói rằng: |
1. Unevolved or savage man responds simply to prana or physical energy, vitalising the appetites of the lower nature, developing the instincts and thus laying the foundation of a physical vehicle as the outer garment of the soul. At this stage, intellect is embryonic; the physical appetites and the five senses are dominating factors. All this is due to the activity of prana as it pours through the etheric or vital body. | 1. Người chưa tiến hoá hay người còn man dã chỉ đáp ứng với prana hay năng lượng hồng trần, vốn tiếp sinh lực cho những ham muốn của bản chất thấp, phát triển các bản năng và nhờ đó đặt nền tảng cho một hiện thể hồng trần làm lớp áo bên ngoài của linh hồn. Ở giai đoạn này, trí năng còn ở trạng thái phôi thai; những ham muốn thể chất và năm giác quan là các yếu tố chi phối. Tất cả điều này đều do hoạt động của prana khi nó tuôn qua thể dĩ thái hay thể sinh lực. |
120. In point one, the Tibetan discusses the Lemurian stage of development—one that is strictly physical, sensory, and endowed with the presence of only an embryonic intellect. In the Lemurian state, even the life of desire is undeveloped, except for the crudest physical desires. | 120. Trong điểm thứ nhất, Chân sư Tây Tạng bàn đến giai đoạn phát triển Lemuria—một giai đoạn thuần tuý thuộc thể xác, giác quan, và chỉ có trí năng ở dạng phôi thai. Trong trạng thái Lemuria, ngay cả đời sống dục vọng cũng chưa phát triển, ngoại trừ những dục vọng thể xác thô sơ nhất. |
121. There are relatively few among today’s humanity who find themselves in this state. The spleen, sacral center, and the base of the spine center (functioning in a preliminary mode) are the centers activated. | 121. Trong nhân loại ngày nay, tương đối ít người còn ở trong trạng thái này. Luân xa lá lách, trung tâm xương cùng và trung tâm đáy cột sống (hoạt động theo phương thức sơ khởi) là những trung tâm được kích hoạt. |
2. Average man is impulsed by desire which is an energy, emanating from world desire and which—developing or organising the astral body—generates desire-energy. It pours into the vital body and galvanises physical man into those activities which will lead to the satisfaction of desire. This is a parallel process to the work of prana, impelling the animal instinctive nature into activity. These necessarily parallel and produce conflict—the first clash (within the man) of the pair of opposites. Gradually, the pranic energy becomes automatic in its activity; the shift of the consciousness is into the astral or desire body and the functioning of the instinctual nature drops below the threshold of the consciousness. Man then focusses his life in the astral vehicle and his etheric body becomes animated by the potent inflow of desire-energy. | 2. Người bình thường nhận xung lực từ dục vọng, vốn là một năng lượng phát xạ từ dục vọng thế gian và—qua việc phát triển hay tổ chức thể cảm dục—sinh ra năng lượng dục vọng. Năng lượng này tuôn vào thể sinh lực và kích hoạt con người hồng trần thực hiện những hoạt động sẽ dẫn đến sự thỏa mãn dục vọng. Đây là một tiến trình song song với hoạt động của prana, vốn thúc đẩy bản chất bản năng động vật đi vào hoạt động. Hai tiến trình này tất yếu diễn ra song song và tạo ra xung đột—cuộc va chạm đầu tiên (bên trong con người) của cặp đối cực. Dần dần, năng lượng prana hoạt động một cách tự động; tâm thức chuyển vào thể cảm dục hay thể dục vọng, và hoạt động của bản chất bản năng lùi xuống dưới ngưỡng tâm thức. Khi ấy, con người tập trung đời sống mình trong hiện thể cảm dục, và thể dĩ thái của y được dòng năng lượng dục vọng mạnh mẽ tuôn vào làm cho sinh động. |
122. The great majority of today’s humanity is emotionally polarised and impulsed by the energy of desire. | 122. Đại đa số nhân loại ngày nay phân cực cảm xúc và chịu sự thúc đẩy của năng lượng dục vọng. |
123. We note, interestingly, that desire both develops and organizes the astral vehicle. We remember that a principle creates a vehicle, and not the other way around. | 123. Điều thú vị là chúng ta nhận thấy dục vọng vừa phát triển vừa tổ chức hiện thể cảm dục. Chúng ta nhớ rằng một nguyên khí tạo ra một hiện thể, chứ không phải ngược lại. |
124. We read that desire “pours into the vital body”; again, this is, I think, a symbolic way of describing the process. I hypothesize that astral currents remain on the astral plane, but cause those changes in the etheric body which impel that body towards the satisfaction of desire. | 124. Chúng ta đọc thấy rằng dục vọng “tuôn vào thể sinh lực”; một lần nữa, tôi nghĩ đây là cách mô tả tiến trình theo nghĩa biểu tượng. Tôi đưa ra giả thuyết rằng các dòng cảm dục vẫn ở trên cõi cảm dục, nhưng gây ra những biến đổi trong thể dĩ thái, thúc đẩy thể này hướng đến sự thoả mãn dục vọng. |
125. If prana activates the animal instincts and desire force impels towards the satisfaction of desire, the simultaneous presence of these two forces creates possibility of a conflict between forces, for the satisfaction of animal instinct may lead in a direction contrary to the satisfaction of certain desires. The Tibetan calls this the “first clash (within the man) of the pair of opposites”. | 125. Nếu prana kích hoạt các bản năng động vật và mãnh lực dục vọng thúc đẩy hướng đến sự thoả mãn dục vọng, thì sự hiện diện đồng thời của hai mãnh lực này tạo ra khả năng xung đột giữa các mãnh lực, vì sự thoả mãn bản năng động vật có thể dẫn theo một hướng trái ngược với sự thoả mãn một số dục vọng nhất định. Chân sư Tây Tạng gọi đây là “sự va chạm đầu tiên (bên trong con người) của cặp đối cực”. |
126. Astral energy is inherently ‘higher’ than the pranic forces driving the physical-instinctual nature; these lesser forces gradually subside into automaticism. Whatever becomes automatic soon drops below the threshold of consciousness. Consciousness, per se, then focuses in the desire body. The man is conscious of what he wants without having to attend consciously to his vital condition, which can be relied upon to support the acquisitions of desire. | 126. Năng lượng cảm dục vốn ‘cao hơn’ các mãnh lực prana thúc đẩy bản chất thể xác và bản năng; những mãnh lực thấp hơn này dần lắng xuống thành hoạt động tự động. Bất cứ điều gì trở nên tự động đều sớm chìm xuống dưới ngưỡng tâm thức. Khi ấy, chính tâm thức tập trung trong thể dục vọng. Con người biết rõ điều mình muốn mà không cần chú tâm một cách hữu thức đến tình trạng sinh lực của mình, vốn có thể tin cậy là sẽ hỗ trợ việc đạt được những gì dục vọng mong muốn. |
127. Once this change has occurred, the main patterning within the etheric body is primarily impulsed by desire currents. Perhaps, it would be more accurate to say that the desire-impelled repatterning of the etheric vehicle is superimposed upon the patterning which is more instinctually based and pranically induced. Obviously, some of the original pranically-induced patterning remains as a foundation for the etheric pattern impelled by the energy of desire. The first pattern serves as a foundation for the second. | 127. Một khi sự thay đổi này diễn ra, sự định hình chính bên trong thể dĩ thái chủ yếu chịu sự thúc đẩy của các dòng dục vọng. Có lẽ sẽ chính xác hơn nếu nói rằng sự tái định hình hiện thể dĩ thái do dục vọng thúc đẩy được chồng lên sự định hình vốn dựa nhiều hơn vào bản năng và do prana tạo ra. Hiển nhiên, một phần sự định hình ban đầu do prana tạo ra vẫn còn lại làm nền tảng cho mô hình dĩ thái do năng lượng dục vọng thúc đẩy. Mô hình thứ nhất làm nền tảng cho mô hình thứ hai. |
3. The developed man, with an integrated personality, gradually brings the etheric body under the control of mental energy and his physical plane activity is not then so much implemented by instinct or desire as by thought energy, dedicated to and expressing the nature of the man’s plan. This plan indicates increasingly his intelligent desire—selfish in the early stages, complex and dualistic in the intermediate stages but slowly responding to the world plan and to the divine intent for humanity. | 3. Người đã phát triển, với một phàm ngã tích hợp, dần dần đưa thể dĩ thái vào dưới sự kiểm soát của năng lượng trí tuệ, và khi ấy hoạt động trên cõi hồng trần của y được thúc đẩy bởi năng lượng tư tưởng hơn là bởi bản năng hay dục vọng; năng lượng tư tưởng này được hiến dâng cho kế hoạch của y và biểu đạt bản chất của kế hoạch ấy. Kế hoạch này ngày càng cho thấy dục vọng thông minh của y—ích kỷ trong những giai đoạn đầu, phức tạp và mang tính nhị nguyên trong những giai đoạn trung gian, nhưng dần dần đáp ứng với kế hoạch thế giới và ý định thiêng liêng dành cho nhân loại. |
128. The next stage is that of the “developed man”, who has integrated the personality, selfishly at first, and soul-responsively, eventually. | 128. Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn của “người đã phát triển”, người đã tích hợp phàm ngã, lúc đầu một cách ích kỷ, và cuối cùng theo cách đáp ứng với linh hồn. |
129. Etheric patterning dependent upon the impulsion of prana or desire, gives may to a patterning impelled by mental currents, which, again, according to this theory, is superimposed upon the earlier two patterns. The etheric body comes under the control of mental energy. | 129. Sự định hình dĩ thái phụ thuộc vào xung lực của prana hay dục vọng nhường chỗ cho sự định hình do các dòng trí tuệ thúc đẩy; một lần nữa, theo lý thuyết này, sự định hình ấy được chồng lên hai mô hình trước đó. Thể dĩ thái đi vào dưới sự kiểm soát của năng lượng trí tuệ. |
130. The etheric body will be patterned according to the nature of a man’s plan. That plan initially does not conform to the Divine Plan, and it will take a long time before it does. | 130. Thể dĩ thái sẽ được định hình theo bản chất kế hoạch của một người. Ban đầu, kế hoạch ấy chưa phù hợp với Thiên Cơ, và phải mất một thời gian dài mới đạt được sự phù hợp ấy. |
131. Three basic stages are as follows: | 131. Ba giai đoạn cơ bản như sau: |
a. etheric patterning based on selfish personality plans. | a. sự định hình dĩ thái dựa trên những kế hoạch ích kỷ của phàm ngã. |
b. etheric patterning based on mixed motives, on plans which have elements of both selfishness and unselfishness. | b. sự định hình dĩ thái dựa trên những động cơ pha trộn, trên những kế hoạch có cả yếu tố ích kỷ lẫn vô kỷ. |
c. etheric patterning based on the plans of the soul which reflect, in some measure, the Divine Plan for this planet and are, hence, unselfish. | c. sự định hình dĩ thái dựa trên những kế hoạch của linh hồn, phản ánh phần nào Thiên Cơ dành cho hành tinh này và do đó mang tính vô kỷ. |
132. Plan is Pattern, as we know. According to the nature and origin of the plan which mentally imposed upon the etheric body, so will be the nature of the etheric patterning. | 132. Thiên Cơ là Mô Hình, như chúng ta biết. Bản chất của sự định hình dĩ thái sẽ tuỳ thuộc vào bản chất và nguồn gốc của kế hoạch mà thể trí áp đặt lên thể dĩ thái. |
[700] | [700] |
4. Finally, when the power of the Triangles (the spiritual name given in The Secret Doctrine to the soul) is being imposed upon the personality, then their energy supersedes the other energies and the personality—focussed now in the mind and responsive to soul impression—expresses upon the physical plane, through the medium of the physical brain and the body, the intent, potency and nature of the all-inclusive soul. | 4. Cuối cùng, khi quyền năng của các Tam Giác (danh xưng tinh thần dành cho linh hồn trong Giáo Lý Bí Nhiệm) đang được áp đặt lên phàm ngã, năng lượng của các Tam Giác thay thế những năng lượng khác, và phàm ngã—giờ đây tập trung trong thể trí và đáp ứng với ấn tượng của linh hồn—biểu đạt trên cõi hồng trần, thông qua bộ não hồng trần và thân thể, ý định, uy lực và bản chất của linh hồn bao gồm tất cả. |
133. Finally the pattern imposed on the etheric field is impulsed by the “Triangles”. The term “Triangles” is another name for soul. | 133. Cuối cùng, mô hình áp đặt lên trường dĩ thái chịu sự thúc đẩy của các “Tam Giác”. Thuật ngữ “Tam Giác” là một tên gọi khác của linh hồn. |
134. What is suggested is that the patterning in the etheric body becomes increasingly triangular. | 134. Điều được gợi ra là sự định hình trong thể dĩ thái ngày càng mang dạng tam giác. |
135. This section immediately makes us think of Master DK’s project, “Triangles” (dear to His heart) and what may be its esoteric basis. Eventually, the Triangles work is to repattern the etheric body of the planet into a “network of triangles” which will be not only soul-responsive, but responsive to the spiritual triad, and even, in emergencies, to the Three Buddhas of Activity (the esoteric origin of the Triangles work). | 135. Đoạn này lập tức khiến chúng ta nghĩ đến dự án của Chân sư DK mang tên “Tam Giác” (rất thân thiết với tâm Ngài) và điều có thể là nền tảng nội môn của dự án ấy. Cuối cùng, công việc Tam Giác sẽ tái định hình thể dĩ thái của hành tinh thành một “mạng lưới các tam giác” không chỉ đáp ứng với linh hồn, mà còn đáp ứng với Tam Nguyên Tinh Thần, và thậm chí, trong những trường hợp khẩn cấp, với Ba Vị Phật Hoạt Động (nguồn gốc nội môn của công việc Tam Giác). |
136. One of the great geometrical themes occurring on our planet is the transformation of the quaternary into the triad or triangle. The esoteric bisection of the square is involved in this process. This was taught to Master DK probably by Master KH when He was Pythagoras. | 136. Một trong những chủ đề hình học lớn diễn ra trên hành tinh chúng ta là sự chuyển đổi bộ tứ thành tam nguyên tinh thần hay tam giác. Việc chia đôi hình vuông theo nghĩa nội môn có liên quan đến tiến trình này. Có lẽ Chân sư KH đã dạy điều này cho Chân sư DK khi Ngài là Pythagoras. |
137. Point number four tells us of the climactic, integrated stage in the repatterning of the etheric body. When it is accomplished, the Divine Plan may manifest on Earth. | 137. Điểm thứ tư cho chúng ta biết về giai đoạn tích hợp đạt đến đỉnh cao trong việc tái định hình thể dĩ thái. Khi việc ấy hoàn thành, Thiên Cơ có thể biểu hiện trên Trái Đất. |
138. This manifestation must be worked out microcosmically through the energy system of each individual, and when sufficient numbers of individuals have accomplished the task, it will become possible to think in terms of the triangularization of the enteric body of humanity, and eventually of the planet. | 138. Sự biểu hiện này phải được thực hiện ở cấp độ tiểu thiên địa qua hệ thống năng lượng của mỗi cá nhân; khi có đủ số cá nhân hoàn thành nhiệm vụ, chúng ta mới có thể nghĩ đến việc tam giác hoá thể dĩ thái của nhân loại, và cuối cùng là của hành tinh. |
The individual etheric web galvanises the automatic physical body into activity. The energies, controlling the physical body through the medium of the etheric web, are the four mentioned above. The conflict in the brain consciousness of the evolving human unit begins to assume importance when the man starts to recognise these controlling energies, their source and their effects. | Mạng lưới dĩ thái cá nhân kích hoạt thể xác vốn vận hành tự động. Những năng lượng kiểm soát thể xác thông qua mạng lưới dĩ thái là bốn loại đã nêu ở trên. Sự xung đột trong tâm thức bộ não của đơn vị nhân loại đang tiến hoá bắt đầu có tầm quan trọng khi con người bắt đầu nhận biết những năng lượng kiểm soát này, nguồn gốc và tác động của chúng. |
139. The physical body is an automaton to the etheric body (its higher counterpart). | 139. Thể xác là một bộ máy tự động đối với thể dĩ thái (đối phần cao hơn của nó). |
140. Master DK has enumerated four types of energy which control the physical body through the medium of the etheric body: prana, desire, thought and soul energy. | 140. Chân sư DK đã liệt kê bốn loại năng lượng kiểm soát thể xác qua trung gian thể dĩ thái: prana, dục vọng, tư tưởng và năng lượng linh hồn. |
141. When various of these energies come together, the potential for “internecine warfare” is strong and can hardly be avoided. | 141. Khi một số năng lượng khác nhau trong những năng lượng này hội tụ, khả năng xảy ra “nội chiến tương tàn” rất lớn và khó có thể tránh khỏi. |
“Man is therefore (from the angle of force expression) a mass of conflicting energies and an active centre of moving forces with a shift of emphasis constantly going on, and with the aggregation of the numerous streams of energy presenting a confusing kaleidoscope of active inter-relations, interpenetration, internecine warfare, and interdependence until such time as the personality forces (symbolic of divine multiplicity) are subdued or ‘brought into line’ by the dominant soul. That is what we really mean by the use of the word ‘alignment’. ” (EP II 340) | “Do đó, con người (xét từ góc độ biểu đạt mãnh lực) là một khối năng lượng xung đột và một trung tâm hoạt động của những mãnh lực đang chuyển động, với trọng tâm liên tục dịch chuyển, và với sự tập hợp của vô số dòng năng lượng tạo thành một kính vạn hoa rối rắm gồm những mối tương quan năng động, sự xuyên thấm lẫn nhau, tương tàn trong nội chiến, và sự tương thuộc, cho đến khi linh hồn chi phối chế ngự các mãnh lực phàm ngã (tượng trưng cho tính đa tạp thiêng liêng) hoặc ‘đưa chúng vào hàng ngũ’ của mình. Đó là điều chúng ta thực sự muốn nói khi dùng từ ‘chỉnh hợp’. ” (EP II 340) |
142. At first man hardly knows what is happening to him. There is conflict in the brain consciousness but, as yet, man is too unconscious of the causes of this conflict to do anything about it. Gradually the various contending energies are recognized, and their sources and effects are increasingly understood. Then the conflict becomes an important educative factor in consciousness; the man has entered the process of personality integration (however many lives it may take). | 142. Lúc đầu, con người hầu như không biết điều gì đang xảy ra với mình. Có xung đột trong tâm thức não bộ, nhưng con người vẫn còn quá thiếu nhận biết về nguyên nhân của sự xung đột này để có thể làm gì nhằm xử lý nó. Dần dần, con người nhận ra các năng lượng đang tranh chấp và ngày càng thấu hiểu nguồn gốc cũng như tác động của chúng. Khi ấy, sự xung đột trở thành một yếu tố giáo dục quan trọng trong tâm thức; con người đã bước vào tiến trình tích hợp phàm ngã (dù tiến trình này có thể kéo dài bao nhiêu kiếp sống). |
It is immediately obvious that the work of the disciple is, therefore, almost entirely within the realm of energy and forces. The study of occultism is the study of forces and of their origin and effects. An Ashram is a place wherein this study enters the laboratory or experimental stage. The disciple is supposed to be in process of becoming aware of the forces and energies which condition him as an individual; these originate within himself and produce changes and specific effects in his life-expression upon the physical plane. When he knows himself to be the “Life and the lives” (as The Secret Doctrine puts it), a sum total of forces and a controlling energy, then he can be a world disciple and work significantly in an Ashram. | Vì vậy, có thể thấy ngay rằng công việc của người đệ tử gần như hoàn toàn nằm trong lĩnh vực năng lượng và các mãnh lực. Nghiên cứu huyền bí học là nghiên cứu các mãnh lực, nguồn gốc và tác động của chúng. Một ashram là nơi việc nghiên cứu này bước vào giai đoạn phòng thí nghiệm hay thực nghiệm. Người đệ tử được kỳ vọng đang trong tiến trình nhận biết những mãnh lực và năng lượng định hình y với tư cách một cá nhân; chúng phát sinh từ bên trong y và tạo ra những thay đổi cùng các tác động cụ thể trong sự biểu đạt đời sống của y trên cõi hồng trần. Khi y biết mình là “Sự sống và các sự sống” (như Giáo Lý Bí Nhiệm diễn đạt), một tổng thể các mãnh lực và một năng lượng kiểm soát, thì y có thể trở thành một đệ tử thế gian và làm việc có ý nghĩa trong một ashram. |
143. A disciple works understandingly with energies and forces. Such work is characteristic of the Path of Occultism but not of the Path of Mysticism. | 143. Một đệ tử làm việc với các năng lượng và mãnh lực bằng sự thấu hiểu. Công việc như vậy là đặc trưng của Con Đường Huyền Bí Học, nhưng không phải của Con Đường Thần Bí Học. |
144. An important definition of occultism is given: “the study of occultism is the study of forces and of their origin and effects”. To be an occultist, significant time must be spent upon the fifth ray which is especially adept at deciphering the ‘Language of Energy’. | 144. Một định nghĩa quan trọng về huyền bí học được đưa ra: “nghiên cứu huyền bí học là nghiên cứu các mãnh lực cùng nguồn gốc và tác động của chúng”. Để trở thành một nhà huyền bí học, cần dành một lượng đáng kể thời gian trên cung năm, cung đặc biệt thành thạo trong việc giải mã ‘Ngôn Ngữ Năng Lượng’. |
145. The practical occultist, however, is not simply a student. The Ashram is the ‘place’ where study turns into experimentation. An Ashram is something of an ‘occult laboratory’. | 145. Tuy nhiên, nhà huyền bí học thực hành không đơn thuần là một đạo sinh. Ashram là ‘nơi’ việc nghiên cứu chuyển thành thực nghiệm. Một ashram phần nào là một ‘phòng thí nghiệm huyền bí’. |
146. An occultist’s first area of observation and experimentation is his own energy system; he must become the master of his microcosmic self. We can see that a study of the seven rays and of esoteric astrology play an important role in producing the occultist. Through such sciences a man comes to understand himself far more objectively than heretofore possible, and in terms of energy. | 146. Lĩnh vực quan sát và thực nghiệm đầu tiên của một nhà huyền bí học là chính hệ thống năng lượng của y; y phải làm chủ bản ngã tiểu thiên địa của mình. Chúng ta có thể thấy rằng việc nghiên cứu bảy cung và Chiêm Tinh Học Nội Môn đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nhà huyền bí học. Qua những khoa học như vậy, con người đi đến chỗ thấu hiểu bản thân một cách khách quan hơn nhiều so với trước đây, và xét theo phương diện năng lượng. |
147. The disciple aims to arrive at the point in consciousness when he knows himself to be the “Life and the lives”. DK again borrows from The Secret Doctrine—which is entirely justified as He was responsible, we are told, for imparting to HPB much of the information found within it. | 147. Người đệ tử hướng đến việc đạt tới điểm trong tâm thức khi y biết mình là “Sự sống và các sự sống”. Một lần nữa, Chân sư DK mượn cách diễn đạt từ Giáo Lý Bí Nhiệm—điều này hoàn toàn chính đáng vì, như chúng ta được cho biết, chính Ngài đã chịu trách nhiệm truyền đạt cho Bà HPB phần lớn thông tin có trong tác phẩm ấy. |
148. In an earlier group instruction, Master DK spent much time describing the “world disciple” and the “accepted disciple” and differentiating them from each other. We now come to another definition of a world disciple, expressed in terms of energy. | 148. Trong một huấn thị nhóm trước đây, Chân sư DK đã dành nhiều thời gian mô tả “đệ tử thế giới” và “đệ tử được chấp nhận”, đồng thời phân biệt hai loại đệ tử này với nhau. Giờ đây, chúng ta đến với một định nghĩa khác về đệ tử thế giới, được diễn đạt theo phương diện năng lượng. |
149. When a man truly knows that he is the “Life and the lives” he is in position to work as a world disciple. | 149. Khi một người thực sự biết rằng mình là “Sự sống và các sự sống”, y có đủ điều kiện để làm việc như một đệ tử thế giới. |
150. He can then work significantly in an Ashram. The word “significantly” is, itself, significant, because many may work in relation to an Ashram before the stage of world disciple is reached, but they will not be working significantly. To work “significantly”, one works in relation to the World of Significance which lies ‘beyond’ the World of Meaning. To enter the World of Significance and to work there, one must be an initiate of the third degree—which is another way of defining a world disciple. | 150. Khi ấy, y có thể làm việc một cách đầy thâm nghĩa trong một ashram. Bản thân cụm từ “một cách đầy thâm nghĩa” cũng mang thâm nghĩa, vì nhiều người có thể làm việc trong mối liên hệ với một ashram trước khi đạt đến giai đoạn đệ tử thế giới, nhưng họ sẽ chưa làm việc một cách đầy thâm nghĩa. Để làm việc “một cách đầy thâm nghĩa”, người ta làm việc trong mối liên hệ với Thế giới của thâm nghĩa, vốn nằm ‘vượt ngoài’ Thế giới của ý nghĩa. Để đi vào Thế giới của thâm nghĩa và làm việc ở đó, người ta phải là một điểm đạo đồ bậc ba—đây là một cách khác để định nghĩa đệ tử thế giới. |
151. The one who recognizes himself as the “Life and the lives” is, in fact, an initiate of the third degree—a world disciple, working “significantly” in an Ashram. | 151. Người nhận biết mình là “Sự sống và các sự sống” thực ra là một điểm đạo đồ bậc ba—một đệ tử thế giới, làm việc “một cách đầy thâm nghĩa” trong một ashram. |
It will be apparent to you, therefore, that when a disciple enters into an Ashram and works in closer relation with his Master than heretofore, he begins to collaborate as far as is in him with his fellow disciples; then you have (in terms of occultism) a repetition of the relation between the “Life” of the group (in this case, the Master) and “the lives” (in this case, the disciples), of the central energy and the responding forces. From the Master’s angle of the group problem, duality enters into the group expression. He, the central energy, must work through the forces. From the angle of the disciple, a force (which is himself) is brought into relation with other forces; [701] it must, at the same time, become responsive to an energy, that of the Master. This response comes through the recognition of identity of purpose, of origin and of nature, but not identity in the field of expression. You can see, therefore, that an Ashram is, indeed, a very vortex of forces, set in motion by the many types of energy within the ring-pass-not of the Ashram itself. The basic principles of dualism make themselves felt as the energy of spirit makes its impact upon soul force and personality force. Forget not that a Master expresses monadic energy, whilst disciples in His group are seeking to express soul energy and are doing so, in some measure, through their love and service. To this soul energy, they add personality force which arises from their being, as yet, focussed in the personality life, even whilst aspiring to soul consciousness. Herein lies their usefulness from the Master’s point of view and herein lies their difficulty and—at times—their failure. | Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng khi một đệ tử gia nhập một ashram và làm việc trong mối quan hệ gần gũi với Chân sư của mình hơn trước, y bắt đầu cộng tác với các đệ tử đồng môn trong hết khả năng của mình; khi ấy, các bạn có (theo thuật ngữ huyền bí học) sự lặp lại mối quan hệ giữa “Sự sống” của nhóm (trong trường hợp này là Chân sư) và “các sự sống” (trong trường hợp này là các đệ tử), giữa năng lượng trung tâm và các mãnh lực đáp ứng. Khi Chân sư xem xét vấn đề của nhóm, nhị nguyên đi vào sự biểu đạt của nhóm. Ngài, năng lượng trung tâm, phải làm việc thông qua các mãnh lực. Từ góc độ người đệ tử, một mãnh lực (chính là y) được đưa vào quan hệ với các mãnh lực khác; [701] đồng thời, nó phải trở nên đáp ứng với một năng lượng, năng lượng của Chân sư. Sự đáp ứng này đến từ việc nhận biết sự đồng nhất về mục đích, nguồn gốc và bản chất, nhưng không đồng nhất trong lĩnh vực biểu đạt. Vì vậy, các bạn có thể thấy rằng một ashram quả thực là một xoáy lực, được nhiều loại năng lượng bên trong vòng-giới-hạn của chính ashram làm cho chuyển động. Những nguyên lý cơ bản của nhị nguyên biểu lộ rõ khi năng lượng tinh thần tác động lên mãnh lực linh hồn và mãnh lực phàm ngã. Đừng quên rằng một Chân sư biểu đạt năng lượng chân thần, trong khi các đệ tử trong nhóm của Ngài đang tìm cách biểu đạt năng lượng linh hồn và, ở một mức độ nào đó, đang làm như thế qua tình thương và sự phụng sự của họ. Họ bổ sung vào năng lượng linh hồn này mãnh lực phàm ngã, vốn phát sinh do họ vẫn còn tập trung trong đời sống phàm ngã, ngay cả khi đang khát vọng đạt tới tâm thức linh hồn. Theo quan điểm của Chân sư, chính trong điều này có sự hữu ích của họ, và cũng chính trong điều này có khó khăn và—đôi khi—sự thất bại của họ. |
152. The Tibetan develops the theme of the “Life and the lives” analogically. In the earlier paragraph we saw how the individual disciple comes to understand himself in these terms. Now the analogy is extended to the group: the Master is the “Life” and the many disciples, are the “lives”. | 152. Chân sư Tây Tạng phát triển chủ đề “Sự sống và các sự sống” theo phép tương đồng. Trong đoạn trước, chúng ta đã thấy cách người đệ tử cá nhân đi đến chỗ thấu hiểu bản thân theo những thuật ngữ này. Giờ đây, phép tương đồng được mở rộng sang nhóm: Chân sư là “Sự sống”, còn nhiều đệ tử là “các sự sống”. |
153. The analogical extension becomes applicable when the disciple enters the Ashram and begins to collaborate with his fellow disciples. | 153. Sự mở rộng phép tương đồng trở nên thích hợp khi người đệ tử gia nhập ashram và bắt đầu cộng tác với các đệ tử đồng môn. |
154. In both the microcosm and the group, there will be an initial division between the “Life” and the “lives”. The Master faces a problem of duality and so does the individual disciple. | 154. Trong cả tiểu thiên địa lẫn nhóm, ban đầu sẽ có sự phân chia giữa “Sự sống” và “các sự sống”. Chân sư đối diện với một vấn đề nhị nguyên, và người đệ tử cá nhân cũng vậy. |
155. DK is entering into a discussion of energies and forces; energies are always to work upon forces, which are to respond to energies. | 155. Chân sư DK đang đi vào một cuộc bàn luận về các năng lượng và mãnh lực; các năng lượng luôn phải tác động lên các mãnh lực, còn các mãnh lực phải đáp ứng với các năng lượng. |
156. DK is speaking in the ‘Language of Energy’. The disciple entering an Ashram as an accepted disciple is considered “a force” or a “unit of force”. He is brought into relation with other forces (i. e. , with other disciples), and has to learn to respond to an energy; the Master is the “energy”. | 156. Chân sư DK đang nói bằng ‘Ngôn Ngữ Năng Lượng’. Người đệ tử gia nhập một ashram với tư cách đệ tử được chấp nhận được xem là “một mãnh lực” hay một “đơn vị mãnh lực”. Y được đưa vào mối liên hệ với những mãnh lực khác (t. l. , với những đệ tử khác), và phải học cách đáp ứng với một năng lượng; Chân sư là “năng lượng”. |
157. DK differentiates between the fields of expression characteristic of the Master and His disciples. The disciples’ “response comes through the recognition of identity of purpose, of origin and of nature”; the disciple recognizes the Master and responds to Him. Disciple and Master are, shall we say, qualitatively aligned, but their fields of expression are very different (the Master’s being much greater in scope and much higher in vibration). | 157. Chân sư DK phân biệt các lĩnh vực biểu hiện đặc trưng của Chân sư và các đệ tử của Ngài. Các đệ tử có “sự đáp ứng nảy sinh qua việc nhận ra sự đồng nhất về mục đích, nguồn gốc và bản chất”; đệ tử nhận ra Chân sư và đáp ứng với Ngài. Đệ tử và Chân sư, có thể nói là, chỉnh hợp về phẩm tính, nhưng các lĩnh vực biểu hiện của hai bên rất khác nhau (lĩnh vực biểu hiện của Chân sư có phạm vi rộng lớn hơn nhiều và rung động cao hơn nhiều). |
158. The Tibetan wants us to understand the Ashram in energic terms as a “very vortex of forces”. Many types of energies and forces are brought together to create this vortex. | 158. Chân sư Tây Tạng muốn chúng ta thấu hiểu ashram theo phương diện năng lượng, như “chính một xoáy mãnh lực”. Nhiều loại năng lượng và mãnh lực kết hợp với nhau để tạo nên xoáy này. |
159. In an Ashram three types of energies/forces are brought together. Dualism still prevails, as monadic energy (provided by the Master) seeks to make its impact upon the union of soul energy and personality force. A process of “harmony through conflict” is at work in all Ashrams. Eventually the lower energies/forces are subdued and harmonized with the greater, imposing energy (i. e. , that of the Master) | 159. Trong một ashram, ba loại năng lượng/mãnh lực kết hợp với nhau. Tính nhị nguyên vẫn chiếm ưu thế, khi năng lượng chân thần (do Chân sư cung cấp) tìm cách tác động lên sự hợp nhất giữa năng lượng linh hồn và mãnh lực phàm ngã. Một tiến trình “hài hòa thông qua xung đột” đang diễn ra trong mọi ashram. Cuối cùng, các năng lượng/mãnh lực thấp được chế ngự và trở nên hài hòa với năng lượng lớn hơn đang áp đặt ảnh hưởng (tức là năng lượng của Chân sư) |
160. The Master expresses monadic energy within His Ashram. The members of the Ashram seek to love and serve and, thus, seek to express soul energy. | 160. Chân sư biểu hiện năng lượng chân thần trong ashram của Ngài. Các thành viên của ashram tìm cách yêu thương và phụng sự, và do đó, tìm cách biểu hiện năng lượng linh hồn. |
161. Although personality energy is not allowed to enter the Ashram, it is still an important factor in the Master’s consciousness, because so many of the members of His Ashram are still focussed in their personality life. | 161. Mặc dù năng lượng phàm ngã không được phép đi vào ashram, nó vẫn là một yếu tố quan trọng trong tâm thức của Chân sư vì rất nhiều thành viên trong ashram của Ngài vẫn tập trung vào đời sống phàm ngã của họ. |
162. Personality is at once a great complication and a great opportunity. It can cause the failures of various disciples or the group; but its presence can also assist with the externalization process, helping the Master reach larger numbers of people through the personalities of His chelas—only, however, if those personalities are soul-infused. | 162. Phàm ngã đồng thời vừa là một yếu tố gây phức tạp lớn vừa là một cơ hội lớn. Nó có thể gây ra những thất bại của các đệ tử hoặc của nhóm; nhưng sự hiện diện của nó cũng có thể hỗ trợ tiến trình ngoại hiện, giúp Chân sư tiếp cận nhiều người hơn thông qua các phàm ngã của các đệ tử của Ngài—tuy nhiên, chỉ khi những phàm ngã ấy được linh hồn thấm nhuần. |
Disciples within the Master’s group or the Master’s Ashram have a potent effect upon each other, for everything in their nature is accentuated. The Master has to watch carefully to see that He does not unduly stimulate the disciples’ vehicles through the very fact of His relation to them. | Các đệ tử trong nhóm của Chân sư hay ashram của Chân sư có ảnh hưởng mạnh mẽ lẫn nhau, vì mọi điều trong bản chất của họ đều được tăng cường. Chân sư phải theo dõi cẩn thận để bảo đảm rằng chính mối quan hệ của Ngài với họ không kích thích quá mức các hiện thể của đệ tử. |
163. Master DK is entering into the energy dynamics characteristic of the Ashram—especially characteristic among newly accepted disciples. | 163. Chân sư DK đang đi sâu vào những tương tác năng lượng đặc trưng của ashram—đặc biệt là giữa những đệ tử mới được chấp nhận. |
164. In this section He does not differentiate the Master’s group and the Master’s Ashram; similar problems arise in both centers of focus. | 164. Trong phần này, Ngài không phân biệt nhóm của Chân sư với ashram của Chân sư; những vấn đề tương tự nảy sinh ở cả hai trung tâm tập trung này. |
165. Not only does the Master have a potent effect upon the assembled chelas, but they have a potent effect upon each other. | 165. Không chỉ Chân sư tác động mạnh mẽ lên các đệ tử đã tập hợp lại, mà họ cũng tác động mạnh mẽ lên nhau. |
166. In the initial stages of ashramic life, “everything in their nature is accentuated”—the good and the bad. This fact can lead to some peculiar behavior. | 166. Trong những giai đoạn đầu của đời sống ashram, “mọi điều trong bản chất của họ đều được tăng cường”—cả điều tốt lẫn điều xấu. Điều này có thể dẫn đến một số hành vi khác thường. |
167. A Master need not try to stimulate His disciples; His very presence will do it. More often, He will have to attempt to offset the stimulation caused by His closer proximity, for He is more proximate to those within His Ashram than to those within His group, and more proximate to the members of His group than to many other human beings. | 167. Một Chân sư không cần cố gắng kích thích các đệ tử của Ngài; chỉ riêng sự hiện diện của Ngài cũng sẽ làm điều đó. Thường thì Ngài phải cố gắng hóa giải sự kích thích do sự gần gũi hơn của Ngài gây ra, vì Ngài gần gũi với những người trong ashram của Ngài hơn với những người trong nhóm của Ngài, và gần gũi với các thành viên trong nhóm của Ngài hơn với nhiều người khác. |
168. Disciples cannot forget the ever-present possibility of overstimulation. If a disciple succumbs to it, he may be damaged or, at the least, delayed. The Path of Initiation is one of necessitating increasing control, and overstimulation is a loss of control. | 168. Các đệ tử không thể quên rằng khả năng bị kích thích quá mức luôn hiện hữu. Nếu một đệ tử không chống đỡ nổi sự kích thích ấy, y có thể bị tổn hại hoặc ít nhất cũng bị chậm trễ. Con Đường Điểm Đạo đòi hỏi khả năng kiểm soát ngày càng tăng, còn sự kích thích quá mức là một sự mất kiểm soát. |
The individual disciple has, therefore, to watch the effect of three groups of energies which all make an impact upon him: | Vì vậy, mỗi đệ tử phải theo dõi tác động của ba nhóm năng lượng đều tác động lên y: |
1. Those within his own nature (physical, emotional and mental) and those which come to him from his own soul. | 1. Những năng lượng trong bản chất của chính y (hồng trần, cảm xúc và trí tuệ) và những năng lượng đến với y từ linh hồn của chính y. |
169. Point one deals with microcosmic effects. | 169. Điểm thứ nhất đề cập đến các tác động tiểu thiên địa. |
170. Both personality forces and soul energies can be stimulating. Although the reception and expression of soul energy is highly desirable, overstimulation can arise through soul contact. If soul energy leads to excessive personality stimulation, soul will soon be obscured. Of course, as one can understand, the obscuring of soul can arise through an excess of normal personality stimulation. | 170. Cả các mãnh lực phàm ngã lẫn các năng lượng linh hồn đều có thể gây kích thích. Mặc dù việc tiếp nhận và biểu hiện năng lượng linh hồn là điều rất đáng mong muốn, sự kích thích quá mức có thể nảy sinh qua sự tiếp xúc với linh hồn. Nếu năng lượng linh hồn dẫn đến sự kích thích phàm ngã quá mức, linh hồn sẽ sớm bị che khuất. Dĩ nhiên, như có thể hiểu được, sự che khuất linh hồn có thể nảy sinh khi mức kích thích thông thường của phàm ngã trở nên quá cao. |
171. The idea that one must “watch oneself” suggests that the virtue of vigilance is needed by the accepted disciple entering the Ashram. Master Morya has much to say about this virtue. | 171. Ý tưởng rằng mỗi người phải “theo dõi bản thân” cho thấy đệ tử được chấp nhận đang bước vào ashram cần có đức tính tỉnh giác này. Chân sư Morya nói rất nhiều về đức tính này. |
2. Those which make an impact upon him as they come to him from other members of the Ashram or group. This effect will be dependent upon his being detached where he himself is concerned and thus responsive to what comes from them. The occult law is that the more you love the more you can respond to and include the point of view, the nature and the force of your fellowmen. This is vitally true also of a group of disciples. What protects most disciples from too great a sensitivity is their preoccupation with themselves and with their own development. | 2. Những năng lượng tác động lên y khi đến từ các thành viên khác của ashram hay nhóm. Tác động này sẽ tùy thuộc vào việc y có giữ được sự tách rời đối với những gì liên quan đến bản thân mình hay không, nhờ đó đáp ứng với những gì đến từ họ. Định luật huyền bí là càng yêu thương, các bạn càng có thể đáp ứng và bao gồm quan điểm, bản chất và mãnh lực của đồng loại. Điều này cũng hết sức đúng đối với một nhóm đệ tử. Điều bảo vệ phần lớn các đệ tử khỏi sự nhạy cảm quá mức là việc họ bận tâm đến bản thân và sự phát triển của chính mình. |
172. The second series of effects come from the other members of the Ashram, i.e., from his fellow disciples. | 172. Loạt tác động thứ hai đến từ các thành viên khác của ashram, tức là từ các đệ tử đồng môn của y. |
173. The disciple who is detached from his own energy system will, perhaps, be more responsive to the energies and forces coming from his brothers. | 173. Đệ tử tách rời khỏi hệ thống năng lượng của chính mình có lẽ sẽ đáp ứng nhiều hơn với các năng lượng và mãnh lực đến từ các huynh đệ của y. |
174. DK talks here about the revelatory, sensitizing power of love. The loving disciple may be extremely sensitive to impacts from his close associates. | 174. Ở đây, Chân sư DK nói về quyền năng mặc khải và làm tăng sự nhạy cảm của tình thương. Đệ tử giàu tình thương có thể cực kỳ nhạy cảm với những tác động từ những người cộng tác gần gũi. |
175. The cultivation of this wide and inclusive love is a great necessity for members of an Ashram, but it can produce unexpected difficulties due to love-induced oversensitivity. | 175. Việc vun bồi tình thương rộng lớn và bao gồm này là điều hết sức cần thiết đối với các thành viên của một ashram, nhưng nó có thể gây ra những khó khăn bất ngờ do tình thương làm nảy sinh sự nhạy cảm quá mức. |
176. DK remarks, with His typical dry humor, that most disciples are protected from this difficulty because they are so preoccupied with themselves and their own development that they do not love enough to get hurt! | 176. Với lối hài hước kín đáo đặc trưng, Chân sư DK nhận xét rằng phần lớn các đệ tử được bảo vệ khỏi khó khăn này vì họ quá mải bận tâm đến bản thân và sự phát triển của chính mình đến nỗi họ không yêu thương đủ để bị tổn thương! |
[702] | [702] |
3. Those transmuted forces which come to the disciple from the Master or are definitely transmitted to him by the Master. | 3. Những mãnh lực đã được chuyển hoá đến với người đệ tử từ Chân sư, hoặc do Chân sư trực tiếp truyền đến y. |
177. The third category of forces comes from the Master, or is transmitted to the disciple by the Master. Although the disciple may consider these types of forces very welcome, they can very definitely contribute to overstimulation and imbalance if not managed carefully. | 177. Loại mãnh lực thứ ba đến từ Chân sư, hoặc do Chân sư truyền đến đệ tử. Mặc dù đệ tử có thể xem những loại mãnh lực này là rất đáng hoan nghênh, chúng chắc chắn có thể góp phần gây ra sự kích thích quá mức và mất cân bằng nếu không được điều tiết cẩn thận. |
178. We see that, in studying the types of forces for which the disciple must “watch”, we have focussed on the three aspects of divinity. The microcosmic forces of the disciple’s own energy system correspond to the third aspect; energies and forces from his fellow disciples, to the second aspect; and the energies of the Master to the first aspect. | 178. Chúng ta thấy rằng khi nghiên cứu các loại mãnh lực mà đệ tử phải “theo dõi”, chúng ta đã tập trung vào ba phương diện của thiên tính. Các mãnh lực tiểu thiên địa trong hệ thống năng lượng của chính đệ tử tương ứng với phương diện thứ ba; các năng lượng và mãnh lực từ các đệ tử đồng môn của y tương ứng với phương diện thứ hai; và các năng lượng của Chân sư tương ứng với phương diện thứ nhất. |
The goal for all work done by disciples, either in group formation or in the Ashram, is the expression, within the group, of the causal creative process. This is summed up in the words which I have already quoted to you “the Life and the lives.” You have the analogous idea and its sequence of effects in the realisation that the Master (spirit or Monad) reflects Himself in or inspires the disciple (soul) and the latter is thus enabled to demonstrate soul activity upon the physical plane. | Mục tiêu của mọi công việc do các đệ tử thực hiện, dù trong đội ngũ nhóm hay trong ashram, là biểu đạt tiến trình sáng tạo nguyên nhân bên trong nhóm. Điều này được tóm lược trong những từ Tôi đã trích dẫn với các bạn: “Sự sống và các sự sống.” Các bạn có ý tưởng tương đồng và chuỗi tác động của nó khi nhận ra rằng Chân sư (tinh thần hay chân thần) phản chiếu chính Ngài trong người đệ tử (linh hồn) hoặc truyền cảm hứng cho người đệ tử, nhờ đó người đệ tử có thể biểu lộ hoạt động linh hồn trên cõi hồng trần. |
179. The phrase, “the causal creative process” is brought forward as the goal of all work done by disciples in the Master’s group or in the Ashram. It is an interesting phrase. From one perspective, it demands the recognition of the content in the individual causal body and in the group causal body and the creative use of such content in line with the Plan. | 179. Cụm từ “tiến trình sáng tạo nguyên nhân” được đưa ra như mục tiêu của mọi công việc do các đệ tử thực hiện trong nhóm của Chân sư hoặc trong ashram. Đây là một cụm từ thú vị. Từ một góc nhìn, nó đòi hỏi phải nhận ra những nội dung trong thể nguyên nhân cá nhân và trong thể nguyên nhân nhóm, đồng thời sử dụng những nội dung ấy một cách sáng tạo, phù hợp với Thiên Cơ. |
180. All of us are endowed with a certain ‘causal content’; there is much such content of which we may be unaware. One of our tasks is to understand that which has been stored in the “treasury” of the individual and group causal body, and the application of the content, creatively, to the process of manifesting the Plan. | 180. Tất cả chúng ta đều được phú cho một lượng ‘nội dung của thể nguyên nhân’ nhất định; có nhiều nội dung như thế mà chúng ta có thể chưa nhận biết. Một trong những nhiệm vụ của chúng ta là thấu hiểu những gì đã được tích trữ trong “kho tàng” của thể nguyên nhân cá nhân và thể nguyên nhân nhóm, cùng việc vận dụng những nội dung ấy một cách sáng tạo vào tiến trình biểu hiện Thiên Cơ. |
181. The phrase, “causal creative process”, may also be interpreted as the ability to live in the “World of Causes” and to work from that elevation creatively and in line with the Plan. From this perspective, the World of Causes is ‘above’ that of the causal body. It can be conceived as the world of the spiritual triad. The World of Causes and the World of Significance can be considered equivalent. | 181. Cụm từ “tiến trình sáng tạo nguyên nhân” cũng có thể được diễn giải là khả năng sống trong “Thế Giới Nguyên Nhân” và từ tầm cao ấy làm việc một cách sáng tạo, phù hợp với Thiên Cơ. Từ góc nhìn này, Thế Giới Nguyên Nhân nằm ‘cao hơn’ thế giới của thể nguyên nhân. Có thể quan niệm đó là thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần. Có thể xem Thế Giới Nguyên Nhân và Thế giới của thâm nghĩa là tương đương. |
182. A threefold process of inspiration is discussed. When we think of the functioning of the Ashram, we must always remember the triplicity of spirit, soul and body, of Master, disciple/soul and the field of expression (whether that field is the general environment or the personality nature of humanity). The disciple is not the personality. | 182. Một tiến trình truyền cảm hứng tam phân đang được bàn đến. Khi nghĩ về hoạt động của ashram, chúng ta phải luôn nhớ đến bộ ba tinh thần, linh hồn và thân thể, hay Chân sư, đệ tử/linh hồn và lĩnh vực biểu hiện (dù lĩnh vực ấy là môi trường chung hay bản chất phàm ngã của nhân loại). Người đệ tử không phải là phàm ngã. |
I would like to consider in greater detail the nature of a Master’s group, sometimes called an Ashram. It might be valuable if I endeavoured to define an Ashram to you and so leave you with a clear idea of the difference between a Master’s particular group, and the many outer groups which, though working under His inspiration and upon the Plan, are not definitely and technically His Ashram. | Tôi muốn xem xét chi tiết hơn bản chất của nhóm một Chân sư, đôi khi được gọi là một ashram. Có lẽ sẽ hữu ích nếu Tôi cố gắng định nghĩa một ashram cho các bạn, nhờ đó để lại cho các bạn một ý tưởng rõ ràng về sự khác biệt giữa nhóm riêng của một Chân sư với nhiều nhóm bên ngoài, vốn tuy làm việc dưới cảm hứng của Ngài và theo Thiên Cơ, nhưng xét một cách xác định và về mặt chuyên môn thì không phải là ashram của Ngài. |
183. Master DK undertakes to clarify still further the nature of the Ashram. If we study what He says with care, we shall see that in this section He considers a “Master’s group” as equivalent to a “Master’s Ashram”. In earlier paragraphs, He differentiated between the two. | 183. Chân sư DK bắt đầu làm sáng tỏ hơn nữa bản chất của ashram. Nếu nghiên cứu kỹ những điều Ngài nói, chúng ta sẽ thấy rằng trong phần này, Ngài xem một “nhóm của Chân sư” là tương đương với một “ashram của Chân sư”. Trong những đoạn trước, Ngài đã phân biệt hai điều này. |
184. A “Master’s particular group” is here considered the Ashram. He differentiates that particular group from the “many outer groups which, though working under His inspiration and upon the Plan, are not definitely and technically His Ashram”. | 184. Một “nhóm riêng của Chân sư” ở đây được xem là ashram. Ngài phân biệt nhóm riêng ấy với “nhiều nhóm bên ngoài, vốn tuy hoạt động dưới cảm hứng của Ngài và theo Thiên Cơ, nhưng xét một cách xác định và theo nghĩa chuyên môn, không phải là ashram của Ngài”. |
185. What was the status of the Groups-of-Nine which He organized in the 1930’s, or of the New Seed Group organized in 1940. Were these to be considered the “Master’s Ashram” or the “Master’s group or groups”? | 185. Các Nhóm Chín Người mà Ngài tổ chức trong thập niên 1930 hoặc Nhóm Hạt Giống Mới được tổ chức vào năm 1940 có vị thế như thế nào. Liệu những nhóm này nên được xem là “ashram của Chân sư” hay “nhóm hoặc các nhóm của Chân sư”? |
186. It would seem that these groups were not the Ashram, but were extensions of it. Many of the members of these groups were, in fact, in Master DK’s Ashram (if only on the periphery). By the time the New Seed Group was organized, all the members of this group, acknowledged by DK as “accepted disciples”, were in the Master’s Ashram. But, the Master’s particular group, His inner group, was much larger and deeper than that outer group. So although the Group of Twenty-Four (The New Seed Group) was, in a way, incorporated within the Ashram, it was not the Ashram itself, but only an outer extension. | 186. Dường như những nhóm này không phải là ashram, mà là những phần mở rộng của ashram. Thực ra, nhiều thành viên của những nhóm này đã ở trong ashram của Chân sư DK (dù chỉ ở ngoại vi). Vào thời điểm Nhóm Hạt Giống Mới được tổ chức, tất cả các thành viên của nhóm này, được Chân sư DK công nhận là “các đệ tử được chấp nhận”, đều ở trong ashram của Chân sư. Nhưng nhóm riêng của Chân sư, nhóm bên trong của Ngài, lớn hơn và sâu rộng hơn nhiều so với nhóm bên ngoài ấy. Vì vậy, mặc dù theo một cách nào đó, Nhóm Hai Mươi Bốn Người (Nhóm Hạt Giống Mới) đã được đưa vào trong ashram, nhóm ấy không phải là chính ashram, mà chỉ là một phần mở rộng bên ngoài. |
187. Those groups were only a few, not the many outer groups discussed above. There were and certainly are now many outer groups, working, for instance, in relation to Master DK’s plans and more or less under His inspiration. Such groups probably have far fewer members who are technically members of His Ashrams than had the few groups organized in the 1930’s and early 1940’s. | 187. Những nhóm ấy chỉ là một vài nhóm, chứ không phải nhiều nhóm bên ngoài được bàn đến ở trên. Đã từng có và chắc chắn hiện nay vẫn có nhiều nhóm bên ngoài, chẳng hạn những nhóm hoạt động liên quan đến các kế hoạch của Chân sư DK và ít nhiều dưới cảm hứng của Ngài. Những nhóm như thế có lẽ có số thành viên thực sự thuộc các ashram của Ngài theo nghĩa chuyên môn ít hơn nhiều so với một vài nhóm được tổ chức trong thập niên 1930 và đầu thập niên 1940. |
188. We have, then, three types of groups. | 188. Như vậy, chúng ta có ba loại nhóm. |
a. many outer groups related to the Master | a. nhiều nhóm bên ngoài có liên hệ với Chân sư |
b. a few intermediate groups directly related to His Ashram, affiliated with it and meant to be incorporated within it. (Such were the Groups of Nine and New Seed Group. ) | b. một vài nhóm trung gian có liên hệ trực tiếp với ashram của Ngài, gắn kết với ashram và dự kiến sẽ được đưa vào trong ashram. (Các Nhóm Chín Người và Nhóm Hạt Giống Mới là những nhóm như thế. ) |
c. the Master’s own group, an inner group, His particular group, which is the Ashram, per se. | c. nhóm của chính Chân sư, một nhóm bên trong, nhóm riêng của Ngài, chính là ashram. |
An Ashram is a subjective fusion of individuals and not of personalities, gathered together for service purposes. It is a blending of individual activity into one whole—a whole which is united on objective and vision but which may (and frequently does) have differing methods and techniques. The work of the Ashram is essentially the presentation to the world of those service purposes which are carried forward as seems best to the individual disciple, under the “impression of the Master” and with the cooperation of His group. A group of disciples is not pledged to do the same type of work in the same way and at the same time. They are pledged to work under the inspiration of their soul, as their souls may direct and dictate, strengthened by contact with the Master and with each other. They are related to each other through identity of vision and of vibration, plus mutual respect and complete freedom—particularly the latter. | Một ashram là sự dung hợp chủ quan của các cá nhân, chứ không phải của các phàm ngã, quy tụ lại vì những mục đích phụng sự. Đó là sự hòa nhập hoạt động cá nhân vào một toàn thể—một toàn thể hợp nhất về mục tiêu và tầm nhìn, nhưng có thể (và thường là như vậy) có những phương pháp và kỹ thuật khác nhau. Về bản chất, công việc của ashram là trình bày với thế giới những mục đích phụng sự được mỗi đệ tử xúc tiến theo cách y thấy là tốt nhất, dưới “ấn tượng của Chân sư” và với sự hợp tác của nhóm Ngài. Một nhóm đệ tử không phát nguyện thực hiện cùng một loại công việc, theo cùng một cách và vào cùng một thời điểm. Họ phát nguyện làm việc dưới cảm hứng của linh hồn mình, theo sự hướng dẫn và chỉ bảo của linh hồn, được tăng cường sức mạnh nhờ tiếp xúc với Chân sư và với nhau. Họ liên hệ với nhau qua sự đồng nhất về tầm nhìn và rung động, cộng với lòng tôn trọng lẫn nhau và sự tự do hoàn toàn—đặc biệt là điều sau cùng. |
189. Master DK continues to define the Ashram. It is a “subjective fusion of individuals and not of personalities gathered together for service purposes”. It is interesting and important to realize that “individuals” are not “personalities”. So often these terms are used interchangeably and, thus, inaccurately. The soul is the true individual. Therefore, an Ashram is a subjective fusion of souls. | 189. Chân sư DK tiếp tục định nghĩa ashram. Đó là một “sự dung hợp chủ quan của các cá nhân chứ không phải của các phàm ngã tập hợp lại vì các mục đích phụng sự”. Thật thú vị và quan trọng khi nhận ra rằng “các cá nhân” không phải là “các phàm ngã”. Những thuật ngữ này rất thường được dùng thay thế cho nhau, và vì thế, thiếu chính xác. Linh hồn mới là cá nhân đích thực. Do đó, một ashram là sự dung hợp chủ quan của các linh hồn. |
190. We see that the nature of the Ashram is inseparable from the concept of service. | 190. Chúng ta thấy rằng bản chất của ashram không thể tách rời khái niệm phụng sự. |
191. From the perspective of activity, many types of individual activity are blended into a whole. The unity preserved by this blending refers to unity of objective and vision. The variety factor is preserved in relation to method and technique. | 191. Từ góc độ hoạt động, nhiều loại hoạt động cá nhân hòa quyện thành một toàn thể. Sự thống nhất được gìn giữ qua sự hòa quyện này là sự thống nhất về mục tiêu và tầm nhìn. Yếu tố đa dạng được gìn giữ trong phương pháp và kỹ thuật. |
192. Through an Ashram, “service purposes” are presented to the world. The service rendered is under “the impression of the Master”; the Master’s group cooperates in this presentation. But the service purposes may have very individual service expressions according to the individual nature of the various disciples within the Ashram. Disciples are given great latitude with respect to their mode of expressing service purposes. We have constantly to keep in mind the distinction between “service purposes” and methods of service. | 192. Thông qua một ashram, “các mục đích phụng sự” được trình bày với thế giới. Việc phụng sự được thực hiện dưới “ấn tượng của Chân sư”; nhóm của Chân sư hợp tác trong việc trình bày này. Nhưng các mục đích phụng sự có thể có những cách biểu hiện phụng sự rất riêng biệt, tùy theo bản chất riêng của các đệ tử khác nhau trong ashram. Các đệ tử có quyền tự do rất lớn trong cách biểu hiện các mục đích phụng sự. Chúng ta phải luôn ghi nhớ sự khác biệt giữa “các mục đích phụng sự” và các phương pháp phụng sự. |
193. DK deals with the concept of a pledged group of disciples. They are not pledged to identicalness of outer method. There pledge commits them to no outer rigidity. An enforced outer uniformity would be a prison. | 193. Chân sư DK đề cập đến khái niệm về một nhóm đệ tử đã lập lời cam kết. Họ không cam kết phải giống hệt nhau về phương pháp bên ngoài. Lời cam kết của họ không ràng buộc họ vào bất kỳ sự cứng nhắc bên ngoài nào. Một sự đồng nhất bên ngoài bị cưỡng ép sẽ là một nhà tù. |
194. The pledge is directed to the soul. Their soul (and not any outer expectation) is the source their inspiration, and to that source of inspiration they are pledged. The soul dictates the specific direction of their service expression. The Master and the Ashram determine the general “service purposes”. The strength of the Master is their strength and the fellowship of the Ashram supports their strength. But the specific direction and the ways and means are their own, according to their best spiritual judgment. | 194. Lời cam kết hướng đến linh hồn. Linh hồn của họ (chứ không phải bất kỳ kỳ vọng bên ngoài nào) là nguồn cảm hứng của họ, và họ cam kết với chính nguồn cảm hứng ấy. Linh hồn định hướng cụ thể cho cách biểu hiện phụng sự của họ. Chân sư và ashram xác định các “mục đích phụng sự” chung. Sức mạnh của Chân sư là sức mạnh của họ, và tình huynh đệ trong ashram nâng đỡ sức mạnh ấy. Nhưng phương hướng cụ thể cùng cách thức và phương tiện là do chính họ quyết định, theo sự phán đoán tinh thần tốt nhất của họ. |
195. The proper method of disciplic relation is made completely clear: “They are related to each other through identity of vision and of vibration, plus mutual respect and complete freedom—particularly the latter.” Thus, the ideal is enunciated. Disciples are to relinquish their ‘supervision’ of each other, their attitudes of approval or disapproval; they are to trust the soul of their brother and, therefore, to feel confident about leaving him in complete freedom as regards his methods of cooperation with the Ashram. | 195. Cách thức đúng đắn trong quan hệ giữa các đệ tử được làm sáng tỏ hoàn toàn: “Họ liên hệ với nhau qua sự đồng nhất về tầm nhìn và rung động, cùng với sự tôn trọng lẫn nhau và tự do hoàn toàn—đặc biệt là điều sau cùng.” Như vậy, lý tưởng đã được nêu rõ. Các đệ tử phải từ bỏ việc ‘giám sát’ lẫn nhau, từ bỏ thái độ tán thành hay không tán thành; họ phải tin cậy linh hồn của huynh đệ mình và do đó an tâm để người huynh đệ ấy được tự do hoàn toàn trong các phương pháp hợp tác với ashram. |
As you ponder on this, I would ask you to realise that an Ashram is not a group of people, working under the tutelage of some Master. This is an important point to remember. It is—as said earlier—a magnetic point of tension, a fusion of [703] energies, directed towards a common centre and involving two magnetic factors: | Khi các bạn suy ngẫm về điều này, Tôi muốn các bạn nhận ra rằng một ashram không phải là một nhóm người làm việc dưới sự dìu dắt của một Chân sư nào đó. Đây là một điểm quan trọng cần ghi nhớ. Như đã nói trước đây, đó là một điểm tập trung nhất tâm có từ tính, một sự dung hợp của [703] các năng lượng hướng về một trung tâm chung và bao hàm hai yếu tố từ tính: |
196. We remember that individuals are not people. Master DK offers this most prosaic definition of an Ashram somewhat ironically. The picture painted is a parody of the deeper truth. | 196. Chúng ta nhớ rằng các cá nhân không phải là những con người. Chân sư DK đưa ra định nghĩa hết sức tầm thường này về một ashram với đôi chút mỉa mai. Bức tranh được phác họa là một sự biếm họa của chân lý sâu xa hơn. |
197. DK prefers to define the Ashram in energic terms: “a magnetic point of tension, a fusion of energies directed towards a common center…” The ‘personal factor’ is entirely missing from this definition. Thinking ‘personally’ is a great glamor caused by unrecognized habits of perception. Souls appear as “people”, but they are not. When we learn to see “people” as souls, our understanding of the true nature of an Ashram will immediately be transformed. | 197. Chân sư DK thích định nghĩa ashram theo phương diện năng lượng: “một điểm tập trung nhất tâm có từ tính, một sự dung hợp các năng lượng hướng về một trung tâm chung…” Yếu tố ‘cá nhân’ hoàn toàn vắng mặt trong định nghĩa này. Suy nghĩ theo lối ‘cá nhân’ là một ảo cảm lớn do những thói quen nhận thức chưa được nhận ra gây nên. Các linh hồn có vẻ là “những con người”, nhưng họ không phải như vậy. Khi chúng ta học cách nhìn “những con người” như các linh hồn, sự thấu hiểu của chúng ta về bản chất đích thực của một ashram sẽ lập tức chuyển đổi. |
198. The magnetism of the Ashram draws those who are affiliated by ray, karma, and an orientation to think as the Master thinks. The “common center”, of course, is the Master. | 198. Từ điện của ashram thu hút những người có mối liên hệ về cung, nghiệp quả và có khuynh hướng suy nghĩ như Chân sư suy nghĩ. Dĩ nhiên, “trung tâm chung” chính là Chân sư. |
1. A united urge towards group formation upon the mental plane. This is the higher correspondence to the herd instinct of the animal world and of the world of men, but is of a spiritual nature and quite differently motivated. The lower herd instinct is motivated largely by the instinct of self-preservation; the higher by the recognition of the immortal nature of the soul, and by the instinct to serve even with the sacrifice of oneself. The law of “death unto life” controls. When the magnetic pull of the group is adequately strong, then comes the death of the personality life. Until, therefore, the group of disciples in all its parts expresses this outgoing sacrificial urge, it is not an Ashram. | 1. Một sự thôi thúc hợp nhất hướng tới việc hình thành nhóm trên cõi trí. Đây là sự tương ứng cao hơn của bản năng bầy đàn trong thế giới động vật và thế giới loài người, nhưng mang bản chất tinh thần và có động cơ hoàn toàn khác. Bản năng bầy đàn thấp chủ yếu có động cơ là bản năng tự bảo tồn; bản năng cao hơn có động cơ là sự nhận biết bản chất bất tử của linh hồn và bản năng phụng sự, ngay cả bằng sự hi sinh bản thân. Định luật “chết để sống” chi phối. Khi sức hút từ tính của nhóm đủ mạnh, đời sống phàm ngã đi đến cái chết. Vì vậy, chừng nào nhóm đệ tử chưa biểu đạt sự thôi thúc hi sinh hướng ngoại này trong mọi thành phần của mình, thì nhóm ấy chưa phải là một ashram. |
199. Although the majority of Ashrams are now upon the buddhic plane, such Ashrams have their mental layer; members of the same Ashram are, as we have understood, gathered together in thought. | 199. Mặc dù hiện nay phần lớn các ashram đều ở trên cõi Bồ đề, những ashram ấy vẫn có tầng trí tuệ; như chúng ta đã thấu hiểu, các thành viên của cùng một ashram quy tụ với nhau trong tư tưởng. |
200. It is interesting to see DK relating the “united urge” which helps to gather disciples upon the mental plane to the “herd instinct”. So, one of the “magnetic factors” which characterizes an Ashram is a kind of ‘mental magnetism’ which is of a spiritual nature and spiritually motivated. | 200. Thật thú vị khi thấy Chân sư DK liên hệ “thôi thúc hợp nhất” giúp quy tụ các đệ tử trên cõi trí với “bản năng bầy đàn”. Vì vậy, một trong những “yếu tố từ tính” đặc trưng cho một ashram là một loại ‘từ điện trí tuệ’ mang bản chất tinh thần và có động cơ tinh thần. |
201. The normal herd instinct serves the instinct of self-preservation. The higher (and spiritual) instinct to gather is based upon soul recognition and upon “the instinct to serve even with the sacrifice of oneself.” | 201. Bản năng bầy đàn thông thường phục vụ bản năng tự bảo tồn. Bản năng quy tụ cao hơn (và mang tính tinh thần) đặt nền tảng trên sự nhận biết linh hồn và trên “bản năng phụng sự, ngay cả khi phải hi sinh bản thân mình.” |
202. Members of an Ashram are gathered together for the sake of service and sacrifice—both of which are deeply imbedded ‘soul instincts’. | 202. Các thành viên của một ashram quy tụ với nhau vì phụng sự và hi sinh—cả hai đều là những bản năng ăn sâu trong ‘linh hồn’. |
203. DK states a law which prevails in relation to the Ashram—the law of “death unto life”. We can sense the Scorpionic/Piscean quality of this law. The planet Pluto is involved and with it, the idea of death and resurrection. Self-immolation is suggested and a rising from one’s ashes into new life. | 203. Chân sư DK nêu một định luật chi phối ashram—định luật “chết để bước vào sự sống”. Chúng ta có thể cảm nhận phẩm tính Hổ Cáp/Song Ngư của định luật này. Hành tinh Sao Diêm Vương có liên quan, và cùng với nó là ý tưởng về cái chết và sự phục sinh. Điều này gợi lên sự tự thiêu và việc từ tro tàn của chính mình trỗi dậy bước vào cuộc sống mới. |
204. We are learning that membership in an Ashram means the “death” of certain factors and tendencies in the human energy system. Such membership leads to the “death of the personality life” which occurs effectively at the fourth initiation. | 204. Chúng ta đang học rằng việc trở thành thành viên của một ashram hàm nghĩa “cái chết” của một số yếu tố và khuynh hướng trong hệ thống năng lượng con người. Tư cách thành viên ấy dẫn đến “cái chết của đời sống phàm ngã”, điều thực sự diễn ra ở lần điểm đạo thứ tư. |
205. If a group wonders whether it is really a part of an Ashram, it is given a standard which must be fulfilled. A group of disciples, “in all its parts” must express this “outgoing sacrificial urge” in order to qualify as an Ashram. | 205. Nếu một nhóm tự hỏi liệu mình có thực sự là một phần của ashram hay không, thì có một tiêu chuẩn mà nhóm ấy phải đáp ứng. Một nhóm đệ tử, “trong mọi thành phần của mình”, phải biểu lộ “thôi thúc hi sinh hướng ra bên ngoài” này để hội đủ điều kiện là một ashram. |
206. We note that the urge is “outgoing”, meaning that it reaches humanity in service. Sacrifice is motivated by the urge to serve and save and, eventually, by the Will-to-Serve and the Will-to-Save. | 206. Chúng ta lưu ý rằng thôi thúc ấy “hướng ra bên ngoài”, nghĩa là vươn tới nhân loại trong sự phụng sự. Sự hi sinh do thôi thúc phụng sự và cứu rỗi thúc đẩy, và cuối cùng là do Ý Chí-Phụng sự và Ý Chí-Cứu Rỗi. |
207. We can understand that the Great Ashram which is gathered by Sanat Kumara (and which comprises the entirety of the Spiritual Hierarchy) is greatly animated by the sacrificial urge, in reflection of Their great Exemplar—the “Great Sacrifice” Himself. | 207. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng ashram vĩ đại do Sanat Kumara quy tụ (bao gồm toàn thể Thánh đoàn) được thôi thúc hi sinh tiếp sinh lực mạnh mẽ, phản ánh Tấm Gương vĩ đại của Các Ngài—chính “Đấng Hi Sinh Vĩ Đại”. |
2. The magnetic pull of the positive centre at the very heart of the group; that means the magnetic pull of the Master. As you well know, theoretically at least, at the centre of the Ashram stands ever the Master, or else an initiate or a world disciple. His task is to blend and fuse the energies, tendered and proffered by the group (under the urge to serve) and to indicate the field of service. The mode of this instinctual activity is called occult obedience and this is voluntarily rendered and unitedly followed. When any group—working in this way under a Master—is moved by one spiritual impulse and functions through one firm organisation (like electrons around the positive nucleus in an atom), the potency of the group will become immediately effective and not before. | 2. Sức hút từ tính của trung tâm dương tính ngay tại tâm của nhóm; điều đó có nghĩa là sức hút từ tính của Chân sư. Như các bạn biết rõ, ít nhất về mặt lý thuyết, tại trung tâm của ashram luôn có Chân sư, hoặc một điểm đạo đồ hay một đệ tử thế gian. Nhiệm vụ của Ngài là hòa trộn và dung hợp những năng lượng mà nhóm dâng hiến và trao tặng (dưới sự thôi thúc phụng sự), đồng thời chỉ ra lĩnh vực phụng sự. Phương thức hoạt động mang tính bản năng này được gọi là sự tuân phục huyền bí, và sự tuân phục ấy được thực hiện một cách tự nguyện, được cùng nhau noi theo. Khi bất kỳ nhóm nào—làm việc theo cách này dưới một Chân sư—được thúc đẩy bởi một xung lực tinh thần duy nhất và hoạt động thông qua một tổ chức vững chắc duy nhất (như các electron quanh hạt nhân dương trong một nguyên tử), thì uy lực của nhóm sẽ lập tức phát huy hiệu quả, và chỉ khi ấy mới như vậy. |
208. Here the Master is viewed as the “heart” of the Ashram rather than its “will” or “spirit”. | 208. Ở đây, Chân sư được xem là “trái tim” của ashram hơn là “ý chí” hay “tinh thần” của ashram. |
209. The disciples entering an Ashram are, therefore, following a type of magnetism which draws them together on the mental plane (as discussed in point one), but they are also drawn to the Master as a great magnetic center. | 209. Vì vậy, các đệ tử gia nhập một ashram đang đi theo một loại từ điện thu hút họ quy tụ trên cõi trí (như đã bàn ở điểm thứ nhất), nhưng họ cũng được thu hút đến với Chân sư như một trung tâm từ tính lớn. |
210. We learn something interesting about the magnetic centers of Ashrams. Usually, at the center of any Ashram is to be found a Master, but lesser Ashrams can also be found gathered around “an initiate or a world disciple”. In such cases, it would seem necessary that the initiate be an initiate of the fourth degree and that the world disciple be of that rank as well. It does not seem possible that an initiate of the third degree can stand at the center of a true Ashram. | 210. Chúng ta học được một điều thú vị về các trung tâm từ tính của những ashram. Thông thường, ở trung tâm của bất kỳ ashram nào cũng có một Chân sư, nhưng cũng có những ashram nhỏ hơn quy tụ quanh “một điểm đạo đồ hay một đệ tử thế giới”. Trong những trường hợp ấy, dường như điểm đạo đồ cần phải là một điểm đạo đồ bậc bốn, và đệ tử thế giới cũng phải ở cấp bậc ấy. Dường như một điểm đạo đồ bậc ba không thể đứng ở trung tâm của một ashram đích thực. |
211. The magnetic center of the Ashram blends and fuses the proffered energies of the ones who are gathered; He (the Master) also indicates the field of service. We understand these actions of the center point as occurring along both the first and second ray lines. Blending and fusing correlate with the second ray line and indicating the field of service is a directorial function along the first ray line. | 211. Trung tâm từ tính của ashram hòa trộn và dung hợp những năng lượng được hiến dâng của những người quy tụ; Ngài (Chân sư) cũng chỉ ra lĩnh vực phụng sự. Chúng ta thấu hiểu rằng những hoạt động này của điểm trung tâm diễn ra theo cả đường hướng cung một lẫn cung hai. Hòa trộn và dung hợp tương ứng với đường hướng cung hai, còn chỉ ra lĩnh vực phụng sự là một chức năng chỉ đạo theo đường hướng cung một. |
212. DK gives us another insight on the nature of “occult obedience”. Disciples tender and proffer their energies to the center of the Ashram under the “urge to serve”. When they do so, they begin to function with “occult obedience” which is “voluntarily rendered”; the directing will of the Master or center is “voluntarily… and unitedly followed”. | 212. Chân sư DK cho chúng ta thêm một sự thấu suốt về bản chất của “sự tuân phục huyền bí”. Các đệ tử hiến dâng và trao tặng năng lượng của mình cho trung tâm ashram dưới “thôi thúc phụng sự”. Khi làm như vậy, họ bắt đầu hoạt động với “sự tuân phục huyền bí”, một sự tuân phục “được thực hiện một cách tự nguyện”; họ “tự nguyện… và đồng lòng tuân theo” ý chí chỉ đạo của Chân sư hay trung tâm. |
213. We understand that “occult obedience” is never compulsory, but is willingly given, and is stimulated by the Ashram as a “magnetic point of tension”. Occult obedience is, first of all, given to the Divine Plan (as understood by the disciple), but since the Master of the Ashram and His Ashram faithfully represent the Divine Plan, occult obedience is also offered to the Master and to the prevailing rules and practices of the Ashram. | 213. Chúng ta thấu hiểu rằng “sự tuân phục huyền bí” không bao giờ mang tính cưỡng ép, mà được trao đi một cách tự nguyện, và được ashram khơi dậy với tư cách là một “điểm tập trung nhất tâm có từ tính”. Trước hết, sự tuân phục huyền bí hướng tới Thiên Cơ (theo sự thấu hiểu của đệ tử), nhưng vì Chân sư của ashram và ashram của Ngài đại diện trung thành cho Thiên Cơ, nên sự tuân phục huyền bí cũng được dành cho Chân sư và cho các quy luật cùng những phương thức thực hành hiện hành của ashram. |
I would at this point indicate to you that the so-called inner Ashram is to the outer group what the soul and its vision is to the individual disciple, working in his personality vehicles. It is the place of interior resort. Disciples can, therefore, grasp their growth towards fusion as an Ashram (in process of physical exteriorisation) by the development of their spiritual recognition of the inner group potency and their facility to contact the Master—both as individuals or in group formation. | Ở điểm này, Tôi muốn chỉ ra với các bạn rằng mối quan hệ giữa cái gọi là ashram bên trong với nhóm bên ngoài cũng giống như mối quan hệ giữa linh hồn cùng tầm nhìn của nó với người đệ tử cá nhân đang làm việc trong các hiện thể phàm ngã của mình. Đó là nơi quay về bên trong. Vì vậy, các đệ tử có thể nắm bắt sự tăng trưởng của mình hướng tới sự dung hợp thành một ashram (đang trong tiến trình hiển lộ trên cõi hồng trần) qua sự phát triển khả năng nhận biết tinh thần về uy lực của nhóm bên trong và sự dễ dàng tiếp xúc với Chân sư—cả với tư cách cá nhân lẫn trong đội ngũ nhóm. |
214. An important analogy is given so that we can keep in mind certain parallels between microcosmic process and group process. | 214. Một phép tương đồng quan trọng được đưa ra để chúng ta có thể ghi nhớ một số điểm song song giữa tiến trình tiểu thiên địa và tiến trình nhóm. |
215. The “inner Ashram” is likened to the soul and its vision. The outer group is likened to the individual disciple. | 215. “Ashram bên trong” được ví với linh hồn và tầm nhìn của linh hồn. Nhóm bên ngoài được ví với từng đệ tử. |
216. Why is the “inner Ashram” named the “so-called inner Ashram”? We have already seen this inner grouping which is the particular group of the Master described in various ways. A Master works closely with both His inner group and the outer groups which are closely affiliated with the inner group. There is a distinction, however. Members of the inner Ashram experience “Ashramic intimacy” to a higher degree than will those who are members only of the outer groups. | 216. Tại sao “ashram bên trong” lại được gọi là “cái gọi là ashram bên trong”? Chúng ta đã thấy tập hợp bên trong này, vốn là nhóm riêng của Chân sư, được mô tả theo nhiều cách khác nhau. Một Chân sư làm việc chặt chẽ với cả nhóm bên trong của Ngài lẫn các nhóm bên ngoài có liên hệ mật thiết với nhóm bên trong. Tuy nhiên, có một sự khác biệt. Các thành viên của ashram bên trong trải nghiệm “sự thân mật trong ashram” ở mức độ cao hơn những người chỉ là thành viên của các nhóm bên ngoài. |
217. The inner Ashram is defined as “the place of interior resort”. Its protective function is thus emphasized. It is a ‘place’ of spiritual refuge and spiritual re-affirmation. It is a ‘place’ to which the ashramic members ‘retreat’ for purposes of ‘recharging’ and for inspiration and strengthening. The manner of seeking ‘interior resort’ is through meditative alignment. | 217. Ashram bên trong được định nghĩa là “nơi nương tựa nội tâm”. Như vậy, chức năng bảo vệ của nó được nhấn mạnh. Đó là một ‘nơi’ nương náu về tinh thần và tái khẳng định tinh thần. Đó là một ‘nơi’ mà các thành viên ashram ‘lui về’ nhằm ‘nạp lại năng lượng’, đón nhận cảm hứng và củng cố sức mạnh. Cách tìm kiếm ‘nơi nương tựa nội tâm’ là thông qua sự chỉnh hợp trong tham thiền. |
218. DK’s small external groups were to grow towards “fusion as an Ashram” during the process of physical exteriorization which He had instituted. If the membership of these groups found in themselves an increasing spiritual recognition of the “inner group potency” (i.e. the potency of the inner Ashram) and if their facility to contact the Master, both as individuals and in group formation, was growing, they would know that their process of “fusion as an Ashram” was proceeding correctly. | 218. Các nhóm nhỏ bên ngoài của Chân sư DK sẽ phát triển hướng tới “sự dung hợp thành một ashram” trong tiến trình hiển lộ ở cõi hồng trần mà Ngài đã khởi xướng. Nếu các thành viên của những nhóm này nhận thấy trong mình khả năng nhận biết tinh thần ngày càng tăng về “sức mạnh của nhóm bên trong” (tức là sức mạnh của ashram bên trong), và nếu khả năng tiếp xúc với Chân sư của họ, cả với tư cách cá nhân lẫn trong đội hình nhóm, đang phát triển, thì họ sẽ biết rằng tiến trình “dung hợp thành một ashram” của mình đang diễn ra đúng hướng. |
219. All this suggests that the outer groups must come into increasingly close rapport with the inner group (the inner Ashram) and with the Master at its heart. | 219. Tất cả điều này gợi ý rằng các nhóm bên ngoài phải ngày càng thiết lập mối giao cảm chặt chẽ với nhóm bên trong (ashram bên trong) và với Chân sư ở tâm điểm của nhóm ấy. |
One of the things which a Master has to do is to teach His disciples to study and register truthfully their usual point of [704] daily focus. This constitutes the true introspective training, and when followed sanely and wisely leads to the realisation of the true, persistent, inner level of consciousness; it fosters also a recognition of the need to overcome limitation (frequently not the limitations usually registered) and the necessity for breaking the barriers imposed by the personality. This whole process might be summed up in the following words: The purpose of the Ashram and the training which it gives is to enable the disciple to live truly on every plane which he has succeeded in opening up to his consciousness. It is important to remember that no one is integrated into an Ashram until he has pierced beyond the confines of the purely personal levels of awareness; until he is sensitive to the ray and quality of the Master of the Ashram, and until he is normally soul conscious. The achievement of this involves great responsibility, and it is the shouldering of this responsibility which brings about the first indications of what I might call “ashramic consciousness”—a consciousness devoid of self-interest and always preoccupied with the essentials of spiritual living. | Một trong những điều Chân sư phải làm là dạy các đệ tử nghiên cứu và ghi nhận trung thực điểm tập trung [704] thường lệ hằng ngày của họ. Điều này tạo thành sự huấn luyện nội quan chân chính, và khi được thực hành một cách sáng suốt, khôn ngoan, sẽ dẫn đến sự nhận biết cấp độ tâm thức bên trong chân thực và bền vững; nó cũng nuôi dưỡng sự nhận biết nhu cầu khắc phục giới hạn (thường không phải những giới hạn mà người ta vẫn ghi nhận) và sự cần thiết phải phá vỡ những rào cản do phàm ngã áp đặt. Toàn bộ tiến trình này có thể được tóm lược trong những lời sau: Mục đích của ashram và sự huấn luyện mà ashram cung cấp là giúp người đệ tử sống chân thực trên mọi cõi mà y đã thành công trong việc khai mở cho tâm thức mình. Điều quan trọng cần nhớ là không ai được tích hợp vào một ashram cho đến khi đã xuyên qua giới hạn của các cấp độ nhận biết thuần túy cá nhân; cho đến khi nhạy cảm với cung và phẩm tính của Chân sư đứng đầu ashram, và cho đến khi thường xuyên có tâm thức linh hồn. Thành tựu này bao hàm trách nhiệm lớn lao, và chính việc gánh vác trách nhiệm ấy đem lại những dấu hiệu đầu tiên của điều Tôi có thể gọi là “tâm thức ashram”—một tâm thức không có tư lợi và luôn chú tâm đến những điều cốt yếu của đời sống tinh thần. |
220. Perhaps few of us are so introspectively astute that we infallibly understand the nature and level of our “usual point of daily focus”. One must pause to assess this. | 220. Có lẽ ít người trong chúng ta có sự nhạy bén nội quan đến mức có thể thấu hiểu không sai lầm bản chất và cấp độ của “điểm tập trung thường lệ hằng ngày” của mình. Mỗi người cần dừng lại để đánh giá điều này. |
221. The introspective task of attempting to determine the level of this focus (if followed wisely and sanely—i.e. by avoiding all tendency towards morbid introspection) brings the inner levels of conscious into increasing realization. The obstacles which hold consciousness to a certain level will also be more readily perceived and the need to overcome such limiting obstacles will also intensify. | 221. Công việc nội quan nhằm xác định cấp độ của điểm tập trung này (nếu được thực hiện một cách minh triết và lành mạnh—tức là tránh mọi khuynh hướng nội quan bệnh hoạn) giúp chúng ta ngày càng nhận biết rõ các cấp độ tâm thức bên trong. Những chướng ngại giữ tâm thức ở một cấp độ nhất định cũng sẽ dễ được nhận thấy hơn, và nhu cầu vượt qua những chướng ngại gây giới hạn ấy cũng sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. |
222. DK hints that the limitations discovered in this introspective process will not necessarily be the ones which are usually registered by the disciple. This is a general truth. In the training offered by DK, He confronted His chelas with an awareness of certain of their limitations which were entirely unknown to them. They had thought their major limitations were other than the ones DK considered still more hampering. | 222. Chân sư DK gợi ý rằng những giới hạn được khám phá trong tiến trình nội quan này không nhất thiết là những giới hạn mà đệ tử thường ghi nhận. Đây là một chân lý chung. Trong sự huấn luyện do Chân sư DK cung cấp, Ngài khiến các đệ tử của mình phải đối diện với việc nhận biết một số giới hạn mà trước đó họ hoàn toàn không hay biết. Họ từng nghĩ những giới hạn chính của mình khác với những giới hạn mà Chân sư DK xem là còn gây trở ngại nhiều hơn. |
223. The Master offers a most practical description of ashramic purpose and process: through the measures taken during ashramic training, a disciple is taught to “live truly on every plane” which may be in process of opening to his awareness. We all know that we have various kinds of awareness of various planes, but we are far from “living truly” on those planes. Ashramic training makes this possible. Eventually we will become master of and on all those planes and will manifest as a Master of the Wisdom. | 223. Chân sư đưa ra một mô tả hết sức thực tiễn về mục đích và tiến trình của ashram: thông qua những biện pháp áp dụng trong quá trình huấn luyện tại ashram, đệ tử được dạy cách “sống thực sự trên mọi cõi” có thể đang dần khai mở cho sự nhận biết của y. Tất cả chúng ta đều biết mình có nhiều hình thức nhận biết khác nhau về các cõi khác nhau, nhưng chúng ta còn lâu mới “sống thực sự” trên những cõi ấy. Sự huấn luyện tại ashram khiến điều này trở nên khả thi. Cuối cùng, chúng ta sẽ làm chủ tất cả những cõi ấy và hoạt động thành thạo trên đó, rồi biểu hiện như một Chân sư Minh Triết. |
224. The members of an Ashram naturally function in relation to more planes than will the average individual. DK reminds us that no one is admitted into an Ashram until he has pierced beyond the normal, personal ring-pass-nots, and is sensitive to the ray and quality of the Master and His Ashram. Ashramic membership is reserved for those who are at least beginning to live as souls. For such individuals, their “normal” consciousness is “soul consciousness”. | 224. Dĩ nhiên, các thành viên của một ashram hoạt động trong mối liên hệ với nhiều cõi hơn một cá nhân bình thường. Chân sư DK nhắc chúng ta rằng không ai được thu nhận vào một ashram cho đến khi đã xuyên vượt những vòng-giới-hạn thông thường mang tính cá nhân, và nhạy cảm với cung cùng phẩm tính của Chân sư và ashram của Ngài. Tư cách thành viên ashram dành cho những người ít nhất đã bắt đầu sống như những linh hồn. Đối với những cá nhân như vậy, tâm thức “bình thường” của họ là “tâm thức linh hồn”. |
225. When “soul consciousness” is beginning to be one’s “normal” state of consciousness, there dawns a tremendous sense of responsibility. If this responsibility is properly “shouldered” it will be an indication that the responsible and responding disciple is moving towards “ashramic consciousness”. We begin to realize how ‘joyfully burdensome’ it is to be a member of an Ashram! | 225. Khi “tâm thức linh hồn” bắt đầu trở thành trạng thái tâm thức “bình thường” của một người, một ý thức trách nhiệm hết sức lớn lao bắt đầu xuất hiện. Nếu trách nhiệm này được “gánh vác” đúng cách, điều đó sẽ cho thấy người đệ tử có trách nhiệm và biết đáp ứng đang tiến tới “tâm thức ashram”. Chúng ta bắt đầu nhận ra việc trở thành thành viên của một ashram thật ‘nặng gánh mà hoan hỉ’ biết bao! |
226. True “ashramic consciousness”, as here defined, is “devoid of self-interest and always preoccupied with the essentials of spiritual living”. Ashramic membership is for those who have ‘shed the self’—at least the lower self. The defeat of the normal ego is an inevitable result of ashramic affiliation in its early stages. That little ego is considered a blockage to the enterprises which engage the members of the Ashram. It must go, and along with it all traces of self interest. | 226. “Tâm thức ashram” đích thực, như được định nghĩa ở đây, là “không có tư lợi và luôn chú tâm đến những điều cốt yếu của đời sống tinh thần”. Tư cách thành viên ashram dành cho những người đã ‘rũ bỏ cái tôi’—ít nhất là phàm ngã. Sự thất bại của cái tôi thông thường là kết quả tất yếu của mối liên hệ với ashram trong những giai đoạn đầu. Cái tôi nhỏ bé ấy được xem là một chướng ngại đối với những công việc mà các thành viên ashram đang đảm nhiệm. Nó phải biến mất, và cùng với nó là mọi dấu vết của tư lợi. |
227. Let every disciple take into consideration what he thinks to be “the essentials of spiritual living”, and test to see whether his consciousness is preoccupied with those essentials! | 227. Mỗi đệ tử hãy xem xét điều mình cho là “những điều cốt yếu của đời sống tinh thần”, và kiểm nghiệm xem tâm thức mình có luôn chú tâm đến những điều cốt yếu ấy hay không! |
The primary preoccupation of chelas at the beginning of their technical training is of a very varied nature and the Ashram life is usually merely an interesting background for daily experience and not the factor of importance which it should be, and not the main interest in the foreground of the consciousness. The necessities of daily living, the many and diverse family contacts, the resentments against life and its impacts, a dislike of criticism and of being misunderstood, the many problems of character, the pressures of psychic unfoldment and the pettinesses of circumstance frequently loom so large that awareness of the Ashram and its life is only an occasional inspiration instead of a fixed habit of life. The ability to make comparisons to the detriment of others (particularly of one’s own fellow disciples or of one’s own circumstances), the fear to let go and throw all one is and has into the life of the Ashram, foreboding as to the future and a host of mental thoughtforms, plus undue attention to the cyclic life of the physical body, present the Master with an appalling picture of the liabilities with which He is confronted. The factor of the attitude of the Master is one which disciples are very [705] apt to forget because they are so basically interested in themselves and in their reactions and problems. | Những mối bận tâm chính của các đệ tử khi bắt đầu sự huấn luyện chuyên môn rất đa dạng, và đời sống ashram thường chỉ là một bối cảnh thú vị cho kinh nghiệm hằng ngày, thay vì là yếu tố quan trọng như lẽ ra phải thế, và cũng không phải mối quan tâm chính ở tiền cảnh của tâm thức. Những nhu cầu của cuộc sống hằng ngày, nhiều mối tiếp xúc gia đình đa dạng, những oán giận đối với cuộc sống và các tác động của nó, sự khó chịu trước lời chỉ trích và việc bị hiểu lầm, nhiều vấn đề về tính cách, những áp lực của sự khai mở thông linh và những chuyện vụn vặt của hoàn cảnh thường chiếm vị trí lớn đến mức sự nhận biết về ashram và sự sống của nó chỉ thỉnh thoảng đem lại cảm hứng, thay vì trở thành một thói quen sống bền vững. Khả năng đưa ra những so sánh gây bất lợi cho người khác (đặc biệt là các đệ tử đồng môn của mình hoặc chính hoàn cảnh của mình), nỗi sợ buông bỏ và dâng toàn bộ con người cùng mọi điều mình có vào đời sống ashram, những dự cảm lo âu về tương lai và vô số hình tư tưởng trên cõi trí, cộng với sự chú ý quá mức đến đời sống theo chu kỳ của thể xác, đặt trước Chân sư một bức tranh đáng kinh ngại về những gánh nặng mà Ngài phải đối diện. Thái độ của Chân sư là một yếu tố mà các đệ tử rất [705] dễ quên, bởi về cơ bản họ quá quan tâm đến bản thân, những phản ứng và vấn đề của chính mình. |
228. DK discusses the usual preoccupations of chelas as they begin their technical training with an Ashram. The Ashram is seen as an “interesting background” for their usual daily experience, rather than occupying a place in the forefront of their consciousness. It might be said that their sense of values is not yet properly adjusted. | 228. Chân sư DK bàn về những mối quan tâm thường lệ của các đệ tử khi họ bắt đầu sự huấn luyện chuyên môn trong một ashram. Họ xem ashram như một “bối cảnh thú vị” cho trải nghiệm thường nhật, thay vì dành cho nó một vị trí hàng đầu trong tâm thức. Có thể nói rằng ý thức về các giá trị của họ chưa được điều chỉnh đúng mức. |
229. DK offers us a catalogue of the usual preoccupations (and troubles) which prevent ordinary disciples from placing the Ashram first. For them, awareness of the Ashram serves only as “an occasional inspiration instead of a fixed habit of life”. | 229. Chân sư DK đưa ra cho chúng ta một danh mục những mối quan tâm thường lệ (và những phiền toái) ngăn cản các đệ tử thông thường đặt ashram lên hàng đầu. Đối với họ, sự nhận biết về ashram chỉ đóng vai trò như “một nguồn cảm hứng thỉnh thoảng xuất hiện, thay vì một thói quen sống bền vững”. |
230. Obviously, it takes considerable esoteric skill to live with a constant awareness of the Ashram and still tend efficiently to all that must be done. This is a great test for the disciple; can he infuse his daily affairs with ashramic quality? It will be found, I think, that if one lives with consistent ashramic awareness, that which must be done in the course of life in the three worlds will be better done. This remains for each disciple to prove. | 230. Rõ ràng, cần có kỹ năng nội môn đáng kể để sống với sự nhận biết liên tục về ashram mà vẫn giải quyết hiệu quả mọi việc cần làm. Đây là một thử thách lớn đối với đệ tử; liệu y có thể thấm nhuần phẩm tính ashram vào những công việc hằng ngày của mình không? Tôi nghĩ chúng ta sẽ thấy rằng nếu một người sống với sự nhận biết nhất quán về ashram, thì những việc cần làm trong đời sống ở ba cõi giới sẽ được thực hiện tốt hơn. Điều này vẫn cần mỗi đệ tử tự chứng minh. |
231. We are presented with an “appalling picture of… liabilities” which confronts the Master as He surveys the psychological state of aspirants and disciples. Each of us will find ourselves involved with one or more of the various detrimental factors. These, of course, must be released and overcome if we are to enter into greater intimacy with ashramic process and with the Master. | 231. Chúng ta được thấy một “bức tranh đáng kinh hoàng về… những trở lực” mà Chân sư phải đối diện khi Ngài khảo sát trạng thái tâm lý của những người chí nguyện và các đệ tử. Mỗi người trong chúng ta sẽ thấy mình vướng vào một hay nhiều yếu tố bất lợi khác nhau ấy. Dĩ nhiên, chúng ta phải buông bỏ và vượt qua chúng nếu muốn bước vào mối quan hệ mật thiết hơn với tiến trình ashram và với Chân sư. |
232. One must wonder at the extraordinary patience of the Master as He persists with His program of spiritual training in the face of all these obstacles. What will it take for us to put that point of tension which the Ashram represents in first place, and all the points of extension (represented by our preoccupations) second? | 232. Chúng ta không khỏi kinh ngạc trước lòng kiên nhẫn phi thường của Chân sư khi Ngài kiên trì với chương trình huấn luyện tinh thần của mình giữa tất cả những chướng ngại này. Cần có điều gì để chúng ta đặt điểm tập trung nhất tâm mà ashram đại diện lên hàng đầu, và đặt mọi điểm mở rộng (do những mối bận tâm của chúng ta đại diện) xuống hàng thứ hai? |
233. In an effort to decentralize us, Master DK presents us with the Master’s problem. The Master certainly does not need our commiseration, but He certainly needs our understanding. Perhaps if we see our lives from His point of view, we will sooner disengage from those preoccupations which often render His attempts on our behalf futile. | 233. Trong nỗ lực giúp chúng ta phi tập trung vào bản thân, Chân sư DK trình bày với chúng ta vấn đề mà Chân sưphải đối diện. Chắc chắn Chân sư không cần chúng ta thương cảm, nhưng Ngài chắc chắn cần sự thấu hiểu của chúng ta. Có lẽ nếu nhìn cuộc sống của mình từ quan điểm của Ngài, chúng ta sẽ sớm thoát khỏi những mối bận tâm thường khiến những nỗ lực Ngài dành cho chúng ta trở nên vô ích. |
It might here be noted that disciples in an Ashram are primarily occupied with world affairs. As a group they are pledged to world work; as individuals, they are learning so to work. Would-be disciples need to distinguish between the effect (magnetic and dynamic) of the group and the conscious effort which the group may make, under united desire and the direction of the Master, to reach the minds of those directing world affairs and world happenings. The outer happenings are, to a certain point, predictable; they are the precipitated effects of hidden causes which lie deep in the subconsciousness of humanity. These can be noted and (up to a certain point) offset or stimulated by the group potency. This is one of the major tasks of the Hierarchy. The Masters work in the light and in the realm of causes. Disciples are as yet necessarily involved in the world of effects and, therefore, of illusion. | Ở đây có thể lưu ý rằng các đệ tử trong một ashram chủ yếu quan tâm đến các vấn đề thế giới. Với tư cách một nhóm, họ phát nguyện làm việc cho thế giới; với tư cách cá nhân, họ đang học cách làm như thế. Những người muốn trở thành đệ tử cần phân biệt giữa tác động (mang tính từ tính và năng động) của nhóm với nỗ lực hữu thức mà nhóm có thể thực hiện, dưới dục vọng hợp nhất và sự chỉ đạo của Chân sư, để tiếp cận thể trí của những người đang điều hành các vấn đề và biến cố thế giới. Đến một mức độ nhất định, có thể dự đoán các diễn biến bên ngoài; chúng là những hệ quả đã ngưng tụ của các nguyên nhân ẩn giấu nằm sâu trong tiềm thức nhân loại. Nhóm có thể ghi nhận những nguyên nhân này và (đến một mức độ nhất định) dùng uy lực của mình để hóa giải hoặc kích thích chúng. Đây là một trong những nhiệm vụ chính của Thánh đoàn. Các Chân sư làm việc trong ánh sáng và trong lĩnh vực nguyên nhân. Các đệ tử hiện vẫn tất yếu dự phần vào thế giới của những hệ quả và do đó là thế giới của ảo tưởng. |
234. Members of an Ashram have a ‘planetarized’ consciousness. They have transcended concern with strictly personal issues and are “occupied with world affairs”. They, thus, think in larger terms than will the average disciple. | 234. Các thành viên của một ashram có tâm thức đã được ‘hành tinh hóa’. Họ đã vượt qua mối quan tâm đến những vấn đề thuần túy cá nhân và đang “quan tâm đến các vấn đề thế giới”. Do đó, họ suy nghĩ trong một phạm vi rộng lớn hơn người đệ tử thông thường. |
235. The ashramic group is, as a whole, ahead of some of its individual members. There is a group-pledge to aid in “world work”. The various members are responding to this pledge and learning to work in this way. | 235. Xét như một toàn thể, nhóm ashram đi trước một số thành viên riêng lẻ của mình. Nhóm có một lời cam kết chung nhằm hỗ trợ “công việc thế giới”. Các thành viên đang đáp ứng lời cam kết này và học cách làm việc theo hướng ấy. |
236. DK is trying to give us an understanding of the scope of ashramic work. The Hierarchy is concerned with the salvage of humanity as a whole, and members of an Ashram are pledged to the same project. | 236. Chân sư DK đang cố gắng giúp chúng ta thấu hiểu phạm vi công việc của ashram. Thánh đoàn quan tâm đến việc cứu vớt nhân loại như một toàn thể, và các thành viên của một ashram cũng cam kết thực hiện cùng công trình ấy. |
237. DK asks us to make an important distinction between group effect and group effort. | 237. Chân sư DK yêu cầu chúng ta phân biệt một điều quan trọng giữa tác động của nhóm và nỗ lực của nhóm. |
238. The causes of “outer happenings” in the world are described in an interesting way. There is a certain predictability to the trend of such happenings (arising as they do from causes lying deep within the subconscious nature of humanity). One of the important tasks of the Hierarchy and its Ashrams is to be aware of these tendencies toward the precipitation of the subconscious life and to offset them or stimulate them as needed. | 238. Nguyên nhân của những “biến cố bên ngoài” trên thế giới được mô tả theo một cách thú vị. Xu hướng của những biến cố như vậy có thể dự đoán được ở một mức độ nhất định (vì chúng phát sinh từ những nguyên nhân nằm sâu trong bản chất tiềm thức của nhân loại). Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Thánh đoàn và các ashram của Thánh đoàn là nhận biết những khuynh hướng ngưng tụ này của đời sống tiềm thức và hóa giải hoặc kích thích chúng tùy theo nhu cầu. |
239. In this respect, Hierarchy serves as a great balancing factor. The life and fate of humanity would have been far worse than can be imagined without the intelligence and compassionate balancing of forces initiated and supervised by Hierarchy. | 239. Về phương diện này, Thánh đoàn đóng vai trò một nhân tố cân bằng vĩ đại. Nếu không có trí tuệ và sự cân bằng các mãnh lực đầy lòng từ bi do Thánh đoàn khởi xướng và giám sát, cuộc sống và vận mệnh của nhân loại hẳn đã tồi tệ hơn nhiều so với những gì có thể hình dung. |
240. The sense of all this is that ashramic work is world work. Humanity is a great mass of seething, conflicted energies, and within this ‘energic strife’ Hierarchy must work. The Masters, as full members of Hierarchy, work in the light and, thus, with causes. Disciples cannot yet work this way and are still bound to the world of effects and under illusion. When they enter an Ashram, however, they are precipitated into a field of vast responsibility (and difficulty), and within this field (and though hampered by ignorance and illusion) they must somehow learn to work with increasingly effectiveness. | 240. Tất cả những điều này hàm ý rằng công việc của ashram là công việc thế giới. Nhân loại là một khối năng lượng khổng lồ đang sục sôi và xung đột, và chính trong ‘cuộc xung đột năng lượng’ này, Thánh đoàn phải làm việc. Các Chân sư, với tư cách những thành viên đầy đủ của Thánh đoàn, làm việc trong ánh sáng và do đó, làm việc với các nguyên nhân. Các đệ tử chưa thể làm việc theo cách này và vẫn còn bị ràng buộc với thế giới hệ quả, chịu sự chi phối của ảo tưởng. Tuy nhiên, khi gia nhập một ashram, họ lập tức bước vào một lĩnh vực trách nhiệm bao la (và đầy khó khăn); trong lĩnh vực ấy (dù bị vô minh và ảo tưởng cản trở), bằng cách nào đó họ phải học cách làm việc ngày càng hiệu quả hơn. |
To work dominantly with the focal points of spiritual energy upon the outer plane immediately involves certain factors: | Làm việc chủ yếu với các tiêu điểm năng lượng tinh thần trên cõi bên ngoài lập tức bao hàm một số yếu tố: |
1. A deep unerring love which “sees” in the light. Love is truly the revealer. | 1. Một tình thương sâu sắc, không sai lệch, “thấy” trong ánh sáng. Tình thương thực sự là tác nhân mặc khải. |
241. We remember that Ashrams are “focal points of spiritual energy” within humanity. | 241. Chúng ta nhớ rằng các ashram là những “tiêu điểm năng lượng tinh thần” trong nhân loại. |
242. The Hierarchy is the Hierarchy of Love. Only those who truly love are admitted into its ranks. | 242. Thánh đoàn là Thánh đoàn của Tình thương. Chỉ những ai thực sự yêu thương mới được thu nhận vào hàng ngũ của Thánh đoàn. |
243. We understand, from what is here said, that love brings accurate perception. If one loves, one will see. | 243. Từ những điều nói ở đây, chúng ta thấu hiểu rằng tình thương mang lại sự nhận thức chính xác. Ai yêu thương thì sẽ thấy. |
244. The sight motivated by love is lighted sight. Love sees the light in others and in the world. Love penetrates through and beyond the usual obscurations. Love sees behind barriers to the soul in all things. | 244. Cái nhìn do tình thương thúc đẩy là cái nhìn được soi sáng. Tình thương thấy ánh sáng nơi người khác và trong thế giới. Tình thương xuyên qua và vượt lên trên những che khuất thông thường. Tình thương nhìn xuyên qua những rào cản để thấy linh hồn trong vạn vật. |
245. Ashramic workers love deeply and see the light and, thus, the light content of all that is perceived is revealed. | 245. Những người hoạt động trong ashram yêu thương sâu sắc và thấy ánh sáng; do đó, phần ánh sáng hàm chứa trong tất cả những gì họ nhận thức đều hiển lộ. |
2. The power to withdraw completely, as individuals and as a group, from the world of physical reactions, emotional biases, and to work purely on mental levels. There the disciple is focussed in his lower mind, but consciously oriented towards the soul and is becoming increasingly sensitive to the intuition and towards the vision and the Plan, as well as towards the group soul and to the Master—all in this order of response. | 2. Năng lực rút lui hoàn toàn, với tư cách cá nhân và một nhóm, khỏi thế giới của những phản ứng hồng trần, những thiên kiến cảm xúc, và làm việc thuần túy trên các cấp độ trí tuệ. Ở đó, người đệ tử tập trung trong hạ trí, nhưng hữu thức hướng về linh hồn và ngày càng nhạy cảm với trực giác, với tầm nhìn và Thiên Cơ, cũng như với hồn nhóm và Chân sư—tất cả theo thứ tự đáp ứng này. |
246. Ashramic workers have mastered a certain power of detachment which allows them to withdraw from the physical and emotional worlds. The world of mind is closer to the light of the soul, and they focus their consciousness in the illumined mind. | 246. Những người hoạt động trong ashram đã làm chủ một năng lực tách rời nhất định, cho phép họ rút khỏi các thế giới hồng trần và cảm xúc. Thế giới trí tuệ gần với ánh sáng của linh hồn hơn, và họ tập trung tâm thức trong thể trí được soi sáng. |
247. Most disciples are not yet possessed of uninterrupted causal consciousness. Their task is to focus in the lower mind, remaining aware of the soul, and open to the intuition with reveals “the vision and the Plan”. Disciples are also to be increasingly sensitive to the “group soul and to the Master”. | 247. Phần lớn các đệ tử chưa có tâm thức nguyên nhân liên tục. Nhiệm vụ của họ là tập trung trong hạ trí, duy trì sự nhận biết linh hồn và rộng mở với trực giác vốn mặc khải “tầm nhìn và Thiên Cơ”. Các đệ tử cũng cần ngày càng nhạy cảm với “hồn nhóm và Chân sư”. |
248. Master DK has given us an order of procedure. It begins with the ability to abstract from physical/emotional turmoil and to focus as a soul-illumined mind. This focussing will open to the world of intuition which will reveal the worlds in which the Hierarchy normally lives and moves and has its being. | 248. Chân sư DK đã chỉ cho chúng ta một trình tự tiến hành. Trình tự ấy bắt đầu với khả năng rút khỏi những xáo động hồng trần/cảm xúc và tập trung như một thể trí được linh hồn soi sáng. Sự tập trung này sẽ mở ra thế giới trực giác, vốn sẽ mặc khải những thế giới mà Thánh đoàn thường sống, hoạt động và hiện tồn. |
3. Next follows the power, as a group, to formulate the desired thought-effect in such a manner that it will reach the mind or the soul of those you seek to contact, to project the thoughtform, built in such a way that it will be of the type and quality needed to evoke response, and so meet the need of those the disciple is seeking to help and strengthen. The projected thoughtform will embody the light and love, as well as the idea of the group in conformity with group vision. | 3. Tiếp theo là năng lực của nhóm định hình tác động tư tưởng mong muốn theo cách sẽ tiếp cận được thể trí hoặc linh hồn của những người mà các bạn tìm cách tiếp xúc, phóng chiếu hình tư tưởng được xây dựng sao cho có loại và phẩm tính cần thiết để gợi lên sự đáp ứng, nhờ đó đáp ứng nhu cầu của những người mà đệ tử đang tìm cách giúp đỡ và củng cố. Hình tư tưởng được phóng chiếu sẽ hiện thân cho ánh sáng và tình thương, cũng như ý tưởng của nhóm phù hợp với tầm nhìn của nhóm. |
249. DK continues describing how members of an Ashram work. | 249. Chân sư DK tiếp tục mô tả cách các thành viên của một ashram làm việc. |
250. The next task is to build and project the desired thoughtforms so that they may be effective in the service of the Plan. This is a technical matter and requires that an ashramic member be, to some degree, a white magician. A Master is a white magician. | 250. Nhiệm vụ tiếp theo là xây dựng và phóng chiếu những hình tư tưởng mong muốn để chúng có thể phụng sự Thiên Cơ một cách hiệu quả. Đây là một vấn đề kỹ thuật và đòi hỏi thành viên ashram phải là một nhà huyền thuật chánh đạo ở mức độ nào đó. Một Chân sư là một nhà huyền thuật chánh đạo. |
“9. Before a thought-form is by thee constructed, vision its purpose, ascertain its goal, and verify the motive. ” (TWM 473) | “9. Trước khi xây dựng một hình tư tưởng, ngươi hãy hình dung mục đích của nó, xác định mục tiêu của nó và kiểm chứng động cơ. ” (TWM 473) |
251. Before undertaking the process of building in thought and projecting the thought, one must know why one is doing so. What is the need to be met? If the need is understood, the thoughtform will be built properly and the energies qualifying it will be suitable for meeting the need. A useful thought must be presented in the right ‘clothing’. | 251. Trước khi tiến hành quá trình xây dựng trong tư tưởng và phóng chiếu tư tưởng, cần biết vì sao mình làm như vậy. Đâu là nhu cầu cần đáp ứng? Nếu thấu hiểu nhu cầu, hình tư tưởng sẽ được xây dựng đúng cách, và những năng lượng quy định phẩm tính của nó sẽ thích hợp để đáp ứng nhu cầu ấy. Một tư tưởng hữu ích phải được trình bày trong ‘lớp áo’ thích hợp. |
252. We note that the projected thoughtform “will embody the light and love, as well as the idea of the group in conformity with group vision”. The disciple is not building strictly individual thoughtforms. They are to carry the group note and to be representative of the Ashram of which the disciple is a member. | 252. Chúng ta lưu ý rằng hình tư tưởng được phóng chiếu “sẽ thể hiện ánh sáng và tình thương, cũng như ý tưởng của nhóm phù hợp với tầm nhìn của nhóm”. Người đệ tử không xây dựng những hình tư tưởng thuần túy cá nhân. Chúng phải mang âm điệu của nhóm và đại diện cho ashram mà người đệ tử là thành viên. |
253. Let us summarize the ways in which to work with those focal points of spiritual energy which are Ashrams: | 253. Chúng ta hãy tóm lược những cách làm việc với các tiêu điểm năng lượng tinh thần, tức các ashram: |
a. work with love and in the light | a. làm việc bằng tình thương và trong ánh sáng |
b. work from mental levels, in contact with the soul and increasingly, intuitively sensitive to the group soul and the Master | b. làm việc từ các cấp độ trí tuệ, trong sự tiếp xúc với linh hồn và ngày càng nhạy cảm bằng trực giác với hồn nhóm và Chân sư |
c. build and project thoughtforms which serve humanity by meeting its need, and which embody the quality of the Ashram | c. xây dựng và phóng chiếu những hình tư tưởng phụng sự nhân loại bằng cách đáp ứng nhu cầu của nhân loại, đồng thời thể hiện phẩm tính của ashram |
[706] | [706] |
For how many is this kind of work possible? Not many, as yet. Disciples are usually more preoccupied with their desire to help than with the scientific techniques of helping. They need to take the desire for granted and then forget about it. I would ask all disciples at this time to make it their major effort to see the vision clear; to recognise, and know for what they are, those who are in high position, guiding humanity and whose responsibility it is to lead humanity out of slavery into freedom. Aid them with love because they are where they are through their individual destiny and the guidance of their souls. Life must be seen truly and faced as it is—not realistically from the world standpoint but realistically from the standpoint of the soul, whose vision is long and inclusive and who sees life as it is. | [706] Có bao nhiêu người có thể thực hiện loại công việc này? Hiện nay, chưa nhiều. Các đệ tử thường bận tâm đến mong muốn giúp đỡ của mình hơn là những kỹ thuật giúp đỡ mang tính khoa học. Họ cần xem mong muốn ấy là điều đương nhiên, rồi quên nó đi. Lúc này, Tôi muốn yêu cầu tất cả các đệ tử lấy việc thấy rõ tầm nhìn làm nỗ lực chính của mình; nhận biết và hiểu đúng những người đang ở địa vị cao, hướng dẫn nhân loại và có trách nhiệm dẫn dắt nhân loại thoát khỏi nô lệ để đến tự do. Hãy trợ giúp họ bằng tình thương, bởi họ ở vị trí hiện tại nhờ vận mệnh cá nhân và sự hướng dẫn của linh hồn họ. Phải nhìn cuộc sống một cách chân thực và đối diện với nó đúng như nó vốn có—không phải một cách thực tế theo quan điểm thế gian, mà một cách thực tế theo quan điểm của linh hồn, với tầm nhìn xa rộng và bao gồm, thấy cuộc sống đúng như nó vốn có. |
254. Master DK pauses to assess. Not many at this time can work in the ways proposed. Disciples are not yet very effective. They desire to help more than they actually help. They have much to master concerning the “scientific techniques of helping”. | 254. Chân sư DK dừng lại để đánh giá. Hiện nay chưa có nhiều người có thể làm việc theo những cách đã đề xuất. Các đệ tử vẫn chưa thật sự hiệu quả. Họ mong muốn giúp đỡ nhiều hơn mức họ thực sự giúp đỡ. Họ còn phải nắm vững nhiều điều về “những kỹ thuật giúp đỡ có tính khoa học”. |
255. There is a certain “glamor of aspiration” which negates right action. The one involved in this glamor is satisfied with aspiration which he (gladly and lazily) substitutes for effective action in service. DK asks us to move on. | 255. Có một dạng “ảo cảm về khát vọng” làm vô hiệu hành động đúng đắn. Người vướng vào ảo cảm này hài lòng với khát vọng, mà y (một cách vui vẻ và lười biếng) dùng để thay thế hành động phụng sự hiệu quả. Chân sư DK yêu cầu chúng ta tiến bước. |
256. DK asks for increasingly clarity of vision. He asks also that disciples recognize the true world leaders (this was written during the Second World War) and to “aid them with love”. | 256. Chân sư DK yêu cầu tầm nhìn ngày càng sáng rõ hơn. Ngài cũng yêu cầu các đệ tử nhận ra những nhà lãnh đạo thế giới đích thực (điều này được viết trong Thế chiến thứ hai) và “giúp đỡ họ bằng tình thương”. |
257. We see the Master calling for ‘spiritual realism’, not the cynical realism of the worldly minded. | 257. Chúng ta thấy Chân sư đang kêu gọi ‘tinh thần thực tế về mặt tinh thần’, chứ không phải tinh thần thực tế đầy hoài nghi của những người có tư tưởng thế tục. |
258. The soul “sees life as it is”. The soul-conscious disciple will begin to see as the soul sees—with a long-range vision and inclusively. | 258. Linh hồn “thấy cuộc sống như nó vốn có”. Người đệ tử có tâm thức linh hồn sẽ bắt đầu thấy như linh hồn thấy—với tầm nhìn xa và theo cách bao gồm. |
259. If disciples do not see clearly, they cannot act effectively, and so the Master calls for this clarification of vision. One can sense that He wishes disciples to be far more effective than they presently are. This call, written more than sixty years ago, still applies to our situation as disciples in an unstable world. | 259. Nếu các đệ tử không thấy rõ, họ không thể hành động hiệu quả; vì vậy, Chân sư kêu gọi làm sáng rõ tầm nhìn. Có thể cảm nhận rằng Ngài mong các đệ tử làm việc hiệu quả hơn nhiều so với hiện tại. Lời kêu gọi này, được viết cách đây hơn sáu mươi năm, vẫn áp dụng cho hoàn cảnh của chúng ta với tư cách các đệ tử trong một thế giới bất ổn. |
The acceptance of facts is one of the first duties of a disciple. In the task of aiding humanity, as a part of the Master’s group or Ashram, the fact that there are men and women placed in positions of power to carry out the divine plan is one of the first to be faced. This must be done uncritically, avoiding constant recognition of their limitations, with an understanding of their problem, with realisation of the call of their souls to yours and the pouring upon them of a constant stream of “loving understanding. ” They are more advanced disciples than you are—little as this may be realised. They are—consciously or unconsciously—under the “impression” of the Masters; there is little that the average disciple can do for them in moulding their thought or in shaping their decisions. I refer of course to the leaders of the Forces of Light upon the outer physical plane. But disciples and aspirants can surround them with a guarding wall of light and love; they can refrain from handicapping them with thoughts of criticism which can swell the tide of criticism which the worldly minded pour out upon them. As to attempting to reach and influence the leaders of the forces of materialism, I would ask you to refrain. It can more easily be done because the personality of the disciple will provide an open door of approach. But they are far stronger than the average disciple and the task would, therefore, be one of extreme danger. | Chấp nhận các sự kiện là một trong những bổn phận đầu tiên của người đệ tử. Trong nhiệm vụ trợ giúp nhân loại với tư cách một phần của nhóm hay ashram của Chân sư, một trong những sự kiện đầu tiên cần đối diện là có những người nam và nữ được đặt vào các vị trí quyền lực để thực hiện Thiên Cơ. Cần làm điều này mà không chỉ trích, tránh liên tục chú ý đến những giới hạn của họ, đồng thời thấu hiểu vấn đề của họ, nhận biết lời kêu gọi từ linh hồn họ đến linh hồn các bạn và tuôn đổ lên họ một dòng “thấu hiểu đầy yêu thương” không ngừng. Họ là những đệ tử tiến xa hơn các bạn—dù điều này ít được nhận ra. Dù hữu thức hay vô thức, họ đều chịu “ấn tượng” của các Chân sư; người đệ tử bình thường chỉ có thể làm rất ít để giúp họ định hình tư tưởng hay quyết định. Dĩ nhiên, Tôi đang nói đến những người lãnh đạo các Mãnh Lực Ánh Sáng trên cõi hồng trần bên ngoài. Nhưng các đệ tử và người chí nguyện có thể bao quanh họ bằng một bức tường ánh sáng và tình thương để bảo vệ; họ có thể tránh gây trở ngại cho những người ấy bằng các tư tưởng chỉ trích, vốn có thể làm dâng cao làn sóng chỉ trích mà những người mang tư tưởng thế tục trút lên họ. Còn về việc cố gắng tiếp cận và gây ảnh hưởng đến những người lãnh đạo các mãnh lực duy vật, Tôi muốn các bạn kiềm chế. Điều này có thể thực hiện dễ dàng hơn, bởi phàm ngã của người đệ tử sẽ tạo ra một cánh cửa rộng mở để tiếp cận. Nhưng họ mạnh hơn người đệ tử bình thường rất nhiều, và vì vậy nhiệm vụ ấy sẽ cực kỳ nguy hiểm. |
260. DK is now speaking in first ray terms. The first ray “asserts the fact”, and under the first ray, disciples accept facts as they are. The Master calls such acceptance a “duty”. | 260. Giờ đây, Chân sư DK đang nói theo cách của cung một. Cung một “khẳng định sự thật”, và dưới ảnh hưởng của cung một, các đệ tử chấp nhận những sự thật như chúng vốn có. Chân sư gọi sự chấp nhận ấy là một “bổn phận”. |
261. The Tibetan is seeking to mobilize His disciples on behalf of the outer leaders of the Forces of Light. | 261. Chân sư Tây Tạng đang tìm cách huy động các đệ tử của Ngài để hỗ trợ những người lãnh đạo bên ngoài của các Mãnh Lực Ánh Sáng. |
262. These leaders need the soul support of those spiritually inclined men and women (presumably disciples such as those in DK’s groups) who understand their very difficult task. Criticism of these leaders is to be suspended, as is a constant reference to their limitations. | 262. Những nhà lãnh đạo này cần sự hỗ trợ từ linh hồn của những người nam và nữ có khuynh hướng tinh thần (có lẽ là những đệ tử như các thành viên trong các nhóm của Chân sư DK), những người thấu hiểu nhiệm vụ hết sức khó khăn của họ. Cần ngừng chỉ trích những nhà lãnh đạo này, cũng như ngừng liên tục nhắc đến những giới hạn của họ. |
263. The souls of the leaders are calling to the souls of such disciples as those in DK’s group, for support. DK asks that a “constant stream of ‘loving understanding’” be poured forth upon these leaders. | 263. Linh hồn của những nhà lãnh đạo đang kêu gọi linh hồn của các đệ tử như những người trong nhóm của Chân sư DK để được hỗ trợ. Chân sư DK yêu cầu tuôn đổ lên những nhà lãnh đạo này một “dòng liên tục của ‘sự thấu hiểu đầy tình thương’”. |
264. The Master offers a sobering assessment: those leaders are “more advanced disciples than you are”. Workers in the field of esotericism are likely to be proud of their esoteric knowledge and fail to realize that the ‘verbal possession’ of this great Teaching does not necessarily elevate them in spiritual status. | 264. Chân sư đưa ra một nhận định khiến chúng ta phải tỉnh ngộ: những nhà lãnh đạo ấy là “những đệ tử tiến xa hơn các bạn”. Những người hoạt động trong lĩnh vực huyền bí học dễ tự hào về kiến thức huyền bí của mình mà không nhận ra rằng việc ‘sở hữu trên ngôn từ’ Giáo Huấn vĩ đại này không nhất thiết nâng cao địa vị tinh thần của họ. |
265. Some of the world leaders in those days (and probably some today—Nelson Mandela, for instance) are “under impression” from the Hierarchy. They are often unconscious hierarchical workers who have (before birth it would seem) relinquished their consciousness their knowledge of Hierarchy in order to work more effectively on behalf of humanity. | 265. Một số nhà lãnh đạo thế giới thời ấy (và có lẽ cả một số người ngày nay—chẳng hạn Nelson Mandela) đang “chịu ấn tượng” từ Thánh đoàn. Họ thường là những người hoạt động cho Thánh đoàn mà không ý thức điều đó, những người dường như đã từ bỏ tâm thức và kiến thức của mình về Thánh đoàn (trước khi sinh ra) để làm việc hiệu quả hơn vì nhân loại. |
266. DK asks that His disciples surround these more advanced world disciples with a “wall of light” and refrain from all criticism, which can have the adverse effect of “swelling the tide of criticism” directed against them by the “worldly minded”. | 266. Chân sư DK yêu cầu các đệ tử của Ngài bao quanh những đệ tử thế giới tiến xa hơn này bằng một “bức tường ánh sáng” và tránh mọi sự chỉ trích, vốn có thể gây tác động bất lợi là “làm dâng cao làn sóng chỉ trích” mà “những người có tư tưởng thế tục” hướng vào họ. |
267. The same applies today. As potential or actual members of an Ashram, or at least as individuals gathered around the Teaching of Master DK, we can affect the world process positively or adversely through our thoughts. There are leaders in the world who need our assistance and support. As in those days, we cannot mould their thought or shape their decisions, but we can help to provide the positive atmosphere in which the best thoughts and decisions can be formulated. | 267. Ngày nay, điều này cũng đúng. Với tư cách những thành viên tiềm năng hoặc thực sự của một ashram, hay ít nhất là những cá nhân quy tụ quanh Giáo Huấn của Chân sư DK, chúng ta có thể tác động tích cực hoặc bất lợi đến tiến trình thế giới qua tư tưởng của mình. Có những nhà lãnh đạo trên thế giới cần sự trợ giúp và hỗ trợ của chúng ta. Cũng như thời ấy, chúng ta không thể định hình tư tưởng hay quyết định của họ, nhưng có thể giúp tạo ra bầu không khí tích cực để những tư tưởng và quyết định tốt nhất có thể hình thành. |
268. DK has often said that it is useless and dangerous for us to speculate about the black lodge: | 268. Chân sư DK đã nhiều lần nói rằng việc chúng ta suy đoán về Hắc đoàn là vô ích và nguy hiểm: |
“3. Humanity and cosmic evil, focussed for many millenia of years in what has been called the Black Lodge. Speculation anent this Lodge and its activities is both fruitless and dangerous. ” (EA 445) | “3. Nhân loại và cái ác vũ trụ, tập trung suốt nhiều thiên niên kỷ trong cái gọi là Hắc đoàn. Suy đoán về Hắc đoàn này và các hoạt động của nó vừa vô ích vừa nguy hiểm. ” (EA 445) |
In this group instruction, He advises His disciples to avoid trying to contact or influence the representatives of that Lodge who are outer plane “leaders of the forces of materialism”. Another sober assessment is given; these evil leaders are far more powerful than the average disciple, and the well-meaning disciple attempting such contact would be in “extreme danger”. As Master DK does not exaggerate, we have to take Him at His word. This danger would probably not arise from outer causes; the inner causes would be sufficient. | Trong huấn thị nhóm này, Ngài khuyên các đệ tử của Ngài tránh tìm cách tiếp xúc hoặc gây ảnh hưởng đến những đại diện của Hắc đoàn ấy, tức những “người lãnh đạo các mãnh lực duy vật” trên cõi bên ngoài. Ngài đưa ra thêm một nhận định nghiêm túc: những nhà lãnh đạo tà ác này mạnh hơn người đệ tử thông thường rất nhiều, và người đệ tử có thiện ý tìm cách tiếp xúc như vậy sẽ lâm vào “tình thế cực kỳ nguy hiểm”. Vì Chân sư DK không phóng đại, chúng ta phải tin đúng như lời Ngài nói. Mối nguy hiểm này có lẽ không phát sinh từ những nguyên nhân bên ngoài; chỉ những nguyên nhân bên trong cũng đã đủ. |
269. Were such contact attempted, the personality of the disciple would provide “an open door of approach”. We can be assured that the disciple’s personality would be adversely and negatively stimulated and his usefulness to the White Lodge threatened or damaged. | 269. Nếu tìm cách tiếp xúc như vậy, phàm ngã của người đệ tử sẽ tạo ra “một cánh cửa tiếp cận rộng mở”. Chúng ta có thể chắc chắn rằng phàm ngã của người đệ tử sẽ bị kích thích theo hướng bất lợi và tiêu cực, và khả năng phụng sự Thánh đoàn của y sẽ bị đe dọa hoặc tổn hại. |
270. Disciples must learn to co-measure their capabilities. This is all part of the “acceptance of facts” which DK is emphasizing. | 270. Các đệ tử phải học cách đánh giá đúng mức năng lực của mình. Tất cả những điều này đều thuộc về việc “chấp nhận các sự thật” mà Chân sư DK đang nhấn mạnh. |
[707] | [707] |
In the Aquarian Age (which is now so near, relatively speaking), there will be an externalisation of the inner Ashram upon the outer plane. Disciples, initiates and world disciples will meet for the first time in human history as disciples, recognising each other and recognising the Master of their group. The inner Ashram is a focus of souls, free and unlimited; the outer Ashram—under the future Aquarian experiment—will be composed of a focus of personalities and souls. Limitation will, therefore, exist; responsibility will require conscious recognition and there will be a necessary slowing down of both action and perception in the outer space-time world. | [707] Trong Kỷ Nguyên Bảo Bình (nói một cách tương đối thì hiện đã rất gần), ashram bên trong sẽ ngoại hiện trên cõi bên ngoài. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, các đệ tử, điểm đạo đồ và đệ tử thế gian sẽ gặp nhau với tư cách đệ tử, nhận biết nhau và nhận biết Chân sư của nhóm mình. Ashram bên trong là một tiêu điểm của những linh hồn tự do và không bị giới hạn; ashram bên ngoài—trong cuộc thử nghiệm Bảo Bình tương lai—sẽ gồm một tiêu điểm của các phàm ngã và linh hồn. Vì vậy, giới hạn sẽ tồn tại; trách nhiệm sẽ cần được nhận biết một cách hữu thức, và cả hành động lẫn tri giác đều tất yếu chậm lại trong thế giới không gian–thời gian bên ngoài. |
271. DK speaks of the impending externalization of the inner Ashram. The Aquarian Age will witness this externalization. | 271. Chân sư DK nói về sự ngoại hiện sắp tới của ashram bên trong. Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ chứng kiến sự ngoại hiện này. |
272. We note that the externalization will occur “for the first time in human history”. Whereas in the very early days of evolution the Masters walked among men, the men of the period were not members of an Ashram. They could not be. Human evolution had not yet done its work. | 272. Chúng ta lưu ý rằng sự ngoại hiện sẽ diễn ra “lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại”. Dù trong những ngày đầu tiên của tiến hóa, các Chân sư từng đi lại giữa loài người, nhưng con người thời ấy không phải là thành viên của một ashram. Họ chưa thể là thành viên. Tiến hóa nhân loại chưa hoàn thành công việc của mình. |
273. In the immediate future, disciples will recognize each other on the physical plane and will simultaneously recognize the Master of their group, Who, Himself, in many cases, will be in physical presence. | 273. Trong tương lai gần, các đệ tử sẽ nhận ra nhau trên cõi hồng trần và đồng thời nhận ra Chân sư của nhóm mình; trong nhiều trường hợp, chính Ngài sẽ hiện diện trong thể xác. |
274. Towards this externalization we are all working, with greater or lesser degrees of consciousness. As far as our present planetary process is concerned, it is the “main event”. | 274. Tất cả chúng ta đều đang làm việc hướng đến sự ngoại hiện này, với mức độ ý thức nhiều hay ít. Xét tiến trình hành tinh hiện tại của chúng ta, đó là “sự kiện chính”. |
275. DK again distinguishes between the inner and outer Ashrams. The inner Ashram “is a focus of souls, free and unlimited”; “the outer Ashram…will be composed of a focus of personalities and souls”. This, of course, is the problem and the potential. | 275. Chân sư DK lại phân biệt giữa các ashram bên trong và bên ngoài. Ashram bên trong “là một tụ điểm của các linh hồn, tự do và không giới hạn”; “ashram bên ngoài… sẽ gồm một tụ điểm của các phàm ngã và linh hồn”. Dĩ nhiên, đây vừa là vấn đề vừa là tiềm năng. |
276. We note the use of the word “focus”. An Ashram is a “focus of souls”; this requires pondering. It is a definition given in terms of the language of consciousness and energy. An Ashram is a focalization of consciousnesses and of energies. | 276. Chúng ta lưu ý cách dùng từ “tụ điểm”. Một ashram là một “tụ điểm của các linh hồn”; điều này đòi hỏi sự suy ngẫm. Đây là một định nghĩa diễn đạt bằng ngôn ngữ của tâm thức và năng lượng. Một ashram là sự quy tụ các tâm thức và các năng lượng. |
277. We cannot expect that the externalizations of the inner Ashram will function with the same freedom as the inner Ashram itself. The outer time-space world presents its obstructions. This fact will have to be recognized and due allowance made. Patience and understanding will be required. | 277. Chúng ta không thể kỳ vọng rằng những biểu hiện ngoại hiện của ashram bên trong sẽ hoạt động với cùng sự tự do như chính ashram bên trong. Thế giới thời gian–không gian bên ngoài đặt ra những trở ngại của nó. Cần nhận biết sự thật này và tính đến nó một cách thỏa đáng. Sẽ cần có sự kiên nhẫn và thấu hiểu. |
The true Ashram (of which the coming outer Ashrams will be but reflections) is not for lower concrete mind discussion. It is a focal point of receptivity; it embraces the effort to establish mutual contact through an united recognition of the vision, of the esoteric basis of life and the laws governing action. It is not a place, however, for long and silent meditation processes, for it is a point of tension where, together, the Ageless Wisdom in its more esoteric aspects is discussed, where the nature of soul relationship is recognised and where the fusion of auras and the inter-blending of the “Triangles” goes forward consciously. An Ashram is the state of mind of a spiritual group. It is a point of united thought; it is a centre for the clarification of the vision and not of physical plane methods of work. As disciples learn to integrate themselves into a Master’s Ashram, they discover that the first thing they have to do is to establish a basic harmony between themselves and their fellow disciples and to reinforce the contact between their own souls, the ashramic group and the Master. Then they learn to comprehend—through discussion and experiment—the nature of the energies which are seeking world expression, and the nature of the forces which must be reduced to powerlessness, if these new incoming energies are to prove effective in bringing about the desired changes under the Plan. | Ashram chân thực (mà các ashram bên ngoài sắp xuất hiện chỉ là những phản chiếu) không dành cho sự thảo luận bằng hạ trí cụ thể. Đó là một tiêu điểm tiếp nhận; nó bao hàm nỗ lực thiết lập sự tiếp xúc lẫn nhau qua sự nhận biết hợp nhất về tầm nhìn, nền tảng nội môn của sự sống và các định luật chi phối hành động. Tuy nhiên, đó không phải là nơi dành cho những tiến trình tham thiền lâu dài và im lặng, bởi đó là một điểm tập trung nhất tâm, nơi người ta cùng nhau thảo luận Minh Triết Ngàn Đời trong những phương diện nội môn sâu xa hơn, nơi bản chất của mối quan hệ linh hồn được nhận biết, và nơi sự dung hợp các hào quang cùng sự hòa trộn lẫn nhau của các “Tam Giác” diễn ra một cách hữu thức. Một ashram là trạng thái thể trí của một nhóm tinh thần. Đó là một điểm tư tưởng hợp nhất; đó là một trung tâm làm sáng tỏ tầm nhìn, chứ không phải các phương pháp làm việc trên cõi hồng trần. Khi các đệ tử học cách tích hợp mình vào ashram của một Chân sư, họ khám phá rằng điều đầu tiên phải làm là thiết lập sự hài hòa cơ bản giữa mình với các đệ tử đồng môn và củng cố sự tiếp xúc giữa linh hồn của chính họ, nhóm ashram và Chân sư. Sau đó, qua thảo luận và thực nghiệm, họ học cách thấu hiểu bản chất của những năng lượng đang tìm cách biểu đạt trong thế giới, và bản chất của những mãnh lực phải bị làm cho mất hết quyền năng, nếu những năng lượng mới đang tuôn vào này muốn có hiệu quả trong việc đem lại những thay đổi mong muốn theo Thiên Cơ. |
278. It would seem that DK has been discussing the nature of the true Ashram to a great extent; He tells us, however, that the “true Ashram” “is not for lower concrete mind discussion”. Does this mean that the true Ashram cannot be understood through such discussion (which is probable) or that it is forbidden to discuss it in this way (which is advisable)? We have learned that only the intuition, love and pure reason will really penetrate the Ashram. The concrete mind is left standing outside the door. | 278. Dường như Chân sư DK đã bàn luận khá nhiều về bản chất của ashram chân chính; tuy nhiên, Ngài cho chúng ta biết rằng “ashram chân chính” “không phải là đề tài để hạ trí cụ thể bàn luận”. Điều này có nghĩa là không thể thấu hiểu ashram chân chính qua sự bàn luận như thế (điều này có lẽ đúng), hay là không được phép bàn luận về ashram theo cách này (điều cấm ấy là thích đáng)? Chúng ta đã học rằng chỉ trực giác, tình thương và lý trí thuần khiết mới thực sự thâm nhập được ashram. Trí cụ thể phải đứng lại bên ngoài cửa. |
279. The following explains why the concrete mind cannot grasp the nature of the Ashram. It is a most esoteric definition and emphasizes the esoteric dynamics of ashramic process: “It is a focal point of receptivity; it embraces the effort to establish mutual contact through an united recognition of the vision, of the esoteric basis of life and the laws governing action. ” | 279. Những điều sau đây giải thích vì sao trí cụ thể không thể nắm bắt bản chất của ashram. Đây là một định nghĩa hết sức huyền bí, nhấn mạnh những động lực huyền bí của tiến trình ashram: “Đó là một tiêu điểm tiếp nhận; nó bao hàm nỗ lực thiết lập sự tiếp xúc lẫn nhau thông qua sự nhận biết thống nhất về tầm nhìn, về nền tảng huyền bí của sự sống và các định luật chi phối hành động. ” |
280. The definitions of an Ashram as offered in this section are exceedingly esoteric and, therefore, useful to the discerning student. Some think of the Ashram as a center for meditative retreat. A number of outer ashrams in India, for instance, are that. However, a true Ashram “is a point of tension where, together, the Ageless Wisdom in its more esoteric aspects is discussed, where the nature of soul relationship is recognised and where the fusion of auras and the inter-blending of the ‘Triangles’ goes forward consciously. ” | 280. Những định nghĩa về ashram được trình bày trong phần này hết sức huyền bí và do đó hữu ích cho đạo sinh có khả năng phân biện. Một số người nghĩ rằng ashram là một trung tâm tĩnh tu để tham thiền. Chẳng hạn, một số ashram bên ngoài tại Ấn Độ là như thế. Tuy nhiên, một ashram chân chính “là một điểm tập trung nhất tâm, nơi mọi người cùng bàn luận về những phương diện huyền bí hơn của Minh Triết Ngàn Đời, nơi bản chất của mối quan hệ linh hồn được nhận biết và nơi sự dung hợp các hào quang cùng sự hòa quyện lẫn nhau của các ‘Tam Giác’ diễn ra một cách có ý thức. ” |
281. We have to get used to the Ashram described in terms of the “Language of Energy”. The resulting descriptions are more accurate than those expressed in more conventional language. | 281. Chúng ta phải làm quen với việc mô tả ashram bằng “Ngôn Ngữ Năng Lượng”. Những mô tả như thế chính xác hơn những mô tả bằng ngôn ngữ thông thường. |
282. The important factor of the “fusion of auras” and the “inter-blending of the ‘Triangles’…” is presented in the definition immediately above. We are to think of the Ashram as a center in which soul-fusion is achieved. | 282. Yếu tố quan trọng của “sự dung hợp các hào quang” và “sự hòa quyện lẫn nhau của các ‘Tam Giác’…” được trình bày trong định nghĩa ngay trên đây. Chúng ta cần xem ashram là một trung tâm nơi đạt tới sự dung hợp linh hồn. |
283. We note, however, that within an Ashram there is discussion of a certain kind. Master DK now and then tells us of the kinds of discussions which have occurred in Ashrams (often between Himself and Master KH, or between a Master and His chela during the hours of sleep). Such discussions invariably concern the deeper aspects of the Wisdom. | 283. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng trong ashram vẫn có một loại bàn luận nhất định. Thỉnh thoảng, Chân sư DK kể cho chúng ta về những loại bàn luận từng diễn ra trong các ashram (thường là giữa chính Ngài và Chân sư KH, hoặc giữa một Chân sư và đệ tử của Ngài trong những giờ ngủ). Những cuộc bàn luận như thế luôn liên quan đến các phương diện sâu xa hơn của Minh Triết. |
284. Once excellent definition after another is presented: “an Ashram is the state of mind of a spiritual group”. According to our state of mind, then, we will participate or not. Our state of mind must be held at a certain requisite point of tension if we are to enter that state of mind which is ashramic. | 284. Hết định nghĩa xuất sắc này đến định nghĩa xuất sắc khác được trình bày: “ashram là trạng thái trí tuệ của một nhóm tinh thần”. Như vậy, tùy theo trạng thái trí tuệ của mình, chúng ta sẽ tham dự hoặc không. Chúng ta phải duy trì trạng thái trí tuệ của mình tại một điểm tập trung nhất tâm nhất định theo yêu cầu nếu muốn bước vào trạng thái trí tuệ của ashram. |
285. The Ashram is a “point of united thought”. The word “point” should be pondered. Through the necessary “point of tension”, the “point of thought” can be accessed. It is incumbent upon disciples who would be ashramic members to bring their thought processes to the requisite point—a point which reflects the Master’s purpose. | 285. Ashram là một “điểm tư tưởng hợp nhất”. Cần suy ngẫm về từ “điểm”. Thông qua “điểm tập trung nhất tâm” cần thiết, chúng ta có thể tiếp cận “điểm tư tưởng”. Các đệ tử muốn trở thành thành viên ashram có bổn phận đưa những tiến trình tư tưởng của mình đến điểm—một điểm phản ánh mục đích của Chân sư—đúng theo yêu cầu. |
286. Further an Ashram is “a centre for the clarification of vision and not of physical plane methods of work”. The physical plane methods are left to the individual disciples. If the vision has been clarified, the methods will reflect the vision and will manifest that which the Master of the Ashram intends. | 286. Hơn nữa, ashram là “một trung tâm để làm sáng tỏ tầm nhìn chứ không phải các phương pháp làm việc trên cõi hồng trần”. Các phương pháp trên cõi hồng trần được giao cho từng đệ tử tự quyết định. Nếu tầm nhìn đã sáng tỏ, các phương pháp sẽ phản ánh tầm nhìn ấy và biểu hiện điều mà Chân sư của ashram dự định. |
287. What is required of a disciple as he enters the Ashram? First a basic harmony has to be established with all fellow members of the Ashram. As well, the disciple’s soul contact is reinforced, as is contact with the ashramic group and with the Master. Entry requires a great spiritual deepening and strengthening, all occurring within a general atmosphere of love and harmony regardless of the ray of the Ashram. The Hierarchy is the Hierarchy of Love. | 287. Một đệ tử cần đáp ứng những gì khi bước vào ashram? Trước hết, y phải thiết lập sự hài hòa căn bản với tất cả các thành viên khác trong ashram. Đồng thời, sự tiếp xúc với linh hồn của người đệ tử được củng cố, cũng như sự tiếp xúc với nhóm ashram và với Chân sư. Việc gia nhập đòi hỏi đời sống tinh thần phải trở nên sâu sắc và mạnh mẽ hơn nhiều; tất cả đều diễn ra trong bầu không khí chung của tình thương và sự hài hòa, bất kể ashram thuộc cung nào. Thánh đoàn là Thánh đoàn của Tình Thương. |
288. In the laboratory that the Ashram represents, important discussions concerning the nature of energy are pursued. The forces with which ashramic members must work are to be deeply understood. Right methods of applying these forces are to be learned. The nature of the opposing forces must also be comprehended if they are to be “reduced to powerlessness”. | 288. Trong phòng thí nghiệm mà ashram là hiện thân, những cuộc bàn luận quan trọng về bản chất của năng lượng được tiến hành. Các thành viên ashram phải thấu hiểu sâu sắc những mãnh lực mà họ phải làm việc với. Họ phải học những phương pháp đúng đắn để vận dụng các mãnh lực này. Họ cũng phải thấu hiểu bản chất của những mãnh lực đối kháng nếu muốn “khiến chúng trở nên bất lực”. |
289. All such discussions concerning occult energies are to render the ashramic member more effective in promoting the manifestation of the Divine Plan. | 289. Mọi cuộc bàn luận như thế về các năng lượng huyền bí đều nhằm giúp thành viên ashram thúc đẩy sự biểu hiện của Thiên Cơ một cách hiệu quả hơn. |
They learn also that there is no weakness and no strength in themselves, as individuals, which may not be submitted to the group “gaze”; thus they arrive at the stripping away of all the “veils” which prevent the clear light of the soul from shining [708] forth. The goal of all work done in the Ashram of any of the Masters is Truth—on all levels and at all times. As disciples learn thus to work from the point or centre of light, understanding and truth into which they are being steadily integrated, their exoteric usefulness and effective service will be greatly increased; they will—as a group—know what has to be done and find eventually that it is done. | Họ cũng học được rằng với tư cách cá nhân, không có điểm yếu hay sức mạnh nào trong họ mà không thể đưa ra trước “cái nhìn” của nhóm; nhờ đó, họ đi đến việc gỡ bỏ mọi “tấm màn” ngăn ánh sáng trong trẻo của linh hồn tỏa [708] chiếu. Mục tiêu của mọi công việc thực hiện trong ashram của bất kỳ Chân sư nào là Chân Lý—trên mọi cấp độ và vào mọi lúc. Khi các đệ tử học cách làm việc như thế từ điểm hay trung tâm ánh sáng, thấu hiểu và chân lý mà họ đang đều đặn được tích hợp vào, sự hữu ích ngoại môn và khả năng phụng sự hiệu quả của họ sẽ gia tăng rất nhiều; với tư cách một nhóm, họ sẽ biết điều gì phải làm và cuối cùng nhận thấy điều ấy đã được thực hiện. |
290. To enter the Ashram is to enter the culture of impersonality. All that relates to the personality (as horrible or embarrassing as it may seem to the sensitive disciples) is subject to scrutiny by the “group gaze”. With growing impersonality, the disciple must learn to tolerate this revealing gaze, which strips away “the ‘veils’ which prevent the clear light of the soul from shining forth”. After all, the disciple is not his personality; the disciple, essentially, is the “observer” which is, essentially, the spirit. | 290. Bước vào ashram là bước vào nền văn hóa phi cá nhân. Mọi điều liên quan đến phàm ngã (dù có vẻ kinh khủng hay gây ngượng ngùng đến đâu đối với các đệ tử nhạy cảm) đều chịu sự xem xét của “ánh nhìn của nhóm”. Khi ngày càng trở nên phi cá nhân, người đệ tử phải học cách chịu đựng ánh nhìn phơi bày ấy, vốn gỡ bỏ “những ‘bức màn’ ngăn ánh sáng trong trẻo của linh hồn chiếu tỏa”. Xét cho cùng, người đệ tử không phải là phàm ngã của mình; về bản chất, người đệ tử là “người quan sát”, mà về bản chất chính là tinh thần. |
291. Another great principle is enunciated: “The goal of all work done in the Ashram of any of the Masters is Truth—on all levels and at all times. ” This potent sentence is to be pondered. The requirement is high. | 291. Một nguyên khí vĩ đại khác được phát biểu: “Mục tiêu của mọi công việc thực hiện trong ashram của bất kỳ Chân sư nào là Chân Lý—trên mọi cấp độ và vào mọi lúc. ” Cần suy ngẫm câu nói đầy uy lực này. Đòi hỏi này rất cao. |
292. This dedication to Truth, rightly pursued, reveals the Divine Plan and eventually the Divine Purpose. | 292. Khi được thực hành đúng đắn, sự tận hiến cho Chân Lý này sẽ làm hiển lộ Thiên Cơ và cuối cùng là Thiên Ý. |
293. The Ashram is a “point or centre of light, understanding and truth”. Disciples are being slowly integrated into this point or center, and as this occurs, their usefulness in the exoteric world is steadily increased. | 293. Ashram là một “điểm hay trung tâm ánh sáng, sự thấu hiểu và chân lý”. Các đệ tử đang từ từ tích hợp vào điểm hay trung tâm này, và khi điều ấy diễn ra, tính hữu dụng của họ trong thế giới ngoại môn không ngừng gia tăng. |
294. Many disciples do not yet, with certainty, “know what has to be done”. The cultivation of “Truth—on all levels and at all times” will reveal what must be done, and, says the Tibetan, the group will “find eventually that it is done”. The wielding of Truth brings fulfillment. | 294. Nhiều đệ tử vẫn chưa biết chắc “điều gì phải làm”. Việc vun bồi “Chân Lý—trên mọi cấp độ và vào mọi lúc” sẽ làm hiển lộ điều phải làm, và Chân sư Tây Tạng nói rằng cuối cùng nhóm sẽ “nhận thấy rằng điều ấy đã hoàn thành”. Việc vận dụng Chân Lý đưa đến sự thành tựu. |
295. Truth will dispel ignorance and reveal both Plan and Purpose. The Ashram exists to serve Plan and Purpose; the pursuit of Truth is the Ashram’s tool in this regard. | 295. Chân Lý sẽ xua tan vô minh và làm hiển lộ cả Thiên Cơ lẫn Thiên Ý. Ashram tồn tại để phụng sự Thiên Cơ và Thiên Ý; việc theo đuổi Chân Lý là công cụ của ashram trong phương diện này. |
The major task of the Master in the early stages of training His disciple is to bring to an end the period of the disciple’s intense preoccupation with himself, with his service, with his reaction to the Master or the promise of future contact with the Master, with his own ideas anent discipleship and his personal interpretations of truth. The Master takes a group of people with fixed ideas (which they are entirely sure are correct, being the best and highest they have been able to grasp to date) and with the conviction that they have reached a point where they have registered certain spiritual values and concepts, where they have evolved their own formulations of truth and where they are eagerly demanding the next step. The first thing, therefore, which He has to do is (using a strong and perhaps a strange phrase) to blast them wide open, give them a deep sense of insecurity as to the formulas and symbols of the lower concrete mind and so prepare them for the reception of newer and higher approaches to truth. This is frequently brought about by forcing them to question all the conclusions of the past. | Nhiệm vụ chính của Chân sư trong những giai đoạn đầu huấn luyện đệ tử là chấm dứt thời kỳ người đệ tử quá mải mê bận tâm đến bản thân, đến sự phụng sự của mình, đến phản ứng của mình đối với Chân sư hay lời hứa về sự tiếp xúc với Chân sư trong tương lai, đến những ý tưởng riêng về địa vị đệ tử và những cách diễn giải chân lý mang tính cá nhân. Chân sư tiếp nhận một nhóm người có những ý tưởng cố định (mà họ hoàn toàn chắc chắn là đúng, vì đó là những điều tốt nhất và cao nhất họ có thể nắm bắt được cho đến nay), cùng niềm xác tín rằng họ đã đạt đến một điểm mà tại đó họ đã ghi nhận một số giá trị và khái niệm tinh thần, đã phát triển những cách diễn đạt chân lý của riêng mình và đang háo hức đòi hỏi bước tiếp theo. Vì vậy, điều đầu tiên Ngài phải làm là (dùng một cách nói mạnh và có lẽ lạ lùng) phá tung họ ra, khiến họ cảm thấy hết sức bất an về những công thức và biểu tượng của hạ trí cụ thể, nhờ đó chuẩn bị cho họ tiếp nhận những cách tiếp cận chân lý mới hơn và cao hơn. Điều này thường được thực hiện bằng cách buộc họ chất vấn tất cả những kết luận trong quá khứ. |
296. When the disciple enters the Ashram, a process of ‘deconditioning’ must take place. | 296. Khi người đệ tử bước vào ashram, một tiến trình ‘tháo gỡ những khuôn mẫu đã định hình’ phải diễn ra. |
297. The newly accepted disciple is still quite selfish and self-absorbed. He still thinks of ‘his’ service, and of ‘his’ Ashram and Master in self-centered terms. All this must be brought to an end, and his strictly personal interpretations of truth adjusted to the spiritual facts. | 297. Người đệ tử mới được chấp nhận vẫn còn khá ích kỷ và mải mê với bản thân. Y vẫn nghĩ về việc phụng sự ‘của mình’, về ashram và Chân sư ‘của mình’ theo lối tập trung vào bản thân. Tất cả những điều này phải chấm dứt, và những diễn giải hoàn toàn mang tính cá nhân của y về chân lý phải được điều chỉnh cho phù hợp với các sự thật tinh thần. |
298. The group that the Master “takes” into His Ashram has many liabilities. Self-assurance and fixity of thought are among them. Such people have, to their own satisfaction, evolved their own formulations of truth and are now “eagerly demanding the next step”. | 298. Nhóm mà Chân sư “tiếp nhận” vào ashram của Ngài có nhiều nhược điểm. Sự tự tin chắc chắn và tư tưởng cố định nằm trong số đó. Những người như thế đã phát triển những cách trình bày chân lý riêng khiến họ hài lòng, và giờ đây đang “háo hức đòi hỏi bước kế tiếp”. |
299. DK surprises us in describing how a Master proceeds under these circumstances. He does not reinforce the hard-won convictions which His chelas have evolved through the use of their concrete mind. Instead He undertakes to “blast them wide open”. It is obviously a first ray process and gives the disciples a “deep sense of insecurity as to the formulas and symbols of the lower concrete mind”. In this way they are prepared for newer and higher approaches to truth. | 299. Chân sư DK khiến chúng ta ngạc nhiên khi mô tả cách một Chân sư hành động trong những hoàn cảnh này. Ngài không củng cố những niềm xác tín mà các đệ tử của Ngài đã vất vả phát triển nhờ sử dụng trí cụ thể. Thay vào đó, Ngài tiến hành “phá tung mọi khuôn khổ của họ”. Đây rõ ràng là một tiến trình cung một, khiến các đệ tử “cảm thấy hết sức bất an về các công thức và biểu tượng của hạ trí cụ thể”. Theo cách này, họ được chuẩn bị cho những cách tiếp cận chân lý mới hơn và cao hơn. |
300. Some of us are familiar with the Law of Repulse as it is presented along the seven ray lines. In each of these seven variations of a basic Law of the Soul, the effect of this ‘blasting’ will be apparent. Under this law the disciple receives a shock which turns him from his old way of doing things and opens him to new and better ways of approach. | 300. Một số người trong chúng ta quen thuộc với Định luật Đẩy Lùi như được trình bày theo bảy đường cung. Trong mỗi biến thể thuộc bảy biến thể này của một Định luật căn bản của Linh Hồn, tác động của việc ‘phá tung’ này sẽ thể hiện rõ. Dưới tác động của định luật này, người đệ tử nhận một cú sốc khiến y từ bỏ cách làm cũ và mở lòng đón nhận những cách tiếp cận mới và tốt hơn. |
301. One can imagine that this will not be a pleasant process for the disciple (unless the disciple is possessed of much first ray, and enjoys the destruction of the old and cherished). | 301. Có thể hình dung rằng đây sẽ không phải là một tiến trình dễ chịu đối với người đệ tử (trừ khi y có nhiều năng lượng cung một và thích thú trước sự hủy diệt những điều cũ kỹ, từng được trân quý). |
302. The Master, we are told, will force us to question all the conclusions of the past. We will be forced to examine our life and hard-won conclusions truthfully and objectively, in the light of the Ashram. Much of error will be revealed in this needed process of deglamorization, disillusionment and destruction. | 302. Chúng ta được cho biết rằng Chân sư sẽ buộc chúng ta chất vấn mọi kết luận của quá khứ. Chúng ta sẽ buộc phải xem xét cuộc sống và những kết luận khó nhọc mới có được của mình một cách trung thực, khách quan, trong ánh sáng của ashram. Nhiều sai lầm sẽ lộ rõ trong tiến trình cần thiết này nhằm loại bỏ ảo cảm, phá bỏ ảo tưởng và hủy diệt. |
We have all—disciples and initiates of all degrees—to enter the secret place of initiation with a sense of blindness (or loss of direction) and with a feeling of complete destitution. The disciple needs to bear in mind that he has to become “a moving point and hence a line”; he ascends towards the Hierarchy and assumes the correct spiritual attitude but, at the same time, he descends into what he erroneously regards as the depth of human difficulty and iniquity (if necessary), preserving always his spiritual integrity but learning three important lessons: | Tất cả chúng ta—các đệ tử và điểm đạo đồ thuộc mọi cấp độ—đều phải bước vào chốn bí mật của điểm đạo với cảm giác mù lòa (hay mất phương hướng) và cảm thấy hoàn toàn không còn gì để nương tựa. Người đệ tử cần ghi nhớ rằng y phải trở thành “một điểm chuyển động và do đó thành một đường”; y đi lên hướng tới Thánh đoàn và có thái độ tinh thần đúng đắn, nhưng đồng thời y đi xuống điều mà y lầm tưởng là vực sâu của những khó khăn và tội lỗi con người (nếu cần), luôn giữ gìn sự toàn vẹn tinh thần của mình, nhưng học ba bài học quan trọng: |
303. The “place of initiation” is ever a secret place. It is a ‘place’ where the hitherto unknown is revealed. What will happen during the ceremony of initiation (and, more widely, during the ongoing process of initiation) is unknown. The “secrets of initiation” bring us “from darkness to light” (at least with respect to the permitted illumination of any particular degree). | 303. “Nơi điểm đạo” luôn là một nơi bí mật. Đó là một ‘nơi’ mà những điều trước đó chưa biết được mặc khải. Những gì sẽ xảy ra trong nghi lễ điểm đạo (và rộng hơn là trong tiến trình điểm đạo đang tiếp diễn) đều là điều chưa biết. Những “bí mật của điểm đạo” đưa chúng ta “từ bóng tối đến ánh sáng” (ít nhất là trong phạm vi soi sáng mà một cấp độ cụ thể cho phép). |
304. DK speaks in Masonic terms. All candidates enter blindly, with a feeling of disorientation and destitution. They do not know where they are going, but they have trust. | 304. Chân sư DK nói bằng thuật ngữ của Hội Tam Điểm. Mọi ứng viên đều bước vào trong sự mù lòa, với cảm giác mất phương hướng và trắng tay. Họ không biết mình đang đi đâu, nhưng họ có lòng tin. |
305. No matter what the degree to which we may be making application, the experiences of that degree are actually unknown to us, howevermuch theory we may have accumulated regarding them. The supervising Powers mean us well, but we have to drop old ways to take advantage of that which They have to offer. This, of course, is a humbling (and necessary) experience. | 305. Dù chúng ta đang xin bước vào cấp độ nào, những trải nghiệm của cấp độ ấy thực sự vẫn là điều chúng ta chưa biết, bất kể đã tích lũy bao nhiêu lý thuyết về chúng. Các Đấng Quyền Năng giám sát đều có thiện ý với chúng ta, nhưng chúng ta phải từ bỏ những lối cũ để tận dụng những gì Các Ngài ban tặng. Dĩ nhiên, đây là một trải nghiệm dạy chúng ta khiêm nhường (và là điều cần thiết). |
306. In geometrical terms, the disciple has to become “a moving point and hence a line”. When the first ray type of motion, the motion of “progress onward” is applied, the point becomes a line. The antahkarana is built and alignment with the higher worlds becomes a reality. | 306. Theo ngôn ngữ hình học, người đệ tử phải trở thành “một điểm chuyển động và do đó thành một đường”. Khi áp dụng kiểu chuyển động của cung một, chuyển động “tiến về phía trước”, điểm trở thành một đường. Antahkarana được xây dựng và sự chỉnh hợp với các cõi cao trở thành hiện thực. |
307. The line is an ascending line and it leads into the Hierarchy. | 307. Đường này là một đường đi lên và dẫn vào Thánh đoàn. |
308. Interestingly and importantly, the ascent is paralleled by a simultaneous descent. into the “depth of human difficulty and iniquity” (should this be necessary). Hierarchy is approaching Shamballa and humanity simultaneously. Newly accepted disciples are approaching Hierarchy and humanity simultaneously. | 308. Điều thú vị và quan trọng là sự đi lên diễn ra song song với sự đi xuống đồng thời vào “vực sâu của những khó khăn và tội lỗi của con người” (nếu điều này là cần thiết). Thánh đoàn đang đồng thời tiến gần đến Shamballa và nhân loại. Các đệ tử mới được chấp nhận đang đồng thời tiến gần đến Thánh đoàn và nhân loại. |
309. Eventually, the “Highest and the Lowest Meet”. As our scope of understanding expands, the height and depth of our experience ‘elongates’; we reaching into higher worlds and plunging into those which appear to be ‘lower’—and we are to be ‘at home’ in both. | 309. Cuối cùng, “Cái Cao Nhất và Cái Thấp Nhất Gặp Nhau”. Khi phạm vi thấu hiểu của chúng ta mở rộng, chiều cao và chiều sâu trải nghiệm của chúng ta ‘kéo dài’; chúng ta vươn vào các cõi cao hơn và lao xuống những cõi có vẻ ‘thấp hơn’—và chúng ta phải ‘cảm thấy như ở nhà’ trong cả hai. |
1. The recognition that he shares all human tendencies, good and bad, and hence is able to serve. | 1. Nhận biết rằng y cùng có mọi khuynh hướng của con người, tốt lẫn xấu, và do đó có thể phụng sự. |
310. In the process of simultaneously ascending and descending, three important lessons are learned. | 310. Trong tiến trình đồng thời đi lên và đi xuống, chúng ta học được ba bài học quan trọng. |
311. One of the first and humbling experiences is that the candidate “shares all human tendencies”—all without exception. The good is in us; the bad is there as well (even if unexpressed or, at length, transmuted and transformed). | 311. Một trong những trải nghiệm đầu tiên dạy sự khiêm nhường là ứng viên “có chung mọi khuynh hướng của con người”—tất cả, không ngoại lệ. Cái tốt ở trong chúng ta; cái xấu cũng ở đó (dù chưa biểu lộ, hoặc sau cùng đã được chuyển hoá và chuyển đổi). |
312. There is but One Identity in cosmos, and all things are included in it. We, essentially, are that One Identity. | 312. Trong vũ trụ chỉ có một Bản Sắc Duy Nhất, và mọi sự vật đều nằm trong đó. Về bản chất, chúng ta là Bản Sắc Duy Nhất ấy. |
2. The discovery that the thing which he most despises and fears is the thing which exists most strongly in him, but [709] which is as yet unrecognised. He discovers also that he has to explore and know these despised and feared areas of consciousness so that they become eventually an asset, instead of something to be avoided. He learns to fear nothing; he is all things; he is a human being but he is also a mystic, an occultist, a psychic and a disciple. And—because of all these acquired states of consciousness—he becomes eventually a Master. He has “mastered” all stages and states of awareness. | 2. Khám phá rằng điều y khinh ghét và sợ hãi nhất chính là điều tồn tại mạnh mẽ nhất trong y, nhưng [709] vẫn chưa được nhận biết. Y cũng khám phá rằng mình phải thăm dò và biết rõ những vùng tâm thức bị khinh ghét và sợ hãi này, để cuối cùng chúng trở thành một vốn quý thay vì điều cần tránh né. Y học cách không sợ điều gì; y là tất cả; y là một con người, nhưng cũng là một nhà thần bí, một nhà huyền bí học, một người thông linh và một đệ tử. Và—nhờ tất cả những trạng thái tâm thức đã đạt được này—cuối cùng y trở thành một Chân sư. Y đã “làm chủ” mọi giai đoạn và trạng thái nhận biết. |
313. This statement is extremely chastening. Let us think of those things which we may have most feared and despised. Certainly, at first, these things have seemed “out there” and “in others”. Those who remain psychologically naïve will never see it in any other way. | 313. Lời khẳng định này có sức răn tỉnh rất lớn. Chúng ta hãy nghĩ đến những điều mình có thể đã sợ hãi và khinh ghét nhất. Chắc chắn, thoạt đầu, những điều này dường như ở “ngoài kia” và “trong người khác”. Những người còn ngây thơ về mặt tâm lý sẽ không bao giờ nhìn nhận điều ấy theo cách nào khác. |
314. Yet, we are advised that the thing we hate and fear most is not only in us but strongly in us. This should bring a reflective pause. | 314. Tuy nhiên, chúng ta được nhắc rằng điều mình căm ghét và sợ hãi nhất không chỉ ở trong chúng ta, mà còn tồn tại mạnh mẽ trong chúng ta. Điều này hẳn phải khiến chúng ta dừng lại suy ngẫm. |
315. One can imagine that the Law of Karma is at work in this process, for that which we hate and fear is that which we seek to see changed. The changes we work to bring about in “them” (i. e. , in the not-Self) are, when successful, really changing and transforming conditions which exist within ourselves. When an individual seeks to clear the world of certain abuses, he is simultaneously clearing himself of those same abuses. At first he will not realize this. | 315. Có thể hình dung rằng Định luật Nghiệp Quả đang tác động trong tiến trình này, vì điều chúng ta căm ghét và sợ hãi chính là điều chúng ta tìm cách thay đổi. Những thay đổi mà chúng ta nỗ lực tạo ra nơi “họ” (tức là, nơi phi ngã), khi thành công, thực sự đang thay đổi và chuyển đổi những tình trạng tồn tại trong chính chúng ta. Khi một cá nhân tìm cách loại bỏ những tệ nạn nào đó khỏi thế giới, y đồng thời cũng đang loại bỏ chính những tệ nạn ấy khỏi bản thân. Thoạt đầu, y sẽ không nhận ra điều này. |
316. Conversely, if I have the psychological insight to remove my own projections from others and the world, the changes I succeed in bringing about in myself will induce similar beneficial changes in “them” and in the world. | 316. Ngược lại, nếu tôi có sự thấu suốt tâm lý để gỡ bỏ những phóng chiếu của chính mình lên người khác và thế giới, những thay đổi tôi tạo ra thành công trong bản thân sẽ khơi dậy những thay đổi có lợi tương tự nơi “họ” và trong thế giới. |
317. The “despised and feared areas of consciousness” are, therefore, to be explored. This is the work of depth psychology—especially spiritual depth psychology. How can such areas “become eventually an asset”? Well, one can learn the pitfalls. One can learn how to overcome these hidden factors. One can serve others by helping them to release themselves from these factors. One can achieve ‘redemptive humility’. | 317. Do đó, cần thăm dò những “vùng tâm thức bị khinh ghét và sợ hãi”. Đây là công việc của tâm lý học chiều sâu—đặc biệt là tâm lý học chiều sâu tinh thần. Làm thế nào những vùng ấy có thể “cuối cùng trở thành một lợi thế”? Người ta có thể học cách nhận biết những cạm bẫy. Người ta có thể học cách khắc phục những yếu tố ẩn giấu này. Người ta có thể phụng sự người khác bằng cách giúp họ giải thoát khỏi những yếu tố ấy. Người ta có thể đạt tới ‘sự khiêm nhường có sức cứu chuộc’. |
318. Fear is a great opponent to the student of occultism. The true occultist has no fear. | 318. Sợ hãi là một đối thủ lớn của đạo sinh huyền bí học. Nhà huyền bí học chân chính không sợ hãi. |
319. DK says it: the disciple “is all things”. This passing statement should be taken literally. It is a metaphysical truth and has immense practical utility. | 319. Chân sư DK nói rõ điều đó: người đệ tử “là mọi sự”. Cần hiểu lời khẳng định thoáng qua này theo nghĩa đen. Đó là một chân lý siêu hình có giá trị thực tiễn vô cùng lớn. |
320. The initiate realizes himself as a human being, a mystic, an occultist, a psychic and a disciple. He is all of these. He does not seek to protect himself by erecting artificial barriers. There is nothing he is not. | 320. Điểm đạo đồ nhận biết mình là một con người, một nhà thần bí, một nhà huyền bí học, một người thông linh và một đệ tử. Y là tất cả những điều ấy. Y không tìm cách bảo vệ mình bằng việc dựng lên những rào cản giả tạo. Không có điều gì mà y không là. |
321. The initiate has been through all manner of experiences and eventually becomes the master of these experiences. The Masters of the Wisdom have experienced the heights and depths of life and have won through. On the way to Mastership, one must be prepared to face all things—within oneself and within the world (only to find that they are the same). | 321. Điểm đạo đồ đã trải qua mọi loại trải nghiệm và cuối cùng trở thành người làm chủ những trải nghiệm này. Các Chân sư Minh Triết đã trải nghiệm những đỉnh cao và vực sâu của cuộc sống và đã vượt qua tất cả. Trên con đường đạt đến quả vị Chân sư, mỗi người phải sẵn sàng đối diện với mọi điều—bên trong bản thân mình và trong thế giới (để rồi nhận ra rằng chúng là một). |
3. The uselessness of past attitudes and dogmatic ways of looking at life and people (based usually on tradition and circumstance) when they separate him from his fellowmen. | 3. Sự vô ích của những thái độ cũ và những cách nhìn giáo điều về cuộc sống và con người (thường dựa trên truyền thống và hoàn cảnh) khi chúng chia cách y với đồng loại. |
322. The initiate discards much as he ascends. Old, outdated formulations have to go. They do not serve. They separate him from his fellowmen. | 322. Điểm đạo đồ từ bỏ nhiều điều khi tiến lên. Những cách diễn đạt cũ kỹ, lỗi thời phải được loại bỏ. Chúng không giúp ích. Chúng chia cách y với đồng loại. |
323. The initiate is rapidly overcoming the Great Heresy of Separateness. There is nothing good or evil in the world from which he feels himself separate, but of course, he has learned to overcome innate evil. | 323. Điểm đạo đồ đang nhanh chóng vượt qua Đại Tà thuyết về tính chia rẽ. Không có điều thiện hay điều ác nào trong thế giới mà y cảm thấy mình tách biệt khỏi, nhưng dĩ nhiên, y đã học cách vượt qua điều ác cố hữu. |
When he has really learnt these three things, he is initiate. | Khi đã thực sự học được ba điều này, y là một điểm đạo đồ. |
324. We will want to study these three factors with renewed care, for when they have been learnt, the one who learns “is initiate”. | 324. Chúng ta hẳn sẽ muốn nghiên cứu lại ba yếu tố này một cách cẩn trọng hơn, vì khi đã học được chúng, người học “là điểm đạo đồ”. |
a. the initiate shares all human tendencies | a. điểm đạo đồ có chung mọi khuynh hướng của con người |
b. what is most feared and despised is strongly within the one who fears and despises; a man is all things and cannot separate himself from anything | b. điều mà người ta sợ hãi và khinh miệt nhất hiện diện mạnh mẽ trong chính người sợ hãi và khinh miệt; con người là tất cả mọi sự và không thể tách mình khỏi bất cứ điều gì |
c. old, separative attitudes and perspectives have to go | c. những thái độ và quan điểm cũ mang tính chia rẽ phải được loại bỏ |
325. I think a careful reading of this group instruction will reveal the richness of its content. There is much to be pondered and absorbed. | 325. Tôi nghĩ rằng việc đọc kỹ huấn thị nhóm này sẽ cho thấy sự phong phú trong nội dung của nó. Có nhiều điều cần suy ngẫm và tiếp thu. |
326. The Tibetan wants to see us in closer relation to the Ashram, and sooner than later, functioning as full members of the Ashram (whichever Ashram may be ‘ours’). The methods for achieving this closer affiliation are clearly given. We have to acknowledge them and practice them so that achievement may soon eventuate. | 326. Chân sư Tây Tạng muốn thấy chúng ta có mối liên hệ mật thiết hơn với ashram, và sớm hoạt động như những thành viên đầy đủ của ashram (bất kể ashram nào là ‘của chúng ta’). Các phương pháp để đạt được mối liên kết mật thiết hơn này đã được trình bày rõ ràng. Chúng ta phải nhận biết và thực hành chúng để sớm đạt được thành tựu. |
With Love and Many Blessings, | Với tình thương và nhiều phúc lành, |
Michael, with gratitude for the assistance of all co-workers. | Michael, với lòng biết ơn sự hỗ trợ của tất cả các cộng sự. |