DINA I · Bình giảng 7
commentary by Michael D. Robbins | bình giảng của Michael D. Robbins |
Friends, | Các bạn thân mến, |
Perhaps, through a close study of what the Master has said, we can gain a sense of participating with Him in His most important experiment (though from a world-perspective, we can be sure that He had to find other matters of far greater importance). | Có lẽ qua việc nghiên cứu kỹ những gì Chân sư đã nói, chúng ta có thể cảm nhận rằng mình đang cùng Ngài tham gia cuộc thử nghiệm quan trọng nhất của Ngài (dù xét từ góc độ thế giới, chúng ta có thể chắc chắn rằng Ngài đã phải thấy có những vấn đề khác quan trọng hơn nhiều). |
We are in a process of Self-training, and we are trying to benefit from all the Master has said, even if He has not said it to us, personally. The modern way for the modern disciple to receive hints is to discover them in the voluminous text he/she studies. Sometimes a word or a phrase will “jump off the page” and seem of unusual significance. Another reader might not experience the same. When this happens, perhaps you have received a hint which must be pondered and developed into a revelation. The text we are studying is so rich, that many hints are likely to occur. | Chúng ta đang trong một tiến trình tự rèn luyện và đang cố gắng học hỏi từ tất cả những gì Chân sư đã nói, ngay cả khi Ngài không nói riêng với chúng ta. Cách thức hiện đại để người đệ tử hiện đại tiếp nhận những gợi ý là khám phá chúng trong khối văn bản đồ sộ mà người ấy nghiên cứu. Đôi khi một từ hay một cụm từ sẽ “bật ra khỏi trang sách” và dường như mang thâm nghĩa khác thường. Một độc giả khác có thể không trải nghiệm điều tương tự. Khi điều này xảy ra, có lẽ các bạn đã nhận được một gợi ý cần được suy ngẫm và phát triển thành một sự mặc khải. Văn bản chúng ta đang nghiên cứu phong phú đến mức nhiều gợi ý có thể xuất hiện. |
I do not intend to continue giving you only reiterated advice upon the treading of the Path of Discipleship. You are adult men and women and know the Way. The practical application of the ancient Rules is your personal responsibility. What you do is your own affair. You have reached maturity and should be ready for the next step. That step will be taken when you have transmuted knowledge and theory into wisdom, practice and expression. | Tôi không có ý định tiếp tục chỉ đưa ra cho các bạn những lời khuyên lặp đi lặp lại về việc bước trên Con Đường Đệ Tử. Các bạn là những người nam và nữ trưởng thành và biết Đường Đạo. Việc áp dụng các Quy luật cổ xưa vào thực tiễn là trách nhiệm cá nhân của các bạn. Những gì các bạn làm là việc riêng của các bạn. Các bạn đã trưởng thành và cần sẵn sàng cho bước tiếp theo. Bước ấy sẽ được thực hiện khi các bạn đã chuyển hoá tri thức và lý thuyết thành minh triết, thực hành và biểu hiện. |
1. The Master places responsibility squarely on the shoulders of His disciples. One can feel a detached attitude in His statements, which does not mean that He is not interested or deeply concerned. | 1. Chân sư đặt trách nhiệm thẳng lên vai các đệ tử của Ngài. Người ta có thể cảm nhận một thái độ tách rời trong những lời phát biểu của Ngài, nhưng điều đó không có nghĩa là Ngài không quan tâm hay không quan tâm sâu sắc. |
2. The new type of discipleship is for mature, adult men and women; it is not for dependent, spiritual aspirants who tend to rely excessively on the guru, even in matters which could and should be handled by themselves. | 2. Loại hình địa vị đệ tử mới dành cho những người nam và nữ chín chắn, trưởng thành; nó không dành cho những người chí nguyện tinh thần có tính lệ thuộc, có khuynh hướng dựa dẫm quá mức vào đạo sư, ngay cả trong những việc mà chính họ có thể và nên tự xử lý. |
3. As an incentive, Master DK reminds His chelas that He is sharing with them “ancient Rules”. This suggests that the Rules will lead to success if followed. | 3. Để khích lệ, Chân sư DK nhắc các đệ tử của Ngài rằng Ngài đang chia sẻ với họ “các quy luật cổ xưa”. Điều này gợi ý rằng các quy luật sẽ dẫn đến thành công nếu được tuân theo. |
4. Knowledge and theory must be transmuted into wisdom, practice and expression if there is to be any real practice. We all know for ourselves whether a gap exists between theory and practice. There is an almost painful dissonance when this is the case. The lunar vehicles (all of them) must express what the mind accepts as theoretically true. Only thus, does real soul-infusion proceed. | 4. Tri thức và lý thuyết phải được chuyển hoá thành minh triết, thực hành và biểu hiện thì mới có sự thực hành thực sự. Mỗi chúng ta đều tự biết liệu có khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành hay không. Khi có khoảng cách ấy, sự bất hòa gần như gây đau đớn. Các hiện thể thái âm (tất cả các hiện thể ấy) phải biểu hiện điều mà thể trí chấp nhận là đúng về mặt lý thuyết. Chỉ như thế, sự thấm nhuần thực sự của linh hồn mới diễn ra. |
5. One may be learned, indeed, and yet soul-infusion fails to be an accomplished fact. This would not be a long-tolerable condition for a sincere disciple. | 5. Quả thực, người ta có thể uyên bác mà sự thấm nhuần của linh hồn vẫn chưa trở thành một sự kiện đã thành tựu. Một đệ tử chân thành không thể chịu đựng tình trạng này lâu dài. |
It is only in a spirit of real detachment that the best work of a disciple is done. The disciple comes to realise that because of this detachment he is (for the remainder of his life) simply a worker — one of a great army of hierarchical workers — with supposedly no personality inclinations, objectives, or wishes. There is for him nothing but constant work and constant association with other people. He may be a naturally isolated person, with a deep craving for solitude but that matters not. It is the penalty he must pay for the opportunity to meet the need of the hour. The hardest organised push of the Hierarchy is now taking place and its objective is to offset the tendency of the race to crystallise into separativeness, for separation is the line of least resistance to people and nations at this time. Hence the formation of these working groups of disciples, giving an expression of group work and group cohesion and of non-separativeness. | Chỉ trong tinh thần tách rời thực sự, đệ tử mới hoàn thành công việc tốt nhất của mình. Đệ tử dần nhận ra rằng nhờ sự tách rời này, trong phần đời còn lại, y đơn giản chỉ là một người hoạt động—một người trong đạo quân đông đảo những người hoạt động của Thánh đoàn—và theo lý tưởng là không có những khuynh hướng, mục tiêu hay mong muốn của phàm ngã. Đối với y, chỉ có công việc liên tục và sự giao tiếp thường xuyên với người khác. Y có thể vốn là người thích sống riêng biệt, khao khát sâu sắc sự cô tịch, nhưng điều đó không quan trọng. Đó là cái giá y phải trả cho cơ hội đáp ứng nhu cầu của thời cuộc. Hiện nay, Thánh đoàn đang thực hiện nỗ lực thúc đẩy có tổ chức mạnh mẽ nhất, với mục tiêu hóa giải khuynh hướng của nhân loại kết tinh thành tính chia rẽ, vì lúc này sự chia rẽ là con đường ít trở ngại nhất đối với con người và các quốc gia. Do đó, những nhóm đệ tử hoạt động này được thành lập để biểu hiện công việc nhóm, sự cố kết nhóm và tính không chia rẽ. |
1. DK states an important principle. “Only in a spirit of real detachment” is “the best work of a disciple” done. Why should this be so? | 1. Chân sư DK nêu một nguyên khí quan trọng. “Chỉ trong tinh thần tách rời thực sự” thì “công việc tốt nhất của một đệ tử” mới được thực hiện. Tại sao lại như vậy? |
2. The “best work” is the work most clearly reflective and expressive of the soul; such reflection and expression will be blocked, side-tracked or distorted by an instrument conditioned by personality attachments. The disciple will fail to be objective and the nature of the soul will not be successfully transmitted to the instrument. | 2. Cái gọi là “công việc tốt nhất” là công việc phản chiếu và biểu hiện linh hồn rõ ràng nhất; một công cụ chịu ảnh hưởng của những sự ràng buộc phàm ngã sẽ ngăn chặn, làm chệch hướng hoặc làm méo mó sự phản chiếu và biểu hiện ấy. Người đệ tử sẽ không giữ được tính khách quan và không thể truyền đạt thành công bản chất của linh hồn đến công cụ ấy. |
3. Perhaps it would be wise for us to become aware (if possible) of the personality attachments which (in our own personal case) skew a faithful representation of soul impulses within the personality. | 3. Có lẽ điều khôn ngoan là chúng ta nhận biết (nếu có thể) những sự ràng buộc phàm ngã vốn làm sai lệch sự thể hiện trung thực các xung lực linh hồn trong phàm ngã (ở trường hợp riêng của chính mình). |
4. DK offers a deglamorizing perspective; we are to become simply “workers”. It is the perspective of one who works under the influence of Virgo (in relation to which the source served is other than oneself) and Saturn, the “task-master”. | 4. Chân sư DK đưa ra một góc nhìn giúp làm tiêu tan ảo cảm; chúng ta phải trở thành những “người hoạt động”. Đó là góc nhìn của người làm việc dưới ảnh hưởng của Xử Nữ (trong mối liên hệ này, nguồn được phụng sự không phải là bản thân mình) và Sao Thổ, “người đốc công”. |
5. We are to have no “personality inclinations, objectives, or wishes”. This is an exacting requirement, and each may examine himself/herself for deviation. Perhaps such deviations can be found if we compare our vision of the Divine Plan with ‘what else’ we would like to be thinking, feeling and doing. | 5. Chúng ta phải không có “những khuynh hướng, mục tiêu hay mong muốn của phàm ngã”. Đây là một yêu cầu nghiêm ngặt, và mỗi người có thể tự xem xét những sai lệch của mình. Có lẽ chúng ta có thể tìm ra những sai lệch ấy nếu so sánh tầm nhìn của mình về Thiên Cơ với ‘những điều khác’ mà chúng ta muốn nghĩ, cảm nhận và làm. |
6. Work is “constant” as is association with other people; otherwise, how could the Ageless Wisdom be spread to those it must reach? | 6. Công việc là “liên tục”, cũng như sự giao tiếp với người khác; nếu không, làm sao Minh Triết Ngàn Đời có thể được truyền bá đến những người cần tiếp nhận? |
7. There are sacrifices to be made. Our particular, long-cultivated tendencies “matter not”, even if there is nothing inherently wrong with them; even if, in less stressful times, such tendencies would be considered productive. | 7. Có những hi sinh cần phải thực hiện. Những khuynh hướng riêng mà chúng ta đã vun bồi lâu dài “không quan trọng”, ngay cả khi chúng vốn không có gì sai; ngay cả khi trong những thời kỳ ít căng thẳng hơn, những khuynh hướng ấy có thể được xem là hữu ích. |
8. The “need of the hour” is paramount, and all must be measured against it. Perhaps this is the real difference between working from one’s own causal body as the source of one’s inspiration, and (more maturely) working under the spiritual will of the Spiritual Triad. | 8. Điều gọi là “nhu cầu của thời điểm” có tầm quan trọng tối cao, và mọi điều đều phải được cân nhắc theo nhu cầu ấy. Có lẽ đây là sự khác biệt thực sự giữa việc làm việc từ chính thể nguyên nhân của mình như nguồn cảm hứng của mình, và việc làm việc (một cách trưởng thành hơn) dưới ý chí tinh thần của Tam Nguyên Tinh Thần. |
9. Note that Master DK uses the word, “penalty”. We usually think that penalties arise due to infringements of the law. They also arise (so it appears) when special ventures with their special demands are undertaken. In this case, something quite “natural” is not allowed expression so that something more important may manifest. | 9. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK dùng từ “cái giá phải trả”. Chúng ta thường nghĩ rằng những hình phạt phát sinh do vi phạm định luật. Dường như những cái giá phải trả cũng phát sinh khi tiến hành những công cuộc đặc biệt với những đòi hỏi đặc biệt. Trong trường hợp này, một điều khá “tự nhiên” không được phép biểu hiện để một điều quan trọng hơn có thể biểu hiện. |
10. Master DK speaks of the “hardest organised push of the Hierarchy”. These instructions were written after the mid 1930’s when Hierarchy hoped to offset the precipitation of what became World War II. When Hierarchy was working so hard, with such determination, one would think that the disciples of the time would do likewise, within the natural limitation of their capacities. | 10. Chân sư DK nói đến “nỗ lực thúc đẩy có tổ chức mạnh mẽ nhất của Thánh đoàn”. Những huấn thị này được viết sau giữa thập niên 1930, khi Thánh đoàn hy vọng hóa giải sự ngưng tụ của những gì về sau trở thành Thế Chiến thứ hai. Khi Thánh đoàn làm việc nỗ lực đến thế, quyết tâm đến thế, người ta hẳn nghĩ rằng các đệ tử thời ấy cũng sẽ làm như vậy, trong giới hạn tự nhiên của năng lực mình. |
11. Today (2004) there is a period of significant preparation leading to the Shamballic/Hierarchical Conclave of 2025. It is, very reasonably, the most intensive phase of the approximately eighty-year Period of the Forerunner. The dangers to humanity are increasingly evident and Hierarchy’s concern must be great. The disciples and initiates of the world are again under great pressure and will respond to the fullest extent possible if they are wise. | 11. Ngày nay (2004), đang có một giai đoạn chuẩn bị quan trọng dẫn đến Mật Nghị Shamballa/Thánh đoàn năm 2025. Hoàn toàn có cơ sở để xem đây là giai đoạn tập trung mãnh liệt nhất trong Thời Kỳ của Đấng Tiền Phong kéo dài khoảng tám mươi năm. Những hiểm nguy đối với nhân loại ngày càng rõ rệt, và mối quan tâm của Thánh đoàn hẳn phải rất lớn. Các đệ tử và điểm đạo đồ trên thế giới lại chịu áp lực lớn và sẽ đáp ứng đến mức tối đa có thể nếu họ khôn ngoan. |
12. Separation is still the line of least resistance for the peoples and nations of the world, though a growing internationalism is present to help offset the tendency. Organized selfishness, however, is now replacing individual selfishness and it is a considerable political, economic and religious danger. | 12. Sự chia rẽ vẫn là con đường ít trở ngại nhất đối với các dân tộc và quốc gia trên thế giới, dù tinh thần quốc tế ngày càng phát triển đang góp phần hóa giải khuynh hướng này. Tuy nhiên, hiện nay tính ích kỷ có tổ chức đang thay thế tính ích kỷ cá nhân, và đó là một mối nguy đáng kể về chính trị, kinh tế và tôn giáo. |
13. In our groups and in the relations between group and group, we (disciples of the world) should at least manage to offset the selfishness and separatism which has too often characterized our own interplay. This is the very least that should be done, otherwise, how can we stand before the world as any kind of example of a new civilization in embryo. | 13. Trong các nhóm của mình và trong những mối quan hệ giữa nhóm này với nhóm khác, ít nhất chúng ta (các đệ tử trên thế giới) phải tìm cách hóa giải tính ích kỷ và khuynh hướng chia rẽ vốn quá thường xuyên đặc trưng cho sự tương tác của chính chúng ta. Đây là điều tối thiểu cần làm; nếu không, làm sao chúng ta có thể đứng trước thế giới như một tấm gương nào đó về một nền văn minh mới đang phôi thai. |
14. Loving, non-separative behavior among the disciples of the worlds (especially in those groups most closely linked to the Master DK and other Masters) is an urgent necessity. | 14. Cách ứng xử đầy tình thương và không chia rẽ giữa các đệ tử trên thế giới (đặc biệt trong những nhóm gắn bó mật thiết nhất với Chân sư DK và các Chân sư khác) là một nhu cầu cấp thiết. |
A few — relatively a very few — of the disciples and intuitives of the world today are standing together in a twofold activity: one activity is to sense and touch with greater accuracy the steadily unfolding subjective plan; the other is to speak and teach with greater clarity and to choose with wiser exactitude the right words (written and spoken) by which to express the truth. The presentation of the sensed realities will then lead the thinking people of the world to arrest their present trend of thought and to cooperate more fully and freely in the enlightenment of the world. I use the word “enlightenment” in its occult sense. The full measure of what can be done depends (as far as the individual disciple is concerned) upon his inner power to live [56] each day as a soul — free from fear, free from self-consciousness and free from those reactions which stir the astral or emotional body into organised activity, based on ancient habits. For the disciple and for the success of his work, an astral body of stillness and of acquiescence, sensitive to impressions from the soul and from the Master, and reflecting the vision with as much purity of outline as may be possible, is the goal. It should be remembered that when the disciple is fully occupied in living the life of service on all three planes, there is little that can be said or should be said to him. But a thought may be of aid. | Một số ít—tương đối rất ít—đệ tử và những người có trực giác trên thế giới ngày nay đang cùng nhau đứng vững trong một hoạt động nhị phân: một hoạt động là cảm nhận và tiếp xúc chính xác hơn với Thiên Cơ chủ quan đang không ngừng khai mở; hoạt động kia là nói và dạy rõ ràng hơn, lựa chọn những từ ngữ thích hợp, cả viết lẫn nói, với sự chính xác sáng suốt hơn để diễn đạt chân lý. Khi ấy, việc trình bày những thực tại đã cảm nhận sẽ khiến những người biết suy nghĩ trên thế giới dừng lại xu hướng tư tưởng hiện nay và hợp tác đầy đủ, tự do hơn trong việc soi sáng thế gian. Tôi dùng từ “soi sáng” theo nghĩa huyền bí. Xét về cá nhân đệ tử, mức độ đầy đủ của những gì có thể làm được tùy thuộc vào quyền năng bên trong của y để sống [56] mỗi ngày như một linh hồn—thoát khỏi sợ hãi, thoát khỏi ngã thức và thoát khỏi những phản ứng kích động thể cảm dục hay thể cảm xúc hoạt động có tổ chức dựa trên những thói quen lâu đời. Đối với đệ tử và sự thành công của công việc, mục tiêu là một thể cảm dục tĩnh lặng và thuận theo, nhạy cảm với những ấn tượng từ linh hồn và Chân sư, phản chiếu tầm nhìn với những đường nét thuần khiết nhất có thể. Cần nhớ rằng khi đệ tử hoàn toàn chuyên tâm sống đời phụng sự trên cả ba cõi, thì có rất ít điều có thể hoặc nên nói với y. Nhưng một ý tưởng có thể giúp ích. |
1. DK speaks of a desirable stance which should characterize the disciples and intuitives of the world. If they adopt this stance, they will, inevitably, stand “together” — cooperatively and non-separatively. | 1. Chân sư DK nói về một lập trường đáng mong muốn mà các đệ tử và những người có trực giác trên thế giới nên có. Nếu tiếp nhận lập trường này, tất yếu họ sẽ đứng “cùng nhau”—trong tinh thần hợp tác và không chia rẽ. |
2. Note the importance Master DK places upon accuracy, clarity and exactitude. There is so much possibility for distortion and vagueness — both in the reception of the higher ideas and thoughts and in their presentation to the public. How can the light shine if there is so much unclarity? | 2. Hãy lưu ý tầm quan trọng mà Chân sư DK dành cho sự chính xác, rõ ràng và chuẩn xác. Có quá nhiều khả năng xảy ra sự méo mó và mơ hồ—cả trong việc tiếp nhận những ý tưởng và tư tưởng cao siêu lẫn trong việc trình bày chúng với công chúng. Làm sao ánh sáng có thể tỏa chiếu khi có quá nhiều điều thiếu rõ ràng? |
3. We are often teaching and speaking of the Teaching, correct? It behooves us to attend to DK’s suggestions, and thus see to the quality of our reception and impartation. We note that the “right words” are very important, for the world is largely ignorant of an undistorted perspective upon the Ageless Wisdom; the establishing of this perspective will create a saner, wiser public opinion — that great force for change. | 3. Chúng ta thường giảng dạy và nói về Giáo Huấn, đúng không? Chúng ta cần chú ý đến những gợi ý của Chân sư DK, và qua đó chăm lo đến phẩm tính của sự tiếp nhận và truyền đạt của mình. Chúng ta lưu ý rằng “những từ ngữ đúng đắn” rất quan trọng, vì phần lớn thế giới chưa biết đến một cách nhìn không méo mó về Minh Triết Ngàn Đời; việc xác lập cách nhìn này sẽ tạo nên một dư luận lành mạnh hơn, minh triết hơn—mãnh lực to lớn ấy của sự thay đổi. |
4. It is the thoughts of human beings that must be changed; correct action will follow. Changing the clarity and quality of human thought is part of a great battle taking place upon the mental plane. In this battle we are all, perforce, engaged — some more consciously and skillfully than others. | 4. Chính tư tưởng của con người phải thay đổi; hành động đúng đắn sẽ theo sau. Việc thay đổi độ rõ ràng và phẩm tính của tư tưởng con người là một phần của trận chiến lớn đang diễn ra trên cõi trí. Tất cả chúng ta tất yếu đều tham gia trận chiến này—một số người tham gia có ý thức và khéo léo hơn những người khác. |
5. Our objective is the “enlightenment of the world” — the occult enlightenment. This means the bringing forth of the now-hidden nature of reality and the infusion of the human mind by the now-largely-hidden Soul of Humanity. | 5. Mục tiêu của chúng ta là “sự giác ngộ thế gian”—sự giác ngộ theo nghĩa huyền bí ấy. Điều này có nghĩa là đưa bản chất hiện đang ẩn giấu của thực tại ra ánh sáng và để Linh Hồn Nhân Loại, hiện phần lớn vẫn ẩn giấu, thấm nhuần thể trí nhân loại. |
6. The Forces of Enlightenment are very powerful at the time of Wesak, and are, in many ways, correlated to the second Ray of Love Wisdom, which ever seeks to see the “Greatest Light”. We are “light bearers” and that is an onerous responsibility. We, obviously, do not seek to add to the confusion already existing. Thus the manner of our presentation is very important. | 6. Các Mãnh Lực Giác Ngộ rất mạnh mẽ vào thời điểm Wesak và, theo nhiều phương diện, có tương quan với cung hai Bác Ái – Minh Triết, vốn luôn tìm cách thấy “Ánh Sáng Vĩ Đại Nhất”. Chúng ta là “những người mang ánh sáng”, và đó là một trách nhiệm nặng nề. Hiển nhiên, chúng ta không tìm cách làm tăng thêm sự rối loạn vốn đã tồn tại. Vì vậy, cách trình bày của chúng ta rất quan trọng. |
7. DK tells us how we can best carry forth this responsibility to enlighten. Each day we are to live as souls, free from fear, without undue self-consciousness (in the lower sense), and without astral reaction (so often based upon ancient habit). The requirements seem straightforward and, perhaps, not too difficult, but, though simple, are highly demanding for most of us. | 7. Chân sư DK cho chúng ta biết cách tốt nhất để thực hiện trách nhiệm giác ngộ. Mỗi ngày, chúng ta phải sống như những linh hồn, thoát khỏi sợ hãi, không quá bận tâm đến bản thân (ngã thức theo nghĩa thấp), và không có phản ứng cảm dục (vốn rất thường dựa trên thói quen lâu đời). Những yêu cầu này có vẻ rõ ràng và có lẽ không quá khó, nhưng dù đơn giản, chúng vẫn đòi hỏi rất cao đối với phần lớn chúng ta. |
8. DK addresses the ideal condition of the disciple’s astral body — stillness, acquiescence, sensitivity, purity, and soul-reflective. The astral body, too, receives impression from the soul and Master (not alone the mind). As well, the astral body may receive impression from the harmonious, unitive buddhic plane. | 8. Chân sư DK đề cập đến trạng thái lý tưởng của thể cảm dục của người đệ tử—tĩnh lặng, thuận nhận, nhạy cảm, thuần khiết và phản chiếu linh hồn. Thể cảm dục cũng tiếp nhận ấn tượng từ linh hồn và Chân sư (không chỉ riêng thể trí). Ngoài ra, thể cảm dục có thể tiếp nhận ấn tượng từ cõi Bồ đề hài hòa và hợp nhất. |
9. When a disciple is well into the process of transferring solar-plexus energy to the heart, the condition of his/her astral body will be approaching the ideal. | 9. Khi một đệ tử đã tiến xa trong tiến trình chuyển dịch năng lượng tùng thái dương lên tim, trạng thái thể cảm dục của người đệ tử ấy sẽ tiến gần đến lý tưởng. |
10. As the personality, the astral body and the solar plexus are all related, we can see that Master DK is emphasizing, in yet another way, the need for an impersonal life if the disciple is to be truly effective as a server. | 10. Vì phàm ngã, thể cảm dục và tùng thái dương đều có liên hệ với nhau, chúng ta có thể thấy rằng Chân sư DK đang nhấn mạnh, theo một cách khác nữa, sự cần thiết của một đời sống phi ngã nếu người đệ tử muốn thực sự phụng sự hiệu quả. |
11. It is interesting to consider that when a disciple is actively and rightly serving on all three planes of the lower worlds, he/she is largely Self-directed. Little outside advice may be offered. The “Inner Monitor” is at work. Still the Master is in a position to offer some useful counsel. | 11. Thật thú vị khi suy xét rằng lúc một đệ tử tích cực phụng sự đúng đắn trên cả ba cõi của các thế giới thấp, người ấy phần lớn chịu sự hướng dẫn của Chân Ngã. Có thể chỉ có rất ít lời khuyên từ bên ngoài. Vị “Giám Sát Bên Trong” đang hoạt động. Tuy vậy, Chân sư vẫn có thể đưa ra một vài lời khuyên hữu ích. |
Let him seek, in the strenuousness of his life, to preserve the synthesis of the personality and the integration of all parts of his equipment. Often in the stress of activity in one body or another and on one plane or another, the emphasis may be temporarily so strong in some one direction that he may lose sight for a moment of the synthetic point of view of both the Plan and the group. Physically, he is working under great pressure; emotionally, he may be learning the difficult lesson of detachment and may consequently be full of a temporary rebellion. Yet on the mental plane, he is aware of a mental clarity and of a power to think which keeps him incessantly and constructively active. The following three terms, therefore, express quite frequently the disciple’s situation where his lower nature is concerned: excessive fatigue, emotional rebellion and mental lucidity. How must he deal with this problem? Physical fatigue need not necessarily impair in any way his usefulness. With many people, physical conditions impair their work for their attention becomes focussed on the undesirable physical situation; disciples, however, often have a curious capacity to continue with their work no matter what may be happening to them physically. The physical brain can be so much the reflector of the mental life that he will remain essentially unaffected by any outer conditions. The disciple learns to live with his physical liabilities under adverse conditions and his work maintains its usual high level. | Trong cuộc sống đầy nỗ lực của mình, y hãy tìm cách giữ gìn sự tổng hợp của phàm ngã và sự tích hợp mọi thành phần trong bộ trang bị của mình. Trong áp lực hoạt động nơi thể này hay thể khác, trên cõi này hay cõi khác, sự nhấn mạnh vào một hướng nào đó thường có thể tạm thời mạnh đến mức khiến y nhất thời quên mất quan điểm tổng hợp về cả Thiên Cơ lẫn nhóm. Về thể chất, y đang làm việc dưới áp lực lớn; về cảm xúc, y có thể đang học bài học khó khăn về sự tách rời và do đó có thể tràn đầy một sự phản kháng nhất thời. Tuy nhiên, trên cõi trí, y nhận biết sự sáng tỏ trí tuệ và một khả năng tư duy khiến y không ngừng hoạt động mang tính xây dựng. Vì vậy, ba cụm từ sau đây khá thường xuyên diễn đạt tình trạng của đệ tử xét về bản chất thấp: mệt mỏi quá mức, phản kháng cảm xúc và sáng suốt trí tuệ. Y phải xử lý vấn đề này như thế nào? Sự mệt mỏi thể chất không nhất thiết làm suy giảm khả năng hữu ích của y dưới bất kỳ hình thức nào. Với nhiều người, tình trạng thể chất làm suy giảm công việc vì sự chú ý của họ tập trung vào tình trạng thể chất không mong muốn; tuy nhiên, các đệ tử thường có một khả năng kỳ lạ là tiếp tục công việc bất kể điều gì đang xảy đến với mình về mặt thể chất. Bộ não hồng trần có thể phản chiếu đời sống trí tuệ đến mức, về căn bản, y vẫn không chịu ảnh hưởng của bất kỳ hoàn cảnh bên ngoài nào. Đệ tử học cách sống với những hạn chế thể chất của mình trong những điều kiện bất lợi, và công việc của y vẫn duy trì trình độ cao như thường lệ. |
1. This is a piece of practical advice. Under strain, personality synthesis and integration are often challenged. Weaknesses appear and balance is sometimes forgotten. | 1. Đây là một lời khuyên thực tiễn. Dưới sự căng thẳng, sự tổng hợp và tích hợp của phàm ngã thường gặp thử thách. Những điểm yếu xuất hiện và đôi khi người ta quên mất sự quân bình. |
2. Probably the disciple must practice moments of ‘self-distancing’ or dis-identification so that the synthetic point of view may be preserved. | 2. Có lẽ người đệ tử phải thực hành những khoảnh khắc ‘tạo khoảng cách với bản thân’ hay ngừng đồng hoá, để có thể giữ gìn quan điểm tổng hợp. |
3. DK speaks as an experienced realist. He knows, directly, the physical and emotional strains of discipleship. The suggestion of a likely personality rebellion is very interesting since our Planetary Logos is characterized by the psychology of a “Divine Rebel”. Upon this planet there is presently occurring a great detachment from the desire body. This macrocosmic process works out in the little life of microcosmic man. | 3. Chân sư DK nói như một người thực tế giàu kinh nghiệm. Ngài trực tiếp biết những căng thẳng thể chất và cảm xúc của địa vị đệ tử. Gợi ý về khả năng phàm ngã phản kháng rất thú vị, vì Hành Tinh Thượng đế của chúng ta có đặc trưng tâm lý của một “Đấng Phản Kháng Thiêng Liêng”. Hiện nay, trên hành tinh này đang diễn ra một sự tách rời lớn lao khỏi thể dục vọng. Tiến trình đại thiên địa này diễn ra trong đời sống nhỏ bé của con người tiểu thiên địa. |
4. We can see why mental polarization is so desirable; the lucid, thoughtful, illumined mind is the instrument by which the tired body and rebellious emotional nature may be kept in line, and their disruptive influences somewhat offset. | 4. Chúng ta có thể thấy tại sao sự phân cực trí tuệ lại đáng mong muốn đến vậy; thể trí sáng suốt, biết suy nghĩ và được soi sáng là công cụ có thể giữ cho thân thể mệt mỏi và bản chất cảm xúc phản kháng đi đúng hướng, đồng thời phần nào hóa giải những ảnh hưởng gây rối của chúng. |
5. DK gives three terms to sum up the condition in which the disciple frequently is found: “physical fatigue, emotional rebellion, mental lucidity”. Who is to say that He is inaccurate? | 5. Chân sư DK đưa ra ba thuật ngữ để tóm tắt tình trạng mà người đệ tử thường trải qua: “mệt mỏi thể chất, phản kháng cảm xúc, sáng suốt trí tuệ”. Ai có thể nói rằng Ngài không chính xác? |
6. In these three terms we are dealing with the Mercury/Venus mind, the Mars/Neptune astral body and the Saturnian/Lunar brain and body. | 6. Trong ba thuật ngữ này, chúng ta đang bàn đến thể trí thuộc Sao Thủy/Sao Kim, thể cảm dục thuộc Sao Hỏa/Sao Hải Vương, cùng bộ não và thân thể thuộc Sao Thổ/Mặt Trăng. |
7. Sound advice is given for the counteracting of physical fatigue and other physical conditions. The mental-etheric link is to be developed and exploited. This interplay can become so strong as to negate outer conditions which inhibit the normal individual. That a disciple is “in the world” but “not of it” comes into play. The inner life becomes positive to the outer, and mind, indeed, does triumph over matter. | 7. Một lời khuyên xác đáng được đưa ra để khắc phục sự mệt mỏi thể chất và những tình trạng thể chất khác. Mối liên kết giữa thể trí và thể dĩ thái cần được phát triển và khai thác. Sự tương tác này có thể trở nên mạnh đến mức vô hiệu hóa những điều kiện bên ngoài vốn cản trở người bình thường. Ở đây, sự thật rằng người đệ tử “ở trong thế gian” nhưng “không thuộc về thế gian” bắt đầu phát huy tác dụng. Đời sống bên trong trở nên chủ động chi phối đời sống bên ngoài, và quả thực trí tuệ chiến thắng vật chất. |
8. Note that Master DK speaks of this “curious capacity” which characterizes the disciple — the ability to work no matter what may be happening to him/her outwardly. We can realize that this capacity has something to do with the ability to “work from a point of tension” — an intensifying one. | 8. Lưu ý rằng Chân sư DK nói đến “năng lực kỳ lạ” đặc trưng của người đệ tử này — khả năng làm việc bất kể điều gì có thể đang xảy đến với họ ở bên ngoài. Chúng ta có thể nhận ra rằng năng lực này có liên quan đến khả năng “làm việc từ một điểm tập trung nhất tâm” — một điểm gia tăng cường độ liên tục. |
9. The physical plane liabilities, apparently so important and so distracting to the average individual, are relatively discounted by the disciple who is actively engaged in his/her work. He/she knows the negligible value and place of the physical plane relative to the other (more real) inner worlds, and puts first things first. Each of us, no doubt, has been or will be tested in this regard. One works with that with which on has been presented, as long as the ‘presentation’ lasts. | 9. Những trở ngại trên cõi hồng trần, dường như rất quan trọng và dễ gây xao lãng đối với người bình thường, lại tương đối ít được người đệ tử đang tích cực dấn thân vào công việc của mình coi trọng. Người đệ tử biết rằng giá trị và vị trí của cõi hồng trần là không đáng kể so với các thế giới bên trong khác (chân thực hơn), nên đặt những điều quan trọng lên trước. Chắc chắn mỗi người chúng ta đều đã hoặc sẽ chịu thử thách về phương diện này. Chúng ta làm việc với những gì được đặt trước mình, chừng nào ‘hoàn cảnh được đặt ra ấy’ còn tiếp diễn. |
The emotional problem may be the hardest. But only the disciple can handle his own self-pity and free himself from the inner emotional storm in which he finds himself living. He [57] must recognise that his integration is weak, for he is working in two phases or sections: | Vấn đề cảm xúc có thể là khó khăn nhất. Nhưng chỉ đệ tử mới có thể xử lý lòng tự thương hại của mình và giải thoát mình khỏi cơn bão cảm xúc bên trong mà y đang sống giữa nó. Y [57] phải nhận ra rằng sự tích hợp của mình còn yếu, vì y đang hoạt động theo hai giai đoạn hay hai phần: |
1. We realize that the emotional body is unified whereas the physical and mental bodies are not. | 1. Chúng ta nhận ra rằng thể cảm xúc đã <i>thống nhất trong khi thể xác và thể trí thì chưa. |
2. This unification makes of it a formidable opponent — or, later, ally. | 2. Sự thống nhất này khiến nó trở thành một đối thủ đáng gờm — hoặc, về sau, một đồng minh. |
3. DK throws the disciple back upon himself, referencing the “emotional storm” in which many disciples habitually live. Is this true of us? If so, why? Or has the storm somewhat abated? If so, again, why? | 3. Chân sư DK buộc người đệ tử phải quay về tự giải quyết vấn đề của mình khi đề cập đến “cơn bão cảm xúc” mà nhiều đệ tử thường xuyên sống trong đó. Điều này có đúng với chúng ta không? Nếu đúng, thì vì sao? Hay cơn bão đã phần nào lắng dịu? Nếu vậy, một lần nữa, vì sao? |
Physical . . . . . . emotional. | Hồng trần……. cảm xúc. |
and | và |
Mental . . . . . . . . . . . soul. | Trí tuệ……….. linh hồn. |
He is sometimes one and sometimes the other and usually very thoroughly in either case. This duality must be brought into a closer relation and this is the point to which he must attend as he seeks to establish and preserve the needed synthesis and personality-soul integration. When will disciples learn that the attitude which involves a certain “don’t care” reaction and a form of indifference is one of the quickest ways by which to release the Self from personality claims? This is not the “don’t care” spirit which will affect the disciple’s attitude to other people. It is the attitude of the integrated thinking personality of the disciple towards the astral or emotional body. It leads him to assume the position that not one single thing which produces any reaction of pain or distress in the emotional body matters in the very least. These reactions are simply recognised, lived through, tolerated and not permitted to produce any limitation. All disciples would do well to ponder what I have just said. The whole process is based on a deep-seated belief in the persistence of the immortal Being within the forms of soul and personality. | Đôi khi y ở trạng thái này, đôi khi ở trạng thái kia, và thường rất trọn vẹn trong mỗi trạng thái. Hai mặt của tính nhị nguyên này phải được đưa vào mối quan hệ chặt chẽ hơn, và đây là điểm y phải chú tâm khi tìm cách thiết lập và giữ gìn sự tổng hợp cần thiết cùng sự tích hợp phàm ngã–linh hồn. Bao giờ các đệ tử mới học được rằng thái độ bao hàm một phản ứng “không bận tâm” nhất định và một dạng điềm nhiên là một trong những cách nhanh nhất để giải thoát Chân ngã khỏi những đòi hỏi của phàm ngã? Đây không phải tinh thần “không bận tâm” ảnh hưởng đến thái độ của đệ tử đối với người khác. Đó là thái độ của phàm ngã tích hợp, biết tư duy nơi đệ tử đối với thể cảm dục hay thể cảm xúc. Nó dẫn y đến lập trường rằng không một điều gì gây ra phản ứng đau đớn hay khổ tâm trong thể cảm xúc có chút quan trọng nào. Những phản ứng ấy chỉ đơn giản được nhận biết, trải qua, dung chịu và không được phép tạo ra bất kỳ giới hạn nào. Mọi đệ tử đều nên suy ngẫm điều Tôi vừa nói. Toàn bộ tiến trình này dựa trên niềm tin sâu xa vào sự tồn tại bền vững của Sinh Mệnh bất tử bên trong những hình tướng của linh hồn và phàm ngã. |
1. The Master points to a fundamental dis-integration, a split between the ‘rational’ and ‘irrational’ aspects of man-the-disciple. | 1. Chân sư chỉ ra một sự thiếu tích hợp căn bản, một sự chia rẽ giữa các phương diện ‘hữu lý’ và ‘phi lý’ của con người trong vai trò đệ tử. |
2. It is also a rather Geminian condition, indicating the split between the “Twins”. The physical and emotional life represent the personality; the mind, somewhat illuminated by the soul, represents the will of the soul. | 2. Đây cũng là một trạng thái khá mang tính Song Tử, biểu thị sự chia rẽ giữa “Cặp Song Sinh”. Đời sống hồng trần và cảm xúc đại diện cho phàm ngã; thể trí, được linh hồn soi sáng phần nào, đại diện cho ý chí của linh hồn. |
3. Gemini and Mercury (“Star of Conflict”) indicate the split. Venus, in its spiritually-magnetic aspect, must enter, and also the influence of Libra — to draw the two aspects together. We are speaking here of the fundamental processes of personality integration and soul-personality fusion. | 3. Song Tử và Sao Thủy (“Ngôi Sao Xung Đột”) biểu thị sự chia rẽ. Sao Kim, trong phương diện từ tính tinh thần của nó, phải tham gia, cùng với ảnh hưởng của Thiên Bình — để thu hút hai phương diện lại với nhau. Ở đây, chúng ta đang nói đến các tiến trình căn bản của sự tích hợp phàm ngã và sự dung hợp linh hồn–phàm ngã. |
4. Master DK offers a simple palliative — the “don’t care” attitude. The personality makes its claims upon the imprisoned Self. The “don’t care” attitude releases the Self from those claims; this attitude negates and dismisses the claims. One must be, however, quite identified with the soul-mind aspect of the duality to be effective in employing this technique. | 4. Chân sư DK đưa ra một biện pháp xoa dịu đơn giản — thái độ “không bận tâm” ấy. Phàm ngã đưa ra những đòi hỏi đối với Bản Ngã đang bị giam hãm. Thái độ “không bận tâm” giải phóng Bản Ngã khỏi những đòi hỏi ấy; thái độ này phủ nhận và gạt bỏ chúng. Tuy nhiên, muốn vận dụng kỹ thuật này một cách hiệu quả, chúng ta phải đồng hoá khá sâu với phương diện linh hồn–thể trí của tính nhị nguyên ấy. |
5. As with all techniques, one must be careful not to misinterpret or lose one’s balance. We do, indeed, care about other people as souls. We do not dismiss others, but are sensitive to their needs. | 5. Cũng như với mọi kỹ thuật, chúng ta phải cẩn thận để không hiểu sai hoặc đánh mất sự quân bình của mình. Quả thực, chúng ta quan tâm đến người khác với tư cách những linh hồn. Chúng ta không gạt bỏ người khác, mà nhạy cảm với nhu cầu của họ. |
6. The right attitude requires that we identify with the higher aspect of the duality we have become, and view the lower aspect of that duality from a higher perspective. | 6. Thái độ đúng đắn đòi hỏi chúng ta đồng hoá với phương diện cao của tính nhị nguyên mà chúng ta đã trở thành, và nhìn phương diện thấp của tính nhị nguyên ấy từ một góc nhìn cao hơn. |
7. Then comes a very important statement: “not one single thing which produces any reaction of pain or distress in the emotional body matters in the very least”. This covers a wide range of reactions, and some of them might seem more than justified. DK tells us, however, “not one single thing”; it is a radically dismissive attitude to the astral vehicle. One must practice this to see if what the Master says is correct. | 7. Tiếp đến là một phát biểu rất quan trọng: “không một điều gì gây ra bất kỳ phản ứng đau đớn hay khổ sở nào trong thể cảm xúc lại có chút quan trọng nào”. Điều này bao quát một phạm vi phản ứng rất rộng, và một số phản ứng có vẻ còn hết sức chính đáng. Tuy nhiên, Chân sư DK nói với chúng ta rằng “không một điều gì”; đó là một thái độ gạt bỏ triệt để đối với hiện thể cảm dục. Chúng ta phải thực hành điều này để xem những gì Chân sư nói có đúng hay không. |
8. There are times, perhaps, when a difficult condition in the astral body is a matter of conscience or of a recognized impact by the intuition. DK is not, I think, talking of such instances, but of those rebellions which arise when the disciple (identified with the higher parts of his/her nature) seeks to serve continuously as an agent of the Divine Plan. The ‘forces of retrogression’ within us so often use the astral body as the staging ground for their contra-progressive ‘offensives’ (really, reactions). Of this we must be aware. | 8. Có lẽ có những lúc một tình trạng khó khăn trong thể cảm dục là vấn đề của lương tâm hoặc của một tác động từ trực giác mà chúng ta đã nhận biết. Tôi nghĩ Chân sư DK không nói đến những trường hợp như vậy, mà nói đến những sự nổi loạn nảy sinh khi người đệ tử (đã đồng hoá với những phần cao hơn trong bản chất của mình) tìm cách phụng sự liên tục với tư cách một tác nhân của Thiên Cơ. Những ‘mãnh lực thoái bộ’ bên trong chúng ta rất thường dùng thể cảm dục làm địa bàn tập kết cho các ‘cuộc tấn công’ chống lại sự tiến bộ (thực ra là những phản ứng) của chúng. Chúng ta phải nhận biết điều này. |
9. The disciple animated by the “will-to-love” and possessed by the spiritual will, will have little trouble negating the obstructive influence of the astral body, though much ‘personal’ pain may be experienced before this desirable attitude/’altitude’ is reached. | 9. Người đệ tử được thôi thúc bởi “Ý Chí-Yêu Thương” và được chiếm lĩnh do ý chí tinh thần sẽ ít gặp khó khăn trong việc vô hiệu hoá ảnh hưởng cản trở của thể cảm dục, dù có thể phải trải qua nhiều đau đớn ‘cá nhân’ trước khi đạt được thái độ/’tầm cao’ đáng mong muốn này. |
10. It is all a question of what matters. We have lived very many lives during which the condition of our astral body has mattered much. Now, new values have grown within our consciousness and we have begun to care far more about other and higher things. We are always put to the test to see whether these new values are firmly and unshakably established. When they are, we can be trusted. | 10. Toàn bộ vấn đề nằm ở điều gì là quan trọng. Chúng ta đã sống rất nhiều kiếp mà trong đó tình trạng của thể cảm dục có ý nghĩa rất lớn đối với mình. Giờ đây, những giá trị mới đã phát triển trong tâm thức chúng ta, và chúng ta bắt đầu quan tâm nhiều hơn hẳn đến những điều khác, cao hơn. Chúng ta luôn chịu thử thách để xem liệu những giá trị mới này đã được xác lập vững chắc và không thể lay chuyển hay chưa. Khi chúng đã được xác lập như vậy, chúng ta có thể được tin cậy. |
11. That trust is accorded once a disciple is midway between the second and third initiations and has achieved mental polarization. Does it seem like a long time to wait before one is worthy of trust? | 11. Sự tin cậy ấy được trao khi một đệ tử đã đi đến điểm giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba, đồng thời đạt được sự phân cực trí tuệ. Có phải dường như phải chờ rất lâu mới xứng đáng được tin cậy không? |
12. Reactions will arise, of course. Our success depends upon how we ‘respond to the reactions”. To “respond” is other than to “react”, for response carries the note of self-consciousness and of the will. | 12. Dĩ nhiên, những phản ứng sẽ nảy sinh. Thành công của chúng ta tuỳ thuộc vào cách chúng ta ‘đáp ứng với các phản ứng”. Việc “đáp ứng” khác với việc “phản ứng”, vì sự đáp ứng mang âm điệu của ngã thức và ý chí. |
13. We can be successful in achieving the necessary attitude if we are in process of achieving identification with and as spirit — “the immortal Being within the forms of soul and personality”. We see then, that victory is related to spirit and not to soul alone. | 13. Chúng ta có thể thành công trong việc đạt được thái độ cần thiết nếu đang tiến tới sự đồng hoá với tinh thần và nhận mình chính là tinh thần — “Sinh Mệnh bất tử bên trong các hình tướng của linh hồn và phàm ngã”. Như vậy, chúng ta thấy rằng chiến thắng có liên quan đến tinh thần chứ không chỉ riêng linh hồn. |
14. Spirit is a great fulness and requires naught. It is sufficient unto ‘its-Self’. The desired attitude here presented is based upon a realization that there will be no ultimate loss if one negates the importunities of the desire body. In fact, the real loss (however temporary) would occur if one failed to assume the “don’t care” attitude. Higher values would be sacrificed for lesser ones. | 14. Tinh thần là một sự <i>viên mãn lớn lao và không cần gì cả. Tinh thần tự đầy đủ nơi ‘Bản Ngã của chính mình’. Thái độ đáng mong muốn được trình bày ở đây dựa trên sự nhận biết rằng sẽ không có mất mát rốt ráo nào nếu chúng ta bác bỏ những đòi hỏi dai dẳng của thể dục vọng. Thực ra, mất mát thật sự (dù chỉ tạm thời) sẽ xảy ra nếu chúng ta không giữ thái độ “không bận tâm” ấy. Những giá trị cao hơn sẽ bị hi sinh cho những giá trị thấp hơn. |
This inner realisation grows with the development of power in meditation whether it is individual meditation or group work. Meditation is essential for establishing a freer inner spiritual interplay — again whether as a soul in relation to the personality or a group of disciples in relation to their Master or each other. You might here well ask: Why is this sensitive interplay between the disciples in a Master’s group regarded as necessary? Is not life complicated enough without too much awareness of the conditions, the personalities and the soul contacts of those with whom we are associated and with whom we seek to walk as fellow disciples? I would like here to remind you that, as disciples, you are in preparation for initiation and that impending condition of consciousness implies three things: [58] | Nhận thức bên trong này phát triển cùng với sự phát triển quyền năng trong tham thiền, dù là tham thiền cá nhân hay công việc nhóm. Tham thiền là điều thiết yếu để thiết lập sự tương tác tinh thần bên trong tự do hơn—dù là linh hồn trong quan hệ với phàm ngã, hay một nhóm đệ tử trong quan hệ với Chân sư của họ hoặc với nhau. Đến đây, các bạn rất có thể hỏi: Tại sao sự tương tác nhạy cảm này giữa các đệ tử trong nhóm của một Chân sư lại được xem là cần thiết? Chẳng phải cuộc sống đã đủ phức tạp rồi sao, mà còn phải nhận biết quá nhiều về hoàn cảnh, phàm ngã và những tiếp xúc linh hồn của những người chúng ta liên kết và tìm cách cùng bước đi như những đệ tử đồng môn? Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng, với tư cách đệ tử, các bạn đang chuẩn bị cho điểm đạo, và trạng thái tâm thức sắp đến ấy hàm ý ba điều: |
1. If we wish to know how we will develop a genuine “don’t’ care” attitude, based upon identification with the higher member of an inevitable developmental duality, then, meditation is the key. | 1. Nếu muốn biết làm thế nào để phát triển một thái độ “không bận tâm” đích thực, dựa trên sự đồng hoá với thành phần cao hơn của tính nhị nguyên tất yếu trong quá trình phát triển, thì tham thiền chính là chìa khoá. |
2. The correct approach to meditation polarizes us within soul-mind (the higher aspect of the split). | 2. Cách tiếp cận đúng đắn với tham thiền khiến chúng ta phân cực trong linh hồn–thể trí (phương diện cao hơn của sự chia rẽ). |
3. Again and again we return to the necessity for meditation, without which one cannot live a conscious occult life. Of course, methods of meditation are various and do not have to be pursued in a manner proposed in academic occult study. | 3. Hết lần này đến lần khác, chúng ta lại trở về với sự cần thiết của tham thiền; thiếu nó, chúng ta không thể sống một đời sống huyền bí hữu thức. Dĩ nhiên, các phương pháp tham thiền rất đa dạng, và không nhất thiết phải thực hành theo cách được đề xuất trong việc nghiên cứu huyền bí học mang tính học thuật. |
4. Meditation also promotes right interplay between a group of disciples and their Master or each other. | 4. Tham thiền cũng thúc đẩy sự tương tác đúng đắn giữa một nhóm đệ tử với Chân sư của họ hoặc với nhau. |
5. DK will now address the necessity for the interplay of the disciples in a Master’s group. This interplay is necessitated during the process of preparation for initiation — individual or group initiation. | 5. Giờ đây, Chân sư DK sẽ bàn đến sự cần thiết của sự tương tác giữa các đệ tử trong nhóm của một Chân sư. Sự tương tác này là cần thiết trong tiến trình chuẩn bị cho điểm đạo — điểm đạo cá nhân hoặc điểm đạo nhóm. |
6. May it not be that awareness of the condition of our brothers (both personal and soul conditions) helps us ‘grow beyond ourselves’? Will such awareness not help us in realizing that ‘I am the group’? | 6. Chẳng phải việc nhận biết tình trạng của các huynh đệ chúng ta (cả tình trạng phàm ngã lẫn linh hồn) có thể giúp chúng ta ‘phát triển vượt khỏi chính mình’ hay sao? Chẳng phải sự nhận biết ấy sẽ giúp chúng ta nhận ra rằng ‘Tôi là nhóm’ hay sao? |
1. Increased awareness and sensitivity to experience and to life in all forms. | 1. Gia tăng sự nhận biết và nhạy cảm với kinh nghiệm và sự sống trong mọi hình tướng. |
2. The power to do for others what I have attempted to do for you, at present on a lesser scale and later, in other lives, as I now do it. | 2. Có quyền năng làm cho người khác điều Tôi đã cố gắng làm cho các bạn, hiện nay ở quy mô nhỏ hơn và về sau, trong những kiếp khác, như Tôi đang làm hiện nay. |
3. The courage and the strength to know all, to realise all and to love with patient wisdom and unchanging sincerity. | 3. Có lòng can đảm và sức mạnh để biết tất cả, nhận ra tất cả và yêu thương bằng minh triết kiên nhẫn cùng sự chân thành không thay đổi. |
This must surely be apparent to you. In the group work in which disciples are now called to participate, you have an opportunity offered which can aid in the inducing of all the qualities which are needed by you as candidates for initiation, at no such very distant date, as we view time on the inner side. | Hẳn các bạn phải thấy rõ điều này. Trong công việc nhóm mà các đệ tử hiện được kêu gọi tham gia, các bạn có một cơ hội giúp khơi dậy mọi phẩm tính cần có nơi mình với tư cách những ứng viên điểm đạo, vào một thời điểm không quá xa nếu xét theo cách chúng tôi nhìn thời gian ở phía bên trong. |
1. Master DK presents us with the reason that our growing sensitivity to each other (both personally and spiritually) is important. | 1. Chân sư DK trình bày cho chúng ta lý do vì sao sự nhạy cảm ngày càng tăng của chúng ta đối với nhau (cả về phàm ngã lẫn tinh thần) lại quan trọng. |
2. The soul is essentially sensitive, and as we become the conscious soul in incarnation, our sensitivity to all-as-souls must necessarily increase. Soul and life underlies the form. In form-consciousness we remain relatively oblivious to what is going on ‘within’ other forms. Once we identify as soul, that oblivion is overcome; our ring-pass-not expands and we no longer live-unto-ourselves alone. | 2. Về bản chất, linh hồn vốn nhạy cảm, và khi chúng ta trở thành linh hồn hữu thức đang lâm phàm, sự nhạy cảm của chúng ta đối với tất cả mọi người như những linh hồn tất yếu phải gia tăng. Linh hồn và sự sống nằm bên dưới hình tướng. Trong tâm thức hình tướng, chúng ta vẫn tương đối không hay biết về những gì đang diễn ra ‘bên trong’ các hình tướng khác. Một khi đồng hoá mình là linh hồn, chúng ta vượt qua sự không hay biết ấy; vòng-giới-hạn của chúng ta mở rộng và chúng ta không còn chỉ sống cho riêng mình. |
3. We realize, do we not, what a tremendous gift Master DK offered His chelas? From whom, except a Master, could one ever receive such a gift? The incentive is offered to us to do for others (in the future) what the Master has done for us (for, even if we are not receiving letters from Him at this time, the letters He has already written are a great service to His present readers). | 3. Chúng ta nhận ra món quà lớn lao mà Chân sư DK đã trao cho các đệ tử của Ngài, phải không? Ngoài một Chân sư, còn ai có thể trao một món quà như vậy? Chúng ta được khích lệ để làm cho người khác (trong tương lai) những gì Chân sư đã làm cho chúng ta (vì ngay cả khi lúc này chúng ta không nhận được thư từ Ngài, những bức thư Ngài đã viết vẫn là một sự phụng sự lớn lao đối với những độc giả hiện nay của Ngài). |
4. Even today, with all our limitations, we can help others somewhat as DK helped those to whom He wrote (though, of course, on a lesser scale). We are interested in helping relieve the Masters of some of Their work with Their chelas, just as DK has done — especially for Masters M. and KH. | 4. Ngay hôm nay, với tất cả những giới hạn của mình, chúng ta vẫn có thể giúp người khác phần nào như Chân sư DK đã giúp những người Ngài viết thư cho (dĩ nhiên, ở quy mô nhỏ hơn). Chúng ta quan tâm đến việc giúp các Chân sư giảm bớt phần nào công việc của Các Ngài với các đệ tử, giống như Chân sư DK đã làm — đặc biệt là cho Chân sư M. và Chân sư KH. |
5. If we are not aware of our co-disciples as both personalities and souls, we cannot hope to fulfill this kind of service, which is, is it not, intensely psychological. | 5. Nếu không nhận biết các đệ tử đồng môn của mình vừa là những phàm ngã vừa là những linh hồn, chúng ta không thể hy vọng hoàn thành loại hình phụng sự này, vốn mang tính tâm lý học sâu sắc, phải không?. |
6. Yet another reason is offered for the desirability of apparently complicating our own lives through a sensitivity to our co-disciples’ personal and spiritual process; we are to develop the strength to “know all, to realise all and to love with patient wisdom and unchanging sincerity”. This is no small matter, for it is not what most of us do all the time. Human progress can seem unbelievably slow, and Masters must be, above all, patiently loving beings. Somehow, we have to develop an awareness of what others are passing through. In this way, light is shed upon our own process and we learn to see all in the light of loving-understanding. | 6. Một lý do nữa được đưa ra để giải thích vì sao chúng ta nên làm điều dường như khiến cuộc sống của mình thêm phức tạp: nhạy cảm với tiến trình phàm ngã và tinh thần của các đệ tử đồng môn; chúng ta phải phát triển sức mạnh để “biết tất cả, nhận biết tất cả và yêu thương bằng minh triết nhẫn nại cùng lòng chân thành không đổi”. Đây không phải là chuyện nhỏ, vì phần lớn chúng ta không phải lúc nào cũng làm được như vậy. Sự tiến bộ của con người có thể dường như chậm đến khó tin, và trên hết, các Chân sư phải là những Đấng yêu thương nhẫn nại. Bằng cách nào đó, chúng ta phải phát triển sự nhận biết về những gì người khác đang trải qua. Bằng cách này, tiến trình của chính chúng ta được soi sáng, và chúng ta học nhìn mọi sự trong ánh sáng của sự thấu hiểu đầy tình thương. |
7. Therefore, to be sensitively aware of our brothers’ conditions and struggles is a great spiritual gift — to us. And if our attitude is right, a gift to them as well, for our support will be forthcoming and will assist them. | 7. Vì vậy, việc nhận biết một cách nhạy cảm hoàn cảnh và những cuộc đấu tranh của các huynh đệ là một món quà tinh thần lớn lao — dành cho chúng ta. Và nếu thái độ của chúng ta đúng đắn, đó cũng là một món quà dành cho họ, vì chúng ta sẽ sẵn sàng hỗ trợ và giúp đỡ họ. |
8. Master DK’s chelas of those days (as we are now) are candidates preparing for eventual initiation — most probably either the second or third initiation (one day). There are many necessary qualities to be developed and such development is not easy. Through exposure to the psyche of our brothers, many of those qualities (and a number of liabilities) are vividly demonstrated. Our acquisition of the desirable qualities is facilitated, and our avoidance of undesirable liabilities is encouraged: “There but for you, go I”. We become object-lessons to each other, and the lives of each of us become a cautionary tale to our observant brothers, who, by our example, are prevented from making the mistakes we have made. Thus (by both positive and negative example) do we help each other become qualified. | 8. Các đệ tử của Chân sư DK vào thời ấy (cũng như chúng ta hiện nay) là những ứng viên đang chuẩn bị để cuối cùng được điểm đạo — rất có thể là lần điểm đạo thứ hai hoặc lần điểm đạo thứ ba (vào một ngày nào đó). Có nhiều phẩm tính cần thiết phải phát triển, và sự phát triển ấy không dễ dàng. Qua việc tiếp xúc với đời sống tâm lý của các huynh đệ, chúng ta thấy rõ nhiều phẩm tính ấy (cùng một số nhược điểm). Việc tiếp thu những phẩm tính đáng mong muốn trở nên thuận lợi hơn, và chúng ta được khuyến khích tránh những nhược điểm không đáng mong muốn: “Nếu không nhờ bạn, tôi cũng đã rơi vào hoàn cảnh ấy”. Chúng ta trở thành những bài học sống cho nhau, và cuộc đời của mỗi người trở thành một câu chuyện cảnh tỉnh đối với những huynh đệ biết quan sát; nhờ tấm gương của chúng ta, họ tránh được những sai lầm chúng ta đã mắc phải. Như vậy, bằng cả tấm gương tích cực lẫn tiêu cực, chúng ta giúp nhau hội đủ phẩm tính cần thiết. |
The teaching has always been given that the disciple or the initiate must adapt himself to, and learn from, the conditions in which he finds himself and from the setting and environment with which his physical plane life puts him in daily touch. This is one of the initial platitudes of the Path. It was, however, at one time as new a concept to the aspirant and the disciple under training as is the teaching which I seek to give this group of my disciples and the opportunity which I would have you seize. The training, hitherto carried forward upon the inner planes, and unrealised oft in the waking consciousness of the accepted disciple, has now to be grasped, used and mastered in his waking consciousness and physical brain. The disciple in the past sought to establish harmonious relations with his environment — harmony being one of the liberating forces which must precede the release of energy for use after initiation. He practised patience and forbearance and helpfulness and rendered service and this was worked out through the process of right external conduct based upon right inner orientation and attitude. | Giáo huấn luôn dạy rằng đệ tử hay điểm đạo đồ phải thích nghi và học hỏi từ hoàn cảnh mình đang sống, từ khung cảnh và môi trường mà đời sống trên cõi hồng trần khiến y tiếp xúc hằng ngày. Đây là một trong những lời dạy quen thuộc ban đầu của Đường Đạo. Tuy nhiên, đã từng có lúc đây là một khái niệm mới đối với người chí nguyện và đệ tử đang được huấn luyện, cũng như giáo huấn Tôi đang tìm cách truyền đạt cho nhóm đệ tử này và cơ hội Tôi muốn các bạn nắm lấy. Sự huấn luyện cho đến nay diễn ra trên các cõi bên trong, thường không được đệ tử được chấp nhận nhận biết trong tâm thức tỉnh thức, giờ đây phải được y nắm bắt, sử dụng và làm chủ trong tâm thức tỉnh thức và bộ não hồng trần. Trong quá khứ, đệ tử tìm cách thiết lập những quan hệ hài hòa với môi trường của mình—sự hài hòa là một trong những mãnh lực giải thoát phải đi trước việc giải phóng năng lượng để sử dụng sau điểm đạo. Y thực hành kiên nhẫn, khoan dung, giúp đỡ và phụng sự; điều này được thực hiện qua tiến trình ứng xử bên ngoài đúng đắn, dựa trên định hướng và thái độ bên trong đúng đắn. |
1. Wherever we are, there we learn. With whomever we find ourselves associated — from them we learn. | 1. Ở bất cứ đâu, chúng ta đều học hỏi tại đó. Gắn bó với bất cứ ai — chúng ta đều học hỏi từ họ. |
2. Master DK points out the relatively of the teaching. What seems today but an occult platitude was one day, long ago, a new teaching. The methods of discipleship are constantly evolving and ever there are fresh presentations of the age-old truth. | 2. Chân sư DK chỉ ra tính tương đối của giáo huấn. Điều ngày nay dường như chỉ là một lẽ hiển nhiên trong huyền bí học, từ lâu đã từng là một giáo huấn mới. Các phương pháp của địa vị đệ tử không ngừng tiến triển, và chân lý ngàn đời luôn có những cách trình bày mới mẻ. |
3. DK is somewhat urgent in His presentation. He does not wish for His chelas to be passive. He would have them “seize” the new concepts with which He is presenting them. We remember that He wished they were both younger (physically) and more courageous. | 3. Trong cách trình bày của mình, Chân sư DK có phần khẩn thiết. Ngài không muốn các đệ tử của mình thụ động. Ngài muốn họ “nắm lấy” những khái niệm mới mà Ngài đang trình bày với họ. Chúng ta nhớ rằng Ngài đã mong họ vừa trẻ hơn (về thể chất), vừa can đảm hơn. |
4. There have been many changes in ‘occult tuition’. It is interesting to realize that much former teaching was given on the inner planes and was not consciously registered by the disciple. All this is now changing. Registration in the “waking consciousness and physical brain” is necessitated. This registration is part of the “Externalization of the Hierarchy”. | 4. Đã có nhiều thay đổi trong ‘việc giảng dạy huyền bí học’. Thật thú vị khi nhận ra rằng trước kia, phần lớn giáo huấn được truyền trên các cõi bên trong, và người đệ tử không ghi nhận một cách có ý thức. Giờ đây, tất cả điều này đang thay đổi. Việc ghi nhận trong “tâm thức tỉnh thức và bộ não hồng trần” trở nên cần thiết. Sự ghi nhận này là một phần của “Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn”. |
5. DK is discussing old and new approaches. Harmony was important to the former disciples. We can presume that the Master is speaking, often, of disciples in the East, where His experience is the most extensive. The soul ray of the East is the fourth, emphasizing this need for harmony. The disciple of former days had to emphasize forbearance — still a needed quality, but much has changed for the more intellectually active Western disciple. | 5. Chân sư DK đang bàn về những cách tiếp cận cũ và mới. Sự hài hoà từng quan trọng đối với các đệ tử trước kia. Chúng ta có thể cho rằng Chân sư thường nói đến các đệ tử ở phương Đông, nơi Ngài có kinh nghiệm sâu rộng nhất. Cung linh hồn của phương Đông là cung bốn, nhấn mạnh nhu cầu hài hoà này. Người đệ tử thời trước phải chú trọng sự nhẫn nại khoan dung — một phẩm tính vẫn cần thiết, nhưng nhiều điều đã thay đổi đối với người đệ tử phương Tây có hoạt động trí tuệ mạnh mẽ hơn. |
6. We have to ask how it is that harmony is a liberating force. We realize that much energy is wasted through needless conflict and dissonance. Just as a chord of music is ‘liberated’ when it is, at last, in tune, so a disciple’s energies are liberated when he/she has achieved inner and outer harmony. Dissonance consumes energy; harmony is efficient and takes much less energy to sustain. It may even be proven that harmony actually produces more energy that is required to sustain it. | 6. Chúng ta phải tự hỏi vì sao sự hài hoà lại là một mãnh lực giải phóng. Chúng ta nhận ra rằng nhiều năng lượng bị lãng phí do những xung đột và bất hoà không cần thiết. Cũng như một hợp âm được ‘giải phóng’ khi cuối cùng đã đúng âm, các năng lượng của người đệ tử cũng được giải phóng khi người ấy đạt được sự hài hoà bên trong và bên ngoài. Sự bất hoà tiêu hao năng lượng; sự hài hoà có hiệu quả và cần ít năng lượng hơn nhiều để duy trì. Thậm chí có thể chứng minh rằng sự hài hoà thực sự tạo ra nhiều năng lượng hơn mức cần thiết để duy trì nó. |
But under the new system (made necessary by achieved racial progress) this process of right external adjustments must be paralleled in the New Age by right inner relations, consciously established and consciously held and recognised for what they are by the conscious mind and brain of the disciple. This, therefore, involves true knowledge of the disciple’s inner group relation, spiritual penetration to the inner life of a brother disciple and the consequent fusion in the heart-mind-brain [59] of the disciple, simultaneously, of all that is known on both the outer and the inner planes. This has not hitherto been the case. It is one of the major reasons for the forming of these groups as far as the individual group members are concerned. It will be brought about gradually and safely by the daily use of the group meditations which I may assign you, by a renewed interest in the subject of telepathic work and by a closer and deeper love, cultivated by all of you. | Nhưng theo hệ thống mới, trở nên cần thiết do nhân loại đã đạt được tiến bộ, trong Kỷ Nguyên Mới, tiến trình điều chỉnh bên ngoài đúng đắn này phải song hành với những quan hệ bên trong đúng đắn, được thiết lập một cách có ý thức, được duy trì một cách có ý thức và được thể trí cùng bộ não hữu thức của đệ tử nhận biết đúng như bản chất của chúng. Vì vậy, điều này bao hàm sự hiểu biết chân thực về quan hệ nhóm bên trong của đệ tử, sự thâm nhập tinh thần vào đời sống bên trong của một đệ tử đồng môn, và từ đó là sự dung hợp đồng thời trong trái tim–thể trí–bộ não [59] của đệ tử mọi điều được biết trên cả các cõi bên ngoài lẫn bên trong. Cho đến nay, điều này chưa từng diễn ra. Đây là một trong những lý do chính để thành lập các nhóm này xét từ phương diện từng thành viên nhóm. Điều ấy sẽ diễn ra dần dần và an toàn nhờ việc thực hành hằng ngày những bài thiền nhóm mà Tôi có thể giao cho các bạn, nhờ sự quan tâm được khơi mới đối với công việc viễn cảm, và nhờ tình thương gần gũi, sâu sắc hơn mà tất cả các bạn cùng vun bồi. |
1. The new approach to discipleship demands conscious inner as well as outer adjustments. | 1. Cách tiếp cận mới đối với địa vị đệ tử đòi hỏi những điều chỉnh có ý thức ở bên trong cũng như bên ngoài. |
2. The disciple has always had “inner group relations” but has, very often, remained unaware of them. Today, the modern disciple must be conscious of them, and “penetration to the inner life of a brother disciple” is part of establishing this awareness. | 2. Người đệ tử luôn có “những mối quan hệ nhóm bên trong” nhưng rất thường không nhận biết chúng. Ngày nay, người đệ tử hiện đại phải có ý thức về chúng, và việc “thâm nhập vào đời sống bên trong của một đệ tử đồng môn” là một phần của việc thiết lập sự nhận biết này. |
3. These are days in which the spiritual will is being activated and a greater appreciation of the Divine Plan and Purpose is coming into the conscious possession of disciples. We can realize the heightening of consciousness (inner and outer) which is required for the fulfillment of greater responsibilities (inner and outer). | 3. Đây là thời kỳ ý chí tinh thần đang được khơi hoạt, và các đệ tử đang có ý thức nắm bắt sâu sắc hơn Thiên Cơ cùng Thiên Ý. Chúng ta có thể nhận ra rằng việc đảm đương những trách nhiệm lớn hơn (bên trong và bên ngoài) đòi hỏi sự nâng cao tâm thức (bên trong và bên ngoài). |
4. We are often told that there must be established a direct connection between soul-mind-brain in the disciple. Here the Tibetan discusses “heart-mind-brain” (which, effectively, may amount to the same, as, occultly, the “heart” is the “soul”). | 4. Chúng ta thường được dạy rằng phải thiết lập một mối liên hệ trực tiếp giữa linh hồn–thể trí–bộ não trong người đệ tử. Ở đây, Chân sư Tây Tạng bàn về “tâm–thể trí–bộ não” (điều này trên thực tế có thể cũng tương đương, vì theo huyền bí học, “tâm” chính là “linh hồn”). |
5. It is the “heart”, of course, that is sensitive to one’s fellow disciple. If we are to work together, within the Ashram, we can hardly avoid sensitivity to the other members of the Ashram. | 5. Dĩ nhiên, chính “trái tim” mới nhạy cảm với người đệ tử đồng môn của mình. Nếu chúng ta muốn làm việc cùng nhau trong ashram, chúng ta khó có thể tránh việc nhạy cảm với các thành viên khác của ashram. |
6. Through the expedience of group meditation, we are ‘growing into each other’, and our inner affiliations are being revealed. This cannot happen all at once. The group meditations make the process safe. | 6. Thông qua phương tiện tham thiền nhóm, chúng ta đang ‘ngày càng hòa nhập vào nhau’, và những mối liên kết bên trong của chúng ta đang hiển lộ. Điều này không thể diễn ra ngay một lúc. Các bài thiền nhóm giúp tiến trình này diễn ra an toàn. |
7. We are entering a “group Age”. The group has both its outer and inner aspects. Under the universalizing energy of Aquarius, both of these aspects must be included in the disciples’ awareness. Naturally, a good deal of impersonal love will assist the process. We cannot react personally to what we discover about each other, and yet, we must respond as a soul would respond. | 7. Chúng ta đang bước vào một “Kỷ nguyên nhóm”. Nhóm có cả phương diện bên ngoài lẫn bên trong. Dưới tác động của năng lượng phổ quát hóa của Bảo Bình, cả hai phương diện này đều phải nằm trong phạm vi nhận biết của các đệ tử. Đương nhiên, tình thương phi cá nhân sâu rộng sẽ hỗ trợ tiến trình này. Chúng ta không thể phản ứng theo lối cá nhân trước những gì mình khám phá về nhau; tuy nhiên, chúng ta phải đáp ứng như một linh hồn đáp ứng. |
8. The great expedient of thinking towards each other in love is suggested. This will facilitate telepathic sensitivity between us and will promote the growth of “ashramic intimacy” — based on loving-understanding and shared Purpose. | 8. Ở đây gợi ý một phương tiện hữu hiệu: hướng tư tưởng về nhau trong tình thương. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho sự nhạy cảm viễn cảm giữa chúng ta và thúc đẩy sự phát triển của “tình thân mật trong ashram” — dựa trên sự thấu hiểu đầy tình thương và Thiên Ý chung. |
9. A change is occurring from preoccupation with the third aspect of divinity to the second. Under the second aspect, we are all consciously related to each other and, in fact, parts of each other as a ‘Group Being’. Hence the need for us to share each others burdens (in this case psychically). | 9. Một sự chuyển đổi đang diễn ra, từ việc chú tâm vào phương diện thứ ba của thiên tính sang phương diện thứ hai. Dưới phương diện thứ hai, tất cả chúng ta đều có ý thức về mối liên hệ với nhau và, trên thực tế, là những phần của nhau trong một ‘Sinh Mệnh Nhóm’. Vì vậy, chúng ta cần chia sẻ gánh nặng của nhau (trong trường hợp này là về mặt thông linh). |
Three things are of great importance and constitute your individual responsibility: | Ba điều có tầm quan trọng lớn lao và thuộc trách nhiệm cá nhân của các bạn: |
1. Facility of rapport. As a member of my group, it is essential that you cultivate two aspects of the “art of rapport” which is based, eternally, on loving attraction. | 1. Khả năng giao cảm dễ dàng. Là thành viên trong nhóm của Tôi, điều thiết yếu là các bạn phải trau dồi hai phương diện của “nghệ thuật giao cảm”, vốn luôn luôn đặt nền tảng trên sức thu hút của tình thương. |
a. Rapport or contact with the soul through a cultivated alignment and correct meditation. | a. Giao cảm hay tiếp xúc với linh hồn thông qua sự chỉnh hợp được trau dồi và việc tham thiền đúng đắn. |
b. Rapport or contact with your group brothers; this lays the foundation for constructive, united work. | b. Giao cảm hay tiếp xúc với các huynh đệ trong nhóm của các bạn; điều này đặt nền tảng cho công việc hợp nhất, mang tính xây dựng. |
1. DK now presents a list of His chelas’ responsibilities. | 1. Giờ đây, Chân sư DK trình bày danh sách những trách nhiệm của các đệ tử của Ngài. |
2. Rapport between them is to be cultivated and made both natural and easy. Eternally (we are taught), the “art of rapport” is based on “loving attraction”. In short, there will be no real rapport between us, unless we love each other with soul love. Personal love, per se, is inadequate to the task. | 2. Cần vun bồi sự giao cảm giữa họ, khiến sự giao cảm ấy trở nên vừa tự nhiên vừa dễ dàng. Chúng ta được dạy rằng, từ muôn đời, “nghệ thuật giao cảm” luôn đặt nền tảng trên “sức thu hút đầy tình thương”. Nói ngắn gọn, giữa chúng ta sẽ không có sự giao cảm thực sự, trừ khi chúng ta yêu thương nhau bằng tình thương của linh hồn. Chính tình thương cá nhân không đủ để thực hiện nhiệm vụ này. |
3. A dual rapport is required: Vertically, soul-rapport is necessitated. Correct alignment and meditation will bring this about. | 3. Cần có sự giao cảm kép: theo chiều dọc, cần giao cảm với linh hồn. Sự chỉnh hợp và tham thiền đúng đắn sẽ mang lại điều này. |
4. Horizontally, rapport between all group brothers is necessitated. How else can there be constructive and united work? | 4. Theo chiều ngang, cần có sự giao cảm giữa tất cả các huynh đệ trong nhóm. Nếu không, làm sao có thể có công việc mang tính xây dựng và hợp nhất? |
5. Always we see the appearance of the “even-armed Cross” of the Aquarian Age. | 5. Chúng ta luôn thấy sự xuất hiện của “Thập Giá có các nhánh bằng nhau” của Kỷ nguyên Bảo Bình. |
6. We can begin to see how very much Master DK sought to cultivate the presence of the second aspect of divinity amongst His chelas. Probably, we do not realize it, but we are excessively conditioned by the third aspect and are relatively unconscious of our deficiencies along second ray lines. Yet the “Attractive Coherency” of the second ray is that which promotes light, unity and real group work. We have much to learn during the next two thousand years. | 6. Chúng ta có thể bắt đầu thấy Chân sư DK đã hết sức tìm cách vun bồi sự hiện diện của phương diện thứ hai của thiên tính giữa các đệ tử của Ngài. Có lẽ chúng ta không nhận ra điều đó, nhưng chúng ta chịu ảnh hưởng quá mức của phương diện thứ ba và tương đối không nhận biết những thiếu sót của mình theo đường hướng cung hai. Tuy nhiên, chính “Tính Gắn Kết Đầy Sức Thu Hút” của cung hai thúc đẩy ánh sáng, sự hợp nhất và công việc nhóm thực sự. Chúng ta còn nhiều điều phải học trong hai nghìn năm tới. |
2. Impersonality. Is there aught more that I can say on this theme? You must learn to view what is said or suggested by any group brother with a complete and carefully developed “divine indifference. ” Note the use of the word “divine,” for it holds the clue to the needed attitude. It is a different thing to the indifference of not caring, or the indifference of a psychologically developed “way of escape” from that which is not pleasant; nor is it the indifference of superiority. It is the indifference which accepts all that is offered, uses what is serviceable, learns what can be learnt but is not held back by personality reactions. It is the normal attitude of the soul or self to the not-self. It is the negation of prejudice, of all narrow preconceived ideas, of all personality tradition, influence or background. It is the process of detachment from “the world, the flesh and the devil” of which The New Testament speaks. | 2. Tính vô ngã. Tôi còn có thể nói thêm điều gì về chủ đề này nữa chăng? Các bạn phải học cách xem xét những điều bất kỳ huynh đệ nào trong nhóm nói ra hoặc đề nghị với một thái độ “điềm nhiên thiêng liêng” trọn vẹn và được phát triển cẩn trọng. Hãy lưu ý việc dùng từ “thiêng liêng”, vì từ này chứa đựng chìa khóa dẫn đến thái độ cần có. Thái độ ấy khác với sự dửng dưng do không quan tâm, hoặc sự dửng dưng của một “lối thoát” được hình thành về mặt tâm lý để tránh những gì khó chịu; đó cũng không phải là sự dửng dưng do tự cho mình cao hơn người khác. Đó là sự điềm nhiên đón nhận mọi điều được trao, sử dụng những gì hữu ích, học hỏi những gì có thể học hỏi, nhưng không để những phản ứng của phàm ngã cản trở. Đó là thái độ bình thường của linh hồn hay bản ngã đối với phi ngã. Đó là sự phủ nhận thành kiến, mọi ý tưởng định sẵn hẹp hòi, mọi truyền thống, ảnh hưởng hay nền tảng của phàm ngã. Đó là tiến trình tách rời khỏi “thế gian, xác thịt và ma quỷ” mà Tân Ước nói đến. |
1. DK, we realize, has spoken much and often on the subject of “impersonality”. He seems here to be asking His chelas to finally realize the nature of what He has said and to absorb it. | 1. Chúng ta nhận ra rằng Chân sư DK đã nói nhiều và thường xuyên về chủ đề “tính phi cá nhân”. Ở đây, dường như Ngài đang yêu cầu các đệ tử của Ngài cuối cùng phải nhận ra bản chất những điều Ngài đã nói và thấm nhuần những điều ấy. |
2. “Divine indifference” and the “don’t care attitude” are closely related, though the first of these two seems a more dignified presentation. | 2. “Điềm nhiên thiêng liêng” và “thái độ không bận tâm” có liên hệ chặt chẽ với nhau, mặc dù cách diễn đạt thứ nhất có vẻ trang trọng hơn. |
3. DK focuses our attention on the word “divine” when considering “divine indifference”. The “divine” part of “indifference” has much to do with our level of identification. To be divinely indifferent one must be identified as soul or spirit. A consciousness focussed within the personality cannot be divinely indifferent. | 3. Chân sư DK hướng sự chú ý của chúng ta vào từ “thiêng liêng” khi xem xét “điềm nhiên thiêng liêng”. Yếu tố “thiêng liêng” trong sự “điềm nhiên” liên quan mật thiết đến cấp độ đồng hóa của chúng ta. Để điềm nhiên một cách thiêng liêng, người ta phải đồng hóa mình với linh hồn hay tinh thần. Một tâm thức tập trung trong phàm ngã không thể điềm nhiên một cách thiêng liêng. |
4. DK lists the kinds of ‘indifferences’ which “divine indifference” is not. It is not “not caring”; it is not a “way of escape” from the unpleasant; it is not the indifference of superiority. All these are personality versions of indifference and have the protection or buttressing of the personality as an objective. | 4. Chân sư DK liệt kê những dạng ‘dửng dưng’ mà “điềm nhiên thiêng liêng” không phải là chúng. Đó không phải là “không quan tâm”; không phải là một “lối thoát” khỏi những điều khó chịu; không phải sự dửng dưng do tự cho mình cao hơn người khác. Tất cả những điều này đều là các dạng dửng dưng của phàm ngã, lấy việc bảo vệ hoặc củng cố phàm ngã làm mục tiêu. |
5. It is the indifference which continues to learn through all presentations and personality reactions, yet is not held back by these. | 5. Đó là sự điềm nhiên vẫn tiếp tục học hỏi qua mọi điều được đưa đến và mọi phản ứng của phàm ngã, nhưng không để những điều ấy cản trở. |
6. Divine indifference is clearly defined: | 6. Điềm nhiên thiêng liêng được định nghĩa rõ ràng: |
“It is the normal attitude of the soul or self to the not-self. It is the negation of prejudice, of all narrow preconceived ideas, of all personality tradition, influence or background. It is the process of detachment from ‘the world, the flesh and the devil’ of which The New Testament speaks. ” | “Đó là thái độ bình thường của linh hồn hay bản ngã đối với phi ngã. Đó là sự phủ nhận thành kiến, mọi ý tưởng định sẵn hẹp hòi, mọi truyền thống, ảnh hưởng hay nền tảng của phàm ngã. Đó là tiến trình tách rời khỏi ‘thế gian, xác thịt và ma quỷ’ mà Tân Ước nói đến. ” |
It is not a personality-conditioned indifference, nor does it judge by narrow personality standards. It cares more for the soul than the personality, and thus, can hold the reactions of the personality more lightly. | Đó không phải là sự dửng dưng chịu ảnh hưởng của phàm ngã, cũng không phán xét theo những tiêu chuẩn hẹp hòi của phàm ngã. Thái độ ấy quan tâm đến linh hồn nhiều hơn phàm ngã, do đó có thể xem nhẹ hơn những phản ứng của phàm ngã. |
7. “Personality tradition, influence and background” have much to do with our past conditioning, which, because of many years of familiarity, we are liable to judge as quite ‘holy’. But familiarity is not holiness. In fact, our glamors lurk in that which has become so familiar as to become unnoticed. | 7. “Truyền thống, ảnh hưởng và nền tảng của phàm ngã” liên quan mật thiết đến những ảnh hưởng đã định hình chúng ta trong quá khứ; vì đã quen thuộc qua nhiều năm, chúng ta dễ xem những điều ấy là rất ‘thánh thiện’. Nhưng sự quen thuộc không phải là tính thánh thiện. Trên thực tế, những ảo cảm của chúng ta ẩn náu trong những gì đã trở nên quá quen thuộc đến mức không còn được chú ý. |
8. “Divine indifference” does not really care for the personality and its reactions. The personality is regarded simply as an instrument for higher purposes. One is no longer so sensitive to its preferences, because the identity is ‘felt’ as other than the personality. | 8. “Điềm nhiên thiêng liêng” thực sự không bận tâm đến phàm ngã và những phản ứng của nó. Phàm ngã chỉ được xem là một công cụ phục vụ những mục đích cao hơn. Người ta không còn quá nhạy cảm với những điều phàm ngã ưa thích, vì căn tính được ‘cảm nhận’ là khác với phàm ngã. |
9. It takes a long time before the ‘most familiar self’ (the personal self) is seen rather more as a ‘stranger’ than as one’s very self; at length, however, it happens. Thus does consciousness slip out of its prison, and we discover ourselves to be detached, luminous intelligences (essentially members of the fifth kingdom of nature), rather than encapsulated human beings. | 9. Phải mất một thời gian dài trước khi ‘bản ngã quen thuộc nhất’ (phàm ngã) được nhìn nhận như một ‘người xa lạ’ hơn là chính mình; tuy nhiên, cuối cùng điều đó cũng xảy ra. Như vậy, tâm thức thoát khỏi ngục tù của nó, và chúng ta khám phá ra mình là những trí tuệ sáng ngời, không vướng mắc (về bản chất là thành viên của giới thứ năm trong thiên nhiên), thay vì những con người bị giam hãm trong lớp vỏ. |
10. The theory is simple and the doing hard. | 10. Lý thuyết thì đơn giản, thực hành lại khó. |
3. Love. Love is that inclusive, non-critical, magnetic comprehension and attitude which (in group work) preserves the group integrity, fosters the group rhythm and permits no secondary personality happenings or attitudes to mar the group work. [60] | 3. Tình thương. Tình thương là sự thấu hiểu và thái độ bao gồm, không chỉ trích, mang tính từ tính, vốn duy trì tính toàn vẹn của nhóm, nuôi dưỡng nhịp điệu của nhóm và không để những sự việc hay thái độ thứ yếu thuộc phàm ngã làm tổn hại công việc nhóm. |
Contact, impersonality and love — these three constitute the individual objectives which I set before each and all of you. | [60] Tiếp xúc, tính vô ngã và tình thương—ba điều này tạo thành những mục tiêu cá nhân mà Tôi đặt ra cho từng người và tất cả các bạn. |
1. Here is one of the finest definitions of love to be found in the Teaching. Long and well should it be pondered. | 1. Đây là một trong những định nghĩa hay nhất về tình thương có thể tìm thấy trong Giáo Huấn. Cần suy ngẫm kỹ lưỡng và lâu dài về định nghĩa này. |
2. Three words stand out: “inclusive”, “non-critical”, “magnetic”. | 2. Ba từ nổi bật là: “bao gồm”, “không chỉ trích”, “từ tính”. |
3. The mental attitude is there as well, for we speak not only of magnetism, but of “magnetic comprehension”. The inference is that one comprehends because the magnetism is correct. This is another way of saying that “love reveals”. | 3. Thái độ trí tuệ cũng hiện diện ở đây, vì chúng ta không chỉ nói đến từ điện, mà còn nói đến “sự lĩnh hội mang từ tính”. Điều này hàm ý rằng người ta lĩnh hội được vì từ điện ấy đúng đắn. Đây là một cách khác để nói rằng “tình thương làm hiển lộ”. |
4. Love is also “of the essence” for it does not allow the interference of “secondary personality happenings or attitudes” to hurt the group work. In an attitude of love, secondary things are revealed for what they are and can be more easily set aside. | 4. Tình thương cũng “thuộc về cốt yếu” vì không để sự can thiệp của “những sự việc hay thái độ thứ yếu của phàm ngã” làm tổn hại công việc nhóm. Trong thái độ yêu thương, những điều thứ yếu hiển lộ đúng bản chất của chúng và có thể được gạt sang một bên dễ dàng hơn. |
5. As these objectives are set before DK’s immediate chelas, so they are set before us. It will require a re-conditioning for many of us. The three — “contact, impersonality, and love” — are not personality attitudes. The process is slow but sure. We are becoming souls in expression, after millions of years of expressing otherwise. | 5. Những mục tiêu này được đặt ra cho các đệ tử trực tiếp của Chân sư DK như thế nào thì cũng được đặt ra cho chúng ta như thế ấy. Đối với nhiều người trong chúng ta, điều này đòi hỏi phải định hình lại bản thân. Ba điều — “tiếp xúc, tính phi cá nhân và tình thương” — không phải là những thái độ của phàm ngã. Tiến trình này chậm nhưng chắc chắn. Chúng ta đang trở thành những linh hồn biểu lộ ra ngoài, sau hàng triệu năm biểu lộ theo cách khác. |
6. DK’s expectations are simply stated, and every disciple should have no trouble remembering them. Of course, they require constant practice. | 6. Những điều Chân sư DK mong đợi được trình bày đơn giản, và mọi đệ tử hẳn đều có thể ghi nhớ dễ dàng. Dĩ nhiên, những điều ấy đòi hỏi sự thực hành thường xuyên. |
The group requirements which must be met and preserved by the group, as a group, are as follows: | Những yêu cầu mà nhóm, với tư cách một nhóm, phải đáp ứng và duy trì như sau: |
1. Group integrity. This grows out of right integration and refers to the delicate balance which must be preserved amongst the members of the group. This is of such a nature that there emerges eventually a group steadiness and a group freedom from “oscillation” which will permit of uninterrupted group work and interplay. It will come if each of the group members will simply mind his own business and permit his group brothers to mind theirs; it will come if you keep your personality affairs, your private concerns and troubles out of the group life; it will come if you refrain from discussion of each other and of each other’s affairs and attitudes. This is of supreme importance at this stage of the group work; it will mean — if you can achieve success in this — that you will be able to keep your minds clear of all lesser things which concern the personality life. This means that your minds will be free, therefore, for group work. | 1. Tính toàn vẹn của nhóm. Điều này phát sinh từ sự tích hợp đúng đắn và nói đến thế quân bình tinh tế cần duy trì giữa các thành viên trong nhóm. Bản chất của thế quân bình ấy là cuối cùng sẽ hình thành sự vững vàng của nhóm và trạng thái không còn “dao động”, cho phép công việc và sự tương tác của nhóm diễn ra liên tục. Điều này sẽ đến nếu mỗi thành viên trong nhóm chỉ chăm lo công việc của mình và để các huynh đệ trong nhóm chăm lo công việc của họ; điều này sẽ đến nếu các bạn không đưa những chuyện phàm ngã, những mối bận tâm và khó khăn riêng vào đời sống nhóm; điều này sẽ đến nếu các bạn tránh bàn luận về nhau, về những chuyện và thái độ của nhau. Điều này vô cùng quan trọng ở giai đoạn hiện tại của công việc nhóm; nếu thành công trong việc này, các bạn sẽ có thể giữ cho thể trí của mình không vướng vào mọi chuyện nhỏ nhặt liên quan đến đời sống phàm ngã. Do đó, thể trí của các bạn sẽ được tự do để làm công việc nhóm. |
1. Individual requirements have been presented: “contact, impersonality and love”. | 1. Những yêu cầu đối với cá nhân đã được trình bày: “tiếp xúc, tính phi cá nhân và tình thương”. |
2. Now Master DK presents “group requirement” which must be met by the group and preserved by the group as a group. This is a different matter. | 2. Giờ đây, Chân sư DK trình bày “yêu cầu đối với nhóm” mà nhóm phải đáp ứng và duy trì với tư cách một nhóm. Đây là một vấn đề khác. |
3. Master DK is interested in group steadiness, a freedom from “oscillation” which interrupts the group work. | 3. Chân sư DK quan tâm đến sự vững vàng của nhóm, đến việc thoát khỏi “dao động” làm gián đoạn công việc nhóm. |
4. The method of achieving that “delicate balance” which results in group steadiness is perhaps surprising. Essentially, it is for each disciple to “mind his own business”. Much imbalance arises through the tendency to be thinking of other group members in ways which do not help them. | 4. Phương pháp đạt đến “sự cân bằng tinh tế” mang lại sự vững vàng của nhóm có lẽ khiến người ta ngạc nhiên. Về cốt yếu, đó là mỗi đệ tử phải “lo công việc của mình”. Nhiều sự mất cân bằng nảy sinh từ khuynh hướng nghĩ về các thành viên khác trong nhóm theo những cách không giúp ích cho họ. |
5. There is also the need to keep our personality affairs out of the group life. Each is to handle those matters himself/herself. Immediate friends may also assist. | 5. Chúng ta cũng cần giữ những chuyện của phàm ngã bên ngoài đời sống nhóm. Mỗi người phải tự giải quyết những vấn đề ấy. Những người bạn gần gũi cũng có thể giúp đỡ. |
6. We can see that Master DK is very interested in keep the consciousness of His chelas free from secondary preoccupations. The normal psyche tends to think quite personally, and disciples are not immune from this tendency. | 6. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK rất quan tâm đến việc giữ cho tâm thức các đệ tử của Ngài không vướng bận những mối bận tâm thứ yếu. Tâm lý thông thường có khuynh hướng suy nghĩ khá nặng tính cá nhân, và các đệ tử cũng không tránh khỏi khuynh hướng này. |
7. Working in affiliation with Hierarchy demands prioritization within the field of consciousness. Normal tendencies, though natural, cannot forever be indulged, because an entirely new order of life is being instituted. | 7. Làm việc trong sự liên kết với Thánh đoàn đòi hỏi phải xác lập thứ tự ưu tiên trong trường tâm thức. Những khuynh hướng thông thường, dù tự nhiên, cũng không thể mãi được chiều theo, vì một trật tự sống hoàn toàn mới đang được thiết lập. |
8. We have to begin regarding each other in entirely new ways; we are not essentially personalities and should not be so regarded. If I think of you as a personality, I do not help the emergence of you as a soul; the same is true if you think of me similarly. | 8. Chúng ta phải bắt đầu nhìn nhận nhau theo những cách hoàn toàn mới; về bản chất, chúng ta không phải là những phàm ngã và không nên bị nhìn nhận như vậy. Nếu tôi nghĩ về các bạn như những phàm ngã, tôi không giúp các bạn hiển lộ như những linh hồn; điều tương tự cũng đúng nếu các bạn nghĩ về tôi như vậy. |
9. If we could all learn to “put first things first” (by no means an easy matter) our progress and our usefulness would greatly increase. This requires, of course, the power of elimination and, therefore, the good offices of some of the harsher planets — Saturn and Pluto especially. | 9. Nếu tất cả chúng ta đều có thể học cách “đặt những điều quan trọng nhất lên hàng đầu” (điều hoàn toàn không dễ), sự tiến bộ và tính hữu ích của chúng ta sẽ gia tăng rất nhiều. Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi năng lực loại bỏ và do đó cần sự hỗ trợ của một số hành tinh khắc nghiệt hơn — đặc biệt là Sao Thổ và Sao Diêm Vương. |
10. Right action in this regard would leave us far freer for group work. Personality preoccupation (whether physical or psychological) consumes far too much energy. An initiate has freed himself from this. | 10. Hành động đúng đắn về phương diện này sẽ giúp chúng ta tự do hơn nhiều để làm công việc nhóm. Sự bận tâm về phàm ngã (dù về mặt hồng trần hay tâm lý) tiêu tốn quá nhiều năng lượng. Một điểm đạo đồ đã tự giải thoát khỏi điều này. |
2. Fusion. By this I mean the ability of the group to work as a unit. This is dependent upon the achieving of right individual attitudes and (when working) the attainment of the capacity to lose sight of everything except the work to be done and a deeply sensed love of your brothers. | 2. Sự dung hợp. Với từ này, Tôi muốn nói đến khả năng của nhóm làm việc như một đơn vị. Điều này tùy thuộc vào việc đạt được những thái độ cá nhân đúng đắn và khả năng, khi làm việc, quên đi mọi thứ ngoài công việc cần làm và tình thương sâu sắc dành cho các huynh đệ của mình. |
1. Fusion is yet another step beyond group integrity. | 1. Sự dung hợp là một bước nữa vượt lên trên tính toàn vẹn của nhóm. |
2. A group is not an assemblage of individuals, but a merging into effective unity of a number of individuals driven by the same purpose and plan. | 2. Một nhóm không phải là một tập hợp các cá nhân, mà là sự hòa nhập thành một thể thống nhất hoạt động hữu hiệu của một số cá nhân cùng được thúc đẩy bởi một mục đích và Thiên Cơ chung. |
3. One may still have a nominally personal life (for we are persons in this world as well as souls) but when working spiritually, only the work to be done and a “deeply sense love of your brothers” are of moment. | 3. Người ta vẫn có thể có một đời sống gọi là riêng tư (vì chúng ta vừa là những con người trong thế gian này, vừa là những linh hồn), nhưng khi làm việc về mặt tinh thần, chỉ công việc cần làm và “tình thương sâu sắc dành cho các huynh đệ của các bạn” mới là điều quan trọng. |
4. Our approach to group work is greatly simplified by these words, but the eliminations required are rather drastic. | 4. Những lời này giúp cách chúng ta tiếp cận công việc nhóm trở nên đơn giản hơn rất nhiều, nhưng những điều cần loại bỏ lại khá triệt để. |
5. Group members who have achieved in accordance with the above are driven by spiritual will and spiritual love. They are working somewhat in rapport with the Spiritual Triad, and not only from their accumulated fund of desirable qualities (stored in the causal body). | 5. Những thành viên nhóm đã đạt được những điều nêu trên được thúc đẩy bởi ý chí tinh thần và tình thương tinh thần. Họ đang làm việc trong sự giao cảm phần nào với Tam Nguyên Tinh Thần, chứ không chỉ dựa vào vốn phẩm tính đáng quý đã tích lũy (lưu giữ trong thể nguyên nhân). |
6. We can see that group members will have had to work together for some time (as intelligently, lovingly and as purposefully as they can) before real fusion can supervene. Many group processes stop short of this objective. | 6. Chúng ta có thể thấy các thành viên nhóm phải cùng làm việc trong một thời gian (với tất cả trí tuệ, tình thương và ý thức mục đích mà họ có thể có) trước khi sự dung hợp thực sự có thể xuất hiện. Nhiều tiến trình nhóm dừng lại trước khi đạt đến mục tiêu này. |
3. Understanding. I use this word in reference to your comprehension of the work to be undertaken. I do not use the word in reference to your attitude to yourself or to your group brothers. It means that each group works wisely and understandingly at its own appointed task, knowing that it contributes to a whole which exists in the mind of the Master. | 3. Sự thấu hiểu. Tôi dùng từ này để nói đến sự lĩnh hội của các bạn về công việc sẽ thực hiện. Tôi không dùng từ này để nói đến thái độ của các bạn đối với chính mình hoặc các huynh đệ trong nhóm. Điều đó có nghĩa là mỗi nhóm làm nhiệm vụ được giao một cách minh triết và thấu hiểu, biết rằng mình đang đóng góp vào một toàn thể hiện hữu trong thể trí của Chân sư. |
1. The word “understanding”, as here used, focusses more on the mental plane than in relation to individual and group psychology. | 1. Từ “thấu hiểu”, theo cách dùng ở đây, tập trung vào cõi trí nhiều hơn là vào tâm lý cá nhân và nhóm. |
2. In an Ashram there is a fine division of labor and each member is to know exactly what he is doing and why he is doing it. | 2. Trong một ashram có sự phân công lao động tinh tế, và mỗi thành viên phải biết chính xác mình đang làm gì và vì sao mình làm điều đó. |
3. A vision of the whole is, to some extent, required, so that there may be an understanding of the part that each is to play within that whole. | 3. Ở một mức độ nào đó, cần có tầm nhìn về tổng thể để có thể thấu hiểu vai trò mà mỗi người phải đảm nhận trong tổng thể ấy. |
4. We may ask: do we truly understand what the Ashram with which we may be affiliated is attempting to achieve — as a whole? It would be important to grasp such a vision with some measure of accuracy, otherwise, how can we co-measure our activity in relation to the Ashram? | 4. Chúng ta có thể hỏi: liệu chúng ta có thực sự thấu hiểu điều mà ashram chúng ta có thể đang liên kết đang cố gắng đạt được — xét như một tổng thể — hay không? Việc nắm bắt tầm nhìn ấy với một mức độ chính xác nào đó hẳn là quan trọng; nếu không, làm sao chúng ta có thể điều chỉnh hoạt động của mình cho tương xứng trong mối liên hệ với ashram? |
5. We are, however, speaking not only of what the individual within the group must perform, but what the group as a whole must perform in relation to other groups affiliated with the Ashram and in relation to the Ashram as a whole. | 5. Tuy nhiên, chúng ta không chỉ nói về những gì cá nhân trong nhóm phải thực hiện, mà còn về những gì toàn thể nhóm phải thực hiện trong mối liên hệ với các nhóm khác cùng liên kết với ashram và với toàn thể ashram. |
6. The specialized groups-of-nine (Telepathic Communicators, Trained Observers, Magnetic Healers, etc. ) had each a very specific task set before them, even though the details of that task were not yet fully presented by the Master. These tasks were to emerge as time passed, but unfortunately (as misfortune seems to the disciple) the groups had to be brought to a close. | 6. Các nhóm chuyên biệt gồm chín người (Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm, Các Nhà Quan Sát Lão Luyện, Các Nhà Trị Liệu Từ Tính, v.v. ) mỗi nhóm đều có một nhiệm vụ rất cụ thể đặt ra trước mình, dù Chân sư chưa trình bày đầy đủ các chi tiết của nhiệm vụ ấy. Những nhiệm vụ này sẽ dần hiển lộ theo thời gian, nhưng không may (theo cách người đệ tử nhìn nhận sự bất hạnh), các nhóm đã phải chấm dứt hoạt động. |
7. We are perhaps engaged in the labors of a number of groups — the 28 Rules Group, the LAWS Group, the AAMP Meditation Group, to name a few among many. The place and purpose of such groups must be eventually clarified so that the exact contribution to humanity and the Ashram may be accurately perceived. | 7. Có lẽ chúng ta đang tham gia công việc của một số nhóm — Nhóm 28 Quy Luật, Nhóm LAWS, Nhóm Tham Thiền AAMP, chỉ kể vài nhóm trong số rất nhiều nhóm. Cuối cùng, vị trí và mục đích của những nhóm như vậy phải được làm rõ để có thể nhận biết chính xác sự đóng góp cụ thể của chúng cho nhân loại và ashram. |
8. In general, were I to judge the nature of these groups, I would say that they are designed to “teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom” wherever a response may be found. They are largely educational, and, I suspect, many of their members, are engaged in tasks related to esoteric education. | 8. Nhìn chung, nếu phải đánh giá bản chất của những nhóm này, tôi cho rằng chúng được lập ra để “giảng dạy và phổ biến tri thức về Minh Triết Ngàn Đời” ở bất cứ nơi nào có thể tìm thấy sự đáp ứng. Các nhóm này phần lớn mang tính giáo dục, và tôi phỏng đoán rằng nhiều thành viên của chúng đang đảm nhận những nhiệm vụ liên quan đến giáo dục huyền bí. |
9. Within this general educational thrust, there are also a large variety of other esoteric orientations and tasks — worthy and important. | 9. Trong định hướng giáo dục chung này, còn có rất nhiều định hướng và nhiệm vụ huyền bí khác — đáng quý và quan trọng. |
Integrity, fusion and understanding — this is the order of the work and the sequence of development. All groups, working in the outer world in relation to the Ashrams of the Masters, will follow certain initial and final stages in their work and [61] these will be uniform for all the groups, no matter what their specific and individual group work may be. Thus there will be brought about an inter-group relation and a consequent strengthening of the individual groups. The third stage of the work to be done will be special and particular, differing for each group and to be followed by the group with meticulous care. I would ask all the various groups which may be working under my direction to attend to their own individual group business and not to speculate as to the nature of the work being done by the other groups. | Tính toàn vẹn, sự dung hợp và sự thấu hiểu—đó là trình tự công việc và tiến trình phát triển. Mọi nhóm làm việc ở thế giới bên ngoài trong mối liên hệ với các ashram của các Chân sư đều sẽ tuân theo những giai đoạn mở đầu và kết thúc nhất định trong công việc của mình, và [61] những giai đoạn này sẽ giống nhau đối với mọi nhóm, bất kể công việc riêng biệt, cụ thể của từng nhóm là gì. Nhờ đó, mối quan hệ giữa các nhóm sẽ hình thành và từng nhóm sẽ được củng cố. Giai đoạn thứ ba của công việc cần làm sẽ mang tính chuyên biệt và đặc thù, khác nhau đối với từng nhóm, và nhóm phải tuân theo hết sức cẩn trọng. Tôi đề nghị tất cả các nhóm khác nhau có thể đang làm việc dưới sự chỉ đạo của Tôi hãy chú tâm vào công việc riêng của nhóm mình và đừng suy đoán về bản chất công việc mà các nhóm khác đang làm. |
1. DK is trying to be very clear. His groups have now been working for some time, and He has had His doubts about the success of the experiment (judging from things said elsewhere). | 1. Chân sư DK đang cố gắng trình bày thật rõ ràng. Đến nay, các nhóm của Ngài đã hoạt động được một thời gian, và Ngài đã có những hoài nghi về sự thành công của cuộc thử nghiệm (xét theo những điều được nói ở những chỗ khác). |
2. DK points out the uniformity of certain stages of group work. He is attempting to establish a structure in the minds of His chelas. | 2. Chân sư DK chỉ ra tính thống nhất của một số giai đoạn trong công việc nhóm. Ngài đang cố gắng thiết lập một cấu trúc trong thể trí các đệ tử của Ngài. |
3. Groups must be related to other similarly motivated groups. A knowledge of the process to be followed by each and every group, will facilitate this group-interrelation. | 3. Các nhóm phải liên hệ với những nhóm khác có động cơ tương tự. Việc hiểu biết tiến trình mà mỗi nhóm đều phải tuân theo sẽ tạo thuận lợi cho mối tương quan giữa các nhóm này. |
4. At the time of this writing, each group-of-nine was intentionally isolated from other such groups. In general, the personnel of the various groups were unknown to each other, and this on purpose — to keep the thoughtform of each group clear and its progress subject to as little interference as possible. | 4. Vào thời điểm viết những dòng này, mỗi nhóm chín người đều được chủ ý cách ly với những nhóm tương tự khác. Nhìn chung, thành viên các nhóm khác nhau không biết nhau, và điều này là có chủ đích — để giữ cho hình tư tưởng của mỗi nhóm được rõ ràng và để sự tiến bộ của nhóm chịu ít sự can thiệp nhất có thể. |
5. Nevertheless, speculation concerning which chela was in which group was frequently to be seen despite Master DK’s admonitions against such speculation. Human curiosity was at work; it was not the curiosity of the soul. | 5. Tuy nhiên, người ta vẫn thường thấy những suy đoán về việc đệ tử nào thuộc nhóm nào, bất chấp những lời khuyên răn của Chân sư DK về việc không nên suy đoán như thế. Tính hiếu kỳ của con người đang hoạt động; đó không phải là sự hiếu kỳ của linh hồn. |
6. A bit earlier we learned that group members were to “mind their own business” with respect to each other. Now we see that all members of a specific group are, essentially, to do the same — attending to the business of their particular group and not inquire about the business of other groups. Master DK wanted to prevent a premature mixing of thought and energy — especially since none of the groups was yet very stable, integrated or fused. | 6. Ở phần trước, chúng ta đã biết rằng trong quan hệ với nhau, các thành viên nhóm phải “lo việc của mình” mà thôi. Giờ đây, chúng ta thấy rằng về cơ bản, mọi thành viên của một nhóm cụ thể đều phải làm như vậy — chú tâm vào công việc của nhóm riêng của mình và không dò hỏi công việc của các nhóm khác. Chân sư DK muốn ngăn ngừa sự pha trộn tư tưởng và năng lượng quá sớm — nhất là vì chưa nhóm nào thật sự ổn định, tích hợp hay dung hợp. |
7. Early instructions would pertain to all groups. Later, differentiated processes would be followed with “meticulous care”. The groups did not really reach the stage where the “third stage of the work” could eventuate. | 7. Những huấn thị ban đầu sẽ áp dụng cho tất cả các nhóm. Về sau, các nhóm sẽ tuân theo những tiến trình đã biến phân với “sự cẩn trọng tỉ mỉ”. Các nhóm đã không thực sự đạt đến mức mà “giai đoạn thứ ba của công việc” có thể diễn ra. |
8. We can see, however, that the occult method was being followed — moving as it does from the general to the particular — from purpose, through cohesion, to carefully articulated process. | 8. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy rằng phương pháp huyền bí đã được tuân theo — đi từ cái chung đến cái riêng, như đặc tính của phương pháp này — từ mục đích, qua sự cố kết, đến tiến trình được xác định rõ ràng và cẩn thận. |
9. Group members, therefore, had to be aware of those aspects of their work which were uniformly shared with personnel of other groups, and such aspects as would be specifically particular to their own group. | 9. Do đó, các thành viên nhóm phải nhận biết những phương diện công việc mà họ cùng chia sẻ một cách thống nhất với thành viên các nhóm khác, cũng như những phương diện sẽ là đặc thù riêng của nhóm mình. |
10. A little thought about the nature of these Seed Groups will reveal how very much Master DK had yet to teach when world circumstances (and group failure) necessitated the termination of the groups-of-nine. Much very refined instruction had yet to be offered. Perhaps He had planned that He would be physically present to oversee the instruction. From Initiation: Human and Solar, we read that the Christ may have been intending to appear towards the middle of the twentieth century. As the Christ would necessarily be preceded by certain Masters, Master DK may well have been one of the externalizing Masters slated to appear. | 10. Chỉ cần suy nghĩ đôi chút về bản chất của các Nhóm hạt giống này, chúng ta sẽ thấy Chân sư DK vẫn còn biết bao điều phải giảng dạy khi hoàn cảnh thế giới (và sự thất bại của các nhóm) buộc phải chấm dứt các nhóm chín người. Vẫn còn nhiều huấn thị rất tinh tế chưa được truyền dạy. Có lẽ Ngài đã dự định hiện diện trong thể xác để giám sát việc giảng dạy. Trong Điểm Đạo: Nhân Loại và Thái Dương, chúng ta đọc thấy rằng Đức Christ có thể đã có ý định xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ hai mươi. Vì nhất thiết phải có một số Chân sư xuất hiện trước Đức Christ, nên rất có thể Chân sư DK là một trong các Chân sư đang ngoại hiện đã được dự định sẽ xuất hiện. |
11. World War II called for a major revision of plans, and I suspect that the Seed Group Work, in the form intended, will have to be deferred until some date later in this twenty-first century. | 11. Chiến tranh Thế giới thứ hai đòi hỏi phải sửa đổi lớn các kế hoạch, và tôi cho rằng Công Việc Nhóm Hạt Giống, theo hình thức đã dự định, sẽ phải hoãn đến một thời điểm muộn hơn trong thế kỷ hai mươi mốt này. |
Let me outline for you the stages to be followed: | Tôi xin phác thảo cho các bạn những giai đoạn cần tuân theo: |
STAGE ONE. Alignment. Soul contact. Spiritual poise. Poise is the steady holding of the achieved soul contact. | GIAI ĐOẠN MỘT. Chỉnh hợp. Tiếp xúc với linh hồn. Quân bình tinh thần. Quân bình là duy trì vững chắc sự tiếp xúc với linh hồn đã đạt được. |
a. Then, the conscious relinquishing of personality reactions. | a. Sau đó, có ý thức buông bỏ những phản ứng của phàm ngã. |
b. Next, the recognition of the fact of love as an expression of that soul contact — expressed through the medium of the personality. | b. Tiếp theo, nhận biết thực tại của tình thương như một biểu hiện của sự tiếp xúc với linh hồn ấy—biểu lộ thông qua phàm ngã. |
c. Finally, the imaginative fusion of the egoic and personality rays. | c. Cuối cùng, dung hợp cung chân ngã và cung phàm ngã bằng sự tưởng tượng. |
This constitutes the vertical stage. | Điều này tạo thành giai đoạn theo chiều dọc. |
1. An important meditation to achieve some of the objectives stated above is offered. | 1. Một bài thiền quan trọng được đưa ra để đạt một số mục tiêu đã nêu trên. |
2. Personality reactions are consciously relinquished. | 2. Người hành thiền có ý thức từ bỏ những phản ứng của phàm ngã. |
3. Love is recognized as a soul factor and expressed through the personality. | 3. Tình thương được nhận biết là một yếu tố của linh hồn và được biểu lộ qua phàm ngã. |
4. And, imaginatively, soul and personality rays are fused. | 4. Và, bằng sự tưởng tượng, cung linh hồn và cung phàm ngã được dung hợp. |
5. The individual personality is seen as an instrument of the soul. | 5. Phàm ngã cá nhân được nhìn nhận là một công cụ của linh hồn. |
STAGE TWO. The above is followed by group integration and group fusion, carried forward consciously: | GIAI ĐOẠN HAI. Tiếp theo những điều trên là sự tích hợp nhóm và sự dung hợp nhóm, được thực hiện một cách có ý thức: |
a. By bringing each group member into conscious rapport through naming and loving. | a. Bằng cách đưa từng thành viên trong nhóm vào mối giao cảm có ý thức thông qua việc gọi tên và yêu thương. |
b. By seeing all the group members as a circle of living points of light along with yourself in the circle, but not at the centre of the circle. | b. Bằng cách thấy tất cả các thành viên trong nhóm như một vòng tròn gồm những điểm sáng sống động, với chính các bạn cũng ở trong vòng tròn, nhưng không ở tâm vòng tròn. |
c. By imagining all these points of light as fusing and blending to make a radiant sun, with rays of light going out towards the four corners of the earth. | c. Bằng cách tưởng tượng tất cả những điểm sáng này dung hợp và hòa quyện thành một mặt trời rạng ngời, với những tia sáng tỏa ra bốn phương Trái Đất. |
This constitutes the horizontal stage. | Điều này tạo thành giai đoạn theo chiều ngang. |
1. “Naming and loving” is an important phase of in the process of group integration. Each group member is actually named and a stream of love is sent from the meditator to each. This is a simple but effective method of achieving loving, lighted group interplay. | 1. “Gọi tên và yêu thương” là một bước quan trọng trong tiến trình tích hợp nhóm. Người hành thiền thực sự gọi tên từng thành viên nhóm và gửi một dòng tình thương đến từng người. Đây là một phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả để đạt được sự tương tác nhóm đầy tình thương và ánh sáng. |
2. The simple beauty of this meditation is clear. Each of us can practice this in relation to the groups with which we may be participating. | 2. Vẻ đẹp giản dị của bài thiền này thật rõ ràng. Mỗi người chúng ta đều có thể thực hành điều này trong mối liên hệ với những nhóm mà mình có thể đang tham gia. |
3. The Sun is the symbol of synthesis, and in this case, it synthesizes the cross (the four corners of the earth). This involves the elements and the deva kingdom. | 3. Mặt Trời là biểu tượng của sự tổng hợp, và trong trường hợp này, nó tổng hợp thập giá (bốn phương Trái Đất). Điều này liên quan đến các nguyên tố và giới thiên thần. |
4. We note that this group process is considered a “horizontal” phase of the work. There is, indeed, a kind of ‘lateral expansiveness’ which can be sensed in terms of the instructions for the second stage. | 4. Chúng ta lưu ý rằng tiến trình nhóm này được xem là một giai đoạn “theo chiều ngang” của công việc. Quả thật, có một dạng ‘mở rộng sang hai bên’ mà chúng ta có thể cảm nhận qua những huấn thị dành cho giai đoạn thứ hai. |
STAGE THREE. There follows next a careful consideration of group purpose and technique. This technique will be different for each group; by a dynamic, unremitting [62] following of the particular, indicated technique will the results be achieved. This technique must not be changed by anyone except myself. | GIAI ĐOẠN BA. Tiếp theo là sự xem xét cẩn trọng mục đích và kỹ thuật của nhóm. Kỹ thuật này sẽ khác nhau đối với từng nhóm; kết quả sẽ đạt được nhờ việc tuân theo một cách năng động, không ngừng nghỉ [62] kỹ thuật cụ thể đã được chỉ định. Không ai được thay đổi kỹ thuật này ngoài chính Tôi. |
1. Group purpose was, at this time, rather clear. | 1. Vào thời điểm này, mục đích nhóm đã khá rõ ràng. |
2. Group technique was more intricate and had not yet been fully revealed, though a general statement describing each had been given. | 2. Kỹ thuật nhóm phức tạp hơn và chưa được tiết lộ đầy đủ, dù đã có một lời trình bày khái quát mô tả kỹ thuật của từng nhóm. |
3. We note that Master DK is indeed the Director of these groups and responsible for their correct guidance. | 3. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK quả thực là Đấng Chỉ Đạo các nhóm này và chịu trách nhiệm hướng dẫn họ đúng đắn. |
Stages I and II should be rapidly effective and almost instantaneous in their results, after three months’ careful work has been done. I request that you give careful, patient attention to them so that they develop eventually into stable habits and so give you no trouble and further difficulty. The initial stages in this type of work are of paramount importance. | Sau ba tháng thực hành cẩn trọng, các giai đoạn I và II phải có hiệu quả nhanh chóng và cho kết quả gần như tức thời. Tôi yêu cầu các bạn dành sự chú tâm cẩn trọng, kiên nhẫn cho những giai đoạn ấy để cuối cùng chúng trở thành những thói quen ổn định, nhờ đó không gây phiền phức hay thêm khó khăn cho các bạn. Những giai đoạn mở đầu trong loại công việc này có tầm quan trọng tối cao. |
1. DK works to make the first stages of the meditation routine. | 1. Chân sư DK cố gắng làm cho những giai đoạn đầu của bài thiền trở thành nếp thực hành quen thuộc. |
2. Much training had already preceded the giving of this meditation. The meditation represents a stage of consolidation of considerable training. | 2. Trước khi bài thiền này được trao, đã có nhiều sự huấn luyện. Bài thiền thể hiện một giai đoạn củng cố quá trình huấn luyện đáng kể ấy. |
STAGE FOUR. Having finished the special group work under Stage III, the members of the group will then endeavour to link up with the other groups in the same manner in which they linked up with the members of their own group. In this case, however, disciples will not concern themselves with the personnel of any of the groups, including their own, but only — as a group — link their group with the other groups. Thus the concepts of illusion and of separateness, and the realisation of fusion, will assume correct proportions in your minds. | GIAI ĐOẠN BỐN. Sau khi hoàn tất công việc chuyên biệt của nhóm trong Giai đoạn III, các thành viên trong nhóm sẽ cố gắng kết nối với những nhóm khác theo cùng cách họ đã kết nối với các thành viên trong nhóm mình. Tuy nhiên, trong trường hợp này, các đệ tử sẽ không quan tâm đến thành phần nhân sự của bất kỳ nhóm nào, kể cả nhóm mình, mà chỉ cùng nhau, với tư cách một nhóm, kết nối nhóm mình với các nhóm khác. Nhờ đó, các khái niệm về ảo tưởng và tính chia rẽ, cùng với sự nhận biết về dung hợp, sẽ có được tỉ lệ đúng đắn trong thể trí của các bạn. |
1. It appears that the “special group work” has not been included in these instructions. These are the particulars in which many may be interested, but for which they would be unprepared unless they had successfully completed the earlier stages. | 1. Dường như “công việc nhóm đặc biệt” chưa được đưa vào những huấn thị này. Đây là những chi tiết mà nhiều người có thể quan tâm, nhưng họ sẽ chưa sẵn sàng đón nhận nếu chưa hoàn thành thành công các giai đoạn trước. |
2. Perhaps, if Master DK decides to re-animate these Seed Groups, such special techniques will again be applied — under His supervision. | 2. Có lẽ, nếu Chân sư DK quyết định khôi phục hoạt động của các Nhóm hạt giống này, những kỹ thuật đặc biệt ấy sẽ lại được áp dụng — dưới sự giám sát của Ngài. |
3. A further horizontal approach is to be utilized, this time between the groups (irrespective of their personnel), just as previously between the personnel in any particular group. | 3. Một cách tiếp cận thêm nữa theo chiều ngang sẽ được sử dụng, lần này là giữa các nhóm (không xét đến thành viên của họ), cũng như trước đó là giữa các thành viên trong một nhóm cụ thể. |
4. The Seed Group Work was to be one organic whole. The need of each Seed Group for initial insulation was a preliminary requirement. Later the interdependence of all such groups and their essential fusion would be experienced. | 4. Công Việc Nhóm Hạt Giống phải là một toàn thể hữu cơ duy nhất. Nhu cầu cách ly ban đầu của mỗi Nhóm hạt giống là một yêu cầu sơ bộ. Về sau, các nhóm sẽ trải nghiệm sự phụ thuộc lẫn nhau của tất cả những nhóm ấy và sự dung hợp cốt yếu giữa họ. |
5. DK is teaching His chelas to think in terms of the group as a whole; the personnel, really, are incidental. | 5. Chân sư DK đang dạy các đệ tử của Ngài suy nghĩ về nhóm như một toàn thể; thực ra, thành phần thành viên chỉ là thứ yếu. |
a. Next, as a group, say the Great Invocation three times: | a. Tiếp theo, cả nhóm cùng đọc Đại Khấn Nguyện ba lần: |
“Let the Forces of Light bring illumination to mankind. | “Cầu xin các Mãnh Lực Ánh Sáng đem sự soi sáng đến cho nhân loại. |
Let the Spirit of Peace be spread abroad. | Cầu xin Tinh thần Hòa Bình lan tỏa khắp nơi. |
May Men of Goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation. | Cầu mong những người thiện chí ở khắp nơi gặp nhau trong tinh thần hợp tác. |
Let Power attend the efforts of the Great Ones. ” | Cầu xin Quyền Năng hỗ trợ những nỗ lực của Các Đấng Cao Cả.” |
b. Then sound the Sacred Word, the O. M. three times. | b. Sau đó xướng Linh từ Thiêng Liêng, O.M., ba lần. |
c. Close with the prayer of the personality to the soul: | c. Kết thúc bằng lời cầu nguyện của phàm ngã hướng đến linh hồn: |
“May the words of my mouth and the meditation of my heart be always acceptable in thy sight, Oh Soul, my Lord and my Redeemer.” [63] | “Cầu mong những lời từ miệng con và sự tham thiền trong tâm con luôn đẹp lòng Ngài, lạy Linh Hồn, Chúa Tể và Đấng Cứu Chuộc của con.” |
1. The Great Invocation referenced is really Stanza I of a three-part Great invocation. | 1. Đại Khấn Nguyện được nhắc đến thực ra là Bài kệ I của một Đại Khấn Nguyện gồm ba phần. |
2. Stanza II was given in 1940 and Stanza III in 1945 (the Great Invocation as we normally think of it and sound it). | 2. Bài kệ II được ban vào năm 1940 và Bài kệ III vào năm 1945 (Đại Khấn Nguyện mà chúng ta thường nghĩ đến và xướng lên). |
3. The meditation closes with ancient words which hearken back to the Old Testament. This is really a prayer of the suppliant personality to the over-lighting Solar Angel. | 3. Bài thiền kết thúc bằng những lời cổ xưa gợi về Cựu Ước. Đây thực sự là lời cầu nguyện của phàm ngã khẩn cầu Thái dương Thiên Thần đang soi sáng từ bên trên. |
4. If we wish to approach the Solar Angel, we have been given the right means for doing so. | 4. Nếu muốn tiếp cận Thái dương Thiên Thần, chúng ta đã được trao phương tiện đúng đắn để làm điều đó. |
To the next commentary | Sang phần bình giảng tiếp theo |