DINA I · Bình giảng 8
commentary by Michael D. Robbins | bình giảng của Michael D. Robbins |
The need for telepathic sensitivity in every group, composed of disciples, is based upon three necessities; I would like you to understand this more clearly. | [63]Nhu cầu về sự nhạy cảm viễn cảm trong mỗi nhóm gồm các đệ tử đặt nền tảng trên ba điều thiết yếu; Tôi muốn các bạn thấu hiểu điều này rõ hơn. |
1. The cultivation of an inter-relation of a telepathic nature upon the mental plane is essential. This has always been an established fact or condition in the case of a Master and His disciple and between the senior disciples in any group of accepted disciples. The time has now come when this group quality must — for the sake of a needy world — be developed by disciples of lesser attainment in the group. | 1. Việc trau dồi mối tương quan mang bản chất viễn cảm trên cõi trí là điều thiết yếu. Đây luôn là một thực tại hay điều kiện đã được xác lập trong mối quan hệ giữa một Chân sư và đệ tử của Ngài, cũng như giữa các đệ tử cao cấp trong bất kỳ nhóm đệ tử được chấp nhận nào. Nay đã đến lúc các đệ tử có mức thành tựu thấp hơn trong nhóm phải phát triển phẩm tính nhóm này, vì một thế giới đang cần giúp đỡ. |
1. We understand that the development of telepathic sensitivity is not an option, but a need in every group of disciples which is to be associated with Hierarchy. | 1. Chúng ta thấu hiểu rằng việc phát triển sự nhạy cảm viễn cảm không phải là một lựa chọn, mà là một nhu cầu trong mọi nhóm đệ tử sẽ liên kết với Thánh đoàn. |
2. Such disciples are related to each other primarily on the plane of soul, but the plane of soul is (at this time) the higher mental plane. This is the kind of “mental telepathy” which is to be cultivated — higher mind to higher mind. Such higher telepathy will, of course, have its reflection in the normal form of mental telepathy — which includes ‘concrete’ mental content. | 2. Những đệ tử như thế liên hệ với nhau chủ yếu trên cõi linh hồn, nhưng cõi linh hồn (vào thời điểm này) là cõi thượng trí. Đây là loại “viễn cảm trí tuệ” cần được vun bồi — từ thượng trí đến thượng trí. Dĩ nhiên, loại viễn cảm cao hơn ấy sẽ có sự phản chiếu trong hình thức viễn cảm trí tuệ thông thường — vốn bao gồm nội dung trí tuệ ‘cụ thể’ trong đó. |
3. A familiar theme is enunciated: that which earlier was the prerogative of the Masters, initiates and senior disciples in groups of accepted disciples, must now become the prerogative of disciples of lesser attainment — all for the sake of a needy world. | 3. Một chủ đề quen thuộc được nêu lên: điều trước kia là đặc quyền của các Chân sư, điểm đạo đồ và đệ tử cao niên trong các nhóm đệ tử được chấp nhận, giờ đây phải trở thành đặc quyền của những đệ tử có thành tựu thấp hơn — tất cả đều vì một thế giới đang cần trợ giúp. |
4. The Tibetan is again letting us know that we (and all of Hierarchy) are in the midst of a “forcing process” with both its opportunities and attendant discomforts. | 4. Chân sư Tây Tạng một lần nữa cho chúng ta biết rằng chúng ta (và toàn thể Thánh đoàn) đang ở giữa một “tiến trình thúc đẩy mạnh mẽ” với cả những cơ hội lẫn những khó chịu đi kèm. |
5. Telepathic sensitivity is of the utmost importance so that there may be unanimity among the group brothers — one luminous soul-infused mind. Within an Ashram, all participants must be impressed by how the Master “sees things”. No argument and divisive, divergent points of view are then possible though illuminating discussion and the contribution of each ashramic member are always possible. | 5. Sự nhạy cảm viễn cảm có tầm quan trọng tối cao để có thể có sự nhất trí giữa các huynh đệ trong nhóm — một thể trí sáng ngời duy nhất được linh hồn thấm nhuần. Trong một ashram, tất cả những người tham gia đều phải tiếp nhận ấn tượng từ cách Chân sư “nhìn nhận mọi việc”. Khi ấy, không thể có tranh cãi và những quan điểm khác biệt gây chia rẽ, dù vẫn luôn có thể thảo luận để làm sáng tỏ và đón nhận sự đóng góp của từng thành viên ashram. |
2. This telepathic unfoldment will lead to a greater sensitivity to others. This is the secret of a Master’s work and the factor which enables Him to work through His disciples, using them as outposts of His consciousness. To do this with exactitude, He must be able to know their condition (mental, psychical and physical) when He chooses so to know. He can thus discover whether they are available or not for any specific service, whether they can be safely used or not and whether their sensitivity is such and their interpretation of what they sense is of sufficient accuracy so that they will respond intelligently to the need. Have I not had to study all of you this way? Think this out and ponder upon the implications. | 2. Sự khai mở viễn cảm này sẽ dẫn đến sự nhạy cảm lớn hơn đối với người khác. Đây là bí quyết trong công việc của một Chân sư và là yếu tố giúp Ngài làm việc thông qua các đệ tử, sử dụng họ như những tiền đồn của tâm thức Ngài. Để làm điều này một cách chính xác, Ngài phải có khả năng biết được tình trạng của họ—về trí tuệ, thông linh và hồng trần—bất cứ khi nào Ngài muốn biết. Nhờ đó, Ngài có thể xác định họ có sẵn sàng cho một công việc phụng sự cụ thể hay không, có thể sử dụng họ một cách an toàn hay không, và liệu sự nhạy cảm cùng cách diễn giải những gì họ cảm nhận có đủ chính xác để họ đáp ứng nhu cầu một cách sáng suốt hay không. Chẳng phải Tôi đã phải nghiên cứu tất cả các bạn theo cách này sao? Hãy suy nghĩ thấu đáo về điều này và suy ngẫm những hàm ý của nó. |
1. “Creation” is coalescing through the sensitivity of all parts to each other. Sensitivity it is which reduces isolation and leads to the re-amalgamation of the apparently separated parts. | 1. “Công cuộc sáng tạo” đang kết tụ nhờ sự nhạy cảm của mọi bộ phận đối với nhau. Chính sự nhạy cảm làm giảm sự cô lập và dẫn đến sự tái hợp nhất của những bộ phận có vẻ tách biệt. |
2. The Tibetan speaks of the possibility of knowing another’s thoughts, feelings and physical condition — all through telepathic sensitivity. Such sensitivity, we see, is not limited to the mental realms. The condition of any vehicle or body can be ‘carried’ (“tele”) to a similar vehicle or body (“path”) in another. All aspects of a human being can communicate with similar such aspects in others, and be sensitively registered. | 2. Chân sư Tây Tạng nói về khả năng biết được tư tưởng, cảm xúc và tình trạng thể xác của người khác — tất cả đều thông qua sự nhạy cảm viễn cảm. Chúng ta thấy rằng sự nhạy cảm ấy không chỉ giới hạn trong các cõi trí tuệ. Tình trạng của bất kỳ hiện thể hay thân thể nào cũng có thể được ‘truyền đi’ (“viễn”) đến một hiện thể hay thân thể tương tự (“cảm”) ở người khác. Mọi phương diện của một con người đều có thể giao tiếp với những phương diện tương tự ở người khác, và được ghi nhận một cách nhạy cảm. |
3. The very important phrase “outposts of His consciousness” is used. What does this really mean? An “outpost” can be considered a sensitive sensing device. Just as a human being uses instruments to enhance his states of awareness, so the Master can use His chela as a kind of sensing devise; He can, as it were, ‘see through His chelas eyes’. | 3. Cụm từ rất quan trọng “những tiền đồn của tâm thức Ngài” được sử dụng. Điều này thực sự hàm ý gì? Một “tiền đồn” có thể được xem là một thiết bị cảm nhận nhạy bén. Cũng như con người sử dụng các công cụ để nâng cao những trạng thái nhận biết của mình, Chân sư có thể sử dụng đệ tử của Ngài như một loại thiết bị cảm nhận; có thể nói, Ngài có thể ‘nhìn qua đôi mắt các đệ tử của Ngài’. |
4. Consciousness is a ‘permeable substance’; it can subtly enter and infuse a substance like unto itself. The Master’s consciousness can subtly enter the consciousness of His chela. By so doing, the Master ‘sees’ not only what the chela ‘sees’, but understands with profound intimacy the internal subjective condition of the chela. | 4. Tâm thức là một ‘chất liệu có khả năng thẩm thấu’; nó có thể đi vào và thấm nhuần một cách tinh tế một chất liệu tương tự chính nó. Tâm thức của Chân sư có thể đi vào tâm thức đệ tử của Ngài một cách tinh tế. Qua đó, Chân sư ‘thấy’ không chỉ những gì đệ tử ‘thấy’, mà còn thấu hiểu một cách sâu sắc và tường tận tình trạng chủ quan bên trong của người đệ tử ấy. |
5. It is clear that Master DK studied His chelas in this intimate, subjective way, and based His decisions on what He discovered. Perhaps the Master has, unobtrusively, discovered some of us in this way too. Do we think we might notice when such subjective study was occurring? Perhaps, perhaps not. Perhaps there are moments when we think we feel His presence. At such times, study may be occurring. | 5. Rõ ràng Chân sư DK đã tìm hiểu các đệ tử của Ngài theo cách chủ quan và tường tận này, rồi căn cứ vào những gì Ngài khám phá để đưa ra quyết định. Có lẽ Chân sư cũng đã âm thầm khám phá một số người trong chúng ta theo cách này. Chúng ta có nghĩ rằng mình có thể nhận ra khi sự tìm hiểu chủ quan như thế đang diễn ra không? Có lẽ có, có lẽ không. Có lẽ có những khoảnh khắc chúng ta nghĩ mình cảm thấy sự hiện diện của Ngài. Vào những lúc ấy, có thể sự tìm hiểu đang diễn ra. |
6. The intimate study occurs for three reasons: to determine availability, safety and sensitivity. Disciples are not always in a condition to be used; it is not always safe to use them; they will not always have sufficient sensitivity to guarantee intelligent response to what the Master may seek to impart. The Master takes few chances in this regard. He will not undertake a process which He knows is doomed to failure. | 6. Sự tìm hiểu tường tận này diễn ra vì ba lý do: để xác định mức độ sẵn sàng, sự an toàn và sự nhạy cảm. Các đệ tử không phải lúc nào cũng ở trong tình trạng có thể được sử dụng; không phải lúc nào cũng an toàn khi sử dụng họ; họ không phải lúc nào cũng đủ nhạy cảm để bảo đảm đáp ứng thông minh trước những gì Chân sư có thể muốn truyền đạt. Chân sư ít khi mạo hiểm về phương diện này. Ngài sẽ không tiến hành một tiến trình mà Ngài biết chắc chắn sẽ thất bại. |
7. DK asks His chelas to ponder the implications of the kind of study to which He has subjected them. What (do we think) are those implications? | 7. Chân sư DK yêu cầu các đệ tử của Ngài suy ngẫm về những hàm ý của cách thức Ngài đã tìm hiểu họ. Theo chúng ta, những hàm ý ấy là gì? |
a. Surely, that the Master knows them very well — certainly better than they know themselves. | a. Chắc chắn là Chân sư biết họ rất rõ — chắc chắn rõ hơn họ tự biết mình. |
b. Trust in the Master is advisable, even indispensable. The accuracy of His internal perception and His vast experience ensure that the measures He proposes will be exactly co-measured to the condition He has discovered through intimate investigation. Yet, many of the disciples seemed to distrust (or, at least, resist) His advice and did not follow it. | b. Nên tin cậy Chân sư, thậm chí điều này là không thể thiếu. Sự chính xác trong tri giác nội tâm và kinh nghiệm rộng lớn của Ngài bảo đảm rằng những biện pháp Ngài đề xuất sẽ hoàn toàn tương xứng với tình trạng Ngài đã khám phá qua sự khảo sát tường tận. Tuy nhiên, nhiều đệ tử dường như không tin tưởng (hoặc ít nhất là chống lại) lời khuyên của Ngài và đã không làm theo. |
c. Knowing that such internal study has occurred is a strong invitation to “occult obedience”. It is a humbling experience to be known with utter intimacy. A type of wise acquiescence is required of the disciple and discipleship group in such cases. | c. Biết rằng sự tìm hiểu nội tâm như thế đã diễn ra là một lời mời gọi mạnh mẽ hướng đến “sự tuân phục huyền bí”. Việc được thấu biết đến tận cùng là một trải nghiệm khiến ta trở nên khiêm nhường. Trong những trường hợp như thế, người đệ tử và nhóm đệ tử cần có một sự thuận theo sáng suốt. |
8. I wonder if we have realized how much selflessness it takes to be truly telepathic. The little ego must be entirely out of the way if there is to be truly accurate registration of the condition of another human being. If the would-be sensitive is focussed on himself along with the object of sensitive registration, there will be a ‘conflict-of-interest’ in arena of perception. | 8. Tôi tự hỏi liệu chúng ta đã nhận ra cần có biết bao sự vô ngã để thực sự có khả năng viễn cảm hay chưa. Phàm ngã nhỏ bé phải hoàn toàn lùi sang một bên thì mới có thể ghi nhận thật sự chính xác tình trạng của một con người khác. Nếu người muốn trở nên nhạy cảm lại tập trung vào bản thân đồng thời với đối tượng cần ghi nhận một cách nhạy cảm, thì sẽ có một ‘xung đột lợi ích’ trong lĩnh vực tri giác. |
3. This telepathic sensitivity will also lead to the new science of inter-communication which, in the New Age, will reach general use and comprehension. Of this condition, the radio is the outer physical symbol. | 3. Sự nhạy cảm viễn cảm này cũng sẽ dẫn đến khoa học mới về giao tiếp tương hỗ mà trong Kỷ Nguyên Mới, người ta sẽ sử dụng và thấu hiểu rộng rãi. Vô tuyến truyền thanh là biểu tượng hồng trần bên ngoài của trạng thái này. |
1. The great science of “inter-communication” is well on its way. It has flourished externally in a manner probably unforeseen by all except the most advanced seers. | 1. Khoa học vĩ đại về “giao tiếp qua lại” đang tiến triển mạnh mẽ. Ở bên ngoài, nó đã phát triển rực rỡ theo một cách mà có lẽ không ai lường trước được, ngoại trừ những nhà thông nhãn tiến bộ nhất. |
2. The radio now seems primitive compared to that which the modern television and the Internet can do. | 2. Giờ đây, máy thu thanh có vẻ thô sơ so với những gì truyền hình hiện đại và mạng toàn cầu có thể làm được. |
3. What is the value of this inter-communication? | 3. Giá trị của sự giao tiếp qua lại này là gì? |
a. The rapid illumination of the mind of humanity. | a. Sự soi sáng nhanh chóng trí tuệ của nhân loại. |
b. The end of that form of ignorance based upon lack of contact and perception. | b. Sự chấm dứt dạng vô minh bắt nguồn từ việc thiếu tiếp xúc và tri giác. |
c. The ability to ‘be there’ and thus participate in the experiences of one and all. This will promote an identification with all of humanity and the planet. | c. Khả năng ‘có mặt ở đó’ và nhờ vậy tham dự vào những trải nghiệm của từng người và của tất cả mọi người. Điều này sẽ thúc đẩy sự đồng hoá với toàn thể nhân loại và hành tinh. |
d. Thus, the breaking down of limited ego consciousness, and the coming of the realization that “I am humanity”; “I am the world”. | d. Nhờ đó, tâm thức phàm ngã hạn hẹp sẽ tan rã, và sự nhận biết sẽ xuất hiện rằng “Tôi là nhân loại”; “Tôi là thế giới”. |
4. Humanity is on its way to a pan-human, soul-infused group mind. Significant advances towards this will be noted during the Aquarian Age, with its emphasis upon universality. | 4. Nhân loại đang tiến đến một thể trí nhóm bao trùm toàn thể nhân loại, được linh hồn thấm nhuần. Những bước tiến đáng kể theo hướng này sẽ được ghi nhận trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, với sự nhấn mạnh vào tính phổ quát. |
Certain questions now arise and it might be well to formulate the answers to some of them. It could be wisely asked if anyone has the right to work telepathically upon the mind of any person? The answer is that you are doing it all the time, consciously or unconsciously, and without skill or purpose or — if there is a purpose — it is usually a personality purpose. It is through telepathy that ideas have been disseminated in the world by the process of mentally impressing the mind of some [64] disciple or sensitive person. It is then their task to find and direct the mind and activities of those individuals whose task is not only to be responsive to this impression but to bring it out into the consciousness of the world thinkers. Have you ever asked yourselves what are the aspects of the work, in connection with telepathy, which raise questions in your mind? Is it not distrust of personality intention or point of view and a questioning also as to your own sincerity or motives? Unless this work is carried forward selflessly and with complete freedom from personal prejudice and personal choices — political or religious — there can be no safe work along this line. That is why I emphasise to you the need of doing this work at the highest united point of meditation and with complete obedience to my decisions in the matter. | Lúc này, một số câu hỏi nảy sinh, và có lẽ nên xây dựng câu trả lời cho một vài câu hỏi ấy. Một câu hỏi khôn ngoan có thể là: liệu có ai có quyền tác động bằng viễn cảm lên thể trí của bất kỳ người nào không? Câu trả lời là các bạn vẫn luôn làm điều đó, có ý thức hoặc vô thức, mà không có kỹ năng hay mục đích, hoặc nếu có mục đích thì thường đó là mục đích của phàm ngã. Chính thông qua viễn cảm mà các ý tưởng đã lan truyền trên thế giới, qua tiến trình tạo ấn tượng bằng trí tuệ lên thể trí của một [64] đệ tử hay người nhạy cảm nào đó. Sau đó, nhiệm vụ của họ là tìm đến và hướng dẫn thể trí cùng hoạt động của những cá nhân có nhiệm vụ không chỉ đáp ứng ấn tượng này mà còn đưa nó vào tâm thức của các nhà tư tưởng trên thế giới. Các bạn đã bao giờ tự hỏi những phương diện nào của công việc liên quan đến viễn cảm khiến mình nảy sinh thắc mắc chưa? Chẳng phải đó là sự thiếu tin tưởng vào ý định hay quan điểm của phàm ngã, đồng thời cũng là sự nghi vấn về lòng chân thành hay động cơ của chính mình sao? Trừ khi công việc này được thực hiện một cách vị tha và hoàn toàn thoát khỏi thành kiến cá nhân cùng những lựa chọn cá nhân—về chính trị hay tôn giáo—thì không thể làm việc an toàn theo hướng này. Đó là lý do Tôi nhấn mạnh với các bạn rằng cần thực hiện công việc này tại điểm tham thiền hợp nhất cao nhất và hoàn toàn tuân theo những quyết định của Tôi trong vấn đề này. |
1. The Tibetan poses the dilemma of privacy and intrusion. Is telepathic sensitivity an intrusion into the mind of another? And, if so, is this intrusion justifiable? | 1. Chân sư Tây Tạng nêu lên tình thế khó xử giữa quyền riêng tư và sự xâm nhập. Liệu sự nhạy cảm viễn cảm có phải là sự xâm nhập vào thể trí của người khác không? Và nếu vậy, sự xâm nhập này có chính đáng không? |
2. Master DK’s answer to this concern is surprising; apparently we are working upon each other’s minds all the time and, usually, without skill or purpose. If purpose exists, it is usually selfish, personality purpose. Since, because of our very nature, we cannot help but influence others, we had best do it in the right manner. | 2. Câu trả lời của Chân sư DK trước mối quan ngại này thật đáng ngạc nhiên; dường như chúng ta đang tác động lên thể trí của nhau mọi lúc và thường thiếu kỹ năng hay mục đích. Nếu có mục đích thì thường đó là mục đích ích kỷ của phàm ngã. Vì chính bản chất của chúng ta khiến chúng ta không thể không ảnh hưởng đến người khác, tốt hơn hết là chúng ta nên làm điều đó đúng cách. |
3. The entire process of manifestation works through mental telepathy. Ideas or thoughts descend from ‘above’, inspired by higher spiritual sources. These ideas impress lesser minds, and the lesser minds impress still lesser minds. It is all one great hierarchy of impression and response to impression. | 3. Toàn bộ tiến trình biểu hiện vận hành qua viễn cảm trí tuệ. Các ý tưởng hay tư tưởng giáng xuống từ ‘trên cao’, nhận cảm hứng từ những nguồn tinh thần cao hơn. Những ý tưởng này tạo ấn tượng lên các thể trí thấp hơn, và các thể trí thấp hơn lại tạo ấn tượng lên những thể trí còn thấp hơn nữa. Tất cả hợp thành một hệ thống thứ bậc rộng lớn duy nhất của sự tạo ấn tượng và đáp ứng với ấn tượng. |
4. We, as disciples, have the task not only to be receptive to impression from the Masters and higher ‘impressive agencies’, but to find and impress other minds who are suitable for carrying out in some useful and practical manner that with which we have been impressed. | 4. Là các đệ tử, chúng ta có nhiệm vụ không chỉ tiếp nhận ấn tượng từ các Chân sư và những ‘tác nhân tạo ấn tượng’ cao hơn, mà còn phải tìm kiếm và tạo ấn tượng lên những thể trí khác thích hợp để thực hiện, theo một cách hữu ích và thiết thực nào đó, những gì đã tạo ấn tượng lên chúng ta. |
5. Since telepathy is such an inevitability the Tibetan asks his disciples to question themselves about their uneasiness when the subject of telepathy is raised. | 5. Vì viễn cảm là điều tất yếu như vậy, Chân sư Tây Tạng yêu cầu các đệ tử của Ngài tự vấn về sự bất an của họ khi đề cập đến chủ đề viễn cảm. |
6. DK tells his disciples that their concerns are based upon distrust and personality attitudes. Perhaps, knowing their own occasionally undesirable thoughts, they suspect that others may also have equally undesirable thought content. The disciples do not wish to be influenced by their fellow disciples; nor do they feel sufficiently purified to be deliberately influencing their fellow disciples. Clearly, an attitude of greater love and trust would resolve this inhibitory attitude. | 6. Chân sư DK nói với các đệ tử của Ngài rằng những mối quan ngại của họ bắt nguồn từ sự thiếu tin tưởng và các thái độ của phàm ngã. Có lẽ, vì biết đôi khi chính mình có những tư tưởng không đáng có, họ nghi ngờ rằng người khác cũng có thể có nội dung tư tưởng không đáng có như vậy. Các đệ tử không muốn chịu ảnh hưởng của các đệ tử đồng môn; họ cũng không cảm thấy mình đã đủ thanh luyện để chủ ý ảnh hưởng đến các đệ tử đồng môn. Rõ ràng, một thái độ giàu tình thương và lòng tin hơn sẽ hóa giải thái độ gây cản trở này. |
7. DK informs His disciples that unless the telepathic work is to be carried forward “selflessly and with complete freedom from personal prejudice and personal choices — political or religious — there can be no safe work along this line”. | 7. Chân sư DK cho các đệ tử của Ngài biết rằng trừ khi công việc viễn cảm được tiến hành “một cách vô ngã và hoàn toàn thoát khỏi thành kiến cá nhân cùng những lựa chọn cá nhân — về chính trị hay tôn giáo — thì không thể có công việc an toàn theo đường hướng này”. |
8. During such work, therefore, there is to be no attention at all on the little personal self. The concrete, judgmental mind is to be suspended, and no points of view are to be forced upon another. Those working thus are to render themselves open to the higher, selfless currents which represent the Divine Plan. We might say that this kind of work can only be well and safely accomplished by those who are “soul-infused”. | 8. Vì vậy, trong công việc như thế, tuyệt nhiên không được chú tâm vào cái tôi cá nhân nhỏ bé. Phải tạm ngưng hoạt động của trí cụ thể hay phán xét, và không được áp đặt bất kỳ quan điểm nào lên người khác. Những người làm việc theo cách này phải mở lòng đón nhận các dòng năng lượng cao hơn, vô ngã, tiêu biểu cho Thiên Cơ. Chúng ta có thể nói rằng chỉ những người “được linh hồn thấm nhuần” mới có thể hoàn thành tốt đẹp và an toàn loại công việc này. |
9. Deliberate telepathic work is not to be undertaken casually, but only from a high point in meditation. | 9. Không được tiến hành công việc viễn cảm có chủ ý một cách tùy tiện, mà chỉ được thực hiện từ một điểm cao trong tham thiền. |
10. The Tibetan’s call for complete obedience to His instructions and decisions should chasten all of us. We do not know so much that we can afford to intrude our own points of view in an occult experiment the full nature of which we do not understand. When one trusts a great Teacher, it makes sense, also, to trust His advice. | 10. Lời kêu gọi của Chân sư Tây Tạng về việc hoàn toàn tuân theo các huấn thị và quyết định của Ngài hẳn phải khiến tất cả chúng ta khiêm nhường hơn. Chúng ta chưa hiểu biết đến mức có thể tùy ý đưa quan điểm riêng của mình vào một cuộc thử nghiệm huyền bí mà chúng ta chưa thấu hiểu đầy đủ bản chất. Khi tin tưởng một Huấn sư vĩ đại, việc tin tưởng cả lời khuyên của Ngài cũng là điều hợp lý. |
11. Of course, we find ourselves in a rather different position than did the disciples whom Master DK chose to comprise His various experimental groups, yet there are many occasions when the Master’s advice is offered to all His readers. It is no suspension of our individual rights to attend very carefully to what He says and carry it out (if we can) as scrupulously as possible. | 11. Dĩ nhiên, chúng ta ở trong một hoàn cảnh khá khác với các đệ tử mà Chân sư DK đã chọn để hợp thành những nhóm thử nghiệm khác nhau của Ngài, tuy nhiên, có nhiều trường hợp lời khuyên của Chân sư dành cho tất cả độc giả của Ngài. Việc hết sức chú tâm đến những gì Ngài nói và thực hiện những điều ấy chu đáo hết mức có thể (nếu chúng ta làm được) không hề đình chỉ các quyền cá nhân của chúng ta. |
Another question could well be: What is the difference between this work which I am suggesting to you and the work of the Lodge of the Lords of Form? | Một câu hỏi khác rất có thể là: Có gì khác biệt giữa công việc Tôi đang đề nghị các bạn làm và công việc của Đoàn các Chúa Tể Hình Tướng? |
None whatsoever, except in motive and the point from which you must endeavour to work. The Lords of Form work entirely on and from the lower levels of the mental plane and with the energy of knowledge. The love aspect of the soul itself is inactive and, therefore, from the angle and vision of the Great White Lodge, motives are wrong and the objectives are selfish ones. This is true both of individuals and groups. Forget not that these Lords of Form are souls of great age and unique blindness. But that later, in some far distant cycle, and when karma has worked upon them and the Great Law has exacted full payment for all wrong done, that they too will begin to develop the love aspect and to transmute their motives. You too must work from mental levels but knowledge and love must be called into play together, producing only those results which are harmoniously and intelligently in line with the Plan. Disciples are not permitted to call into play and functioning activity the Will aspect of the soul, unless they are initiates of the third degree. Prior to that, they seldom realise the distinction between the imposition of the will and the directed impression of ideas. There is too much desire (which is embryonic will) in their equipment for them to be trusted as yet with this higher aspect of mental activity. I would ask you to get clearly in your minds in connection [65] with any telepathic work which these groups (working under me) should do, that it is the impression of ideas and not imposed direction which is the group ideal — a very different thing, my brother. | Hoàn toàn không có khác biệt nào, ngoại trừ động cơ và điểm xuất phát mà các bạn phải cố gắng làm việc từ đó. Các Chúa Tể Hình Tướng làm việc hoàn toàn trên và từ những cấp độ thấp của cõi trí, với năng lượng tri thức. Phương diện bác ái của chính linh hồn không hoạt động, do đó, theo góc nhìn và tầm nhìn của Thánh đoàn, động cơ của họ là sai lầm và mục tiêu của họ mang tính ích kỷ. Điều này đúng với cả cá nhân lẫn nhóm. Đừng quên rằng các Chúa Tể Hình Tướng này là những linh hồn có tuổi đời rất lâu và sự mù quáng khác thường. Nhưng về sau, trong một chu kỳ xa xôi nào đó, khi nghiệp quả đã tác động lên họ và Định Luật Vĩ Đại đã buộc họ trả đầy đủ mọi điều sai trái đã làm, thì họ cũng sẽ bắt đầu phát triển phương diện bác ái và chuyển hoá động cơ của mình. Các bạn cũng phải làm việc từ những cấp độ trí tuệ, nhưng tri thức và tình thương phải cùng được vận dụng, chỉ tạo ra những kết quả phù hợp một cách hài hòa và sáng suốt với Thiên Cơ. Các đệ tử không được phép khơi dậy và đưa phương diện Ý Chí của linh hồn vào hoạt động, trừ khi họ là những điểm đạo đồ bậc ba. Trước đó, họ hiếm khi nhận ra sự khác biệt giữa việc áp đặt ý chí và việc tạo ấn tượng có định hướng bằng các ý tưởng. Trong các phương tiện của họ còn quá nhiều dục vọng—vốn là ý chí ở dạng phôi thai—nên chưa thể tin cậy giao cho họ phương diện cao hơn này của hoạt động trí tuệ. Liên quan [65] đến bất kỳ công việc viễn cảm nào mà các nhóm này, đang làm việc dưới sự hướng dẫn của Tôi, cần thực hiện, Tôi đề nghị các bạn nắm rõ trong thể trí rằng lý tưởng của nhóm là tạo ấn tượng bằng các ý tưởng, chứ không phải áp đặt sự chỉ đạo—đó là hai điều rất khác nhau, huynh đệ của tôi. |
1. The Tibetan poses another question which may well have been in the minds of His students: “What is the difference between this work which I am suggesting to you and the work of the Lodge of the Lords of Form?” And again, He offers a surprising answer. There is no difference — except in the realm of motive and point of departure. | 1. Chân sư Tây Tạng nêu lên một câu hỏi khác có lẽ đã có trong thể trí các đạo sinh của Ngài: “Đâu là sự khác biệt giữa công việc Tôi đang đề nghị các bạn thực hiện với công việc của Hội đoàn các Chúa Tể Hình Tướng?” Và một lần nữa, Ngài đưa ra một câu trả lời đáng ngạc nhiên. Không có sự khác biệt nào — ngoại trừ về động cơ và điểm xuất phát. |
2. We learn of the great intelligence of the Lords of Form, but, in them, the love aspect is “inactive”. The Tibetan did not say it was missing, for in the distant future (after much balancing suffering) love will be accessed and utilized, and redemption will come. | 2. Chúng ta biết được trí thông minh lớn lao của các Chúa Tể Hình Tướng, nhưng ở họ, phương diện bác ái “không hoạt động”. Chân sư Tây Tạng không nói rằng phương diện ấy vắng thiếu, bởi trong tương lai xa xôi (sau nhiều đau khổ để tái lập sự cân bằng), họ sẽ tiếp cận và vận dụng bác ái, rồi sự cứu chuộc sẽ đến. |
3. The Lords of Form are concentrated on the concrete levels of the mental plane. In their particular case, the love of the soul does not infuse these levels as it should and must in the case of a disciple of the Great White Lodge. It is interesting to realize that, in the case of a “Dark Brother”, the lower mind has separated itself from soul influence forming a kind of “eighth sphere” — a happening which the Tibetan considers an unqualified disaster. | 3. Các Chúa Tể Hình Tướng tập trung vào các cấp độ cụ thể của cõi trí. Trong trường hợp riêng của họ, bác ái của linh hồn không thấm nhuần các cấp độ này như đáng lẽ phải có và nhất thiết phải có nơi một đệ tử của Thánh đoàn. Thật thú vị khi nhận ra rằng, trong trường hợp của một “huynh đệ bóng tối”, hạ trí đã tách khỏi ảnh hưởng của linh hồn, hình thành một loại “khối cầu thứ tám” — một diễn biến mà Chân sư Tây Tạng coi là một thảm họa hoàn toàn. |
4. A selfish objective is one which fulfills the limited and limiting desire of the part rather than the good of the whole. The Brothers of Form (in an unusually descriptive phrase) are called “souls of great age and unique blindness”. They were highly developed even in the first solar system and were considered initiates of that system. They sought to perpetuate in this solar system the successes they achieved in the former system. The methods they chose were against the laws of this system, and especially against the Law of Love. | 4. Một mục tiêu ích kỷ là mục tiêu thỏa mãn dục vọng hữu hạn và gây giới hạn của bộ phận thay vì lợi ích của toàn thể. Các Huynh Đệ Hình Tướng được gọi (bằng một cụm từ giàu sức mô tả khác thường) là “những linh hồn có tuổi đời rất lâu và sự mù quáng độc nhất”. Họ đã phát triển cao ngay từ hệ mặt trời thứ nhất và được xem là các điểm đạo đồ của hệ ấy. Họ tìm cách duy trì trong hệ mặt trời này những thành công đã đạt được trong hệ trước. Những phương pháp họ chọn đi ngược lại các định luật của hệ này, đặc biệt là Định luật Bác Ái. |
5. The term “unique blindness” is quite interesting. It suggests a very unusual form of blindness which is not simply the result of ordinary ignorance. It suggests what might be called ‘willful blindness’, a refusal to see that which is obvious to most self-conscious units of life in the second solar system. It is not that the Lords of Form could not see. Rather, they do not want to and do not will to. To see as see those of more loving heart, would compromise their single-minded intent to achieve power for themselves. They have justified their course of action thoroughly and choose to eject any perception which would compromise the self-centered ferocity of their chosen world-view. | 5. Thuật ngữ “sự mù quáng độc nhất” khá thú vị. Nó gợi lên một dạng mù quáng rất khác thường, không đơn thuần là kết quả của sự vô minh thông thường. Nó gợi lên điều có thể gọi là ‘sự mù quáng cố ý’, một sự khước từ nhìn thấy những gì hiển nhiên đối với phần lớn các đơn vị sự sống có ngã thức trong hệ mặt trời thứ hai. Không phải các Chúa Tể Hình Tướng không thể thấy. Mà đúng hơn, họ không muốn thấy và không chí nguyện thấy. Nhìn thấy như những người có trái tim giàu tình thương hơn nhìn thấy sẽ làm suy yếu ý định nhất tâm giành quyền lực cho chính mình của họ. Họ đã biện minh cặn kẽ cho đường lối hành động của mình và chọn loại bỏ bất kỳ nhận thức nào có thể làm suy yếu sự quyết liệt tập trung vào bản thân trong thế giới quan họ đã chọn. |
6. The far-distant cycle which offers them redemption may well be a future solar system. It is impossible for students of our kind to know with certainty. The point to be grasped is that love will eventually enter their lives after the Great Law has been justly fulfilled, and their stupendous karmic debts have been repaid. | 6. Chu kỳ xa xôi mang lại sự cứu chuộc cho họ rất có thể là một hệ mặt trời tương lai. Những đạo sinh như chúng ta không thể biết chắc điều đó. Điểm cần nắm bắt là cuối cùng tình thương sẽ đi vào cuộc sống của họ sau khi Định Luật Vĩ Đại đã được thực thi công minh và những món nợ nghiệp quả khổng lồ của họ đã được hoàn trả. |
7. DK’s chelas are told that they also must work from mental levels, but the mind will be joined to love; in other words, the mind will become soul infused and will not engage in selfish purposings. Thoughts will be created which are intelligently harmonious in relation to the Divine Plan. | 7. Các đệ tử của Chân sư DK được dạy rằng họ cũng phải làm việc từ các cấp độ trí tuệ, nhưng thể trí sẽ kết hợp với bác ái; nói cách khác, thể trí sẽ được linh hồn thấm nhuần và sẽ không theo đuổi những mục đích ích kỷ. Họ sẽ tạo ra những tư tưởng hài hòa một cách sáng suốt với Thiên Cơ. |
8. Master DK points to a very important restraint upon His disciples: they may not use the power of their will to impose direction upon others. Only initiates of the third degree are allowed to call the will into play. After that degree has been experienced, the entire personality has been flooded with love-wisdom, and the will can be wisely used. Even then, the will is not allowed to determine the direction of others. The Brother of Light is not allowed to compromise or violate the freewill of his fellow human beings. | 8. Chân sư DK chỉ ra một giới hạn rất quan trọng đối với các đệ tử của Ngài: họ không được dùng quyền năng của ý chí để áp đặt đường hướng lên người khác. Chỉ các điểm đạo đồ bậc ba mới được phép huy động ý chí. Sau khi đã trải qua bậc điểm đạo ấy, toàn bộ phàm ngã đã tràn ngập bác ái – minh triết, và ý chí có thể được sử dụng một cách minh triết. Ngay cả khi ấy, cũng không được dùng ý chí để quyết định đường hướng của người khác. Huynh Đệ Ánh Sáng không được làm tổn hại hay vi phạm ý chí tự do của đồng loại. |
9. The distinction which Master DK calls to our attention is that between the “imposition of the will” and the “directed impression of ideas”. He tells us that it is not easy for disciples to make the distinction. | 9. Sự phân biệt mà Chân sư DK lưu ý chúng ta là giữa “việc áp đặt ý chí” và “việc tạo ấn tượng bằng các ý tưởng có định hướng”. Ngài nói với chúng ta rằng các đệ tử không dễ phân biệt được điều này. |
10. What, then, is the distinction? When will is imposed, direction is pre-determined. The faculty of choice is neutralized in the one upon whom the will is imposed. That individual is no longer self-determining. When, however, ideas are directed towards an individual, the ‘center of choice’ is never the target. The person toward whom ideas are directed is allowed to remain free. Directed ideas may be strongly present and readily available because they are directed, but directed ideas do not compel. Rather, they impel. There is an old saying about the “stars” which carries the same thought: “the stars impel, they do not compel”. It might be said, in this context, that the “stars” know the law. | 10. Vậy sự khác biệt là gì? Khi ý chí bị áp đặt, đường hướng đã được định trước. Khả năng lựa chọn của người chịu sự áp đặt ý chí bị vô hiệu hóa. Cá nhân ấy không còn tự quyết nữa. Tuy nhiên, khi các ý tưởng được hướng đến một cá nhân, ‘trung tâm lựa chọn’ không bao giờ là mục tiêu nhắm tới. Người tiếp nhận các ý tưởng được hướng đến mình vẫn giữ tự do. Các ý tưởng có định hướng có thể hiện diện mạnh mẽ và sẵn có để tiếp nhận vì chúng được định hướng, nhưng các ý tưởng có định hướng không cưỡng ép. Đúng hơn, chúng thúc đẩy. Có một câu nói xưa về “các vì sao” mang cùng tư tưởng ấy: “các vì sao thúc đẩy, chứ không cưỡng ép”. Trong ngữ cảnh này, có thể nói rằng “các vì sao” biết định luật. |
11. Desire is not will, though it is embryonic will. One who has not passed the third degree is still desire-driven, or, in any case, has too much of desire present to be trusted with what the Tibetan calls “this higher aspect of mental activity” — presumably, the power to wield the will aspect of the soul. | 11. Dục vọng không phải là ý chí, dù nó là ý chí ở dạng phôi thai. Người chưa vượt qua bậc điểm đạo thứ ba vẫn chịu sự thúc đẩy của dục vọng, hoặc trong mọi trường hợp, vẫn còn quá nhiều dục vọng nên chưa thể được tin cậy giao cho điều mà Chân sư Tây Tạng gọi là “phương diện cao hơn này của hoạt động trí tuệ” — có lẽ là quyền năng vận dụng phương diện ý chí của linh hồn. |
12. Very simply, we are not allowed to force with our minds. Our task is to make rightly directed thought available to those who may need it, and through the luminosity of that thought, to clarify the way of those who are uncertain about the implications of various lines of possible action. We envision a positive issue to troubled circumstances, and we, thereby, help others see the possibility of that positive issue, but we do not force actions on any level. Otherwise, we rob another human being of the autonomy of his center. This is a form of spiritual ‘theft’ and is not permitted under the Good Law. All men must “return to God” willingly. | 12. Nói thật đơn giản, chúng ta không được phép cưỡng ép bằng thể trí của mình. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho tư tưởng được định hướng đúng đắn sẵn có đối với những người có thể cần đến nó, và qua ánh sáng của tư tưởng ấy, làm sáng tỏ con đường cho những người còn chưa chắc chắn về hệ quả của các đường lối hành động khả dĩ khác nhau. Chúng ta hình dung một kết cục tích cực cho những hoàn cảnh khó khăn, qua đó giúp người khác thấy khả năng đạt được kết cục tích cực ấy, nhưng chúng ta không cưỡng ép hành động trên bất kỳ cấp độ nào. Nếu làm thế, chúng ta tước đoạt của một người khác quyền tự chủ nơi trung tâm của y. Đây là một hình thức ‘trộm cắp’ về mặt tinh thần và Thiện Luật không cho phép điều đó. Mọi người phải “trở về với Thượng đế” một cách tự nguyện. |
You might also ask: How can this collective impressing go on and yet leave a man free? | Các bạn cũng có thể hỏi: Làm sao việc tạo ấn tượng tập thể này có thể diễn ra mà vẫn để con người được tự do? |
Because it will be kept clear of all directed will-force; all that workers and disciples in my groups will seek to do is to impress certain minds with the outlines or suggestions as to the Plan; these ideas will deal particularly with the concept that separation is a thing of the past and that unity is the goal of the immediate future; that hatred is retro-active and undesirable and that goodwill is the touchstone which will transform the world. | Bởi vì công việc ấy sẽ hoàn toàn không có mãnh lực ý chí có định hướng; tất cả những gì các người hoạt động và đệ tử trong các nhóm của Tôi tìm cách làm là tạo ấn tượng lên một số thể trí bằng những nét phác thảo hay gợi ý về Thiên Cơ; những ý tưởng này sẽ đặc biệt đề cập đến quan niệm rằng chia rẽ là chuyện của quá khứ và hợp nhất là mục tiêu của tương lai trước mắt; rằng hận thù kéo lùi sự tiến bộ và là điều không đáng mong muốn, còn thiện chí là đá thử vàng sẽ chuyển đổi thế giới. |
1. The Tibetan asks the question we have just been considering. How can there be strongly directed impression (even “collective” impression) which leaves free those who are impressed? | 1. Chân sư Tây Tạng đặt câu hỏi mà chúng ta vừa xem xét. Làm thế nào có thể có sự tạo ấn tượng được định hướng mạnh mẽ (thậm chí là sự tạo ấn tượng “tập thể”) mà vẫn để những người tiếp nhận ấn tượng được tự do? |
2. The answer is that all such impression will be “kept clear of all directed will-force”. The moment we think (when exercising mental telepathy), “you will do what I think”, we have violated the law. | 2. Câu trả lời là mọi sự tạo ấn tượng như thế sẽ “hoàn toàn không có mãnh lực ý chí có định hướng”. Ngay khi chúng ta nghĩ (trong lúc thực hành viễn cảm trí tuệ), “người ấy phải làm theo điều tôi nghĩ”, chúng ta đã vi phạm định luật. |
3. We note that the Tibetan uses the word “suggestions”. He often tells us that a Master will never command but only suggest. It may be that seem that this would be truer of a second ray Master, but, according to DK, it is true of all. “God” must emerge in all units of life, and God is free. | 3. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng dùng từ “gợi ý”. Ngài thường nói với chúng ta rằng một Chân sư sẽ không bao giờ ra lệnh mà chỉ gợi ý. Có vẻ điều này đúng hơn với một Chân sư cung hai, nhưng theo Chân sư DK, điều đó đúng với tất cả các Ngài. “Thượng đế” phải hiển lộ trong mọi đơn vị sự sống, và Thượng đế vốn tự do. |
4. Master DK shares with us the kind of suggestions which directed thought impression should carry — suggestions concerning the uselessness of separation, the retrogressiveness of hatred and the value of unity and goodwill. All of these suggestions relate to the nature of the Divine Plan. God-as-Sanat-Kumara is attempting to impress all within His sphere of influence with the nature of the Plan. We who are in the flow of that directed impression simply seek to pass the impression along at our own level of possible influence. | 4. Chân sư DK chia sẻ với chúng ta loại gợi ý mà việc tạo ấn tượng bằng tư tưởng có định hướng nên truyền tải — những gợi ý về sự vô ích của chia rẽ, tính thụt lùi của hận thù và giá trị của sự hợp nhất cùng thiện chí. Tất cả những gợi ý này đều liên quan đến bản chất của Thiên Cơ. Thượng đế trong cương vị Sanat Kumara đang tìm cách tạo ấn tượng về bản chất của Thiên Cơ lên tất cả những gì nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài. Chúng ta, những người ở trong dòng ấn tượng có định hướng ấy, chỉ tìm cách truyền tiếp ấn tượng trong phạm vi ảnh hưởng mà mình có thể tạo ra. |
5. The more clearly we formulate thoughts which convey these understandings, the more readily will the mind of humanity be influenced positively. | 5. Chúng ta càng hình thành rõ ràng những tư tưởng truyền tải các hiểu biết này, thể trí nhân loại càng dễ đón nhận ảnh hưởng tích cực. |
6. When a mind is impressed by a disciple, initiate or Master of the Great White Lodge, what happens? A current of benevolently directed thought enters the mental field and there abides vividly and in strength. The one impressed sees more through the presence of that thought, and the direction of his thinking is potentially illumined. It is as if points of light had been implanted in the mental aura; these points act as beacons toward a more positive future, offering a wider range of choice to the one who (on his own) must decide — determining his own direction through his own choice. | 6. Khi một đệ tử, điểm đạo đồ hoặc Chân sư của Thánh đoàn tạo ấn tượng lên một thể trí, điều gì xảy ra? Một dòng tư tưởng được định hướng một cách thiện lành đi vào trường trí tuệ và lưu lại đó một cách sống động, mạnh mẽ. Người tiếp nhận ấn tượng thấy được nhiều hơn nhờ sự hiện diện của tư tưởng ấy, và đường hướng tư duy của y có khả năng được soi sáng. Như thể những điểm sáng đã được cấy vào hào quang trí tuệ; các điểm sáng này đóng vai trò như những ngọn hải đăng hướng đến một tương lai tích cực hơn, mở ra phạm vi lựa chọn rộng hơn cho người phải tự mình quyết định — xác định đường hướng của chính mình qua sự lựa chọn của chính mình. |
How then can you keep your minds free from your own desires and from your own interpretations? By achieving that poised and positive negativity on the part of the two lower aspects of the personality — the astral body and the brain as well as the etheric brain; these determine the reactions of the lower centres, particularly of the solar plexus centre. | Vậy làm sao các bạn có thể giữ thể trí mình thoát khỏi những dục vọng và những cách diễn giải của riêng mình? Bằng cách đạt được tính thụ nhận quân bình và tích cực nơi hai phương diện thấp của phàm ngã—thể cảm dục và bộ não, cũng như bộ não dĩ thái; chúng quyết định những phản ứng của các trung tâm thấp, đặc biệt là trung tâm tùng thái dương. |
1. The Tibetan becomes very practical. If desire (especially personal desire) is an obstacle to rightly motivated telepathy in line with the Divine Plan, how does the chela remain free from such desire, and from his own mental interpretations and formulations which also obstruct the correct process? | 1. Chân sư Tây Tạng đi vào những điều rất thiết thực. Nếu dục vọng (đặc biệt là dục vọng cá nhân) là một trở ngại đối với viễn cảm có động cơ đúng đắn, phù hợp với Thiên Cơ, thì làm thế nào người đệ tử giữ mình thoát khỏi dục vọng ấy, cũng như những cách diễn giải và hình thành tư tưởng của riêng mình vốn cũng cản trở tiến trình đúng đắn? |
2. A specific occult suggestion is offered: the chela is to achieve a “poised and positive negativity on the part of the two lower aspects of the personality”. There is something enigmatical about this phrase, for the Tibetan speaks of a “positive negativity”. It is clear that the focus of the disciple is to be ‘above’ the astral body and the etheric and physical brains. These three factors in the disciple’s makeup are not to assume a positive, impulsive position. With positive vigilance, the disciple is to ensure that they remain receptive (thus, negative), and do not interfere with the motive and direction of the telepathic process. | 2. Một gợi ý huyền bí cụ thể được đưa ra: người đệ tử phải đạt được “tính âm quân bình và tích cực nơi hai phương diện thấp của phàm ngã”. Cụm từ này có điều gì đó bí ẩn, bởi Chân sư Tây Tạng nói đến “tính âm tích cực”. Rõ ràng, trọng tâm của người đệ tử phải ở ‘bên trên’ thể cảm dục cùng bộ não dĩ thái và bộ não hồng trần. Ba yếu tố này trong cấu tạo của người đệ tử không được giữ vai trò chủ động, phát động xung lực. Với sự tỉnh giác tích cực, người đệ tử phải bảo đảm rằng chúng luôn ở trạng thái tiếp nhận (do đó, mang tính âm), và không can thiệp vào động cơ cùng đường hướng của tiến trình viễn cảm. |
3. An interesting piece of occultism is offered for our consideration: the astral body and etheric and physical brains “determine the reactions of the lower centres, particularly of the solar plexus center”. In this type of mental telepathy, the solar plexus and the lower centers are not to be active — at least they are not to interfere with the direction of higher thought, though they may be eventually impressed as a result of that higher thought. | 3. Một điểm thú vị trong huyền bí học được đưa ra để chúng ta xem xét: thể cảm dục cùng bộ não dĩ thái và bộ não hồng trần “quyết định các phản ứng của những trung tâm thấp, đặc biệt là trung tâm tùng thái dương”. Trong loại viễn cảm trí tuệ này, tùng thái dương và các trung tâm thấp không được hoạt động — ít nhất chúng không được can thiệp vào đường hướng của tư tưởng cao hơn, dù cuối cùng chúng có thể tiếp nhận ấn tượng như một kết quả của tư tưởng cao hơn ấy. |
4. The kind of telepathic activity suggested by the Tibetan does not, therefore, involve the ‘irrational’ aspects of the energy system. When we reach the level of mind, we enter the realm of rationality. | 4. Vì vậy, loại hoạt động viễn cảm mà Chân sư Tây Tạng đề nghị không liên quan đến những phương diện ‘phi lý tính’ của hệ thống năng lượng. Khi đạt đến cấp độ thể trí, chúng ta bước vào lĩnh vực lý tính. |
The mind will then be left free to fulfil three functions: | Khi ấy, thể trí sẽ được tự do để thực hiện ba chức năng: |
1. That of soul contact; this will result in illumination and a working knowledge of the immediate aspects of the Plan. | 1. Tiếp xúc với linh hồn; điều này sẽ đem lại sự soi sáng và hiểu biết thực tiễn về những phương diện trước mắt của Thiên Cơ. |
2. That of thought formulation and thoughtform creation. Then a clear thoughtform can be constructed with definiteness, and it can be positively directed. | 2. Định hình tư tưởng và tạo ra hình tư tưởng. Khi ấy, một hình tư tưởng rõ ràng có thể được xây dựng một cách xác định và được định hướng một cách tích cực. |
3. That of working on mental levels with your group brothers so that your thoughtform is a part of their thoughtform and you can, therefore, unitedly produce a living, embodied form which can be directed as I may determine. | 3. Làm việc trên các cấp độ trí tuệ với các huynh đệ trong nhóm, sao cho hình tư tưởng của các bạn là một phần trong hình tư tưởng của họ, nhờ đó các bạn có thể cùng nhau tạo ra một hình tướng sống động, có hiện thân, có thể được định hướng theo quyết định của Tôi. |
1. Master DK outlines how the mind of the disciple is to be used in the telepathic process, and how that mind is to be related to the group of disciplic minds of which it forms a part. | 1. Chân sư DK phác thảo cách sử dụng thể trí của người đệ tử trong tiến trình viễn cảm, và cách thể trí ấy phải liên hệ với nhóm các thể trí đệ tử mà nó là một thành phần. |
2. The mind is to be receptive to the soul; this will produce illumination and a practical knowledge of the Plan. This receptivity is related to the second aspect of divinity. | 2. Thể trí phải tiếp nhận linh hồn; điều này sẽ mang lại sự soi sáng và hiểu biết thực tiễn về Thiên Cơ. Khả năng tiếp nhận này liên quan đến phương diện thứ hai của thiên tính. |
3. The mind is also to be creatively active; clear, definite thoughtforms are to be built and positively directed (but by whom?). This type of creativity is related to the third aspect. | 3. Thể trí cũng phải hoạt động sáng tạo; phải xây dựng những hình tư tưởng rõ ràng, xác định và chủ động định hướng chúng (nhưng ai định hướng?). Loại sáng tạo này liên quan đến phương diện thứ ba. |
4. We note that the telepathic disciple is to be aware of the thoughtforms produced by his fellow disciples. He is to contribute to the unification of thoughtforms produced by himself and his brothers. The result of the amalgamation of such thoughtforms is the production of a “living, embodied form”. | 4. Chúng ta lưu ý rằng người đệ tử thực hành viễn cảm phải nhận biết các hình tư tưởng do những đệ tử đồng môn tạo ra. Y phải góp phần hợp nhất những hình tư tưởng do chính mình và các huynh đệ tạo ra. Kết quả của sự hòa nhập những hình tư tưởng như thế là tạo ra một “hình tướng sống động, đã có hiện thân”. |
5. Very interestingly, in this instance, it is the Tibetan Who assumes the role of directing the united form, and that direction proceeds according to His determination. | 5. Điều rất thú vị là trong trường hợp này, chính Chân sư Tây Tạng đảm nhận vai trò định hướng hình tướng đã hợp nhất, và sự định hướng ấy diễn ra theo quyết định của Ngài. |
6. The chelas, therefore, are working principally with the second and third aspects of divinity. The Master assumes responsibility for the application of the first aspect. | 6. Vì vậy, các đệ tử làm việc chủ yếu với phương diện thứ hai và thứ ba của thiên tính. Chân sư đảm nhận trách nhiệm áp dụng phương diện thứ nhất. |
7. How can a disciple facilitate the blending of his thoughtform with the thoughtforms created by his fellow disciples? Perhaps, by offering up his thought to the group pool of lighted thought, and ‘seeing’ it merge harmoniously with similar thoughts produced by his brothers. | 7. Làm thế nào một đệ tử có thể tạo thuận lợi cho việc hòa trộn hình tư tưởng của mình với các hình tư tưởng do những đệ tử đồng môn tạo ra? Có lẽ bằng cách dâng tư tưởng của mình vào nguồn tư tưởng tràn đầy ánh sáng chung của nhóm, và ‘thấy’ nó hòa nhập một cách hài hòa với những tư tưởng tương tự do các huynh đệ tạo ra. |
8. We note that the unified form produced must be both “living” and “embodied”. Simply, it must be animated by the soul and infused by the soul. The thoughtforms must ‘live with love’. Then they will be truly constructive, for love is the great constructive force. One can hardly offer up separative thoughtforms to the Master for His use! | 8. Chúng ta lưu ý rằng hình tướng hợp nhất được tạo ra phải vừa “sống động” vừa “có hình hài”. Nói đơn giản, linh hồn phải truyền sự sống cho hình tướng ấy và thấm nhuần nó. Các hình tư tưởng phải ‘sống bằng tình thương’. Khi đó, chúng mới thực sự mang tính xây dựng, vì tình thương là mãnh lực xây dựng vĩ đại. Khó có thể dâng những hình tư tưởng chia rẽ lên Chân sư để Ngài sử dụng! |
9. We see that correct procedure in this telepathic process requires that the lower man be ‘out of the way’ and that the mind be infused by the ‘higher man’ — the soul/Solar Angel, as that may be contacted in meditation. | 9. Chúng ta thấy rằng cách tiến hành đúng trong tiến trình viễn cảm này đòi hỏi phàm nhân phải ‘không còn cản trở’ và thể trí phải thấm nhuần ‘con người cao siêu’ — tức linh hồn/Thái dương Thiên Thần, mà người ta có thể tiếp xúc trong khi tham thiền. |
10. Sensitivity, creativity, clarity, definiteness, humility, and the suspension of the directing will — all these are needed if the telepathic process is to proceed correctly. To these qualities must be added that of love. | 10. Sự nhạy cảm, tính sáng tạo, sự sáng rõ, tính xác định, lòng khiêm nhường và việc tạm ngưng ý chí chỉ đạo — tất cả đều cần thiết để tiến trình viễn cảm diễn ra đúng đắn. Bên cạnh những phẩm tính này, còn phải có tình thương. |
11. We learn here that the Master knows best how to direct that which has been created by His chelas. Here is where humility enters the picture. Constructive thought energy is made available to the Master for His wise use. | 11. Ở đây, chúng ta biết rằng Chân sư hiểu rõ nhất cách chỉ đạo những gì các đệ tử của Ngài đã tạo ra. Đây chính là lúc lòng khiêm nhường có vai trò. Năng lượng tư tưởng mang tính xây dựng được dâng lên Chân sư để Ngài sử dụng một cách minh triết. |
Another question might here arise: Are there any specific and brief rules which should be obeyed? | Ở đây có thể nảy sinh một câu hỏi khác: Có những quy luật cụ thể và ngắn gọn nào cần tuân theo không? |
The following might be given, but I would remind you that it is what you are that counts in this work more powerfully than anything else. The controlling factor is harmlessness in thought and word; the practice of this, with proper observation, will greatly help all of you. Next comes a refusal to think unkindly or with criticism; [66] this is essential in connection with those whose minds you seek to impress. Silence, complete and unbroken as to what you are doing, is also a vital factor; the utterance of words in connection with this most subtle and confidential work (or even discussion of the work with a fellow disciple) can shatter the delicate thoughtform which you are attempting to build. It can render the work of weeks abortive. A balanced attitude in relation to those in power throughout the world must also be cultivated; they need above all else the inspiration which can be brought to them from the Hierarchy. | Có thể đưa ra những điều sau, nhưng Tôi muốn nhắc các bạn rằng trong công việc này, con người thực sự của các bạn có sức nặng hơn bất kỳ điều gì khác. Yếu tố chi phối là tính vô tổn hại trong tư tưởng và lời nói; việc thực hành điều này, cùng với sự quan sát đúng đắn, sẽ giúp ích rất nhiều cho tất cả các bạn. Tiếp theo là khước từ những ý nghĩ thiếu thiện ý hay mang tính chỉ trích; [66] điều này thiết yếu trong mối liên hệ với những người mà các bạn tìm cách tạo ấn tượng lên thể trí của họ. Sự im lặng hoàn toàn và liên tục về những gì các bạn đang làm cũng là một yếu tố sống còn; việc nói ra những lời liên quan đến công việc hết sức tinh tế và kín nhiệm này, hoặc ngay cả việc thảo luận về công việc với một đệ tử đồng môn, cũng có thể làm tan vỡ hình tư tưởng tinh tế mà các bạn đang cố gắng xây dựng. Điều đó có thể khiến công sức nhiều tuần trở nên vô ích. Cũng cần trau dồi thái độ quân bình đối với những người nắm quyền trên khắp thế giới; hơn hết mọi điều khác, họ cần nguồn cảm hứng mà Thánh đoàn có thể mang đến cho họ. |
1. The Tibetan becomes increasingly practical as He proceeds to answer the questions which might arise in the minds of those He instructs. | 1. Chân sư Tây Tạng ngày càng đi vào thực tiễn khi Ngài tiếp tục giải đáp những câu hỏi có thể nảy sinh trong thể trí của những người Ngài chỉ dạy. |
2. Each of us should take to heart the following: “I would remind you that it is what you are [ital. MDR] that counts in this work more powerfully than anything else”. It is not action so much as quality that counts. In a way, ‘quality is action’. Master DK is hoping that those who participate in this work will be persons of quality. This means that they will be soul-infused, since the soul is the “quality of life”. | 2. Mỗi chúng ta nên ghi lòng điều sau đây: “Tôi muốn nhắc các bạn rằng chính con người các bạn đang là [chữ nghiêng: MDR] có sức nặng trong công việc này hơn bất cứ điều gì khác”. Điều có sức nặng không hẳn là hành động mà là phẩm tính. Theo một cách nào đó, ‘phẩm tính chính là hành động’. Chân sư DK hy vọng rằng những người tham gia công việc này sẽ là những người có phẩm tính. Điều này có nghĩa là họ sẽ được linh hồn thấm nhuần, vì linh hồn là “phẩm tính của sự sống”. |
3. The great factor of “harmlessness” is accentuated as the “controlling factor”. It is not always possible to be constructively helpful, but at least one can attempt carefully to do no harm. We note that we are dealing not only with harmlessness of “word” but of “thought” — a more subtle and more foundational matter. | 3. Yếu tố lớn lao là “tính vô tổn hại” được nhấn mạnh như “yếu tố chi phối”. Không phải lúc nào cũng có thể giúp ích theo cách xây dựng, nhưng ít nhất người ta có thể thận trọng cố gắng không gây tổn hại. Chúng ta lưu ý rằng ở đây không chỉ nói đến tính vô tổn hại của “lời nói” mà còn của “tư tưởng” — một vấn đề tinh tế hơn và có tính nền tảng hơn. |
4. The right to impress another mind exists only within the current of love. Unkind, critical thoughts are easily summoned, but they are not allowed, especially in relation to the mind of the one who is to be impressed. It is easy to be in violation of this rule and much vigilance is required, as thought is both swift and conditioned by habit. | 4. Quyền tạo ấn tượng lên thể trí người khác chỉ tồn tại trong dòng tình thương. Những tư tưởng thiếu tử tế, mang tính chỉ trích rất dễ nảy sinh, nhưng không được phép nuôi dưỡng chúng, nhất là đối với thể trí của người sẽ tiếp nhận ấn tượng. Người ta rất dễ vi phạm quy luật này, nên cần hết sức tỉnh giác, vì tư tưởng vừa nhanh chóng vừa chịu ảnh hưởng của thói quen. |
5. What happens when we think unkindly and critically of someone? We produce subjective inharmony and barriers. We are no longer ‘on their wave-length’; we occultly ‘rupture’ the lines of communication. We can understand and benevolently influence others because we are like them — i. e. , ‘kindred souls’. One can not be kin to those to whom one is un-kind. Our internal criticism causes an almost unconscious defensive reaction in the one criticized. Such a one begins to protect himself/herself from the critical agent. Thus, a barrier is created and the thought directed for impression does not get through. Probably, it is better that it does not, as it could carry the poison of criticism. Without the right use of loving-understanding, there is no way to reach another telepathically | 5. Điều gì xảy ra khi chúng ta nghĩ về ai đó một cách thiếu tử tế và đầy chỉ trích? Chúng ta tạo ra sự bất hòa và những rào cản chủ quan. Chúng ta không còn ‘cùng bước sóng với họ’; xét về mặt huyền bí, chúng ta ‘cắt đứt’ các đường giao tiếp. Chúng ta có thể thấu hiểu và ảnh hưởng đến người khác một cách thiện lành vì chúng ta giống họ — tức là, ‘những linh hồn đồng điệu’. Người ta không thể có sự thân tình với những người mà mình đối xử thiếu tử tế. Sự chỉ trích trong nội tâm của chúng ta gây ra một phản ứng tự vệ gần như vô thức ở người bị chỉ trích. Người ấy bắt đầu tự bảo vệ mình trước người chỉ trích. Như vậy, một rào cản hình thành, và tư tưởng được hướng đến để tạo ấn tượng không thể xuyên qua. Có lẽ tốt hơn là nó không xuyên qua, vì nó có thể mang theo chất độc của sự chỉ trích. Nếu không vận dụng đúng đắn sự thấu hiểu đầy tình thương, thì không có cách nào tiếp cận người khác bằng viễn cảm |
6. DK shares His knowledge of occult law. Silence has its protective purpose; it guards the subtle work undertaken. This work proceeds in the realm of thought, in comparison to which the realm of speech is crude. The carefully constructed thoughtforms are delicate, fragile. They must be respected as such, and, so, much caution and restraint are needed. The occultist is a refined individual, well aware of the fragility of inner structures. | 6. Chân sư DK chia sẻ tri thức của Ngài về định luật huyền bí. Sự im lặng có mục đích bảo vệ; nó gìn giữ công việc tinh tế đang được thực hiện. Công việc này diễn ra trong lĩnh vực tư tưởng, mà so với nó, lĩnh vực lời nói còn thô sơ. Những hình tư tưởng được xây dựng cẩn thận đều tinh tế, mong manh. Phải tôn trọng đặc tính ấy của chúng, và vì thế cần hết sức thận trọng và tiết chế. Nhà huyền bí học là một người tinh tế, nhận biết rõ tính mong manh của những cấu trúc bên trong. |
7. The minds of leaders are obviously among the minds to be influenced. No fanatical, unbalanced approach will serve. Disciples who are seeking to direct and impress thought are agents of hierarchical inspiration, which the leaders of the world badly need. The telepathic communicator must think of himself as an ‘agent for inspiration’, rather than one who forces issues on the inner planes. Forcing (which pertains to the realm of Mars, Pluto and Vulcan) is of less value in this process (given the average disciple’s incomplete stage of development) than the offering of light through the planets of illumination (Mercury and Venus) and the planet of loving-understanding (Jupiter). | 7. Hiển nhiên, thể trí của các nhà lãnh đạo nằm trong số những thể trí cần được tác động. Không cách tiếp cận cuồng tín, mất quân bình nào có thể giúp ích. Những đệ tử đang tìm cách định hướng tư tưởng và dùng tư tưởng để tạo ấn tượng là những tác nhân truyền cảm hứng của Thánh đoàn, điều mà các nhà lãnh đạo thế giới rất cần. Người giao tiếp viễn cảm phải xem mình là một ‘tác nhân truyền cảm hứng’, thay vì một người cưỡng ép các vấn đề trên những cõi bên trong. Trong tiến trình này, sự cưỡng ép (thuộc lĩnh vực của Sao Hỏa, Sao Diêm Vương và Vulcan) có ít giá trị hơn (xét giai đoạn phát triển còn chưa hoàn thiện của người đệ tử trung bình) so với việc trao tặng ánh sáng thông qua những hành tinh của sự soi sáng (Sao Thủy và Sao Kim) và hành tinh của sự thấu hiểu đầy tình thương (Sao Mộc). |
8. One could spend at least a month on this paragraph. The instructions are simple but important in the extreme. Much retraining of the readily critical mind is required. | 8. Người ta có thể dành ít nhất một tháng cho đoạn văn này. Những huấn thị này đơn giản nhưng vô cùng quan trọng. Cần rèn luyện lại rất nhiều đối với thể trí vốn dễ chỉ trích. |
I would ask you, therefore, to practise purging the content of your minds of all critical and unkind thoughts so that you can achieve an attitude of divine indifference to the ephemeral and fleeting personalities and to the chaos everywhere to be seen and so endeavour to tune in on the attitude of the Hierarchy. This involves the emphasis of the consciousness-aspect and the careful observation of all that goes on beneath the surface — awakening, arousing and stimulating to a pronounced mental activity, the hitherto unconscious masses. The events which are happening in every country are bringing this about with much rapidity; humanity is coming alive and its consciousness is awakening to the subjective values. The Hierarchy is sore beset to meet humanity’s emerging need of guidance. The sensitivity of the human race (as the result of economic insufficiency, of war, anxiety and pain) is becoming so acute that we who work on the inner side must hasten to impress sensitive, awakening psychics with the right impression. Hence our effort to create these groups, and to use people like yourselves who are (theoretically) harmless but actually full of prejudice and hasty judgments. We have to use the material which lies to hand and are greatly handicapped at all times. | Vì vậy, Tôi đề nghị các bạn thực hành thanh lọc nội dung thể trí mình khỏi mọi tư tưởng chỉ trích và thiếu thiện ý, để các bạn có thể đạt được thái độ điềm nhiên thiêng liêng đối với những phàm ngã phù du, thoáng qua và đối với tình trạng hỗn loạn có thể thấy khắp nơi, nhờ đó cố gắng hòa nhịp với thái độ của Thánh đoàn. Điều này đòi hỏi phải nhấn mạnh phương diện tâm thức và quan sát cẩn trọng mọi điều diễn ra bên dưới bề mặt—những điều đang đánh thức, khơi dậy và kích thích quần chúng, vốn cho đến nay còn vô thức, đi vào hoạt động trí tuệ rõ rệt. Những biến cố đang diễn ra ở mọi quốc gia đang nhanh chóng mang lại điều này; nhân loại đang trở nên sống động và tâm thức của nhân loại đang thức tỉnh trước những giá trị chủ quan. Thánh đoàn đang vô cùng chật vật để đáp ứng nhu cầu hướng dẫn mới xuất hiện của nhân loại. Sự nhạy cảm của nhân loại, do thiếu thốn kinh tế, chiến tranh, lo âu và đau khổ, đang trở nên sắc bén đến mức chúng tôi, những người làm việc ở phía bên trong, phải mau chóng truyền ấn tượng đúng đắn đến những người thông linh nhạy cảm đang thức tỉnh. Vì thế, chúng tôi nỗ lực tạo lập các nhóm này và sử dụng những người như các bạn, những người trên lý thuyết thì vô tổn hại nhưng thực tế lại đầy thành kiến và những phán xét vội vàng. Chúng tôi phải sử dụng chất liệu sẵn có trong tầm tay và lúc nào cũng gặp những trở ngại lớn. |
1. The Master asks for a drastic disciplining — a purging, an elimination of the kind that must occur (generally) under the influence of Scorpio and Pluto. | 1. Chân sư yêu cầu một sự rèn luyện kỷ luật quyết liệt — một sự thanh lọc, một sự loại trừ thuộc loại phải diễn ra (nói chung) dưới ảnh hưởng của Hổ Cáp và Sao Diêm Vương. |
2. As many of those in His group were first degree initiates preparing (in this or in immediately future lives) for the second initiation (ruled by Scorpio, and thus influenced by eliminative Pluto) the Master’s request for a kind, uncritical attitude can be understood as necessary not only for group requirements but for the spiritual progress possible to them at their individual stage of development. | 2. Vì nhiều người trong nhóm của Ngài là những điểm đạo đồ bậc một đang chuẩn bị (trong kiếp này hoặc những kiếp ngay sau đó) cho lần điểm đạo thứ hai (do Hổ Cáp cai quản, nên chịu ảnh hưởng của Sao Diêm Vương với tác dụng loại trừ), yêu cầu của Chân sư về một thái độ tử tế, không chỉ trích có thể được hiểu là cần thiết không chỉ cho các yêu cầu của nhóm mà còn cho sự tiến bộ tinh thần khả hữu đối với họ ở giai đoạn phát triển cá nhân. |
3. As student-occultists we must become convinced of the tremendous power of thought. Through the nature and quality of our thoughts we have an unsuspected capacity to help (or hurt) others. | 3. Là những đạo sinh huyền bí học, chúng ta phải xác tín về quyền năng to lớn của tư tưởng. Thông qua bản chất và phẩm tính tư tưởng của mình, chúng ta có một khả năng giúp đỡ (hoặc làm tổn thương) người khác mà chúng ta chưa ngờ tới. |
4. The usual stimulants to criticism are considered — namely the behavior of personalities and the “chaos everywhere to be seen”. But the Hierarchy has a very different attitude towards such things, rightly judging personalities and conditions as “fleeting and ephemeral”. This attitude promotes “divine indifference”, for personalities and conditions are seen as of no great moment. One can more easily let such things “be” if they are understood as relatively inconsequential. | 4. Những tác nhân thường kích thích sự chỉ trích được xem xét ở đây — cụ thể là hành vi của các phàm ngã và “cảnh hỗn loạn hiện diện khắp nơi”. Nhưng Thánh đoàn có một thái độ rất khác đối với những điều ấy, khi nhận định đúng đắn rằng các phàm ngã và hoàn cảnh đều “thoáng qua và phù du”. Thái độ này thúc đẩy “điềm nhiên thiêng liêng”, vì các phàm ngã và hoàn cảnh được nhìn nhận là không có tầm quan trọng lớn. Người ta dễ để những điều ấy “như chúng vốn vậy” hơn nếu hiểu rằng chúng tương đối ít hệ trọng. |
5. So we see that a spiritually adjusted sense of values contributes to the development of a kind and uncritical attitude of mind based on divine indifference. | 5. Như vậy, chúng ta thấy rằng một ý thức về các giá trị được điều chỉnh theo tinh thần góp phần phát triển một thái độ trí tuệ tử tế, không chỉ trích, dựa trên điềm nhiên thiêng liêng. |
6. These chelas in training are either approaching Master DK’s Ashram or can be considered as incorporated into it, though standing, relatively, on the its periphery. Therefore it is suitable for them to develop the “attitude of Hierarchy”. | 6. Những đệ tử đang được huấn luyện này hoặc đang tiến đến ashram của Chân sư DK hoặc có thể được xem là đã gia nhập ashram ấy, dù xét tương đối vẫn đứng ở ngoại vi. Vì vậy, việc họ phát triển “thái độ của Thánh đoàn”. |
7. Master DK is asking for a specific type of focussing — on the “consciousness aspect” and not on evanescent phenomena. The chelas He is addressing are to become “Trained Observers”. Thus we see that they are to develop capacity both as “Telepathic Communicators” and as “Trained Observers”. We recognize in these two titles the first two Seed Groups among the ten. | 7. Chân sư DK đang yêu cầu một cách tập trung cụ thể — vào “phương diện tâm thức” chứ không vào những hiện tượng thoáng qua. Những đệ tử mà Ngài đang nói với phải trở thành “Các Nhà Quan Sát Lão Luyện”. Như vậy, chúng ta thấy rằng họ phải phát triển năng lực vừa với tư cách “Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm” vừa với tư cách “Các Nhà Quan Sát Lão Luyện”. Trong hai danh xưng này, chúng ta nhận ra hai Nhóm hạt giống đầu tiên trong số mười nhóm. |
8. The developing occultist can have no superficial mental attitude. All members of Hierarchy are, fundamentally, esoteric psychologists and must see beneath the phantasmagoria of life. | 8. Nhà huyền bí học đang phát triển không thể có một thái độ trí tuệ hời hợt. Về căn bản, mọi thành viên của Thánh đoàn đều là những nhà tâm lý học nội môn và phải nhìn thấu bên dưới những cảnh tượng huyễn hóa của cuộc sống. |
9. DK points the fact that humanity is rapidly (very rapidly) awakening to the subjective values. It is both interesting and compelling that Hierarchy is “sore beset” to meet humanity’s need for guidance. Indeed it is a need, as will be revealed to those who, closely observing human trends, see humanity’s tendency towards ‘misguidance’. | 9. Chân sư DK chỉ ra sự thật rằng nhân loại đang nhanh chóng (rất nhanh chóng) thức tỉnh trước các giá trị chủ quan. Việc Thánh đoàn đang “vô cùng chật vật” để đáp ứng nhu cầu được hướng dẫn của nhân loại vừa thú vị vừa thôi thúc chúng ta chú ý. Quả thật, đó là một nhu cầu, như sẽ trở nên rõ ràng đối với những người quan sát kỹ các xu hướng của con người và thấy khuynh hướng của nhân loại dễ bị ‘dẫn dắt sai đường’. |
10. Master DK speaks of the acute sensitivity of the human race, due to many distressing factors. Reading between the lines, one can infer that such sensitivity could be an open door to wrong direction as well as to more wholesome types of impression. It would seem that humanity will be impressed, inevitably, and it is up to the Hierarchy to do all it can to ensure that the impression is a sound one. Hence the need to train disciples (such as those here addressed) in the methods of the constructive direction of idea and thought for purposes of impressing the mind of humanity. | 10. Chân sư DK nói về sự nhạy cảm sắc bén của nhân loại do nhiều yếu tố gây đau khổ. Đọc giữa các dòng, người ta có thể suy ra rằng sự nhạy cảm ấy có thể mở cửa cho cả sự dẫn dắt sai lầm lẫn những loại ấn tượng lành mạnh hơn. Dường như nhân loại tất yếu sẽ tiếp nhận ấn tượng, và Thánh đoàn có trách nhiệm làm mọi điều có thể để bảo đảm rằng ấn tượng ấy là đúng đắn. Do đó, cần huấn luyện các đệ tử (như những người đang được nói tới ở đây) về các phương pháp định hướng ý tưởng và tư tưởng một cách xây dựng nhằm tạo ấn tượng lên thể trí của nhân loại. |
11. Many psychics (and by that term, we may mean astrally sensitive people) are today receiving many erroneous impressions. They are tuning into the astral plane and accepting all they receive as reality. This is a dangerous and misleading situation. If they were better trained, they would exercise more discrimination, and the likelihood of misguiding error would be greatly reduced. Modern disciples who, increasingly, are achieving mental polarization, have a role to play in this training. | 11. Ngày nay, nhiều người thông linh (và với thuật ngữ ấy, chúng ta có thể muốn nói đến những người nhạy cảm về mặt cảm dục) đang tiếp nhận nhiều ấn tượng sai lầm. Họ đang hòa nhịp với cõi cảm dục và chấp nhận mọi điều mình tiếp nhận là thực tại. Đây là một tình trạng nguy hiểm và dễ dẫn đến lầm lạc. Nếu được huấn luyện tốt hơn, họ sẽ vận dụng sự phân biện nhiều hơn, và khả năng mắc sai lầm dẫn đến lạc hướng sẽ giảm đi rất nhiều. Các đệ tử hiện đại, những người ngày càng đạt được sự phân cực trí tuệ, có một vai trò trong việc huấn luyện này. |
12. DK offers some humbling thoughts: those He is forced to work with are not entirely suitable. In fact, they are not really harmless, but are filled with prejudices and hasty judgments. Human minds are not to be impressed by such negative qualities, and would not be, were harmlessness a fact in the consciousness of those who impress others (both consciously and unconsciously). | 12. Chân sư DK đưa ra một vài ý tưởng khiến chúng ta phải khiêm nhường: những người mà Ngài buộc phải làm việc cùng không hoàn toàn thích hợp. Thực tế, họ chưa thực sự vô tổn hại mà còn đầy thành kiến và phán xét vội vàng. Thể trí con người không nên tiếp nhận ấn tượng từ những phẩm tính tiêu cực ấy, và điều đó sẽ không xảy ra nếu tính vô tổn hại là một thực tại trong tâm thức của những người tạo ấn tượng lên người khác (cả một cách hữu thức lẫn vô thức). |
13. Disciples are simply “material” and, often, material which handicaps the intentions of the greater beings who would use it. Let us seek to present as few handicaps to the Masters as we possibly can. Let us seek to be “material” suitable to Their Plans and Purposes. | 13. Các đệ tử chỉ đơn thuần là “chất liệu” và thường là chất liệu cản trở ý định của những sinh mệnh cao cả hơn muốn sử dụng chất liệu ấy. Chúng ta hãy cố gắng gây ra ít trở ngại nhất có thể cho các Chân sư. Chúng ta hãy cố gắng trở thành “chất liệu” thích hợp với các Thiên Cơ và Mục Đích của Các Ngài. |
After you have worked consciously at the purification of the mind and after you have attempted to free yourselves from prejudice, from preconceived ideas and hasty judgments and determinations (based upon your own background, tradition, social and racial status), you will then brood consciously on the process of thoughtform making; you will remember that — for group purposes and for simplicity — the following three stages are of importance: [67] | Sau khi đã làm việc có ý thức để thanh lọc thể trí, và sau khi đã cố gắng giải thoát mình khỏi thành kiến, những ý tưởng định sẵn, những phán xét và quyết định vội vàng dựa trên nền tảng, truyền thống, địa vị xã hội và chủng tộc của riêng mình, các bạn sẽ có ý thức suy ngẫm sâu về tiến trình tạo hình tư tưởng; các bạn sẽ nhớ rằng, vì mục đích của nhóm và để đơn giản hóa, ba giai đoạn sau đây có tầm quan trọng: |
1. First comes purification of the mind. This is a detaching and eliminative process. | 1. Trước hết là sự thanh lọc thể trí. Đây là một tiến trình tách rời và loại trừ. |
2. Prejudice is a type of habitual thought which is incognizant of presented reality. Preconceived ideas are prejudices. | 2. Thành kiến là một kiểu tư tưởng theo thói quen, không nhận biết thực tại đang hiện diện. Những ý tưởng định sẵn chính là thành kiến. |
3. Hasty judgments also prevent the clear-seeing of the truth, for they fail to draw correct conclusions. | 3. Những phán xét vội vàng cũng ngăn cản việc thấy rõ chân lý, vì chúng không rút ra được những kết luận đúng đắn. |
4. Judgments and determinations are fixed thoughtforms which are based upon a limited, personal point of view and are, therefore, inaccurate. | 4. Những phán xét và kết luận là các hình tư tưởng cố định dựa trên một quan điểm cá nhân hạn hẹp, và vì vậy không chính xác. |
5. All these mental conditions are so much clutter and obstruction and would taint the ‘stream of impressive energy’ with negativity. Over and over again we see why purification must precede real occult work and that the purification must address increasingly subtle layers within the individual. | 5. Tất cả những trạng thái trí tuệ này đều là những thứ ngổn ngang và chướng ngại, sẽ làm vẩn đục ‘dòng năng lượng tạo ấn tượng’ bằng tính tiêu cực. Hết lần này đến lần khác, chúng ta thấy vì sao sự thanh lọc phải đi trước công việc huyền bí thực sự và vì sao sự thanh lọc ấy phải hướng đến những lớp ngày càng tinh tế bên trong cá nhân. |
6. After purification has been effected, practical knowledge of the “process of thoughtform making” must be developed. There is a skill to be developed and it will not be developed without reflection. | 6. Sau khi đã thanh lọc, cần phát triển tri thức thực hành về “tiến trình tạo lập hình tư tưởng”. Có một kỹ năng cần phát triển, và kỹ năng ấy sẽ không phát triển nếu thiếu suy ngẫm. |
1. The stage of pondering over the idea which is to be impressed upon the mind of some individual. This pondering and carefully directed thinking produces construction; it is a creative activity and is the first real stage in our work. I do not want you to endeavour to build thoughtforms. I want you to think clearly along lines which I may indicate. Then the desired thoughtform will automatically take shape and all of you will have contributed something to it. | 1. Giai đoạn suy ngẫm về ý tưởng sẽ được dùng để tạo ấn tượng lên thể trí của một cá nhân nào đó. Sự suy ngẫm và tư duy được định hướng cẩn trọng này tạo ra sự xây dựng; đó là một hoạt động sáng tạo và là giai đoạn thực sự đầu tiên trong công việc của chúng ta. Tôi không muốn các bạn cố gắng xây dựng những hình tư tưởng. Tôi muốn các bạn suy nghĩ rõ ràng theo những hướng mà Tôi có thể chỉ ra. Khi ấy, hình tư tưởng mong muốn sẽ tự động thành hình và tất cả các bạn đều sẽ đóng góp điều gì đó vào đó. |
1. The magical process and the telepathic process have points in common, for a white magician begins very much as DK is here instructing those who are to be engaged in the process of telepathic impression. | 1. Tiến trình huyền thuật và tiến trình viễn cảm có những điểm chung, vì một nhà huyền thuật chánh đạo khởi đầu rất giống với cách Chân sư DK đang chỉ dạy ở đây cho những người sẽ tham gia tiến trình truyền ấn tượng bằng viễn cảm. |
2. The work is definitely to impress the mind of an individual or individuals but not compel the will. DK tells how preparation may be made. | 2. Công việc rõ ràng là tạo ấn tượng lên thể trí của một hay nhiều cá nhân, nhưng không cưỡng ép ý chí. Chân sư DK chỉ dẫn cách chuẩn bị. |
3. Firstly, the idea to be impressed is to be pondered by the agent of impression. What is the value of this pondering? Pondering is, essentially, a constructive process. The second ray is the Ray of Cohesion, an attractive, building ray, and “pondering” is a process directly related to the second ray. Through the focus generated through the ‘staying with’ of pondering, the intuition is invoked. The plane of intuition is the plane of “pure reason”; in the state of pure reason, ideas cohere with faithfulness to their archetypes. | 3. Trước hết, tác nhân truyền ấn tượng phải suy ngẫm về ý tưởng cần truyền đạt. Sự suy ngẫm này có giá trị gì? Về căn bản, suy ngẫm là một tiến trình xây dựng. Cung hai là Cung Cố Kết, một cung thu hút và xây dựng, và “suy ngẫm” là một tiến trình liên hệ trực tiếp với cung hai. Thông qua sự tập trung do việc ‘kiên trì ở lại với đối tượng’ trong suy ngẫm tạo ra, trực giác được khẩn cầu. Cõi trực giác là cõi của “lý trí thuần khiết”; trong trạng thái lý trí thuần khiết, các ý tưởng gắn kết với nhau mà vẫn trung thành với những nguyên mẫu của chúng. |
4. Pondering, thus, enriches the idea being pondered and infuses the idea with the increasing reality and truth characteristic of the buddhic plane. | 4. Như vậy, sự suy ngẫm làm phong phú ý tưởng đang được suy ngẫm và thấm nhuần ý tưởng ấy bằng thực tại và chân lý ngày càng sâu sắc, vốn là đặc trưng của cõi Bồ đề. |
5. To simply build thoughtforms (without due reference to archetypal pattern) is to enter prematurely into thought manipulation. The chela may feel an eagerness to build, but such a probably unenlightened eagerness could prevent success. | 5. Chỉ đơn thuần xây dựng các hình tư tưởng (mà không tham chiếu thích đáng đến mô hình nguyên mẫu) là bước vào việc thao tác tư tưởng quá sớm. Người đệ tử có thể háo hức xây dựng, nhưng sự háo hức có lẽ chưa được soi sáng ấy có thể ngăn cản thành công. |
6. Rather, if the chela engages in clear thinking, the “desired thoughtform will automatically take shape”. This thoughtform appears to be a group-generated thoughtform, to which every thinker in the group makes his or her contribution. | 6. Thay vào đó, nếu người đệ tử thực hành tư duy rõ ràng, thì “hình tư tưởng mong muốn sẽ tự động thành hình”. Hình tư tưởng này dường như là một hình tư tưởng do nhóm tạo ra, mà mỗi người tư duy trong nhóm đều đóng góp phần mình vào đó. |
7. Rather than engaging in immediate thought-manipulation, we see instead a process of ‘allowing’ a thoughtform to ‘self-originate’, which, according to law, it will necessarily do if there is clear thinking along lines indicated by the Master. It is as if clear thinking allows for the entry of a reliable structuring force which works upon thought. The utilization of this procedure points to the principle that there is much to do along the second ray line before the third ray and, later, the first can be engaged. | 7. Thay vì lập tức thao tác tư tưởng, ở đây chúng ta thấy một tiến trình ‘cho phép’ một hình tư tưởng ‘tự hình thành’, điều mà theo định luật, nó tất yếu sẽ thực hiện nếu có tư duy rõ ràng theo những đường hướng Chân sư chỉ ra. Dường như tư duy rõ ràng cho phép một mãnh lực tạo cấu trúc đáng tin cậy đi vào và tác động lên tư tưởng. Việc sử dụng phương thức này chỉ ra nguyên khí rằng có nhiều điều phải làm theo đường hướng cung hai trước khi có thể vận dụng cung ba, rồi sau đó là cung một. |
2. When the thoughtform is thus built in your mind, there will follow a period wherein it comes alive. It slowly becomes the living embodiment of the desired idea — vibrant, active and ready for service. | 2. Khi hình tư tưởng đã được xây dựng như vậy trong thể trí của các bạn, tiếp theo sẽ là một thời kỳ nó trở nên sống động. Nó dần trở thành hiện thân sống động của ý tưởng mong muốn—rung động, hoạt động và sẵn sàng phụng sự. |
1. The next phase involves the vitalization of the constructed thoughtform. This phase in the preparation for telepathic work corresponds well to the stage in the magical-constructive process of animating a thoughtform with emotional quality. | 1. Giai đoạn tiếp theo bao hàm việc tiếp sinh lực cho hình tư tưởng đã được xây dựng. Giai đoạn này trong việc chuẩn bị cho công việc viễn cảm tương ứng rõ rệt với giai đoạn truyền sự sống cho một hình tư tưởng bằng phẩm tính cảm xúc trong tiến trình xây dựng bằng huyền thuật. |
2. We note that that, again, the one constructing the thoughtform is apparently not the animator of the thoughtform. Just as in phase one there is no deliberate attempt to build thoughtforms, so in this stage, there is no attempt to animate them. The accomplished white magician, however, might proceed with more direct, manipulative power. | 2. Một lần nữa, chúng ta lưu ý rằng người xây dựng hình tư tưởng dường như không phải là người truyền sự sống cho hình tư tưởng ấy. Cũng như ở giai đoạn một không có sự cố ý cố gắng xây dựng các hình tư tưởng, thì ở giai đoạn này cũng không có sự cố gắng truyền sự sống cho chúng. Tuy nhiên, nhà huyền thuật chánh đạo thành thạo có thể tiến hành bằng quyền năng thao tác trực tiếp hơn. |
3. The process of rendering the thoughtform “the living embodiment of the desired idea” seems to take place automatically — presumably if correct focus and purpose are sustained. | 3. Tiến trình làm cho hình tư tưởng trở thành “hiện thân sống động của ý tưởng mong muốn” dường như diễn ra tự động — có lẽ với điều kiện duy trì sự tập trung và mục đích đúng đắn. |
3. When this stage is reached, you can then — as a group — proceed with the stage of direction. Having carefully in mind the person to be impressed and the fact of your group as the impressing agency (thus providing the two poles between which interplay is desired), you will try to see the living embodied idea, playing back and forth between the two poles. You will send it out on the wings of love, impelled by the wise desire to serve and in obedience to my directions. Time and again, it may return to you for revivifying and enrichment before its task is satisfactorily accomplished. | 3. Khi đạt đến giai đoạn này, các bạn có thể cùng nhau, với tư cách một nhóm, tiến hành giai đoạn định hướng. Khi đã lưu tâm cẩn trọng đến người cần nhận ấn tượng và thực tại rằng nhóm các bạn là tác nhân tạo ấn tượng—nhờ đó cung cấp hai cực mà giữa chúng cần có sự tương tác—các bạn sẽ cố gắng thấy ý tưởng sống động đã có hiện thân ấy chuyển động qua lại giữa hai cực. Các bạn sẽ gửi nó đi trên đôi cánh tình thương, với sự thúc đẩy của mong muốn phụng sự một cách minh triết và theo đúng những chỉ dẫn của Tôi. Nó có thể nhiều lần trở lại với các bạn để được tiếp thêm sinh lực và làm phong phú hơn, trước khi hoàn thành nhiệm vụ một cách thỏa đáng. |
1. Careful attention to this paragraph will reveal it to be a noteworthy elucidation of an occult technique of telepathic transfer. | 1. Chú tâm cẩn thận vào đoạn văn này sẽ cho thấy đây là một sự giải thích đáng chú ý về một kỹ thuật huyền bí trong việc chuyển dịch bằng viễn cảm. |
2. Earlier, we found the Master taking the role of the one who directed the thought-content provided by the group. Here, at least part of the responsibility for thought-direction is left to the chelas. | 2. Trước đó, chúng ta thấy Chân sư đảm nhận vai trò định hướng nội dung tư tưởng do nhóm cung cấp. Ở đây, ít nhất một phần trách nhiệm định hướng tư tưởng được giao cho các đệ tử. |
3. In this process, two poles are to be clearly visualized — the person (or, presumably, group) to be impressed, and the group which acts as the “impressing agency”. | 3. Trong tiến trình này, cần hình dung rõ ràng hai cực — người (hoặc có lẽ là nhóm) sẽ tiếp nhận ấn tượng, và nhóm đóng vai trò “tác nhân truyền ấn tượng”. |
4. The process is a somewhat Geminian/Mercurian one, as an interplay between these two poles is to be set up. | 4. Tiến trình này phần nào mang tính chất Song Tử/Sao Thủy, vì cần thiết lập sự tương tác giữa hai cực này. |
5. The art of visualization enters. The impressing agent (the disciple seeking to impress the idea or thought) visualizes “the living embodied idea playing back and forth between the two poles”. The well-constructed idea (which has taken shape as a result of clear thinking) is to be seen as vibrantly alive and oscillating between the ‘sender’ and the one who is to ‘receive’ — whether consciously, or more likely, unconsciously. | 5. Nghệ thuật hình dung bắt đầu tham gia. Tác nhân tạo ấn tượng (người đệ tử tìm cách ghi khắc ý tưởng hoặc tư tưởng) hình dung “ý tưởng sống động đã thành hình đang chuyển động qua lại giữa hai cực”. Cần thấy ý tưởng được xây dựng vững chắc (đã thành hình nhờ tư duy rõ ràng) như một sinh thể đầy sức sống đang dao động giữa ‘người gửi’ và người sẽ ‘tiếp nhận’ — dù có ý thức, hay nhiều khả năng hơn là không có ý thức. |
6. The mode of sending is specific. The idea or thought is to be sent forth “on the wings of love” (this is indispensable). The sender is also to be animated by “the wise desire to serve”, and the Master’s instructions are to be obediently followed. | 6. Phương thức gửi có tính đặc thù. Ý tưởng hoặc tư tưởng phải được gửi đi “trên đôi cánh tình thương” (đây là điều không thể thiếu). Người gửi cũng phải được thúc đẩy bởi “ước muốn phụng sự sáng suốt”, và phải tuân thủ các huấn thị của Chân sư. |
7. What could be more explicit than these simple directions! | 7. Còn gì có thể rõ ràng hơn những chỉ dẫn đơn giản này! |
8. A further important phase of the process of sending is indicated, for the sent thoughtform will not necessarily fulfill its task immediately. The thoughtform will likely need constant revivification and enrichment. Each time the thoughtform seems to ‘return’ to the sender, there is presented an opportunity to revivify and enrich it. We might suppose that when the thoughtform contains a certain saturation of quality and vibrancy it will complete its task — unless there is tremendous resistance in the aura of the one who is (or ones who are) to be impressed. | 8. Một giai đoạn quan trọng nữa của tiến trình gửi được chỉ ra, vì hình tư tưởng đã gửi đi không nhất thiết sẽ hoàn thành nhiệm vụ ngay lập tức. Hình tư tưởng ấy có lẽ cần liên tục được phục hồi sức sống và làm phong phú thêm. Mỗi lần hình tư tưởng dường như ‘trở về’ với người gửi, một cơ hội lại xuất hiện để phục hồi sức sống và làm phong phú thêm cho nó. Chúng ta có thể giả định rằng khi hình tư tưởng đạt đến một mức độ bão hòa nhất định về phẩm tính và sức sống, nó sẽ hoàn thành nhiệm vụ — trừ khi có sự kháng cự mãnh liệt trong hào quang của người (hoặc những người) sẽ tiếp nhận ấn tượng. |
The externalised groups of disciples are all of them intended to be expressions of a type of group relation which will be better known and understood when the world has entered into the next cycle and era of peace. Certain types of force are, as you know, to be later utilised by the groups for specific group ends and for world service. The motive for all such service must not be forgotten by you, as you study and work in a Master’s group. The objective is not your individual assistance and unfoldment but your training in certain group alignments and activities which will enable these groups of disciples to work in a definite and specific manner. The fact, however, that one group will work with one type of force and another group of disciples will employ a different kind must not in any sense be deemed to indicate separate activity or separative interests. All [68] will be working towards one objective or goal and all will work with the same divine energy, differentiated into varying forces for the purposes of service in one department of life or another. I would ask you to ponder deeply upon the various aspects of the outlined plan or system of group work which I have brought to you, for it is a tentative endeavour to externalise upon earth, certain phases of hierarchical endeavour. | Tất cả các nhóm đệ tử đã ngoại hiện đều nhằm biểu lộ một loại quan hệ nhóm mà người ta sẽ biết rõ và thấu hiểu hơn khi thế giới bước vào chu kỳ tiếp theo và kỷ nguyên hòa bình. Như các bạn biết, về sau các nhóm sẽ sử dụng một số loại mãnh lực cho những mục đích cụ thể của nhóm và cho việc phụng sự thế gian. Khi học hỏi và làm việc trong nhóm của một Chân sư, các bạn không được quên động cơ của mọi công việc phụng sự như thế. Mục tiêu không phải là trợ giúp và khai mở cá nhân các bạn, mà là huấn luyện các bạn trong những sự chỉnh hợp và hoạt động nhóm nhất định, giúp các nhóm đệ tử này làm việc theo một cách thức xác định và cụ thể. Tuy nhiên, việc một nhóm làm việc với một loại mãnh lực còn một nhóm đệ tử khác sử dụng một loại khác tuyệt nhiên không được xem là dấu hiệu của hoạt động riêng rẽ hay những mối quan tâm mang tính chia rẽ. Tất cả [68] đều sẽ hướng đến một mục tiêu hay đích đến duy nhất, và tất cả đều làm việc với cùng một năng lượng thiêng liêng, được biến phân thành những mãnh lực khác nhau nhằm phụng sự trong lĩnh vực này hay lĩnh vực khác của đời sống. Tôi đề nghị các bạn suy ngẫm sâu sắc về những phương diện khác nhau của kế hoạch hay hệ thống công việc nhóm mà Tôi đã phác thảo cho các bạn, vì đó là một nỗ lực thử nghiệm nhằm ngoại hiện trên Trái Đất một số phương diện trong nỗ lực của Thánh đoàn. |
1. The groups which the Tibetan organized were pioneering groups. They were to experiment with the utilization of certain types of subtle energy which would later be more common. | 1. Các nhóm do Chân sư Tây Tạng tổ chức là những nhóm tiên phong. Các nhóm ấy sẽ thử nghiệm việc sử dụng một số loại năng lượng tinh tế mà về sau sẽ trở nên phổ biến hơn. |
2. On a number of occasions, Master DK finds it necessary to remind His disciples that the work they are undertaking is not for their own, individual assistance, but for wider objectives. Once a certain measure of decentralization has taken hold in the consciousness of the disciple, there would be no further need for reminders of this kind. | 2. Nhiều lần, Chân sư DK thấy cần phải nhắc các đệ tử của Ngài rằng công việc họ đang đảm nhận hướng đến những mục tiêu rộng lớn hơn, chứ không nhằm trợ giúp riêng từng cá nhân họ. Một khi sự phi tập trung vào bản thân đã bén rễ đến một mức độ nhất định trong tâm thức của người đệ tử, sẽ không còn cần đến những lời nhắc nhở như thế nữa. |
3. In this type of work, differentiated forces were to be used and transmitted by the various groups. The Tibetan stresses the idea that all groups are working with essentially the “same divine energy”, despite the apparent differences. | 3. Trong loại công việc này, các nhóm khác nhau sẽ sử dụng và truyền dẫn những mãnh lực đã biến phân. Chân sư Tây Tạng nhấn mạnh ý tưởng rằng về bản chất, tất cả các nhóm đều đang làm việc với “cùng một năng lượng thiêng liêng”, bất chấp những khác biệt bề ngoài. |
4. Differentiation is one thing; separation another. DK seeks to eliminate any possibility of separative thinking in His chelas. The work is one; the energies, though differentiated, are one. | 4. Biến phân là một chuyện; chia rẽ lại là chuyện khác. Chân sư DK tìm cách loại bỏ mọi khả năng tư duy chia rẽ nơi các đệ tử của Ngài. Công việc là một; các năng lượng, dù đã biến phân, vẫn là một. |
5. The requirement is to see “unity in diversity”. The Master is adept at such perception and chelas must learn to be so. | 5. Yêu cầu là thấy được “sự hợp nhất trong đa dạng”. Chân sư thành thạo cách nhận thức ấy, và các đệ tử phải học để cũng được như vậy. |
6. Again we learn that the work assigned by DK is part of a tentative effort to externalize an aspect of His Ashram. Such an externalization process proceeds, however, by slow and graded steps, each of which must be accomplished with some degree of success before the next one can be attempted. | 6. Một lần nữa, chúng ta biết rằng công việc Chân sư DK giao là một phần trong nỗ lực thử nghiệm nhằm ngoại hiện một phương diện của ashram của Ngài. Tuy nhiên, một tiến trình ngoại hiện như thế diễn ra qua những bước chậm rãi và tuần tự; mỗi bước phải đạt một mức độ thành công nhất định trước khi có thể thử thực hiện bước tiếp theo. |
7. Each of us is engaged in a certain types of spiritual activity. Our challenge to see the organic relation between ‘our’ type of spiritual activity and the type of equally spiritual activity pursued by others. This would lead to that sense of synthesis which is so important a quality in those who can participate successfully in the newer types of esoteric groups. | 7. Mỗi người chúng ta đều tham gia vào một loại hoạt động tinh thần nhất định. Thách thức của chúng ta là thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa loại hoạt động tinh thần ‘của chúng ta’ và loại hoạt động cũng mang tính tinh thần mà những người khác theo đuổi. Điều này sẽ dẫn đến ý thức tổng hợp, một phẩm tính hết sức quan trọng ở những người có thể tham gia thành công vào các loại nhóm nội môn mới hơn. |
The energy used in the telepathic work is the “chitta” (as the Hindus call it) or the mind-stuff which underlies and is the very substance of manifestation itself. God, the planetary Life or Logos, however, works with the higher correspondence of this mind-stuff and the forces of the mental plane are the reflection or rather the densification of this higher mental substance. These forces, this mind-stuff, is constantly in flux and in motion. This produces that thoughtform-making activity of the mental world which is set in motion by minds — working either individually or in group formation. In true telepathic work (carried forward without error and correctly and from a poised point of action) the currents of this mind-stuff are set in motion between certain points by the will and the carefully expressed and formulated idea in the mind of the thinker. A certain portion of this mind-stuff (already in motion) is built into form and then travels along the current, as set up between the two points. The telepathic worker, such as, for instance, myself, works from the angle of the mind of the transmitter and that of the recipient, establishing first of all a current of rapport (which you sometimes call “sensing the Tibetan’s vibration”); along that current, I send the impression, the idea or the thoughtform which I seek to see impinging first of all upon your minds and then — if you are capable of such alignment — upon your brains. This process can be either rapid or slow. Where the alignment is good, there can be an almost immediate response to my thought; where it is not good, it may take days and even weeks for the impression to be finally realised and consciously registered on the disciple’s mind and brain. | Năng lượng sử dụng trong công việc viễn cảm là “chất trí”, theo cách gọi của người Ấn Độ, tức chất liệu trí tuệ làm nền tảng và chính là chất liệu của sự biểu hiện. Tuy nhiên, Thượng đế, Sự Sống hành tinh hay Thượng đế hành tinh, làm việc với đối phần tương ứng cao hơn của chất trí này, và các mãnh lực của cõi trí là sự phản chiếu, hay đúng hơn là sự đậm đặc hóa, của chất liệu trí tuệ cao hơn ấy. Những mãnh lực này, chất trí này, không ngừng biến đổi và chuyển động. Điều đó tạo ra hoạt động hình thành hình tư tưởng trong thế giới trí tuệ, do các thể trí khởi động—dù làm việc riêng lẻ hay theo đội hình nhóm. Trong công việc viễn cảm đích thực, được thực hiện chính xác, không sai sót và từ một điểm hành động quân bình, ý chí cùng ý tưởng được diễn đạt và định hình cẩn trọng trong thể trí của người tư tưởng sẽ khởi động những dòng chất trí này giữa các điểm nhất định. Một phần chất trí vốn đã chuyển động này được xây dựng thành hình tướng, rồi di chuyển theo dòng chảy đã thiết lập giữa hai điểm. Người hoạt động viễn cảm, chẳng hạn như chính Tôi, làm việc từ góc độ thể trí của người truyền và thể trí của người nhận, trước hết thiết lập một dòng giao cảm mà đôi khi các bạn gọi là “cảm nhận rung động của Chân sư Tây Tạng”; theo dòng ấy, Tôi gửi đi ấn tượng, ý tưởng hay hình tư tưởng mà Tôi muốn thấy trước hết tác động lên thể trí của các bạn, rồi sau đó—nếu các bạn có khả năng chỉnh hợp như thế—lên bộ não của các bạn. Tiến trình này có thể nhanh hoặc chậm. Khi sự chỉnh hợp tốt, có thể có sự đáp ứng gần như tức thời với tư tưởng của Tôi; khi sự chỉnh hợp chưa tốt, có thể mất nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần, cuối cùng người đệ tử mới nhận biết ấn tượng ấy và ghi nhận nó một cách có ý thức trong thể trí và bộ não. |
1. More fascinating technicalities concerning the process of thought-transference are conveyed. | 1. Thêm nhiều chi tiết kỹ thuật hấp dẫn về tiến trình truyền tư tưởng được trình bày. |
2. The “chitta” or “mind-stuff” is the substance of the lower mental plane, the substance of thought. | 2. “Chất trí” hay “chất liệu trí tuệ” là chất liệu của cõi hạ trí, chất liệu của tư tưởng. |
3. When thinking of the higher correspondence to man’s “mind-stuff”, one can think of the substance-energy of the atmic plane (which is the third systemic plane of the cosmic physical plane), or one can think even more deeply of the concrete levels of the cosmic mental plane. Since the Planetary Logos has a causal body upon the higher levels of the cosmic mental plane, He naturally is able to engage in thought processes which involve the concrete levels of that cosmic plane. The correspondence between the levels of concrete mind on the systemic mental plane and those same levels on the cosmic mental plane is exact. | 3. Khi suy nghĩ về đối phần tương ứng cao hơn của “chất trí” của con người, chúng ta có thể nghĩ đến chất liệu–năng lượng của cõi atma (là cõi thứ ba của hệ mặt trời trong cõi hồng trần vũ trụ), hoặc có thể suy xét sâu hơn nữa về các cấp độ cụ thể của cõi trí vũ trụ. Vì Hành Tinh Thượng đế có một thể nguyên nhân trên các cấp độ cao của cõi trí vũ trụ, nên đương nhiên Ngài có thể tham gia vào các tiến trình tư duy liên quan đến những cấp độ cụ thể của cõi vũ trụ ấy. Sự tương ứng giữa các cấp độ của trí cụ thể trên cõi trí của hệ mặt trời và chính những cấp độ ấy trên cõi trí vũ trụ là hoàn toàn chính xác. |
4. The chitta, we learn, is set into motion by the will, and by “carefully expressed and formulated ideas[s] in the mind of the thinker”. With respect to the chitta, there are the attractive, manipulative forces with organize thoughtforms; these forces pertain to the second and third rays. The will and the energy of the first ray hold the thoughtforms in coherence and also propel them through mental ‘space’. | 4. Chúng ta biết rằng ý chí khơi chuyển chất trí, cùng với “các ý tưởng[s] được diễn đạt và định hình cẩn thận trong thể trí của người tư duy”. Đối với chất trí, có những mãnh lực thu hút và điều khiển giúp tổ chức các hình tư tưởng; những mãnh lực này thuộc cung hai và cung ba. Ý chí và năng lượng của cung một duy trì sự cố kết của các hình tư tưởng, đồng thời thúc đẩy chúng đi qua ‘không gian trí tuệ’. |
5. The volatility of the chitta is worth noting. It is in constant motion, which says something about the devic and elemental lives involved. We can imagine the chitta as ultra responsive to a number of forces — will, other thoughts, desires, and also, perhaps, intuitions and the general influences of the spiritual triad. | 5. Tính dễ biến động của chất trí là điều đáng lưu ý. Nó liên tục chuyển động, điều này cho thấy đôi nét về các sự sống thiên thần và hành khí có liên quan. Chúng ta có thể hình dung chất trí cực kỳ nhạy bén trong việc đáp ứng với nhiều mãnh lực — ý chí, những tư tưởng khác, các dục vọng, và có lẽ cả trực giác cùng những ảnh hưởng tổng quát của Tam Nguyên Tinh Thần. |
6. Again the Geminian process is indicated, for “two points” are to be considered, and between these two points currents of mind-stuff are set in motion in the manner suggested. | 6. Một lần nữa, tiến trình mang tính Song Tử được chỉ ra, vì cần xem xét “hai điểm”, và giữa hai điểm này, các dòng chất trí được khơi chuyển theo cách thức đã gợi ý. |
7. Organized mind-stuff (a thoughtform, for instance) travels along the current set up between the two points. As described in the paragraph above, such a thoughtform will travel towards the receiver and return to the sender numerous times. | 7. Chất trí đã được tổ chức (chẳng hạn một hình tư tưởng) di chuyển theo dòng được thiết lập giữa hai điểm. Như đã mô tả trong đoạn trên, một hình tư tưởng như thế sẽ nhiều lần đi về phía người nhận rồi trở lại với người gửi. |
8. The telepathic worker must establish a “current of rapport”. It is in the establishing of this current that harmlessness is so important. Unkind and critical thought will inhibit the current of rapport or destroy it, if it has been created. | 8. Người hoạt động viễn cảm phải thiết lập một “dòng giao cảm”. Chính trong việc thiết lập dòng này, tính vô tổn hại có vai trò hết sức quan trọng. Tư tưởng thiếu thiện ý và chỉ trích sẽ cản trở dòng giao cảm, hoặc phá hủy dòng ấy nếu nó đã được tạo ra. |
9. When disciples sense the Tibetan’s vibration, it may mean that a current of rapport has been established between Him and them. | 9. Khi các đệ tử cảm nhận rung động của Chân sư Tây Tạng, điều đó có thể có nghĩa là một dòng giao cảm đã được thiết lập giữa Ngài và họ. |
10. Along the current of rapport, the Tibetan, for instance, sends the ideas or thoughts which He seeks to impress upon the minds of His chelas. Perhaps, as well, He can reach their brains, but to do so a clear alignment between mind and brain must be established in the chela. | 10. Chẳng hạn, theo dòng giao cảm ấy, Chân sư Tây Tạng gửi những ý tưởng hoặc tư tưởng mà Ngài muốn ghi khắc vào thể trí của các đệ tử của Ngài. Có lẽ Ngài cũng có thể tiếp cận bộ não của họ, nhưng để làm được điều đó, người đệ tử phải thiết lập sự chỉnh hợp rõ ràng giữa thể trí và bộ não. |
11. A number of valuable impressions from the Master may be in our mental aura presently, but we (focussed in our brain consciousness) may not have noticed them. As our alignment between mind and brain improves, registering that which has already been ‘sent’ (and is presently ‘resident within the mind’) will occur with much greater rapidity. | 11. Hiện nay, một số ấn tượng quý giá từ Chân sư có thể đang hiện diện trong hào quang trí tuệ của chúng ta, nhưng chúng ta (đang tập trung trong tâm thức bộ não) có thể chưa nhận thấy chúng. Khi sự chỉnh hợp giữa thể trí và bộ não của chúng ta được cải thiện, việc ghi nhận những gì đã được ‘gửi đến’ (và hiện đang ‘lưu trú trong thể trí’) sẽ diễn ra nhanh hơn nhiều. |
12. It is interesting and perhaps alarming to see how much time can pass before the recipient disciple registers the impression which may already be lodged within his aura. | 12. Thật thú vị, và có lẽ đáng lo ngại, khi thấy có thể mất bao lâu trước khi người đệ tử tiếp nhận ghi nhận được ấn tượng vốn có lẽ đã nằm trong hào quang của mình. |
13. If we wish to become a useful telepathic worker, we take the hint; we see to the alignment between mind and brain. A certain type of mental alertness will facilitate this alignment. Also, when we ‘think before we speak’, the alignment is facilitated. | 13. Nếu muốn trở thành một người hoạt động viễn cảm hữu ích, chúng ta tiếp thu gợi ý ấy và chú trọng sự chỉnh hợp giữa thể trí và bộ não. Một loại tỉnh thức trí tuệ nhất định sẽ tạo thuận lợi cho sự chỉnh hợp này. Ngoài ra, khi chúng ta ‘suy nghĩ trước khi nói’, sự chỉnh hợp cũng diễn ra thuận lợi hơn. |
14. Obviously, we wish to cultivate immediate registration and response to the Master’s directed thought. | 14. Hiển nhiên, chúng ta muốn vun bồi khả năng ghi nhận và đáp ứng tức thì với tư tưởng được định hướng của Chân sư. |
There are other groups which are consciously working with the energy which can dispel glamour and illusion. This is the energy of the highest level of the astral plane. This level is [69] susceptible to reaction or response to that type of energy which we call the energy of the intuition or of buddhi, if you like the oriental terminology. It is the energy of wisdom. This wisdom energy is the only type of force which is adequate to dispel the miasmas, the fogs and the mists of the world of glamour. Those disciples who are working in these groups have to learn to use this energy, to work wisely, to think with wisdom and to realise that wisdom itself is a force. It is this realisation which makes a person seek out another person with wisdom when he is in trouble and difficulty and is anxious to see with clarity the way that he should go. It is this realisation which drives the members of the human family to the Masters of the Wisdom. | Có những nhóm khác đang làm việc có ý thức với năng lượng có thể xua tan ảo cảm và ảo tưởng. Đây là năng lượng của cấp độ cao nhất trên cõi cảm dục. Cấp độ này [69] có khả năng phản ứng hay đáp ứng với loại năng lượng mà chúng ta gọi là năng lượng trực giác, hay Bồ đề nếu các bạn thích thuật ngữ phương Đông. Đó là năng lượng minh triết. Năng lượng minh triết này là loại mãnh lực duy nhất đủ sức xua tan những chướng khí, sương mù và màn sương của thế giới ảo cảm. Những đệ tử làm việc trong các nhóm này phải học cách sử dụng năng lượng ấy, làm việc một cách minh triết, suy nghĩ với minh triết và nhận ra rằng chính minh triết là một mãnh lực. Chính sự nhận biết này khiến một người tìm đến người có minh triết khi gặp rắc rối và khó khăn, tha thiết muốn thấy rõ con đường mình nên đi. Chính sự nhận biết này thúc đẩy các thành viên của gia đình nhân loại tìm đến các Chân sư Minh Triết. |
1. We see that the Tibetan is giving instruction which pertains to the work of the first two Seed groups. | 1. Chúng ta thấy rằng Chân sư Tây Tạng đang đưa ra huấn thị liên quan đến công việc của hai Nhóm hạt giống đầu tiên. |
2. He begins to focus on the groups which work at dispelling glamor and illusion. | 2. Ngài bắt đầu tập trung vào các nhóm làm công việc xua tan ảo cảm và ảo tưởng. |
3. In this dispelling process, the energy of the highest levels of the astral plane is involved. The connection between the buddhic plane and this highest astral level is significant. | 3. Trong tiến trình xua tan này có sự tham gia của năng lượng thuộc các cấp độ cao nhất trên cõi cảm dục. Mối liên hệ giữa cõi Bồ đề và cấp độ cảm dục cao nhất này có ý nghĩa quan trọng. |
4. Buddhi here is called the “energy of wisdom”, though it might equally be called the energy of “loving-understanding”, of “love-wisdom”, of “pure reason”, or “inclusive reason” or of “harmonization”. | 4. Ở đây, Bồ đề được gọi là “năng lượng minh triết”, dù cũng có thể gọi đó là năng lượng của “sự thấu hiểu đầy tình thương”, của “Bác Ái – Minh Triết”, của “lý trí thuần túy”, hoặc “lý trí bao gồm” hay của “sự hài hòa hóa”. |
5. A powerful and important statement is made relative to the dispelling of glamour. The “wisdom energy” is the only type of force which is adequate to dispel glamor. Thus, glamor gives way to those possessed by a broad and deep perspective. | 5. Một khẳng định mạnh mẽ và quan trọng được đưa ra về việc xua tan ảo cảm. “Năng lượng minh triết” là loại mãnh lực duy nhất đủ sức xua tan ảo cảm. Vì vậy, ảo cảm phải nhường bước trước những người có tầm nhìn rộng và sâu. |
6. Elsewhere, we learn that the clear light of the focussed mind also plays a role in the dispelling process. | 6. Ở nơi khác, chúng ta biết rằng ánh sáng trong trẻo của thể trí tập trung cũng đóng một vai trò trong tiến trình xua tan ấy. |
7. Wisdom clarifies and reveals the way which one in bewilderment may go. | 7. Minh triết làm sáng tỏ và hé lộ con đường mà người đang hoang mang có thể đi. |
8. Divine Wisdom pre-exists experience in the three worlds, but extensive experience in the lower worlds facilitates the practical application of Divine Wisdom to those worlds. | 8. Minh Triết Thiêng Liêng hiện hữu trước kinh nghiệm trong ba cõi giới, nhưng kinh nghiệm phong phú trong các cõi thấp tạo thuận lợi cho việc áp dụng Minh Triết Thiêng Liêng vào thực tiễn của những cõi ấy. |
9. Wisdom is a blend of a. ) sensitivity to archetypal structure; b. ) the registration of pure-reason; c. ) much experience in the lower worlds; d. ) and divinely inspired foresight; e. ) heart. The definitions of wisdom are many and varied, but these factors are all related to it. | 9. Minh triết là sự hòa quyện của a. ) sự nhạy cảm với cấu trúc nguyên mẫu; b. ) sự ghi nhận lý trí thuần túy; c. ) kinh nghiệm phong phú trong các cõi thấp; d. ) tầm nhìn xa được khơi nguồn từ cảm hứng thiêng liêng; e. ) tâm. Có nhiều định nghĩa đa dạng về minh triết, nhưng tất cả những yếu tố này đều liên quan đến minh triết. |
10. Perhaps all of us should focus within and see if we can detect the ‘substance of wisdom’. When do we note in our consciousness the presence of wisdom? When do we apply wisdom? What facilitates or inhibits its application? | 10. Có lẽ tất cả chúng ta nên tập trung vào bên trong và xem liệu mình có thể nhận ra ‘chất liệu của minh triết’. Khi nào chúng ta nhận thấy sự hiện diện của minh triết trong tâm thức mình? Khi nào chúng ta áp dụng minh triết? Điều gì tạo thuận lợi hoặc cản trở việc áp dụng minh triết? |
11. Wisdom is as a beacon guiding the lost. Spiritual instinct is innate in man; he knows, even if unconsciously, that there is a way through. He is magnetized towards wisdom, as it will release him from the “Samsara”, the “Great Maya”, the “World Illusion”. | 11. Minh triết như một ngọn hải đăng dẫn đường cho những người lạc lối. Bản năng tinh thần vốn có sẵn trong con người; y biết, dù không có ý thức, rằng có một con đường để vượt qua. Y được thu hút về phía minh triết, vì minh triết sẽ giải thoát y khỏi “Luân Hồi”, khỏi “Ảo Lực Vĩ Đại”, khỏi “Ảo Tưởng Thế Gian”. |
12. Why do we seek the presence and advice of the Masters of the Wisdom? Perhaps, because the wisdom latent within us reaches towards the wisdom which is fully developed and manifest in them. | 12. Vì sao chúng ta tìm đến sự hiện diện và lời khuyên của các Chân sư Minh Triết? Có lẽ vì minh triết tiềm ẩn trong chúng ta vươn tới minh triết đã phát triển trọn vẹn và biểu lộ nơi Các Ngài. |
13. We gather from all the above that to be a member of the group of “Trained Observers”, a well-developed wisdom is, at length, necessary. | 13. Từ tất cả những điều trên, chúng ta rút ra rằng để trở thành thành viên của nhóm “Các Nhà Quan Sát Lão Luyện”, cuối cùng cần phải có minh triết phát triển vững vàng. |
14. We might ponder on the thought that there is no true wisdom without the activation of the heart. | 14. Chúng ta có thể suy ngẫm về ý tưởng rằng không có minh triết đích thực nếu tâm chưa được khơi hoạt. |
In Atlantean days (I am here telling you something of interest and something which should evoke a sense of responsibility), the major task of the Masters of the Wisdom was with the great world illusion or rather, glamour. They worked then primarily upon the astral plane and had They not done so, human life and conditions would not be so good as they are — for they are in reality full of beauty, the beauty of potentiality, hovering upon the verge of immediacy of expression. | Trong thời Atlantis—ở đây Tôi đang nói với các bạn một điều đáng quan tâm và cũng là điều cần khơi dậy ý thức trách nhiệm—nhiệm vụ chủ yếu của các Chân sư Minh Triết liên quan đến ảo tưởng lớn lao của thế gian, hay đúng hơn là ảo cảm. Khi ấy, Các Ngài chủ yếu làm việc trên cõi cảm dục; nếu Các Ngài không làm như vậy, đời sống và hoàn cảnh của nhân loại hẳn đã không tốt đẹp như hiện nay—vì trên thực tế, chúng tràn đầy vẻ đẹp, vẻ đẹp của tiềm năng đang ở ngưỡng cửa biểu lộ tức thời. |
1. Master DK calls glamour the “great world illusion”. When He is teaching technically, He relates illusion to the mental plane and glamour to the astral plane. The Atlantean civilization was predominantly astral in its nature. | 1. Chân sư DK gọi ảo cảm là “ảo tưởng lớn lao của thế gian”. Khi giảng dạy về mặt kỹ thuật, Ngài liên hệ ảo tưởng với cõi trí và ảo cảm với cõi cảm dục. Về bản chất, nền văn minh Atlantis chủ yếu mang tính cảm dục. |
2. Just as children cannot possibly realize all that their parents do for them, so we cannot fathom the many ways in which hierarchical workers clear the way for us. Apparently, we owe a debt of gratitude to the hierarchical workers of Atlantean days who worked to reduce the miasmic conditions then so prevalent. | 2. Cũng như trẻ em không thể nhận biết tất cả những gì cha mẹ làm cho mình, chúng ta cũng không thể hiểu thấu vô số cách mà những người hoạt động trong Thánh đoàn dọn đường cho chúng ta. Hiển nhiên, chúng ta mang ơn những người hoạt động trong Thánh đoàn thời Atlantis, những người đã nỗ lực giảm bớt tình trạng chướng khí vốn rất phổ biến khi ấy. |
3. What is the responsibility which should be evoked in us as we learn of the previous work of the Masters of the Wisdom? Perhaps we should realize that, as we work today to reduce the world-glamor (and, as well, the illusions of the mental plane) we are serving unborn generations, just as we have been served by workers in the distant past. | 3. Trách nhiệm nào nên được khơi dậy trong chúng ta khi biết về công việc trước kia của các Chân sư Minh Triết? Có lẽ chúng ta nên nhận ra rằng khi ngày nay nỗ lực giảm bớt ảo cảm thế gian (cũng như những ảo tưởng của cõi trí), chúng ta đang phụng sự những thế hệ chưa ra đời, cũng như những người hoạt động trong quá khứ xa xưa đã phụng sự chúng ta. |
4. Hierarchy (the Great Parent) has been humanity’s unseen Benefactor. We are told that this is true, even though we do not recognize those who have benefited us. We are told (in Rule XI of The Rays and the Initiations) to learn to work without attachment to recognition. We can see why. We will be called upon to work for the welfare of those who will never know we have thus worked. Our motive cannot possibly be recognition from those we serve, for often that recognition either cannot be given or will not be given. Our love of the Divine Plan, of humanity, and of Those who are the Major Agents of the Plan must be sufficient motivation. | 4. Thánh đoàn (Đấng Sinh Thành Vĩ Đại) từ lâu đã là Ân Nhân vô hình của nhân loại. Chúng ta được cho biết rằng điều này là đúng, dù chúng ta không nhận biết những vị đã mang lại lợi ích cho mình. Trong Quy luật XI của Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, chúng ta được dạy phải học cách làm việc mà không chấp trước vào sự công nhận. Chúng ta có thể thấy vì sao. Chúng ta sẽ được kêu gọi làm việc vì phúc lợi của những người sẽ không bao giờ biết rằng chúng ta đã làm như vậy. Động cơ của chúng ta tuyệt nhiên không thể là sự công nhận từ những người mình phụng sự, vì thường họ không thể hoặc sẽ không dành cho chúng ta sự công nhận ấy. Tình thương của chúng ta đối với Thiên Cơ, đối với nhân loại và đối với Các Ngài, những Tác Nhân Chủ Yếu của Thiên Cơ, phải là động lực đầy đủ. |
5. Master DK and the other Masters can see beneath the ‘surface ugliness’ of the times to the imminent beauty on “the verge of immediacy of expression”. If we are to stand strong in all the stress and turmoil prevalent today, we too must develop an insight into the emerging beauty just beneath the surface of circumstance. The sight of the beautiful always strengthens the heart and the ability to endure through the power of love. | 5. Chân sư DK và các Chân sư khác có thể nhìn xuyên qua ‘vẻ xấu xí bề ngoài’ của thời đại để thấy vẻ đẹp sắp xuất hiện, đang ở “ngưỡng cửa biểu lộ tức thì”. Nếu muốn đứng vững giữa mọi căng thẳng và biến động phổ biến ngày nay, chúng ta cũng phải phát triển khả năng thấy sâu vào vẻ đẹp đang xuất hiện ngay bên dưới bề mặt hoàn cảnh. Việc nhìn thấy cái đẹp luôn củng cố tâm và khả năng bền bỉ chịu đựng nhờ quyền năng của tình thương. |
Today, They are working primarily upon the mental plane, dealing with ideas and with their impression upon the minds of Their disciples and advanced humanity; it is the problem of humanity itself, as a whole, to work in the world glamour; it is the responsibility of the aspirants of the world to guide humanity out of the valley of glamour. Men must learn to understand it and eventually — aided by the senior disciples of the world, trained by the Masters of the Wisdom — to transmute and dispel it. | Ngày nay, Các Ngài chủ yếu làm việc trên cõi trí, xử lý các ý tưởng và việc tạo ấn tượng bằng những ý tưởng ấy lên thể trí của các đệ tử của Các Ngài cùng bộ phận nhân loại tiến bộ; làm việc trong ảo cảm thế gian là vấn đề của chính nhân loại nói chung; hướng dẫn nhân loại ra khỏi thung lũng ảo cảm là trách nhiệm của những người chí nguyện trên thế giới. Con người phải học cách thấu hiểu nó và cuối cùng, với sự trợ giúp của các đệ tử cao cấp trên thế giới đã được các Chân sư Minh Triết huấn luyện, chuyển hoá và xua tan nó. |
1. Today the emphasis of Hierarchy has shifted. Their work within the “great world illusion” (considered as glamour) has come to an end. Their focus is now, necessarily, higher — upon the mental plane for, as humanity becomes more intelligent, a very great problem is looming on that plane. | 1. Ngày nay, trọng tâm của Thánh đoàn đã chuyển dịch. Công việc của Các Ngài trong “ảo tưởng lớn lao của thế gian” (được xem là ảo cảm) đã kết thúc. Hiện nay, tất yếu trọng tâm của Các Ngài ở cao hơn — trên cõi trí, vì khi nhân loại trở nên thông minh hơn, một vấn đề rất lớn đang dần hiện ra trên cõi ấy. |
2. Average humanity will necessarily work in the world of glamor. They have not yet escaped it and are surrounded by it. | 2. Tất yếu, những người bình thường trong nhân loại sẽ làm việc trong thế giới ảo cảm. Họ chưa thoát khỏi nó và vẫn bị nó bao quanh. |
3. Now it is the task of aspirants and disciples to help “guide humanity out of the valley of glamour”. Notice the word, “valley”. Similarly, the term “vale of illusion” has been used and, also, the “veil” of illusion. Glamor is a soul-depressive state. It offers no true perspective, unlike the “peaks” of realization. Humanity’s task is to emerge from the valleys, rapidly cross the planes of mentally directed life whereon vision is gradually clarified and head rapidly towards the mountain, the climbing of which will lead to the “peak of realization” (initiation) | 3. Giờ đây, nhiệm vụ của những người chí nguyện và các đệ tử là giúp “dẫn dắt nhân loại ra khỏi thung lũng ảo cảm”. Hãy chú ý từ “thung lũng”. Tương tự, thuật ngữ “thung lũng ảo tưởng” cũng đã được sử dụng, cùng với “bức màn” ảo tưởng. Ảo cảm là một trạng thái đè nén linh hồn. Nó không đem lại một tầm nhìn đích thực nào, khác với những “đỉnh cao” của sự chứng nghiệm. Nhiệm vụ của nhân loại là thoát khỏi các thung lũng, nhanh chóng băng qua những bình nguyên của đời sống do trí tuệ định hướng, nơi tầm nhìn dần trở nên rõ ràng, rồi nhanh chóng tiến về phía ngọn núi mà việc leo lên đó sẽ dẫn tới “đỉnh cao chứng nghiệm” (điểm đạo) |
4. Several different actions are suggested in this paragraph. Humanity dwells within the valley (or vale) of glamor; aspirants help to guide humanity out of that vale; senior disciples (trained by the Masters of the Wisdom) teach men to understand, transmute and dispel glamor. To be personally free of surrounding glamor is one thing, but to actually contribute to its disappearance in a larger sense is quite another. The counsel of senior disciples is necessary if humanity (standing with “massed intent”) is eventually to dissipate the world glamor. This may lie some centuries ahead and even then will not be a completed process (though a significant banishing of glamor will occur). | 4. Đoạn này gợi ra một số hành động khác nhau. Nhân loại sống trong thung lũng ảo cảm; những người chí nguyện giúp dẫn dắt nhân loại ra khỏi thung lũng ấy; các đệ tử cao cấp (do các Chân sư Minh Triết huấn luyện) dạy con người thấu hiểu, chuyển hoá và xua tan ảo cảm. Bản thân thoát khỏi ảo cảm bao quanh là một việc, nhưng thực sự góp phần làm cho ảo cảm biến mất trên phạm vi rộng lớn hơn lại là một việc hoàn toàn khác. Lời chỉ dẫn của các đệ tử cao cấp là điều cần thiết nếu nhân loại (đứng vững với “ý định tập thể tập trung”) cuối cùng muốn làm tiêu tan ảo cảm thế gian. Điều này có thể còn cách chúng ta vài thế kỷ, và ngay cả khi ấy, tiến trình này vẫn chưa hoàn tất (dù ảo cảm sẽ bị xua đuổi đáng kể). |
You should, therefore, bear in mind that the task before the modern disciple is to carry forward into the New Age the idea of the bringing of glamour and of the great illusion into the light. In the light, it will disappear. In this age, we have mastered, too well perhaps, the forces of nature and have brought out for our own benefit the material resources of the physical plane. We have conquered them and bent them to our will and use, often selfishly, yet sometimes with good and pure intent. In the New Age, a paralleling control will take place [70] over the world of astral phenomena and over the forces of glamour and illusion. We seek to control them today mentally and theoretically. But only the energy of wisdom will suffice to dispel the forces of the world glamour and the world illusion. Practise wisdom, my brothers, and thus aid humanity and shorten its astral struggle. | Vì vậy, các bạn cần ghi nhớ rằng nhiệm vụ trước mắt của người đệ tử hiện đại là đưa vào Kỷ Nguyên Mới ý tưởng đem ảo cảm và ảo tưởng lớn lao ra ánh sáng. Trong ánh sáng, chúng sẽ biến mất. Trong thời đại này, có lẽ chúng ta đã làm chủ các mãnh lực tự nhiên quá thành thạo, đồng thời khai thác những tài nguyên vật chất của cõi hồng trần vì lợi ích của mình. Chúng ta đã chinh phục chúng, bắt chúng phục tùng ý chí và phục vụ nhu cầu của mình, thường một cách ích kỷ, nhưng đôi khi cũng với ý định tốt đẹp và trong sáng. Trong Kỷ Nguyên Mới, một sự kiểm soát tương tự sẽ diễn ra [70] đối với thế giới các hiện tượng cảm dục và các mãnh lực của ảo cảm, ảo tưởng. Ngày nay, chúng ta tìm cách kiểm soát chúng bằng trí tuệ và trên lý thuyết. Nhưng chỉ năng lượng minh triết mới đủ sức xua tan các mãnh lực của ảo cảm thế gian và ảo tưởng thế gian. Các huynh đệ của tôi, hãy thực hành minh triết, qua đó trợ giúp nhân loại và rút ngắn cuộc đấu tranh của nhân loại trong cõi cảm dục. |
1. It is the light of wisdom that will bring glamor and the great illusion to an end. When glamor is brought into the light it disappears. | 1. Chính ánh sáng minh triết sẽ chấm dứt ảo cảm và đại ảo tưởng. Khi được đưa ra ánh sáng, ảo cảm biến mất. |
2. Ours is the task to shine the light of knowledge, and better, the light of wisdom upon the glamor of which we may be aware. | 2. Nhiệm vụ của chúng ta là chiếu ánh sáng tri thức, và tốt hơn nữa là ánh sáng minh triết, vào những ảo cảm mà chúng ta có thể nhận biết. |
3. Glamor and illusion are often differentiated in the Teaching of the Tibetan, but, really, they constitute one obstructive force. | 3. Giáo huấn của Chân sư Tây Tạng thường phân biệt ảo cảm và ảo tưởng, nhưng thực ra, chúng hợp thành một mãnh lực cản trở duy nhất. |
4. A suggestion is given that humanity has, perhaps, progressed too fast in the mastery of the forces of nature, for these forces have been applied selfishly by many. Yet an effort by humanity as a whole led to the conquering of many of these forces. | 4. Có một gợi ý rằng có lẽ nhân loại đã tiến quá nhanh trong việc làm chủ các mãnh lực của tự nhiên, vì nhiều người đã sử dụng những mãnh lực này một cách ích kỷ. Tuy nhiên, nỗ lực của toàn thể nhân loại đã dẫn đến việc chinh phục nhiều mãnh lực trong số đó. |
5. The Tibetan speaks of a future effort which will involve all of humanity and its will — the further control and conquering of the forces of glamor and illusion. This will be a task for humanity during the Aquarian Age, once that Age with its healing and dissipative energies is thoroughly established. | 5. Chân sư Tây Tạng nói về một nỗ lực trong tương lai sẽ huy động toàn thể nhân loại cùng ý chí của nhân loại — tiếp tục kiểm soát và chinh phục các mãnh lực của ảo cảm và ảo tưởng. Đây sẽ là nhiệm vụ của nhân loại trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, một khi Kỷ Nguyên ấy, cùng các năng lượng chữa lành và làm tiêu tan của nó, đã được thiết lập vững chắc. |
6. The Tibetan informs us that we do not yet control astral phenomena, glamor and illusion. We but seek to control such forces and our control is largely mental and theoretical, which means that it is not yet real and practical. | 6. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng chúng ta chưa kiểm soát được các hiện tượng cảm dục, ảo cảm và ảo tưởng. Chúng ta chỉ tìm cách kiểm soát những mãnh lực ấy, và sự kiểm soát của chúng ta phần lớn vẫn thuộc về trí tuệ và lý thuyết, nghĩa là chưa thực sự có hiệu lực trong thực tiễn. |
7. The astral plane threatens to overrun the world of physical plane consciousness. It would be a great disaster if the astral ocean deluged the world of the senses before humanity knew how to handle it. Hierarchy must guard the etheric web which poses a barrier between the astral plane and the physical brain, while at the same time encouraging the controlled attenuation of this web for those who are demonstrating readiness to handle the consequences. | 7. Cõi cảm dục đe doạ tràn ngập thế giới tâm thức trên cõi hồng trần. Sẽ là một thảm hoạ lớn nếu đại dương cảm dục nhấn chìm thế giới giác quan trước khi nhân loại biết cách ứng phó với nó. Thánh đoàn phải bảo vệ lưới dĩ thái, vốn tạo thành một hàng rào giữa cõi cảm dục và bộ não hồng trần, đồng thời khuyến khích việc làm mỏng lưới này một cách có kiểm soát nơi những người đang chứng tỏ mình sẵn sàng ứng phó với các hệ quả. |
8. Only wisdom, however, will be effective in dispelling the negative influences of the astral plane. Why might this be so? Astralism and glamor are distortions of reality. Wisdom, however, allied to pure reason, presents reality as it is. Wisdom “gives the lie” to the illusory astral presentation, offering the necessary contrast against which the astral presentation can be seen as false. | 8. Tuy nhiên, chỉ minh triết mới có hiệu quả trong việc xua tan những ảnh hưởng tiêu cực của cõi cảm dục. Vì sao có thể như vậy? Hiện tượng cảm dục và ảo cảm là những sự xuyên tạc thực tại. Tuy nhiên, minh triết, kết hợp với lý trí thuần khiết, trình bày thực tại đúng như nó vốn là. Minh triết “vạch trần sự giả dối” trong những gì cõi cảm dục trình hiện một cách hư ảo, đem lại sự tương phản cần thiết để có thể thấy rằng những gì cõi cảm dục trình hiện là sai lệch. |
9. Wisdom is an energy which ‘sees through and behind’ delusive astral phenomena. Wisdom carries the “ring of truth” which exposes the false tones of astralism. Unless there is some true standard, how is one to distinguish the false from the true? Wisdom as pure-reason offers such a standard. | 9. Minh triết là một năng lượng ‘nhìn xuyên thấu và thấy được phía sau’ các hiện tượng cảm dục gây mê lầm. Minh triết mang “âm vang chân lý”, qua đó phơi bày những âm điệu giả dối của các hiện tượng cảm dục. Nếu không có một chuẩn mực chân thực nào đó, làm sao người ta phân biệt được giả với chân? Minh triết, với tư cách là lý trí thuần khiết, đem lại một chuẩn mực như thế. |
10. The Tibetan advises us to “practice wisdom” and thereby shorten humanity’s astral struggle. How does one actually practice wisdom? Here are some suggestions. | 10. Chân sư Tây Tạng khuyên chúng ta “thực hành minh triết” và nhờ đó rút ngắn cuộc đấu tranh trên cõi cảm dục của nhân loại. Thực sự thực hành minh triết bằng cách nào? Sau đây là một số gợi ý. |
a. Retain soul-infusion consistently to the degree possible. | a. Duy trì sự thấm nhuần của linh hồn một cách nhất quán trong mức độ có thể. |
b. Become practically familiar with the content of your causal body, through meditation and a just appraisal of your virtues. | b. Qua tham thiền và việc đánh giá đúng đắn các đức tính của mình, hãy làm quen bằng trải nghiệm thực tế với những gì chứa đựng trong thể nguyên nhân của các bạn. |
c. Build the antahkarana and sustain its presence in consciousness. | c. Xây dựng antahkarana và duy trì sự hiện diện của nó trong tâm thức. |
d. Do not act with undue haste, but consult the soul and the spiritual triad before taking action. | d. Đừng hành động quá vội vàng, mà hãy tham vấn linh hồn và Tam Nguyên Tinh Thần trước khi hành động. |
e. Reflect upon your own personal experience before taking important action. | e. Suy ngẫm về trải nghiệm cá nhân của chính mình trước khi thực hiện hành động quan trọng. |
f. Envision the Divine Plan and refer to it when preparing to take action. | f. Hình dung Thiên Cơ và đối chiếu với Thiên Cơ khi chuẩn bị hành động. |
g. Breathe ‘inwards’ and ‘upwards’, seeking inspiration. Elevate energies from below the diaphragm before taking action. | g. Thở ‘hướng vào trong’ và ‘hướng lên trên’, tìm kiếm cảm hứng. Nâng các năng lượng từ bên dưới cơ hoành lên trước khi hành động. |
Other groups have the task of working with the energy which is the well known and much discussed prana or life energy — the energy of vitality. The right use of the pranic energies (and they are seven in number) will most assuredly dissipate disease and bodily ills and will cure the pains of the human physical vehicle. But in connection with this, two things are essential and these are seldom found together: | Những nhóm khác có nhiệm vụ làm việc với năng lượng vốn được biết đến rộng rãi và bàn luận nhiều dưới tên gọi prana hay năng lượng sự sống—năng lượng sinh lực. Việc sử dụng đúng đắn các năng lượng prana, gồm bảy loại, chắc chắn sẽ làm tiêu tan bệnh tật và những chứng đau yếu của thân thể, đồng thời chữa lành những đau đớn của hiện thể hồng trần con người. Nhưng liên quan đến điều này, có hai điều thiết yếu mà hiếm khi cùng hiện diện: |
1. The energy of the soul — like the energy of the universal mind and the energy of buddhi, or the intuition — has to be set in action upon the physical plane by the one to be healed and by the healer. Both have to work in cooperation. | 1. Năng lượng của linh hồn—cũng như năng lượng của Vũ Trụ Trí và năng lượng Bồ đề, hay trực giác—phải được cả người cần chữa lành lẫn người chữa lành đưa vào hoạt động trên cõi hồng trần. Cả hai phải hợp tác làm việc. |
2. There must be right understanding of the disease and its cause, plus the karmic status of the patient and the condition of his centres, his alignment and his point in evolution. | 2. Phải có sự thấu hiểu đúng đắn về bệnh tật và nguyên nhân của nó, cùng với tình trạng nghiệp quả của bệnh nhân, tình trạng các trung tâm, sự chỉnh hợp và điểm tiến hoá của người ấy. |
1. The Tibetan continues His discussion of the function of the major three Seed Groups. | 1. Chân sư Tây Tạng tiếp tục bàn về chức năng của ba Nhóm hạt giống chính. |
2. The group here under discussion is the group of Magnetic Healers. | 2. Nhóm đang được bàn đến ở đây là nhóm Các Nhà Chữa Lành Từ Tính. |
3. Healers are to work with prana or vitality. There are a number of such pranas or “vital airs”. In the Yoga Sutras some five are listed. Here the Tibetan numbers them as seven. | 3. Những người chữa lành phải làm việc với prana hay sinh lực. Có một số loại prana, hay “sinh khí”. Kinh Yoga liệt kê khoảng năm loại. Ở đây, Chân sư Tây Tạng nêu số lượng là bảy. |
4. The ordinary pranic energies emanate from the physical-etheric plane. When it comes, however, to enumerating the pranas as seven, some pranas emanating from the spiritual triad may be under discussion, for the higher three levels of the cosmic physical plane on which the spiritual triad is focussed, are the cosmic etheric levels, and, by analogy, are possessed of pranas just as are the lower ethers. | 4. Các năng lượng prana thông thường phát xạ từ cõi hồng trần–dĩ thái. Tuy nhiên, khi nói đến việc liệt kê prana thành bảy loại, có thể một số prana phát xạ từ Tam Nguyên Tinh Thần cũng đang được bàn đến, vì ba cấp độ cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ, nơi Tam Nguyên Tinh Thần tập trung, là các cấp độ dĩ thái vũ trụ và, theo phép tương đồng, cũng có prana như các cõi dĩ thái thấp. |
5. From another perspective, the energies of the atomic subplane of each systemic plane can be considered pranic, because they carry the purest, vitalizing energy of that plane. | 5. Từ một góc nhìn khác, có thể xem năng lượng của cõi phụ nguyên tử trên mỗi cõi thuộc hệ mặt trời là năng lượng prana, vì chúng mang năng lượng tiếp sinh lực thuần khiết nhất của cõi ấy. |
6. This paragraph is interesting. Is it calling upon the healer to release the energies of the universal mind and intuition as well as the energies of the soul? Probably, DK is comparing the three groups and the energies which must be released through these groups. | 6. Đoạn này thật thú vị. Phải chăng đoạn này đang kêu gọi người chữa lành giải phóng các năng lượng của Vũ Trụ Trí và trực giác, cũng như các năng lượng linh hồn? Có lẽ Chân sư DK đang so sánh ba nhóm và những năng lượng phải được giải phóng thông qua các nhóm ấy. |
a. The Telepathic Workers must eventually access the energy of universal mind, which, in this case, pertains to the atmic plane. | a. Những Người Hoạt Động Viễn Cảm cuối cùng phải tiếp cận được năng lượng của Vũ Trụ Trí, mà trong trường hợp này thuộc về cõi atma. |
b. The Trained Observers or Observers of Reality must access the energy of intuition or buddhi, found upon the buddhic plane. | b. Các Nhà Quan Sát Lão Luyện, hay Những Người Quan Sát Thực Tại, phải tiếp cận được năng lượng trực giác hay Bồ đề trên cõi Bồ đề. |
c. The Magnetic Healers are to access the energy of the soul which includes, it would seem, the lowest or manasic aspect of the spiritual triad. | c. Các Nhà Chữa Lành Từ Tính phải tiếp cận được năng lượng linh hồn, dường như bao gồm phương diện thấp nhất, hay phương diện manas, của Tam Nguyên Tinh Thần. |
7. It is important to note that the effective energy (in the case of the each of the three principal Seed Groups) descends from the levels of the spiritual triad. | 7. Cần lưu ý rằng năng lượng có hiệu lực (trong trường hợp của từng nhóm thuộc ba Nhóm hạt giống chính) đi xuống từ các cấp độ của Tam Nguyên Tinh Thần. |
8. If these seven pranas are so effective in healing bodily ills, why is not such healing more common? | 8. Nếu bảy loại prana này có hiệu quả đến thế trong việc chữa lành những chứng đau yếu của thân thể, vì sao việc chữa lành như vậy lại chưa phổ biến hơn? |
9. Two requirements (seldom found together) are given. | 9. Hai yêu cầu được nêu ra (hiếm khi cùng hiện diện). |
a. The energy of the soul has to be set in motion upon the physical plane, not only by the healer but by the one to be healed. This task may seem somewhat easier of accomplishment for the healer than the one to be healed, for the ordinary patient may be quite ignorant of the soul and its presence. Still, under proper instruction by the healer, it must be possible | a. Năng lượng linh hồn phải được đưa vào hoạt động trên cõi hồng trần, không chỉ nhờ người chữa lành mà còn nhờ người cần được chữa lành. Nhiệm vụ này có vẻ dễ thực hiện hơn phần nào đối với người chữa lành so với người cần được chữa lành, vì bệnh nhân thông thường có thể hoàn toàn không biết gì về linh hồn và sự hiện diện của linh hồn. Dẫu vậy, với sự hướng dẫn đúng đắn của người chữa lành, điều này hẳn phải khả thi |
b. Much technical knowledge of disease and man’s occult anatomy and physiology is needed. There are few healers who not only understand the presented disease thoroughly but can divine the “karmic status of the patient and the condition of his centres, his alignment and his point in evolution”. One would have to be a high initiate or Master to know these factors with exactitude. | b. Cần có nhiều kiến thức chuyên môn về bệnh tật, cũng như về giải phẫu học và sinh lý học huyền bí của con người. Rất ít người chữa lành vừa thấu hiểu tường tận căn bệnh biểu hiện trước mắt, vừa có thể trực nhận “tình trạng nghiệp quả của bệnh nhân, tình trạng các trung tâm, sự chỉnh hợp và điểm tiến hoá của người ấy”. Phải là một điểm đạo đồ cao cấp hoặc một Chân sư mới biết chính xác những yếu tố này. |
As yet we are only dealing with the a. b. c. of these relatively new sciences and much of our initial work must be of a clarifying nature because there is so much distorted sensing of these occult systems of energy utilisation and so much misuse of these powers. | Cho đến nay, chúng ta mới chỉ bàn đến những điều sơ đẳng của các khoa học tương đối mới này, và phần lớn công việc ban đầu của chúng ta phải mang tính làm sáng tỏ, bởi có quá nhiều cảm nhận méo mó về các hệ thống huyền bí sử dụng năng lượng này, cùng quá nhiều sự lạm dụng những quyền năng ấy. |
1. A note inducing humility is introduced. Constantly the Tibetan is reminding us that, for all the apparent difficulty of the Teaching which He imparts, it is merely the “a. b. c. ” of the more advanced material that might be imparted. | 1. Một lời nhắc gợi sự khiêm nhường được đưa ra. Chân sư Tây Tạng không ngừng nhắc chúng ta rằng, dù Giáo huấn Ngài truyền đạt có vẻ khó đến đâu, đó cũng chỉ là những điều “a. b. c. ” sơ đẳng của nội dung cao cấp hơn có thể được truyền đạt. |
2. Eager, aspiring humanity is seeking to sense the nature of the inner and higher worlds, but, as yet, so much of the sensing is distorted and therefore, unreliable. There is not sufficient checking and verifying of that which is contacted. Mere contact proves nothing, for that which is contacted may be entirely illusory, though seemingly real. If real, that which is contacted may be brought through in a distorted manner. | 2. Nhân loại, đầy háo hức và khát vọng, đang tìm cách cảm nhận bản chất của các cõi bên trong và cao hơn, nhưng cho đến nay, rất nhiều cảm nhận vẫn sai lệch và do đó không đáng tin cậy. Những gì được tiếp xúc chưa được kiểm tra và xác minh đầy đủ. Chỉ riêng sự tiếp xúc không chứng minh được điều gì, vì đối tượng được tiếp xúc có thể hoàn toàn là ảo tưởng, dù có vẻ chân thực. Nếu là chân thực, những gì được tiếp xúc vẫn có thể được truyền đạt lại một cách sai lệch. |
3. The Masters dare not give too much, as humanity is still very selfish and is inclined to misuse for personal purposes much that is given. | 3. Các Chân sư không dám trao truyền quá nhiều, vì nhân loại vẫn còn rất ích kỷ và có khuynh hướng lạm dụng phần lớn những gì được trao truyền để phục vụ mục đích cá nhân. |
Other groups are associated in a peculiar manner with the number four, and they are occupied with the bridging work carried forward between the personality and the Monad (the triple lower man and the Spiritual Triad) and also between the lower mind, the soul and the higher mind — thus linking that relatively lower triplicity with the unity, the Spiritual Triad. The fourth kingdom in nature is, in its turn, a bridging kingdom between the three superhuman kingdoms and the three subhuman. Again, the fourth plane (which must be reached by the bridge of light, the antahkarana) is the link between the three higher worlds of spiritual being and the three lower [71] worlds of human endeavour and experience. The energy with which the group of disciples along this line of activity has to work is the Light of the soul, remembering ever that light is substance; their effort is to create — as individuals and also as a group of disciples — a great pathway of light between the personality and the Spiritual Triad (atma-buddhi-manas or spiritual will, intuitive understanding and the higher mind). | Những nhóm khác có mối liên hệ đặc biệt với số bốn, và họ đảm nhiệm công việc bắc cầu giữa phàm ngã và Chân thần—phàm nhân tam phân và Tam Nguyên Tinh Thần—cũng như giữa hạ trí, linh hồn và thượng trí, qua đó nối liền bộ ba tương đối thấp ấy với nhất thể là Tam Nguyên Tinh Thần. Đến lượt mình, giới thứ tư trong thiên nhiên là giới bắc cầu giữa ba giới siêu nhân loại và ba giới dưới nhân loại. Lại nữa, cõi thứ tư, mà người ta phải đạt đến bằng cây cầu ánh sáng, antahkarana, là mối liên kết giữa ba cõi cao của sự hiện tồn tinh thần và ba cõi thấp [71] của nỗ lực và trải nghiệm nhân loại. Năng lượng mà nhóm đệ tử theo hướng hoạt động này phải làm việc là Ánh sáng của linh hồn, luôn ghi nhớ rằng ánh sáng là chất liệu; nỗ lực của họ, với tư cách cá nhân cũng như một nhóm đệ tử, là tạo ra một con đường ánh sáng lớn lao giữa phàm ngã và Tam Nguyên Tinh Thần—atma-Bồ đề-manas, hay ý chí tinh thần, sự thấu hiểu trực giác và thượng trí. |
1. The Master continues His enumeration of the tasks of the various Seed Groups. | 1. Chân sư tiếp tục liệt kê các nhiệm vụ của những Nhóm hạt giống khác nhau. |
2. He now appears to be focussing on the Group of Educators — the Fourth Seed Group. Interestingly, this group is resonant to the bridging number “four”. | 2. Giờ đây, dường như Ngài đang tập trung vào Nhóm Các Nhà Giáo Dục — Nhóm hạt giống thứ tư. Điều thú vị là nhóm này cộng hưởng với con số bắc cầu “bốn”. |
3. The bridges which they are responsible for making are several, and span the chasm between the highest and lowest periodical vehicles (monad and personality) as well as the apparently separated aspects of mind — the concrete mind, the “Son of Mind”/soul-mind, and the abstract mind. | 3. Họ có trách nhiệm xây dựng một số cây cầu, bắc qua vực ngăn cách giữa các hiện thể mang tính chu kỳ cao nhất và thấp nhất (chân thần và phàm ngã), cũng như giữa những phương diện dường như tách biệt của trí tuệ — trí cụ thể, “Con của Trí Tuệ”/trí tuệ linh hồn, và trí trừu tượng. |
4. The importance of the number four is explored. This number is especially important to humanity as humanity is the fourth kingdom of nature. | 4. Tầm quan trọng của số bốn được khảo sát. Con số này đặc biệt quan trọng đối với nhân loại, vì nhân loại là giới thứ tư trong tự nhiên. |
5. This fourth group is Mercurial, relating it thus to the fourth ray (and the fifth, for Mercury has much fifth ray in it). | 5. Nhóm thứ tư này mang tính chất Sao Thủy, vì thế có liên hệ với cung bốn (và cung năm, vì Sao Thủy mang rất nhiều tính chất cung năm). |
6. The fourth Seed Group of Educators is composed of “bridge builders”, and bridge building is a creative process. The fourth ray of Harmony through Conflict is, as is easily recognized, one of the major rays of creativity (the seventh and third rays being the others). | 6. Nhóm hạt giống thứ tư gồm Các Nhà Giáo Dục là những “người xây cầu”, và việc xây cầu là một tiến trình sáng tạo . Cung bốn, Hài Hoà qua Xung Đột, như có thể dễ dàng nhận thấy, là một trong những cung chính của năng lực sáng tạo (hai cung còn lại là cung bảy và cung ba). |
7. We see that the role of Educators in the New Age is not so much to teach humanity to access knowledge as to access the wisdom of the spiritual triad through correct bridge-building and correct utilization of that which has been built. | 7. Chúng ta thấy rằng vai trò của Các Nhà Giáo Dục trong Kỷ Nguyên Mới chủ yếu là dạy nhân loại tiếp cận minh triết của Tam Nguyên Tinh Thần thông qua việc xây cầu đúng đắn và sử dụng đúng đắn những gì đã xây dựng, hơn là chỉ dạy cách tiếp cận tri thức. |
8. The educator draws forth the knowledge and wisdom latent within the student. Via the antahkarana, this drawing forth is facilitated. | 8. Nhà giáo dục khơi dậy tri thức và minh triết tiềm ẩn trong môn sinh. Antahkarana tạo thuận lợi cho việc khơi dậy này. |
9. To this group is given the task of creating great pathways of light. | 9. Nhóm này được giao nhiệm vụ tạo ra những con đường ánh sáng rộng lớn. |
I have not dealt with some of the activities of these groups of disciples in the New Age or pointed out the energies with which they must work in order to emphasise again to you the plans for my own groups of disciples. These groups with which I am engaged as part of the activity of my Ashram are essentially Seed Groups. They are intended to be outposts of the hierarchical consciousness as it focusses itself through me in the same sense as an individual accepted disciple is an outpost of his Master’s consciousness in the world. That is the connection which I seek to emphasise — the externalisation of the inner work of the planetary Hierarchy for the first time in history and a precipitation (if you like that term) of an inner and ready condition. The New Age is upon us and the integration of humanity in the three worlds warrants definite changes in technique though not in the basic plans. | Tôi bàn đến một số hoạt động của những nhóm đệ tử này trong Kỷ Nguyên Mới và chỉ ra những năng lượng mà họ phải làm việc không phải để nhấn mạnh lại với các bạn những kế hoạch dành cho các nhóm đệ tử của riêng Tôi. Những nhóm mà Tôi đang làm việc cùng, như một phần trong hoạt động của ashram của Tôi, về căn bản là các Nhóm hạt giống. Các nhóm này nhằm trở thành những tiền đồn của tâm thức Thánh đoàn khi tâm thức ấy tập trung qua Tôi, theo cùng một ý nghĩa như một đệ tử được chấp nhận là tiền đồn của tâm thức Chân sư mình trong thế giới. Đó là mối liên hệ mà Tôi tìm cách nhấn mạnh—lần đầu tiên trong lịch sử, công việc bên trong của Thánh đoàn hành tinh được ngoại hiện, và một trạng thái bên trong đã sẵn sàng được ngưng tụ, nếu các bạn thích dùng thuật ngữ ấy. Kỷ Nguyên Mới đã đến với chúng ta, và sự tích hợp của nhân loại trong ba cõi giới đòi hỏi những thay đổi rõ rệt về kỹ thuật, dù các kế hoạch căn bản vẫn giữ nguyên. |
1. The Tibetan is seeking that His disciples interpret the information just given in a wider context. He is not simply repeating explanations He has given earlier. | 1. Chân sư Tây Tạng mong các đệ tử của Ngài diễn giải thông tin vừa được cung cấp trong một bối cảnh rộng hơn. Ngài không chỉ đơn thuần lặp lại những giải thích đã đưa ra trước đó. |
2. An important hint concerning the relation of Master DK to the Seed Groups is offered for the first time. These groups are intended to be, He says, “outposts of the hierarchical consciousness as it focusses itself through me in the same sense as an individual accepted disciple is an outpost of his Master’s consciousness in the world”. | 2. Lần đầu tiên, một gợi ý quan trọng về mối quan hệ giữa Chân sư DK và các Nhóm hạt giống được đưa ra. Ngài nói rằng những nhóm này được dự định làm “những tiền đồn của tâm thức Thánh đoàn khi tâm thức ấy tập trung qua Tôi, cũng theo ý nghĩa mà một đệ tử được chấp nhận là tiền đồn của tâm thức của Chân sư mình trên thế giới”. |
3. We begin to see that the Seed Group project is very much under the supervision of Master DK. The hierarchical consciousness focusses through Master DK, and the Seed Groups are the result. A Master’s consciousness focusses through the consciousness of an accepted disciple, and that disciple creates certain vehicles of expression through which the Master’s consciousness can work. | 3. Chúng ta bắt đầu thấy rằng dự án Nhóm hạt giống chịu sự giám sát rất chặt chẽ của Chân sư DK. Tâm thức Thánh đoàn tập trung qua Chân sư DK, và các Nhóm hạt giống là kết quả. Tâm thức của một Chân sư tập trung qua tâm thức của một đệ tử được chấp nhận, và người đệ tử ấy tạo ra những hiện thể biểu đạt nhất định mà qua đó tâm thức của Chân sư có thể hoạt động. |
4. Given Master DK’s special relation to the Seed Groups (which He began to formulate but did not complete), it would seem that the experiment may well continue at a future time. | 4. Xét mối quan hệ đặc biệt của Chân sư DK với các Nhóm hạt giống (mà Ngài đã bắt đầu định hình nhưng chưa hoàn tất), dường như cuộc thử nghiệm rất có thể sẽ tiếp tục vào một thời điểm trong tương lai. |
5. The factor of moment, we are told, is that the Seed Groups really represent (for the first time in history) and “externalization of the inner work of the planetary Hierarchy”. On the inner side of nature, the counterparts of these Seed Groups already exist in a “ready condition”. The Hierarchy is, indeed, moving outwards. | 5. Chúng ta được cho biết rằng yếu tố quan trọng là các Nhóm hạt giống thực sự thể hiện (lần đầu tiên trong lịch sử) một sự “ngoại hiện công việc bên trong của Thánh đoàn hành tinh”. Ở phía bên trong của tự nhiên, các đối phần của những Nhóm hạt giống này đã tồn tại trong một “trạng thái sẵn sàng”. Quả thực, Thánh đoàn đang tiến ra bên ngoài. |
6. The line of descending inspiration from Hierarchy, through Master DK, to the Seed Groups and to the individual accepted disciples involved in them can thus be seen. Probably, the whole process emanates in some sanctioned way from Sanat Kumara in Shamballa. Master DK need permission, of course, to start them. | 6. Như vậy, có thể thấy dòng cảm hứng đi xuống từ Thánh đoàn, qua Chân sư DK, đến các Nhóm hạt giống và từng đệ tử được chấp nhận tham gia những nhóm ấy. Có lẽ toàn bộ tiến trình phát xuất từ Sanat Kumara tại Shamballa theo một cách thức đã được chuẩn thuận. Dĩ nhiên, Chân sư DK cần được cho phép để khởi lập các nhóm ấy. |
All this is, however, an experiment and I would remind you that it is an experiment which I and several other initiates are carrying forward as members of a great spiritual organisation. If it is successful and if the spiritual momentum set up by all of you is adequate to the effort made and if you can carry on with persistence and with untiring effort and interest, it may be possible to bring the experimental stage to an end; the Hierarchy can then recognise (as effectively established upon earth) certain focal points of energy which can constitute magnetic centres or rallying points for the new religion, the new medicine, the new psychology and education and the new politics. The potentialities are great. The difficulties are not insuperable, otherwise I would not have been permitted to make this great experiment. We enter into no activities which are obviously fore-ordained to failure. Many experiments are being carried forward today in the world by the various Members of the Hierarchy in Their differing grades and with Their [72] special groups. This effort can prove successful only in so far as the disciples of the world desire it, make the needed sacrifices and think the various objectives into being. | Tuy nhiên, tất cả những điều này là một cuộc thử nghiệm, và Tôi muốn nhắc các bạn rằng đó là cuộc thử nghiệm mà Tôi cùng một số điểm đạo đồ khác đang tiến hành với tư cách thành viên của một tổ chức tinh thần lớn lao. Nếu cuộc thử nghiệm thành công, nếu động lực tinh thần do tất cả các bạn tạo ra tương xứng với nỗ lực đã bỏ ra, và nếu các bạn có thể tiếp tục với lòng kiên trì cùng nỗ lực và sự quan tâm không mệt mỏi, thì có thể kết thúc giai đoạn thử nghiệm; khi ấy, Thánh đoàn có thể công nhận một số điểm tập trung năng lượng đã được thiết lập hữu hiệu trên Trái Đất, có thể tạo thành những trung tâm từ tính hay điểm quy tụ cho tôn giáo mới, y học mới, tâm lý học và giáo dục mới, cùng nền chính trị mới. Những tiềm năng rất lớn lao. Những khó khăn không phải là không thể vượt qua, nếu không Tôi đã chẳng được phép tiến hành cuộc thử nghiệm lớn lao này. Chúng tôi không tham gia bất kỳ hoạt động nào rõ ràng đã định sẵn là thất bại. Ngày nay, nhiều Thành viên khác nhau của Thánh đoàn, ở những cấp bậc khác nhau và cùng với các nhóm [72] đặc biệt của Các Ngài, đang tiến hành nhiều cuộc thử nghiệm trên thế giới. Nỗ lực này chỉ có thể thành công trong chừng mực các đệ tử trên thế giới mong muốn điều đó, thực hiện những hy sinh cần thiết và dùng tư tưởng đưa các mục tiêu khác nhau vào hiện tồn. |
1. Master DK may be referring to the initiates who are members of His Ashram. We have been told that He has five or so Masters working within His Ashram! | 1. Chân sư DK có thể đang nói đến những điểm đạo đồ là thành viên trong ashram của Ngài. Chúng ta đã được cho biết rằng có khoảng năm Chân sư đang làm việc bên trong ashram của Ngài! |
2. The Seed Group Project held (holds) great promise, but it requires the persistence and “untiring effort and interest” of those involved. | 2. Dự án Nhóm hạt giống từng mang (và vẫn mang) triển vọng lớn lao, nhưng đòi hỏi lòng kiên trì cùng “nỗ lực và sự quan tâm không mệt mỏi” của những người tham gia. |
3. The Seed Group work as DK was supervising it in those early days was “experimental”. If requirements were met, that stage could come to an end and Hierarchy would be enabled to “recognise (as effectively established upon earth) certain focal points of energy which can constitute magnetic centres or rallying points for the new religion, the new medicine, the new psychology and education and the new politics”. | 3. Công việc của các Nhóm hạt giống dưới sự giám sát của Chân sư DK trong những ngày đầu ấy mang tính “thử nghiệm”. Nếu các yêu cầu được đáp ứng, giai đoạn ấy có thể chấm dứt, và Thánh đoàn sẽ có thể “công nhận một số điểm tập trung năng lượng (đã thực sự được thiết lập trên Trái Đất), có khả năng tạo thành những trung tâm từ tính hay những điểm quy tụ cho tôn giáo mới, y học mới, tâm lý học và giáo dục mới, cùng nền chính trị mới”. |
4. A “magnetic center” or “rallying point” would act as a source of strength or inspiration to all world work related to that Seed Group. | 4. Một “trung tâm từ tính” hay “điểm quy tụ” sẽ đóng vai trò nguồn sức mạnh hoặc cảm hứng cho mọi công việc trên thế giới có liên hệ với Nhóm hạt giống ấy. |
5. We know today that the work (as DK conceived it) did not succeed. The promise (at that time) was not fulfilled, but perhaps those early efforts can be seen as a rehearsal for later efforts far more likely to succeed. | 5. Ngày nay, chúng ta biết rằng công việc ấy (theo hình dung của Chân sư DK) đã không thành công. Triển vọng (vào thời điểm ấy) đã không thành hiện thực, nhưng có lẽ có thể xem những nỗ lực ban đầu ấy là cuộc tập dượt cho những nỗ lực về sau có khả năng thành công cao hơn nhiều. |
6. Of one thing we should take special note: the plans of the Masters do not succeed unless the disciples who are cooperating with them are willing to make sacrifices. In all that we know of the universe, there is no ascent without sacrifice; this is especially so on our planet, Earth, which demands disengagement from all that would hold a man in the lower worlds. | 6. Có một điều chúng ta cần đặc biệt lưu ý: các kế hoạch của các Chân sư sẽ không thành công trừ khi những đệ tử hợp tác với Các Ngài sẵn lòng hi sinh. Trong tất cả những gì chúng ta biết về vũ trụ, không có sự thăng tiến nào mà không cần hi sinh; điều này đặc biệt đúng trên hành tinh của chúng ta, Trái Đất, vốn đòi hỏi con người phải thoát khỏi tất cả những gì có thể giữ mình lại trong các cõi thấp. |
7. The very first Law of the Soul is the Law of Sacrifice. | 7. Định luật đầu tiên của Linh hồn chính là Định luật Hi sinh. |
I am mentioning this at this time because in the press of world affairs, in the struggles of your own individual existence and in the fatigue which is incident to daily work and the consequent physical liabilities, there inevitably comes the cooling down of the earlier ardours and enthusiasm, the tired recognition of the monotony of the demanded effort (with frequent staleness and unenterprising aspiration), which untiring spiritual work demands. | Lúc này, Tôi đề cập đến điều này vì giữa sức ép của các vấn đề thế giới, những cuộc đấu tranh trong đời sống cá nhân của các bạn, sự mệt mỏi đi kèm công việc hằng ngày và những suy yếu về thể chất do đó mà có, nhiệt huyết và lòng hăng hái ban đầu tất yếu sẽ nguội dần, nhường chỗ cho sự nhận biết mệt mỏi về tính đơn điệu của nỗ lực mà công việc tinh thần không ngừng nghỉ đòi hỏi—thường kèm theo cảm giác nhàm chán và khát vọng thiếu chủ động. |
1. The Tibetan is speaking from long experience. Ardor and enthusiasm for spiritual work (as for any other new and apparently exciting enterprise) cool after a time. How often has it been seen that those apparently most excited at the outset of an endeavor are the first to leave it when there inevitably comes the “tired recognition of the monotony of the demanded effort”. | 1. Chân sư Tây Tạng đang nói từ kinh nghiệm lâu năm. Nhiệt tâm và lòng hăng hái đối với công việc tinh thần (cũng như đối với bất kỳ công việc mới nào khác có vẻ hào hứng) sẽ nguội dần sau một thời gian. Biết bao lần người ta đã thấy những người có vẻ hào hứng nhất khi mới bắt đầu một công việc lại là những người đầu tiên rời bỏ nó, khi tất yếu xuất hiện “sự nhận ra đầy mệt mỏi tính đơn điệu của nỗ lực được đòi hỏi”. |
2. The willingness to sacrifice does not arise only from desire, but from the stimulation of the will under contact with the Divine Plan. Only then can a disciple (or group of disciples) be relied upon to persist, as personal desire is fitful and inconstant. | 2. Sự sẵn lòng hi sinh không chỉ nảy sinh từ dục vọng, mà còn từ sự kích thích ý chí khi tiếp xúc với Thiên Cơ. Chỉ khi ấy mới có thể tin cậy rằng một đệ tử (hay một nhóm đệ tử) sẽ kiên trì, vì dục vọng cá nhân vốn thất thường và không bền vững. |
The disciple learns to pay no attention to these recurring cycles and interludes between the pairs of opposites for he recognises their intermittency. I do, however, seek to point out this point of danger — for danger it is — and ask you to go on with the work just “as if” it were entirely new and fascinating. | Người đệ tử học cách không chú ý đến những chu kỳ tái diễn này và các khoảng chuyển tiếp giữa những cặp đối cực, vì y nhận ra tính gián đoạn của chúng. Tuy nhiên, Tôi muốn chỉ ra điểm nguy hiểm này—vì đó quả là một mối nguy—và đề nghị các bạn tiếp tục công việc “như thể” nó hoàn toàn mới mẻ và hấp dẫn. |
1. The true disciple cannot rise and fall with cycles of enthusiasm and deflated recognition of inevitable monotony — both of which are, to a degree, astral reactions. The disciple knows that he is not these fluctuations. He allows the rise and fall to occur, but stands detached in a state of divine indifference based upon his understanding of true spiritual values. | 1. Người đệ tử chân chính không thể thăng trầm theo những chu kỳ nhiệt tâm rồi chán nản khi nhận ra sự đơn điệu không thể tránh khỏi — cả hai, ở một mức độ nào đó, đều là những phản ứng cảm dục. Người đệ tử biết rằng y không phải là những dao động ấy. Y để những thăng trầm ấy diễn ra, nhưng vẫn tách rời trong trạng thái điềm nhiên thiêng liêng, dựa trên sự thấu hiểu các giá trị tinh thần chân thực. |
2. However, it is difficult to disidentify from enthusiasm and deflation; in fact there is a danger that even seasoned disciples will not succeed in this disidentification. Thus the Tibetan warns of a “point of danger”. | 2. Tuy nhiên, rất khó thôi đồng hoá mình với nhiệt tâm và sự chán nản; thực tế, có nguy cơ ngay cả những đệ tử từng trải cũng không thành công trong việc chấm dứt sự đồng hoá này. Vì vậy, Chân sư Tây Tạng cảnh báo về một “điểm nguy hiểm”. |
3. Master DK wishes us to work “just ‘as if’” our spiritual work were always “entirely new and fascinating”. How are we to do this? Perhaps by a penetrating attitude of mind which re-defines what we are doing as if in an ever-deepening context. The action may be the same, but the perception of its meaning can always deepen and expand. To act “as if” in this way and to endure the responsibilities one has undertaken is a field for the exercise for the will. | 3. Chân sư DK muốn chúng ta làm việc “cứ ‘như thể’” công việc tinh thần của chúng ta luôn “hoàn toàn mới mẻ và hấp dẫn”. Chúng ta phải làm điều này như thế nào? Có lẽ bằng một thái độ trí tuệ sâu sắc, xác định lại điều chúng ta đang làm như thể trong một bối cảnh ngày càng sâu rộng. Hành động có thể vẫn như cũ, nhưng sự nhận thức về ý nghĩa của hành động ấy luôn có thể sâu sắc và mở rộng hơn. Hành động “như thể” theo cách này và kiên trì gánh vác những trách nhiệm mình đã nhận là một lĩnh vực để rèn luyện ý chí. |
4. What a disciple says means little; if he/she succeeds in persisting with intention through all fluctuations and vicissitudes; such persistence means much. | 4. Những gì một đệ tử nói không có mấy ý nghĩa; nếu người đệ tử ấy thành công trong việc kiên trì giữ vững chủ định qua mọi dao động và thăng trầm, thì sự kiên trì ấy có ý nghĩa rất lớn. |
5. Such a simple attitude as ‘faith in the future’ — a vivid faith, accompanied by the faculty of comparison — the ability to compare the content of one’s vision with the quality of circumstances in which one is immersed will also help. Some might become depressed by such a comparison, but others, knowing that “faith is the substance of things hoped for”, will already feel the “substance” of that which is promised for man as individual, group and for humanity as an ‘entirety’. | 5. Một thái độ đơn giản như ‘niềm tin vào tương lai’ — một niềm tin sống động, đi cùng năng lực so sánh — khả năng so sánh nội dung trong tầm nhìn của một người với phẩm tính của những hoàn cảnh mà người ấy đang sống trong đó, cũng sẽ giúp ích. Một số người có thể chán nản khi so sánh như vậy, nhưng những người khác, biết rằng “đức tin là chất liệu của những điều được hy vọng”, sẽ ngay lúc này cảm nhận được “chất liệu” của điều đã được hứa hẹn cho con người với tư cách cá nhân, nhóm và cho nhân loại như một ‘toàn thể’. |
It is necessary here for you also to remember that though these groups are intended to be Seed groups of the New Age, two factors in connection with them should be remembered: | Ở đây, các bạn cũng cần nhớ rằng tuy những nhóm này được dự định làm các nhóm Hạt giống của Kỷ Nguyên Mới, nhưng có hai yếu tố liên quan đến chúng cần ghi nhớ: |
1. They constitute a unique experiment in the sense that — knowing the possibilities and understanding somewhat the forces which are slowly emerging into prominence in a world rapidly adjusting itself to the new rhythms — yet they are primarily an experiment undertaken by me, your Tibetan teacher and a member of a certain standing in the Hierarchy, with the cooperation of certain other initiates. I am not, as I have already told you, the only worker along these lines and these seed groups are not the only units to be found today in the world. There are, for instance, several seed units working out into being within the framework of the Catholic Church, under the inspiration of the Master Jesus. These are, however, somewhat more subjective than are the groups in which I am particularly interested and their emergence is slower but they do exist. There are, also, two such seed groups in China and four in India. I mention this in order to safeguard you against the sense of uniqueness which is the subtle seed of the great heresy of separateness. [73] | 1. Các nhóm này tạo thành một cuộc thử nghiệm độc đáo theo nghĩa rằng, dù biết những khả năng và phần nào thấu hiểu các mãnh lực đang dần trở nên nổi bật trong một thế giới nhanh chóng tự điều chỉnh theo những nhịp điệu mới, về căn bản chúng vẫn là một cuộc thử nghiệm do Tôi tiến hành, với sự hợp tác của một số điểm đạo đồ khác—Tôi, huấn sư Tây Tạng của các bạn và là một thành viên có vị trí nhất định trong Thánh đoàn. Như Tôi đã nói với các bạn, Tôi không phải là người hoạt động duy nhất theo những hướng này, và những nhóm hạt giống này không phải là những đơn vị duy nhất hiện có trên thế giới ngày nay. Chẳng hạn, có một số đơn vị hạt giống đang hình thành trong khuôn khổ Giáo hội Công giáo, dưới nguồn cảm hứng của Chân sư Jesus. Tuy nhiên, các đơn vị này mang tính chủ quan hơn phần nào so với những nhóm mà Tôi đặc biệt quan tâm, và sự xuất hiện của chúng chậm hơn, nhưng chúng thực sự tồn tại. Cũng có hai nhóm hạt giống như thế ở Trung Quốc và bốn nhóm ở Ấn Độ. Tôi đề cập điều này nhằm bảo vệ các bạn khỏi cảm giác mình là duy nhất, vốn là hạt giống tinh vi của Đại Tà thuyết về tính chia rẽ. |
1. While the Seed Groups constitute a unique experiment, the particular Seed Groups organized by Master DK are not unique. The Master thinks it important for His chelas to know this; otherwise they could inadvertently become proud and separative — despite their best intentions. It is important that these chelas feel a sense of relationship with the members of other Seed Groups (sponsored by other Masters) even though such other groups and the personnel in them will remain unknown. | 1. Mặc dù các Nhóm hạt giống tạo thành một cuộc thử nghiệm độc đáo, những Nhóm hạt giống cụ thể do Chân sư DK tổ chức không phải là những nhóm duy nhất. Chân sư cho rằng điều quan trọng là các đệ tử của Ngài phải biết điều này; nếu không, họ có thể vô tình trở nên kiêu hãnh và chia rẽ — bất chấp những ý định tốt đẹp nhất. Điều quan trọng là các đệ tử này cảm nhận được mối liên hệ với các thành viên của những Nhóm hạt giống khác (do những Chân sư khác bảo trợ), mặc dù họ sẽ không biết những nhóm khác ấy và các thành viên trong đó. |
2. We see that at the time of this writing, Master DK had not yet revealed that He was the Tibetan Master Djwhal Khul. He calls Himself a “Tibetan teacher and a member of a certain standing in the Hierarchy”. | 2. Chúng ta thấy rằng vào thời điểm viết những lời này, Chân sư DK vẫn chưa tiết lộ rằng Ngài là Chân sư Tây Tạng Djwhal Khul. Ngài tự gọi mình là một “huấn sư Tây Tạng và là một thành viên có vị trí nhất định trong Thánh đoàn”. |
3. Again, Master DK mentions the other initiates who are cooperating with Him — some of them, or perhaps all, being Masters. | 3. Một lần nữa, Chân sư DK đề cập đến những điểm đạo đồ khác đang hợp tác với Ngài — một số, hoặc có lẽ tất cả, đều là các Chân sư. |
4. We gather that there is much promise for the Catholic Church under the Master Jesus, and that a great reformation is in process. Some of this we have already seen, but the good that has happened in relation to that great ecclesiastical body cannot yet be seen as conclusive. The influence of Master Jesus must become far more prominent. | 4. Chúng ta có thể suy ra rằng Giáo hội Công giáo có nhiều triển vọng dưới sự dẫn dắt của Chân sư Jesus, và một cuộc cải cách lớn đang diễn ra. Chúng ta đã thấy một phần điều này, nhưng những điều tốt đẹp đã xảy ra liên quan đến tổ chức giáo hội lớn ấy vẫn chưa thể được xem là kết quả cuối cùng. Ảnh hưởng của Chân sư Jesus phải trở nên nổi bật hơn nhiều. |
5. It is intriguing to think of two seed groups in Chins and four in India. Perhaps we can relate these to the “Chinese School” and to the “Southern Indian School” which, with the “Trans-Himalayan School “ are outposts of the One Fundamental School of Occultism in Shamballa. A “European School” is yet to form in the future. | 5. Thật thú vị khi nghĩ đến hai Nhóm hạt giống ở Trung Quốc và bốn nhóm ở Ấn Độ. Có lẽ chúng ta có thể liên hệ các nhóm này với “Trường Trung Quốc” và “Trường Nam Ấn”, vốn cùng với “Trường Xuyên Himalaya “ là những tiền đồn của Trường Huyền Bí Học Nền Tảng Duy Nhất tại Shamballa. Một “Trường Châu Âu” còn phải hình thành trong tương lai. |
6. Who may be the Masters involved we do not know, but it is heartening to realize that tentative efforts at externalizing are already underway (especially in those two very populous nations with their many social problems). The Hierarchy lays it plans far into the future. | 6. Chúng ta không biết những Chân sư nào có thể tham gia, nhưng thật phấn chấn khi nhận ra rằng những nỗ lực ngoại hiện ban đầu đã được tiến hành (đặc biệt tại hai quốc gia rất đông dân ấy với nhiều vấn đề xã hội). Thánh đoàn hoạch định các kế hoạch của mình cho một tương lai rất xa. |
2. These groups of disciples are all passing through the formative stage and change and adjustment is going on. Their pattern is still fluid because too many disciples are receptive to the words of the Masters and are less receptive to the ideas upon which They found Their work. This comment warrants your attention. Later, when the needed adjustments are made and groups of disciples can work together without criticism or misunderstanding, then they can pass on to organised group work. This is necessarily dependent upon the general level of the group endeavour, upon their aspiration and their applied persistence. The willingness to work through these groups exists on our side and is found, therefore, upon the inner planes. The providing of an adequate instrument through which we can work must come from you. | 2. Tất cả những nhóm đệ tử này đều đang trải qua giai đoạn hình thành, và sự thay đổi, điều chỉnh vẫn đang tiếp diễn. Mô hình của họ vẫn chưa cố định, vì quá nhiều đệ tử dễ tiếp nhận lời nói của các Chân sư nhưng lại kém tiếp nhận những ý tưởng mà Các Ngài dùng làm nền tảng cho công việc của mình. Nhận xét này đáng để các bạn chú ý. Về sau, khi những điều chỉnh cần thiết đã hoàn tất và các nhóm đệ tử có thể cùng làm việc mà không chỉ trích hay hiểu lầm, họ có thể chuyển sang công việc nhóm có tổ chức. Điều này tất yếu tùy thuộc vào cấp độ chung của nỗ lực nhóm, vào khát vọng và sự kiên trì được thể hiện trong thực hành của họ. Về phía chúng tôi, sự sẵn lòng làm việc thông qua các nhóm này đã có, và do đó hiện diện trên các cõi bên trong. Việc cung cấp một công cụ thích hợp để chúng tôi có thể làm việc thông qua đó phải đến từ các bạn. |
1. The experiments with Seed Groups are not much advanced, but neither have we entered the Aquarian Age. | 1. Những cuộc thử nghiệm với các Nhóm hạt giống chưa tiến xa, nhưng chúng ta cũng chưa bước vào Kỷ Nguyên Bảo Bình. |
2. DK points to the fluidity of the pattern of these groups, largely because of the deficiencies of the disciples composing them. Words are not ideas; they are more superficial. It is up to the disciples in such groups to deeply appreciate the foundational principles of the founding Master. DK tells us that we are to pay attention to the difference between words and ideas. This means that we can never take the Masters’ words at face value, but must try to detect the deeper ideational pattern behind those words. Such an attempt will take us, eventually, into buddhic realization. | 2. Chân sư DK chỉ ra tính linh động trong mô hình của các nhóm này, phần lớn là do những thiếu sót của các đệ tử hợp thành nhóm. Ngôn từ không phải là ý tưởng; chúng hời hợt hơn. Các đệ tử trong những nhóm như vậy phải thấu hiểu sâu sắc các nguyên khí nền tảng của Chân sư sáng lập. Chân sư DK bảo chúng ta phải chú ý đến sự khác biệt giữa ngôn từ và ý tưởng. Điều này có nghĩa là chúng ta không bao giờ được tiếp nhận lời của các Chân sư chỉ theo nghĩa bề mặt, mà phải cố gắng nhận ra mô hình ý tưởng sâu xa hơn đằng sau những lời ấy. Cuối cùng, một nỗ lực như vậy sẽ đưa chúng ta đến sự chứng nghiệm Bồ đề. |
3. We should be impressed by the fact that such groups of disciples cannot really do “organized group work” unless they are free from criticism and misunderstanding. Group energy must flow harmoniously, and criticism and misunderstanding are always inhibitory factors. | 3. Chúng ta nên ghi khắc sự thật rằng những nhóm đệ tử như vậy không thể thực sự thực hiện “công việc nhóm có tổ chức” trừ khi họ thoát khỏi sự chỉ trích và hiểu lầm. Năng lượng nhóm phải lưu chuyển hài hoà, và sự chỉ trích cùng hiểu lầm luôn là những yếu tố cản trở. |
4. The Master is again laying responsibility squarely on the shoulders of the group members. The Master is surely not going to do everything for the group; He cannot; it is against the law. | 4. Một lần nữa, Chân sư đặt trách nhiệm trực tiếp lên vai các thành viên trong nhóm. Chắc chắn Chân sư sẽ không làm mọi việc cho nhóm; Ngài không thể làm như vậy; điều đó trái với định luật. |
5. “Group endeavor”, aspiration and persistence are all requirements; they must be kept at a high level and not allowed to ‘simmer down’ to a stale and repetitive approach. | 5. “Nỗ lực nhóm”, khát vọng và sự kiên trì đều là những yêu cầu; phải duy trì chúng ở mức cao và không để chúng ‘nguội dần’ thành một cách tiếp cận cũ mòn và lặp đi lặp lại. |
6. When one thinks about the handicapping limitations upon the Masters as they work with disciples, and Their probable frustration at the slowness and inadequacy of disciplic response, it is clear that They have to remain in touch with high sources of inspiration to keep Them working at Their task with freshness and enthusiasm. | 6. Khi nghĩ về những giới hạn gây trở ngại cho các Chân sư trong lúc Các Ngài làm việc với đệ tử, và sự thất vọng mà có lẽ Các Ngài cảm thấy trước những đáp ứng chậm chạp và chưa đầy đủ của đệ tử, rõ ràng Các Ngài phải duy trì sự tiếp xúc với những nguồn cảm hứng cao cả để tiếp tục công việc của mình với sự mới mẻ và nhiệt tâm. |
7. The Masters have the willingness to work through such groups, but the adequacy of the outer instrument is left to the care of the disciples gathered for labor. The instrument is an outer instrument because is consists of the minds, sentiency and etheric-physical nature of the group. | 7. Các Chân sư sẵn lòng làm việc thông qua những nhóm như vậy, nhưng việc bảo đảm công cụ bên ngoài thích hợp được giao cho các đệ tử đã tụ họp để làm việc. Công cụ này là một công cụ bên ngoài vì nó bao gồm các thể trí, khả năng cảm nhận và bản chất dĩ thái–hồng trần của nhóm. |
The time must come, however, when the work of each group of disciples must definitely integrate and thus change from the theoretical and the experimental to the definite and the practical. Then the period of group usefulness will arrive. This will naturally depend upon two things: | Tuy nhiên, phải đến lúc công việc của mỗi nhóm đệ tử tích hợp một cách xác định, qua đó chuyển từ lý thuyết và thử nghiệm sang cụ thể và thực tiễn. Khi ấy, thời kỳ nhóm phát huy công dụng sẽ đến. Điều này đương nhiên tùy thuộc vào hai điều: |
1. When the group reaches a certain stage of synthesis, then it will become possible for the group to work as a group with power. | 1. Khi nhóm đạt đến một giai đoạn tổng hợp nhất định, nhóm sẽ có thể làm việc đầy quyền năng với tư cách một nhóm. |
2. If the group fails to integrate and to take advantage of group opportunity and the particular call to service, then a re-arrangement of the personnel will be essential. Certain disciples will then have to drop out and those who have not measured up to the requirements, which their souls have set for them, and to the point of attainment towards which I am expectantly looking, will be absorbed into other groups or form the nucleus of a re-organised unit. | 2. Nếu nhóm không tích hợp được, không tận dụng cơ hội của nhóm và lời kêu gọi phụng sự cụ thể, thì việc sắp xếp lại nhân sự sẽ là điều thiết yếu. Khi ấy, một số đệ tử sẽ phải rời nhóm, và những người chưa đáp ứng được những yêu cầu mà linh hồn họ đã đặt ra cho họ, cũng như chưa đạt đến mức thành tựu mà Tôi đang kỳ vọng, sẽ được tiếp nhận vào các nhóm khác hoặc tạo thành hạt nhân của một đơn vị được tổ chức lại. |
1. The groups are to be practical and not remain indefinitely in a theoretical state. There are, however, requirements for this transition. | 1. Các nhóm phải hoạt động thực tiễn và không thể mãi ở trong trạng thái lý thuyết. Tuy nhiên, sự chuyển tiếp này có những yêu cầu. |
2. A certain stage of synthesis is required of the group; there are many steps along the way to this ‘holistic’ state: clarification of group purpose and adherence to it, elimination of cleavages between group members; the harmonization of group members and of their efforts; the integration and unification of the group; the building of the group antahkarana (based upon the building of the individual antahkaranas) — only then can inspiration of the spiritual triad descend conveying the sense of synthesis. | 2. Nhóm cần đạt đến một giai đoạn tổng hợp nhất định; có nhiều bước trên con đường đi tới trạng thái ‘toàn diện’ này: làm rõ mục đích của nhóm và trung thành với mục đích ấy; loại bỏ những chia rẽ giữa các thành viên trong nhóm; điều hoà các thành viên và những nỗ lực của họ; tích hợp và hợp nhất nhóm; xây dựng antahkarana của nhóm (dựa trên việc xây dựng các antahkarana cá nhân) — chỉ khi ấy, cảm hứng từ Tam Nguyên Tinh Thần mới có thể giáng xuống, mang theo ý thức về sự tổng hợp. |
3. DK is looking ahead; He already sees that a reorganization of the group effort may be needed, and, indeed, in 1940, it was reorganized. | 3. Chân sư DK đang nhìn về phía trước; Ngài đã thấy rằng có thể cần tổ chức lại nỗ lực của nhóm, và quả thực, vào năm 1940, nỗ lực ấy đã được tổ chức lại. |
4. We note the important fact that it is primarily the soul which sets the requirements which the human being must fulfill. The Master is cognizant of the level of attainment projected by the soul and bases His own expectations upon that level. | 4. Chúng ta lưu ý sự thật quan trọng rằng chủ yếu chính linh hồn đặt ra những yêu cầu mà con người phải đáp ứng. Chân sư biết rõ cấp độ thành tựu mà linh hồn phóng chiếu và đặt những kỳ vọng của Ngài trên cơ sở cấp độ ấy. |
5. The Masters do not retain forms which are proving profitless in expression. Using the third and seventh rays, they rearrange the members. This is the first expedient before taking the more drastic step of disbanding the group altogether. | 5. Các Chân sư không duy trì những hình tướng đang tỏ ra không mang lại lợi ích trong sự biểu lộ. Vận dụng cung ba và cung bảy, Các Ngài sắp xếp lại các thành viên. Đây là biện pháp đầu tiên trước khi thực hiện bước quyết liệt hơn là giải tán hoàn toàn nhóm. |
6. One senses that Master DK was leaving His own plans fluid. A major consolidation lay immediately ahead — the transforming of several groups into one group, but He did not, at the time of this writing, offer any specifics. | 6. Có thể cảm nhận rằng Chân sư DK vẫn để các kế hoạch của Ngài ở trạng thái linh động. Một sự hợp nhất lớn sắp diễn ra — chuyển đổi một số nhóm thành một nhóm, nhưng vào thời điểm viết những lời này, Ngài chưa đưa ra chi tiết cụ thể nào. |
7. The Masters (especially second ray Masters) are involved in the process of salvage. They will not throw away a form unless its present potential has decreased beyond the possibility of immediate usefulness. | 7. Các Chân sư (đặc biệt là các Chân sư cung hai) tham gia vào tiến trình cứu vãn. Các Ngài sẽ không loại bỏ một hình tướng trừ khi tiềm năng hiện tại của nó đã suy giảm đến mức không còn khả năng hữu ích ngay lúc này. |
All the teaching on the groups of disciples, functioning in the New Age, is intended for all the groups and for general distribution later on. The teaching upon specific group work will be given up to the point where conscious use of it can be made and the knowledge given can be turned to practical purpose in world service. And, my brothers, it is world service that today is needed. [74] | Mọi giáo huấn về các nhóm đệ tử hoạt động trong Kỷ Nguyên Mới đều dành cho tất cả các nhóm và để phổ biến rộng rãi về sau. Giáo huấn về công việc nhóm cụ thể sẽ được truyền đạt đến mức có thể sử dụng một cách có ý thức và vận dụng kiến thức đã truyền đạt vào mục đích thực tiễn trong việc phụng sự thế gian. Và, các huynh đệ của tôi, điều cần thiết ngày nay chính là phụng sự thế gian. |
1. At first the teaching for each group-of-nine was concentrated within each such group. This was a way of preserving as distinct the outlines of such specific teaching. A premature mixing leads to unclarity, reduction of potency and eventual failure. DK alerts us to the stage of “general distribution” to be undertaken later — a stage in which all specific teaching is to be for all. The many “blue books” have been long since published, and we are in that phase when all teaching is for all. | 1. Ban đầu, giáo huấn dành cho mỗi nhóm chín người được tập trung trong phạm vi từng nhóm ấy. Đây là một cách giữ cho những đường nét của giáo huấn cụ thể ấy được phân biệt rõ ràng. Sự pha trộn quá sớm dẫn đến tình trạng thiếu rõ ràng, suy giảm sức mạnh và cuối cùng là thất bại. Chân sư DK lưu ý chúng ta về giai đoạn “phổ biến rộng rãi” sẽ được thực hiện về sau — một giai đoạn mà mọi giáo huấn cụ thể đều dành cho tất cả mọi người. Nhiều “cuốn sách bìa xanh” đã được xuất bản từ lâu, và chúng ta đang ở trong giai đoạn mọi giáo huấn đều dành cho tất cả mọi người. |
2. This fact places upon us the responsibility of attempting to achieve synthesis. We are in a position to see that which was offered with greater perspective, but our process is not (in some ways) as intensive, as the Master is not immediately supervising the personnel of our groups. | 2. Sự thật này đặt lên chúng ta trách nhiệm cố gắng đạt đến sự tổng hợp. Chúng ta có điều kiện nhìn những gì đã được trao từ một tầm nhìn rộng hơn, nhưng về một số mặt, tiến trình của chúng ta không chuyên sâu bằng, vì Chân sư không trực tiếp giám sát các thành viên trong nhóm của chúng ta. |
3. DK tells us just how far He will go in the instruction of any of these individual groups — only up to the “point where conscious use of it can be made and the knowledge given can be turned to practical purpose in world service”. The Masters are great “spiritual executives”. They have no time for the dispensation of teaching which is used only for the mental delectation of the students. To do so would be a serious violation of the Law of Economy, and would do the students no good either. | 3. Chân sư DK cho chúng ta biết chính xác Ngài sẽ đi xa đến đâu trong việc huấn thị bất kỳ nhóm riêng lẻ nào trong số này — chỉ đến “mức có thể vận dụng một cách có ý thức và chuyển tri thức được trao thành mục đích thực tiễn trong việc phụng sự thế gian”. Các Chân sư là những “nhà điều hành tinh thần” vĩ đại. Các Ngài không có thời gian để truyền trao giáo huấn chỉ nhằm thoả mãn thú vui trí tuệ của các đạo sinh. Làm như vậy sẽ vi phạm nghiêm trọng Định luật Tiết Kiệm, và cũng không đem lại lợi ích gì cho các đạo sinh. |
4. In own lives, we ask ourselves what we can apply. What we simply know without applying simply increases our responsibility (for later application). | 4. Trong cuộc sống của chính mình, chúng ta tự hỏi mình có thể áp dụng điều gì. Những gì chúng ta chỉ biết mà không áp dụng chỉ làm tăng trách nhiệm của chúng ta (đối với việc áp dụng về sau). |
5. The modern disciple is a practical disciple. The treasures of wisdom conveyed to us by Master DK are meant for application in whatever constructive ways we can conceive. | 5. Người đệ tử hiện đại là một đệ tử thực tiễn. Những kho tàng minh triết mà Chân sư DK truyền cho chúng ta là để áp dụng theo bất kỳ cách xây dựng nào mà chúng ta có thể nghĩ ra. |
6. The constant question for us is, ”How can I apply that which I know, or that of which I have become convinced — through faith, reason and intuition?” | 6. Câu hỏi thường trực đối với chúng ta là, ”Làm thế nào tôi có thể áp dụng những gì tôi biết, hoặc những điều mà tôi đã tin chắc — qua đức tin, lý trí và trực giác?” |
7. Master DK closes this section of DINA I with a call to service — world service. He defines for us the broad arena of our efforts. Service in our immediate environments is, of course, continually necessary, but we must learn to think in terms of the whole — for, indeed, we are humanity and, more broadly, we are the world. | 7. Chân sư DK kết thúc phần này của DINA I bằng một lời kêu gọi phụng sự — phụng sự thế gian. Ngài xác định cho chúng ta phạm vi rộng lớn của những nỗ lực của chúng ta. Dĩ nhiên, việc phụng sự trong môi trường gần gũi quanh chúng ta luôn cần thiết, nhưng chúng ta phải học cách suy nghĩ theo toàn thể — vì quả thực, chúng ta là nhân loại và, rộng hơn nữa, chúng ta là thế giới. |
8. Although He spoke to us some sixty years ago, let us, today, answer His call to service. | 8. Mặc dù Ngài đã nói với chúng ta cách đây khoảng sáu mươi năm, hôm nay chúng ta hãy đáp lại lời kêu gọi phụng sự của Ngài. |
To the next commentary | Sang bài bình giảng tiếp theo |