DINA I · Bình giảng 4
commentary by Michael D. Robbins | bình giảng của Michael D. Robbins |
As you face this opportunity in a world which is passing through a major crisis, I would like to state that it is necessary for all working brothers and disciples to have three things in mind if they are to work efficiently and as desired. | Khi các bạn đứng trước cơ hội này trong một thế giới đang trải qua cuộc khủng hoảng lớn, Tôi muốn nói rằng tất cả các huynh đệ và đệ tử đang làm việc cần ghi nhớ ba điều nếu muốn làm việc hiệu quả và đúng như mong muốn. |
First: Disciples should know that the Masters have three grades of workers. There are those doing the difficult work in the outer world. They materialise the forms through which the Hierarchy can express its intentions and they make the [18] human contacts. There are many such disciples and they are doing this work from their own free choice and because they have realised the immediate and coming need of humanity and have pledged themselves to serve. There are, secondly, those who act as links between the Elder Brothers of the race, the Masters of the Wisdom Who embody the divine plan and the workers mentioned above. I do not say that they act as links between the disciple and his Master for that is a direct relationship which none may touch, particularly in the more advanced stages. This second group of working disciples, however, act as intermediaries in the working out of the plan in the world and they hold themselves in readiness to go anywhere when requested, thus aiding with their wisdom and experience and supplementing the capacities of the field workers, conferring with them. There are several such that are being sent expressly into the field at this time to hasten the work whenever possible and to increase the magnetic attraction of those centres through which the spiritual force of the New Age can flow. | Thứ nhất: Các đệ tử nên biết rằng các Chân sư có ba cấp người hoạt động. Có những người đang làm công việc khó khăn ở thế giới bên ngoài. Họ hiện hình những hình tướng mà qua đó Thánh đoàn có thể biểu đạt các ý định của mình, và họ thiết lập những mối tiếp xúc [18] với con người. Có nhiều đệ tử như thế và họ làm công việc này do chính mình tự do lựa chọn, vì họ đã nhận ra nhu cầu trước mắt và sắp tới của nhân loại và đã tự nguyện cam kết phụng sự. Thứ hai, có những người làm cầu nối giữa các Huynh Trưởng của nhân loại, các Chân sư Minh Triết hiện thân cho Thiên Cơ, với những người hoạt động vừa nêu. Tôi không nói rằng họ làm cầu nối giữa đệ tử và Chân sư của y, vì đó là một mối quan hệ trực tiếp mà không ai được can thiệp, nhất là ở những giai đoạn tiến bộ hơn. Tuy nhiên, nhóm đệ tử hoạt động thứ hai này làm trung gian trong việc thực hiện Thiên Cơ trên thế gian, và họ luôn sẵn sàng đi bất cứ nơi nào khi được yêu cầu, qua đó trợ giúp bằng minh triết và kinh nghiệm của mình, bổ sung năng lực cho những người hoạt động tại thực địa và cùng họ bàn bạc. Hiện nay, một số người như vậy đang được đặc biệt phái ra thực địa để thúc đẩy công việc bất cứ khi nào có thể, và gia tăng sức thu hút từ tính của những trung tâm mà qua đó mãnh lực tinh thần của Kỷ Nguyên Mới có thể tuôn chảy. |
1. Master DK begins by clarifying three grades of workers. The first group consists of the most materially active workers. They are related to the third, or matter aspect of divinity and to the third ray. | 1. Chân sư DK bắt đầu bằng việc làm rõ ba cấp người hoạt động. Nhóm thứ nhất gồm những người hoạt động tích cực nhất về mặt vật chất. Họ liên hệ với phương diện thứ ba, tức phương diện vật chất của thiên tính, và với cung ba. |
2. A hint is here given: it would appear that this group consists of pledged disciples. | 2. Ở đây có một gợi ý: dường như nhóm này gồm những đệ tử đã lập nguyện. |
3. Among the group of Masters Who serve humanity, it would appear that Master DK finds Himself in an analogous position. He is the Messenger and is involved in field work, and from the perspective of the Hierarchy, is surely involved in building the forms through which Hierarchy may express. This may be yet another indication that the Master DK has quite a bit of the third ray in His nature. | 3. Trong nhóm các Chân sư phụng sự nhân loại, dường như Chân sư DK thấy mình ở một vị trí tương tự. Ngài là Sứ Giả và tham gia công việc tại thực địa; xét từ góc nhìn của Thánh đoàn, chắc chắn Ngài đang tham gia xây dựng những hình tướng mà qua đó Thánh đoàn có thể biểu lộ. Đây có thể là một dấu hiệu nữa cho thấy bản chất của Chân sư DK mang khá nhiều phẩm tính cung ba. |
4. The second group of disciples are related to the second aspect of divinity, the love-wisdom aspect. The second ray is a linking ray, linking spirit and matter. Disciples on all the rays are in this group; overall, however, it is qualified by the second ray. | 4. Nhóm đệ tử thứ hai liên hệ với phương diện thứ hai của thiên tính, phương diện bác ái–minh triết. Cung hai là một cung liên kết, liên kết tinh thần và vật chất. Các đệ tử thuộc mọi cung đều có mặt trong nhóm này; tuy nhiên, xét tổng thể, nhóm mang phẩm tính của cung hai. |
5. The members of the second group respond to an inner behest. They are meditatively attuned are ready to respond to need. They learn of this need through their inner contacts but also from their outer sensitivity. | 5. Các thành viên của nhóm thứ hai đáp ứng một mệnh lệnh bên trong. Họ hòa điệu qua tham thiền và sẵn sàng đáp ứng nhu cầu. Họ biết được nhu cầu này qua những tiếp xúc bên trong, đồng thời qua sự nhạy cảm với bên ngoài. |
6. Such workers strengthen and supplement the field workers. They are inspirers and carriers of quality. | 6. Những người hoạt động như thế củng cố và bổ trợ cho những người hoạt động tại thực địa. Họ là những người khơi nguồn cảm hứng và mang phẩm tính đến. |
7. Perhaps there are a fair number of such workers in the second group, but Master DK speaks of just a few. Their job is to hasten and magnetize. | 7. Có lẽ có khá nhiều người hoạt động như thế trong nhóm thứ hai, nhưng Chân sư DK chỉ nói đến một vài người. Công việc của họ là đẩy nhanh tiến độ và tạo sức hút từ tính. |
8. Clearly, they are responsive to a will higher than their own. They are, perhaps, what Master M. would call the nomads, for their readiness to go anywhere according to need. | 8. Rõ ràng, họ đáp ứng một ý chí cao hơn ý chí của chính mình. Có lẽ họ là những người mà Chân sư M. sẽ gọi là những người du mục, vì họ sẵn sàng đi bất cứ đâu theo nhu cầu. |
9. It seems that Mercury is very much their major planet. They are a kind of antahkarana between the directing Hierarchy and the outer workers. | 9. Dường như Sao Thủy rõ ràng là hành tinh chủ yếu của họ. Họ là một dạng antahkarana giữa Thánh đoàn chỉ đạo và những người hoạt động bên ngoài. |
This is all being done preparatory to a supreme effort which the Hierarchy of Masters plans to make. Should all of you in the field at this time work with complete surrender and devotion giving of all your time and interest to the cause it may be possible to prepare the ground in such a manner that the coming effort of the Masters may prove adequate to the emergency. | Tất cả những điều này đều nhằm chuẩn bị cho một nỗ lực tối cao mà Thánh đoàn các Chân sư dự định thực hiện. Nếu tất cả các bạn hiện đang hoạt động tại thực địa đều làm việc với sự hiến dâng và tận tụy trọn vẹn—dành hết thời gian và sự quan tâm cho sự nghiệp—thì có thể chuẩn bị nền tảng sao cho nỗ lực sắp tới của các Chân sư đủ sức đáp ứng tình thế khẩn cấp. |
1. DK makes it clear that the disciples whom He is addressing are field workers. | 1. Chân sư DK nói rõ rằng những đệ tử mà Ngài đang nói với là những người hoạt động tại thực địa. |
2. The supreme effort of the Hierarchy of Masters lies ahead. It has not happened yet. It almost certainly relates to the intention to externalize. | 2. Nỗ lực tối cao của Thánh đoàn các Chân sư vẫn còn ở phía trước. Nó chưa diễn ra. Gần như chắc chắn nó liên quan đến ý định ngoại hiện. |
3. There was certainly an emergency related to World War II. At the time this was written, it was not at all certain that there would be a World War. | 3. Chắc chắn đã có một tình trạng khẩn cấp liên quan đến Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Vào thời điểm những lời này được viết ra, việc một cuộc Thế chiến sẽ xảy ra hoàn toàn chưa phải là điều chắc chắn. |
4. Probably, the emergency here discussed, relates to the general condition of humanity and the need for the externalizing Hierarchy to help ensure human progress. | 4. Có lẽ tình trạng khẩn cấp được bàn đến ở đây liên quan đến tình trạng chung của nhân loại và nhu cầu Thánh đoàn ngoại hiện để giúp bảo đảm sự tiến bộ của con người. |
5. DK asks a great deal at least the personality would think so. He asks the field workers to work with complete surrender and devotion. He asks them to give all their time and interest to the cause. | 5. Chân sư DK yêu cầu rất nhiều, ít nhất phàm ngã sẽ nghĩ như thế. Ngài yêu cầu những người hoạt động tại thực địa làm việc với sự hiến dâng và lòng tận tụy hoàn toàn. Ngài yêu cầu họ dành toàn bộ thời gian và sự quan tâm cho chính nghĩa này. |
6. The word all is a strong word. We may say that those days were especially dangerous, as the Black Lodge was on the attack. We might say that such complete surrender, such devotion and consecration of time is not required of us today. Can we be so sure? Todays world is extremely dangerous and we are hovering on the brink of a potential war which DK says humanity must avoid at all costs. This must be a way that is not fought on the physical plane, however much it may demand of humanity on the subtle levels. | 6. Từ “toàn bộ” là một từ mạnh. Chúng ta có thể nói rằng những ngày ấy đặc biệt nguy hiểm, vì Hắc đoàn đang tấn công. Chúng ta có thể nói rằng ngày nay chúng ta không cần phải hiến dâng hoàn toàn, tận tụy và thánh hiến thời gian đến như thế. Chúng ta có thể chắc chắn như vậy không? Thế giới ngày nay cực kỳ nguy hiểm, và chúng ta đang chênh vênh bên bờ một cuộc chiến có thể xảy ra mà Chân sư DK nói rằng nhân loại phải tránh bằng mọi giá. Đây phải là một con đường không có giao tranh trên cõi hồng trần, dù nó có thể đòi hỏi nhân loại đến đâu trên các cấp độ vi tế. |
7. How much of our time, interest, devotion and surrender is required of us? Let us assess the situation and decide. | 7. Chúng ta cần dành bao nhiêu thời gian, sự quan tâm, lòng tận tụy và sự hiến dâng? Chúng ta hãy đánh giá tình hình và quyết định. |
The third group is that of the Masters Themselves and Their cooperating initiates. They work primarily upon the inner side. Their activities are confined largely to the mental plane and to the scientific use of thought. Thus They guide Their workers and helpers and influence and direct Their working disciples and the world disciples. | Nhóm thứ ba gồm chính các Chân sư và những điểm đạo đồ cộng tác với Các Ngài. Các Ngài chủ yếu làm việc ở phía bên trong. Phần lớn hoạt động của Các Ngài giới hạn trên cõi trí và trong việc sử dụng tư tưởng một cách khoa học. Nhờ đó, Các Ngài hướng dẫn những người hoạt động và trợ giúp của mình, đồng thời ảnh hưởng và chỉ đạo những đệ tử đang làm việc của Các Ngài cùng các đệ tử trên thế giới. |
1. The third group of workers is highly esoteric. All of them have taken at least the third initiation. | 1. Nhóm người hoạt động thứ ba mang tính nội môn rất cao. Tất cả Các Ngài đều đã trải qua ít nhất lần điểm đạo thứ ba. |
2. Probably we have very little notion of how the Masters work with the scientific use of thought. We are just learning the ABCs of this science. | 2. Có lẽ chúng ta có rất ít khái niệm về cách các Chân sư làm việc bằng việc sử dụng tư tưởng một cách khoa học. Chúng ta mới chỉ đang học những điều sơ đẳng của khoa học này. |
3. We can understand, however, how effective it must be to work correctly upon those levels. It is not stated whether the work is with the higher or lower mental plane. But the Masters do stimulate souls and, therefore, their work must be related to the higher mental plane to some degree. | 3. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấu hiểu rằng làm việc đúng cách trên những cấp độ ấy hẳn phải hiệu quả đến mức nào. Không có lời xác định rằng công việc ấy diễn ra trên cõi thượng trí hay cõi hạ trí. Nhưng các Chân sư quả thực kích thích các linh hồn, và do đó, công việc của Các Ngài hẳn phải liên hệ với cõi thượng trí ở một mức độ nào đó. |
4. Do any of us have any sense of being guided or influenced by these streams of thought? We know that we respond to certain potent ideas and thoughtforms. Perhaps we do not realize how these stimulating factors are maintained as a sustaining presence in our lives. | 4. Có ai trong chúng ta cảm nhận được rằng những luồng tư tưởng này đang hướng dẫn hay tác động đến mình không? Chúng ta biết rằng mình đáp ứng một số ý tưởng và hình tư tưởng đầy sức mạnh. Có lẽ chúng ta không nhận ra cách những yếu tố kích thích ấy được duy trì như một sự hiện diện nâng đỡ trong đời sống của chúng ta. |
5. Perhaps some of us have the experience of working inwardly, in the world of thought, and seeing the emergence of that for which we have worked. Our role is certainly a relatively outer one, yet increasingly we have to learn the kind of inward work which the Masters and Their high initiates have mastered. | 5. Có lẽ một số người trong chúng ta đã có trải nghiệm làm việc bên trong, trong thế giới tư tưởng, và thấy điều mình đã nỗ lực tạo dựng bắt đầu xuất hiện. Chắc chắn vai trò của chúng ta tương đối thiên về bên ngoài, tuy nhiên, chúng ta ngày càng phải học loại công việc bên trong mà các Chân sư và những điểm đạo đồ cao cấp của Các Ngài đã thành thạo. |
There is at this time an inner intention of blending the occidental and the oriental approaches to the ancient wisdom and to the Hierarchy. Cooperation and the mutual interchange of wisdom and of knowledge are essential if this is to be perfected. The objectives of both methods the mystic and the occult are the same. [19] | Hiện nay, có một ý định bên trong nhằm hòa hợp các cách tiếp cận phương Tây và phương Đông đối với minh triết cổ xưa và Thánh đoàn. Muốn hoàn thiện điều này, sự hợp tác và trao đổi minh triết cùng tri thức giữa đôi bên là thiết yếu. Mục tiêu của cả hai phương pháp—thần bí và huyền bí—đều giống nhau. |
1. Master DK, writing in the early 1930s, points to a process which we all witnesses in the 1960s and 70s. It still continues today. | 1. Khi viết vào đầu thập niên 1930, Chân sư DK chỉ ra một tiến trình mà tất cả chúng ta đều chứng kiến trong các thập niên 1960 và 1970. Tiến trình ấy vẫn tiếp tục đến ngày nay. |
2. Wisdom has come from the East and taken root in the West. The major fields for this impregnation has been the Americas (including Australia and New Zealand) and Europe. | 2. Minh triết đã đến từ phương Đông và bén rễ ở phương Tây. Những địa bàn chủ yếu của sự thấm nhuần này là châu Mỹ (kể cả Úc và New Zealand) và châu Âu. |
3. We can gather here that the East is seen as the seat of mysticism and the West of occultism. There have been significant contacts of Uranus and Neptune during the late twentieth century. Mysticism (Neptune) and occultism (Uranus) have joined together in the consciousness of many. | 3. Từ đây, chúng ta có thể suy ra rằng phương Đông được xem là nơi khởi nguồn của Thần bí học, còn phương Tây là nơi khởi nguồn của huyền bí học. Đã có những sự tiếp xúc đáng kể giữa Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương vào cuối thế kỷ hai mươi. Thần bí học (Sao Hải Vương) và huyền bí học (Sao Thiên Vương) đã kết hợp trong tâm thức của nhiều người. |
4. We can imagine that the Buddha of the East and the Christ of the West are working together more closely than ever before. They have work to do during the Aquarian Age. In Them, the East and West are being integrated. As well male and female are approaching each other in a more balanced fashion. The strengthening of Libra in planetary horoscope will bring about many significant unions, blendings and mergings. | 4. Chúng ta có thể hình dung rằng Đức Phật của phương Đông và Đức Christ của phương Tây đang cùng làm việc mật thiết hơn bao giờ hết. Các Ngài có công việc phải thực hiện trong Kỷ Nguyên Bảo Bình. Trong Các Ngài, phương Đông và phương Tây đang được tích hợp. Nam và nữ cũng đang tiến lại gần nhau theo một cách cân bằng hơn. Ảnh hưởng ngày càng mạnh của Thiên Bình trong lá số chiêm tinh hành tinh sẽ đem lại nhiều sự kết hợp, hòa trộn và hòa nhập đầy thâm nghĩa. |
5. Under the impact of Shamballa, we find ourselves in a time of general synthesis. Aquarius is a sign of universalism, and the seventh ray links all factors. Globalism and internationalism are emerging for the first time in recorded history (we cannot know what transpired at the height of earlier civilizations, such as the Atlantean). The times are unique for the coming together of hitherto disparate influences. | 5. Dưới tác động của Shamballa, chúng ta thấy mình đang sống trong một thời kỳ tổng hợp trên mọi phương diện. Bảo Bình là một dấu hiệu của tinh thần phổ quát, và cung bảy liên kết mọi yếu tố. Tinh thần toàn cầu và tinh thần quốc tế đang xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử được ghi chép (chúng ta không thể biết điều gì đã diễn ra ở đỉnh cao của những nền văn minh trước đó, chẳng hạn nền văn minh Atlantis). Thời đại này độc đáo ở chỗ những ảnh hưởng trước nay vốn tách biệt đang hội tụ. |
Second: It is necessary for working disciples at this time to appreciate the immediate emergency. There is a crisis in the affairs of men. This crisis must be viewed in terms of opportunity and not in terms of cataclysm or catastrophe. Just as in the life of an aspirant to discipleship, there comes a life or a series of lives wherein there is direct conflict between the soul and the lower nature, so there is now an analogous crisis upon our planet. The object in both cases is that the soul may assume an increasing control over the form aspect. | [19] Thứ hai: Các đệ tử đang làm việc lúc này cần nhận thức đầy đủ tình thế khẩn cấp trước mắt. Một cuộc khủng hoảng đang diễn ra trong các công việc của nhân loại. Phải nhìn cuộc khủng hoảng này theo khía cạnh cơ hội, thay vì đại biến hay thảm họa. Cũng như trong cuộc sống của một người chí nguyện hướng tới địa vị đệ tử, sẽ đến một kiếp sống hay một chuỗi kiếp sống có sự xung đột trực tiếp giữa linh hồn và bản chất thấp, hiện nay trên hành tinh chúng ta cũng có một cuộc khủng hoảng tương tự. Trong cả hai trường hợp, mục đích là để linh hồn ngày càng nắm quyền kiểm soát phương diện hình tướng. |
1. DK alerts us to our opportunity, warning us away from a negative apprehension of the situation. | 1. Chân sư DK lưu ý chúng ta về cơ hội của mình, đồng thời cảnh báo chúng ta tránh cách nhìn nhận tiêu cực về tình hình. |
2. At the time of the writing, war was an imminent possibility. At least the Hierarchy realized this possibility. | 2. Vào thời điểm những lời này được viết ra, chiến tranh là một khả năng có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Ít nhất Thánh đoàn đã nhận ra khả năng này. |
3. An analogy of the social macrocosm to the microcosm is offered. Everyone can understand the process of human development. It makes sense that there should arrive certain lives during which the soul and personality of man will battle for supremacy. | 3. Ở đây có một phép so sánh tương đồng giữa đại thiên địa xã hội và tiểu thiên địa. Mọi người đều có thể thấu hiểu tiến trình phát triển của con người. Hợp lý khi cho rằng sẽ đến những kiếp sống mà trong đó linh hồn và phàm ngã của con người giao tranh để giành quyền làm chủ. |
4. DK simply extends the analogy to humanity considered as the macrocosm of the individual case. I think we can all acknowledge that we live in times when the soul and personality of humanity are contending for position within the consciousness of the human race. The greater potency is on the side of the soul (so great is the potency of the assisting forces) but the personality is putting up a tremendous struggle. We are living through what has been called the last ditch fight of materialism. This fight is not related to a single century or millennium; it concerns the entirety of the planetary process. This is the prophesied era for which the Hierarchy has waiting since its inception. That is a startling thought. A great decision is currently being made by and within humanity. On its outcome the immediate progress of humanity depends. | 4. Chân sư DK chỉ đơn giản mở rộng phép so sánh ấy sang nhân loại, xem nhân loại là đại thiên địa so với trường hợp cá nhân. Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều có thể thừa nhận rằng mình đang sống trong thời kỳ linh hồn và phàm ngã của nhân loại đang tranh giành vị thế trong tâm thức nhân loại. Sức mạnh lớn hơn thuộc về phía linh hồn (vì sức mạnh của các mãnh lực trợ giúp lớn lao đến thế), nhưng phàm ngã đang kháng cự vô cùng quyết liệt. Chúng ta đang trải qua điều được gọi là cuộc chiến đấu cố thủ cuối cùng của chủ nghĩa duy vật. Cuộc chiến này không chỉ liên quan đến một thế kỷ hay một thiên niên kỷ; nó liên quan đến toàn bộ tiến trình hành tinh. Đây là thời đại đã được tiên báo mà Thánh đoàn chờ đợi từ khi thành lập. Đó là một ý nghĩ gây sửng sốt. Hiện nay, nhân loại đang đưa ra một quyết định lớn, và quyết định ấy đang hình thành ngay trong lòng nhân loại. Sự tiến bộ trước mắt của nhân loại tùy thuộc vào kết quả của quyết định ấy. |
5. We can help with this battle by making sure that in our own little microcosmic situation, the soul is winning the battle and emerging into the dominating position. World salvation begins with the salvation of oneself not the selfish salvation, but the redemption of the lunar vehicles and their consecration to service. | 5. Chúng ta có thể góp sức vào cuộc chiến này bằng cách bảo đảm rằng trong hoàn cảnh tiểu thiên địa nhỏ bé của chính mình, linh hồn đang thắng trận và vươn lên nắm vị trí chi phối. Việc cứu rỗi thế giới bắt đầu từ việc cứu rỗi chính mình — không phải sự cứu rỗi ích kỷ, mà là cứu chuộc các hiện thể thái âm và thánh hiến chúng cho việc phụng sự. |
Looking at it from another angle, this planetary soul functioning as a Hierarchy of Masters is in direct conflict with the forces of evil. It should, however, be borne in mind that those forces also constitute a hierarchy of entities, constituting the material forms and, therefore, in their place, true and correct. It is a question, in reality, of what is the objective in any particular time cycle. The present objective is that the human family should now, as a whole, do three things and anything which militates against this is evil. | Nhìn từ một góc độ khác, linh hồn hành tinh này—hoạt động như một Thánh đoàn các Chân sư—đang xung đột trực tiếp với các mãnh lực của cái ác. Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng những mãnh lực ấy cũng tạo thành một hệ thống thứ bậc các thực thể, cấu thành những hình tướng vật chất và do đó, trong vị trí thích hợp của chúng, vẫn là chân thực và đúng đắn. Thực ra, vấn đề là mục tiêu trong bất kỳ chu kỳ thời gian cụ thể nào là gì. Mục tiêu hiện tại là toàn thể gia đình nhân loại giờ đây phải làm ba điều, và bất cứ điều gì chống lại mục tiêu này đều là cái ác. |
1. Is the Spiritual Hierarchy the same as the planetary soul? No. In fact the planetary soul is an aspect of the being of the Planetary Logos. The foremost vehicle for this planetary soul is found on the third subplane of the cosmic mental plane. | 1. Thánh đoàn có đồng nhất với linh hồn hành tinh không? Không. Thực ra, linh hồn hành tinh là một phương diện trong sự hiện hữu của Hành Tinh Thượng đế. Hiện thể chủ yếu của linh hồn hành tinh này nằm trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ. |
2. It is the second ray planetary soul which is attempting to emerge at this time in planetary history. This emergence must occur in and through the physical vehicle of the Planetary Logos. It is in this manifestation that our Spiritual Hierarchy (attuned to that planetary soul and representative of it) is assisting. | 2. Chính linh hồn hành tinh cung hai đang cố gắng xuất hiện vào thời điểm này trong lịch sử hành tinh. Sự xuất hiện này phải diễn ra trong và qua hiện thể hồng trần của Hành Tinh Thượng đế. Chính trong sự biểu hiện này, Thánh đoàn của chúng ta (hòa điệu với linh hồn hành tinh ấy và đại diện cho linh hồn ấy) đang trợ giúp. |
3. Evil is the good which should have been outlived. What was good once may no longer be so, depending upon the objective of any particular time cycle. | 3. Cái ác là cái thiện mà lẽ ra người ta đã phải vượt qua. Điều từng là thiện có thể không còn là thiện nữa, tùy theo mục tiêu của từng chu kỳ thời gian cụ thể. |
4. The forces of evil do not keep pace with the Divine Plan. They willfully refuse to move on, to take the risk of entering a new pattern of relationship in which their former power would almost certainly be much reduced. They wish to preserve their own selfish prerogatives in an era when their methods must give way to something better, more in keeping with the themes of the second solar system. | 4. Các mãnh lực của cái ác không theo kịp Thiên Cơ. Chúng cố tình từ chối tiến bước, từ chối chấp nhận rủi ro khi bước vào một mô hình quan hệ mới mà trong đó quyền lực trước kia của chúng gần như chắc chắn sẽ giảm đi rất nhiều. Chúng muốn bảo toàn những đặc quyền ích kỷ của mình trong một thời đại mà các phương pháp của chúng phải nhường chỗ cho điều tốt đẹp hơn, phù hợp hơn với những chủ đề của hệ mặt trời thứ hai. |
5. The battle, in the last analysis, is a power struggle. The Hierarchy has ranged itself on the side of the Solar Logos and of all that makes our Planetary Logos (in expression) more like Venus, more responsive to the influence of the Solar God. The counterforce seeks to evade the effects of these higher influences. No doubt they have their own sources to which they would like our planet to become more responsive. | 5. Xét cho cùng, cuộc chiến này là một cuộc tranh giành quyền lực. Thánh đoàn đã đứng về phía Thái dương Thượng đế và tất cả những gì khiến Hành Tinh Thượng đế của chúng ta (trong sự biểu lộ) trở nên giống Sao Kim hơn, đáp ứng nhiều hơn với ảnh hưởng của Thượng đế Thái Dương. Mãnh lực đối kháng tìm cách né tránh tác động của những ảnh hưởng cao hơn này. Chắc chắn chúng có những nguồn riêng mà chúng muốn hành tinh chúng ta đáp ứng nhiều hơn. |
6. Much time has been spent attempting to catalogue the hierarchy of evil; the last number of centuries have produced their demonologists who have named and arranged the different orders of negative entities. Probably there is something to their classifications, but, finally, it may be a rather profitless (and dangerous) venture. In Esoteric Astrology DK has the following to say: | 6. Người ta đã dành nhiều thời gian để cố lập danh mục hệ thống thứ bậc của cái ác; trong vài thế kỷ gần đây đã xuất hiện những nhà nghiên cứu quỷ học đặt tên và sắp xếp các cấp bậc khác nhau của những thực thể tiêu cực. Có lẽ những cách phân loại ấy cũng có phần cơ sở, nhưng rốt cuộc đây có thể là một việc làm khá vô ích (và nguy hiểm). Trong Chiêm Tinh Học Nội Môn Chân sư DK nói như sau: |
Humanity and cosmic evil, focussed for many millennia of years in what has been called the Black Lodge. Speculation anent this Lodge and its activities is both fruitless and dangerous. | Nhân loại và cái ác vũ trụ, tập trung suốt nhiều thiên niên kỷ trong cái được gọi là Hắc đoàn. Suy đoán về đoàn thể này và các hoạt động của nó vừa vô ích vừa nguy hiểm. |
But human beings are fascinated, almost titillated, but such speculation and they ignore the warning. From speculation can arise the wish for contact with these dark entities (magicians have often been thus tempted) and the result often is disastrous. | Nhưng con người lại bị những suy đoán như thế cuốn hút, gần như kích thích, và họ phớt lờ lời cảnh báo. Từ suy đoán có thể nảy sinh mong muốn tiếp xúc với những thực thể hắc ám này (các nhà huyền thuật thường bị cám dỗ như thế), và kết quả thường là thảm khốc. |
7. Perhaps Hierarchy, so directly concerned with frontal confrontation, knows the names and ranks of the adversary. One day, when it concerns us, we will also, but at the moment it is glamor to think that we, as individuals and small groups, can range ourselves against such forces. First we have to made sure that anything within us which is resonant to those forces is eliminated, otherwise we would not have a ghost of a chance in battle. | 7. Có lẽ Thánh đoàn, vốn trực tiếp tham gia cuộc đối đầu, biết tên và cấp bậc của đối phương. Một ngày nào đó, khi điều ấy liên quan đến chúng ta, chúng ta cũng sẽ biết; nhưng hiện nay, nghĩ rằng chúng ta, với tư cách những cá nhân và nhóm nhỏ, có thể đứng lên chống lại những mãnh lực như thế là ảo cảm. Trước hết, chúng ta phải bảo đảm loại bỏ bất cứ điều gì bên trong mình cộng hưởng với những mãnh lực ấy, nếu không, chúng ta sẽ chẳng có chút cơ may nào trong cuộc chiến. |
8. Shamballa and Hierarchy together stand against the great evil, protecting humanity from what has been called the intention to destroy. Our task, for the moment, is to build with positivity, creating the vessel for the New Age. By asserting the good we can assist best in the battle for mens souls. | 8. Shamballa và Thánh đoàn cùng đứng lên chống lại cái ác lớn lao, bảo vệ nhân loại khỏi điều được gọi là ý đồ hủy diệt. Lúc này, nhiệm vụ của chúng ta là xây dựng với tinh thần tích cực, tạo nên vận cụ cho Kỷ Nguyên Mới. Bằng cách khẳng định điều thiện, chúng ta có thể trợ giúp hữu hiệu nhất trong cuộc chiến giành linh hồn con người. |
9. The Tibetan outlines for us that which we may do to counter the evil against which they so frontally fight. (Even in the Second World War, the Allies were but fighting the reflections of the Hierarchys dark enemies. One suspects that the Hierarchy had a much fiercer battle on their hands. ) | 9. Chân sư Tây Tạng phác thảo cho chúng ta những gì chúng ta có thể làm để chống lại cái ác mà Các Ngài đang trực diện chiến đấu. (Ngay cả trong Thế Chiến Thứ Hai, phe Đồng Minh cũng chỉ chiến đấu với những hình ảnh phản chiếu của các kẻ thù hắc ám của Thánh đoàn. Có thể ngờ rằng Thánh đoàn đã phải đương đầu với một trận chiến khốc liệt hơn nhiều. ) |
1. Manifest the nature of the soul, through the integrated personality. The nature of the soul is love and the will-to-good. | 1. Biểu hiện bản chất của linh hồn qua phàm ngã tích hợp. Bản chất của linh hồn là bác ái và Ý Chí-hướng Thiện. |
1. The first requirement for those who would aid in the contest with evil seems simple enough. It is oft repeated to students of esotericism and is one of the main objectives of their labors. The nature of the soul is to be manifested through an integrated personality. This, of course, requires understanding what the soul really is, knowing how to contact it in meditation, knowing how to be translucent to its downpouring and ensuring that the personality is integrated. The sentence is easily written but entails all labors up to and including the third initiation. Still, a beginning must be made. | 1. Yêu cầu đầu tiên đối với những ai muốn góp sức trong cuộc đấu tranh với cái ác có vẻ khá đơn giản. Yêu cầu này thường được nhắc lại với các đạo sinh huyền bí học và là một trong những mục tiêu chính trong nỗ lực của họ. Bản chất của linh hồn phải biểu lộ qua một phàm ngã tích hợp. Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi phải thấu hiểu linh hồn thực sự là gì, biết cách tiếp xúc với linh hồn trong tham thiền, biết cách trở nên trong suốt để đón nhận dòng tuôn đổ của linh hồn, và bảo đảm rằng phàm ngã đã được tích hợp. Câu này viết ra thì dễ, nhưng bao hàm mọi nỗ lực cho đến và kể cả lần điểm đạo thứ ba. Dẫu vậy, vẫn phải bắt đầu. |
2. Soul is variously and extensively described throughout DKs works. Here He simply describes soul as love and the will-to-good emphasizing the second and first ray aspects of the soul rather than its nature as light. | 2. Linh hồn được mô tả theo nhiều cách và rất sâu rộng trong khắp các tác phẩm của Chân sư DK. Ở đây, Ngài chỉ mô tả linh hồn là tình thương và Ý Chí-hướng Thiện, nhấn mạnh các phương diện cung hai và cung một của linh hồn hơn là bản chất ánh sáng của linh hồn. |
2. Transfer the energy, now turned to the vitalising of the physical body and physical creation, to the nurturing of the creative faculty upon the mental plane; thus the entire human family will be transmuted into a dynamic, self-conscious, creative agency. | 2. Chuyển dịch năng lượng hiện đang hướng vào việc tiếp sinh lực cho thể xác và sự sáng tạo hồng trần sang việc nuôi dưỡng năng lực sáng tạo trên cõi trí; nhờ đó, toàn thể gia đình nhân loại sẽ được chuyển hoá thành một tác nhân sáng tạo năng động, có ngã thức. |
1. This requirement is reminiscent of the eleventh Rule for Applicants: Let the disciple transfer the fire from the lower triangle to the higher, and preserve that which is created through the fire at the midway point. | 1. Yêu cầu này gợi nhớ đến Quy luật thứ mười một dành cho Ứng Viên: Hãy để đệ tử chuyển lửa từ tam giác thấp lên tam giác cao, và bảo tồn điều được tạo ra qua lửa tại điểm ở giữa. |
2. There is no way to elevate humanity without raising the energies of the etheric-physical body towards the vitalization of the higher chakras and glands. | 2. Không thể nâng cao nhân loại nếu không nâng các năng lượng của thể dĩ thái–hồng trần lên để tiếp sinh lực cho các luân xa và các tuyến cao hơn. |
3. Essentially, DK is asking the human family as a whole (and disciples as leading members of that family) to raise the energy of the sacral center to the throat center and thus become creative instead of merely procreative. | 3. Về căn bản, Chân sư DK đang yêu cầu toàn thể gia đình nhân loại (và các đệ tử với tư cách là những thành viên dẫn đầu của gia đình ấy) nâng năng lượng của trung tâm xương cùng lên trung tâm cổ họng, nhờ đó trở nên sáng tạo thay vì chỉ sinh sản. |
4. Humanity is meant to be the throat center of the Planetary Logos (or at least the throat center of the globe lord in whose energy system our physical Earth and its various vehicles are included). Sometimes, however, humanity functions more like a solar plexus center or even a sacral center. | 4. Nhân loại có vai trò trở thành trung tâm cổ họng của Hành Tinh Thượng đế (hoặc ít nhất là trung tâm cổ họng của chúa tể bầu hành tinh, mà Trái Đất hồng trần của chúng ta cùng các hiện thể khác nhau của nó đều nằm trong hệ thống năng lượng của Ngài). Tuy nhiên, đôi khi nhân loại hoạt động giống một trung tâm tùng thái dương, hoặc thậm chí một trung tâm xương cùng hơn. |
5. DK is asking that the lowest part of the higher triangle (head, heart and throat) be vitalized and that humanity become creative eventually in line with the Divine Plan. | 5. Chân sư DK đang yêu cầu tiếp sinh lực cho phần thấp nhất của tam giác cao (đầu, tim và cổ họng), và yêu cầu nhân loại trở nên sáng tạo, để cuối cùng phù hợp với Thiên Cơ. |
6. This creative cannot occur if too much of humanitys disposable energy is downwardly directed. | 6. Sự sáng tạo này không thể diễn ra nếu quá nhiều năng lượng mà nhân loại có thể sử dụng lại hướng xuống dưới. |
3. Usher in a period of spiritual unfoldment in every kingdom in nature. At the close of this period, the door into the animal kingdom will again be opened and opportunity offered to waiting embryonic souls. Many also, at this time, can take initiation and hence the balancing of forces at either end of the human line of unfoldment. This is to be brought about by the renewed cyclic activity of the Great White Lodge and will be carried forward through the medium of those energies which are ushering in the New Age. This crisis is upon us almost prematurely, owing to the exceedingly rapid advance made by humanity since 1850. Through the driving [20] urge of men themselves, a new realm and a new dimension has been contacted. Humanity has loosed energies hitherto unknown and the effects are of a dual kind, producing both bad as well as good results. | 3. Mở ra một thời kỳ khai mở tinh thần trong mọi giới của tự nhiên. Khi thời kỳ này kết thúc, cánh cửa vào giới động vật sẽ lại mở ra và cơ hội sẽ đến với những linh hồn phôi thai đang chờ đợi. Cũng vào lúc này, nhiều người có thể được điểm đạo, nhờ đó các mãnh lực ở hai đầu của con đường khai mở nhân loại được cân bằng. Hoạt động chu kỳ được đổi mới của Thánh đoàn sẽ tạo nên điều này, và công việc sẽ tiếp diễn thông qua những năng lượng đang đưa Kỷ Nguyên Mới đến. Cuộc khủng hoảng này đến với chúng ta gần như sớm hơn thời điểm thích hợp, do nhân loại đã tiến bộ cực kỳ nhanh chóng kể từ năm 1850. Nhờ sự thôi thúc [20] mạnh mẽ của chính con người, nhân loại đã tiếp xúc với một lĩnh vực mới và một chiều đo mới. Nhân loại đã giải phóng những năng lượng trước đây chưa từng biết đến, và tác động của chúng mang tính kép, tạo ra cả kết quả xấu lẫn tốt. |
1. Master DK is looking a long way ahead, for the door into the animal kingdom will not be re-opened until some point in the fifth round. | 1. Chân sư DK đang nhìn rất xa về phía trước, vì cánh cửa vào giới động vật sẽ chỉ mở lại vào một thời điểm nào đó trong cuộc tuần hoàn thứ năm. |
2. He is calling our attention to the responsibility of humanity to consciously become the macrocosm to the three lower kingdoms. Many human beings today are scientifically attending to the needs or development of those kingdoms, thus the process is underway. | 2. Ngài đang lưu ý chúng ta về trách nhiệm của nhân loại là trở thành đại thiên địa đối với ba giới thấp một cách có ý thức. Ngày nay, nhiều người đang chăm lo một cách khoa học cho nhu cầu hoặc sự phát triển của các giới ấy, vì vậy tiến trình này đang diễn ra. |
3. How humanity treats the lower kingdoms will affect the intended future process of individualization whereby opportunity will be offered to waiting embryonic souls. Among those souls are, perhaps, many who are now the domestic animals and who are under the care and supervision of human beings who love and nurture them. | 3. Cách nhân loại đối xử với các giới thấp sẽ ảnh hưởng đến tiến trình biệt ngã hóa dự kiến trong tương lai, qua đó cơ hội sẽ đến với những linh hồn phôi thai đang chờ đợi. Trong số những linh hồn ấy, có lẽ nhiều linh hồn hiện là các con vật nuôi, đang được những người yêu thương và nuôi dưỡng chúng chăm sóc và trông nom. |
4. DK is speaking of issues of planetary balance. If the door from the animal kingdom to the human is to be opened, it will be necessary for many in the human kingdom to move into the kingdom of souls through the process of initiation. | 4. Chân sư DK đang nói về những vấn đề quân bình hành tinh. Nếu cánh cửa từ giới động vật sang giới nhân loại sẽ mở ra, thì nhiều người trong giới nhân loại cần bước vào giới linh hồn qua tiến trình điểm đạo. |
5. How will initiation within the human kingdom be promoted? The strenuous effort of the Great White Lodge will stimulate the initiatory possibilities in humanity (and also in the other kingdoms, for there are those Masters Who attend to the needs of kingdoms other than the human). | 5. Việc điểm đạo trong giới nhân loại sẽ được thúc đẩy như thế nào? Nỗ lực mạnh mẽ của Thánh đoàn sẽ kích thích những khả năng điểm đạo trong nhân loại (và cả trong các giới khác, vì có những Chân sư chăm lo nhu cầu của các giới ngoài giới nhân loại). |
6. The present world crisis was precipitated, in part, by humanitys rapid advance into new realms of energy. Perhaps the Shamballa Impact of 1825 was unusually powerful, for by 1850 (according to this paragraph) humanity was making very rapid progress. | 6. Một phần nguyên nhân làm bùng phát cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay là việc nhân loại tiến nhanh vào những lĩnh vực năng lượng mới. Có lẽ Tác Động Shamballa năm 1825 mạnh mẽ khác thường, vì đến năm 1850 (theo đoạn văn này), nhân loại đã tiến bộ rất nhanh. |
7. It is difficult to know why the year 1850 is signaled out by DK. Neptune had been discovered in 1846, but no particular cycle of which we know began in 1850 (though there are a great many cycles of which we have no knowledge). Perhaps 1850 is a conventionalized date related to the Great Decision of 1854. Such Chohanic decisions have a tremendous impact upon humanity. The means of advance was probably the Industrial Revolution the rapid advance of technology and scientific discovery. While Hierarchy and Shamballa were making Their Presence felt in powerful ways, it was humanitys unexpectedly swift and powerful response to the proffered stimulation which, shall we say, almost caught the Hierarchy by surprise. This is what lead Master DK to speak of a crisis which is upon us almost prematurely | 7. Khó biết tại sao Chân sư DK đặc biệt nêu năm 1850. Sao Hải Vương đã được phát hiện vào năm 1846, nhưng không có chu kỳ cụ thể nào mà chúng ta biết lại bắt đầu vào năm 1850 (dù có rất nhiều chu kỳ mà chúng ta chưa biết). Có lẽ năm 1850 là một mốc quy ước liên quan đến Quyết Định Vĩ Đại năm 1854. Những quyết định như vậy của các Đấng Chohan có tác động vô cùng lớn lao đối với nhân loại. Phương tiện thúc đẩy sự tiến bộ có lẽ là cuộc Cách Mạng Công Nghiệp, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và các khám phá khoa học. Trong khi Thánh đoàn và Shamballa đang khiến nhân loại cảm nhận sự Hiện Diện của Các Ngài một cách mạnh mẽ, thì chính sự đáp ứng nhanh chóng và mạnh mẽ ngoài dự kiến của nhân loại trước kích thích được đưa đến đã gần như khiến Thánh đoàn bất ngờ. Đây là điều đã khiến Chân sư DK nói đến một cuộc khủng hoảng đến với chúng ta gần như quá sớm |
8. Probably the incoming fifth ray cycle in 1775 combined with the Great Decisions of 1805 and 1854, and the Shamballa Impact of 1825 were enough to give humanity an unusually potent stimulation to which it responded in an unanticipated way. The 1825 Shamballa Impact was the first such direct impact upon humanity since Atlantean times. Perhaps that was the reason for its tremendously powerful effect. | 8. Có lẽ chu kỳ cung năm bắt đầu đi vào năm 1775, kết hợp với các Quyết Định Vĩ Đại năm 1805 và 1854 cùng Tác Động Shamballa năm 1825, đã đủ để đem đến cho nhân loại một kích thích mạnh mẽ khác thường, mà nhân loại đã đáp ứng theo cách không ai dự liệu. Tác Động Shamballa năm 1825 là tác động trực tiếp đầu tiên như vậy lên nhân loại kể từ thời Atlantis. Có lẽ đó là lý do khiến tác động ấy có hiệu lực mạnh mẽ đến thế. |
9. In other parts of the teaching we are told that atomic energy was to have been discovered in the Age of Capricorn, some 2300 years ahead of its discovery. The rapid developments of the Industrial Revolution set the stage for this discovery. | 9. Trong những phần giáo huấn khác, chúng ta được cho biết rằng năng lượng nguyên tử lẽ ra chỉ được khám phá vào Kỷ Nguyên Ma Kết, khoảng 2300 năm sau thời điểm thực tế khám phá ra nó. Những bước phát triển nhanh chóng của cuộc Cách Mạng Công Nghiệp đã tạo tiền đề cho khám phá này. |
10. Thus, one of the greatest crises ever facing humanity has been precipitated, and we are all involved in it whether in the body or out of the body. The possible outcomes are extremely promising for humanitys development or the reverse. Hence the importance, at this time, for all disciples to take planetary evolution very seriously. The crisis is planetary. Individual, national and international crises are all part of it, but it is the welfare of our globe which is now at stake. | 10. Như vậy, một trong những cuộc khủng hoảng lớn nhất mà nhân loại từng đối mặt đã bùng phát, và tất cả chúng ta đều dự phần trong đó, dù đang ở trong thân thể hay ngoài thân thể. Những kết quả có thể xảy ra hứa hẹn vô cùng tốt đẹp cho sự phát triển của nhân loại, hoặc ngược lại. Vì vậy, vào lúc này, việc tất cả các đệ tử hết sức coi trọng sự tiến hoá hành tinh là điều quan trọng. Cuộc khủng hoảng mang tầm hành tinh. Các cuộc khủng hoảng cá nhân, quốc gia và quốc tế đều là những phần của cuộc khủng hoảng ấy, nhưng hiện nay chính sự an lành của bầu hành tinh chúng ta đang bị đe dọa. |
Third: Disciples must now organise for a steady united effort. This must take the form of a closer cooperation between all groups and a standing together in a closer relationship, thus strengthening each others’ hands and, where possible, pooling resources. It should result also in a united push forward of all spiritual and occult agencies and the carrying of the truth along all possible lines, down among the masses of men. Just as in Atlantean days, spiritual forces were subordinated to the selfish desires of men, so today, they are being subordinated to the minds and the ambitions of men and the results will be profoundly evil. The world situation today demonstrates this. For though material benefit and physical prosperity might eventually emerge from certain countries where great experiments are being undertaken, they will only exemplify the triumph of the form and will finally come to naught. Just as every human being struggles through in some one life to personality achievement so it is among the nations. Yet at the heart of every nation lies latent the mystical soul and eventually after dire struggle and distress all will be well. Tendencies towards materialism and towards personality achievement must, under the larger plan and the will-to-good, be offset by a counter move of spiritual living and this must be the objective of all working disciples. | Thứ ba: Giờ đây, các đệ tử phải tổ chức để cùng nỗ lực bền bỉ và đoàn kết. Điều này phải thể hiện qua sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa tất cả các nhóm và sự đoàn kết trong một mối quan hệ gần gũi hơn, nhờ đó tăng cường sức mạnh cho nhau và, khi có thể, cùng góp các nguồn lực. Điều này cũng phải dẫn đến sự đồng lòng tiến bước của mọi tổ chức tinh thần và huyền bí, cùng việc truyền bá chân lý theo mọi con đường có thể đến với quần chúng nhân loại. Cũng như vào thời Atlantis, các mãnh lực tinh thần từng bị đặt dưới quyền chi phối của những dục vọng ích kỷ của con người, ngày nay chúng đang bị đặt dưới quyền chi phối của trí tuệ và tham vọng con người, và hậu quả sẽ vô cùng tai hại. Tình hình thế giới ngày nay chứng minh điều đó. Vì dù lợi ích vật chất và sự thịnh vượng hồng trần cuối cùng có thể xuất hiện ở một số quốc gia đang tiến hành những cuộc thử nghiệm lớn, chúng cũng chỉ thể hiện chiến thắng của hình tướng và cuối cùng sẽ trở thành hư không. Cũng như mỗi con người phải phấn đấu vượt qua khó khăn trong một kiếp sống nào đó để đạt thành tựu phàm ngã, các quốc gia cũng vậy. Tuy nhiên, trong lòng mỗi quốc gia đều tiềm ẩn linh hồn thần bí và cuối cùng—sau cuộc đấu tranh và khổ đau ghê gớm—mọi sự sẽ tốt đẹp. Trong khuôn khổ Thiên Cơ rộng lớn hơn và Ý Chí-hướng Thiện, cần hóa giải những khuynh hướng hướng về chủ nghĩa duy vật và thành tựu phàm ngã bằng một chuyển động đối ứng của đời sống tinh thần, và đây phải là mục tiêu của tất cả các đệ tử đang làm việc. |
1. First, DK calls for united effort. We are all to help each other: individuals, other individuals; groups, other groups. Under the Law of Economy we are to pool our resources so that we may all progress. | 1. Trước hết, Chân sư DK kêu gọi nỗ lực hợp nhất. Tất cả chúng ta phải giúp đỡ lẫn nhau: cá nhân giúp những cá nhân khác; nhóm giúp những nhóm khác. Theo Định luật Tiết Kiệm, chúng ta phải góp chung các nguồn lực để tất cả chúng ta đều có thể tiến bộ. |
2. Humanity, itself, is called upon for a great pooling of resources. This would mean sharing the wealth rather than cornering the market. | 2. Chính nhân loại được kêu gọi thực hiện một sự góp chung nguồn lực lớn lao. Điều này hàm ý chia sẻ của cải thay vì thâu tóm thị trường. |
3. The spiritual groups should cooperate with each other rather than fighting each other. Spiritual truths have to reach the masses of human beings in ways they can assimilate. | 3. Các nhóm tinh thần nên hợp tác với nhau thay vì chống đối nhau. Các chân lý tinh thần phải đến được với quần chúng bằng những cách mà họ có thể tiếp thu. |
4. DK issues a warning. In Atlantean days spiritual forces were subordinated to rampant, selfish desire. Today, these same forces run the risk of being subordinated to the minds and ambitions of selfish personalities. The results could be even worse than in Atlantean days. As a matter of fact, DK tells us this is already happening. | 4. Chân sư DK đưa ra một lời cảnh báo. Vào thời Atlantis, các mãnh lực tinh thần bị đặt dưới sự chi phối của dục vọng ích kỷ, không kiềm chế. Ngày nay, chính những mãnh lực ấy có nguy cơ bị đặt dưới sự chi phối của thể trí và tham vọng của những phàm ngã ích kỷ. Kết quả có thể còn tồi tệ hơn cả thời Atlantis. Thực ra, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng điều này đã và đang xảy ra. |
5. Material prosperity must not be seen as an end in itself (as it is in some of todays wealthier countries). It is not the triumph of the national personality which is sought by Hierarchy, but the emergence of the national soul expressive of the soul quality of each nation. | 5. Không được xem sự thịnh vượng vật chất là mục đích tối hậu (như cách nhìn ở một số quốc gia giàu có hơn ngày nay). Thánh đoàn tìm kiếm sự xuất hiện của linh hồn quốc gia biểu lộ phẩm tính linh hồn của mỗi quốc gia, chứ không phải chiến thắng của phàm ngã quốc gia. |
6. DK almost promises dire struggle and distress. It certainly occurred during World War II, and it may have been of this struggle that He was speaking. From another perspective there may be even greater struggles imminent for humanity, though perhaps they will not have to be precipitated onto the physical plane as war. | 6. Chân sư DK gần như báo trước chắc chắn rằng sẽ có đấu tranh khốc liệt và đau khổ. Điều đó quả đã xảy ra trong Thế Chiến Thứ Hai, và có thể Ngài đang nói đến chính cuộc đấu tranh ấy. Từ một góc nhìn khác, có thể những cuộc đấu tranh còn lớn hơn đang cận kề nhân loại, dù có lẽ chúng sẽ không phải biểu hiện trên cõi hồng trần thành chiến tranh. |
7. DK takes note of the tendencies towards materialism and personality achievement not essentially bad but wrong for this time in human history. He calls for the offsetting of these tendencies by spiritual living. | 7. Chân sư DK lưu ý đến các khuynh hướng duy vật và hướng đến thành tựu phàm ngã—về căn bản không xấu, nhưng không phù hợp với thời điểm này trong lịch sử nhân loại. Ngài kêu gọi hóa giải những khuynh hướng ấy bằng đời sống tinh thần. |
8. The disciples of the world are to be part of this offsetting process. This means, of course, that we have to learn to offset tendencies towards materialism and self-glorifying personality achievement in our own natures. | 8. Các đệ tử trên thế giới phải góp phần vào tiến trình hóa giải này. Dĩ nhiên, điều này hàm ý rằng chúng ta phải học cách hóa giải các khuynh hướng duy vật và hướng đến thành tựu phàm ngã nhằm tôn vinh bản thân ngay trong bản chất của chính mình. |
9. This might seem easy to do until the subtleties of the process are recognized. | 9. Điều này có vẻ dễ thực hiện cho đến khi chúng ta nhận ra những khía cạnh tinh tế của tiến trình ấy. |
10. The principle which emerges is that if we really wish to be of help in offsetting the world crisis now engulfing all of humanity, we must accomplish within our own microcosm (our individual energy system) that which we would see accomplished with the macrocosm (the pan-human and planetary energy systems). | 10. Nguyên khí nổi lên ở đây là: nếu thực sự muốn góp sức hóa giải cuộc khủng hoảng thế giới hiện đang nhấn chìm toàn thể nhân loại, chúng ta phải thực hiện trong tiểu thiên địa của chính mình (hệ thống năng lượng cá nhân) điều mà chúng ta muốn thấy được thực hiện trong đại thiên địa (các hệ thống năng lượng của toàn thể nhân loại và của hành tinh). |
Let such working disciples see to it, therefore, that their love for all beings deepens and that the growth of their love comes through their tapping the group love which lies back of all world happenings. My brothers, when will the time come when the world will realise that the love aspect of the Logos as it affects the human kingdom is focussed through the inner subjective group of workers? That love is now in the stage of anchoring itself physically through the new groups (such as this group) which are in process of forming all over the world. These new groups are centres (or should be) of divine love, magnetic, constructive and pure. See to it, therefore, that your conformity to the requirement is met in the measure of your [21] physical strength, bearing ever in mind that you are equal to more effort and to greater strain than ever before. | Vì vậy, những đệ tử đang làm việc như thế hãy bảo đảm rằng tình thương của mình dành cho mọi sinh linh ngày càng sâu sắc, và tình thương ấy tăng trưởng nhờ họ khơi nguồn tình thương nhóm nằm sau mọi diễn biến trên thế giới. Các huynh đệ của Tôi, đến bao giờ thế giới mới nhận ra rằng phương diện bác ái của Thượng đế—khi tác động đến giới nhân loại—được tập trung qua nhóm người hoạt động chủ quan bên trong? Tình thương ấy hiện đang ở giai đoạn neo giữ trên cõi hồng trần thông qua các nhóm mới (như nhóm này) đang hình thành khắp thế giới. Những nhóm mới này là (hoặc phải là) các trung tâm của tình thương thiêng liêng, đầy từ tính, mang tính xây dựng và thanh khiết. Vì vậy, hãy bảo đảm rằng các bạn đáp ứng yêu cầu trong khả năng [21] thể lực của mình, luôn ghi nhớ rằng các bạn có thể nỗ lực nhiều hơn và chịu đựng sức căng lớn hơn bất cứ lúc nào trước đây. |
1. How many injunctions are offered by the Master! Things are not as they should be and must be changed. Therefore, we must change our behavior and He is constantly reminding us of this. | 1. Chân sư đưa ra biết bao huấn thị! Mọi sự chưa được như cần phải có và phải thay đổi. Vì vậy, chúng ta phải thay đổi cách hành xử của mình, và Ngài không ngừng nhắc nhở chúng ta về điều này. |
2. Love is the great weapon. No matter how much we may know, if we do not love, there is no use pretending we are disciples of the Great White Lodge. | 2. Tình thương là vũ khí vĩ đại. Dù biết nhiều đến đâu, nếu không yêu thương, chúng ta cũng chẳng ích gì khi giả vờ rằng mình là đệ tử của Thánh đoàn. |
3. And it is love for all beings that is called for not just love for those we like and who are like us. | 3. Và điều được đòi hỏi là tình thương dành cho mọi sinh linh, chứ không chỉ dành cho những người chúng ta thích và giống chúng ta. |
4. This love is to be strengthened by accessing the group love which lies back of all world happenings (the love which underlies the happenings of the time The Mantram of Unification). But to do this, we must actually sense this love, perceive and feel this love. This may not be easy to do because it is so much covered over by events which seem entirely other than loving. | 4. Tình thương này phải được tăng cường bằng cách tiếp cận tình thương nhóm nằm sau mọi diễn biến trên thế giới (tình thương làm nền tảng cho những diễn biến của thời đại—Mantram Hợp Nhất). Nhưng để làm được điều này, chúng ta phải thực sự cảm nhận tình thương ấy, nhận biết và cảm thấy tình thương ấy. Điều này có thể không dễ thực hiện, vì tình thương ấy bị che lấp quá nhiều bởi những sự kiện dường như hoàn toàn trái với tình thương. |
5. Then comes a great exhortation. DK asks us when the world will realize the power and method of expression of the Logos love nature. Really, He is also asking when we (disciples) will realize the same things. That love nature is focussed in the inner groups of workers (of which the Hierarchy is the great Example). | 5. Tiếp đó là một lời khuyến giục mạnh mẽ. Chân sư DK hỏi chúng ta bao giờ thế giới mới nhận ra quyền năng và phương thức biểu lộ bản chất bác ái của Thượng đế. Thực ra, Ngài cũng đang hỏi bao giờ chúng ta (các đệ tử) mới nhận ra những điều ấy. Bản chất bác ái ấy tập trung trong các nhóm người hoạt động bên trong (mà Thánh đoàn là Tấm Gương vĩ đại). |
6. The new groups, such as the group of disciples to whom He was addressing these instructions (and such as our groups) are to become anchor points for this descending Logoic Love. But are they? Are we working through centers of divine love which are magnetic, constructive and pure. DK wanted this for His immediate group of chelas and, no doubt, He wants it for groups such as ours. | 6. Các nhóm mới, như nhóm đệ tử mà Ngài đang gửi những huấn thị này đến (và như các nhóm của chúng ta), phải trở thành những điểm neo giữ cho Tình Thương đang giáng xuống của Thượng đế. Nhưng các nhóm ấy đã thực sự là như vậy chưa? Chúng ta có đang hoạt động qua những trung tâm tình thương thiêng liêng mang từ tính, có tính xây dựng và thuần khiết không. Chân sư DK mong muốn điều này cho nhóm đệ tử trực tiếp của Ngài, và chắc chắn Ngài cũng mong muốn điều ấy cho những nhóm như của chúng ta. |
7. The message is clear: unless the energy of Divine Love is pouring through such groups they are not true representatives of the Spiritual Hierarchy and of the Planetary Logos Who stands behind and within Hierarchy. | 7. Thông điệp rất rõ ràng: nếu năng lượng Tình Thương Thiêng Liêng không tuôn chảy qua những nhóm như thế, họ không phải là những đại diện chân chính của Thánh đoàn và của Hành Tinh Thượng đế, Đấng đứng sau và hiện diện bên trong Thánh đoàn. |
8. Then, this potent statement: | 8. Tiếp đó là lời khẳng định đầy uy lực này: |
See to it, therefore, that your conformity to the requirement is met in the measure of your physical strength, bearing ever in mind that you are equal to more effort and to greater strain than ever before. | Vì vậy, hãy bảo đảm rằng các bạn đáp ứng yêu cầu trong khả năng [21] thể lực của mình, luôn ghi nhớ rằng các bạn có thể nỗ lực nhiều hơn và chịu đựng sức căng lớn hơn bất cứ lúc nào trước đây. |
He is demanding from us a total commitment according to the measure of our physical strength. He might well have included reference to our mental and emotional strength. A very great effort by Hierarchy is now in process. That effort is evoking an effort, similar in kind but not in intensity, from Hierarchys chelas. Basically, the Master is asking us to intensify our effort. | Ngài đang đòi hỏi chúng ta dấn thân trọn vẹn theo mức sức mạnh thể chất của mình. Hẳn Ngài cũng có thể đề cập đến sức mạnh trí tuệ và cảm xúc của chúng ta. Thánh đoàn hiện đang thực hiện một nỗ lực vô cùng lớn lao. Nỗ lực ấy đang gợi lên từ các đệ tử của Thánh đoàn một nỗ lực tương tự về tính chất, dù không cùng cường độ. Về căn bản, Chân sư đang yêu cầu chúng ta tăng cường nỗ lực. |
9. For our encouragement, He tells us something uplifting about our capacity: we are stronger than ever before and can bear more strain than ever before. In short, we can do far more than we normally think we can, and should get about the business of doing it. | 9. Để khích lệ chúng ta, Ngài nói một điều nâng đỡ tinh thần về khả năng của chúng ta: chúng ta mạnh mẽ hơn bao giờ hết và có thể chịu sức căng lớn hơn bao giờ hết. Nói ngắn gọn, chúng ta có thể làm được nhiều hơn hẳn mức mình thường nghĩ, và nên bắt tay vào thực hiện. |
10. When we hear words like this, do we feel that the Master is addressing us? Do we take these injunctions to heart and are we ready and willing to act upon them? I hope this is the case, because the great hierarchical effort needs more committed workers than ever before functioning at the peak of their strength and efficiency, and in the fullest expression of love-wisdom possible for them. | 10. Khi nghe những lời như thế, chúng ta có cảm thấy Chân sư đang nói với mình không? Chúng ta có khắc ghi những huấn thị này trong lòng và sẵn sàng, tự nguyện hành động theo đó không? Tôi hy vọng là có, vì nỗ lực lớn lao của Thánh đoàn cần nhiều người hoạt động tận tâm hơn bao giờ hết, vận dụng tối đa sức mạnh và hiệu quả của mình, đồng thời biểu lộ Bác Ái – Minh Triết trọn vẹn nhất trong khả năng của họ. |
This experiment which I have instituted and to which you have voluntarily and willingly submitted yourselves is one undertaken for group purposes. The Hierarchy seeks to discover how sensitive groups are, as a whole, to subjective guidance and instruction, and how free the channels of communication are between the various individuals in the group and the Master, and between the various groups within the Ashram of a Master. A Master’s group of disciples, upon the inner side of life, forms an integrated organism, characterised by mutual life, love and interplay. The relationships in such a group are entirely on mental and astral levels and hence the limitations of the etheric force body and of the physical brain are not felt. Needless to say the fundamental relation is on soul levels. The fact that the etheric body and the physical brain lie outside these basic relations where the Ashram is concerned leads to greater facility in understanding and to reciprocal interplay. | Thử nghiệm mà Tôi đã khởi xướng và các bạn đã tự nguyện, sẵn lòng tham gia là một thử nghiệm nhằm các mục đích nhóm. Thánh đoàn muốn tìm hiểu xem, xét như một tổng thể, các nhóm nhạy cảm đến đâu với sự hướng dẫn và huấn thị chủ quan, và những kênh giao tiếp thông suốt đến mức nào giữa các cá nhân khác nhau trong nhóm với Chân sư, cũng như giữa các nhóm khác nhau trong ashram của một Chân sư. Ở phía bên trong của sự sống, nhóm đệ tử của một Chân sư tạo thành một cơ cấu sống tích hợp, có đặc trưng là sự sống, tình thương và tương tác chung. Các mối quan hệ trong một nhóm như thế hoàn toàn diễn ra trên các cấp độ trí tuệ và cảm dục, nên không cảm thấy những hạn chế của thể mãnh lực dĩ thái và bộ não hồng trần. Không cần nói cũng rõ, mối quan hệ căn bản nằm trên các cấp độ linh hồn. Việc thể dĩ thái và bộ não hồng trần nằm ngoài những mối quan hệ căn bản này trong phạm vi ashram giúp sự thấu hiểu và tương tác qua lại trở nên thuận lợi hơn. |
1. DK re-enunciates the group theme. Reminding all that they knew what they were getting into, He reaffirms the group nature of the experiment, placing the whole experiment in relation to a project undertaken by Hierarchy as a whole. | 1. Chân sư DK nhắc lại chủ đề nhóm. Nhắc mọi người rằng họ biết mình đang tham gia điều gì, Ngài tái khẳng định bản chất nhóm của thử nghiệm, đặt toàn bộ thử nghiệm trong mối liên hệ với một dự án do toàn thể Thánh đoàn thực hiện. |
2. Hierarchy wants to get through and needs sensitive groups (not just sensitive individuals) in order to be successful. | 2. Thánh đoàn muốn truyền đạt thông suốt và cần những nhóm nhạy cảm (không chỉ những cá nhân nhạy cảm) để thành công. |
3. The Master seeks closer communication with sensitive individuals within these groups. As well, there is to be increasing sensitivity and free communication between the individuals which such groups and between the various groups related to the Master. | 3. Chân sư tìm kiếm sự giao tiếp gần gũi hơn với những cá nhân nhạy cảm trong các nhóm này. Đồng thời, cần ngày càng có sự nhạy cảm và giao tiếp thông suốt giữa các cá nhân trong những nhóm ấy, cũng như giữa những nhóm khác nhau có liên hệ với Chân sư. |
4. Hierarchy is ruled by all planets and all signs. In this case, the Hierarchy is involved in an Aquarian/Uranian/Jupiterian experiment, and groups are being tested out for their fitness. | 4. Tất cả các hành tinh và các dấu hiệu hoàng đạo đều cai quản Thánh đoàn. Trong trường hợp này, Thánh đoàn đang thực hiện một thử nghiệm mang tính Bảo Bình/Sao Thiên Vương/Sao Mộc, và các nhóm đang được thử nghiệm về mức độ thích hợp của họ. |
5. DK describes the nature of the interplay existing within inner groups. Life and love characterize this interplay freed from the limits of the etheric force body and physical body. The main relationship in such groups are mental/astral, and even more fundamentally, of the soul. | 5. Chân sư DK mô tả bản chất của sự tương tác hiện hữu trong các nhóm bên trong. Sự sống và tình thương là đặc trưng của sự tương tác này, vốn thoát khỏi những giới hạn của thể mãnh lực dĩ thái và thể xác. Các mối quan hệ chính trong những nhóm như thế thuộc về trí tuệ/cảm dục, và ở mức căn bản hơn nữa, thuộc về linh hồn. |
6. The outer groups are not as free and work under the burden of the etheric and physical bodies. | 6. Các nhóm bên ngoài không được tự do như thế và hoạt động dưới gánh nặng của thể dĩ thái và thể xác. |
7. Hence the difficulty is preparing outer groups to mirror, as much as possible, the kind of vital interplay which occurs between members of the inner group when such members are focussed on the subtle planes (many of them, out of the body). | 7. Vì vậy, khó khăn nằm ở việc chuẩn bị các nhóm bên ngoài để phản chiếu, trong mức độ tối đa có thể, kiểu tương tác đầy sức sống diễn ra giữa các thành viên của nhóm bên trong khi họ tập trung trên các cõi vi tế (nhiều người trong số họ ở ngoài thân thể). |
It is wise to remember, however, that the astral potency is far more strongly felt on the physical plane than elsewhere and hence the major emphasis laid upon emotional-desire control in all treatises on discipleship or on preparation for that state. It is not easy for the average beginner on the Path of Discipleship to grasp this or to see the necessity for the rules and suggestions made. For some people to conform to rule and discipline is not easy unless it is entirely self-initiated. The suggestions which I make to you, my brothers, are only suggestions but it is surely the part of wisdom to follow them as long as you have voluntarily put yourselves under my tuition. Your working under me has been entirely of your own free will and choice. You are subjected to no compulsion. Other types of disciples evince willingness to follow instructions but their real difficulty consists in bringing the life into conformity with the desired rhythms. The narrow path, which all disciples have to tread, requires obedience to the ancient rules for disciples. This is given willingly and with eyes open, though no rigid adherence to such rules is ever expected. The disciple grows through intelligently adapting his life to these requirements as far as is reasonably possible and not by adapting the requirements [22] to his life. Flexibility within certain limits is always needed but that flexibility must not be set in motion by any personality inertia or mental questioning. | Tuy nhiên, nên nhớ rằng trên cõi hồng trần, uy lực cảm dục được cảm nhận mạnh hơn nhiều so với ở nơi khác; vì thế, mọi khảo luận về địa vị đệ tử hoặc sự chuẩn bị cho trạng thái ấy đều đặc biệt nhấn mạnh việc kiểm soát cảm xúc và dục vọng. Người mới bước vào Con Đường Đệ Tử thường không dễ nắm bắt điều này hoặc thấy được sự cần thiết của các quy luật và gợi ý đã đưa ra. Đối với một số người, việc tuân theo quy luật và kỷ luật không dễ dàng trừ khi hoàn toàn do họ tự khởi xướng. Các huynh đệ của Tôi, những điều Tôi đưa ra cho các bạn chỉ là gợi ý, nhưng hẳn làm theo chúng là điều sáng suốt chừng nào các bạn còn tự nguyện đặt mình dưới sự chỉ dạy của Tôi. Việc các bạn làm việc dưới sự hướng dẫn của Tôi hoàn toàn do ý chí tự do và sự lựa chọn của chính các bạn. Các bạn không chịu bất cứ sự cưỡng ép nào. Những kiểu đệ tử khác tỏ ra sẵn lòng tuân theo huấn thị, nhưng khó khăn thực sự của họ nằm ở việc đưa cuộc sống vào sự hòa hợp với những nhịp điệu mong muốn. Con đường hẹp mà mọi đệ tử phải bước đi đòi hỏi sự tuân phục các quy luật cổ xưa dành cho đệ tử. Sự tuân phục này được thực hiện một cách tự nguyện và sáng suốt, dù không bao giờ đòi hỏi phải bám sát cứng nhắc những quy luật ấy. Đệ tử tăng trưởng bằng cách điều chỉnh cuộc sống của mình một cách thông minh cho phù hợp với những yêu cầu này trong phạm vi hợp lý có thể, chứ không phải bằng cách điều chỉnh những yêu cầu [22] cho phù hợp với cuộc sống của mình. Luôn cần sự linh hoạt trong những giới hạn nhất định, nhưng sự linh hoạt ấy không được bắt nguồn từ bất kỳ tính trì trệ nào của phàm ngã hay sự chất vấn của thể trí. |
1. DK calls our attention to the strength of the astral potency. The members of the outer groups feel it far more strongly than those in the inner groups. The astral potency can act as a deterrent to group love and right group functioning, hence the need for its control a need not easily appreciated, especially by beginners. Are we beginners? He often seems to say so. | 1. Chân sư DK lưu ý chúng ta về sức mạnh của uy lực cảm dục. Các thành viên của những nhóm bên ngoài cảm nhận uy lực ấy mạnh hơn nhiều so với những người trong các nhóm bên trong. Uy lực cảm dục có thể cản trở tình thương nhóm và sự hoạt động đúng đắn của nhóm, vì thế cần phải kiểm soát nó—một nhu cầu không dễ nhận thức đầy đủ, nhất là đối với người mới bắt đầu. Có phải chúng ta là những người mới bắt đầu không? Ngài thường có vẻ nói như vậy. |
2. DK refers to people who do not wish to conform to rule and discipline unless it is self-initiated. These would be, primarily, first ray types, or those in whom the Sun (as an astrological indicator) is very strong, or those for whom Leo or Aries are prominent. | 2. Chân sư DK đề cập đến những người không muốn tuân theo quy luật và kỷ luật trừ khi đó là điều do chính họ khởi xướng. Chủ yếu, đây là những người thuộc cung một, hoặc những người có Mặt Trời (xét như một chỉ báo chiêm tinh) rất mạnh, hoặc những người có Sư Tử hay Bạch Dương nổi trội. |
3. But DK asks us to think of the wise course of action. Is it not wise for those who have willingly placed themselves under the Masters tuition, to attempt to conform to His suggestions? The answer, of course, is obvious, but there will always be those who will rebel in various ways even against the Master such is the strength of the self-reinforcing personality. | 3. Nhưng Chân sư DK yêu cầu chúng ta suy nghĩ về cách hành động khôn ngoan. Đối với những người đã sẵn lòng đặt mình dưới sự chỉ dạy của Chân sư, cố gắng làm theo những đề nghị của Ngài chẳng phải là điều khôn ngoan sao? Dĩ nhiên, câu trả lời rất rõ ràng, nhưng sẽ luôn có những người chống đối theo nhiều cách, ngay cả với Chân sư—sức mạnh của phàm ngã tự củng cố chính nó lớn đến thế. |
4. DK is a second ray Master and so He does not use force as a first ray Master might. For instance in Leaves of Moryas Garden, the Master says: | 4. Chân sư DK là một Chân sư cung hai, nên Ngài không dùng sức ép như một Chân sư cung một có thể làm. Chẳng hạn, trong Những Chiếc Lá trong Vườn Chân sư Morya, Chân sư nói: |
When I say act, exhaust all the resources of action. | Khi Tôi nói hãy hành động, hãy vận dụng đến cùng mọi nguồn lực của hành động. |
When I say silence, seek all the means of silence. (LMG 375) | Khi Tôi nói hãy im lặng, hãy tìm mọi phương cách để im lặng. (LMG 375) |
A command is given, a directive, and the Master expects compliance. This is not the second ray way. | Một mệnh lệnh, một chỉ thị được đưa ra, và Chân sư mong đợi sự tuân thủ. Đây không phải là cách của cung hai. |
5. Nevertheless, with silent will and deep understanding, DK does express the expectation that His students will be sensible enough to conform to His suggestions; it would certainly be in their best interests and is necessary for the work within any Ashram. The Masters wishes must be obeyed. | 5. Tuy nhiên, với ý chí thầm lặng và sự thấu hiểu sâu sắc, Chân sư DK quả có bày tỏ sự mong đợi rằng các đạo sinh của Ngài sẽ đủ sáng suốt để làm theo những đề nghị của Ngài; điều đó chắc chắn mang lại lợi ích tốt nhất cho họ và là điều cần thiết cho công việc trong bất kỳ ashram nào. Phải tuân theo ý nguyện của Chân sư. |
6. The first type of disciple the kind who seeks to impose his own discipline, not easily accepting discipline from others, will often have a strong first ray. DK now speaks of another type. This other type would gladly follow instructions, but cannot seem to bring the life into conformity with the desired rhythms. This type would have more of the soft-line rays in his/her makeup. | 6. Kiểu đệ tử thứ nhất—kiểu người tìm cách áp đặt kỷ luật của riêng mình, không dễ chấp nhận kỷ luật từ người khác—thường có cung một mạnh. Giờ đây, Chân sư DK nói đến một kiểu khác. Kiểu người này sẵn lòng làm theo huấn thị, nhưng dường như không thể đưa đời sống vào sự phù hợp với những nhịp điệu mong muốn. Trong cấu tạo của kiểu người này, các cung thuộc tuyến mềm chiếm phần nhiều hơn. |
7. Disciples are treading a narrow path we are told; after all, the Path of Discipleship is ruled, in part, by Saturn and Saturn is strict. On this Path obedience to the ancient rules for disciples is required. | 7. Chúng ta được cho biết rằng các đệ tử đang bước trên một con đường hẹp; xét cho cùng, Con Đường Đệ Tử chịu sự cai quản một phần của Sao Thổ, mà Sao Thổ thì nghiêm khắc. Trên Đường Đạo này, cần tuân thủ các quy luật cổ xưa dành cho đệ tử. |
8. We live in very Uranian times. We are on the brink of what might be understood as an Age of Freedom. Aquarius and Uranus, at length, confer this freedom. Perhaps the concept of obedience seems old fashioned, a relic of the Piscean Age which we are now rapidly leaving behind. | 8. Chúng ta đang sống trong thời đại chịu ảnh hưởng rất mạnh của Sao Thiên Vương. Chúng ta đang ở ngưỡng cửa của điều có thể được hiểu là một Kỷ Nguyên Tự Do. Cuối cùng, Bảo Bình và Sao Thiên Vương ban cho chúng ta sự tự do này. Có lẽ khái niệm tuân phục có vẻ lỗi thời, một tàn tích của Kỷ Nguyên Song Ngư mà giờ đây chúng ta đang nhanh chóng bỏ lại phía sau. |
9. Should this be our attitude we would be mistaken. The requirement for obedience becomes ever more strict, the higher we ascend. Can one imagine disobedience to the Lord of the World? Fortunately, an increasing identification with the higher Will, makes the necessary obedience almost second nature, but even the Christ had to demonstrate His acquiescence in the Garden of Gethsemene. | 9. Nếu có thái độ ấy, chúng ta sẽ lầm. Càng tiến lên cao, yêu cầu tuân phục càng trở nên nghiêm ngặt. Liệu có thể hình dung việc bất tuân Đức Chúa Tể Thế Giới chăng? May thay, sự đồng hoá ngày càng sâu sắc với Ý Chí cao cả khiến sự tuân phục cần thiết gần như trở thành bản chất thứ hai, nhưng ngay cả Đức Christ cũng phải thể hiện sự thuận phục của Ngài trong Vườn Gethsemene. |
10. The obedience expected is not rigid; some flexibility there must be, and it is allowed. But concerning this flexibility an important statement is made: | 10. Sự tuân phục được mong đợi không mang tính cứng nhắc; cần phải có một mức độ linh hoạt, và điều đó được cho phép. Nhưng về sự linh hoạt này, có một phát biểu quan trọng: |
The disciple grows through intelligently adapting his life to these requirements as far as is reasonably possible and not by adapting the requirements to his life. Flexibility within certain limits is always needed but that flexibility must not be set in motion by any personality inertia or mental questioning. | Người đệ tử trưởng thành qua việc điều chỉnh đời sống của mình một cách thông minh theo những yêu cầu này trong phạm vi hợp lý có thể thực hiện, chứ không phải bằng cách điều chỉnh các yêu cầu cho phù hợp với đời sống của mình. Sự linh hoạt trong những giới hạn nhất định luôn cần thiết, nhưng sự linh hoạt ấy không được xuất phát từ bất kỳ tính trì trệ nào của phàm ngã hay sự chất vấn nào của thể trí. |
11. The principles are to be held firm. The disciple is to have sufficient intuition to recognize their value. There is an attitude of mental questioning which, really, is nothing but a ploy to avoid commitment. As well, personality inertia sometimes rules and encourages us to question the value of rules to which we know we should conform. The personality must not be in control, demanding flexibility in the fulfillment of the ancient rules in order to preserve its own comfort. Let us examine ourselves closely to see if we ever fall into this trap. | 11. Các nguyên khí phải được giữ vững. Người đệ tử cần có đủ trực giác để nhận ra giá trị của chúng. Có một thái độ chất vấn của thể trí mà thực ra chỉ là một thủ thuật nhằm né tránh sự cam kết. Đồng thời, tính trì trệ của phàm ngã đôi khi chi phối và thúc đẩy chúng ta nghi ngờ giá trị của những quy luật mà chúng ta biết mình cần tuân theo. Không được để phàm ngã nắm quyền kiểm soát, đòi hỏi sự linh hoạt trong việc thực hiện các quy luật cổ xưa nhằm bảo toàn sự thoải mái của chính nó. Chúng ta hãy tự xem xét kỹ lưỡng để biết liệu mình có bao giờ rơi vào cái bẫy này hay không. |
12. The Hierarchy is an adaptable body of Servers; the Divine Plan itself is an adaptation of Divine Purpose. Hierarchy realizes the necessity of right adaptation. What is not allowed, however, is the attempt to adapt the requirements of the ancient rules to the comforts and expediencies of one’s personal life. | 12. Thánh đoàn là một tập thể những Người Phụng Sự có khả năng thích ứng; chính Thiên Cơ là một sự điều chỉnh của Thiên Ý. Thánh đoàn nhận ra sự cần thiết của việc thích ứng đúng đắn. Tuy nhiên, điều không được phép là cố điều chỉnh những yêu cầu của các quy luật cổ xưa theo sự thoải mái và tiện lợi trong đời sống cá nhân của mình. |
13. One example of this arises when students of the Teaching disagree with what the books say, assuming it must be AAB who wrote the sections with which they disagree. In fact they have some vested interest in the world which they would find uncomfortable to relinquish. They refuse to obey but escape from the implications of this refusal by insisting that the rules proposed are not real rules because they were not written down by the Tibetan (but, rather, by AAB). | 13. Một ví dụ về điều này xuất hiện khi các đạo sinh nghiên cứu Giáo Huấn không đồng ý với những điều sách nói, rồi cho rằng hẳn Bà AAB là người đã viết những phần mà họ không đồng ý. Thực ra, họ có những quyền lợi riêng trong thế gian mà họ sẽ cảm thấy khó chịu nếu phải từ bỏ. Họ từ chối tuân phục nhưng né tránh những hệ quả của sự từ chối này bằng cách khăng khăng cho rằng các quy luật được đề ra không phải là những quy luật thật sự vì người ghi lại chúng không phải là Chân sư Tây Tạng (mà là Bà AAB). |
14. At length one learns to see through this kind of self-deception and finally decides simply to obey no matter what might be the cost to the personality. None of us shall escape this necessity. | 14. Cuối cùng, người ta học cách nhìn thấu kiểu tự lừa dối này và rốt cuộc quyết định đơn giản là tuân phục bất kể phàm ngã có thể phải trả giá ra sao. Không ai trong chúng ta tránh được sự cần thiết này. |
15. A pledged disciple is already on the Path of No Return and an accepted disciple is expected to be occultly obedient. | 15. Một đệ tử đã lập nguyện thì đã bước trên Con Đường Không Trở Lại, và một đệ tử được chấp nhận cần phải tuân phục theo nghĩa huyền bí. |
A change in this relationship between disciples is now being made. An attempt is being set on foot to see if a group activity and interplay can now be set up upon the physical plane, involving consequently the use of the etheric body and the brain. The difficulties confronting you are, therefore, great and I am anxious that you should realise this. Will you realise, for instance, that any differences of opinion which may occur in the relations of this group of disciples will be caused by astral-brain reactions and, therefore, must not be considered of any importance whatsoever? They must be immediately eliminated and wiped from the slate of the mind and of the memory and classed as entirely personality limitations and unworthy of hindering group integrity. | Hiện nay, mối quan hệ này giữa các đệ tử đang có một sự thay đổi. Một nỗ lực đang được khởi xướng để xem liệu giờ đây có thể thiết lập hoạt động và tương tác nhóm trên cõi hồng trần hay không, do đó bao hàm việc sử dụng thể dĩ thái và bộ não. Vì vậy, những khó khăn mà các bạn đối diện là rất lớn, và Tôi tha thiết mong các bạn nhận ra điều này. Chẳng hạn, liệu các bạn có nhận ra rằng bất kỳ sự khác biệt ý kiến nào có thể nảy sinh trong các mối quan hệ của nhóm đệ tử này đều do những phản ứng cảm dục–bộ não gây ra, và do đó hoàn toàn không được xem là quan trọng không? Phải lập tức loại bỏ chúng, xóa sạch chúng khỏi thể trí và ký ức, và xem chúng hoàn toàn là những hạn chế của phàm ngã, không đáng để cản trở tính toàn vẹn của nhóm. |
1. The inner groups within the Masters Ashrams, as stated, have an easier time communicating livingly and lovingly than will outer groups, encumbered as they are by the etheric and physical vehicles. | 1. Như đã nói, các nhóm bên trong các ashram của các Chân sư giao tiếp với nhau một cách sống động và đầy tình thương dễ dàng hơn các nhóm bên ngoài, vốn chịu sự vướng víu của các hiện thể dĩ thái và hồng trần. |
2. But as part of the process of externalizing the Hierarchy, the attempt is being made to form outer groups representing the Ashram. | 2. Nhưng như một phần của tiến trình ngoại hiện Thánh đoàn, một nỗ lực đang được thực hiện nhằm thành lập các nhóm bên ngoài đại diện cho ashram. |
3. DK realizes the difficulty of this process but most chelas involved in these new groups do not. | 3. Chân sư DK nhận ra sự khó khăn của tiến trình này, nhưng phần lớn các đệ tử tham gia những nhóm mới này thì không. |
4. Many groups are broken apart by differences of opinion. It is fascinating to realize that these differences are attributable to astral-brain reactions and, really, are of no moment. We have all been in groups involved, in some way or another, with conflict. The fights have been, perhaps, over relatively petty issues. Probably all of them have been based upon astral-brain reactions. | 4. Nhiều nhóm tan rã vì những khác biệt ý kiến. Thật thú vị khi nhận ra rằng những khác biệt này bắt nguồn từ các phản ứng giữa thể cảm dục và bộ não, và thực ra chẳng có gì quan trọng. Tất cả chúng ta đều từng ở trong những nhóm có xung đột theo cách này hay cách khác. Có lẽ những cuộc tranh cãi ấy chỉ xoay quanh các vấn đề tương đối nhỏ nhặt. Có lẽ tất cả đều bắt nguồn từ những phản ứng giữa thể cảm dục và bộ não. |
5. DK enjoins us to set all such things aside. He is very assertive in His statement: | 5. Chân sư DK yêu cầu chúng ta gạt tất cả những điều như thế sang một bên. Ngài phát biểu rất dứt khoát: |
They must be immediately eliminated and wiped from the slate of the mind and of the memory and classed as entirely personality limitations and unworthy of hindering group integrity. | Phải lập tức loại bỏ chúng, xoá sạch chúng khỏi thể trí và ký ức, đồng thời xem chúng hoàn toàn là những giới hạn của phàm ngã, không đáng để cản trở sự toàn vẹn của nhóm. |
6. This is certainly the Law of Repulse in action. He asks us to adopt the attitude of the soul towards personality limitations. He asks for swift detachment from unworthy patterns. He does not temporize; He does not delay. | 6. Đây chắc chắn là Định luật Đẩy Lùi đang tác động. Ngài yêu cầu chúng ta có thái độ của linh hồn đối với những giới hạn của phàm ngã. Ngài yêu cầu nhanh chóng tách rời khỏi những mô hình không xứng đáng. Ngài không chần chừ; Ngài không trì hoãn. |
7. The group integrity is so important that nothing must be allowed to threaten it. Again, we are called to examine ourselves. | 7. Sự toàn vẹn của nhóm quan trọng đến mức không được để bất cứ điều gì đe doạ nó. Một lần nữa, chúng ta được kêu gọi tự xem xét mình. |
This experiment, being attempted by a group within my Ashram, is one in mental relations and in soul contact, with the emphasis and attention placed basically there. The astral- physical brain reactions should be regarded as non-existent and as illusion and should be allowed to lapse below the threshold of the group consciousness there to die for lack of attention. This type of group work is a new venture and unless something definitely new emerges as a result of this experiment, the time and effort are not warranted. | Thử nghiệm mà một nhóm trong ashram của Tôi đang tiến hành này là một thử nghiệm về các mối quan hệ trí tuệ và sự tiếp xúc linh hồn, với trọng tâm và sự chú ý căn bản đặt vào đó. Cần xem những phản ứng cảm dục–bộ não hồng trần như không tồn tại và như ảo tưởng, rồi để chúng chìm xuống dưới ngưỡng tâm thức nhóm—và chết đi ở đó vì không được chú ý. Loại công việc nhóm này là một sự khai phá mới, và trừ khi thử nghiệm này làm xuất hiện một điều gì đó thực sự mới, thời gian và công sức bỏ ra sẽ không xứng đáng. |
1. DK tells us how we are to relate to each other. We are still, reverberatorily, part of this experiment. | 1. Chân sư DK cho chúng ta biết phải quan hệ với nhau như thế nào. Chúng ta vẫn là một phần của cuộc thử nghiệm này qua những dư âm của nó. |
2. Our relations to each other, primarily through the Internet, facilitates this kind of mental/soul contact. At least we are spared the usual personality distractions. | 2. Các mối quan hệ giữa chúng ta, chủ yếu qua Internet, tạo thuận lợi cho kiểu tiếp xúc trí tuệ/linh hồn này. Ít nhất, chúng ta tránh được những điều gây xao lãng thông thường của phàm ngã. |
3. There are not many astral-brain reactions with which we have to deal. But in our more local group relations we probably have significant opportunity to regard astral-brain reactions as non-existent and, then, allow them to die of attrition. | 3. Không có nhiều phản ứng giữa thể cảm dục và bộ não mà chúng ta phải xử lý. Nhưng trong các mối quan hệ nhóm tại địa phương, có lẽ chúng ta có nhiều cơ hội để xem những phản ứng giữa thể cảm dục và bộ não là không tồn tại, rồi để chúng dần tiêu vong vì hao mòn. |
4. One of the ways we do this is to keep focussed on purpose. There are many habitual distractions and they compete for attention which should be placed on other, more worthy things. If the fundamentals are kept constantly before our eyes, we will not stoop to involvement with patterns of the past which need to be transcended. | 4. Một trong những cách chúng ta thực hiện điều này là giữ sự tập trung vào mục đích. Có nhiều điều gây xao lãng đã thành thói quen, và chúng tranh giành sự chú ý lẽ ra phải dành cho những điều khác xứng đáng hơn. Nếu luôn giữ những điều căn bản trước mắt, chúng ta sẽ không hạ mình vướng vào những mô hình của quá khứ cần phải vượt qua. |
5. Experiments are about the new. DK was surely hoping that something new would emerge from His efforts with His outer chelas. His work was part of advancing the Plan. It was not about teaching a few people for the sake of their individual improvement. | 5. Các cuộc thử nghiệm hướng đến cái mới. Chắc chắn Chân sư DK đã hy vọng rằng điều gì đó mới mẻ sẽ xuất hiện từ những nỗ lực của Ngài với các đệ tử bên ngoài. Công việc của Ngài là một phần trong việc thúc đẩy Thiên Cơ tiến lên. Công việc ấy không nhằm dạy dỗ một vài người chỉ vì sự tiến bộ cá nhân của họ. |
You must not imagine that the particular line of work on which you may be engaged is the factor of main interest. It is not primarily the unfoldment of the intuition, or of the power to heal, or of telepathic efficiency which is of importance. That which counts with the Hierarchy as the Ashrams function is the establishing subjectively of such a potent group interplay and group relation that an emerging world unity can be seen in embryo. A joint power to be telepathic or a group capacity to intuit truth is of value and somewhat novel. It is the functioning of groups who have the ability to work as a unity, whose ideals are one, whose personalities are merged into one forward swing, whose rhythm is one and whose unity is so firmly established that naught can produce in the group the purely human characteristics of separation, of personal isolation and [23] selfish seeking, that is new. | Các bạn không được hình dung rằng lĩnh vực công việc cụ thể mà mình có thể đang tham gia là yếu tố được quan tâm chủ yếu. Điều quan trọng trước hết không phải là sự khai mở trực giác, quyền năng chữa lành hay hiệu quả viễn cảm. Khi các ashram hoạt động, điều có ý nghĩa đối với Thánh đoàn là thiết lập về mặt chủ quan một sự tương tác và quan hệ nhóm mạnh mẽ đến mức có thể thấy một sự hợp nhất thế giới đang hình thành ngay từ dạng phôi thai. Một quyền năng viễn cảm chung hay năng lực nhóm để trực giác chân lý đều có giá trị và phần nào mới mẻ. Điều mới mẻ chính là sự hoạt động của những nhóm có khả năng làm việc như một thể thống nhất, có chung lý tưởng, có các phàm ngã hòa nhập trong cùng một đà tiến bước, có cùng nhịp điệu và có sự hợp nhất vững chắc đến mức không gì có thể làm nảy sinh trong nhóm những đặc tính thuần túy con người như chia rẽ, cô lập cá nhân và [23] mưu cầu ích kỷ. |
1. DK emphasizes that, as desirable as new unfoldments may be, they are not the main factor of the Hierarchys interest where these new modes of training are concerned. | 1. Chân sư DK nhấn mạnh rằng, dù những sự khai mở mới có đáng mong muốn đến đâu, chúng cũng không phải là yếu tố chính mà Thánh đoàn quan tâm trong những phương thức huấn luyện mới này. |
2. What is desired is a model (in embryo) of an emerging world unity If unity could be created within a small group or groups, it could be created in a much larger, global context. | 2. Điều được mong muốn là một mô hình ở dạng phôi thai của sự hợp nhất thế giới đang hình thành. Nếu có thể tạo ra sự hợp nhất trong một nhóm nhỏ hoặc một số nhóm nhỏ, thì cũng có thể tạo ra điều đó trong một bối cảnh toàn cầu rộng lớn hơn nhiều. |
3. His remarks are completely decentralizing; His chelas are not in training for their own benefit at all; rather they are seeking to help a far more important group objective emerge. | 3. Những lời nhận xét của Ngài hoàn toàn hướng đến việc phi tập trung vào bản thân; các đệ tử của Ngài tuyệt nhiên không được huấn luyện vì lợi ích riêng của họ; đúng hơn, họ đang tìm cách giúp một mục tiêu nhóm quan trọng hơn nhiều trở thành hiện thực. |
4. The really new as DK and the Hierarchy conceive it has little to do with the demonstration of certain higher powers. Such a demonstration is here called novel. | 4. Điều thật sự mới mẻ theo quan niệm của Chân sư DK và Thánh đoàn ít liên quan đến việc thể hiện một số quyền năng cao siêu. Ở đây, sự thể hiện như thế được gọi là mới lạ. |
5. It is true group functioning which is really new, and for which the Hierarchy seeks. Such qualities as group unity, united group idealism, the merging of all personalities into progressive action, a united rhythm, and the avoidance of the usual negative qualities of separation, personal isolation and selfish seeking. | 5. Chính sự hoạt động nhóm đích thực mới thật sự mới mẻ và là điều Thánh đoàn tìm kiếm. Những phẩm tính như sự hợp nhất nhóm, lý tưởng chung thống nhất của nhóm, sự hoà nhập mọi phàm ngã vào hành động tiến bộ, một nhịp điệu thống nhất và việc tránh những phẩm tính tiêu cực thông thường như chia rẽ, cô lập cá nhân và mưu cầu ích kỷ. |
6. If DK has to spend so much time repeating Himself on these points, the resistance against what He is trying to cultivate must be very firmly entrenched in human nature. | 6. Nếu Chân sư DK phải dành nhiều thời gian đến thế để nhắc đi nhắc lại những điểm này, thì sự chống đối những gì Ngài đang cố vun bồi hẳn đã ăn sâu bám rễ trong bản chất con người. |
Unselfish people are not rare. Unselfish groups are very rare. Pure detached devotion in a human being is not rare but to find it in a group is rare indeed. The submergence of personal interests in the good of the family or in that of another person is often to be found, for the beauty of the human heart has manifested itself down the ages. To find such an attitude in a group of people and to see such a point of view maintained with an unbroken rhythm and demonstrating spontaneously and naturally this will be the glory of the New Age. | Những người vô tư không hiếm. Những nhóm vô tư rất hiếm. Lòng tận tụy thanh khiết và không vướng mắc nơi một con người không hiếm, nhưng tìm thấy nó trong một nhóm thì quả thực hiếm hoi. Ta thường thấy những lợi ích cá nhân nhường chỗ cho lợi ích của gia đình hay của một người khác, vì vẻ đẹp của trái tim con người đã biểu hiện suốt các thời đại. Tìm thấy thái độ ấy trong một nhóm người, và thấy quan điểm ấy được duy trì theo một nhịp điệu không gián đoạn, biểu hiện một cách tự phát và tự nhiên—đó sẽ là vinh quang của Kỷ Nguyên Mới. |
1. Another noteworthy statement is made: Unselfish people are not rare. Unselfish groups are very rare. DK wants to create something which, thus far in human evolution, is a very rare occurrence the unselfish group. | 1. Một phát biểu đáng chú ý khác được đưa ra: Những người không vị kỷ không hiếm. Những nhóm không vị kỷ rất hiếm. Chân sư DK muốn tạo ra một điều mà cho đến nay vẫn rất hiếm gặp trong tiến hoá nhân loại: nhóm không vị kỷ. |
2. As we are moving from the age of the individual into the age of the group, the virtues of the individual must be transferred to the larger dimension of group functioning. | 2. Khi chúng ta đang chuyển từ thời đại cá nhân sang thời đại nhóm, các đức tính của cá nhân phải được chuyển dịch sang phạm vi rộng lớn hơn của hoạt động nhóm. |
3. This is really a very great change of emphasis. We have had many experiments during the twentieth century which have exalted the group at the complete expense of the participating individuals. Sovietism and Fascism have been two notable examples of abuse in this regard. Both of these are examples of totalitarianism a state-absolutism which treats the individual as if he/she were of no consequence. | 3. Đây quả thật là một thay đổi trọng tâm rất lớn. Trong thế kỷ hai mươi, chúng ta đã có nhiều cuộc thử nghiệm tôn nhóm lên cao bằng cách hy sinh hoàn toàn những cá nhân tham gia. Chủ nghĩa Xô viết và chủ nghĩa phát xít là hai ví dụ nổi bật về sự lạm dụng trong phương diện này. Cả hai đều là những ví dụ của chủ nghĩa toàn trị—một hình thức tuyệt đối hoá nhà nước, đối xử với cá nhân như thể họ chẳng có ý nghĩa gì. |
4. Such abuses are found whenever there is a transition towards a new form of social patterning. The abuses, however, guarantee that a truer model will emerge. | 4. Những sự lạm dụng như thế xuất hiện bất cứ khi nào có sự chuyển tiếp sang một hình thức tổ chức xã hội mới. Tuy nhiên, những sự lạm dụng ấy bảo đảm rằng một mô hình chân thực hơn sẽ xuất hiện. |
5. DK knows that a group can achieve the desirable positive attitudes and behavior now and then, but He is seeking that such a group point of view will be maintained with an unbroken rhythm, demonstrating spontaneously and naturally. We can see that in the eyes of Master DK, His attempt to train these groups of disciples was no ordinary undertaking. Rather it was intended as a seed which, germinating, could contribute to the glory of the New Age. | 5. Chân sư DK biết rằng thỉnh thoảng một nhóm có thể đạt được những thái độ và hành vi tích cực đáng mong muốn, nhưng Ngài muốn quan điểm nhóm như thế được duy trì với một nhịp điệu không gián đoạn, biểu hiện một cách tự phát và tự nhiên. Chúng ta có thể thấy rằng trong mắt Chân sư DK, nỗ lực huấn luyện những nhóm đệ tử này của Ngài không phải là một công việc thông thường. Đúng hơn, Ngài dự định đó là một hạt giống mà khi nảy mầm có thể góp phần vào vinh quang của Kỷ Nguyên Mới. |
6. So often we human beings think in individualistic terms, and might be quite happy if some special teaching came to us rather in advance of the rest of humanity. Such thoughts, however, though human enough, are completely unworthy when compared the purpose behind Master DKs intended enterprise. We have a long way to go before we can think and envision as a Master does. | 6. Con người chúng ta rất thường suy nghĩ theo quan điểm cá nhân chủ nghĩa, và có thể khá vui mừng nếu một giáo huấn đặc biệt nào đó đến với mình sớm hơn phần còn lại của nhân loại. Tuy nhiên, những ý nghĩ như thế, dù rất đỗi con người, vẫn hoàn toàn không xứng đáng khi so với mục đích đằng sau công trình mà Chân sư DK dự định thực hiện. Chúng ta còn một chặng đường dài trước khi có thể suy nghĩ và hình dung như một Chân sư. |
To see the link of pure love and of soul relation, realised and utilised in group form and work is indeed new and the attainment of this is the ideal which I set before this group of my disciples. If this group measures up to the vision as it exists in my mind, there will be established upon the physical plane focal points of specialised force through which the Hierarchy can work with greater surety than heretofore. There will (through this and analogous groups) be set in motion on earth a network of spiritual energies which will facilitate the regeneration of the world. The influence of these groups when permanently established and potently working will have a wider objective than just the elevation of humanity. | Thấy mối dây liên kết của tình thương thanh khiết và quan hệ linh hồn được nhận biết và vận dụng trong hình thức cùng công việc nhóm quả thực là điều mới mẻ, và đạt được điều này chính là lý tưởng Tôi đặt ra trước nhóm đệ tử này của Tôi. Nếu nhóm này đáp ứng xứng đáng với tầm nhìn hiện có trong thể trí Tôi, thì trên cõi hồng trần sẽ hình thành những tiêu điểm mãnh lực chuyên biệt mà qua đó Thánh đoàn có thể làm việc với sự chắc chắn lớn hơn trước đây. Thông qua nhóm này và những nhóm tương tự, một mạng lưới năng lượng tinh thần sẽ bắt đầu hoạt động trên Trái Đất, tạo thuận lợi cho sự tái sinh của thế giới. Ảnh hưởng của những nhóm này—khi đã được thiết lập bền vững và hoạt động mạnh mẽ—sẽ hướng tới một mục tiêu rộng lớn hơn việc chỉ nâng cao nhân loại. |
1. DK continues presenting the requirements for doing something really new in group formation. | 1. Chân sư DK tiếp tục trình bày những yêu cầu để thực hiện điều gì đó thật sự mới mẻ trong việc hình thành nhóm. |
2. The Master sets the link of pure love and soul relation, realised and utilised in group form and work as an ideal before His group. The successful achievement of this objective would have led directly into the Seed Group work. Physical plane focal points of specialized force could have been established, and through these the Hierarchy could have worked. | 2. Chân sư đặt ra trước nhóm của Ngài một lý tưởng: mối dây liên kết của tình thương thanh khiết và mối quan hệ linh hồn được nhận biết và vận dụng trong hình thức cùng công việc nhóm. Việc đạt được thành công mục tiêu này hẳn đã dẫn thẳng vào công việc Nhóm hạt giống. Những tiêu điểm của mãnh lực chuyên biệt hẳn đã có thể hình thành trên cõi hồng trần, và qua đó Thánh đoàn có thể làm việc. |
3. DKs vision of the possibilities was both beautiful and practical. He envisioned the setting in motion of a network of spiritual energies which will facilitate the regeneration of the world. | 3. Tầm nhìn của Chân sư DK về những khả năng ấy vừa đẹp đẽ vừa thiết thực. Ngài hình dung việc đưa vào hoạt động một mạng lưới năng lượng tinh thần sẽ tạo thuận lợi cho sự tái sinh của thế giới. |
4. A Master will not present to His chelas all that is in His mind. To do so might prevent the process for going forward a He desires. Chelas might become preoccupied with the distant vision and fail to take the immediately required steps. | 4. Một Chân sư sẽ không trình bày với các đệ tử của Ngài tất cả những gì có trong thể trí Ngài. Làm như vậy có thể ngăn tiến trình tiến lên như Ngài mong muốn. Các đệ tử có thể mải mê với tầm nhìn xa xôi mà không thực hiện những bước cần thiết ngay trước mắt. |
5. The Seed-Group work was designed to create upon the Earth groups which are adept at the reception and transmission of particular qualities of energy and force. Once established, they could be nourished by DK or by any Master Who wished to stimulate them. As seeds they would lead to the development of group-energy structures of far greater scope and significance than their humble origins would suggest. | 5. Công việc Nhóm hạt giống được thiết kế nhằm tạo ra trên Trái Đất những nhóm thành thạo việc tiếp nhận và truyền dẫn những phẩm tính cụ thể của năng lượng và mãnh lực. Một khi được thiết lập, các nhóm ấy có thể nhận sự nuôi dưỡng từ Chân sư DK hoặc bất kỳ Chân sư nào muốn kích thích chúng. Là những hạt giống, chúng sẽ dẫn đến sự phát triển của các cấu trúc năng lượng nhóm có phạm vi và thâm nghĩa lớn lao hơn nhiều so với những gì nguồn gốc khiêm tốn của chúng có thể gợi ra. |
6. DK, in passing, hinted at the future importance of such groups (and of that which could develop from them). He said that they will have a wider objective than just the elevation of humanity. Apparently the groups, when firmly established and potently working could be influential in a planetary sense and in relation to the various kingdoms of nature. | 6. Nhân đó, Chân sư DK đã hé lộ tầm quan trọng trong tương lai của những nhóm như thế (và của những gì có thể phát triển từ chúng). Ngài nói rằng chúng sẽ có một mục tiêu rộng lớn hơn việc chỉ nâng cao nhân loại. Dường như khi được thiết lập vững chắc và hoạt động mạnh mẽ, các nhóm có thể tạo ảnh hưởng ở quy mô hành tinh và trong mối quan hệ với các giới khác nhau trong thiên nhiên. |
7. Eventually, the Earth is to become a great station of light. Groups of this nature (as they unfold) can contribute to that highly desirable, though distant, objective. | 7. Cuối cùng, Trái Đất sẽ trở thành một trạm ánh sáng vĩ đại. Những nhóm có bản chất này, khi khai mở, có thể góp phần vào mục tiêu rất đáng mong muốn ấy, dù còn xa xôi. |
8. On the Path of Occultism, however, the necessary steps are never taken all at once. A slow and gradual process of building is required, and it is here that the groups-of-nine failed to measure up to opportunity. They did not follow the Masters advice step by step. They could appreciate sufficiently the objective set before them. | 8. Tuy nhiên, trên Con Đường Huyền Bí Học, những bước cần thiết không bao giờ được thực hiện tất cả cùng một lúc. Cần có một tiến trình xây dựng chậm rãi và tuần tự, và chính ở đây các nhóm chín người đã không đáp ứng được cơ hội. Họ đã không từng bước làm theo lời khuyên của Chân sư. Họ có thể đánh giá đầy đủ mục tiêu đặt ra trước mình. |
9. The Seed Group opportunity is not forever past. Perhaps the experiment will be renewed under DKs expert guidance at a future time, and perhaps it will stand a better chance of succeeding now that the lessons of temporary failure are firmly impressed upon the minds of the participants (who, for the most part, are still associated with His Ashram). The effort is an ashramic one. An externalization of the Hierarchy is underway, and Master DK and His ashramic groups have their role to play. | 9. Cơ hội Nhóm hạt giống chưa vĩnh viễn trôi qua. Có lẽ cuộc thử nghiệm sẽ được tái khởi động dưới sự hướng dẫn lão luyện của Chân sư DK vào một thời điểm trong tương lai, và có lẽ nó sẽ có cơ hội thành công tốt hơn, giờ đây khi những bài học từ thất bại tạm thời đã in sâu vào thể trí của những người tham gia, phần lớn trong số họ vẫn còn gắn bó với ashram của Ngài. Nỗ lực ấy thuộc về ashram của Ngài. Sự ngoại hiện của Thánh đoàn đang diễn ra, và Chân sư DK cùng các nhóm ashram của Ngài có vai trò phải đảm nhiệm. |
The potent rhythm which animates the inner Brotherhood of the Lodge of Masters will make itself felt everywhere on earth and these groups, if successful, may be regarded as the first step toward the emergence into manifestation of the Great White Lodge. But remember this: the keynote of the Lodge is not attainment or degree. It is stable relationship, unity of thought, plus diversity of method, of effort and of function and its quality is friendship in its purest sense. The Brotherhood is a community of souls who are swept by the desire to serve, urged by a spontaneous impulse to love, illumined by one pure Light, devotedly fused and blended into groups of serving Minds, and energised by one Life. Its Members are organised to further the Plan which They consciously contact and with which They deliberately cooperate. | Nhịp điệu mạnh mẽ tiếp sinh khí cho Huynh đệ Đoàn bên trong của Đoàn thể các Chân sư sẽ được cảm nhận khắp nơi trên Trái Đất, và nếu thành công, có thể xem những nhóm này là bước đầu tiên hướng tới sự xuất hiện trong biểu hiện của Thánh đoàn. Nhưng hãy nhớ điều này: chủ âm của Đoàn thể ấy không phải là thành tựu hay cấp độ. Đó là mối quan hệ ổn định, sự thống nhất tư tưởng cùng với tính đa dạng về phương pháp, nỗ lực và chức năng, và phẩm tính của Đoàn thể ấy là tình bằng hữu theo nghĩa thanh khiết nhất. Huynh đệ Đoàn là một cộng đồng linh hồn được cuốn hút bởi mong muốn phụng sự, được thôi thúc bởi xung lực yêu thương tự phát, được soi sáng bởi một Ánh Sáng thanh khiết, tận tụy dung hợp và hòa quyện thành những nhóm Trí Tuệ phụng sự, và được một Sự Sống tiếp thêm năng lượng. Các Thành Viên của Huynh đệ Đoàn được tổ chức để thúc đẩy Thiên Cơ mà Các Ngài tiếp xúc một cách hữu thức và chủ tâm hợp tác. |
1. Here the Master emphasizes that the formation of these groups is really an aspect of the Externalization of the Hierarchy. Their emergence can be considered the first step toward the emergence into manifestation of the Great White Lodge. | 1. Ở đây, Chân sư nhấn mạnh rằng việc hình thành những nhóm này thật sự là một phương diện của Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn. Sự xuất hiện của chúng có thể được xem là bước đầu tiên hướng đến sự xuất hiện trong biểu hiện của Thánh đoàn. |
2. Thus, we see that the Seed Groups are experiments in group-facilitated redemption; they are part of the emergence of the Mystery Schools; and they are also an aspect of the process called the Externalization of the Hierarchy. | 2. Như vậy, chúng ta thấy các Nhóm hạt giống là những thử nghiệm về sự cứu chuộc được thúc đẩy qua nhóm; chúng là một phần trong sự xuất hiện của các Trường Huyền Nhiệm; và cũng là một phương diện của tiến trình gọi là Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn. |
3. DK uses the occasion to clarify the keynote of the Hierarchy. That keynote is not about status not about attainment or degree. It is stable relationship, unity of thought, plus diversity of method, of effort and of function and its quality is friendship in its purest sense. | 3. Chân sư DK nhân dịp này làm sáng tỏ chủ âm của Thánh đoàn. Chủ âm ấy không liên quan đến địa vị, thành tựu hay cấp bậc. Đó là mối quan hệ ổn định, sự thống nhất tư tưởng cùng với sự đa dạng về phương pháp, nỗ lực và chức năng; phẩm tính của Thánh đoàn là tình bằng hữu theo nghĩa thanh khiết nhất. |
4. The note of unity in diversity is sounded. In all the stability and unity of Hierarchy, a definite diversity of method proceeds. | 4. Âm điệu hợp nhất trong đa dạng được xướng lên. Trong toàn bộ sự ổn định và hợp nhất của Thánh đoàn, vẫn có sự đa dạng rõ rệt về phương pháp. |
5. Perhaps the most important statement concerning the quality of Hierarchy is that it is friendship in its purest sense. Well might we ponder on this magnificent phrase! Pythagoras said a friend is another self. One wonders if His sign in that incarnation was Gemini. Friendship, according to this thought, is pure altruism, and it behooves us to think of the Hierarchy as a society of selfless altruists. | 5. Có lẽ phát biểu quan trọng nhất về phẩm tính của Thánh đoàn là: đó là tình bằng hữu theo nghĩa thanh khiết nhất. Chúng ta thật nên suy ngẫm về câu nói tuyệt diệu này! Pythagoras nói rằng một người bạn là một bản ngã khác. Người ta tự hỏi liệu dấu hiệu hoàng đạo của Ngài trong lần lâm phàm ấy có phải là Song Tử hay không. Theo tư tưởng này, tình bằng hữu là lòng vị tha thuần khiết, và chúng ta nên nghĩ về Thánh đoàn như một cộng đồng những người vị tha quên mình. |
6. This paragraph is so important for its descriptions of Hierarchy: | 6. Đoạn văn này rất quan trọng vì những mô tả về Thánh đoàn: |
The Brotherhood is a community of souls who are swept by the desire to serve, urged by a spontaneous impulse to love, illumined by one pure Light, devotedly fused and blended into groups of serving Minds, and energised by one Life. Its Members are organised to further the Plan which They consciously contact and with which They deliberately cooperate. | Huynh đệ Đoàn là một cộng đồng linh hồn tràn đầy ước muốn phụng sự, được thôi thúc bởi xung lực yêu thương tự phát, được một Ánh Sáng thanh khiết soi sáng, tận hiến dung hợp và hoà quyện thành những nhóm Thể Trí phụng sự, và nhận sinh lực từ một Sự Sống duy nhất. Các Thành Viên của Huynh đệ Đoàn được tổ chức để thúc đẩy Thiên Cơ mà Các Ngài tiếp xúc một cách hữu thức và chủ tâm hợp tác. |
When we read the description, we immediately realize that we are speaking of a higher kingdom of nature. All virtues toward which humanity can aspire are here enumerated as the achieved qualities of Hierarchy. | Khi đọc phần mô tả này, chúng ta lập tức nhận ra rằng mình đang nói về một giới cao hơn trong thiên nhiên. Tất cả những đức tính mà nhân loại có thể khao khát vươn tới đều được liệt kê ở đây như những phẩm tính Thánh đoàn đã đạt được. |
7. Community, service, spontaneous love, illumination, fusion and blending into serving groups, livingness these qualities exemplify the Spiritual Hierarchy of our planet. Nowhere are there division and separation; nowhere withholdingness; nowhere darkness; everywhere vitality and spiritual life. . | 7. Tinh thần cộng đồng, sự phụng sự, tình thương tự phát, sự soi sáng, sự dung hợp và hoà quyện thành những nhóm phụng sự, sức sống—những phẩm tính này tiêu biểu cho Thánh đoàn của hành tinh chúng ta. Không nơi nào có sự phân chia và chia rẽ; không nơi nào có sự giữ lại cho riêng mình; không nơi nào có bóng tối; khắp nơi đều có sinh lực và sự sống tinh thần. . |
8. It is clear that Master DK is offering His groups the opportunity to become affiliated with this great group of illumined Servers. He wants them to understand the true nature of Hierarchy, quite different from the many distorted presentations. | 8. Rõ ràng Chân sư DK đang trao cho các nhóm của Ngài cơ hội gắn kết với tập thể vĩ đại gồm những Người Phụng Sự được soi sáng này. Ngài muốn họ thấu hiểu bản chất đích thực của Thánh đoàn, rất khác với nhiều cách trình bày sai lệch. |
It will be apparent to you, therefore, that the purpose of these groups is to unfold in time the three major powers of all illumined minds: [24] | Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng mục đích của những nhóm này là dần khai mở ba quyền năng chủ yếu của mọi thể trí được soi sáng: |
1. The new groups are composed of those who are mentally polarized. | 1. Các nhóm mới gồm những người phân cực trí tuệ. |
2. The group members are striving to become more and more like the members of Hierarchy. | 2. Các thành viên nhóm đang nỗ lực ngày càng trở nên giống các thành viên của Thánh đoàn. |
3. Hierarchy is the Society of Organized and Illumined Minds. | 3. Thánh đoàn là Cộng Đồng những Thể Trí Có Tổ Chức và Được Soi Sáng. |
First: the power to work in and with all thought substance. The Hierarchy of Illumined Minds is a group Whose telepathic powers enable Them to be sensitive to the mind currents and to register the thoughts of Those Who personify the Mind of God, the Universal Mind, and to register the thoughtforms of Those Who are as far beyond the Hierarchy of Masters as They, in Their turn, are beyond the disciples of the world. | Thứ nhất: quyền năng làm việc trong và với mọi chất liệu tư tưởng. Thánh đoàn các Trí Tuệ Được Soi Sáng là một nhóm mà quyền năng viễn cảm giúp Các Ngài nhạy cảm với những dòng tư tưởng và ghi nhận tư tưởng của các Đấng hiện thân cho Trí của Thượng đế, Vũ Trụ Trí, đồng thời ghi nhận các hình tư tưởng của các Đấng vượt xa Thánh đoàn các Chân sư cũng như chính Các Ngài vượt xa những đệ tử trên thế giới. |
1. Unless we learn, really, to work in thought substance we cannot be affiliated with Hierarchy. To be truly human is to think. In relation to human incarnation, this power originates, really, on the higher mental plane ruled, generically, by Venus. | 1. Nếu không học cách thật sự làm việc trong chất liệu tư tưởng, chúng ta không thể gắn kết với Thánh đoàn. Làm người đúng nghĩa là suy nghĩ. Trong mối liên hệ với sự lâm phàm của con người, quyền năng này thật sự bắt nguồn trên cõi thượng trí, mà xét một cách tổng quát là do Sao Kim cai quản. |
2. Venus (illumined thought) is to triumph over Mars (desire and irrational passion). | 2. Sao Kim (tư tưởng được soi sáng) phải chiến thắng Sao Hỏa (dục vọng và đam mê phi lý trí). |
3. Hierarchy can be understood as a Group of Thinkers. Hierarchy telepathically receives directives from the Mind of God (the Planetary Logos) and to some extent from the Universal Mind (which can be understood as the mind of the Mind of the Solar Logos). | 3. Có thể hiểu Thánh đoàn là một Nhóm những Nhà Tư Tưởng. Thánh đoàn tiếp nhận các chỉ thị bằng viễn cảm từ Trí của Thượng đế (Hành Tinh Thượng đế), và ở một mức độ nào đó từ Vũ Trụ Trí, vốn có thể được hiểu là thể trí của Trí của Thái dương Thượng đế. |
4. Mind is the medium of expression. The Masters are not at all beyond mind as some who are interested in spirituality seem to think. Every great Being has a mind. Mind is, in a way, the great intermediary. Of course mind has a number of dimensions or vibratory strata. | 4. Thể trí là phương tiện biểu đạt. Các Chân sư hoàn toàn không vượt ngoài thể trí như một số người quan tâm đến tinh thần dường như vẫn nghĩ. Mỗi Sinh Mệnh vĩ đại đều có một thể trí. Theo một nghĩa nào đó, thể trí là trung gian vĩ đại. Dĩ nhiên, thể trí có nhiều chiều kích hay tầng rung động. |
5. Mind is the medium for the reception of telepathic directives. The very first group-of-nine organized by the Tibetan was the group of Telepathic Communicators. This meant not so much that they could communicate with each telepathically, but that they could receive (individually and as a group) impressions relating to the Divine Plan. | 5. Thể trí là phương tiện tiếp nhận các chỉ thị viễn cảm. Nhóm chín người đầu tiên do Chân sư Tây Tạng tổ chức là nhóm Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm. Điều này chủ yếu không hàm ý rằng họ có thể giao tiếp với nhau bằng viễn cảm, mà là họ có thể tiếp nhận những ấn tượng liên quan đến Thiên Cơ (với tư cách cá nhân và cả nhóm). |
6. To be a true worker with the Plan, a highly developed mind is, therefore, needed, though this is not the same as being an intellectual. | 6. Do đó, để thực sự là một người hoạt động cùng Thiên Cơ, cần có một thể trí phát triển cao, dù điều này không đồng nghĩa với việc là một nhà trí thức. |
Those Lives Who carry out the ideas of the Divine Mind, exist in Their graded orders, and with the detail of Their groupings we are not concerned, except with the fact that the planetary Brotherhood is in telepathic rapport with Those Who are responsible for the planetary conditions in the solar system, with the Great Council, therefore, at Shamballa. They are also in immediate telepathic rapport with each other. The slowly manifesting powers of the radio and the sensitive workings of the perfecting radio mechanisms and of television are but the response in physical matter of the perfected telepathic powers and television of the minds of the Masters of the Wisdom. Forget not, that such powers are inherent in all men. | Các Sự Sống thực hiện những ý tưởng của Trí Tuệ Thiêng Liêng tồn tại trong những hàng ngũ có cấp bậc của Các Ngài, và chúng ta không cần quan tâm đến chi tiết về cách Các Ngài phân nhóm, ngoại trừ sự kiện Huynh đệ Đoàn hành tinh có mối giao cảm viễn cảm với các Đấng chịu trách nhiệm về những điều kiện hành tinh trong hệ mặt trời, tức là với Đại Hội Đồng tại Shamballa. Các Ngài cũng có mối giao cảm viễn cảm trực tiếp với nhau. Những khả năng đang dần biểu hiện của vô tuyến, cùng hoạt động nhạy bén của các bộ máy vô tuyến và truyền hình đang được hoàn thiện, chỉ là sự đáp ứng trong vật chất hồng trần đối với các quyền năng viễn cảm và khả năng nhìn từ xa đã hoàn thiện trong thể trí của các Chân sư Minh Triết. Đừng quên rằng những quyền năng như thế vốn có trong mọi người. |
1. Here DK elaborates a little on the telepathic powers of Hierarchy. We learn that there is an extensive Hierarchy of Lives (ascending and descending) Who are in telepathic rapport with each other for the purpose of carrying out the Divine Plan. Many Creative Hierarchies are part of this Ladder of Telepathic Rapport. | 1. Ở đây, Chân sư DK giải thích thêm đôi chút về các quyền năng viễn cảm của Thánh đoàn. Chúng ta biết rằng có một hệ thống Huyền Giai rộng lớn gồm các Sự Sống (thăng và giáng), Các Ngài giao cảm viễn cảm với nhau nhằm thực hiện Thiên Cơ. Nhiều Huyền Giai Sáng Tạo là thành phần của Chiếc Thang Giao Cảm Viễn Cảm này. |
2. DK does not bother with the detail of enumerating these Hierarchies. Suffice it to say that, by telepathic impression, all things on the planet and in our solar system are ordered. | 2. Chân sư DK không đi vào chi tiết liệt kê các Huyền Giai này. Chỉ cần nói rằng, nhờ ấn tượng viễn cảm, mọi sự trên hành tinh và trong hệ mặt trời của chúng ta đều được sắp đặt theo trật tự. |
3. Telepathic rapport is primarily vertical, but instrumentally horizontal. Not only are members of Hierarchy in touch with their superiors in the process of manifesting the Divine Plan, but They are in telepathic rapport with each other. | 3. Sự giao cảm viễn cảm chủ yếu diễn ra theo chiều dọc, nhưng vận hành theo chiều ngang. Trong tiến trình biểu hiện Thiên Cơ, các thành viên của Thánh đoàn không chỉ liên lạc với những Đấng cao hơn mình, mà Các Ngài còn giao cảm viễn cảm với nhau. |
4. We have seen a tremendous outpicturing of telepathic rapport in the development of modern telecommunications systems. Writing some seventy years ago, DK, when discussing the potential growth of telepathy, speaks in terms of the radio and the nascent television of that time. Today those early examples of telepathy seem primitive, and in a few years the most advanced and amazing techniques available today will seem, comparatively, primitive. The wonder of instant, complete and undistorted telepathic communication between human beings is prefigured by our telecommunication advances in the material sphere. For Hierarchy, however, the telepathic powers are (from our point of view) complete. | 4. Chúng ta đã thấy sự giao cảm viễn cảm biểu hiện ra bên ngoài một cách mạnh mẽ qua sự phát triển của các hệ thống viễn thông hiện đại. Khi viết cách đây khoảng bảy mươi năm và bàn về tiềm năng phát triển của viễn cảm, Chân sư DK nói đến vô tuyến điện và truyền hình còn phôi thai vào thời ấy. Ngày nay, những ví dụ ban đầu ấy về viễn cảm có vẻ thô sơ; và chỉ vài năm nữa, những kỹ thuật tiên tiến, kỳ diệu nhất hiện có cũng sẽ có vẻ tương đối thô sơ. Những tiến bộ viễn thông trong lĩnh vực vật chất báo trước điều kỳ diệu của giao tiếp viễn cảm tức thời, trọn vẹn và không sai lệch giữa con người với nhau. Tuy nhiên, đối với Thánh đoàn, các quyền năng viễn cảm đã hoàn thiện (theo quan điểm của chúng ta). |
5. DK reminds us that telepathic powers are inherent in all men, lest we think of the possibilities He discusses as unattainable. The wonders of the New Age are resident within us; we have but to release them. | 5. Chân sư DK nhắc chúng ta rằng các quyền năng viễn cảm vốn có trong mọi người, để chúng ta không nghĩ những khả năng Ngài bàn đến là điều không thể đạt được. Những điều kỳ diệu của Kỷ Nguyên Mới nằm ngay trong chúng ta; chúng ta chỉ cần giải phóng chúng. |
The inner group of Masters with Whom I am associated work telepathically also with Their disciples and the disciples with each other in lesser degree. The power to “see” the Master which has been the misguided impulse of the devotees of the world who substitute this desire for aspiration towards soul contact is but their response to the “television” of Those Who seek to guide them into the light of their own souls. They are only reacting to one of the demonstrated divine powers of the Master but not to soul action. | Nhóm Chân sư bên trong mà Tôi liên kết cũng làm việc bằng viễn cảm với các đệ tử của Các Ngài, và các đệ tử với nhau ở mức độ thấp hơn. Khả năng “thấy” Chân sư—vốn là xung lực lầm lạc của những người sùng tín trên thế giới, những người thay thế khát vọng tiếp xúc linh hồn bằng dục vọng này—chỉ là sự đáp ứng của họ đối với khả năng “nhìn từ xa” của các Đấng tìm cách hướng dẫn họ vào ánh sáng của chính linh hồn họ. Họ chỉ đang phản ứng với một trong những quyền năng thiêng liêng mà Chân sư đã biểu hiện, chứ không phải với hoạt động của linh hồn. |
1. DK speaks of a practical aspect of the Masters telepathic abilities. These abilities are utilized to work with Their disciples. Disciples also have some access to such powers and work in this manner with disciples of lower degree. | 1. Chân sư DK nói đến một phương diện thực tiễn trong các khả năng viễn cảm của các Chân sư. Các Ngài sử dụng những khả năng này để làm việc với các đệ tử của mình. Các đệ tử cũng tiếp cận được phần nào những quyền năng ấy và làm việc theo cách này với các đệ tử ở cấp độ thấp hơn. |
2. The Masters have a kind of tele-vision which is, for them, an operative psychic power. The quest to see the Master can be fulfilled (when the motive and approach are correct), but it is far less important than achieving real soul contact and interplay. | 2. Các Chân sư có một dạng viễn thị; đối với Các Ngài, đó là một quyền năng thông linh đang hoạt động. Ước muốn thấy Chân sư có thể thành hiện thực (khi động cơ và cách tiếp cận đúng đắn), nhưng điều ấy kém quan trọng hơn nhiều so với việc đạt được sự tiếp xúc và tương tác thực sự với linh hồn. |
3. All manner of psychic powers can be cultivated and utilized, but until the foundation of soul-infusion has been achieved, these psychic abilities can even retard spiritual progress. | 3. Mọi loại quyền năng thông linh đều có thể được vun bồi và sử dụng, nhưng chừng nào chưa thiết lập được nền tảng của sự thấm nhuần linh hồn, những khả năng thông linh này thậm chí có thể làm chậm sự tiến bộ tinh thần. |
4. There comes a time when the possibility of acquiring psychic powers becomes a temptation. Even high souls can be tempted to develop powers instead of a true and living contact with the Soul of all things. | 4. Sẽ đến lúc khả năng đạt được các quyền năng thông linh trở thành một cám dỗ. Ngay cả những linh hồn cao cả cũng có thể bị cám dỗ phát triển các quyền năng thay vì một sự tiếp xúc chân thực và sống động với Linh Hồn của vạn vật. |
5. We are faced with the harbinger of such advanced discriminations early in our spiritually developmental process. Shall we attempt to engage with our own soul (Solar Angel) or shall we run after the image of the Master (registering, most probably, some illusory astral thoughtform we take as a reality)? This is one of the first tests concerning the glamors of the Path, and many choose incorrectly. | 5. Ngay từ đầu tiến trình phát triển tinh thần, chúng ta đã đối diện với dấu hiệu báo trước những sự phân biện cao cấp như thế. Chúng ta sẽ cố gắng kết nối với chính linh hồn mình (Thái dương Thiên Thần), hay sẽ chạy theo hình ảnh của Chân sư (rất có thể đang ghi nhận một hình tư tưởng cảm dục hư ảo nào đó mà chúng ta cho là thực)? Đây là một trong những thử thách đầu tiên liên quan đến các ảo cảm trên Đường Đạo, và nhiều người lựa chọn sai. |
Your response to such stimulation as I can give you and an earnest endeavour on your part to love with unselfishness will gradually perfect in you a similar relation to other workers. This will work out in three directions: | Sự đáp ứng của các bạn đối với sự kích thích mà Tôi có thể mang lại, cùng nỗ lực tha thiết của các bạn để yêu thương một cách vô tư, sẽ dần hoàn thiện nơi các bạn một mối quan hệ tương tự với những người hoạt động khác. Điều này sẽ thể hiện theo ba hướng: |
1. In a demonstrated ability to be in telepathic rapport with me and with Those with Whom I am associated. | 1. Qua khả năng được thể hiện rõ ràng trong việc giao cảm viễn cảm với Tôi và với các Đấng mà Tôi liên kết. |
2. In power to communicate with each other at any time. | 2. Qua quyền năng giao tiếp với nhau vào bất cứ lúc nào. |
3. In sensitivity to the thoughts of humanity as a whole. | 3. Qua sự nhạy cảm đối với tư tưởng của toàn thể nhân loại. |
1. DK offers the newly forming groups some possibilities, if they love with unselfishness. Doing so, they will come into an entirely new relation to each other. | 1. Chân sư DK nêu ra một số khả năng cho các nhóm đang mới hình thành, nếu họ yêu thương một cách vô vị kỷ. Làm như vậy, họ sẽ bước vào một mối quan hệ hoàn toàn mới với nhau. |
2. The telepathy developed will develop in three directions: above, horizontal and below. | 2. Khả năng viễn cảm được vun bồi sẽ phát triển theo ba hướng: lên trên, ngang và xuống dưới. |
3. The Master can be reached (and other Masters as well); ones fellow disciples can be reached; and humanity can be reached. | 3. Có thể tiếp xúc với Chân sư (và cả các Chân sư khác); có thể tiếp xúc với các đệ tử đồng môn; và có thể tiếp xúc với nhân loại. |
4. Telepathy is a two-way street receptivity and transmission. A disciple needs six modes of interplay resulting from the three directions, with each of them considered from the perspective of both reception and transmission. | 4. Viễn cảm là một con đường hai chiều: tiếp nhận và truyền đi. Một đệ tử cần sáu phương thức tương tác phát sinh từ ba hướng ấy, khi xét mỗi hướng từ cả góc độ tiếp nhận lẫn truyền đi. |
5. Is it not interesting that unselfish love is the method of establishing telepathic sensitivity? | 5. Chẳng phải thật thú vị sao khi tình thương vô vị kỷ là phương pháp thiết lập sự nhạy cảm viễn cảm? |
6. If we study the qualities of the planet Venus (ruling the ajna center, which is involved in so much telepathy) we will find, ideally, both unselfishness and love. | 6. Nếu nghiên cứu các phẩm tính của Sao Kim (cai quản trung tâm ajna, vốn tham gia rất nhiều vào hoạt động viễn cảm), chúng ta sẽ thấy, trong biểu hiện lý tưởng, cả tính vô vị kỷ lẫn tình thương. |
7. Mercury/Venus are two planets (ruing the ajna center at different times of human development) much involved with the telepathic process. As the disciple begins to respond to the higher influences of these planets, the telepathic powers develop. | 7. Sao Thủy/Sao Kim là hai hành tinh (cai quản trung tâm ajna vào những thời kỳ khác nhau trong sự phát triển của con người) có liên hệ sâu sắc với tiến trình viễn cảm. Khi đệ tử bắt đầu đáp ứng với những ảnh hưởng cao hơn của các hành tinh này, các quyền năng viễn cảm sẽ phát triển. |
8. It should also be said that Jupiter, Uranus and Neptune have their part to play in bringing the telepathic process to fruition. | 8. Cũng cần nói rằng Sao Mộc, Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương đều góp phần đưa tiến trình viễn cảm đến chỗ thành tựu. |
9. While Saturn rules the Plan, it does not specifically promote sensitivity to contact. Because Saturn does, however, clear and order the field of consciousness, it does, in its own way, contribute to telepathic reception. | 9. Dù Sao Thổ cai quản Thiên Cơ, hành tinh này không đặc biệt thúc đẩy sự nhạy cảm trong tiếp xúc. Tuy nhiên, vì Sao Thổ làm trong sáng và sắp đặt trường tâm thức theo trật tự, nên theo cách riêng của mình, hành tinh này cũng góp phần vào sự tiếp nhận viễn cảm. |
Can you not see, therefore, how a miniature replica of the Brotherhood can be established on earth and how in decades [25] to come the working disciples of the world, the isolated initiates in the many world organisations and the personnel of the New Group of World Servers will automatically respond to the telepathic sensitivity of such groups as will be found working in the many Ashrams of the Masters? The result of this success will not be the recognition of any particular group but it will lead to the recognition of a universal power and the state of mind of disciples of all degrees. This will establish in time and without controversy the unity of all beings. The revelation of unity through the power of thought is the glorious consummation of the work of the Brotherhood and to this you do, as do all disciples, respond in your highest moments. It can, in a smaller way and according to the measure of your consecration, be your glory and your goal also if you hold the thought of oneness, of service and above all else of love. | Vì vậy, chẳng lẽ các bạn không thấy một bản sao thu nhỏ của Huynh đệ Đoàn có thể được thiết lập trên Trái Đất như thế nào, và trong những thập niên [25] sắp tới, những đệ tử đang làm việc trên thế giới, những điểm đạo đồ đơn lẻ trong nhiều tổ chức thế giới và các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ tự động đáp ứng ra sao với tính nhạy cảm viễn cảm của những nhóm đang hoạt động trong nhiều ashram của các Chân sư? Kết quả của thành công này sẽ không phải là sự công nhận bất kỳ nhóm cụ thể nào, mà sẽ dẫn đến sự công nhận một quyền năng phổ quát và trạng thái thể trí của đệ tử thuộc mọi cấp độ. Theo thời gian và không có tranh cãi, điều này sẽ xác lập sự hợp nhất của mọi sinh linh. Sự mặc khải về hợp nhất thông qua quyền năng tư tưởng là sự hoàn thành vinh quang của công việc Huynh đệ Đoàn, và cũng như mọi đệ tử, các bạn đáp ứng với điều này trong những khoảnh khắc cao cả nhất của mình. Ở quy mô nhỏ hơn và tùy theo mức độ thánh hiến của các bạn, điều ấy cũng có thể là vinh quang và mục tiêu của các bạn nếu các bạn giữ vững tư tưởng về sự nhất thể, về phụng sự và trên hết là về tình thương. |
1. Master DK is involved in the process of attempting to build a miniature replica of the Brotherhood one earth. | 1. Chân sư DK đang tham gia vào tiến trình nỗ lực xây dựng một mô hình thu nhỏ của Huynh đệ Đoàn trên Trái Đất. |
2. If this can be done, those who are working in the field will have a much sounder source of guidance than heretofore. Telepathic groups working in the many Ashrams of the Masters will help guide by the power and clarity of their thought those who (more isolated) are attempting to serve humanity and carry out the Hierarchys will. | 2. Nếu thực hiện được điều này, những người đang hoạt động trong lĩnh vực ấy sẽ có một nguồn hướng dẫn vững chắc hơn nhiều so với trước đây. Các nhóm viễn cảm làm việc trong nhiều ashram của các Chân sư sẽ dùng sức mạnh và sự sáng rõ của tư tưởng mình để giúp hướng dẫn những người đang nỗ lực phụng sự nhân loại và thực hiện ý chí của Thánh đoàn trong hoàn cảnh đơn lẻ hơn. |
3. Telepathy is part of a general linking up which is necessary for the full expression of the Divine Plan. | 3. Viễn cảm là một phần của sự liên kết tổng thể cần thiết cho sự biểu đạt trọn vẹn của Thiên Cơ. |
4. We can see how the Triangles Work (in both of its divisions) is very useful in developing telepathy. It may be one of the reasons that Master DK considers the Triangles Project so important. | 4. Chúng ta có thể thấy Công Tác Tam Giác (ở cả hai phân bộ) rất hữu ích trong việc phát triển viễn cảm. Đó có thể là một trong những lý do khiến Chân sư DK xem Dự Án Tam Giác là quan trọng đến thế. |
5. A widespread telepathic sensitivity will not bring any particular group to recognition, but there will be a general acknowledgement of the reality and importance of telepathic power and of that state of mind which can properly be called disciplic. | 5. Sự nhạy cảm viễn cảm lan rộng sẽ không khiến một nhóm cụ thể nào được công nhận, nhưng sẽ có sự thừa nhận rộng rãi về tính hiện thực và tầm quan trọng của quyền năng viễn cảm, cũng như trạng thái thể trí mà ta có thể gọi một cách xác đáng là trạng thái của đệ tử. |
6. The growing telepathic sensitivity of disciples and, eventually, humanity will be one of the proofs of the unity of all beings. One can talk about such things forever, but unless one sees for oneself, such talk will simply consist of platitudinous words unsupported by realization. | 6. Sự nhạy cảm viễn cảm ngày càng tăng của các đệ tử và cuối cùng là của nhân loại sẽ là một trong những bằng chứng về sự hợp nhất của mọi sinh linh. Người ta có thể nói mãi về những điều ấy, nhưng nếu không tự mình thấy được, những lời nói ấy sẽ chỉ là những lời sáo rỗng thiếu nền tảng chứng nghiệm. |
7. Another wonderful statement is offered: The revelation of unity through the power of thought is the glorious consummation of the work of the Brotherhood and to this you do, as do all disciples, respond in your highest moments. | 7. Một phát biểu tuyệt vời khác được đưa ra: Sự mặc khải về hợp nhất qua quyền năng tư tưởng là thành tựu huy hoàng tột đỉnh trong công việc của Huynh đệ Đoàn, và cũng như mọi đệ tử, các bạn quả thực đáp ứng với điều này trong những thời khắc cao cả nhất của mình. |
8. How will humanity come to realize the reality of unity? We are here being told that the power of thought will reveal it especially the power of telepathically transmitted thought. | 8. Nhân loại sẽ đi đến chỗ nhận ra thực tại của sự hợp nhất như thế nào? Ở đây, chúng ta được cho biết rằng quyền năng tư tưởng sẽ mặc khải điều ấy, đặc biệt là quyền năng của tư tưởng được truyền bằng viễn cảm. |
9. Human beings will not change their behavior unless their consciousness indicates that change is desirable and even necessary. Through the sequence of love, telepathy and realized unity, human consciousness can and will change. We see that some apparently simple, innocuous advice from the Master can have extraordinarily far-reaching consequences of a positive kind. | 9. Con người sẽ không thay đổi hành vi trừ khi tâm thức cho họ thấy rằng sự thay đổi là điều đáng mong muốn và thậm chí cần thiết. Qua trình tự tình thương, viễn cảm và sự hợp nhất được chứng nghiệm, tâm thức con người có thể và sẽ thay đổi. Chúng ta thấy rằng một lời khuyên có vẻ đơn giản, nhẹ nhàng của Chân sư có thể đem lại những hệ quả tích cực sâu rộng phi thường. |
10. DK asks that certain thoughts dominate our consciousness: thoughts of oneness, of service, and above all else of love. It is a great misapprehension that power comes only through complex means. Quite the opposite is usually the case. Simple advice is being offered as a means to achieve amazingly potent results. Can we cut through all the complexities of the Teaching (sometimes unavoidable complexities) in order to institute in our lives the simple fundamentals (based on love) which will make of us true telepathic workers telepathically attuned to both Hierarchy and humanity? | 10. Chân sư DK yêu cầu chúng ta để những tư tưởng nhất định chi phối tâm thức mình: tư tưởng về tính nhất thể, về phụng sự, và trên hết là về tình thương. Cho rằng quyền năng chỉ đến qua những phương tiện phức tạp là một ngộ nhận lớn. Thông thường, thực tế lại hoàn toàn ngược lại. Lời khuyên đơn giản đang được đưa ra như một phương tiện để đạt những kết quả có sức mạnh đáng kinh ngạc. Liệu chúng ta có thể xuyên qua mọi điều phức tạp của Giáo Huấn (đôi khi là những điều phức tạp không thể tránh khỏi) để thiết lập trong đời sống mình những nền tảng đơn giản (dựa trên tình thương), vốn sẽ khiến chúng ta trở thành những người hoạt động viễn cảm đích thực, hòa điệu bằng viễn cảm với cả Thánh đoàn lẫn nhân loại? |
Second: the power of the intuition, which is the goal of much of the work which disciples must do, requires the unfoldment of another faculty in man. The intuition is a function of the mind also and, when rightly used, it enables man to grasp reality with clarity and to see that reality free from glamour and the illusions of the three worlds. When the intuition functions in any human being, he is enabled to take direct and correct action for he is in touch with the Plan, with pure and unadulterated fact and undistorted ideas free from illusion and coming direct from the divine or universal Mind. The unfoldment of this faculty will bring about a world recognition of the Plan and this is the greatest achievement of the intuition in this present world cycle. When that Plan is sensed, there comes the realisation of the unity of all beings, of the synthesis of world evolution and of the unity of the divine objective. All life and all forms are seen then in their true perspective; a right sense of values and of time then eventuates. When the Plan is truly intuited and at first hand, then constructive effort becomes inevitable and there is no lost motion. It is the partial realisation of the Plan and its interpretation at second or third hand by the ignorant which is responsible for the wasted effort and the foolish impulses which characterise the present occult and world organisations. [26] | Thứ hai: quyền năng trực giác, vốn là mục tiêu của phần lớn công việc mà các đệ tử phải làm, đòi hỏi sự khai mở một năng lực khác nơi con người. Trực giác cũng là một chức năng của thể trí và, khi được sử dụng đúng đắn, giúp con người nắm bắt thực tại một cách sáng rõ và thấy thực tại ấy thoát khỏi ảo cảm cùng những ảo tưởng của ba cõi giới. Khi trực giác hoạt động nơi bất kỳ người nào, y có thể hành động trực tiếp và đúng đắn, vì y tiếp xúc với Thiên Cơ, với sự thật thuần khiết không pha tạp và những ý tưởng không bị bóp méo—thoát khỏi ảo tưởng và đến trực tiếp từ Trí Tuệ Thiêng Liêng hay Vũ Trụ Trí. Sự khai mở năng lực này sẽ đưa đến việc thế giới công nhận Thiên Cơ, và đây là thành tựu lớn nhất của trực giác trong chu kỳ thế giới hiện tại. Khi cảm nhận được Thiên Cơ ấy, con người sẽ nhận ra sự hợp nhất của mọi sinh linh, sự tổng hợp của tiến hoá thế giới và tính thống nhất của mục tiêu thiêng liêng. Khi đó, mọi sự sống và mọi hình tướng đều được nhìn trong tương quan chân thực của chúng; nhờ đó nảy sinh ý thức đúng đắn về các giá trị và thời gian. Khi trực tiếp nhận biết Thiên Cơ một cách chân thực bằng trực giác, nỗ lực xây dựng sẽ trở nên tất yếu và không còn sự vận động vô ích. Chính việc chỉ nhận biết một phần Thiên Cơ và việc những người thiếu hiểu biết diễn giải Thiên Cơ qua nguồn gián tiếp thứ hai hay thứ ba đã gây ra những nỗ lực lãng phí và những xung lực thiếu sáng suốt vốn là đặc trưng của các tổ chức huyền bí và thế gian hiện nay. |
1. A most important point is brought forward: the development of intuition depends upon the clarification and deglamorization of the mind. | 1. Một điểm hết sức quan trọng được nêu ra: sự phát triển trực giác tùy thuộc vào việc làm trong sáng thể trí và giải trừ ảo cảm khỏi thể trí. |
2. Disciples are to cultivate the intuition, but they must not put the cart before the horse. Intuition can not emerge unless the foundation of a clear mentality is in place. | 2. Các đệ tử phải vun bồi trực giác, nhưng không được đặt cái cày trước con trâu. Trực giác không thể xuất hiện nếu chưa có nền tảng là một trí tuệ sáng rõ. |
3. Intuition is far more than we usually think it is. It ensures the correctness of action because the correctly intuiting individual is in direct, undistorted touch with the Divine Plan. | 3. Trực giác vượt xa những gì chúng ta thường nghĩ về nó. Nó bảo đảm tính đúng đắn của hành động, vì người trực nhận đúng đắn tiếp xúc trực tiếp, không sai lệch với Thiên Cơ. |
4. The reason it is so important for intuition to be cultivated on a broad scale is that its unfoldment will bring a world-recognition of the Plan. This, obviously, is very much lacking in todays world and hence the many misguided ventures and initiatives. | 4. Việc vun bồi trực giác trên quy mô rộng lớn quan trọng đến vậy là vì sự khai mở của nó sẽ đem lại sự công nhận Thiên Cơ trên toàn thế giới. Hiển nhiên, thế giới ngày nay rất thiếu điều này, do đó mới có nhiều công cuộc và sáng kiến sai lầm. |
5. There are great benefits to sensing the Plan as it is. A review of these benefits should cause us to redouble our efforts to rightly apprehend the Plan. But, it would seem, only the intuition will lead to correct apprehension. | 5. Việc cảm nhận Thiên Cơ đúng như thực có những lợi ích lớn lao. Việc xem xét lại những lợi ích này hẳn sẽ khiến chúng ta tăng gấp đôi nỗ lực để lĩnh hội Thiên Cơ một cách đúng đắn. Nhưng dường như chỉ trực giác mới dẫn đến sự lĩnh hội đúng đắn. |
6. A truer sense of values is being developed. The light of Taurus rightly applied will lead to the dissipation of glamor and a consequent correction of the sense of values (to which Taurus is also connected). | 6. Một ý thức chân thực hơn về các giá trị đang phát triển. Ánh sáng của Kim Ngưu, khi được vận dụng đúng đắn, sẽ dẫn đến việc làm tiêu tan ảo cảm và từ đó điều chỉnh ý thức về các giá trị (vốn cũng liên hệ với Kim Ngưu). |
7. DK points to the wasted effort and foolish impulses which are typical of many occult and world organizations. This misuse of energy would disappear if the intuition were functioning properly. | 7. Chân sư DK chỉ ra những nỗ lực lãng phí và những thôi thúc dại dột vốn là đặc trưng của nhiều tổ chức huyền bí và thế giới. Việc sử dụng sai năng lượng này sẽ biến mất nếu trực giác hoạt động đúng đắn. |
8. It becomes clear that one of the major functions of Seed Group 2 (the Observers of Reality) is the cultivation of the intuition based upon deglamorization and disillusionment (occultly considered). | 8. Rõ ràng, một trong những chức năng chính của Nhóm hạt giống 2 (Các Nhà Quan Sát Thực Tại) là vun bồi trực giác dựa trên việc giải trừ ảo cảm và ảo tưởng (xét theo nghĩa huyền bí). |
9. We can see how Point 2 (the development of the intuition) is based upon the cultivation of the ability to work in thought substance (Point 1) | 9. Chúng ta có thể thấy Điểm 2 (sự phát triển trực giác) đặt nền tảng trên việc vun bồi khả năng làm việc trong chất liệu tư tưởng (Điểm 1) |
10. We can speak endlessly of the reality of the Divine Plan, but only the intuition will apprehend it directly and convincingly. Hence the importance of ridding the world of glamor and illusion so that the way towards the development of intuition can be cleared. | 10. Chúng ta có thể nói mãi về thực tại của Thiên Cơ, nhưng chỉ trực giác mới lĩnh hội được Thiên Cơ một cách trực tiếp và đầy sức thuyết phục. Vì thế, việc giải thoát thế giới khỏi ảo cảm và ảo tưởng là điều quan trọng, để có thể dọn đường cho sự phát triển trực giác. |
The various groups in a Master’s Ashram can fulfil certain functions and provide laboratories for specified work. Some can provide a demonstration laboratory of the trained observers of the world and can handle world glamour and illusion. Other groups can focus on the development of the telepathic faculty and become trained communicators. The objective before the Hierarchy at this time is to break and dissipate the world glamour. This has to happen on a world scale just as it happens in the life of every disciple. Just as a man shifts his focus of consciousness (when on the Path of Discipleship) on to the mental plane and learns to smash the glamour which has hitherto held him on the astral plane, so the problem before the Hierarchy today is to bring about a similar happening in the life of humanity as a whole, for humanity is at the crossroads and its consciousness is being rapidly focussed on the mental plane. A death blow must be struck at the world illusion for it holds the sons of men in thrall. By learning to break through the glamour in their own lives and to live in the light of the intuition, disciples can strengthen the hands of Those Whose task it is to awaken the intuition in man. | [26] Các nhóm khác nhau trong ashram của một Chân sư có thể thực hiện những chức năng nhất định và cung cấp các phòng thí nghiệm cho công việc chuyên biệt. Một số nhóm có thể cung cấp phòng thí nghiệm thực chứng cho Các Nhà Quan Sát Lão Luyện của thế giới và có thể xử lý ảo cảm cùng ảo tưởng thế gian. Những nhóm khác có thể tập trung phát triển năng lực viễn cảm và trở thành những người giao tiếp được huấn luyện. Mục tiêu trước mắt của Thánh đoàn lúc này là phá vỡ và làm tiêu tan ảo cảm thế gian. Điều này phải diễn ra trên quy mô thế giới cũng như diễn ra trong cuộc sống của mỗi đệ tử. Cũng như một người chuyển tiêu điểm tâm thức của mình (khi ở trên Con Đường Đệ Tử) lên cõi trí và học cách đập tan ảo cảm từ trước đến nay đã giữ y trên cõi cảm dục, vấn đề trước mắt của Thánh đoàn ngày nay là tạo ra một diễn biến tương tự trong đời sống của toàn thể nhân loại, vì nhân loại đang ở ngã rẽ và tâm thức của nhân loại đang nhanh chóng tập trung trên cõi trí. Phải giáng một đòn chí tử vào ảo tưởng thế gian, vì nó đang giam giữ những người con của nhân loại trong vòng nô lệ. Bằng cách học phá xuyên ảo cảm trong chính cuộc sống của mình và sống trong ánh sáng trực giác, các đệ tử có thể tăng cường sức mạnh cho các Đấng có nhiệm vụ đánh thức trực giác nơi con người. |
1. Laboratories are needed to accomplish on a small scale what must later be accomplished in relation to humanity as a whole. Groups related to the Masters’ Ashrams are excellent crucibles for such experimentation. | 1. Cần có những phòng thí nghiệm để thực hiện ở quy mô nhỏ điều mà về sau phải thực hiện đối với toàn thể nhân loại. Các nhóm liên hệ với ashram của các Chân sư là những môi trường tuyệt vời cho việc thử nghiệm như thế. |
2. We see that Master DK is laying the foundation for the discussion of the specialized “Seed Groups”. He has entered into a discussion of the need for telepathic sensitivity, and now He is focussing on the need for “trained observers”. | 2. Chúng ta thấy Chân sư DK đang đặt nền tảng cho việc bàn luận về những “Nhóm hạt giống” chuyên biệt. Ngài đã bắt đầu bàn về nhu cầu có sự nhạy cảm viễn cảm, và giờ đây Ngài đang tập trung vào nhu cầu có “các nhà quan sát lão luyện”. |
3. Another prominent objective of Hierarchy is stated: Hierarchy is intent on breaking and dissipating world glamor. We (humanity) must be made to see the “error of our ways” and the realization must be so impressive that we will not fall into similar self-deceptions again. | 3. Một mục tiêu nổi bật khác của Thánh đoàn được nêu ra: Thánh đoàn quyết tâm phá vỡ và làm tiêu tan ảo cảm thế giới. Chúng ta (nhân loại) phải được giúp để thấy “những sai lầm trong cách sống của mình”, và sự nhận biết ấy phải sâu sắc đến mức chúng ta sẽ không lại rơi vào những sự tự lừa dối tương tự. |
4. We are told that “humanity is at the crossroads”. It is possible to help humanity achieve a greater mental polarization and, with it, an end to the kinds of glamors which now hold it in thrall. | 4. Chúng ta được cho biết rằng “nhân loại đang đứng trước ngã đường”. Có thể giúp nhân loại đạt đến sự phân cực trí tuệ cao hơn, và cùng với đó là chấm dứt những loại ảo cảm hiện đang giam hãm nhân loại. |
5. Hierarchy is working to bring about the end of glamor in the life of humanity as a whole. It is a very daunting objective. | 5. Thánh đoàn đang làm việc để chấm dứt ảo cảm trong đời sống của toàn thể nhân loại. Đây là một mục tiêu vô cùng khó khăn. |
6. In this task, we understand that Hierarchy is fighting for the life of humanity. Consequently “a death blow” must be struck at that which is imprisoning the life and thus bringing spiritual death. We can understand that Hierarchy must involve Pluto (just as the Black Lodge did, for its own purposes). The Plutonic influence, rightly directed will not mean the destruction and death of humanity (as the Black Lodge hopes) but the destruction and death of the world illusion which is slowly strangling humanity. The same energy can be used for benevolent or malevolent purposes. | 6. Trong nhiệm vụ này, chúng ta hiểu rằng Thánh đoàn đang chiến đấu vì sự sống của nhân loại. Do đó, “một đòn chí tử” phải giáng xuống điều đang giam cầm sự sống và qua đó đem lại cái chết tinh thần. Chúng ta có thể hiểu rằng Thánh đoàn phải huy động ảnh hưởng của Sao Diêm Vương (cũng như Hắc đoàn đã làm vì những mục đích riêng của họ). Ảnh hưởng của Sao Diêm Vương, khi được định hướng đúng đắn, sẽ không mang lại sự hủy diệt và cái chết cho nhân loại (như Hắc đoàn mong muốn), mà sẽ hủy diệt và chấm dứt ảo tưởng thế giới đang từ từ bóp nghẹt nhân loại. Cùng một năng lượng có thể được sử dụng cho những mục đích thiện lành hoặc độc ác. |
7. The responsibility is put squarely on our shoulders. If we want to help Hierarchy deal a death blow to the world glamor, we have to kill glamor in our own lives. First, however, we have to recognize what we hope to expunge. | 7. Trách nhiệm được đặt thẳng lên vai chúng ta. Nếu muốn giúp Thánh đoàn giáng một đòn chí tử vào ảo cảm thế giới, chúng ta phải tiêu diệt ảo cảm trong chính đời sống mình. Tuy nhiên, trước hết chúng ta phải nhận diện điều mình hy vọng loại bỏ. |
8. It is hard to recognize one’s own glamors because they are so close to us, so much a part of how we are and what we do. It is here that group work proves invaluable, because others can see our flaws whereas, often, we cannot, or if we see them, we find clever ways to justify them (saying, perhaps, “Well, that’s just the way I am”, as if the glamor were the most natural thing in the world). | 8. Khó nhận ra những ảo cảm của chính mình, vì chúng quá gần gũi với chúng ta, gắn quá chặt với cách chúng ta sống và những gì chúng ta làm. Chính ở đây, công việc nhóm chứng tỏ giá trị vô cùng lớn, vì người khác có thể thấy những khuyết điểm của chúng ta, trong khi chúng ta thường không thấy được; hoặc nếu có thấy, chúng ta lại tìm những cách khéo léo để biện minh cho chúng (có lẽ nói rằng: “Tôi vốn là như thế”, như thể ảo cảm là điều tự nhiên nhất trên đời). |
9. Notice that DK speaks of “breaking through” the glamor in our own lives. It is as if a shell of illusion has to be shattered so that the light, previously walled without, can enter. | 9. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK nói đến việc “xuyên phá” ảo cảm trong chính đời sống chúng ta. Dường như phải đập vỡ một lớp vỏ ảo tưởng để ánh sáng, trước đó bị ngăn ở bên ngoài, có thể đi vào. |
10. It is safe to say that all that prevents us from resembling the members of the Hierarchy are glamors. If we could isolate the ways in which we are unlike those highly developed souls Who serve the planet by participation in the Spiritual Hierarchy, we would know our task. | 10. Có thể khẳng định rằng mọi điều ngăn chúng ta trở nên giống các thành viên của Thánh đoàn đều là ảo cảm. Nếu có thể xác định riêng những phương diện mà chúng ta khác với những linh hồn phát triển cao đang phụng sự hành tinh bằng việc tham gia Thánh đoàn, chúng ta sẽ biết nhiệm vụ của mình. |
11. To end glamor, however, is not the task of a single day. The cloud of glamor (though suffocating) is not easily seen and many glamors within the general ‘swirl’ are elusive and hard to confront. | 11. Tuy nhiên, chấm dứt ảo cảm không phải là công việc của một ngày. Đám mây ảo cảm (dù gây ngạt thở) không dễ nhận thấy, và nhiều ảo cảm trong ‘vòng xoáy’ chung ấy rất khó nắm bắt và khó đối diện. |
12. The naming of some of the myriad glamors can, however, be useful for, perhaps, we will notice some of these glamors within our own nature or in those close to us. Perhaps taking notice will lead to a realization of the best methods to counter the effect. We cannot fight an enemy we do not understand. | 12. Tuy nhiên, việc gọi tên một số trong vô vàn ảo cảm có thể hữu ích, vì có lẽ chúng ta sẽ nhận thấy một vài ảo cảm ấy trong chính bản chất mình hoặc nơi những người gần gũi với mình. Có lẽ việc chú ý nhận ra sẽ dẫn đến sự nhận biết những phương pháp tốt nhất để chống lại tác động ấy. Chúng ta không thể chiến đấu với một kẻ thù mà mình không thấu hiểu. |
There are many and different kinds of glamour and disciples are frequently surprised when they learn what is regarded as glamour by the Masters. I will enumerate a few of the more general glamours for you, leaving you to make any needed application and expansion of the idea from the individual to humanity as a whole. Here are the names of some of these glamours: | Có nhiều loại ảo cảm khác nhau, và các đệ tử thường ngạc nhiên khi biết những gì các Chân sư xem là ảo cảm. Tôi sẽ liệt kê cho các bạn một vài ảo cảm phổ biến hơn, để các bạn tự vận dụng khi cần và mở rộng ý tưởng từ cá nhân đến toàn thể nhân loại. Dưới đây là tên một số ảo cảm ấy: |
1. One of the problems with the elimination of glamor is that it is elusive and hard to detect. It is difficult to separate from the background of the normal living process. | 1. Một trong những khó khăn khi loại bỏ ảo cảm là nó rất khó nắm bắt và khó phát hiện. Khó tách nó ra khỏi bối cảnh của tiến trình sống bình thường. |
2. Glamor is so often an unrecognizable part of our conditioning. Our habits come to seem normal, and the normal, acceptable. Yet correction is required and it will be the Master’s task to point of certain glamors which escape the corrective attention of the chela. | 2. Ảo cảm rất thường là một phần khó nhận ra trong những ảnh hưởng đã định hình chúng ta. Những thói quen của chúng ta dần có vẻ bình thường, và điều bình thường lại trở thành điều có thể chấp nhận. Tuy nhiên, vẫn cần sự sửa chữa, và nhiệm vụ của Chân sư sẽ là chỉ ra những ảo cảm nhất định mà đệ tử chưa chú ý sửa chữa. |
3. We are asked to generalize from the individual to the group and, thence, to humanity. | 3. Chúng ta được yêu cầu khái quát từ cá nhân đến nhóm, rồi từ đó đến nhân loại. |
1. The glamour of destiny. This is a glamour which indicates to the one whom it controls that he has important work to do and that he must speak and work as destined. This feeds a pride which has no foundation in fact. | 1. Ảo cảm về định mệnh. Đây là một ảo cảm khiến người chịu sự chi phối của nó cho rằng mình có công việc quan trọng phải làm và phải nói, phải làm như định mệnh đã an bài. Điều này nuôi dưỡng một niềm kiêu hãnh không có cơ sở thực tế. |
1. Every glamor is a distortion of an acceptable attitude. | 1. Mỗi ảo cảm đều là sự biến dạng của một thái độ có thể chấp nhận được. |
2. Every soul has a destiny. Every monad does, especially. | 2. Mỗi linh hồn đều có một vận mệnh. Đặc biệt, mỗi chân thần đều như vậy. |
3. In this case, however, the personality is attempting to model itself on some external pattern resulting in inauthentic action. There is wrong-self-estimation and, thus, lack of co-measurement of the disciple with his/her environment. He/she values himself/herself too much relative to confreres and this exalted self-valuation has no basis in truth. | 3. Tuy nhiên, trong trường hợp này, phàm ngã đang cố khuôn mình theo một mô hình bên ngoài nào đó, dẫn đến hành động thiếu chân thực. Có sự tự đánh giá sai lầm và do đó thiếu sự đánh giá đúng tương quan giữa người đệ tử với môi trường của mình. Người đệ tử đánh giá bản thân quá cao so với các đồng môn, và sự tự đánh giá quá cao này không có cơ sở trong sự thật. |
4. The result will be inharmonious and non-productive action, causing trouble among the co-workers and a side-tracking of energy from a constructive objective. | 4. Kết quả sẽ là hành động bất hài hòa và không mang lại thành quả, gây rắc rối giữa những người cùng hoạt động và làm năng lượng chệch khỏi một mục tiêu xây dựng. |
2. The glamour of aspiration. Those thus conditioned are completely satisfied and pre-occupied with their aspiration towards the light and rest back upon the fact that they are aspirants. Such people need to move onward on to the Path of Discipleship and cease their preoccupation and satisfaction with their spiritual ambitions and goals. | 2. Ảo cảm về khát vọng. Những người chịu ảnh hưởng như thế hoàn toàn mãn nguyện và mải mê với khát vọng hướng tới ánh sáng của mình, rồi an nhiên dựa vào sự thật rằng họ là những người chí nguyện. Những người như thế cần tiến lên Con Đường Đệ Tử và chấm dứt sự mải mê cùng mãn nguyện với những tham vọng và mục tiêu tinh thần của mình. |
1. This is often the glamor of those who are inwardly afraid of the work (and pain) entailed by treading the Path of Discipleship. | 1. Đây thường là ảo cảm của những người trong thâm tâm sợ công việc (và nỗi đau) mà việc bước trên Con Đường Đệ Tử đòi hỏi. |
2. Aspiration is exciting, and excitement masquerades as a sense of livingness. One enjoys the simulation without having to “set one’s hand to the plough”. | 2. Khát vọng đem lại sự phấn khích, và sự phấn khích khoác lấy dáng vẻ của một cảm giác sống động. Người ta thích thú với sự mô phỏng ấy mà không phải “bắt tayvào công việc”. |
3. Aspiration is a means to an end, but when under the spell of this glamor, one settles for the means. | 3. Khát vọng là phương tiện để đạt đến một mục đích, nhưng khi chịu sự mê hoặc của ảo cảm này, người ta bằng lòng với phương tiện ấy. |
4. In fact, what we have here is a refusal to move on and do the real thing. | 4. Thực ra, điều chúng ta thấy ở đây là sự từ chối tiến lên và thực hiện điều thực sự cần làm. |
5. If we compare the signs Sagittarius (generically, the sign of aspiration) and Capricorn (generically, the sign of initiation) we see a necessary contrast. While it could not possibly be true in all cases, we find in many Sagittarians a tendency to envision, dream and speculate rather than work. In Capricorn (the sign of initiation) the real work begins. (There are, of course, many outstanding exceptions, and Sagittarius is also the sign of the “one pointed disciple” working his/her way towards the goal. ) | 5. Nếu so sánh các dấu hiệu Nhân Mã (nói chung là dấu hiệu của khát vọng) và Ma Kết (nói chung là dấu hiệu của điểm đạo), chúng ta thấy một sự tương phản cần thiết. Dù điều này không thể đúng trong mọi trường hợp, chúng ta nhận thấy ở nhiều người thuộc dấu hiệu Nhân Mã một khuynh hướng hình dung, mơ mộng và suy đoán hơn là làm việc. Ở Ma Kết (dấu hiệu của điểm đạo), công việc thực sự bắt đầu. (Dĩ nhiên, có nhiều ngoại lệ nổi bật, và Nhân Mã cũng là dấu hiệu của “người đệ tử nhất tâm” đang nỗ lực tiến tới mục tiêu. ) |
6. Of course, conversely, Capricorn may be “all work “(of a very mundane and non-progressive kind — “nose to the grindstone”, “shoulder to the wheel”) and Sagittarius may, at least, lift the sight to something higher. | 6. Dĩ nhiên, ngược lại, Ma Kết có thể “chỉ biết làm việc “(thuộc loại rất trần tục và không đem lại tiến bộ — “cắm cúi làm lụng”, “gồng vai gánh việc”), còn Nhân Mã ít nhất có thể nâng tầm mắt hướng tới điều gì đó cao hơn. |
7. There is no zodiacal sign which is greater or lesser; much depends upon the point of evolution of the form through which the sign is expressing. | 7. Không có dấu hiệu hoàng đạo nào cao hơn hay thấp hơn; phần lớn tùy thuộc vào điểm tiến hoá của hình tướng mà dấu hiệu ấy đang biểu lộ qua đó. |
8. Another way of conceiving the difference between aspiration and accomplishment is by viewing the manner in which Jupiter and Saturn affect many of those who are spiritually inclined. Jupiter (like Sagittarius) inclines towards vision rather than labor (the speciality of Saturn — ruler of Capricorn). | 8. Một cách khác để quan niệm sự khác biệt giữa khát vọng và thành tựu là xem xét cách Sao Mộc và Sao Thổ tác động đến nhiều người có khuynh hướng tinh thần. Sao Mộc (giống Nhân Mã) thiên về tầm nhìn hơn là lao động (sở trường của Sao Thổ — chủ tinh của Ma Kết). |
3. The glamour of self-assurance or of what might be called the astral principles of the disciple. This is the belief, [27] in plain language, that the disciple regards that his point of view is entirely right. This again feeds pride and tends to make the disciple believe himself to be an authority and infallible. It is the background of the theologian. | 3. Ảo cảm về sự tự tin tuyệt đối hay về điều có thể gọi là những nguyên tắc cảm dục của đệ tử. Nói một cách giản dị, đây là niềm tin [27] của đệ tử rằng quan điểm của mình hoàn toàn đúng. Điều này lại nuôi dưỡng sự kiêu hãnh và có xu hướng khiến đệ tử tin rằng mình là người có thẩm quyền và không thể sai lầm. Đó là nền tảng tâm lý của nhà thần học. |
1. It is interesting that self-assurance is connected here with the astral principle. If the mental principle were more involved, the factor of doubt (in this case a healthy doubt) might enter in. | 1. Điều thú vị là ở đây sự tự tin chắc chắn lại gắn với nguyên khí cảm dục. Nếu nguyên khí trí tuệ tham gia nhiều hơn, yếu tố hoài nghi (trong trường hợp này là sự hoài nghi lành mạnh) có thể xuất hiện. |
2. This attitude is a self-protection against the disturbance of uncertainty. It is an emotional demand for certainty and thus a refusal to consider evidence against one’s cherished (and, apparently, certain) point of view. | 2. Thái độ này là một cách tự bảo vệ trước sự xáo trộn do tình trạng không chắc chắn gây ra. Đó là một đòi hỏi về mặt cảm xúc muốn có sự chắc chắn, và do đó là sự từ chối xem xét bằng chứng chống lại quan điểm mà mình trân quý (và dường như chắc chắn). |
3. Integration (even a false integration) unites energies (rather than dividing them), and it becomes possible for newly integrated individuals to become emphatic about their position. | 3. Sự tích hợp (ngay cả một sự tích hợp sai lệch) hợp nhất các năng lượng (thay vì chia rẽ chúng), và những cá nhân vừa đạt được sự tích hợp có thể trở nên quả quyết về lập trường của mình. |
4. Again, there is a distortion — an overvaluation of a particular point of view at the expense of other points of view of equal or greater value. When under the spell of a distorted perspective there is no way for correct thought and action to result, and thus the pattern of action emerging in the disciple’s life will be distorted and, thus, in dissonance with the Divine Plan. | 4. Một lần nữa, có sự méo mó — đánh giá quá cao một quan điểm cụ thể, làm tổn hại đến những quan điểm khác có giá trị ngang bằng hoặc lớn hơn. Khi chịu sự mê hoặc của một góc nhìn méo mó, không thể nảy sinh tư tưởng và hành động đúng đắn; do đó, mô hình hành động xuất hiện trong đời sống của người đệ tử sẽ méo mó và vì vậy bất hòa với Thiên Cơ. |
5. What we have is a self-assuring fixation upon a certain point of view and a rigidity which makes it impossible to change that point of view. Truth is sacrificed for emotional comfort. | 5. Điều chúng ta thấy là sự cố chấp vào một quan điểm nhất định nhằm tự trấn an, cùng một sự cứng nhắc khiến người ta không thể thay đổi quan điểm ấy. Chân lý bị hy sinh để đổi lấy sự dễ chịu về cảm xúc. |
6. Wherever there is glamor, we have to find the seed of fear. | 6. Bất cứ nơi đâu có ảo cảm, chúng ta đều phải tìm ra hạt giống của nỗi sợ. |
4. The glamour of duty. This leads to an over-emphasis of the sense of responsibility, producing lost motion and the emphasis of the non-essential. | 4. Ảo cảm về bổn phận. Điều này dẫn đến việc quá nhấn mạnh ý thức trách nhiệm, tạo ra sự vận động vô ích và sự chú trọng vào những điều không thiết yếu. |
1. A fixed thoughtform of what are regarded as duties runs the life of the disciple, and to it, he/she conforms. | 1. Một hình tư tưởng cố định về những gì được xem là bổn phận điều khiển đời sống người đệ tử, và người đệ tử tuân theo nó. |
2. The disciple becomes a ‘bowed’ creature, bent by the fulfillment of that which is imagined as necessary, but which is often non-essential given the real needs to which the disciple is obliged to respond. | 2. Người đệ tử trở thành một sinh linh ‘còng lưng’, oằn xuống vì thực hiện những điều mình tưởng là cần thiết, nhưng thường lại không thiết yếu khi xét đến những nhu cầu thực sự mà người đệ tử có bổn phận đáp ứng. |
3. Rather than attune intuitively with presented need, the thoughtform presenting a pattern of imagined duties commands the disciple, and he/she responds to it rather than to a living reality which would call for adaptability. | 3. Thay vì hòa nhịp bằng trực giác với nhu cầu đang hiện ra, người đệ tử chịu sự sai khiến của hình tư tưởng đưa ra một mô hình gồm những bổn phận tưởng tượng, và đáp ứng nó thay vì đáp ứng một thực tại sống động vốn đòi hỏi khả năng thích ứng. |
4. Under the pressure of imagined duty, the personality becomes a poor, dead and rigid thing, working without inspiration as it repetitively “goes through the motions” which are accepted as aligned with that which is necessary and required. | 4. Dưới áp lực của bổn phận tưởng tượng, phàm ngã trở thành một thứ nghèo nàn, chết cứng và cứng nhắc, làm việc không có cảm hứng khi cứ lặp đi lặp lại việc “làm cho đủ lệ” mà người ta chấp nhận là chỉnh hợp với những gì cần thiết và được đòi hỏi. |
5. The disciple loses his/her center and becomes increasingly conditioned by external factors. | 5. Người đệ tử đánh mất trung tâm của mình và ngày càng chịu ảnh hưởng của những yếu tố bên ngoài. |
6. Joy leaves the life and the sense of being a ‘living origin’ diminishes. | 6. Sự hoan hỉ rời khỏi đời sống, và cảm giác mình là một ‘nguồn khởi sinh sống động’ suy giảm. |
7. Sometimes an ambition to rise makes one overly dutiful. “If I fulfill my duty, I shall rise”. Sometimes, it might be a sense of essential unworthiness; “If I fulfill my duty, at least I will be worthy”. | 7. Đôi khi tham vọng vươn lên khiến người ta quá câu nệ bổn phận. “Nếu tôi làm tròn bổn phận, tôi sẽ vươn lên”. Đôi khi, đó có thể là cảm giác bản thân vốn không xứng đáng; “Nếu tôi làm tròn bổn phận, ít nhất tôi sẽ xứng đáng”. |
8. The result of all this is that the disciple is controlled from ‘without’ rather than Self-controlled from ‘within’. | 8. Kết quả của tất cả những điều này là người đệ tử chịu sự kiểm soát từ ‘bên ngoài’ thay vì chịu sự kiểm soát của Chân Ngã từ ‘bên trong’. |
9. Could we say that this glamor is rooted in a ‘fear of self-determination’? | 9. Liệu chúng ta có thể nói rằng ảo cảm này bắt nguồn từ ‘nỗi sợ tự quyết’? |
5. The glamour of environing conditions, leading frequently to a sense of frustration, or of futility or of importance. | 5. Ảo cảm về những điều kiện xung quanh, thường dẫn đến cảm giác thất vọng, vô ích hoặc tự thấy mình quan trọng. |
1. The Sun (representing S/selfhood) is positive to environing conditions. Saturn (defining the outer limits of the solar system as it was generally conceived during the pre-scientific era) represents conditions, and all that contains the being within a ring-pass-not. | 1. Mặt Trời (đại diện cho Chân ngã/phàm ngã) giữ vai trò chủ động đối với những điều kiện xung quanh. Sao Thổ (xác định giới hạn bên ngoài của hệ mặt trời theo quan niệm phổ biến trong thời kỳ tiền khoa học) đại diện cho các điều kiện, và tất cả những gì giữ sinh linh trong một vòng-giới-hạn. |
2. If one is overly concerned with conditions, one forgets the originative Self which is meant to be the creator and controller of conditions. | 2. Nếu quá bận tâm đến các điều kiện, người ta quên đi Chân Ngã khởi tạo, vốn có vai trò sáng tạo và kiểm soát các điều kiện. |
3. As disciples, we are to work as correctly as we can without attachment to results. The realm of results is the realm of environing conditions. | 3. Là đệ tử, chúng ta phải làm việc đúng đắn hết khả năng của mình mà không chấp trước vào kết quả. Lĩnh vực của kết quả là lĩnh vực của những điều kiện xung quanh. |
4. According to the quality of the results upon which we become fixated, the condition of our astral body is depressed or rises inordinately. We allow the ‘condition of conditions’ to determine our psychological state. | 4. Tùy theo phẩm tính của những kết quả mà chúng ta bám chặt vào, trạng thái thể cảm dục của chúng ta trở nên suy sụp hoặc hưng phấn quá mức. Chúng ta để cho ‘tình trạng của các điều kiện’ quyết định trạng thái tâm lý của mình. |
5. Gradually we become more and more concerned with externals losing our Self as center — in fact, losing ourselves as soul. | 5. Dần dần, chúng ta ngày càng bận tâm đến những điều bên ngoài, đánh mất Chân Ngã vốn là trung tâm — thực ra là đánh mất chính mình với tư cách linh hồn. |
6. Anything that inclines the disciple to become outwardly-determined rather that inwardly-determined is a glamor. | 6. Bất cứ điều gì khiến người đệ tử có khuynh hướng chịu sự định đoạt từ bên ngoài thay vì được định đoạt từ bên trong đều là một ảo cảm. |
7. For every glamor here listed there could be created what we might call a ‘mantram of release’ — a mantram defining a necessary corrective attitude. | 7. Với mỗi ảo cảm được liệt kê ở đây, có thể tạo ra điều chúng ta gọi là một ‘mantram giải thoát’ — một mantram xác định thái độ điều chỉnh cần thiết. |
6. The glamour of the mind and of its efficiency and its capacity to deal with any or every problem. This leads inevitably to isolation and loneliness. | 6. Ảo cảm về thể trí, về hiệu quả và khả năng xử lý bất kỳ hay mọi vấn đề của nó. Điều này tất yếu dẫn đến sự cô lập và cô đơn. |
1. This is a third ray glamor. At least many third ray types are given to the “glamor of efficiency”. One could see certain first and seventh ray types falling into this problem as well. | 1. Đây là một ảo cảm của cung ba. Ít nhất, nhiều người cung ba dễ mắc “ảo cảm của hiệu quả”. Cũng có thể thấy một số người cung một và cung bảy rơi vào vấn đề này. |
2. Many lives of inadequacy finally give place to a life or lives when the disciple thinks that he/she “can handle it”. | 2. Nhiều kiếp sống thiếu năng lực cuối cùng nhường chỗ cho một hay nhiều kiếp sống mà người đệ tử nghĩ rằng mình “có thể xử lý được”. |
3. This glamor, however, exemplifies a narrow attitude. There might be other and better ways to handle a problem, but the disciple wants to take everything into his/her own hands (and as a result, compensatorily, feel like “more”). | 3. Tuy nhiên, ảo cảm này biểu hiện một thái độ hạn hẹp. Có thể có những cách khác tốt hơn để xử lý một vấn đề, nhưng người đệ tử muốn tự mình nắm lấy mọi việc (và kết quả là, như một sự bù đắp, cảm thấy mình “lớn lao hơn”). |
4. It is good to feel adequate to many challenges and to have the power to adapt intelligently and efficiently to many circumstances, but the glamor enters when one feels that he or she must do everything (and, perhaps, that others are far less capable of “doing it right”). | 4. Cảm thấy mình đủ năng lực đối phó với nhiều thử thách và có khả năng thích ứng thông minh, hiệu quả với nhiều hoàn cảnh là điều tốt, nhưng ảo cảm xuất hiện khi người ta cảm thấy mình phải làm tất cả mọi việc (và có lẽ cho rằng những người khác kém khả năng hơn mình rất nhiều trong việc “làm cho đúng”). |
5. One can see how this glamor could feed pride. | 5. Có thể thấy ảo cảm này nuôi dưỡng lòng kiêu hãnh như thế nào. |
6. Meanwhile other potential cooperators are shut out of the process. Finding no way to work with the individual preoccupied with this glamor, they go elsewhere and do other things. The glamored disciple, obsessed with his/her overbearing sense of adequacy to all eventualities, is left alone, later to discover that there are many things which could be “handled” or “dealt with” better by others. | 6. Trong khi đó, những người khác có khả năng cộng tác lại bị gạt khỏi tiến trình. Không tìm được cách làm việc với cá nhân đang mải mê trong ảo cảm này, họ đi nơi khác và làm những việc khác. Người đệ tử mắc ảo cảm, bị ám ảnh bởi cảm giác tự phụ rằng mình đủ năng lực ứng phó với mọi tình huống, bị bỏ lại một mình, để rồi sau đó khám phá ra rằng có nhiều việc mà người khác có thể “đảm đương” hoặc “xử lý” tốt hơn. |
7. Under this glamor, true group work cannot be achieved. Members of a group cannot work together harmoniously and constructively. There is no true esoteric “division of labor” (because the glamored disciple has taken all labor to himself/herself) — or advises others exactly, in the smallest detail, how things are to be done. | 7. Dưới ảnh hưởng của ảo cảm này, không thể thực hiện công việc nhóm đích thực. Các thành viên trong nhóm không thể cùng nhau làm việc hài hòa và có tính xây dựng. Không có sự “phân công lao động” đích thực theo nghĩa huyền bí (vì người đệ tử mắc ảo cảm đã ôm lấy mọi công việc) — hoặc chỉ dẫn cho người khác chính xác đến từng chi tiết nhỏ nhất về cách phải làm mọi việc. |
7. The glamour of devotion, leading to an undue stimulation of the astral body. The man or woman thus glamoured sees only one idea, one person, one authority and one aspect of truth. It feeds fanaticism and spiritual pride. | 7. Ảo cảm Sùng tín, dẫn đến sự kích thích quá mức thể cảm dục. Người nam hay nữ bị ảo cảm như thế chỉ thấy một ý tưởng, một người, một nguồn thẩm quyền và một phương diện của chân lý. Điều này nuôi dưỡng sự cuồng tín và lòng kiêu hãnh tinh thần. |
1. Focus intensifies energy. If any field within the energy system is fed too much energy at the expense of the other fields within the same system, imbalance results accompanied by a growing inharmony between the fields. Finally, the trend ends in a disintegration of relationship between the previously related fields. | 1. Sự tập trung làm năng lượng tăng cường. Nếu bất kỳ trường nào trong hệ thống năng lượng nhận quá nhiều năng lượng, làm thiệt hại đến các trường khác trong cùng hệ thống, thì sự mất cân bằng sẽ xuất hiện, kèm theo tình trạng bất hài hòa ngày càng tăng giữa các trường. Cuối cùng, khuynh hướng ấy dẫn đến sự tan rã của mối quan hệ giữa những trường trước đó từng liên hệ với nhau. |
2. The undue intensification of the astral body caused by the narrow focus of devotion creates a distorted picture of life. The object of devotion looms too large until it covers the entire field of vision and all other possibilities and objectives are shut out. | 2. Sự tập trung hạn hẹp của lòng sùng tín làm thể cảm dục tăng cường quá mức, tạo nên một bức tranh méo mó về đời sống. Đối tượng sùng tín trở nên quá lớn, cho đến khi che phủ toàn bộ trường nhìn, và mọi khả năng cùng mục tiêu khác đều bị gạt ra ngoài. |
3. It may create a comforting feeling of security to see and value only one, but it prevents a wise participation in all the variety of life. One becomes separated from natural and necessary life-processes by the narrow focus of devotion. One “does not care” about anything else, and begins to neglect other equally necessary “people, places and things”. | 3. Việc nhìn thấy và coi trọng chỉ một điều duy nhất, có thể tạo ra cảm giác an toàn dễ chịu, nhưng lại ngăn cản sự tham gia sáng suốt vào toàn bộ tính đa dạng của đời sống. Sự tập trung hạn hẹp của lòng sùng tín tách người ta khỏi các tiến trình sống tự nhiên và cần thiết. Người ta “không quan tâm” đến bất cứ điều gì khác, và bắt đầu bỏ bê những “con người, nơi chốn và sự vật” khác cũng cần thiết không kém. |
4. “Everything else” is devalued and the object of devotion is overvalued. The energy concentrated in devotion is intense and seems exiting, living and thus self-justifying. The object of devotion is exalted in an unwarranted manner and the disciple (by association with this exalted object) begins to feel exalted himself/herself. Thus, pride develops and a further separation from other people, place and things (the real value of which is progressively minimized by the narrowly devoted disciple). | 4. “Mọi thứ khác” đều bị hạ thấp giá trị, còn đối tượng sùng tín thì được đánh giá quá cao. Năng lượng tập trung trong lòng sùng tín rất mãnh liệt và có vẻ gây phấn khích, sống động, do đó dường như tự chứng minh cho tính chính đáng của mình. Đối tượng sùng tín được tôn cao một cách thiếu cơ sở, và người đệ tử (qua mối liên hệ với đối tượng được tôn cao này) bắt đầu cảm thấy bản thân cũng cao quý. Vì vậy, lòng kiêu hãnh phát triển, cùng với sự tách biệt sâu hơn khỏi những con người, nơi chốn và sự vật khác (mà người đệ tử sùng tín hạn hẹp ngày càng xem nhẹ giá trị thực sự của chúng). |
5. The eventual result of all this is a separative and destructive attitude which works against harmonious and constructive relationship within the broader context. | 5. Kết quả cuối cùng của tất cả những điều này là một thái độ chia rẽ và phá hoại, chống lại mối quan hệ hài hòa và có tính xây dựng trong bối cảnh rộng lớn hơn. |
6. The basic fear is of “standing alone” and of independent existence. | 6. Nỗi sợ căn bản là sợ “đứng một mình” và sợ sự hiện tồn độc lập. |
7. There is a correlative fear which seeks to avoid the demanding process of developing one’s own capacities to handle variety and complexity. Secretly, the overly devoted one hopes to avoid responsibility. | 7. Có một nỗi sợ tương ứng khiến người ta tìm cách tránh né tiến trình đòi hỏi nhiều nỗ lực để phát triển năng lực của chính mình nhằm xử lý sự đa dạng và phức tạp. Trong thâm tâm, người quá sùng tín hy vọng tránh được trách nhiệm. |
8. The glamour of desire with its reflex action upon the physical body. This leads to a constant condition of fighting and of turmoil. It negates all peace and fruitful work and must some day be brought to an end. | 8. Ảo cảm về dục vọng cùng tác động phản hồi của nó lên thể xác. Điều này dẫn đến trạng thái đấu tranh và rối loạn liên tục. Nó phủ nhận mọi sự bình an và công việc có kết quả, và một ngày nào đó phải chấm dứt. |
1. Desire is a driving force. It is associated much with the planet Mars (thus producing fighting and turmoil). | 1. Dục vọng là một mãnh lực thúc đẩy. Nó liên hệ mật thiết với hành tinh Sao Hỏa (do đó tạo ra đấu tranh và xáo trộn). |
2. Intense desires do have an immediate effect upon the physical body. They translate into action almost instantaneously. Both the physical body and the astral body, especially, are generically ruled by Mars. The lower mind and the personality are also associated with this planet. | 2. Những dục vọng mãnh liệt quả thực có tác động tức thời lên thể xác. Chúng chuyển thành hành động gần như ngay lập tức. Nói chung, Sao Hỏa cai quản cả thể xác lẫn thể cảm dục, đặc biệt là thể cảm dục. Hạ trí và phàm ngã cũng liên hệ với hành tinh này. |
3. This instantaneous translation of desire into action produces maya (what DK calls “that unthinking emotional mess”. | 3. Sự chuyển tức thời dục vọng thành hành động này tạo ra ảo lực (điều Chân sư DK gọi là “mớ cảm xúc hỗn độn, không suy nghĩ ấy”. |
4. When driven by desires, one fights for the fulfillment of those desires. In such turmoil it is impossible to see, and where one cannot see, one cannot think, act, or work correctly. | 4. Khi dục vọng thúc đẩy, người ta đấu tranh để thỏa mãn những dục vọng ấy. Trong sự xáo trộn như thế, không thể thấy, và khi không thể thấy, người ta không thể suy nghĩ, hành động hay làm việc đúng đắn. |
5. Desire (ever insistent) does not respect the wise and necessary rhythms of life. These rhythms are needed if plans are to come to fruition. Otherwise all constructive process will be disrupted (Mars again). | 5. Dục vọng (luôn đòi hỏi dai dẳng) không tôn trọng những nhịp điệu sáng suốt và cần thiết của đời sống. Những nhịp điệu này là cần thiết để các kế hoạch có thể thành tựu. Nếu không, mọi tiến trình xây dựng đều sẽ bị phá vỡ (lại là Sao Hỏa). |
6. A disciple is one who is assisting in the manifestation of the Divine Plan. A disciple cannot constantly be disrupting his/her own work and that of others. | 6. Đệ tử là người đang trợ giúp sự biểu hiện của Thiên Cơ. Người đệ tử không thể liên tục phá vỡ công việc của chính mình và của người khác. |
7. What is needed here is distance from one’s desires, and the choosing of precisely which desires one will entertain and allow as motivating forces. The qualities of the planet Saturn (discrimination and choice) must be applied. | 7. Điều cần thiết ở đây là giữ khoảng cách với những dục vọng của mình, và lựa chọn chính xác những dục vọng nào mình sẽ nuôi dưỡng và cho phép làm các mãnh lực thúc đẩy. Cần vận dụng những phẩm tính của hành tinh Sao Thổ (sự phân biện và lựa chọn). |
9. The glamour of personal ambition. | 9. Ảo cảm về tham vọng cá nhân. |
1. This glamor is based upon a false sense of identity. One sees only the “little self” and does not evaluate the real relation of that self to the larger context. | 1. Ảo cảm này dựa trên một cảm nhận sai lầm về bản sắc. Người ta chỉ thấy “cái ngã nhỏ bé” và không đánh giá mối quan hệ thực sự của cái ngã ấy với bối cảnh rộng lớn hơn. |
2. The objectives pursued will tend to exaggerate the importance of the little self in relation to its environing context. This self will attempt to become ‘bigger’ than it really is. The welfare of the whole will thus be sacrificed for the welfare of the part. | 2. Những mục tiêu được theo đuổi sẽ có khuynh hướng phóng đại tầm quan trọng của cái ngã nhỏ bé so với bối cảnh xung quanh nó. Cái ngã này sẽ cố trở nên ‘lớn hơn’ so với thực chất của nó. Do đó, phúc lợi của toàn thể sẽ bị hy sinh cho phúc lợi của bộ phận. |
3. This attitude obviously causes delay in the progress of the whole. | 3. Rõ ràng, thái độ này làm chậm sự tiến bộ của toàn thể. |
4. One can, however, be constructively ‘ambitious’ for the welfare of the whole, but a decentralized attitude with respect to one’s own personality is required. | 4. Tuy nhiên, người ta có thể có ‘tham vọng’ mang tính xây dựng vì phúc lợi của toàn thể, nhưng điều đó đòi hỏi một thái độ phi tập trung vào bản thân đối với phàm ngã của chính mình. |
There are many other glamours, both individual and world-wide, but these will serve to indicate a general tendency. | Còn nhiều ảo cảm khác, cả ở cấp độ cá nhân lẫn trên toàn thế giới, nhưng những điều này đủ để chỉ ra một khuynh hướng chung. |
1. What is the tendency? Is there a common denominator at the root of all these glamors? | 1. Khuynh hướng ấy là gì? Có một mẫu số chung nằm ở gốc rễ của tất cả những ảo cảm này không? |
2. Might we say that false self-estimation is one of the major roots? Glamors are problems which exist as the individual attempts to see himself/herself within an environing context. Somehow, in the glamor process, there is always a lack of co-measurement. One fails to see the individual and the enfolding context in the proper proportion. | 2. Liệu chúng ta có thể nói rằng sự tự đánh giá sai lầm là một trong những gốc rễ chính? Ảo cảm là những vấn đề tồn tại khi cá nhân cố nhìn nhận bản thân trong một bối cảnh xung quanh. Bằng cách nào đó, trong tiến trình ảo cảm luôn có sự thiếu đánh giá đúng tương quan. Người ta không nhìn thấy cá nhân và bối cảnh bao quanh trong tỉ lệ thích đáng. |
3. From this distorted estimation, wrong attitudes and wrong actions develop. If we could “observe reality with clarity” the glamors would cease. But only intuition can provide this kind of reliably clear vision. Intuition will only operate when we have freed ourselves from low desire (a desire which distorts perception). | 3. Từ sự đánh giá méo mó này, những thái độ sai lầm và hành động sai lầm phát triển. Nếu chúng ta có thể “quan sát thực tại một cách rõ ràng” thì các ảo cảm sẽ chấm dứt. Nhưng chỉ trực giác mới có thể đem lại tầm nhìn rõ ràng đáng tin cậy như thế. Trực giác chỉ hoạt động khi chúng ta đã giải thoát mình khỏi dục vọng thấp hèn (một dục vọng làm méo mó tri giác). |
4. Desire, itself, is based upon inadequacy. The tiny unit (instinctually or, later, consciously) knows it ‘needs’ something ‘else’ — something other than itself. It is born that way. Desire is natural and unavoidable. Basically and metaphysically, desire arises because the part is apparently not the whole and needs to re-become the whole. There is a primal fear associated with not being the whole. Desire can only end when the lasting perception of oneness is achieved | 4. Chính dục vọng dựa trên sự thiếu hụt. Đơn vị nhỏ bé biết (theo bản năng hoặc về sau một cách có ý thức) rằng nó ‘cần’ một điều gì ‘khác’ — một điều gì khác với chính nó. Nó sinh ra đã như vậy. Dục vọng là tự nhiên và không thể tránh khỏi. Về căn bản và xét theo siêu hình học, dục vọng nảy sinh vì bộ phận dường như không phải là toàn thể và cần trở lại thành toàn thể. Có một nỗi sợ nguyên sơ gắn với việc không phải là toàn thể. Dục vọng chỉ có thể chấm dứt khi đạt được sự tri giác bền vững về tính nhất thể |
5. The more one refines one’s desires, the more intuition can enter. The more intuition enters, the more one can refine one’s desires. Gradually, when desire no longer has a strangling hold upon the field of consciousness, the intuition of oneness can plant itself in that field. This signals the beginning of the end of desire (as we know it). (Of course, Desire, is a cosmic principle, so even when overcome in the human sphere, must be faced on ever higher turns of the spiral. But the process will be different than that confronting the human being. ) | 5. Càng tinh luyện dục vọng của mình, trực giác càng có thể đi vào. Trực giác càng đi vào, người ta càng có thể tinh luyện dục vọng của mình. Dần dần, khi dục vọng không còn siết chặt trường tâm thức, trực giác về tính nhất thể có thể bén rễ trong trường ấy. Điều này báo hiệu sự khởi đầu của hồi kết đối với dục vọng (theo cách chúng ta biết về nó). (Dĩ nhiên, Dục vọng là một nguyên khí vũ trụ, nên ngay cả khi đã được khắc phục trong phạm vi nhân loại, người ta vẫn phải đối diện với nó ở những vòng xoắn ốc ngày càng cao hơn. Nhưng tiến trình ấy sẽ khác với tiến trình mà con người đang đối diện. ) |
Those who are in preparation for initiation must learn to work consciously with glamour; they must work effectively with the presented truth, ignoring any pain or suffering or mental questioning which is incident to personality rebellion and limitation; they must cultivate that “divine indifference” to personal considerations which is the outstanding hallmark of the trained initiate. | Những người đang chuẩn bị điểm đạo phải học cách làm việc hữu thức với ảo cảm; họ phải làm việc hiệu quả với chân lý được trình bày, không để tâm đến bất kỳ đau đớn, khổ sở hay sự chất vấn nào của thể trí đi kèm với sự nổi loạn và hạn chế của phàm ngã; họ phải vun bồi sự “Điềm nhiên thiêng liêng” đối với những cân nhắc cá nhân, vốn là dấu hiệu nổi bật của điểm đạo đồ đã qua huấn luyện. |
1. We see that Master DK offers these insights into glamor because of their importance to those who are treading the Path of Initiation (and all true disciples are treading that Path, even if in its earlier stages). | 1. Chúng ta thấy Chân sư DK đưa ra những sự thấu hiểu sâu sắc này về ảo cảm vì chúng quan trọng đối với những ai đang bước trên Con Đường Điểm Đạo (và mọi đệ tử chân chính đều đang bước trên Con Đường ấy, dù chỉ mới ở những giai đoạn đầu). |
2. Glamor, essentially, is a lie. The life of the initiate is inherently truthful. The presented truth reveals the lies in which the glamorized person habitually lives. | 2. Về bản chất, ảo cảm là một sự dối trá. Đời sống của điểm đạo đồ vốn chân thật. Chân lý được trình bày phơi bày những điều dối trá mà người chịu ảo cảm thường sống trong đó. |
3. The personality protects its prerogative and comforts through lies or distortions of the truth. Thus, the personality will rebel when its protective glamors are threatened. | 3. Phàm ngã bảo vệ đặc quyền và những tiện nghi của mình bằng sự dối trá hoặc sự xuyên tạc chân lý. Do đó, phàm ngã sẽ phản kháng khi những ảo cảm che chở cho nó bị đe dọa. |
4. When the truth is presented, and when the disciple makes the effort to act upon it, there is will pain, suffering and mental questioning caused by personality rebellion. This must be lived through. If one cares enough about realities, one can treat such suffering as secondary and incidental to the major issues. | 4. Khi chân lý được trình bày và đệ tử nỗ lực hành động theo chân lý ấy, sẽ có đau đớn, khổ sở và những câu hỏi trong thể trí do sự phản kháng của phàm ngã gây ra. Người ta phải sống qua những điều này. Nếu đủ quan tâm đến những thực tại, người ta có thể xem nỗi khổ ấy là thứ yếu và chỉ là điều đi kèm những vấn đề chính yếu. |
5. Another potent sentence is offered’: “ ‘divine indifference’ to personal considerations…is the outstanding hallmark of the trained initiate”. Note, the DK did not say “the disciple”, the “trained disciple” or “the initiate”. He said the “trained initiate”; so we see that the achievement of this attitude is a fairly lengthy process. | 5. Một câu đầy sức mạnh khác được đưa ra: “ ‘Điềm nhiên thiêng liêng’ trước những mối quan tâm cá nhân…là dấu ấn nổi bật của điểm đạo đồ đã qua huấn luyện”. Hãy lưu ý, Chân sư DK không nói “đệ tử”, “đệ tử đã qua huấn luyện” hay “điểm đạo đồ”. Ngài nói “đã qua huấn luyện là điểm đạo đồ ấy”; vì vậy, chúng ta thấy việc đạt được thái độ này là một tiến trình khá lâu dài. |
6. When troubles and sorrows beset the disciple, a simple review of the pages found in this introduction to Discipleship in the New Age should restore a sense of proportion. | 6. Khi những khó khăn và buồn phiền bủa vây đệ tử, chỉ cần đọc lại những trang trong phần dẫn nhập này của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới cũng đủ giúp khôi phục Ý thức về tỉ lệ. |
I shall not deal further with the subject of glamour as it affects or might affect this particular group of disciples in my Ashram. The times are urgent and the need of humanity so great that there is no “space in consciousness” (to use an ancient occult phrase) for the reiteration of the known ideal, or to tell you again what needs to be done. [28] | Tôi sẽ không bàn thêm về chủ đề ảo cảm trong cách nó tác động hoặc có thể tác động đến nhóm đệ tử cụ thể này trong ashram của Tôi. Thời cuộc cấp bách và nhu cầu của nhân loại lớn đến mức không còn “không gian trong tâm thức” (dùng một cụm từ huyền bí cổ xưa) để nhắc lại lý tưởng đã biết, hay nói lại với các bạn những gì cần phải làm. |
1. The Master works under the Law of Economy. He seeks not to waste energy. | 1. Chân sư làm việc theo Định luật Tiết Kiệm. Ngài tìm cách tránh lãng phí năng lượng. |
2. He expects that His chelas are mature men and women who are responsible enough to undertake the changes in their nature which are seen as necessary. | 2. Ngài kỳ vọng các đệ tử của Ngài là những người nam và nữ trưởng thành, có đủ tinh thần trách nhiệm để thực hiện những thay đổi trong bản chất của mình mà họ nhận thấy là cần thiết. |
3. The term “space in consciousness” is worthy pondering. It correlates to the concept of “the contents of consciousness”. One has to choose which “contents of consciousness” one will entertain. Not all “contents” are in the ‘front room’; many are stored or hidden away. The disciple is to be engaged with ‘vital contents’ and not with secondary contents. Otherwise the non-essential will clutter the ‘space’ and there will be no correct performance. | 3. Cụm từ “không gian trong tâm thức” đáng để suy ngẫm. Nó có mối tương quan với khái niệm “những nội dung của tâm thức”. Người ta phải lựa chọn những “nội dung của tâm thức” mà mình sẽ lưu tâm đến. Không phải mọi “nội dung” đều nằm ở ‘gian phòng phía trước’; nhiều nội dung được cất giữ hoặc giấu kín. Đệ tử cần chú tâm vào ‘những nội dung thiết yếu’ chứ không phải những nội dung thứ yếu. Nếu không, những điều không thiết yếu sẽ làm chật ‘không gian’ và công việc sẽ không được thực hiện đúng đắn. |
4. As a sidelight, it is interesting to ponder whether “space” exists except “in consciousness”. | 4. Xét thêm một khía cạnh liên quan, thật thú vị khi suy ngẫm liệu “không gian” có tồn tại ở đâu ngoài “trong tâm thức”. |
I would have you realise that there is no haste in the work which a Master carries on in connection with His disciples. There is no hurry in the work which I am proposing that we do together, but neither should there be any waste time or lost motion. It will become apparent to you that much that I seek to accomplish is related to thought control and to the activity of the creative imagination. The Hierarchy produces its effects upon the plane of appearances through the potency of its unified, conscious thinking. The establishing of such a condition of unified thinking within the New Group of World Servers is part of my major effort at this time; we can achieve little until that has been brought about. | [28] Tôi mong các bạn nhận ra rằng công việc một Chân sư tiến hành với các đệ tử của Ngài không có sự vội vã. Công việc mà Tôi đề nghị chúng ta cùng làm không có gì phải hấp tấp, nhưng cũng không được lãng phí thời gian hay có sự vận động vô ích. Các bạn sẽ thấy rõ rằng phần lớn những gì Tôi tìm cách hoàn thành đều liên quan đến việc kiểm soát tư tưởng và hoạt động của sự tưởng tượng sáng tạo. Thánh đoàn tạo ra những tác động trên cõi sắc tướng thông qua uy lực của tư duy hữu thức và hợp nhất của mình. Thiết lập trạng thái tư duy hợp nhất như thế trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là một phần trong nỗ lực chủ yếu của Tôi lúc này; chúng ta chỉ có thể đạt được rất ít cho đến khi thực hiện được điều đó. |
1. “There is no rush, no hurry. And yet there is no time to lose” (Rules of the Road III — DINA I 584). | 1. “Không có sự vội vã, không có sự hấp tấp. Tuy nhiên, cũng không có thời gian để lãng phí” (Các Quy Luật của Đường Đạo III — DINA I 584). |
2. The Tibetan is aware that throughout these instructions He has created a sense of urgency. He seeks, however, to offset a customary human response to urgency — a mindless rushing about. His great concern is that good work in line with the Plan shall be done. | 2. Chân sư Tây Tạng biết rằng xuyên suốt những huấn thị này, Ngài đã tạo ra một ý thức về tính cấp bách. Tuy nhiên, Ngài tìm cách hóa giải một đáp ứng thường thấy của con người trước tính cấp bách — sự tất tả thiếu suy nghĩ. Mối quan tâm lớn của Ngài là phải thực hiện công việc tốt đẹp phù hợp với Thiên Cơ. |
3. It is not rapid action upon the physical plane (with the many possibilities for waste and accident that such action may entail) that is needed. Rapid thought is need, and wise, deliberate action. | 3. Điều cần thiết không phải là hành động nhanh chóng trên cõi hồng trần (với nhiều khả năng lãng phí và tai nạn mà hành động như thế có thể kéo theo). Điều cần thiết là tư duy nhanh nhạy cùng hành động sáng suốt, có cân nhắc. |
4. The Tibetan seeks to draw the chela’s attention away from physical plane effects, and center that attention upon dimensions which are causative to the physical plane — namely the realm of mind wherein thought control and creative imagination can be exercised. It is occult work He is proposing, and He reminds us of this. | 4. Chân sư Tây Tạng tìm cách chuyển sự chú ý của đệ tử khỏi những hiệu quả trên cõi hồng trần và tập trung sự chú ý ấy vào những chiều kích tạo nguyên nhân cho cõi hồng trần — tức lĩnh vực trí tuệ, nơi có thể thực hành việc kiểm soát tư tưởng và Sự tưởng tượng sáng tạo. Công việc Ngài đề nghị là công việc huyền bí, và Ngài nhắc chúng ta nhớ điều này. |
5. Thus, one of the Tibetan’s main objectives is emerging here: He is attempting to create a coherent thought field within the New Group of World Servers. | 5. Như vậy, một trong những mục tiêu chính của Chân sư Tây Tạng đang hiện rõ ở đây: Ngài đang cố gắng tạo ra một trường tư tưởng nhất quán trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. |
6. Probably we do not much think about how Hierarchy really works. It works through “unified conscious thinking”. The Tibetan is seeking to produce a reflection of such thinking in His groups. If He succeeds, it will mean that His groups will be capable of occultly effective group thinking. | 6. Có lẽ chúng ta ít suy nghĩ về cách Thánh đoàn thực sự hoạt động. Thánh đoàn hoạt động thông qua “tư duy hợp nhất, hữu thức”. Chân sư Tây Tạng đang tìm cách tạo ra sự phản ánh của lối tư duy ấy trong các nhóm của Ngài. Nếu Ngài thành công, điều đó có nghĩa là các nhóm của Ngài sẽ có khả năng tư duy nhóm có hiệu quả về mặt huyền bí. |
7. We should pause to realize how much of the work to be done originates on the plane of mind. A certain trust is required in the idea that the proper results are inevitable if the quality and potency of thought is sufficient. | 7. Chúng ta nên dừng lại để nhận ra rằng rất nhiều công việc cần làm bắt nguồn trên cõi trí. Cần có một mức độ tin tưởng nhất định vào ý tưởng rằng những kết quả đúng đắn tất yếu sẽ đến nếu phẩm tính và sức mạnh của tư tưởng đạt mức đầy đủ. |
So I summon you to a new phase of intense, inner living and dynamic thinking, but this time with a group objective — the objective of group fusion, group united thinking and group relation. . . . It is the inner life of reflection, the cultivated recognition of the soul and the reflective alignment of soul and personality which will determine the success of this work. | Vì vậy, Tôi kêu gọi các bạn bước vào một giai đoạn mới của đời sống nội tâm mãnh liệt và tư duy năng động, nhưng lần này với một mục tiêu nhóm—mục tiêu dung hợp nhóm, tư duy hợp nhất của nhóm và quan hệ nhóm…. Chính đời sống nội tâm suy ngẫm, sự nhận biết linh hồn được vun bồi và sự chỉnh hợp linh hồn với phàm ngã qua suy ngẫm sẽ quyết định thành công của công việc này. |
1. DK directs the group toward the necessity for intense action — but the intensity is to occur primarily upon the inner planes. | 1. Chân sư DK hướng nhóm đến sự cần thiết của hành động mãnh liệt — nhưng sự mãnh liệt ấy phải diễn ra chủ yếu trên các cõi bên trong ấy. |
2. He is seeking to promote intension rather than extension. Power lies at the center rather than the periphery. “Give me a point on which to stand and I will move the world” — so Archimedes, reputedly, said. | 2. Ngài tìm cách thúc đẩy sự tập trung vào chiều sâu hơn là sự mở rộng ra bên ngoài. Quyền năng nằm ở trung tâm hơn là ở ngoại vi. “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ lay chuyển thế giới” — tương truyền Archimedes đã nói như vậy. |
3. “Dynamic thinking” is both powerful and active. One will consecrate this thinking to the welfare of the group. The subjects of such dynamic thought will be “group fusion, group united thinking and group relation”. | 3. “Tư duy năng động” vừa mạnh mẽ vừa tích cực. Người ta sẽ thánh hiến tư duy này cho phúc lợi của nhóm. Những chủ đề của tư duy năng động ấy sẽ là “sự dung hợp nhóm, tư duy hợp nhất của nhóm và mối liên hệ nhóm”. |
4. Success in the work that DK proposes will come only with certain inner actions. What is the “reflective alignment of soul and personality”? It is an alignment, first of all, which is noticed by the disciple. The soul in incarnation (another name for the disciple) will take advantage of this alignment and act as an intermediary. | 4. Chỉ qua những hành động nội tâm nhất định, công việc mà Chân sư DK đề nghị mới có thể thành công. Thế nào là “sự chỉnh hợp giữa linh hồn với phàm ngã thông qua suy ngẫm”? Trước hết, đó là một sự chỉnh hợp mà đệ tử nhận biết được. Linh hồn đang nhập thể (một tên gọi khác của đệ tử) sẽ tận dụng sự chỉnh hợp này và hành động như một trung gian. |
5. Chelas are to be Self-directed and self-directing individuals. The soul as Solar Angel is the Guide, and by the “inner life of reflection” the behests of the Solar Angel are registered and understood. The disciple (as the soul-in-incarnation) then directs his/her life according to the direction offered by the Solar Angel. | 5. Các đệ tử phải là những cá nhân do Chân ngã dẫn dắt và có khả năng tự định hướng. Linh hồn, với tư cách Thái dương Thiên Thần, là Đấng Hướng Dẫn, và qua “đời sống suy ngẫm bên trong”, những chỉ thị của Thái dương Thiên Thần được ghi nhận và thấu hiểu. Bấy giờ, đệ tử (với tư cách linh hồn đang nhập thể) định hướng đời sống của mình theo sự hướng dẫn của Thái dương Thiên Thần. |
6. DK is calling His chelas to an inner life of soul culture. The cultivation of soul responsiveness is a Venusian process (considering Venus as the planet of the light and love of the Solar Angel). | 6. Chân sư DK đang kêu gọi các đệ tử của Ngài hướng đến một đời sống nội tâm vun bồi linh hồn. Việc vun bồi khả năng đáp ứng với linh hồn là một tiến trình thuộc Sao Kim (xét Sao Kim là hành tinh của ánh sáng và tình thương của Thái dương Thiên Thần). |
Third: There is another great mind power which has to be unfolded. It is one which characterises all liberated souls, no matter what their ray. This is the power to heal. This work is as yet in embryo and the group consciousness is as yet so young and unpolarised that it is needless for me to enlarge upon the possibilities ahead. When men can be trained to be unselfishly and divinely magnetic and radio-active, then there will be poured out upon the world certain divine forces which will vivify and reconstruct, which will eliminate the evil and heal the sick. Hitherto the attempts of men in the field of medicine, of healing and of the various forms of therapy have been the result of impulses to respond to these hovering forces, but that is all as yet. | Thứ ba: Còn một quyền năng lớn khác của thể trí cần được khai mở. Đó là quyền năng đặc trưng cho mọi linh hồn đã giải thoát, bất kể thuộc cung nào. Đây là quyền năng chữa lành. Công việc này vẫn còn ở dạng phôi thai, và tâm thức nhóm vẫn còn quá non trẻ, chưa phân cực, nên Tôi không cần nói thêm về những khả năng phía trước. Khi con người có thể được huấn luyện để trở nên có từ tính và có khả năng phát xạ một cách vô tư và thiêng liêng, thì những mãnh lực thiêng liêng nhất định sẽ tuôn đổ xuống thế gian để tiếp sinh khí và tái thiết, loại bỏ cái ác và chữa lành người bệnh. Cho đến nay, những nỗ lực của con người trong lĩnh vực y học, chữa lành và các hình thức trị liệu khác nhau đều là kết quả của những xung lực đáp ứng với các mãnh lực đang hiện diện phía trên này, nhưng đến nay cũng chỉ có vậy. |
1. We find DK outlining the agenda for the first three Seed Groups. The first group consists of the Telepathic Communicators; the second group is composed of Observers of Reality; the third group is focussed upon Esoteric Healing (on three levels). | 1. Chúng ta thấy Chân sư DK đang phác thảo chương trình hoạt động cho ba Nhóm hạt giống đầu tiên. Nhóm thứ nhất gồm Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm; nhóm thứ hai gồm những Người Quan Sát Thực Tại; nhóm thứ ba tập trung vào Trị Liệu Huyền Môn (trên ba cấp độ). |
2. Group consciousness can be “young” (or immature) and “unpolarised” (which means, not yet focussed upon and sustained at the necessary vibratory level). | 2. Tâm thức nhóm có thể “non trẻ” (hay chưa trưởng thành) và “chưa phân cực” (nghĩa là chưa tập trung vào và duy trì ở cấp độ rung động cần thiết). |
3. DK assures us that there are healing forces available for the elimination of all sickness and the reconstruction of the world. Accessing these forces, however, requires than those who would heal be unselfish, “divinely magnetic and radioactive”. Presumably the training offered will help in the achievement of these desirable objectives. | 3. Chân sư DK bảo đảm với chúng ta rằng có sẵn những mãnh lực chữa lành để loại bỏ mọi bệnh tật và tái thiết thế giới. Tuy nhiên, việc tiếp cận những mãnh lực này đòi hỏi những người muốn chữa lành phải vô tư, “có từ tính và khả năng phát xạ một cách thiêng liêng”. Có lẽ sự huấn luyện được đưa ra sẽ giúp đạt được những mục tiêu đáng mong muốn này. |
4. We being to understand that all that humanity has thus far achieved is but a prelude to an era of real wonder. Solutions to the direst human problems exist, but humanity must be in a proper condition to be the instrument for the application of such solutions. So much of Master DK’s work is the attempt to help His chelas become “fit”. This is called training. | 4. Chúng ta bắt đầu thấu hiểu rằng tất cả những gì nhân loại đã đạt được cho đến nay chỉ là khúc dạo đầu cho một kỷ nguyên kỳ diệu thực sự. Có những giải pháp cho các vấn đề nghiêm trọng nhất của con người, nhưng nhân loại phải ở trong trạng thái thích hợp để trở thành công cụ áp dụng những giải pháp ấy. Phần lớn công việc của Chân sư DK là nỗ lực giúp các đệ tử của Ngài trở nên “đủ khả năng”. Điều này được gọi là huấn luyện. |
These are the three major faculties which the spiritual man can unfold; other faculties and developing capacities are only expansions of these three — telepathic thought, receiving and transmitting; intuitive recognition of truth and its formulation into concepts by the mind, plus the later process of materialising that which has been intuited, the highest form of creative work; healing, with its understanding of energy and forces which will lead later to the rebirth of humanity. [29] | Đây là ba năng lực chủ yếu mà con người tinh thần có thể khai mở; những năng lực khác và các khả năng đang phát triển chỉ là sự mở rộng của ba năng lực này—tư tưởng viễn cảm, tiếp nhận và truyền đi; trực giác nhận biết chân lý và sự thể trí định hình chân lý ấy thành các khái niệm, cùng với tiến trình về sau là hiện hình điều đã được trực giác, hình thức cao nhất của công việc sáng tạo; chữa lành, với sự thấu hiểu năng lượng và các mãnh lực, về sau sẽ dẫn đến sự tái sinh của nhân loại. |
1. The first three Seed Groups are fundamental to the other seven. | 1. Ba Nhóm hạt giống đầu tiên là nền tảng cho bảy nhóm còn lại. |
2. Here, DK summarizes the essence of the three approaches. | 2. Ở đây, Chân sư DK tóm tắt tinh túy của ba cách tiếp cận. |
3. The second formulation is unusually descriptive: | 3. Cách diễn đạt thứ hai mô tả rõ ràng một cách khác thường: |
“intuitive recognition of truth and its formulation into concepts by the mind, plus the later process of materialising that which has been intuited, the highest form of creative work” | “sự nhận biết chân lý bằng trực giác và việc thể trí diễn đạt chân lý ấy thành các khái niệm, cộng với tiến trình về sau đưa những gì đã được trực giác nhận biết thành hiện thực vật chất, hình thức cao nhất của công việc sáng tạo” |
In this description He connects the recognition of truth with the materializing of that which has been recognized. One might question whether all these functions pertain to the second seed group or whether some of the later groups are involved in materializing the recognized truth. | Trong sự mô tả này, Ngài nối kết việc nhận biết chân lý với việc đưa những gì đã được nhận biết thành hiện thực vật chất. Người ta có thể đặt câu hỏi liệu tất cả những chức năng này đều thuộc về nhóm hạt giống thứ hai, hay một số nhóm về sau cũng tham gia vào việc đưa chân lý đã được nhận biết thành hiện thực vật chất. |
4. It is also important to realize the connection between esoteric healing and the “rebirth of humanity”. The right use of esoteric energies and forces will lead to an unparalleled liberation of vitality which can be focussed upon the creative emergence of the human soul. | 4. Cũng cần nhận ra mối liên hệ giữa Trị Liệu Huyền Môn và “sự tái sinh của nhân loại”. Việc sử dụng đúng đắn các năng lượng và mãnh lực huyền bí sẽ dẫn đến sự giải phóng sinh lực chưa từng có, và sinh lực ấy có thể được tập trung vào sự xuất hiện đầy sáng tạo của linh hồn nhân loại. |
5. Humanity is facing amazing new opportunities. Humanity’s energies and forces have been imprisoned and unavailable for real soul culture and soul expression. This is about to change. When the seed groups take root, germinate and flower, inlets for hierarchical forces will be anchored on the planet and will express in beneficence. A new life will pour through humanity and that which all men dream in their highest moments will emerge as possible of fulfillment. | 5. Nhân loại đang đứng trước những cơ hội mới kỳ diệu. Các năng lượng và mãnh lực của nhân loại đã bị giam hãm và không thể được sử dụng để thực sự vun bồi và biểu lộ linh hồn. Điều này sắp thay đổi. Khi các nhóm hạt giống bén rễ, nảy mầm và nở hoa, những cửa ngõ đón nhận mãnh lực của Thánh đoàn sẽ được neo giữ trên hành tinh và biểu lộ thành điều lành. Một sự sống mới sẽ tuôn chảy qua nhân loại, và những gì mọi người mơ ước trong những khoảnh khắc cao cả nhất sẽ hiện ra như những điều có thể thành tựu. |
Little by little, the picture of the possibilities and of the Plan will unfold before you as your minds increase in sensitivity and your brains become more responsive to mental impulses. Little by little, the disciples of the world will work at the reproduction — on the physical plane — of that which exists subjectively. Little by little, there will appear all over the earth, groups of illumined souls who can cooperate with the Masters with perfect freedom of intercourse because their responsiveness has been scientifically trained and developed. Their power to work in tune with or in unison with the Hierarchy, to cooperate with the group life of many other groups of disciples and to communicate light and revelation to the world of men will later be an accomplished fact and is already much more actively present and potent than you think. A little vision, brother of mine, makes the way of the disciple easier and hence I have enlarged somewhat upon the possibilities which we, with our prevision, regard as already facts in manifestation. Nothing can stop the eventual success of the Plan; it is simply a question of time. | [29] Từng chút một, bức tranh về những khả năng và Thiên Cơ sẽ mở ra trước các bạn khi thể trí các bạn tăng trưởng tính nhạy cảm và bộ não trở nên đáp ứng hơn với những xung lực trí tuệ. Từng chút một, các đệ tử trên thế giới sẽ làm việc để tái hiện—trên cõi hồng trần—những gì tồn tại về mặt chủ quan. Từng chút một, khắp nơi trên Trái Đất sẽ xuất hiện những nhóm linh hồn được soi sáng, có thể hợp tác với các Chân sư trong sự giao tiếp hoàn toàn tự do, vì khả năng đáp ứng của họ đã được huấn luyện và phát triển một cách khoa học. Quyền năng của họ trong việc làm việc hòa điệu hay đồng nhất với Thánh đoàn, hợp tác với đời sống nhóm của nhiều nhóm đệ tử khác, và truyền ánh sáng cùng sự mặc khải đến thế giới loài người về sau sẽ trở thành một sự thật đã thành tựu; ngay lúc này, quyền năng ấy đã hiện diện tích cực và mạnh mẽ hơn nhiều so với các bạn nghĩ. Huynh đệ của tôi, một chút tầm nhìn làm cho con đường của đệ tử dễ dàng hơn, và vì vậy Tôi đã nói rộng thêm đôi chút về những khả năng mà chúng tôi, với khả năng thấy trước, xem là những sự thật đã ở trong tiến trình biểu hiện. Không gì có thể ngăn cản thành công cuối cùng của Thiên Cơ; đó chỉ là vấn đề thời gian. |
1. This is an inspiring paragraph. Master DK is sharing a little of His vision (something which He and other Masters “regard as already facts in manifestation”). He does this for our upliftment and vitalization. | 1. Đây là một đoạn văn khơi nguồn cảm hứng. Chân sư DK đang chia sẻ một chút tầm nhìn của Ngài (điều mà Ngài và các Chân sư khác “xem là những thực tế đã hiện hữu trong biểu hiện”). Ngài làm điều này để nâng cao và tiếp sinh lực cho chúng ta. |
2. Note the gradualism emphasized in this paragraph. Thought along this line induces patience in the disciple and in discipleship groups. Everything occurs “little by little”. This attitude of gradualism prevents the feelings of both impatience and futility. | 2. Hãy lưu ý tính tiệm tiến được nhấn mạnh trong đoạn văn này. Suy nghĩ theo hướng này khơi dậy lòng kiên nhẫn nơi đệ tử và trong các nhóm đệ tử. Mọi việc đều diễn ra “từng chút một”. Thái độ chấp nhận tính tiệm tiến này ngăn ngừa cả cảm giác nôn nóng lẫn cảm giác vô ích. |
3. We can see that a much closer communication with Hierarchy is on the way, and, in fact, already existent in certain instances. A general illumination is on its way, and in this process we are being asked to cooperate. | 3. Chúng ta có thể thấy rằng sự giao tiếp gần gũi hơn nhiều với Thánh đoàn đang đến, và thực ra đã hiện hữu trong một số trường hợp. Một sự soi sáng rộng khắp đang đến, và chúng ta được yêu cầu hợp tác trong tiến trình này. |
4. The success of the Plan is a certainty. Nothing can stop that success. The “time equation” is somewhat in the hands of the disciples of the world. We are working to bring the next intended aspect of the Divine Plan into manifestation as rapidly, and yet as soundly, as possible, in order to relieve unnecessary human suffering and, in general, unnecessary suffering upon this planet. | 4. Thành công của Thiên Cơ là điều chắc chắn. Không gì có thể ngăn cản thành công ấy. “Phương trình thời gian” phần nào nằm trong tay các đệ tử trên thế giới. Chúng ta đang làm việc để đưa phương diện tiếp theo mà Thiên Cơ dự định thực hiện vào biểu hiện nhanh nhất và đồng thời vững chắc nhất có thể, nhằm giảm bớt những đau khổ không cần thiết của con người và, nói chung, những đau khổ không cần thiết trên hành tinh này. |
5. Joy is one of the qualities of successful discipleship; it is a primary quality of the soul. When we read something revealed by the Masters’ “prevision”, perhaps the flame of joy within our hearts and minds burns a little brighter. A new and better world is on its way, and is now appearing — “little by little” | 5. Sự hoan hỉ là một trong những phẩm tính của địa vị đệ tử thành công; đó là một phẩm tính chủ yếu của linh hồn. Khi chúng ta đọc một điều do khả năng “tiên kiến” của các Chân sư mặc khải, có lẽ ngọn lửa hoan hỉ trong tâm và thể trí chúng ta cháy sáng hơn đôi chút. Một thế giới mới và tốt đẹp hơn đang đến, và hiện đang xuất hiện — “từng chút một” |
One of the steps in training which lies ahead of you is the establishing of a closer contact with me, your Tibetan Teacher. This you must attempt with no formulated ideas as to what the results will be — if any are to be objectively realised. The results may be sensed by me alone on my side, or they may work out in certain specific realisations and even phenomena on your side. I indicate not the results of such an activity for the power of suggestion and the response of the creative imagination is a fruitful source of glamour. | Một trong những bước huấn luyện đang chờ đợi các bạn là thiết lập sự tiếp xúc mật thiết hơn với Tôi, huấn sư Tây Tạng của các bạn. Các bạn phải cố gắng thực hiện điều này mà không định sẵn bất kỳ ý tưởng nào về kết quả sẽ ra sao—nếu quả có kết quả nào biểu hiện một cách khách quan. Có thể chỉ riêng Tôi nhận biết những kết quả ấy từ phía mình, hoặc chúng có thể biểu hiện thành những nhận thức cụ thể, thậm chí thành các hiện tượng từ phía các bạn. Tôi không chỉ rõ kết quả của một hoạt động như thế, vì sức mạnh của sự ám thị và sự đáp ứng của sự tưởng tượng sáng tạo là một nguồn dồi dào phát sinh ảo cảm. |
1. Master DK seeks a closer contact with His disciples. If this is achieved, they will represent the Ashram more effectively and their service will be of a far higher quality. | 1. Chân sư DK tìm kiếm sự tiếp xúc gần gũi hơn với các đệ tử của Ngài. Nếu đạt được điều này, họ sẽ đại diện cho ashram hiệu quả hơn và công việc phụng sự của họ sẽ có phẩm tính cao hơn rất nhiều. |
2. He is cautious, however, not to tell them what they might expect as a result of such contact. If he told them, they would begin to imagine it, and the imagining would take the place of the reality. On a lower turn of the spiral this phenomenon is often seen between psychologists and their clients. A suggestion by the psychologist becomes a psychic reality for the client and imagination takes the place of truth and fact. | 2. Tuy nhiên, Ngài thận trọng tránh nói với họ những gì họ có thể trông đợi từ sự tiếp xúc ấy. Nếu Ngài nói, họ sẽ bắt đầu tưởng tượng về điều đó, và sự tưởng tượng sẽ thay thế thực tại. Ở một vòng xoắn ốc thấp hơn, hiện tượng này thường thấy giữa các nhà tâm lý học và thân chủ của họ. Một sự ám thị của nhà tâm lý học trở thành một thực tại thông linh đối với thân chủ, và sự tưởng tượng thay thế chân lý cùng sự thật. |
3. Sometimes it might seem that the Master seeks to discourage His students from trying to make contact with Him. This is not really the case. Rather, He gives the proper sequence for such contact: mental polarization, communion with the soul, absorption in service and, only then, contact with the Master. | 3. Đôi khi, dường như Chân sư tìm cách làm các môn sinh của Ngài nản lòng trong việc cố gắng tiếp xúc với Ngài. Thực ra không phải như vậy. Đúng hơn, Ngài đưa ra trình tự thích hợp cho sự tiếp xúc ấy: phân cực trí tuệ, hiệp thông với linh hồn, chuyên tâm phụng sự và chỉ sau đó, mới tiếp xúc với Chân sư. |
4. We can see that one of the key discriminations is to tell the difference between that which actually had occurred or is occurring, and that which is imagined to have occurred, or is imagined to be occurring. | 4. Chúng ta có thể thấy rằng một trong những sự phân biện then chốt là nhận ra sự khác biệt giữa điều thực sự đã xảy ra hoặc đang xảy ra và điều được tưởng tượng là đã xảy ra, hoặc được tưởng tượng là đang xảy ra. |
5. While the imagination can be a conduit to the intuition, it can also mask, distort and even replace the truth. | 5. Dù sự tưởng tượng có thể là một kênh dẫn đến trực giác, nó cũng có thể che khuất, bóp méo và thậm chí thay thế chân lý. |
I would, therefore, ask all of you who are my disciples to endeavour to make a contact with me at the time of the Full Moon each month. Make sacrifice in order to establish this monthly relation as I will make my adjustments to contact you. May I emphasise the necessity for holding the thought of that contact for three whole days prior to the Full Moon itself, with aspiration and with confidence and then for three days afterwards with expectancy. May I point out the prime importance of making this a group activity and not a personal contact. Enter upon the work with the realisation of your group relation with your fellow disciples and with me, for only in so far as [30] you seek to contact me as a disciple in my group will the measure of your success be rated. This contact is not of the same nature as that direct and individual contact between a chela and his Master. | Vì vậy, Tôi muốn yêu cầu tất cả các bạn, những đệ tử của Tôi, cố gắng tiếp xúc với Tôi vào thời điểm Trăng Tròn mỗi tháng. Hãy hi sinh để thiết lập mối liên hệ hằng tháng này, cũng như Tôi sẽ có những điều chỉnh để tiếp xúc với các bạn. Tôi xin nhấn mạnh sự cần thiết phải giữ tư tưởng về sự tiếp xúc ấy suốt ba ngày trước thời điểm Trăng Tròn, với khát vọng và lòng tin tưởng, rồi trong ba ngày sau đó với niềm mong đợi. Tôi xin chỉ ra tầm quan trọng hàng đầu của việc biến điều này thành một hoạt động nhóm thay vì một sự tiếp xúc cá nhân. Hãy bắt đầu công việc với nhận thức về mối liên hệ nhóm của các bạn với các đệ tử đồng môn và với Tôi, vì mức độ thành công của các bạn sẽ chỉ được đánh giá theo mức độ [30] các bạn tìm cách tiếp xúc với Tôi trong tư cách một đệ tử trong nhóm của Tôi. Sự tiếp xúc này không cùng bản chất với sự tiếp xúc trực tiếp và riêng biệt giữa một đệ tử với Chân sư của mình. |
1. Master DK emphasizes the importance of the Full Moon work. We now call the Full Moon Festivals, “Solar Fire Festivals”. | 1. Chân sư DK nhấn mạnh tầm quan trọng của công việc Trăng Tròn. Hiện nay, chúng ta gọi các Lễ hội Trăng Tròn là “Lễ hội Lửa Thái dương”. |
2. He asks for seven days of work each month. Elsewhere, He occasionally asks for five days and some have narrowed the process down to three. In any case, we are presented with a rhythmically occurring monthly responsibility. | 2. Ngài yêu cầu bảy ngày làm việc mỗi tháng. Ở những nơi khác, đôi khi Ngài yêu cầu năm ngày, và một số người đã rút gọn tiến trình xuống còn ba ngày. Dù thế nào, chúng ta cũng được giao một trách nhiệm diễn ra hằng tháng theo nhịp điệu. |
3. Sacrifice is required, for the necessary “space in consciousness” must be cleared and the exact moment of the Full Moon be honored. The physical body may not always appreciate this. | 3. Cần có sự hi sinh, vì phải dọn ra “không gian trong tâm thức” cần thiết và tuân thủ chính xác thời điểm Trăng Tròn. Thể xác có thể không phải lúc nào cũng hài lòng với điều này. |
4. Contact with the Master is especially facilitated at the times of the Full Moon. We are to think of contact with the Master for the three days preceding the Full Moon. An attitude of “aspiration and confidence” is to characterize the three days of preparation, and an attitude of “expectancy” the three days following. | 4. Sự tiếp xúc với Chân sư đặc biệt thuận lợi vào những kỳ Trăng Tròn. Chúng ta cần hướng tư tưởng đến việc tiếp xúc với Chân sư trong ba ngày trước kỳ Trăng Tròn. Thái độ “khát vọng và tin tưởng” phải là nét đặc trưng của ba ngày chuẩn bị, còn thái độ “mong đợi” là nét đặc trưng của ba ngày tiếp theo. |
5. The group approach is emphasized. Contact with the Master is not to be pursued as an individual. Individual contact is to occur within the context of the Master’s group. A strictly individual attitude will not lead to success. | 5. Việc tiếp cận theo nhóm được nhấn mạnh. Không nên tìm cách tiếp xúc với Chân sư với tư cách cá nhân riêng lẻ. Sự tiếp xúc cá nhân phải diễn ra trong khuôn khổ nhóm của Chân sư. Một thái độ thuần túy cá nhân sẽ không dẫn đến thành công. |
6. There is another kind of contact with the Master. It is individual and has its place. But the kind of approach requested here is of a group nature. It is my impression that much more could be done along these lines and with greater consistency. | 6. Có một loại tiếp xúc khác với Chân sư. Loại tiếp xúc ấy quả thực mang tính cá nhân và có vị trí thích hợp của nó. Nhưng cách tiếp cận được yêu cầu ở đây mang bản chất nhóm. Tôi có cảm tưởng rằng có thể làm được nhiều hơn nữa theo hướng này và với sự nhất quán cao hơn. |
Many of you are linked with your own Master, though temporarily working in my Ashram; your contact with me is intended to be a group contact and, as a group, you will seek to strengthen the tie between us. This, therefore, is an act of group service to be rendered selflessly and with no personal expectancy. Owing to the pressure of time and of urgency in service, I am one of several teachers who have pledged themselves for the next few years to keep the twelve hours prior to the Full Moon of each month open for contacts with their disciples, so that at any time during that twelve hours, the world servers and disciples can make an attempt to reach us. This will somewhat facilitate your work for you need not, therefore, keep the exact hour of the Full Moon, unless this is easily possible. Service in the world these days requires constant pressure and attention and the work is strenuous. It may not always be possible for you to make your approach at the exact hour of the Full Moon, though you can at that hour always — silently and interiorly — lift up your heart and eyes to the Eternal. But at some hour during the preceding twelve hours, you can make your approach. When you do so rightly, you will find me waiting. Go to your work with clear vision, a loving heart and an understanding love. Much can then be accomplished. | Nhiều người trong các bạn có sự liên kết với Chân sư riêng của mình, dù tạm thời đang làm việc trong ashram của Tôi; sự tiếp xúc của các bạn với Tôi nhằm tạo nên một sự tiếp xúc nhóm, và với tư cách một nhóm, các bạn sẽ tìm cách củng cố mối dây liên kết giữa chúng ta. Vì vậy, đây là một hành động phụng sự nhóm cần được thực hiện một cách vô vị kỷ và không có sự mong đợi cá nhân nào. Do áp lực thời gian và tính cấp bách của việc phụng sự, Tôi là một trong số các huấn sư đã cam kết trong vài năm tới dành trọn mười hai giờ trước thời điểm Trăng Tròn mỗi tháng để tiếp xúc với các đệ tử của mình, nhờ đó, vào bất kỳ lúc nào trong mười hai giờ ấy, những người phụng sự thế gian và các đệ tử đều có thể cố gắng tiếp cận chúng tôi. Điều này sẽ phần nào tạo thuận lợi cho công việc của các bạn, vì các bạn không nhất thiết phải giữ đúng giờ Trăng Tròn, trừ khi có thể dễ dàng làm được. Ngày nay, việc phụng sự trong thế giới đòi hỏi nỗ lực và sự chú tâm liên tục, và công việc rất vất vả. Không phải lúc nào các bạn cũng có thể thực hiện sự tiếp cận vào đúng giờ Trăng Tròn, dù vào giờ ấy các bạn luôn có thể—trong im lặng và từ nội tâm—hướng tâm và mắt mình lên Đấng Vĩnh Cửu. Nhưng vào một giờ nào đó trong mười hai giờ trước ấy, các bạn có thể thực hiện sự tiếp cận. Khi làm điều đó đúng cách, các bạn sẽ thấy Tôi đang chờ đợi. Hãy bắt tay vào công việc với tầm nhìn sáng rõ, một trái tim yêu thương và một tình thương thấu hiểu. Khi ấy, các bạn có thể hoàn thành nhiều điều. |
1. The contact with the Master pursued at the time of the Full Moon is to be considered an “act of group service”. Nothing is expected or asked for the personal self. | 1. Sự tiếp xúc với Chân sư mà chúng ta tìm kiếm vào kỳ Trăng Tròn cần được xem là một “hành động phụng sự nhóm”. Không mong đợi hay cầu xin điều gì cho bản ngã cá nhân. |
2. This instruction was written some seventy years ago. At that time the Master (with several other teachers) was making Himself available for the twelve hours prior to the Full Moon). The attempts of His students to reach Him could then be more readily registered and response made. | 2. Huấn thị này được viết cách đây khoảng bảy mươi năm. Vào thời điểm ấy, Chân sư (cùng một số huấn sư khác) dành mười hai giờ trước kỳ Trăng Tròn để sẵn sàng tiếp xúc). Nhờ đó, Ngài có thể dễ dàng ghi nhận và đáp ứng những nỗ lực tiếp cận Ngài của các môn sinh hơn. |
3. Whether Master DK or the others are still making Themselves available in this way may be questioned. Perhaps, or perhaps not. But it does not really make any difference. We can follow His instructions and nothing will be lost. In fact, there is much to be gained. | 3. Có thể đặt câu hỏi liệu Chân sư DK hay các Ngài khác vẫn còn dành thời gian để sẵn sàng tiếp xúc theo cách này hay không. Có thể có, cũng có thể không. Nhưng điều đó thực sự không tạo nên khác biệt nào. Chúng ta có thể làm theo các huấn thị của Ngài mà chẳng mất gì. Thực ra, có nhiều điều để đạt được. |
4. In this paragraph He offers the disciples the option of not keeping the exact moment of the Full Moon (“unless it is easily possible”). Elsewhere, He speaks of the great importance of keeping the Full Moon moment. | 4. Trong đoạn này, Ngài cho các đệ tử quyền lựa chọn không giữ đúng thời điểm Trăng Tròn (“trừ khi có thể dễ dàng làm được như vậy”). Ở nơi khác, Ngài nói về tầm quan trọng lớn lao của việc giữ đúng thời điểm Trăng Tròn. |
5. It is my impression that it is always better to be available in consciousness at the exact moment of the Full Moon. Mediation at that time can be unusually effective. Further, one knows that the Masters honor that moment in meditation, and so one will definitely be participating with Them. | 5. Tôi có cảm tưởng rằng việc sẵn sàng trong tâm thức vào đúng thời điểm Trăng Tròn luôn tốt hơn. Tham thiền vào thời điểm ấy có thể mang lại hiệu quả khác thường. Hơn nữa, chúng ta biết rằng các Chân sư tôn vinh thời điểm ấy bằng việc tham thiền, nên chắc chắn chúng ta sẽ cùng tham gia với Các Ngài. |
6. DK asks that at the moment of the Full Moon we “lift [our] hearts to the Eternal”. How one would go about doing this is entirely up to him/her, but is has something to do with the disciple’s ongoing attempt to “Living in the Eternal” and “know the Self as One”. | 6. Chân sư DK yêu cầu rằng vào thời điểm Trăng Tròn, chúng ta “nâng tâm [của chúng ta] lên Đấng Vĩnh Cửu”. Thực hiện điều này như thế nào hoàn toàn tùy mỗi người, nhưng điều ấy có liên quan đến nỗ lực không ngừng của người đệ tử nhằm “Sống trong Vĩnh Cửu” và “biết Bản Ngã là Duy Nhất”. |
7. One senses that the Master DK is so very generous in offering Himself for this type of service. The Masters are extraordinarily occupied with service. They are busy spiritual executives. But They do care about the condition of Their chelas, especially about the group potentials of Their chelas. This Full Moon work can be a time of great strengthening for those potentials. | 7. Chúng ta cảm nhận rằng Chân sư DK vô cùng rộng lượng khi tự nguyện đảm nhận loại công việc phụng sự này. Các Chân sư vô cùng bận rộn với việc phụng sự. Các Ngài là những nhà điều hành tinh thần bận rộn. Nhưng Các Ngài quả thực quan tâm đến tình trạng của các đệ tử mình, đặc biệt là những tiềm năng nhóm của họ. Công việc Trăng Tròn này có thể là một thời gian củng cố mạnh mẽ những tiềm năng ấy. |
8. The Full Moon work is to be approached with “clear vision, a loving heart and understanding love”. The last two are different though related. In “understanding love” mind and heart are linked. | 8. Cần tiếp cận công việc Trăng Tròn với “tầm nhìn rõ ràng, một trái tim yêu thương và tình thương thấu hiểu”. Hai điều sau khác nhau dù có liên quan với nhau. Trong “tình thương thấu hiểu”, trí tuệ và trái tim liên kết với nhau. |
9. Do we begin to understand how great an opportunity is every Full Moon Opportunity? Part of the Externalization of the Hierarchy is an ever-closer relation between Master and chela or group of chelas. DK is giving us the means whereby this desirable objective can be facilitated. Let us take full advantage of it. | 9. Chúng ta đã bắt đầu thấu hiểu mỗi Cơ Hội Trăng Tròn là một cơ hội lớn lao đến mức nào chưa? Một phần của Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn là mối quan hệ ngày càng gần gũi giữa Chân sư và đệ tử hoặc nhóm đệ tử. Chân sư DK đang trao cho chúng ta phương tiện giúp thúc đẩy mục tiêu đáng mong muốn này. Chúng ta hãy tận dụng trọn vẹn điều ấy. |
To the next commentary | Chuyển sang bài bình giảng tiếp theo |