Bình Giảng DINA I – 16

📘 Sách: Bình Giảng DINA I – Tác giả: Michael D. Robbins

DINA I · Bình giảng 16

commentary by Michael D. Robbins

bình giảng của Michael D. Robbins

As we study the various stages in discipleship through which all must pass, we shall discover that one of the things which happens is the irradiation of the daily life. This irradiation emanates from the world of meaning in which the disciple is learning to live consciously and always. One of the problems with which the Master is engaged in relation to His group of disciples is to teach them the deep significance of the familiar and also the importance of the truths which underlie all platitudes. This is perhaps the most difficult task of all because of the habitual reaction to the familiar and the need to do two things: Prove that the familiar veils an important reality and that by penetrating to the “world of meaning,” the disciple discovers that he can enter into the first stage of the period of preparation for accepted discipleship.

Khi nghiên cứu các giai đoạn khác nhau của địa vị đệ tử mà tất cả đều phải trải qua, chúng ta sẽ khám phá rằng một trong những điều xảy ra là đời sống hằng ngày trở nên rạng sáng. Sự rạng sáng này phát ra từ Thế giới của ý nghĩa, nơi người đệ tử đang học cách sống một cách hữu thức và thường xuyên. Một trong những vấn đề mà Chân sư phải giải quyết đối với nhóm đệ tử của Ngài là dạy họ thâm nghĩa sâu xa của những điều quen thuộc, cũng như tầm quan trọng của những chân lý nằm dưới mọi lời nói sáo mòn. Đây có lẽ là nhiệm vụ khó khăn nhất, do phản ứng theo thói quen trước những điều quen thuộc và do cần phải làm hai việc: Chứng tỏ rằng điều quen thuộc che giấu một thực tại quan trọng, và rằng khi thâm nhập vào “Thế giới của ý nghĩa”, người đệ tử khám phá ra mình có thể bước vào giai đoạn đầu tiên của thời kỳ chuẩn bị cho địa vị đệ tử được chấp nhận.

1. We can understand irradiation as the permeating presence of soul energy–permeating through the personality and its three vehicles. It is a subtle matter; an intangible, extraordinary quality is present which is wanting in the average individual.

1. Chúng ta có thể thấu hiểu sự tỏa sáng là sự hiện diện thấm khắp của năng lượng linh hồn—thấm qua phàm ngã và ba hiện thể của nó. Đây là một vấn đề tinh tế; có sự hiện diện của một phẩm tính phi thường, vô hình, vốn thiếu vắng nơi người bình thường.

2. What does it mean to live in the “world of meaning”? It is surely a specific state of consciousness. Could we call this kind consciousness, “contextual consciousness” in which no perception is taken strictly at face value? Far more than the concrete mind is at work. In contextual consciousness all phenomena are related to noumena. All patterns presented to consciousness are related to archetypal patterns. The specific is seen within the context of the general, the part in relation to the whole.

2. Sống trong “Thế giới của ý nghĩa”hàm ý điều gì? Chắc chắn đó là một trạng thái tâm thức cụ thể. Liệu chúng ta có thể gọi loại tâm thức này là “tâm thức theo bối cảnh”, trong đó không một tri giác nào chỉ được hiểu theo vẻ ngoài? Ở đây, hoạt động vượt xa phạm vi của trí cụ thể. Trong tâm thức theo bối cảnh, mọi hiện tượng đều có liên hệ với những thực tại nằm sau chúng. Mọi mô hình xuất hiện trước tâm thức đều có liên hệ với những mô hình nguyên mẫu. Cái riêng được nhìn trong bối cảnh của cái chung, bộ phận được nhìn trong mối liên hệ với toàn thể.

3. The meaning of the familiar is customarily overlooked. The divine is “staring us in the face”, but we often fail to see it. We have become habituated to the familiar and have lost its meaning. Our awareness in relation to the familiar has become desensitized.

3. Ý nghĩa của những điều quen thuộc thường bị bỏ qua. Điều thiêng liêng đang “hiện rõ ngay trước mắt chúng ta”, nhưng chúng ta thường không nhìn thấy. Chúng ta đã quá quen với những điều quen thuộc và đánh mất ý nghĩa của chúng. Sự nhận biết của chúng ta đối với những điều quen thuộc đã trở nên chai lì.

4. As disciples we must learn to see everything with a ‘fresh eye’, with ‘spiritual innocence’.

4. Là đệ tử, chúng ta phải học cách nhìn mọi điều bằng một ‘cái nhìn mới mẻ’, với ‘sự hồn nhiên tinh thần’.

5. Platitudes are undervalued truths. Their ‘truth value’ has been worn away through habituation. What can remove the veils or obscurative scales of many years of inattentive perception? What can reveal the divine in the obvious? We can begin by adopting the attitude that (in relation to all perceptions) one is standing before a profound mystery; nothing is to be disrespected. All has its revelatory value.

5. Những lời sáo ngữ là những chân lý bị đánh giá thấp. ‘Giá trị chân lý’của chúng đã bị bào mòn do quá quen thuộc. Điều gì có thể gỡ bỏ những bức màn hay những lớp vảy che mờ do nhiều năm tri giác thiếu chú tâm tạo nên? Điều gì có thể làm hiển lộ điều thiêng liêng trong những gì hiển nhiên? Chúng ta có thể bắt đầu bằng việc giữ thái độ rằng (đối với mọi tri giác) mình đang đứng trước một điều huyền nhiệm sâu xa; không có gì đáng bị xem thường. Mọi sự đều có giá trị mặc khải.

6. In this paragraph, we learn that two things are required of the one who would be an “accepted disciple”. First we have the power to prove that the familiar veils an important reality. This can be done, at first, by treating the familiar as if it were unfamiliar. We might “look again”, “listen again”, to see and hear what the familiar veils. Pausing over the familiar until it reveals its secret can be a startling experience. We see how often we gloss over the meaning behind and enveloping the familiar. We think we know what things are, but when we pause in the consideration of an object, for instance, many more associations enter the mind, and we learn to ‘re-vision’ the thing observed within its larger context. The one who will not pause to consider will not enter the world of meaning. Con-sideration, according to its etymology, references the stars—the sidereal world.

6. Trong đoạn này, chúng ta biết rằng có hai điều cần thiết đối với người muốn trở thành một “đệ tử được chấp nhận”. Trước hết, chúng ta có khả năng chứng minh rằng những điều quen thuộcche phủ một thực tại quan trọng. Ban đầu, có thể làm điều này bằng cách đối xử với những điều quen thuộc như thể chúng xa lạ. Chúng ta có thể “nhìn lại”, “lắng nghe lại”, để thấy và nghe những gì mà những điều quen thuộc che phủ. Dừng lại trước những điều quen thuộc cho đến khi chúng hé lộ bí mật có thể là một trải nghiệm gây sửng sốt. Chúng ta thấy mình thường lướt qua ý nghĩaẩn sau và bao trùm những điều quen thuộc đến mức nào. Chúng ta nghĩ mình biết sự vật là gì, nhưng chẳng hạn, khi dừng lại để suy xét một đối tượng, nhiều mối liên tưởng hơn đi vào thể trí, và chúng ta học cách ‘nhìn lại’sự vật đang quan sát trong bối cảnh rộng lớn hơn của nó. Người không chịu dừng lại để suy xétsẽ không bước vào Thế giới của ý nghĩa. Sự suy xét,xét theo từ nguyên, có liên hệ với các vì sao—thế giới tinh tú.

7. The Tibetan offers a most qualified statement: “by penetrating to the ‘world of meaning,’ the disciple discovers that he can enter into the first stage of the period of preparation for accepted discipleship. ” Not accepted discipleship; not the stage of preparation for accepted discipleship; but only the “first stage” of preparation for accepted discipleship. It would seem that disciples would want to learn much about the nature of meaning, as he would become an accepted disciple must have a relatively long experience functioning within the world of meaning before “acceptance”, technically understood, is possible.

7. Chân sư Tây Tạng đưa ra một phát biểu được giới hạn rất chặt chẽ: “khi thâm nhập vào ‘Thế giới của ý nghĩa,’người đệ tử khám phá rằng mình có thể bước vào giai đoạn đầu tiên của thời kỳ chuẩn bị cho địa vị đệ tử được chấp nhận. ”Không phải địa vị đệ tử được chấp nhận; không phải giai đoạn chuẩn bị cho địa vị đệ tử được chấp nhận; mà chỉ là “giai đoạn đầu tiên”của việc chuẩn bị cho địa vị đệ tử được chấp nhận. Dường như các đệ tử hẳn sẽ muốn học hỏi nhiều về bản chất của ý nghĩa,vì người muốn trở thành đệ tử được chấp nhận phải có kinh nghiệm hoạt động tương đối lâu dài trong Thế giới của ý nghĩa trước khi “sự chấp nhận”, hiểu theo nghĩa chuyên môn, có thể xảy ra.

8. Why is the world of meaning so important to the accepted disciple? Perhaps because the Master and His Ashram are forever related to an all-embracing planetary context. They ever work in relation to the “larger planetary picture” and to even more expansive contexts. The accepted disciple is a member of the Ashram (though on its periphery), and as such, must learn to think in larger terms than heretofore. Parts much be seen in relation to wholes, or there will be improper structure to thought and its execution. The Master and the Ashram implement the Divine Plan. That which They externalize must be that which is divinely intended. All things must be seen in relation to an encompassing Plan and Purpose. The beginning of the understanding necessary for this kind of work occurs in the world of meaning, which is the antechamber to the world of significance (where Plan, and eventually, Purpose are revealed).

8. Tại sao Thế giới của ý nghĩa lại quan trọng đến thế đối với đệ tử được chấp nhận? Có lẽ vì Chân sư và ashram của Ngài luôn gắn liền với một bối cảnh hành tinh bao trùm tất cả. Các Ngài luôn làm việc trong mối liên hệ với “bức tranh hành tinh rộng lớn hơn”và với những bối cảnh còn rộng lớn hơn nữa. Đệ tử được chấp nhận là một thành viên của ashram (dù ở ngoại vi), và với tư cách ấy, phải học cách tư duy trong phạm vi rộng lớn hơn trước. Phải nhìn các bộ phận trong mối liên hệ với những toàn thể, nếu không tư tưởng và việc thực hiện tư tưởng ấy sẽ có cấu trúc không thích hợp. Chân sư và ashram thực hiện Thiên Cơ. Điều mà Các Ngài ngoại hiện phải là điều phù hợp với ý định thiêng liêng. Phải nhìn mọi sự trong mối liên hệ với một Thiên Cơ và Thiên Ý bao trùm. Sự thấu hiểu cần thiết cho loại công việc này bắt đầu trong Thế giới của ý nghĩa, vốn là tiền sảnh dẫn vào Thế giới của thâm nghĩa (nơi Thiên Cơ, và cuối cùng là Thiên Ý, được mặc khải).

9. Let us ask ourselves: “What is the greater context in which I understand all ‘presentations to consciousness’? Do I think in terms of humanity? In terms of our planet? In terms of the solar system and beyond (however theoretically)? What is the particular whole in relation to which I reference my thought?

9. Chúng ta hãy tự hỏi: “Đâu là bối cảnh rộng lớn hơn mà trong đó tôi thấu hiểu mọi ‘điều xuất hiện trước tâm thức’? Tôi có tư duy trong phạm vi nhân loại không? Trong phạm vi hành tinh chúng ta không? Trong phạm vi hệ mặt trời và xa hơn nữa không (dù chỉ trên lý thuyết)? Đâu là toàn thểcụ thể mà tôi lấy làm hệ quy chiếu cho tư tưởng của mình?

The first stage which we must study is that of “Little Chelaship. ” In dealing with this stage, as with them all, I would remind you that I am approaching the subject from the angle of what the Master has to do, and not from the angle of the disciple’s work. There has been so much written on that subject from the angle of the disciple and so many books put out on the subject that familiarity with the theme militates against true apprehension. The effort to understand has been focussed upon the disciple and his problems of character and personality.

Giai đoạn đầu tiên mà chúng ta phải nghiên cứu là “Địa vị tiểu đệ tử”. Khi bàn đến giai đoạn này, cũng như tất cả các giai đoạn khác, Tôi muốn nhắc các bạn rằng Tôi đang tiếp cận chủ đề từ góc độ những gì Chân sư phải làm, chứ không phải từ góc độ công việc của người đệ tử. Đã có quá nhiều điều được viết về chủ đề này từ góc độ người đệ tử, và quá nhiều sách được xuất bản về nó, đến mức sự quen thuộc với chủ đề trở thành trở ngại cho việc lĩnh hội thực sự. Nỗ lực thấu hiểu đã tập trung vào người đệ tử cùng những vấn đề về tính cách và phàm ngã của y.

10. Many readers may imagine that Master DK is repetitious in His Teaching. In fact, if it appears that there is repetition, the reader must pay greater attention to ‘the angle of presentation’. Is the apparently repeated topic being presented from the same angle as before? What is the context of the presentation—an individual, group, pan-human, or planetary context? There are subtleties to be observed if one is to gather the most from apparent repetitions.

10. Nhiều độc giả có thể cho rằng Chân sư DK lặp đi lặp lại trong Giáo Huấn của Ngài. Thực ra, nếu có vẻ như xuất hiện sự lặp lại, người đọc phải chú ý hơn đến ‘góc độ trình bày’. Chủ đề có vẻ lặp lại ấy có được trình bày từ cùng một góc độ như trước không? Bối cảnh của phần trình bày là gì—bối cảnh cá nhân, nhóm, toàn nhân loại hay hành tinh? Có những điều tinh tế cần nhận ra nếu muốn thu nhận được nhiều nhất từ những sự lặp lại bề ngoài ấy.

11. In this case, the discussion of “Little Chelaship” is presented from the Master’s point of view. One of the values of this kind of presentation is that it is decentralizing. Many disciples think ever in terms of themselves. This presentation forces them to attempt to understand from the Master’s perspective.

11. Trong trường hợp này, phần thảo luận về “Địa vị tiểu đệ tử”được trình bày từ quan điểm của Chân sư. Một trong những giá trị của cách trình bày này là nó giúp phi tập trung vào bản thân. Nhiều đệ tử luôn suy nghĩ xoay quanh chính mình. Cách trình bày này buộc họ cố gắng thấu hiểu từ góc nhìn của Chân sư.

12. Again, an important theme is emphasized: familiarity militates against true apprehension. Familiarity and mindlessness go hand in hand. One is reminded of one of the points in the Buddha’s Noble Eightfold Path—”Right Mindfulness”. Sanat Kumara is quoted in “The Crest Jewel of Discrimination” by Sankaracarya. He is reputed to have said, “Inadvertence is equivalent to death”.

12. Một lần nữa, một chủ đề quan trọng được nhấn mạnh: sự quen thuộc cản trở sự lĩnh hội chân thực. Sự quen thuộc và sự thiếu chú tâm đi đôi với nhau. Điều này gợi nhớ đến một chi phần trong Bát Chánh Đạo của Đức Phật—”Chánh Niệm”. Lời của Sanat Kumara được trích trong “Bảo Ngọc Tối Thượng của Sự Phân Biện”của Sankaracarya. Người ta cho rằng Ngài đã nói: “Sự lơ đễnh tương đương với cái chết”.

13. So we are entering this important matter of disciplic development from quite a different perspective. Our context is thus enlarged, and the study should become, therefore, more meaningful.

13. Vì vậy, chúng ta đang đi vào vấn đề quan trọng về sự phát triển của đệ tử từ một góc nhìn hoàn toàn khác. Nhờ đó, bối cảnhcủa chúng ta được mở rộng, và do vậy, việc nghiên cứu hẳn sẽ trở nên có ý nghĩahơn.

[710]

[710]

It will not be possible for me to indicate the work in detail. I intend only to show you as far as is possible how a Master prepares the probationer to step from off the Probationary Path on to the Path of Discipleship. At this point, I would like to point out that I shall be dealing with a period covering the stages of discipleship from the first stage to that of adept. At the fourth stage, the disciple emerges out of his Master’s group and becomes what is esoterically called “a fixed aspect of the Hierarchy. ” This is a phrase which is necessarily quite meaningless to you.

[710] Tôi sẽ không thể trình bày chi tiết công việc này. Tôi chỉ có ý định cho các bạn thấy, trong chừng mực có thể, cách một Chân sư chuẩn bị cho người dự bị bước từ Con Đường Dự Bị sang Con Đường Đệ Tử. Đến đây, Tôi muốn chỉ ra rằng Tôi sẽ bàn đến một thời kỳ bao gồm các giai đoạn của địa vị đệ tử, từ giai đoạn đầu tiên cho đến giai đoạn chân sư. Ở giai đoạn thứ tư, người đệ tử bước ra khỏi nhóm của Chân sư mình và trở thành điều mà huyền bí học gọi là “một phương diện cố định của Thánh đoàn”. Đây là một cụm từ tất nhiên hoàn toàn vô nghĩa đối với các bạn.

14. Little Chelaship may be considered a stage of probationary discipleship. During this stage, the probationary disciple is really an aspirant, and not necessarily a “true aspirant” as DK later defines that term. Little Chelaship (though associated correspondentially with the first initiation) probably does not necessitate the taking of that initiation. We will proceed carefully, however, and attempt to draw the most reasonable conclusions. Master DK, probably intentionally, refrains from being too concrete when speaking of these matters. He seeks to avoid the ‘hardening’ of the concrete mind with its endless possibilities for rigid classification.

14. Có thể xem Địa vị tiểu đệ tử là một giai đoạn của địa vị đệ tử dự bị. Trong giai đoạn này, đệ tử dự bị thực sự là một người chí nguyện, và chưa chắc là một “người chí nguyện chân chính”theo định nghĩa mà Chân sư DK đưa ra sau này cho thuật ngữ ấy. Địa vị tiểu đệ tử (dù có mối liên hệ tương ứng với lần điểm đạo thứ nhất) có lẽ không đòi hỏi phải trải qua lần điểm đạo ấy. Tuy nhiên, chúng ta sẽ tiến hành thận trọng và cố gắng rút ra những kết luận hợp lý nhất. Có lẽ Chân sư DK cố ý tránh quá cụ thể khi nói về những vấn đề này. Ngài tìm cách tránh sự ‘xơ cứng’của trí cụ thể với vô vàn khả năng phân loại cứng nhắc của nó.

15. In the paragraph above Master DK is referencing a long period of disciplic development—a period perhaps of twenty or even thirty incarnations. On the other hand, for the soul that is truly intent, it may be a period of perhaps only ten incarnations.

15. Trong đoạn trên, Chân sư DK đang đề cập đến một thời kỳ phát triển lâu dài của đệ tử—một thời kỳ có lẽ kéo dài hai mươi hoặc thậm chí ba mươi kiếp lâm phàm. Mặt khác, đối với linh hồn thực sự quyết tâm, đó có thể là một thời kỳ có lẽ chỉ gồm mười kiếp lâm phàm.

16. The fourth stage of discipleship here referenced is that of Chela on the Thread. Such a chela is definitely a peripheral member of Hierarchy. The chela has mounted the Fixed Cross and upon that Cross has proven himself. Thus He can become “a fixed aspect of the Hierarchy”. He can be trusted not to deviate (as so many may and do) before the “Temptation in the Desert” is passed.

16. Giai đoạn thứ tư của địa vị đệ tử được nhắc đến ở đây là giai đoạn Đệ tử trên đường dây. Một đệ tử như vậy chắc chắn là thành viên ở ngoại vi của Thánh đoàn. Người đệ tử đã bước lên Thập Giá Cố Định và chứng tỏ bản thân trên Thập Giá ấy. Nhờ đó, y có thể trở thành “một phương diện cố định của Thánh đoàn”. Có thể tin rằng y sẽ không chệch hướng (như rất nhiều người có thể và thực sự đã làm) trước khi vượt qua “Sự Cám Dỗ trong Hoang Mạc”.

He comes then under the influence of Shamballa and the mode of preparing people for association with that first major centre is very different to that of preparing them for participation in the work of the centre which we call the Hierarchy. The one involves the development of love and of group consciousness; the other involves the unfoldment of the will and the attainment of the stage to which Patanjali gives the name of “isolated unity. ” This is a phrase which is quite meaningless to any one below the degree of the third initiation. In this discussion, I shall not be dealing with preparation for the various initiations and their specific differences. I shall be dealing with the growth of what is called “ashramic intimacy,” with the approach of the disciple to the world of souls and to the unfoldment of his consciousness in relation to the Hierarchy. I shall be concerned with his growth in sensitivity and his subsequent and consequent growth in creativity—not the creativity of form as much as the creativity of vibration, its impact upon the world of men and the consequent later appearance of responsive organisms, in contra-distinction to created forms. I would ask you to reflect upon this thought.

Khi ấy, y chịu ảnh hưởng của Shamballa, và phương thức chuẩn bị cho con người liên kết với trung tâm chính yếu thứ nhất ấy rất khác với phương thức chuẩn bị cho họ tham gia công việc của trung tâm mà chúng ta gọi là Thánh đoàn. Một bên bao hàm sự phát triển tình thương và tâm thức nhóm; bên kia bao hàm sự khai mở ý chí và đạt đến giai đoạn mà Patanjali gọi là “Hợp Nhất Cô Lập”. Đây là một cụm từ hoàn toàn vô nghĩa đối với bất kỳ ai chưa đạt cấp độ của lần điểm đạo thứ ba. Trong phần thảo luận này, Tôi sẽ không bàn đến việc chuẩn bị cho các cuộc điểm đạo khác nhau và những khác biệt cụ thể giữa chúng. Tôi sẽ bàn đến sự phát triển của điều được gọi là “sự gần gũi trong ashram”, đến việc người đệ tử tiếp cận thế giới linh hồn và sự khai mở tâm thức của y trong mối quan hệ với Thánh đoàn. Tôi sẽ quan tâm đến sự phát triển tính nhạy cảm của y, rồi đến sự phát triển năng lực sáng tạo theo sau và phát sinh từ đó—không thiên về việc sáng tạo hình tướng bằng việc sáng tạo rung động, tác động của rung động ấy lên thế giới loài người và sự xuất hiện về sau của những cơ cấu sống có khả năng đáp ứng do tác động ấy mang lại, khác với những hình tướng được tạo ra. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về tư tưởng này.

17. When does the chela come under the influence of Shamballa? Perhaps, to some small extent, in preparation for the third initiation, at which point the monadic aspect is activated and consciously registered.

17. Khi nào người đệ tử chịu ảnh hưởng của Shamballa? Có lẽ, ở một mức độ nhỏ, trong khi chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ ba, thời điểm phương diện chân thần được kích hoạt và ghi nhận một cách có ý thức.

18. Two modes of preparation are here discussed. Theoretically we can discuss the second; practically, we are interested in the first—that of preparation for participation in Hierarchy. Love and group consciousness can be equated; much work still remains to be accomplished along these lines by the average disciple today. It is unsafe to approach Shamballa before love and group consciousness have been instituted.

18. Ở đây có hai phương thức chuẩn bị được bàn đến. Về mặt lý thuyết,chúng ta có thể thảo luận phương thức thứ hai; về mặt thực hành, chúng ta quan tâm đến phương thức thứ nhất—chuẩn bị để tham gia Thánh đoàn. Có thể xem tình thương và tâm thức nhóm là tương đương; người đệ tử trung bình ngày nay vẫn còn nhiều việc phải hoàn thành theo những hướng này. Tiếp cận Shamballa trước khi tình thương và tâm thức nhóm được thiết lập là điều không an toàn.

19. The unfoldment of the will and the attainment of “isolated unity” are closely related. The one who knows that “the macrocosmic Whole is all there is” has attained isolated unity. This advanced state can only be approach when the heart is open. I would recommend the meditation in DINA II, 660-661, on the qualities of the heart center. When the ‘curriculum of the heart’ is fulfilled, the initiate is prepared to begin to grasp the nature of isolated unity. One must be a Master to grasp this realization in real fullness.

19. Sự khai mở ý chí và việc đạt đến “Hợp Nhất Cô Lập”có mối liên hệ chặt chẽ. Người biếtrằng “Toàn Thể đại thiên địa là tất cả những gì hiện hữu.”đã đạt đến Hợp Nhất Cô Lập. Chỉ có thể tiếp cận trạng thái tiến bộ này khi trái tim rộng mở. Tôi muốn giới thiệu bài thiền trong DINA II, 660-661, về những phẩm tính của trung tâm tim. Khi ‘chương trình học của trái tim’được hoàn tất, điểm đạo đồ sẵn sàng bắt đầu nắm bắt bản chất của Hợp Nhất Cô Lập. Phải là một Chân sư mới có thể nắm bắt sự chứng nghiệm này một cách thực sự trọn vẹn.

20. DK narrows His consideration, telling us what He will and will not do. His theme is “ashramic intimacy” and the disciple’s approach to the “world of souls”. The ensuing discussion is related to the unfoldment of ashramic and hierarchical consciousness.

20. Chân sư DK thu hẹp phạm vi xem xét của Ngài, cho chúng ta biết Ngài sẽ làm gì và không làm gì. Chủ đề của Ngài là “sự thân mật với ashram”và sự tiếp cận của người đệ tử với “thế giới linh hồn”. Phần thảo luận tiếp theo liên quan đến sự khai mở tâm thức ashram và tâm thức Thánh đoàn.

21. The term “ashramic intimacy” is arresting. It suggests that many barriers which prevent communion with the Ashram are out of the way. As with all states of intimacy, daring and risk are involved; fear must be suspended. It is clear that before such intimacy becomes factual, there must exist considerable trust in both directions—from the disciple towards the Ashram, and from the Ashram towards the disciple. Can one imagine real intimacy if trust does not exist?

21. Thuật ngữ “sự thân mật với ashram”gây chú ý. Nó gợi ý rằng nhiều rào cản ngăn trở sự hiệp thông với ashram đã được loại bỏ. Cũng như mọi trạng thái thân mật, ở đây cần sự táo bạo và chấp nhận rủi ro; phải gác lại nỗi sợ. Rõ ràng, trước khi sự thân mật như vậy trở thành hiện thực, phải có lòng tinđáng kể theo cả hai chiều—từ người đệ tử hướng tới ashram, và từ ashram hướng tới người đệ tử. Liệu có thể hình dung sự thân mật thực sự nếu không có lòng tin?

22. DK discusses the growth of sensitivity. It is, we remember, insensitivity which robs the familiar of its revelatory value.

22. Chân sư DK bàn về sự tăng trưởng tính nhạy cảm. Chúng ta nhớ rằng chính sự thiếu nhạy cảmtước đi giá trị mặc khải của những điều quen thuộc.

23. Two types of creativity are discussed: “creativity of form” and “creativity of vibration”. With the first kind of creativity we are rather familiar. The creator brings forth new forms and presents them to the world. But what is “creativity of vibration”, leading to the appearance of “responsive organisms” rather than “created forms”?

23. Hai loại tính sáng tạo được bàn đến là: “tính sáng tạo hình tướng”và “tính sáng tạo rung động”. Chúng ta khá quen thuộc với loại tính sáng tạo thứ nhất. Người sáng tạo tạo ra những hình tướng mới và đưa chúng đến với thế giới. Nhưng “tính sáng tạo rung động”là gì, mà lại dẫn đến sự xuất hiện của “những cơ cấu hữu cơ có khả năng đáp ứng”thay vì “những hình tướng được tạo ra”?

24. Perhaps it is the capacity to skillfully alter vibration so that it conforms to the vibratory pattern which must be according to the Plan and Purpose. A truly responsive organism is characterized by much sensitivity between its parts and by a great sensitivity of its organic wholeness to other wholes. Unless intra-systemic vibrations are handled skillfully, there will be dissonance and lack of cohesion, and no real intra-organismic sensitivity. The kind of sensitivity of which we speak relies upon harmony; it is creativity of vibration which can create this harmony and produce those internal relations which allow “responsive organisms” to exist.

24. Có lẽ đó là khả năng thay đổi rung động một cách khéo léođể nó phù hợp với mô hình rung động phải hiện hữutheo Thiên Cơ và Thiên Ý. Một cơ cấu hữu cơ thực sự có khả năng đáp ứng mang đặc trưng là tính nhạy cảm cao giữa các bộ phận và tính nhạy cảm rất lớn của toàn thể hữu cơ ấy đối với những toàn thể khác. Nếu không xử lý khéo léo những rung động bên trong hệ thống, sẽ có sự bất hòa và thiếu cố kết, và không có tính nhạy cảm thực sự bên trong cơ cấu hữu cơ. Loại tính nhạy cảm mà chúng ta đang nói đến dựa vào sự hài hòa; chính tính sáng tạo rung động có thể tạo nên sự hài hòa này và tạo ra những mối liên hệ nội tại cho phép “những cơ cấu hữu cơ có khả năng đáp ứng”hiện hữu.

25. So, we are asked to become creative in the wielding of vibration—to selectively create the vibrations which we will radiate and choose the vibrations to which we will respond. When this type of creativity is operating correctly, the group organisms in which we participate will be externally and subtly healthy, and both internal and external responsiveness will reach a high stage of development.

25. Vì vậy, chúng ta được yêu cầu trở nên sáng tạo trong việc vận dụng rung động—tạo ra một cách có chọn lọc những rung động mà chúng ta sẽ phát ra và lựa chọn những rung động mà chúng ta sẽ đáp ứng. Khi loại tính sáng tạo này hoạt động đúng đắn, những cơ cấu nhóm mà chúng ta tham gia sẽ lành mạnh cả về mặt bên ngoài lẫn mặt vi tế, và khả năng đáp ứng cả bên trong lẫn bên ngoài sẽ đạt đến một giai đoạn phát triển cao.

26. Let us wield vibration creatively and in line with the greater Good. Let us pattern vibration creatively within any larger context in which we find ourselves a participant.

26. Chúng ta hãy vận dụng rung động một cách sáng tạo và phù hợp với điều Thiện lớn lao hơn. Chúng ta hãy định hình rung động một cách sáng tạo trong bất kỳ bối cảnh rộng lớn hơn nào mà mình tham gia.

27. Creativity of vibration is subtler affair than creativity of form. It is far less tangible, but utterly necessary if responsive organisms are to be created.

27. Tính sáng tạo rung động là một vấn đề tinh tế hơn tính sáng tạo hình tướng. Nó ít hữu hình hơn nhiều, nhưng hoàn toàn thiết yếu để tạo ra những cơ cấu hữu cơ có khả năng đáp ứng.

This growth in sensitivity is difficult to understand. The members of a Master’s group and of His Ashram have to become increasingly sensitive—sensitive to the Master and to His pledged workers. You cannot be made sensitive or be rendered sensitive by some type of process or ordered training. Men and women are sensitive, only they do not know it, being so preoccupied with outer matters, with form life and objective things.

Sự phát triển tính nhạy cảm này rất khó thấu hiểu. Các thành viên trong nhóm của một Chân sư và trong Ashram của Ngài phải ngày càng trở nên nhạy cảm—nhạy cảm với Chân sư và với những người hoạt động đã cam kết phụng sự Ngài. Không một loại tiến trình hay sự huấn luyện theo trình tự nào có thể khiến các bạn trở nên nhạy cảm. Những người nam và nữ vốn đã nhạy cảm, chỉ có điều họ không biết, vì quá bận tâm đến những vấn đề bên ngoài, đời sống hình tướng và những sự vật khách quan.

28. This sensitivity is required if there is to be group cohesion. An Ashram is a cohesive spiritual organism.

28. Sự nhạy cảm này là điều cần thiết để có sự cố kết nhóm. Một ashram là một cơ thể tinh thần có tính cố kết.

29. Have we questioned our own sensitivity to the Master and to His pledged workers? This can be done in ‘quiet reflection.

29. Chúng ta đã tự hỏi về sự nhạy cảm của mình đối với Chân sư và những người hoạt động đã cam kết của Ngài chưa? Có thể làm điều này trong sự ‘suy ngẫm tĩnh lặng.

30. An important point is brought forward. Training, per se, does not produce sensitivity. Perhaps, however, it may help us remove that which stands in the way of our innate sensitivity.

30. Một điểm quan trọng được nêu ra. Chính sự huấn luyện không tạo ra tính nhạy cảm. Tuy nhiên, có lẽ nó có thể giúp chúng ta loại bỏ những gì cản trở tính nhạy cảm bẩm sinh của chúng ta.

31. It is reassuring, is it not, to realize that we are inherently sensitive. It is our outer preoccupations which prevent us from utilizing the sensitivity of which we are already possessed.

31. Thật yên tâm khi nhận ra rằng chúng ta vốn đã nhạy cảm, phải không? Chính những mối bận tâm bên ngoài ngăn cản chúng ta sử dụng tính nhạy cảm mà chúng ta đã có.

32. The obvious question for us is, “with what are we outwardly preoccupied”. Preoccupation is of the nature of maya; naturally, when we are caught in the swirl of habitual activity we do not notice that it is habitual and a deterrent to sensitivity.

32. Câu hỏi hiển nhiên đối với chúng ta là, “chúng ta đang bận tâm đến điều gì ở bên ngoài”. Sự bận tâm mang bản chất của ảo lực; dĩ nhiên, khi bị cuốn vào vòng xoáy của hoạt động theo thói quen, chúng ta không nhận thấy rằng đó là thói quen và là một trở ngại đối với tính nhạy cảm.

33. If we do find ourselves doing something in a rather obsessive manner which, propelled by its own momentum, refuses to stop, we may have detected a pattern which militates against sensitivity.

33. Nếu quả thật chúng ta nhận thấy mình đang làm một việc gì đó theo cách khá ám ảnh, mà do động lượng của chính nó thúc đẩy nên cứ tiếp diễn không chịu dừng lại, thì có thể chúng ta đã phát hiện một mô hình chống lại tính nhạy cảm.

34. Preoccupation is a matter of ‘action at the periphery’; it is, in a way, a loss of center.

34. Sự bận tâm là vấn đề ‘hoạt động ở ngoại vi’; theo một nghĩa nào đó, đó là sự đánh mất trung tâm.

Let me put it this way: What you say to yourself and to others—through your spoken words or your life—is so noisy that it is not easy to be what you are and to be recognised as a [711] spiritual being. The Master is guided by what He knows of you in your quiet moments of aspiration, by what you have demonstrated for years to be your fixed life tendency and by the manner in which you react at moments of crisis or tension. The task of the Master is to stimulate the disciple to be at all times what He knows him to be at his highest times. That is a simple and almost childish way of putting it but it serves to express the general idea.

Tôi xin diễn đạt như sau: Những gì các bạn nói với chính mình và với người khác—qua lời nói hay cuộc sống của mình—ồn ào đến mức các bạn khó có thể sống đúng với bản chất mình và được nhận biết là một [711] sinh linh tinh thần. Chân sư căn cứ vào những gì Ngài biết về các bạn trong những khoảnh khắc khát vọng tĩnh lặng, vào điều mà các bạn đã thể hiện suốt nhiều năm là khuynh hướng sống ổn định của mình, và vào cách các bạn phản ứng trong những lúc khủng hoảng hay căng thẳng. Nhiệm vụ của Chân sư là kích thích người đệ tử để y luôn sống đúng với con người mà Ngài biết y đạt tới trong những thời khắc cao cả nhất. Đó là một cách diễn đạt đơn giản và gần như trẻ thơ, nhưng cũng đủ để truyền đạt ý tưởng chung.

35. The Master speaks directly of our noisiness. Words are often noisy, but a life-as-lived, may be noisy as well. Apparently we are putting forth many discordant vibrations of considerable amplitude; these vibrations act as a kind of barrier between what we really are and what we seem to be. The issue discussed here is one of transparency—a state which arises through the right kind of quietude.

35. Chân sư nói thẳng về sự ồn ào của chúng ta. Lời nói thường ồn ào, nhưng cách chúng ta sống cũng có thể ồn ào như vậy. Dường như chúng ta đang phát ra nhiều rung động bất hòa với biên độ đáng kể; những rung động này tạo thành một loại rào cản giữa con người thật mà chúng ta là và con người mà chúng ta có vẻ là. Vấn đề được bàn ở đây là tính trong suốt—một trạng thái nảy sinh từ sự tĩnh lặng đúng cách.

36. How are we known? Certainly not by what we seem to be! Our fellow human beings may ‘know’ us in this rather indirect manner, but the Master (through deep love) has achieved the power of intimate comprehension and knows us as we are.

36. Người khác biết chúng ta như thế nào? Chắc chắn không phải qua con người mà chúng ta có vẻ là! Những người đồng loại có thể ‘biết’ chúng ta theo cách khá gián tiếp này, nhưng Chân sư, nhờ tình thương sâu sắc, đã đạt được năng lực thấu hiểu sâu tận và biết chúng ta đúng như con người thật của chúng ta.

37. He sees us at our internal ‘best’ and is not dismayed by our outer and fallible demonstrations which will, one day, subside.

37. Ngài nhìn thấy chúng ta ở trạng thái nội tâm ‘tốt đẹp nhất’ và không nản lòng trước những biểu hiện sai sót bên ngoài của chúng ta, vốn một ngày nào đó sẽ lắng xuống.

38. He knows us according to our “fixed life tendency”. We see here the need to become the “one-pointed disciple”. A constantly deviating disciple is still far from the goal.

38. Ngài biết chúng ta qua “khuynh hướng sống ổn định”. Ở đây, chúng ta thấy sự cần thiết phải trở thành “người đệ tử nhất tâm”. Một đệ tử liên tục chệch hướng vẫn còn cách xa mục tiêu.

39. As well, when crises and tensions emerge, what will we do? How will we respond? Such moments are testing moments, and that which is deeply recessed in us will emerge—for better or worse. The Master will see these emergences.

39. Ngoài ra, khi những khủng hoảng và căng thẳng xuất hiện, chúng ta sẽ làm gì? Chúng ta sẽ đáp ứng như thế nào? Những lúc như vậy là những thời điểm thử thách, và những gì ẩn sâu trong chúng ta sẽ bộc lộ—dù tốt hay xấu. Chân sư sẽ nhìn thấy những điều bộc lộ ấy.

40. When, at all times, we can be what we are at our “highest times”, the Master’s work with us will have been largely accomplished. Obviously, this is everyone’s task. We know what we are when “at our best”; we know as well the constant deviations from this “best”, and perhaps, what brings on these deviations. The Master works with us wisely, but the lion’s share of the work is our own, under the guidance of our Solar Angel.

40. Khi vào mọi lúc, chúng ta có thể sống đúng với con người của mình trong “những thời điểm cao nhất của mình”, thì công việc của Chân sư với chúng ta đã phần lớn hoàn thành. Hiển nhiên, đây là nhiệm vụ của mọi người. Chúng ta biết mình là người như thế nào khi “ở trạng thái tốt đẹp nhất”; chúng ta cũng biết những lần liên tục chệch khỏi trạng thái “tốt đẹp nhất” này, và có lẽ biết cả điều gì gây ra những lệch lạc ấy. Chân sư làm việc với chúng ta một cách minh triết, nhưng phần lớn của công việc là do chính chúng ta thực hiện, dưới sự hướng dẫn của Thái dương Thiên Thần của chúng ta.

A Master does this because the need of the world for decentralised, forward-looking, loving and intelligent workers is so great, particularly at this time. Many have reached the point where they may become sensitive if the loud assertions of personality are dimmed and the light of the soul is permitted to pour through. Then the Master can be known and contacted.

Chân sư làm điều này vì thế giới có nhu cầu rất lớn về những người hoạt động biết phi tập trung vào bản thân, hướng tới tương lai, giàu tình thương và thông tuệ, đặc biệt vào lúc này. Nhiều người đã đạt đến điểm mà họ có thể trở nên nhạy cảm nếu những tiếng khẳng định ồn ào của phàm ngã dịu xuống và ánh sáng linh hồn được phép tuôn qua. Khi ấy, họ có thể nhận biết và tiếp xúc với Chân sư.

41. Why should the Master bother with our training?—a rather small matter it would seem.

41. Tại sao Chân sư phải bận tâm đến việc huấn luyện chúng ta?—một việc có vẻ khá nhỏ nhặt.

42. World need is so great that He must. He is evoking our best. Our best is stored within our causal body. We can see why causal consciousness is so necessary. In such consciousness we are aligned with our best and highest, and can express them.

42. Nhu cầu của thế giới lớn đến mức Ngài phải làm như vậy. Ngài đang khơi dậy những gì tốt đẹp nhất trong chúng ta. Những gì tốt đẹp nhất của chúng ta được lưu giữ trong thể nguyên nhân. Chúng ta có thể thấy tại sao tâm thức nguyên nhân lại cần thiết đến vậy. Trong tâm thức ấy, chúng ta chỉnh hợp với những gì tốt đẹp nhất và cao nhất của mình, và có thể biểu lộ chúng.

43. A close study of the requirements above will show that personality assertions are related to the realm of sound, and soul presence to the realm of light. Indeed, the personality is, generically, an example of the third aspect of divinity (associated with sound), and the lighted soul of the second.

43. Nghiên cứu kỹ những yêu cầu trên sẽ cho thấy rằng những lời khẳng định của phàm ngã liên quan đến lĩnh vực âm thanh, còn sự hiện diện của linh hồn liên quan đến lĩnh vực ánh sáng. Thật vậy, xét về loại hình, phàm ngã là một ví dụ về phương diện thứ ba của thiên tính, gắn với âm thanh, còn linh hồn tỏa sáng là ví dụ về phương diện thứ hai.

44. What is required of us is a kind of ‘fade out/fade in’—what is called in the film industry, a “cross-fade”. The second ray is the ray of quietude; the third, the ray of sound, and often, when unregulated, of ‘loud’ speech and thought. Outer sounds must fade out so the inner light may fade in.

44. Điều chúng ta cần thực hiện là một kiểu ‘mờ dần/hiện dần’—điều mà ngành điện ảnh gọi là “chuyển cảnh hòa tan”. Cung hai là cung của sự tĩnh lặng; cung ba là cung của âm thanh, và thường là cung của lời nói cùng tư tưởng ‘ồn ào’ khi không được điều tiết. Âm thanh bên ngoài phải lắng dần để ánh sáng bên trong có thể hiện dần.

45. The prescription for contacting the Master is simple and clear: less noise.

45. Phương cách để tiếp xúc với Chân sư thật đơn giản và rõ ràng: bớt ồn ào.

When you can get away from yourselves and your personal reactions, your own interpretations, and your personal demands, you will discover for yourselves how and in what manner the Master is seeking to impress you and the group with which you may be affiliated. You will become sensitive to that impression. You can then facilitate (as it is called) the activity of the Master by a profound and deep interest in the esoteric life to the exclusion of your own and also of the Master’s individuality. There are many ways which can then be revealed which will aid the interplay between you, the disciple, and the Master.

Khi có thể thoát khỏi sự bận tâm về bản thân cùng những phản ứng cá nhân, những cách diễn giải riêng và những đòi hỏi cá nhân, các bạn sẽ tự khám phá cách thức Chân sư đang tìm cách truyền ấn tượng đến mình và đến nhóm mà mình có thể liên kết. Các bạn sẽ trở nên nhạy cảm với ấn tượng ấy. Khi đó, các bạn có thể tạo thuận lợi (như cách người ta gọi) cho hoạt động của Chân sư bằng sự quan tâm sâu sắc đến đời sống nội môn, vượt khỏi sự bận tâm đến cá tính riêng của mình cũng như của Chân sư. Bấy giờ, nhiều phương cách có thể được tiết lộ để hỗ trợ sự tương tác giữa các bạn, những người đệ tử, và Chân sư.

46. We are to step back from the personality; we are to ‘get away from ourselves’. Apparently our preoccupations are shutting the Master out—not to mention the soul.

46. Chúng ta cần lùi lại khỏi phàm ngã; chúng ta cần ‘thoát khỏi sự vướng bận vào bản thân’. Dường như những mối bận tâm của chúng ta đang ngăn Chân sư đến với chúng ta—chưa kể đến linh hồn.

47. Master DK is asking for ‘depersonalization’, decentralization—a lessening of our preoccupation with the outer man. If we can succeed, the sensitivity we already have will make itself apparent.

47. Chân sư DK đang yêu cầu ‘thoát khỏi sự chi phối của phàm ngã’, phi tập trung vào bản thân—giảm bớt sự bận tâm đến con người bên ngoài. Nếu chúng ta có thể thành công, tính nhạy cảm mà chúng ta đã có sẽ tự bộc lộ.

48. Once that self-veiled sensitivity emerges we can assist the Master through our profound and deep interest in the esoteric life. This interest is to go forward in such a way that our own individuality and even that of the Master is of dwindling interest. Let us pause to ask, “Is this the case for us?”

48. Một khi tính nhạy cảm do chính mình che lấp ấy xuất hiện, chúng ta có thể trợ giúp Chân sư qua sự quan tâm sâu xa và sâu sắc đến đời sống nội môn. Sự quan tâm này phải phát triển đến mức chúng ta ngày càng ít chú tâm đến cá tính riêng của mình và thậm chí cả cá tính riêng của Chân sư. Chúng ta hãy dừng lại để tự hỏi, “Điều này có đúng với chúng ta không?”

49. Of course “the esoteric life” here referenced is not merely esoteric study. It is an attitude of deep and subtle responsiveness towards all occurrences, inner and outer. Such a life can only be pursued within an ‘internal quietude’ which persists in the midst of surface noise.

49. Dĩ nhiên, “đời sống nội môn” được nói đến ở đây không chỉ là việc nghiên cứu nội môn. Đó là một thái độ đáp ứng sâu sắc và tinh tế đối với mọi sự việc xảy ra, cả bên trong lẫn bên ngoài. Chỉ có thể theo đuổi một đời sống như vậy trong sự ‘tĩnh lặng nội tâm’ vẫn duy trì giữa tiếng ồn trên bề mặt.

50. DK seems to be hinting at certain mysterious revelations which emerge in the midst of internal quietude, while deeply and profoundly living the esoteric life. These revelations are usually shut out by our self-generated surface noise.

50. Dường như Chân sư DK đang gợi ý về những sự mặc khải huyền nhiệm nhất định xuất hiện trong sự tĩnh lặng nội tâm, khi sống đời sống nội môn một cách sâu xa và sâu sắc. Những sự mặc khải này thường bị tiếng ồn trên bề mặt do chính chúng ta tạo ra ngăn chặn.

51. The Master will not tell us how the interplay between us and Him is to be facilitated. We are to learn of these things in the quiet, away from the noise of our lower self.

51. Chân sư sẽ không nói cho chúng ta biết cách tạo thuận lợi cho sự tương tác giữa chúng ta và Ngài. Chúng ta cần học biết những điều này trong sự tĩnh lặng, tránh xa tiếng ồn của phàm ngã.

52. I am reminded of one of DK’s important counsels from TWM: “Keep silence and the light will enter in. ”

52. Tôi nhớ đến một trong những lời khuyên quan trọng của Chân sư DK trong Luận về Chánh Thuật: “Hãy giữ im lặng và ánh sáng sẽ đi vào. ”

As all the rays are the subrays of the second ray, we shall be primarily concerned with the second ray modes of working with disciples; they form the basis of all the other techniques. The differences which may appear lie in the application of processes according to ray type and the utilisation of emphasis upon certain centres. Again, I would ask you to ponder on this phrase because it contains much information for those who can bring the light of the intuition to bear upon it. I shall be dealing with the relation of a Master and His group to the individual disciple and not so much with the attitudes and procedures of the disciple. This, you will note is a somewhat new slant.

Vì tất cả các cung đều là những cung phụ của cung hai, chúng ta sẽ chủ yếu quan tâm đến những phương thức làm việc với đệ tử của cung hai; chúng tạo thành nền tảng cho mọi kỹ thuật khác. Những khác biệt có thể xuất hiện nằm ở việc áp dụng các tiến trình tùy theo loại cung và ở việc sử dụng sự nhấn mạnh vào một số trung tâm nhất định. Một lần nữa, Tôi muốn các bạn suy ngẫm về cụm từ này, vì nó chứa đựng nhiều thông tin đối với những ai có thể đem ánh sáng trực giác soi rọi nó. Tôi sẽ bàn đến mối quan hệ của một Chân sư và nhóm của Ngài với từng đệ tử, hơn là những thái độ và phương thức thực hành của người đệ tử. Các bạn sẽ nhận thấy đây là một góc nhìn có phần mới mẻ.

53. The importance of the second ray is constantly stated in the Tibetan’s writings.

53. Tầm quan trọng của cung hai liên tục được khẳng định trong các trước tác của Chân sư Tây Tạng.

54. It is the modes of working on the second ray that those on all rays must learn. Love-Wisdom is the primary energy for both our planet and solar system. It is easy to forget this, as there tends to be an emphasis on distinction in the minds of many disciples.

54. Chính các phương thức làm việc theo cung hai là điều mà những người thuộc mọi cung đều phải học. Bác Ái – Minh Triết là năng lượng chủ yếu của cả hành tinh lẫn hệ mặt trời của chúng ta. Chúng ta dễ quên điều này, vì trong thể trí của nhiều đệ tử thường có khuynh hướng nhấn mạnh những khác biệt.

55. Of course a Master working with His chelas needs to know the various differences and distinctions here mentioned, but the principal approach is that of the second ray.

55. Dĩ nhiên, một Chân sư làm việc với các đệ tử của Ngài cần biết những khác biệt và nét phân biệt được đề cập ở đây, nhưng cách tiếp cận chủ yếu vẫn là cách của cung hai.

56. Every ray can be correlated with one or more chakras. The heart within the head, correlated to the second ray, would seem to be a constant in all ray techniques.

56. Mỗi cung đều có thể tương ứng với một hay nhiều luân xa. Trung tâm tim trong đầu, tương ứng với cung hai, dường như là một yếu tố bất biến trong mọi kỹ thuật của các cung.

57. Our approach, then, will be to understand the principal technique and other ray adaptations as necessary.

57. Vậy, cách tiếp cận của chúng ta sẽ là thấu hiểu kỹ thuật chủ yếu và những điều chỉnh theo các cung khác khi cần thiết.

58. We are going to receive the ashramic perspective in this matter. We can act “as if” we were members of the Ashram, and attempt to understand the stages of discipleship from that rather different “slant”.

58. Chúng ta sắp tiếp nhận góc nhìn của ashram về vấn đề này. Chúng ta có thể hành động “như thể” mình là thành viên của ashram, và cố gắng thấu hiểu các giai đoạn của địa vị đệ tử từ “góc nhìn” khá khác biệt ấy.

Basically and essentially, the disciple’s attitude is not really of much importance in comparison with the effect of the Hierarchy and its techniques upon him. The results are [712] inevitable, because they are dependent upon two important factors:

Về cơ bản và thực chất, thái độ của người đệ tử thật ra không quan trọng lắm so với tác động của Thánh đoàn và các kỹ thuật của Thánh đoàn lên y. Những kết quả ấy là [712] tất yếu, vì chúng tùy thuộc vào hai yếu tố quan trọng:

59. DK relegates the disciple’s attitude to a relatively unimportant position. It is the power of the Hierarchy and its techniques is emphasized.

59. Chân sư DK đặt thái độ của người đệ tử vào một vị trí tương đối ít quan trọng. Điều được nhấn mạnh là quyền năng của Thánh đoàn và các kỹ thuật của Thánh đoàn.

60. It is important to realize that much that is of great importance to the progress of the individual disciple does not originate from within his individual nature.

60. Cần nhận ra rằng nhiều điều vô cùng quan trọng đối với sự tiến bộ của từng đệ tử không bắt nguồn từ bên trong bản chất cá nhân của y.

61. It seems that if Hierarchy applies its techniques, the individual disciple will inevitably respond. However, the disciple to whom the techniques are applied must be fit to receive them.

61. Dường như nếu Thánh đoàn áp dụng các kỹ thuật của mình, người đệ tử tất yếu sẽ đáp ứng. Tuy nhiên, người đệ tử mà các kỹ thuật ấy được áp dụng cho phải đủ điều kiện để tiếp nhận chúng.

1. The first factor is that directed, hierarchical impression is not imposed until the man has fitted himself through self-discipline to respond to it and is, therefore, nearing the end of the Path.

1. Yếu tố thứ nhất là Thánh đoàn chỉ truyền ấn tượng có định hướng khi con người đã rèn luyện bản thân bằng sự tự kỷ luật để có khả năng đáp ứng, và do đó đang tiến gần đến cuối Đường Đạo.

62. Hierarchy utilizes intelligence and correct timing in the matter of imposing “hierarchical impression”.

62. Thánh đoàn vận dụng trí thông minh và chọn đúng thời điểm trong việc truyền “ấn tượng của Thánh đoàn”.

63. Under the Law of Economy, Hierarchy will not apply techniques to those who are unable to respond.

63. Theo Định luật Tiết Kiệm, Thánh đoàn sẽ không áp dụng các kỹ thuật cho những người không có khả năng đáp ứng.

64. We note the role of self-discipline in preparing for proper response to hierarchical impression.

64. Chúng ta lưu ý vai trò của kỷ luật bản thân trong việc chuẩn bị để đáp ứng đúng đắn với ấn tượng của Thánh đoàn.

2. The second is the factor of group response. This means response in two directions:

2. Yếu tố thứ hai là sự đáp ứng nhóm. Điều này có nghĩa là đáp ứng theo hai hướng:

a. To sensed human need, leading consequently to a pledged life of service.

a. Với nhu cầu nhân loại mà y cảm nhận được, từ đó dẫn đến một cuộc đời cam kết phụng sự.

b. To soul impression, leading to spiritual sensitivity.

b. Với ấn tượng của linh hồn, dẫn đến tính nhạy cảm tinh thần.

65. The soul is group conscious, and the Hierarchy will not impose its techniques until that group consciousness has been somewhat developed.

65. Linh hồn có tâm thức nhóm, và Thánh đoàn sẽ không áp dụng các kỹ thuật của mình cho đến khi tâm thức nhóm ấy đã phát triển đến một mức độ nào đó.

66. If a disciple responds to human need, he will pledge his life to service.

66. Nếu một đệ tử đáp ứng với nhu cầu nhân loại, y sẽ cam kết dành cuộc đời mình cho việc phụng sự.

67. Response to human need and to soul are both group responses—for, in fact, there is no “my soul and thine”, and the so-called ‘individual soul’ is something of an illusion.

67. Sự đáp ứng với nhu cầu nhân loại và với linh hồn đều là những đáp ứng nhóm—vì thật ra không có “linh hồn của tôi và linh hồn của bạn”, và cái gọi là ‘linh hồn cá nhân’ phần nào là một ảo tưởng.

When these two factors are established—even if unknown to the disciple in his waking consciousness—the grip of the soul upon the personality becomes irrevocable. Then, and only then, the Master can begin to work and the response will be effective, real and lasting.

Khi hai yếu tố này đã được xác lập—ngay cả khi người đệ tử không biết điều đó trong tâm thức tỉnh thức—thì sự nắm giữ của linh hồn đối với phàm ngã trở nên không thể đảo ngược. Khi ấy, và chỉ khi ấy, Chân sư mới có thể bắt đầu làm việc, và sự đáp ứng sẽ hữu hiệu, chân thực và bền vững.

68. When a man has risen through self-discipline and is capable of group response, it indicates a powerful and irrevocable grip by the soul upon the personality. It is interesting that the two factors of 1) sufficient discipline and 2) group response may not be apprehended to the disciple in his waking consciousness.

68. Khi một người đã vươn lên nhờ kỷ luật bản thân và có khả năng đáp ứng nhóm, điều đó cho thấy linh hồn đã nắm giữ phàm ngã một cách mạnh mẽ và không thể đảo ngược. Điều thú vị là người đệ tử có thể không nhận biết hai yếu tố: 1) kỷ luật đủ mức và 2) đáp ứng nhóm, trong tâm thức tỉnh thức của mình.

69. We are looking at the preliminary requirements which signal the onset of the Master’s work. The Master cannot work unless the “grip of the soul upon the personality” has become “irrevocable”.

69. Chúng ta đang xem xét những yêu cầu sơ bộ báo hiệu sự khởi đầu công việc của Chân sư. Chân sư không thể làm việc trừ khi “sự nắm giữ của linh hồn đối với phàm ngã” đã trở nên “không thể đảo ngược”.

Now let me enumerate for you again the stages with which we shall be dealing:

Giờ đây, Tôi xin liệt kê lại cho các bạn những giai đoạn mà chúng ta sẽ bàn đến:

1. The stage wherein the disciple is contacted by the Master through some chela upon the physical plane. This is the stage of Little Chelaship.

1. Giai đoạn Chân sư tiếp xúc với người đệ tử thông qua một đệ tử nào đó trên cõi hồng trần. Đây là giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử.

70. This is clearly an external stage. The young disciple is insufficiently sensitive to anything but an outward recognition of the Master’s quality mediated through the Master’s chela upon the physical plane.

70. Đây rõ ràng là một giai đoạn bên ngoài. Người đệ tử còn non trẻ chưa đủ nhạy cảm để nhận biết điều gì ngoài sự nhận ra bên ngoài về phẩm tính của Chân sư, qua trung gian là đệ tử của Ngài trên cõi hồng trần.

71. Of the first three stages, this stage can be correlated with the third ray.

71. Trong ba giai đoạn đầu, giai đoạn này có thể tương ứng với cung ba.

2. The stage wherein a higher disciple directs the chela from egoic or soul levels. This is the stage called a Chela in the Light.

2. Giai đoạn một đệ tử cao cấp hơn hướng dẫn người đệ tử từ các cấp độ chân ngã hay linh hồn. Đây là giai đoạn được gọi là Đệ tử trong Ánh sáng.

72. In the phase of Chela in the Light, the directing disciple may be discarnate or incarnate. The directing, however, occurs from soul levels.

72. Trong giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng, người đệ tử hướng dẫn có thể không nhập thể hoặc đang nhập thể. Tuy nhiên, sự hướng dẫn diễn ra từ các cấp độ linh hồn.

73. In this second stage, the chela’s subjective sensitivity has grown beyond the sensitivity of the ‘Little Chela’.

73. Trong giai đoạn thứ hai này, tính nhạy cảm chủ quan của người đệ tử đã phát triển vượt quá tính nhạy cảm của ‘Tiểu đệ tử’.

74. Of the first three stages, this stage can be correlated with the second ray.

74. Trong ba giai đoạn đầu, giai đoạn này có thể tương ứng với cung hai.

3. The stage wherein, according to necessity, the Master contacts the chela through:

3. Giai đoạn, tùy theo nhu cầu, Chân sư tiếp xúc với người đệ tử qua:

a. A vivid dream experience.

a. Một trải nghiệm giấc mơ sống động.

b. A symbolic teaching.

b. Một giáo huấn mang tính biểu tượng.

c. The using of a thoughtform of some Master.

c. Việc sử dụng một hình tư tưởng của một Chân sư nào đó.

d. A contact with the Master in meditation.

d. Một sự tiếp xúc với Chân sư trong tham thiền.

e. A definite, remembered interview with the Master in His Ashram.

e. Một cuộc diện kiến rõ ràng với Chân sư trong Ashram của Ngài mà người đệ tử nhớ được.

75. Of the first three stages, this stage can be correlated with the first ray. This stage, in general, represents a rather direct and relatively unmediated contact with the Master. In the last of the five modes of contact here enumerated, it is entirely direct.

75. Trong ba giai đoạn đầu, giai đoạn này có thể tương ứng với cung một. Nhìn chung, giai đoạn này thể hiện một sự tiếp xúc khá trực tiếp và tương đối ít qua trung gian với Chân sư. Trong phương thức cuối cùng của năm phương thức tiếp xúc được liệt kê ở đây, sự tiếp xúc hoàn toàn trực tiếp.

76. When we come to the discussion of stage three of the Six Stages of Discipleship we will explore the implications of each of these five modes of contact.

76. Khi bàn đến giai đoạn thứ ba trong Sáu Giai Đoạn của Địa Vị Đệ Tử, chúng ta sẽ tìm hiểu những hàm ý của từng phương thức trong năm phương thức tiếp xúc này.

77. We should continued to remember that each of the seven stages of discipleship (although we are studying then as the Six Stages of Discipleship) is being presented from the point of view of the Master and the Ashram

77. Chúng ta nên tiếp tục nhớ rằng mỗi giai đoạn trong bảy giai đoạn của địa vị đệ tử, mặc dù chúng ta đang nghiên cứu chúng dưới tên gọi Sáu Giai Đoạn của Địa Vị Đệ Tử, đều được trình bày từ quan điểm của Chân sư và ashram

78. In each of the five modes of contact characteristic of Accepted Discipleship, we are to understand the Master as the prime initiator of contact with the disciple.

78. Trong mỗi phương thức thuộc năm phương thức tiếp xúc đặc trưng cho Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận, chúng ta cần hiểu rằng Chân sư là Đấng chủ động khởi xướng sự tiếp xúc với người đệ tử.

This is definitely the stage of Accepted Discipleship.

Đây rõ ràng là giai đoạn Địa vị đệ tử được chấp nhận.

4. The stage wherein, having shown his wisdom in work and his appreciation of the Master’s problem, the disciple is taught how (in an emergency) to attract the Master’s attention and thus draw upon His strength and knowledge and advice. This is an instantaneous happening [713] and practically takes none of the Master’s time. This has the peculiar name of the Chela on the Thread, or Sutratma.

4. Giai đoạn người đệ tử, sau khi đã thể hiện minh triết trong công việc và sự thấu hiểu vấn đề của Chân sư, được dạy cách thu hút sự chú ý của Ngài (trong trường hợp khẩn cấp), nhờ đó có thể sử dụng sức mạnh, tri thức và lời khuyên của Ngài. Điều này xảy ra tức thời [713] và thực tế hầu như không chiếm chút thời gian nào của Chân sư. Giai đoạn này có tên gọi đặc biệt là Đệ tử trên đường dây, hay Sutratma.

79. Beyond the stage of Accepted Discipleship lies for the disciple the possibility of contacting the Master according to need as a Chela on the Thread.

79. Sau giai đoạn Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận, người đệ tử có khả năng tiếp xúc với Chân sư tùy theo nhu cầu, với tư cách là Đệ tử trên đường dây.

80. We note that this type of contact is not initiated by the Master as was stage three, but by the disciple.

80. Chúng ta lưu ý rằng loại tiếp xúc này không do Chân sư khởi xướng như trong giai đoạn thứ ba, mà do người đệ tử.

81. We note the two prerequisites: the disciple permitted to contact the Master must 1) appreciate the Master’s problem and 2) must only seek to attract the Master’s attention in cases of emergency. Such an emergency will never be a personal emergency; it will be an emergency in relation to the work which the disciple is performing on behalf of the Master and the Ashram. If we believe ourselves affiliated with a particular Master’s group or Ashram, how deeply do we appreciate the Master’s problem? The attempt to answer the question will be an exercise in decentralization—and humility.

81. Chúng ta lưu ý hai điều kiện tiên quyết: người đệ tử được phép tiếp xúc với Chân sư phải 1) thấu hiểu vấn đề của Chân sư và 2) chỉ tìm cách thu hút sự chú ý của Chân sư trong những trường hợp khẩn cấp. Một trường hợp khẩn cấp như thế sẽ không bao giờ là chuyện khẩn cấp cá nhân; đó sẽ là chuyện khẩn cấp liên quan đến công việc mà người đệ tử đang thực hiện thay mặt Chân sư và ashram. Nếu tin rằng mình có liên hệ với nhóm hoặc ashram của một Chân sư cụ thể, chúng ta thấu hiểu vấn đề của Chân sư sâu sắc đến đâu? Nỗ lực trả lời câu hỏi ấy sẽ là một bài tập về sự phi tập trung vào bản thân—và lòng khiêm nhường.

82. We note that the contact accorded to a Chela on the Thread is not a lengthy one. Rather it is instantaneous and does not represent a significant interruption to the Master. Nevertheless, even this kind of very brief contact for appropriating the Master’s strength, knowledge or advice, can only be initiated in true emergencies.

82. Chúng ta lưu ý rằng sự tiếp xúc dành cho một Đệ tử trên đường dây không kéo dài. Sự tiếp xúc ấy diễn ra tức thời và không gây gián đoạn đáng kể cho Chân sư. Tuy nhiên, ngay cả kiểu tiếp xúc rất ngắn ngủi này để tiếp nhận sức mạnh, tri thức hoặc lời khuyên của Chân sư cũng chỉ có thể được khởi xướng trong những trường hợp thực sự khẩn cấp.

83. Some sense of proportion should enter our minds. There are quite a few disciples who feel that the Master is rather constantly interested in them (as persons) and always available for consultation. I think we can see the error of this assumption through its lack of co-measurement.

83. Chúng ta cần có một ý thức nhất định về tỉ lệ trong thể trí. Có khá nhiều đệ tử cảm thấy rằng Chân sư gần như liên tục quan tâm đến họ (với tư cách cá nhân) và luôn sẵn sàng để họ tham vấn. Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy giả định này sai lầm vì nó thiếu sự cân nhắc tương xứng.

84. We may question: “What is the nature of the “thread” utilized to set up a call to the Master. ” We learn that it is related to the Sutratma or Life Thread.

84. Chúng ta có thể hỏi: “Bản chất của “sợi dây” dùng để thiết lập một lời kêu gọi đến Chân sư là gì? ” Chúng ta được biết rằng nó liên quan đến sinh mệnh tuyến hay Sợi dây Sự Sống.

5. The stage wherein the disciple is permitted to know the method whereby he may set up a vibration or a call which will entitle him to an interview with the Master. This is only permitted to those trusted chelas who can be depended upon not to use their knowledge for anything except the need of the work. No personality reason or distress would prompt them to use it. At this stage, the disciple is called a Chela within the aura.

5. Giai đoạn người đệ tử được phép biết phương pháp tạo ra một rung động hay một lời kêu gọi cho phép y được diện kiến Chân sư. Điều này chỉ dành cho những đệ tử đáng tin cậy, những người mà người ta có thể tin chắc rằng họ sẽ chỉ sử dụng tri thức ấy vì nhu cầu của công việc. Không một lý do hay nỗi khổ sở nào của phàm ngã có thể thúc đẩy họ sử dụng phương pháp ấy. Ở giai đoạn này, người đệ tử được gọi là Đệ tử trong hào quang.

85. The fifth stage is still more advanced. In this stage, the call to which the Master will respond will, in fact, require of Him a significant expenditure of time and energy.

85. Giai đoạn thứ năm còn tiến xa hơn nữa. Thật vậy, ở giai đoạn này, lời kêu gọi mà Chân sư sẽ đáp ứng đòi hỏi Ngài dành ra một lượng thời gian và năng lượng đáng kể.

86. The degree of trust required before the privileges related to this stage can be accorded is significant. Even dire personality distress will not prompt the “Chela within the Aura” to ‘send up’ a call for a direct interview with the Master. Only the needs of the work will entitle the chela to such an interview.

86. Cần có một mức độ tin cậy đáng kể trước khi có thể ban những đặc ân liên quan đến giai đoạn này. Ngay cả nỗi khổ cùng cực của phàm ngã cũng sẽ không thúc đẩy “Đệ tử trong hào quang” ‘gửi lên’ một lời kêu gọi xin diện kiến trực tiếp Chân sư. Chỉ nhu cầu công việc mới cho phép người đệ tử có được một cuộc diện kiến như thế.

87. We must realize the extremely busy schedule of a Master. Probably we would be staggered at the number of important processes in which the Masters are engaged, and at Their efficiency in organizing such processes.

87. Chúng ta phải nhận biết lịch trình vô cùng bận rộn của một Chân sư. Có lẽ chúng ta sẽ choáng ngợp trước số lượng những tiến trình quan trọng mà các Chân sư đang tham gia, cũng như hiệu quả của Các Ngài trong việc tổ chức những tiến trình ấy.

88. To be “within the aura” signifies great sensitivity to the Master’s vibration and quality. Such a chela can be easily overshadowed and can radiate the quality emanating from the Master and His Ashram.

88. Ở “trong hào quang” hàm ý sự nhạy cảm cao độ với rung động và phẩm tính của Chân sư. Một đệ tử như thế có thể dễ dàng được phủ bóng và có thể tỏa ra phẩm tính phát xạ từ Chân sư và ashram của Ngài.

6. The stage wherein the disciple can get his Master’s ear at any time. He is in close touch always. This is the stage wherein a chela is being definitely and consciously prepared for immediate initiation, or—having taken initiation—is being given specialised work to do in collaboration with his. . . . At this stage, he is described as the Chela within the Master’s heart.

6. Giai đoạn người đệ tử có thể được Chân sư mình lắng nghe bất cứ lúc nào. Y luôn giữ sự tiếp xúc mật thiết. Đây là giai đoạn người đệ tử đang được chuẩn bị một cách rõ ràng và hữu thức cho cuộc điểm đạo sắp tới, hoặc—sau khi đã được điểm đạo—được giao công việc chuyên biệt để thực hiện trong sự cộng tác với…. Ở giai đoạn này, y được mô tả là Đệ tử trong trái tim Chân sư.

89. The final stage of the six stages, goes by the name, “Chela within the Master’s Heart”.

89. Giai đoạn cuối cùng trong sáu giai đoạn mang tên “Đệ tử trong tim của Chân sư”.

90. Such a chela will certainly be a trusted initiate, with long experience in the service of a particular Master.

90. Một đệ tử như thế chắc chắn sẽ là một điểm đạo đồ đáng tin cậy, có kinh nghiệm lâu năm trong việc phụng sự một Chân sư cụ thể.

91. We can understand that such a chela will have to be very familiar with the Master’s work and problems. It is a tremendous responsibility to have access to “his Master’s ear at any time”. We can view the “Chela within the Heart” more as a collaborator of his Master.

91. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng một đệ tử như thế phải rất quen thuộc với công việc và những vấn đề của Chân sư. Đó là một trách nhiệm vô cùng lớn lao khi có thể được “Chân sư của mình lắng nghe bất cứ lúc nào”. Chúng ta có thể xem “Đệ tử trong tim” thiên về vai trò một cộng sự của Chân sư mình.

92. The initiation or initiations referenced in this paragraph surely cannot be among the earlier initiations. There is reason to believe that the fourth initiation is the one probably under discussion. Interestingly, the heart center is the one emphasized at the fourth degree.

92. Cuộc điểm đạo hoặc những cuộc điểm đạo được đề cập trong đoạn này chắc chắn không thể nằm trong số những cuộc điểm đạo ban đầu. Có lý do để tin rằng lần điểm đạo thứ tư có lẽ là cuộc điểm đạo đang được bàn đến. Điều thú vị là trung tâm tim chính là trung tâm được nhấn mạnh ở cấp độ thứ tư.

93. There is an ellipsis: “in collaboration with his…” We may speculate upon the omission if we wish. With whom or with what would a true initiate or advanced initiate collaborate?

93. Có một chỗ lược bỏ: “phối hợp với… của y” Chúng ta có thể suy đoán về phần bị lược bỏ nếu muốn. Một điểm đạo đồ chân chính hoặc một điểm đạo đồ tiến hóa cao sẽ phối hợp với ai hay với điều gì?

94. The rhythm of the heart in relation to the rhythmic impulses by which a Master guides His Ashram may be considered in relation to this sixth stage.

94. Có thể xem xét nhịp điệu của tim trong mối liên hệ với những xung động nhịp nhàng mà qua đó một Chân sư hướng dẫn ashram của Ngài, khi bàn về giai đoạn thứ sáu này.

7. There is a later stage of still closer identification, where there is a complete blending of the Lights, but there is no adequate paraphrase of the terms used to convey this name.

7. Còn có một giai đoạn về sau với sự đồng hoá mật thiết hơn nữa, trong đó các Ánh sáng hòa trộn hoàn toàn, nhưng không có cách diễn giải thích đáng nào cho những thuật ngữ dùng để truyền đạt tên gọi này.

95. What does “a complete blending of the Lights” suggest to us? Surely, the light of the chela and the light of the Master.

95. Cụm từ “sự hòa quyện hoàn toàn của các Ánh sáng” gợi cho chúng ta điều gì? Chắc chắn là ánh sáng của người đệ tử và ánh sáng của Chân sư.

96. We understand from this that it is a stage in which the term “identification” is significant. It is as if the chela finds no distinction between his own will and the will of the Master.

96. Từ điều này, chúng ta thấu hiểu rằng đây là một giai đoạn trong đó thuật ngữ “đồng hoá” có ý nghĩa quan trọng. Dường như người đệ tử không thấy sự khác biệt nào giữa ý chí của chính mình và ý chí của Chân sư.

97. One thinks, perhaps, of the mysterious relationship between the Christ and the Master Jesus, for the first ‘became’, in a sense, the second.

97. Có lẽ người ta nghĩ đến mối quan hệ huyền nhiệm giữa Đức Christ và Chân sư Jesus, vì theo một nghĩa nào đó, Đấng thứ nhất đã ‘trở thành’ Đấng thứ hai.

98. It would seem that a very high degree of initiation is indicated, yet the term “chela” still applies.

98. Dường như ở đây muốn nói đến một cấp độ điểm đạo rất cao, tuy nhiên thuật ngữ “đệ tử” vẫn được áp dụng.

I would have you note that the six stages above mentioned have been translated and paraphrased for occidental understanding and must in no way be considered as translations of the ancient terms.

Tôi muốn các bạn lưu ý rằng sáu giai đoạn nêu trên đã được dịch và diễn giải cho phù hợp với sự thấu hiểu của người phương Tây, và tuyệt đối không được xem đó là những bản dịch của các thuật ngữ cổ.

99. It is clear that the Master is referencing certain ancient manuals on discipleship.

99. Rõ ràng Chân sư đang dẫn chiếu một số cẩm nang cổ về địa vị đệ tử.

100. His great gift to us is His ability to translate what we could never understand into terms which we can.

100. Món quà lớn lao Ngài dành cho chúng ta là khả năng chuyển những điều chúng ta không bao giờ có thể thấu hiểu thành những thuật ngữ mà chúng ta có thể thấu hiểu.

Stage I. Little Chelaship.

Giai đoạn I. Địa vị tiểu đệ tử.

This stage is so definitely exoteric that many people have left it far behind. The first indication that a man has reached that stage (from the angle of the Master) comes when the “light flashes out” in some one life; thereby the attention of the Master is attracted to the person. It might be said that the preface to the Master’s interest falls into four parts and it is only when all four are found present together and simultaneously that this happens:

Giai đoạn này rõ ràng mang tính ngoại môn đến mức nhiều người đã bỏ nó lại rất xa phía sau. Dấu hiệu đầu tiên cho thấy một người đã đạt đến giai đoạn ấy (từ góc độ Chân sư) xuất hiện khi “ánh sáng lóe lên” trong một kiếp sống nào đó; nhờ vậy, người ấy thu hút sự chú ý của Chân sư. Có thể nói rằng phần mở đầu cho sự quan tâm của Chân sư gồm bốn phần, và chỉ khi cả bốn cùng hiện diện đồng thời thì điều này mới xảy ra:

101. The fact that this is a definitely exoteric phase relates it to the third ray which, in one respect, is the ray of things obvious and external.

101. Việc đây rõ ràng là một giai đoạn ngoại môn liên hệ nó với cung ba, vốn, xét về một phương diện, là cung của những gì hiển nhiên và bên ngoài.

102. We are emphasizing the Master’s perspective, let us remember, so we are told how the Master recognizes a disciple suited to enter this stage. The man (not yet a disciple) flashes forth—i. e. , his “light flashes out”.

102. Chúng ta hãy nhớ rằng mình đang nhấn mạnh góc nhìn của Chân sư, nên chúng ta được cho biết cách Chân sư nhận ra một đệ tử thích hợp để bước vào giai đoạn này. Người ấy (chưa phải là đệ tử) tỏa sáng—nghĩa là , “ánh sáng của y lóe lên”.

103. From this perspective, we may gather that Little Chelaship occurs before the first initiation, because it seems to indicate a Master’s first noticement of the man. Little Chelaship (at least the beginning of that stage) probably cannot coincide with the first initiation because a Master must recommend a disciple to the Initiator for even that preliminary initiation, and this recommendation would surely follow upon long observation of the disciple.

103. Từ góc nhìn này, chúng ta có thể suy ra rằng Địa vị tiểu đệ tử xuất hiện trước lần điểm đạo thứ nhất, vì dường như nó đánh dấu sự chú ý đầu tiên của một Chân sư đến người ấy. Địa vị tiểu đệ tử (ít nhất là lúc bắt đầu giai đoạn ấy) có lẽ không thể trùng với lần điểm đạo thứ nhất, bởi ngay cả đối với cuộc điểm đạo sơ bộ ấy, một Chân sư cũng phải tiến cử người đệ tử với Đấng Điểm đạo, và chắc chắn sự tiến cử này phải diễn ra sau một thời gian dài quan sát người đệ tử.

104. DK speaks of four stages which lead to the flashing forth of the light and the attraction of the Master’s interest. We note that all four stages must be operative simultaneously if the Master’s attention is to be attracted.

104. Chân sư DK nói đến bốn giai đoạn dẫn đến việc ánh sáng lóe lên và thu hút sự quan tâm của Chân sư. Chúng ta lưu ý rằng cả bốn giai đoạn phải hoạt động đồng thời thì mới có thể thu hút sự chú ý của Chân sư.

1. The aspirational intent of the man upon the physical plane suddenly succeeds in enabling him to make a soul [714] contact. The moment that that takes place the light in the head is momentarily intensified.

1. Ý hướng khát vọng của con người trên cõi hồng trần đột nhiên thành công trong việc giúp y tiếp xúc với linh hồn [714]. Ngay khi điều đó xảy ra, ánh sáng trong đầu tăng cường độ trong chốc lát.

105. In order to enter the stage of Little Chelaship, it is clear that that man must be an aspirant. He aspires to something higher (though he may not know its name). When the intensity of that aspiration is sufficient, he succeeds in making soul contact.

105. Rõ ràng, để bước vào giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử, người ấy phải là một người chí nguyện. Y khát vọng hướng đến điều gì đó cao hơn (dù có thể y chưa biết tên gọi của nó). Khi khát vọng ấy đạt cường độ đủ mạnh, y thành công trong việc thiết lập sự tiếp xúc với linh hồn.

106. It is clear that soul-contact occurs long before the first initiation. As a man begins to reorient his life towards higher values, higher desires, he is reorienting to the soul/Solar Angel.

106. Rõ ràng sự tiếp xúc với linh hồn xảy ra từ lâu trước lần điểm đạo thứ nhất. Khi một người bắt đầu định hướng lại cuộc sống của mình về những giá trị cao hơn, những dục vọng cao hơn, y đang tái định hướng về linh hồn/Thái dương Thiên Thần.

107. We see that it is the “light in the head” which the Master notices, by what means who may say? The ‘flashing out’, therefore, may be considered a phenomenon related to the light in the head.

107. Chúng ta thấy rằng chính “ánh sáng trong đầu” là điều Chân sư chú ý đến, nhưng bằng phương tiện nào thì ai có thể nói được? Vì vậy, sự ‘lóe lên’ có thể được xem là một hiện tượng liên quan đến ánh sáng trong đầu.

2. The karmic agitation of the man’s life becomes greatly increased and—apart from his own individual karma—he, for the first time, consciously takes part in and shoulders a part of the karma of his group. This dual karmic undertaking sets up a veritable vortex of force in the group aura. This attracts hierarchical attention.

2. Sự xáo động do nghiệp quả trong cuộc đời y gia tăng rất nhiều, và—ngoài nghiệp quả cá nhân của mình—lần đầu tiên y có ý thức tham gia và gánh vác một phần nghiệp quả của nhóm mình. Việc đảm nhận nghiệp quả kép này tạo ra một xoáy mãnh lực thực sự trong hào quang nhóm. Điều này thu hút sự chú ý của Thánh đoàn.

108. We remember that all four of these requirements (prefacing a Master’s interest in a potential chela) must be in evidence simultaneously.

108. Chúng ta nhớ rằng cả bốn yêu cầu này (mở đầu cho sự quan tâm của một Chân sư đến một đệ tử tiềm năng) phải biểu hiện đồng thời.

109. From what is said, we gather that some degree of group consciousness is under development. The man is no longer strictly selfish.

109. Từ những điều đã nói, chúng ta suy ra rằng tâm thức nhóm đang phát triển đến một mức độ nào đó. Người ấy không còn hoàn toàn ích kỷ nữa.

110. It might be that the sixth petal of the love-tier of petals is active in this regard, for it is a petal of sacrifice within the love tier. The sixth petal is also involved in the paying of karma prior to full concentration upon the third or sacrifice tier of petals. We recall reading how stressful is the period preceding the first initiation, when both Vulcan and Pluto are active. The sixth petal of the egoic lotus is associated with Virgo, and hence Vulcan is easily implicated. Pluto would be implicated as a force which begins to release a man from the Common Cross onto the Fixed Cross. Pisces is active in such a release, and Pisces is ruled by Pluto.

110. Có thể cánh hoa thứ sáu thuộc tầng cánh hoa bác ái đang hoạt động trong phương diện này, vì đó là một cánh hoa hi sinh trong tầng bác ái. Cánh hoa thứ sáu cũng tham gia vào việc trả nghiệp quả trước khi hoàn toàn tập trung vào tầng cánh hoa thứ ba, tức tầng hi sinh. Chúng ta nhớ đã đọc rằng thời kỳ trước lần điểm đạo thứ nhất căng thẳng biết bao, khi cả Vulcan lẫn Sao Diêm Vương đều hoạt động. Cánh hoa thứ sáu của Hoa Sen Chân Ngã gắn với Xử Nữ, do đó dễ thấy Vulcan có liên quan. Sao Diêm Vương có thể liên quan với tư cách một mãnh lực bắt đầu giải phóng con người khỏi Thập Giá Thông Thường để bước lên Thập Giá Cố Định. Song Ngư hoạt động trong sự giải phóng ấy, và Sao Diêm Vương cai quản Song Ngư.

Of the sixth petal, the following is stated:

Về cánh hoa thứ sáu, có lời như sau:

The Petal of Sacrifice for the astral plane; unfoldment is brought about by the attitude of man as he consciously endeavours to give up his own desires for the sake of his group. His motive is still somewhat a blind one, and still coloured by the desire for a return of that which he gives and for love from those he seeks to serve, but it is of a much higher order than the blind sacrifice to which a man is driven by circumstances as is the case in the earlier unfoldment. (TCF 540-541)

Cánh hoa Hi sinh dành cho cõi cảm dục; sự khai mở diễn ra nhờ thái độ của con người khi y nỗ lực một cách hữu thức để từ bỏ những dục vọng của riêng mình vì lợi ích của nhóm. Động cơ của y vẫn còn phần nào mù quáng, vẫn nhuốm màu dục vọng muốn nhận lại những gì mình cho đi và muốn có tình thương từ những người mà y tìm cách phụng sự, nhưng động cơ ấy thuộc một cấp độ cao hơn nhiều so với sự hi sinh mù quáng mà hoàn cảnh buộc con người phải thực hiện trong thời kỳ khai mở trước đó. (TCF 540-541)

111. The group aura here referenced must be the soul group focussed on the soul ray which is the same as the Master’s ray.

111. Hào quang nhóm được đề cập ở đây hẳn phải là hào quang của nhóm linh hồn tập trung trên cung linh hồn, cùng cung với cung của Chân sư.

112. So there is a dual karmic agitation—individual and in relation to a larger group. This distress, and the possible intensifying selflessness which may result from it, attracts the Master’s attention.

112. Vì vậy, có một sự xáo động kép do nghiệp quả—ở cấp độ cá nhân và trong mối liên hệ với một nhóm lớn hơn. Nỗi khổ này, cùng với lòng vị tha có thể gia tăng từ đó, thu hút sự chú ý của Chân sư.

3. The next point is not so easy to explain or grasp. You have been told that the soul is in deep meditation for the greater part of the cycle of lives of any one individual, and that it is only when a fair measure of personality integration is set up that the soul’s attention is drawn away from its own interior considerations and egoic affairs to those of its shadow. When this happens, the egoic group is definitely affected and the Master (upon the same ray as that of the soul concerned) becomes aware of what is esoterically called “a downward gazing soul. ” On the Path of Discipleship, the ego is all the time consciously aware of the striving personality and there comes a stage when (towards the end of the Path of Evolution) the soul recapitulates the evolutionary processes of involution and evolution. Soul energy descends and personality force ascends and this takes place through a process of conscious descents and ascents. I refer here to the process which is undertaken by the soul under hierarchical impulse, and not to that in which the personality invokes the soul under the desperate need brought about in the lower consciousness by the gradual cessation of desire.

3. Điểm tiếp theo không dễ giải thích hay nắm bắt. Các bạn đã được cho biết rằng linh hồn ở trong trạng thái thiền định sâu suốt phần lớn chu kỳ các kiếp sống của một cá nhân, và chỉ khi phàm ngã đạt được mức độ tích hợp khá cao thì linh hồn mới chuyển sự chú ý khỏi những suy xét nội tâm và những công việc chân ngã của chính mình sang những vấn đề của cái bóng mình. Khi điều này xảy ra, nhóm chân ngã chịu tác động rõ rệt, và Chân sư (thuộc cùng cung với linh hồn liên hệ) nhận biết điều mà huyền bí học gọi là “một linh hồn đang nhìn xuống”. Trên Con Đường Đệ Tử, chân ngã luôn có ý thức về phàm ngã đang nỗ lực, và đến một giai đoạn (gần cuối Con Đường Tiến Hoá), linh hồn tái diễn các tiến trình giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá. Năng lượng linh hồn đi xuống và mãnh lực phàm ngã đi lên; điều này diễn ra qua một tiến trình giáng xuống và thăng lên một cách hữu thức. Ở đây, Tôi đề cập đến tiến trình mà linh hồn thực hiện dưới xung lực của Thánh đoàn, chứ không phải tiến trình trong đó phàm ngã khẩn cầu linh hồn vì nhu cầu bức thiết nảy sinh trong tâm thức thấp do dục vọng dần chấm dứt.

113. We are discussing (in relation to these four states) inner occurrences which attract the Master’s attention to the one who can become a Little Chela.

113. Chúng ta đang bàn đến (trong mối liên hệ với bốn trạng thái này) những diễn biến bên trong thu hút sự chú ý của Chân sư đến người có thể trở thành một Tiểu đệ tử.

114. As presented in this paragraph, the “soul” is equivalent to the Solar Angel—the angelic supervisor of the aspirant.

114. Theo cách trình bày trong đoạn này, “linh hồn” tương đương với Thái dương Thiên Thần—vị thiên thần giám sát người chí nguyện.

115. It is important to realize that the candidate for Little Chelaship has achieved “a fair measure of personality integration”, though he is by no means a completely integrated personality (i. e. , an initiate of the third degree). We recall that “integration” is one of the three terms which characterize the process occurring at the third degree.

115. Cần nhận biết rằng ứng viên cho Địa vị tiểu đệ tử đã đạt được “một mức độ tích hợp phàm ngã khá cao”, dù y hoàn toàn chưa phải là một phàm ngã tích hợp trọn vẹn (nghĩa là , một điểm đạo đồ cấp ba). Chúng ta nhớ rằng “sự tích hợp” là một trong ba thuật ngữ đặc trưng cho tiến trình diễn ra ở cấp độ thứ ba.

116. The Master is aware of the egoic group which shares the same ray as His own. Apparently, He is also aware of the Solar Angels which are allied to the causal bodies of such ray groupings.

116. Chân sư nhận biết nhóm chân ngã có cùng cung với cung của chính Ngài. Dường như Ngài cũng nhận biết các Thái dương Thiên Thần liên kết với những thể nguyên nhân thuộc các nhóm cung như thế.

117. Thus far (in relation to the four processes being enumerated): the man is aspiring; there is karmic agitation, and, also, there is a “downward gazing soul” or “ego”.

117. Cho đến lúc này (trong mối liên hệ với bốn tiến trình đang được liệt kê): con người đang khát vọng; có sự xáo động do nghiệp quả; và cũng có một “linh hồn nhìn xuống” hay “chân ngã”.

118. We are reaching the end of the Path of Evolution, ready, perhaps, to begin the Path of Initiation (assuming that this Path begins at the first degree).

118. Chúng ta đang tiến gần đến cuối Con Đường Tiến Hoá, có lẽ đã sẵn sàng bắt đầu Con Đường Điểm Đạo (giả định rằng Con Đường này bắt đầu ở cấp độ thứ nhất).

119. The “downward gazing soul” begins its downward gaze well before the commencement of the true Path of Discipleship.

119. “Linh hồn nhìn xuống” bắt đầu nhìn xuống từ rất lâu trước khi Con Đường Đệ Tử chân chính khởi đầu.

120. In the paragraph above, we are speaking of some rather spiritually ‘aggressive’ actions on the part of the soul/Solar Angel/Ego. The soul descends, invoking the personality, which, in evocative response, ascends.

120. Trong đoạn trên, chúng ta đang nói đến một số hành động khá ‘quyết liệt’ về mặt tinh thần từ phía linh hồn/Thái dương Thiên Thần/Chân ngã. Linh hồn đi xuống, khẩn cầu phàm ngã, và phàm ngã đi lên trong sự đáp ứng được gợi lên.

121. Again, we note that the personality (i. e. , the man in the three worlds) has no control over these initiatives undertaken by the Solar Angel.

121. Một lần nữa, chúng ta lưu ý rằng phàm ngã (nghĩa là , con người trong ba cõi giới) không có quyền kiểm soát những sáng kiến này của Thái dương Thiên Thần.

122. It would seem that the stage of Little Chelaship represents only the beginning of the Solar Angel’s more assertive approach towards its personality, for the light (representing soul contact) has only just flashed forth.

122. Dường như giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử chỉ đánh dấu bước đầu trong cách tiếp cận chủ động hơn của Thái dương Thiên Thần đối với phàm ngã của mình, vì ánh sáng (biểu thị sự tiếp xúc với linh hồn) chỉ vừa mới lóe lên.

123. In the paragraph under discussion, however, DK may be discussing not only the beginning of the phase of little Chelaship, but the entire process, for the description seems to cover a span lasting more than one life, and Little Chelaship, itself, lasts for several lives.

123. Tuy nhiên, trong đoạn đang bàn, Chân sư DK có thể đang đề cập không chỉ đến bước khởi đầu của giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử, mà cả toàn bộ tiến trình, vì phần mô tả dường như bao quát một khoảng thời gian dài hơn một kiếp sống, và bản thân Địa vị tiểu đệ tử kéo dài trong nhiều kiếp.

124. DK is speaking very much from the perspective of how higher energy sources relate to lower. The desperate personality can invoke the soul, and the soul will respond. But what is here discussed is an organized program of soul-descent engineered by the soul/Solar Angel when recognizing that the appropriate time to do so has come. The soul response to personality desperation is not discussed.

124. Chân sư DK đang nói chủ yếu từ góc nhìn về cách các nguồn năng lượng cao liên hệ với các nguồn năng lượng thấp. Phàm ngã trong cơn tuyệt vọng có thể khẩn cầu linh hồn, và linh hồn sẽ đáp ứng. Nhưng điều được bàn đến ở đây là một chương trình có tổ chức về sự đi xuống của linh hồn, do linh hồn/Thái dương Thiên Thần hoạch định khi nhận biết rằng thời điểm thích hợp để làm như thế đã đến. Sự đáp ứng của linh hồn trước nỗi tuyệt vọng của phàm ngã không được bàn đến.

125. A very interesting hint is offered: in effect, the gradual cessation of desire produces desperation. The failure of the lower world to attract (a natural development once a period of relative satiation is reached) sends the consciousness looking (upward) for that to which it can relate. The lower life becomes empty and in desperation the man looks upward to fill it.

125. Một gợi ý rất thú vị được đưa ra: thực chất, việc dục vọng dần chấm dứt tạo ra nỗi tuyệt vọng. Việc thế giới thấp không còn sức thu hút (một diễn biến tự nhiên khi đã đạt đến một thời kỳ tương đối thỏa mãn) khiến tâm thức tìm kiếm (hướng lên trên) điều mà nó có thể liên hệ. Đời sống thấp trở nên trống rỗng, và trong nỗi tuyệt vọng, con người ngước lên để lấp đầy nó.

4. Gradually the antahkarana is built and in this way the “greater Light and the lesser light” are consciously related. A path of light and energy is established or created between these two divine aspects. As time goes on, there appears in the egoic group what is technically known as the “linking light” or the “bridging radiance. ” This is the Path referred to in The Old Testament as “the path of the just is as a shining light which shineth more and more until the day be with us. ” In the esoteric [715] books it is referred to in the following terms: “Before a man can tread the path, he must become that path himself. ”

4. Antahkarana dần được xây dựng, và bằng cách này, “Ánh sáng lớn hơn và ánh sáng nhỏ hơn” được liên kết một cách hữu thức. Một con đường ánh sáng và năng lượng được thiết lập hay tạo ra giữa hai phương diện thiêng liêng này. Theo thời gian, trong nhóm chân ngã xuất hiện điều mà thuật ngữ chuyên môn gọi là “ánh sáng liên kết” hay “hào quang bắc cầu”. Đây là Đường Đạo được nhắc đến trong Cựu Ước qua lời: “con đường của người công chính như ánh sáng rạng ngời, ngày càng chiếu sáng cho đến khi ban ngày hiện diện cùng chúng ta”. Trong các sách huyền bí [715], điều này được diễn đạt như sau: “Trước khi một người có thể bước trên đường đạo, chính y phải trở thành đường đạo ấy.”

126. Although the Tibetan began this section as a discussion of the four part “preface to the Master’s interest” in a potential little chela, He seems to be expanding the consideration into some of the later stages of discipleship.

126. Mặc dù Chân sư Tây Tạng bắt đầu phần này bằng việc bàn về bốn phần của “những điều mở đầu cho sự quan tâm của Chân sư” đến một tiểu đệ tử tiềm năng, dường như Ngài đang mở rộng sự xem xét sang một số giai đoạn về sau của địa vị đệ tử.

127. The antahkarana here referenced may be the first part of the antahkarana—that connecting the mental unit more fully to the causal body. The Ego/causal body, then, would be the “greater light” and the man upon the mental plane would be the “lesser light”.

127. Antahkarana được đề cập ở đây có thể là phần đầu tiên của antahkarana—phần nối đơn vị hạ trí với thể nguyên nhân một cách trọn vẹn hơn. Khi ấy, Chân ngã/thể nguyên nhân sẽ là “ánh sáng lớn hơn”, còn con người trên cõi trí sẽ là “ánh sáng nhỏ hơn”.

128. It is quite clear that the Master is a keen observer of the egoic group with which He is affiliated.

128. Rõ ràng Chân sư là người quan sát tinh tường nhóm chân ngã mà Ngài có liên hệ.

129. When a man demonstrates a “linking light” or “bridging radiance” he is on the way to soul infusion. When the man is preoccupied with “the path of the just” he is more definitely building the higher part of the antahkarana—that part which we technically call the antahkarana.

129. Khi một người biểu lộ một “ánh sáng liên kết” hay “hào quang bắc cầu”, y đang tiến tới sự thấm nhuần của linh hồn. Khi người ấy chuyên chú vào “con đường của người công chính”, y đang xây dựng một cách rõ rệt hơn phần cao của antahkarana—phần mà về mặt chuyên môn chúng ta gọi là antahkarana.

130. For participation in this first stage of discipleship, then, the four requirements (the four prefaces to the Master’s interest) are:

130. Vậy, để tham gia giai đoạn đầu tiên này của địa vị đệ tử, bốn yêu cầu (bốn điều kiện tiên quyết để thu hút sự quan tâm của Chân sư) là:

130. Aspiration

130. Khát vọng

131. Karmic expiation of a dual sort

131. Sự thanh toán nghiệp quả thuộc hai loại

132. A downward gazing soul, increasingly more assertive

132. Một linh hồn nhìn xuống, ngày càng khẳng định uy lực mạnh mẽ hơn

133. The creation of a “linking light” or “bridging radiance” and eventually of the antahkarana proper.

133. Việc tạo ra một “ánh sáng liên kết” hay “hào quang bắc cầu”, và cuối cùng là antahkarana thực thụ.

131. It can, however, be questioned whether the chela passing through the humble stage of Little Chelaship has, in fact, built a very solid relationship with the Solar Angel, let alone the spiritual triad (to which the higher aspect of the antahkarana is the link).

131. Tuy nhiên, có thể đặt câu hỏi liệu đệ tử đang trải qua giai đoạn khiêm tốn của Địa vị tiểu đệ tử có thực sự xây dựng được một mối quan hệ thật vững chắc với Thái dương Thiên Thần hay chưa, chứ chưa nói đến Tam Nguyên Tinh Thần (mà phương diện cao của antahkarana là mối liên kết dẫn tới đó).

These four stages have been described in The Old Commentary in the following terms:

Bốn giai đoạn này đã được mô tả trong Cổ Luận bằng những lời sau:

132. The fourfold enumeration is now expressed in its original, archaic and more poetic form.

132. Giờ đây, bốn mục vừa liệt kê được diễn đạt bằng hình thức nguyên thủy, cổ xưa và giàu chất thơ hơn.

“The point of light shines forth. It waxes and it wanes. The point becomes a line through the starting of a vortex and from the centre of the whirling force, there comes a voice—invocative and clear.

“Điểm sáng tỏa chiếu. Nó sáng lên rồi mờ đi. Điểm trở thành đường khi một xoáy bắt đầu hình thành, và từ trung tâm của mãnh lực xoáy cuộn vang lên một tiếng nói—khẩn cầu và rõ ràng.

133. This section refers to the first of the four stages.

133. Phần này đề cập đến giai đoạn đầu tiên trong bốn giai đoạn.

134. The “point of light” is the light in the head.

134. “Điểm ánh sáng” là ánh sáng trong đầu.

135. The “flashing out” of the light is equivalent to the line arising from the vortex. The vortex is a vortex of aspiration.

135. Sự “lóe sáng” của ánh sáng tương đương với đường vươn lên từ xoáy lực. Xoáy lực ấy là một xoáy lực khát vọng.

136. The voice is an invocative cry; it has arisen from the vortex of aspiration.

136. Tiếng nói là một tiếng kêu khẩn cầu; nó phát sinh từ xoáy lực khát vọng.

137. The whirling of the vortex is what makes the ascent of aspiration possible. The whirling generates ascending force which reaches towards the One Who sits in silent work.

137. Chuyển động xoáy tròn của xoáy lực khiến khát vọng có thể vươn lên. Chuyển động xoáy tròn tạo ra mãnh lực hướng thượng, vươn tới Đấng đang ngồi làm việc trong im lặng.

The One Who sits in silent work, alone and unafraid (because the part is not alone and the group is unafraid) looks down, catches the light, reflects the whirling force and hears the voice.

Đấng Duy Nhất ngồi làm việc trong im lặng, đơn độc và không sợ hãi (vì bộ phận không đơn độc và nhóm không sợ hãi), nhìn xuống, đón lấy ánh sáng, phản chiếu mãnh lực xoáy cuộn và nghe tiếng nói.

138. This “One” is the soul/Solar Angel on its own plane. It is the “downward gazing soul”.

138. “Đấng” này là linh hồn/Thái dương Thiên Thần trên cõi riêng của Ngài. Đó là “linh hồn nhìn xuống”.

139. The “silent work” is the work of the Solar Angel, per se, when its attention is largely detached from that of the personality. What that work may be is only vaguely hinted in a few references. A higher form of telepathy is part of such work.

139. “Công việc trong im lặng” là công việc của chính Thái dương Thiên Thần, khi sự chú tâm của Ngài phần lớn tách rời khỏi sự chú tâm của phàm ngã. Công việc ấy có thể là gì thì chỉ được gợi ra mơ hồ trong một vài đoạn đề cập đến nó. Một hình thức viễn cảm cao hơn là một phần của công việc ấy.

140. This “One” is entirely group conscious and thus unafraid. The group is unafraid because the vulnerability which often causes fear is overcome through the mutual supplementation characteristic of group relation.

140. “Đấng” này hoàn toàn có tâm thức nhóm và vì thế không sợ hãi. Nhóm không sợ hãi vì sự bổ sung lẫn nhau, vốn là đặc trưng của quan hệ nhóm, khắc phục được tình trạng dễ bị tổn thương thường gây ra sợ hãi.

141. The part is not alone because it is engaged (‘below’) with other parts to which it is attached. The “part” has not achieved the “isolated unity” in which the One dwells.

141. Bộ phận không đơn độc vì nó gắn kết (‘ở dưới’) với những bộ phận khác mà nó liên thuộc. “Bộ phận” chưa đạt được “Hợp Nhất Cô Lập” mà Đấng Duy Nhất an trú trong đó.

142. The ascending line of light is caught by the One; thus there is engagement between the two. The ascending voice is heard, and later answered by the “Voice of the Soul”. The whirling force of the lower is somehow reflected by the higher. It would seem that a corresponding motion is the response of the higher.

142. Đấng Duy Nhất đón lấy đường ánh sáng vươn lên; nhờ đó hai bên có sự gắn kết. Tiếng nói vươn lên được nghe thấy, rồi sau đó được đáp lại bằng “Tiếng Nói của Linh Hồn”. Bằng cách nào đó, phần cao phản chiếu mãnh lực xoáy tròn của phần thấp. Dường như một chuyển động tương ứng là sự đáp ứng của phần cao.

Then from the silent point of power, a Word goes forth: Be still. Be silent. Know that I am God. The needed work will now begin.

Rồi từ điểm quyền năng tĩnh lặng, một Linh từ phát ra: Hãy tĩnh lặng. Hãy im lặng. Hãy biết rằng Ta là Thượng đế. Công việc cần thiết giờ đây sẽ bắt đầu.

143. The downward gazing soul asserts itself through the power of a Word.

143. Linh hồn nhìn xuống khẳng định uy lực qua quyền năng của một Linh từ.

144. This Word is that which mystics have down the ages heard: “Be still and know that I am God”.

144. Linh từ này là điều mà các nhà thần bí qua bao thời đại đã nghe thấy: “Hãy tĩnh lặng và biết rằng Ta là Thượng đế”.

145. DK began this letter of instruction speaking of the unnecessary personality noise which obscured the soul, and our natural, inherent soul sensitivity. In this portion of the Old Commentary, the outer activity and noise of the outer form is subdued by the masterful soul/Solar Angel.

145. Chân sư DK mở đầu bức thư huấn thị này bằng cách nói về tiếng ồn không cần thiết của phàm ngã, vốn che khuất linh hồn và sự nhạy cảm tự nhiên, vốn có của chúng ta đối với linh hồn. Trong phần này của Cổ Luận, linh hồn/Thái dương Thiên Thần đầy uy lực làm lắng dịu hoạt động và tiếng ồn bên ngoài của hình tướng bên ngoài.

146. This Old Commentary selection seems to be preparing the personality for the onset of the white magical process.

146. Đoạn trích Cổ Luận này dường như đang chuẩn bị phàm ngã cho sự khởi đầu của tiến trình chánh thuật.

Between the Great One and the little striving one, communion is established; the interplay begins; the mind assumes its rightful place. The Path is surely laid. ”

Giữa Đấng Cao Cả và người nhỏ bé đang nỗ lực, sự hiệp thông được thiết lập; sự tương tác bắt đầu; thể trí đảm nhận vị trí đúng đắn của mình. Đường Đạo được thiết lập vững chắc.”

147. We are discussing something a Geminian process.

147. Chúng ta đang bàn về một tiến trình có phần mang tính Song Tử.

148. The “Great One” is the “Elder Brother” or the Solar Angel.

148. “Đấng Cao Cả” là “Huynh Trưởng” hay Thái dương Thiên Thần.

149. The “little striving one” is the personality.

149. “Kẻ bé nhỏ đang nỗ lực” là phàm ngã.

150. Communion and interplay are Geminian patterns.

150. Hiệp thông và tương tác là những mô hình Song Tử.

151. The alignment of soul/mind/brain is established.

151. Sự chỉnh hợp linh hồn/thể trí/bộ não được thiết lập.

152. The first part of the Path—the initial antahkarana, so necessary before the “Bridge of Light” proper can be built—is “surely laid”.

152. Phần đầu tiên của Đường Đạo—antahkarana sơ khởi, vốn rất cần thiết trước khi “Cầu Ánh Sáng” thực thụ có thể được xây dựng—được “đặt nền vững chắc”.

153. And all this (at least a good measure of it) takes place before the Master’s attention is attracted to the one who is ready to become a Little Chela.

153. Và tất cả những điều này (ít nhất là một phần đáng kể) diễn ra trước khi sự chú ý của Chân sư hướng đến người đã sẵn sàng trở thành một Tiểu đệ tử.

When the four aspects of inter-related activity are present, then what might be called “spiritual habits” begin to form and are steadily established. Their united effect serves eventually to attract the attention of the Master. The contact is still too feeble and the grip of the soul upon the personality is still too weak to warrant the Master Himself doing anything directly with the aspirant. The stage is one of pure mysticism and of selfish spiritual purpose. The recognition of group relationship is missing; the knowledge of group inclination is not present; there is no true, unselfish desire to serve. There is only a vague desire for personal liberation, for personal integrity and for personal lasting happiness. This has to be changed into group emancipation, group cohesion and group joy.

Khi bốn phương diện hoạt động liên hệ với nhau cùng hiện diện, điều có thể gọi là “những thói quen tinh thần” bắt đầu hình thành và dần được xác lập vững chắc. Cuối cùng, tác động kết hợp của chúng thu hút sự chú ý của Chân sư. Sự tiếp xúc vẫn còn quá yếu ớt, và sự nắm giữ của linh hồn đối với phàm ngã vẫn còn quá yếu để chính Chân sư trực tiếp làm bất cứ điều gì với người chí nguyện. Đây là giai đoạn thuần túy thần bí và mang mục đích tinh thần ích kỷ. Chưa có sự nhận biết về mối quan hệ nhóm; chưa có sự hiểu biết về khuynh hướng nhóm; chưa có lòng mong muốn phụng sự chân thực, vị tha. Chỉ có một mong muốn mơ hồ về sự giải thoát cá nhân, sự toàn vẹn cá nhân và hạnh phúc cá nhân lâu bền. Điều này phải chuyển thành sự giải phóng nhóm, sự cố kết nhóm và sự hoan hỉ nhóm.

154. The four prefacing stages are called “four aspects of inter-related activity”.

154. Bốn giai đoạn mở đầu được gọi là “bốn phương diện hoạt động liên hệ với nhau”.

155. These four aspects contribute to the development of “spiritual habits”—new and soul-suited patterns of living.

155. Bốn phương diện này góp phần phát triển “thói quen tinh thần”—những mô hình sống mới, phù hợp với linh hồn.

156. The Tibetan, as stated, seems to extend some of the four stages into areas of activity appropriate to stages beyond Little Chelaship, but the statement is made that the “united effect” of the four eventually attracts the Master’s attention.

156. Như đã nói, Chân sư Tây Tạng dường như mở rộng một số trong bốn giai đoạn sang những lĩnh vực hoạt động phù hợp với các giai đoạn vượt trên Địa vị tiểu đệ tử, nhưng Ngài khẳng định rằng “tác dụng kết hợp” của cả bốn cuối cùng thu hút sự chú ý của Chân sư.

157. The Master may attend, however briefly, to the aspiring personality, but any soul contact thus far created, being relatively “feeble”, does not warrant the Master’s sustained attention. The truly Vulcanic grip of the soul has not yet been established. Once it is, the Master will increase His attentiveness.

157. Chân sư có thể chú ý đến phàm ngã đang khát vọng, dù chỉ trong chốc lát, nhưng bất kỳ sự tiếp xúc nào với linh hồn đã tạo lập được cho đến lúc này, do còn tương đối “yếu ớt”, đều chưa đủ để Chân sư duy trì sự chú ý. Sự nắm giữ thực sự mang tính Vulcan của linh hồn vẫn chưa được thiết lập. Một khi điều đó được thiết lập, Chân sư sẽ gia tăng sự chú tâm của Ngài.

158. DK emphasizes the selfishness of this stage even though earlier He said that the potential Little Chela has begun to work off some aspects of group karma as well as his own. Probably the “shouldering” of an aspect of the karma of his group is not performed from really selfless motives. It is more ‘spiritually instinctive’. Refer to the earlier citation from TCF 540-541 on the experiences associated with the sixth petal of the egoic lotus.

158. Chân sư DK nhấn mạnh tính ích kỷ của giai đoạn này, mặc dù trước đó Ngài nói rằng người có khả năng trở thành Tiểu đệ tử đã bắt đầu thanh toán một số phương diện của nghiệp quả nhóm cũng như nghiệp quả riêng của mình. Có lẽ việc “gánh vác” một phương diện nghiệp quả của nhóm mình không xuất phát từ những động cơ thực sự vô ngã. Điều đó mang tính ‘bản năng tinh thần’ nhiều hơn. Hãy tham khảo đoạn trích trước đó từ TCF 540-541 về những trải nghiệm gắn với cánh hoa thứ sáu của Hoa Sen Chân Ngã.

159. These thoughts may provide another indication that the aspirant is still working with the love tier of petals rather than the sacrifice tier.

159. Những suy nghĩ này có thể đưa ra một dấu hiệu nữa cho thấy người chí nguyện vẫn đang làm việc với tầng cánh hoa bác ái hơn là tầng cánh hoa hi sinh.

160. The little chela (especially at the outset) is still essential personal and selfish.

160. Tiểu đệ tử (đặc biệt vào lúc khởi đầu) về căn bản vẫn mang tính cá nhân và ích kỷ.

161. The threefold equation offered by DK is most interesting.

161. Phép đối chiếu tam phân mà Chân sư DK đưa ra rất thú vị.

a. The vague desire for personality liberation must be transformed into group emancipation.

a. Mong muốn mơ hồ về sự giải thoát phàm ngã phải chuyển đổi thành sự giải phóng nhóm.

b. The desire for personal integrity must be transformed into the will towards group cohesion.

b. Mong muốn về sự toàn vẹn cá nhân phải chuyển đổi thành ý chí hướng tới sự cố kết nhóm.

c. The desire for personal lasting happiness must be transformed into the will towards group joy.

c. Mong muốn về hạnh phúc cá nhân lâu bền phải chuyển đổi thành ý chí hướng tới sự hoan hỉ của nhóm.

162. The third aspect of divinity is associated with the individual and with rotary motion. There must be a transformation into the second aspect of divinity represented by the group states enumerated immediately above. Group process is associated with “spiral-cyclic motion”.

162. Phương diện thứ ba của thiên tính gắn với cá nhân và chuyển động quay. Phải có sự chuyển đổi sang phương diện thứ hai của thiên tính, biểu hiện qua các trạng thái nhóm vừa liệt kê ở trên. Tiến trình nhóm gắn với “chuyển động xoắn ốc theo chu kỳ”.

163. It would seem that in this stage (at least the beginning of it) there is insufficient love of one’s fellowman to produce an initiate of even the first degree.

163. Dường như trong giai đoạn này (ít nhất là lúc khởi đầu), tình thương đối với đồng loại chưa đủ để tạo nên một điểm đạo đồ, dù chỉ ở cấp thứ nhất.

Members of the New Group of World Servers should watch with care for all those who show signs of having passed through the “birth” experience and should help them toward a greater maturity. They should assume that all those who truly love their fellowmen, who are interested in the esoteric teaching, and who seek to discipline themselves in order to attain greater beauty of life, are initiate and have undergone the first initiation. (R&I 667)

Các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian nên cẩn thận quan sát tất cả những ai có dấu hiệu đã trải qua kinh nghiệm “giáng sinh” và nên giúp họ đạt tới sự trưởng thành hơn nữa. Họ nên xem rằng tất cả những ai thực sự yêu thương đồng loại, quan tâm đến giáo huấn nội môn và tìm cách tự rèn luyện để đạt tới một đời sống đẹp đẽ hơn, đều là điểm đạo đồ và đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. (R&I 667)

Probably little chelas love themselves more than their fellowmen.

Có lẽ các tiểu đệ tử yêu chính mình hơn đồng loại.

164. We may think of little chelas as numbered among disciples, but really, they are probationary disciples who are more aspirants than disciples. We must remember that the term “aspirant” may, in certain contexts, signify those who have already taken the first initiation.

164. Chúng ta có thể nghĩ rằng các tiểu đệ tử thuộc hàng đệ tử, nhưng thực ra họ là đệ tử dự bị, mang tính người chí nguyện nhiều hơn là đệ tử. Chúng ta phải nhớ rằng thuật ngữ “người chí nguyện”, trong một số ngữ cảnh, có thể chỉ những người đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất.

The first stage, therefore, in the training of such an aspirant is to relate him to a more advanced disciple who will lead him gradually onward and give him the help he needs. The reason for this is that the disciple is closer to the aspirant, far from perfection himself and is also learning to serve. This stage of development covers the period of occult enquiry and esoteric [716] investigation and usually is spread over several lives. The aspirant at this stage runs from one teacher to another, according to inclination, opportunity and necessity. He is an example of instability but is carefully watched by the disciple who has transcended this particular stage of volatility; his task is to see that the aspirant escapes from this “network of futility,” as it is sometimes called, and that he gradually settles down to the later stage of interior investigation.

Vì vậy, giai đoạn đầu tiên trong việc huấn luyện một người chí nguyện như thế là đưa y vào mối quan hệ với một đệ tử tiến bộ hơn, người sẽ dần dẫn dắt y tiến lên và giúp đỡ y theo nhu cầu. Lý do là vì người đệ tử gần gũi với người chí nguyện hơn, bản thân cũng còn xa sự hoàn thiện và cũng đang học cách phụng sự. Giai đoạn phát triển này bao gồm thời kỳ tìm hiểu huyền bí học và khảo cứu nội môn [716], và thường trải qua vài kiếp sống. Ở giai đoạn này, người chí nguyện chạy từ huấn sư này sang huấn sư khác, tùy theo khuynh hướng, cơ hội và nhu cầu. Y là một điển hình của sự thiếu ổn định, nhưng được người đệ tử đã vượt qua giai đoạn dao động đặc thù này theo dõi cẩn thận; nhiệm vụ của người đệ tử là bảo đảm rằng người chí nguyện thoát khỏi “mạng lưới vô ích” này, như đôi khi người ta gọi, và dần ổn định để bước vào giai đoạn khảo cứu nội tâm về sau.

165. In this paragraph, the little chela is called an “aspirant”. That is what he actually is.

165. Trong đoạn này, tiểu đệ tử được gọi là một “người chí nguyện”. Đó chính là địa vị thực sự của người ấy.

166. The more advanced disciple or chela on the physical plane to whom the little chela becomes related, will direct and lead the chela upon the spiritual path.

166. Người đệ tử tiến bộ hơn trên cõi hồng trần, mà tiểu đệ tử được kết nối với, sẽ chỉ dẫn và dẫn dắt tiểu đệ tử trên con đường tinh thần.

167. The one who leads and guides the little chela is far from perfect. He is only a disciple, though a more advanced disciple than the little chela. Because the guiding disciple is closer in development to the little chela, he can more easily supply the little chela with what he needs for progress.

167. Người dẫn dắt và hướng dẫn tiểu đệ tử còn xa mới hoàn thiện. Người ấy chỉ là một đệ tử, dù tiến bộ hơn tiểu đệ tử. Vì mức phát triển của người đệ tử hướng dẫn gần với tiểu đệ tử hơn, người ấy có thể dễ dàng cung cấp cho tiểu đệ tử những gì cần thiết để tiến bộ.

168. How many lives are “several lives”? Three, four, five, perhaps six. The stage of Little Chelaship begins, it would seem, before the first initiation, but may conclude afterwards. We will try to dray accurate conclusions. The Teaching does not say with definition that those in the stages of Little Chelaship or Chela in the Light must necessarily have taken the first initiation. Accepted disciples, however, must have taken the Initiation of the Birth.

168. “Nhiều kiếp sống” là bao nhiêu kiếp? Ba, bốn, năm, có lẽ sáu. Dường như giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử bắt đầu trước lần điểm đạo thứ nhất, nhưng có thể kết thúc sau đó. Chúng ta sẽ cố gắng rút ra những kết luận chính xác. Giáo Huấn không khẳng định rõ rằng những người ở các giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử hay Đệ tử trong Ánh sáng nhất thiết phải trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Tuy nhiên, các đệ tử được chấp nhận phải trải qua Cuộc Điểm Đạo Giáng Sinh.

169. What characterizes this stage of Little Chelaship?—positively, “occult enquiry and esoteric investigation”. Many questions are asked, but the method of receiving answers is initially superficial.

169. Điều gì đặc trưng cho giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử này?—Về mặt tích cực, đó là “tìm hiểu huyền bí và khảo cứu nội môn”. Nhiều câu hỏi được đặt ra, nhưng lúc đầu, phương pháp tiếp nhận câu trả lời còn hời hợt.

170. Again, associating this stage with the third ray, the aspirant runs here and there in search of answers, teaching and guidance. He often lands in a “network of futility:” (again suggesting the third ray). He is characterized by instability which suggests the importance of Gemini, the third sign (in its earlier application). He is more Mercurial than Venusian, for Mercury in this instance represents the concrete mind and Venus, the soul. The personality ray of Mercury may well be the third.

170. Một lần nữa, khi liên hệ giai đoạn này với cung ba, người chí nguyện chạy khắp nơi tìm kiếm câu trả lời, giáo huấn và sự hướng dẫn. Y thường rơi vào một “mạng lưới vô ích:” (một lần nữa gợi đến cung ba). Y có đặc điểm là thiếu ổn định, điều này gợi ra tầm quan trọng của Song Tử, dấu hiệu thứ ba (trong tác động ở giai đoạn đầu của nó). Y mang tính Sao Thủy nhiều hơn Sao Kim, vì trong trường hợp này, Sao Thủy đại diện cho trí cụ thể, còn Sao Kim đại diện cho linh hồn. Cung phàm ngã của Sao Thủy rất có thể là cung ba.

171. We can see that the aspirant who is the little chela is very extroverted and only later settles down to the “interior investigation” which is the sounder and deeper approach of one who can call himself a true disciple.

171. Chúng ta có thể thấy rằng người chí nguyện ở địa vị tiểu đệ tử rất hướng ngoại, và chỉ về sau mới ổn định để “khảo cứu nội tâm”, vốn là cách tiếp cận vững chắc hơn và sâu sắc hơn của người có thể tự gọi mình là một đệ tử chân chính.

172. Perhaps some of are presently little chelas, but in all probability, serious students of DK’s Teaching have outgrown this stage. Perhaps a number of us have as a responsibility the supervision of little chelas. If this is the case, we have to help them escape from the “network of futility” in which they have become ensnared through unregulated, chaotic aspiration and lack of discipline.

172. Có lẽ một số người trong chúng ta hiện là tiểu đệ tử, nhưng rất có thể những đạo sinh nghiêm túc nghiên cứu Giáo Huấn của Chân sư DK đã vượt qua giai đoạn này. Có lẽ một số người trong chúng ta có trách nhiệm giám sát các tiểu đệ tử. Nếu đúng như vậy, chúng ta phải giúp họ thoát khỏi “mạng lưới vô ích” mà họ đã mắc vào do khát vọng hỗn loạn, không được điều hòa và do thiếu kỷ luật.

173. A guiding physical plane disciple is a point of stability in the life of a little chela.

173. Một đệ tử hướng dẫn trên cõi hồng trần là một điểm ổn định trong đời sống của tiểu đệ tử.

During all this period, the Master pays no attention whatsoever to the aspirant. It will be a long time before the aspirant will be admitted into His presence and make a personal contact. The chela who is supervising this interim stage reports to the Master at rare and widely separated intervals; it is only when the aspirant has reached the point where he “can enter into the light of the Angel,” that the Master begins to take over his training. The disciple is now, irrevocably and finally, ready. This takes place at the third stage, that of Accepted Discipleship.

Trong suốt thời kỳ này, Chân sư hoàn toàn không chú ý đến người chí nguyện. Sẽ còn rất lâu nữa người chí nguyện mới được phép đến trước Ngài và có sự tiếp xúc cá nhân. Người đệ tử giám sát giai đoạn chuyển tiếp này thỉnh thoảng mới báo cáo với Chân sư, qua những khoảng thời gian cách nhau rất xa; chỉ khi người chí nguyện đạt đến điểm mà y “có thể bước vào ánh sáng của Thiên Thần”, Chân sư mới bắt đầu đảm nhận việc huấn luyện y. Giờ đây, người đệ tử đã sẵn sàng một cách dứt khoát và không thể đảo ngược. Điều này xảy ra ở giai đoạn thứ ba, giai đoạn Địa vị đệ tử được chấp nhận.

174. The Master may have noticed the one who is ready to enter the stage of Little Chelaship, but no further attention needs to be paid to such an aspirant. The supervising attention of the guiding disciple upon the physical plane will be sufficient.

174. Chân sư có thể đã nhận thấy người đã sẵn sàng bước vào giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử, nhưng không cần chú ý thêm đến người chí nguyện ấy. Sự chú tâm giám sát của người đệ tử hướng dẫn trên cõi hồng trần là đủ.

175. How long will it be before the aspirant turned disciple will be admitted into the Master’s presence? If the stage of Little Chelaship lasts “several lives” and the stage of Chela in the Light a few more, perhaps it could be eight, nine or ten lives before the advancing chela is admitted into the presence of the Master as a true “accepted disciple”. Subjective (and largely unconscious) contact with the Master is always possible long before fully personal contact becomes possible.

175. Phải mất bao lâu người chí nguyện đã trở thành đệ tử mới được phép đến trước sự hiện diện của Chân sư? Nếu giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử kéo dài “nhiều kiếp sống” và giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng kéo dài thêm vài kiếp nữa, thì có lẽ phải tám, chín hay mười kiếp sống trước khi người đệ tử đang tiến bước được phép đến trước sự hiện diện của Chân sư với tư cách một “đệ tử được chấp nhận” đích thực. Sự tiếp xúc chủ quan (và phần lớn là vô thức) với Chân sư luôn có thể xảy ra từ rất lâu trước khi sự tiếp xúc hoàn toàn mang tính cá nhân trở nên khả hữu.

176. It is established, then, that the Master, although aware of the little chela, does not direct and guide his development. That is left to supervising chelas upon the physical plane.

176. Như vậy, đã xác định rằng Chân sư, tuy biết đến tiểu đệ tử, vẫn không chỉ dẫn và hướng dẫn sự phát triển của người ấy. Việc đó được giao cho các đệ tử giám sát trên cõi hồng trần.

177. The guiding physical plane chela must be capable of reporting to the Master regarding the little chela’s progress. This seems to be a requirement, and the fulfillment of this requirement must be possible (at least on inner planes) even if the guiding chela is not aware of his capacity to make such a report.

177. Người đệ tử hướng dẫn trên cõi hồng trần phải có khả năng báo cáo với Chân sư về sự tiến bộ của tiểu đệ tử. Đây dường như là một yêu cầu, và việc đáp ứng yêu cầu này phải khả thi (ít nhất trên các cõi bên trong), ngay cả khi người đệ tử hướng dẫn không biết mình có khả năng thực hiện một báo cáo như vậy.

178. The intervals for reporting are, however, rare and infrequent, which makes one wonder whether a little chela might not have the same guiding physical plane chela for more than one incarnation.

178. Tuy nhiên, những dịp báo cáo rất hiếm hoi và thưa thớt, khiến người ta tự hỏi liệu một tiểu đệ tử có thể được cùng một đệ tử trên cõi hồng trần hướng dẫn qua hơn một kiếp lâm phàm hay không.

179. When is it that the aspirant can “enter into the light of the Angel”? It is certainly not before the first initiation. In fact, it would seem that the stage of “Chela in the Light” must have been passed, for a Master only takes over the training of a chela when that chela has moved from an “accepting disciple”, through the phrase of “pledged disciple” and into the condition where he may be technically “accepted” by the Master. This moving into the light therefore, will most probably occur not before the midway point between the first and second initiations, for at that time the stage of “accepted disciple” technically understood, may begin.

179. Khi nào người chí nguyện có thể “bước vào ánh sáng của Thiên Thần”? Chắc chắn không phải trước lần điểm đạo thứ nhất. Thực ra, dường như người ấy phải trải qua giai đoạn “Đệ tử trong Ánh sáng”, vì một Chân sư chỉ đảm nhận việc huấn luyện một đệ tử khi người ấy đã chuyển từ một “đệ tử chấp nhận”, qua giai đoạn “đệ tử đã lập nguyện”, rồi bước vào trạng thái mà, về mặt chuyên môn, người ấy có thể “được chấp nhận” làm đệ tử của Chân sư. Do đó, rất có thể việc bước vào ánh sáng này sẽ không xảy ra trước điểm giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai, vì vào lúc ấy, giai đoạn “đệ tử được chấp nhận”, hiểu theo nghĩa chuyên môn, mới có thể bắt đầu.

180. Actually, DK states directly that the disciple ready for direct training by the Master is an “accepted disciple”.

180. Thực ra, Chân sư DK trực tiếp khẳng định rằng người đệ tử sẵn sàng để Chân sư trực tiếp huấn luyện là một “đệ tử được chấp nhận”.

181. We may say that when a disciple can “enter into the light of the Angel” he can become an “accepted disciple”, directly supervised by the Master.

181. Chúng ta có thể nói rằng khi một đệ tử có thể “bước vào ánh sáng của Thiên Thần”, y có thể trở thành một “đệ tử được chấp nhận”, dưới sự giám sát trực tiếp của Chân sư.

These stages are all of them related to one or other of the initiations. This one, called Little Chelaship, is related to the first initiation. This initiation is connected with the physical plane and, for a very large number of people (as I have several times pointed out) lies far behind. All true aspirants have taken the first initiation. This fact is indicated by their intensive struggle to grow into the spiritual life, to follow the way of determined orientation to the things of the spirit and to live by the light of that spirit. I believe that many who read my words will recognise these determinations as the basic motivation of their lives.

Tất cả những giai đoạn này đều liên quan đến một cuộc điểm đạo nào đó. Giai đoạn được gọi là Địa vị tiểu đệ tử này liên quan đến lần điểm đạo thứ nhất. Cuộc điểm đạo này gắn với cõi hồng trần và, đối với rất nhiều người (như Tôi đã nhiều lần chỉ ra), đã nằm rất xa phía sau. Tất cả những người chí nguyện chân chính đều đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Sự thật này thể hiện qua cuộc đấu tranh mãnh liệt của họ để trưởng thành trong đời sống tinh thần, đi theo con đường kiên quyết hướng đến những điều thuộc tinh thần và sống theo ánh sáng của tinh thần ấy. Tôi tin rằng nhiều người đọc những lời này của Tôi sẽ nhận ra những quyết tâm ấy là động lực căn bản của đời mình.

182. If all the Six Stages of Discipleship relate to one or other of the initiations, then we are being instructed about disciplic stages which correlate to perhaps six or seven initiations. But I do not think that the alignment between the stages and the initiations is quite so straightforward. The third stage (that of accepted discipleship) is possible of attainment well before the second initiation, so we see that a strictly linear, one-to-one matching of disciplic stages and initiations will not be entirely satisfactory.

182. Nếu cả Sáu Giai Đoạn của Địa Vị Đệ Tử đều liên hệ với một trong các cuộc điểm đạo, thì chúng ta đang được chỉ dạy về những giai đoạn đệ tử tương ứng với có lẽ sáu hoặc bảy cuộc điểm đạo. Nhưng tôi không nghĩ rằng sự tương ứng giữa các giai đoạn và các cuộc điểm đạo lại đơn giản đến thế. Người ta có thể đạt đến giai đoạn thứ ba (địa vị đệ tử được chấp nhận) từ khá lâu trước lần điểm đạo thứ hai, nên chúng ta thấy rằng việc ghép các giai đoạn đệ tử với các cuộc điểm đạo theo một trình tự tuyến tính nghiêm ngặt, tương ứng từng giai đoạn một, sẽ không hoàn toàn thỏa đáng.

183. When the stage of Little Chelaship is here connected with the first initiation, I do not think that the earliest lives as a little chela are necessarily lived as first degree initiate. The Master must sponsor or recommend the disciple for initiation, and, as we have been told, the Master has very little to do with the little chela (paying no attention to him) especially at the beginning of his novitiate.

183. Khi giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử được liên kết ở đây với lần điểm đạo thứ nhất, tôi không nghĩ rằng trong những kiếp đầu tiên làm tiểu đệ tử, người ta nhất thiết đã là điểm đạo đồ bậc một. Chân sư phải bảo trợ hoặc tiến cử đệ tử để được điểm đạo, và như chúng ta đã được cho biết, Chân sư rất ít liên hệ với tiểu đệ tử (không chú ý đến y), nhất là vào đầu thời kỳ tập sự của y.

184. Perhaps during the later stages of Little Chelaship (since this stage is said to take several lives) the first initiation may become a possibility.

184. Có lẽ trong những giai đoạn về sau của Địa vị tiểu đệ tử (vì giai đoạn này được cho là kéo dài vài kiếp), lần điểm đạo thứ nhất mới có thể trở thành một khả năng.

185. If all “true aspirants” have taken the first initiation, we must surely discriminate between the aspirant and the true aspirant, for the stage of aspiration must surely begin before the first initiation. (at which time the Christ is met face to face for the first time). From this perspective, it can be questioned whether a little chela is, initially, really a “true aspirant”, or only becomes so in the later stages of his little chelaship.

185. Nếu tất cả “những người chí nguyện chân chính” đều đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất, thì chắc chắn chúng ta phải phân biện giữa người chí nguyện và người chí nguyện chân chính, vì hẳn giai đoạn khát vọng phải bắt đầu trước lần điểm đạo thứ nhất. (đó là lúc người ta lần đầu tiên gặp Đức Christ mặt đối mặt). Từ góc nhìn này, có thể đặt câu hỏi liệu lúc đầu một tiểu đệ tử có thực sự là một “người chí nguyện chân chính”, hay chỉ trở thành như thế trong những giai đoạn về sau của địa vị tiểu đệ tử.

186. Further characteristics of the first degree initiate are offered: “All true aspirants have taken the first initiation. This fact is indicated by their intensive struggle to grow into the spiritual life, to follow the way of determined orientation to the things of the spirit and to live by the light of that spirit. I believe that many who read my words will recognise these determinations as the basic motivation of their lives. ”

186. Những đặc điểm khác của điểm đạo đồ bậc một được nêu ra: “Tất cả những người chí nguyện chân chính đều đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Sự kiện này thể hiện qua nỗ lực đấu tranh mãnh liệt của họ để trưởng thành trong đời sống tinh thần, đi theo con đường kiên quyết hướng về những điều thuộc tinh thần và sống theo ánh sáng của tinh thần ấy. Tôi tin rằng nhiều người đọc những lời của Tôi sẽ nhận ra những quyết tâm này là động lực căn bản của đời mình. ”

187. The word “spirit” frequently means “monad”, but in this case its meaning refers more to the soul as the source of spiritual life.

187. Từ “tinh thần” thường có nghĩa là “chân thần”, nhưng trong trường hợp này, ý nghĩa của nó nghiêng về linh hồn như nguồn cội của đời sống tinh thần.

188. DK seems to be suggesting that many who will read these words are first degree initiates and, as such, have passed or are rapidly passing out of the stage of Little Chelaship.

188. Dường như Chân sư DK đang gợi ý rằng nhiều người sẽ đọc những lời này là các điểm đạo đồ bậc một và, với tư cách ấy, đã vượt qua hoặc đang nhanh chóng vượt khỏi giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử.

This stage is a correspondence to the process of individualisation in Lemurian times and the stage of Little Chelaship is sometimes referred to as the “period of the Lemurian consciousness” leading, through the Atlantean stage of a Chela in the Light, to the Aryan stage of Accepted Discipleship. At this stage, the third and real preparation for initiation is consciously undertaken, because by then integration has been stabilised and the man is full grown and mature in his consciousness and is ready to subject himself to hierarchical impression without reservation.

Giai đoạn này tương ứng với tiến trình biệt ngã hóa trong thời Lemuria, và giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử đôi khi được gọi là “thời kỳ tâm thức Lemuria”, dẫn qua giai đoạn Atlantis của Đệ tử trong Ánh sáng đến giai đoạn Arya của Địa vị đệ tử được chấp nhận. Ở giai đoạn này, sự chuẩn bị thứ ba và thực sự cho điểm đạo được tiến hành một cách hữu thức, vì khi ấy sự tích hợp đã ổn định, con người đã phát triển đầy đủ và trưởng thành trong tâm thức, sẵn sàng đón nhận ấn tượng của Thánh đoàn mà không dè dặt.

189. Wider correspondences to these Stages of Discipleship are now offered. Little Chelaship is “Lemurian”; Chela in the Light is Atlantean; and Accepted Discipleship is Aryan.

189. Giờ đây, những sự tương ứng rộng hơn với các Giai Đoạn của Địa Vị Đệ Tử này được trình bày. Địa vị tiểu đệ tử thuộc “Lemuria”; Đệ tử trong Ánh sáng thuộc Atlantis; và Địa vị Đệ tử được Chấp nhận thuộc Arya.

190. As broad categories, these divisions are useful, but the analogy should not be forced.

190. Xét như những phạm trù rộng, các cách phân chia này hữu ích, nhưng không nên gượng ép phép tương đồng.

191. It is inferred that preparation for the first two initiations is not “real preparation for initiation” which can only be undertaken in the stage of accepted discipleship. The third preparation is the real preparation. In fact, it seems to be the third initiation which is here referenced as “initiation”, even though one may become an accepted disciple before having taken the second degree.

191. Có thể suy ra rằng sự chuẩn bị cho hai lần điểm đạo đầu tiên không phải là “sự chuẩn bị thực sự cho điểm đạo”, vốn chỉ có thể được tiến hành trong giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận. Sự chuẩn bị thứ ba mới là sự chuẩn bị thực sự. Thực ra, dường như chính lần điểm đạo thứ ba được nhắc đến ở đây bằng từ “điểm đạo”, mặc dù người ta có thể trở thành đệ tử được chấp nhận trước khi đạt bậc điểm đạo thứ hai.

192. The accepted disciple ready to prepare for the third degree is “full grown and mature in his consciousness”—preparing to become the “full grown man in Christ”.

192. Người đệ tử được chấp nhận, đã sẵn sàng chuẩn bị cho bậc điểm đạo thứ ba, là người “đã phát triển đầy đủ và trưởng thành trong tâm thức”—đang chuẩn bị trở thành “con người trưởng thành trọn vẹn trong Đức Christ”.

193. We find an inference that preparatory initiates of the first two degrees are not really ready to subject themselves “to hierarchical impression without reservation. ” The one preparing for the third degree, however, is ready.

193. Chúng ta thấy có hàm ý rằng các điểm đạo đồ dự bị thuộc hai bậc đầu chưa thực sự sẵn sàng đón nhận “ấn tượng từ Thánh đoàn mà không dè dặt. ” Tuy nhiên, người đang chuẩn bị cho bậc thứ ba đã sẵn sàng.

194. In His correspondential classifications, DK is definitely equating accepted discipleship with the third degree—the initiation of “integration”, of maturity and of unreserved willingness to receive hierarchical impression.

194. Trong cách phân loại theo sự tương ứng của Ngài, Chân sư DK rõ ràng đang đồng nhất địa vị đệ tử được chấp nhận với bậc điểm đạo thứ ba—cuộc điểm đạo của “sự tích hợp”, của sự trưởng thành và của thái độ sẵn lòng đón nhận ấn tượng từ Thánh đoàn mà không chút dè dặt.

195. When we study these stages of discipleship, we should remain aware of the initiations to which they correspond, bearing in mind that when specific people and their lives are studied, there may be exceptions. Taking a real-life example, all of the members of Master DK’s New Seed Group were, technically, “accepted disciples” yet very few of them were preparing for the third degree. However, even if they were preparing for the second, it should be borne in mind that the second and third degrees will often be taken in the same life—so as accepted disciples, they were still very close to the third degree.

195. Khi nghiên cứu các giai đoạn của địa vị đệ tử này, chúng ta nên luôn nhận biết những cuộc điểm đạo mà chúng tương ứng, đồng thời ghi nhớ rằng có thể có những ngoại lệ khi nghiên cứu những con người cụ thể và cuộc đời của họ. Lấy một ví dụ thực tế, tất cả các thành viên trong Nhóm Hạt Giống Mới của Chân sư DK, xét về mặt chuyên môn, đều là “đệ tử được chấp nhận”, nhưng rất ít người trong số họ đang chuẩn bị cho bậc điểm đạo thứ ba. Tuy nhiên, ngay cả khi họ đang chuẩn bị cho bậc thứ hai, cần nhớ rằng người ta thường đạt bậc thứ hai và thứ ba trong cùng một kiếp—vì thế, với tư cách đệ tử được chấp nhận, họ vẫn rất gần bậc thứ ba.

There is no need further to enlarge upon this preliminary phase, upon the weary, though inspiring path of discipleship. [717] Much has been given out to the world anent this matter with almost undue emphasis upon purification, service and devotion. The reason that I say this is that they should be assumed to constitute part of the exoteric life expression of all true aspirants. They are not esoteric causes but exoteric effects of inner attitudes.

Không cần bàn rộng thêm về giai đoạn sơ bộ này trên con đường đệ tử tuy mệt mỏi nhưng đầy cảm hứng. [717] Thế giới đã nhận được nhiều giáo huấn về vấn đề này, với sự nhấn mạnh gần như quá mức vào thanh luyện, phụng sự và sùng tín. Lý do Tôi nói vậy là vì cần mặc nhiên xem những điều ấy là một phần biểu hiện của đời sống ngoại môn nơi mọi người chí nguyện chân chính. Chúng là những kết quả ngoại môn của các thái độ nội tâm, chứ không phải những nguyên nhân nội môn.

196. The Path of Discipleship, we are told, is both “weary” and “inspiring”. To this assertion we can relate, can we not?

196. Chúng ta được cho biết rằng Con Đường Đệ Tử vừa “nhọc nhằn” vừa “đầy cảm hứng”. Chúng ta có thể đồng cảm với lời khẳng định này, phải không?

197. The phase of Little Chelaship is “preliminary”, yet, it would seem, demanding in its own way. There are perhaps fewer initiates of the first degree than many disciples imagine, but their numbers will soon increase.

197. Giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử mang tính “sơ bộ”, nhưng dường như vẫn có những đòi hỏi riêng. Có lẽ số điểm đạo đồ bậc một ít hơn điều nhiều đệ tử hình dung, nhưng số lượng của họ sẽ sớm gia tăng.

198. In the literature focussed on the stage of Little Chelaship there is perhaps too much emphasis placed upon purification, service and devotion. A more interior approach is required, and the realization that these three factors are the resultant effects of inner attitudes.

198. Trong các tài liệu tập trung vào giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử, có lẽ người ta nhấn mạnh quá nhiều vào thanh lọc, phụng sự và sùng tín. Cần một cách tiếp cận hướng vào bên trong hơn, cùng sự nhận biết rằng ba yếu tố này là những hiệu quả phát sinh từ các thái độ bên trong.

199. The modern disciple (of the kind the Arcane School sought and seeks to train) is assumed to be at least a little chela and probably beyond.

199. Người đệ tử hiện đại (thuộc mẫu người mà Trường Arcane đã và đang tìm cách đào tạo) được xem là ít nhất đã ở địa vị tiểu đệ tử và có lẽ đã vượt qua giai đoạn ấy.

As we continue our studies on the Stages of Discipleship, I would point out anew that for the majority of the aspirants in the world and for highly advanced people with a humanitarian consciousness, the first stage lies far behind. Many people today are “accepted disciples” and that is, as you well know, the third stage, and behind them, therefore, lie three experiences:

Khi tiếp tục nghiên cứu các Giai đoạn của Địa vị Đệ tử, Tôi muốn nhắc lại rằng đối với phần lớn những người chí nguyện trên thế giới và những người tiến bộ cao có tâm thức nhân đạo, giai đoạn đầu tiên đã nằm rất xa phía sau. Ngày nay, nhiều người là “đệ tử được chấp nhận”, và như các bạn biết rõ, đó là giai đoạn thứ ba; vì thế, phía sau họ là ba trải nghiệm:

200. DK views humanity en large and offers us some perspective. In this instance, He seems to equate aspirants with “advanced people” and therefore, reasonably, with “advanced humanity”.

200. Chân sư DK nhìn nhân loại trên bình diện rộng và cho chúng ta một góc nhìn. Trong trường hợp này, dường như Ngài đồng nhất những người chí nguyện với “những người tiến hóa” và do đó, một cách hợp lý, với “bộ phận nhân loại tiến hóa”.

201. Sometimes, in the Teaching, it seems that members of “advanced humanity” are not even to be considered aspirants and certainly not disciples. But here the equation is made.

201. Đôi khi, trong Giáo Huấn, dường như những người thuộc “bộ phận nhân loại tiến hóa” thậm chí chưa được xem là người chí nguyện, và chắc chắn chưa phải đệ tử. Nhưng ở đây, hai nhóm này được đồng nhất.

202. We must note that the highly advanced people here mentioned have a “humanitarian consciousness”, so it is not merely that they are intelligent, but that they have heart. Advanced, intelligent people can also be selfish; this type would not be numbered among real aspirants.

202. Chúng ta phải lưu ý rằng những người tiến hóa cao được nhắc đến ở đây có “tâm thức nhân đạo”, nên họ không chỉ thông minh mà còn có tấm lòng. Những người tiến hóa và thông minh cũng có thể ích kỷ; mẫu người này sẽ không được kể vào hàng những người chí nguyện chân chính.

203. There are some aspirants, apparently, for whom the stage of Little Chelaship does not lie far behind. Perhaps they are now passing through that stage, or perhaps, while lying “behind”, the stage does not lie far behind.

203. Dường như có một số người chí nguyện mà đối với họ, giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử chưa lùi xa phía sau. Có lẽ hiện giờ họ đang trải qua giai đoạn ấy, hoặc có lẽ tuy đã ở “phía sau”, giai đoạn ấy vẫn chưa lùi xa phía sau.

204. The implication in all this is that the stage of Little Chelaship lies behind most who will carefully read these words. This is another way of saying that Master DK is doing much of His writing for those who are initiates of the first degree.

204. Tất cả những điều này hàm ý rằng phần lớn những người sẽ đọc kỹ những lời này đã vượt qua giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử. Đây là một cách khác để nói rằng Chân sư DK dành phần lớn những điều Ngài viết cho các điểm đạo đồ bậc một.

205. Are there many accepted disciples today? Master DK says so. Do these people know that they are accepted disciples? Not necessarily, but they may begin to infer or intuit the fact.

205. Ngày nay có nhiều đệ tử được chấp nhận không? Chân sư DK nói là có. Những người này có biết rằng mình là đệ tử được chấp nhận không? Không nhất thiết, nhưng họ có thể bắt đầu suy ra hoặc trực nhận sự kiện ấy.

206. Behind the accepted disciple lie the stages of Little Chelaship and Chela in the Light, and the first initiation! The implication here is that the little chela or the chela in the light may not be initiates of the first degree, but an accepted disciple must be. This is an important idea and may have to be compared with other references which seem to indicate otherwise with respect to the stage of Chela in the Light.

206. Phía sau người đệ tử được chấp nhận là các giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử và Đệ tử trong Ánh sáng, cùng với lần điểm đạo thứ nhất! Hàm ý ở đây là tiểu đệ tử hoặc đệ tử trong ánh sáng có thể chưa phải là điểm đạo đồ bậc một, nhưng một đệ tử được chấp nhận nhất thiết phải là như vậy. Đây là một ý tưởng quan trọng và có lẽ cần đối chiếu với những đoạn tham chiếu khác dường như chỉ ra điều ngược lại về giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng.

1. The stage of “Little Chelaship”—elementary, testing and disturbing. It is sometimes spoken of as the “stage wherein the roots of the man-plant are shaken; the stage in which they (up till now embedded) are loosened and air and light disturb the peace of ages. This is the peace of death, the age of stone, the tomb of life. ”

1. Giai đoạn “Địa vị tiểu đệ tử”—sơ đẳng, đầy thử thách và xáo động. Đôi khi người ta gọi đó là “giai đoạn rễ của cây người bị lay chuyển; giai đoạn những chiếc rễ ấy (cho đến lúc này vẫn bám sâu) được nới lỏng, và không khí cùng ánh sáng khuấy động sự yên bình của bao thời đại. Đây là sự yên bình của cái chết, thời đại của đá, nấm mồ của sự sống.”

207. The stage of Little Chelaship is described in terms of the Old Commentary.

207. Giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử được mô tả bằng ngôn từ của Cổ Luận.

208. We can sense in this stage the awakening which must occur before the first initiation becomes possible.

208. Trong giai đoạn này, chúng ta có thể cảm nhận sự thức tỉnh phải diễn ra trước khi lần điểm đạo thứ nhất trở nên khả thi.

209. The “roots of the man-plant” are shaken free from the soil of the ages. A great process of detachment is enforced. Vulcan and Pluto do their work. Saturn and Uranus are also involved.

209. Những “rễ của cây người” bị lay bật khỏi lớp đất của bao thời đại. Một tiến trình tách rời lớn lao buộc phải diễn ra. Vulcan và Sao Diêm Vương thực hiện công việc của mình. Sao Thổ và Sao Thiên Vương cũng tham gia.

210. ”Air and light” suggest the buddhic energy (air) and the light of the soul. The “peace of ages” is based upon ignorance.

210. ”Không khí và ánh sáng”gợi đến năng lượng Bồ đề (không khí) và ánh sáng của linh hồn. Sự “yên bình của bao thời đại” dựa trên vô minh.

211. The soul is figuratively dead when under the spell of such a peace. It is the peace of the tomb. The lowest kingdom (the mineral kingdom, the kingdom of stone) rules, for materialism is long and well established. The spirit is entombed.

211. Theo nghĩa bóng, linh hồn đã chết khi chịu sự mê hoặc của một sự yên bình như thế. Đó là sự yên bình của nấm mồ. Giới thấp nhất (giới kim thạch, giới của đá) cai quản, vì chủ nghĩa duy vật đã bám rễ sâu vững từ lâu. Tinh thần bị chôn kín.

212. We gather that the stage of Little Chelaship is disturbing. Can this stage be partially associated with the activity of the fifth petal of the egoic lotus? The dynamics for the fifth petal are described as follows:

212. Chúng ta hiểu rằng giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử gây xáo trộn. Có thể phần nào liên kết giai đoạn này với hoạt động của cánh hoa thứ năm trong Hoa Sen Chân Ngã chăng? Động lực hoạt động của cánh hoa thứ năm được mô tả như sau:

The Petal of Love for the astral plane; unfoldment is brought about through the process of gradually transmuting the love of the subjective nature or of the Self within. This has a dual effect and works through on to the physical plane in many lives of turmoil, of endeavour and of failure as a man strives to turn his attention to the love of the Real. (TCF 540 Italics MDR)

Cánh Hoa Bác Ái đối với cõi cảm dục; sự khai mở diễn ra qua tiến trình dần dần chuyển hoá tình thương đối với bản chất chủ quan hay đối với Bản Ngã bên trong. Điều này có tác dụng kép và tác động xuống cõi hồng trần qua nhiều kiếp xáo trộn, nỗ lực và thất bại, khi con người cố gắng hướng sự chú ý của mình đến tình thương đối với Cái Thực. (TCF 540, chữ nghiêng do MDR)

The many lives of turmoil seem related to the disturbing nature of little chelaship. But it is probable that fifth petal activity begins well before the stage of Little Chelaship is possible.

Nhiều kiếp xáo trộn dường như liên hệ với bản chất gây xáo trộn của địa vị tiểu đệ tử. Nhưng có lẽ hoạt động của cánh hoa thứ năm bắt đầu từ khá lâu trước khi giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử trở nên khả thi.

From a certain perspective, however, fifth petal activity corresponds to Leo, individualization and a relatively Lemurian stage of soul unfoldment. The sixth petal, then, would be Atlantean and the seventh petal the beginning of the Aryan phase.

Tuy nhiên, từ một góc nhìn nhất định, hoạt động của cánh hoa thứ năm tương ứng với Sư Tử, sự biệt ngã hóa và một giai đoạn khai mở linh hồn tương đối thuộc Lemuria. Khi ấy, cánh hoa thứ sáu sẽ thuộc Atlantis, còn cánh hoa thứ bảy là khởi đầu của giai đoạn Arya.

213. Yet, it must be remembered that Little Chelaship has at least a correspondence with the first initiation, and thus with the first of the sacrifice petals.

213. Tuy vậy, cần nhớ rằng Địa vị tiểu đệ tử ít nhất có sự tương ứng với lần điểm đạo thứ nhất, và do đó với cánh đầu tiên trong các cánh hoa hi sinh.

2. The stage of “Chela in the Light. ” About this stage I am now going to speak.

2. Giai đoạn “Đệ tử trong Ánh sáng”. Giờ đây, Tôi sẽ nói về giai đoạn này.

214. The stage of Chela in the Light (symbolically the Atlantean phase of discipleship) necessarily lies behind the true accepted disciple.

214. Người đệ tử được chấp nhận chân chính nhất thiết đã vượt qua giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng (về mặt biểu tượng là giai đoạn Atlantis của địa vị đệ tử).

3. The first initiation. This initiation ever precedes the stage of accepted discipleship. No Master accepts a disciple and takes him into His ashram in whom the birth of the Christ has not taken place. Saul must become Paul, as the Christian phraseology puts it. The babe within the womb of time emerges into the world of men and, from the standpoint of complete identification with matter (the mother), he becomes himself and seeks consciously to tread the ways of life and to become what he is. This is an esoteric repetition of the physical process of becoming a separate individual. Between the stages of “isolated individuality” and “isolated unity” lies one to which the name of “isolated identity” is given. It is with this stage we are concerned and its esoteric implications. Isolated unity describes the stage which the Master has reached; isolated individuality is that of the disciple; isolated identity (with the soul) is that of the disciple up to and including the third initiation.

3. Lần điểm đạo thứ nhất. Cuộc điểm đạo này luôn diễn ra trước giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận. Không Chân sư nào chấp nhận một đệ tử và đưa y vào ashram của Ngài nếu Đức Christ chưa ra đời trong y. Saul phải trở thành Paul, theo cách diễn đạt của Kitô giáo. Hài nhi trong lòng thời gian bước ra thế giới loài người và, từ chỗ hoàn toàn đồng hoá với vật chất (người mẹ), y trở thành chính mình, hữu thức tìm cách bước trên những nẻo đường sự sống và trở thành điều y vốn là. Đây là sự tái diễn về mặt nội môn của tiến trình hồng trần trở thành một cá nhân riêng biệt. Giữa các giai đoạn “Cá Thể Cô Lập” và “Hợp Nhất Cô Lập” có một giai đoạn được gọi là “Bản Sắc Cô Lập”. Chúng ta đang quan tâm đến giai đoạn này và những hàm ý nội môn của nó. Hợp Nhất Cô Lập mô tả giai đoạn mà Chân sư đã đạt tới; Cá Thể Cô Lập là giai đoạn của người đệ tử; Bản Sắc Cô Lập (với linh hồn) là giai đoạn của người đệ tử cho đến và bao gồm cả lần điểm đạo thứ ba.

215. Only in one instance, was there an accepted disciple in the Tibetan’s group who had not taken the first initiation—a very unusual circumstance.

215. Chỉ có một trường hợp trong nhóm của Chân sư Tây Tạng là một đệ tử được chấp nhận chưa trải qua lần điểm đạo thứ nhất—một hoàn cảnh hết sức khác thường.

“Such a group must itself be composed of people who have taken initiation. As one of your group members will only take the first initiation next life, it is obvious that the group initiation to which I refer will not be taken in this immediate cycle. The rest of the group have to wait for him. ” (DINA II 24)

“Bản thân một nhóm như thế phải gồm những người đã được điểm đạo. Vì một thành viên trong nhóm các bạn chỉ đến kiếp sau mới trải qua lần điểm đạo thứ nhất, nên hiển nhiên cuộc điểm đạo nhóm mà Tôi đề cập sẽ không diễn ra ngay trong chu kỳ này. Những thành viên còn lại của nhóm phải chờ người ấy. ” (DINA II 24)

The implications are arresting. If the members of the Tibetan’s outer groups under his direct supervision could not take group initiation in the present cycle, what can be said of contemporary groups?

Những hàm ý này khiến người ta phải chú ý. Nếu các thành viên trong những nhóm bên ngoài của Chân sư Tây Tạng, dưới sự giám sát trực tiếp của Ngài, không thể trải qua cuộc điểm đạo nhóm trong chu kỳ hiện tại, thì có thể nói gì về các nhóm đương thời?

216. That Saul should become Paul is the symbol of the transition from the non-initiate state to that of the first initiation. The historical Saul was, however, already an initiate of the second degree rapidly working His way to the third.

216. Việc Saul phải trở thành Paul là biểu tượng của sự chuyển tiếp từ trạng thái chưa được điểm đạo sang trạng thái của lần điểm đạo thứ nhất. Tuy nhiên, Saul trong lịch sử đã là một điểm đạo đồ bậc hai, đang nhanh chóng tiến đến bậc thứ ba.

217. There is a close correspondence between the first initiation and individualization. The sign Leo is prominent in relation to both. Individualization is birth into the human kingdom. The first initiation is birth into the kingdom of souls.

217. Có một sự tương ứng chặt chẽ giữa lần điểm đạo thứ nhất và sự biệt ngã hóa. Dấu hiệu Sư Tử giữ vai trò nổi bật trong mối liên hệ với cả hai. Biệt ngã hóa là sự ra đời trong giới nhân loại. Lần điểm đạo thứ nhất là sự ra đời trong giới linh hồn.

218. Three important terms are proposed:

218. Ba thuật ngữ quan trọng được đưa ra:

1. Isolated individuality, pertaining to the disciple

1. Cá Thể Cô Lập, thuộc về đệ tử

2. Isolated identity, pertaining to the disciple up to the third initiation. This phase signifies “isolated identity with the soul”. It is an identification with soul but not with the monad or the life aspect.

2. Bản Sắc Cô Lập, thuộc về đệ tử cho đến lần điểm đạo thứ ba. Giai đoạn này biểu thị “Bản Sắc Cô Lập với linh hồn”. Đó là sự đồng hoá với linh hồn, nhưng không phải với chân thần hay phương diện sự sống.

3. Isolated Unity, pertaining to the Master

3. Hợp Nhất Cô Lập, thuộc về Chân sư

a. Isolated unity is the consummation of the Aryan [718] consciousness. Isolated identity is related to the Atlantean consciousness, from the angle of the higher correspondence.

a. Hợp Nhất Cô Lập là sự viên mãn của tâm thức Arya [718]. Bản Sắc Cô Lập liên quan đến tâm thức Atlantis, xét từ góc độ tương ứng cao hơn.

219. The correspondences are offered. We can link “Isolated Unity” with the Aryan consciousness.

219. Những sự tương ứng được trình bày. Chúng ta có thể liên kết “Hợp Nhất Cô Lập” với tâm thức Arya.

220. ”Isolated identity” is certainly beyond the normal Atlantean consciousness (which is emotional), but in the series of three isolations, it holds the second or Atlantean place.

220. ”Bản Sắc Cô Lập” chắc chắn vượt trên tâm thức Atlantis thông thường (vốn mang tính cảm xúc), nhưng trong chuỗi ba dạng cô lập, nó giữ vị trí thứ hai, tức vị trí Atlantis.

b. Isolated unity is connected with the mental plane, is governed by the fifth Ray of Concrete Knowledge or Science, and is a reflection of the will-to-know. Isolated identity is connected with the astral plane, is governed by the sixth Ray of Devotion or Idealistic Sensitivity and is a reflection—distorted and unstable—of the will-to-love. Isolated individuality is connected with expression upon the physical plane, is governed by the third Ray of Active Intelligence, and is a reflection—again distorted and unsure—of the will-to-be.

b. Hợp Nhất Cô Lập gắn với cõi trí, chịu sự cai quản của cung năm, cung Tri Thức Cụ Thể hay Khoa Học, và là sự phản chiếu của ý chí muốn biết. Bản Sắc Cô Lập gắn với cõi cảm dục, chịu sự cai quản của cung sáu, cung Sùng Tín hay Nhạy Cảm Lý Tưởng, và là sự phản chiếu—méo mó và bất ổn—của Ý Chí-Yêu Thương. Cá Thể Cô Lập gắn với sự biểu hiện trên cõi hồng trần, chịu sự cai quản của cung ba, cung Trí Tuệ Hoạt Động, và là sự phản chiếu—cũng méo mó và thiếu vững chắc—của ý chí hiện tồn.

221. The correspondences given here are fascinating, but again must be treated as mental constructs.

221. Những sự tương ứng được nêu ở đây rất hấp dẫn, nhưng một lần nữa, phải xem chúng là những cấu trúc do trí tuệ xây dựng.

222. The fifth, sixth and third rays are correlated to the three ‘isolations’. One could also easily imagine the seventh ray correlated to “isolated individuality”, for the Lemurian consciousness is closely related to the physicality of the seventh ray.

222. Các cung năm, sáu và ba được liên kết tương ứng với ba dạng ‘cô lập’. Người ta cũng có thể dễ dàng hình dung cung bảy tương ứng với “Cá Thể Cô Lập”, vì tâm thức Lemuria liên hệ chặt chẽ với tính chất hồng trần của cung bảy.

223. There is much of the first ray in “isolated unity”, for it pertains to the first ray Technique of Fusion. But the fifth ray (with which it is here identified) is closely related to the first ray, and resolves upon it. The will-to-know, however, might be considered the third aspect of the will (with the will-to-love as the second and the will-to-be, the first). So the highest of the three isolations is related to the lowest aspect of the three wills here discussed.

223. Có nhiều tính chất của cung một trong “Hợp Nhất Cô Lập”, vì nó thuộc về Kỹ Thuật Dung Hợp của cung một. Nhưng cung năm (mà ở đây nó được đồng nhất với) liên hệ chặt chẽ với cung một và quy về cung ấy. Tuy nhiên, ý chí-hướng đến hiểu biết có thể được xem là phương diện thứ ba của ý chí (với Ý Chí-Yêu Thương là phương diện thứ hai và ý chí-hiện tồn là phương diện thứ nhất). Vì vậy, dạng cao nhất trong ba dạng cô lập liên hệ với phương diện thấp nhất của ba dạng ý chí được bàn đến ở đây.

224. Isolated Identity relates to soul identification, and thus to the Atlantean stage of consciousness, for the astral nature corresponds to the soul nature. The second of the three wills (the will-to-love) corresponds naturally to the second of the three ‘isolations’.

224. Bản Sắc Cô Lập liên hệ với sự đồng hoá với linh hồn, và do đó với giai đoạn tâm thức Atlantis, vì bản chất cảm dục tương ứng với bản chất linh hồn. Dạng thứ hai trong ba dạng ý chí (Ý Chí-Yêu Thương) tự nhiên tương ứng với dạng thứ hai trong ba dạng ‘cô lập’.

225. The third type of ‘isolation’ is seen as a correspondence to the first of the three wills here listed—the will-to-be.

225. Loại ‘cô lập’ thứ ba được xem là tương ứng với loại thứ nhất trong ba loại ý chí được liệt kê ở đây—ý chí hiện tồn.

226. Thus the three types of will are reflected in the three types of ‘isolation’. There is not a direct superimposition of one set upon the other, for then the will-to-be would correlate with Isolated Unity, and the will-to-know, with Isolated Individuality. Some justification, however, can be found for such correlations.

226. Như vậy, ba loại ý chí phản chiếu trong ba loại ‘cô lập’. Không có sự chồng khít trực tiếp giữa hai bộ ba này, vì nếu có thì ý chí hiện tồn sẽ tương quan với Hợp Nhất Cô Lập, còn ý chí hiểu biết sẽ tương quan với Cá Thể Cô Lập. Tuy nhiên, có thể tìm thấy một cơ sở biện minh nào đó cho những mối tương quan như thế.

227. All of us have passed through the stage of Isolated individuality aeons ago, and are not working upon the Isolated Identity which will culminate when we become Self-realized souls.

227. Tất cả chúng ta đều đã trải qua giai đoạn Cá Thể Cô Lập từ nhiều đại kiếp trước, và hiện không làm việc với Bản Sắc Cô Lập, vốn sẽ đạt đến đỉnh điểm khi chúng ta trở thành những linh hồn đã chứng nghiệm Chân ngã.

On the buddhic plane, the plane of the divine intuition, these lower three expressions and their higher prototypes are harmonised and the expansive work of the three initiations (second, third and fourth) produces an absorption, a fusion and a blending process between the disciple and the soul (and eventually between humanity and the Hierarchy) which prepares for a major contact between man and the Monad. When this takes place, the soul, creator of reflection and shadow, is discarded because that point of consciousness has served its purpose. The shattering of the causal body takes place and nought is then left but fully conscious form and spirit. Until, however, man has taken the higher initiations, he cannot comprehend the significance of the above comments.

Trên cõi Bồ đề, cõi của trực giác thiêng liêng, ba biểu hiện thấp này cùng những nguyên mẫu cao hơn của chúng được hài hòa; công việc mở rộng của ba cuộc điểm đạo (thứ hai, thứ ba và thứ tư) tạo ra một tiến trình hấp thu, dung hợp và hòa trộn giữa người đệ tử với linh hồn (và cuối cùng giữa nhân loại với Thánh đoàn), chuẩn bị cho một sự tiếp xúc lớn lao giữa con người và Chân thần. Khi điều này xảy ra, linh hồn, tác nhân tạo ra hình phản chiếu và cái bóng, được buông bỏ vì điểm tâm thức ấy đã hoàn thành mục đích của nó. Thể nguyên nhân tan vỡ, và khi ấy không còn gì ngoài hình tướng cùng tinh thần hoàn toàn hữu thức. Tuy nhiên, chừng nào chưa trải qua những cuộc điểm đạo cao hơn, con người chưa thể thấu hiểu thâm nghĩa của những nhận xét trên.

228. Thus far, in the consideration of correspondences, we have had three types of ‘isolations’, three rays, and three aspects of the will. The Tibetan has correlated all these for us in an interesting manner.

228. Cho đến đây, khi xem xét các sự tương ứng, chúng ta đã có ba loại ‘cô lập’, ba cung và ba phương diện của ý chí. Chân sư Tây Tạng đã chỉ ra cho chúng ta mối tương quan giữa tất cả những điều này theo một cách thú vị.

229. The buddhic plane is now discussed as the “plane of divine intuition” where these triplicities are harmonized.

229. Giờ đây, cõi Bồ đề được bàn đến như “cõi của trực giác thiêng liêng”, nơi các bộ ba này được điều hòa.

230. Whereas the first initiation was discussed in relation to “Isolated Individuality” and Little Chelaship, when the buddhic plane is considered, the first initiation is no longer focal. Three initiations (the second, third and fourth) all of them related to buddhi in different ways, are discussed instead.

230. Trong khi lần điểm đạo thứ nhất đã được bàn đến trong mối liên hệ với “Cá Thể Cô Lập” và Địa vị tiểu đệ tử, thì khi xem xét cõi Bồ đề, lần điểm đạo thứ nhất không còn là trọng tâm. Thay vào đó, ba cuộc điểm đạo (thứ hai, thứ ba và thứ tư), tất cả đều liên hệ với Bồ đề theo những cách khác nhau, được bàn đến.

231. The watchwords are “absorption”, “fusion” and “blending”. To such processes the dynamics of the first initiation are not related. Perhaps in relation to these three terms we may consider the planets Jupiter, Venus and Neptune—in this order, or in others.

231. Những từ then chốt là “hấp thu”, “dung hợp” và “hòa quyện”. Động lực của lần điểm đạo thứ nhất không liên hệ với những tiến trình như thế. Có lẽ, trong mối liên hệ với ba thuật ngữ này, chúng ta có thể xem xét các hành tinh Sao Mộc, Sao Kim và Sao Hải Vương—theo thứ tự này hoặc theo những thứ tự khác.

232. The period from the first initiation to the second represents one unit of work. The sequence of the second, third and fourth initiations represent another unit of work distinct from the work of the first degree and the lengthy period which follows it. This is so because the second, third and fourth degrees may be taken in rapid succession, or even in the same life (as we are told—IHS 84-85)

232. Giai đoạn từ lần điểm đạo thứ nhất đến lần thứ hai tạo thành một đơn vị công việc. Chuỗi các cuộc điểm đạo thứ hai, thứ ba và thứ tư tạo thành một đơn vị công việc khác, phân biệt với công việc của cấp độ thứ nhất và giai đoạn dài theo sau đó. Sở dĩ như vậy là vì các cấp độ thứ hai, thứ ba và thứ tư có thể đạt được liên tiếp trong thời gian ngắn, hoặc thậm chí trong cùng một kiếp sống (như chúng ta được cho biết—IHS 84-85)

233. If Isolated Unity corresponds to the mental plane, what type of ‘isolation’ corresponds to the buddhic? On this we may ponder. It should be suggested however that without a fair measure of buddhic and even atmic realization, Isolated Unity cannot be achieve, for it is the state of awareness of a Master who is atmic-buddhic in His consciousness.

233. Nếu Hợp Nhất Cô Lập tương ứng với cõi trí, thì loại ‘cô lập’ nào tương ứng với cõi Bồ đề? Chúng ta có thể suy ngẫm về điều này. Tuy nhiên, cần gợi ý rằng nếu không có một mức độ chứng nghiệm đáng kể trên cõi Bồ đề và cả cõi atma, thì không thể đạt được Hợp Nhất Cô Lập, vì đó là trạng thái nhận biết của một Chân sư mà tâm thức của Ngài thuộc cõi atma–Bồ đề.

234. If one wants to know what remains after the shattering of the causal body, the formula is simply given: “fully conscious form and spirit”. The form has absorbed soul and triad completely; or soul and triad have fully infused the form. Spirit, however, remains forever distinct and yet is all other things as well.

234. Nếu muốn biết điều gì còn lại sau khi thể nguyên nhân tan vỡ, công thức được nêu thật đơn giản: “hình tướng hoàn toàn hữu thức và tinh thần”. Hình tướng đã hấp thu hoàn toàn linh hồn và Tam nguyên tinh thần; hoặc linh hồn và Tam nguyên tinh thần đã thấm nhuần hoàn toàn hình tướng. Tuy nhiên, tinh thần mãi mãi vẫn riêng biệt, mà đồng thời cũng là tất cả những gì khác.

In connection with this, I would remind you that though I am seeking to train many at this time for further expansions of consciousness, I am writing primarily for the future and for those disciples who, in years to come, will read my words and find their way into the Ashrams of the Masters. The Hierarchy builds for the future; it is not occupied with the present. All that it does is done with the intent to open the way into a wider and more expansive world. Humanity is preoccupied with the things of the present; the Hierarchy is working and laying plans for the future; Shamballa is engrossed with the Eternal Now and with the dynamic life which has created the past, which controls the present (the centre of illusion) and [719] with the future. You may perhaps gain some idea or picture of the conditioning life of Shamballa if you will study the present era of human living. In it, people with the Lemurian consciousness, focussed on the past and concerned with the physical plane, are present; people with the Atlantean consciousness, emotional in content and focussed on the present, are everywhere to be found; and people who are definitely Aryan in their state of awareness, mentally focussed and occupied with the future, are likewise found. The three constitute one race of men and embody the whole of mankind.

Liên quan đến điều này, Tôi muốn nhắc các bạn rằng tuy lúc này Tôi đang tìm cách huấn luyện nhiều người để họ tiếp tục mở rộng tâm thức, Tôi viết chủ yếu cho tương lai và cho những đệ tử, trong những năm sắp tới, sẽ đọc lời Tôi và tìm được đường vào các Ashram của các Chân sư. Thánh đoàn xây dựng cho tương lai; Thánh đoàn không bận tâm đến hiện tại. Mọi việc Thánh đoàn làm đều nhằm mở đường vào một thế giới rộng lớn và bao la hơn. Nhân loại bận tâm đến những điều của hiện tại; Thánh đoàn đang làm việc và lập kế hoạch cho tương lai; Shamballa chuyên chú vào Hiện Tại Vĩnh Cửu và vào sự sống năng động đã tạo ra quá khứ, đang kiểm soát hiện tại (trung tâm của ảo tưởng), cùng [719] tương lai. Các bạn có lẽ có thể hình dung đôi chút về sự sống tạo ảnh hưởng của Shamballa nếu nghiên cứu thời đại hiện nay của đời sống nhân loại. Trong thời đại này, có những người mang tâm thức Lemuria, tập trung vào quá khứ và quan tâm đến cõi hồng trần; ở khắp nơi đều có thể gặp những người mang tâm thức Atlantis, có nội dung cảm xúc và tập trung vào hiện tại; và cũng có những người rõ ràng mang trạng thái nhận biết Arya, tập trung trí tuệ và quan tâm đến tương lai. Ba nhóm này hợp thành một nhân loại và hiện thân cho toàn thể loài người.

235. It becomes clear that DK is writing in order to assist students to find their way into the Masters’ Ashrams. This is one of His prime objectives. There the proper training may be received.

235. Có thể thấy rõ rằng Chân sư DK đang viết để giúp các đạo sinh tìm được đường vào các ashram của các Chân sư. Đây là một trong những mục tiêu chính của Ngài. Tại đó, họ có thể nhận được sự huấn luyện thích hợp.

236. DK as a member of Hierarchy is concerned with the future.

236. Là một thành viên của Thánh đoàn, Chân sư DK quan tâm đến tương lai.

237. The formula is useful: Humanity’s attention is on the present; Hierarchy’s on the future; and Shamballa’s on the “Eternal Now”—embracing past present and future.

237. Công thức này hữu ích: Sự chú ý của nhân loại hướng vào hiện tại; của Thánh đoàn hướng vào tương lai; và của Shamballa hướng vào “Hiện Tại Vĩnh Cửu”—bao trùm quá khứ, hiện tại và tương lai.

238. Yet another correspondence is given: Lemurian consciousness focusses on the past (as does ‘Lemurian psychology’); Atlantean consciousness focusses on the present (as does ‘Atlantean psychology’); Aryan consciousness focusses on the future (as does ‘Aryan psychology’).

238. Một sự tương ứng khác nữa được nêu ra: tâm thức Lemuria tập trung vào quá khứ (cũng như ‘tâm lý học Lemuria’); tâm thức Atlantis tập trung vào hiện tại (cũng như ‘tâm lý học Atlantis’); tâm thức Arya tập trung vào tương lai (cũng như ‘tâm lý học Arya’).

239. The past is related to the physical plane and Lemurian consciousness; the present to the emotional plane and Atlantean consciousness; and the future to the mental plane and the Aryan consciousness. The correspondences are useful, are they not?

239. Quá khứ liên hệ với cõi hồng trần và tâm thức Lemuria; hiện tại với cõi cảm xúc và tâm thức Atlantis; còn tương lai với cõi trí và tâm thức Arya. Những sự tương ứng này thật hữu ích, phải không?

240. We are perhaps aware of the many groups of correspondences which have been offered in this chapter of the work. Perhaps a clearer picture of man’s development and the relation of that development to great historical ages are emerging.

240. Có lẽ chúng ta đã nhận biết nhiều nhóm tương ứng được đưa ra trong chương này của tác phẩm. Có lẽ một bức tranh rõ ràng hơn về sự phát triển của con người và mối liên hệ giữa sự phát triển ấy với các thời đại lịch sử lớn đang dần hiện ra.

241. The study of the three great categories of human beings and their three types of consciousness is, says DK, revelatory of the conditioning life of Shamballa. It is clear that Shamballic awareness spans vast stretches of time and contains all found therein in the present moment—the Eternal Now.

241. Theo Chân sư DK, việc nghiên cứu ba loại người lớn và ba loại tâm thức của họ giúp mặc khải sự sống tạo ảnh hưởng của Shamballa. Rõ ràng, sự nhận biết của Shamballa trải rộng qua những khoảng thời gian bao la và chứa đựng tất cả những gì hiện hữu trong đó ngay trong khoảnh khắc hiện tại—Hiện Tại Vĩnh Cửu.

Dear Brothers and Sisters,

Các huynh đệ và tỉ muội thân mến,

The material we have studied in this chapter is at once practical and theoretical. We have certain definite stages of discipleship under scrutiny. These stages relate directly to individuals such as ourselves and to those we know. At the same time, these definite stages of human development are related, correspondentially, to certain of the rays, to certain great phases of consciousness, and to certain of the root races.

Nội dung chúng ta đã nghiên cứu trong chương này vừa có tính thực tiễn vừa có tính lý thuyết. Chúng ta đang xem xét kỹ một số giai đoạn xác định của địa vị đệ tử. Những giai đoạn này liên hệ trực tiếp với những cá nhân như chúng ta và những người chúng ta quen biết. Đồng thời, những giai đoạn xác định này trong sự phát triển của con người liên hệ, theo sự tương ứng, với một số cung, với một số giai đoạn tâm thức lớn và với một số Giống dân gốc.

DK began this letter with a discussion of the world of meaning, which we related to an understanding of context. May we say that in this study, we have been led deeply into the world of meaning? The context of human development has been clearly set forth and, I would say, we have a clearer grasp of our place, as disciples, within the whole.

Chân sư DK bắt đầu bức thư này bằng việc bàn về Thế giới của ý nghĩa, mà chúng ta đã liên hệ với sự thấu hiểu bối cảnh. Liệu chúng ta có thể nói rằng qua việc nghiên cứu này, chúng ta đã được dẫn sâu vào Thế giới của ý nghĩa không? Bối cảnh phát triển của con người đã được trình bày rõ ràng và, tôi cho rằng, chúng ta đã nắm rõ hơn vị trí của mình, với tư cách đệ tử, trong toàn thể.

Light, Love and Power to All,

Cầu chúc Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng đến với tất cả,

Michael

Michael

Leave a Comment

Scroll to Top