DINA I · Bình giảng 5
commentary by Michael D. Robbins | bình giảng của Michael D. Robbins |
Dear Brothers and Sisters, | Các huynh đệ và tỉ muội thân mến, |
There is a lot of material to study in this commentary. The Tibetan is presenting the foundational structure of the Seed Groups. Given this fact, the commentary is brief and inadequate, but does give us a start on a deeper approach to this great subject. | Có rất nhiều tài liệu để nghiên cứu trong bài bình giảng này. Chân sư Tây Tạng đang trình bày cấu trúc nền tảng của các Nhóm hạt giống. Trước thực tế này, bài bình giảng tuy ngắn gọn và chưa đầy đủ, nhưng cũng giúp chúng ta khởi đầu một cách tiếp cận sâu hơn với chủ đề lớn lao này. |
All of us will find ourselves working, whether consciously or unconsciously, in relation to one or other of the Seed Groups. As we find ourselves, our best focus of service will also clarify and our cooperation with the Divine Plan will become more useful to humanity and Hierarchy. | Tất cả chúng ta sẽ thấy mình đang làm việc, dù có ý thức hay vô thức, trong mối liên hệ với một trong các Nhóm hạt giống. Khi tìm thấy vị trí của mình, trọng tâm phụng sự tốt nhất của chúng ta cũng sẽ trở nên rõ ràng, và sự hợp tác của chúng ta với Thiên Cơ sẽ trở nên hữu ích hơn cho nhân loại và Thánh đoàn. |
Love and Many Blessings, | Với tình thương và nhiều phúc lành, |
Michael | Michael |
As these groups of disciples become active in the world and their inner integration and group relationship become securely established, we shall have the germ of those characteristics which will dignify the New Age groups. I would ask you all never to forget that this group work you are attempting to do is in reality pioneer work and hence has all the difficulties which pioneer work inevitably and necessarily has. Thereby strength to grow is gained. As the number of these groups increases and the personnel is gradually supplied, the skeleton framework of a future structure will slowly emerge. How that structure [31] will appear when completed is known only to the inspired vision of the architects. But the foundations must be set sure and deep; the framework must be true and rightly adjusted. These two requirements are all that any of you will see materialise in this present lifetime. | Khi những nhóm đệ tử này bắt đầu hoạt động trong thế giới, đồng thời sự tích hợp bên trong và mối liên hệ nhóm của họ được thiết lập vững chắc, chúng ta sẽ có mầm mống của những đặc tính sẽ mang lại phẩm giá cho các nhóm của Kỷ Nguyên Mới. Tôi muốn yêu cầu tất cả các bạn đừng bao giờ quên rằng công việc nhóm mà các bạn đang cố gắng thực hiện thực chất là công việc tiên phong, và do đó mang đầy đủ những khó khăn mà công việc tiên phong tất yếu phải có. Chính qua đó, các bạn có được sức mạnh để trưởng thành. Khi số lượng các nhóm này gia tăng và nhân sự dần được bổ sung, bộ khung của một cấu trúc tương lai sẽ từ từ hiện ra. Chỉ tầm nhìn được cảm hứng soi dẫn của các kiến trúc sư mới biết cấu trúc ấy [31] sẽ có diện mạo ra sao khi hoàn tất. Nhưng nền móng phải được đặt sâu và vững chắc; bộ khung phải chuẩn xác và được điều chỉnh đúng đắn. Hai yêu cầu này là tất cả những gì mà bất kỳ ai trong các bạn sẽ thấy thành hiện thực trong kiếp sống hiện tại. |
1. The Tibetan is speaking of the seminal value of the groups He is seeking to establish. They are to be “the germ” or the seed from which the best characteristics of true New Age groups will grow. If all went well, then those following the progress of the various Seed Groups and their effects would see demonstrated exemplary group relationships and values. | 1. Chân sư Tây Tạng đang nói về giá trị gieo mầm của các nhóm mà Ngài tìm cách thành lập. Các nhóm ấy phải là “mầm mống” hay hạt giống mà từ đó những đặc tính tốt đẹp nhất của các nhóm Kỷ Nguyên Mới đích thực sẽ phát triển. Nếu mọi việc diễn ra tốt đẹp, những người theo dõi sự tiến triển của các Nhóm hạt giống khác nhau và tác động của chúng sẽ thấy những mối quan hệ và giá trị nhóm mẫu mực được thể hiện. |
2. The new groups were pioneering groups and, therefore, subject to certain difficulties. Among such difficulties we might number: | 2. Các nhóm mới là những nhóm tiên phong, do đó phải chịu những khó khăn nhất định. Trong số những khó khăn ấy, chúng ta có thể kể đến: |
a. Incomplete understanding amongst the membership. | a. Sự thấu hiểu chưa đầy đủ giữa các thành viên. |
b. Resistance from within the habit nature of the members. | b. Sự kháng cự từ bản chất thói quen bên trong các thành viên. |
c. Resistance from the environment. | c. Sự kháng cự từ môi trường. |
d. Uncertainty based upon lack of precedent. | d. Sự bất định do thiếu tiền lệ. |
e. Uncertainty in modes of procedure due to lack of established vision. | e. Sự bất định về phương thức tiến hành do thiếu một tầm nhìn đã được xác lập. |
3. Pioneering work is related to the astrological sign Aries, which strengthens the will in those it conditions. The Tibetan expects that the pioneering conditions to which the membership is subjected will strengthen them. | 3. Công việc tiên phong có liên quan đến dấu hiệu chiêm tinh Bạch Dương, vốn củng cố ý chí nơi những người chịu ảnh hưởng của nó. Chân sư Tây Tạng kỳ vọng rằng những hoàn cảnh tiên phong mà các thành viên phải trải qua sẽ khiến họ mạnh mẽ hơn. |
4. DK is asking his disciples to proceed without knowing the final structural outlines of the process in which they are engaged. The “architects” (of which DK is one) know the outlines with accuracy; such knowledge is not yet possible to the participants. This is true of many methods which the Master suggests. He asks us to faithfully follow the instructions; if we do so, progress is certain, because the instructions are based upon occult law. | 4. Chân sư DK đang yêu cầu các đệ tử của Ngài tiếp tục tiến bước mà chưa biết những nét cấu trúc cuối cùng của tiến trình họ đang tham gia. Các “nhà kiến trúc” (trong đó có Chân sư DK) biết chính xác những nét ấy; những người tham gia chưa thể có được sự hiểu biết như vậy. Điều này đúng với nhiều phương pháp mà Chân sư đề xuất. Ngài yêu cầu chúng ta trung thành tuân theo các huấn thị; nếu làm như vậy, chắc chắn sẽ có tiến bộ, vì các huấn thị ấy dựa trên định luật huyền bí. |
5. DK is putting the whole Seed Group Project in proportion. Participants cannot expect a finished product. Their task is to participate in the laying of a firm and deep foundation and the building of a true and rightly adjusted framework. | 5. Chân sư DK đang đặt toàn bộ Dự Án Nhóm Hạt Giống vào đúng tỉ lệ của nó. Những người tham gia không thể mong đợi một sản phẩm hoàn chỉnh. Nhiệm vụ của họ là tham gia đặt một nền móng vững chắc và sâu, đồng thời xây dựng một bộ khung chuẩn xác và được điều chỉnh đúng đắn. |
6. The membership is subject to the age-old requirement: to work without attachment to results. Progress along the Path of Discipleship is slow and sure. The personality, eager for results, considers it slow. The soul (consciousness (illumined by the Solar Angel) sees that the progress is of adequate speed. | 6. Các thành viên phải tuân theo yêu cầu có từ ngàn xưa: làm việc mà không chấp trước vào kết quả. Sự tiến bộ trên Con Đường Đệ Tử diễn ra chậm rãi và chắc chắn. Phàm ngã, vốn nóng lòng mong có kết quả, cho rằng sự tiến bộ ấy là chậm. Linh hồn (tâm thức (được Thái dương Thiên Thần soi sáng) thấy rằng sự tiến bộ ấy có tốc độ thích hợp. |
Have you realised, however, my brothers, what occult progress in the world you have been permitted to see during this present lifetime? Have you glimpsed the magnitude of the present push that is being made by the Masters and have you recognised Their plans taking shape before your eyes? Have you grasped the essentials of what the Great White Lodge has done during the past twenty-five years and the extent of the work in which disciples and aspirants everywhere have been permitted to share? I would like briefly to enlarge somewhat upon this so as to make the picture clearer to your eyes in order that you may cooperate with greater intelligence, for this is above everything else group work. | Tuy nhiên, các huynh đệ của Tôi, các bạn đã nhận ra những tiến bộ huyền bí nào trong thế giới mà các bạn đã có cơ hội chứng kiến trong kiếp sống hiện tại chưa? Các bạn đã thoáng thấy tầm vóc của nỗ lực thúc đẩy hiện nay mà các Chân sư đang thực hiện, và đã nhận ra các kế hoạch của Các Ngài đang thành hình trước mắt mình chưa? Các bạn đã nắm được những điều cốt yếu mà Thánh đoàn đã thực hiện trong hai mươi lăm năm qua, cũng như quy mô công việc mà các đệ tử và người chí nguyện ở khắp nơi đã có cơ hội tham gia chưa? Tôi muốn nói rộng thêm đôi chút về điều này để bức tranh trở nên rõ ràng hơn trước mắt các bạn, nhờ đó các bạn có thể hợp tác một cách sáng suốt hơn, vì trên hết, đây là công việc nhóm. |
1. DK is indicating that occult progress in the early part of the twentieth century has been rapid. He is suggesting that great (though, perhaps, unrecognized) strides have been taken. | 1. Chân sư DK đang chỉ ra rằng sự tiến bộ huyền bí vào đầu thế kỷ hai mươi đã diễn ra nhanh chóng. Ngài gợi ý rằng đã có những bước tiến lớn lao (dù có lẽ chưa được nhận ra). |
2. We note the word, “push”, as applied to the Masters’ efforts. A “push” is a concerted and focussed drive forward, counteracting the inertia of circumstance. | 2. Chúng ta lưu ý từ “thúc đẩy” khi dùng để nói về nỗ lực của các Chân sư. Một “nỗ lực thúc đẩy” là một sự tiến lên đồng tâm và tập trung, chống lại tính trì trệ của hoàn cảnh. |
3. According to DK’s suggestions, those with eyes to see might recognize the Masters’ plans taking shape within the three worlds. Thus, He is challenging the membership of His groups to greater recognition. | 3. Theo những gợi ý của Chân sư DK, những ai có mắt để thấy có thể nhận ra các kế hoạch của các Chân sư đang thành hình trong ba cõi giới. Như vậy, Ngài đang thách thức các thành viên trong các nhóm của Ngài nhận biết sâu rộng hơn. |
4. The Master is asking for deeper understanding of the Masters’ efforts on the part of Their disciples. He is also suggesting that disciples have been permitted to share in those efforts to an unprecedented degree. Sometimes momentous things are happening all around us and, still, we fail to notice — so obtuse is the customary human consciousness. | 4. Chân sư đang yêu cầu các đệ tử thấu hiểu sâu sắc hơn những nỗ lực của các Chân sư mình. Ngài cũng gợi ý rằng các đệ tử đã được phép tham gia những nỗ lực ấy ở mức độ chưa từng có. Đôi khi những điều trọng đại đang diễn ra khắp quanh chúng ta mà chúng ta vẫn không nhận thấy — tâm thức thông thường của con người trì độn đến thế. |
5. DK is calling this progress to the attention of His chelas so that they may be alert to what is really happening and, therefore, may cooperate with greater understanding — together. | 5. Chân sư DK đang hướng sự chú ý của các đệ tử Ngài đến sự tiến bộ này để họ có thể tỉnh táo nhận biết những gì thực sự đang diễn ra và nhờ đó cùng nhau hợp tác với sự thấu hiểu sâu sắc hơn. |
Slowly and gradually, as far as you are all concerned, I have gathered together a band of disciples upon the outer plane. As the group thoughtform integrated and disciples responded to my call, found each other and began to work together, it became possible for me to go forward with my chosen work and carry forward the plans which I set myself when I took a certain initiation. | Xét về tất cả các bạn, Tôi đã chậm rãi và từng bước tập hợp một nhóm đệ tử trên cõi bên ngoài. Khi hình tư tưởng của nhóm dần tích hợp và các đệ tử đáp ứng lời kêu gọi của Tôi, tìm thấy nhau và bắt đầu làm việc cùng nhau, Tôi mới có thể tiến tới với công việc đã chọn và triển khai những kế hoạch mà Tôi tự đề ra khi trải qua một cuộc điểm đạo nhất định. |
1. The Master’s work in gathering together a band of disciples may have appeared a slow and gradual process. This gathering, however, may have been long planned, and from the Masters’ perspective, may have occurred with relative rapidity once the process was set in motion upon the physical plane. | 1. Công việc tập hợp một đoàn đệ tử của Chân sư có thể đã có vẻ là một tiến trình chậm rãi và từng bước. Tuy nhiên, việc tập hợp này có thể đã được hoạch định từ lâu, và từ góc nhìn của các Chân sư, có thể đã diễn ra tương đối nhanh chóng một khi tiến trình khởi động trên cõi hồng trần. |
2. We note the importance of the “group thoughtform”. Unless disciples share a resonance and allegiance to the coordinating group thoughtform, they have no occult basis for their affiliation. Groups such as those the Tibetan was gathering at that time are held together by an “inner structure of thought” (cf. TEV 32 and EP II 183). This applies also to contemporary spiritual/esoteric groups in which we may be participating. | 2. Chúng ta lưu ý tầm quan trọng của “hình tư tưởng nhóm”. Nếu các đệ tử không cùng cộng hưởng và trung thành với hình tư tưởng điều phối nhóm, thì mối liên kết của họ không có nền tảng huyền bí nào. Những nhóm như các nhóm mà Chân sư Tây Tạng đang tập hợp vào thời điểm ấy gắn kết với nhau nhờ một “cấu trúc tư tưởng bên trong” (xem TEV 32 và EP II 183). Điều này cũng áp dụng cho các nhóm tinh thần/huyền bí đương thời mà chúng ta có thể đang tham gia. |
3. How do disciples find each other? They respond to a note, to the Master’s “call”, subtle though it be and, perhaps, unrecognized as a “note” by the human units responding to it. | 3. Các đệ tử tìm thấy nhau bằng cách nào? Họ đáp ứng một âm điệu, đáp ứng “lời kêu gọi” của Chân sư, dù lời kêu gọi ấy tinh tế và có lẽ những đơn vị nhân loại đáp ứng nó không nhận ra đó là một “âm điệu”. |
4. At this point in the process, Master DK had not revealed that He was a Master of the Wisdom. He had simply stated that He was an “initiate into the mysteries of being” (DINA I 7), which, to those who understand this phrase, is revealing enough. | 4. Vào thời điểm này trong tiến trình, Chân sư DK chưa tiết lộ rằng Ngài là một Chân sư Minh Triết. Ngài chỉ nói rằng Ngài là một “điểm đạo đồ trong những huyền nhiệm của Bản Thể.” (DINA I 7), điều mà đối với những người thấu hiểu cụm từ này cũng đã đủ sức tiết lộ. |
5. It seems likely that the plans laid by the Master were initiated after 1875, when, according to His own words, He took the fifth initiation (cf. IHS 57). | 5. Có vẻ nhiều khả năng các kế hoạch do Chân sư vạch ra đã được khởi sự sau năm 1875, khi, theo chính lời Ngài, Ngài trải qua lần điểm đạo thứ năm (xem IHS 57). |
First of all, the books were published and they came out in ordered sequence and provide a body of teaching and of truth which will serve the needs of the coming generation. It is for my disciples to safeguard this presentation of truth during this century and to see to it that the books are sent forth steadily upon their mission, until they are finally superseded next century by a newer and more adequate teaching. | Trước hết, các cuốn sách đã được xuất bản theo một trình tự có trật tự, cung cấp một hệ thống giáo huấn và chân lý đáp ứng nhu cầu của thế hệ sắp tới. Trách nhiệm của các đệ tử của Tôi là gìn giữ cách trình bày chân lý này trong thế kỷ hiện tại và bảo đảm rằng các cuốn sách liên tục được đưa ra thực hiện sứ mệnh của mình, cho đến khi cuối cùng, trong thế kỷ tới, một giáo huấn mới hơn và thích hợp hơn thay thế chúng. |
1. DK discusses the inception of His work for the public. The dissemination of the Teaching for which He made Himself responsible occurred through an ordered sequence of books. | 1. Chân sư DK bàn về sự khởi đầu công việc của Ngài dành cho công chúng. Việc phổ biến Giáo Huấn mà Ngài tự nhận trách nhiệm đã diễn ra thông qua một loạt sách theo trình tự có trật tự. |
2. He speaks of the books fulfilling the needs of the “coming generation”. It is difficult to know exactly what He means by this — presumably not a period of a mere twenty-five or so years. I tend to think of that “generation” as a group of students of esotericism working during the last half of the twentieth century. Students of spirituality also have many current needs which these books are more than adequate to fulfill — far more adequate than then present spate of mediocre channeled transmissions which claim to originate from the Tibetan. | 2. Ngài nói rằng các sách đáp ứng nhu cầu của “thế hệ sắp tới”. Khó biết chính xác Ngài muốn nói gì qua điều này — có lẽ không phải một khoảng thời gian chỉ chừng hai mươi lăm năm. Tôi thiên về cách hiểu “thế hệ” ấy là một nhóm đạo sinh huyền bí học làm việc trong nửa sau thế kỷ hai mươi. Các đạo sinh nghiên cứu đời sống tinh thần cũng có nhiều nhu cầu hiện tại mà những sách này dư sức đáp ứng — đầy đủ hơn nhiều so với làn sóng các thông điệp tầm thường được truyền qua đồng tử hiện nay, vốn tự nhận có nguồn gốc từ Chân sư Tây Tạng. |
3. Note that the Master presents His disciples with a duty: they are to “safeguard this presentation of truth during this century” (the twentieth century). How does a disciple contribute to this safeguarding? | 3. Hãy lưu ý rằng Chân sư giao cho các đệ tử Ngài một bổn phận: họ phải “bảo vệ cách trình bày chân lý này trong thế kỷ này” (thế kỷ hai mươi). Một đệ tử góp phần vào việc bảo vệ này bằng cách nào? |
a. By knowing and understanding the teaching with as much depth and accuracy as possible. | a. Bằng cách biết và thấu hiểu giáo huấn sâu sắc và chính xác hết mức có thể. |
b. By recognizing the Master’s note and where is it not found. Thus a wholesome discrimination is fostered and the disciple is saved from confusion and delusion. | b. Bằng cách nhận ra âm điệu của Chân sư và những nơi không có âm điệu ấy. Nhờ đó, khả năng phân biện lành mạnh được bồi dưỡng và người đệ tử tránh được sự nhầm lẫn và mê lầm. |
c. By applying the Teaching as thoroughly as possible and thus verifying its usefulness. | c. Bằng cách áp dụng Giáo Huấn triệt để hết mức có thể và qua đó kiểm chứng tính hữu ích của nó. |
d. By setting a fitting example before the world. Thus, the value of the teaching is impressed upon human consciousness through the medium of those who exemplify it. | d. Bằng cách nêu một tấm gương thích hợp trước thế gian. Nhờ đó, giá trị của giáo huấn được ghi sâu vào tâm thức nhân loại thông qua những người thể hiện giáo huấn ấy bằng chính đời sống của mình. |
4. At the time these instructions were written, there was no certainty that the Second World War (with all its terror, its liberations and delays) would occur. Given the value of the great Teaching presented through Master DK, there is no reason why disciples of this Teaching should not continue to safeguard it during the twenty-first century, even after the new dispensation appears, presumably after the year 2025. | 4. Vào thời điểm những huấn thị này được viết ra, chưa có gì chắc chắn rằng Chiến tranh Thế giới thứ Hai (với tất cả sự kinh hoàng, những giải phóng và trì hoãn của nó) sẽ xảy ra. Xét giá trị của Giáo Huấn vĩ đại được trình bày thông qua Chân sư DK, không có lý do gì để các đệ tử của Giáo Huấn này không tiếp tục bảo vệ nó trong thế kỷ hai mươi mốt, ngay cả sau khi giáo huấn mới xuất hiện, có lẽ sau năm 2025. |
5. Through the steadfast work of the Lucis Trust, the books have indeed been “sent forth steadily upon their mission”. Now they are distributed throughout the world. Appearing in an electronic edition (the AAB CDRom) they have achieved a necessary ubiquity and are thus safeguarded from any possibility of obscuration. | 5. Nhờ công việc bền bỉ của Quỹ Lucis, các sách quả thực đã được “đều đặn đưa ra để thực hiện sứ mệnh của chúng”. Hiện nay, chúng được phân phối khắp thế giới. Với sự xuất hiện dưới dạng ấn bản điện tử (đĩa CD-ROM AAB), chúng đã đạt được sự hiện diện rộng khắp cần thiết, nhờ đó được bảo vệ trước mọi khả năng rơi vào quên lãng. |
6. We are told that a “new and more adequate teaching” is on its way, to appear in the twenty-first century. That century is now with us, and predictably, the so-called ‘new teaching’ of the Tibetan is everywhere to be found, coursing through the inauthentic transmissions of many tens of mediums who profess to bring to us the new thoughts of the Master. | 6. Chúng ta được cho biết rằng một “giáo huấn mới và đầy đủ hơn” đang đến và sẽ xuất hiện trong thế kỷ hai mươi mốt. Chúng ta hiện đã ở trong thế kỷ ấy, và đúng như có thể dự đoán, cái gọi là ‘giáo huấn mới’ của Chân sư Tây Tạng có thể được tìm thấy khắp nơi, tuôn chảy qua những thông điệp không xác thực của hàng chục đồng tử tự nhận mang đến cho chúng ta những tư tưởng mới của Chân sư. |
7. That there is nothing of real value in the vast majority of these channelings and transmissions is a certainty to anyone who recognizes Master DK’s note and who has cultivated a modicum of the necessary discrimination to separate the real from the unreal. This mostly pitiable demonstration of subconscious fluidity serves nothing but the ego of the enthusiastic but occultly naïve channels, and leads thousands of gullible seekers astray. Therein lies its real potential damage to the authentic and most necessary disciplic work inspired by Master DK. | 7. Đại đa số những lời truyền qua đồng tử và các thông điệp này không có gì thực sự giá trị — đó là điều chắc chắn đối với bất cứ ai nhận ra âm điệu của Chân sư DK và đã trau dồi được dù chỉ đôi chút khả năng phân biện cần thiết để tách biệt điều chân thực với điều không chân thực. Sự phô diễn phần lớn đáng thương này của tính linh động tiềm thức chẳng phụng sự điều gì ngoài phàm ngã của những đồng tử nhiệt tình nhưng ngây thơ về huyền bí học, đồng thời dẫn hàng nghìn người tìm đạo cả tin đi lạc. Chính trong đó có nguy cơ gây tổn hại thực sự cho công việc đệ tử chân chính và vô cùng cần thiết do Chân sư DK truyền cảm hứng. |
8. The authentic third installment of the Teaching is due most probably following the year 2025. | 8. Phần thứ ba đích thực của Giáo Huấn rất có thể sẽ xuất hiện sau năm 2025. |
“I can, however, attempt to give you certain concepts, relationships and parallels which may serve to close this section on astrology and lay a foundation for future teaching around the year 2025. ” (EA 589) | “Tuy nhiên, Tôi có thể cố gắng trao cho các bạn một số khái niệm, mối quan hệ và điểm tương đồng có thể giúp khép lại phần chiêm tinh học này và đặt nền tảng cho giáo huấn tương lai vào khoảng năm 2025. ” (EA 589) |
9. The word, “around” gives us some latitude, but the year 2025 is given as a signpost. | 9. Từ “khoảng” cho chúng ta một biên độ linh hoạt, nhưng năm 2025 được đưa ra như một cột mốc chỉ dẫn. |
10. Before that time, that which the Master has already given should be carefully assimilated. If the assimilation had been deeper and more thorough, there would not be such a tendency to race towards the acceptance of patently counterfeit transmissions which are mediocre at best and usually sad (and even laughable) misrepresentations of the very Master whose words they purport to offer. For the most part these transmissions are nothing but the welling up of the channel’s subconscious mind (schooled to some small degree in various spiritual teachings) — hence the ‘ring of authenticity’ noticed by the gullible and the deluded. | 10. Trước thời điểm ấy, những gì Chân sư đã trao cần được tiếp thu cẩn thận. Nếu sự tiếp thu đã sâu sắc và thấu đáo hơn, hẳn sẽ không có khuynh hướng vội vã chấp nhận những thông điệp giả mạo hiển nhiên, vốn cùng lắm chỉ ở mức tầm thường và thường là những sự trình bày sai lệch đáng buồn (thậm chí nực cười) về chính Chân sư mà chúng tự nhận đang truyền đạt lời Ngài. Phần lớn những thông điệp này chẳng qua là những gì trào dâng từ thể trí tiềm thức của đồng tử (vốn đã được học đôi chút về các giáo huấn tinh thần khác nhau) — do đó mới có ‘âm hưởng chân thực’ mà những người cả tin và mê lầm nhận thấy. |
11. If the future Teaching is to be “more adequate” (as DK states above) one can only imagine the exceedingly high vibration of the note it must sound. No transmissions to date have come even close to that which is so brilliantly offered by the Tibetan’s present texts. | 11. Nếu Giáo Huấn tương lai sẽ “đầy đủ hơn” (như Chân sư DK nêu ở trên), chúng ta chỉ có thể hình dung mức rung động vô cùng cao của âm điệu mà giáo huấn ấy phải xướng lên. Cho đến nay, chưa có thông điệp nào thậm chí tiến gần được đến những gì các văn bản hiện nay của Chân sư Tây Tạng trình bày một cách xuất sắc đến thế. |
12. The rash of channelings purportedly of the Tibetan (and many other Masters), is based upon ego, ignorance, occult naïveté, and sheer laziness — a refusal to think through and adequately assimilate the genuine Teaching which has already been so abundantly offered. Such material is thoroughly pervaded by glamor and illusion. | 12. Sự bùng phát những lời truyền qua đồng tử được cho là của Chân sư Tây Tạng (và nhiều Chân sư khác) dựa trên phàm ngã, sự vô minh, sự ngây thơ về huyền bí học và sự lười biếng thuần túy — một sự từ chối suy xét thấu đáo và tiếp thu đầy đủ Giáo Huấn chân chính vốn đã được trao một cách vô cùng phong phú. Những tài liệu như vậy hoàn toàn thấm đẫm ảo cảm và ảo tưởng. |
Next came a happening of vital moment — of more moment than you can perhaps appreciate. An instruction upon the New Group of World Servers was sent out and given wide distribution by means of the pamphlet entitled The Next Three Years. This signalised the anchoring — if so I might call it — of the New Group of World Servers upon the physical plane. They are now in active existence. The group is slowly integrating and slowly making its influence felt in the primary [32] work of educating public opinion — the only potent means of work and of far more potency and ultimate value than any legislation or emphasis upon authority. | Tiếp theo là một sự kiện có tầm quan trọng thiết yếu—quan trọng hơn mức các bạn có lẽ có thể nhận biết. Một huấn thị về Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đã được ban hành và phổ biến rộng rãi qua tập sách nhỏ mang tên Ba Năm Sắp Tới. Điều này đánh dấu sự neo vững—nếu Tôi có thể gọi như vậy—của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian trên cõi hồng trần. Giờ đây, họ đang hiện hữu và hoạt động. Nhóm đang chậm rãi tích hợp và dần tạo được ảnh hưởng trong công việc chủ yếu [32] là giáo dục dư luận—phương tiện hoạt động hữu hiệu duy nhất, có sức mạnh và giá trị lâu dài vượt xa bất kỳ biện pháp lập pháp hay sự nhấn mạnh nào vào quyền uy. |
1. In a letter dated October 10, 1934, the Tibetan states that the pamphlet, “The Next Three Years” “is going forth today upon its mission” (EXH 22). This suggests that the pamphlet was distributed during that year, or, at earliest, immediately before. | 1. Trong một bức thư đề ngày 10 tháng 10 năm 1934, Chân sư Tây Tạng nói rằng tập sách nhỏ “Ba Năm Tới” “hôm nay đang lên đường thực hiện sứ mệnh của mình” (EXH 22). Điều này gợi ý rằng tập sách nhỏ đã được phân phát trong năm đó, hoặc sớm nhất là ngay trước đó. |
2. In DINA I, p. 165, it is suggested that one three year cycle of the New Group of World Servers came to an end in May, 1936, implying that it had begun during 1933, probably at the time of Wesak, since the NGWS is ruled by the sign Taurus which is so prominent at Wesak. | 2. Trong DINA I, tr. 165, có gợi ý rằng một chu kỳ ba năm của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đã kết thúc vào tháng 5 năm 1936, hàm ý rằng chu kỳ ấy bắt đầu trong năm 1933, có lẽ vào dịp Wesak, vì Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian chịu sự cai quản của dấu hiệu Kim Ngưu, vốn rất nổi bật vào dịp Wesak. |
3. This group may be been in existence even earlier, probably taking its original impulse from the Centennial Conclave of Shamballa and the Hierarchy in 1925. The years 1924, 1927, 1930 or 1933 are possible for its inception, but the years following 1925 are more probable. The year 1924, however, did provide a significant fourth ray impulse and the NGWS is ruled by the fourth ray. | 3. Nhóm này có thể đã hiện hữu từ trước đó nữa, có lẽ nhận xung lực ban đầu từ Mật Nghị Bách Niên của Shamballa và Thánh đoàn vào năm 1925. Nhóm có thể đã khởi đầu vào các năm 1924, 1927, 1930 hoặc 1933, nhưng những năm sau 1925 có khả năng cao hơn. Tuy nhiên, năm 1924 quả thực đã mang lại một xung lực cung bốn đáng kể, và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian chịu sự cai quản của cung bốn. |
4. There is a possibility that the NGWS was anchored in 1933, a year which numerically sums to “7”. In that case, the pamphlet “The Next Three Years” had followed its anchoring. | 4. Có khả năng Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đã được neo giữ vào năm 1933, một năm có tổng các chữ số bằng “7”. Trong trường hợp đó, tập sách nhỏ “Ba Năm Tới” đã ra đời sau sự neo giữ ấy. |
5. The work of the NGWS is involved with “educating public opinion”. This group, therefore, is aligned with the “Forces of Enlightenment” which are in prominent expression at the time of the Taurus Full Moon. As the group is ruled by Taurus, this naturally makes sense. | 5. Công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian gắn liền với việc “giáo dục công luận”. Do đó, nhóm này chỉnh hợp với “Các Mãnh Lực Giác Ngộ” vốn biểu lộ nổi bật vào thời điểm Trăng Tròn Kim Ngưu. Vì nhóm chịu sự cai quản của Kim Ngưu nên điều này đương nhiên là hợp lý. |
6. DK says something quite amazing. He calls the educating of public opinion “the only potent means of work” — far more potent and valuable than legislation or emphasis upon authority. This should give us pause when we try to think of methods of service which will be truly effective. | 6. Chân sư DK nói một điều khá đáng kinh ngạc. Ngài gọi việc giáo dục công luận là “phương thức hoạt động hữu hiệu duy nhất” — hữu hiệu và có giá trị hơn nhiều so với việc lập pháp hay nhấn mạnh vào quyền lực. Điều này hẳn phải khiến chúng ta dừng lại suy ngẫm khi cố tìm những phương pháp phụng sự thực sự hiệu quả. |
Growing out of the integration of this new group, there is being formed in the world that “bridge of souls and servers” which will make possible the merging of the inner subjective Hierarchy of souls and the outer world of humanity. This will constitute an actual fusion or blending and will mark the initiation of the human family through the achievement of its foremost pioneering members. This is the true “marriage in the Heavens “ of which mystical Christianity speaks and the result of this fusion will be the manifestation of the fifth kingdom in nature, the kingdom of God. In the past history of the race, a great event occurred which brought into manifestation the fourth kingdom in nature, the human kingdom. We stand now on the verge of a similar but still more momentous event — the appearance of the fifth kingdom, as a result of the planned activity of the New Group of World Servers, working in collaboration with the Hierarchy of perfected souls, and under the guidance of the Christ Himself. This will usher in the New Age wherein five kingdoms in nature will be recognised as existing side by side upon earth. | Từ sự tích hợp của nhóm mới này, một “cây cầu của các linh hồn và những người phụng sự” đang hình thành trong thế giới, tạo điều kiện cho sự hợp nhất giữa Thánh đoàn các linh hồn nội tại, chủ quan và thế giới nhân loại bên ngoài. Điều này sẽ tạo nên một sự dung hợp hay hòa quyện thực sự, và sẽ đánh dấu cuộc điểm đạo của gia đình nhân loại qua thành tựu của những thành viên tiên phong hàng đầu. Đây là “cuộc hôn phối trên Thiên Giới” đích thực mà Cơ Đốc giáo thần bí nói đến, và kết quả của sự dung hợp này sẽ là sự biểu hiện của giới thứ năm trong thiên nhiên, Thiên Giới. Trong lịch sử nhân loại trước đây, một sự kiện lớn đã xảy ra, đưa giới thứ tư trong thiên nhiên, giới nhân loại, vào biểu hiện. Giờ đây, chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của một sự kiện tương tự nhưng còn trọng đại hơn—sự xuất hiện của giới thứ năm, là kết quả của hoạt động có kế hoạch của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, hợp tác với Thánh đoàn các linh hồn hoàn thiện và dưới sự hướng dẫn của chính Đức Christ. Điều này sẽ mở ra Kỷ Nguyên Mới, trong đó người ta sẽ công nhận năm giới trong thiên nhiên cùng tồn tại bên nhau trên Trái Đất. |
1. The NGWS is associated with the fourth ray — a bridging ray. Taurus (during this world cycle) is largely ruled by the fourth ray, hence the appropriateness of calling the NGWS that a “bridge of souls and servers”. | 1. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian gắn liền với cung bốn — một cung bắc cầu. Trong chu kỳ thế giới này, Kim Ngưu phần lớn chịu sự cai quản của cung bốn, vì vậy việc gọi Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là “cây cầu của các linh hồn và những người phụng sự” là thích hợp. |
2. Right now, Hierarchy and humanity are not merged. The majority of humanity is barely conscious of the Spiritual Hierarchy. There are certain moments of the year (Christmas, Easter and Wesak to name three) when, in the East or West, the sense of this merging may be more palpable. | 2. Ngay lúc này, Thánh đoàn và nhân loại chưa hợp nhất. Phần lớn nhân loại hầu như chưa biết đến Thánh đoàn. Có những thời điểm nhất định trong năm — như Giáng Sinh, Phục Sinh và Wesak, kể ra ba dịp — khi ở phương Đông hoặc phương Tây, cảm nhận về sự hợp nhất này có thể rõ rệt hơn. |
3. We are reminded that Hierarchy is truly a “subjective” body of servers. In this day when Hierarchy is moving towards greater objectivity, its essentially subjective nature must be remembered, lest the concept of Hierarchy become unduly materialized. | 3. Chúng ta được nhắc rằng Thánh đoàn thực sự là một đoàn thể những người phụng sự mang tính “chủ quan”. Ngày nay, khi Thánh đoàn đang tiến tới sự hiện diện khách quan rõ rệt hơn, cần nhớ đến bản chất cốt yếu mang tính chủ quan của Thánh đoàn, để khái niệm về Thánh đoàn không bị vật chất hóa quá mức. |
4. The merging and blending here discussed is no small matter, for it represents the “initiation of the human family” — not the initiation of all members of that family, but of the foremost members of humanity, thus elevating the whole. Though not all members of the human family can possibly be initiated in the immediate future, a new note and tone can be set which will represent considerable progress for the whole. | 4. Sự hợp nhất và hòa quyện đang được bàn đến ở đây không phải là chuyện nhỏ, vì nó biểu thị “cuộc điểm đạo của gia đình nhân loại” — không phải cuộc điểm đạo của tất cả các thành viên trong gia đình ấy, mà của những thành viên xuất sắc nhất của nhân loại, qua đó nâng cao toàn thể. Dù trong tương lai trước mắt, không thể có chuyện tất cả thành viên của gia đình nhân loại đều được điểm đạo, vẫn có thể xác lập một âm điệu và sắc thái mới, biểu thị sự tiến bộ đáng kể cho toàn thể. |
5. DK speaks of the “marriage in the Heavens” — a term derived from Mystical Christianity. Usually this concept is associated with the potency of the sign Libra (the sign of marriage and soul-personality union). We note that the NGWS, being ruled by Taurus, is influenced by the planet Venus (the foremost planet of the soul). Venus orthodoxly rules both Taurus and Libra. It is also considered one of the major planets of marriage. | 5. Chân sư DK nói đến “cuộc hôn phối trên các Cõi Trời” — một thuật ngữ bắt nguồn từ Kitô giáo thần bí. Thông thường, khái niệm này gắn liền với uy lực của dấu hiệu Thiên Bình, dấu hiệu của hôn nhân và sự hợp nhất linh hồn–phàm ngã. Chúng ta lưu ý rằng vì chịu sự cai quản của Kim Ngưu, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian chịu ảnh hưởng của Sao Kim, hành tinh hàng đầu của linh hồn. Về mặt ngoại môn, Sao Kim cai quản cả Kim Ngưu lẫn Thiên Bình. Sao Kim cũng được xem là một trong những hành tinh chủ yếu của hôn nhân. |
6. The “marriage in the Heavens” will bring into manifestation the fifth kingdom of nature — a very great planetary event, of even greater importance than the appearance of humanity (the fourth kingdom) some 21 million years ago. | 6. “Cuộc hôn phối trên các Cõi Trời” sẽ đưa giới thứ năm trong thiên nhiên vào biểu hiện — một sự kiện hành tinh vô cùng vĩ đại, còn quan trọng hơn cả sự xuất hiện của nhân loại, tức giới thứ tư, cách đây khoảng 21 triệu năm. |
7. We are given an amazing vision of the importance of the New Group of World Severs, as it cooperates with the Spiritual Hierarchy, all under the guidance of the Christ. The NGWS is, thus, to be instrumental (literally) in the birthing of the fifth kingdom. | 7. Chúng ta được trao một tầm nhìn đáng kinh ngạc về tầm quan trọng của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian khi Đoàn cộng tác với Thánh đoàn, tất cả đều dưới sự hướng dẫn của Đức Christ. Như vậy, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ đóng vai trò công cụ, theo nghĩa đen, trong sự ra đời của giới thứ năm. |
8. The Age of Aquarius is ruled in large part by the fifth Ray of Science. Its number five correlates with the establishment of the fifth kingdom, and with the simultaneous recognition of five kingdoms of nature. A little thought will reveal that today humanity recognizes only four kingdoms with itself as the head and crown. An adjustment towards humility is required of humanity if its foremost members are to enter the fifth kingdom. | 8. Kỷ Nguyên Bảo Bình phần lớn chịu sự cai quản của cung năm, Cung Khoa Học. Con số năm của cung này tương ứng với sự thiết lập giới thứ năm và với việc đồng thời công nhận năm giới trong thiên nhiên. Chỉ cần suy nghĩ đôi chút sẽ thấy rằng ngày nay nhân loại chỉ công nhận bốn giới, với chính mình là giới đứng đầu và là đỉnh cao. Nhân loại cần điều chỉnh theo hướng khiêm nhường nếu những thành viên xuất sắc nhất của mình muốn bước vào giới thứ năm. |
You have, therefore, been permitted to share in and watch the work of the Hierarchy to the extent of your individual spiritual contact and have seen the following spiritual events taking place: | Vì vậy, tùy theo mức độ tiếp xúc tinh thần của mỗi người, các bạn đã có cơ hội tham gia và chứng kiến công việc của Thánh đoàn, cũng như thấy những sự kiện tinh thần sau đây diễn ra: |
1. The Tibetan is calling to the attention of his chelas their factual participation in the real work of the Hierarchy. | 1. Chân sư Tây Tạng đang lưu ý các đệ tử của Ngài về việc họ thực sự tham gia vào công việc đích thực của Thánh đoàn. |
2. Their registration of the momentous events occurring all around them is, of course, dependent on the extent of their real spiritual contact. Amazing happenings may be transpiring before our very eyes, but if our spiritual contact is insufficient, we will blind to them. Increasing sensitization is required. | 2. Dĩ nhiên, việc họ ghi nhận những sự kiện trọng đại đang diễn ra khắp quanh mình tùy thuộc vào mức độ tiếp xúc tinh thần thực sự của họ. Những sự kiện đáng kinh ngạc có thể đang diễn ra ngay trước mắt chúng ta, nhưng nếu sự tiếp xúc tinh thần của chúng ta chưa đủ, chúng ta sẽ không thấy được chúng. Cần gia tăng sự nhạy cảm. |
1. The sending forth of the teaching for the New Age. This deals with the new psychology and with the control of the personality and with the Mysteries of the Kingdom of God. | 1. Việc truyền bá giáo huấn cho Kỷ Nguyên Mới. Giáo huấn này bàn đến tâm lý học mới, việc kiểm soát phàm ngã và các Bí Nhiệm của Thiên Giới. |
1. There are many teachings. Some are of considerable value and others practically worthless or worse. | 1. Có nhiều giáo huấn. Một số có giá trị đáng kể, còn những giáo huấn khác thì hầu như vô giá trị hoặc tệ hơn nữa. |
2. DK is making a bold statement here, because He says that His disciples have witnessed the sending forth of the teaching for the New Age. There is nothing personal in this statement. He is one of the foremost “Messengers” of the Hierarchy, and His Teaching is not strictly His own, but presents information emanating from a number of the Ashrams in Hierarchy. | 2. Ở đây, Chân sư DK đưa ra một khẳng định mạnh mẽ, vì Ngài nói rằng các đệ tử của Ngài đã chứng kiến việc ban hành chính giáo huấn dành cho Kỷ Nguyên Mới. Khẳng định này không mang tính cá nhân. Ngài là một trong những “Sứ Giả” hàng đầu của Thánh đoàn, và Giáo Huấn của Ngài không hoàn toàn là của riêng Ngài, mà trình bày thông tin phát ra từ một số ashram trong Thánh đoàn. |
3. It is interesting to see the focal importance of “esoteric psychology”, leading as it does to the understanding and control of the personality. Psychology will be a science of increasing importance during the New Age, and the nature and value of occultism may be appreciated through psychology. | 3. Thật thú vị khi thấy tầm quan trọng trung tâm của “Tâm Lý Học Nội Môn”, vì môn học này dẫn đến sự thấu hiểu và kiểm soát phàm ngã. Tâm lý học sẽ là một khoa học ngày càng quan trọng trong Kỷ Nguyên Mới, và thông qua tâm lý học, người ta có thể nhận thức được bản chất và giá trị của huyền bí học. |
4. Another aspect of the “teaching for the New Age” deals with the “Mysteries of the Kingdom of God”. Presumably, this deals with the nature of the higher mental plane and the planes of the Spiritual Triad. Such understanding can be approached through a study of the Science of Initiation. | 4. Một phương diện khác của “giáo huấn cho Kỷ Nguyên Mới” đề cập đến “các Huyền Nhiệm của Thiên Giới”. Có lẽ điều này đề cập đến bản chất của Cõi thượng trí và các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần. Có thể tiến đến sự thấu hiểu ấy thông qua việc nghiên cứu Khoa Học Điểm Đạo. |
5. It can be realized that there will be no real approach to the Mysteries of the Kingdom of God unless a control of the personality is developed, because the personality cannot enter that “Kingdom” (though, of course, it can and must be influenced by that Kingdom). | 5. Có thể nhận ra rằng sẽ không có sự tiếp cận thực sự nào với các Huyền Nhiệm của Thiên Giới nếu chưa phát triển khả năng kiểm soát phàm ngã, bởi phàm ngã không thể bước vào “Giới” ấy, dù dĩ nhiên phàm ngã có thể và phải chịu ảnh hưởng từ Giới ấy. |
2. The founding in embryo of those schools of esotericism which will embody the teaching for the new discipleship and make it practical in application. There are several of these schools and the Arcane School is one of the first. They prepare the way for the greater foundations, outlined in my book, Letters on Occult Meditation. | 2. Việc thành lập ở dạng phôi thai những trường huyền bí học sẽ thể hiện giáo huấn dành cho địa vị đệ tử mới và đưa giáo huấn ấy vào ứng dụng thực tiễn. Có một số trường như vậy, và Trường Arcane là một trong những trường đầu tiên. Các trường này chuẩn bị con đường cho những cơ sở lớn hơn mà Tôi đã phác thảo trong cuốn Thư Về Tham thiền Huyền môn. |
1. Schools of esotericism have been founded during the twentieth century, and that founding is an important part of the Hierarchy’s Plan. | 1. Các trường huyền bí học đã được thành lập trong thế kỷ hai mươi, và việc thành lập ấy là một phần quan trọng trong Thiên Cơ của Thánh đoàn. |
2. Note, however, that the schools founded are founded “in embryo”. They have not been full-blown schools of esotericism but only the promise of that which is to come. | 2. Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng các trường ấy được thành lập “ở dạng phôi thai”. Đó chưa phải là những trường huyền bí học phát triển đầy đủ, mà chỉ là lời hứa hẹn về điều sẽ đến. |
3. Note that these schools offer “teaching for the new discipleship”. They do not profess to offer training for initiation, though such training may grow subtly as the school become established and reach a sufficient quality of functioning. | 3. Hãy lưu ý rằng các trường này cung cấp “giáo huấn về địa vị đệ tử mới”. Các trường không tuyên bố cung cấp sự huấn luyện để điểm đạo, dù sự huấn luyện ấy có thể phát triển một cách tinh tế khi trường đứng vững và đạt đủ phẩm tính trong hoạt động. |
4. The important thing is that the disciplines of discipleship are applied in a practical manner. The goal is humble enough, though difficult. | 4. Điều quan trọng là các kỷ luật của địa vị đệ tử phải được áp dụng một cách thiết thực. Mục tiêu ấy khá khiêm tốn, dù khó thực hiện. |
5. The value and status of the Arcane School is affirmed. It is one of several such esoteric schools “in embryo”. | 5. Giá trị và vị thế của Trường Arcane được khẳng định. Đây là một trong số những trường huyền bí học như vậy đang “ở dạng phôi thai”. |
6. DK looks ahead to the kinds of schools discussed in Letters on Occult Meditation. Such schools will be what He calls, “greater foundations”. Much depends upon how successfully the schools-in-embryo do their work. The founding of the newer esoteric schools (the “greater foundations”) can now begin (modestly and earnestly) by those who are willing to slowly work at fulfilling the requirements which the Master has detailed in LOM. | 6. Chân sư DK hướng tới những loại trường được bàn đến trong Thư Về Tham thiền Huyền môn. Những trường ấy sẽ là cái mà Ngài gọi là “những cơ sở lớn hơn”. Nhiều điều tùy thuộc vào mức độ thành công trong công việc của các trường đang ở dạng phôi thai. Giờ đây, những ai sẵn lòng kiên trì từng bước đáp ứng các yêu cầu mà Chân sư đã trình bày chi tiết có thể bắt đầu thành lập những trường huyền bí học kiểu mới ấy, tức “những cơ sở lớn hơn”, một cách khiêm tốn và nghiêm túc, theo những điều Ngài đã nêu trong LOM. |
7. Does any true esoteric school of the newer sort yet exist? Almost certainly not. The requirements are too steep and the tenacity of the would-be founders largely untested. But a beginning can been made, and, in some cases, is being made. | 7. Liệu hiện nay đã có trường huyền bí học đích thực nào thuộc loại hình mới hơn ấy chưa? Gần như chắc chắn là chưa. Các yêu cầu quá cao, và lòng kiên trì của những người có ý định sáng lập phần lớn vẫn chưa được thử thách. Nhưng có thể khởi đầu, và trong một số trường hợp, việc khởi đầu quả thực đang diễn ra. |
3. The recognition on a fairly large scale of the New Group of World Servers and their work. [33] | 3. Sự công nhận trên quy mô khá rộng đối với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và công việc của họ. |
1. The Tibetan has brought the NGWS to the attention of humanity, or at least to the attention of those men and women of goodwill who can be influenced by His writings. | 1. Chân sư Tây Tạng đã khiến nhân loại chú ý đến Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, hoặc ít nhất cũng khiến những người nam và nữ có thiện chí, những người có thể chịu ảnh hưởng từ các tác phẩm của Ngài, chú ý đến Đoàn. |
2. What does He mean by “on a fairly large scale”? Perhaps the NGWS is recognized by a significant number of humanity under other names and categories — such as “Cultural Creatives”, and “People of Goodwill”. | 2. Ngài muốn nói gì qua cụm từ “trên một quy mô khá lớn”? Có lẽ một số lượng đáng kể người trong nhân loại nhận biết Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian dưới những tên gọi và cách phân loại khác — chẳng hạn như “Những Người Sáng Tạo Văn Hóa” và “Những Người Có Thiện Chí”. |
3. It would seem that the existence of this serving body, at least, for the moment, is not very broadly recognized, but we have no way of knowing the “scale” of which the Tibetan is speaking. The formation of new political parties which are not divided by polarizing attitudes is an imminent and desirable possibility, and may well occur when the men and women of goodwill scattered throughout the world (but concentrated in the Western-style democracies) have finally had enough of the divisiveness brought to them by the habitual animosity and competition which characterize present political groups so locked in their polarized battles. | 3. Dường như sự hiện hữu của đoàn thể phụng sự này, ít nhất vào lúc này, chưa được công nhận rộng rãi cho lắm, nhưng chúng ta không có cách nào biết được “quy mô” mà Chân sư Tây Tạng đang nói đến. Sự hình thành những đảng chính trị mới không bị chia rẽ bởi các thái độ phân cực là một khả năng gần kề và đáng mong muốn, và rất có thể sẽ xảy ra khi những người nam và nữ có thiện chí rải rác khắp thế giới, nhưng tập trung trong các nền dân chủ kiểu phương Tây, cuối cùng đã quá chán ngán sự chia rẽ do thói thù địch và cạnh tranh mang lại — những đặc điểm của các nhóm chính trị hiện nay đang mắc kẹt trong các cuộc đấu tranh phân cực. |
4. In various countries those voters known as “independents” may also become a group which can be influenced by the NGWS and from whose ranks new members of the NGWS may be drawn. | 4. Tại nhiều quốc gia, những cử tri được gọi là “độc lập” cũng có thể trở thành một nhóm có khả năng chịu ảnh hưởng của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và từ hàng ngũ của họ có thể tuyển thêm những thành viên mới cho Đoàn. |
4. The emergence — as yet only in symbolic indication — of the fifth or spiritual kingdom. | 4. Sự xuất hiện—cho đến nay mới chỉ qua những dấu hiệu mang tính biểu tượng—của giới thứ năm, hay giới tinh thần. |
1. The full emergence of the fifth kingdom of nature will be a climactic event not yet to be expected. It would seem that the Christ’s work during the Aquarian Age will be a precursor of a fuller establishment of this kingdom. | 1. Sự xuất hiện trọn vẹn của giới thứ năm trong thiên nhiên sẽ là một sự kiện đỉnh cao mà hiện chưa thể trông đợi. Dường như công việc của Đức Christ trong Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ mở đường cho sự thiết lập đầy đủ hơn của giới này. |
2. Right now, the disciples and initiates of the world (relatively small in number) are the nucleus of this emerging kingdom. They stand as the symbol of that which is certainly on its way, and by a study of their lives and their modes of service, the characteristics of the new kingdom can be somewhat understood. | 2. Ngay lúc này, các đệ tử và điểm đạo đồ trên thế giới, với số lượng tương đối ít, là hạt nhân của giới đang xuất hiện này. Họ là biểu tượng của điều chắc chắn đang đến, và qua việc nghiên cứu cuộc đời cùng các phương thức phụng sự của họ, có thể phần nào thấu hiểu những đặc điểm của giới mới. |
3. It is the duty of disciples and initiates to create in miniature a structure which one day will be characteristic of far larger numbers of human beings. Much, however, remains to be done even among the ranks of those who purport to understand the nature of the fifth kingdom and the requirements for membership. | 3. Bổn phận của các đệ tử và điểm đạo đồ là tạo dựng ở quy mô thu nhỏ một cấu trúc mà một ngày kia sẽ là đặc trưng của những tập hợp người đông đảo hơn nhiều. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều việc phải làm ngay cả trong hàng ngũ những người tự cho là thấu hiểu bản chất của giới thứ năm và các yêu cầu để trở thành thành viên. |
5. The forming of the skeleton structure of the new groups of disciples, the externalisation in embryo of the inner Ashrams. These in the New Age will multiply and so carry forward the work of integrating the inner and the outer groups and fostering the growth of the Kingdom of God on earth. This will bring to public attention the fact of the restoration of the Mysteries of Initiation. | 5. Việc hình thành bộ khung của các nhóm đệ tử mới, sự ngoại hiện ở dạng phôi thai của các ashram nội tại. Trong Kỷ Nguyên Mới, những nhóm này sẽ gia tăng, qua đó thúc đẩy công việc tích hợp các nhóm bên trong và bên ngoài, đồng thời nuôi dưỡng sự phát triển của Thiên Giới trên Trái Đất. Điều này sẽ khiến công chúng chú ý đến sự kiện các Bí Nhiệm Điểm Đạo đang được phục hồi. |
1. Much of spiritual value being done today occurs “in embryo” or appears in the form of a “skeleton structure”. True indications are possible; completeness is not. | 1. Phần lớn những việc có giá trị tinh thần đang được thực hiện ngày nay đều diễn ra “ở dạng phôi thai” hoặc xuất hiện dưới dạng một “cấu trúc khung”. Có thể có những dấu hiệu đích thực; chưa thể có sự hoàn chỉnh. |
2. An important phrase is offered: “the externalisation in embryo of the inner Ashrams”. This is what the new groups of disciples (“Seed Groups”) are to become. | 2. Một cụm từ quan trọng được đưa ra: “sự ngoại hiện ở dạng phôi thai của các ashram bên trong”. Đây là điều mà các nhóm đệ tử mới, tức “Các Nhóm hạt giống”, sẽ trở thành. |
3. We may wonder how the Externalization of the Hierarchy is to proceed. One of the methods of externalization is here offered. It is a very natural process; there is nothing spectacular or grandiose about it. | 3. Chúng ta có thể tự hỏi Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn sẽ diễn tiến như thế nào. Ở đây, một trong những phương thức ngoại hiện đã được nêu ra. Đó là một tiến trình rất tự nhiên; không có gì ngoạn mục hay phô trương trong tiến trình ấy. |
4. Such new groups will multiply during the New Age, but their structure has to be clear and effective, otherwise such multiplication would be more a detriment to the Plan than assistance. | 4. Những nhóm mới như vậy sẽ gia tăng trong Kỷ Nguyên Mới, nhưng cấu trúc của chúng phải rõ ràng và hiệu quả; nếu không, sự gia tăng ấy sẽ gây tổn hại cho Thiên Cơ nhiều hơn là trợ giúp. |
5. Rightly formulated groups are connected to their “inner groups”. The proliferation of such inwardly-linked groups will precipitate the growth of the fifth kingdom on Earth. | 5. Các nhóm được tổ chức đúng đắn kết nối với “các nhóm bên trong”. Sự gia tăng của những nhóm có liên kết nội tại như vậy sẽ làm ngưng tụ sự phát triển của giới thứ năm trên Trái Đất. |
6. This short paragraph is prophetic. The mode is given whereby the general public will become aware of the “fact of the restoration of the Mysteries of Initiation”. | 6. Đoạn văn ngắn này mang tính tiên tri. Đoạn văn đưa ra phương thức để công chúng nói chung nhận biết “sự thật về việc phục hồi các Huyền Nhiệm Điểm Đạo”. |
7. The first step in this awareness of restoration will not involve the ceremonies we have become used to considering as characteristic of the process of initiation. The members of such groups (and the groups themselves) will be known for the high quality/vibration of their lives, and will signal the appearance of a new type of human being. The qualities characteristic of those who are members of the fifth kingdom will radiate from them; they will be noticed for the quality of their life. | 7. Bước đầu tiên trong việc nhận biết sự phục hồi này sẽ không liên quan đến những nghi lễ mà chúng ta đã quen xem là đặc trưng của tiến trình điểm đạo. Các thành viên của những nhóm ấy, và chính các nhóm ấy, sẽ được biết đến nhờ phẩm tính/rung động cao trong đời sống của họ, và sẽ báo hiệu sự xuất hiện của một kiểu người mới. Những phẩm tính đặc trưng của các thành viên thuộc giới thứ năm sẽ tỏa ra từ họ; người ta sẽ chú ý đến họ vì phẩm tính trong đời sống của họ. |
8. Initially, the Mysteries will be restored through the life-demonstration of those who are somewhat privy to those Mysteries — i. e. , through those who have already passed through one or other of the various initiations. Such initiates will not proclaim themselves. Their point of attainment will not allow them to do so. The quality of their lives will proclaim who they are. Any attempt to claim initiate status would negate the validity of the claim. Let modern claimants remember this. | 8. Ban đầu, các Huyền Nhiệm sẽ được phục hồi thông qua sự thể hiện trong đời sống của những người phần nào đã được biết các Huyền Nhiệm ấy — tức là thông qua những người đã trải qua một trong các lần điểm đạo khác nhau. Những điểm đạo đồ như vậy sẽ không tự xưng danh. Trình độ thành tựu của họ sẽ không cho phép họ làm như thế. Phẩm tính trong đời sống của họ sẽ cho biết họ là ai. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm tự nhận địa vị điểm đạo đồ đều sẽ phủ nhận tính xác thực của lời tự nhận ấy. Mong những người tự xưng ngày nay hãy ghi nhớ điều này. |
The production of the outer form on earth, through the medium of books, of esoteric schools and the educating of public opinion has been committed to a group of us who form a part of the inner world government — disciples and initiates — and to this group, I play the part of secretary and of organising contact man — if I may use words which will mean something to your ears, versed as you are in physical plane organisation work; they mean little or nothing to us, versed as we are in the work of producing living organisms. This group to which I refer is composed of two oriental initiates (of whom I am one) and of five occidental initiates. | Việc tạo dựng hình tướng bên ngoài trên Trái Đất, thông qua sách vở, các trường nội môn và việc giáo dục dư luận, đã được giao phó cho một nhóm chúng tôi, gồm các đệ tử và điểm đạo đồ, vốn là một bộ phận của chính quyền nội tại của thế giới. Trong nhóm này, Tôi đảm nhiệm vai trò thư ký và người tổ chức liên lạc—nếu Tôi có thể dùng những từ có ý nghĩa đối với các bạn, những người thông thạo công việc tổ chức trên cõi hồng trần; đối với chúng tôi, những người thông thạo công việc tạo nên các cơ cấu sống, những từ ấy có rất ít hoặc chẳng có ý nghĩa gì. Nhóm mà Tôi nói đến gồm hai điểm đạo đồ phương Đông, trong đó có Tôi, và năm điểm đạo đồ phương Tây. |
1. Three modes of outer esoteric work are here mentioned — the production of books, esoteric schools and the educating of public opinion. | 1. Ở đây có nhắc đến ba phương thức hoạt động huyền bí học bên ngoài — biên soạn sách, thành lập các trường huyền bí học và giáo dục công luận. |
2. The Tibetan describes His role in relation to the “inner world government” — “secretary” and “organising contact man”. He is thus responsible for organizing and implementing the intentions of Masters Who are senior to Him, and of contacting humanity on Their behalf and His. | 2. Chân sư Tây Tạng mô tả vai trò của Ngài trong mối quan hệ với “chính quyền thế giới nội tại” — “thư ký” và “người tổ chức liên lạc”. Do đó, Ngài chịu trách nhiệm tổ chức và thực hiện các ý định của những Chân sư có thâm niên cao hơn Ngài, đồng thời thay mặt Các Ngài và chính Ngài tiếp xúc với nhân loại. |
3. When He describes His work in this way it is impossible not to think of the qualities of the sign Gemini and the planet Mercury. | 3. Khi Ngài mô tả công việc của mình theo cách này, chúng ta không thể không nghĩ đến những phẩm tính của dấu hiệu Song Tử và hành tinh Sao Thủy. |
4. DK uses this paragraph to call our attention to the difference between an organization and an organism. | 4. Chân sư DK dùng đoạn văn này để lưu ý chúng ta về sự khác biệt giữa một tổ chức và một cơ thể sống. |
5. One can imagine that the concept of “role” is quite different in relation to an organism than it is in relation to an organization. For one thing, the factor of what might be called ‘intuitive fluidity’ would be greatly increased for those adept at producing “living organisms”. Organisms live from within and do not constantly have to be stimulated from without. Permeability is characteristic of an organism; encapsulation of an organization. | 5. Có thể hình dung rằng khái niệm “vai trò” trong một cơ thể sống rất khác với khái niệm ấy trong một tổ chức. Trước hết, yếu tố có thể gọi là ‘tính linh hoạt trực giác’ sẽ gia tăng đáng kể nơi những người thành thạo việc tạo dựng “những cơ thể sống”. Các cơ thể sống vận hành từ bên trong và không cần liên tục nhận kích thích từ bên ngoài. Tính thẩm thấu là đặc trưng của một cơ thể sống; sự khép kín là đặc trưng của một tổ chức. |
6. DK writes of the work of advancing the work of externalization of the Ashrams, largely through educational work. He states that seven initiates are involved — two from the East and five from the West. This is a different kind of enumeration than is given elsewhere — the proportion of Western initiates is greater. We note however, that He includes not only initiates but disciples, and so it is possible that some who are not yet Masters are involved in the effort — perhaps disciple-initiates such as Alice Bailey. | 6. Chân sư DK viết về việc thúc đẩy công cuộc ngoại hiện các ashram, phần lớn thông qua công việc giáo dục. Ngài nói rằng có bảy điểm đạo đồ tham gia — hai vị từ phương Đông và năm vị từ phương Tây. Cách nêu số lượng này khác với những gì được trình bày ở nơi khác — tỷ lệ điểm đạo đồ phương Tây lớn hơn. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng Ngài kể đến không chỉ các điểm đạo đồ mà cả các đệ tử, vì vậy có thể một số người chưa phải là Chân sư cũng tham gia nỗ lực này — có lẽ là những đệ tử–điểm đạo đồ như Bà Alice Bailey. |
7. It would seem that Master KH and Master M cannot both be members of this group (if either of Them is, at all) since both are oriental initiates. Yet both of Them have demonstrated that They are, in significant ways, involved in such work. | 7. Dường như Chân sư KH và Chân sư M không thể cả hai cùng là thành viên của nhóm này (nếu quả thực một trong hai Ngài là thành viên), vì cả hai đều là những điểm đạo đồ phương Đông. Tuy nhiên, cả hai Ngài đều đã chứng tỏ rằng Các Ngài tham gia công việc như thế trên những phương diện đáng kể. |
8. We are probably dealing here with an enumeration that is different from the usual list of Masters interested in the Hierarchy’s educational work. The usual enumeration includes Master H, Master R and an English Master, as well as the Master M, KH and DK. | 8. Có lẽ ở đây chúng ta đang bàn đến một danh sách khác với danh sách thông thường gồm các Chân sư quan tâm đến công tác giáo dục của Thánh đoàn. Danh sách thông thường bao gồm Chân sư H, Chân sư R và một Chân sư người Anh, cùng với các Chân sư M, KH và DK. |
We will leave now the consideration of this general picture and return to the subject of the specific work that this particular group of my disciples can do. You must avoid the idea that you are working in a unique way and alone. This is not so. There are many today working intelligently with our plans, often isolated and alone. | Giờ đây, chúng ta sẽ tạm gác việc xem xét bức tranh tổng quát này và trở lại với chủ đề về công việc cụ thể mà nhóm đệ tử riêng biệt này của Tôi có thể thực hiện. Các bạn phải tránh ý tưởng rằng mình đang làm việc theo một cách độc nhất và đơn độc. Thực tế không phải vậy. Ngày nay, có nhiều người đang làm việc một cách sáng suốt theo các kế hoạch của chúng tôi, thường trong cảnh biệt lập và đơn độc. |
The main requirement in the group work which I seek at this time to emphasise is the most difficult one of a true impersonality. On two points, disciples in the past have ever been emphatic. They have seen and felt the need for reticence, where there is any inner spiritual experience, and have felt that the relating or the discussion of the spiritual and the higher psychic events in their lives produced a sense of loss and was against the occult law. They have equally demanded reticence about their personality lives, about their mistakes and failings, and have demanded it more loudly than the permission to be silent about their soul life. Their demand has been based on a true recognition that the discussion of a spiritual happening with those who do not understand [34] has in it a great deal of danger — the danger of misinterpretation, of glamour and of illusion. The desire for reticence in the personality life is based usually on pride, on a fear of criticism, on terror of being derided, misunderstood and judged; these are all unworthy motives. | Yêu cầu chính trong công việc nhóm mà lúc này Tôi muốn nhấn mạnh cũng là yêu cầu khó nhất: tính phi cá nhân đích thực. Trong quá khứ, các đệ tử luôn nhấn mạnh hai điểm. Họ đã thấy và cảm nhận nhu cầu giữ kín bất kỳ trải nghiệm tinh thần nội tại nào, và cảm thấy rằng việc kể lại hay thảo luận những sự kiện tinh thần và thông linh bậc cao trong đời mình gây ra cảm giác mất mát và trái với định luật huyền bí. Họ cũng đòi hỏi sự kín đáo như thế đối với đời sống phàm ngã, những lỗi lầm và thiếu sót của mình, thậm chí còn đòi hỏi điều này quyết liệt hơn cả việc xin phép giữ im lặng về đời sống linh hồn. Đòi hỏi của họ dựa trên sự nhận biết đúng đắn rằng việc thảo luận một sự kiện tinh thần với những người không thấu hiểu [34] chứa đựng nhiều nguy hiểm—nguy cơ bị diễn giải sai, rơi vào ảo cảm và ảo tưởng. Mong muốn giữ kín đời sống phàm ngã thường bắt nguồn từ lòng kiêu hãnh, sự sợ hãi bị phê bình, nỗi khiếp sợ bị chế giễu, hiểu lầm và phán xét; tất cả đều là những động cơ không xứng đáng. |
1. The Tibetan is now returning to specificities. He reemphasizes a more important caution: His disciples must not think they are working “in a unique way and alone”. The “glamor of special selection” would then enter and the value of their work would be negated by pride and separation. | 1. Giờ đây, Chân sư Tây Tạng trở lại với những điều cụ thể. Ngài nhấn mạnh lại một lời cảnh báo quan trọng hơn: các đệ tử của Ngài không được nghĩ rằng mình đang làm việc “theo một cách độc nhất và đơn độc”. Khi ấy, “ảo cảm về việc được đặc biệt tuyển chọn” sẽ len vào, và lòng kiêu hãnh cùng sự chia rẽ sẽ triệt tiêu giá trị công việc của họ. |
2. Many are working with the plans of the Hierarchy, often isolated and alone. The sense of “group work” is most necessary even if the vast majority of those affiliated are personally unknown to each other. Having the many in mind is one of the methods of ensuring impersonality in the work. | 2. Nhiều người đang làm việc theo những kế hoạch của Thánh đoàn, thường biệt lập và đơn độc. Ý thức về “công việc nhóm” là hết sức cần thiết, ngay cả khi đại đa số những người cùng tham gia chưa từng biết nhau ngoài đời. Luôn nghĩ đến nhiều người khác là một trong những phương pháp bảo đảm tính phi cá nhân trong công việc. |
3. DK lists “impersonality” as the main requirement for the group work which He seeks to emphasize. It is so difficult because the personality is ever craving the feeding energy of attention in one way or another. Impersonality is so necessary because a personal attitude short-circuits true group work by emphasizing the part over the whole. | 3. Chân sư DK nêu “tính phi cá nhân” là yêu cầu chính đối với công việc nhóm mà Ngài muốn nhấn mạnh. Điều này khó khăn đến thế vì phàm ngã luôn khao khát năng lượng nuôi dưỡng từ sự chú ý, dưới hình thức này hay hình thức khác. Tính phi cá nhân hết sức cần thiết vì thái độ cá nhân làm gián đoạn công việc nhóm đích thực khi đề cao bộ phận hơn toàn thể. |
4. DK discusses a true and false “reticence”. He seems to sanction the idea that the unwise discussion of higher spiritual or psychic events produces a sense of loss and is against occult law. Elsewhere, He definitely states that the claiming of initiate status is against occult law. | 4. Chân sư DK bàn về “sự kín tiếng” đúng đắn và sai lầm. Dường như Ngài tán thành quan điểm rằng việc thảo luận thiếu sáng suốt về những sự kiện tinh thần hay thông linh cao cấp gây ra cảm giác mất mát và trái với định luật huyền bí. Ở nơi khác, Ngài khẳng định rõ rằng việc tự nhận địa vị điểm đạo đồ là trái với định luật huyền bí. |
5. Why this mysterious “sense of loss”? Perhaps these inner spiritual and psychic events serve as a source of inspiration which, revealed, lose their power to inspire. It is as if a concentration of force is weakened and dissipated. As if a contact given for impulsion is vitiated by being made common property. Perhaps the thoughtforms generated by the unready (when they hear of these things) in some way attack the revealing disciple’s thoughtforms surrounding the event and weaken those thoughtforms. | 5. Tại sao lại có “cảm giác mất mát” bí ẩn này? Có lẽ những sự kiện tinh thần và thông linh bên trong ấy đóng vai trò như một nguồn cảm hứng, nhưng khi được tiết lộ thì mất đi sức truyền cảm hứng. Dường như một khối mãnh lực tập trung bị suy yếu và tiêu tan. Dường như một sự tiếp xúc được ban để tạo xung lực lại bị mất hiệu lực khi trở thành tài sản chung. Có lẽ những hình tư tưởng do những người chưa sẵn sàng tạo ra (khi họ nghe về những điều này) bằng cách nào đó tấn công các hình tư tưởng mà người đệ tử tiết lộ đã tạo nên quanh sự kiện ấy, và làm suy yếu chúng. |
6. Probably the prohibition against unwisely speaking about ‘sacred things’ can only be directly experienced. Unless the prohibition is upon one, one will not know the reason for its existence. | 6. Có lẽ lệnh cấm nói thiếu sáng suốt về ‘những điều thiêng liêng’ chỉ có thể được thấu hiểu qua trải nghiệm trực tiếp. Nếu chưa chịu sự ràng buộc của lệnh cấm ấy, người ta sẽ không biết lý do nó tồn tại. |
7. A less desirable form of reticence is also cited — the demand for reticence about one’s personality mistakes and foibles — the embarrassments of the Spiritual Path. This second kind of reticence is unworthy and is based upon fear and pride. Yet, “each sees and knows the villainy of each”, and no disciple is allow to wear “a hood, a veil which hides his face from others” (Rules of the Road). | 7. Một hình thức kín tiếng kém đáng mong muốn hơn cũng được nêu ra — đòi hỏi kín tiếng về những sai lầm và nhược điểm của phàm ngã mình — những điều gây hổ thẹn trên Đường Đạo Tinh Thần. Loại kín tiếng thứ hai này không xứng đáng và bắt nguồn từ nỗi sợ cùng lòng kiêu hãnh. Tuy nhiên, “mỗi người đều thấy và biết sự xấu xa của nhau”, và không đệ tử nào được phép đội “một chiếc mũ trùm, một tấm màn che khuôn mặt mình khỏi người khác” (Các Quy Luật của Đường Đạo). |
8. DK discusses the very real danger of discussing deeply personal spiritual happenings with those who do not and (as yet) cannot understand. The dangers of misinterpretation, of glamor and illusion are cited. Such discussion (even if well-intended) will lead to a decrease in the light of understanding rather than an increase. Distortion will be the result. Refraction (glamor) and fragmentation (illusion) will be the consequences. The first kind of reticence, therefore, is not only justifiable but necessary. Those who discuss these matters with those who are unready (and who are not brothers of like degree) reveal, through their lack of restraint and discrimination, the fact that they are not that which they claim to be. If claims are not involved, they still lose through such revelation, for they reduce the inner power of their experiences and contribute to misunderstanding. | 8. Chân sư DK bàn đến nguy hiểm rất thực của việc thảo luận những sự kiện tinh thần mang tính cá nhân sâu sắc với những người không thấu hiểu và (hiện thời) chưa thể thấu hiểu. Ngài nêu những nguy cơ diễn giải sai, ảo cảm và ảo tưởng. Sự thảo luận như thế (dù có thiện ý) sẽ khiến ánh sáng của sự thấu hiểu giảm đi thay vì tăng lên. Kết quả sẽ là sự bóp méo. Hệ quả sẽ là sự khúc xạ (ảo cảm) và sự phân mảnh (ảo tưởng). Do đó, loại kín tiếng thứ nhất không chỉ chính đáng mà còn cần thiết. Những người bàn luận các vấn đề này với những người chưa sẵn sàng (và không phải những huynh đệ cùng cấp độ), qua sự thiếu kiềm chế và phân biện của mình, cho thấy rằng họ không phải là những gì họ tự nhận. Ngay cả khi không có sự tự nhận nào, họ vẫn chịu mất mát qua việc tiết lộ như thế, vì họ làm giảm quyền năng bên trong của những trải nghiệm ấy và góp phần gây hiểu lầm. |
9. The second type of reticence, the desire for reticence about the personality life is entirely another matter. People do not want to be revealed for what they truly are; they would rather hide their weaknesses than expose them to the “Light of Day” (Scorpio’s light). In such reticence we find a fundamental lack of courage — a weakness which will prevent progress on the Path of Initiation. | 9. Loại kín tiếng thứ hai, mong muốn kín tiếng về đời sống phàm ngã, lại là một chuyện hoàn toàn khác. Người ta không muốn bộc lộ con người thật của mình; họ muốn che giấu những điểm yếu hơn là phơi bày chúng dưới “Ánh Sáng Ban Ngày” (ánh sáng của Hổ Cáp). Trong sự kín tiếng như thế, chúng ta thấy sự thiếu can đảm căn bản — một nhược điểm sẽ ngăn cản sự tiến bộ trên Con Đường Điểm Đạo. |
Among the disciples of the New Age groups and ever in a Master’s inner Ashram, there is no need for this theory of reticence. You are co-disciples and co-workers. If any of you have in the past or may in the future become initiates, it will not affect your relation to your fellow-disciples in these groups. The knowledges of initiation cannot be passed on by word of mouth within the initiate ranks, for they are not communicated in speech or by letters. Only those who possess certain transcendental senses can take initiation and should they try to communicate the secrets and mysteries of initiation in symbol or form, you would fail to react to or to understand their meaning. | Giữa các đệ tử thuộc những nhóm của Kỷ Nguyên Mới, cũng như trong ashram nội tại của một Chân sư, quan niệm giữ kín này không cần thiết. Các bạn là những đệ tử đồng môn và cộng sự. Nếu bất kỳ ai trong các bạn đã trở thành điểm đạo đồ trong quá khứ hoặc có thể trở thành điểm đạo đồ trong tương lai, điều đó sẽ không ảnh hưởng đến mối liên hệ của các bạn với các đệ tử đồng môn trong những nhóm này. Những tri thức về điểm đạo không thể truyền lại bằng lời nói trong hàng ngũ điểm đạo đồ, vì chúng không được truyền đạt qua lời nói hay chữ viết. Chỉ những người sở hữu một số giác quan siêu việt mới có thể thụ nhận điểm đạo, và nếu họ cố gắng truyền đạt những bí mật và bí nhiệm của điểm đạo bằng biểu tượng hay hình tướng, các bạn cũng không thể đáp ứng hay thấu hiểu ý nghĩa của chúng. |
1. DK does away with the need for reticence among established co-workers — especially, I would say, the need for reticence about personality shortcomings. | 1. Chân sư DK bác bỏ sự cần thiết phải kín tiếng giữa những người cộng sự đã gắn bó vững chắc — đặc biệt, tôi muốn nói, là sự cần thiết phải kín tiếng về những thiếu sót của phàm ngã. |
2. We note that He calls it a “theory” of reticence, perhaps suggesting that the disciples who practice it are not solidly established in a good reason for doing so. | 2. Chúng ta lưu ý rằng Ngài gọi đó là một “lý thuyết” về sự kín tiếng, có lẽ hàm ý rằng các đệ tử thực hành điều ấy chưa có một lý do vững chắc, chính đáng để làm như vậy. |
3. Master DK, however (in His personal instructions to His chelas) is often reticent in discussing the particular initiation for which a disciple is being prepared. In one or two cases He does mention it, as in the case of ISG-L (the second) or DHB (the third). Usually, however, He leaves it unspecified, as He seeks, I would think, to prevent an unwholesome curiosity about the spiritual status of fellow disciples. It is probably when there is a very strong teaching point involved that He discusses the particular trials, challenges (or opportunities) surrounding a particular initiation. | 3. Tuy nhiên, Chân sư DK (trong những huấn thị riêng cho các đệ tử của Ngài) thường kín tiếng khi bàn đến lần điểm đạo cụ thể mà một đệ tử đang được chuẩn bị để thọ nhận. Trong một hoặc hai trường hợp, Ngài có đề cập đến điều ấy, như trường hợp ISG-L (lần thứ hai) hay DHB (lần thứ ba). Tuy nhiên, thông thường Ngài không nói rõ, vì tôi nghĩ Ngài muốn ngăn chặn sự tò mò không lành mạnh về địa vị tinh thần của các đệ tử đồng môn. Có lẽ chỉ khi có một điểm huấn luyện hết sức quan trọng cần làm rõ, Ngài mới bàn đến những thử thách, thách thức (hay cơ hội) cụ thể gắn với một lần điểm đạo nhất định. |
4. DK states that the fact of having become or of becoming an initiate will not affect the relation to one’s fellow disciples. The whole matter is to be approached with impersonality. | 4. Chân sư DK khẳng định rằng việc đã hay sẽ trở thành một điểm đạo đồ không ảnh hưởng đến mối quan hệ của người ấy với các đệ tử đồng môn. Cần tiếp cận toàn bộ vấn đề với tính phi cá nhân. |
5. Then, come some very important statements, which should give pause to those who state that they are training disciples for initiation. Alice Bailey never said more than that she (and the Arcane School in general) was offering training for discipleship. | 5. Tiếp đó là một số phát biểu hết sức quan trọng, đáng để những người tuyên bố rằng mình đang huấn luyện đệ tử cho điểm đạo phải dừng lại suy ngẫm. Alice Bailey chưa bao giờ nói gì hơn ngoài việc Bà (và Trường Arcane nói chung) đang cung cấp sự huấn luyện cho địa vị đệ tử. |
6. Knowledge of initiation cannot be passed on by conventional means — i.e., by word, speech or letters. Transcendental senses (which ones, could be discussed with profit — for they are not the usual psychic senses) are required. Should initiates possessed of such senses attempt to convey the secrets and mysteries of initiation, they would fail because of the inadequate response of the unprepared. | 6. Tri thức về điểm đạo không thể truyền đạt bằng những phương tiện thông thường — nghĩa là, bằng từ ngữ, lời nói hay chữ viết. Cần có những giác quan siêu việt (đó là những giác quan nào là một vấn đề đáng bàn luận — vì chúng không phải những giác quan thông linh thông thường). Nếu những điểm đạo đồ sở hữu các giác quan ấy cố truyền đạt những bí mật và huyền nhiệm của điểm đạo, họ sẽ thất bại vì những người chưa được chuẩn bị không thể đáp ứng đầy đủ. |
7. In statements of this kind, the Master is protecting the entire process from the claims of charlatans who purport to offer initiation to others — through word, symbol, gesture, sound, etc. Only the Initiator (the Christ or the Lord of the World) can truly initiate, and They initiate only those who are already initiate! | 7. Qua những phát biểu như thế, Chân sư bảo vệ toàn bộ tiến trình trước những lời tự nhận của những kẻ bịp bợm cho rằng mình có thể ban điểm đạo cho người khác — bằng từ ngữ, biểu tượng, cử chỉ, âm thanh, v.v.. Chỉ Đấng Điểm đạo (Đức Christ hay Đức Chúa Tể Thế Giới) mới có thể thực sự điểm đạo, và Các Ngài chỉ điểm đạo cho những người đã là điểm đạo đồ! |
8. The secrets of initiation are safely sealed away from the meddling of the profane. The process is thereby safeguarded and pretence exposed for what it is. | 8. Những bí mật của điểm đạo được niêm kín an toàn trước sự can thiệp của những người phàm tục. Nhờ đó, tiến trình được bảo vệ và sự giả mạo bị phơi bày đúng bản chất. |
9. Those who have eyes to see will see. Those who have ears to hear will hear. Others, though eager for sight and sound, will neither see nor hear. | 9. Những ai có mắt để thấy sẽ thấy. Những ai có tai để nghe sẽ nghe. Những người khác, dù háo hức muốn thấy và nghe, cũng sẽ chẳng thấy hay nghe được gì. |
So, in this group of my disciples, let there be the recognition of unity of thought. Experience, thought, difficulties and problems can be shared, and the cultivation of a sympathetic understanding and of mutual aid in the spiritual life can be developed. Disciples are people of mature years from the standpoint of the soul, and, therefore, the pettinesses of life and small frictional difficulties will not be shared by you with each other. There should be no temptation to waste each other’s time in idle talk. It is the broad and general outline of the plan for the outer work of these groups of disciples which should engage your thoughts and communications with each other. | Vì vậy, trong nhóm đệ tử này của Tôi, hãy có sự nhận biết về tính thống nhất trong tư tưởng. Các bạn có thể chia sẻ trải nghiệm, tư tưởng, khó khăn và vấn đề, đồng thời vun bồi sự thấu hiểu đầy cảm thông và sự hỗ trợ lẫn nhau trong đời sống tinh thần. Xét từ quan điểm linh hồn, đệ tử là những người đã trưởng thành; vì vậy, các bạn sẽ không chia sẻ với nhau những chuyện vụn vặt của cuộc sống và những va chạm nhỏ nhặt. Đừng để mình bị lôi cuốn vào việc làm lãng phí thời gian của nhau bằng những cuộc chuyện trò vô bổ. Chính những nét lớn và tổng quát trong kế hoạch hoạt động bên ngoài của các nhóm đệ tử này mới nên là điều các bạn suy nghĩ và trao đổi với nhau. |
1. The disciples in groups like the ones being formed by the Master are united by “unity of thought”. On this basis they can take their stand, no matter what may be their ray and astrological differences and their differences in spiritual status. | 1. Các đệ tử trong những nhóm như các nhóm mà Chân sư đang thành lập gắn kết với nhau nhờ “sự thống nhất tư tưởng”. Họ có thể đứng vững trên nền tảng này, bất kể những khác biệt về cung, chiêm tinh và địa vị tinh thần. |
2. Legitimate areas of sharing are here given. All such sharings are for the purpose sympathetic understanding and mutual assistance. There is never an attempt to put someone in his/her place, nor to proudly assert one’s imagined spiritual status. All sharing is done in a spirit of helpfulness and in a brotherly manner — not casually, but purposefully. | 2. Ở đây, những lĩnh vực chia sẻ chính đáng đã được nêu ra. Mọi sự chia sẻ như thế đều nhằm mục đích thấu hiểu đầy cảm thông và tương trợ. Không bao giờ có ý định đặt ai vào đúng vị trí của họ, hay kiêu hãnh khẳng định địa vị tinh thần mà mình tưởng là có. Mọi sự chia sẻ đều diễn ra trong tinh thần giúp đỡ và tình huynh đệ — có chủ đích chứ không tùy tiện. |
3. Disciples are spiritually mature men and women; therefore, the sharing of petty details and frictions is not suitable. DK is offering clear guidelines concerning disciplic behavior within His groups. Personality happenings are not shared for their own sake. Only if such details have utility to advance the process of discipleship and group well-being are they offered. To the disciple, time is utterly precious and must not be wasted. Most discussion of personality affairs is simply a waste of time. | 3. Các đệ tử là những người nam và nữ đã trưởng thành về tinh thần; do đó, việc chia sẻ những chi tiết và va chạm nhỏ nhặt là không thích hợp. Chân sư DK đưa ra những chỉ dẫn rõ ràng về cách ứng xử của đệ tử trong các nhóm của Ngài. Những sự việc thuộc phàm ngã không được chia sẻ chỉ vì bản thân chúng. Chỉ khi những chi tiết ấy hữu ích cho việc thúc đẩy tiến trình của địa vị đệ tử và sự an lạc của nhóm, người ta mới nêu chúng ra. Đối với đệ tử, thời gian vô cùng quý báu và không được lãng phí. Phần lớn những cuộc thảo luận về chuyện phàm ngã chỉ là sự lãng phí thời gian. |
4. The Divine Plan is the most legitimate topic of discussion. The disciple is especially concerned with the understanding and application of that Plan. The methods, opportunities and difficulties involved in this application offer more than enough to engage disciples when they converse. | 4. Thiên Cơ là chủ đề thảo luận chính đáng nhất. Đệ tử đặc biệt quan tâm đến việc thấu hiểu và áp dụng Thiên Cơ ấy. Những phương pháp, cơ hội và khó khăn liên quan đến việc áp dụng này cung cấp quá đủ nội dung để các đệ tử tập trung trao đổi khi trò chuyện. |
“Speak not of self. Pity not thy fate. The thoughts of self and of thy lower destiny prevent the inner voice of thine own soul from striking upon thine ear. Speak of the soul; enlarge upon the plan; forget thyself in building for the world. Thus is the law of form offset. Thus can the rule of love enter upon that world. ” (TWM 474-475) | “Đừng nói về bản thân. Đừng thương hại số phận ngươi. Những tư tưởng về bản thân và vận mệnh thấp kém của ngươi ngăn tiếng nói bên trong của chính linh hồn ngươi đến tai ngươi. Hãy nói về linh hồn; hãy trình bày sâu rộng về Thiên Cơ; hãy quên mình trong công cuộc xây dựng cho thế gian. Như thế, định luật hình tướng được hóa giải. Như thế, quy luật bác ái có thể đi vào thế gian ấy. ” (TWM 474-475) |
The groups planned will be of many different kinds and their work will be diversified and varied. I have for some time desired to write a little more fully about the groups which are forming in the world today, under direction of the Masters. They will gradually make their appearance in the world and fulfil their destined mission. Four of these groups are already formed or in process of forming and the others will gradually be created to meet advancing need. | Các nhóm dự kiến sẽ thuộc nhiều loại khác nhau, và công việc của họ sẽ đa dạng, phong phú. Từ ít lâu nay, Tôi đã muốn viết đầy đủ hơn đôi chút về các nhóm đang hình thành trong thế giới ngày nay dưới sự chỉ đạo của các Chân sư. Họ sẽ dần xuất hiện trong thế giới và hoàn thành sứ mệnh đã định. Bốn nhóm trong số này đã hình thành hoặc đang trong quá trình hình thành, và các nhóm khác sẽ dần được tạo lập để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. |
1. The Tibetan begins to enter into the diversity of the Seed Groups. | 1. Chân sư Tây Tạng bắt đầu đi vào tính đa dạng của các Nhóm hạt giống. |
2. We note, incidentally, that He has “desired” to write more fully about such groups. Perhaps the term “desire” means something different to a Master than it does to us, yet, after all, Masters are still human beings, and the Principle of Desire is ubiquitous in cosmos. | 2. Nhân đây, chúng ta lưu ý rằng Ngài đã “mong muốn” viết đầy đủ hơn về những nhóm như thế. Có lẽ thuật ngữ “ham muốn” mang ý nghĩa khác đối với một Chân sư so với chúng ta; tuy nhiên, xét cho cùng, các Chân sư vẫn là những con người, và Nguyên khí Ham muốn hiện diện khắp vũ trụ. |
3. We note that these groups are impulsed and directed by the Masters. They are not the result of some bright idea seized upon by a well-meaning disciple, though disciples can respond to direction coming from the Masters. | 3. Chúng ta lưu ý rằng các Chân sư tạo xung lực và chỉ đạo những nhóm này. Chúng không phải là kết quả của một ý tưởng sáng giá nào đó mà một đệ tử có thiện ý nắm lấy, dù các đệ tử có thể đáp ứng sự chỉ đạo đến từ các Chân sư. |
4. DK speaks of the gradual appearance of these groups. Perhaps that appearance was scheduled over a period of one or two decades. At present it is impossible to tell, as during 1939, the first phase of the experiment was discontinued. | 4. Chân sư DK nói về sự xuất hiện dần dần của những nhóm này. Có lẽ sự xuất hiện ấy đã được dự kiến diễn ra trong một hoặc hai thập niên. Hiện nay, không thể xác định được, vì trong năm 1939, giai đoạn đầu của cuộc thử nghiệm đã bị ngừng lại. |
5. At the time DK’s writing of this group instruction, the first four groups were either formed or in process of formation. This included the group of Telepathic Workers, the Trained Observers, the group of Magnetic Healers and the group of Educators. | 5. Vào thời điểm Chân sư DK viết huấn thị nhóm này, bốn nhóm đầu tiên đã được thành lập hoặc đang trong quá trình hình thành. Các nhóm ấy gồm nhóm Những Người Hoạt Động Viễn Cảm, Các Nhà Quan Sát Lão Luyện, nhóm Những Người Chữa Lành Bằng Từ Tính và nhóm Các Nhà Giáo Dục. |
6. We judge that the groups were precipitated in the order of their importance and priority. Need ever grows, and the later groups would meet this growing (“advancing”) need. The earliest groups, however, were apparently the most essential. | 6. Chúng ta cho rằng các nhóm đã ngưng tụ theo thứ tự tầm quan trọng và mức độ ưu tiên. Nhu cầu luôn gia tăng, và những nhóm ra đời sau sẽ đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng (“tiến triển”) này. Tuy nhiên, những nhóm đầu tiên dường như là những nhóm thiết yếu nhất. |
It is essential that members of these groups have a wider vision than they now have; their membership in any of the [35] groups constitutes an act of service which they are rendering to the work which I and other members of the Hierarchy are carrying forward under the Plan. The individual disciple must not look upon his work as a marvellous opportunity for his own spiritual advancement. All true disciples are equally distinguished by a determination to make the groups successful and all are longing to get as much out of the group work as possible. All are genuinely animated by a desire to serve but also by a general satisfaction over the interest and opportunity offered by the group work. Along with these most normal and right reactions are to be found much ignorance as to the true significance of the work, a good deal of selfish pleasure and some ambition. This is natural, for no perfection is yet to be expected among disciples. If perfection existed, you would all be found working in a different relation to the Great White Lodge. | Điều thiết yếu là các thành viên của những nhóm này phải có tầm nhìn rộng hơn hiện nay; việc họ tham gia bất kỳ [35] nhóm nào cũng là một hành động phụng sự đối với công việc mà Tôi và những thành viên khác của Thánh đoàn đang triển khai theo Thiên Cơ. Mỗi đệ tử không được xem công việc của mình là một cơ hội kỳ diệu để thúc đẩy sự tiến bộ tinh thần của riêng mình. Tất cả các đệ tử chân chính đều có chung quyết tâm làm cho các nhóm thành công, và tất cả đều mong mỏi thu nhận được nhiều nhất có thể từ công việc nhóm. Tất cả đều thực sự được thôi thúc bởi khát vọng phụng sự, nhưng đồng thời cũng bởi cảm giác hài lòng nói chung trước sự hứng thú và cơ hội mà công việc nhóm mang lại. Đi cùng những phản ứng hết sức bình thường và đúng đắn này vẫn có nhiều sự thiếu hiểu biết về thâm nghĩa đích thực của công việc, khá nhiều niềm vui ích kỷ và một phần tham vọng. Điều này là tự nhiên, vì chưa thể mong đợi sự hoàn thiện nơi các đệ tử. Nếu đã có sự hoàn thiện, tất cả các bạn hẳn đang làm việc trong một mối liên hệ khác với Thánh đoàn. |
1. The true motive for membership in such groups is set forward. Membership is an act of service, whether to Master DK or to other Masters. | 1. Động cơ đích thực để trở thành thành viên của những nhóm như thế đã được nêu ra. Việc tham gia là một hành động phụng sự, dù đối với Chân sư DK hay các Chân sư khác. |
2. A dominating desire for spiritual advancement must not enter in; it cannot be the principle motive, for, if so, it would only prove the unfitness of the disciple for inclusion. | 2. Không được để ham muốn tiến bộ tinh thần chi phối; nó không thể là động cơ chính, vì nếu vậy, nó chỉ chứng tỏ rằng người đệ tử không thích hợp để được thu nhận. |
3. It is desirable for members to seek to make the groups successful, but it is also realistically expected that they will wish to “get as much out of the group work as possible”. This latter motive is very human, but reasonable and acceptable. The desire to serve, however, must be stronger than the desire for personal spiritual satisfaction. | 3. Việc các thành viên tìm cách làm cho các nhóm thành công là điều đáng mong muốn, nhưng nhìn một cách thực tế, cũng có thể trông đợi rằng họ sẽ muốn “thu nhận được nhiều nhất có thể từ công việc nhóm”. Động cơ thứ hai này rất con người, nhưng hợp lý và chấp nhận được. Tuy nhiên, mong muốn phụng sự phải mạnh hơn mong muốn thỏa mãn tinh thần cá nhân. |
4. DK carefully assesses the psychological condition of His groups. He sees the ignorance, the selfish pleasure and ambition which characterize some of the members. He is, however, a realist. He does not expect perfection, for, among disciples, it does not exist. | 4. Chân sư DK đánh giá cẩn trọng tình trạng tâm lý của các nhóm của Ngài. Ngài thấy sự thiếu hiểu biết, niềm vui ích kỷ và tham vọng là những đặc điểm của một số thành viên. Tuy nhiên, Ngài là người thực tế. Ngài không mong đợi sự hoàn hảo, vì điều đó chưa tồn tại nơi các đệ tử. |
5. DK hints that if perfection existed, one would be a true member of the Hierarchy — a relation to Hierarchy quite different to the one which presently characterizes those He has chosen for inclusion within these groups. | 5. Chân sư DK ngụ ý rằng nếu đã có sự hoàn hảo, người ta sẽ là một thành viên đích thực của Thánh đoàn — một mối quan hệ với Thánh đoàn hoàn toàn khác với mối quan hệ hiện có của những người Ngài đã chọn để thu nhận vào các nhóm này. |
In order to clarify this group work which the Hierarchy plans and enable you to grasp the intent clearly, I will tell you something of the purpose which lies behind the groups and of the general plan into which it is desired that they fit. In the early stages of any hierarchical experiment, much difficulty is encountered, owing to the material with which the initiating agents (such as myself) have to work. Any new idea, especially if it embodies a purpose which can only materialise later when the Plan is further perfected, fails naturally to meet with full comprehension in the early stages. | Để làm sáng tỏ công việc nhóm mà Thánh đoàn dự kiến và giúp các bạn nắm rõ chủ đích, Tôi sẽ nói đôi điều về mục đích đứng sau các nhóm và về kế hoạch tổng quát mà các nhóm cần hòa nhập vào. Trong những giai đoạn đầu của bất kỳ cuộc thử nghiệm nào của Thánh đoàn, đều gặp nhiều khó khăn do chất liệu mà những người khởi xướng, chẳng hạn như Tôi, phải làm việc cùng. Bất kỳ ý tưởng mới nào, đặc biệt nếu nó thể hiện một mục đích chỉ có thể thành hiện thực về sau, khi Thiên Cơ đã được hoàn thiện hơn nữa, đương nhiên cũng không thể được thấu hiểu trọn vẹn trong những giai đoạn đầu. |
1. Note that Master DK calls Himself an “initiating agent”. This is an interesting slant on His initiatory status. It suggests that Masters (relatively high initiates that They are), must undertake initiatives on behalf of Hierarchy and humanity. | 1. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK gọi chính Ngài là một “tác nhân khởi xướng”. Đây là một góc nhìn thú vị về địa vị điểm đạo của Ngài. Điều ấy gợi ý rằng các Chân sư (vốn là những điểm đạo đồ có cấp độ tương đối cao) phải thực hiện những sáng kiến thay mặt Thánh đoàn và nhân loại. |
2. The reason for the Master’s difficulty vis-à-vis the projects He would initiate is the inadequacy of the “material” with which He has to work. We are that inadequate material! Perhaps, this should give us pause. Yet, withal, we must respond to such an idea impersonally. The Master is speaking factually and we have simply to recognize the fact and continue our attempt to measure up. | 2. Lý do khiến Chân sư gặp khó khăn với những dự án Ngài muốn khởi xướng là sự chưa đáp ứng yêu cầu của “chất liệu” mà Ngài phải làm việc cùng. Chúng ta chính là chất liệu chưa đáp ứng yêu cầu ấy! Có lẽ điều này nên khiến chúng ta dừng lại suy ngẫm. Dẫu vậy, chúng ta phải đáp ứng ý tưởng ấy một cách phi cá nhân. Chân sư đang nói đúng sự thật, và chúng ta chỉ cần thừa nhận sự thật ấy rồi tiếp tục nỗ lực đáp ứng yêu cầu. |
3. DK recognizes the lack of comprehension which will greet His plans, even from the disciples He includes within the groups. The groups will play an important part in the precipitation of the Divine Plan, but not yet. Hence, the full meaning of the groups cannot yet appear. Comprehension will be but partial. This is inevitable. | 3. Chân sư DK nhận biết rằng những kế hoạch của Ngài sẽ gặp sự thiếu thấu hiểu, ngay cả từ những đệ tử Ngài thu nhận vào các nhóm. Các nhóm sẽ đóng vai trò quan trọng trong sự ngưng tụ Thiên Cơ, nhưng chưa phải lúc này. Do đó, toàn bộ ý nghĩa của các nhóm chưa thể hiển lộ. Sự thấu hiểu sẽ chỉ là một phần. Điều này là tất yếu. |
4. The whole endeavor is an “experiment” undertaken under difficult conditions. Yet, there is no other way. | 4. Toàn bộ nỗ lực này là một “cuộc thử nghiệm” được thực hiện trong những điều kiện khó khăn. Tuy nhiên, không có cách nào khác. |
5. On our own and smaller level, we should realize that our undertakings under the impression of Hierarchy and for the sake of humanity will also meet with unavoidable difficulties. How we respond to these difficulties will be the measure of our merit as disciples. | 5. Ở cấp độ riêng nhỏ hơn của mình, chúng ta nên nhận ra rằng những việc chúng ta thực hiện dưới ấn tượng từ Thánh đoàn và vì nhân loại cũng sẽ gặp những khó khăn không thể tránh khỏi. Cách chúng ta đáp ứng những khó khăn ấy sẽ là thước đo phẩm giá của chúng ta với tư cách đệ tử. |
I have said that these groups constitute an experiment. This experiment is fourfold in nature and a concise statement about it may prove helpful. | Tôi đã nói rằng các nhóm này tạo thành một cuộc thử nghiệm. Cuộc thử nghiệm này có bản chất tứ phân, và một sự trình bày ngắn gọn về nó có thể hữu ích. |
1. An experiment has an uncertain conclusion. | 1. Một cuộc thử nghiệm có kết quả chưa chắc chắn. |
2. This uncertainty exists because, although a desirable outcome is understood and foreseen, the experimenter does not know how the material will react. We are reminded that even the Christ does not know exactly how humanity will react to presented opportunity. | 2. Sự không chắc chắn này tồn tại vì, dù đã hiểu và dự kiến một kết quả đáng mong muốn, người thử nghiệm vẫn không biết chất liệu sẽ phản ứng ra sao. Chúng ta được nhắc rằng ngay cả Đức Christ cũng không biết chính xác nhân loại sẽ phản ứng ra sao trước cơ hội được đưa đến. |
3. Master DK discusses the fourfold nature of the experiment in concise terms which we should register. In many ways, we are still associated with this experiment. We may not be under His direct supervision, but we are training ourselves according to the instruction which He has offered, and much of what He said to His groups still applies directly to us. | 3. Chân sư DK bàn về bản chất tứ phân của cuộc thử nghiệm bằng những lời súc tích mà chúng ta nên ghi nhận. Trên nhiều phương diện, chúng ta vẫn có liên hệ với cuộc thử nghiệm này. Có thể chúng ta không ở dưới sự giám sát trực tiếp của Ngài, nhưng chúng ta đang tự rèn luyện theo huấn thị mà Ngài đã đưa ra, và phần lớn những điều Ngài nói với các nhóm của Ngài vẫn áp dụng trực tiếp cho chúng ta. |
I. They are an experiment in founding or starting focal points of energy in the human family through which certain energies can flow into the entire race of men. | I. Đây là một cuộc thử nghiệm nhằm thành lập hay khởi tạo những tiêu điểm năng lượng trong gia đình nhân loại, qua đó một số năng lượng có thể tuôn vào toàn thể nhân loại. |
1. Occultism is the Science of Subtle Energy. During the Aquarian Age, relations within the human kingdom and between that kingdom and other kingdoms will be understood in terms of energy dynamics. | 1. Huyền bí học là Khoa Học về Năng Lượng Tinh Tế. Trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, các mối quan hệ trong giới nhân loại và giữa giới ấy với các giới khác sẽ được thấu hiểu theo động lực học năng lượng. |
2. New types of energies are needed by humanity and they must be assimilated. | 2. Nhân loại cần những loại năng lượng mới và phải đồng hóa chúng. |
3. All correct distribution begins with focalization. The groups formulated concentrate the certain qualities of energy which are cultivated for distribution. | 3. Mọi sự phân phối đúng đắn đều bắt đầu từ sự quy tụ vào tiêu điểm. Các nhóm được thiết lập tập trung những phẩm tính năng lượng nhất định, vốn được vun bồi để phân phối. |
4. Master DK was involving Himself with the formation of “focal points”. These focal points had to reach a certain purity, quality and intensity before they could be utilized by Hierarchy in the process of human redemption. | 4. Chân sư DK đã đích thân tham gia việc hình thành những “tiêu điểm”. Những tiêu điểm này phải đạt đến một mức độ thanh khiết, phẩm tính và cường độ nhất định trước khi Thánh đoàn có thể sử dụng chúng trong tiến trình cứu chuộc nhân loại. |
II. They are an experiment in inaugurating certain new techniques in work and in modes of communication. I would point out that in these last three words are summed up the whole story. These groups are intended to facilitate interrelation or communication as follows: | II. Đây là một cuộc thử nghiệm nhằm khởi xướng một số kỹ thuật mới trong công việc và những phương thức giao tiếp. Tôi muốn chỉ ra rằng toàn bộ câu chuyện được tóm lược trong những từ cuối cùng này. Các nhóm này nhằm tạo thuận lợi cho sự liên hệ hay giao tiếp như sau: |
1. The New Age will have its new methods, and largely, they will be group methods. | 1. Kỷ Nguyên Mới sẽ có những phương pháp mới, và phần lớn sẽ là những phương pháp nhóm. |
2. A technique is a means of achievement. Hierarchy has many unsuspected techniques at its disposal, and is now ready to share with humanity some of the less dangerous ones. | 2. Kỹ thuật là một phương tiện để thành tựu. Thánh đoàn có trong tay nhiều kỹ thuật mà nhân loại chưa hề nghĩ tới, và hiện nay sẵn sàng chia sẻ với nhân loại một số kỹ thuật ít nguy hiểm hơn. |
3. DK focuses on the words, “modes of communication”. Hierarchy is characterized by certain modes of communication which allow its membership to achieve unanimity of vision and understanding. The Masters have Their inner ‘television’ and ‘radio’. They are possessed of modes of communication which are immediate and fully revelatory. These modes are subjective and essentially occult. Humanity is now ready to be taught ways of reaching each other that are far superior to anything heretofore possible. | 3. Chân sư DK tập trung vào những từ “các phương thức giao tiếp”. Thánh đoàn có những phương thức giao tiếp đặc trưng, cho phép các thành viên đạt được sự nhất trí trong tầm nhìn và sự thấu hiểu. Các Chân sư có ‘truyền hình’ và ‘truyền thanh’ nội tại của Các Ngài. Các Ngài sở hữu những phương thức giao tiếp tức thời và có khả năng mặc khải trọn vẹn. Những phương thức này mang tính chủ quan và về bản chất là huyền bí. Giờ đây, nhân loại đã sẵn sàng học những cách kết nối với nhau vượt xa bất cứ điều gì trước nay có thể thực hiện. |
4. The result of the correct exercise of these modes of communication will be enhanced relations, leading to Right Human Relations on Earth. Without correct communication there can be no correct relations. | 4. Việc vận dụng đúng đắn những phương thức giao tiếp này sẽ mang lại những mối quan hệ tốt đẹp hơn, dẫn đến những Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người trên Trái Đất. Không có giao tiếp đúng đắn thì không thể có những mối quan hệ đúng đắn. |
5. When studying what is said about the Ten Seed Groups below, it must be remembered that the Tibetan has described these groups in other ways in other references, especially in The Externalisation of the Hierarchy, in an article called The Work of the Seed Groups, beginning p. 46. To gather a more complete idea of what Master DK intended in relation to these groups, this additional study must be undertaken. | 5. Khi nghiên cứu những điều được nói dưới đây về Mười Nhóm Hạt Giống, cần nhớ rằng Chân sư Tây Tạng đã mô tả các nhóm này theo những cách khác trong các tài liệu tham khảo khác, đặc biệt trong Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, ở một bài viết có tên Công Việc của Các Nhóm Hạt Giống, bắt đầu ở tr. 46. Để có được ý niệm đầy đủ hơn về những gì Chân sư DK dự định đối với các nhóm này, cần tiến hành nghiên cứu bổ sung ấy. |
1. There is a group of what we might call Telepathic Communicators. These people are receptive to impression from the Masters and from each other; they are the [36] custodians of group purpose and, therefore, closely related to all the other types of groups. Their work is largely on the mental plane and they work in and with thought matter and with the reception and direction of thought currents. They are also working at the facilitation of communication between individuals so that the rules and methods whereby speech can be transcended may become known and the new way of intercourse be brought about. | 1. Có một nhóm mà chúng ta có thể gọi là Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm. Những người này có khả năng tiếp nhận ấn tượng từ các Chân sư và từ nhau; họ là những [36] người gìn giữ mục đích nhóm, vì vậy có mối liên hệ chặt chẽ với mọi loại nhóm khác. Phần lớn công việc của họ diễn ra trên cõi trí; họ làm việc trong và với vật chất tư tưởng, cũng như tiếp nhận và định hướng các dòng tư tưởng. Họ cũng làm việc để tạo thuận lợi cho sự giao tiếp giữa các cá nhân, nhờ đó các quy luật và phương pháp vượt lên trên lời nói có thể được biết đến, và một phương thức giao tiếp mới có thể hình thành. |
1. The fundamental group is the group of Telepathic Communicators. | 1. Nhóm nền tảng là nhóm Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm. |
2. The source of impression they receive is primarily the Master. Impression from the Solar Angel (“the first Master”) should also be included. | 2. Nguồn ấn tượng mà họ tiếp nhận chủ yếu là Chân sư. Cũng cần kể đến ấn tượng từ Thái dương Thiên Thần (“Chân sư đầu tiên”). |
3. Impression from the Master will always have to do with Ashramic Purpose, and will, therefore, reflect to some degree the Purpose of Hierarchy and, however faintly, of Sanat Kumara | 3. Ấn tượng từ Chân sư luôn liên quan đến Mục Đích của ashram, và do đó sẽ phản ánh ở một mức độ nào đó Mục Đích của Thánh đoàn và, dù rất mờ nhạt, Mục Đích của Sanat Kumara |
4. Members of this group also receive impression from each other, as souls, focussed upon the mental plane. There are many kinds of telepathy, but solar plexus telepathy will not be the focus of the members this group. The soul is to be involved in the transmission. | 4. Các thành viên của nhóm này cũng tiếp nhận ấn tượng từ nhau, với tư cách là những linh hồn, tập trung trên cõi trí. Có nhiều loại viễn cảm, nhưng viễn cảm qua tùng thái dương sẽ không phải là trọng tâm của các thành viên nhóm này. Linh hồn phải tham gia vào sự truyền đạt. |
5. The responsibility of being a custodian of group purpose is onerous. This is a directing group, having much of the first ray. Interestingly, those who formed its membership, had much of the first ray, either in their soul or as the personality ray. Three had minds upon the first ray. Three were focussed in their soul upon the first ray, and one was a first ray personality (Alice Bailey, herself). | 5. Trách nhiệm gìn giữ mục đích của nhóm là một trọng trách. Đây là một nhóm chỉ đạo, mang nhiều năng lượng cung một. Điều đáng chú ý là những người từng là thành viên của nhóm mang nhiều năng lượng cung một, hoặc ở linh hồn, hoặc ở cung phàm ngã. Ba người có thể trí thuộc cung một. Ba người tập trung trong linh hồn thuộc cung một, và một người có phàm ngã cung một (chính Bà Alice Bailey). |
6. Just as the number one is divisible into all other numbers, so this group was related to all the ten Seed Groups. | 6. Cũng như mọi số khác đều chia hết cho số một, nhóm này có liên hệ với cả mười Nhóm hạt giống. |
7. Purpose is essentially a divinely energized pattern of destined relationships. The members of this group and the group as a whole were to be sensitive to the reception and transmission of pattern. | 7. Về bản chất, mục đích là một mô hình các mối quan hệ đã được định sẵn, được tiếp năng lượng thiêng liêng. Các thành viên của nhóm này và toàn thể nhóm phải nhạy cảm với việc tiếp nhận và truyền đạt mô hình. |
8. Their work was largely upon the mental plane, and they had to learn not only to receive but to send. Reception is related to inhalation, and sending to exhalation. | 8. Công việc của họ chủ yếu diễn ra trên cõi trí, và họ phải học không chỉ cách tiếp nhận mà còn cả cách truyền đi. Tiếp nhận liên quan đến hít vào, còn truyền đi liên quan đến thở ra. |
9. The idea of “new modes of communication” applies most particularly to this first group. The transcendence of speech was the goal. One can see that the first and second rays were intended to supersede the third (so intimately connected with the throat center). | 9. Ý tưởng về “những phương thức giao tiếp mới” đặc biệt áp dụng cho nhóm thứ nhất này. Mục tiêu là vượt qua giới hạn của ngôn từ. Có thể thấy rằng cung một và cung hai được dự định sẽ thay thế cung ba (vốn có liên hệ mật thiết với trung tâm cổ họng). |
10. The advantages of the new ways of intercourse which this group was to bring about could be listed as: immediacy, accuracy, intensified impulsion, and congruence with the intended pattern. Perhaps other advantages could be found. | 10. Có thể liệt kê những ưu điểm của các cách thức giao tiếp mới mà nhóm này phải mang lại như sau: tính tức thời, tính chính xác, sức thúc đẩy mạnh hơn, và sự phù hợp với mô hình dự định. Có lẽ còn có thể tìm thấy những ưu điểm khác. |
Communication will eventually be: | Cuối cùng, sự giao tiếp sẽ là: |
a. Soul to soul on the higher levels of the mental plane. This involves complete alignment, so that soul-mind-brain are completely at-one. | a. Từ linh hồn đến linh hồn trên những cấp độ cao của cõi trí. Điều này đòi hỏi sự chỉnh hợp hoàn toàn, để linh hồn–thể trí–bộ não hoàn toàn hợp nhất. |
1. This is a high form of telepathy. | 1. Đây là một hình thức viễn cảm cao cấp. |
2. It could be called “spiritual telepathy” because the soul is involved. | 2. Có thể gọi đây là “viễn cảm tinh thần” vì có sự tham gia của linh hồn. |
3. Such telepathy will carry the conviction of unity, a soul realization. | 3. Viễn cảm như thế sẽ mang lại niềm xác tín về sự hợp nhất, một chứng nghiệm của linh hồn. |
4. For most disciples, soul, mind and brain are, from time to time, fleetingly at-one. A steady and reliable alignment of all three is here needed if soul to soul telepathy is to become a reality. | 4. Đối với phần lớn đệ tử, linh hồn, thể trí và bộ não thỉnh thoảng hợp nhất trong thoáng chốc. Ở đây cần có sự chỉnh hợp ổn định và đáng tin cậy của cả ba nếu viễn cảm từ linh hồn đến linh hồn muốn trở thành hiện thực. |
5. We can understand that the Law of Magnetic Impulse would be related to this form of telepathy. This Soul Law (the Law of Polar Union, occultly called), involved the relation between the crown and ajna centers. | 5. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng Định luật Xung Động Từ Tính có liên quan đến hình thức viễn cảm này. Định Luật Linh Hồn này (theo cách gọi huyền bí là Định luật Hợp Nhất Các Cực) liên quan đến mối quan hệ giữa trung tâm đỉnh đầu và trung tâm ajna. |
6. Clearly, all parties concerned would possess soul-mind-brain alignment, otherwise transmission of this kind is not possible. | 6. Rõ ràng, tất cả các bên tham gia đều phải có sự chỉnh hợp linh hồn–thể trí–bộ não, nếu không thì sự truyền đạt loại này không thể diễn ra. |
7. The attempt to think the kinds of thoughts impulsed by the Solar Angel, will promote this kind of telepathy. Thoughts about the personal self will not be useful. | 7. Nỗ lực suy nghĩ những loại tư tưởng do Thái dương Thiên Thần thúc đẩy sẽ phát triển loại viễn cảm này. Những tư tưởng về bản ngã cá nhân sẽ không hữu ích. |
b. Mind to mind on the lower levels of the mental plane. This involves the complete integration of the personality or lower self, so that mind and brain are at-one. | b. Từ thể trí đến thể trí trên những cấp độ thấp của cõi trí. Điều này đòi hỏi sự tích hợp hoàn toàn của phàm nhân hay phàm ngã, để thể trí và bộ não hợp nhất. |
1. This is a lower form of telepathy than the first variety. | 1. Đây là một hình thức viễn cảm thấp hơn loại thứ nhất. |
2. It occurs within the strictly human realm and may be spiritual or not, depending upon the quality of the personality concerned. | 2. Nó diễn ra hoàn toàn trong phạm vi nhân loại và có thể mang tính tinh thần hoặc không, tùy theo phẩm tính của phàm ngã liên quan. |
3. A relatively high degree of advancement is required for success with this form of telepathy, for the transmitters and receivers must be integrated personalities. The antahkarana need not, however, be built. The focus is within the mental unit, and the ajna center may be quite sufficient as in instrument without the involvement of the crown. | 3. Muốn thành công với hình thức viễn cảm này cần có trình độ phát triển tương đối cao, vì người truyền và người nhận phải là những phàm ngã tích hợp. Tuy nhiên, không nhất thiết phải xây dựng antahkarana. Trọng tâm nằm trong đơn vị hạ trí, và trung tâm ajna có thể hoàn toàn đủ làm công cụ mà không cần sự tham gia của trung tâm đỉnh đầu. |
Disciples must remember these two distinctive contacts and bear in mind also that the greater contact need not necessarily include the lesser. Telepathic communication between the different aspects of the human being is entirely possible at varying stages of unfoldment. | Các đệ tử phải ghi nhớ hai sự tiếp xúc khác biệt này, đồng thời cũng phải nhớ rằng sự tiếp xúc lớn hơn không nhất thiết bao hàm sự tiếp xúc nhỏ hơn. Giao tiếp viễn cảm giữa những phương diện khác nhau của con người hoàn toàn có thể xảy ra ở những giai đoạn khai mở khác nhau. |
1. DK offers an interesting thought — “the greater contact need not necessarily include the lesser”, though it may. The reverse is, obviously, also true. Facility with telepathy does not necessarily indicate high soul achievement. Solar plexus telepathy (and perhaps sacral center telepathy) may occur at an early stage of development. | 1. Chân sư DK đưa ra một tư tưởng đáng chú ý — “sự tiếp xúc cao hơn không nhất thiết bao hàm sự tiếp xúc thấp hơn”, dù có thể bao hàm. Hiển nhiên, điều ngược lại cũng đúng. Sự thành thạo về viễn cảm không nhất thiết cho thấy thành tựu cao của linh hồn. Viễn cảm qua tùng thái dương (và có lẽ cả viễn cảm qua trung tâm xương cùng) có thể diễn ra ở một giai đoạn phát triển ban đầu. |
2. Perhaps mating rituals (even in the animal kingdom) are indications of sacral-telepathy. The relation of mother and child may be considered of a solar plexus variety. Heart-to-heart telepathy must also be possible, and may indicate soul contact, for the heart is a group-conscious organ. | 2. Có lẽ những nghi thức giao phối (ngay cả trong giới động vật) là những dấu hiệu của viễn cảm qua trung tâm xương cùng. Mối quan hệ giữa mẹ và con có thể được xem là thuộc loại viễn cảm qua tùng thái dương. Viễn cảm từ tim đến tim hẳn cũng có thể diễn ra, và có thể cho thấy sự tiếp xúc với linh hồn, vì tim là một cơ quan có tâm thức nhóm. |
3. The whole matter needs to be studied systematically as the constitution of man (described by occultists) becomes more widely understood. | 3. Toàn bộ vấn đề cần được nghiên cứu một cách có hệ thống khi cấu tạo của con người (như các nhà huyền bí học mô tả) ngày càng được thấu hiểu rộng rãi hơn. |
2. Another group is that of the Trained Observers. Their objective is to see clearly through all events, through space and time by means of the cultivation and use of the intuition. They work very largely on the astral plane at the dissipation of glamour, thus bringing in illumination to mankind. Thus another type of energy is brought into play, producing another type of inter-relation and communication. This communication is between the plane which is the plane of illumination and pure reason (the buddhic plane) and the plane of illusion and glamour, which is the astral plane. The Trained Observers are asked to remember that their great task is to dispel the world illusion through the pouring in of light. When there are a sufficient number of groups, working along these lines, there will be found — upon the physical plane — certain channels of communication which will act as the mediators between the world of light and the world [37] of illusion. They will be transmitters of that form of energy which will break up the existing glamours and illusions, and so dissipate the ancient deceptive thoughtforms. They will release the light and peace which will illumine the astral plane and dispel the illusory nature of its life. | 2. Một nhóm khác là nhóm Các Nhà Quan Sát Lão Luyện. Mục tiêu của họ là nhìn thấu mọi sự kiện, xuyên qua không gian và thời gian, bằng cách vun bồi và sử dụng trực giác. Họ làm việc chủ yếu trên cõi cảm dục để làm tiêu tan ảo cảm, qua đó mang sự soi sáng đến cho nhân loại. Như vậy, một loại năng lượng khác được đưa vào hoạt động, tạo ra một loại liên hệ và giao tiếp khác. Đây là sự giao tiếp giữa cõi soi sáng và lý trí thuần khiết, tức cõi Bồ đề, với cõi ảo tưởng và ảo cảm, tức cõi cảm dục. Các Nhà Quan Sát Lão Luyện được yêu cầu ghi nhớ rằng nhiệm vụ lớn lao của họ là xua tan ảo tưởng thế giới bằng cách đưa ánh sáng tuôn vào. Khi có đủ số nhóm làm việc theo những đường hướng này, trên cõi hồng trần sẽ xuất hiện một số kênh giao tiếp đóng vai trò trung gian giữa thế giới ánh sáng và thế giới [37] ảo tưởng. Họ sẽ truyền dẫn dạng năng lượng phá vỡ những ảo cảm và ảo tưởng hiện có, qua đó làm tiêu tan những hình tư tưởng lừa dối có từ lâu đời. Họ sẽ giải phóng ánh sáng và sự bình an để soi sáng cõi cảm dục và xua tan bản chất hư ảo trong sự sống của cõi ấy. |
1. This Seed Group requires the cultivation of an occult sense of sight. Intuition is a high expression of this sense (though it may also be related to the sense of taste). | 1. Nhóm hạt giống này đòi hỏi việc trau dồi thị giác huyền bí. Trực giác là một biểu hiện cao của giác quan này (dù nó cũng có thể liên quan đến vị giác). |
2. How does one “see through” all events and through time and space by using the intuition? The question invites contemplation. | 2. Làm thế nào để “nhìn thấu” mọi sự kiện và xuyên qua thời gian cùng không gian bằng trực giác? Câu hỏi này mời gọi sự chiêm ngưỡng. |
3. Events, time and space are all aspects of the Great Illusion. They are related to the Third Aspect of Divinity, rather than the second (to which sight and intuition are related). | 3. Các sự kiện, thời gian và không gian đều là những phương diện của Ảo Tưởng Vĩ Đại. Chúng liên quan đến Phương Diện Thứ Ba của Thiên Tính, hơn là phương diện thứ hai (vốn liên quan đến thị giác và trực giác). |
4. To “see through” means to see into the world of causes lying behind apparencies. Thus to see, is to avoid being deluded or misled by the obvious. It requires a penetrating ‘vision’ and a highly cultivated “esoteric sense”. | 4. Việc “nhìn thấu” có nghĩa là nhìn vào thế giới nguyên nhân nằm sau những vẻ ngoài. Nhìn như thế là tránh bị những gì hiển hiện trước mắt đánh lừa hoặc dẫn sai đường. Điều này đòi hỏi một ‘tầm nhìn’ xuyên thấu và một “giác quan nội môn” được trau dồi cao độ. |
5. Obviously, some type of buddhic connection is required of the Trained Observers, for buddhi is necessitated in the dispelling of illusion. Time and space are categories of illusion. Time and space present to the consciousness many forms. The Trained Observers see the quality behind and within the forms, as well as the purpose, significance and meaning of those forms. They are equipped to know whether forms faithfully reflect a higher archetype or are distortions of such archetypes, or have no relation at all to the foundational archetypes. | 5. Hiển nhiên, Các Nhà Quan Sát Lão Luyện cần có một dạng kết nối nào đó với cõi Bồ đề, vì việc xua tan ảo tưởng đòi hỏi Bồ đề. Thời gian và không gian là những phạm trù của ảo tưởng. Thời gian và không gian trình hiện trước tâm thức nhiều hình tướng. Các Nhà Quan Sát Lão Luyện nhìn thấy phẩm tính đằng sau và bên trong các hình tướng, cũng như mục đích, thâm nghĩa và ý nghĩa của những hình tướng ấy. Họ có khả năng nhận biết liệu các hình tướng có phản ánh trung thực một nguyên mẫu cao hơn, hay là những biến dạng của các nguyên mẫu ấy, hoặc hoàn toàn không có liên hệ với những nguyên mẫu nền tảng. |
6. A deep sense of archetypal attunement (buddhically induced) is necessary for the Trained Observers, for they must have a ‘feel for distortion’. They must know the archetype to which the distortion is related, and have the ability to re-attune an aberrant form to the archetype it is meant to reflect — or, if that is impossible, to destroy the aberrant form. | 6. Các Nhà Quan Sát Lão Luyện cần có một cảm thức sâu sắc về sự hòa điệu với nguyên mẫu (do Bồ đề khơi dậy), vì họ phải có ‘khả năng cảm nhận sự méo lệch’. Họ phải biết nguyên mẫu mà sự méo lệch ấy có liên hệ, và có khả năng đưa một hình tướng sai lệch trở lại hòa điệu với nguyên mẫu mà nó phải phản ánh — hoặc, nếu điều đó không thể thực hiện, thì hủy bỏ hình tướng sai lệch ấy. |
7. When working with human beings, they must be able to see through a glamorous or illusory presentation of self, to the pattern which the self is meant to embody. Always, they see beyond and through the obvious. | 7. Khi làm việc với con người, họ phải có khả năng nhìn xuyên qua cách biểu hiện bản thân đầy ảo cảm hoặc ảo tưởng để thấy mô hình mà bản ngã ấy phải hiện thân. Họ luôn nhìn vượt ra ngoài và xuyên qua những gì hiển hiện trước mắt. |
8. We can understand how Neptune and Pluto would both be useful to such group members, and Venus, with its luminous clarity, as well. | 8. Chúng ta có thể thấu hiểu cả Sao Hải Vương lẫn Sao Diêm Vương hữu ích như thế nào đối với những thành viên nhóm này, và cả Sao Kim với sự trong sáng rạng ngời của nó cũng vậy. |
9. Members of this group know how to wield the light, and they can easily detect the glamorous and illusory forms in relation to which the light has to be wielded. They have a strong sense of the ‘beauty within’ and learn the techniques of restoring beauty — reintroducing that beauty into all false presentations of itself. | 9. Các thành viên của nhóm này biết cách vận dụng ánh sáng, và họ có thể dễ dàng nhận ra những hình tướng ảo cảm và ảo tưởng cần đến sự vận dụng ánh sáng. Họ có cảm thức mạnh mẽ về ‘vẻ đẹp bên trong’ và học những kỹ thuật khôi phục vẻ đẹp — đưa vẻ đẹp ấy trở lại mọi cách biểu hiện sai lạc của nó. |
10. The buddhic plane is the plane of pure reason, and it has a special relation to the astral plane. Neptune, interestingly, is involved in relation to both planes, promoting illusion on the astral plane and identificatory, intuitive clarification on the buddhic. | 10. Cõi Bồ đề là cõi của lý trí thuần khiết, và có một mối quan hệ đặc biệt với cõi cảm dục. Điều đáng chú ý là Sao Hải Vương có liên quan đến cả hai cõi, thúc đẩy ảo tưởng trên cõi cảm dục và sự sáng tỏ nhờ đồng hóa và trực giác trên cõi Bồ đề. |
11. The buddhic plane is considered the “world of light” and the astral plane, in general, the “world of illusion”. The task of the mediators between these two planes is to ‘reconfigure’ the astral plane so that it reflects, without distortion or excessive refraction, the ideational nature of the buddhic plane. | 11. Cõi Bồ đề được xem là “thế giới ánh sáng” và nhìn chung, cõi cảm dục là “thế giới ảo tưởng”. Nhiệm vụ của những người trung gian giữa hai cõi này là ‘tái cấu trúc’ cõi cảm dục để nó phản ánh bản chất ý tưởng của cõi Bồ đề mà không bị méo lệch hay khúc xạ quá mức. |
12. The astral plane is the plane of what we might call ‘false magnetisms’. Due to the energies and forces of that plane, the valueless is valued and the valuable is not sought. On the buddhic plane (of harmony), all values are rightly and beautifully adjusted and magnetism is devoid “wrong allure” — so common a condition on the astral plane. Therefore, relations are as God intended them to be. | 12. Cõi cảm dục là cõi của những gì chúng ta có thể gọi là ‘những từ điện sai lạc’. Do các năng lượng và mãnh lực của cõi ấy, những gì vô giá trị lại được coi trọng, còn những gì có giá trị thì không được tìm kiếm. Trên cõi Bồ đề (cõi của sự hài hòa), mọi giá trị đều được điều chỉnh đúng đắn và đẹp đẽ, và từ điện không có “sức quyến rũ sai lạc” — một tình trạng rất phổ biến trên cõi cảm dục. Do đó, các mối quan hệ diễn ra đúng như Thượng đế dự định. |
13. Members of this group are sensitive to the aesthetics of the Divine Pattern, and are ‘at peace with the buddhically reflected Pattern of the Plan’. They are sensitive to all magnetic distortions of this Pattern and understand the method of bringing right magnetism (the magnetism of love or pure reason) to the astral plane, which plane, in effect disappears, becoming the reflection of the buddhic level. | 13. Các thành viên của nhóm này nhạy cảm với vẻ đẹp của Mô Hình Thiêng Liêng, và ‘an hòa với Mô Hình của Thiên Cơ được phản chiếu qua Bồ đề’. Họ nhạy cảm với mọi méo lệch về từ điện của Mô Hình này và thấu hiểu phương pháp đưa từ điện đúng đắn (từ điện của tình thương hay lý trí thuần khiết) vào cõi cảm dục; cõi này thực sự biến mất, trở thành sự phản chiếu của cấp độ Bồ đề. |
14. Theirs is a tremendous task and may not be fully undertaken before several centuries have elapsed. They will be engaged in one aspect of the cleansing of the Augean Stables — the psychological aspect of this cleansing. | 14. Nhiệm vụ của họ vô cùng lớn lao và có lẽ phải qua vài thế kỷ nữa mới có thể được đảm nhận trọn vẹn. Họ sẽ tham gia vào một phương diện của việc dọn sạch chuồng ngựa Augeas — phương diện tâm lý của công cuộc thanh tẩy này. |
15. Today, those who are cultivating a discerning sensitivity to glamor and illusion are qualifying themselves to be members of this kind of group. We note that quite a number of groups of this kind must at length appear. | 15. Ngày nay, những người đang trau dồi sự nhạy cảm có khả năng phân biện đối với ảo cảm và ảo tưởng đang tự chuẩn bị đủ tư cách để trở thành thành viên của loại nhóm này. Chúng ta lưu ý rằng cuối cùng phải xuất hiện khá nhiều nhóm thuộc loại này. |
16. They will, to a degree, wield a particular energy of destruction, contributing to the breaking up of existing glamors and illusions and the dissipation of “ancient deceptive thoughtforms”. Their ability to ‘see the true’ will contribute to their power to destroy. They will be possessed of the power to disorganize distorted forms through the application of light. They will also vitiate such forms by asserting the presence of better and more wholesome forms into which the energy trapped in the false forms which will directed (once released and purified). | 16. Ở một mức độ nào đó, họ sẽ vận dụng một năng lượng hủy diệt đặc thù, góp phần phá tan những ảo cảm và ảo tưởng hiện hữu và làm tiêu tan “những hình tư tưởng lừa dối từ xa xưa”. Khả năng ‘thấy điều chân thật’ sẽ góp phần vào quyền năng hủy diệt của họ. Họ sẽ có quyền năng làm tan rã những hình tướng méo lệch thông qua việc áp dụng ánh sáng. Họ cũng sẽ làm suy yếu những hình tướng ấy bằng cách xác lập sự hiện diện của những hình tướng tốt đẹp và lành mạnh hơn, mà năng lượng bị giam giữ trong các hình tướng sai lạc sẽ được hướng vào đó (một khi đã được giải phóng và thanh lọc). |
17. It is clear that workers in this field must be free from glamor and illusion themselves if they are to avoid the pitfalls of strengthening their own glamors and illusions. One must resonate to the true before one can be effective in disorganizing, destroying and replacing that which misrepresents the true. | 17. Rõ ràng, chính những người hoạt động trong lĩnh vực này phải thoát khỏi ảo cảm và ảo tưởng nếu muốn tránh cạm bẫy củng cố những ảo cảm và ảo tưởng của chính mình. Mỗi người phải cộng hưởng với điều chân thật trước khi có thể làm tan rã, hủy bỏ và thay thế một cách hiệu quả những gì trình bày sai lệch điều chân thật. |
18. The methods used will be most occult and some of them are offered in the book, Glamor: A World Problem | 18. Những phương pháp được sử dụng sẽ mang tính huyền bí sâu sắc, và một số phương pháp được trình bày trong cuốn Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới |
19. These workers will release “light and peace”, illuminating the astral plane and dissipating the illusory nature of its life. It is clear that such workers should have achieved at least the second initiation, at which time the attainment of an illumined mind and spiritual intelligence are confirmed, otherwise they could not access the necessary light. | 19. Những người hoạt động này sẽ giải phóng “ánh sáng và sự bình an”, soi sáng cõi cảm dục và làm tiêu tan bản chất ảo tưởng của sự sống nơi đó. Rõ ràng, những người hoạt động như thế phải đạt ít nhất lần điểm đạo thứ hai, khi việc đạt được một thể trí được soi sáng và trí thông minh tinh thần được xác nhận; nếu không, họ không thể tiếp cận ánh sáng cần thiết. |
20. Peace is related to harmony and to the buddhic plane. Ultimately it is related to Shamballa and the monad. The turmoil of desire which, under Mars, usually characterizes the astral plane is subdued and the energy of harmonizing, illuminating, placating Venus is applied. Divisiveness based on wrong perception is reduced. Peace is based upon the right and proportionate expression of True Patterns (found within the monad). Access to the buddhic plane of pure reason is a form of initial alignment with the monadic plane whereon the ‘Original Patterns of Peace’ can be found. | 20. Sự bình an liên quan đến sự hài hòa và cõi Bồ đề. Xét đến cùng, nó liên quan đến Shamballa và chân thần. Sự náo động của dục vọng, vốn thường là đặc trưng của cõi cảm dục dưới ảnh hưởng của Sao Hỏa, được làm dịu xuống, và năng lượng của Sao Kim mang tính hài hòa, soi sáng và xoa dịu được áp dụng. Sự chia rẽ dựa trên nhận thức sai lầm giảm bớt. Sự bình an dựa trên sự biểu hiện đúng đắn và cân xứng của những Mô Hình Chân Thật (nằm trong chân thần). Việc tiếp cận cõi Bồ đề của lý trí thuần khiết là một hình thức chỉnh hợp ban đầu với cõi chân thần, nơi có thể tìm thấy ‘Những Mô Hình Nguyên Thủy của Sự Bình An’. |
21. Every sort of astrological energy may have its application in this process, but one thinks of Libra, as agent of peace and of ‘proportional vision’, ideal for the overcoming of glamor. The illumination of Taurus (“Mother of Illumination” and second sign associated with the second initiation) is also exceedingly useful. Vulcan smashes wrongly conceived and sustained astral and mental forms, and forges new ones illustrative of truer patterns. Mercury senses discrepancies and unravels the skeins of glamor and illusion. Venus shines its potent light into the dense fog, and Neptune dissolves the cables of wrong magnetism. Pluto steals the wrongly bound energy. Uranus reveals the archetype behind the illusion. Saturn binds anew according to law. | 21. Mọi loại năng lượng chiêm tinh đều có thể được ứng dụng trong tiến trình này, nhưng người ta nghĩ đến Thiên Bình như tác nhân của sự bình an và của ‘tầm nhìn cân xứng’, lý tưởng cho việc khắc phục ảo cảm. Sự soi sáng của Kim Ngưu (“Mẹ của Sự Soi Sáng” và là dấu hiệu thứ hai, gắn với lần điểm đạo thứ hai) cũng vô cùng hữu ích. Vulcan đập tan những hình tướng cảm dục và trí tuệ được quan niệm và duy trì sai lạc, đồng thời rèn nên những hình tướng mới thể hiện các mô hình chân thật hơn. Sao Thủy cảm nhận những điều bất tương hợp và gỡ rối những cuộn sợi ảo cảm và ảo tưởng. Sao Kim chiếu ánh sáng mạnh mẽ vào màn sương mù đậm đặc, và Sao Hải Vương làm tan những dây cáp của từ điện sai lạc. Sao Diêm Vương lấy đi năng lượng bị ràng buộc sai lạc. Sao Thiên Vương mặc khải nguyên mẫu đằng sau ảo tưởng. Sao Thổ tái lập những ràng buộc theo định luật. |
3. The third group is that of the Magnetic Healers. These healers have no relation to the work of the so-called magnetic healers of today. They work intelligently with the vital forces of the etheric body. Much of their work is dealt with in the fourth volume of A Treatise on the Seven Rays. This group of healers must bring about the right healing of the personalities of individuals in all aspects of their nature. The work to be done is that of the intelligent transmission of energy to various parts of the nature — mental, emotional and physical — through the right organisation and circulation of force. Present day healers should endeavour to break loose from the modern and traditional ideas as to healing; they should recognise the stupendous fact that healing must eventually be carried forward by groups which will act as the intermediaries between the plane of spiritual energy (either soul energy, intuitional energy or will energy) and the patient or group of patients. Note this last point. The group idea must always be remembered by the students as they work; they must not work as individuals but as units in a coherent whole. This will distinguish the New Age methods from the past, for the work will be group work and, usually, for a group. Magnetic healers must learn to work as souls and not as individuals. They must learn to communicate healing energy from the reservoir of living force to the patient or patients. | 3. Nhóm thứ ba là nhóm Các Nhà Trị Liệu Từ Tính. Những nhà trị liệu này không có liên hệ với công việc của những người ngày nay được gọi là nhà trị liệu từ tính. Họ làm việc một cách sáng suốt với các mãnh lực sinh lực của thể dĩ thái. Phần lớn công việc của họ được bàn đến trong quyển thứ tư của bộ Luận về Bảy Cung. Nhóm trị liệu này phải mang lại sự chữa lành đúng đắn cho phàm ngã của từng cá nhân trong mọi phương diện bản chất của họ. Công việc cần thực hiện là truyền dẫn năng lượng một cách sáng suốt đến những phần khác nhau của bản chất—trí tuệ, cảm xúc và hồng trần—thông qua việc tổ chức và lưu chuyển mãnh lực đúng đắn. Những nhà trị liệu hiện nay nên cố gắng thoát khỏi các quan niệm hiện đại và truyền thống về chữa lành; họ nên nhận ra một sự thật lớn lao rằng cuối cùng công việc chữa lành phải do các nhóm đảm nhiệm, đóng vai trò trung gian giữa cõi năng lượng tinh thần—dù là năng lượng linh hồn, năng lượng trực giác hay năng lượng ý chí—và bệnh nhân hoặc nhóm bệnh nhân. Hãy lưu ý điểm cuối cùng này. Khi làm việc, các đạo sinh phải luôn ghi nhớ ý tưởng nhóm; họ không được làm việc với tư cách những cá nhân, mà với tư cách những đơn vị trong một toàn thể cố kết. Điều này sẽ phân biệt các phương pháp của Kỷ Nguyên Mới với những phương pháp trong quá khứ, vì công việc sẽ là công việc nhóm và thường dành cho một nhóm. Các nhà trị liệu từ tính phải học cách làm việc với tư cách những linh hồn thay vì những cá nhân. Họ phải học cách truyền năng lượng chữa lành từ kho mãnh lực sống động đến bệnh nhân hay các bệnh nhân. |
1. The Tibetan draws a sharp distinction between the true Magnetic Healers and those known as magnetic healers today. The implication is that modern, so-called magnetic healers do not work intelligently and are ignorant of the forces of the etheric body. | 1. Chân sư Tây Tạng phân biệt rõ ràng giữa Các Nhà Trị Liệu Từ Tính chân chính và những người ngày nay được gọi là nhà trị liệu từ tính. Hàm ý ở đây là những người hiện nay được gọi là nhà trị liệu từ tính không làm việc một cách thông minh và không biết gì về các mãnh lực của thể dĩ thái. |
2. In the book Esoteric Healing, the Tibetan indicates that there are Radiatory Healers as well as Magnetic Healers. Both techniques — magnetic and radiatory — are needed by the true esoteric healer. Perhaps for the sake of brevity, both types of healers are listed under the name of “Magnetic Healers”. | 2. Trong cuốn Trị Liệu Huyền Môn, Chân sư Tây Tạng cho biết có Các Nhà Trị Liệu Bức Xạ cũng như Các Nhà Trị Liệu Từ Tính. Nhà trị liệu nội môn chân chính cần cả hai kỹ thuật — từ tính và bức xạ. Có lẽ để ngắn gọn, cả hai loại nhà trị liệu đều được xếp dưới tên gọi “Các Nhà Trị Liệu Từ Tính”. |
3. We note that Magnetic Healers deal with all aspects of the personality, and not just the physical body and vital body. | 3. Chúng ta lưu ý rằng Các Nhà Trị Liệu Từ Tính làm việc với mọi phương diện của phàm ngã, chứ không chỉ với thể xác và thể sinh lực. |
4. Again, the term “intelligent” is used, when describing the type of transmission of energies for which such healers are responsible. Their task is rightly to transmit, organize and circulate the various healing forces. The forces are directed to the mental, emotional and physical natures depending upon the need of the patient or group of patients. These considerations immediately expand the concept of the scope of esoteric healing. | 4. Một lần nữa, thuật ngữ “thông minh” được dùng khi mô tả loại hình truyền dẫn năng lượng mà những nhà trị liệu ấy đảm trách. Nhiệm vụ của họ là truyền dẫn, tổ chức và lưu chuyển đúng cách các mãnh lực trị liệu khác nhau. Các mãnh lực này được hướng đến bản chất trí tuệ, cảm xúc và hồng trần tùy theo nhu cầu của bệnh nhân hoặc nhóm bệnh nhân. Những điều này lập tức mở rộng quan niệm về phạm vi của trị liệu huyền môn. |
5. The contemporary healer is encouraged to break loose from both modern and traditional ideas concerning the nature of healing. | 5. Nhà trị liệu đương đại được khuyến khích thoát khỏi cả những ý tưởng hiện đại lẫn truyền thống về bản chất của việc trị liệu. |
6. The group idea is emphasized. Not only will individual healers heal individuals and perhaps groups of individuals, but groups of individuals will heal other groups, as well as individuals. There are four such modes by which relations between healers and patients may be organized. | 6. Điều được nhấn mạnh là ý tưởng nhóm này. Không chỉ các nhà trị liệu riêng lẻ chữa lành cho từng cá nhân và có lẽ cả các nhóm cá nhân, mà các nhóm cá nhân cũng sẽ chữa lành cho những nhóm khác cũng như cho từng cá nhân. Có bốn phương thức như thế để tổ chức mối quan hệ giữa các nhà trị liệu và bệnh nhân. |
7. We note that the healer will have access to what DK calls the plane of spiritual energy, and will be an intermediary between the energy there found and those who may be in need of that energy. | 7. Chúng ta lưu ý rằng nhà trị liệu sẽ tiếp cận được điều mà Chân sư DK gọi là cõi năng lượng tinh thần, và sẽ làm trung gian giữa năng lượng hiện hữu ở đó với những người có thể đang cần năng lượng ấy. |
8. It becomes clear that when the Master speaks of the “plane” of spiritual energy, He is referring to more than one such plane, for soul energy, intuitional energy and will energy may all be accessed. | 8. Rõ ràng là khi Chân sư nói đến “cõi” năng lượng tinh thần, Ngài đang đề cập đến nhiều hơn một cõi như thế, vì có thể tiếp cận cả năng lượng linh hồn, năng lượng trực giác và năng lượng ý chí. |
9. These three kinds of energy may technically be found within the Egoic Lotus on the higher mental plane, but their true sources are three planes of the Spiritual Triad — the manasic (especially the highest subplane), the buddhic and the atmic. | 9. Về mặt chuyên môn, có thể tìm thấy ba loại năng lượng này trong Hoa Sen Chân Ngã trên cõi thượng trí, nhưng nguồn cội thực sự của chúng là ba cõi của Tam Nguyên Tinh Thần — cõi manas (đặc biệt là cõi phụ cao nhất), cõi Bồ đề và cõi atma. |
10. Hence, we understand that the true esoteric healer will have built the antahkarana and will be accessing the energies of the Spiritual Triad in the healing process. These are the energies which are modified and transmitted through the Egoic Lotus, or which can be directly accessed via the antahkarana. | 10. Do đó, chúng ta thấu hiểu rằng nhà trị liệu huyền môn đích thực sẽ phải xây dựng được antahkarana và sẽ tiếp cận các năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần trong tiến trình trị liệu. Đây là những năng lượng được biến đổi và truyền dẫn qua Hoa Sen Chân Ngã, hoặc có thể được tiếp cận trực tiếp qua antahkarana. |
11. We might ask ourselves how such high spiritual energies can heal problems within the personality, but we must remember that there are psychological deficiencies which only the energies of the higher mind, the intuition and the will can rehabilitate. Fallibilities exist in each of these three areas, and for the higher types of patients or groups of patients, perhaps access to such higher energies is necessary for a higher type of healing. The energies of the Spiritual Triad will not be necessary for all kinds of healing. | 11. Chúng ta có thể tự hỏi những năng lượng tinh thần cao như thế làm sao có thể chữa lành các vấn đề trong phàm ngã, nhưng phải nhớ rằng có những khiếm khuyết tâm lý mà chỉ các năng lượng của thượng trí, trực giác và ý chí mới có thể khắc phục. Mỗi lĩnh vực trong ba lĩnh vực này đều có những bất toàn, và đối với những bệnh nhân hoặc nhóm bệnh nhân thuộc loại cao hơn, có lẽ cần tiếp cận những năng lượng cao hơn như thế để thực hiện một loại hình trị liệu cao hơn. Các năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần sẽ không cần thiết cho mọi loại hình trị liệu. |
12. The Spiritual Triad, however, is focussed within what can be understood as the “higher ethers” of the human energy system; these are cosmic etheric ethers, having a direct connection with the ethers of the etheric-physical plane. When the lower ethers are rightly directed and manipulated, they carry with them a resonance to their higher etheric sources and a resonant interplay between the two levels becomes possible. | 12. Tuy nhiên, Tam Nguyên Tinh Thần tập trung trong những gì có thể được hiểu là “các dĩ thái cao hơn” của hệ thống năng lượng con người; đây là những dĩ thái thuộc dĩ thái vũ trụ, có liên hệ trực tiếp với các dĩ thái của cõi hồng trần–dĩ thái. Khi các dĩ thái thấp hơn được điều hướng và vận dụng đúng cách, chúng mang theo sự cộng hưởng với những nguồn dĩ thái cao hơn của mình, và sự tương tác cộng hưởng giữa hai cấp độ trở nên khả thi. |
13. When we consider the group work to be done by esoteric healers, we come to understand that unless they can learn to identify as a group, rather than as separate individuals (even if in group formation), they cannot achieve the kind of healing capacity desired. It is obvious, then, that a considerable degree of soul-infusion is required of the true esoteric healer, otherwise group-identification will not be possible. | 13. Khi xem xét công việc nhóm mà các nhà trị liệu huyền môn phải thực hiện, chúng ta đi đến chỗ thấu hiểu rằng trừ khi họ có thể học cách đồng hoá với nhau như một nhóm, thay vì như những cá nhân riêng biệt (ngay cả khi tập hợp thành nhóm), họ không thể đạt được năng lực trị liệu mong muốn. Vì vậy, rõ ràng nhà trị liệu huyền môn đích thực cần được linh hồn thấm nhuần ở một mức độ đáng kể; nếu không, việc đồng hoá với nhóm sẽ không thể thực hiện được. |
14. The true Magnetic Healer will work as a soul. What does this mean? That the identification with soul and as soul will be appreciable. Such healers will work suffused by a sense of harmonious unity, and they will be instruments are harmonization. Their task is to reduce dissonance within the individual or group system they attempt to heal, thus they, themselves, must be reasonably harmonized (individually and as a group). | 14. Nhà Trị Liệu Từ Tính đích thực sẽ làm việc như một linh hồn. Điều này có nghĩa gì? Nghĩa là sự đồng hoá với linh hồn và như linh hồn sẽ đạt đến mức rõ rệt. Những nhà trị liệu ấy sẽ làm việc trong cảm thức thấm đẫm sự hợp nhất hài hòa, và họ sẽ là những khí cụ tạo sự hài hòa. Nhiệm vụ của họ là giảm bớt sự bất hòa trong hệ thống của cá nhân hoặc nhóm mà họ cố gắng chữa lành; vì vậy, chính họ phải đạt được sự hài hòa ở mức tương đối (về mặt cá nhân cũng như với tư cách một nhóm). |
15. We can understand that the true esoteric healer must be purged of egoism, otherwise he/she could only work as an individual and not identified as soul and group. The selflessness of the true Radiatory Healer must be considerable. | 15. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng nhà trị liệu huyền môn đích thực phải loại bỏ tính vị kỷ; nếu không, người ấy chỉ có thể làm việc như một cá nhân, chứ không đồng hoá với linh hồn và nhóm. Nhà Trị Liệu Bức Xạ đích thực phải có lòng vị tha đáng kể. |
16. There is, the Tibetan informs us, “a reservoir of living force”. This may be etheric in nature, or it may be etheric in a higher sense. The true Radiatory Healer has eliminated all blockages within himself/herself to the inflow of such vital and vitalizing force. Within the individual or group system of the individual or group adept at Radiatory Healing, the Divine Circulatory Flow is unimpeded, and, thus, no blockage within the individual or group system will prevent access to the reservoir. | 16. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng có “một kho dự trữ mãnh lực sống động”. Kho này có thể mang bản chất dĩ thái, hoặc có thể là dĩ thái theo một ý nghĩa cao hơn. Nhà Trị Liệu Bức Xạ đích thực đã loại bỏ mọi chướng ngại trong bản thân đối với dòng chảy vào của mãnh lực sống động và tiếp sinh lực ấy. Trong hệ thống cá nhân hoặc nhóm của người hay nhóm thành thạo về Trị Liệu Bức Xạ, Dòng Lưu Chuyển Thiêng Liêng không bị cản trở; do đó, không có chướng ngại nào trong hệ thống cá nhân hoặc nhóm ngăn cản việc tiếp cận kho dự trữ ấy. |
17. A very great cleansing is thus required of such individuals and groups. | 17. Do đó, những cá nhân và nhóm ấy cần trải qua một sự thanh lọc rất lớn. |
18. Pluto must surely do its cleansing work. Vulcan must empower. Jupiter must relate to the source of abundant vitality and Venus must contribute to the harmonization of internal energies. Uranus, the planet of electrification and vitalization, also plays it transformational role. The Earth and the Sun as pranic sources cannot be ignored. | 18. Chắc chắn Sao Diêm Vương phải thực hiện công việc thanh lọc của mình. Vulcan phải trao quyền năng. Sao Mộc phải kết nối với nguồn sinh lực dồi dào, và Sao Kim phải góp phần hài hòa hóa các năng lượng bên trong. Sao Thiên Vương, hành tinh của sự điện hóa và tiếp sinh lực, cũng đóng vai trò chuyển đổi của mình. Không thể bỏ qua Trái Đất và Mặt Trời với tư cách các nguồn prana. |
19. Just as all rays can be involved in the healing process, so the same is true of all planes and zodiacal signs. While emphasis may be put upon a few of them, all can and must contribute to the healing process. | 19. Cũng như mọi cung đều có thể tham gia vào tiến trình trị liệu, mọi cõi và dấu hiệu hoàng đạo cũng vậy. Dù có thể chỉ nhấn mạnh một vài cung, cõi và dấu hiệu, tất cả đều có thể và phải góp phần vào tiến trình trị liệu. |
20. Aquarius, of course, is the sign of service and of all the newer modes of healing. Virgo and Pisces are, traditionally, the healer’s signs, whereas Taurus gives great access to the necessary prana, and Libra to the necessary easy and balance contributing to harmonization. As stated, however, all signs may be constructively involved and their benefits justified. | 20. Dĩ nhiên, Bảo Bình là dấu hiệu của sự phụng sự và của mọi phương thức trị liệu mới hơn. Theo truyền thống, Xử Nữ và Song Ngư là những dấu hiệu của nhà trị liệu, trong khi Kim Ngưu tạo khả năng tiếp cận rộng rãi với prana cần thiết, còn Thiên Bình tạo khả năng tiếp cận sự thư thái và quân bình cần thiết, góp phần tạo nên sự hài hòa. Tuy nhiên, như đã nói, mọi dấu hiệu đều có thể tham gia một cách xây dựng và những lợi ích của chúng đều có cơ sở. |
21. It is interesting to note the Tibetan’s use of the word, “communicate”. The Magnetic Healers are not to transfer energies from the reservoir of living force but to “communicate healing energy” from that reservoir. Some subtlety is suggested, and a means of transmission which may involve various of the chakras. The word “communicate” suggests the importance of the communicating and transmitting planet, Mercury. | 21. Thật thú vị khi lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng đã sử dụng từ “truyền đạt”. Các Nhà Trị Liệu Từ Tính không chuyển dịch năng lượng từ kho dự trữ mãnh lực sống động, mà phải “truyền đạt năng lượng trị liệu” từ kho dự trữ ấy. Điều này gợi ý một sự tinh tế nào đó, cùng một phương thức truyền dẫn có thể liên quan đến nhiều luân xa khác nhau. Từ “truyền đạt” gợi lên tầm quan trọng của hành tinh truyền đạt và truyền dẫn, Sao Thủy. |
22. There are many kinds of healing energy and many portals of transmission. Hence the necessity for that Mercurian intelligence which selects and directs the right energy/force to the right part of the patient’s energy system (or to the collective energy system of the group). | 22. Có nhiều loại năng lượng trị liệu và nhiều cửa ngõ truyền dẫn. Do đó, cần có trí thông minh mang phẩm tính Sao Thủy để lựa chọn và hướng đúng năng lượng/mãnh lực đến đúng bộ phận trong hệ thống năng lượng của bệnh nhân (hoặc đến hệ thống năng lượng tập thể của nhóm). |
23. Love there must be if such healing is to be successful, but without intelligence the process will fail. Interestingly, however, the will is to be held in leash. This does not mean, however, that will energy may not be communicated to those who are to be healed. It is the forcing, insistent, personal will of the healer which has no place in the process. | 23. Phải có tình thương thì việc trị liệu ấy mới thành công, nhưng thiếu trí thông minh, tiến trình sẽ thất bại. Tuy nhiên, điều thú vị là ý chí phải được kiềm chế. Tuy vậy, điều này không có nghĩa là không được truyền đạt năng lượng ý chí đến những người cần được chữa lành. Chính ý chí cá nhân mang tính ép buộc, khăng khăng của nhà trị liệu mới không có chỗ trong tiến trình này. |
24. The whole subject is as vast as it is profound. It is the intention of the Master DK (as one of the externalizing Masters) to instruct humanity in some of the ancient techniques of occult healing. As the healer is himself/herself the instrument of healing, it is clear that much work needs to be done upon the instrument if the whole process is to be successful. | 24. Toàn bộ chủ đề này vừa bao la vừa sâu sắc. Chân sư DK (với tư cách một trong những Chân sư đang ngoại hiện) có ý định chỉ dạy nhân loại một số kỹ thuật cổ xưa về trị liệu huyền bí. Vì chính nhà trị liệu là khí cụ trị liệu, rõ ràng cần phải rèn luyện khí cụ ấy rất nhiều thì toàn bộ tiến trình mới thành công. |
4. The Educators of the New Age will come next. Their service is along the line of culture and they will work to bring in the new type of education. Their emphasis will be upon the building of the antahkarana and upon the use of the mind in meditation. Again — much of this new educational science will be given in the fifth volume of the series. They will act as communicators and [38] transmitters of two aspects of divine energy — knowledge and wisdom. These must be thought of in terms of energy. This fourth group (whose work is concerned with the education of the masses) is a direct intermediary between the higher mind and the lower mind. They are concerned with the building of the antahkarana and their task is that of linking the three points of mental focus — the higher mind, the soul and the lower mind — so that there may be established a group antahkarana between the kingdom of souls and the world of men. | 4. Tiếp theo là Các Nhà Giáo Dục của Kỷ Nguyên Mới. Sự phụng sự của họ theo đường hướng văn hóa, và họ sẽ làm việc để đưa vào một loại hình giáo dục mới. Họ sẽ nhấn mạnh việc xây dựng antahkarana và sử dụng thể trí trong tham thiền. Một lần nữa—phần lớn khoa học giáo dục mới này sẽ được trình bày trong quyển thứ năm của bộ sách. Họ sẽ đóng vai trò giao tiếp và [38] truyền dẫn hai phương diện của năng lượng thiêng liêng—tri thức và minh triết. Cần nhìn nhận hai phương diện này dưới góc độ năng lượng. Nhóm thứ tư này, với công việc liên quan đến việc giáo dục quần chúng, là trung gian trực tiếp giữa thượng trí và hạ trí. Họ quan tâm đến việc xây dựng antahkarana, và nhiệm vụ của họ là liên kết ba điểm tập trung trí tuệ—thượng trí, linh hồn và hạ trí—để có thể thiết lập một antahkarana nhóm giữa giới linh hồn và thế giới loài người. |
1. We note that in Master DK’s writings, the term “New Age” is used in a uniformly positive sense. Recently, because of exploitation and a general leveling effect, the term has become partially identified with a relatively superficial approach to spirituality. | 1. Chúng ta lưu ý rằng trong các tác phẩm của Chân sư DK, thuật ngữ “Kỷ Nguyên Mới” luôn được dùng theo nghĩa tích cực. Gần đây, do sự khai thác trục lợi và tác động cào bằng nói chung, thuật ngữ này đã phần nào bị đồng nhất với một cách tiếp cận tương đối hời hợt đối với đời sống tinh thần. |
2. We are told that these servers work “along the line of culture”. Culture represents the essential and most cherished values of any civilization. In the Agni Yoga Teaching, culture is equated with the cult of light (“Ur”). The culture of any human being is, in a way, the totality of the content of his/her causal body. Culture is the harvested treasury of incarnational experience. For a national society, it is the best that has been extracted from the nation’s collective life. We are on our way, perhaps, to generating a world culture. | 2. Chúng ta được cho biết rằng những người phụng sự này làm việc “theo đường hướng văn hóa”. Văn hóa đại diện cho những giá trị cốt yếu và được trân trọng nhất của bất kỳ nền văn minh nào. Trong Giáo Huấn Hợp Nhất Qua Lửa, văn hóa được đồng nhất với sự tôn thờ ánh sáng (“ánh sáng”). Theo một nghĩa nào đó, văn hóa của mỗi con người là toàn bộ nội dung trong thể nguyên nhân của người ấy. Văn hóa là kho báu thu hoạch được từ kinh nghiệm lâm phàm. Đối với xã hội của một quốc gia, đó là những gì tốt đẹp nhất được chắt lọc từ đời sống tập thể của quốc gia ấy. Có lẽ chúng ta đang trên đường tạo dựng một nền văn hóa thế giới như thế. |
3. Culture is associated with the planet of Venus, which represents the ‘causal harvest’ (the ‘harvest’ of the causal body). Venus is a planet of refinement and of the refining process. Only that is stored in the causal body which has been distilled down to its ‘fifth essence’ (quintessence). | 3. Văn hóa gắn liền với Sao Kim, hành tinh đại diện cho ‘thành quả thu hoạch của thể nguyên nhân’ (tức ‘thành quả thu hoạch’ của thể nguyên nhân). Sao Kim là hành tinh của sự tinh luyện và tiến trình tinh luyện. Chỉ những gì đã được chưng cất đến ‘tinh chất thứ năm’ (tinh túy) mới được lưu giữ trong thể nguyên nhân. |
4. The Educators of the New Age must thus inculcate an ever-finer sense of values. | 4. Do đó, Các Nhà Giáo Dục của Kỷ Nguyên Mới phải vun bồi một ý thức ngày càng tinh tế hơn về các giá trị. |
5. Education is a process of “drawing out” or “drawing forth” (‘e-ducare’). Clearly, it is the soul which must be drawn forth in the education process. The causal body is built and the accumulated causal treasury is drawn forth into expression (all this under the inspiration of the Solar Angel, which whom alignment has been achieved according to sanctioned occult methods). | 5. Giáo dục là một tiến trình “khơi ra” hoặc “dẫn ra” (‘dẫn từ bên trong ra ngoài’). Rõ ràng, chính linh hồn phải được khơi lộ trong tiến trình giáo dục. Thể nguyên nhân được xây dựng, và kho báu tích lũy trong thể nguyên nhân được khơi ra để biểu lộ (tất cả đều dưới cảm hứng của Thái dương Thiên Thần, với Ngài sự chỉnh hợp đã được thiết lập theo những phương pháp huyền bí được chấp thuận). |
6. We can understand that each one of these Seed Groups is the seed of an extensive rehabilitative pattern or progressive movement within human civilization. Such patterns have always existed and have served their functions, but their form has not usually been in alignment with hierarchical intention, and, thus, true periods of general usefulness have been intermittent at best, the usual condition being one of distortion. | 6. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng mỗi Nhóm Hạt Giống này là hạt giống của một mô hình phục hồi rộng lớn hoặc một phong trào tiến bộ trong nền văn minh nhân loại. Những mô hình như thế luôn tồn tại và đã thực hiện chức năng của mình, nhưng hình tướng của chúng thường không chỉnh hợp với ý định của Thánh đoàn; do đó, ngay cả trong trường hợp tốt nhất, những giai đoạn thực sự hữu ích cho toàn thể cũng chỉ xuất hiện gián đoạn, còn tình trạng thường thấy là sự lệch lạc. |
7. The emphasis of the Educators will be upon the building of the antahkarana and the use of the mind in meditation. That which is to be drawn forth already exists. Correct meditation and the use of the antahkarana (in later stages of meditation) are the means of accessing that which waits to precipitate — either the stored content of many lives, or the ideas and patterns in the psyche of God-the-Planetary-Logos. | 7. Các Nhà Giáo Dục sẽ chú trọng việc xây dựng antahkarana và sử dụng thể trí trong tham thiền. Điều cần được khơi lộ đã hiện hữu. Tham thiền đúng cách và sử dụng antahkarana (trong những giai đoạn tham thiền về sau) là phương tiện tiếp cận những gì đang chờ ngưng tụ — hoặc nội dung tích lũy qua nhiều kiếp sống, hoặc những ý tưởng và mô hình trong tâm hồn của Thượng đế, tức Hành Tinh Thượng đế. |
8. Each student must learn that he/she is, actually, the bridge to the needed light. Teachers are necessary, but mostly to teach students how to become their own teacher. Masters supervise the making of Masters. | 8. Mỗi đạo sinh phải học để biết rằng thực sự chính mình là cây cầu dẫn đến ánh sáng cần thiết. Cần có các huấn sư, nhưng chủ yếu là để dạy đạo sinh cách trở thành huấn sư của chính mình. Các Chân sư giám sát việc đào tạo các Chân sư. |
9. It is the higher reaches of thought which are to be accessed in the new educational process. The normal methods of memory training and the cultivation of the concrete mind may still be useful, but will slip more and more into the background, as the higher human faculties receive the majority of attention. | 9. Chính những tầm cao hơn của tư tưởng là điều cần được tiếp cận trong tiến trình giáo dục mới. Những phương pháp thông thường để rèn luyện trí nhớ và trau dồi trí cụ thể vẫn có thể hữu ích, nhưng sẽ ngày càng lùi về phía sau khi các năng lực cao hơn của con người nhận được phần lớn sự chú ý. |
10. It is interesting to see that the fifth volume of a Treatise on the Seven Rays (namely, The Rays and the Initiations), is essentially a treatise on education. The number five, related as it is to light and to the mind, is significant in this respect. The new education will be training for entry into the fifth kingdom in nature. The fifth ray will be very important in this work, but not alone in its lower expression, but more in the expression related to higher mind and the planet Venus. | 10. Thật thú vị khi thấy rằng tập thứ năm của bộ Luận về Bảy Cung (tức Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo), về thực chất, là một khảo luận về giáo dục. Con số năm, với mối liên hệ của nó với ánh sáng và thể trí, có thâm nghĩa trong phương diện này. Nền giáo dục mới sẽ là sự huấn luyện để bước vào giới thứ năm trong thiên nhiên. Cung năm sẽ rất quan trọng trong công việc này, nhưng không chỉ trong biểu lộ thấp của nó, mà còn nhiều hơn trong biểu lộ liên quan đến thượng trí và Sao Kim. |
11. The new educators will act as transmitters of knowledge and wisdom — these two being considered aspects of energy. | 11. Các nhà giáo dục mới sẽ đóng vai trò những người truyền dẫn tri thức và minh triết — cả hai được xem là những phương diện của năng lượng. |
12. Knowledge, as we usually understand it, is related specifically to the concrete mind, but there are knowledges to be gathered from much higher dimensions. Knowledge relates to the accurate registration of that which exists on any level of potential perception. It is the registration or perception of ‘things as they are’. | 12. Tri thức, theo cách chúng ta thường hiểu, có liên hệ đặc biệt với trí cụ thể, nhưng còn có những tri thức cần thu nhận từ những chiều kích cao hơn nhiều. Tri thức liên quan đến việc ghi nhận chính xác những gì hiện hữu ở bất kỳ cấp độ nào mà tri giác có thể vươn tới. Đó là sự ghi nhận hoặc tri giác về ‘sự vật đúng như chúng là’. |
13. Wisdom requires entry into the world of meaning and, even more, into the world of significance. Really, four ‘worlds’, relate to wisdom; the worlds of meaning, causes, significance and of being. There is a kind of wisdom which the human being accumulates through many lives of incarnational experience. This can be called ‘personal wisdom’, or more accurately, ‘trans-personal wisdom’. It is augmented by the innate wisdom of the Solar Angel. | 13. Minh triết đòi hỏi phải bước vào Thế giới của ý nghĩa và, hơn thế nữa, vào Thế giới của thâm nghĩa. Thực ra, có bốn ‘thế giới’ liên quan đến minh triết: các thế giới của ý nghĩa, nguyên nhân, thâm nghĩa và Bản Thể. Có một loại minh triết mà con người tích lũy qua kinh nghiệm lâm phàm trong nhiều kiếp sống. Có thể gọi đó là ‘minh triết cá nhân’, hoặc chính xác hơn là ‘minh triết siêu cá nhân’. Minh triết này được tăng cường nhờ minh triết vốn có của Thái dương Thiên Thần. |
14. There is also a higher type of wisdom which resides in the Spiritual Triad and is not derived from human experience, though it may be derived from the ‘experience’ of the Planetary Logos in Whom we live and move and have our being. | 14. Cũng có một loại minh triết cao hơn nằm trong Tam Nguyên Tinh Thần và không bắt nguồn từ kinh nghiệm của con người, dù nó có thể bắt nguồn từ ‘kinh nghiệm’ của Hành Tinh Thượng đế, trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn. |
15. Knowledge can be transmitted through speech, word, sound, letter and symbol (to name several media of transmission). Wisdom cannot be directly transmitted, but grows through soul contact (of teacher with student), a kind of “darshan”. It also grows within the student when knowledge is continually presented within a broad context and from a sufficiently great perspective. Wisdom will grow as the antahkarana becomes more reliable, for the wisdom of the Spiritual Triad is accessed by the personality consciousness. | 15. Tri thức có thể được truyền dẫn qua lời nói, từ ngữ, âm thanh, chữ viết và biểu tượng (đó là một vài phương tiện truyền dẫn). Minh triết không thể được truyền dẫn trực tiếp, mà tăng trưởng qua sự tiếp xúc linh hồn (giữa huấn sư với đạo sinh), một hình thức “diện kiến thiêng liêng”. Minh triết cũng tăng trưởng trong đạo sinh khi tri thức liên tục được trình bày trong một bối cảnh rộng lớn và từ một tầm nhìn đủ bao quát. Minh triết sẽ tăng trưởng khi antahkarana trở nên đáng tin cậy hơn, vì tâm thức phàm ngã tiếp cận được minh triết của Tam Nguyên Tinh Thần. |
16. The education here discussed is not simply occult education, though, increasingly, it will contain elements which heretofore have been the objective of those participating in occult training. | 16. Nền giáo dục được bàn đến ở đây không chỉ đơn thuần là giáo dục huyền bí, dù nó sẽ ngày càng chứa đựng những yếu tố mà trước đây vốn là mục tiêu của những người tham gia huấn luyện huyền bí. |
17. True occult training in the present necessitates the assimilation of much knowledge, but its real objective is the growth of wisdom. The term “growth” is appropriate, because whereas certain types of knowledge can be acquired immediately, wisdom never can. It is the product of many incarnations and increases through the right application of knowledge. | 17. Việc huấn luyện huyền bí đích thực hiện nay đòi hỏi phải đồng hóa nhiều tri thức, nhưng mục tiêu thực sự của nó là sự tăng trưởng minh triết. Thuật ngữ “tăng trưởng” là thích hợp, vì trong khi có thể tiếp thu ngay một số loại tri thức, minh triết thì không bao giờ như vậy. Minh triết là thành quả của nhiều kiếp lâm phàm và gia tăng qua việc vận dụng tri thức đúng cách. |
18. We note that the Educators of the New Age are the fourth group and, hence, their task is related to the number four as well as to the number five. The two planets most closely associated with the mind and its cultivation are Mercury and Venus, and the rays they emit are the fourth and the fifth. | 18. Chúng ta lưu ý rằng Các Nhà Giáo Dục của Kỷ Nguyên Mới là nhóm thứ tư, và do đó nhiệm vụ của họ liên quan đến con số bốn cũng như con số năm. Hai hành tinh gắn bó mật thiết nhất với thể trí và việc trau dồi thể trí là Sao Thủy và Sao Kim, và các cung mà chúng phát ra là cung bốn và cung năm. |
19. Mercury has traditionally been associated with all matters pertaining to education. Its soul ray is most probably the fourth. Certainly the fourth ray is the ray which the Tibetan emphasizes in relation to Mercury. The fourth ray is a bridging, linking ray. The antahkarana is a bridge and the fourth ray and Mercury are intimately involved in its construction and utilization. | 19. Theo truyền thống, Sao Thủy gắn liền với mọi vấn đề liên quan đến giáo dục. Rất có thể cung linh hồn của hành tinh này là cung bốn. Chắc chắn cung bốn là cung mà Chân sư Tây Tạng nhấn mạnh trong mối liên hệ với Sao Thủy. Cung bốn là một cung bắc cầu, liên kết. Antahkarana là một cây cầu, và cung bốn cùng Sao Thủy có liên hệ mật thiết với việc xây dựng và sử dụng nó. |
20. As well, Mercury is associated with both knowledge and wisdom. In its relation to the concrete mind and even to the abstract mind, it is the purveyor of knowledge. In its relation to the buddhic plane, the plane of intuition, it is the purveyor of wisdom. | 20. Ngoài ra, Sao Thủy còn gắn liền với cả tri thức lẫn minh triết. Trong mối liên hệ với trí cụ thể và ngay cả với trí trừu tượng, hành tinh này là nguồn cung cấp tri thức. Trong mối liên hệ với cõi Bồ đề, cõi của trực giác, hành tinh này là nguồn cung cấp minh triết. |
21. There are three levels of mind which will engage the attention of the Educators of the New Age. A link between them must be established. Thus will “Three Minds Unite”. The third, fourth and fifth rays are all involved, and these three rays can reasonably be considered the rays of Mercury, beginning with the personality ray and working up to the ray of the monad. This Word of Power is for those focused upon the fifth ray. That there are three minds suggests the presence of the number three. The linking process necessitates the fourth ray. | 21. Có ba cấp độ của trí tuệ sẽ thu hút sự chú ý của Các Nhà Giáo Dục của Kỷ Nguyên Mới. Cần thiết lập một mối liên kết giữa chúng. Như vậy, “ba trí hợp nhất”. Cung ba, cung bốn và cung năm đều tham gia, và có thể xem ba cung này một cách hợp lý là các cung của Sao Thủy, bắt đầu từ cung phàm ngã rồi đi lên đến cung chân thần. Quyền năng từ này dành cho những người tập trung vào cung năm ấy. Việc có ba trí gợi lên sự hiện diện của con số ba. Tiến trình liên kết đòi hỏi cung bốn này. |
22. Establishing links between the higher mind, soul and lower mind creates a triangle and three distinct links. Firstly, there is a link between the lower mind (mental unit) and the center of the Egoic Lotus. Then, there is a link between the center of the Egoic Lotus and the manasic permanent atom on the first subplane of the higher mental plane. Finally there is built a direct link between the mental unit on the fourth subplane of the mental plane and the manasic permanent atom. This latter link, it will be recognized, is what we usually call the antahkarana. | 22. Việc thiết lập những mối liên kết giữa thượng trí, linh hồn và hạ trí tạo nên một tam giác và ba mối liên kết riêng biệt. Trước hết, có một mối liên kết giữa hạ trí (đơn vị hạ trí) và trung tâm của Hoa Sen Chân Ngã. Tiếp đó, có một mối liên kết giữa trung tâm của Hoa Sen Chân Ngã và nguyên tử trường tồn manas trên cõi phụ thứ nhất của cõi thượng trí. Cuối cùng, một mối liên kết trực tiếp được xây dựng giữa đơn vị hạ trí trên cõi phụ thứ tư của cõi trí và nguyên tử trường tồn manas. Có thể nhận ra rằng mối liên kết sau cùng này chính là điều chúng ta thường gọi là antahkarana. |
23. We thus find that the Educators of the New Age are far more a bridging group than may have been expected, and the province of their focus is much wider and higher than has been the case for those who have called themselves educators. | 23. Do đó, chúng ta thấy rằng Các Nhà Giáo Dục của Kỷ Nguyên Mới là một nhóm bắc cầu ở mức độ lớn hơn nhiều so với điều có thể đã được dự liệu, và phạm vi tập trung của họ rộng lớn hơn, cao hơn nhiều so với những người từng tự gọi mình là nhà giáo dục. |
5. The fifth group will be that of the Political Organisers and will concern itself with political factors in every nation. They will work in the world of human government, dealing with the problems of civilisation and with the relationships existing between nations. The bringing about of international understanding will be their major objective. This group communicates the “quality of imposition,” and an authority that is lacking in the other branches of this divine group activity. This work is largely first ray work. It will embody the method whereby the divine Will works out in the consciousness of races and nations. Members of this group will have much first ray energy in their equipment. Their work is to act as channels of communication between the department of the Manu and the race of men. It is a noble task, my brothers, to be channels for the will of God. | 5. Nhóm thứ năm sẽ là nhóm Các Nhà Tổ Chức Chính Trị, quan tâm đến các yếu tố chính trị trong mỗi quốc gia. Họ sẽ làm việc trong lĩnh vực quản trị của nhân loại, xử lý những vấn đề của nền văn minh và các mối liên hệ hiện hữu giữa các quốc gia. Tạo nên sự thấu hiểu quốc tế sẽ là mục tiêu chủ yếu của họ. Nhóm này truyền đạt “phẩm tính áp đặt” và một quyền uy mà các nhánh khác của hoạt động nhóm thiêng liêng này không có. Công việc này chủ yếu thuộc cung một. Nó sẽ thể hiện phương pháp qua đó Ý Chí thiêng liêng được thực thi trong tâm thức của các dân tộc và quốc gia. Thành viên nhóm này sẽ có nhiều năng lượng cung một trong hệ thống năng lực của mình. Công việc của họ là làm những kênh giao tiếp giữa ban của Đức Manu và nhân loại. Các huynh đệ của Tôi, làm những kênh dẫn cho Ý Chí của Thượng Đế là một nhiệm vụ cao quý. |
1. We note that the Tibetan discusses this fifth group not as “Politicians” but as “Political Organisers”, suggesting the importance of the factor of organization — one of the three qualities which typifies the Energy of Shamballa. | 1. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng bàn về nhóm thứ năm này như những “Nhà Chính Trị” thì không, mà như những “Nhà Tổ Chức” Chính Trị, qua đó gợi lên tầm quan trọng của yếu tố tổ chức — một trong ba phẩm tính đặc trưng cho Năng Lượng của Shamballa. |
2. It is interesting that it is the fifth group, suggesting that those who work in this area are to be inspired by the Fifth Creative Hierarchy and are to work under soul impression emanating from this Fifth Creative Hierarchy of Solar Angels. | 2. Điều thú vị là đây là nhóm thứ năm, gợi ý rằng những người hoạt động trong lĩnh vực này cần nhận cảm hứng từ Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm và hoạt động dưới ấn tượng của linh hồn phát ra từ Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm này, gồm các Thái dương Thiên Thần. |
3. There are three great Departments of Hierarchy, led by the Manu, the Bodhisattva and the Mahachohan respectively. The Department of Government is led by the Manu. | 3. Thánh đoàn có ba Ban lớn, lần lượt do Đức Manu, Đức Bồ Tát và Đức Mahachohan lãnh đạo. Ban Chính Trị do Đức Manu lãnh đạo. |
4. Interestingly this Department is closely related to the Department of Civilization, led by the Mahachohan, just as the first and third rays are easily related. | 4. Điều thú vị là Ban này liên hệ mật thiết với Ban Văn Minh do Đức Mahachohan lãnh đạo, cũng như cung một và cung ba dễ dàng liên hệ với nhau. |
5. Solutions to the “problems of civilization” (some of which have been discussed by the Tibetan in His Problems of Humanity), are, therefore, under the supervision of both the Manu and the Mahachohan, though many of their other functions differ. | 5. Vì vậy, những giải pháp cho “các vấn đề của nền văn minh” (một số vấn đề này đã được Chân sư Tây Tạng bàn đến trong tác phẩm Những Vấn Đề của Nhân Loại của Ngài), đều nằm dưới sự giám sát của cả Đức Manu lẫn Đức Mahachohan, dù nhiều chức năng khác của Các Ngài có sự khác biệt. |
6. Today there is a strong focus on right international relations, and this can only increase under the universalism of the sign Aquarius. Nationalism is egoism on a national level. Just as the ego has to be trained and refined in the case of the individual aspirant and disciple to fit them for group consciousness, so the ‘national-ego’ must be similarly trained and refined to fit a nation for correct participation in that group called the “international community”. There are many statesmen working in relation to the Department of Government to whom the gradual improvement of international relations is entrusted. | 6. Ngày nay, các mối quan hệ quốc tế đúng đắn đang được chú trọng mạnh mẽ, và điều này chỉ có thể gia tăng dưới tinh thần phổ quát của dấu hiệu Bảo Bình. Chủ nghĩa dân tộc là chủ nghĩa vị kỷ ở cấp độ quốc gia. Cũng như phàm ngã của từng người chí nguyện và đệ tử phải được rèn luyện và tinh luyện để họ thích hợp với tâm thức nhóm, ‘phàm ngã quốc gia’ cũng phải được rèn luyện và tinh luyện tương tự để một quốc gia có thể tham gia đúng đắn vào nhóm được gọi là “cộng đồng quốc tế”. Có nhiều chính khách hoạt động trong mối liên hệ với Ban Chính Trị, được giao phó nhiệm vụ từng bước cải thiện các mối quan hệ quốc tế. |
7. We note that the bringing about of “international understanding” is the major objective of this fifth group. It is clear that the qualities of the second ray of “loving understanding” must be combined with those of the first ray of will and power. | 7. Chúng ta lưu ý rằng việc tạo nên “sự thấu hiểu quốc tế” là mục tiêu chính của nhóm thứ năm này. Rõ ràng, những phẩm tính của cung hai về “sự thấu hiểu đầy tình thương” phải kết hợp với những phẩm tính của cung một về ý chí và quyền năng. |
8. Those who work in this fifth group work with the first aspect of divinity, the will. They must never forget, however, that the first ray is, in this solar system and on this planet, the servant of the second ray of love-wisdom. If this fact is remembered, their work will proceed along right lines. It is fortunate that a significant number of first ray workers are on the first subray of the primary second ray. | 8. Những người hoạt động trong nhóm thứ năm này làm việc với phương diện thứ nhất của thiên tính, tức ý chí. Tuy nhiên, họ không bao giờ được quên rằng, trong hệ mặt trời này và trên hành tinh này, cung một là người phụng sự của cung hai, cung Bác Ái – Minh Triết. Nếu ghi nhớ sự thật này, công việc của họ sẽ tiến triển đúng hướng. Điều may mắn là một số lượng đáng kể những người hoạt động thuộc cung một nằm trên cung phụ thứ nhất của cung hai chủ yếu. |
9. We note that the group works with the “quality of imposition”. A higher, soul-inspired pattern is to be imposed upon a lower pattern. In this imposition lies much occasion for friction and, even, destruction, for the old personality-conditioned ways will resist the imposition. | 9. Chúng ta lưu ý rằng nhóm này làm việc với “phẩm tính áp đặt”. Một mô hình cao hơn, do linh hồn truyền cảm hứng, phải được áp đặt lên một mô hình thấp hơn. Chính trong sự áp đặt này có nhiều cơ hội nảy sinh va chạm và thậm chí cả sự hủy diệt, vì những lề lối cũ do phàm ngã định hình sẽ chống lại sự áp đặt ấy. |
10. It is in the mode of imposition that much wisdom is required and, especially, an acute sense of timing. There may be ideas whose time has come, and the first ray workers in this fifth group may be telepathically attuned to those ideas and function as agents for their precipitation, but the form also has its requirements and these must be honored to some degree if excessive and unnecessary destruction is to be avoided. | 10. Chính cách thức áp đặt đòi hỏi nhiều minh triết và đặc biệt là khả năng nhạy bén trong việc xác định thời điểm. Có thể có những ý tưởng đã đến thời điểm thực hiện, và những người hoạt động thuộc cung một trong nhóm thứ năm này có thể hòa điệu bằng viễn cảm với các ý tưởng ấy và làm tác nhân cho sự ngưng tụ của chúng, nhưng hình tướng cũng có những yêu cầu riêng, và cần tôn trọng các yêu cầu này đến một mức độ nào đó nếu muốn tránh sự hủy diệt quá mức và không cần thiết. |
11. The fifth group carries a certain “authority” missing from the other groups. It is important that such authority be impersonal. There is no personal authority suggested, and any attempt to impose personal authority (rather than ‘authority based on spiritual principle’) will be out of keeping with the dharma of this group. | 11. Nhóm thứ năm mang một “thẩm quyền” nhất định mà các nhóm khác không có. Điều quan trọng là thẩm quyền ấy phải phi cá nhân. Ở đây không hề hàm ý thẩm quyền cá nhân, và bất kỳ nỗ lực nào nhằm áp đặt thẩm quyền cá nhân (thay vì ‘thẩm quyền dựa trên nguyên khí tinh thần’) đều sẽ không phù hợp với bổn phận thiêng liêng của nhóm này. |
12. We can see that the fifth group is aligned with the first group, for the Telepathic Communicators receive the impression of that which must be imposed by the fifth group. | 12. Chúng ta có thể thấy nhóm thứ năm chỉnh hợp với nhóm thứ nhất, vì Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm tiếp nhận ấn tượng về điều mà nhóm thứ năm phải áp đặt. |
13. Again, we note that these workers do not work with the form alone. They are to work with the consciousness of races and nations, for if the Divine Will does not work itself into that consciousness, any strictly outward imposition will be superficial and will fail. Once more, then, we see how these workers must unite the heart to the head, and the second ray to the first. This must not be forgotten. Consciousness, after all, is most closely related to the second aspect of divinity. | 13. Một lần nữa, chúng ta lưu ý rằng những người hoạt động này không chỉ làm việc với hình tướng. Họ phải làm việc với tâm thức của các dân tộc và quốc gia, vì nếu Ý Chí thiêng liêng không thấm vào tâm thức ấy, thì bất kỳ sự áp đặt nào chỉ thuần túy từ bên ngoài cũng sẽ hời hợt và thất bại. Vậy một lần nữa, chúng ta thấy những người hoạt động này phải kết hợp trái tim với đầu, và cung hai với cung một như thế nào. Không được quên điều này. Xét cho cùng, tâm thức liên hệ mật thiết nhất với phương diện thứ hai của thiên tính. |
14. The Tibetan had only begun to organize the fifth group-of-nine. Only three workers had been chosen, and all of them had first ray souls. It would have been interesting to see the ray equipment of the remaining personnel, had the process moved to completion. But, unfortunately, the Groups-of-Nine experiment had to be discontinued for internal and external reasons. The fifth group was left incomplete and none of the remaining groups (of the intended ten groups) were formed. | 14. Chân sư Tây Tạng mới chỉ bắt đầu tổ chức nhóm chín người thứ năm. Chỉ mới chọn được ba người hoạt động, và cả ba đều có linh hồn thuộc cung một. Hẳn sẽ rất thú vị nếu được thấy cấu hình cung của những thành viên còn lại, nếu tiến trình ấy đã đi đến hoàn tất. Nhưng đáng tiếc, cuộc thử nghiệm Các Nhóm Chín Người đã phải ngừng lại vì những lý do bên trong và bên ngoài. Nhóm thứ năm vẫn chưa hoàn chỉnh, và không nhóm nào trong số các nhóm còn lại (thuộc mười nhóm dự kiến) được thành lập. |
15. We are reminded that all the Seed Groups were experiments in “modes of communication”. The specialized type of communication to be practiced by the fifth group was to have been communication between the Department of the Manu and the race of men. The Manu’s Department has its plans just as all other Departments and Ashrams. The formation of the United States was all part of the Manu’s Plan and within this formation the Master R. cooperated. Many nations, so it seems, are ruled by power-hungry personalities who have no respect either for their people or the international community. This aberration, however, will at length be overcome as the strength of the souls of nations begins to emerge. Then the dim outlines of the Manu’s very real plans will begin to emerge with greater clarity. Certain great statesmen are already attuned (either unconsciously or consciously) with such plans, and can expedite the process of emergence in what is usually a very troubled field. | 15. Chúng ta được nhắc rằng tất cả các Nhóm hạt giống đều là những cuộc thử nghiệm về “các phương thức giao tiếp”. Loại hình giao tiếp chuyên biệt mà nhóm thứ năm lẽ ra sẽ thực hành là sự giao tiếp giữa Ban của Đức Manu và nhân loại. Ban của Đức Manu cũng có những kế hoạch riêng, như tất cả các Ban và ashram khác. Sự hình thành Hoa Kỳ hoàn toàn là một phần trong Thiên Cơ của Đức Manu, và trong quá trình hình thành ấy, Chân sư R. đã cộng tác. Dường như nhiều quốc gia đang chịu sự cai trị của những phàm ngã khát quyền lực, không tôn trọng người dân của mình cũng chẳng tôn trọng cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, sự lệch lạc này cuối cùng sẽ được khắc phục khi sức mạnh linh hồn của các quốc gia bắt đầu xuất hiện. Khi ấy, những đường nét mờ nhạt trong các kế hoạch rất thực của Đức Manu sẽ bắt đầu hiện ra rõ ràng hơn. Một số chính khách vĩ đại đã hòa điệu (dù vô thức hay có ý thức) với những kế hoạch ấy, và có thể đẩy nhanh tiến trình xuất hiện trong một lĩnh vực thường rất nhiều bất ổn. |
16. The Tibetan closes this paragraph with an inspiring statement: “It is a noble task, my brothers, to be channels for the will of God. ” He is certainly calling for nobility among the Political Organisers. In this virtue, both courage and selflessness are combined. There is suggested an ability to live according to the higher aspects of one’s nature and to avoid all temptation towards baseness (which has so characterized many cruel leaders of the past). A loving impersonality is one of the main requirements. | 16. Chân sư Tây Tạng kết thúc đoạn này bằng một lời đầy cảm hứng: “Các huynh đệ của Tôi, làm những kênh dẫn cho Ý Chí của Thượng Đế là một nhiệm vụ cao quý. ” Chắc chắn Ngài đang kêu gọi lòng cao quý ở những Người Tổ Chức Chính Trị. Trong đức tính này, cả lòng can đảm lẫn tính vị tha đều kết hợp với nhau. Điều này hàm ý khả năng sống theo những phương diện cao hơn trong bản chất của mỗi người và tránh mọi cám dỗ hướng tới sự thấp hèn (vốn đã là đặc điểm nổi bật của nhiều nhà lãnh đạo tàn ác trong quá khứ). Một thái độ phi cá nhân đầy tình thương là một trong những yêu cầu chính. |
17. It must be remembered that these Seed Groups (no matter what may be their predominating ray) are soul groups, and, thus, have a direct connection with the second aspect of divinity. No Seed Group can be successfully grown and proliferated unless the Love-Wisdom ray is shining through. | 17. Cần nhớ rằng những Nhóm hạt giống này (bất kể cung nào chiếm ưu thế) đều là các nhóm linh hồn, và do đó có mối liên hệ trực tiếp với phương diện thứ hai của thiên tính. Không Nhóm hạt giống nào có thể phát triển và nhân rộng thành công nếu cung Bác Ái – Minh Triết không tỏa chiếu xuyên qua. |
6. The workers in the Field of Religion form this group. Their work is to formulate the universal platform of the new world religion. It is a work of loving synthesis and it will emphasize the unity and the fellowship of the spirit. This group is, in a pronounced sense, a channel for the activity of the second Ray of Love-Wisdom, that of the World Teacher — an office held at present by the Christ. The platform of the new world religion will be built by the many groups, working under the inspiration of the Christ and the influence of the second ray and these — in their totality — will constitute this sixth group. [39] | 6. Những người hoạt động trong Lĩnh Vực Tôn Giáo tạo thành nhóm này. Công việc của họ là xây dựng nền tảng phổ quát của tôn giáo thế giới mới. Đây là công việc tổng hợp đầy tình thương, nhấn mạnh sự hợp nhất và tình huynh đệ của tinh thần. Theo một ý nghĩa rõ nét, nhóm này là kênh dẫn cho hoạt động của cung hai Bác Ái – Minh Triết, cung của Đức Chưởng Giáo—một chức vụ hiện do Đức Christ đảm nhiệm. Nhiều nhóm làm việc dưới cảm hứng của Đức Christ và ảnh hưởng của cung hai sẽ xây dựng nền tảng của tôn giáo thế giới mới; toàn thể các nhóm ấy sẽ tạo thành nhóm thứ sáu này. |
1. The sixth group is related to the formation of the New World Religion. The workers in the Field of Religion work not only with the sixth ray (which qualifies so many of the present religions in the world) but, especially, with the second Ray of Love-Wisdom. It is this latter ray which will guarantee the success of the enterprise. Otherwise, divisiveness and separativeness would thwart the intended unity. | 1. Nhóm thứ sáu liên quan đến việc hình thành Tôn Giáo Thế Giới Mới. Những người hoạt động trong Lĩnh Vực Tôn Giáo không chỉ làm việc với cung sáu (cung tạo nên phẩm tính cho rất nhiều tôn giáo hiện nay trên thế giới), mà đặc biệt còn với cung hai, cung Bác Ái – Minh Triết. Chính cung sau này sẽ bảo đảm thành công cho công cuộc ấy. Nếu không, tính chia rẽ và chia cách sẽ cản trở sự hợp nhất dự định đạt tới. |
2. Their work is to formulate the “universal platform of the new world religion”. We see that the members of the sixth group are to deal with broad spiritual principles, especially at first. | 2. Công việc của họ là xây dựng “nền tảng phổ quát của tôn giáo thế giới mới”. Chúng ta thấy các thành viên của nhóm thứ sáu phải bàn đến những nguyên khí tinh thần bao quát, đặc biệt là lúc ban đầu. |
3. In a field riven by discord and acrimony, principles must be found which can hold some reasonable appeal to all parties. | 3. Trong một lĩnh vực bị xâu xé vì bất hòa và cay nghiệt, cần tìm ra những nguyên khí có sức thuyết phục hợp lý nhất định đối với tất cả các bên. |
4. In His book, The Reappearance of the Christ, the Tibetan details the foundational principles for a New World Religion. They are all based upon tolerance and a realization of a continuity of revelation. It is the presumption on the part of the fearful, that the revelation to which they ascribe is the final revelation (and, usually, the only true revelation) which has caused so much of the trouble ever found in this fractious field. | 4. Trong tác phẩm Sự Tái Lâm của Đức Christ, Chân sư Tây Tạng trình bày chi tiết những nguyên khí nền tảng cho một Tôn Giáo Thế Giới Mới. Tất cả đều dựa trên lòng khoan dung và sự nhận biết tính liên tục của sự mặc khải. Chính sự tự cho là đúng của những người sợ hãi, cho rằng sự mặc khải mà họ tin theo là sự mặc khải cuối cùng (và thường là sự mặc khải chân thực duy nhất), đã gây ra biết bao rắc rối luôn hiện diện trong lĩnh vực đầy bất hòa này. |
5. The quality of “loving synthesis” must pervade the work of this sixth group. When we consider this quality, we note that it is a combination of the second and first rays. Synthesis can be considered the second aspect of the Divine Will. | 5. Phẩm tính “tổng hợp đầy tình thương” phải thấm nhuần công việc của nhóm thứ sáu này. Khi xem xét phẩm tính này, chúng ta lưu ý rằng đó là sự kết hợp của cung hai và cung một. Có thể xem sự tổng hợp là phương diện thứ hai của Ý Chí thiêng liêng. |
6. We note, also, that DK speaks of the “unity and fellowship of the spirit”. When He speaks of spirit, he is speaking of the first aspect of divinity — not the second (the soul aspect). Perhaps (given immediately possible objectives) it would have been more accurate to say (as He discusses elsewhere) the ‘unity of the soul’ and the “fellowship of the spirit”. | 6. Chúng ta cũng lưu ý rằng Chân sư DK nói đến “sự hợp nhất và tình huynh đệ của tinh thần”. Khi nói về tinh thần, Ngài đang nói về phương diện thứ nhất của thiên tính — chứ không phải phương diện thứ hai (phương diện linh hồn). Có lẽ (xét những mục tiêu có thể đạt được trước mắt), sẽ chính xác hơn nếu nói (như Ngài bàn ở nơi khác) đến ‘sự hợp nhất của linh hồn’ và “tình huynh đệ của tinh thần”. |
7. Irrespective of the distinction, both soul and spirit stand far above the divisions engendered by the functioning of the analytical lower mind and strengthened by a fearful and intense emotional nature. When religion truly functions from a soul perspective, it functions within a field of soul-love, and the commonalties of the religious experience are sought. Separative religious dogmatisms fade into the background. | 7. Bất kể sự phân biệt ấy, cả linh hồn lẫn tinh thần đều vượt xa những chia rẽ do hoạt động của hạ trí phân tích tạo ra và được bản chất cảm xúc sợ hãi, mãnh liệt củng cố. Khi tôn giáo thực sự hoạt động từ góc nhìn của linh hồn, nó hoạt động trong trường tình thương của linh hồn, và người ta tìm kiếm những điểm chung trong trải nghiệm tôn giáo. Những chủ nghĩa giáo điều tôn giáo mang tính chia rẽ dần lui vào hậu cảnh. |
8. Brotherhood and fellowship are two very similar terms, and, interestingly, both are based upon the spirit. As monads (spirits) we are all “brothers” and have among ourselves an unbreakable “fellowship of the spirit”. On that level we are all equals and all very much identical. The spirit is the source of the realization of synthesis. Perhaps we are being told that the New World Religion must eventually address the reality of the spirit, and reveal a commonalty — even a homogeneity — which cannot be broken by any assertion of difference. In a way, if the universal platform of a New World Religion is based upon spirit, it will unite all human beings beyond any possibility of separation due to even to quality (a second ray factor). The separations due to form (the third ray factor) are, of course, more obvious. | 8. Tình huynh đệ và tình đồng đạo là hai thuật ngữ rất gần nhau, và điều thú vị là cả hai đều đặt nền tảng trên tinh thần. Là các chân thần (các tinh thần), tất cả chúng ta đều là “huynh đệ” và giữa chúng ta có một “tình đồng đạo của tinh thần” không thể phá vỡ. Ở cấp độ ấy, tất cả chúng ta đều bình đẳng và hết sức đồng nhất. Tinh thần là nguồn cội của sự chứng nghiệm tính tổng hợp. Có lẽ chúng ta đang được cho biết rằng Tôn Giáo Thế Giới Mới cuối cùng phải đề cập đến thực tại của tinh thần, và mặc khải một tính chung — thậm chí một tính đồng nhất — mà không lời khẳng định về sự khác biệt nào có thể phá vỡ. Theo một nghĩa nào đó, nếu nền tảng phổ quát của một Tôn Giáo Thế Giới Mới đặt trên tinh thần, nó sẽ hợp nhất mọi con người, vượt khỏi mọi khả năng chia cách, ngay cả sự chia cách do phẩm tính (một yếu tố thuộc cung hai). Dĩ nhiên, những chia cách do hình tướng (yếu tố thuộc cung ba) thì rõ rệt hơn. |
9. We can see how much of the second ray must be infused into the Field of Religion. We can also see how, in our present civilization, this Ray of Love-Wisdom is dominated by the sixth Ray of Devotion and Idealism. | 9. Chúng ta có thể thấy Lĩnh Vực Tôn Giáo cần được thấm nhuần cung hai nhiều đến mức nào. Chúng ta cũng có thể thấy trong nền văn minh hiện nay, cung Bác Ái – Minh Triết này chịu sự lấn át của cung sáu, cung Sùng Tín và Lý Tưởng. |
10. The World Teacher, the Christ, is behind all efforts to create a universal spirituality. This fact might become a source of satisfaction to Christians and a point of repudiation for those of other faiths, but a deeper understanding of the Hierarchy, the Christ and our Planetary Government will make the acceptance of the Christ and His Spirit a natural and inevitable development. The Christ, after all, is not a Christian. No form of religion is sufficient to contain Him, though all forms can learn to reflect Him. | 10. Đức Chưởng Giáo, Đức Christ, đứng sau mọi nỗ lực tạo dựng một đời sống tinh thần phổ quát. Sự thật này có thể trở thành nguồn mãn nguyện cho các tín đồ Kitô giáo và là điều khiến những người thuộc các tín ngưỡng khác bác bỏ, nhưng sự thấu hiểu sâu sắc hơn về Thánh đoàn, Đức Christ và Chính Quyền Hành Tinh của chúng ta sẽ khiến việc chấp nhận Đức Christ và Tinh Thần của Ngài trở thành một bước phát triển tự nhiên và tất yếu. Xét cho cùng, Đức Christ không phải là một tín đồ Kitô giáo. Không hình thức tôn giáo nào đủ sức dung chứa Ngài, dù mọi hình thức đều có thể học cách phản ánh Ngài. |
11. We can see that the New World Religion will not be imposed on humanity, but that it will be “built by many groups” — probably groups of many different initial religious persuasions. Together they will find the principles and experiences which unite them, and these commonalties will become so strong in their consciousness, that their fusion will become inevitable, though enriching cultural differences may be preserved. We can see that much interpretive and correlational work will have to be undertaken in order to demonstrate the similarities between the various religions of the world. In Isis Unveiled and The Secret Doctrine, H. P. B. has made an impressive beginning. | 11. Chúng ta có thể thấy Tôn Giáo Thế Giới Mới sẽ không bị áp đặt lên nhân loại, mà sẽ “do nhiều nhóm xây dựng” — có lẽ là những nhóm ban đầu theo nhiều tín ngưỡng tôn giáo khác nhau. Cùng nhau, họ sẽ tìm ra những nguyên khí và trải nghiệm hợp nhất họ, và những điểm chung này sẽ trở nên mạnh mẽ đến mức sự dung hợp của họ sẽ là tất yếu, dù vẫn có thể giữ gìn những khác biệt văn hóa làm phong phú thêm đời sống. Chúng ta có thể thấy cần thực hiện nhiều công việc diễn giải và đối chiếu để chứng minh những điểm tương đồng giữa các tôn giáo khác nhau trên thế giới. Trong Isis Vén Màn và Giáo Lý Bí Nhiệm, Bà H. P. B. đã tạo nên một bước khởi đầu đầy ấn tượng. |
12. The Christ, however, will be the inspiration behind the growing amalgamation of the world religions. The work will probably be slow and unforced. Realization will come, and love will promote a growing field of unity. | 12. Tuy nhiên, Đức Christ sẽ là nguồn cảm hứng đứng sau sự hòa hợp ngày càng tăng của các tôn giáo trên thế giới. Công việc này có lẽ sẽ diễn ra chậm rãi và không cưỡng ép. Sự nhận biết sẽ đến, và tình thương sẽ thúc đẩy một trường hợp nhất ngày càng mở rộng. |
13. In this line of work, the contribution of the Master Jesus will be significant, especially with respect to the three major religions of the West — Christianity, Judaism and Islam. | 13. Trong lĩnh vực công tác này, sự đóng góp của Chân sư Jesus sẽ rất đáng kể, đặc biệt đối với ba tôn giáo lớn của phương Tây — Kitô giáo, Do Thái giáo và Hồi giáo. |
14. This sixth group will, at length, be very large. The “grass-roots participation” of the many religious groups and sects will be necessary. Many little groups may not want to participate in the growing tide of amalgamation, but there will be a sufficient number of groups to make the tide irresistible. | 14. Cuối cùng, nhóm thứ sáu này sẽ rất lớn. Sự “tham gia từ cơ sở” của nhiều nhóm và giáo phái tôn giáo sẽ là điều cần thiết. Nhiều nhóm nhỏ có thể không muốn tham gia vào làn sóng hòa hợp đang dâng lên, nhưng sẽ có đủ số nhóm để khiến làn sóng ấy trở nên không thể cưỡng lại. |
15. The discoveries of science (as it is influenced by occult science) will contribute to the reasonableness of the coming amalgamation. Science is on the way to proving the unity of what may loosely be called ‘the religious experience’. It is hard to argue with that which is scientifically proven. | 15. Những khám phá của khoa học (khi khoa học chịu ảnh hưởng của khoa học huyền bí) sẽ góp phần làm sáng tỏ tính hợp lý của sự hòa hợp sắp tới. Khoa học đang tiến tới việc chứng minh tính hợp nhất của điều có thể gọi một cách khái quát là ‘trải nghiệm tôn giáo’. Thật khó tranh luận với điều đã được khoa học chứng minh. |
16. The word “platform” is used twice, indicating the initially foundational nature of this sixth group. A “common ground” or an ability to stand together must be found, and this will be the initial work of the members of the sixth group. If the uniting principles can be found and affirmed, the necessary platform can be built. | 16. Từ “nền tảng” xuất hiện hai lần, cho thấy bản chất đặt nền móng ban đầu của nhóm thứ sáu này. Cần tìm ra một “cơ sở chung” hay một khả năng cùng đứng chung với nhau, và đây sẽ là công việc ban đầu của các thành viên nhóm thứ sáu. Nếu có thể tìm ra và khẳng định những nguyên khí hợp nhất, thì có thể xây dựng nền tảng cần thiết. |
7. The seventh group is that of the Scientific Servers. They will reveal the essential spirituality of all scientific work which is motivated by love of humanity and its welfare, which relates science and religion and brings to light the glory of God through the medium of His tangible world and His works. They have a most interesting function but one which will not become evident for a long time — not until the building forces of the universe are better understood. This will be co-incident with the development of etheric vision. This group will act as a channel of communication or intermediary between the energies which constitute the forces which construct the forms and fabricate the outer garment of Deity and the human spirits. You will note here, consequently, the possibility that this group’s main initial work will be concerned with the problem of reincarnation. That problem deals with the taking of an outer garment or form under the Law of Rebirth. | 7. Nhóm thứ bảy là nhóm Những Người Phụng Sự Khoa Học. Họ sẽ mặc khải bản chất tinh thần cốt yếu của mọi công việc khoa học xuất phát từ tình thương nhân loại và phúc lợi của nhân loại, liên kết khoa học với tôn giáo và làm sáng tỏ vinh quang của Thượng đế thông qua thế giới hữu hình cùng những công trình của Ngài. Họ có một chức năng hết sức thú vị, nhưng chức năng ấy sẽ còn lâu mới trở nên rõ ràng—chỉ khi các mãnh lực kiến tạo của vũ trụ được thấu hiểu sâu hơn. Điều này sẽ trùng hợp với sự phát triển thị giác dĩ thái. Nhóm này sẽ đóng vai trò kênh giao tiếp hay trung gian giữa những năng lượng tạo nên các mãnh lực xây dựng hình tướng và dệt nên lớp áo bên ngoài của Thượng đế, với tinh thần của con người. Do đó, ở đây các bạn sẽ nhận thấy khả năng công việc chủ yếu ban đầu của nhóm này sẽ liên quan đến vấn đề luân hồi. Vấn đề ấy bàn đến việc khoác lấy một lớp áo hay hình tướng bên ngoài theo Định luật Tái Sinh. |
1. The seventh group is called by the name “Scientific Servers”, emphasizing the soul quality of service. They might have been called the ‘Scientific Researchers’, emphasizing only the quality of mind rather than the combined qualities of mind and heart. | 1. Nhóm thứ bảy mang tên “Những Người Phụng Sự Khoa Học”, nhấn mạnh phẩm tính phụng sự của linh hồn. Họ cũng có thể được gọi là ‘Những Nhà Nghiên Cứu Khoa Học’, chỉ nhấn mạnh phẩm tính trí tuệ thay vì những phẩm tính kết hợp của trí tuệ và trái tim. |
2. It is significant that the seventh group follows the sixth, for the Tibetan states that science and religion will be cooperative ventures (just as they have been bitter antagonists in the past). | 2. Việc nhóm thứ bảy tiếp sau nhóm thứ sáu có ý nghĩa quan trọng, vì Chân sư Tây Tạng khẳng định rằng khoa học và tôn giáo sẽ trở thành những lĩnh vực hợp tác (cũng như trước kia chúng từng là những đối thủ gay gắt). |
3. The motive for scientific work is strongly emphasized; it is to be the “love of humanity and its welfare”. Clearly the enquiring mind will be infused by the illuminating soul. | 3. Động cơ của công việc khoa học được nhấn mạnh rõ rệt; đó phải là “tình thương dành cho nhân loại và phúc lợi của nhân loại”. Rõ ràng, linh hồn soi sáng sẽ thấm nhuần thể trí ham tìm hiểu. |
4. The scientists will reveal the strong link between God and nature (“His [God’s] tangible world and His works”. The “Glory of God” revealed though His “Garment” will bring religion and science into cooperative enterprise. | 4. Các nhà khoa học sẽ mặc khải mối liên hệ chặt chẽ giữa Thượng đế và thiên nhiên (“thế giới hữu hình của Ngài [Thượng đế] và các công trình của Ngài”. “Vinh Quang của Thượng đế” hiển lộ qua “Lớp Áo” của Ngài sẽ đưa tôn giáo và khoa học vào một công cuộc hợp tác. |
5. DK only hints at one of the interesting functions of this seventh group. That function will depend upon the revelation of the deva kingdom and its modes of building. The seventh group works with the seventh ray as well as the fifth. Of some of the work undertaken by this group, the Tibetan says the following: | 5. Chân sư DK chỉ gợi ý về một trong những chức năng thú vị của nhóm thứ bảy này. Chức năng ấy sẽ tùy thuộc vào sự mặc khải về giới thiên thần và các phương thức kiến tạo của giới này. Nhóm thứ bảy làm việc với cung bảy cũng như cung năm. Về một phần công việc mà nhóm này đảm nhận, Chân sư Tây Tạng nói như sau: |
“It will be carried forward by first ray workers, assisted by seventh ray aspirants, but using fifth ray methods.” (EXH 56) | “Công việc ấy sẽ do những người hoạt động thuộc cung một tiến hành, với sự trợ giúp của những người chí nguyện thuộc cung bảy, nhưng sử dụng các phương pháp của cung năm.” (EXH 56) |
To understand and work with the deva kingdom much seventh ray will be required. | Để thấu hiểu và làm việc với giới thiên thần, sẽ cần rất nhiều ảnh hưởng của cung bảy. |
6. The development of etheric vision is required for a more complete understanding of the potentials of this seventh group. Interestingly, vision, as a whole, is related to the fifth ray. Aquarius is a sign much related to the etheric body and it transmits the fifth ray powerfully. The Aquarian Age will be qualified principally by the seventh ray, the ray correlated to the etheric vehicle. We can see, therefore, how the coming Age is most suitable for the development of etheric vision, and for the scientific advancements which depend upon the presence of this type of vision. | 6. Cần phát triển thị giác dĩ thái để thấu hiểu đầy đủ hơn những tiềm năng của nhóm thứ bảy này. Điều thú vị là thị giác nói chung liên quan đến cung năm. Bảo Bình là một dấu hiệu liên hệ nhiều với thể dĩ thái và truyền dẫn cung năm một cách mạnh mẽ. Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ chủ yếu mang phẩm tính của cung bảy, cung tương ứng với hiện thể dĩ thái. Vì vậy, chúng ta có thể thấy Kỷ Nguyên sắp tới hết sức thích hợp cho sự phát triển thị giác dĩ thái và những tiến bộ khoa học phụ thuộc vào sự hiện diện của loại thị giác này. |
7. The seventh group also has its peculiar mode of communication, uniting the “human spirits” to the forces which construct and fabricate the outer forms within the “Garment of God”. The Fifth Ray Lord has, interestingly, been called the “Divine Intermediary” (EP I 77), but so has the Fourth Ray Lord (EP I 71). The ‘distance’ between the fabricating forces and the soul on its own plane is considerable, but that ‘distance’ is even greater between the fabricating forces and the human monad. | 7. Nhóm thứ bảy cũng có phương thức giao tiếp đặc thù, liên kết “các tinh thần con người” với những mãnh lực xây dựng và tạo nên các hình tướng bên ngoài trong “Lớp Áo của Thượng đế”. Điều thú vị là Đấng Chúa Tể Cung năm đã được gọi là “Đấng Trung Gian Thiêng Liêng” (EP I 77), nhưng Đấng Chúa Tể Cung bốn cũng được gọi như vậy (EP I 71). ‘Khoảng cách’ giữa những mãnh lực tạo tác và linh hồn trên cõi riêng của nó là đáng kể, nhưng ‘khoảng cách’ ấy còn lớn hơn nữa giữa những mãnh lực tạo tác và chân thần con người. |
8. The task of these workers will be to ensure that the construction of the outer form conforms to the soul-intended pattern (which determines the nature of any given incarnation) and eventually to the spirit-intended pattern. Knowledge of the methods of many building forces on various planes (and of the words of power which control these forces) will eventually be necessary. One can understand that the full capacities of such groups will only slowly develop as the powers involved are dangerous in the hands of all except those who are tested servants of the Divine Plan. | 8. Nhiệm vụ của những người hoạt động này sẽ là bảo đảm việc xây dựng hình tướng bên ngoài phù hợp với mô hình mà linh hồn chủ định (mô hình quyết định bản chất của bất kỳ kiếp lâm phàm cụ thể nào), và cuối cùng là với mô hình mà tinh thần chủ định. Cuối cùng, sẽ cần có tri thức về các phương pháp của nhiều mãnh lực kiến tạo trên những cõi khác nhau (và về các quyền năng từ kiểm soát những mãnh lực ấy). Có thể thấu hiểu rằng toàn bộ năng lực của những nhóm như thế chỉ phát triển chậm rãi, vì những quyền năng liên quan sẽ nguy hiểm trong tay bất kỳ ai, ngoại trừ những người phụng sự Thiên Cơ đã vượt qua thử thách. |
9. The rapidly developing field of genetic engineering is related to the future work of the seventh group. Genetic engineering, at present, takes only the physical mechanism into consideration. It is ignorant of the quality of psyche which underlies the form and of the presence of soul/spirit which underlies the human psyche. We can see that much psychological sophistication will be required of those Scientific Servers who seek to serve in a divinely intended manner. The outer forms cannot be constructed according to strictly human ideas and preferences. Desire is no reliable guide in this matter. It is the will of the soul and spirit which determines the pattern according to which the deva forces must build. It will be no easy matter to determine the nature of this occultly recessed will. | 9. Lĩnh vực kỹ thuật di truyền đang phát triển nhanh chóng có liên hệ với công việc tương lai của nhóm thứ bảy. Hiện nay, kỹ thuật di truyền chỉ xem xét bộ máy hồng trần. Lĩnh vực này chưa biết đến phẩm tính của đời sống tâm lý nằm bên dưới hình tướng, cũng như sự hiện diện của linh hồn/tinh thần nằm bên dưới đời sống tâm lý con người. Chúng ta có thể thấy rằng những Người Phụng Sự Khoa Học muốn phụng sự theo ý định thiêng liêng sẽ cần có sự am hiểu sâu sắc và tinh tế về tâm lý. Không thể kiến tạo các hình tướng bên ngoài chỉ theo những ý tưởng và sở thích của con người. Dục vọng không phải là sự dẫn dắt đáng tin cậy trong vấn đề này. Chính ý chí của linh hồn và tinh thần quyết định mô hình mà các mãnh lực thiên thần phải theo đó kiến tạo. Xác định bản chất của ý chí ẩn sâu trong cõi huyền bí này sẽ không phải là việc dễ dàng. |
10. Today, as a race, we run the risk of interfering with divinely-intended processes and of meddling with forces which were better let alone. As our mentality grows, out potential for meddlesome damage will increase dramatically. Thus, a genuine and accurate soul-contact will be required of such Scientific Servers if they are not to do more damage than good. | 10. Ngày nay, với tư cách nhân loại, chúng ta có nguy cơ can thiệp vào những tiến trình theo ý định thiêng liêng và xen vào những mãnh lực mà tốt hơn nên để yên. Khi trí tuệ của chúng ta phát triển, khả năng gây tổn hại do sự can thiệp tùy tiện sẽ gia tăng mạnh mẽ. Do đó, những Người Phụng Sự Khoa Học ấy cần có sự tiếp xúc chân thực và chính xác với linh hồn, nếu họ muốn tránh gây hại nhiều hơn làm lợi. |
8. The Psychologists will form this next group and they will be concerned with the revelation of the fact of the soul and with the new psychology which will be based upon the seven ray types and the new esoteric astrology. Their major task will be to relate, through approved techniques, the soul and the personality, leading to the revelation of divinity through the medium of humanity. They will act also as transmitters of illumination between groups of thinkers and as illuminators of group thought. They transmit energy from one thought centre to another and, above everything else, they transmit the energy of ideas. The world of ideas is a world of dynamic force centres. Let this not be forgotten. These ideas have to be contacted and noted and their energy has to be assimilated and transmitted. | 8. Các Nhà Tâm Lý Học sẽ tạo thành nhóm tiếp theo này; họ sẽ quan tâm đến việc mặc khải sự thật về linh hồn và đến tâm lý học mới, dựa trên bảy loại cung và chiêm tinh học nội môn mới. Nhiệm vụ chủ yếu của họ là liên kết linh hồn và phàm ngã thông qua những kỹ thuật đã được kiểm chứng, dẫn đến sự mặc khải thiên tính qua nhân loại. Họ cũng sẽ truyền dẫn sự soi sáng giữa các nhóm tư tưởng gia và soi sáng tư tưởng nhóm. Họ truyền năng lượng từ trung tâm tư tưởng này sang trung tâm tư tưởng khác, và trên hết, họ truyền năng lượng của các ý tưởng. Thế giới ý tưởng là một thế giới của những trung tâm mãnh lực năng động. Đừng quên điều này. Cần tiếp xúc và ghi nhận những ý tưởng ấy, đồng thời đồng hóa và truyền dẫn năng lượng của chúng. |
1. With the field of esoteric psychology there is much presumed familiarity. Everywhere there are students of the seven rays, esoteric astrology, and the chakric system. | 1. Nhiều người tự cho mình đã quen thuộc với lĩnh vực Tâm Lý Học Nội Môn. Khắp nơi đều có những đạo sinh nghiên cứu bảy cung, chiêm tinh học nội môn và hệ thống luân xa. |
2. It is interesting that the Psychologists constitute the eighth group, relating them to the Christ-Principle (the number of which is eight). The soul principle is also the Christ-Principle, and thus, the number eight is completely suitable. In the design of the figure-eight we see the flowing, serpentine union of a higher sphere and a lower. Thus is the Great Work accomplished. | 2. Điều thú vị là các Nhà Tâm Lý Học hợp thành nhóm thứ tám, qua đó liên hệ họ với Nguyên khí Christ (có con số là tám). Nguyên khí linh hồn cũng là Nguyên khí Christ, và do đó, con số tám hoàn toàn thích hợp. Trong hình số tám, chúng ta thấy sự hợp nhất uốn lượn, tuôn chảy giữa một khối cầu cao hơn và một khối cầu thấp hơn. Như vậy, Công Trình Vĩ Đại được hoàn thành. |
3. The new psychology is equipped to explain the differences between the many types of human beings, as well as the modes of achieving right relations through the emphasis of points in common. | 3. Nền tâm lý học mới có đủ khả năng giải thích những khác biệt giữa nhiều loại người, cũng như những phương thức thiết lập các mối quan hệ đúng đắn bằng cách nhấn mạnh những điểm chung. |
4. It is no easy matter for the Solar Angel/soul to express through the personality mechanism. Fundamentally, soul and personality are two very different orders of life, functioning according to their own natures. Esoteric psychology (with its accurate knowledge of the energies and forces involved in both spheres) holds the secrets of right relations between these two periodic vehicles, and, eventually, engineers pervasion of the lower by the higher. | 4. Đối với Thái dương Thiên Thần/linh hồn, biểu hiện qua bộ máy phàm ngã không phải là việc dễ dàng. Về căn bản, linh hồn và phàm ngã là hai cấp loại sự sống rất khác nhau, hoạt động theo bản chất riêng của mỗi bên. Tâm Lý Học Nội Môn (với tri thức chính xác về những năng lượng và mãnh lực liên quan trong cả hai lĩnh vực) nắm giữ các bí mật về mối quan hệ đúng đắn giữa hai hiện thể có tính chu kỳ này, và cuối cùng tạo nên sự thấm nhuần của cái cao vào cái thấp. |
5. If the “fact of the soul” could be easily revealed, it would already be revealed, because for ages man has known of the higher aspects of his nature. There are, however, so many blockages to soul expression in the lower nature, that only an intimate understanding of both soul and personality and their interplay can clear the way for the true revelation of the fact of the soul. Right now, the soul, though suspected by many and contacted by some, is not an established fact in the consciousness of humanity. This establishment will probably fall to workers in France (with its fifth ray, spiritually-sensitive Piscean soul). A new form of scientific, esoteric psychology can be expected to emerge from that nation — eventually. | 5. Nếu “sự thật về linh hồn” có thể dễ dàng hiển lộ, thì nó hẳn đã hiển lộ rồi, bởi từ bao thời đại, con người đã biết đến những phương diện cao hơn trong bản chất mình. Tuy nhiên, trong bản chất thấp có quá nhiều chướng ngại đối với sự biểu hiện của linh hồn, đến nỗi chỉ sự thấu hiểu sâu sắc cả linh hồn lẫn phàm ngã cùng sự tương tác giữa chúng mới có thể dọn đường cho sự mặc khải chân thực về sự thật của linh hồn. Ngay lúc này, dù nhiều người phỏng đoán sự tồn tại của linh hồn và một số người đã tiếp xúc với linh hồn, linh hồn vẫn chưa phải là một sự thật đã được xác lập trong tâm thức nhân loại. Việc xác lập này có lẽ sẽ thuộc về những người hoạt động tại Pháp (với linh hồn cung năm thuộc Song Ngư, nhạy cảm về tinh thần của quốc gia này). Có thể kỳ vọng rằng một hình thức Tâm Lý Học Nội Môn mới mang tính khoa học cuối cùng sẽ xuất hiện từ quốc gia ấy. |
6. We see that the functions of this eighth group are several and diverse. “They will act also as transmitters of illumination between groups of thinkers and as illuminators of group thought”. Their Mercurial function (also correlated with the number eight) is quite clear, for it is Mercury that transmits illumination. When similarities between two previously unrelated factors are noticed, then light breaks forth. One can see that the fourth ray will also be involved in the functioning of the Psychologists, for it is the fourth ray (emitted by Mercury) which reveals unsuspected similarities between different things. | 6. Chúng ta thấy rằng nhóm thứ tám này có nhiều chức năng đa dạng. “Họ cũng sẽ đóng vai trò truyền sự soi sáng giữa các nhóm tư tưởng gia và soi sáng tư tưởng nhóm”. Chức năng mang tính Sao Thủy của họ (cũng tương ứng với con số tám) khá rõ ràng, vì chính Sao Thủy truyền sự soi sáng. Khi nhận thấy những điểm tương đồng giữa hai yếu tố trước đây chưa có liên hệ, ánh sáng liền bừng lên. Có thể thấy rằng cung bốn cũng sẽ tham gia vào hoạt động của các Nhà Tâm Lý Học, vì chính cung bốn (do Sao Thủy phát ra) làm hiển lộ những điểm tương đồng chưa từng được nghĩ tới giữa những sự vật khác nhau. |
7. Groups of thinkers are characterized by different qualities of energy and force. When light comes to a group from another group, it not only enhances the relations between the two groups, but illumines the understanding of the group receiving the light. Their understanding of the greater pattern enlarges, and their place within that pattern is more fully understood. Their own qualities of energy and force are seen in relation to the qualities of energies and forces which characterize different groups. Thus intelligent and loving relations between groups are facilitated through an increasing understanding of how to interact skillfully — based upon an exact knowledge of energy and force. | 7. Các nhóm tư tưởng gia mang những phẩm tính năng lượng và mãnh lực khác nhau. Khi ánh sáng từ một nhóm đến với nhóm khác, nó không chỉ tăng cường mối quan hệ giữa hai nhóm mà còn soi sáng sự thấu hiểu của nhóm tiếp nhận ánh sáng. Sự thấu hiểu của họ về mô hình lớn hơn được mở rộng, và họ thấu hiểu đầy đủ hơn vị trí của mình trong mô hình ấy. Họ nhìn nhận những phẩm tính năng lượng và mãnh lực của chính mình trong mối liên hệ với những phẩm tính năng lượng và mãnh lực đặc trưng cho các nhóm khác. Như vậy, các mối quan hệ thông minh và đầy tình thương giữa các nhóm trở nên thuận lợi hơn nhờ sự thấu hiểu ngày càng tăng về cách tương tác khéo léo — dựa trên tri thức chính xác về năng lượng và mãnh lực. |
8. How is group thought to be illumined? In every group thought exists, but unless such thought is seen within a broader context, its ‘light value’ remains at a relatively low level. It is by understanding the relations between the thought of one group and the thought of other groups within the larger whole, that light flashes forth. The Psychologists understand the energy and force qualities of the various groups and of the parts of the whole in general. Thus the Psychologists can connect one group with another, promoting the flow of light through this connection. We are dealing with “Mercury who, as the Messenger of the Gods or the ‘divine Intermediary, carries messages between the poles with speed and light’. ” | 8. Làm thế nào để soi sáng tư tưởng nhóm? Mỗi nhóm đều có tư tưởng, nhưng nếu tư tưởng ấy không được nhìn nhận trong một bối cảnh rộng lớn hơn, thì ‘giá trị ánh sáng’ của nó vẫn ở mức tương đối thấp. Chính nhờ thấu hiểu các mối quan hệ giữa tư tưởng của một nhóm với tư tưởng của những nhóm khác trong tổng thể lớn hơn mà ánh sáng lóe lên. Các Nhà Tâm Lý Học thấu hiểu những phẩm tính năng lượng và mãnh lực của các nhóm khác nhau, và của các bộ phận trong tổng thể nói chung. Do đó, các Nhà Tâm Lý Học có thể kết nối nhóm này với nhóm khác, thúc đẩy dòng ánh sáng tuôn chảy qua sự kết nối ấy. Chúng ta đang bàn đến “Sao Thủy, Đấng với vai trò Sứ Giả của các Thượng đế hay ‘Đấng Trung Gian thiêng liêng, chuyển các thông điệp giữa hai cực bằng tốc độ và ánh sáng’. ” |
9. In general when thought of a certain quality is analyzed for its energy and force content (by utilizing the sciences of the seven rays and esoteric astrology) the light content of that thought is significantly enhanced. The principle involved here is that ‘right relationship produces light’. | 9. Nhìn chung, khi phân tích thành phần năng lượng và mãnh lực của tư tưởng mang một phẩm tính nhất định (bằng cách vận dụng các khoa học về bảy cung và chiêm tinh học nội môn), hàm lượng ánh sáng của tư tưởng ấy gia tăng đáng kể. Nguyên khí liên quan ở đây là ‘mối quan hệ đúng đắn tạo ra ánh sáng’. |
10. The Psychologists, we come to understand, transmit energy from one thought center to another. In this way their work is related to the work of the Telepathic Communicators. They can accomplish this transmission because they understand the energy patterns which characterize the various thought centers. They can ‘speak the language’ (the ‘energy language’) of various thoughts centers. They are, in fact, ‘energy translators’, adapting and qualifying the energies and forces of thought patterns so they can be received by thought centers organized along their own unique lines. | 10. Chúng ta dần thấu hiểu rằng các Nhà Tâm Lý Học truyền năng lượng từ trung tâm tư tưởng này sang trung tâm tư tưởng khác. Theo cách này, công việc của họ liên hệ với công việc của Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm. Họ có thể thực hiện sự truyền dẫn này vì họ thấu hiểu những mô hình năng lượng đặc trưng cho các trung tâm tư tưởng khác nhau. Họ có thể ‘nói ngôn ngữ’ (tức ‘ngôn ngữ năng lượng’) của các trung tâm tư tưởng khác nhau. Thực ra, họ là những ‘người phiên dịch năng lượng’, điều chỉnh và phú cho những năng lượng cùng mãnh lực của các mô hình tư tưởng những phẩm tính thích hợp, để các trung tâm tư tưởng được tổ chức theo những đường hướng riêng biệt có thể tiếp nhận chúng. |
11. Christ and the Buddha (both supremely gifted as esoteric psychologists) could speak to anyone. This gift is characteristic of many members of Hierarchy who understand the nature of energy and what people of various kinds are equipped to ‘hear’ and understand. | 11. Đức Christ và Đức Phật (cả hai đều có tài năng xuất chúng với tư cách các nhà tâm lý học nội môn) có thể nói chuyện với bất kỳ ai. Tài năng này là đặc trưng của nhiều thành viên Thánh đoàn, những Đấng thấu hiểu bản chất của năng lượng và biết các loại người khác nhau có khả năng ‘nghe’ và thấu hiểu những gì. |
12. The Psychologists also transmit the “energy of ideas”. Ideas are incorporeal, but they give form and figure to shapeless substance. In Glamor: A World Problem, p. 14, Plutarch is quoted for a definition of the term, “Idea”: | 12. Các Nhà Tâm Lý Học cũng truyền “năng lượng của các ý tưởng”. Các ý tưởng không có thân thể, nhưng chúng tạo hình tướng và hình dạng cho chất liệu chưa định hình. Trong Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, tr. 14, một câu của Plutarch được trích dẫn để định nghĩa thuật ngữ “Ý tưởng”: |
“An idea is a Being incorporeal, which has no subsistence of itself, but gives figure and form unto shapeless matter and becomes the cause of the manifestation. ” | “Một ý tưởng là một Thực Thể không có thân thể, không tự tồn tại độc lập, nhưng tạo hình dạng và hình tướng cho vật chất chưa định hình và trở thành nguyên nhân của sự biểu hiện. ” |
Every idea has its own inherent ‘pattern of energy’, though such patterns are not spatial and temporal (as we commonly understand those terms). | Mỗi ý tưởng đều có ‘mô hình năng lượng’ vốn có của riêng mình, dù những mô hình ấy không thuộc không gian và thời gian (theo cách chúng ta thường hiểu các thuật ngữ đó). |
13. Ideas reside upon the buddhic plane (though they are derived from the highest subplanes of the cosmic physical plane — namely, the monadic and logoic). Their origin, in fact, is even higher. | 13. Các ý tưởng hiện hữu trên cõi Bồ đề (dù chúng bắt nguồn từ những cõi phụ cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ — tức cõi chân thần và cõi Thượng đế). Thực ra, nguồn gốc của chúng còn cao hơn nữa. |
14. A true Esoteric Psychologist has access to the buddhic plane via the antahkarana, and is not limited to the world of thought — strictly speaking, the mental plane. . Rather, he/she penetrates the world of intuition and both knows and ‘feels’ the ‘energy value’ of the ideas contacted. Again, the planet Mercury is involved in the process. | 14. Một Nhà Tâm Lý Học Nội Môn chân chính có thể tiếp cận cõi Bồ đề qua antahkarana, và không bị giới hạn trong thế giới tư tưởng — nói chính xác là cõi trí. . Thay vào đó, người ấy thâm nhập thế giới trực giác, vừa biết vừa ‘cảm nhận’ được ‘giá trị năng lượng’ của những ý tưởng mà mình tiếp xúc. Một lần nữa, hành tinh Sao Thủy tham gia vào tiến trình này. |
15. Thus, the Psychologists are “sensitives” and truly psychic in the higher sense, but they also possess an acute mentality which can understand and describe the quality of that which they intuitively contact. They blend the second, fourth and fifth rays in their work. It is interesting to understand that the hierarchical Department of Psychology is much under the supervision of an unnamed fourth ray Master, the Master “P.”. These facts further emphasize the importance of the planet Mercury and of buddhic contact. | 15. Do đó, các Nhà Tâm Lý Học là những “người nhạy cảm” và thực sự có tính thông linh theo nghĩa cao hơn, nhưng họ cũng sở hữu một trí tuệ sắc bén, có thể thấu hiểu và mô tả phẩm tính của những gì họ tiếp xúc bằng trực giác. Họ hòa phối cung hai, cung bốn và cung năm trong công việc của mình. Điều thú vị là Ban Tâm Lý Học của Thánh đoàn phần lớn chịu sự giám sát của một Chân sư cung bốn chưa được nêu danh, Chân sư “P.”. Những sự thật này càng nhấn mạnh tầm quan trọng của hành tinh Sao Thủy và của sự tiếp xúc với cõi Bồ đề. |
16. We might say that the Psychologists can understand and contact ‘qualified points of ideation’ as they exist on the buddhic plane. They understand these points or “force centers” both in themselves and in relation to other points or force centers. It is said of the Master DK that “He is profoundly learned, and knows more about the rays and planetary Hierarchies of the solar system than anyone else in the ranks of the Masters”. This type of knowledge qualifies Him as an esoteric psychologist and is, perhaps, the major reason why He was responsible for introducing this esoteric science to the modern world. | 16. Chúng ta có thể nói rằng các Nhà Tâm Lý Học có thể thấu hiểu và tiếp xúc với ‘những điểm tạo ý tưởng mang phẩm tính xác định’ như chúng hiện hữu trên cõi Bồ đề. Họ thấu hiểu những điểm hay “trung tâm mãnh lực” này cả ở chính chúng lẫn trong mối quan hệ với những điểm hay trung tâm mãnh lực khác. Có lời nói về Chân sư DK rằng “Ngài uyên bác sâu rộng, và hiểu biết về các cung cùng các Huyền Giai hành tinh của hệ mặt trời nhiều hơn bất kỳ ai khác trong hàng ngũ các Chân sư”. Loại tri thức này khiến Ngài có đủ khả năng làm một nhà tâm lý học nội môn, và có lẽ là lý do chính khiến Ngài đảm trách việc giới thiệu khoa học nội môn này với thế giới hiện đại. |
17. We note also that the Psychologists not only contact these force centers (‘ideational points’) but assimilate them as well as transmit the energy emanating from such centers. A true Esoteric Psychologist is an energy recipient, transformer and transmitter — all of these actions proceeding in a conscious manner. | 17. Chúng ta cũng lưu ý rằng các Nhà Tâm Lý Học không chỉ tiếp xúc với những trung tâm mãnh lực này (‘những điểm tạo ý tưởng’) mà còn đồng hóa chúng cũng như truyền năng lượng phát xạ từ những trung tâm ấy. Một Nhà Tâm Lý Học Nội Môn chân chính là người tiếp nhận, chuyển đổi và truyền năng lượng — tất cả những hoạt động này đều diễn ra một cách có ý thức. |
9. This ninth group will be composed of Financiers and Economists. They will work with the energies and forces which express themselves through the interchange and the values of commerce; they will deal with the Law of Supply and Demand and with the great principle of Sharing which ever governs divine purpose. They will +[40] be the great psychometrical workers, for a psychometrist is one whose soul is sensitive to the soul in others and in all forms of life. The principle of Sharing which must govern economic relations in the future is a soul quality or energy and hence their work of relating soul with soul. They also evoke the soul of the past, linking it with the present and finding it likewise indicative of the future. | 9. Nhóm thứ chín này sẽ gồm Các Nhà Tài Chính và Kinh Tế Học. Họ sẽ làm việc với những năng lượng và mãnh lực biểu hiện qua sự trao đổi và các giá trị thương mại; họ sẽ đề cập đến Định luật Cung Cầu và nguyên khí lớn lao của Sự Chia Sẻ, vốn luôn chi phối Thiên Ý. Họ sẽ [40] là những người hoạt động trắc tâm lớn lao, vì một nhà trắc tâm là người có linh hồn nhạy cảm với linh hồn nơi những người khác và trong mọi hình tướng sự sống. Nguyên khí Chia Sẻ, vốn phải chi phối các quan hệ kinh tế trong tương lai, là một phẩm tính hay năng lượng linh hồn; do đó, công việc của họ là liên kết linh hồn với linh hồn. Họ cũng gợi lên linh hồn của quá khứ, liên kết nó với hiện tại và nhận ra rằng nó đồng thời cũng báo hiệu tương lai. |
1. The number nine is associated with the third ray of Active Intelligence — a ray that has much to do with the handling of that which is called “money”. | 1. Con số chín gắn với cung ba của Thông Tuệ Hoạt Động — một cung liên quan rất nhiều đến việc xử lý thứ được gọi là “tiền”. |
2. Financiers supply money for the purposes of manifestation. Economists are those who understand the patterns involved in the flow of money. | 2. Các Nhà Tài Chính cung cấp tiền cho những mục đích biểu hiện. Các Nhà Kinh Tế Học là những người thấu hiểu các mô hình liên quan đến dòng lưu chuyển của tiền. |
3. Mercury again is involved, for He is the “God of Commerce”. | 3. Một lần nữa, Sao Thủy có liên quan, vì Ngài là “Thượng đế của Thương Mại”. |
4. The members of this group are involved in supervising an exchange of goods and services. This exchange is based upon a knowledge of relative values. | 4. Các thành viên của nhóm này tham gia giám sát việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Sự trao đổi này dựa trên tri thức về các giá trị tương đối. |
5. The more they know about the Divine Plan, the more accurately they will be able to determine the value of that which is exchanged. It is clear that the principle of intelligence must be highly developed in them, as one would expect, because of the importance of the third ray within this group. | 5. Càng biết nhiều về Thiên Cơ, họ càng có thể xác định chính xác giá trị của những gì được trao đổi. Rõ ràng, nguyên khí thông tuệ phải phát triển cao độ nơi họ, đúng như người ta có thể dự kiến, vì tầm quan trọng của cung ba trong nhóm này. |
6. The purpose of commerce is to ensure that that which is needed reaches those in whom the need exists. Goods and services are distributed (hopefully in accordance with the Divine Plan) so that the various needs of various units of life may be fulfilled. The archetypal pattern behind all this distribution is the “Divine Circulatory Flow”. Aquarius is the sponsor of this flow and the Aquarian ideal of right sharing will make much progress as the work of this group advances and as the Aquarian energy strengthens. | 6. Mục đích của thương mại là bảo đảm những gì cần thiết đến được với những người có nhu cầu. Hàng hóa và dịch vụ được phân phối (hy vọng là phù hợp với Thiên Cơ) để đáp ứng những nhu cầu khác nhau của các đơn vị sự sống khác nhau. Mô hình nguyên mẫu đằng sau toàn bộ sự phân phối này là “Dòng Tuần Hoàn Thiêng Liêng”. Bảo Bình bảo trợ dòng lưu chuyển này, và lý tưởng chia sẻ đúng đắn của Bảo Bình sẽ tiến triển đáng kể khi công việc của nhóm này tiến lên và năng lượng Bảo Bình tăng cường. |
7. The Principle of Sharing governs the work of this group. Of course, it must be a sharing based upon correct knowledge of the Plan and of those among whom the sharing occurs. Sharing must be characterized by a wise appropriateness. All goods and services are not to be distributed with exact equality, as the needs of the units within any system are various and are to be intelligently met. A strictly equal distribution will not meet those needs. Some organs of the body, for instance, need more blood than others. A strictly equal distribution of blood to all organs irrespective of their capacity and needs would not serve the welfare of the body. | 7. Nguyên khí Chia Sẻ chi phối công việc của nhóm này. Dĩ nhiên, đó phải là sự chia sẻ dựa trên tri thức đúng đắn về Thiên Cơ và về những người tham gia vào sự chia sẻ ấy. Sự chia sẻ phải có tính thích hợp sáng suốt. Không nên phân phối mọi hàng hóa và dịch vụ hoàn toàn đồng đều, vì nhu cầu của các đơn vị trong bất kỳ hệ thống nào cũng khác nhau và cần được đáp ứng một cách thông minh. Sự phân phối hoàn toàn đồng đều sẽ không đáp ứng được những nhu cầu ấy. Chẳng hạn, một số cơ quan trong cơ thể cần nhiều máu hơn những cơ quan khác. Phân phối máu hoàn toàn đồng đều cho mọi cơ quan, bất kể khả năng và nhu cầu của chúng, sẽ không phục vụ sức khỏe của cơ thể |
8. The “relations between the part and the whole” is a philosophical subject which may engage the thought of the members of this group. In a way, they are systems analysts, who must have an overview of the entire system if they are to understand how the Principle of Sharing may best be applied. Probably, no economist today (other than a hierarchical economist) has such a vision. | 8. Các “mối quan hệ giữa bộ phận và tổng thể” là một chủ đề triết học có thể thu hút sự suy tư của các thành viên nhóm này. Theo một nghĩa nào đó, họ là những nhà phân tích hệ thống, những người phải có cái nhìn bao quát toàn bộ hệ thống nếu muốn thấu hiểu cách áp dụng Nguyên khí Chia Sẻ tốt nhất. Có lẽ ngày nay không nhà kinh tế học nào (ngoài một nhà kinh tế học thuộc Thánh đoàn) có được tầm nhìn như thế. |
9. It is interesting to consider that the worker in group nine will be “psychometrical workers” sensitive to the soul in all forms. Why may this be? Perhaps in order to determine the true needs of all units of life — the physical and spiritual needs. DK tells us that the Principle of Sharing is a “soul quality” and, thus, the need of understanding the soul dimension in those among whom sharing is to occur. Only an understanding of real soul values will illuminate the best way to share. | 9. Thật thú vị khi suy xét rằng người hoạt động trong nhóm chín sẽ là “những người hoạt động trắc tâm” nhạy cảm với linh hồn trong mọi hình tướng. Vì sao có thể như vậy? Có lẽ để xác định những nhu cầu đích thực của mọi đơn vị sự sống — những nhu cầu hồng trần và tinh thần. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng Nguyên khí Chia Sẻ là một “phẩm tính linh hồn”, và do đó cần thấu hiểu chiều kích linh hồn nơi những người sẽ tham gia vào sự chia sẻ. Chỉ sự thấu hiểu những giá trị linh hồn đích thực mới soi sáng cách chia sẻ tốt nhất. |
10. We can see that the work of this ninth group is not strictly material, though they deal with the distribution of the things by which men live. They, too, are asked to have a knowledge of esoteric psychology, and their connection with their own soul is indispensable. The problem with modern economics is that it is not a ‘soul-based-economics’ and most modern economists and financiers lack sufficient soul contact to wisely oversee the responsibilities which have fallen to them. | 10. Chúng ta có thể thấy rằng công việc của nhóm thứ chín này không hoàn toàn mang tính vật chất, dù họ xử lý việc phân phối những thứ con người cần để sống. Họ cũng được yêu cầu có tri thức về Tâm Lý Học Nội Môn, và sự kết nối với linh hồn của chính họ là điều không thể thiếu. Vấn đề của kinh tế học hiện đại là nó chưa phải một nền ‘kinh tế học dựa trên linh hồn’, và phần lớn các nhà kinh tế học cùng các nhà tài chính hiện đại chưa có đủ sự tiếp xúc với linh hồn để sáng suốt quán xuyến những trách nhiệm đã được giao phó cho họ. |
11. When psychometry reveals what might be called ‘soul value’, then the more material values will be properly adjusted and distribution will proceed guided by an enhanced sense of the needs of every soul. | 11. Khi thuật trắc tâm làm hiển lộ điều có thể gọi là ‘giá trị linh hồn’, thì những giá trị thiên về vật chất hơn sẽ được điều chỉnh thích đáng, và sự phân phối sẽ tiến hành dưới sự dẫn dắt của nhận thức sâu sắc hơn về nhu cầu của mỗi linh hồn. |
12. Curiously, we learn of this group that “They also evoke the soul of the past, linking it with the present and finding it likewise indicative of the future”. Civilization is in constant flux and progression. Old values are either preserved or discarded. Present values reflect the values the have been and those which are anticipated. Future values arise both from established values and the impending values which intuition reveals. That which is valued in society depends upon a relation between the values of the past, present and future. | 12. Điều đáng chú ý là chúng ta được biết về nhóm này rằng “Họ cũng gợi lên linh hồn của quá khứ, liên kết nó với hiện tại và nhận thấy nó cũng chỉ dấu cho tương lai”. Nền văn minh không ngừng biến đổi và tiến triển. Những giá trị cũ hoặc được giữ gìn, hoặc bị loại bỏ. Những giá trị hiện tại phản ánh các giá trị đã từng tồn tại và những giá trị đang được mong đợi. Những giá trị tương lai phát sinh từ cả các giá trị đã được xác lập lẫn các giá trị sắp đến mà trực giác làm hiển lộ. Những gì xã hội coi trọng tùy thuộc vào mối quan hệ giữa các giá trị của quá khứ, hiện tại và tương lai. |
13. In a very practical manner, the Financiers and Economists are involved in determining which materialized values of the past should be preserved, and which manifestations (to embody emerging values) should be precipitated. Their work in relation to values can become extremely tangible. They often determine, for instance, which buildings from the past will be preserved and which of many possible new buildings will be built. All this depends upon the prevalent balance of values in society. | 13. Theo một cách rất thực tế, các Nhà Tài Chính và các Nhà Kinh Tế Học tham gia xác định những giá trị nào của quá khứ đã hiện hình cần được gìn giữ, và những biểu hiện nào (để hiện thân cho các giá trị đang xuất hiện) cần được ngưng tụ. Công việc của họ liên quan đến các giá trị có thể trở nên hết sức cụ thể. Chẳng hạn, họ thường quyết định những công trình nào từ quá khứ sẽ được bảo tồn và những công trình mới nào trong số nhiều khả năng sẽ được xây dựng. Tất cả những điều này tùy thuộc vào thế cân bằng hiện hành giữa các giá trị trong xã hội. |
14. It is instructive to realize how much of soul culture is required if the workers in this apparently materialistic field are to perform their duties properly. | 14. Thật hữu ích khi nhận ra cần phải vun bồi linh hồn đến mức nào để những người hoạt động trong lĩnh vực có vẻ thiên về vật chất này có thể thực hiện đúng đắn bổn phận của mình. |
10. This is the group of Creative Workers. They are communicators between the third aspect of Divinity, the Creative Aspect — as it expresses itself through the creative work and in response to the thought world — and the first aspect, Life. They link and blend life and form creatively. They are closely related to the ninth group because today, unknowingly and without any true understanding, they are bringing about a concretisation of the energy of desire; this in its turn brings about the creation of things. Incidentally, therefore, they are concerned with the concretisation of money. Their work is also largely philosophical and concerned with the task of relating — factually and scientifically — the other nine types of groups so that they may work creatively upon the physical plane and the divine Plan may clearly appear as a result of this synthesis which they bring about. | 10. Đây là nhóm Những Người Hoạt Động Sáng Tạo. Họ làm trung gian giao tiếp giữa phương diện thứ ba của Thiên Tính, Phương Diện Sáng Tạo—khi phương diện này biểu hiện qua công việc sáng tạo và đáp ứng thế giới tư tưởng—với phương diện thứ nhất, Sự Sống. Họ liên kết và hòa quyện sự sống với hình tướng một cách sáng tạo. Họ có mối liên hệ chặt chẽ với nhóm thứ chín, vì ngày nay, một cách vô thức và không có sự thấu hiểu thực sự, họ đang cụ thể hóa năng lượng dục vọng; đến lượt nó, điều này dẫn đến việc tạo ra các sự vật. Vì vậy, một hệ quả kèm theo là họ cũng liên quan đến việc cụ thể hóa tiền bạc. Công việc của họ cũng mang tính triết học sâu đậm, liên quan đến nhiệm vụ liên kết chín loại nhóm kia một cách thực tế và khoa học, để các nhóm ấy có thể làm việc sáng tạo trên cõi hồng trần, và Thiên Cơ có thể hiển lộ rõ ràng nhờ sự tổng hợp mà họ tạo nên. |
1. We come at last to the tenth and most synthetic group. Whereas the other groups are to have, initially, nine members, the final group is to have twenty-seven — three from each of the former groups. | 1. Cuối cùng, chúng ta đến với nhóm thứ mười, nhóm có tính tổng hợp cao nhất. Trong khi các nhóm khác ban đầu sẽ có chín thành viên, nhóm cuối cùng sẽ có hai mươi bảy — ba người từ mỗi nhóm trước đó. |
2. This group links the third and first aspects of divinity. | 2. Nhóm này liên kết phương diện thứ ba và phương diện thứ nhất của thiên tính. |
3. Artistic work may be included within the scope of group ten, but the creativity here discussed is much wider than artistic work, strictly speaking. | 3. Công việc nghệ thuật có thể nằm trong phạm vi của nhóm mười, nhưng sự sáng tạo được bàn đến ở đây rộng lớn hơn nhiều so với công việc nghệ thuật theo nghĩa chặt chẽ. |
4. The group is concerned with the creative linking and blending of life and form. One of the planes of importance in relation to their work is the atmic plane, being a plane through which both the first and third aspects of divinity naturally express. | 4. Nhóm này quan tâm đến việc liên kết và hòa phối sự sống với hình tướng một cách sáng tạo. Một trong những cõi có tầm quan trọng đối với công việc của họ là cõi atma, vì đây là cõi mà cả phương diện thứ nhất lẫn phương diện thứ ba của thiên tính đều biểu hiện một cách tự nhiên. |
5. This group is closely linked to the ninth group, but, in a way, has a more concrete and precipatory function. This tenth group is a vehicle of expression for the seventh ray (as well as the third), and its power to precipitate depends upon this ray which links the “highest” and the “lowest”. | 5. Nhóm này liên kết mật thiết với nhóm thứ chín, nhưng theo một nghĩa nào đó, có chức năng cụ thể hơn và thiên về sự ngưng tụ hơn. Nhóm thứ mười này là một hiện thể biểu hiện của cung bảy (cũng như cung ba), và quyền năng ngưng tụ của nó tùy thuộc vào cung này, cung liên kết cái “cao nhất” với cái “thấp nhất”. |
6. Members of this group bring about a “concretisation of the energy of desire” which, today, works out in the “creation of things”. Desire may remain fluid and unspecified in its aim, but under the influence of the seventh ray, its objectives become more specific and its attractive power is directed towards materialization. | 6. Các thành viên của nhóm này tạo ra “sự cụ thể hóa năng lượng dục vọng”, mà ngày nay biểu hiện thành “việc tạo ra các sự vật”. Dục vọng có thể vẫn linh động và chưa xác định rõ mục tiêu, nhưng dưới ảnh hưởng của cung bảy, các mục tiêu của nó trở nên cụ thể hơn và sức thu hút của nó hướng đến sự hiện hình. |
7. Through the concretization of money, Group Ten is related to Group Nine (which, it seems, is more concerned with issues of soul values and the assessment of energy patterns which determine sharing). Group Ten, however, is involved in the magical process which actually brings things into precipitation. | 7. Qua việc cụ thể hóa tiền, Nhóm Mười liên hệ với Nhóm Chín (nhóm dường như quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề về giá trị linh hồn và việc đánh giá các mô hình năng lượng quyết định sự chia sẻ). Tuy nhiên, Nhóm Mười tham gia vào tiến trình huyền thuật thực sự đưa các sự vật vào sự ngưng tụ. |
8. The philosophical duties of Group Ten relate it to the third ray. The “Factor of Synthesis” (usually connected with the first ray) is of considerable importance in the functioning of this group. Members of the tenth group are to organize, coordinate, and synthesize the interplay of the other nine groups, bringing the fruits of this synthesized interplay into manifestation. If this can be done, a miniature replica of the Divine Plan will appear on Earth. | 8. Các nhiệm vụ triết học của Nhóm Mười liên kết nhóm này với cung ba. Yếu tố “Tổng Hợp” (thường gắn với cung một) có tầm quan trọng đáng kể trong hoạt động của nhóm này. Các thành viên của nhóm thứ mười phải tổ chức, phối hợp và tổng hợp sự tương tác của chín nhóm còn lại, đưa thành quả của sự tương tác đã được tổng hợp này vào biểu hiện. Nếu có thể thực hiện điều này, một bản sao thu nhỏ của Thiên Cơ sẽ xuất hiện trên Trái Đất. |
9. We can see, therefore, that the task of Group Ten is one of consummation, and, indeed, the seventh ray is the consummatory ray. | 9. Do đó, chúng ta có thể thấy rằng nhiệm vụ của Nhóm Mười là hoàn tất, và quả thật, cung bảy là cung mang lại sự hoàn tất. |
10. We may expect that the other groups must be well into the expression of their duties and qualities before the full task of the Creative Workers can be expressed. | 10. Chúng ta có thể dự liệu rằng các nhóm khác phải tiến khá xa trong việc thể hiện các nhiệm vụ và phẩm tính của mình trước khi toàn bộ nhiệm vụ của Những Người Hoạt Động Sáng Tạo có thể được thể hiện. |
11. It should be especially important for the Laws of White Magic to be in the possession of the Creative Workers, for their task is a coordinated, creative precipitation of that which all Ashrams and their representative groups intend in concert. | 11. Việc Những Người Hoạt Động Sáng Tạo nắm vững các Định luật Chánh Thuật hẳn phải đặc biệt quan trọng, vì nhiệm vụ của họ là thực hiện sự ngưng tụ có phối hợp và sáng tạo đối với những gì mà tất cả các ashram cùng các nhóm đại diện của mình đồng lòng dự định. |
12. In relation to this group, “The Highest and the Lowest Meet”. The Creative Workers must not only be cognizant of Divine Purpose (broadly considered as it manifests through all Ashrams), but sufficiently practical to bring the intended patterns into manifestation despite the resistance of the “ancient fires”. This will require considerable magical skill in action. | 12. Trong mối liên hệ với nhóm này, “Cái Cao Nhất và Cái Thấp Nhất Gặp Nhau”. Những Người Hoạt Động Sáng Tạo không chỉ phải nhận biết Thiên Ý (xét theo nghĩa rộng qua sự biểu hiện của Thiên Ý xuyên qua tất cả các ashram), mà còn phải đủ thực tế để đưa những mô hình đã dự định vào biểu hiện bất chấp sự kháng cự của “những ngọn lửa cổ xưa”. Điều này đòi hỏi kỹ năng huyền thuật đáng kể trong hành động. |
III. These groups are also an externalisation of an inner existing condition. They are an effect and not a cause. That they themselves may have an initiatory effect (as they work out into manifestation upon the physical plane) is no doubt true; but they are themselves the product of an inner activity and of a subjective aggregation of forces which must perforce become objective. The work of the disciples who find their place in these various groups is to keep in close rapport with ten inner groups which form, nevertheless, one large active group. | III. Các nhóm này cũng là một sự ngoại hiện của một trạng thái hiện hữu bên trong. Họ là kết quả chứ không phải nguyên nhân. Chắc chắn bản thân họ có thể có tác động khởi phát khi đi vào biểu hiện trên cõi hồng trần; nhưng chính họ là sản phẩm của một hoạt động bên trong và của sự tập hợp chủ quan những mãnh lực tất yếu phải trở nên khách quan. Công việc của các đệ tử tìm được vị trí của mình trong những nhóm khác nhau này là duy trì sự hòa hợp mật thiết với mười nhóm nội tại, tuy vậy vẫn hợp thành một nhóm hoạt động lớn duy nhất. |
1. The Seed Groups are considered in relation to cause and effect. | 1. Các Nhóm hạt giống được xem xét trong mối liên hệ với nguyên nhân và kết quả. |
2. That they are causative is doubtlessly true, for their appearance will bring about great changes in humanity’s approach to the spiritual realities of life. | 2. Các nhóm này có vai trò tạo nguyên nhân là điều chắc chắn đúng, vì sự xuất hiện của chúng sẽ mang lại những thay đổi lớn trong cách nhân loại tiếp cận các thực tại tinh thần của sự sống. |
3. However, the groups are a precipitation of ‘inner groups’ already existent. Within the various Ashrams, inner groups which are the prototypes of the outer Seed Groups are already organized and potent. | 3. Tuy nhiên, các nhóm là sự ngưng tụ của ‘những nhóm bên trong’ vốn đã hiện hữu. Trong các ashram khác nhau, những nhóm bên trong vốn là nguyên mẫu của các Nhóm hạt giống bên ngoài đã được tổ chức và có quyền năng mạnh mẽ. |
4. Therefore, the Seed Groups do not have to be invented or creatively designed; their prototypes exist. What is required of Seed Group members is alignment with those inner Ashramic groups, and faithful precipitation of the patterns which already inwardly exist. | 4. Do đó, không cần phải phát minh hay thiết kế một cách sáng tạo các Nhóm hạt giống; các nguyên mẫu của chúng đã hiện hữu. Điều đòi hỏi ở các thành viên Nhóm hạt giống là chỉnh hợp với những nhóm ashram bên trong ấy, và ngưng tụ một cách trung thực những mô hình vốn đã hiện hữu bên trong. |
5. The inner personnel far outnumber the disciples on the outer plane who are trying to assist in the emergence of the Seed Groups. The outer disciples’ task of precipitation requires a close meditative alignment with the inner groups so that that which is precipitated may be faithful to the inner pattern. | 5. Số nhân sự bên trong vượt xa số đệ tử trên cõi bên ngoài đang cố gắng hỗ trợ sự xuất hiện của các Nhóm hạt giống. Các đệ tử bên ngoài có nhiệm vụ ngưng tụ, và nhiệm vụ này đòi hỏi sự chỉnh hợp mật thiết qua tham thiền với các nhóm bên trong, để những gì ngưng tụ có thể trung thực với mô hình bên trong. |
6. It is interesting to realize that, just as the first nine Seed Groups are synthesized by the tenth, so all the inner groups are really but “one large active group”, subjectively existent. This large inner group is a kind of subjective replica of the entirety of the Spiritual Hierarchy. The many lines of service emanating from Hierarchy can find rather full expression in this large inner group which expresses through ten inner groups which, in turn, express through ten outer groups — the Seed Groups upon the physical plane. (The Seed Groups, considered as complete units, are composed of both inner and outer workers. ) | 6. Thật thú vị khi nhận ra rằng, cũng như chín Nhóm hạt giống đầu tiên được nhóm thứ mười tổng hợp, tất cả các nhóm bên trong thực ra cũng chỉ là “một nhóm hoạt động lớn duy nhất”, hiện hữu một cách chủ quan. Nhóm lớn bên trong này là một dạng bản sao chủ quan của toàn thể Thánh đoàn. Nhiều đường hướng phụng sự phát xuất từ Thánh đoàn có thể tìm được sự biểu hiện khá đầy đủ trong nhóm lớn bên trong này; nhóm này biểu hiện qua mười nhóm bên trong, rồi đến lượt mình, các nhóm ấy biểu hiện qua mười nhóm bên ngoài — các Nhóm hạt giống trên cõi hồng trần. (Xét như những đơn vị hoàn chỉnh, các Nhóm hạt giống bao gồm cả những người hoạt động bên trong lẫn bên ngoài. ) |
7. The important thing to realize is that the model exists and the outlines of the model are clear. The entire Seed Group Project is a hierarchical project, and the human beings involved in it are simply taking their place within a pre-conceived design which is part of the Divine Plan. | 7. Điều quan trọng cần nhận ra là mô hình đã hiện hữu và những đường nét của mô hình đã rõ ràng. Toàn bộ Dự Án Nhóm hạt giống là một dự án của Thánh đoàn, và những người tham gia chỉ đơn giản đảm nhận vị trí của mình trong một thiết kế đã được hình thành từ trước, vốn là một phần của Thiên Cơ. |
This group force will then pour through all the various groups just in so far as the disciples in the groups do the following things as a group: | Khi ấy, mãnh lực nhóm này sẽ tuôn qua tất cả các nhóm khác nhau, đúng theo mức độ các đệ tử trong các nhóm thực hiện những điều sau đây với tư cách một nhóm: |
1. Keep en rapport with the inner source of power. | 1. Duy trì sự hòa hợp với nguồn quyền năng bên trong. |
1. We are here speaking of the methods of empowerment of the outer groups. Inner groups exist, but their effect upon the outer groups has certain requirements. | 1. Ở đây, chúng ta đang nói về những phương pháp tiếp truyền quyền năng cho các nhóm bên ngoài. Các nhóm bên trong hiện hữu, nhưng để tạo tác động lên các nhóm bên ngoài thì cần đáp ứng một số yêu cầu nhất định. |
2. We must not forget from whence originates the power which animates the outer Seed Groups. No Seed Group lives unto itself, nor is any human being, per se, directing the formation and development of a Seed Group. These groups are hierarchically sponsored and the power to sustain them comes from Hierarchy. | 2. Chúng ta không được quên nguồn gốc của quyền năng làm sinh động các Nhóm hạt giống bên ngoài. Không Nhóm hạt giống nào sống chỉ cho riêng mình, cũng không phải chính một người nào chỉ đạo sự hình thành và phát triển của một Nhóm hạt giống. Thánh đoàn bảo trợ các nhóm này, và quyền năng duy trì chúng đến từ Thánh đoàn. |
3. The methods of rapport necessarily involve visualization, meditation and the use of the antahkarana. The attempt to faithfully carry out the objectives of the outer Seed Group (as conceived within the inner groups) will also strengthen the rapport. | 3. Các phương pháp giao cảm tất yếu bao gồm sự hình dung, tham thiền và việc sử dụng antahkarana. Nỗ lực thực hiện một cách trung thực các mục tiêu của Nhóm hạt giống bên ngoài (như đã được hình thành trong các nhóm bên trong) cũng sẽ củng cố sự giao cảm. |
2. Never lose sight of the group objective. [41] | 2. Không bao giờ quên mục tiêu nhóm. |
1. In all group work, many distractions are possible. The members must avoid all tendencies to descend into individualism. | 1. Trong mọi công việc nhóm, có thể xảy ra nhiều sự xao lãng. Các thành viên phải tránh mọi khuynh hướng sa vào chủ nghĩa cá nhân. |
2. There is a hierarchically intended purpose at the core of each of the ten Seed Groups. This purpose must become, for each group member, the overweening super-objective. When the ‘eye’ is taken off the project, the project falls apart. The integrity of the entire process requires the focussed eye — the individual eye and the ‘group eye’. | 2. Cốt lõi của mỗi Nhóm trong mười Nhóm hạt giống đều có một mục đích do Thánh đoàn định ra. Đối với mỗi thành viên nhóm, mục đích này phải trở thành mục tiêu tối cao, bao trùm tất cả. Khi ‘con mắt’ rời khỏi dự án, dự án sẽ tan rã. Tính toàn vẹn của toàn bộ tiến trình đòi hỏi con mắt tập trung — con mắt cá nhân và ‘con mắt nhóm’. |
3. Cultivate the dual capacity to apply the laws of the soul to the individual life and the laws of the group to group life. | 3. Vun bồi năng lực kép: áp dụng các định luật của linh hồn vào đời sống cá nhân và các định luật của nhóm vào đời sống nhóm. |
1. Two sets of laws guide the group member, just as there are two sets of Rules for approach to initiation. | 1. Hai hệ thống định luật hướng dẫn thành viên nhóm, cũng như có hai bộ Quy Luật để tiếp cận điểm đạo. |
2. Members of the Seed Groups are not absolved of their responsibilities as individuals simply because their understanding and application of group laws becomes increasingly important. Both are required. | 2. Các thành viên của các Nhóm hạt giống không được miễn những trách nhiệm cá nhân chỉ vì việc thấu hiểu và áp dụng các định luật nhóm ngày càng trở nên quan trọng. Cả hai đều cần thiết. |
3. In a way, the members of the Seed Groups must become proficient in the understanding and application of all 28 Rules. As well, the seven Laws of the Soul are to be mastered and applied. | 3. Theo một nghĩa nào đó, các thành viên của các Nhóm hạt giống phải trở nên thành thạo trong việc thấu hiểu và áp dụng tất cả 28 Quy Luật. Đồng thời, họ cũng phải nắm vững và áp dụng bảy Định luật của Linh Hồn. |
4. There are two levels of responsibility: one pertains to the third aspect and is individual; the other pertains to the second aspect and relates to group life and group progress. | 4. Có hai cấp độ trách nhiệm: một thuộc phương diện thứ ba và mang tính cá nhân; cấp độ kia thuộc phương diện thứ hai và liên quan đến đời sống nhóm cùng sự tiến bộ của nhóm. |
5. Just as on our planet the third and second aspect are slowly merging, so in the life of the disciple, the responsibility to understand the requirements of both aspects of divinity (the third and the second) continues to exist and demand attention. | 5. Cũng như trên hành tinh chúng ta, phương diện thứ ba và thứ hai đang dần hòa nhập, trong đời sống của đệ tử, trách nhiệm thấu hiểu các yêu cầu của cả hai phương diện thiên tính (thứ ba và thứ hai) vẫn tiếp tục tồn tại và đòi hỏi sự chú tâm. |
4. Use all the forces which may flow into the group in service; they must learn, therefore, to register those forces and use them correctly. The hints given below as to the centres which these ten groups will use must be studied. The right use of these centres will take place only when there is a greater group unity established among the members of the individual groups and among the groups as a whole. You ask why is this so, my brothers? Because the force flowing in might prove too strong for the individual disciple to handle alone, but the force is shared by the group if there is complete group at-one-ment. | 4. Sử dụng mọi mãnh lực có thể tuôn vào nhóm để phụng sự; vì vậy, họ phải học cách ghi nhận và sử dụng đúng đắn những mãnh lực ấy. Cần nghiên cứu các gợi ý dưới đây về những trung tâm mà mười nhóm này sẽ sử dụng. Việc sử dụng đúng đắn các trung tâm này chỉ diễn ra khi đã thiết lập được sự hợp nhất nhóm sâu sắc hơn giữa các thành viên trong từng nhóm và giữa toàn thể các nhóm. Các huynh đệ của Tôi, các bạn hỏi vì sao lại như vậy? Vì mãnh lực tuôn vào có thể quá mạnh để một đệ tử riêng lẻ xử lý một mình, nhưng nếu có sự hợp nhất nhóm hoàn toàn, cả nhóm sẽ cùng chia sẻ mãnh lực ấy. |
1. Forces will flow into the group and they must be correctly handled. The first step (after detecting the inflowing forces) is to ensure that they are used in service. | 1. Các mãnh lực sẽ tuôn vào nhóm và cần được xử lý đúng đắn. Bước đầu tiên (sau khi phát hiện các mãnh lực đang tuôn vào) là bảo đảm sử dụng chúng để phụng sự. |
2. DK offers some “hints” concerning what kinds of forces flow into the various groups through the chakras of the individuals in the group. Why are DK’s statements concerning the chakras involved considered “hints”? Probably because they subtly imply so much about the functioning of each of the groups. | 2. Chân sư DK đưa ra một số “gợi ý” về những loại mãnh lực tuôn vào các nhóm khác nhau qua các luân xa của những cá nhân trong nhóm. Vì sao những phát biểu của Chân sư DK về các luân xa liên quan lại được xem là “gợi ý”? Có lẽ vì chúng hàm ý một cách tinh tế rất nhiều điều về hoạt động của từng nhóm. |
3. The right flow of energy between the indicated chakras will not simply occur as a matter of course. Group unity and harmony are prerequisites, and each group member has his/her responsibility in the production of that group unity and harmony. | 3. Dòng năng lượng đúng đắn giữa các luân xa được chỉ ra sẽ không đơn giản tự nhiên diễn ra. Sự hợp nhất và hài hòa của nhóm là những điều kiện tiên quyết, và mỗi thành viên nhóm đều có trách nhiệm tạo nên sự hợp nhất và hài hòa ấy. |
4. Not only must the members of the various groups be unified and harmonized with each other, but the groups themselves must be unified and harmonized with the other groups among the ten. Only then will right adjustment be possible and will energy and force flow correctly and safely. | 4. Không chỉ các thành viên của những nhóm khác nhau phải hợp nhất và hài hòa với nhau, mà chính các nhóm cũng phải hợp nhất và hài hòa với những nhóm khác trong mười nhóm. Chỉ khi ấy mới có thể có sự điều chỉnh đúng đắn, và năng lượng cùng mãnh lực mới tuôn chảy đúng đắn và an toàn. |
5. There is a factor of safety to be considered. Inflowing forces might overwhelm the individual group member if the Law of Group Sharing were not in effect. But it is not enough simply for the group members to desire to share the incoming forces. They must do the necessary work upon themselves — both microcosmically and in relation to the entire group. A condition of “complete group at-one-ment” must supervene if the resultant sharing is to be both correct and safe. This, obviously, will take time and must proceed through several stages, beginning with the microcosmic stages. The Tibetan took plenty of time with the education of the personnel He gathered into the initial groups. When the experiment was disbanded, the groups had not yet reached a point of group usefulness, although the individual members of the various groups may have made some individual progress and increased their individual usefulness. | 5. Có một yếu tố an toàn cần xem xét. Các mãnh lực tuôn vào có thể lấn át từng thành viên nhóm nếu Định luật Chia Sẻ Nhóm không có hiệu lực. Nhưng việc các thành viên nhóm chỉ đơn thuần mong muốn chia sẻ những mãnh lực đang tuôn vào là chưa đủ. Họ phải thực hiện công việc cần thiết đối với bản thân — cả ở cấp tiểu thiên địa lẫn trong mối liên hệ với toàn thể nhóm. Một trạng thái “nhất thể hoàn toàn của nhóm” phải hình thành để sự chia sẻ từ đó trở nên vừa đúng đắn vừa an toàn. Hiển nhiên, điều này sẽ cần thời gian và phải tiến qua nhiều giai đoạn, bắt đầu từ các giai đoạn tiểu thiên địa. Chân sư Tây Tạng đã dành rất nhiều thời gian để giáo dục những nhân sự mà Ngài tập hợp vào các nhóm ban đầu. Khi cuộc thử nghiệm chấm dứt, các nhóm vẫn chưa đạt đến mức hữu dụng với tư cách nhóm, dù từng thành viên trong các nhóm khác nhau có thể đã tiến bộ phần nào về mặt cá nhân và gia tăng tính hữu dụng cá nhân của mình. |
6. We can see what patience and wise supervision are needed if Seed Groups, as here detailed, are to become a serviceable reality in the life of humanity. | 6. Chúng ta có thể thấy cần đến sự kiên nhẫn và giám sát minh triết đến mức nào để các Nhóm hạt giống, như được trình bày chi tiết ở đây, trở thành một thực tại có khả năng phụng sự trong đời sống nhân loại. |
7. There is little that we can do to reform the Seed Groups. In fact, the Tibetan asked that we not do so. But we can study their nature and understand their value, and learn to build thoughts in relation to their objectives. These thoughts may one day contribute to the reactivation of the Seed Groups under the correct hierarchical supervision. | 7. Chúng ta có thể làm rất ít để tái lập các Nhóm hạt giống. Thực ra, Chân sư Tây Tạng đã yêu cầu chúng ta đừng làm như vậy. Nhưng chúng ta có thể nghiên cứu bản chất của chúng, thấu hiểu giá trị của chúng và học cách xây dựng những tư tưởng liên quan đến các mục tiêu của chúng. Một ngày nào đó, những tư tưởng này có thể góp phần tái kích hoạt các Nhóm hạt giống dưới sự giám sát đúng đắn của Thánh đoàn. |
In this way, each disciple can serve the group and his objective eventually becomes: | Bằng cách này, mỗi đệ tử có thể phụng sự nhóm, và cuối cùng mục tiêu của y trở thành: |
a. At-one-ment with his group brothers. | a. Hợp nhất với các huynh đệ trong nhóm mình. |
b. Alignment with his soul and with the inner group which is the subjective cause of the outer groups. | b. Chỉnh hợp với linh hồn của mình và với nhóm nội tại vốn là nguyên nhân chủ quan của các nhóm bên ngoài. |
c. The expression of the particular technique which his group should eventually embody. | c. Biểu hiện kỹ thuật đặc thù mà cuối cùng nhóm của y phải thể hiện. |
1. The requirements are simple though exacting: at-one-ment, alignment and expression. | 1. Các yêu cầu tuy đơn giản nhưng khắt khe: nhất thể, chỉnh hợp và biểu hiện. |
2. Love and wisdom are required for at-one-ment. Alignment with one’s own soul is required before there can be right alignment with the inner groups. | 2. Sự nhất thể đòi hỏi tình thương và minh triết. Sự chỉnh hợp với chính linh hồn mình là điều cần thiết trước khi có thể chỉnh hợp đúng đắn với các nhóm bên trong. |
3. As for the techniques, the Tibetan was in process of teaching some of them when He saw fit to terminate the experiment. A number of them were exceedingly occult, and we would not “happen upon them” simply by using our normal powers of thought. We can imagine what such techniques might be, but the true techniques must be hierarchically imparted, for they reflect the inner ashramically-related groups from which the outer groups derive. The creative imagination may be useful when Seed Group members try to understand what they may do, but in relation to the assimilation and utilization of occult techniques, direct hierarchical instruction is the safest and most reliable procedure. | 3. Về các kỹ thuật, Chân sư Tây Tạng đang giảng dạy một số kỹ thuật ấy thì Ngài thấy cần chấm dứt cuộc thử nghiệm. Một số kỹ thuật mang tính huyền bí rất sâu sắc, và chúng ta sẽ không “tình cờ tìm ra chúng” chỉ bằng cách sử dụng những năng lực tư duy thông thường của mình. Chúng ta có thể hình dung những kỹ thuật ấy có thể là gì, nhưng Thánh đoàn phải truyền dạy các kỹ thuật chân thực, vì chúng phản ánh những nhóm bên trong có liên hệ với ashram mà từ đó các nhóm bên ngoài phát sinh. Sự tưởng tượng sáng tạo có thể hữu ích khi các thành viên Nhóm hạt giống cố gắng thấu hiểu những gì họ có thể làm, nhưng đối với việc tiếp thu và sử dụng các kỹ thuật huyền bí, sự huấn thị trực tiếp của Thánh đoàn là phương thức an toàn và đáng tin cậy nhất. |
The groups will use the following centres in their work: | Các nhóm sẽ sử dụng những trung tâm sau đây trong công việc: |
1. It will be obvious that the individual members of each of the following groups work with all the chakras. | 1. Hiển nhiên, từng thành viên của mỗi nhóm sau đây đều làm việc với tất cả các luân xa. |
2. The chakras listed for each group, however, have a distinct connection with the most characteristic tasks of that particular group. | 2. Tuy nhiên, những luân xa được liệt kê cho mỗi nhóm có mối liên hệ rõ rệt với các nhiệm vụ đặc trưng nhất của nhóm cụ thể ấy. |
3. In some cases the choice of the chakras involved is obvious. In other cases, the choice may seem more subtle, and we may wonder why other chakras were not chosen. | 3. Trong một số trường hợp, việc lựa chọn các luân xa liên quan là hiển nhiên. Trong những trường hợp khác, sự lựa chọn có thể dường như tinh tế hơn, và chúng ta có thể tự hỏi vì sao những luân xa khác không được chọn. |
Group 1. — The head, heart and throat centres. | Nhóm 1.—Các trung tâm đầu, tim và cổ họng. |
1. We note that the head center is always involved, no matter what may be the group under discussion. | 1. Chúng ta lưu ý rằng trung tâm đầu luôn tham gia, bất kể đang bàn đến nhóm nào. |
2. When the head center is indicated, it must be assumed that the twelve-petalled “heart within in the head” is also involved. | 2. Khi trung tâm đầu được chỉ ra, phải hiểu rằng trung tâm mười hai cánh “tim trong đầu” cũng tham gia. |
3. The type of meditation undertaken in the Seed Group work is always occult meditation which requires the use of the crown chakra. | 3. Loại tham thiền được thực hành trong công việc Nhóm hạt giống luôn là tham thiền huyền bí và đòi hỏi sử dụng luân xa đỉnh đầu. |
4. The Telepathic Communicators require the use of the first three rays — willing, unifying and communicating. The centers most associated with these three rays are head, heart and throat, respectively. | 4. Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm cần sử dụng ba cung đầu tiên — vận dụng ý chí, hợp nhất và giao tiếp. Các trung tâm gắn bó mật thiết nhất với ba cung này lần lượt là đầu, tim và cổ họng. |
5. The throat center will relate to mental telepathy; the heart center to soul telepathy; the head center to soul and triadal telepathy (through which the Divine Plan may be impressed). (Of what monadic telepathy might be, it would be difficult to speak. Perhaps there is no need for it as all monads are essentially one.) | 5. Trung tâm cổ họng sẽ liên quan đến viễn cảm trí tuệ; trung tâm tim liên quan đến viễn cảm linh hồn; trung tâm đầu liên quan đến viễn cảm linh hồn và Tam nguyên tinh thần (qua đó Thiên Cơ có thể được truyền ấn tượng). (Khó có thể nói viễn cảm chân thần có thể là gì. Có lẽ không cần đến nó, vì về bản chất mọi chân thần đều là một.) |
6. Head, heart and throat are the archetypal centers and thus it is not surprising to see them represented in this first and most archetypal of the ten groups. | 6. Đầu, tim và cổ họng là các trung tâm nguyên mẫu, vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy chúng hiện diện trong nhóm đầu tiên và mang tính nguyên mẫu nhất trong mười nhóm này. |
7. We may wonder why the ajna center is not involved, for clearly, it is indicated in the telepathic process — both in the reception and transmission of thought. We do know it cannot be eliminated. | 7. Chúng ta có thể tự hỏi vì sao trung tâm ajna không tham gia, vì rõ ràng trung tâm này có vai trò trong tiến trình viễn cảm — cả trong việc tiếp nhận lẫn truyền tư tưởng. Chúng ta biết chắc rằng không thể loại bỏ nó. |
8. A definitive answer to this question will, therefore, have to be deferred. | 8. Do đó, câu trả lời dứt khoát cho câu hỏi này sẽ phải chờ lại sau. |
Group 2. — The head, heart and solar plexus centres. | Nhóm 2.—Các trung tâm đầu, tim và tùng thái dương. |
1. The second group is that of the Trained Observers. | 1. Nhóm thứ hai là nhóm Các Nhà Quan Sát Lão Luyện. |
2. Their task is to overcome glamor and illusion, and to link the plane of pure reason, the buddhic plane, with the astral plane. | 2. Nhiệm vụ của họ là khắc phục ảo cảm và ảo tưởng, đồng thời liên kết cõi lý trí thuần khiết, tức cõi Bồ đề, với cõi cảm dục. |
3. Apart from the obligatory head center, the heart center (and especially the heart within the head) is the chakra linked with buddhi and the plane of intuition. The solar plexus center (normally associated with the sixth ray) is, of course, related to the astral plane which is the major plane of glamor. | 3. Ngoài trung tâm đầu vốn bắt buộc phải tham gia, trung tâm tim (và đặc biệt là tim trong đầu) là luân xa liên kết với Bồ đề và cõi trực giác. Dĩ nhiên, trung tâm tùng thái dương (thường gắn với cung sáu) liên quan đến cõi cảm dục, vốn là cõi chủ yếu của ảo cảm. |
4. We can understand that the interplay between heart and solar plexus (representing the interplay between the buddhic and astral planes) is required in this group. | 4. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng nhóm này cần đến sự tương tác giữa tim và tùng thái dương (đại diện cho sự tương tác giữa cõi Bồ đề và cõi cảm dục). |
Group 3. — The head, heart and ajna centres. | Nhóm 3.—Các trung tâm đầu, tim và ajna. |
1. The Magnetic Healers constitute the third group. | 1. Các Nhà Trị Liệu Từ Tính hợp thành nhóm thứ ba. |
2. The heart center is necessarily involved because healing is the great second ray art, despite the fact that those upon each ray have particular healing techniques suitable for their use. | 2. Trung tâm tim tất yếu phải tham gia vì trị liệu là nghệ thuật vĩ đại của cung hai, dù những người thuộc mỗi cung đều có những kỹ thuật trị liệu đặc thù thích hợp để sử dụng. |
3. A number of healing techniques given by the Tibetan involve the ajna center, but it is listed, in general, because is that particular chakra through which energy is directed to particular areas within the energy system. The healer’s art consists of knowing which centers are to be vitalized and towards and from which centers energy is to be directed. The art of visualization related to the ajna center is obviously involved. | 3. Một số kỹ thuật trị liệu do Chân sư Tây Tạng truyền dạy có sử dụng trung tâm ajna, nhưng nhìn chung, trung tâm này được liệt kê vì đó chính là luân xa qua đó năng lượng được định hướng đến những khu vực cụ thể trong hệ thống năng lượng. Người trị liệu thực hành nghệ thuật của mình bằng cách biết những trung tâm nào cần được tiếp sinh lực, và năng lượng cần được định hướng đến và từ những trung tâm nào. Hiển nhiên, nghệ thuật hình dung liên quan đến trung tâm ajna cũng tham gia. |
Group 4. — The head, ajna and throat centres. | Nhóm 4.—Các trung tâm đầu, ajna và cổ họng. |
1. The fourth group is composed of the Educators of the New Age. | 1. Nhóm thứ tư gồm Các Nhà Giáo Dục của Kỷ Nguyên Mới. |
2. This is one of two groups in which the ajna center is involved, and also one of two groups in which the heart center is not. (The group of Scientific Servers is the other.) It cannot be said, however, that an activated heart center is not useful to the new type of educator. | 2. Đây là một trong hai nhóm có trung tâm ajna tham gia, đồng thời cũng là một trong hai nhóm mà trung tâm tim không tham gia. (Nhóm Những Người Phụng Sự Khoa Học là nhóm còn lại.) Tuy nhiên, không thể nói rằng một trung tâm tim đã được kích hoạt lại không hữu ích đối với kiểu nhà giáo dục mới. |
3. The main occult procedure for this group involves the building and utilization of the antahkarana from the fourth subplane of the lower mental plane (whereon is located the “mental unit”) to the manasic permanent atom on the first subplane of the higher mental plane. | 3. Phương thức huyền bí chủ yếu của nhóm này bao gồm việc xây dựng và sử dụng antahkarana từ cõi phụ thứ tư của cõi hạ trí (nơi có “đơn vị hạ trí”) đến nguyên tử trường tồn manas trên cõi phụ thứ nhất của Cõi thượng trí. |
4. Both Mercury and Venus are involved in this process. In various ways and at various times, both Mercury and Venus can be understood as either ruling or significantly related to the throat and ajna centers. | 4. Cả Sao Thủy lẫn Sao Kim đều tham gia vào tiến trình này. Theo những cách khác nhau và vào những thời điểm khác nhau, có thể hiểu rằng cả Sao Thủy lẫn Sao Kim hoặc cai quản, hoặc có mối liên hệ đáng kể với các trung tâm cổ họng và ajna. |
5. In this particular case the head center will represent the first ray, the ajna center the second and the throat center the third. | 5. Trong trường hợp cụ thể này, trung tâm đầu sẽ đại diện cho cung một, trung tâm ajna cho cung hai và trung tâm cổ họng cho cung ba. |
6. In the newer type of educational procedure the creative imagination has an important role to play as a linking and transmitting agent. Whereas the throat center is related definitely to the mental plane, the ajna center links to the Spiritual Triad and is important in creating the bridge from the lower mind to the Triad. | 6. Trong phương thức giáo dục mới hơn, sự tưởng tượng sáng tạo đóng vai trò quan trọng như một tác nhân liên kết và truyền dẫn. Trong khi trung tâm cổ họng có mối liên hệ rõ rệt với cõi trí, trung tâm ajna liên kết với Tam Nguyên Tinh Thần và có vai trò quan trọng trong việc tạo nên cây cầu từ Hạ trí đến Tam nguyên tinh thần. |
7. That which is accessed through the bridging process (the flow of intuitions and ideas) must be rendered into word in the processes of education. The throat center provides the form-building aspect, and is used to ‘clothe’ in thought and speech the energies of the formless worlds accessed by the antahkarana. A little thought will reveal how completely the normal processes of education rely upon the throat center. | 7. Những gì được tiếp cận qua tiến trình bắc cầu (dòng trực giác và ý tưởng) phải được diễn đạt thành lời trong các tiến trình giáo dục. Trung tâm cổ họng cung cấp phương diện xây dựng hình tướng, và được sử dụng để ‘khoác áo’ tư tưởng và lời nói cho các năng lượng của những thế giới vô hình tướng mà antahkarana tiếp cận. Chỉ cần suy nghĩ đôi chút sẽ thấy các tiến trình giáo dục thông thường hoàn toàn dựa vào trung tâm cổ họng đến mức nào. |
Group 5. — The head and heart centres and the centre at the base of the spine. | Nhóm 5.—Các trung tâm đầu, tim và trung tâm ở đáy cột sống. |
1. The fifth group of Political Organizers must, of course, access the will as it is transmitted through the head center. For them, the head center as a center of occult power, purpose and will is very important. | 1. Dĩ nhiên, nhóm thứ năm gồm các Nhà Tổ Chức Chính Trị phải tiếp cận ý chí khi ý chí được truyền qua trung tâm đầu. Đối với họ, trung tâm đầu rất quan trọng vì đó là một trung tâm của quyền năng huyền bí, mục đích và ý chí. |
2. The heart, however, must not be neglected, as Divine Will is to be applied in love and with full knowledge of its group implications. | 2. Tuy nhiên, không được bỏ quên trung tâm tim, vì Ý Chí thiêng liêng phải được vận dụng trong tình thương và với sự hiểu biết đầy đủ về những hàm ý của nó đối với nhóm. |
3. The center at the base of the spine is an interesting designation and occurs in only one other group — that of the Creative Workers. Through this center flow the forces of Pluto (on the first ray). It, like the head center, is a center of will and endurance. Further it provides anchorage in form for the willed purposes of divinity. | 3. Việc chỉ định trung tâm ở đáy cột sống là điều thú vị, và chỉ xuất hiện ở một nhóm khác nữa — nhóm những Người Hoạt Động Sáng Tạo. Các mãnh lực của Sao Diêm Vương (thuộc cung một) tuôn chảy qua trung tâm này. Cũng như trung tâm đầu, đây là một trung tâm của ý chí và sức bền bỉ. Hơn nữa, trung tâm này tạo nơi neo giữ trong hình tướng cho những mục đích của thiên tính được ý chí xác lập. |
4. The Manu and His Department (although working upon the abstract and abstracting first Ray of Will and Power), also work with the creation and sustainment of the racial forms to be used by incarnating human beings. There is something very concrete about their functioning, and the members of this Department also raise and lower continents — a type of act which can easily be related to the Plutonic/Uranian function of the base center. | 4. Đức Manu và Ban của Ngài (mặc dù hoạt động trên cung một của Ý Chí và Quyền Năng, vốn có tính trừu tượng và trừu xuất) cũng làm việc với sự sáng tạo và duy trì các hình tướng giống dân dành cho những con người đang lâm phàm. Hoạt động của Các Ngài có một khía cạnh rất cụ thể, và các thành viên của Ban này còn nâng lên và hạ xuống các lục địa — một loại hành động có thể dễ dàng liên hệ với chức năng của Sao Diêm Vương/Sao Thiên Vương nơi trung tâm đáy cột sống. |
5. Those in the political sphere are, above all, the survivors and they endure in their expression of the will while others of lesser intensity fade from sight. | 5. Trên hết, những người trong lĩnh vực chính trị là những người trụ vững, và họ bền bỉ biểu lộ ý chí trong khi những người có cường độ thấp hơn dần khuất khỏi tầm mắt. |
6. God’s Will is Law and that Law must find full expression in material form. This expression is guaranteed by the potency of the base center in the group of Political Organisers. | 6. Ý Chí của Thượng đế là Định luật, và Định luật ấy phải được biểu lộ trọn vẹn trong hình tướng vật chất. Uy lực của trung tâm đáy cột sống trong nhóm các Nhà Tổ Chức Chính Trị bảo đảm sự biểu lộ này. |
7. The alignment of the base and crown in this group relate it more directly to Shamballa than the other groups — perhaps with the exception of the group of Creative Workers, which also has the base center (and crown) activated. | 7. Sự chỉnh hợp giữa trung tâm đáy cột sống và trung tâm đỉnh đầu trong nhóm này liên hệ nhóm trực tiếp với Shamballa hơn các nhóm khác — có lẽ ngoại trừ nhóm những Người Hoạt Động Sáng Tạo, vốn cũng có trung tâm đáy cột sống (và trung tâm đỉnh đầu) được kích hoạt. |
Group 6. — The head, heart and solar plexus centres. This is necessarily the same as in Group 2. | Nhóm 6.—Các trung tâm đầu, tim và tùng thái dương. Điều này tất yếu giống như ở Nhóm 2. |
1. The sixth group relates to the workers in the Field of Religion. Interestingly, the Religious Workers are related to the Trained Observers. This suggests that there is much glamor in the religious field and that it must be seen and dissipated. | 1. Nhóm thứ sáu liên quan đến những người hoạt động trong Lĩnh Vực Tôn Giáo. Điều thú vị là những Người Hoạt Động Tôn Giáo có liên hệ với Các Nhà Quan Sát Lão Luyện. Điều này gợi ý rằng trong lĩnh vực tôn giáo có nhiều ảo cảm, và cần nhận diện rồi làm tiêu tan chúng. |
2. The key to successful work in the Field of Religion is the production of a loving synthesis and a field of unity in which all the major religions can find their rightful place. | 2. Chìa khóa để làm việc thành công trong Lĩnh Vực Tôn Giáo là tạo ra một sự tổng hợp đầy tình thương và một trường hợp nhất, trong đó mọi tôn giáo lớn đều có thể tìm được vị trí chính đáng của mình. |
3. This will require the lifting of solar plexus energies into the heart center. The solar plexus center is, we are told, dual. The lower solar plexus is the seat of divisive desires and emotions. The higher solar plexus is the focus of uplifting aspirations. All solar plexus activity is destined for resolution within the heart center. If divisive and separative religious approaches are to be transformed into a loving and unified approach to one New World Religion, solar plexus activity must give way to a heart-centered focus. | 3. Điều này sẽ đòi hỏi nâng các năng lượng tùng thái dương lên trung tâm tim. Chúng ta được cho biết rằng trung tâm tùng thái dương có tính kép. Phần thấp của tùng thái dương là nơi trú ngụ của những dục vọng và cảm xúc gây chia rẽ. Phần cao của tùng thái dương là tiêu điểm của những khát vọng hướng thượng. Mọi hoạt động của tùng thái dương đều hướng đến sự hóa giải trong trung tâm tim. Để những cách tiếp cận tôn giáo gây chia rẽ và chia cách chuyển đổi thành một cách tiếp cận đầy tình thương và hợp nhất hướng đến một Tân Tôn Giáo Thế Giới duy nhất, hoạt động của tùng thái dương phải nhường chỗ cho sự tập trung vào trung tâm tim. |
4. Further, the glamors of the astral plane must be dissipated by the clear perceptions impulsed from the plane of intuition (to which the heart center connects). The work of the Trained Observers would be most fruitful if applied to the Field of Religious Work, and, no doubt, one day it will be. | 4. Hơn nữa, những tri giác sáng rõ do cõi trực giác (mà trung tâm tim kết nối với) thúc đẩy phải làm tiêu tan các ảo cảm của cõi cảm dục. Công việc của Các Nhà Quan Sát Lão Luyện sẽ mang lại kết quả tốt đẹp nhất nếu được áp dụng vào Lĩnh Vực Hoạt Động Tôn Giáo, và chắc chắn một ngày nào đó điều này sẽ xảy ra. |
Group 7. — The head, throat and sacral centres. | Nhóm 7.—Các trung tâm đầu, cổ họng và xương cùng. |
1. A keen mind is need by the Scientific Servers. Their work is largely within the realm of matter and matter is the product of the third aspect of divinity and the third ray. The third ray expresses principally through the throat center, which, as well, is a chakra much associated with thought reception, transmission and thoughtform building. | 1. Những Người Phụng Sự Khoa Học cần có trí tuệ sắc bén. Công việc của họ phần lớn nằm trong lĩnh vực vật chất, và vật chất là sản phẩm của phương diện thứ ba của thiên tính và của cung ba. Cung ba biểu lộ chủ yếu qua trung tâm cổ họng, vốn cũng là một luân xa gắn liền với việc tiếp nhận, truyền đạt tư tưởng và xây dựng hình tư tưởng. |
2. The mental elemental has its seat within the sacral center. | 2. Hành khí trí tuệ có nơi trú ngụ trong trung tâm xương cùng. |
“1. The sacral centre the mental elemental life | “1. Trung tâm xương cùng — sự sống hành khí trí tuệ |
Transferred later to the throat centre.” (EP II 304) | Về sau chuyển dịch lên trung tâm cổ họng.” (EP II 304) |
3. As well, the sacral center, ruled by Uranus and the seventh ray (and in some respects by Mars and also by the third ray) connects directly with the substantiality of matter. In short, the activation of this center gives a direct rapport with the material element which is the principal sphere of investigation for the Scientific Servers. | 3. Ngoài ra, trung tâm xương cùng, do Sao Thiên Vương và cung bảy cai quản (và ở một vài phương diện còn do Sao Hỏa cũng như cung ba cai quản), kết nối trực tiếp với tính chất liệu của vật chất. Nói ngắn gọn, sự kích hoạt trung tâm này tạo mối tương thông trực tiếp với nguyên tố vật chất, vốn là lĩnh vực khảo cứu chủ yếu của những Người Phụng Sự Khoa Học. |
4. We realize that the processes of incarnation will be one of the major fields of investigation for such workers. The sacral center, of course, is directly involved in the processes of incarnation, for by its means material vehicles are provided for reincarnating human souls. | 4. Chúng ta nhận ra rằng các tiến trình lâm phàm sẽ là một trong những lĩnh vực khảo cứu chính của những người hoạt động như thế. Dĩ nhiên, trung tâm xương cùng tham gia trực tiếp vào các tiến trình lâm phàm, vì nhờ trung tâm này mà các linh hồn nhân loại tái lâm phàm có được những vận cụ vật chất. |
Group 8. [Psychologists] — The head, heart, solar plexus and throat centres. This group of disciples will be the first to use four centres in their work as they are in a curious sense, the mediators of thought between the other groups. They are peculiarly a linking group. [42] | Nhóm 8. [Các Nhà Tâm Lý Học] —Các trung tâm đầu, tim, tùng thái dương và cổ họng. Nhóm đệ tử này sẽ là nhóm đầu tiên sử dụng bốn trung tâm trong công việc, vì theo một ý nghĩa đặc biệt, họ là những người trung gian tư tưởng giữa các nhóm khác. Họ đặc biệt là một nhóm liên kết. |
1. The eighth, ninth and tenth groups each have four centers active. Numerologically, four is a number of grounding and establishment. | 1. Các nhóm thứ tám, thứ chín và thứ mười, mỗi nhóm đều có bốn trung tâm hoạt động. Theo số học, bốn là con số của sự bám rễ và xác lập. |
2. Interestingly, the eighth group will have its personnel selected from the other groups. The Tibetan says the following: | 2. Điều thú vị là nhân sự của nhóm thứ tám sẽ được tuyển chọn từ các nhóm khác. Chân sư Tây Tạng nói như sau: |
“Owing to the difficulty of this task, the members of this eighth group will be chosen from the personnel of the other groups, for they will have had a fair measure of training in their preliminary work. Two groups will then be interlocking groups — that which is formed of the key people in all the groups, and this one.” (EXH 59) | “Do nhiệm vụ này khó khăn, các thành viên của nhóm thứ tám này sẽ được chọn từ nhân sự của các nhóm khác, vì họ sẽ có được một mức độ huấn luyện khá đầy đủ trong công việc sơ bộ của mình. Khi ấy sẽ có hai nhóm đan kết — nhóm gồm những người chủ chốt trong tất cả các nhóm, và nhóm này.” (EXH 59) |
3. The other group consisting of “key people” will be that of the Creative Workers, Group Ten. | 3. Nhóm kia, gồm những “người chủ chốt”, sẽ là nhóm những Người Hoạt Động Sáng Tạo, Nhóm Mười. |
4. We note that the Psychologists have the same centers active as do the Telepathic Communicators, plus the addition of the solar plexus, allowing them to come en rapport with the present mass consciousness of humanity. | 4. Chúng ta lưu ý rằng các Nhà Tâm Lý Học có cùng những trung tâm hoạt động như Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm, cộng thêm tùng thái dương, cho phép họ thiết lập mối tương thông với tâm thức quần chúng hiện nay của nhân loại. |
5. The Psychologists also work in the realm of ideas and with thought-centers, just as do the Telepathic Communicators. Their task, however, involves working that which is received from the buddhic plane into the substance of humanity (to which the solar plexus center gives access). | 5. Các Nhà Tâm Lý Học cũng làm việc trong lĩnh vực ý tưởng và với các trung tâm tư tưởng, giống như Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm. Tuy nhiên, nhiệm vụ của họ bao gồm việc đưa những gì tiếp nhận từ cõi Bồ đề vào chất liệu của nhân loại (mà trung tâm tùng thái dương mở lối tiếp cận). |
6. The group of Psychologists is peculiarly a “linking group” and consequently the linking, bridging fourth ray will be of importance. It is also not surprising, therefore, to find the Psychologists as the first group in which four centers are utilized. | 6. Nhóm các Nhà Tâm Lý Học là một “nhóm liên kết” mang tính đặc thù, và do đó cung bốn có chức năng liên kết, bắc cầu sẽ giữ vai trò quan trọng. Vì vậy, cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy các Nhà Tâm Lý Học là nhóm đầu tiên sử dụng bốn trung tâm. |
7. The heart center is, of course, important to them in order to facilitate soul-rapport with many types of human beings. The solar plexus puts them in touch with the personality condition of these human beings. The throat center allows them to interpret, formulate and intelligently communicate that which they discover through heart center and solar plexus rapport. | 7. Dĩ nhiên, trung tâm tim quan trọng đối với họ để tạo thuận lợi cho mối tương thông linh hồn với nhiều loại người. Tùng thái dương giúp họ tiếp xúc với trạng thái phàm ngã của những người này. Trung tâm cổ họng cho phép họ diễn giải, trình bày thành hệ thống và truyền đạt một cách thông minh những gì họ khám phá qua mối tương thông của trung tâm tim và tùng thái dương. |
Group 9. [Financiers and Economists] — The head, heart, throat and sacral centres. | Nhóm 9. [Các Nhà Tài Chính và Kinh Tế Học] —Các trung tâm đầu, tim, cổ họng và xương cùng. |
1. The ninth group of Financiers and Economists utilizes very much the same centers as the Scientific Servers, with the addition of the heart center. | 1. Nhóm thứ chín gồm các Nhà Tài Chính và Kinh Tế Học sử dụng hầu như cùng những trung tâm như những Người Phụng Sự Khoa Học, cộng thêm trung tâm tim. |
2. Like the Scientists, this group is also closely connected to the third aspect of divinity and to matter, hence the use of the throat and sacral centers. The throat center distributes the third ray in the triangle of chakras above the diaphragm (excluding the ajna center) and the sacral center serves as the third ray center for the triangle of centers below the diaphragm. | 2. Giống như các Nhà Khoa Học, nhóm này cũng liên hệ mật thiết với phương diện thứ ba của thiên tính và với vật chất, do đó sử dụng các trung tâm cổ họng và xương cùng. Trung tâm cổ họng phân phối cung ba trong tam giác các luân xa phía trên cơ hoành (không kể trung tâm ajna), và trung tâm xương cùng đóng vai trò trung tâm cung ba trong tam giác các trung tâm phía dưới cơ hoành. |
3. Whereas the Scientific Servers are deeply engrossed in understanding the ways of matter as it must serve the soul, the Financiers and Economists must be sensitive to soul in all forms, thus allowing them to arrange for right distribution according to soul need. Hence the heart center is added, placing them en rapport with the larger whole, for the heart is a “group conscious” organ. | 3. Trong khi những Người Phụng Sự Khoa Học chuyên tâm sâu sắc vào việc thấu hiểu các phương thức hoạt động của vật chất khi vật chất phải phụng sự linh hồn, các Nhà Tài Chính và Kinh Tế Học phải nhạy cảm với linh hồn trong mọi hình tướng, nhờ đó có thể sắp xếp việc phân phối đúng đắn theo nhu cầu của linh hồn. Do đó, trung tâm tim được bổ sung, đưa họ vào mối tương thông với toàn thể rộng lớn hơn, vì tim là một cơ quan “có tâm thức nhóm”. |
4. When contrasting the centers active for the Psychologists with those active for the Financiers and Economists, we find three centers the same (head, heart and throat) and two which contrast — the solar plexus in the case of the Psychologists and the sacral center for the Economists and Financiers. The work of the Psychologists, of course, is related more to the second aspect of divinity (of which the solar plexus is a representative) and the sacral center to the third aspect (of so great importance to the Financiers and Economists). | 4. Khi đối chiếu các trung tâm hoạt động ở các Nhà Tâm Lý Học với những trung tâm hoạt động ở các Nhà Tài Chính và Kinh Tế Học, chúng ta thấy có ba trung tâm giống nhau (đầu, tim và cổ họng) cùng hai trung tâm khác nhau — tùng thái dương ở các Nhà Tâm Lý Học và trung tâm xương cùng ở các Nhà Kinh Tế Học và Tài Chính. Dĩ nhiên, công việc của các Nhà Tâm Lý Học liên quan nhiều hơn đến phương diện thứ hai của thiên tính (mà tùng thái dương là một đại diện), còn trung tâm xương cùng liên quan đến phương diện thứ ba (vốn có tầm quan trọng rất lớn đối với các Nhà Tài Chính và Kinh Tế Học). |
5. The sacral center is not usually involved in the sharing process because of its grasping nature. Thus, in this group, it is important to involve it in relation to the heart center through which unselfish impulses usually flow. | 5. Trung tâm xương cùng thường không tham gia vào tiến trình chia sẻ vì bản chất nắm giữ của nó. Do đó, trong nhóm này, điều quan trọng là đưa trung tâm ấy vào hoạt động trong mối liên hệ với trung tâm tim, nơi các xung lực vô kỷ thường tuôn chảy qua. |
Group 10. — The head, heart, sacral centres and the centre at the base of the spine. | Nhóm 10.—Các trung tâm đầu, tim, xương cùng và trung tâm ở đáy cột sống. |
1. The tenth group consists of the Creative Workers. We find that its centers are closely related to group five, that of the Political Organisers. The numerology is interesting, as ten is twice five. | 1. Nhóm thứ mười gồm những Người Hoạt Động Sáng Tạo. Chúng ta thấy rằng các trung tâm của nhóm này liên hệ mật thiết với nhóm thứ năm, nhóm các Nhà Tổ Chức Chính Trị. Khía cạnh số học ở đây thật thú vị, vì mười là hai lần năm. |
2. In both of these groups, the head, heart and base of the spine are active, but the Creative Workers work with the sacral center as well. | 2. Ở cả hai nhóm này, các trung tâm đầu, tim và đáy cột sống đều hoạt động, nhưng những Người Hoạt Động Sáng Tạo còn làm việc với trung tâm xương cùng. |
3. Because of the use of the sacral center, the group of Creative Workers is related to the groups of Scientific Servers and to the Economists and Financiers. Three groups, therefore, utilize the sacral center, whereas two groups utilize the ajna center and two groups the base of the spine. | 3. Do sử dụng trung tâm xương cùng, nhóm những Người Hoạt Động Sáng Tạo có liên hệ với nhóm những Người Phụng Sự Khoa Học và nhóm các Nhà Kinh Tế Học và Tài Chính. Vì vậy, có ba nhóm sử dụng trung tâm xương cùng, trong khi hai nhóm sử dụng trung tâm ajna và hai nhóm sử dụng trung tâm đáy cột sống. |
4. We might wonder why the Creative Workers do not utilize the throat center (of course, really, they do). The Ray of Creative Intelligence, the third ray, works principally through the throat center and only secondarily through the sacral center. | 4. Chúng ta có thể tự hỏi vì sao những Người Hoạt Động Sáng Tạo không sử dụng trung tâm cổ họng (dĩ nhiên, trên thực tế họ có sử dụng). Cung Trí Tuệ Sáng Tạo, cung ba, hoạt động chủ yếu qua trung tâm cổ họng và chỉ thứ yếu qua trung tâm xương cùng. |
5. Perhaps it is because this tenth group is so much involved in the materialization and precipitation of the Divine Plan. In this group, more than any other, the “Highest and the Lowest Meet”. We have therefore the two lowest centers, sacral and base of spine brought into relations with the two highest centers (head and heart — considered from a ray perspective). The first two aspects of divinity are found active above the diaphragm, and centers which represent the third aspect (and, as well, perhaps the first aspect in the case of the base center) active below the diaphragm. | 5. Có lẽ đó là vì nhóm thứ mười này tham gia rất sâu vào sự hiện hình và ngưng tụ của Thiên Cơ. Trong nhóm này, hơn bất cứ nhóm nào khác, “Cái Cao Nhất và Cái Thấp Nhất Gặp Nhau”. Vì vậy, chúng ta có hai trung tâm thấp nhất, xương cùng và đáy cột sống, được đưa vào mối liên hệ với hai trung tâm cao nhất (đầu và tim — xét từ góc độ cung). Hai phương diện đầu tiên của thiên tính hoạt động phía trên cơ hoành, còn các trung tâm đại diện cho phương diện thứ ba (và có lẽ cả phương diện thứ nhất trong trường hợp trung tâm đáy cột sống) hoạt động phía dưới cơ hoành. |
6. The involvement of the sacral center, ruled by Uranus, confers a definitely magical impulse to this tenth group. | 6. Sự tham gia của trung tâm xương cùng, do Sao Thiên Vương cai quản, mang đến cho nhóm thứ mười này một xung lực mang tính huyền thuật rõ rệt. |
7. In relation to the functioning of the tenth group, the Tibetan has the following interesting thoughts: | 7. Về hoạt động của nhóm thứ mười, Chân sư Tây Tạng có những suy nghĩ thú vị sau đây: |
“We will not take time to consider the tenth, which will be composed of the key people in the other groups, beyond stating that when its twenty-seven members (three from each group) are chosen and put in rapport with each other, there should come to all the groups such a quickening of their life that they will become one living vibrant organism.” (EXH 47) | “Chúng ta sẽ không dành thời gian xem xét nhóm thứ mười, vốn sẽ gồm những người chủ chốt trong các nhóm khác, ngoài việc nói rằng khi hai mươi bảy thành viên của nhóm (ba người từ mỗi nhóm) được chọn và thiết lập mối tương thông với nhau, sức sống của tất cả các nhóm sẽ được khơi dậy đến mức họ trở thành một cơ thể sống duy nhất, tràn đầy rung động.” (EXH 47) |
8. The functioning of the tenth group is occult in its nature and involves the synthesis and vitalization of all the other groups. The number twenty-seven is also not without significance, for it is a number of completion with respect to the third aspect. It derives from the cubing of the number three. | 8. Hoạt động của nhóm thứ mười mang bản chất huyền bí và bao gồm việc tổng hợp cũng như tiếp sinh lực cho tất cả các nhóm khác. Con số hai mươi bảy cũng không phải không có thâm nghĩa, vì đó là con số của sự hoàn tất xét theo phương diện thứ ba. Nó được tạo ra bằng cách lập phương số ba. |
9. In the advanced esoteric schools of the future, the number of personnel will be twenty-seven — twenty-four of whom will be students with an additional three guides or instructors. | 9. Trong các trường nội môn cao cấp của tương lai, số nhân sự sẽ là hai mươi bảy — trong đó hai mươi bốn người là đạo sinh, cùng với ba người hướng dẫn hoặc giảng huấn. |
I wonder, my brothers, if the following sequence of statements will convey anything to your minds? It is a statement of fact and is not the least symbolic in its terminology — except in so far as all words are inadequate symbols of inner truths. | Các huynh đệ của Tôi, Tôi tự hỏi liệu chuỗi phát biểu sau đây có truyền đạt được điều gì đến thể trí các bạn không? Đây là sự trình bày một sự thật, và thuật ngữ sử dụng hoàn toàn không mang tính biểu tượng—ngoại trừ ở chỗ mọi ngôn từ đều là những biểu tượng không đầy đủ của các chân lý nội tại. |
1. This is the straight summary of all that has gone before. | 1. Đây là phần tóm lược trực tiếp tất cả những gì đã trình bày trước đó. |
2. The Tibetan is attempting to speak in terms of facts rather than symbolically. He seeks to impress us with the essence of His thought with respect to the new Seed Groups. | 2. Chân sư Tây Tạng đang cố gắng trình bày bằng những sự kiện thực tế thay vì bằng biểu tượng. Ngài tìm cách khắc sâu vào chúng ta tinh túy tư tưởng của Ngài về các Nhóm hạt giống mới. |
1. Each group has its inner counterpart. | 1. Mỗi nhóm đều có đối phần bên trong. |
1. We must think with an “esoteric sense”. | 1. Chúng ta phải tư duy với một “giác quan nội môn”. |
2. The members of the Seed Groups are intended to be occultists, and for them the inner worlds must be appreciated as more real than the outer worlds. | 2. Các thành viên của những Nhóm hạt giống được kỳ vọng sẽ là những nhà huyền bí học, và đối với họ, các thế giới bên trong phải được nhìn nhận là thực hơn các thế giới bên ngoài. |
2. This inner counterpart is a completed whole. The outer results are still only partial. | 2. Đối phần bên trong này là một toàn thể hoàn chỉnh. Những kết quả bên ngoài vẫn chỉ mới là từng phần. |
1. It is startling to realize that the inner groups are already complete. | 1. Thật đáng kinh ngạc khi nhận ra rằng các nhóm bên trong đã hoàn tất. |
2. What we can achieve on the outer plane is, as yet, but an incomplete precipitation of the prototype. This is a cause for humility and patience. | 2. Cho đến nay, những gì chúng ta có thể đạt được trên cõi bên ngoài chỉ là sự ngưng tụ chưa trọn vẹn của nguyên mẫu. Điều này là lý do để khiêm nhường và kiên nhẫn. |
3. These ten inner groups, forming one group, are related to the Ashrams of the Masters and are each of them expressive of or governed by ten laws, embodying the controlling factors in group work. A law is an expression or manifestation of force applied, under the power of thought, by a thinker or group of thinkers. | 3. Mười nhóm nội tại này, hợp thành một nhóm duy nhất, có liên hệ với các ashram của các Chân sư; mỗi nhóm đều biểu hiện hoặc chịu sự chi phối của mười định luật, thể hiện những yếu tố kiểm soát trong công việc nhóm. Một định luật là sự biểu lộ hay biểu hiện của mãnh lực mà một tư tưởng gia hay một nhóm tư tưởng gia vận dụng dưới quyền năng của tư tưởng. |
1. We are not told how the ten inner groups are related to the seven Ashrams (and their various subdivisions), but with a little focussed thought we could find direct relations between at least some of the groups and some of the Ashrams. There may be others of the groups, however, which could relate to more than one Ashram, to several or even to all. | 1. Chúng ta không được cho biết bằng cách nào mười nhóm bên trong liên hệ với bảy ashram (và các phân bộ khác nhau của các ashram ấy), nhưng chỉ cần tập trung suy nghĩ đôi chút, chúng ta có thể tìm ra những mối liên hệ trực tiếp giữa ít nhất một vài nhóm và một vài ashram. Tuy nhiên, có thể có những nhóm khác liên hệ với hơn một ashram, với nhiều ashram hoặc thậm chí với tất cả. |
2. This is the first we hear that each of the ten inner groups (and, presumably their outer extensions) is related to one of ten different laws. What these laws may be is not given. There are Laws of Healing, Laws of Magic, Laws of the Soul, Laws of the Solar System and Cosmic Laws, and others as well. Probably, the Tibetan is speaking of yet another collection of laws. Only by studying the essential purpose of each group, might it be possible to intuit a law which could be related to it. A speculative formulation of such laws might be educationally instructive, though confirmation of the accuracy of the speculation would not be immediately forthcoming. | 2. Đây là lần đầu tiên chúng ta nghe nói rằng mỗi nhóm trong mười nhóm bên trong (và có lẽ cả những phần mở rộng bên ngoài của chúng) đều liên hệ với một trong mười định luật khác nhau. Những định luật này là gì thì chưa được cho biết. Có các Định luật Trị Liệu, các Định luật Huyền Thuật, các Định luật của Linh Hồn, các Định luật của Hệ Mặt Trời và các Định luật Vũ Trụ, cùng những định luật khác nữa. Có lẽ Chân sư Tây Tạng đang nói đến một tập hợp định luật khác nữa. Chỉ bằng cách nghiên cứu mục đích cốt yếu của mỗi nhóm, chúng ta mới có thể dùng trực giác nhận ra một định luật có thể liên hệ với nhóm ấy. Việc thử trình bày những định luật như thế dựa trên suy đoán có thể mang lại giá trị học hỏi, dù chưa thể xác nhận ngay tính chính xác của sự suy đoán ấy. |
3. While we cannot immediately determine the ten laws, we can understand how, for instance, the Laws of Healing would relate to the Group of Magnetic Healers, or how the Laws of White Magic could relate to the Group Ten, the Group of Creative Workers. It is also obvious that the Laws of the Soul would be important for the Group of Psychologists and the Law of Economy for the Financiers, Economists and the Creative Workers as well. | 3. Dù chưa thể xác định ngay mười định luật, chúng ta có thể thấu hiểu, chẳng hạn, các Định luật Trị Liệu sẽ liên hệ thế nào với Nhóm các Nhà Trị Liệu Từ Tính, hoặc các Định luật Chánh Thuật có thể liên hệ thế nào với Nhóm Mười, Nhóm những Người Hoạt Động Sáng Tạo. Cũng hiển nhiên rằng các Định luật của Linh Hồn sẽ quan trọng đối với Nhóm các Nhà Tâm Lý Học, và Định luật Tiết Kiệm cũng sẽ quan trọng đối với các Nhà Tài Chính, Kinh Tế Học và những Người Hoạt Động Sáng Tạo. |
4. The Tibetan defines a law as “an expression or manifestation of force applied, under the power of thought, by a thinker or group of thinkers”. Law, then, is willfully focussed thought. It is the sustained, intelligent will of a thinker or group of thinkers. | 4. Chân sư Tây Tạng định nghĩa một định luật là “sự biểu lộ hay biểu hiện của mãnh lực mà một người tư duy hoặc một nhóm người tư duy vận dụng dưới quyền năng của tư tưởng”. Vậy, định luật là tư tưởng được tập trung bằng ý chí. Đó là ý chí thông minh, được duy trì liên tục của một người tư duy hoặc một nhóm người tư duy. |
5. It is likely that at the heart of each of these inner groups a high initiate or Master is to be found. The law governing a particular inner group will very likely be the will of that initiate or Master as supported by the intelligent thought and will power of the initiates and disciples assembled within the inner group. | 5. Có khả năng ở trung tâm của mỗi nhóm bên trong này là một điểm đạo đồ cao cấp hoặc một Chân sư. Định luật chi phối một nhóm bên trong cụ thể rất có thể là ý chí của điểm đạo đồ hoặc Chân sư ấy, với sự hỗ trợ từ tư tưởng thông minh và quyền năng ý chí của các điểm đạo đồ và đệ tử tập hợp trong nhóm bên trong đó. |
4. These ten inner groups, embodying ten types of force and working synthetically to express ten laws, are an effort to bring in new and different conditions, and hence produce a new and better civilisation. The Aquarian Age will see consummation. | 4. Mười nhóm nội tại này, thể hiện mười loại mãnh lực và làm việc một cách tổng hợp để biểu hiện mười định luật, là một nỗ lực nhằm mang lại những điều kiện mới và khác biệt, từ đó tạo nên một nền văn minh mới và tốt đẹp hơn. Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ chứng kiến sự hoàn thành ấy. |
1. Each group works, probably, with a number of energies and forces, but the Tibetan speaks of “ten types of force” and the expression of ten laws. | 1. Có lẽ mỗi nhóm làm việc với một số năng lượng và mãnh lực, nhưng Chân sư Tây Tạng nói đến “mười loại mãnh lực” và sự biểu lộ của mười định luật. |
2. Probably as the groups develop and individuals participate in them successfully, there will be clarification regarding the nature of the ten forces and ten laws. | 2. Có lẽ khi các nhóm phát triển và các cá nhân tham gia thành công vào các nhóm ấy, bản chất của mười mãnh lực và mười định luật sẽ trở nên rõ ràng hơn. |
3. For the time being, it is enough to realize that the groups are intended as change agents, and are to aid in the elevation of human culture and civilization. | 3. Hiện tại, chỉ cần nhận ra rằng các nhóm được dự định làm những tác nhân thay đổi, và sẽ góp phần nâng cao văn hóa và văn minh nhân loại. |
4. We might consider this tenfold effort as the structural heart and soul of the New Group of World Servers. Many members of the NGWS have no training in occultism and cannot be aware of occult structures which underlie their humanitarian efforts, but service to humanity proceeds especially along these ten lines, and the occult underpinnings of the various modes of humanitarian service will one day be revealed. | 4. Chúng ta có thể xem nỗ lực thập phân này là trái tim và linh hồn về mặt cấu trúc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nhiều thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian chưa được huấn luyện về huyền bí học và không thể nhận biết những cấu trúc huyền bí làm nền tảng cho các nỗ lực nhân đạo của họ, nhưng việc phụng sự nhân loại diễn ra đặc biệt theo mười đường hướng này, và một ngày nào đó những nền tảng huyền bí của các phương thức phụng sự nhân đạo khác nhau sẽ được tiết lộ. |
5. As the energy of Aquarius is relatively universal in its nature, the Aquarian Age will naturally see consummation along many lines. | 5. Vì năng lượng của Bảo Bình mang bản chất tương đối phổ quát, Kỷ Nguyên Bảo Bình đương nhiên sẽ chứng kiến sự thành tựu viên mãn theo nhiều đường hướng. |
5. The outer groups are a tentative and experimental effort to see how far humanity is ready for such an endeavour. | 5. Các nhóm bên ngoài là một nỗ lực thăm dò và thử nghiệm để xem nhân loại đã sẵn sàng đến mức nào cho một công cuộc như thế. |
1. Hierarchy is at once realistic and hopeful. Even They do not know how humanity will respond to proffered opportunity. | 1. Thánh đoàn vừa thực tế vừa đầy hy vọng. Ngay cả Các Ngài cũng không biết nhân loại sẽ đáp ứng thế nào trước cơ hội được trao. |
2. Hierarchy’s Uranian approach will consistently offer experiments to test and try humanity as to its fitness. | 2. Cách tiếp cận của Thánh đoàn theo tính chất Sao Thiên Vương sẽ liên tục đưa ra những thử nghiệm để kiểm tra và thử thách mức độ thích hợp của nhân loại. |
3. While this experiment apparently failed with respect to its original intentions, it may have laid the ground-work for a new experiment after the year 2025, when, it can be reasonably presumed, the Tibetan will again be working with a reliable and adequate amanuensis. | 3. Mặc dù thử nghiệm này dường như đã thất bại xét theo những ý định ban đầu, nó có thể đã đặt nền móng cho một thử nghiệm mới sau năm 2025, khi có thể giả định một cách hợp lý rằng Chân sư Tây Tạng sẽ lại làm việc với một người thư ký ghi chép đáng tin cậy và có đủ năng lực. |
4. It is our task as disciples of the Great White Lodge to contribute to humanity’s readiness and to our own. | 4. Là những đệ tử của Thánh đoàn, nhiệm vụ của chúng ta là góp phần vào sự sẵn sàng của nhân loại và của chính chúng ta. |
IV. These groups are also an experiment which has for its objective the manifestation of certain types of energy which will, when effectively functioning, produce cohesion or at-one-ment upon earth. The present distraught condition in the world, the international cataclysm and apparent impasse, the religious dissatisfaction, the economic and social upheaval and the appalling effects of war are all the results of energies that are so potent — owing to their immense momentum — that they can only be brought into rhythmic activity by the imposition of stronger and more definitely directed energies. | IV. Các nhóm này cũng là một cuộc thử nghiệm có mục tiêu biểu hiện một số loại năng lượng; khi hoạt động hữu hiệu, những năng lượng ấy sẽ tạo nên sự cố kết hay hợp nhất trên Trái Đất. Tình trạng rối ren hiện nay của thế giới, tai biến quốc tế và sự bế tắc bề ngoài, sự bất mãn về tôn giáo, những biến động kinh tế và xã hội cùng các hậu quả kinh hoàng của chiến tranh đều là kết quả của những năng lượng mạnh mẽ đến mức—do động lượng khổng lồ của chúng—chỉ sự áp đặt của những năng lượng mạnh hơn và có định hướng rõ rệt hơn mới có thể đưa chúng vào hoạt động nhịp nhàng. |
1. The soul ray of Earth is the second Ray of Love-Wisdom. It is the “Ray of Attractive Coherency” (EA 411). | 1. Cung linh hồn của Trái Đất là cung hai Bác Ái – Minh Triết. Đó là “Cung của Sự Cố Kết Hấp Dẫn” (EA 411). |
2. Cohesion and at-one-ment are very much the product of the interplay between the second and fourth rays, emitted by Jupiter and Mercury, the two rulers of the Mutable Cross in the heavens. Through the use of these two rays, humanity is being prepared for its transfer to the Fixed Cross, and the assumption of the duties of discipleship. Humanity is to become the World Disciple, and an increasing number will take the first initiation. | 2. Sự cố kết và sự nhất thể hóa phần lớn là kết quả của sự tương tác giữa cung hai và cung bốn, do Sao Mộc và Sao Thủy phát ra, hai chủ tinh của Thập Giá Biến đổi trên bầu trời. Thông qua việc sử dụng hai cung này, nhân loại đang được chuẩn bị để chuyển dịch sang Thập Giá Cố Định và đảm nhận các bổn phận của địa vị đệ tử. Nhân loại sẽ trở thành Đệ Tử Thế Gian, và ngày càng nhiều người sẽ tiếp nhận lần điểm đạo thứ nhất. |
3. DK takes a look at the present distraught condition of the world. He understands the distress in terms of the maladjustment of energies and forces. It seems that only now can some rhythmic order be brought into the field by the “imposition of stronger and more definitely directed energies”. The New Seed Groups are intended to be a process which will make such ordinating energies increasingly available to a field in which chaos presently prevails. | 3. Chân sư DK xem xét tình trạng rối ren hiện nay của thế giới. Ngài thấu hiểu nỗi khốn khổ này dưới góc độ sự thiếu điều hòa giữa các năng lượng và mãnh lực. Dường như chỉ đến lúc này mới có thể đưa một trật tự nhịp nhàng nào đó vào lĩnh vực ấy bằng cách “áp đặt những năng lượng mạnh hơn và được định hướng rõ ràng hơn”. Các Nhóm Hạt giống Mới được dự định sẽ tạo nên một tiến trình khiến những năng lượng lập lại trật tự như thế ngày càng sẵn có cho một lĩnh vực hiện đang chìm trong hỗn loạn. |
4. All the Ashrams are at work attempting to bring some peace and order to the situation. The ten inner groups are directly connected to the Ashrams and the ten outer groups to the ten inner. Each of us, serving in connection with one or other of the ten outer groups, can play our part in restoring the Earth and its humanity to better conditions. | 4. Tất cả các ashram đều đang hoạt động, cố gắng mang lại phần nào sự bình an và trật tự cho tình hình này. Mười nhóm bên trong trực tiếp liên kết với các ashram, còn mười nhóm bên ngoài liên kết với mười nhóm bên trong. Mỗi người chúng ta, khi phụng sự trong mối liên hệ với một trong mười nhóm bên ngoài, đều có thể góp phần đưa Trái Đất và nhân loại trên đó trở lại những điều kiện tốt đẹp hơn. |
5. A precise knowledge of occult energies and forces (as taught in occultism, rayology and astrology) will help us be of greater use in bringing relief. | 5. Tri thức chính xác về các năng lượng và mãnh lực huyền bí (như được giảng dạy trong huyền bí học, cung học và chiêm tinh học) sẽ giúp chúng ta hữu ích hơn trong việc mang lại sự xoa dịu. |
The groups are intended to work together eventually just as the various departments of a great organisation work effectively together as a unit. They must function smoothly and intelligently within themselves and also in their inter-relation with [43] each other. This will become possible when the individual members in the groups and the individual groups of disciples lose sight of their own identities in an effort to make this hierarchical work possible. In this type of group work, the feelings, reactions, wishes and successes of the individual most emphatically do not count. Only that is regarded as of importance which will further group effort and enrich the group consciousness. | Các nhóm này được dự định cuối cùng sẽ làm việc cùng nhau, như các bộ phận khác nhau của một tổ chức lớn cùng làm việc hữu hiệu như một đơn vị. Họ phải hoạt động trôi chảy và sáng suốt trong nội bộ cũng như trong mối liên hệ [43] với nhau. Điều này sẽ trở nên khả thi khi từng thành viên trong các nhóm và từng nhóm đệ tử quên đi bản sắc riêng của mình trong nỗ lực tạo điều kiện cho công việc này của Thánh đoàn. Trong loại công việc nhóm này, cảm xúc, phản ứng, mong muốn và thành công của cá nhân hoàn toàn không có trọng lượng. Chỉ những gì thúc đẩy nỗ lực nhóm và làm phong phú tâm thức nhóm mới được xem là quan trọng. |
1. The Tibetan offers us a vision of the possibilities, and states the requirements. | 1. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta một tầm nhìn về những khả năng và nêu rõ các yêu cầu. |
2. If we want these groups to appear and fulfill their intended mission, we are to lose sight of ourselves — personally — and consider only the welfare of the groups as a whole. | 2. Nếu muốn các nhóm này xuất hiện và hoàn thành sứ mệnh đã định, chúng ta phải quên đi bản thân mình — về mặt cá nhân — và chỉ quan tâm đến lợi ích của toàn thể các nhóm. |
3. To become a true hierarchical worker requires sacrifice of the personal life. There seems to be no way around this fact. A greater Will is at work in all hierarchically inspired projects, and that Will calls for the obedience and even negation of the lower personal will. | 3. Để trở thành một người hoạt động đích thực của Thánh đoàn, cần phải hi sinh đời sống cá nhân. Dường như không có cách nào tránh được sự thật này. Một Ý Chí lớn lao hơn đang hoạt động trong mọi dự án do Thánh đoàn khơi nguồn cảm hứng, và Ý Chí ấy đòi hỏi ý chí cá nhân thấp kém phải tuân phục, thậm chí phải tự phủ định. |
4. If disciples are inspired by a vision of what their group or groups may become, they will have a sufficiently elevated level of identification to negate the normal, obstructive personality reactions. The first step is to acquire a broad and deep understanding of what Hierarchy intends to accomplish through the formation of such Seed Groups. This will require study, meditation and much reflection. | 4. Nếu các đệ tử được khơi nguồn cảm hứng từ tầm nhìn về những gì nhóm hoặc các nhóm của mình có thể trở thành, họ sẽ đạt đến một cấp độ đồng hóa đủ cao để phủ định những phản ứng thông thường, gây cản trở của phàm ngã. Bước đầu tiên là đạt được sự thấu hiểu sâu rộng về những gì Thánh đoàn dự định hoàn thành thông qua việc hình thành các Nhóm Hạt giống như thế. Điều này đòi hỏi việc học hỏi, tham thiền và suy ngẫm nhiều. |
5. We cannot, at this time, reformulate the Ten Seed Groups according to the Tibetan’s original intended, nor should be try. If, as one of the externalizing Masters, He chooses to do so, He will have the expertise to reanimate and reorganize the effort. We are not equipped for the task. | 5. Hiện nay, chúng ta không thể tái lập Mười Nhóm Hạt giống theo ý định ban đầu của Chân sư Tây Tạng, và chúng ta cũng không nên thử làm vậy. Nếu, với tư cách một trong các Chân sư đang ngoại hiện, Ngài chọn làm điều đó, Ngài sẽ có chuyên môn cần thiết để tiếp sinh khí và tổ chức lại nỗ lực ấy. Chúng ta chưa có đủ khả năng cho nhiệm vụ này. |
6. We can, however, deeper our understanding of His original intentions, remembering that the prototypes of the Seed Groups already exist as inner groups on the inner planes. The ten inner groups exist now, and, inevitably, their purpose and quality must be expressed in service on the more tangible planes. It is only a matter of time. When that time comes, perhaps we will have made ourselves ready to cooperate intelligently, lovingly and with power. | 6. Tuy nhiên, chúng ta có thể đào sâu sự thấu hiểu về những ý định ban đầu của Ngài, đồng thời nhớ rằng các nguyên mẫu của những Nhóm Hạt giống đã tồn tại dưới dạng các nhóm bên trong trên các cõi bên trong. Mười nhóm bên trong hiện hữu ngay lúc này, và tất yếu, mục đích cùng phẩm tính của các nhóm ấy phải biểu lộ qua việc phụng sự trên những cõi hữu hình hơn. Đó chỉ là vấn đề thời gian. Khi thời điểm ấy đến, có lẽ chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng để hợp tác một cách thông minh, đầy tình thương và quyền năng. |
To the next commentary | Sang phần bình giảng tiếp theo |