Bình Giảng DINA I – 10

📘 Sách: Bình Giảng DINA I – Tác giả: Michael D. Robbins

DINA I · Bình giảng 10

commentary by Michael D. Robbins

Bình giảng của Michael D. Robbins

The secret of all true meditation work in its earlier stages is the power to visualise. This is the first stage to be mastered. Disciples should lay the emphasis upon this process; in it lies eventually the ability to use the creative powers of the imagination, plus mental energy, as a measure to further the ends of the Hierarchy and to carry out the Divine Plan.

Bí quyết của mọi công việc tham thiền chân chính trong những giai đoạn đầu là năng lực hình dung. Đây là giai đoạn đầu tiên cần thành thạo. Các đệ tử nên chú trọng tiến trình này; cuối cùng, chính trong đó có khả năng sử dụng những quyền năng sáng tạo của sự tưởng tượng, cùng với năng lượng trí tuệ, làm phương tiện thúc đẩy các mục tiêu của Thánh đoàn và thực hiện Thiên Cơ.

1. Master DK states that visualization is the secret of all true meditation work.

1. Chân sư DK khẳng định rằng sự hình dung là bí quyết của mọi công phu tham thiền chân chính.

2. We note, however, that this secret applies to the “earlier stages” of meditation work, suggesting that there are other secrets for the later stages.

2. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng bí quyết này áp dụng cho “những giai đoạn đầu” của công phu tham thiền, gợi ý rằng còn có những bí quyết khác cho các giai đoạn sau.

3. DK tells us that if disciples lay their emphasis upon this process they will eventually develop “the ability to use the creative powers of the imagination, plus mental energy” and will find themselves in a position to “further the ends of the Hierarchy and to carry out the Divine Plan”.

3. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng nếu các đệ tử chú trọng tiến trình này, cuối cùng họ sẽ phát triển “khả năng sử dụng những quyền năng sáng tạo của sự tưởng tượng, cùng với năng lượng trí tuệ” và sẽ có khả năng “thúc đẩy các mục tiêu của Thánh đoàn và thực hiện Thiên Cơ”.

4. We can think of visualization (as that term applies to the sense of sight) as the power to assemble and configure astral matter so that internally registered images are produced. Visualization is the power to create and arrange images which are intended to be manifested or wrought out upon the etheric-physical plane.

4. Chúng ta có thể xem sự hình dung (khi thuật ngữ này áp dụng cho thị giác) là năng lực tập hợp và tạo cấu hình cho vật chất cảm dục để tạo ra những hình ảnh được ghi nhận bên trong. Sự hình dung là năng lực tạo ra và sắp xếp những hình ảnh nhằm biểu hiện hoặc hiện thực hóa chúng trên cõi dĩ thái–hồng trần.

5. A little thought on the matter will demonstrate that visualization is related to memory (whether that memory was generated in this or in former life cycles).

5. Chỉ cần suy nghĩ đôi chút về vấn đề này sẽ thấy rằng sự hình dung có liên quan đến ký ức (dù ký ức ấy hình thành trong chu kỳ sống này hay trong những chu kỳ sống trước).

6. Memory provides a repository of impressed and retained images which the power of visualization can access, arrange and rearrange according to the intent of the one who visualizes. But memory (to a large degree) provides the “raw material” upon which the visualizer draws when undertaking the visualization process.

6. Ký ức cung cấp một kho chứa những hình ảnh đã được ghi dấu và lưu giữ mà năng lực hình dung có thể tiếp cận, sắp xếp và tái sắp xếp theo ý định của người hình dung. Nhưng ở mức độ lớn, ký ức cung cấp “nguyên liệu thô” mà người hình dung sử dụng khi thực hiện tiến trình hình dung.

7. What is it that makes the visualization process “creative”, so that the “creative powers of the imagination can be exercised”?

7. Điều gì làm cho tiến trình hình dung mang tính “sáng tạo”, để “những quyền năng sáng tạo của sự tưởng tượng có thể được vận dụng”?

a. One factor is the facility with which images can be arranged and rearranged.

a. Một yếu tố là khả năng dễ dàng sắp xếp và tái sắp xếp các hình ảnh.

b. Vividness and clarity of image are also factors.

b. Sự sống động và rõ nét của hình ảnh cũng là những yếu tố.

c. Most important is the degree to which images can be configured according to an objective or subjective template. The template need not be, per se, “in form”, but can be a subtle archetype to which the visualizer attunes and according to which he arranges and articulates the images.

c. Quan trọng nhất là mức độ có thể tạo cấu hình cho các hình ảnh theo một khuôn mẫu khách quan hoặc chủ quan. Chính khuôn mẫu ấy không nhất thiết phải “có hình tướng”, mà có thể là một nguyên mẫu tinh tế mà người hình dung hòa điệu với nó, rồi theo đó sắp xếp và kết nối các hình ảnh.

8. The creative imagination is to be used to change the configuration of conditions. Conditions as they exist on the physical plane are simply ‘materialized images’. Such conditions can be changed by direct application of force and energy existing on the same ‘level’ as the conditions; for instance, hands or their extensions can move objects around in ‘space’ causing a rearrangement of conditions (the materialized images). A subtle form of manipulation (through the power of visualization) can also cause a reconfiguration of conditions. The energy/force of the subtle images (visualized) will work (by yet unknown occult means) eventually upon the outer images and bring about a change. In the magical process this working of subtle upon gross is direct. It is also possible that subtle images will influence human beings and other creators to apply their own energies and forces in order to ‘re-image’ outer conditions.

8. Cần sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo để thay đổi cách sắp xếp các điều kiện. Các điều kiện hiện hữu trên cõi hồng trần chỉ đơn giản là ‘những hình ảnh đã vật chất hóa’. Có thể thay đổi những điều kiện ấy bằng cách trực tiếp vận dụng mãnh lực và năng lượng hiện hữu trên cùng ‘cấp độ’ với chúng; chẳng hạn, đôi tay hoặc những công cụ nối dài đôi tay có thể di chuyển các vật trong ‘không gian’, khiến các điều kiện (những hình ảnh đã vật chất hóa) được sắp xếp lại. Một hình thức tác động tinh tế (thông qua quyền năng hình dung) cũng có thể khiến các điều kiện được sắp xếp lại. Cuối cùng, năng lượng/mãnh lực của những hình ảnh tinh tế (được hình dung) sẽ tác động lên các hình ảnh bên ngoài (bằng những phương thức huyền bí còn chưa được biết đến) và tạo ra sự thay đổi. Trong tiến trình huyền thuật, tác động này của cái tinh tế lên cái thô trược diễn ra trực tiếp. Cũng có thể những hình ảnh tinh tế sẽ ảnh hưởng đến con người và các chủ thể sáng tạo khác, khiến họ vận dụng năng lượng và mãnh lực của chính mình để ‘tái tạo hình ảnh’ của các điều kiện bên ngoài.

9. The result of all this will be creative activity, a re-shaping, reconditioning, re-configuring of outer conditions by means of the application of subtle images. As stated, that application will either be direct as in magical processes, or mediated through the agency of some human or other ‘re-creator’.

9. Kết quả của tất cả những điều này sẽ là hoạt động sáng tạo, là việc tái tạo hình dáng, tái định hình và sắp xếp lại các điều kiện bên ngoài thông qua việc vận dụng những hình ảnh tinh tế. Như đã nêu, sự vận dụng ấy sẽ diễn ra trực tiếp như trong các tiến trình huyền thuật, hoặc qua trung gian là một con người hay một ‘chủ thể tái sáng tạo’ nào khác.

10. We note that in order to further the ends of Hierarchy and to carry out the Divine Plan, mental energy must also be applied along with the creative powers of the imagination.

10. Chúng ta lưu ý rằng để thúc đẩy các mục tiêu của Thánh đoàn và thực hiện Thiên Cơ, cũng phải vận dụng năng lượng trí tuệ cùng với các quyền năng sáng tạo của sự tưởng tượng.

11. The purpose of mental energy is to assure that the correct image is visualized and that it is applied to the right ‘place’ and at the right time. Creative imagination is not a random and unregulated process. Many kinds of images may be created, but only certain kinds of images, of a certain quality, color, consistency, clarity, etc. , and built upon a certain Plan-conforming subjective template will serve to further the ends of the Hierarchy and help to carry out the Divine Plan at any particular time and in relation to any particular place.

11. Mục đích của năng lượng trí tuệ là bảo đảm rằng hình ảnh đúng đắn được hình dung và được vận dụng đúng ‘nơi’ và đúng lúc. Sự tưởng tượng sáng tạo không phải là một tiến trình ngẫu nhiên và không có sự điều tiết. Có thể tạo ra nhiều loại hình ảnh, nhưng chỉ một số loại hình ảnh nhất định, có phẩm tính, màu sắc, tính nhất quán, độ rõ nét nhất định, v.v. , và được kiến tạo trên một khuôn mẫu chủ quan nhất định phù hợp với Thiên Cơ, mới giúp thúc đẩy các mục tiêu của Thánh đoàn và góp phần thực hiện Thiên Cơ vào bất kỳ thời điểm cụ thể nào và trong mối liên hệ với bất kỳ nơi chốn cụ thể nào.

12. We might say that mental energy guides, regulates and adjusts the formation of the created images. Without the right use of this energy in association with the processes of the creative imagination, that imagination cannot be used as a tool for service and is of no real use to Hierarchy.

12. Chúng ta có thể nói rằng năng lượng trí tuệ dẫn dắt, điều tiết và điều chỉnh sự hình thành của những hình ảnh được tạo ra. Nếu không vận dụng đúng đắn năng lượng này kết hợp với các tiến trình của sự tưởng tượng sáng tạo, thì không thể dùng sự tưởng tượng ấy làm công cụ phụng sự, và nó không thực sự hữu ích cho Thánh đoàn.

All the new processes in meditation techniques (for which the New Age may be responsible) must and will embody visualisation as a primary step for the following reasons:

Mọi tiến trình mới trong các kỹ thuật tham thiền (mà Kỷ Nguyên Mới có thể đem lại) đều phải và sẽ bao hàm sự hình dung như một bước đầu tiên, vì những lý do sau:

1. Visualisation is the initial step in the demonstration of the occult law that “energy follows thought.” This, of course, everyone interested in occult study recognises theoretically. One of the tasks confronting disciples is to achieve factual knowledge of this. Pictorial visualisation (which is a definite feature of the work in many esoteric schools) is simply an exercise to bring about the power to visualise. In the work of those disciples who are being trained for initiation, this external aspect of visualisation must give place to an interior process which is the first step towards the direction of energy. The visualising of pictures is intended to focus the aspirant within the head at a point midway between the pituitary body and the pineal gland. In that area, he draws pictures and paints scenes and thus acquires facility to see—in large and in detail—that which he desires and for which he intends to work. The visualising of what might be called “directed process” goes on in a more focussed manner and in the area directly around the pineal gland. The pineal [90] gland then becomes the centre of a magnetic field which is set in motion—in the first place—by the power of visualisation. At that point, energy is gathered by the disciple and then directed with intention to one or other of the centres. This focussed thought produces inevitable effects within the etheric body and thus two aspects of the creative imagination are brought into play.

1. Sự hình dung là bước khởi đầu để biểu hiện định luật huyền bí rằng “năng lượng đi theo tư tưởng”. Dĩ nhiên, bất cứ ai quan tâm đến việc nghiên cứu huyền bí học đều thừa nhận điều này về mặt lý thuyết. Một trong những nhiệm vụ mà các đệ tử phải đối diện là đạt được sự hiểu biết thực chứng về điều này. Hình dung bằng hình ảnh (vốn là một đặc điểm rõ rệt trong công việc của nhiều trường phái nội môn) chỉ là một bài tập nhằm tạo nên năng lực hình dung. Trong công việc của những đệ tử đang được huấn luyện để điểm đạo, phương diện bên ngoài này của sự hình dung phải nhường chỗ cho một tiến trình bên trong, vốn là bước đầu tiên hướng đến việc điều hướng năng lượng. Việc hình dung các hình ảnh nhằm giúp người chí nguyện tập trung bên trong đầu, tại một điểm ở giữa tuyến yên và tuyến tùng. Trong vùng ấy, y vẽ hình và tô cảnh, nhờ đó dần có khả năng nhìn thấy—cả tổng thể lẫn chi tiết—điều y mong muốn và dự định nỗ lực thực hiện. Việc hình dung điều có thể gọi là “tiến trình có định hướng” diễn ra với mức độ tập trung cao hơn, trong vùng ngay quanh tuyến tùng. Khi ấy, tuyến [90] tùng trở thành trung tâm của một từ trường mà trước hết năng lực hình dung khởi động. Tại điểm đó, đệ tử tập hợp năng lượng rồi chủ tâm hướng nó đến một trung tâm nào đó. Tư tưởng tập trung này tất yếu tạo ra những tác động trong thể dĩ thái, và như vậy hai phương diện của sự tưởng tượng sáng tạo bắt đầu hoạt động.

1. There will be new meditation techniques—this is clear. During the New Age they will emerge and visualization will be a primary step in their emergence

1. Sẽ có những kỹ thuật tham thiền mới—điều này đã rõ. Chúng sẽ xuất hiện trong Kỷ Nguyên Mới, và sự hình dung sẽ là một bước chủ yếu trong sự xuất hiện của chúng

2. We must remember that the Aquarian Age will be a very creative Age in which a “new Heaven and a new Earth” will take shape. Much concerning the “old world” will have to be ‘re-imaged’ under the seventh ray (re-patterning), fourth ray (beauty and balance) and second ray (attractive coherency). This re-imaging must be in accordance with the patterns of the Divine Plan or else the re-creation intended for the Aquarian Age will not be fulfilled.

2. Chúng ta phải nhớ rằng Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ là một Kỷ Nguyên hết sức sáng tạo, trong đó một “Trời mới và một Trái Đất mới” sẽ thành hình. Nhiều điều thuộc về “thế giới cũ” sẽ phải được ‘tái tạo hình ảnh’ dưới tác động của cung bảy (tái lập mô hình), cung bốn (vẻ đẹp và sự cân bằng) và cung hai (tính gắn kết nhờ sức hút). Việc tái tạo hình ảnh này phải phù hợp với các mô hình của Thiên Cơ, nếu không thì công cuộc tái sáng tạo dành cho Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ không thể hoàn thành.

3. When we say that “energy follows thought” what do we mean? There is a danger that when a truism is oft repeated its meaning will be lost. Quite simply, if we think in a certain direction (whether the focus of that direction is within the microcosm or within the larger environment), a flow of energy/force will be directed to that focus. For example, if I think of my throat center, there will be a flow of energy/force directed to my throat center. The same is true for any of the chakras. If I think towards another person, energy/force will be directed to that person. If I think of a location, such as the White House or the General Assembly within the United Nations, energy/force will be directed to those destinations, those ‘targets’.

3. Khi nói rằng “năng lượng theo sau tư tưởng”, chúng ta muốn nói gì? Có một nguy cơ là khi một chân lý hiển nhiên được lặp lại thường xuyên, ý nghĩa của nó sẽ mất đi. Rất đơn giản, nếu chúng ta suy nghĩ theo một hướng nhất định (dù tiêu điểm của hướng ấy nằm trong tiểu thiên địa hay trong môi trường rộng lớn hơn), thì một dòng năng lượng/mãnh lực sẽ được hướng đến tiêu điểm ấy. Chẳng hạn, nếu tôi nghĩ đến trung tâm cổ họng của mình, sẽ có một dòng năng lượng/mãnh lực hướng đến trung tâm cổ họng của tôi. Điều tương tự cũng đúng với bất kỳ luân xa nào. Nếu tôi hướng tư tưởng đến một người khác, năng lượng/mãnh lực sẽ hướng đến người ấy. Nếu tôi nghĩ đến một địa điểm, chẳng hạn như Nhà Trắng hay Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc, năng lượng/mãnh lực sẽ hướng đến những đích đến ấy, những ‘mục tiêu’ ấy.

4. Visualization is a prime method of directing that energy/force, for through a visualized image which replicates the proposed destination of the energy/force (for instance an image of a chakra, a person, the White House or General Assembly) the visualized image is brought into resonance with the destination or target. This has been called “sympathetic magic”. The more closely the visualized image replicates the ‘original’, the more in resonance they will be. Energy/force visualized as directed towards the image will also (due to resonances in the etheric field and in other subtle fields) find its way to the ‘original’. The exact mechanism of this will probably take centuries to explicate, but we can count on the validity of the occult law of which we have been informed. “Energy follows thought”. Energy will follow (pursue its way to) that which is imagined through thought/visualization.

4. Sự hình dung là một phương pháp chủ yếu để điều hướng năng lượng/mãnh lực ấy, vì khi một hình ảnh được hình dung tái hiện đích đến dự kiến của năng lượng/mãnh lực (chẳng hạn hình ảnh của một luân xa, một người, Nhà Trắng hay Đại Hội đồng), hình ảnh ấy sẽ cộng hưởng với đích đến hay mục tiêu đó. Điều này được gọi là “huyền thuật tương cảm”. Hình ảnh được hình dung càng tái hiện sát ‘nguyên bản’, chúng càng cộng hưởng mạnh với nhau. Năng lượng/mãnh lực được hình dung là hướng đến hình ảnh ấy cũng sẽ (nhờ những cộng hưởng trong trường dĩ thái và các trường tinh tế khác) tìm đường đến ‘nguyên bản’. Có lẽ phải mất nhiều thế kỷ mới giải thích được chính xác bộ máy vận hành của điều này, nhưng chúng ta có thể tin tưởng vào tính đúng đắn của định luật huyền bí mà chúng ta đã được biết. “Năng lượng theo sau tư tưởng”. Năng lượng sẽ theo sau (tìm đường đến) điều được tưởng tượng thông qua tư tưởng/sự hình dung.

5. We should not overlook the fact that it is possible to direct energy/force to an actual object within the field of vision. In this case the object need not be visualized because it is tangibly present and can be seen through the sense of sight, but the energy which is directed may be visualized as pursuing its way to the tangible, sensorially revealed object.

5. Chúng ta không nên bỏ qua thực tế rằng có thể điều hướng năng lượng/mãnh lực đến một vật thể thực sự trong trường nhìn. Trong trường hợp này, không cần hình dung vật thể ấy vì nó hiện diện một cách hữu hình và có thể được nhìn thấy bằng thị giác, nhưng có thể hình dung năng lượng được điều hướng đang tìm đường đến vật thể hữu hình mà giác quan cho thấy.

6. The Tibetan is suggesting that we are all familiar with the adage “energy follows thought” but must make the theory a factual realization.

6. Chân sư Tây Tạng đang gợi ý rằng tất cả chúng ta đều quen thuộc với châm ngôn “năng lượng theo sau tư tưởng”, nhưng phải biến lý thuyết ấy thành sự chứng nghiệm thực tế.

7. The Tibetan seems to be distinguishing between “pictorial visualisation” and the “power to visualise”. Pictorial visualization is simply a beginning step, and may involve the utilization of memory to promote the clear holding of an image. But such work would simply be a “warm-up” for the real act of visualization.

7. Dường như Chân sư Tây Tạng đang phân biệt giữa “sự hình dung bằng hình ảnh” và “quyền năng hình dung”. Sự hình dung bằng hình ảnh chỉ đơn giản là bước khởi đầu, và có thể bao gồm việc sử dụng trí nhớ để giúp giữ vững một hình ảnh rõ nét. Nhưng công việc như thế chỉ là một bước “khởi động” cho hành động hình dung thực sự.

8. We are interested in what may be that “interior process which is the first step towards the direction of energy”. Obviously, the holding of a clear image is not sufficient. The method of activating the held image in relation to its destination/target must be found. If the image held is different from the ‘target image’ (the concretized condition which the held image is meant to transform) then there must be found a method of ‘seeing’ the ‘target image’ transformed into the ‘held image’. A kind of rapport must be established between the new pattern (embodied in the held image) and the old pattern or target image which ideally will be reconfigured so that it reflects the held image. Probably, those who work in this way will be able to note the moment when the two images come en rapport.

8. Chúng ta quan tâm xem điều gì có thể là “tiến trình nội tại, vốn là bước đầu tiên hướng tới việc điều hướng năng lượng” ấy. Hiển nhiên, chỉ giữ vững một hình ảnh rõ nét là chưa đủ. Phải tìm ra phương pháp kích hoạt hình ảnh đang được giữ vững trong mối liên hệ với đích đến/mục tiêu của nó. Nếu hình ảnh được giữ vững khác với ‘hình ảnh mục tiêu’ (điều kiện đã được cụ thể hóa mà hình ảnh được giữ vững nhằm chuyển đổi), thì phải tìm ra một phương pháp để ‘nhìn thấy’ ‘hình ảnh mục tiêu’ chuyển đổi thành ‘hình ảnh được giữ vững’. Phải thiết lập một dạng giao cảm giữa mô hình mới (hiện thân trong hình ảnh được giữ vững) và mô hình cũ hay hình ảnh mục tiêu; theo lý tưởng, hình ảnh mục tiêu sẽ được sắp xếp lại để phản ánh hình ảnh được giữ vững. Có lẽ những người làm việc theo cách này sẽ có thể nhận biết thời điểm hai hình ảnh đi vào giao cảm với nhau.

9. One way of promoting such rapport would be the capacity to hold both images in the mind’s eye simultaneously, and note the transformation of the target image into a close or closer replication of the image held. Obviously, much practice and much inner, visual steadiness are needed until success crowns the efforts of the visualizer.

9. Một cách thúc đẩy sự giao cảm ấy là khả năng giữ đồng thời cả hai hình ảnh trong tâm nhãn và nhận biết sự chuyển đổi của hình ảnh mục tiêu thành một bản tái hiện gần giống hoặc ngày càng giống hơn với hình ảnh được giữ vững. Hiển nhiên, cần thực hành nhiều và có sự ổn định lớn trong việc nhìn thấy hình ảnh bên trong, cho đến khi những nỗ lực của người hình dung đạt được thành công.

10. In all this kind of work, however, it is necessary to work without attachment to results, as, even if sympathetic rapport is established between the visualizer, his held image and the target image, it may take a long while before the target image actually begins to reflect the configuration of the held image.

10. Tuy nhiên, trong mọi công việc thuộc loại này, cần làm việc mà không chấp trước vào kết quả, vì ngay cả khi đã thiết lập được sự giao cảm tương ứng giữa người hình dung, hình ảnh người ấy giữ vững và hình ảnh mục tiêu, vẫn có thể phải mất một thời gian dài trước khi hình ảnh mục tiêu thực sự bắt đầu phản ánh cách sắp xếp của hình ảnh được giữ vững.

11. The Tibetan becomes anatomical in his description of the ‘place’ where visualization is to occur—”within the head at a point midway between the pituitary body and the pineal gland”. In this ‘location’ we are told to “draw pictures”, “paint scenes” and “acquire the power to see”. Students should consult an anatomy book to ensure (in a fifth ray/seventh ray manner) that they ‘place’ their images in the proper location.

11. Chân sư Tây Tạng chuyển sang mô tả về mặt giải phẫu ‘nơi’ sự hình dung phải diễn ra—”bên trong đầu, tại một điểm nằm giữa tuyến yên và tuyến tùng”. Tại ‘vị trí’ này, chúng ta được chỉ dạy hãy “vẽ nên những hình ảnh”, “tô màu các cảnh tượng” và “đạt được quyền năng nhìn thấy”. Các đạo sinh nên tham khảo một cuốn sách giải phẫu để bảo đảm (theo cách của cung năm/cung bảy) rằng họ ‘đặt’ những hình ảnh của mình vào đúng vị trí.

12. We have been given enough to begin our practice. One may simply begin with familiar and simple images, practice reconfiguring them, changing their shape, color, the relative proportion of their parts, and their size—for the Tibetan tells us that we must be able to see “in large and in detail”. Anything a modern “Photoshop” computer program can do, we should be able to do with our inner imaging apparatus and more. It may, however, take years to develop sufficient skill to work in this manner. Still, the capacity to do so must be developed, as all our future usefulness to Hierarchy depends upon it.

12. Chúng ta đã được chỉ dạy đủ để bắt đầu thực hành. Có thể đơn giản bắt đầu bằng những hình ảnh quen thuộc và đơn giản, thực hành sắp xếp lại chúng, thay đổi hình dạng, màu sắc, tỉ lệ tương đối giữa các bộ phận và kích thước của chúng—vì Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng chúng ta phải có khả năng nhìn thấy “ở quy mô lớn và trong từng chi tiết”. Bất cứ điều gì một chương trình máy tính “Photoshop” hiện đại có thể làm, chúng ta cũng phải có khả năng làm được bằng bộ máy tạo hình ảnh bên trong của mình, và còn hơn thế nữa. Tuy nhiên, có thể phải mất nhiều năm để phát triển đủ kỹ năng làm việc theo cách này. Dẫu vậy, khả năng ấy phải được phát triển, vì toàn bộ sự hữu ích của chúng ta đối với Thánh đoàn trong tương lai đều tùy thuộc vào nó.

13. Let us realize the importance of the teaching we are now being given. Specific locations in the head are being proposed for the “visualising of pictures” and a different location for the visualization of “directed process”. The pineal gland has a significance associated with the crown center and the first ray, and so it is the suitable ‘locus’ for the visualization of directed process. The term “directed” belongs to the first ray. The pituitary body has (depending upon the context of consideration) either a second ray or third ray meaning. When the carotid gland is considered, the pituitary takes on a second ray meaning. The visualization of images, per se, is related to the form-building second ray. The directing of these images relates to the first ray of will, power and direction.

13. Chúng ta hãy nhận ra tầm quan trọng của giáo huấn hiện đang được truyền dạy. Những vị trí cụ thể trong đầu đang được đề xuất cho “việc hình dung các hình ảnh”, và một vị trí khác cho việc hình dung “tiến trình được điều hướng”. Tuyến tùng có một thâm nghĩa gắn với trung tâm đỉnh đầu và cung một, vì thế nó là ‘vị trí’ thích hợp cho việc hình dung tiến trình được điều hướng. Thuật ngữ “được điều hướng” thuộc về cung một. Tuyến yên có ý nghĩa thuộc cung hai hoặc cung ba (tùy theo ngữ cảnh xem xét). Khi xét đến tuyến cảnh, tuyến yên mang ý nghĩa thuộc cung hai. Chính việc hình dung các hình ảnh có liên hệ với cung hai kiến tạo hình tướng. Việc điều hướng những hình ảnh này có liên hệ với cung một của ý chí, quyền năng và sự điều hướng.

14. The functioning of the pineal gland (in this specific instance) is clarified for us. The process of visualization stimulates it. When stimulated, it serves as a magnetic center—the “centre of a magnetic field”. Through this magnetism energies to be directed are first gathered, then focussed, then directed.

14. Chức năng của tuyến tùng (trong trường hợp cụ thể này) đã được làm sáng tỏ cho chúng ta. Tiến trình hình dung kích thích tuyến này. Khi được kích thích, nó hoạt động như một trung tâm từ tính—“trung tâm của một từ trường”. Thông qua từ điện này, những năng lượng cần điều hướng trước hết được tập hợp, rồi được tập trung, sau đó được điều hướng.

15. Master DK is talking here about what might be called ‘microcosmic direction’ (to the chakras within one’s own system), but they can be directed to the chakra system of others (provided one is sufficiently initiate to know what one is doing—thus, unless very well informed, we should not) or, in general, into the macrocosmic environment.

15. Ở đây, Chân sư DK đang nói về điều có thể gọi là ‘sự điều hướng trong tiểu thiên địa’ (đến các luân xa trong hệ thống của chính mình), nhưng những năng lượng ấy cũng có thể được điều hướng đến hệ thống luân xa của người khác (với điều kiện người thực hiện đã đạt trình độ điểm đạo đủ để biết mình đang làm gì—vì vậy, trừ khi hiểu biết rất rõ, chúng ta không nên làm điều đó), hoặc nói chung, vào môi trường đại thiên địa.

16. The major point is that two aspects of the creative imagination have been brought to our attention, and the manner of bringing them into play has been suggested. Now we must practice.

16. Điểm chính là chúng ta đã được lưu ý đến hai phương diện của sự tưởng tượng sáng tạo, và cách đưa chúng vào hoạt động cũng đã được gợi ra. Giờ đây, chúng ta phải thực hành.

2. The power to visualise is the form-building aspect of the creative imagination. This process falls into three parts, corresponding somewhat to the creative process followed by Deity Itself:

2. Năng lực hình dung là phương diện kiến tạo hình tướng của sự tưởng tượng sáng tạo. Tiến trình này gồm ba phần, phần nào tương ứng với tiến trình sáng tạo mà chính Thượng đế thực hiện:

a. The gathering of qualified energy within a ring-pass-not.

a. Tập hợp năng lượng mang phẩm tính xác định bên trong một vòng-giới-hạn.

b. The focussing of this energy under the power of intention, i. e. , at a point in the neighbourhood of the pineal gland. The energy is now focussed and not diffused.

b. Tập trung năng lượng này dưới quyền năng của chủ đích, nghĩa là tại một điểm gần tuyến tùng. Bấy giờ năng lượng được tập trung, không còn phân tán.

c. The dispatch of this focussed energy by means of a pictorial process (not by an act of the will at this time) in any desired direction—that is, to certain centres in a certain order.

c. Phát năng lượng đã tập trung này đi theo bất kỳ hướng mong muốn nào bằng một tiến trình hình ảnh (ở giai đoạn này chưa phải bằng một hành động của ý chí)—nghĩa là đến những trung tâm nhất định theo một trình tự nhất định.

1. DK becomes specific about the “power to visualise”; He calls it “the form-building” aspect of the creative imagination. There are obviously other aspects of work with the creative imagination. It can also be used for energy direction and for the ascertainment of truth or falsity. Perhaps there are other modes as well

1. Chân sư DK trình bày cụ thể về “quyền năng hình dung”; Ngài gọi đó là phương diện “kiến tạo hình tướng” của sự tưởng tượng sáng tạo. Hiển nhiên, công việc với sự tưởng tượng sáng tạo còn có những phương diện khác. Cũng có thể sử dụng nó để điều hướng năng lượng và xác định điều chân thật hay giả dối. Có lẽ còn có những phương thức khác nữa

2. Form-building comes under the second ray, and so the power to visualize, as well, comes most specifically under the second ray. The power to rearrange and reconfigure that which is visualized and the power to direct that which is visualized come under the third and first rays respectively.

2. Việc kiến tạo hình tướng thuộc về cung hai, vì vậy quyền năng hình dung cũng thuộc về cung hai một cách đặc thù nhất. Quyền năng sắp xếp lại và tái định hình điều được hình dung, cùng quyền năng điều hướng điều được hình dung, lần lượt thuộc về cung ba và cung một.

3. DK offers us a sequence of steps entailed in visualization.

3. Chân sư DK đưa ra cho chúng ta một trình tự các bước trong sự hình dung.

4. The first step involves “the gathering of qualified energy within a ring-pass-not”. We note that not just any energy will do, but only that energy the quality of which is suited to the purpose of the building. Further, there must be a ring-pass-not or the gathered energy cannot be managed; it will disperse and cannot be ‘grasped’ for directing.

4. Bước đầu tiên bao gồm “việc tập hợp năng lượng mang phẩm tính trong một vòng-giới-hạn”. Chúng ta lưu ý rằng không phải bất kỳ năng lượng nào cũng thích hợp, mà chỉ năng lượng có phẩm tính phù hợp với mục đích kiến tạo mới thích hợp. Hơn nữa, phải có một vòng-giới-hạn, nếu không thì không thể quản lý năng lượng đã tập hợp; nó sẽ phân tán và không thể được ‘nắm giữ’ để điều hướng.

5. Gathering is one phase and focussing another. One focusses by ‘attending intently’ to that which has been gathered. The attention is applied to gathered energy, and not to the energies/forces surrounding the gathered energy.

5. Tập hợp là một giai đoạn, còn tập trung là một giai đoạn khác. Người ta tập trung bằng cách ‘chú tâm mãnh liệt’ vào điều đã được tập hợp. Sự chú tâm hướng vào năng lượng đã tập hợp, chứ không hướng vào những năng lượng/mãnh lực bao quanh năng lượng ấy.

6. We ask ourselves, “What is the power of intention?” It is a power which derives from purpose, and it executes a certain series of actions rather than others. Intention is extremely selective, choosing a preferred pattern to emphasize, and removing emphasis from all others.

6. Chúng ta tự hỏi, “Quyền năng của chủ định là gì?” Đó là một quyền năng phát sinh từ mục đích, và nó thực hiện một chuỗi hành động nhất định thay vì những hành động khác. Chủ định có tính chọn lọc rất cao, lựa chọn một mô hình ưu tiên để nhấn mạnh và rút sự nhấn mạnh khỏi mọi mô hình khác.

7. We note that the focussing is to occur in the “neighborhood” of the pineal gland. Approximation is sufficient. DK does not want us to become too minutely exacting in the anatomical sense, as such an attempt could distract from the purpose of the process.

7. Chúng ta lưu ý rằng sự tập trung phải diễn ra trong “vùng lân cận” của tuyến tùng. Vị trí gần đúng là đủ. Chân sư DK không muốn chúng ta quá khắt khe về độ chính xác đến từng chi tiết giải phẫu, vì một nỗ lực như thế có thể làm chúng ta xao lãng mục đích của tiến trình.

8. In point “b”, we see that focussing prevents diffusion; diffusion would lead to a concentration of energy insufficient for impact. There must be a certain ‘occult density’ of energy if anything impactful is to be done with it. In this respect, ‘intensification is densification’. We can think of that stage in the process of building the antahkarana called “Intention” and realize that a certain concentration/densification of energies is being achieved.

8. Ở điểm “b”, chúng ta thấy rằng sự tập trung ngăn ngừa sự khuếch tán; sự khuếch tán sẽ khiến mức độ tập trung năng lượng không đủ để tạo tác động. Năng lượng phải có một ‘mật độ huyền bí’ nhất định nếu muốn dùng nó để làm điều gì có sức tác động. Về phương diện này, ‘tăng cường độ chính là tăng mật độ’. Chúng ta có thể nghĩ đến giai đoạn trong tiến trình kiến tạo antahkarana được gọi là “Chủ định” và nhận ra rằng các năng lượng đang đạt đến một mức độ tập trung/tăng mật độ nhất định.

9. DK now speaks of step three, “c”—the “dispatch of this focussed energy”. The term “dispatch” means a sending forth, and implies a process which has some speed.

9. Giờ đây, Chân sư DK nói đến bước thứ ba, “c”—“phát đi năng lượng đã tập trung này”. Thuật ngữ “phát đi” có nghĩa là gửi ra, và hàm ý một tiến trình có tốc độ nhất định.

10. We note that the will is (“at this time”) to be held in leash, just as it is in the healing process. A pictorial process will execute the dispatch and not the force of will. Later, when more is known about the will, it too, apparently, may be brought into the service of this sending forth of energy/force. A Master does this.

10. Chúng ta lưu ý rằng ý chí (“vào lúc này”) cần được kiềm chế, cũng như trong tiến trình trị liệu. Một tiến trình hình ảnh sẽ thực hiện việc phát đi, chứ không phải mãnh lực của ý chí. Về sau, khi chúng ta hiểu biết nhiều hơn về ý chí, dường như cũng có thể đưa nó vào phụng sự việc phát đi năng lượng/mãnh lực này. Một Chân sư thực hiện điều này.

11. DK does not here enlarge upon the pictorial process, but it can be assumed that once the energy/force is gathered and focussed, reasonably appropriate images arise spontaneously (and can be ‘edited’ by the mental energy).

11. Ở đây, Chân sư DK không trình bày thêm về tiến trình hình ảnh, nhưng có thể giả định rằng một khi năng lượng/mãnh lực đã được tập hợp và tập trung, những hình ảnh tương đối thích hợp sẽ tự phát xuất hiện (và năng lượng trí tuệ có thể ‘chỉnh sửa’ chúng).

12. In all simplicity, the sequence is gather, focus, dispatch.

12. Nói thật đơn giản, trình tự là tập hợp, tập trung, phát đi.

13. What is the act of will in which we are not to be engaged at this time? Perhaps it means that we are not to forcefully insist on the impact of the pictorially directed energies/forces. The process will be self-regulating according to the nature of the pictorial process. We are not to impose additional force upon the pictorial image insisting that the ‘target’ of the pictorial process change and change now.

13. Hành động của ý chí mà chúng ta không được thực hiện vào lúc này là gì? Có lẽ điều đó có nghĩa là chúng ta không được cưỡng ép khăng khăng đòi hỏi những năng lượng/mãnh lực được điều hướng bằng hình ảnh phải tạo ra tác động. Tiến trình sẽ tự điều tiết theo bản chất của tiến trình hình ảnh. Chúng ta không được áp đặt thêm mãnh lực lên hình ảnh, khăng khăng đòi hỏi rằng ‘mục tiêu’ của tiến trình hình ảnh phải thay đổi và thay đổi ngay bây giờ.

14. These are subtle matters and will require practice. Probably mistakes will be made, but an ‘inner monitor’ will advise us when this is the case.

14. Đây là những vấn đề tinh tế và sẽ đòi hỏi sự thực hành. Có lẽ chúng ta sẽ mắc sai lầm, nhưng một ‘người giám sát bên trong’ sẽ báo cho chúng ta biết khi điều đó xảy ra.

15. We note that the dispatch is microcosmically directed—to certain chakras and in a certain order. This process needs a Master’s guidance, and, indeed, He has offered us, in His various meditations, some patterns and sequences we may follow.

15. Chúng ta lưu ý rằng việc phát đi được điều hướng trong tiểu thiên địa—đến những luân xa nhất định và theo một thứ tự nhất định. Tiến trình này cần sự hướng dẫn của một Chân sư, và quả thật, trong các bài thiền khác nhau của Ngài, Ngài đã đưa ra cho chúng ta một số mô hình và trình tự mà chúng ta có thể noi theo.

16. Dispatch, however, is also possible in relation to the macrocosm (or the greater environment). The main thing to bear in mind is that we are not forcing anyone to do anything. To force in this manner is the method used by the ‘powers of opposition’ and with this technique we cannot involve ourselves.

16. Tuy nhiên, việc truyền gửi cũng có thể thực hiện đối với đại thiên địa (hay môi trường rộng lớn hơn). Điều chính yếu cần ghi nhớ là chúng ta không ép buộc bất kỳ ai làm bất cứ điều gì. Ép buộc theo cách này là phương pháp mà ‘các quyền năng đối kháng’ sử dụng, và chúng ta không thể tham gia sử dụng kỹ thuật này.

This process of energy direction can become a spiritual habit if disciples would begin to do it slowly and gradually. At first, the visualising process may seem to you to be laboured and profitless but, if you persevere, you will find eventually that it becomes effortless and effective. This is one of the most important ways in which a Master works; it is essential, therefore, that you begin to master the technique. The stages are:

Tiến trình điều hướng năng lượng này có thể trở thành một thói quen tinh thần nếu các đệ tử bắt đầu thực hiện nó chậm rãi và dần dần. Thoạt đầu, tiến trình hình dung có thể khiến các bạn thấy nhọc nhằn và vô ích, nhưng nếu kiên trì, cuối cùng các bạn sẽ thấy nó trở nên nhẹ nhàng và hữu hiệu. Đây là một trong những cách thức hoạt động quan trọng nhất của một Chân sư; vì vậy, điều thiết yếu là các bạn bắt đầu thành thạo kỹ thuật này. Các giai đoạn là:

a. A process of energy gathering.

a. Một tiến trình tập hợp năng lượng.

b. A process of focalisation.

b. Một tiến trình tập trung.

c. A process of distribution or direction.

c. Một tiến trình phân phối hay điều hướng.

1. DK combines the idea of visualization with energy direction. We visualize so that energy may be beneficently directed. He wishes for us that this method of energy direction will become a “spiritual habit”. It is important that it become entirely natural to us so that it may be wielded with skill. Thus, our capacity to cooperate with Hierarchy in Their service to humanity will grow.

1. Chân sư DK kết hợp ý tưởng về sự hình dung với việc định hướng năng lượng. Chúng ta hình dung để có thể định hướng năng lượng một cách hữu ích. Ngài mong rằng phương pháp định hướng năng lượng này sẽ trở thành một “thói quen tinh thần”. Điều quan trọng là phương pháp ấy phải trở nên hoàn toàn tự nhiên đối với chúng ta, để chúng ta có thể vận dụng một cách thành thạo. Nhờ đó, khả năng hợp tác của chúng ta với Thánh đoàn trong công cuộc Các Ngài phụng sự nhân loại sẽ tăng trưởng.

2. We note that we are not to dive in precipitously and expect instantaneous results. The power to visualize is essentially a second ray process and the second ray moves slowly and deliberately (through the wise use of slow action).

2. Chúng ta lưu ý rằng không nên hấp tấp lao vào và mong đợi kết quả tức thì. Quyền năng hình dung về cơ bản là một tiến trình thuộc cung hai, và cung hai vận hành chậm rãi, có chủ đích (thông qua việc sử dụng minh triết hành động chậm rãi).

3. The thoughts suggested are simple. Results will not occur immediately and at first all efforts may seem labored and relatively profitless, but if there is persistence, the work of visualization (and the direction of the visualized images) will become “effortless and effective”.

3. Những tư tưởng được gợi ra đều đơn giản. Kết quả sẽ không xuất hiện ngay lập tức, và thoạt đầu mọi nỗ lực có thể có vẻ nhọc nhằn và tương đối vô ích, nhưng nếu kiên trì, công việc hình dung (và định hướng những hình ảnh đã hình dung) sẽ trở nên “nhẹ nhàng và hiệu quả”.

4. We may at times wonder how the Masters work. Here, DK tells us. Visualization is “one of the most important ways” in which They work.

4. Đôi khi chúng ta có thể tự hỏi các Chân sư làm việc như thế nào. Ở đây, Chân sư DK cho chúng ta biết. Sự hình dung là “một trong những phương thức quan trọng nhất” mà Các Ngài dùng để làm việc.

5. Therefore, it is not only desirable that we master the technique of visualization but “essential”. These “words to the wise” should be sufficient.

5. Vì vậy, việc chúng ta làm chủ kỹ thuật hình dung không chỉ là điều đáng mong muốn mà còn “thiết yếu”. Những “lời nhắc dành cho người biết suy xét” này hẳn đã đủ.

6. DK reiterates the sequence we have been studying above.

6. Chân sư DK nhắc lại trình tự mà chúng ta đã nghiên cứu ở trên.

The disciple learns to do this within himself and later to direct the energy (some chosen and particular kind, according to the demand of the occasion) to that which lies without himself. This constitutes, for example, one of the major healing techniques of the future. It is also used by the Master in awakening His disciple to certain [91] states of consciousness, but with these you have naught to do.

Đệ tử học thực hiện điều này bên trong mình, rồi về sau hướng năng lượng (một loại đặc thù được lựa chọn theo yêu cầu của hoàn cảnh) đến những gì ở bên ngoài mình. Chẳng hạn, điều này tạo thành một trong những kỹ thuật trị liệu chủ yếu của tương lai. Chân sư cũng sử dụng nó để đánh thức đệ tử của Ngài vào những trạng thái [91] tâm thức nhất định, nhưng những điều này chưa thuộc phận sự của các bạn.

1. Here Master DK addresses the question of microcosmic and macrocosmic direction.

1. Ở đây, Chân sư DK đề cập đến vấn đề định hướng trong tiểu thiên địa và đại thiên địa.

2. Our first work with the “power of visualization” is to be within ourselves and upon ourselves.

2. Công việc đầu tiên của chúng ta với “quyền năng hình dung” phải diễn ra bên trong chính mình và tác động lên chính mình.

3. The directing of energy to “people, places and things” outside ourselves is to come later, and there are specifics to be observed. The energy to be directed is to be well chosen and of a particular kind, and there must be a demand for this energy which depends upon the requirements of particular occasions.

3. Việc định hướng năng lượng đến “con người, nơi chốn và sự vật” bên ngoài chúng ta phải đến sau, và có những điều cụ thể cần tuân thủ. Năng lượng cần định hướng phải được lựa chọn kỹ và thuộc một loại cụ thể, đồng thời phải có nhu cầu về năng lượng này, tùy theo những đòi hỏi của từng hoàn cảnh cụ thể.

4. It is obvious that groups of healers are involved in the directing of such energies and forces. Already there are those who are practicing in this manner, but they must be sure that, microcosmically, they are pure, clear, organized, alert, and soul-aligned otherwise they may do damage rather than good.

4. Hiển nhiên, các nhóm người trị liệu có tham gia định hướng những năng lượng và mãnh lực như thế. Đã có những người đang thực hành theo cách này, nhưng họ phải bảo đảm rằng, xét về tiểu thiên địa, họ thanh khiết, trong sáng, có tổ chức, tỉnh táo và chỉnh hợp với linh hồn; nếu không, họ có thể gây hại thay vì mang lại lợi ích.

5. DK hints at the use of such energy direction by a Master for purposes of “awakening His disciple to certain states of consciousness”. Obviously, He knows how to do this and has probably done it with respect to the groups He has been training. Such work, however, is not open to us as we do not yet know enough.

5. Chân sư DK gợi ý về việc một Chân sư sử dụng cách định hướng năng lượng như thế nhằm “đánh thức đệ tử của Ngài vào một số trạng thái tâm thức”. Hiển nhiên, Ngài biết cách thực hiện điều này và có lẽ đã làm như vậy với các nhóm mà Ngài đang huấn luyện. Tuy nhiên, chúng ta chưa thể thực hiện công việc như thế, vì chưa biết đủ.

6. We must begin slowly, putting first things first. The demands of the times may assist in rendering more rapid our progress with these techniques.

6. Chúng ta phải bắt đầu chậm rãi, ưu tiên những điều cần làm trước. Những đòi hỏi của thời đại có thể giúp chúng ta tiến bộ nhanh hơn trong các kỹ thuật này.

3. The power to visualise correctly is one definite mode of ascertaining truth or falsity. This is a statement difficult for you to comprehend. Visualisation is literally the building of a bridge between the emotional or astral plane and the mental level and is, therefore, a personality correspondence to the building of the antahkarana. The astral plane, the second aspect of the personality, is the correspondence to the form-building aspect of the Trinity, the second aspect. The creative imagination “pictures a form” through the ability to visualise and the thought energy of the mind gives life and direction to this form. It embodies purpose. Thereby a rapport or line of energy is constructed between the mind and the astral vehicle and it becomes a triple line of energy when the soul of the disciple is utilising this creative process in some planned and definitely constructive manner.

3. Năng lực hình dung đúng đắn là một phương thức xác định chân hay giả rõ rệt. Đây là một phát biểu khó hiểu đối với các bạn. Theo nghĩa đen, sự hình dung là việc xây dựng một cây cầu giữa cõi cảm xúc hay cõi cảm dục và cấp độ trí tuệ; do đó, nó là sự tương ứng ở phàm ngã với việc xây dựng antahkarana. Cõi cảm dục, phương diện thứ hai của phàm ngã, tương ứng với phương diện kiến tạo hình tướng của Ba Ngôi, tức phương diện thứ hai. Sự tưởng tượng sáng tạo “phác họa một hình tướng” nhờ khả năng hình dung, còn năng lượng tư tưởng của thể trí tiếp sự sống và định hướng cho hình tướng này. Nó hiện thân cho chủ đích. Nhờ đó, một mối giao cảm hay một đường năng lượng được xây dựng giữa thể trí và hiện thể cảm dục; đường này trở thành một đường năng lượng tam phân khi linh hồn của đệ tử sử dụng tiến trình sáng tạo ấy theo một cách có hoạch định và rõ ràng mang tính xây dựng.

1. Of Goodness, Beauty and Truth, Truth belongs to the third ray (though it is not unrelated to the other two rays).

1. Trong Thiện, Mỹ và Chân, Chân thuộc về cung ba (dù vẫn có liên hệ với hai cung kia).

2. DK suggests for us a very occult use of the visualization process as a “definite mode of ascertaining truth or falsity”.

2. Chân sư DK gợi ý cho chúng ta một cách sử dụng tiến trình hình dung rất huyền bí như một “phương thức xác định rõ ràng điều gì chân thật hay sai lầm”.

3. DK enters into more technicalities regarding the visualization process. An important definition of visualization is given: “Visualisation is literally the building of a bridge between the emotional or astral plane and the mental level and is, therefore, a personality correspondence to the building of the antahkarana”.

3. Chân sư DK đi sâu hơn vào những chi tiết kỹ thuật của tiến trình hình dung. Ngài đưa ra một định nghĩa quan trọng về sự hình dung: “Theo nghĩa đen, sự hình dung là việc xây dựng một cây cầu giữa cõi cảm xúc hay cõi cảm dục và cấp độ trí tuệ; vì vậy, trong phàm ngã, nó tương ứng với việc xây dựng antahkarana”.

4. We have seen that mental energy must accompany the power to visualize if this process is to be of use to the Hierarchy in Their service of the Divine Plan.

4. Chúng ta đã thấy rằng năng lượng trí tuệ phải đi cùng quyền năng hình dung thì tiến trình này mới hữu ích cho Thánh đoàn trong công cuộc Các Ngài phụng sự Thiên Cơ.

5. We learn, regarding the visualization process, of the “division of labor” between the astral body and the mental body. The astral body “pictures a form” and “the thought energy of the mind gives life and direction to this form”. We remember that the mind is in close resonance to the will, which is the directing power.

5. Về tiến trình hình dung, chúng ta biết được sự “phân công” giữa thể cảm dục và thể trí. Thể cảm dục “phác họa một hình tướng” và “năng lượng tư tưởng của thể trí đem lại sự sống và định hướng cho hình tướng này”. Chúng ta nhớ rằng thể trí cộng hưởng chặt chẽ với ý chí, vốn là quyền năng định hướng.

6. DK does not want the work of the astral and mental bodies to remain unattended by the soul. The soul must link, creating thereby a triple “line of energy”—soul, mind, astral vehicle. In this manner the visualization process can become the instrument of the soul’s “creative process” on behalf of the Divine Plan. When the soul links to the other two fields (mind and emotions), the factor of purpose enters, and the process turns spiritually constructive.

6. Chân sư DK không muốn công việc của thể cảm dục và thể trí tiếp tục thiếu sự chăm nom của linh hồn. Linh hồn phải kết nối, qua đó tạo nên một “tuyến năng lượng” tam phân—linh hồn, thể trí, hiện thể cảm dục. Theo cách này, tiến trình hình dung có thể trở thành công cụ cho “tiến trình sáng tạo” của linh hồn nhằm phụng sự Thiên Cơ. Khi linh hồn kết nối với hai lĩnh vực kia (thể trí và cảm xúc), yếu tố mục đích xuất hiện, và tiến trình trở nên có tính xây dựng về mặt tinh thần.

This visualising process and this use of the imagination form the first two steps in the activity of thoughtform building. It is with these self-created forms—embodying spiritual ideas and divine purpose—that the Masters work and hierarchical purpose takes shape. Therefore, my disciples, it is essential that you begin with deliberation and slowly to work in this manner and to use the above information constructively and creatively. The need of the times is increasingly great and the utmost of work and of purpose is desired.

Tiến trình hình dung này và cách sử dụng sự tưởng tượng này tạo thành hai bước đầu tiên trong hoạt động kiến tạo hình tư tưởng. Các Chân sư làm việc với chính những hình tướng tự tạo này—vốn hiện thân cho những ý tưởng tinh thần và Thiên Ý—và chủ đích của Thánh đoàn thành hình qua đó. Vì vậy, hỡi các đệ tử của Tôi, điều thiết yếu là các bạn bắt đầu làm việc theo cách này một cách có chủ tâm và chậm rãi, đồng thời sử dụng những thông tin trên theo tinh thần xây dựng và sáng tạo. Nhu cầu của thời đại ngày càng lớn, đòi hỏi nỗ lực và quyết tâm cao nhất.

1. We are acquainted with the idea that we are to build thoughtforms in service of the Divine Plan. DK gives us the first two steps in this process of thoughtform building: “the visualising process and this use of the imagination”. In “this use of the imagination” presumably the mind is involved, giving life and direction to the visualized form.

1. Chúng ta đã quen với ý tưởng rằng mình phải xây dựng các hình tư tưởng để phụng sự Thiên Cơ. Chân sư DK cho chúng ta hai bước đầu tiên trong tiến trình xây dựng hình tư tưởng này: “tiến trình hình dung và cách sử dụng sự tưởng tượng này”. Trong “cách sử dụng sự tưởng tượng này”, có lẽ thể trí tham gia, đem lại sự sống và định hướng cho hình tướng đã hình dung.

2. Master DK speaks of “self-created forms”, reminding us that it is the task of any creator to evolve something from himself/herself and not merely replicate present conditions. We are told that the Masters’ work and hierarchical planning and purpose depend upon this visualization process.

2. Chân sư DK nói đến “những hình tướng tự tạo”, nhắc chúng ta rằng nhiệm vụ của bất kỳ người sáng tạo nào cũng là phát triển một điều gì đó từ chính mình, chứ không chỉ sao chép những điều kiện hiện tại. Chúng ta được cho biết rằng công việc của các Chân sư cùng việc hoạch định và mục đích của Thánh đoàn đều phụ thuộc vào tiến trình hình dung này.

3. Again, Master DK enjoins His disciples (including, let us presume, ourselves) to “begin with deliberation and slowly to work in this manner and to use the above information constructively and creatively”.

3. Một lần nữa, Chân sư DK căn dặn các đệ tử của Ngài (hãy giả định là bao gồm cả chúng ta) phải “bắt đầu làm việc theo cách này một cách có cân nhắc và chậm rãi, đồng thời sử dụng thông tin trên một cách có tính xây dựng và sáng tạo”.

4. He suggests that by working in this manner we may play some role in meeting the increasingly great need of the times. He also is suggesting that unless we rightly utilize the power of visualization we shall not be engaging in “the utmost of work” nor be guided by the utmost of purpose.

4. Ngài gợi ý rằng bằng cách làm việc như thế, chúng ta có thể góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của thời đại. Ngài cũng gợi ý rằng nếu không sử dụng đúng quyền năng hình dung, chúng ta sẽ không thực hiện “nỗ lực làm việc cao nhất”, cũng không có sự chuyên tâm cao nhất vào mục đích để dẫn dắt mình.

5. It takes no unusual act of imagination to understand the importance of what has been given in the last several paragraphs.

5. Không cần vận dụng sự tưởng tượng khác thường nào để thấu hiểu tầm quan trọng của những điều đã được trình bày trong vài đoạn vừa qua.

The goal of initiation is held out by the Masters to all Their disciples and They stand ready to give the needed instruction. I would remind you at this early stage that only that which you know for yourself and experience consciously within yourself is of importance and constitutes the truth for you. That which may be told you by others, even by me, serves no vital purpose, except to enhance or corroborate an already known truth, or to create illusions or responsibility until it is either rejected or experienced by you in your own consciousness. Do you understand what I mean?

Các Chân sư đặt mục tiêu điểm đạo trước mọi đệ tử của Các Ngài và sẵn sàng ban những huấn thị cần thiết. Ngay trong giai đoạn đầu này, Tôi muốn nhắc các bạn rằng chỉ những gì các bạn tự mình biết và trải nghiệm một cách có ý thức bên trong mình mới có tầm quan trọng và tạo thành chân lý đối với các bạn. Những điều người khác, kể cả Tôi, có thể nói với các bạn không phục vụ mục đích thiết yếu nào, ngoài việc làm sâu sắc thêm hay xác nhận một chân lý đã biết, hoặc tạo ra những ảo tưởng hay trách nhiệm cho đến khi các bạn bác bỏ chúng hoặc trải nghiệm chúng trong chính tâm thức của mình. Các bạn có hiểu điều Tôi muốn nói không?

1. The detailed discussion on visualization leads naturally into a consideration of the process of initiation. During this process the Master uses visualization to help awaken His disciples to certain states of consciousness, as indicated several paragraphs above.

1. Phần thảo luận chi tiết về sự hình dung dẫn một cách tự nhiên đến việc xem xét tiến trình điểm đạo. Trong tiến trình này, Chân sư sử dụng sự hình dung để giúp đánh thức các đệ tử của Ngài vào một số trạng thái tâm thức, như đã nêu trong vài đoạn ở trên.

2. The art of visualization is naturally a part of the process of preparing for initiation. Visualization will assist with the correct vivification of the chakric system as a part of preparation.

2. Nghệ thuật hình dung đương nhiên là một phần của tiến trình chuẩn bị cho điểm đạo. Sự hình dung sẽ hỗ trợ việc tiếp sinh lực đúng cách cho hệ thống luân xa như một phần của sự chuẩn bị.

3. Although the Masters “stand ready to give the needed instruction” anent initiation, they cannot do so unless there is the proper invocation. It is against the Law of Economy to pour forth that which is not invoked, as it would be wasted on those who do not yet want it. Fortunately, humanity on a large scale, has become invocative and hence the great hierarchical push beginning in the late 19th century.

3. Mặc dù các Chân sư “luôn sẵn sàng ban những huấn thị cần thiết” về điểm đạo, Các Ngài không thể làm như vậy nếu thiếu sự khẩn cầu thích hợp. Việc tuôn đổ những gì không được khẩn cầu là trái với Định luật Tiết Kiệm, vì điều ấy sẽ bị lãng phí nơi những người chưa mong muốn nó. May thay, nhân loại trên quy mô rộng lớn đã bắt đầu khẩn cầu, và do đó, sự thúc đẩy mạnh mẽ của Thánh đoàn đã khởi đầu vào cuối thế kỷ 19.

4. DK reminds us of the importance of the experiential approach to occultism. That which we can know for ourselves and experience consciously is important to us and constitutes for us truth; imparted information (even from a Master) is not of equal value. It may serve to corroborate that which we already know or, if misunderstood, may create illusions. If merely understood and not applied, it will create responsibility, for those who know about correct action must take correct action.

4. Chân sư DK nhắc chúng ta về tầm quan trọng của cách tiếp cận qua trải nghiệm đối với huyền bí học. Những gì chúng ta có thể tự biết và trải nghiệm một cách có ý thức đều quan trọng đối với chúng ta và tạo thành chân lý đối với chúng ta; thông tin được truyền đạt (kể cả từ một Chân sư) không có giá trị tương đương. Thông tin ấy có thể xác nhận những gì chúng ta đã biết, hoặc nếu bị hiểu sai, có thể tạo ra những ảo tưởng. Nếu chỉ thấu hiểu mà không áp dụng, thông tin ấy sẽ tạo ra trách nhiệm, vì những người biết về hành động đúng phải hành động đúng.

5. Knowledge is responsibility. When knowledge is imparted to consciousness, an imbalance is created requiring action. Imparted knowledge demands an attempt at application, during which process it is proven to be either true or false. Certainly, knowledge cannot simply ‘sit in consciousness’ with no ill effect. That which is stored, is stored to be applied (even though the application may be subtle, as in the teaching process). Knowledge unapplied burdens and dulls the consciousness.

5. Tri thức là trách nhiệm. Khi tri thức được truyền vào tâm thức, một sự mất cân bằng xuất hiện, đòi hỏi phải hành động. Tri thức được truyền đạt đòi hỏi một nỗ lực áp dụng; trong tiến trình đó, nó được chứng minh là đúng hoặc sai. Chắc chắn, tri thức không thể chỉ ‘nằm trong tâm thức’ mà không gây tác động bất lợi. Những gì được tích lũy là để áp dụng (dù việc áp dụng có thể tinh tế, như trong tiến trình giảng dạy). Tri thức không được áp dụng sẽ đè nặng và làm trì độn tâm thức.

6. Master DK realizes that He has poured forth a great abundance of potential knowledge in His many books. There is a tendency among second ray students to simply garner knowledge until the ‘storehouse’ becomes overfull. He is warning against the ill effects of what can be understood as the ‘hoarding of knowledge’.

6. Chân sư DK nhận ra rằng Ngài đã tuôn đổ một lượng tri thức tiềm năng hết sức phong phú trong nhiều cuốn sách của Ngài. Các đạo sinh cung hai có khuynh hướng chỉ thu gom tri thức cho đến khi ‘kho chứa’ trở nên quá đầy. Ngài đang cảnh báo về những tác động bất lợi của điều có thể được hiểu là ‘sự tích trữ tri thức’.

Initiation might be defined at this point as the moment of crisis wherein the consciousness hovers on the very border-line [92] of revelation. The demands of the soul and the suggestions of the Master might be regarded as in conflict with the demands of time and space, focussed in the personality or the lower man. You will have, therefore, in this situation a tremendous pull between the pairs of opposites; the field of tension or the focus of the effort is to be found in the disciple “standing at the midway point.” Will he respond and react consciously to the higher pull and pass on to new and higher areas of spiritual experience? Or will he fall back into the glamour of time and space and into the thraldom of the personal life? Will he stand in a static quiescent condition in which neither the higher trend nor the lower pull will affect him? One or other of these three conditions must distinguish him and must succeed upon an earlier and vacillating experience wherein the disciple vibrates between the higher and the lower decisions. It is at this process, the Master presides. He is able to do nothing because it is the disciple’s own problem. He can only endeavour to enhance the desire of the soul by the power of His directed thought. The personality can also do nothing, for at this point both the physical body and the astral vehicle are simply automatons, waiting responsively for the decision of the disciple, functioning in his mental body. Only the disciple can act upon the mental level of consciousness at this point of endeavour. Once he does so, the die is cast. He either moves forward towards the door of light where the Master takes his hand and the Angel of the Presence becomes potent and active in a way which I may not describe to you, or he drops back temporarily into the life condition of the lower man; glamour and maya settle down anew upon him and the Dweller on the Threshold inserts himself between the disciple and the light from the open door and renews activity. The disciple either awakens suddenly to a wider grasp of reality and a deeper understanding of the Plan and his part in it, or the “veils of earth” close over his head; the vision fades and he reverts into the life of an ordinary human being, probably for the period of the incarnation wherein the opportunity was offered to him.

Ở đây, có thể định nghĩa điểm đạo là thời khắc khủng hoảng khi tâm thức chập chờn ngay trên ranh giới [92] của sự mặc khải. Có thể xem những đòi hỏi của linh hồn và những gợi ý của Chân sư là đang xung đột với những đòi hỏi của thời gian và không gian, vốn tập trung trong phàm ngã hay phàm nhân. Vì vậy, trong tình huống này sẽ có một sức giằng kéo mãnh liệt giữa các cặp đối cực; trường căng thẳng hay tiêu điểm của nỗ lực nằm nơi đệ tử đang “đứng tại điểm ở giữa”. Liệu y có đáp ứng và phản ứng một cách có ý thức trước sức hút cao hơn, rồi tiến vào những lĩnh vực trải nghiệm tinh thần mới và cao hơn không? Hay y sẽ rơi trở lại vào ảo cảm của thời gian và không gian, vào sự nô lệ của đời sống cá nhân? Liệu y có đứng yên trong một trạng thái tĩnh lặng bất động, nơi cả khuynh hướng cao hơn lẫn sức kéo thấp hơn đều không tác động đến y không? Một trong ba trạng thái này phải trở thành nét đặc trưng của y và phải nối tiếp một trải nghiệm dao động trước đó, khi đệ tử chao đảo giữa những quyết định cao hơn và thấp hơn. Tiến trình này do Chân sư chủ trì. Ngài không thể làm gì, vì đây là vấn đề của chính đệ tử. Ngài chỉ có thể cố gắng tăng cường ước muốn của linh hồn bằng quyền năng của tư tưởng có định hướng của Ngài. Phàm ngã cũng không thể làm gì, vì tại thời điểm này, cả thể xác lẫn hiện thể cảm dục chỉ là những bộ máy tự động, đang chờ đợi để đáp ứng quyết định của đệ tử, lúc này hoạt động trong thể trí của mình. Chỉ đệ tử mới có thể hành động trên cấp độ tâm thức trí tuệ tại thời điểm nỗ lực này. Một khi y làm như vậy, quyết định đã an bài. Hoặc y tiến về phía cánh cửa ánh sáng, nơi Chân sư nắm lấy tay y và Thiên Thần của Hiện Diện trở nên đầy quyền năng và hoạt động theo một cách mà Tôi không thể mô tả cho các bạn; hoặc y tạm thời rơi trở lại vào trạng thái sống của phàm nhân; ảo cảm và ảo lực lại phủ xuống y, Kẻ Chận Ngõ chen vào giữa đệ tử và ánh sáng từ cánh cửa đang mở, rồi hoạt động trở lại. Hoặc đệ tử đột nhiên thức tỉnh để nắm bắt thực tại rộng hơn và thấu hiểu sâu sắc hơn về Thiên Cơ cùng phần việc của mình trong đó, hoặc những “bức màn trần gian” khép lại trên đầu y; tầm nhìn phai mờ và y quay về đời sống của một người bình thường, có lẽ trong suốt kiếp sống mà cơ hội đã đến với y.

1. Master DK offers a temporary definition of initiation: “the moment of crisis wherein the consciousness hovers on the very border-line of revelation”.

1. Chân sư DK đưa ra một định nghĩa tạm thời về điểm đạo: “thời khắc khủng hoảng khi tâm thức chênh vênh ngay trên ranh giới của sự mặc khải”.

2. The words “crisis” and “hovers” are revelatory. In a crisis, there are no foregone conclusions; results may tend in a positive or negative direction.

2. Những từ “khủng hoảng” và “chênh vênh” mang tính mặc khải. Trong một cuộc khủng hoảng, không có kết luận nào được định sẵn; kết quả có thể nghiêng theo hướng tích cực hoặc tiêu cực.

3. The term “hovers” suggests a degree of impermanence and instability. There may be progress into the next ‘area of revelation’ or there may be a falling back.

3. Từ “chênh vênh” gợi lên một mức độ vô thường và bất ổn. Có thể có sự tiến vào ‘lĩnh vực mặc khải’ kế tiếp, hoặc có thể có sự thoái lui.

4. We note that initiation is defined as a “moment of crisis”. There is an interval of time in which tensions (caused by the interplay of higher and lower) are acute. That moment is a moment of decision which leads on to broadened consciousness (a more solar realm) or back to the familiar ‘prison’ (a more lunar realm—as the Moon represents the “prison of the soul”).

4. Chúng ta lưu ý rằng điểm đạo được định nghĩa là một “thời khắc khủng hoảng”. Có một khoảng thời gian trong đó những căng thẳng (do sự tương tác giữa cái cao và cái thấp gây ra) trở nên gay gắt. Thời khắc ấy là thời khắc quyết định, dẫn đến tâm thức mở rộng hơn (một cảnh giới mang tính thái dương hơn), hoặc trở lại ‘nhà tù’ quen thuộc (một cảnh giới mang tính thái âm hơn—vì Mặt Trăng tượng trưng cho “nhà tù của linh hồn”).

5. On the ‘higher side’ we have the demands of the soul and the suggestions of the Master in alliance. On the ‘lower side’, the demands of time and space focussed in the personality or the lower man. The term, “demands” is interesting. From the personality come certain ‘pressing urges’—for the satisfaction of appetites, for the acquisition of that which is desired, for the accumulation of that which can be known, and for the persistence of the sense of individual, separative identity (the demand of that composite elemental we call the personality).

5. Ở ‘phía cao hơn’, chúng ta có những đòi hỏi của linh hồn kết hợp với những gợi ý của Chân sư. Ở ‘phía thấp hơn’ là những đòi hỏi của thời gian và không gian tập trung trong phàm ngã hay phàm nhân. Từ “đòi hỏi” rất đáng chú ý. Từ phàm ngã xuất hiện một số ‘thôi thúc bức bách’—nhằm thỏa mãn những ham muốn, sở hữu những gì mình khao khát, tích lũy những gì có thể biết, và duy trì cảm nhận về bản sắc cá nhân riêng rẽ (đòi hỏi của hành khí tổng hợp mà chúng ta gọi là phàm ngã).

6. It is implied that the world of the Master and of the soul is outside the normal time/space world. These higher demands do not pertain to ‘matters of form’; rather, they are what might be called ‘qualitative demands’.

6. Điều này hàm ý rằng thế giới của Chân sư và linh hồn nằm ngoài thế giới thời gian/không gian thông thường. Những đòi hỏi cao hơn này không liên quan đến ‘những vấn đề về hình tướng’; đúng hơn, chúng là những gì có thể gọi là ‘những đòi hỏi về phẩm tính’.

7. Master DK is describing the tensions immediately prior to the initiation process. He speaks of a “tremendous pull” and, as He is not given to exaggeration, we realize that the lead-up to the process of initiation is testing in the extreme.

7. Chân sư DK đang mô tả những căng thẳng ngay trước tiến trình điểm đạo. Ngài nói đến một “sức giằng kéo mãnh liệt”, và vì Ngài không có thói quen phóng đại, chúng ta nhận ra rằng giai đoạn dẫn đến tiến trình điểm đạo mang tính thử thách đến tột độ.

8. Within the disciple is a “field of tension or focus”, and the contending ‘counterpulls’ are vividly and wrenchingly experienced.

8. Bên trong đệ tử có một “trường căng thẳng hay tiêu điểm”, và những ‘sức kéo ngược chiều’ đang tranh chấp được trải nghiệm một cách sống động và giằng xé.

9. The disciple stands “at the midway point”, meaning that he/she has a decision to make, for the counterpulls may be so equally balanced that no conclusion can be accurately predicted.

9. Đệ tử đứng “tại điểm ở giữa”, nghĩa là người đệ tử ấy phải đưa ra một quyết định, vì những sức kéo ngược chiều có thể cân bằng đến mức không thể dự đoán chính xác bất kỳ kết cục nào.

10. From a certain perspective we might consider the ajna center (with its suggestion of the Libran Scales) to be the “midway point”, with the crown center representing the Master and the soul and the throat center (associated with the third ray, Saturn and Earth) representing the demands of the time and space and the personality.

10. Từ một góc nhìn nào đó, chúng ta có thể xem trung tâm ajna (với hình ảnh gợi nhắc đến Cán Cân Thiên Bình) là “điểm ở giữa”, trong đó trung tâm đỉnh đầu tượng trưng cho Chân sư và linh hồn, còn trung tâm cổ họng (gắn với cung ba, Sao Thổ và Trái Đất) tượng trưng cho những đòi hỏi của thời gian, không gian và phàm ngã.

11. DK presents three possible responses. The disciple (in the throes of opposing magnetisms) may move forward into freedom, fall back into the glamor of time and space, or remain in a static and quiescent condition, neither advancing or retreating. The three signs Scorpio (advance to triumph), Virgo (falling back into reigning matter) and Libra (quiescent indecision) are symbolically involved.

11. Chân sư DK trình bày ba cách đáp ứng có thể xảy ra. Đệ tử (đang chịu sự giằng xé của những từ điện đối nghịch) có thể tiến vào tự do, rơi trở lại vào ảo cảm của thời gian và không gian, hoặc ở yên trong một trạng thái tĩnh tại và bất động, không tiến cũng không lùi. Ba dấu hiệu Hổ Cáp (tiến đến chiến thắng), Xử Nữ (rơi trở lại vào vật chất đang thống trị) và Thiên Bình (trạng thái do dự bất động) có liên quan về mặt biểu tượng.

12. A fourth type of condition is also mentioned—one of vacillation between the higher and lower alternatives. This condition is said to precede the three possibilities above mentioned

12. Một trạng thái thứ tư cũng được nhắc đến—trạng thái dao động giữa những lựa chọn cao hơn và thấp hơn. Trạng thái này được cho là xảy ra trước ba khả năng đã nêu ở trên

13. We are told that the Master “presides” during this difficult period of decision, but that, basically, He can do little since the correct decision is the disciple’s choice.

13. Chúng ta được cho biết rằng Chân sư “chủ trì” trong giai đoạn quyết định khó khăn này, nhưng về cơ bản, Ngài chỉ có thể làm được rất ít, vì việc quyết định đúng là sự lựa chọn của đệ tử.

14. We are, however, given an important hint regarding how the Master works: He endeavors to “enhance the desire of the soul by the power of His directed thought”. Is He focussing on the soul on its own plane or on the incarnated human soul? Certainly, He is not focussing on the Solar Angel (Who, already a “returning Nirvani”, needs no enhancement of correct desire). Most probably, the Master works upon the “soul in incarnation” which is another name for the disciple himself.

14. Tuy nhiên, chúng ta nhận được một gợi ý quan trọng về cách Chân sư làm việc: Ngài cố gắng “tăng cường dục vọng của linh hồn bằng quyền năng tư tưởng được định hướng của Ngài”. Ngài đang tập trung vào linh hồn trên cõi riêng của linh hồn, hay vào linh hồn con người đã lâm phàm? Chắc chắn Ngài không tập trung vào Thái dương Thiên Thần (Đấng vốn đã là một “nirvani trở lại”, không cần tăng cường dục vọng đúng đắn). Rất có thể Chân sư tác động lên “linh hồn đang nhập thể”, một tên gọi khác của chính đệ tử.

15. We note that the Master does not compel by means of will. Rather, He works with magnetic energy related to aspirational desire, sending thoughts promotive of the Will-to-Freedom and expanded consciousness.

15. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư không cưỡng ép bằng ý chí. Thay vào đó, Ngài làm việc với năng lượng từ tính liên quan đến dục vọng hướng thượng, gửi đi những tư tưởng thúc đẩy Ý Chí-hướng Tự Do và tâm thức mở rộng.

16. We are told that the personality, too, can do nothing. A special meaning of personality is here indicated, and it is one of which we should take note. The personality is considered the irrational aspect of man—his astral and physical vehicles. They are, compared to the mental vehicle, automatons (though the lower part of the mind, left unguided, can also be considered automatic in its functioning).

16. Chúng ta được cho biết rằng phàm ngã cũng không thể làm gì. Ở đây, một ý nghĩa đặc biệt của phàm ngã được nêu ra, và đó là điều chúng ta cần lưu ý. Phàm ngã được xem là phương diện phi lý trí của con người—các hiện thể cảm dục và hồng trần của y. So với thể trí, chúng là những bộ máy tự động (mặc dù phần thấp của thể trí, nếu không được hướng dẫn, cũng có thể được xem là vận hành một cách tự động).

17. Three different types of consciousness are involved: personality consciousness (which is irrational and mostly unconscious); soul consciousness which hovers above the process; and the consciousness of the disciple focussed in the mental body. The disciple is the soul in incarnation.

17. Có ba loại tâm thức khác nhau tham gia vào tiến trình này: tâm thức phàm ngã (phi lý trí và phần lớn là vô thức); tâm thức linh hồn lơ lửng bên trên tiến trình; và tâm thức của đệ tử tập trung trong thể trí. Đệ tử chính là linh hồn đang nhập thể.

18. The decision of “which way to go” belongs to the disciple. His is a Libran process and he weighs the incentives offered by the soul and personality in opposition. If Libra is strong in the natal horoscope, he may weigh the options for quite a while.

18. Quyết định “đi theo hướng nào” thuộc về đệ tử. Tiến trình của y mang tính Thiên Bình, và y cân nhắc những động lực đối lập mà linh hồn và phàm ngã đưa ra. Nếu Thiên Bình mạnh trong lá số chiêm tinh bản mệnh, y có thể cân nhắc các lựa chọn trong một thời gian khá lâu.

19. The action taken by the disciple is decisive. Once action is taken there is no return to the stage of deliberation.

19. Hành động của đệ tử có tính quyết định. Một khi đã hành động, y không còn quay lại giai đoạn cân nhắc.

20. If the motion is spiritually ‘forward’ he moves “towards the door of light where the Master takes his hand and the Angel of the Presence becomes potent and active in a way which I may not describe to you”.

20. Nếu chuyển động ấy là sự ‘tiến tới’ về mặt tinh thần, y đi “về phía cánh cửa ánh sáng, nơi Chân sư nắm lấy tay y và Thiên Thần của Hiện Diện trở nên đầy uy lực và hoạt động theo một cách mà Tôi không được phép mô tả cho các bạn”.

21. The Master taking his hand is symbolic of a new relationship with the Master and His Ashram. There is, as a result, a much stronger and more direct relationship with the higher spiritual sources.

21. Việc Chân sư nắm lấy tay y tượng trưng cho một mối quan hệ mới với Chân sư và ashram của Ngài. Kết quả là có một mối quan hệ mạnh mẽ và trực tiếp hơn nhiều với những nguồn tinh thần cao hơn.

22. There seems to be a mystery here implied, for the Solar Angel does something unexpected in a potent and active manner. Perhaps a further degree of soul infusion is experienced. Soul-infusion is not a vague generality but is probably accompanied by ‘changes of position’ (and, in general, of relationship and orientation) of the Solar Angel with respect to the disciple-initiate to be infused. Implied are the dynamics of a very occult and technical matter: how the Solar Angel grips the personality and brings it into acquiescence. Thus the Tibetan’s reticence to discuss the exact nature of the Solar Angel’s potent new activity.

22. Dường như ở đây có hàm ý về một điều huyền nhiệm, vì Thái dương Thiên Thần thực hiện một điều bất ngờ theo cách đầy uy lực và chủ động. Có lẽ đệ tử trải nghiệm một mức độ thấm nhuần của linh hồn sâu hơn. Sự thấm nhuần của linh hồn không phải là một khái niệm chung chung mơ hồ, mà có lẽ đi kèm với những ‘thay đổi vị trí’ (và nói chung là những thay đổi về quan hệ và định hướng) của Thái dương Thiên Thần đối với người đệ tử–điểm đạo đồ sắp được thấm nhuần. Điều được hàm ý là cơ chế vận động của một vấn đề rất huyền bí và mang tính kỹ thuật: cách Thái dương Thiên Thần nắm chặt phàm ngã và khiến nó thuận phục. Do đó, Chân sư Tây Tạng dè dặt khi bàn về bản chất chính xác của hoạt động mới đầy uy lực của Thái dương Thiên Thần.

23. The other less desirable alternative is as follows: “he drops back temporarily into the life condition of the lower man; glamour and maya settle down anew upon him and the Dweller on the Threshold inserts himself between the disciple and the light from the open door and renews activity”.

23. Khả năng còn lại, ít đáng mong muốn hơn, là như sau: “y tạm thời rơi trở lại tình trạng sống của phàm nhân; ảo cảm và ảo lực lại phủ xuống y, Kẻ Chận Ngõ chen vào giữa đệ tử và ánh sáng từ cánh cửa đang mở, rồi hoạt động trở lại”.

24. The disciple had been hovering on the borderland of revelation, but if unsuccessful, old forms and patterns dim the light of the beckoning door. The Dweller on the Threshold (temporarily and occultly ‘out of the way’ while the decision is being made), again becomes obtrusive. The failed candidate to initiation once again ‘sees’ his ‘old self’ as himself, and the light-filled energies, formerly so inviting, are obscured.

24. Đệ tử đã chập chờn nơi ranh giới của sự mặc khải, nhưng nếu không thành công, những hình tướng và mô hình cũ làm mờ ánh sáng của cánh cửa đang vẫy gọi. Kẻ Chận Ngõ (tạm thời ‘không còn cản đường’ theo nghĩa huyền bí trong khi quyết định đang được đưa ra) lại trở nên vướng víu. Ứng viên điểm đạo thất bại một lần nữa ‘nhìn thấy’ ‘bản ngã cũ’ của mình là chính mình, và những năng lượng tràn đầy ánh sáng, trước kia vô cùng hấp dẫn, nay bị che khuất.

25. Probably, this re-confinement occurs once or twice to every disciple, stimulating in him, at last, a sufficient incentive (fed by spiritual desperation) to break through.

25. Có lẽ mỗi đệ tử đều trải qua sự giam hãm trở lại này một hoặc hai lần, để cuối cùng khơi dậy trong y một động lực đủ mạnh (được nuôi dưỡng bằng nỗi tuyệt vọng về mặt tinh thần) nhằm đột phá.

26. We note that “glamour and maya settle down anew” upon the disciple. In the words, “settle down”, there is a suggested a downward trend and a lowering of vibration. The familiar takes the place of the possible, and defeat is registered internally (and perhaps unconsciously) rather than consciously and definitely.

26. Chúng ta lưu ý rằng “ảo cảm và ảo lực lại phủ xuống” đệ tử. Những từ “phủ xuống” gợi ra một xu hướng đi xuống và sự hạ thấp rung động. Điều quen thuộc thay thế cho điều có thể đạt tới, và thất bại được ghi nhận bên trong (có lẽ một cách vô thức) thay vì được nhận biết một cách hữu thức và rõ ràng.

27. In Master DK’s language about success and failure something of the dynamics of the initiation process may be revealed. We note that the successful disciple-initiate “awakens suddenly” suggesting the power of Uranus and possibly the Rod of Initiation called the “Flaming Diamond” and wielded by the Lord of the World in the position of Uranian Hierophant.

27. Trong cách diễn đạt của Chân sư DK về thành công và thất bại, phần nào cơ chế vận động của tiến trình điểm đạo có thể được hé lộ. Chúng ta lưu ý rằng người đệ tử–điểm đạo đồ thành công “đột nhiên thức tỉnh”, gợi lên quyền năng của Sao Thiên Vương và có thể cả Thần Trượng Điểm đạo mang tên “Kim Cương Rực Lửa” do Đức Chúa Tể Thế Giới sử dụng trong cương vị Đấng Chủ Lễ Điểm Đạo mang tính Sao Thiên Vương.

28. One who becomes initiate finds himself possessed by “a wider grasp of reality and a deeper understanding of the Plan and his part in it”. These are sufficient incentives for any true server of the race.

28. Người trở thành điểm đạo đồ nhận thấy mình có “một sự nắm bắt thực tại rộng lớn hơn và sự thấu hiểu sâu sắc hơn về Thiên Cơ cùng vai trò của mình trong đó”. Đó là những động lực đầy đủ đối với bất kỳ người phụng sự nhân loại chân chính nào.

29. If unsuccessful the “ ‘veils of earth’ close over his head; the vision fades and he reverts into the life of an ordinary human being, probably for the period of the incarnation wherein the opportunity was offered to him”.

29. Nếu không thành công, “ ‘những bức màn trần thế’ khép lại trên đầu y; tầm nhìn phai mờ và y quay trở lại cuộc sống của một con người bình thường, có lẽ trong suốt kiếp sống mà cơ hội đã được trao cho y”.

30. This is not a very appealing picture. The phrase “over his head” is an occult hint and tells us something about head center radiation which failed to ‘break through’ into a higher dimension or vibratory access. Something which was supposed to ‘ascend’ did not meet that which was ‘descending’ to meet it. Probably, a clairvoyant could see the “veils of earth” closing over and closing in.

30. Đây không phải là một viễn cảnh hấp dẫn. Cụm từ “trên đầu y” là một gợi ý huyền bí, cho chúng ta biết đôi điều về bức xạ của trung tâm đầu đã không thể ‘đột phá vào một chiều kích cao hơn hoặc mở ra lối tiếp cận bằng rung động. Một điều gì đó lẽ ra phải ‘thăng lên’ đã không gặp được điều đang ‘giáng xuống’ để gặp nó. Có lẽ một người thông nhãn có thể thấy “những bức màn trần thế” đang khép phủ lên trên và vây kín lại.

31. The vision which fades may also have something to do with the “veils of earth” closing over the head. The “veils of earth” is a phrase which names a particular type of (relatively lower) vibration which could have been penetrated and set aside had the energy-propelling the possibility of initiation been sufficiently strong.

31. Tầm nhìn phai mờ cũng có thể liên quan phần nào đến việc “những bức màn trần thế” khép lại trên đầu. “Những bức màn trần thế” là cụm từ gọi tên một loại rung động cụ thể (tương đối thấp hơn) mà y đã có thể xuyên qua và gạt sang một bên nếu năng lượng thúc đẩy khả năng điểm đạo đủ mạnh.

32. There is something depressing in the phrase “reverts into the life of an ordinary human being”. An initiate is not an ordinary human being with very limited possibilities. Retrogression is never an appealing thought to the advancing aspirant to initiation. We must be very alert to ensure that we do not, unwittingly, miss presented opportunities.

32. Có điều gì đó gây nản lòng trong cụm từ “quay trở lại cuộc sống của một con người bình thường”. Một điểm đạo đồ không phải là một con người bình thường với những khả năng rất hạn hẹp. Đối với người chí nguyện đang tiến tới điểm đạo, thoái lui không bao giờ là một ý nghĩ hấp dẫn. Chúng ta phải hết sức tỉnh táo để bảo đảm mình không vô tình bỏ lỡ những cơ hội được trao.

33. The consequences of failing are rather oppressive. Opportunity for initiation is probably deferred for the duration of at least an incarnation. Opportunity was offered once and not taken; even if the aspiration to meet such an opportunity successfully is rekindled, it probably is not offered again in the same incarnation. At least this seems to be the general trend. Let us be warned.

33. Hậu quả của thất bại khá nặng nề. Cơ hội điểm đạo có lẽ bị trì hoãn ít nhất trong suốt một kiếp sống. Cơ hội đã được trao một lần nhưng không được nắm lấy; ngay cả khi khát vọng đón nhận thành công một cơ hội như thế lại bùng lên, cơ hội ấy có lẽ cũng không được trao lại trong cùng kiếp sống. Ít nhất, đó dường như là xu hướng chung. Chúng ta hãy ghi nhớ lời cảnh báo này.

Should he, however, go forward through that door, then (according to the initiation which becomes possible) will be the revelation and its attendant consequences. The revelation will not be the [93] revelation of possibilities. It is a factual experience, resulting in the evocation of new powers and capacities and the recognition of new modes and fields of service. These powers are conditioned by past developments and the presence of these capacities, plus a freedom of movement “within the bounds of the Hierarchy” which lie far beyond anything which he may have dreamed, become his. New hierarchical contacts are now possible to him; new responsibility is laid upon his shoulders and new “fields of potency” become available for his use in world service.

Tuy nhiên, nếu y tiến qua cánh cửa ấy, sự mặc khải cùng những hệ quả đi kèm sẽ tùy thuộc vào cuộc điểm đạo có thể đạt được. Sự mặc khải sẽ không phải là sự [93] mặc khải về những khả năng. Đó là một trải nghiệm thực tế, khơi dậy những quyền năng và năng lực mới, cùng sự nhận biết những phương thức và lĩnh vực phụng sự mới. Những quyền năng này chịu ảnh hưởng của sự phát triển trước đó; sự hiện diện của những năng lực ấy, cùng với quyền tự do hoạt động “trong phạm vi của Thánh đoàn” vượt xa mọi điều y từng có thể mơ tưởng, nay thuộc về y. Giờ đây, y có thể thiết lập những tiếp xúc mới với Thánh đoàn; trách nhiệm mới đặt lên vai y, và những “lĩnh vực quyền năng” mới mở ra để y sử dụng trong việc phụng sự thế gian.

1. Apparently what is said is true for any of the possible initiations.

1. Dường như điều được nói ở đây đúng với bất kỳ cuộc điểm đạo nào có thể diễn ra.

2. Opportunity is always presented by the soul and under the recommendation of the Master, but first the “application” of the candidate must be submitted (as we have discussed in the Commentary on Rule I for Applicants.

2. Linh hồn luôn đưa ra cơ hội theo sự đề nghị của Chân sư, nhưng trước hết ứng viên phải nộp “đơn xin” (như chúng ta đã bàn trong phần Bình giảng Quy luật I dành cho các Ứng viên.

3. A successful passing through the “door of light” is attended by revelation. The Master suggests what revelation is and it not. It is not a presentation of theoretical possibilities. “It is a factual experience, resulting in the evocation of new powers and capacities and the recognition of new modes and fields of service”.

3. Việc vượt qua thành công “cánh cửa ánh sáng” đi kèm với sự mặc khải. Chân sư gợi cho chúng ta biết sự mặc khải là gì và không phải là gì. Đó không phải là việc trình bày những khả năng trên lý thuyết. “Đó là một trải nghiệm thực tế, dẫn đến việc gợi lên những quyền năng và năng lực mới, cùng sự nhận biết những phương thức và lĩnh vực phụng sự mới”.

4. True revelation is a lifting of a veil, the removal of a ‘filter’ will allows into consciousness the apprehension of that which has ever been. Of course, a revelation will not and cannot lift all veils and remove all filters. That would be impossible. To put it with extreme mildness, it would be “too much, too fast” and would destroy the candidate utterly. The revelation is, we may say, appropriate to the level of the initiation undergone—no more, no less.

4. Sự mặc khải chân thực là việc vén một bức màn, gỡ bỏ một ‘bộ lọc’, cho phép tâm thức nhận biết điều vốn luôn hiện hữu. Dĩ nhiên, một sự mặc khải sẽ không và không thể vén mọi bức màn và gỡ bỏ mọi bộ lọc. Điều đó là bất khả. Nói một cách hết sức nhẹ nhàng, như thế sẽ là “quá nhiều, quá nhanh” và sẽ hủy diệt hoàn toàn ứng viên. Có thể nói, sự mặc khải tương ứng với cấp độ của cuộc điểm đạo đã trải qua—không hơn, không kém.

5. With new realization come new powers and capacities. The candidate-now-initiate sees new ways to serve and finds himself possessed of new powers and capacities to do so. Thus he enters into a period of relatively unrestricted service (when the scope of that service is compared to what he could do before revelation occurred). He has entered into a new ‘vibratory domain’ hitherto sealed to him. The result is exhilarating and productive of new modes of creative response to the Divine Plan.

5. Cùng với sự chứng nghiệm mới là những quyền năng và năng lực mới. Ứng viên nay đã trở thành điểm đạo đồ nhìn thấy những cách phụng sự mới và nhận thấy mình có những quyền năng cùng năng lực mới để thực hiện điều đó. Do đó, y bước vào một thời kỳ phụng sự tương đối ít bị hạn chế (khi so sánh phạm vi phụng sự ấy với những gì y có thể làm trước khi sự mặc khải diễn ra). Y đã bước vào một ‘miền rung động’ mới mà trước đó vẫn khép kín đối với y. Kết quả mang lại niềm phấn khởi và tạo ra những phương thức đáp ứng sáng tạo mới đối với Thiên Cơ.

6. The Master paints an inspiring picture. While the candidate-now-initiate does not escape his own conditioning, his new state is relatively unfettered and results in a new “freedom of movement” “within the bounds of the Hierarchy”. One practical result will be a far easier access to high and inspiring energies which he may now share judiciously.

6. Chân sư phác họa một viễn cảnh đầy cảm hứng. Dù ứng viên nay đã trở thành điểm đạo đồ chưa thoát khỏi những ảnh hưởng định hình chính mình, trạng thái mới của y tương đối ít bị ràng buộc và mang lại một sự “tự do hoạt động” mới “trong phạm vi của Thánh đoàn”. Một kết quả thiết thực là y sẽ dễ dàng tiếp cận hơn nhiều với những năng lượng cao cả, đầy cảm hứng mà giờ đây y có thể chia sẻ một cách sáng suốt.

7. The idea is again presented that that which is now encountered is of greater magnitude that anything he may have dreamed. Of his new possibilities he had no real conception. That which he may have dreamed or imagined about the state of being initiated was but a pale anticipation of powers and capacities with which he is now presented and which have become his own. At every level of initiatory possibility it becomes true: “eye hath not seen, ear hath not heard…”

7. Một lần nữa, ý tưởng được nêu ra là điều y đang gặp có tầm vóc lớn lao hơn bất cứ điều gì y có thể từng mơ tưởng. Y chưa có một quan niệm thực sự nào về những khả năng mới của mình. Những gì y có thể từng mơ tưởng hoặc hình dung về trạng thái được điểm đạo chỉ là một sự dự cảm mờ nhạt về những quyền năng và năng lực giờ đây được trao cho y và đã trở thành của chính y. Ở mỗi cấp độ mà điểm đạo trở nên khả thi, lời này đều trở thành sự thật: “mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe…”

8. What all this tells us is that the would-be initiate is ever faced with the unknown, and when the unknown becomes the known, surprise is ever an initial result.

8. Tất cả những điều này cho chúng ta biết rằng người mong trở thành điểm đạo đồ luôn đối diện với điều chưa biết, và khi điều chưa biết trở thành điều đã biết, sự ngạc nhiên luôn là kết quả ban đầu.

9. We should not overlook the fact that with new capacities come new responsibilities. No increase in spiritual power is ever conferred without the attendant obligation to use such power in service. So we see that expansion and freedom of movement are conferred, accompanied by a demand for right application. “I look above, I help below”. (DINA I 561)

9. Chúng ta không nên bỏ qua sự thật rằng những năng lực mới đi kèm với những trách nhiệm mới. Không bao giờ có sự gia tăng quyền năng tinh thần nào được ban cho mà không kèm theo nghĩa vụ sử dụng quyền năng ấy để phụng sự. Vì vậy, chúng ta thấy rằng sự mở rộng và tự do hoạt động được ban cho cùng với yêu cầu vận dụng đúng đắn. “tôi hướng mắt lên trên; tôi giúp đỡ bên dưới”. (DINA I 561)

You have often heard that the Guru, or Teacher, in the East would teach His disciple by the giving of a hint. If you have read and studied the ancient writings of India (and who today has not read at least some of them?) you will have noted that these hints fall into two categories:

Các bạn thường nghe nói rằng ở phương Đông, đạo sư, hay huấn sư, dạy đệ tử của Ngài bằng cách đưa ra một lời gợi ý. Nếu các bạn đã đọc và nghiên cứu những trước tác cổ của Ấn Độ (và ngày nay có ai chưa đọc ít nhất một vài trước tác ấy?), các bạn hẳn đã nhận thấy những lời gợi ý này thuộc hai loại:

1. Hints anent personal character in relation to reality and preparation for initiation.

1. Những lời gợi ý về tính cách cá nhân trong mối liên hệ với thực tại và việc chuẩn bị cho điểm đạo.

2. Hints anent the Oneness of Deity and man’s relation to an ascertained and gained unity.

2. Những lời gợi ý về tính Duy Nhất của Thượng đế và mối liên hệ của con người với sự hợp nhất đã được xác chứng và đạt tới.

1. DK discusses the important matter of “hints” used so frequently in the methods of spiritual instruction originating in the East.

1. Chân sư DK bàn về vấn đề quan trọng là những “gợi ý” được sử dụng rất thường xuyên trong các phương pháp huấn luyện tinh thần bắt nguồn từ phương Đông.

2. Discussing the writings of ancient India, He speaks of two kinds of hints: those pertaining to personal character and those anent the “Oneness of Deity” and man’s relation to the Oneness.

2. Khi bàn về các trước tác của Ấn Độ cổ đại, Ngài nói đến hai loại gợi ý: những gợi ý liên quan đến tính cách cá nhân và những gợi ý về “tính Duy Nhất của Thượng đế” cùng mối quan hệ của con người với tính Duy Nhất ấy.

3. We can see that hints, therefore, customarily bear on the microcosm and macrocosm.

3. Do đó, chúng ta có thể thấy rằng các gợi ý thường liên quan đến tiểu thiên địa và đại thiên địa.

4. The two occult curricula we are studying in the 28 Rules Group are thus suggested, for the first Fourteen Rules deal with the microcosm and with the individual requirements demanded of the candidate as he/she prepares for initiation. The second set of Fourteen Rules is, by comparison, macrocosmic and deals with possible group relations to the spiritual triad and monad. The best writings of India are famous for this second variety of hints, of which the Upanishads are an unforgettable example.

4. Như vậy, hai chương trình học huyền bí mà chúng ta đang nghiên cứu trong Nhóm 28 Quy luật được gợi ra, vì Mười bốn Quy luật đầu tiên đề cập đến tiểu thiên địa và những yêu cầu đối với từng ứng viên khi chuẩn bị cho điểm đạo. So với bộ thứ nhất, bộ Mười bốn Quy luật thứ hai mang tính đại thiên địa và đề cập đến những mối quan hệ nhóm có thể có với tam nguyên tinh thần và chân thần. Những trước tác ưu tú nhất của Ấn Độ nổi tiếng về loại gợi ý thứ hai này, trong đó Áo Nghĩa Thư là một ví dụ không thể quên.

To these were later added teachings concerning the creative process when God made the worlds, and much concerning energy and the development of the centres (laya-yoga, as it is technically called). These four lines of teaching are practically all that is given and all the training offered was of an exoteric nature. You can see for yourselves that it was preparatory in nature and that the training for initiation was so deeply hidden in the emphasis laid upon the relation of Guru and disciple that it did not find expression in words and was not, therefore, revealed in any way. The few possible symbolic hints and meanings have been investigated and the erudite esotericist has already drained these sources of information dry.

Về sau, người ta bổ sung vào đó những giáo huấn về tiến trình sáng tạo khi Thượng đế tạo nên các thế giới, cùng nhiều điều về năng lượng và sự phát triển của các trung tâm (theo thuật ngữ chuyên môn, gọi là pháp hợp nhất qua sự tan hòa). Trên thực tế, bốn dòng giáo huấn này là tất cả những gì được truyền dạy, và toàn bộ sự huấn luyện được cung cấp đều mang bản chất ngoại môn. Các bạn có thể tự thấy rằng về bản chất, đó là sự chuẩn bị; còn việc huấn luyện để điểm đạo ẩn kín sâu xa trong sự nhấn mạnh mối quan hệ giữa đạo sư và đệ tử, đến nỗi không được diễn đạt bằng lời và do đó cũng không được tiết lộ bằng bất kỳ cách nào. Người ta đã khảo sát số ít những gợi ý và ý nghĩa biểu tượng có thể có, và nhà bí truyền học uyên bác đã khai thác cạn kiệt những nguồn thông tin này.

1. DK speaks of a third category of hints which have much to do with the “creative process” which is essentially a magical process.

1. Chân sư DK nói đến một loại gợi ý thứ ba, liên quan nhiều đến “tiến trình sáng tạo”, mà về bản chất là một tiến trình huyền thuật.

2. As well, teaching and hints anent the development of the chakras emerged as yet another category. .

2. Ngoài ra, giáo huấn và những gợi ý về sự phát triển các luân xa xuất hiện như một loại khác nữa. .

3. Thus, the four categories are hints concerning:

3. Như vậy, bốn loại là những gợi ý liên quan đến:

a. character and the microcosm

a. tính cách và tiểu thiên địa

b. Oneness and the macrocosm

b. tính Duy Nhất và đại thiên địa

c. the creative process

c. tiến trình sáng tạo

d. the cultivation of the chakric system

d. sự phát triển hệ thống luân xa

4. Even though, as we can see, such teaching would necessarily touch on deep matters, the Tibetan calls it “exoteric”.

4. Mặc dù, như chúng ta có thể thấy, giáo huấn như thế tất yếu phải chạm đến những vấn đề sâu xa, Chân sư Tây Tạng vẫn gọi đó là “ngoại môn”.

5. The implication is that true teaching on initiation was missing from these presentations, “hidden in the emphasis laid upon the relation of the Guru and disciple”.

5. Hàm ý là giáo huấn chân thực về điểm đạo đã vắng mặt trong những phần trình bày này, “ẩn giấu trong việc nhấn mạnh mối quan hệ giữa Đạo sư và đệ tử”.

6. We are dealing with four preparatory modes of teaching and hinting leading to a fifth stage concerning initiation itself. It is fitting that the fifth stage concern initiation which is so much associated with the number five.

6. Chúng ta đang bàn đến bốn phương thức giáo huấn và gợi ý mang tính chuẩn bị, dẫn tới giai đoạn thứ năm liên quan đến chính điểm đạo. Thật thích hợp khi giai đoạn thứ năm liên quan đến điểm đạo, vốn gắn bó mật thiết với số năm.

7. The secrets of initiation are necessarily very-well guarded and are not released for exoteric consideration until it is truly timely to do so. We are living in such a time and the “secrets of the Kingdom of Heaven are being shouted from the roof-tops”.

7. Các bí mật điểm đạo tất yếu được gìn giữ hết sức cẩn mật và chỉ được công bố cho sự khảo cứu ngoại môn khi thời điểm thực sự thích hợp. Chúng ta đang sống trong một thời đại như thế, và “những bí mật của Thiên Giới đang được hô vang từ các mái nhà”.

8. DK is suggesting that there is, indeed, a need for new teaching on initiation, as the few symbolic hints which were offered have been drained dry by erudite esoteric investigators. Always the Hierarchy is ready to give more once that which has been given has be rightly assimilated and used. This tells us something about the phase of the Period of the Forerunner through which we are living. Very much has been given and it remains largely unassimilated. Thus our responsibility.

8. Chân sư DK gợi ý rằng quả thực cần có giáo huấn mới về điểm đạo, vì số ít những gợi ý biểu tượng đã được đưa ra đều đã được các nhà khảo cứu huyền bí uyên bác khai thác cạn kiệt. Thánh đoàn luôn sẵn sàng trao thêm một khi những gì đã được trao đã được tiếp thu và sử dụng đúng đắn. Điều này cho chúng ta biết đôi điều về giai đoạn thuộc Thời kỳ của Đấng Tiền Phong mà chúng ta đang sống. Rất nhiều điều đã được trao, nhưng phần lớn vẫn chưa được tiếp thu. Do đó mà có trách nhiệm của chúng ta.

What I am seeking to do is to carry the teaching another stage outward and make exoteric what the Master taught His disciple in the ancient days when the fundamental truths anent the universal consciousness had been somewhat grasped by the disciple and the particular had been also successfully worked out in its rightful place and manner by the disciple. The old rule ever remains an unalterable rule that all true esoteric teaching begins with the universal and ends with the particular; [94] this you must ever and always bear in mind. It is my difficult task to put into modern language and into symbolic forms these hitherto unwritten rules. Much that has been given out since the time that H. P. B. struggled and worked has been truth, including information anent initiation. Much has been fanciful and grievously distorted.

Điều Tôi đang tìm cách thực hiện là đưa giáo huấn thêm một bước nữa ra bên ngoài, và công khai điều mà Chân sư đã dạy đệ tử của Ngài vào thời cổ, khi đệ tử đã phần nào nắm bắt những chân lý nền tảng về tâm thức vũ trụ, đồng thời cũng đã giải quyết thành công những điều riêng biệt đúng chỗ và đúng cách. Quy luật xưa vẫn luôn là một quy luật bất biến: mọi giáo huấn nội môn chân chính đều bắt đầu từ cái phổ quát và kết thúc ở cái riêng biệt; [94] đây là điều các bạn phải luôn luôn ghi nhớ. Nhiệm vụ khó khăn của Tôi là diễn đạt những quy luật từ trước đến nay chưa từng được viết ra ấy bằng ngôn ngữ hiện đại và những hình thức biểu tượng. Nhiều điều được công bố kể từ thời H.P.B. đấu tranh và làm việc là chân lý, kể cả những thông tin về điểm đạo. Cũng có nhiều điều do tưởng tượng và bị bóp méo nghiêm trọng.

1. We find, therefore, that Master DK is intending to disclose some of that which was conferred by the Master to His disciple in ancient days. Apparently He is giving us some of that which was orally conferred.

1. Do đó, chúng ta thấy rằng Chân sư DK dự định tiết lộ một phần những gì Chân sư đã truyền cho đệ tử của Ngài vào thời cổ. Dường như Ngài đang trao cho chúng ta một phần những gì đã được truyền dạy bằng lời nói.

2. We see that in order for Him to do this, certain fundamental truths about the universal and the particular (in relation to the universal) must be grasped by His disciples. Further, the “particular” (pertaining, we may justifiably think, to the disciple-as-microcosm) must be worked out and applied. The Master cannot relay more and more to disciples who do not understand and have not applied certain fundamental truths to their own nature.

2. Chúng ta thấy rằng để Ngài thực hiện điều này, các đệ tử của Ngài phải nắm bắt một số chân lý căn bản về cái phổ quát và cái cá biệt (trong mối quan hệ với cái phổ quát). Hơn nữa, “cái cá biệt” (mà chúng ta có cơ sở để cho rằng liên quan đến đệ tử xét như tiểu thiên địa) phải được triển khai và vận dụng. Chân sư không thể truyền đạt ngày càng nhiều cho những đệ tử không thấu hiểu và chưa vận dụng một số chân lý căn bản vào chính bản chất của mình.

3. DK reminds us of an old, unalterable rule: the study of occultism begins with the universal and ends with a study of the particular and the application of universal principles to particular instances.

3. Chân sư DK nhắc chúng ta về một quy luật xưa, bất biến: việc nghiên cứu huyền bí học bắt đầu từ cái phổ quát và kết thúc bằng việc nghiên cứu cái cá biệt cùng sự vận dụng các nguyên khí phổ quát vào những trường hợp cụ thể.

4. This deductive rather than inductive mode of procedure is wise. It demands an intuitive access to wisdom and ensures that spirit/soul eventually become fully ‘invested’ in matter. It promotes a ‘grasp of the whole’ rather than the more fragmentary approach resultant upon following the inductive method.

4. Phương thức tiến hành theo lối diễn dịch thay vì quy nạp này là sáng suốt. Nó đòi hỏi sự tiếp cận minh triết bằng trực giác và bảo đảm rằng tinh thần/linh hồn cuối cùng sẽ hoàn toàn ‘nhập vào’ vật chất. Nó thúc đẩy sự ‘nắm bắt cái toàn thể’ thay vì cách tiếp cận phân mảnh hơn do đi theo phương pháp quy nạp.

5. Of course, induction has its place when the fundamental principles of wisdom are not intuitively apprehended. Induction is a way of ‘rising into truth’, of arriving at principles through the piecing together of evidence. It is a corrective to incorrect premises and is promoted by the presence of the fifth ray.

5. Dĩ nhiên, quy nạp có vai trò của nó khi người ta chưa nắm bắt bằng trực giác những nguyên khí căn bản của minh triết. Quy nạp là một cách ‘vươn lên tới chân lý’, đạt tới các nguyên khí bằng cách kết hợp những bằng chứng. Nó là phương tiện sửa chữa những tiền đề sai lầm và được sự hiện diện của cung năm thúc đẩy.

6. But the true occultist is intuitively certain of his premises. They are not just theories, and thus the application of these premises (or universal principles) to specific instances will inevitably be promotive of ‘that which should be’.

6. Nhưng nhà huyền bí học chân chính có sự chắc chắn bằng trực giác về những tiền đề của mình. Chúng không chỉ là những lý thuyết, và do đó, việc vận dụng những tiền đề này (hay các nguyên khí phổ quát) vào những trường hợp cụ thể tất yếu sẽ thúc đẩy ‘điều phải hiện hữu’.

When a neophyte first of all applies to the Master for the training needed prior to initiation, what would you say was the Master’s problem? I am assuming that the Master knows His disciple well, is convinced of his sincerity and of the appropriateness of his appeal. I am also assuming that you realise that the so-called “appeal” is the quality of the life lived, the service rendered and the presence of an illumined mind—illumined through some definite measure of soul contact.

Khi một người sơ cơ lần đầu tiên thỉnh cầu Chân sư ban sự huấn luyện cần thiết trước khi điểm đạo, theo các bạn, vấn đề của Chân sư là gì? Tôi giả định rằng Chân sư biết rõ đệ tử của Ngài, tin chắc vào sự chân thành của y và tính thích đáng của lời thỉnh cầu ấy. Tôi cũng giả định rằng các bạn nhận ra điều gọi là “lời thỉnh cầu” chính là phẩm tính của đời sống đã sống, sự phụng sự đã thực hiện và sự hiện diện của một thể trí được soi sáng—được soi sáng nhờ một mức độ tiếp xúc nhất định với linh hồn.

1. So much esoteric literature is written from the perspective of the disciple’s problem. Master DK here reverses the perspective and this reversal will be illuminating.

1. Rất nhiều tài liệu nội môn được viết từ góc nhìn về vấn đề của người đệ tử. Ở đây, Chân sư DK đảo ngược góc nhìn, và sự đảo ngược này sẽ đem lại sự soi sáng.

2. DK is not speaking of the question of the disciple’s sincerity or the appropriateness of the appeal for training. These are assumed.

2. Chân sư DK không bàn đến vấn đề người đệ tử có chân thành hay không, hoặc lời thỉnh cầu được huấn luyện có thích đáng hay không. Những điều này đã được mặc nhiên thừa nhận.

3. The Master reiterates for us the nature of a true “appeal” or “application”—it is the “quality of the life lived, the service rendered and the presence of an illumined mind”. Application is a certain ‘quality of vibration’ which characterizes the applicant’s life, and evidence that that vibration is being bestowed to elevate areas of the divine life where a lower vibration is to be found. This is service expressed in terms of vibration. Service is all that which “elevates vibration”. This is different from thoughtless promotion of “overstimulation”. Well-intended disciples who would be effective in service must know the difference.

3. Chân sư nhắc lại cho chúng ta bản chất của một “lời thỉnh cầu” hay “lời xin được thu nhận” đích thực—đó là “phẩm tính của đời sống đã sống, sự phụng sự đã thực hiện và sự hiện diện của một thể trí được soi sáng”. Lời xin được thu nhận là một ‘phẩm tính rung động’ nhất định, đặc trưng cho đời sống của người xin được thu nhận, cùng bằng chứng cho thấy rung động ấy đang được ban rải để nâng cao những lĩnh vực của sự sống thiêng liêng nơi còn có rung động thấp hơn. Đây là sự phụng sự được diễn đạt bằng rung động. Phụng sự là tất cả những gì “nâng cao rung động”. Điều này khác với việc thiếu suy xét mà thúc đẩy “sự kích thích quá mức”. Những đệ tử có thiện ý, muốn phụng sự hữu hiệu, phải biết sự khác biệt này.

4. The Master cannot respond to an application if there is not the necessary measure of soul contact. In fact, without such contact, the “appeal” cannot be considered a valid “application”.

4. Chân sư không thể đáp ứng lời xin được thu nhận nếu chưa có mức độ tiếp xúc với linh hồn cần thiết. Thật vậy, nếu thiếu sự tiếp xúc ấy, “lời thỉnh cầu” không thể được xem là một “lời xin được thu nhận” hợp lệ.

The Master’s problem is to teach him the stabilisation of the relation between soul and body so that, at will, contact can be established between them; the astral body provides no hindrance that amounts to anything, and through that soul contact a facile relation to the Hierarchy, its purposes and resources can be made. Secondly, the nature of energy and its wise utilisation through the medium of an integrated personality is indicated.

Vấn đề của Chân sư là dạy y ổn định mối quan hệ giữa linh hồn và thân thể, sao cho có thể thiết lập sự tiếp xúc giữa hai bên theo ý muốn; thể cảm dục không gây trở ngại đáng kể nào, và nhờ sự tiếp xúc với linh hồn ấy, y có thể dễ dàng thiết lập mối quan hệ với Thánh đoàn, với các chủ đích và nguồn lực của Thánh đoàn. Thứ hai, Ngài chỉ cho y bản chất của năng lượng và cách sử dụng nó một cách minh triết thông qua một phàm ngã tích hợp.

1. We see that the Master’s “problem” is to teach His disciple certain things. That teaching must result in:

1. Chúng ta thấy rằng “vấn đề” của Chân sư là dạy đệ tử của Ngài một số điều. Sự chỉ dạy ấy phải đem lại:

a. the stabilization of the relation between the disciple’s soul and body, at will. The connection to soul must become a natural and easy mode of approach, not an occasional, desirable happening which cannot be easily reproduced.

a. sự ổn định mối quan hệ giữa linh hồn và thân thể của người đệ tử, theo ý muốn. Sự kết nối với linh hồn phải trở thành một cách tiếp cận tự nhiên và dễ dàng, thay vì một điều đáng mong muốn chỉ thỉnh thoảng xảy ra và khó tái lập.

b. astral tranquillity so that the astral body proves to be no real hindrance

b. sự an tĩnh về cảm dục, sao cho thể cảm dục không thực sự gây trở ngại

c. a “facile relation to the Hierarchy” through a stable and easily achieved soul contact. Thus hierarchical purposes will be revealed and hierarchical resources be made available.

c. một “mối quan hệ dễ dàng với Thánh đoàn” thông qua sự tiếp xúc ổn định và dễ đạt được với linh hồn. Nhờ đó, các mục đích của Thánh đoàn sẽ được mặc khải và các nguồn lực của Thánh đoàn sẽ trở nên sẵn có để sử dụng.

2. Have you sensed these developments occurring in your own nature and do you think the Master may be contributing to the appearance of these necessary achievements?

2. Các bạn có cảm nhận được những bước phát triển này đang diễn ra trong bản chất của chính mình, và có nghĩ rằng Chân sư có thể đang góp phần làm xuất hiện những thành tựu cần thiết ấy không?

3. The Master’s second “problem” is to teach the disciple what energy really is and how to use it rightly. This requires an “integrated personality”. It is not possible to become a candidate for initiation unless the personality is in process of integration. Every initiation demands a certain degree of integration. By the time the third degree may be taken, the personality, for all practical purposes is thoroughly integrated, though intensifications of that integration (accompanied by increasing soul infusion) will continue until the fourth degree.

3. “Vấn đề” thứ hai của Chân sư là dạy đệ tử năng lượng thực sự là gì và cách sử dụng nó đúng đắn. Điều này đòi hỏi một “phàm ngã tích hợp”. Không thể trở thành ứng viên điểm đạo nếu phàm ngã chưa ở trong tiến trình tích hợp. Mỗi cuộc điểm đạo đều đòi hỏi một mức độ tích hợp nhất định. Đến khi có thể tiếp nhận điểm đạo bậc ba, xét về mọi mặt thực tiễn, phàm ngã đã tích hợp hoàn toàn, dù sự tích hợp ấy sẽ tiếp tục được tăng cường (đi kèm với mức độ thấm nhuần của linh hồn ngày càng gia tăng) cho đến bậc bốn.

It is essential that one thing be grasped by all of you, prior to undertaking work with me. It is that in a group of disciples such as this, the large majority have already taken the first initiation and are being prepared for one of the later initiations. There is nothing surprising in this statement or any particular cause for elation or for pleasure. An immense number of the world aspirants evidence—through their aliveness to the spiritual issues, through the intensity of their aspiration and through their struggles to be good, self-sacrificing and wise—that the life of the indwelling Christ is most definitely moving in them and is present in their hearts. The initiation of “spiritual fixation upon the physical plane” (as the birth at Bethlehem, the first initiation, is sometimes called) has already been undergone by thousands, and they are sincerely and definitely moving forward upon the Way. I would remind you here that many, many lives can elapse between the first initiation and the second—long, long interludes of silent and almost unapparent [95] growth. You are in no way unique or far ahead of the senior world aspirants. In that lies cause for encouragement and humility. It is naturally not my intention to state who is being prepared for any particular initiation. That is a matter for each of you to discover for himself. It is a matter of interior orientation and not a matter of outside information.

Trước khi bắt đầu làm việc với Tôi, điều thiết yếu là tất cả các bạn phải nắm rõ một điều. Đó là trong một nhóm đệ tử như nhóm này, đại đa số đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất và đang được chuẩn bị cho một trong những cuộc điểm đạo về sau. Phát biểu này không có gì đáng ngạc nhiên, cũng không có lý do đặc biệt nào để phấn khởi hay vui thích. Vô số người chí nguyện trên thế giới cho thấy—qua sự nhạy bén trước các vấn đề tinh thần, qua cường độ khát vọng và qua những nỗ lực trở nên tốt lành, biết hi sinh và minh triết—rằng sự sống của Đức Christ nội tại chắc chắn đang hoạt động trong họ và hiện diện trong tâm họ. Hàng nghìn người đã trải qua cuộc điểm đạo “an định tinh thần trên cõi hồng trần” (như sự giáng sinh tại Bethlehem, lần điểm đạo thứ nhất, đôi khi được gọi), và họ đang chân thành, dứt khoát tiến bước trên Đường Đạo. Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng rất nhiều kiếp sống có thể trôi qua giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần thứ hai—những quãng thời gian rất dài của sự tăng trưởng thầm lặng và hầu như không biểu lộ [95] ra ngoài. Các bạn không hề độc nhất hay tiến xa hơn nhiều so với những người chí nguyện lâu năm trên thế giới. Chính trong đó có lý do để được khích lệ và khiêm nhường. Dĩ nhiên, Tôi không có ý định nêu rõ ai đang được chuẩn bị cho một cuộc điểm đạo cụ thể nào. Đó là điều mỗi người trong các bạn phải tự khám phá. Đó là vấn đề định hướng nội tâm, chứ không phải thông tin từ bên ngoài.

1. Master DK offers important information on the initiatory status of the members of His groups. The “large majority” of them have undergone the first initiation. By this it is apparent that He means the “Initiation of Birth” and not the Transfiguration.

1. Chân sư DK cung cấp thông tin quan trọng về trình độ điểm đạo của các thành viên trong những nhóm của Ngài. “Đại đa số” họ đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Qua đó, rõ ràng Ngài muốn nói đến “Cuộc Điểm Đạo Giáng Sinh” chứ không phải cuộc Biến hình.

2. It becomes apparent that it is possible to be in a Master’s outer group and still not have taken the first initiation (though most in a Master’s group will have done so).

2. Có thể thấy rõ rằng một người có thể thuộc nhóm bên ngoài của một Chân sư mà vẫn chưa trải qua lần điểm đạo thứ nhất (dù phần lớn những người trong nhóm của một Chân sư đều đã trải qua lần điểm đạo ấy).

3. To be an “accepted disciple” it is usually a requirement that the first initiation has been taken. Not all disciples in these early groups-of-nine were “accepted disciples”, but later (as the New Seed Group was formed by DK) all disciples under that particular mode of training were considered by Him as “accepted disciples”. In one case, probably that of LTS-K, there is evidence to indicate that he was not an initiate of the first degree even though He was accepted. DK tells us that the main reason for His acceptance was for his own protection and, as well, the outgrowth of the Master’s gratitude for work which he had done in relation to the publishing of AAB’s books. The Masters, we are told, are not ungrateful.

3. Để trở thành một “đệ tử được chấp nhận”, thông thường cần phải trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Không phải tất cả đệ tử trong những nhóm chín người ban đầu này đều là “đệ tử được chấp nhận”, nhưng về sau (khi Chân sư DK thành lập Nhóm Hạt Giống Mới), tất cả đệ tử theo phương thức huấn luyện đặc biệt ấy đều được Ngài xem là “đệ tử được chấp nhận”. Trong một trường hợp, có lẽ là trường hợp của LTS-K, có bằng chứng cho thấy người đệ tử ấy chưa phải là điểm đạo đồ bậc một dù đã được chấp nhận. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng lý do chính khiến Ngài chấp nhận người đệ tử ấy là để bảo vệ chính người ấy, đồng thời cũng xuất phát từ lòng biết ơn của Chân sư đối với công việc người ấy đã thực hiện liên quan đến việc xuất bản sách của Bà AAB. Chúng ta được cho biết rằng các Chân sư không vô ơn.

4. We always find the Master protecting His chelas from any tendency towards “self-congratulation”. To be an initiate of the first degree is a mark of achievement, but, in today’s world, not an unusual achievement.

4. Chúng ta luôn thấy Chân sư bảo vệ các đệ tử của Ngài trước mọi khuynh hướng “tự mãn”. Trở thành điểm đạo đồ bậc một là dấu hiệu của một thành tựu, nhưng trong thế giới ngày nay, đó không phải là một thành tựu khác thường.

5. Then, there follows a description which can be useful in helping to identify those who have taken the first initiation. First degree initiates are—

5. Tiếp đó là một phần mô tả hữu ích, giúp nhận diện những người đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Các điểm đạo đồ bậc một là những người—

a. alive to spiritual issues

a. nhạy bén trước các vấn đề tinh thần

b. are intense in their aspiration

b. có khát vọng mãnh liệt

c. aspire and struggle to be good, self-sacrificing and wise

c. khát khao và nỗ lực trở nên tốt lành, biết hi sinh bản thân và minh triết

6. If we look around, we will find many of our acquaintances and co-workers characterized by such qualities.

6. Nếu nhìn quanh, chúng ta sẽ thấy nhiều người quen và cộng sự của mình có những phẩm tính như thế.

7. In The Rays and the Initiations, the following is said of those who have undergone the first initiation: “…all those who truly love their fellowmen, who are interested in the esoteric teaching, and who seek to discipline themselves in order to attain greater beauty of life, are initiate and have undergone the first initiation.

7. Trong Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, có lời sau đây về những người đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất: “…tất cả những ai thực sự yêu thương đồng loại, quan tâm đến giáo huấn nội môn và tìm cách rèn luyện bản thân để đạt đến vẻ đẹp lớn lao hơn trong đời sống, đều là điểm đạo đồ và đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất.

8. First degree initiates are those in whom “the life of the indwelling Christ is most definitely moving…and is present in their hearts”.

8. Các điểm đạo đồ bậc một là những người mà trong họ “sự sống của Đức Christ nội tại chắc chắn đang hoạt động…và hiện diện trong trái tim họ”.

9. A very interesting name for the first initiation is given: “spiritual fixation upon the physical plane”. We can see how the seventh ray (the ray which most characterizes the processes of the first initiation) would be involved in this “fixation”. Vulcan (also prominent at the first degree and a planet with very physical and material associations) is also implicated, as is the “Law of Fixation” on the fifth ray, for the fifth energy (of the Solar Angels) becomes involved with the human personality at the first degree in a new way.

9. Một tên gọi rất thú vị dành cho lần điểm đạo thứ nhất được nêu ra: “cố định tinh thần trên cõi hồng trần”. Chúng ta có thể thấy cung bảy (cung đặc trưng rõ nhất cho các tiến trình của lần điểm đạo thứ nhất) tham gia như thế nào vào sự “cố định” này. Vulcan (cũng nổi bật ở bậc một và là một hành tinh có những liên hệ rất rõ với cõi hồng trần và vật chất) cũng có liên quan, cũng như “Định luật Cố Định” thuộc cung năm, vì ở bậc một, năng lượng thứ năm (của các Thái dương Thiên Thần) bắt đầu liên hệ với phàm ngã con người theo một cách mới.

10. At the time of this writing (in the 1930’s) thousands had taken the first initiation. By now, many, many thousands more have no doubt done so. The numbers will soon be in the millions, if this is not already the case.

10. Vào thời điểm viết những lời này (trong thập niên 1930), hàng ngàn người đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Đến nay, chắc chắn đã có thêm rất nhiều, rất nhiều ngàn người trải qua lần điểm đạo ấy. Con số này sẽ sớm lên đến hàng triệu, nếu hiện nay chưa đạt mức đó.

11. Another important description of those who have taken the first degree is given: “they are sincerely and definitely moving forward upon the Way”. As we study these words we see the importance of the sixth ray in the life of the aspirant to the second initiation.

11. Một mô tả quan trọng khác về những người đã đạt bậc một được nêu ra: “họ đang chân thành, dứt khoát tiến bước trên Đường Đạo”. Khi chúng ta nghiên cứu những lời này, chúng ta thấy tầm quan trọng của cung sáu trong đời sống của người chí nguyện hướng đến lần điểm đạo thứ hai.

12. DK reminds us of the many lives that may elapse between the first and second degrees. In fact, He uses the phrase, “many, many lives”. Just how many may this mean? Thirty? Twenty? Ten or less? Probably there is no set number and much depends upon the intensity of the aspirant’s effort and the correctness of the choices made.

12. Chân sư DK nhắc chúng ta về nhiều kiếp sống có thể trôi qua giữa bậc một và bậc hai. Thật vậy, Ngài dùng cụm từ “rất nhiều, rất nhiều kiếp sống”. Điều này có thể hàm ý chính xác bao nhiêu kiếp? Ba mươi? Hai mươi? Mười hay ít hơn? Có lẽ không có con số cố định nào, và phần lớn tùy thuộc vào cường độ nỗ lực của người chí nguyện cùng sự đúng đắn của những lựa chọn đã thực hiện.

13. Master DK is emphasizing the length of the period between the first and second degrees by phrases like “many, many” and “long, long”. This is His way of inducing a sense of proportion in the consciousness of the eager aspirant. We are not to look for spectacular growth in the interim between these initiations, for growth may be “silent and almost unapparent”.

13. Chân sư DK nhấn mạnh độ dài của thời kỳ giữa bậc một và bậc hai bằng những cụm từ như “rất nhiều, rất nhiều” và “dài, rất dài”. Đây là cách Ngài khơi dậy ý thức về tỉ lệ trong tâm thức của người chí nguyện nhiệt thành. Chúng ta không nên mong đợi sự tăng trưởng ngoạn mục trong khoảng thời gian giữa những lần điểm đạo này, vì sự tăng trưởng có thể “thầm lặng và gần như không thể nhận thấy”.

14. DK assures His chelas that they are in no way unique or “far ahead of the senior world aspirants”, though apparently they are somewhat ahead. A prideful and separative reaction in the minds of chelas is always a danger and leads to later retardation.

14. Chân sư DK bảo đảm với các đệ tử của Ngài rằng họ hoàn toàn không phải là những người độc nhất hay “tiến xa hơn hẳn những người chí nguyện lâu năm trên thế giới”, dù rõ ràng họ có phần đi trước. Một phản ứng kiêu hãnh và chia rẽ trong thể trí của các đệ tử luôn là mối nguy và dẫn đến sự chậm tiến về sau.

15. Master DK ever takes a balanced point of view. His mode of imparting information about the spiritual status of His chelas both encourages and induces humility. These chelas are somewhat advanced, but not especially advanced. In fact, the Master is helping His chelas know exactly where they stand.

15. Chân sư DK luôn giữ một quan điểm quân bình. Cách Ngài truyền đạt thông tin về trình độ tinh thần của các đệ tử vừa khích lệ vừa khơi dậy lòng khiêm nhường. Những đệ tử này quả có phần tiến bộ, nhưng không đặc biệt tiến bộ. Thật vậy, Chân sư đang giúp các đệ tử của Ngài biết chính xác mình đang ở đâu.

16. However, He does not tell which chela is being prepared for which initiation; to do so would be counterproductive (given the usual psychological state of the average chela), and further, would rob the chela of an important ‘intuitive opportunity’. Chelas must discover for themselves where they stand on the Path, and in the attempt to discover their standing they will necessarily learn much, not only about themselves but about others.

16. Tuy nhiên, Ngài không nói đệ tử nào đang được chuẩn bị cho lần điểm đạo nào; làm như vậy sẽ phản tác dụng (xét trạng thái tâm lý thường thấy của một đệ tử trung bình), và hơn nữa, sẽ tước đi của đệ tử một ‘cơ hội trực giác’ quan trọng. Các đệ tử phải tự mình khám phá vị trí của mình trên Đường Đạo, và trong nỗ lực khám phá vị trí ấy, họ tất yếu sẽ học được nhiều điều, về cả bản thân lẫn những người khác.

17. The following about discovering one’s standing is an important occult hint: “It is a matter of interior orientation and not a matter of outside information”. Which ‘Sun of revelation’ is a chela facing? What, really, are the spiritual tasks with which he/she is engaged? One learns to estimate properly by estimating, to evaluate properly by evaluating.

17. Điều sau đây về việc khám phá vị trí của bản thân là một gợi ý huyền bí quan trọng: “Đó là vấn đề định hướng nội tâm, chứ không phải thông tin từ bên ngoài”. Người đệ tử đang hướng về ‘Mặt Trời mặc khải’ nào? Thực sự, những nhiệm vụ tinh thần mà người ấy đang đảm nhận là gì? Qua việc ước định, người ta học cách ước định đúng đắn; qua việc đánh giá, người ta học cách đánh giá đúng đắn.

18. If we could see with real clarity the next task before us, we might know the initiation for which we are being prepared (if not for this life cycle then for a subsequent one in the not-too-distant future).

18. Nếu có thể thấy thật rõ nhiệm vụ tiếp theo trước mắt, chúng ta có thể biết mình đang được chuẩn bị cho lần điểm đạo nào (nếu không phải trong chu kỳ sống này thì trong một chu kỳ tiếp theo ở tương lai không quá xa).

One point anent the taking of the first three major initiations, I would like to refer to at this point. It is that they have always to be taken when in a physical body and upon the physical plane, thus demonstrating initiate consciousness through both mind and brain. This is a point not oft emphasised and sometimes contradicted.

Ở đây, Tôi muốn đề cập một điểm về việc trải qua ba cuộc điểm đạo chính đầu tiên. Đó là các cuộc điểm đạo này luôn phải diễn ra khi còn ở trong thể xác và trên cõi hồng trần, nhờ đó biểu hiện tâm thức điểm đạo đồ qua cả thể trí lẫn bộ não. Đây là một điểm ít được nhấn mạnh và đôi khi còn bị phủ nhận.

1. DK offers important information about the first three initiations—information that, presumably, may not apply to the fourth and fifth: the first three initiations are to be taken in a physical body so that the initiate consciousness may be demonstrated “through both mind and brain”. From this perspective, the initiation process is part of the “Externalization of the Hierarchy” and is involved in bringing “Heaven to Earth”.

1. Chân sư DK cung cấp thông tin quan trọng về ba lần điểm đạo đầu tiên—thông tin mà có lẽ có thể không áp dụng cho lần thứ tư và thứ năm: ba lần điểm đạo đầu tiên phải được tiếp nhận trong một thể xác để tâm thức điểm đạo đồ có thể biểu lộ “thông qua cả thể trí lẫn bộ não”. Từ góc nhìn này, tiến trình điểm đạo là một phần của “Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn” và có liên quan đến việc đưa “Thiên Đàng xuống Trái Đất”.

2. DK says that this piece of important information is “sometimes contradicted” (presumably by other writers) but in one or two instances, the Master, Himself, suggests that initiation may be taken on other planes.

2. Chân sư DK nói rằng thông tin quan trọng này “đôi khi bị phủ nhận” (có lẽ từ các tác giả khác), nhưng trong một hoặc hai trường hợp, chính Chân sư cũng gợi ý rằng có thể tiếp nhận điểm đạo trên những cõi khác.

“As you know, it is not my intention to give you any more personal instructions; you no longer need them during the rest of this life, because if you carry out those already given [70] there will be nothing to hinder your taking the initiation which is for you the next step forward. Do you realise the import of what I am saying? This initiation which confronts you can be taken either during the remaining years which are left to you; this, in the majority of cases is not probable, though a small minority—a very small minority—may achieve the goal. Or initiation may be taken in the interim period between incarnations, or else immediately upon return to physical plane life. This latter is the most probable for those who are not taking initiations higher than the third; and, at present, for that initiation I am not preparing disciples. It is usually regarded as essential that disciples who are taking the second or third initiations should register them in their brain consciousness. As I have often told you, the initiate consciousness is not the factor which requires to be thus recorded; it is seldom so. Recognition of it comes when the candidate is participating in the “esoteric installation” of a candidate into the ranks of the Great White Lodge. What the disciple undergoing initiation (and I choose the word “undergoing” with deliberation) must and eventually does record are the crises which brought about his fitness to take initiation, as it is erroneously called in theosophical circles. These, correctly handled and surmounted, will result in his being an initiate—a very different interpretation to the current theosophical one. As I often told you, a man is an initiate, prior to any initiation ceremony. The ceremony concerns hierarchical recognition of the disciple and does not concern the candidate’s fitness. I find it needful to reiterate this fact. (DINA II 70)

“Như các bạn biết, Tôi không có ý định ban thêm cho các bạn bất kỳ huấn thị cá nhân nào; trong phần còn lại của kiếp sống này, các bạn không còn cần chúng nữa, vì nếu thực hiện những huấn thị đã được ban [70], sẽ không có gì cản trở các bạn tiếp nhận cuộc điểm đạo vốn là bước tiến tiếp theo của mình. Các bạn có nhận ra ý nghĩa quan trọng của điều Tôi đang nói không? Cuộc điểm đạo đang ở trước mặt các bạn có thể được tiếp nhận trong những năm còn lại của đời mình; trong đa số trường hợp, điều này khó xảy ra, dù một thiểu số nhỏ—một thiểu số rất nhỏ—có thể đạt được mục tiêu. Hoặc có thể tiếp nhận điểm đạo trong giai đoạn giữa các kiếp lâm phàm, hoặc ngay khi trở lại đời sống trên cõi hồng trần. Khả năng sau cùng này là dễ xảy ra nhất đối với những ai chưa tiếp nhận các cuộc điểm đạo cao hơn lần thứ ba; và hiện nay, Tôi không chuẩn bị đệ tử cho lần điểm đạo ấy. Thông thường, người ta xem việc các đệ tử tiếp nhận lần điểm đạo thứ hai hoặc thứ ba phải ghi nhận những lần điểm đạo ấy trong tâm thức bộ não là điều thiết yếu. Như Tôi đã thường nói với các bạn, tâm thức điểm đạo đồ không phải là yếu tố cần được ghi nhận theo cách ấy; điều đó hiếm khi xảy ra. Sự nhận biết tâm thức ấy xuất hiện khi ứng viên tham dự việc “tiếp nhận theo nghi thức nội môn” một ứng viên vào hàng ngũ Thánh đoàn. Điều mà người đệ tử đang trải qua điểm đạo (và Tôi có chủ ý khi chọn từ “trải qua”) phải ghi nhận, và cuối cùng thực sự ghi nhận, là những cuộc khủng hoảng đã khiến y hội đủ điều kiện để tiếp nhận điểm đạo, theo cách gọi sai lầm trong giới Thông Thiên Học. Những cuộc khủng hoảng này, khi được xử lý đúng đắn và vượt qua, sẽ khiến y trở thành một điểm đạo đồ—một cách diễn giải rất khác với cách diễn giải hiện hành của Thông Thiên Học. Như Tôi đã thường nói với các bạn, một người đã là điểm đạo đồ trước khi có bất kỳ nghi lễ điểm đạo nào. Nghi lễ liên quan đến việc Thánh đoàn công nhận người đệ tử, chứ không liên quan đến việc ứng viên có hội đủ điều kiện hay không. Tôi thấy cần phải nhắc lại sự thật này. (DINA II 70)

3. It is important that we do not think of initiation as an ‘otherworldly’ event. It is a very practical matter and involves the redemption of that form of matter which is residual from an earlier solar system, hence the need for its physical demonstration.

3. Điều quan trọng là chúng ta đừng nghĩ điểm đạo là một sự kiện ‘thuộc thế giới bên kia’. Đó là một vấn đề rất thực tiễn, liên quan đến việc cứu chuộc dạng vật chất còn sót lại từ một hệ mặt trời trước, vì thế cần có sự biểu lộ của nó trên cõi hồng trần.

I would like also to point out with all the clarity and power at my disposal, the very deep necessity for humility and its constantly recurring expression. I refer not to an inferiority complex but to that adjusted sense of right proportion which equips its possessor with a balanced point of view as to himself, his responsibilities and his life work. This, when present, will enable him to view himself dispassionately and his presented opportunities with equal dispassion. Undoubtedly all disciples, you among them, have speculated upon your status and standing upon the Path and upon the status of your co-disciples. That is, after all, both natural and human. Some of you are too humble in the personal sense and not in the sense of true humility. By that I mean that you are so afraid of pride and bombast and an over-estimation of your capacities that you are untrue to the realities and belittle the power of your souls. R. S. U. is a case in point and needs to walk humbly in the spiritual life which involves a correct recognition of place and opportunity and not this constant emphasis upon her inability to measure up. She owes it to my group of disciples and to me to see herself as she truly is—a disciple in preparation for a certain initiation and with much wisdom at her disposal. W. D. S. suffers from an inferiority complex which drives him to an exterior enforcement of his personality upon others and expresses itself in a subtle, spiritual jealousy of those who impress themselves upon his consciousness as his spiritual superiors. He needs to accept himself as he is, to be glad that there are those who guarantee to him the possibility of future [96] unfoldment, because they have already achieved more than he has, and then to forget about himself as he accepts discipleship and finds himself so busy in true service that he has no time for ceaseless comparisons with others.

Tôi cũng muốn dùng tất cả sự sáng tỏ và sức mạnh mà Tôi có để chỉ ra sự cần thiết hết sức sâu xa của tính khiêm nhường và việc thường xuyên biểu hiện tính ấy. Tôi không nói đến một phức cảm tự ti, mà đến một ý thức đã được điều chỉnh về tỉ lệ đúng đắn, giúp người có ý thức ấy nhìn nhận cân bằng về bản thân, các trách nhiệm và công việc của đời mình. Khi hiện diện, ý thức này sẽ giúp y nhìn bản thân một cách khách quan, và nhìn những cơ hội đến với mình cũng với sự khách quan như vậy. Chắc chắn mọi đệ tử, trong đó có các bạn, đều đã suy đoán về địa vị và vị trí của mình trên Đường Đạo, cũng như về địa vị của các đệ tử đồng môn. Xét cho cùng, điều đó vừa tự nhiên vừa rất con người. Một số các bạn quá khiêm nhường theo nghĩa cá nhân, chứ không theo nghĩa khiêm nhường đích thực. Ý Tôi muốn nói là các bạn quá sợ lòng kiêu hãnh, sự khoa trương và việc đánh giá quá cao năng lực của mình, đến nỗi không trung thực với thực tại và xem nhẹ quyền năng của linh hồn mình. R.S.U. là một trường hợp như vậy và cần bước đi khiêm nhường trong đời sống tinh thần; điều này bao hàm việc nhận biết đúng vị trí và cơ hội, thay vì liên tục nhấn mạnh rằng bà không đủ sức đáp ứng. Bà có bổn phận đối với nhóm đệ tử của Tôi và đối với Tôi là nhìn bản thân đúng như thực chất—một đệ tử đang được chuẩn bị cho một cuộc điểm đạo nhất định và có nhiều minh triết để sử dụng. W.D.S. mắc một phức cảm tự ti, khiến ông áp đặt phàm ngã của mình lên người khác qua cách biểu hiện bên ngoài; phức cảm ấy biểu lộ thành một sự đố kỵ tinh vi về mặt tinh thần đối với những người mà tâm thức ông nhìn nhận là tiến cao hơn mình về tinh thần. Ông cần chấp nhận bản thân đúng như thực chất, vui mừng vì có những người bảo đảm cho ông khả năng khai mở [96] trong tương lai, bởi họ đã đạt được nhiều hơn ông; rồi quên bản thân khi chấp nhận địa vị đệ tử và bận rộn với việc phụng sự chân chính đến mức không còn thời gian không ngừng so sánh mình với người khác.

1. The Master is making an emphatic point when He calls for humility. We have often seen how easily the little ego appropriates imagined initiatory possibilities for its own aggrandizement.

1. Chân sư đang nhấn mạnh một điểm khi Ngài kêu gọi lòng khiêm nhường. Chúng ta thường thấy phàm ngã nhỏ bé dễ dàng chiếm lấy những khả năng điểm đạo do mình tưởng tượng để tự tôn mình lên như thế nào.

2. The Master would not speak of using “all the clarity and power at my disposal” and of the deep necessity for humility were there only a small danger of going astray in these matters.

2. Chân sư hẳn sẽ không nói đến việc dùng “tất cả sự sáng tỏ và quyền năng mình có” và nhu cầu sâu xa về lòng khiêm nhường nếu nguy cơ đi chệch hướng trong những vấn đề này chỉ là nhỏ.

3. But DK is not calling for the adoption of an attitude of false humility or an “inferiority complex” (into which some of His chelas had already fallen). The term “adjusted sense of right proportion” is again used as a definition for humility and should be pondered by each of us. It is the “balanced point of view” the Master seeks for us, so that we may properly evaluate ourselves, our responsibilities and our life’s work. Are we humble in the sense here suggested? Perhaps one must have seen much of life and many instances of both foolishness and correct evaluation to arrive at a state of mind which can be called “humble” in the true sense.

3. Nhưng Chân sư DK không kêu gọi các đệ tử có thái độ khiêm nhường giả tạo hay một “phức cảm tự ti” (mà một số đệ tử của Ngài đã rơi vào). Cụm từ “ý thức đúng đắn về tỉ lệ đã được điều chỉnh” một lần nữa được dùng làm định nghĩa cho lòng khiêm nhường, và mỗi người chúng ta nên suy ngẫm về cụm từ ấy. Chính “quan điểm quân bình” là điều Chân sư mong chúng ta có được, để chúng ta có thể đánh giá đúng bản thân, trách nhiệm và công việc của đời mình. Chúng ta có khiêm nhường theo nghĩa được gợi ra ở đây không? Có lẽ người ta phải từng trải nhiều trong cuộc sống và chứng kiến nhiều trường hợp vừa thiếu sáng suốt vừa đánh giá đúng đắn mới đạt đến một trạng thái trí tuệ có thể gọi là “khiêm nhường” theo nghĩa đích thực.

4. We are to look upon our selves with dispassion and consider our spiritual status with equal dispassion. If we love the truth more than our own little ego we will be able to do this. If we become convinced of the uselessness of inflation or minimization, the dispassionate attitude will not be foreign to us.

4. Chúng ta cần nhìn bản thân một cách không thiên lệch và xem xét trình độ tinh thần của mình cũng bằng sự không thiên lệch ấy. Nếu yêu chân lý hơn phàm ngã nhỏ bé của mình, chúng ta sẽ có thể làm được điều này. Nếu tin chắc rằng việc tự thổi phồng hay tự hạ thấp đều vô ích, thái độ không thiên lệch sẽ không còn xa lạ với chúng ta.

5. DK tells is that it is natural for us to speculate about our spiritual status, but, at the same time, suggests the manner in which it is safe and sane to do so.

5. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng việc suy đoán về trình độ tinh thần của mình là tự nhiên, nhưng đồng thời cũng gợi ý cách làm điều ấy một cách an toàn và sáng suốt.

6. DK becomes specific as He considers the tendencies of certain disciples—both of whom have an inferiority complex. In one case the inferiority complex leads to constant self-belittlement. In the other case (WDS—a ray one personality) the opposite reaction is produced, and the disciple forces his personality upon others, as if to minimize his sense of inferiority by overpowering them. We find DK very astute (as a Master must be) in the detection of subtle conditions in His chelas’ psyches.

6. Chân sư DK đi vào chi tiết khi Ngài xem xét khuynh hướng của một số đệ tử—cả hai đều có phức cảm tự ti. Trong một trường hợp, phức cảm tự ti dẫn đến việc không ngừng tự hạ thấp bản thân. Trong trường hợp còn lại (WDS—một phàm ngã cung một), phản ứng ngược lại xuất hiện, và người đệ tử áp đặt phàm ngã của ông lên người khác, như thể muốn giảm nhẹ cảm giác tự ti bằng cách lấn át họ. Chúng ta thấy Chân sư DK rất tinh tường (như một Chân sư tất phải thế) trong việc phát hiện những trạng thái tinh vi trong tâm lý các đệ tử của Ngài.

7. Further comments to WDS are very revealing. He should be grateful to more advanced disciples for guaranteeing the existence of spiritual achievements which are not yet his. This is an interesting perspective, is it not? Through the use of this perspective subtle jealousy can be transformed into gratitude.

7. Những lời nhận xét tiếp theo dành cho WDS hé lộ nhiều điều. WDS nên biết ơn những đệ tử tiến bộ hơn vì họ xác chứng sự hiện hữu của những thành tựu tinh thần mà WDS chưa đạt được. Đây là một góc nhìn thú vị, phải không? Nhờ góc nhìn này, lòng đố kỵ tinh vi có thể chuyển đổi thành lòng biết ơn.

8. DK also gives WDS a hint about “accepted discipleship” telling him that he should “forget about himself as he accepts discipleship” [ital. MDR]. We do not know if, at this point, WDS was already an accepted disciple. Since he became, for a time, a member of the New Seed Group, he was, de facto, an accepted disciple, but perhaps, at the time of this writing, he was receiving a hint which, if followed, could lead him into the stage of accepted discipleship, technically considered.

8. Chân sư DK cũng gợi ý cho WDS về “địa vị đệ tử được chấp nhận” khi nói rằng WDS nên “quên bản thân mình khi chấp nhận địa vị đệ tử” [chữ nghiêng: MDR]. Chúng ta không biết liệu vào thời điểm này, WDS đã là một đệ tử được chấp nhận hay chưa. Vì từng có một thời gian là thành viên của Nhóm Hạt Giống Mới, trên thực tế WDS là một đệ tử được chấp nhận; nhưng có lẽ, vào thời điểm những lời này được viết ra, WDS đang nhận một gợi ý mà nếu làm theo, có thể đưa người đệ tử ấy vào giai đoạn đệ tử được chấp nhận, xét theo nghĩa chuyên môn.

9. DK’s comments both elevate and chasten RSU, for she, like some others, is so afraid of pride, bombast and over-estimation that she resorts to the other extreme—a constant assertion of incapability to measure up. This is the wrong kind of humility (entirely too personal) and does not contribute to the ‘truth content’ of her group’s self-perception. A group must understand itself as it is; this will be facilitated when the disciples within such a group, each of them, see themselves as they truly are. Otherwise there is glamor and distortion.

9. Những lời nhận xét của Chân sư DK vừa nâng đỡ vừa nghiêm khắc uốn nắn RSU, vì bà, cũng như một số người khác, sợ lòng kiêu hãnh, sự khoa trương và việc tự đánh giá quá cao đến mức đi sang cực đoan đối lập—không ngừng khẳng định rằng mình không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu. Đây là kiểu khiêm nhường sai lầm (hoàn toàn quá thiên về cá nhân) và không góp phần làm tăng ‘hàm lượng chân thực’ trong sự tự nhận thức của nhóm bà. Một nhóm phải thấu hiểu chính mình đúng như mình vốn có; điều này sẽ thuận lợi hơn khi từng đệ tử trong nhóm ấy nhìn nhận bản thân đúng như thực trạng của mình. Nếu không, sẽ có ảo cảm và sự sai lệch.

10. DK is perhaps hinting at the initiation for which RSU is being prepared when He says that she has “much wisdom at her disposal”. Later in her career she was transferred back into the Ashram of her Master, KH. This, too, may be a hint as to her initiatory status.

10. Có lẽ Chân sư DK đang gợi ý về cuộc điểm đạo mà RSU đang được chuẩn bị để trải qua khi Ngài nói rằng bà có “nhiều minh triết để vận dụng”. Về sau trên hành trình của mình, bà được chuyển trở lại ashram của Chân sư của bà, Chân sư KH. Điều này cũng có thể là một gợi ý về cấp độ điểm đạo của bà.

11. It is curious that AAB, a high disciple who probably had taken the third initiation at some point in her career, for much of her discipleship life also suffered from self-minimization (though probably not from an inferiority complex, per se). AAB probably wanted to be loved and appreciated, thus avoiding the sense of isolation, and, hence, did not act readily from the level of her true spiritual status. DK asked her to do so.

11. Điều đáng chú ý là AAB, một đệ tử cao cấp có lẽ đã trải qua lần điểm đạo thứ ba vào một thời điểm nào đó trên hành trình của mình, cũng từng tự hạ thấp bản thân trong phần lớn đời sống đệ tử của Bà (dù có lẽ không mắc chính phức cảm tự ti). Có lẽ AAB muốn được yêu thương và trân trọng để tránh cảm giác cô lập, và vì thế Bà chưa sẵn sàng hành động từ cấp độ tương ứng với vị thế tinh thần thực sự của mình. Chân sư DK đã yêu cầu Bà làm như vậy.

12. A strong hint is given to all jealous disciples (even those who are subtly jealous of the status of others). They are to become so busy in service that they have no time for ceaseless (and unwholesome) comparisons with others. Labor refines.

12. Một gợi ý rõ ràng được đưa ra cho mọi đệ tử có lòng đố kỵ (kể cả những người đố kỵ một cách tinh vi với vị thế của người khác). Họ cần trở nên bận rộn phụng sự đến mức không còn thời gian để không ngừng so sánh mình với người khác (một việc không lành mạnh). Lao động giúp tinh luyện.

True humility is based on fact, on vision and on time pressures. Here I give you a hint and would ask you to think deeply on these three foundations of a major personality attitude which must be held and demonstrated before each initiation. I would remind you that there must always be humility in the presence of true vision.

Tính khiêm nhường đích thực đặt nền tảng trên sự kiện, tầm nhìn và những áp lực của thời gian. Ở đây, Tôi đưa ra cho các bạn một lời gợi ý và muốn các bạn suy nghĩ sâu sắc về ba nền tảng này của một thái độ quan trọng nơi phàm ngã, thái độ phải được duy trì và biểu hiện trước mỗi cuộc điểm đạo. Tôi muốn nhắc các bạn rằng trước tầm nhìn chân chính, luôn phải có sự khiêm nhường.

1. Another hint is given: “true humility is based on fact, on vision and on time pressures”.

1. Một gợi ý khác được đưa ra: “sự khiêm nhường chân chính dựa trên sự thật, tầm nhìn và áp lực thời gian”.

2. True humility must be demonstrated before each initiation. Otherwise it is not safe for the Hierophant to approach: He would only stimulate a distortion causing a warping in the nature.

2. Trước mỗi cuộc điểm đạo, phải thể hiện sự khiêm nhường chân chính. Nếu không, việc Đấng Chủ Lễ đến gần sẽ không an toàn: Ngài sẽ chỉ kích thích một sự sai lệch, khiến bản chất trở nên méo mó.

3. Why these particular “three foundations” as a necessary personality attitude preceding the possibility of initiation?

3. Vì sao chính “ba nền tảng” này lại tạo nên thái độ cần thiết của phàm ngã trước khi có thể điểm đạo?

4. The truly humble person faces facts and loves truth. He sees through the disadvantages of any form of egoistic self-delusion. This is the first ray aspect of the three foundations.

4. Người thực sự khiêm nhường đối diện với sự thật và yêu chân lý. Y nhìn thấu những bất lợi của mọi hình thức tự huyễn hoặc do vị kỷ. Đây là phương diện cung một của ba nền tảng.

5. The second ray aspect is “vision”. When there is true vision, the disciple sees with accuracy an aspect of the Plan and the part which he/she may play. With true vision (the vision of things as they are and as they are ‘becoming’) it is impossible to inflate or minimize one’s role. There is a beauty in what is seen that militates against the tendency to exaggerate or minimize one’s role within the visioned Plan and thus introduce distortion (in all its ugliness).

5. Phương diện cung hai là “tầm nhìn”. Khi có tầm nhìn chân thực, người đệ tử thấy chính xác một phương diện của Thiên Cơ và vai trò mình có thể đảm nhận. Với tầm nhìn chân thực (tầm nhìn về sự vật đúng như chúng đang là và như chúng đang ‘trở thành’), không thể phóng đại hay hạ thấp vai trò của bản thân. Vẻ đẹp trong những gì được nhìn thấy chống lại khuynh hướng phóng đại hay hạ thấp vai trò của bản thân trong Thiên Cơ đã được nhìn thấy, rồi qua đó đưa vào sự sai lệch (với tất cả vẻ xấu xí của nó).

6. As for “time pressures”, they represent the third aspect. DK has already told us how time pressures relate to humility. One becomes too busy in service to waste time with fruitless comparisons to others. The earnest worker demonstrates humility through real work. He puts the work before his own self-image and thereby grows. One recognizes one’s nature, one’s attainment, and one’s place and then “gets to work”. This is the only way to grow and improve.

6. Còn về “áp lực thời gian”, chúng đại diện cho phương diện thứ ba. Chân sư DK đã cho chúng ta biết áp lực thời gian liên hệ với sự khiêm nhường như thế nào. Người ta trở nên quá bận rộn phụng sự nên không còn thời gian lãng phí vào những so sánh vô ích với người khác. Người hoạt động tận tâm thể hiện sự khiêm nhường qua công việc thực sự. Y đặt công việc lên trước hình ảnh về bản thân và nhờ đó trưởng thành. Người ta nhận biết bản chất của mình, thành tựu của mình và vị trí của mình, rồi “bắt tay vào việc”. Đây là cách duy nhất để trưởng thành và tiến bộ.

7. If humility is “an adjusted sense of right proportion”, then a true vision will reveal oneself in a proper and proportionate relation to all things. If the vision is untrue, pride or self-depreciation may enter. Let us, therefore, see to the validity of our vision.

7. Nếu sự khiêm nhường là “một ý thức về tỉ lệ đúng đắn đã được điều chỉnh”, thì một tầm nhìn chân thực sẽ cho thấy bản thân mình trong mối tương quan thích đáng và cân xứng với vạn vật. Nếu tầm nhìn không chân thực, lòng kiêu hãnh hoặc sự tự hạ thấp có thể len vào. Vì vậy, chúng ta hãy chú tâm bảo đảm tính xác thực của tầm nhìn mình.

This experiment which I am undertaking has its dangers. The disciples in a Master’s Ashram upon the inner planes know somewhat the status of their co-disciples, but they do not always carry this knowledge through into the brain consciousness. This is very largely a protective factor because they could not be trusted to handle the knowledge correctly upon the physical plane. They might be super-critical of a fellow disciple who was, temporarily, not living up to his initiation objective; they might be subtly jealous or unduly self-depreciative; they might treat the disciple who is ahead of them upon the Path of Initiation as someone superior and set apart and thereby complicate his problem and his effort; they might lose a sense of proportion as to initiation itself, as to its processes and its states, and this through too close an approach to, or a misunderstanding of, another struggling initiate-disciple. The pitfalls are many and I tell you to beware. Attend to your own life and your own business. Speculate not as to the status of the other disciples in my group who are your close cooperators and co-sharers in my experiment. Cultivate the humility which is based on understanding and vision and so serve the world, your fellow disciples and serve me also—as the major point of your contact with the Hierarchy.

Cuộc thử nghiệm mà Tôi đang tiến hành có những nguy cơ của nó. Các đệ tử trong ashram của một Chân sư trên các cõi bên trong ít nhiều biết địa vị của các đệ tử đồng môn, nhưng không phải lúc nào họ cũng đưa sự hiểu biết này vào tâm thức bộ não. Đây phần lớn là một yếu tố bảo vệ, vì chưa thể tin rằng họ sẽ xử lý sự hiểu biết ấy một cách đúng đắn trên cõi hồng trần. Họ có thể quá khắt khe với một đệ tử đồng môn tạm thời chưa sống đúng với mục tiêu điểm đạo của mình; họ có thể đố kỵ một cách tinh vi hoặc tự hạ thấp mình quá mức; họ có thể xem người đệ tử đi trước mình trên Con Đường Điểm Đạo là một người cao hơn và biệt lập, qua đó làm phức tạp thêm vấn đề và nỗ lực của người ấy; họ có thể mất ý thức về tỉ lệ đối với chính sự điểm đạo, các tiến trình và trạng thái của nó, do tiếp cận quá gần hoặc hiểu lầm một đệ tử-điểm đạo đồ khác đang nỗ lực vượt khó. Có nhiều cạm bẫy, và Tôi bảo các bạn hãy cảnh giác. Hãy chăm lo đời sống và công việc của chính mình. Đừng suy đoán về địa vị của những đệ tử khác trong nhóm Tôi, những người đang cộng tác chặt chẽ với các bạn và cùng tham gia cuộc thử nghiệm của Tôi. Hãy vun bồi tính khiêm nhường đặt nền tảng trên sự thấu hiểu và tầm nhìn, nhờ đó phụng sự thế gian, các đệ tử đồng môn, và cũng phụng sự Tôi—như điểm tiếp xúc chủ yếu của các bạn với Thánh đoàn.

1. The Master speaks of the subtle dangers associated with His experiment.

1. Chân sư nói về những nguy hiểm tinh vi gắn liền với cuộc thử nghiệm của Ngài.

2. We learn that disciples (in the Ashram upon the inner planes) know somewhat their spiritual status but do not necessarily carry this knowledge into their brain consciousness. This ‘forgetfulness’ is protective, as they could not necessarily be trusted to handle the information properly on the physical plane. We can understand that disciples (not yet free from ego-concern) might exaggerate (or minimize) their importance and thus produce separation and cleavage (which would hamper the growth of right group relations).

2. Chúng ta biết rằng các đệ tử (trong ashram trên các cõi bên trong) biết phần nào về vị thế tinh thần của mình, nhưng không nhất thiết đưa sự hiểu biết này vào tâm thức bộ não. Sự ‘quên lãng’ này có tác dụng bảo vệ, vì chưa chắc có thể tin cậy rằng họ sẽ xử lý thông tin ấy đúng cách trên cõi hồng trần. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng các đệ tử (chưa thoát khỏi mối bận tâm về phàm ngã) có thể phóng đại (hoặc hạ thấp) tầm quan trọng của mình, qua đó tạo ra sự chia cách và rạn nứt (cản trở sự phát triển của những mối quan hệ đúng đắn trong nhóm).

3. DK goes into the dangers: super-criticism, subtle jealousy, undue self-depreciation, devotion, separativeness, loss of proportion. The possible problems concerning an incorrect approach to one’s initiatory status and the status of others are many, and DK warns His disciples to beware. There are many disciples who correctly infer their own status and that of others, and so must guard against the kinds of dangers here enumerated.

3. Chân sư DK đi sâu vào những nguy hiểm ấy: phê phán quá mức, đố kỵ tinh vi, tự hạ thấp quá mức, sùng tín, tính chia rẽ, mất ý thức về tỉ lệ. Có nhiều vấn đề có thể nảy sinh từ cách tiếp cận sai lầm đối với cấp độ điểm đạo của bản thân và vị thế của người khác, và Chân sư DK cảnh báo các đệ tử của Ngài phải cảnh giác. Có nhiều đệ tử suy ra đúng vị thế của chính mình và của người khác, nên phải đề phòng những loại nguy hiểm liệt kê ở đây.

4. The whole problem is based upon ‘ego-concern’ (which is another way of saying that their eyes are focussed on the little self). An attitude of true love and an illumined understanding of the greater whole will be corrective of these tendencies. We are not only ourselves, but everyone else too. This is a mystery until experienced.

4. Toàn bộ vấn đề bắt nguồn từ ‘mối bận tâm về phàm ngã’ (đó là một cách khác để nói rằng mắt họ đang tập trung vào cái ngã nhỏ bé). Một thái độ yêu thương chân chính và sự thấu hiểu được soi sáng về tổng thể lớn hơn sẽ điều chỉnh những khuynh hướng này. Chúng ta không chỉ là chính mình mà còn là tất cả mọi người khác. Điều này vẫn là một huyền nhiệm cho đến khi được trải nghiệm.

5. DK offers straight and even rather stern advice: we are to mind our own business and refrain from speculating about the spiritual status of others. I have not seen this warning much obeyed.

5. Chân sư DK đưa ra lời khuyên thẳng thắn, thậm chí khá nghiêm khắc: chúng ta phải lo công việc của chính mình và tránh suy đoán về vị thế tinh thần của người khác. Tôi chưa thấy lời cảnh báo này được tuân theo nhiều.

6. If we remember our fellow disciples as “close cooperators and co-sharers” we will be less inclined to filter our understanding of them through our own ‘ego-concern’.

6. Nếu chúng ta nhớ rằng các đệ tử đồng môn là những “người cộng tác mật thiết và cùng chia sẻ”, chúng ta sẽ ít có khuynh hướng nhìn nhận họ qua lăng kính ‘bận tâm về phàm ngã’.

7. We are to cultivate a humility which is based upon understanding and vision. One cannot force humility upon oneself and others with the unthinking injunction “be humble”! Humility grows as the perspective widens. The best way to promote humility is to help others (and oneself) broaden and deepen consciousness.

7. Chúng ta phải vun bồi sự khiêm nhường dựa trên sự thấu hiểu và tầm nhìn. Không thể ép bản thân và người khác phải khiêm nhường bằng mệnh lệnh thiếu suy nghĩ “hãy khiêm nhường”! Sự khiêm nhường tăng trưởng khi góc nhìn mở rộng. Cách tốt nhất để nuôi dưỡng sự khiêm nhường là giúp người khác (và chính mình) mở rộng và đào sâu tâm thức.

8. An order of service seems to be suggested, and to it we should attend; we are to serve the world, then our fellow disciples, and then the Master who may be our major point of contact with Hierarchy.

8. Dường như ở đây có gợi ý về một thứ tự phụng sự mà chúng ta nên chú ý: chúng ta phải phụng sự thế gian, rồi đến các đệ tử đồng môn, sau đó là Chân sư, Đấng có thể là điểm tiếp xúc chính của chúng ta với Thánh đoàn.

9. When an attitude of love-in-service is established, there seems to be little room for the problems which arise through a wrong approach to the issue of spiritual status.

9. Khi thái độ yêu thương trong phụng sự được thiết lập, dường như còn rất ít chỗ cho những vấn đề nảy sinh từ cách tiếp cận sai lầm đối với vấn đề vị thế tinh thần.

I have often pointed out that a disciple is known by his influence upon his environment, and an initiate by the wide scope of his world service. How does it happen then that a few of you (not all) are not distinguished by such service and are of relatively small importance in world affairs? Several things could explain this. First of all, a disciple may be called to work off certain karmic relationships, to fulfil certain obligations [97] of very ancient origin and thus “clear the decks” for more complete and uninterrupted service to humanity at a later date. This occurs quite frequently between the first and second initiations. Sometimes a disciple may be doing effective service upon the inner planes and on a large scale and yet there may be no evidence of this upon the physical plane, except in the beauty of a life lived. Others may be learning certain techniques of psychological relationships and of energy distribution and may have dedicated some particular life to the acquiring of these esoteric sciences. One life is but a short moment in the long cycle of the soul. The true disciple will never fall back on the reasons given above as alibis for lack of effort. I would remind you that world influence alone does not always imply discipleship. There are many groups—well known and magnetic—which have at their centre some dominant personality who is not necessarily a disciple.

Tôi thường chỉ ra rằng người ta nhận biết một đệ tử qua ảnh hưởng của y đối với môi trường xung quanh, và nhận biết một điểm đạo đồ qua phạm vi phụng sự thế gian rộng lớn của y. Vậy tại sao một vài người trong các bạn (không phải tất cả) lại không nổi bật trong sự phụng sự như thế và chỉ có tầm quan trọng tương đối nhỏ trong các công việc thế gian? Có thể giải thích điều này bằng một số lý do. Trước hết, một đệ tử có thể được kêu gọi thanh toán những mối quan hệ nghiệp quả nhất định, hoàn thành những nghĩa vụ [97] có nguồn gốc rất xa xưa, qua đó “dọn sạch những vướng bận” để về sau phụng sự nhân loại trọn vẹn và liên tục hơn. Điều này xảy ra khá thường xuyên giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần thứ hai. Đôi khi, một đệ tử có thể đang phụng sự hữu hiệu trên các cõi bên trong với quy mô lớn, nhưng trên cõi hồng trần lại không có bằng chứng nào về điều đó, ngoài vẻ đẹp của đời sống y. Những người khác có thể đang học một số kỹ thuật về các mối quan hệ tâm lý và việc phân phối năng lượng, và có thể đã dành riêng một kiếp sống nhất định để lĩnh hội những khoa học nội môn này. Một kiếp sống chỉ là một khoảnh khắc ngắn ngủi trong chu kỳ dài của linh hồn. Đệ tử chân chính sẽ không bao giờ viện những lý do trên để biện hộ cho việc thiếu nỗ lực. Tôi muốn nhắc các bạn rằng chỉ riêng ảnh hưởng trên thế giới không phải lúc nào cũng hàm ý địa vị đệ tử. Có nhiều nhóm—nổi tiếng và đầy từ tính—mà ở trung tâm là một phàm ngã có ưu thế chi phối, người không nhất thiết là một đệ tử.

1. The Tibetan distinguishes between the spheres of influence of disciples and initiates. The disciple has an impact upon his environment and an initiate a much wider impact which can be described as “world service”.

1. Chân sư Tây Tạng phân biệt các phạm vi ảnh hưởng của đệ tử và điểm đạo đồ. Người đệ tử tác động lên môi trường xung quanh mình, còn một điểm đạo đồ có ảnh hưởng rộng lớn hơn nhiều, có thể gọi là “phụng sự thế gian”.

2. DK seeks to help His chelas evaluate themselves according to these standards.

2. Chân sư DK tìm cách giúp các đệ tử của Ngài tự đánh giá theo những tiêu chuẩn này.

3. Obviously, all DK’s chelas are disciples and so He seeks to help explain why some of them may be so little involved in service and have but small importance in world affairs.

3. Hiển nhiên, tất cả những người theo học với Chân sư DK đều là đệ tử, vì vậy Ngài tìm cách giúp giải thích vì sao một số người trong họ có thể tham gia phụng sự ít đến thế và chỉ có tầm quan trọng nhỏ trong các công việc thế gian.

4. Some disciples (especially between the first and second degrees) may be “clearing the decks”, working off old karma, so that future service to humanity may be “more complete and uninterrupted”.

4. Một số đệ tử (đặc biệt trong khoảng giữa cấp điểm đạo thứ nhất và thứ hai) có thể đang “dọn đường”, giải quyết dứt điểm nghiệp quả cũ để việc phụng sự nhân loại trong tương lai có thể “trọn vẹn và liên tục hơn”.

5. Others may be serving widely and effectively on the inner planes, but their life upon the outer plane shows no signs of this service—except (and this is an arresting thought) “in the beauty of a life lived”.

5. Những người khác có thể đang phụng sự rộng rãi và hữu hiệu trên các cõi bên trong, nhưng đời sống của họ trên cõi bên ngoài không cho thấy dấu hiệu nào của sự phụng sự ấy—ngoại trừ (và đây là một ý tưởng đáng chú ý) “trong vẻ đẹp của đời sống mà họ sống”.

6. Still others may be mastering certain esoteric techniques relating to the building of psychological relationships and the development of the capacity for energy distribution.

6. Lại có những người khác có thể đang làm chủ một số kỹ thuật huyền bí liên quan đến việc xây dựng các mối quan hệ tâm lý và phát triển khả năng phân phối năng lượng.

7. DK is probably surveying His disciples and seeking to shed light upon their particular situations.

7. Có lẽ Chân sư DK đang xem xét các đệ tử của Ngài và tìm cách làm sáng tỏ hoàn cảnh riêng của họ.

8. The Master enjoins upon us a sense of proportion: one life is but a short moment in the soul’s history.

8. Chân sư khuyên chúng ta phải có ý thức về tỉ lệ: một kiếp sống chỉ là khoảnh khắc ngắn ngủi trong lịch sử của linh hồn.

9. In offering this information about how one may be a disciple and yet of little apparent moment in world affairs or even in the local environment, DK is offering important explanations but no incentives for falling back, for excuses or alibis. He seems to be suggesting that the disciple should, at least, gradually widen and deepen his/her area of service even if subject to one or more of the three conditions described.

9. Khi cung cấp thông tin giải thích vì sao một người có thể là đệ tử mà bề ngoài vẫn ít có tầm quan trọng trong các công việc thế gian, thậm chí ngay trong môi trường địa phương, Chân sư DK đưa ra những lời giải thích quan trọng nhưng không khuyến khích sự thoái lui, viện cớ hay biện hộ. Dường như Ngài đang gợi ý rằng ít nhất người đệ tử nên dần mở rộng và đào sâu phạm vi phụng sự của mình, ngay cả khi chịu một hay nhiều hoàn cảnh trong số ba hoàn cảnh đã mô tả.

10. DK reminds his disciples that prominence does not always imply discipleship. Through the advanced stage reached by our telecommunications network, we notice many prominent people and groups who are not characterized by the quality of discipleship. In present times, our standard for detecting disciples must become increasingly sophisticated. Fame, popularity and prominence can hardly service as all-sufficient indicators. One must always use the touchstone of quality. What is the quality of the work done? Whether the work is especially noticeable or unnoticeable, let us always ask, what is the quality of that work and of the individual or groups performing it? The quality may be high, low or indifferent, but it determinant of the value of the work performed. We have learned that quality is essentially service, for quality cannot help but radiate into the environment and there do good.

10. Chân sư DK nhắc các đệ tử của Ngài rằng sự nổi bật không phải lúc nào cũng hàm ý địa vị đệ tử. Nhờ mạng lưới viễn thông đã đạt đến giai đoạn phát triển cao, chúng ta biết đến nhiều cá nhân và nhóm nổi bật nhưng không có phẩm tính của địa vị đệ tử. Trong thời đại hiện nay, tiêu chuẩn nhận diện đệ tử của chúng ta phải ngày càng tinh tế. Danh tiếng, sự nổi tiếng và sự nổi bật khó có thể đóng vai trò những dấu hiệu tự chúng đã đầy đủ. Luôn phải dùng thước đo phẩm tính. Công việc đã thực hiện có phẩm tính như thế nào? Dù công việc đặc biệt dễ thấy hay không dễ thấy, chúng ta hãy luôn hỏi: phẩm tính của công việc ấy và của cá nhân hay những nhóm thực hiện nó là gì? Phẩm tính có thể cao, thấp hoặc bình thường, nhưng chính nó quyết định giá trị của công việc đã thực hiện. Chúng ta đã học rằng về bản chất, phẩm tính chính là phụng sự, vì phẩm tính tất yếu phải tỏa vào môi trường xung quanh và làm điều tốt lành ở đó.

In connection with this group of my disciples and with this experiment which I am undertaking, you need to arrive at a point in group experience wherein you are not so intensely preoccupied with your own development, status and service; you all need to learn to decentralise yourselves so that the work to be done becomes the factor of main importance. When this is the case, then the intense self-interest with some aspect of the personality expression, some weakness of character, some dear objective, or some physical condition will cease. You will find the cultivation of a “divine indifference” (as I have told you several times) of great assistance in forgetting the little self; this frequently looms so large (from habit) that it shuts out the higher self; it comes between the disciple and the Master and prevents contact with his co-disciples, thus negating effective service.

Liên quan đến nhóm đệ tử này của Tôi và cuộc thử nghiệm mà Tôi đang tiến hành, các bạn cần đạt đến một điểm trong trải nghiệm nhóm, nơi các bạn không còn quá bận tâm đến sự phát triển, địa vị và việc phụng sự của riêng mình; tất cả các bạn cần học cách phi tập trung vào bản thân để công việc phải làm trở thành yếu tố quan trọng nhất. Khi điều này xảy ra, sự quan tâm mãnh liệt đến bản thân qua một phương diện biểu hiện nào đó của phàm ngã, một nhược điểm tính cách, một mục tiêu yêu quý hay một tình trạng thể chất sẽ chấm dứt. Các bạn sẽ thấy việc vun bồi sự “Điềm nhiên thiêng liêng” (như Tôi đã nói với các bạn nhiều lần) giúp ích rất nhiều cho việc quên đi cái tôi nhỏ bé; do thói quen, cái tôi này thường chiếm vị trí lớn đến mức che khuất chân ngã; nó chen vào giữa đệ tử và Chân sư, ngăn cản sự tiếp xúc với các đệ tử đồng môn, do đó làm mất hiệu quả phụng sự.

1. DK offers immediate advice to His chelas. They need to deepen their sense of the group. If they do so, they will no longer find themselves so preoccupied with their own individual development, their status and their service. These preoccupations signal a consciousness still self-focussed and subject to ‘ego-concern’.

1. Chân sư DK đưa ra lời khuyên trực tiếp cho các đệ tử của Ngài. Họ cần đào sâu ý thức về nhóm. Nếu làm vậy, họ sẽ không còn thấy mình quá bận tâm về sự phát triển cá nhân, vị thế và việc phụng sự của riêng mình. Những mối bận tâm này cho thấy một tâm thức vẫn tập trung vào bản thân và chịu sự chi phối của ‘mối bận tâm về phàm ngã’.

2. A disciple works. This differentiates him from an aspirant, who does not necessarily work. Always, the work comes first. When one is preoccupied with work and service on behalf of the Plan and humanity, there is little time for succumbing to the various hazards related to ‘ego-concern’. Decentralization is required; it is an Aquarian attitude which reduces the power of the lower phases of Leonian influence. One takes one’s eyes off the little self.

2. Một đệ tử làm việc. Điều này phân biệt y với một người chí nguyện, người không nhất thiết làm việc. Công việc luôn đứng hàng đầu. Khi chuyên tâm làm việc và phụng sự vì Thiên Cơ và nhân loại, người ta có rất ít thời gian để sa vào những nguy cơ khác nhau liên quan đến ‘mối bận tâm về phàm ngã’. Cần phi tập trung vào bản thân; đó là một thái độ Bảo Bình làm giảm sức mạnh của các giai đoạn thấp trong ảnh hưởng Sư Tử. Người ta chuyển ánh nhìn của mình khỏi cái ngã nhỏ bé.

3. DK lists certain personality preoccupations which can be offset through decentralization:

3. Chân sư DK liệt kê một số mối bận tâm của phàm ngã có thể hóa giải bằng việc phi tập trung vào bản thân:

a. intense self-interest with some aspect of personality expression

a. sự quan tâm quá mức đến bản thân qua một phương diện biểu hiện nào đó của phàm ngã

b. concern about some weakness of character

b. bận tâm về một nhược điểm nào đó trong tính cách

c. concern about some “dear objective”

c. bận tâm về một “mục tiêu yêu quý”

d. concern about some physical condition

d. bận tâm về một tình trạng thể chất nào đó

4. We can see that discipleship very much involves the setting aside of the non-essential in favor of the essential. We can apply this ‘touchstone of essentiality’ to the many thoughts, words and acts of our life. To do so will bring us rapidly into state of disciplic effectiveness.

4. Chúng ta có thể thấy rằng địa vị đệ tử đòi hỏi rất nhiều ở việc gạt sang một bên những gì không thiết yếu để ưu tiên điều thiết yếu. Chúng ta có thể áp dụng ‘thước đo tính thiết yếu’ này cho nhiều tư tưởng, lời nói và hành động trong đời sống mình. Làm như vậy sẽ nhanh chóng đưa chúng ta đến trạng thái hoạt động hữu hiệu của người đệ tử.

5. The basic disadvantage of concern with the “little self” is discussed. That little self looms so large that it comes between the disciple and all advantageous spiritual contacts—with the higher self, with the Master and with one’s co-disciples.

5. Ở đây bàn đến bất lợi căn bản của việc bận tâm về “cái ngã nhỏ bé” ấy. Cái ngã nhỏ bé ấy trở nên lớn đến mức chen vào giữa đệ tử và mọi sự tiếp xúc tinh thần hữu ích—với chân ngã, với Chân sư và với các đệ tử đồng môn của mình.

6. Interestingly, it is said that this “little self” looms large because of habit. For millions of years we have been preoccupied with that which, only apparently, is the self. It is a case of mistaken identity, as is all egoistic preoccupation.

6. Điều thú vị là người ta nói “cái ngã nhỏ bé” này trở nên lớn lao vì thói quen. Suốt hàng triệu năm, chúng ta đã mải bận tâm về điều chỉ có vẻ là bản ngã. Đây là một trường hợp nhận lầm bản ngã, cũng như mọi sự bận tâm mang tính vị kỷ.

7. The antidote to this preoccupation with the non-essential little self, is divine indifference, based upon the emphasis of spiritual essentials. At a sufficient point of tension, divine indifference is established.

7. Phương thuốc hóa giải sự bận tâm về cái ngã nhỏ bé không thiết yếu này là điềm nhiên thiêng liêng, dựa trên việc đặt trọng tâm vào những điều thiết yếu về tinh thần. Khi đạt đến một điểm tập trung nhất tâm đủ mức, điềm nhiên thiêng liêng được thiết lập.

There is one more point which I would like to take up with you so that there may be complete understanding. There come periods in the life of the disciple when there appears to be no contact with the Master and as if all relationship had been, at least, temporarily severed. Where accepted disciples are concerned, I would like to emphasise that any such severance is not possible. Occultly, it cannot happen and the Master’s love for the disciple makes it again impossible. There is only one condition [98] which can result in severance and that is deliberate and conscious effort by the disciple, carried over a very long period of time, to bring it about. A Master does not lightly admit a disciple to His group and once having done so, the situation is irrevocable from the standpoint of the Master. Any delay in progress and any final severance comes entirely from the pupil. There may be a temporary suspension of communication and this may last throughout one life; that, however, is not long from the angle of the soul; it is but a flash of small moment and significance in the long career of the soul. It looms as large and important in the personality life but may signify only the grasping of opportunity in the eternal now of the soul.

Còn một điểm nữa Tôi muốn bàn với các bạn để có sự thấu hiểu trọn vẹn. Trong đời sống đệ tử có những giai đoạn dường như không còn sự tiếp xúc với Chân sư, như thể mọi mối quan hệ đã bị cắt đứt, ít nhất là tạm thời. Đối với các đệ tử được chấp nhận, Tôi muốn nhấn mạnh rằng không thể có bất kỳ sự cắt đứt nào như vậy. Xét về mặt huyền bí, điều ấy không thể xảy ra, và tình thương của Chân sư dành cho đệ tử càng khiến điều ấy không thể xảy ra. Chỉ có một điều kiện [98] có thể dẫn đến sự cắt đứt: đệ tử cố ý và có ý thức nỗ lực trong một thời gian rất dài để tạo ra điều ấy. Một Chân sư không dễ dàng thu nhận một đệ tử vào nhóm của Ngài; và một khi đã làm như vậy, tình thế ấy là bất khả đảo ngược từ quan điểm của Chân sư. Mọi sự chậm trễ trong tiến bộ và mọi sự cắt đứt sau cùng đều hoàn toàn xuất phát từ môn sinh. Có thể có sự tạm ngưng giao tiếp, và điều này có thể kéo dài suốt một kiếp sống; tuy nhiên, xét từ góc độ linh hồn, đó không phải là một thời gian dài; nó chỉ là một thoáng chớp có tầm quan trọng và thâm nghĩa nhỏ bé trong hành trình dài của linh hồn. Nó có vẻ lớn lao và quan trọng trong đời sống phàm ngã, nhưng có thể chỉ biểu thị việc nắm bắt cơ hội trong hiện tại vĩnh cửu của linh hồn.

1. DK taking up a number of important points with His disciples. In doing so He is answering questions which may have arisen in their minds.

1. Chân sư DK đang bàn với các đệ tử của Ngài về một số điểm quan trọng. Qua đó, Ngài trả lời những câu hỏi có thể đã nảy sinh trong thể trí của họ.

2. Some of His disciples may have been distressed by the apparent lack of direct contact with the Master. To them this may have seemed a kind of “severance”. DK assures His disciples of the impossibility of such a state. The Master’s great love for His disciple would militate against this. It must be difficult for us to fathom the Master’s love for those He has admitted to His group or Ashram. Perhaps if we think of the love we bear a beloved child and multiply it many-fold, we can gain some small idea of the Master’s love for His disciples.

2. Một số đệ tử của Ngài có thể đã đau khổ vì dường như thiếu sự tiếp xúc trực tiếp với Chân sư. Đối với họ, điều này có thể giống như một sự “đứt đoạn”. Chân sư DK bảo đảm với các đệ tử của Ngài rằng trạng thái như vậy không thể xảy ra. Chân sư dành cho đệ tử của Ngài tình thương lớn lao đến mức tình thương ấy sẽ chống lại điều này. Hẳn chúng ta khó lòng thấu tỏ tình thương của Chân sư dành cho những người Ngài đã thu nhận vào nhóm hay ashram của Ngài. Có lẽ nếu nghĩ đến tình thương chúng ta dành cho một đứa con yêu quý rồi nhân lên nhiều lần, chúng ta có thể phần nào hình dung tình thương của Chân sư dành cho các đệ tử của Ngài.

3. We are soberly reminded that the Master is not the one to sever connection with a disciple; the severance is the result of a disciple’s prolonged and deliberate effort to bring it about. We see that the love extended from ‘above’ is far greater than that upreaching from ‘below’.

3. Chúng ta nhận được lời nhắc nhở nghiêm túc rằng Chân sư không phải là người cắt đứt mối liên hệ với một đệ tử; sự đứt đoạn là kết quả của những nỗ lực mà người đệ tử cố ý thực hiện trong thời gian dài để gây ra điều ấy. Chúng ta thấy rằng tình thương vươn xuống từ ‘trên’ lớn lao hơn rất nhiều so với tình thương vươn lên từ ‘dưới’.

4. We are also reminded that admittance into a Master’s group is no casual affair. The master considers His relation to His admitted disciple irrevocable once admittance has occurred. It is an indissoluble bond the loyalty upon which we should ponder.

4. Chúng ta cũng được nhắc nhở rằng việc gia nhập nhóm của một Chân sư không phải là chuyện tùy tiện. Một khi đã thu nhận đệ tử, Chân sư xem mối quan hệ của Ngài với người đệ tử ấy là không thể đảo ngược. Đó là một mối ràng buộc không thể tan rã; chúng ta nên suy ngẫm về lòng trung thành trong mối ràng buộc ấy.

5. Responsibility is laid squarely on our shoulders for any delay in development we may experience. We do not have to wait for the Master; He is always ready to respond if rightly invoked. Delays are of our own making.

5. Chúng ta phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi sự chậm trễ trong phát triển mà mình có thể trải qua. Chúng ta không phải chờ đợi Chân sư; Ngài luôn sẵn sàng đáp ứng nếu được khẩn cầu đúng cách. Chính chúng ta tạo ra những sự chậm trễ.

6. Temporary suspensions of communication from a Master to His chela may arise, and these may last for even a lifetime. DK counsels us to think of such a period as short when compared to the long history of the soul’s evolution. From the angle of the soul, such a period is but “a flash of small moment and significance”.

6. Sự giao tiếp từ một Chân sư đến đệ tử của Ngài có thể tạm thời gián đoạn, thậm chí kéo dài suốt một kiếp sống. Chân sư DK khuyên chúng ta xem một thời kỳ như thế là ngắn ngủi khi so với lịch sử lâu dài tiến hoá của linh hồn. Từ góc nhìn của linh hồn, một thời kỳ như thế chỉ là “một thoáng chớp có tầm quan trọng và thâm nghĩa nhỏ bé”.

7. Then follows a rather enigmatical statement: “It looms as large and important in the personality life but may signify only the grasping of opportunity in the eternal now of the soul”. We may ask, who is it that is grasping opportunity—the soul on its own plane or the temporarily ‘ex-communicated’ disciple? Perhaps the temporary lack of communication from the Master to disciple may be an opportunity in disguise, an opportunity for the disciple to utilize His own resources and to acquire, apparently unaided, even greater resources. We must never forget that the soul/Solar Angel is the “first Master”, and that disciples must learn to be soul-reliant before they can safely be placed en rapport with a human Master.

7. Tiếp theo là một phát biểu khá bí ẩn: “Điều ấy hiện ra lớn lao và quan trọng trong đời sống phàm ngã, nhưng có thể chỉ hàm ý việc nắm bắt cơ hội trong hiện tại vĩnh cửu của linh hồn”. Chúng ta có thể hỏi, ai đang nắm bắt cơ hội—linh hồn trên cõi riêng của nó hay người đệ tử tạm thời ‘bị ngắt liên lạc’? Có lẽ sự thiếu vắng giao tiếp tạm thời từ Chân sư đến đệ tử là một cơ hội dưới hình thức khác, một cơ hội để người đệ tử sử dụng những nguồn lực của chính mình và đạt được những nguồn lực lớn lao hơn nữa, dường như không có sự trợ giúp. Chúng ta không bao giờ được quên rằng linh hồn/Thái dương Thiên Thần là “Chân sư đầu tiên”, và các đệ tử phải học cách nương tựa vào linh hồn trước khi có thể an toàn thiết lập sự giao cảm với một Chân sư thuộc nhân loại.

I have, therefore, been near you and watched at intervals the tide of life roll over you; I have noted your progress and your delay. I have watched you succeed and I have seen you fail. This I do through noting the pulsation of your light—not in watching the detail of your daily living. That is not warranted in this time of crisis, and owing to the evolutionary development of disciples will never again be warranted. You are still within my group aura, within my Ashram. Your position there is determined by yourself and not by me. There exists at times something which resembles a pulsation in the relation between teacher and pupil—a withdrawing and a coming forward where the probationary disciple is concerned and a standing with steadfastness and expectancy on the part of the teacher. When the fluctuations of contact are ended and the pupil is stabilised and becomes a “steadily approaching point of energy,” then he becomes an accepted disciple. Some in my group of disciples are stabilising; some are retreating; some few are approaching and I watch with interest the waxing and the waning of their light.

Vì vậy, Tôi vẫn ở gần các bạn và thỉnh thoảng quan sát những đợt sóng đời tràn qua các bạn; Tôi đã ghi nhận sự tiến bộ và trì hoãn của các bạn. Tôi đã thấy các bạn thành công và cũng đã thấy các bạn thất bại. Tôi làm điều này bằng cách ghi nhận nhịp đập ánh sáng của các bạn—không phải bằng cách theo dõi chi tiết sinh hoạt hằng ngày. Việc ấy không có lý do chính đáng trong thời kỳ khủng hoảng này, và do sự phát triển tiến hoá của các đệ tử, sẽ không bao giờ còn có lý do chính đáng nữa. Các bạn vẫn ở trong hào quang nhóm của Tôi, trong ashram của Tôi. Vị trí của các bạn ở đó do chính các bạn quyết định, không phải do Tôi. Đôi khi, trong mối quan hệ giữa huấn sư và môn sinh có một điều giống như nhịp đập—ở phía đệ tử dự bị là sự rút lui rồi tiến đến, còn ở phía huấn sư là sự đứng vững với lòng kiên định và chờ đợi. Khi những dao động trong tiếp xúc chấm dứt, môn sinh ổn định và trở thành một “điểm năng lượng đều đặn tiến đến”, thì y trở thành một đệ tử được chấp nhận. Một số người trong nhóm đệ tử của Tôi đang ổn định; một số đang rút lui; một vài người đang tiến đến, và Tôi quan sát với sự quan tâm ánh sáng của họ tăng lên rồi giảm xuống.

1. Master DK seems to be preparing certain of these disciples for the suspension of communication between Him and them which occurred in late 1939. Perhaps the plan to suspend communication (and reorganize the manner of His future communication with certain selected disciples) was already in His mind.

1. Chân sư DK dường như đang chuẩn bị cho một số đệ tử này trước sự tạm ngừng giao tiếp giữa Ngài và họ, diễn ra vào cuối năm 1939. Có lẽ Ngài đã nghĩ đến kế hoạch tạm ngừng giao tiếp (và tổ chức lại cách thức giao tiếp trong tương lai của Ngài với một số đệ tử được tuyển chọn).

2. The image of the supervising Master is put forward; the Master has supervised (albeit at a distance) the lives of His chelas-to-be perhaps for a number of lives.

2. Hình ảnh Chân sư giám sát được đưa ra; Chân sư đã giám sát cuộc đời của những người sẽ trở thành đệ tử của Ngài (dù từ xa), có lẽ suốt một số kiếp sống.

3. The mode of detecting a disciple’s success or failure is given; it is through the “pulsation of [his/her] light”. It is decentralizing to realize that the Master has not time to observe the detail of His chela’s life. Moreover, the level of development of today’s disciples will mean that such close observation will never again be warranted. Although this lack of close personal observation is now generally the case, and will be in the future, Master DK has demonstrated, by things He has said, that He has been aware of some details in His chela’s lives; the intimacy of His care for them was, however, unusual.

3. Phương thức nhận biết sự thành công hay thất bại của một đệ tử được nêu rõ; đó là qua “nhịp đập ánh sáng [của người ấy]”. Việc nhận ra rằng Chân sư không có thời gian quan sát những chi tiết trong cuộc đời đệ tử của Ngài giúp chúng ta phi tập trung vào bản thân. Hơn nữa, trình độ phát triển của các đệ tử ngày nay hàm ý rằng sự quan sát sát sao như thế sẽ không bao giờ còn thích đáng nữa. Mặc dù hiện nay nhìn chung không có sự quan sát cá nhân sát sao như thế, và trong tương lai cũng vậy, nhưng qua những điều Ngài đã nói, Chân sư DK cho thấy Ngài biết một số chi tiết trong cuộc đời các đệ tử của Ngài; tuy nhiên, sự quan tâm gần gũi mà Ngài dành cho họ là điều khác thường.

4. Disciples in a Master’s group (and therefore within his “group aura”) determine their own position within the Master’s Ashram. The Master does not ‘promote’ them in the usual sense. They move into greater ashramic intimacy through the elevation of their own vibration.

4. Các đệ tử trong nhóm của một Chân sư (và do đó ở trong “hào quang nhóm” của Ngài) tự quyết định vị trí của mình trong ashram của Chân sư. Chân sư không ‘thăng cấp’ cho họ theo nghĩa thông thường. Họ tiến vào sự gần gũi sâu sắc hơn trong ashram bằng cách nâng cao rung động của chính mình.

5. Master DK describes the approach to and withdrawal from the Master which is typical of the probationary disciple. The Master stands steadfast. It is not He that approaches and withdraws. The fluctuations within the probationary disciple’s form and consciousness account for the evident inconsistency.

5. Chân sư DK mô tả sự tiến gần đến và rút lui khỏi Chân sư, vốn là nét điển hình của đệ tử dự bị. Chân sư đứng vững kiên định. Không phải Ngài tiến gần rồi rút lui. Những dao động trong hình tướng và tâm thức của đệ tử dự bị giải thích sự thiếu nhất quán rõ rệt ấy.

6. A truly accepting and thus accepted disciple becomes, however, a “steadily approaching point of energy”. Perhaps deliberately, DK did not say ‘point of force’. We can see how astral polarization functioning under the Law of Attraction and Repulsion will generate inconsistency of approach. Increasing mental polarization steadies the approach, for the steadying will works through the mind.

6. Tuy nhiên, một đệ tử thực sự chấp nhận và nhờ đó được chấp nhận sẽ trở thành một “điểm năng lượng đều đặn tiến gần”. Có lẽ Chân sư DK đã chủ ý không nói ‘điểm mãnh lực’. Chúng ta có thể thấy sự phân cực cảm dục vận hành theo Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi sẽ tạo ra sự thiếu nhất quán trong việc tiến gần như thế nào. Sự phân cực trí tuệ ngày càng tăng làm cho việc tiến gần trở nên vững vàng, vì ý chí có tác dụng ổn định hoạt động thông qua thể trí.

7. DK describes an interesting Geminian experience (and indeed, He must have much of Gemini in His horoscope). Some disciples are stabilizing after fluctuation; some are retreating and a few are approaching (note, only a few). There is little the Master can do about this ‘dance’ but look on with support and encouragement.

7. Chân sư DK mô tả một trải nghiệm thú vị mang tính Song Tử (và quả thực, hẳn lá số chiêm tinh của Ngài có nhiều yếu tố Song Tử). Một số đệ tử đang trở nên ổn định sau những dao động; một số đang rút lui và một số ít đang tiến gần (hãy lưu ý, chỉ một số ít). Chân sư chẳng thể làm gì nhiều đối với ‘điệu múa’ này ngoài việc quan sát với sự hỗ trợ và khích lệ.

8. If you measure yourself, in which phase do you find yourself and why? Is your light waxing or waning? How do you know?

8. Nếu tự đánh giá, các bạn thấy mình đang ở giai đoạn nào và vì sao? Ánh sáng của các bạn đang tăng lên hay suy giảm? Làm sao các bạn biết?

The mobilisation of every disciple is demanded at this time and when I say “this time” I refer to the present time and the next fifty years. This mobilisation involves the focussing of the disciple’s energies, his time and his resources on behalf of humanity; it requires a new dedication to service, a consecration of the thought-life (do you realise what that would mean, my brothers?) and a forgetfulness of self which would rule out all moods and feelings, all personality desires, resentments, grievances [99] and all pettiness in your relations with your fellowmen. On the physical plane, it would mean the conditioning of all active, outer living so that the whole of life becomes one focussed active service. I would ask you to study the above phrasing, using it as a light of revelation so that you may know wherein you are lacking and what you have to do.

Lúc này đòi hỏi sự huy động mọi đệ tử, và khi nói “lúc này”, Tôi muốn nói đến hiện tại và năm mươi năm tới. Sự huy động này bao hàm việc tập trung năng lượng, thời gian và nguồn lực của đệ tử vì nhân loại; nó đòi hỏi một sự tận hiến mới cho việc phụng sự, sự thánh hiến đời sống tư tưởng (các huynh đệ của Tôi, các bạn có nhận ra điều ấy hàm ý gì không?), và sự quên mình đủ để loại trừ mọi tâm trạng và cảm xúc, mọi dục vọng của phàm ngã, mọi oán giận, bất bình [99] và mọi sự nhỏ nhen trong quan hệ với đồng loại. Trên cõi hồng trần, điều đó hàm ý điều chỉnh toàn bộ đời sống hoạt động bên ngoài để cả cuộc đời trở thành một sự phụng sự tích cực, tập trung. Tôi muốn các bạn nghiên cứu cách diễn đạt trên, dùng nó như một ánh sáng mặc khải để biết mình còn thiếu sót ở đâu và phải làm gì.

1. Some rather demanding requirements are now set forth. During the “next fifty years” (this would mean, until the 1980’s) the mobilization of every disciple is required. I would say that because of the aftermath of the Second World War and the obvious danger to man of proliferating nuclear weapons in a badly divided world, the mobilization of every disciple is still demanded, and perhaps moreso.

1. Giờ đây, một số yêu cầu khá khắt khe được nêu ra. Trong “năm mươi năm tới” (nghĩa là cho đến những năm 1980), mọi đệ tử đều phải huy động toàn bộ sức mình. Tôi cho rằng do hậu quả của Chiến tranh Thế giới thứ Hai và mối nguy hiểm hiển nhiên đối với con người từ việc phổ biến vũ khí hạt nhân trong một thế giới chia rẽ sâu sắc, mọi đệ tử vẫn phải huy động toàn bộ sức mình, và có lẽ còn cần hơn nữa.

2. What will mobilization mean?

2. Sự huy động sẽ có nghĩa là gì?

a. the focussing of a disciple’s energies, time and resources on behalf of humanity. This means, essentially, the right expenditure of energy.

a. việc tập trung các năng lượng, thời gian và nguồn lực của một đệ tử vì nhân loại. Về cơ bản, điều này có nghĩa là sử dụng năng lượng đúng đắn.

b. a new dedication to service

b. một sự tận hiến mới cho việc phụng sự

c. a consecration of the thought-life. This requirement is drastic when one thinks about how one usually thinks! Vague, ill-directed, pointless thoughts would be no more. Vigilance and dedicated thoughtform building would take the place of the usual misuse of thought.

c. sự thánh hiến đời sống tư tưởng. Yêu cầu này thật quyết liệt khi chúng ta nghĩ đến cách mình thường suy nghĩ! Những tư tưởng mơ hồ, sai hướng, vô mục đích sẽ không còn nữa. Sự tỉnh thức và việc tận tâm xây dựng hình tư tưởng sẽ thay thế cách sử dụng tư tưởng sai lầm thường thấy.

d. a forgetfulness of self ruling out

d. sự quên mình loại trừ

all moods,

mọi tâm trạng,

feelings

cảm xúc

personality desires

dục vọng phàm ngã

resentments

oán giận

grievances

bất bình

e. the whole outer physical plane life becomes “one focussed active service”

e. toàn bộ đời sống bên ngoài trên cõi hồng trần trở thành “một sự phụng sự tích cực, tập trung”

3. DK is asking us to review the requirements for mobilization so that we can see whether we are completely mobilized. It is obvious that for the mobilized disciple, very little if anything is left for the strictly ‘personal’ life. All energies are consecrated to soul-living.

3. Chân sư DK yêu cầu chúng ta xem xét lại các yêu cầu của sự huy động để có thể thấy mình đã hoàn toàn huy động toàn bộ sức mình hay chưa. Hiển nhiên, đối với người đệ tử đã huy động toàn bộ sức mình, còn lại rất ít, nếu có, cho đời sống thuần tuý ‘cá nhân’. Mọi năng lượng đều được thánh hiến cho việc sống theo linh hồn.

4. The demands for mobilization are exacting, are they not?

4. Những yêu cầu của sự huy động thật khắt khe, phải không?

I have given you in the past a very great deal of instruction, help and encouragement. That you still have and it would profit you much if you spent some time in recalling it. But today make a new beginning—not for your own sake, but for the helping of a needy world. Forget yourselves.

Trong quá khứ, Tôi đã ban cho các bạn rất nhiều huấn thị, sự trợ giúp và khích lệ. Các bạn vẫn còn những điều ấy, và sẽ được lợi nhiều nếu dành chút thời gian ôn lại. Nhưng hôm nay, hãy bắt đầu lại—không phải vì lợi ích của riêng mình, mà để giúp đỡ một thế giới đang thiếu thốn. Hãy quên bản thân mình.

1. DK reflects on all that He has given.

1. Chân sư DK nhìn lại tất cả những gì Ngài đã trao ban.

2. Sometimes so much is given that one even forgets the extent of the gifts conferred. The attempt to recall these gifts is of value. This attempt gathers them all into the ‘space of consciousness’ where they can be appreciated, and from whence further extraction of value may occur.

2. Đôi khi chúng ta được trao ban nhiều đến nỗi quên cả mức độ lớn lao của những món quà đã nhận. Nỗ lực nhớ lại những món quà này có giá trị. Nỗ lực ấy quy tụ tất cả vào ‘không gian tâm thức’, nơi chúng ta có thể trân trọng chúng, và từ đó tiếp tục rút ra giá trị của chúng.

3. The Master’s words turn direct: “But today make a new beginning—not for your own sake, but for the helping of a needy world. Forget yourselves. ”

3. Lời của Chân sư trở nên trực tiếp: “Nhưng hôm nay, hãy bắt đầu lại—không phải vì lợi ích của chính các bạn, mà để giúp đỡ một thế giới đang cần được trợ giúp. Hãy quên mình. ”

4. These words are being addressed to relatively experienced disciples, for the most part, and so, they are being addressed to us. On every occasion we may take these words to heart, no matter how many beginnings have been made. Master Morya has said that, “for Us there are only beginnings”.

4. Phần lớn những lời này hướng đến các đệ tử tương đối giàu kinh nghiệm, và do đó cũng hướng đến chúng ta. Trong mọi hoàn cảnh, chúng ta đều có thể ghi lòng những lời này, bất kể đã có bao nhiêu lần khởi đầu. Chân sư Morya đã nói rằng, “đối với Chúng Tôi, chỉ có những khởi đầu”.

5. Always one must become inspired anew; always new fervor must be rekindled. We must never allow ourselves to simmer down to the point where our fire is in danger of extinction. Fire is life.

5. Chúng ta phải luôn đón nhận cảm hứng mới; phải luôn khơi lại nhiệt tâm mới. Chúng ta không bao giờ được để mình nguội dần đến mức ngọn lửa bên trong có nguy cơ tắt lịm. Lửa là sự sống.

The pressure of the work upon me has been very heavy lately. Much work has rested upon my shoulders, incident to the world situation. This has involved much effort on the part of the Hierarchy to prevent a complete collapse of the structure of human civilisation, as it exists at this time. The sound foundations of part of the structure must be saved; all else may have to go.

Gần đây, áp lực công việc đối với Tôi rất nặng nề. Tình hình thế giới đã đặt nhiều công việc lên vai Tôi. Điều này đòi hỏi Thánh đoàn nỗ lực rất nhiều để ngăn chặn sự sụp đổ hoàn toàn của cấu trúc nền văn minh nhân loại hiện tồn. Những nền móng vững chắc của một phần cấu trúc ấy phải được cứu giữ; mọi phần còn lại có thể phải mất đi.

1. DK speaks of His own work. The Second World War has begun—certainly on the inner planes. We can only imagine a Master’s vast responsibilities, and our imagining would be a very poor approximation to the reality.

1. Chân sư DK nói về công việc của chính Ngài. Chiến tranh Thế giới thứ Hai đã bắt đầu—chắc chắn là trên các cõi bên trong. Chúng ta chỉ có thể tưởng tượng những trách nhiệm bao la của một Chân sư, và điều chúng ta tưởng tượng sẽ chỉ gần với thực tế một cách rất hạn chế.

2. Such work, at that time, must have been onerous in the extreme. DK speaks of the possibility of the “complete collapse of the structure of human civilisation, as it exists at this time”. He is saying this probably in the fateful year, 1939.

2. Vào thời điểm ấy, công việc như thế hẳn phải vô cùng nặng nề. Chân sư DK nói đến khả năng “sụp đổ hoàn toàn của cấu trúc nền văn minh nhân loại như hiện nay”. Có lẽ Ngài đang nói điều này vào năm 1939, một năm mang tính định mệnh.

3. The Spiritual Hierarchy realized that conditions were far more desperate than humanity could suspect. The threat of destruction was everywhere, and Hierarchy sought to salvage at least a part of the foundation so that human civilization could be rebuilt.

3. Thánh đoàn nhận ra rằng tình thế tuyệt vọng hơn nhiều so với những gì nhân loại có thể hình dung. Mối đe doạ huỷ diệt hiện diện khắp nơi, và Thánh đoàn tìm cách cứu vãn ít nhất một phần nền móng để có thể tái thiết nền văn minh nhân loại.

4. We do not know what Their perspective revealed, but the revelation must have been dire.

4. Chúng ta không biết góc nhìn của Các Ngài đã cho thấy điều gì, nhưng sự mặc khải ấy hẳn phải rất đáng sợ.

Many things contribute to the inertia that today seems to afflict many of the disciples of the world who should be active in service and helpfulness. This applies also to you. The pressure of war conditions and concern over your own personal affairs, attitudes and reactions have crowded much that I might say and have said out of your minds. One of the first lessons which those in training for initiation have to master is that difficult dual attitude which permits right personality activity and real interest in personality affairs and yet at the same time permits nothing personal to interfere with the subjective spiritual life, with service and with the training, given in preparation for initiation. As time goes on, I shall try to bridge between the old techniques and the newer modes of training by using a part of the ancient techniques—now becoming somewhat obsolete—and the giving of those hints which will lead you to understand the nature, purpose and methods of educating accepted disciples in the processes of initiation.

Nhiều điều góp phần tạo nên tính trì trệ dường như đang đè nặng lên nhiều đệ tử trên thế giới ngày nay, những người lẽ ra phải tích cực phụng sự và giúp đỡ. Điều này cũng áp dụng cho các bạn. Áp lực của hoàn cảnh chiến tranh cùng sự lo lắng về những việc riêng, thái độ và phản ứng của chính mình đã lấn át trong thể trí các bạn nhiều điều Tôi có thể nói và đã nói. Một trong những bài học đầu tiên mà những người đang được huấn luyện để điểm đạo phải thành thạo là thái độ kép khó đạt được: vừa cho phép phàm ngã hoạt động đúng đắn và thực sự quan tâm đến các công việc của phàm ngã, vừa không để bất kỳ điều gì thuộc cá nhân xen vào đời sống tinh thần chủ quan, việc phụng sự và sự huấn luyện chuẩn bị cho điểm đạo. Theo thời gian, Tôi sẽ cố gắng bắc cầu giữa những kỹ thuật cũ và các phương thức huấn luyện mới hơn bằng cách sử dụng một phần các kỹ thuật cổ—hiện đang phần nào trở nên lỗi thời—và đưa ra những lời gợi ý giúp các bạn thấu hiểu bản chất, chủ đích và phương pháp giáo dục các đệ tử được chấp nhận trong những tiến trình điểm đạo.

1. We have noticed in the year immediately prior to the disbanding of the groups-of-nine a number of the disciples were afflicted with inertia and seemed to be losing ground.

1. Chúng ta đã nhận thấy rằng trong năm ngay trước khi các nhóm chín người giải thể, một số đệ tử chịu ảnh hưởng của tính trì trệ và dường như đang thụt lùi.

2. It is clear that the fear factor was looming large in the minds of most disciples (as it was for humanity in general). The astral body has a way of ‘preempting the stage’, thus crowding out the testimony of the higher nature—including the Master as part of that higher nature.

2. Rõ ràng, yếu tố sợ hãi đang chiếm vị trí lớn trong thể trí của hầu hết các đệ tử (cũng như đối với nhân loại nói chung). Thể cảm dục có cách ‘chiếm lĩnh sân khấu’, qua đó lấn át tiếng nói của bản chất cao hơn—kể cả Chân sư như một phần của bản chất cao hơn ấy.

3. The necessity for the dual life of the disciple is again asserted. Personality affairs must be rightly attended to and yet nothing of a personal nature must be allowed to “interfere with the subjective spiritual life, with service and with the training, given in preparation for initiation”. This would require the attitude of dispassion, for without it, fear will unduly magnetize the attention.

3. Sự cần thiết của đời sống kép nơi người đệ tử lại được khẳng định. Phải chăm lo đúng đắn các công việc phàm ngã, nhưng không được để bất cứ điều gì mang tính cá nhân “can thiệp vào đời sống tinh thần chủ quan, vào việc phụng sự và sự huấn luyện để chuẩn bị cho điểm đạo”. Điều này đòi hỏi thái độ không đam luyến, vì nếu thiếu nó, nỗi sợ hãi sẽ thu hút sự chú ý quá mức.

4. The Tibetan continues His emphasis upon training for initiation, promising an approach which will bridge the older and newer techniques.

4. Chân sư Tây Tạng tiếp tục nhấn mạnh việc huấn luyện để điểm đạo, hứa hẹn một cách tiếp cận sẽ bắc cầu giữa các kỹ thuật cũ hơn và mới hơn.

5. He is hinting at the future reorganization of the group into a group of (eventually) twenty-four accepted disciples who were to be educated for initiation. Not all of those in the groups-of-nine were invited into the new, reorganized Seed Group, nor did they (initially) even know of its existence. In this New Seed Group definite training for group initiation was undertaken, even though the training was relatively rudimentary. The material given to that group and pertaining to initiation and group initiation was of an advanced nature as the study of the Fourteen Rules for Disciples and Initiates and the many lessons gathered in DINA II will reveal.

5. Ngài đang gợi ý về việc tái tổ chức nhóm trong tương lai thành một nhóm gồm (cuối cùng là) hai mươi bốn đệ tử được chấp nhận, những người sẽ được giáo dục để điểm đạo. Không phải tất cả những người trong các nhóm chín người đều được mời vào Nhóm hạt giống mới đã tái tổ chức, và (ban đầu) họ thậm chí còn không biết đến sự tồn tại của nhóm ấy. Trong Nhóm hạt giống Mới này, việc huấn luyện cụ thể để điểm đạo nhóm đã được tiến hành, dù sự huấn luyện còn tương đối sơ khởi. Tài liệu trao cho nhóm ấy, liên quan đến điểm đạo và điểm đạo nhóm, mang tính chất cao cấp, như việc nghiên cứu Mười Bốn Quy Luật dành cho các Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ cùng nhiều bài học tập hợp trong DINA II sẽ cho thấy.

Above all, I would say: Seek to recover the fervour of your earlier, spiritual aspiration and self-discipline. If you have never lost it (though many disciples have) seek to force that energy of inspiration to work out in an effective display of [100] definite action upon the physical plane. How, you ask, my brothers? By increasing the radiance of your light in the world through love and meditation, so that others may turn to you as to a beacon light in the dark night of life which seems in this century to have descended upon humanity; seek to love more than you have ever believed was possible, so that others—frozen and chilled by life circumstance and the present horror of human existence—may turn to you for warmth and comforting. What I and all who are affiliated with the Hierarchy seek to do at this time of desperate crisis is to find those who are dependable points of living energy and through them pour out the love, the strength and the light which the world needs and must have if this storm is to be weathered. I ask you to render this service to me and to humanity. I ask nothing spectacular; it will, however, require a strenuous effort of your souls if you are to respond adequately; I ask nothing impossible; I would remind you that the apathy of the physical body and brain, the inertia of the feeling nature and the sense of futility of the mind when confronted with large issues will seem to hinder you.

Trên hết, Tôi muốn nói: Hãy tìm cách khôi phục lòng nhiệt thành trong khát vọng tinh thần và sự tự kỷ luật thuở ban đầu của các bạn. Nếu chưa bao giờ đánh mất điều ấy (dù nhiều đệ tử đã đánh mất), hãy tìm cách thúc đẩy năng lượng cảm hứng ấy biểu hiện hữu hiệu thành [100] hành động cụ thể trên cõi hồng trần. Các huynh đệ của Tôi, các bạn hỏi bằng cách nào? Bằng cách gia tăng ánh sáng rạng ngời của các bạn trong thế gian qua tình thương và tham thiền, để người khác có thể hướng về các bạn như hướng về một ngọn hải đăng trong đêm tối của cuộc đời, dường như đã phủ xuống nhân loại trong thế kỷ này; hãy tìm cách yêu thương nhiều hơn mức các bạn từng tin là có thể, để những người khác—đang tê cóng và lạnh buốt vì hoàn cảnh sống cùng nỗi kinh hoàng hiện tại của kiếp người—có thể tìm đến các bạn để được sưởi ấm và an ủi. Điều Tôi cùng tất cả những ai gắn bó với Thánh đoàn đang tìm cách làm trong thời kỳ khủng hoảng tuyệt vọng này là tìm ra những người có thể trở thành các điểm năng lượng sống động đáng tin cậy, để qua họ tuôn đổ tình thương, sức mạnh và ánh sáng mà thế giới cần và phải có nếu muốn vượt qua cơn bão này. Tôi yêu cầu các bạn thực hiện sự phụng sự ấy cho Tôi và cho nhân loại. Tôi không đòi hỏi điều gì ngoạn mục; tuy nhiên, linh hồn các bạn sẽ phải nỗ lực mãnh liệt nếu các bạn muốn đáp ứng đầy đủ; Tôi không đòi hỏi điều gì bất khả; Tôi muốn nhắc các bạn rằng sự uể oải của thể xác và bộ não, tính trì trệ của bản chất cảm xúc, cùng cảm giác bất lực của thể trí khi đối diện những vấn đề lớn sẽ có vẻ cản trở các bạn.

1. The paragraphs which follow are in the nature of an exhortation. DK wishes to see a return to former fervor and discipline, for many of His disciples have experienced a deintensification of the fires of aspiration. Aspiration is indispensable, whether for the disciple or the initiate.

1. Các đoạn tiếp theo mang tính chất khuyến giục. Chân sư DK mong thấy nhiệt tâm và kỷ luật trước đây được khôi phục, vì ngọn lửa khát vọng của nhiều đệ tử Ngài đã suy giảm cường độ. Khát vọng là điều không thể thiếu, dù đối với đệ tử hay điểm đạo đồ.

2. Some have not lost their fire, and if not, DK enjoins them to apply their continuing inspiration in definite acts upon the physical plane. Fire may be ‘upward tending’ but disciples must prove it to be ‘downwardly effective’.

2. Một số người chưa đánh mất ngọn lửa của mình, và nếu vậy, Chân sư DK yêu cầu họ vận dụng nguồn cảm hứng vẫn tiếp tục ấy vào những hành động cụ thể trên cõi hồng trần. Lửa có thể ‘có xu hướng vươn lên’, nhưng các đệ tử phải chứng tỏ rằng nó ‘có hiệu quả khi hướng xuống’.

3. Love and meditation are the means of increasing a disciple’s light in the world so that he may become a beacon to a humanity upon which darkness has descended.

3. Tình thương và tham thiền là phương tiện gia tăng ánh sáng của người đệ tử trong thế gian, để y có thể trở thành ngọn hải đăng cho nhân loại đang chìm trong bóng tối.

4. The Master turns almost ‘passionate’ is asking His disciples to show more love. He is calling for the assertion of the “will-to-love”. In fact, He is simply demanding that they love—more than they ever believed possible.

4. Chân sư trở nên gần như ‘tha thiết mãnh liệt’ khi yêu cầu các đệ tử của Ngài biểu lộ nhiều tình thương hơn. Ngài đang kêu gọi sự khẳng định “Ý Chí-Yêu Thương”. Thực ra, Ngài chỉ đơn giản đòi hỏi họ yêu thương—nhiều hơn mức họ từng tin là có thể.

5. Warmth and comforting are sorely needed by those in distress. They can only be produced by the radiation of solar fire—at a time when fire-by-friction had set the lower three worlds ablaze.

5. Những người đang đau khổ rất cần hơi ấm và sự an ủi. Chỉ sự toả chiếu của Lửa Thái dương mới có thể tạo ra những điều ấy—vào thời điểm Lửa ma sát đã khiến ba cõi thấp bùng cháy.

6. DK says something remarkable; He is asking His disciples to become “dependable points of living energy” through which the Masters may pour light, love and power to a needy world. He is asking them to become, in effect, channels for hierarchical energy and force. He is saying that humanity will not weather this great storm if such channels for hierarchical energy/force cannot be found. One sees here a tremendous call to responsible action—both objective and subjective.

6. Chân sư DK nói một điều đáng chú ý; Ngài yêu cầu các đệ tử của Ngài trở thành “những điểm năng lượng sống động đáng tin cậy”, qua đó các Chân sư có thể tuôn đổ ánh sáng, tình thương và quyền năng vào một thế giới đang cần được trợ giúp. Thực chất, Ngài yêu cầu họ trở thành những kênh dẫn năng lượng và mãnh lực của Thánh đoàn. Ngài đang nói rằng nhân loại sẽ không vượt qua được cơn bão lớn này nếu không thể tìm ra những kênh dẫn năng lượng/mãnh lực như thế của Thánh đoàn. Ở đây, chúng ta thấy một lời kêu gọi mạnh mẽ hướng đến hành động có trách nhiệm—cả khách quan lẫn chủ quan.

7. It is clear that that Master, having spoken of what mobilization requires, is seeking to mobilize His disciples during an hour of great and dire need.

7. Rõ ràng, sau khi nói về những yêu cầu của sự huy động, Chân sư đang tìm cách huy động các đệ tử của Ngài trong một thời điểm nhu cầu hết sức lớn lao và cấp bách.

8. The Master calls not just for personality effort but for the strenuous exertion of the soul. His disciples must act as souls. The three aspects of the personality, he warns, will seem to interfere. The apathy of the physical body and brain, the inertia of the feeling nature and the sense of futility generated by the lower mind will all stand opposed the attempt to mobilize all resources under the soul and on behalf of humanity. It is good to know one’s enemy, even if that enemy is oneself!

8. Chân sư không chỉ kêu gọi nỗ lực của phàm ngã mà còn kêu gọi sự gắng sức mạnh mẽ của linh hồn. Các đệ tử của Ngài phải hành động như những linh hồn. Ngài cảnh báo rằng ba phương diện của phàm ngã sẽ có vẻ cản trở. Sự thờ ơ của thể xác và bộ não, tính trì trệ của bản chất cảm xúc và cảm giác bất lực do hạ trí tạo ra, tất cả đều sẽ chống lại nỗ lực huy động mọi nguồn lực dưới sự dẫn dắt của linh hồn và vì nhân loại. Biết kẻ thù của mình là điều tốt, ngay cả khi kẻ thù ấy là chính mình!

9. Although the Master asks for nothing “spectacular” or “impossible”, what He does call for will be spiritually strenuous.

9. Mặc dù Chân sư không yêu cầu điều gì “ngoạn mục” hay “bất khả thi”, điều Ngài thực sự kêu gọi sẽ đòi hỏi sự gắng sức mạnh mẽ về tinh thần.

10. It is my impression that we should respond to these words as if they applied to us in our present world situation. There are analogies between present times and the 1930’s. We are building towards a subjective ‘war’ which is already being fought out within the subtle bodies. There is a kind of fanaticism sweeping through various populations in the world which must be contained, transmuted and transformed. This dangerous fanatical streak, affecting a number of nations and religions will be contained, transmuted and transformed if disciples will seize their opportunity and mobilize themselves just as Master DK has advised.

10. Tôi có cảm tưởng rằng chúng ta nên đáp ứng những lời này như thể chúng áp dụng cho chúng ta trong tình hình thế giới hiện nay. Có những điểm tương đồng giữa thời đại hiện nay và những năm 1930. Chúng ta đang tiến dần đến một ‘cuộc chiến’ chủ quan vốn đã diễn ra trong các thể vi tế. Một dạng cuồng tín đang lan tràn qua nhiều cộng đồng dân cư trên thế giới cần phải được kiềm chế, chuyển hoá và chuyển đổi. Khuynh hướng cuồng tín nguy hiểm này, đang ảnh hưởng đến một số quốc gia và tôn giáo, sẽ được kiềm chế, chuyển hoá và chuyển đổi nếu các đệ tử nắm bắt cơ hội và huy động toàn bộ sức mình đúng như Chân sư DK đã khuyên.

11. During the 1930’s most people in Western nations did not realize the full scope of the dire calamity which loomed ahead. The same may be the case presently, and the calamity could be far, far worse. Thus, this call for mobilization is not a thing of the past and of merely historical interest; it is call which we, disciples in the early twenty-first century, cannot fail to heed.

11. Trong những năm 1930, phần lớn người dân ở các quốc gia phương Tây chưa nhận ra toàn bộ quy mô của tai hoạ khủng khiếp đang chực chờ phía trước. Hiện nay có thể cũng như vậy, và tai hoạ có thể tồi tệ hơn rất, rất nhiều. Vì vậy, lời kêu gọi huy động toàn bộ sức mình này không phải là chuyện của quá khứ và chỉ đáng quan tâm về mặt lịch sử; đó là lời kêu gọi mà chúng ta, những đệ tử vào đầu thế kỷ hai mươi mốt, không thể không lưu tâm.

Again I point the Way to you and again I wait. Will you intensify your inner life and achieve the power which will enable you to live simultaneously as an efficient human being and a living, loving soul? It is the establishing of the continuity of this dual process which is your main need at this time; it will lead to fusion, personality coordination and a greatly increased efficiency. Many disciples are not young and the settled habit of thought and of the feeling life is not easy to disrupt. They must, however, be disrupted and you must feel no resentment. The rhythms of the personality are stabilised and constitute your line of least resistance. You must cut athwart these, thus forming the cross of life and existence will then take on added difficulty. The results will be new rhythms of beauty.

Một lần nữa, Tôi chỉ Đường Đạo cho các bạn, và một lần nữa, Tôi chờ đợi. Liệu các bạn có tăng cường đời sống nội tâm và đạt được quyền năng giúp mình đồng thời sống như một con người hữu hiệu và một linh hồn sống động, đầy tình thương không? Việc thiết lập tính liên tục của tiến trình kép này là nhu cầu chính của các bạn lúc này; nó sẽ dẫn đến sự dung hợp, sự phối hợp của phàm ngã và hiệu quả gia tăng rất nhiều. Nhiều đệ tử không còn trẻ, và những thói quen tư tưởng cùng đời sống cảm xúc đã định hình không dễ phá vỡ. Tuy nhiên, phải phá vỡ chúng, và các bạn không được cảm thấy oán giận. Những nhịp điệu của phàm ngã đã ổn định và tạo thành con đường ít trở ngại nhất của các bạn. Các bạn phải cắt ngang những nhịp điệu ấy, nhờ đó tạo thành thập giá của đời sống, và sự hiện tồn khi ấy sẽ có thêm khó khăn. Kết quả sẽ là những nhịp điệu mới đầy vẻ đẹp.

1. The Master cannot do for us. He can surround us with love and inspiration and provide us with illumination, but He cannot do for us what we must do for ourselves.

1. Chân sư không thể làm thay chúng ta. Ngài có thể bao bọc chúng ta bằng tình thương và cảm hứng, ban cho chúng ta sự soi sáng, nhưng Ngài không thể làm thay những điều chúng ta phải tự làm cho mình.

2. The Master has already done much for us (and for all His disciples). Now, He waits.

2. Chân sư đã làm rất nhiều cho chúng ta (và cho tất cả các đệ tử của Ngài). Giờ đây, Ngài chờ đợi.

3. The intensification of the inner life is the main requirement, and if rightly done will make the dual life of the soul possible. The “efficient human being” is the intelligent personality and it represents the third aspect of divinity. The “living loving soul” is the spirit-inspired soul, representing the second aspect as it is inspired by the first.

3. Tăng cường đời sống bên trong là yêu cầu chính, và nếu thực hiện đúng cách, điều này sẽ khiến đời sống kép của linh hồn trở nên khả thi. Một “con người hoạt động hiệu quả” là phàm ngã thông tuệ và đại diện cho phương diện thứ ba của thiên tính. Một “linh hồn sống động, đầy tình thương” là linh hồn được tinh thần truyền cảm hứng, đại diện cho phương diện thứ hai khi phương diện này nhận cảm hứng từ phương diện thứ nhất.

4. Disciples may be able to live the dual life successfully from time to time, but not with “continuity”. This they must do. If we are to be dependable, the continuity factor must be mastered.

4. Các đệ tử có thể thỉnh thoảng sống đời sống kép một cách thành công, nhưng chưa có tính “liên tục”. Họ phải làm được điều này. Nếu muốn trở thành những người đáng tin cậy, chúng ta phải làm chủ yếu tố liên tục.

5. Rightly done, both the radiation of love and personality coordination will increase. We shall see a desirable fusion of the two and the three.

5. Nếu thực hiện đúng cách, cả sự tỏa chiếu tình thương lẫn sự phối hợp của phàm ngã đều sẽ gia tăng. Chúng ta sẽ thấy sự dung hợp đáng mong muốn giữa hai và ba.

6. It becomes clear that DK is not pampering His chela’s sense of comfort. We know that the “love of comfort” is one of the physical heads of the ninefold Hydra.

6. Rõ ràng Chân sư DK không nuông chiều nhu cầu hưởng sự an nhàn của đệ tử của Ngài. Chúng ta biết rằng “sự yêu thích an nhàn” là một trong những cái đầu thuộc phương diện hồng trần của con quái vật Hydra cửu phân.

7. DK is really calling for the beneficent disruption of the personality life—and this without the customary resentment which can be expected from most people when their personality life is disturbed (let alone, disrupted!).

7. Chân sư DK thực sự đang kêu gọi sự phá vỡ mang lại lợi ích đối với đời sống phàm ngã—và điều này phải diễn ra mà không có sự oán giận thường thấy ở hầu hết mọi người khi đời sống phàm ngã của họ bị xáo trộn (huống chi là bị phá vỡ!).

8. The term “line of least resistance” is especially connected to the third aspect of divinity which (when associated with the personality) often seeks expediency rather than principle.

8. Thuật ngữ “con đường ít trở ngại nhất” đặc biệt liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính, vốn thường tìm kiếm sự tiện lợi hơn là nguyên tắc khi gắn với phàm ngã.

9. DK tells us how we may form the “cross of life”—by cutting athwart our personality rhythms with new rhythms of beauty. Pain will increase but the gain will be immense.

9. Chân sư DK cho chúng ta biết cách tạo nên “thập giá của sự sống”—bằng cách dùng những nhịp điệu mới của cái đẹp cắt ngang các nhịp điệu phàm ngã của chúng ta. Đau khổ sẽ gia tăng, nhưng thành quả sẽ vô cùng lớn lao.

10. How many will rise to such a challenge, and cut across the habits of a lifetime?

10. Có bao nhiêu người sẽ vươn lên đáp ứng một thử thách như thế và phá bỏ những thói quen của cả một đời?

To those who are standing in the blaze of pain (and their numbers are Legion), of agony, anxiety and distress—seeing it on every hand and attempting to stand steady in the midst of it all—I say: That which appears is not always that which truly is; that which rends and disrupts the personality life is frequently the agent of release, if rightly apprehended; that which will emerge when the Forces of Light have penetrated the world darkness will demonstrate the nature of the undying human [101] spirit. To all of you I say: My love surrounds you and the aura of the Ashram of which I am the centre stands like a great defending wall around you and around all who are battling for the right. See that you battle. You can then, if you will, sense this loving protection. Each day, if you will, you can put yourself en rapport with your Master. We are not blind or uncaring. We know, however, that there are worse evils than death and pain. We know that this is the hour of humanity’s greatest opportunity and that if men can pass triumphantly through this and (by the strength of their own souls) surmount this very present evil, then the evolution of humanity will be hastened beyond all that was believed possible. It will constitute a release, self-achieved and self-initiated. This means as much in the life of mankind as it means in the life of the individual disciple. That chance and that opportunity must not be taken from man; the gained spiritual and eternal values are of far greater importance than his temporary agony.

Với những người đang đứng trong ngọn lửa rực cháy của đau đớn (và họ đông vô kể), của thống khổ, lo âu và khốn quẫn—thấy những điều ấy ở khắp nơi và cố gắng đứng vững giữa tất cả—Tôi nói: Điều hiện ra không phải lúc nào cũng là điều thực sự hiện hữu; điều xé nát và phá vỡ đời sống phàm ngã thường là tác nhân giải thoát, nếu được nhận biết đúng đắn; điều sẽ xuất hiện khi các Mãnh Lực Ánh Sáng xuyên thấu bóng tối thế gian sẽ biểu hiện bản chất bất diệt của tinh thần nhân loại [101]. Với tất cả các bạn, Tôi nói: Tình thương của Tôi bao quanh các bạn, và hào quang của ashram mà Tôi là trung tâm dựng lên như một bức tường phòng vệ lớn quanh các bạn và quanh tất cả những ai đang chiến đấu cho lẽ phải. Hãy bảo đảm rằng các bạn chiến đấu. Khi ấy, nếu muốn, các bạn có thể cảm nhận sự che chở đầy tình thương này. Mỗi ngày, nếu muốn, các bạn có thể đặt mình trong sự giao cảm với Chân sư của mình. Chúng Tôi không mù quáng hay thờ ơ. Tuy nhiên, chúng Tôi biết rằng có những điều xấu xa còn tệ hơn cái chết và đau đớn. Chúng Tôi biết đây là thời khắc cơ hội lớn nhất của nhân loại, và nếu con người có thể chiến thắng để vượt qua thời khắc này và (bằng sức mạnh của chính linh hồn mình) vượt lên điều ác đang hiện hữu rõ rệt này, thì sự tiến hoá của nhân loại sẽ được đẩy nhanh vượt xa mọi điều từng được cho là có thể. Điều đó sẽ tạo thành một sự giải thoát do chính con người đạt được và tự khởi xướng. Trong đời sống nhân loại, điều này có ý nghĩa lớn lao như trong đời sống của từng đệ tử. Không được tước khỏi con người thời cơ và cơ hội ấy; những giá trị tinh thần và vĩnh cửu đạt được có tầm quan trọng lớn hơn rất nhiều so với nỗi thống khổ tạm thời của họ.

1. The Master is now writing to many who may not be His disciples. He seems to be speaking to all of distressed humanity, and especially to those who can stand.

1. Giờ đây, Chân sư đang viết cho nhiều người có thể không phải là đệ tử của Ngài. Dường như Ngài đang nói với toàn thể nhân loại đang khốn khổ, và đặc biệt với những ai có thể đứng vững.

2. DK is exhorting us to understand the difference between the distress, anxiety and agony which appear on the surface of life, and the deeper issues which are at stake as well as the wondrous possibilities which are emerging.

2. Chân sư DK đang khuyên chúng ta thấu hiểu sự khác biệt giữa nỗi khốn khó, lo âu và thống khổ hiện ra trên bề mặt đời sống với những vấn đề sâu xa hơn đang bị đặt vào tình thế nguy nan, cũng như những khả năng kỳ diệu đang xuất hiện.

3. Death, He says, may be release from limitation and will reveal the “nature of the undying human spirit”.

3. Ngài nói rằng cái chết có thể là sự giải thoát khỏi giới hạn và sẽ bộc lộ “bản chất của tinh thần bất diệt nơi con người”.

4. The Master assures His disciples of the love of the Ashram; that love protects them “like a great defending wall”.

4. Chân sư bảo đảm với các đệ tử của Ngài về tình thương của ashram; tình thương ấy bảo vệ họ “như một bức tường phòng vệ lớn”.

5. The Master calls for His disciples to “battle”.

5. Chân sư kêu gọi các đệ tử của Ngài “chiến đấu”.

6. He also says they may put themselves in rapport with their Master. Here He means not only Himself, but Master M, KH, and R—Who are the actual Masters of a number of those He has under training.

6. Ngài cũng nói rằng họ có thể tự hòa điệu với Chân sư của mình. Ở đây, Ngài không chỉ muốn nói đến chính Ngài mà còn đến Chân sư M, Chân sư KH và Chân sư R—Các Ngài là những Chân sư thực sự của một số người đang được Ngài huấn luyện.

7. The Master shares the perspective of Hierarchy. He calls the dire conditions of the moment “humanity’s greatest opportunity”, and promises the hastening of human evolution to a degree beyond all believed possible, if humanity surmounts the evil. Indeed, humanity did surmount the evil and may be in the process of greatly accelerated evolution.

7. Chân sư chia sẻ quan điểm của Thánh đoàn. Ngài gọi những hoàn cảnh khốc liệt hiện thời là “cơ hội lớn nhất của nhân loại”, và hứa rằng tiến hoá của con người sẽ được đẩy nhanh đến một mức độ vượt xa mọi điều từng được cho là khả thi, nếu nhân loại vượt qua được cái ác. Quả thực, nhân loại đã vượt qua cái ác và có thể đang ở trong một tiến trình tiến hoá được đẩy nhanh rất nhiều.

8. The Second World War thus presented opportunity for release from many imprisoning chains of the “old world”. Humanity’s victory in that war would be “self achieved and self-initiated”. Every disciple, microcosmically, must achieve victory by himself/herself, and that victory must be self-initiated. We can see WWII as a tremendous moment of responsibility for the human race.

8. Như vậy, Chiến tranh Thế giới thứ Hai đã mang lại cơ hội giải thoát khỏi nhiều xiềng xích giam hãm của “thế giới cũ”. Chiến thắng của nhân loại trong cuộc chiến ấy sẽ là chiến thắng “do chính mình đạt được và tự khởi xướng”. Ở quy mô tiểu thiên địa, mỗi đệ tử phải tự mình giành chiến thắng, và chiến thắng ấy phải do chính mình khởi xướng. Chúng ta có thể xem Chiến tranh Thế giới thứ Hai là một thời điểm nhân loại gánh vác trách nhiệm vô cùng lớn lao.

9. Then, the perspective of Hierarchy (so different from the human perspective) emerges in the following words: “That chance and that opportunity must not be taken from man; the gained spiritual and eternal values are of far greater importance than his temporary agony”.

9. Rồi quan điểm của Thánh đoàn (khác xa quan điểm của con người) hiện rõ trong những lời sau: “Không được tước đi vận hội và cơ hội ấy của con người; những giá trị tinh thần và vĩnh cửu đạt được có tầm quan trọng lớn hơn rất nhiều so với nỗi thống khổ tạm thời của họ”.

10. The war lasted, let us say, five or six years. From a greater perspective, the war began in 1914 and lasted until 1945. To Hierarchy the suffering of humanity during that period was a “temporary agony” leading to “gained spiritual and eternal values”—the values of soul and spirit.

10. Cuộc chiến kéo dài năm hoặc sáu năm. Từ một góc nhìn rộng hơn, cuộc chiến bắt đầu vào năm 1914 và kéo dài đến năm 1945. Đối với Thánh đoàn, sự đau khổ của nhân loại trong thời kỳ ấy là một “nỗi thống khổ tạm thời” dẫn đến “những giá trị tinh thần và vĩnh cửu đạt được”—những giá trị của linh hồn và tinh thần.

11. Saturn, in one way ‘Lord of Pain’ is also the ‘One Who presents opportunity’. Opportunity is not the pleasant thing which most people imagine. For a disciple, opportunity may be, indeed, a ‘dire and drastic presentation’ calling for the mobilization of all his/her latent personal, individual and spiritual resources. Thus the unmistakable opportunity for great growth.

11. Theo một phương diện, Sao Thổ là ‘Chúa Tể của Đau Khổ’, đồng thời cũng là ‘Đấng mang đến cơ hội’. Cơ hội không phải là điều dễ chịu như phần đông mọi người tưởng tượng. Quả thực, đối với một đệ tử, cơ hội có thể là ‘một tình thế khốc liệt và quyết liệt được đặt ra’, đòi hỏi huy động mọi nguồn lực cá nhân, cá thể và tinh thần còn tiềm ẩn của mình. Do đó, đây rõ ràng là cơ hội để tăng trưởng lớn lao.

12. How do we look at opportunity? Is it, for us, purely a Jupiterian matter, or have we understood how Saturn and Pluto in Their first ray aspects can present immense opportunities?

12. Chúng ta nhìn nhận cơ hội như thế nào? Đối với chúng ta, đó có hoàn toàn là vấn đề thuộc Sao Mộc, hay chúng ta đã thấu hiểu cách Sao Thổ và Sao Diêm Vương, trong các phương diện cung một của Các Ngài, có thể mang đến những cơ hội vô cùng lớn lao?

Little as you may realise it as you think of Us in Our so-called safe retreats, the capacity of identification with all that is involved in world pain today and the sensitivity of Those connected with the Hierarchy to the unhappy condition of humanity makes Their task of standing-by one of supreme spiritual agony. They understand the depths of the reaction of humanity; they comprehend and understand, for They are one with all men. This involves a far greater comprehension than you can grasp and one which can only be adequately expressed in the word “identification. ” They need the staunch support of all Their disciples, the steadfast love, the loyal attitude, the unquestioning response to human need which will enable Them to carry more easily the heavy burden which human karma has laid upon Them and which They carry voluntarily.

Dù các bạn có thể ít nhận ra điều này khi nghĩ đến Chúng Tôi trong những nơi ẩn cư được cho là an toàn, khả năng đồng hoá với tất cả những gì bao hàm trong nỗi đau của thế giới ngày nay, cùng sự nhạy cảm của những Đấng gắn bó với Thánh đoàn trước tình trạng bất hạnh của nhân loại, khiến nhiệm vụ đứng bên hỗ trợ của Các Ngài trở thành một nỗi thống khổ tinh thần tột cùng. Các Ngài thấu hiểu tận đáy những phản ứng của nhân loại; Các Ngài lĩnh hội và thấu hiểu, vì Các Ngài là một với mọi người. Điều này bao hàm một sự lĩnh hội vượt xa khả năng nắm bắt của các bạn, và chỉ có thể diễn đạt thỏa đáng bằng từ “đồng hoá”. Các Ngài cần sự hỗ trợ kiên cường của mọi đệ tử của Các Ngài, tình thương kiên định, thái độ trung thành, sự đáp ứng không chút do dự trước nhu cầu của nhân loại, để Các Ngài dễ dàng hơn trong việc mang gánh nặng mà nghiệp quả nhân loại đã đặt lên vai Các Ngài và mà Các Ngài tự nguyện gánh vác.

1. DK speaks of the agony and suffering of the Masters—apparently “safe” in Their retreats, but identified with humanity to such an extent that Their “standing by” is an act of “supreme spiritual agony”. Let us ponder on this.

1. Chân sư DK nói về nỗi thống khổ và đau đớn của các Chân sư—bề ngoài có vẻ “an toàn” trong những nơi ẩn cư của Các Ngài, nhưng lại đồng hoá với nhân loại sâu sắc đến mức việc “túc trực bên cạnh” của Các Ngài là một hành động mang “nỗi thống khổ tinh thần tột cùng”. Chúng ta hãy suy ngẫm về điều này.

2. The Masters are not removed and remote, but are deeply identified with humanity; in fact, They are “one with all men”. Let us ponder on this.

2. Các Chân sư không tách biệt và xa cách, mà đồng hoá sâu sắc với nhân loại; thực ra, Các Ngài “hợp nhất với mọi người”. Chúng ta hãy suy ngẫm về điều này.

3. Again the Masters’ perspective is brought forward. The Masters need the staunch support of all Their disciples, the steadfast love, the loyal attitude, the unquestioning response to human need—so great is the burden which human karma has laid upon Them (though They carry this karma voluntarily). DK’s occasional revelation of the Master’s situation and His need of His disciples’ help must surely have been evocative of that help. What does it evoke in us?

3. Một lần nữa, quan điểm của các Chân sư được nêu ra. Các Chân sư cần sự hỗ trợ kiên định của tất cả các đệ tử, tình thương bền vững, thái độ trung thành và sự đáp ứng không chút do dự trước nhu cầu của con người—vì gánh nặng mà nghiệp quả nhân loại đặt lên Các Ngài quá lớn lao (dù Các Ngài tự nguyện gánh lấy nghiệp quả này). Việc Chân sư DK thỉnh thoảng mặc khải hoàn cảnh của Chân sư và nhu cầu của Ngài về sự trợ giúp từ các đệ tử hẳn đã khơi dậy sự trợ giúp ấy. Điều đó khơi dậy điều gì trong chúng ta?

4. So often we assume an attitude of ‘spiritual dependency’ upon the Master; we want to be carried, loved, supported, strengthened, inspired. We do not think of the burdens upon Them; DK has reminded us, has He not, of the tremendous burdens which the Christ will assume as He reappears. The word “horror” has been used in this connection, describing how the Christ must view the enormity of His impending task.

4. Chúng ta rất thường có thái độ ‘nương tựa về mặt tinh thần’ vào Chân sư; chúng ta muốn được nâng đỡ, yêu thương, hỗ trợ, củng cố sức mạnh và truyền cảm hứng. Chúng ta không nghĩ đến những gánh nặng trên vai Các Ngài; chẳng phải Chân sư DK đã nhắc chúng ta về những gánh nặng vô cùng lớn lao mà Đức Christ sẽ đảm nhận khi Ngài tái lâm hay sao. Từ “kinh hoàng” đã được dùng trong mối liên hệ này để mô tả cách Đức Christ hẳn phải nhìn nhận tầm vóc khủng khiếp của nhiệm vụ sắp tới của Ngài.

“Because of the smallness of our little planet, and because of the prevalence of the radio, of television and the rapidity of communication, His part will be watched by all and the prospect must surely, for Him, hold certain horror, must present its tests and major adjustments, plus painful and unavoidable experience. He does not come as the omnipotent God of man’s ignorant creation, but as the Christ, the Founder of the Kingdom of God on Earth, to complete the work He started, and again to demonstrate divinity in far more difficult circumstances” (ROC 55).

“Vì hành tinh nhỏ bé của chúng ta có kích thước hạn chế, và vì sự phổ biến của phát thanh, truyền hình cùng tốc độ truyền thông nhanh chóng, mọi người sẽ theo dõi vai trò của Ngài; và viễn cảnh ấy hẳn phải chứa đựng một nỗi kinh hoàng nhất định đối với Ngài, hẳn phải đặt ra những thử thách và điều chỉnh lớn lao, cùng những trải nghiệm đau đớn không thể tránh khỏi. Ngài không đến với tư cách Thượng đế toàn năng do sự vô minh của con người tạo ra, mà với tư cách Đức Christ, Đấng Sáng Lập Thiên Giới trên Trái Đất, để hoàn tất công việc Ngài đã khởi đầu và một lần nữa biểu lộ thiên tính trong những hoàn cảnh khó khăn hơn rất nhiều” (ROC 55).

5. To what degree do we care? To what degree are we ready to lighten the burden of our superiors? Much will depend upon our answer.

5. Chúng ta quan tâm đến mức nào? Chúng ta sẵn sàng làm nhẹ gánh nặng của những vị cao hơn mình đến mức nào? Nhiều điều sẽ tùy thuộc vào câu trả lời của chúng ta.

Will you give this? Will you aid Our work in every possible way, both as personalities, dedicated to service, and as souls who walk the lighted Way? The need of humanity for love and light, the need of the Hierarchy for channels and for those who will work under direction upon the earth can call forth all that you have to give and can evoke your soul (the only true reward that the disciple seeks) in power and love. This will happen to you, if you will forget the little self. [102]

Các bạn có dành cho Các Ngài những điều ấy không? Các bạn có trợ giúp công việc của Chúng Tôi bằng mọi cách có thể, vừa như những phàm ngã tận hiến cho việc phụng sự, vừa như những linh hồn bước trên Con Đường được Soi Sáng không? Nhu cầu của nhân loại về tình thương và ánh sáng, nhu cầu của Thánh đoàn về các kênh dẫn và những người sẽ làm việc dưới sự chỉ đạo trên Trái Đất, có thể khơi dậy tất cả những gì các bạn có thể trao ban và có thể khơi dậy linh hồn các bạn (phần thưởng đích thực duy nhất mà đệ tử tìm kiếm) trong quyền năng và tình thương. Điều này sẽ xảy đến với các bạn nếu các bạn quên đi cái tôi nhỏ bé.

1. This is an irresistible invocation for our aid. We are empowered by the Master’s request. We are needed.

1. Đây là một lời khẩn cầu sự trợ giúp của chúng ta mà chúng ta không thể cưỡng lại. Lời thỉnh cầu của Chân sư tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta. Chúng ta là những người cần thiết.

2. He is asking us to give all we have, both as souls and personalities.

2. Ngài đang yêu cầu chúng ta trao tặng tất cả những gì mình có, cả với tư cách linh hồn lẫn phàm ngã.

3. Humanity’s need for light and love is immense. It is this need which must evoke from us all we have to give.

3. Nhu cầu của nhân loại về ánh sáng và tình thương vô cùng lớn lao. Chính nhu cầu này phải khơi dậy nơi chúng ta tất cả những gì chúng ta có thể trao tặng.

4. Hierarchy’s need for support is immense, and we can become channels for Their great saving force. If we respond rightly to that need and can follow hierarchical direction, our soul will be invoked. This evocation of the soul in power and love is all the true disciple seeks. They seek no other ‘reward’.

4. Nhu cầu của Thánh đoàn về sự hỗ trợ vô cùng lớn lao, và chúng ta có thể trở thành những kênh dẫn cho mãnh lực cứu rỗi vĩ đại của Các Ngài. Nếu chúng ta đáp ứng đúng đắn nhu cầu ấy và có thể tuân theo sự chỉ dẫn của Thánh đoàn, linh hồn chúng ta sẽ được khẩn cầu. Sự gợi lên linh hồn trong quyền năng và tình thương này là tất cả những gì người đệ tử chân chính tìm kiếm. Họ không tìm kiếm bất kỳ ‘phần thưởng’ nào khác.

5. The soul will shine through us if we can respond with all we are to the presented need. We do this by forgetting the “little self”. This forgetfulness is not a strained looking way from that which is our customary focus, but an absorption in service so intense that the “little self” with all its limitations is naturally forgotten.

5. Linh hồn sẽ tỏa sáng qua chúng ta nếu chúng ta có thể đáp ứng bằng toàn bộ con người mình trước nhu cầu đang đặt ra. Chúng ta làm điều này bằng cách quên đi “cái ngã nhỏ bé”. Sự quên mình này không phải là cố gắng căng thẳng để quay mắt khỏi những gì chúng ta thường tập trung vào, mà là sự chuyên tâm phụng sự mãnh liệt đến mức “cái ngã nhỏ bé” cùng mọi giới hạn của nó tự nhiên được quên đi.

6. The Master could not be more sincere or more imploring. What hardness of heart could prevent us from responding to His call? That call is still resounding today.

6. Chân sư không thể chân thành hay tha thiết hơn nữa. Sự chai cứng nào của trái tim có thể ngăn chúng ta đáp ứng lời kêu gọi của Ngài? Lời kêu gọi ấy vẫn còn vang vọng đến hôm nay.

That your knowledge may be transmuted into wisdom and the eye of vision control your living processes and all your undertakings is the desire (deep within my heart) for each and all of you.

[102] Mong tri thức của các bạn được chuyển hoá thành minh triết, và con mắt của tầm nhìn dẫn dắt những tiến trình sống cùng mọi việc các bạn thực hiện, là ước nguyện (từ sâu trong tim Tôi) dành cho từng người và tất cả các bạn.

Your Master, Friend and Teacher,

Chân sư, Người bạn và Huấn sư của các bạn,

THE TIBETAN

CHÂN SƯ TÂY TẠNG

1. A beautiful benediction closes this instruction and this series of instructions.

1. Một lời ban phúc đẹp đẽ khép lại huấn thị này và cả loạt huấn thị này.

2. The major goals of the training DK is offering are contained in this little prayer. He seeks to see our knowledge transmuted into wisdom and the “eye of vision” (the single eye of the soul) controlling all our “living processes”. We will then be completely under soul-direction.

2. Những mục tiêu chính của sự huấn luyện mà Chân sư DK đang mang đến đều nằm trong lời cầu nguyện ngắn này. Ngài mong thấy tri thức của chúng ta được chuyển hoá thành minh triết và “con mắt linh thị” (con mắt duy nhất của linh hồn) điều khiển mọi “tiến trình sống” của chúng ta. Khi ấy, chúng ta sẽ hoàn toàn ở dưới sự chỉ dẫn của linh hồn.

3. The prayerful desire is deep within the Master’s heart, and it applies to each and all of His disciples including those of us who study with Him and seek to do His bidding today.

3. Nguyện vọng tha thiết ấy nằm sâu trong tâm Chân sư và dành cho từng người cùng tất cả các đệ tử của Ngài, kể cả những người trong chúng ta ngày nay đang học với Ngài và tìm cách thực hiện ý Ngài.

4. Can there be a greater expression of the Master’s love—a love which remains loyal to us as individuals and as groups even through all our fluctuations and moments of ignorant ingratitude? Let us ponder on this.

4. Có thể có biểu hiện nào lớn lao hơn của tình thương nơi Chân sư—một tình thương vẫn trung thành với chúng ta, cả với tư cách cá nhân lẫn nhóm, ngay cả qua mọi dao động và những lúc vô ơn do vô minh của chúng ta? Chúng ta hãy suy ngẫm về điều này.

Dear Brothers and Sisters,

Các huynh đệ và tỷ muội thân mến,

I am sure you can sense the profundity of what has been offered in this last of Master DK’s instructions in this particular series of instructions. Let us read carefully and ponder deeply. There is much here presented which could transform us from well-meaning probationary disciples into truly accepting and accepted disciples working for the Ashram on behalf of humanity.

Tôi tin chắc các bạn có thể cảm nhận được chiều sâu của những điều được trao truyền trong huấn thị cuối cùng này của Chân sư DK, thuộc loạt huấn thị cụ thể này. Chúng ta hãy đọc kỹ và suy ngẫm sâu sắc. Nhiều điều được trình bày ở đây có thể chuyển đổi chúng ta từ những đệ tử dự bị đầy thiện chí thành những đệ tử thực sự biết chấp nhận và được chấp nhận, làm việc cho ashram vì nhân loại.

Love and Many Blessings,

Thân ái và cầu chúc nhiều phúc lành,

Michael

Michael

Back to the DINA table of contents

Trở lại mục lục DINA

Back to the home page

Trở lại trang chủ

Leave a Comment

Scroll to Top