DINA I · Bình giảng 9
commentary by Michael D. Robbins | bình giảng của Michael D. Robbins |
The Hierarchy is deeply concerned over world happenings. When the war is over, our work must go forward at any and every cost and in the face of every imaginable obstacle. The New Group of World Servers must preserve its integrity and work steadily and undismayed. The steadiness of those who know God’s plan will help humanity and aid the efforts of the Hierarchy. These do not hate and they work for unity — both subjective and eventually objective. | Thánh đoàn hết sức quan tâm đến những diễn biến trên thế giới. Khi chiến tranh kết thúc, công việc của chúng tôi phải tiến lên bằng mọi giá và trước mọi trở ngại có thể hình dung. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải giữ gìn tính toàn vẹn của mình và làm việc vững vàng, không nao núng. Sự vững vàng của những người biết Thiên Cơ của Thượng đế sẽ giúp ích cho nhân loại và hỗ trợ những nỗ lực của Thánh đoàn. Những người này không hận thù, và họ làm việc vì sự hợp nhất—cả về mặt chủ quan lẫn, cuối cùng, về mặt khách quan. |
It is wise for human beings to realise that mankind is free. Even the Hierarchy Itself does not know which forces — those of good or those of evil — will ultimately prevail because even if the forces of good triumph where the war is concerned, will they triumph where the peace is concerned? Good must ultimately triumph but the Hierarchy does not know what the immediate future holds for humanity because men determine their own destiny. The Law of Cause and Effect cannot be offset. In those cases where it has been offset, it has required the intervention of Forces, greater than those available at this time upon our planet. These greater Forces can intervene if the world aspirants and disciples make their voices adequately penetrating. . . . | Con người nên sáng suốt nhận ra rằng nhân loại có tự do. Ngay cả chính Thánh đoàn cũng không biết những mãnh lực nào—thiện hay ác—cuối cùng sẽ thắng thế, bởi dù các mãnh lực thiện chiến thắng trong chiến tranh, liệu chúng có chiến thắng trong hòa bình không? Điều thiện cuối cùng phải chiến thắng, nhưng Thánh đoàn không biết tương lai gần sẽ mang lại điều gì cho nhân loại, vì con người tự quyết định vận mệnh của mình. Không thể hóa giải Định luật Nhân Quả. Trong những trường hợp định luật này từng được hóa giải, cần có sự can thiệp của những Mãnh Lực lớn hơn các mãnh lực hiện có trên hành tinh chúng ta. Những Mãnh Lực lớn lao hơn này có thể can thiệp nếu những người chí nguyện và đệ tử trên thế giới làm cho tiếng nói của mình có đủ sức thấu đạt…. |
1. When it comes to the survival of humanity, Hierarchy is never neutral. During WWII, They chose sides for the “Allies” and against the “Axis” powers. | 1. Khi liên quan đến sự sống còn của nhân loại, Thánh đoàn không bao giờ trung lập. Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, Các Ngài đã chọn đứng về phía “Đồng Minh” và chống lại các cường quốc “phe Trục”. |
2. This letter could have been written no later than 1939 for the groups-of-nine were disbanded by November, 1939 and the New Seed Group was formed. The first instructions for the New Seed Group were send out in January 1940. | 2. Bức thư này hẳn được viết không muộn hơn năm 1939, vì đến tháng Mười Một năm 1939, các nhóm chín người đã giải tán và Nhóm hạt giống Mới đã hình thành. Những huấn thị đầu tiên dành cho Nhóm hạt giống Mới được gửi đi vào tháng Một năm 1940. |
3. Master DK is looking ahead to the end of the war, foreseeing that the Forces of Light would be triumphant. Or perhaps, He did not know whether this would be the case, but sought to inspire His chelas against fear. In late 1942 Hierarchy was not so optimistic, thinking it might be necessary for Them to withdraw, for it looked like humanity would go down to defeat. This is a chilling thought. | 3. Chân sư DK đang nhìn về lúc chiến tranh kết thúc, thấy trước rằng các Mãnh Lực Ánh Sáng sẽ chiến thắng. Hoặc có lẽ Ngài không biết liệu điều này có xảy ra hay không, nhưng tìm cách khích lệ các đệ tử của Ngài vượt qua sợ hãi. Vào cuối năm 1942, Thánh đoàn không lạc quan đến thế, cho rằng Các Ngài có thể phải rút lui, vì dường như nhân loại sẽ thất bại. Đây là một ý nghĩ khiến người ta lạnh gáy. |
4. Here the Master stresses the importance of the NGWS and their role after the war. In the future they are to work with integrity and undismayed by the many and constant obstacles with which they will be beset. The Master’s words are intended to strengthen. | 4. Ở đây, Chân sư nhấn mạnh tầm quan trọng của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và vai trò của họ sau chiến tranh. Trong tương lai, họ phải làm việc với tính toàn vẹn và không nao núng trước vô số trở ngại liên tục bủa vây. Những lời của Chân sư nhằm củng cố sức mạnh. |
5. Concerning the manner in which the NGWS works — they “do not hate”. This is of vital importance. They are workers for unity (subjective and objective) and do not utilize the methods of those who oppose human progress. | 5. Về cách thức Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian làm việc — họ “không thù ghét”. Điều này có tầm quan trọng sống còn. Họ là những người hoạt động cho sự hợp nhất (chủ quan và khách quan) và không sử dụng các phương pháp của những kẻ chống lại sự tiến bộ của nhân loại. |
6. Responsibility is placed squarely on our shoulders. We are told what many devotees of Hierarchy would like not to hear: that we are free, and that even Hierarchy does not know the true outcome of the war. It looks to Them as if humanity will triumph in the war, but will humanity be triumphant in the peace? As we review the happenings of the almost sixty years since the conclusion of the war, we might well ask the same question: “has humanity triumphed where peace is concerned?” | 6. Trách nhiệm được đặt trực tiếp lên vai chúng ta. Chúng ta được cho biết điều mà nhiều người sùng kính Thánh đoàn muốn không phải nghe: rằng chúng ta có tự do, và ngay cả Thánh đoàn cũng không biết kết quả thực sự của cuộc chiến. Theo Các Ngài, dường như nhân loại sẽ chiến thắng trong chiến tranh, nhưng liệu nhân loại có chiến thắng trong hoà bình không? Khi nhìn lại những diễn biến trong gần sáu mươi năm kể từ khi chiến tranh kết thúc, chúng ta hoàn toàn có thể đặt cùng câu hỏi: “nhân loại đã chiến thắng trong hoà bình hay chưa?” |
7. About the ultimate triumph of good there is no question, but the short-term results were, at that time, undecided. Perhaps, they still are (2004). | 7. Về chiến thắng cuối cùng của điều thiện thì không có gì phải nghi ngờ, nhưng vào thời điểm ấy, những kết quả trước mắt vẫn chưa ngã ngũ. Có lẽ chúng vẫn như vậy (2004). |
8. First He tells us that the “Law of Cause and Effect” cannot be offset. Humanity has set certain causes it motion and their effects will work out. But then the possibility of what can only be called “divine intervention” is raised. For the preservation of humanity and the planet the otherwise inexorable Law of Karma can be offset or at least temporarily delayed. This sometimes happens in relation to individuals as well. Here DK is speaking of humanity’s collective karma. | 8. Trước hết, Ngài bảo chúng ta rằng “Định luật Nhân Quả” không thể được hoá giải. Nhân loại đã khởi động những nguyên nhân nhất định và các hệ quả của chúng sẽ diễn ra. Nhưng rồi khả năng về điều chỉ có thể gọi là “sự can thiệp thiêng liêng” được nêu lên. Để bảo toàn nhân loại và hành tinh, Định luật Nghiệp Quả, vốn trong hoàn cảnh khác không thể lay chuyển, có thể được hoá giải hoặc ít nhất tạm thời trì hoãn. Điều này đôi khi cũng xảy ra đối với các cá nhân. Ở đây, Chân sư DK đang nói về nghiệp quả tập thể của nhân loại. |
9. Master DK hints at the possibility of intervention (and indeed such intervention by the Lords of Liberation did occur during the Second World War), but when speaking of the possibility, He tells us that such Forces are not presently available (at least at the time of the writing). | 9. Chân sư DK gợi ý về khả năng can thiệp (và quả thực, sự can thiệp như vậy của các Đấng Giải Thoát đã xảy ra trong Chiến tranh Thế giới thứ hai), nhưng khi nói đến khả năng ấy, Ngài cho chúng ta biết rằng những Mãnh Lực như vậy hiện chưa sẵn có (ít nhất là vào thời điểm viết những lời này). |
10. The door to hope is, however, left open as still more responsibility is laid upon the shoulders of His disciples (and, in fact, of all disciples). The world aspirants and disciples must make their voices “adequately penetrating”. This cannot refer only to the spoken word but the ‘voice of thought’. | 10. Tuy nhiên, cánh cửa hy vọng vẫn mở khi trách nhiệm lớn hơn nữa được đặt lên vai các đệ tử của Ngài (và thực ra là tất cả các đệ tử). Những người chí nguyện và đệ tử trên thế giới phải khiến tiếng nói của mình “có sức thấu đạt đủ mạnh”. Điều này không thể chỉ nói đến lời nói thành tiếng mà còn là ‘tiếng nói của tư tưởng’. |
11. We see here, that He said more but it has been deleted by the editor. | 11. Ở đây, chúng ta thấy rằng Ngài đã nói thêm, nhưng người biên tập đã lược bỏ phần ấy. |
In this time of stress and strain, my brothers, I would remind you that there is no need for the sense of futility or for the registration of littleness. The new groups of disciples are Seed Groups; they are in the dark or growing stage and in the process of expansion — growing silently. This stage is most important for, according to the healthiness of the seed and its ability to cast strong roots downwards and to penetrate slowly and steadily upwards towards the light, so will be the adequacy of the contribution to the New Age which is upon us. I would emphasise that fact to you. The New Age is upon us and we are witnessing the birth pangs of the new culture and the new civilisation. That which is old and undesirable must go and of these undesirable things, hatred and the spirit of separateness must be the first to disappear. | Các huynh đệ của tôi, trong thời kỳ căng thẳng và áp lực này, Tôi muốn nhắc các bạn rằng không cần phải cảm thấy mọi việc đều vô ích hay ghi nhận sự nhỏ bé của mình. Những nhóm đệ tử mới là các Nhóm hạt giống; họ đang ở giai đoạn tối tăm hay sinh trưởng và trong tiến trình mở rộng—âm thầm lớn lên. Giai đoạn này vô cùng quan trọng, vì mức độ đóng góp thích đáng cho Kỷ Nguyên Mới đang đến với chúng ta sẽ tùy thuộc vào sức khỏe của hạt giống, khả năng đâm những rễ khỏe xuống sâu và xuyên lên phía ánh sáng một cách chậm rãi, vững vàng. Tôi muốn nhấn mạnh điều đó với các bạn. Kỷ Nguyên Mới đang đến với chúng ta, và chúng ta đang chứng kiến những cơn đau chuyển dạ của nền văn hóa mới và nền văn minh mới. Những gì cũ kỹ và không đáng mong muốn phải ra đi, và trong những điều không đáng mong muốn ấy, lòng thù hận và tinh thần chia rẽ phải biến mất trước tiên. |
1. It is the task of the Master to inspire and strengthen. The times were unusually stressful, especially for those disciples living in Europe | 1. Nhiệm vụ của Chân sư là truyền cảm hứng và củng cố sức mạnh. Thời cuộc căng thẳng khác thường, nhất là đối với những đệ tử sống ở châu Âu |
2. A normal human reaction to the descending and seemingly overpowering threat would be the sense of futility and the registration of littleness. DK lifts the sights, saying there is no need for such negative reactions. Disciples under the influence of such states of mind would truly limit their capacity to serve. | 2. Phản ứng thông thường của con người trước mối đe dọa đang ập xuống và dường như không thể chống đỡ là cảm giác bất lực và nhận thấy mình nhỏ bé. Chân sư DK nâng tầm nhìn, nói rằng không cần có những phản ứng tiêu cực như thế. Những đệ tử chịu ảnh hưởng của các trạng thái trí tuệ ấy thực sự sẽ hạn chế khả năng phụng sự của mình. |
3. DK points to the accomplishments of the Seed Groups, even though they are passing through a stage of slow growth in the darkness. He seeks for His disciples to register their achievement. | 3. Chân sư DK chỉ ra những thành tựu của các Nhóm hạt giống, dù họ đang trải qua giai đoạn tăng trưởng chậm chạp trong bóng tối. Ngài mong các đệ tử của Ngài ghi nhận thành tựu của mình. |
4. All of us who are engaged in the starting of occult groups should reflect upon the Master’s patient approach when He considers the health and welfare of the Seed Groups He originated. | 4. Tất cả chúng ta, những người đang tham gia khởi lập các nhóm huyền môn, nên suy ngẫm về cách tiếp cận kiên nhẫn của Chân sư khi Ngài xem xét sức khỏe và sự an lành của các Nhóm hạt giống do Ngài khởi xướng. |
5. The second ray moves slowly and wisely and Master DK is here emphasizing the importance of that type of approach. | 5. Cung hai tiến bước chậm rãi và minh triết, và ở đây Chân sư DK đang nhấn mạnh tầm quan trọng của cách tiếp cận ấy. |
6. The Master is interpreting the horrific happenings of the times in the light of human progress. It is important that His disciples do not descend into the common consciousness. If they see and understand the meaning of the dire stress through which humanity is passing, they can act as strong hands in the dark. We see then, that the Master attempts to fortify the consciousness of His disciples with perspective and meaning. | 6. Chân sư đang diễn giải những biến cố kinh hoàng của thời cuộc dưới ánh sáng của sự tiến bộ nhân loại. Điều quan trọng là các đệ tử của Ngài không hạ mình xuống tâm thức thông thường. Nếu họ thấy và thấu hiểu ý nghĩa của tình trạng căng thẳng khủng khiếp mà nhân loại đang trải qua, họ có thể trở thành những bàn tay vững chãi trong bóng tối. Như vậy, chúng ta thấy Chân sư cố gắng củng cố tâm thức các đệ tử của Ngài bằng tầm nhìn bao quát và ý nghĩa. |
The main objective of our joint work is still group integration and the setting up of that inter-communication between [75] the group members which will result in the needed interplay and telepathic communication; this will finally establish that golden network of light which will serve to create a powerful focal point; this focal point will be the agent for the revitalisation spiritually of the etheric body of humanity — as a whole. This is an essential and important statement. This focal point will, in its turn, aid in the revitalising of the etheric body of the planet with new power and with fresh impulse. | Mục tiêu chính trong công việc chung của chúng ta vẫn là sự tích hợp nhóm và thiết lập sự liên lạc qua lại giữa [75] các thành viên trong nhóm, từ đó tạo nên sự tương tác và giao tiếp viễn cảm cần thiết; cuối cùng, điều này sẽ thiết lập mạng lưới ánh sáng vàng kim nhằm tạo ra một tiêu điểm mạnh mẽ; tiêu điểm này sẽ là tác nhân tái tiếp sinh lực về mặt tinh thần cho thể dĩ thái của toàn thể nhân loại. Đây là một phát biểu thiết yếu và quan trọng. Đến lượt mình, tiêu điểm này sẽ giúp tái tiếp sinh lực cho thể dĩ thái của hành tinh bằng quyền năng mới và xung lực mới. |
1. After interpreting the world situation in a hierarchical light, DK returns to the work at hand. Group integration has not yet been sufficiently achieved, and the inter-communication between group members leaves something to be desired. | 1. Sau khi diễn giải tình hình thế giới dưới ánh sáng của Thánh đoàn, Chân sư DK trở lại công việc trước mắt. Sự tích hợp nhóm vẫn chưa đạt mức đầy đủ, và sự giao tiếp qua lại giữa các thành viên nhóm vẫn còn những điều cần cải thiện. |
2. The Master suggests that if right integration and inter-communication can be established, this desirable state will contribute to establishing “that golden network of light” which as a powerful focal point can be used by the higher agencies for the revitalization spiritually of the etheric body of humanity as a whole. | 2. Chân sư gợi ý rằng nếu có thể thiết lập sự tích hợp và giao tiếp qua lại đúng đắn, trạng thái đáng mong muốn này sẽ góp phần thiết lập “mạng lưới ánh sáng vàng kim ấy”, mà các tác nhân cao cả có thể sử dụng như một tiêu điểm mạnh mẽ để tái tiếp sinh lực về mặt tinh thần cho thể dĩ thái của toàn thể nhân loại. |
3. Thus, the wider issues at stake are brought to the attention of the disciples. | 3. Như vậy, các đệ tử được lưu ý đến những vấn đề rộng lớn hơn đang được đặt ra. |
4. Is DK speaking here only to His group of Telepathic Workers? It would seem that His intention is broader and that all members of all the groups-of-nine are to telepathically en rapport to some degree. | 4. Ở đây, phải chăng Chân sư DK chỉ nói với nhóm Người Hoạt Động Viễn Cảm của Ngài? Dường như ý định của Ngài rộng hơn, và tất cả thành viên của mọi nhóm chín người đều cần có sự giao cảm viễn cảm ở một mức độ nào đó. |
5. We see the Master relating the humble processes within the groups to greater planetary consequences. | 5. Chúng ta thấy Chân sư liên hệ những tiến trình khiêm tốn trong các nhóm với những hệ quả lớn lao hơn ở cấp độ hành tinh . |
6. Revitalization can come to humanity and the planet through the etheric body of humanity and the etheric body of the planet. To this extremely desirable possibility, the groups-of-nine can contribute. | 6. Nhân loại và hành tinh có thể được tái tiếp sinh lực thông qua thể dĩ thái của nhân loại và thể dĩ thái của hành tinh. Các nhóm chín người có thể góp phần hiện thực hóa khả năng vô cùng đáng mong muốn này. |
I have for several years attempted to be your teacher, your Master and, I think I may say, your friend. There has been established between us a very strong link of love and understanding upon my part and a proved sincerity and a definite wish to cooperate on yours. | Trong nhiều năm, Tôi đã cố gắng làm huấn sư, Chân sư và, Tôi nghĩ có thể nói, người bạn của các bạn. Giữa chúng ta đã hình thành một mối liên kết rất mạnh mẽ, với tình thương và sự thấu hiểu về phía Tôi, cùng lòng chân thành đã được chứng tỏ và mong muốn hợp tác rõ rệt về phía các bạn. |
1. DK lists the three ways He has approached His disciples — as teacher, Master and (more intimately) as friend. | 1. Chân sư DK liệt kê ba cách Ngài đã tiếp cận các đệ tử của Ngài — với tư cách huấn sư, Chân sư và, thân mật hơn, là người bạn. |
2. A teacher informs; a Master sets a tone which must be followed, inspiring and protecting. A friend walks the path with his friends; a friend does not abandon a friend, but “stays with”. | 2. Một huấn sư truyền đạt tri thức; một Chân sư xác lập một âm điệu mà đệ tử phải noi theo, đồng thời truyền cảm hứng và che chở. Một người bạn cùng bước trên đường với các bạn mình; một người bạn không bỏ rơi bạn, mà “ở lại bên bạn”. |
3. It is interesting to see Master DK describing His attitude towards His chelas: “a very strong link of love and understanding”. Naturally, a second ray Master would approach in this way and it is heartening and humbling to be reminded that He does. | 3. Thật thú vị khi thấy Chân sư DK mô tả thái độ của Ngài đối với các đệ tử của Ngài: “một mối liên kết rất bền chặt của tình thương và sự thấu hiểu”. Dĩ nhiên, một Chân sư cung hai sẽ tiếp cận theo cách này, và việc được nhắc rằng Ngài thực sự làm như vậy vừa khích lệ chúng ta vừa khiến chúng ta khiêm nhường. |
4. His chelas, however, are not animated by the fullness of the energy the Master expresses. Instead, theirs is the energy of “sincerity and a definite wish to cooperate”. The attitude is one of the “earnest aspirant”, but not of those who have achieved soul-infusion. | 4. Tuy nhiên, các đệ tử của Ngài chưa được thúc đẩy bằng trọn vẹn năng lượng mà Chân sư biểu lộ. Thay vào đó, năng lượng của họ là năng lượng của “lòng chân thành và một ước muốn hợp tác rõ rệt”. Đó là thái độ của “người chí nguyện thiết tha”, chứ chưa phải của những người đã đạt được sự thấm nhuần của linh hồn. |
What is my attitude towards you? | Thái độ của Tôi đối với các bạn là gì? |
As individuals, you may be of small importance; as units in the group which I am preparing and training for definite service in future lives even more than in this, you are of sufficient moment to warrant my interest. A group is no more powerful than its weakest link and a group suffers esoterically and as a whole and its power is definitely curtailed when one member fails to measure up to opportunity or recedes into the glamours of the personality. This you have seen happen. As individuals I seek to help you but only with a view to your group integration, to your group influence and understanding and your group love, plus the strength which you can each bring to the whole. | Xét như những cá nhân, các bạn có thể ít quan trọng; xét như những đơn vị trong nhóm mà Tôi đang chuẩn bị và huấn luyện để đảm nhận việc phụng sự cụ thể trong những kiếp sống tương lai, còn nhiều hơn trong kiếp này, các bạn đủ quan trọng để xứng đáng với sự quan tâm của Tôi. Sức mạnh của một nhóm không vượt quá mắt xích yếu nhất của nó, và toàn thể nhóm chịu tổn hại về mặt huyền bí, quyền năng của nhóm cũng bị hạn chế rõ rệt khi một thành viên không đáp ứng được cơ hội hoặc lùi trở lại những ảo cảm của phàm ngã. Các bạn đã thấy điều này xảy ra. Tôi tìm cách giúp từng cá nhân các bạn, nhưng chỉ nhằm hướng đến sự tích hợp của các bạn vào nhóm, ảnh hưởng, sự thấu hiểu và tình thương nhóm của các bạn, cùng với sức mạnh mà mỗi người có thể đóng góp cho toàn thể. |
1. We notice that Master DK, having assured His chelas of His love and understanding, speaks with frankness. Individually, they are of small importance. | 1. Chúng ta nhận thấy rằng sau khi bảo đảm với các đệ tử về tình thương và sự thấu hiểu của Ngài, Chân sư DK nói một cách thẳng thắn. Xét riêng từng cá nhân, họ không mấy quan trọng. |
2. As group members preparing for definite service in future lives, they are “of sufficient moment to warrant my interest”. It is hardly a gushing assessment; rather, it is closely co-measured. | 2. Với tư cách các thành viên nhóm đang chuẩn bị cho một công việc phụng sự xác định trong những kiếp sống tương lai, họ “đủ quan trọng để Tôi quan tâm”. Đây khó có thể là một lời đánh giá nồng nhiệt; đúng hơn, đó là một nhận định được cân nhắc rất kỹ cho đúng mức. |
3. Again the Master places responsibility on each and all. No one wants to be the “weakest link”, for such an individual would hold the group back. DK points to ‘esoteric suffering’ which descends upon a group through the influence of weak links. Not all reasons for group retardation are necessarily obvious. | 3. Một lần nữa, Chân sư đặt trách nhiệm lên từng người và tất cả mọi người. Không ai muốn là “mắt xích yếu nhất”, vì một cá nhân như thế sẽ kìm hãm nhóm. Chân sư DK chỉ ra ‘sự tổn hại về mặt huyền bí’ giáng xuống một nhóm do ảnh hưởng của những mắt xích yếu. Không phải mọi nguyên nhân khiến nhóm chậm tiến đều nhất thiết hiển nhiên. |
4. He calls for all to measure up to opportunity and avoid the temptation to recede into the glamors of personality; to do so would be to move backwards. | 4. Ngài kêu gọi tất cả mọi người đáp ứng xứng đáng với cơ hội và tránh cám dỗ lui trở lại vào những ảo cảm của phàm ngã; làm như thế tức là thụt lùi. |
5. DK sounds the important notes of group integration, group influence, group understanding, group love, and the strength which each may offer to the whole. | 5. Chân sư DK xướng lên những âm điệu quan trọng về sự tích hợp nhóm, ảnh hưởng nhóm , sự thấu hiểu nhóm , tình thương nhóm, và sức mạnh mà mỗi người có thể hiến tặng cho toàn thể. |
6. He has reiterated His approach on a number of occasions, so the chelas cannot be tempted to think that they are of any real personal importance, either to Him or to the greater project. We see, do we not, how firmly the Master insists of the necessity of Aquarian values, so decentralizing in their effect? | 6. Ngài đã nhắc lại cách tiếp cận của Ngài nhiều lần, để các đệ tử không bị cám dỗ nghĩ rằng về mặt cá nhân, họ thực sự có tầm quan trọng nào đó đối với Ngài hoặc đối với công trình lớn hơn. Chúng ta thấy rõ, phải không, Chân sư nhấn mạnh kiên quyết đến mức nào về sự cần thiết của những giá trị Bảo Bình, vốn có tác dụng giúp con người phi tập trung vào bản thân? |
I, therefore, appeal to you, as a group, for an intensification of your group love, purpose and service so that the inner, subjective integration may proceed apace. I have three things to say to you today as a group: | Vì vậy, Tôi kêu gọi các bạn, với tư cách một nhóm, tăng cường tình thương, mục đích và sự phụng sự của nhóm để sự tích hợp chủ quan bên trong có thể tiến triển nhanh chóng. Hôm nay, Tôi có ba điều muốn nói với các bạn với tư cách một nhóm: |
First of all, the strength or the weakness of this group of disciples will lie in the fact that the individuals who compose it are not only egoically linked but that there is also a strong personality tie (with all the weaknesses which that may entail) and a deep, if unrealised, affection between each and all of you, even if you have not met each other. The strength of this situation is found in the fact that this condition of unconscious friendship is to be found as the result of many lives of close association in the work and also in past personality relations and family ties. The weakness exists in the fact that this situation [76] is apt to make the group personal in its reactions. This group of disciples is intrinsically an entity on all the three levels of the three worlds — physical, emotional and mental — and there is a soul tie as well. | Trước hết, sức mạnh hay sự yếu kém của nhóm đệ tử này nằm ở chỗ những cá nhân tạo thành nhóm không chỉ liên kết với nhau về mặt chân ngã, mà giữa mỗi người và tất cả các bạn còn có một mối ràng buộc phàm ngã mạnh mẽ (cùng mọi yếu kém mà điều ấy có thể kéo theo) và một tình cảm sâu đậm, dù chưa được nhận biết, ngay cả khi các bạn chưa từng gặp nhau. Sức mạnh của hoàn cảnh này nằm ở chỗ tình bằng hữu chưa được ý thức ấy là kết quả của nhiều kiếp gắn bó mật thiết trong công việc, cũng như của những quan hệ phàm ngã và ràng buộc gia đình trong quá khứ. Sự yếu kém nằm ở chỗ hoàn cảnh này [76] dễ khiến nhóm phản ứng theo lối cá nhân. Về thực chất, nhóm đệ tử này là một thực thể trên cả ba cấp độ của ba cõi giới—hồng trần, cảm xúc và trí tuệ—và còn có một mối liên kết linh hồn nữa. |
1. An “appeal” is made, and when the Master appeals, He is in great earnest, and seeking to evoke from His chelas that which can be forthcoming through no other means. | 1. Một “lời kêu gọi” được đưa ra, và khi Chân sư kêu gọi, Ngài hết sức tha thiết, tìm cách khơi dậy nơi các đệ tử của Ngài điều mà không phương cách nào khác có thể làm xuất hiện. |
2. Group love, group purpose and group service will facilitate the needed subjective integration. It is for these three qualities that He appeals. | 2. Tình thương nhóm, mục đích nhóm và sự phụng sự nhóm sẽ tạo thuận lợi cho sự tích hợp chủ quan cần thiết. Chính ba phẩm tính này là điều Ngài kêu gọi. |
3. A most interesting assessment concerning group strengths and weaknesses is made. Strength and weakness are all based upon the kind of links which relate the group members to each other. | 3. Ngài đưa ra một đánh giá hết sức thú vị về những điểm mạnh và điểm yếu của nhóm. Sức mạnh và sự yếu kém đều dựa trên loại liên kết nối các thành viên nhóm với nhau. |
4. There is the egoic link, of course, but the personality ties present certain types of problems. | 4. Dĩ nhiên có mối liên kết chân ngã, nhưng những ràng buộc phàm ngã gây ra một số loại vấn đề. |
5. The Master points to a surprising quality: “a deep, if unrealised, affection between each and all of you, even if you have not met each other”. | 5. Chân sư chỉ ra một phẩm tính đáng ngạc nhiên: “một tình cảm sâu đậm giữa từng người với tất cả mọi người trong các bạn, dù chưa nhận ra và dù các bạn chưa từng gặp nhau”. |
6. Affection and a “condition of unconscious friendship” — these qualities can be used to the good. | 6. Tình cảm và một “tình bằng hữu chưa được ý thức” — những phẩm tính này có thể được sử dụng cho điều thiện. |
7. These groups are not simply formed of those who are unrelated to each other. Many lives of “close association”, even of family ties, have preceded this newer from of association based upon group ideals. | 7. Các nhóm này không đơn thuần gồm những người chẳng có liên hệ gì với nhau. Nhiều kiếp sống “gắn bó mật thiết”, thậm chí cả những mối dây gia đình, đã có trước hình thức liên kết mới hơn này, vốn dựa trên các lý tưởng nhóm. |
8. The closeness based on past ties is both good and bad, for it increases the personalism of the group members in relation to each other. | 8. Sự gần gũi dựa trên các mối dây quá khứ vừa tốt vừa xấu, vì nó làm gia tăng tính thiên về cá nhân trong quan hệ giữa các thành viên nhóm. |
9. DK is having His chelas take a good, close look of what a group really is. He emphasizes the importance of the soul connection, but does not ignore the mental, emotional and physical connections either. It is clear that His disciples need a better appreciation of their problem — and His. | 9. Chân sư DK đang yêu cầu các đệ tử của Ngài xem xét thật kỹ một nhóm thực sự là gì. Ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của sự kết nối linh hồn, nhưng cũng không bỏ qua những kết nối trí tuệ, cảm xúc và hồng trần. Rõ ràng, các đệ tử của Ngài cần nhận thức rõ hơn về vấn đề của họ — và của Ngài. |
I would like also to impress upon you a second point. It is of apt application in the strenuous conditions which prevail at this time. In the stress and strain of your group work let each of you bear in mind, for your encouragement, joy and dedicatory incentive, that you are in this particular group of disciples for preparatory training for initiation. I am entering upon an experiment in group initiation and this is somewhat a new enterprise for the Hierarchy to undertake, though in line with evolutionary development. In futures ages, men and women will pass through the Portal of Initiation together, instead of alone and singly as has hitherto been the case. Group progress can, therefore, in this connection be furthered or held back by the effort of the individual group member. A member’s difficulties can be enhanced by the united group stimulation; his strength and effectiveness can be increased by the strength, the power and the understanding of the group. Your united responsibility is, therefore, great and your opportunity for rapid progress is real and definitely unusual. When together you pass through the Portal and I present you to Those Whose task it is to lead you on your next step, there should eventuate such an enhancement of your powers to love, to intuit and to serve, that life will never again appear to be the same thing. You will grasp with surety then what now you dimly sense, and realise the wonder of group love, of group intuition and of group service; you will thus undergo a joint illumination, a shared response and a united effort. You will comprehend then that a line of exclusion may spiritually exist, indicating those who can pass on to the preparatory stage of group initiation and those who must approach that great event singly and alone. These latter belong predominantly to the Piscean Age. They take initiation as separate identities; you can take initiation in group formation. | Tôi cũng muốn khắc sâu nơi các bạn một điểm thứ hai. Điểm này rất thích hợp để áp dụng trong những điều kiện gay go hiện nay. Giữa căng thẳng và áp lực của công việc nhóm, mỗi người hãy ghi nhớ, để được khích lệ, hoan hỉ và có động lực tận hiến, rằng các bạn ở trong nhóm đệ tử đặc biệt này để được huấn luyện dự bị cho điểm đạo. Tôi đang bắt đầu một cuộc thử nghiệm về điểm đạo nhóm, và đây phần nào là một công cuộc mới mà Thánh đoàn đảm nhận, dù phù hợp với sự phát triển tiến hoá. Trong những thời đại tương lai, những người nam và nữ sẽ cùng nhau đi qua Cổng Điểm Đạo, thay vì một mình, riêng lẻ như từ trước đến nay. Do đó, về phương diện này, nỗ lực của từng thành viên có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự tiến bộ của nhóm. Sự kích thích hợp nhất của nhóm có thể làm gia tăng những khó khăn của một thành viên; sức mạnh, quyền năng và sự thấu hiểu của nhóm có thể gia tăng sức mạnh và hiệu quả của y. Vì vậy, trách nhiệm chung của các bạn rất lớn, và cơ hội tiến bộ nhanh chóng của các bạn là có thật, rõ ràng khác thường. Khi các bạn cùng nhau đi qua Cổng và Tôi trình các bạn lên Các Đấng có nhiệm vụ dẫn dắt các bạn bước tiếp, khả năng yêu thương, trực nhận và phụng sự của các bạn phải được nâng cao đến mức cuộc sống sẽ không bao giờ còn có vẻ như trước nữa. Khi ấy, các bạn sẽ nắm bắt chắc chắn điều mà giờ đây chỉ cảm nhận mơ hồ, và nhận ra sự kỳ diệu của tình thương nhóm, trực giác nhóm và phụng sự nhóm; như vậy, các bạn sẽ cùng trải qua một sự soi sáng chung, một sự đáp ứng chung và một nỗ lực hợp nhất. Khi ấy, các bạn sẽ thấu hiểu rằng về mặt tinh thần có thể tồn tại một đường ranh loại trừ, chỉ rõ những ai có thể bước tiếp vào giai đoạn dự bị cho điểm đạo nhóm và những ai phải một mình, đơn độc tiến đến biến cố vĩ đại ấy. Những người sau chủ yếu thuộc về Kỷ Nguyên Song Ngư. Họ tiếp nhận điểm đạo như những bản sắc riêng biệt; các bạn có thể tiếp nhận điểm đạo trong đội hình nhóm. |
1. The Master knows how difficult are the times. He offers a most encouraging thought. The disciples gathered into the group are gathered “for preparatory training for initiation”. | 1. Chân sư biết thời cuộc khó khăn đến mức nào. Ngài đưa ra một ý tưởng hết sức khích lệ. Các đệ tử tập hợp thành nhóm là “để được huấn luyện chuẩn bị cho điểm đạo”. |
2. Why does the Master reveal this? For the purposes of encouragement, joy and “dedicatory incentive”. To relate this piece of information is meant to strengthen His disciples. | 2. Vì sao Chân sư tiết lộ điều này? Nhằm đem lại sự khích lệ, hoan hỉ và “động lực hiến dâng”. Việc truyền đạt thông tin này nhằm củng cố sức mạnh cho các đệ tử của Ngài. |
3. One of the chief reasons for forming the groups-of-nine is revealed; they are partially experiments in group initiation. This is really a pioneering effort indicative of processes which will be more common in the future. | 3. Một trong những lý do chính để thành lập các nhóm chín người được tiết lộ; một phần, đó là những cuộc thử nghiệm về điểm đạo nhóm. Đây thực sự là một nỗ lực tiên phong, báo hiệu những tiến trình sẽ trở nên phổ biến hơn trong tương lai. |
4. The newer methods are suggested and the mode of passing before the initiator — in groups, rather than alone in singly. | 4. Ngài gợi ra những phương pháp mới hơn và cách thức đến trước Đấng Điểm đạo — theo nhóm, thay vì một mình, riêng lẻ. |
5. And, again, the placement of responsibility, for one group member can strengthen or retard his brothers. | 5. Và một lần nữa, trách nhiệm được đặt ra, vì một thành viên nhóm có thể củng cố sức mạnh hoặc làm chậm bước các huynh đệ của mình. |
6. The main point is expressed precisely: “Your united responsibility is, therefore, great and your opportunity for rapid progress is real and definitely unusual”. What more incentive could be offered for re-consecration, for this, I believe, is what Master DK had in mind — a final effort to achieve success. | 6. Điểm chính được diễn đạt chính xác: “Do đó, trách nhiệm chung của các bạn rất lớn, và cơ hội tiến bộ nhanh chóng của các bạn là có thật và rõ ràng khác thường”. Còn động lực nào lớn hơn cho việc tái thánh hiến có thể được đưa ra, vì Tôi tin rằng đây chính là điều Chân sư DK nghĩ đến — một nỗ lực cuối cùng để đạt thành công. |
7. Usually the subject of group initiation is approached theoretically and in terms of its wider purpose. Here the approach is immediate and practical. The Master is talking directly to those who are to experience this newer form of initiation. | 7. Chủ đề điểm đạo nhóm thường được tiếp cận về mặt lý thuyết và xét theo mục đích rộng lớn hơn của nó. Ở đây, cách tiếp cận mang tính trực tiếp và thực tiễn. Chân sư đang nói trực tiếp với những người sẽ trải nghiệm hình thức điểm đạo mới hơn này. |
8. It is His task to present the group to “Those Whose task it is to lead you on to your next step”. Thus, the Master outlines the purpose of the preparatory training work He has been undertaking with this collection of chelas. | 8. Nhiệm vụ của Ngài là trình diện nhóm trước “những Đấng có nhiệm vụ dẫn dắt các bạn trên bước tiếp theo”. Như vậy, Chân sư phác họa mục đích của công việc huấn luyện chuẩn bị mà Ngài đang thực hiện với tập hợp đệ tử này. |
9. The Master promises a beautiful future (should the group succeed). Group initiation, experienced together, will provide a “joint illumination, a shared response and a united effort”. When presented with these thoughts, the chelas must have been forced to realize how very closely related they were to each other, and how very important was their mutual reinforcement. | 9. Chân sư hứa hẹn một tương lai tươi đẹp (nếu nhóm thành công). Điểm đạo nhóm, khi cùng nhau trải nghiệm, sẽ đem lại “sự soi sáng chung, sự đáp ứng được chia sẻ và nỗ lực hợp nhất”. Khi tiếp nhận những ý tưởng này, hẳn các đệ tử đã buộc phải nhận ra họ liên hệ mật thiết với nhau đến mức nào, và việc củng cố sức mạnh cho nhau quan trọng biết bao. |
10. Group initiation is an experiment in the Aquarian Age. Those who, in consciousness, belong to that Age can take group initiation together. Those belonging in consciousness to the Piscean Age still pass before the Initiator alone. These thoughts should give us pause to reflect. | 10. Điểm đạo nhóm là một cuộc thử nghiệm trong Thời Đại Bảo Bình. Những người có tâm thức thuộc về Thời Đại ấy có thể cùng nhau tiếp nhận điểm đạo nhóm. Những người thuộc về Thời Đại Song Ngư xét theo tâm thức vẫn đến trước Đấng Điểm đạo một mình. Những ý tưởng này nên khiến chúng ta dừng lại suy ngẫm. |
11. The Master seems to suggest that it is better and more empowering to pass before the Initiator together. | 11. Dường như Chân sư gợi ý rằng việc đến trước Đấng Điểm đạo cùng nhau sẽ tốt hơn và đem lại nhiều sức mạnh hơn. |
None of us who do the work of preparing candidates for initiation are in a position to pronounce as to time; that has to be determined by each individual aspirant. See to it, however, [77] as individuals, that your group is not held back through your inability to see, by your personal glamours, by your individual problem or by your slow reactions to known truth. | Không ai trong chúng ta, những người làm công việc chuẩn bị các ứng viên cho điểm đạo, có thể khẳng định về thời điểm; mỗi người chí nguyện phải tự quyết định điều đó. Tuy nhiên, [77] mỗi cá nhân các bạn hãy bảo đảm rằng nhóm mình không bị kìm hãm vì các bạn không có khả năng thấy rõ, vì những ảo cảm cá nhân, vấn đề riêng hay sự đáp ứng chậm chạp trước chân lý đã biết. |
1. As the Master continues His instructions, the responsibility places upon the individual group members only increases. | 1. Khi Chân sư tiếp tục huấn thị, trách nhiệm đặt lên từng thành viên nhóm chỉ càng tăng thêm. |
2. An important principle is enunciated: the Master cannot “pronounce as to time”. There are too many variables. Only general trends can be indicated. | 2. Một nguyên khí quan trọng được nêu rõ: Chân sư không thể “đưa ra lời xác định về thời điểm”. Có quá nhiều yếu tố biến đổi. Chỉ có thể chỉ ra những xu hướng chung. |
3. The time equation is in the hands of the individual aspirant, and by extension, presumably in the hands of the ‘group aspirant’. | 3. Yếu tố thời gian nằm trong tay từng người chí nguyện, và suy rộng ra, có lẽ nằm trong tay ‘nhóm chí nguyện’. |
4. The Master lists several ways that the individual can retard the group: inability to see, personal glamors, individual problems and slow reactions to the known truth. We see a collection of faults relating to blindness, bondage, self-interest and inertia. | 4. Chân sư liệt kê một số cách mà cá nhân có thể làm nhóm chậm tiến: không thể thấy, những ảo cảm cá nhân, những vấn đề riêng và sự đáp ứng chậm chạp với chân lý đã biết. Chúng ta thấy một tập hợp những khuyết điểm liên quan đến sự mù quáng, trói buộc, tư lợi và tính trì trệ. |
5. In the process of preparing for group initiation, there is considerable “peer pressure”. | 5. Trong tiến trình chuẩn bị cho điểm đạo nhóm, có một “áp lực từ những người đồng đẳng” đáng kể. |
The third thing that I want to say is that whatever your particular status on the Path at this time, I shall seek to help you as in the past. I shall speak the truth as I see it from my particular vantage point. Upon your blindness in certain directions, I shall seek to throw a light. I shall point out your weaknesses — if I can get your sincere attention. These weaknesses exist. You are not yet initiate, and you have faults, limitations, points of darkness and much inertia and at the same time self-satisfaction. The tendency to self-defence is strong in some of you and this produces an unwillingness to recognise faults or even to admit, hypothetically, that faults may be present. The tendency to self-depreciation is strong in others and it produces that over-emphasis of the personality and that constant thought about the personality which is so detrimental to real progress. In these tendencies (which are so usual) there lies real danger for the would-be initiate. I warn you to watch for the indications of these conditions and to assume an attitude of willingness to listen and to admit the possibility of failure in the one case and of self-forgetfulness in the other. Look yourselves and life squarely in the face and fearlessly see things as they are in truth. Do this not because it is I who am suggesting to you that a situation may be thus or so but because you are willing to face up to facts and are ready for unexpected discoveries about yourselves. One of the first lessons which a disciple needs to learn is that where he thinks he is strongest and where he finds the most satisfaction is very frequently the point of greatest danger and of weakness. Astral conditions are oft seen reversed; hence the glamour which often overcomes a disciple. | Điều thứ ba Tôi muốn nói là, bất kể vị thế riêng của các bạn trên Đường Đạo lúc này ra sao, Tôi vẫn sẽ tìm cách giúp các bạn như trước. Tôi sẽ nói lên chân lý như Tôi thấy từ vị trí quan sát riêng của mình. Tôi sẽ tìm cách soi sáng những phương diện mà các bạn còn mù mờ. Tôi sẽ chỉ ra những yếu kém của các bạn—nếu Tôi có thể có được sự chú tâm chân thành của các bạn. Những yếu kém ấy có tồn tại. Các bạn chưa phải là điểm đạo đồ, và các bạn có những khuyết điểm, giới hạn, những điểm tối tăm, nhiều tính trì trệ, đồng thời cả sự tự mãn. Một số các bạn có khuynh hướng tự biện hộ mạnh mẽ, và điều này khiến các bạn không muốn nhận ra khuyết điểm, hay thậm chí thừa nhận, dù chỉ như một giả thuyết, rằng mình có thể có khuyết điểm. Những người khác lại có khuynh hướng tự hạ thấp mình mạnh mẽ, dẫn đến việc quá nhấn mạnh phàm ngã và không ngừng nghĩ về phàm ngã, điều hết sức bất lợi cho sự tiến bộ thực sự. Chính trong những khuynh hướng ấy (vốn rất thường gặp) có mối nguy thực sự đối với người muốn trở thành điểm đạo đồ. Tôi cảnh báo các bạn hãy theo dõi những dấu hiệu của các trạng thái này và có thái độ sẵn lòng lắng nghe, thừa nhận khả năng thất bại trong trường hợp thứ nhất, và quên mình trong trường hợp thứ hai. Hãy nhìn thẳng vào chính mình và cuộc sống, can đảm thấy mọi sự đúng như sự thật của chúng. Hãy làm vậy vì các bạn sẵn lòng đối diện với sự thật và sẵn sàng trước những khám phá bất ngờ về chính mình, chứ không phải vì chính Tôi đang gợi ý với các bạn rằng một tình huống có thể thế này hay thế khác. Một trong những bài học đầu tiên mà đệ tử cần học là: nơi y nghĩ mình mạnh nhất và tìm thấy sự thỏa mãn lớn nhất rất thường chính là điểm nguy hiểm nhất và yếu kém nhất. Những trạng thái cảm dục thường được nhìn nhận ngược với thực tế; do đó có ảo cảm thường lấn át đệ tử. |
1. Master DK assures His chelas of His continuing helpfulness. But He explains ever more clearly the mode and manner of that helpfulness. | 1. Chân sư DK bảo đảm với các đệ tử của Ngài rằng Ngài sẽ tiếp tục giúp đỡ họ. Nhưng Ngài giải thích ngày càng rõ hơn phương thức và cách thức giúp đỡ ấy. |
2. The Master does not say He shall speak the absolute truth as it is, but only the truth as seen from His “particular vantage point”. He knows that in His disciples there are areas of blindness and weakness of which they are unaware. It is His task to make there aware, which is not easy. There is much in the human psyche which wishes to avoid looking at such areas; He needs their sincere attention. | 2. Chân sư không nói Ngài sẽ trình bày chân lý tuyệt đối đúng như thực trạng, mà chỉ là chân lý được nhìn từ “góc nhìn riêng” của Ngài. Ngài biết rằng nơi các đệ tử của Ngài có những vùng mù quáng và yếu kém mà họ không nhận biết. Nhiệm vụ của Ngài là giúp họ nhận biết, một việc không dễ dàng. Trong tâm lý con người có nhiều điều muốn tránh nhìn vào những vùng như thế; Ngài cần sự chú tâm chân thành của họ. |
3. The Master points to the fact that these disciples are “not yet initiate”. This means (perhaps with the exception of one or two) that they have not yet taken the third initiation. All of them but one are probationary initiates of either the first or second degree. | 3. Chân sư chỉ ra sự thật rằng những đệ tử này “chưa là điểm đạo đồ”. Điều này có nghĩa là (có lẽ ngoại trừ một hoặc hai người) họ chưa trải qua lần điểm đạo thứ ba . Ngoại trừ một người, tất cả họ đều là những điểm đạo đồ dự bị ở cấp độ thứ nhất hoặc thứ hai. |
4. The faults are fairly numerous and include self-satisfaction and inertia. We can see why Master DK would have to break these if His disciples (and the groups-of-nine as a whole) are to make progress. | 4. Các khuyết điểm khá nhiều, bao gồm sự tự mãn và tính trì trệ. Chúng ta có thể thấy vì sao Chân sư DK phải phá bỏ những điều này nếu các đệ tử của Ngài (và toàn thể các nhóm chín người) muốn tiến bộ. |
5. Other liabilities (self-defense and self-depreciation) are cited. The first of these correlates, perhaps, with the hard line rays and the second with rays on the soft line. Either, however, is undesirable and the maintenance of either or both attitudes signal that the disciple is more invested in himself/herself than in the Divine Plan and its manifestation. | 5. Những trở ngại khác (tự biện hộ và tự hạ thấp mình) cũng được nêu ra. Có lẽ khuynh hướng thứ nhất tương ứng với các cung thuộc tuyến cứng, còn khuynh hướng thứ hai với các cung thuộc tuyến mềm. Tuy nhiên, cả hai đều không đáng mong muốn, và việc duy trì một hoặc cả hai thái độ cho thấy người đệ tử quan tâm đến bản thân nhiều hơn đến Thiên Cơ và sự biểu hiện của Thiên Cơ. |
6. In these paragraphs, DK is alerting His disciples to the fact that He is preparing them for group initiation. The two tendencies just mentioned are dangers for the would-be initiate (and these tendencies are quite common). Why are they dangers? Essentially, the initiate is self-forgetful (not self-oblivious or self-engrossed). Without self-forgetfulness and the objective handling of the instrument, the greater energies released at initiation cannot be received and distributed properly. If released into an instrument beset by these attitudes, the initiatory energies would only worsen personality reactivity. | 6. Trong những đoạn này, Chân sư DK đang lưu ý các đệ tử của Ngài rằng Ngài đang chuẩn bị họ cho điểm đạo nhóm. Hai khuynh hướng vừa đề cập là những mối nguy đối với người mong trở thành điểm đạo đồ (và những khuynh hướng này khá phổ biến). Vì sao chúng là những mối nguy? Về căn bản, điểm đạo đồ biết quên mình (không phải không nhận biết bản thân hay mải mê với bản thân). Nếu thiếu sự quên mình và cách sử dụng công cụ một cách khách quan, những năng lượng lớn lao hơn được giải phóng khi điểm đạo sẽ không thể được tiếp nhận và phân phối đúng đắn. Nếu được giải phóng vào một công cụ bị những thái độ này vây hãm, các năng lượng điểm đạo chỉ làm trầm trọng thêm tính phản ứng của phàm ngã. |
7. DK looks for two different attitudes which seem reasonable enough: a willingness to listen (to the Master!) and to admit the possibility of failure, and a willingness to be self-forgetful. The Master’s insight is rare and extremely useful to the sincere disciple. If the disciple is overly-identified with the personality, he/she has a vested interest to protect. Disciples are mostly unconscious of such attitudes. | 7. Chân sư DK mong có hai thái độ khác nhau, dường như đều khá hợp lý: sẵn lòng lắng nghe (Chân sư!) và thừa nhận khả năng thất bại, cùng với sẵn lòng quên mình. Sự thấu suốt của Chân sư là hiếm có và cực kỳ hữu ích đối với người đệ tử chân thành . Nếu người đệ tử đồng hoá quá mức với phàm ngã, người ấy có một quyền lợi riêng cần bảo vệ. Phần lớn các đệ tử không ý thức được những thái độ như thế. |
8. Considerable courage is required of the disciple who would be a true chela. A fearless facing of the self is perhaps not so common. Socrates emphasized this trend when he asked that people “know thyself”. For that insistence, he was killed as a corrupter of the morals of society and of the Athenian youth! | 8. Người đệ tử muốn trở thành một đệ tử chân chính cần có lòng can đảm đáng kể. Việc không sợ hãi đối diện với chính mình có lẽ không phổ biến lắm. Socrates đã nhấn mạnh chiều hướng này khi ông yêu cầu mọi người “hãy biết chính mình”. Vì sự khẳng định ấy, ông đã bị xử tử với tội danh làm băng hoại đạo đức xã hội và thanh niên Athens! |
9. The Master plays many roles. Here He is assisting the working of the planet Pluto which brings many unsuspected conditions to the surface, there to be discovered. | 9. Chân sư đảm nhiệm nhiều vai trò. Ở đây, Ngài đang hỗ trợ hoạt động của Sao Diêm Vương, hành tinh đưa nhiều tình trạng chưa từng được ngờ tới lên bề mặt để chúng được khám phá. |
10. Really, Saturn and Pluto are involved in the requirements here presented. In a Saturnian manner, chelas have to face up to the facts about themselves, and often these are hidden facts, revealed by Pluto. | 10. Thực ra, Sao Thổ và Sao Diêm Vương đều liên quan đến những yêu cầu được trình bày ở đây. Theo cách thức của Sao Thổ, các đệ tử phải đối diện với những sự thật về bản thân, và thường đó là những sự thật ẩn giấu mà Sao Diêm Vương làm hiển lộ. |
11. A very important principle is here enunciated and one which all of us should take to heart through careful examination: | 11. Ở đây, một nguyên khí rất quan trọng được nêu ra, và tất cả chúng ta nên suy xét cẩn thận để ghi khắc trong lòng: |
“One of the first lessons which a disciple needs to learn is that where he thinks he is strongest and where he finds the most satisfaction is very frequently the point of greatest danger and of weakness”. | “Một trong những bài học đầu tiên mà một đệ tử cần học là nơi y nghĩ mình mạnh nhất và nơi y cảm thấy mãn nguyện nhất rất thường lại chính là điểm nguy hiểm nhất và yếu kém nhất”. |
If this is true, it will catch many of us by surprise, because in such areas of presumed strength, we do not imagine that weaknesses may lurk. But our vices, we are told, may simply be exaggerations of our strengths. Vice appears when the balance is lost. | Nếu điều này đúng, nhiều người trong chúng ta sẽ bất ngờ, vì trong những lĩnh vực được cho là thế mạnh ấy, chúng ta không hình dung rằng những điểm yếu có thể ẩn nấp. Nhưng chúng ta được cho biết rằng những tật xấu của mình có thể chỉ là những điểm mạnh bị đẩy đến mức thái quá. Tật xấu xuất hiện khi sự cân bằng mất đi. |
12. DK calls our attention to the ‘astral reversal’. It is always an unsuspected factor and subtly admits glamor. | 12. Chân sư DK lưu ý chúng ta đến ‘sự đảo ngược cảm dục’. Đó luôn là một yếu tố không ai ngờ tới và âm thầm mở đường cho ảo cảm xâm nhập. |
13. It would be good practice to name one of our supposed strengths, perhaps one in which we even have a tinge of pride, and then to see if within that apparent strength a weakness is lurking. This would require acute self-observation. | 13. Một cách thực hành tốt là gọi tên một trong những điểm mạnh mà chúng ta cho rằng mình có, có lẽ là một điểm mạnh khiến chúng ta thậm chí có chút tự hào, rồi xem liệu bên trong điểm mạnh bề ngoài ấy có một điểm yếu đang ẩn nấp hay không. Điều này đòi hỏi khả năng tự quan sát tinh nhạy. |
In this connection, my brothers, I will admit you into a piece of personal history and one which is quite ordinary in the life of a disciple. It may serve to carry its lesson and its warning. Several lives ago, my Master saw in me a weakness. It was one of which I was quite unaware and it was in fact a quality which I regarded as a strength and which I hugged to myself as a virtue. I was then a young man, anxious to help my Master and humanity but, in the last analysis, I was very keen about myself as an aspirant and very pleased with myself — cloaking this satisfaction under the garb of a reiterated humility. The Master poured into me His strength and energy and so stimulated me that what I thought was a virtue and what I had denied and repudiated as a vice, proved my undoing. I symbolically crashed to earth through the very weight of my weakness. You might well ask what this weakness was? It was my love for my Master which was my undoing. He pointed out to me after the failure that my love for Him was in reality based upon pride in myself and a profound satisfaction with myself as an aspirant and a disciple. This I violently denied and was grieved that He should so misunderstand me. I proved Him to be right, eventually, through a life of failure and the depth of my egotism. I learnt through that failure but I lost much time from the standpoint of useful service. I found that I was really serving myself and not humanity. From similar mistakes, I seek to save you, for time is a great factor in service. For the masses of humanity, time is not of very great importance; but for the servers of the race, it matters much. Lose not time, therefore, in undue self-analysis, self-depreciation or self-defence. Go forward with discrimination where your unfoldment is concerned, and with love and understanding where your group is concerned. Where I, your teacher, am concerned, give to my words the attention which is due and endeavour to cooperate with me. I shall then some day have the joy of welcoming you to the “Secret Place “ where all true servers and initiates must eventually meet and unite. | Các huynh đệ của tôi, liên quan đến điều này, Tôi sẽ cho các bạn biết một câu chuyện riêng trong quá khứ, một chuyện khá bình thường trong đời sống đệ tử. Câu chuyện có thể mang lại bài học và lời cảnh báo. Vài kiếp trước, Chân sư của Tôi thấy ở Tôi một sự yếu kém. Tôi hoàn toàn không biết đến nó, và thật ra đó là một phẩm tính mà Tôi xem là sức mạnh, ôm giữ như một đức hạnh. Khi ấy Tôi là một thanh niên, thiết tha giúp Chân sư của mình và nhân loại, nhưng xét cho cùng, Tôi hết sức quan tâm đến bản thân [78] trong vai trò một người chí nguyện và rất hài lòng về mình—che đậy sự hài lòng ấy dưới lớp áo khiêm nhường được lặp đi lặp lại. Chân sư tuôn đổ sức mạnh và năng lượng của Ngài vào Tôi, kích thích Tôi đến mức điều Tôi tưởng là một đức hạnh, điều mà Tôi đã phủ nhận và bác bỏ khi bị xem là một thói xấu, lại khiến Tôi sụp đổ. Theo nghĩa biểu tượng, Tôi đã rơi nhào xuống đất dưới chính sức nặng của sự yếu kém nơi mình. Các bạn hẳn có thể hỏi sự yếu kém ấy là gì? Chính tình thương Tôi dành cho Chân sư đã khiến Tôi sụp đổ. Sau thất bại ấy, Ngài chỉ ra rằng tình thương Tôi dành cho Ngài thực ra dựa trên lòng kiêu hãnh về bản thân và sự hài lòng sâu sắc về mình trong vai trò người chí nguyện và đệ tử. Tôi kịch liệt phủ nhận điều này và đau buồn vì Ngài lại hiểu lầm Tôi đến thế. Cuối cùng, qua một kiếp sống thất bại và mức độ vị kỷ sâu đậm của mình, Tôi đã chứng minh rằng Ngài đúng. Tôi học được qua thất bại ấy, nhưng đã mất nhiều thời gian xét từ góc độ phụng sự hữu ích. Tôi nhận thấy rằng thực ra mình đang phụng sự chính mình chứ không phải nhân loại. Tôi tìm cách giúp các bạn tránh những sai lầm tương tự, vì thời gian là một yếu tố lớn trong phụng sự. Đối với đại chúng nhân loại, thời gian không quá quan trọng; nhưng đối với những người phụng sự nhân loại, thời gian rất hệ trọng. Vì vậy, đừng mất thời gian vào việc tự phân tích, tự hạ thấp hay tự biện hộ quá mức. Hãy tiến bước với sự phân biện trong việc khai mở bản thân, và với tình thương cùng sự thấu hiểu trong những gì liên quan đến nhóm. Đối với Tôi, huấn sư của các bạn, hãy dành cho lời Tôi sự chú tâm thích đáng và cố gắng hợp tác với Tôi. Rồi một ngày kia, Tôi sẽ có niềm hoan hỉ đón các bạn vào “Nơi Bí Mật”, nơi cuối cùng tất cả những người phụng sự chân chính và các điểm đạo đồ phải gặp gỡ và hợp nhất. |
1. The Master shares a bit of personal history. We can see that He is trying very hard to help His chelas avoid the consequences of their limiting personality tendencies (should these tendencies remain unconscious or unchecked). | 1. Chân sư chia sẻ một phần chuyện đời riêng. Chúng ta có thể thấy Ngài đang hết sức cố gắng giúp các đệ tử của Ngài tránh những hậu quả do các khuynh hướng phàm ngã gây giới hạn nơi họ mang lại (nếu những khuynh hướng ấy vẫn nằm ngoài nhận biết hoặc không được kiềm chế). |
2. DK speaks of a time in His evolutionary history which took place “several lives ago”. This can mean perhaps three to five lives ago. | 2. Chân sư DK nói về một thời điểm trong lịch sử tiến hoá của Ngài, diễn ra “cách đây vài kiếp”. Điều này có lẽ có nghĩa là cách đây từ ba đến năm kiếp. |
3. Master DK’s Master, let us remember, is Master KH. | 3. Chân sư của Chân sư DK, chúng ta hãy nhớ, là Chân sư KH. |
4. It seems the task of all Masters to point out weaknesses in Their chelas. Master DK has been doing this and discusses how He would continue to do so. He is now demonstrating how this was done for Him some time ago during an earlier phase in His development. | 4. Dường như nhiệm vụ của tất cả các Chân sư là chỉ ra những điểm yếu nơi các đệ tử của Các Ngài. Chân sư DK đã và đang làm điều này, đồng thời bàn về cách Ngài sẽ tiếp tục làm như vậy. Giờ đây, Ngài đang minh hoạ cách người ta từng làm điều này cho Ngài vào một thời gian trước, trong một giai đoạn phát triển trước đây của Ngài. |
5. Master DK had a weakness. His Master pointed it out, but DK could not see the weakness; in fact, he regarded it as a strength! | 5. Chân sư DK từng có một điểm yếu. Chân sư của Ngài đã chỉ ra điều đó, nhưng Chân sư DK không thấy được điểm yếu ấy; thực ra, Ngài còn xem đó là một điểm mạnh! |
6. There is a hint when He says that He regarded the indicated quality “as a strength which I hugged to myself as a virtue”. This ‘hugging to oneself’ is a subtle form of self-emphasis and self-reinforcement. It demonstrates that the consciousness of the personal ego is still very strong and that the “eyes are not off the little self”. | 6. Có một gợi ý khi Ngài nói rằng Ngài xem phẩm tính được chỉ ra ấy “là một điểm mạnh mà Tôi ôm giữ như một đức hạnh”. Việc ‘ôm giữ cho riêng mình’ này là một hình thức tinh vi của việc đề cao và củng cố bản thân. Nó cho thấy tâm thức phàm ngã vẫn còn rất mạnh và “đôi mắt vẫn chưa rời khỏi cái tôi nhỏ bé”. |
7. The Master says that at that time he was a “young man”. This, perhaps, tells us something of His initiatory status. He does not say that He was a “rich young man”. Rather He seems to indicate that He stood then where many of His disciples stand now. | 7. Chân sư nói rằng vào thời điểm ấy, Ngài là một “thanh niên”. Có lẽ điều này cho chúng ta biết đôi điều về cấp bậc điểm đạo của Ngài. Ngài không nói rằng Ngài là một “thanh niên giàu có”. Đúng hơn, dường như Ngài muốn nói rằng khi ấy Ngài ở vào vị trí mà nhiều đệ tử của Ngài hiện đang đứng. |
8. Earlier the Tibetan pointed out that amongst His disciples there was much self-satisfaction. Now He is telling a story about a time in which He was truly self-satisfied — keen about himself, pleased with himself and disguising these attitudes from himself by insisting on his humility. | 8. Trước đó, Chân sư Tây Tạng đã chỉ ra rằng trong số các đệ tử của Ngài có nhiều sự tự mãn. Giờ đây, Ngài đang kể một câu chuyện về thời điểm Ngài thực sự tự mãn — coi trọng bản thân, hài lòng về mình và che giấu những thái độ ấy với chính mình bằng cách khăng khăng khẳng định sự khiêm nhường của mình. |
9. It appears His Master, KH, moved to demonstrate the truth of what He had brought to DK’s attention, for He poured strength and energy into Him revealing the true nature of the indicated vice — pride and self-satisfaction instead of a true humility. | 9. Dường như Chân sư của Ngài, Chân sư KH, đã hành động để chứng minh sự thật của điều Ngài đã lưu ý cho Chân sư DK, vì Ngài tuôn đổ sức mạnh và năng lượng vào Chân sư DK, làm lộ rõ bản chất thực sự của tật xấu đã được chỉ ra — lòng kiêu hãnh và sự tự mãn thay vì sự khiêm nhường chân thật. |
10. DK reveals the indicated quality almost as a surprise: it was his love for His Master. But was it a real love, or was it “pride in myself and a profound satisfaction with myself as an aspirant and a disciple”? We learn that it was very difficult for DK to see His Master’s point of view and that He protested “violently” when KH offered that point of view. DK was aggrieved that He should be so misunderstood by One He so loved — i. e. , by His Master. | 10. Chân sư DK tiết lộ phẩm tính được chỉ ra ấy gần như một điều bất ngờ: đó là tình thương Ngài dành cho Chân sư của mình. Nhưng đó có phải là tình thương chân thật, hay là “lòng tự hào về bản thân và sự mãn nguyện sâu sắc về mình với tư cách một người chí nguyện và một đệ tử”? Chúng ta biết rằng Chân sư DK rất khó nhìn nhận quan điểm của Chân sư mình và Ngài đã phản đối “kịch liệt” khi Chân sư KH nêu ra quan điểm ấy. Chân sư DK đau buồn vì một Đấng mà Ngài hết lòng yêu thương lại hiểu lầm Ngài đến thế — nghĩa là chính Chân sư của Ngài. |
11. We see that His situation was very close to the situation of some in His present group. It is a cautionary tale revealed to those standing on the periphery of His Ashram. Surely, in ourselves, we can find some of the same qualities, or at least, pride and self-satisfaction hiding behind an apparent humility. | 11. Chúng ta thấy rằng hoàn cảnh của Ngài rất gần với hoàn cảnh của một số người trong nhóm hiện tại của Ngài. Đây là một câu chuyện cảnh tỉnh được kể cho những người đang đứng ở ngoại vi ashram của Ngài. Chắc chắn, trong chính mình, chúng ta có thể tìm thấy một vài phẩm tính tương tự, hoặc ít nhất là lòng kiêu hãnh và sự tự mãn ẩn sau vẻ khiêm nhường bề ngoài. |
12. The eventual results, Master DK recounts, were spiritually dire. The life referenced proved to be a “life of failure” and the cause was the “depth of [His] egotism”. This is a very frank confession and should be pondered. | 12. Chân sư DK kể lại rằng những kết quả cuối cùng rất nghiêm trọng về mặt tinh thần. Kiếp sống được nhắc đến ấy hoá ra là một “kiếp sống thất bại” và nguyên nhân là “lòng vị ngã sâu nặng [của Ngài]”. Đây là một lời thú nhận rất thẳng thắn và cần được suy ngẫm. |
13. Master DK has shared deeply. His main reason for doing so is to save His present disciples from similar mistakes. Though He learnt much through the painful lesson, He lost much time in service and He seeks that a similar loss not befall His chelas. Unfortunately, for some of them, a similar loss was later to occur, for various reasons in the case of each disciple. | 13. Chân sư DK đã chia sẻ những điều sâu kín. Lý do chính khiến Ngài làm vậy là để giúp các đệ tử hiện tại tránh những sai lầm tương tự. Dù đã học được nhiều điều qua bài học đau đớn ấy, Ngài đã mất nhiều thời gian phụng sự và muốn các đệ tử của mình tránh một sự mất mát tương tự. Đáng tiếc là về sau, một số người trong họ vẫn chịu sự mất mát tương tự, vì những lý do khác nhau trong trường hợp của từng đệ tử. |
14. The Master focusses on the importance of time. Time matters much for disciples — much more than for the masses of people. | 14. Chân sư tập trung vào tầm quan trọng của thời gian. Thời gian có ý nghĩa rất lớn đối với các đệ tử — lớn hơn nhiều so với đối với quần chúng. |
15. The bottom line is that the usual modes of self-analysis, and the attitudes of self-defense and self-depreciation are wastes of time. DK wants His chelas to drop these self-defeating approaches simply for that reason. | 15. Điểm cốt yếu là những cách tự phân tích thông thường cùng các thái độ tự biện hộ và tự hạ thấp đều lãng phí thời gian. Chân sư DK muốn các đệ tử của Ngài từ bỏ những cách tiếp cận tự gây trở ngại ấy chỉ vì lý do đó. |
16. DK wants His disciples to move forward and there is a particular, correct way of doing so. With respect to themselves, they are to move forward “with discrimination”. The factor of a keen, discriminating intelligence is to be applied to their own process. They are to discriminate between lines of activity which are worthy of a disciple and useful and those which are not. | 16. Chân sư DK muốn các đệ tử của Ngài tiến bước, và có một cách cụ thể, đúng đắn để làm điều ấy. Đối với chính mình, họ phải tiến bước “với sự phân biện”. Họ cần vận dụng trí thông minh sắc bén, có khả năng phân biện vào tiến trình của chính mình. Họ phải phân biện giữa những hướng hoạt động xứng đáng với một đệ tử và hữu ích với những hướng hoạt động không có các phẩm tính ấy. |
17. With respect to their group, the disciples are to move forward with love and understanding; discriminative analysis is for the individual disciple to apply to himself/herself as prompted by his/her soul. In all this advice we can see the Master attempting to induce and establish in His chelas a healthy and goal-fit attitude. All of this instruction, we remember, is occurring during the onset of the Second World War. | 17. Đối với nhóm của mình, các đệ tử phải tiến bước với tình thương và sự thấu hiểu; việc phân tích có phân biện là điều mỗi đệ tử cần áp dụng cho chính mình theo sự thôi thúc của linh hồn mình. Trong tất cả những lời khuyên này, chúng ta có thể thấy Chân sư đang cố gắng khơi dậy và thiết lập nơi các đệ tử của Ngài một thái độ lành mạnh, phù hợp với mục tiêu. Chúng ta hãy nhớ rằng tất cả những lời huấn thị này được đưa ra vào thời kỳ đầu của Chiến tranh Thế giới thứ Hai. |
18. DK asks for due attention to His words and for cooperation. He seems to link such attention and cooperation with a future time of achievement when He will have the “joy” of welcoming His chelas into the “Secret Place “ as true servers and initiates. | 18. Chân sư DK yêu cầu sự chú ý thích đáng đối với lời Ngài và sự hợp tác. Dường như Ngài liên kết sự chú ý và hợp tác ấy với một thời điểm thành tựu trong tương lai, khi Ngài sẽ có “sự hoan hỉ” được đón các đệ tử của Ngài vào “Chốn Bí Mật “ với tư cách những người phụng sự chân chính và các điểm đạo đồ. |
19. That “Secret Place” may relate to the “chamber of initiation”, but also to a state of being which is characteristic of the Hierarchy. | 19. “Chốn Bí Mật” ấy có thể liên quan đến “điện điểm đạo”, nhưng cũng liên quan đến một trạng thái hiện tồn đặc trưng của Thánh đoàn. |
20. We note that it will be the Master’s “joy” to welcome them. The greatest joy of all teachers is to see their students succeed. | 20. Chúng ta lưu ý rằng việc đón tiếp họ sẽ là niềm “hoan hỉ” của Chân sư. Niềm hoan hỉ lớn nhất của mọi huấn sư là thấy các môn sinh của mình thành công. |
21. The Master’s words are so clear, rational and full of incentive that one wonders how they could be resisted. Consciously, they probably were not resisted, but it is the unconscious factors within every one of us which throw up the resistance, and of such resistance we must be made aware. Otherwise, we will resist and not realize that we are resisting, and our possibilities for progress will be greatly reduced. | 21. Lời của Chân sư rõ ràng, hợp lý và đầy sức khích lệ đến mức người ta tự hỏi làm sao lại có thể cưỡng lại những lời ấy. Có lẽ họ không chủ ý cưỡng lại, nhưng chính những yếu tố vô thức bên trong mỗi người chúng ta làm nảy sinh sự kháng cự, và chúng ta phải nhận biết sự kháng cự ấy. Nếu không, chúng ta sẽ kháng cự mà không nhận ra mình đang kháng cự, và khả năng tiến bộ của chúng ta sẽ giảm đi rất nhiều. |
I have revealed to you, my disciples, my true name. The necessity for eradicating all reason for the speculative questioning of some of you as to my identity and of spurring others of you on to renewed and consecrated effort are two of my reasons for relinquishing my anonymity. Another reason is that I would have you recognise the fact that you are accepted disciples with all that that status necessarily implies of responsibility and opportunity. Still another deciding factor with me is to test out your ability to keep silent until it is no longer necessary to do so. Silence is one of the prime prerequisites for initiation and something which every disciple must perforce learn. There is, therefore, the necessity for the test. Many of [79] you are already interiorly convinced of my identity. You have not voiced your belief in this connection except to A. A. B. who has not responded with any corroborating evidence or comments. If you cannot be trusted to keep silence and to preserve a detached and independent attitude, then you are not ready for that which I have to give and the sooner we discover this the better. If you are unable to retain a silent tongue — even among yourselves — then you are unfit to be trusted and that I should dislike to believe. | Các đệ tử của Tôi, Tôi đã tiết lộ cho các bạn tên thật của mình. Nhu cầu loại bỏ mọi lý do khiến một số các bạn suy đoán, đặt câu hỏi về danh tính của Tôi, và thúc đẩy những người khác trong các bạn có nỗ lực mới mẻ, thánh hiến, là hai lý do khiến Tôi từ bỏ sự ẩn danh. Một lý do khác là Tôi muốn các bạn nhận ra sự thật rằng các bạn là những đệ tử được chấp nhận, cùng mọi trách nhiệm và cơ hội mà địa vị ấy tất yếu bao hàm. Một yếu tố quyết định khác đối với Tôi là thử thách khả năng giữ im lặng của các bạn cho đến khi không còn cần làm vậy nữa. Im lặng là một trong những điều kiện tiên quyết hàng đầu cho điểm đạo, và là điều mọi đệ tử nhất thiết phải học. Vì vậy, cần có cuộc thử thách này. Nhiều người trong [79] các bạn đã tin chắc trong nội tâm về danh tính của Tôi. Các bạn chưa bày tỏ niềm tin ấy, ngoại trừ với A.A.B., và Bà không đáp lại bằng bất kỳ bằng chứng xác nhận hay lời bình nào. Nếu không thể tin rằng các bạn sẽ giữ im lặng và duy trì thái độ tách rời, độc lập, thì các bạn chưa sẵn sàng cho điều Tôi phải trao, và chúng ta càng sớm phát hiện điều này càng tốt. Nếu các bạn không thể giữ im lặng—ngay cả giữa các bạn với nhau—thì các bạn chưa xứng đáng được tin cậy, và Tôi không muốn tin điều đó. |
1. In the year 1939, Master DK revealed His “true name” to those disciples who were to continue with Him in the New Seed Group experiment. Master DK goes by a number of names, and the name Djwhal Khul is a composite name containing hints for those who are alert. It is certainly not His only name, and was almost certainly not the name by which He was known in Tibet and Northern India. | 1. Vào năm 1939, Chân sư DK tiết lộ “tên thật” của Ngài cho những đệ tử sẽ tiếp tục cùng Ngài trong cuộc thử nghiệm Nhóm Hạt Giống Mới. Chân sư DK được biết đến dưới nhiều tên gọi, và tên Djwhal Khul là một tên ghép chứa những gợi ý dành cho người tinh ý. Đó chắc chắn không phải tên duy nhất của Ngài, và gần như chắc chắn không phải tên mà người ta dùng để biết đến Ngài ở Tây Tạng và miền Bắc Ấn Độ. |
2. There had been much speculation as to the real identity of the initiate teaching through AAB. This “speculative questioning” was becoming a distraction and needed to be eliminated. | 2. Đã có nhiều suy đoán về danh tính thực sự của vị điểm đạo đồ giảng dạy thông qua AAB. Những “câu hỏi suy đoán” này đang gây phân tâm và cần được loại bỏ. |
3. Another reason for the revelation was the incentive to “renewed and consecrated effort” which the revelation would obviously bring to some. | 3. Một lý do khác cho sự tiết lộ này là sự khích lệ hướng đến “nỗ lực được đổi mới trong tinh thần thánh hiến” mà sự tiết lộ ấy rõ ràng sẽ mang đến cho một số người. |
4. Another reason is that those preparing to enter the New Seed Group were considered as “accepted disciples”. Accepted disciples are to know the Master by Whom they are accepted. The revelation of the DK’s “true name” establishes the fact of the accepted discipleship of the remaining chelas. | 4. Một lý do khác là những người đang chuẩn bị gia nhập Nhóm Hạt Giống Mới được xem là “những đệ tử được chấp nhận”. Những đệ tử được chấp nhận cần biết Chân sư đã chấp nhận họ. Việc Chân sư DK tiết lộ “tên thật” xác lập sự thật rằng những đệ tử còn lại đã đạt địa vị đệ tử được chấp nhận. |
5. Still another reason for the revelation is to serve as a “test” of the disciples’ ability to keep silence. “Silence is one of the prime prerequisites for initiation”, we are told. Why should this be so? The secrets of initiation cannot be shared indiscriminately or irresponsibly. They come as a special charge to the one initiated, and can only be communicated by the initiator. So often the breaking of silence is an egotistic act, a calling attention to oneself and to one’s special knowledge or status. This is plainly not allowed. | 5. Một lý do nữa cho sự tiết lộ này là để làm một “thử thách” đối với khả năng giữ im lặng của các đệ tử. “Im lặng là một trong những điều kiện tiên quyết hàng đầu cho điểm đạo”, chúng ta được cho biết như vậy. Vì sao lại như thế? Những bí mật của điểm đạo không thể được chia sẻ một cách tuỳ tiện hay vô trách nhiệm. Đó là một sự uỷ thác đặc biệt dành cho người được điểm đạo, và chỉ Đấng Điểm đạo mới có thể truyền đạt những bí mật ấy. Rất thường, việc phá vỡ sự im lặng là một hành động vị ngã, nhằm thu hút sự chú ý đến bản thân và tri thức hay địa vị đặc biệt của mình. Điều này rõ ràng không được phép. |
6. The test of silence, in this case, is not only considered desirable but necessary. Master DK is seeing which of His chelas can truly be trusted. | 6. Trong trường hợp này, thử thách về sự im lặng không chỉ được xem là đáng mong muốn mà còn cần thiết. Chân sư DK đang xem ai trong số các đệ tử của Ngài thực sự đáng tin cậy. |
7. The Master continues to give the necessity for silence considerable emphasis, indicating its importance. | 7. Chân sư tiếp tục nhấn mạnh đáng kể sự cần thiết phải giữ im lặng, cho thấy tầm quan trọng của điều ấy. |
8. A further test relates to the degree of His chela’s detachment and independence. The revelation of the Master’s true name could promote in some, attachment and dependency. These tendencies, also, would be unsuitable for those in training for group initiation. | 8. Một thử thách nữa liên quan đến mức độ tách rời và độc lập của đệ tử Ngài. Việc tiết lộ tên thật của Chân sư có thể thúc đẩy sự quyến luyến và lệ thuộc nơi một số người. Những khuynh hướng này cũng không phù hợp với những người đang được huấn luyện cho điểm đạo nhóm. |
If, when you have discovered who I am, you question the wisdom of my decision to reveal myself to you and hold that I should have withheld my identity, then that too will be revealing and will guide me in all my future approaches to you. If knowledge of who I am leads you into the dangerous path of the devotee, it will be good for you to discover that tendency within yourself; if you henceforth over-emphasise the importance of my words and if you fall into the dangerous habit of accepting authority, your weakness will stand revealed to me, to yourself, and to your group brothers. We shall all profit thereby. You will have discovered an innate weakness which discovery of my identity will have drawn forth; if you are burdened by the knowledge, then you must learn to carry burdens or else you will be of no use as a world server. The fact that I am a Master alters me not. I am still your Tibetan Teacher and the same Instructor who has taught you for many years. I remain the same individual and am in no wise different. Any reaction upon your part will be a personality reaction and, therefore, to be recognised, dealt with and finally subdued. | Nếu sau khi khám phá Tôi là ai, các bạn nghi ngờ sự sáng suốt trong quyết định Tôi tiết lộ mình cho các bạn, và cho rằng Tôi lẽ ra nên giữ kín danh tính, thì điều đó cũng sẽ bộc lộ nhiều điều và định hướng mọi cách tiếp cận của Tôi với các bạn trong tương lai. Nếu biết Tôi là ai khiến các bạn đi vào con đường nguy hiểm của người sùng tín, thì việc khám phá khuynh hướng ấy trong bản thân sẽ có ích cho các bạn; nếu từ nay các bạn quá nhấn mạnh tầm quan trọng của lời Tôi và rơi vào thói quen nguy hiểm là chấp nhận uy quyền, thì sự yếu kém của các bạn sẽ bộc lộ trước Tôi, trước chính các bạn và trước các huynh đệ trong nhóm. Tất cả chúng ta sẽ được lợi từ đó. Các bạn sẽ khám phá một sự yếu kém vốn có mà việc biết danh tính của Tôi đã khơi lộ; nếu tri thức ấy là gánh nặng cho các bạn, thì các bạn phải học cách mang gánh nặng, bằng không các bạn sẽ chẳng hữu ích gì với tư cách người phụng sự thế gian. Việc Tôi là một Chân sư không làm Tôi thay đổi. Tôi vẫn là Huấn sư Tây Tạng của các bạn, vẫn là Người Huấn Dạy đã dạy các bạn suốt nhiều năm. Tôi vẫn là cùng một cá nhân ấy, không hề khác đi. Bất cứ phản ứng nào về phía các bạn cũng sẽ là một phản ứng phàm ngã, và vì vậy cần được nhận ra, xử lý và cuối cùng chế ngự. |
1. DK continues to emphasize the importance of the test. Different types of undesirable responses to the revelation of His “name” are possible, and He reviews them. | 1. Chân sư DK tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của thử thách. Có thể xuất hiện nhiều kiểu đáp ứng không mong muốn trước việc tiết lộ “tên” của Ngài, và Ngài xem xét những kiểu đáp ứng ấy. |
2. Some disciples might question the wisdom of the Master’s revelation. What would such an attitude disclose to the Master? That such disciples distrusted themselves and their fellow disciples? That they doubted that they and their fellow disciples could respond properly? This would be a lack of faith and love. DK does not really elaborate upon what such an attitude would reveal in those assuming it, but it is clear that it is not a desirable attitude. It would further indicate an interior challenging of the Master’s judgment. | 2. Một số đệ tử có thể nghi ngờ tính minh triết trong việc tiết lộ của Chân sư. Một thái độ như thế sẽ bộc lộ điều gì với Chân sư? Rằng những đệ tử ấy không tin tưởng chính mình và các đệ tử đồng môn? Rằng họ nghi ngờ khả năng đáp ứng đúng đắn của mình và các đệ tử đồng môn? Điều này cho thấy sự thiếu đức tin và tình thương. Chân sư DK không thực sự giải thích chi tiết thái độ ấy sẽ bộc lộ điều gì nơi những người có thái độ đó, nhưng rõ ràng đây không phải một thái độ đáng mong muốn. Nó còn cho thấy trong nội tâm họ đang chất vấn sự phán đoán của Chân sư. |
3. DK calls the path of the devotee “dangerous”. The habit of “accepting authority” is also “dangerous”. Some disciples in His group might fall into such patterns. If so, they need to see their tendencies in this regard and correct them. | 3. Chân sư DK gọi con đường của người sùng tín là “nguy hiểm”. Thói quen “chấp nhận uy quyền” cũng “nguy hiểm”. Một số đệ tử trong nhóm của Ngài có thể rơi vào những khuôn mẫu như vậy. Nếu thế, họ cần nhận ra những khuynh hướng của mình về mặt này và sửa đổi chúng. |
4. It is clear that the revelation of the “true name” will promote self-revelation. Innate weaknesses will be revealed by the chelas’ responses. | 4. Rõ ràng, việc tiết lộ “tên thật” sẽ thúc đẩy sự bộc lộ bản thân. Những điểm yếu cố hữu sẽ hiển lộ qua các đáp ứng của những đệ tử. |
5. Another possible response is to feel “burdened by the knowledge”. There is no avoiding such burdens and special knowledge is a burden. DK’s advice is simply to learn to carry burdens, as all servers must. | 5. Một đáp ứng khác có thể xảy ra là cảm thấy “hiểu biết ấy trở thành gánh nặng”. Không thể tránh những gánh nặng như vậy, và tri thức đặc biệt quả là một gánh nặng. Lời khuyên của Chân sư DK đơn giản là học cách mang gánh nặng, như mọi người phụng sự đều phải làm. |
6. We can see Master DK working to manage the consequences which might result in His chelas as a result of the revelation. He offers an interpretive framework at a time when the consequences were, no doubt, already beginning to emerge. | 6. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK đang cố gắng điều chỉnh những hệ quả có thể nảy sinh nơi các đệ tử của Ngài từ sự tiết lộ ấy. Ngài đưa ra một khuôn khổ diễn giải vào lúc những hệ quả ấy chắc hẳn đã bắt đầu xuất hiện. |
7. We have become very used to the idea that DK is a Master, but those earlier chelas did not have our perspective. Indeed, the revelation was a test. | 7. Chúng ta đã rất quen với ý tưởng rằng Chân sư DK là một Chân sư, nhưng những đệ tử thuở trước ấy không có góc nhìn của chúng ta. Quả thực, sự tiết lộ ấy là một thử thách. |
8. Essentially, the Master is asking His chelas not to react, as any reaction would be a personality reaction. His approach is very executive. If reaction comes, it has to be recognized, dealt with and subdued. He is clearly interested in avoiding glamorous exaggerations. He wants the work to go on without disruption. He is looking for a balanced and wise response to the revelation, and offers a context of understanding which will promote such a response. | 8. Về cơ bản, Chân sư đang yêu cầu các đệ tử của Ngài đừng phản ứng, vì bất kỳ phản ứng nào cũng sẽ là phản ứng của phàm ngã. Cách tiếp cận của Ngài rất quyết đoán trong điều hành. Nếu phản ứng xuất hiện, cần nhận biết, xử lý và chế ngự nó. Rõ ràng, Ngài quan tâm đến việc tránh những sự cường điệu nhuốm ảo cảm. Ngài muốn công việc tiếp diễn mà không bị gián đoạn. Ngài mong có một đáp ứng cân bằng và minh triết trước sự tiết lộ ấy, đồng thời đưa ra một bối cảnh giúp thấu hiểu để thúc đẩy đáp ứng như vậy. |
Let us go forward together, my brothers and chelas, along the path of service; let us together enter into the Light and tread the way to world peace and not to personal illumination — illumination is inevitable but incidental. | Các huynh đệ và đệ tử của Tôi, chúng ta hãy cùng nhau tiến bước trên con đường phụng sự; hãy cùng nhau bước vào Ánh sáng và đi trên con đường dẫn đến hòa bình thế giới, chứ không đến sự soi sáng cá nhân—sự soi sáng là điều tất yếu nhưng chỉ là hệ quả đi kèm. |
1. Words about His revelation conclude with a group exhortation to move forward together. | 1. Những lời nói về sự tiết lộ của Ngài kết thúc bằng lời kêu gọi cả nhóm cùng nhau tiến bước. |
2. The forward movement is “into the Light” and toward “world peace”. Personal illumination is not the goal. It will occur along the way and is an incidental. | 2. Sự tiến bước ấy là “vào Ánh sáng” và hướng đến “hoà bình thế giới”. Sự soi sáng cá nhân không phải là mục tiêu. Nó sẽ diễn ra trên đường đi và là một kết quả đi kèm. |
3. DK wants His chelas to think in broader terms, and is interested in inducing the sense of ‘progressive ashramic fellowship’, enhanced by (rather than disturbed by) His revelation of His “true name”. | 3. Chân sư DK muốn các đệ tử của Ngài suy nghĩ rộng hơn và quan tâm đến việc khơi dậy ý thức về ‘tình huynh đệ ngày càng phát triển trong ashram’, được củng cố nhờ (thay vì bị xáo trộn vì) việc Ngài tiết lộ “tên thật”. |
As regards all of you — with what have I to deal? An untested group, a static group, a critical group and a group subject to pronounced glamours — such is the material with which I must carry forward my work. What can I do in such a situation, my brothers? I can trust your devotion to humanity, your willingness to learn and your determination to proceed along the path of service at any cost. This I will most certainly do. [80] | Đối với tất cả các bạn—Tôi phải xử lý điều gì? Một nhóm chưa được thử thách, một nhóm trì trệ, một nhóm hay chỉ trích và một nhóm chịu những ảo cảm rõ rệt chi phối—đó là chất liệu mà Tôi phải dùng để tiếp tục công việc của mình. Các huynh đệ của tôi, Tôi có thể làm gì trong hoàn cảnh như vậy? Tôi có thể tin vào lòng tận tụy của các bạn đối với nhân loại, sự sẵn lòng học hỏi và quyết tâm tiến bước trên con đường phụng sự bằng mọi giá. Tôi chắc chắn sẽ làm như vậy. |
1. Master DK is most frank in His assessment. His words will surely have a deglamorizing effect. We can hardly consider this assessment a complaint; it is simply a sobering view of reality which the Master is sharing in order to bring increased ‘spiritual sobriety’ to His chelas. | 1. Chân sư DK hết sức thẳng thắn trong sự đánh giá của Ngài. Lời Ngài chắc chắn sẽ có tác dụng làm tiêu tan ảo cảm. Chúng ta khó có thể xem sự đánh giá này là một lời than phiền; đó đơn giản là một cái nhìn tỉnh táo về thực tại mà Chân sư chia sẻ nhằm gia tăng ‘sự tỉnh táo về tinh thần’ nơi các đệ tử của Ngài. |
2. We might be able to apply the various assessments to each of the four groups-of-nine then in existence. The Group of Educators was so new that it was “untested”; the Group of Healers was subject to a tendency towards criticism; the Trained Observers (the “Glamour Group”) was, as might be expected, “subject to pronounced glamours”. This leaves the Group of Telepathic Workers and the implication is that they were “static”. | 2. Có lẽ chúng ta có thể áp dụng các đánh giá khác nhau ấy cho từng nhóm trong bốn nhóm, mỗi nhóm chín người, hiện hữu khi đó. Nhóm Các Nhà Giáo Dục còn mới đến mức “chưa qua thử thách”; Nhóm Các Nhà Trị Liệu chịu ảnh hưởng của khuynh hướng chỉ trích; Các Nhà Quan Sát Lão Luyện (“Nhóm Ảo Cảm”), như có thể dự đoán, “chịu sự chi phối của những ảo cảm rõ rệt”. Như vậy còn lại Nhóm Những Người Hoạt Động Viễn Cảm, và hàm ý là họ “đình trệ”. |
3. The evaluation is not heartening, but DK reveals that certain attitudes will assist the difficult situation. | 3. Sự đánh giá này không đem lại nhiều khích lệ, nhưng Chân sư DK cho biết rằng một số thái độ nhất định sẽ giúp cải thiện tình hình khó khăn ấy. |
a. Devotion to humanity | a. Lòng tận tụy với nhân loại |
b. Willingness to learn | b. Sự sẵn lòng học hỏi |
c. Willingness to proceed along the path of service at any cost. | c. Sự sẵn lòng tiến bước trên con đường phụng sự bằng bất cứ giá nào. |
These can ameliorate the situation. We note that the devotion is not to the Master but to “humanity”. One would think that there would always be a “willingness to learn” (though this proved not to be the case in a number of instances). The last of the requirements would see the group through, for it would be based on sacrifice, and where there is sacrifice there is inevitable progress. | Những điều này có thể cải thiện tình hình. Chúng ta lưu ý rằng lòng tận tụy ấy không hướng đến Chân sư mà hướng đến “nhân loại”. Người ta hẳn sẽ nghĩ rằng lúc nào cũng có “sự sẵn lòng học hỏi” (dù thực tế đã cho thấy điều này không đúng trong một số trường hợp). Yêu cầu cuối cùng sẽ giúp nhóm vượt qua mọi khó khăn, vì yêu cầu ấy dựa trên sự hi sinh, và ở đâu có sự hi sinh thì ở đó tất yếu có tiến bộ. |
4. The Master says He will trust in these three attitudes. The fact that He offers that trust is a stimulant to the very attitudes He seeks to see unalterably established. | 4. Chân sư nói rằng Ngài sẽ đặt niềm tin vào ba thái độ này. Việc Ngài trao niềm tin ấy chính là một sự khích lệ đối với những thái độ mà Ngài mong thấy được xác lập vững bền. |
I would like to deal, first of all, with the objectives that I have in mind for all of you: | [80] Trước hết, Tôi muốn bàn đến những mục tiêu mà Tôi dự định cho tất cả các bạn: |
1. The main present objective. | 1. Mục tiêu chính hiện nay. |
I seek to bring about a much needed group integration. The polarisation of this group — as a unity upon the mental plane — is not yet accomplished. It is most needed and until this integration has been achieved, the united group inter-communication will not be possible or the desired group work capable of accomplishment. Several of you need to do some careful thinking and should align yourselves in love with your fellow disciples, eliminating all sense of criticism and personal self-satisfaction in your own judgment and rectitude. | Tôi tìm cách thực hiện sự tích hợp nhóm vốn rất cần thiết. Sự phân cực của nhóm này—như một thể thống nhất trên cõi trí—vẫn chưa hoàn tất. Điều này vô cùng cần thiết, và chừng nào chưa đạt được sự tích hợp ấy, sự liên lạc qua lại của nhóm hợp nhất sẽ chưa thể có, cũng như công việc nhóm mong muốn chưa thể hoàn thành. Một số các bạn cần suy nghĩ cẩn thận và nên chỉnh hợp mình trong tình thương với các đệ tử đồng môn, loại bỏ mọi ý chỉ trích và sự tự mãn cá nhân về khả năng phán đoán cùng sự ngay chính của mình. |
1. Again, the Master offers a clarification of objectives. The first and main objective is “group integration”. It is “much needed” | 1. Một lần nữa, Chân sư làm sáng tỏ các mục tiêu. Mục tiêu đầu tiên và chủ yếu là “sự tích hợp nhóm”. Điều ấy “rất cần thiết” |
2. To which group is He talking? Perhaps to the members of all four. The four groups, though differentiated in their outer focus, are intended to be “a unity upon the mental plane”. That mental polarization is not yet accomplished. | 2. Ngài đang nói với nhóm nào? Có lẽ với các thành viên của cả bốn nhóm. Bốn nhóm, dù có trọng tâm hoạt động bên ngoài khác nhau, đều nhằm trở thành “một thể thống nhất trên cõi trí”. Sự phân cực trí tuệ ấy vẫn chưa thành tựu. |
3. The flow between group members depends upon soul-infusion. This is not achieved. It seems that there are several group members who need more love, less criticism and less personal self-satisfaction. Love will promote the integration and the elimination of criticism and personal self-satisfaction will lift barriers to “united group inter-communication”. | 3. Dòng lưu chuyển giữa các thành viên nhóm tùy thuộc vào sự thấm nhuần của linh hồn. Điều này vẫn chưa đạt được. Dường như có một số thành viên nhóm cần thêm tình thương, bớt chỉ trích và bớt tự mãn cá nhân. Tình thương sẽ thúc đẩy sự tích hợp, và việc loại bỏ sự chỉ trích cùng sự tự mãn cá nhân sẽ gỡ bỏ những rào cản đối với “sự giao tiếp qua lại trong nhóm hợp nhất”. |
4. It is amazing how often the Master has to repeat the fundamentals. | 4. Thật đáng ngạc nhiên khi Chân sư phải thường xuyên nhắc lại những điều căn bản đến thế. |
2. The future objective of these ashramic groups. | 2. Mục tiêu tương lai của các nhóm ashram này. |
It is fundamentally necessary that the new groups which are inaugurating the new discipleship should eventually establish a telepathic rapport with each other. Later, when there is a closer individual inter-relation, it will be possible to give definite teaching which will make this increasingly possible, but in the meantime a hint will have to suffice. It is foundational in nature and will have to be accepted and somewhat understood prior to successful work in all these pioneering groups. Think outwardly towards each other in love. Just simply that, my brothers — simply and humbly that and no more than that at present. Can you accept such a simple rule — apparently simple? In this way the etheric body of this group of disciples will be animated by the golden energy and the light of love and thus a network of light will be established which will form a focal point of energy in the etheric body of humanity itself and eventually in the planetary etheric body also. | Về căn bản, những nhóm mới đang mở đầu địa vị đệ tử mới này cuối cùng cần thiết lập mối giao cảm viễn cảm với nhau. Về sau, khi quan hệ qua lại giữa các cá nhân trở nên mật thiết hơn, sẽ có thể đưa ra giáo huấn cụ thể giúp điều này ngày càng khả thi, nhưng trong lúc này, một gợi ý phải là đủ. Gợi ý này có tính nền tảng, cần được chấp nhận và thấu hiểu phần nào trước khi có thể làm việc thành công trong tất cả các nhóm tiên phong này. Hãy hướng tư tưởng ra ngoài đến với nhau trong tình thương. Các huynh đệ của tôi, chỉ đơn giản như vậy—đơn giản và khiêm nhường như vậy, và lúc này không gì hơn. Các bạn có thể chấp nhận một quy luật đơn giản như thế—có vẻ đơn giản—không? Bằng cách này, năng lượng vàng kim và ánh sáng của tình thương sẽ làm sống động thể dĩ thái của nhóm đệ tử này, từ đó hình thành một mạng lưới ánh sáng tạo nên tiêu điểm năng lượng trong thể dĩ thái của chính nhân loại, và cuối cùng cả trong thể dĩ thái hành tinh. |
1. Telepathic rapport is of considerable importance for all the groups. This will help the new ashramic groups work with coordination — with each other and with the guiding Master. | 1. Mối giao cảm viễn cảm có tầm quan trọng đáng kể đối với tất cả các nhóm. Điều này sẽ giúp các nhóm ashram mới phối hợp làm việc — với nhau và với Chân sư hướng dẫn. |
2. There are definite techniques to promote telepathic rapport, but DK cannot give them yet. Instead He gives a short and simple hint which is foundational to the impartation of any more precise techniques. | 2. Có những kỹ thuật cụ thể để thúc đẩy mối giao cảm viễn cảm, nhưng Chân sư DK chưa thể truyền dạy. Thay vào đó, Ngài đưa ra một gợi ý ngắn gọn và đơn giản, làm nền tảng cho việc truyền dạy bất kỳ kỹ thuật nào chính xác hơn. |
3. That hint is, “Think outwardly towards each other in love”. Do so “simply” and “humbly”; this for the present, and nothing more. In some ways, the entire Triangles Work is based upon this simple approach. | 3. Gợi ý ấy là, “Hãy hướng tư tưởng ra ngoài đến với nhau trong tình thương”. Hãy làm như vậy một cách “đơn giản” và “khiêm nhường”; hiện nay chỉ như thế, không cần gì hơn. Theo một vài phương diện, toàn bộ Công Việc Tam Giác đều dựa trên cách tiếp cận đơn giản này. |
4. The advice is so foundational that each of us should take it to heart. “Harmless mind” is one of our first prerequisites to all successful work. | 4. Lời khuyên này có tính nền tảng đến mức mỗi người chúng ta đều nên ghi lòng. “Thể trí vô tổn hại” là một trong những điều kiện tiên quyết đầu tiên của chúng ta đối với mọi công việc thành công. |
5. DK explains the occult result of following this simple rule. The etheric body of the group of disciples will be “animated by the golden energy and the light of love”, and a “network of light will be established which will form a focal point of energy in the etheric body of humanity itself and eventually in the planetary etheric body also”. We see that possibility that great developments can result from humble beginnings. The foundation must be correct. | 5. Chân sư DK giải thích kết quả huyền bí của việc tuân theo quy luật đơn giản này. Thể dĩ thái của nhóm đệ tử sẽ “trở nên sống động nhờ năng lượng vàng kim và ánh sáng của tình thương”, và một “mạng lưới ánh sáng sẽ hình thành, tạo nên một tiêu điểm năng lượng trong thể dĩ thái của chính nhân loại, và cuối cùng cả trong thể dĩ thái hành tinh nữa”. Chúng ta thấy khả năng những sự phát triển lớn lao có thể bắt nguồn từ những khởi đầu khiêm tốn. Nền tảng phải đúng đắn. |
6. I would say that for all group work being attempted in the world (and especially esoteric, subjective group work) the injunction to “Think outwardly towards each other in love” is indispensable. | 6. Tôi cho rằng đối với mọi công việc nhóm đang được nỗ lực thực hiện trên thế giới (đặc biệt là công việc nhóm nội môn, chủ quan), huấn thị “Hãy hướng tư tưởng ra ngoài đến với nhau trong tình thương” là không thể thiếu. |
3. The general group objective. | 3. Mục tiêu chung của nhóm. |
This is the shifting of consciousness of all integrated human beings in increasingly large numbers on to the etheric levels of consciousness and activity. This entails conscious work on those levels as energy units, each contributing his individual share and his special quota of energy to the sum total of available etheric energy and doing this both consciously and intelligently. When this is done, the man is then ready for the first initiation [81] and is a true occultist — working with energy under hierarchical guidance. | Đó là chuyển tâm thức của tất cả những con người đã tích hợp, với số lượng ngày càng đông, lên các cấp độ tâm thức và hoạt động dĩ thái. Điều này đòi hỏi họ làm việc hữu thức trên những cấp độ ấy như các đơn vị năng lượng, mỗi người đóng góp phần riêng và phần năng lượng đặc thù của mình vào tổng thể năng lượng dĩ thái hiện có, thực hiện điều này vừa hữu thức vừa thông minh. Khi làm được như vậy, con người sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ nhất [81] và là một nhà huyền bí học chân chính—làm việc với năng lượng dưới sự hướng dẫn của Thánh đoàn. |
1. The Master speaks of the growing etheric awareness of all integrated human beings. | 1. Chân sư nói về sự nhận biết dĩ thái ngày càng tăng của tất cả những con người đã tích hợp. |
2. Here He speaks of “etheric levels of consciousness and activity”. Elsewhere He seems to say that there is no such thing as “etheric consciousness”. He is speaking, however, of an emerging awareness in humanity of the etheric body. | 2. Ở đây, Ngài nói về “các cấp độ dĩ thái của tâm thức và hoạt động”. Ở nơi khác, dường như Ngài nói rằng không có cái gọi là “tâm thức dĩ thái”. Tuy nhiên, Ngài đang nói về sự nhận biết thể dĩ thái đang xuất hiện trong nhân loại. |
3. Disciples are to learn to work etherically. Disciples are to consider themselves as “energy units”, contributing a special quota of etheric energy to the sum total of available etheric energy. We understand that the advance of telepathy depends upon this growing capacity to work etherically. | 3. Các đệ tử phải học cách làm việc trên các cấp độ dĩ thái. Các đệ tử phải xem mình là “những đơn vị năng lượng”, đóng góp một lượng năng lượng dĩ thái đặc thù vào tổng năng lượng dĩ thái sẵn có. Chúng ta thấu hiểu rằng sự tiến bộ của viễn cảm tùy thuộc vào khả năng làm việc trên các cấp độ dĩ thái ngày càng tăng này. |
4. Of which initiation is the Master speaking? Is an initiate of the first degree a “true occultist”? It would seem not to be the case. It might be said that an initiate of the third degree is the true occultist. First degree initiates can, however, work under hierarchical guidance. As well, the etheric body is of much importance to those taking the first initiation. In general however, it does not seem that we can interpret these statements unless we think primarily of the third initiation. | 4. Chân sư đang nói đến lần điểm đạo nào? Một điểm đạo đồ bậc một có phải là một “nhà huyền bí học chân chính” không? Dường như không phải vậy. Có thể nói rằng một điểm đạo đồ bậc ba mới là nhà huyền bí học chân chính. Tuy nhiên, các điểm đạo đồ bậc một có thể làm việc dưới sự hướng dẫn của Thánh đoàn. Ngoài ra, thể dĩ thái có tầm quan trọng lớn đối với những người trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Tuy nhiên, nhìn chung, dường như chúng ta không thể diễn giải những phát biểu này nếu không chủ yếu nghĩ đến lần điểm đạo thứ ba. |
4. The individual objective. | 4. Mục tiêu cá nhân. |
This necessitates the preparation of the life and consciousness for this new process of group initiation. This group initiation is itself of real import and is dependent upon the unit in the group fitting himself for initiation and at the same time learning to subordinate his spiritual ambition and desires to the group pace and to the necessity of right timing where his fellow disciples are concerned. It involves, therefore, a dual attitude towards the processes of initiation: the adapting of oneself to the needed integration and, secondly, to the development of spiritual responsiveness to impressions from the level of the soul and of the spiritual Hierarchy. It also involves the cultivation of judgment and of wisdom in the establishment of a right inter-relation with the group of disciples so that the group — in this case my group of disciples and definitely a group entity — may move on together. This necessitates the same conditions for the group as always exist for the individual: right integration on the three personality levels and also on soul levels, plus right group impression or responsiveness to the spiritual and higher psychic “gift waves” — as Tibetan occultists call them. | Điều này đòi hỏi phải chuẩn bị đời sống và tâm thức cho tiến trình điểm đạo nhóm mới này. Chính điểm đạo nhóm có tầm quan trọng thực sự, và tùy thuộc vào việc đơn vị trong nhóm tự làm cho mình thích hợp với điểm đạo, đồng thời học cách đặt tham vọng và những mong muốn tinh thần của mình dưới nhịp độ của nhóm và nhu cầu đúng thời điểm đối với các đệ tử đồng môn. Vì vậy, điều này bao hàm một thái độ kép đối với các tiến trình điểm đạo: tự thích nghi với sự tích hợp cần thiết và, thứ hai, phát triển khả năng đáp ứng tinh thần với những ấn tượng từ cấp độ linh hồn và Thánh đoàn. Điều này cũng bao hàm việc trau dồi óc phán đoán và minh triết để thiết lập mối quan hệ đúng đắn với nhóm đệ tử, sao cho nhóm—trong trường hợp này là nhóm đệ tử của Tôi, rõ ràng là một thực thể nhóm—có thể cùng nhau tiến bước. Điều này đòi hỏi nhóm phải đáp ứng những điều kiện vẫn luôn áp dụng cho cá nhân: sự tích hợp đúng đắn trên ba cấp độ phàm ngã và cả trên các cấp độ linh hồn, cùng khả năng tiếp nhận ấn tượng đúng đắn của nhóm, hay khả năng đáp ứng với những “làn sóng ân tứ” tinh thần và thông linh cao cấp—như cách gọi của các nhà huyền bí học Tây Tạng. |
1. The individual objective involves preparation for the new process of group initiation. | 1. Mục tiêu cá nhân bao hàm sự chuẩn bị cho tiến trình điểm đạo nhóm mới. |
2. It is not the responsibility of the group to prepare the individual. Each individual has the responsibility of fitting himself for initiation. | 2. Việc chuẩn bị cho cá nhân không phải là trách nhiệm của nhóm. Mỗi cá nhân có trách nhiệm tự chuẩn bị cho mình đủ điều kiện điểm đạo. |
3. There is as well the additional responsibility of learning to subordinate spiritual ambition and desire to the “group pace”. This involves a develop considerateness with respect to one’s fellow disciples, especially in matters of timing. | 3. Còn có thêm trách nhiệm học cách đặt tham vọng và mong muốn tinh thần dưới “nhịp tiến của nhóm”. Điều này đòi hỏi phát triển sự quan tâm chu đáo đối với các đệ tử đồng môn của mình, đặc biệt trong những vấn đề về thời điểm. |
4. Each individual is to have a dual attitude towards initiation. There is a group integration occurring and each disciple must adapt himself to it. | 4. Mỗi cá nhân phải có một thái độ kép đối với điểm đạo. Một sự tích hợp nhóm đang diễn ra, và mỗi đệ tử phải tự thích ứng với sự tích hợp ấy. |
5. There is also the need to remain responsive to Hierarchy. | 5. Cũng cần duy trì khả năng đáp ứng với Thánh đoàn. |
6. The first of these requirements is horizontal and the second vertical. | 6. Yêu cầu thứ nhất thuộc chiều ngang, còn yêu cầu thứ hai thuộc chiều dọc. |
7. As well, judgment and wisdom are required and right inter-relation with the group of disciples. Why? So that there may be a moving forward together. It is group progress that is important. | 7. Ngoài ra, cần có óc phán đoán, minh triết và mối tương quan đúng đắn với nhóm đệ tử. Tại sao? Để có thể tiến bước cùng nhau. Chính sự tiến bộ của nhóm mới là điều quan trọng. |
8. We see that there are a number of requirements to which the individual disciple must attend, and no one can fulfill such requirements but himself. Group success is built upon the fulfillment of individual responsibility. | 8. Chúng ta thấy rằng người đệ tử có một số yêu cầu phải chú tâm thực hiện, và không ai ngoài chính người ấy có thể hoàn thành những yêu cầu đó. Thành công của nhóm được xây dựng trên việc hoàn thành trách nhiệm cá nhân. |
9. There is an exact parallel between individual process and group process. The group must pass through the same developmental stages as the individual. | 9. Có sự tương đồng chính xác giữa tiến trình cá nhân và tiến trình nhóm. Nhóm phải trải qua cùng những giai đoạn phát triển như cá nhân. |
10. There are “spiritual and higher psychic ‘gift waves’”. These are present as a result of the mediation of high beings who bestow them upon humanity and the planet. The rightly integrated, soul-aligned group can become responsive to these waves, but it must be “right group impression or responsiveness”. | 10. Có những “làn sóng ‘ân ban’ tinh thần và thông linh cao cấp”. Những làn sóng này hiện diện nhờ sự trung gian của các Đấng cao cả, là những Đấng ban chúng cho nhân loại và hành tinh. Nhóm tích hợp đúng đắn và chỉnh hợp với linh hồn có thể trở nên đáp ứng với những làn sóng này, nhưng đó phải là “sự tiếp nhận ấn tượng hay khả năng đáp ứng đúng đắn của nhóm”. |
This will take many years and the work of achieving finished group attitudes and relationships through individual understanding and true impersonality can go forward upon the physical plane whilst in incarnation, or it can go on out of incarnation with the same facility. You must always bear in mind that the consciousness remains the same, whether in physical incarnation or out of incarnation, and that development can be carried on with even greater ease than when limited and conditioned by the brain consciousness. | Điều này sẽ mất nhiều năm, và công việc hoàn thiện những thái độ và quan hệ nhóm thông qua sự thấu hiểu cá nhân cùng tính vô ngã chân chính có thể tiến hành trên cõi hồng trần khi đang lâm phàm, hoặc tiếp tục khi không lâm phàm một cách thuận lợi như nhau. Các bạn phải luôn ghi nhớ rằng tâm thức vẫn như nhau, dù đang lâm phàm trong thể xác hay không lâm phàm, và sự phát triển thậm chí có thể tiếp tục dễ dàng hơn so với khi chịu tâm thức bộ não giới hạn và tác động. |
1. The Master is taking the long-range view and hoping to instill that view in the consciousness of His chelas. | 1. Chân sư đang nhìn theo tầm xa và hy vọng thấm nhuần cách nhìn ấy vào tâm thức các đệ tử của Ngài. |
2. Not all needs to be done here and now and whilst in physical incarnation. The work on “achieving finished group attitudes and relationships” can also go forward whilst out of incarnation and with the same facility. This bears pondering. Transition from the body is not a relief from responsibility for the true disciple. | 2. Không phải mọi việc đều cần hoàn thành ngay tại đây, ngay lúc này và trong khi đang lâm phàm trong thể xác. Công việc “đạt đến những thái độ cùng các mối quan hệ nhóm hoàn thiện” cũng có thể tiếp tục ngoài kiếp lâm phàm với cùng mức độ thuận lợi. Điều này đáng để suy ngẫm. Đối với người đệ tử chân chính, việc rời khỏi thân thể không có nghĩa là được miễn trách nhiệm. |
3. We also see that “impersonality” is a fundamental requirement if the correct group attitudes and relationships are to be completed. Such relationships are not personal but are of the soul. | 3. Chúng ta cũng thấy rằng “tính phi cá nhân” là một yêu cầu căn bản để hoàn thiện những thái độ và mối quan hệ nhóm đúng đắn. Những mối quan hệ như thế không mang tính cá nhân mà thuộc về linh hồn. |
4. In fact the development may be more rapidly promoted once the disciple is unencumbered by the physical body and brain consciousness. | 4. Thực ra, sự phát triển có thể được thúc đẩy nhanh hơn một khi người đệ tử không còn vướng bận vì thể xác và tâm thức bộ não. |
5. It is as if Master DK is contracted to work with these chelas over a period of centuries. He wishes them to understand the endurance required and the scope of their ongoing work together and with Him. | 5. Dường như Chân sư DK đã cam kết làm việc với những đệ tử này trong một khoảng thời gian kéo dài hàng thế kỷ. Ngài muốn họ thấu hiểu sự bền bỉ cần có và phạm vi công việc mà họ đang tiếp tục thực hiện cùng nhau và cùng với Ngài. |
The attainment of these objectives will involve clear vision and a keen and intelligent understanding; it will require the steady and conscious intensification of group love and group interplay; it will lead all disciples to live lives full of wise purpose and planned spiritual objectives and, at the same time, the service rendered will assume a definite and an automatic technique of expression. [82] | Việc đạt được những mục tiêu này sẽ đòi hỏi tầm nhìn rõ ràng và sự thấu hiểu sắc bén, thông minh; đòi hỏi sự tăng cường đều đặn và hữu thức tình thương nhóm cùng sự tương tác nhóm; điều ấy sẽ dẫn dắt mọi đệ tử sống một cuộc đời tràn đầy mục đích sáng suốt và những mục tiêu tinh thần có hoạch định, đồng thời việc phụng sự sẽ mang một kỹ thuật biểu hiện rõ ràng và tự động. |
1. This is a beautiful paragraph of summation. The requirements upon these disciples (and upon all of us) could not be clearer. | 1. Đây là một đoạn tổng kết đẹp đẽ. Những yêu cầu đặt ra cho các đệ tử này (và cho tất cả chúng ta) không thể rõ ràng hơn nữa. |
2. There is always a danger that the ‘good words’ may be repeated and, through that repetition, lose their impact. Let us pause with each of these requirements and make sure we understand them. | 2. Luôn có nguy cơ những ‘lời hay’ được lặp đi lặp lại và mất đi sức tác động qua sự lặp lại ấy. Chúng ta hãy dừng lại ở từng yêu cầu này và bảo đảm rằng mình thấu hiểu chúng. |
3. If we examine our own lives and see, where, for instance, we have “clear vision”, and “intelligent understanding” and “group love”, the requirements will work themselves into our nature and shall not be lost to us through familiarity. | 3. Nếu xem xét cuộc sống của chính mình và nhận ra, chẳng hạn, ở đâu chúng ta có “tầm nhìn sáng rõ”, cùng “sự thấu hiểu thông minh” và “tình thương nhóm”, thì những yêu cầu ấy sẽ dần thấm vào bản chất chúng ta và sẽ không mất đi ý nghĩa đối với chúng ta vì quá quen thuộc. |
4. We note that, by the time these requirements are being fulfilled, service will have become an “automatic technique of expression”. One’s ready and immediate form of expression will be service. | 4. Chúng ta lưu ý rằng khi những yêu cầu này đang được hoàn thành, việc phụng sự sẽ trở thành một “kỹ thuật biểu đạt tự động”. Hình thức biểu đạt tự nhiên và tức thời của mỗi người sẽ là phụng sự. |
You might here ask me if there is one single mode or means whereby a disciple can begin to approximate this seemingly impossible goal. I would reply: By the steady practice of impersonality with its subsidiary attitude of indifference where personal desires, contacts and goals are concerned. Such an impersonality is little understood and even when cultivated by well-intentioned aspirants has a selfish basis. Ponder on this and endeavour to achieve impersonality through self-forgetfulness and through the decentralisation of the focus of consciousness from the personality (where it is usually centred) into the living, loving soul. | [82] Ở đây, các bạn có thể hỏi Tôi liệu có một phương thức hay phương tiện duy nhất nào để đệ tử bắt đầu tiến gần đến mục tiêu dường như bất khả thi này không. Tôi sẽ trả lời: Bằng việc thực hành đều đặn tính vô ngã, cùng thái độ phụ trợ là điềm nhiên đối với những ham muốn, tiếp xúc và mục tiêu cá nhân. Người ta ít thấu hiểu tính vô ngã như vậy, và ngay cả khi những người chí nguyện thiện tâm trau dồi nó, nó vẫn có nền tảng ích kỷ. Hãy suy ngẫm điều này và cố gắng đạt tính vô ngã bằng cách quên mình, đưa tiêu điểm tâm thức ra khỏi phàm ngã (nơi nó thường tập trung) vào linh hồn sống động, đầy tình thương, qua đó phi tập trung vào bản thân. |
1. DK knows that the requirements He is enunciating are not easy of attainment — “this seemingly impossible goal”. | 1. Chân sư DK biết rằng những yêu cầu Ngài đang nêu ra không dễ đạt được — “mục tiêu dường như bất khả thi này”. |
2. The requirements are many and so the Master seeks to focus the mind upon a “single mode or means” that will assist with their fulfillment. He focuses upon “impersonality” as that mode or means. | 2. Có nhiều yêu cầu, nên Chân sư tìm cách tập trung thể trí vào một “phương thức hay phương tiện duy nhất” có thể giúp hoàn thành những yêu cầu ấy. Ngài tập trung vào “tính phi cá nhân” như phương thức hay phương tiện đó. |
3. Impersonality is primary and with it comes a “subsidiary attitude of indifference where personal desires, contacts and goals are concerned”. | 3. Tính phi cá nhân là điều chủ yếu, và đi cùng với nó là một “thái độ điềm nhiên phụ trợ đối với những ham muốn, sự tiếp xúc và mục tiêu cá nhân”. |
4. As we have often repeated, an attitude of true spiritual impersonality cannot be achieved when the primary identification is with the personality. Only the soul can be impersonal, and the spirit even moreso. So we ask ourselves about our true and normal ‘resting level’ of identification. | 4. Như chúng ta thường nhắc lại, không thể đạt được thái độ phi cá nhân tinh thần chân thực khi sự đồng hoá chủ yếu vẫn là với phàm ngã. Chỉ linh hồn mới có thể phi cá nhân, và tinh thần còn hơn thế nữa. Vì vậy, chúng ta tự hỏi về ‘cấp độ an trú’ thực sự và thường lệ của sự đồng hoá nơi mình. |
5. The first efforts to cultivate impersonality are invariably selfish because these efforts are performed by those who are still identified as personalities. | 5. Những nỗ lực đầu tiên nhằm vun bồi tính phi cá nhân luôn mang tính ích kỷ, vì người thực hiện những nỗ lực ấy vẫn còn đồng hoá mình là phàm ngã. |
6. The ways to true impersonality are through “self-forgetfulness” and “through the decentralisation of the focus of consciousness from the personality (where it is usually centered) into the living, loving soul”. Thus, there is no impersonality unless that which we call soul is a living and vibrant reality in the disciple’s consciousness. For how many is this factually true? DK tells us our consciousness is usually centered in the personality. Do we find this to be the case? | 6. Những con đường dẫn đến tính phi cá nhân chân thực là thông qua “sự quên mình” và “thông qua việc phi tập trung tiêu điểm tâm thức khỏi phàm ngã (nơi tâm thức thường tập trung), chuyển vào linh hồn sống động, đầy tình thương”. Do đó, không có tính phi cá nhân trừ khi điều chúng ta gọi là linh hồn là một thực tại sống động và đầy sức sống trong tâm thức của người đệ tử. Điều này thực sự đúng với bao nhiêu người? Chân sư DK cho chúng ta biết rằng tâm thức chúng ta thường tập trung trong phàm ngã. Chúng ta có thấy đúng là như vậy không? |
7. If so, the reaffirmation of the spiritual facts may elevate the level at which our consciousness is centralized. That which is subtle is often overcome by that which is more obvious. The obvious must be deemphasized and the subtle brought into increasing prominence through the power of thought and the ‘assertion of the fact of the intangible’. | 7. Nếu đúng như vậy, việc tái khẳng định những sự thật tinh thần có thể nâng cao cấp độ mà tâm thức chúng ta tập trung vào. Điều tinh tế thường bị điều hiển nhiên hơn lấn át. Cần giảm sự chú trọng vào điều hiển nhiên và làm cho điều tinh tế ngày càng nổi bật qua quyền năng của tư tưởng và ‘sự khẳng định sự thật về cái vô hình’. |
There are four things which frequently hold back a group of disciples from achievement and from satisfactory work: | Có bốn điều thường kìm hãm một nhóm đệ tử, khiến nhóm không đạt thành tựu và không làm việc thỏa đáng: |
1. Lack of vision, incident to a lack of mental keenness. | 1. Thiếu tầm nhìn, do thiếu sự sắc bén trí tuệ. |
2. Personal glamour. This involves the astral plane. | 2. Ảo cảm cá nhân. Điều này liên quan đến cõi cảm dục. |
3. Individual problems, involving a pronounced preoccupation upon the physical plane with its circumstances and difficulties — in this most difficult of worlds. | 3. Những vấn đề cá nhân, bao hàm sự bận tâm sâu nặng với cõi hồng trần, với những hoàn cảnh và khó khăn của cõi này—cõi khó khăn nhất trong các cõi giới. |
4. Inertia or slow reactions to the imparted teaching and to the presented opportunity. | 4. Tính trì trệ hay sự đáp ứng chậm chạp với giáo huấn được truyền đạt và cơ hội được đưa ra. |
1. The Master enters on a description of inhibitions. | 1. Chân sư bắt đầu mô tả những điều cản trở. |
2. A sharp or keen mind is a requirement. Where it is missing, spiritual vision will suffer. | 2. Một thể trí sắc sảo hay nhạy bén là một yêu cầu. Khi thiếu điều ấy, tầm nhìn tinh thần sẽ suy giảm. |
3. What, to us, is the vision? What is the ‘truth content’ of our vision? Have we taken the time to clarify the actual nature of our vision and the manner in which it motivates us? | 3. Đối với chúng ta, tầm nhìn là gì? ‘Nội dung chân lý’ trong tầm nhìn của chúng ta là gì? Chúng ta đã dành thời gian làm sáng tỏ bản chất thực sự của tầm nhìn ấy và cách nó thúc đẩy chúng ta chưa? |
4. What shall we do to sharpen the mind and render it keener? We can avoid moving in well-established thought patterns and thus, as it were, ‘think before we think’ [sic]. We are always told to think before we speak, but there is an earlier and necessary step. A greater degree of discriminating selectivity is needed in the thought process of most; it will require a process of retraining. As well, we can, of course, choose our words with greater care and formulate them with greater precision. Such care exerted will eventually sharpen thought. All of us may reflect on the probability that ‘customary thought is not keen thought’. We need more to ‘think on the edge’, ever seeking the truer word to express the subtleties of ideas. | 4. Chúng ta sẽ làm gì để rèn giũa thể trí và khiến nó nhạy bén hơn? Chúng ta có thể tránh đi theo những khuôn mẫu tư tưởng đã định hình vững chắc và nhờ đó, có thể nói là, ‘suy nghĩ trước khi suy nghĩ’ [nguyên văn]. Chúng ta luôn được nhắc phải suy nghĩ trước khi nói, nhưng còn có một bước cần thiết trước đó. Tiến trình tư tưởng của phần đông cần có mức độ chọn lọc mang tính phân biện cao hơn; điều này đòi hỏi một tiến trình rèn luyện lại. Dĩ nhiên, chúng ta cũng có thể lựa chọn từ ngữ cẩn thận hơn và diễn đạt chính xác hơn. Sự cẩn trọng như thế cuối cùng sẽ làm cho tư tưởng sắc bén hơn. Tất cả chúng ta đều có thể suy ngẫm về khả năng rằng ‘tư tưởng theo thói quen không phải là tư tưởng sắc bén’. Chúng ta cần ‘tư duy ở ranh giới mới’ nhiều hơn, luôn tìm kiếm từ ngữ chân xác hơn để diễn đạt những nét tinh tế của các ý tưởng. |
5. Of personal glamor there is an abundance to say and yet, very little to say. All of us have our distortions — our exaggerations and minimizations. We all have ways in which we do not see the whole picture truly and in proportion. It is all a question of ‘wrong patterning’ (on whatever level of the personality. But if wrong patterning is habitual (which it usually is) it is not easily noticed. It often takes another individual or group to point out that which is untrue about our patterned responses. | 5. Về ảo cảm cá nhân, có rất nhiều điều để nói, mà cũng có rất ít điều để nói. Tất cả chúng ta đều có những sự bóp méo của mình — những điều chúng ta phóng đại và giảm nhẹ. Tất cả chúng ta đều có những cách nhìn khiến mình không thấy toàn cảnh một cách chân thực và đúng tỉ lệ. Tất cả đều là vấn đề ‘tạo khuôn mẫu sai lệch’ (trên bất kỳ cấp độ nào của phàm ngã. Nhưng nếu việc tạo khuôn mẫu sai lệch đã thành thói quen (như thường thấy), thì không dễ nhận ra nó. Thường cần một cá nhân hay một nhóm khác chỉ ra điều không đúng trong những đáp ứng theo khuôn mẫu của chúng ta. |
6. It is hard to remain a victim of glamor when there is identification with and as the soul. Personal glamors are legion, but they can be radically corrected by truly (not just theoretically) changing the level of identification. Conscious souls are not beset by the customary glamors (even though from a higher perspective the state of soul-identification is a limitation and hence, illusion-bound). | 6. Khó có thể tiếp tục là nạn nhân của ảo cảm khi có sự đồng hoá với linh hồn và nhận mình là linh hồn. Ảo cảm cá nhân nhiều vô kể, nhưng có thể sửa chữa tận gốc bằng việc thực sự (chứ không chỉ trên lý thuyết) thay đổi cấp độ đồng hoá. Có ý thức, các linh hồn không bị những ảo cảm thông thường vây hãm (dù nhìn từ một góc độ cao hơn, trạng thái đồng hoá với linh hồn là một giới hạn và do đó vẫn bị ràng buộc bởi ảo tưởng). |
7. Point three cites the problem of being beset with “individual problems”. We all have them, do we not? It is a question of whether we are preoccupied with them, embroiled in them. Excessive immersion in such problems keeps us tied to earth and circumstance and we fail to develop a greater, broader perspective. The care-worn individual rarely has the opportunity to ‘look up’ or to ‘look down from above’. What shall we truly care about? Is it possible to handle difficulties without taking them personally? If we are mentally polarized we can do so. | 7. Điểm ba nêu lên vấn đề bị bủa vây bởi “những vấn đề cá nhân”. Tất cả chúng ta đều có những vấn đề ấy, phải không? Vấn đề là liệu chúng ta có quá bận tâm với chúng, bị cuốn vào chúng hay không. Việc chìm đắm quá mức trong những vấn đề như thế khiến chúng ta bị ràng buộc với cuộc sống trần thế và hoàn cảnh, không phát triển được một tầm nhìn lớn hơn, rộng hơn. Người bị lo âu làm cho hao mòn hiếm khi có cơ hội ‘ngước nhìn lên’ hoặc ‘nhìn xuống từ trên cao’. Chúng ta thực sự nên quan tâm đến điều gì? Liệu có thể xử lý những khó khăn mà không xem chúng là chuyện riêng của mình không? Nếu phân cực trí tuệ, chúng ta có thể làm được điều đó. |
8. The last obstacle has to do with inertia, or slow response to presented spiritual opportunities. Human nature is uneven; there may be rapid response to some stimuli and tardy response to others. Probably many of us are unnecessarily slow in our response to spiritual impression but we do not realize that we are. One of the disciples, RVB, had as the first term in his ‘Developmental Formula’, “Rapid Reaction”. Since time is “of the essence” and the disciple’s use of time so critical to his/her success, then inertia and unresponsiveness are definitely undesirable, as, in the last analysis, they account for loss of time. Time is the very substance of achievement. When deprived of the necessary time, no achievement is possible. | 8. Trở ngại cuối cùng liên quan đến tính trì trệ, hay sự đáp ứng chậm chạp với những cơ hội tinh thần được đưa đến. Bản chất con người không đồng đều; chúng ta có thể đáp ứng nhanh chóng với một số kích thích và chậm chạp với những kích thích khác. Có lẽ nhiều người trong chúng ta đáp ứng với ấn tượng tinh thần chậm hơn mức cần thiết nhưng lại không nhận ra điều đó. Một trong các đệ tử, RVB, có yếu tố đầu tiên trong ‘Công Thức Phát Triển’ là “Phản Ứng Nhanh Chóng”. Vì thời gian có “tầm quan trọng cốt yếu” và cách sử dụng thời gian của người đệ tử có tính quyết định đối với sự thành công của người ấy, nên tính trì trệ và sự thiếu đáp ứng chắc chắn là những điều không mong muốn, vì xét cho cùng, chúng gây lãng phí thời gian. Thời gian chính là chất liệu của thành tựu. Khi thiếu thời gian cần thiết, không thành tựu nào có thể đạt được. |
9. Do we have an increasingly enlightened understanding of the problems which Master DK faces as He considers the “material” with which He has to work? The Master is, in a way, all planets to His chelas. In this case, He is Vulcan, the “Fashioner”, working crude material into a reflection of soul-intended design. | 9. Liệu chúng ta có ngày càng thấu hiểu sáng suốt hơn những vấn đề mà Chân sư DK phải đối mặt khi Ngài xem xét “vật liệu” mà Ngài phải làm việc với hay không? Theo một nghĩa nào đó, đối với các đệ tử của mình, Chân sư là tất cả các hành tinh. Trong trường hợp này, Ngài là Vulcan, “Đấng Tạo Tác”, gia công vật liệu thô thành hình ảnh phản chiếu thiết kế mà linh hồn chủ định. |
A deep reflection upon the urgency of the times and a sympathetic recognition of the unhappy plight of humanity are much needed by many disciples and aspirants in the world today, particularly by those who are not close to the world situation but who are looking at it from a distance. It is so simple to give a facile expression of sympathy but at the same time to avoid too great an expenditure of energy in service and too intense an effort to be of assistance. | Nhiều đệ tử và người chí nguyện trên thế giới ngày nay rất cần suy ngẫm sâu sắc về tính cấp bách của thời cuộc và nhận biết với lòng cảm thông cảnh ngộ bất hạnh của nhân loại, đặc biệt là những người không ở gần tình hình thế giới mà quan sát nó từ xa. Thật dễ thốt ra những lời cảm thông hời hợt, đồng thời tránh tiêu tốn quá nhiều năng lượng trong phụng sự và tránh nỗ lực quá mãnh liệt để giúp đỡ. |
1. What the Master says here applies to all of us today as well. Humanity, as a whole, is still “unhappy” and many disciples are still distant from the worst of its distress. | 1. Những điều Chân sư nói ở đây cũng áp dụng cho tất cả chúng ta ngày nay. Nhìn chung, nhân loại vẫn “bất hạnh” và nhiều đệ tử vẫn còn ở xa những nỗi khốn khổ tột cùng của nhân loại. |
2. Just recently we were studying the instructions of the disciple, SCP, who was a member of the higher social and economic classes in Britain | 2. Mới đây, chúng ta đã nghiên cứu những huấn thị dành cho người đệ tử SCP, một người thuộc tầng lớp thượng lưu về xã hội và kinh tế ở Anh |
. The Tibetan took her to task for avoiding direct and immediate involvement in the fate of her countrymen during war conditions. | . Chân sư Tây Tạng đã khiển trách bà vì tránh trực tiếp và tức thời dấn thân vào vận mệnh của đồng bào mình trong hoàn cảnh chiến tranh. |
3. There is no possible evasion of responsibility in the life of the true disciple. If service is given, then more will be demanded, and still more. The life of the initiate is all-exacting and ‘all-extracting’. | 3. Trong cuộc đời của người đệ tử chân chính, không thể có sự trốn tránh trách nhiệm. Nếu đã phụng sự, thì sẽ có những đòi hỏi cao hơn, rồi cao hơn nữa. Cuộc đời của điểm đạo đồ đòi hỏi tất cả và ‘tất cả đều phải dốc ra’. |
4. Why should Master DK be easy upon His chelas? It would do them no good. He subjects them to incessant demands (however reasonable). Never does He allow them to subside unchallenged into self-satisfaction. | 4. Tại sao Chân sư DK lại phải dễ dãi với các đệ tử của Ngài? Điều đó chẳng mang lại lợi ích gì cho họ. Ngài liên tục đặt ra những yêu cầu đối với họ (dù các yêu cầu ấy đều hợp lý). Không bao giờ Ngài để họ chìm vào sự tự mãn mà không bị thách thức. |
The hallmark of the pledged disciple and a quality which should increasingly dominate his life is the capacity to identify himself with the part or with the whole — as seems needed at any particular time. Such an attitude involves a comprehensive sweep of love, and this leads to inclusiveness and to the pledging of the life service to the greatest number and to the most needy. If I were asked to specify the outstanding fault of the majority of groups of disciples at this time, I would say that it is the expression of the wrong kind of indifference, leading to an almost immovable preoccupation with their personal ideas [83] and undertakings. These militate against the group integration and tend to block the work. | Dấu hiệu đặc trưng của người đệ tử đã cam kết, và là phẩm tính cần ngày càng chi phối cuộc đời y, chính là khả năng đồng hoá với một bộ phận hay với toàn thể—tùy nhu cầu ở từng thời điểm cụ thể. Thái độ ấy bao hàm một tình thương rộng khắp, dẫn đến tính bao gồm và sự cam kết dành cả cuộc đời phụng sự cho số đông nhất và những người cần giúp đỡ nhất. Nếu có ai yêu cầu Tôi chỉ rõ khuyết điểm nổi bật của phần lớn các nhóm đệ tử hiện nay, Tôi sẽ nói rằng đó là biểu hiện của một kiểu điềm nhiên sai lạc, dẫn đến sự bận tâm gần như bất lay chuyển với những ý tưởng [83] và công việc riêng của họ. Những điều ấy cản trở sự tích hợp nhóm và có khuynh hướng ngăn chặn công việc. |
1. There is a facility of identification which is required of a pledged disciple. He must be able to identify himself with the part or the whole according to need. | 1. Người đệ tử đã cam kết cần có khả năng đồng hoá một cách dễ dàng. Y phải có khả năng đồng hoá với bộ phận hoặc với toàn thể tùy theo nhu cầu. |
2. This will require a fluid consciousness and an ability to expand or narrow the focus of attention. | 2. Điều này đòi hỏi một tâm thức linh động và khả năng mở rộng hoặc thu hẹp tiêu điểm chú ý. |
3. This capacity so to identify necessitates “a comprehensive sweep of love”. It is this love which can detect need (whether in the macrocosm or the microcosm). | 3. Khả năng đồng hoá như thế đòi hỏi “tình thương trải rộng khắp”. Chính tình thương này có thể nhận biết nhu cầu (dù trong đại thiên địa hay tiểu thiên địa). |
4. The requirements are demanding. The pledged disciple pledges his/her life service to the “greatest number and to the most needy”. There are so many different levels of need. Who are the “most needy”? The pledged disciple must choose who he/she can serve. All levels of need cannot be met by any one disciple. But among those who have great need, there will be those whom the pledged disciple can best serve. This choice requires considerable self-knowledge and a keen discrimination. | 4. Những yêu cầu này rất khắt khe. Người đệ tử đã cam kết nguyện dành trọn đời phụng sự cho “số đông nhất và những người cần giúp đỡ nhất”. Có rất nhiều cấp độ nhu cầu khác nhau. Ai là những người “cần giúp đỡ nhất”? Người đệ tử đã cam kết phải lựa chọn những người mình có thể phụng sự. Không một đệ tử nào có thể đáp ứng mọi cấp độ nhu cầu. Nhưng trong số những người có nhu cầu lớn, sẽ có những người mà đệ tử đã cam kết có thể phụng sự tốt nhất. Sự lựa chọn này đòi hỏi mức độ hiểu biết đáng kể về bản thân và khả năng phân biện sắc bén. |
5. DK looks at many disciples and groups of disciples in today’s world and judges them wrongly indifferent — immovably preoccupied with their personal ideas and undertakings. This renders them impervious to the crying need all around them. | 5. Chân sư DK nhìn vào nhiều đệ tử và nhóm đệ tử trong thế giới ngày nay và nhận định rằng họ điềm nhiên một cách sai lầm — bám chặt không lay chuyển vào những ý tưởng cá nhân và những công việc riêng của mình. Điều này khiến họ không cảm nhận được nhu cầu thống thiết ở khắp xung quanh. |
6. It is incumbent upon each of us to make an accurate and heart-felt determination of those whom we can best serve. If the disciple’s actions are not meeting a real need, then those actions are not service. | 6. Mỗi người trong chúng ta có bổn phận xác định chính xác và bằng cả tấm lòng những người mà mình có thể phụng sự tốt nhất. Nếu những hành động của người đệ tử không đáp ứng một nhu cầu thực sự, thì những hành động ấy không phải là phụng sự. |
One of the things most needed by every disciple is to apply the teaching given to the idea of promoting and increasing their world service, thus rendering practical and effective in their environment the knowledge that has been imparted and the stimulation to which they have been subjected. This is a suggestion to which I would have you pay real attention. | Một trong những điều mỗi đệ tử cần nhất là áp dụng giáo huấn đã nhận nhằm thúc đẩy và gia tăng việc phụng sự thế gian của mình, qua đó làm cho tri thức đã được truyền đạt và sự kích thích đã nhận trở nên thiết thực, hiệu quả trong môi trường sống. Đây là một gợi ý mà Tôi muốn các bạn thực sự chú tâm. |
1. We are told what we must do. We have been given much. That which has been given (the teaching) is to be applied to promoting and increasing our world service. The outcome must be practical and effective in our environment. | 1. Chúng ta đã được chỉ cho biết điều mình phải làm. Chúng ta đã nhận được rất nhiều. Những gì đã được trao cho chúng ta (giáo huấn) phải được áp dụng để thúc đẩy và gia tăng việc phụng sự thế gian của chúng ta. Kết quả phải thiết thực và hữu hiệu trong môi trường của chúng ta. |
2. Have we questioned ourselves, “How may I increase my service rendering it more practical and effective?” This is another of those questions which bears daily pondering. | 2. Chúng ta đã tự hỏi mình chưa: “Làm thế nào tôi có thể gia tăng việc phụng sự, khiến nó thiết thực và hữu hiệu hơn?” Đây lại là một câu hỏi đáng suy ngẫm hằng ngày. |
I would like also at this point to bring to your attention the fact that an accepted disciple is not in reality one who has been accepted by a Master for training. This is the distortion of a true idea which, in its progress from the mental plane to the physical, has achieved a complete reversal or distortion. | Ở đây, Tôi cũng muốn lưu ý các bạn rằng một đệ tử được chấp nhận thực ra không phải là người được một Chân sư chấp nhận để huấn luyện. Đó là sự xuyên tạc một ý tưởng đúng đắn, mà trong quá trình đi từ cõi trí xuống cõi hồng trần đã hoàn toàn bị đảo ngược hoặc bóp méo. |
1. As Master DK is speaking to a group of accepted disciples, a truer understanding of the term “accepted disciple” is necessary. | 1. Vì Chân sư DK đang nói với một nhóm đệ tử được chấp nhận, nên cần có sự thấu hiểu đúng đắn hơn về thuật ngữ “đệ tử được chấp nhận”. |
2. On different occasions, He seems to say different things about accepted discipleship. There is one component of acceptance which is, indeed, “acceptance by a Master”, but the emphasis, He tells us, is incorrect. | 2. Vào những dịp khác nhau, dường như Ngài nói những điều khác nhau về địa vị đệ tử được chấp nhận. Quả thực có một thành phần của sự chấp nhận là “được một Chân sư chấp nhận”, nhưng Ngài cho chúng ta biết rằng việc đặt trọng tâm vào đó là không đúng. |
3. DK reverses the normal idea, placing His emphasis upon the “accepting disciple” rather than the “accepted disciple”. The degree of the disciple’s acceptance (and fulfillment) of the requirements is the degree of the Master’s acceptance of the disciple. | 3. Chân sư DK đảo ngược ý tưởng thông thường, đặt trọng tâm vào “đệ tử chấp nhận” thay vì “đệ tử được chấp nhận”. Mức độ chấp nhận (và đáp ứng) các yêu cầu của người đệ tử chính là mức độ chấp nhận người đệ tử ấy của Chân sư. |
An accepted disciple is one who: | Một đệ tử được chấp nhận là người: |
1. Has accepted the fact of the Hierarchy with the implications of loyalty and cooperation which that acceptance involves. | 1. Đã chấp nhận sự thật về Thánh đoàn, cùng những hàm ý về lòng trung thành và sự hợp tác mà sự chấp nhận ấy bao hàm. |
2. Has accepted the fact that all souls are one and who has, therefore, pledged himself to seek expression as a soul. The service to be rendered is the awakening and stimulation of all souls contacted. | 2. Đã chấp nhận sự thật rằng mọi linh hồn là một, và do đó cam kết tìm cách biểu hiện như một linh hồn. Việc phụng sự cần thực hiện là đánh thức và kích thích mọi linh hồn mà y tiếp xúc. |
3. Has accepted the occult technique of service. His service to humanity determines all his activities and subordinates his personality to the need of the time. Note that phrase. Cultivate insight and a fluid response to the immediate need and not a sensitive reaction to a distant goal. | 3. Đã chấp nhận kỹ thuật phụng sự huyền bí. Việc phụng sự nhân loại quyết định mọi hoạt động của y và đặt phàm ngã của y dưới nhu cầu của thời đại. Hãy lưu ý cụm từ ấy. Hãy trau dồi sự thấy biết sâu sắc và khả năng đáp ứng linh hoạt với nhu cầu trước mắt, thay vì phản ứng nhạy cảm với một mục tiêu xa xôi. |
4. Has accepted the Plan, as indicated by the Teachers of the race. He seeks to understand the nature of that Plan and to facilitate its manifestation. | 4. Đã chấp nhận Thiên Cơ, theo sự chỉ dẫn của các Huấn sư nhân loại. Y tìm cách thấu hiểu bản chất của Thiên Cơ ấy và tạo thuận lợi cho sự biểu hiện của Thiên Cơ. |
1. This is a most important section outlining the requirements for acceptance. We have already seen that the pledged disciple is committed to meet group and individual need through a capacity to identify with the whole or with the part. | 1. Đây là một phần hết sức quan trọng, phác thảo những yêu cầu để được chấp nhận. Chúng ta đã thấy rằng người đệ tử đã cam kết nguyện đáp ứng nhu cầu của nhóm và cá nhân thông qua khả năng đồng hoá với toàn thể hoặc với bộ phận. |
2. For the accepting/accepted disciple the Hierarchy is a fact, not a theory. The factuality of Hierarchy is proven interiorly by the intuition. Loyalty and cooperation are the result. One who thinks the Hierarchy may exist cannot commit himself/herself fully. When the conviction as to the reality of Hierarchy is present, full loyalty and cooperation are offered — if the disciple is an accepting/accepted disciple. | 2. Đối với đệ tử chấp nhận/được chấp nhận, Thánh đoàn là một sự thật, không phải một lý thuyết. Trực giác xác chứng từ bên trong tính xác thực của Thánh đoàn. Lòng trung thành và sự hợp tác là kết quả của điều đó. Người cho rằng Thánh đoàn có thể tồn tại thì không thể cam kết trọn vẹn. Khi có niềm xác tín về thực tại của Thánh đoàn, người đệ tử sẽ thể hiện trọn vẹn lòng trung thành và sự hợp tác — nếu đó là một đệ tử chấp nhận/được chấp nhận. |
3. There is a point at which the attitude acceptance becomes true knowledge. | 3. Có một thời điểm mà thái độ chấp nhận trở thành đích thực là tri thức. |
4. The true accepted disciple accepts that all souls are one. He/she can no longer use the thought “my soul and thine”. Such a disciple is pledged to seek expression as a soul. An accepted disciple is increasingly the soul-in-expression. | 4. Người đệ tử được chấp nhận chân chính chấp nhận rằng mọi linh hồn đều là một. Người ấy không còn có thể sử dụng ý nghĩ “linh hồn của tôi và linh hồn của bạn”. Một đệ tử như thế cam kết tìm cách biểu lộ như một linh hồn. Người đệ tử được chấp nhận ngày càng là linh hồn đang biểu lộ. |
5. A certain type of service grows from this expression as a soul; it is the obligation to awaken and stimulate all souls contacted. Of course, if one is expressing as a soul, this awakening and stimulation will be an automatic result. | 5. Một loại phụng sự nhất định nảy sinh từ sự biểu lộ như một linh hồn này; đó là bổn phận đánh thức và kích thích mọi linh hồn mà mình tiếp xúc. Dĩ nhiên, nếu một người đang biểu lộ như một linh hồn, thì sự đánh thức và kích thích ấy sẽ là kết quả tự nhiên. |
6. An accepting-thus-accepted disciple is committed to the utilization of “the occult technique of service”. His service to humanity subordinates the personality and its desires. Paramount in his vision is the “need of the times”. Humanity has many needs, but not all such needs are equally pressing or demanding immediate fulfillment. | 6. Một đệ tử chấp nhận và do đó được chấp nhận cam kết sử dụng “kỹ thuật phụng sự huyền bí”. Việc phụng sự nhân loại của y khiến phàm ngã cùng những dục vọng của nó phải phục tùng. Điều tối quan trọng trong tầm nhìn của y là “nhu cầu của thời đại”. Nhân loại có nhiều nhu cầu, nhưng không phải tất cả đều cấp bách như nhau hoặc đều đòi hỏi được đáp ứng tức thời. |
7. The true server is not working on the fulfillment of distant goals and distantly-eventual needs. It is the pressing needs of the moment which arrest his attention. Otherwise he finds himself the victim of illusion — doing something that must be done eventually at a time which is unsuitable. Thus, the accepting/accepted disciple has a sense of ‘co-measurement in time’. This is another way of calling attention to the practicality of the true accepted disciple. One cannot build the roof before one has built the foundation. Service which is not time-relevant is motivated in some way by selfishness; such as server is serving himself and his own preferences rather than present need. | 7. Người phụng sự chân chính không làm việc để thực hiện những mục tiêu xa xôi và đáp ứng những nhu cầu chỉ sẽ xuất hiện trong tương lai xa. Chính những nhu cầu cấp bách của hiện tại thu hút sự chú ý của y. Nếu không, y sẽ trở thành nạn nhân của ảo tưởng — làm một việc rốt cuộc phải làm, nhưng vào thời điểm không thích hợp. Do đó, người đệ tử chấp nhận/được chấp nhận có ý thức về ‘sự cân xứng với thời điểm’. Đây là một cách khác để lưu ý đến tính thiết thực của người đệ tử được chấp nhận chân chính. Không thể xây mái nhà trước khi xây nền móng. Việc phụng sự không phù hợp với thời điểm chịu sự thúc đẩy của tính ích kỷ dưới một hình thức nào đó; người phụng sự như thế đang phụng sự bản thân và những sở thích riêng thay vì nhu cầu hiện tại. |
8. Another vital acceptance is the acceptance of the Plan. The true accepted disciple is driven by the Divine Plan (as he/she understands it). Such an acceptance will rapidly eliminate the strictly personal attitude. The Plan is triadally based and efforts at manifesting a portion of that Plan call for the impersonality of the spiritual triad. Perhaps we are saying that the true accepting/accepted disciple has built the antahkarana | 8. Một sự chấp nhận thiết yếu khác là chấp nhận Thiên Cơ. Người đệ tử được chấp nhận chân chính được Thiên Cơ thúc đẩy (theo mức độ người ấy thấu hiểu Thiên Cơ). Sự chấp nhận như thế sẽ nhanh chóng loại bỏ thái độ thuần túy cá nhân. Thiên Cơ đặt nền tảng nơi Tam Nguyên Tinh Thần, và những nỗ lực nhằm biểu hiện một phần của Thiên Cơ ấy đòi hỏi tính vô ngã của Tam Nguyên Tinh Thần. Có lẽ chúng ta đang nói rằng người đệ tử chấp nhận/được chấp nhận chân chính đã xây dựng antahkarana |
9. ‘Down’ the antahkarana come those convictions which make such acceptances whole-heartedly possible. Real acceptance is not theoretical acceptance. There is something more, based upon faith, contact, growing intuitive knowledge and subsequent conviction. | 9. ‘Xuôi xuống’ theo antahkarana là những niềm xác tín khiến những sự chấp nhận ấy có thể diễn ra một cách toàn tâm toàn ý. Sự chấp nhận thực sự không phải là sự chấp nhận trên lý thuyết. Còn có điều gì đó hơn thế, dựa trên đức tin, sự tiếp xúc, tri thức trực giác ngày càng phát triển và niềm xác tín theo sau. |
Other points (of a more individual nature) could be enumerated, but I would have you lay the emphasis upon the acceptances which have or should have motivated your attitude and I would ask you not to emphasise so unduly in your private thoughts this idea of being “accepted by a Master. ” This thought and its teaching by many esoteric groups has been productive of much error, much misunderstanding, much pain and much disillusionment. A disciple is trained in certain important [84] matters and not in his relation to a Master. | Có thể kể thêm những điểm khác (mang tính cá nhân hơn), nhưng Tôi muốn các bạn nhấn mạnh những sự chấp nhận đã hoặc nên là động lực cho thái độ của mình, và Tôi yêu cầu các bạn đừng quá nhấn mạnh trong suy nghĩ riêng ý tưởng được “một Chân sư chấp nhận” này. Ý tưởng ấy, cùng việc nhiều nhóm huyền bí giảng dạy nó, đã tạo ra nhiều sai lầm, hiểu lầm, đau khổ và vỡ mộng. Một đệ tử được huấn luyện về một số vấn đề [84] quan trọng, chứ không phải về mối quan hệ của y với một Chân sư. |
1. DK wants a readjustment of His chelas’ ideas. The selfish emphasis upon being “accepted by a Master” is to be removed. It is a passive and non-progressive approach. | 1. Chân sư DK muốn điều chỉnh lại những ý tưởng của các đệ tử của Ngài. Cần loại bỏ sự chú trọng ích kỷ vào việc được “một Chân sư chấp nhận”. Đó là một cách tiếp cận thụ động và không thúc đẩy tiến bộ. |
2. Instead the disciple is to work upon the acceptances outlined which, once established, will lead automatically, by law, to that which has been called acceptance by a Master. | 2. Thay vào đó, người đệ tử cần nỗ lực thực hiện những sự chấp nhận đã được phác thảo; một khi được xác lập, chúng sẽ tự động dẫn đến điều được gọi là sự chấp nhận của một Chân sư, theo định luật. |
3. The longing after contact with Master is almost invariably selfishly based. The sorry results of inaccurate instruction along these lines is recounted. | 3. Niềm khao khát tiếp xúc với Chân sư hầu như luôn bắt nguồn từ tính ích kỷ. Những hậu quả đáng buồn của sự chỉ dạy thiếu chính xác theo hướng này đã được kể lại. |
4. The disciple keeps his/her mind upon “certain important matters” over which he/she has some control. When the correct fulfillments are achieved, a growing intimacy with the Master and His Ashram is inevitable. | 4. Người đệ tử tập trung thể trí vào “một số vấn đề quan trọng” mà mình có thể kiểm soát ở một mức độ nào đó. Khi đáp ứng đúng những yêu cầu, sự gần gũi ngày càng tăng với Chân sư và ashram của Ngài là điều tất yếu. |
5. We can see Master DK working to change certain non-productive assumptions concerning discipleship and the relation of the disciple to the Master. He has set Himself against the strictly devotional approach — at least when it comes to training disciples in the newer ways. | 5. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK đang nỗ lực thay đổi một số giả định không mang lại kết quả về địa vị đệ tử và mối quan hệ của người đệ tử với Chân sư. Ngài đã phản đối cách tiếp cận thuần túy sùng tín — ít nhất là khi huấn luyện các đệ tử theo những phương thức mới hơn. |
These factors of importance to a disciple are: | Những yếu tố quan trọng đối với đệ tử là: |
1. The whole subject of humanity — its present status, its problems and the opportunity immediately presented. A disciple is one who seeks at all times to aid humanity and to further the processes of evolution as well as to develop that deep love of mankind which is the distinguishing mark of the initiate and of the Master. | 1. Toàn bộ chủ đề về nhân loại—tình trạng hiện nay, những vấn đề và cơ hội trước mắt của nhân loại. Đệ tử là người luôn tìm cách giúp đỡ nhân loại và thúc đẩy các tiến trình tiến hoá, cũng như phát triển tình thương nhân loại sâu sắc, dấu hiệu đặc trưng của điểm đạo đồ và Chân sư. |
1. The factors over which the disciple has some real control and which should magnetize his interest are offered. | 1. Ở đây nêu ra những yếu tố mà người đệ tử thực sự có thể kiểm soát ở một mức độ nào đó và cần thu hút sự quan tâm của y. |
2. Disciples are servers of humanity. They must study the present state of humanity so as to be able to bring aid intelligently and effectively. | 2. Các đệ tử là những người phụng sự nhân loại. Họ phải nghiên cứu tình trạng hiện tại của nhân loại để có thể trợ giúp một cách sáng suốt và hữu hiệu. |
3. The disciple’s attention is not on the Master, but upon humanity’s need and the ways open to him to meet that need. | 3. Sự chú ý của người đệ tử không đặt vào Chân sư, mà vào nhu cầu của nhân loại và những phương cách y có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu ấy. |
4. We note that a Master (no matter what His ray) is distinguished by a “deep love of mankind”. This, all true disciples strive to develop. | 4. Chúng ta lưu ý rằng một Chân sư (bất kể Ngài thuộc cung nào) có dấu hiệu đặc trưng là “tình thương sâu sắc dành cho nhân loại”. Tất cả các đệ tử chân chính đều nỗ lực phát triển điều này. |
2. The subject of initiation. A study of this subject will lead to a consideration of its secondary development and its basic objective of a progressive identification with the soul of the disciple, with the soul of the group, with the soul of humanity as a whole and with the soul in all forms. | 2. Chủ đề về điểm đạo. Nghiên cứu chủ đề này sẽ dẫn đến việc xem xét sự phát triển thứ yếu của nó và mục tiêu căn bản là từng bước đồng hoá với linh hồn của đệ tử, với linh hồn của nhóm, với linh hồn của toàn thể nhân loại và với linh hồn trong mọi hình tướng. |
1. It is of moment for disciples to study the process of initiation. In this way they can be empowered to serve more potently and effectively. | 1. Việc nghiên cứu tiến trình điểm đạo có ý nghĩa quan trọng đối với các đệ tử. Bằng cách này, họ có thể có thêm quyền năng để phụng sự mạnh mẽ và hữu hiệu hơn. |
2. DK frames the process of initiation in terms of identification. Initiation connotes a progressive series of identifications with the soul of the disciple, the soul of the group, the soul of humanity as a whole, and with soul in all forms. The process of initiation is a progression into ever-heightening soul-sensitivity. | 2. Chân sư DK trình bày tiến trình điểm đạo theo nghĩa đồng hoá. Điểm đạo hàm ý một chuỗi đồng hoá ngày càng sâu với linh hồn của người đệ tử, linh hồn của nhóm, linh hồn của toàn thể nhân loại và với linh hồn trong mọi hình tướng. Tiến trình điểm đạo là sự tiến vào tính nhạy cảm với linh hồn ngày càng cao. |
3. The subject of service. This is not service as it is usually understood. The ordinary connotation has largely lost its significance through wrong emphasis. The initiate considers service as the spontaneous, easy expression of a definite soul contact, brought down on to the physical plane and giving insight, practicality and inspiration to the disciple as he works on the outer plane of expression. Most disciples are occupied vaguely with achieving inspiration but know nothing of the earlier stages of insight, leading to the practical and wise expression of the met need upon the level of daily living. One of the major undertakings of the accepted disciple (or, as I would prefer to term it, the accepting disciple) is to transform himself from a well-intentioned idealist into a man of action on behalf of humanity. | 3. Chủ đề về phụng sự. Đây không phải là phụng sự theo cách hiểu thông thường. Hàm nghĩa thông thường phần lớn đã mất đi thâm nghĩa do sự nhấn mạnh sai lệch. Điểm đạo đồ xem phụng sự là sự biểu hiện tự phát, dễ dàng của một sự tiếp xúc linh hồn rõ rệt, được đưa xuống cõi hồng trần và mang lại cho đệ tử sự thấy biết sâu sắc, tính thiết thực cùng cảm hứng khi y làm việc trên cõi biểu hiện bên ngoài. Phần lớn đệ tử bận tâm một cách mơ hồ đến việc đạt cảm hứng, nhưng không biết gì về những giai đoạn thấy biết sâu sắc đi trước, dẫn đến sự biểu hiện thiết thực và sáng suốt của nhu cầu đã được đáp ứng trên cấp độ sinh hoạt hằng ngày. Một trong những công việc chủ yếu của đệ tử được chấp nhận (hay, như Tôi thích gọi hơn, đệ tử biết chấp nhận) là chuyển đổi mình từ một người duy tâm có thiện chí thành một người hành động vì nhân loại. |
1. DK continues with His listing of the subjects which should arrest the attention of disciples. | 1. Chân sư DK tiếp tục liệt kê những chủ đề cần thu hút sự chú ý của các đệ tử. |
2. The Master, as elsewhere, seeks to redefine service. The definition offered is important: “The initiate considers service as the spontaneous, easy expression of a definite soul contact, brought down on to the physical plane and giving insight, practicality and inspiration to the disciple as he works on the outer plane of expression”. | 2. Cũng như ở những chỗ khác, Chân sư tìm cách định nghĩa lại sự phụng sự. Định nghĩa được đưa ra rất quan trọng: “Điểm đạo đồ xem phụng sự là sự biểu lộ tự phát, dễ dàng của một sự tiếp xúc rõ rệt với linh hồn, được đưa xuống cõi hồng trần và đem lại sự thấu triệt, tính thiết thực và cảm hứng cho người đệ tử khi y hoạt động trên cõi biểu lộ bên ngoài”. |
3. If there is no “definite soul contact” there is no service; many imitations of service exist however due to the “monkey-like” nature of the personality. Such service, however, is inauthentic because it does not arise within the soul and under the influence of the soul. | 3. Nếu không có “sự tiếp xúc rõ rệt với linh hồn” thì không có phụng sự; tuy nhiên, có nhiều sự mô phỏng phụng sự do bản chất “bắt chước như khỉ” của phàm ngã. Tuy nhiên, sự phụng sự như thế không chân thực vì nó không khởi sinh trong linh hồn và dưới ảnh hưởng của linh hồn. |
4. We note that true service is both “spontaneous” and “easy” — it is not a labored effort full of strain. | 4. Chúng ta lưu ý rằng sự phụng sự chân chính vừa “tự phát” vừa “dễ dàng” — đó không phải là một nỗ lực nhọc nhằn đầy căng thẳng. |
5. Inspiration depends upon insight; consciousness precedes the energy stimulated by that consciousness. Right understanding promotes an influx of higher energy. We see, then, that access to subtle energy cannot be forced, just as thoughtforms of solution cannot be “built” unless there is clear thinking about the problem to be alleviated by the thoughtforms. | 5. Cảm hứng phụ thuộc vào sự thấu triệt; tâm thức có trước năng lượng mà tâm thức ấy kích thích. Sự thấu hiểu đúng đắn thúc đẩy dòng năng lượng cao hơn tuôn vào. Vì vậy, chúng ta thấy rằng không thể cưỡng ép việc tiếp cận năng lượng vi tế, cũng như không thể “xây dựng” những hình tư tưởng về giải pháp nếu không suy nghĩ rõ ràng về vấn đề mà những hình tư tưởng ấy sẽ giúp làm giảm nhẹ. |
6. We should remember that the Tibetan prefers the term “accepting disciple”. Elsewhere He grades the terms: “accepting disciple” preceding “pledged disciple”, preceding “accepted disciple”. | 6. Chúng ta nên nhớ rằng Chân sư Tây Tạng ưa dùng thuật ngữ “đệ tử chấp nhận”. Ở nơi khác, Ngài sắp xếp các thuật ngữ theo cấp độ: “đệ tử chấp nhận” đi trước “đệ tử đã cam kết”, rồi mới đến “đệ tử được chấp nhận”. |
7. The modern disciple is a practical mystic. He is no longer strictly a “well-intentioned idealist”; he knows how to do something for humanity. He becomes a “man of action”. We can see that the days of strictly contemplative life for disciples is over. | 7. Người đệ tử hiện đại là một nhà thần bí thiết thực. Y không còn thuần túy là một “người lý tưởng có thiện chí”; y biết cách làm điều gì đó cho nhân loại. Y trở thành một “người hành động”. Chúng ta có thể thấy rằng thời kỳ sống thuần túy chiêm ngưỡng của các đệ tử đã qua. |
When a group can think unanimously along these lines and work in unison, then the first step will have been taken towards group initiation which is the goal of the new discipleship. | Khi một nhóm có thể đồng lòng suy nghĩ theo những hướng này và làm việc trong sự hòa hợp, thì nhóm đã thực hiện bước đầu tiên hướng đến điểm đạo nhóm, mục tiêu của địa vị đệ tử mới. |
1. The three subjects of humanity, initiation and service deserve concerted individual and group thought. | 1. Ba chủ đề nhân loại, điểm đạo và phụng sự đáng được cá nhân và nhóm cùng tập trung suy ngẫm. |
2. When the group members can “think unanimously along these lines and work in unison”, then a foundation is firmly laid for group initiation — the goal of the new discipleship. | 2. Khi các thành viên nhóm có thể “suy nghĩ đồng lòng theo những định hướng này và làm việc đồng bộ”, thì một nền tảng vững chắc được thiết lập cho điểm đạo nhóm — mục tiêu của địa vị đệ tử mới. |
3. Group initiation is such a new approach. Master DK must present the steps toward its achievement. | 3. Điểm đạo nhóm quả là một cách tiếp cận mới. Chân sư DK phải trình bày các bước tiến đến việc thành tựu điều đó. |
4. Some requirements for group initiation are listed. | 4. Một số yêu cầu đối với điểm đạo nhóm được liệt kê. |
Group initiation involves: | Điểm đạo nhóm bao hàm: |
1. The possession and recognition of a united vision to which the individual in the group subordinates himself. | 1. Có và nhận biết một tầm nhìn thống nhất mà mỗi cá nhân trong nhóm đặt mình dưới đó. |
1. A united vision. Each disciple has his/her own vision or visions. But there is a type of vision which must be shared by all in the group. | 1. Một tầm nhìn thống nhất. Mỗi đệ tử có tầm nhìn hoặc những tầm nhìn riêng. Nhưng có một loại tầm nhìn mà tất cả mọi người trong nhóm phải cùng chia sẻ. |
2. Moreover, the personalities of all concerned, and the group personality must be subordinated to that vision. | 2. Hơn nữa, phàm ngã của tất cả những người liên quan và phàm ngã nhóm phải phục tùng tầm nhìn ấy. |
3. Have we noticed how often the factor of subordination is mentioned? It is not usually a popular word in these highly individualistic times. People refuse to subordinate themselves to that which is greater than they are. If they persist in this attitude they immediately prove their unsuitability for cooperation with the Hierarchy (and even for cooperation with their own soul). | 3. Chúng ta có nhận thấy yếu tố phục tùng được nhắc đến thường xuyên đến mức nào không? Trong thời đại đề cao cá nhân như hiện nay, đây thường không phải là một từ được ưa chuộng. Người ta từ chối phục tùng điều gì lớn lao hơn mình. Nếu cứ giữ thái độ này, họ lập tức chứng tỏ mình không thích hợp để hợp tác với Thánh đoàn (và ngay cả để hợp tác với chính linh hồn mình). |
2. The simultaneous rapport of the group members with the soul on its own level (that composite group soul which is composed of the soul of each individual member). This leads to group integration on soul levels. | 2. Các thành viên trong nhóm đồng thời giao cảm với linh hồn trên cấp độ riêng của linh hồn (linh hồn nhóm tổng hợp ấy do linh hồn của mỗi thành viên riêng biệt hợp thành). Điều này dẫn đến sự tích hợp nhóm trên các cấp độ linh hồn. |
1. This is one of the few places where DK speaks of “group soul” — “that composite group soul which is composed of the soul of the each individual member”. | 1. Đây là một trong số ít nơi Chân sư DK nói đến “hồn nhóm” — “hồn nhóm tổng hợp ấy được cấu thành từ linh hồn của từng thành viên riêng biệt”. |
2. Apart from the technicalities concerning how the various causal bodies may be related and arranged, we can think of group soul as a greater and more inclusive consciousness which includes the proper consciousness of each ‘individual’ soul participating in group soul. | 2. Ngoài những chi tiết chuyên môn về cách các thể nguyên nhân khác nhau có thể liên hệ và sắp xếp với nhau, chúng ta có thể xem hồn nhóm là một tâm thức rộng lớn hơn, có tính bao gồm hơn, bao gồm tâm thức riêng của mỗi linh hồn ‘cá nhân’ tham gia vào hồn nhóm. |
3. It is conceivable to slip out of one’s ‘own’ soul experience, into a type of perception which includes the soul perspectives of all group members. | 3. Có thể hình dung việc bước ra khỏi trải nghiệm linh hồn của ‘riêng mình’, để đi vào một loại tri giác bao gồm các góc nhìn linh hồn của tất cả các thành viên nhóm. |
4. This group-soul-whole, will be greater than the sum of its parts. The ability to merge and blend with group soul is one of the spiritual rewards of subordinating the personal consciousness to the purpose and vision which animates the group. | 4. Toàn thể hồn nhóm này sẽ lớn hơn tổng số các thành phần của nó. Khả năng hòa nhập và hòa quyện với hồn nhóm là một trong những phần thưởng tinh thần của việc đặt tâm thức cá nhân dưới mục đích và tầm nhìn vốn truyền sức sống cho nhóm. |
5. We note that the rapport of the group members is to be “simultaneous”; in this simultaneity lies united perception. | 5. Chúng ta lưu ý rằng sự giao cảm của các thành viên nhóm phải diễn ra “đồng thời”; chính trong tính đồng thời này có sự tri giác thống nhất. |
3. The blended consecrated contact of the group personalities upon the three levels of personality expression — the [85] mental, astral and etheric levels of awareness. Some group members contact each other on one level and some on another, but the aim should be a close contact on all three levels at will and all together when the group, as a group, demands it. This is a hard saying but later a clearer understanding will come of what this means and what it brings about. | 3. Sự tiếp xúc hòa quyện, thánh hiến giữa các phàm ngã trong nhóm trên ba cấp độ biểu hiện phàm ngã—các cấp độ nhận biết [85] trí tuệ, cảm dục và dĩ thái. Một số thành viên nhóm tiếp xúc với nhau trên cấp độ này, một số trên cấp độ khác, nhưng mục tiêu phải là sự tiếp xúc mật thiết trên cả ba cấp độ theo ý muốn, và tất cả cùng tiếp xúc khi nhóm, với tư cách một nhóm, đòi hỏi điều đó. Đây là một lời dạy khó hiểu, nhưng về sau các bạn sẽ thấu hiểu rõ hơn ý nghĩa và kết quả của nó. |
1. When considering the requirements for group initiation, the personalities of the group members must also be involved. | 1. Khi xem xét các yêu cầu đối với điểm đạo nhóm, phàm ngã của các thành viên nhóm cũng phải tham gia. |
2. There is to be contact between the personalities of all group members, but it is to be consecrated contact; therein lies all the difference. | 2. Phải có sự tiếp xúc giữa phàm ngã của tất cả các thành viên nhóm, nhưng đó phải là sự tiếp xúc thánh hiến; chính ở đó có toàn bộ sự khác biệt. |
3. Already this contact exists to a degree between the various personality aspects of various group members. It is however to be a general contact on all levels between all group members. | 3. Sự tiếp xúc này đã hiện hữu ở một mức độ nào đó giữa các phương diện phàm ngã khác nhau của các thành viên khác nhau trong nhóm. Tuy nhiên, đó phải là sự tiếp xúc bao quát trên mọi cấp độ giữa tất cả các thành viên nhóm. |
4. This would mean mental, emotional and etheric contact. Note that the etheric body is the true physical body. Physical contact, per se, is not required, but the proximity of physical bodies may facilitate etheric contact. | 4. Điều này hàm ý sự tiếp xúc trí tuệ, cảm xúc và dĩ thái. Hãy lưu ý rằng thể dĩ thái mới là thể xác đích thực. Không đòi hỏi chính sự tiếp xúc thể xác, nhưng sự gần gũi giữa các thể xác có thể tạo thuận lợi cho sự tiếp xúc dĩ thái. |
5. The personality contact is to be “close” and producible when there is a need for it. Part of the Externalization of the Hierarchy is the pervasion of all aspects of the personality by soul presence. | 5. Sự tiếp xúc phàm ngã phải “mật thiết” và có thể thiết lập khi cần. Một phần của Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn là sự hiện diện của linh hồn thấm khắp mọi phương diện của phàm ngã. |
6. DK speaks in rather veiled terms about a “hard saying” which will be clarified at a later time. It would seem that in the Externalization process, Ashramic intimacy must be reproducible on all levels of expression; it is not strictly a matter pertaining to the higher planes. | 6. Chân sư DK nói bằng những lời khá kín đáo về một “lời khó hiểu” sẽ được làm sáng tỏ về sau. Dường như trong tiến trình Hiển Lộ, sự thân thiết trong ashram phải có thể tái hiện trên mọi cấp độ biểu hiện; đây không chỉ là vấn đề thuộc về các cõi cao. |
4. The ability of the group to stand united and with no barriers between the group members of any kind. This will necessarily involve the sacrifice of personality reactions, ideals and plans. At present the varying ideals, attitudes and points of view separate disciples from each other. These must go. | 4. Khả năng đứng vững trong sự hợp nhất của nhóm, không có bất kỳ rào cản nào giữa các thành viên. Điều này tất yếu bao hàm sự hi sinh những phản ứng, lý tưởng và kế hoạch phàm ngã. Hiện nay, những lý tưởng, thái độ và quan điểm khác nhau chia cách các đệ tử. Những điều này phải ra đi. |
1. Group initiation cannot occur in an atmosphere of separatism. The barriers between group members must be eliminated. | 1. Điểm đạo nhóm không thể diễn ra trong một bầu không khí chia rẽ. Phải loại bỏ các rào cản giữa các thành viên nhóm. |
2. Barriers are caused by personality reactions, ideals and plans. | 2. Các phản ứng, lý tưởng và kế hoạch của phàm ngã gây ra những rào cản. |
3. Each group intent on the process of group initiation must discover for itself those personality factors which are contributing to separation between group members and, thus, the short-circuiting of energy which should flow through the entire group in a unified manner. | 3. Mỗi nhóm quyết tâm theo đuổi tiến trình điểm đạo nhóm phải tự khám phá những yếu tố phàm ngã đang góp phần chia cách các thành viên nhóm và do đó gây đoản mạch cho năng lượng lẽ ra phải lưu chuyển một cách thống nhất qua toàn nhóm. |
4. Another way of addressing this problem is to say that there is necessarily a high value placed upon ‘group harmony’. “Let no discord enter our building”. | 4. Một cách khác để đề cập đến vấn đề này là nói rằng nhất thiết phải hết sức coi trọng ‘sự hòa hợp nhóm’. “Đừng để bất hòa xâm nhập vào công trình chúng ta xây dựng”. |
5. It makes no difference that a disciple may think he is “right” and another “wrong”. The whole group suffers a reduction of its potential if barriers (whether mental, emotional or etheric) cannot be eliminated. | 5. Việc một đệ tử có thể nghĩ mình “đúng” còn người khác “sai” chẳng làm thay đổi điều gì. Toàn nhóm sẽ bị giảm tiềm năng nếu không thể loại bỏ các rào cản (dù là trí tuệ, cảm xúc hay dĩ thái). |
There are, of course, other requirements but if you can understand the above and seek — to the best of your ability — to meet them, that is all that I ask at present. One of the great needs of all disciples and aspirants is the detached relinquishing of pet theories as to life, discipleship and the Plan; the preserving of that open mind which is ever ready for the unexpected presentation and able (when the spiritual vision is strong enough) to achieve a quick reversal of all preconceived ideals. This must be done when it is deemed spiritually wise and it involves also that waiting attitude which expects the new vision to appear, the newer truths to emerge into formulated clarity and the new potencies to become increasingly effective. Such attitudes are peculiarly difficult for those disciples who have the sixth Ray of Devotion and Idealism dominant in their energy equipment, for the ideals of a sixth ray aspirant crystallise most rapidly and are quickly distorted thereby. The temporary ideal (intended to guide the undeveloped aspirant) can become a barrier, separating him from truth and from the realisation of a truer vision. | Dĩ nhiên còn những yêu cầu khác, nhưng nếu các bạn có thể thấu hiểu những điều trên và cố gắng—hết khả năng mình—đáp ứng chúng, thì đó là tất cả những gì Tôi yêu cầu lúc này. Một trong những nhu cầu lớn của mọi đệ tử và người chí nguyện là buông bỏ, với thái độ tách rời, những lý thuyết ưa thích về cuộc sống, địa vị đệ tử và Thiên Cơ; giữ một thể trí cởi mở, luôn sẵn sàng trước những điều bất ngờ xuất hiện và có khả năng (khi tầm nhìn tinh thần đủ mạnh) nhanh chóng đảo ngược mọi lý tưởng đã định sẵn. Phải làm điều này khi xét thấy sáng suốt về mặt tinh thần; đồng thời, điều ấy bao hàm thái độ chờ đợi, mong đợi tầm nhìn mới xuất hiện, những chân lý mới hơn hiện ra thành cách trình bày rõ ràng, và những tiềm lực mới ngày càng phát huy hiệu quả. Những thái độ như thế đặc biệt khó đối với các đệ tử có Cung sáu Sùng Tín và Duy Tâm chiếm ưu thế trong hệ thống năng lượng của mình, vì những lý tưởng của người chí nguyện cung sáu kết tinh rất nhanh và do đó mau chóng bị bóp méo. Lý tưởng tạm thời (nhằm hướng dẫn người chí nguyện chưa phát triển) có thể trở thành rào cản, chia cách y với chân lý và với việc nhận biết một tầm nhìn chân thực hơn. |
1. DK does not ask for all possible fulfillments. Four are given and, if fulfilled, will bring the possibility of group initiation close to reality. | 1. Chân sư DK không yêu cầu phải đáp ứng mọi điều có thể đặt ra. Bốn yêu cầu đã được đưa ra và nếu đáp ứng được, khả năng điểm đạo nhóm sẽ tiến gần đến hiện thực. |
2. One additional requirement from group initiation seems to be flexibility of mind — detachment from one’s own thoughts about life, discipleship and the Plan (one’s “pet theories”). Our minds are very limited and that which we may ‘hug to ourselves’ as correct has often been strengthened more by repetition than by access to light. Many reversals of point of view are not only possible but probable. | 2. Một yêu cầu bổ sung đối với điểm đạo nhóm dường như là sự linh hoạt của thể trí — tách rời khỏi những suy nghĩ của chính mình về sự sống, địa vị đệ tử và Thiên Cơ (những “lý thuyết ưa thích” của mình). Thể trí của chúng ta rất hạn hẹp, và điều mà chúng ta có thể ‘ôm giữ cho riêng mình’ như điều đúng đắn thường được củng cố nhờ sự lặp lại nhiều hơn là nhờ tiếp cận ánh sáng. Nhiều sự đảo ngược quan điểm không chỉ có thể xảy ra mà còn rất có khả năng xảy ra. |
3. As many of these pet thoughts carry an emotional charge, the detachment required is not focussed only on the mental plane but on the emotional, and especially in relation to kama-manasic formulations. | 3. Vì nhiều suy nghĩ ưa thích này mang sức nặng cảm xúc, sự tách rời cần có không chỉ tập trung trên cõi trí mà còn trên cõi cảm xúc, đặc biệt liên quan đến những cách diễn đạt trí-cảm. |
4. The ‘facts of the Path’ are not necessarily as we imagine them to be even in our best formulations. It is humbling, but we must be ready to let our best formulations go when a truer pattern appears. The personality has built its reputation upon such formulations and is reluctant to relinquish them. We have seen how often and doggedly people have held to outworn ‘truths’ and even complete fallacies because they were threatened by the thought of relinquishing them. The history of the Church with respect to emerging science is one case in point. | 4. Những ‘sự thật của Đường Đạo’ không nhất thiết giống như chúng ta tưởng tượng, ngay cả trong những cách diễn đạt tốt nhất của mình. Điều này khiến chúng ta khiêm nhường, nhưng chúng ta phải sẵn sàng buông bỏ những cách diễn đạt tốt nhất của mình khi một mô hình chân thực hơn xuất hiện. Phàm ngã đã xây dựng danh tiếng dựa trên những cách diễn đạt như thế và miễn cưỡng buông bỏ chúng. Chúng ta đã thấy người ta thường xuyên và ngoan cố bám giữ những ‘chân lý’ lỗi thời, thậm chí những điều hoàn toàn sai lầm, vì ý nghĩ phải buông bỏ chúng khiến họ cảm thấy bị đe dọa. Lịch sử của Giáo hội trong mối quan hệ với nền khoa học đang xuất hiện là một ví dụ điển hình. |
5. Relinquishment of cherished formulations is easier when there is “faith in the new” and patience. Through faith one touches the descending archetype even before it has ‘arrived’. Through such prescient faith one always knows that there will be something better ahead. It is fear that causes the refusal to relinquish that which has been outlived. | 5. Việc buông bỏ những cách diễn đạt được trân quý sẽ dễ dàng hơn khi có “niềm tin vào cái mới” và sự kiên nhẫn. Nhờ niềm tin, người ta chạm đến nguyên mẫu đang giáng xuống ngay cả trước khi nó ‘đến nơi’. Nhờ niềm tin có khả năng biết trước như vậy, người ta luôn biết rằng phía trước sẽ có điều tốt đẹp hơn. Chính nỗi sợ khiến người ta từ chối buông bỏ những gì đã qua thời hữu dụng. |
6. We remember that there were many Theosophists who thought that the Secret Doctrine was the last word in occultism. They could not relinquish that idea and thus, repudiated AAB’s books even when the inspiration had come from the same member of the Hierarchy. | 6. Chúng ta nhớ rằng từng có nhiều nhà Thông Thiên Học nghĩ rằng Giáo Lý Bí Nhiệm là lời cuối cùng về huyền bí học. Họ không thể buông bỏ ý tưởng ấy và do đó đã bác bỏ sách của Bà AAB, ngay cả khi cảm hứng đến từ cùng một thành viên của Thánh đoàn. |
7. Thus we have reviewed several requirements for group initiation: | 7. Như vậy, chúng ta đã xem xét một số yêu cầu đối với điểm đạo nhóm: |
a. United vision | a. Tầm nhìn thống nhất |
b. Simultaneous soul rapport between group members | b. Sự giao cảm linh hồn đồng thời giữa các thành viên nhóm |
c. Blended consecrated contact of the group personalities | c. Sự tiếp xúc hòa quyện, thánh hiến của các phàm ngã trong nhóm |
d. No barriers between group members | d. Không có rào cản giữa các thành viên nhóm |
e. Flexibility of mind with respect to pre-conceived formulations | e. Sự linh hoạt của thể trí đối với những cách diễn đạt đã định sẵn |
8. It is rare for present groups to fulfill even one of these requirements let alone all simultaneously | 8. Hiếm khi các nhóm hiện nay đáp ứng được dù chỉ một trong những yêu cầu này, huống chi đồng thời đáp ứng tất cả |
So I would beg you, my disciples, to aim at a wide open simplicity which waits expectant of that new thing which is so ready today to precipitate but which is being hindered from so doing by the idealists of the world far more than by the man in the street. The latter is simpler in his reactions and more ready to grasp and see a way out of the immediate impasse than the mystic or the occultist because he thinks in terms of [86] humanity. The disciples of the world (with their nicely formulated ideals and their neatly expressed idealistic concepts) are oft glamoured by the future beauty because they are oblivious of the present opportunity. Many of them will find out later that they have been left behind as far as registering the new truths is concerned. To this Christ referred when He said that it was not possible to put new wine into old bottles for that which is old will be destroyed by the expanding new life. | Vì vậy, các đệ tử của Tôi, Tôi khẩn thiết mong các bạn hướng đến sự giản dị rộng mở, chờ đợi đầy mong đợi điều mới mẻ hiện nay đã rất sẵn sàng ngưng tụ, nhưng lại đang bị những người duy tâm trên thế giới cản trở nhiều hơn hẳn so với người bình thường. Người bình thường giản dị hơn trong phản ứng và sẵn sàng nắm bắt, nhìn thấy lối thoát khỏi bế tắc trước mắt hơn nhà thần bí hay nhà huyền bí học, vì họ suy nghĩ theo hướng [86] nhân loại. Các đệ tử trên thế giới (với những lý tưởng được xây dựng khéo léo và những quan niệm duy tâm được diễn đạt gọn ghẽ) thường bị vẻ đẹp tương lai cuốn vào ảo cảm, vì họ quên mất cơ hội hiện tại. Về sau, nhiều người trong số họ sẽ nhận ra mình đã bị bỏ lại phía sau trong việc ghi nhận những chân lý mới. Đức Christ đã nói đến điều này khi Ngài bảo rằng không thể đổ rượu mới vào bầu cũ, vì sự sống mới đang mở rộng sẽ phá hủy những gì cũ. |
1. When the Master begs, beseeches, conjures or implores, the urgency of His hope is evident. | 1. Khi Chân sư tha thiết mong mỏi, khẩn khoản, nài xin hay van nài, tính cấp thiết trong niềm hy vọng của Ngài trở nên rõ ràng. |
2. As disciples long familiar with the “books” our minds may have become overly complicated. DK asks for that “wide open simplicity” which will be open to the new which is about to precipitate. This attitude would be one in which the intuition could flourish. | 2. Là những đệ tử từ lâu đã quen thuộc với “sách vở”, thể trí của chúng ta có thể đã trở nên quá phức tạp. Chân sư DK yêu cầu “sự giản dị rộng mở” ấy, để đón nhận cái mới sắp ngưng tụ. Đây là một thái độ trong đó trực giác có thể phát triển mạnh mẽ. |
3. DK reminds us that the idealists of the world (and presumably the esotericists) hinder the coming of the new more than does the man in the street. | 3. Chân sư DK nhắc chúng ta rằng các nhà lý tưởng trên thế giới (và có lẽ cả các nhà bí truyền học) cản trở sự xuất hiện của cái mới nhiều hơn người bình thường. |
4. The suggestion is that the man in the street is more ready to see the solution to problems because he thinks in terms of humanity. The mystic and occultist (so often selfish in subtle ways) are also asked to learn to think in terms of humanity. | 4. Điều được gợi ra là người bình thường sẵn sàng hơn trong việc nhìn thấy giải pháp cho các vấn đề vì y suy nghĩ theo góc độ nhân loại. Nhà thần bí và nhà huyền bí học (vốn rất thường ích kỷ theo những cách tinh vi) cũng được yêu cầu học cách suy nghĩ theo góc độ nhân loại. |
5. Disciples have to be more attentive to the immediate opportunity rather than be glamored by the possibility of future beauty. | 5. Các đệ tử phải chú tâm hơn đến cơ hội trước mắt thay vì bị khả năng về vẻ đẹp tương lai gây ảo cảm. |
6. Again, DK seems to be touching on the theme of self-satisfaction (an attitude all too common to disciples). So many disciples of esotericism smugly assume that they are privy to the newest truths — far more so than the more ordinary individual. Master DK warns of some surprises in this regard. | 6. Một lần nữa, dường như Chân sư DK đang đề cập đến chủ đề tự mãn (một thái độ quá phổ biến ở các đệ tử). Rất nhiều đệ tử huyền bí học tự mãn cho rằng mình biết được những chân lý mới nhất — nhiều hơn hẳn những người bình thường hơn. Chân sư DK cảnh báo về một số điều bất ngờ trong phương diện này. |
7. Do we sense that the Master is trying to “shake up” his chelas? They will remain static if they cannot be more flexible and expectant of the new. Having worked so much in the mind, they have a ready formulation with which to meet any life experience, but the formulation may be old, and lifeless. A disciple of esotericism can suffocate from the weight of his own thoughtforms. | 7. Chúng ta có cảm thấy Chân sư đang cố “lay tỉnh” các đệ tử của Ngài không? Họ sẽ tiếp tục trì trệ nếu không thể linh hoạt hơn và trông đợi cái mới. Vì đã hoạt động quá nhiều trong thể trí, họ có sẵn một cách diễn đạt để đối diện với bất kỳ trải nghiệm sống nào, nhưng cách diễn đạt ấy có thể đã cũ và không còn sức sống. Một đệ tử huyền bí học có thể ngạt thở dưới sức nặng của chính những hình tư tưởng của mình. |
8. The disciples in DK’s groups were not especially young; some of their earlier dynamism had faded. The Master is attempting to inspire them to new approaches rather than have them settle into customary and non-progressive attitudes. | 8. Các đệ tử trong những nhóm của Chân sư DK không còn đặc biệt trẻ; một phần tính năng động trước kia của họ đã phai nhạt. Chân sư đang cố gắng khơi cảm hứng cho họ hướng đến những cách tiếp cận mới, thay vì để họ an vị trong những thái độ quen thuộc và không tiến bộ. |
The initiate, therefore, stands ready, for what? For the instant recognition of what is new, for its immediate grasp and the treading of the new step in the unfoldment of the pioneering human consciousness, for the revelation — steadily and constantly presented — of the new and superseding concepts. These concepts possess a dynamic expulsive power and satisfactorily meet human need in the immediate cycle. He is ready for the instant relinquishing of all that seems futile and unnecessary and inadequate to the need of the hour, and for the reception of the power from on high which breaks and destroys that which has become crystallised, which has served its purpose and become old and useless; he is ready to work as a practical occultist (and not only as a mystical idealist) upon the levels of vision as well as upon the levels of practical human affairs. | Vậy điểm đạo đồ sẵn sàng cho điều gì? Cho việc tức khắc nhận biết điều mới mẻ, lập tức nắm bắt nó và thực hiện bước mới trong sự khai mở tâm thức nhân loại tiên phong, cho sự mặc khải—được trình bày đều đặn và liên tục—về những quan niệm mới thay thế các quan niệm cũ. Những quan niệm này có quyền năng tống xuất năng động và đáp ứng thỏa đáng nhu cầu nhân loại trong chu kỳ trước mắt. Y sẵn sàng tức khắc buông bỏ mọi điều có vẻ vô ích, không cần thiết và không đáp ứng nhu cầu của thời điểm hiện tại, đồng thời đón nhận quyền năng từ trên cao để phá vỡ và hủy diệt những gì đã kết tinh, đã hoàn thành mục đích và trở nên cũ kỹ, vô dụng; y sẵn sàng làm việc như một nhà huyền bí học thực hành (chứ không chỉ như một người duy tâm thần bí) trên các cấp độ tầm nhìn cũng như trên các cấp độ công việc thực tiễn của con người. |
1. It is clear that the initiate’s attitude is related to the work of the planet Uranus, the planet of the “new”. The factor of “instant recognition” is truly Uranian. | 1. Rõ ràng thái độ của điểm đạo đồ có liên quan đến công việc của Sao Thiên Vương, hành tinh của “cái mới”. Yếu tố “tức thì nhận biết” thực sự mang tính chất Sao Thiên Vương. |
2. While the regulating aspects of Saturn can and should be used by the disciple, he/she will not become an initiate unless he/she can step beyond the conditioning represented by Saturn. | 2. Mặc dù đệ tử có thể và nên vận dụng các phương diện điều tiết của Sao Thổ, người ấy sẽ không trở thành điểm đạo đồ nếu không thể vượt qua ảnh hưởng định hình mà Sao Thổ đại diện. |
3. The invocative, intuitive mind of the initiate is trained (via the antahkarana) on the new. | 3. Thể trí có tính khẩn cầu và trực giác của điểm đạo đồ hướng (qua antahkarana) vào cái mới. |
4. These ideas presented by the Tibetan give fresh access to life. They possess, says DK, a “dynamic expulsive power”. True ideas are powerful entities and they are, to the apprehending consciousness, ever fresh and new. It is thoughtforms of ideas that become stale and old. | 4. Những ý tưởng mà Chân sư Tây Tạng trình bày mở ra một lối tiếp cận mới mẻ với sự sống. Chân sư DK nói rằng chúng có một “quyền năng tống xuất mạnh mẽ”. Những ý tưởng chân thực là những thực thể đầy quyền năng, và đối với tâm thức nắm bắt chúng, chúng luôn tươi mới. Chính các hình tư tưởng của ý tưởng mới trở nên cũ kỹ và lỗi thời. |
5. The operative words are “instant”, “immediate”, “dynamic”, “expulsive”, “pioneering”, etc. I think we get the picture of what is required. Those who can function in this way are truly alive. They cannot do so unless they can actually access the buddhic plane — the first plane of cosmic etheric livingness. | 5. Những từ then chốt là “tức thì”, “lập tức”, “mạnh mẽ”, “tống xuất”, “tiên phong”, v.v. Tôi nghĩ chúng ta đã hình dung được điều cần có. Những ai có thể hoạt động theo cách này đều thực sự sống động. Họ không thể làm như vậy trừ khi thực sự tiếp cận được cõi Bồ đề — cõi đầu tiên của sức sống dĩ thái vũ trụ. |
6. Another Uranian sentence is given: the initiate is ready “for the reception of the power from on high which breaks and destroys that which has become crystallised, which has served its purpose and become old and useless”. | 6. Một câu khác mang tính chất Sao Thiên Vương được đưa ra: điểm đạo đồ sẵn sàng “tiếp nhận quyền năng từ trên cao, quyền năng phá vỡ và hủy diệt những gì đã kết tinh, đã hoàn thành mục đích, trở nên cũ kỹ và vô dụng”. |
7. We will not adopt such attitudes unless the antahkarana is anchored on the ‘other side’ of the “gap in consciousness”. If the realm of descending ideas is a reality to the disciple/initiate, then the powers here discussed can be his/hers. | 7. Chúng ta sẽ không có những thái độ như thế trừ khi antahkarana đã neo vững ở ‘bờ bên kia’ của “khoảng trống trong tâm thức”. Nếu lĩnh vực của những ý tưởng đang giáng xuống là một thực tại đối với đệ tử/điểm đạo đồ, thì những quyền năng được bàn đến ở đây có thể thuộc về người ấy. |
8. The contrast is given in no uncertain terms. One can be a “practical occultist” or a “mystic idealist”. Interestingly, it is the completing of the “bridge” to the higher worlds which makes it possible to become the practical occultist. Penetration into the higher ethers means effectiveness in the use of the lower ethers. | 8. Sự tương phản được trình bày hết sức rõ ràng. Người ta có thể là một “nhà huyền bí học thực hành” hoặc một “nhà lý tưởng thần bí”. Điều thú vị là chính việc hoàn tất “cây cầu” đến các cõi cao giúp người ta có thể trở thành nhà huyền bí học thực hành. Thâm nhập vào các tầng dĩ thái cao hàm ý hiệu quả trong việc sử dụng các tầng dĩ thái thấp. |
9. DK has been emphasizing the wise mobility of a member of the Hierarchy. We can examine our rigidities and fixations to see where movement is needed. The life described is a dynamic one. Wherein do we prevent our own participation in such dynamism? | 9. Chân sư DK đã nhấn mạnh tính động minh triết của một thành viên Thánh đoàn. Chúng ta có thể xem xét những điểm cứng nhắc và cố chấp của mình để thấy nơi nào cần chuyển động. Sự sống được mô tả là một sự sống năng động. Ở đâu chúng ta đang tự ngăn mình tham gia vào tính năng động như vậy? |
I would suggest that your meditation process should be divided into two parts. There should be a definitely planned individual and group meditation and also a methodical cultivation of the life of spiritual reflection. This spiritual reflection will foster the dual life — objective and subjective — of the disciple whilst the more formal meditation would aid in the process of focussing the light of the soul in the brain and thus lay the foundation for living, enlightened, soul service. | Tôi đề nghị tiến trình tham thiền của các bạn nên chia thành hai phần. Cần có việc tham thiền cá nhân và nhóm được hoạch định rõ ràng, đồng thời trau dồi có phương pháp một đời sống suy ngẫm tinh thần. Sự suy ngẫm tinh thần này sẽ nuôi dưỡng đời sống kép—khách quan và chủ quan—của đệ tử, trong khi việc tham thiền theo hình thức quy định sẽ hỗ trợ tiến trình tập trung ánh sáng linh hồn trong bộ não, qua đó đặt nền tảng cho việc phụng sự linh hồn sống động và được soi sáng. |
1. Meditation instructions are given. Two approaches are suggested. | 1. Các huấn thị tham thiền được đưa ra. Hai cách tiếp cận được đề nghị. |
2. One meditative approach is more formal, definitely planned, and applies to both individual and the group meditations. These formal meditations focus the light of the soul in the brain. | 2. Một cách tiếp cận tham thiền có khuôn thức rõ ràng hơn, được hoạch định cụ thể, và áp dụng cho cả tham thiền cá nhân lẫn tham thiền nhóm. Những bài thiền theo khuôn thức này tập trung ánh sáng linh hồn trong bộ não. |
3. The other approach is called “the life of spiritual reflection”; it fosters the “dual life” of the disciple. | 3. Cách tiếp cận kia được gọi là “đời sống suy ngẫm tinh thần”; nó nuôi dưỡng “đời sống kép” của đệ tử. |
This service is only the expression upon the physical plane of soul attitudes and activities — as the soul evidences them on its own level of consciousness. One phase of this dual work, the reflective, works out in an increasing realisation and expression of intentional living or of “life with a purpose. ” It leads to a mode of living which is built upon a planned programme which approximates itself, as far as possible, to the hierarchical Plan and to hierarchical life impulses. The second phase, which is embodied in the formal meditation, is that of a definite and [87] conscious withdrawal. If this is carried out correctly and with deliberation, plus regularity, it will eventually bring about a most productive telepathic interplay between the disciples in a group and between the individual disciple, the Master and the larger Ashram. It will also make the disciple sensitive to the higher “gift waves.” The entire meditation (in its two parts) involves, therefore, the linking up of heart and head, of the mystic and the occult approach, and also of feeling and knowledge. | Việc phụng sự này chỉ là sự biểu hiện trên cõi hồng trần của các thái độ và hoạt động linh hồn—như linh hồn thể hiện trên cấp độ tâm thức riêng của nó. Một phương diện của công việc kép này, phương diện suy ngẫm, biểu lộ thành sự nhận biết và biểu hiện ngày càng tăng của lối sống có chủ đích, hay “cuộc sống có mục đích”. Nó dẫn đến một lối sống xây dựng trên chương trình có hoạch định, cố gắng đến gần Thiên Cơ của Thánh đoàn và những xung lực sự sống của Thánh đoàn hết mức có thể. Phương diện thứ hai, thể hiện trong việc tham thiền theo hình thức quy định, là một sự thu rút rõ rệt và [87] hữu thức. Nếu thực hiện đúng đắn, có chủ đích và đều đặn, cuối cùng nó sẽ tạo nên sự tương tác viễn cảm hết sức hữu hiệu giữa các đệ tử trong nhóm, cũng như giữa từng đệ tử, Chân sư và Ashram lớn hơn. Nó cũng sẽ khiến đệ tử nhạy cảm với những “làn sóng ân tứ” cao hơn. Vì vậy, toàn bộ việc tham thiền (gồm hai phần) bao hàm sự liên kết giữa tim và đầu, giữa cách tiếp cận thần bí và huyền bí, cũng như giữa cảm nhận và tri thức. |
1. The Master elaborates on the meaning of “soul service”. Soul attitudes (as they appear on the plane of soul) are to be expressed upon the physical plane. | 1. Chân sư giải thích thêm về ý nghĩa của “sự phụng sự của linh hồn”. Các thái độ của linh hồn (như chúng xuất hiện trên cõi linh hồn) phải biểu hiện trên cõi hồng trần. |
2. He continues contrasting reflection with more formal meditation. Reflection leads to “intentional living” and to living “life with a purpose”. By its means, the individual is able to devise a program which is an approximation of the Divine Plan as he understands it. | 2. Ngài tiếp tục đối chiếu sự suy ngẫm với sự tham thiền theo khuôn thức rõ ràng hơn. Sự suy ngẫm dẫn đến “lối sống có chủ đích” và việc sống một “sự sống có mục đích”. Nhờ đó, cá nhân có thể xây dựng một chương trình gần với Thiên Cơ theo sự thấu hiểu của mình. |
3. Formal meditation (accompanied by conscious withdrawal) leads eventually to “telepathic interplay” in a number of ways. | 3. Tham thiền theo bài bản (đi kèm với sự triệt thoái có ý thức) cuối cùng dẫn đến “sự tương tác viễn cảm” theo nhiều cách. |
4. The Tibetan seems to be referencing a meditation which does not accompany these instructions. Perhaps it is to be found elsewhere in the books. | 4. Dường như Chân sư Tây Tạng đang đề cập đến một bài thiền không được đính kèm với những huấn thị này. Có lẽ có thể tìm thấy bài thiền ấy ở nơi khác trong các sách. |
5. The purpose of the meditation is to blend the head and heart, the occult and mystic approaches. | 5. Mục đích của bài thiền là hòa hợp đầu và tim, các cách tiếp cận huyền bí và thần bí. |
Only from the heart centre can stream, in reality, those lines of energy which link and bind together. It was for this reason that I have assigned certain meditations which stimulated the heart into action, linking the heart centre (between the shoulder blades) to the head centre, through the medium of the higher correspondence to the heart centre, found within the head centre (the thousand petalled lotus). This heart centre, when adequately radiatory and magnetic, relates disciples to each other and to all the world. It will also produce that telepathic interplay which is so much to be desired and which is so constructively useful to the spiritual Hierarchy — provided it is established within a group of pledged disciples, dedicated to the service of humanity. They can then be trusted. | Thực ra, chỉ từ trung tâm tim mới có thể tuôn ra những đường năng lượng liên kết và gắn bó với nhau. Vì lý do này, Tôi đã giao một số bài thiền kích thích tim hoạt động, liên kết trung tâm tim (giữa hai xương bả vai) với trung tâm đầu, thông qua đối phần tương ứng cao hơn của trung tâm tim, nằm trong trung tâm đầu (hoa sen nghìn cánh). Khi có đủ sức phát xạ và từ tính, trung tâm tim này liên kết các đệ tử với nhau và với toàn thế giới. Nó cũng sẽ tạo nên sự tương tác viễn cảm rất đáng mong muốn và vô cùng hữu ích theo hướng xây dựng cho Thánh đoàn—với điều kiện sự tương tác ấy được thiết lập trong một nhóm đệ tử đã cam kết, tận hiến cho việc phụng sự nhân loại. Khi đó, họ có thể được tin cậy. |
1. The emphasis of this paragraph is upon the heart center and certain meditations which stimulate that center. | 1. Đoạn này nhấn mạnh trung tâm tim và một số bài thiền kích thích trung tâm ấy. |
2. There is to be an alignment between the heart center, the head center and the heart center within the head. | 2. Cần có sự chỉnh hợp giữa trung tâm tim, trung tâm đầu và trung tâm tim bên trong đầu. |
3. The importance of the higher heart center (within the head) is discussed. At least, so it seems, when the Tibetan says, “This heart center…” When properly stimulated and radiatory it “relates disciples to each other and to all the world”. This higher center is also involved in “telepathic interplay”. The normal heart center must necessarily also be involved, otherwise it would not be necessary to “Think outwardly toward each other in love” in order to promote telepathy. | 3. Tầm quan trọng của trung tâm tim cao hơn (bên trong đầu) được bàn đến. Ít nhất, dường như là như vậy khi Chân sư Tây Tạng nói: “Trung tâm tim này…” Khi được kích thích đúng cách và có khả năng phát xạ, nó “nối kết các đệ tử với nhau và với toàn thế giới”. Trung tâm cao hơn này cũng tham gia vào “sự tương tác viễn cảm”. Trung tâm tim thông thường tất yếu cũng phải tham gia, nếu không thì đã chẳng cần “Hướng tư tưởng ra ngoài về phía nhau trong tình thương” để thúc đẩy viễn cảm. |
4. We learn that telepathic interplay is highly desirable and highly useful to the Spiritual Hierarchy, but only if it is established within a group of pledged disciples dedicated to the service of humanity. | 4. Chúng ta được biết rằng sự tương tác viễn cảm rất đáng mong muốn và rất hữu ích đối với Thánh đoàn, nhưng chỉ khi nó được thiết lập trong một nhóm đệ tử đã cam kết, tận hiến cho việc phụng sự nhân loại. |
5. We read much of trust and learn that trust is accorded a disciple after he/she is mentally polarized and has passed the midway point between the second and third initiations. | 5. Chúng ta đọc thấy nhiều điều về sự tin cậy và được biết rằng một đệ tử nhận được sự tin cậy sau khi người ấy đã phân cực trí tuệ và đã vượt qua điểm ở giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba. |
6. One important thing to grasp is that the activation of the heart centers (between the shoulder blades and within the head center) is a requirement if a disciple or group of disciples is to be trusted. | 6. Một điều quan trọng cần nắm bắt là việc hoạt hóa các trung tâm tim (giữa hai bả vai và bên trong trung tâm đầu) là một yêu cầu để một đệ tử hay một nhóm đệ tử có thể được tin cậy. |
One of the tasks of all disciples is the evocation of the will aspect of the soul; the will is usually quiescent in its higher aspects until a man treads the Path of Discipleship. . . . | Một trong những nhiệm vụ của mọi đệ tử là gợi lên phương diện ý chí của linh hồn; ý chí trong các phương diện cao hơn thường ở trạng thái tĩnh tại cho đến khi con người bước trên Con Đường Đệ Tử…. |
1. The lesser aspects of the soul have been evoked during ages of development. | 1. Các phương diện thấp hơn của linh hồn đã được gợi lên qua nhiều thời đại phát triển. |
2. The will aspect of the soul is usually not available until an individual treads the Path of Discipleship. | 2. Phương diện ý chí của linh hồn thường chưa sẵn có để sử dụng cho đến khi một cá nhân bước trên Con Đường Đệ Tử. |
3. What may be these higher aspects of the will? They surely do not relate specifically to the management of the personality life, nor even to the transpersonal individual in the causal body. They relate, rather, to the meeting of planetary need through the carrying out of the Divine Plan. The soul-infused personality is purely instrumental to this higher will. | 3. Những phương diện cao hơn này của ý chí có thể là gì? Chắc chắn chúng không liên quan riêng đến việc quản lý đời sống phàm ngã, thậm chí cũng không liên quan riêng đến cá nhân siêu phàm ngã trong thể nguyên nhân. Đúng hơn, chúng liên quan đến việc đáp ứng nhu cầu hành tinh thông qua việc thực hiện Thiên Cơ. Phàm ngã được linh hồn thấm nhuần thuần túy đóng vai trò công cụ cho ý chí cao hơn này. |
4. There has been an editorial deletion here. Perhaps there was instruction touching upon the will aspect of the soul. | 4. Ở đây có một phần đã bị lược bỏ khi biên tập. Có lẽ đã có huấn thị đề cập đến phương diện ý chí của linh hồn. |
You might ask, my brothers, of what use are these analogies and these items of information? They are of little technical use to you and really increase your responsibility. If, however, they serve to establish a true recognition of reality, of synthesis and of relation in the disciple’s consciousness, they are then of real value. Those three words — reality, synthesis, relation — indicate the goal and the problem of the disciple, plus the resultant effect of conscious, intelligent, spiritual work, motivated by love. | Các huynh đệ của tôi, các bạn có thể hỏi những phép tương đồng và các thông tin này có ích gì? Chúng ít có giá trị kỹ thuật đối với các bạn và thực sự làm tăng trách nhiệm của các bạn. Tuy nhiên, nếu chúng giúp thiết lập sự nhận biết chân thực về thực tại, sự tổng hợp và mối quan hệ trong tâm thức đệ tử, thì chúng có giá trị thực sự. Ba từ ấy—thực tại, tổng hợp, quan hệ—chỉ ra mục tiêu và vấn đề của đệ tử, cùng hiệu quả phát sinh từ công việc tinh thần hữu thức, thông minh, lấy tình thương làm động lực. |
1. There is much technical instruction in this installment VIII of the Tibetan’s DINA instructions. Many of the imparted items of information cannot yet be used, even though they increase the readers’ responsibility. | 1. Có nhiều huấn thị kỹ thuật trong phần VIII này thuộc các huấn thị DINA của Chân sư Tây Tạng. Nhiều thông tin được truyền đạt vẫn chưa thể sử dụng, dù chúng làm tăng trách nhiệm của người đọc. |
2. The real use of such instruction is to establish in the disciple’s consciousness a recognition of reality, synthesis and relation. | 2. Công dụng thực sự của những huấn thị như vậy là thiết lập trong tâm thức của đệ tử sự nhận biết về thực tại, sự tổng hợp và mối liên hệ. |
3. Reality relates to being, as it is. | 3. Thực tại liên quan đến bản thể, như nó vốn là. |
4. Synthesis is a higher octave of relation; it is relation within the field of an indivisible homogeneity. | 4. Sự tổng hợp là một quãng tám cao hơn của mối liên hệ; đó là mối liên hệ trong trường đồng nhất không thể phân chia. |
5. Relation, per se, is the manner in which all things touch, aspect or affect each other. Such relation exists because unity exists — first archetypally and then in demonstration. | 5. Chính mối liên hệ là cách thức vạn vật tiếp xúc, biểu hiện phương diện của nhau hoặc tác động lẫn nhau. Mối liên hệ như vậy tồn tại vì sự hợp nhất tồn tại—trước hết ở dạng nguyên mẫu, rồi trong sự biểu lộ. |
6. From these recognitions or realizations will emerge “the resultant effect of conscious, intelligent, spiritual work, motivated by love”. | 6. Từ những nhận biết hay chứng nghiệm này sẽ nảy sinh “hiệu quả phát sinh từ công việc tinh thần có ý thức, sáng suốt, được thúc đẩy bởi tình thương”. |
7. The first three factors (reality, synthesis, relation) belong to the realm of the spiritual triad. Intelligent spiritual work motivated by love is executed by the soul-infused personality. | 7. Ba yếu tố đầu tiên (thực tại, tổng hợp, liên hệ) thuộc về lĩnh vực của Tam Nguyên Tinh Thần. Phàm ngã được linh hồn thấm nhuần thực hiện công việc tinh thần sáng suốt được thúc đẩy bởi tình thương. |
8. We see the Tibetan attempting to integrate all aspects of the disciple’s being — from the highest to the lowest. | 8. Chúng ta thấy Chân sư Tây Tạng đang cố gắng tích hợp mọi phương diện trong bản thể của đệ tử—từ cao nhất đến thấp nhất. |
In the New Age, as I have earlier pointed out, the keynote of the aspirant’s progress will be love of humanity; this will indicate the awakening of the heart centre. In the past and up until the last few years, the keynote has been service because (if selflessly rendered) it embodied a technique which automatically [88] brought the heart centre into activity. It is love of humanity which is the major lack in the character of many disciples today. They love those with whom they may be associated, or they love the work connected with the group endeavour, or they love their own nation; they may also love an ideal or theoretical assumption, but they do not really love humanity as a whole. There are limits to their capacity to love and it is the transcending of those limits which constitutes their main problem at this time; they have to learn that it is humanity which calls for their allegiance, their loyalty and service. I would ask you all to ponder deeply on the above statements, for they embody the task ahead for you also as you seek to fit yourselves for the first or the second initiation. | Trong Kỷ Nguyên Mới, như Tôi đã chỉ ra trước đây, chủ âm cho sự tiến bộ của người chí nguyện sẽ là tình thương nhân loại; điều này sẽ chỉ ra sự thức tỉnh của trung tâm tim. Trong quá khứ và cho đến vài năm gần đây, chủ âm là phụng sự, bởi vì (nếu được thực hiện một cách vị tha) nó bao hàm một kỹ thuật tự động [88] đưa trung tâm tim vào hoạt động. Chính tình thương nhân loại là điều thiếu sót chủ yếu trong tính cách của nhiều đệ tử ngày nay. Họ yêu thương những người có thể gắn bó với mình, hoặc yêu công việc liên quan đến nỗ lực của nhóm, hoặc yêu quốc gia mình; họ cũng có thể yêu một lý tưởng hay giả thuyết, nhưng họ không thực sự yêu thương toàn thể nhân loại. Khả năng yêu thương của họ có giới hạn, và vượt qua những giới hạn ấy là vấn đề chính của họ lúc này; họ phải học rằng chính nhân loại đòi hỏi sự tận trung, lòng trung thành và việc phụng sự của họ. Tôi yêu cầu tất cả các bạn suy ngẫm sâu sắc về những phát biểu trên, vì chúng cũng bao hàm nhiệm vụ trước mắt của các bạn khi các bạn tìm cách chuẩn bị cho mình xứng hợp với lần điểm đạo thứ nhất hoặc thứ hai. |
1. The aspirant progresses as his love of humanity progresses. Love of humanity indicates that the heart center is awakening. | 1. Người chí nguyện tiến bộ khi tình thương nhân loại của y tiến triển. Tình thương nhân loại cho thấy trung tâm tim đang thức tỉnh. |
2. In the past, the keynote for aspirants had been “service”. Service also awakened the heart center. We see the importance of the awakening of the heart center. | 2. Trong quá khứ, chủ âm đối với những người chí nguyện là “phụng sự”. Việc phụng sự cũng đánh thức trung tâm tim. Chúng ta thấy tầm quan trọng của sự thức tỉnh trung tâm tim. |
3. The Master focuses on the “love of humanity”; this love appears to be missing from the consciousness of many modern disciples. | 3. Chân sư tập trung vào “tình thương nhân loại”; tình thương này dường như còn thiếu trong tâm thức của nhiều đệ tử hiện đại. |
4. Frank words are written. The many ‘loves’ of the modern disciple are cited, but the “love of humanity as a whole” is missing. Where do we stand with respect to this love and why? | 4. Những lời thẳng thắn đã được viết ra. Nhiều ‘tình yêu’ của đệ tử hiện đại được nêu ra, nhưng lại thiếu “tình thương toàn thể nhân loại” ấy. Chúng ta đang ở đâu xét về tình thương này, và vì sao? |
5. It is easy to love one’s associates, or one’s work, or nation, one’s ideals or theories. It is much harder to love humanity as a whole because there is so much that is gross and obvious that must be overlooked, and so much that is subtle and subjective that must be brought to the forefront of consciousness. | 5. Thật dễ yêu thương những người cộng sự của mình, hoặc công việc của mình, hoặc quốc gia, các lý tưởng hay lý thuyết của mình. Yêu thương toàn thể nhân loại khó hơn nhiều, vì có quá nhiều điều thô thiển và hiển nhiên phải bỏ qua, cùng quá nhiều điều tinh tế và chủ quan phải đưa lên hàng đầu trong tâm thức. |
6. The statements written are important reading for anyone who says that he/she loves Hierarchy. There is no love of Hierarchy without love of humanity. | 6. Những phát biểu đã viết ra này là nội dung quan trọng cần đọc đối với bất kỳ ai nói rằng mình yêu thương Thánh đoàn. Không thể có tình thương Thánh đoàn nếu không có tình thương nhân loại. |
7. Limitation in the capacity to love is a problematic limitation needing attention in the lives of many disciples. | 7. Giới hạn trong khả năng yêu thương là một giới hạn gây trở ngại cần được chú ý trong đời sống của nhiều đệ tử. |
8. Many have spoken of their allegiance, loyalty and service to Hierarchy. How many have spoken of their allegiance, loyalty and service to humanity? Yet, Hierarchy, itself, has such an allegiance, loyalty and service. | 8. Nhiều người đã nói về sự tận trung, lòng trung thành và việc phụng sự của họ đối với Thánh đoàn. Có bao nhiêu người đã nói về sự tận trung, lòng trung thành và việc phụng sự của họ đối với nhân loại? Tuy nhiên, chính Thánh đoàn cũng có sự tận trung, lòng trung thành và việc phụng sự như vậy. |
9. DK asks for deep pondering. He has outlined a task relating to the love of humanity. His disciples are to fit themselves for initiation, and the love of humanity is a necessary requirement, as we learn even from Rule I for Applicants to Initiation. | 9. Chân sư DK yêu cầu suy ngẫm sâu sắc. Ngài đã phác thảo một nhiệm vụ liên quan đến tình thương nhân loại. Các đệ tử của Ngài phải chuẩn bị cho mình đủ điều kiện để điểm đạo, và tình thương nhân loại là một yêu cầu thiết yếu, như chúng ta được biết ngay từ Quy luật I dành cho những Người Xin Điểm Đạo. |
10. We may note with some surprise DK’s mention of the “first or second initiation”. Most of His disciples were preparing for the second initiation. There was at least one who had not succeeded in facing the initiator at the first degree. | 10. Chúng ta có thể hơi ngạc nhiên khi thấy Chân sư DK đề cập đến “lần điểm đạo thứ nhất hoặc thứ hai”. Phần lớn các đệ tử của Ngài đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai. Có ít nhất một người đã không thành công trong việc đối diện với Đấng Điểm đạo ở cấp độ thứ nhất. |
11. But could the Master mean the third and fourth initiations? Elsewhere, He said He was not training people for the third initiation, so He certainly would not be training people for the fourth. This bears pondering. | 11. Nhưng liệu Chân sư có thể muốn nói đến lần điểm đạo thứ ba và thứ tư chăng? Ở nơi khác, Ngài nói rằng Ngài không huấn luyện người nào cho lần điểm đạo thứ ba, nên chắc chắn Ngài cũng sẽ không huấn luyện người nào cho lần điểm đạo thứ tư. Điều này đáng suy ngẫm. |
12. The Hierarchy is the “Hierarchy of Love” and its members are graded by the degree of their essential Love. Every disciple needs greater love. In this matter much close self-questioning is required, as we ask ourselves, “Who do we really love? And why?” If we discover that we truly love humanity, it can be taken as an indication that although our deficiencies may be many, our foundation is secure. | 12. Thánh đoàn là “Thánh đoàn Bác ái” và các thành viên của Thánh đoàn được phân cấp theo mức độ Bác ái cốt yếu của Các Ngài. Mọi đệ tử đều cần tình thương lớn hơn. Trong vấn đề này, cần tự chất vấn thật kỹ khi chúng ta tự hỏi: “Chúng ta thực sự yêu thương ai? Và vì sao?” Nếu khám phá ra rằng mình thực sự yêu thương nhân loại, chúng ta có thể xem đó là dấu hiệu cho thấy dù còn nhiều thiếu sót, nền tảng của chúng ta vẫn vững chắc. |
I would remind you also that the life of the disciple is ever a life of risks and of dangers, entered into willingly and deliberately in the cause of spiritual unfoldment and the service of humanity. But I would ask each of you to watch your emotional life and reactions with greatly increased care; I would ask you to watch particularly for the least outcropping of glamour. I would call your attention to the fact that the emergence of emotional conditions or of glamour in your life-expression need not necessarily indicate failure. There is only failure if there is identification with these astral conditions and a succumbing to old rhythms. The success of the meditation work assigned and regularly followed may be proved to you by the appearance of these undesirable conditions; they must be then recognised for what they are, and evoke in you that “divine indifference” which permits the emotion or the glamour to die of attrition, because deprived of the “feeding-power” of the attention. The whole history of true emotional control is to be found in the sentence just given. The process of achieving this control constitutes one of the most difficult periods in the life of the disciple and quite one of the longest from the angle of time. For this you should be prepared. Particularly is it difficult at this time to triumph over emotion because of the intense emotional condition of the entire human family and the widespread fear and terror for which the energy of the Black Lodge of Adepts is responsible. This definitely complicates your problem and that of all disciples: it tends to foster a most potent glamour. [89] So I beg of you to proceed with courage, joy, understanding, extreme caution and — at the same time — with speed. | Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng đời sống của đệ tử luôn là một đời sống đầy rủi ro và hiểm nguy, mà đệ tử tự nguyện và chủ tâm bước vào vì sự khai mở tinh thần và việc phụng sự nhân loại. Nhưng Tôi muốn yêu cầu mỗi người trong các bạn quan sát đời sống cảm xúc và những phản ứng của mình một cách cẩn trọng hơn nhiều; Tôi muốn các bạn đặc biệt lưu ý đến dấu hiệu nhỏ nhất của ảo cảm vừa xuất hiện. Tôi muốn các bạn chú ý đến sự kiện rằng những trạng thái cảm xúc hay ảo cảm xuất hiện trong cách biểu hiện đời sống của các bạn không nhất thiết là dấu hiệu thất bại. Chỉ có thất bại khi các bạn đồng hoá với những trạng thái cảm dục ấy và khuất phục trước những nhịp điệu cũ. Sự xuất hiện của những trạng thái không mong muốn này có thể chứng minh cho các bạn thấy công việc tham thiền được giao và thực hành đều đặn đã thành công; khi ấy, các bạn phải nhận biết đúng bản chất của chúng và khơi dậy trong mình sự “Điềm nhiên thiêng liêng”, để cảm xúc hay ảo cảm dần tiêu vong vì không còn nhận được “sức nuôi dưỡng” từ sự chú ý. Toàn bộ diễn trình kiểm soát cảm xúc đích thực nằm trong câu vừa nêu. Tiến trình đạt được sự kiểm soát này tạo thành một trong những giai đoạn khó khăn nhất trong đời sống đệ tử, và xét về thời gian, cũng thuộc những giai đoạn dài nhất. Các bạn nên chuẩn bị cho điều này. Vào lúc này, việc chiến thắng cảm xúc đặc biệt khó khăn vì trạng thái cảm xúc mãnh liệt của toàn thể gia đình nhân loại, cùng nỗi sợ hãi và kinh hoàng lan rộng do năng lượng của Hắc đoàn các chân sư gây ra. Điều này rõ ràng làm phức tạp thêm vấn đề của các bạn và của mọi đệ tử: nó có khuynh hướng nuôi dưỡng một ảo cảm hết sức mạnh mẽ. [89] Vì vậy, Tôi tha thiết mong các bạn tiến bước với lòng can đảm, sự hoan hỉ, sự thấu hiểu, hết sức thận trọng và—đồng thời—nhanh chóng. |
1. Probably all true disciples realize that discipleship entails unseen and subtle risks and dangers. The disciple subjects himself/herself to these risks and dangers for the sake of the service of humanity and “in the cause of spiritual unfoldment”. | 1. Có lẽ mọi đệ tử chân chính đều nhận ra rằng địa vị đệ tử kéo theo những rủi ro và nguy hiểm vô hình, tinh tế. Người đệ tử tự đặt mình trước những rủi ro và nguy hiểm này vì việc phụng sự nhân loại và “vì sự khai mở tinh thần”. |
2. Perhaps we should recount the risks or dangers we have noticed during the course of our disciplic life. It might make an interesting list. | 2. Có lẽ chúng ta nên kể lại những rủi ro hay nguy hiểm mà mình đã nhận thấy trong suốt đời sống đệ tử. Điều đó có thể tạo thành một danh sách thú vị. |
3. Glamor is surely one of the dangers and it is often not readily detectible (when first it ‘creeps’ in). | 3. Ảo cảm chắc chắn là một trong những nguy hiểm ấy, và thường không dễ phát hiện (khi nó mới ‘len lỏi’ vào). |
4. The Master is calling for vigilance. He has no tolerance for glamor and wants us to be aware of the “least outcropping” of this ancient scourge. | 4. Chân sư đang kêu gọi sự cảnh giác. Ngài không dung thứ ảo cảm và muốn chúng ta nhận biết cả “biểu hiện nhỏ nhất” của tai họa lâu đời này. |
5. It is often the unruly emotional body which needs watching. The arising of difficult emotional conditions may not indicate failure (but rather a purging) as long as one does not succumb to the ancient astral rhythms. | 5. Thường thì chính thể cảm xúc khó kiểm soát cần được theo dõi. Sự xuất hiện của những trạng thái cảm xúc khó khăn có thể không phải là dấu hiệu thất bại (mà đúng hơn là một sự thanh lọc), miễn là người ta không khuất phục trước những nhịp điệu cảm dục lâu đời. |
6. We are confirmed in the thought that successful meditation may lead to the emergence of undesirable emotional conditions and an awareness of latent glamors. | 6. Chúng ta được xác nhận trong nhận định rằng tham thiền thành công có thể dẫn đến sự xuất hiện của những trạng thái cảm xúc không mong muốn và sự nhận biết những ảo cảm tiềm ẩn. |
7. What to do if successful meditation is followed by a distressing awareness of such conditions? Of these conditions DK states, “they must be then recognised for what they are, and evoke in you that ‘divine indifference’ which permits the emotion or the glamour to die of attrition, because deprived of the ‘feeding-power’ of the attention” . This sentence is of the utmost importance. “The whole history of true emotional is to be found in the sentence just given”. | 7. Phải làm gì nếu sau khi tham thiền thành công lại xuất hiện sự nhận biết đáng khổ tâm về những trạng thái như vậy? Về các trạng thái này, Chân sư DK nói: “khi ấy, phải nhận biết chúng đúng như bản chất của chúng và để chúng khơi dậy trong các bạn sự ‘điềm nhiên thiêng liêng’, nhờ đó cảm xúc hay ảo cảm dần tiêu vong vì hao mòn, do không còn nhận được ‘sức nuôi dưỡng’ của sự chú ý” . Câu này có tầm quan trọng tột bậc. “Toàn bộ lịch sử của cảm xúc chân thực nằm trong câu vừa nêu”. |
8. Well and long should we ponder this sentence, for it gives the hint to the control of the formidable astral nature. With the eyes upon the essential, and refusing to be “taken in” by that which arises, the disciple may triumph. | 8. Chúng ta nên suy ngẫm kỹ lưỡng và lâu dài về câu này, vì nó đưa ra gợi ý để kiểm soát bản chất cảm dục đáng gờm. Khi hướng mắt vào điều cốt yếu và không để mình “bị đánh lừa” trước những gì nảy sinh, người đệ tử có thể chiến thắng. |
9. The main period of developing emotional control occurs between the first and second initiation. DK calls this period “quite the longest from the angle of time” and one of the most difficult. The period between the first and second degree is longer than that between any of the other normal five initiations. | 9. Giai đoạn chủ yếu để phát triển khả năng kiểm soát cảm xúc diễn ra giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai. Chân sư DK gọi giai đoạn này là “dài nhất xét về thời gian” và là một trong những giai đoạn khó khăn nhất. Khoảng thời gian giữa cấp độ thứ nhất và thứ hai dài hơn khoảng thời gian giữa bất kỳ hai lần điểm đạo nào khác trong năm lần điểm đạo thông thường. |
10. Triumphing over emotion and thus taking the second degree is extremely difficult at this time (the time of the Second World War). The Black Lodge was responsible for stimulating so much fear and terror that the entire astral plane was in turmoil. Note that DK calls them the “Black Lodge of Adepts”, indicating their high level of attainment. | 10. Chiến thắng cảm xúc và nhờ đó đạt cấp độ thứ hai là điều cực kỳ khó khăn vào lúc này (thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ Hai). Hắc đoàn đã gây ra quá nhiều sợ hãi và kinh hoàng đến mức toàn bộ cõi cảm dục chìm trong hỗn loạn. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK gọi họ là “Hắc đoàn các Chân sư”, cho thấy trình độ thành tựu cao của họ. |
11. The occasion was severe. DK instructed His disciples how they were to proceed — with courage, joy, understanding, extreme caution and speed. A tall order! A true disciple is an individual of no mean attainment. Proceeding thus in the face of turbulent, glamorous conditions requires great self-composure and a sure and steady contact with the soul. | 11. Tình thế khi ấy rất nghiêm trọng. Chân sư DK đã chỉ dẫn các đệ tử của Ngài cách tiến bước—với lòng can đảm, sự hoan hỉ, sự thấu hiểu, sự thận trọng tột độ và sự nhanh chóng. Một yêu cầu thật khó thực hiện! Một đệ tử chân chính là một cá nhân có thành tựu đáng kể. Tiến bước như vậy giữa những trạng thái hỗn loạn đầy ảo cảm đòi hỏi sự tự chủ lớn lao và sự tiếp xúc chắc chắn, ổn định với linh hồn. |
I would point out also that the intention of all true disciples is to stand by their group brothers in love and understanding. Upon this fact you can count. I would also assure you that the protective love of your Master is around you and that I shall not fail you at any time. . . . But, in the last analysis, the battle is yours. | Tôi cũng muốn chỉ ra rằng mọi đệ tử chân chính đều có ý định sát cánh cùng các huynh đệ trong nhóm với tình thương và sự thấu hiểu. Các bạn có thể tin cậy vào sự kiện này. Tôi cũng muốn bảo đảm với các bạn rằng tình thương che chở của Chân sư các bạn đang bao quanh các bạn, và Tôi sẽ không bao giờ phụ lòng các bạn…. Nhưng xét cho cùng, trận chiến là của chính các bạn. |
1. True disciples stand by their group brothers in love and understanding. DK assures His chelas of His protective love. He has raised such a picture of the subtle dangers, that a note of reassurance may have been required. | 1. Các đệ tử chân chính sát cánh cùng các huynh đệ trong nhóm bằng tình thương và sự thấu hiểu. Chân sư DK bảo đảm với các đệ tử của Ngài về tình thương che chở của Ngài. Ngài đã vẽ nên một bức tranh về những nguy hiểm tinh tế đến mức có lẽ cần có một lời trấn an. |
2. Another editorial deletion is encountered. Perhaps a method is given for calling upon the Master is moments of great need. | 2. Chúng ta lại gặp một phần bị lược bỏ khi biên tập. Có lẽ một phương pháp đã được đưa ra để khẩn cầu Chân sư trong những lúc vô cùng cần thiết. |
3. All is done to protect the disciple when and as possible, but the Master does not assume a responsibility which is not His. He hands the responsibility to His chelas, telling them that “the battle is yours”. | 3. Mọi điều đều được thực hiện để bảo vệ đệ tử khi có thể và trong chừng mực có thể, nhưng Chân sư không nhận một trách nhiệm không thuộc về Ngài. Ngài trao trách nhiệm cho các đệ tử của mình, nói với họ rằng “trận chiến này là của các bạn”. |
4. This is as it should be, for we become Masters by mastering our circumstances, especially those that are difficult. | 4. Điều này là đúng đắn, vì chúng ta trở thành Chân sư bằng cách làm chủ hoàn cảnh của mình, đặc biệt là những hoàn cảnh khó khăn. |
5. This has been an intense instruction written at a very difficult time of human history. DK has worked from many angles to warn, inspire and protect. We can get some small sense of the kind of pressure under which these disciples labored. Is the pressure to which we are now subjected equal to theirs? Perhaps, perhaps not. | 5. Đây là một huấn thị mạnh mẽ, được viết vào một thời điểm vô cùng khó khăn trong lịch sử nhân loại. Chân sư DK đã làm việc từ nhiều góc độ để cảnh báo, truyền cảm hứng và bảo vệ. Chúng ta có thể phần nào cảm nhận được loại áp lực mà các đệ tử này phải chịu đựng khi làm việc. Áp lực mà hiện nay chúng ta đang chịu có ngang bằng với áp lực của họ không? Có lẽ có, có lẽ không. |
6. In any case, regardless of the pressures which come upon us from without or from within, the correct mode of facing them is given in this very rich instruction. | 6. Dù sao đi nữa, bất kể những áp lực từ bên ngoài hay bên trong tác động lên chúng ta, huấn thị vô cùng phong phú này đã chỉ ra cách đúng đắn để đối diện với chúng. |
To the next commentary | Đến bài bình giảng tiếp theo |