DINA I · Bình giảng 14
commentary by Michael D. Robbins | bình giảng của Michael D. Robbins |
Two questions always arise the moment the stage of discipleship is discussed: the problem of occult obedience and the nature of the vision. I would like to deal with these right at the beginning of any help which I may be able to give you. What is this occult obedience which a Master is supposed to exact? Today, the Masters are dealing with the highly mental type of disciple who believes in the freedom of the human will and consciousness and who resents the imposition of any so-called authority. The intellectual man will not accept any infringement of his freedom, and in this he is basically right. He objects to having to obey. This is today axiomatic. Out of this fundamental question, lesser ones arise which I would like to cite. Has the disciple to obey the slightest hint which the Master may give? Must every request and suggestion be accepted? Must all that a Master says be accepted as true and infallibly correct? Is the disciple wrong when he refuses (if he does) to recognise the Master’s point of view and the statements He may make? Will the fact of Accepted Discipleship limit his freedom of opinion or choice, coerce his judgment and make him simply a replica in thought of the Master’s thought? These are questions of importance. | Ngay khi bàn đến giai đoạn đệ tử, luôn có hai câu hỏi nảy sinh: vấn đề tuân phục huyền môn và bản chất của linh thị. Tôi muốn bàn đến những điều này ngay từ đầu trong bất cứ sự trợ giúp nào Tôi có thể dành cho các bạn. Sự tuân phục huyền môn mà người ta cho rằng một Chân sư đòi hỏi là gì? Ngày nay, các Chân sư đang làm việc với mẫu đệ tử có trí tuệ phát triển cao, tin vào tự do của ý chí và tâm thức con người, đồng thời phản đối sự áp đặt của bất cứ điều gì được gọi là uy quyền. Người trí thức sẽ không chấp nhận bất cứ sự xâm phạm nào đối với tự do của mình, và về căn bản y đúng trong điều này. Y phản đối việc phải tuân phục. Ngày nay, điều này là hiển nhiên. Từ câu hỏi căn bản ấy nảy sinh những câu hỏi nhỏ hơn mà Tôi muốn nêu ra. Người đệ tử có phải tuân theo cả gợi ý nhỏ nhất mà Chân sư có thể đưa ra không? Có phải chấp nhận mọi yêu cầu và đề nghị không? Có phải chấp nhận tất cả những gì một Chân sư nói là chân thật và tuyệt đối chính xác không? Người đệ tử có sai không khi y từ chối (nếu y làm vậy) nhìn nhận quan điểm của Chân sư cùng những phát biểu mà Ngài có thể đưa ra? Liệu địa vị Đệ Tử Được Chấp Nhận có hạn chế quyền tự do quan điểm hoặc lựa chọn của y, ép buộc sự phán đoán của y và khiến y chỉ trở thành một bản sao tư tưởng của Chân sư không? Đây là những câu hỏi quan trọng. |
1. The Tibetan begins to deal with two problems fundamental to all disciplic training: the problems of occult obedience and of vision. | 1. Chân sư Tây Tạng bắt đầu bàn đến hai vấn đề căn bản đối với mọi sự huấn luyện đệ tử: vấn đề vâng phục huyền bí và tầm nhìn. |
2. There is much misunderstanding about the nature of occult obedience and Master DK seeks to set the matter straight at the outset. | 2. Có nhiều hiểu lầm về bản chất của sự vâng phục huyền bí, và Chân sư DK tìm cách làm sáng tỏ vấn đề ngay từ đầu. |
3. The modern disciple is different from his more devotional and less intelligent counterpart of former times. Today’s disciple is often a “highly mental type” and, with that increase in mentality, has come an increasing demand for freedom, even though the principle of freedom is incompletely understood. The modern, intelligent and, thus, more willful disciple believe he has a personal authority which must not be infringed (even by a Master). DK speaks directly here; such disciples object “to having to obey”. | 3. Đệ tử thời nay khác với người đệ tử thời trước vốn sùng tín hơn và kém thông minh hơn. Ngày nay, đệ tử thường thuộc “kiểu người có trí tuệ phát triển cao” và cùng với sự gia tăng năng lực trí tuệ ấy là đòi hỏi ngày càng cao về tự do, dù nguyên khí tự do vẫn chưa được thấu hiểu đầy đủ. Đệ tử thời nay, thông minh và do đó cũng quyết ý hơn, tin rằng mình có một quyền uy cá nhân không được phép xâm phạm (ngay cả một Chân sư cũng vậy). Ở đây, Chân sư DK nói thẳng; những đệ tử như thế phản đối “việc phải vâng phục”. |
4. Overall, DK considers this a good development, but one can imagine that it will necessitate an adaptation in the approach long-used by Masters in the training of Their chelas. | 4. Nhìn chung, Chân sư DK xem đây là một sự phát triển tốt đẹp, nhưng có thể hình dung rằng điều này sẽ đòi hỏi sự điều chỉnh trong cách tiếp cận mà các Chân sư từ lâu đã dùng để huấn luyện các đệ tử của Các Ngài. |
5. DK lists many associated questions which relate to the nature of occult obedience. They all amount to a single question: “just how closely must a disciple obey his Master”? If a disciple becomes an accepted disciple will this fact “limit his freedom of opinion or choice, coerce his judgment and make him simply a replica in thought of the Master’s thought”? The very thought that this last prospect may eventuate is a true horror to many disciples, especially those who do not yet understand the nature of occult obedience, and who have not yet really entered the Ashram. Had they done so they would know that such fear-based thoughts are unfounded and have no basis in reality. | 5. Chân sư DK liệt kê nhiều câu hỏi liên quan đến bản chất của sự vâng phục huyền bí. Tất cả đều quy về một câu hỏi duy nhất: “đệ tử phải vâng phục Chân sư của mình sát đến mức nào”? Nếu một đệ tử trở thành đệ tử được chấp nhận, liệu điều này có “hạn chế quyền tự do quan điểm hay lựa chọn của y, cưỡng ép sự phán đoán của y và khiến tư tưởng của y chỉ đơn thuần là bản sao tư tưởng của Chân sư”? Chỉ riêng ý nghĩ rằng viễn cảnh cuối cùng này có thể xảy ra cũng đã là một nỗi kinh hoàng thực sự đối với nhiều đệ tử, nhất là những người chưa thấu hiểu bản chất của sự vâng phục huyền bí và chưa thực sự gia nhập ashram. Nếu đã gia nhập, họ sẽ biết rằng những ý nghĩ bắt nguồn từ sợ hãi như thế là vô căn cứ và không có cơ sở trong thực tại. |
The obedience required is obedience to the Plan. It is not obedience to the Master, no matter what many old-style occult schools may say. The obedience which is asked of you is based on your growing recognition of the Plan for humanity, as it emerges in your consciousness through the processes of meditation and through definite service, based upon a growing love of your fellowmen. | Sự tuân phục cần có là tuân phục Thiên Cơ. Đó không phải là tuân phục Chân sư, bất kể nhiều trường phái huyền bí học kiểu cũ có nói gì. Sự tuân phục đòi hỏi ở các bạn đặt nền trên việc ngày càng nhận biết Thiên Cơ dành cho nhân loại, khi Thiên Cơ xuất hiện trong tâm thức các bạn qua các tiến trình tham thiền và qua sự phụng sự cụ thể, dựa trên tình thương ngày càng tăng đối với đồng loại. |
6. DK states with utter simplicity the principle underlying occult obedience: “the obedience required is obedience to the Plan. ” | 6. Chân sư DK trình bày hết sức đơn giản nguyên khí nền tảng của sự vâng phục huyền bí: “sự vâng phục được đòi hỏi là vâng phục Thiên Cơ. ” |
7. The older types of occult schools emphasize much the necessity of obedience to the Master (personally), but DK says that this is not necessary, per se. | 7. Các trường phái huyền bí kiểu cũ nhấn mạnh rất nhiều sự cần thiết phải vâng phục Chân sư (về mặt cá nhân), nhưng Chân sư DK nói rằng chính sự vâng phục ấy không phải là điều cần thiết. |
8. However, it should be said that since the Master, Himself, is invariably obedient to the Plan, and has a much deeper knowledge of the Plan than will be possible for any of His chelas, then, obedience to the Master is, effectively, obedience to the Plan. | 8. Tuy nhiên, cần nói rằng vì chính Chân sư luôn vâng phục Thiên Cơ và có sự hiểu biết về Thiên Cơ sâu xa hơn rất nhiều so với bất kỳ đệ tử nào của Ngài có thể đạt được, nên trên thực tế, vâng phục Chân sư là vâng phục Thiên Cơ. |
9. DK spells out with great exactitude the nature of the obedience asked of His disciples and, really, of all modern disciples. We are expected to develop an obedience which is based on our “growing recognition for the Plan for humanity. ” When we really recognize the Plan and its goodness, our obedience to it will automatically follow. In any case, Socrates thought so; for him, to really know the good was to do the good. | 9. Chân sư DK giải thích hết sức chính xác bản chất của sự vâng phục mà Ngài yêu cầu nơi các đệ tử của mình và thực ra là nơi mọi đệ tử thời nay. Chúng ta được kỳ vọng phát triển một sự vâng phục dựa trên việc “ngày càng nhận biết Thiên Cơ dành cho nhân loại. ” Khi chúng ta thực sự nhận biết Thiên Cơ và tính thiện lành của Thiên Cơ, sự vâng phục của chúng ta đối với Thiên Cơ sẽ tự nhiên theo sau. Dù sao đi nữa, Socrates đã nghĩ như vậy; đối với ông, thực sự biết điều thiện là làm điều thiện. |
10. It is important to note that a true recognition of the Plan will emerge in the consciousness through three processes: meditation, true service and a growing love of humanity. It can be stated, then, that unless we meditate and serve, and not only serve, but serve with love, we will not recognize the Plan, and because of that non-recognition, will not be occultly obedient. | 10. Cần lưu ý rằng sự nhận biết chân thật về Thiên Cơ sẽ nảy sinh trong tâm thức qua ba tiến trình: tham thiền, phụng sự chân chính và tình thương ngày càng sâu đậm đối với nhân loại. Vậy có thể nói rằng nếu chúng ta không tham thiền và phụng sự, mà không chỉ phụng sự thôi, phải phụng sự với tình thương, thì chúng ta sẽ không nhận biết Thiên Cơ; và vì không nhận biết, chúng ta sẽ không vâng phục theo nghĩa huyền bí. |
The obedience demanded is that of the personality to the soul as soul knowledge, soul light and soul control become [687] increasingly potent in the mind and brain reactions of the disciple. This whole problem of occult obedience would not arise at all if the rapport between soul and personality or between the disciple and the Master was complete and soundly established. The entire question is based upon the blindness and lack of knowledge of the disciple. As the rapport becomes more firmly established, no fundamental divergences of opinion can appear; the aims of the soul and the personality blend and fuse; the objectives before the disciple and the Master become identical, and the group life conditions the service rendered by both of them. It is, therefore, the limitations of the disciple which prompt the question and his fear that too much may be asked of him by the Master and his soul. Is this not true, my brother? It is the holding on to your personality interpretations, wishes and ideas which leads you to draw back from the word obedience. It is your liking for yourself and for your own point of view which—literally and factually—makes you afraid of a too prompt acquiescence in the known suggestions of the Masters. I would have you remember that suggestion is all that a Master ever makes to a disciple, even though He may make positive statements about human affairs. These statements may be entirely correct; the neophyte, however, is usually too blind or prejudiced by his own individual point of view to accept them. Obedience can only be rendered when there is a developed understanding and an inclusive vision; if that is lacking, the passing of time will adjust the matter. | Sự tuân phục được đòi hỏi là sự tuân phục của phàm ngã đối với linh hồn khi tri thức linh hồn, ánh sáng linh hồn và sự kiểm soát của linh hồn ngày càng [687] có uy lực trong các phản ứng của thể trí và bộ não người đệ tử. Toàn bộ vấn đề tuân phục huyền môn này sẽ hoàn toàn không nảy sinh nếu mối giao hòa giữa linh hồn và phàm ngã, hoặc giữa đệ tử và Chân sư, đã trọn vẹn và được thiết lập vững chắc. Toàn bộ câu hỏi đặt nền trên sự mù quáng và thiếu hiểu biết của người đệ tử. Khi mối giao hòa được thiết lập vững chắc hơn, không thể xuất hiện những bất đồng căn bản về quan điểm; các mục tiêu của linh hồn và phàm ngã hòa quyện và dung hợp; những mục đích trước mắt của đệ tử và Chân sư trở nên đồng nhất, và đời sống nhóm định hình sự phụng sự của cả hai. Vì vậy, chính những giới hạn của người đệ tử làm nảy sinh câu hỏi ấy, cùng nỗi sợ rằng Chân sư và linh hồn có thể đòi hỏi ở y quá nhiều. Huynh đệ của tôi, điều này chẳng phải đúng sao? Chính việc bám giữ những cách diễn giải, mong muốn và ý tưởng của phàm ngã khiến các bạn chùn bước trước từ tuân phục. Chính sự yêu thích bản thân và quan điểm riêng của mình khiến các bạn—cả theo nghĩa đen lẫn trên thực tế—sợ chấp thuận quá nhanh những đề nghị đã biết của các Chân sư. Tôi mong các bạn nhớ rằng một Chân sư chỉ bao giờ cũng đưa ra đề nghị cho một đệ tử, dù Ngài có thể đưa ra những phát biểu dứt khoát về các vấn đề nhân loại. Những phát biểu này có thể hoàn toàn chính xác; tuy nhiên, người sơ cơ thường quá mù quáng hoặc quá thiên lệch do quan điểm cá nhân để chấp nhận chúng. Chỉ có thể tuân phục khi đã phát triển sự thấu hiểu và một tầm nhìn bao gồm; nếu thiếu điều đó, thời gian sẽ điều chỉnh vấn đề. |
11. At the root of occult obedience is a fundamental type of obedience about which some of us have been studying for many years, perhaps many lives: the obedience of personality to soul. None of us objects to the necessity of such an obedience, although we may appreciate that it is not always easy to achieve. The one who, as a personality, is obedient to soul will have no difficulty in understanding and practicing occult obedience. Obedience to soul naturally develops as soul makes an increasingly powerful impress upon mind and brain. If soul is merely a concept and not an experience, obedience to it cannot be understood and will not follow. | 11. Cội rễ của sự vâng phục huyền bí là một kiểu vâng phục căn bản mà một số người trong chúng ta đã nghiên cứu suốt nhiều năm, có lẽ nhiều kiếp: sự vâng phục của phàm ngã đối với linh hồn. Không ai trong chúng ta phản đối sự cần thiết của sự vâng phục ấy, mặc dù chúng ta có thể nhận thức rằng không phải lúc nào cũng dễ đạt được điều đó. Người nào, với tư cách một phàm ngã, vâng phục linh hồn sẽ không gặp khó khăn trong việc thấu hiểu và thực hành sự vâng phục huyền bí. Sự vâng phục linh hồn phát triển tự nhiên khi linh hồn ngày càng ghi dấu ấn mạnh mẽ lên thể trí và bộ não. Nếu linh hồn chỉ là một khái niệm chứ chưa phải một trải nghiệm, thì không thể thấu hiểu sự vâng phục linh hồn và sự vâng phục ấy sẽ không theo sau. |
12. Now Master DK really gets to the point: the whole question of occult obedience arises in the minds of many disciples simply because, in their case, the rapport between personality and soul, and disciple and Master, is incompletely established. They are blind to the real experience of such a firmly established rapport and hence they (as personalities) question the value of occult obedience. | 12. Giờ đây, Chân sư DK thực sự đi vào trọng tâm: toàn bộ câu hỏi về sự vâng phục huyền bí nảy sinh trong thể trí của nhiều đệ tử chỉ vì, trong trường hợp của họ, mối giao cảm giữa phàm ngã và linh hồn, giữa đệ tử và Chân sư, chưa được thiết lập trọn vẹn. Họ mù quáng trước trải nghiệm thực sự về một mối giao cảm được thiết lập vững chắc như thế, và do đó, họ (với tư cách những phàm ngã) chất vấn giá trị của sự vâng phục huyền bí. |
13. Our task is to ensure that rapport between personality and soul, and between disciple and Master, becomes established as firmly as possible. Then a fusion between these apparent opposites will occur, and with this infusion of the greater into the lesser, divergences of opinion (between chela and Master) will disappear. The lesser will ‘see’ as the greater ‘sees’ (at least to a far greater extent), and discrepancies in point of view will be negated. With the growth of such developments, it will be seen that both soul and Master serve the greater group; the disciple (considered as a personality) must learn to do so. | 13. Nhiệm vụ của chúng ta là bảo đảm mối giao cảm giữa phàm ngã và linh hồn, giữa đệ tử và Chân sư, được thiết lập vững chắc hết mức có thể. Khi ấy, sự dung hợp giữa những đối cực bề ngoài này sẽ xảy ra, và khi cái lớn hơn thấm nhuần cái nhỏ hơn như thế, những bất đồng về quan điểm (giữa đệ tử và Chân sư) sẽ biến mất. Cái nhỏ hơn sẽ ‘thấy’ như cái lớn hơn ‘thấy’ (ít nhất cũng ở mức độ lớn hơn nhiều), và những khác biệt về quan điểm sẽ được xóa bỏ. Khi những sự phát triển ấy tiến xa hơn, người ta sẽ thấy rằng cả linh hồn lẫn Chân sư đều phụng sự nhóm lớn hơn; đệ tử (xét như một phàm ngã) phải học làm như vậy. |
14. Really, the Tibetan is looking for “prompt acquiescence” from His disciples. He is wanting them to see more as He sees, and to render obedience to the vision which animates Him and which could animate them. | 14. Thực ra, Chân sư Tây Tạng đang mong đợi “sự mau lẹ thuận theo” nơi các đệ tử của Ngài. Ngài muốn họ thấy gần hơn với cách Ngài thấy, và vâng phục tầm nhìn đang khơi động Ngài và có thể khơi động họ. |
15. The Tibetan points the finger at disciples’ excessive attachment to their own personality interpretations, wishes and ideas, and to the fear that they might have to relinquish same if they were to accede to the Master’s wishes (and to the indications of the Plan). They like themselves and their established ways too much. | 15. Chân sư Tây Tạng chỉ rõ sự quá mức gắn bó của các đệ tử với những cách diễn giải, mong muốn và ý tưởng của phàm ngã mình, cùng nỗi sợ rằng họ có thể phải từ bỏ những điều ấy nếu thuận theo mong muốn của Chân sư (và những chỉ dẫn của Thiên Cơ). Họ quá yêu thích bản thân và những lề lối đã thành nếp của mình. |
16. We remember in this regard that the Path of Discipleship is the Path of Sacrifice, and many lesser things simply have to be relinquished in favor of greater. Fortunately, the usual growth of light upon this Path is such that the reason for so doing is made ever clearer, and thus, to a degree, the task of relinquishment becomes easier than for the unillumined man of the world. | 16. Về điều này, chúng ta nhớ rằng Con Đường Đệ Tử là Con Đường Hi Sinh, và nhiều điều nhỏ bé hơn đơn giản là phải được từ bỏ để nhường chỗ cho những điều lớn lao hơn. May thay, ánh sáng thường gia tăng trên Đường Đạo này khiến lý do để làm như vậy ngày càng rõ ràng hơn; do đó, ở một mức độ nào đó, nhiệm vụ từ bỏ trở nên dễ dàng hơn so với người thế gian chưa được soi sáng. |
17. We are being told that we (if we are like so many disciples) have an excessive liking for our own point of view and do not wish to give it up. Maybe we should examine our lives to determine the extent to which this may be true. To what extent are we learning to see and understanding as members of an Ashram would see and understand? To what extent can we, as it were, look through the Master’s eyes? | 17. Chúng ta đang được cho biết rằng chúng ta (nếu giống như rất nhiều đệ tử) quá yêu thích quan điểm riêng của mình và không muốn từ bỏ nó. Có lẽ chúng ta nên xem xét cuộc sống của mình để xác định điều này có thể đúng đến mức nào. Chúng ta đang học cách thấy và thấu hiểu như các thành viên của một ashram thấy và thấu hiểu đến mức nào? Có thể nói, chúng ta có thể nhìn qua đôi mắt của Chân sư đến mức nào? |
18. Master DK reminds us that a Master will not coerce His chelas; suggestions are all He will make. Will the chela recognize the validity of such suggestions? Often he will not, because he is “too blind or prejudiced by his own point of view to accept them”. We see that our limitations in consciousness prevent us from availing ourselves fully of all that a Master may have to offer us. It would be the course of wisdom, then, to get rid of those limitations as rapidly as possible. | 18. Chân sư DK nhắc chúng ta rằng một Chân sư sẽ không cưỡng ép các đệ tử của Ngài; Ngài chỉ đưa ra những đề nghị. Liệu đệ tử có nhận biết tính xác đáng của những đề nghị ấy không? Thường là không, vì người đệ tử ấy “quá mù quáng hoặc quá thiên lệch do quan điểm riêng của mình nên không thể chấp nhận chúng”. Chúng ta thấy rằng những giới hạn trong tâm thức ngăn chúng ta tận dụng đầy đủ tất cả những gì một Chân sư có thể dành cho chúng ta. Vậy, cách hành động minh triết là loại bỏ những giới hạn ấy càng nhanh càng tốt. |
19. A close study of the DINA books reveals that quite a number of DK’s chelas reacted adversely to the “positive statements” which He made about world affairs and different groups of human beings. The Master’s statements proved, of course, to be correct and the disciples were left with the task of adjusting their point of view. | 19. Việc nghiên cứu kỹ các sách DINA cho thấy khá nhiều đệ tử của Chân sư DK đã phản ứng tiêu cực với những “phát biểu dứt khoát” mà Ngài đưa ra về các vấn đề thế giới và những nhóm người khác nhau. Những phát biểu của Chân sư dĩ nhiên đã chứng tỏ là đúng, và các đệ tử phải điều chỉnh quan điểm của mình. |
20. DK is a realist in this matter of a disciple’s adjustment to the Master’s perspective; if adjustment is not forthcoming in the moment, time (a great agent of detachment) will supply the wisdom with which the disciple can become more understanding and inclusive. | 20. Chân sư DK có cái nhìn thực tế về việc đệ tử điều chỉnh để phù hợp với góc nhìn của Chân sư; nếu sự điều chỉnh chưa diễn ra ngay lúc đó, thời gian (một tác nhân mạnh mẽ giúp buông bỏ sự gắn bó) sẽ đem lại minh triết để đệ tử có thể thấu hiểu hơn và có tính bao gồm hơn. |
21. We may have noticed (after years of study) our point of view coming ever-closer to that of the Master. This is not a matter of indoctrination; rather, it is a growing into the consciousness of the Master. | 21. Có lẽ chúng ta đã nhận thấy (sau nhiều năm nghiên cứu) quan điểm của mình ngày càng gần với quan điểm của Chân sư. Đây không phải là vấn đề nhồi nhét tư tưởng; đúng hơn, đó là sự trưởng thành để hòa nhập vào tâm thức của Chân sư. |
This brings up the question of the vision, its nature and extension. Is this vision, which must exist before the disciple seeks admittance into a Master’s group, a gradually unfolding process or an unconscious remembering of something once sensed and seen? Here lies the crux of the problem. Let me explain. The vision is a symbolic way of experiencing revelation. The gradual unfoldment of each of the five senses brought a steady emerging revelation of God’s world and a constantly extending vision. The development of sight brought a synthetic aptitude to focus the results of all lesser visions brought to the point of revelation by the other four senses. Then comes a vision, revealed by the “common sense” of the mind. This [688] demonstrates in its most developed stage as world perception where human affairs are concerned, and frequently works out in the vast personality plans of the world leaders in the various fields of human living. But the vision with which you should be concerned is to become aware of what the soul knows and what the soul sees, through the use of the key to soul vision—the intuition. That key can only be used intelligently and consciously when personality affairs are dropping below the threshold of consciousness. | Điều này đưa đến câu hỏi về linh thị, bản chất và phạm vi của nó. Linh thị này, vốn phải hiện hữu trước khi người đệ tử tìm cách gia nhập nhóm của một Chân sư, là một tiến trình khai mở dần dần hay một sự hồi tưởng vô thức về điều từng cảm nhận và nhìn thấy? Chính ở đây có điểm cốt lõi của vấn đề. Hãy để Tôi giải thích. Linh thị là một cách trải nghiệm sự mặc khải mang tính biểu tượng. Sự khai mở dần dần của từng giác quan trong năm giác quan đem lại sự mặc khải đều đặn về thế giới của Thượng đế và một tầm nhìn không ngừng mở rộng. Sự phát triển của thị giác đem lại khả năng tổng hợp để quy tụ những kết quả của mọi sự nhận thấy hạn hẹp hơn mà bốn giác quan kia đưa đến điểm mặc khải. Sau đó xuất hiện một tầm nhìn do “giác quan chung” của thể trí khai mở. Ở giai đoạn phát triển cao nhất, điều này [688] biểu hiện thành khả năng nhận thức thế giới xét về các vấn đề nhân loại, và thường thể hiện trong những kế hoạch phàm ngã rộng lớn của các nhà lãnh đạo thế giới trong nhiều lĩnh vực đời sống con người. Nhưng linh thị mà các bạn nên quan tâm là nhận biết những gì linh hồn biết và những gì linh hồn thấy, bằng cách sử dụng chìa khóa dẫn đến linh thị của linh hồn—trực giác. Chỉ có thể sử dụng chìa khóa ấy một cách thông minh và có ý thức khi những việc của phàm ngã đang chìm xuống dưới ngưỡng tâm thức. |
22. Having clarified the nature of true occult obedience, DK expands upon the nature of vision. We note that a “vision” must exist before a disciple seeks admittance to a Master’s group. Were there no such vision, there would be no incentive to seek admittance to something so apparently intangible and impractical as a group of that nature. | 22. Sau khi làm rõ bản chất của sự vâng phục huyền bí chân chính, Chân sư DK trình bày sâu hơn về bản chất của tầm nhìn. Chúng ta lưu ý rằng một “tầm nhìn” phải có trước khi đệ tử tìm cách gia nhập nhóm của một Chân sư. Nếu không có tầm nhìn ấy, sẽ không có động lực để tìm cách gia nhập một điều có vẻ vô hình và thiếu thực tế như một nhóm mang bản chất ấy. |
23. The main question Master DK poses is whether the vision which is to be acquired before entry is “a gradually unfolding process” or “an unconscious remembering of something once sense and seen”. Perhaps the truth will be seen as a combination of both alternatives. | 23. Câu hỏi chính mà Chân sư DK đặt ra là liệu tầm nhìn cần đạt được trước khi gia nhập là “một tiến trình dần dần khai mở” hay “sự hồi tưởng vô thức về một điều từng cảm nhận và nhìn thấy”. Có lẽ chân lý sẽ được nhận thấy là sự kết hợp của cả hai khả năng. |
24. A simple sentence starts our enquiry: “the vision is a symbolic way of experiencing revelation”. The vision is not the revelation as many visionaries seem to think. The same revelation may manifest itself through different visions. The vision is doorway to revelation. The tendency to mistake the vision for the revelation has led to many abuses based and much intolerance. | 24. Một câu đơn giản mở đầu cuộc tìm hiểu của chúng ta: “tầm nhìn là một cách trải nghiệm sự mặc khải qua biểu tượng”. Tầm nhìn không phải là sự mặc khải như nhiều người có tầm nhìn dường như vẫn nghĩ. Cùng một sự mặc khải có thể biểu hiện qua những tầm nhìn khác nhau. Tầm nhìn là cánh cửa dẫn đến sự mặc khải. Khuynh hướng nhầm tầm nhìn với sự mặc khải đã dẫn đến nhiều sự lạm dụng và nhiều thái độ bất khoan dung. |
25. DK speaks of the gradually unfolding senses and their culmination in the synthetic sense of slight. Just as the Aryan Race (a ‘race-in-consciousness’) is the culmination of the previous four root races, so the sense of sight is a culmination of smell, taste, hearing, and touch (though taste and smell also have higher correspondence representing faculties more advanced that the sense of sight). Interestingly, the sense which correlates with the Aryan consciousness is, indeed, sight. | 25. Chân sư DK nói về các giác quan dần dần khai mở và đạt đến đỉnh cao nơi thị giác có tính tổng hợp. Cũng như nhân loại Arya (một ‘nhân loại xét theo tâm thức’) là đỉnh cao của bốn giống dân gốc trước đó, thị giác cũng là đỉnh cao của khứu giác, vị giác, thính giác và xúc giác (mặc dù vị giác và khứu giác cũng có những tương ứng cao hơn, biểu thị các năng lực tiến xa hơn thị giác). Điều thú vị là giác quan tương ứng với tâm thức Arya quả thực là thị giác. |
26. One type of vision of which DK speaks is revealed by the “common sense” of the mind. This sense is the “sixth sense”, occultly considered. Such a vision is not sensory, as that term is usually considered. Rather, it is possessed of intelligence. | 26. Một loại tầm nhìn mà Chân sư DK nói đến được mặc khải qua “giác quan chung” của thể trí. Xét theo huyền bí học, giác quan này là “giác quan thứ sáu”. Tầm nhìn như thế không thuộc về giác quan, theo cách người ta thường hiểu từ này. Đúng hơn, nó có trí thông minh. |
27. DK tells us that such visions, in highly developed persons, work out as “in the vast personality plans of the world leaders in the various fields of human living. ” | 27. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng ở những người phát triển cao, các tầm nhìn như thế thể hiện “trong những kế hoạch phàm ngã rộng lớn của các nhà lãnh đạo thế giới trong những lĩnh vực khác nhau của đời sống con người. ” |
28. There is yet another type of vision which is revealed by what might be called the “esoteric sense”, which, occultly, is a “seventh sense”. It is the vision of what the soul knows and sees and requires the exercise of the intuition. This is the kind of vision which actuates a Master in all He does. The right use of the “common sense” and its wide vision leads to the possibility of eventually developing an intuitive recognition of soul vision. The first (the “common sense”) is strictly human; the second (the “esoteric sense”) is fed by the fifth kingdom of nature. | 28. Còn có một loại tầm nhìn khác được mặc khải qua điều có thể gọi là “giác quan nội môn”, mà theo huyền bí học là “giác quan thứ bảy”. Đó là tầm nhìn về những gì linh hồn biết và thấy, và đòi hỏi việc vận dụng trực giác. Đây là loại tầm nhìn thúc đẩy một Chân sư trong mọi việc Ngài làm. Việc sử dụng đúng đắn “giác quan chung” cùng tầm nhìn rộng lớn của nó dẫn đến khả năng cuối cùng phát triển sự nhận biết bằng trực giác về tầm nhìn của linh hồn. Giác quan thứ nhất (tức “giác quan chung”) hoàn toàn thuộc về con người; giác quan thứ hai (tức “giác quan nội môn”) được giới thứ năm trong thiên nhiên nuôi dưỡng. |
29. When can such a vision come to the aspiring disciple? Only when personality affairs are dropping below the threshold of consciousness. Many aspirants and disciples are still preoccupied with their personality and its reactions to life in the three worlds. This preoccupation leaves insufficient ‘room in consciousness’ for the descent of the higher vision. When, however, detachment from personality affairs becomes somewhat established, and a sense of spiritual values takes the place of older, personality-centered values, the light can enter. | 29. Khi nào một tầm nhìn như thế có thể đến với người đệ tử đang khát vọng? Chỉ khi những vấn đề của phàm ngã đang lùi xuống dưới ngưỡng tâm thức. Nhiều người chí nguyện và đệ tử vẫn mải bận tâm đến phàm ngã cùng những phản ứng của nó trước cuộc sống trong ba cõi giới. Sự bận tâm này khiến không còn đủ ‘chỗ trong tâm thức’ cho tầm nhìn cao hơn giáng xuống. Tuy nhiên, khi sự buông bỏ những vấn đề của phàm ngã đã phần nào vững chắc và ý thức về các giá trị tinh thần thay thế những giá trị cũ lấy phàm ngã làm trung tâm, ánh sáng có thể đi vào. |
I would ask you: How much of your present so-called vision is dependent upon what others have seen and how much you discovered for yourself by climbing arduously and earnestly the Mount of Vision and (from that eminence which you have arrived at alone) looking out over the horizon towards the next peak of attainment for humanity? A disciple becomes an Accepted Disciple when he starts climbing towards the vision, towards the mountain top; he can also register consciously what he has seen and then begins to do something constructive towards materialising it. This, many throughout the world are beginning to do. A man becomes a World Disciple in the technical sense when the vision is to him an important and determining fact in his consciousness and one to which all his daily efforts are subordinated. He needs no one to reveal the Plan to him. He knows. His sense of proportion is adjusted to the revelation and his life is dedicated to bringing the vision into factual existence—in collaboration with his group. | Tôi muốn hỏi các bạn: Bao nhiêu phần trong cái gọi là linh thị hiện nay của các bạn phụ thuộc vào những gì người khác đã thấy, và bao nhiêu phần do các bạn tự khám phá bằng cách gian nan và thiết tha leo lên Núi Linh Thị rồi (từ nơi cao mà các bạn đã một mình đạt tới) nhìn ra chân trời về phía đỉnh thành tựu tiếp theo của nhân loại? Một đệ tử trở thành Đệ Tử Được Chấp Nhận khi y bắt đầu leo lên hướng tới linh thị, tới đỉnh núi; y cũng có thể ghi nhận một cách có ý thức những gì mình đã thấy, rồi bắt đầu làm điều gì đó mang tính kiến tạo để đưa nó vào biểu hiện vật chất. Nhiều người trên khắp thế giới đang bắt đầu làm điều này. Theo nghĩa chuyên môn, một người trở thành Đệ Tử Thế Giới khi linh thị là một sự thật quan trọng và có tính quyết định trong tâm thức y, và mọi nỗ lực hằng ngày của y đều phục tùng sự thật ấy. Y không cần ai tiết lộ Thiên Cơ cho mình. Y biết. Ý thức về tỉ lệ của y được điều chỉnh theo sự mặc khải, và y tận hiến đời mình để đưa linh thị vào hiện hữu thực tế—trong sự cộng tác với nhóm của y. |
30. The Tibetan seems to be suggesting that not many of us really have a vision—at least a vision of our own. With respect to the vision characteristic of most of us, He uses the term, “so-called”, meaning that such a vision is not especially real. | 30. Chân sư Tây Tạng dường như muốn nói rằng không nhiều người trong chúng ta thực sự có một tầm nhìn—ít nhất là một tầm nhìn của riêng mình. Đối với tầm nhìn đặc trưng của phần đông chúng ta, Ngài dùng từ “cái gọi là”, hàm ý rằng tầm nhìn như thế chưa thật sự xác thực. |
31. In truth, we have to admit that, in matters of occultism, our vision is dependent on the fact that in order to ‘see’, we are, as it were, “standing on the shoulders of giants” (such as that giant of occult understanding, Master DK, and His gigantic mind). | 31. Thật ra, chúng ta phải thừa nhận rằng trong các vấn đề huyền bí học, tầm nhìn của chúng ta phụ thuộc vào thực tế là để ‘thấy’, có thể nói chúng ta đang “đứng trên vai những người khổng lồ” (như Chân sư DK, một người khổng lồ về sự thấu hiểu huyền bí, cùng thể trí khổng lồ của Ngài). |
32. The proper way to attain the vision is to discover it for ourselves by “climbing arduously and earnestly the Mount of Vision and (from that eminence which you have arrived at alone) looking out over the horizon towards the next peak of attainment for humanity”. The picture He paints is inspiring and throws us back upon ourselves and upon our ability to climb. | 32. Cách đúng đắn để đạt được tầm nhìn là tự mình khám phá nó bằng cách “gian nan và tha thiết leo lên Núi Tầm Nhìn, rồi (từ điểm cao mà các bạn đã một mình đạt tới) nhìn ra đường chân trời, hướng đến đỉnh thành tựu kế tiếp dành cho nhân loại”. Bức tranh Ngài phác họa khơi dậy cảm hứng và đưa chúng ta trở về nương tựa vào chính mình cùng khả năng leo lên của mình. |
33. The strong suggestion is that a true vision cannot be handed from one to another. Many may adopt the vision of others, but the adopted vision is not real unless one has seen its contents for oneself. | 33. Hàm ý rõ rệt là một tầm nhìn chân thật không thể được trao từ người này sang người khác. Nhiều người có thể tiếp nhận tầm nhìn của người khác, nhưng tầm nhìn được tiếp nhận ấy không chân thật trừ khi chính mình đã thấy nội dung của nó. |
34. Of course, in all fairness, it must be stated that a great Teacher like Master DK is also, to a very intelligent degree, seeing through the eyes of others. He often writes of the cosmic astral and mental planes, but admits that He has not been there (cf. R&I 200) But He certainly knows the difference between what He has seen for Himself, and that part of His universal estimation which is conferred by the vision of others—souls still higher in Their attainment than His own. | 34. Dĩ nhiên, để công bằng, cần nói rằng một huấn sư vĩ đại như Chân sư DK cũng nhìn qua đôi mắt của người khác, với mức độ vận dụng trí thông minh rất cao. Ngài thường viết về các cõi cảm dục và trí tuệ vũ trụ, nhưng thừa nhận rằng Ngài chưa từng đến đó (xem R&I 200) Nhưng chắc chắn Ngài biết sự khác biệt giữa những gì chính Ngài đã thấy và phần trong nhận định bao quát của Ngài do tầm nhìn của những vị khác đem lại—những linh hồn có thành tựu còn cao hơn thành tựu của Ngài. |
35. At least if we could discriminate between what we see for ourselves and what is theoretically based and drawn from the vision of the Master, that would be an important and sobering assessment. | 35. Ít nhất, nếu chúng ta có thể phân biện giữa những gì chính mình thấy và những gì dựa trên lý thuyết, rút ra từ tầm nhìn của Chân sư, thì đó sẽ là một sự đánh giá quan trọng giúp chúng ta tỉnh táo hơn. |
36. There is nothing wrong in accepting the vision from a great Teacher, as long as one works to make that accepted vision a personal/individual reality by laboring continuously to see for oneself. . | 36. Không có gì sai khi chấp nhận tầm nhìn từ một huấn sư vĩ đại, miễn là chúng ta nỗ lực biến tầm nhìn đã chấp nhận ấy thành một thực tại cá nhân bằng cách không ngừng cố gắng tự mình thấy. . |
37. An important moment comes when the disciple pauses and asks himself the following questions: | 37. Một thời điểm quan trọng đến khi đệ tử dừng lại và tự hỏi những câu sau: |
1. What do I actually know for myself? This much be a most searching and self-critical inquiry. One must not let oneself escape scrutiny. | 1. Tôi thực sự tự mình biết điều gì? Đây phải là một cuộc tự vấn hết sức thấu đáo và tự phê bình nghiêm khắc. Không được để bản thân thoát khỏi sự xem xét kỹ lưỡng. |
2. What do I merely think I know? | 2. Tôi chỉ nghĩ rằng mình biết điều gì? |
3. What do I assume I know because I have become habituated to the presence in my mental field of the knowledge of others? | 3. Tôi cho rằng mình biết điều gì vì đã quen với sự hiện diện của tri thức người khác trong trường trí tuệ của mình? |
4. What do I infer because I have been told by those who are apparently more knowledgeable than I am? | 4. Tôi suy ra điều gì vì những người có vẻ hiểu biết hơn tôi đã nói cho tôi biết? |
5. Upon which kinds of the above ‘knowledge’ do I base my life, and to what extent in each case? | 5. Tôi đặt nền tảng cuộc sống của mình trên những loại ‘tri thức’ nào kể trên, và trong mỗi trường hợp, đến mức độ nào? |
38. Another important clarification concerning the nature of Accepted Discipleship is given. When one begins to climb the Mountain of Vision for oneself, and when one begins to really do something about what one sees, one can become an accepted disciple. Both requirements are necessary: one must climb oneself and one must apply in service what one learns during the climb. | 38. Một điểm quan trọng khác về bản chất của Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận được làm sáng tỏ. Khi một người bắt đầu tự mình leo lên Ngọn Núi Tầm Nhìn, và khi người ấy bắt đầu thực sự làm điều gì đó với những gì mình thấy, người ấy có thể trở thành một đệ tử được chấp nhận. Cả hai yêu cầu đều cần thiết: người ấy phải tự mình leo lên và phải vận dụng vào việc phụng sự những gì mình học được trong khi leo. |
39. Because many in the world are today beginning to do this, it can be inferred that more and more disciples are stepping upon the path of Accepted Discipleship, technically understood. | 39. Vì ngày nay nhiều người trên thế giới đang bắt đầu làm điều này, có thể suy ra rằng ngày càng có nhiều đệ tử bước vào con đường Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận, hiểu theo nghĩa chuyên môn. |
40. A “World Disciple”, technically understood, is in advance of an accepted disciple. A world disciple is one for whom the vision has become a determining fact of consciousness to which he subordinates all his time and energy. The Divine Plan, for a world disciple, is more important by far than the personal living of his personal life. Really, a world disciple, is on the verge of the third initiation or has taken it, and so is thinking and acting in planetary terms. | 40. Một “Đệ Tử Thế Gian”, hiểu theo nghĩa chuyên môn, tiến xa hơn một đệ tử được chấp nhận. Đệ tử thế gian là người mà đối với y, tầm nhìn đã trở thành một sự thật mang tính quyết định trong tâm thức, mà y đặt toàn bộ thời gian và năng lượng của mình dưới sự chi phối của nó. Đối với một đệ tử thế gian, Thiên Cơ quan trọng hơn rất nhiều so với việc sống cuộc đời riêng của mình. Thực ra, một đệ tử thế gian đang ở ngưỡng lần điểm đạo thứ ba hoặc đã trải qua lần điểm đạo ấy, và do đó đang suy nghĩ và hành động trên quy mô hành tinh. |
41. Lesser disciples need to have the Plan revealed to them; a world disciple is beginning to know for himself the nature of the Divine Plan. | 41. Các đệ tử ở cấp thấp hơn cần có người mặc khải Thiên Cơ cho mình; một đệ tử thế gian đang bắt đầu tự mình biết được bản chất của Thiên Cơ. |
42. His sense of proportion is adjusted and, thus, he has passed through some important Libran experiences. Not only is his sense of proportion adjusted but it is “adjusted to the revelation”—not just to the vision. In other words, the world disciple has experienced revelation (the third degree) and has thus transcended the form of the vision. A world disciple (relatively of course) knows what is most important to the Hierarchy, and, thus (again to a degree) to Sanat Kumara and Shamballa. He has intuitive understanding of the deeper purposes moving the planet towards its destiny, and he is intent on cooperating fully with those purposes. | 42. Ý thức về tỉ lệ của y đã được điều chỉnh, và như vậy, y đã trải qua một số kinh nghiệm quan trọng của Thiên Bình. Ý thức về tỉ lệ của y không chỉ được điều chỉnh mà còn được “điều chỉnh theo sự mặc khải”—chứ không chỉ theo tầm nhìn. Nói cách khác, đệ tử thế gian đã trải nghiệm sự mặc khải (bậc thứ ba) và nhờ đó đã vượt lên trên hình tướng của tầm nhìn. Một đệ tử thế gian (dĩ nhiên là một cách tương đối) biết điều gì quan trọng nhất đối với Thánh đoàn, và do đó (cũng trong một mức độ nhất định) đối với Sanat Kumara và Shamballa. Y có sự thấu hiểu bằng trực giác về những mục đích sâu xa hơn đang đưa hành tinh tới vận mệnh của nó, và y quyết tâm hợp tác trọn vẹn với những mục đích ấy. |
43. His vision (now enriched by true revelation) is no longer, strictly speaking, his own vision, per se. It is the vision of his Ashram and Master (whether or not he knows this consciously), and he is determined to bring this vision into factual existence. | 43. Nói một cách chặt chẽ, tầm nhìn của y (giờ đây đã phong phú hơn nhờ sự mặc khải chân thực) không còn là tầm nhìn của riêng y, xét chính tầm nhìn ấy. Đó là tầm nhìn của ashram và Chân sư của y (dù y có ý thức biết điều này hay không), và y quyết tâm đưa tầm nhìn ấy vào hiện thực. |
44. DK adds the words, “in collaboration with his group”, because the world disciple is not an isolated figure but, having advanced far into soul consciousness, is working (consciously in most cases) with a hierarchically related group. | 44. Chân sư DK thêm những từ, “trong sự cộng tác với nhóm của y”, bởi vì đệ tử thế gian không phải là một cá nhân biệt lập, mà vì đã tiến sâu vào tâm thức linh hồn, y đang làm việc (một cách có ý thức trong phần lớn trường hợp) với một nhóm có liên hệ với Thánh đoàn. |
45. The world disciple knows “he travels not alone”, just as every member of the Spiritual Hierarchy knows this fact. His thoughts and actions are respectful of the larger group external with which he collaborates, and of the subjective group or groups to which he is responsible and in relation to which he is considered, occultly, a co-worker. | 45. Đệ tử thế gian biết “y không đi một mình”, cũng như mọi thành viên của Thánh đoàn đều biết sự thật này. Tư tưởng và hành động của y thể hiện sự tôn trọng đối với nhóm bên ngoài lớn hơn mà y cộng tác, cũng như đối với nhóm hay các nhóm chủ quan mà y có trách nhiệm và trong mối quan hệ với những nhóm ấy, xét về mặt huyền bí, y được xem là một người cộng tác. |
46. It is hoped that those who study Master DK’s words in this regard are at least “pledged disciples” or intent on firmly making their pledge. Then they can move understandingly towards the stage of Accepted Discipleship, technically considered. When they have succeeded in functioning in this stage, certainly for more than one life, and probably for several, they will in a position (because of greatly enhanced, selfless service) to be considered world disciples; their work will declare them as such. They will not and cannot declare themselves! | 46. Hy vọng rằng những người nghiên cứu lời của Chân sư DK về vấn đề này ít nhất cũng là “những đệ tử đã lập nguyện” hoặc có ý định kiên quyết lập lời nguyện của mình. Khi ấy, họ có thể tiến tới giai đoạn Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận với sự thấu hiểu, xét theo nghĩa chuyên môn. Khi đã thành công trong việc hoạt động ở giai đoạn này, chắc chắn trong hơn một kiếp sống và có lẽ trong vài kiếp, họ sẽ ở vào vị thế (nhờ việc phụng sự vô ngã đã gia tăng rất nhiều) để được xem là những đệ tử thế gian; chính công việc của họ sẽ xác chứng họ là như vậy. Họ sẽ không và không thể tự tuyên bố mình như thế! |
It is, therefore, a gradually unfolding process up to a certain stage. After that stage has been reached, it is no longer the vision which is the dominant factor but the field of experience, of service and of achievement. Ponder on this. Some day you will understand. There is both an unconscious deflection towards the vision and a conscious orientation towards it. There is one aspect of the vision which is oft forgotten by many disciples. That is the necessity—inherent in the right appreciation of the vision itself—for each who records it to become “bestowers of the vision. ” The moment that that takes place, the whole situation changes. Through the thoughts of all beginners runs the note of striving after the vision, of searching for it, of ability or inability to contact it and, frequently, [689] the distortion of the vision by defining it in terms of already imparted truths. The attitude of the neophyte is, therefore, based upon the need for vision, upon individual, personal need. But (upon the path of Accepted Discipleship) the disciple must get away from this because it is the path of spontaneous unconscious self-forgetfulness. The vision, once seen, becomes so important, that how you feel about it and your adherence to it seemingly fades out. You become absorbed in the vision and this absorption takes place upon the physical plane. Both mind and brain are preoccupied with what the soul knows and that is ever vision for the personality. | Vì vậy, đến một giai đoạn nhất định, đó là một tiến trình khai mở dần dần. Sau khi đạt đến giai đoạn ấy, yếu tố chi phối không còn là linh thị mà là lĩnh vực trải nghiệm, phụng sự và thành tựu. Hãy suy ngẫm điều này. Một ngày nào đó các bạn sẽ thấu hiểu. Có cả sự chuyển hướng vô thức về phía linh thị lẫn sự định hướng có ý thức tới linh thị. Có một phương diện của linh thị mà nhiều đệ tử thường quên. Đó là điều tất yếu—vốn có trong sự nhận thức đúng giá trị của chính linh thị—rằng mỗi người ghi nhận được linh thị phải trở thành “người trao truyền linh thị.” Ngay khi điều ấy xảy ra, toàn bộ tình thế thay đổi. Xuyên suốt tư tưởng của mọi người mới bắt đầu là âm điệu nỗ lực vươn tới linh thị, tìm kiếm linh thị, khả năng hay sự bất lực trong việc tiếp xúc với linh thị và, thường là, [689] sự xuyên tạc linh thị do định nghĩa nó bằng những chân lý đã được truyền đạt. Vì vậy, thái độ của người sơ cơ đặt nền trên nhu cầu có linh thị, trên nhu cầu cá nhân, riêng tư. Nhưng (trên con đường của Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận), người đệ tử phải thoát khỏi điều này vì đó là con đường quên mình một cách tự nhiên, không ý thức. Một khi đã được nhìn thấy, linh thị trở nên quan trọng đến mức cảm nhận của các bạn về nó và sự gắn bó của các bạn với nó dường như mờ đi. Các bạn hoàn toàn chuyên chú vào linh thị, và sự chuyên chú này diễn ra trên cõi hồng trần. Cả thể trí lẫn bộ não đều chuyên tâm vào những gì linh hồn biết, và đối với phàm ngã, điều đó luôn là linh thị. |
47. DK notes the gradual unfoldment in the process of developing and serving the vision. | 47. Chân sư DK lưu ý đến sự khai mở dần dần trong tiến trình phát triển và phụng sự tầm nhìn. |
48. An occult hint is given, presumably about the stage of either accepted discipleship, and even more related to world discipleship. As these stages are achieved, the vision, per se, is no longer the dominant factor; instead it is “the field of experience, of service and achievement” which becomes of dominating importance. | 48. Một gợi ý huyền bí được đưa ra, có lẽ về giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận, và thậm chí còn liên quan nhiều hơn đến địa vị đệ tử thế gian. Khi đạt đến những giai đoạn này, tầm nhìn, xét chính nó, không còn là yếu tố chi phối; thay vào đó, chính “lĩnh vực kinh nghiệm, phụng sự và thành tựu” trở nên quan trọng đến mức chi phối. |
49. Vision, we remember, is symbolic of revelation. It leads and guides towards revelation. But comes the day when things are seen as they are, and then something must be done. One sees; one no longer simply longs to see. This seeing of the facts demands intelligent serviceable action. Experience has replaced the visionary anticipation of experience. The symbol has given way to the fact—as revelation reveals that fact. | 49. Chúng ta nhớ rằng tầm nhìn là biểu tượng của sự mặc khải. Nó dẫn dắt và hướng tới sự mặc khải. Nhưng rồi sẽ đến ngày mọi sự được nhìn thấy đúng như chúng vốn là, và khi ấy phải làm điều gì đó. Người ta thấy; người ta không còn chỉ khao khát được thấy. Việc thấy được các sự thật này đòi hỏi hành động phụng sự sáng suốt. Kinh nghiệm đã thay thế sự mong đợi kinh nghiệm qua tầm nhìn. Biểu tượng đã nhường chỗ cho sự thật—khi sự mặc khải vén mở sự thật ấy. |
50. DK speaks interestingly of “an unconscious deflection towards the vision and a conscious orientation towards it”. The part of us that, deeply recessed in the psyche, ‘remembers’ the vision as seen from the higher planes, deflects the disciple towards the vision even though the disciple may not consciously notice this deflection. A force within us impels us towards our destiny. At the same time the Master’s words and descending soul light (present factors) correlate with our inner, unconscious ‘memory’ of that which (now, from higher planes or long ago) we ‘unconsciously see’ or have seen. There is a definite conscious aspect to the vision and towards it the disciple consciously orients himself. Thus, both consciously and unconsciously we move towards the vision. | 50. Chân sư DK nói một cách thú vị về “sự chuyển hướng vô thức về phía tầm nhìn và sự định hướng hữu thức về phía ấy”. Phần trong chúng ta ẩn sâu trong tâm thức, vốn ‘nhớ’ tầm nhìn như đã thấy từ các cõi cao, chuyển hướng đệ tử về phía tầm nhìn dù đệ tử có thể không ý thức nhận thấy sự chuyển hướng này. Một mãnh lực bên trong thúc đẩy chúng ta hướng tới vận mệnh của mình. Đồng thời, lời của Chân sư và ánh sáng linh hồn giáng xuống (những yếu tố hiện có) tương liên với ‘ký ức’ vô thức bên trong chúng ta về những gì (giờ đây, từ các cõi cao hoặc từ lâu trước kia) chúng ta ‘thấy một cách vô thức’ hoặc đã thấy. Tầm nhìn có một phương diện rõ rệt thuộc về ý thức và đệ tử có ý thức hướng mình về phương diện ấy. Như vậy, cả một cách hữu thức lẫn vô thức, chúng ta đều tiến về phía tầm nhìn. |
51. The Tibetan now speaks from the perspective of service, revealing as aspect of the vision which He says is oft forgotten: if one rightly apprehends the vision, one is inwardly compelled to be become a “bestower of the vision”. One may “see for oneself” (by climbing the Mount of Vision) but one does not ‘see for the sake of oneself alone’ (if the meaning of these words can be understood). Just as joy shared is joy doubled, so a vision shared is a vision, the power of which is much enhanced. | 51. Giờ đây, Chân sư Tây Tạng nói từ góc độ phụng sự, vén mở một phương diện của tầm nhìn mà Ngài nói là thường bị lãng quên: nếu một người nắm bắt đúng tầm nhìn, thì từ bên trong, người ấy chịu sự thôi thúc phải trở thành một “người ban tặng tầm nhìn”. Một người có thể “tự mình thấy” (bằng cách leo lên Ngọn Núi Tầm Nhìn), nhưng người ấy không ‘thấy chỉ vì lợi ích của riêng mình’ (nếu có thể thấu hiểu ý nghĩa của những lời này). Cũng như niềm hoan hỉ được chia sẻ là niềm hoan hỉ nhân đôi, một tầm nhìn được chia sẻ là một tầm nhìn có quyền năng gia tăng rất nhiều. |
52. To share a vision is of course not the same as compelling others to accept one’s limited perspective—and all human perspectives are limited The registered vision is offered to others within the energy of reason, and they are left to do with it what they will. | 52. Dĩ nhiên, chia sẻ một tầm nhìn không giống với việc buộc người khác chấp nhận góc nhìn giới hạn của mình —và mọi góc nhìn của con người đều có giới hạn. Tầm nhìn đã được ghi nhận được trao cho người khác trong năng lượng của lý trí, và họ được tự do làm với nó bất cứ điều gì họ muốn. |
53. The surest way of expanding the vision or improving its quality and scope is to bestow it. We are dealing with the phenomenon of the “overflowing cup”. That which is offered is replenished in ever greater quality (and quantity). Such is the Law. | 53. Cách chắc chắn nhất để mở rộng tầm nhìn hoặc nâng cao phẩm tính và phạm vi của nó là ban tặng nó. Chúng ta đang bàn đến hiện tượng “chiếc chén tràn đầy”. Những gì được trao đi sẽ được bù đắp với phẩm tính (và số lượng) ngày càng lớn hơn. Định luật là như vậy. |
54. Beginners are almost obsessed with the thought of achieving the vision, and suffer much over their perceived inability to contact it. DK brings forward an important point: that the vision is frequently distorted because it is interpreted in terms of already imparted truths. If a vision is real it is, in a way, new. We see what happened when Saul took the “new” truths bestowed by the Christ and attempted to adapt them to established Jewish and Greek thought. Distortions naturally appeared and for these distortions humanity in the Western world has been paying for many centuries. Even advanced initiates learn the hard way and create karma they must in later incarnations address. | 54. Những người mới bắt đầu gần như bị ám ảnh bởi ý nghĩ đạt được tầm nhìn, và chịu nhiều đau khổ vì cho rằng mình không có khả năng tiếp xúc với nó. Chân sư DK nêu lên một điểm quan trọng: tầm nhìn thường bị bóp méo vì người ta diễn giải nó theo những chân lý đã được truyền đạt. Nếu một tầm nhìn là chân thực thì, theo một nghĩa nào đó, nó là mới. Chúng ta thấy điều đã xảy ra khi Saul tiếp nhận những chân lý “mới” mà Đức Christ ban tặng và cố gắng điều chỉnh chúng cho phù hợp với tư tưởng Do Thái và Hy Lạp đã được xác lập. Những sự bóp méo đương nhiên xuất hiện, và nhân loại ở thế giới phương Tây đã phải trả giá cho những sự bóp méo ấy suốt nhiều thế kỷ. Ngay cả các điểm đạo đồ tiến xa cũng phải học qua những trải nghiệm gian khó và tạo ra nghiệp quả mà họ phải giải quyết trong những kiếp lâm phàm về sau. |
55. The intuition conveys the new. New wine poured in old bottles suffers degradation. | 55. Trực giác truyền đạt điều mới. Rượu mới đổ vào bầu cũ sẽ bị giảm phẩm chất. |
56. The neophyte, in short, experiences a personal need for the vision and becomes almost desperate about achieving it. This is a much different attitude to that of the accepted disciple who is really beginning to see for himself and who treats the vision as a perspective of great use in the manifesting of the Divine Plan. | 56. Nói ngắn gọn, người sơ cơ trải nghiệm một nhu cầu cá nhân đối với tầm nhìn và trở nên gần như tuyệt vọng trong việc đạt được nó. Thái độ này rất khác với thái độ của đệ tử được chấp nhận, người đang thực sự bắt đầu tự mình thấy và xem tầm nhìn là một góc nhìn rất hữu ích cho việc biểu hiện Thiên Cơ. |
57. The strictly personal (and, therefore, selfish) approach to the vision must not be perpetuated. On the Path of Accepted Discipleship it must be dropped. | 57. Không được tiếp tục duy trì cách tiếp cận tầm nhìn hoàn toàn mang tính cá nhân (và do đó ích kỷ). Trên Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận, phải từ bỏ cách tiếp cận ấy. |
58. Then DK offers another of His excellent (and terse) definitions: The Path of Accepted Discipleship is the “path of spontaneous unconscious self-forgetfulness”. We may question ourselves according to this criterion when we wonder whether we may or may not be treading this Path. | 58. Rồi Chân sư DK đưa ra thêm một định nghĩa xuất sắc (và cô đọng) của Ngài: Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận là “con đường quên mình một cách tự nhiên, vô thức”. Chúng ta có thể tự xét mình theo tiêu chí này khi tự hỏi liệu mình có đang bước trên Con Đường ấy hay không. |
59. DK changes “person”. He begins to address us as “you”, and so the advice turns very direct. Once the vision is truly seen, how we feel about it, or about our adherence to it, fades out. The vision itself becomes the main thing and the little “we” is no longer the important factor of consideration it long had been. In short, we take our eyes off the little self; the vision, and the Plan it is intended to reveal, take the place-in-consciousness once occupied by concern over the little self. | 59. Chân sư DK đổi “ngôi xưng hô”. Ngài bắt đầu gọi chúng ta là “các bạn”, và vì thế lời khuyên trở nên rất trực tiếp. Một khi thực sự thấy được tầm nhìn, cảm nhận của chúng ta về nó, hoặc về sự gắn bó của mình với nó, sẽ phai mờ. Chính tầm nhìn trở thành điều chủ yếu, và cái “chúng ta” nhỏ bé không còn là yếu tố quan trọng cần cân nhắc như nó đã từng là từ lâu. Nói ngắn gọn, chúng ta thôi chăm chú vào cái ngã nhỏ bé; tầm nhìn, cùng Thiên Cơ mà nó có nhiệm vụ vén mở, chiếm lấy vị trí trong tâm thức trước kia vốn dành cho mối bận tâm về cái ngã nhỏ bé. |
60. We are to be absorbed in the vision—on the physical plane. Not only is the mind involved but the brain as well. When the Tibetan speaks of involving the brain in any process, it means that the process has been brought down to the physical plane. | 60. Chúng ta phải hoàn toàn chuyên chú vào tầm nhìn—trên cõi hồng trần. Không chỉ thể trí tham gia mà cả bộ não cũng vậy. Khi Chân sư Tây Tạng nói đến việc đưa bộ não tham gia vào bất kỳ tiến trình nào, điều đó có nghĩa là tiến trình ấy đã được đưa xuống cõi hồng trần. |
61. Another important definition emerges out of the last sentence in this paragraph: “Both mind and brain are preoccupied with what the soul knows and that is ever vision for the personality. ” So then, “what the soul knows” is the vision, as far as the personality is concerned. And what the soul knows and what the Master knows are, for all intents and purposes, the same. | 61. Một định nghĩa quan trọng khác xuất hiện từ câu cuối của đoạn này: “Cả thể trí lẫn bộ não đều chuyên tâm vào những gì linh hồn biết, và đối với phàm ngã, điều đó luôn là tầm nhìn. ” Như vậy, “những gì linh hồn biết” chính là tầm nhìn, xét từ phía phàm ngã. Và những gì linh hồn biết cùng những gì Chân sư biết, xét về mọi phương diện thực tiễn, đều giống nhau. |
62. This kind of knowing (not only in the mind but in the brain) is not easy of achievement. To achieve this knowing is the purpose of occult meditation, and of the service process stimulated by occult meditation. | 62. Loại hiểu biết này (không chỉ trong thể trí mà cả trong bộ não) không dễ đạt được. Đạt được sự hiểu biết này là mục đích của tham thiền huyền môn, cũng như của tiến trình phụng sự do tham thiền huyền môn kích thích. |
63. We are (here and now) to know what the soul knows. If we do, then a real vision has entered our consciousness, and will build surely to revelation, which will transcend symbolic presentation. | 63. Chúng ta phải biết (ngay tại đây và lúc này) những gì linh hồn biết. Nếu làm được điều ấy, thì một tầm nhìn chân thực đã đi vào tâm thức chúng ta, và chắc chắn sẽ phát triển thành sự mặc khải, vượt lên trên sự trình bày bằng biểu tượng. |
I referred above to the existence of disciples and of world disciples. A world disciple is a man or woman who has made real progress in the adjustment between the particular and the universal, between the specific and the general and between his own sphere of environal conditions and the outer world of needy souls. The problem with which such disciples are occupied is not the adjustment of relations between the inner spiritual man, the soul and its instrument, the personal lower self. Their major interest is how to fulfil the immediate personality obligation and, at the same time, produce an effect upon the environing world of men because of a strong inner compulsion and the need they feel to shoulder the service and the responsibility of their Master and His group. These men and women are always accepted disciples in the academic sense of the term and are able to render themselves receptive to spiritual impression; they do this, if they choose, at will. They are integrated people from the personality angle and susceptible at all times to soul contact. They are not yet perfect, for they are not yet Masters; the fourth initiation still lies ahead for them but their own imperfections are not their major point of soul attack or their major preoccupation; world need and world demand for spiritual and psychic aid rank paramount in their consciousness. They are clear-visioned as to people but they are basically non-critical; the recognition of imperfection is automatic with them but in no way negates loving understanding and readiness to assist on any level where the need appears to be of importance. | Ở trên Tôi đã đề cập đến sự hiện hữu của các đệ tử và các đệ tử thế giới. Một đệ tử thế giới là người nam hay nữ đã thực sự tiến bộ trong việc điều chỉnh giữa cái riêng và cái phổ quát, giữa cái cụ thể và cái tổng quát, giữa phạm vi hoàn cảnh xung quanh của riêng mình và thế giới bên ngoài gồm những linh hồn đang cần giúp đỡ. Vấn đề mà những đệ tử ấy chuyên tâm giải quyết không phải là điều chỉnh các mối quan hệ giữa con người tinh thần bên trong, linh hồn, với công cụ của nó là phàm ngã cá nhân. Mối quan tâm chủ yếu của họ là làm sao chu toàn bổn phận trước mắt của phàm ngã, đồng thời tạo tác động lên thế giới con người xung quanh, do một thôi thúc nội tâm mạnh mẽ và nhu cầu mà họ cảm thấy phải gánh vác sự phụng sự cùng trách nhiệm của Chân sư và nhóm của Ngài. Những người nam và nữ này luôn là các đệ tử được chấp nhận theo nghĩa chuyên môn của thuật ngữ, và có thể khiến mình trở nên tiếp nhận được ấn tượng tinh thần; nếu muốn, họ có thể làm điều này theo ý chí. Xét từ góc độ phàm ngã, họ là những người đã tích hợp và luôn có khả năng tiếp xúc với linh hồn. Họ chưa hoàn hảo, vì họ chưa phải là các Chân sư; lần điểm đạo thứ tư vẫn còn ở phía trước, nhưng những bất toàn của chính họ không phải là trọng điểm tác động của linh hồn hay mối bận tâm chủ yếu của họ; nhu cầu của thế giới và sự đòi hỏi của thế giới về trợ giúp tinh thần và thông linh giữ vị trí tối thượng trong tâm thức họ. Họ nhìn người sáng suốt nhưng về căn bản không chỉ trích; việc nhận biết sự bất toàn diễn ra tự nhiên nơi họ, nhưng hoàn toàn không phủ nhận sự thấu hiểu đầy tình thương và sự sẵn lòng trợ giúp ở bất cứ cấp độ nào mà nhu cầu có vẻ quan trọng. |
64. Master DK continues to clarify the nature world disciples and the differences between such disciples and disciples of lesser rank. | 64. Chân sư DK tiếp tục làm sáng tỏ bản chất của các đệ tử thế gian và những khác biệt giữa các đệ tử ấy với những đệ tử ở cấp thấp hơn. |
65. A world disciple has (consciously or unconsciously) built the first stages of the antahkarana and has thus penetrated into the realm of the spiritual triad. Therefore, the world disciple understands the “universal” view conveyed by the triad and the particular view of the personality. Because such a disciple works with cognizance of both triads—personal and impersonal, he can see in both general and specific terms. There is an ability to contain, simultaneously, both macrocosm (within limits) and microcosm; his own particular sphere of relations is always considered in relation to the larger environing sphere of humanity and to humanity’s need. | 65. Một đệ tử thế gian đã xây dựng (một cách hữu thức hoặc vô thức) những giai đoạn đầu của antahkarana và nhờ đó đã thâm nhập vào lĩnh vực của Tam Nguyên Tinh Thần. Do đó, đệ tử thế gian thấu hiểu góc nhìn “phổ quát” mà Tam nguyên tinh thần truyền đạt và góc nhìn riêng biệt của phàm ngã. Vì một đệ tử như vậy làm việc với sự nhận biết về cả hai bộ ba—cá nhân và phi cá nhân, y có thể nhìn nhận cả theo phương diện tổng quát lẫn cụ thể. Y có khả năng đồng thời bao quát cả đại thiên địa (trong những giới hạn nhất định) lẫn tiểu thiên địa; phạm vi quan hệ riêng của y luôn được xem xét trong mối liên hệ với phạm vi nhân loại lớn hơn bao quanh và với nhu cầu của nhân loại ấy. |
66. These definitions of a world disciple are very important. If we want to strive towards a higher level of achievement, we must know the meaning of that towards which we strive. | 66. Những định nghĩa này về một đệ tử thế gian rất quan trọng. Nếu muốn nỗ lực vươn tới một cấp độ thành tựu cao hơn, chúng ta phải biết ý nghĩa của điều mình đang nỗ lực vươn tới. |
67. World disciples are Plan-cognizant and Plan-driven. Their microcosmic adjustments are well under way. Spiritually, they can take care of themselves and are not preoccupied with the adjustment between soul and personality. | 67. Các đệ tử thế gian nhận biết Thiên Cơ và hành động theo sự thúc đẩy của Thiên Cơ. Những sự điều chỉnh trong tiểu thiên địa của họ đang tiến triển tốt. Về mặt tinh thần, họ có thể tự lo cho mình và không bận tâm với việc điều chỉnh giữa linh hồn và phàm ngã. |
68. They have entered a larger sphere of understanding and responsibility. If they are trained occultly (and the Hierarchy intends to train many more world disciples so that they can become more occultly conscious), they know they are responsible to an Ashram and to its Master. They feel an overpowering need to fulfill that responsibility. | 68. Họ đã bước vào một phạm vi thấu hiểu và trách nhiệm rộng lớn hơn. Nếu được huấn luyện về huyền bí học (và Thánh đoàn có ý định huấn luyện thêm nhiều đệ tử thế gian để họ có thể trở nên có ý thức hơn về mặt huyền bí), họ biết mình có trách nhiệm với một ashram và với Chân sư của ashram ấy. Họ cảm thấy một nhu cầu mãnh liệt phải chu toàn trách nhiệm ấy. |
69. One must be at least an accepted disciple, in the academic sense, to become a world disciple. DK tells us that they are integrated personalities; a truly integrated personality (understood occultly) is an initiate of the third degree. They are always susceptible to soul impression at will; this is important. They are not struggling to make contact with the soul and to live the life of the soul. Rather, they are already doing so, and are seeking to understand how their expression of soul energy in the world may be ever-more useful to the manifestation of the Divine Plan. | 69. Một người ít nhất phải là một đệ tử được chấp nhận, theo nghĩa chuyên môn, mới có thể trở thành một đệ tử thế gian. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng họ là những phàm ngã tích hợp; một phàm ngã thực sự tích hợp (hiểu theo nghĩa huyền bí) là một điểm đạo đồ bậc ba. Họ luôn có khả năng tiếp nhận ấn tượng linh hồn theo ý muốn; điều này rất quan trọng. Họ không phải đang vất vả tìm cách tiếp xúc với linh hồn và sống đời sống của linh hồn. Đúng hơn, họ đã làm được như vậy và đang tìm cách thấu hiểu làm thế nào để sự biểu lộ năng lượng linh hồn của họ trên thế gian có thể ngày càng hữu ích hơn cho sự biểu hiện của Thiên Cơ. |
70. DK points out that world disciples are not yet perfect. This is an important statement, if we are to maintain the right sense of proportion. Ahead of them still lie the fifth and even the fourth initiation. The implication, again, is that the third initiation has probably been achieved, for He did not say that that particular initiation lay before them. | 70. Chân sư DK chỉ ra rằng các đệ tử thế gian chưa hoàn hảo. Đây là một phát biểu quan trọng nếu chúng ta muốn duy trì ý thức đúng đắn về tỉ lệ. Phía trước họ vẫn còn lần điểm đạo thứ năm và ngay cả lần điểm đạo thứ tư. Một lần nữa, điều này hàm ý rằng có lẽ họ đã đạt được lần điểm đạo thứ ba, vì Ngài không nói rằng lần điểm đạo cụ thể ấy còn ở phía trước họ. |
71. Despite their imperfections, those imperfections are “not their major point of soul attack”. This little phrase suggests that they are functioning as souls, and choose not to become preoccupied with problems within their microcosmic lower nature. Such problems are noted and given necessary but not excessive attention. | 71. Dù họ có những bất toàn, những bất toàn ấy “không phải là trọng điểm mà họ, với tư cách linh hồn, tập trung giải quyết”. Cụm từ ngắn này gợi ý rằng họ đang hoạt động như những linh hồn, và chọn không để mình bận tâm với những vấn đề trong bản chất thấp của tiểu thiên địa mình. Họ ghi nhận những vấn đề ấy và dành cho chúng sự chú ý cần thiết nhưng không quá mức. |
72. Rather, as conscious souls, they attack world problems. They become preoccupied with world demand “for spiritual and psychic aid”. These two kinds of aid can be distinguished, though the kind of psychic aid offered by world disciples is always infused with spiritual understanding. | 72. Đúng hơn, với tư cách những linh hồn có ý thức, họ tập trung giải quyết các vấn đề thế giới. Họ chuyên tâm vào đòi hỏi của thế giới “về sự trợ giúp tinh thần và thông linh”. Có thể phân biệt hai loại trợ giúp này, dù loại trợ giúp thông linh mà các đệ tử thế gian cung cấp luôn được thấm nhuần sự thấu hiểu tinh thần. |
73. When DK tells us that world disciples are “clear visioned people”, He is again suggesting the attainment of the third degree, for at that initiation, the “eye” is clarified. Venus (ruling, in one sense, vision) becomes a planet of great importance, and comes into prominence on the mountain top of initiation. Venus is the hierarchical ruler of Capricorn, the sign most associated with the third initiation. | 73. Khi Chân sư DK cho chúng ta biết rằng các đệ tử thế gian là “những người có tầm nhìn sáng suốt”, một lần nữa Ngài gợi ý rằng họ đã đạt đến bậc thứ ba, vì ở lần điểm đạo ấy, “con mắt” trở nên trong sáng. Sao Kim (theo một nghĩa nào đó, cai quản tầm nhìn) trở thành một hành tinh hết sức quan trọng và nổi bật trên đỉnh núi điểm đạo. Sao Kim là chủ tinh huyền giai của Ma Kết, dấu hiệu gắn liền nhiều nhất với lần điểm đạo thứ ba. |
74. We see that the world disciple is mastering the techniques of harmlessness, because, though endowed with the ability to readily see imperfections in his fellow human beings, he is not critical of those imperfections, but treats those possessing them with loving understanding. He is always ready to help, and, having passed through much pain on his long ascent, knows that criticism is far from the same as real assistance. | 74. Chúng ta thấy rằng đệ tử thế gian đang làm chủ các kỹ thuật của tính vô tổn hại, bởi vì dù có khả năng dễ dàng thấy những bất toàn nơi đồng loại, y không chỉ trích những bất toàn ấy, mà đối xử với những người có chúng bằng sự thấu hiểu đầy tình thương. Y luôn sẵn sàng giúp đỡ, và vì đã trải qua nhiều đau khổ trên chặng đường dài đi lên của mình, y biết rằng sự chỉ trích khác xa với sự trợ giúp thực sự. |
75. The world disciple is a junior member of Hierarchy and, in many cases, a conscious member of the Ashram. | 75. Đệ tử thế gian là một thành viên sơ cấp của Thánh đoàn và, trong nhiều trường hợp, là một thành viên có ý thức của ashram. |
76. It is clear that Master DK hoped that more of His accepted disciples could become “world disciples”, technically understood, and was seeking to enlarge their understanding of the disciplic stage potentially ahead. | 76. Rõ ràng Chân sư DK đã hy vọng có thêm nhiều đệ tử được chấp nhận của Ngài có thể trở thành “đệ tử thế gian”, hiểu theo nghĩa chuyên môn, và Ngài đang tìm cách mở rộng sự thấu hiểu của họ về giai đoạn địa vị đệ tử có thể đang ở phía trước. |
[690] World disciples think in terms of groups with a steadily developing measure of inclusiveness. Their own group, their own circle of co-workers and their own field of service are seen by them in right proportion because they are not divorced from the environing All. They are active focal points for the Forces of Light in the three worlds of human endeavour and are to be found in every field and school of thought. | [690] Các đệ tử thế giới suy nghĩ theo nhóm với mức độ bao gồm không ngừng phát triển. Họ nhìn nhóm riêng, vòng cộng sự và lĩnh vực phụng sự của mình theo đúng tỉ lệ, vì họ không tách rời khỏi Toàn Thể xung quanh. Họ là những tiêu điểm hoạt động cho các Mãnh Lực Ánh Sáng trong ba cõi giới nỗ lực của con người và hiện diện trong mọi lĩnh vực cùng trường phái tư tưởng. |
77. Because world disciples are significantly soul conscious, they think in terms of groups—for the soul, itself, is group conscious. All higher perspectives in consciousness are really examples of group conscious. At one point, group consciousness gives way to “universal consciousness”, in all its expanding varieties. Universal consciousness is still, however, group consciousness. The groups considered simply become ever larger until the ‘universal group’ is reached. | 77. Vì các đệ tử thế gian có tâm thức linh hồn ở mức độ đáng kể, họ suy nghĩ theo nhóm—bởi chính linh hồn có tâm thức nhóm. Mọi góc nhìn cao hơn trong tâm thức thực sự đều là những biểu hiện của tâm thức nhóm. Đến một thời điểm, tâm thức nhóm nhường chỗ cho “tâm thức phổ quát”, với mọi dạng thức ngày càng mở rộng của nó. Tuy nhiên, tâm thức phổ quát vẫn là tâm thức nhóm. Các nhóm được xem xét chỉ đơn giản là ngày càng lớn hơn, cho đến khi đạt tới ‘nhóm phổ quát’ ấy. |
78. There is such a thing as ‘group egoism’. One may, indeed, learn to think in terms of a group, and so may all group members within such a group, but the group members may fail to relate correctly to other groups and to the “environing All”, as DK terms the larger context. | 78. Có một điều gọi là ‘tính ích kỷ nhóm’. Quả thực, một người có thể học cách suy nghĩ theo quan điểm của một nhóm, và mọi thành viên trong nhóm ấy cũng có thể làm như vậy, nhưng các thành viên có thể không thiết lập được mối quan hệ đúng đắn với các nhóm khác và với “Toàn Thể bao quanh”, như cách Chân sư DK gọi bối cảnh rộng lớn hơn. |
79. World disciples have transcended this limitation; they know how to relate their various groups to That which includes these groups. | 79. Các đệ tử thế giới đã vượt qua giới hạn này; họ biết cách liên kết các nhóm khác nhau của mình với Cái Đó vốn bao gồm các nhóm này. |
80. The Forces of Light comprise both the Spiritual Hierarchy of our planet and also Shamballa. These Forces can (to a greater or lesser extent) work though world disciples who are active in ever phase of human endeavor (certainly not just the “religious” sphere) and in every school of thought. | 80. Các Mãnh Lực Ánh Sáng bao gồm cả Thánh đoàn của hành tinh chúng ta lẫn Shamballa. Các Mãnh Lực này có thể hoạt động, ở mức độ nhiều hay ít, thông qua những đệ tử thế giới đang tích cực hoạt động trong mọi lĩnh vực nỗ lực của con người (chắc chắn không chỉ trong lĩnh vực “tôn giáo”) và trong mọi trường phái tư tưởng. |
81. It is obvious that DK wants us to be able to look across the great collection of those who serve humanity and to find world disciples in all of them—not alone in fields of service which may be familiar to us. | 81. Rõ ràng, Chân sư DK muốn chúng ta có thể nhìn bao quát đông đảo những người phụng sự nhân loại và tìm thấy các đệ tử thế giới trong tất cả những lĩnh vực ấy—không chỉ trong những lĩnh vực phụng sự có thể quen thuộc với chúng ta. |
82. We can see that there is much that is Aquarian about the world disciple The sign Aquarius is active at both the third and fourth initiations and, so, this is not surprising. Aquarius confers both the group perspective and, later, the more universal perspective. This inclusive consciousness is characteristic of the world disciple. | 82. Chúng ta có thể thấy đệ tử thế giới mang nhiều đặc tính Bảo Bình. Dấu hiệu Bảo Bình hoạt động ở cả lần điểm đạo thứ ba lẫn lần điểm đạo thứ tư, vì vậy điều này không có gì đáng ngạc nhiên. Bảo Bình ban cho cả quan điểm nhóm và, về sau, quan điểm phổ quát hơn. Tâm thức bao gồm này là đặc trưng của đệ tử thế giới. |
I am not going to define for you active discipleship as ordinarily understood. Every esoteric student knows its significance, its implications and its responsibilities. I seek to develop in you that sense of world need and that capable usefulness which will make each of you who read and understand my words a disciple in truth and in deed. The primary task of the Masters is to develop in Their disciples a world sense which will enable them to see the immediate situation against the background of the past, illumined by the light of knowledge of the Plan which always concerns the future—except for those rare spirits who think ever in terms of the whole. The blueprints for the immediate plan are in the hands of the world disciples; the working out of these plans under the inspiration and help of the world disciples is in the hands of all accepted disciples everywhere. Neither world disciples or accepted disciples are mystical visionaries or vague idealists but men and women who are intelligently and practically seeking to make the ideal plan a factual experiment and success on earth. Such is the task in which all of you have the opportunity to help. Your ability to become world disciples eventually is dependent upon your capacity to decentralise yourselves and to forget your personalities. This forgetting involves not only your own personalities but also the personalities of your fellow disciples and co-workers and of all you meet. It means, also, that in the future you go forward into a greater measure of service, impelled thereto by the fire of love in your hearts for your fellowmen. | Tôi sẽ không định nghĩa cho các bạn địa vị đệ tử tích cực theo cách hiểu thông thường. Mọi đạo sinh huyền bí học đều biết thâm nghĩa, những hàm ý và trách nhiệm của nó. Tôi tìm cách phát triển nơi các bạn ý thức về nhu cầu của thế giới và khả năng phụng sự hữu ích, để mỗi người trong các bạn đọc và thấu hiểu lời Tôi đều trở thành đệ tử trong sự thật và hành động. Nhiệm vụ chủ yếu của các Chân sư là phát triển nơi các đệ tử của Các Ngài một ý thức thế giới, giúp họ nhìn tình thế trước mắt trên nền quá khứ, được soi sáng bằng ánh sáng của tri thức về Thiên Cơ vốn luôn liên quan đến tương lai—ngoại trừ đối với những tinh thần hiếm hoi luôn suy nghĩ theo toàn thể. Các bản thiết kế cho kế hoạch trước mắt nằm trong tay các đệ tử thế giới; việc thực hiện những kế hoạch này dưới cảm hứng và sự trợ giúp của các đệ tử thế giới nằm trong tay mọi đệ tử được chấp nhận ở khắp nơi. Cả đệ tử thế giới lẫn đệ tử được chấp nhận đều không phải là những người mơ mộng thần bí hay những người lý tưởng mơ hồ, mà là những người nam và nữ đang tìm cách thông minh và thực tế để biến kế hoạch lý tưởng thành một thử nghiệm thực tế và thành công trên Trái Đất. Đó là nhiệm vụ mà tất cả các bạn đều có cơ hội trợ giúp. Khả năng cuối cùng trở thành đệ tử thế giới của các bạn tùy thuộc vào khả năng phi tập trung vào bản thân và quên đi phàm ngã của mình. Sự quên đi này không chỉ bao gồm phàm ngã của chính các bạn mà còn cả phàm ngã của những đệ tử đồng môn, cộng sự và tất cả những người các bạn gặp. Điều đó cũng có nghĩa là trong tương lai, các bạn tiến tới sự phụng sự rộng lớn hơn, do ngọn lửa tình thương đối với đồng loại trong tim các bạn thúc đẩy. |
83. DK has, in His various books (starting from Initiation: Human and Solar), given much on “active discipleship, as ordinarily understood”. He seeks now to expand the consideration and to present His disciples with a vivid picture of world need, so that those disciples may develop in themselves “that capable usefulness” which will make of them “disciples in truth and in deed”. He is obviously attempting to “lift the standard”. | 83. Trong các tác phẩm khác nhau của Ngài (bắt đầu từ Điểm Đạo: Nhân Loại và Thái Dương), Chân sư DK đã trình bày nhiều về “địa vị đệ tử tích cực theo cách hiểu thông thường”. Giờ đây, Ngài tìm cách mở rộng sự xem xét và trình bày trước các đệ tử của Ngài một bức tranh sống động về nhu cầu của thế giới, để những đệ tử ấy có thể phát triển nơi mình “khả năng phụng sự hữu ích, có năng lực” ấy, nhờ đó trở thành “đệ tử thực sự cả trong sự thật lẫn hành động”. Rõ ràng, Ngài đang cố gắng “nâng cao tiêu chuẩn”. |
84. Many of the disciples He was addressing in these group instructions had been with him for ten or fifteen years (consciously, in this incarnation). He now was expecting of them greater world consciousness, greater selflessness and a more inclusive vision. | 84. Nhiều đệ tử mà Ngài nói với trong những huấn thị nhóm này đã ở cùng Ngài được mười hoặc mười lăm năm (một cách có ý thức, trong kiếp sống này). Giờ đây, Ngài mong đợi ở họ tâm thức thế giới rộng lớn hơn, tinh thần vị tha sâu sắc hơn và một tầm nhìn bao gồm hơn. |
85. DK tells us of the primary task of Masters vis-à-vis Their chelas: it is the development in them of a “world sense” which reveals their past in relation to the future (which means, in relation to the Plan, for the Plan ever of the future). He does not expect that His chelas will yet be capable of thinking in terms of the whole. | 85. Chân sư DK cho chúng ta biết nhiệm vụ chính của các Chân sư đối với các đệ tử của Các Ngài: đó là phát triển nơi họ một “ý thức về thế giới” làm hiển lộ quá khứ của họ trong mối liên hệ với tương lai (nghĩa là trong mối liên hệ với Thiên Cơ, vì Thiên Cơ luôn thuộc về tương lai). Ngài chưa mong đợi các đệ tử của Ngài có khả năng suy nghĩ theo quan điểm của toàn thể. |
86. The Master specifies the spheres of responsibility of world disciples and accepted disciples. World disciples hold in their hands the blue prints of a certain phase of the Plan for which they are responsible; accepted disciples (working under the inspiration of world disciples) are to help them implement a phase of that Plan. | 86. Chân sư xác định rõ phạm vi trách nhiệm của các đệ tử thế giới và các đệ tử được chấp nhận. Các đệ tử thế giới nắm trong tay những bản thiết kế của một giai đoạn nhất định trong Thiên Cơ mà họ chịu trách nhiệm; các đệ tử được chấp nhận (hoạt động dưới sự truyền cảm hứng của các đệ tử thế giới) có nhiệm vụ giúp họ thực hiện một giai đoạn của Thiên Cơ ấy. |
87. Alice Bailey was surely a world disciple, and there were a number of accepted disciples gathered around her to help her implement the educative phase of the Plan for which she was responsible. | 87. Alice Bailey chắc chắn là một đệ tử thế giới, và một số đệ tử được chấp nhận đã quy tụ quanh Bà để giúp Bà thực hiện giai đoạn giáo dục của Thiên Cơ mà Bà chịu trách nhiệm. |
88. The same might be said of FCD (Dr. Roberto Assagioli), who was given the task of gathering the co-workers (not easy at first) who would help him implement his ideas for human salvage of a psychological kind. Apparently, this gathering eventually came to some fruition, and his plans for the psychological regeneration of humanity were concretely manifested through the growth of the world-movement in psychology known as Psychosynthesis. | 88. Có lẽ cũng có thể nói như vậy về FCD (Bác sĩ Roberto Assagioli), người được giao nhiệm vụ quy tụ các cộng sự (lúc đầu không dễ dàng) để giúp ông thực hiện những ý tưởng cứu giúp con người về mặt tâm lý. Dường như sự quy tụ này cuối cùng đã đạt được một số thành quả, và các kế hoạch tái sinh nhân loại về mặt tâm lý của ông đã biểu hiện cụ thể qua sự phát triển của phong trào tâm lý học trên thế giới mang tên Tâm lý Tổng hợp. |
89. DK distinguishes world disciples and even accepted disciples from “mystical visionaries”, known so oft for their impracticality. World disciples and accepted disciples are part of the Externalization of the Hierarchy and are much engaged with the Laws of Manifestation. | 89. Chân sư DK phân biệt các đệ tử thế giới và cả các đệ tử được chấp nhận với “những người mơ tưởng thần bí”, vốn thường được biết đến vì tính thiếu thực tế. Các đệ tử thế giới và các đệ tử được chấp nhận là một phần của Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn và tham gia sâu vào việc vận dụng các Định luật Biểu Hiện. |
90. The envisioned ideals of world and accepted disciples are to become “factual experiments” successfully manifested in the lower three worlds. The Divine Plan must happen. | 90. Những lý tưởng mà các đệ tử thế giới và các đệ tử được chấp nhận hình dung phải trở thành “những cuộc thử nghiệm thực tế”, biểu hiện thành công trong ba cõi thấp. Thiên Cơ phải thành hiện thực. |
91. DK holds before His chelas the opportunity to become world disciples—the more rapidly so, the sooner they decentralize themselves and forget their personalities. He then expands the theme somewhat by insisting that not only must we forget our own personalities in the process of manifesting the Plan, but we must not become preoccupied with the personalities of others—our co-workers, for instance. | 91. Chân sư DK đặt trước các đệ tử của Ngài cơ hội trở thành đệ tử thế giới—họ càng sớm phi tập trung vào bản thân và quên đi phàm ngã của mình thì càng nhanh chóng trở thành đệ tử thế giới. Sau đó, Ngài mở rộng chủ đề này phần nào bằng cách nhấn mạnh rằng trong tiến trình biểu hiện Thiên Cơ, chúng ta không chỉ phải quên đi phàm ngã của chính mình mà còn không được quá bận tâm đến phàm ngã của người khác—chẳng hạn như các cộng sự của chúng ta. |
92. We can and will do this when our orientation is towards greater service, impelled thereto by the fire of love in our hearts for our fellowmen. | 92. Chúng ta có thể và sẽ làm được điều này khi hướng tới việc phụng sự nhiều hơn, nhờ ngọn lửa tình thương đối với đồng loại trong tim mình thúc đẩy. |
93. Simplistically, He is saying: ‘to become world disciples, love more, serve more’. It is obvious that the sense of criticism will prevent us from achieving this degree of discipleship. Really any marked deviations from the code of harmlessness will prevent the achievement. | 93. Nói một cách đơn giản, Ngài đang nói: ‘để trở thành đệ tử thế giới, hãy yêu thương nhiều hơn, phụng sự nhiều hơn’. Rõ ràng, khuynh hướng chỉ trích sẽ ngăn chúng ta đạt đến cấp độ đệ tử này. Thực ra, bất cứ sự lệch lạc rõ rệt nào khỏi chuẩn mực vô tổn hại cũng sẽ ngăn cản thành tựu ấy. |
One factor that should be touched upon here is that frequently disciples handicap themselves because, not having learnt to forget their personalities, they have an attitude of deep concern over demonstrated past failures and a consciousness of very real inadequacy. They become over preoccupied [691] with the personnel of the group and not with the group soul. You, as disciples, are too preoccupied with the inter-personality relationship and are not sufficiently focussed upon the group-soul and upon the Master, the centre and the focal point of energy of the group. If you would reject all criticism, if you cultivate the joy of relationship and seek ever to participate together in whatever spiritual blessing may be outpoured for the helping of the world, if you seek to contact the Master as a group, if you are in a position to know your group, and if you tune out all anxiety as to success or non-success in the apportioned service, you would greatly aid in the task with which the Master of any group is confronted. The needed fusion can always take place among disciples when they meet on the level of the soul and when the service to be rendered is the dominant factor and not so much the how of rendering it; for this each disciple is independently responsible. | Một yếu tố cần đề cập ở đây là các đệ tử thường tự gây trở ngại vì chưa học được cách quên phàm ngã; họ mang thái độ lo lắng sâu sắc về những thất bại đã bộc lộ trong quá khứ và tâm thức về sự thiếu năng lực rất thực của mình. Họ trở nên quá bận tâm [691] đến các thành viên của nhóm mà không quan tâm đến linh hồn nhóm. Là đệ tử, các bạn quá bận tâm đến mối quan hệ giữa các phàm ngã và chưa tập trung đầy đủ vào linh hồn nhóm cùng Chân sư, trung tâm và tiêu điểm năng lượng của nhóm. Nếu các bạn từ bỏ mọi chỉ trích, vun bồi sự hoan hỉ trong các mối quan hệ và luôn tìm cách cùng nhau dự phần vào bất cứ ân phúc tinh thần nào có thể tuôn đổ để trợ giúp thế giới, nếu các bạn tìm cách tiếp xúc với Chân sư với tư cách một nhóm, nếu các bạn có thể hiểu biết nhóm mình và gạt bỏ mọi lo âu về thành công hay thất bại trong phần việc phụng sự được giao, thì các bạn sẽ trợ giúp rất nhiều cho nhiệm vụ mà Chân sư của bất cứ nhóm nào cũng phải đối diện. Sự dung hợp cần thiết luôn có thể diễn ra giữa các đệ tử khi họ gặp nhau trên cấp độ linh hồn và khi công việc phụng sự cần thực hiện là yếu tố chi phối, chứ không quá chú trọng cách thức thực hiện; về điều này, mỗi đệ tử chịu trách nhiệm độc lập. |
94. DK speaks of a prevalent handicap amongst disciples: they simply have not learned to forget their personalities, and are preoccupied with their perceived failures (real or unreal). They, thus, feel themselves to be inadequate, and their sense of inadequacy depresses their consciousness. | 94. Chân sư DK nói về một trở ngại phổ biến nơi các đệ tử: đơn giản là họ chưa học được cách quên đi phàm ngã và luôn bận tâm đến những điều họ cho là thất bại của mình (có thực hay không có thực). Do đó, họ cảm thấy mình bất cập, và cảm giác bất cập ấy làm tâm thức họ sa sút. |
95. As well, many disciples are preoccupied with the failures of their co-disciples. They focus on their co-workers form the personality angle and not from the perspective of the group soul. | 95. Ngoài ra, nhiều đệ tử còn bận tâm đến những thất bại của các đệ tử đồng môn. Họ chú ý đến các cộng sự từ góc độ phàm ngã thay vì từ quan điểm của hồn nhóm. |
96. In short, too many disciples are preoccupied with persons and not with souls. | 96. Tóm lại, quá nhiều đệ tử bận tâm đến con người thay vì linh hồn. |
97. DK really insists on the value of preoccupation with the group-soul, and also with the Master (considered as the focal point of energy of the group). He is asking us to “lift our sites”. | 97. Chân sư DK thực sự nhấn mạnh giá trị của việc chú tâm đến hồn nhóm, đồng thời đến Chân sư (được xem là tiêu điểm năng lượng của nhóm). Ngài đang yêu cầu chúng ta “nâng cao tầm nhìn”. |
98. Then follows a list of most practical requirements for those who on their way to world discipleship. Such factors as non-criticism, joy in relationship, grateful recognition of blessings out-poured, group-contact with the Master, group recognition and the tuning out of all anxiety about success or non-success—all these would greatly help the Master help the disciples and, as well, the discipleship group. | 98. Tiếp theo là một danh sách những yêu cầu hết sức thiết thực dành cho những người đang trên đường trở thành đệ tử thế giới. Những yếu tố như không chỉ trích, hoan hỉ trong mối quan hệ, biết ơn và nhận biết những ân phúc tuôn đổ, tiếp xúc với Chân sư với tư cách nhóm, nhận biết nhóm và gạt bỏ mọi lo âu về thành công hay không thành công—tất cả những điều này sẽ giúp Chân sư rất nhiều trong việc trợ giúp các đệ tử cũng như nhóm đệ tử. |
99. We can review these requirements for ourselves and try to fulfill them. They are very reasonable, and we can understand why their non-fulfillment complicates the way of the group and reduces contact with the Master and His Ashram. | 99. Chúng ta có thể tự xem xét những yêu cầu này và cố gắng thực hiện. Những yêu cầu ấy rất hợp lý, và chúng ta có thể thấu hiểu vì sao việc không thực hiện chúng lại làm phức tạp con đường của nhóm và làm giảm sự tiếp xúc với Chân sư cùng ashram của Ngài. |
100. The final advice: meet on the level of soul and keep the service to be rendered in the forefront of consciousness. How the service is rendered is said to be an individual matter for which “each disciple is independently responsible”. | 100. Lời khuyên cuối cùng: hãy gặp nhau ở cấp độ linh hồn và luôn đặt công việc phụng sự cần thực hiện lên hàng đầu trong tâm thức. Cách thức thực hiện công việc phụng sự được nói là vấn đề cá nhân mà “mỗi đệ tử chịu trách nhiệm riêng”. |
101. All this advice is so good, and, yet, so often forgotten. Something within us recognizes its validity immediately, and then, strangely, forgets after a longer or shorter time. The fire is lit and the fire goes out. At length however, the fire, once lit, continues to burn, and then steady progress in the application of Ashramic attitudes supervenes. | 101. Tất cả những lời khuyên này đều rất hay, thế nhưng lại thường xuyên bị lãng quên. Một điều gì đó trong chúng ta lập tức nhận ra tính đúng đắn của chúng, rồi lạ thay lại quên đi sau một thời gian dài hay ngắn. Ngọn lửa được thắp lên rồi lại tắt. Tuy nhiên, cuối cùng, ngọn lửa một khi được thắp lên sẽ tiếp tục cháy, và khi ấy sự tiến bộ vững vàng trong việc thực hành những thái độ của ashram sẽ tiếp nối. |
The Master does not train a group of men and women to be good and obedient disciples, carrying out His wishes and working out His purposes. He is training them eventually to take initiation and become Masters themselves and He never loses sight of this objective. You, as disciples, have, therefore, to learn to handle force and to draw energies into the destined area of service and this is a fact you must constantly have in mind. Disciples are chosen by the Master because, in spite of any or all personality limitations, they respond in their individual measure to the immediate vision of the united Hierarchy and to the methods which They propose to employ in materialising this vision. The hierarchical vision (as far as you can understand it) is the response of the Masters to the higher impression to which They are subjected and to which They accord Their assent according to ray and not according to point of development. The Master recognises those who recognise the Plan and are trying (with full or with qualified dedication) to help bring it about. He then stimulates them as a group, because they have identity of vision and dedication; this enables them, under that stimulation and inspiration, to become more effective in the chosen (self-chosen) line of service. | Chân sư không huấn luyện một nhóm những người nam và nữ trở thành các đệ tử tốt và biết tuân phục, thực hiện những mong muốn và mục đích của Ngài. Ngài huấn luyện họ để cuối cùng tiếp nhận điểm đạo và chính họ trở thành các Chân sư; Ngài không bao giờ quên mục tiêu này. Vì vậy, là đệ tử, các bạn phải học cách vận dụng mãnh lực và thu hút các năng lượng vào lĩnh vực phụng sự đã định; đây là một sự thật các bạn phải luôn ghi nhớ. Chân sư lựa chọn các đệ tử vì, bất chấp bất cứ hay mọi giới hạn của phàm ngã, họ đáp ứng theo mức độ riêng của mình với linh thị trước mắt của Thánh đoàn hợp nhất và với những phương pháp mà Các Ngài dự định sử dụng để đưa linh thị này vào biểu hiện vật chất. Linh thị của Thánh đoàn (trong chừng mực các bạn có thể thấu hiểu) là sự đáp ứng của các Chân sư với ấn tượng cao siêu mà Các Ngài tiếp nhận và chấp thuận tùy theo cung chứ không tùy theo điểm phát triển. Chân sư nhận biết những người nhận biết Thiên Cơ và đang cố gắng (với sự tận hiến trọn vẹn hoặc có giới hạn) góp phần thực hiện Thiên Cơ. Sau đó, Ngài kích thích họ với tư cách một nhóm, vì họ có chung linh thị và sự tận hiến; dưới sự kích thích và cảm hứng ấy, điều này giúp họ trở nên hiệu quả hơn trong đường hướng phụng sự đã chọn (do chính họ chọn). |
102. We return to the matter of occult obedience. DK seeks to dispel an almost childish attitude—namely that the Master is training men and women “to be good and obedient disciples”—like “good little boys and girls”. Of course, He want them to help Him carry out His Plan-inspired purposes, but they must do so for the right reasons—i. e. , because they share His vision, and not simply because they acquiesce thinking, “He is the Master and, therefore, I must obey. ” | 102. Chúng ta trở lại vấn đề tuân phục huyền bí. Chân sư DK tìm cách xua tan một thái độ gần như trẻ con—cụ thể là cho rằng Chân sư đang huấn luyện những người nam và nữ “trở thành những đệ tử tốt và biết vâng lời”—giống như “những bé trai và bé gái ngoan ngoãn”. Dĩ nhiên, Ngài muốn họ giúp Ngài thực hiện những mục đích được Thiên Cơ truyền cảm hứng, nhưng họ phải làm như vậy vì những lý do đúng đắn—nghĩa là vì họ chia sẻ tầm nhìn của Ngài, chứ không đơn giản vì họ thuận theo với suy nghĩ: “Ngài là Chân sư, vì vậy tôi phải tuân phục. ” |
103. The Master is not thinking primarily of a chela’s obedience to Him, but of the chela’s destiny—to take initiation and, eventually, to become a Master himself. DK tells us that a Master never loses sight of this objective when training His chelas. | 103. Chân sư không chủ yếu nghĩ đến sự tuân phục của đệ tử đối với Ngài, mà đến vận mệnh của đệ tử—được điểm đạo và cuối cùng chính mình trở thành một Chân sư. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng một Chân sư không bao giờ quên mục tiêu này khi huấn luyện các đệ tử của Ngài. |
104. It is no small matter to take initiation and the training is arduous. To become a Master is far more demanding still. Only disciples who are truly and powerfully motivated can achieve these goals. “Good little boys and girls” will not do! | 104. Được điểm đạo không phải là việc nhỏ, và quá trình huấn luyện rất gian khổ. Trở thành một Chân sư còn đòi hỏi nhiều hơn nữa. Chỉ những đệ tử có động lực thực sự mạnh mẽ mới có thể đạt được các mục tiêu này. “Những bé trai và bé gái ngoan ngoãn” sẽ không đủ sức làm được! |
105. One of the disciple’s main tasks is to learn how to handle force and to apply that force in the correct arena of service. The Science of Occultism is the science of energy-recognition and of energy-manipulation. This science cannot be expressed in moral terms alone (but, of course, morality has its own occult energetics). | 105. Một trong những nhiệm vụ chính của đệ tử là học cách vận dụng mãnh lực và sử dụng mãnh lực ấy trong lĩnh vực phụng sự đúng đắn. Khoa học Huyền Bí Học là khoa học nhận biết và vận dụng năng lượng. Không thể diễn đạt khoa học này chỉ bằng những khái niệm đạo đức (nhưng dĩ nhiên, đạo đức cũng có các nguyên lý năng lượng huyền bí riêng). |
106. We can see that Master DK wants His chelas to “grow up” and consider the Path of Occultism more factually, and in terms of the impersonal world of energy and force. | 106. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK muốn các đệ tử của Ngài “trưởng thành” và xem xét Con Đường Huyền Bí Học một cách thực tế hơn, theo quan điểm của thế giới năng lượng và mãnh lực phi cá nhân. |
107. Many of Master DK’s disciples had considerable personal limitations. DK was certainly cognizant of these limitations when He chose these disciples to participate in His experiments. Their limitations, however, were not final deterrents, because they had the capacity to respond to the “immediate vision of the united Hierarchy” (however relatively limited that capacity might be). It was something about the unfoldment of their soul nature which made them fit to be chosen. They were seen as potential cooperators in the materializing of hierarchical objectives. Their limitations were liabilities which the Master would point out and which, they, under His advice, were to deal with in a responsible manner as rapidly as possible. | 107. Nhiều đệ tử của Chân sư DK có những giới hạn cá nhân đáng kể. Chân sư DK chắc chắn biết rõ những giới hạn này khi Ngài chọn những đệ tử ấy tham gia các cuộc thử nghiệm của Ngài. Tuy nhiên, những giới hạn của họ không phải là trở ngại mang tính quyết định, vì họ có khả năng đáp ứng với “tầm nhìn trước mắt của Thánh đoàn hợp nhất” (dù khả năng ấy có thể còn tương đối hạn chế). Chính một điều gì đó trong sự khai mở bản chất linh hồn đã khiến họ đủ điều kiện để được chọn. Ngài xem họ là những cộng sự tiềm năng trong việc hiện thực hóa các mục tiêu của Thánh đoàn. Những giới hạn của họ là các điểm yếu mà Chân sư sẽ chỉ ra và họ phải xử lý một cách có trách nhiệm, nhanh nhất có thể, theo lời khuyên của Ngài. |
108. We should search our souls to see why we might think ourselves qualified to participate in this hierarchical work both now and later. Personality limitations aside, do we have the necessary vision of hierarchical intent and are we suited to cooperate with Their methods of materializing Their Vision of the Plan? | 108. Chúng ta nên tự vấn linh hồn mình để xem vì sao chúng ta có thể cho rằng mình đủ điều kiện tham gia công việc này của Thánh đoàn, cả hiện nay lẫn về sau. Gác những giới hạn phàm ngã sang một bên, chúng ta có tầm nhìn cần thiết về ý định của Thánh đoàn hay không, và chúng ta có thích hợp để hợp tác với những phương pháp của Các Ngài nhằm hiện thực hóa Tầm Nhìn của Các Ngài về Thiên Cơ hay không? |
109. If the “hierarchical vision” is somewhat alive in us, we can be used. That vision, we are told, is the Master’s response to a still higher Vision conferred, we may assume, from Shamballa. All Masters respond, in degree, to this still greater Vision, not so much according to Their level of unfoldment, but according to Their ray. | 109. Nếu “tầm nhìn của Thánh đoàn” sống động phần nào trong chúng ta, thì chúng ta có thể được sử dụng. Chúng ta được cho biết rằng tầm nhìn ấy là sự đáp ứng của Chân sư với một Tầm Nhìn còn cao hơn nữa, mà chúng ta có thể giả định là do Shamballa truyền đến. Tất cả các Chân sư đều đáp ứng ở những mức độ khác nhau với Tầm Nhìn còn vĩ đại hơn này, không hẳn theo cấp độ khai mở của Các Ngài, mà theo cung của Các Ngài. |
110. We have to know our ray and, thus, find our inner group—the inner group or Ashram with whom we may fittingly and efficiently cooperate. | 110. Chúng ta phải biết cung của mình và nhờ đó tìm ra nhóm bên trong của mình—nhóm bên trong hay ashram mà chúng ta có thể hợp tác một cách thích hợp và hiệu quả. |
111. Then comes another of the great sentences which can be used as a ‘mantram of remembrance’: | 111. Tiếp theo lại là một trong những câu tuyệt vời có thể dùng làm một ‘mantram nhắc nhớ’: |
“The Master recognises those who recognise the Plan and are trying (with full or with qualified dedication) to help bring it about. ” | “Chân sư công nhận những ai nhận biết Thiên Cơ và đang cố gắng (với sự tận hiến trọn vẹn hoặc còn hạn chế) góp phần đưa Thiên Cơ thành hiện thực. ” |
The idea of being recognized by a Master (most often for one’s personal qualities and one’s aspiration) is still far too prevalent. In the matter of recognizing a disciple, the Master looks for a disciple’s real usefulness, upon which He can depend when a disciple both recognizes the Plan and is earnestly trying to do something about that recognition. | Ý tưởng được một Chân sư công nhận (thường là vì những phẩm tính cá nhân và khát vọng của mình) vẫn còn quá phổ biến. Khi công nhận một đệ tử, Chân sư tìm kiếm ở người đệ tử ấy tính hữu ích thực sự, điều mà Ngài có thể trông cậy khi đệ tử vừa nhận biết Thiên Cơ, vừa tha thiết cố gắng hành động theo sự nhận biết ấy. |
112. Therefore, our approach to ashramic cooperation will be greatly facilitated when we come to understand the Divine Plan with greater depth, and when we begin to play our part in actually manifesting the portion of the Plan for which we take responsibility. | 112. Vì vậy, việc tiến tới hợp tác trong ashram của chúng ta sẽ thuận lợi hơn rất nhiều khi chúng ta thấu hiểu Thiên Cơ sâu sắc hơn và bắt đầu đảm nhận phần việc của mình trong việc thực sự biểu hiện phần Thiên Cơ mà chúng ta nhận trách nhiệm. |
113. We remember, however, that the Master is not so much looking for individuals, per se, but for those individuals who can be welded into groups responsive to His impression and consequent guidance. | 113. Tuy nhiên, chúng ta nhớ rằng Chân sư không chủ yếu tìm kiếm chính các cá nhân, mà tìm những cá nhân có thể gắn kết thành các nhóm đáp ứng với ấn tượng của Ngài và sự hướng dẫn tiếp theo. |
114. Those with “identity of vision and dedication” can be stimulated and inspired to work together along the lines of their “self-chosen” service. We remember that Master DK was not going to tell his groups of disciples exactly what to do in every particular. He was expecting that, together, they would take responsibility for certain phases of His work and, together, devise modes of effective work upon the physical plane. | 114. Những người “có chung tầm nhìn và sự tận hiến” có thể được kích thích và truyền cảm hứng để cùng làm việc theo những đường hướng phụng sự “do chính họ chọn” ấy. Chúng ta nhớ rằng Chân sư DK sẽ không chỉ bảo các nhóm đệ tử của Ngài chính xác phải làm gì trong từng chi tiết. Ngài mong đợi họ cùng nhau nhận trách nhiệm đối với những giai đoạn nhất định trong công việc của Ngài và cùng nhau đề ra những phương thức hoạt động hữu hiệu trên cõi hồng trần. |
115. When we think of ‘recognition by the Master’, we must always think in terms of group recognition. We are entering a group Age, and only those who are sensitive to the group idea and willing to work in group formation will receive (together) the kind of stimulation of which Master DK speaks. | 115. Khi nghĩ đến ‘sự công nhận của Chân sư’, chúng ta phải luôn nghĩ theo nghĩa sự công nhận nhóm. Chúng ta đang bước vào một Kỷ nguyên nhóm, và chỉ những người nhạy cảm với ý tưởng nhóm và sẵn lòng hoạt động trong đội hình nhóm mới cùng nhau tiếp nhận loại kích thích mà Chân sư DK nói đến. |
116. Many of our old ideas are now up for adjustment. Many of the methods we have customarily used to judge ourselves (and others) are now to be modified according to our understanding of the newer methods of training now in use by the members of the Spiritual Hierarchy. | 116. Giờ đây, nhiều ý tưởng cũ của chúng ta cần được điều chỉnh. Nhiều phương pháp chúng ta vẫn thường dùng để đánh giá bản thân (và người khác) giờ đây cần được sửa đổi theo sự thấu hiểu của chúng ta về những phương pháp huấn luyện mới hơn mà các thành viên của Thánh đoàn hiện đang sử dụng. |
I would have you, therefore, ponder carefully upon the following recognitions: | Vì vậy, Tôi mong các bạn suy ngẫm kỹ về những sự nhận biết sau đây: |
[692] | [692] |
1. The recognition of the vision. | 1. Sự nhận biết linh thị. |
2. The recognition of the Plan, for vision and Plan are not the same. | 2. Sự nhận biết Thiên Cơ, vì linh thị và Thiên Cơ không phải là một. |
3. The recognition which the Master accords to a group of dedicated aspirants when He accepts them as His disciples. | 3. Sự nhìn nhận mà Chân sư dành cho một nhóm người chí nguyện tận hiến khi Ngài chấp nhận họ làm đệ tử của Ngài. |
4. Your recognition of the Master’s ideas as goals to future endeavour. | 4. Sự nhìn nhận của các bạn đối với những ý tưởng của Chân sư như các mục tiêu cho nỗ lực tương lai. |
5. Your recognition of each other as souls and servers. | 5. Sự nhìn nhận lẫn nhau của các bạn như những linh hồn và người phụng sự. |
117. Master DK is trying to train us in recognition. Such recognition will facilitate the illumination of our consciousness and, hence, our usefulness. | 117. Chân sư DK đang cố gắng huấn luyện chúng ta về khả năng nhận biết. Sự nhận biết ấy sẽ tạo thuận lợi cho việc soi sáng tâm thức chúng ta và do đó gia tăng tính hữu ích của chúng ta. |
118. Of the vision, much has been said. It is important that we recognize that the vision and the Plan are not the same. The Plan is the ‘Plan of Love’ and those who love enough will recognize the Plan. Meanwhile, their vision they have acquired is a temporary expedient to lead them closer to an intuitive and loving recognition of the Plan. | 118. Người ta đã nói nhiều về tầm nhìn. Điều quan trọng là chúng ta nhận ra rằng tầm nhìn và Thiên Cơ không giống nhau. Thiên Cơ là ‘Thiên Cơ của Tình thương’, và những ai yêu thương đủ nhiều sẽ nhận biết Thiên Cơ. Trong khi đó, tầm nhìn mà họ đã có được là một phương tiện tạm thời để dẫn họ đến gần hơn với sự nhận biết Thiên Cơ bằng trực giác và tình thương. |
119. The third recognition is related to the stage of Accepted Discipleship. We are here dealing not just with the recognition of the single disciple, but with a form of group recognition, which includes the individual recognitions. | 119. Sự công nhận thứ ba liên quan đến giai đoạn Địa vị Đệ tử Được Chấp nhận. Ở đây, chúng ta không chỉ đề cập đến việc công nhận một đệ tử riêng lẻ, mà đến một hình thức công nhận nhóm, vốn bao gồm những sự công nhận cá nhân. |
120. Master DK recognized the entire personnel of the New Seed Group in 1940 and, in so doing, conferred upon all of them, individually, the status of “accepted disciple”. He did not go picking and choosing among them saying, “You are accepted and you are not. ” | 120. Chân sư DK đã công nhận toàn bộ nhân sự của Nhóm Hạt Giống Mới vào năm 1940, và qua đó ban cho từng người trong số họ địa vị “đệ tử được chấp nhận”. Ngài không chọn lựa giữa họ rồi nói: “Người này được chấp nhận, người kia thì không. ” |
121. The fourth recognition proves that we can appreciate the Master’s intentions and problems. As potential members of an Ashram, our purpose is to understand what the Master seeks to see accomplished. According to the clarity of that recognition, so will be our usefulness to the Ashram. | 121. Sự nhận biết thứ tư chứng tỏ rằng chúng ta có thể hiểu được những ý định và vấn đề của Chân sư. Là những thành viên tiềm năng của một ashram, mục đích của chúng ta là thấu hiểu điều Chân sư mong muốn thấy được hoàn thành. Sự nhận biết ấy càng rõ ràng thì chúng ta càng hữu ích cho ashram. |
122. Point five involves our recognition of each other—not as personalities but as “souls and servers”. This, very simply, requires that we see each other in the right way. Already we have learned that the members of Master DK’s groups were too preoccupied with themselves, personally, and with each other, also personally. This type of preoccupation would prevent the achievement of recognition five. | 122. Điểm thứ năm liên quan đến việc chúng ta nhận biết nhau—không phải là những phàm ngã mà là “những linh hồn và những người phụng sự”. Rất đơn giản, điều này đòi hỏi chúng ta nhìn nhau đúng cách. Chúng ta đã biết rằng các thành viên trong những nhóm của Chân sư DK quá bận tâm đến bản thân về mặt cá nhân, và cũng bận tâm đến nhau về mặt cá nhân. Kiểu bận tâm này sẽ ngăn cản việc đạt được sự nhận biết thứ năm. |
When these recognitions are properly understood, there will then be eventual recognition, by the Hierarchy, of a group of disciples who can be used as a channel through which spiritual energy, light and love can be poured into a needy and agonising world. The group will then be endowed with power to serve but it will not be power given to it by the Master. It will be a potency which it has engendered itself. This power which disciples wield comes as a response to a life rightly lived and love fully given. There is a great law which can be embodied in the words “to those who give all, all is given. ” This is true of the individual disciple and of a Master’s group. Most aspirants to discipleship today do not know or realise this law; they do not give freely and fully either to the work of the Hierarchy or to those who need. Until they do, they limit their effectiveness and shut the door on supply, not only for themselves but for the group with which they are affiliated in service. Herein lies responsibility. The clue to supply is personality harmlessness and the dedication of all individual resources to the service of the Great Ones, without restraint and spontaneously. When you, as a disciple, try to live harmlessly—in thought and word and deed—and when nothing is held back materially, emotionally or from the angle of time, when physical strength is so given and the gift of all resources is accompanied with happiness, then the disciple will have all that is needed to carry on his work and the same is true of all working groups of servers. Such is the law. Perfection is not yet possible, it is needless for me to say, but greater effort on your part to give and serve is possible. | Khi những sự nhận biết này được thấu hiểu đúng đắn, cuối cùng Thánh đoàn sẽ nhìn nhận một nhóm đệ tử có thể được sử dụng như một vận hà để năng lượng tinh thần, ánh sáng và tình thương tuôn vào một thế giới thiếu thốn và đau khổ. Khi ấy, nhóm sẽ có quyền năng phụng sự, nhưng đó không phải là quyền năng do Chân sư ban cho. Đó sẽ là một uy lực do chính nhóm tạo ra. Quyền năng mà các đệ tử vận dụng này xuất hiện như sự đáp ứng với một đời sống đúng đắn và tình thương được trao trọn vẹn. Có một định luật vĩ đại có thể diễn đạt bằng những lời: “Ai cho đi tất cả sẽ được trao tất cả.” Điều này đúng với người đệ tử cá nhân cũng như với nhóm của một Chân sư. Ngày nay, phần lớn những người chí nguyện hướng tới địa vị đệ tử không biết hoặc không nhận ra định luật này; họ không cho đi tự do và trọn vẹn, dù là cho công việc của Thánh đoàn hay cho những người thiếu thốn. Chừng nào chưa làm như vậy, họ còn hạn chế hiệu quả của mình và đóng cánh cửa nguồn cung ứng, không chỉ đối với bản thân mà còn đối với nhóm họ liên kết trong phụng sự. Chính trong đó có trách nhiệm. Chìa khóa của nguồn cung ứng là tính vô tổn hại của phàm ngã và việc tận hiến mọi nguồn lực cá nhân cho sự phụng sự Các Đấng Cao Cả, không dè giữ và một cách tự nhiên. Khi các bạn, với tư cách đệ tử, cố gắng sống vô tổn hại—trong tư tưởng, lời nói và hành động—và không giữ lại điều gì về vật chất, cảm xúc hay thời gian, khi sức mạnh thể xác được cống hiến như thế và việc hiến tặng mọi nguồn lực đi cùng niềm hạnh phúc, thì người đệ tử sẽ có tất cả những gì cần thiết để tiếp tục công việc; điều này cũng đúng với mọi nhóm người phụng sự đang hoạt động. Định luật là như vậy. Tôi không cần nói rằng hiện nay chưa thể đạt sự hoàn hảo, nhưng các bạn có thể nỗ lực nhiều hơn để cho đi và phụng sự. |
123. The five recognitions open the door to recognition by the Hierarchy of a group of disciples who can be used as a channel for that which Hierarchy can bestow, and wants to bestow—spiritual energy, love and light. Master DK is building groups—for the future, and over them He will preside, again in the future, and perhaps the not-too-distant future. Such groups will be fit to work in a practical manner with the Fourteen Rules for Disciples and Initiates found in The Rays and the Initiations. | 123. Năm sự nhận biết mở cửa để Thánh đoàn công nhận một nhóm đệ tử có thể làm kênh dẫn cho những gì Thánh đoàn có thể ban tặng, và muốn ban tặng—năng lượng tinh thần, tình thương và ánh sáng. Chân sư DK đang xây dựng các nhóm cho tương lai, và trong tương lai, Ngài sẽ chủ trì các nhóm ấy, có lẽ trong một tương lai không xa lắm. Những nhóm như thế sẽ đủ khả năng vận dụng thiết thực Mười Bốn Quy Luật dành cho Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ trong Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo. |
124. It is not that the Master confers upon such groups the power to serve. This the group itself engenders from within itself. That power arises when the group can live rightly and when it offers love fully. The task of the Master is to stimulate and empower that which has been rightly engendered. There is much the Master can add to a group which (because of its own decisions and determinations) is proceeding along right lines. | 124. Không phải Chân sư ban cho những nhóm như thế quyền năng phụng sự. Chính nhóm khơi sinh quyền năng này từ bên trong mình. Quyền năng ấy nảy sinh khi nhóm có thể sống đúng đắn và trao trọn tình thương. Nhiệm vụ của Chân sư là kích thích và tăng cường quyền năng cho những gì đã được khơi sinh đúng đắn. Chân sư có thể bổ sung rất nhiều cho một nhóm đang tiến đúng hướng nhờ những quyết định và quyết tâm của chính nhóm ấy. |
125. This section of DINA I is filled with memorable statements. Among these is the following, expressing as it does a great Law: “To those who give all, all is given. ” All of us are enjoined to ponder this most simple statement of occult fact. When we are just about to become initiates of the fourth degree, we must make this law factual in our lives, by, in fact, giving all. | 125. Phần này của DINA I chứa đầy những lời đáng ghi nhớ. Trong số đó có lời sau đây, thể hiện một Định luật vĩ đại: “Những ai cho đi tất cả sẽ được ban cho tất cả.” Tất cả chúng ta đều được khuyên hãy suy ngẫm về lời phát biểu hết sức giản dị này về một sự thật huyền bí. Khi sắp trở thành điểm đạo đồ bậc bốn, chúng ta phải làm cho định luật này thành hiện thực trong đời sống mình, bằng cách thực sự cho đi tất cả. |
126. The law applies to individuals and to groups. We learn the Master’s assessment: it is not much observed. Because aspirants and disciples do not give, freely and fully, both to the Ashram and for the helping of humanity, they limit their effectiveness. The riches of the universe are ready to pour into the wise hands of individuals and groups who give all. If, however, the giving is stingy or only partial, the door is shut on the sources of supply. It takes a long time before disciples come to realize this. Great trust is required to prove to oneself the validity of this law. A length there is no other choice. Having lost much (of time and opportunity) by not giving fully, the disciple finally decides to give ever more fully until all he has is given in the cause. As he proceeds (in confirmation of the law), all he may need to carry forward the work, will pour in. | 126. Định luật này áp dụng cho cả cá nhân lẫn nhóm. Chúng ta biết được nhận định của Chân sư: định luật này ít được tuân theo. Vì những người chí nguyện và đệ tử không cho đi một cách rộng rãi và trọn vẹn, cả cho ashram lẫn cho việc giúp đỡ nhân loại, nên họ tự hạn chế hiệu quả của mình. Sự phong phú của vũ trụ sẵn sàng tuôn vào những bàn tay minh triết của các cá nhân và nhóm cho đi tất cả. Tuy nhiên, nếu sự cho đi là keo kiệt hoặc chỉ một phần, cánh cửa dẫn đến các nguồn cung ứng sẽ đóng lại. Phải mất một thời gian dài các đệ tử mới nhận ra điều này. Cần có lòng tin rất lớn để tự kiểm chứng tính xác thực của định luật này. Cuối cùng, không còn lựa chọn nào khác. Sau khi đã mất nhiều thời gian và cơ hội vì không cho đi trọn vẹn, cuối cùng người đệ tử quyết định cho đi ngày càng trọn vẹn hơn, cho đến khi tất cả những gì mình có đều được hiến dâng cho chính nghĩa. Khi người đệ tử tiến bước, mọi điều cần thiết để tiếp tục công việc sẽ tuôn đến, qua đó xác chứng định luật này. |
127. DK has told us of a law. Now we know about it. Because we know about it, we are responsible for acting according to it. Thus He says, “Herein lies responsibility. ” | 127. Chân sư DK đã cho chúng ta biết về một định luật. Giờ đây chúng ta đã biết về định luật ấy. Vì đã biết, chúng ta có trách nhiệm hành động theo định luật ấy. Do đó, Ngài nói: “Chính trong đó có trách nhiệm.” |
128. Our education proceeds: “The clue to supply is personality harmlessness and the dedication of all individual resources to the service of the Great Ones, without restraint and spontaneously. ” All spiritual workers naturally want to work effectively and to have enough resources (money, assistance, etc. ) to do so. Now the clue to supply is being clearly delineated. | 128. Việc giáo dục chúng ta tiếp tục: “Chìa khóa của nguồn cung ứng là tính vô tổn hại của phàm ngã và sự hiến dâng mọi nguồn lực cá nhân để phụng sự Các Đấng Cao Cả, không giữ lại và một cách tự phát.” Tất cả những người hoạt động tinh thần đương nhiên đều muốn làm việc hiệu quả và có đủ nguồn lực như tiền bạc, sự trợ giúp, v.v. để làm được điều đó. Giờ đây, chìa khóa của nguồn cung ứng đang được nêu rõ. |
129. The requirements are easy to understand, so it seems, but difficult to carry out. A really thorough pondering on the nature of harmlessness is required of us at the outset; harmlessness is not what it often seems. Such pondering must be followed by an ability to assess our resources and to give them all, in the right way, of course—not holding anything back and giving spontaneously (without the long delay caused by personal conflicts over whether to give or not to give). | 129. Những yêu cầu này có vẻ dễ hiểu, nhưng khó thực hiện. Ngay từ đầu, chúng ta cần suy ngẫm thật thấu đáo về bản chất của tính vô tổn hại; tính vô tổn hại không phải là điều người ta thường nghĩ. Sau sự suy ngẫm ấy, chúng ta phải có khả năng đánh giá các nguồn lực của mình và cho đi tất cả, dĩ nhiên theo cách đúng đắn—không giữ lại điều gì và cho đi một cách tự phát, không trì hoãn lâu do những giằng co cá nhân về việc nên cho hay không nên cho. |
130. Again the Master addresses us directly as “you”. We are to try to live harmlessly in thought, word and deed, holding back nothing from the angle of thought, emotion, physical energy or time (and we are to release all this happily). It is not expected that the achievement of true harmlessness will be an immediate accomplishment, but the effort must be there. As well, we are to assess all the many things that can rightfully be given (from all dimensions of our being), and then, rightly, to give. One cannot give in such a way as to take that which may not be rightfully taken; therefore, karmic obligations must be understood and respected. Another way to say this is that “one cannot rob Peter to pay Paul”. | 130. Một lần nữa, Chân sư trực tiếp gọi chúng ta là “các bạn”. Chúng ta phải cố gắng sống vô tổn hại trong tư tưởng, lời nói và hành động, không giữ lại điều gì về tư tưởng, cảm xúc, năng lượng hồng trần hay thời gian, và chúng ta phải trao tất cả những điều này một cách vui vẻ. Không ai kỳ vọng rằng tính vô tổn hại đích thực sẽ đạt được ngay tức khắc, nhưng phải có sự nỗ lực. Đồng thời, chúng ta phải đánh giá tất cả những gì có thể cho đi một cách chính đáng, từ mọi chiều kích của con người mình, rồi cho đi một cách đúng đắn. Không thể cho đi theo cách phải lấy đi những gì mình không có quyền lấy; vì vậy, phải thấu hiểu và tôn trọng các bổn phận nghiệp quả. Một cách diễn đạt khác là “không thể cướp của người này để trả cho người kia”. |
131. The ideal is here enunciated, and it is a beautiful idea. We should return to this section over and again, since conformity to its requirements will guide us to spiritual success. | 131. Lý tưởng được nêu ra ở đây, và đó là một ý tưởng đẹp. Chúng ta nên trở lại phần này nhiều lần, vì việc tuân theo các yêu cầu của nó sẽ dẫn chúng ta đến thành công về tinh thần. |
The time will, therefore, surely come when you will, as individuals and as part of a Master’s group, subordinate your [693] personal lives to the need of humanity and to the intention of the Master. You will be and not struggle so hard to be; you will give and not fight constantly the tendency not to give; you will forget your physical bodies and not give so much attention to them (and the result will be better health); you will think and not live so deeply in the world of feeling; you will sanely and wisely and as a normal procedure put the work of the Master and of service first. | Vì vậy, chắc chắn sẽ đến lúc các bạn, với tư cách cá nhân và thành viên nhóm của một Chân sư, đặt đời sống [693] cá nhân dưới nhu cầu của nhân loại và ý định của Chân sư. Các bạn sẽ hiện hữu như vậy mà không phải vất vả đấu tranh để trở nên như vậy; các bạn sẽ cho đi mà không phải liên tục chống lại khuynh hướng không muốn cho; các bạn sẽ quên thể xác của mình và không quá chú ý đến nó (kết quả sẽ là sức khỏe tốt hơn); các bạn sẽ suy nghĩ và không sống quá sâu trong thế giới cảm xúc; các bạn sẽ đặt công việc của Chân sư và sự phụng sự lên hàng đầu một cách hợp lý, minh triết và như một lẽ thông thường. |
132. DK envisions a future of greater freedom for His chelas. That freedom is based upon the subordination of their “personal lives to the need of humanity and to the intention of the Master. ” | 132. Chân sư DK hình dung một tương lai tự do hơn cho các đệ tử của Ngài. Sự tự do ấy dựa trên việc họ đặt “đời sống cá nhân dưới nhu cầu của nhân loại và chủ đích của Chân sư.” |
133. We are studying the universe as a great Hierarchy, and our personal/individual lives must be organized in a hierarchical manner. The personality and all its concerns must be subordinated to the soul and its wider life, love and wisdom. | 133. Chúng ta đang nghiên cứu vũ trụ như một hệ thống thứ bậc vĩ đại, và đời sống cá nhân của chúng ta phải được tổ chức theo thứ bậc. Phàm ngã cùng mọi mối quan tâm của nó phải được đặt dưới linh hồn cùng sự sống, tình thương và minh triết rộng lớn hơn của linh hồn. |
134. In the future, we as disciples will learn to be; we will give freely; we will drop our preoccupation with our physical natures and our health will improve; we will think rather than being immersed so much in feeling; we will, finally, put the work of the Master and of service first, and we will do so not as an enforced discipline, but as the wise and normal procedure of our daily living. | 134. Trong tương lai, với tư cách đệ tử, chúng ta sẽ học cách hiện hữu; chúng ta sẽ cho đi rộng rãi; chúng ta sẽ thôi bận tâm về bản chất hồng trần của mình và sức khỏe sẽ cải thiện; chúng ta sẽ suy nghĩ thay vì đắm chìm quá nhiều trong cảm xúc; cuối cùng, chúng ta sẽ đặt công việc của Chân sư cùng công việc phụng sự lên hàng đầu, và chúng ta sẽ làm thế như một cách sống minh triết và bình thường hằng ngày, chứ không phải như một kỷ luật cưỡng ép. |
135. It is useful to know that which will eventuate—however long it may take. Such knowledge inspires us to get on with the task and achieve sooner rather than later. | 135. Biết được điều sẽ xảy đến là hữu ích, dù phải mất bao lâu đi nữa. Sự hiểu biết ấy truyền cảm hứng để chúng ta tiếp tục nhiệm vụ và sớm đạt thành tựu. |
136. The principles are all so clear, but the resistance is strong; it has been so long in the making. We can see why Master DK regards us as under the sway of inertia. | 136. Các nguyên tắc đều rất rõ ràng, nhưng sức kháng cự lại mạnh mẽ; sức kháng cự ấy đã hình thành từ rất lâu. Chúng ta có thể thấy vì sao Chân sư DK xem chúng ta là đang chịu sự chi phối của tính trì trệ. |
What is that work? To provide a working intelligent and consecrated group of servers through whom hierarchical plans can be carried forward and to demonstrate, upon the physical plane, a focal point of spiritual energy. This can then be employed by the Hierarchy to help humanity everywhere, particularly in this time of crisis. The plans of the Hierarchy, as they embody the will of Shamballa, can be and are carried out; the process, however, is either a conscious one or an unconscious mass response to impression. Among the disciples of the world, the response and subsequent activity is a conscious one and leads to intelligent undertakings. | Công việc ấy là gì? Đó là tạo dựng một nhóm người phụng sự hoạt động thông minh và thánh hiến, qua đó có thể xúc tiến các kế hoạch của Thánh đoàn và biểu hiện một tiêu điểm năng lượng tinh thần trên cõi hồng trần. Khi ấy, Thánh đoàn có thể sử dụng tiêu điểm này để trợ giúp nhân loại khắp nơi, đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng này. Các kế hoạch của Thánh đoàn, khi thể hiện ý chí của Shamballa, có thể và đang được thực hiện; tuy nhiên, tiến trình ấy hoặc diễn ra có ý thức, hoặc là sự đáp ứng vô thức của quần chúng với ấn tượng. Trong hàng ngũ đệ tử thế giới, sự đáp ứng và hoạt động tiếp theo đều có ý thức và dẫn đến những công việc thông minh. |
137. We are in a section in which the Master is summarizing certain essential points. | 137. Chúng ta đang ở phần Chân sư tổng kết một số điểm cốt yếu. |
138. What really is the Master’s work? He is looking for groups through whom hierarchical energy and plans can be expressed. He is looking for focal points of spiritual energy. | 138. Công việc thực sự của Chân sư là gì? Ngài đang tìm kiếm những nhóm có thể biểu lộ năng lượng và các kế hoạch của Thánh đoàn. Ngài đang tìm kiếm những tiêu điểm năng lượng tinh thần. |
139. The Hierarchy is seeking ‘group vehicles’ through whom They can work, pouring Their energy forth for a needy world. | 139. Thánh đoàn đang tìm kiếm ‘những vận cụ nhóm’ để Các Ngài có thể hoạt động qua đó, tuôn đổ năng lượng của Các Ngài cho một thế giới đang cần trợ giúp. |
140. Master DK is looking for conscious cooperators who can work in group formation. The Plans of Shamballa through Hierarchy will, indeed, materialize, but will this materialization be sooner or later; will it be with the aid of the conscious cooperation of those who should be willing to cooperate, or will it be through the slower method of mass impression? One way or the other, the Will of God will be done. Hierarchy naturally seeks for it to be done as rapidly, harmoniously and beautifully as possible, with the minimum of unnecessary pain. | 140. Chân sư DK đang tìm kiếm những người cộng tác có ý thức, có thể làm việc trong đội hình nhóm. Các Thiên Cơ của Shamballa thông qua Thánh đoàn sẽ thực sự hiện hình, nhưng sự hiện hình này sẽ đến sớm hay muộn; sẽ nhờ sự hợp tác có ý thức của những người lẽ ra phải sẵn lòng hợp tác, hay sẽ qua phương pháp chậm hơn là tạo ấn tượng lên quần chúng? Bằng cách này hay cách khác, Ý Chí của Thượng Đế sẽ được thực hiện. Đương nhiên, Thánh đoàn mong điều ấy được thực hiện nhanh chóng, hài hòa và tốt đẹp nhất có thể, với ít đau khổ không cần thiết nhất. |
141. Disciples in the world are obliged to respond consciously to Shamballic Will (to the extent they can) and to hierarchical plans as they reflect that greater Will. | 141. Các đệ tử trên thế giới có bổn phận đáp ứng có ý thức với Ý Chí của Shamballa trong khả năng của mình, và với các kế hoạch của Thánh đoàn khi những kế hoạch ấy phản ánh Ý Chí lớn lao hơn đó. |
142. A great experiment is underway, and disciples are being welded into the ranks of Hierarchy somewhat ahead of schedule. The Masters are trying to work directly with disciples—not only through Their initiates. The opportunity is intense. Can we rise to the occasion? | 142. Một cuộc thử nghiệm lớn đang diễn ra, và các đệ tử đang được gắn kết vào hàng ngũ Thánh đoàn sớm hơn dự kiến đôi chút. Các Chân sư đang cố gắng làm việc trực tiếp với các đệ tử, chứ không chỉ thông qua những điểm đạo đồ của Các Ngài. Cơ hội này đòi hỏi rất cao. Chúng ta có thể vươn lên đáp ứng thời cơ này chăng? |
The task of the Master is to evoke from His disciples such a depth of consecrated love and such a realisation of today’s opportunity that the personality aspects of their lives will fade out in their consciousness and their main preoccupation will be: What must be my service at this time? What are the non-essential things in my life to which I should pay no attention? What is the task to be done? Who are the people I can help? Which aspects of the Master’s work should I endeavour to give the most help at this time? These questions must all meet with a balanced, intelligent and non-fanatical response and answer. | Nhiệm vụ của Chân sư là khơi dậy nơi các đệ tử của Ngài một tình thương thánh hiến sâu sắc và sự nhận biết cơ hội ngày nay đến mức những phương diện phàm ngã trong đời sống họ mờ đi trong tâm thức, và mối quan tâm chủ yếu của họ sẽ là: Lúc này tôi phải phụng sự điều gì? Những điều không thiết yếu nào trong đời sống mà tôi không nên chú ý? Nhiệm vụ cần làm là gì? Tôi có thể giúp đỡ những ai? Lúc này tôi nên cố gắng trợ giúp nhiều nhất cho những phương diện nào trong công việc của Chân sư? Tất cả những câu hỏi này phải được đáp ứng và trả lời một cách quân bình, thông minh và không cuồng tín. |
143. It is impossible to misunderstand the import of this final paragraph. Required of us are a deep and consecrated love and a realization of today’s unparalleled opportunities. | 143. Không thể hiểu lầm ý nghĩa của đoạn cuối này. Chúng ta cần có một tình thương sâu sắc và thánh hiến, cùng sự nhận biết về những cơ hội vô song của ngày hôm nay. |
144. If we love enough and if we vividly realize the uniqueness of the presented opportunity, we will submerge our personality lives in the need of the hour—humanity’s need and the need of our planet. | 144. Nếu chúng ta yêu thương đủ và nhận ra thật sống động tính độc nhất của cơ hội đang mở ra, chúng ta sẽ hòa tan đời sống phàm ngã của mình vào nhu cầu của thời điểm này—nhu cầu của nhân loại và nhu cầu của hành tinh chúng ta. |
145. The five questions given are clear enough, and we should not evade the opportunity of answer them. I would recommend that each of us stops now, and addresses each of the questions. The matter can be handled in five minutes, at least for the first superficial pass. Much pondering of each question will be needed to achieve greater depth. | 145. Năm câu hỏi được nêu ra đã đủ rõ, và chúng ta không nên né tránh cơ hội trả lời chúng. Tôi đề nghị mỗi người chúng ta dừng lại ngay lúc này và lần lượt xem xét từng câu hỏi. Có thể dành năm phút cho việc này, ít nhất là cho lượt xem xét sơ bộ đầu tiên. Để đi sâu hơn, chúng ta sẽ cần suy ngẫm nhiều về từng câu hỏi. |
146. DK cautions us: our response is to be “balanced, intelligent and non-fanatical”. We are to demonstrate the intelligent, loving realism of a true disciple. | 146. Chân sư DK nhắc nhở chúng ta: sự đáp ứng của chúng ta phải “quân bình, thông minh và không cuồng tín”. Chúng ta phải thể hiện tinh thần thực tế thông minh và đầy tình thương của một đệ tử chân chính. |
147. These same five questions can be discussed in a group context. To do so will promote the kind of group consciousness Master DK is seeking to see us develop. | 147. Cũng có thể thảo luận năm câu hỏi này trong bối cảnh nhóm. Làm như vậy sẽ thúc đẩy loại tâm thức nhóm mà Chân sư DK mong thấy chúng ta phát triển. |
148. Let us do all we can to fulfill the evident requirements. “Herein lies responsibility. ” | 148. Chúng ta hãy làm hết khả năng để đáp ứng những yêu cầu đã rõ. “Chính trong đó có trách nhiệm.” |
With Love and Many Blessings to All, | Với Tình thương và Nhiều Phúc lành gửi đến Tất cả, |
Michael with the cooperation of all Co-workers | Michael cùng sự hợp tác của toàn thể các Cộng sự |