DINA I · Bình giảng 20
Stage V. The Chela within the Aura. | Giai đoạn V. Đệ tử trong hào quang. |
The definition, as given earlier by me, runs as follows: | Định nghĩa mà Tôi đã đưa ra trước đây như sau: |
“The stage wherein he is permitted to know the method whereby he may set up … a call which will entitle him to an interview with the Master. At this stage, the disciple is called a chela within the aura.” | “Giai đoạn trong đó y được phép biết phương pháp để có thể thiết lập… một tiếng gọi cho y quyền được hội kiến Chân sư. Ở giai đoạn này, đệ tử được gọi là đệ tử trong hào quang.” |
1. We now continue analyzing the various Stages of Disciple. This paper will deal with the fifth stage: ‘Chela within the Aura’. | 1. Giờ đây, chúng ta tiếp tục phân tích các Giai đoạn Đệ tử khác nhau. Bài này sẽ bàn về giai đoạn thứ năm: ‘Đệ tử trong hào quang’. |
It is a stage of discipleship which is far in advance of that attained by most disciples, because it connotes almost complete at-one-ment between the disciple and the Master’s group. | Đây là một giai đoạn của địa vị đệ tử vượt xa giai đoạn mà phần lớn các đệ tử đã đạt tới, vì nó hàm ý sự hợp nhất gần như hoàn toàn giữa đệ tử và nhóm của Chân sư. |
1. This is a stage which definitely follows the third degree. | 1. Đây là một giai đoạn chắc chắn đến sau cấp điểm đạo thứ ba. |
He has already been accorded the privilege of invoking the attention of the Master in times of emergency and is sure of His response. | Y đã được ban đặc ân khẩn cầu sự chú ý của Chân sư trong những lúc khẩn cấp và chắc chắn về sự đáp ứng của Ngài. |
1. He is a trusted disciple/initiate and has been a chela on the thread. | 1. Y là một đệ tử/điểm đạo đồ đáng tin cậy và đã từng là đệ tử trên đường dây. |
He has advanced from the point when he was being trained to become an integrated and useful unit in the Ashram to where he is a trusted agent. His orientation is now fixed and though he is subjected to many tests and difficulties, these are increasingly concerned with the group life and condition and not with himself. | Y đã tiến từ chỗ được huấn luyện để trở thành một đơn vị tích hợp và hữu ích trong ashram đến chỗ là một tác nhân đáng tin cậy. Giờ đây định hướng của y đã vững chắc, và dù phải trải qua nhiều thử thách, khó khăn, những điều này ngày càng liên quan đến đời sống và tình trạng của nhóm hơn là đến bản thân y. |
1. Training upon the ‘Fixed Cross’has done its work. As his consciousness is centered in the soul rather than the personality he does not think of himself as an isolated individual. | 1. Việc huấn luyện trên ‘Thập Giá Cố Định’ đã phát huy tác dụng. Vì tâm thức của y tập trung trong linh hồn thay vì phàm ngã, y không xem mình là một cá nhân cô lập. |
I refer not here to the difficulties of any ashramic group or to those connected with any group affiliation the disciple may rightly hold upon the physical plane, but to his responsiveness to the group need of humanity. | Ở đây, Tôi không nói đến những khó khăn của bất kỳ nhóm ashram nào, hay những khó khăn gắn với bất kỳ mối liên kết nhóm nào mà đệ tử có thể duy trì một cách chính đáng trên cõi hồng trần, mà nói đến khả năng đáp ứng của y trước nhu cầu của nhân loại như một nhóm. |
1. Responsibilities to individuals will be upheld, but it is the group need of humanity which preoccupies his mind. | 1. Y vẫn chu toàn trách nhiệm đối với các cá nhân, nhưng chính nhu cầu tập thể của nhân loại mới chiếm trọn tâm trí y. |
Where this responsiveness exists, it means that the whole is of greater importance to him than the part. This in no way negates his ability to work with individuals or to give understanding love and compassion to those in his path of life who need it. But he has arrived at a sense of right proportion and of correct organisation of his life processes, trends and activities in time and space. He can then be depended upon always to substitute the good of the whole for individual good, as the personality might see it. | Khi có khả năng đáp ứng này, điều đó có nghĩa là toàn thể quan trọng đối với y hơn bộ phận. Điều này hoàn toàn không phủ nhận khả năng làm việc với từng cá nhân, hay trao tình thương thấu hiểu và lòng từ bi cho những người cần đến trên đường đời của y. Nhưng y đã đạt đến Ý thức về tỉ lệ đúng đắn và cách tổ chức đúng đắn các tiến trình sống, khuynh hướng và hoạt động của mình trong thời gian và không gian. Khi ấy, có thể tin cậy rằng y luôn đặt lợi ích của toàn thể lên trên lợi ích cá nhân theo cách nhìn của phàm ngã. |
1. This stage is not reached without much experience which reveals the limitations of the more individual and separative point of view. | 1. Không thể đạt tới giai đoạn này nếu thiếu nhiều trải nghiệm làm bộc lộ những giới hạn của quan điểm thiên về cá nhân và chia rẽ hơn. |
2. The personal point of view is no longer his; he does not see as the personality sees. | 2. Quan điểm cá nhân không còn là quan điểm của y; y không nhìn như phàm ngã nhìn. |
[750] | [750] |
The Master knows that in the chela who has reached this stage He has a dependable instrument and one who can be regarded as no longer a drag on the life of the group. | [750] Chân sư biết rằng nơi đệ tử đã đạt đến giai đoạn này, Ngài có một công cụ đáng tin cậy và một người có thể được xem là không còn gây trì kéo đời sống của nhóm. |
1. On our own level we all know what it is like to experience the ignorance and inexperience of others as a ‘drag’. Let us ponder the implications of the fact that it is only when we reach the stage of ‘Chela within the Aura’that we are no longer considered a drag upon the Ashram and the Master! There should be sobering thoughts. | 1. Ở cấp độ của mình, tất cả chúng ta đều biết cảm giác khi sự thiếu hiểu biết và thiếu kinh nghiệm của người khác trở thành một ‘trở lực’. Chúng ta hãy suy ngẫm những hàm ý của sự thật rằng chỉ khi đạt tới giai đoạn ‘Đệ tử trong hào quang’, chúng ta mới không còn bị xem là trở lực đối với ashram và Chân sư! Những ý nghĩ này hẳn sẽ khiến chúng ta tỉnh táo hơn. |
I have pointed out to you before this how difficult is the process of absorbing a new disciple into an Ashram; he has to be taught to advance gradually from the periphery of the group consciousness towards the centre. | Trước đây, Tôi đã chỉ cho các bạn thấy tiến trình tiếp nhận một đệ tử mới vào ashram khó khăn đến mức nào; y phải được dạy cách tiến dần từ ngoại vi của tâm thức nhóm về phía trung tâm. |
1. Let us note that there is no rushing into the Ashram, but only a gradual advance. This gradualness is enacted in some ancient ritual processes threatening a symbolic death should a candidate attempt to rush to the center of the ritual chamber. | 1. Chúng ta hãy lưu ý rằng không thể vội vã xông vào ashram, mà chỉ có thể tiến dần từng bước. Tính tuần tự này được thể hiện trong một số tiến trình nghi lễ cổ xưa bằng lời đe dọa về một cái chết mang tính biểu tượng nếu ứng viên cố lao nhanh tới trung tâm của gian phòng nghi lễ. |
Each step forward necessitates care on the part of the Master in order to see that the Ashram is preserved from all disruptive activity. | Mỗi bước tiến đều đòi hỏi Chân sư phải thận trọng để bảo đảm ashram được giữ gìn trước mọi hoạt động gây xáo trộn. |
1. Disruption compromises all group work. The group and its responsibility to the Plan are of more importance than the condition of the neophyte. This he must learn. | 1. Sự xáo trộn gây tổn hại cho mọi công việc nhóm. Nhóm và trách nhiệm của nhóm đối với Thiên Cơ quan trọng hơn tình trạng của người sơ cơ. Y phải học điều này. |
It is only when the chela has achieved “occult serenity” that he can bepermitted to focus himself permanently within the group aura. This happens when he becomes conscious of the peculiar and specific vibration of the Master’s aura. Hence, as you can well see, the need for serenity. | Chỉ khi đệ tử đạt được “sự tĩnh lặng huyền bí”, y mới được phép tập trung thường trực bên trong hào quang của nhóm. Điều này xảy ra khi y nhận biết rung động đặc thù và riêng biệt của hào quang Chân sư. Do đó, như các bạn có thể thấy rõ, sự tĩnh lặng là cần thiết. |
1. Serenity is enjoined upon us early in the process. | 1. Ngay từ đầu tiến trình, chúng ta đã được yêu cầu giữ sự tĩnh lặng. |
2. What is serenity? It is an attitude based upon dispassion and identification as a soul rather than as a personality. The man is no longer embroiled in the emotional dimension of life. | 2. Sự tĩnh lặng là gì? Đó là một thái độ dựa trên sự không vướng mắc và sự đồng hoá mình với linh hồn thay vì phàm ngã. Con người không còn bị cuốn vào chiều kích cảm xúc của đời sống. |
3. His life is no longer subject to outer disturbances, and even when disturbances do arise (as they will inevitably) such impacts do not disrupt his focus with the group aura. | 3. Đời sống của y không còn chịu sự chi phối của những xáo động bên ngoài, và ngay cả khi những xáo động xuất hiện (như tất yếu sẽ xảy ra), những tác động ấy cũng không làm gián đoạn sự tập trung của y trong hào quang nhóm. |
4. Perhaps the life of such a disciple/initiate would appear to many far more stressful than that of the average man or even the average disciple, but he is so identified with the ‘peculiar and specific vibration of the Master’s aura’that he is unfazed by impacts which others would find very troubling. | 4. Có lẽ đối với nhiều người, đời sống của một đệ tử/điểm đạo đồ như thế có vẻ căng thẳng hơn nhiều so với đời sống của người bình thường, hay ngay cả của đệ tử bình thường, nhưng y đồng hoá sâu sắc với ‘rung động đặc thù và riêng biệt của hào quang Chân sư’ đến mức không nao núng trước những tác động mà người khác sẽ thấy rất đáng lo ngại. |
5. Of course it is interesting that he must be ‘permitted to focus himself permanently within the group aura’. [Italics MDR] One would think that focus is in the hands of the disciple/initiate. But it is possible that such an intended focus could be deflected by those who protect the Ashram, and even by the energy-condition of the Ashram’s aura itself. | 5. Dĩ nhiên, điều thú vị là y phải ‘được phép tập trung thường trực trong hào quang nhóm’. [MDR nhấn mạnh bằng chữ nghiêng] Người ta có thể nghĩ rằng sự tập trung nằm trong quyền chủ động của đệ tử/điểm đạo đồ. Nhưng có thể những vị bảo vệ ashram, và ngay cả chính trạng thái năng lượng của hào quang ashram, sẽ làm chệch hướng sự tập trung dự định ấy. |
6. A disturbed individual is not a fit ashramic member. All are subject to disturbance to one degree or another. As a disciple/initiate approaches this stage of discipleship, any such disturbance must be drastically reduced. | 6. Một cá nhân xáo động không phải là thành viên thích hợp của ashram. Tất cả đều chịu xáo động ở mức độ này hay mức độ khác. Khi một đệ tử/điểm đạo đồ tiến gần đến giai đoạn địa vị đệ tử này, mọi xáo động như thế phải giảm đi mạnh mẽ. |
I would point out that serenity and peace are not identical. Peace must ever be temporary and refers to the world of feeling and to conditions susceptible of disturbance. | Tôi muốn chỉ ra rằng sự tĩnh lặng và sự bình an không đồng nhất. Bình an luôn chỉ là tạm thời và liên quan đến thế giới cảm xúc cùng những tình trạng có thể bị xáo trộn. |
1. ‘Peace’as here used, is an astral condition. Shamballic Peace is something far other, and is based on a deep awareness of Synthesis. | 1. ‘Sự bình an’, theo cách dùng ở đây, là một trạng thái cảm dục. Sự Bình An của Shamballa là một điều khác xa, dựa trên nhận biết sâu sắc về sự Tổng Hợp. |
It is essential to progress and an inevitable happening that every step forward is marked by disturbances, by points of crisis and chaos, replaced later (when successfully handled) by periods of peace. | Điều thiết yếu đối với sự tiến bộ và cũng là một diễn biến tất yếu là mỗi bước tiến đều được đánh dấu bằng những xáo trộn, những điểm khủng hoảng và hỗn loạn, rồi sau đó, khi được xử lý thành công, chúng nhường chỗ cho những thời kỳ bình an. |
1. We should attend to this thought—real progress will bring disturbance, crisis and even chaos, eventually superseded the that astrally harmonious condition we call ‘peace’. | 1. Chúng ta nên chú ý đến ý nghĩ này—sự tiến bộ thực sự sẽ mang đến xáo động, khủng hoảng và thậm chí hỗn loạn, cuối cùng nhường chỗ cho trạng thái hài hòa về cảm dục mà chúng ta gọi là ‘sự bình an’. |
But this peace is not serenity and a chela is only permitted to dwell within the Master’s aura when serenity has been substituted for peace. | Nhưng sự bình an này không phải là sự tĩnh lặng, và một đệ tử chỉ được phép lưu lại trong hào quang của Chân sư khi sự tĩnh lặng đã thay thế sự bình an. |
1. This is one the key sentences in the study of the Six Stages of Discipleship. Peace is subject to disturbance; serenity is not. | 1. Đây là một trong những câu then chốt khi nghiên cứu Sáu Giai đoạn Địa vị Đệ tử. Sự bình an có thể bị xáo động; sự tĩnh lặng thì không. |
Serenity signifies that deep calm, devoid of emotional disturbance which distinguishes the disciple who is focussed in a “mind held steady in the light.” The surface of his life may be (from the worldly angle) in a state of violent flux. All that he cherishes and holds dear in the three worlds may be crashing around him. But in spite of all, he stands firm, poised in soul consciousness and the depths of his life remain undisturbed. | Tĩnh lặng biểu thị sự bình thản sâu xa, không có xáo trộn cảm xúc, vốn là đặc trưng của đệ tử đang tập trung trong một “thể trí được giữ vững trong ánh sáng”. Bề mặt cuộc sống của y, nhìn từ góc độ thế gian, có thể đang biến động dữ dội. Tất cả những gì y trân trọng và yêu quý trong ba cõi giới có thể đang sụp đổ quanh y. Nhưng bất chấp tất cả, y vẫn đứng vững, quân bình trong tâm thức linh hồn, và chiều sâu cuộc sống của y vẫn không xao động. |
1. We can see that an unalterable point of tension is required for a sustained serenity. | 1. Chúng ta có thể thấy rằng để duy trì sự tĩnh lặng, cần có một điểm tập trung nhất tâm không thay đổi. |
2. The calm of the disciple/initiate is not superficial; it is deep and suggests a definite mental polarization. The light of the soul is his familiar focus. His thought process no longer occurs outside the ‘arena-of-light’. | 2. Sự điềm tĩnh của đệ tử/điểm đạo đồ không hời hợt; nó sâu xa và cho thấy một sự phân cực trí tuệ rõ rệt. Ánh sáng của linh hồn là tiêu điểm quen thuộc của y. Tiến trình tư tưởng của y không còn diễn ra bên ngoài ‘phạm vi ánh sáng’. |
3. A true and stable sense of spiritual values has been so firmly established that it cannot be shaken. | 3. Một ý thức chân thực và ổn định về các giá trị tinh thần đã được thiết lập vững chắc đến mức không gì có thể lay chuyển. |
4. Is this true of ourselves? And if it is not true, what prevents it from being true? | 4. Điều này có đúng với chính chúng ta không? Và nếu chưa đúng, điều gì ngăn cản nó trở thành sự thật? |
This is not insensitivity or a forced auto-suggestion, neither is it a capacity to exteriorise the consciousness in such a manner that individual events and happenings are ignored. | Đây không phải là sự vô cảm hay một sự tự ám thị gượng ép, cũng không phải là khả năng đưa tâm thức ra ngoài theo cách bỏ qua những biến cố và sự việc riêng lẻ. |
1. The Tibetan, through long experience, knows the easier substitutes for serenity—substitutes which might mistakenly convince the individual that he has achieved serenity when, in fact, he has not. | 1. Qua kinh nghiệm lâu dài, Chân sư Tây Tạng biết những cách thay thế dễ dàng hơn cho sự tĩnh lặng—những cách có thể khiến cá nhân lầm tưởng mình đã đạt được sự tĩnh lặng, trong khi thực tế chưa đạt được. |
1. Insensitivity, wrongly shutting out environmental impacts | 1. Sự vô cảm, ngăn chặn một cách sai lầm những tác động từ môi trường |
2. Forced auto-suggestion, by means of which one convinces oneself that one is serene through the hypnotic effect of repetition | 2. Sự tự ám thị cưỡng ép, qua đó người ta tự thuyết phục mình rằng mình tĩnh lặng nhờ tác dụng thôi miên của sự lặp lại |
3. A capacity to exteriorize the consciousness (i.e., to become so preoccupied with abstraction that one does not even register ‘disturbing’ events.) | 3. Khả năng đưa tâm thức ra bên ngoài (nghĩa là mải mê với sự trừu xuất đến mức thậm chí không ghi nhận những sự kiện ‘gây xáo động’.) |
2. The point here is that to know what a thing is, one must know what it is not. | 2. Điểm cần nói ở đây là để biết một điều là gì, người ta phải biết điều ấy không phải là gì. |
It is intensity of feeling transmuted into focussed understanding. | Đó là cường độ cảm xúc được chuyển hoá thành sự thấu hiểu tập trung. |
1. This is another of those memorable powerful statements. | 1. Đây là một phát biểu mạnh mẽ và đáng ghi nhớ nữa. |
2. Is it not interesting that there is no way to serenity except throughintensity of feeling? Thus, it is only those who can feel intensely and deeply, who can truly be serene. They have plumbed the depths of feeling, and found that there is a deeper reality substanding it. | 2. Chẳng phải thú vị sao khi không có con đường nào đến sự tĩnh lặng ngoài việc đi qua cường độ cảm xúc? Vì thế, chỉ những ai có thể cảm nhận mãnh liệt và sâu sắc mới có thể thực sự tĩnh lặng. Họ đã thăm dò tận chiều sâu của cảm xúc và nhận thấy có một thực tại sâu xa hơn làm nền tảng cho nó. |
3. If feeling is sufficiently intense, and yet the consciousness of the soul-illumined mind is also present, then the higher correspondence to feeling (the intuition of the buddhic plane) may be accessed, and one will be forever focussed ‘beyond’ and ‘within’ the usually disturbing fluctuations of the World of Becoming. | 3. Nếu cảm xúc đủ mãnh liệt, đồng thời tâm thức của thể trí được linh hồn soi sáng cũng hiện diện, thì có thể tiếp cận sự tương ứng cao hơn của cảm xúc (trực giác của cõi Bồ đề), và người ta sẽ mãi tập trung ở ‘bên kia’ và ‘bên trong’ những biến động thường gây xáo động của Thế Giới Đang Trở Thành. |
4. In the achievement of serenity, then, one does not run away from the causes of disturbance, but feels into them deeply and finds the abiding resolvent of soul consciousness, and a deep, intuitive heart understanding. | 4. Vì vậy, khi đạt được sự tĩnh lặng, người ta không chạy trốn những nguyên nhân gây xáo động, mà cảm nhận chúng thật sâu sắc và tìm thấy sức hóa giải bền vững của tâm thức linh hồn, cùng sự thấu hiểu sâu xa và trực giác của trái tim. |
5. In the achievement of serenity, the heart is definitely active. All astral desires have subsided and the ‘desires’ of the soul/triad have replaced them. | 5. Khi đạt được sự tĩnh lặng, trái tim rõ ràng đang hoạt động. Mọi dục vọng cảm dục đã lắng xuống, và những ‘ước muốn’ của linh hồn/tam nguyên tinh thần đã thay thế chúng. |
When this has been attained, the chela has the right to live within the aura of the Master. | Khi đạt được điều này, đệ tử có quyền sống trong hào quang của Chân sư. |
1. The word is ‘right’. Progression through these Six Stages of Discipleship proceeds according to law and order. Rights are granted on the basis of quality achieved. | 1. Từ được dùng là ‘quyền’. Sự tiến bộ qua Sáu Giai đoạn Địa vị Đệ tử này diễn ra theo định luật và trật tự. Các quyền được ban trên cơ sở phẩm tính đã đạt được. |
2. To ‘live within the aura of the Master’is, in a sense, to be ‘built into the Temple’. For this condition, one must be truly fit. | 2. Theo một ý nghĩa nào đó, ‘sống trong hào quang của Chân sư’ là được ‘xây vào Đền Thờ’. Muốn đạt tới trạng thái này, người ta phải thực sự xứng hợp. |
There is nothing now in him which will require the Master to sidetrack His attention from vital efforts to the unimportant task of helping a disciple. | Giờ đây, nơi y không còn điều gì buộc Chân sư phải chuyển sự chú ý khỏi những nỗ lực thiết yếu sang nhiệm vụ không quan trọng là trợ giúp một đệ tử. |
1. We are helped to see things in proportion. We do not know the true nature of the Master’s duties and responsibilities. We only know that they are ‘vital efforts’. By comparison, no matter how important we may think our activities to be, relatively, they are ‘unimportant’. This is a decentralizing thought, it is not? | 1. Chúng ta được giúp để nhìn mọi việc đúng tỉ lệ. Chúng ta không biết bản chất thực sự của các bổn phận và trách nhiệm của Chân sư. Chúng ta chỉ biết đó là những ‘nỗ lực thiết yếu’. So với những điều ấy, dù chúng ta nghĩ các hoạt động của mình quan trọng đến đâu, xét một cách tương đối, chúng vẫn ‘không quan trọng’. Đây là một ý nghĩ giúp chúng ta phi tập trung vào bản thân, phải không? |
[751] | [751] |
An accepted disciple, therefore, advances—if I may so express it—through the medium of three vibratory realisations: | [751] Vì vậy, nếu Tôi có thể diễn đạt như thế, một đệ tử được chấp nhận tiến bước thông qua ba sự chứng nghiệm rung động: |
1. Another important concept is presented: advancement through vibratory realizations. | 1. Một khái niệm quan trọng khác được trình bày: sự tiến bộ thông qua những chứng nghiệm về rung động. |
2. We are now speaking of the advancement of an ‘accepted disciple’. These are the modes of progress which open before one who has achieved that stage which allows him to contact the periphery of a Master’s Ashram. | 2. Giờ đây, chúng ta đang nói về sự tiến bộ của một ‘đệ tử được chấp nhận’. Đây là những phương thức tiến bộ mở ra trước người đã đạt tới giai đoạn cho phép y tiếp xúc với ngoại vi ashram của một Chân sư. |
3. He reacts to the vibration, the note or the quality of an Ashram, according to his ray type. The periphery of a Master’s sphere of group control is contacted by him and he becomes an accepted disciple in full waking consciousness. | 3. Y phản ứng với rung động, âm điệu hoặc phẩm tính của một ashram tùy theo loại cung của mình. Y tiếp xúc với ngoại vi phạm vi kiểm soát nhóm của một Chân sư và trở thành đệ tử được chấp nhận trong tâm thức tỉnh thức đầy đủ. |
4. The question of a disciple’s ray is of utmost importance when it comes to ‘finding’ the correct Ashram and working properly within it. A number of disciples, uncertain of their soul ray (yes, it is more than possible) are, as it were, ‘barking up the wrong tree’. | 4. Vấn đề cung của một đệ tử có tầm quan trọng tối cao khi cần ‘tìm thấy’ đúng ashram và làm việc đúng đắn trong đó. Một số đệ tử chưa chắc chắn về cung linh hồn của mình (đúng vậy, điều này hoàn toàn có thể xảy ra) đang, có thể nói, ‘tìm sai chỗ’. |
5. Not all accepted disciples know they are accepted disciples. They may suspect it is the case, but true knowledge and, reliable confirmationlacks. Of the five experiences which reveal the possibility of having reached the stage of accepted discipleship, the two higher are most confirmatory (an interview in the Master’s Ashram, being the mostconfirming) | 5. Không phải tất cả các đệ tử được chấp nhận đều biết mình là đệ tử được chấp nhận. Họ có thể ngờ rằng đúng là như vậy, nhưng sự hiểu biết thực sự và, sự xác nhận đáng tin cậy vẫn còn thiếu. Trong năm trải nghiệm cho thấy khả năng đã đạt tới giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận, hai trải nghiệm cao hơn có sức xác nhận rõ nhất (một cuộc diện kiến trong ashram của Chân sư là sự xác nhận mạnh nhất) |
The Master is aware of his presence upon the outer fringe of His consciousness; his fellow disciples are also aware of another point of light within the Ashram, largely because of the effort they have to make to offset the new chela’s personality reactions to the new mode of life, to the effects wrought into his consciousness by his penetration into the world of meaning and to the out-surging of his devotion to the Master. | Chân sư nhận biết sự hiện diện của y ở rìa ngoài tâm thức của Ngài; các đệ tử đồng môn cũng nhận biết một điểm sáng khác trong ashram, phần lớn là vì họ phải nỗ lực hóa giải những phản ứng phàm ngã của đệ tử mới trước lối sống mới, trước những tác động lên tâm thức y do việc thâm nhập vào Thế giới của ý nghĩa, và trước lòng sùng kính Chân sư đang trào dâng nơi y. |
1. These instructions, we were told, tell us more of the Master’s perspective and the perspective of the Ashram than they do of the perspective of the entering disciple. | 1. Chúng ta đã được cho biết rằng những huấn thị này nói với chúng ta về góc nhìn của Chân sư và góc nhìn của ashram nhiều hơn là về góc nhìn của người đệ tử mới gia nhập. |
2. The type of awareness here discussed belongs to the Master and to the other members of the Ashram. The newly accepted disciple is a disturbance—to the Ashram. | 2. Loại nhận biết được bàn đến ở đây thuộc về Chân sư và các thành viên khác của ashram. Người đệ tử mới được chấp nhận là một nguồn xáo trộn—đối với ashram. |
3. As he enters the Ashram, even if only on its periphery, the following results are likely to emerge, and efforts are made to offset the personality reactions of the newly entering chela as he | 3. Khi y gia nhập ashram, dù chỉ ở ngoại vi, những kết quả sau đây có thể xuất hiện, và các nỗ lực được thực hiện để hóa giải những phản ứng phàm ngã của người đệ tử mới gia nhập khi y |
1. reacts to new modes of life. | 1. phản ứng với những lối sống mới. |
2. reacts to the effects that are wrought out in his consciousness by his penetration into the world of meaning. | 2. phản ứng với những tác động xuất hiện trong tâm thức y khi y thâm nhập vào Thế giới của ý nghĩa. |
3. reacts to this new life through the out-surging of his devotion to the Master. | 3. phản ứng với đời sống mới này qua sự tuôn trào lòng sùng kính của y dành cho Chân sư. |
4. All of these require balancing to prevent an unacceptable disturbance to the Ashram. | 4. Tất cả những điều này đều cần được cân bằng để ngăn ngừa sự xáo trộn không thể chấp nhận đối với ashram. |
4. Once again we see the principle at work: advancement in inseparable from initial destabilization. | 4. Một lần nữa, chúng ta thấy nguyên khí này đang tác động: sự tiến bộ không thể tách rời tình trạng mất ổn định ban đầu. |
It becomes the task of more advanced chelas to protect the Master from the violent reactions of the new chela and to stand between Him and the neophyte. | Bảo vệ Chân sư trước những phản ứng mãnh liệt của đệ tử mới và đứng giữa Ngài với người sơ cơ trở thành nhiệm vụ của các đệ tử tiến bộ hơn. |
1. We might say that the Master does not really need protection, but the work He is doing is vital and therefore must remain undisturbed. The Master surely knows how to protect himself, but must not sidetrack His attention in order to deal with matters which other ashramic members can handle. | 1. Chúng ta có thể nói rằng Chân sư không thực sự cần được bảo vệ, nhưng công việc Ngài đang làm có tầm quan trọng thiết yếu và vì thế phải luôn tránh bị xáo trộn. Chắc chắn Chân sư biết cách tự bảo vệ mình, nhưng Ngài không được chuyển hướng sự chú ý để xử lý những việc mà các thành viên khác của ashram có thể giải quyết. |
2. We are being taught of the necessity of learning how to handle new energies. At first, our response is rather crude, unrefined, even ‘violent’. | 2. Chúng ta đang được dạy về sự cần thiết phải học cách xử lý những năng lượng mới. Lúc đầu, sự đáp ứng của chúng ta khá thô sơ, chưa tinh luyện, thậm chí ‘dữ dội’. |
Some initiate-chela takes him in hand and acts as intermediary. The chela (as I have earlier pointed out) is in touch with the Master when, and only when, the Master so desires and it would be good and helpful to the entire group. | Một đệ tử đã là điểm đạo đồ nhận trách nhiệm hướng dẫn y và làm trung gian. Như Tôi đã chỉ ra trước đây, đệ tử tiếp xúc với Chân sư khi, và chỉ khi, Chân sư mong muốn như vậy và việc ấy có lợi, hữu ích cho toàn nhóm. |
1. Earlier, in the stage of ‘Chela in the Light’a higher disciple in the inner worlds undertook the guidance of the chela. Now it is an ‘initiate-chela’who undertakes the guidance of an accepted disciple. We note that for each grade of disciple, there is an appropriate and more experienced guide or intermediary. | 1. Trước đây, ở giai đoạn ‘Đệ tử trong Ánh sáng’, một đệ tử cấp cao hơn trong các cõi bên trong đã đảm nhận việc hướng dẫn người đệ tử. Giờ đây, một ‘đệ tử đã được điểm đạo’ đảm nhận việc hướng dẫn một đệ tử được chấp nhận. Chúng ta lưu ý rằng với mỗi cấp đệ tử đều có một người hướng dẫn hoặc trung gian thích hợp và giàu kinh nghiệm hơn. |
2. Probably, such guidance is well realized by the guided disciple on theinner planes but often poorly remembered in the brain consciousness. | 2. Có lẽ người đệ tử được hướng dẫn nhận biết rõ sự hướng dẫn ấy trên các cõibên trong, nhưng trong tâm thức bộ não, y thường chỉ nhớ được rất ít. |
3. The newly entered chela surely does not have constant access to the Master. This would be against the Law of Economy, and nothing of true value would be served. | 3. Chắc chắn người đệ tử mới gia nhập không thể tiếp cận Chân sư liên tục. Điều này sẽ đi ngược lại Định luật Tiết Kiệm và không đem lại điều gì có giá trị thực sự. |
4. Contact occurs only when group-good is involved, and it is the Master who determines the moment. | 4. Sự tiếp xúc chỉ diễn ra khi liên quan đến lợi ích của nhóm, và chính Chân sư quyết định thời điểm. |
5. Knowledge of ‘ashramic-realities’ will become increasingly important for disciples in the New Age. These matters may seem remote and arcane to some, but before long they will be rules of daily (and nightly) life. | 5. Sự hiểu biết về ‘những thực tại của ashram’ sẽ ngày càng quan trọng đối với các đệ tử trong Kỷ Nguyên Mới. Với một số người, những điều này có vẻ xa vời và bí ẩn, nhưng chẳng bao lâu nữa, chúng sẽ trở thành các quy luật của đời sống hằng ngày (và hằng đêm). |
6. He realises increasingly the nature and note of his Ashram and advances from the periphery into the sphere of influence of the Master and His group; | 6. Y ngày càng nhận biết bản chất và âm điệu của ashram mình và tiến từ ngoại vi vào phạm vi ảnh hưởng của Chân sư cùng nhóm của Ngài; |
7. We learn that to be on the periphery of an Ashram is to be only marginally within the ‘sphere of influence of the Master and His group’. | 7. Chúng ta hiểu rằng ở ngoại vi một ashram là chỉ vừa ở bên trong rìa của ‘phạm vi ảnh hưởng của Chân sư cùng nhóm của Ngài’. |
he then begins to participate more and more in the group life and is less and less interested in himself. | khi ấy, y bắt đầu tham gia ngày càng nhiều vào đời sống nhóm và ngày càng ít quan tâm đến bản thân. |
1. This is one of the great tests: just how interested is one in oneself? | 1. Đây là một trong những thử thách lớn: người ta thực sự quan tâm đến bản thân đến mức nào? |
2. As this type of work proceeds, there comes a time when the little self is no more seen. | 2. Khi công việc này tiếp diễn, sẽ đến lúc không còn thấy cái ngã nhỏ bé nữa. |
He becomes, consequently, a more valuable asset in the Ashram and is entrusted with specific duties and tasks for which he is individually responsible to the initiate-chela in charge of him. | Do đó, y trở thành một thành viên có giá trị hơn trong ashram và được giao những bổn phận, nhiệm vụ cụ thể mà y phải chịu trách nhiệm cá nhân trước người đệ tử điểm đạo đồ phụ trách mình. |
1. The less self-interest, the greater the possibility of being entrusted with specific ashramically-related duties. | 1. Càng ít quan tâm đến bản thân, khả năng được giao những bổn phận cụ thể liên quan đến ashram càng lớn. |
2. We note that he is responsible (in the carrying out of these duties) to the initiate-disciple who has him under supervision. He does not report directly to the Master. The nature of the assignment he receives would not warrant it. | 2. Chúng ta lưu ý rằng khi thực hiện những bổn phận này, y chịu trách nhiệm trước người đệ tử đã được điểm đạo giám sát mình. Y không báo cáo trực tiếp với Chân sư. Bản chất nhiệm vụ được giao không đòi hỏi điều đó. |
1. The Master begins to contact him with greater frequency and—because he is becoming decentralised and his own growth and development are of less and less importance to him than service for others—he is permitted to attract the Master’s attention when help is needed for the group, and thus becomes a chela on the thread. | Chân sư bắt đầu tiếp xúc với y thường xuyên hơn, và vì y đang phi tập trung vào bản thân, xem sự tăng trưởng và phát triển riêng ngày càng ít quan trọng hơn việc phụng sự người khác, y được phép thu hút sự chú ý của Chân sư khi nhóm cần trợ giúp, và như vậy trở thành một đệ tử trên đường dây. |
1. We see that in the last several sections of text, Master DK has been conducting a review of the stages of Accepted Discipleship, and now, Chela on the Thread. | 1. Chúng ta thấy rằng trong một số phần văn bản vừa qua, Chân sư DK đã ôn lại các giai đoạn Địa vị Đệ tử Được Chấp Nhận, và giờ đây là Đệ tử trên đường dây. |
2. The question is repeatedly asked: ‘Am I important to myself—my personal self?”Or is the work of the Ashram for humanity of greater importance.’There is no way for the disciple to avoid answering this question before the ‘bar of the soul’. | 2. Câu hỏi được đặt ra nhiều lần: ‘Tôi có quan trọng đối với chính mình—cái ngã cá nhân của tôi—không?’ ‘Hay công việc của ashram dành cho nhân loại quan trọng hơn?’ Người đệ tử không có cách nào tránh trả lời câu hỏi này trước ‘tòa phán xét của linh hồn’. |
The antahkarana is being rapidly built and the inflow of life from the Spiritual Triad increases slowly and regularly. | Antahkarana đang được xây dựng nhanh chóng, và dòng sự sống từ Tam Nguyên Tinh Thần chảy vào tăng lên chậm rãi, đều đặn. |
1. In the stage of Chela on the Thread, the antahkarana is being rapidly built. | 1. Ở giai đoạn Đệ tử trên đường dây, antahkarana đang được xây dựng nhanh chóng. |
2. DK speaks of the ‘inflow of life from the Spiritual Triad’. Do we recognize that inflow when it occurs? What are its distinguishing features? | 2. Chân sư DK nói về ‘dòng sự sống từ Tam Nguyên Tinh Thần chảy vào’. Chúng ta có nhận ra dòng chảy vào ấy khi nó diễn ra không? Những đặc điểm phân biệt của nó là gì? |
3. The word ‘realization’particularly relates to such inflow. | 3. Từ ‘chứng nghiệm’ đặc biệt liên quan đến dòng chảy vào như thế. |
He has reached a point where, upon the outer plane, he is gathering around him a sphere of influence as a result of his soul radiation, via the personality. | Y đã đạt đến một điểm mà trên cõi bên ngoài, y đang quy tụ quanh mình một phạm vi ảnh hưởng nhờ bức xạ linh hồn qua phàm ngã. |
1. The chela on the thread is gathering his group (perhaps members of his future Ashram). | 1. Đệ tử trên đường dây đang quy tụ nhóm của mình (có lẽ là những thành viên trong ashram tương lai của y). |
2. We note that this gathering occurs not only as a result of soul radiation, but as a result of soul radiation through the personality. The condition of the personality is, therefore, important even to a chela on the thread. | 2. Chúng ta lưu ý rằng sự quy tụ này diễn ra không chỉ do bức xạ của linh hồn, mà còn do bức xạ của linh hồn thông qua phàm ngã. Do đó, tình trạng của phàm ngã có tầm quan trọng ngay cả đối với một đệ tử trên đường dây. |
3. It must be reemphasized that it is unlikely for an individual to become a member of an Ashram unless he or she is connecting outwardly or inwardly to a number of people he/she is serving. | 3. Cần nhấn mạnh lại rằng một cá nhân khó có thể trở thành thành viên của một ashram nếu không kết nối, bên ngoài hoặc bên trong, với một số người mà mình đang phụng sự. |
It might be stated that no disciple becomes a chela on the thread until he has many people in the outer world who (on a lower turn of the spiral) are to him what he is to the Master—chelas [752] on the thread. | Có thể nói rằng không đệ tử nào trở thành đệ tử trên đường dây cho đến khi có nhiều người trong thế giới bên ngoài, ở một vòng xoắn ốc thấp hơn, có quan hệ với y như y có quan hệ với Chân sư—những đệ tử [752] trên đường dây. |
1. Well, here Master DK says it directly. Why should a Master offer immediate response in an emergency if the disciple is living unto himself alone? Spiritual emergencies involve the life of others in need—not the needs of the disciple, personally considered. | 1. Ở đây, Chân sư DK nói thẳng điều ấy. Tại sao một Chân sư lại phải đáp ứng tức thì trong một tình huống khẩn cấp nếu người đệ tử chỉ sống cho riêng mình? Những tình huống khẩn cấp về tinh thần liên quan đến cuộc sống của những người khác đang cần giúp đỡ—chứ không phải những nhu cầu riêng của người đệ tử. |
2. What is the meaning of the word ‘many’. Probably, it is deliberately left vague. We might summarize the idea that a chela on the thread is become increasingly influential for good in the outer world. | 2. Từ “nhiều” có nghĩa là gì? Có lẽ từ này được cố ý để không xác định rõ. Chúng ta có thể tóm lược ý tưởng rằng một đệ tử trên đường dây đang ngày càng <i>tạo ảnh hưởng vì điều thiện trong thế giới bên ngoài. |
3. How will a chela on the thread hold the lower correspondence to the higher thread—for others? Probably every disciple wonders how he should relate to those he is helping—the right way to stay in contact with them and influence them for the good. | 3. Một đệ tử trên đường dây sẽ duy trì, cho những người khác, sự tương ứng thấp hơn với đường dây cao hơn như thế nào? Có lẽ mọi đệ tử đều tự hỏi mình nên liên hệ ra sao với những người mình đang giúp đỡ—cách đúng đắn để giữ liên lạc với họ và tạo ảnh hưởng tốt đẹp lên họ. |
In a distorted and frequently unsatisfactory fashion, he is engaged in forming his own group and today this is very often the case. The world is full of struggling disciples, intensely preoccupied with forming organisations, with gathering around them those whom they can help, thus striking a particular note and learning the rudiments (the rudiments, I repeat, my brother) of group work as the Hierarchy seeks to see it carried out. | Theo một cách còn lệch lạc và thường chưa thỏa đáng, y đang hình thành nhóm riêng của mình, và ngày nay điều này rất thường xảy ra. Thế giới đầy những đệ tử đang phấn đấu, hết sức bận tâm đến việc thành lập các tổ chức, quy tụ quanh mình những người họ có thể trợ giúp, qua đó xướng lên một âm điệu riêng và học những điều sơ đẳng—Tôi nhắc lại, những điều sơ đẳng, hỡi huynh đệ của tôi—của công việc nhóm theo cách Thánh đoàn mong muốn thấy công việc ấy được thực hiện. |
1. DK ‘tells it like it is’. If we are observant, we shall see the condition exactly as he is describing it. | 1. Chân sư DK “nói đúng như sự thật”. Nếu chú tâm quan sát, chúng ta sẽ thấy tình trạng ấy đúng như Ngài đang mô tả. |
2. We cannot expect that these fledgling attempts at gathering a group will be entirely skillful. | 2. Chúng ta không thể kỳ vọng những nỗ lực non nớt nhằm quy tụ một nhóm này sẽ hoàn toàn khéo léo. |
3. The ‘gathering disciple’ is responding to a certain note and trying to be faithful to that note. He is certainly not an advanced ashramic worker. DK tells that such efforts help with the learning of the ‘rudiments of group work’; then He stops to repeat the word ‘rudiments’. It is important that we keep a sense of proportion about ourselves, our efforts and those we try to assist. | 3. “Người đệ tử quy tụ” đang đáp ứng với một âm điệu nào đó và cố gắng trung thành với âm điệu ấy. Chắc chắn y chưa phải là một người hoạt động tiến bộ trong ashram. Chân sư DK cho biết những nỗ lực như vậy giúp học hỏi “những điều căn bản của công việc nhóm”; rồi Ngài dừng lại để nhắc lại từ “căn bản”. Điều quan trọng là chúng ta giữ được ý thức về tỉ lệ khi nhìn nhận bản thân, những nỗ lực của mình và những người mình cố gắng trợ giúp. |
4. We might ask ourselves, as we attempt in our own small ways to fulfill the process DK is describing, how much we manage to reflect, in our efforts, the note of the Ashram. | 4. Khi cố gắng, bằng những cách nhỏ bé của riêng mình, thực hiện tiến trình mà Chân sư DK đang mô tả, chúng ta có thể tự hỏi những nỗ lực của mình phản ánh được âm điệu của ashram đến mức nào. |
3. He responds powerfully and (from his point of view) quite unexpectedly to the realised vibration of the Master as He functions at the very centre of His group. He has known the Master’s vibratory call; he has become aware of the quality of the Ashram which is evoked by the Master. Now he is admitted to the secret place to be found at the very heart of the Ashram and becomes a chela within the aura; | 3. Y đáp ứng mạnh mẽ và, theo quan điểm của y, hoàn toàn bất ngờ với rung động mà y chứng nghiệm được của Chân sư khi Ngài hoạt động ngay tại trung tâm nhóm của Ngài. Y đã biết tiếng gọi rung động của Chân sư; y đã nhận biết phẩm tính của ashram mà Chân sư gợi lên. Giờ đây, y được tiếp nhận vào chốn bí mật nằm ngay trong lòng ashram và trở thành một đệ tử trong hào quang. |
. | . |
1. We are dealing with the disciple-initiate’s heightening response to the Master at the heart of the Ashram. | 1. Chúng ta đang bàn đến sự đáp ứng ngày càng cao của người đệ tử-điểm đạo đồ đối với Chân sư tại tâm của ashram. |
2. This third paragraph, marks the approach to the stage of ‘Chela within the Aura’. | 2. Đoạn thứ ba này đánh dấu sự tiến đến giai đoạn “Đệ tử trong hào quang”. |
3. The term ‘unexpectedly’is interesting. The Master is the Archetype of the Ashram and Uranus (the planet of the unexpected) is, among other things, the planet of Archetypes. For the chela who deepening his connection with the heart of the Ashram, the Master is like Uranus. | 3. Từ “bất ngờ” thật thú vị. Chân sư là Nguyên Mẫu của ashram, và Sao Thiên Vương (hành tinh của những điều bất ngờ), ngoài những vai trò khác, còn là hành tinh của các Nguyên Mẫu. Đối với người đệ tử đang làm sâu sắc thêm mối liên kết của mình với tâm của ashram, Chân sư giống như Sao Thiên Vương. |
4. The approach has been gradual and he has ‘earned his way in’. | 4. Sự tiếp cận đã diễn ra dần dần, và y đã “giành được quyền bước vào bằng nỗ lực của mình”. |
5. Even though he has recognized the Master’s vibratory call, the fuller energy of the Master still comes as a shock to him. | 5. Dù đã nhận ra tiếng gọi rung động của Chân sư, năng lượng đầy đủ hơn của Ngài vẫn gây chấn động cho y. |
6. When we want to understand the nature of the stage called ‘Chela within the Aura’the final section in this paragraph is of paramount importance. ‘Now he is admitted to the secret place to be found at the very heart of the Ashram and becomes a chela within the aura’. | 6. Khi muốn thấu hiểu bản chất của giai đoạn gọi là “Đệ tử trong hào quang”, phần cuối của đoạn này có tầm quan trọng hàng đầu. “Giờ đây, y được nhận vào chốn bí mật nằm ngay tại tâm của ashram và trở thành một đệ tử trong hào quang”. |
7. Well might we ponder on the term ‘secret place’and its relation to theheart—within us and within the Ashram. | 7. Chúng ta rất nên suy ngẫm về thuật ngữ “chốn bí mật” và mối liên hệ của nó với tâm—bên trong chúng ta và bên trong ashram. |
The aura of any form of life can be defined as the quality of a sphere of radiatory activity. | Hào quang của bất kỳ hình thức sống nào cũng có thể được định nghĩa là phẩm tính của một khối cầu hoạt động bức xạ. |
1. Let us pause to note an important definition—the quality of a sphere of radiatory activity. The aura, then, is a quality, and radiation, or radiatory activity carries that quality. | 1. Chúng ta hãy dừng lại để ghi nhận một định nghĩa quan trọng—phẩm tính của một khối cầu hoạt động bức xạ. Vậy hào quang là một phẩm tính, và bức xạ, hay hoạt động bức xạ, chuyên chở phẩm tính ấy. |
Very little is as yet known about auras, and a great deal of nonsense has been written anent the matter. | Cho đến nay, người ta vẫn biết rất ít về hào quang, và đã có rất nhiều điều vô nghĩa được viết về vấn đề này. |
1. Again we pause. With the plethora of books about the aura on the market, how many will reflect upon this sobering sentence? | 1. Một lần nữa, chúng ta dừng lại. Giữa vô số sách về hào quang trên thị trường, có bao nhiêu người sẽ suy ngẫm về câu nói khiến ta tỉnh táo này? |
The aura is usually spoken of in terms of colour and of light, due to the nature of the vision of the one who sees and the apparatus of response which is in use. | Người ta thường nói về hào quang bằng những từ ngữ chỉ màu sắc và ánh sáng, do bản chất của khả năng nhìn thấy nơi người quan sát và bộ máy đáp ứng đang được sử dụng. |
1. We learn that the color and light of an aura is related to the perceptive apparatus of the one who is perceiving. | 1. Chúng ta biết rằng màu sắc và ánh sáng của một hào quang có liên hệ với bộ máy tri giác của người đang tri giác. |
Two words only describe an aura from the point of view of occult knowledge and they are “quality” and “sphere of influence.” | Theo quan điểm của tri thức huyền bí, chỉ có hai từ ngữ mô tả được hào quang, đó là “phẩm tính” và “phạm vi ảnh hưởng”. |
1. DK is telling us that the usual terms used to describe an aura have to do with phenomena. | 1. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng những thuật ngữ thông thường dùng để mô tả hào quang liên quan đến các hiện tượng. |
What the clairvoyant really contacts is an impression which the mind rapidly translates into the symbology of colour, whereas there is no colour present. | Điều người thông nhãn thực sự tiếp xúc là một ấn tượng mà thể trí nhanh chóng chuyển thành biểu tượng màu sắc, trong khi thực ra không có màu sắc nào hiện diện. |
1. ‘Let the group know, there is no colour, only light, and then let darkness take the place of light, hiding all difference, blotting out all form.’[Rule IX for Applicants] | 1. “Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng, rồi hãy để bóng tối thay thế ánh sáng, che giấu mọi khác biệt, xóa nhòa mọi hình tướng.”[Quy luật IX dành cho Người Dự Tuyển] |
2. Something important about the translating power of the mind is here given. We are dealing with a thought which Kant strongly recommended to philosophers—the ‘thing in itself’is not perceived. What is perceived is the phenomena presented to the consciousness by the organ of perception—the mind. | 2. Ở đây có một điều quan trọng về khả năng chuyển dịch của thể trí. Chúng ta đang bàn đến một tư tưởng mà Kant hết sức khuyến nghị các triết gia suy xét—người ta không tri giác “vật tự nó”. Điều người ta tri giác là những hiện tượng mà cơ quan tri giác—thể trí—trình hiện cho tâm thức. |
Seeing an aura, as it is called, is in reality a state of awareness. | Điều được gọi là nhìn thấy hào quang thực chất là một trạng thái nhận biết. |
1. Thus a phenomenon. The aura, per se, is not seen. | 1. Do đó, đó là một hiện tượng. Người ta không nhìn thấy chính hào quang. |
That the seer may in all sincerity believe that he has registered a colour, a series of colours, or light, is entirely true in many cases, but what he has really recorded is the quality of a sphere of radiatory activity; | Trong nhiều trường hợp, hoàn toàn đúng là nhà thông nhãn có thể thành thực tin rằng y đã ghi nhận một màu sắc, một loạt màu sắc hoặc ánh sáng; nhưng điều y thực sự ghi nhận là phẩm tính của một khối cầu hoạt động bức xạ; |
1. The quality of the sphere as that quality is translated by his mind into the phenomena of color and light, and perhaps sound. | 1. Phẩm tính của khối cầu, khi thể trí của y chuyển dịch phẩm tính ấy thành các hiện tượng màu sắc và ánh sáng, và có lẽ cả âm thanh. |
this he does when his own individual sphere of radiatory activity is of the same nature and quality as that contacted. | y làm được điều này khi khối cầu hoạt động bức xạ của riêng y có cùng bản chất và phẩm tính với khối cầu mà y tiếp xúc. |
1. Master DK is telling us that what we perceive depends upon the quality of our mechanism of perception. | 1. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng điều chúng ta tri giác phụ thuộc vào phẩm tính của bộ máy tri giác của chúng ta. |
Most seers register the astral range of vibrations of a person or a group and this through the medium of their own astral body. | Phần lớn các nhà thông nhãn ghi nhận dải rung động cảm dục của một người hoặc một nhóm thông qua chính thể cảm dục của họ. |
1. If the seer is predominantly astral in his consciousness, he will register the astral range of vibrations from a person or group, or translate other types of impressions in astral phenomena. | 1. Nếu tâm thức của nhà thông nhãn chủ yếu thuộc cảm dục, y sẽ ghi nhận dải rung động cảm dục từ một người hoặc một nhóm, hoặc chuyển dịch những loại ấn tượng khác thành các hiện tượng cảm dục. |
The impact of a truth or of a mental concept and its recognition is an expression of a similar contact, carried forward this time into the realm of the mind. | Sự tác động của một chân lý hay một khái niệm trí tuệ, cùng với việc nhận biết nó, là biểu hiện của một sự tiếp xúc tương tự, nhưng lần này được đưa vào lĩnh vực của thể trí. |
1. It is very interesting how Master DK equates astral-psychic reception with mental reception. Both are forms of reception of quality from a sphere of radiatory activity, but the prevailing bias equates the first with true seeing, while the second is thought by many to be merely the functioning of the mind. | 1. Thật thú vị khi Chân sư DK xem sự tiếp nhận thông linh-cảm dục tương đương với sự tiếp nhận trí tuệ. Cả hai đều là những hình thức tiếp nhận phẩm tính từ một khối cầu hoạt động bức xạ, nhưng định kiến phổ biến lại xem hình thức thứ nhất là sự thấy đích thực, trong khi nhiều người cho rằng hình thức thứ hai chỉ là hoạt động của thể trí. |
This explains the truth lying behind all so-called “expansions of consciousness” to which the mind of man can respond; [753] he registers a constant succession of vibratory impacts, emanating from spheres of activity; these range all the way from the early stage of increasing awareness through the development of the five senses and the three vehicles of contact in the three worlds of human experience to those recognitions which lead a man into the sphere of influence of a Master and later enable him to take what is termed one of the major initiations. | Điều này giải thích chân lý nằm sau mọi điều được gọi là “những sự mở rộng tâm thức” mà thể trí con người có thể đáp ứng; [753] y ghi nhận một chuỗi liên tục những tác động rung động phát ra từ các khối cầu hoạt động; chúng trải dài từ giai đoạn đầu của sự nhận biết ngày càng tăng thông qua sự phát triển của năm giác quan và ba hiện thể tiếp xúc trong ba cõi giới kinh nghiệm của con người, cho đến những sự nhận biết đưa con người vào phạm vi ảnh hưởng của một Chân sư và về sau giúp y trải qua điều được gọi là một trong những cuộc điểm đạo lớn. |
1. DK is here explaining the modus operandi of ‘expansions of consciousness’. It has to do the successive registration of a series of vibratory impacts which are characterized by gradually heightening vibratory frequency. | 1. Ở đây, Chân sư DK đang giải thích cách thức vận hành của “những sự mở rộng tâm thức”. Điều này liên quan đến việc lần lượt ghi nhận một chuỗi tác động rung động có đặc trưng là tần số rung động dần dần cao hơn. |
2. It takes millions of years to move from the mind-translated interpretation of vibrations relating to the five senses to the interpretation of vibrations relating to the sphere of radiatory influence of a Master. | 2. Phải mất hàng triệu năm để đi từ việc diễn giải những rung động liên quan đến năm giác quan qua sự chuyển dịch của thể trí, đến việc diễn giải những rung động liên quan đến phạm vi ảnh hưởng bức xạ của một Chân sư. |
3. In this long process we are constantly registering quality and translating that quality to ourselves as a certain kind of perception or impression. | 3. Trong tiến trình lâu dài này, chúng ta liên tục ghi nhận phẩm tính và chuyển dịch phẩm tính ấy cho chính mình thành một loại tri giác hoặc ấn tượng nào đó. |
4. More attention should be given to the condition of the perceiving mechanism. We have a much better chance of understanding that which is perceived if we can understand the nature and limitations of the mechanism by which it is perceived. | 4. Cần chú ý nhiều hơn đến tình trạng của bộ máy tri giác. Chúng ta có khả năng thấu hiểu điều mình tri giác tốt hơn nhiều nếu thấu hiểu được bản chất và những giới hạn của bộ máy dùng để tri giác điều ấy. |
These spheres of radiatory activity are ever present even when unregistered and unrecognised. | Những khối cầu hoạt động bức xạ này luôn hiện diện, ngay cả khi không được ghi nhận và nhận biết. |
1. We are constantly surrounded and pervaded by vibrations which we cannot register and to which we, therefore, cannot respond. | 1. Chúng ta luôn được bao quanh và thấm xuyên bởi những rung động mà mình không thể ghi nhận, và do đó cũng không thể đáp ứng. |
The evolutionary process is one of developing a response apparatus with which to register them; having done so, the next step is to react intelligently to such contacts, thus producing an ever increasing range of awareness which finally constitutes the sum total of consciousness. | Tiến trình tiến hoá là tiến trình phát triển một bộ máy đáp ứng để ghi nhận chúng; sau khi đã làm được điều đó, bước kế tiếp là phản ứng một cách thông minh trước những sự tiếp xúc ấy, nhờ đó tạo ra một phạm vi nhận biết ngày càng mở rộng, cuối cùng hợp thành toàn bộ tâm thức. |
1. Two steps are given in relation to radiatory activity and the spheres (‘atoms’) from which they emanate: | 1. Có hai bước liên quan đến hoạt động bức xạ và những khối cầu (“nguyên tử”) phát ra các bức xạ ấy: |
1. developing a response apparatus adequate to register such radiations | 1. phát triển một bộ máy đáp ứng đủ khả năng ghi nhận những bức xạ ấy |
2. responding intelligently to the radiations/vibrations once registered | 2. đáp ứng một cách thông minh với những bức xạ/rung động sau khi đã ghi nhận |
2. As this is done, consciousness will expand until the stage of ‘all knowledge’is reached with respect to the particular ring-pass-not in which the perceiving unit is participating. | 2. Khi điều này được thực hiện, tâm thức sẽ mở rộng cho đến khi đạt giai đoạn “biết tất cả” đối với vòng-giới-hạn cụ thể mà đơn vị tri giác đang tham dự. |
I cannot here enlarge upon this theme as it proceeds under the impelling force of evolution. | Ở đây, Tôi không thể nói rộng thêm về chủ đề này khi nó diễn tiến dưới mãnh lực thúc đẩy của tiến hoá. |
1. Evolution, itself, will propel the consciousness towards expansion without that artificial forcing process we call ‘initiation’. | 1. Chính tiến hoá sẽ thúc đẩy tâm thức hướng đến sự mở rộng mà không cần đến tiến trình thúc đẩy nhân tạo mà chúng ta gọi là “điểm đạo”. |
I am only here concerned with the fact of a Master’s sphere of radiatory activity and its peculiar quality and ray colouring (occultly understood). | Ở đây, Tôi chỉ quan tâm đến sự hiện hữu của khối cầu hoạt động bức xạ của một Chân sư, cùng phẩm tính đặc thù và sắc thái cung của nó (hiểu theo nghĩa huyền bí). |
1. The discussion of auras has been entered in order to help us focus onone particular aura—‘a Master’s sphere of radiatory activity and its peculiar quality and ray coloring (occultly understood)’. DK is not speaking of the phenomenon of colour. | 1. Việc bàn về hào quang được đưa vào nhằm giúp chúng ta tập trung vào một hào quang cụ thể—“khối cầu hoạt động bức xạ của một Chân sư, cùng phẩm tính riêng biệt và sắc thái cung của nó (hiểu theo nghĩa huyền bí)”. Chân sư DK không nói về hiện tượng màu sắc. |
The factor lying behind and thus making possible each of the six stages of discipleship is the existence in the disciple of qualities, radiatory activities and emanatory impulses which correspond to those emanating from some particular Ashram. | Yếu tố nằm sau và do đó khiến mỗi giai đoạn trong sáu giai đoạn của địa vị đệ tử trở nên khả hữu là sự hiện hữu nơi người đệ tử của những phẩm tính, những hoạt động bức xạ và những xung lực phát xạ tương ứng với những gì phát ra từ một ashram cụ thể nào đó. |
1. What does a disciple possess that attunes him to a particular Ashram and allows for ever-greater intimacy with that Ashram? | 1. Một đệ tử sở hữu điều gì khiến y hòa điệu với một ashram cụ thể và cho phép y ngày càng gắn bó mật thiết hơn với ashram ấy? |
1. qualities | 1. những phẩm tính |
2. radiatory activities | 2. những hoạt động bức xạ |
3. emanatory impulses | 3. những xung lực phát xạ |
2. All these are correlated with the qualities, radiatory activities and emanatory impulses of a particular Ashram. | 2. Tất cả những điều này đều tương quan với những phẩm tính, hoạt động bức xạ và xung lực phát xạ của một ashram cụ thể. |
These, when they have evoked a response and drawn the disciple to the periphery of the sphere of activity of such an Ashram, gradually intensify their magnetic, attractive quality; they awaken to still greater potency the same qualities in the disciple, occultly pulling him closer to the central point, which is the focus of all the trained ability and the high-powered spiritual life of the Master at the very heart of the Ashram. | Khi đã gợi lên một sự đáp ứng và thu hút người đệ tử đến vùng ngoại vi của khối cầu hoạt động của một ashram như thế, những yếu tố này dần tăng cường phẩm tính từ tính và thu hút của chúng; chúng khơi dậy nơi người đệ tử những phẩm tính tương tự với sức mạnh lớn hơn nữa, kéo y lại gần điểm trung tâm theo một cách huyền bí; điểm ấy là tiêu điểm của toàn bộ năng lực đã được rèn luyện và đời sống tinh thần đầy quyền năng của Chân sư ngay tại tâm của ashram. |
1. The mechanism of ashramic attraction and the ashramic intensification of disciple’s inherent qualities are here discussed. | 1. Ở đây đang bàn về cơ chế thu hút của ashram và sự tăng cường của ashram đối với những phẩm tính vốn có của người đệ tử. |
2. Magnetically, we are drawn to the sphere of activity of a particular Ashram. | 2. Nhờ từ tính, chúng ta được thu hút đến khối cầu hoạt động của một ashram cụ thể. |
3. When the periphery has been ‘achieved’, the Ashram’s magnetism has an increasing effect upon the disciple, potentizing those qualities within him which correspond to the qualities which characterize the Ashram. | 3. Khi đã “đến được” chu vi, từ điện của ashram ngày càng tác động mạnh hơn lên người đệ tử, tăng cường những phẩm tính trong y tương ứng với các phẩm tính đặc trưng của ashram. |
4. He is drawn closer and closer to the Master. The central life is the focus of ‘all the trained ability and the high-powered spiritual life of the Master at the very heart of the Ashram.’This is an amazingly potent idea. | 4. Y được thu hút ngày càng gần Chân sư hơn. Sự sống trung tâm là tiêu điểm của “toàn bộ năng lực đã được rèn luyện và đời sống tinh thần đầy uy lực của Chân sư ngay tại tâm của ashram”. Đây là một ý tưởng có sức mạnh đáng kinh ngạc. |
5. We move increasingly towards the center of the Ashram as our service demands it. Nothing else will bring us there. Premature prolonged contact with that ‘high powered spiritual life’could do us no good and probably much harm. It would certainly do humanity and the Ashram no good. All proceeds according to necessity. | 5. Chúng ta ngày càng tiến về trung tâm của ashram khi công việc phụng sự đòi hỏi điều đó. Không điều gì khác sẽ đưa chúng ta đến đó. Sự tiếp xúc kéo dài quá sớm với “đời sống tinh thần đầy uy lực” ấy không thể mang lại lợi ích cho chúng ta và có lẽ sẽ gây nhiều tổn hại. Chắc chắn điều đó cũng không mang lại lợi ích cho nhân loại và ashram. Mọi việc đều diễn tiến theo sự cần thiết. |
It is at this point that the disciple awakens to the realisation that his three bodies or vehicles—etheric, astral and mental—are only the reflections of the three aspects of the Spiritual Triad and that they can give him the key to his own being and also the capacity to respond to the threefold vibration of the Master, as expressed through His aura. | Chính vào lúc này, người đệ tử bắt đầu nhận ra rằng ba thể hay hiện thể của y—thể dĩ thái, thể cảm dục và thể trí—chỉ là những phản chiếu của ba phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần, và chúng có thể trao cho y chìa khóa dẫn đến bản thể của chính mình, cũng như khả năng đáp ứng với rung động tam phân của Chân sư biểu lộ qua hào quang của Ngài. |
1. A specific development at a particular stage of discipleship is indicated. The higher personality is to be substituted for the lower. This is related also to the process of etheric substitution. | 1. Ở đây chỉ ra một sự phát triển cụ thể tại một giai đoạn nhất định của địa vị đệ tử. Phàm ngã cao hơn phải thay thế phàm ngã thấp hơn. Điều này cũng liên quan đến tiến trình thay thế dĩ thái. |
2. The necessary response to the Master’s power and trained capacity can only be achieved through the spiritual triad and not through its lower reflection, the personality. | 2. Chỉ có thể đạt được sự đáp ứng cần thiết đối với quyền năng và năng lực đã được rèn luyện của Chân sư thông qua Tam Nguyên Tinh Thần chứ không phải qua sự phản ánh thấp hơn của nó là phàm ngã. |
3. The chela within the aura is an initiate of the third degree and is beginning to respond consciously to the monad. The spiritual triad is the personality of the monad, and as man becomes the monad, the spiritual triad will become, for him, as a personality. | 3. Đệ tử trong hào quang là một điểm đạo đồ bậc ba và đang bắt đầu đáp ứng hữu thức với chân thần. Tam Nguyên Tinh Thần là phàm ngã của chân thần, và khi con người trở thành chân thần, đối với y, Tam Nguyên Tinh Thần sẽ trở thành như một phàm ngã. |
4. In the beginning what has to happen (via the antahkarana) is that the purified, soul-infused personality must become triadally responsive. | 4. Lúc đầu, điều phải xảy ra (qua antahkarana) là phàm ngã đã được thanh luyện và được linh hồn thấm nhuần phải trở nên có khả năng đáp ứng với Tam Nguyên Tinh Thần. |
5. As it stands today for the majority of Ashrams, they are ‘in the triad’, and as the disciple enters the spiritual triad more fully, allowing that triad to direct his personality expression, he finds himself, increasingly, ‘in the Ashram’, and, increasingly within the aura of his Master. | 5. Theo tình hình hiện nay, phần lớn các ashram đều “ở trong Tam Nguyên Tinh Thần”, và khi người đệ tử đi vào Tam Nguyên Tinh Thần trọn vẹn hơn, để Tam Nguyên ấy chỉ đạo sự biểu lộ phàm ngã của mình, y nhận thấy mình ngày càng “ở trong ashram”, và ngày càng ở trong hào quang của Chân sư mình. |
The teaching that the personality must be destroyed is a distortion of the truth; his focus of consciousness has to be shifted from the threefold lower nature into that of the Triad and this with the aid of the threefold soul nature. | Lời dạy cho rằng phải hủy diệt phàm ngã là một sự bóp méo chân lý; tiêu điểm tâm thức của người đệ tử phải chuyển từ bản chất thấp tam phân sang bản chất của Tam Nguyên Tinh Thần, với sự trợ giúp của bản chất tam phân của linh hồn. |
1. This little sentence encapsulates all our spiritual work. We do not destroy the instrument (the personality), but rise into its higher correspondence by means of the threefold soul nature. The sequence is clearly given. | 1. Câu ngắn này gói trọn toàn bộ công việc tinh thần của chúng ta. Chúng ta không hủy diệt công cụ (phàm ngã), mà vươn lên sự tương ứng cao hơn của nó nhờ bản chất linh hồn tam phân. Trình tự đã được nêu rõ. |
The mode of this progressive shifting is response to an ever higher rate of[754] vibratory activity. | Phương thức của sự chuyển dịch từng bước này là đáp ứng với một nhịp độ hoạt động [754] rung động ngày càng cao. |
1. How do we shift? By responding to vibrations of ever higher frequency—intelligently responding. The response itself is a shift. | 1. Chúng ta chuyển dịch như thế nào? Bằng cách đáp ứng với những rung động có tần số ngày càng cao hơn—đáp ứng một cách thông minh. Chính sự đáp ứng là một sự chuyển dịch. |
Just as soon as there exists, in the consciousness of the disciple, the ability to respond to the quality and the radiation, emanating from an Ashram, he moves forward into that sphere of influence. That in his own aura which is akin to the quality of the Master’s aura is trained, intensified and purified.His own radiatory activity is enhanced as the ashramic life plays upon his vehicles until in time he becomes the chela within the aura. In a faint way, his vibration and that of the Master tend to synchronise. | Ngay khi trong tâm thức người đệ tử có khả năng đáp ứng với phẩm tính và bức xạ phát ra từ một ashram, y tiến vào phạm vi ảnh hưởng ấy. Phần nào trong hào quang của y tương đồng với phẩm tính hào quang của Chân sư sẽ được rèn luyện, tăng cường và thanh lọc. Hoạt động bức xạ của chính y được nâng cao khi sự sống ashram tác động lên các hiện thể của y, cho đến khi theo thời gian, y trở thành đệ tử trong hào quang. Ở mức độ còn yếu, rung động của y và rung động của Chân sư bắt đầu có khuynh hướng đồng bộ. |
1. It is that which is within us that determines whether or not we move more deeply into the Ashram. | 1. Chính những gì bên trong chúng ta quyết định liệu chúng ta có tiến sâu hơn vào ashram hay không. |
2. There are many ways to respond to vibratory impression, but if the disciple/initiate is to move more deeply into the Ashram, there must be the right response to that which the Ashram radiates and emanates. | 2. Có nhiều cách đáp ứng với ấn tượng rung động, nhưng nếu người đệ tử/điểm đạo đồ muốn tiến sâu hơn vào ashram, phải có sự đáp ứng đúng đắn với những gì ashram bức xạ và phát xạ. |
3. Then will come the sympathetic strengthening of ashramically related qualities in his own energy system. | 3. Khi ấy, những phẩm tính có liên hệ với ashram trong hệ thống năng lượng của y sẽ được tăng cường nhờ sự cộng hưởng. |
4. The energies of the Ashram and of the Master play upon his vehicles. | 4. Các năng lượng của ashram và của Chân sư tác động lên những hiện thể của y. |
5. When a disciple/initiate is a true chela within the aura, ‘his vibration and that of the Master tend to synchronise’. | 5. Khi một đệ tử/điểm đạo đồ thực sự là đệ tử trong hào quang, “rung động của y và rung động của Chân sư có khuynh hướng đồng bộ”. |
6. How would we know whether this was taking place? It certainly depends upon getting to know our Master and His work, not superficially but deeply. And then, even more, it depends upon carrying out that work as the major task of our lives. | 6. Làm sao chúng ta biết điều này có đang diễn ra hay không? Chắc chắn điều đó phụ thuộc vào việc hiểu biết Chân sư của mình và công việc của Ngài một cách sâu sắc, vượt khỏi bề mặt. Hơn thế nữa, điều đó còn phụ thuộc vào việc thực hiện công việc ấy như nhiệm vụ chính của đời mình. |
I would point out that in this way, the disciple begins to make a significant contribution to the life of the Ashram. Each disciple who penetrates into the aura of the Master through similarity of quality and vibratory activity enriches and intensifies the group with which he is thus affiliated. As time elapses, the Ashram of a Master becomes increasingly potent, magnetic and radiant. Within that aura the initiate-disciple carries forward his work, standing at the radiant centre of the group life and working from thence outwards in service. | Tôi muốn chỉ ra rằng bằng cách này, người đệ tử bắt đầu đóng góp đáng kể vào sự sống của ashram. Mỗi đệ tử thâm nhập vào hào quang của Chân sư nhờ sự tương đồng về phẩm tính và hoạt động rung động đều làm phong phú và tăng cường sức mạnh của nhóm mà y nhờ đó gắn bó. Theo thời gian, ashram của một Chân sư ngày càng trở nên mạnh mẽ, có từ tính và rạng ngời. Trong hào quang ấy, người đệ tử đã được điểm đạo tiến hành công việc của mình, đứng tại trung tâm bức xạ của sự sống nhóm và từ đó hướng ra ngoài để phụng sự. |
1. The disciple is brought into the Ashram, not as a dependent, but as one who can truly contribute to the strengthening of the Ashram. | 1. Người đệ tử được đưa vào ashram với tư cách một người thực sự có thể góp phần củng cố ashram, chứ không phải một người lệ thuộc. |
2. So we can ask, ‘Is there that within me which can make a real contribution to the life and quality of the Ashram with which I think or know I am affiliated?’ | 2. Vì vậy, chúng ta có thể tự hỏi: “Trong tôi có điều gì có thể đóng góp thực sự vào sự sống và phẩm tính của ashram mà tôi nghĩ hoặc biết mình có liên kết hay không?” |
3. DK is telling us how we learn to work from within the Ashram, ‘standing at the radiant centre of the group life and working from thence outwards in service’. | 3. Chân sư DK đang cho chúng ta biết cách học làm việc từ bên trong ashram, “đứng tại trung tâm rạng ngời của sự sống nhóm và từ đó hướng ra ngoài để phụng sự”. |
4. The benefit is mutual and a virtuous circle is created—the disciple-initiate ever strengthening the Ashram which, in turn, strengthens him. | 4. Lợi ích là song phương và tạo thành một vòng tương tác tốt đẹp—người đệ tử-điểm đạo đồ luôn củng cố ashram, rồi đến lượt ashram củng cố y. |
5. Always we must remember that importance of ‘similarity of quality and vibratory activity’if there is to be deep participation in the life of any particular Ashram. | 5. Chúng ta phải luôn nhớ tầm quan trọng của “sự tương đồng về phẩm tính và hoạt động rung động” nếu muốn tham dự sâu sắc vào sự sống của bất kỳ ashram cụ thể nào. |
He is ever careful to protect that centre from any quality of his own aura which is not in harmony with the quality of the Master and to keep (as far as may be) outside his own consciousness any thoughts or desires which might disturb the group aura. | Y luôn cẩn trọng bảo vệ trung tâm ấy trước bất kỳ phẩm tính nào trong hào quang của mình không hòa hợp với phẩm tính của Chân sư, đồng thời giữ cho tâm thức mình tránh khỏi (trong chừng mực có thể) mọi tư tưởng hay dục vọng có thể làm xáo trộn hào quang nhóm. |
1. A deep responsibility is enjoined upon the one who would be a chela within the aura. There will inevitably be aspects of his aura which donot harmonize with the quality of the Master. These must not be allowed to affect the center of the Ashram (i.e., the Master). We have the responsibility of harmonizing with the will and quality of the Master. A considerable self-knowledge is needed on the part of the disciple if this is to be possible. | 1. Một trách nhiệm sâu sắc đặt lên người muốn trở thành đệ tử trong hào quang. Chắc chắn sẽ có những phương diện trong hào quang của y không hòa hợp với phẩm tính của Chân sư. Không được để những phương diện ấy tác động đến trung tâm của ashram (tức là Chân sư). Chúng ta có trách nhiệm hòa hợp với ý chí và phẩm tính của Chân sư. Để điều này trở nên khả hữu, người đệ tử cần có sự hiểu biết đáng kể về chính mình. |
2. If inharmonious thoughts or desires threaten to enter the consciousness of the disciple, what is he to do? He is not to entertain them, but to keep them ‘outside’. This will necessitate the capacity to rebuff and deflect. | 2. Nếu những tư tưởng hoặc dục vọng bất hòa có nguy cơ xâm nhập tâm thức người đệ tử, y phải làm gì? Y không được dung dưỡng chúng, mà phải giữ chúng “ở bên ngoài”. Điều này đòi hỏi khả năng khước từ và chuyển hướng chúng. |
3. Thus, a chela within the aura must be extremely vigilant concerning what he admits into his consciousness, for that consciousness is increasingly a part of the Ashram. | 3. Vì vậy, một đệ tử trong hào quang phải hết sức cảnh giác về những gì mình cho phép đi vào tâm thức, vì tâm thức ấy ngày càng là một phần của ashram. |
4. Just as we would not go into someone’s beautiful new home with muddy shoes, we have to watch with great care the quality of our thoughts and desires for the disruptive dissonance they might contain. | 4. Cũng như chúng ta sẽ không bước vào ngôi nhà mới xinh đẹp của ai đó với đôi giày lấm bùn, chúng ta phải hết sức cẩn trọng theo dõi phẩm tính của những tư tưởng và dục vọng của mình để nhận ra sự bất hòa gây xáo trộn mà chúng có thể chứa đựng. |
When he is admitted to this stage of discipleship that is his responsibility, and such a privilege is never accorded to him unless he is able so to guard himself and the sphere of influence of which he is now a part. | Khi được chấp nhận vào giai đoạn này của địa vị đệ tử, đó là trách nhiệm của y, và y không bao giờ được trao đặc ân ấy nếu chưa có khả năng bảo vệ bản thân và phạm vi ảnh hưởng mà giờ đây y là một phần trong đó. |
1. So we are constantly tested. These will be no admittance to the Ashram (in this more intimate way) unless the Ashram is assured that the disciple-initiate knows how to guard himself from such inharmonious influences. | 1. Vì vậy, chúng ta luôn được thử thách. Sẽ không có sự thu nhận vào ashram (theo cách mật thiết hơn này) trừ khi ashram chắc chắn rằng người đệ tử-điểm đạo đồ biết cách bảo vệ mình khỏi những ảnh hưởng bất hòa như vậy. |
2. The guarding is twofold—he guards his own consciousness, and thus guards the sphere of influence which is the Ashram. | 2. Sự bảo vệ có tính nhị phân—y bảo vệ tâm thức của mình, và qua đó bảo vệ phạm vi ảnh hưởng là ashram. |
You can see, therefore, that the Hierarchy itself is only a great Ashram with a triangle at the centre, composed of the Christ, the Mahachohan and the Manu. Symbolically speaking, this triangle constitutes one radiant centre, for the radiatory activity of each of these Great Lords is such that They are swept into each other’s auras in such a way that there is a complete blending and fusing. | Do đó, các bạn có thể thấy rằng chính Thánh đoàn cũng chỉ là một ashram lớn, với một tam giác ở trung tâm gồm Đức Christ, Đức Mahachohan và Đức Manu. Nói theo nghĩa biểu tượng, tam giác này hợp thành một trung tâm bức xạ duy nhất, vì hoạt động bức xạ của mỗi vị trong số các Chúa Tể Vĩ Đại này mạnh đến mức cuốn Các Ngài vào hào quang của nhau, tạo nên sự hòa trộn và dung hợp hoàn toàn. |
1. This is a potent image—the Hierarchy as an Ashram with a Triangle at the centre—a Triangle which is really ‘one radiant center’. | 1. Đây là một hình ảnh đầy uy lực—Thánh đoàn như một ashram với một Tam Giác ở trung tâm—một Tam Giác thực sự là “một trung tâm rạng ngời duy nhất”. |
2. One thinks immediately of the atomic triangle (the physical and astral permanent atoms and mental unit) which eventually demonstrates as one sphere of fire on the eve of the destruction of the causal body. | 2. Người ta lập tức nghĩ đến tam giác nguyên tử (nguyên tử trường tồn hồng trần, nguyên tử trường tồn cảm dục và đơn vị hạ trí), cuối cùng biểu lộ thành một khối cầu lửa duy nhất ngay trước khi thể nguyên nhân bị hủy diệt. |
3. Whenever we are involved in triangular activity, we must hold before our eye the possibility of the complete blending and fusing here described. | 3. Bất cứ khi nào tham gia hoạt động tam giác, chúng ta phải luôn giữ trước mắt khả năng hòa trộn và dung hợp hoàn toàn được mô tả ở đây. |
4. When He promotes the service activity called Triangles, the Tibetan has just such eventualities in mind—a great fusing and blending, responsive to the Triangle within Hierarchy and to the even greater Triangle consisting of the Buddhas of Activity. | 4. Khi thúc đẩy hoạt động phụng sự mang tên Tam Giác, Chân sư Tây Tạng nghĩ đến chính những kết quả sau cùng như vậy—một sự dung hợp và hòa trộn vĩ đại, đáp ứng với Tam Giác trong Thánh đoàn và với Tam Giác còn vĩ đại hơn gồm các Đức Phật Hoạt Động. |
Every Ashram radiates some one major quality according to the ray of the Master at the centre; in the same way the Hierarchy radiates the quality of the second divine aspect, just as the all-inclusive Ashram (to which we give the name Shamballa) has the outstanding characteristic of the first aspect, life itself. This is not a quality, but that of which quality is an emanation. | Mỗi ashram bức xạ một phẩm tính chủ yếu nào đó tùy theo cung của Chân sư ở trung tâm; cũng vậy, Thánh đoàn bức xạ phẩm tính của phương diện thiêng liêng thứ hai, giống như ashram bao gồm tất cả (mà chúng ta gọi là Shamballa) có đặc trưng nổi bật của phương diện thứ nhất, chính sự sống. Đây không phải là một phẩm tính, mà là nguồn từ đó phẩm tính xuất lộ. |
1. An inescapable fact is given. Every Ashram radiates some major quality—according to the ray of the Master (and according to thequality of the Master, which stands in addition to the ray). The quality of any higher being emerges as the result of experience on many rays. | 1. Ở đây nêu ra một sự thật không thể tránh khỏi. Mỗi ashram bức xạ một phẩm tính chủ yếu nào đó—tùy theo cung của Chân sư (và tùy theo phẩm tính của Ngài, vốn hiện hữu bên cạnh cung ấy). Phẩm tính của bất kỳ sinh mệnh cao hơn nào cũng hình thành từ trải nghiệm trên nhiều cung. |
2. The ray quality of the entire Hierarchy is the second ray. The outstanding characteristic of Shamballa is the first aspect. Shamballa, emanates (it would seem, because of its relation to the Solar Logos) a blend of the first and second rays. | 2. Phẩm tính cung của toàn bộ Thánh đoàn là cung hai. Đặc trưng nổi bật của Shamballa là phương diện thứ nhất. Dường như Shamballa phát xạ một sự pha trộn của cung một và cung hai, do mối liên hệ của trung tâm này với Thái dương Thượng đế. |
3. Something interesting is here said about the first aspect (‘life itself)—that it is not a quality. | 3. Ở đây có một điều thú vị được nói về phương diện thứ nhất (“chính sự sống”)—rằng đó không phải là một phẩm tính. |
4. Quality is an emanation of ‘Life’and the first aspect of divinity is that aspect that most embodies that Life—although Life is really something which lies at the heart of the Trinity of Three Aspects. | 4. Phẩm tính là một phát xạ của “Sự Sống”, và phương diện thứ nhất của thiên tính là phương diện thể hiện Sự Sống ấy đầy đủ nhất—mặc dù Sự Sống thực ra là điều nằm tại tâm của Ba Ngôi gồm Ba Phương Diện. |
5. The analogy may be conceived as follows: Life is as white light;quality is as the spectrum of color. | 5. Có thể hình dung sự tương đồng như sau: Sự Sống giống như ánh sáng trắng; phẩm tính giống như quang phổ màu sắc. |
[755] | [755] |
The Master’s aura (which determines the aura of the entire Ashram) has three outstanding radiations as far as the responsiveness of the disciple is concerned: | [755] Hào quang của Chân sư (vốn quyết định hào quang của toàn bộ ashram) có ba bức xạ nổi bật xét về khả năng đáp ứng của người đệ tử: |
1. Another important point—the aura of the Ashram is dependent upon the Master’s aura. | 1. Một điểm quan trọng khác—hào quang của ashram phụ thuộc vào hào quang của Chân sư. |
2. There are three outstanding radiations of the Master’s aura and they respond to the three energies of the spiritual triad. | 2. Có ba bức xạ nổi bật của hào quang Chân sư, và chúng đáp ứng với ba năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần. |
3. Now we are dealing with the qualities of the Master’s aura and its radiations from the perspective of the disciple’s responsiveness. | 3. Giờ đây, chúng ta đang bàn đến các phẩm tính của hào quang Chân sư và những bức xạ của hào quang ấy từ góc độ khả năng đáp ứng của người đệ tử. |
4. The radiation which comes from the higher levels of the mental plane, or from the lowest aspect of the Spiritual Triad. The potency of this radiation and the extent of the sphere of influence will be determined by the extent to which the Master is spiritually in touch with the Mind of God. | 4. Bức xạ đến từ những cấp độ cao hơn của cõi trí, hay từ phương diện thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần. Uy lực của bức xạ này và độ rộng của phạm vi ảnh hưởng sẽ tùy thuộc vào mức độ Chân sư tiếp xúc về mặt tinh thần với Trí của Thượng đế. |
5. A link is made between that aspect of the Master’s radiation coming from the lowest levels of the triad, the manasic levels, with the extent to which the Master is in touch with the Mind of God. | 5. Ở đây xác lập mối liên hệ giữa phương diện bức xạ của Chân sư đến từ những cấp độ thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần, tức các cấp độ manas, với mức độ Ngài tiếp xúc với Trí của Thượng đế. |
6. We note that the word ‘spiritually’is used to describe the Master’s contact with the Mind of God. | 6. Chúng ta lưu ý rằng cụm từ “về mặt tinh thần” được dùng để mô tả sự tiếp xúc của Chân sư với Trí của Thượng đế. |
I do not use the word “consciously” in this connection and when dealing with conditions above egoic levels. | Tôi không dùng từ “một cách có ý thức” trong mối liên hệ này và khi bàn đến những trạng thái ở trên các cấp độ chân ngã. |
1. DK tells us why He uses the word ‘spiritually’instead of ‘consciously’. It is because we are focusing within the spiritual triad and are dealing with conditions ‘above’ the egoic levels. | 1. Chân sư DK cho chúng ta biết vì sao Ngài dùng từ ‘về mặt tinh thần’ thay vì ‘một cách có ý thức’. Đó là vì chúng ta đang tập trung trong Tam Nguyên Tinh Thần và đang bàn đến những điều kiện ‘cao hơn’ các cấp độ chân ngã. |
It is this particular radiation which evokes a response from the embryonic abstract mind of the disciple when the antahkarana is being built and is the first kind of contact to which the neophyte responds in the later stages of the Probationary Path. | Chính bức xạ đặc thù này gợi lên sự đáp ứng từ trí trừu tượng còn phôi thai của người đệ tử khi antahkarana đang được xây dựng, và đây là loại tiếp xúc đầu tiên mà người sơ cơ đáp ứng trong những giai đoạn sau của Con Đường Dự Bị. |
1. We are given the timing of this first response to the Master’s radiation; it occur during the later stages of the Probationary Path and ‘when the antahkarana is being built’, | 1. Chúng ta được cho biết thời điểm xuất hiện sự đáp ứng đầu tiên này đối với bức xạ của Chân sư; nó xảy ra trong những giai đoạn sau của Con Đường Dự Bị và ‘khi antahkarana đang được xây dựng’, |
2. If we think carefully about what is being said, we can judge that the antahkarana is ‘being built’during the later stages of the Probationary Path. This definitely means that this stage of the Probationary Path is occurring after the first initiation and perhaps even rather closer to the second. But one who treads the Probationary Path is not yet an ‘accepted disciple’, so, apparently, the antahkarana can be built before one becomes an accepted disciple and, thus, one can begin to respond to the abstract mind of the Master before the stage of ‘Accepted Discipleship’is reached. | 2. Nếu suy nghĩ cẩn thận về điều đang được nói đến, chúng ta có thể nhận định rằng antahkarana ‘đang được xây dựng’ trong những giai đoạn sau của Con Đường Dự Bị. Điều này chắc chắn có nghĩa là giai đoạn ấy của Con Đường Dự Bị diễn ra sau lần điểm đạo thứ nhất, và có lẽ thậm chí khá gần lần điểm đạo thứ hai. Nhưng người bước trên Con Đường Dự Bị vẫn chưa phải là một ‘đệ tử được chấp nhận’; vì vậy, dường như antahkarana có thể được xây dựng trước khi một người trở thành đệ tử được chấp nhận, và do đó, người ấy có thể bắt đầu đáp ứng với trí trừu tượng của Chân sư trước khi đạt đến giai đoạn ‘Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận’. |
A direct line of influential approach is made between the Master and the awakening disciple as follows: | Một đường tiếp cận trực tiếp mang ảnh hưởng được thiết lập giữa Chân sư và người đệ tử đang thức tỉnh như sau: |
a. The manasic permanent atom of the disciple. | a. Nguyên tử trường tồn manas của người đệ tử. |
b. The knowledge petals of the egoic lotus. | b. Các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã. |
c. The lower concrete mind “held steady in the light.” | c. Trí cụ thể thấp “được giữ vững trong ánh sáng”. |
d. The throat centre. | d. Trung tâm cổ họng. |
e. The brain of the disciple upon the physical plane. | e. Bộ não của người đệ tử trên cõi hồng trần. |
1. It is via this line of descent that the lowest of the Master’s triadal radiations may reach and influence the disciple. | 1. Chính qua đường giáng hạ này, bức xạ thấp nhất trong các bức xạ từ Tam nguyên tinh thần của Chân sư có thể đến với và ảnh hưởng đến đệ tử. |
2. We note that although the concrete mind is part of this descent, it has to be ‘held steady in the light’. This means that a considerable amount of soul infusion has occurred. | 2. Chúng ta lưu ý rằng dù trí cụ thể là một phần của đường giáng hạ này, nó phải ‘được giữ vững trong ánh sáng’. Điều này có nghĩa là linh hồn đã thấm nhuần phàm ngã đến một mức độ đáng kể. |
This is all of it necessarily relative but the moment that the disciple has established this line of approach to the Spiritual Triad (even in a small measure) he makes his first response to the aura of the Master. | Tất cả những điều này tất nhiên đều mang tính tương đối, nhưng ngay khi người đệ tử thiết lập được đường tiếp cận này đến Tam Nguyên Tinh Thần (dù chỉ ở mức độ nhỏ), y có sự đáp ứng đầu tiên với hào quang của Chân sư. |
1. Here is a really important piece of information. The aura of the Master is not to be contacted on the second and third subplanes of the mental plane. But on the first subplane (where the manasic permanent atom can be found)—there—a contact can be made with the Master’s aura—which is different from contacting the Master, Himself. | 1. Đây là một thông tin thực sự quan trọng. Không thể tiếp xúc với hào quang của Chân sư trên cõi phụ thứ hai và thứ ba của cõi trí. Nhưng trên cõi phụ thứ nhất (nơi có nguyên tử trường tồn manas)—chính ở đó—có thể thiết lập sự tiếp xúc với hào quang của Chân sư; điều này khác với việc tiếp xúc với chính Chân sư. |
2. This tells us that when we are treading the Probationary Path in its later sections, we are, indeed, responding to the aura of the Master, for at that time we have our first contact with the abstract mind via an antahkarana which is being built, but often not consciously built. | 2. Điều này cho chúng ta biết rằng khi bước trên những chặng sau của Con Đường Dự Bị, quả thực chúng ta đang đáp ứng với hào quang của Chân sư, vì vào lúc ấy chúng ta có sự tiếp xúc đầu tiên với trí trừu tượng qua một antahkarana đang được xây dựng, nhưng thường không được xây dựng một cách có ý thức. |
The distinction between the aura of the Master and the aura of the Ashram is that the Master’s aura is dynamic and the group aura is influential, yet the two together constitute the group aura. When this initial response is made it results eventually in the disciple becoming the chela within the aura. | Sự khác biệt giữa hào quang của Chân sư và hào quang của ashram là hào quang của Chân sư có tính năng động, còn hào quang nhóm có sức ảnh hưởng, tuy nhiên, cả hai cùng hợp thành hào quang nhóm. Khi sự đáp ứng ban đầu này diễn ra, cuối cùng nó đưa người đệ tử đến địa vị đệ tử trong hào quang. |
1. We are given an important distinction between the aura of the Master and the aura of the Ashram: | 1. Chúng ta được cho biết một điểm khác biệt quan trọng giữa hào quang của Chân sư và hào quang của Ashram: |
1. The Master’s aura is ‘dynamic’, creating potent results. | 1. Hào quang của Chân sư có tính ‘năng động’, tạo ra những kết quả mạnh mẽ. |
2. The Ashram’s aura is influential (‘flowing in’, as it were, offering a more gradual conditioning.) | 2. Hào quang của Ashram mang sức ảnh hưởng (có thể nói là ‘tuôn vào’, tạo nên sự định hình từ từ hơn). |
2. We might consider the first as coming under the influence of Uranus and the second under Neptune. | 2. Chúng ta có thể xem loại thứ nhất chịu ảnh hưởng của Sao Thiên Vương, còn loại thứ hai chịu ảnh hưởng của Sao Hải Vương. |
3. The initial response will, it seems, occur upon the Probationary Path, but eventually, after a number of lives, the disciple becomes a chela within the aura. | 3. Dường như sự đáp ứng ban đầu sẽ xuất hiện trên Con Đường Dự Bị, nhưng cuối cùng, sau một số kiếp sống, đệ tử trở thành đệ tử trong hào quang. |
4. The radiation which comes from the plane of buddhi or of the spiritual intuition. This is an expression of the love nature of the Master and is that which enables Him to be in touch with the Heart of God. | 4. Bức xạ đến từ cõi Bồ đề hay cõi trực giác tinh thần. Đây là một biểu hiện của bản chất bác ái của Chân sư và là điều giúp Ngài tiếp xúc với Tâm của Thượng đế. |
5. We now deal with the second and still deeper radiation emanating from the Master’s aura, for the love nature of the Master is necessarily deeper (closer to the central mystery of our solar system) than His mind nature (though all are equally essential). | 5. Giờ đây, chúng ta bàn đến bức xạ thứ hai, còn sâu xa hơn, phát ra từ hào quang của Chân sư, vì bản chất bác ái của Chân sư tất nhiên sâu xa hơn (gần với huyền nhiệm trung tâm của hệ mặt trời chúng ta hơn) bản chất trí tuệ của Ngài (dù tất cả đều thiết yếu như nhau). |
It might be noted here that these three radiations emanating from a Master and enhanced by the similar, though much less powerful, radiations of the inner members of the Ashram are the [756] factors which put the Master and the Ashram in contact with that which is occultly spoken of as the physical Sun, the heart of the Sun and the Central Spiritual Sun. | Ở đây, có thể lưu ý rằng ba bức xạ phát ra từ một Chân sư này, được tăng cường nhờ những bức xạ tương tự, dù yếu hơn nhiều, của các thành viên nội bộ trong ashram, là những [756] yếu tố đưa Chân sư và ashram tiếp xúc với những gì huyền bí học gọi là Mặt trời hồng trần, tâm của Mặt trời và Mặt trời Tinh thần Trung Ương. |
1. There is given a comparison between the radiations of the Master and those of the inner members of the Ashram; the latter radiations are similar to the Master’s radiations, but ‘much less powerful’. We are beginning to grasp an idea of the extraordinary potency of a Master of the Wisdom. | 1. Ở đây có sự so sánh giữa các bức xạ của Chân sư và các bức xạ của những thành viên bên trong Ashram; các bức xạ sau tương tự các bức xạ của Chân sư, nhưng ‘kém mạnh mẽ hơn nhiều’. Chúng ta đang bắt đầu nắm được phần nào quyền năng phi thường của một Chân sư Minh Triết. |
2. The Ashram and its Master are in touch with the three aspects of the Sun—the physical Sun, the heart of the Sun and the Central Spiritual Sun. This rapport is created via the abstract mind, the buddhic vehicle and the atmic vehicle respectively. | 2. Ashram và Chân sư của Ashram tiếp xúc với ba phương diện của Mặt Trời—Mặt Trời hồng trần, tâm của Mặt Trời và Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Mối giao cảm này được tạo lập lần lượt qua trí trừu tượng, hiện thể Bồ đề và hiện thể atma. |
The line along which this vibratory activity of the Master reaches the disciple and draws him finally within the aura is: | Đường mà hoạt động rung động này của Chân sư đi theo để đến với người đệ tử và cuối cùng thu hút y vào trong hào quang là: |
a. The buddhic permanent atom, or the intuitional vehicle of the advanced disciple. | a. Nguyên tử trường tồn Bồ đề, hay hiện thể trực giác của người đệ tử tiến hóa cao. |
b. The love petals of the egoic lotus. | b. Các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã. |
c. The astral body in its highest aspect. | c. Thể cảm dục ở phương diện cao nhất của nó. |
d. The heart centre. | d. Trung tâm tim. |
1. Importantly, we note that an advanced disciple will have an actively functioning intuitional vehicle. What is an advanced disciple? Presumably, an advanced disciple is one who has taken the second initiation. | 1. Điều quan trọng cần lưu ý là một đệ tử tiến bộ sẽ có một hiện thể trực giác đang hoạt động tích cực. Đệ tử tiến bộ là gì? Có lẽ một đệ tử tiến bộ là người đã trải qua lần điểm đạo thứ hai. |
2. In this line of descent from buddhi, it is the ‘highest aspect’of the astral body that is involved, and this may suggest, in terms of the chakras, that it is the higher of the two solar plexus centers that is involved. | 2. Trong đường giáng hạ từ Bồ đề này, ‘phương diện cao nhất’ của thể cảm dục tham gia vào, và xét theo các luân xa, điều này có thể gợi ý rằng trung tâm cao hơn trong hai trung tâm tùng thái dương là trung tâm tham gia. |
3. That aspect of the solar plexus center ruled by Neptune is fit to be in the line of descent, but not that part of the solar plexus ruled by Mars. In a more general sense, the entire solar plexus center of the advanced disciple is ruled by Neptune; Martian influences are greatly reduced. | 3. Phương diện của trung tâm tùng thái dương do Sao Hải Vương cai quản thích hợp để tham gia vào đường giáng hạ này, còn phần tùng thái dương do Sao Hỏa cai quản thì không. Theo nghĩa tổng quát hơn, toàn bộ trung tâm tùng thái dương của đệ tử tiến bộ do Sao Hải Vương cai quản; những ảnh hưởng của Sao Hỏa giảm đi rất nhiều. |
4. The cultivation of the abstract mind may bring the disciple to theperiphery of a Master’s ashram, but only the cultivation of the buddhi will allow him to be drawn in (especially, but not exclusively, in relation to a second ray Ashram). | 4. Việc trau dồi trí trừu tượng có thể đưa đệ tử đến vùng ngoại vi của ashram của một Chân sư, nhưng chỉ việc trau dồi Bồ đề mới cho phép y được thu hút vào bên trong (đặc biệt, nhưng không chỉ riêng, đối với một Ashram cung hai). |
3. The radiation which comes from the atmic level or the will aspect of the Spiritual Triad. This is the emanatory expression of the capacity of the Master to enter into the Council at Shamballa, to register the purpose of God and to work with the Plan, which is the expression, in any given cycle, of the working out of the divine Will. This aspect of the Master’s radiatory activity is of so high a nature that only the advanced initiate-chela can register it. | 3. Bức xạ đến từ cấp độ atma hay phương diện ý chí của Tam Nguyên Tinh Thần. Đây là biểu hiện phát xạ của khả năng Chân sư tham dự Hội Đồng tại Shamballa, ghi nhận mục đích của Thượng đế và làm việc với Thiên Cơ, vốn là biểu hiện, trong bất kỳ chu kỳ nhất định nào, của sự thực thi Ý Chí thiêng liêng. Phương diện này trong hoạt động bức xạ của Chân sư có bản chất cao đến mức chỉ người đệ tử đã đạt cấp điểm đạo cao mới có thể ghi nhận. |
1. We see that the atmic expression of the Master is high, indeed, and allows him to (in some sense at least) enter the Council at Shamballa, and there register the purpose of God. | 1. Chúng ta thấy rằng biểu hiện atma của Chân sư quả thực cao siêu, và cho phép Ngài (ít nhất theo một nghĩa nào đó) tiến vào Hội Đồng tại Shamballa, và ở đó ghi nhận Thiên Ý của Thượng đế. |
2. It becomes apparent that not all chelas will register this aspect of the Master’s radiatory activity. One must be an ‘advanced initiate-chela’, which may translate as an initiate of the fourth degree (or almost so), for at that degree the will aspect assumes a new potency. | 2. Rõ ràng không phải mọi đệ tử đều ghi nhận được phương diện này trong hoạt động bức xạ của Chân sư. Người ấy phải là một ‘đệ tử-điểm đạo đồ tiến bộ’, điều có thể được hiểu là một điểm đạo đồ bậc bốn (hoặc gần đến bậc ấy), vì ở bậc đó phương diện ý chí có một quyền năng mới. |
3. The ‘divine Will’may be a term having something to do with the Will of the Solar Logos (for Shamballa reflects that Will). | 3. ‘Ý Chí thiêng liêng’ có thể là một thuật ngữ liên quan phần nào đến Ý Chí của Thái dương Thượng đế (vì Shamballa phản ánh Ý Chí ấy). |
It is transmitted into the physical consciousness of the disciple along the following lines: | Nó truyền vào tâm thức hồng trần của người đệ tử theo những đường sau: |
a. The atmic permanent atom or the focus of the spiritual will, the first aspect of the Spiritual Triad. | a. Nguyên tử trường tồn atma hay tiêu điểm của ý chí tinh thần, phương diện thứ nhất của Tam Nguyên Tinh Thần. |
b. The sacrifice petals of the egoic lotus. | b. Các cánh hoa hi sinh của Hoa Sen Chân Ngã. |
c. The etheric vehicle in its highest aspects. | c. Hiện thể dĩ thái ở những phương diện cao nhất của nó. |
d. The head centre. | d. Trung tâm đầu. |
e. The centre at the base of the spine, which is aroused into activity in response to the vibratory radiation of the other four points of transmission. | e. Trung tâm ở đáy cột sống, được khơi dậy hoạt động để đáp ứng với bức xạ rung động của bốn điểm truyền dẫn kia. |
1. It is important to realize one of the major functions of the atmic permanent atom. We may at times question the source of spiritual will. Here we are told that the atmic permanent atom is the ‘focus of the spiritual will’. | 1. Điều quan trọng là nhận ra một trong những chức năng chủ yếu của nguyên tử trường tồn atma. Đôi khi chúng ta có thể tự hỏi về nguồn gốc của ý chí tinh thần. Ở đây, chúng ta được cho biết rằng nguyên tử trường tồn atma là ‘tiêu điểm của ý chí tinh thần’. |
2. The particulars we might notice in these lines of energy descent can be most revealing. | 2. Những chi tiết mà chúng ta có thể nhận thấy trong các đường giáng hạ năng lượng này có thể hé lộ rất nhiều điều. |
3. Just as the line of descent from the buddhic plane passed through the ‘astral body in its highest aspects'(perhaps the first two or astral subplanes, or perhaps the first three—reflecting the triad), so it is not all aspects of the etheric body which are involved in the energy transmission from atma finally to the base of the spine. Only the ‘etheric vehicle in its highest aspects are involved’. The highest aspects, because the term ‘aspects’is plural, has to involve more than one subplane, but it cannot involve four (as then, all of the etheric body would be involved—not just its ‘highest aspects’). So either two or three subplanes will be involved—either the atomic and sub-atomic subplanes, or the atomic, subatomic and super-etheric subplanes (again, to reflect the triad). The super-etheric subplane would justifiably be included as, in a way, it corresponds to the atmic plane. | 3. Cũng như đường giáng hạ từ cõi Bồ đề đi qua ‘thể cảm dục ở những phương diện cao nhất của nó’ (có lẽ là hai cõi phụ cảm dục đầu tiên, hoặc có lẽ là ba cõi đầu tiên—phản ánh Tam nguyên tinh thần), không phải mọi phương diện của thể dĩ thái đều tham gia vào sự truyền dẫn năng lượng từ atma cuối cùng xuống đáy cột sống. Chỉ ‘hiện thể dĩ thái ở những phương diện cao nhất của nó mới tham gia’. Vì từ ‘các phương diện’ ở dạng số nhiều, những phương diện cao nhất phải bao hàm nhiều hơn một cõi phụ, nhưng không thể bao hàm bốn cõi (vì khi ấy, toàn bộ thể dĩ thái sẽ tham gia—chứ không chỉ những ‘phương diện cao nhất’ của nó). Vì vậy, sẽ có hai hoặc ba cõi phụ tham gia—hoặc cõi phụ nguyên tử và hạ nguyên tử, hoặc cõi phụ nguyên tử, hạ nguyên tử và siêu dĩ thái (một lần nữa, để phản ánh Tam nguyên tinh thần). Có cơ sở để tính cả cõi phụ siêu dĩ thái, vì theo một cách nào đó, nó tương ứng với cõi atma. |
4. A very strong hint is given concerning the arousal of the center at the base of the spine; it is aroused into activity ‘in response to the vibratory radiation of the other four points of transmission—meaning that if the atmic permanent atom, the sacrifice petals, the higher aspects of the etheric vehicle and the head center are not involved, the based of the spine will not be aroused. | 4. Ở đây có một gợi ý rất rõ về sự khơi dậy trung tâm ở đáy cột sống; trung tâm này được khơi dậy để hoạt động ‘khi đáp ứng với bức xạ rung động của bốn điểm truyền dẫn còn lại’—nghĩa là nếu nguyên tử trường tồn atma, các cánh hoa hi sinh, những phương diện cao hơn của hiện thể dĩ thái và trung tâm đầu không tham gia, thì trung tâm ở đáy cột sống sẽ không được khơi dậy. |
5. Therefore, the hint is strong. If a person knows that he should be working on the arousal of the center at the base of the spine, then imagining the energy transmission as involving the four higher points would be an effective means of pursuing this arousal. But such arousal would be dangerous, and further, the whole truth of the matter cannot be contained in the suggestion above, as the ultimate arousal of that center occurs at the fifth initiation at which time one of the stations in the alignment would be missing—the sacrifice petals, for the egoic lotus would have been destroyed. | 5. Do đó, gợi ý này rất rõ. Nếu một người biết rằng mình nên làm việc để khơi dậy trung tâm ở đáy cột sống, thì việc hình dung sự truyền dẫn năng lượng có sự tham gia của bốn điểm cao hơn sẽ là một phương cách hiệu quả để theo đuổi sự khơi dậy này. Nhưng sự khơi dậy như thế sẽ nguy hiểm; hơn nữa, gợi ý trên không thể chứa đựng toàn bộ chân lý về vấn đề này, vì sự khơi dậy tối hậu của trung tâm ấy diễn ra ở lần điểm đạo thứ năm, khi một trong những trạm của sự chỉnh hợp không còn nữa—các cánh hoa hi sinh, vì Hoa Sen Chân Ngã khi ấy đã bị hủy diệt. |
You will note from a study of the above how abstruse and difficult it is to put into words the nature of the vibratory activity of the Master. All I can do—in default of your intuitive understanding—is to put into technical and academic terms (thereby crystallising the truth and somewhat distorting it) that which cannot be expressed. | Qua việc nghiên cứu những điều trên, các bạn sẽ nhận thấy việc diễn đạt bằng lời bản chất hoạt động rung động của Chân sư sâu xa và khó khăn đến mức nào. Khi chưa có sự thấu hiểu bằng trực giác của các bạn, tất cả những gì Tôi có thể làm là dùng những thuật ngữ kỹ thuật và học thuật để diễn đạt điều không thể diễn đạt (qua đó kết tinh chân lý và phần nào làm sai lệch nó). |
1. DK has been trying to convey something which is not easily conveyed in words—’the vibratory activity of the Master’. | 1. Chân sư DK đã cố gắng truyền đạt một điều không dễ diễn đạt bằng lời—‘hoạt động rung động của Chân sư’. |
2. Yet it is this vibratory activity which the advancing disciple must increasingly register, understand and transmit. | 2. Tuy nhiên, chính hoạt động rung động này là điều mà đệ tử đang tiến bước phải ngày càng ghi nhận, thấu hiểu và truyền dẫn. |
3. The Master seems to suggest that (at least in relation to this matter) we, as disciples, lack sufficient intuitive understanding for Him to really convey His meaning. | 3. Dường như Chân sư muốn nói rằng (ít nhất đối với vấn đề này), chúng ta, với tư cách các đệ tử, chưa có đủ sự thấu hiểu trực giác để Ngài thực sự truyền đạt ý nghĩa của Ngài. |
4. What He is able to give is, therefore, academic, and consequently crystallized and somewhat distorted. | 4. Do đó, điều Ngài có thể trao truyền mang tính học thuật, và vì vậy đã kết tinh và phần nào sai lệch. |
5. We are attempting to gather a full understanding of what Master DK has expressed, but we must remain cognizant of the thought that what He has been able to express is a limitation upon the truth. | 5. Chúng ta đang cố gắng đạt được sự thấu hiểu trọn vẹn về những gì Chân sư DK đã diễn đạt, nhưng phải luôn ý thức rằng những gì Ngài có thể diễn đạt chỉ trình bày chân lý trong một giới hạn. |
This threefold radiation of the Master, as it expresses His planned activity and sphere of “influential emanation” is that which draws the disciple into His aura—not in this instance [757] the aura of the Ashram but of that which makes the ashramic aura possible—the Life of the Master. | Bức xạ tam phân này của Chân sư, khi biểu lộ hoạt động có kế hoạch và phạm vi “phát xạ có sức ảnh hưởng” của Ngài, chính là điều thu hút người đệ tử vào hào quang của Ngài—trong trường hợp này [757] là hào quang của điều khiến hào quang ashram trở nên khả hữu, tức Sự Sống của Chân sư, chứ không phải hào quang của ashram. |
1. What draws the disciple into the aura of the Master? We are told that it is the ‘threefold emanation’from the triadal aspects of the Master. | 1. Điều gì thu hút đệ tử vào hào quang của Chân sư? Chúng ta được cho biết đó là ‘sự phát xạ tam phân’ từ các phương diện Tam nguyên tinh thần của Chân sư. |
2. We are not here speaking of the process by which the disciple is drawn into the aura of the Ashram, but of the process which draws him towards the central Life of the Ashram and into the aura of the Master. | 2. Ở đây, chúng ta không nói đến tiến trình thu hút đệ tử vào hào quang của Ashram, mà nói đến tiến trình thu hút y hướng về Sự Sống trung tâm của Ashram và vào hào quang của Chân sư. |
3. The practical aspect of all this is that one must develop one’s responsiveness to the spiritual triad in order to be drawn into the aura of the Master. The building and right utilization of the antahkarana is the way into the Ashram and into increasingly intimate contact with the Master, Himself. | 3. Phương diện thực tiễn của tất cả điều này là mỗi người phải phát triển khả năng đáp ứng của mình với Tam Nguyên Tinh Thần để được thu hút vào hào quang của Chân sư. Việc xây dựng và sử dụng đúng antahkarana là con đường đi vào Ashram và đi vào sự tiếp xúc ngày càng mật thiết với chính Chân sư. |
One interesting fact might here be given. The moment when an initiate-chela has intensified his vibration so that it is identical with that of the Master andcan hold that rate of vibration as his normal radiatory quality, then he himself becomes a Master. | Ở đây, có thể nêu ra một sự kiện thú vị. Khi một đệ tử đã được điểm đạo tăng cường rung động của mình đến mức đồng nhất với rung động của Chân sư và có thể duy trì nhịp độ rung động ấy như phẩm tính bức xạ bình thường của mình, thì chính y trở thành một Chân sư. |
1. There are many ways to think about becoming a Master, about how it is done. Here we are given the method from the perspective ofvibration. | 1. Có nhiều cách để suy nghĩ về việc trở thành một Chân sư, về cách thực hiện điều ấy. Ở đây, chúng ta được cho biết phương pháp từ góc độ rung động. |
2. We have to achieve a vibration identical to that of the Master and ‘hold that rate of vibration’as our ‘normal radiatory quality’. One who can do this has become a Master. | 2. Chúng ta phải đạt được một rung động đồng nhất với rung động của Chân sư và ‘duy trì nhịp độ rung động ấy’ như ‘phẩm tính bức xạ bình thường’ của mình. Người có thể làm điều này đã trở thành một Chân sư. |
3. From the practical perspective we have to learn to register increasingly high vibrations and sustain the vibrations registered. As we all know, this is not easy and is the cause of so many disappointments as disciples assess their lives. | 3. Từ góc độ thực tiễn, chúng ta phải học cách ghi nhận những rung động ngày càng cao và duy trì những rung động đã ghi nhận. Như tất cả chúng ta đều biết, điều này không dễ và là nguyên nhân của biết bao thất vọng khi các đệ tử đánh giá cuộc đời mình. |
In every Ashram, there is always at a given moment some one disciple who is being trained to take the Master’s place eventually, thereby releasing Him for higher and more important work. As you know, I was the senior disciple of the Master K.H. and when I became a Master, I released Him for higher work and my place in His group was taken by another disciple on the second ray; | Trong mỗi ashram, vào bất kỳ thời điểm nào, luôn có một đệ tử nào đó đang được huấn luyện để cuối cùng thay thế Chân sư, nhờ đó giải phóng Ngài cho công việc cao hơn và quan trọng hơn. Như các bạn biết, Tôi từng là đệ tử cao cấp nhất của Chân sư KH, và khi trở thành Chân sư, Tôi đã giải phóng Ngài cho công việc cao hơn; vị trí của Tôi trong nhóm của Ngài do một đệ tử khác thuộc cung hai đảm nhận; |
1. Is there reason to believe that this other disciple was AAB? One could ponder upon it as a possibility, but it may be that AAB was not sufficiently developed to do this. She is now, however, a senior disciple in the Ashram of Master KH. | 1. Có lý do nào để tin rằng người đệ tử khác này là AAB không? Có thể suy ngẫm về điều đó như một khả năng, nhưng cũng có thể Bà AAB chưa phát triển đủ để làm điều này. Tuy nhiên, hiện nay Bà là một đệ tử cao cấp trong Ashram của Chân sư KH. |
2. The term ‘senior disciple’is important and interesting. DK tells us that He was the senior disciple in Master KH’s Ashram before He, Himself, became a Master. | 2. Thuật ngữ ‘đệ tử cao cấp’ quan trọng và thú vị. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng Ngài từng là vị đệ tử cao cấp đứng đầu trong Ashram của Chân sư KH trước khi chính Ngài trở thành một Chân sư. |
3. We should remain alert to the distinction between a senior disciple andthe senior disciple. | 3. Chúng ta nên lưu tâm đến sự khác biệt giữa một đệ tử cao cấp và vị đệ tử cao cấp đứng đầu. |
4. The principle calling for the training of those who aspire to facilitate the release of the one who trains is important. Each of us will have to deal with a reflection of this principle. This is not only true of Masters and those in Ashrams, but of people in business and politics, for instance. One seeks to train one’s successor (s). | 4. Nguyên tắc đòi hỏi huấn luyện những người mong muốn góp phần giải phóng người huấn luyện mình là một nguyên tắc quan trọng. Mỗi người chúng ta sẽ phải xử lý một biểu hiện phản ánh nguyên tắc này. Điều này không chỉ đúng với các Chân sư và những người trong các Ashram, mà còn đúng, chẳng hạn, với những người trong kinh doanh và chính trị. Người ta tìm cách huấn luyện người hoặc những người kế nhiệm mình. |
two disciples are needed to bring about the complete liberation of a Master from all ashramic work and I was the first of the two chosen to do this. The other has not yet made the grade. | cần có hai đệ tử để giải phóng hoàn toàn một Chân sư khỏi mọi công việc ashram, và Tôi là người đầu tiên trong hai người được chọn để thực hiện điều này. Người kia vẫn chưa đạt trình độ cần thiết. |
1. Again, could this be AAB (especially at the time this was written)? | 1. Một lần nữa, liệu người này có thể là Bà AAB không (đặc biệt vào thời điểm đoạn này được viết)? |
2. We must also ask ourselves, when a Master becomes a Chohan, is He released from all ashramic work? In a way, one would think not, because a Chohan is in charge of an entire Ray Ashram—not just a smaller Ashram within the larger grouping. However, much depends on what is meant by ‘ashramic work’. | 2. Chúng ta cũng phải tự hỏi, khi một Chân sư trở thành một Đấng Chohan, liệu Ngài có được giải phóng khỏi mọi công việc ashram không? Theo một cách nào đó, có lẽ người ta sẽ nghĩ là không, vì một Đấng Chohan phụ trách toàn bộ một Ashram của một cung—chứ không chỉ một Ashram nhỏ hơn trong tập hợp lớn hơn. Tuy nhiên, điều này tùy thuộc rất nhiều vào ý nghĩa của ‘công việc ashram’. |
3. The term ‘making the grade’means to measure up to a necessary vibratory level, and thus involves the idea of measuring frequencies. This phrase, thus, has its occult interpretations as well as interpretations which are reflections in the normal world of daily affairs. | 3. Cụm từ ‘đạt yêu cầu’ có nghĩa là đạt đến một cấp độ rung động cần thiết, và do đó bao hàm ý tưởng đo lường các tần số. Vì vậy, cụm từ này có những cách diễn giải huyền bí, cũng như những cách diễn giải phản ánh chúng trong thế giới thông thường của các công việc hằng ngày. |
When this process of identification takes place, a moving forward of every member in the entire Ashram becomes possible, e’en though it seldom happens. | Khi tiến trình đồng hoá này diễn ra, mọi thành viên trong toàn bộ ashram đều có thể tiến lên, dù điều đó hiếm khi xảy ra. |
1. We are reminded that we are speaking of a process of identification by means of which an initiate becomes a Master. | 1. Chúng ta được nhắc rằng mình đang nói đến một tiến trình đồng hoá, nhờ đó một điểm đạo đồ trở thành một Chân sư. |
2. DK is telling us that becoming a Master is not so common. Perhaps it will be more common (and more necessary) in the not too distant future. | 2. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng việc trở thành một Chân sư không phổ biến đến thế. Có lẽ điều ấy sẽ phổ biến hơn (và cần thiết hơn) trong tương lai không quá xa. |
Symbolically speaking, it might be described as a potent expanding impulse which widens the circle of the Ashram so that higher levels can be touched and lower spheres of influence can be included. | Nói theo nghĩa biểu tượng, có thể mô tả điều này như một xung lực mở rộng mạnh mẽ, nới rộng vòng tròn của ashram để có thể tiếp xúc với các cấp độ cao hơn và bao gồm những phạm vi ảnh hưởng thấp hơn. |
1. Every achievement of a member of an Ashram strengthens that Ashram. The supreme achievement of becoming a Master affects the Ashram powerfully; its higher and lower reaches are extended. | 1. Mỗi thành tựu của một thành viên trong Ashram đều củng cố Ashram ấy. Thành tựu tối cao là trở thành một Chân sư tác động mạnh mẽ đến Ashram; tầm vươn tới cả phía cao hơn lẫn phía thấp hơn của Ashram đều mở rộng. |
2. It is well to notice that when an initiate achieves greater vibratory elevation, He is also equipped to serve more powerfully in lower vibratory levels. This is another perspective on the Word of Power: ‘The Highest and the Lowest Meet’. | 2. Cần lưu ý rằng khi một điểm đạo đồ đạt được sự nâng cao rung động lớn hơn, Ngài cũng có đủ năng lực để phụng sự mạnh mẽ hơn ở những cấp độ rung động thấp hơn. Đây là một góc nhìn khác về Quyền năng từ: ‘Cái Cao Nhất và Cái Thấp Nhất Gặp Nhau’. |
Some day, it will be all “realised Hierarchy” for the Hierarchy is but a state of consciousness with the life aspect, Shamballa, at the centre, and the circle of humanity constituting the emanating factor, the radiatory influence or the aura, whereby the other kingdoms in nature are evoked into responsive activity. | Một ngày nào đó, tất cả sẽ là “Thánh đoàn đã được chứng nghiệm”, vì Thánh đoàn chỉ là một trạng thái tâm thức với phương diện sự sống, Shamballa, ở trung tâm, và vòng tròn nhân loại hợp thành yếu tố phát xạ, ảnh hưởng bức xạ hay hào quang, qua đó các giới khác trong thiên nhiên được gợi lên để hoạt động đáp ứng. |
1. A great synthetic statement is here offered. | 1. Ở đây, một phát biểu tổng hợp lớn lao được đưa ra. |
2. When Hierarchy is contrasted with Shamballa and humanity, it occupies the second place. But Hierarchy can be conceived in broader terms, and all three can be seen as one divine hierarchical process. | 2. Khi đặt Thánh đoàn trong sự đối chiếu với Shamballa và nhân loại, Thánh đoàn giữ vị trí thứ hai. Nhưng có thể quan niệm Thánh đoàn theo nghĩa rộng hơn, và có thể xem cả ba là một tiến trình thiêng liêng duy nhất theo thứ bậc. |
3. The perspective on humanity is interesting: it will become the emanating factor and radiatory influence, or the aura whereby the lower kingdoms of nature are evoked. | 3. Góc nhìn về nhân loại thật thú vị: nhân loại sẽ trở thành nhân tố phát xạ và ảnh hưởng bức xạ, hay hào quang qua đó các giới thấp trong thiên nhiên được khơi dậy. |
4. This tells us that the aura (like humanity) is related to the third orexpressive aspect. | 4. Điều này cho chúng ta biết rằng hào quang (cũng như nhân loại) liên quan đến phương diện thứ ba, hay phương diện biểu hiện. |
This is a broad and general picture of this stage of discipleship as I have attempted to convey its individual implications and its more esoteric group results. More I may not say, nor can I enlarge upon the process whereby a chela within the aura can at will and for the meeting of some urgent need confer with the Master in the Ashram. | Đây là bức tranh bao quát và tổng quát về giai đoạn này của địa vị đệ tử, trong đó Tôi đã cố gắng truyền đạt những hàm ý đối với cá nhân và những kết quả nhóm mang tính nội môn hơn của nó. Tôi không được nói thêm, cũng không thể nói rộng về tiến trình nhờ đó một đệ tử trong hào quang có thể tùy ý và nhằm đáp ứng một nhu cầu cấp bách nào đó mà trao đổi với Chân sư trong ashram. |
1. There are techniques for a chela on the thread to contact his Master, and higher techniques whereby a chela within the aura may set up a conference with the Master of the Ashram. Master DK has told us that when we are chelas on the thread we will be given the appropriate technique; when we have measured up to the grade of chela within the aura, we may presume that the appropriate technique will also be conferred. | 1. Có những kỹ thuật để một đệ tử trên đường dây tiếp xúc với Chân sư của mình, và những kỹ thuật cao hơn để một đệ tử trong hào quang có thể thu xếp một cuộc trao đổi với Chân sư của Ashram. Chân sư DK đã cho chúng ta biết rằng khi là các đệ tử trên đường dây, chúng ta sẽ được truyền dạy kỹ thuật thích hợp; khi đã đạt đến cấp bậc đệ tử trong hào quang, chúng ta có thể cho rằng kỹ thuật thích hợp cũng sẽ được truyền dạy. |
One thing only can I tell you. The Master always has three disciples who are His closest cooperators and intermediaries. They have emerged “into His consciousness,” as it is called, in response to the radiatory activity of His threefold spiritual nature. They work very closely with Him and watch over the other disciples in the group [758] according to their need, their ray and their point of development. | Tôi chỉ có thể nói với các bạn một điều. Chân sư luôn có ba đệ tử là những cộng sự và người trung gian thân cận nhất của Ngài. Họ đã bước “vào tâm thức của Ngài”, như cách người ta gọi, để đáp ứng với hoạt động bức xạ của bản chất tinh thần tam phân của Ngài. Họ làm việc rất mật thiết với Ngài và trông nom các đệ tử khác trong nhóm [758] tùy theo nhu cầu, cung và điểm phát triển của những người ấy. |
1. While it takes two disciples to release a Master from ashramic duties, there are three disciples who are especially close to the Master. | 1. Trong khi cần có hai đệ tử để giải phóng một Chân sư khỏi những nhiệm vụ ashram, có ba đệ tử đặc biệt gần gũi với Chân sư. |
2. How do they assume the position of the Master’s closest cooperators and intermediaries? They have responded so completely to ‘the radiatory activity of His threefold spiritual nature (i.e., triadal nature), that they have ’emerged into His consciousness’. Obviously this cannot be forced. It is a question of the deepest attunement with the Master and His purposes. | 2. Làm thế nào họ đảm nhận vị trí những người cộng tác và trung gian gần gũi nhất của Chân sư? Họ đã đáp ứng trọn vẹn đến mức với ‘hoạt động bức xạ của bản chất tinh thần tam phân của Ngài’ (tức bản chất Tam nguyên tinh thần), nên họ đã ‘tiến vào trong tâm thức của Ngài’. Hiển nhiên không thể cưỡng ép điều này. Đó là vấn đề hòa điệu sâu xa nhất với Chân sư và những mục đích của Ngài. |
You will remember in this connection how even the Christ had three disciples who were closer to Him than the other nine. This is ever true. | Về điều này, các bạn sẽ nhớ rằng ngay cả Đức Christ cũng có ba đệ tử thân cận với Ngài hơn chín người kia. Điều này luôn đúng. |
1. We are dealing with a twelvefold division, and perhaps the numbers three and nine are particularly important in the functioning of an Ashram. There is a special figure which may suggest the configuration of an Ashram; it consists of a central triangle surrounded by three triangles each of which shares a vertex of the central triangle. It consists, therefore, of four triangles and nine points, but three of the points are ‘repeated’, thus making the twelve. | 1. Chúng ta đang bàn đến một sự phân chia thành mười hai phần, và có lẽ các con số ba và chín đặc biệt quan trọng trong hoạt động của một Ashram. Có một hình đặc biệt có thể gợi ra cấu hình của một Ashram; hình ấy gồm một tam giác trung tâm được bao quanh bởi ba tam giác, mỗi tam giác cùng chung một đỉnh với tam giác trung tâm. Vì vậy, hình ấy gồm bốn tam giác và chín điểm, nhưng ba trong số các điểm được ‘lặp lại’, nhờ đó tạo thành mười hai. |
2. DK tells us that this numerical division is ‘ever true’, and thus, an important hint is given. | 2. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng sự phân chia theo con số này ‘luôn đúng’, và như vậy, một gợi ý quan trọng được đưa ra. |
In the Biblical story anent the Christ, you have—among other things—conveyed a picture of an Ashram as technically constituted and of the Hierarchy as it essentially exists. There were the three disciples, beloved and close; then the nine, who completed the inner Ashram. Next came the seventy who were symbolic of the Ashram as a whole and, finally, the five hundred who typified those upon the Probationary Path who were under supervision by the Master, but not by the three, the nine and the seventy until the time comes to admit them to the Path of Accepted Discipleship. | Trong câu chuyện Kinh Thánh về Đức Christ, ngoài những điều khác, các bạn còn được truyền đạt một bức tranh về một ashram được cấu thành theo đúng nghĩa kỹ thuật và về Thánh đoàn như thực chất hiện hữu. Có ba đệ tử được yêu mến và thân cận; rồi đến chín người, hoàn tất ashram nội bộ. Tiếp đến là bảy mươi người tượng trưng cho toàn bộ ashram, và cuối cùng là năm trăm người tiêu biểu cho những người trên Con Đường Dự Bị dưới sự giám sát của Chân sư, nhưng chưa dưới sự giám sát của ba người, chín người và bảy mươi người cho đến khi đến lúc chấp nhận họ vào Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận. |
1. This is a remarkable section concerning the functioning of an Ashram. Christ and His twelve disciples out-pictured for us the workings of a hierarchical Ashram. | 1. Đây là một đoạn đáng chú ý về hoạt động của một Ashram. Đức Christ và mười hai đệ tử của Ngài đã thể hiện cho chúng ta thấy cách vận hành của một Ashram thuộc Thánh đoàn. |
2. The numbers given are, it seems, partially literal and partially symbolical. | 2. Dường như các con số được đưa ra một phần mang nghĩa đen, một phần mang nghĩa biểu tượng. |
3. When we look at the structure of the egoic lotus, we see the jewel in the lotus as the Christ; the three beloved disciples are symbolized by the synthesizing petals; and the remaining nine who were also close to the Master, by the three tiers of three petals each—the nine. | 3. Khi nhìn vào cấu trúc của Hoa Sen Chân Ngã, chúng ta thấy Bảo Ngọc Trong Hoa Sen như Đức Christ; ba đệ tử được yêu quý có biểu tượng là các cánh hoa tổng hợp; còn chín người còn lại, cũng gần gũi với Chân sư, có biểu tượng là ba tầng, mỗi tầng gồm ba cánh hoa—tổng cộng chín cánh. |
4. The number seventy symbolically completes the Ashram as a whole. This number has a cross reference to the middle number in the symbolical 777 incarnations experienced by the human Jiva—700 + 70 + 7. | 4. Con số bảy mươi hoàn tất toàn bộ Ashram theo nghĩa biểu tượng. Con số này có mối liên hệ đối chiếu với con số ở giữa trong 777 kiếp lâm phàm mang tính biểu tượng mà linh hồn cá nhân của con người trải qua—700 + 70 + 7. |
5. The number seven suggests training for initiation. | 5. Con số bảy gợi đến việc huấn luyện để điểm đạo. |
6. The number five, which is related to the five hundred, suggests mental training, and is also the number most associated with the cycles of the second ray (under which all probationary disciples come). | 6. Con số năm, liên quan đến năm trăm người, gợi đến việc huấn luyện trí tuệ, và cũng là con số gắn liền nhất với các chu kỳ của cung hai (cung mà tất cả các đệ tử dự bị đều chịu ảnh hưởng). |
7. It is interesting that the Master supervises the five hundred but that the members of the Ashram do not—until these five hundred become accepted disciples. | 7. Điều thú vị là Chân sư giám sát năm trăm người, còn các thành viên của Ashram thì không—cho đến khi năm trăm người này trở thành những đệ tử được chấp nhận. |
In the greatest Ashram of all, Sanat Kumara has the same sequence of relationships among the great Beings Who form His group of active workers. Bear in mind, however, that these figures are symbolic and not factual. | Trong ashram vĩ đại nhất, Sanat Kumara có cùng một trình tự quan hệ như vậy giữa các Sinh Mệnh vĩ đại hợp thành nhóm những người hoạt động tích cực của Ngài. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng những con số này mang tính biểu tượng và không phải là số liệu thực tế. |
1. DK points to the symbolical nature of the numbers given. We are told, however, that the three surrounding the Master are actually and factually three. Every point has its triangle and every triangle its central point. | 1. Chân sư DK chỉ ra tính biểu tượng của những con số được đưa ra. Tuy nhiên, chúng ta được cho biết rằng ba người quanh Chân sư thực sự và trên thực tế đúng là ba người. Mỗi điểm đều có tam giác của nó và mỗi tam giác đều có điểm trung tâm của nó. |
2. The number three has a factual meaning in relation to Sanat Kumara and the three Buddhas of Activity. | 2. Con số ba mang ý nghĩa thực tế trong mối liên hệ với Sanat Kumara và ba vị Phật Hoạt Động. |
3. DK says that the same ‘sequence of relationships’is also found in Shamballa. | 3. Chân sư DK nói rằng cùng một ‘trình tự các mối quan hệ’ ấy cũng hiện hữu ở Shamballa. |
4. By that He may mean a sequence which is divided into— | 4. Qua đó, có thể Ngài muốn nói đến một trình tự được phân chia thành— |
1. Those who are very close—the three intimate ones. | 1. Những vị rất gần gũi—ba vị thân cận. |
2. Those who are close | 2. Những vị gần gũi |
3. Those who are ‘accepted'(in this instance, as members of Shamballa) | 3. Những vị ‘được chấp nhận’ (trong trường hợp này, với tư cách thành viên của Shamballa) |
4. Those who are in training (i.e., on probation) for acceptance. | 4. Những vị đang được huấn luyện (tức đang trong giai đoạn dự bị) để được chấp nhận. |
5. Whatever the actual numbers may be, they are not given. | 5. Dù các con số thực tế là bao nhiêu, chúng cũng không được cho biết. |
The number of disciples in an Ashram varies constantly, but always there are the three who are responsible to the Master for all ashramic activity, who are in His closest councils and who carry out His plans. The chain of Hierarchy is great and immutable and the sequences unalterable. | Số đệ tử trong một ashram liên tục thay đổi, nhưng luôn có ba người chịu trách nhiệm trước Chân sư về mọi hoạt động ashram, dự những cuộc bàn thảo thân cận nhất của Ngài và thực hiện các kế hoạch của Ngài. Chuỗi liên kết của Thánh đoàn thật lớn lao và bất biến, và các trình tự không thể thay đổi. |
1. DK gives us a realistic picture of the numbers of disciples in an Ashram: the number varies constantly, but the three remain constant. | 1. Chân sư DK cho chúng ta một bức tranh thực tế về số lượng đệ tử trong một Ashram: số lượng ấy biến đổi không ngừng, nhưng ba người vẫn luôn cố định. |
2. The three are in a Master’s ‘closest councils’and carry out His plans. | 2. Ba người ấy tham dự những ‘cuộc bàn nghị thân cận nhất’ của một Chân sư và thực hiện những kế hoạch của Ngài. |
3. We can see this when thinking of the ‘Council Chamber in Shamballa’. The three Buddhas of Activity are in Sanat Kumara’s ‘closest councils’. | 3. Chúng ta có thể thấy điều này khi nghĩ đến ‘Phòng Hội Đồng tại Shamballa’. Ba vị Phật Hoạt Động tham dự những ‘cuộc bàn nghị thân cận nhất’ của Sanat Kumara. |
In considering the theme of the chela within the Master’s aura, we have seen that the true pledged disciple who has reached the stage of being an accepted disciple passes from point to point within the circumference of a Master’s sphere of influence until he reaches a period wherein he consciously “knows” his Master’s aura. Now that, my brothers, is a perfectly meaningless phrase, but it is technically and esoterically correct. I will paraphrase its significance for you in an endeavour to give you some of the vital implications. | Khi xem xét chủ đề người đệ tử trong hào quang của Chân sư, chúng ta đã thấy rằng người đệ tử chân chính đã cam kết và đạt đến giai đoạn đệ tử được chấp nhận sẽ đi từ điểm này đến điểm khác trong phạm vi ảnh hưởng của một Chân sư, cho đến một thời kỳ mà y hữu thức “biết” hào quang của Chân sư mình. Các huynh đệ của Tôi, đây là một cụm từ hoàn toàn vô nghĩa, nhưng lại chính xác về mặt kỹ thuật và nội môn. Tôi sẽ diễn giải thâm nghĩa của nó cho các bạn nhằm truyền đạt một số hàm ý thiết yếu. |
1. Here is offered a brief recapitulation of the entire process—the manner in which a pledged disciple becomes an accepted disciple and eventually comes to the point when he ‘knows’his Master’s aura. | 1. Ở đây có một bản tóm lược ngắn gọn toàn bộ tiến trình—cách một đệ tử cam kết trở thành đệ tử được chấp nhận và cuối cùng đạt tới chỗ “biết” hào quang của Chân sư mình. |
2. In this, DK has given us a piece of technical occultism. We must ponder on the term ‘know’. | 2. Qua điều này, Chân sư DK đã cung cấp cho chúng ta một nội dung chuyên môn của huyền bí học. Chúng ta phải suy ngẫm về từ “biết”. |
3. Below is Master DK’s discussion of the meaning of knowing the Master’s aura. | 3. Dưới đây là phần Chân sư DK bàn về ý nghĩa của việc biết hào quang của Chân sư. |
1. He is aware not only of the Master, but of what is in the Master’s mind. That means that he is telepathically en rapport with his Master. | 1. Y nhận biết không chỉ Chân sư, mà cả những gì ở trong thể trí của Chân sư. Điều đó hàm ý rằng y giao cảm viễn cảm với Chân sư mình. |
2. He is consciously past all inward discussion of what the Master wants him to do. He knows the part which he has to play. | 2. Y đã hữu thức vượt qua mọi sự tranh luận nội tâm về điều Chân sư muốn y làm. Y biết phần việc mình phải đảm nhận. |
3. He responds sensitively to the Master’s aura not only upon the inner planes of life and in the Ashram proper, [759] but also with his physical brain. He moves within the aura in his daily physical plane life. This process necessarily falls into five stages: | 3. Y đáp ứng nhạy bén với hào quang của Chân sư không chỉ trên các cõi sống bên trong và trong chính ashram, [759] mà còn bằng bộ não hồng trần của mình. Y hoạt động trong hào quang ấy trong đời sống hằng ngày trên cõi hồng trần. Tiến trình này tất yếu trải qua năm giai đoạn: |
1. We can see that the disciple who ‘knows’His Master’s aura is undeflectable. He knows the Master’s thought and wishes. He know what the Master would have him do, and remains sensitive to the aura not only on the inner planes but in his brain consciousness on the physical plane. He does not stray from this auric contact. | 1. Chúng ta có thể thấy rằng người đệ tử “biết” hào quang của Chân sư mình thì không thể bị làm chệch hướng. Y biết tư tưởng và mong muốn của Chân sư. Y biết điều Chân sư muốn y làm, và vẫn nhạy bén với hào quang ấy không chỉ trên các cõi bên trong mà còn trong tâm thức não bộ trên cõi hồng trần. Y không rời khỏi sự tiếp xúc với hào quang này. |
2. DK elaborates the stages of this development. | 2. Chân sư DK trình bày chi tiết các giai đoạn của sự phát triển này. |
a. He is telepathically en rapport. His mind and his brain respond to the Master’s mind. | a. Y giao cảm viễn cảm. Thể trí và bộ não của y đáp ứng với thể trí của Chân sư. |
1. In the type of telepathy achieved, we note there is no mention of the Master’s brain because the physical ‘appearance’ of the Master is not that which is of greatest consequence (and may be an intermittent appearance in any case, according to when a Mayavirupa is used). | 1. Trong loại viễn cảm đã đạt được này, chúng ta lưu ý rằng không có sự đề cập nào đến bộ não của Chân sư, vì “vẻ ngoài” hồng trần của Ngài không phải là điều quan trọng nhất (và trong mọi trường hợp, sự xuất hiện ấy có thể chỉ diễn ra từng lúc, tùy theo thời điểm huyễn thân được sử dụng). |
b. He is, therefore, mentally aware of the content of the Master’s mind. This affects his life and service and his mind constantly formulates the telepathic impressions into organised formulas which are then available for directive processes. | b. Do đó, y nhận biết bằng trí tuệ nội dung trong thể trí của Chân sư. Điều này ảnh hưởng đến đời sống và sự phụng sự của y, và thể trí y liên tục định hình các ấn tượng viễn cảm thành những công thức có tổ chức, rồi có thể dùng chúng cho các tiến trình chỉ đạo. |
1. The thinking process of such a chela is under the direct impression of the Master. He is thinking, to the best of his ability, as the Master would think (in his own particular circumstances) | 1. Tiến trình tư duy của một đệ tử như thế chịu ấn tượng trực tiếp từ Chân sư. Trong khả năng tốt nhất của mình, y suy nghĩ như Chân sư sẽ suy nghĩ (trong hoàn cảnh riêng của chính y) |
c. Being, at this stage, relatively free from glamour, he is able to respond from the angle of sensitivity and feeling and consequently able to bring through the Master’s plans (his share of them) on to the astral plane. | c. Ở giai đoạn này, vì tương đối thoát khỏi ảo cảm, y có thể đáp ứng từ góc độ nhạy cảm và cảm nhận, nhờ đó có thể đưa các kế hoạch của Chân sư (phần việc của y trong đó) xuống cõi cảm dục. |
1. The chela still has an astral body, but is relatively free from glamor. A chela within the aura must be an initiate of the third degree. This means that a third degree initiate may still have some glamorous responses. | 1. Người đệ tử vẫn có một thể cảm dục, nhưng tương đối thoát khỏi ảo cảm. Một đệ tử trong hào quang phải là điểm đạo đồ bậc ba. Điều này có nghĩa là một điểm đạo đồ bậc ba vẫn có thể có một số đáp ứng mang tính ảo cảm. |
2. We see that an astral body is an important medium of contact even for an initiate. The majority of people have to be contacted via the astral body, and so it cannot be ineffective in the life of the initiate. The Master does also have plans to the astral plane, not only the physical. | 2. Chúng ta thấy rằng thể cảm dục là một phương tiện tiếp xúc quan trọng ngay cả đối với một điểm đạo đồ. Phải tiếp xúc với đa số mọi người qua thể cảm dục, nên thể này không thể thiếu hiệu quả trong đời sống của điểm đạo đồ. Chân sư cũng có những kế hoạch dành cho cõi cảm dục, chứ không chỉ cho cõi hồng trần. |
d. Etherically, he can begin to work with and use the ashramic force which his Master and his soul can make available to him to use upon the physical plane. He becomes what is called a “projector of force” and can then produce results upon the physical plane. | d. Về mặt dĩ thái, y có thể bắt đầu làm việc với và sử dụng mãnh lực ashram mà Chân sư và linh hồn y có thể cung cấp cho y để sử dụng trên cõi hồng trần. Y trở thành người được gọi là “người phóng chiếu mãnh lực” và khi ấy có thể tạo ra những kết quả trên cõi hồng trần. |
1. The emphasis is laid on the etheric body. There is a direct connection between the Ashram (found within the cosmic ethers) and the microcosmic ethers of the chela. | 1. Trọng tâm được đặt vào thể dĩ thái. Có một mối liên hệ trực tiếp giữa ashram (nằm trong các tầng dĩ thái vũ trụ) và các tầng dĩ thái tiểu thiên địa của người đệ tử. |
2. The results to be produced are in line with ashramic intent. These results may have a certain magical content as they will have the force of the Ashram behind them. | 2. Những kết quả cần tạo ra phù hợp với chủ đích của ashram. Những kết quả này có thể hàm chứa một yếu tố huyền thuật nhất định, vì có mãnh lực của ashram hỗ trợ phía sau. |
3. We note here, that the term ‘soul’is used. The ‘soul’as well as the Ashram makes ‘ashramic force’available to him. Is this the force of the Solar Angel, or the triadal force of the disciple himself? | 3. Ở đây, chúng ta lưu ý rằng từ “linh hồn” được sử dụng. “Linh hồn”, cũng như ashram, cung cấp “mãnh lực ashram” cho y. Đây là mãnh lực của Thái dương Thiên Thần, hay mãnh lực Tam Nguyên Tinh Thần của chính người đệ tử? |
e. His brain becomes consciously aware of the simultaneity of the above four processes so that he passes into a new phase of conscious discipleship. Through his own soul and the Master’s sphere of influence the Plan lies open before him. I would point out that this is not only a higher stage of discipleship but presupposes initiate understanding. | e. Bộ não của y hữu thức nhận biết tính đồng thời của bốn tiến trình trên, nhờ đó y bước vào một giai đoạn mới của địa vị đệ tử hữu thức. Qua chính linh hồn y và phạm vi ảnh hưởng của Chân sư, Thiên Cơ mở ra trước y. Tôi muốn chỉ ra rằng đây không chỉ là một giai đoạn cao hơn của địa vị đệ tử, mà còn đòi hỏi y phải có sự thấu hiểu của điểm đạo đồ. |
1. We are told directly that a chela in the aura must be an initiate (i.e., one with ‘initiate understanding’). | 1. Chúng ta được cho biết trực tiếp rằng một đệ tử trong hào quang phải là một điểm đạo đồ (tức là người có “sự thấu hiểu của một điểm đạo đồ”). |
2. It is clear from the use of the word ‘simultaneity'(and from the numberfour) that such a chela is intuitively responsive. The four processes mentioned above will function together and because of their simultaneous functioning a ‘new phase of conscious discipleship’opens up before him. | 2. Qua việc sử dụng từ “tính đồng thời” (và con số bốn), rõ ràng một đệ tử như thế đáp ứng bằng trực giác. Bốn tiến trình nói trên sẽ cùng hoạt động, và nhờ hoạt động đồng thời ấy, một “giai đoạn mới của địa vị đệ tử hữu thức” mở ra trước mắt y. |
3. The chela within the aura has the nature of the Plan open to him to a far greater degree than will be possible during the earlier stages of discipleship. | 3. Đối với đệ tử trong hào quang, bản chất của Thiên Cơ mở ra ở một mức độ lớn hơn nhiều so với những gì có thể đạt được trong các giai đoạn trước của địa vị đệ tử. |
The neophyte knows that the goal of the occultist is to work with forces. He fails, however, to recognise that this may not be consciously done until— | Người sơ cơ biết rằng mục tiêu của nhà huyền bí học là làm việc với các mãnh lực. Tuy nhiên, y không nhận ra rằng điều này chưa thể được thực hiện một cách có ý thức cho đến khi— |
1. That we, as disciples, may intend to work with forces is no guarantee that we will succeed immediately. It would seem that a long apprenticeship is required. | 1. Việc chúng ta, với tư cách là đệ tử, có thể có ý định làm việc với các mãnh lực không bảo đảm rằng chúng ta sẽ thành công ngay lập tức. Dường như cần có một thời kỳ học việc lâu dài. |
1. He has for a long time been simply a channel. I would have you reflect on that thought. The attainment of the capacity to be a pure channel and an unimpeded distributor is the first goal and it takes a long time. The force usually dispensed by a disciple, until the channel stage is automatic and established, is normally coloured by personality distinctiveness (even if a high grade personality). [760] The time has to come when the disciple can, at will, distribute the ashramic and group-soul energy in their pure state. | 1. Y đã trải qua một thời gian dài chỉ đơn thuần làm một kênh dẫn. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về tư tưởng ấy. Đạt được khả năng làm một kênh dẫn thuần khiết và một người phân phối không bị cản trở là mục tiêu đầu tiên, và điều đó cần một thời gian dài. Cho đến khi giai đoạn làm kênh dẫn trở nên tự động và vững chắc, mãnh lực mà một đệ tử thường phân phối thường nhuốm sắc thái đặc thù của phàm ngã (dù đó là một phàm ngã ở trình độ cao). [760] Phải đến lúc người đệ tử có thể tùy ý phân phối năng lượng ashram và năng lượng Hồn nhóm trong trạng thái thuần khiết của chúng. |
1. The term ‘pure channel’is here used, expressing one of important requirements set before a disciple if he is to be able to ‘work with forces’. | 1. Ở đây, thuật ngữ “kênh dẫn thanh khiết” được sử dụng, diễn đạt một trong những yêu cầu quan trọng đặt ra cho một đệ tử nếu y muốn có khả năng “làm việc với các mãnh lực”. |
2. There is, therefore, such a thing as a ‘channel stage’of discipleship, but it has little to do with the kind of impure and distorted ‘channeling’ that is presently in vogue. | 2. Do đó, quả thực có một “giai đoạn kênh dẫn” của địa vị đệ tử, nhưng giai đoạn này ít liên quan đến kiểu “truyền dẫn” thiếu thanh khiết và méo mó hiện đang thịnh hành. |
3. DK is realistic about the mode of force distribution possible to most disciples. Usually, ‘personality distinctiveness’colors the distribution of energy originating in the Ashram. | 3. Chân sư DK nhìn nhận thực tế về phương thức phân phối mãnh lực mà phần lớn đệ tử có thể thực hiện. Thông thường, “sắc thái riêng biệt của phàm ngã” nhuộm màu sự phân phối năng lượng bắt nguồn từ ashram. |
4. We can understand how much selflessness and decentralization is required of one who would channel ashramic and ‘group-soul energy in their pure state’. He, as a personality, must ‘get out of the way’ of the energy to be distributed. | 4. Chúng ta có thể thấu hiểu mức độ vị tha và phi tập trung vào bản thân cần có nơi người muốn truyền dẫn năng lượng ashram và “năng lượng hồn nhóm trong trạng thái tinh khiết của chúng”. Với tư cách là một phàm ngã, y phải “tránh sang một bên” để năng lượng cần phân phối có thể đi qua. |
5. The Ashram must become the focus of life, and all thought of the personality (except as an instrument of distribution) be put aside. | 5. Ashram phải trở thành trọng tâm của đời sống, và mọi suy nghĩ về phàm ngã (ngoại trừ vai trò công cụ phân phối) phải được gạt sang một bên. |
2. He has, therefore, to distribute energy and not force. There is much confusion in the minds of many disciples upon this matter. Until a man is an initiate of high degree, he seldom dispenses energy. He works with forces and they concern the three worlds. It has been said (esoterically) that “when the disciple can distribute the four forces and make their seven notes heard, each note of the seven having a fourfold expression, he is not able to work with energy. When he works with energy, he works with seven and not with twenty-eight.” Reflect upon this. I would add that the twenty-eight belong to the seven and when the disciple works with seven, he normally and automatically releases the twenty-eight, working under the impression of the seven ray qualities. | 2. Do đó, y phải phân phối năng lượng chứ không phải mãnh lực. Trong thể trí của nhiều đệ tử có rất nhiều nhầm lẫn về vấn đề này. Cho đến khi trở thành một điểm đạo đồ cấp cao, con người hiếm khi phân phối năng lượng. Y làm việc với các mãnh lực, và chúng liên quan đến ba cõi giới. Người ta đã nói (theo nghĩa huyền bí) rằng “khi người đệ tử có thể phân phối bốn mãnh lực và làm cho bảy âm điệu của chúng vang lên, mỗi âm điệu trong bảy âm điệu đều có một biểu hiện tứ phân, y vẫn chưa thể làm việc với năng lượng. Khi làm việc với năng lượng, y làm việc với bảy chứ không phải với hai mươi tám.” Hãy suy ngẫm về điều này. Tôi muốn nói thêm rằng hai mươi tám thuộc về bảy, và khi người đệ tử làm việc với bảy, thông thường y tự động giải phóng hai mươi tám, hoạt động dưới ấn tượng của bảy phẩm tính cung. |
1. The paragraph immediately above is very occult in its implications. | 1. Đoạn ngay phía trên hàm chứa những ý nghĩa rất huyền bí. |
2. Probably we all have some experience pondering the distinction between energy and force. | 2. Có lẽ tất cả chúng ta đều đã có phần nào kinh nghiệm suy ngẫm về sự khác biệt giữa năng lượng và mãnh lực. |
3. In the paragraph immediately preceding the one above, DK tells us that the disciple must learn to work with forces. Here we are told that that which he must distribute is ‘energy and not force’. | 3. Trong đoạn ngay trước đoạn trên, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng người đệ tử phải học cách làm việc với các mãnh lực. Ở đây, chúng ta được cho biết rằng điều y phải phân phối là “năng lượng chứ không phải mãnh lực”. |
4. It is interesting to read that only ‘an initiate of high degree'(usually) dispenses energy. Such an initiate must be an arhat or, even more likely, a Master. | 4. Thật thú vị khi đọc rằng (thông thường) chỉ “một điểm đạo đồ cấp cao” mới phân phối năng lượng. Một điểm đạo đồ như thế phải là một vị A La Hán, hoặc nhiều khả năng hơn nữa, là một Chân sư. |
5. May we say that an ‘initiate of high degree’is equivalent to an ‘advanced initiate chela’? | 5. Liệu chúng ta có thể nói rằng một “điểm đạo đồ cấp cao” tương đương với một “đệ tử điểm đạo cao cấp” không? |
6. The usual disciple usually works with forces related to the three worlds. He does not yet work consciously within the world of souls. | 6. Người đệ tử thông thường thường làm việc với những mãnh lực liên quan đến ba cõi giới. Y chưa làm việc một cách hữu thức trong thế giới linh hồn. |
7. The following occult sentence given must be pondered seriously and is not easy of penetration. | 7. Câu huyền bí sau đây cần được suy ngẫm nghiêm túc và không dễ thấu suốt. |
‘…when the disciple can distribute the four forces and make their seven notes heard, each note of the seven having a fourfold expression, he is not able to work with energy. When he works with energy, he works with seven and not with twenty-eight.’ | “…khi người đệ tử có thể phân phối bốn mãnh lực và khiến bảy âm điệu của chúng vang lên, mỗi âm trong số bảy âm có một biểu hiện tứ phân, y không có khả năng làm việc với năng lượng. Khi làm việc với năng lượng, y làm việc với bảy chứ không phải với hai mươi tám.” |
8. We might ask, what are the ‘four forces’? It would seem that they relate to the personality nature of the disciple. One of the numbers associated with personality is twenty-eight, and personality cycles occur in fours and sevens. | 8. Chúng ta có thể hỏi: “bốn mãnh lực” là gì? Dường như chúng liên quan đến bản chất phàm ngã của người đệ tử. Một trong những con số gắn với phàm ngã là hai mươi tám, và các chu kỳ phàm ngã diễn ra theo nhóm bốn và bảy. |
9. We can conceive of the ‘seven’as related to the seven rays that may be expressed by the personality. | 9. Chúng ta có thể hình dung “bảy” liên quan đến bảy cung mà phàm ngã có thể biểu hiện. |
10. It may be that some consideration of the subplanes must enter if we are to arrive at the meaning of this ancient statement. | 10. Có thể cần phải xem xét phần nào các cõi phụ nếu chúng ta muốn đi đến ý nghĩa của lời phát biểu cổ xưa này. |
11. We have four forces, seven notes and a fourfold expression of each of the seven notes. | 11. Chúng ta có bốn mãnh lực, bảy âm điệu và một biểu hiện tứ phân của mỗi âm trong số bảy âm ấy. |
12. The number ‘four'(in this context) would seem to be related to the square rather than to the four higher ethers. As well, the ‘lower quaternary’of the human being is suggested. | 12. Con số “bốn” (trong ngữ cảnh này) dường như liên quan đến hình vuông hơn là bốn tầng dĩ thái cao. Đồng thời, nó cũng gợi đến “bộ tứ thấp” của con người. |
13. There is, we see, greater complexity in the process of the one who cannot yet work with energy. | 13. Chúng ta thấy rằng tiến trình của người chưa thể làm việc với năng lượng có mức độ phức tạp lớn hơn. |
14. The ‘seven’with which the high initiate works (the one capable of dispensing energy) may be the seven related to the Seven Ashrams, and not to the personality equipment of the initiate—even the individual soul ray. | 14. “Bảy” mà điểm đạo đồ cấp cao làm việc cùng (người có khả năng phân phối năng lượng) có thể là bảy liên quan đến Bảy Ashram, chứ không liên quan đến các vận cụ phàm ngã của điểm đạo đồ—kể cả cung linh hồn cá nhân. |
15. We have been speaking of the individual coloring placed upon ashramic energy, and the ancient statement given above seems to suggest how one may transcend ‘personality distinctiveness’in the expression of energy. | 15. Chúng ta đã nói về sắc thái cá nhân phủ lên năng lượng ashram, và lời phát biểu cổ xưa nêu trên dường như gợi ý cách người ta có thể vượt qua “sắc thái riêng biệt của phàm ngã” trong sự biểu hiện năng lượng. |
3. He has to learn the uses of distinction and of synthesis. Herein lies a potent occult hint of special use to workers. | 3. Y phải học cách vận dụng sự phân biệt và sự tổng hợp. Chính trong điều này có một gợi ý huyền bí đầy sức mạnh, đặc biệt hữu ích cho những người hoạt động. |
1. DK gives a potent occult hint to those who would succeed in the task of dispensing energy. | 1. Chân sư DK đưa ra một gợi ý huyền bí mạnh mẽ cho những ai muốn thành công trong nhiệm vụ phân phối năng lượng. |
2. Both the factors of ‘distinction’and ‘synthesis’are necessary to the one who would dispense energies and work with forces. | 2. Cả hai yếu tố “phân biệt” và “tổng hợp” đều cần thiết đối với người muốn phân phối các năng lượng và làm việc với các mãnh lực. |
3. The worker in synthesis is consistently aware of wholeness; the capacity to recognize and utilize distinction is, however, present. | 3. Người hoạt động trong sự tổng hợp luôn nhận biết tính toàn thể; tuy nhiên, khả năng nhận ra và vận dụng sự phân biệt vẫn hiện diện. |
4. The worker who would dispense energy to the three worlds must, however, know the distinctions between energies and how they may be applied. | 4. Tuy nhiên, người hoạt động muốn phân phối năng lượng đến ba cõi giới phải biết những khác biệt giữa các năng lượng và cách áp dụng chúng. |
5. For the initiate, synthesis is not an ‘unarticulated synthesis’. Further, when the distinctions between things are known and utilized, it does not mean that the sense of synthesis is violated. | 5. Đối với điểm đạo đồ, sự tổng hợp không phải là một “sự tổng hợp không phân định rõ các thành phần”. Hơn nữa, khi những khác biệt giữa các sự vật được nhận biết và vận dụng, điều đó không có nghĩa là ý thức về sự tổng hợp bị phá vỡ. |
6. All this is another way of saying that the initiate can ‘contain’the One and the Many. | 6. Tất cả điều này là một cách diễn đạt khác rằng điểm đạo đồ có thể “bao hàm” cái Một và cái Nhiều. |
4. He is aware of the dangers incident to the untrained neophyte endeavouring to distribute forces, to direct so-called energies in a specific and particular direction. He realises his goal is to be a channel for a long time through purity of life, correct orientation, and non-criticism. This correct orientation involves a paradox with which all disciples must wrestle, i.e., to be oriented to the soul, and, consequently, to the Ashram and to be oriented at the same time to humanity. Only disciples close to the Master’s heart (technically understood) and, therefore, consciously aware of His aura have the right—I had almost said privilege—to direct force in specific directions. When their status is not that, their task is to act as channels for the distribution of energy in a general and universal but not in a specific manner. | 4. Y nhận biết những nguy hiểm nảy sinh khi người sơ cơ chưa được huấn luyện cố gắng phân phối các mãnh lực, hướng những điều được gọi là năng lượng theo một chiều hướng cụ thể và riêng biệt. Y nhận ra rằng mục tiêu của mình là làm một kênh dẫn trong một thời gian dài nhờ đời sống thuần khiết, sự định hướng đúng đắn và không chỉ trích. Sự định hướng đúng đắn này bao hàm một nghịch lý mà mọi đệ tử đều phải nỗ lực giải quyết, đó là hướng về linh hồn và do đó về ashram, đồng thời hướng về nhân loại. Chỉ những đệ tử gần gũi với tâm của Chân sư (hiểu theo nghĩa kỹ thuật) và vì thế hữu thức nhận biết hào quang của Ngài mới có quyền—Tôi suýt nói là đặc ân—điều hướng mãnh lực theo những chiều hướng cụ thể. Khi chưa đạt địa vị ấy, nhiệm vụ của họ là làm những kênh dẫn để phân phối năng lượng theo cách tổng quát và phổ quát, chứ không theo cách cụ thể. |
1. The method of becoming a proper channel is given. The requirements are | 1. Phương pháp trở thành một kênh dẫn thích hợp đã được nêu ra. Những yêu cầu là |
1. purity of life | 1. đời sống thanh khiết |
2. correct orientation | 2. sự định hướng đúng đắn |
3. non-criticism | 3. thái độ không chỉ trích |
2. Obviously, the channel cannot be clogged with impurities, i.e., with forces that are antithetical to the group-soul and to the ashramic energies which are to be transmitted to the world. | 2. Hiển nhiên, kênh dẫn không thể bị tắc nghẽn vì những điều bất tịnh, tức là những mãnh lực đối nghịch với hồn nhóm và với các năng lượng ashram cần truyền đến thế gian. |
3. Also, without correct orientation, that which would be received would be of a lower quality. If the orientation is only towards the world and the personality, that which will be received will be of the world and personality. | 3. Ngoài ra, nếu thiếu sự định hướng đúng đắn, những gì tiếp nhận được sẽ có phẩm tính thấp hơn. Nếu sự định hướng chỉ hướng về thế gian và phàm ngã, thì những gì tiếp nhận được sẽ thuộc về thế gian và phàm ngã. |
4. It is also clear that an attitude of criticism would destroy the coherent energies emanating from the higher worlds. Criticism divides this from that and militates against harmonious coherency. | 4. Cũng rõ ràng rằng thái độ chỉ trích sẽ phá hủy những năng lượng cố kết phát xạ từ các cõi cao. Sự chỉ trích chia rẽ cái này với cái kia và chống lại tính cố kết hài hòa. |
5. DK discusses the necessary dual orientation to be achieved by the disciple who would learn to dispense energy and not merely force. The orientation must be to both the Ashram and to humanity. DK calls this dual orientation a ‘paradox’. Perhaps it will only remain paradoxical to those who do not realize (in the heart) that the Ashram is thoroughly invested in achieving the welfare of humanity. | 5. Chân sư DK bàn về sự định hướng kép cần thiết mà người đệ tử phải đạt được nếu muốn học cách phân phối năng lượng chứ không chỉ mãnh lực. Sự định hướng phải hướng về cả ashram lẫn nhân loại. Chân sư DK gọi sự định hướng kép này là một “nghịch lý”. Có lẽ nó chỉ còn là nghịch lý đối với những ai chưa nhận ra (trong trái tim) rằng ashram hoàn toàn dốc sức thực hiện phúc lợi của nhân loại. |
6. The paradox may also be resolved by those who become expressions of the energy of Love. | 6. Những ai trở thành biểu hiện của năng lượng Bác ái cũng có thể giải quyết nghịch lý này. |
7. We learn the important fact that soul-orientation is equivalent toashramic-orientation. | 7. Chúng ta biết được sự thật quan trọng rằng hướng về linh hồn tương đương với hướng về ashram. |
8. DK speaks of the next Stage of Discipleship—the chela who is ‘close to the Master’s heart'(technically understood). Such a disciple will be consciously aware of the Master’s aura. | 8. Chân sư DK nói về Giai đoạn Đệ tử kế tiếp—người đệ tử “gần gũi với trái tim Chân sư” (hiểu theo nghĩa chuyên môn). Một đệ tử như thế sẽ nhận biết một cách hữu thức hào quang của Chân sư. |
9. The wielding and directing of forces is not to be lightly undertaken. It is a ‘right’, almost a ‘privilege’. | 9. Không được xem nhẹ việc vận dụng và điều khiển các mãnh lực. Đó là một “quyền”, gần như một “đặc quyền”. |
10. It is obvious that unless a disciple is a pure channel, that which he directs will not be pure. | 10. Hiển nhiên, trừ khi người đệ tử là một kênh dẫn thanh khiết, những gì y điều khiển sẽ không tinh khiết. |
11. The chela within the aura is actually a director of force. Most disciples do not know how to do this, but they can consecrate the mind to the creation of useful thought. ‘The energy of thought is for the good of all and the furtherance of the Plan of God…’ | 11. Đệ tử trong hào quang thực sự là một người điều khiển mãnh lực. Phần lớn đệ tử không biết cách thực hiện điều này, nhưng họ có thể thánh hiến thể trí cho việc tạo ra tư tưởng hữu ích. “Năng lượng tư tưởng nhằm mang lại điều tốt lành cho tất cả và thúc đẩy Thiên Cơ của Thượng đế…” |
12. We are told that the distribution of energy in a general and universal way is that which is to be cultivated. | 12. Chúng ta được cho biết rằng điều cần trau dồi là sự phân phối năng lượng theo cách chung và phổ quát. |
13. All this amounts to saying that the lower ego is no true distributor of spiritual energy. With the lower ego in control, such ‘distribution’ could not help but end in distortion. | 13. Tất cả điều này có nghĩa là phàm ngã không phải là người phân phối chân chính năng lượng tinh thần. Khi phàm ngã nắm quyền kiểm soát, sự “phân phối” ấy không thể tránh khỏi kết cục méo mó. |
A Master and, to a far higher extent, the Christ, suffers far more from those in His Own household than from those in the outer world; His work is more impeded by the advanced aspirants than by the intelligent thinkers. Bear this in mind at this time. It was not the cruelty of the outer world of men which [761] caused the depths of sorrow to the Christ when on earth; it was His Own disciples, plus the massed sorrow—spread over the entire cycle of life, past, present and future—of humanity. | Một Chân sư, và ở mức độ cao hơn nhiều là Đức Christ, chịu khổ đau do những người trong chính nhà mình nhiều hơn do những người ở thế giới bên ngoài; những người chí nguyện tiến hóa cao cản trở công việc của Ngài nhiều hơn những nhà tư tưởng thông minh. Vào lúc này, hãy ghi nhớ điều ấy. Khi Đức Christ còn ở trần gian, không phải sự tàn nhẫn của thế giới loài người bên ngoài [761] đã khiến Ngài đau buồn sâu thẳm; mà chính là các đệ tử của Ngài, cộng với nỗi đau buồn tích tụ của nhân loại—trải khắp toàn bộ chu kỳ sống, trong quá khứ, hiện tại và tương lai. |
1. Why does Master DK mention, at this point, the sufferings of the Master and the Christ over the actions of the ‘advanced aspirants’? | 1. Tại sao ở điểm này, Chân sư DK lại đề cập đến những đau khổ của Chân sư và Đức Christ trước hành động của các “người chí nguyện tiến bộ”? |
2. Can it be that we are being reminded of the great responsibility we bear when we attempt to work with energy and force? Can it be that when we work incorrectly with energy and force, the results of our mistakes and ignorance is felt acutely by the Master and is a cause to Him of suffering? | 2. Phải chăng chúng ta đang được nhắc nhở về trách nhiệm lớn lao mà mình gánh vác khi cố gắng làm việc với năng lượng và mãnh lực? Phải chăng khi chúng ta làm việc không đúng cách với năng lượng và mãnh lực, Chân sư cảm nhận sâu sắc hậu quả của những sai lầm và sự thiếu hiểu biết của chúng ta, và điều đó khiến Ngài đau khổ? |
3. The Master is intimately related to His disciples; hence, the great responsibility which falls to disciples. They can cause damage to the outworking of the Plan. | 3. Chân sư gắn bó mật thiết với các đệ tử của Ngài; vì vậy, các đệ tử phải gánh vác trách nhiệm lớn lao. Họ có thể gây tổn hại cho việc thực thi Thiên Cơ. |
4. When we read the paragraph above, we are reminded of the ‘fellowship of Christ’s sufferings’. It is these ‘sufferings’in which we must learn toparticipate; of these sufferings we, as disciples, are not to be the cause. | 4. Khi đọc đoạn trên, chúng ta được nhắc đến việc “chung phần trong những đau khổ của Đức Christ”. Chính những “đau khổ” ấy là điều chúng ta phải học cách chia sẻ; đối với những đau khổ ấy, chúng ta, với tư cách là đệ tử, không được là nguyên nhân gây ra. |
5. We are also reminded that the Christ is acutely aware of the ‘massed sorrow’of humanity—not only in the present time, but of sorrow past, present and to come. | 5. Chúng ta cũng được nhắc rằng Đức Christ nhận biết sâu sắc “nỗi đau buồn tích tụ” của nhân loại—không chỉ trong hiện tại, mà cả những đau buồn của quá khứ, hiện tại và tương lai. |
6. The realization of such sorrow could not be borne by the average disciple; however, he is spared by the fact that he would be incapable of registering it. | 6. Người đệ tử trung bình không thể chịu đựng nổi việc nhận biết nỗi đau buồn như thế; tuy nhiên, y được miễn khỏi điều đó vì không có khả năng ghi nhận nó. |
Disciples gravitate into world groups and many of them are doing far more efficient work than those gathered together into esoteric groups. The advanced accepted disciple has always his own group which he gathers around him for active and creative work. I would remind you of this. The gauge of a disciple’s capacity lies in his influence—through pen, word of mouth, and personal influence—upon other people. | Các đệ tử được thu hút vào những nhóm hoạt động trên thế gian, và nhiều người trong số họ làm việc hiệu quả hơn nhiều so với những người tập hợp thành các nhóm nội môn. Người đệ tử được chấp nhận đã tiến xa luôn có nhóm riêng mà y quy tụ quanh mình để làm công việc tích cực và sáng tạo. Tôi muốn nhắc các bạn điều này. Thước đo năng lực của một đệ tử nằm ở ảnh hưởng của y đối với người khác—qua ngòi bút, lời nói và ảnh hưởng cá nhân. |
1. DK makes a distinction between ‘world groups'(which provide a home to many disciples) and ‘esoteric groups'(which, it seems, can be home to those who are not even disciples). A little thought will reveal that among those gathered into esoteric groups, many may simply be ambitious aspirants. | 1. Chân sư DK phân biệt giữa “các nhóm hoạt động ngoài thế gian” (nơi nhiều đệ tử tìm được chỗ đứng) và “các nhóm huyền bí” (dường như có thể là nơi dành cho những người thậm chí chưa phải là đệ tử). Chỉ cần suy nghĩ đôi chút sẽ thấy rằng trong số những người tập hợp vào các nhóm huyền bí, nhiều người có thể chỉ là những người chí nguyện đầy tham vọng. |
2. The Tibetan reminds us that a true disciple (i.e., the ‘advanced accepted disciple’) is effective in the world. Disciples ‘always’gather a group or groups around them, and the kind of work which is to be done is both ‘active’and ‘creative’. This means that such groups must utilize the third aspect of divinity for expression; activity and creativity pertain to the third aspect. | 2. Chân sư Tây Tạng nhắc chúng ta rằng một đệ tử chân chính (tức là “đệ tử được chấp nhận đã tiến bộ”) hoạt động hữu hiệu ngoài thế gian. Các đệ tử “luôn” tập hợp một hoặc nhiều nhóm quanh mình, và loại công việc cần thực hiện vừa “tích cực” vừa “sáng tạo”. Điều này có nghĩa là những nhóm ấy phải vận dụng phương diện thứ ba của thiên tính để biểu hiện; hoạt động và tính sáng tạo thuộc về phương diện thứ ba. |
3. We note the many ways in which a disciple may be of influence—the pen, word of mouth and personal influence. All these methods are important and, as well, influence itself is important. We cannot imagine that the Masters are incognizant of disciple’s influence. Such influence is the ‘gauge of a disciple’s capacity’and thus, in general, of his usefulness to the Ashram. | 3. Chúng ta lưu ý nhiều cách mà một đệ tử có thể tạo ảnh hưởng—ngòi bút, lời nói và ảnh hưởng cá nhân. Tất cả những phương pháp này đều quan trọng, và chính ảnh hưởng cũng quan trọng. Chúng ta không thể hình dung rằng các Chân sư lại không nhận biết ảnh hưởng của đệ tử. Ảnh hưởng ấy là “thước đo năng lực của một đệ tử”, và do đó, nhìn chung, là thước đo mức độ hữu ích của y đối với ashram. |
Under the Law of Correspondence, there is ever a numerical relation with established numerical entities. The six stages of discipleship are naturally related to the six schools of Indian philosophy which were in reality the six “seed schools” for all philosophical surmise and work. There are not six types of Ashrams corresponding to the six stages of discipleship because there are seven Ashrams (one for each ray type) and all the six stages of discipleship are related to all the Ashrams and all the seven ray types express (at some stage of their unfoldment upon the Path of Discipleship) these six steps towards the centre. | Theo định luật tương ứng, luôn có một mối quan hệ số học với những thực thể số học đã được xác lập. Sáu giai đoạn của địa vị đệ tử tự nhiên liên hệ với sáu trường phái triết học Ấn Độ, vốn thực sự là sáu “trường phái hạt giống” cho mọi suy đoán và công trình triết học. Không có sáu loại ashram tương ứng với sáu giai đoạn của địa vị đệ tử, vì có bảy ashram (mỗi loại cung có một ashram), và cả sáu giai đoạn của địa vị đệ tử đều liên hệ với tất cả các ashram; cả bảy loại cung đều biểu hiện (ở một giai đoạn khai mở nào đó trên Con Đường Đệ Tử) sáu bước tiến về trung tâm này. |
1. DK makes some clear distinctions setting forth the place of the six stages of discipleship in relation to the six schools of Indian philosophy, and also in relation to the Ashrams. He is proposing a legitimate correspondence between the six stages and the six schools, and warning us against attempting to correlate the six stages with types of Ashrams. | 1. Chân sư DK đưa ra một số phân biệt rõ ràng, trình bày vị trí của sáu giai đoạn của địa vị đệ tử trong mối quan hệ với sáu trường phái triết học Ấn Độ, đồng thời trong mối quan hệ với các ashram. Ngài đề xuất một sự tương ứng hợp lý giữa sáu giai đoạn và sáu trường phái, đồng thời cảnh báo chúng ta về việc cố gắng đối chiếu sáu giai đoạn với các loại ashram. |
2. To think of the Six Stages of Discipleship as representative of the ‘six steps towards the centre’is a most clear conception. | 2. Xem Sáu Giai đoạn của Địa vị Đệ tử là biểu thị “sáu bước hướng về trung tâm” là một quan niệm hết sức rõ ràng. |
3. The Six Schools of Indian Philosophy are as follows (TCF 285): | 3. Sáu Trường phái Triết học Ấn Độ như sau (TCF 285): |
1. The school of Logic—Proof of right perception. | 1. Trường phái Luận Lý—Chứng minh tri giác đúng đắn. |
2. The atomic school—System of particular. Elements. Alchemy and chemistry. | 2. Trường phái Nguyên Tử—Hệ thống về cái riêng biệt. Các nguyên tố. Thuật luyện kim và hóa học. |
3. The Sankhya school. System of numbers. The materialistic school. The theory of the seven states of matter or prakriti. | 3. Trường phái Số Luận. Hệ thống các con số. Trường phái duy vật. Lý thuyết về bảy trạng thái của vật chất hay chất liệu nguyên sơ. |
4. The school of Yoga…Union. The rule of daily life. Mysticism. | 4. Trường phái Du Già…Hợp nhất. Quy luật của đời sống hằng ngày. Thần bí học. |
5. The school of Ceremonial Religion…Ritual. Worship of the devas or Gods. | 5. Trường phái Tôn Giáo Nghi Lễ…Nghi thức. Thờ phụng các thiên thần hay các Thượng đế. |
6. The Vedanta school…Has to do with non-duality. Deals with the relation of Atma in man to the Logos. | 6. Trường phái Phệ Đàn Đa…Liên quan đến tính bất nhị. Bàn đến mối quan hệ giữa atma trong con người với Thượng đế. |
7. The Gnosis or hidden knowledge is the same as Atma Vidya, or Theosophy, and includes the other six. | 7. Tri thức huyền nhiệm, hay tri thức ẩn giấu, cũng chính là tri thức về atma, hay Thông Thiên Học, và bao gồm sáu trường phái kia. |
4. Connections between these six schools and the rays or combinations of rays is, perhaps, more easily seen. Without dogmatizing, it can be seen that— | 4. Có lẽ dễ nhận thấy hơn những mối liên hệ giữa sáu trường phái này với các cung hoặc những tổ hợp cung. Không khẳng định một cách giáo điều, có thể thấy rằng— |
1. The School of Logic is related particularly to the third ray, with some admixture of the fifth. | 1. Trường phái Luận Lý đặc biệt liên quan đến cung ba, pha trộn phần nào cung năm. |
2. The Atomic School is closely related to the fifth ray and somewhat to the seventh. | 2. Trường phái Nguyên Tử liên quan mật thiết đến cung năm và phần nào đến cung bảy. |
3. The Sankhya School is related to the third ray and the seventh. | 3. Trường phái Số Luận liên quan đến cung ba và cung bảy. |
4. The School of Yoga to the sixth ray (though Yogas on all the rays can be identified). Perhaps the fourth ray can be considered the ray most related to the necessity for joining the Pairs of Opposites. | 4. Trường phái Du Già liên quan đến cung sáu (dù có thể nhận diện những pháp môn Du Già trên tất cả các cung). Có lẽ cung bốn có thể được xem là cung liên quan nhiều nhất đến sự cần thiết phải kết hợp các Cặp Đối Cực. |
5. The School of Ceremonial Religion is closely related to the seventh ray, with an admixture of the sixth and second rays. | 5. Trường phái Tôn Giáo Nghi Lễ liên quan mật thiết đến cung bảy, pha trộn cung sáu và cung hai. |
6. The Vedanta School has a direct connection with the non-dualistic first ray. | 6. Trường phái Phệ Đàn Đa có mối liên hệ trực tiếp với cung một bất nhị. |
7. The seventh School in which the Atma Vidya is approached, may be seen as related to the synthetic second ray. | 7. Trường phái thứ bảy, nơi người ta tiếp cận tri thức về atma, có thể được xem là liên quan đến cung hai tổng hợp. |
5. When it comes to aligning the Six Stages of Discipleship with the Six Schools, again, there is no easy one-to-one relationship, as each of these schools is capable of offering an advanced approach to the Central Mystery. | 5. Khi đối chiếu Sáu Giai đoạn của Địa vị Đệ tử với Sáu Trường phái, một lần nữa, không có mối quan hệ tương ứng một đối một đơn giản, vì mỗi trường phái đều có khả năng cung cấp một cách tiếp cận cao cấp đến Huyền Nhiệm Trung Tâm. |
1. Perhaps the first three schools (Logic, Atomic, and Sankhya) with the possible addition of aspects of the fifth school (Ceremonial Religion) could be related to the earlier stages of the six. | 1. Có lẽ ba trường phái đầu tiên (Luận Lý, Nguyên Tử và Số Luận), có thể thêm vào một số phương diện của trường phái thứ năm (Tôn Giáo Nghi Lễ), có thể liên quan đến những giai đoạn đầu trong sáu giai đoạn. |
2. This would leave the School of Yoga, the Vedanta School and definitely the School of Gnosis to the later degrees | 2. Như vậy, Trường phái Du Già, Trường phái Phệ Đàn Đa và chắc chắn là Trường phái Tri Thức Huyền Nhiệm sẽ thuộc về những cấp độ sau |
6. When considering the last few Stages of Discipleship we could proceed as follows: | 6. Khi xem xét vài Giai đoạn Đệ tử cuối cùng, chúng ta có thể tiến hành như sau: |
1. The invocative School of Ceremonial Religion could be aligned with the stage of Chela on the Thread | 1. Trường phái Tôn Giáo Nghi Lễ mang tính khẩn cầu có thể được đối chiếu với giai đoạn Đệ tử trên đường dây |
2. The Vedanta School could be aligned with stage of Chela within the Aura (as oneness with the Master’s aura is achieved). | 2. Trường phái Phệ Đàn Đa có thể được đối chiếu với giai đoạn Đệ tử trong hào quang (vì đạt được sự hợp nhất với hào quang của Chân sư). |
3. We might assign the stage of ‘Chela in the Heart’to the School of Yoga, though, really, all the Six Stages of Discipleship represent different phases of union or Yoga. | 3. Chúng ta có thể gắn giai đoạn “Đệ tử trong Trái tim” với Trường phái Du Già, mặc dù thực ra cả Sáu Giai đoạn của Địa vị Đệ tử đều biểu thị những giai đoạn khác nhau của sự hợp nhất hay Du Già. |
4. Master DK mentions a final stage called the ‘Blending of the Lights’, about which He says practically nothing. There is also aseventh School of Indian Philosophy which is a union of all the preceding six—the ‘Gnosis’, or Atma Vidya. It is easy to see the stage of the ‘Blending of the Lights’as related to this seventh stage. | 4. Chân sư DK đề cập đến một giai đoạn cuối cùng gọi là “Sự Hòa Quyện các Ánh Sáng”, mà Ngài hầu như không nói gì về nó. Cũng có một Trường phái Triết học Ấn Độ thứ bảy, là sự hợp nhất của cả sáu trường phái trước—“Tri Thức Huyền Nhiệm”, hay tri thức về atma. Dễ thấy rằng giai đoạn “Sự Hòa Quyện các Ánh Sáng” liên quan đến giai đoạn thứ bảy này. |
The centres, as used by the disciple in his unfolding progress, are dependent upon the ray type to a great extent but it is not my intention to take up this subject of the centres in this series of instructions. I shall be dealing with the subject at some length in the final part of A Treatise on the Seven Rays. | Các trung tâm mà người đệ tử sử dụng trong quá trình tiến bộ và khai mở của mình phụ thuộc phần lớn vào loại cung, nhưng Tôi không có ý định bàn đến chủ đề các trung tâm trong loạt huấn thị này. Tôi sẽ bàn khá chi tiết về chủ đề ấy trong phần cuối của Luận về Bảy Cung. |
1. We note that Master DK wisely chooses when to explore a subject. If we consider the voluminous information offered throughout His books, a great deal of information can be gleaned about the use of various centres in the process of spiritual unfoldment. | 1. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK sáng suốt lựa chọn thời điểm để khảo sát một chủ đề. Nếu xem xét lượng thông tin đồ sộ trong toàn bộ các sách của Ngài, chúng ta có thể thu thập rất nhiều thông tin về việc sử dụng các trung tâm khác nhau trong tiến trình khai mở tinh thần. |
I would like, however, to make clear at this point that the Master never uses a disciple’s centres as distributing agencies for force. | Tuy nhiên, ở đây Tôi muốn làm rõ rằng Chân sư không bao giờ dùng các trung tâm của một đệ tử làm những cơ quan phân phối mãnh lực. |
1. In saying this, Master DK counters a prevailing misconception based upon the average disciple’s self-centeredness. | 1. Khi nói điều này, Chân sư DK bác bỏ một quan niệm sai lầm phổ biến, bắt nguồn từ sự tập trung vào bản thân của người đệ tử trung bình. |
In the last analysis, the centres are (when functioning correctly) reservoirs of force and distributors of energy, coloured by specific quality and of a certain note, vibration, and strength. | Xét đến cùng, các trung tâm (khi hoạt động đúng đắn) là những kho dự trữ mãnh lực và những bộ phận phân phối năng lượng mang sắc thái của một phẩm tính cụ thể, với một âm điệu, rung động và sức mạnh nhất định. |
1. This is an excellent definition of the chakras—’reservoirs of force’and ‘distributors of energy’. The ‘holding power’ of the centres is, perhaps, not sufficiently emphasized, while their receiving and distributing functions are much emphasized. | 1. Đây là một định nghĩa tuyệt vời về các luân xa—“những kho chứa mãnh lực” và “những bộ phận phân phối năng lượng”. Có lẽ “khả năng lưu giữ” của các trung tâm chưa được nhấn mạnh đầy đủ, trong khi các chức năng tiếp nhận và phân phối của chúng lại được nhấn mạnh rất nhiều. |
On the final stages of the Path of Discipleship, they are entirely controlled by the soul, via the head centre, but it should be borne in mind that after the fourth initiation and the disappearance of the causal body, there is no form aspect or vehicle which can hold the disciple a prisoner or any way limited. | Trong những giai đoạn cuối của Con Đường Đệ Tử, linh hồn hoàn toàn kiểm soát chúng qua trung tâm đầu, nhưng cần nhớ rằng sau lần điểm đạo thứ tư và sự biến mất của thể nguyên nhân, không còn phương diện hình tướng hay hiện thể nào có thể giam giữ người đệ tử hoặc giới hạn y theo bất kỳ cách nào. |
1. Before the final stages of the Path of Discipleship, the centres may be controlled by the personality, and the control by the head center is very incomplete. The spiritual will of the disciple is as yet undeveloped. | 1. Trước những giai đoạn cuối của Con Đường Đệ Tử, phàm ngã có thể kiểm soát các trung tâm, còn sự kiểm soát của trung tâm đầu vẫn rất thiếu hoàn chỉnh. Ý chí tinh thần của người đệ tử vẫn chưa phát triển. |
2. There is an implication here that the ‘final stages of the Path of Discipleship’may take the disciple beyond the fourth initiation, though, technically, such a chelas is more often called an initiate than a disciple. | 2. Ở đây có hàm ý rằng “những giai đoạn cuối của Con Đường Đệ Tử” có thể đưa người đệ tử vượt qua lần điểm đạo thứ tư, dù xét về mặt chuyên môn, một đệ tử như thế thường được gọi là điểm đạo đồ hơn là đệ tử. |
3. If after the fourth initiation the chela no longer is using a physical body, other centres of distribution will necessary be used. | 3. Nếu sau lần điểm đạo thứ tư, đệ tử không còn sử dụng thể xác, thì tất yếu phải sử dụng những trung tâm phân phối khác. |
After the third initiation, the lower centres have no control whatsoever over the outer mechanism of response; | Sau lần điểm đạo thứ ba, các trung tâm thấp hoàn toàn không kiểm soát bộ máy đáp ứng bên ngoài; |
1. Here is another hint by which disciples may gauge whether or not they have achieved the third initiation or are approaching this degree. At this degree, the ancient domination of the personality is broken. | 1. Đây là một gợi ý khác giúp các đệ tử đánh giá xem mình đã đạt lần điểm đạo thứ ba hay đang tiến gần đến cấp độ này hay chưa. Ở cấp độ này, sự thống trị lâu đời của phàm ngã bị phá vỡ. |
2. By the lower centers are meant those below the diaphragm. We note the total lack of control by such centers; they have ‘no controlwhatsoever‘. [Italics, MDR] | 2. Các trung tâm thấp ở đây là những trung tâm bên dưới cơ hoành. Chúng ta lưu ý rằng những trung tâm ấy hoàn toàn không còn quyền kiểm soát; chúng “không có quyền kiểm soát nào cả”. [Chữ nghiêng, MDR] |
from [762] the standpoint of the highest occult training and when the disciple is in the Ashram itself, the centres are viewed as simply channels for energy. Until the time of the third initiation, they assume temporary importance in the training process because it is through them that the disciple learns the nature of energy, its distinction from force and the methods of distribution—the latter being one of the last stages in the training process. | từ [762] quan điểm của sự huấn luyện huyền bí cao nhất và khi người đệ tử ở trong chính ashram, các trung tâm chỉ được xem là những kênh dẫn năng lượng. Cho đến lần điểm đạo thứ ba, chúng có tầm quan trọng tạm thời trong tiến trình huấn luyện, vì chính qua chúng mà người đệ tử học biết bản chất của năng lượng, sự khác biệt giữa năng lượng và mãnh lực, cùng các phương pháp phân phối—điều cuối cùng này là một trong những giai đoạn sau cùng của tiến trình huấn luyện. |
1. The value of the chakras in relation to the training process is here given. Through them the disciple— | 1. Ở đây, giá trị của các luân xa đối với tiến trình huấn luyện đã được nêu rõ. Qua chúng, đệ tử— |
1. learns the nature of energy, | 1. học được bản chất của năng lượng, |
2. learns the nature of energy and to distinguish energy from force | 2. học được bản chất của năng lượng và cách phân biệt năng lượng với mãnh lực |
3. learns the methods of distributing force. | 3. học được các phương pháp phân phối mãnh lực. |
2. Again we learn that the distribution of force is not the disciple’s immediate concern, as first he must have proven himself a reliable and selfless channel for ashramic energy. | 2. Một lần nữa, chúng ta biết rằng việc phân phối mãnh lực chưa phải là mối quan tâm trước mắt của đệ tử, vì trước tiên y phải chứng tỏ mình là một kênh dẫn đáng tin cậy và vô ngã cho năng lượng ashram. |
The constitution of the ego, or Soul, is the factor of paramount importance to the Master in the task of training the disciple for hierarchical work. This necessarily involves the three higher centres (head, heart and throat). It is with the so-called egoic lotus that He is concerned and this is a point which the disciple is very apt to forget. | Cấu tạo của chân ngã, hay Linh hồn, là yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu đối với Chân sư trong nhiệm vụ huấn luyện người đệ tử cho công việc của Thánh đoàn. Điều này tất yếu liên quan đến ba trung tâm cao (đầu, tim và cổ họng). Ngài quan tâm đến điều được gọi là Hoa Sen Chân Ngã, và đây là một điểm mà người đệ tử rất dễ quên. |
1. An important reminder is here given. That part of the chela’s mechanism with which the Master is most concerned is the egoic lotus, and thus, necessarily, with the higher centers—the head, heart and throat, which can be seen, respectively, as related to the sacrifice, love and knowledge petals. | 1. Ở đây có một lời nhắc nhở quan trọng. Phần trong bộ máy của đệ tử mà Chân sư quan tâm nhất là hoa sen chân ngã, và do đó, tất yếu là các trung tâm cao—đầu, tim và cổ họng; có thể thấy chúng lần lượt liên hệ với các cánh hoa hi sinh, bác ái và tri thức. |
2. We note that in this section DK does not capitalize the word ‘ego’, though He certainly does not mean the lower ego. As for the term, ‘Soul’, He is not referring to the Solar Angel, for of the constitution of such a being we are told very little, whereas of the constitution of the egoic lotus we are told much. | 2. Chúng ta lưu ý rằng trong phần này, Chân sư DK không viết hoa từ “chân ngã”, dù chắc chắn Ngài không muốn nói đến cái ngã thấp. Còn với thuật ngữ “Linh hồn”, Ngài không nói đến Thái dương Thiên Thần, vì chúng ta được cho biết rất ít về cấu tạo của một sinh linh như thế, trong khi lại được cho biết nhiều về cấu tạo của hoa sen chân ngã. |
3. We note that the egoic lotus is ‘so called’, meaning, perhaps, that this appellation is not completely appropriate. | 3. Chúng ta lưu ý rằng hoa sen chân ngã là “cái gọi là”, có lẽ hàm ý rằng danh xưng này chưa hoàn toàn thích hợp. |
4. What we can gather from the foregoing is that the Master views us in terms of the development and dynamics of our egoic lotus and not, primarily, in relation to our chakra system (which is reflexively related to the egoic lotus). | 4. Từ những điều trên, chúng ta có thể nhận ra rằng Chân sư nhìn chúng ta xét theo sự phát triển và động thái của hoa sen chân ngã, chứ chủ yếu không xét theo hệ thống luân xa của chúng ta (vốn có mối liên hệ phản chiếu với hoa sen chân ngã). |
The soul is preoccupied with its own life; the details of the personality life (its inadequate expression or shadow in the three worlds) simply make no impact whatsoever upon the soul consciousness. | Linh hồn chuyên chú vào sự sống của riêng mình; những chi tiết của đời sống phàm ngã (biểu hiện bất toàn hay cái bóng của linh hồn trong ba cõi giới) hoàn toàn không tác động đến tâm thức linh hồn. |
1. Here the term ‘soul’is not capitalized, and yet it is quite clear that the Solar Angel is meant. | 1. Ở đây, thuật ngữ “linh hồn” không được viết hoa, nhưng rõ ràng là đang nói đến Thái dương Thiên Thần. |
2. The term ‘soul’can be variously defined. There is also a part of the ‘monad-in-extension’ which, when, focussed within the causal body (and thus cooperating with the Solar-Angel-in-extension’) can be called the ‘soul’, and when focussed upon the fourth subplane of the mental plane can be called personality. | 2. Thuật ngữ “linh hồn” có thể được định nghĩa theo nhiều cách. Cũng có một phần của “Chân Thần-trong-sự-mở-rộng” mà khi tập trung trong thể nguyên nhân (và do đó hợp tác với “Thái dương Thiên Thần-trong-sự-mở-rộng”) thì có thể được gọi là “linh hồn”, còn khi tập trung trên cõi phụ thứ tư của cõi trí thì có thể được gọi là phàm ngã. |
As the violence of the personality life grows, the soul which has been increasingly the recipient of the best the aspiring personality has to offer and which has been slowly turning its attention towards the mind of the personality, becomes also aware of an opposing factor to true soul expression upon the outer periphery of life. | Khi tính mãnh liệt của đời sống phàm ngã gia tăng, linh hồn, vốn ngày càng tiếp nhận những gì tốt đẹp nhất mà phàm ngã đầy khát vọng có thể dâng hiến và đã dần chuyển sự chú ý về phía thể trí của phàm ngã, cũng nhận biết một yếu tố đối kháng với sự biểu hiện chân thực của linh hồn tại vùng ngoại vi bên ngoài của sự sống. |
1. The factor of ‘violence’is ruled by Mars, and it is the effect of this planet which causes that disturbance of which the soul (as Solar Angel) becomes gradually aware. | 1. Sao Hỏa cai quản yếu tố “bạo liệt”, và chính ảnh hưởng của hành tinh này gây ra sự xáo động mà linh hồn (với tư cách Thái dương Thiên Thần) dần dần nhận biết. |
2. The violence grows as the personality grows in power, but not necessarily in correct orientation. The personality, after all, becomes a powerful center intent on its own purposes. | 2. Tính bạo liệt gia tăng khi phàm ngã ngày càng mạnh mẽ, nhưng không nhất thiết định hướng đúng đắn hơn. Xét cho cùng, phàm ngã trở thành một trung tâm mạnh mẽ, chăm chú theo đuổi các mục đích riêng của mình. |
3. We note that when the soul/Solar Angel turns its attention towards the personality it is towards the mind of that personality, which is, vibrationally closest to the vibration of the causal body (the dimension in which the soul/Solar Angel has invested itself). We note that the ‘turning’is slow—a gradual process. | 3. Chúng ta lưu ý rằng khi linh hồn/Thái dương Thiên Thần hướng sự chú ý về phàm ngã, thì sự chú ý ấy hướng về thể trí của phàm ngã ấy, vốn có rung động gần nhất với rung động của thể nguyên nhân (chiều đo mà linh hồn/Thái dương Thiên Thần đã đưa chính mình vào). Chúng ta lưu ý rằng sự “hướng về” ấy diễn ra chậm rãi—một tiến trình từ từ. |
4. The violence reveals an opposition to the soul/Solar Angel’s intended expression. | 4. Tính bạo liệt bộc lộ sự chống đối đối với sự biểu hiện mà linh hồn/Thái dương Thiên Thần dự định thực hiện. |
Then the battle of the higher pairs of opposites begins—the battle between soul and personality, consciously waged on both sides. That is the point to have in mind. | Bấy giờ bắt đầu cuộc chiến của những cặp đối cực cao hơn—cuộc chiến giữa linh hồn và phàm ngã, do cả hai phía tiến hành một cách có ý thức. Đó là điểm cần ghi nhớ. |
1. We note that soul and personality do not always conflict, but that there come certain developmental stages in which such contention can be expected. | 1. Chúng ta lưu ý rằng linh hồn và phàm ngã không phải lúc nào cũng xung đột, nhưng sẽ có những giai đoạn phát triển nhất định mà ta có thể dự liệu sự tranh chấp như thế. |
2. It is most interesting to consider that this battle is ‘consciously waged on both sides’. [Italics, MDR] The personality ‘knows’ that is fighting against a superior force, and the soul/Solar Angel is focussed on overcoming the resistance put up by the battling personality. | 2. Thật hết sức thú vị khi suy xét rằng cuộc chiến này “do cả hai phía tiến hành một cách có ý thức”. [Chữ nghiêng, MDR] Phàm ngã “biết” mình đang chiến đấu chống lại một mãnh lực cao hơn, còn linh hồn/Thái dương Thiên Thần tập trung vào việc vượt qua sự kháng cự của phàm ngã đang giao tranh. |
This conflict culminates, prior to each of the first three initiations, in the confronting of the two opponents; the Dweller on the Threshold (of initiation, my brother) and the Angel of the Presence stand face to face. | Trước mỗi lần trong ba lần điểm đạo đầu tiên, cuộc xung đột này lên đến cực điểm khi hai đối thủ chạm mặt; Kẻ Chận Ngõ (của điểm đạo, huynh đệ của tôi) và Thiên Thần của Hiện Diện đứng đối diện nhau. |
1. We note that different phases of the battle occur before each of the first three initiations. | 1. Chúng ta lưu ý rằng những giai đoạn khác nhau của cuộc chiến diễn ra trước mỗi lần trong ba lần điểm đạo đầu tiên. |
2. Even though it is elsewhere said that the disciple catches the ‘first glimpse’of the Dweller on the Threshold at the third initiation [GWP, 103], this section suggests that the Dweller is encountered prior to this point—though certainly not in its entirety. | 2. Mặc dù ở nơi khác có nói rằng đệ tử “thoáng thấy lần đầu” Kẻ Chận Ngõ vào lần điểm đạo thứ ba [GWP, 103], phần này gợi ý rằng đệ tử gặp Kẻ Chận Ngõ trước thời điểm ấy—dù chắc chắn chưa gặp toàn bộ nó. |
3. DK emphasizes the importance of the Dweller in relation to initiation. The Dweller has a function in revealing that which must be overcome as progressive initiations become possible. | 3. Chân sư DK nhấn mạnh tầm quan trọng của Kẻ Chận Ngõ đối với điểm đạo. Kẻ Chận Ngõ có chức năng phơi bày những gì phải vượt qua khi các lần điểm đạo kế tiếp trở nên khả thi. |
But with that battle, we are not here concerned. We are occupied with the theme of the response to hierarchical energy as embodied in the Master’s aura and from thence transmitted to the disciple. The channel or channels of direction (there are three of them) might be expressed thus: | Nhưng ở đây, chúng ta không bàn đến cuộc chiến ấy. Chúng ta đang quan tâm đến chủ đề đáp ứng với năng lượng của Thánh đoàn hiện thân trong hào quang của Chân sư và từ đó truyền đến người đệ tử. Có thể trình bày kênh hay các kênh điều hướng (có ba kênh) như sau: |
1. The subject which Master DK does not enter is much discussed in the book Glamor a World Problem and in Esoteric Psychology II. | 1. Chủ đề mà Chân sư DK không đi sâu vào đã được bàn luận nhiều trong sách Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới và trong Tâm Lý Học Nội Môn II. |
2. Instead He focuses on lines of energy descent upon which we will analyze. | 2. Thay vào đó, Ngài tập trung vào các tuyến giáng hạ năng lượng mà chúng ta sẽ phân tích. |
I. The Hierarchy. | I. Thánh đoàn. |
1. The Master. | 1. Chân sư. |
2. The Ashram. | 2. Ashram. |
3. The soul of the disciple. | 3. Linh hồn của người đệ tử. |
II. Humanity. | II. Nhân loại. |
1. The disciple. | 1. Người đệ tử. |
[763] | [763] |
2. The antahkarana. | 2. Antahkarana. |
3. The three higher centres. | 3. Ba trung tâm cao. |
1. These are two energy descents considered in general. Importantly, we note that the energy descent from Hierarchy does not immediately involve the chakras of the disciple, but ends in the soul. | 1. Đây là hai sự giáng hạ năng lượng được xem xét trên bình diện tổng quát. Điều quan trọng là chúng ta lưu ý rằng sự giáng hạ năng lượng từ Thánh đoàn không trực tiếp liên quan đến các luân xa của đệ tử, mà kết thúc ở linh hồn. |
2. Interestingly, when considering the energy descent which relates to Humanity, the three higher centres (probably meaning the head, heart and throat of a human being) are involved. | 2. Điều thú vị là khi xem xét sự giáng hạ năng lượng liên quan đến Nhân loại, ba trung tâm cao (có lẽ muốn nói đến đầu, tim và cổ họng của một con người) quả có tham gia. |
3. The term ‘disciple’here means the individual, microcosmic man who is capable of using the antahkarana. The term, in this case, does not apply to those who have not built the rainbow bridge. | 3. Ở đây, thuật ngữ “đệ tử” chỉ con người cá thể, tiểu thiên địa, có khả năng sử dụng antahkarana. Trong trường hợp này, thuật ngữ ấy không áp dụng cho những người chưa xây dựng cây cầu vồng. |
This is the broad and general process, reaching from the universal (as far as the individual disciple is concerned), to the particular, i.e., the disciple in a physical body. | Đây là tiến trình bao quát và tổng quát, đi từ cái phổ quát (xét đối với cá nhân người đệ tử) đến cái cụ thể, tức người đệ tử trong một thể xác. |
1. In this context, that which is ‘universal’is the Hierarchy and even Humanity (which serves as a much greater context of which the individual is a corporate part). | 1. Trong ngữ cảnh này, cái “phổ quát” là Thánh đoàn và cả Nhân loại (vốn là một bối cảnh rộng lớn hơn nhiều mà cá nhân là một thành phần hợp thành). |
The detail of the descent of energy or of the process of spiritual inspiration(both these phrases pictorially present the concept of response to the Master’s aura) might be put as follows: | Có thể trình bày chi tiết về sự giáng xuống của năng lượng hay tiến trình cảm hứng tinh thần (cả hai cụm từ này đều trình bày bằng hình ảnh khái niệm đáp ứng với hào quang của Chân sư) như sau: |
1. We are given an equivalence between the ‘descent of energy’and ‘spiritual inspiration’. This descent and inspiration results as a response to the ‘Master’s aura’. | 1. Chúng ta được cho thấy sự tương đương giữa “sự giáng hạ năng lượng” và “cảm hứng tinh thần”. Sự giáng hạ và cảm hứng này phát sinh từ sự đáp ứng với “hào quang của Chân sư”. |
2. In the study of these progressions, we must not lose sight of the fact that we are studying the stage of ‘Chela within the Aura’, and the energy dynamics of such a stage. | 2. Khi nghiên cứu những trình tự này, chúng ta phải luôn nhớ rằng mình đang nghiên cứu giai đoạn “Đệ tử trong hào quang” và động thái năng lượng của giai đoạn ấy. |
3. The value of such tabulations will emerge when we follow specific meditation processes. | 3. Giá trị của những bảng liệt kê như thế sẽ hiện rõ khi chúng ta thực hành các tiến trình tham thiền cụ thể. |
1. The Master’s aura. | 1. Hào quang của Chân sư. |
1. This is the origin of descent. The Master’s aura is a corporate aspect of the aura of the Spiritual Hierarchy. | 1. Đây là điểm khởi đầu của sự giáng hạ. Hào quang của Chân sư là một phương diện hợp thành của hào quang Thánh đoàn. |
2. The egoic lotus or soul body. | 2. Hoa Sen Chân Ngã hay thể linh hồn. |
1. The ‘soul body’is, we remind ourselves, not the soul (which is consciousness, per se). | 1. Chúng ta tự nhắc mình rằng “thể linh hồn” không phải là linh hồn (vốn chính là tâm thức). |
2. We do note that ashramic energy flows through the soul body, however. That which comes via the soul body is not only that which has been accumulated by the man himself. | 2. Tuy nhiên, chúng ta quả có lưu ý rằng năng lượng ashram chảy qua thể linh hồn. Những gì đến qua thể linh hồn không chỉ là những gì chính con người ấy đã tích lũy. |
3. Of course another line of descent for ashramic energy is the antahkarana itself. | 3. Dĩ nhiên, một tuyến giáng hạ khác của năng lượng ashram là chính antahkarana. |
4. There is on the mental plane an effective triangle between the manasic permanent atom, the jewel in the lotus of the soul body and the mental unit. It seems important to note that ashramic energy can reach the disciple functioning in the personality (which the mental unit comes to represent) from either the manasic permanent atom (representing the spiritual triad) or from the jewel in the lotus being the foremost representation of the energy of the causal body. | 4. Trên cõi trí có một tam giác hoạt động hữu hiệu giữa nguyên tử trường tồn manas, bảo ngọc trong hoa sen của thể linh hồn và đơn vị hạ trí. Dường như điều quan trọng cần lưu ý là năng lượng ashram có thể đến với đệ tử đang hoạt động trong phàm ngã (mà đơn vị hạ trí trở thành đại diện), hoặc từ nguyên tử trường tồn manas (đại diện cho tam nguyên tinh thần), hoặc từ bảo ngọc trong hoa sen, vốn là biểu hiện hàng đầu của năng lượng thể nguyên nhân. |
3. The inflow of ashramic energy, via | 3. Dòng năng lượng ashram tuôn vào, qua |
a. The sacrifice petals or the will aspect. | a. Các cánh hoa hi sinh hay phương diện ý chí. |
b. The love petals or the love-wisdom aspect. | b. Các cánh hoa bác ái hay phương diện Bác Ái – Minh Triết. |
c. The knowledge petals or the mind aspect. | c. Các cánh hoa tri thức hay phương diện trí tuệ. |
This process will be affected by the ray type of the disciple. | Loại cung của người đệ tử sẽ ảnh hưởng đến tiến trình này. |
1. In what manner will this effect occur? Probably, according to the triadal emphasis (which arises principally from the monadic type and which conditions the egoic lotus) so the mode of energy descent involving the egoic lotus will occur. | 1. Ảnh hưởng này sẽ diễn ra theo cách nào? Có lẽ phương thức giáng hạ năng lượng liên quan đến hoa sen chân ngã sẽ diễn ra tùy theo trọng tâm của tam nguyên tinh thần (vốn chủ yếu phát sinh từ loại chân thần và tác động định hình hoa sen chân ngã). |
2. It may be presumed that different petals (and even different tiers) within the egoic lotus will be more or less responsive according the triadal emphasis. | 2. Có thể giả định rằng những cánh hoa khác nhau (và cả những tầng cánh hoa khác nhau) trong hoa sen chân ngã sẽ đáp ứng nhiều hay ít tùy theo trọng tâm của tam nguyên tinh thần. |
4. The response from the disciple upon the physical plane and the receptivity of his centres to the activity engendered by the soul, under impression by the Master would be as follows: | 4. Sự đáp ứng của người đệ tử trên cõi hồng trần và khả năng tiếp nhận của các trung tâm của y đối với hoạt động do linh hồn tạo ra dưới ấn tượng từ Chân sư sẽ như sau: |
1. The following particulars are of great value in visualizing the descent of spiritual energy. | 1. Những chi tiết sau đây có giá trị lớn trong việc hình dung sự giáng hạ của năng lượng tinh thần. |
a. The sacrifice petals would transmit energy to the head centre, via the sacrifice petals (three of them) to be found in the ring of petals immediately around the “Jewel in the Lotus”; from thence to the sacrifice petal in the three love petals and in the three knowledge petals. You, therefore, have five transmitting points of will-energy. | a. Các cánh hoa hi sinh sẽ truyền năng lượng đến trung tâm đầu, qua các cánh hoa hi sinh (có ba cánh) nằm trong vòng cánh hoa ngay quanh “Bảo Ngọc Trong Hoa Sen”; từ đó đến cánh hoa hi sinh trong ba cánh hoa bác ái và trong ba cánh hoa tri thức. Do đó, các bạn có năm điểm truyền dẫn năng lượng ý chí. |
1. We note that the ‘Jewel in the Lotus’seems to include the three synthesizing petals, for the sacrifice petals are here said to be immediately around the ‘Jewel’and, usually, it is the synthesis petals which are pictured as immediately surrounding the ‘Jewel’. | 1. Chúng ta lưu ý rằng “Bảo Ngọc Trong Hoa Sen” dường như bao gồm ba cánh hoa tổng hợp, vì ở đây các cánh hoa hi sinh được nói là nằm ngay quanh “Bảo Ngọc”, trong khi thông thường, các cánh hoa tổng hợp mới được mô tả là bao quanh “Bảo Ngọc” ngay sát bên. |
2. The fivefold transmission is of vital importance—the number fivecorrelating directly with the fifth plane on which the egoic lotus is found, as well as with the Fifth Creative Hierarchy inspired by Venus and remotely by Sirius (in relation to both of which the number five is also paramount). | 2. Sự truyền dẫn ngũ phân có tầm quan trọng thiết yếu—con số năm tương quan trực tiếp với cõi thứ năm, nơi có hoa sen chân ngã, cũng như với Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Năm, vốn nhận cảm hứng từ Sao Kim và từ xa là Sao Thiên Lang (đối với cả hai thiên thể này, con số năm cũng có tầm quan trọng bậc nhất). |
b. The love petals similarly transmit love-energy to the heart centre, via the love petals, again five in all. | b. Tương tự, các cánh hoa bác ái truyền năng lượng bác ái đến trung tâm tim qua các cánh hoa bác ái, tổng cộng cũng là năm cánh. |
c. The knowledge petals transmit energy, the energy of intelligent activity, to the throat centre, again in the same manner, via the five knowledge petals. | c. Các cánh hoa tri thức truyền năng lượng, năng lượng của hoạt động thông minh, đến trung tâm cổ họng, cũng theo cách ấy, qua năm cánh hoa tri thức. |
1. The trinity involved is head, heart and throat. We note that even though chelas within the aura have initiate understanding (and are thus, for practical purposes, initiate), the knowledge petals are still of importance. This is said because there is in the Teaching reference to the disintegration of the knowledge petals beginning at the third initiation. | 1. Bộ ba liên quan ở đây là đầu, tim và cổ họng. Chúng ta lưu ý rằng mặc dù các đệ tử trong hào quang có sự thấu hiểu của điểm đạo đồ (và do đó, xét trên thực tế, là điểm đạo đồ), các cánh hoa tri thức vẫn còn quan trọng. Sở dĩ nói điều này là vì trong Giáo Huấn có đề cập đến sự tan rã của các cánh hoa tri thức bắt đầu từ lần điểm đạo thứ ba. |
This process going on in the egoic vehicle and registered by the disciple upon the physical plane, produces eventually what could be called a “potent centre of invocation.” This [764] invoking centre evokes response from the Spiritual Triad so that eventually you have: | Tiến trình này diễn ra trong hiện thể chân ngã và được người đệ tử ghi nhận trên cõi hồng trần, cuối cùng tạo ra điều có thể gọi là một “trung tâm khẩn cầu đầy sức mạnh”. Trung tâm khẩn cầu [764] này gợi lên sự đáp ứng từ Tam Nguyên Tinh Thần, để cuối cùng có: |
1. The energy descent given by the Tibetan creates in the disciple the power of invocation. He becomes a ‘potent centre of invocation’capable of communing with the spiritual triad. | 1. Sự giáng hạ năng lượng mà Chân sư Tây Tạng trình bày tạo nên quyền năng khẩn cầu nơi đệ tử. Y trở thành một “trung tâm khẩn cầu đầy uy lực”, có khả năng hiệp thông với tam nguyên tinh thần. |
I. The Spiritual Triad, the custodian of monadic energy. | I. Tam Nguyên Tinh Thần, nơi gìn giữ năng lượng chân thần. |
1. While the spiritual triad is the ‘custodian of monadic energy’its relation to the soul is definite (for the permanent atoms of the spiritual triad are colored by the same ray as that which qualifies the egoic lotus). | 1. Dù tam nguyên tinh thần là “nơi gìn giữ năng lượng chân thần”, mối quan hệ của tam nguyên tinh thần với linh hồn vẫn rõ ràng (vì các nguyên tử trường tồn của tam nguyên tinh thần mang sắc thái của cùng một cung vốn quy định phẩm tính của hoa sen chân ngã). |
The atmic permanent atom. | Nguyên tử trường tồn atma. |
The sacrifice petals. | Các cánh hoa hi sinh. |
The antahkarana. | Antahkarana. |
The physical permanent atom within the egoic lotus. | Nguyên tử trường tồn hồng trần bên trong Hoa Sen Chân Ngã. |
The head centre. | Trung tâm đầu. |
1. We note a dual line of descent which is most interesting and important. The descent described immediately above is different than the one described above in which ashramic energy reached the disciple through the egoic lotus alone. | 1. Chúng ta lưu ý một tuyến giáng hạ kép hết sức thú vị và quan trọng. Sự giáng hạ vừa mô tả ở trên khác với sự giáng hạ đã mô tả trước đó, trong đó năng lượng ashram đến với đệ tử chỉ qua hoa sen chân ngã. |
2. In studying the differences between these two lines of descent much can be learned, and the disciple’s degree of receptivity can be empowered. | 2. Khi nghiên cứu những khác biệt giữa hai tuyến giáng hạ này, chúng ta có thể học được nhiều điều, và khả năng tiếp nhận của đệ tử có thể được tăng cường. |
II. The Spiritual Triad. | II. Tam Nguyên Tinh Thần. |
The buddhic permanent atom. | Nguyên tử trường tồn Bồ đề. |
The love petals. | Các cánh hoa bác ái. |
The antahkarana. | Antahkarana. |
The astral permanent atom within the egoic lotus. | Nguyên tử trường tồn cảm dục bên trong Hoa Sen Chân Ngã. |
The heart centre. | Trung tâm tim. |
1. We note that there is a direct connection between the buddhic permanent atom and the love petals, just as the connection is direct between the atmic permanent atom and the sacrifice petals. | 1. Chúng ta lưu ý rằng có một mối liên hệ trực tiếp giữa nguyên tử trường tồn Bồ đề và các cánh hoa bác ái, cũng như có mối liên hệ trực tiếp giữa nguyên tử trường tồn atma và các cánh hoa hi sinh. |
III. The Spiritual Triad. | III. Tam Nguyên Tinh Thần. |
The manasic permanent atom. | Nguyên tử trường tồn manas. |
The knowledge petals. | Các cánh hoa tri thức. |
The antahkarana. | Antahkarana. |
The mental unit. | Đơn vị hạ trí. |
The throat centre. | Trung tâm cổ họng. |
1. The monad and the manasic permanent atom are the two sources which connect directly with the jewel in the lotus. This can be gathered if charts VII and IX from TCF (given below) are consulted. (Another coloured version is available upon request to Vicktorya.) | 1. Chân thần và nguyên tử trường tồn manas là hai nguồn kết nối trực tiếp với bảo ngọc trong hoa sen. Có thể nhận ra điều này khi tham khảo các sơ đồ VII và IX trong TCF (được đưa ra bên dưới). (Có một phiên bản màu khác khi yêu cầu Vicktorya cung cấp.) |
2. Note that in Chart VII [VIII] from TCF [p. 817] there is seen a direct line of influence from the monad to the jewel in the lotus. From Chart IX a direct line of influence is shown from the manasic permanent atom to the jewel. | 2. Hãy lưu ý rằng trong Sơ đồ VII [VIII] của TCF [tr. 817], có thể thấy một tuyến ảnh hưởng trực tiếp từ chân thần đến bảo ngọc trong hoa sen. Sơ đồ IX cho thấy một tuyến ảnh hưởng trực tiếp từ nguyên tử trường tồn manas đến bảo ngọc. |
3. See charts below: [note chart VII may be referred to as Chart VIII in various editions. It is the one on page 817.] | 3. Xem các sơ đồ bên dưới: [lưu ý rằng sơ đồ VII có thể được gọi là Sơ đồ VIII trong các ấn bản khác nhau. Đó là sơ đồ ở trang 817.] |
1. These charts should be studied closely in relation to the tabulations detailing the lines of energy descent. | 1. Cần nghiên cứu kỹ các sơ đồ này trong mối liên hệ với những bảng liệt kê chi tiết các tuyến giáng hạ năng lượng. |
These details, brother of mine, are of technical interest, are purely academic and constitute simply word symbols of an inevitable evolutionary process. | Huynh đệ của tôi, những chi tiết này đáng quan tâm về mặt kỹ thuật, hoàn toàn mang tính học thuật và chỉ hợp thành những biểu tượng bằng lời của một tiến trình tiến hoá tất yếu. |
1. DK is telling us that these lines of descent will come into full expression as the result of a natural process. Our conscious meditative work will, however, hasten the process. | 1. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng các tuyến giáng hạ này sẽ biểu hiện đầy đủ như kết quả của một tiến trình tự nhiên. Tuy nhiên, công việc tham thiền có ý thức của chúng ta sẽ thúc đẩy tiến trình ấy. |
They describe the divine inspiration to which all human beings are subjected as an integral part of the life of God Himself and one which is consciously registered when a man reaches the stages of discipleship and initiation. | Chúng mô tả cảm hứng thiêng liêng tác động lên mọi con người như một phần không thể tách rời của sự sống của chính Thượng đế, và con người hữu thức ghi nhận cảm hứng ấy khi đạt đến các giai đoạn của địa vị đệ tử và điểm đạo. |
1. It is not that all the lines of descent occur at once. They are built up in completeness over time. | 1. Không phải tất cả các tuyến giáng hạ đều xuất hiện cùng một lúc. Chúng dần được xây dựng hoàn chỉnh theo thời gian. |
They demonstrate, when rightly understood, the nature of the Science of the Breath. | Khi được thấu hiểu đúng đắn, chúng cho thấy bản chất của Khoa Học về Hơi Thở. |
1. This is a potent statement. The lines described demonstrate the lines of descent promoted by the occult breathing process. Correct occult breathing is, ultimately, to produce in completeness the results depicted. | 1. Đây là một phát biểu đầy uy lực. Các tuyến được mô tả cho thấy những tuyến giáng hạ do tiến trình hô hấp huyền bí thúc đẩy. Cuối cùng, hô hấp huyền bí đúng đắn phải tạo ra trọn vẹn những kết quả đã mô tả. |
That Breath is all and in the method of invocation and evocation which underlies the entire process, you have a hint as to the structure and activity of the Heart of the Sun, the organ of this second ray solar system, and the diastole and systole system of evolution which is found in the universal life process. | Hơi Thở ấy là tất cả, và trong phương pháp khẩn cầu và gợi lên làm nền tảng cho toàn bộ tiến trình, các bạn có một gợi ý về cấu trúc và hoạt động của Tâm Mặt trời, cơ quan của hệ mặt trời cung hai này, cùng hệ thống giãn nở và co bóp của tiến hoá hiện diện trong tiến trình sự sống vũ trụ. |
1. Occultly, the macrocosmic breath and heart beat are related in this section. | 1. Về mặt huyền bí, trong phần này, hơi thở và nhịp tim của đại thiên địa có mối liên hệ với nhau. |
2. Indeed the ‘BREATH’is All, for the manifestation of the entire universe depends (we are told in The Secret Doctrine) upon the GREAT BREATH. | 2. Quả thực, “HƠI THỞ” là Tất Cả, vì sự biểu hiện của toàn thể vũ trụ phụ thuộc (như chúng ta được cho biết trong Giáo Lý Bí Nhiệm) vào HƠI THỞ VĨ ĐẠI. |
3. This entire stage of discipleship has focussed on the energy exchange between the Master, His aura, the aura of His Ashram and the chela who has reached the stage of development where he may be called a ‘Chela within the Aura’. | 3. Toàn bộ giai đoạn địa vị đệ tử này tập trung vào sự trao đổi năng lượng giữa Chân sư, hào quang của Ngài, hào quang của ashram của Ngài và người đệ tử đã đạt đến giai đoạn phát triển mà y có thể được gọi là “Đệ tử trong hào quang”. |
4. As disciples who are attempting to develop the will-to-love (and, more importantly, simply, love), a right understanding of solar fire and the Heart of the Sun is paramount. | 4. Là những đệ tử đang cố gắng phát triển Ý Chí-Yêu Thương (và quan trọng hơn, đơn giản là tình thương), việc thấu hiểu đúng đắn lửa thái dương và Tâm Mặt Trời có tầm quan trọng bậc nhất. |
5. The entire antahkarana process (at our stage of development) leads to the Heart of the Sun, considered not only as the ‘sponsor’ of the life of the soul, but of the very life of the monad, which, being found on thesecond systemic plane, is directly related to the second ray and to the solar fire of which the Heart of the Sun is the foremost expression within our solar system. | 5. Toàn bộ tiến trình antahkarana (ở giai đoạn phát triển của chúng ta) dẫn đến Tâm Mặt Trời, được xem không chỉ là “nguồn bảo trợ” cho sự sống của linh hồn, mà còn cho chính sự sống của chân thần; vì nằm trên cõi thứ hai của hệ mặt trời, chân thần liên hệ trực tiếp với cung hai và với lửa thái dương, mà Tâm Mặt Trời là biểu hiện hàng đầu trong hệ mặt trời của chúng ta. |
Dear Brothers and Sisters, | Các Huynh Đệ và Tỷ Muội thân mến, |
The material contained in this instruction is profound and represents a stage of discipleship rather far ahead of most if not all of us. An important goal of our efforts is nevertheless given. It is ashramic intimacy which we seek, and we are given important methods of approach. Let us take them to heart and practice them to the degree we can. | Nội dung trong bài huấn thị này rất sâu sắc và thể hiện một giai đoạn địa vị đệ tử khá xa phía trước phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả chúng ta. Dẫu vậy, một mục tiêu quan trọng cho những nỗ lực của chúng ta đã được nêu ra. Điều chúng ta tìm kiếm là sự gần gũi thân thiết trong ashram, và chúng ta được trao những phương pháp tiếp cận quan trọng. Hãy ghi lòng và thực hành chúng trong khả năng của mình. |
With Love and Many Blessings to All, | Với Tình Thương và Nhiều Phúc Lành gửi đến Tất Cả, |
Michael | Michael |