Laws of The Souls—Các Định Luật của Linh Hồn
Webinar 1 [-> Bình Giảng]
Webinar 2 [-> Bình Giảng]
|
This Law of Sacrifice and the impulse to give can also be traced throughout every kingdom in nature. It is typified for us in the basic sacrifices which take place between the various kingdoms. The essential qualities of the minerals and chemicals of the earth are an instance in point. They are needed by other forms of life and are donated to man through the medium of the vegetable kingdom and through the water which he drinks, and thus, even in the first and densest kingdom in nature (whose consciousness is so far removed from ours) does this process of giving hold good. But the tracing of this Law of Sacrifice in the subhuman kingdoms is not possible [96] here, and we must confine our attention to the world of human living and consciousness. |
Định luật Hi sinh này và xung lực cho đi cũng có thể được truy nguyên xuyên suốt mọi giới trong bản chất. Nó được tiêu biểu cho chúng ta trong những sự hi sinh căn bản diễn ra giữa các giới khác nhau. Những phẩm tính thiết yếu của các khoáng chất và hoá chất của trái đất là một ví dụ điển hình. Chúng cần thiết cho các hình tướng sự sống khác và được hiến tặng cho con người qua trung gian của giới thực vật và qua nước mà y uống, và như vậy, ngay cả trong giới thứ nhất và đậm đặc nhất trong bản chất (mà tâm thức của nó xa cách tâm thức chúng ta đến thế) thì tiến trình cho đi này vẫn đúng. Nhưng việc truy vết Định luật Hi sinh này trong các giới dưới nhân loại không thể [96] thực hiện ở đây, và chúng ta phải giới hạn sự chú ý vào thế giới sinh hoạt và tâm thức của con người. |
b. THE WORK OF SALVAGE OR SALVATION—CÔNG TÁC CỨU VỚT HAY CỨU RỖI
Webinar 3 [-> Bình Giảng]
Webinar 4 [-> Bình Giảng]
|
All this involves the death and sacrifice of a Son of God, a solar angel, for, from the angle of Deity, descent into matter, manifestation through form, the taking of a body, extension of consciousness through the process of incarnation, are all occultly considered to be death. But the angels “chose to die, and in dying, lived.” Through their sacrifice, matter is lifted up into Heaven. It is this theme which fills the pages of The Secret Doctrine, and which is discussed in greater elaboration in A Treatise on Cosmic Fire. The sacrifice of the angels, the death of the Sons of God, the immolation of the mystic Christ, the crucifixion in time and space of all living entities, called souls—this is the theme of those books. This is the mystery hinted at in the world of Scriptures, and this is the secret of the ages, which is only discovered by the souls of men as each of them enters individually into conscious relation with his own soul and discovers that which he has joyously done in the past, and so arrives at the realisation of that supreme sacrifice which he made with deliberation in the early dawn of time itself and which, at some point in his career as a soul on earth, he consciously and symbolically re-enacts for the benefit of other souls, in order to hasten their progress towards their goal. Then comes a life wherein, in some form or another, he portrays or works out within himself, but also before the watching world, that great symbolic drama which we call |
Tất cả điều này bao hàm cái chết và sự hi sinh của một Con của Thượng đế, một Thái dương Thiên Thần, vì, từ góc nhìn của Thượng đế, sự giáng xuống vào vật chất, sự biểu lộ qua hình tướng, việc nhận một thể, sự mở rộng tâm thức qua tiến trình nhập thể, tất cả đều được xem một cách huyền bí là cái chết. Nhưng các thiên thần “đã chọn chết, và trong khi chết, đã sống.” Nhờ sự hi sinh của họ, vật chất được nâng lên Thiên Giới. Chính chủ đề này lấp đầy các trang của Giáo Lý Bí Nhiệm, và được bàn luận chi tiết hơn trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Sự hi sinh của các thiên thần, cái chết của các Con của Thượng đế, sự tự thiêu của Đức Christ thần bí, sự đóng đinh trong thời gian và không gian của mọi thực thể sống, được gọi là các linh hồn—đó là chủ đề của những quyển sách ấy. Đây là huyền nhiệm được gợi ý trong thế giới Kinh Thánh, và đây là bí mật của các thời đại, chỉ được các linh hồn của loài người khám phá khi mỗi người trong họ bước vào mối liên hệ có tâm thức với chính linh hồn của mình và khám phá điều mà y đã hân hoan thực hiện trong quá khứ, và như vậy đi đến sự chứng nghiệm về sự hi sinh tối thượng mà y đã thực hiện một cách có chủ ý trong buổi bình minh sơ khai của chính thời gian, và điều mà, ở một điểm nào đó trong sự nghiệp của y như một linh hồn trên trái đất, y tái diễn một cách có tâm thức và tượng trưng vì lợi ích của các linh hồn khác, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của họ hướng tới mục tiêu. Khi ấy đến một đời sống mà, dưới hình thức này hay hình thức khác, y diễn tả hoặc triển khai trong chính mình, nhưng cũng trước thế giới đang quan sát, vở kịch biểu tượng vĩ đại mà chúng ta gọi là |
|
The Sacrifice of a World Saviour. This is the theme of the [94] historical romance of all those great Sons of God who down the ages, have arrived at an understanding of the significance of the divine purpose of God, of the Word incarnated through a planet, of those solar angels who are themselves, the Word incarnate through a human form. Whether they enact this drama, as did the Christ, so as to present to man the symbolism of death and sacrifice, or whether they enact this drama, as did the Buddha, so as to demonstrate to man the sacrifice and death of personal desire (to mention only two of the manifested Sons of God, the Christ and the Buddha), the theme remains the same,—the death of that which is lower in order to release that which is higher, or—on a larger scale—the death of that which is higher in the order and scale of being, in order to release that which is lower. |
Sự Hi sinh của một Đấng Cứu Thế Gian. Đây là chủ đề của thiên sử lãng mạn [94] của tất cả những Con vĩ đại của Thượng đế, những Đấng qua các thời đại đã đi đến sự thấu hiểu về thâm nghĩa của thiên ý của Thượng đế, về Linh từ nhập thể qua một hành tinh, về những Thái dương Thiên Thần vốn là chính họ, Linh từ nhập thể qua một hình tướng con người. Dù họ diễn vở kịch này, như Đức Christ đã làm, để trình bày cho con người biểu tượng của cái chết và sự hi sinh, hay họ diễn vở kịch này, như Đức Phật đã làm, để chứng minh cho con người sự hi sinh và cái chết của dục vọng cá nhân (chỉ nêu hai Con của Thượng đế đã biểu lộ, Đức Christ và Đức Phật), chủ đề vẫn như nhau,—cái chết của điều thấp hơn để giải phóng điều cao hơn, hoặc—trên một quy mô lớn hơn—cái chết của điều cao hơn trong trật tự và thang bậc hiện hữu, để giải phóng điều thấp hơn. |
|
But the lesson needs to be learned (and it is the lesson which man is now engaged in learning) that death as the human consciousness understands it, pain and sorrow loss and, disaster, joy and distress, are only such because man, as yet, identifies himself with the life of the form and not with the life and consciousness of the soul, the solar angel, whose awareness is potentially that of the planetary Deity, Whose greater awareness (in His turn) is potentially that of the solar Deity. The moment a man identifies himself with his soul and not with his form, then he understands the meaning of the Law of Sacrifice; he is spontaneously governed by it; and he is one who will with deliberate intent choose to die. But there is no pain, no sorrow, and no real death involved. |
Nhưng bài học cần được học (và đó là bài học mà con người hiện đang dấn thân học) rằng cái chết như tâm thức con người hiểu, đau đớn và buồn khổ, mất mát và tai hoạ, vui sướng và khốn đốn, chỉ là như vậy bởi vì con người, cho đến nay, đồng hoá với đời sống của hình tướng chứ không đồng hoá với đời sống và tâm thức của linh hồn, Thái dương Thiên Thần, mà sự nhận biết của vị ấy tiềm tàng là của Thượng đế Hành Tinh, và sự nhận biết lớn hơn của Ngài (đến lượt Ngài) tiềm tàng là của Thượng đế Mặt Trời. Khoảnh khắc một người đồng hoá với linh hồn mình chứ không với hình tướng của mình, thì y thấu hiểu ý nghĩa của Định luật Hi sinh; y tự phát được nó chi phối; và y là người sẽ với ý định có chủ ý chọn chết. Nhưng không có đau đớn, không có buồn khổ, và không có cái chết thực sự nào liên quan. |
|
This is the mystery of illusion and glamour. From these two imprisoning factors all World Saviours are free. They are not deceived. It is well, in passing, to point out here that in the New Age, we shall enlarge our concept of this term World Saviour. At present we apply it predominantly to those souls who emerge upon the teaching ray, the second or [95] Christ ray. They enact the drama of salvation. But this is an error, due to the overpowering emotional glamour of the Piscean Age. This astral influence has its roots in the past Atlantean civilisation, which preceded ours. In that age, the astral body was the subject of attention. Much that happens today, and which may develop, has its roots in that aspect of energy. Seeds sown at that time are now brought to flower. This is very good and necessary, even if distressing in experience. |
Đây là huyền nhiệm của ảo tưởng và ảo cảm. Cả hai yếu tố giam cầm này đều không trói buộc được các Đấng Cứu Thế Gian. Các Ngài không bị đánh lừa. Nhân tiện, cần chỉ ra ở đây rằng trong Kỷ Nguyên Mới, chúng ta sẽ mở rộng khái niệm của thuật ngữ Đấng Cứu Thế Gian này. Hiện nay chúng ta chủ yếu áp dụng nó cho những linh hồn xuất hiện trên cung dạy dỗ, cung hai hay [95] cung Christ. Họ diễn vở kịch cứu rỗi. Nhưng đây là một sai lầm, do ảo cảm cảm xúc áp đảo của Thời đại Song Ngư. Ảnh hưởng cảm dục này có gốc rễ trong nền văn minh Atlantis trong quá khứ, vốn đi trước nền văn minh của chúng ta. Trong thời đại ấy, thể cảm dục là đối tượng được chú ý. Nhiều điều xảy ra ngày nay, và có thể phát triển, có gốc rễ trong phương diện năng lượng ấy. Những hạt giống gieo khi đó nay đang trổ hoa. Điều này rất tốt và cần thiết, dù có thể gây khổ sở trong trải nghiệm. |
|
But the World Saviours must be recognised as coming forth to serve the race, with sacrifice of some kind along many lines and in many forms. They may be great rulers, or dictators, politicians, statesmen, scientists and artists. Their work is the work of salvage, of restitution, or renovation and revelation, and, through the sacrifice of themselves, they accomplish it. As such, they must be recognised for what they are. Now they are misunderstood, misinterpreted, and judged by their mistakes more than by their aims. But they are dedicated souls. They rescue; they lift; they integrate; they illumine; and the net result of their work, from the angle of ultimate history, is good. |
Nhưng các Đấng Cứu Thế Gian phải được nhận ra là xuất hiện để phụng sự nhân loại, với một sự hi sinh nào đó theo nhiều tuyến và dưới nhiều hình thức. Họ có thể là những nhà cai trị vĩ đại, hay những nhà độc tài, chính khách, chính trị gia, các nhà khoa học và nghệ sĩ. Công việc của họ là công việc cứu vớt, hoàn nguyên, hay canh tân và mặc khải, và qua sự hi sinh của chính họ, họ hoàn thành điều đó. Với tư cách như vậy, họ phải được nhận ra đúng như họ là. Hiện nay họ bị hiểu lầm, bị diễn giải sai, và bị phán xét bởi sai lầm của họ nhiều hơn bởi mục tiêu của họ. Nhưng họ là những linh hồn tận hiến. Họ cứu; họ nâng lên; họ tích hợp; họ soi sáng; và kết quả ròng của công việc họ, từ góc nhìn của lịch sử tối hậu, là điều thiện. |
Webinar 5 [-> Bình Giảng]
|
This Law of Sacrifice and the impulse to give can also be traced throughout every kingdom in nature. It is typified for us in the basic sacrifices which take place between the various kingdoms. The essential qualities of the minerals and chemicals of the earth are an instance in point. They are needed by other forms of life and are donated to man through the medium of the vegetable kingdom and through the water which he drinks, and thus, even in the first and densest kingdom in nature (whose consciousness is so far removed from ours) does this process of giving hold good. But the tracing of this Law of Sacrifice in the subhuman kingdoms is not possible [96] here, and we must confine our attention to the world of human living and consciousness. |
Định luật Hi sinh này và xung lực cho đi cũng có thể được truy nguyên xuyên suốt mọi giới trong bản chất. Nó được tiêu biểu cho chúng ta trong những sự hi sinh căn bản diễn ra giữa các giới khác nhau. Những phẩm tính thiết yếu của các khoáng chất và hoá chất của trái đất là một ví dụ điển hình. Chúng cần thiết cho các hình tướng sự sống khác và được hiến tặng cho con người qua trung gian của giới thực vật và qua nước mà y uống, và như vậy, ngay cả trong giới thứ nhất và đậm đặc nhất trong bản chất (mà tâm thức của nó xa cách tâm thức chúng ta đến thế) thì tiến trình cho đi này vẫn đúng. Nhưng việc truy vết Định luật Hi sinh này trong các giới dưới nhân loại không thể [96] thực hiện ở đây, và chúng ta phải giới hạn sự chú ý vào thế giới sinh hoạt và tâm thức của con người. |
b. THE WORK OF SALVAGE OR SALVATION—CÔNG TÁC CỨU VỚT HAY CỨU RỖI
|
The Law of Sacrifice means also salvage and underlies all the evolutionary processes and particularly does this emerge into clear significance in the human family. The instinct to betterment, the urge to progress (physical, emotional and intellectual), the effort to ameliorate conditions, the tendency to philanthropy which is so rapidly taking hold of the world, and the sense of responsibility which does make men realise that they are their brother’s keeper, are all expressions of this sacrificial instinct. This factor, though not unrecognised by modern psychology, is of far wider significance than has yet been realised. This instinctual tendency is the one that itself governs the Law of Rebirth. It is the expression of a still greater factor in the creative process. It is the major determining impulse which impelled the Soul of God Himself to enter into form life; which impels life, upon the involutionary arc, to progress down into matter, producing thus the immanence of God. It is that also which drives humanity forward into its wild struggle for material well-being. It is that too which urges man eventually to turn his back upon the “world, the flesh and the devil,” as the New Testament puts it, and orient himself to the things of spiritual import. The prodigal son sacrificed the Father’s home when he chose to wander forth into the far country. He wasted and sacrificed his substance through the use he made of the experience of life on earth, until he had exhausted all his resources and there was naught left but the eventual sacrifice of what he held so dear, but had discovered to be so unsatisfying. For these things of lesser values, he had sacrificed the higher values, and had to return again whence he came. Such is the life story of all the [97] sons of God who came into incarnation, as given to us under the symbolism of the Bible. But the theme in all the world Bibles is the same. |
Định luật Hi sinh cũng có nghĩa là cứu vớt và nằm dưới mọi tiến trình tiến hoá, và đặc biệt điều này nổi lên với thâm nghĩa rõ rệt trong gia đình nhân loại. Bản năng hướng tới cải thiện, thôi thúc tiến bộ (hồng trần, cảm xúc và trí tuệ), nỗ lực làm cho điều kiện tốt hơn, khuynh hướng từ thiện đang nhanh chóng lan rộng trong thế giới, và ý thức trách nhiệm khiến con người nhận ra rằng họ là người giữ gìn anh em mình, tất cả đều là những biểu đạt của bản năng hi sinh này. Yếu tố này, tuy không phải không được tâm lý học hiện đại nhận biết, có thâm nghĩa rộng lớn hơn nhiều so với điều người ta đã chứng nghiệm cho đến nay. Khuynh hướng bản năng này chính là điều chi phối Định luật Tái Sinh. Nó là sự biểu đạt của một yếu tố còn lớn hơn trong tiến trình sáng tạo. Nó là xung lực quyết định chủ yếu đã thúc đẩy chính Linh hồn của Thượng đế bước vào đời sống hình tướng; nó thúc đẩy sự sống, trên vòng cung giáng hạ tiến hoá, tiến xuống vào vật chất, do đó tạo ra tính nội tại của Thượng đế. Nó cũng là điều đẩy nhân loại tiến lên trong cuộc tranh đấu dữ dội vì phúc lợi vật chất. Nó cũng là điều cuối cùng thúc giục con người quay lưng lại với “thế gian, xác thịt và ma quỷ,” như Tân Ước nói, và định hướng mình về những điều có tầm quan trọng tinh thần. Đứa con hoang đàng đã hi sinh mái nhà của Cha khi nó chọn lang thang đến xứ xa. Nó đã phung phí và hi sinh chất liệu của mình qua cách nó sử dụng kinh nghiệm của đời sống trên trái đất, cho đến khi nó cạn kiệt mọi nguồn lực và chẳng còn gì ngoài sự hi sinh cuối cùng đối với điều nó từng xem là quý giá, nhưng đã khám phá là quá bất toại. Vì những điều có giá trị thấp hơn ấy, nó đã hi sinh những giá trị cao hơn, và phải trở về lại nơi nó đã ra đi. Đó là câu chuyện đời sống của tất cả những [97] Con của Thượng đế đã bước vào nhập thể, như được trao cho chúng ta dưới biểu tượng của Kinh Thánh. Nhưng chủ đề trong mọi Kinh Thánh của thế gian đều như nhau. |
|
This urge to sacrifice, to relinquish this for that, to choose one way or line of conduct and thus sacrifice another way, to lose in order eventually to gain,—such is the underlying story of evolution. This needs psychological understanding. It is a governing principle of life itself, and runs like a golden pattern of beauty through the dark materials of which human history is constructed. When this urge to sacrifice in order to win, gain or salvage that which is deemed desirable is understood, then the whole clue to man’s unfoldment will stand revealed. This tendency or urge is something different to desire, as desire is academically understood and studied today. What it really connotes is the emergence of that which is most divine in man. It is an aspect of desire, but it is the dynamic, active side and not the feeling, sensuous side. It is the predominant characteristic of Deity. |
Thôi thúc hi sinh này, từ bỏ cái này để lấy cái kia, chọn một con đường hay một tuyến hành vi và do đó hi sinh một con đường khác, mất để rồi cuối cùng được,—đó là câu chuyện nền tảng của tiến hoá. Điều này cần được thấu hiểu về mặt tâm lý. Nó là một nguyên khí chi phối của chính sự sống, và chạy như một mô hình vàng của vẻ đẹp xuyên qua những chất liệu tối tăm mà lịch sử nhân loại được xây dựng từ đó. Khi thôi thúc hi sinh để giành lấy, đạt được hay cứu vớt điều được xem là đáng mong muốn được thấu hiểu, thì toàn bộ manh mối về sự khai mở của con người sẽ được phơi bày. Khuynh hướng hay thôi thúc này là điều khác với dục vọng, như dục vọng được hiểu và nghiên cứu theo lối học thuật ngày nay. Điều mà nó thật sự hàm ý là sự xuất hiện của điều thiêng liêng nhất trong con người. Nó là một phương diện của dục vọng, nhưng là mặt năng động, chủ động chứ không phải mặt cảm giác, cảm quan. Nó là đặc tính nổi trội của Thượng đế. |
|
It is of interest, however, for students of esotericism to note that this urge to salvage and to sacrifice in order to redeem works out in different ways in the different planetary schemes. Each Ray Lord of a scheme, manifesting through a planet, expresses this urge in varying ways, and each expression is so different from the others that it is hard for a human being to do more than sense that method which exists on our own particular planet. Initiates know that the varying psychological characteristics of the ray Lives condition most peculiarly the method of expressing sacrifice, during the course of manifestation. The great stream of living energy which is manifesting itself in our Earth scheme of evolution is conditioned by a temperament, an attitude and an orientation that is that of a “Divine Rebel.” It is only rebellion that produces pain and sorrow, but this rebellion is inherent and [98] innate in the Deity of our planet Himself, the “One in Whom we live and move and have our being.” It is, therefore, a tendency greater than the individual unit. It is only possible to express this amazing truth about the planetary Life under a veil of symbology and in terms of human thought. In this there is ever a risk, for men interpret all they read and hear and experience in terms of themselves. |
Tuy nhiên, đối với các đạo sinh huyền bí học, điều đáng quan tâm là lưu ý rằng thôi thúc cứu vớt và hi sinh để cứu chuộc này được triển khai theo những cách khác nhau trong các hệ hành tinh khác nhau. Mỗi Đấng Chúa Tể Cung của một hệ, biểu lộ qua một hành tinh, biểu đạt thôi thúc này theo những cách biến thiên, và mỗi biểu đạt khác biệt đến mức khó để một con người làm được gì hơn ngoài việc cảm nhận phương pháp hiện hữu trên chính hành tinh đặc thù của chúng ta. Các điểm đạo đồ biết rằng các đặc tính tâm lý khác nhau của các Sự Sống cung tác động-định hình một cách rất đặc thù phương pháp biểu đạt hi sinh, trong suốt tiến trình biểu lộ. Dòng năng lượng sống vĩ đại đang biểu lộ trong hệ tiến hoá Địa Cầu của chúng ta được tác động-định hình bởi một khí chất, một thái độ và một định hướng mang tính của một “Kẻ Nổi Loạn Thiêng Liêng.” Chỉ có nổi loạn mới tạo ra đau đớn và buồn khổ, nhưng sự nổi loạn này vốn có và [98] bẩm sinh trong chính Thượng đế của hành tinh chúng ta, “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.” Vì vậy, đó là một khuynh hướng lớn hơn đơn vị cá nhân. Chỉ có thể biểu đạt chân lý kỳ diệu này về Sự Sống hành tinh dưới một tấm màn biểu tượng và theo thuật ngữ của tư tưởng con người. Trong đó luôn có một rủi ro, vì con người diễn giải mọi điều họ đọc, nghe và trải nghiệm theo thuật ngữ của chính họ. |
|
The Old Commentary says: |
Cổ Luận nói: |
|
“He entered into life and knew it to be death. |
“Ngài bước vào sự sống và biết đó là cái chết. |
|
“He took a form and grieved to find it dark. |
“Ngài nhận một hình tướng và đau buồn khi thấy nó tối tăm. |
|
“He drove Himself forth from the secret place and sought the place of light, and light revealed all that he sought the least. |
“Ngài tự đẩy mình ra khỏi nơi bí mật và tìm nơi ánh sáng, và ánh sáng bày tỏ tất cả những gì Ngài ít mong tìm nhất. |
|
“He craved permission to return. |
“Ngài khao khát được phép trở về. |
|
“He sought the Throne on high and Him who sat thereon. He said ‘I sought not this. I looked for peace, for light, for scope to serve, to prove my love and to reveal my power. Light there is none. Peace is not found. Let me return.’ |
“Ngài tìm Thánh Ngai trên cao và Đấng ngự trên đó. Ngài nói: ‘Tôi không tìm điều này. Tôi tìm sự bình an, ánh sáng, phạm vi để phụng sự, để chứng minh tình thương của tôi và để bày tỏ quyền năng của tôi. Không có ánh sáng. Không tìm thấy bình an. Xin cho tôi trở về.’ |
|
But He Who sat upon the Throne turned not his head. He seemed not e’en to listen nor to hear. But from the lower sphere of darkness and of pain a voice came forth and cried: ‘We suffer here. We seek the light. We need the glory of an entering God. [I can find no other words except these last two to express the ancient symbol from which I am translating.] Lift us to Heaven. Enter, O Lord, the tomb. Raise us into the light and make the sacrifice. Break down for us the prison wall and enter into pain.’ |
Nhưng Đấng ngự trên Thánh Ngai không ngoảnh đầu. Ngài dường như chẳng hề lắng nghe hay nghe thấy. Nhưng từ cõi thấp của tối tăm và đau đớn, một tiếng nói vang lên và kêu: ‘Chúng tôi chịu khổ ở đây. Chúng tôi tìm ánh sáng. Chúng tôi cần vinh quang của một Thượng đế bước vào. [Tôi không thể tìm được từ nào khác ngoài hai từ cuối này để diễn đạt biểu tượng cổ xưa mà tôi đang dịch.] Hãy nâng chúng tôi lên Thiên Giới. Hãy bước vào, hỡi Chúa Tể, ngôi mộ. Hãy nâng chúng tôi vào ánh sáng và hãy hi sinh. Hãy phá vỡ bức tường nhà tù cho chúng tôi và bước vào đau đớn.’ |
|
The Lord of Life returned. He liked it not, and hence the pain.” |
Chúa Tể của Sự Sống đã trở lại. Ngài không thích điều đó, và vì thế có đau đớn.” |
|
The same conditions which blend the Law of Sacrifice with pain and sorrow and difficulty are found also on the planet Mars and on the planet Saturn. They are not found on the other planets. Those who have read The Secret Doctrine and A Treatise on Cosmic Fire with understanding know that our Earth is not a sacred planet. However, Saturn, Mars and our Earth constitute, in a curious esoteric manner, the [99] personality of a stupendous ray Life, Whose energy is that of the third Ray. There are, as has been stated elsewhere, seven sacred planets but ten planetary schemes, and in three cases, (those of the three major rays) three planets constitute the personality of each ray Life. Some esoteric thinkers believe that there are twelve planets to be considered in our solar system, and there is a basis for their conclusion. The personality of this third ray Life functions through the following planets: |
Những điều kiện tương tự, vốn hoà trộn Định luật Hi sinh với đau đớn, buồn khổ và khó khăn, cũng được tìm thấy trên hành tinh Sao Hỏa và hành tinh Sao Thổ. Chúng không được tìm thấy trên các hành tinh khác. Những ai đã đọc Giáo Lý Bí Nhiệm và Luận về Lửa Vũ Trụ với sự thấu hiểu biết rằng Trái Đất của chúng ta không phải là một hành tinh thiêng liêng. Tuy nhiên, Sao Thổ, Sao Hỏa và Trái Đất của chúng ta cấu thành, theo một cách huyền bí kỳ lạ, [99] phàm ngã của một Sự Sống cung vô cùng vĩ đại, mà năng lượng của Ngài là năng lượng của cung ba. Như đã được nói ở nơi khác, có bảy hành tinh thiêng liêng nhưng mười hệ hành tinh, và trong ba trường hợp (của ba cung chính), ba hành tinh cấu thành phàm ngã của mỗi Sự Sống cung. Một số nhà tư tưởng huyền bí tin rằng có mười hai hành tinh cần được xét đến trong hệ mặt trời của chúng ta, và có cơ sở cho kết luận của họ. Phàm ngã của Sự Sống cung ba này vận hành qua các hành tinh sau: |
|
1. The mental body expresses itself through the medium of the planet Saturn. |
1. Thể trí biểu đạt qua trung gian của hành tinh Sao Thổ. |
|
2. The astral body expresses itself through the planet Mars. |
2. Thể cảm dục biểu đạt qua hành tinh Sao Hỏa. |
|
3. The physical body expresses itself through the planet Earth. |
3. Thể xác biểu đạt qua hành tinh Trái Đất. |
|
The potency of this Life is such that He requires three complete schemes—all three closely allied and interdependent—through which to express Himself. Uranus, Jupiter and Venus are similarly allied in order to manifest or express a great Life. |
Mãnh lực của Sự Sống này lớn đến mức Ngài cần ba hệ hoàn chỉnh—cả ba liên kết chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau—để biểu đạt chính Ngài. Sao Thiên Vương, Sao Mộc và Sao Kim cũng được liên kết tương tự để biểu lộ hay biểu đạt một Sự Sống vĩ đại. |
Webinar 6 [-> Bình Giảng]
|
These facts constitute a tremendous mystery, and in no way negate the truth that Venus has a peculiar and intimate relation to the Earth. The point here being stressed is difficult to express, but of great importance. Let me be more explicit, by means of the following statements: |
Những sự kiện này cấu thành một huyền nhiệm to lớn, và không hề phủ nhận chân lý rằng Sao Kim có một mối liên hệ đặc thù và mật thiết với Trái Đất. Điểm đang được nhấn mạnh ở đây khó diễn đạt, nhưng vô cùng quan trọng. Hãy để tôi nói rõ hơn, bằng các phát biểu sau: |
|
1. Only three planetary schemes are aware of pain and sorrow as we understand those terms; none of them know it so well or feel it so much as does our planetary Logos. |
1. Chỉ có ba hệ hành tinh nhận biết đau đớn và buồn khổ như chúng ta hiểu các thuật ngữ ấy; không hệ nào biết điều đó rõ hay cảm điều đó nhiều như Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. |
|
2. Pain and sorrow are the result of rebellion, and of divine discontent. The instinct to betterment, based on discontent, has necessarily involved the planetary temperament or attitude which recognises the dualities. [100] |
2. Đau đớn và buồn khổ là kết quả của nổi loạn, và của bất mãn thiêng liêng. Bản năng hướng tới cải thiện, dựa trên bất mãn, tất yếu đã bao hàm khí chất hay thái độ hành tinh vốn nhận biết các nhị nguyên tính. [100] |
|
3. There is a stage to be reached in the human consciousness, where that which lies behind the dualities—the stage of essential oneness—can, and will be recognised. |
3. Có một giai đoạn cần đạt tới trong tâm thức con người, nơi điều nằm phía sau các nhị nguyên tính—giai đoạn của tính nhất thể thiết yếu—có thể, và sẽ, được nhận biết. |
|
4. When this takes place, the consciousness of our humanity will then merge with that underlying consciousness of the whole, which recognises no pain or sorrow and has, therefore, slipped out of the realisation which predominantly governs the consciousness of the three great Lives in our solar system. |
4. Khi điều này diễn ra, tâm thức của nhân loại chúng ta sẽ hoà nhập với tâm thức nền tảng của toàn thể, vốn không nhận biết đau đớn hay buồn khổ và vì vậy đã thoát khỏi sự chứng nghiệm vốn chi phối chủ yếu tâm thức của ba Sự Sống vĩ đại trong hệ mặt trời chúng ta. |
|
5. It is this dimly sensed truth which lies behind the highest type of metaphysical thought, such as Christian Science, Unity, Divine Science, and the emphasis laid by Christianity and the esoteric schools upon the at-one-ment. |
5. Chính chân lý được cảm nhận mơ hồ này nằm phía sau kiểu tư tưởng siêu hình cao nhất, như Khoa Học Cơ Đốc, Unity, Khoa Học Thiêng Liêng, và sự nhấn mạnh mà Cơ Đốc giáo và các trường phái nội môn đặt lên sự hợp nhất. |
|
This instinct towards betterment through sacrifice is itself diverse. |
Bản năng hướng tới cải thiện qua hi sinh này tự nó đa dạng. |
|
There is, first of all, the instinct towards individual betterment, which leads to selfishness, to a grasping, and to an orientation of the materially-minded towards material possessions. |
Trước hết, có bản năng hướng tới cải thiện cá nhân, dẫn đến ích kỷ, đến sự chụp giật, và đến định hướng của người có thể trí vật chất đối với sở hữu vật chất. |
|
There is, secondly, the instinct towards an ameliorating of the conditions of other people, first from a selfish motive (the avoiding of personal distress at the sight of suffering), and secondly, through pure, disinterested service, which is a quality of the soul. |
Thứ hai, có bản năng hướng tới việc cải thiện điều kiện của người khác, trước tiên từ một động cơ ích kỷ (tránh khổ sở cá nhân khi nhìn thấy đau khổ), và thứ hai, qua sự phụng sự thuần khiết, vô tư, vốn là một phẩm tính của linh hồn. |
|
There is, finally, the active application and the complete sacrifice of the lower separated self through the power to “stand in spiritual being” which necessarily infers that one has reached that state of consciousness which transcends what may be called, symbolically the “Earth, Saturn and Mars” state of consciousness. |
Cuối cùng, có sự áp dụng chủ động và sự hi sinh trọn vẹn phàm ngã tách biệt thấp, qua năng lực “đứng vững trong bản thể tinh thần,” điều tất yếu hàm ý rằng người ấy đã đạt tới trạng thái tâm thức vượt lên trên điều có thể gọi, một cách biểu tượng, là trạng thái tâm thức “Trái Đất, Sao Thổ và Sao Hỏa.” |
|
Let it not, however, be forgotten that the contribution to these three great planetary Lives, as They embody pre-eminently [101] the Law of Sacrifice, through pain and rebellion, is a major contribution to the whole, and greatly enriches the sum total. The units of divine life and the atoms of electrical energy who pass through these three planetary schemes are subject to them in order to acquire that psychic sensitivity which would otherwise be impossible. Only those units of life who are coloured predominantly by the third ray of activity pass for any length of time through these three schemes. A hint is here conveyed as to the prevalence of third ray Monads among the sons of men. The ray of active intelligence, expressing itself through the seven ray types, is above everything else the ray upon which the majority of human monads will, particularly, at this time, be found. We shall, therefore, find the following psychological types colouring the bulk of our humanity, and the ray of active intelligence expressing itself through |
Tuy nhiên, đừng quên rằng sự đóng góp cho ba Sự Sống hành tinh vĩ đại này, vì Các Ngài tiêu biểu nổi bật [101] Định luật Hi sinh qua đau đớn và nổi loạn, là một đóng góp chủ yếu cho toàn thể, và làm phong phú rất lớn tổng thể. Các đơn vị sự sống thiêng liêng và các nguyên tử năng lượng điện đi qua ba hệ hành tinh này chịu tác động của chúng để đạt được sự nhạy cảm thông linh mà nếu không thì bất khả. Chỉ những đơn vị sự sống được nhuốm màu chủ yếu bởi cung ba hoạt động mới đi qua ba hệ này trong một thời gian dài. Ở đây có một gợi ý về sự phổ biến của các chân thần cung ba trong những người con của nhân loại. Cung của trí tuệ năng động, biểu đạt qua bảy loại cung, trên hết mọi sự là cung mà đa số chân thần nhân loại sẽ, đặc biệt vào thời điểm này, được tìm thấy. Vì vậy, chúng ta sẽ thấy các loại tâm lý sau đây nhuốm màu phần lớn nhân loại chúng ta, và cung của trí tuệ năng động biểu đạt qua |
Webinar 7 [-> Bình Giảng]
|
1. Will, evoking divine purpose. |
1. Ý chí, khơi gợi thiên ý. |
|
2. Love, expressing divine quality. |
2. Tình thương, biểu đạt phẩm tính thiêng liêng. |
|
3. Intellect, as the reflector of the Intuition. |
3. Trí tuệ, như kẻ phản chiếu của Trực giác. |
|
4. Conflict, producing harmony. |
4. Xung đột, tạo ra hoà điệu. |
|
5. Knowledge or science, leading to radiance. |
5. Tri thức hay khoa học, dẫn đến rạng ngời. |
|
6. Idealism, establishing the divine pattern. |
6. Lý tưởng, thiết lập mô hình thiêng liêng. |
|
7. Ritual or organisation, manifesting Deity. |
7. Nghi lễ hay tổ chức, biểu lộ Thượng đế. |
|
Therefore, psychologically speaking, and when greater knowledge has been gained of the energies determining the type of a man, a person, for instance, whose Monad is presumably upon the third ray, his ego being on the fourth ray, and his personality on the seventh ray, will be described as a Three, IV.7. Within this simple formula there will be lesser differentiations and a seventh ray personality may have a first ray mental body, a fifth ray astral body, and a third ray [102] physical body. The formula which would describe him would be |
Vì vậy, xét về tâm lý học, và khi đã đạt được tri thức lớn hơn về các năng lượng quyết định loại hình của một người, chẳng hạn, một người mà chân thần được giả định là thuộc cung ba, chân ngã thuộc cung bốn, và phàm ngã thuộc cung bảy, sẽ được mô tả là Một Ba, IV.7. Trong công thức đơn giản này sẽ có những biến phân nhỏ hơn, và một phàm ngã cung bảy có thể có thể trí cung một, thể cảm dục cung năm, và thể xác cung ba. Công thức mô tả y sẽ là |
|
1 |
. . . . . . . . . . |
1 |
|
|
Three, IV. 7. |
5 |
Ba, IV. 7. |
5 |
|
. . . . . . . . . . |
3 |
. . . . . . . . . . |
3 |
|
This, when interpreted, means |
Điều này, khi được diễn giải, có nghĩa là |
|
third ray. |
|
|
Chân thần |
cung ba. |
|
Ego |
fourth ray. |
|
Chân ngã |
cung bốn. |
|
Personality |
seventh ray. |
|
Phàm ngã |
cung bảy. |
|
Mental body |
first ray. |
|
Thể trí |
cung một. |
|
Astral body |
fifth ray. |
|
Thể cảm dục |
cung năm. |
|
Physical body |
third ray. |
|
Thể xác |
cung ba. |
|
Students may find it of value to study themselves and others in conformity with the above, and to establish their personal formulae. This should be done in conjunction with a consultation of their horoscopes. This will be discussed more at length after we have considered the astrological implications of the rays, in the succeeding volume. |
Các đạo sinh có thể thấy hữu ích khi nghiên cứu chính mình và người khác theo sự phù hợp với điều trên, và thiết lập các công thức cá nhân của họ. Điều này nên được thực hiện cùng với việc tham khảo lá số chiêm tinh của họ. Điều này sẽ được bàn luận dài hơn sau khi chúng ta đã xét đến các hàm ý chiêm tinh của các cung, trong tập kế tiếp. |
|
The Law of Sacrifice, therefore, can never be eliminated in our Earth scheme, as far as the human and subhuman reactions to sorrow and pain are concerned, nor can it be eliminated on the planets Saturn and Mars. It is relatively unknown in the other schemes. Bliss and Sacrifice are synonymous terms as far as our solar Logos is concerned, and also for the majority of the planetary Logoi. This must be remembered. A touch of this freedom from the limitations of pain and sorrow can be found among the more advanced sons of men on Earth, who know the ecstasy of the mystic, the exaltation of the initiate, and the exquisite agony of sacrifice or of any feeling which is carried forward to the point of sublimation. When this point has been reached, the mechanism of suffering and the ability to register sensuous perception is transcended, and momentarily the man escapes on to the plane of unity. [103] Here there is no pain, no sorrow, no rebellion and no suffering. When the living, vibrating antaskarana or bridge is built, this “way of escape” becomes the normal path of life. Escape from pain is then automatic, for the centre of consciousness is elsewhere. In the cases mentioned above, and where the antaskarana is not a consummated, established fact, the tiny thread of the partially constructed “way of escape”, under tremendous pressure and excitation, shoots forward like a quivering band of light, and momentarily touches the light that is the Self. Hence ecstasy and exaltation. But it does not last, and cannot be consciously recovered until the third initiation has been taken. After that the “way of escape” becomes the “way of daily livingness” (to translate inadequately the occult and ancient phrase). Then pain is steadily transcended, and the pairs of opposites—pleasure and pain—have no longer any hold over the disciple. |
Vì vậy, Định luật Hi sinh không bao giờ có thể bị loại bỏ trong hệ Địa Cầu của chúng ta, xét về các phản ứng của con người và dưới nhân loại đối với buồn khổ và đau đớn, cũng không thể bị loại bỏ trên các hành tinh Sao Thổ và Sao Hỏa. Nó tương đối không được biết đến trong các hệ khác. Phúc lạc và Hi sinh là những thuật ngữ đồng nghĩa đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, và cũng đối với đa số các Hành Tinh Thượng đế. Điều này phải được ghi nhớ. Một chút của sự tự do khỏi những giới hạn của đau đớn và buồn khổ có thể được tìm thấy nơi những người con tiến bộ hơn của nhân loại trên Trái Đất, những người biết sự xuất thần của nhà thần bí, sự tôn vinh của điểm đạo đồ, và nỗi thống khổ tinh tế của hi sinh hay của bất kỳ cảm xúc nào được đưa tới điểm thăng hoa. Khi điểm này đã đạt tới, cơ chế đau khổ và năng lực ghi nhận tri giác cảm quan được vượt qua, và trong chốc lát con người thoát lên cõi hợp nhất. [103] Ở đó không có đau đớn, không có buồn khổ, không có nổi loạn và không có chịu khổ. Khi antahkarana hay cây cầu sống động, rung động được xây dựng, “con đường thoát” này trở thành con đường sống bình thường. Khi ấy, thoát khỏi đau đớn là tự động, vì trung tâm tâm thức ở nơi khác. Trong các trường hợp đã nêu ở trên, và khi antahkarana chưa là một sự kiện hoàn tất, được thiết lập, sợi chỉ nhỏ bé của “con đường thoát” được xây dựng một phần, dưới áp lực và kích thích to lớn, phóng vọt về phía trước như một dải ánh sáng run rẩy, và trong chốc lát chạm vào ánh sáng là Bản Ngã. Vì thế có xuất thần và tôn vinh. Nhưng nó không kéo dài, và không thể được phục hồi một cách có tâm thức cho đến khi lần điểm đạo thứ ba đã được nhận. Sau đó, “con đường thoát” trở thành “con đường sinh hoạt hằng ngày” (một bản dịch bất toàn của cụm từ huyền bí cổ xưa). Khi ấy, đau đớn được vượt qua một cách ổn định, và các cặp đối cực—khoái lạc và đau đớn—không còn nắm giữ đệ tử nữa. |
|
All this constitutes the theme of esoteric psychology and, when rightly understood, will explain |
Tất cả điều này cấu thành chủ đề của Tâm Lý Học Nội Môn và, khi được thấu hiểu đúng đắn, sẽ giải thích |
|
1. The Saturnian influence in human life. |
1. Ảnh hưởng Sao Thổ trong đời sống con người. |
|
2. The cessation of rebellion, or the ending of the Martian influence. |
2. Sự chấm dứt nổi loạn, hay sự kết thúc ảnh hưởng Sao Hỏa. |
|
3. The building of the antaskarana, which releases the man from the control of personality life. |
3. Sự xây dựng antahkarana, giải phóng con người khỏi sự kiểm soát của đời sống phàm ngã. |
|
4. The evocation of the group consciousness. |
4. Sự khơi gợi tâm thức nhóm. |
|
5. The consequent negation of pain and sorrow. |
5. Sự phủ định hệ quả đối với đau đớn và buồn khổ. |
|
6. Entrance into Nirvana, and the beginning of the real Way. |
6. Sự bước vào Niết Bàn, và sự khởi đầu của Con Đường thực sự. |
|
The Law of Sacrifice means also |
Định luật Hi sinh cũng có nghĩa là |
Webinar 8 [-> Bình Giảng]
|
The Law of Sacrifice means also |
Định luật Hi sinh cũng có nghĩa là |
c. THE RELINQUISHING OF GAIN—SỰ TỪ BỎ ĐIỀU ĐẠT ĐƯỢC
Webinar 9 [-> Bình Giảng]
Webinar 10 [-> Bình Giảng]
2. The Law of Magnetic Impulse—Định luật Xung Động Từ Tính
|
Exoteric Name |
Esoteric Name |
Symbol |
Ray Enegy |
|
|
2. |
The Law of Magnetic Impulse. |
The Law of Polar Union. |
Two fiery balls and triangle. |
Radiatory Energy. Second Ray manifesting Energy. |
|
Định luật Xung Động Từ Tính. |
Định luật Hợp nhất Cực tính. |
Hai khối cầu lửa và tam giác. |
Năng lượng Bức xạ. Năng lượng biểu hiện của Cung hai. |
Webinar 11 [-> Bình Giảng]
Webinar 12 [-> Bình Giảng]
|
[118] |
[118] |
|
3. The Law of Service |
3. Định luật Phụng sự |
|
No. |
Exoteric Name |
Esoteric Name |
Symbol |
Ray Energy |
|
Số |
Tên Ngoại Môn |
Tên Nội Môn |
Biểu Tượng |
Năng Lượng Cung |
|
3. |
Law of Service. |
Law of water and the fishes. |
A man with a pot of water |
Outpouring Energy Sixth ray. Vivifying Life |
|
3. |
Định Luật Phụng Sự. |
Định luật của nước và cá. |
Một người đàn ông với bình nước |
Năng lượng Tuôn Đổ Cung sáu. Sự Sống Làm Sống Động |
|
We come now to the consideration of the third Law of the Soul, which is intended to govern all soul activity. It is the Law of Service. However, before we elaborate this theme, there are three things which I seek to say and which merit our careful attention. |
Giờ đây chúng ta đến với việc khảo sát Định luật thứ ba của Linh Hồn, định luật được dự định để cai quản mọi hoạt động của linh hồn. Đó là Định luật Phụng sự. Tuy nhiên, trước khi triển khai chủ đề này, có ba điều tôi muốn nói và đáng được chúng ta chú ý cẩn trọng. |
|
First, is the fact that the result of all contact achieved in meditation and the measure of our success, will be determined by the ensuing service to the race. If there is right understanding, there will necessarily be right action. |
Thứ nhất, kết quả của mọi sự tiếp xúc đạt được trong tham thiền và mức độ thành công của chúng ta sẽ được quyết định bởi sự phụng sự tiếp theo đối với nhân loại. Nếu có sự thấu hiểu đúng đắn, tất yếu sẽ có hành động đúng đắn. |
|
It has previously been pointed out that the three great sciences which will come to the fore in the New Age, and which will lead humanity from the unreal to the real, and from aspiration to realisation are |
Trước đây, tôi đã chỉ ra rằng ba khoa học lớn sẽ nổi lên trong Kỷ Nguyên Mới, sẽ dẫn dắt nhân loại từ điều không thật đến điều thật, từ khát vọng đến chứng nghiệm là |
|
1. The science of Meditation, the coming science of the mind. |
1. Khoa học Tham thiền, khoa học sắp đến về trí tuệ. |
|
2. The science of Antaskarana, or the science of the bridging which must take place between higher and lower mind. |
2. Khoa học Antaskarana, hay khoa học bắt cầu phải diễn ra giữa thượng trí và hạ trí. |
|
3. The science of Service, which is a definite technique of at-one-ment. |
3. Khoa học Phụng sự, vốn là một kỹ thuật xác định của sự hợp nhất. |
|
We shall now consider the broad outlines of this science, for it is the major releasing factor in the disciple’s life. |
Giờ đây chúng ta sẽ xét những nét khái quát rộng lớn của khoa học này, vì nó là yếu tố giải phóng chủ yếu trong đời sống của đệ tử. |
|
Secondly, this Law of Service is something which may not be escaped. Evasion brings its penalties, if that evasion is conscious. Ability to serve marks a definite stage of advance upon the Path, and until that stage is reached, spontaneous [119] service, rendered in love and guided by wisdom, cannot be given. What is found up to that time is good intention, mixed motives, and oft fanaticism. This we will later elucidate. |
Thứ hai, Định luật Phụng sự là điều không thể né tránh. Việc lẩn tránh, nếu là có ý thức, sẽ mang lại những hình phạt tương ứng. Khả năng phụng sự đánh dấu một giai đoạn tiến bộ xác định trên Con Đường, và cho đến khi đạt tới giai đoạn đó, thì sự phụng sự tự phát [119], được trao hiến trong tình thương và được minh triết hướng dẫn, vẫn chưa thể được thực hiện. Trước thời điểm ấy, điều được thấy chỉ là thiện ý, những động cơ pha tạp, và thường gồm cả sự cuồng tín. Về điều này, chúng ta sẽ làm sáng tỏ thêm sau. |
|
This law is the imposition upon the planetary rhythm of certain energies and impulses which emanate from that sign of the zodiac into which we are steadily moving. Therefore, there is no escape. It is the effect of this force which, in some countries, is regimenting the masses in such a way that the individual serves the group by a forced negation of his personal self. His own ideas, his own personal being and his own individuality are subordinated to the whole, and he is rendered relatively futile from the angle of his soul unfoldment. He is forced to conform, willingly or unwillingly to group conditions. This is one of the lowest manifestations of the impact of this law upon the human consciousness. In its highest expression, we have the service rendered upon the planet in all the kingdoms of nature by the Hierarchy of Masters. Between these two extreme expressions, there is a vast distinction, but both are equally brought about by response (the one consciously rendered and the other unconsciously directed) to the Law of Service. |
Định luật này là sự áp đặt lên nhịp điệu hành tinh của những năng lượng và xung lực nhất định, phát ra từ dấu hiệu hoàng đạo mà chúng ta đang đều đặn tiến vào. Vì vậy, không có lối thoát. Chính tác động của mãnh lực này, ở một số quốc gia, đang tổ chức quần chúng theo cách mà cá nhân phụng sự nhóm bằng một sự phủ định cưỡng bức đối với bản ngã cá nhân của y. Ý tưởng của y, phúc lợi cá nhân của y và cá thể tính của y bị đặt dưới toàn thể, và từ góc độ sự khai mở linh hồn, y trở nên tương đối vô hiệu. Y bị buộc phải tuân theo, tự nguyện hay không tự nguyện, các điều kiện của nhóm. Đây là một trong những biểu hiện thấp nhất của tác động của định luật này lên tâm thức con người. Trong biểu hiện cao nhất của nó, chúng ta có sự phụng sự được thực hiện trên hành tinh trong mọi giới của thiên nhiên bởi Thánh Đoàn các Chân sư. Giữa hai biểu hiện cực đoan này, có một sự khác biệt mênh mông, nhưng cả hai đều được đem lại bởi sự đáp ứng (một bên được thực hiện hữu thức và bên kia được định hướng vô thức) đối với Định luật Phụng sự. |
|
Thirdly this Law of Service was expressed for the first time fully by the Christ two thousand years ago. He was the forerunner of the Aquarian Age, and hence His constant emphasis upon the fact that He was the “water of life”, the “living water” which men needed. Hence the esoteric name of this law is that of “water and the fishes.” The Piscean age slowly, very slowly, prepared the way for the divine expression of service, which will be the glory of the coming centuries. Today, we have a world which is steadily coming to the realisation that “no man liveth unto himself”, and that only as the love, about which so much has been written and [120] spoken, finds its outlet in service, can man begin to measure up to his innate capacity. |
Thứ ba, Định luật Phụng sự này lần đầu tiên được Đức Christ biểu đạt một cách đầy đủ cách đây hai nghìn năm. Ngài là vị tiền phong của Kỷ Nguyên Bảo Bình, và vì thế Ngài luôn nhấn mạnh rằng Ngài là “nước của sự sống”, là “nước sống động” mà con người cần. Vì vậy danh xưng huyền bí của định luật này là “nước và cá.” Thời đại Song Ngư đã chậm rãi, rất chậm rãi, chuẩn bị con đường cho sự biểu lộ thiêng liêng của phụng sự, điều sẽ là vinh quang của các thế kỷ sắp đến. Ngày nay, chúng ta có một thế giới đang dần đi đến sự chứng nghiệm rằng “không ai sống chỉ cho riêng mình”, và rằng chỉ khi tình thương, điều đã được viết và [120] nói quá nhiều, tìm được lối thoát trong phụng sự, thì con người mới có thể bắt đầu đạt đến năng lực bẩm sinh của mình. |
|
The sign for the Aquarian Age is that of a man, carrying on his shoulders a jar of water so full that it pours over to all and sundry, and yet it diminishes not. The sign for this Law of Service is very similar, but the difference lies in this; that the man stands, perfectly balanced in the form of a cross, with arms stretched out and with the water pot upon his head. In this difference there lies much of real significance. The jar of water, posed upon the shoulders, is a sign of the burden of service. It is not easy to serve. Man is today only beginning to learn how to serve. The jar of water upon the head of the man, who has been upon the cross of sacrifice for so long a time that the position has become to him perfectly natural, indicates that the cross, which has upheld him for so long, has now disappeared. The man with the water jar upon his head indicates to us poise, equilibrium and balance. For this balance, the understanding of the Law of Magnetic Impulse has prepared him. That is the Law of Polar Union and its symbol is the originator of the zodiacal sign for the constellation Libra—balance and service. These are the two expressions of Divinity which are, today, man’s next great objective. |
Dấu hiệu của Kỷ Nguyên Bảo Bình là một người đàn ông, trên vai mang một vò nước đầy đến nỗi nước tràn ra cho mọi người, thế nhưng vẫn không vơi. Dấu hiệu của Định luật Phụng sự rất tương tự, nhưng khác biệt nằm ở chỗ này: người đàn ông đứng, cân bằng hoàn hảo theo hình thập giá, hai tay dang ra và vò nước đặt trên đầu. Chính trong sự khác biệt này có nhiều thâm nghĩa thực sự. Vò nước đặt trên vai là dấu hiệu của gánh nặng phụng sự. Phụng sự không dễ dàng. Ngày nay, con người chỉ mới bắt đầu học cách phụng sự. Vò nước đặt trên đầu người đàn ông, người đã ở trên thập giá hi sinh lâu đến nỗi tư thế ấy trở nên hoàn toàn tự nhiên đối với y, cho thấy rằng thập giá, vốn đã nâng đỡ y trong thời gian dài, giờ đây đã biến mất. Người đàn ông với vò nước trên đầu chỉ cho chúng ta sự điềm tĩnh, sự quân bình và sự cân bằng. Để có sự cân bằng này, sự thấu hiểu Định luật Xung Động Từ Tính đã chuẩn bị cho y. Đó là Định luật Hợp Nhất Cực và biểu tượng của nó là nguồn gốc của dấu hiệu hoàng đạo cho chòm sao Thiên Bình—cân bằng và phụng sự. Đó là hai biểu hiện của Thiên tính mà ngày nay là mục tiêu lớn kế tiếp của con người. |
|
Service is usually interpreted as exceedingly desirable and it is seldom realised how very difficult service essentially is. It involves so much sacrifice of time and of interest and of one’s own ideas, it requires exceedingly hard work, because it necessitates deliberate effort, conscious wisdom, and the ability to work without attachment. These qualities are not easy of attainment by the average aspirant, and yet today the tendency to serve is an attitude which is true of a vast majority of the people in the world. Such has been the success of the evolutionary process. |
Phụng sự thường được diễn giải như điều hết sức đáng mong muốn, và hiếm khi người ta nhận ra rằng, về bản chất, phụng sự khó khăn đến dường nào. Nó bao hàm quá nhiều sự hi sinh về thời gian, về mối quan tâm, và về những ý tưởng của chính mình; nó đòi hỏi lao động vô cùng vất vả, vì nó cần nỗ lực có chủ ý, minh triết hữu thức, và khả năng làm việc không dính mắc. Những phẩm chất này không dễ đạt được đối với người chí nguyện trung bình, vậy mà ngày nay khuynh hướng phụng sự là một thái độ đúng với đại đa số người trên thế giới. Đó là thành công của tiến trình tiến hoá. |
|
[121] |
[121] |
|
Service is frequently regarded as an endeavor to bring people around to the point of view of the one who serves, because what the would-be server has found to be good and true and useful, must necessarily be good and true and useful for all. Service is viewed as something we render to the poor, the afflicted, the diseased and the unhappy, because we think we want to help them, little realising that primarily this help is offered because we ourselves are made uncomfortable by distressing conditions, and must therefore endeavor to ameliorate those conditions in order ourselves to be comfortable again. The act of thus helping releases us from our misery, even if we fail to release or relieve the sufferers. |
Phụng sự thường được xem như một nỗ lực đưa con người về với quan điểm của người phụng sự, bởi vì điều mà người muốn phụng sự đã thấy là tốt, đúng và hữu ích thì tất yếu phải tốt, đúng và hữu ích cho tất cả. Phụng sự được xem như điều chúng ta trao ban cho người nghèo, người khốn khổ, người bệnh tật và người bất hạnh, vì chúng ta nghĩ rằng chúng ta muốn giúp họ, mà ít nhận ra rằng chủ yếu sự giúp đỡ này được đưa ra vì chính chúng ta cảm thấy khó chịu trước những điều kiện đau lòng, và vì vậy phải cố gắng cải thiện những điều kiện ấy để chính mình lại được thoải mái. Hành động giúp đỡ như vậy giải thoát chúng ta khỏi nỗi khổ của mình, ngay cả khi chúng ta không giải thoát hay làm vơi bớt nỗi khổ của người chịu khổ. |
|
Service is frequently an indication of a busy and overactive temperament, or of a self-satisfied disposition, which leads its possessor to a strenuous effort to change situations, and make them what he feels they should be, thus forcing people to conform to that which the server feels should be done. |
Phụng sự thường là dấu hiệu của một khí chất bận rộn và quá năng động, hoặc của một tính tình tự mãn, khiến người sở hữu nó nỗ lực căng thẳng để thay đổi các tình huống và làm cho chúng trở thành điều mà y cảm thấy chúng nên là, qua đó ép buộc người ta phải tuân theo điều mà người phụng sự cảm thấy cần phải làm. |
|
Or again, service can grow out of a fanatical desire to tread in the footsteps of the Christ, that great Son of God Who “went about doing good”, leaving an example that we should follow in His footsteps. People, therefore, serve from a sense of obedience, and not from a spontaneous outgoing towards the needy. The essential quality for service is, therefore, lacking, and from the start they fail to do more than make certain gestures. Service can likewise be rendered from a deep seated desire for spiritual perfection. It is regarded as one of the necessary qualifications for discipleship and, therefore, if one is to be a disciple, one must serve. This theory is correct, but the living substance of service is lacking. The ideal is right and true and meritorious, but the motive behind it all is entirely wrong. Service can also be rendered because [122] it is becoming increasingly the fashion and the custom to be occupied with some form of service. The tide is on. Everybody is actively serving in welfare movements, in philanthropic endeavors, in Red Cross work, in educational uplifts, and in the task of ameliorating distressing world conditions. It is fashionable to serve in some way. Service gives a sense of power; service brings one friends; service is a form of group activity, and frequently brings far more to the server (in a worldly sense) than to the served. |
Hoặc nữa, phụng sự có thể nảy sinh từ một ước muốn cuồng tín là bước theo dấu chân của Đức Christ, Người Con vĩ đại ấy của Thượng đế, Đấng “đi khắp nơi làm điều thiện”, để lại một tấm gương mà chúng ta nên theo bước chân Ngài. Vì vậy, người ta phụng sự từ ý thức vâng phục, chứ không phải từ một sự tuôn chảy tự phát hướng đến người thiếu thốn. Do đó, phẩm tính thiết yếu của phụng sự bị thiếu, và ngay từ đầu họ không làm được gì hơn ngoài một vài cử chỉ. Phụng sự cũng có thể được thực hiện từ một ước muốn sâu kín hướng đến sự hoàn thiện tinh thần. Nó được xem như một trong những điều kiện cần cho địa vị đệ tử, và vì vậy, nếu muốn là một đệ tử, người ta phải phụng sự. Lý thuyết này là đúng, nhưng chất liệu sống của phụng sự lại thiếu. Lý tưởng là đúng, chân thật và đáng khen, nhưng động cơ đằng sau tất cả lại hoàn toàn sai. Phụng sự cũng có thể được thực hiện vì ngày càng trở thành mốt và tập quán là bận rộn với một hình thức phụng sự nào đó. Làn sóng đang lên. Ai cũng đang tích cực phụng sự trong các phong trào phúc lợi, trong các nỗ lực từ thiện, trong công tác Hồng Thập Tự, trong các nâng cao giáo dục, và trong nhiệm vụ cải thiện những điều kiện đau lòng của thế giới. Phụng sự, theo một cách nào đó, là hợp thời. Phụng sự đem lại cảm giác quyền lực; phụng sự đem lại bạn bè; phụng sự là một hình thức hoạt động nhóm, và thường đem lại cho người phụng sự (theo nghĩa thế tục) nhiều hơn cho người được phụng sự. |
|
And yet, in spite of all this which indicates wrong motives and false aspiration, service of a kind is constantly and readily being rendered. Humanity is on its way to a right understanding of services; it is becoming responsive to this new law and is learning to react to the steadily imposing will of that great Life who informs the constellation Aquarius, just as our solar Logos informs our solar system and our planetary Logos informs our earth planet. |
Thế nhưng, bất chấp tất cả những điều này vốn cho thấy động cơ sai và khát vọng giả, một loại phụng sự nào đó vẫn liên tục và dễ dàng được thực hiện. Nhân loại đang trên đường đi đến sự thấu hiểu đúng đắn về phụng sự; đang trở nên đáp ứng với định luật mới này và đang học cách phản ứng trước ý chí ngày càng áp đặt của Sự Sống vĩ đại đang phú linh chòm sao Bảo Bình, cũng như Thái dương Thượng đế phú linh hệ mặt trời của chúng ta, và Hành Tinh Thượng đế phú linh hành tinh địa cầu của chúng ta. |
|
The idea of service is, at this time, the major idea to be grasped for (in grasping it) we open ourselves wide to the new incoming influences. The Law of Service is the expression of the energy of a great Life, who, in cooperation with Him “in Whom we live and move and have our being”, is subjecting the human family to certain influences and streams of energy which will eventually do three things: — |
Vào lúc này, ý tưởng phụng sự là ý tưởng chủ yếu cần được nắm bắt, vì (khi nắm bắt nó) chúng ta mở rộng chính mình trước các ảnh hưởng mới đang đi vào. Định luật Phụng sự là sự biểu lộ năng lượng của một Sự Sống vĩ đại, Đấng, trong sự hợp tác với Đấng “mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu”, đang đặt gia đình nhân loại dưới một số ảnh hưởng và các dòng năng lượng nhất định, rốt cuộc sẽ làm ba việc:— |
|
1. Awaken the heart centre in all aspirants and disciples. |
1. Đánh thức trung tâm tim trong mọi người chí nguyện và đệ tử. |
|
2. Enable emotionally polarised humanity to focus intelligently in the mind. |
2. Làm cho nhân loại phân cực cảm xúc có thể tập trung một cách thông minh trong thể trí. |
|
3. Transfer the energy of the solar plexus into the heart. |
3. Chuyển dịch năng lượng của tùng thái dương vào tim. |
|
This unfolding of what we might call “the consciousness of the heart” or the development of true feeling is the first step towards group awareness. This group awareness and this [123] identification with the feeling aspect of all groups is the quality which leads to service—a service to be rendered as the Masters render it, and as the Christ demonstrated it for us in Galilee. |
Sự khai mở của điều mà chúng ta có thể gọi là “tâm thức của tim” hay sự phát triển của cảm thụ chân thực là bước đầu tiên hướng đến nhận thức nhóm. Nhận thức nhóm này và sự [123] đồng hoá với phương diện cảm thụ của mọi nhóm là phẩm tính dẫn đến phụng sự—một sự phụng sự được thực hiện như các Chân sư thực hiện, và như Đức Christ đã minh chứng cho chúng ta tại Galilê. |
a. SOME QUESTIONS ON SERVICE—MỘT VÀI CÂU HỎI VỀ PHỤNG SỰ
|
Therefore, the service rendered today is what it is because the response of men to these new Aquarian influences is being registered at present in the astral body and is working out through the solar plexus. This accounts for the emotional nature of most of the service rendered in the world at this time; it is responsible for the hatred engendered by those who react sensitively to suffering and who, because of their emotional identification with suffering, lay the blame for the distressing conditions encountered upon a person or a group of persons. It is responsible also for the generally unsatisfactory nature of much of that which is now being done to relieve conditions. It is unsatisfactory from the higher angle of the soul. |
Vì vậy, sự phụng sự được thực hiện ngày nay là như nó đang là, bởi vì sự đáp ứng của con người đối với các ảnh hưởng Bảo Bình mới này hiện đang được ghi nhận trong thể cảm dục và đang được triển khai qua tùng thái dương. Điều này giải thích bản chất cảm xúc của phần lớn sự phụng sự được thực hiện trên thế giới vào lúc này; nó chịu trách nhiệm cho lòng thù hận được khơi dậy bởi những người phản ứng nhạy cảm trước đau khổ và, vì sự đồng hoá cảm xúc của họ với đau khổ, đổ lỗi cho những điều kiện đau lòng gặp phải lên một người hay một nhóm người. Nó cũng chịu trách nhiệm cho tính chất nhìn chung không thỏa đáng của nhiều điều đang được làm hiện nay để cứu trợ các điều kiện. Nó không thỏa đáng từ góc độ cao hơn của linh hồn. |
|
When, however, the service rendered is based upon a mental response to humanity’s need, then the whole problem is lifted out of the veil of illusion and out of the valley of the world glamour. Then the impulses to serve are registered in the heart centre and not in the solar plexus, and when this is more generally the case, then we shall have a happier and more successful demonstration of service. |
Tuy nhiên, khi sự phụng sự được thực hiện dựa trên một sự đáp ứng trí tuệ đối với nhu cầu của nhân loại, thì toàn bộ vấn đề được nâng ra khỏi bức màn ảo tưởng và ra khỏi thung lũng ảo cảm thế gian. Khi ấy, các xung lực phụng sự được ghi nhận trong trung tâm tim chứ không phải trong tùng thái dương, và khi điều này trở nên phổ biến hơn, thì chúng ta sẽ có một sự biểu lộ phụng sự hạnh phúc hơn và thành công hơn. |
|
In this Treatise I seek to be intensely practical, for this new science of service must be based on right foundations and on sound understanding. Perhaps the simplest way in which I can handle a theme so new and yet so hackneyed is by formulating certain questions and then answering them as fully and as concisely as possible. |
Trong Luận thuyết này, tôi tìm cách hết sức thực tiễn, vì khoa học phụng sự mới này phải dựa trên những nền tảng đúng đắn và trên sự thấu hiểu vững chắc. Có lẽ cách đơn giản nhất để tôi xử lý một chủ đề vừa mới mẻ mà lại vừa sáo mòn như vậy là nêu ra một số câu hỏi nhất định rồi trả lời chúng đầy đủ và súc tích nhất có thể. |
|
[124] |
[124] |
|
1. How do we define the word “service”? |
1. Chúng ta định nghĩa từ “phụng sự” như thế nào? |
|
2. What is the field of this science and why do we call it a science? |
2. Lĩnh vực của khoa học này là gì, và vì sao chúng ta gọi nó là một khoa học? |
|
3. What are the characteristics of the true server? |
3. Những đặc điểm của người phụng sự chân chính là gì? |
|
4. What effect does service have? |
4. Phụng sự có tác động gì? |
|
A. On the mind? |
a. Lên thể trí? |
|
B. On the emotions? |
b. Lên cảm xúc? |
|
C. On the etheric body? |
c. Lên thể dĩ thái? |
|
5. Does this science prove that the seven key or ray types employ distinctive methods in their service? |
5. Khoa học này có chứng minh rằng bảy loại then chốt, hay các loại cung sử dụng những phương pháp khác biệt trong phụng sự của họ không? |
|
The consideration of these questions will enable me to do three things: |
Việc xem xét các câu hỏi này sẽ giúp tôi làm ba việc: |
|
1. Show in my answers to each question that service is not a sentiment or an ideal, but that it is an effect and a scientific procedure at the same time. |
1. Trong câu trả lời cho từng câu hỏi, cho thấy rằng phụng sự không phải là một tình cảm hay một lý tưởng, mà đồng thời là một hiệu ứng và một thủ tục khoa học. |
|
2. Indicate the need today for the right understanding of a technique which, when applied by the New Group of World Servers, will lead humanity into the world of true meaning and of real values. I will seek to show how the New Group of World Servers will work. |
2. Chỉ ra nhu cầu ngày nay về sự thấu hiểu đúng đắn một kỹ thuật mà, khi được áp dụng bởi Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, sẽ dẫn nhân loại vào thế giới của ý nghĩa chân thực và các giá trị thực sự. Tôi sẽ tìm cách cho thấy Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ làm việc như thế nào. |
|
3. Give some idea of how certain groups of the Masters of the Wisdom serve upon our planet at this time. |
3. Đưa ra một vài ý niệm về cách một số nhóm các Chân sư Minh Triết đang phụng sự trên hành tinh của chúng ta vào lúc này. |
|
[End LOTSWC 12, 124, |
|
|
Beginning LOTWC 13, EP II 124 |
Webinar 13 [-> Bình Giảng]
Beginning LOTWC 13, EP II 124-131
|
In answering these questions, we will proceed to take them one by one. |
Khi trả lời các câu hỏi này, chúng ta sẽ tiến hành lần lượt từng câu một. |
|
How do we define the word “Service”? [13-1] |
Chúng ta định nghĩa từ “Phụng sự” như thế nào? |
|
The definition of this word is not easy. There has been too much attempt to define it from the angle of personality knowledge. Service can be briefly defined as the spontaneous effect of soul contact. This contact is so definite and fixed that the life of the soul can pour through into the instrument [125] which the soul must perforce use upon the physical plane. It is the manner whereby the nature of that soul can demonstrate in the world of human affairs. [13-2] Service is not a quality or a performance; it is not an activity towards which people must strenuously strive, nor is it a method of world salvage. This distinction must be clearly grasped, or else our whole attitude to this momentous demonstration of the success of the evolutionary process in humanity will be at fault. [13-3] Service is a life demonstration. It is a soul urge, and is as much an evolutionary impetus of the soul as the urge to self-preservation or to the reproduction of the species is a demonstration of the animal soul. This is a statement of importance. [13-4] It is a soul instinct, if we may use such an inadequate expression and is, therefore, innate and peculiar to soul unfoldment. It is the outstanding characteristic of the soul, just as desire is the outstanding characteristic of the lower nature. [13-5] It is group desire, just as in the lower nature it is personality desire. It is the urge to group good. [13-6] It cannot, therefore, be taught or imposed upon a person as a desirable evidence of aspiration, functioning from without and based upon a theory of service. It is simply the first real effect, evidenced upon the physical plane, of the fact that the soul is beginning to express itself in outer manifestation. |
Không dễ dàng để định nghĩa từ này. Đã có quá nhiều nỗ lực định nghĩa nó từ góc độ tri thức của phàm ngã. Có thể định nghĩa ngắn gọn phụng sự như là hiệu ứng tự phát của sự tiếp xúc với linh hồn. Sự tiếp xúc này rõ rệt và ổn định đến mức sự sống của linh hồn có thể tuôn chảy qua vận cụ [125] mà linh hồn buộc phải sử dụng trên cõi hồng trần. Đó là cách thức mà bản chất của linh hồn có thể biểu lộ trong thế giới các công việc nhân sinh. Phụng sự không phải là một phẩm chất hay một sự trình diễn; nó không phải là một hoạt động mà người ta phải gắng sức phấn đấu hướng đến, cũng không phải là một phương pháp cứu rỗi thế giới. Phải nắm bắt sự phân biệt này thật rõ ràng, nếu không thì toàn bộ thái độ của chúng ta đối với sự biểu hiện trọng đại này của sự thành công trong tiến trình tiến hóa nơi nhân loại sẽ bị sai lệch. Phụng sự là sự biểu lộ của sự sống. Nó là một thôi thúc của linh hồn, và cũng là một xung lực tiến hoá của linh hồn, giống như thôi thúc tự bảo tồn hay thôi thúc sinh sản của các giống loài là sự biểu lộ của hồn thú. Đây là một phát biểu quan trọng. Nó là một bản năng của linh hồn, nếu chúng ta có thể dùng một cách nói không đầy đủ như vậy, và vì thế là bẩm sinh và đặc thù đối với sự khai mở của linh hồn. Nó là đặc điểm nổi bật của linh hồn, cũng như dục vọng là đặc điểm nổi bật của bản chất thấp. Nó là ham muốn nhóm, cũng như trong bản chất thấp đó là dục vọng phàm ngã. Nó là thôi thúc hướng đến lợi ích nhóm. Vì vậy, nó không thể được dạy hay áp đặt lên một người như một bằng chứng đáng mong muốn của khát vọng, vận hành từ bên ngoài và dựa trên một lý thuyết về phụng sự. Nó đơn giản là hiệu ứng thực sự đầu tiên, được biểu lộ trên cõi hồng trần, của sự kiện rằng linh hồn đang bắt đầu biểu lộ trong ngoại hiện. |
|
Neither theory nor aspiration will or can make a man a real server. How then is it that there is so much activity in service demonstrating in the world today? [13-7] |
Không lý thuyết nào, cũng không khát vọng nào, sẽ hay có thể làm cho một người trở thành một người phụng sự chân chính. Vậy thì vì sao lại có quá nhiều hoạt động phụng sự đang biểu lộ trên thế giới ngày nay? |
|
Simply because the life, words and deeds of the worlds first Great Server, of the One Who came to make clear to us what service essentially is, has necessarily had an effect, and men today are earnestly attempting to imitate His example, little realising that imitation does not net them the true results, but only indicates to them a growing possibility. [13-8] |
Đơn giản vì đời sống, lời nói và việc làm của Người Phụng Sự Vĩ Đại đầu tiên của thế giới, Đấng đã đến để làm sáng tỏ cho chúng ta phụng sự về bản chất là gì, tất yếu đã tạo ra một tác động, và ngày nay con người đang chân thành cố gắng bắt chước tấm gương của Ngài, mà ít nhận ra rằng sự bắt chước không đem lại cho họ các kết quả chân thực, mà chỉ cho họ thấy một khả năng đang tăng trưởng. |
|
[126] |
[126] |
|
All these laws of the Soul (and the Law of Service is no exception) manifest inevitably in two ways. First, there is their effect upon the individual. This occurs when the soul has been definitely contacted and the mechanism of the soul begins to respond. [13-9] Evidence of this should work out now among the esoteric students, scattered over the world, for they have reached a point where the true server can emerge from their ranks, and give evidence of an established soul contact. [13-10] Secondly, these soul laws are beginning to have a group effect in humanity itself, and to influence the race of men as a whole. This effect is somewhat in the nature of a reflection in the lower nature of a higher consciousness, and therefore today we have much running after service, and much philanthropic effort. [13-11] All of it is, however, deeply coloured by personality, and it often produces much harm, for people seek to impose their ideas of service and their personal techniques upon other aspirants. [13-12] They may have become sensitive to impression, but they oft-times misinterpret the truth and are biassed by personality ends. They must learn to lay the emphasis upon soul contact and upon an active familiarity with the egoic life, and not upon the form side of service. [13-13] May I beg those of you who respond to these ideas and are sensitive to soul impression (oft-times misinterpreting the truth, being biassed by personality ends) to lay the emphasis upon soul contact and not upon the form side of service. [13-14] Activity of the form side lays stress upon personality ambition, veiling them with the glamour of service. If care over the essential of service—soul contact—is taken, then the service rendered will flow with spontaneity along the right lines and bear much fruit. [13-15] Of this, the selfless service and the deep flow of spiritual life, which have been demonstrated in the world work of late, is a hopeful indication. [127] |
Tất cả các định luật của linh hồn này (và Định luật Phụng sự cũng không ngoại lệ) tất yếu biểu lộ theo hai cách. Thứ nhất, là tác động của chúng lên cá nhân. Điều này xảy ra khi linh hồn đã được tiếp xúc một cách xác định và cơ cấu của linh hồn bắt đầu đáp ứng. Bằng chứng của điều này giờ đây nên được thể hiện nơi các đạo sinh huyền bí, rải rác khắp thế giới, vì họ đã đạt đến một điểm mà người phụng sự chân chính có thể xuất hiện từ hàng ngũ của họ, và đưa ra bằng chứng về một sự tiếp xúc linh hồn đã được thiết lập. Thứ hai, các định luật linh hồn này đang bắt đầu tạo ra một tác động nhóm ngay trong chính nhân loại, và ảnh hưởng đến nhân loại như một toàn thể. Tác động này phần nào mang bản chất của một sự phản chiếu, trong bản chất thấp, của một tâm thức cao hơn; vì vậy ngày nay chúng ta thấy nhiều sự chạy theo phụng sự, và nhiều nỗ lực từ thiện. Tuy nhiên, tất cả đều bị phàm ngã nhuốm màu sâu đậm, và thường gây ra nhiều tổn hại, vì người ta tìm cách áp đặt những quan niệm về phụng sự và những kỹ thuật cá nhân của họ lên các người chí nguyện khác. Họ có thể đã trở nên nhạy cảm với sự ấn tượng, nhưng nhiều khi họ diễn giải sai chân lý và bị chi phối bởi những mục đích của phàm ngã. Họ phải học cách đặt trọng tâm vào sự tiếp xúc linh hồn và vào một sự quen thuộc năng động với đời sống chân ngã, chứ không phải vào phương diện hình tướng của phụng sự. Tôi xin khẩn cầu những ai trong các bạn đáp ứng với các ý tưởng này và nhạy cảm với ấn tượng của linh hồn (nhiều khi diễn giải sai chân lý, bị chi phối bởi những mục đích của phàm ngã) hãy đặt trọng tâm vào sự tiếp xúc linh hồn chứ không phải vào phương diện hình tướng của phụng sự. Hoạt động của phương diện hình tướng đặt nặng tham vọng phàm ngã, che phủ chúng bằng ảo cảm của phụng sự. Nếu người ta chăm lo đến điều cốt yếu của phụng sự—sự tiếp xúc linh hồn—thì sự phụng sự được thực hiện sẽ tuôn chảy một cách tự phát theo những đường lối đúng đắn và kết nhiều quả. Về điều này, sự phụng sự vô ngã và dòng chảy sâu xa của đời sống tinh thần, vốn đã được chứng tỏ trong công tác thế gian gần đây, là một dấu hiệu đầy hy vọng. [127] |
|
What is the field of this science, and why do we call it a science? |
Lĩnh vực của khoa học này là gì, và vì sao chúng ta gọi nó là một khoa học? |
|
The next point to consider is the field of this service, and its nature as a science. The field of service, first of all, demonstrates as the life of the Spirit, working within the region of a man’s own nature. [13-16] The first thing the soul has to do when contact has been made and the man knows it in his brain consciousness and owing to the active impression of the mind, is to make the man aware that he is a living principle of divinity, and then to prepare the lower threefold nature so that it can automatically submit to the Law of Sacrifice. [13-17] Then it will offer no impediment to the life which must and will pour through it. This is the first and hardest task, and with this task the aspirants of the world are at this time engaged. [13-18] This indicates, does it not, the point of evolution reached by the majority? When the rhythm of this law has been imposed and the natural impetus of the man in incarnation is to be an expression of the soul, and when this rhythm can be established as a natural daily expression, the man begins to “stand in spiritual being” and the life which pours through him, gently and naturally, will then have an effect upon his environment and his associates. This effect can then be called a “life of service.” [13-19] |
Điểm kế tiếp cần xét đến là lĩnh vực của sự phụng sự này, và bản chất của nó như một khoa học. Trước hết, lĩnh vực phụng sự biểu lộ như đời sống của tinh thần, hoạt động bên trong phạm vi bản chất riêng của một người. Điều đầu tiên linh hồn phải làm khi sự tiếp xúc đã được thiết lập và người ấy biết điều đó trong tâm thức bộ não của mình, do sự ấn tượng năng động của thể trí, là làm cho người ấy nhận biết rằng y là một nguyên khí sống động của thiên tính, rồi chuẩn bị bản chất tam phân thấp để nó có thể tự động thuận phục Định luật Hi sinh. Khi đó, nó sẽ không còn tạo ra trở ngại nào đối với sự sống vốn phải và sẽ tuôn đổ qua nó. Đây là nhiệm vụ đầu tiên và khó khăn nhất, và hiện nay những người chí nguyện trên thế giới đang dấn thân vào nhiệm vụ này. Điều này cho thấy, phải chăng, điểm tiến hoá mà đa số đã đạt tới? Khi nhịp điệu của định luật này đã được áp đặt và xung lực tự nhiên của người đang lâm phàm là trở thành một biểu hiện của linh hồn, và khi nhịp điệu này có thể được thiết lập như một biểu hiện tự nhiên hằng ngày, người ấy bắt đầu “đứng vững trong bản thể tinh thần”, và sự sống tuôn chảy qua y, một cách dịu dàng và tự nhiên, khi ấy sẽ tác động lên môi trường và những người liên hệ với y. Tác động này khi đó có thể được gọi là “một đời sống phụng sự”. |
|
Too much emphasis has been laid upon the process whereby the lower nature is to be subjugated to the higher Law of Service, and the idea of sacrifice, in its worst implications, has been developed. [13-20] This idea emphasises the necessary and inevitable clashing between the lower nature, working under its own laws, and the higher aspects as they work under the spiritual laws. Then the sacrifice of the lower to the higher assumes great proportions, and the word becomes quite suitable. [13-21] There is sacrifice. There is suffering. There is a painful [128] process of detachment. There is a long effort to let the life flow through, whilst steadily the personality throws up one barrier and obstruction after another. [13-22] This stage and attitude we can view with sympathy and understanding, for there are those who have so much theory about service and its expression that they fail to serve and also fail to comprehend with understanding the period of pain which ever precedes enlarged service. [13-23] Their theories block the way to true expression and shut the door on real comprehension. The mind element is too active. |
Người ta đã đặt quá nhiều nhấn mạnh vào tiến trình theo đó bản chất thấp phải bị khuất phục trước Định luật Phụng sự cao hơn, và ý niệm hi sinh, trong những hàm ý tệ hại nhất của nó, đã được phát triển. Ý niệm này nhấn mạnh sự xung đột cần thiết và tất yếu giữa bản chất thấp, hoạt động theo các định luật riêng của nó, và các phương diện cao hơn khi chúng hoạt động theo các định luật tinh thần. Khi đó, sự hi sinh của cái thấp cho cái cao mang những tỷ lệ lớn lao, và từ ngữ ấy trở nên hoàn toàn thích hợp. Có hi sinh. Có đau khổ. Có một tiến trình tách rời đau đớn [128]. Có một nỗ lực dài lâu để để cho sự sống tuôn chảy qua, trong khi phàm ngã liên tục dựng lên hết rào cản và chướng ngại này đến rào cản và chướng ngại khác. Giai đoạn và thái độ này chúng ta có thể nhìn với lòng cảm thông và sự thấu hiểu, vì có những người có quá nhiều lý thuyết về phụng sự và sự biểu lộ của nó đến nỗi họ không phụng sự, và cũng không thấu hiểu bằng sự cảm thông giai đoạn đau đớn vốn luôn đi trước sự phụng sự được mở rộng. Các lý thuyết của họ chặn đường biểu lộ chân chính và đóng cánh cửa của sự thấu hiểu thực sự. Yếu tố thể trí quá hoạt động. |
|
When the personal lower self is subordinated to the higher rhythms and obedient to the new Law of Service, then the life of the soul will begin to flow through the man to others, and the effect in a man’s immediate family and group will be to demonstrate a real understanding and a true helpfulness. [13-24] As the flow of life becomes stronger through use, the effect will spread out from the small surrounding family group to the neighborhood. [13-25] A wider range of contacts becomes possible, until eventually (if several lives have been thus spent under the influence of the Law of Service) the effect of the outpouring life may become nationwide and worldwide. But it will not be planned, nor will it be fought for, as an end in itself. [13-26] It will be a natural expression of the soul’s life, taking form and direction according to a man’s ray and past life expression; it will be coloured and ordered by environing conditions,—by time, by period, by race and age. [13-27] It will be a living flow, and a spontaneous giving forth, and the life, power and love demonstrated, being sent forth from soul levels, will have a potent, attractive force upon the group units with which the disciple may come in contact in the three worlds of soul expression. [13-28] There are no other worlds wherein the soul may at this time thus express itself. Nothing can stop or arrest the potency of this life of natural, loving [129] service, except in those cases wherein the personality gets in the way. [13-29] Then service, as the Teachers on the inner side of life understand it, gets distorted and altered into busy-ness. [13-30] It becomes changed into ambition, into an effort to make others serve as we think service should be rendered, and into a love of power which hinders true service instead of into love of our fellow men. [13-31] There is a point of danger in every life when the theory of service is grasped, and the higher law is recognised; then the imitative quality of the personality, its monkey nature, and the eagerness of a high grade aspiration can easily mistake theory for reality, and the outer gestures of a life of service for the natural, spontaneous flow of soul life through its mechanism of expression. |
Khi phàm ngã thấp được đặt dưới các nhịp điệu cao hơn và vâng phục Định luật Phụng sự mới, thì đời sống của linh hồn sẽ bắt đầu tuôn chảy qua người ấy đến với người khác, và tác động trong gia đình và nhóm gần gũi của y sẽ là biểu lộ một sự thấu hiểu thực sự và một sự trợ giúp chân thành. Khi dòng chảy sự sống trở nên mạnh hơn nhờ sử dụng, tác động sẽ lan rộng từ nhóm gia đình nhỏ xung quanh ra khu phố. Một phạm vi tiếp xúc rộng hơn trở nên khả dĩ, cho đến cuối cùng (nếu nhiều kiếp sống đã được trải qua như vậy dưới ảnh hưởng của Định luật Phụng sự) tác động của sự sống tuôn đổ có thể trở thành trên phạm vi quốc gia và toàn cầu. Nhưng điều đó sẽ không được hoạch định, cũng sẽ không được tranh đấu để đạt được như một mục đích tự thân. Nó sẽ là một biểu hiện tự nhiên của đời sống linh hồn, khoác lấy hình tướng và phương hướng tuỳ theo cung của một người và sự biểu lộ trong các kiếp sống quá khứ; nó sẽ được nhuốm màu và được sắp đặt bởi các điều kiện bao quanh,—bởi thời gian, bởi thời kỳ, bởi nhân loại và thời đại. Nó sẽ là một dòng chảy sống động, và một sự ban phát tự phát, và sự sống, quyền năng và bác ái được biểu lộ, được phóng ra từ các tầng linh hồn, sẽ có một mãnh lực mạnh mẽ, hấp dẫn đối với các đơn vị nhóm mà đệ tử có thể tiếp xúc trong ba cõi giới của sự biểu lộ linh hồn. Hiện nay không có những cõi giới nào khác nơi linh hồn có thể biểu lộ như vậy. Không gì có thể ngăn chặn hay kìm hãm sức mạnh của đời sống phụng sự tự nhiên, đầy bác ái [129] này, ngoại trừ trong những trường hợp phàm ngã xen vào. Khi đó, phụng sự, theo cách mà các huấn sư ở phía nội tại của sự sống hiểu, bị bóp méo và biến đổi thành sự bận rộn. Nó biến thành tham vọng, thành một nỗ lực khiến người khác phụng sự theo cách mà chúng ta nghĩ rằng phụng sự nên được thực hiện, và thành một lòng ham quyền lực vốn cản trở phụng sự chân chính, thay vì trở thành tình thương đối với đồng loại. Có một điểm nguy hiểm trong mọi đời sống khi lý thuyết về phụng sự được nắm bắt, và định luật cao hơn được nhận biết; khi đó, phẩm tính bắt chước của phàm ngã, bản chất khỉ của nó, và sự sốt sắng của một khát vọng ở mức cao có thể dễ dàng lầm lẫn lý thuyết với thực tại, và những cử chỉ bên ngoài của một đời sống phụng sự với dòng chảy tự nhiên, tự phát của đời sống linh hồn qua cơ cấu biểu lộ của nó. |
|
The need for an increasing subtlety of discrimination is constant, and all dedicated students are urged to take stock of themselves at this time. They face a new cycle of service and must avail themselves of a new day of opportunity. [13-32] There is a great need to stand in spiritual being; where there is this poised standing, there will be no need for others to incite one to service. [13-33] Let the “Forces of Light” flow through, and the ranks of the world servers will be rapidly filled. Let the “Spirit of Peace” use the lower nature as an instrument, and there will be peace and harmony within the personal field of service. Let the “Spirit of Good Will” dominate our minds and there will be no room for the spirit of criticism and the spreading of destructive discussion. [13-34] It is for this reason and in order to develop a group of servers who can work along true and spiritual lines, that there must be increasing emphasis upon the need for Harmlessness. [13-35] Harmlessness prepares the way for the inflow of life; harmlessness dissipates the obstructions to the free outpouring of love; harmlessness is the key to the release of the lower nature from the grip of the world illusion and from the power of phenomenal existence. |
Nhu cầu về một sự tinh tế ngày càng tăng trong phân biện là thường trực, và tất cả các đạo sinh tận hiến được thúc giục hãy tự kiểm điểm vào lúc này. Họ đang đối diện một chu kỳ phụng sự mới và phải tận dụng một ngày cơ hội mới. Có một nhu cầu lớn để đứng vững trong bản thể tinh thần; nơi nào có sự đứng vững quân bình ấy, nơi đó sẽ không cần người khác thúc giục một người phụng sự. Hãy để “Các Mãnh Lực của Ánh sáng” tuôn chảy qua, và hàng ngũ những Người Phụng Sự Thế Gian sẽ nhanh chóng được lấp đầy. Hãy để “Đấng Tinh thần Hòa Bình” sử dụng bản chất thấp như một công cụ, và sẽ có hoà bình và hài hoà trong lĩnh vực phụng sự cá nhân. Hãy để “Đấng Tinh thần Thiện Chí” chi phối thể trí của chúng ta và sẽ không còn chỗ cho tinh thần chỉ trích và sự lan truyền những cuộc bàn luận phá hoại. Chính vì lý do này, và để phát triển một nhóm người phụng sự có thể làm việc theo những đường lối chân chính và tinh thần, mà cần phải ngày càng nhấn mạnh nhu cầu về tính vô tổn hại. Tính vô tổn hại chuẩn bị con đường cho sự sống tuôn vào; tính vô tổn hại làm tiêu tan các chướng ngại đối với sự tuôn đổ tự do của bác ái; tính vô tổn hại là chìa khoá để giải phóng bản chất thấp khỏi sự kìm giữ của ảo tưởng thế gian và khỏi quyền lực của sự hiện hữu hiện tượng. |
|
[130] |
[130] |
|
We have expressed our belief that one of the major sciences of the coming age will be built up around the active rendering of service. We have used the word “Science” because service, as a spiritual quality, will rapidly be recognised as the phenomenal expression of an inner reality, and along the line of a right understanding of service will come much revelation as to the nature of the soul. [13-36] Service is a method of producing phenomenal outer and tangible results upon the physical plane; I call your attention to this as an evidence of its creative quality. By right of this creative quality, service will eventually be regarded as a world science. It is a creative urge, a creative impulse, a creative momentous energy. [13-37] This creativity of service has already been vaguely recognized in the world of human affairs under varying names, such as the science of vocational training. [13-38] Recognition of the impetus coming from a right understanding of social relations and their study is not lacking. Much is also being studied along this same line in connection with criminology and the right handling of the youth of any nation and national group. |
Chúng ta đã bày tỏ niềm tin rằng một trong những khoa học chủ yếu của thời đại sắp đến sẽ được xây dựng quanh việc thực hiện phụng sự một cách năng động. Chúng ta đã dùng từ “Khoa học” vì phụng sự, như một phẩm tính tinh thần, sẽ nhanh chóng được nhận biết như sự biểu lộ hiện tượng của một thực tại nội tại, và theo đường lối của một sự thấu hiểu đúng đắn về phụng sự sẽ đến nhiều sự mặc khải về bản chất của linh hồn. Phụng sự là một phương pháp tạo ra những kết quả hiện tượng, bên ngoài và hữu hình trên cõi hồng trần; tôi kêu gọi các bạn lưu ý điều này như một bằng chứng về phẩm tính sáng tạo của nó. Nhờ quyền năng của phẩm tính sáng tạo này, phụng sự cuối cùng sẽ được xem như một khoa học thế gian. Nó là một thôi thúc sáng tạo, một xung lực sáng tạo, một năng lượng sáng tạo trọng đại. Tính sáng tạo của phụng sự này đã được nhận biết một cách mơ hồ trong thế giới các công việc nhân sinh dưới nhiều tên gọi khác nhau, như khoa học huấn luyện nghề nghiệp. Sự nhận biết về xung lực đến từ một sự thấu hiểu đúng đắn về các quan hệ xã hội và việc nghiên cứu chúng không hề thiếu. Nhiều điều cũng đang được nghiên cứu theo cùng đường lối này liên quan đến tội phạm học và việc xử lý đúng đắn thanh thiếu niên của bất kỳ quốc gia và nhóm quốc gia nào. |
|
Service is, par excellence, the technique of correct group relations, whether it be the right guidance of an anti-social child in a family, the wise assimilation of a trouble-maker in a group, the handling of anti-social groups in our big cities, the correct technique to be employed in child guidance in our educational centres or the relation between the religious and political parties, or between nation and nation. [13-39] All of this is part of the new and growing Science of Service. The imposition of this soul law will eventually bring light into a distracted world, and release human energies in right directions. It is not here possible to do more than indicate this briefly. [13-40] The theme is too large, for it includes the awakening of the spiritual consciousness with its responsibilities, and the welding of the individual into an awakened group; it involves [131] the imposition also of a newer and a higher rhythm upon world affairs. This constitutes, therefore, a definitely scientific endeavor and warrants the attention of the best minds. It should also eventually call forth the consecrated effort of the world disciples. |
Phụng sự, trên tất cả, là kỹ thuật của các quan hệ nhóm đúng đắn, dù đó là sự hướng dẫn đúng đắn một đứa trẻ phản xã hội trong gia đình, sự đồng hoá khôn ngoan một kẻ gây rối trong một nhóm, việc xử lý các nhóm phản xã hội trong các thành phố lớn của chúng ta, kỹ thuật đúng đắn cần dùng trong việc hướng dẫn trẻ em tại các trung tâm giáo dục của chúng ta, hay mối quan hệ giữa các đảng phái tôn giáo và chính trị, hoặc giữa quốc gia với quốc gia. Tất cả điều này là một phần của Khoa học Phụng sự mới mẻ và đang tăng trưởng. Việc áp đặt định luật linh hồn này cuối cùng sẽ đem ánh sáng vào một thế giới rối loạn, và giải phóng các năng lượng nhân loại theo những hướng đúng đắn. Ở đây không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra điều này một cách vắn tắt. Chủ đề quá rộng lớn, vì nó bao gồm sự thức tỉnh của tâm thức tinh thần cùng với các trách nhiệm của nó, và sự hàn gắn cá nhân vào một nhóm đã thức tỉnh; nó cũng liên quan [131] đến việc áp đặt một nhịp điệu mới hơn và cao hơn lên các công việc thế gian. Do đó, điều này cấu thành một nỗ lực mang tính khoa học rõ rệt và xứng đáng với sự chú ý của những trí tuệ ưu tú nhất. Nó cũng cuối cùng nên kêu gọi nỗ lực thánh hiến của các đệ tử thế gian. |
Webinar 14 [-> Bình Giảng]
|
Những đặc điểm của người phụng sự chân chính là gì? |
|
|
These characteristics can be easily and briefly noted. They are not exactly what one may have been led to believe. I am not here speaking of the qualifications required for the treading of the Path of Discipleship or the Probationary Path. These are well known. They are the platitudes of the spiritual life, and constitute the battleground, or the Kurukshetra of most aspirants. [14-2] We are here concerned with those qualities which will emerge when a man is working under the impulse of the Law of Service. They will appear when he is a real channel for the life of the soul. His major characteristics will then be three in number:— [14-3] |
Những đặc điểm này có thể được ghi nhận dễ dàng và ngắn gọn. Chúng không hẳn là những gì người ta có thể đã được dẫn dắt để tin. Ở đây, tôi không nói về những phẩm chất cần thiết để bước đi trên Con Đường Đệ Tử hay Con Đường Dự Bị. Những điều ấy đã được biết rõ. Chúng là những sáo ngữ của đời sống tinh thần, và cấu thành chiến trường, hay Kurukshetra của hầu hết những người chí nguyện. Ở đây chúng ta quan tâm đến những phẩm tính sẽ xuất hiện khi một người đang làm việc dưới xung lực của Định luật Phụng sự. Chúng sẽ xuất hiện khi y là một kênh thực sự cho đời sống của linh hồn. Khi đó, các đặc điểm chính của y sẽ có ba điều:— |
|
1. He will be distinguished, as might be expected, by the quality of harmlessness, and by an active refraining from those acts and that speech which might hurt or cause any misunderstanding. By no word, suggestion, implication, innuendo or voiced dissatisfaction will he hurt his group. You will note that I do not say “will not hurt any individual.” Those working under the Law of Service need no reminder not to hurt any individual. [14-4] They often need, under the exuberance of spiritual stimulation and the intensity of their aspiration, to be reminded to demonstrate group harmlessness. |
1. Như có thể dự liệu, y sẽ được phân biệt bởi đức tính vô tổn hại, và bởi tích cực tránh những hành vi và lời nói có thể làm tổn thương hoặc gây ra bất kỳ sự hiểu lầm nào. Y sẽ không làm tổn hại đến nhóm của mình bằng bất kỳ lời nói nào, dù là lời gợi ý, hàm ý, ám chỉ, hay bằng việc bộc lộ sự bất mãn ra bên ngoài. Các bạn sẽ lưu ý rằng tôi không nói “sẽ không làm tổn thương bất kỳ cá nhân nào.” Những người làm việc dưới Định luật Phụng sự không cần được nhắc nhở rằng đừng làm tổn thương bất kỳ cá nhân nào. Họ thường cần được nhắc nhở phải biểu lộ tính vô tổn hại theo nhóm dù chịu sự dâng trào của kích thích tinh thần và sự mãnh liệt trong khát vọng của mình. |
|
2. The second characteristic is a willingness to let others serve as seems best to them, knowing that the life flowing through the individual server must find its own [132] channels and outlets, and that direction of these currents can be dangerous and prevent the rendering of the intended service. [14-5] The server’s efforts will be turned in two directions:— |
2. Đặc điểm thứ hai là sự sẵn lòng để người khác phụng sự theo cách họ thấy là tốt nhất, vì biết rằng sự sống tuôn chảy qua người phụng sự cá nhân phải tự tìm các [132] kênh và lối thoát của nó, và việc định hướng các dòng chảy ấy có thể nguy hiểm và ngăn trở sự phụng sự dự định. Nỗ lực của người phụng sự sẽ hướng về hai phương diện:— |
|
1. To the task of helping others to “stand in spiritual being”, as he himself is learning to stand. [14-6] |
1. Giúp người khác “đứng vững trong bản thể tinh thần”, như chính y đang học cách đứng vững. |
|
2. To aiding the individual to express his service in his chosen field as he desires to express it, and not as the onlooking helper deems that he should do it. |
2. Hỗ trợ cá nhân biểu lộ sự phụng sự của y trong lĩnh vực mà y chọn, theo cách y muốn biểu lộ, chứ không theo cách mà người trợ giúp đứng ngoài cho rằng y nên làm. |
|
One point might here be made clear. The task of those who are working under the Law of Service is not exerted primarily with that group in the world today which is working under the effect of that general response to which we earlier referred. [14-7] These effects are easily shepherded into those activities which, en masse, work out as philanthropic endeavor, as educational experiments, or social efforts in the life of the community. [14-8] The name of those who thus respond is legion, and the will to serve in this particular way needs no impetus. [14-9] The remarkable response to the many recent campaigns to good will definitely evidenced this. But the work of the new type of server is directed towards those who are establishing soul contact and who can therefore work under the new incoming Aquarian Law. [14-10] This centres around the capacity to stand, not only in spiritual being, but together with others, working with them subjectively, telepathically, and synthetically. This distinction merits attention for one can easily waste effort by entering fields already well handled from the point of view of the attainment of the units in that field. [14-11] |
Ở đây, có thể làm rõ một điểm. Nhiệm vụ của những người đang làm việc dưới Định luật Phụng sự không chủ yếu hướng đến nhóm người trên thế giới ngày nay đang hoạt động dưới tác động của sự đáp ứng chung mà trước đó chúng ta đã đề cập. Những tác động này dễ được dẫn dắt vào các hoạt động mà, xét trên bình diện đại chúng, biểu hiện như nỗ lực từ thiện, như các thử nghiệm giáo dục, hay các nỗ lực xã hội trong đời sống cộng đồng. Số người đáp ứng như vậy đông vô kể, và ý chí phụng sự theo cách đặc thù này không cần bất kỳ xung lực nào. Sự đáp ứng đáng chú ý đối với nhiều chiến dịch thiện chí gần đây đã chứng tỏ điều này một cách rõ rệt. Nhưng công tác của kiểu người phụng sự mới được hướng đến những ai đang thiết lập sự tiếp xúc linh hồn và do đó có thể làm việc dưới Định luật Bảo Bình mới đang đến. Điều này tập trung quanh năng lực đứng vững, không chỉ trong bản thể tinh thần, mà còn cùng với những người khác, làm việc với họ một cách chủ quan, bằng viễn cảm, và một cách tổng hợp. Sự phân biệt này đáng được chú ý vì người ta có thể dễ dàng lãng phí nỗ lực bằng cách bước vào những lĩnh vực vốn đã được xử lý tốt từ quan điểm về mức đạt được của các đơn vị trong lĩnh vực ấy. |
|
3. The third characteristic of the new server is joyfulness. [133] This takes the place of criticism (that dire creator of misery) and is the silence that sounds. [14-12] |
3. Đặc điểm thứ ba của người phụng sự mới là niềm vui. [133] Điều này thay thế cho sự chỉ trích (kẻ tạo tác ghê gớm của sự khốn khổ) và chính là sự im lặng ngân vang. |
|
It would be well to ponder on these last words, for their true meaning cannot be conveyed in words, but only through a life dedicated to the newer rhythms and to the service of the whole. Then that “sounding joy” and that “joyful sounding” can make its true meaning felt. [14-13] |
Thật tốt để suy ngẫm về những lời cuối cùng này, vì ý nghĩa chân thực của chúng không thể truyền đạt bằng lời nói, mà chỉ có thể qua một đời sống hiến dâng cho những nhịp điệu mới mẻ hơn và cho sự phụng sự toàn thể. Khi đó, “niềm vui ngân vang” và “sự ngân vang vui tươi” ấy có thể khiến ý nghĩa chân thực của nó được cảm nhận. |
|
What effect does service have upon the mind, the emotions and the etheric body? [14-14] |
Phụng sự có tác động gì lên thể trí, cảm xúc và thể dĩ thái? |
|
It must be remembered that it is through its effects that the scientist of the future will begin to deduce the effectual existence of an inner cause, of an inner reality, or of a self or soul. We have seen that service is not simply an activity of some person or group doing something with good intention for another person or group. [14-15] Service itself is definitely the result of a tremendous inner happening, and when that result is brought about, it will be found to have produced a number of creative secondary causes. [14-16] These are, primarily, a change in the lower consciousness, a tendency to turn away from the things of the personal self to the larger issues of the group, a reorientation which is real and expressive and a power to change conditions (through creative activity) which is the demonstration of something dynamically new. [14-17] As this inner event stabilises into an equilibrised inner condition, the demonstration of the above changes becomes more regular and less spasmodic and the effects of the new forces flowing into the personality to be later used creatively, will be seen in all three bodies. [14-18] Thus the true server comes into possession of his instruments for service, and thenceforth creative work in accordance with the Plan can go forward on all three planes. Thus has God, in His wisdom, chosen to [134] limit Himself, and the work of evolution proceeds solely through the medium of His chosen builders and under the direction—on this planet—of those men whose lives are being transformed through soul contact and creative service, and who constitute the planetary Hierarchy. [14-19] |
Cần nhớ rằng chính qua các tác động của nó mà nhà khoa học tương lai sẽ bắt đầu suy diễn sự hiện hữu hữu hiệu của một nguyên nhân nội tại, của một thực tại nội tại, hay của một bản ngã hoặc linh hồn. Chúng ta đã thấy rằng phụng sự không đơn thuần là một hoạt động của một người hay một nhóm làm điều gì đó với thiện ý cho một người hay một nhóm khác. Bản thân phụng sự chắc chắn là kết quả của một biến cố nội tại to lớn, và khi kết quả ấy được tạo ra, người ta sẽ thấy rằng nó đã sản sinh một số nguyên nhân thứ cấp mang tính sáng tạo. Trước hết, đó là một sự thay đổi trong tâm thức thấp, một khuynh hướng quay lưng khỏi những điều của phàm ngã để hướng đến những vấn đề lớn hơn của nhóm, một sự tái định hướng chân thực và có tính biểu đạt, và một quyền năng thay đổi các điều kiện (qua hoạt động sáng tạo) vốn là sự biểu hiện của một điều gì đó năng động mới mẻ. Khi biến cố nội tại này ổn định thành một trạng thái nội tâm quân bình, sự biểu lộ của các thay đổi nêu trên trở nên đều đặn hơn và ít thất thường hơn, và các tác động của những mãnh lực mới đang tuôn vào phàm ngã, mà về sau được dùng một cách sáng tạo, sẽ được thấy trong cả ba thể. Như vậy người phụng sự chân chính đi đến chỗ nắm giữ các công cụ của mình để phụng sự, và từ đó công tác sáng tạo phù hợp với Thiên Cơ có thể tiến hành trên cả ba cõi. Như vậy Thượng đế, trong minh triết của Ngài, đã chọn cách [134] tự giới hạn, và công cuộc tiến hoá chỉ tiến hành qua trung gian của các đấng kiến tạo được Ngài chọn và dưới sự chỉ đạo—trên hành tinh này—của những người mà đời sống của họ đang được chuyển đổi qua sự tiếp xúc linh hồn và phụng sự sáng tạo, và những người ấy cấu thành Thánh Đoàn hành tinh. |
|
When alignment has been effected, when the at-one-ment has been more constantly made, and when the antaskarana (the bridge connecting the higher and the lower) is in definite process of construction, the true nature of service, as practiced by any individual begins to emerge. [14-20] The first effect of the inflowing force of the soul, which is the major factor leading to demonstrated service, is to integrate the personality, and to bring all the three lower aspects of the man into one serving whole. This is a difficult and elementary stage from the angle of the student in the Hall of Wisdom. [14-21] The man becomes aware of his power and capacity, and, having pledged himself to service, he begins furiously to serve; he creates this, that and the other channel for the expression of the force which is driving him; he tears down and destroys just as fast as he creates. [14-22] He temporarily becomes a serious problem to the other servers with whom he may be associated, for he sees no vision but his own, and the aura of criticism which surrounds him and the strenuous push of the assertive force within him produces the stumbling of the “little ones” and there has to be constant repair work undertaken (on his behalf) by older, more experienced disciples. [14-23] He becomes the victim, for the time, of his own aspiration to serve, and of the force which is flowing through him. This stage will in some cases fan into flame the latent seeds of ambition. This ambition is, in the last analysis, only the personality urge towards betterment, and in its right place and time is a divine asset, but it has to be rooted out when the personality becomes the instrument of the soul. [14-24] In other cases, the server [135] will come into a wider and more loving vision, and, taking his eyes off his own accomplishment, will go to work in silent unison with the groups of all true servers. He will submerge his personality tendencies, his ideas and his ambitions in the greater good of the whole, and self will be lost to sight. [14-25] Perhaps no better suggestion can be made to the man or woman who seeks to function as a true server than to ask them to repeat daily, with their whole hearts and minds behind the words, the dedication at the conclusion of the Esoteric Catechism, which is included at the end of Initiation, Human and Solar. [14-26] I would remind such servers that if they revolt or are dismayed by the ideas embodied in the words, that is perhaps an indication of how much they need the impression of this life objective upon their consciousness. That pledge runs as follows: |
Khi sự chỉnh hợp đã được thực hiện, khi sự hợp nhất đã được tạo lập một cách thường xuyên hơn, và khi antahkarana (cây cầu nối cái cao và cái thấp) đang trong tiến trình kiến tạo một cách xác định, thì bản chất chân thực của phụng sự, như được bất kỳ cá nhân nào thực hành, bắt đầu xuất hiện. Tác động đầu tiên của mãnh lực tuôn vào từ linh hồn, vốn là yếu tố chủ yếu dẫn đến phụng sự được thể hiện, là tích hợp phàm ngã, và đưa cả ba phương diện thấp của con người vào một toàn thể phụng sự duy nhất. Đây là một giai đoạn khó khăn và sơ đẳng từ góc nhìn của đạo sinh trong Phòng Minh triết. Người ấy trở nên nhận biết quyền năng và năng lực của mình, và, đã thệ nguyện phụng sự, y bắt đầu phụng sự một cách cuồng nhiệt; y tạo ra kênh này, kênh kia, và kênh khác cho sự biểu lộ của mãnh lực đang thúc đẩy y; y phá bỏ và huỷ diệt nhanh không kém khi y kiến tạo. Tạm thời y trở thành một vấn đề nghiêm trọng đối với những người phụng sự khác mà y có thể liên kết, vì y không thấy tầm nhìn nào ngoài tầm nhìn của chính ý, và hào quang chỉ trích bao quanh y cùng với sự thúc đẩy căng thẳng của mãnh lực khẳng định bên trong y gây ra sự vấp ngã của những “kẻ bé nhỏ”, và khiến cho các đệ tử già dặn hơn, giàu kinh nghiệm hơn, phải tiến hành công việc sửa chữa (thay cho y). Trong một thời gian, y trở thành nạn nhân của chính khát vọng phụng sự của y và của mãnh lực đang tuôn chảy qua y. Trong một số trường hợp, giai đoạn này sẽ thổi bùng những hạt giống tham vọng tiềm ẩn. Tham vọng này, xét đến cùng, chỉ là thôi thúc của phàm ngã hướng đến sự cải thiện, và khi được đặt đúng chỗ và đúng lúc, đó sẽ là một tài sản thiêng liêng, nhưng nó phải bị nhổ tận gốc khi phàm ngã trở thành công cụ của linh hồn. Trong những trường hợp khác, người phụng sự [135] sẽ đi vào một tầm nhìn rộng lớn hơn và đầy bác ái hơn, rời mắt khỏi thành tựu của chính mình, và sẽ bắt tay làm việc trong sự hoà điệu thầm lặng với các nhóm của mọi người phụng sự chân chính. Y sẽ nhấn chìm các khuynh hướng phàm ngã, các ý tưởng và các tham vọng của mình trong lợi ích lớn hơn của toàn thể, và bản ngã sẽ khuất khỏi tầm nhìn. Có lẽ không có gợi ý nào tốt hơn dành cho người nam hay người nữ đang tìm cách hoạt động như một người phụng sự chân chính, hơn là đề nghị họ mỗi ngày hãy lặp lại—với trọn vẹn tâm và trí đứng đằng sau từng lời—lời tận hiến ở phần kết của Esoteric Catechism, được đưa vào ở cuối tác phẩm Initiation, Human and Solar. [14-26] Tôi xin nhắc nhở những người phụng sự như vậy rằng, nếu họ phản kháng hoặc cảm thấy chán nản trước những ý niệm được hàm chứa trong các lời ấy, thì điều đó có lẽ là một dấu hiệu cho thấy họ cần biết bao ấn tượng của mục tiêu đời sống này được in dấu lên tâm thức của họ. Lời cam kết ấy như sau: |
|
“Tôi đảm nhận phần việc của mình với quyết tâm không lay chuyển; với khát vọng chân thành; tôi nhìn lên trên, tôi giúp bên dưới; tôi không mơ mộng, cũng không nghỉ ngơi; tôi lao động; tôi phụng sự; tôi gặt hái; tôi cầu nguyện; tôi là Thập Giá; tôi là Con Đường; tôi bước lên trên công việc tôi làm, tôi leo lên trên phàm ngã bị giết của tôi; tôi diệt dục vọng, tôi phấn đấu, tôi quên hết mọi phần thưởng. Tôi từ bỏ bình an; tôi khước từ nghỉ ngơi, và, trong sức ép của đau đớn, tôi đánh mất mình và tìm thấy Chính Mình và đi vào bình an. Với tất cả điều này tôi long trọng tự thệ nguyện, khẩn cầu Bản Ngã Cao Siêu của tôi.” |
|
|
As the work of learning to serve proceeds and the inner contact becomes more sure, the next thing which will occur will be a deepening of the life of meditation, and a more frequent illumining of the mind by the light of the soul. [14-27] Thereby the Plan is revealed. This will not be the shedding of that light upon the plans of the server either for his own life or upon his chosen field of service. This must be clearly grasped. That might only indicate (if it seems to occur) the mental agility of the server to find means for the justification of his own ambition. [14-28] It will be the recognition, in the mind, of the Plan of God for the world at the particular time in [136] which the server is existing, and the part that he may play in furthering the ends of those who are responsible for the carrying forward of that Plan. [14-29] He then becomes willing to be a tiny part of a greater Whole, and this attitude never varies, even when the disciple has become a Master of the Wisdom. He is then in contact with a still vaster concept of the Plan and His humility and His sense of proportion remain unchanged. [14-30] |
Khi công việc học cách phụng sự tiến triển và sự tiếp xúc nội tại trở nên chắc chắn hơn, điều kế tiếp sẽ xảy ra là đời sống tham thiền sẽ sâu sắc hơn, và thể trí thường xuyên được soi sáng nhiều hơn bởi ánh sáng của linh hồn. Nhờ đó Thiên Cơ được mặc khải. Đây sẽ không phải là việc rọi ánh sáng ấy lên các kế hoạch của người phụng sự cho đời sống riêng của y hay lên lĩnh vực phụng sự mà y chọn. Điều này phải được nắm bắt rõ ràng. Nếu dường như điều đó xảy ra, nó có thể chỉ cho thấy sự linh hoạt trí tuệ của người phụng sự trong việc tìm phương tiện biện minh cho tham vọng của chính mình. Đó sẽ là sự nhận biết, trong thể trí của y, Thiên Cơ của Thượng đế cho thế giới vào thời điểm cụ thể [136] mà người phụng sự đang hiện hữu, và phần việc mà y có thể đóng góp để thúc đẩy các mục tiêu của những Đấng chịu trách nhiệm đưa Thiên Cơ ấy tiến về phía trước. Khi đó y trở nên sẵn lòng là một phần rất nhỏ của một Toàn Thể lớn hơn, và thái độ này không bao giờ thay đổi, ngay cả khi đệ tử đã trở thành một chân sư Minh triết. Khi ấy Ngài tiếp xúc với một quan niệm còn bao la hơn về Thiên Cơ và sự khiêm nhường cùng ý thức về tỉ lệ của Ngài vẫn không đổi. |
|
An integrated, intelligent personality is adequate to deal with the working out of the server’s part in the active work of the world, provided his vision is not blurred by personal ambition nor his activity such that it degenerates into a sense of rush and a display of busy feverishness. [14-31] It takes the soul itself to reveal to the poised and peaceful mind the next step to be taken in the work of world evolution, through the impartation of ideas. Such is the Plan for humanity. |
Một phàm ngã tích hợp, thông minh là đủ để xử lý việc triển khai phần việc của người phụng sự trong công tác năng động của thế giới, miễn là tầm nhìn của y không bị tham vọng cá nhân làm mờ đi, và hoạt động của y không đến mức thoái hoá thành cảm giác vội vã và phô bày sự bận rộn sốt sắng. Chính linh hồn mới có thể mặc khải cho thể trí quân bình và an tĩnh bước kế tiếp cần thực hiện trong công tác tiến hoá thế gian, qua việc truyền đạt các ý tưởng. Đó là Thiên Cơ cho nhân loại. |
|
As the force pours through the personality and gives to the server this necessary vision and the sense of power which will enable him to cooperate, it finds its way into the emotional or astral body. [14-32] Here again the effect will be dual, owing to the condition of the server’s astral body and his inner orientation. It may enhance the glamour and deepen the illusion, swinging the server into the psychic illusory effects there to be found. When this happens, he will emerge upon the physical plane glamoured by the idea, for instance, of his amazing personal contacts, whereas he has only contacted some group thought-form of the Great Ones. [14-33] He will be under the illusion that he is a chosen vessel or mouthpiece for the Hierarchy, when the truth is that he is deceived by the many voices, because the Voice of the Silence has been dimmed by the clamour of the astral plane; he will be deluded by the idea that there is no other way but his way. [14-34] Such an illusion and deception is common among teachers and workers everywhere [137] today, because so many are definitely making a contact with their souls, and are being swept then into the desire for service; they are not yet free, however, from ambition, and their orientation is still basically towards personality expression, and not to the merging of themselves in the Group of World Servers. [14-35] If however they can avoid glamour, and can discriminate between the Real and the unreal, then the inflowing force will flood their lives with effective unselfish love and with devotion to the Plan, to those whom the Plan serves, and to Those Who serve the Plan. Note the sequence of these attitudes, and govern yourselves accordingly. There will then be no room for self-interest, self-assertiveness, or selfish ambition. All that is considered is the need and the driving necessity to take the next immediate step to meet that need as it demonstrates before the server’s eyes. [14-36] |
Khi mãnh lực tuôn chảy qua phàm ngã và ban cho người phụng sự tầm nhìn cần thiết này cùng ý thức về quyền năng sẽ giúp y hợp tác, nó sẽ tìm đường đi vào thể cảm dục. Ở đây một lần nữa tác động sẽ là kép, tuỳ theo tình trạng của thể cảm dục của người phụng sự và định hướng nội tại của y. Nó có thể làm tăng ảo cảm và làm sâu sắc thêm ảo tưởng, đẩy người phụng sự vào các tác động ảo tưởng thông linh có thể tìm thấy ở đó. Khi điều này xảy ra, y sẽ xuất hiện trên cõi hồng trần trong trạng thái bị ảo cảm bởi ý tưởng, chẳng hạn, về những tiếp xúc cá nhân kỳ diệu của mình, trong khi y chỉ tiếp xúc với một hình tư tưởng nhóm nào đó của Các Đấng Cao Cả. Y sẽ ở trong ảo tưởng rằng y là một khí cụ được chọn hay một phát ngôn nhân cho Thánh Đoàn, trong khi sự thật là y bị đánh lừa bởi nhiều tiếng nói, vì Tiếng Nói của Im Lặng đã bị làm mờ đi bởi sự ồn ào của cõi cảm dục; y sẽ bị mê hoặc bởi ý tưởng rằng không có con đường nào khác ngoài con đường của y. Ảo tưởng và sự lừa dối như vậy là phổ biến ở các huấn sư và người hoạt động ở khắp mọi nơi [137] ngày nay, vì có quá nhiều người đang thực sự tiếp xúc với linh hồn của họ, và rồi bị cuốn vào ham muốn phụng sự; tuy nhiên, họ chưa được giải thoát khỏi tham vọng, và định hướng của họ vẫn căn bản hướng về sự biểu lộ phàm ngã, chứ không phải về việc hoà nhập chính họ vào Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Tuy nhiên, nếu họ có thể tránh ảo cảm và có thể phân biện giữa Thực Tại và điều không thực, thì mãnh lực tuôn vào sẽ tràn ngập đời sống họ bằng tình thương vô ngã hiệu quả, và bằng sự tận hiến với Thiên Cơ, với những người mà Thiên Cơ phụng sự, và với Những Đấng Phụng Sự Thiên Cơ. Hãy lưu ý trình tự của các thái độ này, và hãy tự điều chỉnh cho phù hợp. Khi đó sẽ không còn chỗ cho tư lợi, sự tự khẳng định, hay tham vọng ích kỷ. Điều duy nhất được xét đến là nhu cầu và sự thúc bách tất yếu nhằm thực hiện bước kế tiếp ngay tức khắc, để đáp ứng nhu cầu ấy, khi nó hiển lộ ngay trước mắt người phụng sự. |
|
With the heart and mind then functioning together (either in selfish coalition for the presentation of an active personality, or in dedicated selflessness and the attitude which is oriented towards soul guidance) the force, flowing through the server will galvanise his etheric body into activity. [14-37] Then, automatically, the physical body will respond. There is, consequently, a great need for the server to pause upon the astral plane, and there, in a holy and controlled silence, wait, before permitting the force to pour through into the centres in the etheric body. This point of silence is one of the mysteries of spiritual unfoldment. [14-38] Once the force or energy of the soul—preserved in its purity, or tainted and sidetracked on its way through into physical manifestation—has reached the etheric body, there is nothing more to be done by the average disciple. The result, when it reaches that point, is inevitable and effective. The inner thought and the desire life determine the activity which will be expressed physically. [14-39] When the force comes through in purity, it brings the centres above the [138] diaphragm steadily into activity; when it comes through, tainted by personality trends, it uses primarily the solar plexus, and then sweeps into manifestation all the astral illusions, the grandiose delusions and the glamours of egoistic phenomena, using the word “egoistic” in its usual worldly, psychological connotation. This can easily be seen today among the leaders of various groups. [14-40] |
Khi ấy, với tâm và trí hoạt động cùng nhau (hoặc trong sự liên minh ích kỷ để trình bày một phàm ngã năng động, hoặc trong sự vô ngã tận hiến và thái độ được định hướng về sự dẫn dắt của linh hồn) thì mãnh lực tuôn chảy qua người phụng sự sẽ kích hoạt thể dĩ thái của y đi vào hoạt động. Khi đó, thể xác sẽ tự động đáp ứng. Do đó, người phụng sự rất cần phải dừng lại trên cõi cảm dục, và tại đó, trong một sự im lặng thiêng liêng được kiểm soát, hãy chờ đợi, trước khi cho phép mãnh lực tuôn chảy vào các luân xa trong thể dĩ thái. Điểm im lặng này là một trong những huyền nhiệm của sự khai mở tinh thần. Một khi mãnh lực hay năng lượng của linh hồn—được bảo tồn trong sự tinh khiết của nó, hoặc bị làm ô nhiễm và bị chệch hướng trên đường đi vào sự biểu hiện hồng trần—đã đến thể dĩ thái, thì người đệ tử trung bình không còn gì để làm nữa. Khi đã đến điểm ấy, kết quả là tất yếu và hữu hiệu. Tư tưởng nội tại và đời sống dục vọng quyết định hoạt động sẽ được biểu lộ về mặt thể xác. Khi mãnh lực tuôn qua trong sự tinh khiết, nó mang các trung tâm phía trên [138] cơ hoành dần dần vào hoạt động; khi nó đi qua trong tình trạng bị nhuốm màu bởi các khuynh hướng phàm ngã, nó chủ yếu sử dụng tùng thái dương, rồi cuốn vào sự biểu hiện tất cả các ảo tưởng cảm dục, các hoang tưởng tự tôn và các ảo cảm của những hiện tượng mang tính vị kỷ, dùng từ “vị kỷ” theo nghĩa tâm lý học thông thường. Điều này ngày nay có thể dễ dàng thấy nơi các lãnh đạo của nhiều nhóm khác nhau. |
b. DISTINCTIVE METHODS OF RAY SERVICE—CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐẶC THÙ CỦA PHỤNG SỰ THEO CUNG
|
Does this science prove that the seven ray types employ distinctive methods in service? |
Liệu Khoa học này có chứng minh rằng bảy loại cung sử dụng những phương pháp đặc thù trong phụng sự không? |
|
As time goes on this will be proved decidedly, and each ray worker and server will be found to render his service along peculiar and specific lines. These indicate for him the line of least resistance and, consequently, of the greatest efficiency. [14-41] These methods and techniques will constitute the inner structure of the coming Science of Service, and they will be discovered through the admission of the Ray hypothesis and an observation of the methods employed by these clearly isolated Ray types and groups. [14-42] These differing ways of service, all of them, work in conformity with the Plan, and together produce a synthetic whole. The ray or rays in manifestation at any one time will determine the general trend of the world service, and those servers whose egoic ray is in incarnation, and who are endeavoring to work with right activity, will find their work facilitated if they understand that the trend of affairs is with them and that they are following the line of least resistance at that period. [14-43] They will work with greater facility than will the disciples and aspirants whose egoic ray is out of manifestation. This recognition will lead to a careful study of times and seasons, thus there will be no waste effort, and real advantage can be taken of the qualifications and aptitudes of the servers available. All will [139] be in conformity with the Plan. A consideration of the rays in or out of manifestation, and a recognition of the disciples and servers available on the physical plane at any one time, is part of the work of the Masters in the Hierarchy. [14-44] |
Theo thời gian, điều này sẽ được chứng minh một cách rõ rệt, và mỗi người hoạt động và phụng sự theo cung sẽ được thấy là thực hiện sự phụng sự của mình theo những đường lối đặc thù và riêng biệt. Những đường lối ấy chỉ ra cho họ con đường ít trở ngại nhất, và do đó là con đường có hiệu quả lớn nhất. [14-41] Những phương pháp và kỹ thuật này sẽ cấu thành cấu trúc nội tại của Khoa Học Phụng Sự trong tương lai, và chúng sẽ được khám phá thông qua việc chấp nhận giả thuyết về các cung, và sự quan sát các phương pháp được sử dụng bởi những kiểu mẫu và nhóm cung đã được phân biệt rõ ràng này. [14-42] Tất cả những cách phụng sự khác nhau ấy đều hoạt động phù hợp với Thiên Cơ, cùng nhau tạo nên một chỉnh thể tổng hợp. Cung hay các cung đang biểu hiện vào bất kỳ thời điểm nào sẽ quyết định khuynh hướng chung của công cuộc phụng sự thế gian, và những người phụng sự có cung chân ngã đang nhập thể, đồng thời đang nỗ lực hoạt động một cách đúng đắn, sẽ thấy công việc của họ được thuận lợi hơn nếu họ hiểu rằng xu thế của thời cuộc đang đồng hành với họ, và rằng trong giai đoạn đó họ đang đi theo con đường ít trở ngại nhất. [14-43] Họ sẽ làm việc với sự dễ dàng lớn hơn so với các đệ tử và người chí nguyện có cung chân ngã đang ở ngoài sự biểu hiện. Sự nhận biết này sẽ dẫn đến việc nghiên cứu cẩn trọng về thời điểm và chu kỳ; nhờ đó sẽ không có sự phí phạm nỗ lực, và người ta có thể tận dụng một cách thực sự hiệu quả các phẩm chất và năng lực của những người phụng sự hiện có. Tất cả [139] sẽ phù hợp với Thiên Cơ. Việc xem xét các cung đang hoặc không đang biểu hiện, cũng như việc nhận diện các đệ tử và người phụng sự hiện diện trên cõi hồng trần vào bất kỳ thời điểm nào, là một phần trong công việc của các Chân sư trong Thánh đoàn. [14-44] |
Webinar 15 [-> Bình Giảng]
|
The emergence of the New Group of World servers today is an indication that there are enough egoic ray types in physical manifestation, and that a sufficient number of personalities are responding to soul contact, so that a group can be formed that can be definitely impressed as a group. [15-1] This is the first time that such a situation has been possible. Up till this century, individuals could be impressed, here and there, in different parts of the world, and at widely separated times and periods. [15-2] But today a group can respond and their numbers are relatively so great that there can be formed upon the planet a group composed of a number of persons of such radiatory activity that their auras can meet and contact each other. Thus one group—subjective and objective—can be functioning. [15-3] |
Sự xuất hiện của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian ngày nay là một dấu hiệu cho thấy đã có đủ các loại cung chân ngã đang biểu hiện trong cõi hồng trần, và rằng một số lượng phàm ngã đầy đủ đang đáp ứng với sự tiếp xúc linh hồn, để có thể hình thành một nhóm có khả năng được ấn tượng một cách xác định như một nhóm. Đây là lần đầu tiên mà một tình huống như thế đã trở nên khả hữu. Cho đến thế kỷ này, chỉ có những cá nhân riêng lẻ có thể được ấn tượng, rải rác đây đó, tại những nơi khác nhau trên thế giới, và trong những thời điểm và giai đoạn cách xa nhau. Nhưng ngày nay, một nhóm có thể đáp ứng, và số lượng của họ tương đối lớn đến mức trên hành tinh này có thể được hình thành một nhóm gồm nhiều người có hoạt động phát xạ mạnh mẽ đến độ các hào quang của họ có thể gặp gỡ và tiếp xúc lẫn nhau. Do đó, một nhóm — vừa chủ quan vừa khách quan — có thể đang hoạt động. |
|
There are today enough centres of light, scattered all over the world, and enough disciples and aspirants, that the little beams or threads of light (speaking symbolically) which radiate from each of them, can meet and interlace, and form a network of light in the world. [15-4] This constitutes the magnetic aura of the New Group of World Servers. Each individual in the group is sensitive to the Plan, either through his own personal knowledge through contact with his soul, or because his intuition tells him that what the Group, which attracts him, accepts as its immediate work is for him true and right, and with it all that is highest and best in him can cooperate. Each individual in that Group will work in his own particular surroundings according to his ray and type. That again will be coloured by his race and nation. [15-5] But the work is the better carried forward as the units in the Group meet the [140] need in their own peculiar environment, in the manner that is, for them, the simplest and best way, belonging as they do by habit and training in that particular setting. This should be remembered. [15-6] |
Ngày nay, đã có đủ các trung tâm ánh sáng, rải rác khắp thế giới, và đủ các đệ tử cùng những người chí nguyện, để những tia sáng nhỏ hay những sợi dây ánh sáng (nói một cách biểu tượng) phát xạ từ mỗi người trong số họ có thể gặp gỡ và đan xen vào nhau, tạo thành một mạng lưới ánh sáng trong thế gian. Điều này cấu thành hào quang từ tính của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Mỗi cá nhân trong nhóm đều nhạy cảm với Thiên Cơ, hoặc thông qua sự hiểu biết cá nhân của chính y nhờ tiếp xúc với linh hồn mình, hoặc bởi vì trực giác của y cho y biết rằng điều mà Nhóm — vốn thu hút y — chấp nhận như công việc trước mắt của mình là chân thật và đúng đắn đối với y, và rằng cùng với điều đó, tất cả những gì cao cả và tốt đẹp nhất nơi y đều có thể hợp tác. Mỗi cá nhân trong Nhóm ấy sẽ làm việc trong môi trường riêng biệt của mình, tùy theo cung và loại của y. Điều này lại còn được nhuốm màu bởi giống dân và quốc gia của y. Nhưng công việc sẽ được tiến hành tốt đẹp hơn khi các đơn vị trong Nhóm đáp ứng nhu cầu [140] trong môi trường đặc thù của chính họ, theo cách thức mà, đối với họ, là đơn giản và tốt đẹp nhất, bởi họ vốn thuộc về — do thói quen và sự rèn luyện — bối cảnh đặc thù ấy. Điều này cần được ghi nhớ. |
|
The seven ray types will work in the following ways, which I am stating very briefly for to do more than that might limit the expression of those who do not know enough to be discriminating as to their characteristics, and might unduly qualify and colour the experience of those servers who recognise (as some already do) their ray. [15-7] They might, with entirely good intention, seek to force the ray qualities of their souls into dominance before the personality ray is adequately known or controlled. [15-8] Other servers frequently confuse the two rays and deem their soul ray to be of a particular type, whereas it is only their personality ray to which they predominantly conform, and by which they are pre-eminently governed. Is it not possible for us to observe here the care with which the Teachers of these truths and the custodians of the coming revelation, must proceed? [15-9] They have to guard the aspirants from premature knowledge, which they might theoretically grasp but which they are not yet ready practically to apply. [15-10] |
Bảy loại cung sẽ hoạt động theo những cách thức sau đây, và tôi sẽ chỉ nêu ra rất ngắn gọn, vì nếu nói nhiều hơn có thể hạn chế sự biểu đạt của những người chưa đủ hiểu biết để có thể phân biện được các đặc tính của chúng, và có thể vô tình định hình và tô màu kinh nghiệm của những người phụng sự vốn đã nhận ra (như một số người hiện nay) cung của mình. Họ, với thiện ý hoàn toàn, có thể tìm cách cưỡng ép cho các phẩm tính của cung linh hồn mình chiếm ưu thế trước khi cung phàm ngã được nhận biết đầy đủ hoặc được kiểm soát đúng mức. Những người phụng sự khác lại thường xuyên nhầm lẫn hai cung này, cho rằng cung linh hồn của họ thuộc về một loại nhất định, trong khi thực tế họ chủ yếu chỉ phù hợp với cung phàm ngã của mình, và chính cung đó đang chi phối họ một cách nổi trội. Chẳng lẽ chúng ta không thể nhận ra ở đây sự thận trọng mà các Huấn sư của những chân lý này, cũng như những người gìn giữ sự mặc khải sắp đến, buộc phải tiến hành hay sao? Các Ngài phải bảo vệ những người chí nguyện khỏi tri thức quá sớm, những tri thức mà họ có thể nắm bắt về mặt lý thuyết, nhưng trên thực tế họ chưa sẵn sàng để áp dụng. |
|
Ray I. Servers on this ray, if they are trained disciples, work through what might be called the imposition of the Will of God upon the minds of men. This they do through the powerful impact of ideas upon the minds of men, and the emphasis of the governing principles which must be assimilated by humanity. [15-11] These ideas, when grasped by the aspirant bring about two developments. First, they initiate a period of destruction and of a breaking up of that which is old and hindering, and this is later followed by the clear shining forth of the new idea and its subsequent grasping by the minds of intelligent humanity. [15-12] These ideas embody great [141] principles, and constitute the New Age ideas. These servers, therefore, work as God’s destroying angels, destroying the old forms, but nevertheless, behind it all lies the impetus of love. [15-13] |
Cung I. Những người phụng sự trên cung này, nếu họ là các đệ tử được đào tạo, làm việc thông qua những gì có thể được gọi là sự áp đặt Ý Chí của Thượng đế lên tâm trí của con người. Họ thực hiện điều này thông qua tác động mạnh mẽ của các ý tưởng lên tâm trí của con người, và bằng việc nhấn mạnh của các nguyên tắc chi phối mà nhân loại phải tiếp thu. Những ý tưởng này, khi được người chí nguyện nắm bắt, mang lại hai sự phát triển. Trước hết, chúng khởi động một giai đoạn hủy diệt và phá vỡ những gì đã cũ và gây trở ngại, và sau đó là sự toả sáng rõ ràng của ý tưởng mới cùng với việc ý tưởng ấy được tâm trí của nhân loại thông tuệ tiếp nhận. Những ý tưởng này hàm chứa các nguyên lý vĩ đại [141], cấu thành nên các ý tưởng của Thời Đại Mới. Vì vậy, những người phụng sự này làm việc như các thiên thần hủy diệt của Thượng Đế, phá hủy các hình tướng cũ, nhưng dẫu vậy, đằng sau tất cả vẫn là xung lực của bác ái. |
|
With the average aspirant, however, who is on the first ray, the activity is not so intelligent. He grasps the idea that is needed by the race, but he will seek to impose it primarily as his idea, something which he has seen and grasped and which impatiently he seeks to impose upon his fellow men for their good, as he sees it. [15-14] He inevitably destroys as fast as he builds, and finally destroys himself. Many worthy aspirants and disciples in training for service at this time work in this sad way. [15-15] |
Tuy nhiên, đối với người chí nguyện trung bình thuộc cung một, y hoạt động không thông minh như vậy. Y nắm bắt được ý tưởng mà nhân loại đang cần đến, nhưng trước hết y sẽ tìm cách áp đặt nó như là ý tưởng của riêng mình, như một điều mà y đã thấy và đã nắm được, và với sự nôn nóng, y tìm cách áp đặt điều đó lên những người đồng loại của mình vì lợi ích của họ, theo cách mà y nhìn nhận. Vì thế, y phá hủy nhanh chóng không kém gì tốc độ xây dựng, và cuối cùng tự hủy diệt chính mình. Hiện nay, nhiều người chí nguyện đáng trân trọng và các đệ tử đang được huấn luyện cho công cuộc phụng sự vẫn làm việc theo cách đáng buồn này. |
|
Some of the Masters of the Wisdom and Their groups of disciples are actively engaged at this time in an endeavor to impose certain basic and needed ideas upon the races of men, and much of Their work is being prepared for by a group of Destroying Disciples, and also by a group of Enunciating Disciples, for these two types of work carry forward their task as a unit. [15-16] The idea to be dominant in the future is proclaimed in writing and by the voice, by one Group. The Group of Destroyers takes it up, and proceed to break up the old forms of truth so as to make room and way for the new emerging idea. [15-17] |
Hiện nay, một số Chân sư Minh triết và các nhóm đệ tử của Các Ngài đang tích cực tham gia vào một nỗ lực áp đặt một số ý tưởng cơ bản và cần thiết lên các chủng tộc của con người, và nhiều công việc của Các Ngài đang được chuẩn bị bởi một nhóm Đệ tử Hủy diệt, cũng như bởi một nhóm Đệ tử Tuyên xướng, vì hai loại công tác này cùng nhau tiến hành nhiệm vụ của mình như một đơn vị. Ý tưởng sẽ giữ vai trò chủ đạo trong tương lai được một Nhóm công bố qua văn bản và qua tiếng nói. Nhóm Hủy Diệt tiếp nhận ý tưởng ấy, và tiến hành phá vỡ các hình thức chân lý cũ để dọn đường và tạo chỗ cho ý tưởng mới đang xuất hiện. |
|
Ray II. Servers on this ray ponder, meditate upon and assimilate the new ideas associated with the Plan, and by the power of their attractive love, they gather together those who are at that point in their evolution where they can respond to the measure and rhythm of that Plan. [15-18] They can select, and train those who can “carry” the idea deeper into the mass of humanity. We should not forget that the work of the Hierarchy at this time, and the task of the new Group of World Servers is primarily associated with ideas. [15-19] The disciples [142] and servers on the second Ray are “busy building habitations for those dynamic entities whose function it has ever been to charge the thoughts of men and so to usher in that new and better age which will permit the fostering of the souls of men.” So runs the Old Commentary, if I thus modernise its ancient wording. [15-20] By magnetic, attractive, sympathetic understanding, and the use use of slow action, based on love, do the servers on this ray work. Today their power is becoming dominant. [15-21] |
Cung II. Những người phụng sự trên cung này suy ngẫm, tham thiền và đồng hóa những ý tưởng mới liên quan đến Thiên Cơ, và nhờ sức mạnh của tình thương mang tính thu hút của họ, họ quy tụ lại những ai đang ở điểm tiến hóa mà tại đó họ có thể đáp ứng nhịp độ và nhịp điệu của Thiên Cơ đó. Họ có thể chọn lựa và huấn luyện những người có khả năng “mang” ý tưởng đi sâu hơn vào đại chúng nhân loại. Chúng ta không nên quên rằng công việc của Thánh Đoàn vào lúc này, và nhiệm vụ của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian chủ yếu liên quan đến các ý tưởng. Các đệ tử [142] và những người phụng sự trên cung hai đang “bận rộn xây dựng nơi cư ngụ cho những thực thể năng động mà chức năng của chúng từ xưa đến nay vẫn luôn là nạp năng lượng cho tư tưởng của con người, và nhờ đó mở ra một kỷ nguyên mới, tốt đẹp hơn, cho phép nuôi dưỡng linh hồn của con người.” Cổ Luận đã viết như vậy, nếu Tôi hiện đại hóa lời lẽ cổ xưa của nó. Bằng sự thấu hiểu từ tính, thu hút, đồng cảm, và bằng việc sử dụng hành động chậm rãi, dựa trên tình thương, những người phụng sự trên cung này hoạt động. Ngày nay, sức mạnh của họ đang trở nên chiếm ưu thế. |
|
Ray III. The servers on this ray have a special function at this time in stimulating the intellect of humanity, sharpening it and inspiring it. They work, manipulating ideas so as to make them more easy of comprehension by the mass of intelligent men and women who are to be found in the world ar this time and whose intuition is not yet awakened. [15-22] It is to be noted how the work of the true servers is largely with the new ideas and not with the business of organisation and of criticism (for these two go hand in hand). Ideas are taken by the third ray aspirant, as they emerge from the elevated consciousness of Those for whom the first ray works and are rendered attractive by the second ray worker (attractive in the esoteric sense) and adapted to the immediate need and rendered vocal by the force of the intellectual third ray types. In this lies a hint for many of the third ray personalities to be found working in various fields of service at this time. [15-23] |
Cung Ba. Những người phụng sự trên cung này hiện nay có một chức năng đặc biệt trong việc kích thích trí tuệ của nhân loại, làm cho trí tuệ ấy trở nên sắc bén hơn và khơi gợi nguồn cảm hứng cho nó. Họ làm việc bằng cách thao tác với các ý tưởng, sao cho những ý tưởng ấy trở nên dễ hiểu hơn đối với khối đông những người nam và nữ thông tuệ hiện đang có mặt trên thế giới, và những người mà trực giác vẫn chưa được đánh thức. Cần lưu ý rằng công việc của các người phụng sự đích thực phần lớn gắn liền với các ý tưởng mới, chứ không phải với công việc tổ chức hay phê phán (vì hai điều này luôn song hành với nhau). Các ý tưởng được người chí nguyện cung ba tiếp nhận, khi chúng xuất hiện từ tâm thức cao siêu của Những Đấng mà cung một phụng sự, và được người hoạt động cung hai làm cho hấp dẫn (hấp dẫn theo nghĩa huyền bí) rồi được điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu cấp bách và được chuyển thành lời bởi mãnh lực của những người thuộc loại trí tuệ cung ba. Chính trong đó có một gợi ý cho nhiều phàm ngã cung ba đang hoạt động trong nhiều lĩnh vực phụng sự khác nhau vào lúc này. |
|
Ray IV. This ray is not in incarnation at the time and therefore few fourth ray egos are available in world service. There are, however, many fourth ray personalities and they can learn much by the study of the work of the New Group of World Servers. [15-24] The major task of the fourth ray aspirant is to harmonise the new ideas with the old, so that there can be no dangerous gap or break. They are those who bring [143] about a “righteous compromise”, and adapt the new and the old so that the true pattern is preserved. [15-25] They are engaged with the bridging process, for they are the true intuitives and have a capacity for the art of synthesis so that their work most definitely can help in bringing forward a true presentation of the divine picture. [15-26] |
Cung IV. Cung này không lâm phàm vào lúc này, và do đó ít chân ngã cung bốn sẵn có trong công việc phụng sự thế gian. Tuy nhiên, có nhiều phàm ngã cung bốn và họ có thể học hỏi nhiều qua việc nghiên cứu công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nhiệm vụ chính của người chí nguyện cung bốn là hài hòa các ý tưởng mới với những ý tưởng cũ, sao cho không có khoảng cách hay sự đứt đoạn nguy hiểm nào. Họ là những người mang lại [143] một “sự thỏa hiệp chính đáng”, và điều chỉnh cái mới và cái cũ sao cho mô hình chân thực được bảo tồn. Họ tham gia vào tiến trình bắt cầu, vì họ là những người trực giác đích thực và có khả năng về nghệ thuật tổng hợp để công việc của họ chắc chắn nhất có thể giúp đưa ra một sự trình bày chân thực về bức tranh thiêng liêng. |
|
Ray V. The servers on this ray are coming rapidly into prominence. They are those who investigate the form in order to find its hidden idea, its motivating power, and to this end they work with ideas, proving them either true or false. [15-27] They gather into their ranks those whose personalities are on this ray and train them in the art of scientific investigation. From the sensed spiritual ideas, lying behind the form side of manifestation, from the many discoveries in the ways of God with man and nature, from the inventions (which are but materialised ideas) and from the witness to the Plan which law portrays, they are preparing that new world in which men will work and live a more deeply conscious, spiritual life. [15-28] Disciples working along these lines in every country today are more active than at any other time in human history. They are, knowingly and unknowingly, leading men into the world of meaning, and their discoveries will eventually end the present era of unemployment, and their inventions and improvements, added to the steadily growing idea of group interdependence (which is the major message of the New Group of World Servers) will eventually ameliorate human conditions so that an era of peace and leisure can supervene. [15-29] You will note that I do not say “will supervene”, for not even the Christ Himself can predict exactly the time limit within which changes can eventuate, nor the reaction of humanity to any given point of revelation. [15-30] |
Cung Năm. Những người phụng sự trên cung này đang nhanh chóng trở nên nổi bật. Họ là những người khảo sát hình tướng để tìm ra ý tưởng ẩn giấu bên trong nó, quyền năng thúc đẩy của nó, và vì mục đích này họ làm việc với các ý tưởng, kiểm chứng chúng là đúng hay sai. Họ quy tụ vào hàng ngũ của mình những người có phàm ngã thuộc cung này và huấn luyện họ trong nghệ thuật khảo cứu khoa học. Từ những ý tưởng tinh thần được cảm nhận, vốn nằm phía sau phương diện hình tướng của sự biểu lộ, từ nhiều khám phá về các con đường của Thượng Đế đối với con người và thiên nhiên, từ các phát minh (chỉ là những ý tưởng được vật chất hóa), và từ sự chứng thực cho Thiên Cơ mà định luật phác họa, họ đang chuẩn bị cho thế giới mới, trong đó con người sẽ làm việc và sinh sống với một đời sống tinh thần có tâm thức sâu sắc hơn. Ngày nay, các đệ tử làm việc theo những đường hướng này tại mọi quốc gia đang hoạt động tích cực hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong lịch sử nhân loại. Họ, một cách có ý thức hoặc vô thức, đang dẫn dắt con người bước vào thế giới của ý nghĩa, và các khám phá của họ cuối cùng sẽ chấm dứt kỷ nguyên thất nghiệp hiện nay; các phát minh và cải tiến của họ, khi được bổ sung vào ý tưởng ngày càng tăng về sự phụ thuộc lẫn nhau của nhóm (là thông điệp chủ yếu của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian), rốt cuộc sẽ cải thiện các điều kiện nhân loại đến mức một kỷ nguyên hòa bình và nhàn hạ có thể xuất hiện. Các bạn sẽ lưu ý rằng tôi không nói “sẽ xuất hiện”, vì ngay cả chính Đức Christ cũng không thể tiên đoán một cách chính xác giới hạn thời gian trong đó những thay đổi ấy có thể xảy ra, cũng như phản ứng của nhân loại trước bất kỳ một điểm mặc khải nào. |
|
Ray VI. The effect of the activity of this ray, during the past two thousand years, has been to train humanity in the [144] art of recognising ideals, which are the blue prints of ideas. [15-31] The main work of the disciples on this ray is to capitalise on the developed tendency of humanity to recognise ideas, and—avoiding the rocks of fanaticism, and the dangerous shoals of superficial desire—train the world thinkers so ardently to desire the good, the true and the beautiful, that the idea which should materialise in some form on earth can shift from the plane of the mind and clothe itself in some form on earth. [15-32] These disciples and servers work consciously with the desire element in man; they work scientifically with its correct evocation. [15-33] Their technique is scientific because it is based upon a right understanding of the human material with which they have to work. [15-34] |
Cung VI. Hiệu quả của hoạt động cung này, trong suốt hai ngàn năm qua, là huấn luyện nhân loại trong [144] nghệ thuật nhận biết các lý tưởng, vốn là những bản thiết kế của các ý tưởng. Công việc chính của các đệ tử trên cung này là tận dụng khuynh hướng đã phát triển của nhân loại trong việc nhận biết các ý tưởng, và — tránh những tảng đá cuồng tín, cùng những bãi cạn nguy hiểm của ham muốn hời hợt — huấn luyện các nhà tư tưởng trên thế giới khao khát một cách nhiệt thành điều thiện, điều chân và điều mỹ, để ý tưởng cần hiện thực hóa dưới hình thức nào đó trên trái đất có thể chuyển từ cõi trí và khoác lấy một hình tướng nào đó trên trái đất. Các đệ tử và những người phụng sự này hoạt động một cách có ý thức với yếu tố ham muốn trong con người; họ làm việc một cách khoa học với sự khơi gợi đúng đắn của nó. Kỹ thuật của họ mang tính khoa học vì nó dựa trên sự thấu hiểu đúng đắn về chất liệu con người mà họ phải làm việc cùng. |
|
END of LOTSWC 15, EP II 144 |
Webinar 16 [-> Bình Giảng]
|
Some people have to be galvanised into activity by an idea. With these the first ray disciple can be effective. Others can be reached more easily by an ideal, and will then subordinate their personal lives and wishes to that ideal. [16-1] With these the sixth ray disciple works with facility, and this he should endeavor to do, teaching men to recognise the truth, holding steadily before them the ideal, restraining them from a too energetic and fanatical display of interest, in the need for the long pull. [16-2] The sixth ray, it should be remembered, when it constitutes the personality ray of a man or a group, can be far more destructive than the first ray, for there is not so much wisdom to be found, and, as it works through desire of some kind, it is following the line of least resistance for the masses, and can therefore the more easily produce physical plane effects. [16-3] Sixth ray people need handling with care, for they are too one pointed and too full of personal desire, and the tide of evolution has been with this type for a very long time. But the sixth ray method of evoking desire for the materialising of an ideal is indispensable, and, fortunately, there are many aspirants and disciples on this ray available today. [16-4] |
Một số người phải được kích hoạt vào hoạt động bởi một Ý tưởng. Với những người này, đệ tử cung một có thể tỏ ra hữu hiệu. Những người khác có thể được tiếp cận dễ dàng hơn qua một lý tưởng, và khi ấy họ sẽ đặt đời sống và ước muốn cá nhân của mình dưới lý tưởng đó. Với những người này, đệ tử cung sáu làm việc một cách thuận lợi, và y nên nỗ lực làm như vậy, dạy con người nhận ra chân lý, luôn giữ vững trước mắt họ lý tưởng ấy, kiềm chế họ khỏi sự biểu lộ quá mãnh liệt và cuồng tín của sự quan tâm, bởi nhu cầu của một nỗ lực lâu dài. Cần nhớ rằng cung sáu, khi cấu thành cung phàm ngã của một người hay một nhóm, có thể mang tính hủy diệt còn hơn cả cung một, vì ở đó không có nhiều minh triết, và do nó hoạt động qua một loại dục vọng nào đó, nó đi theo con đường ít trở ngại nhất đối với quần chúng, và do đó càng dễ tạo ra những hiệu quả trên cõi hồng trần. Những người cung sáu cần được xử lý cẩn trọng, vì họ quá nhất tâm và quá đầy dục vọng cá nhân, và dòng triều tiến hoá đã đứng về phía kiểu người này trong một thời gian rất dài. Nhưng phương pháp của cung sáu trong việc gợi lên ham muốn để hiện thực hóa một lý tưởng là không thể thiếu, và may thay, ngày nay có nhiều người chí nguyện và đệ tử thuộc cung này sẵn sàng đảm nhiệm. |
|
[145] |
|
|
Ray VII. This ray provides at this time an active and necessary grouping of disciples who are eager to aid the Plan. Their work lies naturally on the physical plane. They can organise the evoked ideal which will embody as much of the idea of God as the period and humanity can evidence and produce in form upon the earth. [16-5] Their work is potent and necessary and calls for much skill in action. This is the ray that is coming into power. None of these ray participants in the hierarchical crusade today can really work without each other, and no group can carry on alone. [16-6] The difference between the methods of the old age and that of the new can be seen expressed in the idea of leadership by one and leadership by a group. It is the difference between the imposition of an individual’s response to an idea upon his fellow men and the reaction of a group to an idea, producing group idealism and focalising it into definite form, carrying forward the emergence of the idea without the dominance of any one individual. [16-7] This is the major task today of the seventh ray disciple, and to this end he must bend every energy. He must speak those Words of Power which are a group word, and embody the group aspiration in an organised movement, which, it will be noted is quite distinct from an organisation. [16-8] A striking instance of the use of such a Word of Power being enunciated by a group has lately been given in the Great Invocation which has been used with marked effect. It should continue to be used, for it is the inaugurating mantram of the incoming seventh ray. This is the first time such a mantram has been brought to the attention of humanity. [16-9] |
Cung VII. Cung này hiện đang cung cấp một nhóm đệ tử tích cực và cần thiết, những người đang háo hức trợ giúp Thiên Cơ. Công việc của họ đương nhiên nằm trên cõi hồng trần. Họ có thể tổ chức lý tưởng được gợi lên, lý tưởng sẽ thể hiện được nhiều bao nhiêu ý tưởng của Thượng đế mà thời kỳ và nhân loại có thể chứng tỏ và tạo ra trong hình tướng trên trái đất. [16-5] Công việc của họ rất mạnh mẽ và cần thiết, và đòi hỏi nhiều kỹ năng trong hành động. Đây là cung đang đi vào quyền lực. Không một người hoạt động dưới bất kỳ cung nào trong công cuộc của Thánh đoàn hiện nay có thể thực sự làm việc một cách trọn vẹn nếu tách rời khỏi những cung khác. [16-6] Sự khác biệt giữa phương pháp của thời đại cũ và thời đại mới có thể được thấy biểu hiện trong ý tưởng về sự lãnh đạo bởi một cá nhân và sự lãnh đạo bởi một nhóm. Đó là sự khác biệt giữa việc áp đặt sự đáp ứng của một cá nhân đối với một ý tưởng lên đồng loại và sự phản ứng của một nhóm đối với một ý tưởng, tạo ra chủ nghĩa lý tưởng nhóm và tập trung nó thành hình thức xác định, đưa ý tưởng tiến tới mà không có sự thống trị của bất kỳ một cá nhân nào. [16-7] Đây là nhiệm vụ chính yếu ngày nay của đệ tử cung bảy, và y phải dồn mọi năng lượng vì mục đích này. Y phải nói những Quyền năng từ vốn là linh từ của nhóm, và thể hiện khát vọng nhóm trong một phong trào có tổ chức, và cần lưu ý rằng, nó hoàn toàn khác biệt với một tổ chức. [16-8] Một ví dụ nổi bật về việc sử dụng một Quyền năng từ như vậy được một nhóm xướng lên gần đây đã được thể hiện trong Đại Khấn Nguyện, vốn đã được sử dụng với hiệu quả đáng kể. Nó nên tiếp tục được sử dụng, vì đây là mantram khai mở của cung bảy đang đến. Đây là lần đầu tiên một mantram như vậy được đưa đến sự chú ý của nhân loại. [16-9] |
|
All these rays work today for the carrying out of a specific group idea of seven Masters Who, through Their picked and chosen servers, are actively participating in the work which is the initiator work of the seventh ray. It is also linked up with the incoming Aquarian influence. [16-10] The Masters, [146] with their large group of disciples, functioning on all the five planes of human unfoldment, have studied minutely Their accepted disciples, the disciples under supervision and not yet accepted, and the aspirants of the world. [16-11] They have selected a number of them to weld together into a group upon the outer physical plane. The basis of this selection is:— |
Ngày nay, tất cả các cung này đang hoạt động nhằm thực hiện một Ý tưởng nhóm đặc thù của bảy Chân sư, những Đấng qua các phụng sự viên được tuyển chọn của Các Ngài đang tích cực tham dự vào công việc vốn là công việc khởi xướng của cung bảy. Điều này cũng được liên kết với ảnh hưởng Bảo Bình đang đi vào. Các Chân sư, [146] cùng với nhóm đông đảo các đệ tử của Các Ngài, đang hoạt động trên cả năm cõi của sự khai mở nhân loại, đã nghiên cứu tỉ mỉ các đệ tử chính thức của Các Ngài, các đệ tử đang được giám sát nhưng chưa được chấp nhận, và những người chí nguyện của thế giới. Các Ngài đã tuyển chọn một số người trong họ để kết hợp lại thành một nhóm trên cõi hồng trần bên ngoài. Nền tảng của sự tuyển chọn này là:— |
|
a. Sensitivity to the Aquarian influence. |
a. Sự nhạy cảm với ảnh hưởng Bảo Bình. |
|
b. Willingness to work in a group as an integral part of the group, and having no idea of personal ambition or any wish to be a leader. [16-12] Where the desire to be a leader exists, that disciple is automatically (though only temporarily) disqualified for this particular endeavor. He can still do good work, but it will be secondary work, and more closely affiliated with the old age than with the work of the New Group of World Servers. [16-13] |
b. Sự sẵn lòng làm việc trong một nhóm như một phần không thể tách rời của nhóm, và không có ý tưởng về tham vọng cá nhân hay bất kỳ mong muốn nào được làm lãnh đạo. Khi tồn tại ham muốn muốn làm lãnh đạo, thì đệ tử ấy tự động (dù chỉ tạm thời) bị loại khỏi nỗ lực đặc biệt này. Y vẫn có thể thực hiện công việc tốt, nhưng đó sẽ là công việc thứ yếu, và gắn bó mật thiết hơn với thời đại cũ hơn là với công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. |
|
c. A dedication that holds nothing back that can rightly be given. |
c. Một sự tận hiến không giữ lại điều gì có thể được hiến dâng một cách đúng đắn. |
|
d. A harmlessness which, though not yet perfected, exists as an ideal towards which the aspirant is constantly striving. [16-14] |
d. Một tính vô tổn hại, dù chưa được hoàn thiện, vẫn tồn tại như một lý tưởng mà người chí nguyện không ngừng phấn đấu hướng tới. |
|
In this work many can have a part. The Law of Service has been thus outlined in an endeavor to make one of the most esoteric influences in the solar system somewhat clearer in our minds. [16-15] I call you to service, but would remind you that the service discussed here will only be possible when we have a clearer vision of the goal of meditation, and learn to preserve, during the day, the attitude of inner spiritual orientation. [16-16] As we learn to obliterate and efface out of our consciousness ourselves as the central figure in our life drama, then and then only can we measure up to our real potentialities as servers of the Plan. |
Trong công việc này, nhiều người có thể tham gia. Định luật Phụng sự đã được phác thảo như vậy trong một nỗ lực để làm cho một trong những ảnh hưởng huyền bí nhất trong hệ mặt trời trở nên rõ ràng hơn trong tâm trí của chúng ta. Tôi kêu gọi bạn phụng sự, nhưng muốn nhắc nhở bạn rằng phụng sự được thảo luận ở đây chỉ có thể khi chúng ta có một tầm nhìn rõ ràng hơn về mục tiêu của tham thiền, và học cách duy trì, trong suốt cả ngày, thái độ định hướng tinh thần nội tại. Khi chúng ta học cách xóa bỏ và xóa khỏi tâm thức của mình bản thân mình như là nhân vật trung tâm trong vở kịch cuộc đời của mình, thì và chỉ khi đó chúng ta mới có thể đo lường được tiềm năng thực sự của mình như những người phụng sự của Thiên Cơ. |
|
[End of LOTSWC 16, p. 146 |
Webinar 17 [-> Bình Giảng]
Beginning on LOTSWC 17, 147-151
4. The Law of Repulse—Định luật Đẩy Lùi
|
We have here a most interesting law to consider. It is one of the major divine laws with which the Pilgrim has much to do on his weary, age-long way, back to the centre. It is the fourth law governing or controlling the life of the soul. [17-1] |
Ở đây chúng ta có một định luật hết sức thú vị để suy xét. Đây là một trong những định luật thiêng liêng chủ yếu mà Người Lữ Hành có liên hệ nhiều trên con đường mệt mỏi, kéo dài qua các thời đại, trở về trung tâm. Đây là định luật thứ tư chi phối hay kiểm soát đời sống của linh hồn. |
|
No. |
Exoteric Name |
Esoteric Name |
Symbol |
Ray Energy |
|
4. |
Law of Repulse. 1 |
The Law of all Destroying Angels |
The Angel with the Flaming Sword |
The Rejecting Energy of the First Ray. |
|
Định luật Đẩy Lùi. 2 |
Định luật của tất cả các Thiên thần Hủy diệt |
Thiên Thần với Thanh Kiếm Lửa |
Năng lượng Khước từ của Cung một. |
|
Trước hết, cần nhận ra rằng định luật này có một số đặc điểm và các hiệu quả căn bản, có thể được liệt kê ngắn gọn như sau:— |
|
|
1. The energy displayed is dissipating in its effect. This law works as a dispersing agent. [17-2] |
1. Năng lượng được biểu lộ có tác dụng làm tiêu tan. Định luật này hoạt động như một tác nhân phân tán. |
|
2. When in active expression, it causes an active scattering or rejection of the aspects of form life. [17-3] |
2. Khi được biểu hiện một cách năng động, nó gây ra sự tản mác hay khước từ tích cực đối với các phương diện của đời sống hình tướng. |
|
3. It produces a discriminating contact which leads eventually to what is esoterically called “the Way of divine refusal.” [17-4] |
3. Nó tạo ra một sự tiếp xúc có tính phân biện, rốt cuộc dẫn đến điều mà một cách huyền bí được gọi là “Con đường của sự từ chối thiêng liêng.” |
|
4. It is, nevertheless, an aspect of the Law of Love, of the Vishnu or Christ aspect, and concerns an attitude of the soul, whose essential nature is love. [17-5] |
4. Tuy vậy, nó là một phương diện của Định luật Bác Ái, của phương diện Vishnu hay Đức Christ, và liên quan đến một thái độ của linh hồn, mà bản chất thiết yếu là bác ái. |
|
5. This law expresses itself through the mind nature, and therefore can only make its presence and influence felt upon the Path of Discipleship. [17-6] |
5. Định luật này biểu lộ qua bản chất thể trí, và vì thế chỉ có thể làm cho sự hiện diện và ảnh hưởng của nó được cảm nhận trên Con Đường Đệ Tử. |
|
6. It is the prime pre-requisite to true self-knowledge. It reveals at the same time that it divides or scatters. [17-7] |
6. Nó là điều kiện tiên quyết hàng đầu cho sự tự tri chân chính. Đồng thời, nó bộc lộ rằng nó phân chia hay làm tản mác. |
|
7. It works through love and for the interest of the unit,—the form and the existence which finally repulses the form. [148] [17-8] |
7. Nó hoạt động qua bác ái và vì lợi ích của đơn vị,—hình tướng và sự hiện hữu mà rốt cuộc đẩy lùi hình tướng. [148] |
|
8. It is an aspect of one of the greatest cosmic laws, the Law of the Soul, which is the cosmic Law of Attraction, for that which is attracted in time is automatically and eventually repulsed by that which attracted it in the first instance. [17-9] |
8. Nó là một phương diện của một trong những định luật vũ trụ vĩ đại nhất, Định luật của Linh hồn, vốn là Định luật Hấp Dẫn vũ trụ, vì điều được hấp dẫn theo thời gian sẽ tự động và rốt cuộc bị đẩy lùi bởi chính điều đã hấp dẫn nó ngay từ ban đầu. |
|
This law is one which primarily begins to impress the divine purpose upon the consciousness of the aspirant, and dictates to him those higher impulses and those spiritual decisions which mark his progress upon the Path. [17-10] It is the demonstration of the first ray quality (a subray influence of the second ray), for it should be remembered that to repulse a form, a situation or a condition may be the evidence of spiritual love in the agent of repulsion. [17-11] This is well pictured for us in the ancient symbol of the Angel with the flaming sword, who stands before the gate of Paradise to turn away those who seek the fancied security of that shelter and condition. This angel acts in love, and has so acted down the ages, for that state of realisation which we call Paradise is a place of essential danger for all, save those who have earned the right to sojourn there. [17-12] The angel protects the unready aspirant (not the place which he seeks to enter) and safeguards him from the risks and perils of that initiation which must be undergone before he can pass through the five divisions of Paradise to the place where light dwells and the Masters of the Wisdom live and work. [17-13] This is the thought which lies behind the Masonic procedure whereby the Tyler stands outside the door of the Lodge with a drawn sword to protect the secrets of the Craft from the unready. [17-14] |
Định luật này là điều trước hết bắt đầu in dấu Thiên Ý lên tâm thức của người chí nguyện, và chỉ định cho y những xung lực cao hơn và những quyết định tinh thần đánh dấu sự tiến bộ của y trên Thánh đạo. Nó là sự biểu lộ phẩm tính cung một (một ảnh hưởng cung phụ của cung hai), vì cần nhớ rằng việc đẩy lùi một hình tướng, một tình huống hay một điều kiện có thể là bằng chứng của bác ái tinh thần nơi tác nhân đẩy lùi. Điều này được minh hoạ rõ cho chúng ta trong biểu tượng cổ xưa về Thiên Thần với thanh gươm rực lửa, đứng trước cổng Thiên Đàng để xua những kẻ tìm kiếm sự an toàn tưởng tượng của nơi trú ẩn và điều kiện ấy. Thiên Thần này hành động trong bác ái, và đã hành động như vậy qua các thời đại, vì trạng thái chứng nghiệm mà chúng ta gọi là Thiên Đàng là một nơi nguy hiểm thiết yếu đối với tất cả, trừ những ai đã xứng đáng với quyền được lưu trú ở đó. Thiên Thần bảo vệ người chí nguyện chưa sẵn sàng (không phải bảo vệ nơi chốn mà y tìm cách bước vào) và che chở y khỏi các rủi ro và hiểm nguy của cuộc điểm đạo mà y phải trải qua trước khi có thể đi qua năm phân khu của Thiên Đàng đến nơi ánh sáng ngự trị và các Chân sư Minh triết sống và làm việc. Đây là tư tưởng nằm sau thủ tục của Hội Tam Điểm, theo đó người Tyler đứng bên ngoài cửa của Hội Quán với thanh gươm tuốt trần để bảo vệ các bí mật của Hội khỏi những kẻ chưa sẵn sàng. |
|
I would remind you also that as this law is an aspect of the fundamental Law of Love, it concerns the psyche or soul, and therefore its function is to further the spiritual interests of the true man, and to demonstrate the power of the second [149] aspect, the Christ consciousness, and the power of divinity. [17-15] It “rejects the undesirable in order to find that which the heart craves, and thus leads the weary pilgrim from one rejection to another, until with unerring choice he makes the Great Decision.” This is quoted from the Old Commentary. [17-16] |
Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng vì định luật này là một phương diện của Định luật Bác Ái nền tảng, nó liên quan đến tâm hồn hay linh hồn, và do đó chức năng của nó là thúc đẩy các lợi ích tinh thần của con người chân thật, và biểu lộ quyền năng của phương diện thứ hai, tâm thức Đức Christ, và quyền năng của thiên tính. Nó “khước từ điều không đáng muốn để tìm ra điều mà trái tim khao khát, và như vậy dẫn người lữ hành mệt mỏi từ sự khước từ này đến sự khước từ khác, cho đến khi với sự lựa chọn không sai lầm, y đưa ra Quyết Định Vĩ Đại.” Đây là trích dẫn từ Cổ Luận. |
|
We will divide what we have to say about the functioning and effect of the Law of Repulse into three parts:— [17-17] |
Chúng ta sẽ chia điều cần nói về sự vận hành và tác dụng của Định luật Đẩy Lùi thành ba phần:— |
|
a. The Law of Repulse, and the function and quality of desire. |
a. Định luật Đẩy Lùi, và chức năng cùng phẩm tính của dục vọng. |
|
b. The Law of Repulse, as it expresses itself upon the Paths of Discipleship and Initiation. |
b. Định luật Đẩy Lùi, như nó biểu lộ trên Con Đường Đệ Tử và Con Đường Điểm Đạo. |
|
c. The Law of Repulse, as it “drives in seven directions, and forces all that it contacts back unto the bosom of the seven spiritual Fathers.” [17-18] |
c. Định luật Đẩy Lùi, như nó “thúc đẩy theo bảy hướng, và buộc tất cả những gì nó tiếp xúc phải trở về trong lòng của bảy Đấng Cha tinh thần.” |
|
This law works through the soul in all forms. It does not literally affect matter, except in so far as form is affected when the soul “withdraws”, or occultly “repudiates.” It will be apparent, therefore, that our understanding of its activity will depend largely upon the measure of soul force of which we may individually be aware, and the extent of our soul contact. [17-19] Our point upon the ladder of evolution will govern our manipulation of this law (if such a term may be used), and determine our capacity to be sensitive to its impact. [17-20] If we are unable to respond to its influence in any measure, that in itself is sufficient to indicate our development. Unless the mind is active, and unless we are beginning intelligently to use the mind, there is no medium or channel through which this influence can flow or work. [17-21] Never let it be forgotten that this influence or law of our spiritual being is that which reveals the will, plan or purpose of the divine life, as it expresses itself in the individual or in humanity as a whole. [17-22] Let us never forget that unless there is a thread of light to act as [150] a channel, that which this law can convey will remain unknown, unrealised and useless. These laws are the laws which govern predominantly the Spiritual Triad, that divine Triplicity which expresses itself through the medium of the soul, just as the three aspects of the soul, in their turn, reflect themselves through the personality. [17-23] |
Định luật này hoạt động qua linh hồn trong mọi hình tướng. Nó không tác động trực tiếp lên vật chất, ngoại trừ ở mức hình tướng bị ảnh hưởng khi linh hồn “rút lui”, hay một cách huyền bí “khước từ.” Vì vậy, sẽ rõ rằng sự thấu hiểu của chúng ta về hoạt động của nó phần lớn tuỳ thuộc vào mức độ mãnh lực linh hồn mà mỗi người chúng ta có thể tự nhận biết, và mức độ tiếp xúc linh hồn của chúng ta. Điểm đứng của chúng ta trên chiếc thang tiến hoá sẽ chi phối sự vận dụng định luật này (nếu có thể dùng một thuật ngữ như vậy), và quyết định năng lực của chúng ta trong việc nhạy cảm với tác động của nó. Nếu chúng ta không thể đáp ứng ảnh hưởng của nó ở bất kỳ mức độ nào, thì chính điều đó cũng đủ để chỉ ra sự phát triển của chúng ta. Nếu thể trí không hoạt động, và nếu chúng ta chưa bắt đầu sử dụng thể trí một cách thông minh, thì không có môi trường hay kênh dẫn nào để ảnh hưởng này có thể tuôn chảy hay hoạt động. Đừng bao giờ quên rằng ảnh hưởng hay định luật của bản thể tinh thần của chúng ta chính là điều bộc lộ ý chí, Thiên Cơ hay mục đích của sự sống thiêng liêng, như nó biểu lộ trong cá nhân hay trong toàn thể nhân loại. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng nếu không có một sợi chỉ ánh sáng làm kênh dẫn, thì điều mà định luật này có thể truyền tải sẽ vẫn không được biết đến, không được chứng nghiệm và vô dụng. Những định luật này là các định luật chủ yếu chi phối Tam Nguyên Tinh Thần, bộ Ba thiêng liêng ấy biểu lộ qua môi trường của linh hồn, cũng như ba phương diện của linh hồn, đến lượt chúng, phản chiếu qua phàm ngã. |
|
Therefore, all that can be imparted in connection with this law can be comprehended only by the man who is beginning to be spiritually awakened. The three laws which we have already considered deal with the specific spiritual influences which emanate from the three tiers of petals which compose the egoic lotus. [17-24] (See page 823 of A Treatise on Cosmic Fire.) |
Vì vậy, tất cả những gì có thể được truyền đạt liên quan đến định luật này chỉ có thể được lĩnh hội bởi người đang bắt đầu được đánh thức về mặt tinh thần. Ba định luật mà chúng ta đã xét trước đó bàn đến các ảnh hưởng tinh thần đặc thù phát xuất từ ba tầng cánh hoa cấu thành Hoa Sen Chân Ngã. (Xem trang 823 của Luận về Lửa Vũ Trụ.) |
|
1. The Law of Sacrifice |
The Petals of Sacrifice. The sacrificial will of the Soul. |
|
Định luật Hi sinh |
Các Cánh hoa Hi sinh. Ý chí hi sinh của Linh hồn. |
|
2. The Law of Magnetic Impulse |
The Petals of Love. |
|
Định luật Xung Động Từ Tính |
Các Cánh hoa Tình thương/Bác ái. |
|
3. The Law of Service |
The Petals of Knowledge. |
|
Định luật Phụng sự |
Các Cánh hoa Tri thức. |
|
This fourth Law of Repulse works through the first Law of Sacrifice and carries to the aspirant the quality, influence and tendency of the Spiritual Triad, the threefold expression of the Monad. [17-25] Its full force is felt only after the third initiation, in which the power of the Spirit is, for the first time, consciously felt. Up to that time it has been the growing control of the soul which was primarily registered. Therefore we have:— [17-26] |
Định luật Đẩy Lùi thứ tư này hoạt động qua Định luật Hi Sinh thứ nhất và mang đến cho người chí nguyện phẩm tính, ảnh hưởng và khuynh hướng của Tam Nguyên Tinh Thần, sự biểu lộ tam phân của Chân Thần. Mãnh lực trọn vẹn của nó chỉ được cảm nhận sau lần điểm đạo thứ ba, trong đó quyền năng của Tinh thần lần đầu tiên được cảm nhận một cách hữu thức. Cho đến lúc ấy, điều chủ yếu được ghi nhận là sự kiểm soát ngày càng tăng của linh hồn. Vì vậy, chúng ta có:— |
|
1. The Law of Repulse. Fourth Law |
Atma. Spiritual Will. This influence comes via the egoic petals of sacrifice and the subsidiary Law of Sacrifice. |
|
Định luật Đẩy Lùi. Định luật thứ Tư |
Atma. Ý Chí Tinh thần. Ảnh hưởng này đến thông qua các cánh hoa hi sinh chân ngã và Định luật Hi sinh phụ. |
|
2. The Law of Group Progress. Fifth Law |
Buddhi. Spiritual Love. This comes via the love petals of the egoic lotus,and the subsidiary Law of Magnetic Impulse. |
|
Định luật Tiến bộ Nhóm. Định luật thứ Năm |
Bồ đề. Tình thương Tinh thần. Điều này đến thông qua các cánh hoa bác ái của hoa sen chân ngã, và Định luật Xung Động Từ Tính phụ. |
|
3. The Law of Expansive Response. Sixth Law |
Manas. Higher spiritual mind. It comes via the knowledge petals and the subsidiary Law of Service. |
|
Định luật Đáp Ứng Mở Rộng. Định luật thứ Sáu |
Manas. Thượng trí tinh thần cao hơn. Nó đến thông qua các cánh hoa tri thức và Định luật Phụng sự phụ. |
Webinar 18 [-> Bình Giảng]
Beginning of LOTSWC 18, p. 151-154
|
[151] |
[151] |
|
These higher spiritual laws reflect themselves in the three lower spiritual laws, finding their way into the lower consciousness via the egoic lotus and the antaskarana. [18-1] This statement is the second basic postulate in connection with our study of this Law of Repulse, the first postulate being the earlier statement that unless there is a thread of light to act as a channel, that which this law conveys will remain unknown and unrealised. [18-2] |
Những định luật tinh thần cao hơn này phản chiếu trong ba định luật tinh thần thấp hơn, tìm đường đi vào tâm thức thấp qua Hoa Sen Chân Ngã và antahkarana. Mệnh đề này là tiền đề căn bản thứ hai liên quan đến việc nghiên cứu Định luật Đẩy Lùi này; tiền đề thứ nhất là phát biểu trước đó rằng nếu không có một sợi chỉ ánh sáng làm kênh dẫn, thì điều mà định luật này truyền tải sẽ vẫn không được biết đến và không được chứng nghiệm. |
|
These six laws give us the key to the entire psychological problem of every human being, and there is no condition which is not produced by the conscious or unconscious reaction of man, to these basic influences—the natural and spiritual laws. [18-3] If psychologists would accept the three basic laws of the universe, and the seven laws through which they express their influence, they would arrive at an understanding of the human being far more rapidly than is now the case. The three major laws are, as has been stated elsewhere:— [18-4] |
Sáu định luật này trao cho chúng ta chìa khoá của toàn bộ vấn đề tâm lý của mọi con người, và không có điều kiện nào không được tạo ra bởi phản ứng hữu thức hay vô thức của con người đối với các ảnh hưởng căn bản này—các định luật tự nhiên và tinh thần. Nếu các nhà tâm lý học chấp nhận ba định luật căn bản của vũ trụ, và bảy định luật qua đó chúng biểu lộ ảnh hưởng của mình, họ sẽ đi đến sự thấu hiểu con người nhanh hơn rất nhiều so với hiện nay. Ba định luật chủ yếu là, như đã được nêu ở nơi khác:— |
|
1. The Law of Economy. This governs primarily the instinctual nature of man. |
1. Định luật Tiết Kiệm. Định luật này chủ yếu chi phối bản chất bản năng của con người. |
|
2. The Law of Attraction, which governs the soul aspect in man and in all forms of life, from an atom to a solar system. [18-5] |
2. Định luật Hấp Dẫn, chi phối phương diện linh hồn trong con người và trong mọi hình thức sự sống, từ một nguyên tử đến một hệ mặt trời. |
|
3. The Law of Synthesis, which will govern man when he has arrived at the Path of Initiation, but which as yet means but little in his development. |
3. Định luật Tổng Hợp, sẽ chi phối con người khi y đã đạt đến Con Đường Điểm Đạo, nhưng hiện nay vẫn còn có ý nghĩa rất ít trong sự phát triển của y. |
|
There are, then, the seven minor Laws which produce the [152] evolutionary unfoldment of man, the person, and man, the soul. These are: [18-6] |
Vậy thì, có bảy Định luật thứ yếu tạo ra sự khai mở tiến hoá của con người, con người như một nhân vị, và con người như một linh hồn. Chúng là: |
|
1. The Law of Vibration, the atomic law of the solar system. |
1. Định luật Rung Động, định luật nguyên tử của hệ mặt trời. |
|
2. The Law of Cohesion, an aspect of the Law of Attraction. |
2. Định luật Kết Dính, một phương diện của Định luật Hấp Dẫn. |
|
3. The Law of Disintegration. [18-7] |
3. Định luật Phân Rã. |
|
4. The Law of Magnetic Control, governing the control of the personality by the spiritual nature, via the soul nature. |
4. Định luật Kiểm Soát Từ Tính, chi phối sự kiểm soát phàm ngã bởi bản chất tinh thần, thông qua bản chất linh hồn. |
|
5. The Law of Fixation. By means of this law the mind controls and stabilises. |
5. Định luật Cố Định. Nhờ định luật này, thể trí kiểm soát và ổn định. |
|
6. The Law of Love, whereby the lower desire nature is transmuted. |
6. Định luật Bác Ái, nhờ đó bản chất dục vọng thấp được chuyển hoá. |
|
7. The Law of Sacrifice and Death. [18-8] |
7. Định luật Hi Sinh và Tử Vong. |
|
(A TREATISE ON COSMIC FIRE, P. 569.) |
(LUẬN VỀ LỬA VŨ TRỤ, TR. 569.) |
|
These seven laws concern the form side of life. To these ten laws must be added the seven laws of the soul which we are here considering. [18-9] These begin to play upon the man and produce his more rapid spiritual unfoldment after he has been subjected to the discipline of the Probationary Path, or the Path of Purification. He is then ready to tread the final stages of the Path. [18-10] |
Bảy định luật này liên quan đến phương diện hình tướng của sự sống. Vào mười định luật này phải cộng thêm bảy định luật của linh hồn mà chúng ta đang xét ở đây. Chúng bắt đầu tác động lên con người và tạo ra sự khai mở tinh thần nhanh hơn của y sau khi y đã chịu kỷ luật của Con Đường Dự Bị, hay Con Đường Thanh Lọc. Khi ấy y sẵn sàng bước đi những chặng cuối của Con Đường. |
|
These seven laws are the basis of all true psychological understanding and, when their influence is better grasped, man will arrive at real self knowledge. He will then be ready for the fourth initiation which releases him from all further need for rebirth. [18-11] This is the truth which underlies the Masonic teaching, which is given under the symbolism of the first eighteen degrees. These can be divided into four groups of degrees:—Entered Apprentice, Fellow Craft, (followed by the Mark degree) Master Mason (followed by the H.R.A.) and the grouped degrees, four to seventeen, in the Scottish Rite. [18-12] These seventeen degrees prepare the man for the fourth [153] or fundamental degree, taken by a man who is a Master Mason. It can only be taken when the Master is in possession of the true Lost Word. He has risen from the dead; he has been entered, passed, and raised, and now can be perfected. [18-13] Herein lies a great mystery. These seventeen degrees, leading to the first great step, (taken by the risen Master) are subjectively related to the seventeen laws which we have been considering. There is a parallelism worth noting between:— [18-14] |
Bảy định luật này là nền tảng của mọi sự thấu hiểu tâm lý chân chính và, khi ảnh hưởng của chúng được nắm bắt tốt hơn, con người sẽ đạt đến sự tự tri thực sự. Khi ấy y sẽ sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ tư, giải thoát y khỏi mọi nhu cầu tái sinh về sau. Đây là chân lý nằm dưới giáo huấn của Hội Tam Điểm, được trao truyền dưới biểu tượng của mười tám cấp bậc đầu tiên. Chúng có thể được chia thành bốn nhóm cấp bậc:—Người Học Việc Nhập Môn, Thợ Cả Đồng Môn, (tiếp theo là cấp Mark) Chân sư Tam Điểm (tiếp theo là H.R.A.) và các cấp bậc được nhóm lại, từ bốn đến mười bảy, trong Nghi Lễ Scotland. Mười bảy cấp bậc này chuẩn bị con người cho cấp bậc thứ tư [153] hay cấp bậc nền tảng, được một người là Chân sư Tam Điểm thọ nhận. Nó chỉ có thể được thọ nhận khi Chân sư nắm giữ Linh từ Thất Lạc chân chính. Y đã sống lại từ cõi chết; y đã được nhập môn, được chuyển cấp, và được nâng lên, và giờ đây có thể được hoàn thiện. Chính ở đây có một huyền nhiệm lớn. Mười bảy cấp bậc này, dẫn đến bước tiến vĩ đại đầu tiên (được Chân sư đã sống lại thọ nhận), có liên hệ chủ quan với mười bảy định luật mà chúng ta đã xét. Có một sự song hành đáng lưu ý giữa:— |
|
1. The eighteen laws:— |
1. Mười tám định luật:— |
|
a. The three major laws of the universe, |
a. Ba định luật chủ yếu của vũ trụ, |
|
b. The seven minor laws of the solar system, |
b. Bảy định luật thứ yếu của hệ mặt trời, |
|
c. The seven basic laws of the soul, plus what we might call the great law of Deity Itself, the law of God’s synthetic purpose. [18-15] |
c. Bảy định luật căn bản của linh hồn, cộng thêm điều mà chúng ta có thể gọi là định luật vĩ đại của chính Thượng đế, định luật về mục đích tổng hợp của Thượng đế. |
|
2. The eighteen subplanes through which man makes his way:— |
2. Mười tám cõi phụ mà con người đi qua:— |
|
a. The seven physical subplanes. |
a. Bảy cõi phụ hồng trần. |
|
b. The seven astral or emotional-desire subplanes. |
b. Bảy cõi phụ cảm dục hay cảm xúc-dục vọng. |
|
c. The four lower mental subplanes. [18-16] |
c. Bốn cõi phụ hạ trí. |
|
3. The eighteen degrees in Masonry, from that of the Entered Apprentice to that of the perfected initiate of the Rose Croix Chapter. [18-17] |
3. Mười tám cấp bậc trong Hội Tam Điểm, từ cấp Người Học Việc Nhập Môn đến cấp điểm đạo đồ đã được hoàn thiện của Hội Rose Croix. |
|
4. The eighteen centres of force with which the spiritual man has to work: |
4. Mười tám trung tâm lực mà con người tinh thần phải làm việc với: |
|
a. The seven centres in the etheric body. |
a. Bảy trung tâm trong thể dĩ thái. |
|
b. The seven centres in the astral body. |
b. Bảy trung tâm trong thể cảm dục. |
|
c. The three rows of petals in the egoic lotus. |
c. Ba hàng cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã. |
|
d. The “Jewel in the Lotus”, at the heart of the “flower of the soul”, which makes the eighteenth centre. [18-18] |
d. “Bảo Châu trong Hoa Sen”, tại tim của “đóa hoa linh hồn”, tạo thành trung tâm thứ mười tám. |
|
An understanding of these symbolic relations will do much to clarify the way of the soul in a body, and will constitute the basis of all true esoteric psychological study. [154] [18-19] |
Sự thấu hiểu các liên hệ biểu tượng này sẽ góp phần lớn làm sáng tỏ con đường của linh hồn trong một thể, và sẽ cấu thành nền tảng của mọi nghiên cứu chân chính về Tâm Lý Học Nội Môn. [154] |
Webinar 19 [-> Bình Giảng]
|
[154] |
[154] |
|
a. THE LAW OF REPULSE AND DESIRE |
a. ĐỊNH LUẬT ĐẨY LÙI VÀ DỤC VỌNG |
|
The section with which we have now to deal will concern itself specifically with the major problem of humanity. We shall, however, touch upon it most briefly, and will deal particularly with the aspect of it which shifts from the problem as it concerns the aspirant to the problem of the disciple. [19-1] Underlying the entire psychological problem of humanity as a whole lies that major attitude towards existence which we characterise as Desire. All lesser complexities are based upon, subservient to, or are emergent from, this basic urge. [19-2] Freud calls this urge “sex,” which is, nevertheless, only another name for the impetus of attraction for the not-self. [19-3] Other psychologists speak of this dominant activity as the “wishlife” of humanity, and account for all allied characteristic tendencies, all emotional reactions and the trend of the mental life, in terms of the underlying wishes, longings and acquisitive aspirations as “defence mechanisms,” or “ways of escape” from the inevitability of environing conditions. [19-4] To these longings and wishes and the labour incidental to their fulfillment, all men give their lives; and everything done is in an effort to meet the realised need, to face the challenge of existence with the demand for happiness, for heaven, and for the eventual fulfillment of the hoped-for ideal state. [19-5] |
Phần mà giờ đây chúng ta phải đề cập liên quan một cách đặc thù đến vấn đề trọng đại của nhân loại. Tuy nhiên, chúng ta sẽ chỉ chạm đến nó thật vắn tắt, và sẽ đặc biệt bàn đến phương diện của nó, là phương diện chuyển từ vấn đề liên quan đến người chí nguyện sang vấn đề của đệ tử. Nằm bên dưới toàn bộ vấn đề tâm lý của nhân loại nói chung là thái độ chủ yếu đối với sự hiện hữu mà chúng ta đặc trưng là Dục vọng. Mọi phức tạp nhỏ hơn đều dựa trên, lệ thuộc vào, hoặc phát sinh từ thôi thúc căn bản này. Freud gọi thôi thúc này là “tính dục”, tuy vậy, đó chỉ là một tên gọi khác cho xung lực hấp dẫn đối với cái phi ngã. Các nhà tâm lý học khác nói về hoạt động chi phối này như là “đời sống ước muốn” của nhân loại, và giải thích mọi khuynh hướng đặc trưng có liên quan, mọi phản ứng cảm xúc và xu hướng của đời sống trí tuệ, theo các ước muốn, khát khao và những hoài bão chiếm hữu nằm bên dưới, như là “cơ chế phòng vệ”, hoặc “những lối thoát” khỏi tính tất yếu của các điều kiện bao quanh. Đối với những khát khao và ước muốn ấy, cùng với công lao gắn liền với việc hoàn thành chúng, mọi người đều hiến dâng đời mình; và mọi điều được làm đều là một nỗ lực nhằm đáp ứng nhu cầu đã được nhận ra, nhằm đối diện thách thức của sự hiện hữu với đòi hỏi về hạnh phúc, về thiên đường, và về sự hoàn thành sau cùng của trạng thái lý tưởng được hy vọng. |
|
Everything is governed by some form of urgency towards satisfaction, and this is distinctive of man’s search at every stage of his development—whether it is the instinctual urge to self-preservation, which can be seen in the savage’s search for food or in the economic problems of the modern civilised man; whether it is the urge to self-reproduction and the satisfaction of that appetite which works out today in the complexity of the sex life of the race; whether it is the urge to be popular, loved and esteemed; whether it is the urge for [155] intellectual enjoyment and the mental appropriation of truth, or the deep-seated desire for heaven and rest which characterises the Christian, or the aspiration for illumination which is the demand of the mystic, or the longing for identification with reality which is the “wish” of the occultist. [19-6] All this is desire in some form or another, and by these urges humanity is governed and controlled; I would say most definitely controlled, for this is only a simple statement of the case. [19-7] |
Mọi sự đều bị chi phối bởi một dạng nào đó của sự thôi thúc hướng đến thỏa mãn, và điều này là nét đặc thù của cuộc tìm kiếm của con người ở mọi giai đoạn phát triển—dù đó là thôi thúc bản năng hướng đến tự bảo tồn, có thể thấy trong cuộc tìm kiếm thức ăn của người man dã hoặc trong các vấn đề kinh tế của con người văn minh hiện đại; dù đó là thôi thúc hướng đến tự sinh sản và sự thỏa mãn của cơn thèm khát ấy, ngày nay biểu hiện thành sự phức tạp của đời sống tính dục của nhân loại; dù đó là thôi thúc muốn được ưa chuộng, được yêu mến và được kính trọng; dù đó là thôi thúc hướng đến [155] niềm vui trí tuệ và sự chiếm hữu chân lý bằng thể trí, hoặc dục vọng sâu kín về thiên đường và sự an nghỉ vốn đặc trưng cho người Kitô hữu, hoặc khát vọng được soi sáng vốn là đòi hỏi của nhà thần bí, hoặc nỗi khao khát đồng nhất với thực tại vốn là “ước muốn” của nhà huyền bí học. Tất cả những điều ấy đều là dục vọng dưới dạng này hay dạng khác, và bởi các thôi thúc ấy mà nhân loại bị cai quản và kiểm soát; tôi muốn nói một cách dứt khoát là bị kiểm soát, vì đó chỉ là một phát biểu đơn giản về thực trạng. |
|
It is this realisation of man’s fundamental bias or controlling factor that lies behind the teaching given by the Buddha, and which is embodied in the Four Noble Truths of the Buddhist philosophy, which can be summarised as follows:— [19-8] |
Chính sự chứng nghiệm về thiên hướng căn bản hay yếu tố kiểm soát của con người nằm phía sau giáo huấn do Đức Phật ban truyền, và được thể hiện trong Bốn Chân Lý Cao Quý của triết học Phật giáo, có thể được tóm lược như sau:— |
|
The Four Noble Truths |
Bốn Chân Lý Cao Quý |
|
a. Existence in the phenomenal universe is inseparable from suffering and sorrow. [19-9] |
a. Sự hiện hữu trong vũ trụ hiện tượng không thể tách rời khỏi khổ đau và sầu muộn. |
|
b. The cause of suffering is desire for existence in the phenomenal universe. [19-10] |
b. Nguyên nhân của khổ đau là dục vọng đối với sự hiện hữu trong vũ trụ hiện tượng. |
|
c. The cessation of suffering is attained by eradicating desire for phenomenal existence. [19-11] |
c. Sự chấm dứt khổ đau đạt được bằng cách diệt trừ dục vọng đối với sự hiện hữu hiện tượng. |
|
d. The Path to the cessation of suffering is the noble eightfold path. [19-12] |
d. Con Đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau là con đường bát chánh đạo cao quý. |
|
It was the realisation of the urgency of man’s need to be delivered from his own desire-nature which led Christ to emphasise the necessity to seek the good of one’s neighbor in contra-distinction to one’s own good, and to advise the life of service and self-sacrifice, of self-forgetfulness and love of all beings. [19-13] Only in this way can man’s mind and “the eye of the heart” be turned away from one’s own needs and satisfaction to the deeper demands of the race itself. [19-14] |
Chính sự chứng nghiệm về tính cấp bách trong nhu cầu của con người phải được giải thoát khỏi bản chất dục vọng của chính mình đã khiến Đức Christ nhấn mạnh sự cần thiết phải tìm cầu điều thiện cho người lân cận, đối lập với điều thiện cho chính mình, và khuyên dạy đời sống phụng sự và hi sinh bản thân, quên mình và yêu thương mọi chúng sinh. Chỉ bằng cách này, thể trí của con người và “con mắt của trái tim” mới có thể được xoay khỏi những nhu cầu và sự thỏa mãn của bản thân để hướng đến những đòi hỏi sâu xa hơn của chính nhân loại. |
|
Until a man stands upon the Path of Perfection, he cannot really grasp the imperative demand of his own soul for [156] release from the search for outer, material, tangible satisfaction, and from desire. [19-15] It has been this demand which indicated the soul’s need to incarnate and to function, for a needed period, under the Law of Rebirth. As the work of purification proceeds upon the Path of Purification, this demand for release becomes stronger and clearer, and when the man steps out upon the Path of Discipleship, then the Law of Repulse can, for the first time, begin to control his reactions. [19-16] This takes place unconsciously at first, but it becomes more potent and more consciously appreciated as the disciple takes one initiation after another, with increasingly pointed understanding. [19-17] |
Cho đến khi một người đứng trên Con Đường Hoàn Thiện, y không thể thật sự nắm bắt mệnh lệnh tất yếu từ chính linh hồn mình về [156] sự giải thoát khỏi cuộc tìm kiếm sự thỏa mãn bên ngoài—vật chất, hữu hình, sờ chạm được—và khỏi dục vọng. Chính đòi hỏi này đã biểu thị nhu cầu của linh hồn phải nhập thể và hoạt động, trong một thời kỳ cần thiết, dưới Định luật Tái Sinh. Khi công việc thanh lọc tiến hành trên Con Đường Thanh Lọc, đòi hỏi giải thoát này trở nên mạnh mẽ và rõ rệt hơn, và khi con người bước ra trên Con Đường Đệ Tử, thì khi ấy Định luật Đẩy Lùi, lần đầu tiên, có thể bắt đầu kiểm soát các phản ứng của y. Lúc đầu điều này diễn ra một cách vô thức, nhưng nó trở nên mạnh hơn và được nhận biết một cách hữu thức hơn khi đệ tử nhận hết lần điểm đạo này đến lần điểm đạo khác, với sự thấu hiểu ngày càng sắc nét. |
|
It is not our intention in this Treatise to deal with the development of the unevolved and undeveloped man in connection with these Laws of the Soul. I seek only to clear the way of the highly intelligent man, the aspirants of the world and the world disciples. [19-18] The progress of the undeveloped and the average man can be covered by the following statements, taken sequentially and describing the stages of his progress under the promptings of desire: [19-19] |
Trong Luận này, chúng ta không có ý định bàn đến sự phát triển của con người chưa tiến hoá và chưa khai mở trong mối liên hệ với các Định luật của Linh hồn này. Tôi chỉ tìm cách dọn đường cho người có trí tuệ cao, cho những người chí nguyện của thế gian và các đệ tử thế gian. Sự tiến bộ của người chưa phát triển và người trung bình có thể được bao quát bằng các mệnh đề sau đây, được nêu theo trình tự và mô tả các giai đoạn tiến bộ của họ dưới sự thúc đẩy của dục vọng: |
|
1. The urge to experience, to exist, and to satisfy the instinctual nature. [19-20] |
1. Thôi thúc muốn trải nghiệm, muốn hiện hữu, và muốn thỏa mãn bản chất bản năng. |
|
2. Experience, grasping, existing, followed by renewed demand for more satisfying compliances of fate or destiny. [19-21] |
2. Trải nghiệm, nắm bắt, hiện hữu, tiếp theo là đòi hỏi được đổi mới về những sự thuận ứng thỏa mãn hơn của số phận hay định mệnh. |
|
3. Cycle after cycle of demand for satisfaction, a period of satisfaction of a temporary nature, and then further demands. This is the story of the race. [19-22] |
3. Hết chu kỳ này đến chu kỳ khác của đòi hỏi thỏa mãn, một giai đoạn thỏa mãn mang tính tạm thời, rồi lại những đòi hỏi tiếp theo. Đó là câu chuyện của nhân loại. |
|
4. Experience, steadily sought and pursued upon the three planes of human evolution. |
4. Trải nghiệm, được tìm kiếm và theo đuổi một cách bền bỉ trên ba cõi của tiến hoá nhân loại. |
|
5. Then the same experience, but this time as an integrated personality. [19-23] |
5. Rồi cũng là trải nghiệm ấy, nhưng lần này như một phàm ngã tích hợp. |
|
[157] |
[157] |
|
6. Demand met until satiety is reached, for in time all men do eventually achieve that which they demand. [19-24] |
6. Đòi hỏi được đáp ứng cho đến khi đạt trạng thái chán ngấy, vì theo thời gian mọi người rốt cuộc đều đạt được điều mà họ đòi hỏi. |
|
7. Then comes the demand for inner spiritual compliances, happiness and bliss. The “heaven wish” becomes powerful. [19-25] |
7. Rồi đến đòi hỏi về những sự thuận ứng tinh thần nội tại, về hạnh phúc và phúc lạc. “Ước muốn thiên đường” trở nên mạnh mẽ. |
|
8. A vague realisation that two things are needed; purification and the power to choose aright, which is right discrimination. [19-26] |
8. Một sự chứng nghiệm mơ hồ rằng cần hai điều: sự thanh lọc và quyền năng chọn lựa đúng đắn, tức là sự phân biện đúng. |
|
9. A vision of the pairs of opposites. |
9. Một linh ảnh về các cặp đối cực. |
|
10. The realisation of the narrow path which leads between these pairs of opposites. [19-27] |
10. Sự chứng nghiệm về con đường hẹp dẫn đi giữa các cặp đối cực ấy. |
|
11. Discipleship and the repulsing or repudiation (over a long period of time), of the not-self. [19-28] |
11. Địa vị đệ tử và sự đẩy lùi hoặc khước từ (trong một thời gian dài) cái không-phải-bản-ngã. |
|
End of LOTSWC 19, p 157 |
Kết thúc LOTSWC 19, tr. 157 |
Webinar 20 [-> Bình Giảng]
|
Click các link số để đến Commentary, [-> để đến Text with note. <-] để trở về Text |
|
|
Such, briefly and inadequately stated, is the story of man as he searches for happiness, for joy and for bliss, or (expressing it in terms of realisation) as he progresses from the life of the instincts to that of the intellect, and then from that intellectual apprehension to the stage of illumination and final identification with reality, when he is henceforth freed from the Great Illusion. [20-1] |
Nói một cách vắn tắt và chưa đầy đủ, đó là câu chuyện về con người khi y tìm kiếm hạnh phúc, niềm vui và phúc lạc; hay (diễn đạt theo thuật ngữ chứng nghiệm) khi y tiến từ đời sống bản năng sang đời sống trí tuệ, rồi từ sự lĩnh hội trí tuệ ấy đến giai đoạn được soi sáng và cuối cùng đồng nhất với thực tại, để từ đó trở đi y được giải thoát khỏi Đại Ảo Tưởng. |
|
Two things determine the rapidity with which he can—upon the Path of Discipleship—bring the Law of Repulse into play. One is the quality of his motive. Only the desire to serve is adequate to bring about the necessary reorientation and subjection to the new technique of living. [20-2] The other is his willingness, at all costs, to be obedient to the light which is in him and around him. Service and obedience are the great methods of release, and constitute the underlying causes which will bring the Law of Repulse into play, thus aiding the aspirant to attain the longed-for liberation. [20-3] Service releases him from his own thought life and self-determination. Obedience to his own soul integrates him into the larger [158] whole, wherein his own desires and urges are negated in the interest of the wider life of humanity and of God Himself. God is the Great Server and expresses His divine life through the Love of His heart for humanity. [20-4] |
Có hai điều quyết định tốc độ mà y có thể—trên Con Đường Đệ Tử—đưa Định luật Đẩy Lùi vào hoạt động. Một là phẩm chất của động cơ. Chỉ có ước muốn phụng sự mới đủ để tạo ra sự tái định hướng cần thiết và sự quy phục đối với kỹ thuật sống mới. Điều kia là sự sẵn lòng, bằng mọi giá, vâng phục ánh sáng ở trong y và quanh y. Phụng sự và vâng phục là những phương pháp giải thoát lớn lao, và cấu thành các nguyên nhân nền tảng sẽ đưa Định luật Đẩy Lùi vào hoạt động, nhờ đó giúp người chí nguyện đạt được sự giải thoát hằng khao khát. Phụng sự giải thoát y khỏi đời sống tư tưởng của chính y và khỏi sự tự quyết định. Vâng phục linh hồn của chính y tích hợp y vào toàn thể lớn lao hơn [158] trong đó những dục vọng và thôi thúc riêng của y bị phủ nhận vì lợi ích của đời sống rộng lớn hơn của nhân loại và của chính Thượng đế. Thượng đế là Đấng Phụng Sự Vĩ Đại và biểu lộ sự sống thiêng liêng của Ngài qua Tình thương của trái tim Ngài đối với nhân loại. |
|
Yet, when these simple truths are enunciated and we are urged to serve our brother and to obey our soul, it seems to us so familiar and so uninteresting that it can evoke but little response. [20-5] If we were told that the following of a prescribed form of meditation, the practicing of a definite formula of breathing, and regular concentration upon a specific centre would release us from the wheel of life and identify us with the spiritual self and its world of being, gladly and willingly and joyously would we follow out instructions. [20-6] But when, in the terms of the occult science, we are told to serve and obey, we are not interested. Yet service is the mode, par excellence, for awakening the heart centre, and obedience is equally potent in evoking the response of the two head centres to the impact of soul force, and unifying them into one field of soul recognition. [20-7] So little do men understand the potency of their urges! If the urge to satisfy desire is the basic urge of the form life of man, the urge to serve is an equally basic urge of the soul in man. This is one of the most important statements in this section. [20-8] It is as yet seldom satisfied. Indications of its presence are ever to be found, nevertheless, even in the most undesirable types of human beings; it is evolved in moments of high destiny or immediate urgency, and of supreme difficulty. The heart of man is sound, but oft asleep. [20-9] |
Tuy nhiên, khi những chân lý đơn giản này được tuyên bố và chúng ta được thúc giục phụng sự huynh đệ mình và vâng phục linh hồn mình, thì đối với chúng ta chúng dường như quá quen thuộc và quá không hấp dẫn đến nỗi chỉ gợi lên được rất ít đáp ứng. Nếu chúng ta được bảo rằng việc tuân theo một hình thức tham thiền được ấn định, việc thực hành một công thức hô hấp xác định, và sự tập trung đều đặn vào một trung tâm đặc thù sẽ giải thoát chúng ta khỏi bánh xe sự sống và đồng nhất chúng ta với bản ngã tinh thần cùng thế giới bản thể của nó, thì chúng ta sẽ vui mừng, tự nguyện và hân hoan làm theo chỉ dẫn. Nhưng khi, theo thuật ngữ của khoa học huyền bí, chúng ta được bảo phải phụng sự và vâng phục, thì chúng ta không quan tâm. Thế nhưng phụng sự là phương thức, ưu việt nhất, để đánh thức trung tâm tim, và vâng phục cũng mạnh mẽ không kém trong việc gợi lên sự đáp ứng của hai trung tâm đầu trước tác động của mãnh lực linh hồn, và hợp nhất chúng thành một trường nhận biết linh hồn. Con người hiểu quá ít về uy lực của các thôi thúc của mình! Nếu thôi thúc thỏa mãn dục vọng là thôi thúc căn bản của đời sống hình tướng của con người, thì thôi thúc phụng sự cũng là một thôi thúc căn bản tương đương của linh hồn trong con người. Đây là một trong những phát biểu quan trọng nhất trong phần này. Cho đến nay, nó hiếm khi được thỏa mãn. Tuy vậy, dấu hiệu về sự hiện diện của nó luôn có thể được tìm thấy, ngay cả nơi những kiểu người không đáng ưa nhất; nó được tiến hoá trong những khoảnh khắc định mệnh cao cả hay cấp bách tức thời, và trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Trái tim con người là lành mạnh, nhưng thường ngủ quên. |
|
Serve and obey! These are the watchwords of the disciple’s life. They have been distorted into terms of fanatical propaganda and have thus produced the formulas of philosophy and of religious theology; but these formulas do, at the same time, veil a truth. [20-10] They have been presented to the consideration [159] of man in terms of personality devotions and of obedience to Masters and leaders, instead of service of, and obedience to, the soul in all. The truth is, however, steadily emerging, and must inevitably triumph. [20-11] Once the aspirant upon the Probationary Path has a vision of this (no matter how slight it may be), then the law of desire which has governed him for ages will slowly and surely give place to the Law of Repulse, which will, in time, free him from the thralldom of not-self. [20-12] It will lead him to those discriminations and that dispassionate attitude which is the hallmark of the man who is on his way to liberation. [20-13] Let us remember, however, that a discrimination which is based upon a determination to be free, and a dispassion which is the indication of a hard heart, will land the aspirant in the prison of a crystallized shell, which is far harder to break than the normal prison of the life of the average selfish man. [20-14] This selfish spiritual desire is oft the major sin of so-called esotericists and must be carefully avoided. Therefore, he who is wise will apply himself to serve and obey. |
Phụng sự và vâng phục! Đó là những khẩu hiệu của đời sống đệ tử. Chúng đã bị bóp méo thành những thuật ngữ của tuyên truyền cuồng tín và vì thế đã sản sinh ra các công thức triết học và thần học tôn giáo; nhưng đồng thời, các công thức ấy cũng che phủ một chân lý. Chúng đã được trình bày để con người suy xét [159] dưới dạng sùng kính phàm ngã và vâng phục các Chân sư cùng các nhà lãnh đạo, thay vì phụng sự linh hồn trong mọi người và vâng phục linh hồn trong mọi người. Tuy nhiên, chân lý đang đều đặn xuất hiện, và tất yếu phải chiến thắng. Một khi người chí nguyện trên Con Đường Dự Bị có được một linh ảnh về điều này (dù nhỏ bé đến đâu), thì định luật dục vọng đã cai quản y qua bao thời đại sẽ chậm rãi nhưng chắc chắn nhường chỗ cho Định luật Đẩy Lùi, và theo thời gian sẽ giải thoát y khỏi ách nô lệ của phi-ngã. Nó sẽ dẫn y đến những sự phân biện và thái độ vô tư không thiên lệch, là dấu ấn của người đang trên đường đi đến giải thoát. Tuy nhiên, chúng ta hãy nhớ rằng: một sự phân biện dựa trên quyết tâm được tự do, và một sự vô tư không thiên lệch là dấu hiệu của một trái tim cứng rắn, sẽ đưa người chí nguyện vào nhà tù của một vỏ bọc kết tinh, khó phá vỡ hơn nhiều so với nhà tù bình thường của đời sống của người ích kỷ trung bình. Dục vọng tinh thần ích kỷ này thường là tội lỗi lớn của những kẻ được gọi là các nhà huyền bí học, và phải được tránh cẩn thận. Vì vậy, người khôn ngoan sẽ chuyên tâm phụng sự và vâng phục. |
|
b. THE LAW OF REPULSE UPON THE PATHS OF DISCIPLESHIP AND INITIATION |
b. ĐỊNH LUẬT ĐẨY LÙI TRÊN CÁC CON ĐƯỜNG ĐỆ TỬ VÀ ĐIỂM ĐẠO |
|
When the discriminating sense (the spiritual correspondence of the sense of smell, the last of the five senses to emerge in humanity) has been adequately developed in the aspirant, and he knows the pairs of opposites and has gained a vision of that which is neither of them, then he can pass on to the Path of Discipleship and enter upon the arduous task of cooperating with the spiritual laws, particularly with the Law of Repulse. [20-15] At first, he hardly recognises the influence of this Law. It is as difficult for him to grasp its implications and to measure its possible effects as it would be for the average working man, with a mediocre education and a total [160] ignorance of esotericism, to grasp the significance of such an occult truth as that expressed in the words: “The construction of the antaskarana between higher and lower manas by the divine Agnishvatta, the solar angel, functioning through the egoic lotus, is the task to be carried forward during the contemplative stage of meditation.” [20-16] This statement is relatively simple to grasp intellectually by the average occult student, but is utterly meaningless to the man of the world. The Law of Repulse is equally difficult of understanding by the disciple as he enters upon the Path. He has to learn to recognise its influence; then he must himself learn to do three things:— [20-17] |
Khi năng lực phân biện (sự tương ứng tinh thần của khứu giác, giác quan cuối cùng trong năm giác quan xuất hiện trong nhân loại) đã được phát triển đầy đủ nơi người chí nguyện, và y biết các cặp đối cực và đã có một linh ảnh về điều không thuộc về bên nào trong hai bên ấy, thì y có thể tiến lên Con Đường Đệ Tử và bước vào nhiệm vụ gian nan là hợp tác với các định luật tinh thần, đặc biệt là với Định luật Đẩy Lùi. Lúc đầu, y hầu như không nhận ra ảnh hưởng của Định luật này. Đối với y, việc nắm bắt các hàm ý của nó và đo lường các tác dụng có thể có của nó cũng khó như đối với người lao động trung bình—với nền giáo dục tầm thường và hoàn toàn [160] không biết gì về huyền bí học—khi phải nắm bắt thâm nghĩa của một chân lý huyền bí như chân lý được diễn đạt trong các lời sau: “Việc kiến tạo antahkarana giữa manas cao và manas thấp bởi Agnishvatta thiêng liêng, thái dương thiên thần, hoạt động qua hoa sen chân ngã, là nhiệm vụ phải được thực hiện trong giai đoạn chiêm ngưỡng của tham thiền.” Phát biểu này tương đối dễ nắm bắt về mặt trí tuệ đối với đạo sinh huyền bí học trung bình, nhưng hoàn toàn vô nghĩa đối với người đời. Định luật Đẩy Lùi cũng khó hiểu tương tự đối với đệ tử khi y bước vào Con Đường. Y phải học cách nhận ra ảnh hưởng của nó; rồi chính y phải học làm ba điều sau:— |
|
1. Through service, steadily to decentralise himself and thus begin occultly to “repulse” the personality. He must see to it that his motive is love for all beings, and not desire for his own release. [20-18] |
1. Qua phụng sự, đều đặn phi tập trung vào bản thân và nhờ đó bắt đầu, theo nghĩa huyền bí, “đẩy lùi” phàm ngã. Y phải bảo đảm rằng động cơ của y là tình thương đối với mọi chúng sinh, chứ không phải dục vọng được giải thoát cho riêng mình. |
|
2. Through an understanding of the pairs of opposites, he begins, esoterically, to “isolate” the “noble middle path” of which the Buddha spoke. [20-19] |
2. Qua sự thấu hiểu các cặp đối cực, y bắt đầu, theo nghĩa huyền bí, “cô lập” “con đường trung đạo cao quý” mà Đức Phật đã nói đến. |
|
3. Through comprehension of the words of Christ, enjoining men to “let their light shine,” he begins to construct the “path of light” which leads to the centre of life and guides him out of darkness into light, from the unreal to the real, and from death to immortality. This is the true path of the antaskarana, which the disciple weaves from out of himself (speaking symbolically), just as the spider weaves his thread. [20-20] |
3. Qua sự lĩnh hội lời của Đức Christ, khuyên con người “hãy để ánh sáng của mình chiếu rọi,” y bắt đầu kiến tạo “con đường ánh sáng” dẫn đến trung tâm sự sống và hướng dẫn y ra khỏi bóng tối vào ánh sáng, từ cái không thật đến cái thật, và từ tử vong đến bất tử. Đây là con đường chân thực của antahkarana, mà đệ tử dệt nên từ chính y (nói theo biểu tượng), cũng như con nhện dệt sợi tơ của nó. |
|
Service, an understanding of the Way, and the building of the true line of escape—that is the task to be carried forward upon the Path of Discipleship. [20-21] Such is the object set before all the students of the esoteric sciences at this time,—provided they desire it enough, and can train themselves to [161] work selflessly for their fellow men. As they succeed in doing this and approximate ever more closely to that which is not the pairs of opposites (and thus achieve “the Central Way”), steadily the Law of Repulse begins to swing into operation. [20-22] When the third initiation is taken, this law will begin to hold the dominant place in the ruling of the life. |
Phụng sự, sự thấu hiểu Con Đường, và việc xây dựng con đường thoát ly chân thực—đó là nhiệm vụ phải được thực hiện trên Con Đường Đệ Tử. Đó là mục tiêu được đặt trước tất cả các đạo sinh của các khoa học huyền bí vào lúc này,—miễn là họ đủ khao khát, và có thể rèn luyện mình để [161] làm việc vô ngã vì đồng loại. Khi họ thành công trong việc này và ngày càng tiến gần hơn đến điều không phải là các cặp đối cực (và nhờ đó đạt được “Con Đường Trung Tâm”), thì Định luật Đẩy Lùi đều đặn bắt đầu vận hành. Khi lần điểm đạo thứ ba được thọ nhận, định luật này sẽ bắt đầu giữ vị trí chủ đạo trong việc cai quản đời sống. |
|
The word “repulse” has an unfortunate connotation in many minds, and this revulsion against the word itself indicates man’s innately spiritual bias. [20-23] Repulsion, the desire to repudiate, and repulsive attitudes, words and deeds evoke in our minds all that is unpleasant to contemplate. Yet, spiritually considered and scientifically viewed, the word “repulse” indicates simply “an attitude towards that which is not desirable.” [20-24] This, in its turn (as we seek to determine that which is desirable) calls into activity the virtues of discrimination, dispassion and discipline in the disciple’s life, as well as the power to decentralise. [20-25] These words indicate the urge to devaluate the unreal and the undesirable, to discipline the lower nature till those choices are readily and easily made which lead to the discarding of that which imprisons or impedes the soul. [20-26] The major concepts are the definitely and carefully chosen way or procedure which will free the soul from the world of forms and identify it, first of all, with itself (thus freeing it from the world illusion), and then with the world of souls, which is the consciousness of the Oversoul. [20-27] |
Từ “đẩy lùi” mang một hàm nghĩa không may trong nhiều tâm trí, và sự phản cảm đối với chính từ này cho thấy khuynh hướng tinh thần bẩm sinh của con người. Sự đẩy lùi, ước muốn khước từ, và các thái độ, lời nói và hành vi đáng ghê tởm gợi lên trong tâm trí chúng ta tất cả những gì khó chịu để chiêm nghiệm. Tuy nhiên, xét theo tinh thần và nhìn theo khoa học, từ “đẩy lùi” chỉ đơn giản hàm ý “một thái độ đối với điều không đáng mong muốn.” Điều này, đến lượt nó (khi chúng ta tìm cách xác định điều đáng mong muốn), khơi hoạt các đức hạnh phân biện, vô tư không thiên lệch và kỷ luật trong đời sống đệ tử, cũng như năng lực phi tập trung vào bản thân. Những từ này chỉ ra thôi thúc làm giảm giá trị cái không thật và cái không đáng mong muốn, kỷ luật bản chất thấp cho đến khi những lựa chọn dẫn đến việc loại bỏ điều giam hãm hay cản trở linh hồn được thực hiện một cách dễ dàng và mau lẹ. Các khái niệm chủ yếu là con đường hay thủ tục được chọn lựa dứt khoát và cẩn trọng, sẽ giải thoát linh hồn khỏi thế giới hình tướng và đồng nhất nó, trước hết, với chính nó (nhờ đó giải thoát nó khỏi ảo tưởng thế gian), rồi với thế giới các linh hồn, tức là tâm thức của đại hồn. |
|
There is no need to enlarge here upon the technique whereby this choice is to be made. The way of discrimination, the method of dispassion and the discipline of the life have been made plain and clear by the teachings of the past two thousand years, and through the many books written to emphasise the teaching of the Christ and of the Buddha. [20-28] Through a right understanding of these, right choice can be made, and that which should not be cherished or desired can [162] be “repulsed”. Many an earnest student (such as those who will read this Treatise) has found it of advantage to write down for himself his own personal understanding of the four words:— [20-29] |
Không cần phải triển khai thêm ở đây về kỹ thuật nhờ đó sự lựa chọn này được thực hiện. Con đường phân biện, phương pháp vô tư không thiên lệch và kỷ luật của đời sống đã được làm cho rõ ràng và minh bạch bởi các giáo huấn của hai nghìn năm qua, và qua nhiều sách vở được viết để nhấn mạnh giáo huấn của Đức Christ và của Đức Phật. Qua sự thấu hiểu đúng đắn những điều này, có thể đưa ra lựa chọn đúng, và điều không nên trân quý hay ham muốn có thể [162] bị “đẩy lùi”. Nhiều đạo sinh nghiêm túc (như những người sẽ đọc Luận này) đã thấy có lợi khi tự mình viết ra sự thấu hiểu cá nhân về bốn từ sau:— |
|
1. Discrimination, |
1. Phân biện, |
|
2. Dispassion, |
2. Vô tư không thiên lệch, |
|
3. Discipline, |
3. Kỷ luật, |
|
4. Decentralisation. [20-30] |
4. Phi tập trung vào bản thân. |
|
One page given to each definition should suffice, if it embodies truly one’s highest thought. Students will realise that as they practice these four virtues, the prime characteristics of a disciple, they are thereby automatically calling into play the Law of Repulse, which, upon the Path of Initiation, brings revelation and realisation. [20-31] The expression of this law upon the Path of Initiation is too advanced for those who are not yet versed in the basic discriminations, and who are still far from being dispassionate. Is there need therefore to enlarge upon this law as it works out in the life of the initiate? I think not. The disciple seeks to achieve, without passion, pain or suffering, the distinction which lies between: [20-32] |
Mỗi định nghĩa dành một trang là đủ, nếu nó thực sự hàm chứa tư tưởng cao nhất của mình. Các đạo sinh sẽ nhận ra rằng khi họ thực hành bốn đức hạnh này, là những đặc tính chủ yếu của một đệ tử, thì họ tự động đưa Định luật Đẩy Lùi vào hoạt động; và trên Con Đường Điểm Đạo, định luật này đem lại sự mặc khải và (sự)chứng nghiệm. Sự biểu lộ của định luật này trên Con Đường Điểm Đạo là quá cao đối với những người chưa tinh thông các phân biện căn bản, và vẫn còn rất xa mới đạt được vô tư không thiên lệch. Vậy có cần phải triển khai thêm về định luật này khi nó diễn tiến trong đời sống của điểm đạo đồ không? Tôi nghĩ là không. Đệ tử tìm cách đạt được, không đam mê, không đau đớn hay khổ đau, sự phân biệt nằm giữa: |
|
1. Right and wrong, |
1. Đúng và sai, |
|
2. Good and evil, |
2. Thiện và ác, |
|
3. Light and dark, spiritually understood, |
3. Sáng và tối, theo nghĩa tinh thần, |
|
4. Prison and liberty, |
4. Nhà tù và tự do, |
|
5. Love and hate, |
5. Thương và ghét, |
|
6. Introversion and extraversion. We do well to ponder on this duality[20-33] |
6. Hướng nội và hướng ngoại. Chúng ta nên suy ngẫm về nhị nguyên tính này |
|
7. Truth and falsehood, |
7. Chân thật và giả dối, |
|
8. Mystical and occult knowledge, |
8. Tri thức thần bí và tri thức huyền bí, |
|
9 The self and the not-self, |
9. Ngã và phi-ngã, |
|
10. Soul and body. [20-34] |
10. Linh hồn và thể xác. |
|
[163] |
[163] |
|
Many, many other dualities can thus be listed. Having then discovered the fact of these pairs of opposites, the task of the disciple is to discover that which is neither of them. [20-35] It is this central, intermediate way that is revealed to the initiate, through the working of the Law of Repulse which occultly enables him to “push with either hand, to a distance afar from his way, that which intrudes and veils the central way of light. [20-36] For neither on the right nor on the left lies safety for the man who seeks that lighted way.” Does this sentence really mean aught to most of us? [20-37] Let us seek to express to ourselves in words the qualifications and name of that third or central way which is, for instance, neither light nor dark, and neither love nor hate. [20-38] We cannot with clarity see what it could be, nor will we until the increased stimulation which is released in us upon the Way of Initiation does its appointed work. Some idea of what it means may appear, however dimly, to our vision as we deal with our third division. [20-39] |
Còn có thể liệt kê rất, rất nhiều nhị nguyên tính khác. Khi đã khám phá sự kiện về các cặp đối cực này, nhiệm vụ của đệ tử là khám phá điều không thuộc về bên nào trong hai bên ấy. Chính con đường trung tâm, trung gian này được mặc khải cho điểm đạo đồ, qua sự vận hành của Định luật Đẩy Lùi, vốn theo nghĩa huyền bí giúp y “đẩy bằng cả hai tay, ra xa khỏi con đường của mình, điều xâm nhập và che phủ con đường ánh sáng trung tâm. Vì đối với người tìm kiếm con đường được soi sáng ấy, sự an toàn không nằm ở bên phải cũng không nằm ở bên trái.” Câu này thực sự có nghĩa gì đối với đa số chúng ta chăng? Chúng ta hãy cố gắng tự diễn đạt bằng lời những phẩm chất và tên gọi của con đường thứ ba hay con đường trung tâm ấy, vốn chẳng hạn, không phải sáng cũng không phải tối, và không phải thương cũng không phải ghét. Chúng ta không thể thấy rõ ràng nó có thể là gì, và chúng ta sẽ không thấy cho đến khi sự kích thích gia tăng—được giải phóng trong chúng ta trên Con Đường Điểm Đạo—thực hiện công việc được ấn định của nó. Tuy nhiên, một ý niệm nào đó về ý nghĩa của nó có thể hiện ra, dù mờ nhạt, trước tầm nhìn của chúng ta khi chúng ta xử lý phần phân chia thứ ba của mình. |
|
c. THE LAW OF REPULSE AND THE PILGRIM ON THE WAY OF LIFE |
c. ĐỊNH LUẬT ĐẨY LÙI VÀ NGƯỜI LỮ HÀNH TRÊN CON ĐƯỜNG SỰ SỐNG |
|
We shall base our thoughts upon the words earlier quoted: |
Chúng ta sẽ đặt nền cho tư tưởng của mình trên những lời đã được trích dẫn trước đó: |
|
“The Law of Repulse drives in seven directions, and forces all it thus contacts back to the bosom of the seven spiritual Fathers.” [20-40] |
“Định luật Đẩy Lùi thúc đẩy theo bảy hướng, và buộc tất cả những gì nó tiếp xúc như vậy phải quay trở lại lòng của bảy Đấng Cha tinh thần.” |
|
We have come definitely to a consideration of the Way of Repulsion, governed by this law, which is the way or technique for each ray type. [20-41] Though the same law can be seen working in all seven cases and in all seven directions, yet the results will differ, because the quality and the phenomenal appearance upon which the law of the divine will makes its impact and consequent impression, differ so widely. [20-42] The complexity of the problem is therefore great. These seven [164] soul laws lie behind all the various presentations of truth as they have been given out by the world Teachers down the ages. [20-43] It requires much spiritual insight, however, to enable the average disciple to see the correspondence or the trend of ideas which link, for instance: [20-44] |
Chúng ta đã đi đến một sự khảo sát dứt khoát về Con Đường Đẩy Lùi, được cai quản bởi định luật này, vốn là con đường hay kỹ thuật dành cho mỗi loại cung. Dù có thể thấy cùng một định luật đang hoạt động trong cả bảy trường hợp và theo cả bảy hướng, nhưng kết quả sẽ khác nhau, bởi vì phẩm chất và sắc tướng hiện tượng mà định luật của Ý Chí thiêng liêng tác động và để lại ấn tượng, khác nhau quá rộng. Vì vậy, tính phức tạp của vấn đề là rất lớn. Bảy định luật linh hồn này nằm phía sau mọi sự trình bày khác nhau về chân lý như đã được các Đức Chưởng Giáo thế gian ban truyền qua các thời đại. Tuy nhiên, cần có nhiều tuệ giác tinh thần để giúp đệ tử trung bình thấy được sự tương ứng hay xu hướng ý tưởng nối kết, chẳng hạn: |
|
1. The beatitudes (enunciated by the Christ) and these seven laws. [20-45] |
1. Các mối phúc (do Đức Christ tuyên bố) và bảy định luật này. |
|
2. The stages of the Noble Eightfold Path and these soul potencies. [20-46] |
2. Các giai đoạn của Con Đường Bát Chánh Đạo và các mãnh lực linh hồn này. |
|
3. The eight Means to Yoga or union of the soul, and this septenate of influences. [20-47] |
3. Tám phương tiện để Yoga hay sự hợp nhất của linh hồn, và bộ bảy ảnh hưởng này. |
|
4. The Ten Commandments of the Semitic religion, and these seven spiritual laws. [20-48] |
4. Mười Điều Răn của tôn giáo Semit, và bảy định luật tinh thần này. |
|
Students would find it of interest to test their understanding of the esoteric relationships existing between these groups of teaching and see if they can, for themselves, trace the basic meanings. [20-49] Let us, by way of illustration, trace or indicate the relation between the seven laws and the eight means to Yoga, because this will give us an illustration of the difference existing between the means to Yoga as understood by the average yogi or esotericist, and as they can be understood by the trained disciple or initiate. [20-50] |
Các đạo sinh sẽ thấy thú vị khi kiểm nghiệm sự thấu hiểu của mình về các mối liên hệ huyền bí tồn tại giữa các nhóm giáo huấn này và xem liệu họ có thể, tự mình, truy ra các ý nghĩa căn bản hay không. Để minh hoạ, chúng ta hãy truy theo hoặc chỉ ra mối liên hệ giữa bảy định luật và tám phương tiện để Yoga, bởi điều này sẽ cho chúng ta một minh hoạ về sự khác biệt tồn tại giữa các phương tiện để Yoga như được hiểu bởi yogi hay nhà huyền bí học trung bình, và như chúng có thể được hiểu bởi đệ tử hay điểm đạo đồ đã được rèn luyện. |
* Sau phần này là 7 Định hướng cho 7 cung trên Định Luật Đẩy Lùi. Xem bình giảng ở Định Luật Đẩy Lùi
d. The Seven Directions of the Law of Repulse
|
It must be remembered that the Law of Repulse, which is the Law of the destroying Angels, works in seven directions; that it produces effects upon seven different types of beings and of men, and that by reason of its activity, it draws the prodigal son back to the Father’s home. It causes him to “arise and go.” But we must remember that, when Christ was relating this story, He made it abundantly clear that there was no impulse to return until the pilgrim in the far country had come to himself or to his senses, as a result of [166] satisfied desire, through riotous living. This was followed by consequent satiety and loss of contentment, and then by a period of intense suffering, which broke his will to wander or to desire. A study of this story will be found revealing. In no Scripture is the sequence of events (as they deal with the pilgrim’s existence and life in a far country and his return) so concisely or so beautifully treated. Seek out your Bibles, and study this tale, and read for yourselves the pilgrim’s way. |
Cần nhớ rằng Định Luật Đẩy Lùi, cũng là Định Luật của các Thiên Thần Hủy Diệt, hoạt động theo bảy hướng; rằng nó tạo ra những tác động đối với bảy loại chúng sinh và con người khác nhau, và rằng nhờ hoạt động của nó, nó kéo người con hoang đàng trở về nhà Cha. Định luật này khiến y “đứng dậy và đi.” Nhưng chúng ta cần nhớ rằng, khi Đức Christ kể câu chuyện này, Ngài đã làm rõ rằng không có động lực nào để trở về cho đến khi người lữ hành ở miền xa xôi đã nhận thức về chính mình, hay “tỉnh ngộ,” như là kết quả của những dục vọng đã được thỏa mãn thông qua lối sống phóng đãng. Điều này được tiếp nối bởi sự chán ngán và mất sự thỏa mãn, sau đó là một giai đoạn chịu đựng khổ đau mãnh liệt, điều đã bẻ gãy ý chí lang thang hay dục vọng của y. Một nghiên cứu về câu chuyện này sẽ mang lại nhiều khám phá. Không có đoạn Kinh Thánh nào mà trình tự các sự kiện (liên quan đến sự tồn tại và cuộc sống của người lữ hành ở miền xa xôi và sự trở về của y) được trình bày một cách ngắn gọn hoặc đẹp đẽ hơn. Hãy tìm đọc Kinh Thánh của bạn, nghiên cứu câu chuyện này, và tự mình đọc về con đường của người lữ hành. |
|
The effect of this Law of Repulse, as it works out in the world of discipleship and destroys that which hinders, sends the pilgrim hurrying back consciously along one of the seven rays that lead to the center. This cannot be handled in detail here. Our present task is that of treading the Path of Probation or of Discipleship and of learning discipline, dispassion, and the other two necessities on the Way,—discrimination and decentralization. It is possible, nevertheless, to indicate the goal and point out the potency of the forces to which we shall be increasingly subjected as we pass—as some of us can so pass—on to the Path of Accepted Discipleship. This we will do in the form of seven stanzas which will give a hint (if one is an aspirant) of the technique to which one will be exposed; if one has passed further on the Way, they will give one a command which, as a disciple with spiritual insight one will obey, because one is awakened; if one is an initiate, they will evoke the comment: “This I know.” |
Tác động của Định Luật Đẩy Lùi, khi nó hoạt động trong thế giới của người đệ tử và phá hủy những gì cản trở, khiến người lữ hành vội vã trở về một cách có ý thức theo một trong bảy con đường của các cung dẫn về trung tâm. Điều này không thể được trình bày chi tiết ở đây. Nhiệm vụ hiện tại của chúng ta là bước đi trên Con Đường Dự Bị hoặc Con Đường Đệ Tử, học tập kỷ luật, điềm nhiên, và hai điều cần thiết khác trên Thánh Đạo—phân biện và vượt ra khỏi bản thân. Tuy nhiên, chúng ta có thể chỉ ra mục tiêu và nhấn mạnh sức mạnh của những mãnh lực mà chúng ta sẽ ngày càng chịu sự chi phối khi chúng ta tiến bước (như một số người trong chúng ta có thể làm) lên Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận. Chúng ta sẽ làm điều này dưới hình thức bảy khổ thơ, sẽ mang đến một gợi ý (nếu bạn là một người chí nguyện) về kỹ thuật mà bạn sẽ phải trải qua; nếu bạn đã tiến xa hơn trên Thánh Đạo, chúng sẽ đưa ra một mệnh lệnh mà, với tư cách là một đệ tử có sự hiểu biết tâm linh, bạn sẽ tuân theo vì bạn đã thức tỉnh; nếu bạn là một điểm đạo đồ, chúng sẽ gợi lên lời nhận xét: “Điều này tôi đã biết.” |
The Direction of Ray I (trang 16-50) [-> Bình Giảng]
|
“The garden stands revealed In ordered beauty live its flowers and trees. The murmur of the bees and insects on their winged flight is heard on every side. The air is rich with perfume. The colors riot to the blue of heaven. |
“Khu vườn hiện ra. Các bông hoa và cây cối sống trong vẻ mỹ lệ ngăn nắp. Tiếng vo ve của ong và côn trùng bay lượn được nghe khắp nơi. Không khí nồng nàn hương thơm Màu sắc nổi loạn trên màu xanh của bầu trời |
|
The wind of God, His breath divine, sweeps through the garden… Low lie the flowers. Bending, the trees are [167] devastated by the wind. Destruction of all beauty is followed by the rain. The sky is black. Ruin is seen. Then death… |
Gió của Thượng đế, hơi thở thiêng liêng của Ngài, quét qua khu vườn… Những bông hoa rạp xuống. Cây cối cong gập, tan hoang vì gió. Sau đó tất cả vẻ đẹp bị tàn phá bởi cơn mưa. Bầu trời đen kịt. Sự tàn lụi hiện ra. Rồi đến cái chết… |
|
Later, another garden! but the time seems far away. Call for a gardener. The gardener, the soul, responds. Call for the rain, the wind, the scorching sun. Call for the gardener. Then let the work go on Ever destruction goes before the rule of beauty. Ruin precedes the real. The garden and the gardener must awake! The work proceeds.” |
Sau đó, một khu vườn khác! nhưng thời gian dường như còn xa xôi. Hãy gọi một người làm vườn. Người làm vườn, chính là linh hồn, đáp lại Hãy gọi mưa, gió, gọi mặt trời đang thiêu đốt. Hãy gọi người làm vườn. Bấy giờ hãy để cho công việc tiếp tục. Sự tàn phá luôn đi trước sự cai trị của vẻ đẹp Sự huỷ hoại đi trước sự thật. Khu vườn và người làm vườn phải thức tỉnh! Công việc tiếp diễn.” |
The Direction of Ray II (trang 51-94) [-> Bình Giảng]
|
“The Scholar knows the truth. All is revealed to him. Surrounded by his books, and sheltered in the world of thought, he burrows like a mole, and finds his way into the darkness; he arrives at knowledge of the world of natural things. His eye is closed. His eyes are opened wide. He dwells within his world in deep content. |
“Vị học giả biết chân lý. Tất cả được tiết lộ cho y. Được bao quanh bởi những cuốn sách của mình, và được che chở trong thế giới tư tưởng, y đào bới như một con chuột chũi, và tìm thấy đường của mình đi vào bóng tối; y đạt đến tri thức về thế giới của những điều tự nhiên. Một con mắt của y bị đóng lại. Đôi mắt của y được mở rộng. Y ngự trong thế giới của mình với sự toại nguyện sâu sắc. |
|
Detail on detail enter into the content of his world of thought. He stores the nuggets of the knowledge of the world, as a squirrel stores its nuts. The storehouse now is adequately full… Sudden a spade descends, for the thinker tends the garden of his thought, and thus destroys the passages of mind. Ruin arrives, destroying fast the storehouse of the mind, the safe security, the darkness and the warmth of a satisfied enquiry. All is removed. The light of summer enters in and the darkened crannies of the mind see light… Naught is left but light, and that cannot be used. The eyes are blinded and the one eye seeth not as yet… |
Hết chi tiết này đến chi tiết khác đi vào nội dung của thế giới tư tưởng của y. Y lưu trữ những quặng vàng tri thức của thế giới, như một con sóc trữ các hạt của nó. Giờ đây, nhà kho thật sự đầy đủ…. Thình lình một cái thuổng giáng xuống, [1g2] vì người suy tưởng chăm sóc khu vườn tư tưởng của mình, do đó phá hủy những lối đi của trí tuệ. Sự đổ nát đến, nhanh chóng phá hủy nhà kho của thể trí, sự bảo đảm an toàn, bóng tối và sự ấm áp của một cuộc tìm kiếm được thỏa mãn. Tất cả bị loại bỏ. Ánh sáng của mùa hè đi vào và những vết nứt tối đen của thể trí nhìn thấy ánh sáng…. Chẳng còn lại gì ngoài ánh sáng, và điều đó không thể được sử dụng. Đôi mắt đã mù và con mắt duy nhất vẫn chưa nhìn thấy gì…. |
|
Slowly the eye of wisdom must be opened. Slowly the love of that which is the true, the beautiful and good must enter the dark passages of worldly thought. Slowly the torch of light, the fire of right must burn the garnered treasures of the past, yet show their basic usefulness… |
Từ từ, con mắt minh triết phải được mở ra. Từ từ, tình yêu với những điều chân, thiện, mỹ phải đi vào những lối đi tối tăm của thế giới tư tưởng. Từ từ, ngọn đuốc ánh sáng, ngọn lửa của điều công chính phải đốt cháy những kho tàng tích trữ từ quá khứ, nhưng vẫn thể hiện được tính hữu dụng cơ bản của chúng…. |
|
The seven ways of light must wean away the attention of the Scholar from all that has been found and stored and used. This he repulses and finds his way into that Hall of Wisdom which is built upon a hill, and not deep under ground. Only the opened eye can find this way.” |
Bảy con đường ánh sáng phải lấy đi sự chú ý của vị Học Giả ra khỏi tất cả những gì đã được tìm thấy, được lưu trữ và được sử dụng. Y cự tuyệt điều này và tìm đường đi vào Phòng Minh Triết được xây dựng trên một ngọn đồi chứ không phải sâu dưới lòng đất. Chỉ có con mắt đã mở mới có thể tìm thấy con đường này.” |
The Direction of Ray III (trang 95-124) [-> Bình Giảng]
|
“Surrounded by a multitude of threads, buried in folds and folds of woven goods, the Weaver sits. No Light can enter [168] where he sits. By the light of a tiny candle, carried upon the summit of his head, he dimly sees. He gathers handful after handful of the threads and seeks to weave the carpet of his thoughts and dreams, his desires and his aims. His feet move steadily; his hands work swiftly; his voice, without cessation, chants the words: ‘I weave the pattern which I seek and like. The warp and woof is planned by my desire. I gather here a thread and here a color. I gather there another. I blend the colors and I mix and blend the threads. As yet I cannot see the pattern, but it will surely measure up to my desire.’ |
“Được bao quanh bởi vô số sợi chỉ, bị chôn vùi trong nếp gấp này đến nếp gấp khác của các tấm vải dệt, Người Thợ Dệt ngồi đó. Không có Ánh Sáng nào có thể đi vào [168] nơi y ngồi. Bằng ánh sáng của một ngọn nến nhỏ treo trên đỉnh đầu, y nhìn thấy lờ mờ. Y gom lại từng nắm những sợi chỉ và tìm cách dệt tấm thảm của những tư tưởng và những giấc mơ, những ham muốn và những mục tiêu của mình. Chân y di chuyển đều đặn, bàn tay của y làm việc nhanh nhẹn, giọng nói của y không ngừng tụng đọc các từ:.. “Tôi dệt kiểu mẫu mà tôi tìm kiếm và ưa thích. Sợi dọc và sợi ngang được sắp đặt theo mong muốn của tôi. Tôi tập hợp ở đây một sợi chỉ và ở đây một màu sắc. Tôi tập hợp ở kia một cái khác. Tôi pha trộn các màu sắc, và tôi kết hợp và pha trộn các sợi chỉ. Cho đến nay tôi vẫn chưa nhìn thấy kiểu mẫu đó, nhưng nó chắc chắn sẽ đáp ứng mong muốn của tôi.’ |
|
Loud voices, and a movement from outside the darkened chamber where the Weaver sits; they grow in volume and in power. A window breaks and, though the Weaver cries aloud, blinded by the sudden light, the sun shines in upon his woven carpet. Its ugliness is thus revealed… |
Những tiếng nói lớn, và một chuyển động từ bên ngoài căn buồng tối mà Người Thợ Dệt ngồi; âm lượng và sức mạnh của chúng tăng lên. Một cửa sổ vỡ ra, và mặc dù Người Thợ Dệt la to lên, bị chói mắt bởi ánh sáng đột ngột, mặt trời chiếu vào trên tấm thảm dệt của y. Vẻ xấu xí của nó vì thế bị lộ ra… |
|
A voice proclaims: ‘Look from out thy window, Weaver, and see the pattern in the skies, the model of the plan, the color and the beauty of the whole. Destroy the carpet which you have for ages wrought. It does not meet your need… Then weave again, Weaver. Weave in the light of day. Weave, as you see the plan.’” |
Một giọng nói tuyên bố: ‘Hãy nhìn qua cửa sổ của ngươi, hỡi Người Thợ Dệt, và hãy nhìn kiểu mẫu trên bầu trời, mô hình của thiên cơ, màu sắc và vẻ đẹp của tổng thể. Hãy phá hủy tấm thảm mà ngươi đã dệt nên qua nhiều thời đại. Nó không đáp ứng nhu cầu của ngươi… Sau đó, hãy dệt lại, hỡi Người Thợ Dệt. Hãy dệt trong ánh sáng ban ngày. Hãy dệt như ngươi thấy thiên cơ.” |
The Direction of Ray IV (trang 125-167) [-> Bình Giảng]
|
“ ‘I take and mix and blend. I bring together that which I desire. I harmonize the whole.’ |
‘Tôi chọn, phối trộn và hòa trộn. Tôi tập hợp những gì mà tôi muốn. Tôi làm hài hòa tổng thể.” |
|
Thus spoke the Mixer, as he stood within his darkened chamber. ‘I realize the unseen beauty of the world. Color I know and sound I know. I hear the music of the spheres, and note on note and chord on chord, they speak their thought to me. The voices which I hear intrigue and draw me, and with the sources of these sounds I seek to work. I seek to paint and blend the pigments needed. I must create the music which will draw to me those who like the pictures which I make, the colors which I blend, the music which I can evoke. Me, they will therefore like, and me, they will adore…’ |
Người Phối Trộn nói như vậy, khi y đứng trong căn buồng tối tăm của mình. “Tôi nhận ra vẻ đẹp vô hình của thế giới. Tôi biết màu sắc và tôi biết âm thanh. Tôi nghe thấy âm nhạc của các thiên cầu, từng nốt nhạc, từng hợp âm, chúng nói suy nghĩ của chúng với tôi. Những tiếng nói mà tôi nghe thấy gây thích thú và thu hút tôi, và tôi tìm cách làm việc với các nguồn gốc của những âm thanh này. Tôi tìm cách vẽ và pha trộn các chất màu cần thiết. Tôi phải sáng tạo âm nhạc vốn sẽ thu hút đến tôi những người thích các hình ảnh mà tôi tạo ra, các màu sắc mà tôi pha trộn, âm nhạc mà tôi có thể gợi lên. Do đó họ sẽ thích tôi, và họ sẽ ngưỡng mộ tôi…’ |
|
But crashing came a note of music, a chord of sound which drove the Mixer of sweet sounds to quiet. His sounds died out within the Sound and only the great chord of God was heard. [169] |
Nhưng một nốt nhạc, một hợp âm chói tai vang lên khiến Người Phối Trộn những âm thanh ngọt ngào im bặt. Những âm thanh của y đã chết trong Diệu Âm (Sound) và chỉ có đại hợp âm của Thượng Đế được nghe thấy. [169] |
|
A flood of light poured in. His colors faded out. Around him naught but darkness could be seen, yet in the distance loomed the light of God. He stood between his nether darkness and the blinding light. His world in ruins lay around. His friends were gone. Instead of harmony, there was dissonance. Instead of beauty, there was found the darkness of the grave… |
Một cơn lũ ánh sáng đã tràn vào. Các màu sắc của y nhạt nhòa dần. Không thể thấy gì xung quanh y, trừ bóng tối, tuy nhiên, ánh sáng của Thượng Đế hiện ra lờ mờ ở khoảng cách xa. Y đứng ở giữa bóng tối bên dưới của mình và ánh sáng chói lóa. Thế giới hoang tàn của y ở xung quanh. Bạn bè của y đã đi mất. Thay cho sự hòa hợp, là sự bất hòa. Thay cho sự mỹ lệ, chỉ tìm thấy bóng tối của nấm mồ… |
|
The voice then chanted forth these words: ‘Create again, my child, and build and paint and blend the tones of beauty, but this time for the world and not thyself.’ The Mixer started then his work anew and worked again.” |
Bấy giờ giọng nói ngân nga những lời này: ‘Hãy sáng tạo trở lại, con của ta, hãy kiến tạo, vẽ, và hòa trộn những tông màu của sự mỹ lệ, nhưng lần này cho thế giới chứ không phải cho con’. Bấy giờ Người Phối Trộn bắt đầu công việc của y một lần nữa và hoạt động trở lại.” |
The Direction of Ray V (trang 168-213) [-> Bình Giảng]
|
“Deep in a pyramid, on all sides built around by stone, in the deep dark of that stupendous place, a mind and brain (embodied in a man) were working. Outside the pyramid, the world of God established itself. The sky was blue; the winds blew free; the trees and flowers opened themselves unto the sun. But in the pyramid, down in its dim laboratory, a Worker stood, toiling at work. His test tubes and his frail appliances he used with skill. In rows and rows, the retorts for fusing, and for blending, for crystallizing and for that which sought division, stood with their flaming fires. The heat was great. The toil severe… |
“Sâu trong một kim tự tháp được xây dựng xung quanh bằng đá, trong bóng tối sâu thẳm của chốn vĩ đại đó, một trí tuệ và một bộ não (hiện thân trong một người) đang làm việc. [1a] Bên ngoài kim tự tháp, thế giới của Thượng Đế đã tự biểu hiện. [1b] Bầu trời màu xanh; gió thổi tự do; cây cối và hoa nở đón ánh mặt trời. [1c] Nhưng bên trong kim tự tháp, ở dưới trong phòng thí nghiệm tối tăm, một Người lao động đứng, đang miệt mài làm việc. [1d] Y sử dụng các ống nghiệm và các dụng cụ dễ vỡ của mình một cách khéo léo. [1e] Trong vô số các hàng dãy, các bình cổ cong dùng để nung chảy và phối trộn, dùng để kết tinh và dùng cho những gì tìm cách phân chia, đứng với những ngọn lửa đang cháy của chúng. [1f] Sức nóng vô cùng lớn. Công việc vô cùng vất vả… [1g] |
|
Dim passages, in steady progress, led upward to the summit. There a wide window stood, open unto the blue of heaven, and carrying one clear ray down to the worker in the depths… He worked and toiled. He struggled onwards toward his dream, the vision of an ultimate discovery. He sometimes found the thing he sought, and sometimes failed; but never found that which could give to him the key to all the rest… In deep despair, he cried aloud unto the God he had forgot: ‘Give me the key. I alone can do no more good. Give me the key.’ Then silence reigned… |
Những lối đi mờ tối, lên cao dần, dẫn đến đỉnh. [1h] Có một cửa sổ rộng, mở ra bầu trời xanh, và mang theo một tia sáng trong trẻo xuống cho người lao động ở dưới sâu… Y làm việc và lao động vất vả. [1i] Y đã nỗ lực hướng tới giấc mơ của mình, [1j] tầm nhìn về một khám phá tối hậu. [1k] Đôi khi y tìm thấy điều mà y đã tìm kiếm, và đôi khi thất bại; [1l] nhưng không bao giờ tìm thấy những gì có thể cung cấp cho y chiếc chìa khóa cho tất cả những gì còn lại…. [2a] Trong sự tuyệt vọng sâu sắc, y kêu lớn tới Thượng Đế mà y đã quên: “Hãy cho con chìa khóa. [2b] Một mình con không thể làm gì tốt hơn. Hãy cho con chìa khóa.” [2c] Khi đó, sự im lặng ngự trị…. |
|
Through the opening on the summit of the pyramid, dropped from the blue of heaven, a key came down. It landed at the feet of the discouraged worker. The key was of pure gold; the shaft of light; upon the key a label, and writ in blue, these words: ‘Destroy that which thou has built and build anew. But only build when thou has climbed the upward way, traversed the gallery of tribulation and entered [170] into light within the chamber of the king. Build from the heights, and thus shew forth the value of the depths.’ |
Thông qua khe hở trên đỉnh của kim tự tháp, từ bầu trời xanh một chìa khóa rơi xuống. [2d] Nó rớt xuống ngay bàn chân của người lao động đã nản lòng. [2e] Chìa khóa bằng vàng ròng; [2f] cán chìa bằng ánh sáng; trên chìa khóa có một nhãn dán được viết bằng màu xanh lam: “Hãy phá hủy những gì mà ngươi đã xây dựng và xây dựng lại từ đầu. [2g] Nhưng chỉ xây dựng khi ngươi đã leo theo con đường đi lên, băng qua phòng trưng bày sự khổ não và đi vào [170] ánh sáng trong căn phòng của nhà vua. [2h] Hãy xây dựng từ những đỉnh cao, và từ đó thể hiện giá trị của những vực thẳm.’ [2i] |
|
The Worker then destroyed the objects of his previous toil, sparing three treasures which he knew were good, and upon which the light could shine. He struggled towards the chamber of the king. And still he struggles.” |
Người Lao động sau đó đã phá hủy các đồ vật của sự lao nhọc trước đó của y, để lại ba tài sản tích lũy mà y biết là tốt, và ánh sáng có thể tỏa sáng trên đó. [2j] Y cố gắng hướng tới căn phòng của nhà vua. [2k] Và y vẫn còn phải gắng sức’. [2l] |
The Direction of Ray VI—Chỉ Dẫn cho cung sáu [-> Bình Giảng]
|
“‘I love and live and love again,’ the frenzied Follower cried aloud, blinded by his desire for the teacher and the truth, but seeing naught but that which lay before his eyes. He wore on either side the blinding aids of every fanatic divine adventure. Only the long and narrow tunnel was his home and place of high endeavor. He had no vision except of that which was the space before his eyes. He had no scope for sight, —no height, no depth, no wide extension. He had but room to go one way. He went that way alone, or dragging those who asked the way of him. He saw a vision, shifting as he moved, and taking varying form; each vision was to him the symbol of his highest dreams, the height of his desire. |
‘Tôi yêu và sống và yêu lần nữa,’ Người theo đuổi điên cuồng đã khóc to lên, mù quáng vì khao khát vị thầy và chân lý, nhưng y không thấy gì ngoài những cái ở trước mắt y. Y đeo ở hai bên những dụng cụ hỗ trợ chống chói mắt của mọi cuộc phiêu lưu thần thánh cuồng tín. Chỉ có đường hầm dài và hẹp là nhà của y và nơi y nỗ lực cao độ. Y không có tầm nhìn nào ngoại trừ khoảng không gian trước mắt y. Y không có tầm nhìn, không có chiều cao, không có chiều sâu, không có sự mở rộng. Y chỉ còn chỗ để đi một chiều. Y đi một mình, hoặc kéo theo những người hỏi đường y. Y thấy một tầm nhìn, nó thay đổi khi y di chuyển, và có nhiều dạng khác nhau; mỗi tầm nhìn đối với y là biểu tượng của những giấc mơ cao nhất của y, đỉnh cao của khát vọng của y. |
|
He rushed along the tunnel, seeking that which lay ahead. He saw not much and only one thing at a time,—a person or a truth, a bible or his picture of his God, an appetite, a dream, but only one! Sometimes he gathered in his arms the vision that he saw, and found it naught. Sometimes, he reached the person whom he loved and found, instead of visioned beauty, a person like himself. And thus he tried. He wearied of his search; he whipped himself to effort new. |
Y lao dọc theo đường hầm, tìm kiếm những gì ở phía trước. Y đã không nhìn thấy nhiều và chỉ có một điều tại một thời điểm, —một người hay một chân lý, một cuốn kinh thánh hoặc hình ảnh của y về Thượng đế, một sự ham muốn, một giấc mơ, nhưng chỉ một! Đôi khi y ôm trong vòng tay của y tầm nhìn mà y nhìn thấy, và thấy nó chẳng là gì. Đôi khi, y đạt đến người mà y đã yêu và đã tìm, thay vì vẻ đẹp được hình dung, lại là một người giống như y. Và như thế y đã cố gắng. Y mệt mỏi vì sự tìm kiếm của y; y lao mình cho nỗ lực mới. |
|
The opening dimmed its light. A shutter seemed to close. The vision he had seen no longer shone. The Follower stumbled in the dark. Life ended and the world of thought was lost… Pendent he seemed. He hung with naught below, before, behind, above. To him, naught was. |
Cửa ra vào làm mờ ánh sáng của nó. Một cửa chớp dường như đóng lại. Tầm nhìn y thấy không còn tỏa sáng nữa. Người Theo Đuổi vấp ngã trong bóng tối. Cuộc sống kết thúc và thế giới tư tưởng biến mất… Dường như y treo lơ lửng. Y bị treo mà không có gì bên dưới, phía trước, phía sau, phía trên. Không có gì đối với y. |
|
From deep within the temple of his heart, he heard a Word. It spoke with clarity and power: ‘Look, deep within, around on every hand. The light is everywhere, within the heart, in Me, in all that breathes, in all that is. Destroy thy tunnel, which thou has for ages long constructed. Stand free, in custody of all the world.’ The Follower answered: ‘How shall I break my tunnel down? How can I find a way?’ No answer came…. |
Từ sâu thẳm trong đền thờ của trái tim y, y đã nghe thấy một Lời Nói. Nó nói một cách rõ ràng và mạnh mẽ: ‘Hãy nhìn, sâu vào bên trong, xung quanh trên mọi phía. Ánh sáng ở khắp mọi nơi, trong trái tim, trong Ta, trong tất cả những gì thở, trong tất cả những gì đang tồn tại. Hãy phá hủy đường hầm của ngươi, mà ngươi đã xây dựng từ lâu. Hãy đứng tự do, trong sự trông giữ của cả thế giới.’ Người Theo Đuổi trả lời: ‘Làm cách nào để phá đường hầm của tôi? Làm thế nào tôi có thể tìm thấy một con đường?’ Không có câu trả lời nào… [171] |
|
Another pilgrim in the dark came up, and groping, found the Follower. ‘Lead me and others to the Light,’ he cried. The Follower found no words, no indicated Leader, no formulas of truth, no forms or ceremonies. He found himself a leader, and drew others to the light,—the light that shone on every hand. He worked and struggled forward. His hand held others, and for their sake, he hid his shame, his fear, his hopelessness and his despair. He uttered words of surety and faith in life, and light and God, in love and understanding…. |
Một khách hành hương khác trong bóng tối đã xuất hiện, và trong khi mò mẫm, tìm thấy Người Theo Đuổi. ‘Xin hãy dẫn tôi và những người khác đến Ánh sáng”, y khóc. [h] Người Theo Đuổi không tìm thấy lời lẽ nào, không có Vị Lãnh Đạo nào được chỉ ra, không có những công thức nào của chân lý, không có những hình thức hay nghi lễ nào. Y thấy chính y là một người lãnh đạo, và đã thu hút những người khác tới ánh sáng, – ánh sáng chiếu khắp mọi nơi. Y làm việc và đấu tranh tiến tới trước. Bàn tay y nắm lấy những người khác, và vì họ, y đã giấu sự xấu hổ của y, nỗi sợ hãi, sự thất vọng của y, và tuyệt vọng của y. Y thốt lên những lời bảo đảm và niềm tin vào cuộc sống, và ánh sáng và Thượng Đế, vào tình yêu và sự hiểu biết…. |
|
His tunnel disappeared. He noticed not its loss. Upon the playground of the world he stood with many fellow-players, wide to the light of day. In the far distance stood a mountain blue, and from its summit issued forth a voice which said: ‘Come forward to the mountain top and on its summit learn the invocation of a Saviour.’ To this great task the Follower, now a leader, bent his energies. He still pursues this way….” |
Đường hầm của y biến mất. Y không nhận thấy nó bị mất. Trên sân chơi của thế giới, y đứng với nhiều người chơi khác, mở rộng với ánh sáng ban ngày. Một ngọn núi xanh đứng ở xa, và từ đỉnh của nó một giọng nói vang ra nói rằng: ‘Hãy đi đến đỉnh núi và trên đỉnh của nó, hãy học lời khẩn nguyện của một Đấng Cứu Thế.’ Đối với nhiệm vụ lớn lao này vị Theo đuổi, bây giờ là một nhà lãnh đạo, dồn mọi năng lượng của y cho nó. Y vẫn theo đuổi con đường này…. “ |
The Direction of Ray VII (trang 248-) [-> Bình Giảng]
|
“Under an arch between two rooms, the seventh Magician stood. One room was full of light and life and power, of stillness which was purpose and a beauty which was space. The other room was full of movement, a sound of great activity, a chaos without form, of work which had no true objective. The eyes of the Magician were fixed on chaos. He liked it not. His back was towards the room of vital stillness. He knew it not. The arch was tottering overhead… |
“Nhà Huyền Thuật thứ bảy đứng dưới một mái vòm giữa hai phòng. Một căn phòng đầy ánh sáng, sự sống và quyền lực, sự tĩnh lặng là mục đích và vẻ đẹp là không gian. Phòng kia thì đầy chuyển động, một âm thanh của hoạt động lớn lao, một sự hỗn loạn không có hình dạng, của công việc vốn không có mục tiêu thực sự. Đôi mắt của nhà Huyền Thuật được cố định vào sự hỗn loạn. Y không thích nó. Lưng của y quay về phía căn phòng tĩnh lặng sinh động. Y không biết nó. Mái vòm đang lung lay trên đầu…. |
|
He murmured in despair: ‘For ages I have stood and sought to solve the problem of this room; to rearrange the chaos so that beauty might shine forth, and the goal of my desire. I sought to weave these colors into a dream of beauty, and to harmonize the many sounds. Achievement lacks. Naught but my failure can be seen. And yet I know there is a difference between that which I can see before my eyes and that which I begin to sense behind my back. What shall I do?’ |
Y thì thầm trong tuyệt vọng: “Trong nhiều thời đại, tôi đã đứng và tìm cách giải quyết vấn đề của căn phòng này; sắp xếp lại hỗn loạn sao cho vẻ đẹp có thể tỏa sáng, và là mục tiêu mà tôi mong muốn. Tôi tìm cách dệt những màu sắc này vào một giấc mơ đẹp đẽ, và làm hài hoà nhiều âm thanh. Không có kết quả. Không thấy gì ngoài sự thất bại của tôi. Tuy nhiên, tôi biết rằng có một sự khác biệt giữa những điều mà tôi có thể nhìn thấy trước mắt và những điều mà tôi bắt đầu cảm nhận đằng sau lưng tôi. Tôi nên làm gì?’ |
|
Above the head of the Magician, and just behind his back, and yet within the room of ordered beauty, a magnet vast began to oscillate… It caused the revolution of the man, within the arch, which tottered to a future fall. The magnet turned him round until he faced the scene and room unseen before… [172] |
Phía trên đầu của nhà Huyền Thuật, ngay sau lưng của y, và trong căn phòng có vẻ đẹp ngăn nắp, một nam châm khổng lồ bắt đầu dao động…. Nó gây ra sự xoay vòng của người này, trong khung vòm vốn lung lay sắp đổ. Thanh nam châm quay vòng y cho đến khi y đối diện với khung cảnh và căn phòng mà trước đó y không thấy… [172] |
|
Then through the center of his heart the magnet poured its force attractive. The magnet poured its force repulsive. It reduced the chaos until its forms no longer could be seen. Some aspects of a beauty, unrevealed before, emerged. And from the room a light shone forth and, by its powers and life, forced the Magician to move forward into light, and leave the arch of peril.” |
Bấy giờ, thanh nam châm tuôn đổ lực thu hút của nó qua luân xa tim của y. Thanh nam châm tuôn đổ lực đẩy của nó. Nó làm giảm sự hỗn loạn cho đến khi không thể nhìn thấy những hình tướng của nó nữa. Một số khía cạnh của một vẻ đẹp trước đây chưa được tiết lộ xuất hiện. Từ căn phòng, một ánh sáng chiếu ra, bằng các quyền năng và sự sống, nó buộc nhà Huyền Thuật phải di chuyển về phía trước vào trong ánh sáng, và rời khỏi mái vòm nguy hiểm.” |
Webinar 21 [-> Bình Giảng]
|
We have studied an interesting sequence of Laws. In Law One, we find that three major ideas emerge: |
Chúng ta đã nghiên cứu một chuỗi Định luật thú vị. Trong Định luật Một, chúng ta thấy ba ý tưởng chính nổi lên: |
|
First of all, that the Eternal Pilgrim, of his own free will and accord, chose “occultly” to die and took a body or series of bodies in order to raise or elevate the lives of the form nature which he embodied. [21-1] In the process of so doing, he himself “died”, in the sense that, for a free soul, death and the taking of a form and the consequent immersion of the life in the form, are synonymous terms. [21-2] |
Trước hết, rằng Lữ Khách Vĩnh Cửu, do ý chí tự do và sự tự nguyện của chính mình, đã chọn chết “một cách huyền bí” và khoác lấy một thể, hoặc một chuỗi các thể, nhằm nâng lên hay thăng cao các sự sống của bản chất hình tướng mà y đã nhập vào. Trong tiến trình làm như vậy, chính y cũng đã “chết”, theo ý nghĩa rằng đối với một linh hồn tự do, cái chết và việc nhận lấy một hình tướng, cùng sự chìm đắm hệ quả của sự sống vào trong hình tướng, là những thuật ngữ đồng nghĩa. |
|
Secondly, that in so doing, the soul is recapitulating on a small scale what the solar Logos and the planetary Logos have likewise done, and are doing. [21-3] These great Lives come under the rule of the laws of the soul during the period of manifestations, even though they are not governed or controlled by the laws of the natural world, as we call it. [21-4] Their consciousness remains unidentified with the world of phenomena, though ours is identified with it until such time that we come under the rule of the higher laws. By the occult “death” of these great Lives, all lesser lives can live and are proffered opportunity. [21-5] |
Thứ hai, rằng khi làm như vậy, linh hồn đang tóm lược lại trên một quy mô nhỏ điều mà Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế cũng đã làm và đang làm. Những Sự Sống vĩ đại này chịu sự cai quản của các định luật của linh hồn trong suốt thời kỳ biểu lộ, dù Các Ngài không bị cai quản hay kiểm soát bởi các định luật của thế giới tự nhiên, như chúng ta gọi. Tâm thức của Các Ngài vẫn không đồng hoá với thế giới hiện tượng, trong khi tâm thức của chúng ta đồng hoá với nó cho đến khi chúng ta chịu sự cai quản của các định luật cao hơn. Nhờ “cái chết” huyền bí của những Sự Sống vĩ đại này, mọi sự sống nhỏ hơn có thể sống và được trao cơ hội. |
|
[173] |
[173] |
|
Thirdly, that through death, a great at-one-ing process is carried forward. In the “fall of a leaf” and its consequent identification with the soil on which it falls, we have a tiny illustration of this great and eternal process of at-one-ing, through becoming and dying as a result of becoming. [21-6] |
Thứ ba, rằng qua cái chết, một tiến trình hợp nhất vĩ đại được thúc đẩy tiến lên. Trong “sự rơi của một chiếc lá” và sự đồng nhất hệ quả của nó với mảnh đất nơi nó rơi xuống, chúng ta có một minh hoạ nhỏ bé cho tiến trình hợp nhất vĩ đại và vĩnh cửu này, qua việc trở thành và chết đi như một kết quả của việc trở thành. |
|
In Law Two, the sacrificing unit—again freely and by choice—comes under the influence of the method whereby this death is brought about. [21-7] By the impact of the pairs of opposites and through his being “pendent” ‘twixt the two, he knows the outer darkness as Christ knew it finally at the Crucifixion, where He hung, symbolically pendent ‘twixt heaven and earth, and through the potency of His own inner vibration and magnetism, has drawn and will draw all men to Himself. This is the first great idea emerging. [21-8] The second emerging idea concerns the balancing of the forces which have been mastered. The symbol of the scales is here appropriate, and, of this truth, the three Crosses on Mount Golgotha are also symbols. [21-9] Libra governs this law, and certain forces from that constellation can be sensed when the soul consciousness comes under the influence of the law. These forces are quiescent where the personality is concerned; their effect does not register, even though necessarily present. [21-10] |
Trong Định luật Hai, đơn vị hi sinh—một lần nữa, một cách tự do và do lựa chọn—chịu ảnh hưởng của phương pháp nhờ đó cái chết này được đem lại. Do tác động của các cặp đối cực và do y “treo lơ lửng” giữa hai phía, y biết bóng tối bên ngoài như Đức Christ sau cùng đã biết vào lúc Đóng Đinh, nơi Ngài, nói một cách tượng trưng, treo lơ lửng giữa trời và đất, và nhờ năng lực rung động nội tại cùng từ tính của chính Ngài, Ngài đã kéo và sẽ kéo mọi người về với Ngài. Đây là ý tưởng lớn thứ nhất nổi lên. Ý tưởng nổi lên thứ hai liên quan đến sự quân bình các mãnh lực đã được chế ngự. Biểu tượng cái cân ở đây là thích đáng, và, đối với chân lý này, ba thập giá trên Núi Golgotha cũng là các biểu tượng. Thiên Bình cai quản định luật này, và có thể cảm nhận được một số mãnh lực từ chòm sao ấy khi tâm thức linh hồn chịu ảnh hưởng của định luật. Những mãnh lực này, xét về phàm ngã, thì tĩnh lặng; tác dụng của chúng không ghi nhận được, dù tất yếu vẫn hiện diện. |
|
In Law Three, the sacrificing God and the God of the dualities come under certain influences which produce more easily recognised effects. [21-11] By his death and by his victory over the pairs of opposites, the disciple becomes so magnetic and vibrant, that he serves the race by becoming what he knows he is. [21-12] Immersed, physically, from the angle of the personality, in the waters of earthly existence, yet at the same time he is aware—in consciousness—of other conditions, of his essential purpose in dying for other lives, and aware also of the method which he must employ in achieving and attaining the releasing equilibrium. [21-13] When these ideas are dominant in the mind, [174] he can serve his fellow men. These laws have this effect only as they emerge in the consciousness of the man who is building the antaskarana and who is proceeding with the Science of Union. [21-14] |
Trong Định luật Ba, Thượng đế hi sinh và Thượng đế của các nhị nguyên tính chịu một số ảnh hưởng tạo ra các hiệu quả dễ nhận biết hơn. Nhờ cái chết của y và nhờ chiến thắng của y trước các cặp đối cực, đệ tử trở nên từ tính và rung động đến mức y phụng sự nhân loại bằng cách trở thành điều mà y biết mình là. Dù—xét từ góc độ phàm ngã—y chìm trong nước của hiện hữu trần thế về mặt thể xác, nhưng đồng thời y vẫn ý thức—trong tâm thức—về những điều kiện khác, về mục đích cốt yếu của y khi chết cho các sự sống khác, và cũng ý thức về phương pháp mà y phải sử dụng để đạt được và thành tựu sự quân bình giải thoát. Khi những ý tưởng này chi phối trong thể trí, [174] y có thể phụng sự những người đồng loại. Những định luật này chỉ tạo ra hiệu quả ấy khi chúng xuất hiện trong tâm thức của người đang xây dựng antahkarana và đang tiến hành Khoa Học Hợp Nhất. |
|
It is when the fourth Law of Repulse is beginning to produce its effects that the disciple becomes aware of the Angel with the Flaming Sword, Who stands before the portal of initiation. [21-15] By this portent, he knows that he can now enter; but, this time, not as a poor blind candidate, but as an initiate in the mysteries of the world. The truth of this has been summed up for us in an ancient chant which used to be sung in the ante-chamber of the Temples. Some of the words may be roughly expressed as follows: [21-16] |
Chính khi Định luật thứ tư của Định luật Đẩy Lùi bắt đầu tạo ra các tác dụng của nó thì đệ tử trở nên ý thức về Thiên Thần với Thanh Gươm Rực Lửa, Đấng đứng trước cổng điểm đạo. Nhờ điềm báo này, y biết rằng giờ đây y có thể bước vào; nhưng lần này, không phải như một ứng viên nghèo nàn mù lòa, mà như một điểm đạo đồ trong các huyền nhiệm của thế gian. Chân lý này đã được tóm lược cho chúng ta trong một khúc tụng cổ xưa vốn từng được hát trong tiền sảnh của các Đền Thờ. Một vài lời có thể được diễn đạt đại khái như sau: |
|
“He enters free, he who has known the prison walls. He passes into light with open eyes, he who for aeons long has groped the darkened corridor. He passes on his way, he who has stood for ages before a fast closed door. [21-17] |
“Y bước vào tự do, y là người đã biết những bức tường ngục thất. Y đi vào ánh sáng với đôi mắt mở rộng, y là người qua bao đại kiếp đã lần mò trong hành lang tối tăm. Y tiếp tục trên đường, y là người đã đứng qua bao thời đại trước một cánh cửa đóng chặt. |
|
He speaks with power the Word which opens wide the Gate of Life. He stands before the Angel and takes away his sword, releasing thus the Angel unto a higher task. He himself guards the doorway into the Holy Place. [21-18] |
Y nói ra với quyền năng Linh từ mở rộng Cổng Sự Sống. Y đứng trước Thiên Thần và lấy đi thanh gươm của y, nhờ đó giải phóng Thiên Thần cho một nhiệm vụ cao hơn. Chính y canh giữ lối vào Nơi Thánh. |
|
He died. He entered the strife. He learnt the way of service. He stands before the door.” |
Y đã chết. Y đã bước vào cuộc tranh đấu. Y đã học con đường phụng sự. Y đứng trước cánh cửa.” |
|
End of LOTSWC 21, EP II p. 174 |
Kết thúc LOTSWC 21, EP II tr. 174 |
Webinar 22 [-> Bình Giảng]
Beginning of LOTSWC 22, EP II p. 174 with the Law Of Group Progress
5. The Law Of Group Progress [22_1]
|
No |
Exoteric Name |
Esoteric Name |
Symbol |
Ray Energy |
|
5. |
The Law of Group Progress. |
The law of Elevation. |
The Mountain and the Goat |
Progressive Energy Seventh ray.. Factor of Evolution |
|
This law begins to function and to be registered in the personal consciousness when the aspirant has achieved certain definite realisations, and knows certain ideals as facts in his experience. [22_2] These might be listed in a very simple way [175] and would then connote to the superficial student the simplest achievement of the Probationary Path. It would, however, be well if we could grasp this fact with clarity, that this simple formulation of requirements and their achievement within the aspirant’s consciousness, demonstrate as the outer and veiled reactions of his mind to some deeply esoteric cosmic truths. [22_3] This statement contains the very essence of the esoteric knowledge. The quite ordinary formulations of loving living and of daily instinctive self-sacrifice suffer from being so vitally familiar and yet—if we could only realise it—they are only on the outer fringe of the deepest world truths. [22_4] They are the A.B.C. of esotericism and through them, and only through them, shall we arrive at the words and sentences which are, in their turn, the essential key to the highest knowledge. [22_5] |
Định luật này bắt đầu vận hành và được ghi nhận trong tâm thức cá nhân khi người chí nguyện đã đạt được một số chứng nghiệm xác định, và biết một số lý tưởng như những sự kiện trong kinh nghiệm của mình. Có thể liệt kê chúng theo một cách rất đơn giản [175] và khi ấy, đối với đạo sinh hời hợt, chúng sẽ hàm ý thành tựu đơn giản nhất của Con Đường Dự Bị. Tuy nhiên, sẽ là tốt nếu chúng ta có thể nắm bắt rõ ràng sự kiện này: rằng sự trình bày đơn giản về các yêu cầu và việc đạt được chúng trong tâm thức của người chí nguyện, biểu lộ như những phản ứng bên ngoài và được che phủ của thể trí y trước một số chân lý vũ trụ sâu xa và hết sức huyền bí. Mệnh đề này chứa đựng chính tinh tuý của tri thức nội môn. Những công thức rất bình thường về đời sống yêu thương và về sự hi sinh bản thân hằng ngày theo bản năng, bị thiệt thòi vì quá quen thuộc một cách sống còn, và tuy vậy—nếu chúng ta chỉ cần chứng nghiệm được—chúng chỉ ở nơi rìa ngoài của những chân lý sâu thẳm nhất của thế giới. Chúng là A.B.C. của huyền bí học, và qua chúng, và chỉ qua chúng, chúng ta sẽ đi đến những từ ngữ và câu văn mà đến lượt chúng, là chiếc chìa khoá thiết yếu của tri thức cao nhất. |
|
A brief example will serve to illustrate this, and we can then consider some simple facts which indicate that the aspirant is beginning to function as a soul and is ready for conscious life in the kingdom of God. [22_6] |
Một ví dụ ngắn sẽ giúp minh hoạ điều này, và rồi chúng ta có thể xét một số sự kiện đơn giản cho thấy người chí nguyện đang bắt đầu vận hành như một linh hồn và đã sẵn sàng cho đời sống hữu thức trong Thiên Giới. |
|
The disciple in training for these higher realisations is urged to practice the faculty of discrimination. You have been so urged. The initial and normal interpretation and the immediate effect of the practice is to teach the disciple to distinguish between the pairs of opposites. [22_7] Yet just as the disciple in his early training discovers that the discriminating process has naught to do with the choice between recognised evil (so-called) and recognised good, but concerns the more subtle pairs of opposites such as right and wrong silences, right and wrong speech, right understanding and right indifference and their opposites, so the man who is reacting to these higher laws discovers that the discrimination to be shown is again still more subtle and is—for the bulk of the aspirants in the world today—still a meaningless objective. [22_8] This type of discrimination [176] is not even being evoked. It is that which must he shown in relation to the following subtle contacts: |
Đệ tử đang được huấn luyện cho những chứng nghiệm cao hơn này được thúc giục thực hành năng lực phân biện. Các bạn đã được thúc giục như vậy. Cách diễn giải ban đầu và bình thường, cùng tác dụng tức thời của sự thực hành, là dạy đệ tử phân biệt giữa các cặp đối cực. Tuy nhiên, cũng như đệ tử trong giai đoạn huấn luyện sớm khám phá rằng tiến trình phân biện chẳng liên quan gì đến sự lựa chọn giữa điều ác (gọi là) đã được thừa nhận và điều thiện đã được thừa nhận, mà liên quan đến những cặp đối cực tinh tế hơn như sự im lặng đúng và sai, lời nói đúng và sai, sự thấu hiểu đúng và sự điềm nhiên đúng cùng các đối cực của chúng, thì người đang đáp ứng với các định luật cao hơn này cũng khám phá rằng sự phân biện cần được biểu lộ lại còn tinh tế hơn nữa và—đối với đại đa số người chí nguyện trên thế giới ngày nay—vẫn là một mục tiêu vô nghĩa. Loại phân biện này [176] thậm chí còn chưa được khơi dậy. Đó là điều phải được biểu lộ liên hệ với những tiếp xúc tinh tế sau đây: |
|
1. The vibration of the soul itself. |
1. Rung động của chính linh hồn. |
|
2. The vibration of the inner group with which he is, even if unconsciously, affiliated. |
2. Rung động của nhóm nội tại mà y—dù vô thức—vẫn liên kết. |
|
3. The vibration of the Master as the focal point of the group. |
3. Rung động của Chân sư như điểm hội tụ của nhóm. |
|
4. His ray vibration, as sensed via his soul and the Master. |
4. Rung động cung của y, như được cảm nhận qua linh hồn y và Chân sư. |
|
5. The vibration resulting from the interplay between his soul and his personality. [22_9] |
5. Rung động phát sinh từ sự tương tác giữa linh hồn y và phàm ngã y. |
|
6. The three different vibrations of his vital body, his emotional body and the mind. |
6. Ba rung động khác nhau của thể sinh lực, thể cảm dục và thể trí của y. |
|
7. The vibration of the groups or the group with which he must work upon the outer plane. |
7. Rung động của các nhóm hoặc nhóm mà y phải làm việc trên cõi bên ngoài. |
|
8. The soul vibration of other people whom he contacts. |
8. Rung động linh hồn của những người khác mà y tiếp xúc. |
|
9. The vibration of such a group as the New Group of World Servers. [22_10] |
9. Rung động của một nhóm như Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. |
|
These are only some instances of the type of discriminations which are required. These he will learn to distinguish instinctively when he is further developed. [22_11] I would like to remind you that it is when we try to discriminate entirely mentally that the problem seems insuperable. When the rule of the soul and the recognition of the soul have been firmly established, these different recognitions become instinctual reactions. Intuitional response is the name we give to the instinctual life of the soul—the higher correspondence to the instinctual life of the human body. [22_12] In the above paragraphs we have a simple summary of some of the deeper significances of the simple injunction: “Learn to discriminate.” How much have we truly understood this injunction? [22_13] Intellectually, the mind may give assent. Practically, the words frequently mean nothing. Do they signify to us the power of the soul to separate vibrations into differing categories? Yet we are told [177] that the soul knows naught of separation! Such are some of the paradoxes of esotericism to the uninitiate. [22_14] |
Đây chỉ là một vài ví dụ về loại phân biện được đòi hỏi. Y sẽ học cách phân biệt chúng theo bản năng khi y phát triển hơn nữa. Tôi muốn nhắc các bạn rằng chính khi chúng ta cố gắng phân biện hoàn toàn bằng trí tuệ thì vấn đề mới có vẻ không thể vượt qua. Khi sự cai quản của linh hồn và sự nhận biết linh hồn đã được thiết lập vững chắc, những sự nhận biết khác nhau này trở thành các phản ứng theo bản năng. Đáp ứng trực giác là tên chúng ta đặt cho đời sống theo bản năng của linh hồn—một sự tương ứng cao hơn với đời sống theo bản năng của thể xác con người. Trong các đoạn trên, chúng ta có một bản tóm lược đơn giản về một số thâm nghĩa sâu hơn của lời khuyến dụ đơn giản: “Hãy học phân biện.” Chúng ta đã thực sự thấu hiểu lời khuyến dụ này đến mức nào? Về mặt trí tuệ, thể trí có thể tán đồng. Về mặt thực hành, các lời ấy thường chẳng có nghĩa gì. Chúng có hàm ý đối với chúng ta năng lực của linh hồn trong việc phân loại các rung động thành những phạm trù khác nhau chăng? Thế mà chúng ta được bảo [177] rằng linh hồn chẳng biết gì về sự phân chia! Đó là một số nghịch lý của huyền bí học đối với người chưa được điểm đạo. |
|
The Law Of Group Progress can only begin to have a conscious effect in the life of the disciple who has been pledged and accepted. When he has established certain rhythms, when he is working effectively along certain well recognised group lines, and when he is definitely and in understanding consciousness preparing himself for the expansions of initiation, then this law begins to sway him and he learns to obey it instinctively, intuitively and intellectually. [22_15] It is through obedience to this law that preparation for initiation is instituted by the disciple. The previous sentence is so worded because it is important that all should grasp the self-initiated necessity of initiation. Do we understand this importance? [22_16] Some of the effects earlier mentioned in the initial discussion of this fifth law can here be enumerated. Let us not forget their esoteric and unseen significances. [22_17] |
Định luật Tiến Bộ Nhóm chỉ có thể bắt đầu tạo ra một tác dụng hữu thức trong đời sống của đệ tử đã được cam kết và được chấp nhận. Khi y đã thiết lập một số nhịp điệu, khi y đang làm việc hữu hiệu theo một số đường lối nhóm đã được thừa nhận rõ ràng, và khi y đang dứt khoát—trong tâm thức thấu hiểu—chuẩn bị cho mình những sự mở rộng của điểm đạo, thì định luật này bắt đầu chi phối y và y học cách tuân theo nó theo bản năng, theo trực giác và theo trí tuệ. Chính qua sự tuân phục định luật này mà sự chuẩn bị cho điểm đạo được đệ tử thiết lập. Câu trước được viết như vậy vì điều quan trọng là mọi người phải nắm bắt tính tất yếu của điểm đạo do chính mình khởi xướng. Chúng ta có hiểu tầm quan trọng này không? Một số tác dụng đã được nêu trước đó trong phần thảo luận ban đầu về định luật thứ năm này có thể được liệt kê ở đây. Chúng ta chớ quên các thâm nghĩa nội môn và vô hình của chúng. |
|
1. The disciple will then learn effectively to decentralise himself. This means that |
1. Khi ấy đệ tử sẽ học cách phi tập trung vào bản thân một cách hữu hiệu. Điều này có nghĩa rằng |
|
a. He will ask nothing for the separated self. One can therefore easily see why aspirants are taught to pledge allegiance to their Higher Self, and to foreswear all claims of this separated self. [22_18] One can see also why so many react against it. They are not ready for it, and such a pledge therefore acts as a great discriminating agent. To those for whom the standard of selflessness is set too high, it is neither understood nor desired. [22_19] Therefore the unready criticise it. Later these will come back and with understanding take this obligation in the light. |
a. Y sẽ không đòi hỏi gì cho cái ngã tách biệt. Vì vậy, người ta có thể dễ dàng thấy vì sao những người chí nguyện được dạy cam kết trung thành với chân ngã của mình, và từ bỏ mọi đòi hỏi của cái ngã tách biệt này. Người ta cũng có thể thấy vì sao nhiều người phản ứng chống lại điều đó. Họ chưa sẵn sàng, và vì thế một lời cam kết như vậy hoạt động như một tác nhân phân biện lớn. Đối với những người mà tiêu chuẩn vô ngã được đặt quá cao, điều ấy không được hiểu cũng không được mong muốn. Vì vậy, người chưa sẵn sàng chỉ trích nó. Về sau, họ sẽ quay lại và, với sự thấu hiểu, tiếp nhận nghĩa vụ này trong ánh sáng. |
|
b. His eyes are towards the light and not towards desire for contact with the Master. [22_20] This, therefore, rules out that spiritual selfishness which has been expressed [178] by the desire, innate and deep, for recognition by one of the Great Ones. [22_21] When this freedom from the personal is found, then the Master can dare to make a contact and to establish a relation with the disciple. It would be well for us to ponder on this. [22_22] |
b. Mắt y hướng về ánh sáng chứ không hướng về dục vọng được tiếp xúc với Chân sư. Vì vậy, điều này loại trừ sự ích kỷ tinh thần đã được biểu lộ [178] qua ước muốn bẩm sinh và sâu xa được một trong Các Đấng Cao Cả công nhận. Khi sự tự do khỏi cái cá nhân được tìm thấy, khi ấy Chân sư mới có thể dám tạo một tiếp xúc và thiết lập một mối liên hệ với đệ tử. Sẽ là tốt nếu chúng ta suy ngẫm về điều này. |
|
2. He will have learnt to serve instinctively. He may, and usually does, need to learn to discriminate in his service; but his attitude to life and toward all men is a divine rushing forth to aid, to lift, to love and to succour. [22_23] |
2. Y sẽ học được cách phụng sự theo bản năng. Y có thể, và thường là cần, học cách phân biện trong sự phụng sự của mình; nhưng thái độ của y đối với đời sống và đối với mọi người là một sự tuôn trào thiêng liêng để trợ giúp, để nâng lên, để yêu thương và để cứu trợ. |
|
3. He will have learnt to use the mind in two directions, increasingly and at will, and instantaneously: [22_24] |
3. Y sẽ học được cách sử dụng thể trí theo hai hướng, ngày càng nhiều và theo ý muốn, và tức thời: |
|
a. He can cast the search-light of the mind into the world of the soul, and know and recognise those truths which must, for him, become his experienced knowledge. [22_25] |
a. Y có thể chiếu luồng đèn pha của thể trí vào thế giới của linh hồn, và biết cùng nhận ra những chân lý mà, đối với y, phải trở thành tri thức được chứng nghiệm. |
|
b. He can also cast it into the world of illusion and dispel the glamours of the personal. When he can do that, then he begins to dispel the world glamours for he is nearing initiation. [22_26] |
b. Y cũng có thể chiếu nó vào thế giới ảo tưởng và làm tan các ảo cảm của cái cá nhân. Khi y có thể làm được điều đó, thì y bắt đầu làm tan các ảo cảm của thế giới vì y đang tiến gần điểm đạo. |
|
a. THE LINK OF THE WORLD GROUPS |
a. MỐI LIÊN KẾT CỦA CÁC NHÓM THẾ GIAN |
|
It would be possible to go on listing the various developments which indicate to the onlooking Hierarchy that a disciple, or a group of disciples, are now ready for “more light.” [22_27] The major indication is, however, their reaction to the Law Of Group Progress. It is this Law which is the coming new law to be sensed by the world disciples and which is already becoming more effective in its potency, even though this will not be realised by humanity for a long while yet. [22_28] It will bring into activity the work of the world groups. In the past, groups have been formed for mutual benefit, for mutual interest and study, for mutual strengthening. This has been [179] their glory, and also their curse, for great and good though their motives may have been, yet these groups have been basically and primarily selfish, with a form of spiritual selfishness most difficult to overcome, and calling for the expression of the true discrimination to which I have earlier referred. [22_29] Such groups have ever been battlegrounds wherein the least able and the least integrated have been absorbed and standardised or regimented, and the most powerful have dominated eventually, and the indefinite ones have been eliminated and rendered totally quiescent. [22_30] The successful group has eventually turned out to be one composed of kindred souls who are all thinking alike, because no one thinks with intuition, but who are governed by some school of thought, or because some central figure in the group dominates all the rest, hypnotising them into an instinctual, quiescent, static condition. [22_31] This may be to the glory of the teacher and of the group, but it certainly is not to the glory of God. [22_32] |
Có thể tiếp tục liệt kê các sự phát triển khác nhau cho thấy đối với Thánh Đoàn đang quan sát rằng một đệ tử, hoặc một nhóm đệ tử, giờ đây đã sẵn sàng cho “nhiều ánh sáng hơn.” Tuy nhiên, dấu hiệu chủ yếu là phản ứng của họ đối với Định luật Tiến Bộ Nhóm. Chính Định luật này là định luật mới sắp đến cần được các đệ tử thế gian cảm nhận, và nó đã đang trở nên hữu hiệu hơn trong năng lực của nó, dù nhân loại sẽ chưa nhận ra điều này trong một thời gian dài nữa. Nó sẽ đưa công việc của các nhóm thế gian vào hoạt động. Trong quá khứ, các nhóm đã được hình thành vì lợi ích tương hỗ, vì mối quan tâm và học tập tương hỗ, vì sự tăng cường tương hỗ. Đây đã là [179] vinh quang của họ, và cũng là lời nguyền của họ, vì dù động cơ của họ có thể lớn lao và tốt đẹp, nhưng các nhóm ấy về căn bản và chủ yếu vẫn ích kỷ, với một dạng ích kỷ tinh thần khó vượt qua nhất, và đòi hỏi sự biểu lộ của sự phân biện chân chính mà tôi đã nói đến trước đó. Những nhóm như vậy luôn là các chiến trường, nơi những người kém khả năng nhất và kém tích hợp nhất đã bị hấp thụ và bị tiêu chuẩn hoá hoặc bị kỷ luật hoá theo đội ngũ, và những người mạnh nhất cuối cùng đã thống trị, còn những người mơ hồ thì bị loại bỏ và bị làm cho hoàn toàn tĩnh lặng. Nhóm thành công cuối cùng hoá ra là một nhóm gồm những linh hồn đồng điệu, tất cả đều nghĩ giống nhau, bởi vì không ai nghĩ bằng trực giác, mà họ bị cai quản bởi một trường phái tư tưởng nào đó, hoặc bởi vì một nhân vật trung tâm trong nhóm thống trị tất cả những người còn lại, thôi miên họ vào một trạng thái bản năng, tĩnh lặng, bất động. Điều này có thể là vinh quang của huấn sư và của nhóm, nhưng chắc chắn không phải là vinh quang của Thượng đế. |
|
End of LOTSWC 22, EP II p. 179 |
Kết thúc LOTSWC 22, EP II tr. 179 |
Webinar 23 [-> Bình Giảng]
|
|
|
|
Beginning with LOTSWC 23, EP II p. 179 |
Bắt đầu với LOTSWC 23, EP II tr. 179 |
|
Today the new groups are slowly and gradually coming into being and being governed by these soul laws. They will, therefore, strike a different note and produce groups which are welded together by a united aspiration and objective. [23_1] Yet they will be constituted of free souls, individual and developed, who recognise no authority but that of their own souls, and submerge their interests to the soul purpose of the group as a whole. [23_2] Just as the achievement of an individual has, down the ages, served to raise the race, so a paralleling achievement in group formation will tend to raise humanity still more rapidly. Hence this law is called that of Elevation. [23_3] |
Ngày nay, các nhóm mới đang chậm rãi và dần dần đi vào hiện hữu và được chi phối bởi những định luật của linh hồn này. Vì vậy, họ sẽ ngân một chủ âm khác và tạo nên các nhóm được kết chặt bởi một khát vọng và mục tiêu hợp nhất. Tuy vậy, họ sẽ gồm những linh hồn tự do, có tính cá thể và đã phát triển, không thừa nhận thẩm quyền nào ngoài linh hồn của chính mình, và hoà tan lợi ích riêng vào mục đích linh hồn của toàn nhóm. Cũng như thành tựu của một cá nhân, qua bao thời đại, đã góp phần nâng cao nhân loại, thì một thành tựu song song trong việc hình thành nhóm sẽ có khuynh hướng nâng nhân loại lên còn nhanh hơn nữa. Do đó định luật này được gọi là Định luật Nâng Cao. |
|
|
|
|
The time has now come when this method of raising the race can begin to be tried. Those who have entered upon the Path of Probation have attempted to raise humanity and have failed. Those who have passed upon the Path of Discipleship have also tried and failed. [23_4] Those who have themselves [180] mastered circumstance and the illusion of death, and have consequently been raised unto life, can now attempt the task in united formation. They will succeed. [23_5] The word has gone forth with the request for this united activity, and the urge to bend every effort to raise the dead body of humanity. A great and possible achievement of the Lodge of Masters is now imminent and all aspirants and all disciples can be swung into a synthetic recognition of power and of opportunity. [23_6] |
Giờ đây đã đến lúc phương pháp nâng nhân loại này có thể bắt đầu được thử nghiệm. Những ai đã bước lên Con Đường Dự Bị đã cố gắng nâng nhân loại và thất bại. Những ai đã tiến trên Con Đường Đệ Tử cũng đã thử và thất bại. Những ai tự thân [180] đã làm chủ hoàn cảnh và ảo tưởng về cái chết, và do đó đã được nâng vào sự sống, nay có thể thử đảm trách công việc trong một hình thái hợp nhất. Các Ngài sẽ thành công. Linh từ đã phát ra cùng lời thỉnh cầu về hoạt động hợp nhất này, và sự thôi thúc dồn mọi nỗ lực để nâng thân xác chết của nhân loại. Một thành tựu lớn và khả hữu của Hội các Chân sư nay đã cận kề, và mọi người chí nguyện cùng mọi đệ tử có thể được cuốn vào một sự thừa nhận tổng hợp về quyền năng và cơ hội. |
|
|
|
|
It is for this end that the teaching anent the New Group of World Servers was given out broadcast. This is the first attempt to form a group which would work as a group and attempt a world task. [23_7] They can act as an intermediate group between the world of men and the Hierarchy. They stand between what is occultly called the “dead Master” and the “living Masters.” Masons will understand what is here described. The true esotericist will also see the same truth from another angle. [23_8] |
Vì mục đích này nên giáo huấn liên quan đến Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đã được công bố rộng rãi. Đây là nỗ lực đầu tiên nhằm hình thành một nhóm sẽ làm việc như một nhóm và đảm đương một công tác thế giới. Họ có thể hoạt động như một nhóm trung gian giữa thế giới của loài người và Thánh Đoàn. Họ đứng giữa điều mà theo nội môn gọi là “Chân sư đã chết” và “các Chân sư sống”. Những Hội viên Tam Điểm sẽ hiểu điều được mô tả ở đây. Nhà bí truyền học chân chính cũng sẽ thấy cùng một chân lý từ một góc độ khác. |
|
|
|
|
I would like here to give you some thoughts anent the new groups which come into functioning activity under the Law Of Group Progress. It must be constantly remembered, as one considers these coming new groups, that they are primarily an experiment in Group Activity, and are not formed for the purpose of perfecting the individual member in any group. [23_9] This is a fundamental and essential statement, if the objectives are rightly to be understood. In these groups the members supplement and fortify each other, and, in the aggregate of their qualities and capacities, they should eventually provide groups capable of useful spiritual expression, and through which spiritual energy can flow, unimpeded, for the helping of humanity [23_10] . The work to be done is very largely upon mental levels. The spheres of daily service of the individual members of the new groups remain as their destiny and inner urge indicates upon the physical plane; but—to the differing [181] fields of individual effort — there will be added (and this is the point of importance) a group activity which will be a joint and united service. [23_11] |
Tôi muốn ở đây đưa ra vài tư tưởng liên quan đến các nhóm mới vốn đi vào hoạt động hiệu quả dưới Định luật Tiến Bộ của Nhóm. Cần luôn ghi nhớ, khi cân nhắc các nhóm mới đang đến này, rằng chúng chủ yếu là một thí nghiệm về Hoạt Động Nhóm, và không được thành lập nhằm mục đích hoàn thiện cá nhân của bất kỳ thành viên nào trong nhóm. Đây là một khẳng định căn bản và thiết yếu, nếu muốn thấu hiểu đúng các mục tiêu. Trong các nhóm này, các thành viên bổ trợ và củng cố lẫn nhau, và, trong tổng hợp các phẩm tính và năng lực của họ, rốt cuộc họ nên hình thành những nhóm có khả năng biểu đạt tinh thần hữu ích, và qua đó năng lượng tinh thần có thể lưu thông không bị ngăn trở để giúp đỡ nhân loại. Công việc phải làm phần rất lớn ở trên các cấp trí tuệ. Các lĩnh vực phụng sự hằng ngày của các thành viên cá nhân trong các nhóm mới vẫn ở trên cõi hồng trần như định mệnh và thôi thúc nội tâm của họ chỉ dẫn; nhưng—vào những [181] lĩnh vực nỗ lực cá nhân khác nhau—sẽ được bổ sung (và đây là điểm quan trọng) một hoạt động nhóm, vốn sẽ là một sự phụng sự chung và hợp nhất. |
|
|
|
|
Each person in such groups has to learn to work in a close mental and spiritual cooperation with all the others, and this takes time, given the present point of evolutionary development of the world aspirants. Each has to pour forth love on all, and this is not easy. [23_12] Each has to learn to subordinate his own personality ideas and his personal growth to the group requirements, for at present some will have to hasten their progress in certain directions, and some must slow it down as a service to the others. [23_13] This process will take place automatically as the group identity and integration becomes the dominant thought in the group consciousness, and the desire for personal growth and spiritual satisfaction is relegated to a secondary place. [23_14] |
Mỗi người trong các nhóm như vậy phải học làm việc trong sự hợp tác mật thiết về mặt trí tuệ và tinh thần với tất cả những người khác, và điều này cần thời gian, xét theo điểm tiến hoá hiện tại của những người chí nguyện trên thế giới. Mỗi người phải tuôn rải tình thương đến mọi người, và điều đó không dễ. Mỗi người phải học đặt các ý tưởng phàm ngã của mình và sự tăng trưởng cá nhân của mình xuống dưới các yêu cầu của nhóm, vì hiện tại một số sẽ phải gia tốc tiến trình của mình theo vài hướng, và một số phải làm chậm lại như một sự phụng sự cho những người khác. Tiến trình này sẽ diễn ra một cách tự động khi căn tính nhóm và sự tích hợp trở thành tư tưởng thống trị trong tâm thức nhóm, và ước muốn tăng trưởng cá nhân và mãn nguyện tinh thần được xếp xuống hàng thứ yếu. |
|
|
|
|
This contemplated group unity will have its roots in group meditation, or in the contemplative life (in which the soul knows itself to be one with all souls). This in its turn will work out in some form of group activity which will constitute the distinguishing contribution of any particular group to the raising of the human race esoterically. [23_15] Within the group life, the individual will not be dealt with as such by those who seek to train, teach and weld the group into an instrument for service. Each person will be regarded as a transmitter of the type of energy which is the predominant energy in any ray type, either egoic or personality rays. [23_16] Each can in time learn to transmit the quality of his soul ray to the group, stimulating his brothers to greater courage, clearer vision, finer purity of motive, and deeper love, and yet avoid the danger of vitalising his human race esoterically. [23_17] This is the major difficulty. To do this effectively and correctly, we must all learn to think of each other as souls, and not as human beings. [23_18] |
Sự hợp nhất nhóm được dự kiến này sẽ bén rễ trong tham thiền nhóm, hay trong đời sống chiêm ngưỡng (trong đó linh hồn tự biết mình là một với mọi linh hồn). Điều này, đến lượt nó, sẽ kết quả trong một hình thái hoạt động nhóm nào đó, vốn sẽ cấu thành cống hiến nổi bật của bất kỳ nhóm riêng biệt nào cho việc nâng nhân loại theo huyền môn. Trong đời sống nhóm, cá nhân sẽ không được xử lý như một cá nhân riêng lẻ bởi những người tìm cách huấn luyện, dạy dỗ và hàn kết nhóm thành một khí cụ để phụng sự. Mỗi người sẽ được xem như một kênh truyền loại năng lượng vốn là năng lượng trội trong bất kỳ loại cung nào, hoặc cung chân ngã hoặc cung phàm ngã. Mỗi người theo thời gian có thể học truyền dẫn phẩm tính của cung linh hồn của mình cho nhóm, kích thích các huynh đệ của mình đạt can đảm lớn hơn, tầm nhìn sáng sủa hơn, động cơ trong sạch hơn, và tình thương sâu dày hơn, nhưng vẫn tránh được nguy cơ tiếp sinh lực cho các đặc tính phàm ngã của mình. Đây là khó khăn chủ yếu. Để làm điều này một cách hữu hiệu và đúng đắn, chúng ta phải học nghĩ về nhau như những linh hồn, chứ không như những con người. |
|
[182] |
[182] |
|
|
|
|
Do đó, như một tuyên bố sơ bộ, chúng ta có các mục tiêu sau trong công việc nhóm của Kỷ Nguyên Mới, khi chúng đang có khởi đầu dò dẫm vào thời điểm này. Những mục tiêu về sau và mang tính nội môn sâu xa hơn sẽ xuất hiện khi các mục tiêu trước đó được thành tựu: |
|
|
1. Hợp Nhất Nhóm. Điều này phải đạt được qua sự thực hành tình thương, vốn là một phần của thực hành Sự Hiện Diện của Thượng đế, qua sự đặt đời sống của phàm ngã xuống dưới đời sống của nhóm, và sự phụng sự thường hằng, đầy tình thương và sinh động. |
|
|
2. Group Meditation. These groups will eventually be grounded in the kingdom of souls, and the work done will be motivated and carried forward from the higher mental levels in the demonstration of the contemplative life. [23_21] This involves the dual activity of the life of the disciple, wherein he functions consciously both as a personality and as a soul. The life of the personality should be that of intelligent activity; that of the soul is loving contemplation. [23_22] |
2. Tham Thiền Nhóm. Những nhóm này rốt cuộc sẽ được neo nền trong giới linh hồn, và công việc được thực hiện sẽ được thúc đẩy và triển khai từ các cấp thượng trí trong sự biểu lộ của đời sống chiêm ngưỡng. Điều này bao hàm hoạt động nhị nguyên của đời sống người đệ tử, trong đó y hoạt động một cách có ý thức vừa như một phàm ngã vừa như một linh hồn. Đời sống của phàm ngã là hoạt động thông tuệ; còn của linh hồn là sự chiêm ngưỡng đầy tình thương. |
|
3. Hoạt Động Nhóm. Mỗi nhóm sẽ có một đặc trưng phân biệt nào đó và điều này sẽ được hiến dâng cho một hình thái phụng sự cụ thể. |
|
|
|
|
|
When the groups are properly established (and the time is imminent) and after they have worked together subjectively for a certain necessary period of time (to be determined by the quality of the life of the individuals composing it, and their selflessness and service) then they will begin to function outwardly and their life aspect will begin to make its presence felt. [23_24] The various lines of activity will emerge when the group vibration is strong enough to make a definite impact on the consciousness of the race. [23_25] Therefore, it will be apparent that the first and foremost requirements are group integrity and group cohesion. Nothing can be accomplished [183] without these. The subjective linking of each group member with each, and the emergence of a group consciousness is a vital objective for the next few decades. [23_26] Thus there will emerge a group circulation or transmission of energy which will be of real value in world salvage. For the individual it should be remembered that purity of body, control of the emotions, and stability of mind are fundamental requirements and should be the goal of the daily practice. [23_27] Again and again we must come back to these prime character requirements, and tiresome as the reiteration may be, I urge upon you the cultivation of these qualities. [23_28] Through these groups it may be possible to restore some of the ancient Mysteries, and some of the groups mentioned previously in Letters on Occult Meditation, will be found among the emerging New Age groups. [23_29] |
Khi các nhóm được thiết lập đúng đắn (và thời điểm đã cận kề) và sau khi họ đã cùng nhau làm việc một cách chủ quan trong một khoảng thời gian cần thiết nào đó (sẽ được xác định bởi phẩm chất đời sống của các cá nhân cấu thành nhóm, cùng tính vô ngã và sự phụng sự của họ) thì họ sẽ bắt đầu hoạt động hướng ngoại và phương diện sự sống của họ sẽ bắt đầu tạo nên ấn tượng. Các tuyến hoạt động khác nhau sẽ xuất hiện khi rung động nhóm đủ mạnh để tạo tác động rõ rệt lên tâm thức của nhân loại. Vì vậy, sẽ thấy rõ rằng những yêu cầu trước nhất và quan trọng nhất là tính chính trực của nhóm và sự cố kết của nhóm. Không gì có thể hoàn thành [183] nếu thiếu những điều này. Sự liên kết chủ quan của mỗi thành viên nhóm với từng người khác, và sự khởi hiện của một tâm thức nhóm là một mục tiêu sống còn cho vài thập kỷ tới. Như vậy sẽ xuất hiện một vòng lưu thông hay truyền dẫn năng lượng của nhóm, vốn sẽ có giá trị thực trong việc cứu độ thế gian. Đối với cá nhân, cần ghi nhớ rằng thanh khiết thân thể, làm chủ cảm xúc và vững vàng thể trí là những yêu cầu căn bản và nên là mục tiêu của thực hành hằng ngày. Hết lần này đến lần khác, chúng ta phải trở lại với những yêu cầu lập hạnh chủ chốt này, và dẫu sự nhắc đi nhắc lại có thể gây mệt mỏi, tôi vẫn khẩn thiết thúc giục các bạn trau dồi những phẩm chất ấy. Thông qua các nhóm này, có thể khôi phục phần nào các Huyền Nhiệm Cổ xưa, và một số nhóm đã được nói đến trước đây trong Thư về Tham thiền Huyền bí sẽ được tìm thấy giữa các nhóm Kỷ Nguyên Mới đang khởi hiện. |
|
[End of LOTSWC 23 EP II p. 183 |
[End of LOTSWC 23 EP II p. 183 |
|
Beginning of LOTSWC 24 EP II, p. 183 |
Beginning of LOTSWC 24 EP II, p. 183 |
Webinar 24 [-> Bình Giảng]
Beginning of LOTSWC 24 EP II, p. 183—
|
b. THE CHARACTERISTICS OF THE NEW GROUPS |
b. CÁC ĐẶC TÍNH CỦA CÁC NHÓM MỚI |
|
This brief summary will serve to give some of the elementary requirements and, by means of a broad generalisation, to indicate the major reasons why such groups are being formed. [24_1] We can now perhaps widen our vision a little and at the same time look at the groups in greater detail. [24_2] |
Bản tóm lược ngắn này sẽ giúp nêu ra một số yêu cầu sơ đẳng và, bằng một sự khái quát rộng, chỉ ra những lý do chủ yếu vì sao các nhóm như vậy đang được hình thành. Giờ đây có lẽ chúng ta có thể mở rộng tầm nhìn thêm một chút và đồng thời xem xét các nhóm một cách chi tiết hơn. |
|
One of the characteristics distinguishing the groups of world servers and knowers, is that the outer organisation, which will hold them integrated, will be so nebulous and fine that, to the outer observation, it will be practically nonexistent. [24_3] The group will be held together by an inner structure of thought and a close telepathic interrelation. The Great Ones, Whom we all seek to serve, are thus linked, and can at the slightest need and with the least expenditure of force, get into rapport with each other. They are all attuned to a particular vibration, and so must these groups be attuned. [24_4] There will be thus collected together, people demonstrating [184] the wide difference in nature, who are found on differing rays, who are of varying nationalities, and the product of widely separated environments and heredity. Besides these factors, which immediately attract attention, there will also be found an equal diversity in the life experience of the souls concerned. [24_5] The complexity of the problem confronting the group members is also tremendously increased when one remembers the long road which each has travelled, and the many factors and characteristics, emerging out of a dim and distant past, which have tended to make each person what he now is[24_6]. When, therefore, one dwells on the difficulties and the possible barriers to success, the question will arise and rightly so: What makes it possible to establish this group inter-relation? What provides a common meeting ground? The answer to these questions is of paramount importance and necessitates a frank handling. [24_7] |
Một trong những đặc điểm phân biệt các nhóm người phụng sự thế gian và các thức giả là tổ chức bên ngoài—vốn sẽ giữ cho họ được tích hợp—sẽ mơ hồ và tinh tế đến mức, đối với sự quan sát bên ngoài, nó hầu như không tồn tại. Nhóm sẽ được gắn kết bằng một cấu trúc tư tưởng nội tại và một mối liên hệ viễn cảm mật thiết. Các Đấng Cao Cả, những Đấng mà tất cả chúng ta đều tìm cách phụng sự, được liên kết như vậy, và chỉ với nhu cầu nhỏ nhất cùng sự tiêu hao mãnh lực ít nhất, Các Ngài có thể thiết lập sự tương thông với nhau. Tất cả Các Ngài đều được chỉnh hợp theo một rung động đặc thù, và các nhóm này cũng phải được chỉnh hợp như thế. Vì vậy, sẽ có những người được quy tụ lại, biểu lộ [184] sự khác biệt rộng lớn về bản chất, thuộc các cung khác nhau, thuộc nhiều quốc tịch khác nhau, và là sản phẩm của những môi trường cùng di truyền cách biệt rất xa. Ngoài những yếu tố lập tức thu hút chú ý ấy, cũng sẽ thấy một sự đa dạng tương đương trong kinh nghiệm sống của các linh hồn liên quan. Tính phức tạp của vấn đề mà các thành viên nhóm phải đối diện cũng tăng lên vô cùng khi người ta nhớ đến con đường dài mà mỗi người đã đi qua, và nhiều yếu tố cùng đặc tính—trồi lên từ một quá khứ mờ xa—đã có khuynh hướng làm cho mỗi người trở thành như hiện nay. Vì vậy, khi người ta suy ngẫm về các khó khăn và những rào cản có thể có đối với thành công, một câu hỏi sẽ nảy sinh—và hoàn toàn đúng đắn: Điều gì làm cho việc thiết lập mối liên hệ tương quan giữa các nhóm này trở nên khả dĩ? Điều gì cung cấp một nền tảng gặp gỡ chung? Câu trả lời cho những câu hỏi này có tầm quan trọng tối thượng và đòi hỏi phải được xử lý thẳng thắn. |
|
We find in the Bible the words: “In Him we live and move and have our being”. This is the statement of a fundamental law in nature, and the enunciated basis of the relation which exists between the unit soul, functioning in a human body, and God. [24_8] It determines also, in so far as it is realised, the relation between soul and soul. We live in an ocean of energies. We ourselves are congeries of energies, and all these energies are closely interrelated and constitute the one synthetic energy body of our planet. [24_9] |
Chúng ta thấy trong Kinh Thánh có những lời: “Trong Ngài, chúng ta sống, cử động và hiện hữu.” Đây là sự phát biểu về một định luật căn bản trong bản chất, và là nền tảng được tuyên bố của mối liên hệ hiện hữu giữa linh hồn đơn vị, đang hoạt động trong một thể người, và Thượng đế. Nó cũng xác định, trong chừng mực được chứng nghiệm, mối liên hệ giữa linh hồn với linh hồn. Chúng ta sống trong một đại dương các năng lượng. Chính chúng ta là những tập hợp năng lượng, và tất cả các năng lượng ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và cấu thành một thể năng lượng tổng hợp duy nhất của hành tinh chúng ta. |
|
It must be carefully borne in mind that the etheric body of every form in nature is an integral part of the substantial form of God Himself—not the dense physical form, but what the esotericists regard as the form-making substance. [24_10] We use the word “God” to signify the one expression of the One Life which animates every form on the outer objective plane. The etheric or energy body, therefore, of every human being, is an integral part of the etheric body of the planet itself [185] and consequently of the solar system. [24_11] Through this medium, every human being is basically related to every other expression of the Divine Life, minute or great. The function of the etheric body is to receive energy impulses and to be swept into activity by these impulses or streams of force, emanating from some originating source or other. [24_12] The etheric body is in reality naught but energy. It is composed of myriads of threads of force or tiny streams of energy, held in relation to the emotional and mental bodies and to the soul by their co-ordinating effect. [24_13] These streams of energy, in their turn, have an effect on the physical body and swing it into activity of some kind or another, according to the nature and power of whatever type of energy may be dominating the etheric body at any particular time. [24_14] |
Cần phải ghi nhớ cẩn thận rằng thể dĩ thái của mọi hình tướng trong bản chất là một phần không thể tách rời của hình tướng chất liệu của chính Thượng đế—không phải hình tướng hồng trần đậm đặc, mà là thứ chất liệu tạo hình tướng theo cách nhìn của các nhà bí truyền học. Chúng ta dùng từ “Thượng đế” để chỉ một biểu hiện duy nhất của Sự Sống Duy Nhất vốn làm sinh động mọi hình tướng trên cõi khách quan bên ngoài. Vì vậy, thể dĩ thái hay thể năng lượng của mỗi con người là một phần không thể tách rời của thể dĩ thái của chính hành tinh [185] và do đó cũng là của hệ mặt trời. Qua môi trường này, mỗi con người về căn bản có liên hệ với mọi biểu hiện khác của Sự Sống Thiêng Liêng, dù nhỏ bé hay vĩ đại. Chức năng của thể dĩ thái là tiếp nhận các xung lực năng lượng và được cuốn vào hoạt động bởi các xung lực hay các dòng mãnh lực ấy, phát ra từ nguồn khởi phát này hay nguồn khởi phát khác. Thể dĩ thái, trong thực tại, chẳng là gì khác ngoài năng lượng. Nó được cấu tạo bởi vô số sợi mãnh lực hay những dòng năng lượng li ti, được giữ trong tương quan với thể cảm dục và thể trí, và với linh hồn, nhờ tác dụng phối hợp của chúng. Đến lượt mình, các dòng năng lượng này tác động lên thể xác và làm cho nó đi vào một loại hoạt động nào đó, tùy theo bản chất và quyền năng của loại năng lượng nào đang chi phối thể dĩ thái vào bất kỳ thời điểm nhất định nào. |
|
Through the etheric body, therefore, circulates energy emanating from some mind. With humanity in the mass, response is made unconsciously to the rulings of the Universal Mind; this is complicated in our time and age by a growing responsiveness to the mass ideas—called sometimes public opinion—of the rapidly evolving human mentality. [24_15] Within the human family are also found those who respond to that inner group of Thinkers, Who, working in mental matter, control from the subjective side of life, the emergence of the great Plan and the manifestation of divine purpose. [24_16] |
Vì vậy, qua thể dĩ thái, năng lượng phát ra từ một thể trí nào đó được lưu chuyển. Với nhân loại nói chung, sự đáp ứng diễn ra một cách vô thức đối với sự cai quản của Vũ Trụ Trí; điều này trong thời đại chúng ta lại càng phức tạp bởi một sự đáp ứng ngày càng tăng đối với các ý tưởng quần chúng—đôi khi được gọi là dư luận—của trí tuệ nhân loại đang tiến hoá nhanh chóng. Trong gia đình nhân loại cũng có những người đáp ứng với nhóm nội tại các Nhà Tư Tưởng, những Đấng, làm việc trong vật chất trí tuệ, kiểm soát từ phía chủ quan của sự sống sự xuất hiện của Thiên Cơ vĩ đại và sự biểu lộ của thiên ý. |
|
This group of Thinkers falls into seven main divisions and is presided over by three great Lives or super-conscious entities. These Three are the Manu, the Christ and the Mahachohan. [24_17] These three work primarily through the method of influencing the minds of the adepts and initiates. These latter, in Their turn, influence the disciples of the world and these disciples, each in his own place and on his own responsibility, work out their concept of the Plan and seek to give expression to it as far as possible. [24_18] These disciples have hitherto [186] worked very much alone except when karmic relationships have revealed them to each other and telepathic intercommunication has been fundamentally confined to the Hierarchy of adepts and initiates, both in and out of incarnation, and to Their individual work with Their disciples. [24_19] |
Nhóm các Nhà Tư Tưởng này được phân thành bảy phân bộ chính và được chủ trì bởi ba Sự Sống vĩ đại hay các thực thể siêu tâm thức. Ba Đấng ấy là Đức Manu, Đức Christ và Đức Mahachohan. Ba Đấng này làm việc chủ yếu bằng phương pháp ảnh hưởng lên thể trí của các chân sư và các điểm đạo đồ. Đến lượt Các Ngài, các vị này ảnh hưởng lên các đệ tử của thế gian, và các đệ tử ấy—mỗi người ở vị trí riêng và với trách nhiệm riêng—triển khai quan niệm của mình về Thiên Cơ và tìm cách biểu lộ nó trong mức độ có thể. Cho đến nay, các đệ tử này [186] đã làm việc phần lớn một mình, trừ khi các mối liên hệ nghiệp quả đã khiến họ nhận ra nhau; và sự giao tiếp viễn cảm về căn bản đã được giới hạn trong Thánh Đoàn các chân sư và các điểm đạo đồ, cả đang lâm phàm lẫn không lâm phàm, cùng với công việc riêng của Các Ngài đối với các đệ tử của Các Ngài. |
|
These groups, therefore, which have hitherto worked entirely subjectively, can and will be duplicated externally, and, the new groups will come into being largely as an externalisation—experimental as yet—of the groups which have functioned behind the scenes, motivated from the central group, the Hierarchy of Masters. [24_20] |
Vì vậy, các nhóm này—vốn cho đến nay hoàn toàn làm việc một cách chủ quan—có thể và sẽ được sao chép ra bên ngoài; và các nhóm mới sẽ xuất hiện phần lớn như một sự ngoại hiện—hiện vẫn còn mang tính thử nghiệm—của các nhóm đã hoạt động sau hậu trường, được thúc đẩy từ nhóm trung tâm là Thánh Đoàn các Chân sư. |
|
This experiment is primarily as yet one of group integration and the method whereby it can be developed. The reason why Those on the Inner Side are now experimenting with this group idea is because it is definitely a New Age trend. [24_21] They are seeking to utilise the increasing bias of the human being towards coherence and integration. It must be remembered, however, and with constancy, that unless there is a subjective coherence, all outer forms must eventually disintegrate or never cohere at all. [24_22] It is only the subjective links and the subjective work that determines success, and these must (particularly in the new group work) be based on egoic relations and not on personal attachments and predilections. [24_23] These help where there is at the same time a recognition of the egoic relation. Where that exists, then something can be formed which is immortal and as lasting as the soul itself. [24_24] |
Thí nghiệm này, trước hết, hiện vẫn là một thí nghiệm về sự tích hợp nhóm và về phương pháp nhờ đó nó có thể được phát triển. Lý do vì sao Những Đấng ở Phía Nội Tại hiện đang thí nghiệm với ý tưởng nhóm này là vì đó rõ ràng là một xu hướng của Kỷ Nguyên Mới. Các Ngài đang tìm cách sử dụng khuynh hướng ngày càng tăng của con người hướng tới sự gắn kết và tích hợp. Tuy nhiên, cần phải nhớ—và nhớ một cách bền bỉ—rằng nếu không có sự gắn kết chủ quan, mọi hình thức bên ngoài rốt cuộc phải tan rã hoặc sẽ không bao giờ gắn kết được. Chỉ có các mối liên kết chủ quan và công việc chủ quan mới quyết định thành công, và những điều này (đặc biệt trong công việc nhóm mới) phải dựa trên các mối liên hệ chân ngã chứ không dựa trên các gắn bó và thiên kiến cá nhân. Những điều này có thể giúp ích khi đồng thời có sự nhận biết mối liên hệ chân ngã. Khi điều đó hiện hữu, thì có thể hình thành một điều gì đó bất tử và bền lâu như chính linh hồn. |
|
One practical point should be made clear. These groups will for some time be what might be called “pattern-groups” and, therefore, must be formed very slowly and with much care. Each person forming part of the new groups will be tested and tried and subjected to much pressure. [24_25] This will be necessary if the groups are to stand through this transition period of the present. It will not be easy for disciples to form these groups. The methods and techniques will be so different to those of the past. [24_26] People may evince real desire to participate in the group life and to form part of the group activity, but their real difficulty will consist in bringing their personal life and vibration into conformity with the group life and rhythm. [24_27] The narrow path which all disciples have to tread (and in the early stages these groups will consist primarily of those on the Probationary Path or the Path of Discipleship) requires obedience to certain instructions which have been handed down to us from the ancient past. [24_28] These are followed willingly and with the eyes open, but no rigid adherence to the letter of the law is ever asked or expected. Flexibility within certain self-imposed limits is always needed, yet that flexibility must not be set in motion by any personality inertia or mental questioning. [24_29] |
Có một điểm thực tiễn cần được làm rõ. Trong một thời gian, các nhóm này sẽ là điều có thể gọi là “các nhóm mô hình”, và vì vậy phải được hình thành rất chậm rãi và hết sức cẩn trọng. Mỗi người tạo thành một phần của các nhóm mới sẽ được thử thách, được rèn luyện và chịu nhiều áp lực. Điều này là cần thiết nếu các nhóm có thể đứng vững qua giai đoạn chuyển tiếp hiện nay. Đối với các đệ tử, việc hình thành các nhóm này sẽ không dễ. Các phương pháp và kỹ thuật sẽ khác xa những gì của quá khứ. Người ta có thể bộc lộ ước muốn chân thật được tham dự vào đời sống nhóm và trở thành một phần của hoạt động nhóm, nhưng khó khăn thực sự của họ sẽ nằm ở chỗ đưa đời sống cá nhân và rung động của mình vào sự phù hợp với đời sống và nhịp điệu của nhóm. Con đường hẹp mà mọi đệ tử phải bước đi (và trong các giai đoạn đầu, các nhóm này sẽ chủ yếu gồm những người trên Con Đường Dự Bị hoặc Con Đường Đệ Tử) đòi hỏi sự vâng theo một số chỉ dẫn đã được truyền lại cho chúng ta từ quá khứ xa xưa. Những chỉ dẫn ấy được tuân theo một cách tự nguyện và với đôi mắt mở, nhưng không bao giờ có yêu cầu hay kỳ vọng về một sự bám chặt cứng nhắc vào mặt chữ của định luật. Luôn cần có sự linh hoạt trong những giới hạn do chính mình đặt ra; tuy nhiên, sự linh hoạt ấy không được khởi động bởi bất kỳ quán tính phàm ngã nào hay sự chất vấn của thể trí. |
|
This great group training experiment, now being initiated on earth through a new activity of the Hierarchy, will demonstrate to the watching Guides of the race just how far the disciples and aspirants of the world are ready to submerge their personal interests in group good; how sensitive they are, as a group, to instruction and guidance; how free the channels of communication are between the groups on the outer plane and the Inner Group, and between them also and the masses whom they are expected eventually to reach. [24_30] A Masters group of disciples, on the inner side of life, forms an integrated organism, characterised by mutual love, life and interplay. The relationships in that group are entirely mental and astral, and hence the limitations of the etheric force body and of the physical brain and dense physical body are not felt. [24_31] This leads to a greater inner facility in understanding and to a reciprocal interplay. It is wise here to remember that the astral potency is far more strongly felt than on the physical levels, and hence the emphasis laid upon emotional-desire [188] control in all treatises on discipleship and on preparation for that state. [24_32] |
Thí nghiệm huấn luyện nhóm vĩ đại này, hiện đang được khởi xướng trên Trái Đất qua một hoạt động mới của Thánh Đoàn, sẽ chứng minh cho các Đấng Hướng Dẫn đang quan sát nhân loại thấy các đệ tử và người chí nguyện của thế gian đã sẵn sàng đến mức nào để dìm các lợi ích cá nhân của mình vào thiện ích của nhóm; họ nhạy cảm ra sao, với tư cách một nhóm, đối với sự chỉ dạy và hướng dẫn; các kênh giao tiếp tự do đến mức nào giữa các nhóm trên cõi bên ngoài và Nhóm Nội Tại, và giữa họ với quần chúng mà rốt cuộc họ được kỳ vọng sẽ vươn tới. Một nhóm đệ tử của các Chân sư, ở phía nội tại của sự sống, tạo thành một cơ thể hữu cơ tích hợp, được đặc trưng bởi tình thương, sự sống và sự tương tác lẫn nhau. Các mối quan hệ trong nhóm ấy hoàn toàn thuộc thể trí và thể cảm dục, và vì vậy các giới hạn của thể mãnh lực dĩ thái, của bộ não và của thể xác hồng trần đậm đặc không được cảm thấy. Điều này dẫn đến một sự thuận lợi nội tại lớn hơn trong thấu hiểu và một sự tương tác qua lại. Ở đây, thật khôn ngoan khi nhớ rằng năng lực của cõi cảm dục được cảm nhận mạnh hơn rất nhiều so với trên các tầng hồng trần, và vì vậy mới có sự nhấn mạnh đặt lên việc kiểm soát cảm xúc–dục vọng trong mọi luận thuyết về địa vị đệ tử và về sự chuẩn bị cho trạng thái ấy. |
|
Now an effort is being made to see if such a group activity and interplay can be set up on the physical plane, which will consequently include the physical body apparatus and the brain. The difficulties are, therefore, great. [24_33] What has to be the technique employed in handling this more difficult situation, which is only possible because the work of the Masters’ groups has been so effective? Much may depend upon just how far we will react to this interplay and how much it will mean to us in our lives. [24_34] This embodies a most practical occult method of work. The astral-physical brain reactions should be regarded as non-existent and allowed to lapse below the threshold of the group consciousness, there to die for lack of attention. The emphasis is held steadily on mental and egoic relations. [24_35] |
Hiện nay, một nỗ lực đang được thực hiện để xem liệu một hoạt động nhóm và sự tương tác như vậy có thể được thiết lập trên cõi hồng trần hay không, và do đó sẽ bao gồm cả bộ máy thể xác và bộ não. Vì vậy, các khó khăn là rất lớn. Kỹ thuật nào phải được sử dụng để xử lý tình huống khó khăn hơn này—một tình huống chỉ khả dĩ vì công việc của các nhóm Chân sư đã hiệu quả đến thế? Nhiều điều có thể tùy thuộc vào mức độ chúng ta sẽ phản ứng với sự tương tác này và nó sẽ có ý nghĩa đến đâu trong đời sống chúng ta. Điều này hàm chứa một phương pháp làm việc huyền bí học hết sức thực tiễn. Các phản ứng của bộ não cảm dục–hồng trần nên được xem như không tồn tại và được để cho rơi xuống dưới ngưỡng của tâm thức nhóm, để ở đó chúng chết đi vì thiếu sự chú ý. Sự nhấn mạnh được giữ vững trên các mối liên hệ trí tuệ và chân ngã. |
|
c. THE EXPERIMENTAL NATURE OF THE GROUPS |
c. TÍNH CHẤT THỬ NGHIỆM CỦA CÁC NHÓM |
|
I have said that these groups constitute an experiment. This experiment is fourfold in nature and a concise statement about it may clarify conjecture: |
Tôi đã nói rằng các nhóm này cấu thành một thí nghiệm. Thí nghiệm này có bản chất tứ phân, và một phát biểu ngắn gọn về nó có thể làm sáng tỏ những suy đoán: |
|
I. They are an experiment in founding or starting focal points in the human family through which certain energies can flow out into the entire race of men. These energies are ten in number. [24_36] |
I. Chúng là một thí nghiệm trong việc đặt nền hoặc khởi sự các điểm tiêu trong gia đình nhân loại, qua đó một số năng lượng nhất định có thể tuôn chảy ra toàn thể nhân loại. Các năng lượng này có mười loại. |
|
II. They are an experiment in inaugurating certain new techniques in work and in modes of communication. It is to be noted that in these last three words is summed up the whole story. These groups are intended to facilitate interrelation or communication as follows: [24_37] |
II. Chúng là một thí nghiệm trong việc khai mở một số kỹ thuật mới trong công tác và trong các phương thức giao tiếp.. Cần lưu ý rằng trong ba từ cuối này, toàn bộ câu chuyện đã được tóm lược. Các nhóm này nhằm tạo thuận lợi cho sự tương quan hay giao tiếp như sau: |
|
1. They will be occupied with an endeavor to facilitate communication between individuals so that the rules [189] and methods whereby speech can be transcended may become known and the new way of intercourse be brought about. Eventually communication will be from: [24_38] |
1. Họ sẽ bận rộn với một nỗ lực nhằm tạo thuận lợi cho giao tiếp giữa các cá nhân, để các quy luật [189] và phương pháp nhờ đó lời nói có thể được vượt qua trở nên được biết đến, và con đường giao tiếp mới được thiết lập. Rốt cuộc, giao tiếp sẽ là từ: |
|
a. Soul to soul, on the higher levels of the mental plane. This involves complete alignment, so that soul-mind-brain are completely at-one. |
a. Linh hồn đến linh hồn, trên các tầng cao của cõi hạ trí. Điều này bao hàm sự chỉnh hợp hoàn toàn, để linh hồn–thể trí–bộ não hoàn toàn hợp nhất. |
|
b. Mind to mind, on the lower levels of the mental plane. This involves the complete integration of the personality or lower self, so that mind and brain are at-one. [24_39] |
b. Thể trí đến thể trí, trên các tầng thấp của cõi hạ trí. Điều này bao hàm sự tích hợp hoàn toàn của phàm ngã hay phàm ngã, để thể trí và bộ não hợp nhất. |
|
Students must remember these two distinctive contacts, and bear in mind also that the greater contact need not necessarily include the lesser. Telepathic communication between the different aspects of the human being is entirely possible at varying stages of unfoldment. [24_40] |
Các đạo sinh phải nhớ hai sự tiếp xúc phân biệt này, và cũng ghi nhớ rằng sự tiếp xúc lớn hơn không nhất thiết bao gồm sự tiếp xúc nhỏ hơn. Giao tiếp viễn cảm giữa các phương diện khác nhau của con người hoàn toàn có thể xảy ra ở các giai đoạn khai mở khác nhau. |
|
2. They will work at the establishment of communication between that plane which is the plane of illumination and pure reason (the buddhic plane) and the plane of illusion which is the astral plane. It should be remembered that our great task is to dispel the world illusion through the pouring in of illumination or of light. [24_41] When enough groups have been started that have this for their objective, there will then be found upon the physical plane, those channels of communication which will act as the mediators between the world of light and the world of illusion. [24_42] They will be transmitters of that type of energy which will break up the existing maya or illusion and dissipate the ancient thought-forms. They will release the light and peace which will illumine the astral plane and so dispel the illusory nature of its life. [24_43] |
2. Họ sẽ làm việc nhằm thiết lập giao tiếp giữa cõi vốn là cõi soi sáng và lý trí thuần khiết (cõi Bồ đề) và cõi ảo tưởng vốn là cõi cảm dục. Cần nhớ rằng nhiệm vụ lớn của chúng ta là xua tan ảo tưởng thế gian bằng sự tuôn đổ của soi sáng hay của ánh sáng. Khi đủ số nhóm đã được khởi sự với mục tiêu này, thì trên cõi hồng trần sẽ xuất hiện những kênh giao tiếp sẽ đóng vai trò trung gian giữa thế giới ánh sáng và thế giới ảo tưởng. Họ sẽ là những kẻ truyền dẫn loại năng lượng sẽ phá vỡ ảo lực hay ảo tưởng hiện hữu và làm tiêu tan các hình tư tưởng cổ xưa. Họ sẽ giải phóng ánh sáng và bình an vốn sẽ soi sáng cõi cảm dục và nhờ đó xua tan bản chất huyễn ảo của đời sống nơi đó. |
|
3. Through other groups another type of energy must flow, producing another type of interrelation and communication. These groups will bring about the right healing of the personalities of individuals, in all aspects of their nature [24_44]. [190] The work intended is the intelligent transmission of energy to various parts of the nature—mental, astral and physical—of the human being, through the right circulation and organisation of force. [24_45] Healing must eventually be carried forward by groups which act as the intermediaries between the plane of spiritual energy (either soul energy, intuitional energy, or will energy) and the patient or group of patients. This last point is to be noted. [24_46] The group idea must always be remembered, for this will distinguish the New Age methods from the past; the work will be group work for the group. The members will work as souls and not as individuals. They will learn to communicate healing energy from the reservoir of living force to the patients. [24_47] |
3. Qua những nhóm khác, một loại năng lượng khác phải tuôn chảy, tạo ra một loại tương quan và giao tiếp khác. Các nhóm này sẽ đem lại sự chữa lành đúng đắn cho phàm ngã của các cá nhân, trong mọi phương diện bản chất của họ. [190] Công việc được dự định là sự truyền dẫn năng lượng một cách thông minh đến các phần khác nhau của bản chất—trí tuệ, cảm dục và hồng trần—của con người, qua sự lưu chuyển và tổ chức mãnh lực đúng đắn. Việc chữa lành rốt cuộc phải được tiến hành bởi các nhóm đóng vai trò trung gian giữa cõi năng lượng tinh thần (hoặc năng lượng linh hồn, năng lượng trực giác, hay năng lượng ý chí) và bệnh nhân hoặc nhóm bệnh nhân. Điểm cuối này cần được lưu ý. Ý tưởng nhóm phải luôn được ghi nhớ, vì điều này sẽ phân biệt các phương pháp của Kỷ Nguyên Mới với quá khứ; công việc sẽ là công việc nhóm vì nhóm. Các thành viên sẽ làm việc như những linh hồn chứ không như các cá nhân. Họ sẽ học cách truyền đạt năng lượng chữa lành từ kho dự trữ mãnh lực sống đến các bệnh nhân. |
|
4. Other groups of communicators will act as transmitters of two aspects of divine energy,—knowledge and wisdom. These must be thought of in terms of energy. [24_48] Their work will concern itself with the education of the masses, as a direct intermediary between the higher mind and the lower mind, and with the building of the antaskarana; and their task is that of linking the three points of interest upon the mental plane,—the higher mind, the soul, and the lower mind—so that there is established a group antaskarana between the kingdom of souls and the world of men. [24_49] |
4. Các nhóm giao tiếp khác sẽ hành động như những kẻ truyền dẫn hai phương diện của năng lượng thiêng liêng,—tri thức và minh triết. Những điều này phải được suy nghĩ theo thuật ngữ năng lượng. Công việc của họ sẽ liên quan đến việc giáo dục quần chúng, như một trung gian trực tiếp giữa thượng trí và hạ trí, và với việc xây dựng antahkarana; và nhiệm vụ của họ là liên kết ba điểm quan tâm trên cõi trí,—thượng trí, linh hồn và hạ trí—để thiết lập một antahkarana nhóm giữa giới linh hồn và thế giới loài người. |
|
5. Political work will occupy other groups more specifically than does any other branch of work. These groups communicate the “quality of imposition” and an authority that is lacking in many other branches of this divine group activity. [24_50] The work is largely first ray work. It embodies the method whereby the divine Will works out in the consciousness of races and nations. Members of this group will have much first ray in their constitution. [24_51] Their work is to act as channels of communication between the department of the Manu and the [191] race of men. It is a noble thing to be channels of the Will of God. [24_52] |
5. Công tác chính trị sẽ chiếm lĩnh một số nhóm một cách chuyên biệt hơn bất kỳ ngành công tác nào khác. Các nhóm này truyền đạt “phẩm tính áp đặt” và một thẩm quyền vốn thiếu trong nhiều ngành khác của hoạt động nhóm thiêng liêng này. Công việc phần lớn là công việc cung một. Nó hàm chứa phương pháp nhờ đó Ý Chí thiêng liêng được triển khai trong tâm thức của các giống dân và các quốc gia. Các thành viên của nhóm này sẽ có nhiều cung một trong cấu trúc của họ. Công việc của họ là làm các kênh giao tiếp giữa bộ phận của Đức Manu và nhân loại. Trở thành các kênh của Ý Chí của Thượng đế là một điều cao quý. |
|
6. Some groups will be, in a pronounced sense, channels between the activity of the second ray, that of the World Teacher (at the present time, the Christ holds this office) and the world of men. The energy of the second ray must pour through such groups of students and believers and allied groups of thinkers and workers, and there will be many of these. This fact is to be noted. There will be many such groups. The platform of the new world religion will be built by them. [24_53] |
6. Một số nhóm sẽ, theo một nghĩa rất rõ rệt, là các kênh giữa hoạt động của cung hai—hoạt động của Đức Chưởng Giáo (hiện nay, Đức Christ đang đảm nhiệm chức vụ này)—và thế giới loài người. Năng lượng của cung hai phải tuôn chảy qua các nhóm đạo sinh và tín đồ như vậy, cùng các nhóm liên kết của các nhà tư tưởng và người hoạt động, và sẽ có nhiều nhóm như thế. Cần lưu ý điều này. Sẽ có nhiều nhóm như vậy. Nền tảng của tôn giáo thế giới mới sẽ được họ xây dựng. |
|
7. A few groups will have an interesting function, but one which will not materialise for a long while, or not until the work of the building forces of the Universe are better understood. This will be coincident with the development of etheric vision. [24_54] These groups will act as channels of communication or intermediaries between the energies which constitute the forces which construct the forms, the fabricators of the outer garment of God, and human spirits. The possibility is, therefore, to be noted that the main initial work will be concerned with the problem of reincarnation. [24_55] That problem deals with the taking of an outer garment or form under the Law of Rebirth. Therefore, when these groups are organised, it will be with that subject that the members will at first work. They will make a deeper and different study than has heretofore been undertaken on the Law of Rebirth. [24_56] |
7. Một vài nhóm sẽ có một chức năng thú vị, nhưng sẽ chưa hiện thực hoá trong một thời gian dài, hoặc không cho đến khi công việc của các mãnh lực kiến tạo của Vũ Trụ được thấu hiểu tốt hơn. Điều này sẽ đồng thời với sự phát triển của linh thị dĩ thái. Các nhóm này sẽ hành động như các kênh giao tiếp hay các trung gian giữa các năng lượng cấu thành những mãnh lực kiến tạo các hình tướng—những kẻ chế tác y phục bên ngoài của Thượng đế—và các tinh thần nhân loại. Vì vậy, cần lưu ý khả năng rằng công việc khởi đầu chủ yếu sẽ liên quan đến vấn đề tái sinh. Vấn đề ấy liên quan đến việc khoác lấy một y phục hay hình tướng bên ngoài theo Định luật Tái Sinh. Do đó, khi các nhóm này được tổ chức, thì chủ đề mà các thành viên trước hết sẽ làm việc chính là chủ đề ấy. Họ sẽ thực hiện một sự nghiên cứu sâu hơn và khác biệt so với những gì trước đây đã được tiến hành về Định luật Tái Sinh. |
|
8. Some groups of energy communicators and transmitters will carry illumination between groups of thinkers. They are illuminators of group thoughts. They transmit energy from one thought centre to another. They transmit, above everything else, the energy of ideas. That is their major function. [24_57] The world of ideas is a world of dynamic force centres. This should not be forgotten. These ideas have to be contacted and [192] noted. Their energy has to be assimilated and transmitted and this is the function of those force centres which will express themselves along these lines of activity. [24_58] |
8. Một số nhóm các nhà giao tiếp và truyền dẫn năng lượng sẽ mang sự soi sáng giữa các nhóm nhà tư tưởng. Họ là những kẻ soi sáng tư tưởng nhóm. Họ truyền năng lượng từ trung tâm tư tưởng này sang trung tâm tư tưởng khác. Trên hết mọi sự, họ truyền năng lượng của các ý tưởng. Đó là chức năng chính của họ. Thế giới ý tưởng là một thế giới của các trung tâm mãnh lực năng động. Không nên quên điều này. Những ý tưởng này phải được tiếp xúc và [192] ghi nhận. Năng lượng của chúng phải được đồng hoá và truyền đi, và đó là chức năng của những trung tâm mãnh lực sẽ biểu lộ theo các tuyến hoạt động này. |
|
9. Groups working in another category will have for their specific work the stimulating of the minds of men so that alignment can take place. They act primarily as channels of communication between the soul of man and the soul in any form. [24_59] They will be the great psychometrical workers, for a psychometrist is one whose soul is sensitive to the soul in other forms of life,—human and non-human. They evoke the soul of the past, primarily, linking it with the present, and finding it also indicative of the future. [24_60] |
9. Các nhóm làm việc trong một phạm trù khác sẽ có công việc chuyên biệt là kích thích thể trí của con người để sự chỉnh hợp có thể diễn ra. Họ hành động chủ yếu như các kênh giao tiếp giữa linh hồn con người và linh hồn trong bất kỳ hình tướng nào. Họ sẽ là những người hoạt động trắc tâm vĩ đại, vì một nhà trắc tâm là người mà linh hồn nhạy cảm với linh hồn trong các hình tướng sự sống khác,—nhân loại và phi nhân loại. Trước hết, họ gợi lên linh hồn của quá khứ, liên kết nó với hiện tại, và cũng thấy nó như một chỉ dấu của tương lai. |
|
10. Members of other groups will be communicators between the third aspect of Deity as it expresses itself through the creative process and the world of human thought. They will link or blend life and form creatively. [24_61] Today, unknowingly and without any true understanding, they bring about a concretisation of the energy of desire, which, in its turn, brings about the concretisation of money. This, consequently, necessitates the materialisation of things. [24_62] They have a most difficult task and that is why it is only during the past one hundred and fifty years that the science of world finance has made its appearance. They will deal with the divine aspect of money. They will regard money as the means whereby divine purpose can be carried forward. [24_63] They will handle money as the agency through which the building forces of the universe can carry forward the work needed; and (herein lies the clue) those building forces will be increasingly occupied with the building of the subjective Temple of the Lord rather than with the materialising of that which meets mans desire. This distinction merits consideration. [24_64] |
10. Các thành viên của những nhóm khác sẽ là những kẻ giao tiếp giữa phương diện thứ ba của Thượng đế, khi phương diện ấy biểu lộ qua tiến trình sáng tạo, và thế giới tư tưởng nhân loại. Họ sẽ liên kết hay hoà trộn sự sống và hình tướng một cách sáng tạo. Ngày nay, một cách vô thức và không có bất kỳ sự thấu hiểu chân thật nào, họ làm cho năng lượng dục vọng được cụ thể hoá, và đến lượt nó, điều đó làm cho tiền bạc được cụ thể hoá. Do đó, điều này tất yếu đòi hỏi sự vật chất hoá của các sự vật. Họ có một nhiệm vụ hết sức khó khăn, và đó là lý do vì sao chỉ trong một trăm năm mươi năm qua, khoa học tài chính thế giới mới xuất hiện. Họ sẽ đề cập đến phương diện thiêng liêng của tiền bạc. Họ sẽ xem tiền bạc như phương tiện nhờ đó thiên ý có thể được thực hiện. Họ sẽ xử lý tiền bạc như tác nhân qua đó các mãnh lực kiến tạo của vũ trụ có thể tiến hành công việc cần thiết; và (chính ở đây là manh mối) những mãnh lực kiến tạo ấy sẽ ngày càng bận rộn với việc xây dựng Đền Thờ chủ quan của Chúa Tể hơn là với việc vật chất hoá những gì đáp ứng dục vọng của con người. Sự phân biệt này đáng được suy xét. |
|
III. They are the externalisation of an inner existing condition. [193] It must be realised that these Groups are not a cause but an effect. That they may themselves have an initiatory effect as they work upon the physical plane is no doubt true, but they themselves are the product of inner activity and of subjective aggregations of force which must perforce become objective. [24_65] The work of the group members is to keep, as a group, in close rapport with the inner groups, which form nevertheless, one large, active group. This central group force will then pour through the groups in so far as the group members, as a group—[24_66] |
III. Chúng là sự ngoại hiện của một tình trạng nội tại đang hiện hữu. [193] Cần phải chứng nghiệm rằng các Nhóm này không phải là nguyên nhân mà là kết quả. Việc chính chúng có thể có một tác dụng khởi phát khi chúng làm việc trên cõi hồng trần chắc chắn là đúng, nhưng bản thân chúng là sản phẩm của hoạt động nội tại và của những sự kết tụ chủ quan của mãnh lực vốn tất yếu phải trở nên khách quan. Công việc của các thành viên nhóm là giữ, với tư cách một nhóm, sự tương thông mật thiết với các nhóm nội tại, vốn tuy vậy tạo thành một nhóm lớn duy nhất, năng động. Mãnh lực của nhóm trung tâm này rồi sẽ tuôn chảy qua các nhóm trong chừng mực các thành viên nhóm, với tư cách một nhóm— |
|
a. Keep en rapport with the inner sources of power; |
a. Giữ sự tương thông với các nguồn quyền năng nội tại; |
|
b. Never lose sight of the group objective, whatever that objective may be; [24_67] |
b. Không bao giờ đánh mất mục tiêu nhóm, dù mục tiêu ấy là gì; |
|
c. Cultivate a dual capacity to apply the laws of the soul to the individual life, and the laws of the group to the group life; |
c. Nuôi dưỡng một năng lực kép: áp dụng các định luật của linh hồn vào đời sống cá nhân, và các định luật của nhóm vào đời sống nhóm; |
|
d. Use all forces which may flow into the group in service, and learn, therefore, to register that force and use it correctly. [24_68] |
d. Dùng mọi mãnh lực có thể tuôn vào nhóm trong phụng sự, và vì vậy học cách ghi nhận mãnh lực ấy và sử dụng nó đúng đắn. |
|
[End of LOTSWC 24 EP II 193 |
[End of LOTSWC 24 EP II 193 |
Webinar 25 [-> Bình Giảng]
6. The Law of Expansive Response—Định luật Đáp Ứng Mở Rộng
|
We can now, with great brevity, however, touch upon the sixth law and the seventh, for we will speak of them together. The other five laws have worked out into a definite activity upon the physical plane. The effect or consequences of the impulses behind them produce the working out of the [199] purpose of the Most High, and can be recognised upon the plane of phenomena. They can all be so recognised, but at this time, the conscious awareness of humanity is such that only in five instances can the effect of these laws be noted, and then only by the most advanced of the world aspirants. The disciple and the initiate can dimly begin to recognise the effect of the sixth and the seventh laws, but no one else at this time. |
Giờ đây, tuy rất ngắn gọn, chúng ta có thể chạm đến định luật thứ sáu và thứ bảy, vì chúng ta sẽ nói về chúng cùng nhau. Năm định luật kia đã triển khai thành một hoạt động xác định trên cõi hồng trần. Hiệu quả hay hệ quả của các xung lực đứng sau chúng tạo ra sự triển khai của mục tiêu của Đấng Tối Cao, và có thể được nhận ra trên cõi hiện tượng. Tất cả đều có thể được nhận ra như vậy, nhưng vào lúc này, sự nhận biết hữu thức của nhân loại là như thế nên chỉ trong năm trường hợp người ta mới có thể ghi nhận hiệu quả của các định luật này, và khi đó cũng chỉ bởi những người chí nguyện tiến bộ nhất của thế giới. Đệ tử và điểm đạo đồ có thể mơ hồ bắt đầu nhận ra hiệu quả của định luật thứ sáu và thứ bảy, nhưng hiện nay không ai khác có thể. |
|
These two laws are not capable of interpretation as above, because only those who are initiated or in preparation for initiation can begin to understand them. The enlightenment which is the result of initiation is necessary before one can touch the idea behind these expressions of purpose. We shall not, therefore, take any time dealing with The Law of Expansive Response, or with The Law of the Lower Four, beyond giving two ancient stanzas which will convey much to the initiate but may only be sounding words and meaningless symbolic phrases to the average reader and student. |
Hai định luật này không thể được diễn giải như trên, vì chỉ những ai đã được điểm đạo hoặc đang chuẩn bị cho điểm đạo mới có thể bắt đầu hiểu chúng. Sự soi sáng là kết quả của điểm đạo là điều cần thiết trước khi người ta có thể chạm đến ý niệm đứng sau các biểu lộ mục tiêu này. Vì vậy, chúng ta sẽ không dành thời gian bàn về Định luật Đáp Ứng Mở Rộng, hay về Định luật của Bốn Thấp, ngoài việc đưa ra hai bài kệ cổ xưa sẽ truyền đạt nhiều điều cho điểm đạo đồ nhưng có thể chỉ là những âm thanh và những cụm từ biểu tượng vô nghĩa đối với độc giả và đạo sinh bình thường. |
|
“The Sun, in all its glory, has arisen and cast its beams athwart the Eastern sky. The union of the pairs of opposites produce, in the cycles of the time and space, both clouds and mists. These veil a mighty conflagration…. |
“Mặt Trời, trong toàn vinh quang của nó, đã mọc lên và phóng những tia sáng băng ngang bầu trời phương Đông. Sự hợp nhất của các cặp đối cực tạo ra, trong các chu kỳ của thời gian và không gian, cả mây lẫn sương mù. Chúng che phủ một trận hỏa hoạn hùng vĩ…. |
|
The flood pours forth. The ark floats free…the flames devour. The three stand free; and then again the mists envelop. |
Trận lụt tuôn trào. Con thuyền nổi tự do… ngọn lửa nuốt chửng. Ba vị đứng tự do; rồi một lần nữa sương mù bao phủ. |
|
Above the clouds of earth, a sign shines forth….Only the eye of vision sees this sign. Only the heart at peace can hear the thunder of the Voice which issues from the dark depths of the cloud. Only an understanding of the law which elevates and lifts can teach the man of fire and son of water to enter into mist. From thence he climbs on to the mountain top and there again stands free. |
Trên những đám mây của địa cầu, một dấu hiệu tỏa sáng…. Chỉ con mắt của tầm nhìn mới thấy dấu hiệu ấy. Chỉ trái tim an hòa mới có thể nghe tiếng sấm của Tiếng Nói phát ra từ những vực sâu tối tăm của đám mây. Chỉ sự thấu hiểu định luật nâng lên và đưa cao mới có thể dạy người của lửa và con của nước bước vào sương mù. Từ đó y leo lên đỉnh núi và tại đó lại đứng tự do. |
|
The triple freedom thus achieved has naught to do with earth, or water, or with fire. It is a freedom, triple in its kind, which greets the man who passes freely from the sphere of earth into the ocean of the watery sphere, and [200] thence on to the burning ground of sacrifice. The sun augments the fire; it dissipates the mist and dries the earth. And thus the work is done.” |
Sự tự do tam phân đạt được như thế chẳng liên quan gì đến đất, hay nước, hay lửa. Đó là một sự tự do, tam phân theo loại của nó, chào đón người đi qua một cách tự do từ phạm vi của đất vào đại dương của phạm vi nước, và [200] từ đó tiến lên vùng đất cháy của hi sinh. Mặt trời làm tăng lửa; nó làm tiêu tan sương mù và làm khô đất. Và như vậy công việc được hoàn tất.” |
7. The Law of the Lower Four—Định luật của Bốn Thấp
|
“Bốn Con của Thượng đế đã đi ra. Nhưng chỉ một vị trở về. Bốn Đấng Cứu Thế tự dung hợp thành hai, và rồi hai trở thành Đấng Duy Nhất.” |
|
|
These two ancient writings—one mystical and the other occult—convey but little to most minds, and this we can easily see. Therefore it does not profit us to consider them too carefully. The time is not yet. These are given us, however, because they contain a magnetic potency which will aid in stimulating comprehension. |
Hai bản văn cổ xưa này—một mang tính thần bí và bản kia mang tính huyền bí—chỉ truyền đạt rất ít cho đa số trí tuệ, và điều này ta có thể dễ dàng thấy. Vì vậy, việc khảo sát chúng quá kỹ cũng không đem lại lợi ích cho chúng ta. Thời điểm ấy vẫn chưa đến. Tuy nhiên, những điều này được trao cho chúng ta vì chúng chứa đựng một tiềm lực từ tính, vốn sẽ giúp kích thích sự thấu hiểu. |
|
We stand today on the verge of great things. Humanity is on its way with renewed impetus. It stands no longer at the crossroads, but irrevocable decisions have been made, and the race is moving forward along a path which will lead it eventually into light and peace. It will find its way into “the peace which passeth understanding” because it will be a peace which is independent of outer conditions and which is not based upon what present humanity defines as peace. The peace which lies ahead of the race is the peace of serenity and of joy—a serenity, based upon spiritual understanding; and a serenity is not an astral condition but a soul reaction. These qualities are not achieved as the result of disciplining the emotional nature, but demonstrate as a natural, automatic realignment. These two qualities of the soul—serenity and joy—are the indications that the soul, the ego, the One Who stands alone, is controlling or dominating the personality, circumstance, and all environing conditions of life in the three worlds. |
Ngày nay chúng ta đứng trên ngưỡng cửa của những điều vĩ đại. Nhân loại đang tiến bước với một xung lực mới. Nhân loại không còn đứng ở ngã rẽ nữa, mà những quyết định không thể đảo ngược đã được đưa ra, và nhân loại đang tiến lên dọc theo một con đường sẽ dẫn họ cuối cùng vào ánh sáng và an hòa. Nhân loại sẽ tìm được con đường đi vào “sự bình an vượt quá sự hiểu biết” vì đó sẽ là một sự bình an độc lập với các điều kiện bên ngoài và không dựa trên điều mà nhân loại hiện nay định nghĩa là bình an. Sự bình an đang ở phía trước nhân loại là sự bình an của tĩnh lặng và của hoan hỷ—một sự tĩnh lặng, dựa trên sự thấu hiểu tinh thần; và sự tĩnh lặng không phải là một trạng thái cảm dục mà là một phản ứng của linh hồn. Những phẩm tính này không đạt được như kết quả của việc kỷ luật hóa bản chất cảm xúc, mà biểu lộ như một sự chỉnh hợp tự nhiên, tự động. Hai phẩm tính này của linh hồn—tĩnh lặng và hoan hỷ—là những dấu hiệu cho thấy linh hồn, chân ngã, Đấng đứng một mình, đang kiểm soát hay chi phối phàm ngã, hoàn cảnh, và mọi điều kiện sinh hoạt bao quanh trong ba cõi thấp. |