Luận Về Lửa Vũ Trụ S5 (466-567 clean version)

📘 Sách: Luận Về Lửa Vũ Trụ – Tác giả: Alice Bailey

Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến Phần Bình Giảng

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

Cosmic Fire S5

(Trang 465 – 567)

The first point to be noted is that this influence at this time affects primarily the devas of the physical plane, the devas of the ethers, or of the shadows, as they are sometimes called, and not, to the same extent, the devas of the astral or mental planes. Every Ray affects in more or less degree the plane or subplane which is its numerical correspondence; the student should bear this in mind, and should therefore recollect that for all purposes of investigation at this time the seventh Ray of Ceremonial Magic will have a powerful influence:

Điểm đầu tiên cần lưu ý là ảnh hưởng này vào lúc này tác động chủ yếu đến các thiên thần của cõi hồng trần, các thiên thần của dĩ thái, hay của bóng tối, như đôi khi họ được gọi như vậy, và không, ở cùng một mức độ, đến các thiên thần của cõi cảm dục hay cõi trí. Mỗi cung đều tác động ở mức độ nhiều hay ít lên cõi hay cõi phụ là tương ứng số học của nó; đạo sinh nên ghi nhớ điều này, và vì vậy nên nhớ rằng cho mọi mục đích khảo cứu vào lúc này, cung bảy của Huyền Thuật Nghi Lễ sẽ có một ảnh hưởng mạnh mẽ:

On the seventh or physical plane, regarding it as a unit.

Trên cõi thứ bảy hay cõi hồng trần, xét nó như một đơn vị.

On the seventh subplane or the lowest subplane on the physical, the astral and the mental planes.

Trên cõi phụ thứ bảy hay cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần, cõi cảm dục và cõi trí.

On the seventh or lowest human principle: prana in the etheric body.

Trên nguyên khí nhân loại thứ bảy hay thấp nhất: prana trong thể dĩ thái.

On all Monads in incarnation who are seventh Ray Monads.

Trên tất cả các chân thần đang lâm phàm là các chân thần cung bảy.

On a peculiar group of devas who are the agents, or “mediates” between magicians (either white or black) and the elemental forces. This group is occultly known as “The Mediatory Seventh,” and is divided into two divisions:

Trên một nhóm thiên thần đặc biệt là những tác nhân, hay “trung gian” giữa các nhà huyền thuật (dù chánh đạo hay hắc đạo) và các mãnh lực hành khí. Nhóm này trong huyền bí học được biết đến là “Thứ Bảy Trung Gian,” và được chia thành hai phân bộ:

a. Those working with evolutionary forces.

a. Những vị làm việc với các mãnh lực thăng thượng tiến hoá.

b. Those working with involutionary forces.

b. Những vị làm việc với các mãnh lực giáng hạ tiến hoá.

One group is the agent of constructive purpose, and the other of destructive. More need not be submitted anent this group as they are not easily contacted, fortunately for man, and can as yet only be reached by a particular group ritual accurately performed,—a thing as yet practically unknown. The Masons eventually will be one of the chief agents of contact, and as men are as yet not ready for such power as this will put into their hands, [Page 467] true masonry will develop but slowly. Nevertheless, under the magnetic force of this seventh Ray, the growth of masonry is inevitably sure.

Một nhóm là tác nhân của mục đích kiến tạo, và nhóm kia là của sự hủy diệt. Không cần trình bày thêm về nhóm này vì họ không dễ được tiếp xúc, may thay cho con người, và hiện nay chỉ có thể được tiếp cận bằng một nghi lễ nhóm đặc biệt được thực hiện chính xác —một điều hiện vẫn hầu như chưa được biết đến. Về sau, Hội Tam Điểm sẽ là một trong những tác nhân chính của sự tiếp xúc, và vì con người hiện chưa sẵn sàng cho quyền năng mà điều này sẽ đặt vào tay họ, [Page 467] nên Tam Điểm chân chính sẽ chỉ phát triển chậm chạp. Tuy nhiên, dưới mãnh lực từ tính của cung bảy này, sự phát triển của Tam Điểm chắc chắn là điều không thể tránh khỏi.

This Ray of Ceremonial Magic will consequently have a very profound effect upon the physical plane, for not only is this plane coming under its cyclic force but at all times its planetary Logos has a special effect upon it; the Raja-Lord of this plane is what is occultly termed the “Reflection in the Water of Chaos” of the planetary Logos. Hence in the matter of this plane (which is the body of the Raja-Lord) certain very definite events are occurring which—though invisible to the ordinary man—are apparent to the eye of the spiritual man or adept.

Do đó, Cung Huyền Thuật Nghi Lễ này sẽ có một ảnh hưởng rất sâu xa trên cõi hồng trần, vì không những cõi này đang đi vào dưới mãnh lực chu kỳ của nó mà vào mọi lúc Hành Tinh Thượng đế của cõi này cũng có một ảnh hưởng đặc biệt trên nó; Raja-Lord của cõi này là điều mà trong huyền bí học được gọi là “Sự Phản Chiếu trong Nước của Hỗn Mang” của Hành Tinh Thượng đế. Vì thế trong vật chất của cõi này (là thể của Raja-Lord) đang diễn ra một số biến cố rất xác định mà—dù vô hình đối với người thường—lại hiển nhiên trước mắt con người tinh thần hay chân sư.

The matter of the plane becomes receptive to positive force for the feminine or deva aspect, being negative, becomes responsive to the positive energy of the Heavenly Man. This energy, finding the line of least resistance, pours into the substance of the plane, or the substantial body of the Deva Lords. Owing to the receptive condition of this body it follows certain lines and produces definitely constructive results.

Vật chất của cõi trở nên tiếp nhận mãnh lực dương vì phương diện nữ tính hay thiên thần, vốn là âm, trở nên đáp ứng với năng lượng dương của Đấng Thiên Nhân. Năng lượng này, tìm thấy con đường ít trở ngại nhất, tuôn vào chất liệu của cõi, hay thể chất liệu của các Deva Lords. Do tình trạng tiếp nhận của thể này, nó đi theo những đường nhất định và tạo ra những kết quả rõ rệt mang tính kiến tạo.

Constructive results transpire in the negative etheric matter of the plane and on the four higher subplanes. On the lower three a contrary effect is produced, and the energy of the Heavenly Man will lead to the destruction of form, preparatory to the building work. The building ever originates on, and proceeds from, etheric levels. Cataclysms of a world wide nature will occur during the next one thousand years; continents will be shaken; lands will be raised and submerged, culminating in the profound material disaster which will overtake the world towards the close of the fourth branch race of the sixth subrace. This will usher in the infant sixth rootrace.

Những kết quả kiến tạo diễn ra trong vật chất dĩ thái âm của cõi và trên bốn cõi phụ cao. Trên ba cõi phụ thấp, một hiệu quả trái ngược được tạo ra, và năng lượng của Đấng Thiên Nhân sẽ dẫn đến sự hủy diệt hình tướng, để chuẩn bị cho công việc kiến tạo. Công việc kiến tạo luôn khởi đầu trên, và tiến ra từ, các cấp độ dĩ thái. Những biến động có tính đại hồng thủy trên toàn thế giới sẽ xảy ra trong một ngàn năm tới; các lục địa sẽ rung chuyển; đất đai sẽ được nâng lên và chìm xuống, đạt cực điểm trong tai họa vật chất sâu sắc sẽ giáng xuống thế giới vào gần cuối giống dân nhánh thứ tư của giống dân phụ thứ sáu. Điều này sẽ mở đường cho giống dân gốc thứ sáu còn non trẻ.

The devas of the ethers, with which we are most concerned, [Page 468] will be affected in several ways, and the results upon the other evolutions will be far-reaching. We must remember always that the devas are the qualities and attributes of matter, the active builders, who work consciously or unconsciously upon the plane. Here I would point out that all the devas of the higher levels of the mental plane, for instance, and of the systemic planes from there on to the centre (the divine plane, the plane of the Logos, sometimes called Adi) co-operate consciously, and are of high rank in the system, and of position equal to all the ranks and grades of the Hierarchy from a first degree initiate up to, but not including, the Lord of the World Himself. Below these higher levels, where the concrete is touched, we have lesser grades of devas who work unconsciously, with the following exceptions, who are conscious forces and entities and of high position:

Các thiên thần của dĩ thái, là những vị chúng ta quan tâm nhất, [Page 468] sẽ bị tác động theo nhiều cách, và các kết quả trên những cuộc tiến hoá khác sẽ rất sâu rộng. Chúng ta phải luôn nhớ rằng các thiên thần là các phẩm tính và thuộc tính của vật chất, những đấng kiến tạo hoạt động, làm việc một cách hữu thức hay vô thức trên cõi. Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng chẳng hạn, tất cả các thiên thần của các cấp độ cao của cõi trí, và của các cõi hệ thống từ đó trở vào trung tâm (cõi thiêng liêng, cõi của Logos, đôi khi được gọi là Adi) đều hợp tác một cách hữu thức, và có cấp bậc cao trong hệ thống, với địa vị tương đương mọi cấp bậc và trình độ của Thánh đoàn từ một điểm đạo đồ bậc một cho đến, nhưng không kể, chính Đức Chúa Tể Thế Giới. Bên dưới các cấp độ cao này, nơi cái cụ thể được chạm đến, chúng ta có các cấp thiên thần thấp hơn làm việc một cách vô thức, với những ngoại lệ sau đây, là những mãnh lực và thực thể hữu thức và có địa vị cao:

a. The Raja-lord of a plane.

a. Raja-lord của một cõi.

b. Seven devas who work under Him, and are the entities who inform the matter of the seven subplanes.

b. Bảy thiên thần làm việc dưới quyền Ngài, và là những thực thể thấm nhuần vật chất của bảy cõi phụ.

c. Fourteen representatives of the Rays, Who cycle into and out of power, according to the Ray, waxing or waning.

c. Mười bốn đại diện của các cung, Các Ngài luân phiên đi vào và ra khỏi quyền lực, tùy theo cung, tăng hay giảm.

d. Four devas who are the plane representatives of the four Maharajahs (the Lords of Karma) and are the focal points for karmic influence in connection with man. The four Maharajahs are the dispensers of karma to the Heavenly Men, and thus to the cells, centres, and organs of His body necessarily; but the whole system works through graded representatives; the same laws govern these agents of plane karma as govern the systemic and cosmic, and during plane manifestation they are, for instance, the only unit in form [Page 469] permitted to pass beyond the plane ring-pass-not. All other units in manifestation on a plane have to discard the vehicle through which they function before they can pass on to subtler levels.

d. Bốn thiên thần là những đại diện của cõi cho bốn Maharajah (các Chúa Tể của Nghiệp Quả) và là những tiêu điểm cho ảnh hưởng nghiệp quả liên quan đến con người. Bốn Maharajah là những vị phân phối nghiệp quả cho các Đấng Thiên Nhân, và do đó tất yếu cho các tế bào, trung tâm và cơ quan trong thể của Ngài; nhưng toàn bộ hệ thống vận hành qua những đại diện theo cấp bậc; cùng những định luật chi phối các tác nhân nghiệp quả của cõi này cũng chi phối nghiệp quả hệ thống và vũ trụ, và trong thời kỳ biểu hiện của cõi, chẳng hạn, họ là đơn vị duy nhất trong hình tướng [Page 469] được phép vượt ra ngoài vòng-giới-hạn của cõi. Mọi đơn vị khác đang biểu hiện trên một cõi đều phải bỏ vận cụ mà qua đó họ hoạt động trước khi có thể đi sang các cấp độ vi tế hơn.

c. Types of Karma. We might here enumerate the different types of KARMA, even though we have not the time to enlarge upon the subject. A book by itself of vast proportions could not contain all that might be said. We should bear in mind that KARMA is imposed upon the ensouling entity through the medium of matter or of substance itself (which is coloured by it) and that this matter or substance is intelligent material composed of deva essence.

c. Các loại nghiệp quả. Ở đây chúng ta có thể liệt kê các loại NGHIỆP QUẢ khác nhau, dù chúng ta không có thời gian để khai triển đề tài này. Một quyển sách riêng với quy mô đồ sộ cũng không thể chứa hết mọi điều có thể nói. Chúng ta nên ghi nhớ rằng NGHIỆP QUẢ được áp đặt lên thực thể phú linh qua trung gian của chính vật chất hay chất liệu (vốn được nó nhuốm màu) và rằng vật chất hay chất liệu này là chất liệu thông minh được cấu thành từ tinh chất thiên thần.

Cosmic Karma—Imposed upon the solar Logos from outside of the system.

Nghiệp quả vũ trụ—Được áp đặt lên Thái dương Thượng đế từ bên ngoài hệ thống.

Systemic Karma—The working out by the Logos of effects set in motion in previous Kalpas, and which influence His present type of Body.

Nghiệp quả hệ thống—Sự triển khai của Logos về các hiệu quả đã được khởi động trong các Kalpa trước, và ảnh hưởng đến loại Thể hiện tại của Ngài.

Planetary Karma—The individual karma of a Heavenly Man, which is just as different from that of another Heavenly Man, as is the karma of the different members of the human family.

Nghiệp quả hành tinh—Nghiệp quả cá biệt của một Đấng Thiên Nhân, khác biệt với nghiệp quả của một Đấng Thiên Nhân khác cũng như nghiệp quả của các thành viên khác nhau trong gia đình nhân loại.

The Karma of a chain, which is bound up in the life experience of that entity who ensouls a chain, and is a centre in the body of a Heavenly Man, in the same sense as a Heavenly Man within His scheme is a centre in the body of the solar Logos.

Nghiệp quả của một Dãy, gắn liền với kinh nghiệm sống của thực thể phú linh cho một dãy, và là một trung tâm trong thể của một Đấng Thiên Nhân, theo cùng ý nghĩa như một Đấng Thiên Nhân trong hệ hành tinh của Ngài là một trung tâm trong thể của Thái dương Thượng đế.

Globe Karma—The individual destiny of the entity who is a centre in the body of the ensouling Life of a chain.

Nghiệp quả của bầu hành tinh—Định mệnh cá biệt của thực thể là một trung tâm trong thể của Sự Sống phú linh cho một dãy.

These five existences above enumerated, who are worked upon by karma, are all cosmic and solar Lords of Light, Who achieved intelligence, and passed through the human kingdom many kalpas ago.

Năm hiện hữu được liệt kê ở trên này, là những vị chịu tác động của nghiệp quả, đều là các Chúa Tể Ánh Sáng vũ trụ và thái dương, Các Ngài đã đạt được trí tuệ và đã đi qua giới nhân loại từ nhiều kalpa trước.

Plane Karma—This is inextricably mixed up with the [Page 470] karma of the planetary Logos and of the Raja-Lord, and is dependent upon the interplay between these two opposite poles,—the masculine and feminine aspect of the Divine Hermaphrodite.

Nghiệp quả của cõi—Điều này gắn bó không thể tách rời với [Page 470] nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế và của Raja-Lord, và tùy thuộc vào sự tương tác giữa hai cực đối nghịch này,—phương diện nam và nữ của Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng.

The Karma of a subplane, or the destiny of certain lesser entities who manifest through these planes.

Nghiệp quả của một cõi phụ, hay định mệnh của một số thực thể nhỏ hơn biểu hiện qua các cõi này.

In these two types of karma, we have what one might term the “Karma of the Hierarchies” as it has been brought about since the manifesting of the solar system. It is the result of the past of this system, and not so much the working out of effects originating in previous solar systems.

Trong hai loại nghiệp quả này, chúng ta có điều mà người ta có thể gọi là “Nghiệp quả của các Huyền Giai” vì nó đã được tạo ra kể từ khi hệ mặt trời biểu hiện. Nó là kết quả của quá khứ của hệ thống này, chứ không hẳn là sự triển khai các hiệu quả phát sinh trong những hệ mặt trời trước.

The Karma of the kingdoms of nature as we know them on our planet:

Nghiệp quả của các giới trong thiên nhiên như chúng ta biết trên hành tinh của mình:

a. The mineral kingdom.

a. giới kim thạch.

b. The vegetable kingdom.

b. giới thực vật.

c. The animal kingdom.

c. giới động vật.

This is necessarily the karma of the different lunar Lords who ensoul these kingdoms, and who are working out their purposes through them. We must note that we have touched therefore upon cosmic, solar, and lunar karma. In the latter is hid the great mystery of the Moon, and her place in the planetary scheme.

Điều này tất yếu là nghiệp quả của các nguyệt tinh quân khác nhau phú linh cho các giới này, và đang triển khai các mục đích của họ qua chúng. Vì vậy chúng ta phải lưu ý rằng chúng ta đã chạm đến nghiệp quả vũ trụ, thái dương và thái âm. Trong loại sau cùng này ẩn giấu đại bí nhiệm của Mặt Trăng, và vị trí của nàng trong hệ hành tinh.

The Karma of the Human Hierarchy (154) (155) (156) in its seven groups, and of the individual Monads. This in itself is a vast and intricate subject and—during the particular cycle of the Earth globe—can be divided into: [Page 471]

Nghiệp quả của Huyền Giai Nhân Loại (154) (155) (156) trong bảy nhóm của nó, và của các chân thần cá biệt. Tự nó, đây là một đề tài rộng lớn và phức tạp và—trong chu kỳ đặc biệt của bầu hành tinh Trái Đất—có thể được chia thành: [Page 471]

(154) Karma and Reincarnation, the fourth and fifth doctrines of the Wisdom-religion. These two are, in reality, the A, B, C, of the Wisdom-religion. Karma is the sum total of our acts, both in the present life and in the preceding births. It is of three kinds:—

(154) Nghiệp quả và Luân hồi, giáo lý thứ tư và thứ năm của Minh triết Tôn giáo. Hai điều này, trên thực tế, là A, B, C của Minh triết Tôn giáo. Nghiệp quả là tổng số tất cả hành động của chúng ta, cả trong đời này lẫn trong các lần sinh trước. Nó có ba loại:—

1. Sanchita karma

1. Sanchita karma

2. Prarabdha karma

2. Prarabdha karma

3. Agami karma

3. Agami karma

Sanchita karma includes human merits and demerits accumulated in the preceding and in all other previous births. That portion of the Sanchita karma destined to influence human life in one or the present incarnation is called Prarabdha. The third kind of karma is the result of the merits and demerits of the present acts. Agami extends over all your words, thoughts, and acts. What you think, what you speak, what you do, as well as whatever results your thoughts, words, and acts produce on yourself, and on those affected by them, fall under the category of the present karma, which will be sure to sway the balance of your life for good or for evil in your future development.”—The Theosophist, Vol. X, p. 235. (back)

Sanchita karma bao gồm công và tội của con người tích lũy trong lần sinh trước và trong tất cả các lần sinh trước khác. Phần của Sanchita karma được định để ảnh hưởng đến đời sống con người trong một hay lần nhập thể hiện tại được gọi là Prarabdha. Loại karma thứ ba là kết quả của công và tội của các hành động hiện tại. Agami bao trùm mọi lời nói, tư tưởng và hành động của bạn. Điều bạn nghĩ, điều bạn nói, điều bạn làm, cũng như bất cứ kết quả nào mà tư tưởng, lời nói và hành động của bạn tạo ra trên chính bạn, và trên những người bị chúng tác động, đều thuộc phạm trù của karma hiện tại, vốn chắc chắn sẽ làm nghiêng cán cân đời sống của bạn về thiện hay ác trong sự phát triển tương lai của bạn.”—The Theosophist, Tập X, tr. 235. (back)

(155) “Karma (action) is of three kinds:—

(155) “Karma (hành động) có ba loại:—

1. Agami:—The bodily actions good and bad—done after the acquisition of the discriminative knowledge. (Vide Sri Sankaracharya’s Tatwa Bodh, question 34).

1. Agami:—Những hành động của thân, tốt và xấu—được thực hiện sau khi đạt được tri thức phân biện. (Xem Sri Sankaracharya’s Tatwa Bodh, câu hỏi 34).

2. Sanchita:—The actions formerly done, serving as seeds to grow the countless births; the store of former actions preserved. Ibid., question 35).

2. Sanchita:—Những hành động đã làm trước đây, đóng vai trò như hạt giống để làm nảy sinh vô số lần sinh; kho chứa các hành động trước kia được bảo tồn. Ibid., câu hỏi 35).

And 3. Prarabdha:—The actions of this body (i.e. birth) which give pleasure or pain in this life alone. (Ibid., question 36.).”—The Theosophist, Vol. VIII, p. 170. (back)

Và 3. Prarabdha:—Những hành động của thể này (tức là lần sinh) đem lại vui sướng hay đau khổ chỉ trong đời này. (Ibid., câu hỏi 36.).”—The Theosophist, Tập VIII, tr. 170. (back)

(156) Karma. “It must be remembered that in every action of man the influence of his prior karma constitutes an important element. For the accomplishment of every action, says, Sri Krishna, we need five essentials:—

(156) Karma. “Phải nhớ rằng trong mọi hành động của con người, ảnh hưởng của nghiệp quả trước đó của y tạo thành một yếu tố quan trọng. Để hoàn thành mọi hành động, Sri Krishna nói, chúng ta cần năm điều cốt yếu:—

1. The actor.

1. Tác nhân hành động.

2. The determined will.

2. Ý chí đã được xác định.

3. Implements for committing the act, such as hands, tongue, etc.

3. Những công cụ để thực hiện hành động, như tay, lưỡi, v.v.

4. The exercise of these implements.

4. Việc sử dụng những công cụ ấy.

5. The influence of antecedent conduct.

5. Ảnh hưởng của hạnh kiểm trước đó.

The work which a man does with his body, speech or mind, whether it be just or unjust, has these five essentials or factors engaged in the performance. (Gita, XVIII, 13, 14, 15.)

Công việc mà một người làm bằng thân, lời nói hay trí tuệ của mình, dù công chính hay bất chính, đều có năm điều cốt yếu hay yếu tố này tham dự vào việc thực hiện. (Gita, XVIII, 13, 14, 15.)

These five essentials of karma are divided into 2 groups in the Mahabharata:—1, man’s present action (including the first four essentials) and, 2, the result of his past action (which forms the fifth essential).

Năm điều cốt yếu này của karma được chia thành 2 nhóm trong Mahabharata:—1, hành động hiện tại của con người (bao gồm bốn điều cốt yếu đầu) và, 2, kết quả của hành động quá khứ của y (tạo thành điều cốt yếu thứ năm).

“At the same time it must be remarked that the result of human existence is not the work of a day or even a cycle. It is the aggregate sum of actions committed during innumerable previous existences. Each action may in itself be as slight as can be conceived, like the minutest filaments of cotton,—such that hundreds of them may be blown away by a single breath; and yet, as similar filaments when closely packed and twisted together form a rope, so heavy and strong that it can be used to pull elephants and even huge ships with, so the articles of man’s karma, however trivial each of them may be in itself, would yet by the natural process of accretion, combine themselves closely and form a formidable Pasa (rope) to pull the man with, i.e. to influence his conduct for good or evil.”—The Theosophist, Vol. VII, p. 60. (back)

“Đồng thời cũng phải nhận xét rằng kết quả của sự hiện hữu con người không phải là công việc của một ngày hay thậm chí một chu kỳ. Nó là tổng số cộng dồn của những hành động đã thực hiện trong vô số hiện hữu trước đây. Mỗi hành động tự nó có thể nhỏ bé đến mức có thể hình dung, như những sợi bông nhỏ nhất,—đến nỗi hàng trăm sợi trong số đó có thể bị thổi bay chỉ bởi một hơi thở; tuy nhiên, cũng như những sợi tương tự khi được nén chặt và xoắn lại với nhau tạo thành một sợi dây nặng và chắc đến mức có thể dùng để kéo voi và cả những con tàu lớn, thì cũng vậy, các yếu tố trong karma của con người, dù mỗi yếu tố tự nó có thể tầm thường đến đâu, vẫn sẽ, qua tiến trình tích tụ tự nhiên, kết hợp chặt chẽ với nhau và tạo thành một Pasa (sợi dây) đáng sợ để kéo con người theo, tức là để ảnh hưởng đến hạnh kiểm của y theo hướng thiện hay ác.”—The Theosophist, Tập VII, tr. 60. (back)

a. World karma. (The seven root-races.)

a. Nghiệp quả thế giới. (Bảy giống dân gốc.)

b. Racial karma, or the destiny and purpose of each root-race.

b. Nghiệp quả chủng tộc, hay định mệnh và mục đích của mỗi giống dân gốc.

c. Subrace karma, for each subrace has its own destiny to work out.

c. Nghiệp quả giống dân phụ, vì mỗi giống dân phụ đều có định mệnh riêng cần triển khai.

d. National karma.

d. Nghiệp quả quốc gia.

e. Family karma.

e. Nghiệp quả gia đình.

f. Individual karma.

f. Nghiệp quả cá nhân.

All these different types of karma are intermingled and bound up in a manner inconceivable and inextricable [Page 472] to man; even the adepts cannot untangle the mystery beyond that of the groups affiliated with them, while the Chohans of the higher degrees work with the karma of the larger groups (which are the aggregates of the lesser groups).

Tất cả những loại nghiệp quả khác nhau này đan xen và gắn chặt với nhau theo một cách không thể hình dung và không thể tháo gỡ [Page 472] đối với con người; ngay cả các chân sư cũng không thể gỡ rối bí nhiệm này vượt quá phạm vi các nhóm liên kết với Các Ngài, trong khi các Chohan ở các cấp cao hơn làm việc với nghiệp quả của những nhóm lớn hơn (là tổng hợp của các nhóm nhỏ hơn).

All the lesser grades of devas, “The Army of the Voice,” on each plane, the lesser builders and elementals in their myriads, work unconsciously, being guided and directed by words and sound. In this way vibrations are set up in the essence of the planes by the conscious Builders.

Tất cả các cấp thiên thần thấp hơn, “Đạo Quân của Tiếng Nói,” trên mỗi cõi, các vị tiểu kiến tạo và các hành khí vô số của họ, đều làm việc một cách vô thức, được hướng dẫn và chỉ đạo bằng các lời và âm thanh. Theo cách này, các rung động được thiết lập trong tinh chất của các cõi bởi các Đấng Kiến Tạo hữu thức.

There is not much to be added at this point anent the deva evolution; much that might be imparted is perforce withheld owing to the danger arising from superficial knowledge, unaccompanied by wisdom and the inner vision. There are three more points to add to the four already given, concerning primarily the relationship of the devas to man in the future, and their closer approximation to him through the incoming type of force. This approximation, though inevitable, will not have for the human hierarchy results entirely beneficent, and before the true method of contact is comprehended, and the consequent association wisely utilised, much suffering will eventuate and much bitter experience will be undergone. When it is remembered that the devas are, in their totality, the mother aspect, the great builders of form, and the nourishers of that which is as yet unable to guard itself, any return of man to a closer dependence upon the devas is as if a full grown man returned to the care of his mother, offering up his self-reliance in exchange for material benefit. The devas are the mother of the form, but the self-conscious unit, MAN, should realize his independence of the form, and should follow the path of Self-expression. This should be pondered on, for in days to come (when units here and there contact the devas, and inevitably pay the penalty) it may be helpful [Page 473] if the reason is understood, and man realises his necessary separation from these Essences in the three worlds. Approach between the two lines of evolution becomes possible on the plane of buddhi, but then it is an approach of two essences, and not an approach of the concrete to the essence. Man, while functioning in material, substantial forms in the three worlds, may not trespass across the separating line between the two evolutions. Only on the planes of solar fire or on the cosmic etheric levels may contact be permitted; on the planes of the cosmic dense physical plane (our mental, astral and physical planes) disaster only results from contact. I have dwelt on this point, for the danger is real, and near at hand.

Không còn nhiều điều có thể thêm vào ở điểm này về sự tiến hoá thiên thần; nhiều điều có thể được truyền đạt buộc phải giữ lại do mối nguy phát sinh từ tri thức hời hợt, không đi kèm minh triết và linh thị bên trong. Còn ba điểm nữa cần thêm vào bốn điểm đã nêu, chủ yếu liên quan đến mối tương quan của các thiên thần với con người trong tương lai, và sự xích lại gần hơn của họ với con người qua loại mãnh lực đang đi vào. Sự xích lại gần này, dù không thể tránh khỏi, sẽ không đem lại cho huyền giai nhân loại những kết quả hoàn toàn có lợi, và trước khi phương pháp tiếp xúc chân chính được thấu hiểu, và sự liên kết hệ quả ấy được sử dụng một cách khôn ngoan, nhiều đau khổ sẽ xảy đến và nhiều kinh nghiệm cay đắng sẽ phải trải qua. Khi nhớ rằng các thiên thần, trong tổng thể của họ, là phương diện mẹ, những đấng đại kiến tạo của hình tướng, và là những vị nuôi dưỡng điều mà hiện còn chưa thể tự bảo vệ, thì bất kỳ sự quay trở lại nào của con người đến một sự lệ thuộc gần gũi hơn vào các thiên thần cũng giống như một người trưởng thành quay lại dưới sự chăm sóc của mẹ mình, đánh đổi sự tựlập của mình lấy lợi ích vật chất. Các thiên thần là mẹ của hình tướng, nhưng đơn vị ngã thức, CON NGƯỜI, nên nhận ra sự độc lập của mình đối với hình tướng, và nên đi theo con đường Tự biểu hiện. Điều này nên được suy ngẫm, vì trong những ngày sắp tới (khi những đơn vị rải rác đây đó tiếp xúc với các thiên thần, và tất yếu phải trả giá) điều đó có thể hữu ích [Page 473] nếu lý do được thấu hiểu, và con người nhận ra sự tách biệt cần thiết của mình khỏi các Tinh Chất này trong ba cõi thấp. Sự tiếp cận giữa hai tuyến tiến hoá trở nên khả hữu trên cõi Bồ đề, nhưng khi ấy đó là sự tiếp cận của hai tinh chất, chứ không phải sự tiếp cận của cái cụ thể với tinh chất. Con người, khi còn hoạt động trong các hình tướng vật chất, chất liệu ở ba cõi thấp, không được vượt qua ranh giới phân cách giữa hai cuộc tiến hoá. Chỉ trên các cõi của Lửa Thái dương hay trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ thì sự tiếp xúc mới có thể được cho phép; trên các cõi của cõi hồng trần đậm đặc vũ trụ (các cõi trí, cảm dục và hồng trần của chúng ta), chỉ có tai họa phát sinh từ sự tiếp xúc. Tôi đã nhấn mạnh điểm này, vì mối nguy là có thật, và đang ở rất gần.

The deva evolution will, through this seventh Ray force have much to do with the transmission of prana to units of the three higher kingdoms of nature, and this easier transmission (from the etheric levels of the physical plane) will parallel a correspondingly easier transmission of spiritual or psychical force from the fourth cosmic ether, the buddhic plane. The results of this pranic transmission will be more healthy physical bodies among the sons of men. This need not be looked for at this time, and will only begin to be noticeable about three hundred years hence, when the incoming seventh Ray Egos will be numerically strong enough to be recognised as the prevailing type for a certain period. Their physical bodies, owing to their being built for seventh Ray force will respond more readily than the others, though first Ray egos and fifth Ray Egos will benefit enormously from this influence. The etheric devas will build during a peculiarly favourable period, and the physical bodies then constructed will be distinguished by:

Sự tiến hoá thiên thần, qua mãnh lực cung bảy này, sẽ có nhiều liên hệ với việc truyền prana đến các đơn vị của ba giới cao hơn trong thiên nhiên, và sự truyền dẫn dễ dàng hơn này (từ các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần) sẽ song hành với một sự truyền dẫn tương ứng dễ dàng hơn của mãnh lực tinh thần hay thông linh từ dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề. Kết quả của sự truyền dẫn prana này sẽ là những thể xác khỏe mạnh hơn nơi những người con của nhân loại. Điều này không nên được mong đợi vào lúc này, và chỉ bắt đầu trở nên đáng chú ý vào khoảng ba trăm năm nữa, khi các chân ngã cung bảy đang đi vào đủ mạnh về số lượng để được nhận ra như loại hình chiếm ưu thế trong một thời kỳ nhất định. Các thể xác của họ, do được xây dựng cho mãnh lực cung bảy, sẽ đáp ứng dễ dàng hơn những thể khác, dù các chân ngã cung một và các chân ngã cung năm cũng sẽ được hưởng lợi rất lớn từ ảnh hưởng này. Các thiên thần dĩ thái sẽ kiến tạo trong một thời kỳ đặc biệt thuận lợi, và các thể xác được cấu tạo khi ấy sẽ nổi bật bởi:

a. Resilience,

a. Tính đàn hồi,

b. Enormous physical magnetism, [Page 474]

b. Từ điện hồng trần to lớn, [Page 474]

c. Ability to reject false magnetism,

c. Khả năng loại bỏ từ điện giả,

d. Capacity to absorb solar rays,

d. Năng lực hấp thụ các tia thái dương,

e. Great strength and resistance,

e. Sức mạnh và sức đề kháng lớn,

f. A delicacy and refinement in appearance as yet unknown.

f. Một sự tinh tế và thanh nhã trong sắc tướng hiện còn chưa được biết đến.

The etheric levels of the plane will be full of an increased activity, and slowly but surely, as the decades slip away, man will become conscious of these levels, and aware of their inhabitants. The immediate effect of this greater etheric energy will be that a numerically larger number of people will possess etheric vision, and will be able normally and naturally to live consciously on etheric levels. The majority of men only function consciously on the three lower levels of the physical—the gaseous, the liquid, and the dense—and the etheric levels are as sealed to them as are the astral. In the coming centuries, man’s normal habitat will be the entire physical plane up to, though not including, the second subplane. The fourth and third etheric levels will be as familiar to him as the usual physical landscape to which he is now accustomed.

Các cấp độ dĩ thái của cõi sẽ tràn đầy hoạt động gia tăng, và chậm rãi nhưng chắc chắn, khi các thập niên trôi qua, con người sẽ trở nên hữu thức về các cấp độ này, và nhận biết các cư dân của chúng. Hiệu quả tức thời của năng lượng dĩ thái lớn hơn này sẽ là một số người lớn hơn về mặt số lượng sẽ sở hữu linh thị dĩ thái, và sẽ có thể sống một cách bình thường và tự nhiên một cách hữu thức trên các cấp độ dĩ thái. Đa số con người chỉ hoạt động một cách hữu thức trên ba cấp độ thấp của cõi hồng trần—thể khí, thể lỏng, và thể đậm đặc—và các cấp độ dĩ thái bị phong kín đối với họ cũng như cõi cảm dục vậy. Trong các thế kỷ sắp tới, môi trường cư trú bình thường của con người sẽ là toàn bộ cõi hồng trần cho đến, nhưng không bao gồm, cõi phụ thứ hai. Các cấp độ dĩ thái thứ tư và thứ ba sẽ quen thuộc với y như phong cảnh hồng trần thông thường mà hiện nay y đã quen thuộc.

The centre of attention of medical and scientific students will be focussed on the etheric body, and the dependence of the physical body upon the etheric body will be recognised. This will change the attitude of the medical profession, and magnetic healing and vibratory stimulation will supersede the present methods of surgery and drug assimilation. Man’s vision being then normally etheric, will have the effect of forcing him to recognise that which is now called the “unseen world,” or the superphysical. Men in their etheric bodies will be noted, and communicated with, and the devas and elementals of the ethers will be studied and recognised. When this is so, then the true use of ceremonial ritual as a protection and safeguard to man will assume its right place.

Trung tâm chú ý của các đạo sinh y học và khoa học sẽ được tập trung vào thể dĩ thái, và sự lệ thuộc của thể xác vào thể dĩ thái sẽ được thừa nhận. Điều này sẽ làm thay đổi thái độ của giới y khoa, và việc chữa lành bằng từ điện cùng sự kích thích rung động sẽ thay thế các phương pháp phẫu thuật và hấp thụ dược chất hiện nay. Linh thị của con người khi ấy, vốn bình thường là dĩ thái, sẽ có tác dụng buộc y phải thừa nhận điều hiện nay được gọi là “thế giới vô hình,” hay siêu hồng trần. Con người trong thể dĩ thái của họ sẽ được nhận thấy và giao tiếp, và các thiên thần cùng hành khí của dĩ thái sẽ được nghiên cứu và thừa nhận. Khi điều này xảy ra, thì việc sử dụng chân chính nghi lễ nghi thức như một sự bảo vệ và che chở cho con người sẽ giữ đúng vị trí của nó.

[Page 475] The work of the devas in connection with the animal and the vegetable kingdoms will be likewise recognised, and much that is now possible through ignorance will become impossible and obsolete. The time will come, when the attitude of man to the animal kingdom will be revolutionised, and the slaughter, ill-treatment, and that form of cruelty called “sport,” will be done away with.

[Page 475] Công việc của các thiên thần liên quan đến giới động vật và giới thực vật cũng sẽ được thừa nhận, và nhiều điều hiện nay còn có thể do vô minh sẽ trở nên bất khả và lỗi thời. Thời gian sẽ đến khi thái độ của con người đối với giới động vật sẽ được cách mạng hóa, và sự tàn sát, ngược đãi, cùng hình thức tàn nhẫn được gọi là “thể thao,” sẽ bị xóa bỏ.

A mysterious change in the attitude of men and women to the sex question, marriage and the work of procreation will result from the development of etheric vision, and the consequent recognition of the devas. This change will be based on the realisation of the true nature of matter, or of the mother aspect, and of the effect of the Sun upon substance. The unity of life will be a known and scientific fact, and life in matter will no longer be a theory but a fundamental of science. This cannot be enlarged upon here.

Một sự thay đổi huyền nhiệm trong thái độ của những người nam và nữ đối với vấn đề tính dục, hôn nhân và công việc sinh sản sẽ phát sinh từ sự phát triển của linh thị dĩ thái, và sự thừa nhận hệ quả đối với các thiên thần. Sự thay đổi này sẽ dựa trên sự chứng nghiệm bản chất chân thực của vật chất, hay phương diện mẹ, và ảnh hưởng của Mặt Trời trên chất liệu. Sự hợp nhất của sự sống sẽ là một sự kiện đã được biết và có tính khoa học, và sự sống trong vật chất sẽ không còn là một lý thuyết mà là một nền tảng của khoa học. Điều này không thể được khai triển ở đây.

3. Manas in the Final Rounds.

3. Manas trong các cuộc tuần hoàn cuối cùng.

a. The transmutative process. Transmutation is a subject that from the earliest ages has occupied the attention of students, scientists and alchemists. The power to change, through the application of heat, is of course universally recognised, but the key to the mystery, or the secret of the systemic formula is advisedly guarded from all searchers, and is only gradually revealed after the second Initiation. The subject is so tremendous that it is only possible to indicate in broad general outlines how it may be approached. The mind of the public turns naturally to the transmutation of metals into gold with the aim in view of the alleviation of poverty. The mind of the scientist seeks the universal solvent which will reduce matter to its primordial substance, release energy, and thus reveal the processes of evolution, and enable the seeker to build for himself (from the primordial base) the desired forms. The mind of the alchemist [Page 476] searches for the Philosopher’s Stone, that effective transmuting agent which will bring about revelation, and the power to impose the will of the chemist upon the elemental forces, which work in, by, and through matter. The religious man, especially the Christian, recognises the psychic quality of this transmutative power, and frequently speaks in the sacred books, of the soul being tried or tested seven times in the fire. All these students and investigators are recognising one great truth from their own constricted angle, and the whole lies not with one or another, but in the aggregate.

a. Tiến trình chuyển hoá. Chuyển hoá là một đề tài từ những thời đại sớm nhất đã chiếm lĩnh sự chú ý của các đạo sinh, các nhà khoa học và các nhà luyện kim. Quyền năng biến đổi, qua việc áp dụng nhiệt, dĩ nhiên được thừa nhận phổ quát, nhưng chìa khóa của bí nhiệm, hay bí mật của công thức hệ thống, được cố ý gìn giữ khỏi mọi người tìm kiếm, và chỉ dần dần được mặc khải sau lần điểm đạo thứ hai. Đề tài này quá rộng lớn đến nỗi chỉ có thể nêu ra bằng những nét đại cương cách nó có thể được tiếp cận. Trí tuệ của công chúng tự nhiên hướng đến việc chuyển hoá kim loại thành vàng với mục đích làm giảm nghèo đói. Trí tuệ của nhà khoa học tìm kiếm dung môi phổ quát sẽ làm giảm vật chất về chất liệu nguyên sơ của nó, giải phóng năng lượng, và như thế mặc khải các tiến trình tiến hoá, đồng thời cho phép người tìm kiếm tự mình kiến tạo (từ nền tảng nguyên sơ) những hình tướng mong muốn. Trí tuệ của nhà luyện kim [Page 476] tìm kiếm Hòn Đá Triết Gia, tác nhân chuyển hoá hữu hiệu sẽ đem lại sự mặc khải, và quyền năng áp đặt ý chí của nhà hóa học lên các mãnh lực hành khí, vốn hoạt động trong, bởi, và qua vật chất. Người có tôn giáo, đặc biệt là người Kitô giáo, nhận ra phẩm tính thông linh của quyền năng chuyển hoá này, và thường nói trong các sách thiêng liêng về việc linh hồn được thử luyện hay khảo nghiệm bảy lần trong lửa. Tất cả những đạo sinh và nhà khảo cứu này đều đang nhận ra một chân lý lớn từ góc nhìn hạn hẹp riêng của mình, và toàn thể chân lý không nằm ở người này hay người kia, mà ở trong tổng thể.

In defining transmutation as it is occultly understood, we might express it thus: Transmutation is the passage across from one state of being to another through the agency of fire. The due comprehension of this is based on certain postulates, mainly four in number. These postulates must be expressed in terms of the Old Commentary, which is so worded that it reveals to those who have eyes to see, but remains enigmatic to those who are not ready, or who would misuse the knowledge gained for selfish ends. The phrases are as follows:

Khi định nghĩa chuyển hoá như nó được thấu hiểu trong huyền bí học, chúng ta có thể diễn đạt như sau: Chuyển hoá là sự vượt qua từ một trạng thái hiện hữu sang một trạng thái khác qua tác nhân của lửa. Sự thấu hiểu đúng đắn điều này dựa trên một số tiên đề, chủ yếu là bốn điều. Những tiên đề này phải được diễn đạt theo Cổ Luận, vốn được viết sao cho nó mặc khải cho những ai có mắt để thấy, nhưng vẫn bí ẩn đối với những ai chưa sẵn sàng, hoặc những ai sẽ lạm dụng tri thức đạt được cho những mục đích ích kỷ. Các cụm từ như sau:

I. He who transfers the Father’s life to the lower three seeketh the agency of fire, hid in the heart of Mother. He worketh with the Agnichaitans, that hide, that burn, and thus produce the needed moisture.

I. Kẻ chuyển sự sống của Cha vào ba cõi thấp tìm kiếm tác nhân của lửa, ẩn trong tim của Mẹ. Y làm việc với các Agnichaitan, những vị che giấu, những vị thiêu đốt, và như thế tạo ra độ ẩm cần thiết.

II. He who transfers the life from out the lower three into the ready fourth seeketh the agency of fire hid in the heart of Brahma. He worketh with the forces of the Agnishvattas, that emanate, that blend, and thus produce the needed warmth.

II. Kẻ chuyển sự sống từ ba cõi thấp vào cõi thứ tư đã sẵn sàng tìm kiếm tác nhân của lửa ẩn trong tim của Brahma. Y làm việc với các mãnh lực của các Agnishvatta, những vị phát xạ, những vị dung hợp, và như thế tạo ra hơi ấm cần thiết.

III. He who transfers the life into the gathering fifth seeketh the agency of fire hid in the heart of Vishnu. He worketh with the forces of the Agnisuryans, that blaze, that liberate the essence, and thus produce the needed radiance.

III. Kẻ chuyển sự sống vào cõi thứ năm đang tụ hội tìm kiếm tác nhân của lửa ẩn trong tim của Vishnu. Y làm việc với các mãnh lực của các Agnisuryan, những vị bừng cháy, những vị giải phóng tinh chất, và như thế tạo ra sự rạng ngời cần thiết.

IV. First moisture, slow and all enveloping; then heat with ever-growing warmth and fierce intensity; then force that presses, drives and concentrates. Thus is radiance [Page 477] produced; thus the exudation; thus mutation; thus change of form. Finally liberation, escape of the volatile essence, and the gathering of the residue back to primordial stuff.

IV. Trước hết là độ ẩm, chậm chạp và bao trùm khắp; rồi đến nhiệt với hơi ấm ngày càng tăng và cường độ mãnh liệt; rồi đến mãnh lực ép, thúc đẩy và tập trung. Như thế sự rạng ngời được [Page 477] tạo ra; như thế sự tiết xuất; như thế sự biến đổi; như thế sự thay đổi hình tướng. Cuối cùng là sự giải thoát, sự thoát ra của tinh chất dễ bay hơi, và sự thu hồi phần cặn trở lại chất liệu nguyên sơ.

He who ponders these formulas and who meditates upon the method and suggested process will receive a general idea of the evolutionary process of transmutation which will be of more value to him than the formulas whereby the devas transmute the various minerals.

Người nào suy ngẫm các công thức này và tham thiền về phương pháp cùng tiến trình được gợi ý sẽ nhận được một ý niệm tổng quát về tiến trình tiến hoá của sự chuyển hoá, điều sẽ có giá trị đối với y hơn là các công thức nhờ đó các thiên thần chuyển hoá các khoáng chất khác nhau.

Transmutation concerns the life of the atom, and is hidden in a knowledge of the laws governing radioactivity. It is interesting to note how in the scientific expression ‘radioactivity,’ we have the eastern conception of Vishnu-Brahma, or the Rays of Light vibrating through matter. Hence the usually accepted interpretation of the term ‘atom’ must be extended from that of the atom of chemistry to include:

Chuyển hoá liên quan đến sự sống của nguyên tử, và được ẩn giấu trong tri thức về các định luật chi phối tính phóng xạ. Thật thú vị khi lưu ý rằng trong cách diễn đạt khoa học “tính phóng xạ,” chúng ta có quan niệm phương Đông về Vishnu-Brahma, hay Các Tia Sáng rung động xuyên qua vật chất. Vì vậy, cách giải thích thường được chấp nhận về thuật ngữ “nguyên tử” phải được mở rộng từ nguyên tử của hóa học để bao gồm:

a. All atoms or spheres upon the physical plane.

a. Mọi nguyên tử hay khối cầu trên cõi hồng trần.

b. All atoms or spheres upon the astral and mental planes.

b. Mọi nguyên tử hay khối cầu trên cõi cảm dục và cõi trí.

c. The human being in physical incarnation.

c. Con người trong lần nhập thể hồng trần.

d. The causal body of man on its own plane.

d. Thể nguyên nhân của con người trên cõi riêng của nó.

e. All planes as entified spheres.

e. Mọi cõi như những khối cầu được thực thể hóa.

f. All planets, chains and globes within the solar system.

f. Mọi hành tinh, dãy và bầu hành tinh trong hệ mặt trời.

g. All monads on their own plane, whether human monads or Heavenly Men.

g. Mọi chân thần trên cõi riêng của chúng, dù là chân thần nhân loại hay các Đấng Thiên Nhân.

h. The solar Ring-Pass-Not, the aggregate of all lesser atoms.

h. Vòng-giới-hạn thái dương, tổng thể của mọi nguyên tử nhỏ hơn.

In all these atoms, stupendous or minute, microcosmic or macrocosmic, the central life corresponds to the positive charge of electrical force predicated by science, whether it is the life of a cosmic Entity such as a solar Logos, or the tiny elemental life within a physical atom. The lesser atoms which revolve round their positive centre, and which are at present termed electrons by science, are the negative aspect, and this is true not only of the atom on the physical plane, but of the human atoms, held to their central attractive point, a Heavenly Man, or the [Page 478] atomic forms which in their aggregate form the recognised solar system. All forms are built up in an analogous manner and the only difference consists—as the text-books teach—in the arrangement and the number of the electrons. (157) The electron itself will eventually be found to be an elemental, tiny life.

Trong tất cả các nguyên tử này, dù vĩ đại hay cực nhỏ, tiểu thiên địa hay đại thiên địa, sự sống trung tâm tương ứng với điện tích dương của mãnh lực điện mà khoa học giả định, dù đó là sự sống của một Thực Thể vũ trụ như một Thái dương Thượng đế, hay sự sống hành khí nhỏ bé trong một nguyên tử hồng trần. Những nguyên tử nhỏ hơn quay quanh trung tâm dương của chúng, và hiện nay được khoa học gọi là electron, là phương diện âm, và điều này đúng không chỉ với nguyên tử trên cõi hồng trần, mà còn với các nguyên tử nhân loại, được giữ tại điểm hấp dẫn trung tâm của chúng là một Đấng Thiên Nhân, hay các [Page 478]hình tướng nguyên tử mà trong tổng thể của chúng tạo thành hệ mặt trời được thừa nhận. Mọi hình tướng đều được xây dựng theo một cách tương đồng và sự khác biệt duy nhất nằm ở—như các sách giáo khoa dạy—sự sắp xếp và số lượng các electron. (157) Bản thân electron cuối cùng sẽ được phát hiện là một hành khí, một sự sống nhỏ bé.

(157) Atom and Electron: See Consciousness of the Atom, page 17-22. (back)

(157) Nguyên tử và Electron: Xem Consciousness of the Atom, trang 17-22. (back)

The second point I seek to make now is: Radiation is transmutation in process of accomplishment. Transmutation being the liberation of the essence in order that it may seek a new centre, the process may be recognised as radioactivity technically understood and applied to all atomic bodies without exception.

Điểm thứ hai mà tôi muốn nêu ra lúc này là: Sự phóng xạ là sự chuyển hoá trong tiến trình hoàn thành. Vì chuyển hoá là sự giải phóng tinh chất để nó có thể tìm kiếm một trung tâm mới, nên tiến trình này có thể được nhận ra như tính phóng xạ được hiểu theo nghĩa kỹ thuật và được áp dụng cho mọi thể nguyên tử không ngoại lệ.

That science has but recently become aware of radium (an example of the process of transmutation) is but the fault of science. As this is more comprehended it will be found that all radiations, such as magnetism or psychic exhalation, are but the transmuting process proceeding on a large scale. The point to be grasped here is that the transmuting process, when effective, is superficially the result of outside factors. Basically it is the result of the inner positive nucleus of force or life reaching such a terrific rate of vibration, that it eventually scatters the electrons or negative points which compose its sphere of influence, and scatters them to such a distance that the Law of Repulsion dominates. They are then no more attracted to their original centre but seek another. The atomic sphere, if I might so express it, dissipates, the electrons come under the Law of Repulsion, and the central essence escapes and seeks a new sphere, occultly understood.

Việc khoa học chỉ mới gần đây nhận biết được radium (một ví dụ về tiến trình chuyển hoá) chỉ là lỗi của khoa học mà thôi. Khi điều này được thấu hiểu nhiều hơn, người ta sẽ thấy rằng mọi sự bức xạ, như từ điện hay sự toả ra thông linh, chỉ là tiến trình chuyển hoá đang diễn ra trên quy mô lớn. Điểm cần nắm bắt ở đây là tiến trình chuyển hoá, khi hữu hiệu, bề ngoài là kết quả của các yếu tố bên ngoài. Về căn bản, đó là kết quả của hạt nhân dương nội tại của mãnh lực hay sự sống đạt đến một tốc độ rung động khủng khiếp đến mức cuối cùng nó phân tán các electron hay các điểm âm cấu thành khối cầu ảnh hưởng của nó, và phân tán chúng ra xa đến nỗi Định luật Đẩy Lùi chi phối. Khi đó, chúng không còn bị hút về trung tâm nguyên thủy của mình nữa mà tìm kiếm một trung tâm khác. Khối cầu nguyên tử, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, tan biến đi, các electron chịu dưới Định luật Đẩy Lùi, và tinh chất trung tâm thoát ra và tìm kiếm một khối cầu mới, theo cách hiểu huyền bí.

We must remember always that all within the solar system is dual, and is in itself both negative and positive: positive as regards its own form, but negative as regards its greater sphere. Every atom therefore is [Page 479] both positive and negative,—it is an electron as well as an atom.

Chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng mọi sự bên trong hệ mặt trời đều là kép, và tự thân vừa âm vừa dương: dương đối với hình tướng riêng của nó, nhưng âm đối với khối cầu lớn hơn của nó. Vì vậy, mọi nguyên tử đều là [Page 479] vừa dương vừa âm,—nó vừa là một electron vừa là một nguyên tử.

Therefore, the process of transmutation is dual and necessitates a preliminary stage of application of external factors, a fanning and care and development of the inner positive nucleus, a period of incubation or of the systematic feeding of the inner flame, and an increase of voltage. There is next a secondary stage wherein the external factors do not count so much, and wherein the inner centre of energy in the atom may be left to do its own work. These factors may be applied equally to all atoms; to the mineral atoms which have occupied the attention of alchemists so much, to the atom, called man who pursues the same general procedure being governed by the same laws; and to all greater atoms, such as a Heavenly Man or a solar Logos.

Do đó, tiến trình chuyển hoá là nhị phân và đòi hỏi một giai đoạn sơ bộ với việc áp dụng các yếu tố bên ngoài, sự quạt lên, chăm sóc và phát triển hạt nhân dương bên trong, một thời kỳ ấp ủ hay nuôi dưỡng có hệ thống ngọn lửa nội tại, và sự gia tăng điện thế. Tiếp theo là một giai đoạn thứ yếu trong đó các yếu tố bên ngoài không còn quan trọng nhiều nữa, và trong đó trung tâm năng lượng bên trong nguyên tử có thể được để cho tự thực hiện công việc của nó. Các yếu tố này có thể được áp dụng như nhau cho mọi nguyên tử; cho các nguyên tử khoáng vật vốn đã chiếm nhiều sự chú ý của các nhà luyện kim, cho nguyên tử gọi là con người, kẻ theo đuổi cùng một thủ tục tổng quát vì bị chi phối bởi cùng những định luật; và cho mọi nguyên tử lớn hơn, như một Đấng Thiên Nhân hay một Thái dương Thượng đế.

The process might be tabulated as follows:

Tiến trình này có thể được lập bảng như sau:

1. The life takes primitive form.

1. Sự sống mang lấy hình tướng nguyên sơ.

2. The form is subjected to outer heat.

2. Hình tướng chịu tác động của nhiệt bên ngoài.

3. Heat, playing on the form, produces exudation and the factor of moisture supervenes.

3. Nhiệt tác động lên hình tướng tạo ra sự tiết xuất và yếu tố ẩm ướt xuất hiện.

4. Moisture and heat perform their function in unison.

4. Độ ẩm và nhiệt thực hiện chức năng của chúng trong sự hợp nhất.

5. Elemental lives tend all lesser lives.

5. Các sự sống hành khí chăm nom mọi sự sống nhỏ hơn.

6. The devas co-operate under rule, order and sound.

6. Các thiên thần hợp tác dưới quy luật, trật tự và âm thanh.

7. The internal heat of the atom increases.

7. Nhiệt nội tại của nguyên tử gia tăng.

8. The heat of the atom mounts rapidly and surpasses the external heat of its environing.

8. Nhiệt của nguyên tử tăng nhanh và vượt quá nhiệt bên ngoài của môi trường bao quanh nó.

9. The atom radiates.

9. Nguyên tử bức xạ.

10. The spheroidal wall of the atom is eventually broken down.

10. Vách hình cầu của nguyên tử cuối cùng bị phá vỡ.

11. The electrons or negative units seek a new centre.

11. Các electron hay các đơn vị âm tìm kiếm một trung tâm mới.

12. The central life escapes to merge with its polar opposite becoming itself negative and seeking the positive.

12. Sự sống trung tâm thoát ra để hòa nhập với cực đối nghịch của nó, tự nó trở thành âm và tìm kiếm cái dương.

13. This is occultly obscuration, the going-out of the light temporarily, until it again emerges and blazes forth.

13. Theo huyền bí học, đây là sự che mờ, sự tắt đi của ánh sáng trong chốc lát, cho đến khi nó lại xuất hiện và bùng cháy lên.

More detailed elucidation will not be possible here nor advisable:

Ở đây không thể cũng không nên giải thích chi tiết hơn:

It will be apparent, therefore, that it should be possible, [Page 480] from the standpoint of each kingdom of nature, to aid the transmuting process of all lesser atoms. This is so, even though it is not recognised; it is only when the human kingdom is reached that it is possible for an entity consciously and intelligently to do two things:

Do đó, sẽ thấy rõ rằng lẽ ra phải có thể, [Page 480] từ quan điểm của mỗi giới trong thiên nhiên, trợ giúp tiến trình chuyển hoá của mọi nguyên tử nhỏ hơn. Điều này là như vậy, dù nó không được nhận ra; chỉ khi đạt đến giới nhân loại thì một thực thể mới có thể một cách hữu thức và thông minh làm hai việc:

First: aid in the transmutation of his own positive atomic centre from the human into the spiritual.

Thứ nhất: trợ giúp trong sự chuyển hoá trung tâm nguyên tử dương của chính y từ nhân loại sang tinh thần.

Second: assist at the transmutation

Thứ hai: hỗ trợ sự chuyển hoá

a. From the lower mineral forms into the higher forms.

a. Từ các hình tướng khoáng vật thấp lên các hình tướng cao hơn.

b. From the mineral forms into the vegetable.

b. Từ các hình tướng khoáng vật sang giới thực vật.

c. From vegetable forms into the animal forms.

c. Từ các hình tướng thực vật sang các hình tướng động vật.

d. From animal forms into the human or consciously and definitely to bring about individualisation.

d. Từ các hình tướng động vật sang nhân loại hay một cách hữu thức và xác định đem lại sự biệt ngã hóa.

That it is not done as yet is due to the danger of imparting the necessary knowledge. The adepts understand the transmuting process in the three worlds, and in the four kingdoms of nature, which make them a temporary esoteric three and exoteric four.

Việc này chưa được thực hiện là do sự nguy hiểm của việc truyền đạt tri thức cần thiết. Các chân sư hiểu tiến trình chuyển hoá trong ba cõi giới, và trong bốn giới của thiên nhiên, những giới này làm cho chúng trở thành một bộ ba nội môn tạm thời và một bộ bốn ngoại môn.

Man will eventually work with the three kingdoms but, only when brotherhood is a practice and not a concept.

Con người cuối cùng sẽ làm việc với ba giới nhưng chỉ khi tình huynh đệ là một thực hành chứ không phải một khái niệm.

Three points must now be considered in this connection:

Giờ đây phải xét đến ba điểm liên quan đến vấn đề này:

Conscious manipulation of the fires.

Sự điều khiển hữu thức các ngọn lửa.

Devas and transmutation.

Các thiên thần và sự chuyển hoá.

Sound and colour in transmutation.

Âm thanh và màu sắc trong sự chuyển hoá.

It is necessary here to point out, as I have done in other matters under consideration, that only certain facts can be imparted, whilst the detailed work concerning process may not be dealt with owing to the inability of the race as yet to act altruistically. Much misapprehension crept in, owing to this very thing, in the early days of hierarchical effort to give out some of the Wisdom fundamentals in book form, and this is bravely dealt [Page 481] with by H. P. B. (158) (159) The danger still persists, and greatly handicaps the efforts of Those, Who—working on the inner side—feel that the thoughts of men should be lifted from the study of the ways of physical existence to broader concepts, wider vision, and synthetic comprehension. Indication only is possible; it is not permissible here to give out the transmutative formulas, or the mantrams that manipulate the matter of space. Only the way can be pointed to those who are ready, or who are recovering [Page 482] old knowledge (gained through approach to the Path, or latent through experience undergone in Atlantean days) and the landmarks indicated hold sufficient guidance to enable them to penetrate deeper into the arcana of knowledge. The danger consists in the very fact that the whole matter of transmutation concerns the material form, and deva substance. Man, being not yet master even of the substance of his own sheaths, nor in vibratory control of his third aspect, incurs risk when he concentrates his attention on the Not-Self. It can only be safely done when the magician knows five things:

Ở đây cần chỉ ra, như tôi đã làm trong những vấn đề khác đang được xem xét, rằng chỉ có thể truyền đạt một số sự kiện nhất định, trong khi công việc chi tiết liên quan đến tiến trình thì không thể bàn đến do nhân loại hiện nay chưa có khả năng hành động vị tha. Chính vì điều này mà đã có nhiều sự hiểu lầm len vào trong những ngày đầu của nỗ lực từ Thánh đoàn nhằm công bố một số nền tảng của minh triết dưới hình thức sách vở, và điều này được H. P. B. xử lý một cách can đảm [Page 481] trong (158) (159) Sự nguy hiểm ấy vẫn còn tồn tại, và gây trở ngại lớn cho những nỗ lực của Các Ngài, những Đấng—làm việc ở mặt bên trong—cảm thấy rằng tư tưởng của con người nên được nâng lên khỏi việc nghiên cứu các phương cách của sự tồn tại hồng trần để hướng đến những khái niệm rộng lớn hơn, tầm nhìn bao quát hơn, và sự thấu hiểu tổng hợp. Chỉ có thể đưa ra chỉ dẫn; ở đây không được phép công bố các công thức chuyển hoá, hay các mantram điều khiển vật chất của không gian. Chỉ có thể chỉ ra con đường cho những ai đã sẵn sàng, hoặc đang phục hồi [Page 482] tri thức cũ (đạt được qua sự tiếp cận Con Đường, hoặc tiềm ẩn do kinh nghiệm đã trải qua trong thời Atlantis) và các dấu mốc được nêu ra giữ đủ sự hướng dẫn để giúp họ thâm nhập sâu hơn vào những huyền nhiệm của tri thức. Sự nguy hiểm nằm chính ở chỗ toàn bộ vấn đề chuyển hoá liên quan đến hình tướng vật chất, và chất liệu thiên thần. Con người, vì chưa làm chủ được ngay cả chất liệu của các vỏ bọc riêng của mình, cũng chưa kiểm soát được bằng rung động phương diện thứ ba của mình, nên gặp nguy hiểm khi tập trung sự chú ý vào Phi-Ngã. Điều này chỉ có thể được thực hiện an toàn khi nhà huyền thuật biết năm điều:

(158) The difficulty of giving one the Wisdom Religion is dealt with by H. P. B. in the Secret Doctrine as follows:—

(158) Khó khăn của việc truyền đạt cho một người Minh Triết Ngàn Đời được H. P. B. bàn đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm như sau:—

1. Opinion must be reserved because:—

1. Phải dè dặt trong ý kiến bởi vì:—

a. Complete explanation for initiates only.

a. Sự giải thích trọn vẹn chỉ dành cho các điểm đạo đồ.

b. Only a fragmentary portion of the esoteric meaning given.

b. Chỉ một phần rời rạc của ý nghĩa nội môn được đưa ra.

c. Only adepts can speak with authority.—S. D., I, 188, 190. II, 55, 90.

c. Chỉ các chân sư mới có thể nói với thẩm quyền.—S. D., I, 188, 190. II, 55, 90.

d. The teachings are offered as a hypothesis.—II, 469.

d. Các giáo huấn được đưa ra như một giả thuyết.—II, 469.

2. We must lose sight entirely of:—

2. Chúng ta phải hoàn toàn không để tâm đến:—

a. Personalities.

a. Các phàm ngã.

b. Dogmatic beliefs.

b. Các niềm tin giáo điều.

c. Special religions.—S. D., I, 3, 4.

c. Các tôn giáo riêng biệt.—S. D., I, 3, 4.

3. We must be free from prejudice.—S. D., III, 1.

3. Chúng ta phải thoát khỏi thành kiến.—S. D., III, 1.

We must also:

Chúng ta cũng phải:

a. Be free from conceit.

a. Không tự phụ.

b. Free from selfishness.

b. Không ích kỷ.

c. Ready to accept demonstrated truth.

c. Sẵn sàng chấp nhận chân lý đã được chứng minh.

4. We must find the highest meaning possible. S. D., III, 487.

4. Chúng ta phải tìm ra ý nghĩa cao nhất có thể. S. D., III, 487.

5. We must be also non-sectarian.—S. D., III, 110.

5. Chúng ta cũng phải phi giáo phái.—S. D., III, 110.

6. We must remember the handicap of language.—S. D., I, 197, 290, 293.

6. Chúng ta phải nhớ đến sự hạn chế của ngôn ngữ.—S. D., I, 197, 290, 293.

7. We must aim to become a disciple.—S. D., 188. II, 246. III, 129.

7. Chúng ta phải nhắm đến việc trở thành một đệ tử.—S. D., 188. II, 246. III, 129.

8. We must eventually develop powers.—S. D., I, 518. II, 85.

8. Cuối cùng chúng ta phải phát triển các năng lực.—S. D., I, 518. II, 85.

9. We must lead the life of Brotherhood. S. D., I, 190.

9. Chúng ta phải sống đời sống Huynh đệ Đoàn. S. D., I, 190.

10. We must remember that H. P. B. makes no claim to infallibility.—S. D., II, 25 note, 273. I, 293.

10. Chúng ta phải nhớ rằng H. P. B. không hề tuyên bố mình là bất khả ngộ.—S. D., II, 25 note, 273. I, 293.

H. P. B. says:—

H. P. B. nói:—

“I speak with ‘absolute certainty’ only so far as my own personal belief is concerned. Those who have not the same warrant for their belief as I have would be very credulous and foolish to accept it on blind faith….What I do believe in is:—

“Tôi chỉ nói với ‘sự chắc chắn tuyệt đối’ trong phạm vi niềm tin cá nhân của riêng tôi. Những ai không có cùng sự bảo chứng cho niềm tin của họ như tôi có thì sẽ rất cả tin và ngu xuẩn nếu chấp nhận điều đó bằng đức tin mù quáng….Điều tôi thực sự tin là:—

1. The unbroken oral tradition revealed by living divine men during the infancy of mankind to the elect among men.

1. Truyền thống khẩu truyền không gián đoạn được các bậc thiêng liêng đang sống mặc khải trong thời thơ ấu của nhân loại cho những người được tuyển chọn trong loài người.

2. That it has reached us unaltered.

2. Rằng nó đã đến với chúng ta mà không bị thay đổi.

3. That the Masters are thoroughly versed in the science based on such uninterrupted teaching.”—Lucifer, Vol. V, p. 157.

3. Rằng các Chân sư hoàn toàn tinh thông khoa học dựa trên giáo huấn liên tục như thế.”—Lucifer, Vol. V, p. 157.

“The Secret Doctrine is no ‘authority’ per se; but being full of quotations and texts from the Sacred Scriptures and philosophies of almost every great religion and school, those who belong to any of these are sure to find support for their arguments on some page or another. There are, however, Theosophists, and of the best and most devoted, who do suffer from such weakness for authority.”—Lucifer, Vol. III, p. 157. (back)

“Giáo Lý Bí Nhiệm không phải là ‘thẩm quyền’ chính ; nhưng vì chứa đầy những trích dẫn và văn bản từ các Kinh điển Thiêng liêng và các triết học của hầu như mọi tôn giáo và trường phái lớn, nên những ai thuộc về bất kỳ truyền thống nào trong số đó chắc chắn sẽ tìm thấy sự hỗ trợ cho lập luận của mình ở trang này hay trang khác. Tuy nhiên, có những nhà Thông Thiên Học, và trong số những người tốt nhất và tận tụy nhất, vẫn mắc phải sự yếu đuối như thế đối với thẩm quyền.”—Lucifer, Vol. III, p. 157. (back)

(159) See Preface and Introduction, Secret Doctrine, Vol. I. (back)

(159) Xem Lời Tựa và Dẫn Nhập, Giáo Lý Bí Nhiệm, Vol. I. (back)

1. The nature of the atom.

1. Bản chất của nguyên tử.

2. The keynote of the planes.

2. Chủ âm của các cõi.

3. The method of working from the egoic level through conscious control, knowledge of the protective sounds and formulas, and pure altruistic endeavour.

3. Phương pháp làm việc từ cấp độ chân ngã qua sự kiểm soát hữu thức, tri thức về các âm thanh và công thức bảo vệ, và nỗ lực vị tha thuần khiết.

4. The interaction of the three fires, the lunar words, the solar words, and later a cosmic word.

4. Sự tương tác của ba ngọn lửa, các linh từ thái âm, các linh từ thái dương, và về sau là một linh từ vũ trụ.

5. The secret of electrical vibration, which is only realised in an elementary way when a man knows the keynote of his own planetary Logos.

5. Bí mật của rung động điện, điều chỉ được chứng nghiệm theo cách sơ đẳng khi một người biết chủ âm của chính Hành Tinh Thượng đế của mình.

All this knowledge as it concerns the three worlds is in the hands of the Masters of the Wisdom, and enables Them to work along the lines of energy or force, and not with what is usually understood when the word ‘substance’ is used. They work with electrical energy, concerning Themselves with positive electricity, or with the energy of the positive nucleus of force within the atom, whether it is the atom of chemistry, for instance, or the human atom. They deal with the soul of things. The black magician works with the negative aspect, with the electrons, if I might so term it, with the sheath, and not with the soul. This distinction must be clearly borne in mind. It holds the clue to the non-interference of the [Page 483] whole Brotherhood in material matters and affairs, and Their concentration upon the force aspect, upon the centres of energy. They reach the whole through the agency of the few centres in a form. With this preamble we will now take up the consideration of the

Toàn bộ tri thức này, trong chừng mực nó liên quan đến ba cõi giới, nằm trong tay các Chân sư Minh Triết, và cho phép Các Ngài làm việc theo các đường năng lượng hay mãnh lực, chứ không phải với điều thường được hiểu khi dùng từ ‘chất liệu’. Các Ngài làm việc với năng lượng điện, quan tâm đến điện dương, hay năng lượng của hạt nhân dương của mãnh lực bên trong nguyên tử, dù đó là nguyên tử hóa học, chẳng hạn, hay nguyên tử con người. Các Ngài bàn đến linh hồn của vạn vật. Nhà hắc thuật làm việc với phương diện âm, với các electron, nếu tôi có thể gọi như vậy, với vỏ bọc, chứ không phải với linh hồn. Sự phân biệt này phải được ghi nhớ rõ ràng. Nó nắm giữ đầu mối cho sự không can thiệp của toàn thể [Page 483] Huynh đệ Đoàn trong các vấn đề và công việc vật chất, và cho sự tập trung của Các Ngài vào phương diện mãnh lực, vào các trung tâm năng lượng. Các Ngài đạt đến toàn thể thông qua tác nhân là một vài trung tâm trong một hình tướng. Với lời mở đầu này, giờ đây chúng ta sẽ bắt đầu xem xét vấn đề

Conscious Manipulation of the Fires

Sự Điều Khiển Hữu Thức các Ngọn Lửa

It will now be apparent that the whole process of transmutation, as we can deal with it at present, concerns itself with the two fires which reached a high stage of perfection in a past solar system:

Giờ đây sẽ rõ rằng toàn bộ tiến trình chuyển hoá, như chúng ta có thể bàn đến hiện nay, liên quan đến hai ngọn lửa đã đạt đến một giai đoạn hoàn thiện cao trong một hệ mặt trời quá khứ:

a. The fire of an atom in its twofold aspect—internal and radiatory.

a. Lửa của một nguyên tử trong phương diện nhị phân của nó—nội tại và bức xạ.

b. The fires of mind.

b. Các ngọn lửa của trí tuệ.

It is with these that transmutation concerns itself from the human standpoint, and the third fire of Spirit is not at this stage to be considered.

Từ quan điểm con người, chính với hai ngọn lửa này mà sự chuyển hoá liên quan, còn ngọn lửa thứ ba của tinh thần thì ở giai đoạn này không được xét đến.

This conscious manipulation of the fires is the prerogative of man when he has reached a certain point in his evolution; the unconscious realisation of this has led naturally to the attempts of the alchemist to transmute in the mineral kingdom. A few of the older students right through the ages have comprehended the vastness of the endeavour of which the transmutation of the baser metals into gold was but preliminary and a symbol, a pictorial, allegorical, concrete step. The whole subject of transmutation is covered by the work of the Hierarchy in all its three departments on this planet, and we might get some idea of the matters involved if we studied this vast hierarchical standpoint, getting thereby a concept of the work done in aiding the evolutionary process. It is the work of transferring the life from one stage of atomic existence to another, and it involves three distinct steps, which can be seen and traced by means of the higher clairvoyance, and from the higher planes. These steps or stages are: [Page 484]

Sự điều khiển hữu thức các ngọn lửa này là đặc quyền của con người khi y đã đạt đến một điểm nhất định trong tiến hoá của mình; sự chứng nghiệm vô thức về điều này tự nhiên đã dẫn đến những nỗ lực của nhà luyện kim nhằm chuyển hoá trong giới kim thạch. Một vài đạo sinh xưa kia xuyên suốt các thời đại đã hiểu được tính bao la của nỗ lực mà việc chuyển các kim loại hèn thành vàng chỉ là phần mở đầu và là một biểu tượng, một bước đi bằng hình ảnh, ngụ ngôn, cụ thể. Toàn bộ chủ đề chuyển hoá được bao trùm bởi công việc của Thánh đoàn trong cả ba ban của mình trên hành tinh này, và chúng ta có thể có được một vài ý niệm về những vấn đề liên quan nếu nghiên cứu quan điểm rộng lớn của Thánh đoàn này, nhờ đó có được một khái niệm về công việc được thực hiện trong việc trợ giúp tiến trình tiến hoá. Đó là công việc chuyển dịch sự sống từ một giai đoạn tồn tại nguyên tử này sang một giai đoạn khác, và nó bao gồm ba bước riêng biệt, có thể được thấy và theo dõi bằng thông nhãn cao hơn, và từ các cõi cao hơn. Những bước hay giai đoạn này là: [Page 484]

The fiery stage—the blending, fusing, burning period, through which all atoms pass during the disintegration of form.

Giai đoạn rực lửa—giai đoạn hòa trộn, dung hợp, thiêu đốt mà mọi nguyên tử đều đi qua trong khi hình tướng tan rã.

The solvent stage, in which the form is dissipated and substance is held in solution, the atom being resolved into its essential duality.

Giai đoạn dung môi, trong đó hình tướng bị làm tiêu tan và chất liệu được giữ trong trạng thái hòa tan, nguyên tử được phân giải thành tính nhị nguyên cốt yếu của nó.

The volatile stage, which concerns primarily the essential quality of the atom, and the escape of this essence, later to take a new form.

Giai đoạn bay hơi, chủ yếu liên quan đến phẩm tính cốt yếu của nguyên tử, và sự thoát ra của tinh chất này để về sau mang lấy một hình tướng mới.

Radioactivity, pralayic solution, and essential volatility might express the thought. In every transmuting process without exception these three steps are followed. Occultly expressed in the old Commentary they are thus stated:

Tính phóng xạ, sự hòa tan trong giai kỳ qui nguyên, và tính bay hơi cốt yếu có thể diễn tả ý tưởng này. Trong mọi tiến trình chuyển hoá không có ngoại lệ, ba bước này đều được tuân theo. Theo cách diễn đạt huyền bí trong Cổ Luận, chúng được phát biểu như sau:

“The fiery lives burn within the bosom of Mother.

“Các sự sống rực lửa cháy trong lòng Mẹ.

“The fiery centre extends to the periphery of the circle and dissipation supervenes and pralayic peace.

“Trung tâm rực lửa mở rộng đến chu vi của vòng tròn và sự tiêu tan xuất hiện cùng sự an bình của giai kỳ qui nguyên.

“The Son returns to the bosom of Father, and Mother rests quiescent.”

“Người Con trở về lòng Cha, và Mẹ nghỉ ngơi trong tĩnh lặng.”

The Masters, in concert with the great Devas, concern Themselves with this transmutative process, and each department might be considered as dealing with one of the three stages:

Các Chân sư, phối hợp với các thiên thần lớn, quan tâm đến tiến trình chuyển hoá này, và mỗi ban có thể được xem như xử lý một trong ba giai đoạn:

The Mahachohan’s department in its five divisions deals with the burning of the fiery lives.

Ban của Đức Mahachohan trong năm phân ban của mình xử lý việc thiêu đốt các sự sống rực lửa.

The Manu’s department concerns itself with the form or the ring-pass-not which encloses the burning lives.

Ban của Đức Manu quan tâm đến hình tướng hay vòng-giới-hạn bao bọc các sự sống đang cháy.

The Bodhisattva’s department deals with the return of the Son to the bosom of the Father.

Ban của Đức Bồ Tát xử lý sự trở về của Người Con vào lòng Cha.

Within the department of the Mahachohan, a secondary division along these lives might be outlined:

Trong ban của Đức Mahachohan, có thể phác họa một sự phân chia thứ yếu theo các đường này:

The seventh and fifth Rays are occupied with the return of the Son to the Father and are largely centred in pouring forth energising power when it becomes necessary to transfer the life of the Son from an old form into a new, from one kingdom of nature to another on the Path of Return. [Page 485]

Cung bảy và cung năm bận rộn với sự trở về của Người Con với Cha và phần lớn tập trung vào việc tuôn đổ quyền năng tiếp sinh lực khi cần chuyển dịch sự sống của Người Con từ một hình tướng cũ sang một hình tướng mới, từ giới này của thiên nhiên sang giới khác trên Con Đường Trở Về. [Page 485]

The third and sixth Rays deal with the burning of the fiery lives.

Cung ba và cung sáu xử lý việc thiêu đốt các sự sống rực lửa.

The fourth blends the two fires within the atomic form.

Cung bốn dung hợp hai ngọn lửa bên trong hình tướng nguyên tử.

It will be seen from a close study of these subdivisions, how close is the co-operation between the different groups, and how inter-related are their activities. The work of the Hierarchy can be interpreted always in terms of alchemy, and Their activities deal with a threefold transmutation. This work is carried on by Them consciously, and supervenes upon Their own emancipation.

Qua việc nghiên cứu kỹ các phân ban này, người ta sẽ thấy sự hợp tác giữa các nhóm khác nhau chặt chẽ đến mức nào, và các hoạt động của họ liên hệ với nhau ra sao. Công việc của Thánh đoàn luôn có thể được diễn giải theo thuật luyện kim, và các hoạt động của Các Ngài xử lý một sự chuyển hoá tam phân. Công việc này được Các Ngài tiến hành một cách hữu thức, và diễn ra sau sự giải thoát của chính Các Ngài.

A Master transmutes in the three worlds and principally concerns Himself with the process upon the eighteen subplanes, the great field of human evolution, and with the passage of the life throughout the dense physical body of the Logos. The Chohans of the sixth Initiation work in the fourth and fifth ethers of the logoic etheric body (the buddhic and atmic planes), and deal with the passage of the life of Spirit from form to form in those worlds, having in view the transmutation of units in the spiritual kingdom into the monadic. Those on still higher levels—the Buddhas and their Confrères of the first and third Rays—deal with the passage of the life into the sub-atomic, and atomic planes of the cosmic physical. What has been said applies to all hierarchical efforts in all schemes and on all globes, for the unity of effort is universal. In every case, conscious self-induced control, or authority, precedes ability to transmute. Initiates learn to transmute and superintend the passage of the life out of the animal kingdom into the human after the third Initiation, and during the earlier stages of initiation, formulas that control the lesser devas, and which produce results in the merging of the second and third kingdoms are communicated; they work under safeguards and supervision.

Một Chân sư chuyển hoá trong ba cõi giới và chủ yếu quan tâm đến tiến trình trên mười tám cõi phụ, cánh đồng lớn của tiến hoá nhân loại, và đến sự đi qua của sự sống xuyên suốt thể xác đậm đặc của Thượng đế. Các Chohan của lần điểm đạo thứ sáu làm việc trong dĩ thái thứ tư và thứ năm của thể dĩ thái của Thượng đế (cõi Bồ đề và cõi atma), và xử lý sự đi qua của sự sống của tinh thần từ hình tướng này sang hình tướng khác trong các thế giới ấy, với mục tiêu là sự chuyển hoá các đơn vị trong giới tinh thần thành chân thần. Những Đấng ở các cấp độ còn cao hơn—các Đức Phật và các Huynh Đệ của Các Ngài thuộc cung một và cung ba—xử lý sự đi qua của sự sống vào các cõi phụ dưới-nguyên-tử và nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ. Điều đã được nói áp dụng cho mọi nỗ lực của Thánh đoàn trong mọi hệ hành tinh và trên mọi bầu hành tinh, vì sự hợp nhất của nỗ lực là phổ quát. Trong mọi trường hợp, sự kiểm soát hữu thức do tự thân tạo ra, hay thẩm quyền, đều đi trước khả năng chuyển hoá. Các điểm đạo đồ học cách chuyển hoá và giám sát sự đi qua của sự sống từ giới động vật sang nhân loại sau lần điểm đạo thứ ba, và trong các giai đoạn đầu của điểm đạo, các công thức kiểm soát các thiên thần nhỏ hơn, và tạo ra kết quả trong sự hòa nhập của giới thứ hai và giới thứ ba, được truyền đạt; họ làm việc dưới sự bảo vệ và giám sát.

Advanced intellectual man should be able to co-operate in the synthesis of the work, and deal with the transmutation [Page 486] of the metals, as the ratio of their intellectual development to that of the mineral elements, and builders whom they would control, is the same as in the above mentioned cases and grades of consciousness, but owing to the disastrous developments in Atlantean days, and the consequent stultification of spiritual evolution for a time until karma has been adjusted, the art has been lost; or rather, the knowledge has been safeguarded until a period is reached in the racial progress wherein the physical body is pure enough to withstand the forces contacted, and to emerge from the process of chemical transmutation enriched, not only in knowledge and experience, but strengthened in its own inner fibre.

Con người trí tuệ tiến bộ lẽ ra phải có thể hợp tác trong sự tổng hợp của công việc, và xử lý sự chuyển hoá [Page 486] của các kim loại, vì tỷ lệ phát triển trí tuệ của họ so với các nguyên tố khoáng vật, và các đấng kiến tạo mà họ sẽ kiểm soát, cũng giống như trong các trường hợp và cấp độ tâm thức đã nêu ở trên; nhưng do những phát triển tai hại trong thời Atlantis, và sự làm đình trệ tiến hoá tinh thần kéo theo trong một thời gian cho đến khi nghiệp quả được điều chỉnh, nghệ thuật này đã bị mất; hay đúng hơn, tri thức ấy đã được bảo vệ cho đến khi đạt đến một giai đoạn trong sự tiến bộ của nhân loại mà ở đó thể xác đủ thanh khiết để chịu đựng các mãnh lực được tiếp xúc, và bước ra khỏi tiến trình chuyển hoá hóa học với sự phong phú hơn, không chỉ về tri thức và kinh nghiệm, mà còn được tăng cường trong chính thớ sợi nội tại của nó.

As time proceeds, man will gradually do four things:

Theo thời gian, con người sẽ dần dần làm bốn việc:

1. Recover past knowledge and powers developed in Atlantean days.

1. Phục hồi tri thức và các năng lực trong quá khứ đã được phát triển trong thời Atlantis.

2. Produce bodies resistant to the fire elementals of the lower kind which work in the mineral kingdom.

2. Tạo ra các thể chống chịu được các hành khí của lửa thuộc loại thấp hoạt động trong giới kim thạch.

3. Comprehend the inner meaning of radioactivity, or the setting loose of the power inherent in all elements and all atoms of chemistry, and in all true minerals.

3. Thấu hiểu ý nghĩa bên trong của tính phóng xạ, hay sự giải phóng quyền năng vốn có trong mọi nguyên tố và mọi nguyên tử hóa học, và trong mọi khoáng vật chân chính.

4. Reduce the formulas of the coming chemists and scientists to SOUND, and not simply formulate through experiment on paper. In this last statement lies (for those who can perceive) the most illuminating hint that it has been possible as yet to impart on this matter.

4. Quy các công thức của các nhà hóa học và khoa học gia tương lai về ÂM THANH, chứ không chỉ đơn thuần hình thành công thức qua thí nghiệm trên giấy. Chính trong phát biểu cuối cùng này có gợi ý soi sáng nhất mà cho đến nay có thể truyền đạt về vấn đề này, đối với những ai có thể nhận ra.

It may seem that I have not communicated much information anent this conscious manipulation of the fires. That lies in the inability of the student to read the esoteric background of the above communicated statements. Conscious transmutation is possible only when a man has transmuted the elements in his own vehicles; then only can he be trusted with the secrets of divine alchemy. [Page 487] When through the latent internal fires of the matter of his own sheaths he has transmuted the chemical and mineral atoms of those sheaths, then can he safely—through affinity of substance—aid the work of mineral transmutation of the first order. Only when (through the radiatory fires of the sheaths) he has transmuted the correspondence to the vegetable kingdom within his own organism can he alchemically do work of the second order. Only when the fires of mind in himself dominate, can he work with the transmutative processes of the third order, or with the transference of life into the animal forms. Only when the Self within, or the Ego in the causal body, is in control of his threefold personality can he occultly be permitted to be an alchemist of the fourth order, and work in connection with the transmutation of the animal monad into the human kingdom, with all the vast knowledge that is included in that idea. Much lies ahead to be accomplished, but in the appreciation of the magnitude of the task need be no place for discouragement, for in the wise outlining of the future, in the cautious promulgation of knowledge concerning the necessitated stages, will come strenuous effort and aim on the part of many aspirants, and the evolutionary bringing in of those who can achieve.

Có thể dường như tôi đã không truyền đạt nhiều thông tin về sự điều khiển hữu thức các ngọn lửa này. Điều đó nằm ở sự bất lực của đạo sinh trong việc đọc được hậu cảnh huyền bí của các phát biểu đã được truyền đạt ở trên. Sự chuyển hoá hữu thức chỉ có thể khi một người đã chuyển hoá các nguyên tố trong chính các vận cụ của mình; chỉ khi đó y mới có thể được tin cậy để nhận các bí mật của thuật luyện kim thiêng liêng. [Page 487] Khi qua các ngọn lửa nội tại tiềm ẩn của vật chất trong chính các vỏ bọc của mình, y đã chuyển hoá các nguyên tử hóa học và khoáng vật của các vỏ bọc ấy, khi đó y mới có thể một cách an toàn—nhờ sự tương hợp của chất liệu—trợ giúp công việc chuyển hoá khoáng vật bậc thứ nhất. Chỉ khi (qua các ngọn lửa bức xạ của các vỏ bọc) y đã chuyển hoá sự tương ứng với giới thực vật bên trong cơ thể riêng của mình thì y mới có thể bằng thuật luyện kim thực hiện công việc bậc thứ hai. Chỉ khi các ngọn lửa của trí tuệ trong chính y chi phối, y mới có thể làm việc với các tiến trình chuyển hoá bậc thứ ba, hay với sự chuyển dịch sự sống vào các hình tướng động vật. Chỉ khi Bản Ngã Cao Siêu bên trong, hay Chân ngã trong thể nguyên nhân, kiểm soát phàm nhân tam phân của y thì theo huyền bí học y mới có thể được phép trở thành một nhà luyện kim bậc thứ tư, và làm việc liên quan đến sự chuyển hoá chân thần động vật vào giới nhân loại, cùng với toàn bộ tri thức bao la được bao hàm trong ý tưởng đó. Còn rất nhiều điều phía trước cần được hoàn thành, nhưng trong sự nhận thức về tầm vóc của nhiệm vụ không cần có chỗ cho sự nản lòng, vì trong việc vạch ra tương lai một cách khôn ngoan, trong việc công bố thận trọng tri thức liên quan đến các giai đoạn tất yếu, sẽ xuất hiện nỗ lực mạnh mẽ và mục tiêu nơi nhiều người chí nguyện, cùng sự đưa vào theo tiến hoá những ai có thể thành tựu.

The problem of speaking clearly on this subject of transmutation is a very real one, owing to the vastness of the subject and the fact that in the transmutation process the magician or alchemist works with deva essence through the control of the lesser Builders in co-operation with the greater Devas. In order, therefore, to bring about clarity of thought and definiteness of conjecture in this respect, I desire primarily to lay down certain postulates which must be carefully borne in mind when considering this question of transmutation. They are five in number and concern specifically the field wherein the transmuting process is carried on. The student must [Page 488] recollect at this juncture the distinction that is made between the work of the black and the white magician. It might be helpful here before proceeding further to look at these distinctions as far as they concern the matter in hand:

Vấn đề nói rõ ràng về chủ đề chuyển hoá này là một vấn đề rất thực tế, do tính bao la của chủ đề và sự kiện rằng trong tiến trình chuyển hoá, nhà huyền thuật hay nhà luyện kim làm việc với tinh chất thiên thần qua sự kiểm soát các vị tiểu kiến tạo trong sự hợp tác với các thiên thần lớn. Vì vậy, để đem lại sự rõ ràng cho tư tưởng và tính xác định cho suy đoán về phương diện này, trước hết tôi muốn nêu ra một số định đề nhất định phải được ghi nhớ cẩn thận khi xem xét vấn đề chuyển hoá này. Có năm định đề, và chúng liên quan đặc biệt đến lĩnh vực trong đó tiến trình chuyển hoá được tiến hành. Đạo sinh phải [Page 488] nhớ vào lúc này sự phân biệt được nêu ra giữa công việc của nhà hắc thuật và nhà huyền thuật chánh đạo. Có thể hữu ích ở đây, trước khi đi xa hơn, là xem xét những sự phân biệt này trong chừng mực chúng liên quan đến vấn đề đang bàn:

First. The white Brother deals with positive electrical energy. The dark Brother deals with the negative electrical energy.

Thứ nhất. Huynh đệ chánh đạo xử lý năng lượng điện dương. Huynh đệ bóng tối xử lý năng lượng điện âm.

Second. The white Brother occupies himself with the soul of things. The black Magician centres his attention upon the form.

Thứ hai. Huynh đệ chánh đạo bận tâm với linh hồn của vạn vật. Nhà huyền thuật hắc đạo tập trung sự chú ý vào hình tướng.

Third. The white Magician develops the inherent energy of the sphere concerned (whether human, animal, vegetable or mineral) and produces results through the self-induced activities of the central life, subhuman, human or super-human. The black Magician attains results through the agency of force external to the sphere involved, and produces transmutation through the agency of resolvents (if so I might term it) or through the method of the reduction of the form, rather than through radiation, as does the white Magician.

Thứ ba. Nhà huyền thuật chánh đạo phát triển năng lượng cố hữu của khối cầu liên quan (dù là con người, động vật, thực vật hay khoáng vật) và tạo ra kết quả qua các hoạt động do tự thân khởi phát của sự sống trung tâm, dưới nhân loại, nhân loại hay siêu nhân loại. Nhà huyền thuật hắc đạo đạt kết quả qua tác nhân là mãnh lực bên ngoài khối cầu liên quan, và tạo ra sự chuyển hoá qua tác nhân là các chất phân giải (nếu tôi có thể gọi như vậy) hay qua phương pháp làm giảm thiểu hình tướng, thay vì qua bức xạ như nhà huyền thuật chánh đạo.

These differences of method need to be carefully considered and their reaction visualised in connection with different elements, atoms, and forms. To return to our statement of our five postulates anent the transmutation of substance, the resolution of the life, or the transference of energy into different forms.

Những khác biệt về phương pháp này cần được xem xét cẩn thận và phản ứng của chúng được hình dung liên hệ với các nguyên tố, nguyên tử và hình tướng khác nhau. Trở lại với phát biểu của chúng ta về năm định đề liên quan đến sự chuyển hoá của chất liệu, sự phân giải của sự sống, hay sự chuyển dịch năng lượng vào các hình tướng khác nhau.

THE FIVE POSTULATES

NĂM ĐỊNH ĐỀ

Postulate I. All matter is living matter, or is the vital substance of deva entities. For instance, a plane, and forms built of that particular plane substance, is the material form or sheath of a great deva, who is the essence back of manifestation and the soul of the plane. [Page 489]

Định đề I. Mọi vật chất đều là vật chất sống, hay là chất liệu sinh lực của các thực thể thiên thần. Chẳng hạn, một cõi, và các hình tướng được xây dựng bằng chất liệu riêng của cõi đó, là hình tướng vật chất hay vỏ bọc của một thiên thần lớn, vị này là tinh chất đứng sau biểu hiện và là linh hồn của cõi ấy. [Page 489]

Postulate II. All forms, vibrating to any keynote, are fabricated by the building devas out of the matter of their own bodies. Hence they are called the great Mother aspect, for they produce the form out of their own substance.

Định đề II. Mọi hình tướng, rung động theo bất kỳ chủ âm nào, đều được các thiên thần kiến tạo tạo tác từ vật chất của chính thể họ. Vì thế họ được gọi là phương diện Mẹ vĩ đại, vì họ tạo ra hình tướng từ chính chất liệu của mình.

Postulate III. The devas are the life which produces form-cohesion. They are the third and second aspects blended, and might be considered as the life of all forms that are subhuman. A magician, therefore, who transmutes in the mineral kingdom works practically with deva essence in its earliest form on the upward arc of evolution, and has to remember three things:

Định đề III. Các thiên thần là sự sống tạo ra sự kết dính của hình tướng. Họ là phương diện thứ ba và thứ hai được hòa trộn, và có thể được xem là sự sống của mọi hình tướng dưới nhân loại. Vì vậy, một nhà huyền thuật chuyển hoá trong giới kim thạch thực tế làm việc với tinh chất thiên thần trong hình thức sớm nhất của nó trên cung đi lên của tiến hoá, và phải nhớ ba điều:

a. The effect of the backward pull of the involutionary lives which lie back of the mineral, or, in effect, its heredity.

a. Ảnh hưởng của sức kéo lùi của các sự sống giáng hạ tiến hoá nằm phía sau khoáng vật, hay thực tế là tính di truyền của nó.

b. The sevenfold nature of the peculiar group of devas which constitute its being in an occult sense.

b. Bản chất thất phân của nhóm thiên thần đặc thù cấu thành hữu thể của nó theo nghĩa huyền bí.

c. The next transition stage ahead into the vegetable kingdom, or the occult effect of the second kingdom on the first.

c. Giai đoạn chuyển tiếp kế tiếp ở phía trước vào giới thực vật, hay ảnh hưởng huyền bí của giới thứ hai lên giới thứ nhất.

Postulate IV. All deva essences and builders on the physical plane are peculiarly dangerous to man, for they work on the etheric levels and are—as I have earlier pointed out—the transmitters of prana, or the vital, animating substance, and hence they set loose upon the ignorant and the unwary, fiery essence which burns and destroys.

Định đề IV. Mọi tinh chất thiên thần và các đấng kiến tạo trên cõi hồng trần đều đặc biệt nguy hiểm đối với con người, vì họ hoạt động trên các cấp độ dĩ thái và—như tôi đã chỉ ra trước đây—là những kẻ truyền dẫn prana, hay chất liệu sinh động, tiếp sinh lực, và do đó họ giải phóng lên kẻ vô minh và bất cẩn tinh chất rực lửa thiêu đốt và hủy diệt.

Postulate V. The devas do not work as individualised conscious units through self-initiating purposes as does a man, a Heavenly Man or a solar Logos (viewed as Egos) but they work in groups subject to:

Định đề V. Các thiên thần không làm việc như những đơn vị hữu thức đã biệt ngã hóa thông qua các mục đích do tự mình khởi xướng như con người, một Đấng Thiên Nhân hay một Thái dương Thượng đế (được nhìn như các Chân ngã), mà họ làm việc theo nhóm, chịu dưới:

a. Inherent impulse, or latent active intelligence.

a. Xung lực cố hữu, hay trí tuệ hoạt động tiềm ẩn.

b. Orders issued by the greater Builders.

b. Các mệnh lệnh do các đấng đại kiến tạo ban ra.

c. Ritual, or compulsion induced through colour and sound.

c. Nghi lễ, hay sự cưỡng bách được tạo ra qua màu sắc và âm thanh.

[Page 490] When these facts are remembered and considered, some comprehension of the place the devas play in transmutation may be achieved. The position that fire occupies in the process is of peculiar interest here, for it brings out clearly the difference of method between the two schools.

[Page 490] Khi những sự kiện này được ghi nhớ và xem xét, có thể đạt được một phần thấu hiểu về vai trò của các thiên thần trong sự chuyển hoá. Vị trí mà lửa giữ trong tiến trình này đặc biệt đáng quan tâm ở đây, vì nó làm nổi bật rõ ràng sự khác biệt về phương pháp giữa hai trường phái.

In the transmutative process as carried on by the Brotherhood, the inner fire which animates the atom, form or man is stimulated, fanned and strengthened till it (through its own internal potency) burns up its sheaths, and escapes by radiation from within its ring-pass-not. This is seen in an interesting way as occurring during the process of the final initiations when the causal body is destroyed by fire. The fire within burns up all else and the electric fire escapes. The true alchemist therefore in days to come will in every case seek to stimulate the radioactivity of the element or atom with which he is working and will centre his attention upon the positive nucleus. By increasing its vibration, its activity, or its positivity, he will bring about the desired end. The Masters do this in connection with the human spirit and do not concern Themselves at all with his ‘deva’ aspect. The same basic rule will be found to apply in the case of a mineral as well as of a man.

Trong tiến trình chuyển hoá như được Huynh đệ Đoàn tiến hành, ngọn lửa bên trong làm sinh động nguyên tử, hình tướng hay con người được kích thích, quạt lên và tăng cường cho đến khi nó (nhờ chính tiềm lực nội tại của mình) thiêu hủy các vỏ bọc của nó, và thoát ra bằng bức xạ từ bên trong vòng-giới-hạn của nó. Điều này được thấy một cách thú vị là xảy ra trong tiến trình các lần điểm đạo cuối cùng khi thể nguyên nhân bị hủy diệt bởi lửa. Ngọn lửa bên trong thiêu hủy mọi thứ khác và Lửa Điện thoát ra. Vì vậy, nhà luyện kim chân chính trong những ngày sắp tới trong mọi trường hợp sẽ tìm cách kích thích tính phóng xạ của nguyên tố hay nguyên tử mà y đang làm việc và sẽ tập trung sự chú ý vào hạt nhân dương. Bằng cách gia tăng rung động, hoạt động hay tính dương của nó, y sẽ đem lại kết quả mong muốn. Các Chân sư làm điều này liên quan đến tinh thần con người và hoàn toàn không quan tâm đến phương diện ‘thiên thần’ của y. Cùng một quy luật căn bản sẽ được thấy là áp dụng trong trường hợp khoáng vật cũng như con người.

The process as carried on by the Dark Brotherhood is the reverse of this. They centre the attention upon the form, and seek to shatter and break that form, or the combination of atoms, in order to permit the central electric life to escape. They bring about this result through external agencies and by availing themselves of the destructive nature of the substance (deva essence) itself. They burn and destroy the material sheath, seeking to imprison the escaping volatile essence as the form disintegrates. This hinders the evolutionary plan in the case of the life involved, delays the consummation, interferes with the ordered progress of development, and puts all [Page 491] the factors involved in a bad position. The life (or entity) concerned receives a setback, the devas work destructively, and without participation in the purpose of the plan, and the magician is in danger, under the Law of Karma, and through the materialising of his own substance by affinity with the third aspect. Black magic of this nature creeps into all religions along this very line of the destruction of the form through outer agency, and not through the liberation of the life through inner development and preparedness. It produces the evils of Hatha Yoga in India and similar methods as practised in certain religious and occult orders in the Occident also. Both work with matter on some plane in the three worlds, and do evil that good may come; both control the devas, and attempt to produce specific ends by manipulation of the matter of the form. The Hierarchy works with the soul within the form and produces results that are intelligent, self-induced and permanent. Wherever attention is centred on the form and not on the Spirit, the tendency is to deva worship, deva contact and black magic, for the form is made of deva substance on all planes.

Tiến trình như được Hắc đoàn tiến hành thì ngược lại. Họ tập trung sự chú ý vào hình tướng, và tìm cách làm tan vỡ và phá hủy hình tướng đó, hay tổ hợp các nguyên tử, để cho phép sự sống điện trung tâm thoát ra. Họ đem lại kết quả này qua các tác nhân bên ngoài và bằng cách lợi dụng bản chất hủy diệt của chính chất liệu (tinh chất thiên thần). Họ đốt cháy và hủy diệt vỏ bọc vật chất, tìm cách giam giữ tinh chất bay hơi đang thoát ra khi hình tướng tan rã. Điều này cản trở kế hoạch tiến hoá trong trường hợp của sự sống liên quan, trì hoãn sự hoàn tất, can thiệp vào tiến trình phát triển có trật tự, và đặt mọi [Page 491] yếu tố liên quan vào một vị thế xấu. Sự sống (hay thực thể) liên quan bị thụt lùi, các thiên thần làm việc một cách hủy diệt, và không tham dự vào mục đích của Thiên Cơ, còn nhà huyền thuật thì lâm nguy dưới Định luật Nghiệp quả, và qua sự hiện hình của chính chất liệu của mình do sự tương hợp với phương diện thứ ba. Hắc thuật thuộc loại này len lỏi vào mọi tôn giáo đúng theo đường lối hủy diệt hình tướng qua tác nhân bên ngoài, chứ không phải qua sự giải phóng sự sống nhờ sự phát triển và chuẩn bị bên trong. Nó tạo ra những tai hại của Hatha Yoga ở Ấn Độ và những phương pháp tương tự như được thực hành trong một số dòng tu tôn giáo và huyền bí ở phương Tây. Cả hai đều làm việc với vật chất trên một cõi nào đó trong ba cõi giới, và làm điều ác để điều thiện có thể đến; cả hai đều kiểm soát các thiên thần, và cố tạo ra những kết quả đặc thù bằng sự điều khiển vật chất của hình tướng. Thánh đoàn làm việc với linh hồn bên trong hình tướng và tạo ra những kết quả thông minh, do tự thân khởi phát và bền vững. Bất cứ nơi nào sự chú ý tập trung vào hình tướng chứ không vào tinh thần, xu hướng sẽ là thờ phụng thiên thần, tiếp xúc thiên thần và hắc thuật, vì hình tướng được tạo thành từ chất liệu thiên thần trên mọi cõi.

This must be considered well in connection with every form for it holds the key to many mysteries.

Điều này phải được xem xét kỹ liên hệ với mọi hình tướng vì nó nắm giữ chìa khóa cho nhiều huyền nhiệm.

We have seen how in this question of the transference of the life from form to form, the work proceeds under rule and order, and is effected through the co-operation of the devas in the first instance, and the application of external agents to the atom or form involved, and in the second place (involving the most important and lengthy stage of the procedure) through the subsequent reaction within the atom itself, which produces an intensification of the positive burning centre, and the consequent escape (through radioactivity) of the volatile essence.

Chúng ta đã thấy rằng trong vấn đề chuyển sự sống từ hình tướng này sang hình tướng khác, công việc tiến hành dưới quy luật và trật tự, và được thực hiện qua sự hợp tác của các thiên thần trước hết, cùng việc áp dụng các tác nhân bên ngoài lên nguyên tử hay hình tướng liên quan, và thứ hai (bao gồm giai đoạn quan trọng nhất và kéo dài nhất của thủ tục) qua phản ứng tiếp theo bên trong chính nguyên tử, phản ứng này tạo ra sự tăng cường của trung tâm cháy dương, và hậu quả là sự thoát ra (qua tính phóng xạ) của tinh chất bay hơi.

At all the different stages, the fire elementals perform their part, aided by the fire devas who are the controlling [Page 492] agents. This is so on all the planes which primarily concern us in the three worlds—different groups of devas coming into action according to the nature of the form concerned, and the plane on which the transmutation is to take place. Electric fire passes from atom to atom according to law, and “fire by friction” responds, being the latent fire of the atom, or its negative aspect; the process is carried on through the medium of solar fire, and herein lies the secret of transmutation and its most mysterious angle. Fire by friction, the negative electricity of substance, has been for some time the subject of the attention of exoteric science, and investigation of the nature of positive electricity has become possible through the discovery of radium.

Ở mọi giai đoạn khác nhau, các hành khí của lửa đảm nhiệm phần việc của chúng, được trợ giúp bởi các thiên thần của lửa là những tác nhân kiểm soát [Page 492]. Điều này đúng trên mọi cõi chủ yếu liên quan đến chúng ta trong ba cõi giới—những nhóm thiên thần khác nhau đi vào hoạt động tùy theo bản chất của hình tướng được xét đến, và cõi nơi sự chuyển hoá sẽ diễn ra. Lửa Điện truyền từ nguyên tử này sang nguyên tử khác theo định luật, và “Lửa ma sát” đáp ứng, vì đó là lửa tiềm tàng của nguyên tử, hay phương diện âm của nó; tiến trình được thực hiện qua trung gian của Lửa Thái dương, và chính trong đó có bí mật của sự chuyển hoá cùng phương diện huyền nhiệm nhất của nó. Lửa ma sát, tức điện âm của chất liệu, từ lâu đã là đối tượng được khoa học ngoại môn chú ý, và việc khảo cứu bản chất của điện dương đã trở nên khả hữu nhờ sự khám phá ra radium.

Keely, as H. P. B. hinted, (S.D., I, 172, 607-611) had gone far along this path, and knew even more than he gave out, and others have approached, or are approaching, the same objective. The next step ahead for science lies in this direction, and should concern the potential force of the atom itself, and its harnessing for the use of man. This will let loose upon earth a stupendous amount of energy. Nevertheless, it is only when the third factor is comprehended, and science admits the agency of mental fire as embodied in certain groups of devas, that the force of energy that is triple, and yet one in the three worlds, will become available for the helping of man. This lies as yet far ahead, and will only become possible towards the end of this round; and these potent forces will not be fully utilised, nor fully known till the middle of the next round. At that time, much energy will become available through the removal of all that obstructs. This is effected, in relation to man, at the Judgment separation, but it will produce results in the other kingdoms of nature also. A portion of the animal kingdom will enter into a temporary obscuration, thus releasing energy for [Page 493] the use of the remaining percentage, and producing results such as are hinted at by the prophet of Israel (Bible, Isiah 11:6) when he speaks of “the wolf lying down with the lamb”; his comment “a little child shall lead them” is largely the esoteric enunciation of the fact that three fifths of the human family will stand upon the Path, ‘a little child’ being the name applied to probationers and disciples. In the vegetable and mineral kingdoms a corresponding demonstration will ensue, but of such a nature as to be too obscure for our comprehension.

Keely, như H. P. B. đã ám chỉ, (S.D., I, 172, 607-611) đã đi rất xa trên con đường này, và còn biết nhiều hơn điều ông công bố, và những người khác đã tiến gần, hoặc đang tiến gần, đến cùng mục tiêu ấy. Bước kế tiếp của khoa học nằm theo hướng này, và phải liên quan đến mãnh lực tiềm tàng của chính nguyên tử, cùng việc chế ngự nó để phục vụ con người. Điều này sẽ giải phóng trên Trái Đất một lượng năng lượng khổng lồ. Tuy nhiên, chỉ khi yếu tố thứ ba được thấu hiểu, và khoa học thừa nhận tác nhân của lửa trí tuệ như được hiện thân trong một số nhóm thiên thần, thì mãnh lực năng lượng vốn là tam phân mà vẫn là một trong ba cõi giới mới trở nên khả dụng để trợ giúp con người. Điều này hiện vẫn còn ở rất xa phía trước, và chỉ có thể trở thành khả hữu vào cuối cuộc tuần hoàn này; và các mãnh lực hùng mạnh ấy sẽ không được sử dụng trọn vẹn, cũng không được biết đến trọn vẹn cho đến giữa cuộc tuần hoàn kế tiếp. Vào lúc đó, nhiều năng lượng sẽ trở nên khả dụng nhờ việc loại bỏ mọi điều cản trở. Điều này, liên hệ với con người, được thực hiện vào cuộc phân ly Phán Xét, nhưng nó cũng sẽ tạo ra kết quả trong các giới khác của bản chất. Một phần của giới động vật sẽ đi vào một giai đoạn che khuất tạm thời, nhờ đó giải phóng năng lượng để [Page 493] sử dụng cho phần còn lại, và tạo ra những kết quả như đã được nhà tiên tri của Israel ám chỉ (Bible, Isiah 11:6) khi ông nói về “con sói nằm với chiên con”; lời bình của ông rằng “một đứa trẻ nhỏ sẽ dẫn dắt chúng” phần lớn là sự tuyên xưng huyền bí về sự kiện rằng ba phần năm gia đình nhân loại sẽ đứng trên Con Đường, “một đứa trẻ nhỏ” là danh xưng áp dụng cho những người dự bị và các đệ tử. Trong giới thực vật và giới kim thạch, một biểu hiện tương ứng cũng sẽ tiếp theo, nhưng có bản chất quá mơ hồ đối với sự thấu hiểu của chúng ta.

The central factor of solar fire in the work of transmutation will come to be understood through the study of the fire devas and elementals, who are fire, and who are, in themselves (essentially and through active magnetic radiation), the external heat or vibration which produces:

Yếu tố trung tâm của Lửa Thái dương trong công việc chuyển hoá sẽ được hiểu thông qua việc nghiên cứu các thiên thần của lửa và các hành khí, là lửa, và tự thân chúng (về bản chất và qua bức xạ từ tính hoạt động) chính là nhiệt hay rung động bên ngoài tạo ra:

The force which plays upon the spheroidal wall of the atom.

Mãnh lực tác động lên vách hình cầu của nguyên tử.

The response within the atom which produces radiation or the escape of volatile essence.

Sự đáp ứng bên trong nguyên tử tạo ra bức xạ hay sự thoát ra của tinh chất dễ bay hơi.

Speaking cosmically, and regarding the solar system as itself a cosmic atom, we would consider that:

Nói theo nghĩa vũ trụ, và xét hệ mặt trời như chính nó là một nguyên tử vũ trụ, chúng ta sẽ xem rằng:

The abstractions or entities who indwell the form are “electric fire.”

Các trừu tượng thể hay thực thể cư ngụ trong hình tướng là “Lửa Điện.”

The material substance which is enclosed within the ring-pass-not viewing it as a homogeneous whole, is “fire by friction.”

Chất liệu vật chất được bao bọc bên trong vòng-giới-hạn, nếu xem nó như một toàn thể đồng nhất, là “Lửa ma sát.”

The fire devas from the cosmic mental plane (of whom Agni and Indra are the embodiers along with one whose name is not to be given) are the external agencies who carry on cosmic transmutation.

Các thiên thần của lửa từ cõi trí vũ trụ (mà Agni và Indra là những Đấng hiện thân cùng với một Đấng có danh xưng không được tiết lộ) là những tác nhân bên ngoài thực hiện sự chuyển hoá vũ trụ.

This triple statement can be applied to a scheme, a chain, or a globe also, remembering ever that in connection [Page 494] with man the fire which is his third aspect emanates from the systemic mental.

Mệnh đề tam phân này cũng có thể được áp dụng cho một hệ hành tinh, một Dãy, hay một bầu hành tinh, đồng thời luôn ghi nhớ rằng liên hệ [Page 494] với con người, ngọn lửa là phương diện thứ ba của y phát xuất từ cõi trí của hệ thống.

We have dealt in broad and general manner with this question of electricity and have seen that fire essence or substance is resolved through internal activity and external heat in such a manner that the electric fire at the centre of the atom is liberated and seeks a new form. This is the aim of the transmutative process and the fact that hitherto alchemists working in the mineral kingdom have failed to achieve their objective has been due to three things:

Chúng ta đã bàn đến vấn đề điện lực này theo cách rộng và tổng quát, và đã thấy rằng tinh chất hay chất liệu lửa được phân giải qua hoạt động nội tại và nhiệt bên ngoài theo cách mà Lửa Điện ở trung tâm nguyên tử được giải phóng và tìm kiếm một hình tướng mới. Đây là mục tiêu của tiến trình chuyển hoá, và sự kiện rằng cho đến nay các nhà luyện kim làm việc trong giới kim thạch đã không đạt được mục tiêu của họ là do ba điều:

First. Inability to contact the central electric spark. This is due to ignorance of certain of the laws of electricity, and above all, ignorance of the set formula which covers the range of the electrical influence of that spark.

Thứ nhất. Không thể tiếp xúc được tia lửa điện trung tâm. Điều này là do không biết một số định luật điện lực, và trên hết là không biết công thức nhất định bao quát phạm vi ảnh hưởng điện lực của tia lửa ấy.

Second. Inability to create the necessary channel or “path” along which the escaping life may travel into its new form. Many have succeeded in breaking the form so that the life has escaped but they have not known how to harness or guide it and all their labour has consequently been lost.

Thứ hai. Không thể tạo ra kênh hay “con đường” cần thiết dọc theo đó sự sống thoát ra có thể đi vào hình tướng mới của nó. Nhiều người đã thành công trong việc phá vỡ hình tướng để sự sống thoát ra, nhưng họ không biết cách chế ngự hay hướng dẫn nó, và do đó mọi lao động của họ đều mất trắng.

Third. Inability to control the fire elementals who are the external fire which affects that central spark through the medium of its environment. This inability is especially distinctive of the alchemists of the fifth root race who have been practically incapable of this control, having lost the Words, the formulas, and the sounds. This is the consequence of undue success in Atlantean days, when the alchemists of the time, through colour and sound so entirely controlled the elementals that they utilised them for their own selfish ends and along lines of endeavours outside their legitimate province. This knowledge of formulas and sounds can be comparatively [Page 495] easily acquired when man has developed the inner spiritual ear. When this is the case, the transmutative processes of the grosser kind (such as are involved in the manufacture of pure gold) will interest him not at all and only those subtler forms of activity which are connected with the transference of life from graded form to form will occupy his attention.

Thứ ba. Không thể kiểm soát các hành khí của lửa là ngọn lửa bên ngoài tác động đến tia lửa trung tâm ấy qua trung gian môi trường của nó. Sự bất lực này đặc biệt nổi bật nơi các nhà luyện kim của giống dân gốc thứ năm, những người trên thực tế hầu như không thể thực hiện sự kiểm soát này, vì đã đánh mất các Linh từ, các công thức và các âm thanh. Đây là hậu quả của sự thành công quá mức trong thời Atlantis, khi các nhà luyện kim thời đó, thông qua màu sắc và âm thanh, đã kiểm soát các hành khí hoàn toàn đến mức sử dụng chúng cho những mục đích ích kỷ riêng của mình và theo những đường lối nỗ lực nằm ngoài phạm vi chính đáng của họ. Kiến thức về các công thức và âm thanh này có thể được thủ đắc tương đối [Page 495] dễ dàng khi con người đã phát triển nội nhĩ tinh thần. Khi điều này xảy ra, các tiến trình chuyển hoá thuộc loại thô nặng hơn (như những gì liên quan đến việc chế tạo vàng ròng) sẽ hoàn toàn không còn hấp dẫn y, và chỉ những hình thức hoạt động tinh tế hơn có liên hệ với sự chuyển dịch sự sống từ hình tướng theo cấp độ này sang hình tướng theo cấp độ khác mới chiếm lĩnh sự chú ý của y.

The following facts might also be pointed out:

Những sự kiện sau đây cũng có thể được nêu ra:

First. That every kingdom of nature has its note or tone, and the mantric sounds, which concern any transmutative process within that kingdom, will have that note as the key or base note.

Thứ nhất. Mỗi giới trong bản chất đều có âm điệu hay thanh âm riêng của nó, và các âm thanh mantram liên quan đến bất kỳ tiến trình chuyển hoá nào trong giới ấy sẽ lấy âm điệu đó làm chủ âm hay âm nền.

Second. That the note of the mineral kingdom is the basic note of substance itself, and it is largely the sounding of the note combinations, based on this key, which produces the great world cataclysms, wrought through volcanic action. Every volcano is sounding forth this note, and, for those who can see, the sound and colour (occultly understood) of a volcano are a truly marvellous thing. Every gradation of that note is to be found in the mineral kingdom which is itself divided into three main kingdoms:

Thứ hai. Âm điệu của giới kim thạch là âm nền của chính chất liệu, và phần lớn chính việc xướng lên các tổ hợp âm điệu dựa trên chủ âm này tạo ra những đại biến động thế giới, được thực hiện qua hoạt động núi lửa. Mỗi núi lửa đều đang phát ra âm điệu này, và đối với những ai có thể thấy, âm thanh và màu sắc (được hiểu theo huyền bí học) của một núi lửa là điều thực sự kỳ diệu. Mọi cấp độ của âm điệu ấy đều có thể được tìm thấy trong giới kim thạch, giới này tự nó được chia thành ba giới chính:

a. The baser metals, such as lead and iron, with all allied minerals.

a. Các kim loại hạ đẳng, như chì và sắt, cùng mọi khoáng chất liên hệ.

b. The standard metals, such as gold and silver, which play such a vital part in the life of the race, and are the mineral manifestation of the second aspect.

b. Các kim loại chuẩn, như vàng và bạc, đóng một vai trò thiết yếu như vậy trong đời sống của nhân loại, và là biểu hiện khoáng vật của phương diện thứ hai.

c. The crystals and precious stones, the first aspect as it works out in the mineral kingdom—the consummation of the work of the mineral devas, and the product of their untiring efforts.

c. Các tinh thể và đá quý, phương diện thứ nhất khi nó biểu lộ trong giới kim thạch—sự hoàn tất công trình của các thiên thần khoáng vật, và là sản phẩm của những nỗ lực không mệt mỏi của họ.

When scientists fully appreciate what it is which causes the difference between the sapphire and the ruby, they will have found out what constitutes one of the stages [Page 496] of the transmutative process, and this they cannot do until the fourth ether is controlled, and its secret discovered. As time progresses, the transmutation, for instance, of coal into diamonds, of lead into silver, or of certain metals into gold, will hold no appeal for man, for it will be recognised that the outcome of such action would cause deterioration of the standard, and result in poverty instead of the acquirement of riches; man will eventually come to the realisation that in atomic energy, harnessed to his need, or in the inducing of increased radioactivity, lies for him the path to prosperity and riches. He will, therefore concentrate his attention on this higher form of life transference and

Khi các nhà khoa học hoàn toàn đánh giá được điều gì gây ra sự khác biệt giữa sapphire và ruby, họ sẽ khám phá ra điều cấu thành một trong những giai đoạn [Page 496] của tiến trình chuyển hoá, và điều này họ không thể làm được cho đến khi dĩ thái thứ tư được kiểm soát và bí mật của nó được khám phá. Khi thời gian tiến triển, chẳng hạn việc chuyển hoá than thành kim cương, chì thành bạc, hay một số kim loại thành vàng, sẽ không còn hấp dẫn con người nữa, vì người ta sẽ nhận ra rằng kết quả của hành động như vậy sẽ gây ra sự suy giảm tiêu chuẩn và dẫn đến nghèo khó thay vì đạt được giàu có; cuối cùng con người sẽ đi đến sự chứng nghiệm rằng trong năng lượng nguyên tử, được chế ngự để đáp ứng nhu cầu của mình, hay trong việc gây ra sự gia tăng tính phóng xạ, chính trong đó có con đường dẫn y đến thịnh vượng và giàu có. Vì vậy, y sẽ tập trung sự chú ý vào hình thức chuyển dịch sự sống cao hơn này và

a. Through knowledge of the devas,

a. Qua tri thức về các thiên thần,

b. Through external pressure and vibration,

b. Qua áp lực và rung động bên ngoài,

c. Through internal stimulation,

c. Qua sự kích thích bên trong,

d. Through colour applied in stimulation and vitalisation,

d. Qua màu sắc được áp dụng trong sự kích thích và tiếp sinh lực,

e. Through mantric sounds

e. Qua các âm thanh mantram

he will find the secret of atomic energy, latent in the mineral kingdom, and will bend that inconceivable power and force to the solution of the problems of existence. Only when atomic energy is better understood and the nature of the fourth ether somewhat comprehended, shall we see that control of the air which lies inevitably ahead.

y sẽ tìm ra bí mật của năng lượng nguyên tử, tiềm tàng trong giới kim thạch, và sẽ uốn nắn quyền năng và mãnh lực không thể nghĩ bàn ấy vào việc giải quyết các vấn đề của sự tồn tại. Chỉ khi năng lượng nguyên tử được hiểu rõ hơn và bản chất của dĩ thái thứ tư được thấu hiểu phần nào, chúng ta mới thấy được sự kiểm soát không khí chắc chắn đang ở phía trước.

Third. By the discovery of the note of the vegetable kingdom, by its conjunction with other of nature’s notes, and by its due sounding forth in different keys and combinations will come the possibility to produce marvellous results within that kingdom, and to stimulate the activities of those devas who work with flowers, fruits, trees and herbs.

Thứ ba. Qua việc khám phá âm điệu của giới thực vật, qua sự kết hợp của nó với các âm điệu khác của bản chất, và qua việc xướng lên đúng đắn trong những chủ âm và tổ hợp khác nhau, sẽ xuất hiện khả năng tạo ra những kết quả kỳ diệu trong giới ấy, và kích thích hoạt động của những thiên thần làm việc với hoa, quả, cây cối và thảo mộc.

Every root race has its own particular style of vegetation, or certain basic forms and designs which can be traced in all countries where the race locates. These [Page 497] results are brought about by the interaction between the basic note of the vegetable kingdom itself, and the note of the race of men who are evolving simultaneously. The union of these two notes is that which produces distinctive vegetation, though it should be remembered that when the human note dominates too strongly it is apt to drive out the life of the forms of this second kingdom. The devas who work in this kingdom are a special group, and have a closer and more peculiar relation to it than have the builders or devas in any other kingdom. The transmutative process is effected more easily in the vegetable kingdom than in any other owing to this very factor, and also to the incentive given to this second kingdom and its evolutionary process by the coming of the Lords of the Flame from the second or Venus globe—pre-eminently the globe with which this kingdom has a mysterious connection. If I might express it in other words: the cosmic Entity, Who is the life of the second globe and its informing principle, has a close connection with the solar Entity Who is the informing life of the entire vegetable kingdom. This analogy can be worked out in connection with the other kingdoms, globes and other forms and accounts somewhat for the fact that this fourth (S. D., I, 107.) (163) globe is above everything else the globe of human evolution in this scheme; it gives also the clue to the mystery of the Presence of the great Kumara Himself upon earth. These thoughts merit close attention. [Page 498] The note of the human kingdom, sounded in quadruple intensity on this globe, has produced portentous happenings, and I would suggest to all occult investigators the close study and scrutiny of the following manifestations in time and space:

Mỗi giống dân gốc đều có kiểu thực vật riêng biệt của nó, hay một số hình thức và mô hình căn bản có thể được truy ra trong mọi quốc gia nơi giống dân ấy định cư. Những [Page 497] kết quả này được mang lại bởi sự tương tác giữa âm điệu căn bản của chính giới thực vật và âm điệu của giống dân nhân loại đang tiến hoá đồng thời. Sự hợp nhất của hai âm điệu này là điều tạo ra thực vật đặc thù, dù cần nhớ rằng khi âm điệu nhân loại chi phối quá mạnh, nó có khuynh hướng xua đuổi sự sống ra khỏi các hình tướng của giới thứ hai này. Các thiên thần làm việc trong giới này là một nhóm đặc biệt, và có mối liên hệ gần gũi và đặc thù với nó hơn các đấng kiến tạo hay thiên thần trong bất kỳ giới nào khác. Tiến trình chuyển hoá được thực hiện dễ dàng hơn trong giới thực vật so với bất kỳ giới nào khác do chính yếu tố này, và cũng do sự thúc đẩy được ban cho giới thứ hai này cùng tiến trình tiến hoá của nó bởi sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa từ bầu hành tinh thứ hai hay Sao Kim—nổi bật nhất là bầu hành tinh mà giới này có một liên hệ huyền nhiệm. Nếu tôi có thể diễn đạt điều đó bằng cách khác: Thực Thể vũ trụ, Đấng là sự sống của bầu hành tinh thứ hai và là nguyên khí thấm nhuần của nó, có một liên hệ mật thiết với Thực Thể thái dương, Đấng là sự sống thấm nhuần của toàn bộ giới thực vật. Sự tương đồng này có thể được triển khai liên hệ với các giới, các bầu hành tinh và các hình tướng khác, và phần nào giải thích sự kiện rằng bầu hành tinh thứ tư này (S. D., I, 107.) (163) trên hết mọi thứ là bầu hành tinh của sự tiến hoá nhân loại trong hệ hành tinh này; nó cũng cung cấp đầu mối cho huyền nhiệm về Sự Hiện Diện của chính Đức Kumara vĩ đại trên Trái Đất. Những tư tưởng này đáng được chú ý kỹ lưỡng. [Page 498] Âm điệu của giới nhân loại, được xướng lên với cường độ tứ phân trên bầu hành tinh này, đã tạo ra những biến cố trọng đại, và tôi muốn gợi ý với mọi nhà khảo cứu huyền bí học hãy nghiên cứu và khảo sát kỹ lưỡng những biểu hiện sau đây trong thời gian và không gian:

(163) The Fourth Round. The present (our) Round being the middle Round (between the 1st, 2nd, and 3rd, and the 5th, 6th and 7th) is one of adjustment and final equipoise between Spirit and matter. It is that point, in short, wherein the reign of true matter, its grossest state (which is as unknown to Science as its opposite pole—homogeneous matter or substance) stops and comes to an end. From that point physical man begins to throw off “coat after coat,” of his material molecules for the benefit and subsequent formation or clothing of the animal kingdom, which in its turn is passing it on to the vegetable, and the latter to the mineral kingdoms. Man having evoluted in the first Round from the animal via the two other kingdoms, it stands to reason that in the present Round he should appear before the animal world of this manvantaric period. But see the Secret Doctrine for particulars.—Lucifer, Vol. III, p. 253. (back)

(163) Cuộc tuần hoàn thứ tư. Cuộc tuần hoàn hiện tại (của chúng ta), là cuộc tuần hoàn ở giữa (giữa các cuộc tuần hoàn thứ 1, 2 và 3, và thứ 5, 6 và 7), là một cuộc tuần hoàn điều chỉnh và quân bình tối hậu giữa tinh thần và vật chất. Nói ngắn gọn, đó là điểm mà sự thống trị của vật chất đích thực, trong trạng thái thô đặc nhất của nó (vốn cũng xa lạ với Khoa học như cực đối nghịch của nó—vật chất hay chất liệu đồng nhất), dừng lại và chấm dứt. Từ điểm đó, con người hồng trần bắt đầu cởi bỏ “lớp áo này đến lớp áo khác” của các phân tử vật chất của mình vì lợi ích và cho sự hình thành hay khoác áo tiếp theo của giới động vật, rồi đến lượt giới này truyền nó cho giới thực vật, và giới thực vật lại truyền cho giới kim thạch. Vì con người đã tiến hoá trong cuộc tuần hoàn thứ nhất từ động vật qua hai giới kia, nên hợp lý là trong cuộc tuần hoàn hiện tại y phải xuất hiện trước thế giới động vật của giai kỳ sinh hóa này. Nhưng hãy xem Giáo Lý Bí Nhiệm để biết chi tiết.—Lucifer, Tập III, tr. 253. (trở lại)

1.

The fourth Creative Hierarchy

The human.

2.

The fourth scheme

Our earth scheme.

3.

The fourth chain

The earth chain.

4.

The fourth globe

Our planet.

5.

The fourth kingdom

The human.

6.

The fourth round

The first strictly human round.

7.

The four Kumaras

Embodiers of humanity.

8.

The fourth plane

The buddhic, the human goal.

9.

The fourth ether

The physical correspondence of the buddhic plane.

One fundamental sound is responded to by all these varied factors; it is the note that is the cause of their existence and the basis of their being. This note, if sought for and found, will bring into close alliance all of these factors till they are blended into a great occult unity; it will bring likewise into co-operation the band of devas who are the essences of the fourth human principle.

Một âm thanh căn bản được tất cả các yếu tố đa dạng này đáp ứng; đó là âm điệu là nguyên nhân sự tồn tại của chúng và là nền tảng của bản thể chúng. Âm điệu này, nếu được tìm kiếm và phát hiện, sẽ đưa tất cả các yếu tố ấy vào sự liên minh mật thiết cho đến khi chúng được hòa trộn thành một hợp nhất huyền bí vĩ đại; nó cũng sẽ đưa vào sự hợp tác nhóm thiên thần là các tinh chất của nguyên khí nhân loại thứ tư.

b. Synthesis. We have seen that during the coming races and subraces certain very definite development may be looked for in connection with manasic unfoldment; and it is worth while to note particularly that as far as the evolution of manas in this round is concerned its highest efflorescence may be looked for during the next five hundred years. The coming in of the two final root races marks the point of synthesis, and the gradual utilisation of that which has been manasically achieved; this will be brought about by a development of abstract thought, and of intuitive recognition. In other words, manas has (during the past three root races) been principally applied to the understanding of objective existence, to the adaptation of the Dweller in the form to his [Page 499] environment on the physical plane. From now on the trend of activity will be towards the understanding of the subjective side of manifestation, and towards the comprehension of the psyche of the individual life, divine, planetary, or human. In the next round, all the previous stages will be recapitulated, and manas will demonstrate in ways inconceivable as yet to the half awakened consciousness of man. In that round three-fifths of the human family will be fully aware, functioning with uninterrupted continuity of recollection on the physical, astral, and lower mental planes. The emphasis of manasic evolution will be laid upon the achievement of causal consciousness, and upon the scientific construction of the bridge which should unite the causal vehicle and the permanent manasic atom on the abstract levels.

b. Tổng hợp. Chúng ta đã thấy rằng trong các nhân loại và giống dân phụ sắp tới, có thể trông đợi một số phát triển rất xác định liên hệ với sự khai mở manas; và điều đáng lưu ý đặc biệt là, xét theo sự tiến hoá của manas trong cuộc tuần hoàn này, sự nở rộ cao nhất của nó có thể được mong đợi trong năm trăm năm tới. Sự xuất hiện của hai giống dân gốc cuối cùng đánh dấu điểm tổng hợp, và sự sử dụng dần dần điều đã được thành tựu về mặt manas; điều này sẽ được mang lại bởi sự phát triển của tư tưởng trừu tượng và của sự nhận biết trực giác. Nói cách khác, manas (trong ba giống dân gốc vừa qua) chủ yếu đã được áp dụng vào việc thấu hiểu sự tồn tại khách quan, vào việc thích nghi Kẻ Chận Ngõ trong hình tướng với [Page 499] môi trường của y trên cõi hồng trần. Từ nay trở đi, xu hướng hoạt động sẽ hướng đến việc thấu hiểu mặt chủ quan của biểu hiện, và hướng đến việc lĩnh hội tâm lý của sự sống cá biệt, thiêng liêng, hành tinh hay nhân loại. Trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, mọi giai đoạn trước đó sẽ được lặp lại, và manas sẽ biểu lộ theo những cách hiện còn không thể nghĩ bàn đối với tâm thức nửa thức tỉnh của con người. Trong cuộc tuần hoàn ấy, ba phần năm gia đình nhân loại sẽ hoàn toàn tỉnh thức, hoạt động với sự liên tục không gián đoạn của ký ức trên các cõi hồng trần, cảm dục và hạ trí. Trọng tâm của sự tiến hoá manas sẽ được đặt vào việc đạt được tâm thức nguyên nhân, và vào việc xây dựng một cách khoa học cây cầu phải hợp nhất vận cụ nguyên nhân với nguyên tử trường tồn manas trên các cấp độ trừu tượng.

During the sixth and seventh rounds we shall again have the synthesising process at work in a manner analogous to that which lies ahead in the sixth and seventh root races of this round.

Trong các cuộc tuần hoàn thứ sáu và thứ bảy, chúng ta sẽ lại có tiến trình tổng hợp hoạt động theo cách tương tự với điều đang ở phía trước trong các giống dân gốc thứ sáu và thứ bảy của cuộc tuần hoàn này.

To express the whole matter in larger terms: The Heavenly Man will be achieving the consciousness of his causal body on cosmic levels, with a consequent reaction, repolarisation and alignment of His body of manifestation. Under the law this will work out as demonstrated quality, and ordered intelligent purpose in every kingdom of nature, and will produce unifying results within those kingdoms of a kind inexplicable to man at his present stage of manasic development. We need not, therefore, give further time to the consideration of them, for the mental concept of man could not measure up to the magnitude of the theme.

Để diễn đạt toàn bộ vấn đề theo những thuật ngữ rộng lớn hơn: Đấng Thiên Nhân sẽ đạt được tâm thức của thể nguyên nhân của Ngài trên các cấp độ vũ trụ, với phản ứng hệ quả, sự tái phân cực và sự chỉnh hợp của thể biểu hiện của Ngài. Theo định luật, điều này sẽ được biểu lộ thành phẩm tính được chứng minh và mục đích trí tuệ có trật tự trong mọi giới của bản chất, và sẽ tạo ra những kết quả hợp nhất trong các giới ấy thuộc loại mà con người ở giai đoạn phát triển manas hiện nay không thể giải thích được. Vì vậy, chúng ta không cần dành thêm thời gian để xem xét chúng, vì khái niệm trí tuệ của con người không thể tương xứng với tầm vóc của chủ đề này.

In summing up what I have written anent this matter of the discriminative faculty, the intelligent activity, the adaptability nature, and the transmutative power of manas, I would like to point out that so far-reaching are these developments that every department of nature, macrocosmic [Page 500] and microcosmic, will show forth these aspects, and show them forth in a ninefold manner before the consummation is achieved, and man has found his course.

Tóm lại những gì tôi đã viết liên quan đến năng lực phân biện, hoạt động trí tuệ, bản chất thích nghi, và quyền năng chuyển hoá của manas, tôi muốn chỉ ra rằng những phát triển này sâu rộng đến mức mọi bộ phận của bản chất, đại thiên địa [Page 500] và tiểu thiên địa, sẽ biểu lộ các phương diện này, và biểu lộ chúng theo cách cửu phân trước khi sự hoàn tất được đạt tới và con người tìm ra lộ trình của mình.

Let us, therefore, look for a brief moment at the microcosmic manifestation, leaving the student as far as he is able to work out analogous ideas in relation to the Heavenly Man and the solar Logos:

Vì vậy, chúng ta hãy nhìn trong chốc lát vào biểu hiện tiểu thiên địa, để đạo sinh tự mình triển khai những ý tưởng tương đồng liên hệ với Đấng Thiên Nhân và Thái dương Thượng đế:

Manasic characteristics and the planes

Các đặc tính manas và các cõi

I. On the Physical Plane: Here this quality demonstrates as:

I. Trên Cõi Hồng Trần: Ở đây phẩm tính này biểu lộ như:

a. The selective power of the atoms of the body.

a. Quyền năng chọn lọc của các nguyên tử trong thể.

b. The adaptability of the physical form to its environment and to its circumstances.

b. Khả năng thích nghi của hình tướng hồng trần với môi trường và hoàn cảnh của nó.

c. The ordered purpose of the informing Life, as it affects the physical form and atoms.

c. Mục đích có trật tự của Sự sống thấm nhuần, khi nó tác động đến hình tướng và các nguyên tử hồng trần.

d. The transmutative power, inherent in man though as yet unrecognised by him, which has brought him to his present stage of physical existence from that of animal man. It concerns also the transference of the life on to manasic levels.

d. Quyền năng chuyển hoá vốn có nơi con người nhưng hiện chưa được y nhận biết, là điều đã đưa y từ trạng thái người thú đến giai đoạn tồn tại hồng trần hiện nay. Nó cũng liên quan đến sự chuyển dịch sự sống lên các cấp độ manas.

II. On the Astral Plane:

II. Trên Cõi Cảm Dục:

a. The discriminative power of man to choose between the pairs of opposites.

a. Quyền năng phân biện của con người để chọn lựa giữa các cặp đối nghịch.

b. His adaptability to emotional conditions, and his power to attain eventual equilibrium.

b. Khả năng thích nghi của y với các điều kiện cảm xúc, và quyền năng đạt đến sự quân bình sau cùng.

c. The power of man, through conscious purpose, to clear his astral body of foreign matter, and to ensure its translucence.

c. Quyền năng của con người, qua mục đích hữu thức, để làm trong sạch thể cảm dục của mình khỏi vật chất ngoại lai, và bảo đảm tính trong suốt của nó.

d. The transmutative inherent power which transmutes, or transfers the life into buddhic forms eventually.

d. Quyền năng chuyển hoá vốn có, rốt cuộc chuyển hoá hay chuyển dịch sự sống vào các hình tướng Bồ đề.

III. On the Mental Plane:

III. Trên Cõi Trí:

a. In the selective power of man to choose the form through which to manifest. [Page 501]

a. Trong quyền năng chọn lọc của con người để chọn hình tướng qua đó biểu hiện. [Page 501]

b. His adaptability to mental currents and vibration, and his utilisation of them to control the lower forms.

b. Khả năng thích nghi của y với các dòng và rung động trí tuệ, và việc sử dụng chúng để kiểm soát các hình tướng thấp.

c. The working out of purpose through the medium of the two lower vehicles. Impulse emanates from the mental plane.

c. Sự triển khai mục đích qua trung gian của hai vận cụ thấp. Xung lực phát xuất từ cõi trí.

d. The transmutative power which transforms the entire lower threefold man into a new form, the causal body. This process of transmutation is carried on through the entire series of incarnations.

d. Quyền năng chuyển hoá biến đổi toàn bộ phàm ngã tam phân thấp thành một hình tướng mới, thể nguyên nhân. Tiến trình chuyển hoá này được thực hiện xuyên suốt toàn bộ chuỗi lâm phàm.

IV. On the Abstract Levels of the Mental Plane.

IV. Trên Các Cấp Độ Trừu Tượng của Cõi Trí.

a. The ability of the Ego to discriminate as to time and space in the three worlds.

a. Khả năng của chân ngã phân biện về thời gian và không gian trong ba cõi giới.

b. Egoic adaptation of matter and circumstance of time and environment to the specific need under the Law of Karma.

b. Sự thích nghi chân ngã của vật chất và hoàn cảnh thời gian cùng môi trường với nhu cầu đặc thù theo Định luật Nghiệp quả.

c. The ‘Intelligent Purpose’ which lies back of all physical objectivity, and which is seen working out in every life.

c. “Mục Đích Trí Tuệ” nằm phía sau mọi tính khách quan hồng trần, và được thấy đang triển khai trong mọi sự sống.

d. The transmutation or transference into the Triad of the life of the Ego as it functions in the causal body. This results in dissociation from manifestation in the three worlds. To effect this transmutation (which is a point at times overlooked) the Thinker in the causal vehicle has to do three things:

d. Sự chuyển hoá hay chuyển dịch vào Tam nguyên tinh thần của sự sống của chân ngã khi nó hoạt động trong thể nguyên nhân. Điều này dẫn đến sự tách rời khỏi biểu hiện trong ba cõi giới. Để thực hiện sự chuyển hoá này (một điểm đôi khi bị bỏ qua), Đấng Tư Tưởng trong vận cụ nguyên nhân phải làm ba việc:

1. Build and equip the causal body.

1. Xây dựng và trang bị thể nguyên nhân.

2. Bring about conscious connection or control of the threefold lower nature through the agency of the permanent atoms.

2. Tạo ra sự nối kết hữu thức hay sự kiểm soát bản chất thấp tam phân qua tác nhân của các nguyên tử trường tồn.

3. Bridge the interlude between the causal body on its own level, and the manasic permanent atom. [Page 502]

3. Bắt cầu khoảng gián đoạn giữa thể nguyên nhân trên cấp độ riêng của nó và nguyên tử trường tồn manas. [Page 502]

V. On Buddhic Levels:

V. Trên Các Cấp Độ Bồ đề:

a. Discriminative power here demonstrates as ability to distinguish between the abstract and the concrete, and to arrive at conclusions apart from the ordinary apparatus—the mental body and the physical brain.

a. Quyền năng phân biện ở đây biểu lộ như khả năng phân biệt giữa trừu tượng và cụ thể, và đi đến kết luận tách khỏi bộ máy thông thường—thể trí và bộ não hồng trần.

b. Adaptability to Hierarchical enterprise shown by the Initiate or Master, and His receptivity to life impulses and spiritual currents emanating from the planetary Logos of His Ray—a thing at this stage impossible of conscious realisation.

b. Khả năng thích nghi với công cuộc của Thánh đoàn được biểu lộ bởi điểm đạo đồ hay Chân sư, và tính tiếp nhận của Ngài đối với các xung lực sự sống và các dòng tinh thần phát xuất từ Hành Tinh Thượng đế của cung của Ngài—một điều ở giai đoạn này không thể được chứng nghiệm một cách hữu thức.

c. In the ordered purpose which guides the choice by a Master of one of the seven Paths of endeavour. Thus choice is based on KNOWLEDGE and not on desire.

c. Trong mục đích có trật tự hướng dẫn sự chọn lựa của một Chân sư đối với một trong bảy Con Đường nỗ lực. Như vậy, sự chọn lựa dựa trên TRI THỨC chứ không dựa trên dục vọng.

d. In the conscious transmutation He undertakes in the work of evolution, and in the gradual transference of His own life, and the life of His group, into the monadic aspect which is reflected in the buddhic.

d. Trong sự chuyển hoá hữu thức mà Ngài đảm nhiệm trong công việc tiến hoá, và trong sự chuyển dịch dần dần sự sống của chính Ngài, cùng sự sống của nhóm Ngài, vào phương diện chân thần được phản chiếu trong Bồ đề.

VI. On Atmic Levels:

VI. Trên Các Cấp Độ Atma:

a. In the selective work of the adept as it relates to planetary manifestation, and the discriminative power which guides all action relating to His own planet, and the two others associated with the Earth, as a systemic triangle.

a. Trong công việc chọn lọc của chân sư khi nó liên hệ với biểu hiện hành tinh, và quyền năng phân biện hướng dẫn mọi hành động liên quan đến hành tinh riêng của Ngài, cùng hai hành tinh khác liên kết với Trái Đất như một tam giác hệ thống.

b. The adaptation of groups (deva and human) to certain types of influence, and vibration, which emanate extra-systemically, and which from high cosmic levels play upon groups, fostering certain attributes for which we have, as yet, no terminology.

b. Sự thích nghi của các nhóm (thiên thần và nhân loại) với một số loại ảnh hưởng và rung động phát xuất ngoài hệ thống, và từ các cấp độ vũ trụ cao tác động lên các nhóm, nuôi dưỡng một số thuộc tính mà hiện nay chúng ta chưa có thuật ngữ để gọi tên.

c. The synthesising work of the Brahma aspect as it works out in the blending of the four minor rays into the third major. [Page 503]

c. Công việc tổng hợp của phương diện Brahma khi nó được triển khai trong sự hòa trộn bốn cung phụ vào cung lớn thứ ba. [Page 503]

d. The transmutation which results in planetary obscuration in connection with five of the Heavenly Men and which—as in the previous work of synthesis—concerns microcosmic evolution and is participated in by man. I would call attention to an interesting point: as more and more of the Monads are resolved back into their source it produces a gradual obscuration of the particular Heavenly Man in Whose body they are the cells. Though this may look to human vision as extending over a profoundly long period, from the point of view of universal or group consciousness it is occurring NOW. For instance, such an event as the obscuration of the manifestation of the Logos of our Earth scheme is already in process and began in Lemurian days.

d. Sự chuyển hoá dẫn đến sự che khuất hành tinh liên hệ với năm Đấng Thiên Nhân và—cũng như trong công việc tổng hợp trước đó—liên quan đến sự tiến hoá tiểu thiên địa và có sự tham dự của con người. Tôi muốn lưu ý đến một điểm thú vị: khi ngày càng nhiều các chân thần được phân giải trở lại nguồn cội của chúng, điều đó tạo ra sự che khuất dần dần của Đấng Thiên Nhân đặc thù mà trong thể của Ngài chúng là các tế bào. Dù điều này có thể trông như kéo dài qua một thời kỳ vô cùng lâu dài đối với tầm nhìn của con người, nhưng từ quan điểm của tâm thức vũ trụ hay tâm thức nhóm, nó đang xảy ra NGAY BÂY GIỜ. Chẳng hạn, một biến cố như sự che khuất biểu hiện của Thượng đế của hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta đã đang trong tiến trình và đã bắt đầu từ thời Lemuria.

VII. As regards monadic discrimination, adaptability, purpose and transmutative power it is needless to enlarge.

VII. Về sự phân biện, khả năng thích nghi, mục đích và quyền năng chuyển hoá của chân thần thì không cần phải nói rộng thêm.

All these ideas and concepts are of value only in so far as they produce within the Thinker a more intelligent appreciation of the grandeur of the divine plan, an appropriation of the energy and force which is his by right of participation in the processes of manifestation, and a wise co-operation in the furtherance of the evolutionary plan as it affects him individually and his groups.

Tất cả những ý tưởng và khái niệm này chỉ có giá trị trong chừng mực chúng tạo ra bên trong Đấng Tư Tưởng một sự đánh giá thông tuệ hơn về sự hùng vĩ của Thiên Cơ, một sự chiếm hữu năng lượng và mãnh lực vốn là của y theo quyền do tham dự vào các tiến trình biểu hiện, và một sự hợp tác minh triết trong việc thúc đẩy kế hoạch tiến hoá khi nó tác động đến cá nhân y và các nhóm của y.

DIVISION C – THE EGOIC RAY AND SOLAR FIRE

PHÂN ĐOẠN C – CUNG CHÂN NGÃ VÀ LỬA THÁI DƯƠNG

[Page 504] I. THE NATURE OF THE CAUSAL BODY

[Page 504] I. BẢN CHẤT CỦA THỂ NGUYÊN NHÂN

1. It is formed by the contact of the two fires of Spirit and matter.

1. Nó được hình thành bởi sự tiếp xúc của hai ngọn lửa của tinh thần và vật chất.

2. It is produced at individualisation.

2. Nó được tạo ra vào lúc biệt ngã hóa.

II. THE NATURE OF THE PERMANENT ATOMS

II. BẢN CHẤT CỦA CÁC NGUYÊN TỬ TRƯỜNG TỒN

1. Their purpose.

1. Mục đích của chúng.

a. They are force distributors.

a. Chúng là những bộ phân phối mãnh lực.

b. Conservers of faculty.

b. Những bộ bảo tồn năng lực.

c. Assimilators and transmuters.

c. Những bộ đồng hoá và chuyển hoá.

d. Vehicles of memory.

d. Những vận cụ của ký ức.

2. Their place in the Egoic Body.

2. Vị trí của chúng trong Thể Chân Ngã.

a. The astral permanent atom.

a. Nguyên tử trường tồn cảm dục.

b. The atomic triangle.

b. Tam giác nguyên tử.

3. The Spirillae and the Egoic Ray.

3. Các loa tuyến và cung chân ngã.

a. The composition of the permanent atoms.

a. Thành phần cấu tạo của các nguyên tử trường tồn.

b. The planes and fiery energy.

b. Các cõi và năng lượng lửa.

c. The three fires.

c. Ba ngọn lửa.

4. Summary.

4. Tóm lược.

III. THE EGOIC LOTUS

III. HOA SEN CHÂN NGÃ

1. Wheels or centres of energy.

1. Các bánh xe hay trung tâm năng lượng.

a. Centres of force.

a. Các trung tâm mãnh lực.

b. The causal body, the monadic heart centre. [Page 505]

b. Thể nguyên nhân, trung tâm tim của chân thần. [Page 505]

2. The twelve-petalled Lotus.

2. Hoa sen mười hai cánh.

a. The knowledge petals.

a. Các cánh hoa tri thức.

b. The love petals.

b. Các cánh hoa bác ái.

c. The sacrifice petals.

c. Các cánh hoa hi sinh.

3. Summary.

3. Tóm lược.

I. THE NATURE OF THE EGOIC OR CAUSAL BODY

I. BẢN CHẤT CỦA THỂ CHÂN NGÃ HAY THỂ NGUYÊN NHÂN

The subject of the egoic Ray and its relation to the second fire is one of vital import to three types of people: Those who are interested in the true psychology, or in the evolution of the psyche; those who are on or nearing the Path, and hence are coming more and more into touch with their own Ego; those who work with the souls of men, the servers of the race.

Chủ đề về cung chân ngã và mối liên hệ của nó với ngọn lửa thứ hai có tầm quan trọng thiết yếu đối với ba loại người: những ai quan tâm đến tâm lý học chân chính, hay đến sự tiến hoá của tâm lý; những ai đang ở trên hoặc đang tiến gần Con Đường, và do đó ngày càng tiếp xúc nhiều hơn với chân ngã riêng của mình; những ai làm việc với linh hồn của con người, những người phụng sự nhân loại.

The reason for this is because in the due comprehension of this subject, that of the Ego functioning in the causal body, comes the ability to work scientifically with the problem of one’s own evolution, and to do good work in aiding the evolution of one’s brother.

Lý do là vì trong sự thấu hiểu đúng đắn chủ đề này, tức chủ đề về chân ngã hoạt động trong thể nguyên nhân, xuất hiện khả năng làm việc một cách khoa học với vấn đề tiến hoá của chính mình, và thực hiện công việc tốt đẹp trong việc trợ giúp sự tiến hoá của huynh đệ mình.

1. Egoic manifestation is produced through the medium of two fires.

1. Biểu hiện chân ngã được tạo ra qua trung gian của hai ngọn lửa.

Let us therefore consider somewhat the subject of the egoic Ray and the causal body, viewing it from the standpoint of the microcosm, and leaving the student to work out for himself the analogies where the Logos is concerned, conjuring him to bear in mind that the analogy must ever be drawn with due emphasis upon the fact that all that the human unit can comprehend is the manifestation of the solar Logos in a physical body.

Vì vậy, chúng ta hãy xem xét phần nào chủ đề về cung chân ngã và thể nguyên nhân, nhìn nó từ quan điểm của tiểu thiên địa, và để đạo sinh tự mình triển khai các sự tương đồng nơi Thượng đế, đồng thời khẩn thiết yêu cầu y ghi nhớ rằng sự tương đồng luôn phải được rút ra với sự nhấn mạnh thích đáng vào sự kiện rằng tất cả những gì đơn vị nhân loại có thể lĩnh hội chỉ là biểu hiện của Thái dương Thượng đế trong một thể xác.

In all manifestation, as we well know, we have duality producing triplicity. Spirit meets and contacts matter; the result of that contact is the birth of the Son, or the Ego, the consciousness aspect. The egoic manifestation is therefore the middle aspect, the place of at-one-ment, [Page 506] and (after due evolutionary cycles) the place of balance, or of equilibrium. It should be noted that the analogy between the Logos and man is not accurate, for man has to undergo the whole process within the solar periphery, whilst the Logos (within that periphery) goes through the stage analogous to that which the man undergoes when his astral sheath clothes itself with etheric matter and he takes physical incarnation, which was touched upon when considering the subject of “Fire by friction.” It will consequently be apparent that, in considering the manifestation of the Ego, we are dealing with the point of central emphasis in man’s threefold manifestation. We are concerning ourselves with that division of his nature which concerns the process of making him the perfect six-pointed star during the preliminary stage (the threefold personality and the threefold Triad merged and blended and perfectly produced through the intermediate point the causal body) and which, when the physical body is eliminated, makes him the five-pointed star or perfected manasaputra.

Trong mọi biểu hiện, như chúng ta đều biết rõ, chúng ta có nhị nguyên tính tạo ra bộ ba. Tinh thần gặp gỡ và tiếp xúc vật chất; kết quả của sự tiếp xúc đó là sự sinh ra của Con, hay chân ngã, phương diện tâm thức. Vì vậy, biểu hiện chân ngã là phương diện trung gian, nơi hợp nhất, [Page 506] và (sau các chu kỳ tiến hoá thích đáng) là nơi quân bình, hay cân bằng. Cần lưu ý rằng sự tương đồng giữa Thượng đế và con người không chính xác, vì con người phải trải qua toàn bộ tiến trình bên trong chu vi thái dương, trong khi Thượng đế (bên trong chu vi ấy) trải qua giai đoạn tương tự với giai đoạn con người trải qua khi vỏ bọc cảm dục của y khoác lấy vật chất dĩ thái và y lâm phàm hồng trần, điều đã được đề cập khi xem xét chủ đề “Lửa ma sát.” Do đó, sẽ rõ ràng rằng khi xem xét biểu hiện của chân ngã, chúng ta đang bàn đến điểm nhấn mạnh trung tâm trong biểu hiện tam phân của con người. Chúng ta đang quan tâm đến phần bản chất của y liên quan đến tiến trình làm cho y trở thành ngôi sao sáu cánh hoàn hảo trong giai đoạn sơ khởi (phàm ngã tam phân và Tam nguyên tinh thần tam phân được hòa nhập, dung hợp và được tạo ra hoàn hảo qua điểm trung gian là thể nguyên nhân) và phần này, khi thể xác bị loại bỏ, làm cho y trở thành ngôi sao năm cánh hay manasaputra hoàn hảo.

To state the whole in terms of fire: The causal body is produced by means of the positive life, or fire, of the Spirit (electric fire) meeting the negative fire of matter, or “fire by friction”; this causes the blazing forth of solar fire. This central blaze inevitably in due course burns up the third fire, or absorbs its essence, and is itself eventually blended with the fire of Spirit and passes out of objective display.

Để phát biểu toàn bộ bằng thuật ngữ của lửa: thể nguyên nhân được tạo ra nhờ sự gặp gỡ giữa sự sống dương, hay lửa, của tinh thần (Lửa Điện) với ngọn lửa âm của vật chất, hay “Lửa ma sát”; điều này gây nên sự bùng cháy của Lửa Thái dương. Ngọn lửa trung tâm này tất yếu theo thời gian sẽ thiêu hủy ngọn lửa thứ ba, hay hấp thu tinh chất của nó, và chính nó cuối cùng cũng được hòa trộn với lửa của tinh thần và ra khỏi sự biểu lộ khách quan.

I seek here to deal with the subject of the causal body in two different ways—one along the old lines and the other strictly along the lines of occult electrical phenomena.

Ở đây tôi tìm cách bàn đến chủ đề thể nguyên nhân theo hai cách khác nhau—một theo đường lối cũ và một hoàn toàn theo đường lối của các hiện tượng điện lực huyền bí.

2. Egoic manifestation is produced at individualisation.

2. Biểu hiện chân ngã được tạo ra vào lúc biệt ngã hóa.

The causal body is that sheath of mental substance which is formed at the moment of individualisation by [Page 507] the contact of the two fires. The force or energy that pours through from the higher planes (the breath of the Monad, if you care so to term it) produces a vacuum, or something analogous to a bubble in koilon, and the sheath of the causal body—the ring-pass-not of the central Life is formed. Within this sheath are to be found three atoms, which have been termed the mental unit, the astral permanent atom and the physical permanent atom; they correspond individually to the seventh principle of each of the three persons of the microcosmic triad, a reflection (in the three worlds of the microcosm) of the three Persons of the logoic Trinity. H. P. B. hints at this in connection with the Logos when she speaks of the visible sun being the seventh principle of the Brahma aspect, the physical permanent atom of the Logos. (S.D., III, 143 & I, 574)

Thể nguyên nhân là vỏ bọc của chất liệu trí tuệ được hình thành vào lúc biệt ngã hóa bởi [Page 507] sự tiếp xúc của hai ngọn lửa. Mãnh lực hay năng lượng tuôn xuống từ các cõi cao (hơi thở của chân thần, nếu bạn muốn gọi như vậy) tạo ra một khoảng chân không, hay điều gì đó tương tự như một bong bóng trong koilon, và vỏ bọc của thể nguyên nhân—vòng-giới-hạn của Sự sống trung tâm—được hình thành. Bên trong vỏ bọc này có ba nguyên tử, được gọi là đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục và nguyên tử trường tồn hồng trần; chúng tương ứng riêng rẽ với nguyên khí thứ bảy của mỗi một trong ba ngôi vị của tam nguyên tinh thần tiểu thiên địa, một phản ánh (trong ba cõi giới của tiểu thiên địa) của Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế. H. P. B. ám chỉ điều này liên hệ với Thượng đế khi bà nói rằng mặt trời hữu hình là nguyên khí thứ bảy của phương diện Brahma, nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế. (S.D., III, 143 & I, 574)

II. THE NATURE OF THE PERMANENT ATOMS

II. BẢN CHẤT CỦA CÁC NGUYÊN TỬ TRƯỜNG TỒN

1. The purpose of the permanent atoms.

1. Mục đích của các nguyên tử trường tồn.

The three permanent atoms are in themselves centres of force, or those aspects of the personality which hold hid the fires of substance, or of objectivity; it cannot be too strongly pointed out at this juncture that, in considering the threefold man in the three worlds, we are dealing with substance which (in connection with logoic manifestation) is considered the dense physical. Surrounding these three atoms is the causal sheath, answering the following purposes:

Ba nguyên tử trường tồn tự thân là những trung tâm mãnh lực, hay là những phương diện của phàm ngã đang che giấu các lửa của chất liệu, hay của tính khách quan; ở giai đoạn này cần phải nhấn mạnh hết sức rằng, khi xét con người tam phân trong ba cõi thấp, chúng ta đang đề cập đến chất liệu mà (liên hệ với sự biểu hiện của Thượng đế) được xem là hồng trần đậm đặc. Bao quanh ba nguyên tử này là vỏ nguyên nhân, đáp ứng các mục đích sau đây:

It separates one unit of egoic consciousness from another unit of consciousness, yet is itself part of the gaseous body (the fifth cosmic physical subplane) in the physical body of the planetary Logos, Who is the central life of any particular group of Monads. This fact has been little appreciated, and merits careful consideration. [Page 508] It holds hid spiritual potentialities in its inherent ability to respond to the higher vibration; from the moment of individualisation till it is discarded at initiation, the life within steadily develops these potentialities, and produces certain definite results by the utilisation of the three permanent atoms. It gradually vivifies and awakens them until, on the three planes, the central life has an adequate point of contact which can originate the necessitated vibration in the matter of the plane.

Nó tách biệt một đơn vị tâm thức chân ngã khỏi một đơn vị tâm thức khác, tuy nhiên bản thân nó lại là một phần của thể khí trạng (cõi phụ hồng trần vũ trụ thứ năm) trong thể xác của Hành Tinh Thượng đế, Đấng là Sự sống trung tâm của bất kỳ nhóm chân thần đặc thù nào. Sự kiện này ít được đánh giá đúng mức, và đáng được suy xét cẩn trọng. [Page 508] Nó che giấu các tiềm năng tinh thần trong khả năng cố hữu của nó là đáp ứng với rung động cao hơn; từ khoảnh khắc biệt ngã hóa cho đến khi nó bị loại bỏ lúc điểm đạo, sự sống bên trong đều đặn phát triển các tiềm năng ấy, và tạo ra những kết quả xác định nhờ việc sử dụng ba nguyên tử trường tồn. Nó dần dần tiếp sinh lực và đánh thức chúng cho đến khi, trên ba cõi, sự sống trung tâm có được một điểm tiếp xúc thích đáng có thể khởi phát rung động cần thiết trong vật chất của cõi đó.

The permanent atoms on each plane serve a fourfold purpose as regards the central or egoic life:

Các nguyên tử trường tồn trên mỗi cõi phục vụ một mục đích tứ phân đối với sự sống trung tâm hay chân ngã:

They are the distributors of a certain type of force.

Chúng là những tác nhân phân phối một loại mãnh lực nhất định.

They are the conservers of faculty or ability to respond to a particular vibration.

Chúng là những tác nhân bảo tồn năng lực hay khả năng đáp ứng với một rung động đặc thù.

They are the assimilators of experience and the transmuters of that experience into quality. This is the direct result of the work of the egoic Ray as it plays upon the atom.

Chúng là những tác nhân đồng hóa kinh nghiệm và chuyển hoá kinh nghiệm ấy thành phẩm tính. Đây là kết quả trực tiếp của công việc của cung chân ngã khi nó tác động lên nguyên tử.

They hold hid the memory of the unit of consciousness. When fully vibrant they are the raison d’être for the continuity of the consciousness of the man functioning in the causal body. This distinction must be carefully made.

Chúng che giấu ký ức của đơn vị tâm thức. Khi rung động trọn vẹn, chúng là raison d’être cho tính liên tục của tâm thức của con người hoạt động trong thể nguyên nhân. Cần phải phân biệt cẩn trọng điều này.

We must always remember in studying these difficult matters that we are dealing with the logoic dense physical body and that:

Khi nghiên cứu những vấn đề khó khăn này, chúng ta phải luôn nhớ rằng mình đang đề cập đến thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế và rằng:

The mental unit is found in logoic gaseous matter.

Đơn vị hạ trí được tìm thấy trong vật chất khí trạng của Thượng đế.

The astral permanent atom in logoic liquid matter.

Nguyên tử trường tồn cảm dục ở trong vật chất lỏng của Thượng đế.

The physical permanent atom in dense physical substance.

Nguyên tử trường tồn hồng trần ở trong chất liệu hồng trần đậm đặc.

And they therefore have their place in matter of the three lowest subplanes of the physical body of the Logos. Consequently when in the process of evolution, and through initiation, man achieves the consciousness of the Spiritual Triad, and transfers his polarisation into the three triadal [Page 509] permanent atoms, he is simply able to function consciously in the etheric body of his particular planetary Logos. Work out the analogy in the microcosmic development and note how in order to function consciously in his individual etheric body a man has to burn through what has been called the etheric web, and study how the fires of initiation produce something analogous in the planetary etheric body, and eventually in the cosmic etheric. As each unit of consciousness, through self-induced effort, achieves the goal and crosses the ‘burning-ground,’ a microscopic portion of the etheric web of the planetary etheric body is consumed by fire; this results in a definite gain for that great Entity, the planetary Logos, through the relatively unimportant liberation of the force of one cell in His body. When all the units or cells in His body have achieved, He too is set free from dense manifestation and physically dies. This stage is succeeded by the comparatively brief one of etheric existence (covering the period of planetary obscuration), and then He is liberated from incarnation altogether.

Và vì thế chúng có vị trí của mình trong vật chất của ba cõi phụ thấp nhất của thể xác của Thượng đế. Do đó, khi trong tiến trình tiến hoá, và thông qua điểm đạo, con người đạt được tâm thức của Tam Nguyên Tinh Thần, và chuyển sự phân cực của mình vào ba nguyên tử trường tồn của tam nguyên tinh thần [Page 509], y chỉ đơn giản là có thể hoạt động một cách hữu thức trong thể dĩ thái của Hành Tinh Thượng đế đặc thù của mình. Hãy triển khai phép loại suy trong sự phát triển của tiểu thiên địa và lưu ý rằng để hoạt động một cách hữu thức trong thể dĩ thái cá nhân của mình, con người phải đốt xuyên qua cái đã được gọi là màng dĩ thái, và hãy nghiên cứu cách các lửa của điểm đạo tạo ra một điều tương tự trong thể dĩ thái hành tinh, và cuối cùng trong thể dĩ thái vũ trụ. Khi mỗi đơn vị tâm thức, nhờ nỗ lực tự khởi phát, đạt đến mục tiêu và vượt qua “vùng đất cháy”, một phần vi thể của màng dĩ thái của thể dĩ thái hành tinh bị thiêu hủy bởi lửa; điều này đem lại một lợi ích xác định cho Thực Thể vĩ đại ấy, Hành Tinh Thượng đế, thông qua sự giải phóng tương đối không quan trọng của mãnh lực của một tế bào trong thể của Ngài. Khi mọi đơn vị hay tế bào trong thể của Ngài đều đã đạt được, chính Ngài cũng được giải thoát khỏi biểu hiện đậm đặc và chết về mặt hồng trần. Giai đoạn này được tiếp nối bởi một giai đoạn tương đối ngắn của sự tồn tại dĩ thái (bao trùm thời kỳ hành tinh bị che khuất), và rồi Ngài được giải thoát hoàn toàn khỏi lâm phàm.

Viewing this process from the standpoint of the Logos, the Brahma aspect passes out, or the life withdraws from the physical permanent atom, leaving later stages on cosmic levels, with which we need not concern ourselves. These cover the withdrawal of the logoic life from out of the other two aspects. In a solar system, which is a physical incarnation of the Logos, the Brahma aspect is apparently the most important, it being the medium of expression, yet it is the subjective aspect, or the life-desire of the Logos which is fundamentally of moment; this concerns His endeavour on high levels, and on cosmic planes beyond the ken of the highest Chohan.

Nhìn tiến trình này từ quan điểm của Thượng đế, phương diện Brahma đi ra ngoài, hay sự sống rút khỏi nguyên tử trường tồn hồng trần, để lại các giai đoạn sau đó trên các cấp độ vũ trụ mà chúng ta không cần quan tâm. Chúng bao gồm sự rút lui của sự sống của Thượng đế ra khỏi hai phương diện kia. Trong một hệ mặt trời, vốn là một lâm phàm hồng trần của Thượng đế, phương diện Brahma dường như là quan trọng nhất, vì nó là môi trường biểu lộ, tuy nhiên chính phương diện chủ quan, hay bản chất sự sống-khát vọng của Thượng đế, mới là điều căn bản quan trọng; điều này liên quan đến nỗ lực của Ngài trên các cấp độ cao, và trên các cõi vũ trụ vượt ngoài tầm hiểu biết của vị Chohan cao nhất.

It might be of value here if I pointed out that the Egoic Ray of the human unit (167) with which we are concerning [Page 510] ourselves, manifests as regards each ray just as does the logoic manifestation. Each of the seven Rays, viewed in connection with the causal bodies of men, demonstrates as a unity on the first subplane, as a triplicity on the second and as seven on the third, forming there the forty-nine groups which most concern evolving man. According to the angle of vision, this numbering of groups may be increased or lessened, but for purposes of studying the aspects of mind, the above enumeration suffices. In the course of his many septenary lives, and as the cyclic sevens pass over him, man passes under the influence of the seven sub-rays of his own Ray. Then he begins to synthesise and merge the seven into the major three sub-rays, returning thus to unity on his own egoic Ray.

Ở đây, sẽ có ích nếu tôi chỉ ra rằng cung chân ngã của đơn vị nhân loại (167) mà chúng ta đang quan tâm [Page 510] biểu hiện xét theo mỗi cung đúng như sự biểu hiện của Thượng đế. Mỗi một trong bảy cung, khi được xem trong liên hệ với các thể nguyên nhân của con người, biểu lộ như một hợp nhất trên cõi phụ thứ nhất, như một bộ ba trên cõi phụ thứ hai và như bảy trên cõi phụ thứ ba, tại đó hình thành bốn mươi chín nhóm liên quan nhiều nhất đến con người đang tiến hoá. Tùy theo góc độ tầm nhìn, cách đánh số các nhóm này có thể tăng hoặc giảm, nhưng đối với mục đích nghiên cứu các phương diện của trí tuệ, cách liệt kê trên là đủ. Trong suốt nhiều kiếp sống thất phân của mình, và khi các chu kỳ bảy đi qua y, con người đi vào dưới ảnh hưởng của bảy cung phụ của chính cung của mình. Sau đó y bắt đầu tổng hợp và hòa nhập bảy vào ba cung phụ chính, nhờ vậy trở về hợp nhất trên chính cung chân ngã của mình.

(167) The human Ray. “Each human centre is a crystallised ray of the Absolute One that has worked through processes of evolution into what is known as a human being.”—Some Thoughts on the Gita. (back)

(167) Cung nhân loại. “Mỗi trung tâm nhân loại là một cung đã kết tinh của Đấng Tuyệt Đối Duy Nhất, đã vận hành qua các tiến trình tiến hoá để thành cái được biết là một con người.”—Some Thoughts on the Gita. (back)

First. The septenary status governs the time from individualisation till he enters upon the Path.

Thứ nhất. Tình trạng thất phân chi phối thời kỳ từ lúc biệt ngã hóa cho đến khi y bước vào Con Đường.

Second. The threefold status governs the time up till the third Initiation.

Thứ hai. Tình trạng tam phân chi phối thời kỳ cho đến lần điểm đạo thứ ba.

Third. He achieves the unity of his Ray by the fifth Initiation, and is then consciously a part of the body of the Heavenly Man.

Thứ ba. Y đạt được sự hợp nhất của cung mình vào lần điểm đạo thứ năm, và khi ấy một cách hữu thức là một phần của thể của Đấng Thiên Nhân.

The same idea can be worked out in connection with the awakening of the life forces within the permanent atoms, viewing each atom as the seventh principle in each of the three aspects of the personality.

Cùng một ý tưởng ấy có thể được triển khai trong liên hệ với sự thức tỉnh của các mãnh lực sự sống bên trong các nguyên tử trường tồn, khi xem mỗi nguyên tử như nguyên khí thứ bảy trong mỗi một của ba phương diện của phàm ngã.

2. Their Place In the Egoic Body.

2. Vị trí của chúng trong thể chân ngã.

a. The importance of the astral permanent atom. There is one fact to be grasped in connection with the place of the permanent atom within the causal periphery and its evolution, that needs to be emphasised with care, and that is that the astral permanent atom in this solar system is the recipient of a great flow of force or energy, and receives more stimulation and energising than any of the others, and this for the following reasons: [Page 511]

a. Tầm quan trọng của nguyên tử trường tồn cảm dục. Có một sự kiện cần phải nắm bắt liên quan đến vị trí của nguyên tử trường tồn trong chu vi nhân thể và sự tiến hoá của nó, cần được nhấn mạnh cẩn trọng, và đó là nguyên tử trường tồn cảm dục trong hệ mặt trời này là nơi tiếp nhận một dòng mãnh lực hay năng lượng lớn, và nhận được nhiều kích thích và tiếp năng lượng hơn bất kỳ nguyên tử nào khác, vì các lý do sau đây: [Page 511]

First. The centre of polarisation for the fourth, or human kingdom, is in the astral consciousness viewing this kingdom as a unity in expression. From the astral, and through the desire nature, the majority of men inevitably direct and control the physical vehicle. The astral body is in the direct line of force via the buddhic from monadic levels, 2-4-6.

Thứ nhất. Trung tâm phân cực của giới thứ tư, hay giới nhân loại, nằm trong tâm thức cảm dục nếu xem giới này như một hợp nhất trong biểu hiện. Từ cõi cảm dục, và thông qua bản chất dục vọng, đa số con người tất yếu điều khiển và kiểm soát vận cụ hồng trần. Thể cảm dục nằm trên đường trực tiếp của mãnh lực qua Bồ đề từ các cấp độ chân thần, 2-4-6.

Second. The goal set before humanity is that of becoming Masters of the Wisdom, or conscious units in the Body of the Dragon of Wisdom or of Love. This a man achieves when he can function consciously in the buddhic vehicle, or when the astral permanent atom is superseded by the buddhic permanent atom.

Thứ hai. Mục tiêu đặt ra trước nhân loại là trở thành các Chân sư của Minh triết, hay những đơn vị hữu thức trong Thể của Rồng Minh triết hay Bác ái. Con người đạt được điều này khi y có thể hoạt động một cách hữu thức trong vận cụ Bồ đề, hay khi nguyên tử trường tồn cảm dục được thay thế bởi nguyên tử trường tồn Bồ đề.

Third. The next reason is that the second aspect of the Logos (that of love or the manifestation of the love nature of the Logos through the medium of the Son) is the one demonstrated in this system. This system is:

Thứ ba. Lý do kế tiếp là phương diện thứ hai của Thượng đế (đó là bác ái hay sự biểu hiện bản chất bác ái của Thượng đế qua trung gian của Con) là phương diện được biểu lộ trong hệ này. Hệ này là:

a. A Son of Necessity, or of desire

a. Một Con của Tất Yếu, hay của dục vọng

b. Vibrant to the key of the cosmic Ray of Love

b. Rung động theo chủ âm của cung vũ trụ Bác ái

c. The form through which this ray of cosmic Love (shown in the inter-relation between the Self and the Not-Self, or through duality) is expressing itself

c. Hình tướng mà qua đó cung Bác ái vũ trụ này (được biểu lộ trong mối tương quan giữa Bản Ngã và Phi-Ngã, hay qua nhị nguyên tính) đang tự biểu hiện

d. Governed by the cosmic Law of Attraction. The monads of love are the dominating quality. (I choose this word ‘quality’ specifically.)

d. Được cai quản bởi Định luật Hấp Dẫn vũ trụ. Các chân thần bác ái là phẩm tính chi phối. (Tôi chọn từ “phẩm tính” này một cách đặc biệt.)

Fourth. The centre in the cosmic body of the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID of which our solar Logos is the embodied force is the heart centre. Here we have one of the clues to the mystery of electricity. The sacred planets, with certain allied etheric spheres within the ring-pass-not, are parts of that heart centre, and are ‘petals in the Lotus,’ or in the heart centre of that great unknown Existence Who stands to the solar Logos as He in His turn stands to the Heavenly [Page 512] Men Who are His centres, and specially as He stands to the particular Heavenly Man Who is the embodied force of the logoic Heart centre. Therefore, it will be apparent to the careful student that the entire force and energy of the system and its life quality will be that which we call (having perforce to use handicapping, misleading words) LOVE. This will account for the fact that the force that plays through that cosmic heart centre will be the paramount force found in the manifestation of a solar Logos, and of a Heavenly Man; it will likewise produce its microcosmic analogy, and reflective reactions; hence the relative importance of the astral permanent atom within the causal periphery. It is in the direct line of active force emanating from the cosmic existence, and passing to it in ever lessening degree, via the solar Logos in His system of love, and the planetary Logos within a scheme, the Dragon of Wisdom-Love.

Thứ tư. Trung tâm trong thể vũ trụ của Đấng Bất Khả Tư Nghị mà Thái dương Thượng đế của chúng ta là mãnh lực nhập thể chính là trung tâm tim. Ở đây chúng ta có một trong những đầu mối của huyền nhiệm điện lực. Các hành tinh thiêng liêng, cùng với một số khối cầu dĩ thái liên hệ trong vòng-giới-hạn, là những phần của trung tâm tim ấy, và là “các cánh hoa trong Hoa sen”, hay trong trung tâm tim của Sự Tồn Tại vĩ đại vô danh ấy, Đấng đứng đối với Thái dương Thượng đế cũng như Ngài đến lượt mình đứng đối với các Đấng Thiên Nhân [Page 512] là các trung tâm của Ngài, và đặc biệt là như Ngài đứng đối với Đấng Thiên Nhân đặc thù là mãnh lực nhập thể của trung tâm Tim của Thượng đế. Vì vậy, đối với đạo sinh cẩn trọng, sẽ hiển nhiên rằng toàn bộ mãnh lực và năng lượng của hệ cùng phẩm tính sự sống của nó sẽ là cái mà chúng ta gọi là (do buộc phải dùng những từ ngữ hạn hẹp và dễ gây hiểu lầm) BÁC ÁI. Điều này sẽ giải thích sự kiện rằng mãnh lực vận hành qua trung tâm tim vũ trụ ấy sẽ là mãnh lực tối thượng được tìm thấy trong sự biểu hiện của một Thái dương Thượng đế, và của một Đấng Thiên Nhân; nó cũng sẽ tạo ra phép loại suy vi thể của nó, và các phản ứng phản chiếu; do đó có tầm quan trọng tương đối của nguyên tử trường tồn cảm dục trong chu vi nhân thể. Nó nằm trên đường trực tiếp của mãnh lực hoạt động phát ra từ sự tồn tại vũ trụ, và truyền đến nó với mức độ ngày càng giảm, qua Thái dương Thượng đế trong hệ bác ái của Ngài, và Hành Tinh Thượng đế trong một hệ hành tinh, tức Rồng Minh triết-Bác ái.

This force when rightly directed and properly controlled is the great transmuting agency, which eventually will make of the human unit a Master of the Wisdom, a Lord of Love, a Dragon of Wisdom in lesser degree.

Mãnh lực này, khi được định hướng đúng và kiểm soát thích đáng, là tác nhân chuyển hoá vĩ đại, cuối cùng sẽ làm cho đơn vị nhân loại trở thành một Chân sư của Minh triết, một Chúa Tể của Bác ái, một Rồng Minh triết ở mức độ thấp hơn.

Finally: this solar system, the objective physical manifestation of the Logos, is interpenetrated by His astral body, as is the case with the human manifestation. As the Logos is polarised in His cosmic astral sheath and has not yet attained cosmic mental polarisation His force or desire nature is the main incentive for the subjective Life and lives that underlie the form.

Sau cùng: hệ mặt trời này, sự biểu hiện hồng trần khách quan của Thượng đế, được thể cảm dục của Ngài thâm nhập xuyên suốt, cũng như trường hợp của biểu hiện nhân loại. Vì Thượng đế được phân cực trong vỏ cảm dục vũ trụ của Ngài và chưa đạt đến sự phân cực trí tuệ vũ trụ, nên mãnh lực hay bản chất dục vọng của Ngài là động lực chính cho Sự sống chủ quan và các sự sống làm nền cho hình tướng.

If the student will ponder with care these five facts, he will get a clue to the problems of existence as realised around us, to the causes of the heat of the solar system, to the method of the cosmic Law of Attraction and Repulsion, which governs all atomic forms, and to the question of SEX which is apparent in every kingdom of nature. They give the clue also to the constitution of the Divine Hermaphrodite.

Nếu đạo sinh suy ngẫm cẩn trọng về năm sự kiện này, y sẽ có được một đầu mối cho các vấn đề của sự tồn tại như được nhận ra quanh chúng ta, cho các nguyên nhân của nhiệt trong hệ mặt trời, cho phương pháp của Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi vũ trụ, vốn cai quản mọi hình tướng nguyên tử, và cho vấn đề GIỚI TÍNH vốn hiển hiện trong mọi giới của bản chất. Chúng cũng cho đầu mối về cấu tạo của Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng.

[Page 513] Therefore, it is necessary to bear in mind the relative importance of the permanent atom of the second aspect of the personality within the causal periphery, and to remember that the force which flows through that atom and which is the animating force of the astral body is following the lines of least resistance and really might be considered as bearing upon his physical manifestation in a manner twice as strong as that reaching him through the other two. The Logos expresses Himself now through the Divine Ray, His second aspect, and this Ray is the sumtotal of the radiation of the Lords of Wisdom, the Heavenly Men, the Dragons Who are Unity and Who are Love. Through Them this force flows, and They in turn clothe Themselves with form, or as H. P. B. expresses it ‘The primordial Ray becomes the vahan for the Divine Ray.’ (168) Their life animates every atom of substance when built into form, and Their life is the sumtotal of Logoic magnetism, or the great desire nature of the Logos going out after the Not-Self, producing the cosmic Marriage; it is the logoic demonstration of the sex appeal, His search for His polar opposite, and their mystic union.

[Page 513] Vì vậy, cần ghi nhớ tầm quan trọng tương đối của nguyên tử trường tồn của phương diện thứ hai của phàm ngã trong chu vi nhân thể, và nhớ rằng mãnh lực chảy qua nguyên tử ấy, vốn là mãnh lực linh hoạt của thể cảm dục, đang đi theo con đường ít trở ngại nhất và thực sự có thể được xem như tác động lên biểu hiện hồng trần của con người theo cách mạnh gấp đôi so với mãnh lực đến với y qua hai nguyên tử kia. Thượng đế hiện đang biểu lộ chính Ngài qua Cung Thiêng Liêng, phương diện thứ hai của Ngài, và Cung này là tổng số bức xạ của các Đấng Chúa Tể của Minh triết, các Đấng Thiên Nhân, các Rồng là Hợp Nhất và là Bác ái. Qua Các Ngài, mãnh lực này tuôn chảy, và đến lượt mình Các Ngài khoác lấy hình tướng, hay như H. P. B. diễn tả: “Cung nguyên thủy trở thành vahan cho Cung Thiêng Liêng.” (168) Sự sống của Các Ngài linh hoạt mọi nguyên tử của chất liệu khi được kiến tạo thành hình tướng, và sự sống của Các Ngài là tổng số từ điện của Thượng đế, hay bản chất dục vọng vĩ đại của Thượng đế hướng ra Phi-Ngã, tạo ra Cuộc Hôn Phối vũ trụ; đó là sự biểu lộ của Thượng đế về sức hấp dẫn giới tính, cuộc tìm kiếm của Ngài đối với cực đối nghịch của Ngài, và sự kết hợp thần bí của cả hai.

(168) The Divine Ray contains within itself seven other rays.

(168) Cung Thiêng Liêng chứa trong chính nó bảy cung khác.

It is the swan with the seven young ones.

Đó là thiên nga với bảy con non.

It is the Logos of love-wisdom with the seven planetary Logoi.

Đó là Thượng đế bác ái-minh triết với bảy Hành Tinh Thượng đế.

It is the Grand Man of the Heavens, with the seven Heavenly Men.

Đó là Đại Nhân của Thiên Giới, với bảy Đấng Thiên Nhân.

It is the One Boundless Principle, with the seven principles.

Đó là Nguyên Khí Duy Nhất Vô Biên, với bảy nguyên khí.

This is subjectively.

Đó là về mặt chủ quan.

It is the seven planets with their informing entities.

Đó là bảy hành tinh với các thực thể phú linh của chúng.

It is the seven planes with their animating principles.

Đó là bảy cõi với các nguyên khí linh hoạt của chúng.

Love-Wisdom is the manifestation of the astral (or desire) nature of the Solar Logos.—S. D., I, 103. (back)

Bác Ái – Minh Triết là sự biểu hiện của bản chất cảm dục (hay dục vọng) của Thái dương Thượng đế.—S. D., I, 103. (back)

This process is repeated by the microcosm following the line of his being, and this brings him likewise into incarnation, or into mystic union with form.

Tiến trình này được tiểu thiên địa lặp lại theo đường lối bản thể của mình, và điều này cũng đưa y vào lâm phàm, hay vào sự kết hợp thần bí với hình tướng.

b. The atomic triangle. The causal sheath is to the clairvoyant therefore a sphere of vibrant living substance; within it can be seen three fiery points. At the heart of the sphere is a central blaze of light, emitting [Page 514] rays; these rays are given as seven in number, and play upon these points or circles (analogous to the electrons in the atoms of science) and at this stage produce most effect upon the astral permanent atom. The physical permanent atom has a position relatively close to the positive centre, and the force plays through it, and passes on to the astral permanent atom in the form of five rays of parti-coloured light which blend with the intensely vivid hue of the astral permanent atom, and increase its intensity until the blaze is so excessive that it appears to the onlooker as if the two points blended, or the two electrons merged, and (in merging) produce such an intensity of light that they are seen as dissolving. The mental unit, having a position within the causal body analogous to the planet furthermost from the sun, becomes vibrant likewise, and the two other points (considered now as one) begin to interact with the mental unit, and a similar process is set up and is pursued until these two points—circulating around their positive centre—also approach each other, blend, merge, and dissolve. The centre of positive life gathers or synthesises the three points, and thus the three fires of the personality repeat on their tiny scale the microcosmic procedure as seen in the synthesis of electric fire, solar fire, and fire by friction, and only a blazing unit is left. This blazing unit, through the combined heat of its being, burns up the causal body, and escapes back on to the planes of abstraction. Thus man is the Path itself, and also the pilgrim upon the Path; thus does he burn, but is also the burning-ground.

b. Tam giác nguyên tử. Vì vậy, đối với nhà thông nhãn, vỏ nguyên nhân là một khối cầu chất liệu sống rung động; bên trong nó có thể thấy ba điểm lửa. Ở tim của khối cầu là một luồng sáng trung tâm, phát ra [Page 514] các tia; các tia này được cho là có số lượng bảy, và tác động lên các điểm hay vòng tròn này (tương tự như các electron trong các nguyên tử của khoa học) và ở giai đoạn này tạo ra hiệu quả lớn nhất trên nguyên tử trường tồn cảm dục. Nguyên tử trường tồn hồng trần có một vị trí tương đối gần trung tâm dương, và mãnh lực vận hành qua nó, rồi truyền sang nguyên tử trường tồn cảm dục dưới hình thức năm tia sáng nhiều màu hòa trộn với sắc thái cực kỳ rực rỡ của nguyên tử trường tồn cảm dục, và làm tăng cường độ của nó cho đến khi luồng sáng quá mức đến nỗi đối với người quan sát, dường như hai điểm hòa lẫn, hay hai electron hợp nhất, và (trong sự hợp nhất) tạo ra một cường độ ánh sáng đến mức chúng được thấy như đang tan biến. Đơn vị hạ trí, có một vị trí trong thể nguyên nhân tương tự như hành tinh xa mặt trời nhất, cũng trở nên rung động, và hai điểm kia (nay được xem như một) bắt đầu tương tác với đơn vị hạ trí, và một tiến trình tương tự được thiết lập và tiếp diễn cho đến khi hai điểm này—đang tuần hoàn quanh trung tâm dương của chúng—cũng tiến lại gần nhau, hòa lẫn, hợp nhất, và tan biến. Trung tâm của sự sống dương thu gom hay tổng hợp ba điểm, và như vậy ba lửa của phàm ngã lặp lại trên quy mô nhỏ bé của chúng tiến trình vi thể như được thấy trong sự tổng hợp của Lửa Điện, Lửa Thái dương, và Lửa ma sát, và chỉ còn lại một đơn vị rực cháy. Đơn vị rực cháy này, nhờ nhiệt kết hợp của bản thể nó, thiêu hủy thể nguyên nhân, và thoát trở lại các cõi trừu tượng. Như vậy con người chính là Con Đường, đồng thời cũng là kẻ hành hương trên Con Đường; như vậy y đốt cháy, nhưng cũng chính là vùng đất cháy.

The analogy holds true in the case of the microcosm viewed from monadic levels in his manifestation as Monad, Ego and Personality, and thus the process is carried on as it concerns a Heavenly Man, and likewise a solar Logos. Should the brain suffice to hold the concept, thus [Page 515] is the process also on cosmic levels for such high existences as the seven Rishis of the Great Bear, and that still greater Being, the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID.

Phép loại suy này vẫn đúng trong trường hợp tiểu thiên địa khi được nhìn từ các cấp độ chân thần trong biểu hiện của y như Chân thần, Chân ngã và phàm ngã, và như vậy tiến trình được tiếp tục khi liên quan đến một Đấng Thiên Nhân, và cũng thế đối với một Thái dương Thượng đế. Nếu bộ não đủ sức nắm giữ khái niệm này, thì [Page 515] tiến trình ấy cũng diễn ra trên các cấp độ vũ trụ đối với những sự tồn tại cao cả như bảy Rishi của Đại Hùng Tinh, và Đấng còn vĩ đại hơn nữa, Đấng Bất Khả Tư Nghị.

3. The Spirillae and the Egoic Ray.

3. Các loa tuyến và cung chân ngã.

We will take up now the subject of the spirillae within the permanent atom, and see in what manner they are affected by the egoic ray, remembering always that we are considering them as:

Bây giờ chúng ta sẽ bàn đến chủ đề các loa tuyến bên trong nguyên tử trường tồn, và xem chúng bị ảnh hưởng bởi cung chân ngã theo cách nào, luôn luôn nhớ rằng chúng ta đang xem xét chúng như:

First. The interior economy of the life germ on the three planes which concern man in the three worlds; second, as the seventh principle in each of the three sheaths; and third, as the positive nucleus of force which holds together the matter of the three sheaths.

Thứ nhất. Cơ cấu nội tại của mầm sống trên ba cõi liên quan đến con người trong ba cõi giới; thứ hai, như nguyên khí thứ bảy trong mỗi một của ba vỏ; và thứ ba, như hạt nhân dương của mãnh lực giữ cho vật chất của ba vỏ kết hợp lại với nhau.

Let us therefore study two things:

Vì vậy, chúng ta hãy nghiên cứu hai điều:

The composition of the permanent atom.

Cấu tạo của nguyên tử trường tồn.

The difference between the mental unit and the astral and physical permanent atoms.

Sự khác biệt giữa đơn vị hạ trí và các nguyên tử trường tồn cảm dục và hồng trần.

To do this with clarity, and so bring some kind of definite concept into being from the dark regions of abstraction, let us tabulate:

Để làm điều này một cách rõ ràng, và nhờ đó đưa một loại khái niệm xác định nào đó vào hiện hữu từ những miền tối của sự trừu tượng, chúng ta hãy lập bảng:

a. The composition of the permanent atom: The permanent atom of the astral and physical planes is a sphere of physical or astral substance, composed of atomic matter, and characterised by the following qualities:

a. Cấu tạo của nguyên tử trường tồn: Nguyên tử trường tồn của cõi cảm dục và cõi hồng trần là một khối cầu chất liệu hồng trần hay cảm dục, được cấu thành từ vật chất nguyên tử, và được đặc trưng bởi các phẩm tính sau đây:

Responsiveness. This is its inherent power to respond to the vibration of some one of the Heavenly Men, as it is transmitted via the deva, or Brahma aspect, of His threefold nature. The permanent atom finds its place within the sphere of influence of one or other of the great devas who are the Raja-Lords of a plane.

Tính đáp ứng. Đây là quyền năng cố hữu của nó để đáp ứng với rung động của một trong các Đấng Thiên Nhân, khi rung động ấy được truyền qua phương diện thiên thần, hay Brahma, của bản chất tam phân của Ngài. Nguyên tử trường tồn tìm thấy vị trí của nó trong phạm vi ảnh hưởng của một hay một vị khác trong các đại thiên thần là các Raja-Chúa Tể của một cõi.

Form Building Power. These devas sound forth two syllables of the threefold microcosmic word and are each (on their own plane) the coherent agency which gathers [Page 516] substance into form, and attracts matter for purposes of objectivity. The astral sound produces the microcosmic ‘Son of Necessity,’ and when it reverberates on the physical plane produces physical incarnation, and the sudden appearance on etheric levels of the seven centres. The building of the dense physical is the result of consequent automatic action in deva essence, for it must ever be borne in mind that man is essentially (as regards the physical plane) an etheric being, and his dense physical body is esoterically regarded as ‘below the threshold’ and is not considered a principle.

Quyền năng kiến tạo hình tướng. Các thiên thần này xướng lên hai âm tiết của linh từ vi thể tam phân và mỗi vị (trên cõi riêng của mình) là tác nhân kết dính [Page 516] chất liệu thành hình tướng, và thu hút vật chất cho các mục đích khách quan. Âm thanh cảm dục tạo ra “Con của Tất Yếu” vi thể, và khi nó vang dội trên cõi hồng trần thì tạo ra sự lâm phàm hồng trần, và sự xuất hiện đột ngột trên các cấp độ dĩ thái của bảy trung tâm. Việc kiến tạo thể xác hồng trần đậm đặc là kết quả của hoạt động tự động tiếp theo trong tinh chất thiên thần, vì phải luôn ghi nhớ rằng con người về bản chất (xét theo cõi hồng trần) là một hữu thể dĩ thái, và thể xác hồng trần đậm đặc của y được xem một cách huyền bí là “dưới ngưỡng cửa” và không được coi là một nguyên khí.

Relative Permanency. In the seventh principle of all manifesting entities is stored up and developed capacity, acquired ability, and the atomic memory, or in other words the heredity of the Thinker, viewing him from the physical standpoint or from the emotional. There is no permanence whatever in the sheaths; they are built into temporary forms, and dissolved when the Thinker has exhausted their possibilities, but the seventh principle of each sheath gathers to itself the achieved qualities and stores them up—under the Law of Karma—to work out again and to demonstrate as the plane impulse at each fresh cycle of manifestation. This permanency is itself likewise only a relative one, and as the inner fire within the atom burns more brightly, as the external fires of the ego or solar fire beat upon it with ever increasing intensity, the atom in due time is consumed, and the inner blaze becomes so great that it destroys its encompassing wall.

Tính trường tồn tương đối. Trong nguyên khí thứ bảy của mọi thực thể đang biểu hiện đều được tích trữ và phát triển năng lực, khả năng đã đạt được, và ký ức nguyên tử, hay nói cách khác là di truyền của Đấng Tư Tưởng, khi nhìn y từ quan điểm hồng trần hay từ quan điểm cảm xúc. Không hề có sự trường tồn nào trong các vỏ; chúng được kiến tạo thành những hình tướng tạm thời, và bị giải thể khi Đấng Tư Tưởng đã khai thác hết các khả năng của chúng, nhưng nguyên khí thứ bảy của mỗi vỏ tự thu gom các phẩm tính đã đạt được và tích trữ chúng—dưới Định luật Nghiệp quả—để lại được triển khai và biểu lộ như xung lực của cõi trong mỗi chu kỳ biểu hiện mới. Tuy nhiên, chính tính trường tồn này cũng chỉ là tương đối, và khi ngọn lửa bên trong nguyên tử cháy sáng hơn, khi các lửa bên ngoài của chân ngã hay lửa thái dương đập vào nó với cường độ ngày càng tăng, thì nguyên tử đến lúc thích hợp sẽ bị thiêu hủy, và ngọn lửa bên trong trở nên lớn đến mức phá hủy bức tường bao quanh nó.

Heat. Herein lies the distinction between the permanent atoms on all planes, and the atomic matter of which they form a part. It is not easy to make this distinction clear, nor is it desirable at this time; the true facts of the case are one of the guarded secrets of initiation, but the distinction between the permanent atom, and atomic matter, may be somewhat comprehended if we state: [Page 517]

Nhiệt. Chính trong đây có sự phân biệt giữa các nguyên tử trường tồn trên mọi cõi và vật chất nguyên tử mà chúng là một phần của nó. Không dễ làm rõ sự phân biệt này, và hiện nay cũng không nên làm như vậy; các sự kiện chân thực của vấn đề là một trong những bí mật được canh giữ của điểm đạo, nhưng sự phân biệt giữa nguyên tử trường tồn và vật chất nguyên tử có thể phần nào được thấu hiểu nếu chúng ta nói rằng: [Page 517]

The permanent atom is one that has been appropriated by one of the lives that form the centres in the body of a solar Lord, whilst atomic matter per se goes to the formation of other parts of His great body of light.

Nguyên tử trường tồn là nguyên tử đã được một trong các sự sống tạo thành các trung tâm trong thể của một Chúa Tể Thái dương chiếm dụng, trong khi chính vật chất nguyên tử lại đi vào việc hình thành các phần khác của thể ánh sáng vĩ đại của Ngài.

A permanent atom is one which has come under the attractive power of the second aspect, whilst atomic matter itself is vitalised by the life of the third aspect.

Nguyên tử trường tồn là nguyên tử đã đi vào dưới quyền năng hấp dẫn của phương diện thứ hai, trong khi bản thân vật chất nguyên tử được tiếp sinh lực bởi sự sống của phương diện thứ ba.

A permanent atom follows the line of the least resistance of force, and is passing out of the control of the Deva Lord and coming under the control of positive life. This concerns the evolution of consciousness in substance.

Nguyên tử trường tồn đi theo con đường ít trở ngại nhất của mãnh lực, và đang thoát khỏi sự kiểm soát của Chúa Tể Thiên thần để đi vào dưới sự kiểm soát của sự sống dương. Điều này liên quan đến sự tiến hoá của tâm thức trong chất liệu.

A permanent atom comes under the direct control of the lower of the three groups of Lipika Lords, and is the agency through which They work in the imposition of karma upon the particular entity who may be utilising it. They work directly with the permanent atoms of men, and produce results through the agency of form until they have exhausted the vibratory capacity of any particular atom; when this is the case the atom passes into the stage of obscuration, as does the seventh principle of any sheath. It comes under the influence of the first aspect, manifesting as the Destroyer.

Nguyên tử trường tồn đi vào dưới sự kiểm soát trực tiếp của nhóm thấp hơn trong ba nhóm các Chúa Tể Lipika, và là tác nhân mà qua đó Các Ngài hoạt động trong việc áp đặt nghiệp quả lên thực thể đặc thù nào đang có thể sử dụng nó. Các Ngài làm việc trực tiếp với các nguyên tử trường tồn của con người, và tạo ra kết quả qua tác nhân của hình tướng cho đến khi các Ngài đã khai thác hết khả năng rung động của bất kỳ nguyên tử đặc thù nào; khi điều này xảy ra, nguyên tử đi vào giai đoạn bị che khuất, cũng như nguyên khí thứ bảy của bất kỳ vỏ nào. Nó đi vào dưới ảnh hưởng của phương diện thứ nhất, biểu hiện như Đấng Hủy Diệt.

Remember that in these affirmations we are concerning ourselves with the microcosm, and with the permanent atoms which are related to him; as regards the solar Logos manifesting in the system, we are concerned with but one permanent atom, and this is His physical permanent atom. It is thus true that within the permanent physical atom of the solar Logos lies hid the ability to respond consciously to the vibration of all the planes, lies hid the secret of the karmic purpose of His incarnation, [Page 518] and lies concealed the mystery of His functional activity; but we cannot penetrate the secret as yet of His three lower permanent atoms as they function as a unity within His causal vehicle. Until we can do this it is useless for us to conjecture as to His fundamental Being.

Hãy nhớ rằng trong những khẳng định này, chúng ta đang quan tâm đến tiểu thiên địa, và đến các nguyên tử trường tồn có liên hệ với y; còn đối với Thái dương Thượng đế đang biểu hiện trong hệ, chúng ta chỉ quan tâm đến một nguyên tử trường tồn duy nhất, và đó là nguyên tử trường tồn hồng trần của Ngài. Vì vậy, đúng là trong nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế có ẩn giấu khả năng đáp ứng một cách hữu thức với rung động của mọi cõi, có ẩn giấu bí mật về mục đích nghiệp quả của sự lâm phàm của Ngài, [Page 518] và có che giấu huyền nhiệm về hoạt động chức năng của Ngài; nhưng chúng ta hiện chưa thể thâm nhập bí mật về ba nguyên tử trường tồn thấp của Ngài khi chúng hoạt động như một hợp nhất trong vận cụ nguyên nhân của Ngài. Cho đến khi chúng ta có thể làm được điều này, thì việc phỏng đoán về Bản Thể căn bản của Ngài là vô ích.

The difference between them: The mental unit is in a unique and peculiar position as regards man, the Thinker in the causal body. This point will be discussed shortly, suffice it to say here that its mystery lies hid in the nature of the Heavenly Men Themselves. The following correspondence holds the key to this mystery, but it can only be indicated, leaving it to the student to work out the truth for himself. On the three planes of logoic manifestation—the highest three—we have the three aspects manifesting; on the buddhic plane, the fourth cosmic ether, we have the logoic etheric centres demonstrating, or those force vortices which animate the three lower planes of the dense physical manifestation. In connection with the Heavenly Men we have a secondary manifestation, and on the buddhic plane we have Their third aspect found, leaving for Their paramount manifestation of force, the cosmic gaseous plane, or the manasic plane; They are essentially the divine Thinkers, the Manasaputras. In connection, therefore, with the Microcosm, viewing him as part of a centre in the body of a Heavenly Man, we have a lesser descent within the gaseous or fire manifestation of a solar Lord. This concerns the three higher subplanes of what might be considered as the manifestation of Man’s three higher aspects in mental matter, whilst on the fourth subplane we have the mental centres of man within the periphery of his mental body, of which the mental unit is the unifying factor. This is—as has been earlier said—a deep mystery, and one that can be no further amplified.

Sự khác biệt giữa chúng: Đơn vị hạ trí ở trong một vị trí độc nhất và đặc thù đối với con người, Đấng Tư Tưởng trong thể nguyên nhân. Điểm này sẽ được bàn đến ngay sau đây; ở đây chỉ cần nói rằng huyền nhiệm của nó được che giấu trong bản chất của chính các Đấng Thiên Nhân. Sự tương ứng sau đây nắm giữ chìa khóa của huyền nhiệm này, nhưng chỉ có thể được nêu ra, để đạo sinh tự mình triển khai chân lý. Trên ba cõi của sự biểu hiện của Thượng đế—ba cõi cao nhất—chúng ta có ba phương diện đang biểu hiện; trên cõi Bồ đề, dĩ thái vũ trụ thứ tư, chúng ta có các trung tâm dĩ thái của Thượng đế đang biểu lộ, hay những xoáy mãnh lực linh hoạt ba cõi thấp của biểu hiện hồng trần đậm đặc. Liên hệ với các Đấng Thiên Nhân, chúng ta có một biểu hiện thứ cấp, và trên cõi Bồ đề chúng ta thấy phương diện thứ ba của Các Ngài, để lại cho sự biểu hiện mãnh lực tối thượng của Các Ngài là cõi khí trạng vũ trụ, hay cõi manas; về bản chất, Các Ngài là các Đấng Tư Tưởng thiêng liêng, các Manasaputra. Vì vậy, liên hệ với Tiểu thiên địa, khi xem y như một phần của một trung tâm trong thể của một Đấng Thiên Nhân, chúng ta có một sự giáng hạ nhỏ hơn trong biểu hiện khí trạng hay lửa của một Chúa Tể Thái dương. Điều này liên quan đến ba cõi phụ cao hơn của cái có thể được xem là biểu hiện của ba phương diện cao hơn của Con Người trong vật chất trí tuệ, trong khi trên cõi phụ thứ tư chúng ta có các trung tâm trí tuệ của con người trong chu vi của thể trí của y, mà đơn vị hạ trí là nhân tố hợp nhất. Đây là—như đã nói trước đây—một huyền nhiệm sâu xa, và không thể được khai triển thêm nữa.

b. The Planes and Fiery Energy. It seems desirable [Page 519] that we should here discuss the analogies on each plane, (169) with the seven sub-planes, reminding the student that we are speaking of the planes as the field of evolution of a solar Logos, and not only as a field for the development of man. In the solar system we have:

b. Các cõi và năng lượng lửa. Có vẻ thích hợp [Page 519] khi ở đây chúng ta nên bàn đến các phép loại suy trên mỗi cõi, (169) với bảy cõi phụ, nhắc đạo sinh rằng chúng ta đang nói về các cõi như trường tiến hoá của một Thái dương Thượng đế, chứ không chỉ như một trường cho sự phát triển của con người. Trong hệ mặt trời, chúng ta có:

(169) 1. The seven systemic planes are:

(169) 1. Bảy cõi của hệ là:

1. Divine plane….. Logos…….1st cosmic ether.

1. Cõi thiêng liêng….. Thượng đế…….1st cosmic ether.

2. Monadic plane….Monad……2nd cosmic ether.

2. Cõi chân thần…..Chân thần……2nd cosmic ether.

3. Spiritual plane…………….3rd cosmic ether.

3. Cõi tinh thần…………….3rd cosmic ether.

4. Intuitional plane………….. 4th cosmic ether.

4. Cõi trực giác…………… 4th cosmic ether.

5. Mental plane….. Ego…….. gaseous plane.

5. Cõi trí…… Chân ngã…….. khí trạng.

6. Astral plane………………liquid plane.

6. Cõi cảm dục………………lỏng.

7. Physical…………………gross.

7. Hồng trần…………………thô đặc.

2. The seven differentiations in terms of fiery energy are:

2. Bảy sự biến phân xét theo năng lượng lửa là:

a. Plane of divine life………Father…….. Sea of fire.

a. Cõi của sự sống thiêng liêng……. Cha…….. Biển lửa.

b. Plane of monadic life…….Son………. Akasha.

b. Cõi của sự sống chân thần…….Con………. Akasha.

c. Plane of atma…………. Holy Ghost….Aether.

c. Cõi atma………….. Chúa Thánh Thần….Aether.

d. Plane of buddhi, intuition…. Central……. Air.

d. Cõi Bồ đề, trực giác…. Trung tâm……. Khí.

e. Plane of mind…………………….. Fire.

e. Cõi trí……………………… Lửa.

f. Plane of desire……………………..Astral Light.

f. Cõi dục vọng……………………. Ánh sáng cảm dục.

g. Plane of physical…………………….Ether

g. Cõi hồng trần……………………. Dĩ thái

Thought…… Thoughtforms…….Materialisation.

Tư tưởng…… Hình tư tưởng……. Hiện hình.

Microcosm……. Macrocosm.

Tiểu thiên địa……. Đại thiên địa.

3. Planes of logoic evolution…….. the seven planes.

3. Các cõi của sự tiến hoá của Thượng đế…….. bảy cõi.

Planes of Son’s evolution……….. the six planes.

Các cõi của sự tiến hoá của Con………. sáu cõi.

Planes of monadic evolution…….. the five planes.

Các cõi của sự tiến hoá chân thần…….. năm cõi.

Planes of human evolution……….the three worlds.

Các cõi của sự tiến hoá nhân loại……….ba cõi giới.

Seven is the number of the totality of manifestation.

Bảy là con số của toàn thể sự biểu hiện.

Three is the number of consciousness.

Ba là con số của tâm thức.

One is the number of Life or Spirit.

Một là con số của Sự sống hay tinh thần.

4. Electric fire……. Solar fire……. Fire by friction.

4. Lửa Điện……. Lửa Thái dương……. Lửa ma sát.

Father……….. Son………… Holy Ghost.

Cha………. Con………… Chúa Thánh Thần.

Spirit………… Consciousness… Matter. (back)

Tinh thần……….. Tâm thức… Vật chất. (back)

First, the three higher planes, which have been rightly called the planes of the three aspects; second, the seventh logoic principle is on the first plane, and we can consider it as the impulse in physical matter which produced His body of objectivity.

Thứ nhất, ba cõi cao hơn, vốn đã được gọi đúng là các cõi của ba phương diện; thứ hai, nguyên khí thứ bảy của Thượng đế ở trên cõi thứ nhất, và chúng ta có thể xem nó như xung lực trong vật chất hồng trần đã tạo ra thể khách quan của Ngài.

On the second plane are found the seven Heavenly Men, Who are His principal centres of force. There are others, but we are not here concerned with Them. These latter have achieved a certain specific goal, and are the [Page 520] embodiment of centres which are now quiescent or out of manifestation, the logoic kundalini having turned its attention elsewhere. Under another enumeration they make the ten of the esoteric life, and can also be enumerated as twelve, thus forming the twelve-petalled Lotus, or the heart centre in the Body of the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID.

Trên cõi thứ hai có bảy Đấng Thiên Nhân, là các trung tâm mãnh lực chính của Ngài. Còn có những Đấng khác, nhưng ở đây chúng ta không quan tâm đến Các Ngài. Những Đấng sau này đã đạt được một mục tiêu đặc thù nào đó, và là hiện thân của các trung tâm hiện đang tĩnh lặng hay ngoài biểu hiện, vì kundalini của Thượng đế đã chuyển sự chú ý của nó sang nơi khác. Theo một cách liệt kê khác, Các Ngài tạo thành mười của sự sống huyền bí, và cũng có thể được liệt kê là mười hai, nhờ đó hình thành Hoa sen mười hai cánh, hay trung tâm tim trong Thể của Đấng Bất Khả Tư Nghị.

On the fourth cosmic ether the buddhic plane, are found the etheric centres of the Logos. There are to be found the esoteric planets and the Sun, viewed as the centre of the buddhic principles, and from thence the Logos animates His dense physical manifestation.

Trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề, có các trung tâm dĩ thái của Thượng đế. Ở đó có thể tìm thấy các hành tinh huyền bí và Mặt Trời, khi được xem như trung tâm của các nguyên khí Bồ đề, và từ đó Thượng đế linh hoạt biểu hiện hồng trần đậm đặc của Ngài.

Finally, on the three lower planes we have His gaseous, liquid, and dense bodies or sheaths, forming in themselves a unity in one peculiar sense; they are as much a coherent whole as the three higher planes form a unified triple expression of the three persons of the Trinity.

Sau cùng, trên ba cõi thấp chúng ta có các thể hay vỏ khí trạng, lỏng, và đậm đặc của Ngài, tự chúng tạo thành một hợp nhất theo một ý nghĩa đặc thù; chúng là một toàn thể kết dính cũng nhiều như ba cõi cao hơn tạo thành một biểu hiện tam phân hợp nhất của ba ngôi trong Tam Vị.

We have a similar analogy in the subplanes of each plane in the system, and this will become ever more apparent as man achieves a greater clarity of vision, and can consciously ascertain for himself the truth about the subjective life. Let us briefly take these planes and study the life or force manifestation on each, laying the emphasis upon the lower four, and not so much upon the planes which do not concern man so closely.

Chúng ta có một phép loại suy tương tự trong các cõi phụ của mỗi cõi trong hệ, và điều này sẽ ngày càng trở nên hiển nhiên khi con người đạt được sự sáng tỏ lớn hơn của tầm nhìn, và có thể một cách hữu thức tự mình xác định chân lý về sự sống chủ quan. Chúng ta hãy ngắn gọn xét các cõi này và nghiên cứu sự biểu hiện của sự sống hay mãnh lực trên mỗi cõi, nhấn mạnh vào bốn cõi thấp, chứ không quá nhiều vào các cõi không liên quan mật thiết đến con người.

The Logoic Plane. The first, the second, and the third subplanes of the first cosmic ether respond specifically to the vibration of one of the three aspects, or to those cosmic Entities Whose influence reaches the matter of the planes from without the system altogether. On the fourth subplane comes a primary blending of the three fiery Lives, producing archetypally that force manifestation of electricity which eventually causes the blazing forth of the Sons of Light on the next plane. In this electrical connotation we have the three higher planes ever embodying the threefold Spirit aspect, the lower [Page 521] three embodying the threefold substance aspect, and then a plane of at-one-ment whereon an approximation is made which, on the path of return, marks the moment of achievement, and the point of triumph. This is succeeded by obscuration. Hence on every plane in the solar system we have a fourth plane whereon the struggle for perfect illumination, and subsequent liberation takes place, the battle ground, the Kurukshetra. Though for man the fourth plane, the buddhic, is the place of triumph, and the goal of his endeavour, for the Heavenly Man it is the battle-ground, while for the solar Logos it is the burning-ground.

Cõi của Thượng đế. Cõi phụ thứ nhất, thứ hai, và thứ ba của dĩ thái vũ trụ thứ nhất đáp ứng một cách đặc thù với rung động của một trong ba phương diện, hay với những Thực Thể vũ trụ mà ảnh hưởng của Các Ngài chạm đến vật chất của các cõi từ hoàn toàn bên ngoài hệ. Trên cõi phụ thứ tư diễn ra một sự hòa trộn sơ khởi của ba Sự Sống lửa, tạo ra theo nguyên mẫu sự biểu hiện mãnh lực của điện lực mà cuối cùng gây nên sự bừng cháy của các Con của Ánh sáng trên cõi kế tiếp. Trong hàm ý điện lực này, chúng ta có ba cõi cao hơn luôn luôn hiện thân cho phương diện Tinh thần tam phân, còn ba cõi [Page 521] thấp hiện thân cho phương diện chất liệu tam phân, và rồi một cõi hợp nhất nơi diễn ra một sự xích lại gần mà, trên Con Đường Trở Về, đánh dấu khoảnh khắc thành tựu, và điểm chiến thắng. Tiếp theo đó là sự che khuất. Vì thế trên mọi cõi trong hệ mặt trời, chúng ta có một cõi thứ tư nơi diễn ra cuộc đấu tranh cho sự soi sáng hoàn hảo, và sự giải thoát tiếp theo, chiến trường, Kurukshetra. Dù đối với con người, cõi thứ tư, cõi Bồ đề, là nơi chiến thắng, và là mục tiêu của nỗ lực của y, thì đối với Đấng Thiên Nhân đó là chiến trường, còn đối với Thái dương Thượng đế đó là vùng đất cháy.

This differentiation of the subplanes of the systemic planes into a higher three, a lower three, and a central plane of harmony is only so from the standpoint of electrical phenomena, and not from the standpoint of either pure Spirit, or pure substance, viewed apart from each other. It concerns the mystery of electricity, and the production of light. The three higher planes concern the central Forces or Lives, the three lower concern the lesser Forces or Lives. We must bear this carefully in mind, remembering that to the occultist there is no such thing as substance, but only Force in varying degrees, only Energy of differentiated quality, only Lives emanating from different sources, each distinctive and apart, and only Consciousness producing intelligent effect through the medium of space.

Sự biến phân này của các cõi phụ của các cõi của hệ thống thành ba cõi cao, ba cõi thấp, và một cõi trung tâm của sự hài hòa chỉ là như vậy khi nhìn từ quan điểm của các hiện tượng điện, chứ không phải từ quan điểm của tinh thần thuần túy hay chất liệu thuần túy, khi được xem tách rời nhau. Điều này liên quan đến huyền nhiệm của điện và sự tạo ra ánh sáng. Ba cõi cao liên quan đến các Mãnh Lực hay các Sự Sống trung tâm, ba cõi thấp liên quan đến các mãnh lực hay các sự sống nhỏ hơn. Chúng ta phải ghi nhớ điều này một cách cẩn trọng, nhớ rằng đối với nhà huyền bí học không hề có cái gọi là chất liệu, mà chỉ có Mãnh lực ở những cấp độ khác nhau, chỉ có Năng lượng với phẩm tính biến phân, chỉ có các Sự Sống phát xạ từ những nguồn khác nhau, mỗi sự sống đều riêng biệt và tách biệt, và chỉ có Tâm thức tạo ra hiệu quả thông minh qua trung gian của không gian.

I would point out that the Lord Agni shows forth His fiery life on the atomic subplane of each plane; He shows forth as solar fire on the second, third and fourth, and as ‘fire by friction’ on the fifth, sixth and seventh. From the point of view of the microcosm, the Spark in the Flame, man demonstrates as electric fire on the second plane, or the second cosmic ether; as solar fire on the third, fourth and the three higher subplanes of the fifth [Page 522] plane, and as fire by friction on the lower subplanes of the fifth, on the sixth, and seventh planes.

Tôi muốn chỉ ra rằng Chúa Tể Agni biểu lộ sự sống rực lửa của Ngài trên cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi; Ngài biểu lộ như lửa thái dương trên cõi phụ thứ hai, thứ ba và thứ tư, và như ‘Lửa ma sát’ trên cõi phụ thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. Từ quan điểm của tiểu thiên địa, Tia Lửa trong Ngọn Lửa, con người biểu lộ như Lửa Điện trên cõi thứ hai, hay dĩ thái vũ trụ thứ hai; như Lửa Thái dương trên cõi thứ ba, thứ tư và ba cõi phụ cao của cõi thứ năm [Page 522], và như Lửa ma sát trên các cõi phụ thấp của cõi thứ năm, trên cõi thứ sáu và cõi thứ bảy.

c. The Planes and the Three Fires. On every plane we have, relatively speaking:

c. Các Cõi và Ba Loại Lửa. Trên mỗi cõi, nói một cách tương đối, chúng ta có:

a. Electric fire demonstrating as the prime condition on the higher three.

a. Lửa Điện biểu lộ như điều kiện nguyên sơ trên ba cõi cao.

b. Fire by friction as the most significant factor on the lower three.

b. Lửa ma sát như yếu tố có ý nghĩa nổi bật nhất trên ba cõi thấp.

c. Solar fire, showing forth as the blaze produced by union on the central plane.

c. Lửa Thái dương, biểu lộ như ngọn lửa bùng lên do sự hợp nhất tạo ra trên cõi trung tâm.

In the solar system this is to be seen in connection with a Heavenly Man on the buddhic plane, where They blaze forth through Their etheric centres. In connection with man on the mental plane, we have a similar condition: the three higher subplanes concern the Spirit aspect in the causal body, the three lower subplanes concern primarily the mental sheath, or fire by friction; the fourth subplane is that on which the force centres of the mental body are to be found. So it is on the physical plane for man—his etheric centres being located in matter of the fourth ether.

Trong hệ mặt trời, điều này có thể được thấy liên hệ với một Đấng Thiên Nhân trên cõi Bồ đề, nơi Các Ngài bừng cháy qua các trung tâm dĩ thái của Các Ngài. Liên hệ với con người trên cõi trí, chúng ta có một tình trạng tương tự: ba cõi phụ cao liên quan đến phương diện tinh thần trong thể nguyên nhân, ba cõi phụ thấp chủ yếu liên quan đến thể trí, hay Lửa ma sát; cõi phụ thứ tư là cõi mà trên đó có thể tìm thấy các trung tâm mãnh lực của thể trí. Trên cõi hồng trần đối với con người cũng vậy—các trung tâm dĩ thái của y nằm trong vật chất của dĩ thái thứ tư.

Each of the three Persons of the Trinity manifests equally as does a man, as Spirit, Soul or Ego, and Substance. In connection with Brahma, we have the Spirit aspect animating the three higher subplanes of every plane, or the first fire aspect. His soul aspect is found on the fourth subplane of each plane whereon are situated the etheric centres of all manifested entities. His substance aspect is primarily contacted on the three lower subplanes. Hence we have the forty-nine fires of matter, or the seven fires of each plane, the union of the higher three and the lower three producing that blaze which we call the wheels of fire or the centres on the fourth subplane of each plane.

Mỗi một trong Ba Ngôi đều biểu lộ bình đẳng như con người biểu lộ, với tư cách là tinh thần, linh hồn hay chân ngã, và chất liệu. Liên hệ với Brahma, chúng ta có phương diện tinh thần tiếp sinh lực cho ba cõi phụ cao của mỗi cõi, hay phương diện lửa thứ nhất. Phương diện linh hồn của Ngài được tìm thấy trên cõi phụ thứ tư của mỗi cõi, nơi các trung tâm dĩ thái của mọi thực thể biểu hiện tọa lạc. Phương diện chất liệu của Ngài chủ yếu được tiếp xúc trên ba cõi phụ thấp. Do đó chúng ta có bốn mươi chín ngọn lửa của vật chất, hay bảy ngọn lửa của mỗi cõi, sự hợp nhất của ba cõi cao và ba cõi thấp tạo ra ngọn lửa bùng cháy mà chúng ta gọi là các bánh xe lửa hay các trung tâm trên cõi phụ thứ tư của mỗi cõi.

In connection with the second aspect there is a similar [Page 523] condition. Solar fire blazes forth in its electrical aspect on the second plane, and demonstrates thus also on the third and fourth planes, but finds its central demonstration on manasic levels, shining through the causal vehicles of the egoic groups. Only two and a half planes then remain through which the fire by friction aspect may manifest, eighteen subplanes in all which concern the third aspect of the second Person of the logoic Trinity.

Liên hệ với phương diện thứ hai cũng có một [Page 523] tình trạng tương tự. Lửa Thái dương bừng cháy trong phương diện điện của nó trên cõi thứ hai, và cũng biểu lộ như vậy trên cõi thứ ba và thứ tư, nhưng tìm thấy sự biểu lộ trung tâm của nó trên các cấp độ manas, chiếu sáng qua các vận cụ nguyên nhân của các nhóm chân ngã. Khi đó chỉ còn lại hai cõi rưỡi mà qua đó phương diện Lửa ma sát có thể biểu lộ, tổng cộng là mười tám cõi phụ liên quan đến phương diện thứ ba của Ngôi thứ hai của Ba Ngôi Thượng đế.

For man, the microcosm, a similar differentiation is possible; His Monad can be studied in its threefold essence on its own plane, his egoic aspect likewise, and the Brahma aspect of the Ego is found within the permanent atoms. Students should therefore study with care:

Đối với con người, tiểu thiên địa, một sự biến phân tương tự là có thể; Chân thần của y có thể được nghiên cứu trong bản chất tam phân của nó trên chính cõi của nó, phương diện chân ngã của y cũng vậy, và phương diện Brahma của Chân ngã được tìm thấy trong các nguyên tử trường tồn. Vì vậy, các đạo sinh nên cẩn trọng nghiên cứu:

1. The Planes. The manifestation of Brahma, the third or substance aspect, and should apply to this Entity the same triple constitution as is apparent in the other two. The planes of electric fire, the planes of his lower nature, and the point of blazing forth or conflagration for him (the etheric centres) must be carefully studied. Brahma is the positive life of matter; He is the revelation of substance and the blaze that can be seen.

1. Các Cõi. Sự biểu lộ của Brahma, phương diện thứ ba hay phương diện chất liệu, và nên áp dụng cho Thực Thể này cùng một cấu tạo tam phân như được thấy rõ nơi hai Đấng kia. Các cõi của Lửa Điện, các cõi của bản chất thấp của Ngài, và điểm bừng cháy hay bốc lửa đối với Ngài (các trung tâm dĩ thái) phải được nghiên cứu cẩn thận. Brahma là sự sống dương của vật chất; Ngài là sự mặc khải của chất liệu và là ngọn lửa bùng cháy có thể được nhìn thấy.

2. Vibration. The manifestation of the second aspect. These vibrations of consciousness are the major three words which are the sumtotal of egoic life, the minor three which govern the third aspect of the Ego, and the chord of at-one-ment which is that which is sounding forth now.

2. Rung động. Sự biểu lộ của phương diện thứ hai. Những rung động của tâm thức này là ba Linh từ chính yếu, là tổng thể của sự sống chân ngã, ba linh từ phụ chi phối phương diện thứ ba của Chân ngã, và hợp âm của sự hợp nhất là điều hiện đang vang lên.

The three aspects of Spirit as they are seen can only be expressed in terms of the other two in this solar system, and of their nature extra-systemically nought can profitably be said at this stage of cognition.

Ba phương diện của tinh thần như được thấy chỉ có thể được diễn tả bằng các thuật ngữ của hai phương diện kia trong hệ mặt trời này, còn về bản chất của chúng ngoài hệ thống thì ở giai đoạn nhận thức này không thể nói gì hữu ích được.

The above thoughts upon the planes, and the ninefold nature of all that is, take one into regions as yet almost beyond the grasp of man; yet only when the substance [Page 524] aspect is studied by the scientist in its triple nature will truth be approximated, and the true nature of electrical phenomena be comprehended; then and only then will electricity be harnessed and utilised by man as a unity, and not just in one of its aspects as at present; the negative electricity of the planet is all that is as yet contacted for commercial purposes. It must be remembered that this term is used in the sense of negative in relation to solar electricity. When man has found out how to contact and utilise positive solar electricity in combination with negative planetary electricity, we shall have a very dangerous condition brought about, and one of the factors which will eventually manifest in the destruction of the fifth root race by fire. At that great cataclysm—as the Bible says “the Heavens will melt with fervent heat.” (Bible. II Peter, 3:10.) This will be seen in a still greater degree in the next round, and will cause that destruction by fire of the forms of the men who have failed, which will liberate the lives on a stupendous scale, and thus temporarily ‘purify’ the Earth from elements which would tend to hinder the evolutionary process. As the cycles pass away, the balancing of these fiery currents will be gradually brought about, and will result in a planetary condition of harmony, and of esoteric equality, which will provide ideal environment for harmonious man.

Những tư tưởng trên về các cõi, và bản chất cửu phân của mọi cái đang hiện hữu, đưa người ta vào những lĩnh vực hiện còn gần như vượt ngoài sự nắm bắt của con người; tuy nhiên, chỉ khi phương diện chất liệu [Page 524] được nhà khoa học nghiên cứu trong bản chất tam phân của nó thì chân lý mới được xấp xỉ, và bản chất thực sự của các hiện tượng điện mới được thấu hiểu; khi đó và chỉ khi đó điện mới được con người chế ngự và sử dụng như một nhất thể, chứ không chỉ trong một phương diện của nó như hiện nay; điện âm của hành tinh là tất cả những gì cho đến nay mới được tiếp xúc vì mục đích thương mại. Cần nhớ rằng thuật ngữ này được dùng theo nghĩa âm so với điện thái dương. Khi con người khám phá được cách tiếp xúc và sử dụng điện thái dương dương tính kết hợp với điện hành tinh âm tính, chúng ta sẽ có một tình trạng rất nguy hiểm được tạo ra, và đó là một trong những yếu tố rốt cuộc sẽ biểu lộ trong sự hủy diệt giống dân gốc thứ năm bằng lửa. Trong đại biến động ấy—như Kinh Thánh nói “các tầng trời sẽ tan chảy vì sức nóng dữ dội.” (Kinh Thánh. II Peter, 3:10.) Điều này sẽ được thấy ở mức độ còn lớn hơn trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, và sẽ gây ra sự hủy diệt bằng lửa đối với các hình tướng của những người đã thất bại, điều sẽ giải thoát các sự sống trên một quy mô khổng lồ, và do đó tạm thời “thanh lọc” Trái Đất khỏi những yếu tố có khuynh hướng cản trở tiến trình tiến hoá. Khi các chu kỳ trôi qua, sự quân bình của các dòng lửa này sẽ dần dần được thực hiện, và sẽ đưa đến một tình trạng hành tinh hài hòa, và một sự bình đẳng huyền bí, sẽ cung cấp môi trường lý tưởng cho con người hài hòa.

Only when the soul aspect is studied by the psychologist in its threefold essential nature will the mystery of consciousness become apparent, and the nature of the three magnetic groups, in their various subdivisions with their consequent effectual radiation become a factor in the public life. This concerns itself with the definite development of the psyche under law, with the scientific expansion of the consciousness, and will eventually bring about conditions wherein the work, preliminary to the first initiation, will be purely exoteric, and no longer[Page 525] part of an esoteric process. In due course of time, it will be found that the self-induced efforts whereby a man consciously prepares his centres for the application of the Rod of Initiation at the first Initiation, will be the subject of books, and of lectures, and form part of the ordinary thought of the masses. This again will eventuate in a cleavage between the two groups in the middle of the fifth round. It must be remembered that this cleavage will be part of a natural process, and not a drastic ruling, imposed upon an unwilling people. The KNOWERS and the students of the Knowledge—actuated by group consciousness, and working consciously—will separate themselves in group formation from those who know not, and from those who care not. This cleavage will be self-induced, and a natural outgrowth of the group life; it will in itself be of a temporary nature for the fundamental aim in view will be the bringing about of an eventual closer merging; it will mark primarily the line of demarcation between the lower four Rays of consciousness, and the higher three. It is also a mystery hid in the relationship between the four exoteric Kumaras, (S.D., I, 116, 493; II, 112, 149) and the esoteric three, and from the point of view of man separates those who are developing the consciousness of the Triad from those who as yet are living the life of the Quaternary. It concerns those who respond to the solar Lords, distinguishing them from those who recognise as yet only the control of the lunar Lords. In terms of Fire: those who warm themselves by means of fire by friction and respond not to the heat of solar fire remain within the cavern, thus living in the dark; whilst those whose being is irradiated by the Sun of Wisdom, and who bask in the rays of solar heat dwell in the light, and enjoy an ever increasing freedom, and vital existence.

Chỉ khi phương diện linh hồn được nhà tâm lý học nghiên cứu trong bản chất cốt yếu tam phân của nó thì huyền nhiệm của tâm thức mới trở nên hiển nhiên, và bản chất của ba nhóm từ tính, trong các phân nhóm khác nhau của chúng cùng với sự bức xạ hiệu quả phát sinh từ đó, mới trở thành một yếu tố trong đời sống công cộng. Điều này liên quan đến sự phát triển xác định của psyche dưới định luật, đến sự mở rộng tâm thức một cách khoa học, và rốt cuộc sẽ tạo ra những điều kiện trong đó công việc chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất sẽ hoàn toàn ngoại môn, và không còn[Page 525] là một phần của tiến trình nội môn nữa. Đến đúng thời điểm, người ta sẽ thấy rằng những nỗ lực do chính mình khởi xướng, nhờ đó con người chuẩn bị các trung tâm của mình một cách hữu thức cho việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo trong lần điểm đạo thứ nhất, sẽ là chủ đề của sách vở và các bài giảng, và tạo thành một phần của tư tưởng thông thường của quần chúng. Điều này lại sẽ dẫn đến một sự phân tách giữa hai nhóm vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm. Cần nhớ rằng sự phân tách này sẽ là một phần của một tiến trình tự nhiên, chứ không phải một sự cai quản khắc nghiệt áp đặt lên một dân chúng không tự nguyện. Các THỨC GIẢ và các đạo sinh của Hiểu Biết—được thúc đẩy bởi tâm thức nhóm, và làm việc một cách hữu thức—sẽ tự tách mình ra trong sự hình thành nhóm khỏi những người không biết, và khỏi những người không quan tâm. Sự phân tách này sẽ do chính họ tạo ra, và là một sự tăng trưởng tự nhiên của đời sống nhóm; tự thân nó sẽ chỉ có tính tạm thời vì mục tiêu căn bản được nhắm đến sẽ là đưa đến một sự hòa nhập gần gũi hơn về sau; trước hết nó sẽ đánh dấu ranh giới phân định giữa bốn Cung thấp của tâm thức và ba Cung cao. Nó cũng là một huyền nhiệm ẩn giấu trong mối liên hệ giữa bốn Đức Kumara ngoại môn, (S.D., I, 116, 493; II, 112, 149) và ba Đức Kumara nội môn, và từ quan điểm của con người, nó phân cách những ai đang phát triển tâm thức của Tam nguyên tinh thần với những ai hiện vẫn đang sống đời sống của Tứ nguyên. Điều này liên quan đến những ai đáp ứng với các nhật tinh quân, phân biệt họ với những ai hiện vẫn chỉ nhận biết sự kiểm soát của các nguyệt tinh quân. Nói theo thuật ngữ của Lửa: những ai sưởi ấm mình bằng Lửa ma sát và không đáp ứng với sức nóng của Lửa Thái dương thì vẫn ở trong hang động, do đó sống trong bóng tối; còn những ai mà bản thể được Mặt Trời Minh Triết chiếu rọi, và tắm mình trong các tia nhiệt thái dương thì sống trong ánh sáng, và hưởng một sự tự do cùng sự tồn tại sinh động ngày càng gia tăng.

The true significance of the three aspects of Spirit is only becoming apparent to the initiate of high degree, [Page 526] and cannot be expressed in words, nor comprehended by man before he has passed out of the human kingdom into the spiritual. Therefore, it is needless for us to pause here to consider it at greater length.

Ý nghĩa thực sự của ba phương diện của tinh thần chỉ mới trở nên hiển nhiên đối với điểm đạo đồ cấp cao, [Page 526] và không thể diễn tả bằng lời, cũng không thể được con người thấu hiểu trước khi y đã vượt ra khỏi giới nhân loại để đi vào giới tinh thần. Vì vậy, chúng ta không cần dừng lại ở đây để xem xét nó dài hơn nữa.

We might sum up the matter in terms of the Old Commentary from which source H. P. B. quoted so often:

Chúng ta có thể tóm lược vấn đề bằng những thuật ngữ của Cổ Luận, nguồn mà H. P. B. đã trích dẫn rất thường xuyên:

“The Blessed Ones hide Their threefold nature, but reveal Their triple essence by means of the three great groups of atoms. Three are the atoms, and threefold the radiation. The inner core of fire hides itself and is known only through radiation and that which radiates. Only after the blaze dies out and the heat is no longer felt can the fire be known.”

“Các Đấng Chân Phúc che giấu bản chất tam phân của Các Ngài, nhưng mặc khải tinh túy bộ ba của Các Ngài qua ba nhóm nguyên tử lớn. Có ba nguyên tử, và bức xạ cũng tam phân. Lõi lửa bên trong tự che giấu và chỉ được biết qua bức xạ và cái đang bức xạ. Chỉ sau khi ngọn lửa bùng cháy tắt đi và sức nóng không còn được cảm thấy nữa thì lửa mới có thể được biết.”

We can now resume our consideration of the mystery of the mental unit, and note wherein it differs from the other permanent atoms; we might then briefly summarise a mass of esoteric information anent the permanent atoms, which will suffice for many years to come as the basis of investigation for occult students. The permanent atoms, and their internal economy, will remain a mystery for a long time, and only a few general indications can here be given.

Giờ đây chúng ta có thể tiếp tục việc xem xét huyền nhiệm của đơn vị hạ trí, và lưu ý nó khác với các nguyên tử trường tồn khác ở điểm nào; rồi sau đó chúng ta có thể tóm lược ngắn gọn một khối lượng thông tin huyền bí liên quan đến các nguyên tử trường tồn, điều sẽ đủ làm nền tảng nghiên cứu cho các đạo sinh huyền bí học trong nhiều năm tới. Các nguyên tử trường tồn, và cơ cấu nội tại của chúng, sẽ còn là một huyền nhiệm trong một thời gian dài, và ở đây chỉ có thể đưa ra một vài chỉ dẫn tổng quát.

The fundamental difference between the mental unit and the other two atoms consists in the fact that it contains only four spirillae instead of seven. This is brought about by the very facts of evolution itself, for the mental unit is the first aspect of the personality triad, or of man functioning, in the human kingdom on the three lower planes. At his transference into the spiritual kingdom, these three aspects—the mental body, the astral body, and the physical body—are synthesised into the higher by a dual process:

Sự khác biệt căn bản giữa đơn vị hạ trí và hai nguyên tử kia nằm ở chỗ nó chỉ chứa bốn loa tuyến thay vì bảy. Điều này được tạo ra bởi chính các sự kiện của tiến hoá, vì đơn vị hạ trí là phương diện thứ nhất của tam nguyên phàm ngã, hay của con người đang hoạt động trong giới nhân loại trên ba cõi thấp. Khi y chuyển dịch vào giới tinh thần, ba phương diện này—thể trí, thể cảm dục, và thể xác—được tổng hợp vào cái cao hơn bằng một tiến trình kép:

1. His polarisation shifts from out of the lower three atoms into the Triadal atoms.

1. Sự phân cực của y chuyển ra khỏi ba nguyên tử thấp để đi vào các nguyên tử của Tam nguyên tinh thần.

2. The force which these atoms generate and embody is merged and blended into the higher force points.

2. Mãnh lực mà các nguyên tử này tạo ra và thể hiện được hòa nhập và dung hợp vào các điểm mãnh lực cao hơn.

[Page 527] A permanent atom is the positive nucleus or germ substance to the sheath wherein it is found. It is that which is the basis of form-building, and it is literally a vibrant point of force, emanating from the second aspect of the Monad, which aggregates to itself, and subsequently builds into form, the negative or third aspect. But it must here be remembered that this second aspect is itself dual, and that in considering the permanent atoms we are dealing with the feminine aspect of the second Person. The spirillae therefore are but streams of force, or second aspect vitality which circulates geometrically within the circumscribing wall of substance, composed of third aspect force or substance. What has been said of objectivity, or of the cosmic atom can be equally well predicated of the permanent atom of man the microcosm:

[Page 527] Một nguyên tử trường tồn là hạt nhân dương hay chất liệu mầm mống đối với lớp vỏ mà trong đó nó được tìm thấy. Nó là cái làm nền tảng cho việc xây dựng hình tướng, và theo nghĩa đen là một điểm mãnh lực rung động, phát ra từ phương diện thứ hai của chân thần, tự tập hợp quanh mình, rồi sau đó xây dựng thành hình tướng, phương diện âm hay phương diện thứ ba. Nhưng ở đây cần nhớ rằng phương diện thứ hai này tự nó là nhị phân, và khi xem xét các nguyên tử trường tồn, chúng ta đang xử lý phương diện nữ tính của Ngôi thứ hai. Vì vậy, các loa tuyến chỉ là những dòng mãnh lực, hay sinh lực của phương diện thứ hai lưu chuyển theo hình học bên trong bức tường bao quanh của chất liệu, vốn được cấu thành bởi mãnh lực hay chất liệu của phương diện thứ ba. Điều đã được nói về tính khách quan, hay về nguyên tử vũ trụ, cũng có thể được khẳng định tương tự về nguyên tử trường tồn của con người, tiểu thiên địa:

“The primordial ray is the vehicle of the divine Ray.” (S.D., I, 108) Negative force forms a receptacle for positive force. Atoms are but force centres, and the centres as we know of them are but aggregates of force points which have reached a specific point in evolution, and are responding to the first great aspect in some degree, or to electric fire.

“Tia nguyên sơ là vận cụ của Tia thiêng liêng.” (S.D., I, 108) Mãnh lực âm tạo thành một vật chứa cho mãnh lực dương. Các nguyên tử chỉ là những trung tâm mãnh lực, và các trung tâm như chúng ta biết chỉ là những tập hợp của các điểm mãnh lực đã đạt đến một điểm tiến hoá nhất định, và đang đáp ứng ở một mức độ nào đó với phương diện lớn thứ nhất, hay với Lửa Điện.

This sentence, is one to be seriously pondered, for it holds hid much information for the student, and when duly comprehended will result in the light of knowledge being shed upon the problems of manifestation. It concerns the secret of the position of the different kingdoms of nature within the logoic body, and their place and part, for all depends upon the type of force which animates, upon the interplay of that force in substance, upon the dual, triple, or united aspect of force, and upon its septenary demonstration in form-building.

Câu này là điều cần được suy ngẫm nghiêm túc, vì nó ẩn chứa nhiều thông tin cho đạo sinh, và khi được thấu hiểu đúng mức sẽ khiến ánh sáng tri thức được rọi vào các vấn đề của sự biểu hiện. Nó liên quan đến bí mật về vị trí của các giới khác nhau trong thiên nhiên bên trong thể của Thượng đế, và vị trí cùng vai trò của chúng, vì mọi sự đều tùy thuộc vào loại mãnh lực đang tiếp sinh lực, vào sự tương tác của mãnh lực đó trong chất liệu, vào phương diện nhị phân, tam phân hay hợp nhất của mãnh lực, và vào sự biểu lộ thất phân của nó trong việc xây dựng hình tướng.

Every atom is a focal point of force, the force of substance itself, the life or vitality of the third aspect, the [Page 528] life of that cosmic Entity Who is to the Logos the negative aspect of electricity.

Mỗi nguyên tử là một tiêu điểm của mãnh lực, mãnh lực của chính chất liệu, sự sống hay sinh lực của phương diện thứ ba, sự [Page 528] sống của Thực Thể vũ trụ mà đối với Thượng đế là phương diện âm của điện.

Every form (173) and aggregate of atoms, is simply a force centre produced by the action of positive force and its interaction with negative energy. It is the vitality of the second aspect working in conjunction with the third, and producing—in time and space—that illusion or maya which temporarily blazes forth, and attracts attention, creating the impression that matter is a concrete something. There is no such thing as concretion in reality; [Page 529] there is only force of different kinds, and the effect produced on consciousness by their interplay.

Mỗi hình tướng (173) và tập hợp các nguyên tử chỉ đơn giản là một trung tâm mãnh lực được tạo ra bởi tác động của mãnh lực dương và sự tương tác của nó với năng lượng âm. Đó là sinh lực của phương diện thứ hai hoạt động cùng với phương diện thứ ba, và tạo ra—trong thời gian và không gian—ảo tưởng hay ảo lực tạm thời bừng sáng, thu hút sự chú ý, tạo nên ấn tượng rằng vật chất là một cái gì đó cụ thể. Thực tại không hề có cái gọi là sự đông đặc; [Page 529] chỉ có mãnh lực thuộc những loại khác nhau, và hiệu quả được tạo ra trên tâm thức bởi sự tương tác của chúng.

(173) Forms.

(173) Các hình tướng.

1. Divine ideation passes from the abstract to the concrete or visible form.

1. Ý niệm thiêng liêng chuyển từ trừu tượng sang hình tướng cụ thể hay hữu hình.

a. The objective is an emanation of the subjective.—S. D., I, 407.

a. Cái khách quan là một phát xạ của cái chủ quan.—S. D., I, 407.

b. Impulse is spirit energy causing objectivity.—S. D., I, 349; S. D., I, 683.

b. Xung lực là năng lượng tinh thần gây ra tính khách quan.—S. D., I, 349; S. D., I, 683.

c. The Logos renders objective a concealed thought.—S. D., II, 28.

c. Thượng đế làm cho một tư tưởng ẩn kín trở nên khách quan.—S. D., II, 28.

2. Three things required before any form of energy can become objective.—S. D., I, 89.

2. Cần có ba điều trước khi bất kỳ hình thức năng lượng nào có thể trở nên khách quan.—S. D., I, 89.

1. Privation……. Separation. Initial impulse. Energy. Will.

1. Sự thiếu vắng……. Sự tách biệt. Xung lực ban đầu. Năng lượng. Ý chí.

2. Form………. Quality or shape. Nature. Love.

2. Hình tướng………. Phẩm tính hay hình dạng. Bản chất. Bác ái.

3. Matter……… Objective sphere. Intelligent activity.

3. Vật chất……… Khối cầu khách quan. Hoạt động thông minh.

See S. D., III, 561.

Xem S. D., III, 561.

3. Life precedes form.–S. D., I, 242.

3. Sự sống có trước hình tướng.–S. D., I, 242.

a. The Thinker ever remains.—S. D., II, 28.

a. Đấng Tư Tưởng vẫn luôn tồn tại.—S. D., II, 28.

b. Force of life is the transformation into energy of the thought of the Logos.—See S. D., III, 179.

b. Mãnh lực của sự sống là sự chuyển đổi thành năng lượng của tư tưởng của Thượng đế.—Xem S. D., III, 179.

4. Spirit evolves through form and out of form.–S. D., I, 680.

4. Tinh thần tiến hoá qua hình tướng và ra khỏi hình tướng.–S. D., I, 680.

a. Spirit has to acquire full self-consciousness.—S. D., I, 215.

a. Tinh thần phải đạt được ngã thức trọn vẹn.—S. D., I, 215.

b. Form imprisons spirit.—S. D., II, 775.

b. Hình tướng giam cầm tinh thần.—S. D., II, 775.

c. The principle of limitation is form.—S. D., III, 561.

c. Nguyên khí của sự giới hạn là hình tướng.—S. D., III, 561.

d. Spirit informs all sheaths.—S. D., I, 669 note.

d. Tinh thần thấm nhuần mọi lớp vỏ.—S. D., I, 669 note.

e. Spirit passes through the cycle of Being.—S. D., I, 160.

e. Tinh thần đi qua chu kỳ của Bản Thể.—S. D., I, 160.

5. The devas are the origin of form.–S. D., I, 488.

5. Các thiên thần là nguồn gốc của hình tướng.–S. D., I, 488.

They exist in two great groups:

Các vị tồn tại trong hai nhóm lớn:

a. The Ahhi are the vehicle of divine thought.—S. D., I, 70.

a. Các Ahhi là vận cụ của tư tưởng thiêng liêng.—S. D., I, 70.

b. The Army of the Voice.—S. D., I, 124.

b. Đạo Quân của Tiếng Nói.—S. D., I, 124.

They are the sum-total of the substance of the four higher planes and of the three lower.

Các vị là tổng thể của chất liệu của bốn cõi cao và của ba cõi thấp.

6. There is a form which combines all forms.—S. D., I, 118.

6. Có một hình tướng kết hợp mọi hình tướng.—S. D., I, 118.

See S. D., I, 77.

Xem S. D., I, 77.

This Form is the sum-total of all that is manifested, or the entire solar sphere or system. This contains:

Hình Tướng này là tổng thể của mọi cái được biểu hiện, hay toàn bộ khối cầu thái dương hoặc hệ thống. Nó bao gồm:

a. The ten planetary schemes and all that is therein.

a. Mười hệ hành tinh và mọi thứ trong đó.

b. All the lesser interplanetary bodies.

b. Mọi thiên thể liên hành tinh nhỏ hơn.

c. The deva and human evolutions.

c. Các tiến hoá thiên thần và nhân loại.

d. The kingdoms of nature everywhere.

d. Các giới trong thiên nhiên ở khắp nơi.

e. The involutionary and evolutionary Gods.

e. Các Thượng đế giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá.

f. Every atom of substance on every plane.

f. Mọi nguyên tử chất liệu trên mọi cõi.

7. All forms are destroyed periodically.

7. Mọi hình tướng đều bị hủy diệt theo chu kỳ.

Read carefully S. D., I, 397-401. (back)

Hãy đọc cẩn thận S. D., I, 397-401. (back)

Back of all forms and of all substances (as yet but little contacted and realised) lies a third type of force, which utilises these two other factors to produce eventual harmony, and which is itself on its own plane the sumtotal of the second. It can be called:

Đằng sau mọi hình tướng và mọi chất liệu (cho đến nay mới chỉ được tiếp xúc và chứng nghiệm rất ít) có một loại mãnh lực thứ ba, sử dụng hai yếu tố kia để tạo ra sự hài hòa rốt ráo, và chính nó trên cõi riêng của nó là tổng thể của phương diện thứ hai. Nó có thể được gọi là:

a. The one synthesising Life.

a. Sự sống tổng hợp duy nhất.

b. Electric fire.

b. Lửa Điện.

c. The point of equilibrium.

c. Điểm quân bình.

d. Unity or harmony.

d. Hợp nhất hay hài hòa.

e. Pure Spirit.

e. Tinh thần thuần túy.

f. Dynamic Will.

f. Ý Chí năng động.

g. Existence.

g. Sự tồn tại.

It is a Force, working through a dual manifestation of differentiated force, through the energy of matter, the coherency of forms, through force centres, and force points. It is FOHAT in triple demonstration, of which the final or third is as yet unknown and inconceivable.

Đó là một Mãnh lực, hoạt động qua một biểu hiện nhị phân của mãnh lực biến phân, qua năng lượng của vật chất, sự kết dính của các hình tướng, qua các trung tâm mãnh lực, và các điểm mãnh lực. Đó là FOHAT trong sự biểu lộ bộ ba, mà biểu lộ cuối cùng hay thứ ba của nó hiện vẫn chưa được biết và không thể quan niệm được.

This brings me to the consideration of the fact earlier stated that the mental unit possesses but four of the streams of force. Each of the streams of force in the permanent atoms vibrates to the note of a particular subplane, and serves as the medium for the vitalisation of the matter of the subplane, which is built into any particular body around a permanent atom. It is the force of the Heavenly Man as it animates the cells of His form, and holds them as a coherent unity. Here it must be remembered that, from the point of view of the microcosm, the aspect of pure Spirit or of Electric Fire remains in this solar system as an abstraction. A man can attain group consciousness; he can vibrate to the note of the Heavenly Man in Whose body he is a cell; he can demonstrate in relative perfection fire by friction and solar fire, but it remains for a later mahamanvantara to reveal [Page 530] the true nature of Spirit. Therefore in man, functioning in the human family, this fact is apparent and the correspondence to be seen. Until he passes out of the three worlds, and until he becomes a Master of the Wisdom, he has this truth concealed in these three aspects. The mental is not a septenary permanent atom, but only responds to four types of force, and not to the entire range of vibrations. Herein lies a reason for tolerance. Until a man is coming consciously under the control of the Ego and is beginning to sense the vibration of the manasic permanent atom, it is useless to expect him to respond to certain ideals, or to grasp certain aspects of truth. The mental unit suffices for his need, and no bridge exists between it and the manasic permanent atom.

Điều này đưa tôi đến việc xem xét sự kiện đã được nêu trước đây rằng đơn vị hạ trí chỉ sở hữu bốn dòng mãnh lực. Mỗi dòng mãnh lực trong các nguyên tử trường tồn rung động theo âm điệu của một cõi phụ nhất định, và phục vụ như trung gian cho việc tiếp sinh lực chất liệu của cõi phụ ấy, vốn được xây dựng vào bất kỳ thể nào quanh một nguyên tử trường tồn. Đó là mãnh lực của một Đấng Thiên Nhân khi nó tiếp sinh lực cho các tế bào của hình tướng của Ngài, và giữ chúng như một nhất thể kết dính. Ở đây cần nhớ rằng, từ quan điểm của tiểu thiên địa, phương diện của tinh thần thuần túy hay của Lửa Điện vẫn là một sự trừu tượng trong hệ mặt trời này. Con người có thể đạt đến tâm thức nhóm; y có thể rung động theo âm điệu của Đấng Thiên Nhân mà trong thể của Ngài y là một tế bào; y có thể biểu lộ ở mức tương đối hoàn hảo Lửa ma sát và Lửa Thái dương, nhưng phải chờ đến một Đại giai kỳ sinh hóa sau này mới mặc khải [Page 530] bản chất thực sự của tinh thần. Vì vậy nơi con người, đang hoạt động trong gia đình nhân loại, sự kiện này là hiển nhiên và sự tương ứng có thể được thấy. Cho đến khi y vượt ra khỏi ba cõi giới, và cho đến khi y trở thành một Chân sư Minh Triết, chân lý này vẫn bị che giấu khỏi y trong ba phương diện ấy. Cái trí không phải là một nguyên tử trường tồn thất phân, mà chỉ đáp ứng với bốn loại mãnh lực, chứ không phải toàn bộ phạm vi rung động. Chính trong đó có một lý do cho sự khoan dung. Cho đến khi con người đang đi vào một cách hữu thức dưới sự kiểm soát của Chân ngã và bắt đầu cảm nhận rung động của nguyên tử trường tồn manas, thì thật vô ích khi mong đợi y đáp ứng với một số lý tưởng nhất định, hay nắm bắt một số phương diện nhất định của chân lý. Đơn vị hạ trí là đủ cho nhu cầu của y, và không có cây cầu nào tồn tại giữa nó với nguyên tử trường tồn manas.

Two and a half planes are concerned with the evolution of man, per se, in the fourth kingdom, and he only begins to transcend them as he nears the Path and treads it. From the standpoint of average man in physical incarnation, the egoic consciousness, within the causal periphery, is as abstract as is the Logos viewed as the Dweller within the system. These two and a half planes are of peculiar interest to the Logos, as they embody:

Hai cõi rưỡi liên quan đến sự tiến hoá của chính con người trong giới thứ tư, và y chỉ bắt đầu vượt lên trên chúng khi y đến gần Con Đường và bước đi trên đó. Từ quan điểm của con người trung bình đang lâm phàm trên cõi hồng trần, tâm thức chân ngã, bên trong chu vi nhân thể, cũng trừu tượng như Thượng đế khi được xem là Kẻ Chận Ngõ bên trong hệ thống. Hai cõi rưỡi này đặc biệt đáng quan tâm đối với Thượng đế, vì chúng thể hiện:

That which, for Him, lies below the threshold of consciousness.

Điều mà, đối với Ngài, nằm bên dưới ngưỡng tâm thức.

Those centres from which logoic kundalini is turning.

Những trung tâm mà từ đó kundalini của Thượng đế đang xoay chuyển.

That which is not considered a principle.

Điều không được xem là một nguyên khí.

That which is gradually passing into obscuration.

Điều đang dần dần đi vào sự lu mờ.

It is impossible to enlarge further upon this mystery.

Không thể khai triển thêm về huyền nhiệm này.

4. Summary.

4. Tóm lược.

Before proceeding further, however, it might be well to sum up some of the facts anent the spirillae and the atom, and then we can take up the subject of the causal body and man, the individual. [Page 531]

Tuy nhiên, trước khi đi xa hơn, có lẽ nên tóm lược một số sự kiện liên quan đến các loa tuyến và nguyên tử, rồi sau đó chúng ta có thể bàn đến chủ đề thể nguyên nhân và con người, cá thể. [Page 531]

1. The four lower spirillae are definitely under the influence of the personality Ray.

1. Bốn loa tuyến thấp chắc chắn nằm dưới ảnh hưởng của cung phàm ngã.

2. The fifth and sixth spirillae are more specifically under the egoic Ray, whatever that Ray may be.

2. Loa tuyến thứ năm và thứ sáu đặc biệt nằm dưới cung chân ngã, bất kể cung ấy là cung nào.

3. The fifth spirilla has a peculiar value inasmuch as it synthesises the lower four. It is the third when counting the streams of spiral force from the standpoint of the atomic pole. It vibrates to five types of force.

3. Loa tuyến thứ năm có một giá trị đặc biệt vì nó tổng hợp bốn loa tuyến thấp. Nó là loa tuyến thứ ba khi đếm các dòng mãnh lực xoắn ốc từ quan điểm của cực nguyên tử. Nó rung động với năm loại mãnh lực.

4. The spirillae are literally ten in number, three major and seven minor. But from the unity point of view, they are the four and the major three, the remaining lesser three being counted as one with their major, inasmuch as they are direct reflections.

4. Các loa tuyến theo nghĩa đen có số lượng là mười, ba lớn và bảy nhỏ. Nhưng từ quan điểm nhất thể, chúng là bốn và ba lớn, ba nhỏ còn lại được tính là một với cái lớn của chúng, vì chúng là những phản chiếu trực tiếp.

5. The permanent atoms are not heart-shaped as portrayed in certain books. A certain number of atoms are of that type but they are not the permanent atoms which are more definitely spheroidal and are slightly flattened at the top, where the correspondence to the polar depression may be found, and equally flattened at the under surface.

5. Các nguyên tử trường tồn không có hình trái tim như được mô tả trong một số sách. Một số nguyên tử thuộc loại đó nhưng chúng không phải là các nguyên tử trường tồn, vốn có hình cầu rõ rệt hơn và hơi dẹt ở phía trên, nơi có thể tìm thấy sự tương ứng với chỗ lõm cực, và cũng dẹt tương tự ở mặt dưới.

6. The arrangement of the spirillae within the permanent atoms varies on each plane and the ones most frequently described are those of the physical plane. The arrangement of these tiny force vortices and their internal economy on each plane is one of the secrets of initiation and may not be revealed. One hint only may be given to guide the student: The astral permanent atom has its internal streams of force arranged so that the spirals do approach quite closely the conformation of a heart, though the pointed end is eliminated. The buddhic permanent atom has its spirillae arranged so as to form approximately a figure eight with a central stream bisecting the double spiral.

6. Sự sắp xếp của các loa tuyến bên trong các nguyên tử trường tồn thay đổi trên mỗi cõi và những kiểu được mô tả thường xuyên nhất là của cõi hồng trần. Sự sắp xếp của các xoáy mãnh lực cực nhỏ này và cơ cấu nội tại của chúng trên mỗi cõi là một trong những bí mật của điểm đạo và không thể được tiết lộ. Chỉ có thể đưa ra một gợi ý để hướng dẫn đạo sinh: nguyên tử trường tồn cảm dục có các dòng mãnh lực nội tại được sắp xếp sao cho các vòng xoắn khá gần với hình dạng của một trái tim, dù đầu nhọn đã bị loại bỏ. Nguyên tử trường tồn Bồ đề có các loa tuyến được sắp xếp để tạo thành gần đúng hình số tám với một dòng trung tâm chia đôi vòng xoắn kép.

7. The closer the approach to reality the simpler will be found the arrangement of the spirilla. These streams of force show a septenary arrangement in the [Page 532] lower three permanent atoms of man, while the higher three contain but three spirillae—the major three.

7. Càng đến gần thực tại thì sự sắp xếp của các loa tuyến sẽ càng được thấy là đơn giản hơn. Các dòng mãnh lực này cho thấy một sự sắp xếp thất phân trong [Page 532] ba nguyên tử trường tồn thấp của con người, trong khi ba nguyên tử cao chỉ chứa ba loa tuyến—ba loa tuyến lớn.

8. It should be noted that there are but six permanent atoms connected with human evolution, while a Heavenly Man has but five, and even then only one in the solar system. (The mystery of a planet and its central life has not yet been revealed. It is connected with another manifestation of which as yet nought is known.)

8. Cần lưu ý rằng chỉ có sáu nguyên tử trường tồn liên hệ với sự tiến hoá của con người, trong khi một Đấng Thiên Nhân chỉ có năm, và ngay cả như vậy cũng chỉ có một trong hệ mặt trời. (Huyền nhiệm của một hành tinh và sự sống trung tâm của nó vẫn chưa được mặc khải. Nó liên hệ với một biểu hiện khác mà hiện nay chưa biết gì cả.)

9. It should be remembered that we are dealing with a physical incarnation of these great Entities and that Their permanent atoms, with the exception of the physical, are extra-systemic.

9. Cần nhớ rằng chúng ta đang xử lý một sự nhập thể hồng trần của các Thực Thể vĩ đại này và các nguyên tử trường tồn của Các Ngài, ngoại trừ nguyên tử hồng trần, đều ở ngoài hệ thống.

10. The causal body of the Heavenly Men is upon the third subplane of the cosmic mental plane, while that of the solar Logos and those of the three Persons of the logoic Trinity are upon the first subplane.

10. Thể nguyên nhân của các Đấng Thiên Nhân ở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ, trong khi thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế và của Ba Ngôi của Ba Ngôi Thượng đế ở trên cõi phụ thứ nhất.

11. The permanent atoms of men are upon the atomic subplane of each plane, with the one exception of the mental unit. Those of the animal groups are upon the second subplane; those of the vegetable groups are upon the third subplane; those of the mineral groups are upon the fourth subplane. There is, therefore, a close analogy between these focal points of force of the group—human or otherwise—and a chain, a globe, and a round, and in their due application comes enlightenment. The sumtotal of the permanent atoms of any particular kingdom form the streams of force or spirillae in the greater atoms of solar entities or of lunar entities, while the sumtotal of the permanent atoms of man in the spiritual kingdom (the three triadal atoms, atma-buddhi-manas) form the spiral streams of force within certain centres.

11. Các nguyên tử trường tồn của con người ở trên cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi, chỉ trừ đơn vị hạ trí. Các nguyên tử của các nhóm động vật ở trên cõi phụ thứ hai; của các nhóm thực vật ở trên cõi phụ thứ ba; của các nhóm khoáng vật ở trên cõi phụ thứ tư. Do đó có một sự tương đồng chặt chẽ giữa các tiêu điểm mãnh lực này của nhóm—nhân loại hay khác—với một dãy, một bầu hành tinh, và một cuộc tuần hoàn, và trong sự áp dụng đúng đắn của chúng có giác ngộ. Tổng thể các nguyên tử trường tồn của bất kỳ giới nào tạo thành các dòng mãnh lực hay các loa tuyến trong các nguyên tử lớn hơn của các thực thể thái dương hay các thực thể thái âm, trong khi tổng thể các nguyên tử trường tồn của con người trong giới tinh thần (ba nguyên tử tam nguyên tinh thần, atma-buddhi-manas) tạo thành các dòng mãnh lực xoắn ốc bên trong một số trung tâm nhất định.

12. As the permanent atoms become radioactive in due course of evolution, the result within the centre is a marked increase of vibration.

12. Khi các nguyên tử trường tồn trở nên phóng xạ theo tiến trình tiến hoá, kết quả bên trong trung tâm là một sự gia tăng rung động rõ rệt.

13. The permanent atoms concern solar entities when they are found on or above the higher mental. They [Page 533] concern lunar entities on the lower mental, the astral and the physical planes.

13. Các nguyên tử trường tồn liên quan đến các thực thể thái dương khi chúng được tìm thấy trên hay bên trên cõi thượng trí. Chúng [Page 533] liên quan đến các thực thể thái âm trên cõi hạ trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần.

14. It should be noted that in this solar system the following entities manifest through:

14. Cần lưu ý rằng trong hệ mặt trời này các thực thể sau đây biểu lộ qua:

I. One permanent atom… the physical.

I. Một nguyên tử trường tồn… nguyên tử hồng trần.

1. A solar Logos.

1. Một Thái dương Thượng đế.

2. The three major Rays, or Lords of Aspect.

2. Ba Cung lớn, hay các Đấng Chúa Tể của Các Cung Trạng Thái.

3. The seven Heavenly Men.

3. Bảy Đấng Thiên Nhân.

4. The forty-nine Regents of the planetary chains.

4. Bốn mươi chín Đấng Nhiếp Chính của các dãy hành tinh.

II. Two permanent atoms… the physical and the astral.

II. Hai nguyên tử trường tồn… nguyên tử hồng trần và cảm dục.

1. The seven Lords of the globes in every chain.

1. Bảy Chúa Tể của các bầu hành tinh trong mỗi dãy.

2. The forty-nine Root Manus.

2. Bốn mươi chín Đức Manu gốc.

3. The seventy-seven Embodiers of form—a group of solar Lords Who are concerned with form building, working primarily on the first ray.

3. Bảy mươi bảy Đấng Hiện Thân của hình tướng—một nhóm các Chúa Tể thái dương liên quan đến việc xây dựng hình tướng, hoạt động chủ yếu trên Cung một.

4. Certain of the Avatars, Who are selected by the Logos to carry a certain type of force at stated intervals and thus further the evolution of the psyche.

4. Một số Đấng Hoá Thân, được Thượng đế chọn để mang một loại mãnh lực nhất định vào những khoảng thời gian đã định và do đó thúc đẩy sự tiến hoá của psyche.

III. Three permanent atoms… physical, astral, and mental.

III. Ba nguyên tử trường tồn… hồng trần, cảm dục, và trí tuệ.

1. The Lords of the third Kingdom, the animal. They are seven Entities whose bodies are made up of animal souls just as the Heavenly Men embody for man the Buddhic principle, so these lords embody for the animal kingdom the manasic principle, which is the goal of the evolutionary process for them.

1. Các Chúa Tể của giới thứ ba, giới động vật. Các Ngài là bảy Thực Thể mà các thể của Các Ngài được cấu thành bởi các hồn nhóm động vật, cũng như các Đấng Thiên Nhân thể hiện nguyên khí Bồ đề cho con người, thì các chúa tể này thể hiện nguyên khí manas cho giới động vật, vốn là mục tiêu của tiến trình tiến hoá đối với chúng.

2. Certain great entities who embody a whole range of existences upon five of the planets, of which the earth is not one, but who in due course of time will come to be recognised as having a powerful effect upon man on the earth, via the three Buddhas of Activity. A hint as to this esoteric influence comes to man in the close connection existing between the Earth and Mercury. As yet it is not possible to enlarge further.

2. Một số thực thể vĩ đại thể hiện toàn bộ một phạm vi các sự tồn tại trên năm hành tinh, trong đó Trái Đất không phải là một, nhưng đến đúng thời điểm sẽ được nhận biết là có một ảnh hưởng mạnh mẽ lên con người trên Trái Đất, thông qua ba Đức Phật Hoạt Động. Một gợi ý về ảnh hưởng huyền bí này đến với con người qua mối liên hệ chặt chẽ hiện có giữa Trái Đất và Sao Thủy. Hiện chưa thể khai triển thêm.

3. The entities who are the sumtotal of those group souls who contain definite permanent triads. Nine triads constitute the body of one of these entities.

3. Các thực thể là tổng thể của những hồn nhóm chứa các tam nguyên trường tồn xác định. Chín tam nguyên cấu thành thể của một trong các thực thể này.

1V. Through four permanent atoms… physical, astral, mental and buddhic.

1V. Qua bốn nguyên tử trường tồn… hồng trần, cảm dục, trí tuệ và Bồ đề.

1. Eight groups of solar Entities Who form the subjective life of the seven centres in the body of Brahma, viewing Him as a separate cosmic Entity, [Page 534] dissociated from His two brothers. They are the seven Sons of Fohat, with the eighth Son included, and They are the final differentiation of the forty-nine fires, prior to Their union with the fire of Eros. Thus is it expressed by H. P. B. (S.D.,I, 139,144)

1. Tám nhóm Thực Thể thái dương tạo thành sự sống chủ quan của bảy trung tâm trong thể của Brahma, khi xem Ngài như một Thực Thể vũ trụ biệt lập, [Page 534] tách rời khỏi hai Huynh đệ của Ngài. Các Ngài là bảy Con của Fohat, kể cả Người Con thứ tám, và Các Ngài là sự biến phân cuối cùng của bốn mươi chín ngọn lửa, trước khi hợp nhất với lửa của Eros. H. P. B. đã diễn tả như vậy. (S.D.,I, 139,144)

2. That Entity Who works through the FORM of a planetary occult Hierarchy, using it as His body of manifestation, and regarding it as the centre through which His force can flow. It should be remembered that all such groups on every planet form a vehicle for the life of a great Individual Who gives to that Hierarchy its distinctive colouring and its unique keynote.

2. Thực Thể hoạt động qua HÌNH TƯỚNG của một Thánh đoàn huyền bí hành tinh, dùng nó như thể biểu hiện của Ngài, và xem nó như trung tâm mà qua đó mãnh lực của Ngài có thể tuôn chảy. Cần nhớ rằng mọi nhóm như vậy trên mỗi hành tinh đều tạo thành một vận cụ cho sự sống của một Cá Thể vĩ đại, Đấng ban cho Thánh đoàn ấy sắc thái đặc thù và chủ âm độc nhất của nó.

3. A number of solar Deities Who are the radiators of solar magnetism, and the life of form.

3. Một số Thượng đế thái dương là những Đấng bức xạ từ điện thái dương, và là sự sống của hình tướng.

4. A peculiar group of Beings connected with a certain constellation and the lesser Dragon, who have their habitat on Neptune and work with the sixth principle in the solar system. They take physical form, animated by purified desire, controlled by mind, and are the dispensers of love-wisdom by means of certain of the “Halls of Wisdom” on the various planets. The words “Halls of Wisdom” in their esoteric significance describe a stage of consciousness not a location.

4. Một nhóm Hữu Thể đặc biệt liên hệ với một chòm sao nhất định và Tiểu Long, có nơi cư ngụ trên Sao Hải Vương và hoạt động với nguyên khí thứ sáu trong hệ mặt trời. Các vị mang hình thể hồng trần, được tiếp sinh lực bởi dục vọng đã được thanh lọc, được trí tuệ kiểm soát, và là những Đấng phân phối Bác Ái – Minh Triết qua một số “Phòng Minh triết” trên các hành tinh khác nhau. Các từ “Phòng Minh triết” trong ý nghĩa huyền bí của chúng mô tả một giai đoạn tâm thức chứ không phải một địa điểm.

V. Through five permanent atoms… physical, astral, mental, buddhic and atmic.

V. Qua năm nguyên tử trường tồn… hồng trần, cảm dục, trí tuệ, Bồ đề và atma.

1. The Lords of certain subplanes who work under the Raja-Lord of a plane and who are themselves vibration and activity.

1. Các Chúa Tể của một số cõi phụ, hoạt động dưới quyền Chúa Tể Raja của một cõi và chính các Ngài là rung động và hoạt động.

2. The lesser Heavenly Men on the buddhic level, Who reflect Their higher prototypes on the second plane of the system.

2. Các Đấng Thiên Nhân nhỏ hơn trên cấp độ Bồ đề, phản chiếu các nguyên mẫu cao hơn của Các Ngài trên cõi thứ hai của hệ thống.

3. The entities who are the sum-total of group consciousness on egoic levels, remembering that these groups are differentiated and are formed of aggregates of seven, until there are formed forty-nine groups of seven egoic vehicles forming one group which is the body of this lesser solar Deity. There is a multiplicity of these groups of forty-nine. This has been somewhat stated before when it has been [Page 535] announced that a Master with His particular band of disciples and initiates form a group or force centre. These groups have their permanent atoms as do all lives seeking objective expression.

3. Các thực thể là tổng thể của tâm thức nhóm trên các cấp độ chân ngã, nhớ rằng các nhóm này được biến phân và được tạo thành từ những tập hợp bảy, cho đến khi hình thành bốn mươi chín nhóm bảy vận cụ chân ngã tạo thành một nhóm là thể của vị Thượng đế thái dương nhỏ hơn này. Có rất nhiều nhóm bốn mươi chín như vậy. Điều này đã phần nào được nói đến trước đây khi đã [Page 535] công bố rằng một Chân sư cùng nhóm đệ tử và điểm đạo đồ đặc thù của Ngài tạo thành một nhóm hay trung tâm mãnh lực. Các nhóm này có các nguyên tử trường tồn của chúng cũng như mọi sự sống đang tìm kiếm sự biểu lộ khách quan.

4. The entities who are the sumtotal of the vegetable kingdom in its diversity of manifestation in different globes, chains and schemes.

4. Các thực thể là tổng thể của giới thực vật trong tính đa dạng biểu hiện của nó trên các bầu hành tinh, các Dãy và các hệ hành tinh khác nhau.

VI. Through six permanent atoms… physical, astral, two mental, buddhic and atmic.

VI. Qua sáu nguyên tử trường tồn… hồng trần, cảm dục, hai trí tuệ, Bồ đề và atma.

MAN.

CON NGƯỜI.

All that is here stated is an enlargement of the data given about the “Army of the Voice,” (S.D., I, 121) and an endeavour to show that many diverse lives (all embodying lesser lives, or embodied in greater ones themselves) are to be found within the various schemes. We have dealt only with those likewise which are superhuman or human, with those who have been or are MEN. We have not dealt with the subhuman, or with the lunar lords or lesser pitris, for their day is not yet, and they progress as the tide of evolution progresses, unconsciously and not self-consciously. We have dealt with these entities and their permanent atoms in connection with their manifestation in a solar system, and have not carried it beyond the solar ring-pass-not. All the permanent atoms concern physical matter and manifestation. The highest permanent atom of man, the atmic, is, after all, an atom of the third cosmic ether, and this should be pondered upon and studied. We have considered these various personalities (and the word ‘personality’ is chosen deliberately, for what are They but personalities, or Beings, in physical incarnation?) from the standpoint of Their lowest force point first. We have discussed the permanent atom as a point of contact with the force of a plane, of a planet, of a chain, of a scheme, or of a system. This should ever be borne in mind.

Tất cả những gì được trình bày ở đây là sự khai triển rộng hơn các dữ kiện đã được nêu về “Đạo quân của Tiếng Nói,” (S.D., I, 121) và là một nỗ lực nhằm chỉ ra rằng nhiều sự sống đa dạng (tất cả đều hiện thân cho các sự sống nhỏ hơn, hoặc chính chúng lại được hiện thân trong các sự sống lớn hơn) có thể được tìm thấy trong các hệ hành tinh khác nhau. Chúng ta chỉ bàn đến những vị cũng là siêu nhân loại hoặc nhân loại, những vị đã từng là hoặc đang là CON NGƯỜI. Chúng ta không bàn đến giới dưới nhân loại, cũng không bàn đến các nguyệt tinh quân hay các thái âm tổ phụ thấp hơn, vì ngày của họ chưa đến, và họ tiến triển khi thủy triều tiến hoá tiến triển, một cách vô thức chứ không phải bằng ngã thức. Chúng ta đã bàn đến các thực thể này và các nguyên tử trường tồn của họ trong liên hệ với sự biểu hiện của họ trong một hệ mặt trời, và không vượt ra ngoài vòng-giới-hạn thái dương. Tất cả các nguyên tử trường tồn đều liên quan đến vật chất hồng trần và sự biểu hiện. Nguyên tử trường tồn cao nhất của con người, nguyên tử atma, rốt cuộc vẫn là một nguyên tử của dĩ thái vũ trụ thứ ba, và điều này cần được suy ngẫm và nghiên cứu. Chúng ta đã xem xét các phàm ngã khác nhau này (và từ ‘phàm ngã’ được chọn một cách có chủ ý, vì Các Ngài là gì nếu không phải là các phàm ngã, hay các Hữu thể, đang lâm phàm hồng trần?) trước hết từ quan điểm của điểm mãnh lực thấp nhất của Các Ngài. Chúng ta đã bàn về nguyên tử trường tồn như một điểm tiếp xúc với mãnh lực của một cõi, của một hành tinh, của một Dãy, của một hệ hành tinh, hay của một hệ thống. Điều này phải luôn luôn được ghi nhớ.

It is to be recognised that much that is written above [Page 536] may seem incomprehensible, but when scientists come to understand and regulate force, that which is written here will become plainer; it will be seen that we have dealt with the positive force in all negative forms above, and including the human kingdom.

Cần nhận ra rằng nhiều điều được viết ở trên [Page 536] có thể dường như khó hiểu, nhưng khi các nhà khoa học đi đến chỗ thấu hiểu và điều chỉnh được mãnh lực, thì những gì được viết ở đây sẽ trở nên sáng tỏ hơn; người ta sẽ thấy rằng chúng ta đã bàn đến mãnh lực dương trong mọi hình tướng âm ở trên và bao gồm cả giới nhân loại.

III. THE EGOIC LOTUS

III. HOA SEN CHÂN NGÃ

(176)

(176)

(176) The Egoic Lotus “…the laws of karma are adjusted, the clue being found in the mastery of the sixteen rays of the Ego, for which sixteen rays sixteen mantras or words are given, the real pronunciation being however reserved for initiates only.”—Kali Upanishad.

(176) Hoa Sen Chân Ngã “…các định luật nghiệp quả được điều chỉnh, đầu mối được tìm thấy trong sự làm chủ mười sáu cung của chân ngã, mà tương ứng với mười sáu cung ấy là mười sáu mantram hay linh từ, tuy nhiên cách phát âm thực sự chỉ dành riêng cho các điểm đạo đồ.”—Kali Upanishad.

“The mystery of the sixteen rays of the Ego will be revealed when the force of the Sacred Tetraktys is merged with that of the Holy Twelve.”—The Old Commentary.

“Bí nhiệm của mười sáu cung của chân ngã sẽ được mặc khải khi mãnh lực của Tetraktys Thiêng Liêng được hòa nhập với mãnh lực của Mười Hai Thiêng Liêng.”—Cổ Luận.

The Primordial is the Ray and the direct emanation of the first Sacred Four.—S. D., I, 115, 116.

Đấng Nguyên Sơ là Cung và là sự phát xạ trực tiếp của Bốn Đấng Thiêng Liêng đầu tiên.—S. D., I, 115, 116.

The Sacred Four are:—

Bốn Đấng Thiêng Liêng là:—

Father……….Spirit. Existence. Unity.

Cha……….Tinh thần. Hiện hữu. Hợp nhất.

The Son…….. Soul. Love-Wisdom. Duality.

Con…….. Linh hồn. Bác Ái – Minh Triết. Nhị nguyên tính.

Mother……… Matter. The trinity.

Mẹ……… Vật chất. Bộ ba.

and their united manifestation making

và sự biểu hiện hợp nhất của các Ngài tạo thành

The active evolving solar system, the logoic ring-pass-not.

Hệ mặt trời hoạt động đang tiến hoá, vòng-giới-hạn logoic.

This is the Macrocosm. (back)

Đây là Đại thiên địa. (trở lại)

We must now deal with the subject of the causal body on its own plane from the point of view of FIRE. We have studied it briefly from the more ordinary angle, and in materialistic terms, considering it as a vehicle of rarefied substance, containing within itself the seventh principle of each of the two lower sheaths of the microcosm, and the mental unit. This latter is that which embodies the first aspect in manifestation, and which is analogous to the first logoic aspect—one that in this solar system does not come to full demonstration.

Giờ đây chúng ta phải bàn đến chủ đề thể nguyên nhân trên chính cõi của nó từ quan điểm của LỬA. Chúng ta đã nghiên cứu nó một cách ngắn gọn từ góc độ thông thường hơn, và bằng các thuật ngữ duy vật, xem nó như một vận cụ của chất liệu tinh luyện, chứa trong chính nó nguyên khí thứ bảy của mỗi một trong hai vỏ bọc thấp của tiểu thiên địa, cùng với đơn vị hạ trí. Chính cái sau này là cái hiện thân cho phương diện thứ nhất trong biểu hiện, và là tương đồng với phương diện logoic thứ nhất—một phương diện trong hệ mặt trời này không đi đến chỗ biểu lộ trọn vẹn.

I would like to point out here that in studying the solar system as the physical manifestation of a solar Logos, we are investigating:

Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng khi nghiên cứu hệ mặt trời như biểu hiện hồng trần của một Thái dương Thượng đế, chúng ta đang khảo cứu:

a. The physical permanent atom of a solar Logos as contained within the logoic causal body on its own plane.

a. Nguyên tử trường tồn hồng trần của một Thái dương Thượng đế như được chứa trong thể nguyên nhân logoic trên chính cõi của nó.

b. The seven types of force, or the seven logoic spirillae within that permanent atom. This, if realised, [Page 537] gives a new outlook upon the subject of plane vibration.

b. Bảy loại mãnh lực, hay bảy loa tuyến logoic bên trong nguyên tử trường tồn đó. Điều này, nếu được chứng nghiệm, [Page 537] sẽ đem lại một nhãn quan mới về chủ đề rung động cõi giới.

c. The close correspondence between the planes and the seven spirillae in the permanent atom of a solar Logos.

c. Sự tương ứng mật thiết giữa các cõi và bảy loa tuyến trong nguyên tử trường tồn của một Thái dương Thượng đế.

We have touched upon these spirillae and their function very briefly, and can now approach the question of the egoic Ray and the fire of mind from the subjective point of view, or in terms of fire.

Chúng ta đã chạm đến các loa tuyến này và chức năng của chúng một cách rất ngắn gọn, và giờ đây có thể tiếp cận vấn đề cung chân ngã và lửa của trí tuệ từ quan điểm chủ quan, hay bằng các thuật ngữ của lửa.

1. Centres or Wheels of Energy.

1. Các Trung tâm hay Bánh xe Năng lượng.

a. Centres of force. We shall again reach the clarity of vision desirable if we study the subject of monadic development from the angle of vision of the human unit. It has been taught in many occult text books that man has seven centres of force (or ten, according to some calculations); that three of these centres are paramount, and eventually synthesise the other four, or absorb their force or energy. This produces their eventual obscuration, or their passing out of manifestation; they occultly ‘die.’ This is paralleled in the logoic centres, the planetary schemes, which also in due course of time pass into obscuration, and transmit their energy to the major three schemes. The three main centres in the Microcosm are the Head, the Heart and the Throat.

a. Các trung tâm mãnh lực. Chúng ta sẽ lại đạt được sự sáng tỏ của tầm nhìn mong muốn nếu nghiên cứu chủ đề phát triển chân thần từ góc nhìn của đơn vị nhân loại. Trong nhiều sách giáo khoa huyền bí học đã dạy rằng con người có bảy trung tâm mãnh lực (hoặc mười, theo một số cách tính); rằng ba trong số các trung tâm này là tối quan trọng, và cuối cùng tổng hợp bốn trung tâm kia, hoặc hấp thu mãnh lực hay năng lượng của chúng. Điều này tạo ra sự lu mờ cuối cùng của chúng, hay việc chúng ra khỏi biểu hiện; theo huyền bí học, chúng “chết.” Điều này song hành với các trung tâm logoic, tức các hệ hành tinh, vốn cũng theo thời gian đi vào sự lu mờ, và truyền năng lượng của chúng cho ba hệ hành tinh chính. Ba trung tâm chính trong Tiểu thiên địa là Đầu, Tim và Cổ họng.

1.

The Head centre

The Monad

Will

Spirit.

2.

The Heart centre

The Ego

Love

Consciousness.

3.

The Throat centre

The Personality

Activity

Matter.

It will, therefore, be apparent that just as in man these centres are related to the threefold spiritual man in his total development, so the three types of centres—microcosmic or macrocosmic—come gradually more and more under the vitalising power of one of the three aspects of the Logos. These centres are recognised also as focal points of active force, manifesting to the vision [Page 538] of the clairvoyant as fiery wheels or the flaming petals of a lotus.

Do đó, sẽ hiển nhiên rằng cũng như nơi con người các trung tâm này liên hệ với con người tinh thần tam phân trong toàn bộ sự phát triển của y, thì ba loại trung tâm—vi mô hay vĩ mô—cũng dần dần ngày càng nằm dưới quyền năng tiếp sinh lực của một trong ba phương diện của Logos. Các trung tâm này cũng được nhận biết như những tiêu điểm của mãnh lực hoạt động, biểu hiện ra trước linh thị [Page 538] của nhà thông nhãn như những bánh xe lửa hay những cánh hoa rực cháy của một hoa sen.

b. The causal body… monadic heart centre. In studying the egoic body it should be remembered that the causal body is the correspondence in the monadic manifestation to the heart centre. It is a flaming wheel of fire within the monadic auric egg, which embraces the five planes of monadic manifestation; it is also seen as the twelve-petalled Lotus. Of these twelve petals, the innermost three are unrevealed, or are embryonic, and hence the causal body is frequently considered as a nine-petalled Lotus, or as a wheel of fire with only nine spokes or whorls. This is essentially true as regards the evolutionary process, but when a man has succeeded in awakening or unfolding the nine petals, or in arousing the fire of the nine spokes or whorls (which is practically consummated at the three major Initiations) the inner three are revealed. They respond to the monadic vibration, to the aspect of pure Spirit; it is the stimulation or revelation of these inner petals, by the One Initiator at the third and fourth Initiations which brings about the final conflagration and the blazing up of the causal body with the subsequent liberation of the central positive Life or Fire. 2. The Twelve-Petalled Egoic Lotus

b. Thể nguyên nhân… trung tâm tim chân thần. Khi nghiên cứu thể chân ngã, cần nhớ rằng thể nguyên nhân là đối phần trong biểu hiện chân thần với trung tâm tim. Nó là một bánh xe lửa rực cháy bên trong noãn hào quang chân thần, bao trùm năm cõi của biểu hiện chân thần; nó cũng được thấy như Hoa Sen mười hai cánh. Trong mười hai cánh này, ba cánh trong cùng chưa được mặc khải, hay còn ở trạng thái phôi thai, và do đó thể nguyên nhân thường được xem như một Hoa Sen chín cánh, hay như một bánh xe lửa chỉ có chín nan hay vòng xoáy. Điều này về căn bản là đúng xét theo tiến trình tiến hoá, nhưng khi một người đã thành công trong việc đánh thức hay khai mở chín cánh, hoặc khơi dậy lửa của chín nan hay vòng xoáy (điều này trên thực tế được hoàn tất ở ba lần Điểm đạo lớn) thì ba cánh bên trong được mặc khải. Chúng đáp ứng với rung động chân thần, với phương diện Tinh thần thuần túy; chính sự kích thích hay sự mặc khải của các cánh bên trong này, do Đấng Điểm đạo Duy Nhất thực hiện ở lần điểm đạo thứ ba và lần điểm đạo thứ tư, đem lại sự bùng cháy sau cùng và sự bốc sáng của thể nguyên nhân cùng với sự giải phóng tiếp theo của Sự sống hay Lửa dương trung tâm. 2. Hoa Sen Chân Ngã Mười Hai Cánh

Solar Fire is dual. It is the fire of matter or substance and the fire of mind blended. This makes man the six-pointed Star of Light, for each of these fires is triple. The fire of mind is also in essence dual, bringing in another triplicity, thus making the nine. When a man has awakened the nine fires, and has unfolded the nine petals, and when he has received the stimulus which is imparted at initiation, through being brought into conscious contact with the electric spark of his own particular Heavenly Man, they all blend and merge. The [Page 539] inner three which complete the twelve, and which are concerned with the final, and essentially spiritual stages, of his evolution, are really related more intimately to the evolution of the Heavenly Man, and are connected with the stimulus which He receives Himself in contacting the logoic electric spark, or the pure Spirit aspect of the Logos.

Lửa Thái dương là nhị phân. Nó là lửa của vật chất hay chất liệu và lửa của trí tuệ được hòa trộn. Điều này làm cho con người trở thành Ngôi Sao Ánh Sáng sáu cánh, vì mỗi ngọn lửa này đều là tam phân. Lửa của trí tuệ cũng về bản chất là nhị phân, đưa vào một bộ ba khác, do đó thành chín. Khi một người đã đánh thức chín ngọn lửa, và đã khai mở chín cánh, và khi y đã nhận được sự kích thích được truyền ban lúc điểm đạo, qua việc được đưa vào tiếp xúc hữu thức với tia lửa điện của Đấng Thiên Nhân riêng của mình, thì tất cả chúng hòa trộn và dung hợp. Ba cánh [Page 539] bên trong hoàn tất số mười hai, và liên quan đến các giai đoạn cuối cùng, và về căn bản là tinh thần, của sự tiến hoá của y, thực ra liên hệ mật thiết hơn với sự tiến hoá của Đấng Thiên Nhân, và được nối kết với sự kích thích mà chính Ngài nhận được khi tiếp xúc với tia lửa điện logoic, hay phương diện Tinh thần thuần túy của Logos.

It should here be noted that this ninefold development is hinted at in the Secret Doctrine in the various places where H. P. B. deals with the Kumaras (S. D., II, 257.) or the Heavenly Men, of Whom the microcosm is a reflection. She calls Them the Lords of Knowledge, the Lords of Love and the Lords of Sacrifice. Each of Them is a nine-petalled Lotus in the logoic body. They are the flaming Wheels, and in Their various names, as found in the Secret Doctrine, may be discovered the clue to the mystery. Let us realise this clearly, nevertheless, as regards the microcosm, and later extend the idea to the Heavenly Men. Let us picture the nine-petalled egoic lotus, the heart centre in the monadic consciousness, unfolding each of its petals in groups of three upon the three subplanes of the higher mental. Their unfoldment is worked out through the evolutionary process, undergone on the three planes in the three worlds, or within the three Halls of Ignorance, of Learning, and of Wisdom.

Cần lưu ý ở đây rằng sự phát triển cửu phân này được ám chỉ trong Giáo Lý Bí Nhiệm tại nhiều chỗ nơi H. P. B. bàn đến các Kumaras (S. D., II, 257.) hay các Đấng Thiên Nhân, mà tiểu thiên địa là sự phản chiếu của Các Ngài. Bà gọi Các Ngài là các Chúa Tể của Tri Thức, các Chúa Tể của Bác Ái và các Chúa Tể của Hi Sinh. Mỗi vị trong Các Ngài là một Hoa Sen chín cánh trong thể logoic. Các Ngài là những Bánh Xe rực cháy, và trong các danh xưng khác nhau của Các Ngài, như được tìm thấy trong Giáo Lý Bí Nhiệm, có thể tìm ra đầu mối của bí nhiệm. Tuy nhiên, trước hết hãy nhận thức điều này một cách rõ ràng đối với tiểu thiên địa, rồi sau đó mở rộng ý tưởng ấy đến các Đấng Thiên Nhân. Hãy hình dung hoa sen chân ngã chín cánh, trung tâm tim trong tâm thức chân thần, khai mở từng cánh của nó thành từng nhóm ba trên ba cõi phụ của cõi thượng trí. Sự khai mở của chúng được thực hiện qua tiến trình tiến hoá, trải qua trên ba cõi trong ba cõi giới, hay trong ba Phòng Vô Minh, Hiểu Biết và Minh triết.

a. First Group of Petals—Knowledge Petals:

a. Nhóm Cánh Hoa Thứ Nhất—các cánh hoa tri thức:

1. The Petal of Knowledge for the physical plane. Through the breaking of the Law and the ensuing suffering the price of ignorance is paid and knowledge is achieved. This unfoldment is brought about through physical plane experience.

1. Cánh hoa Tri Thức cho cõi hồng trần. Qua việc vi phạm Định luật và nỗi đau khổ tiếp theo, cái giá của vô minh được trả và tri thức được đạt đến. Sự khai mở này được đem lại qua kinh nghiệm cõi hồng trần.

2. The Petal of Love for the physical plane. Unfolds through physical relationships, and the gradual growth of love from love of self to love of others. [Page 540]

2. Cánh hoa Bác ái cho cõi hồng trần. Khai mở qua các mối quan hệ hồng trần, và sự tăng trưởng dần dần của tình thương từ tình thương bản thân đến tình thương người khác. [Page 540]

3. The Petal of Sacrifice for the physical plane. This unfoldment is brought about through the driving force of circumstances, and not of free will. It is the offering up of the physical body upon the altar of desire—low desire to begin with, but aspiration towards the end, though still desire. As man in the early stages of his evolution is polarised on the physical, much of this is undergone unconsciously and without any realisation of what is being consummated, but the result in the causal body is seen in a twofold increase of heat or of activity:

3. Cánh hoa hi sinh cho cõi hồng trần. Sự khai mở này được đem lại qua động lực thúc đẩy của hoàn cảnh, chứ không phải của ý chí tự do. Đó là sự dâng hiến thể xác lên bàn thờ của dục vọng—lúc đầu là dục vọng thấp, nhưng về sau là khát vọng, tuy vẫn còn là dục vọng. Vì con người trong các giai đoạn đầu của sự tiến hoá được phân cực trên cõi hồng trần, nên phần lớn điều này được trải qua một cách vô thức và không có bất kỳ sự chứng nghiệm nào về điều đang được hoàn tất, nhưng kết quả trong thể nguyên nhân được thấy trong sự gia tăng nhiệt hay hoạt động theo hai mặt:

The physical permanent atom becomes radioactive or a radiant point of fire.

Nguyên tử trường tồn hồng trần trở nên có tính phóng xạ hay thành một điểm lửa rực sáng.

The lower three petals become vibrant and begin to unfold until fully developed.

Ba cánh hoa thấp trở nên rung động và bắt đầu khai mở cho đến khi phát triển đầy đủ.

b. Second Group of Petals—Love Petals:

b. Nhóm Cánh Hoa Thứ Hai—các cánh hoa bác ái:

1. The Petal of Knowledge, for the astral plane; unfoldment is brought about by the conscious balancing of the pairs of opposites, and the gradual utilisation of the Law of Attraction and Repulsion. The man passes out of the Hall of Ignorance where, from the egoic point of view, he works blindly and begins to appreciate the effects of his physical plane life; by a realisation of his essential duality he begins to comprehend causes.

1. Cánh hoa Tri Thức, cho cõi cảm dục; sự khai mở được đem lại bởi sự quân bình hữu thức các cặp đối nghịch, và việc sử dụng dần dần Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Con người đi ra khỏi Phòng Vô Minh, nơi mà từ quan điểm chân ngã, y làm việc một cách mù quáng và bắt đầu nhận thức các hiệu quả của đời sống cõi hồng trần của mình; nhờ chứng nghiệm về tính nhị nguyên thiết yếu của mình, y bắt đầu thấu hiểu các nguyên nhân.

2. The Petal of Love for the astral plane; unfoldment is brought about through the process of gradually transmuting the love of the subjective nature or of the Self within. This has a dual effect and works through on to the physical plane in many lives of turmoil, of endeavour and of failure as a man strives to turn his attention to the love of the Real.

2. Cánh hoa Bác ái cho cõi cảm dục; sự khai mở được đem lại qua tiến trình dần dần chuyển hoá tình thương của bản chất chủ quan hay của Bản Ngã bên trong. Điều này có tác động nhị phân và tác động xuyên xuống cõi hồng trần qua nhiều kiếp sống đầy xáo trộn, nỗ lực và thất bại khi một người cố gắng hướng sự chú ý của mình đến tình thương đối với Cái Thực.

3. The Petal of Sacrifice for the astral plane; unfoldment is brought about by the attitude of man as he [Page 541] consciously endeavours to give up his own desires for the sake of his group. His motive is still somewhat a blind one, and still coloured by the desire for a return of that which he gives and for love from those he seeks to serve, but it is of a much higher order than the blind sacrifice to which a man is driven by circumstances as is the case in the earlier unfoldment. As this threefold enlightenment or unfoldment proceeds, again a dual result is seen:

3. Cánh hoa hi sinh cho cõi cảm dục; sự khai mở được đem lại bởi thái độ của con người khi y [Page 541] hữu thức nỗ lực từ bỏ các dục vọng riêng của mình vì lợi ích của nhóm mình. Động cơ của y vẫn còn phần nào mù quáng, và vẫn còn nhuốm màu bởi ham muốn được đền đáp cho điều mình cho đi và được yêu thương từ những người mà y tìm cách phụng sự, nhưng nó thuộc một trật tự cao hơn nhiều so với sự hi sinh mù quáng mà một người bị hoàn cảnh thúc ép phải làm như trong sự khai mở trước đó. Khi sự soi sáng hay khai mở tam phân này tiến triển, lại thấy một kết quả nhị phân:

The astral permanent atom comes into full activity and radiance, as regards five of its spirillae, and the two atoms of the physical and the astral planes are equally vibrant.

Nguyên tử trường tồn cảm dục đi vào hoạt động và sự rực sáng trọn vẹn, xét theo năm loa tuyến của nó, và hai nguyên tử của cõi hồng trần và cõi cảm dục rung động ngang nhau.

The three petals of the central ring of the egoic lotus come also into full unfoldment, and the heart centre of the Monad is seen as a wheel of fire with six of its spokes in full display of energy and rapidly rotating.

Ba cánh hoa của vòng trung tâm của hoa sen chân ngã cũng đi vào sự khai mở trọn vẹn, và trung tâm tim của Chân thần được thấy như một bánh xe lửa với sáu nan của nó biểu lộ năng lượng trọn vẹn và quay rất nhanh.

c. Third Group of Petals—Sacrifice Petals:

c. Nhóm Cánh Hoa Thứ Ba—các cánh hoa hi sinh:

1. The Petal of Knowledge for the mental plane; its unfoldment marks the period wherein the man consciously utilizes all that he has gained or is gaining under the law for the definite benefit of humanity.

1. Cánh hoa Tri Thức cho cõi trí; sự khai mở của nó đánh dấu giai đoạn trong đó con người hữu thức sử dụng tất cả những gì y đã đạt được hoặc đang đạt được dưới định luật vì lợi ích xác định của nhân loại.

Each of the groups of petals is distinguished by a predominant colouring; Knowledge, on the physical plane, with the colouring of the other two subsidiary; Love, on the astral plane, with the light of sacrifice weaker in tone than the other two, which practically show forth in equal brilliancy. On the mental plane, the light of sacrifice comes to its full display, and all that is seen is coloured by that light.

Mỗi nhóm cánh hoa được phân biệt bởi một màu sắc trội; Tri Thức, trên cõi hồng trần, với màu sắc của hai cánh kia là phụ; Bác ái, trên cõi cảm dục, với ánh sáng của hi sinh yếu sắc hơn hai cánh kia, vốn thực tế biểu lộ với độ rực sáng gần như ngang nhau. Trên cõi trí, ánh sáng của hi sinh đi đến chỗ biểu lộ trọn vẹn, và tất cả những gì được thấy đều nhuốm màu bởi ánh sáng ấy.

2. The Petal of Love on the mental plane is unfolded [Page 542] through the conscious steady application of all the powers of the soul to the service of humanity with no thought of return nor any desire for reward for the immense sacrifice involved.

2. Cánh hoa Bác ái trên cõi trí được khai mở [Page 542] qua việc áp dụng hữu thức và bền bỉ mọi quyền năng của linh hồn vào việc phụng sự nhân loại mà không nghĩ đến sự đền đáp hay bất kỳ ham muốn phần thưởng nào cho sự hi sinh to lớn liên hệ đến đó.

3. The Petal of Sacrifice for the mental plane: demonstrates as the predominant bias of the soul as seen in a series of many lives spent by the initiate prior to his final emancipation. He becomes in his sphere the “Great Sacrifice.”

3. Cánh hoa hi sinh cho cõi trí: biểu lộ như khuynh hướng trội của linh hồn như được thấy trong một chuỗi nhiều kiếp sống do điểm đạo đồ trải qua trước khi được giải thoát sau cùng. Y trở thành trong phạm vi của mình “Đại Hi Sinh.”

This stage can be seen objectively to the eye of the clairvoyant as dual in effect:

Giai đoạn này có thể được thấy một cách khách quan đối với mắt của nhà thông nhãn như có tác động nhị phân:

a. The mental unit becomes a radiant point of light; its four spirillae transmit force with intense rapidity.

a. Đơn vị hạ trí trở thành một điểm sáng rực; bốn loa tuyến của nó truyền mãnh lực với tốc độ cực kỳ mãnh liệt.

b. The three higher petals unfold, and the nine-petalled lotus is seen perfected.

b. Ba cánh hoa cao hơn khai mở, và hoa sen chín cánh được thấy là hoàn hảo.

The causal body is then (expressed in terms of fire) a blazing centre of heat, radiating to its group warmth and vitality. Within the periphery of the egoic wheel can be seen the nine spokes rotating with intense rapidity and—after the third Initiation—becoming fourth dimensional, or the wheels “turn upon” themselves. (Bible. Ezekiel, 1:15:21) In the midst forming a certain geometrical triangle (differing according to the ray of the Monad) can be seen three points of fire, or the permanent atoms and the mental unit, in all their glory; at the centre can be seen a central blaze of glory growing in intensity as the three inner petals respond to the stimulation. When the fire of matter, of “fire by friction,” becomes sufficiently intense; when the fire of mind of solar fire (which vitalises the nine petals) becomes equally fierce, and when the electric spark at the innermost centre blazes out and can be seen, the [Page 543] entire causal body becomes radioactive. Then the fires of substance (the vitality of the permanent atoms) escape from the atomic spheres, and add their quota to the great sphere in which they are contained; the fire of mind blends with its emanating source, and the central life escapes. This is the great liberation. The man, in terms of human endeavour, has achieved his goal. He has passed through the three Halls and in each has transferred that which he gained therein to the content of his consciousness; he has in ordered sequence developed and opened the petals of the lotus—first opening the lower three, which involves a process covering a vast period of time. Then the second series of petals are opened, during a period of time covering his participation intelligently in world affairs until he enters the spiritual kingdom at the first Initiation; and a final and briefer period wherein the three higher or inner ring of petals are developed and opened.

Khi đó thể nguyên nhân (được diễn tả bằng các thuật ngữ của lửa) là một trung tâm nhiệt rực cháy, tỏa ra cho nhóm của nó sự ấm áp và sinh lực. Trong chu vi của bánh xe chân ngã có thể thấy chín nan quay với tốc độ cực kỳ nhanh và—sau lần điểm đạo thứ ba—trở thành bốn chiều, hay các bánh xe “quay trên” chính chúng. (Kinh Thánh. Ezekiel, 1:15:21) Ở giữa, tạo thành một tam giác hình học nhất định (khác nhau tùy theo cung của Chân thần), có thể thấy ba điểm lửa, hay các nguyên tử trường tồn và đơn vị hạ trí, trong toàn bộ vinh quang của chúng; tại trung tâm có thể thấy một ngọn lửa vinh quang trung tâm tăng dần cường độ khi ba cánh hoa bên trong đáp ứng với sự kích thích. Khi lửa của vật chất, của “Lửa ma sát,” trở nên đủ mãnh liệt; khi lửa của trí tuệ của Lửa Thái dương (tiếp sinh lực cho chín cánh hoa) trở nên dữ dội tương đương, và khi tia lửa điện ở trung tâm sâu kín nhất bùng cháy và có thể được thấy, thì [Page 543] toàn bộ thể nguyên nhân trở nên có tính phóng xạ. Khi đó các ngọn lửa của chất liệu (sinh lực của các nguyên tử trường tồn) thoát ra khỏi các khối cầu nguyên tử, và góp phần của chúng vào khối cầu lớn trong đó chúng được chứa đựng; lửa của trí tuệ hòa nhập với nguồn phát xạ của nó, và sự sống trung tâm thoát ra. Đây là sự giải thoát lớn lao. Con người, xét theo nỗ lực của nhân loại, đã đạt được mục tiêu của mình. Y đã đi qua ba Phòng và trong mỗi Phòng đã chuyển dịch điều mình đạt được ở đó vào nội dung tâm thức của mình; y đã theo trình tự có trật tự phát triển và khai mở các cánh hoa của hoa sen—trước hết khai mở ba cánh thấp, điều này bao hàm một tiến trình kéo dài qua một thời kỳ vô cùng lâu dài. Sau đó loạt cánh hoa thứ hai được khai mở, trong một thời kỳ bao gồm sự tham dự một cách thông minh của y vào các công việc thế gian cho đến khi y đi vào giới tinh thần ở lần điểm đạo thứ nhất; và một thời kỳ cuối cùng ngắn hơn trong đó ba cánh hoa cao hơn hay vòng trong được phát triển và khai mở.

In closing what may be said on this subject of the egoic Ray and fire of mind, I would request the student to bear the following points in mind:

Để kết thúc những gì có thể nói về chủ đề cung chân ngã và lửa của trí tuệ này, tôi xin yêu cầu đạo sinh ghi nhớ các điểm sau đây:

First. That the order of the development of the petals and the stimulation of the fires depends upon the Ray of the Monad, and the subray upon which the causal body finds itself. This thought would bear expansion, and would prove a fruitful source of study to the occult investigator.

Thứ nhất. Rằng trật tự phát triển của các cánh hoa và sự kích thích các ngọn lửa tùy thuộc vào cung của Chân thần, và cung phụ mà trên đó thể nguyên nhân tự thấy mình ở đó. Tư tưởng này đáng được khai triển, và sẽ chứng tỏ là một nguồn nghiên cứu phong phú cho nhà khảo cứu huyền bí học.

Second. That this unfoldment proceeds slowly in the early stages, and only proceeds with rapidity as the man himself works at it with conscious effort.

Thứ hai. Rằng sự khai mở này tiến hành chậm chạp trong các giai đoạn đầu, và chỉ tiến hành nhanh chóng khi chính con người làm việc với nó bằng nỗ lực hữu thức.

The Ego takes no active interest in the development until the second petal in the second series is beginning to open. Before that time, the work proceeds under the [Page 544] law of its being and through the inherent life of the second Logos which is the life of the petals of the lotus. The life of the first Logos, working through the SELF (who dwells in a form built by the life or energy of the second Logos out of force-substance animated by the life of the third Logos) only responds to opportunity when the above mentioned stage is reached.

Chân ngã không có sự quan tâm tích cực nào đến sự phát triển cho đến khi cánh hoa thứ hai trong loạt thứ hai bắt đầu khai mở. Trước thời điểm đó, công việc tiến hành dưới [Page 544] định luật hiện hữu của nó và qua sự sống cố hữu của Logos thứ hai, vốn là sự sống của các cánh hoa của hoa sen. Sự sống của Logos thứ nhất, hoạt động qua BẢN NGÃ (đấng ngự trong một hình tướng được xây dựng bởi sự sống hay năng lượng của Logos thứ hai từ chất liệu-mãnh lực được tiếp sinh lực bởi sự sống của Logos thứ ba) chỉ đáp ứng với cơ hội khi giai đoạn nói trên đã đạt tới.

Finally: The ceremony of initiation is only undergone when the causal body is in a condition to respond to the Will aspect of the Heavenly Man (the first aspect) and to do this through the glad co-operation of the fully conscious self.

Sau cùng: nghi lễ điểm đạo chỉ được trải qua khi thể nguyên nhân ở trong tình trạng có thể đáp ứng với phương diện Ý Chí của Đấng Thiên Nhân (phương diện thứ nhất) và làm điều này qua sự hợp tác hoan hỉ của bản ngã hoàn toàn hữu thức.

More on this is not now possible, but enough has here been indicated to open up various lines of study. These, if followed, will lead the student to much of practical value and application.

Hiện giờ không thể nói thêm về điều này, nhưng ở đây đã chỉ ra đủ để mở ra nhiều đường hướng nghiên cứu khác nhau. Nếu được theo đuổi, những đường hướng này sẽ dẫn đạo sinh đến nhiều điều có giá trị và ứng dụng thực tiễn.

3. Summary.

3. Tóm lược.

Our next subject concerns itself with the elementals of the mental plane, with the thought forms they animate, and with the consideration of them as force centres, capable of producing results—constructive, if rightly directed; destructive, if left blindly to follow their own course. Before taking up this matter, however, I want to gather together some threads of thought in connection with the matter just dealt with. If we have carefully followed the data given about the egoic manifestation on its own plane, and the fires of the causal body, we shall have noted the close resemblance between that egoic body, viewed as a force centre, and certain aspects of logoic manifestation.

Chủ đề kế tiếp của chúng ta bàn đến các hành khí của cõi trí, các hình tư tưởng mà chúng tiếp sinh lực, và việc xem xét chúng như các trung tâm mãnh lực, có khả năng tạo ra các kết quả—xây dựng, nếu được định hướng đúng; hủy diệt, nếu bị bỏ mặc một cách mù quáng để đi theo lộ trình riêng của chúng. Tuy nhiên, trước khi đề cập đến vấn đề này, tôi muốn gom lại một số sợi chỉ tư tưởng liên hệ với vấn đề vừa được bàn đến. Nếu chúng ta đã cẩn thận theo dõi các dữ kiện được đưa ra về biểu hiện chân ngã trên chính cõi của nó, và các ngọn lửa của thể nguyên nhân, chúng ta sẽ nhận thấy sự tương tự mật thiết giữa thể chân ngã đó, được xem như một trung tâm mãnh lực, và một số phương diện của biểu hiện logoic.

The causal body has been seen as a wheel of fire, containing within its periphery three focal points of energy, the permanent atoms. They are analogous, as earlier pointed out, to the seventh principle of each of the three aspects—will or power, love-wisdom, and active intelligence. [Page 545] Each of these focal points has its own internal economy, as seen in the spirillae, which are essentially streams of force, responding to stimulation and vibration, aroused within and without their limiting ring-pass-not. The internal life of the permanent atom, and that which animates and produces its activity, is the life of the third aspect; the force playing upon it and through it is the life of the second aspect. As evolution proceeds the intensity of the life forces from within and those which affect it from without, grows gradually stronger and stronger, and the light of the permanent atoms increases, the petals of the lotus unfold, and the spokes of the radiatory fire come into action. Bear in mind here, that the permanent atoms are concerned with the substance aspect of Existence or Becoming, while the petals of the lotus, or the fiery spokes of the wheel, deal specifically with the psychical aspect, or the development of consciousness; the central nucleus, or the three inner petals, embodies the aspect of pure Spirit.

Thể nguyên nhân đã được thấy như một bánh xe lửa, chứa trong chu vi của nó ba tiêu điểm năng lượng, tức các nguyên tử trường tồn. Như đã chỉ ra trước đây, chúng tương đồng với nguyên khí thứ bảy của mỗi một trong ba phương diện—ý chí hay quyền năng, bác ái-minh triết, và trí tuệ hoạt động. [Page 545] Mỗi tiêu điểm này có cơ cấu nội tại riêng của nó, như được thấy trong các loa tuyến, vốn về bản chất là các dòng mãnh lực, đáp ứng với sự kích thích và rung động, được khơi dậy bên trong và bên ngoài vòng-giới-hạn giới hạn của chúng. Sự sống nội tại của nguyên tử trường tồn, và cái tiếp sinh lực và tạo ra hoạt động của nó, là sự sống của phương diện thứ ba; mãnh lực tác động lên nó và xuyên qua nó là sự sống của phương diện thứ hai. Khi tiến hoá tiếp diễn, cường độ của các mãnh lực sự sống từ bên trong và những mãnh lực tác động lên nó từ bên ngoài dần dần mạnh hơn và mạnh hơn, và ánh sáng của các nguyên tử trường tồn gia tăng, các cánh hoa của hoa sen khai mở, và các nan của lửa bức xạ đi vào hoạt động. Hãy ghi nhớ ở đây, rằng các nguyên tử trường tồn liên quan đến phương diện chất liệu của Hiện Hữu hay Đang Trở Thành, trong khi các cánh hoa của hoa sen, hay các nan lửa của bánh xe, đặc biệt liên quan đến phương diện thông linh, hay sự phát triển của tâm thức; hạt nhân trung tâm, hay ba cánh hoa bên trong, hiện thân cho phương diện Tinh thần thuần túy.

All three lines of evolution are proceeding simultaneously, and have a reflex action the one upon the other; it is this which produces the consequent perfection of unfoldment. It is neither possible nor desirable to follow each line of this threefold evolution separately, nor to consider them as dissociated from each other. The interplay is too accurate, and the mutual stimulation too important to be neglected by the student of egoic evolution.

Cả ba đường tiến hoá đều đang tiến hành đồng thời, và có tác động phản hồi lẫn nhau; chính điều này tạo ra sự hoàn hảo tiếp theo của sự khai mở. Không thể cũng không nên theo dõi riêng rẽ từng đường của sự tiến hoá tam phân này, cũng không nên xem chúng như tách rời nhau. Sự tương tác quá chính xác, và sự kích thích hỗ tương quá quan trọng để bị đạo sinh của sự tiến hoá chân ngã bỏ qua.

It is, as stated elsewhere, through the permanent atoms that the Ego comes en rapport with his objective world; he works upon and through his environment successfully or blindly just in so far as he can energise his permanent atoms, and bring the spirillae out of latency into potency. This only becomes possible as he unfolds the petals of the lotus. It must be remembered that the three lower petals when fully unfolded affect, through [Page 546] their vitality, the three major spirillae in the physical permanent atom. As the second ring of petals gradually opens, the astral permanent atom undergoes a similar process, leading up to the full arousing of the spirillae within the mental unit.

Như đã nói ở nơi khác, chính qua các nguyên tử trường tồn mà chân ngã tiếp xúc với thế giới khách quan của mình; y tác động lên và xuyên qua môi trường của mình một cách thành công hay mù quáng đúng theo mức độ y có thể truyền năng lượng cho các nguyên tử trường tồn của mình, và đưa các loa tuyến từ trạng thái tiềm ẩn vào trạng thái hữu lực. Điều này chỉ trở nên khả hữu khi y khai mở các cánh hoa của hoa sen. Cần nhớ rằng ba cánh hoa thấp khi được khai mở hoàn toàn sẽ tác động, qua [Page 546] sinh lực của chúng, lên ba loa tuyến chính trong nguyên tử trường tồn hồng trần. Khi vòng cánh hoa thứ hai dần dần mở ra, nguyên tử trường tồn cảm dục trải qua một tiến trình tương tự, dẫn đến sự khơi dậy trọn vẹn các loa tuyến bên trong đơn vị hạ trí.

Here I would point out that there is a slight difference in the case of the mental unit, for the four spirillae of the mental unit are aroused to full activity when the knowledge petal of the final three opens. The opening of the remaining two reveal the glowing threefold flower which lies at the centre of egoic manifestation.

Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng có một khác biệt nhỏ trong trường hợp của đơn vị hạ trí, vì bốn loa tuyến của đơn vị hạ trí được khơi dậy đến hoạt động trọn vẹn khi cánh hoa tri thức của ba cánh cuối cùng mở ra. Việc mở hai cánh còn lại mặc khải đóa hoa tam phân rực sáng nằm ở trung tâm của biểu hiện chân ngã.

It would be wise to sound a note of warning here in connection with this question of egoic unfoldment. What has been said here has been but the formulation of the general plan of egoic unfoldment as interpreted in terms of consciousness or of fire. In studying the subject with due personal application, the student should bear in mind the following facts:

Sẽ là khôn ngoan nếu nêu lên một lời cảnh báo ở đây liên quan đến vấn đề khai mở chân ngã này. Những gì đã được nói ở đây chỉ là sự trình bày của kế hoạch tổng quát về sự khai mở chân ngã như được diễn giải bằng các thuật ngữ của tâm thức hay của lửa. Khi nghiên cứu chủ đề này với sự ứng dụng cá nhân thích đáng, đạo sinh nên ghi nhớ các sự kiện sau:

First, that according to the Ray of the Monad, so will the petals unfold. For instance, if the Ray of the Monad is the second Ray, the knowledge petal will be the first to open, but the second petal of love will almost parallel its development, being for that particular type of Ego the line of easiest unfoldment; the knowledge petal will be for it the most difficult to open.

Thứ nhất, rằng tùy theo cung của Chân thần mà các cánh hoa sẽ khai mở. Chẳng hạn, nếu cung của Chân thần là cung hai, cánh hoa tri thức sẽ là cánh đầu tiên mở ra, nhưng cánh hoa bác ái thứ hai sẽ gần như song hành với sự phát triển của nó, vì đối với loại chân ngã đặc biệt đó, đây là đường khai mở dễ dàng nhất; cánh hoa tri thức sẽ là cánh khó mở nhất đối với nó.

Second, that the effects of one circle of petals opening will be felt within the next circle at an early stage and will cause a vibratory response, hence the greater rapidity of the later stages of unfoldment as compared with the first.

Thứ hai, rằng các hiệu quả của việc một vòng cánh hoa mở ra sẽ được cảm nhận trong vòng kế tiếp ở một giai đoạn sớm và sẽ gây ra một đáp ứng rung động, do đó các giai đoạn khai mở về sau diễn ra nhanh hơn nhiều so với giai đoạn đầu.

Third, that there exist many cases of uneven or unequal unfoldment. Quite frequently people are found with perhaps two petals unfolded in the first circle and one still in latency, while a petal within the central or second ring may be in full development. This is the explanation frequently of the power in service along [Page 547] certain lines displayed by some, coupled with a comparatively low stage of development or of consciousness (egoically speaking). This is due to varying causes, such as the karma of the Monad itself on its high plane and the strength of the monadic grip upon the ego; many lives given to a particular line of action, resulting in the setting up of a strong vibration—one so strong that it renders the development of response to subsidiary vibrations difficult of attainment; certain peculiar conditions hidden in the evolution of any particular Lord of a Ray, and the effect of that condition upon a particular group of cells; the group karma of a collection or congery of causal bodies, and their mutual interplay. Every egoic unit or monadic force centre has a definite effect upon the group or community of Egos in which it may have a place, and as the interaction proceeds results are sometimes produced of a temporarily unexpected nature.

Thứ ba, rằng có nhiều trường hợp khai mở không đồng đều hay không cân xứng. Khá thường xuyên người ta thấy những người có thể đã khai mở hai cánh hoa trong vòng thứ nhất và một cánh vẫn còn tiềm ẩn, trong khi một cánh hoa trong vòng trung tâm hay vòng thứ hai có thể đang phát triển đầy đủ. Đây thường là lời giải thích cho quyền năng phụng sự theo [Page 547] một số đường hướng nhất định được một số người biểu lộ, đi kèm với một giai đoạn phát triển hay tâm thức tương đối thấp (xét theo chân ngã). Điều này là do nhiều nguyên nhân khác nhau, như nghiệp quả của chính Chân thần trên cõi cao của nó và sức mạnh của sự nắm giữ chân thần lên chân ngã; nhiều kiếp sống được hiến cho một đường hành động đặc biệt, dẫn đến việc thiết lập một rung động mạnh—mạnh đến mức khiến sự phát triển khả năng đáp ứng với các rung động phụ trở nên khó đạt được; một số điều kiện đặc thù ẩn giấu trong sự tiến hoá của một Chúa Tể Cung nào đó, và tác động của điều kiện ấy lên một nhóm tế bào nhất định; nghiệp quả nhóm của một tập hợp hay cụm các thể nguyên nhân, và sự tương tác hỗ tương của chúng. Mỗi đơn vị chân ngã hay trung tâm mãnh lực chân thần đều có một tác động xác định lên nhóm hay cộng đồng các chân ngã mà nó có thể có một vị trí trong đó, và khi sự tương tác tiếp diễn, đôi khi tạo ra những kết quả có tính chất tạm thời bất ngờ.

These points should be carefully borne in mind by the student of egoic evolution. This whole subject is of interest in that it is the next step ahead for the students of occult psychology. Much will be eventually ascertained which will throw new light upon the possibility of work upon the physical plane for man. The whole secret of success in any endeavour or enterprise is primarily based on two things:

Những điểm này cần được đạo sinh của sự tiến hoá chân ngã ghi nhớ cẩn thận. Toàn bộ chủ đề này đáng quan tâm vì nó là bước kế tiếp phía trước cho các đạo sinh của Tâm Lý Học Nội Môn. Cuối cùng sẽ xác định được nhiều điều, và những điều ấy sẽ soi rọi ánh sáng mới lên khả năng làm việc trên cõi hồng trần của con người. Toàn bộ bí mật của thành công trong bất kỳ nỗ lực hay công việc nào trước hết dựa trên hai điều:

First, the ability of the Ego to work through the personality, using it simply as the medium of expression.

Thứ nhất, khả năng của chân ngã làm việc qua phàm ngã, chỉ dùng nó như phương tiện biểu đạt.

Second, the karma of the egoic group as it becomes more apparent on the physical plane. Hitherto, much has been said and taught about individual karma. Group karma in the future will slowly assume its rightful place in the thought of students, and this will lead to more intelligent co-operation, to a more sympathetic understanding of group responsibilities, and to a more adequate solution of group problems.

Thứ hai, nghiệp quả của nhóm chân ngã khi nó trở nên hiển nhiên hơn trên cõi hồng trần. Cho đến nay, nhiều điều đã được nói và dạy về nghiệp quả cá nhân. Trong tương lai, nghiệp quả nhóm sẽ từ từ giữ vị trí đúng đắn của nó trong tư tưởng của các đạo sinh, và điều này sẽ dẫn đến sự hợp tác thông minh hơn, đến sự thấu hiểu đầy cảm thông hơn về các trách nhiệm nhóm, và đến một giải pháp thích đáng hơn cho các vấn đề nhóm.

[Page 548] The study of occult psychology involves a true conception of the nature of the Ego, or the arousing of the Ego to full activity in manifestation; it will necessitate the sound formulation of the laws of egoic unfoldment, of the methods whereby, petal by petal, the lotus may be brought to perfection, and of the triple nature of its evolution; it will bring about an eventual apprehension of the true meaning of force, and of energy in its dual aspect—internal vibration and external radiation; it will produce the centering of the attention of all advanced students upon the centres—in this case not the physical centres on etheric levels but upon the psychical centres, such as the Ego in the causal body and egoic groups. This will produce later a better comprehension of the effect of one consciousness upon another consciousness on the physical plane, and this knowledge will be scientifically utilised to produce specific results in group evolution, and thus some of the world problems will find solution. Finally, the laws of fire will be studied, the nature of heat, of radiation and of flame will be occultly investigated, and the action of one fire upon another fire, the result of radiation from one conscious sphere to another will be realised; the method of arousing consciousness on the different planes by action upon the fires of the causal body and their stimulation will be gradually revealed.

[Page 548] Việc nghiên cứu Tâm Lý Học Nội Môn bao hàm một quan niệm chân chính về bản chất của chân ngã, hay việc khơi dậy chân ngã đến hoạt động trọn vẹn trong biểu hiện; nó sẽ đòi hỏi sự hình thành vững chắc các định luật của sự khai mở chân ngã, của các phương pháp nhờ đó, từng cánh hoa một, hoa sen có thể được đưa đến chỗ hoàn hảo, và của bản chất tam phân của sự tiến hoá của nó; nó sẽ đem lại sự lĩnh hội cuối cùng về ý nghĩa chân thực của mãnh lực, và của năng lượng trong phương diện nhị phân của nó—rung động bên trong và bức xạ bên ngoài; nó sẽ làm cho sự chú ý của mọi đạo sinh tiến bộ tập trung vào các trung tâm—trong trường hợp này không phải các trung tâm hồng trần trên các cấp dĩ thái mà là các trung tâm thông linh, như chân ngã trong thể nguyên nhân và các nhóm chân ngã. Điều này về sau sẽ tạo ra sự thấu hiểu tốt hơn về tác động của một tâm thức lên một tâm thức khác trên cõi hồng trần, và tri thức này sẽ được sử dụng một cách khoa học để tạo ra các kết quả xác định trong sự tiến hoá nhóm, và như vậy một số vấn đề của thế giới sẽ tìm được giải pháp. Sau cùng, các định luật của lửa sẽ được nghiên cứu, bản chất của nhiệt, của bức xạ và của ngọn lửa sẽ được khảo cứu một cách huyền bí, và tác động của ngọn lửa này lên ngọn lửa khác, kết quả của sự bức xạ từ khối cầu hữu thức này sang khối cầu hữu thức khác sẽ được chứng nghiệm; phương pháp khơi dậy tâm thức trên các cõi khác nhau bằng tác động lên các ngọn lửa của thể nguyên nhân và sự kích thích chúng sẽ dần dần được mặc khải.

The whole question is slowly, very slowly, coming to the fore in human thought (even though this is little realised) through the study of vocational education, business efficiency, and the place of the human unit in any trade or enterprise. Men are being spoken of and considered in terms of potential force factors, and this is a step in the right direction.

Toàn bộ vấn đề này đang từ từ, rất từ từ, nổi lên trong tư tưởng nhân loại (dù điều này ít được nhận ra) qua việc nghiên cứu giáo dục nghề nghiệp, hiệu quả kinh doanh, và vị trí của đơn vị nhân loại trong bất kỳ ngành nghề hay công việc nào. Con người đang được nói đến và được xem xét theo các thuật ngữ của những yếu tố mãnh lực tiềm năng, và đây là một bước đi đúng hướng.

Approaching the same question from the personality standpoint and not the egoic, the time is fast approaching when the emphasis will be laid in education upon [Page 549] how best the young can be taught to contact their own ego or higher energy; how best they can be led to appropriate the knowledge and ability of their higher self for use on the physical plane; how best they can ascertain their group formation, and thus work along with their group, and in unison with the total energy of that group; how best their threefold lower self—physical, astral, and mental—can be brought into direct alignment with their higher centre of force, and thus draw down a continuous supply of energy for the strengthening of their three vehicles, and their wise manipulation; how best the various spirillae can be awakened and the energy within their own cells released for action. All this will be a thing of gradual evolution, but I have here outlined the trend of the future study, as in the formulation of possibility lies its eventual realisation. Such a process must necessarily be slow. The powers of the ego are stupendous and if released now through the agency of an unready personality would lead to dire disaster. But the time will come, and in the meantime a due apprehension of inherent capacity will profit all who have the intuition to recognise the goal.

Tiếp cận cùng một vấn đề này từ quan điểm phàm ngã chứ không phải chân ngã, thời điểm đang nhanh chóng đến khi trọng tâm trong giáo dục sẽ được đặt vào [Page 549] cách tốt nhất để người trẻ được dạy tiếp xúc với chân ngã hay năng lượng cao hơn của chính mình; cách tốt nhất để họ được dẫn dắt chiếm hữu tri thức và khả năng của chân ngã của mình để sử dụng trên cõi hồng trần; cách tốt nhất để họ có thể xác định sự hình thành nhóm của mình, và nhờ đó làm việc cùng với nhóm của mình, và trong sự hợp nhất với tổng năng lượng của nhóm đó; cách tốt nhất để phàm ngã tam phân của họ—hồng trần, cảm dục và trí tuệ—có thể được chỉnh hợp trực tiếp với trung tâm mãnh lực cao hơn của họ, và nhờ đó kéo xuống một nguồn cung năng lượng liên tục để tăng cường ba vận cụ của họ, và điều khiển chúng một cách khôn ngoan; cách tốt nhất để các loa tuyến khác nhau có thể được đánh thức và năng lượng bên trong chính các tế bào của họ được giải phóng cho hoạt động. Tất cả điều này sẽ là một việc của sự tiến hoá dần dần, nhưng ở đây tôi đã phác họa xu hướng của việc nghiên cứu trong tương lai, vì chính trong sự hình thành khả năng mà có sự chứng nghiệm cuối cùng của nó. Một tiến trình như thế tất yếu phải chậm. Các quyền năng của chân ngã là vô cùng to lớn và nếu được giải phóng ngay bây giờ qua tác nhân của một phàm ngã chưa sẵn sàng sẽ dẫn đến tai họa nghiêm trọng. Nhưng thời điểm ấy sẽ đến, và trong khi chờ đợi, sự lĩnh hội thích đáng về năng lực cố hữu sẽ mang lại lợi ích cho tất cả những ai có trực giác để nhận ra mục tiêu.

DIVISION D – THOUGHT ELEMENTALS AND FIRE ELEMENTALS

PHÂN KHU D – CÁC HÀNH KHÍ TƯ TƯỞNG VÀ CÁC HÀNH KHÍ CỦA LỬA

I. THOUGHT FORMS

I. CÁC HÌNH TƯ TƯỞNG

[Page 550] 1. Their function.

[Page 550] 1. Chức năng của chúng.

a. To respond to vibration.

a. Đáp ứng với rung động.

b. To provide the vehicle for an idea.

b. Cung cấp vận cụ cho một ý tưởng.

c. To carry out specific purpose.

c. Thực hiện mục đích xác định.

2: The Laws of Thought.

2: Các Định luật của Tư tưởng.

a. Three cosmic laws.

a. Ba định luật vũ trụ.

b. Seven systemic laws.

b. Bảy định luật hệ thống.

II. THOUGHT ELEMENTALS AND DEVAS

II. CÁC HÀNH KHÍ TƯ TƯỞNG VÀ THIÊN THẦN

1. The Ruler of Fire… Agni.

1. Đấng cai quản Lửa… Agni.

a. Agni and the solar Logos.

a. Agni và Thái dương Thượng đế.

b. Agni and the mental plane.

b. Agni và cõi trí.

c. Agni and the three Fires.

c. Agni và ba ngọn Lửa.

2. The Fire Devas… the Greater Builders.

2. Các thiên thần của Lửa… các đấng đại kiến tạo.

a. Introductory statements.

a. Những phát biểu nhập đề.

b. The functions of the devas.

b. Các chức năng của các thiên thần.

c. The devas and the planes.

c. Các thiên thần và các cõi.

3. The Solar Angels… the Agnishvattas.

3. Các Thái dương Thiên Thần… các Agnishvattas.

Introductory remarks.

Những nhận xét mở đầu.

a. On the fifth Principle.

a. Về nguyên khí thứ năm.

b. On Individualisation.

b. Về biệt ngã hóa.

c. On Incarnation.

c. Về sự nhập thể.

d. On the Building of the Causal Body.

d. Về việc xây dựng thể nguyên nhân.

4. The Fire Elementals… the Lesser Builders.

4. Các hành khí của lửa… các vị tiểu kiến tạo.

a. Introductory.

a. Mở đầu.

b. Physical plane elementals.

b. Các hành khí cõi hồng trần.

c. Elementals of the ethers.

c. Các hành khí của các cõi dĩ thái.

d. Elementals and the Microcosm. [Page 551]

d. Hành khí và Tiểu thiên địa. [Page 551]

III. MAN, AS A CREATOR IN MENTAL MATTER

III. CON NGƯỜI, NHƯ MỘT ĐẤNG SÁNG TẠO TRONG CHẤT LIỆU TRÍ TUỆ

1. The creation of thought forms.

1. Sự tạo ra các Hình tư tưởng.

2. The process of thought form building.

2. Tiến trình xây dựng Hình tư tưởng.

IV. MAN AND THE FIRE SPIRITS

IV. CON NGƯỜI VÀ CÁC TINH LINH CỦA LỬA

1. The Will aspect and creation.

1. Phương diện Ý chí và sự sáng tạo.

a. The condition of the magician.

a. Tình trạng của nhà huyền thuật.

b. Construction of thought forms.

b. Sự kiến tạo các Hình tư tưởng.

c. The occult significance of speech.

c. Ý nghĩa huyền bí của lời nói.

2. The nature of Magic.

2. Bản chất của huyền thuật.

a. Black magicians and white.

a. Các nhà hắc thuật và nhà huyền thuật chánh đạo.

b. The source of black magic.

b. Nguồn gốc của Hắc thuật.

c. Conditions for white magic.

c. Các điều kiện cho Chánh Thuật.

3. Fifteen rules for Magic.

3. Mười lăm quy luật cho huyền thuật.

a. Six rules for the mental plane.

a. Sáu quy luật cho cõi trí.

b. Five rules for the astral plane.

b. Năm quy luật cho cõi cảm dục.

c. Four rules for the physical plane.

c. Bốn quy luật cho cõi hồng trần.

Under this division we shall briefly give an outline of the study which we will undertake upon this vast and stupendous subject, for, as it definitely concerns the evolution of man and his power eventually to create, it will be wise for us to take up the matter in some detail.

Dưới phân विभाग này, chúng ta sẽ vắn tắt phác ra đề cương của công trình nghiên cứu mà chúng ta sẽ đảm nhận về chủ đề rộng lớn và kỳ vĩ này, vì, do nó liên hệ rõ rệt đến sự tiến hoá của con người và quyền năng sáng tạo sau cùng của y, nên chúng ta nên khảo cứu vấn đề này với một mức độ chi tiết nào đó.

This section is not intended to give interesting bits of information anent the devas; I only seek to deal with the matter in its practical application to man, and to give as much of the necessary knowledge as will enable a man to control and build his own system, to understand the method of creation and to comprehend somewhat the lesser lives and the paralleling deva evolution with which he may be concerned.

Phần này không nhằm cung cấp những mẩu thông tin lý thú về các thiên thần; tôi chỉ tìm cách bàn đến vấn đề này trong sự ứng dụng thực tiễn của nó đối với con người, và đưa ra càng nhiều tri thức cần thiết càng tốt để giúp con người kiểm soát và xây dựng hệ thống riêng của mình, hiểu được phương pháp sáng tạo và phần nào lĩnh hội các sự sống nhỏ hơn cùng sự tiến hoá thiên thần song hành mà y có thể liên hệ.

I. THOUGHT FORMS

I. HÌNH TƯ TƯỞNG

1. Their Function.

1. Chức năng của chúng.

It will be noted that in studying this matter we have not started with that which is most apparent, the exoteric form in mental matter, but with the inner life or Idea within the form and with the Laws that govern the creative [Page 552] aspect. This function of every thought form is threefold:

Cần lưu ý rằng khi nghiên cứu vấn đề này, chúng ta đã không bắt đầu với điều hiển nhiên nhất, tức hình tướng ngoại môn trong chất liệu trí tuệ, mà với sự sống bên trong hay Ý tưởng ở trong hình tướng và với các Định luật chi phối phương diện sáng tạo [Page 552]. Chức năng này của mọi Hình tư tưởng có tính tam phân:

To respond to vibration

Đáp ứng với rung động

To provide a body for an idea

Cung cấp một thể cho một ý tưởng

To carry out specific purpose.

Thực hiện một mục đích đặc thù.

Let us first study the logoic thought form and then turn our attention to the thought forms fabricated by the Thinker from the systemic mental planes and in mental matter. We have to note that, in the case of the Logos, all upon which we have to base our conclusions are His physical manifestation, and His quality, psychic nature, aroma, emanation or magnetism, as we see it working out through the form. Hence we are very much handicapped.

Trước hết, chúng ta hãy nghiên cứu Hình tư tưởng của Thượng đế, rồi sau đó chuyển sự chú ý sang các Hình tư tưởng do Đấng Tư Tưởng tạo tác từ các cõi trí của hệ thống và trong chất liệu trí tuệ. Chúng ta phải lưu ý rằng, trong trường hợp của Thượng đế, tất cả những gì chúng ta có để làm nền tảng cho các kết luận của mình là biểu hiện hồng trần của Ngài, và phẩm tính, bản chất thông linh, hương khí, phát xạ hay từ điện của Ngài, như chúng ta thấy nó vận hành qua hình tướng. Do đó, chúng ta bị hạn chế rất nhiều.

a. Response to Vibration. It is always recognised in occult circles that the whole object of human evolution is to enable the Thinker to respond to every contact fully and consciously, and thus to utilise his material sheath, or sheaths, as adequate transmitter of such contact. The most easily studied human thought-form is the one the Ego creates through which to function. He builds his sheaths by the power of thought, and the dense physical body is the best sheath that—at any particular stage of evolution—he can at the time manufacture. The same can be predicated of the solar Logos. He builds by the power of thought a body which can respond to that group of vibrations which are concerned with the cosmic physical plane (the only one we can study). It is not yet adequate, and does not fully express the logoic Thinker.

a. Đáp ứng với rung động. Trong các giới huyền bí học, người ta luôn thừa nhận rằng toàn bộ mục tiêu của sự tiến hoá nhân loại là giúp Đấng Tư Tưởng đáp ứng đầy đủ và hữu thức với mọi tiếp xúc, và nhờ đó sử dụng vỏ bọc vật chất của y, hay các vỏ bọc của y, như những bộ truyền đạt thích hợp cho sự tiếp xúc ấy. Hình tư tưởng nhân loại dễ nghiên cứu nhất là hình mà chân ngã tạo ra để hoạt động qua đó. Y xây dựng các vỏ bọc của mình bằng quyền năng tư tưởng, và thể xác đậm đặc là vỏ bọc tốt nhất mà—ở bất kỳ giai đoạn tiến hoá riêng biệt nào—vào lúc đó y có thể tạo ra. Điều tương tự cũng có thể được khẳng định về Thái dương Thượng đế. Ngài xây dựng bằng quyền năng tư tưởng một thể có thể đáp ứng với nhóm rung động liên hệ đến cõi hồng trần vũ trụ (cõi duy nhất mà chúng ta có thể nghiên cứu). Nó vẫn chưa thích hợp, và chưa biểu lộ đầy đủ Đấng Tư Tưởng Thượng đế.

The vibrations to which the systemic thought-form must respond are many in number, but for our purposes might be enumerated as mainly seven:

Các rung động mà Hình tư tưởng hệ thống phải đáp ứng thì rất nhiều, nhưng vì mục đích của chúng ta có thể liệt kê chủ yếu thành bảy loại:

1. The vibrations of the cosmic physical plane, viewing it as all the matter of that plane which exists [Page 553] outside the logoic ring-pass-not. It concerns the pranic and akashic fluids and currents.

1. Các rung động của cõi hồng trần vũ trụ, xét nó như toàn bộ vật chất của cõi ấy hiện hữu [Page 553] bên ngoài vòng-giới-hạn của Thượng đế. Nó liên quan đến các lưu chất và dòng prana cùng akasha.

2. The vibrations of the cosmic astral plane as they affect the physical form of divine manifestation. This involves cosmically the action upon our solar Logos of the emotional quality of other cosmic entities, and concerns the magnetic effect upon Him of their psychic emanation. This, in view of the fact that His dense physical body is not a principle, is of a more potent nature than the first set of vibrations, as is the case also in man’s evolution.

2. Các rung động của cõi cảm dục vũ trụ khi chúng tác động đến hình tướng hồng trần của biểu hiện thiêng liêng. Điều này, về mặt vũ trụ, bao hàm tác động lên Thái dương Thượng đế của chúng ta bởi phẩm tính cảm xúc của các thực thể vũ trụ khác, và liên quan đến hiệu quả từ tính nơi Ngài do phát xạ thông linh của họ. Xét theo sự kiện rằng thể xác đậm đặc của Ngài không phải là một nguyên khí, điều này có bản chất mạnh hơn nhóm rung động thứ nhất, cũng như trong sự tiến hoá của con người.

3. Vibrations from that which, within the logoic consciousness, is recognised as the logoic Higher Self, or His emanating source. This brings the solar system within the vibratory radius of certain constellations which have a position of profound importance in the general evolution of the system.

3. Các rung động từ điều mà, trong tâm thức Thượng đế, được nhận biết là Bản Ngã Cao Siêu của Thượng đế, hay nguồn phát xạ của Ngài. Điều này đưa hệ mặt trời vào trong bán kính rung động của một số chòm sao có vị trí vô cùng quan trọng trong sự tiến hoá tổng quát của hệ thống.

4. Vibrations from Sirius via the cosmic mental plane.

4. Các rung động từ Sirius qua cõi trí vũ trụ.

5. Vibrations from the seven Rishis of the Great Bear, and primarily from those two Who are the Prototypes of the Lords of the seventh and fifth Rays. This is a most important point, and finds its microcosmic correspondence in the place which the seventh Ray has in the building of a thoughtform, and the use of the fifth Ray in the work of concretion. All magicians who work with matter and who are occupied with form-building (either consciously or unconsciously) call in these two types of force or energy.

5. Các rung động từ bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh, và chủ yếu từ hai Đấng là Nguyên mẫu của các Đấng Chúa Tể của cung bảy và cung năm. Đây là một điểm hết sức quan trọng, và tìm thấy sự tương ứng vi mô của nó trong vị trí mà cung bảy giữ trong việc xây dựng một Hình tư tưởng, và việc sử dụng cung năm trong công việc làm cho cụ thể. Mọi nhà huyền thuật làm việc với vật chất và bận tâm đến việc xây dựng hình tướng (dù hữu thức hay vô thức) đều gọi vào hai loại mãnh lực hay năng lượng này.

6. Certain very remote vibrations, as yet no more appreciable in the logoic Body than is monadic influence in that of average man, from the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, that cosmic [Page 554] Existence Who is expressing Himself through seven centres of force, of which our solar system is one.

6. Một số rung động rất xa xôi, hiện nay trong Thể của Thượng đế còn khó nhận thấy hơn cả ảnh hưởng chân thần trong thể của người trung bình, từ ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, Đấng Hiện Hữu vũ trụ ấy [Page 554] đang biểu lộ chính Ngài qua bảy trung tâm mãnh lực, trong đó hệ mặt trời của chúng ta là một.

7. A series of vibrations which will become more potent as our Logos nears that period which is occultly called “Divine Maturity,” which emanate from that constellation in the Heavens which embodies His polar opposite. This is a deep mystery and concerns the cosmic marriage of the Logos.

7. Một chuỗi rung động sẽ trở nên mạnh hơn khi Thượng đế của chúng ta tiến gần đến giai đoạn được gọi một cách huyền bí là “Sự Trưởng Thành Thiêng Liêng”, phát ra từ chòm sao trên Trời hiện thân cho cực đối nghịch của Ngài. Đây là một huyền nhiệm sâu xa và liên quan đến cuộc hôn phối vũ trụ của Thượng đế.

It will be apparent, therefore, how little can as yet be predicated anent the future of the solar system until the vibrations of the sixth and seventh order become more powerful, and their effects can consequently be studied more easily. It is not possible here to do more than indicate the seven types of vibrations to which our solar Logos (functioning in a material body) will in due course of time consciously, and fully, respond. He responds to vibrations of the first, second, third and fourth order quite fully at this time, but as yet (though responding) cannot fully, and consciously, utilise these types of energy. The vibration of the fifth order is recognised by Him, particularly in three of His centres, but is not as yet fully under His control. The other two are sensed, and felt, but so remotely as to be almost outside the range of His consciousness.

Do đó, sẽ thấy rõ rằng hiện nay chúng ta còn có thể nói rất ít về tương lai của hệ mặt trời cho đến khi các rung động thuộc loại thứ sáu và thứ bảy trở nên mạnh hơn, và vì thế các hiệu quả của chúng có thể được nghiên cứu dễ dàng hơn. Ở đây không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra bảy loại rung động mà Thái dương Thượng đế của chúng ta (đang hoạt động trong một thể vật chất) theo thời gian sẽ đáp ứng một cách hữu thức và trọn vẹn. Hiện nay Ngài đáp ứng khá đầy đủ với các rung động thuộc loại thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư, nhưng cho đến nay (dù có đáp ứng) vẫn chưa thể sử dụng đầy đủ và hữu thức các loại năng lượng này. Rung động thuộc loại thứ năm được Ngài nhận biết, đặc biệt trong ba trung tâm của Ngài, nhưng vẫn chưa hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Ngài. Hai loại còn lại được cảm nhận và cảm thấy, nhưng xa xôi đến mức gần như nằm ngoài phạm vi tâm thức của Ngài.

In carrying out these ideas in connection with man and the thought forms which he fabricates (such as his material sheaths), the correspondence can be worked out within the system, and from the point of view of the planetary schemes in which man has his place. The work of man as he builds in mental thought matter and constructs forms extraneous to himself, we shall deal with later.

Khi triển khai các ý tưởng này liên hệ đến con người và các Hình tư tưởng mà y tạo tác (chẳng hạn như các vỏ bọc vật chất của y), sự tương ứng có thể được khảo sát trong nội bộ hệ thống, và từ quan điểm của các hệ hành tinh nơi con người có vị trí của mình. Công việc của con người khi y xây dựng trong chất liệu tư tưởng trí tuệ và kiến tạo các hình tướng ở ngoài chính mình, chúng ta sẽ bàn đến sau.

The methods whereby vibratory response is brought about might be enumerated as follows: [Page 555]

Các phương pháp nhờ đó sự đáp ứng rung động được tạo ra có thể được liệt kê như sau: [Page 555]

Through the factor of time in evolution.

Qua yếu tố thời gian trong tiến hoá.

Through extra-systemic stimulation and intensive training, whether for a Logos or a man.

Qua sự kích thích ngoài hệ thống và sự huấn luyện chuyên sâu, dù là cho một Thượng đế hay một con người.

Through the process of Initiation, and the application of the Rods of Initiation.

Qua tiến trình Điểm đạo, và việc áp dụng các Thần Trượng Điểm đạo.

The factor of evolution is recognised and studied by many schools of thought, esoteric or exoteric. The extrasystemic stimulation involves a large number of factors, but the main two to be remembered are that this stimulation will be applied:

Yếu tố tiến hoá được nhiều trường phái tư tưởng, huyền bí hay ngoại môn, thừa nhận và nghiên cứu. Sự kích thích ngoài hệ thống bao hàm một số lượng lớn các yếu tố, nhưng hai yếu tố chính cần ghi nhớ là sự kích thích này sẽ được áp dụng:

Through the group to the unit.

Qua nhóm đến đơn vị.

Through a more evolved “Kingdom of Nature” to a less evolved.

Qua một “Giới của Tự Nhiên” tiến hoá hơn đến một giới kém tiến hoá hơn.

As regards the third factor of Initiation, it must be borne in mind that we are here considering only the great initiations, and not the numerous expansions of consciousness which can be traced through all kingdoms and all manifestations.

Về yếu tố thứ ba là Điểm đạo, cần ghi nhớ rằng ở đây chúng ta chỉ xét các cuộc điểm đạo lớn, chứ không phải vô số sự mở rộng tâm thức có thể được truy ra trong mọi giới và mọi biểu hiện.

In connection with what we have considered above, anent the primary function of a thought-form (the power to respond to vibration) I would emphasise the necessity of remembering that that response must be made by the inner embodied Idea, and that it will then through a complex reflex action, bring about response from the material sheath which veils it. Vibration is the result of subjective impulse, and makes its appeal to the subjective consciousness through impact upon whatever may be understood as substance; this impact is transmitted direct to the inner life, and in due turn is retransmitted to substance in the form of recognition or realisation. An analogous process may be studied in the nerve reactions of the physical frame, and their alliance with the brain consciousness.

Liên hệ đến điều chúng ta đã xét ở trên, về chức năng sơ khởi của một Hình tư tưởng (quyền năng đáp ứng với rung động), tôi muốn nhấn mạnh sự cần thiết phải nhớ rằng sự đáp ứng ấy phải được thực hiện bởi Ý tưởng nhập thể bên trong, và rồi qua một tác động phản xạ phức tạp, sẽ tạo ra sự đáp ứng từ vỏ bọc vật chất che phủ nó. Rung động là kết quả của xung lực chủ quan, và hướng lời kêu gọi của nó đến tâm thức chủ quan qua sự va chạm lên bất cứ điều gì có thể được hiểu là chất liệu; sự va chạm này được truyền trực tiếp đến sự sống bên trong, và đến lượt nó lại được truyền trở lại chất liệu dưới hình thức sự nhận biết hay chứng nghiệm. Một tiến trình tương tự có thể được nghiên cứu trong các phản ứng thần kinh của khung thể xác, và sự liên hệ của chúng với tâm thức bộ não.

As will be seen in the three worlds of man’s emprise, man will work as a Creator and will follow a similar procedure. [Page 556] His thought forms will be constructed of mental matter, chosen specifically because it vibrates to the same type of vibration as the Idea seeking embodiment, and these forms will persist—as does the logoic thought form, the solar system—for just as long as the factor of Will, or dynamic vitality, continues to hold it together.

Như sẽ thấy trong ba cõi giới thuộc phạm vi hoạt động của con người, con người sẽ làm việc như một Đấng sáng tạo và sẽ theo một thủ tục tương tự. [Page 556] Các Hình tư tưởng của y sẽ được kiến tạo bằng chất liệu trí tuệ, được chọn riêng vì nó rung động cùng loại rung động với Ý tưởng đang tìm cách nhập thể, và các hình này sẽ tồn tại—cũng như Hình tư tưởng của Thượng đế, tức hệ mặt trời—chừng nào yếu tố Ý chí, hay sinh lực năng động, còn tiếp tục giữ chúng lại với nhau.

This brings us to our next point:

Điều này đưa chúng ta đến điểm kế tiếp:

b. To Provide a Body for an Idea. In this statement we have latent the basic principle of incarnation, and of activity, even of existence itself. It involves the expansion of our idea to include the cosmic mental plane as we consider the Logos, and as the creative faculty of man is studied we are taken to the mental plane of the solar system. One fundamental thought must here be given and. pondered upon: This creative impulse, this tendency towards the concretion of the abstract, this inherent ability to “take form” has its fullest expression as yet in physical matter. The “raison d’être” is that—for man—all substances with which he creates, all forms which he builds, and all processes of concretion which he carries on, are created, built and carried on within the physical body of the Logos. Herein can be found the reason for the emphasis laid in nature on the sex aspect, and on that of physical reproduction; it can be seen in all the kingdoms of nature, with the exception of the first and fifth. This is a most significant point and the exceptions should be studied in their widest connotation, for they contain the basic mystery of sex on the involutionary path, and on the evolutionary. In them we have the two extremes. It will have been noted that as the idea that the solar system is the physical vehicle of the Logos and His body of manifestation is grasped, many problems become elucidated, and two points especially will gradually be apprehended by the student, if he meditates and studies:

b. Cung cấp một thể cho một ý tưởng. Trong phát biểu này tiềm ẩn nguyên lý căn bản của sự nhập thể, của hoạt động, và ngay cả của chính sự hiện hữu. Nó đòi hỏi chúng ta mở rộng ý niệm của mình để bao gồm cõi trí vũ trụ khi xét về Thượng đế, và khi nghiên cứu năng lực sáng tạo của con người, chúng ta được dẫn đến cõi trí của hệ mặt trời. Ở đây phải nêu ra và suy gẫm một tư tưởng căn bản: Xung lực sáng tạo này, khuynh hướng hướng đến việc làm cho cái trừu tượng trở nên cụ thể này, khả năng cố hữu để “mang lấy hình tướng” này, cho đến nay đạt biểu hiện đầy đủ nhất trong vật chất hồng trần. “Lý do tồn tại” là ở chỗ—đối với con người—mọi chất liệu mà y dùng để sáng tạo, mọi hình tướng mà y xây dựng, và mọi tiến trình làm cho cụ thể mà y tiến hành, đều được tạo ra, xây dựng và tiến hành bên trong thể xác của Thượng đế. Chính trong đó có thể tìm thấy lý do cho sự nhấn mạnh mà thiên nhiên đặt lên phương diện tính dục, và lên sự sinh sản hồng trần; điều này có thể thấy trong mọi giới tự nhiên, ngoại trừ giới thứ nhất và giới thứ năm. Đây là một điểm hết sức quan trọng và các ngoại lệ ấy cần được nghiên cứu trong ý nghĩa rộng nhất của chúng, vì chúng chứa đựng huyền nhiệm căn bản của tính dục trên con đường giáng hạ tiến hoá và trên con đường thăng thượng tiến hoá. Trong chúng, chúng ta có hai cực đoan. Cần lưu ý rằng khi ý tưởng cho rằng hệ mặt trời là vận cụ hồng trần của Thượng đế và là thể biểu hiện của Ngài được nắm bắt, nhiều vấn đề trở nên sáng tỏ, và đặc biệt có hai điểm sẽ dần dần được đạo sinh lĩnh hội, nếu y tham thiền và nghiên cứu:

First. That in due course of time, as the Logos [Page 557] achieves liberation from the trammels of physical matter, the whole objective system will come to be regarded as an idea or concept, clothed in a veil or sheath of subtler matter than the physical, and the logoic body will be viewed as the product of will and desire, and physical matter in any of its grades will not enter into its composition; it will simply be a desire body. This will bring about a condition of affairs inconceivable to us, and only to be somewhat apprehended by the man who can function upon the systemic buddhic plane the fourth cosmic ether. Bear in mind here that our astral plane is but the sixth subplane of the cosmic physical plane and that this provides us with no real grounds from which to reason concerning the cosmic astral plane. Only when the astral plane is a calm receiver of buddhic impulse, or a liquid reflector of that plane (which will not be till the close of the mahamanvantara) shall we be able to formulate any ideas anent the cosmic astral plane.

Thứ nhất. Rằng theo thời gian, khi Thượng đế [Page 557] đạt được sự giải thoát khỏi những ràng buộc của vật chất hồng trần, toàn bộ hệ thống khách quan sẽ được xem như một ý tưởng hay khái niệm, khoác trong một màn che hay vỏ bọc bằng chất liệu vi tế hơn hồng trần, và thể của Thượng đế sẽ được nhìn như sản phẩm của ý chí và dục vọng, còn vật chất hồng trần ở bất kỳ cấp độ nào cũng sẽ không tham dự vào thành phần cấu tạo của nó; nó đơn giản sẽ là một thể dục vọng. Điều này sẽ tạo ra một tình trạng không thể hình dung đối với chúng ta, và chỉ phần nào được lĩnh hội bởi người có thể hoạt động trên cõi Bồ đề của hệ thống, tức dĩ thái vũ trụ thứ tư. Ở đây hãy ghi nhớ rằng cõi cảm dục của chúng ta chỉ là cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ và điều đó không cho chúng ta nền tảng thực sự nào để suy luận về cõi cảm dục vũ trụ. Chỉ khi nào cõi cảm dục là một bộ tiếp nhận tĩnh lặng của xung lực Bồ đề, hay một tấm phản chiếu lưu động của cõi ấy (điều này sẽ không xảy ra cho đến cuối Đại giai kỳ sinh hóa) thì chúng ta mới có thể hình thành bất kỳ ý tưởng nào về cõi cảm dục vũ trụ.

Second. That the entire sex aspect of manifestation, as we understand it in the different kingdoms of nature, is an expression of the energy of the Logos, as it flows through and stimulates that centre in His body which corresponds to the generative organs. All the creative functions of the vegetable, animal, and human family, viewing them as a whole, are as yet purely physical, and based on lower desire. The desire of the Logos for physical incarnation is as yet the dominant note. Later His desire for that will be less and will become transmuted into desire for creation on mental levels only. This is what brings the Destroyer aspect into activity, leading to eventual obscuration, and the physical “death” of the solar system. Indication that this aspect is coming into power will be seen when two great events transpire: [Page 558]

Thứ hai. Rằng toàn bộ phương diện tính dục của biểu hiện, như chúng ta hiểu nó trong các giới khác nhau của tự nhiên, là một biểu hiện của năng lượng của Thượng đế, khi nó tuôn chảy qua và kích thích trung tâm trong thể của Ngài tương ứng với các cơ quan sinh sản. Mọi chức năng sáng tạo của giới thực vật, giới động vật và gia đình nhân loại, xét như một toàn thể, cho đến nay vẫn thuần túy là hồng trần, và dựa trên dục vọng thấp. Dục vọng của Thượng đế đối với sự nhập thể hồng trần cho đến nay vẫn là chủ âm chi phối. Về sau dục vọng ấy của Ngài sẽ giảm đi và sẽ được chuyển hoá thành dục vọng chỉ sáng tạo trên các cấp độ trí tuệ. Chính điều này đưa phương diện Hủy Diệt vào hoạt động, dẫn đến sự lu mờ sau cùng, và “cái chết” hồng trần của hệ mặt trời. Dấu hiệu cho thấy phương diện này đang đi vào quyền lực sẽ được thấy khi hai biến cố lớn xảy ra: [Page 558]

a. The ability of man consciously to create on mental levels, and the consequent transmutation of his lower sex impulses into higher.

a. Khả năng của con người trong việc sáng tạo một cách hữu thức trên các cấp độ trí tuệ, và sự chuyển hoá tương ứng các xung lực tính dục thấp của y thành cao hơn.

b. The mental vitalisation of another large section of the animal kingdom.

b. Sự tiếp sinh lực trí tuệ cho một bộ phận lớn khác của giới động vật.

When these two things can be seen working out in any round, it will be indicative of a decided mental polarisation of the Logos; we can only become cognisant of this by studying His body of manifestation in its component parts.

Khi có thể thấy hai điều này đang diễn ra trong bất kỳ cuộc tuần hoàn nào, đó sẽ là dấu hiệu cho thấy sự phân cực trí tuệ rõ rệt của Thượng đế; chúng ta chỉ có thể nhận biết điều này bằng cách nghiên cứu thể biểu hiện của Ngài trong các thành phần cấu tạo của nó.

What is here predicated anent the logoic thought form can be equally well stated about that of a Heavenly Man, and a planetary scheme. As His cosmic polarisation becomes more mental, and as His cosmic desire nature becomes transmuted, the force that plays through His centres will correspondingly be seen to vary in direction; He will withdraw force from certain of His lower centres and globes; He will cease to be interested in physical incarnation, and He will eventually withdraw within Himself. His thought-form will show a gradual diminution of vitality; the dense physical globe will die and pass out of objectivity, and other globes will temporarily hold His life, though not for long. In due course of time the entire scheme will be obscured, and He will function only in His cosmic astral body.

Điều được khẳng định ở đây về Hình tư tưởng của Thượng đế cũng có thể được phát biểu tương tự về Hình tư tưởng của một Đấng Thiên Nhân, và của một hệ hành tinh. Khi sự phân cực vũ trụ của Ngài trở nên trí tuệ hơn, và khi bản chất dục vọng vũ trụ của Ngài được chuyển hoá, mãnh lực vận hành qua các trung tâm của Ngài cũng sẽ tương ứng mà thay đổi phương hướng; Ngài sẽ rút mãnh lực khỏi một số trung tâm và các bầu hành tinh thấp của Ngài; Ngài sẽ không còn quan tâm đến sự nhập thể hồng trần, và cuối cùng Ngài sẽ rút vào bên trong chính mình. Hình tư tưởng của Ngài sẽ cho thấy sự suy giảm sinh lực dần dần; bầu hành tinh hồng trần đậm đặc sẽ chết và ra khỏi tính khách quan, và các bầu hành tinh khác sẽ tạm thời giữ sự sống của Ngài, dù không lâu. Theo thời gian, toàn bộ hệ hành tinh sẽ bị lu mờ, và Ngài sẽ chỉ hoạt động trong thể cảm dục vũ trụ của Ngài.

Such is the case too with a chain and its informing Life, viewing a chain as simply a centre in the body of the planetary Logos, yet having its own central factor. This can be seen in the Moon in a most interesting way. The desire of its Occupant was no longer for physical manifestation; He therefore withdrew His life. All that is left is the devitalised shell; the two other aspects have gone and only the third aspect, the inherent life of matter itself, remains gradually to dissipate also as the centuries elapse. In connection with man, a similar condition [Page 559] is seen in the gradual disintegration of the physical body after death; the two other aspects are removed, and the form decays.

Trường hợp của một Dãy và Sự sống phú linh cho nó cũng vậy, nếu xem một Dãy chỉ đơn giản là một trung tâm trong thể của Hành Tinh Thượng đế, nhưng vẫn có yếu tố trung tâm riêng của nó. Điều này có thể thấy nơi Mặt Trăng theo một cách rất lý thú. Dục vọng của Đấng Cư Ngụ trong đó không còn hướng đến biểu hiện hồng trần nữa; vì vậy Ngài đã rút sự sống của mình. Tất cả những gì còn lại là cái vỏ bị rút sinh lực; hai phương diện kia đã ra đi và chỉ còn phương diện thứ ba, tức sự sống cố hữu của chính vật chất, cũng đang dần dần tiêu tan theo dòng thế kỷ. Liên hệ đến con người, một tình trạng tương tự [Page 559] được thấy trong sự tan rã dần dần của thể xác sau khi chết; hai phương diện kia bị rút đi, và hình tướng phân huỷ.

As these fundamental facts are grasped, and man begins to appreciate his position as Creator, the entire aspect of the sex question will also change; and emphasis will be laid upon the laws of mental creation, on the formulation of thought-forms in a scientific manner, and the dense physical aspect of creation will be in abeyance. When this is so, then will man be coming into his divine right, and the human kingdom be fulfilling its legitimate function. The sex aspect—as at present expressing itself—and the whole process of reproduction is one which man shares with the animal kingdom, and is based upon his animal instincts, and his dense physical nature, which is not a principle. When he is totally emancipated from the animal kingdom, and the third and fourth kingdoms stand distinct from each other, then the sex nature, and the organs of reproduction will be viewed by the average man in a very different manner than at present. Creation will eventually be the result of thought impulses and not desire impulses; the process will be then (once the initial impulse on the mental plane has been given), as normal, as safe, and as unconscious as the act of breathing is now. When this is so (and the time is a long way ahead), physical reproduction will still continue, but the physical form will be spoken of in terms of concretion and of energy, and the emphasis will be laid upon that which is to be embodied. This stage will be entered upon when the functions of the etheric body are scientifically grasped and understood and the laws of creative thought are a matter of public knowledge and discussion; it will coincide with a period wherein the animal kingdom will again be under manasic impression, and individualisation will again be permitted.

Khi các sự kiện căn bản này được nắm bắt, và con người bắt đầu đánh giá vị trí của mình như một Đấng sáng tạo, toàn bộ phương diện của vấn đề tính dục cũng sẽ thay đổi; và sự nhấn mạnh sẽ được đặt lên các định luật của sự sáng tạo trí tuệ, lên việc hình thành các Hình tư tưởng theo cách khoa học, còn phương diện hồng trần đậm đặc của sự sáng tạo sẽ ở trong trạng thái đình chỉ. Khi điều này xảy ra, con người sẽ đi vào quyền thiêng liêng của mình, và giới nhân loại sẽ hoàn thành chức năng chính đáng của nó. Phương diện tính dục—như hiện nay đang biểu lộ—và toàn bộ tiến trình sinh sản là điều mà con người chia sẻ với giới động vật, và dựa trên các bản năng động vật của y, cùng bản chất hồng trần đậm đặc của y, vốn không phải là một nguyên khí. Khi y hoàn toàn được giải phóng khỏi giới động vật, và giới thứ ba cùng giới thứ tư đứng tách biệt rõ ràng với nhau, thì bản chất tính dục và các cơ quan sinh sản sẽ được con người trung bình nhìn theo một cách rất khác với hiện nay. Sự sáng tạo cuối cùng sẽ là kết quả của các xung lực tư tưởng chứ không phải các xung lực dục vọng; khi đó tiến trình sẽ (một khi xung lực ban đầu trên cõi trí đã được đưa ra) bình thường, an toàn và vô thức như hành động hô hấp hiện nay. Khi điều này xảy ra (và thời điểm ấy còn rất xa), sự sinh sản hồng trần vẫn sẽ tiếp tục, nhưng hình tướng hồng trần sẽ được nói đến theo các thuật ngữ của sự làm cho cụ thể và của năng lượng, và sự nhấn mạnh sẽ được đặt lên điều sẽ được nhập thể. Giai đoạn này sẽ được bước vào khi các chức năng của thể dĩ thái được nắm bắt và thấu hiểu một cách khoa học, và các định luật của tư tưởng sáng tạo trở thành vấn đề tri thức và thảo luận công khai; nó sẽ trùng hợp với một thời kỳ trong đó giới động vật lại chịu ấn tượng manas, và sự biệt ngã hóa lại được cho phép.

[Page 560] It will be generally recognised at that time that Spirit-matter are two aspects of the one Unity, and the present terminology of Spirit, and material substance, will have given place to the broader concept of negative and positive energy as the two aspects of the One Energy. All phenomena will then be expressed in force terms, and the sex question—or the union of the male and female, the negative and the positive, on the physical plane—will be redeemed and purified.

[Page 560] Khi ấy, người ta sẽ nhìn nhận một cách phổ biến rằng tinh thần-vật chất là hai phương diện của một Hợp Nhất duy nhất, và thuật ngữ hiện nay về tinh thần và chất liệu vật chất sẽ nhường chỗ cho khái niệm rộng hơn về năng lượng âm và dương như hai phương diện của Một Năng Lượng. Khi đó mọi hiện tượng sẽ được diễn tả bằng các thuật ngữ của mãnh lực, và vấn đề tính dục—hay sự kết hợp của nam và nữ, âm và dương, trên cõi hồng trần—sẽ được cứu chuộc và thanh lọc.

An embodied idea, therefore, is literally a positive impulse, emanating from mental levels, and clothing itself in a veil of negative substance. These two factors in turn will be regarded as emanations from a still greater force centre, which is expressing purpose through them both.

Do đó, một ý tưởng nhập thể theo nghĩa đen là một xung lực dương, phát ra từ các cấp độ trí tuệ, và tự khoác lấy một màn che bằng chất liệu âm. Đến lượt mình, hai yếu tố này sẽ được xem như các phát xạ từ một trung tâm mãnh lực còn lớn hơn nữa, đang biểu lộ mục đích qua cả hai.

A thought form, as constructed by man, is the union of a positive emanation and a negative. These two are the emanations of a Unity, the coherent Thinker.

Một Hình tư tưởng, như được con người kiến tạo, là sự kết hợp của một phát xạ dương và một phát xạ âm. Hai điều này là các phát xạ của một Hợp Nhất, tức Đấng Tư Tưởng cố kết.

c. To Carry Out Specific Purpose. We touch here upon the most vital element in the building of thoughtforms. In our first point we touched upon the aspect of consciousness, or “response to sensation, or feeling,” and thus brought into our study of the building process the second aspect logoic, that of the Ego, or the realisation of essential duality. In our second point the more objective aspect was somewhat elaborated, and the tangible form dealt with, thus bringing in the third logoic aspect, that of intelligent substance, or that through which consciousness seeks expression. Now the will or purpose aspect is to be considered, bringing therefore the first aspect logoic, or the “will-to-be” to the fore. When this third point is meditated upon with care, it will be noted (as might be expected) that it includes the other two, and synthesises them.

c. Thực hiện một mục đích đặc thù. Ở đây chúng ta chạm đến yếu tố sinh tử nhất trong việc xây dựng các Hình tư tưởng. Ở điểm thứ nhất, chúng ta đã chạm đến phương diện tâm thức, hay “đáp ứng với cảm giác, hay cảm thọ,” và như vậy đã đưa vào công trình nghiên cứu về tiến trình xây dựng phương diện Thượng đế thứ hai, tức chân ngã, hay sự chứng nghiệm về tính nhị nguyên căn yếu. Ở điểm thứ hai, phương diện khách quan hơn đã được khai triển phần nào, và hình tướng hữu hình đã được bàn đến, do đó đưa vào phương diện Thượng đế thứ ba, tức chất liệu thông tuệ, hay điều mà qua đó tâm thức tìm cách biểu lộ. Giờ đây phương diện ý chí hay mục đích cần được xem xét, do đó đưa phương diện Thượng đế thứ nhất, hay “ý chí hiện hữu”, ra tiền cảnh. Khi điểm thứ ba này được tham thiền cẩn trọng, sẽ thấy (như có thể chờ đợi) rằng nó bao gồm hai điểm kia và tổng hợp chúng.

Certain factors must be borne in mind as we consider these words “specific purpose.” By their tabulation [Page 561] we shall endeavour to make as clear as may be, this very complex matter. The ideas involved are:

Một số yếu tố phải được ghi nhớ khi chúng ta xem xét các từ “mục đích đặc thù” này. Bằng cách liệt kê chúng [Page 561] chúng ta sẽ cố gắng làm cho vấn đề rất phức tạp này sáng tỏ hết mức có thể. Các ý tưởng liên hệ là:

The Factor of Identity. Specific purpose is the practical application of the will, or intent, of a conscious intelligent Existence as it shows itself in:

Yếu tố Bản sắc. Mục đích đặc thù là sự ứng dụng thực tiễn của ý chí, hay chủ ý, của một Hiện Hữu hữu thức và thông tuệ như nó biểu lộ trong:

a. Its source

a. Nguồn gốc của nó

b. Its mission

b. Sứ mệnh của nó

c. Its method

c. Phương pháp của nó

d. Its objective.

d. Mục tiêu của nó.

All these will vary according to the nature of the emanating Identity. All thought forms—logoic, planetary, and human—(for no other entities of lesser grade work as mental creators), emanate from a mind, are built for the purpose of carrying out some active work, demonstrate under set rules and laws, and have a definite goal, or expected consummation.

Tất cả những điều này sẽ thay đổi tùy theo bản chất của Bản Sắc phát xạ. Mọi Hình tư tưởng—của Thượng đế, hành tinh và con người—(vì không có thực thể nào khác ở cấp thấp hơn làm việc như những đấng sáng tạo trí tuệ), đều phát ra từ một trí tuệ, được xây dựng nhằm thực hiện một công việc hoạt động nào đó, biểu lộ dưới các quy luật và định luật nhất định, và có một mục tiêu xác định, hay một sự hoàn tất được mong đợi.

The Factor of Time. Specific purpose in the solar system is the gradual evolution of a definite plan originating in the Mind of the Logos, and slowly, and cyclically, achieving consummation. Three vast periods of time are consumed in the process:

Yếu tố Thời gian. Mục đích đặc thù trong hệ mặt trời là sự tiến hoá dần dần của một thiên cơ xác định bắt nguồn trong Trí của Thượng đế, và chậm rãi, theo chu kỳ, đạt đến sự hoàn tất. Ba thời kỳ thời gian rộng lớn được dùng trong tiến trình này:

The period of construction, wherein the form is built.

Thời kỳ kiến tạo, trong đó hình tướng được xây dựng.

The period of utilisation, wherein the form is occupied, vitalised by a central Life, and employed.

Thời kỳ sử dụng, trong đó hình tướng được cư ngụ, được một Sự sống trung tâm tiếp sinh lực, và được sử dụng.

The period of dissolution, wherein the form is devitalised, destroyed and dissipated.

Thời kỳ tan rã, trong đó hình tướng bị rút sinh lực, bị phá huỷ và bị làm tiêu tan.

In the first stage, that which concerns the tangible, that which deals with objectivity, is the more emphasised, and of supreme importance. In the second stage, the life within the form, or the subjective consciousness, comes gradually to the fore, and the quality, or the psyche of the thought-form, becomes apparent. In the final stage, the thought form (having performed its mission), separates into its basic duality, and will or energy (which lies, as a unity, back of duality), ceases in intent. [Page 562] The objective life (spiritual life where cosmic thought-forms are concerned; manasic life when solar thought-forms are constructed; and elemental life where human thought-forms are built) withdraws and the form dissipates.

Trong giai đoạn thứ nhất, điều liên hệ đến cái hữu hình, điều liên hệ đến tính khách quan, được nhấn mạnh hơn và có tầm quan trọng tối thượng. Trong giai đoạn thứ hai, sự sống bên trong hình tướng, hay tâm thức chủ quan, dần dần đi ra tiền cảnh, và phẩm tính, hay linh hồn của Hình tư tưởng, trở nên hiển lộ. Trong giai đoạn cuối cùng, Hình tư tưởng (sau khi đã hoàn thành sứ mệnh của nó), tách ra thành tính nhị nguyên căn bản của nó, và ý chí hay năng lượng (vốn, như một hợp nhất, nằm phía sau nhị nguyên tính), chấm dứt chủ ý. [Page 562] Sự sống khách quan (tinh thần khi liên hệ đến các Hình tư tưởng vũ trụ; manas khi các Hình tư tưởng thái dương được kiến tạo; và hành khí khi các Hình tư tưởng của con người được xây dựng) rút đi và hình tướng tiêu tan.

In all these cases it will be apparent that only in the study of the development of the quality of the thought-form will its inherent purpose be revealed; only as its emanative processes are comprehended will the nature of its mission become recognisable. This is true fundamentally of all forms. Where the relatively unimportant forms—such as those constructed by man at this time—are concerned, this can easily be discovered, and to the trained clairvoyant each form reveals:

Trong mọi trường hợp này, sẽ rõ rằng chỉ trong việc nghiên cứu sự phát triển của phẩm tính của Hình tư tưởng thì mục đích cố hữu của nó mới được mặc khải; chỉ khi các tiến trình phát xạ của nó được thấu hiểu thì bản chất sứ mệnh của nó mới có thể được nhận ra. Điều này về căn bản là đúng với mọi hình tướng. Khi liên hệ đến các hình tướng tương đối không quan trọng—chẳng hạn như những hình do con người hiện nay kiến tạo—điều này có thể được khám phá dễ dàng, và đối với nhà thông nhãn lão luyện, mỗi hình tướng đều bộc lộ:

By its colour,

Qua màu sắc của nó,

By its vibration,

Qua rung động của nó,

By its direction,

Qua phương hướng của nó,

By its keynote,

Qua chủ âm của nó,

the nature of the inner life, the quality of its vibration and the nature of its goal. In the summation of all these points will the purpose reveal itself.

bản chất của sự sống bên trong, phẩm tính của rung động của nó và bản chất của mục tiêu của nó. Trong sự tổng hợp của tất cả các điểm này, mục đích sẽ tự bộc lộ.

The Factor of Karma. Every thought-form comes under the law of Karma through the effect it produces. At this stage in the history of the system—that vast transitional stage between dense physical life and existence in the logoic etheric body—it is not easy for us to differentiate between those thought forms which are effects and those which are causes. It should be remembered here that only cosmic and solar lords formulate thoughts. The lunar Lords and all lesser intelligences do not do so. Therefore, the two above mentioned groups come under karmic law. They only are self-conscious, and therefore responsible. Where self-consciousness is not, there is no responsibility. Hence animals are not held to be responsible, and though they [Page 563] suffer on the physical plane and in their physical vehicles, on the subtler planes they are freed from karma, for they have neither memory nor anticipation; they lack the correlating faculty and as the spark of mind is missing, they are held free from the law of retribution, except where the physical body is concerned. The reason for the suffering in the animal kingdom is hidden in the mystery of the sin of the mindless, (180) and in that terrible period spoken of in the Secret Doctrine, which resulted in abortions and distortions of all kinds. Had this period not occurred, and this particular type of “miscarriage of purpose” not taken place, we should not have had the fearful karmic relationship which now exists between the third and the fourth kingdom.

Yếu tố Nghiệp quả. Mọi Hình tư tưởng đều nằm dưới định luật Nghiệp quả qua hiệu quả mà nó tạo ra. Ở giai đoạn này trong lịch sử của hệ thống—giai đoạn chuyển tiếp rộng lớn giữa sự sống hồng trần đậm đặc và sự hiện hữu trong thể dĩ thái của Thượng đế—chúng ta không dễ phân biệt giữa những Hình tư tưởng là kết quả và những Hình tư tưởng là nguyên nhân. Ở đây cần nhớ rằng chỉ các chúa tể vũ trụ và thái dương mới hình thành tư tưởng. Các nguyệt tinh quân và mọi trí tuệ thấp hơn thì không. Do đó, hai nhóm vừa nêu ở trên nằm dưới định luật nghiệp quả. Chỉ các Ngài là có ngã thức, và vì vậy có trách nhiệm. Nơi nào không có ngã thức, nơi đó không có trách nhiệm. Vì thế động vật không bị xem là có trách nhiệm, và dù chúng [Page 563] chịu đau khổ trên cõi hồng trần và trong các vận cụ hồng trần của chúng, trên các cõi vi tế hơn chúng được giải thoát khỏi nghiệp quả, vì chúng không có ký ức cũng không có sự dự liệu; chúng thiếu năng lực tương liên và vì tia lửa trí tuệ còn thiếu, chúng được xem là không bị định luật báo ứng chi phối, ngoại trừ nơi thể xác. Lý do của đau khổ trong giới động vật được che giấu trong huyền nhiệm về tội lỗi của những kẻ vô trí, (180) và trong thời kỳ khủng khiếp được nói đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm, thời kỳ đã dẫn đến các sự sẩy thai và biến dạng đủ loại. Nếu thời kỳ ấy đã không xảy ra, và loại “sẩy thai của mục đích” đặc biệt này đã không diễn ra, thì chúng ta đã không có mối liên hệ nghiệp quả đáng sợ hiện đang tồn tại giữa giới thứ ba và giới thứ tư.

(180) The sin of the Mindless. See S. D., II, 195, 201. This sin has to do with the period of the Separation of the Sexes in the early third rootrace, the Lemurian. The same historical fact is hinted at also in the Bible in Genesis VI, 2:4.

(180) Tội lỗi của những kẻ vô trí. Xem S. D., II, 195, 201. Tội lỗi này liên hệ đến thời kỳ Phân Ly Giới Tính trong giống dân gốc thứ ba thời kỳ đầu, tức Lemuria. Sự kiện lịch sử này cũng được ám chỉ trong Kinh Thánh, Sáng Thế Ký VI, 2:4.

“They (the sexes) had already separated before the ray of divine reason had enlightened the dark region of their hitherto slumbering minds, and had sinned. That is to say, they had committed evil unconsciously by producing an effect which was unnatural.”

“Họ (hai giới tính) đã phân ly trước khi tia lý trí thiêng liêng soi sáng miền tối tăm của các trí tuệ bấy lâu còn ngủ yên của họ, và họ đã phạm tội. Nghĩa là, họ đã vô thức làm điều ác bằng cách tạo ra một hiệu quả trái tự nhiên.”

See also S. D., II, 721, 728. (back)

Xem thêm S. D., II, 721, 728. (back)

The effect of the life and persistence of a thought-form, if maleficent and destructive, works out as “evil karma” if beneficent it works as “good karma” in the group in which the emanator has a place. This is what is meant by there being no karma attached to the working out of a good and altruistic deed.

Hiệu quả của sự sống và sự tồn tại dai dẳng của một Hình tư tưởng, nếu ác hại và phá hoại, sẽ biểu lộ thành “nghiệp xấu”; nếu thiện lành, nó sẽ biểu lộ thành “nghiệp tốt” trong nhóm mà đấng phát xạ có vị trí. Đây là điều được hàm ý khi nói rằng không có nghiệp quả gắn với việc thực hiện một hành động tốt lành và vị tha.

The Factor of the Lesser Builders. Here a most interesting factor comes in upon which we shall enlarge later, when considering the elementals. The specific purpose of a thought-form is connected very closely with the type of deva essence of which it is constructed, and (in connection with man on the mental plane), with the type of elemental which he can control, and send forth as the occupier, or vitalising agency of the thoughtform. Roughly speaking, a solar Logos works only through the greater Builders, the Manasaputras in Their [Page 564] various grades on the two higher planes of the solar system. He works through Them, and sends Them forth upon the mission of constructing, and vitalising the systemic thought-form, with a specific purpose in view. The planetary Logoi work primarily through the Builders of the next three planes (atma-buddhi-manas), who construct and control the work of the planetary schemes. Men work through the builders of the lower mental planes, and the astral plane, for the human thought-forms are kama-manasic; the physical plane builders are swept automatically into action by the force of the currents, and energies set up in subtler matter, by the great Builders.

Yếu tố của các vị tiểu kiến tạo. Ở đây xuất hiện một yếu tố rất lý thú mà chúng ta sẽ khai triển thêm về sau khi xét đến các hành khí. Mục đích đặc thù của một Hình tư tưởng liên hệ rất chặt chẽ với loại tinh chất thiên thần mà nó được cấu tạo từ đó, và (liên hệ đến con người trên cõi trí), với loại hành khí mà y có thể kiểm soát, và phóng ra như kẻ cư ngụ, hay tác nhân tiếp sinh lực của Hình tư tưởng. Nói một cách khái quát, một Thái dương Thượng đế chỉ làm việc qua các đấng đại kiến tạo, các Manasaputra ở các cấp bậc khác nhau của Các Ngài trên hai cõi cao hơn của hệ mặt trời. Ngài làm việc qua Các Ngài, và phóng Các Ngài ra với sứ mệnh kiến tạo và tiếp sinh lực cho Hình tư tưởng hệ thống, với một mục đích đặc thù trong tầm nhìn. Các Hành Tinh Thượng đế làm việc chủ yếu qua các đấng kiến tạo của ba cõi kế tiếp (atma-buddhi-manas), những vị kiến tạo và kiểm soát công việc của các hệ hành tinh. Con người làm việc qua các đấng kiến tạo của các cõi hạ trí và cõi cảm dục, vì các Hình tư tưởng của con người là trí-cảm; các đấng kiến tạo cõi hồng trần tự động bị cuốn vào hoạt động bởi sức mạnh của các dòng và năng lượng được thiết lập trong chất liệu vi tế hơn bởi các đấng đại kiến tạo.

The inserted tabulation [below] may make this clear.

Bảng liệt kê được chèn vào [bên dưới] có thể làm sáng tỏ điều này.

If the table is carefully studied, it will be seen that the fivefold earlier enumeration concerns the most important kingdoms in nature, whilst the final two are peculiarly interesting in that the mineral kingdom can in no sense be considered a principle, but simply the densest point of concretion of the abstract, and that the vegetable kingdom has a peculiar place in the economy of the system as the transmitter of the vital pranic fluid; the vegetable kingdom is definitely a bridge between the conscious and the unconscious. Here I am using these words in their broadest and most general sense. Though it is known that the mineral kingdom has a consciousness of its own, yet sensation is more distinctly recognisable in the second kingdom, and the distinction between the consciousness of the mineral and that of the animal is so vast that their respective consciousnesses are basically unlike. Between these stands the vegetable kingdom, approximating more generally the animal consciousness than the mineral, and having a most esoteric relationship to the deva evolution. [Page 565]

Nếu bảng được nghiên cứu cẩn thận, sẽ thấy rằng sự liệt kê ngũ phân trước đó liên hệ đến các giới quan trọng nhất trong tự nhiên, trong khi hai giới cuối cùng đặc biệt lý thú ở chỗ giới kim thạch không thể theo bất kỳ nghĩa nào được xem là một nguyên khí, mà chỉ đơn giản là điểm làm cho cụ thể đậm đặc nhất của cái trừu tượng, và giới thực vật có một vị trí đặc biệt trong sự tiết kiệm của hệ thống như là bộ truyền dẫn lưu chất prana sinh lực; giới thực vật rõ ràng là một cây cầu giữa cái hữu thức và cái vô thức. Ở đây tôi đang dùng các từ này theo nghĩa rộng nhất và tổng quát nhất của chúng. Dù известно rằng giới kim thạch có một tâm thức riêng của nó, tuy nhiên cảm giác được nhận ra rõ rệt hơn trong giới thứ hai, và sự khác biệt giữa tâm thức của giới kim thạch và của giới động vật lớn đến mức các tâm thức tương ứng của chúng về căn bản là không giống nhau. Giữa hai giới ấy là giới thực vật, nhìn chung gần với tâm thức động vật hơn là tâm thức khoáng vật, và có một mối liên hệ hết sức huyền bí với sự tiến hoá thiên thần. [Page 565]

TABULATION IV

BẢNG IV

THE BUILDING ENTITIES

CÁC THỰC THỂ KIẾN TẠO

Quality

Entity

Centre

Personality

Kingdom

1.

Atma

Logos

Head (Brain)

Grand Heavenly Man

Seventh

Unity

2-3

Buddhi manas

Planetary Logos

Heart and Throat

Heavenly Men

Sixth and Fifth

Duality

4.

Mental

Man

Solar Plexus Base of the Spine

Man

Fourth

Triplicity

5.

Astral

Animal

Generative Organs

Third

Duality

6.

Etheric

Vegetable

Spleen

Second

Transitional

7.

Dense

Mineral

None

First

Unity

All these kingdoms of nature are “forms of thought”; all have body, vitality, quality and purpose, and all are [Page 566] sent out by a greater life than their own upon a specific mission; they are sent forth by those who are self-conscious and are a blend of mind, spirit and objective form. Only the self-conscious can create, and only they are capable of purpose, of co-ordination, of direction and control.

Tất cả các giới tự nhiên này đều là “các hình tướng tư tưởng”; tất cả đều có thể, sinh lực, phẩm tính và mục đích, và tất cả đều [Page 566] được một sự sống lớn hơn chính chúng phóng ra với một sứ mệnh đặc thù; chúng được phóng ra bởi những đấng có ngã thức và là sự pha trộn của trí tuệ, tinh thần và hình tướng khách quan. Chỉ những đấng có ngã thức mới có thể sáng tạo, và chỉ họ mới có khả năng về mục đích, về sự phối hợp, về sự chỉ đạo và kiểm soát.

Even though it may seem that much has been left unsaid, yet in due consideration of the above four points in connection with “purpose” in a thought-form, much can be worked out by the student himself.

Dù có vẻ như còn nhiều điều chưa được nói ra, nhưng nếu suy xét đúng mức bốn điểm trên liên hệ đến “mục đích” trong một Hình tư tưởng, đạo sinh có thể tự mình khảo sát ra nhiều điều.

In extending these ideas to a solar Logos, many questions of interest arise which are profitable only in so far as they expand the concept, and widen the horizon of the Thinker. The logoic purpose is not yet comprehensible to man; it does not profit him to meditate thereon, yet in the formulation of ideas, and their apprehension by thinkers may come the gradual dawning of a day of recognition, and a subsequent co-operation with that divine purpose. Let us, therefore, formulate some of these questions, leaving the future to reveal the answer:

Khi mở rộng các ý tưởng này đến một Thái dương Thượng đế, nhiều câu hỏi lý thú nảy sinh, chỉ hữu ích trong chừng mực chúng mở rộng khái niệm và nới rộng chân trời của Đấng Tư Tưởng. Mục đích của Thượng đế hiện chưa thể hiểu được đối với con người; việc tham thiền về nó không mang lại lợi ích cho y, tuy nhiên trong việc hình thành các ý tưởng, và sự lĩnh hội chúng bởi các nhà tư tưởng, có thể sẽ đến sự ló rạng dần dần của một ngày nhận biết, và sau đó là sự hợp tác với mục đích thiêng liêng ấy. Do đó, chúng ta hãy nêu ra một số câu hỏi này, để tương lai mặc khải câu trả lời:

1. What may be the purpose of the present incarnation of the solar Logos?

1. Mục đích của sự nhập thể hiện nay của Thái dương Thượng đế có thể là gì?

2. What is the purpose which may perhaps be working out in our own planetary scheme and what is the basic plan of our planetary Logos?

2. Mục đích nào có lẽ đang được triển khai trong hệ hành tinh riêng của chúng ta và thiên cơ căn bản của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta là gì?

3. Wherein does it differ from other planetary schemes?

3. Nó khác với các hệ hành tinh khác ở điểm nào?

4. What is the purpose lying back of the relation existing between our Earth and Venus?

4. Mục đích ẩn sau mối liên hệ hiện tồn giữa Trái Đất của chúng ta và Sao Kim là gì?

5. Is the purpose of the animal kingdom, as a whole, in any way to be ascertained?

5. Mục đích của giới động vật, xét như một toàn thể, có thể được xác định theo cách nào đó chăng?

6. What is the purpose back of the present root-race evolution? Can we realise it?

6. Mục đích ẩn sau sự tiến hoá của giống dân gốc hiện nay là gì? Chúng ta có thể chứng nghiệm được nó chăng?

7. What is the purpose behind the differing national forms?

7. Mục đích ẩn sau các hình tướng quốc gia khác nhau là gì?

[Page 567] Let us next bring the whole idea down to a more practical basis, and formulate questions along the following lines:

[Page 567] Tiếp theo, chúng ta hãy đưa toàn bộ ý tưởng này xuống một nền tảng thực tiễn hơn, và nêu thành câu hỏi theo các đường hướng sau:

1. In what type of matter do I usually formulate thoughts?

1. Tôi thường tạo lập các tư tưởng trong loại vật chất nào?

2. What is the psychic quality of my thought-forms?

2. Phẩm tính thông linh của các hình tư tưởng của tôi là gì?

3. With what specific purpose do I use mental matter?

3. Tôi dùng vật chất trí tuệ với mục đích đặc thù nào?

4. Do I work in mental matter consciously or unconsciously?

4. Tôi hoạt động trong vật chất trí tuệ một cách hữu thức hay vô thức?

5. Do I vitalise my thought-forms with a high or a low order of entity?

5. Tôi có tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng của mình bằng một thực thể thuộc trật tự cao hay thấp không?

6. Do I study the laws of construction?

6. Tôi có nghiên cứu các định luật của sự kiến tạo không?

7. Do I realise the power of the will to vitalise?

7. Tôi có chứng nghiệm được quyền năng của ý chí để tiếp sinh lực không?

8. Do I destroy thought-forms when they have accomplished their purpose by a conscious act of the will?

8. Tôi có hủy diệt các hình tư tưởng khi chúng đã hoàn thành mục đích của chúng bằng một hành vi hữu thức của ý chí không?

9. Do I make forms which bring karmic effects, or do I build those which go to the good of the group?

9. Tôi có tạo ra những hình tướng đem lại các hậu quả nghiệp quả, hay tôi xây dựng những hình tướng mang lại lợi ích cho nhóm?

Many such thoughts will arise, and in the study of thought man learns the laws of being.

Nhiều tư tưởng như thế sẽ nảy sinh, và trong việc nghiên cứu tư tưởng, con người học được các định luật của bản thể.

Leave a Comment

Scroll to Top