Luận Về Lửa Vũ Trụ S8 (925-1075 clean version)

📘 Sách: Luận Về Lửa Vũ Trụ – Tác giả: Alice Bailey

Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến Bình Giảng

Cosmic Fire S8

(926-1078)

The Devas of the Etheric Double. The subject that we are to deal with now concerns those devas who are etheric doubles of all that is. It is full of profit therefore to the wise student, for it reveals the method whereby all forms materialise upon the physical plane.

Các Thiên Thần của Bản Sao Dĩ Thái. Chủ đề mà giờ đây chúng ta sẽ bàn đến liên quan đến những thiên thần là bản sao dĩ thái của mọi cái đang hiện hữu. Vì thế, điều này rất hữu ích cho đạo sinh minh triết, vì nó mặc khải phương pháp nhờ đó mọi hình tướng hiện hình trên cõi hồng trần.

It is not the purpose of this treatise to trace the materialisation of a form as it originates upon the archetypal planes, through the agency of divine thought, and from thence (through directed streams of intelligent energy) acquires substance as it is reproduced upon each plane, until eventually (upon the physical plane) the form stands revealed at its densest point of manifestation. No form is as yet perfect, and it is this fact which necessitates cyclic evolution, and the continual production of forms until they approximate reality in fact and in deed. The method of form production may be tabulated as follows: [Page 926]

Mục đích của bộ luận này không phải là truy nguyên sự hiện hình của một hình tướng khi nó phát sinh trên các cõi nguyên mẫu, qua tác động của tư tưởng thiêng liêng, rồi từ đó (qua các dòng năng lượng trí tuệ được định hướng) tiếp nhận chất liệu khi được tái tạo trên mỗi cõi, cho đến cuối cùng (trên cõi hồng trần) hình tướng ấy được bộc lộ tại điểm biểu hiện đậm đặc nhất của nó. Chưa có hình tướng nào hoàn hảo, và chính sự kiện này khiến cho tiến hoá theo chu kỳ trở nên cần thiết, cùng với việc liên tục tạo ra các hình tướng cho đến khi chúng xấp xỉ thực tại trong sự thật và trong hành động. Phương pháp tạo ra hình tướng có thể được lập bảng như sau: [Page 926]

FORM PRODUCTION

SỰ TẠO RA HÌNH TƯỚNG

1.

Divine thought

The cosmic mental plane.

2.

Divine desire

The cosmic astral plane.

3.

Divine activity

The cosmic physical plane (our seven systemic planes).

First plane

.

The logoic Breath… First plane…. The Sound (285) A

Hơi Thở của Thượng đế… Cõi thứ nhất…. Linh Âm (285) A

(285) Mantric Sounds.

(285) Các Linh Âm mantram.

A mantram is a combination of sounds, of words and of phrases that, through virtue of certain rhythmic effects, achieve results that would not be possible apart from them. The most sacred of all the Eastern mantrams given out as yet to the public is the one embodied in the words: “Om mani padme hum.” Every syllable of this phrase has a secret potency, and its totality has seven meanings and can bring about seven different results.

Một mantram là sự kết hợp của các âm thanh, các từ và các cụm từ mà nhờ hiệu lực của những tác động nhịp điệu nhất định, đạt được những kết quả vốn không thể có nếu thiếu chúng. Thiêng liêng nhất trong tất cả các mantram phương Đông đã được công bố cho công chúng cho đến nay là mantram được hàm chứa trong các từ: “Om mani padme hum.” Mỗi âm tiết của cụm từ này đều có một năng lực bí mật, và toàn thể của nó có bảy ý nghĩa và có thể mang lại bảy kết quả khác nhau.

There are various mantric forms, based upon this formula and upon the Sacred Word, which, sounded rhythmically and in different keys, accomplish certain desired ends, such as the invoking of protective angels or devas, and definite work, either constructive or destructive upon the planes.

Có nhiều hình thức mantram khác nhau, dựa trên công thức này và trên Linh từ Thiêng Liêng, khi được xướng theo nhịp điệu và ở những âm điệu khác nhau, sẽ hoàn thành những mục đích mong muốn nhất định, chẳng hạn như việc khẩn cầu các thiên thần hay thiên thần bảo hộ, và công việc xác định, hoặc xây dựng hoặc hủy diệt trên các cõi.

The potency of a mantram depends upon the point in evolution of the man who employs it. Uttered by an ordinary man it serves to stimulate the good within his bodies, to protect him, and it will also prove of beneficent influence upon his environment. Uttered by an adept or initiate its possibilities for good are infinite and far-reaching.

Năng lực của một mantram tùy thuộc vào điểm tiến hoá của người sử dụng nó. Khi được một người bình thường thốt ra, nó giúp kích thích điều thiện trong các thể của y, bảo vệ y, và cũng chứng tỏ có ảnh hưởng từ thiện lên môi trường của y. Khi được một chân sư hay điểm đạo đồ thốt ra, các khả năng thiện lành của nó là vô hạn và lan rộng.

Mantrams are of many kinds, and generally speaking might be enumerated as follows:

Mantram có nhiều loại, và nói chung có thể được liệt kê như sau:

1. Some very esoteric mantrams, existing in the original Sensa, in the custody of the Great White Lodge.

1. Một số mantram rất huyền bí, tồn tại trong Sensa nguyên thủy, được Thánh đoàn gìn giữ.

2. Some Sanskrit mantrams employed by initiates and adepts.

2. Một số mantram Sanskrit được các điểm đạo đồ và chân sư sử dụng.

3. Mantrams connected with the different rays.

3. Các mantram liên hệ với những cung khác nhau.

4. Mantrams used in healing.

4. Các mantram được dùng trong trị liệu.

5. Mantrams used in the departments of either the Manu, the Bodhisattva, or the Mahachohan.

5. Các mantram được dùng trong các ban ngành của Đức Manu, Đức Bồ Tát, hoặc Đức Mahachohan.

6. Mantrams used in connection with the devas and the elemental kingdoms.

6. Các mantram được dùng liên hệ với các thiên thần và các giới hành khí.

7. Special mantrams connected with fire.

7. Các mantram đặc biệt liên hệ với lửa.

All these mantrams depend for their potency upon the sound and rhythm and upon the syllabic emphasis imparted to them when enunciating and intoning. They depend too upon the capacity of the man who uses them to visualise and to will the desired effect. (back)

Tất cả các mantram này tùy thuộc năng lực của chúng vào âm thanh và nhịp điệu, cũng như vào sự nhấn mạnh âm tiết được truyền vào khi phát âm và xướng lên. Chúng cũng tùy thuộc vào khả năng của người sử dụng trong việc hình dung và vận dụng ý chí để tạo ra kết quả mong muốn. (back)

This is the first etheric appearance of a solar system upon the atomic subplane of the cosmic physical plane. The seeds of life are all latent. Faculty inheres from an earlier solar essence.

Đây là sắc tướng dĩ thái đầu tiên của một hệ mặt trời trên cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ. Các hạt giống của sự sống đều còn tiềm ẩn. Năng lực vốn nội tại từ một tinh chất thái dương trước kia.

The logoic Sound….Second plane….The Sound A U

Linh Âm của Thượng đế….Cõi thứ hai….Linh Âm A U

This is the body of the solar system in the second ether. This plane is the archetypal plane. The seeds of [Page 927] life are vibrating or germinating. The seven centres of energy are apparent. The one deva Agni is seen as seven. The form is now potentially perfect.

Đây là thể của hệ mặt trời trong dĩ thái thứ hai. Cõi này là cõi nguyên mẫu. Các hạt giống của [Page 927] sự sống đang rung động hoặc nảy mầm. Bảy trung tâm năng lượng đã hiện rõ. Một thiên thần Agni được thấy như bảy. Hình tướng giờ đây có tiềm năng hoàn hảo.

The logoic triple Word..The third plane..The Sound A U M.

Linh từ tam phân của Thượng đế..Cõi thứ ba..Linh Âm A U M.

The body of the solar system in substance of the third etheric plane is seen, and the three function as one. The triple energy of the Logos is co-ordinated, and nothing now can hinder the work of evolution. The three groups of devas are active, and the archetypal form is in process of materialization.

Thể của hệ mặt trời trong chất liệu của cõi dĩ thái thứ ba được thấy, và ba cái hoạt động như một. Năng lượng tam phân của Thượng đế được phối hợp, và giờ đây không gì có thể cản trở công việc tiến hoá. Ba nhóm thiên thần đang hoạt động, và hình tướng nguyên mẫu đang trong tiến trình hiện hình.

The logoic septenary word – The logoic etheric Centres become active

The fourth plane

The seven syllabled Word.

The etheric body of the solar system is now complete, though it will not be perfected till the end of another manvantara. The greater body of vitality is ready to energise the dense physical vehicle. The seven centres with their forty-nine major petals are vibrant, and consciousness thrills through every atom in the system.

Thể dĩ thái của hệ mặt trời giờ đây đã hoàn tất, dù nó sẽ chưa được hoàn thiện cho đến cuối một giai kỳ sinh hóa khác. Đại thể sinh lực lớn hơn đã sẵn sàng tiếp năng lượng cho vận cụ hồng trần đậm đặc. Bảy trung tâm với bốn mươi chín cánh hoa chính của chúng đang rung động, và tâm thức rung lên xuyên qua mọi nguyên tử trong hệ thống.

An interlude or period of pause is to be found at this stage of development; in it the processes of co-ordination and of stabilisation are carried on; the energy or the vibration is increased until it becomes possible, by a simultaneous effort, emanating from all the three aspects, to bring into objectivity that which is as yet subjective. This is paralleled by man on the physical plane in the applied effort he has to make to bring through and materialise, that which he has conceived and desired. The reason so many people fail in materialising their concepts, and hence come to be reckoned as failures, is owing to the fact of their inability to make a co-ordinated applied effort, and thus set in motion substance of the three lower subplanes of the physical plane. They succeed [Page 928] in bringing their concept through from the mental plane (as does the Logos on cosmic levels) as far as the fourth etheric level of the physical, and there their energy becomes exhausted owing to three things:

Ở giai đoạn phát triển này có một khoảng gián đoạn hay thời kỳ tạm ngưng; trong đó các tiến trình phối hợp và ổn định được tiến hành; năng lượng hay rung động được gia tăng cho đến khi có thể, bằng một nỗ lực đồng thời phát xuất từ cả ba phương diện, đưa vào khách quan điều vẫn còn là chủ quan. Điều này được con người trên cõi hồng trần phản ánh qua nỗ lực ứng dụng mà y phải thực hiện để đưa ra và hiện hình điều y đã quan niệm và mong muốn. Lý do khiến rất nhiều người thất bại trong việc hiện hình các khái niệm của mình, và do đó bị xem là những kẻ thất bại, là vì họ không có khả năng thực hiện một nỗ lực ứng dụng có phối hợp, và do đó không thể làm cho chất liệu của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần chuyển động. Họ thành công [Page 928] trong việc đưa khái niệm của mình từ cõi trí xuống (như Thượng đế làm trên các cấp độ vũ trụ) đến tận cấp dĩ thái thứ tư của cõi hồng trần, và tại đó năng lượng của họ bị cạn kiệt vì ba điều:

a. Lack of sustained will or concentration,

a. Thiếu ý chí bền bỉ hay sự tập trung,

b. Lack of alignment with the Ego,

b. Thiếu chỉnh hợp với chân ngã,

c. A weakness of co-ordination between the two parts of the physical vehicle.

c. Sự yếu kém trong phối hợp giữa hai phần của vận cụ hồng trần.

The logoic Phrase – The gaseous body.

Fifth plane

The plane of the logoic mantram of 35 stanzas.

The gaseous form of the solar system now appears, and the energy centres become veiled and hidden. Accretion and concretion rapidly proceeds. The three groups of builders co-ordinate their efforts afresh and a new influx of energy—bearing devas from the logoic head centre—pours in. The lesser builders respond to the logoic mantram chanted anew at each manvantara, and the seven streams of energy from the seven logoic centres are directed downwards.

Hình tướng thể khí của hệ mặt trời giờ đây xuất hiện, và các trung tâm năng lượng trở nên được che phủ và ẩn kín. Sự bồi tụ và cô đặc tiến triển nhanh chóng. Ba nhóm đấng kiến tạo lại phối hợp nỗ lực của họ, và một dòng năng lượng mới—mang theo các thiên thần từ trung tâm đầu của Thượng đế—tuôn vào. Các vị tiểu kiến tạo đáp ứng với mantram của Thượng đế được xướng lại trong mỗi giai kỳ sinh hóa, và bảy dòng năng lượng từ bảy trung tâm của Thượng đế được hướng xuống dưới.

The logoic Song of Love or Desire – The logoic liquid body.

The Sixth plane

A poem in forty-two verses.

This song or vibration causes the bringing in of a body of devas from the logoic heart centre to swell the efforts of those already active. The liquid body of the solar Logos appears, and the form exists in its six differentiations. Concretion is very rapid, and activity is considerably more violent owing to the greater density of the accruing substance.

Bài ca hay rung động này khiến một đoàn thiên thần từ trung tâm tim của Thượng đế được đưa vào để tăng cường nỗ lực của những vị đã hoạt động. Thể lỏng của Thái dương Thượng đế xuất hiện, và hình tướng tồn tại trong sáu sự biến phân của nó. Sự cô đặc diễn ra rất nhanh, và hoạt động mãnh liệt hơn đáng kể do mật độ lớn hơn của chất liệu đang bồi thêm.

The logoic Book of Life

Seventh plane

Exists in forty-nine chapters.

The entire form stands revealed. During evolution it must manifest its purpose and its nature. A third group [Page 929] of devas from the logoic throat centre appear, and cooperate with their brothers. All the fires are burning, all the centres are active, and every petal, forty-nine in number, on the fourth plane of Buddhi is producing a reflex activity upon the dense physical plane.

Toàn bộ hình tướng được bộc lộ. Trong tiến hoá, nó phải biểu hiện mục đích và bản chất của nó. Một nhóm thứ ba [Page 929] các thiên thần từ trung tâm cổ họng của Thượng đế xuất hiện, và hợp tác với các huynh đệ của họ. Mọi ngọn lửa đều đang cháy, mọi trung tâm đều hoạt động, và mỗi cánh hoa, tổng cộng bốn mươi chín, trên cõi thứ tư của Bồ đề đang tạo ra một hoạt động phản chiếu trên cõi hồng trần đậm đặc.

Men, when occupied in creation of any kind, and in the process of producing forms on earth which embody an idea, work along similar lines. The analogy is perfect.

Con người, khi bận rộn trong bất kỳ loại sáng tạo nào, và trong tiến trình tạo ra các hình tướng trên trái đất thể hiện một ý tưởng, đều hoạt động theo những đường lối tương tự. Sự tương đồng là hoàn toàn chính xác.

In connection with those human beings who create nothing, but who are only swept into activity under the urge of circumstance—and they are the bulk of the human race—it should be pointed out that they are a part of the creative activity of some greater, and more advanced, entity. As self-conscious evolution proceeds, more and more of the human family will become creators and intelligent workers in connection with deva substance. In the initial stages, therefore, of their dissociation from a passive attitude, there will be found a revolt against law and order, a refusal to be governed, and an ability evidenced to follow out an individual concept at the expense of the group, great or small. This apparent defect, evolution itself and experience will remedy, and as the consciousness becomes alive to higher vibrations the man will become aware of the purpose and plan of the Intelligence of his group. He will awaken to the beauty of that plan and will begin to submerge his own interests in the greater, and to co-operate intelligently. The creative power which had before been of a separative nature will be offered as a willing sacrifice to the greater energy, and his small plans and ideas will be merged in the greater ones. He will no longer, however, be a passive unit, swept hither and thither by the energy of his group, but will become a positive, active potent force, self-immolated through intelligent recognition of the greater plan.

Liên quan đến những con người không sáng tạo gì cả, mà chỉ bị cuốn vào hoạt động dưới sự thúc đẩy của hoàn cảnh—và họ là phần lớn nhân loại—cần chỉ ra rằng họ là một phần trong hoạt động sáng tạo của một thực thể lớn hơn và tiến bộ hơn. Khi sự tiến hoá ngã thức tiếp diễn, ngày càng nhiều thành viên của gia đình nhân loại sẽ trở thành những người sáng tạo và những người hoạt động trí tuệ liên hệ với chất liệu thiên thần. Vì vậy, trong các giai đoạn đầu của sự tách mình khỏi thái độ thụ động, sẽ thấy có một sự nổi loạn chống lại luật pháp và trật tự, một sự từ chối bị cai quản, và một khả năng được biểu lộ là theo đuổi một quan niệm cá nhân bằng giá phải trả của nhóm, dù lớn hay nhỏ. Khuyết điểm bề ngoài này sẽ được chính tiến hoá và kinh nghiệm chữa lành, và khi tâm thức trở nên sống động với những rung động cao hơn, con người sẽ nhận biết mục đích và Thiên Cơ của Trí Tuệ của nhóm mình. Y sẽ thức tỉnh đối với vẻ đẹp của Thiên Cơ ấy và sẽ bắt đầu dìm lợi ích riêng của mình vào lợi ích lớn hơn, và hợp tác một cách trí tuệ. Quyền năng sáng tạo trước kia vốn có tính chia rẽ sẽ được dâng hiến như một sự hi sinh tự nguyện cho năng lượng lớn hơn, và những kế hoạch cùng ý tưởng nhỏ bé của y sẽ được hòa nhập vào những kế hoạch lớn hơn. Tuy nhiên, y sẽ không còn là một đơn vị thụ động, bị năng lượng của nhóm cuốn đi đây đó, mà sẽ trở thành một mãnh lực tích cực, hoạt động, đầy năng lực, tự hiến mình qua sự nhận biết trí tuệ về Thiên Cơ lớn lao hơn.

He will become alive to the fact that there are living [Page 930] forces in nature. As the greater energy thrills through him, his own latent powers are awakened. He sees and knows the deva forces and can consequently work with them intelligently. Some he will control and manipulate, with others he will co-operate, and others still he will obey.

Y sẽ trở nên nhận biết sự kiện rằng trong thiên nhiên có những [Page 930] mãnh lực sống động. Khi năng lượng lớn hơn rung động xuyên qua y, các quyền năng tiềm ẩn của chính y được đánh thức. Y thấy và biết các mãnh lực thiên thần và do đó có thể làm việc với chúng một cách trí tuệ. Một số y sẽ kiểm soát và vận dụng, với một số khác y sẽ hợp tác, và những vị khác nữa y sẽ tuân phục.

It is in the realisation of these facts anent deva substance, the power of sound, the law of vibration, and the ability to produce forms in conformity with law, that the true magician can be seen. Herein too lies one of the distinctions to be found between magicians of the Good Law, and those of the Left-hand Path. A white magician can control and manipulate deva substance, and he proceeds to do it through an intelligent co-operation with the greater builders. Owing to the purity and holiness of his life, and the height of his own vibration, he can contact them in some one or other of their grades. The magician of the shadows controls and manipulates deva substance on the astral and physical plane and on the lower levels of the mental plane through the force of his own vibration and knowledge, but not through co-operation with the directing builders. He cannot contact them, as his character is impure through selfishness, and his vibration is too low; his power therefore is limited and destructive, yet immense within certain restrictions.

Chính trong sự chứng nghiệm các sự kiện này liên quan đến chất liệu thiên thần, quyền năng của âm thanh, định luật rung động, và khả năng tạo ra các hình tướng phù hợp với định luật, mà nhà huyền thuật chân chính có thể được nhận ra. Chính trong đây cũng có một trong những sự phân biệt giữa các nhà huyền thuật của Định luật Thiện và những kẻ thuộc tả đạo. Một nhà huyền thuật chánh đạo có thể kiểm soát và vận dụng chất liệu thiên thần, và y tiến hành điều đó qua sự hợp tác trí tuệ với các đấng đại kiến tạo. Do sự thanh khiết và thiêng liêng của đời sống y, và do độ cao của rung động riêng của y, y có thể tiếp xúc với họ ở một cấp bậc nào đó của họ. Nhà huyền thuật của bóng tối kiểm soát và vận dụng chất liệu thiên thần trên cõi cảm dục và cõi hồng trần, cũng như trên các cấp thấp của cõi trí, bằng mãnh lực của rung động và tri thức riêng của y, nhưng không phải qua sự hợp tác với các đấng kiến tạo chỉ đạo. Y không thể tiếp xúc với họ, vì tính cách của y bất tịnh do ích kỷ, và rung động của y quá thấp; do đó quyền năng của y bị giới hạn và có tính hủy diệt, tuy vẫn to lớn trong những giới hạn nhất định.

The devas of the etheric doubles fall into two groups. They are those who are the lesser builders, and who, under direction from the greater builders, form the etheric doubles of all that can be seen and all that is tangible on the dense physical plane. They exist in vast hosts and are omnipresent; they gather and build the material needed to form the etheric double of everything, and they do this under certain laws and work under certain restrictions. They are called in occult phraseology “the listening devas,” for they are the ones who pick up that particular note and tone from the transmitters of [Page 931] the physical plane sound which is needed to gather the substance for any intended material form. Again, they are spoken of as “having ears but seeing not.” They work in close co-operation with the elementals of the dense physical body. This second group are spoken of as the “seeing elementals,” for they exist in matter of the three lower subplanes and can therefore see on the objective plane in the occult sense which always implies an analogy between sight and knowledge. The “listening builders” gather the material; the “seeing elementals” take that gathered material, and build it into any specific form. They exist in many groups according to their point in evolution, and some of them might be tabulated as follows:

Các thiên thần của các bản sao dĩ thái thuộc vào hai nhóm. Họ là những vị tiểu kiến tạo, dưới sự chỉ đạo của các đấng đại kiến tạo, tạo thành các bản sao dĩ thái của mọi điều có thể được thấy và mọi điều sờ chạm được trên cõi hồng trần đậm đặc. Họ tồn tại thành những đạo quân khổng lồ và hiện diện khắp nơi; họ tập hợp và kiến tạo chất liệu cần thiết để tạo thành bản sao dĩ thái của mọi vật, và họ làm điều này dưới những định luật nhất định và hoạt động dưới những hạn chế nhất định. Trong cụm từ thần bí huyền bí học, họ được gọi là “các thiên thần lắng nghe,” vì họ là những vị tiếp nhận âm điệu và thanh âm đặc thù từ những vị truyền dẫn [Page 931] âm thanh của cõi hồng trần, vốn cần thiết để tập hợp chất liệu cho bất kỳ hình tướng vật chất dự định nào. Hơn nữa, họ còn được nói đến như “có tai mà không thấy.” Họ hoạt động trong sự hợp tác chặt chẽ với các hành khí của thể hồng trần đậm đặc. Nhóm thứ hai này được gọi là “các hành khí thấy,” vì họ tồn tại trong vật chất của ba cõi phụ thấp và do đó có thể thấy trên cõi khách quan theo nghĩa huyền bí, vốn luôn hàm ý một sự tương đồng giữa thị giác và tri thức. Các “đấng kiến tạo lắng nghe” tập hợp chất liệu; còn “các hành khí thấy” lấy chất liệu đã được tập hợp ấy và xây dựng nó thành bất kỳ hình tướng đặc thù nào. Họ tồn tại trong nhiều nhóm tùy theo điểm tiến hoá của mình, và một số trong họ có thể được lập bảng như sau:

1. The builders of the human vehicle.

1. Các đấng kiến tạo vận cụ con người.

This is the highest group of lesser builders, who are highly specialised. These will be dealt with somewhat in detail later.

Đây là nhóm cao nhất của các vị tiểu kiến tạo, những vị có tính chuyên môn hóa rất cao. Những vị này sẽ được bàn đến phần nào chi tiết hơn về sau.

2. The builders of the forms in the three kingdoms of nature in their two divisions.

2. Các đấng kiến tạo các hình tướng trong ba giới của thiên nhiên theo hai phân bộ của họ.

First. The builders of the mineral kingdom. These are the workers occultly called “the elemental alchemists.” They are in many groups connected with the differing elements, metals, chemicals, and minerals, and with what are called active and radioactive substances. They are the custodians of two secrets, that of the immetalisation of the Monad, and the secret of the transmutation of metals.

Thứ nhất. Các đấng kiến tạo giới kim thạch. Đây là những người hoạt động được gọi một cách huyền bí là “các nhà luyện kim hành khí.” Họ thuộc nhiều nhóm liên hệ với các nguyên tố, kim loại, hóa chất và khoáng vật khác nhau, cũng như với những gì được gọi là các chất liệu hoạt động và phóng xạ. Họ là những người gìn giữ hai bí mật, một là bí mật về sự kim loại hóa của chân thần, và một là bí mật về sự chuyển hoá kim loại.

Second. The builders of the vegetable kingdom. They exist in many groups and are termed “the surface alchemists” and “the bridging units.” They build the doubles of every form of vegetable life, and just as the “alchemists” of the mineral kingdom are mostly concerned with the action of fire, these other alchemical workers are concerned with the liquid action of divine [Page 932] manifestation. They work, therefore, in co-operation with the devas of the waters, or liquid substance, whilst the earlier mentioned group work with the gaseous devas. A hint is here conveyed, but greater expansion of the statement is not possible, owing to the danger of the knowledge to be reached. With them is hidden three secrets: One is concerned with the earlier solar system, or the green solar system; another deals with the laws of bridging, or the interaction between the kingdoms of nature, and the third is connected with the history of the second round; this secret when revealed will make clear why man (under the law) should be a vegetarian and not carnivorous. Scientists are learning already certain things connected with the second secret, and they may hope, as the knowledge of the significance of colour is extended, to glean hints as to the first. The third secret will not be indicated more clearly till the sixth race is living upon earth.

Thứ hai. Các đấng kiến tạo giới thực vật. Họ tồn tại trong nhiều nhóm và được gọi là “các nhà luyện kim bề mặt” và “các đơn vị bắt cầu.” Họ kiến tạo các bản sao của mọi hình thức sự sống thực vật, và cũng như các “nhà luyện kim” của giới kim thạch chủ yếu quan tâm đến tác động của lửa, thì những người hoạt động luyện kim khác này quan tâm đến tác động lưu chất của biểu hiện thiêng liêng. Do đó, họ hoạt động trong sự hợp tác với các thiên thần của nước, hay chất liệu lỏng, trong khi nhóm được nhắc đến trước đó hoạt động với các thiên thần thể khí. Ở đây có một gợi ý, nhưng không thể khai triển thêm lời phát biểu này, do sự nguy hiểm của tri thức có thể đạt đến. Nơi họ ẩn giấu ba bí mật: một bí mật liên quan đến hệ mặt trời trước kia, hay hệ mặt trời [Page 932]xanh; một bí mật khác bàn đến các định luật bắt cầu, hay sự tương tác giữa các giới trong thiên nhiên; và bí mật thứ ba liên hệ với lịch sử của cuộc tuần hoàn thứ hai; khi được mặc khải, bí mật này sẽ làm sáng tỏ vì sao con người (theo định luật) nên ăn chay chứ không nên ăn thịt. Các nhà khoa học hiện đã học được một số điều liên hệ với bí mật thứ hai, và họ có thể hy vọng, khi tri thức về thâm nghĩa của màu sắc được mở rộng, sẽ nhặt nhạnh được những gợi ý về bí mật thứ nhất. Bí mật thứ ba sẽ không được chỉ ra rõ hơn cho đến khi nhân loại thứ sáu sống trên trái đất.

Third. The builders of all animal etheric forms. These are a group closely allied with those who build the human form. They came in force from a reservoir of energy which was kept in a quiescent condition until the physical condition of any particular scheme warranted their activity. With them came in much that accounts for the present sad condition, for much of the fear, hatred, and destructive condition to be found among the animals is caused by their bodies being built, and the work of evolution carried on by the “imperfect gods” (as H. P. B. expresses it) working in imperfect matter as yet imperfectly manipulated. The secret of fear is hidden in the etheric body, and the particular type of substance out of which it may be built.

Thứ ba. Các đấng kiến tạo mọi hình tướng dĩ thái động vật. Đây là một nhóm có liên hệ rất gần với những vị kiến tạo hình tướng con người. Họ đã đến một cách mạnh mẽ từ một hồ chứa năng lượng vốn được giữ trong trạng thái tĩnh cho đến khi điều kiện hồng trần của một hệ hành tinh đặc thù nào đó bảo đảm cho hoạt động của họ. Cùng với họ đã đến nhiều điều giải thích cho tình trạng đáng buồn hiện nay, vì phần lớn nỗi sợ hãi, lòng căm ghét và tình trạng hủy diệt được thấy nơi loài vật là do các thể của chúng được kiến tạo, và công việc tiến hoá được tiến hành bởi “các vị thần bất toàn” (như H. P. B. diễn tả) hoạt động trong vật chất bất toàn, cho đến nay vẫn được vận dụng một cách bất toàn. Bí mật của nỗi sợ hãi được ẩn giấu trong thể dĩ thái, và trong loại chất liệu đặc thù mà từ đó nó có thể được kiến tạo.

3. The builders of the planetary etheric web.

3. Các đấng kiến tạo mạng lưới dĩ thái hành tinh.

Their work is exceedingly obscure and exists in three divisions: [Page 933]

Công việc của họ cực kỳ mơ hồ và tồn tại trong ba phân bộ: [Page 933]

a. The materialisation of the web. This is only perfected by the fourth round, and was purposely hurried in connection with our planet owing to karmic conditions, and under the law of spiritual necessity. A correspondence to this can be seen in the case of man himself. The etheric web was very loosely co-ordinated in man at the beginning of the fourth rootrace. Spiritual necessity forced its rapid consolidation, and it is now so constituted that it forms a barrier between the physical and the astral plane.

a. Sự hiện hình của mạng lưới. Điều này chỉ được hoàn thiện vào cuộc tuần hoàn thứ tư, và đã được cố ý thúc đẩy nhanh liên hệ với hành tinh của chúng ta do các điều kiện nghiệp quả, và theo định luật của sự cần thiết tinh thần. Một sự tương ứng với điều này có thể được thấy trong trường hợp của chính con người. Mạng lưới dĩ thái đã được phối hợp rất lỏng lẻo nơi con người vào đầu giống dân gốc thứ tư. Sự cần thiết tinh thần đã buộc nó phải được củng cố nhanh chóng, và hiện nay nó được cấu tạo sao cho tạo thành một hàng rào giữa cõi hồng trần và cõi cảm dục.

b. The preservation of the planetary web. This will be continued until the sixth round. During this period spiritual evolution proceeds with a certain degree of planetary safety, for the web protects from certain solar influences, and acts largely as a sifter and a distributor of solar forces.

b. Sự bảo tồn mạng lưới hành tinh. Điều này sẽ được tiếp tục cho đến cuộc tuần hoàn thứ sáu. Trong thời kỳ này, tiến hoá tinh thần diễn ra với một mức độ an toàn hành tinh nhất định, vì mạng lưới bảo vệ khỏi một số ảnh hưởng thái dương, và phần lớn hoạt động như một bộ lọc và một bộ phân phối các mãnh lực thái dương.

c. The destruction of the web. This takes place towards the end of planetary evolution, thus permitting the escape of the imprisoned planetary life and the absorption of the life essence into its synthesiser. The process of destruction can only be described in the words perforation and disintegration.

c. Sự hủy diệt mạng lưới. Điều này diễn ra về cuối tiến hoá hành tinh, nhờ đó cho phép sự sống hành tinh bị giam hãm thoát ra và tinh chất sự sống được hấp thu vào đấng tổng hợp của nó. Tiến trình hủy diệt chỉ có thể được mô tả bằng các từ sự đục thủng và sự tan rã.

4. The builders of the etheric body of the planetary Entity.

4. Các đấng kiến tạo thể dĩ thái của Thực Thể Hành Tinh.

This great involutionary life must remain for many aeons a mystery. His etheric body is now in process of building, and only in another solar system will he assume definite physical form. Sufficient energy has not yet been generated to permit of his manifestation objectively. He remains as yet subjective. He has his solar correspondence. [Page 934]

Sự sống giáng hạ tiến hoá vĩ đại này phải còn là một huyền nhiệm trong nhiều đại kiếp. Thể dĩ thái của Ngài hiện đang trong tiến trình được kiến tạo, và chỉ trong một hệ mặt trời khác Ngài mới đảm nhận hình tướng hồng trần xác định. Năng lượng đầy đủ vẫn chưa được tạo ra để cho phép Ngài biểu hiện một cách khách quan. Hiện nay Ngài vẫn còn chủ quan. Ngài có sự tương ứng thái dương của Ngài. [Page 934]

5. The builders of the planetary body.

5. Các đấng kiến tạo thể hành tinh.

This proceeds under the same law as that of the solar system and of man, but, as in the solar system, it proceeds upon the higher planes. Students are here recommended to trace the relation between the solar and cosmic planes in this specific connection.

Điều này tiến hành theo cùng định luật như của hệ mặt trời và của con người, nhưng cũng như trong hệ mặt trời, nó tiến hành trên các cõi cao hơn. Ở đây, các đạo sinh được khuyến nghị truy tìm mối liên hệ giữa các cõi thái dương và các cõi vũ trụ trong mối liên hệ đặc thù này.

6. The etheric doubles of all that man creates.

6. Các bản sao dĩ thái của mọi điều con người tạo ra.

These are a special group of etheric builders who, under karma, are forced to act in conjunction with human beings.

Đây là một nhóm đặc biệt các đấng kiến tạo dĩ thái, dưới nghiệp quả, bị buộc phải hoạt động phối hợp với con người.

These are but a few out of the many groups possible to touch upon; it is needless further to enlarge, as no substantial profit will eventuate from the impartation of further information. Only the briefest indications can be given and touched upon. It is neither safe nor advisable as yet to impart to men knowledge anent the workers in etheric matter, which would enable them to contact them, nor is it wise as yet to link up coherently the scattered facts already given in different occult books. Science is treading on the borderland of discovery, and trespassing already into the domain of the building devas. Caution is needed. Yet if the hints given above are studied, if the various secrets of the builders are pondered upon, and if the esoteric side of Masonry is carefully and persistently meditated upon, the work of the Great Architect and His many assistants will stand forth in a clearer and a fuller light. One hint may here be given, forgetting not that the work is twofold:

Đây chỉ là một vài trong số rất nhiều nhóm có thể được đề cập đến; không cần thiết phải khai triển thêm, vì sẽ không có lợi ích thực chất nào phát sinh từ việc truyền đạt thêm thông tin. Chỉ có thể đưa ra và chạm đến những chỉ dẫn ngắn gọn nhất. Hiện nay, việc truyền cho con người tri thức liên quan đến những người hoạt động trong vật chất dĩ thái, tri thức có thể giúp họ tiếp xúc với các vị ấy, là điều không an toàn cũng không nên làm; cũng chưa khôn ngoan để liên kết một cách mạch lạc các sự kiện rời rạc đã được đưa ra trong những sách huyền bí khác nhau. Khoa học đang bước trên ranh giới của khám phá, và đã xâm nhập vào lĩnh vực của các thiên thần kiến tạo. Cần có sự thận trọng. Tuy nhiên, nếu các gợi ý nêu trên được nghiên cứu, nếu các bí mật khác nhau của các đấng kiến tạo được suy ngẫm, và nếu phương diện huyền bí của Hội Tam Điểm được tham thiền một cách cẩn trọng và bền bỉ, thì công việc của Đại Kiến Trúc Sư và nhiều trợ thủ của Ngài sẽ hiện ra trong một ánh sáng rõ ràng và đầy đủ hơn. Ở đây có thể đưa ra một gợi ý, mà không quên rằng công việc là nhị phân:

The construction of the tabernacle, or the building of the temporary forms is the work of the Divine Carpenter, whilst the building of the Temple of Solomon, or the construction of the more permanent structure is the work of the Supervising Architect. One concerns operative, and the other speculative Masonry in the true esoteric significance of the word.

Việc dựng lều tạm, hay xây dựng các hình tướng tạm thời là công việc của Người Thợ Mộc Thiêng Liêng, trong khi việc xây Đền Solomon, hay kiến tạo cấu trúc bền vững hơn là công việc của Vị Kiến Trúc Sư Giám Sát. Một bên liên quan đến Hội Tam Điểm thực hành, và bên kia liên quan đến Hội Tam Điểm chiêm nghiệm theo thâm nghĩa huyền bí chân chính của từ này.

[Page 935] The devas who form the etheric doubles of all objects out of their own substance must also be considered. These builders are the sumtotal of all physical plane substance, and constitute the matter of the etheric levels of the physical plane. They exist, therefore, in four groups, and each group has a curious karmic relation to one of the four kingdoms in nature:

[Page 935] Các thiên thần tạo thành các bản sao dĩ thái của mọi vật từ chính chất liệu của họ cũng phải được xem xét. Các đấng kiến tạo này là tổng số mọi chất liệu của cõi hồng trần, và cấu thành vật chất của các cấp dĩ thái của cõi hồng trần. Do đó, họ tồn tại trong bốn nhóm, và mỗi nhóm có một mối liên hệ nghiệp quả kỳ lạ với một trong bốn giới trong thiên nhiên:

Group.

Plane.

Kingdom.

First

One

Human

Second

Two

Animal

Third

Three

Vegetable

Fourth

Four.

Mineral

The substance of the highest physical form of a human being is therefore atomic. The Master’s physical body is made of atomic matter, and when He wishes to materialise it on the dense physical plane, He forms a sheath of gaseous substance upon that atomic matter, perfect in its delineation of all the known physical traits. The substance of the highest form of animal body is that of the second ether, and herein is to be found a clue as to the relation between all sea and watery forms to the animal. The highest form of body possible for the vegetable form of life is that of the third ether. These facts will be demonstrated in the seventh round when the present three kingdoms of nature—the human, the animal, and the vegetable will objectively exist in etheric matter; that will be for them their densest manifestation. The mineral kingdom will find its highest manifestation in matter of the fourth ether, and this transmutation is already taking place, for all the radioactive substances now being discovered are literally becoming matter of the fourth ether. The mineral kingdom is relatively nearing its possible manvantaric perfection, and by the time the seventh round is reached all mineral lives (not forms) [Page 936] will have been transferred to another planet. This will not be so with the other three kingdoms.

Chất liệu của hình tướng hồng trần cao nhất của một con người vì thế là nguyên tử. Thể hồng trần của Chân sư được tạo bằng vật chất nguyên tử, và khi Ngài muốn hiện hình nó trên cõi hồng trần đậm đặc, Ngài tạo thành một lớp vỏ bằng chất liệu thể khí trên vật chất nguyên tử ấy, hoàn hảo trong việc phác họa mọi đặc điểm hồng trần đã biết. Chất liệu của hình thức thể cao nhất của động vật là chất liệu của dĩ thái thứ hai, và ở đây có thể tìm thấy một đầu mối về mối liên hệ giữa mọi hình thức biển và nước với loài vật. Hình thức thể cao nhất có thể có đối với hình thức sự sống thực vật là của dĩ thái thứ ba. Những sự kiện này sẽ được chứng minh trong cuộc tuần hoàn thứ bảy khi ba giới thiên nhiên hiện nay—giới nhân loại, giới động vật và giới thực vật—sẽ tồn tại một cách khách quan trong vật chất dĩ thái; đối với chúng, đó sẽ là biểu hiện đậm đặc nhất của chúng. Giới kim thạch sẽ tìm thấy biểu hiện cao nhất của nó trong vật chất của dĩ thái thứ tư, và sự chuyển hoá này hiện đã đang diễn ra, vì mọi chất liệu phóng xạ hiện đang được khám phá thực sự đang trở thành vật chất của dĩ thái thứ tư. Giới kim thạch tương đối đang tiến gần đến sự hoàn hảo có thể có của nó trong giai kỳ sinh hóa, và vào lúc đạt đến cuộc tuần hoàn thứ bảy, mọi sự sống kim thạch (không phải các hình tướng) [Page 936] sẽ được chuyển dịch sang một hành tinh khác. Điều này sẽ không xảy ra với ba giới kia.

The etheric deva substance is acted upon in two ways:

Chất liệu thiên thần dĩ thái bị tác động theo hai cách:

It is awakened into a specific activity by the sounding of the physical plane word, and it is built into forms by the lesser builders.

Nó được đánh thức vào một hoạt động đặc thù bởi việc xướng linh từ của cõi hồng trần, và được các vị tiểu kiến tạo xây dựng thành các hình tướng.

It will, therefore, be apparent that it comes under the influence of two types of force or energy.

Do đó, sẽ rõ ràng rằng nó chịu ảnh hưởng của hai loại mãnh lực hay năng lượng.

We will now briefly take up the subject of the work of the devas who build man’s etheric and dense physical body. By dividing our thoughts into two sections, we may be able to cover the ground somewhat more easily, dealing first with the building devas and the microcosm and then with the lesser builders of the etheric levels.

Giờ đây chúng ta sẽ ngắn gọn bàn đến chủ đề công việc của các thiên thần kiến tạo thể dĩ thái và thể hồng trần đậm đặc của con người. Bằng cách chia tư tưởng của chúng ta thành hai phần, chúng ta có thể bao quát lĩnh vực này phần nào dễ dàng hơn, trước hết bàn đến các thiên thần kiến tạo và tiểu thiên địa, rồi đến các vị tiểu kiến tạo của các cấp dĩ thái.

d. The Elementals and the Microcosm.

d. Các Hành Khí và Tiểu thiên địa.

Man and the building devas. Man, in the process of evolution, as he pursues the method of reincarnation, works with four types of builders and three major grades of building essence or deva substance.

Con người và các thiên thần kiến tạo. Con người, trong tiến trình tiến hoá, khi theo đuổi phương pháp tái sinh, hoạt động với bốn loại đấng kiến tạo và ba cấp chính của tinh chất kiến tạo hay chất liệu thiên thần.

He connects with the transmitting devas who are found in connection with the microcosm on the fourth subplane of the mental plane, and on the atomic subplanes of the astral and physical plane. He connects next with the devas concerned with:

Y liên kết với các thiên thần truyền dẫn được tìm thấy liên hệ với tiểu thiên địa trên cõi phụ thứ tư của cõi trí, và trên các cõi phụ nguyên tử của cõi cảm dục và cõi hồng trần. Kế đó y liên kết với các thiên thần liên quan đến:

1. The mental unit.

1. đơn vị hạ trí.

2. The astral permanent atom.

2. Nguyên tử trường tồn cảm dục.

3. The physical permanent atom.

3. Nguyên tử trường tồn hồng trần.

He co-operates with the work of the building devas who form the etheric body, and influences the building devas of the dense physical substances, so that the necessary physical vehicle for his objective manifestation becomes an actuality.

Y hợp tác với công việc của các thiên thần kiến tạo tạo thành thể dĩ thái, và ảnh hưởng đến các thiên thần kiến tạo của các chất liệu hồng trần đậm đặc, để vận cụ hồng trần cần thiết cho biểu hiện khách quan của y trở thành hiện thực.

These are the four main groups of devas which come under the influence of any particular Ego. They unitedly [Page 937] produce the lower man, and bring into manifestation the Personality, that reflection of the Ego and shadow of the Monad. The three grades of building essence which are built into forms through the activity of the above four groups are here briefly recognised as the mental substance, built into the mental body, the astral substance, built into the astral vehicle and the matter of the physical body. These seven groups form, in their totality, what we might call the Brahma aspect of the microcosm.

Đây là bốn nhóm thiên thần chính chịu ảnh hưởng của bất kỳ chân ngã đặc thù nào. Họ cùng nhau [Page 937] tạo ra phàm nhân, và đưa Phàm ngã vào biểu hiện, sự phản chiếu của chân ngã và cái bóng của chân thần. Ba cấp tinh chất kiến tạo được xây dựng thành các hình tướng qua hoạt động của bốn nhóm trên đây được nhìn nhận ngắn gọn ở đây là chất liệu trí tuệ, được xây thành thể trí, chất liệu cảm dục, được xây thành vận cụ cảm dục, và vật chất của thể hồng trần. Bảy nhóm này, trong tổng thể của chúng, tạo thành điều mà chúng ta có thể gọi là phương diện Brahma của tiểu thiên địa.

From another point of view, we may be considered as studying the action of the solar Angel, or Lord, upon the lunar angels, and the process whereby the solar Lord imposes a certain rhythm and vibration upon different aspects of lower manifestation. Esoterically, this is all hidden in the words of a very ancient writing, which says:

Từ một quan điểm khác, chúng ta có thể được xem như đang nghiên cứu tác động của Thái dương Thiên Thần, hay Chúa Tể, lên các thái âm thiên thần, và tiến trình nhờ đó Chúa Tể thái dương áp đặt một nhịp điệu và rung động nhất định lên các phương diện khác nhau của biểu hiện thấp. Một cách huyền bí, tất cả điều này được ẩn giấu trong lời của một bản văn rất cổ, nói rằng:

“As the moon revolves, she reflects. As she reflects, she causes response in that which failed to radiate. These three, the Sun, the Moon, and the Mother, produce that which pursues a tiny cycle, and burns.”

“Khi mặt trăng xoay chuyển, nàng phản chiếu. Khi nàng phản chiếu, nàng gây ra sự đáp ứng nơi điều đã không phát xạ. Ba điều này, Mặt Trời, Mặt Trăng và Mẹ, tạo ra điều theo đuổi một chu kỳ nhỏ bé, và cháy sáng.”

The first step of the Ego towards producing a “shadow” is expressed in the words “The Ego sounds his note.” He utters his voice, and (as in the logoic process) the lesser “army of the voice” responds immediately to it. According to the tone and quality of the voice, so is the nature of the responsive agents. According to the depth or height of the note, and according to its volume, so is the status or grade of building deva which replies to the call. This egoic note produces, therefore, certain effects:

Bước đầu tiên của chân ngã trong việc tạo ra một “cái bóng” được diễn tả trong lời “Chân ngã xướng lên âm điệu của mình.” Y phát ra tiếng nói của mình, và (như trong tiến trình của Thượng đế) “đạo quân của tiếng nói” nhỏ hơn lập tức đáp ứng với nó. Tùy theo âm sắc và phẩm tính của tiếng nói mà bản chất của các tác nhân đáp ứng sẽ như thế. Tùy theo độ trầm hay cao của âm điệu, và tùy theo âm lượng của nó, mà địa vị hay cấp bậc của thiên thần kiến tạo đáp lời sẽ như thế. Vì vậy, âm điệu chân ngã này tạo ra những hiệu quả nhất định:

It sweeps into activity devas who proceed to transmit the sound. They utter a word.

Nó cuốn các thiên thần vào hoạt động, những vị này tiến hành truyền dẫn âm thanh. Họ thốt ra một từ.

It reaches the listening devas of the second grade who take up the word and proceed to elaborate it into what might be called a mantric phrase. The building process definitely begins in a sequential threefold manner. The [Page 938] mental body begins to co-ordinate in three stages. All the building stages overlap. When, for instance, the co-ordination of the mental body is in its second stage, the first stage of astral concretion begins. This is carried on for seven stages (three major and four minor) which overlap in an intricate fashion. Again, when the second stage is reached, a vibration is produced which awakens response in etheric matter on the physical plane, and the builders of the etheric double commence their activity. Again the process is repeated. When the second stage of the work of these etheric devas is begun, conception takes place upon the physical plane. This is a very important point to be remembered, for it brings the entire process of human birth definitely into line with established karmic law. It shows the close connection between that which is subjective and that which is tangible and seen. The building of the physical body proceeds like that of the three stages during the prenatal period:

Nó đến với các thiên thần lắng nghe của cấp thứ hai, những vị tiếp nhận từ ấy và tiến hành khai triển nó thành điều có thể được gọi là một cụm từ mantram. Tiến trình kiến tạo xác định bắt đầu theo một cách tam phân tuần tự. [Page 938] Thể trí bắt đầu phối hợp trong ba giai đoạn. Tất cả các giai đoạn kiến tạo đều chồng lấn lên nhau. Chẳng hạn, khi sự phối hợp của thể trí đang ở giai đoạn thứ hai, thì giai đoạn đầu của sự cô đặc cảm dục bắt đầu. Điều này được tiếp tục qua bảy giai đoạn (ba giai đoạn chính và bốn giai đoạn phụ) chồng lấn lên nhau theo một cách phức tạp. Hơn nữa, khi giai đoạn thứ hai đạt đến, một rung động được tạo ra, đánh thức sự đáp ứng trong vật chất dĩ thái trên cõi hồng trần, và các đấng kiến tạo của bản sao dĩ thái bắt đầu hoạt động. Tiến trình lại được lặp lại. Khi giai đoạn thứ hai của công việc của các thiên thần dĩ thái này bắt đầu, sự thụ thai diễn ra trên cõi hồng trần. Đây là một điểm rất quan trọng cần ghi nhớ, vì nó đưa toàn bộ tiến trình sinh ra của con người vào đúng hàng ngũ của định luật nghiệp quả đã được thiết lập. Nó cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa điều chủ quan với điều sờ chạm được và được thấy. Việc kiến tạo thể hồng trần tiến hành như của ba giai đoạn trong thời kỳ trước khi sinh:

a. The work of the building devas during the three and a half months prior to the realisation of life. This period sees the third stage of the building of the etheric body entered upon.

a. Công việc của các thiên thần kiến tạo trong ba tháng rưỡi trước khi có sự chứng nghiệm về sự sống. Thời kỳ này chứng kiến giai đoạn thứ ba của việc kiến tạo thể dĩ thái được bước vào.

b. The building work of the next three and a half months of the gestation period.

b. Công việc kiến tạo của ba tháng rưỡi kế tiếp của thời kỳ thai nghén.

c. The final process of concretion carried on through the remaining two months.

c. Tiến trình cô đặc cuối cùng được tiến hành trong hai tháng còn lại.

Students will here find it interesting to trace out the correspondence in this method of producing evolutionary manifestation in a planetary scheme with its rounds and races, and in a solar system with its manvantaras and greater cycles.

Ở đây, các đạo sinh sẽ thấy thú vị khi truy tìm sự tương ứng trong phương pháp tạo ra biểu hiện tiến hoá này trong một hệ hành tinh với các cuộc tuần hoàn và các giống dân của nó, và trong một hệ mặt trời với các giai kỳ sinh hóa và các chu kỳ lớn hơn của nó.

In summing up this very cursory outline, the work of the etheric devas does not cease at the birth of the man, but is continued likewise in three stages, which find a close analogy in the life period of a solar system.

Tóm lại phác thảo rất sơ lược này, công việc của các thiên thần dĩ thái không chấm dứt khi con người ra đời, mà cũng được tiếp tục trong ba giai đoạn, những giai đoạn này có sự tương đồng chặt chẽ với thời kỳ sống của một hệ mặt trời.

[Page 939] First, their work is directed to the steady increase of the human physical vehicle, so that it may follow accurately the lines of growth of the two subtler bodies. This is carried on till maturity is reached. The next stage is that in which their work consists largely of repair work, and the preservation of the body during the years of full manhood so that it can measure up to the purpose of the subjective life. This purpose necessarily varies according to the stage of development of the man. Finally comes the stage when the work of building ceases. The vitality in the etheric body waxes dim, and the processes of destruction begin. The Ego begins to call in his forces. The “sound” becomes faint and dim; there is less and less volume for the transmitters to pass on, and the initial vibration gets fainter and fainter. The period of obscuration comes in. First the physical body waxes weak and useless; then the Ego withdraws from the centres, and functions for a few hours in the etheric double. This in turn is devitalised, and so the process is carried on till one by one the sheaths are discarded and the egoic “shadow” is dissipated.

[Page 939] Trước hết, công việc của họ được hướng đến sự tăng trưởng đều đặn của vận cụ hồng trần của con người, để nó có thể theo sát một cách chính xác các đường tăng trưởng của hai thể vi tế hơn. Điều này được tiếp tục cho đến khi đạt đến trưởng thành. Giai đoạn kế tiếp là giai đoạn trong đó công việc của họ phần lớn gồm công việc sửa chữa và bảo tồn thể trong những năm sung mãn của đời người để nó có thể đáp ứng mục đích của sự sống chủ quan. Mục đích này tất yếu thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của con người. Cuối cùng đến giai đoạn khi công việc kiến tạo chấm dứt. Sinh lực trong thể dĩ thái mờ dần, và các tiến trình hủy diệt bắt đầu. Chân ngã bắt đầu thu hồi các mãnh lực của mình. “Âm thanh” trở nên yếu và mờ; âm lượng để các vị truyền dẫn chuyển tiếp ngày càng ít đi, và rung động ban đầu ngày càng nhạt dần. Thời kỳ che khuất xuất hiện. Trước hết thể hồng trần trở nên yếu và vô dụng; rồi chân ngã rút khỏi các trung tâm, và hoạt động trong vài giờ trong bản sao dĩ thái. Đến lượt nó, bản sao này bị mất sinh lực, và cứ thế tiến trình tiếp diễn cho đến khi từng lớp vỏ một bị loại bỏ và “cái bóng” chân ngã bị làm tiêu tan.

The work of the building devas.

Công việc của các thiên thần kiến tạo.

Let us now consider the work of the building devas on the three planes, dealing with them in two groups:

Giờ đây chúng ta hãy xét công việc của các thiên thần kiến tạo trên ba cõi, bàn đến họ trong hai nhóm:

a. Those who are connected with the permanent atoms.

a. Những vị liên hệ với các nguyên tử trường tồn.

b. Those who are responsible for the building process.

b. Những vị chịu trách nhiệm về tiến trình kiến tạo.

The devas of the permanent atoms. This particular group of devas are the aggregate of the lives who form the mental unit and the two permanent atoms. They, as we know, have their place within the causal periphery, and are focal points of egoic energy. They are the very highest type of building devas, and form a group of lives which are closely allied to the solar Angels. They exist in seven groups connected with three of the spirillae of [Page 940] the logoic physical permanent atom. These three spirillae are to these seven groups of lives what the three major rays are to the seven groups of rays on the egoic subplanes of the mental plane. This phrase will bear meditating upon, and may convey much information to the intuitional thinker. There is a correspondence between the three permanent atomic triads, and the appearance of man in the third root race. A curiously interesting sequence of the three lines of force can be seen in:

Các thiên thần của các nguyên tử trường tồn. Nhóm thiên thần đặc thù này là tổng thể các sự sống tạo thành đơn vị hạ trí và hai nguyên tử trường tồn. Như chúng ta biết, họ có vị trí của mình trong chu vi nhân thể, và là các tiêu điểm của năng lượng chân ngã. Họ là loại thiên thần kiến tạo cao nhất, và tạo thành một nhóm sự sống có liên hệ mật thiết với các Thái dương Thiên Thần. Họ tồn tại trong bảy nhóm liên hệ với ba loa tuyến của [Page 940] nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế. Ba loa tuyến này đối với bảy nhóm sự sống ấy cũng giống như ba cung chính đối với bảy nhóm cung trên các cõi phụ chân ngã của cõi trí. Cụm từ này đáng để tham thiền, và có thể truyền đạt nhiều thông tin cho nhà tư tưởng trực giác. Có một sự tương ứng giữa ba tam nguyên nguyên tử trường tồn, và sự xuất hiện của con người trong giống dân gốc thứ ba. Một chuỗi rất thú vị của ba đường mãnh lực có thể được thấy trong:

a. The triads of the involutionary group soul.

a. Các tam nguyên của hồn nhóm giáng hạ tiến hoá.

b. The appearance of triple natured man in the third root race.

b. Sự xuất hiện của con người tam phân trong giống dân gốc thứ ba.

c. The triads in the causal bodies of any self-conscious unit.

c. Các tam nguyên trong các thể nguyên nhân của bất kỳ đơn vị ngã thức nào.

These building devas are the ones who take up the sound as the Ego sends it forth through certain of the transmitting deva agencies, and by the vibration which this sets up they drive into activity the surrounding deva essence in their two groups:

Các thiên thần kiến tạo này là những vị tiếp nhận âm thanh khi chân ngã phát nó ra qua một số tác nhân thiên thần truyền dẫn nhất định, và bằng rung động mà điều này tạo nên, họ thúc đẩy vào hoạt động tinh chất thiên thần chung quanh trong hai nhóm của nó:

a. Those who build the form.

a. Những vị kiến tạo hình tướng.

b. Those who are built into the form.

b. Những vị được kiến tạo vào trong hình tướng.

They only affect those of analogous vibration. The stages of the building of any of the four forms through which lower man (the Quaternary) functions, follow exactly analogous stages to the building of the dense physical body, for instance, of a planet, or of a solar system. This can be traced all the way from the nebulous and chaotic stages through the fiery to the solid, or to the relatively solid where a subtle body is concerned. There is no need for us further to enlarge. H. P. B. has outlined these stages in the Secret Doctrine, (I, 279, 280.) and they have been dealt with in an earlier part of this Treatise.

Các vị này chỉ tác động đến những ai có rung động tương tự. Các giai đoạn kiến tạo bất kỳ một trong bốn thể mà qua đó phàm nhân thấp (Bộ Tứ) hoạt động, đều tuân theo những giai đoạn hoàn toàn tương tự với sự kiến tạo thể xác hồng trần đậm đặc, chẳng hạn, của một hành tinh, hay của một hệ mặt trời. Điều này có thể được truy nguyên suốt từ các giai đoạn tinh vân và hỗn mang, xuyên qua giai đoạn rực lửa đến giai đoạn rắn chắc, hay đến mức tương đối rắn chắc khi liên quan đến một thể vi tế. Chúng ta không cần khai triển thêm. H. P. B. đã phác họa các giai đoạn này trong Giáo Lý Bí Nhiệm, (I, 279, 280.) và chúng đã được bàn đến trong một phần trước của bộ Luận này.

We have dealt at some length already with the work [Page 941] of the transmitting devas upon the three planes in the three worlds, and with that of the devas connected with those relatively permanent focal points—the permanent atoms within the causal periphery. We can now consider the group of builders who, responding to the note of the transmitting agencies and to the initial vibration of the second group of builders concerned with the triple lower self, begin the work of aggregating and moulding the living substance necessary for egoic manifestation upon the lower planes.

Chúng ta đã bàn khá dài về công việc [Page 941] của các thiên thần truyền dẫn trên ba cõi trong ba cõi giới, và về công việc của các thiên thần liên hệ với những điểm tiêu cự tương đối thường tồn ấy—các nguyên tử trường tồn bên trong chu vi nhân thể. Giờ đây chúng ta có thể xét đến nhóm các đấng kiến tạo, những vị, đáp ứng với âm điệu của các tác nhân truyền dẫn và với rung động khởi đầu của nhóm đấng kiến tạo thứ hai liên hệ với phàm ngã tam phân, bắt đầu công việc tập hợp và nắn tạo chất liệu sống cần thiết cho sự biểu hiện của chân ngã trên các cõi thấp.

We have seen that the first three stages of the egoic work are:

Chúng ta đã thấy rằng ba giai đoạn đầu của công việc chân ngã là:

1. The sounding of the appropriate note, which note is indicative of man’s place in evolution, and of the nature of his “psyche,” or Ego.

1. Xướng lên âm điệu thích hợp, âm điệu biểu thị vị trí của con người trong tiến hoá, và bản chất của “psyche” hay chân ngã của y.

2. The transmission of this note by the solar Angel, and the three groups of devas connected with the three permanent atoms.

2. Sự truyền đạt âm điệu này bởi Thái dương Thiên Thần, và ba nhóm thiên thần liên hệ với ba nguyên tử trường tồn.

3. The vibration set up within these atoms which is in line with the note sounded, and which becomes so strong as to make itself felt in the surrounding deva substance, thus awakening response.

3. Rung động được khởi lên bên trong các nguyên tử này, phù hợp với âm điệu đã được xướng lên, và trở nên mạnh đến mức tự làm cho mình được cảm nhận trong chất liệu thiên thần chung quanh, nhờ đó đánh thức sự đáp ứng.

These may be considered as the three primary stages, and we find demonstrated (in connection with the microcosm) the three factors of sound, colour and vibration, which, under the Law of Analogy, reflect the three aspects of the macrocosm. Here too is found a resemblance to the work of the first three Sephiroths of the Kabbalah,—the primary stage of manifestation finding its dim reflection in the work of the Ego in the three worlds.

Có thể xem đây là ba giai đoạn sơ khởi, và chúng ta thấy được chứng minh (liên hệ với tiểu thiên địa) ba yếu tố âm thanh, màu sắc và rung động, là những yếu tố, dưới định luật tương đồng, phản chiếu ba phương diện của đại thiên địa. Ở đây cũng thấy có sự tương tự với công việc của ba Sephiroth đầu tiên của Kabbalah,—giai đoạn sơ khởi của sự biểu hiện tìm thấy phản chiếu mờ nhạt của nó trong công việc của chân ngã trong ba cõi giới.

The second stage now takes place, in which the work of building proceeds until the microcosm, man, makes his appearance upon the physical plane. This is succeeded by a third stage of evolution, in which the psychic nature of man is to demonstrate through the medium of the [Page 942] created forms. Then the next two groups of Sephiroth are seen reproduced in man. He is demonstrated to be nine from another angle but we are only concerned in this section with the builders of the form.

Giờ đây giai đoạn thứ hai diễn ra, trong đó công việc kiến tạo tiếp tục cho đến khi tiểu thiên địa, con người, xuất hiện trên cõi hồng trần. Tiếp theo đó là giai đoạn tiến hoá thứ ba, trong đó bản chất thông linh của con người sẽ biểu lộ qua trung gian của các [Page 942] hình tướng đã được tạo ra. Khi ấy hai nhóm Sephiroth kế tiếp được thấy tái hiện trong con người. Y được chứng tỏ là số chín từ một góc độ khác nhưng trong phần này chúng ta chỉ quan tâm đến các đấng kiến tạo hình tướng.

These groups of builders are four in number:

Các nhóm đấng kiến tạo này có bốn nhóm:

1. The builders of the mental body.

1. Các đấng kiến tạo thể trí.

2. The builders of the astral body.

2. Các đấng kiến tạo thể cảm dục.

3. The builders of the etheric body.

3. Các đấng kiến tạo thể dĩ thái.

4. The builders of the dense physical.

4. Các đấng kiến tạo thể xác hồng trần đậm đặc.

Each of these groups can be subdivided into four or seven or three, according to the plane concerned. Students must remember that matter from the two lowest subplanes of the physical and of the astral planes are never built into the human body as now constituted; it is of too low a vibration, and too coarse a grade for even the lowest type of men on earth at this time. It must be pointed out also that in the average man, the matter of some subplane will preponderate according to the depth of his nature and his place on the ladder of evolution. The “builders” of the human body work under the direction of one of the Lords of Karma from the lowest group. These Lords are to be found in three groups, and a Lord out of the third group has the work of superintending the builders of the human being on the three planes. Under Him are to be found certain karmic agents, who again are divided into the following groups:

Mỗi nhóm này có thể được phân chia thành bốn hay bảy hay ba, tùy theo cõi liên hệ. Các đạo sinh phải nhớ rằng vật chất từ hai cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần và cõi cảm dục không bao giờ được kiến tạo vào trong thể người như hiện nay; rung động của nó quá thấp, và cấp độ của nó quá thô đối với ngay cả loại người thấp nhất trên trái đất vào lúc này. Cũng cần chỉ ra rằng nơi con người trung bình, vật chất của một cõi phụ nào đó sẽ chiếm ưu thế tùy theo chiều sâu bản chất của y và vị trí của y trên nấc thang tiến hoá. Các “đấng kiến tạo” của thể người hoạt động dưới sự chỉ đạo của một trong các Đấng Nghiệp Quả thuộc nhóm thấp nhất. Các Đấng này được tìm thấy trong ba nhóm, và một Đấng thuộc nhóm thứ ba có công việc giám sát các đấng kiến tạo con người trên ba cõi. Dưới quyền Ngài có một số tác nhân nghiệp quả, và các vị này lại được chia thành những nhóm sau:

1. Three karmic agents responsible to the karmic Lords for the work on the three planes.

1. Ba tác nhân nghiệp quả chịu trách nhiệm trước các Đấng Nghiệp Quả về công việc trên ba cõi.

2. Five karmic Lords who work in close connection with the Manus of the various races, and who are responsible for the correct building of the varying race types.

2. Năm Đấng Nghiệp Quả hoạt động trong liên hệ mật thiết với các Đức Manu của các nhân loại khác nhau, và chịu trách nhiệm về sự kiến tạo đúng đắn các loại hình nhân loại khác nhau.

3. Karmic agents responsible for the subrace types of the present time. [Page 943]

3. Các tác nhân nghiệp quả chịu trách nhiệm về các loại hình giống dân phụ của thời hiện tại. [Page 943]

4. Certain intermediary agents who represent (within these three groups) the seven Ray types.

4. Một số tác nhân trung gian đại diện (trong ba nhóm này) cho bảy loại cung.

5. Those agents of the good Law who are connected specifically with the work of the etheric centres, and their response to the different planetary centres.

5. Những tác nhân của Định luật thiện lành liên hệ đặc biệt với công việc của các trung tâm dĩ thái, và sự đáp ứng của chúng đối với các trung tâm hành tinh khác nhau.

6. The keepers of the records.

6. Những vị giữ hồ sơ.

These various intelligences manipulate the building forces through the medium of streams of energy, which streams are set in motion when the Ego sounds his note. It must be remembered that in more or less degree upon his own plane the Ego is aware of his karma, and of what must be done to promote growth during the coming incarnation. He works, therefore, in connection with these Lords, but is only directly in touch with an agent of the sixth group and of the fourth. Through these two the work proceeds as far as the Ego is individually concerned, and they set in motion for him (after he has sounded his note) the machinery of the Law.

Các trí tuệ khác nhau này điều khiển các mãnh lực kiến tạo qua trung gian các dòng năng lượng, những dòng này được khởi động khi chân ngã xướng lên âm điệu của mình. Cần nhớ rằng ở mức độ nhiều hay ít trên cõi riêng của mình, chân ngã ý thức được nghiệp quả của mình, và điều gì phải được thực hiện để thúc đẩy sự tăng trưởng trong kiếp lâm phàm sắp tới. Vì vậy, y hoạt động trong liên hệ với các Đấng này, nhưng chỉ trực tiếp tiếp xúc với một tác nhân của nhóm thứ sáu và của nhóm thứ tư. Qua hai vị này công việc được tiến hành trong chừng mực liên hệ cá nhân đến chân ngã, và các vị ấy khởi động cho y (sau khi y đã xướng lên âm điệu của mình) bộ máy của Định luật.

The builders of the human personality again are divided into seven main groups; all devas, just as is the case with the human Monads, come under one or other of the seven Rays, and are responsive to one or other of the seven logoic streams of fiery energy. According to a man’s egoic Ray, so will be the type of deva substance influenced.

Các đấng kiến tạo phàm ngã con người lại được chia thành bảy nhóm chính; mọi thiên thần, cũng như trường hợp các Chân thần nhân loại, đều thuộc về một hay nhóm khác trong bảy Cung, và đáp ứng với một hay nhóm khác trong bảy dòng năng lượng lửa của Thượng đế. Tùy theo cung chân ngã của một người mà loại chất liệu thiên thần bị ảnh hưởng sẽ như thế ấy.

These builders work with certain elementals, but it is only upon the physical plane that any idea can be given as to their nature and work. These elementals are the little entities who, adhering to the plan as embodied by the builders, blindly construct the fabric of the body, and form the sheaths through which the Ego is to express himself. On the etheric planes they build the real “form” out of etheric substance, and produce the sheath of intricate lines of interlacing fiery strands, which is in [Page 944] reality an extension of the sutratma, or life thread. As it is woven and interlaced it becomes vitalised with the life energy sent down from the Ego, just as Shiva, the Father, gives to the Son the real “bios” or life, while the Mother warms, builds, and nourishes the body. The work of the etheric elementals reaches its primary consummation when the sutratma is connected with the three centres of the physical nature within the cranium—the pineal gland, the pituitary body, and the alta major centre. Occultly, the most important connection is the entrance of the sutratma into the centre at the top of the head, that through which the life of the etheric body withdraws at the moment of death. This is the vital point. The “thread” of life there, by the time the seventh year is reached, has divided itself into three branches, reaching out to the three centres. The realisation of this fact will eventually prove of much interest to scientists. A good deal of imbecility, or of arrested development will be found to have its origin in the etheric connection with these three centres. The etheric web is literally the fine network of fiery threads which spreads itself over the centre, and forms an area of fairly large dimensions. It separates the two bodies, astral and physical. A similar corresponding area will be found in the solar system. Through it the cosmic forces must pass to the different planetary schemes.

Các đấng kiến tạo này làm việc với một số hành khí, nhưng chỉ trên cõi hồng trần mới có thể đưa ra một ý niệm nào đó về bản chất và công việc của chúng. Các hành khí này là những thực thể nhỏ bé, những kẻ, bám theo thiên cơ như được thể hiện bởi các đấng kiến tạo, một cách mù quáng xây dựng kết cấu của thể, và tạo thành các vỏ bọc qua đó chân ngã sẽ biểu lộ chính mình. Trên các cõi dĩ thái chúng xây dựng “hình tướng” thực sự bằng chất liệu dĩ thái, và tạo ra vỏ bọc gồm những đường nét phức tạp của các sợi lửa đan xen, mà trong [Page 944] thực tại là một sự mở rộng của sutratma, hay sinh mệnh tuyến. Khi nó được dệt và đan xen, nó trở nên được tiếp sinh lực bằng năng lượng sự sống được gửi xuống từ chân ngã, cũng như Shiva, Người Cha, ban cho Người Con “bios” hay sự sống thực sự, trong khi Người Mẹ sưởi ấm, xây dựng và nuôi dưỡng thể. Công việc của các hành khí dĩ thái đạt đến sự hoàn tất sơ khởi khi sutratma được nối với ba trung tâm của bản chất hồng trần bên trong hộp sọ—tuyến tùng, tuyến yên, và trung tâm alta major. Một cách huyền bí, sự nối kết quan trọng nhất là sự đi vào của sutratma vào trung tâm ở đỉnh đầu, trung tâm mà qua đó sự sống của thể dĩ thái rút lui vào lúc chết. Đây là điểm sinh tử. “Sợi dây” sự sống ở đó, vào lúc đứa trẻ đạt đến năm thứ bảy, đã tự phân chia thành ba nhánh, vươn tới ba trung tâm. Việc chứng nghiệm sự kiện này rốt cuộc sẽ chứng tỏ rất đáng quan tâm đối với các nhà khoa học. Phần lớn tình trạng đần độn, hay sự phát triển bị đình trệ, sẽ được thấy là có nguồn gốc trong sự nối kết dĩ thái với ba trung tâm này. Mạng dĩ thái theo nghĩa đen là mạng lưới tinh vi của các sợi lửa trải rộng trên trung tâm, và tạo thành một khu vực có kích thước khá lớn. Nó tách biệt hai thể, cảm dục và hồng trần. Một khu vực tương ứng tương tự sẽ được tìm thấy trong hệ mặt trời. Qua đó các mãnh lực vũ trụ phải đi đến các hệ hành tinh khác nhau.

The elemental groups of the dense physical plane who are swept into activity by the builders, are three in number:

Các nhóm hành khí của cõi hồng trần đậm đặc được các đấng kiến tạo cuốn vào hoạt động có ba nhóm:

a. The gaseous elementals.

a. Các hành khí thể khí.

b. The liquid elementals.

b. Các hành khí thể lỏng.

c. The strictly dense elementals.

c. Các hành khí đậm đặc đúng nghĩa.

One group concerns itself with the fiery channels, with the fires of the human body, and with the different gases to be found within the human periphery. Another group [Page 945] is to be seen working in connection with the circulatory system, and with all the liquids, juices, and waters of the body; whilst the third is largely involved in the construction of the frame, through the right apportioning of the minerals and chemicals. A hint in connection with medicine is here to be found; it is occultly true that just as the liquid devas and elementals are closely related to the vegetable kingdom, and both to the plane of the emotions, the logoic liquid body, so the ills of men which affect the circulatory system, the kidneys, the bladder, and the lubrication of the joints, will find a CURE in vegetable constituents and above all in the right adjustment of the emotional nature.

Một nhóm chuyên lo các kênh lửa, các ngọn lửa của thể người, và các loại khí khác nhau được tìm thấy trong chu vi con người. Một nhóm khác [Page 945] được thấy hoạt động liên hệ với hệ tuần hoàn, và với mọi chất lỏng, dịch thể, và nước của thể; trong khi nhóm thứ ba phần lớn tham gia vào việc xây dựng khung xương, qua sự phân bổ đúng đắn các khoáng chất và hóa chất. Ở đây có thể tìm thấy một gợi ý liên hệ với y học; theo huyền bí học, quả thật đúng rằng cũng như các thiên thần thể lỏng và các hành khí có liên hệ mật thiết với giới thực vật, và cả hai đều liên hệ với cõi cảm xúc, thể lỏng của Thượng đế, thì các chứng bệnh của con người ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn, thận, bàng quang, và sự bôi trơn của các khớp, sẽ tìm được một PHƯƠNG THUỐC trong các thành phần thực vật và trên hết là trong sự điều chỉnh đúng đắn bản chất cảm xúc.

Several influences other than those mentioned have to be considered when the subject of the work of these builders of man’s body is under discussion. Not only are they affected by:

Khi bàn đến chủ đề công việc của các đấng kiến tạo thể người này, còn phải xét đến một số ảnh hưởng khác ngoài những điều đã nêu. Các vị ấy không chỉ bị ảnh hưởng bởi:

a. A man’s note,

a. Âm điệu của một người,

b. The colour poured forth by the transmitting agents,

b. Màu sắc được tuôn ra bởi các tác nhân truyền dẫn,

c. The karmic agents,

c. Các tác nhân nghiệp quả,

but they come under:

mà còn chịu dưới:

d. Group karma and vibration which will sweep in another group of agencies and builders, and thus affect a man’s bodies,

d. Nghiệp quả và rung động nhóm, là điều sẽ cuốn vào một nhóm tác nhân và đấng kiến tạo khác, và do đó ảnh hưởng đến các thể của một người,

e. Racial karma, an extension of the above,

e. Nghiệp quả chủng tộc, là sự mở rộng của điều trên,

f. Forces playing upon the planet from another scheme, or through the formation of a systemic triangle,

f. Các mãnh lực tác động lên hành tinh từ một hệ hành tinh khác, hay qua sự hình thành một tam giác hệ thống,

g. A cosmic triangle of force of some specific kind which may bring in entities and energies of any particular scheme incident upon the karma of the planetary Logos.

g. Một tam giác mãnh lực vũ trụ thuộc một loại đặc thù nào đó có thể đưa vào các thực thể và năng lượng của bất kỳ hệ hành tinh đặc biệt nào tùy theo nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế.

It will, therefore, be apparent to the student how intricate this subject is and how truly each man is the outcome of force of some kind—egoic primarily, but also [Page 946] planetary, and even systemic. Yet withal, no man is ever put into circumstances which are insurmountable, once he has reached the point where he has intelligently put himself on the side of evolution, or of God. Prior to that he may, and will, be driven by the gales of circumstance; the press of group and racial karma will force him into situations necessary for the process of awakening him to his own innate possibilities. Once he becomes the conscious builder himself, seeking to control the forces and builders of his lower nature, and to construct the Temple of Solomon, then he is no longer subject to the earlier conditions. He becomes a ruler, a builder, and a transmitter, until the time comes when he is one with the solar Angels, and the work of human evolution is accomplished.

Vì vậy, đạo sinh sẽ thấy rõ chủ đề này phức tạp đến mức nào và mỗi người thật sự là kết quả của một loại mãnh lực nào đó—trước hết là chân ngã, nhưng cũng còn [Page 946] hành tinh, và thậm chí hệ thống. Tuy nhiên, không người nào bao giờ bị đặt vào những hoàn cảnh không thể vượt qua, một khi y đã đạt đến điểm mà y đã một cách trí tuệ đặt mình về phía tiến hoá, hay về phía Thượng đế. Trước đó y có thể, và sẽ, bị những cơn gió của hoàn cảnh cuốn đi; sức ép của nghiệp quả nhóm và chủng tộc sẽ buộc y vào những tình huống cần thiết cho tiến trình đánh thức y đối với các khả năng bẩm sinh của chính mình. Một khi y trở thành chính đấng kiến tạo có ý thức, tìm cách kiểm soát các mãnh lực và các đấng kiến tạo của bản chất thấp của mình, và xây dựng Đền thờ Solomon, thì y không còn chịu lệ thuộc vào các điều kiện trước kia nữa. Y trở thành một người cai quản, một đấng kiến tạo, và một tác nhân truyền dẫn, cho đến khi thời điểm đến mà y là một với các Thái dương Thiên Thần, và công việc tiến hoá của con người được hoàn tất.

What has been said above is very superficial, and only that has been imparted which has a profound significance for man at this time. Much must be inferred, and more must be arrived at under the Law of Correspondences. It must ever be borne in mind likewise that our basic conception is one of fiery energy, of force centres set in motion, and kept in active vibration, by the pulsation of still greater centres. Every form is built of fiery atoms, or energetic lives, through the agency of greater lives, and is held in coherent form within the still greater sheaths,—that greater sheath being to the lesser what the macrocosm is to the microcosm. All these groups of building lives may be divided into three groups of energy units, and their nature deduced from the phrases:

Điều đã được nói ở trên rất bề mặt, và chỉ những gì có ý nghĩa sâu xa đối với con người vào lúc này mới được truyền đạt. Nhiều điều phải được suy ra, và còn nhiều điều hơn nữa phải đạt đến dưới định luật tương ứng. Cũng phải luôn ghi nhớ rằng quan niệm căn bản của chúng ta là về năng lượng lửa, về các trung tâm lực được khởi động, và được giữ trong rung động hoạt động bởi sự rung nhịp của những trung tâm còn lớn hơn. Mọi hình tướng đều được xây dựng bằng các nguyên tử lửa, hay các sự sống năng lượng, qua tác nhân của những sự sống lớn hơn, và được giữ trong hình tướng kết hợp bên trong những vỏ bọc còn lớn hơn nữa,—vỏ bọc lớn hơn ấy đối với vỏ bọc nhỏ hơn cũng như đại thiên địa đối với tiểu thiên địa. Tất cả các nhóm sự sống kiến tạo này có thể được chia thành ba nhóm đơn vị năng lượng, và bản chất của chúng được suy ra từ các cụm từ sau:

1. Groups of lives animated by dynamic energy.

1. Các nhóm sự sống được làm sinh động bởi năng lượng động lực.

2. Groups of lives animated by radiant energy.

2. Các nhóm sự sống được làm sinh động bởi năng lượng bức xạ.

3. Groups of lives animated by atomic energy.

3. Các nhóm sự sống được làm sinh động bởi năng lượng nguyên tử.

These again are the sumtotal of the three fires, electric fire, solar fire and fire by friction. In terms of the cosmic [Page 947] physical plane, the correspondence to the systemic plane can be seen in the following tabulation:

Đến lượt chúng, đây là tổng thể của ba ngọn lửa, Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát. Xét theo cõi hồng trần vũ trụ, [Page 947] sự tương ứng với cõi hệ thống có thể được thấy trong bảng sau:

1.

Dynamic energy

electric fire

atomic subplane. – First etheric substance. – Plane adi.

2.

Radiant energy

solar fire

three cosmic etheric levels. – Logoic etheric body.

3.

Atomic energy

fire by friction

three planes of the three worlds. – Logoic dense vehicle.

Each plane will be found to reflect this order in an interesting manner.

Mỗi cõi sẽ được thấy phản chiếu trật tự này theo một cách thú vị.

III. Man as a creator in mental matter

III. Con người như một đấng sáng tạo trong chất liệu trí tuệ

1. The Creation of Thought Forms.

1. Sự Sáng Tạo Các Hình Tư Tưởng.

The subject we are now to deal with cannot be handled too explicitly on account of the attendant dangers. In the creative processes man is dealing with electrical phenomena of some kind, with that which is vitally affected by each thought emanating from him, and with those lesser lives who (aggregated together) form, from certain angles of vision, a source of very real danger to man. We might embody that which can be said in certain statements.

Chủ đề mà giờ đây chúng ta sắp bàn đến không thể được trình bày quá minh bạch vì những nguy hiểm đi kèm. Trong các tiến trình sáng tạo, con người đang xử lý những hiện tượng điện thuộc một loại nào đó, xử lý điều bị ảnh hưởng một cách thiết yếu bởi mỗi tư tưởng phát ra từ y, và xử lý những sự sống nhỏ hơn kia, những kẻ (khi được tập hợp lại) tạo thành, từ một số góc độ tầm nhìn, một nguồn nguy hiểm rất thực đối với con người. Chúng ta có thể trình bày điều có thể nói ra trong một số mệnh đề.

a. Much that is to be seen now of a distressing nature in the world can be directly traced to the wrong manipulation of mental matter by man; to erroneous conceptions as to the nature of matter itself, and to dangerous conditions brought about by the united creative attempts of human beings down the centuries.

a. Phần lớn những gì hiện nay được thấy trong thế giới với tính chất đau khổ có thể trực tiếp truy nguyên đến sự điều khiển sai lầm chất liệu trí tuệ bởi con người; đến những quan niệm sai lạc về bản chất của chính vật chất, và đến những điều kiện nguy hiểm do những nỗ lực sáng tạo hợp nhất của loài người qua nhiều thế kỷ gây ra.

Misunderstandings have arisen as to the purpose of the vital fluids of the universe and this has added to the distress, as have certain distortions of the astral light, producing a subsidiary or secondary glamour, or reflected [Page 948] light which intensifies the maya already created. This secondary reflection has been produced by man himself in the evolutionary attempt to balance the pairs of opposites, and has produced a condition which must be surmounted before the true occult balancing begins. It might be regarded as the sumtotal of that great manifestation (created only by man) called “The Dweller on the Threshold.”

Những sự hiểu lầm đã phát sinh liên quan đến mục đích của các lưu chất thiết yếu của vũ trụ và điều này đã làm tăng thêm đau khổ, cũng như một số sự bóp méo của ánh sáng cảm dục, tạo ra một ảo cảm phụ hay thứ cấp, hay ánh sáng phản chiếu [Page 948] làm tăng cường ảo lực đã được tạo ra. Sự phản chiếu thứ cấp này đã được chính con người tạo ra trong nỗ lực tiến hoá nhằm quân bình các cặp đối lập, và đã tạo nên một tình trạng phải được vượt qua trước khi sự quân bình huyền bí chân chính bắt đầu. Nó có thể được xem như tổng thể của sự biểu hiện lớn lao ấy (chỉ do con người tạo ra) được gọi là “Kẻ Chận Ngõ.”

One of the greatest impediments upon the Path of Return and one for which man is distinctly responsible within occult limits are those animated forms which he has produced ever since the middle of the Atlantean root race when the mind factor began slowly to assume increasing importance. The selfishness, the sordid motives, the prompt response to evil impulses for which the human race has been distinguished has brought about a condition of affairs unparalleled in the system. A gigantic thought form hovers over the entire human family, built by men everywhere during the ages, energised by the insane desires and evil inclinations of all that is worst in man’s nature, and kept alive by the promptings of his lower desires. This thought form has to be broken up and dissipated by man himself during the latter part of this round before the conclusion of the cycle, and its dissipation will be one of the forces tending to the production of interplanetary pralaya. It is this piece of creative bungling, if so it might be called, which the Great Ones are occupied in destroying. Under the Law of Karma it has to be dissipated by those who have created it; the work of the Masters has to be carried on, therefore, indirectly, and must take the form of illuminating the sons of men in gradually increasing degree, so that they can see clearly this “Dweller on the Threshold” of the new life, and the antagonist who stands between the fourth kingdom of nature and the fifth. Every time a son of man stands upon the Probationary Path [Page 949] Their work is facilitated, for it means that one small stream of life-energy is directed into new channels, and away from the old stream, which tends to vitalise and feed the evil form, and one more conscious assailant can be trained to co-operate in the work of destruction. Every time an initiate is admitted to the Lodge degrees, it means that a new and powerful agent is available for the bringing down of force from higher levels to aid in the work of disintegration. In the comprehension of these two methods of aggressive work (that of the aspirant and the initiate) will come much of vital interest to the careful student of analogy. Here lies the clue to the present problem of evil, and to the vitality of the hold which the matter aspect has on the spiritual. This gigantic thought form, the product of man’s ignorance and selfishness, is kept alive and vitalised in three ways:

Một trong những chướng ngại lớn nhất trên Con Đường Trở Về và là điều mà con người rõ ràng phải chịu trách nhiệm trong các giới hạn huyền bí là những hình tướng được làm sinh động mà y đã tạo ra kể từ giữa giống dân gốc Atlantis khi yếu tố trí tuệ bắt đầu chậm rãi đảm nhận tầm quan trọng ngày càng tăng. Sự ích kỷ, những động cơ thấp hèn, sự đáp ứng mau lẹ với các xung lực xấu xa mà nhân loại đã nổi bật vì chúng đã tạo ra một tình trạng chưa từng có trong hệ thống. Một hình tư tưởng khổng lồ lơ lửng trên toàn thể gia đình nhân loại, được con người ở khắp nơi xây dựng qua các thời đại, được tiếp năng lượng bởi những ham muốn điên cuồng và những khuynh hướng xấu xa của tất cả những gì tệ hại nhất trong bản chất con người, và được duy trì sự sống bởi những thôi thúc của các ham muốn thấp của y. Hình tư tưởng này phải được chính con người phá vỡ và làm tiêu tan trong phần sau của cuộc tuần hoàn này trước khi chu kỳ kết thúc, và sự làm tiêu tan nó sẽ là một trong những mãnh lực có xu hướng tạo ra giai kỳ qui nguyên liên hành tinh. Chính mảnh vụng về sáng tạo này, nếu có thể gọi như vậy, mà Các Đấng Cao Cả đang bận tâm hủy diệt. Dưới Định luật Nghiệp Quả, nó phải được làm tiêu tan bởi những kẻ đã tạo ra nó; vì vậy công việc của các Chân sư phải được tiến hành một cách gián tiếp, và phải mang hình thức soi sáng những người con của nhân loại ở mức độ ngày càng tăng, để họ có thể thấy rõ “Kẻ Chận Ngõ” này của sự sống mới, và kẻ đối kháng đứng giữa giới thứ tư của thiên nhiên và giới thứ năm. Mỗi lần một người con của nhân loại đứng trên Con Đường Dự Bị [Page 949] công việc của Các Ngài được hỗ trợ, vì điều đó có nghĩa là một dòng nhỏ năng lượng-sự sống được hướng vào những kênh mới, và rời xa dòng cũ vốn có xu hướng tiếp sinh lực và nuôi dưỡng hình tướng xấu ác, và thêm một kẻ tấn công có ý thức nữa có thể được huấn luyện để hợp tác trong công việc hủy diệt. Mỗi lần một điểm đạo đồ được thừa nhận vào các cấp bậc của Thánh đoàn, điều đó có nghĩa là có thêm một tác nhân mới và mạnh mẽ sẵn có để đưa mãnh lực từ các cấp độ cao hơn xuống nhằm hỗ trợ công việc phân giải. Trong sự thấu hiểu hai phương pháp công việc tấn công này (của người chí nguyện và của điểm đạo đồ) sẽ có nhiều điều rất đáng quan tâm đối với đạo sinh cẩn trọng của định luật tương đồng. Chính ở đây có đầu mối cho vấn đề hiện tại của điều ác, và cho sức sống của sự bám giữ mà phương diện vật chất có trên tinh thần. Hình tư tưởng khổng lồ này, sản phẩm của sự vô minh và ích kỷ của con người, được duy trì sự sống và tiếp sinh lực theo ba cách:

First, by the aggregate of the evil desires, wicked intentions, and selfish purposes of each individual man. Every wrong thought, when embodied in speech or manifested in action on the physical plane, goes to swell the proportions of this evil entity.

Thứ nhất, bởi tổng thể những ham muốn xấu xa, ý định độc ác, và mục đích ích kỷ của từng cá nhân. Mỗi tư tưởng sai lầm, khi được thể hiện thành lời nói hay biểu lộ thành hành động trên cõi hồng trần, đều góp phần làm tăng kích thước của thực thể xấu ác này.

Second, by the fostering care of the brothers of the shadow, and those representatives of what may be called “cosmic evil” who (under the karma of the fourth or human family, in this fourth round), assume stupendous responsibilities, make possible the secondary vitalisation of the thought form and produce conditions of such a dire description that under law rapid crystallisation supervenes, and ultimate destruction becomes possible. Students would do well to broaden their concept as to the purpose of evil and the place the evil forces play in the general scheme.

Thứ hai, bởi sự chăm sóc nuôi dưỡng của các huynh đệ bóng tối, và những đại diện của điều có thể được gọi là “ác vũ trụ”, những kẻ (dưới nghiệp quả của gia đình thứ tư hay gia đình nhân loại, trong cuộc tuần hoàn thứ tư này), đảm nhận những trách nhiệm to lớn, làm cho sự tiếp sinh lực thứ cấp của hình tư tưởng trở nên khả hữu và tạo ra những điều kiện nghiêm trọng đến mức dưới định luật, sự kết tinh nhanh chóng xảy ra, và sự hủy diệt tối hậu trở nên khả hữu. Các đạo sinh nên mở rộng quan niệm của mình về mục đích của điều ác và vai trò mà các mãnh lực ác đóng trong toàn bộ hệ hành tinh.

Third, by the energy still extant and the vibration still to be felt which is the persistence of force from [Page 950] an earlier solar system, and an emanation from that which is no longer considered in this solar system to be a principle.

Thứ ba, bởi năng lượng vẫn còn tồn tại và rung động vẫn còn được cảm nhận là sự kéo dài của mãnh lực từ [Page 950] một hệ mặt trời trước kia, và một phát xạ từ điều mà trong hệ mặt trời này không còn được xem là một nguyên khí nữa.

These three factors are the main ones to be considered by the Great Ones in Their work of enabling men to break loose from the influence of this self-imposed form, to destroy that which they have themselves constructed, and to shake themselves free from the illusion cast by the persistent vampire which they have nourished and strengthened for millennia of years.

Ba yếu tố này là những yếu tố chính mà Các Đấng Cao Cả phải xét đến trong công việc giúp con người thoát khỏi ảnh hưởng của hình tướng do chính mình áp đặt này, hủy diệt điều mà họ đã tự xây dựng, và tự giải thoát khỏi ảo tưởng do con ma cà rồng dai dẳng mà họ đã nuôi dưỡng và làm mạnh thêm suốt hàng thiên niên kỷ tạo ra.

This work of destruction the Great Ones are bringing about in four main ways:

Công việc hủy diệt này đang được Các Đấng Cao Cả thực hiện theo bốn cách chính:

(1) By the strength of Their united thoughts and meditations.

(1) Bằng sức mạnh của những tư tưởng và sự tham thiền hợp nhất của Các Ngài.

(2) By the work of the Hierarchy in training and teaching individuals, who thus break away from blind group activity, and become conscious centres of force and co-operators in the work of destruction. This work has to be carried on from mental levels. Hence the training of disciples to meditate and work in mental matter.

(2) Bằng công việc của Thánh đoàn trong việc huấn luyện và dạy dỗ các cá nhân, nhờ đó họ thoát khỏi hoạt động nhóm mù quáng, và trở thành những trung tâm lực có ý thức và những người hợp tác trong công việc hủy diệt. Công việc này phải được tiến hành từ các cấp độ trí tuệ. Do đó mới có việc huấn luyện các đệ tử tham thiền và làm việc trong chất liệu trí tuệ.

(3) By the use of certain mantrams and words which bring in interplanetary force of the fourth order. This force is then directed towards this distorted creation of the fourth Creative Hierarchy (the fourth or human kingdom) and tends to augment the work of destruction. Much of this work is carried on by the Nirmanakayas.

(3) Bằng việc sử dụng một số mantram và linh từ mang vào mãnh lực liên hành tinh thuộc trật tự thứ tư. Mãnh lực này sau đó được hướng về sáng tạo méo mó này của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư (giới thứ tư hay giới nhân loại) và có xu hướng tăng cường công việc hủy diệt. Phần lớn công việc này được các Nirmanakaya thực hiện.

(4) By stimulating the egoic bodies of men so that the solar Angels may carry on with greater precision and force their conflict with the lunar gods. This is the true war in heaven. As the solar Gods (287) descend ever [Page 951] nearer to the physical plane, and in their descent assume a steadily increasing control of the lunar natures, the thoughts and desires of men are consequently purified and refined. The solar fires put out the lunar light, and the lower nature is eventually purified and transmuted. In time the solar Angels blaze forth in all their glory through the medium of the lower nature on the physical plane, that lower nature providing fuel to the flames. The hated “Dweller on the Threshold” thus gradually dies for lack of sustenance, and disintegrates for lack of vitality, and man is set free.

(4) Bằng cách kích thích các thể chân ngã của con người để các Thái dương Thiên Thần có thể tiến hành cuộc xung đột của mình với các nguyệt thần với độ chính xác và mãnh lực lớn hơn. Đây là cuộc chiến thực sự trên thiên giới. Khi các Thượng đế Thái dương (287) giáng xuống ngày càng [Page 951] gần cõi hồng trần hơn, và trong sự giáng xuống của mình đảm nhận sự kiểm soát ngày càng tăng đối với các bản chất nguyệt tính, thì các tư tưởng và ham muốn của con người do đó được thanh lọc và tinh luyện. Các ngọn lửa thái dương dập tắt ánh sáng nguyệt tính, và bản chất thấp cuối cùng được thanh lọc và chuyển hoá. Theo thời gian các Thái dương Thiên Thần bừng sáng trong toàn bộ vinh quang của mình qua trung gian bản chất thấp trên cõi hồng trần, bản chất thấp ấy cung cấp nhiên liệu cho ngọn lửa. “Kẻ Chận Ngõ” đáng ghét như thế dần dần chết đi vì thiếu sự nuôi dưỡng, và tan rã vì thiếu sinh lực, và con người được giải thoát.

(287) The Solar Gods are the “Fallen Angels.”—S. D., II, 287.

(287) Các Thượng đế Thái dương là những “Thiên Thần Sa Ngã.”—G. L. B. N., II, 287.

a. They warm the shadows…the human bodies.

a. Các Ngài sưởi ấm các bóng tối…các thể người.

b. They in their turn are warmed by the Monad, or Atma.—S. D., II, 116, 117, 284.

b. Đến lượt mình, Các Ngài được Chân thần, hay Atma, sưởi ấm.—G. L. B. N., II, 116, 117, 284.

c. They are the Serpents of Wisdom.—S. D., II, 240.

c. Các Ngài là những Xà Thần Minh Triết.—G. L. B. N., II, 240.

d. Their nature is Knowledge and Love.—S. D., II, 527.

d. Bản chất của Các Ngài là Tri Thức và Bác Ái.—G. L. B. N., II, 527.

e. They come in from the cosmic mental plane.—S. D., III, 540.

e. Các Ngài đi vào từ cõi trí tuệ vũ trụ.—G. L. B. N., III, 540.

The Ego, or Solar Angel is imprisoned.–S. D., I, 621.

Chân ngã, hay Thái dương Thiên Thần, bị giam cầm.–G. L. B. N., I, 621.

a. It has to liberate itself from the thraldom of sensuous perception.

a. Nó phải tự giải thoát khỏi sự nô lệ của tri giác cảm quan.

b. It has to see in the light of the one Reality.

b. Nó phải thấy trong ánh sáng của Thực Tại duy nhất.

c. See S. D., II, 578.

c. Xem G. L. B. N., II, 578.

d. To redeem humanity.—S. D., II, 257.

d. Để cứu chuộc nhân loại.—G. L. B. N., II, 257.

e. To endow him with human affections and aspirations.—S. D., II, 257.

e. Để ban cho y những tình cảm và khát vọng nhân loại.—G. L. B. N., II, 257.

f. They give to men intelligence and consciousness.—S. D., I, 204. (back)

f. Các Ngài ban cho con người trí thông minh và tâm thức.—G. L. B. N., I, 204. (back)

b. At present much of the manipulation of mental matter and its direction into forms of some kind or another emanates from lower levels, and is the result of powerful desire based on physical attraction. The desire bodies, and not the mental bodies of the majority of men are the most powerful, and set up such a strong vibration (due to the force of two groups of lunar lords) that the third group of lunar entities who construct the mental body are swept into a willing response, and the whole threefold lower nature is immediately engaged in the dire process of feeding the dreaded “Dweller.” This direction of energy follows the line of least resistance. One of the primary works of the Ego, as we well know, is to impose a new rhythm upon his shadow and reflection, the lower man, and it is this imposition which in time deflects energy away from man’s distorted creation, and brings his vibration into tune with that of his solar Angel.

b. Hiện nay phần lớn sự điều khiển chất liệu trí tuệ và sự hướng dẫn nó vào các hình tướng thuộc loại này hay loại khác phát ra từ các cấp độ thấp hơn, và là kết quả của ham muốn mạnh mẽ dựa trên sự hấp dẫn hồng trần. Thể ham muốn, chứ không phải thể trí của đa số con người, là mạnh nhất, và tạo ra một rung động mạnh đến mức (do mãnh lực của hai nhóm nguyệt tinh quân) nhóm thực thể nguyệt tính thứ ba kiến tạo thể trí bị cuốn vào một sự đáp ứng sẵn lòng, và toàn bộ bản chất thấp tam phân lập tức bị lôi kéo vào tiến trình khủng khiếp nuôi dưỡng “Kẻ Chận Ngõ” đáng sợ. Sự hướng dẫn năng lượng này đi theo con đường ít trở ngại nhất. Một trong những công việc sơ khởi của chân ngã, như chúng ta đều biết rõ, là áp đặt một nhịp điệu mới lên cái bóng và sự phản chiếu của mình, phàm nhân thấp, và chính sự áp đặt này theo thời gian làm lệch hướng năng lượng khỏi sáng tạo méo mó của con người, và đưa rung động của y hòa điệu với rung động của Thái dương Thiên Thần của y.

The devas who are the sumtotal of the energy of substance itself care not what form they build. They are [Page 952] irresponsibly responsive to energy currents, and theirs is not the problem of dealing with sources of energy. Therefore, the place of man in the cosmic plan becomes more vital and apparent when it is realised that one of his main responsibilities is the direction of energy currents from the mental plane, and the creation of that which is desired on higher levels. Men, as a whole, are undergoing evolutionary development in order that they may become conscious creators in matter. This involves

Các thiên thần là tổng thể của năng lượng của chính chất liệu không quan tâm họ xây dựng hình tướng nào. Họ [Page 952] đáp ứng một cách vô trách nhiệm với các dòng năng lượng, và vấn đề của họ không phải là xử lý các nguồn năng lượng. Vì vậy, vị trí của con người trong thiên cơ vũ trụ trở nên thiết yếu và hiển nhiên hơn khi nhận ra rằng một trong những trách nhiệm chính của y là hướng dẫn các dòng năng lượng từ cõi trí, và sáng tạo điều được mong muốn trên các cấp độ cao hơn. Toàn thể loài người đang trải qua sự phát triển tiến hoá để họ có thể trở thành những đấng sáng tạo có ý thức trong vật chất. Điều này bao hàm

A realisation of the archetypal plan,

Sự chứng nghiệm thiên cơ nguyên mẫu,

An understanding of the laws governing the building processes of nature,

Sự thấu hiểu các định luật chi phối các tiến trình kiến tạo của thiên nhiên,

A conscious process of willing creation, so that man co-operates with the ideal, works under law, and produces that which is in line with the planetary plan, and which tends to further the best interests of the race,

Một tiến trình sáng tạo bằng ý chí có ý thức, để con người hợp tác với lý tưởng, hoạt động dưới định luật, và tạo ra điều phù hợp với thiên cơ hành tinh, và có xu hướng thúc đẩy lợi ích tốt đẹp nhất của nhân loại,

A comprehension as to the nature of energy, and an ability to direct energy currents, to disintegrate (or withdraw energy from) all forms in the three worlds,

Sự hiểu biết về bản chất của năng lượng, và khả năng hướng dẫn các dòng năng lượng, phân giải (hay rút năng lượng khỏi) mọi hình tướng trong ba cõi giới,

An appreciation of the nature of the devas, their constitution and place as builders, and of the words and sounds whereby they are directed and controlled.

Sự đánh giá đúng bản chất của các thiên thần, cấu tạo và vị trí của họ như những đấng kiến tạo, và các linh từ cùng âm thanh nhờ đó họ được hướng dẫn và kiểm soát.

When the energy currents of the human family are directed from egoic levels only, when desire is transmuted, and the fifth principle awakened and finally illuminated by the sixth, then and only then will the strength of the impulse emanating from lower levels die out and the “Dweller on the Threshold” (who now haunts the human family) likewise die. In other words, when the dense physical body of the planetary Logos (composed of matter of the three worlds of human endeavour) is completely purified and vitalised by the force of the life flowing from etheric levels, and when all His centres (formed of human units) are fully awakened, then will [Page 953] those centres be channels for pure force, and such an entity as the “Dweller” be an impossibility.

Khi các dòng năng lượng của gia đình nhân loại chỉ được hướng dẫn từ các cấp độ chân ngã, khi ham muốn được chuyển hoá, và nguyên khí thứ năm được đánh thức và cuối cùng được soi sáng bởi nguyên khí thứ sáu, thì khi ấy và chỉ khi ấy sức mạnh của xung lực phát ra từ các cấp độ thấp hơn mới tắt đi và “Kẻ Chận Ngõ” (kẻ hiện đang ám ảnh gia đình nhân loại) cũng sẽ chết. Nói cách khác, khi thể xác hồng trần đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế (được cấu thành bằng vật chất của ba cõi giới của nỗ lực nhân loại) được thanh lọc hoàn toàn và được tiếp sinh lực bởi mãnh lực của sự sống tuôn chảy từ các cấp độ dĩ thái, và khi mọi trung tâm của Ngài (được tạo thành bởi các đơn vị nhân loại) đều được đánh thức đầy đủ, thì [Page 953] các trung tâm ấy sẽ là những kênh dẫn của mãnh lực thuần khiết, và một thực thể như “Kẻ Chận Ngõ” sẽ là điều bất khả.

All that I have here said anent this “Dweller on the Threshold” of the Path between the two great kingdoms, the fourth and the fifth, can be studied by the student with a personal application. Facing each earnest aspirant to the Mysteries is that vitalised form which he has himself constructed and nourished during the course of his previous incarnations, and which represents the sum total of his evil desires, motives and thoughts. For ages it has vampirised him, and for ages it has represented that which he has failed to achieve. It affects not only himself but also all those units whom he contacts and meets. In its destruction he has to pursue methods similar to those followed by the Great Ones, and through the increasing power of his solar Angel, through the force of his Ego, and through a study of law, the knowledge of the power of sound, and the control of speech, he will eventually bring about its disintegration. The old Commentary says:

Tất cả những gì tôi đã nói ở đây liên quan đến “Kẻ Chận Ngõ” này của Con Đường giữa hai giới lớn, giới thứ tư và giới thứ năm, đều có thể được đạo sinh nghiên cứu với sự áp dụng cá nhân. Đối diện với mỗi người chí nguyện tha thiết hướng đến các Huyền Nhiệm là hình tướng được tiếp sinh lực mà chính y đã xây dựng và nuôi dưỡng trong tiến trình các kiếp lâm phàm trước đây của mình, và hình tướng ấy biểu thị tổng số những ham muốn, động cơ và tư tưởng xấu xa của y. Trong nhiều thời đại nó đã hút sinh lực của y, và trong nhiều thời đại nó đã biểu thị điều mà y đã không đạt được. Nó không chỉ ảnh hưởng đến chính y mà còn đến tất cả những đơn vị mà y tiếp xúc và gặp gỡ. Trong việc hủy diệt nó, y phải theo đuổi những phương pháp tương tự như những phương pháp được Các Đấng Cao Cả sử dụng, và nhờ quyền năng ngày càng tăng của Thái dương Thiên Thần của mình, nhờ mãnh lực của chân ngã mình, và nhờ nghiên cứu định luật, hiểu biết quyền năng của âm thanh, và kiểm soát lời nói, y cuối cùng sẽ mang lại sự phân giải của nó. Cổ Luận nói:

“The solar Angel must put out the light of the lunar angels and then for lack of warmth and light, that which has served to hinder no longer is.”

“Thái dương Thiên Thần phải dập tắt ánh sáng của các thiên thần nguyệt tính và rồi vì thiếu hơi ấm và ánh sáng, điều từng dùng để cản trở sẽ không còn nữa.”

c. As yet but few of the human family work deliberately and consciously in mental matter only. The energy exerted by men is mostly kama-manasic or desire coupled with lower mind, with a preponderance, as might be expected, of desire force. This is to be inferred from the second statement. The whole trend of evolution is to bring about ability to build in mental matter, and two things lie ahead of the race:

c. Cho đến nay chỉ có ít người trong gia đình nhân loại làm việc một cách có chủ ý và có ý thức chỉ trong chất liệu trí tuệ mà thôi. Năng lượng do con người vận dụng phần lớn là trí-cảm hay ham muốn kết hợp với hạ trí, với sự trội hơn, như có thể chờ đợi, của mãnh lực ham muốn. Điều này có thể được suy ra từ mệnh đề thứ hai. Toàn bộ xu hướng của tiến hoá là mang lại khả năng kiến tạo trong chất liệu trí tuệ, và có hai điều ở phía trước nhân loại:

First. The gradual dissipation of the indefinite masses of kama-manasic matter which surround practically every unit of the human family, producing a condition of murkiness and fog within, and around, each aura. Gradually [Page 954] this will clear away, and men will be seen surrounded by clear-cut thought forms, characterised by a distinctive vibration and distinguished by a particular quality incident to a man’s ray and therefore to his type of mind.

Thứ nhất. Sự làm tiêu tan dần dần những khối chất liệu trí-cảm mơ hồ bao quanh hầu như mọi đơn vị của gia đình nhân loại, tạo ra một tình trạng mờ đục và sương mù bên trong và chung quanh mỗi hào quang. Dần dần [Page 954] điều này sẽ tan đi, và con người sẽ được thấy được bao quanh bởi những hình tư tưởng rõ nét, được đặc trưng bởi một rung động riêng biệt và được phân biệt bởi một phẩm tính đặc thù tùy theo cung của một người và do đó theo loại trí tuệ của y.

Second. The aggregate of human thought forms which now are of a personal character, vibrating around each human being as the planets vibrate around the sun, will tend to approximate a group centre. Thought energy, which now emanates from each human being as a comparatively weak stream of an indefinite conglomeration of mental matter, of no particular character, forming no particularly distinct forms and persisting in animating those forms for but a brief period, will be directed towards the creation of that desired by the group, and not solely towards that desired by the unit. This is the basis, very largely, for the antagonism that all constructive thinkers and group workers encounter. The stream of energy which they emanate, and which constructs vital thought forms, runs counter to that of the masses of men, awakens opposition, and produces temporary chaos. The prominent workers and thinkers of the human family, under the direction of the Lodge, are engaged in three things:

Thứ hai. Tổng thể các hình tư tưởng của nhân loại hiện nay còn mang tính cá nhân, rung động quanh mỗi con người như các hành tinh rung động quanh mặt trời, sẽ có xu hướng tiến gần đến một trung tâm nhóm. Năng lượng tư tưởng, hiện nay phát ra từ mỗi con người như một dòng tương đối yếu của một hỗn hợp không xác định của chất liệu trí tuệ, không có đặc tính riêng biệt, không tạo thành những hình tướng đặc biệt rõ rệt nào và chỉ tồn tại để làm sinh động những hình tướng ấy trong một thời gian ngắn, sẽ được hướng đến việc sáng tạo điều được mong muốn bởi nhóm, chứ không chỉ hướng đến điều được mong muốn bởi đơn vị. Đây phần lớn là cơ sở cho sự đối kháng mà mọi nhà tư tưởng có tính xây dựng và những người hoạt động nhóm đều gặp phải. Dòng năng lượng mà họ phát ra, và dòng này xây dựng những hình tư tưởng sống động, đi ngược lại dòng của quần chúng, đánh thức sự chống đối, và tạo ra hỗn loạn tạm thời. Những người hoạt động và nhà tư tưởng nổi bật của gia đình nhân loại, dưới sự chỉ đạo của Thánh đoàn, đang dấn thân vào ba việc:

a. The imposition of the newer and higher rhythm upon men.

a. Áp đặt nhịp điệu mới hơn và cao hơn lên con người.

b. The dissipation of the murky clouds of half-vitalised indefinite thought forms which surround our planet, thus permitting the entry of interplanetary force, and of force from the higher mental levels.

b. Làm tiêu tan những đám mây mờ đục của các hình tư tưởng nửa sống động, không xác định bao quanh hành tinh chúng ta, nhờ đó cho phép mãnh lực liên hành tinh và mãnh lực từ các cấp độ thượng trí đi vào.

c. The awakening within men of the power to think clearly, to energise their thought forms accurately, and to hold in vital form those thought constructions whereby they may attain their objective, and [Page 955] bring about desired conditions upon the physical plane.

c. Đánh thức nơi con người quyền năng tư duy rõ ràng, tiếp năng lượng cho các hình tư tưởng của họ một cách chính xác, và giữ cho những cấu trúc tư tưởng ấy ở trong hình thức sống động nhờ đó họ có thể đạt được mục tiêu của mình, và [Page 955] mang lại những điều kiện mong muốn trên cõi hồng trần.

These three objectives necessitate a clear comprehension among such vital thinkers and workers, of the power of thought; of the direction of thought currents, of the science of thought building, of the manipulation under law and order of mental matter, and of the process of thought manifestation through the two factors of sound and vitalisation. It involves likewise the ability to negate or render futile all impulses arising from the lower self which are of a centralised and purely personal aspect, and the faculty of working in group form, each thought being sent upon the definite mission of adding its quota of energy and matter to some one stream which is specific and known. This last is of importance, for no worker for humanity becomes of real assistance until he (consciously and with full knowledge of his work) definitely directs his thought energy towards some particular channel of service to the race.

Ba mục tiêu này đòi hỏi nơi những nhà tư tưởng và người hoạt động sống động như thế một sự thấu hiểu rõ ràng về quyền năng của tư tưởng; về sự hướng dẫn các dòng tư tưởng, về khoa học kiến tạo tư tưởng, về sự điều khiển chất liệu trí tuệ dưới định luật và trật tự, và về tiến trình biểu hiện tư tưởng qua hai yếu tố âm thanh và sự tiếp sinh lực. Điều đó cũng bao hàm khả năng phủ nhận hay làm cho vô hiệu mọi xung lực phát sinh từ phàm ngã vốn mang tính tập trung và thuần túy cá nhân, và năng lực làm việc theo hình thức nhóm, mỗi tư tưởng được gửi đi trong một sứ mệnh xác định là thêm phần năng lượng và chất liệu của nó vào một dòng nào đó vốn đặc thù và đã được biết rõ. Điều cuối cùng này rất quan trọng, vì không người hoạt động nào cho nhân loại trở thành sự trợ giúp thực sự cho đến khi y (một cách có ý thức và với sự hiểu biết đầy đủ về công việc của mình) dứt khoát hướng năng lượng tư tưởng của mình vào một kênh phụng sự đặc biệt nào đó cho nhân loại.

d. In all thought building, therefore, of a high order, men have several things to do, which might be enumerated as follows:

d. Vì vậy, trong mọi sự kiến tạo tư tưởng thuộc trật tự cao, con người có một số việc phải làm, có thể được liệt kê như sau:

First, to purify their lower desires so that they are enabled to see clearly in the occult sense. No man has clear vision who is obsessed with his own needs, actions, and interests, and unconscious of that which is higher and of group activity. This clear vision brings about an ability to read, even if unconsciously at first, the akashic records, and thus ascertain the point of departure for the new and incoming thought impulses, an ability to lose sight of self interest in group interest, and thus co-operate with the plan, and a faculty that enables him to become aware of the keynote of the race, and aware of the “cry of humanity.”

Trước hết, thanh lọc các ham muốn thấp của mình để họ có thể thấy rõ theo nghĩa huyền bí. Không người nào có linh thị rõ ràng nếu bị ám ảnh bởi các nhu cầu, hành động, và quyền lợi riêng của mình, và vô thức đối với điều cao hơn và đối với hoạt động nhóm. Linh thị rõ ràng này mang lại khả năng đọc, dù lúc đầu có thể là vô thức, các hồ sơ akasha, và nhờ đó xác định điểm khởi hành cho các xung lực tư tưởng mới và đang đi vào, khả năng quên đi quyền lợi bản thân trong quyền lợi nhóm, và nhờ đó hợp tác với thiên cơ, và một năng lực cho phép y nhận biết chủ âm của nhân loại, và nhận biết “tiếng kêu của nhân loại.”

Next, to secure control over the mind. This involves [Page 956] certain important things: A realisation of the nature of the mind and brain through concentration, an understanding of the relation which should exist between the physical brain and Man, the real Thinker on the physical plane, an ability, gradually developed once the mind is brought under control through concentration, to meditate in the occult sense, and thus bring through the plan from higher levels, ascertain his individual share in the plan, and then co-operate in the work of some particular group of Nirmanakayas. This is succeeded by a consideration of the laws of energy. A man discovers how to build a thought form of a particular quality and tone, to energise it with his own life, and thus have—on mental levels—a small creation, the child of his will, which he can use as a messenger, or as a means for the manifestation of an idea. Students will do well to consider these points with care, if they seek to become conscious operators.

Kế đến, đạt được sự kiểm soát đối với trí tuệ. Điều này bao hàm [Page 956] một số điều quan trọng: chứng nghiệm bản chất của trí tuệ và bộ não qua sự tập trung, thấu hiểu mối liên hệ cần phải tồn tại giữa bộ não hồng trần và Con Người, Đấng Tư Tưởng thực sự trên cõi hồng trần, một khả năng, được phát triển dần dần một khi trí tuệ được đặt dưới sự kiểm soát qua sự tập trung, để tham thiền theo nghĩa huyền bí, và nhờ đó mang thiên cơ từ các cấp độ cao hơn xuống, xác định phần chia cá nhân của mình trong thiên cơ, và rồi hợp tác trong công việc của một nhóm Nirmanakaya đặc biệt nào đó. Tiếp theo đó là sự xem xét các định luật năng lượng. Một người khám phá ra cách xây dựng một hình tư tưởng có phẩm tính và âm điệu đặc thù, tiếp năng lượng cho nó bằng chính sự sống của mình, và nhờ đó có được—trên các cấp độ trí tuệ—một sáng tạo nhỏ, đứa con của ý chí mình, mà y có thể dùng như một sứ giả, hay như một phương tiện cho sự biểu hiện của một ý tưởng. Các đạo sinh nên suy xét cẩn trọng những điểm này, nếu họ tìm cách trở thành những người vận hành có ý thức.

Finally, having constructed a thought form, the next thing the servant of humanity has to learn is how to send it on its mission, whatever that may be, holding it through his own vital energy in its due form, keeping it vibrating to its own measure, and eventually bringing about its destruction when it has fulfilled its mission. The average man is often the victim of his own thought forms. He constructs them, but is neither strong enough to send them out to do their work, nor wise enough to dissipate them when required. This has brought about the thick swirling fog of half-formed, semi-vitalised forms in which eighty five percent of the human race is surrounded.

Sau cùng, sau khi đã kiến tạo một hình tư tưởng, điều kế tiếp mà người phụng sự nhân loại phải học là làm thế nào để gửi nó đi thi hành sứ mệnh của nó, dù sứ mệnh ấy là gì, giữ nó bằng chính sinh lực của mình trong hình dạng thích đáng, duy trì cho nó rung động theo nhịp độ riêng của nó, và cuối cùng đưa đến sự hủy diệt của nó khi nó đã hoàn tất sứ mệnh. Con người trung bình thường là nạn nhân của chính các hình tư tưởng của mình. Y tạo dựng chúng, nhưng không đủ mạnh để phóng chúng ra làm công việc của chúng, cũng không đủ minh triết để làm tiêu tan chúng khi cần. Điều này đã tạo ra màn sương mù dày đặc xoáy cuộn của những hình thể nửa thành hình, nửa được tiếp sinh lực, trong đó tám mươi lăm phần trăm nhân loại bị bao quanh.

In his work as thought builder, man has to show forth the characteristics of the Logos, the great Architect or Builder of the universe. He has to parallel His work as:

Trong công việc của mình với tư cách là người kiến tạo hình tư tưởng, con người phải biểu lộ các đặc tính của Thượng đế, Đấng Đại Kiến Trúc Sư hay Đấng Kiến Tạo của vũ trụ. Y phải song hành với công việc của Ngài như:

The one who conceives the idea.

Đấng quan niệm ra ý tưởng.

The one who clothes the idea in matter. [Page 957]

Đấng khoác chất liệu cho ý tưởng. [Page 957]

The one who energises the idea, and thus enables the form to preserve its outline and perform its mission.

Đấng tiếp năng lượng cho ý tưởng, và nhờ đó làm cho hình thể có thể giữ được đường nét của nó và thực hiện sứ mệnh của nó.

The one who—in time and space—through desire and love, directs that thought form, vitalises it continuously, until the objective is attained.

Đấng mà—trong thời gian và không gian—qua dục vọng và tình thương, điều khiển hình tư tưởng ấy, tiếp sinh lực cho nó liên tục, cho đến khi mục tiêu đạt được.

The one who, when the desired end has been accomplished, destroys or disintegrates the thought form by withdrawing his energy (occultly, the “attention is withdrawn,” or “the eye is no longer upon” it), so that the lesser lives (which had been built into the desired form) fall away and return to the general reservoir of deva substance.

Đấng mà, khi cứu cánh mong muốn đã được hoàn thành, hủy diệt hay phân rã hình tư tưởng bằng cách rút năng lượng của mình lại (theo huyền bí học, “sự chú ý được rút đi,” hay “con mắt không còn đặt trên” nó nữa), để cho các sự sống nhỏ hơn (đã được xây vào hình thể mong muốn) rơi rụng đi và trở về kho chứa chung của chất liệu thiên thần.

Thus, in all creative work in mental matter, man is likewise to be seen as a Trinity at work; he is the creator, preserver, and destroyer.

Như vậy, trong mọi công việc sáng tạo trong chất liệu trí tuệ, con người cũng được thấy như một Tam Vị đang hoạt động; y là kẻ sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt.

e. In all occult work in mental matter which has to manifest upon the physical plane, and thus achieve objectivity, man has to work as a unit. This infers the ability, therefore, of the threefold lower man to be subordinated to the Ego, so that the dynamic will of the Ego may be imposed upon the physical brain.

e. Trong mọi công việc huyền bí trong chất liệu trí tuệ mà phải biểu hiện trên cõi hồng trần, và nhờ đó đạt được tính khách quan, con người phải làm việc như một đơn vị. Vì vậy, điều này hàm ý khả năng để phàm ngã tam phân phải được đặt dưới chân ngã, để cho ý chí năng động của chân ngã có thể được áp đặt lên bộ não hồng trần.

The method of the man on the physical plane who is engaged in conscious work in mental matter is to be considered in two divisions: first, the initial process of alignment with the Ego, so that the plan, purpose and method of achievement may be impressed upon the physical brain, and then a secondary process in which the man, using the physical brain consciously, proceeds to carry out the plan, construct through will and purpose the necessitated form, and then, having built and energised the form, to “keep his eye upon it.” This is stating occultly the great truth back of all processes of energising. “The eye of the Lord” is much referred to in the Christian Bible, and occultly understood, the eye is that which brings power to its servant, the thought form. Scientists [Page 958] are becoming interested in the power of the human eye, and that faculty of control and of recognition which is everywhere seen as existing will have its scientific and occult explanation when it is studied as an instrument of initiatory energy.

Phương pháp của con người trên cõi hồng trần đang dấn thân vào công việc hữu thức trong chất liệu trí tuệ cần được xét thành hai phần: trước hết là tiến trình ban đầu chỉnh hợp với chân ngã, để cho kế hoạch, mục đích và phương pháp thành tựu có thể được in sâu vào bộ não hồng trần, rồi đến một tiến trình thứ yếu trong đó con người, sử dụng bộ não hồng trần một cách hữu thức, tiến hành thực hiện kế hoạch, kiến tạo bằng ý chí và mục đích hình thể cần thiết, rồi sau khi đã xây dựng và tiếp năng lượng cho hình thể, thì “giữ mắt mình trên nó.” Đây là cách phát biểu theo huyền bí học về chân lý lớn lao nằm sau mọi tiến trình tiếp năng lượng. “Con mắt của Chúa” được nhắc đến rất nhiều trong Kinh Thánh Cơ Đốc, và được hiểu theo huyền bí học, con mắt là cái mang quyền năng đến cho kẻ phụng sự của nó, tức hình tư tưởng. Các nhà khoa học [Page 958] đang bắt đầu quan tâm đến quyền năng của mắt người, và năng lực kiểm soát cùng nhận biết vốn được thấy là hiện hữu khắp nơi ấy sẽ có được lời giải thích khoa học và huyền bí khi nó được nghiên cứu như là một khí cụ của năng lượng điểm đạo.

Therefore, it will be apparent that a thought form is the result of two types of energy:

Do đó, sẽ rõ ràng rằng một hình tư tưởng là kết quả của hai loại năng lượng:

That emanating in the first instance from the Ego on abstract levels.

Loại phát ra trước tiên từ chân ngã trên các cấp độ trừu tượng.

That originating in a secondary sense from the man on the physical plane through the medium of the brain.

Loại phát sinh theo nghĩa thứ yếu từ con người trên cõi hồng trần qua trung gian của bộ não.

That men do not recognise the first factor as a general rule is that which is responsible for much that is evil. When the “Science of the Self” has assumed due proportions men will be careful to ascertain the egoic impulses in all thought process, and to utilise true egoic energy before they begin manipulating deva substance, and building forms of deva lives.

Việc con người nói chung không nhận ra yếu tố thứ nhất chính là điều chịu trách nhiệm cho nhiều điều xấu ác. Khi “Khoa Học về Bản Ngã” đã đạt đến tầm mức thích đáng, con người sẽ cẩn trọng xác định các xung lực chân ngã trong mọi tiến trình tư tưởng, và sử dụng năng lượng chân ngã chân chính trước khi họ bắt đầu vận dụng chất liệu thiên thần và xây dựng các hình thể của những sự sống thiên thần.

2. Thought Form Building in the Three Worlds.

2. Xây Dựng Hình Tư Tưởng trong Ba Cõi Giới.

I have a few more words to say anent this subject of man as a Creator in mental matter. The words are addressed to all those students who—through their ability to concentrate—have developed a certain measure of thought control, and who desire to understand the process of creation with greater scientific accuracy. We will, therefore, consider two factors in the process of thought-form building:

Tôi còn vài lời nữa muốn nói về chủ đề con người như một Đấng Sáng Tạo trong chất liệu trí tuệ. Những lời này được gửi đến tất cả những đạo sinh mà—nhờ khả năng tập trung—đã phát triển được một mức độ kiểm soát tư tưởng nào đó, và mong muốn hiểu tiến trình sáng tạo với độ chính xác khoa học lớn hơn. Vì vậy, chúng ta sẽ xét hai yếu tố trong tiến trình xây dựng hình tư tưởng:

a. That of aligning with the Ego. (288)

a. Việc chỉnh hợp với chân ngã. (288)

(288) Alignment: See Letters on Occult Meditation, pp. 1-7. (back)

(288) Chỉnh hợp: Xem Letters on Occult Meditation, tr. 1-7. (back)

b. The process of impressing the egoic will, on the physical brain, or (to word it otherwise) the initial utilisation of egoic energy.

b. Tiến trình in sâu ý chí chân ngã lên bộ não hồng trần, hay (nói cách khác) việc sử dụng ban đầu năng lượng chân ngã.

[Page 959] Let us take them one by one:

[Page 959] Chúng ta hãy xét từng điểm một:

a. Alignment with the Ego. This, as we know, is only possible to the man who has reached the Probationary Path, or a certain very definite point in evolution. Through knowledge and practice, the power has been acquired of automatically and scientifically utilising the sutratma (or channel) as a means of contact. When to this ability is added that of utilising with equal ease the antaskarana (or bridge between the Triad and the personality) then we have a powerful agent of the Hierarchy on the earth. We might generalise in the following manner as to the stages of growth and consequent ability to become the agent of ever increasing powers, tapping the resources of dynamic energy in the three worlds.

a. Chỉnh hợp với chân ngã. Điều này, như chúng ta biết, chỉ có thể đối với con người đã đạt đến Con Đường Dự Bị, hay một điểm tiến hoá rất xác định nào đó. Qua tri thức và thực hành, quyền năng sử dụng sutratma (hay kênh dẫn) như một phương tiện tiếp xúc một cách tự động và khoa học đã được thủ đắc. Khi vào khả năng này được thêm vào khả năng sử dụng với sự dễ dàng tương đương antaskarana (hay cây cầu giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã) thì chúng ta có một tác nhân mạnh mẽ của Thánh đoàn trên Trái Đất. Chúng ta có thể khái quát theo cách sau về các giai đoạn tăng trưởng và năng lực hệ quả để trở thành tác nhân của những quyền năng ngày càng gia tăng, khai thác các nguồn năng lượng năng động trong ba cõi thấp.

Lower types of humanity use the sutratma as it passes through the etheric body.

Các loại thấp của nhân loại sử dụng sutratma khi nó đi qua thể dĩ thái.

Average men utilise almost entirely that part of the sutratma which passes through the astral plane. Their reactions are largely based on desire, and are emotional.

Những người trung bình hầu như hoàn toàn sử dụng phần của sutratma đi qua cõi cảm dục. Các phản ứng của họ phần lớn dựa trên dục vọng, và mang tính cảm xúc.

Intellectual men utilise the sutratma as it passes through the lower levels of the mental plane, down through the astral to the physical in its two sections. Their activities are energised by mind and not by desire, as in the earlier cases.

Những người trí thức sử dụng sutratma khi nó đi qua các cấp thấp của cõi trí, xuống qua cõi cảm dục đến cõi hồng trần trong hai phần của nó. Các hoạt động của họ được tiếp năng lượng bởi trí tuệ chứ không phải bởi dục vọng, như trong các trường hợp trước.

Aspirants on the physical plane use the sutratma as it passes through the two lower subplanes of the abstract levels of the mental plane, and are beginning gradually to build the antaskarana, or the bridge between the Triad and the Personality. The power of the Ego can begin to make itself felt.

Những người chí nguyện trên cõi hồng trần sử dụng sutratma khi nó đi qua hai cõi phụ thấp của các cấp độ trừu tượng của cõi trí, và đang dần dần bắt đầu xây dựng antaskarana, hay cây cầu giữa Tam nguyên tinh thần và Phàm ngã. Quyền năng của chân ngã có thể bắt đầu tự biểu lộ.

Applicants for initiation and initiates up to the third initiation use both the sutratma and the antaskarana, employing them as a unit. The power of the Triad begins to pour through, thus energising all human [Page 960] activities upon the physical plane, and vitalising in ever increasing degree the man’s thought forms. The key to the formation of the Mayavirupa is found in the right comprehension of the process.

Những người xin điểm đạo và các điểm đạo đồ cho đến lần điểm đạo thứ ba sử dụng cả sutratma lẫn antaskarana, dùng chúng như một đơn vị. Quyền năng của Tam nguyên tinh thần bắt đầu tuôn đổ qua, nhờ đó tiếp năng lượng cho mọi hoạt động của con người [Page 960] trên cõi hồng trần, và tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng của con người ở mức độ ngày càng tăng. Chìa khóa của sự hình thành Mayavirupa được tìm thấy trong sự thấu hiểu đúng đắn tiến trình này.

If students will study carefully the above differentiations, much light will be thrown upon the quality of the energy employed in thought-form building.

Nếu các đạo sinh nghiên cứu cẩn thận những sự phân biệt trên, nhiều ánh sáng sẽ được rọi vào phẩm tính của năng lượng được dùng trong việc xây dựng hình tư tưởng.

In the early stages of alignment, it has to be concisely and carefully brought about through concentration and meditation. Later, when the right rhythm has been set up in the bodies, and the purification of the sheaths has been rigidly pursued, the dual activity will become practically instantaneous, and the student can then turn his attention to the work of conscious building and vitalisation; his point of concentration will not then be given to the attainment of alignment.

Trong các giai đoạn đầu của sự chỉnh hợp, nó phải được tạo ra một cách ngắn gọn và cẩn trọng qua tập trung và tham thiền. Về sau, khi nhịp điệu đúng đã được thiết lập trong các thể, và sự thanh luyện các vỏ bọc đã được theo đuổi nghiêm ngặt, hoạt động kép sẽ trở nên hầu như tức thời, và khi ấy đạo sinh có thể hướng sự chú ý của mình vào công việc xây dựng và tiếp sinh lực một cách hữu thức; điểm tập trung của y khi ấy sẽ không còn đặt vào việc đạt được sự chỉnh hợp nữa.

Accurate alignment entails,

Sự chỉnh hợp chính xác đòi hỏi,

Mental quiescence, or stable vibration,

Sự tĩnh lặng của trí tuệ, hay rung động ổn định,

Emotional stability, resulting in limpid reflection,

Sự ổn định cảm xúc, đưa đến sự phản chiếu trong sáng,

Etheric poise, producing a condition in the head centre which would permit of the direct application of force to the physical brain via the centre.

Sự quân bình dĩ thái, tạo ra một tình trạng trong trung tâm đầu cho phép áp dụng trực tiếp mãnh lực vào bộ não hồng trần qua trung tâm ấy.

b. Physical brain impression. The accurate realisation by the physical brain of what the Ego is seeking to convey concerning the work to be done only becomes possible when two things are realised:

b. Sự in sâu lên bộ não hồng trần. Việc bộ não hồng trần chứng nghiệm chính xác điều mà chân ngã đang tìm cách truyền đạt liên quan đến công việc phải làm chỉ trở nên khả hữu khi hai điều được nhận ra:

Direct alignment.

Sự chỉnh hợp trực tiếp.

The transmission of the egoic energy or will to one or other of the three physical centres in the head:

Sự truyền năng lượng hay ý chí chân ngã đến một trong ba trung tâm hồng trần ở đầu:

The pineal gland.

Tuyến tùng.

The pituitary body.

Thể tuyến yên.

The alta major centre, or that nerve centre at the top of the spine, where the cranium and the spine make approximate contact. When this congery of nerves is fully developed, it forms a centre of communication between the vital energy of the spinal column (the kundalini fire) and the energy of the two head centres above enumerated. It is the physical correspondence to the antaskarana on higher levels. [Page 961]

Trung tâm alta major, hay trung tâm thần kinh ở đỉnh cột sống, nơi hộp sọ và cột sống tiếp xúc gần nhau. Khi đám dây thần kinh này phát triển đầy đủ, nó tạo thành một trung tâm giao thông giữa sinh lực của cột sống (lửa kundalini) và năng lượng của hai trung tâm đầu kể trên. Nó là đối phần hồng trần của antaskarana trên các cấp độ cao hơn. [Page 961]

CHART X

BIỂU ĐỒ X

THE SCIENCE OF MEDITATION

KHOA HỌC THAM THIỀN

image_rsrcMK7.jpg

[Page 962] The pituitary body (in all cases of correct normal development) forms the centre which receives the threefold vitalisation pouring through the sutratma from the lower mental, the astral, and the etheric planes. The pineal gland comes into activity when this action is enhanced by the pouring through of energy from the Ego on its own plane. When the antaskarana is in process of utilisation the alta major centre is likewise employed, and the three physical head centres begin to work as a unit, thus forming a kind of triangle. By the time the third Initiation is reached, this triangle is fully awakened and the fire (or energy) is circulated freely.

[Page 962] Thể tuyến yên (trong mọi trường hợp phát triển đúng đắn bình thường) tạo thành trung tâm tiếp nhận sự tiếp sinh lực tam phân tuôn qua sutratma từ các cõi hạ trí, cảm dục và dĩ thái. Tuyến tùng đi vào hoạt động khi tác động này được tăng cường bởi sự tuôn qua của năng lượng từ chân ngã trên cõi riêng của nó. Khi antaskarana đang trong tiến trình được sử dụng thì trung tâm alta major cũng được dùng, và ba trung tâm đầu hồng trần bắt đầu hoạt động như một đơn vị, nhờ đó tạo thành một loại tam giác. Vào lúc đạt đến lần điểm đạo thứ ba, tam giác này hoàn toàn thức tỉnh và lửa (hay năng lượng) được lưu chuyển tự do.

It will be apparent, therefore, that man’s ability to create in mental matter grows as he treads the Path. He needs to remember that (from the angle from which we are studying) we are not considering the power of the Ego to produce forms on the mental plane, but the ability of physical plane man to create upon the mental plane those vehicles for energy which—when set in motion by his conscious will—will produce certain specific effects upon the physical plane. This is brought about by egoic energy passed down the sutratma to the physical brain, and retransmitted back to the mental plane, plus or minus that which has been gained or lost in the process. The true Adept, through knowledge, conserves all energy while in process of transmission, and augments it with the energy contacted. It is, therefore, the energy of will, plus that of desire, fed by the energy of the physical brain. Literally, therefore, it is a small resume of the creative process of the Godhead, being the [Page 963] energy of the three persons unified, and considered from the standpoint of the physical. It is the at-one-ment of the three fires in man, being in fact:

Vì vậy, sẽ rõ ràng rằng khả năng sáng tạo trong chất liệu trí tuệ của con người tăng trưởng khi y bước đi trên Con Đường. Y cần nhớ rằng (xét từ góc độ mà chúng ta đang nghiên cứu) chúng ta không xét quyền năng của chân ngã trong việc tạo ra các hình thể trên cõi trí, mà xét khả năng của con người trên cõi hồng trần trong việc sáng tạo trên cõi trí những vận cụ cho năng lượng mà—khi được đặt vào chuyển động bởi ý chí hữu thức của y—sẽ tạo ra những hiệu quả đặc thù nào đó trên cõi hồng trần. Điều này được thực hiện bởi năng lượng chân ngã truyền xuống qua sutratma đến bộ não hồng trần, rồi được truyền ngược trở lại cõi trí, cộng hoặc trừ phần đã thu được hay mất đi trong tiến trình. Chân sư đích thực, nhờ tri thức, bảo toàn mọi năng lượng trong khi truyền dẫn, và gia tăng nó bằng năng lượng được tiếp xúc. Vì vậy, đó là năng lượng của ý chí, cộng với năng lượng của dục vọng, được nuôi bằng năng lượng của bộ não hồng trần. Theo nghĩa đen, do đó, nó là một bản tóm lược nhỏ của tiến trình sáng tạo của Thượng đế, là [Page 963] năng lượng của ba ngôi vị được hợp nhất, và được xét từ quan điểm hồng trần. Đó là sự hợp nhất của ba ngọn lửa trong con người, thực ra là:

a. That much of the fire of spirit, or electric fire, which any particular Ego is embodying (relatively little prior to the third Initiation) or is able to transmit, coupled with,

a. Phần lửa tinh thần, hay Lửa Điện, mà bất kỳ chân ngã riêng biệt nào đang thể hiện (tương đối ít trước lần điểm đạo thứ ba) hay có thể truyền dẫn, kết hợp với,

b. That much of the fire of the solar Angel (solar fire) or the egoic aspect which the Ego is able to transmit. This is but little in average man, a good deal in the man on the probationary path, and a full downpour by the time the third Initiation is reached.

b. Phần lửa của Thái dương Thiên Thần (Lửa Thái dương) hay phương diện chân ngã mà chân ngã có thể truyền dẫn. Điều này chỉ rất ít nơi con người trung bình, khá nhiều nơi con người trên Con Đường Dự Bị, và là một sự tuôn đổ trọn vẹn vào lúc đạt đến lần điểm đạo thứ ba.

c. That much of the fire of substance in its purified state which can penetrate. This is dependent upon the purity of the three sheaths, and in the case of a highly advanced man is the kundalinic fire as it swells the blaze produced by the other two.

c. Phần lửa của chất liệu trong trạng thái thanh luyện của nó có thể xuyên thấu. Điều này tùy thuộc vào sự thanh khiết của ba vỏ bọc, và trong trường hợp một người rất tiến hóa, đó là lửa kundalini khi nó làm bùng lớn ngọn lửa do hai loại kia tạo ra.

When, therefore, the alignment is corrected, and the physical head centres are awakening, it becomes possible for man to become a conscious creator in mental matter.

Vì vậy, khi sự chỉnh hợp được điều chỉnh đúng và các trung tâm đầu hồng trần đang thức tỉnh, con người có thể trở thành một đấng sáng tạo hữu thức trong chất liệu trí tuệ.

IV. Man and the Fire Spirits or Builders

IV. Con Người và các Hỏa Tinh Linh hay các Đấng Kiến Tạo

This section we will consider in somewhat greater detail than the previous one, as it concerns much of present practical value to man. This will be seen particularly as we study the effects of speech, and the occult significance of the spoken word.

Phần này chúng ta sẽ xét chi tiết hơn đôi chút so với phần trước, vì nó liên quan đến nhiều điều có giá trị thực tiễn hiện nay đối với con người. Điều này sẽ thấy rõ đặc biệt khi chúng ta nghiên cứu các hiệu quả của lời nói, và ý nghĩa huyền bí của lời được thốt ra.

1. The Will Aspect and Creation.

1. Phương diện Ý chí và Sáng tạo.

In a previous division, we dealt somewhat with the transmission of the will of the Ego to the physical brain, and we saw how only in those persons who (through evolutionary development) had the sutratma and the antaskarana connected, and whose three physical head centres were more or less awakened, was the will of the Ego capable of transmission. In the other cases, such as the average man and little developed man, the purpose [Page 964] affecting the physical brain emanated from the astral or lower mental levels, and was, therefore, more likely to be the impulse of some lunar Lord, even if of a high order, than the divine will of the solar Angel, who is the true man.

Trong một phần trước, chúng ta đã bàn đôi chút về sự truyền ý chí của chân ngã đến bộ não hồng trần, và chúng ta đã thấy rằng chỉ nơi những người mà (qua sự phát triển tiến hoá) sutratma và antaskarana đã được nối kết, và ba trung tâm đầu hồng trần của họ đã ít nhiều thức tỉnh, thì ý chí của chân ngã mới có khả năng được truyền dẫn. Trong các trường hợp khác, như con người trung bình và con người ít phát triển, mục đích [Page 964] tác động lên bộ não hồng trần phát ra từ các cấp cảm dục hay hạ trí, và vì vậy có nhiều khả năng là xung lực của một nguyệt tinh quân nào đó, dù thuộc cấp cao, hơn là ý chí thiêng liêng của Thái dương Thiên Thần, Đấng là con người chân thực.

a. The condition of the Magician. It is of value to remember that when the physical head centres are awakened (through alignment of the etheric centres) we have the very lowest aspect of egoic influence. From these three centres, man on the Probationary Path, and up to the third Initiation, directs and controls his sheath, and from them spreads that illumination which will irradiate the physical plane life. By the time the third Initiation is reached, the internal triangle is in full process of circulatory transmission, and the whole life of the Personality is subjected to the will of the Ego. “The Star absorbs the light of the moon, so that the rays of the Sun may be reflected back” is the occult way of expressing the truth anent this point in evolution. It might be of value here also to point out the condition of the etheric centres during this process of direct solar control. Before the three physical head centres awaken, man is largely subjected to force flowing through the four minor etheric centres; later the three major centres—the head, the heart, and the throat—begin to vibrate, gradually assuming a greater sweep of activity, till their energy tends to negate that of the lower centres, to absorb their vitality and deflect the direction of their vitality, until the three higher wheels are in full fourth dimensional activity. As this proceeds, the three physical head centres begin to awake from dormancy into activity, the effect being felt as follows:

a. Tình trạng của nhà huyền thuật. Cần nhớ rằng khi các trung tâm đầu hồng trần được thức tỉnh (qua sự chỉnh hợp của các trung tâm dĩ thái) thì chúng ta có phương diện thấp nhất của ảnh hưởng chân ngã mà thôi. Từ ba trung tâm này, con người trên Con Đường Dự Bị, và cho đến lần điểm đạo thứ ba, điều khiển và kiểm soát vỏ bọc của mình, và từ đó lan tỏa sự soi sáng sẽ chiếu rạng đời sống cõi hồng trần. Vào lúc đạt đến lần điểm đạo thứ ba, tam giác nội tại ở trong tiến trình truyền dẫn tuần hoàn trọn vẹn, và toàn bộ đời sống của Phàm ngã bị đặt dưới ý chí của chân ngã. “Ngôi sao hấp thụ ánh sáng của mặt trăng, để các tia của Mặt Trời có thể được phản chiếu trở lại” là cách diễn đạt theo huyền bí học về chân lý liên quan đến điểm tiến hoá này. Ở đây cũng có thể hữu ích khi chỉ ra tình trạng của các trung tâm dĩ thái trong tiến trình kiểm soát trực tiếp của thái dương này. Trước khi ba trung tâm đầu hồng trần thức tỉnh, con người phần lớn chịu sự chi phối của mãnh lực chảy qua bốn trung tâm dĩ thái phụ; về sau ba trung tâm chính—đầu, tim và cổ họng—bắt đầu rung động, dần dần đảm nhận phạm vi hoạt động lớn hơn, cho đến khi năng lượng của chúng có xu hướng phủ nhận năng lượng của các trung tâm thấp, hấp thụ sinh lực của chúng và chuyển hướng dòng sinh lực ấy, cho đến khi ba bánh xe cao hơn ở trong hoạt động chiều thứ tư trọn vẹn. Khi điều này diễn tiến, ba trung tâm đầu hồng trần bắt đầu thức dậy từ trạng thái ngủ yên để đi vào hoạt động, hiệu quả được cảm nhận như sau:

a. As the major head centre awakens, the pineal gland begins to function.

a. Khi trung tâm đầu chính thức tỉnh, tuyến tùng bắt đầu hoạt động.

b. As the heart centre becomes fully alive, the pituitary body enters into activity. [Page 965]

b. Khi trung tâm tim trở nên hoàn toàn sống động, thể tuyến yên đi vào hoạt động. [Page 965]

c. As the throat centre assumes its right place in the process of evolution, the alta major centre vibrates adequately.

c. Khi trung tâm cổ họng đảm nhận vị trí đúng của nó trong tiến trình tiến hoá, trung tâm alta major rung động đầy đủ.

When the triangle of force that these three physical centres form is in circulatory effect, the greater triangle can be seen in circulation; it then becomes a “wheel turning upon itself.” The major etheric centres are in full action, and the man is nearing the moment of liberation.

Khi tam giác lực mà ba trung tâm hồng trần này tạo thành ở trong hiệu quả tuần hoàn, tam giác lớn hơn có thể được thấy đang lưu chuyển; khi ấy nó trở thành một “bánh xe tự quay trên chính nó.” Các trung tâm dĩ thái chính ở trong hoạt động trọn vẹn, và con người đang tiến gần đến thời điểm giải thoát.

In the work of creation, as occultly carried on, all these three physical centres have to be utilised, and from a consideration of the subject it will become apparent why it has been necessary to deal with them in this order.

Trong công việc sáng tạo, như được tiến hành theo huyền bí học, cả ba trung tâm hồng trần này đều phải được sử dụng, và từ việc xem xét chủ đề này sẽ rõ vì sao cần phải bàn đến chúng theo thứ tự này.

By means of the pineal gland, (289) the organ of spiritual perception, man ascertains the will and purpose of the Ego, and from thence he draws the necessary energy [Page 966] from the higher levels, via the head centre and the sutratma.

Nhờ tuyến tùng, (289) cơ quan của tri giác tinh thần, con người xác định ý chí và mục đích của chân ngã, và từ đó y rút ra năng lượng cần thiết [Page 966] từ các cấp độ cao hơn, qua trung tâm đầu và sutratma.

(289) The Pineal Gland. The Third Eye.—S. D., III, 548.

(289) Tuyến Tùng. Con Mắt Thứ Ba.—S. D., III, 548.

1. Goal of evolution to develop the inner vision.

1. Mục tiêu của tiến hoá là phát triển linh thị bên trong.

2. The occult significance of the eye.—S. D., III, 577.

2. Ý nghĩa huyền bí của con mắt.—S. D., III, 577.

3. The “eye of Taurus the Bull.”—(Compare bull’s-eye.)

3. “Con mắt của Kim Ngưu.”—(So sánh bull’s-eye.)

The constellation of Taurus was called the Mother of Revelation and the interpreter of the divine Voice.—S. D., I, 721.

Chòm sao Kim Ngưu được gọi là Mẹ của Mặc Khải và là người diễn giải Tiếng Nói thiêng liêng.—S. D., I, 721.

4. The organs of inner vision:

4. Các cơ quan của linh thị bên trong:

a. The exoteric organ…. Pineal gland…. physical.

a. Cơ quan ngoại môn…. tuyến tùng…. hồng trần.

b. The esoteric organ…. the third eye…. etheric.

b. Cơ quan nội môn…. con mắt thứ ba…. dĩ thái.

Note: Students must be careful to distinguish between the third eye and the pineal gland.—See S. D., II, 308. “The third eye is dead and acts no longer.” It has left behind a witness to its existence in the Pineal gland.

Lưu ý: Các đạo sinh phải cẩn thận phân biệt giữa con mắt thứ ba và tuyến tùng.—Xem S. D., II, 308. “Con mắt thứ ba đã chết và không còn hoạt động nữa.” Nó đã để lại một chứng tích về sự hiện hữu của nó trong tuyến tùng.

5. The Pineal gland is a small pea-like mass of grey nervous matter attached to the back of the third ventricle of the brain.

5. Tuyến tùng là một khối nhỏ chất thần kinh xám giống hạt đậu gắn vào phía sau não thất thứ ba của bộ não.

6. The Pituitary Body stands to the Pineal gland as manas does to Buddhi, or mind to wisdom.—S. D., III, 504, 505.

6. Thể tuyến yên đối với tuyến tùng cũng như manas đối với Bồ đề, hay trí tuệ đối với minh triết.—S. D., III, 504, 505.

7. The Pineal gland reached its highest development proportionately with the Lowest Physical development.—S. D., II, 308, 313.

7. Tuyến tùng đạt đến sự phát triển cao nhất của nó tương ứng với sự phát triển hồng trần thấp nhất.—S. D., II, 308, 313.

8. The third eye exists in etheric matter.

8. Con mắt thứ ba hiện hữu trong chất liệu dĩ thái.

a. In front of the head.

a. Ở phía trước đầu.

b. On a level with the eyes.

b. Ngang tầm với hai mắt.

9. It is an energy centre formed by a triangle of force:

9. Nó là một trung tâm năng lượng được tạo thành bởi một tam giác lực:

a. The Pituitary Body.

a. Thể tuyến yên.

b. The Pineal Gland.

b. Tuyến tùng.

c. The alta major centre.

c. Trung tâm alta major.

10. The opened or third eye does not convey direct clairvoyance but is the organ through which direct and certain knowledge is obtained.—S. D., I, 77.

10. Con mắt mở hay con mắt thứ ba không truyền đạt thông nhãn trực tiếp mà là cơ quan qua đó tri thức trực tiếp và chắc chắn được đạt tới.—S. D., I, 77.

a. The initiate directs the eye towards the essence of things.

a. Điểm đạo đồ hướng con mắt về tinh chất của sự vật.

b. The third eye must be acquired by the ascetic before he becomes an adept.—S. D., II, 651.

b. Người khổ hạnh phải đạt được con mắt thứ ba trước khi trở thành một chân sư.—S. D., II, 651.

11. Students of occultism ought to know that the third eye is indissolubly connected with karma.—S. D., II, 312, note; S. D., II, 316, 320.

11. Các đạo sinh huyền bí học nên biết rằng con mắt thứ ba gắn liền bất khả phân với nghiệp quả.—S. D., II, 312, note; S. D., II, 316, 320.

a. From its Atlantean past, the fifth root-race is working out fourth root-race causes.

a. Từ quá khứ Atlantis của mình, giống dân gốc thứ năm đang giải quyết các nguyên nhân của giống dân gốc thứ tư.

b. Because it reveals that which is its past.—S. D., II, 297, 320, 813.

b. Bởi vì nó mặc khải điều vốn là quá khứ của nó.—S. D., II, 297, 320, 813.

12. The third eye is the mirror of the soul.—S. D., II, 312.

12. Con mắt thứ ba là tấm gương của linh hồn.—S. D., II, 312.

13. To the inner spiritual eye the Gods are no more abstractions than our soul and body are to us.—S. D., I, 694.

13. Đối với con mắt tinh thần bên trong, các Thượng đế không còn là những điều trừu tượng hơn linh hồn và thể xác của chúng ta đối với chúng ta.—S. D., I, 694.

a. The inner eye can see through the veil of matter.—S. D., I, 694.

a. Con mắt bên trong có thể nhìn xuyên qua bức màn vật chất.—S. D., I, 694.

b. The spiritual eye reveals the super-sensual states.—S. D., II, 561.

b. Con mắt tinh thần mặc khải các trạng thái siêu giác quan.—S. D., II, 561.

14. In the spiritual regenerated man the third eye is active.—S. D., II, 458. (back)

14. Trong con người được tái sinh tinh thần, con mắt thứ ba hoạt động.—S. D., II, 458. (back)

By means of the pituitary body, the second element of desire or of the form-building energy, becomes available, and under the law of attraction he can mould, and build in deva substance.

Nhờ thể tuyến yên, yếu tố thứ hai của dục vọng hay của năng lượng xây dựng hình thể trở nên khả dụng, và dưới định luật hấp dẫn y có thể nắn đúc và xây dựng trong chất liệu thiên thần.

When the alta major centre, the synthesis of what might be called nervous energy, is awake, it becomes possible for him to materialise and activate the desired form which, through attractive energy, he is in process of constructing.

Khi trung tâm alta major, sự tổng hợp của cái có thể gọi là năng lượng thần kinh, được thức tỉnh, thì y có thể hiện hình và hoạt hóa hình thể mong muốn mà, qua năng lượng hấp dẫn, y đang trong tiến trình kiến tạo.

It will be apparent, therefore, why it is that so few people ever construct thought forms which are of constructive lasting benefit to humanity, and also why it is that the Great Ones, (as They work through Their disciples) are forced to work with groups, being seldom able to find a man or woman whose three physical head centres are simultaneously active. They frequently have to work with large groups before the quota of energy supplied to Them for the accomplishment of Their ends measures up to that necessitated.

Vì vậy, sẽ rõ vì sao rất ít người từng kiến tạo các hình tư tưởng có lợi ích xây dựng và bền lâu cho nhân loại, và cũng vì sao Các Đấng Cao Cả, (khi Các Ngài làm việc qua các đệ tử của Các Ngài) buộc phải làm việc với các nhóm, vì hiếm khi có thể tìm được một người nam hay nữ mà ba trung tâm đầu hồng trần cùng hoạt động đồng thời. Các Ngài thường phải làm việc với những nhóm lớn trước khi định mức năng lượng được cung cấp cho Các Ngài để hoàn thành các mục đích của Các Ngài đạt đến mức cần thiết.

It will be obvious, likewise, that the disciple’s power for service for humanity is dependent largely upon three things: [Page 967]

Tương tự, cũng sẽ hiển nhiên rằng quyền năng phụng sự nhân loại của đệ tử phần lớn tùy thuộc vào ba điều: [Page 967]

a. The state of his bodies and their egoic alignment.

a. Tình trạng các thể của y và sự chỉnh hợp chân ngã của chúng.

b. The condition of activity present in the physical head centres.

b. Tình trạng hoạt động hiện diện trong các trung tâm đầu hồng trần.

c. The circulatory action of the triangular transmission of force.

c. Hoạt động tuần hoàn của sự truyền dẫn lực theo hình tam giác.

These factors are again dependent upon others, among which might be enumerated:

Các yếu tố này lại tùy thuộc vào những yếu tố khác, trong đó có thể kể ra:

1. The ability of the disciple to meditate.

1. Khả năng tham thiền của đệ tử.

2. The capacity he displays for bringing through accurately from the subtler levels the plans and purposes of which his Ego is cognisant.

2. Năng lực mà y biểu lộ trong việc mang xuống một cách chính xác từ các cấp độ vi tế hơn những kế hoạch và mục đích mà chân ngã của y nhận biết.

3. The purity of his motives.

3. Sự thanh khiết của các động cơ của y.

4. His power to “hold a state of meditation,” and while in that state begin to build the form for his idea, and thus materialise the plan of his Ego.

4. Quyền năng của y để “giữ một trạng thái tham thiền,” và trong khi ở trong trạng thái ấy bắt đầu xây dựng hình thể cho ý tưởng của mình, và nhờ đó hiện hình kế hoạch của chân ngã mình.

5. The amount of energy he can pour later into his thought form and thus procure for it a period of existence, or its tiny “day of Brahma.”

5. Lượng năng lượng mà về sau y có thể tuôn vào hình tư tưởng của mình và nhờ đó đem lại cho nó một thời kỳ tồn tại, hay “ngày Brahma” bé nhỏ của nó.

These subsidiary factors are again dependent upon:

Những yếu tố phụ này lại tùy thuộc vào:

a. His place on the ladder of evolution.

a. Vị trí của y trên nấc thang tiến hoá.

b. The condition of his bodies.

b. Tình trạng các thể của y.

c. His karmic condition.

c. Tình trạng nghiệp quả của y.

d. The tenuosity of the etheric web.

d. Độ mỏng của màng lưới dĩ thái.

e. The calibre of his physical body, and its relative refinement.

e. Tầm vóc của thể xác y, và mức độ tinh luyện tương đối của nó.

It is necessary here to warn the student against the error of making any hard or fast rule anent the sequential order of the development of the physical head centres, and the vitalisation of the force centres. This process is incident upon many things, such as the ray upon which the monad may be found, and the nature of the development in the past incarnations. Nature, in all departments of her corporate life, parallels her efforts, and overlaps her various processes, and it takes a seer of [Page 968] vast wisdom and experience to state exactly the stage at which any particular unit of the human family may be. He that is wise always refrains from assertion until he knows.

Ở đây cần cảnh báo đạo sinh chống lại sai lầm là đặt ra bất kỳ quy luật cứng nhắc nào liên quan đến thứ tự tuần tự của sự phát triển các trung tâm đầu hồng trần và sự tiếp sinh lực của các trung tâm lực. Tiến trình này tùy thuộc vào nhiều điều, chẳng hạn như cung mà chân thần có thể thuộc về, và bản chất của sự phát triển trong các kiếp trước. Thiên nhiên, trong mọi bộ môn của đời sống hợp nhất của mình, song hành các nỗ lực của mình và chồng lấn các tiến trình khác nhau của mình, và cần một nhà thông nhãn có [Page 968] minh triết và kinh nghiệm bao la mới có thể nói chính xác giai đoạn mà bất kỳ đơn vị nào của gia đình nhân loại đang ở. Người minh triết luôn luôn tránh khẳng định cho đến khi y biết.

Let us now consider:

Bây giờ chúng ta hãy xét:

b. The construction, vitalisation, and actuating of the thought form. The Ego, having brought about a condition of receptivity, or of recognition in the physical brain of the man, and having drawn from him the necessary response, the process of building is thereupon begun.

b. Sự kiến tạo, tiếp sinh lực và hoạt hóa hình tư tưởng. Chân ngã, sau khi đã tạo ra một tình trạng tiếp nhận, hay nhận biết trong bộ não hồng trần của con người, và sau khi đã rút ra từ y sự đáp ứng cần thiết, thì tiến trình xây dựng liền được bắt đầu.

This process of physical plane response is based—as is all else in nature—upon the relation of the polar opposites. The physical centres are receptive to the positive influence of the force centres. The physical brain is responsive to the positive influence of the lower nature in the earlier evolutionary stages, or to the reactions of the substance of the sheaths, the impress of the lunar Lords. It responds in the later stages to the positive influence of the Ego or the impress of the solar Lord.

Tiến trình đáp ứng của cõi hồng trần này dựa trên—như mọi điều khác trong thiên nhiên—mối liên hệ của các cực đối nghịch. Các trung tâm hồng trần tiếp nhận ảnh hưởng dương của các trung tâm lực. Bộ não hồng trần đáp ứng ảnh hưởng dương của bản chất thấp trong các giai đoạn tiến hoá đầu, hay các phản ứng của chất liệu của các vỏ bọc, dấu ấn của các nguyệt tinh quân. Trong các giai đoạn sau, nó đáp ứng ảnh hưởng dương của chân ngã hay dấu ấn của nhật tinh quân.

As is apparent, this building process is divided into three parts, which overlap, and assume an appearance of simultaneity. When (as is the case with the majority of the human family) the process is an unconscious one, produced by reflex action and based largely on the accomplishment of desire, all is carried on with great rapidity, and leads to rapid results—these results being effective of accomplishment according to the ability of the man to vitalise and hold in coherent form his idea. Most of the thought forms created by average man are only relatively effective, and this within great limitations, and having but a restricted radius. When man is learning consciously to create, which he does through the organisation of thought, concentration and meditation, he proceeds more slowly, for he has two primary things to do before the creative process can be carried through: [Page 969]

Như đã rõ, tiến trình xây dựng này được chia thành ba phần, chồng lấn lên nhau, và mang dáng vẻ đồng thời. Khi (như trường hợp của đa số gia đình nhân loại) tiến trình này là vô thức, được tạo ra bởi phản xạ và phần lớn dựa trên sự hoàn thành dục vọng, thì mọi sự được tiến hành rất nhanh chóng, và dẫn đến kết quả mau lẹ—những kết quả này có hiệu quả thành tựu tùy theo khả năng của con người trong việc tiếp sinh lực và giữ cho ý tưởng của mình ở hình thức kết hợp chặt chẽ. Phần lớn các hình tư tưởng do con người trung bình tạo ra chỉ tương đối hữu hiệu, và điều này trong những giới hạn lớn, với một bán kính hạn chế. Khi con người đang học cách sáng tạo một cách hữu thức, điều mà y làm qua sự tổ chức tư tưởng, tập trung và tham thiền, y tiến hành chậm hơn, vì y có hai điều chính phải làm trước khi tiến trình sáng tạo có thể được thực hiện: [Page 969]

a. To contact or communicate with the Ego, or solar Angel.

a. Tiếp xúc hay giao thông với chân ngã, hay Thái dương Thiên Thần.

b. To study the process of creation and to make it conform step by step with natural evolutionary law.

b. Nghiên cứu tiến trình sáng tạo và làm cho nó phù hợp từng bước với định luật tiến hoá tự nhiên.

The above is necessarily but another way of defining meditation and its objective.

Điều trên tất yếu chỉ là một cách khác để định nghĩa tham thiền và mục tiêu của nó.

Later on, when a man is an expert in meditation, the work of thought creation proceeds with ever increasing rapidity, until he surpasses (on a higher turn of the spiral) the activity of the earlier unconscious period.

Về sau, khi một người là chuyên gia trong tham thiền, công việc sáng tạo tư tưởng diễn tiến với tốc độ ngày càng tăng, cho đến khi y vượt qua (trên một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc) hoạt động của thời kỳ vô thức trước kia.

Starting, therefore, with the recognition of the egoic intent in the physical brain, the man proceeds to build the form for his idea. He begins first to organise the material required upon the mental plane. It is on that plane that the impulse takes to itself its primary form. On the desire or astral plane, the process of vitalisation is largely pursued, for the length of the life of any thought form (even such an one as our solar system) is dependent upon the persistence of desire, and the strength of the desire.

Vì vậy, bắt đầu với sự nhận biết ý định chân ngã trong bộ não hồng trần, con người tiến hành xây dựng hình thể cho ý tưởng của mình. Trước hết y bắt đầu tổ chức chất liệu cần thiết trên cõi trí. Chính trên cõi đó mà xung lực khoác lấy hình thức sơ khởi của nó. Trên cõi dục vọng hay cõi cảm dục, tiến trình tiếp sinh lực phần lớn được theo đuổi, vì độ dài đời sống của bất kỳ hình tư tưởng nào (ngay cả một hình như hệ mặt trời của chúng ta) tùy thuộc vào sự bền bỉ của dục vọng, và sức mạnh của dục vọng ấy.

On the etheric levels of the physical plane the process of physical concretion takes place; as the physical vehicle assumes the necessary proportions, the thought form becomes divorced from the one who is giving it form. Any idea of enough strength will inevitably materialise in dense physical matter, but the main work of its creator ceases when he has worked with it on mental, astral and etheric levels. The dense physical response is automatic and inevitable. Some ideas of a large and important nature, which have arisen in the consciousness of the Guides of the race, reach full manifestation only through the medium of many agents, and the dynamic impulses of many minds. A few work consciously, when this is the case, at the production of the necessitated [Page 970] form; many more are swept into activity and lend their aid through the very negativity of their natures; they are “forced” to be interested in spite of themselves, and are “swept into the movement,” not through any mental apprehension or “vital desire,” but because it is the thing to do. In this may be seen an instance of the ability of the Great Ones to utilise conditions of apparent inertia and negativity (due to little development), and thus produce good results.

Trên các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần, tiến trình cô đọng hồng trần diễn ra; khi vận cụ hồng trần đảm nhận các tỷ lệ cần thiết, hình tư tưởng trở nên tách rời khỏi kẻ đang tạo hình cho nó. Bất kỳ ý tưởng nào có đủ sức mạnh đều tất yếu sẽ hiện hình trong vật chất hồng trần đậm đặc, nhưng công việc chính của người sáng tạo nó chấm dứt khi y đã làm việc với nó trên các cấp độ trí tuệ, cảm dục và dĩ thái. Sự đáp ứng hồng trần đậm đặc là tự động và không thể tránh khỏi. Một số ý tưởng có bản chất lớn lao và quan trọng, đã phát sinh trong tâm thức của các Đấng Hướng Dẫn nhân loại, chỉ đạt đến biểu hiện trọn vẹn qua trung gian của nhiều tác nhân, và các xung lực năng động của nhiều trí tuệ. Một số ít làm việc hữu thức, khi trường hợp là như vậy, vào việc tạo ra hình thể cần thiết; nhiều người khác nữa bị cuốn vào hoạt động và góp phần trợ giúp qua chính tính tiêu cực trong [Page 970] bản chất của họ; họ bị “buộc” phải quan tâm bất chấp chính mình, và bị “cuốn vào phong trào,” không phải qua bất kỳ sự lĩnh hội trí tuệ hay “dục vọng sống động” nào, mà bởi vì đó là điều phải làm. Trong điều này có thể thấy một ví dụ về khả năng của Các Đấng Cao Cả trong việc sử dụng các điều kiện của quán tính và tính tiêu cực biểu kiến (do ít phát triển), và nhờ đó tạo ra các kết quả tốt đẹp.

We will here only deal with the man who is learning consciously to build, and will not consider the process as pursued by the adept, or the chaotic attempts of the little evolved. Having grasped the idea, and having with care discriminated the motive underlying the idea, thus ascertaining its utilitarian purposes, and its value to the group in the service of humanity, the man has certain things to do which, for the sake of clarity, we might sum up in certain statements:

Ở đây chúng ta sẽ chỉ bàn đến con người đang học cách xây dựng một cách hữu thức, và sẽ không xét tiến trình như được chân sư theo đuổi, hay những cố gắng hỗn loạn của kẻ ít tiến hóa. Sau khi đã nắm được ý tưởng, và đã cẩn thận phân biện động cơ nằm dưới ý tưởng, nhờ đó xác định các mục đích hữu dụng của nó, và giá trị của nó đối với nhóm trong việc phụng sự nhân loại, con người có một số điều phải làm mà, để cho rõ ràng, chúng ta có thể tóm lại trong một số phát biểu:

He has, first of all, to hold the idea sufficiently long for it to be faithfully registered in the physical brain. Frequently the Ego will “get through” to the brain some concept, some portion of the plan, and yet will have to repeat the process continuously over quite a long period before the physical response is such that the solar Angel can rest assured that it is intelligently registered and recorded. It is perhaps unnecessary to say that the entire process is greatly facilitated if the “shadow,” or the man, pursues regular meditation, cultivates the habit of a daily and hourly recollectedness of the higher Self, and before retiring at night endeavours to “hold the thought” of bringing through at the time of awakening as much as possible of any egoic impress. When the reaction between the two factors, the Ego and the receptive physical brain, is established, the interplay is reciprocal, and the two are keyed or tuned to each other, the second stage is entered upon. The idea is conceived.

Trước hết, y phải giữ ý tưởng đủ lâu để nó được ghi nhận trung thực trong bộ não hồng trần. Thường thì chân ngã sẽ “xuyên qua” đến bộ não một khái niệm nào đó, một phần nào đó của kế hoạch, nhưng sẽ phải lặp lại tiến trình ấy liên tục trong một thời gian khá dài trước khi sự đáp ứng hồng trần đạt đến mức để Thái dương Thiên Thần có thể yên tâm rằng nó đã được ghi nhận và lưu giữ một cách thông minh. Có lẽ không cần phải nói rằng toàn bộ tiến trình được hỗ trợ rất nhiều nếu “cái bóng,” hay con người, theo đuổi việc tham thiền đều đặn, vun bồi thói quen hồi tưởng hằng ngày và hằng giờ về Bản Ngã Cao Siêu, và trước khi đi ngủ vào ban đêm cố gắng “giữ tư tưởng” để khi thức dậy có thể mang xuống càng nhiều càng tốt bất kỳ dấu ấn chân ngã nào. Khi phản ứng giữa hai yếu tố, chân ngã và bộ não hồng trần tiếp nhận, được thiết lập, sự tương tác trở thành hỗ tương, và cả hai được điều chỉnh hay hòa điệu với nhau, thì giai đoạn thứ hai được bước vào. Ý tưởng được thụ thai.

[Page 971] A period of gestation is then pursued, itself divided into various stages. The man broods over the idea; he ponders upon it, thereby setting up activity in mental matter, and attracting to his germ thought the material necessary for its clothing. He pictures to himself the contour of the thought form, clothing it with colour, and painting in its details. Hence will be seen the great value of a true imagination, and its ordered scientific use. Imagination is kama-manasic in origin, being neither pure desire nor pure mind, and is a purely human product, being superseded by the intuition in perfected men, and in the higher Intelligences of Nature.

[Page 971] Sau đó một thời kỳ thai nghén được theo đuổi, bản thân nó được chia thành nhiều giai đoạn. Con người ấp ủ ý tưởng; y suy ngẫm về nó, nhờ đó khơi dậy hoạt động trong chất liệu trí tuệ, và thu hút đến tư tưởng mầm của mình chất liệu cần thiết để khoác áo cho nó. Y hình dung cho mình đường nét của hình tư tưởng, khoác cho nó màu sắc, và tô vẽ các chi tiết của nó. Vì thế sẽ thấy giá trị lớn lao của một sự tưởng tượng chân chính, và việc sử dụng nó một cách khoa học có trật tự. Sự tưởng tượng có nguồn gốc trí-cảm, không phải dục vọng thuần túy cũng không phải trí tuệ thuần túy, và là một sản phẩm thuần túy của con người, được trực giác thay thế nơi những con người hoàn thiện và nơi các Trí Tuệ cao hơn của Thiên nhiên.

When his will, or the initial impulse is sufficiently strong, and when the imagination, or power of visualisation, is adequately vivid, the second part of the gestation period is entered upon, and the vitalisation by desire is begun. The interplay of mental impulse and desire produce what might be called a pulsation in the organising form of the idea, and it becomes alive. It is yet but nebulous and its tenuosity is great, but it shows signs of organisation and the outline of its form. Students must remember that this entire process is being carried on now during this stage which we are considering from within the brain. There is thus a definite correspondence to the work of the nine Sephiroth:

Khi ý chí của y, hay xung lực ban đầu, đủ mạnh, và khi sự tưởng tượng, hay năng lực hình dung, đủ sống động, thì phần thứ hai của thời kỳ thai nghén được bắt đầu, và sự tiếp sinh lực bằng dục vọng được khởi sự. Sự tương tác giữa xung lực trí tuệ và dục vọng tạo ra điều có thể gọi là một nhịp đập trong hình tướng đang tổ chức của ý tưởng, và nó trở nên sống động. Nó vẫn còn mơ hồ và độ mỏng nhẹ của nó rất lớn, nhưng nó cho thấy những dấu hiệu của sự tổ chức và đường nét của hình tướng mình. Các đạo sinh phải nhớ rằng toàn bộ tiến trình này hiện đang được tiến hành trong giai đoạn mà chúng ta đang xét từ bên trong bộ não. Do đó có một sự tương ứng rõ rệt với công việc của chín Sephiroth:

The initial three correspond to the egoic impulse with which we have earlier dealt.

Ba Sephiroth đầu tương ứng với xung lực chân ngã mà trước đây chúng ta đã bàn đến.

The secondary group of Sephiroth find their analogy in the work pursued in the stage we are now dealing with, or the impulse of mind-desire, emanating consciously from man’s brain.

Nhóm Sephiroth thứ hai tìm thấy sự tương đồng của chúng trong công việc được theo đuổi ở giai đoạn mà hiện nay chúng ta đang bàn đến, hay xung lực trí tuệ-dục vọng, phát xạ một cách hữu thức từ bộ não con người.

The work of the final three is accomplished when the thought form, being clothed in mental and astral matter, passes into objectivity on the physical plane.

Công việc của ba Sephiroth cuối cùng được hoàn tất khi hình tư tưởng, được khoác bằng vật chất trí tuệ và cảm dục, đi vào tính khách quan trên cõi hồng trần.

[Page 972] A later stage in the gestation period is pursued when the thought form, being clothed in mental matter, and having become vitalised by desire, takes to itself a layer of substance of astral matter, and is consequently enabled to function on the astral plane as well as the mental. Here its growth is rapid. It should be carefully borne in mind that the process of building in mental matter proceeds simultaneously, and that the development is now twofold. Here the conscious builder must be careful to hold the balance, and not to let imagination unduly assume too large proportions. The manasic element and the kamic element must be justly proportioned, or else will be seen that too common manifestation, an idea wrongly conceived and nurtured, and therefore impossible of playing its just part in the evolutionary plan, being but a grotesque distortion.

[Page 972] Một giai đoạn muộn hơn trong thời kỳ thai nghén được tiếp tục khi hình tư tưởng, được khoác bằng vật chất trí tuệ, và đã được tiếp sinh lực bởi dục vọng, tự khoác thêm cho mình một lớp chất liệu của vật chất cảm dục, và do đó có thể hoạt động trên cõi cảm dục cũng như cõi trí. Ở đây sự tăng trưởng của nó rất nhanh. Cần phải ghi nhớ cẩn thận rằng tiến trình kiến tạo trong vật chất trí tuệ vẫn tiến hành đồng thời, và rằng sự phát triển hiện nay là nhị phân. Ở đây đấng kiến tạo hữu thức phải cẩn trọng giữ thế quân bình, và không để sự tưởng tượng chiếm tỷ lệ quá lớn một cách quá mức. Yếu tố manas và yếu tố kama phải được cân xứng đúng đắn, nếu không sẽ thấy biểu hiện quá thông thường ấy, một ý tưởng được quan niệm sai lầm và nuôi dưỡng sai lầm, và vì thế không thể đảm đương phần việc chính đáng của nó trong Thiên Cơ tiến hoá, mà chỉ là một sự méo mó kỳ quái.

The idea now is reaching a critical stage, and should be ready for the assumption of physical matter and to take to itself an etheric form. When on etheric levels, it receives that final impulse which will lead to what may be called its “actuating,” or its reception of that motivating impulse which will lead to its dissociation from its originator, and the sending out to assume

Ý tưởng hiện nay đang đạt đến một giai đoạn khủng hoảng, và phải sẵn sàng để tiếp nhận vật chất hồng trần và tự khoác lấy một hình thể dĩ thái. Khi ở trên các cấp dĩ thái, nó nhận được xung lực cuối cùng sẽ dẫn đến điều có thể gọi là “sự vận động hóa” của nó, hay sự tiếp nhận xung lực thúc đẩy sẽ dẫn đến việc nó tách rời khỏi người tạo ra nó, và được phóng ra để đảm nhận

1. A dense form.

1. Một hình thể đậm đặc.

2. A separate existence.

2. Một sự tồn tại riêng biệt.

It should be remembered that the thought form has now passed from the mental plane, taken to itself an astral sheath, and likewise is gathering to itself a body of etheric matter. When it has reached this stage its vitalisation is proceeding apace, and the hour of its separated existence is drawing near.

Cần nhớ rằng hình tư tưởng hiện nay đã đi ra khỏi cõi trí, đã tự khoác lấy một vỏ bọc cảm dục, và cũng đang thu hút về mình một thể bằng vật chất dĩ thái. Khi đã đạt đến giai đoạn này, sự tiếp sinh lực của nó đang tiến hành rất nhanh, và giờ phút tồn tại tách biệt của nó đang đến gần.

This vitalisation is consciously carried out by the man who—according to the original intent or initial impulse—directs to the thought form energy of some kind. This energy is directed from one or other of the three higher centres, according to the quality of the embodied idea, [Page 973] and will be seen pouring towards the rapidly objectivising idea from the particular centre involved. We must not forget that we are considering the thought form of the conscious builder. The thought forms of the majority of human beings are energised from no such high source, but find their active impulse emanating from either the solar plexus, or the still lower organs of generation.

Sự tiếp sinh lực này được con người thực hiện một cách hữu thức—người mà, tùy theo ý định nguyên thủy hay xung lực ban đầu—hướng vào hình tư tưởng một loại năng lượng nào đó. Năng lượng này được hướng ra từ một trong ba trung tâm cao hơn, tùy theo phẩm tính của ý tưởng được nhập thể, [Page 973] và sẽ được thấy tuôn về phía ý tưởng đang nhanh chóng khách quan hóa từ trung tâm đặc thù có liên hệ. Chúng ta không được quên rằng chúng ta đang xét hình tư tưởng của đấng kiến tạo hữu thức. Hình tư tưởng của đa số nhân loại không được tiếp năng lượng từ một nguồn cao như thế, mà tìm thấy xung lực hoạt động của chúng phát ra từ hoặc tùng thái dương, hoặc từ các cơ quan sinh dục còn thấp hơn nữa.

It is this constant stream of emotional or sexual energy which is responsible for the chaotic conditions of the present; the balance is not preserved, the interaction between the two, and the myriads of thought forms consequently produced of a low order and vibration are producing a condition which is going to require all the efforts of mental workers eventually to negate, offset, and transmute. These forms, which scarce merit the prefix “thought,” being largely kamic with an admixture of the lowest grade of mental matter, are responsible for the heavy, slow vibrating or pulsating fog or cloak which envelops the human family, and which produces much of the present evil, crime and mental lethargy. People are mainly polarised in the astral body, as we know, and the lower centres are the most active; when an atmosphere or environment of thought-forms of a low key and vitalised by all the baser forms of astral energy is coupled to this, it will become apparent how stupendous is the task of lifting humanity to a clearer, purer and better atmosphere, and how easy it is for the lower aspects and appetites to flourish and to grow.

Chính dòng năng lượng cảm xúc hay tính dục liên tục này chịu trách nhiệm về các điều kiện hỗn loạn hiện nay; thế quân bình không được duy trì, sự tương tác giữa hai loại năng lượng ấy, và vô số hình tư tưởng do đó được tạo ra thuộc loại thấp và rung động thấp đang tạo nên một tình trạng mà về sau sẽ đòi hỏi mọi nỗ lực của những người hoạt động trí tuệ để làm tiêu tan, hóa giải và chuyển hoá. Những hình tướng này, hầu như không đáng mang tiền tố “tư tưởng”, vì phần lớn là kama với một sự pha trộn của loại vật chất trí tuệ thấp nhất, chịu trách nhiệm về màn sương hay tấm áo choàng nặng nề, rung động chậm chạp hay nhịp đập chậm chạp bao phủ gia đình nhân loại, và gây ra phần lớn điều ác, tội phạm và sự trì trệ trí tuệ hiện nay. Như chúng ta biết, con người chủ yếu phân cực trong thể cảm dục, và các trung tâm thấp là hoạt động mạnh nhất; khi điều này kết hợp với một bầu khí quyển hay môi trường gồm các hình tư tưởng có chủ âm thấp và được tiếp sinh lực bởi mọi dạng năng lượng cảm dục thấp kém nhất, thì sẽ trở nên hiển nhiên rằng nhiệm vụ nâng nhân loại lên một bầu khí quyển sáng sủa hơn, thanh khiết hơn và tốt đẹp hơn là to lớn biết bao, và các phương diện thấp cùng các dục vọng dễ dàng nảy nở và phát triển đến mức nào.

As the vitalisation is pursued and the energy is poured from one or other of the centres into the thought-form, the conscious builder begins to extend this influence in order to send it forth from him to perform its mission, whatever that may be, to make it occultly “radiant” so that its vibrations will emanate, and make themselves felt, and finally to make it magnetic, so that something [Page 974] in the thought form will call forth response from other thought forms or from the minds it may contact.

Khi sự tiếp sinh lực được tiếp tục và năng lượng được tuôn từ một trong các trung tâm vào hình tư tưởng, đấng kiến tạo hữu thức bắt đầu mở rộng ảnh hưởng này để phóng nó ra khỏi mình hầu thực hiện sứ mệnh của nó, bất kể sứ mệnh ấy là gì, làm cho nó một cách huyền bí trở nên “rạng chiếu” để các rung động của nó phát ra và tự làm cho được cảm nhận, và cuối cùng làm cho nó có từ tính, để một điều gì đó [Page 974] trong hình tư tưởng sẽ khơi dậy sự đáp ứng từ các hình tư tưởng khác hoặc từ các trí tuệ mà nó có thể tiếp xúc.

When these three objectives have been reached, the life of the form itself is now so strong that it can pursue its own little life cycle and fulfil its work, being only linked to its creator by a tiny thread of radiant substance, which is a correspondence to the sutratma. All forms have such a sutratma. It links a man’s bodies to the inner Identity, or to that magnetic current which, emanating from the true Identity, the solar Logos, connects the Creator of the solar system with His great thought form by a stream of energy from the central Spiritual Sun to a point in the centre of the physical Sun.

Khi ba mục tiêu này đã đạt được, sự sống của chính hình tướng lúc này mạnh đến mức nó có thể theo đuổi chu kỳ sống nhỏ bé của riêng mình và hoàn thành công việc của nó, chỉ còn được nối với người sáng tạo bởi một sợi chỉ nhỏ bằng chất liệu rạng chiếu, là một sự tương ứng với sutratma. Mọi hình tướng đều có một sutratma như vậy. Nó nối các thể của con người với Bản Sắc bên trong, hay với dòng từ điện ấy, phát ra từ Bản Sắc chân thực, Thái dương Thượng đế, nối Đấng Sáng Tạo của hệ mặt trời với hình tư tưởng vĩ đại của Ngài bằng một dòng năng lượng từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương đến một điểm ở trung tâm của mặt trời vật lý.

As long as the attention of the creator of any thought form, great or small, is turned towards it, that magnetic link persists, the thought form is vitalised, and its work carried on. When the work has been accomplished, and the thought-form has served its purpose, every creator, consciously or unconsciously, turns his attention elsewhere, and his thought form disintegrates.

Chừng nào sự chú ý của người sáng tạo bất kỳ hình tư tưởng nào, lớn hay nhỏ, còn hướng về nó, thì mối liên kết từ tính ấy vẫn tồn tại, hình tư tưởng được tiếp sinh lực, và công việc của nó được tiếp tục. Khi công việc đã hoàn tất, và hình tư tưởng đã phục vụ xong mục đích của nó, mọi người sáng tạo, hữu thức hay vô thức, đều chuyển sự chú ý của mình sang nơi khác, và hình tư tưởng của mình tan rã.

Hence the occult significance of all the processes occultly involved in sight, can be seen. As long as the eye of the Creator is upon that which is created, just so long does it persist; let the Creator withdraw “the light of his countenance” and the death of the thought form ensues, for vitality or energy follows the line of the eye. When, therefore, a man, in meditation, considers his work and builds his thought form for service, he is occultly looking, and consequently energising; he begins to use the third eye in its secondary aspect. The third or spiritual eye has several functions. Amongst others, it is the organ of illumination, the unveiled eye of the soul, through which light and illumination comes into the mind, and thus the entire lower life becomes irradiated. It is also the organ through which pours the directing energy [Page 975] which streams out from the conscious creating adept to the instruments of service, his thought-forms.

Do đó, có thể thấy được ý nghĩa huyền bí của mọi tiến trình liên quan một cách huyền bí đến thị giác. Chừng nào mắt của Đấng Sáng Tạo còn đặt trên điều được sáng tạo, thì chừng đó nó còn tồn tại; hãy để Đấng Sáng Tạo rút lại “ánh sáng từ dung nhan của y” và cái chết của hình tư tưởng sẽ xảy đến, vì sinh lực hay năng lượng đi theo đường của con mắt. Vì vậy, khi một người, trong tham thiền, suy xét công việc của mình và xây dựng hình tư tưởng của mình để phụng sự, thì một cách huyền bí y đang nhìn, và do đó đang tiếp năng lượng; y bắt đầu sử dụng con mắt thứ ba trong phương diện thứ yếu của nó. Con mắt thứ ba hay con mắt tinh thần có nhiều chức năng. Trong số đó, nó là cơ quan của sự soi sáng, con mắt không che phủ của linh hồn, qua đó ánh sáng và sự soi sáng đi vào trí tuệ, và như thế toàn bộ đời sống thấp trở nên được chiếu rạng. Nó cũng là cơ quan qua đó tuôn ra năng lượng chỉ đạo [Page 975] chảy ra từ chân sư sáng tạo hữu thức đến các công cụ phụng sự, tức các hình tư tưởng của Ngài.

The little evolved do not, of course, employ the third eye for the stimulating of their thought forms. The energy used by them in the majority of cases originates in the solar plexus, and works in two directions, either via the organs of generation, or through the physical eyes. In many people these three points—the lower organs, the solar plexus, and the physical eyes—form a triangle of force, around which the stream of energy flows before going out to the objectivised thought form. In the aspirant, and the man who is intellectual, the triangle may be from the solar plexus, to the throat centre and thence to the eyes. Later, as the aspirant grows in knowledge and purity of motive, the triangle of energy will have the heart for its lowest point instead of the solar plexus, and the third eye will begin to do its work, though as yet very imperfectly.

Dĩ nhiên, những người ít tiến hoá không dùng con mắt thứ ba để kích thích các hình tư tưởng của họ. Năng lượng họ dùng trong đa số trường hợp phát sinh từ tùng thái dương, và hoạt động theo hai hướng, hoặc qua các cơ quan sinh dục, hoặc qua đôi mắt vật lý. Ở nhiều người, ba điểm này—các cơ quan thấp, tùng thái dương, và đôi mắt vật lý—tạo thành một tam giác mãnh lực, quanh đó dòng năng lượng chảy trước khi đi ra đến hình tư tưởng đã được khách quan hóa. Ở người chí nguyện, và người có trí tuệ, tam giác ấy có thể là từ tùng thái dương đến trung tâm cổ họng rồi từ đó đến đôi mắt. Về sau, khi người chí nguyện tăng trưởng trong tri thức và sự thanh khiết của động cơ, tam giác năng lượng sẽ có tim làm điểm thấp nhất thay vì tùng thái dương, và con mắt thứ ba sẽ bắt đầu làm việc của nó, dù hiện còn rất bất toàn.

Just as long as the “Eye” is directed to the created form, the current of force will be transmitted to it, and the more one-pointed the man may be the more this energy will be centralised and effective. Much of the ineffectiveness of people is due to the fact that their interests are not centralised but very diffuse, and no one thing engrosses their attention. They scatter their energy and are attempting to satisfy every wandering desire, and to dabble in everything which comes their way. Therefore, no thought they think ever assumes a proper form, or is ever duly energised. They are consequently surrounded by a dense cloud of half-formed disintegrating thought forms and clouds of partially energised matter in process of dissolution. This produces occultly a condition similar to the decay of a physical form, and is equally unpleasant and unwholesome. It accounts for much of the diseased condition of the human family at this time.

Chừng nào “Con Mắt” còn hướng vào hình tướng được tạo ra, thì dòng mãnh lực sẽ được truyền đến nó, và con người càng nhất tâm bao nhiêu thì năng lượng này càng được tập trung và hữu hiệu bấy nhiêu. Phần lớn sự thiếu hiệu quả của con người là do các mối quan tâm của họ không được tập trung mà rất phân tán, và không có một điều gì chiếm trọn sự chú ý của họ. Họ phân tán năng lượng của mình và đang cố thỏa mãn mọi dục vọng lang thang, và nhúng tay vào mọi thứ đến với họ. Vì vậy, không một tư tưởng nào họ nghĩ ra lại có được hình tướng thích đáng, hay từng được tiếp năng lượng đúng mức. Do đó họ bị bao quanh bởi một đám mây dày đặc gồm những hình tư tưởng nửa thành hình đang tan rã và những đám mây vật chất được tiếp năng lượng một phần đang trong tiến trình tan biến. Điều này về mặt huyền bí tạo ra một tình trạng tương tự như sự phân hủy của một hình thể vật lý, và cũng khó chịu và không lành mạnh như vậy. Điều đó giải thích phần lớn tình trạng bệnh hoạn của gia đình nhân loại vào lúc này.

Failure in thought creation is due also to the fact that [Page 976] the laws of thought are not taught, and men do not know how, through meditation, to create those children of their activity to carry on their work. Results on the physical plane are much more quickly achieved through scientific thought creation than through the directly physical plane means. This is becoming more realised, but until the race has reached a point of greater purity and unselfishness, the more detailed explanation of the process must necessarily be withheld.

Sự thất bại trong việc sáng tạo tư tưởng cũng là do sự kiện rằng [Page 976] các định luật của tư tưởng không được giảng dạy, và con người không biết cách, thông qua tham thiền, tạo ra những đứa con của hoạt động mình để tiếp tục công việc của mình. Các kết quả trên cõi hồng trần đạt được nhanh hơn nhiều nhờ sự sáng tạo tư tưởng có tính khoa học so với bằng các phương tiện trực tiếp của cõi hồng trần. Điều này đang ngày càng được chứng nghiệm, nhưng cho đến khi nhân loại đạt đến một điểm có sự thanh khiết và vô ngã lớn hơn, thì sự giải thích chi tiết hơn về tiến trình này nhất thiết phải được giữ lại.

Another reason for creative ineffectiveness is owing to the currents which emanate from the majority of people being of such a low order that the thought forms never reach the point of independent action, except through cumulative group work. Until matter of the three higher subplanes of the astral and physical planes finds its place in the thought form, it has to be energised principally by mob energy. When the higher substance begins to find its way into the form, then it can be seen acting independently, for the individual Ego of the man concerned can begin to work through the matter—a thing before impossible. The Ego cannot work freely in the personality until third subplane matter is found in his bodies; the correspondence consequently holds good.

Một lý do khác của sự thiếu hiệu quả trong sáng tạo là do các dòng năng lượng phát ra từ đa số con người thuộc loại quá thấp nên các hình tư tưởng không bao giờ đạt đến điểm hành động độc lập, ngoại trừ thông qua công việc nhóm tích lũy. Cho đến khi vật chất của ba cõi phụ cao hơn của cõi cảm dục và cõi hồng trần tìm được chỗ của nó trong hình tư tưởng, thì nó phải được tiếp năng lượng chủ yếu bởi năng lượng đám đông. Khi chất liệu cao hơn bắt đầu tìm đường đi vào hình tướng, thì người ta có thể thấy nó hành động độc lập, vì chân ngã cá nhân của người liên hệ có thể bắt đầu hoạt động xuyên qua vật chất—điều trước đó là không thể. Chân ngã không thể hoạt động tự do trong phàm ngã cho đến khi vật chất cõi phụ thứ ba hiện diện trong các thể của y; do đó sự tương ứng vẫn đúng.

Once the thought form has been vitalised and its etheric form is completed or “sealed” as it is called, it can attain the dense physical form if desired. This does not mean that the individual thought forms of every man take dense substance upon the etheric, but they will eventuate in activity upon the physical plane. A man, for instance, is thinking a kindly thought; he has built it up and vitalised it; it is objective to the clairvoyant and exists in etheric matter close to the man. It will, therefore, find physical expression in an act of kindness or a physical caress. When the act is over, the caress consummated, the interest of the man in that particular thought form fades out and it dies. Similarly with a crime—the [Page 977] thought form has been built up and inevitably it will find its physical expression in some deed of one kind or another. All activity of every kind is the result:

Một khi hình tư tưởng đã được tiếp sinh lực và hình thể dĩ thái của nó đã hoàn tất hay được “niêm phong” như cách gọi, thì nó có thể đạt đến hình thể hồng trần đậm đặc nếu muốn. Điều này không có nghĩa là các hình tư tưởng cá nhân của mọi người đều khoác lấy chất liệu đậm đặc trên nền dĩ thái, nhưng chúng sẽ kết thúc trong hoạt động trên cõi hồng trần. Chẳng hạn, một người đang nghĩ một tư tưởng tử tế; y đã xây dựng nó và tiếp sinh lực cho nó; nó khách quan đối với nhà thông nhãn và tồn tại trong vật chất dĩ thái gần người ấy. Vì vậy, nó sẽ tìm thấy sự biểu lộ vật lý trong một hành động tử tế hay một sự vuốt ve bằng thân thể. Khi hành động chấm dứt, sự vuốt ve hoàn tất, sự quan tâm của người ấy đối với hình tư tưởng đặc thù đó phai nhạt đi và nó chết. Tương tự với một tội ác—hình [Page 977] tư tưởng đã được xây dựng và tất yếu nó sẽ tìm thấy sự biểu lộ vật lý của mình trong một hành vi thuộc loại này hay loại khác. Mọi hoạt động thuộc mọi loại đều là kết quả:

a. Of thought forms built consciously or unconsciously.

a. Của các hình tư tưởng được xây dựng một cách hữu thức hay vô thức.

b. Of self-initiated thought forms or of the effect of the thought forms of others.

b. Của các hình tư tưởng do chính mình khởi xướng hoặc của tác động từ các hình tư tưởng của người khác.

c. Of responsiveness to one’s own inner impulses, or of responsiveness to the impulses of others, and therefore to group thought forms.

c. Của sự đáp ứng với các xung lực bên trong của chính mình, hoặc của sự đáp ứng với các xung lực của người khác, và do đó với các hình tư tưởng nhóm.

It will be apparent, therefore, how vital is this matter, and how influenced men and women are by the thought forms they themselves create, or the mental children of other men.

Do đó sẽ hiển nhiên rằng vấn đề này quan trọng đến mức nào, và những người nam và nữ bị ảnh hưởng sâu sắc ra sao bởi các hình tư tưởng do chính họ tạo ra, hay những đứa con trí tuệ của người khác.

c. The occult significance of speech. The old Scripture saith: “In the multitude of words there wanteth not sin,” (Bible. Prov. 10:19.) because in a tide of words at this stage of man’s evolution, many are spoken purposelessly or from motives which (when analysed) will be found to be based purely in the personality. The greater the progress that is made along the path of approach to the Mysteries, the greater the care that must be taken by the aspirant. This is necessary for three reasons:

c. Ý nghĩa huyền bí của lời nói. Kinh sách xưa có nói: “Trong nhiều lời nói, tội lỗi chẳng thiếu,” (Kinh Thánh. Châm Ngôn 10:19.) bởi vì trong dòng thác ngôn từ ở giai đoạn tiến hoá này của con người, nhiều lời được nói ra vô mục đích hoặc từ những động cơ mà (khi phân tích) sẽ thấy là hoàn toàn dựa trên phàm ngã. Sự tiến bộ trên con đường tiếp cận các Mầu Nhiệm càng lớn bao nhiêu, thì người chí nguyện càng phải cẩn trọng bấy nhiêu. Điều này cần thiết vì ba lý do:

First, owing to his stage in evolution, he is able to enforce his words in a manner which would surprise him could he but see on the mental plane. He builds more accurately than the average men, his subsequent thought-form is more strongly vitalised, and it performs the function whereon it is sent by the “Sound” or speech with greater precision.

Thứ nhất, do giai đoạn tiến hoá của mình, y có thể tăng cường lời nói của mình theo một cách mà sẽ làm y ngạc nhiên nếu y có thể thấy trên cõi trí. Y xây dựng chính xác hơn người trung bình, hình tư tưởng tiếp theo của y được tiếp sinh lực mạnh hơn, và nó thực hiện chức năng mà nó được gửi đi nhờ “Âm Thanh” hay lời nói với độ chính xác lớn hơn.

Second, any word spoken and consequent thought-form built (unless along the higher path and not based on personality impulses) is apt to cause a barrier of mental matter between a man and his goal. This matter or separating wall has to be dissipated before further [Page 978] advance can be made, and this process is karmic and unavoidable.

Thứ hai, bất kỳ lời nào được nói ra và hình tư tưởng hệ quả được xây dựng (trừ phi theo con đường cao hơn và không dựa trên các xung lực phàm ngã) đều dễ gây nên một rào cản bằng vật chất trí tuệ giữa con người và mục tiêu của y. Vật chất này hay bức tường ngăn cách ấy phải được làm tiêu tan trước khi có thể có sự tiến bộ thêm nữa, và tiến trình này mang tính nghiệp quả và không thể tránh khỏi.[Page 978] advance can be made, and this process is karmic and unavoidable.

Third, speech is very largely a mode of communication on the physical levels; on the subtler levels whereon the worker stands, and in his communications with his fellow workers and chosen co-operators it will play an ever lessening part. Intuitive perception and telepathic interplay will distinguish the intercourse between aspirants and disciples, and when this is coupled with a full trust, sympathy and united effort for the plan we will have a formation wherewith the Master can work, and through which He can pour His force. The Master works through groups (large or small) and the work is facilitated for Them if the interplay between units of the group is steady and uninterrupted. One of the most frequent causes of difficulty in group work and consequent arrest of the inflow of force from the Master temporarily is based on misuse of speech. It brings about a clogging of the channel for the time being on the mental plane.

Thứ ba, lời nói phần lớn là một phương thức giao tiếp trên các cấp độ hồng trần; trên các cấp độ vi tế hơn nơi người hoạt động đứng, và trong sự giao tiếp của y với các đồng sự và những cộng tác viên được chọn, nó sẽ giữ một vai trò ngày càng nhỏ đi. Linh thị trực giác và sự tương tác viễn cảm sẽ phân biệt sự giao tiếp giữa những người chí nguyện và các đệ tử, và khi điều này được kết hợp với sự tin cậy trọn vẹn, sự cảm thông và nỗ lực hợp nhất vì Thiên Cơ, chúng ta sẽ có một sự hình thành mà Chân sư có thể làm việc với, và qua đó Ngài có thể tuôn mãnh lực của Ngài. Chân sư làm việc thông qua các nhóm (lớn hay nhỏ) và công việc được tạo thuận lợi cho Các Ngài nếu sự tương tác giữa các đơn vị của nhóm là vững vàng và không gián đoạn. Một trong những nguyên nhân thường gặp nhất gây khó khăn trong công việc nhóm và do đó tạm thời ngăn trở dòng mãnh lực từ Chân sư là dựa trên việc lạm dụng lời nói. Nó gây ra sự tắc nghẽn của kênh trong một thời gian trên cõi trí.

I mention these three factors for this question of group work is of vital importance and much is hoped from it in these days. If in any organisation on the physical plane the Masters can get a nucleus of even three people who mutually interact (I choose the word deliberately) and who disinterestedly follow the path of service, They can produce more definite results in a shorter space of time than is possible with a large and active body of people who may be sincere and earnest but do not know the meaning of trust in, and co-operation with each other and who guard not the gate of speech.

Tôi nêu ra ba yếu tố này vì vấn đề công việc nhóm có tầm quan trọng sống còn và nhiều hy vọng đang được đặt vào đó trong những ngày này. Nếu trong bất kỳ tổ chức nào trên cõi hồng trần, các Chân sư có thể có được một hạt nhân chỉ gồm ba người tương tác lẫn nhau (tôi chọn từ này một cách có chủ ý) và vô tư bước theo con đường phụng sự, thì Các Ngài có thể tạo ra những kết quả xác định hơn trong một khoảng thời gian ngắn hơn so với điều có thể làm được với một tập thể đông đảo và hoạt động tích cực gồm những người có thể chân thành và nhiệt tâm nhưng không biết ý nghĩa của sự tin cậy và hợp tác với nhau và không canh giữ cánh cổng của lời nói.

If a man succeeds in understanding the significance of speech, if he learns how to speak, when to speak, what is gained by speech, and what happens when he speaks, he is well on the way to achieving his goal. The person [Page 979] who regulates his speech rightly is the person who is going to make the most progress. This has ever been realised by all leaders of occult movements. That most occult order of Pythagoras at Crotona, and many other of the esoteric schools in Europe and Asia had a rule that all neophytes and probationers were not permitted to speak for two years after entering the school and when they had learned to keep silence for that period, they were given the right to speak, for they had learned a specific reticence.

Nếu một người thành công trong việc thấu hiểu ý nghĩa của lời nói, nếu y học được cách nói, khi nào nên nói, lời nói đem lại điều gì, và điều gì xảy ra khi y nói, thì y đang ở rất gần việc đạt được mục tiêu của mình. Người [Page 979] điều chỉnh lời nói của mình đúng đắn là người sẽ đạt được nhiều tiến bộ nhất. Điều này từ lâu đã được mọi nhà lãnh đạo của các phong trào huyền bí học chứng nghiệm. Dòng tu huyền bí nhất của Pythagoras tại Crotona, và nhiều trường phái bí truyền khác ở châu Âu và châu Á có một quy luật rằng mọi người sơ cơ và người trên Con Đường Dự Bị không được phép nói trong hai năm sau khi vào trường, và khi họ đã học được cách giữ im lặng trong khoảng thời gian ấy, họ được trao quyền nói, vì họ đã học được một sự kín tiếng đặc thù.

It might be of value here if students realised that every good speaker is doing a most occult work. A good lecturer (for instance) is one who is doing work that is analogous on a small scale to that done by the solar Logos. What did He do? He thought, He built, He vitalised. A lecturer, therefore, segregates the material with which he is going to build his lecture and which he is going to vitalise. Out of all the thought matter of the world he gathers together the substance which he individually seeks to use. Next he copies the work of the second Logos in wisely building it into form. He constructs the form, and then when it is constructed, he finishes up by playing the part of the first Person of the Trinity putting his Spirit, vitality and force into it so that it is a vibrant, living manifestation. When a lecturer or speaker of any kind can accomplish that, he can always hold his audience and his audience will always learn from him; they will recognise that which the thought form is intended to convey.

Ở đây sẽ có ích nếu các đạo sinh chứng nghiệm rằng mọi diễn giả giỏi đều đang làm một công việc hết sức huyền bí. Một giảng sư giỏi (chẳng hạn) là người đang làm một công việc tương tự trên quy mô nhỏ với công việc do Thái dương Thượng đế thực hiện. Ngài đã làm gì? Ngài đã suy tưởng, Ngài đã xây dựng, Ngài đã tiếp sinh lực. Vì vậy, một giảng sư phân tách chất liệu mà ông sẽ dùng để xây dựng bài giảng của mình và sẽ tiếp sinh lực cho nó. Từ toàn bộ vật chất tư tưởng của thế giới, ông tập hợp lại chất liệu mà cá nhân ông tìm cách sử dụng. Kế đó ông sao chép công việc của Logos thứ hai trong việc khôn ngoan xây dựng nó thành hình tướng. Ông kiến tạo hình tướng, và rồi khi nó đã được kiến tạo, ông hoàn tất bằng cách đóng vai Ngôi thứ nhất của Ba Ngôi, đặt Tinh thần, sinh lực và mãnh lực của mình vào đó để nó trở thành một biểu hiện sống động, rung động. Khi một giảng sư hay diễn giả thuộc bất kỳ loại nào có thể làm được điều đó, ông luôn luôn có thể giữ được thính giả của mình và thính giả của ông luôn luôn sẽ học được từ ông; họ sẽ nhận ra điều mà hình tư tưởng được dự định chuyển tải.

In everyday life when the student speaks, he is doing just the same thing, only the trouble frequently arises that in his speech he constructs something that is usually not worth while and vitalises it with the wrong kind of energy, so that the form, instead of being a constructive, vital, helpful force, is a destructive one in the world. If we study the various cosmologies of the world, we shall [Page 980] see that the process of creation was carried on by the means of sound or speech or the Word. We have it in the Christian Bible, “In the beginning was the Word, and the Word was God. All things were made by Him and without Him was not anything made that was made.” (Bible. John I.) Thus, according to the Christian teaching, the worlds were made by the Word of God.

Trong đời sống hằng ngày khi đạo sinh nói, y cũng đang làm đúng điều ấy, chỉ có điều rắc rối thường nảy sinh là trong lời nói của mình y kiến tạo một cái gì đó thường không đáng giá và tiếp sinh lực cho nó bằng loại năng lượng sai lầm, đến nỗi hình tướng ấy, thay vì là một mãnh lực có tính xây dựng, sống động, hữu ích, lại trở thành một mãnh lực phá hoại trong thế giới. Nếu chúng ta nghiên cứu các vũ trụ luận khác nhau của thế giới, chúng ta sẽ [Page 980] thấy rằng tiến trình sáng tạo đã được thực hiện bằng âm thanh hay lời nói hay Linh từ. Chúng ta có điều đó trong Kinh Thánh Cơ Đốc giáo, “Ban đầu có Linh từ, Linh từ ở cùng Thượng đế, và Linh từ là Thượng đế. Muôn vật được làm nên bởi Ngài và không có Ngài thì chẳng vật gì được làm nên mà đã được làm nên.” (Kinh Thánh. Giăng I.) Như vậy, theo giáo huấn Cơ Đốc giáo, các thế giới được tạo nên bởi Linh từ của Thượng đế.

In the Hindu Scriptures we will find that the Lord Vishnu, Who stands for the second Person of the Trinity, is called “The Voice.” He is the great Singer Who has built the worlds and the universe by His song. He is the Revealer of the thought of God Who has constructed the universe of solar systems. Just as the Christian speaks about the great Word, the Word of God, the Christ, so the Hindu speaks of Vishnu, the great Singer, creating by means of His song.

Trong Kinh điển Ấn giáo, chúng ta sẽ thấy rằng Chúa Vishnu, Đấng tượng trưng cho Ngôi thứ hai của Ba Ngôi, được gọi là “Tiếng Nói.” Ngài là Đại Ca Sĩ đã xây dựng các thế giới và vũ trụ bằng bài ca của Ngài. Ngài là Đấng Mặc Khải tư tưởng của Thượng đế, Đấng đã kiến tạo vũ trụ các hệ mặt trời. Cũng như tín đồ Cơ Đốc nói về Linh từ vĩ đại, Linh từ của Thượng đế, Đức Christ, thì tín đồ Ấn giáo nói về Vishnu, Đại Ca Sĩ, sáng tạo bằng bài ca của Ngài.

In physical plane manifestation, we are known by our speech; we are known by our reticence, by the things we say, and by the things we leave unsaid and are judged by the quality of our conversation. We think of people in terms of what they say, because their words disclose the type of thought-matter in which they work and the quality of energy or life which they put behind their words. To the various solar Logoi of the vast constellations that are apparent when we scan the starry heavens, the quality of the Logos of our solar system is seen through the medium of that great thought form He has built by the power of His speech, and which is energised by His particular quality of love. When God speaks, the worlds are made and at this present time He is only in process of speaking. He has not yet concluded what He has to say, and hence the present apparent imperfection. When that great divine phrase or sentence which occupies His thought is brought to a close, we [Page 981] will have a perfect solar system inhabited by perfect existences.

Trong biểu hiện cõi hồng trần, chúng ta được biết đến qua lời nói của mình; chúng ta được biết đến qua sự kín tiếng của mình, qua những điều chúng ta nói, và qua những điều chúng ta không nói ra, và được phán xét bởi phẩm tính của cuộc trò chuyện của mình. Chúng ta nghĩ về con người theo những gì họ nói, bởi vì lời nói của họ bộc lộ loại vật chất tư tưởng mà họ hoạt động trong đó và phẩm tính của năng lượng hay sự sống mà họ đặt đằng sau lời nói của mình. Đối với các Thái dương Thượng đế khác nhau của những chòm sao bao la hiện ra khi chúng ta ngắm bầu trời đầy sao, phẩm tính của Logos của hệ mặt trời chúng ta được thấy qua trung gian của hình tư tưởng vĩ đại mà Ngài đã xây dựng bằng quyền năng lời nói của Ngài, và được tiếp năng lượng bởi phẩm tính bác ái đặc thù của Ngài. Khi Thượng đế nói, các thế giới được tạo nên và vào thời điểm hiện tại Ngài vẫn chỉ đang trong tiến trình nói. Ngài vẫn chưa kết thúc điều Ngài phải nói, và do đó mới có sự bất toàn biểu kiến hiện nay. Khi cụm từ hay câu thiêng liêng vĩ đại ấy đang chiếm lĩnh tư tưởng của Ngài được hoàn tất, chúng ta [Page 981] sẽ có một hệ mặt trời hoàn hảo được cư ngụ bởi những sự tồn tại hoàn hảo.

Through speech a thought is evoked and becomes present; it is brought out of abstraction and out of a nebulous condition and materialised upon the physical plane, producing (could we but see it) something very definite on etheric levels. Objective manifestation is produced, for “Things are that which the Word makes them in naming them.” Speech is literally a great magical force, and the adepts or white magicians, through knowledge of the forces and power of silence and of speech, can produce effects upon the physical plane. As we well know, there is a branch of magical work which consists in the utilisation of this knowledge in the form of Words of Power and of those mantrams and formulae which set in motion the hidden energies of nature and call the devas to their work.

Qua lời nói, một tư tưởng được gợi lên và trở nên hiện diện; nó được đưa ra khỏi trạng thái trừu tượng và khỏi tình trạng mơ hồ và được hiện hình trên cõi hồng trần, tạo ra (nếu chúng ta có thể thấy được) một điều gì đó rất xác định trên các cấp dĩ thái. Biểu hiện khách quan được tạo ra, vì “Sự vật là điều mà Linh từ làm cho chúng thành ra khi gọi tên chúng.” Lời nói theo nghĩa đen là một mãnh lực huyền thuật lớn lao, và các chân sư hay các nhà huyền thuật chánh đạo, nhờ hiểu biết về các mãnh lực và quyền năng của im lặng và của lời nói, có thể tạo ra các hiệu quả trên cõi hồng trần. Như chúng ta đều biết rõ, có một ngành công việc huyền thuật bao gồm việc sử dụng tri thức này dưới hình thức các Quyền năng từ và những mantram cùng công thức làm chuyển động các năng lượng ẩn giấu của bản chất và kêu gọi các thiên thần vào công việc của họ.

Speech is one of the keys which opens the doors of communication between men and subtler beings. It gives the clue to the discovery of those entities who are contacted on the other side of the veil. But only he who has learned to keep silent, and has arrived at the knowledge of the times to speak can pass this veil and make certain esoteric contacts. Magic consists, we are told in the Secret Doctrine, in addressing the Gods in Their own language; therefore, the speech of average man cannot reach Them.

Lời nói là một trong những chìa khóa mở ra các cánh cửa giao tiếp giữa con người và các hữu thể vi tế hơn. Nó cung cấp đầu mối cho việc khám phá những thực thể được tiếp xúc ở phía bên kia bức màn. Nhưng chỉ người nào đã học được cách giữ im lặng, và đã đạt đến tri thức về những lúc nên nói, mới có thể vượt qua bức màn này và tạo ra những tiếp xúc nội môn xác thực. Huyền thuật, như chúng ta được bảo trong Giáo Lý Bí Nhiệm, là việc xưng hô với các Thượng đế bằng chính ngôn ngữ của Các Ngài; vì vậy, lời nói của con người trung bình không thể vươn tới Các Ngài.

Therefore, those who seek to learn the occult language, those who yearn to become aware of the words which will penetrate to the ears of those who stand on the other side, and those who seek to utilise the formulae and phrases which will give them power over the Builders, have to unlearn their previous use of words and to refrain from ordinary methods of talking. Then the new language will be theirs and the new expressions, words, mantrams and formulas will be entrusted to their care.

Vì vậy, những ai tìm cách học ngôn ngữ huyền bí, những ai khát khao trở nên nhận biết các lời sẽ thấu đến tai của những vị đứng ở phía bên kia, và những ai tìm cách sử dụng các công thức và cụm từ sẽ cho họ quyền năng đối với các đấng kiến tạo, phải từ bỏ cách dùng lời nói trước đây của mình và kiêng các phương pháp nói chuyện thông thường. Khi đó ngôn ngữ mới sẽ là của họ và các cách diễn đạt mới, các lời, các mantram và các công thức sẽ được giao phó cho họ gìn giữ.

[Page 982] The laws of speech are the laws of matter and students can apply the laws governing physical plane substance to their use of words, for it concerns the manipulation of matter on other levels. Speech is the great medium whereby we make apparent the nature of the little system we are constructing—that system of which each human unit is the central sun, for under the Law of Attraction he draws to himself that which he needs.

[Page 982] Các định luật của lời nói là các định luật của vật chất và các đạo sinh có thể áp dụng các định luật chi phối chất liệu cõi hồng trần vào việc sử dụng lời nói của mình, vì điều đó liên quan đến sự vận dụng vật chất trên các cấp độ khác. Lời nói là môi giới lớn lao nhờ đó chúng ta làm hiển lộ bản chất của hệ thống nhỏ bé mà chúng ta đang kiến tạo—hệ thống mà trong đó mỗi đơn vị nhân loại là mặt trời trung tâm, vì dưới Định luật Hấp Dẫn y thu hút về mình điều y cần.

2. The Nature of Magic. (292)

2. Bản chất của huyền thuật. (292)

(292) Magic.—S. D., I, 284.

(292) Huyền thuật.—S. D., I, 284.

1. Magic is a divine science which leads to a participation in the attributes of divinity itself.—Isis Unveiled, I, 25-27.

1. Huyền thuật là một khoa học thiêng liêng dẫn đến sự tham dự vào chính các thuộc tính của thiên tính.—Isis Unveiled, I, 25-27.

2. All magical operations consist in freeing oneself from the coils of the Ancient Serpent.—Isis Unveiled, I, 138.

2. Mọi hoạt động huyền thuật đều bao gồm việc tự giải thoát khỏi những vòng cuộn của Con Rắn Cổ Xưa.—Isis Unveiled, I, 138.

3. The object of the art of magic is the perfection of man.—Isis Unveiled, I, 309.

3. Mục đích của nghệ thuật huyền thuật là sự hoàn thiện của con người.—Isis Unveiled, I, 309.

4. Magic explores the essence and power of everything.—Isis Unveiled, I, 282; S. D., II, 538.

4. Huyền thuật thăm dò tinh túy và quyền năng của mọi sự vật.—Isis Unveiled, I, 282; S. D., II, 538.

5. Magic and magnetism are synonymous terms.—Isis Unveiled, I, 279.

5. Huyền thuật và từ điện là những thuật ngữ đồng nghĩa.—Isis Unveiled, I, 279.

6. Magic is the sum-total of natural knowledge.—Isis Unveiled, II, 99, 189.

6. Huyền thuật là tổng thể của tri thức tự nhiên.—Isis Unveiled, II, 99, 189.

7. Magic does not imply a transgression of the laws of nature.—Isis Unveiled, I, Preface.

7. Huyền thuật không hàm ý sự vi phạm các định luật của bản chất.—Isis Unveiled, I, Preface.

The Basis of Magic.

Nền tảng của huyền thuật.

1. Magic is based on the inner powers in man’s soul.—Isis Unveiled, I, 459.

1. Huyền thuật dựa trên các quyền năng bên trong trong linh hồn con người.—Isis Unveiled, I, 459.

2. The trinity of nature is the lock of magic, the trinity of man the key that fits it.—Isis Unveiled, II, 635.

2. Bộ ba của bản chất là ổ khóa của huyền thuật, bộ ba của con người là chìa khóa vừa khít với nó.—Isis Unveiled, II, 635.

3. Magic is occult psychology.—Isis Unveiled, I, 612-616.

3. Huyền thuật là tâm lý học huyền bí.—Isis Unveiled, I, 612-616.

4. The astral light is the chief agent of magic.—Isis Unveiled, I, 128, 616; S. D., I, 275; II, 537. (back)

4. Ánh sáng cảm dục là tác nhân chính của huyền thuật.—Isis Unveiled, I, 128, 616; S. D., I, 275; II, 537. (back)

We have considered somewhat at length the building of thought forms, and have seen that the process pursued by man is analogous to that pursued by the threefold Logos in the creation of the solar system. We are to deal now with that great department in occultism which is usually termed magic. The man who masters the esoteric significance of what is here said will take his place in the ranks of those entitled to call themselves the “Brothers of White Magic.” The subject is too immense to be more than briefly touched upon, for it covers [Page 983] the entire range of endeavour in the field of material construction.

Chúng ta đã xem xét khá dài về việc xây dựng các hình tư tưởng, và đã thấy rằng tiến trình con người theo đuổi là tương tự với tiến trình được Logos tam phân theo đuổi trong việc sáng tạo hệ mặt trời. Giờ đây chúng ta sẽ bàn đến bộ môn lớn lao trong huyền bí học thường được gọi là huyền thuật. Người nào làm chủ được ý nghĩa bí truyền của điều được nói ở đây sẽ chiếm chỗ của mình trong hàng ngũ những người có quyền gọi mình là “Huynh Đệ của Chánh Thuật.” Chủ đề này quá bao la nên không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ chạm đến một cách ngắn gọn, vì nó bao trùm [Page 983] toàn bộ phạm vi nỗ lực trong lĩnh vực kiến tạo vật chất.

We must deal first with the mental attitude of man as he faces the work of creation, and his ability to bring through, via the mental body, the purpose of the Ego, thereby impressing the building agents on the mental plane with a certain rate of rhythm, and a certain vibratory activity. This is the prime factor which results (on the physical plane) in direct egoic activity. We must also bear in mind, that in the consideration of this matter we are not dealing with the every day work of average man, but are speaking of the organised creative work, under law and rule, of the advanced man. We thereby set a standard and emphasise the ideal towards which occult students should strive.

Trước hết chúng ta phải bàn đến thái độ trí tuệ của con người khi y đối diện với công việc sáng tạo, và khả năng của y trong việc mang xuyên qua, qua thể trí, mục đích của chân ngã, nhờ đó ghi dấu lên các tác nhân kiến tạo trên cõi trí một nhịp điệu nhất định, và một hoạt động rung động nhất định. Đây là yếu tố chủ yếu dẫn đến (trên cõi hồng trần) hoạt động chân ngã trực tiếp. Chúng ta cũng phải ghi nhớ rằng, trong việc xem xét vấn đề này, chúng ta không bàn đến công việc hằng ngày của con người trung bình, mà đang nói đến công việc sáng tạo có tổ chức, dưới định luật và quy luật, của con người tiến bộ. Nhờ đó chúng ta đặt ra một tiêu chuẩn và nhấn mạnh lý tưởng mà các đạo sinh huyền bí học nên phấn đấu hướng tới.

We must also consider the work of the wise magical student upon the astral plane, whereon, through purified desire and sanctified emotion, he provides those equilibrised conditions and those stable vibrations, which will permit of the transmission without hindrance to the physical plane via the physical brain of the man, of the vibratory activity emanating from the Ego, and of the circulatory action of the higher force. Hence (if a remark of a practical nature may be interpolated for the average student) the cultivation of emotional tranquillity is one of the first steps towards the achievement of the needed equipment of the white magician. This tranquillity is not to be achieved by an effort of the will which succeeds in strangling all astral vibratory activity, but by the cultivation of response to the Ego, and a negation of all response to the inherent vibration of the astral sheath itself.

Chúng ta cũng phải xem xét công việc của đạo sinh huyền thuật minh triết trên cõi cảm dục, nơi mà, thông qua dục vọng được thanh lọc và cảm xúc được thánh hiến, y cung cấp những điều kiện quân bình và những rung động ổn định cho phép hoạt động rung động phát ra từ chân ngã, và hoạt động tuần hoàn của mãnh lực cao hơn, được truyền xuống cõi hồng trần không bị cản trở qua bộ não vật lý của con người. Do đó (nếu có thể xen vào một nhận xét có tính thực tiễn cho đạo sinh trung bình) việc trau dồi sự tĩnh lặng cảm xúc là một trong những bước đầu tiên hướng tới việc đạt được trang bị cần thiết của nhà huyền thuật chánh đạo. Sự tĩnh lặng này không đạt được bằng một nỗ lực của ý chí thành công trong việc bóp nghẹt mọi hoạt động rung động cảm dục, mà bằng việc trau dồi sự đáp ứng với chân ngã, và phủ nhận mọi đáp ứng đối với rung động cố hữu của chính vỏ bọc cảm dục.

We will take up the work of force transmission on the physical plane via the etheric centres and the physical brain, studying somewhat the effect of sound as it is emitted unconsciously in everyday speech, and consciously [Page 984] in the ordered regulated words of the true worker in magic. (293)

Chúng ta sẽ xét đến công việc truyền dẫn mãnh lực trên cõi hồng trần qua các trung tâm dĩ thái và bộ não vật lý, nghiên cứu phần nào tác động của âm thanh khi nó được phát ra một cách vô thức trong lời nói hằng ngày, và một cách hữu thức [Page 984] trong những lời nói có trật tự và được điều chỉnh của người hoạt động chân chính trong huyền thuật. (293)

(293) Magic.—The very word Magic bears within itself proof of its high origin. The Latin Magus, the Greek Magos, a magician, gives us all those other words that are so indicative of authority, wisdom, superiority. Then we have magnitude, magnificent, magniloquent, to express greatness in position, in action and in speech. With the termination slightly changed the same words become majesty, implying dominion, and again, we have magistrate, anything that is magisterial which again has been simplified into Master, and finally by the process of word evolution has become plain Mister. But the Latin is only a transmitter of words. We can equally follow up the historical development of this root until we reach the Zend where we find it doing duty as the name for the whole priestly caste. The magi were renowned all over the world for their wisdom and skill in occultism and no doubt our word magic is mostly indebted to that source for its present existence and meaning. That we need not pause even here for back of the Zend “mag,” “looms up the Sanskrit, maha, signifying great.” It is thought by good scholars that maha was originally spelled magha. To be sure, there is in the Sanskrit the word Maga meaning a priest of the Sun, but this was evidently a later borrowing from the Zend which had originally derived its root from its neighbor the Sanskrit.—Lucifer, Vol. X, p. 157. (back)

(293) Huyền thuật.—Chính từ Magic đã mang trong nó bằng chứng về nguồn gốc cao quý của nó. Từ Latin Magus, từ Hy Lạp Magos, một nhà huyền thuật, cho chúng ta tất cả những từ khác rất biểu thị quyền uy, minh triết, sự vượt trội. Rồi chúng ta có magnitude, magnificent, magniloquent, để diễn tả sự vĩ đại trong địa vị, trong hành động và trong lời nói. Khi phần kết thúc thay đổi đôi chút, những từ ấy trở thành majesty, hàm ý quyền thống trị, và rồi chúng ta có magistrate, bất cứ điều gì mang tính magisterial, mà lại được đơn giản hóa thành Master, và cuối cùng qua tiến trình tiến hoá của ngôn từ đã trở thành từ plain Mister. Nhưng tiếng Latin chỉ là một kẻ truyền tải từ ngữ. Chúng ta cũng có thể lần theo sự phát triển lịch sử của gốc từ này cho đến khi chạm đến tiếng Zend, nơi chúng ta thấy nó được dùng như tên gọi cho toàn bộ giai cấp tư tế. Các magi nổi tiếng khắp thế giới vì minh triết và kỹ năng của họ trong huyền bí học và chắc chắn từ magic của chúng ta phần lớn mắc nợ nguồn đó về sự tồn tại và ý nghĩa hiện nay của nó. Chúng ta không cần dừng lại ngay cả ở đây vì đằng sau từ “mag” của tiếng Zend, “hiện lên từ tiếng Phạn maha, có nghĩa là vĩ đại.” Các học giả giỏi cho rằng maha nguyên thủy được viết là magha. Quả thật, trong tiếng Phạn có từ Maga nghĩa là một tư tế của Mặt Trời, nhưng rõ ràng đây là một sự vay mượn muộn hơn từ tiếng Zend, mà bản thân nó nguyên thủy đã rút gốc từ người láng giềng là tiếng Phạn.—Lucifer, Vol. X, p. 157. (back)

In this connection, therefore, owing to the vital practical value of this section, and to the dangers attendant upon a comprehension of these matters by those who are as yet unready for the work of conscious manipulation of force, it is proposed to impart the necessary teaching under the formula of “Rules of Magic,” with certain elucidating comments. In this way, the magical work is fully safeguarded, and at the same time sufficient is imparted to those who have the inner ear attentive, and the eye of wisdom in process of opening.

Vì vậy, trong mối liên hệ này, do giá trị thực tiễn sống còn của phần này, và do những nguy hiểm đi kèm với sự thấu hiểu các vấn đề này bởi những người còn chưa sẵn sàng cho công việc vận dụng mãnh lực một cách hữu thức, nên dự định sẽ truyền đạt giáo huấn cần thiết dưới công thức “Các Quy Luật của Huyền Thuật,” kèm theo một số nhận xét làm sáng tỏ. Bằng cách này, công việc huyền thuật được bảo vệ đầy đủ, đồng thời vẫn truyền đạt đủ cho những ai có nội nhĩ chăm chú và con mắt minh triết đang trong tiến trình mở ra.

a. Black Magicians and White. Much is said among occult students these days anent white and black magic, (294) and much that is said is without force, or truth. It has [Page 985] been truly said that between the two types of workers, the line of demarcation is so slight as to be difficult of recognition by those who, as yet, merit not the term “knower.”

a. Các nhà hắc thuật và nhà huyền thuật chánh đạo. Ngày nay, giữa các đạo sinh huyền bí học, người ta nói nhiều về chánh thuật và hắc thuật, (294) và nhiều điều được nói ra là không có mãnh lực, hoặc không có chân lý. Đã [Page 985] từng được nói rất đúng rằng giữa hai loại người hoạt động này, ranh giới phân định mong manh đến mức khó được nhận ra bởi những ai, hiện còn chưa xứng đáng với danh xưng “thức giả.”

(294) Magic.—The art of divine Magic consists in the ability to perceive the essence of things in the light of nature (astral light), and—by using the soul-powers of the Spirit—to produce material things from the unseen universe, and in such operations the Above and the Below must be brought together and made to act harmoniously.—S. D., II, 538.

(294) Huyền thuật.—Nghệ thuật của Huyền thuật thiêng liêng bao gồm khả năng nhận biết tinh túy của sự vật trong ánh sáng của bản chất (ánh sáng cảm dục), và—bằng cách sử dụng các quyền năng linh hồn của Tinh thần—tạo ra các sự vật vật chất từ vũ trụ vô hình, và trong những hoạt động như thế, Cái Trên và Cái Dưới phải được đưa lại gần nhau và làm cho hoạt động hài hòa.—S. D., II, 538.

Magic is the second of the four Vidyas, and is the great maha-Vidya in the Tantric writings. It needs the light of the fourth vidya (atmavidya) thrown on it in order to be White magic.—S. D., I, 192.

Huyền thuật là vidya thứ hai trong bốn Vidya, và là đại maha-Vidya trong các trước tác Tantra. Nó cần ánh sáng của vidya thứ tư (atmavidya) chiếu lên nó để trở thành chánh thuật.—S. D., I, 192.

Black Magic is defined by H. P. B. as follows:

Hắc thuật được H. P. B. định nghĩa như sau:

a. Black magic employs the astral light for purposes of deception and seduction, whereas the white magician employs it for purposes of information, and the aiding of evolution.—S. D., I, 274.

a. Hắc thuật sử dụng ánh sáng cảm dục cho các mục đích lừa dối và quyến dụ, trong khi nhà huyền thuật chánh đạo sử dụng nó cho các mục đích thông tin, và trợ giúp tiến hoá.—S. D., I, 274.

b. Black magic works with opposing poles. The white magician seeks the point of equilibrium or balance, and of synthesis.—S. D., I, 448.

b. Hắc thuật hoạt động với các cực đối nghịch. Nhà huyền thuật chánh đạo tìm kiếm điểm quân bình hay cân bằng, và sự tổng hợp.—S. D., I, 448.

c. Black magic has for its symbol the inverted 5-pointed star. White magic uses the same symbol with the point uppermost.

c. Hắc thuật có biểu tượng là ngôi sao năm cánh đảo ngược. Chánh thuật dùng cùng biểu tượng ấy với một đỉnh hướng lên trên.

d. Black magic is maha-vidya without the light of atma-vidya. White magic is maha-vidya illumined by atma-vidya.—S. D., I, 592.

d. Hắc thuật là maha-vidya không có ánh sáng của atma-vidya. Chánh thuật là maha-vidya được soi sáng bởi atma-vidya.—S. D., I, 592.

e. Black magic is ruled over by the moon. White magic is ruled over by the sun.

e. Hắc thuật được mặt trăng cai quản. Chánh thuật được mặt trời cai quản.

f. Black and white magic arose during the great schism which started during the fourth root-race.—S. D., II, 221, 445, 520.

f. Hắc thuật và chánh thuật phát sinh trong cuộc phân ly lớn bắt đầu vào giống dân gốc thứ tư.—S. D., II, 221, 445, 520.

g. Black magic is based on the degradation of sex and of the creative function.

g. Hắc thuật dựa trên sự đồi bại của tính dục và của chức năng sáng tạo.

White magic is based on the transmutation of the creative faculty into the higher creative thought, the generative organs being neglected by the inner fire, which passes to the throat, the centre of creative sound.

Chánh thuật dựa trên sự chuyển hoá năng lực sáng tạo thành tư tưởng sáng tạo cao hơn, các cơ quan sinh dục bị lửa bên trong bỏ qua, lửa này chuyển lên cổ họng, trung tâm của âm thanh sáng tạo.

h. Black magic deals with the forces of involution.

h. Hắc thuật bàn đến các mãnh lực của giáng hạ tiến hoá.

White magic works with the powers of evolution.

Chánh thuật hoạt động với các quyền năng của tiến hoá.

i. Black magic is concerned with the form, with matter.

i. Hắc thuật liên quan đến hình tướng, đến vật chất.

White magic is concerned with the life within the form, with Spirit. (back)

Chánh thuật liên quan đến sự sống bên trong hình tướng, đến Tinh thần. (back)

The distinction between the two exists in both motive and method, and might be summed up as follows:

Sự phân biệt giữa hai loại này tồn tại cả trong động cơ lẫn phương pháp, và có thể được tóm lược như sau:

The white magician has for motive that which will be of benefit to the group for whom he is expending his energy and time. The magician of the left hand path ever works alone, or if he at any time co-operates with others, it is with a hidden selfish purpose. The exponent of white magic interests himself in the work of constructive endeavour in order to co-operate in hierarchical plans, and to further the desires of the planetary Logos. The Brother of Darkness occupies himself with that which lies outside the plans of the Hierarchy and with that which is not included in the purpose of the Lord of the planetary Ray.

Nhà huyền thuật chánh đạo có động cơ là điều sẽ mang lại lợi ích cho nhóm mà y đang dành năng lượng và thời gian của mình cho họ. Nhà huyền thuật của tả đạo luôn luôn hoạt động một mình, hoặc nếu có lúc nào đó hợp tác với người khác, thì cũng là với một mục đích ích kỷ ẩn giấu. Người thực hành chánh thuật quan tâm đến công việc nỗ lực có tính xây dựng để hợp tác trong các kế hoạch của Thánh đoàn, và thúc đẩy các mục đích của Hành Tinh Thượng đế. Huynh đệ bóng tối bận tâm với điều nằm bên ngoài các kế hoạch của Thánh đoàn và với điều không được bao gồm trong mục đích của Chúa Tể của cung hành tinh.

The white magician, as has been earlier said, works entirely through the greater Deva Builders, and through sound and numbers he blends their work, and thus influences the lesser Builders who form the substance of their bodies, and therefore of all that is. He works [Page 986] through group centres and vital points of energy, and from thence produces, in substance, the desired results. The dark brother works directly with substance itself, and with the lesser builders; He does not co-operate with the forces which emanate from egoic levels. The lesser cohorts of the “Army of the Voice” are his servants, and not the directing Intelligences in the three worlds, and he therefore works primarily on the astral and physical planes, only in rare cases working with the mental forces, and only in a few special cases, hidden in cosmic karma, is a black magician found working on the higher mental levels. Yet the cases which are there to be discovered are the main contributing causes of all manifesting black magic.

Nhà huyền thuật chánh đạo, như đã nói trước đây, hoàn toàn hoạt động thông qua các Đại Thiên Thần Kiến Tạo, và qua âm thanh cùng các con số, y hòa trộn công việc của các vị ấy, và như thế ảnh hưởng đến các vị tiểu kiến tạo tạo thành chất liệu của các thể của các vị ấy, và do đó của mọi cái đang hiện hữu. Y hoạt động [Page 986] thông qua các trung tâm nhóm và các điểm năng lượng sinh động, và từ đó tạo ra, trong chất liệu, các kết quả mong muốn. Huynh đệ bóng tối hoạt động trực tiếp với chính chất liệu, và với các vị tiểu kiến tạo; hắn không hợp tác với các mãnh lực phát ra từ các cấp chân ngã. Các đạo quân nhỏ hơn của “Đạo Quân của Tiếng Nói” là những kẻ phục vụ của hắn, chứ không phải các Trí Tuệ chỉ đạo trong ba cõi thấp, và vì vậy hắn hoạt động chủ yếu trên cõi cảm dục và cõi hồng trần, chỉ trong những trường hợp hiếm hoi mới hoạt động với các mãnh lực trí tuệ, và chỉ trong một vài trường hợp đặc biệt, ẩn giấu trong nghiệp quả vũ trụ, người ta mới thấy một nhà hắc thuật hoạt động trên các cấp thượng trí. Tuy nhiên, những trường hợp có thể được phát hiện ở đó lại là các nguyên nhân đóng góp chủ yếu cho mọi hắc thuật đang biểu hiện.

The Brother of Light works ever through the inherent force of the second aspect as long as he is functioning in connection with the three lower planes. After the third Initiation, he works increasingly with spiritual energy, or with the force of the first aspect. He impresses the lower substances, and manipulates the lesser building lives with the vibration of love, and the attractive coherency of the Son, and through wisdom the forms are built. He learns to work from the heart, and therefore to manipulate that energy which streams from the “Heart of the Sun” until (when he becomes a Buddha) he can dispense somewhat the force emanating from the “Spiritual Sun.” Therefore, the heart centre in the Brother of the right hand path is the transmitting agency for the building force, and the triangle he uses in this work is

Huynh Đệ của Ánh Sáng luôn luôn hoạt động qua mãnh lực cố hữu của phương diện thứ hai chừng nào y còn đang hoạt động liên hệ với ba cõi thấp. Sau lần điểm đạo thứ ba, y ngày càng hoạt động nhiều hơn với năng lượng tinh thần, hay với mãnh lực của phương diện thứ nhất. Y gây ấn tượng lên các chất liệu thấp hơn, và điều khiển các sự sống kiến tạo nhỏ hơn bằng rung động của bác ái, và sự cố kết hấp dẫn của Con, và nhờ minh triết mà các hình tướng được xây dựng. Y học cách hoạt động từ tim, và do đó điều khiển năng lượng tuôn chảy từ “Trái Tim của Mặt Trời” cho đến khi (khi y trở thành một vị Phật) y có thể phần nào phân phát mãnh lực phát ra từ “Mặt Trời Tinh thần.” Vì vậy, trung tâm tim nơi huynh đệ của chánh đạo là tác nhân truyền dẫn mãnh lực kiến tạo, và tam giác mà y sử dụng trong công việc này là

a. The centre in the head which corresponds to the heart.

a. Trung tâm trong đầu tương ứng với tim.

b. The heart centre itself.

b. Chính trung tâm tim.

c. The throat centre.

c. Trung tâm cổ họng.

The Brothers of the left hand path work with the forces of the third aspect entirely, and this it is which [Page 987] gives them so much apparent power, for the second aspect is only in process of reaching its vibratory consummation, whereas the third aspect is at the height of its vibratory activity, being the product of the evolutionary processes of the preceding major solar system. He works from the throat centre almost entirely, and manipulates primarily the forces of the physical sun. This is the reason why he achieves many of his ends through the method of pranic stimulation or of pranic devitalisation, and why, also, most of his effects are carried out on the physical plane. He works, therefore, through

Các huynh đệ của tả đạo hoàn toàn hoạt động với các mãnh lực của phương diện thứ ba, và chính điều này [Page 987] đem lại cho họ rất nhiều quyền năng bề ngoài, vì phương diện thứ hai chỉ mới đang trong tiến trình đạt đến sự viên mãn rung động của nó, trong khi phương diện thứ ba đang ở đỉnh cao hoạt động rung động của nó, là sản phẩm của các tiến trình tiến hoá của hệ mặt trời lớn trước đây. Y hầu như hoạt động hoàn toàn từ trung tâm cổ họng, và chủ yếu điều khiển các mãnh lực của mặt trời hồng trần. Đây là lý do tại sao y đạt được nhiều mục đích của mình qua phương pháp kích thích prana hoặc làm mất sinh lực prana, và cũng là lý do tại sao phần lớn các hiệu quả của y được thực hiện trên cõi hồng trần. Vì vậy, y hoạt động qua

a. The centre in the head corresponding to the throat centre.

a. Trung tâm trong đầu tương ứng với trung tâm cổ họng.

b. The throat centre.

b. Trung tâm cổ họng.

c. The centre at the base of the spine.

c. Trung tâm ở đáy cột sống.

The white magician works always in co-operation with others, and is himself under the direction of certain group Heads. For instance, the Brothers of the White Lodge work under the three great Lords and conform to the plans laid down, subordinating Their individual purposes and ideas to the great general scheme. The black magician usually works in an intensely individualistic way, and can be seen carrying out his schemes alone, or with the aid of subordinates. He brooks usually no known superior, but is nevertheless frequently the victim of agents on higher levels of cosmic evil, who use him as he uses his inferior co-operators, that is, he works (as far as the bigger purpose is involved) blindly and unconsciously.

Nhà huyền thuật chánh đạo luôn luôn hoạt động trong sự hợp tác với những người khác, và chính y cũng ở dưới sự chỉ đạo của một số Vị Đầu nhóm. Chẳng hạn, các Huynh Đệ của Thánh đoàn hoạt động dưới ba Đấng Chúa Tể vĩ đại và tuân theo các kế hoạch đã được vạch ra, đặt các mục đích và ý tưởng cá nhân của Các Ngài dưới đại thể tổng quát. Nhà hắc thuật thường hoạt động theo cách hết sức cá nhân chủ nghĩa, và có thể được thấy đang thực hiện các mưu đồ của y một mình, hoặc với sự trợ giúp của các thuộc hạ. Y thường không dung nạp một cấp trên nào được biết đến, nhưng tuy vậy lại thường là nạn nhân của các tác nhân ở những cấp độ cao hơn của điều ác vũ trụ, những kẻ sử dụng y như y sử dụng các cộng sự viên thấp hơn của mình, nghĩa là y hoạt động (xét theo mục đích lớn hơn có liên quan) một cách mù quáng và vô thức.

The white magician, as is well known, works on the side of evolution or in connection with the Path of Return. The black brother occupies himself with the forces of involution, or with the Path of Outgoing. They form the great balancing force in evolution, and though they [Page 988] are occupied with the material side of manifestation and the Brother of Light is concerned with the aspect of soul or consciousness, they and their work, under the great law of evolution, contribute to the general purpose of the solar Logos, though (and this is of tremendous occult significance to the illuminated student) not to the individual purpose of the planetary Logos.

Như ai cũng biết, nhà huyền thuật chánh đạo hoạt động về phía tiến hoá hay liên hệ với Con Đường Trở Về. Huynh đệ bóng tối bận tâm với các mãnh lực của giáng hạ tiến hoá, hay với Con Đường Đi Ra. Họ tạo thành mãnh lực quân bình lớn trong tiến hoá, và mặc dù họ [Page 988] bận rộn với phương diện vật chất của biểu hiện và Huynh Đệ của Ánh Sáng quan tâm đến phương diện linh hồn hay tâm thức, họ và công việc của họ, dưới định luật tiến hoá vĩ đại, vẫn góp phần vào mục đích tổng quát của Thái dương Thượng đế, dù rằng (và điều này có ý nghĩa huyền bí vô cùng to lớn đối với đạo sinh được soi sáng) không góp phần vào mục đích cá biệt của Hành Tinh Thượng đế.

Finally, it might be briefly said in connection with the distinctions between magicians that the magician of the Good Law works with the soul of things. His brothers of darkness work with the material aspect.

Sau cùng, có thể nói vắn tắt liên quan đến những khác biệt giữa các nhà huyền thuật rằng nhà huyền thuật của Định luật Thiện làm việc với linh hồn của vạn vật. Các huynh đệ bóng tối của y làm việc với phương diện vật chất.

The white magician works through the force centres, on the first and fourth subplanes of each plane. The black magician works through the permanent atoms, and with the substance and forms concerned. The white magician utilises in this connection the higher three centres. The black magician uses the energy of the lower three centres (the organs of generation, the spleen, and the solar plexus) synthesising their energy by an act of the will and directing it to the centre at the base of the spine, so that the fourfold energy is thence transmitted to the throat centre.

Nhà huyền thuật chánh đạo hoạt động qua các trung tâm lực, trên cõi phụ thứ nhất và thứ tư của mỗi cõi. Nhà hắc thuật hoạt động qua các Nguyên tử trường tồn, và với chất liệu cùng các hình tướng liên quan. Nhà huyền thuật chánh đạo sử dụng trong mối liên hệ này ba trung tâm cao hơn. Nhà hắc thuật dùng năng lượng của ba trung tâm thấp hơn (các cơ quan sinh dục, luân xa lá lách, và tùng thái dương), tổng hợp năng lượng của chúng bằng một hành vi của ý chí và hướng nó đến trung tâm ở đáy cột sống, để từ đó năng lượng tứ phân được truyền đến trung tâm cổ họng.

The white magician uses the kundalini force as it is transmitted via the central spinal channel. The black magician uses the inferior channels, dividing the fourfold energy in two units, which mount via the two channels, leaving the central one dormant. Hence it will be apparent that one works with duality and the other with unity. On the planes of duality, therefore, it is apparent why the black magician has so much power. The plane of unity for humanity is the mental plane. The planes of diversity are the astral and the physical. Hence the black magician is of more apparent power than the white brother on the two lower planes in the three worlds.

Huynh đệ chánh đạo sử dụng mãnh lực kundalini khi nó được truyền qua ống tủy sống trung ương. Nhà hắc thuật sử dụng các đường dẫn thấp kém hơn, chia năng lượng tứ phân thành hai đơn vị, đi lên qua hai đường dẫn, để đường trung ương ở trạng thái ngủ yên. Do đó sẽ thấy rõ rằng một bên làm việc với nhị nguyên tính và bên kia với hợp nhất. Vì vậy, trên các cõi của nhị nguyên tính, hiển nhiên là tại sao nhà hắc thuật lại có nhiều quyền năng đến thế. Cõi của hợp nhất đối với nhân loại là cõi trí. Các cõi của tính đa tạp là cõi cảm dục và cõi hồng trần. Do đó nhà hắc thuật có quyền năng bề ngoài lớn hơn huynh đệ chánh đạo trên hai cõi thấp trong ba cõi giới.

The white brother works under the Hierarchy, or under the great King, carrying out His planetary purposes. [Page 989] The dark brother works under certain separated Entities, unknown to him, who are connected with the forces of matter itself. Much more could be given in this connection, but what is here imparted suffices for our purpose.

Huynh đệ chánh đạo hoạt động dưới Thánh đoàn, hay dưới Đức Vua vĩ đại, thi hành các mục đích hành tinh của Ngài. [Page 989] Huynh đệ bóng tối hoạt động dưới một số Thực Thể biệt lập nào đó, y không biết đến, những Thực Thể này liên hệ với chính các mãnh lực của vật chất. Có thể trình bày nhiều hơn nữa về điểm này, nhưng điều được truyền đạt ở đây là đủ cho mục đích của chúng ta.

b. The Source of Black Magic. In touching upon this point, we are trespassing into the realms of the mystery and the domain of the inexplicable. Certain statements can, however, be made here which, if pondered upon, may throw a little light upon this dark subject.

b. Nguồn gốc của Hắc thuật. Khi chạm đến điểm này, chúng ta đang bước vào các lĩnh vực của huyền nhiệm và miền của điều không thể giải thích. Tuy nhiên, ở đây có thể nêu ra một số phát biểu mà nếu được suy gẫm, có thể soi rọi đôi chút lên chủ đề tối tăm này.

First. It should be remembered that the whole subject of planetary evil (and students must distinguish carefully between planetary and cosmic evil) lies hid in the individual life cycles and in the history of the Great Being who is the planetary Logos of the Earth. Therefore, until a man has taken certain initiations and thus achieved a measure of planetary consciousness, it is useless for him to speculate upon that record. H. P. B. has touched, in the Secret Doctrine, (III, 62; Section 6, page 67.) upon the subject of “the imperfect Gods,” and in these words lies the key to planetary evil.

Thứ nhất. Cần ghi nhớ rằng toàn bộ chủ đề về điều ác hành tinh (và các đạo sinh phải phân biệt cẩn thận giữa điều ác hành tinh và điều ác vũ trụ) được ẩn giấu trong các chu kỳ sống cá biệt và trong lịch sử của Đấng Vĩ Đại là Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất. Vì vậy, cho đến khi một người đã trải qua một số điểm đạo nhất định và nhờ đó đạt được một mức độ tâm thức hành tinh, thì việc suy đoán về biên niên đó là vô ích. H.P.B. đã đề cập, trong Giáo Lý Bí Nhiệm, (III, 62; Phần 6, trang 67.) đến chủ đề “các Thượng đế bất toàn,” và trong những lời này có chìa khóa của điều ác hành tinh.

Second. It might briefly be said that, as far as our humanity is concerned, the terms planetary evil and cosmic evil might be interpreted thus:

Thứ hai. Có thể nói vắn tắt rằng, xét theo nhân loại chúng ta, các thuật ngữ điều ác hành tinh và điều ác vũ trụ có thể được diễn giải như sau:

Planetary evil arises from certain relations existing between our planetary Logos and another planetary Logos. When this condition of polar opposition is adjusted, then planetary evil will cease. The adjustment will be brought about through the mediation (occultly understood) of a third planetary Logos. These three will eventually form an equilateral triangle, and then planetary evil will cease. Free circulation will ensue; planetary obscuration will become possible, and the “imperfect Gods” will have achieved a relative perfection. Thus will the karma of the manvantara, or secondary [Page 990] cycle, be adjusted, and so much planetary karmic evil be “worked off.” All the above must be interpreted in its esoteric sense and not its exoteric.

Điều ác hành tinh phát sinh từ một số tương quan hiện hữu giữa Hành Tinh Thượng đế của chúng ta và một Hành Tinh Thượng đế khác. Khi tình trạng đối cực phân cực này được điều chỉnh, thì điều ác hành tinh sẽ chấm dứt. Sự điều chỉnh sẽ được thực hiện qua sự trung gian (được hiểu theo huyền bí học) của một Hành Tinh Thượng đế thứ ba. Sau cùng, ba Đấng này sẽ tạo thành một tam giác đều, và khi đó điều ác hành tinh sẽ chấm dứt. Sự lưu thông tự do sẽ tiếp diễn; sự che khuất hành tinh sẽ trở nên khả hữu, và “các Thượng đế bất toàn” sẽ đạt được một sự hoàn thiện tương đối. Như vậy nghiệp quả của giai kỳ sinh hóa, hay chu kỳ thứ cấp [Page 990], sẽ được điều chỉnh, và rất nhiều điều ác nghiệp quả hành tinh sẽ được “giải trừ.” Tất cả những điều trên phải được diễn giải theo nghĩa nội môn chứ không phải ngoại môn.

Cosmic evil from the standpoint of our planet consists in the relation between that spiritual intelligent Unit or “Rishi of the Superior Constellation” as He is called (who is the informing Life of one of the seven stars of the Great Bear, and our planetary prototype) and one of the forces of the Pleiades. (S. D., II, 579-581.) Students need here to remember that the “seven sisters” are occultly called the “seven wives” of the Rishis, and that the dual forces (resultant from that relationship) converge and play through that one of the planetary Logoi who is the Logos of any particular planet, and is the “reflection” of any specific Rishi. In this relation, at present lacking perfect adjustment, lies hid the mystery of cosmic evil as it makes itself felt in any particular planetary scheme. Again, when the heavenly triangle is duly equilibrated, and the force circulates freely through

Điều ác vũ trụ, từ quan điểm của hành tinh chúng ta, gồm trong mối tương quan giữa Đơn Vị tinh thần thông tuệ ấy hay “Rishi của Chòm Sao Thượng Đẳng” như Ngài được gọi (Đấng là Sự Sống phú linh của một trong bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh, và là nguyên mẫu hành tinh của chúng ta) với một trong các mãnh lực của Thất Nữ Tinh. (S. D., II, 579-581.) Ở đây các đạo sinh cần nhớ rằng “bảy chị em” được gọi một cách huyền bí là “bảy người vợ” của các Rishi, và rằng các mãnh lực nhị nguyên (phát sinh từ mối tương quan đó) hội tụ và vận hành qua một trong các Hành Tinh Thượng đế là Thượng đế của bất kỳ hành tinh đặc thù nào, và là “sự phản chiếu” của một Rishi đặc thù nào đó. Trong mối tương quan này, hiện nay còn thiếu sự điều chỉnh hoàn hảo, ẩn giấu huyền nhiệm của điều ác vũ trụ khi nó tự biểu lộ trong bất kỳ hệ hành tinh đặc thù nào. Một lần nữa, khi tam giác thiên giới được quân bình đúng mức, và mãnh lực lưu thông tự do qua

a. One of the stars of the Great Bear,

a. Một trong các ngôi sao của Đại Hùng Tinh,

b. The Pleiad involved,

b. Thất Nữ Tinh có liên quan,

c. The planetary scheme concerned,

c. Hệ hành tinh được xét đến,

then again cosmic evil will be negated, and a relative perfection achieved. This will mark the attainment of primary perfection, and the consummation of the greater cycle.

thì một lần nữa điều ác vũ trụ sẽ bị phủ nhận, và một sự hoàn thiện tương đối sẽ đạt được. Điều này sẽ đánh dấu việc đạt đến sự hoàn thiện sơ cấp, và sự viên mãn của chu kỳ lớn hơn.

Cyclic evil, or tertiary evil, lies hid in the relation between the globes in any particular scheme, two of them ever being in opposition until equilibrised by force emanating from a third. Students will only apprehend the significance of this teaching as they study the pairs of opposites in their own cycles, and the equilibrising work of the Ego.

Điều ác chu kỳ, hay điều ác tam cấp, được ẩn giấu trong mối tương quan giữa các bầu hành tinh trong bất kỳ hệ đặc thù nào, trong đó luôn luôn có hai bầu ở thế đối lập cho đến khi được quân bình hóa bởi mãnh lực phát ra từ một bầu thứ ba. Các đạo sinh chỉ có thể nắm bắt ý nghĩa của giáo huấn này khi họ nghiên cứu các cặp đối cực trong chính các chu kỳ của mình, và công việc quân bình của chân ngã.

A fourth type of evil growing out of the above finds [Page 991] its main expression in the sorrows and troubles of the fourth or human kingdom, and will find its solution in two ways: by the balancing of the forces of the three kingdoms (the spiritual or fifth kingdom, the human, and the animal), and secondly, by the negation of the attractive power of the three lower kingdoms (the mineral, the vegetable, and the animal, who thus form one unit), by the spiritual kingdom, utilising the fourth or human kingdom. In all these cases, triangles of force are formed which, when balanced, procure the desired end.

Một loại điều ác thứ tư phát sinh từ những điều trên tìm thấy [Page 991] biểu hiện chính của nó trong những đau khổ và rắc rối của giới thứ tư hay giới nhân loại, và sẽ tìm được giải pháp theo hai cách: bằng sự quân bình các mãnh lực của ba giới (giới tinh thần hay giới thứ năm, giới nhân loại, và giới động vật), và thứ hai, bằng sự phủ nhận quyền năng hấp dẫn của ba giới thấp (giới kim thạch, giới thực vật, và giới động vật, do đó tạo thành một đơn vị), bởi giới tinh thần, sử dụng giới thứ tư hay giới nhân loại. Trong tất cả các trường hợp này, các tam giác lực được hình thành, và khi được quân bình, chúng đem lại kết quả mong muốn.

Black magic is spoken of as making its appearance upon our planet during the fourth root race. (S. D., I, 451, 452; II, 221, 234, 519.) It should be borne in mind here that this means strictly in connection with the fourth kingdom and its conscious use by wrongly developed men. The forces of evil of the planetary and cosmic kind have been present since manifestation set in, being latent in the karma of the planetary Logos, but human beings began consciously to work with these forces and to use them for specified selfish ends in this round during the fourth root race.

Hắc thuật được nói đến như đã xuất hiện trên hành tinh chúng ta trong giống dân gốc thứ tư. (S. D., I, 451, 452; II, 221, 234, 519.) Ở đây cần ghi nhớ rằng điều này có nghĩa một cách nghiêm ngặt là liên hệ với giới thứ tư và việc sử dụng có ý thức của nó bởi những người phát triển sai lệch. Các mãnh lực của điều ác thuộc loại hành tinh và vũ trụ đã hiện diện từ khi biểu hiện bắt đầu, tiềm ẩn trong nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế, nhưng con người bắt đầu làm việc một cách có ý thức với các mãnh lực này và sử dụng chúng cho những mục đích ích kỷ xác định trong cuộc tuần hoàn này vào thời giống dân gốc thứ tư.

Black magicians work under certain great Entities, six in number, who are spoken of, for instance, in the Christian Bible as having the number 666. (Bible. Rev. 13:18.) They came in (being cosmic, not systemic) on that stream of force emanating from cosmic mental levels which produced the three worlds of human endeavour. Students should remember here the fact that the three lower planes of our solar system are not considered as embodying a cosmic principle, for they form the dense physical body of the Logos, and the dense physical body is not considered a principle. There is an occult significance in the expression “unprincipled.” These entities are the sumtotal of the substance of the three lower subplanes of the cosmic physical plane (our three lower systemic [Page 992] planes), and it is under them that the black magicians are swept into activity, often unconsciously, but rising to power as they work consciously. (299)

Các nhà hắc thuật hoạt động dưới một số Thực Thể vĩ đại nào đó, số lượng là sáu, chẳng hạn được nói đến trong Kinh Thánh Cơ Đốc là mang con số 666. (Kinh Thánh. Khải Huyền 13:18.) Các Thực Thể này đi vào (vì là vũ trụ, không phải hệ thống) trên dòng mãnh lực phát ra từ các cấp độ trí tuệ vũ trụ đã tạo ra ba cõi giới của nỗ lực nhân loại. Ở đây các đạo sinh nên nhớ sự kiện rằng ba cõi thấp của hệ mặt trời chúng ta không được xem là hiện thân của một nguyên khí vũ trụ, vì chúng tạo thành thể xác đậm đặc của Thượng đế, và thể xác đậm đặc không được xem là một nguyên khí. Có một ý nghĩa huyền bí trong từ ngữ “vô nguyên khí.” Các thực thể này là tổng số chất liệu của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ (ba cõi thấp của hệ thống chúng ta [Page 992]), và chính dưới các Thực Thể ấy mà các nhà hắc thuật bị cuốn vào hoạt động, thường là vô thức, nhưng vươn lên quyền năng khi họ hoạt động một cách có ý thức. (299)

(299) It might here be asked what, if any, relation there may be in this connection with the inner round? The inner round has many meanings some impossible to give, but two things may here be said: That it concerns itself with the effect of the triangular balancing of forces towards the close of the cycle, when the force or energy involved is circulating unimpeded, even if slowly, through:

(299) Ở đây có thể đặt câu hỏi rằng trong mối liên hệ này có tương quan nào, nếu có, với cuộc tuần hoàn nội tại hay không? Cuộc tuần hoàn nội tại có nhiều ý nghĩa, một số không thể nêu ra, nhưng ở đây có thể nói hai điều: rằng nó liên quan đến hiệu quả của sự quân bình tam giác các mãnh lực vào lúc gần cuối chu kỳ, khi mãnh lực hay năng lượng liên hệ đang lưu thông không bị cản trở, dù chậm, qua:

1. Two constellations of the solar system,

1. Hai chòm sao của hệ mặt trời,

2. The planetary schemes

2. Các hệ hành tinh

3. Three globes in the scheme.

3. Ba bầu hành tinh trong hệ.

It should be remembered that all these three are interdependent. The force begins thus to flow when any cycle is two thirds run. It deals with the greater Initiations, and is the correspondence on the higher planes to the occult short cut to wisdom and knowledge which we call the Path of Initiation. (back)

Cần nhớ rằng cả ba điều này đều phụ thuộc lẫn nhau. Mãnh lực bắt đầu tuôn chảy như vậy khi bất kỳ chu kỳ nào đã đi được hai phần ba. Nó liên quan đến các điểm đạo lớn hơn, và là sự tương ứng trên các cõi cao hơn với lối tắt huyền bí dẫn đến minh triết và tri thức mà chúng ta gọi là Con Đường Điểm Đạo. (back)

In the early stages of human unfoldment all men are unconscious black magicians, but are not occultly “damned” thereby. As evolution proceeds they come under the force of the second aspect, and the majority respond to it, escaping from the meshes of the black magicians, and coming under the force of a different number. The few who do not do so in this manvantara are the “failures” who have to continue the struggle at a later date. A tiny percentage wilfully refuse to “pass on,” and they become the true “black magicians.” For them the end is ever the same, first, severance of the Ego from the Monad, entailing a wait for many aeons until another solar system has its being. In the case of the “failures” the Ego severed itself from the personality or lower self, entailing a setback for a lesser period, but still having opportunity within the system. Second, a cycle of existence, spent in unlimited evil, and dependent upon the vitality of the severed egoic body and its innate persistence. These are the ordinary “lost souls” spoken of in the Secret Doctrine. (301) If students will study these conditions, and will extend the same concept to an earlier and more matured solar system, they will get [Page 993] some light upon the problem of the origin of evil in this solar system.

Trong các giai đoạn đầu của sự khai mở nhân loại, mọi người đều là những nhà hắc thuật vô thức, nhưng vì thế mà không bị “đọa phạt” theo nghĩa huyền bí. Khi tiến hoá tiếp diễn, họ chịu dưới mãnh lực của phương diện thứ hai, và đa số đáp ứng với nó, thoát khỏi các lưới của các nhà hắc thuật, và đi vào dưới mãnh lực của một con số khác. Số ít không làm như vậy trong giai kỳ sinh hóa này là những “kẻ thất bại” phải tiếp tục cuộc đấu tranh vào một thời điểm muộn hơn. Một tỷ lệ cực nhỏ cố ý từ chối “tiến lên,” và họ trở thành những “nhà hắc thuật” thực sự. Đối với họ, kết cuộc luôn luôn như nhau, thứ nhất, sự cắt đứt chân ngã khỏi chân thần, kéo theo một thời gian chờ đợi qua nhiều đại kiếp cho đến khi một hệ mặt trời khác xuất hiện. Trong trường hợp các “kẻ thất bại,” chân ngã tự tách khỏi phàm ngã hay phàm ngã thấp, kéo theo một sự thụt lùi trong một thời gian ngắn hơn, nhưng vẫn còn cơ hội trong hệ thống. Thứ hai, một chu kỳ tồn tại, trải qua trong điều ác vô hạn, và tùy thuộc vào sinh lực của thể chân ngã đã bị cắt lìa cùng tính bền bỉ bẩm sinh của nó. Đây là những “linh hồn lạc mất” thông thường được nói đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm. (301) Nếu các đạo sinh nghiên cứu các tình trạng này, và mở rộng cùng một khái niệm ấy đến một hệ mặt trời sớm hơn và trưởng thành hơn, họ sẽ nhận được [Page 993] đôi chút ánh sáng về vấn đề nguồn gốc của điều ác trong hệ mặt trời này.

(301) No soul can be lost where—

(301) Không linh hồn nào có thể bị mất khi—

a. One good aspiration is present.

a. Có hiện diện một khát vọng thiện lành.

b. One unselfish deed is done.

b. Có thực hiện một hành động vô ngã.

c. The life is strong in virtue.

c. Sự sống mạnh mẽ trong đức hạnh.

d. The life is righteous.

d. Sự sống là chính trực.

e. The life is a naturally pure life.—Isis Unveiled, II, 368.

e. Sự sống là một đời sống tự nhiên thanh khiết.—Isis Unveiled, II, 368.

Read S. D., III, 528, 529. (back)

Đọc S. D., III, 528, 529. (back)

c. Conditions for White Magic. In considering the factors requiring adjustment prior to undertaking the work of magic, we are dealing with that which is of eminently practical value. Unless students of magic enter upon this pursuit fortified by pure motive, clean bodies, and high aspiration, they are foredoomed to disappointment and even to disaster. All those who seek to work consciously with the forces of manifestation, and who endeavour to control the Energies of all that is seen, need the strong protection of purity. This is a point which cannot be too strongly emphasised and urged, and hence the constant injunctions to self control, comprehension of the nature of man, and devotion to the cause of humanity. The pursuit of magical investigation is dangerous in three ways.

c. Các điều kiện cho Chánh Thuật. Khi xem xét các yếu tố cần được điều chỉnh trước khi đảm nhận công việc huyền thuật, chúng ta đang bàn đến điều có giá trị thực tiễn nổi bật. Trừ phi các đạo sinh huyền thuật bước vào sự theo đuổi này với động cơ thanh khiết, thể xác trong sạch, và khát vọng cao cả, họ đã được định trước là sẽ thất vọng và thậm chí tai họa. Tất cả những ai tìm cách hoạt động một cách có ý thức với các mãnh lực của biểu hiện, và cố gắng kiểm soát các Năng Lượng của mọi điều được thấy, đều cần sự bảo vệ mạnh mẽ của tính thanh khiết. Đây là một điểm không thể nhấn mạnh và thúc giục quá mức, và do đó mới có những lời huấn thị liên tục về tự chủ, thấu hiểu bản chất con người, và tận tụy với chính nghĩa của nhân loại. Việc theo đuổi sự khảo cứu huyền thuật là nguy hiểm theo ba cách.

If a man’s bodies are not sufficiently purified and their atomic vibration is not sufficiently high, he is in danger of over-stimulation when brought in contact with the forces of nature, and this inevitably entails the destruction and disintegration of one or other of his bodies. At times it may entail the destruction of two or more, and when this is the case, it involves a definite setback to egoic unfoldment, for it requires, in such cases, a much longer interval between incarnations, owing to the difficulty of assembling the needed materials in the sheaths.

Nếu các thể của một người không được thanh lọc đầy đủ và rung động nguyên tử của chúng không đủ cao, y sẽ có nguy cơ bị kích thích quá mức khi tiếp xúc với các mãnh lực của bản chất, và điều này tất yếu kéo theo sự hủy hoại và tan rã của một hay thể nào đó của y. Đôi khi điều đó có thể kéo theo sự hủy hoại của hai hay nhiều thể, và khi trường hợp này xảy ra, nó bao hàm một sự thụt lùi rõ rệt đối với sự khai mở chân ngã, vì trong những trường hợp như vậy cần một khoảng cách lâu hơn nhiều giữa các lần nhập thể, do khó khăn trong việc tập hợp các vật liệu cần thiết trong các vỏ bọc.

Further, unless a man is strengthened in his endeavour by right motive, he is liable to be led astray by the acquisition of power. Knowledge of the laws of magic puts into the hands of the student powers which enable him to create, to acquire, and to control. Such powers [Page 994] are fraught with menace to the unprepared and unready, for the student can, in this case, turn them to selfish ends, use them for his own temporal material advancement, and acquire in this way that which will feed the desires of the lower nature. He takes, therefore, the first step towards the left hand path, and each life may see him progressing towards it with greater readiness, until (almost unconsciously) he will find himself in the ranks of the black masters. Such a state of affairs can only be offset through the cultivation of altruism, sincere love of man, and a steady negation of all lower desire.

Hơn nữa, trừ phi một người được củng cố trong nỗ lực của mình bằng động cơ đúng đắn, y dễ bị dẫn lạc bởi việc đạt được quyền năng. Tri thức về các định luật huyền thuật đặt vào tay đạo sinh những quyền năng giúp y sáng tạo, đạt được, và kiểm soát. Những quyền năng như thế [Page 994] chứa đầy hiểm họa đối với người chưa chuẩn bị và chưa sẵn sàng, vì trong trường hợp này đạo sinh có thể hướng chúng đến những mục đích ích kỷ, dùng chúng cho sự thăng tiến vật chất tạm thời của riêng mình, và bằng cách đó đạt được điều sẽ nuôi dưỡng các ham muốn của bản chất thấp. Vì vậy y bước bước đầu tiên về phía tả đạo, và mỗi kiếp sống có thể thấy y tiến về phía đó ngày càng dễ dàng hơn, cho đến khi (gần như vô thức) y sẽ thấy mình ở trong hàng ngũ các chân sư hắc đạo. Một tình trạng như thế chỉ có thể được hóa giải bằng việc nuôi dưỡng lòng vị tha, tình thương chân thành đối với con người, và sự phủ nhận bền bỉ mọi ham muốn thấp hèn.

The third danger which menaces the unwary student of magic lies in the fact that when he tampers with these forces and energies he is dealing with that which is akin to his own lower nature. He, therefore, follows the line of least resistance; he augments these energies, thereby increasing their response to the lower and to the material aspects of his nature. This he does at the expense of his higher nature, retarding its unfoldment and delaying his progress. Incidentally also, he attracts the attention of those masters of the left hand path who are ever on the lookout for those who can be bent to their purposes, and he becomes (unwittingly at first), an agent on the side of evil.

Mối nguy thứ ba đe dọa đạo sinh huyền thuật thiếu thận trọng nằm ở sự kiện rằng khi y can thiệp vào các mãnh lực và năng lượng này, y đang xử lý điều gì đó tương cận với chính bản chất thấp của mình. Vì vậy, y đi theo con đường ít trở ngại nhất; y gia tăng các năng lượng này, do đó làm tăng đáp ứng của chúng đối với các phương diện thấp và vật chất của bản chất y. Điều này y làm với cái giá là bản chất cao hơn của mình, làm chậm sự khai mở của nó và trì hoãn sự tiến bộ của y. Đồng thời, y cũng thu hút sự chú ý của những chân sư của tả đạo, những vị luôn luôn canh chừng những ai có thể bị bẻ cong theo các mục đích của họ, và y trở thành (lúc đầu là vô tình) một tác nhân về phía điều ác.

It will be apparent, therefore, that the student has need of the following qualities before he undertakes the arduous task of becoming a conscious Master of Magic:

Vì vậy, hiển nhiên là đạo sinh cần có những phẩm tính sau đây trước khi đảm nhận nhiệm vụ gian khổ là trở thành một Chân sư Huyền thuật có ý thức:

Physical Purity. This is a thing not easily to be acquired, but entailing many lives of strenuous effort. Through abstinence, right continence, clean living, vegetarian diet, and rigid self-control, the man gradually raises the vibration of his physical atoms, builds a body of ever greater resistance and strength, and succeeds in “manifesting” forth in a sheath of greater refinement.

Sự thanh khiết hồng trần. Đây không phải là điều dễ đạt được, mà đòi hỏi nhiều kiếp sống nỗ lực mãnh liệt. Qua sự kiêng cữ, tiết dục đúng đắn, đời sống thanh sạch, chế độ ăn chay, và tự chủ nghiêm ngặt, con người dần dần nâng cao rung động của các nguyên tử hồng trần của mình, xây dựng một thể ngày càng có sức đề kháng và sức mạnh lớn hơn, và thành công trong việc “biểu hiện” ra ngoài trong một vỏ bọc tinh luyện hơn.

Etheric Freedom. This term does not convey all that [Page 995] I seek to impart, but it suffices for need of a better. The student of magic who can safely undertake the enterprise, will have constructed an etheric body of such a nature that vitality, or pranic force and energy, can circulate unimpeded; he will have formed an etheric web of such tenuosity that it forms no barrier to consciousness. This is all that can be said on this subject, owing to the danger involved, but it suffices for the conveyance of information to those who are beginning to know.

Sự tự do dĩ thái. Thuật ngữ này không chuyển tải trọn vẹn điều [Page 995] tôi tìm cách truyền đạt, nhưng nó đủ dùng khi chưa có từ tốt hơn. Đạo sinh huyền thuật nào có thể an toàn đảm nhận công việc này sẽ đã kiến tạo một thể dĩ thái có bản chất sao cho sinh lực, hay mãnh lực và năng lượng prana, có thể lưu thông không bị cản trở; y sẽ đã hình thành một màng lưới dĩ thái mỏng nhẹ đến mức nó không tạo thành rào cản nào cho tâm thức. Đây là tất cả những gì có thể nói về chủ đề này, do mối nguy liên quan, nhưng như thế là đủ để truyền đạt thông tin cho những ai đang bắt đầu biết.

Astral Stability. The student of magic aims, above all, to purify his desires, and so to transmute his emotions that the lower physical purity and the higher mental responsiveness and transmutative power may equally be available. Every magician has to learn the fact that, in this solar system, during the cycle of humanity, the astral body is the pivotal point of endeavour, having a reflex effect on both the other sheaths, the physical and the mental. He, therefore, aims at transmuting (as has often been said) lower desire into aspiration; at changing the lower cruder colors which distinguish the astral body of average man, for the clearer, purer tones of the spiritual man, and of transforming its normal chaotic vibration, and the “stormy sea of life,” for the steady rhythmic response to that which is highest and the centre of peace. These things he effects by constant watchfulness, unremitting control, and steady meditation.

Sự ổn định cảm dục. Trên hết, đạo sinh huyền thuật nhắm đến việc thanh lọc các ham muốn của mình, và do đó chuyển hoá các cảm xúc của mình để sự thanh khiết hồng trần thấp hơn và khả năng đáp ứng trí tuệ cao hơn cùng quyền năng chuyển hoá đều có thể sẵn dùng như nhau. Mỗi nhà huyền thuật đều phải học sự kiện rằng, trong hệ mặt trời này, trong chu kỳ của nhân loại, thể cảm dục là điểm then chốt của nỗ lực, có tác động phản chiếu lên cả hai vỏ bọc kia, thể xác và thể trí. Vì vậy, y nhắm đến việc chuyển hoá (như đã thường được nói) ham muốn thấp thành khát vọng; thay đổi những màu sắc thấp và thô hơn vốn phân biệt thể cảm dục của con người trung bình thành những sắc điệu trong sáng, thanh khiết hơn của con người tinh thần; và chuyển đổi rung động hỗn loạn bình thường của nó, cùng “biển đời dậy sóng,” thành sự đáp ứng nhịp nhàng, vững chắc đối với điều cao nhất và trung tâm bình an. Những điều này y thực hiện bằng sự tỉnh thức liên tục, sự kiểm soát không ngơi nghỉ, và tham thiền bền bỉ.

Mental Poise. These words are used in the occult sense, wherein the mind (as it is commonly understood) becomes the keen steady instrument of the indwelling thinker, and the point from which he can travel onwards to higher realms of comprehension. It is the foundation stone whence the higher expansion can be initiated.

Sự quân bình trí tuệ. Những lời này được dùng theo nghĩa huyền bí, trong đó trí tuệ (như thường được hiểu) trở thành công cụ sắc bén, vững chắc của thức giả nội tại, và là điểm từ đó y có thể tiến lên các cõi cao hơn của sự thấu hiểu. Nó là viên đá nền tảng từ đó sự mở rộng cao hơn có thể được khởi sự.

Let not the would-be student of magic proceed in his investigations and his experiments until he has attended to these injunctions, and until the whole bent of his thought is towards their manifestation and their demonstration [Page 996] in his every day life. When he has so worked, ceaselessly and untiringly, and his physical plane life and service bear witness to the inner transmutation, then he can proceed to parallel this life with magical studies and work. Only the solar Angel can do the work of the white magician, and he effects it through the control of the lunar angels and their complete subjugation. They are arrayed against him, until, through meditation, aspiration, and control, he bends them to his will and they become his servants.

Đừng để đạo sinh huyền thuật tương lai tiến hành các khảo cứu và thí nghiệm của mình cho đến khi y đã lưu tâm đến những huấn thị này, và cho đến khi toàn bộ khuynh hướng tư tưởng của y hướng về sự biểu hiện và chứng minh chúng [Page 996] trong đời sống hằng ngày của mình. Khi y đã làm việc như vậy, không ngừng nghỉ và không mệt mỏi, và đời sống cùng sự phụng sự trên cõi hồng trần của y làm chứng cho sự chuyển hoá nội tại, khi đó y có thể tiến tới song hành đời sống này với việc học tập và công việc huyền thuật. Chỉ Thái dương Thiên Thần mới có thể làm công việc của nhà huyền thuật chánh đạo, và Ngài thực hiện điều đó qua việc kiểm soát các thái âm thiên thần và sự khuất phục hoàn toàn của họ. Họ xếp hàng chống lại Ngài, cho đến khi, qua tham thiền, khát vọng, và kiểm soát, Ngài uốn họ theo ý chí của Ngài và họ trở thành các tôi tớ của Ngài.

This thought brings us to the vital and real distinction between the white brother and the brother of darkness, and in this summation we will conclude the present discussion and proceed with the rules.

Tư tưởng này đưa chúng ta đến sự phân biệt thiết yếu và thực sự giữa huynh đệ chánh đạo và huynh đệ bóng tối, và với phần tổng kết này chúng ta sẽ kết thúc cuộc thảo luận hiện tại và tiếp tục với các quy luật.

The worker in white magic utilises ever the energy of the Solar Angel to effect his ends. The dark brother works through the inherent force of the lunar lords, which are allied in nature to all that is objective. In an old book of magic, hidden in the caves of learning, guarded by the Masters, are the following conclusive words, which find their place in this Treatise on Fire through their very appropriateness:

Người hoạt động trong Chánh Thuật luôn luôn sử dụng năng lượng của Thái dương Thiên Thần để đạt các mục đích của mình. Huynh đệ bóng tối hoạt động qua mãnh lực cố hữu của các nguyệt tinh quân, vốn đồng bản chất với mọi điều khách quan. Trong một cuốn sách huyền thuật cổ, được cất giấu trong các hang động của tri thức, do các Chân sư canh giữ, có những lời kết luận sau đây, rất thích hợp nên được đặt vào Luận về Lửa Vũ Trụ này:

“The Brothers of the Sun, through the force of solar fire, fanned to a flame in the blazing vault of the second Heaven, put out the lower lunar fires, and render naught that lower ‘fire by friction.’

“Các Huynh Đệ của Mặt Trời, qua mãnh lực của Lửa Thái dương, được quạt thành ngọn lửa trong vòm sáng rực của cõi Trời thứ hai, dập tắt các lửa thái âm thấp hơn, và làm cho ‘Lửa ma sát’ thấp hơn ấy trở thành hư không.

“The Brother of the Moon ignores the sun and solar heat; borrows his fire from all that triply is, and pursues his cycle. The fires of hell await, and lunar fire dies out. Then neither sun nor moon avails him, only the highest heaven awaits the spark electric, seeking vibration synchronous from that which lies beneath. And yet it cometh not.”

“Huynh Đệ của Mặt Trăng phớt lờ mặt trời và nhiệt thái dương; vay mượn lửa của mình từ mọi điều tam phân, và theo đuổi chu kỳ của mình. Các lửa địa ngục đang chờ đợi, và lửa thái âm tắt lịm. Khi đó cả mặt trời lẫn mặt trăng đều không giúp ích gì cho y, chỉ cõi trời cao nhất chờ đợi tia lửa điện, tìm kiếm rung động đồng bộ từ điều nằm bên dưới. Nhưng nó vẫn không đến.”

3. Fifteen Rules for Magic.

3. Mười lăm Quy luật cho Huyền thuật.

These rules will necessarily be of an esoteric nature, and the student will need to remember that the terminology is in the nature of a blind, which ever carries [Page 997] revelation to those who have the clue, but tends to perplex and to bewilder the student who as yet is unready for the truth. I would also remind the student to bear in mind that all that is here imparted concerns “white magic,” and is given from the standpoint of the solar Angel, and of solar Fire. Bearing these two points in mind the student will find much in these rules to produce eventual internal illumination. We will divide them into three groups of aphorisms or occult phrases; of these, the first will concern itself with the work of the magician on the mental plane, with his manipulation of solar energy, and his ability to sweep the Builders into co-operation with his purposes.

Những quy luật này tất yếu sẽ có bản chất huyền bí, và đạo sinh cần nhớ rằng thuật ngữ được dùng có tính chất như một bức màn che, luôn mang [Page 997] sự mặc khải đến cho những ai có chìa khóa, nhưng lại có khuynh hướng làm rối trí và hoang mang đạo sinh còn chưa sẵn sàng cho chân lý. Tôi cũng muốn nhắc đạo sinh ghi nhớ rằng tất cả những gì được truyền đạt ở đây đều liên quan đến “Chánh Thuật,” và được ban ra từ quan điểm của Thái dương Thiên Thần, và của Lửa Thái dương. Ghi nhớ hai điểm này, đạo sinh sẽ thấy trong các quy luật này nhiều điều có thể cuối cùng tạo ra sự soi sáng nội tại. Chúng ta sẽ chia chúng thành ba nhóm châm ngôn hay cụm từ huyền bí; trong đó, nhóm thứ nhất sẽ bàn đến công việc của nhà huyền thuật trên cõi trí, việc y điều khiển năng lượng thái dương, và khả năng của y trong việc cuốn các đấng kiến tạo vào sự hợp tác với các mục đích của mình.

The second group will carry the work on down to the plane of desire, and of vitalisation, and will convey information as to the balancing of the pairs of opposites, and their equilibrising, so that eventual manifestation becomes possible.

Nhóm thứ hai sẽ đưa công việc xuống cõi ham muốn và tiếp sinh lực, và sẽ truyền đạt thông tin về sự quân bình các cặp đối cực, và việc quân bình hóa chúng, để cho sự biểu hiện cuối cùng trở nên khả hữu.

The third group of rules will deal with the physical plane, with the transmission of force:

Nhóm quy luật thứ ba sẽ bàn đến cõi hồng trần, với sự truyền dẫn mãnh lực:

a. Through the centres,

a. Qua các trung tâm,

b. Through the brain,

b. Qua bộ não,

c. Through the physical plane itself.

c. Qua chính cõi hồng trần.

a. Six Rules for the Mental Plane. Certain of the laws of speech will be given, and the significance of colour and of sound will appear beneath the exoteric form of the phrasing to those whose perception suffices.

a. Sáu Quy luật cho Cõi Trí. Một số định luật của lời nói sẽ được nêu ra, và ý nghĩa của màu sắc và âm thanh sẽ hiện ra bên dưới hình thức ngoại môn của cách diễn đạt đối với những ai có tri giác đủ mức.

RULE I. The Solar Angel collects himself, scatters not his force, but in meditation deep communicates with his reflection.

QUY LUẬT I. Thái dương Thiên Thần thu mình lại, không phân tán mãnh lực của mình, mà trong tham thiền sâu thẳm giao tiếp với sự phản chiếu của mình.

The significance of this rule is easily to be seen. The white magician is ever one who, through conscious alignment with his Ego, with his “Angel,” is receptive to his plans and purposes, and therefore capable of receiving the higher impression. We must remember that [Page 998] white magic works from above downwards, and is the result of solar vibration, and not of the heating impulses emanating from one or other of the lunar Pitris; the downflow of the impressing energy from the solar Pitri is the result of his internal recollectedness, his indrawing of his forces prior to sending them out concentratedly to his shadow, man, and his steady meditation upon the purpose and the plan. It may be of use to the student if he here remembers that the Ego (as well as the Logos) is in deep meditation during the whole cycle of physical incarnation. This solar meditation is cyclic in nature, the Pitri involved sending out to his “reflection” rhythmic streams of energy, which streams are recognised by the man concerned as his “higher impulses,” his dreams and aspirations. Therefore, it will be apparent why workers in white magic are ever advanced, and spiritual men, for the “reflection” is seldom responsive to the Ego or the solar Angel until many cycles of incarnation have transpired. The solar Pitri communicates with his “shadow” or reflection by means of the sutratma, which passes down through the bodies to a point of entrance in the physical brain.

Ý nghĩa của quy luật này rất dễ thấy. Nhà huyền thuật chánh đạo luôn luôn là người, qua sự chỉnh hợp có ý thức với chân ngã của mình, với “Thiên Thần” của mình, có khả năng tiếp nhận các kế hoạch và mục đích của chân ngã, và do đó có khả năng tiếp nhận ấn tượng cao hơn. Chúng ta phải nhớ rằng [Page 998] Chánh Thuật hoạt động từ trên xuống dưới, và là kết quả của rung động thái dương, chứ không phải của các xung lực nung nóng phát ra từ một hay một số thái âm tổ phụ; dòng chảy xuống của năng lượng gây ấn tượng từ thái dương tổ phụ là kết quả của sự thu nhiếp nội tại của y, sự rút các mãnh lực của y vào trước khi phóng chúng ra một cách tập trung đến cái bóng của y, con người, và sự tham thiền bền bỉ của y về mục đích và Thiên Cơ. Sẽ hữu ích cho đạo sinh nếu ở đây y nhớ rằng chân ngã (cũng như Thượng đế) đang ở trong tham thiền sâu suốt toàn bộ chu kỳ nhập thể hồng trần. Sự tham thiền thái dương này có bản chất chu kỳ, vị tổ phụ liên hệ gửi ra cho “sự phản chiếu” của mình những dòng năng lượng nhịp nhàng, mà những dòng này được con người liên hệ nhận biết như những “xung lực cao hơn” của mình, những giấc mơ và khát vọng của mình. Vì vậy, sẽ thấy rõ tại sao những người hoạt động trong Chánh Thuật luôn luôn là những người tiến bộ và tinh thần, vì “sự phản chiếu” hiếm khi đáp ứng với chân ngã hay Thái dương Thiên Thần cho đến khi nhiều chu kỳ nhập thể đã trôi qua. Thái dương tổ phụ giao tiếp với “cái bóng” hay sự phản chiếu của mình bằng sutratma, đi xuống qua các thể đến một điểm đi vào trong bộ não hồng trần.

RULE II. When the shadow hath responded, in meditation deep the work proceedeth. The lower light is thrown upward; the greater light illuminates the three, and the work of the four proceedeth.

QUY LUẬT II. Khi cái bóng đã đáp ứng, trong tham thiền sâu thẳm công việc tiếp diễn. Ánh sáng thấp hơn được ném lên trên; ánh sáng lớn hơn soi sáng bộ ba, và công việc của bộ bốn tiếp diễn.

Here the work of the two, the Ego on its own plane, and its instrument in the three worlds, is shown as linked and co-ordinated. As we well know, the main function of meditation is to bring the lower instrument into such a condition of receptivity and vibratory response that the Ego, or solar Angel, can use it, and produce specific results. This involves, therefore, a downflow of force from the upper levels of the mental plane [Page 999] (the habitat of the real Man) and a reciprocal vibration, emanating from Man, the Reflection. When these two vibrations are attuned, and the interplay is rhythmic, then the two meditations proceed synchronously, and the work of magic and of creation can proceed unimpeded. It will, therefore, be apparent that the brain is the physical correspondence to the force centres upon the mental plane, and that the vibration has to be consciously set up by the man when meditating. When this is effected, the man can be a conscious creator, and the work proceeds therefore in a triple manner; the force circulates freely via three points of centralised activity:

Ở đây công việc của hai bên, chân ngã trên cõi riêng của nó, và công cụ của nó trong ba cõi giới, được cho thấy là liên kết và phối hợp. Như chúng ta đều biết rõ, chức năng chính của tham thiền là đưa công cụ thấp hơn vào một tình trạng tiếp nhận và đáp ứng rung động đến mức chân ngã, hay Thái dương Thiên Thần, có thể sử dụng nó và tạo ra các kết quả đặc thù. Vì vậy, điều này bao hàm một dòng chảy xuống của mãnh lực từ các cấp độ cao hơn của cõi trí [Page 999] (nơi cư ngụ của Con Người thực sự) và một rung động đáp ứng tương hỗ, phát ra từ Con Người, tức Sự Phản Chiếu. Khi hai rung động này được điều chỉnh hòa điệu, và sự tương tác có nhịp điệu, thì hai sự tham thiền tiến hành đồng bộ, và công việc huyền thuật cùng sáng tạo có thể tiếp tục không bị cản trở. Vì vậy, sẽ thấy rõ rằng bộ não là sự tương ứng hồng trần với các trung tâm lực trên cõi trí, và rằng rung động phải được thiết lập một cách có ý thức bởi con người khi tham thiền. Khi điều này được thực hiện, con người có thể là một đấng sáng tạo có ý thức, và do đó công việc tiến hành theo cách tam phân; mãnh lực lưu thông tự do qua ba điểm hoạt động tập trung:

First. From that circle of petals in the egoic lotus which the Ego chooses to use, or is in a position to use. This is conditioned by the objective in view, and the state of egoic unfoldment.

Thứ nhất. Từ vòng cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã mà chân ngã chọn sử dụng, hay ở trong vị thế có thể sử dụng. Điều này được tác động bởi mục tiêu được nhắm đến, và trạng thái khai mở chân ngã.

Secondly. The centre in the physical brain which is active in meditation. This is also conditioned by the man’s point in evolution, and the particular goal in mind.

Thứ hai. Trung tâm trong bộ não hồng trần đang hoạt động trong tham thiền. Điều này cũng được tác động bởi điểm tiến hoá của con người, và mục tiêu đặc thù trong trí.

Thirdly. The centre of force generated by the man upon the lower mental plane, as he proceeds to form the necessitated thought form, and to sweep into activity those builders who can respond to the vibration sent forth. This is likewise conditioned by the strength of his meditation, the fullness of the note sent forth by him, and the strength of his initiated vibration.

Thứ ba. Trung tâm lực do con người tạo ra trên cõi hạ trí, khi y tiến hành hình thành Hình tư tưởng cần thiết, và cuốn vào hoạt động những đấng kiến tạo có thể đáp ứng với rung động được phát ra. Điều này cũng được tác động bởi sức mạnh của sự tham thiền của y, sự viên mãn của âm điệu do y phát ra, và sức mạnh của rung động được điểm đạo của y.

Hence, the first thing the solar Angel does is to form a triangle, consisting of himself, the man on the physical plane, and the tiny point of force which is the result of their united endeavour. It will be of value to students of meditation to ponder upon this procedure, and to study the correspondence between it and the work of the solar Logos as He created “the Heavens and the Earth.” The [Page 1000] Highest and the lowest aspects met, spirit and matter were brought into contact with each other; the consequence of this interplay was the birth of the Son, or the great solar thought form. In the three worlds, man, the lesser Deity, within his limits, proceeds along analogous lines. The three who are illumined by the light of the One are the three persons of the lower Triad, the mental body, the astral body, and the physical body. They, with the Illuminator, make the “Four” referred to, and thus becomes apparent the microcosmic Tetraktys.

Do đó, điều đầu tiên Thái dương Thiên Thần làm là hình thành một tam giác, gồm chính Ngài, con người trên cõi hồng trần, và điểm mãnh lực nhỏ bé là kết quả của nỗ lực hợp nhất của cả hai. Sẽ có giá trị cho các đạo sinh tham thiền nếu suy gẫm về tiến trình này, và nghiên cứu sự tương ứng giữa nó với công việc của Thái dương Thượng đế khi Ngài sáng tạo “Trời và Đất.” [Page 1000] Phương diện cao nhất và thấp nhất đã gặp nhau, tinh thần và vật chất được đưa vào tiếp xúc với nhau; hệ quả của sự tương tác này là sự sinh ra của Con, hay Hình tư tưởng thái dương vĩ đại. Trong ba cõi giới, con người, vị Thượng đế nhỏ hơn, trong các giới hạn của mình, tiến hành theo những đường lối tương đồng. Ba vị được soi sáng bởi ánh sáng của Đấng Duy Nhất là ba ngôi vị của Tam nguyên thấp, thể trí, thể cảm dục, và thể xác. Họ, cùng với Đấng Soi Sáng, tạo thành “Bốn” được nói đến, và như vậy Tetraktys của tiểu thiên địa trở nên hiển nhiên.

The two rules above form the esoteric basis of all meditation, and need to be carefully studied if results are to be achieved.

Hai quy luật trên tạo thành nền tảng huyền bí của mọi tham thiền, và cần được nghiên cứu cẩn thận nếu muốn đạt được kết quả.

RULE III. The Energy circulates. The point of light, the product of the labours of the Four, waxeth and groweth. The myriads gather round its glowing warmth until its light recedes. Its fire grows dim. Then shall the second sound go forth.

QUY LUẬT III. Năng Lượng lưu thông. Điểm ánh sáng, sản phẩm của lao động của Bốn, lớn dần và tăng trưởng. Muôn vàn sinh linh tụ tập quanh hơi ấm rực sáng của nó cho đến khi ánh sáng của nó lùi xa. Lửa của nó mờ đi. Khi đó âm thanh thứ hai sẽ phát ra.

The white magician, having, through meditation and conscious purpose, formed a focal point of energy upon the mental plane, increases the vibration through strenuous concentration; he begins then to visualise in detail the form he is seeking to build; he pictures it with all its component parts, and sees “before his mind’s eye” the consummated product of the egoic meditation as he has succeeded in bringing it through. This produces what is here called “the secondary note,” the first being the note emanating from the Ego on its own plane, which awakened the “reflection” and called forth response. The vibration becomes stronger, and the note sounded by the man on the physical plane ascends and is heard upon the mental plane. Hence, in all meditation that is [Page 1001] of occult value, the man has to do certain things in order to aid in bringing about the results.

Nhà huyền thuật chánh đạo, sau khi đã, qua tham thiền và mục đích có ý thức, hình thành một tiêu điểm năng lượng trên cõi trí, làm tăng rung động bằng sự tập trung mãnh liệt; khi đó y bắt đầu hình dung chi tiết hình tướng mà y tìm cách xây dựng; y hình dung nó với tất cả các bộ phận cấu thành, và thấy “trước con mắt trí tuệ của mình” sản phẩm viên mãn của sự tham thiền chân ngã khi y đã thành công đưa nó xuyên qua. Điều này tạo ra cái ở đây được gọi là “âm điệu thứ cấp,” âm điệu thứ nhất là âm điệu phát ra từ chân ngã trên cõi riêng của nó, đã đánh thức “sự phản chiếu” và gọi ra sự đáp ứng. Rung động trở nên mạnh hơn, và âm điệu do con người trên cõi hồng trần xướng lên đi lên và được nghe thấy trên cõi trí. Do đó, trong mọi tham thiền có [Page 1001] giá trị huyền bí, con người phải làm một số điều để giúp đem lại các kết quả.

He tranquilises his bodies in order that there be no impediment to the egoic intent, and listens for the “Voice of the Silence.” He responds then to that Voice consciously, and broods over the imparted plans.

Y làm cho các thể của mình tĩnh lặng để không có trở ngại nào đối với ý định chân ngã, và lắng nghe “Tiếng Nói của Im Lặng.” Khi đó y đáp ứng với Tiếng Nói ấy một cách có ý thức, và chiêm ngưỡng các kế hoạch được truyền đạt.

He then sounds the Sacred Word, taking up the note of the Ego as he believes he hears it, and sending it forth to swell the egoic sound, and to set in motion matter on the mental plane. He (synchronously with this sounding) visualises the proposed thought form which is to embody egoic purposes, and pictures it in detail.

Sau đó y xướng Linh từ Thiêng Liêng, tiếp nhận âm điệu của chân ngã như y tin rằng mình nghe được, và phát nó ra để làm tăng âm thanh chân ngã, và làm cho vật chất trên cõi trí chuyển động. Y (đồng thời với việc xướng này) hình dung Hình tư tưởng được dự định sẽ hiện thân cho các mục đích chân ngã, và hình dung nó một cách chi tiết.

We must not forget that we are here dealing with those conscious meditations, based on knowledge and long experience, which produce magical results on the physical plane. We are not dealing here with those meditations which have for their purpose the revelation of the inner God, and the bringing in of the illuminating fire of the Ego.

Chúng ta không được quên rằng ở đây chúng ta đang bàn đến những sự tham thiền có ý thức, dựa trên tri thức và kinh nghiệm lâu dài, tạo ra các kết quả huyền thuật trên cõi hồng trần. Ở đây chúng ta không bàn đến những sự tham thiền có mục đích là sự mặc khải Thượng đế nội tại, và việc đưa vào ngọn lửa soi sáng của chân ngã.

When this process is proceeding under rule and order, the focal point of energy on the lower mental plane gains in strength; its light or fire makes itself felt; it becomes, in the occult sense, visually objective, and attracts the attention of the lesser builders through

Khi tiến trình này diễn ra theo quy luật và trật tự, tiêu điểm năng lượng trên cõi hạ trí tăng thêm sức mạnh; ánh sáng hay lửa của nó tự làm cho mình được cảm nhận; theo nghĩa huyền bí, nó trở nên khách quan đối với linh thị, và thu hút sự chú ý của các vị tiểu kiến tạo qua

a. Its radiation or warmth,

a. Sự bức xạ hay hơi ấm của nó,

b. Its active vibration,

b. Rung động hoạt động của nó,

c. Its sound or note,

c. Âm thanh hay âm điệu của nó,

d. Its light.

d. Ánh sáng của nó.

The elemental workers of responsive capacity are gathered and swept into the radius of the force, and begin to gather around. The intended form begins to be apparent, and tiny life after tiny life takes its place in its construction. The result of this “coherency” is that the inner light becomes veiled, its brilliancy dimmed, just as the inner light of the Ego in its shadow, or thought form, man, is similarly dimmed and hidden. [Page 1002]

Các hành khí hoạt động có khả năng đáp ứng được tập hợp lại và bị cuốn vào bán kính của mãnh lực, rồi bắt đầu tụ tập xung quanh. Hình tướng được dự định bắt đầu trở nên rõ rệt, và từng sự sống nhỏ bé một đảm nhận vị trí của mình trong sự kiến tạo của nó. Kết quả của “sự cố kết” này là ánh sáng bên trong trở nên bị che phủ, độ rực rỡ của nó bị làm mờ đi, cũng như ánh sáng bên trong của chân ngã trong cái bóng của nó, hay Hình tư tưởng, con người, cũng bị làm mờ và che khuất tương tự. [Page 1002]

RULE IV. Sound, light, vibration, and the form blend and merge, and thus the work is one. It proceedeth under the law, and naught can hinder now the work from going forward. The man breathes deeply. He concentrates his forces, and drives the thought-form from him.

QUY LUẬT IV. Âm thanh, ánh sáng, rung động và hình tướng hòa lẫn và dung nhập, và như thế công việc là một. Nó tiến hành dưới định luật, và giờ đây không gì có thể ngăn cản công việc tiến lên. Con người hít thở sâu. Y tập trung các mãnh lực của mình, và phóng hình tư tưởng ra khỏi mình.

Here we have a very important piece of work of magic dealt with, and one that is little considered and known. The force used by the Ego in the work of forcing the man to carry out His purpose has been dynamic will, and the petal, or energy centre, employed has been one of the will petals. The man has, up till now, been driven by egoic will, but has blended with this much of the energy of the attraction aspect (desire or love) thereby gathering to himself on the mental plane, the material needed for his thought form. He has succeeded so far that on the concrete levels of the mental plane is to be seen a form in mental matter which is coherent, alive, vibrant, and of a desired nature. Its internal activity is such that its persistence for the length of time necessary to ensure achievement of the egoic purpose is assured; it stands ready to be sent forth upon its mission, to gather to itself material of a denser nature upon the astral plane, and to achieve greater consolidation. This is brought about by an act of will emanating from the man, and he gives the living form power “to break loose.” It is exactly at this point, fortunately for the human race, that the majority of magical investigators fail in their work. They build a form in mental matter, but do not know how to send it forth, so that inevitably it will fulfill its mission. Thus many thought forms die a natural death on the mental plane owing to the inability of the man to exert the will faculty constructively, and his failure to understand the laws of thought-form construction. Another factor is his lack of knowledge [Page 1003] of the formula which releases the elemental builders from their surroundings, and forces them to cohere within the periphery of the thought form for as long as the thinker desires.

Ở đây chúng ta có một công việc huyền thuật rất quan trọng được bàn đến, và là một điều ít được xem xét và biết đến. Mãnh lực được chân ngã sử dụng trong công việc buộc con người thực hiện mục đích của Ngài là ý chí năng động, và cánh hoa, hay trung tâm năng lượng, được dùng là một trong các cánh hoa ý chí. Cho đến lúc này, con người đã được thúc đẩy bởi ý chí chân ngã, nhưng đã hòa trộn với điều này nhiều năng lượng của phương diện hấp dẫn (dục vọng hay tình thương), nhờ đó tập hợp cho mình trên cõi trí chất liệu cần thiết cho hình tư tưởng của mình. Cho đến nay y đã thành công đến mức trên các cấp độ cụ thể của cõi trí có thể thấy một hình tướng trong vật chất trí tuệ, kết dính, sống động, rung động và có bản chất mong muốn. Hoạt động nội tại của nó đến mức sự bền vững của nó trong khoảng thời gian cần thiết để bảo đảm việc hoàn thành mục đích chân ngã là điều chắc chắn; nó đứng sẵn để được phóng ra trong sứ mạng của nó, để tập hợp cho mình chất liệu có bản chất đậm đặc hơn trên cõi cảm dục, và đạt đến sự củng cố lớn hơn. Điều này được mang lại bởi một hành động ý chí phát ra từ con người, và y ban cho hình tướng sống động ấy quyền năng “bứt thoát.” Chính xác tại điểm này, may mắn thay cho nhân loại, mà đa số các nhà khảo cứu huyền thuật thất bại trong công việc của họ. Họ xây dựng một hình tướng trong vật chất trí tuệ, nhưng không biết cách phóng nó ra, để nó tất yếu sẽ hoàn thành sứ mạng của mình. Vì thế nhiều hình tư tưởng chết một cách tự nhiên trên cõi trí do con người không có khả năng vận dụng năng lực ý chí một cách xây dựng, và do y không thấu hiểu các định luật của việc kiến tạo hình tư tưởng. Một yếu tố khác là sự thiếu hiểu biết của y [Page 1003] về công thức giải phóng các đấng kiến tạo hành khí khỏi môi trường chung quanh chúng, và buộc chúng kết dính trong chu vi của hình tư tưởng chừng nào người tư tưởng còn mong muốn.

Finally, they die owing to the incapacity of the man, which prevents him holding a meditation long enough, and formulating his ideas clearly enough to bring about ultimate materialisation.

Sau cùng, chúng chết do sự bất lực của con người, điều ngăn y giữ được một sự tham thiền đủ lâu, và định hình các ý tưởng của mình đủ rõ ràng để mang lại sự hiện hình tối hậu.

Men are, as yet, too impure and too selfish to be trusted with this knowledge. Their thought forms would be constructed in order to be sent on selfish missions and for destructive ends, and until they are more spiritual, and have gained control over their lower nature, the magical words which galvanise into separated activity the form in mental substance will not be available for their use.

Cho đến nay, con người vẫn còn quá ô uế và quá ích kỷ để có thể được tin cậy giao cho tri thức này. Các hình tư tưởng của họ sẽ được kiến tạo để được phóng đi trong những sứ mạng ích kỷ và cho các mục đích phá hoại, và cho đến khi họ trở nên tinh thần hơn, và đã đạt được sự kiểm soát đối với bản chất thấp của mình, thì các linh từ huyền thuật làm cho hình tướng trong chất liệu trí tuệ được kích hoạt vào hoạt động tách biệt sẽ không được dành cho họ sử dụng.

It might be asked how it is that men do achieve their ends, through concentration and visualisation, and do manage to send forth thought forms which reach their objective. In two ways this can be brought about:

Có thể có người hỏi làm sao con người vẫn đạt được mục đích của mình, thông qua tập trung và sự hình dung, và vẫn xoay xở phóng ra các hình tư tưởng đạt đến mục tiêu của chúng. Điều này có thể được thực hiện theo hai cách:

First. By an unconscious recollection of methods and formulas known and used in Atlantean days, when the magical formulas were public property, and men produced results through the pronouncement of certain sounds. They did not achieve their ends through mental ability, but principally through a parrot-like capacity to repeat mantrams. These are, at times, hidden in the subconscious nature, and are used unwittingly by the man who is feeling strongly enough.

Thứ nhất. Bằng một sự hồi tưởng vô thức về các phương pháp và công thức đã được biết và sử dụng trong thời Atlantis, khi các công thức huyền thuật là tài sản công khai, và con người tạo ra kết quả qua việc phát âm một số âm thanh nhất định. Họ không đạt được mục đích của mình nhờ khả năng trí tuệ, mà chủ yếu nhờ năng lực lặp lại các mantram như con vẹt. Đôi khi những điều này được ẩn trong bản chất tiềm thức, và được sử dụng một cách vô tình bởi con người đang cảm thấy đủ mạnh.

Second. Through the thoughts and ideas of the man fitting in with the plans and purposes of those who do know, either on the path of white or black magic. Then they utilise the form with its inherent force and galvanise it into activity, and a temporary separate identity, thus sending it forth to accomplish its purpose. This accounts for many of the apparently phenomenal results achieved by selfish or by incompetent (though good) thinkers.

Thứ hai. Thông qua việc các tư tưởng và ý tưởng của con người phù hợp với các kế hoạch và mục đích của những ai thực sự biết, hoặc trên chánh đạo hoặc trên con đường của Hắc thuật. Khi đó họ sử dụng hình tướng với mãnh lực cố hữu của nó và kích hoạt nó vào hoạt động, cùng một bản sắc tách biệt tạm thời, nhờ vậy phóng nó đi để hoàn thành mục đích của nó. Điều này giải thích nhiều kết quả dường như phi thường đạt được bởi những người tư tưởng ích kỷ hoặc bất tài (dù tốt).

[Page 1004] The magical words are only communicated under the seal of secrecy, to men working under the Brotherhood of Light, to initiates, and to pledged chelas, owing to the great danger involved. Occasionally, too, they are ascertained by men and women who have brought about a condition of alignment with the Ego, and are, therefore, in touch with the inner centre of all knowledge within themselves. When this is so, the knowledge is safe, for the Ego ever works on the side of law and righteousness, and the words being emanated by the Ego are “lost in His sound” (as it is occultly termed) and will not be remembered by the physical brain when not under the influence of the solar Angel.

[Page 1004] Các linh từ huyền thuật chỉ được truyền đạt dưới ấn tín bí mật, cho những người hoạt động dưới Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, cho các điểm đạo đồ, và cho các đệ tử đã tuyên thệ, do mối nguy hiểm lớn lao liên quan. Đôi khi nữa, chúng được khám phá bởi những người nam và nữ đã tạo ra một tình trạng chỉnh hợp với chân ngã, và vì vậy tiếp xúc được với trung tâm bên trong của mọi tri thức ở ngay trong chính họ. Khi điều này xảy ra, tri thức ấy là an toàn, vì chân ngã luôn luôn hoạt động về phía định luật và chính nghĩa, và các linh từ do chân ngã phát ra “bị mất trong âm thanh của Ngài” (như được gọi một cách huyền bí) và sẽ không được bộ não hồng trần ghi nhớ khi không ở dưới ảnh hưởng của Thái dương Thiên Thần.

The six rules for the mental plane are necessarily brief, owing to the fact that the plane of mind is as yet an unknown land to the majority,—unknown in so far as its conscious control is concerned. These two remaining rules concern, in the first case, the brother engaged in white magic, and in the second the thought form he is constructing.

Sáu quy luật cho cõi trí tất yếu phải ngắn gọn, do sự kiện rằng cõi trí cho đến nay vẫn là một miền đất chưa biết đối với đa số,—chưa biết xét về phương diện sự hữu thức kiểm soát của nó. Hai quy luật còn lại này, trong trường hợp thứ nhất, liên quan đến huynh đệ đang dấn thân vào Chánh Thuật, và trong trường hợp thứ hai liên quan đến hình tư tưởng mà y đang kiến tạo.

RULE V. Three things engage the solar Angel before the sheath created passes downward: the condition of the waters, the safety of the one who thus creates, and steady contemplation. Thus are the heart, the throat, and the eye, allied for triple service.

QUY LUẬT V. Ba điều thu hút Thái dương Thiên Thần trước khi lớp vỏ được tạo ra đi xuống: tình trạng của các nước, sự an toàn của kẻ đang sáng tạo như thế, và sự chiêm ngưỡng bền vững. Như thế tim, cổ họng và mắt được liên kết cho sự phụng sự tam phân.

The focal point of energy that the man, the magician, has now created upon the mental plane, has reached a vibratory activity which makes it certain that response will be called forth from the matter required for the providing of the next, and denser sheath. This vibration will result in an aggregation of a different type of divine life-substance around the central nucleus. The form, occultly, is made to be sent forth, to descend, to [Page 1005] fly as a bird forth upon its mission, and a critical moment is near for the magician. One of the things the magician has to see to is that this form which he has constructed, and which he holds linked to him by a fine thread of animated substance (a correspondence on a minute scale of the sutratmic thread whereby the Monad or the Ego holds in connection its “form of manifestation”) shall neither die for lack of vital sustenance nor return to him with its mission unfulfilled. When this latter catastrophe is the case, the thought form becomes a menace to the magician, and he becomes the prey of that which he has created. The devas who form the body of the idea which has failed in its purpose form a drain upon his vital force. He, therefore, sees to it that the motive or desire lying back of the “idea,” now clothed with its first sheath, retains its pristine purity; that no trace of selfish intent, no perversion of the initial purpose of the solar Angel has been permitted to bring in an unworthy vibration. This is what is meant by attending to the “condition of the waters.” As we well know, water stands for matter, and the substances of the astral plane which are now under consideration are of prime importance in all form-building. According to the substance used and the nature of the Builders who respond to the note of the form in mental matter, will the purpose be accomplished. This is the most important stage in many ways, for the astral body of any form conditions:

Tiêu điểm năng lượng mà con người, nhà huyền thuật, nay đã tạo ra trên cõi trí, đã đạt đến một hoạt động rung động khiến chắc chắn rằng đáp ứng sẽ được khơi dậy từ vật chất cần thiết để cung cấp lớp vỏ kế tiếp và đậm đặc hơn. Rung động này sẽ dẫn đến một sự tập hợp của một loại chất liệu sự sống thiêng liêng khác quanh hạt nhân trung tâm. Hình tướng, theo huyền bí học, được làm cho sẵn sàng để được phóng ra, để đi xuống, để [Page 1005] bay đi như một con chim trong sứ mạng của nó, và một thời điểm nguy cấp đang đến gần đối với nhà huyền thuật. Một trong những điều nhà huyền thuật phải lưu ý là hình tướng mà y đã kiến tạo này, và y giữ nó nối với mình bằng một sợi chỉ mảnh của chất liệu được tiếp sinh lực (một tương ứng trên quy mô cực nhỏ của sợi dây sutratma nhờ đó chân thần hay chân ngã giữ cho “hình tướng biểu hiện” của mình được liên kết) sẽ không chết vì thiếu sự nuôi dưỡng sinh lực cũng không quay trở lại với y khi sứ mạng chưa hoàn thành. Khi tai họa sau này xảy ra, hình tư tưởng trở thành một mối đe dọa đối với nhà huyền thuật, và y trở thành con mồi của chính điều mình đã tạo ra. Các thiên thần tạo thành thể của ý tưởng đã thất bại trong mục đích của nó tạo nên một sự rút cạn sinh lực của y. Vì vậy, y phải bảo đảm rằng động cơ hay dục vọng nằm phía sau “ý tưởng,” nay đã được khoác lớp vỏ đầu tiên, vẫn giữ được sự tinh khiết nguyên sơ của nó; rằng không một dấu vết nào của ý định ích kỷ, không một sự xuyên tạc nào của mục đích ban đầu của Thái dương Thiên Thần đã được cho phép mang vào một rung động bất xứng. Đây là điều được hàm ý bởi việc lưu ý đến “tình trạng của các nước.” Như chúng ta đều biết rõ, nước tượng trưng cho vật chất, và các chất liệu của cõi cảm dục hiện đang được xét đến có tầm quan trọng hàng đầu trong mọi việc xây dựng hình tướng. Tùy theo chất liệu được dùng và bản chất của các đấng kiến tạo đáp ứng với âm điệu của hình tướng trong vật chất trí tuệ mà mục đích sẽ được hoàn thành. Đây là giai đoạn quan trọng nhất trên nhiều phương diện, vì thể cảm dục của bất kỳ hình tướng nào cũng tác động lên:

a. The nature of the physical vehicle.

a. bản chất của vận cụ hồng trần.

b. The transmission of force from the next highest plane.

b. Sự truyền dẫn mãnh lực từ cõi cao hơn kế tiếp.

Provided the man on the physical plane can hold the purpose steady, and refuse to permit its distortion by the influences and vibrations emanating from the lower man, then the “devas of kama” can carry on their work. [Page 1006] I would remind students at this juncture that any thought form necessarily finds its way into greater streams of force or energy, emanating from advanced thinkers of every grade, from the planetary Logos downward, and according to its nature and motive so the work of evolution is assisted or retarded. It is in this connection that the Nirmanakayas work, manipulating streams of thought energy, vitalising the forms created by men, and thus carrying on the work of construction or destruction. They have to use that which exists; hence the necessity for clear thinking. Having “purified” the waters, or safeguarded his desires, the thinker next proceeds (through the use of certain words which are imparted to him by the solar Angel) to protect himself from the devas of elemental nature with which he is purposing to work. On the mental plane, the nature and vibration of the solar Angel proved sufficient protection, but he is now proposing to work with the most dangerous elementals and existences in the three worlds. (302)

Miễn là con người trên cõi hồng trần có thể giữ mục đích vững vàng, và từ chối không cho phép nó bị xuyên tạc bởi các ảnh hưởng và rung động phát ra từ phàm nhân, thì các “thiên thần của kama” có thể tiếp tục công việc của chúng. [Page 1006] Tôi muốn nhắc các đạo sinh tại điểm này rằng bất kỳ hình tư tưởng nào tất yếu cũng tìm đường đi vào các dòng mãnh lực hay năng lượng lớn hơn, phát ra từ các người tư tưởng tiến hóa ở mọi cấp độ, từ Hành Tinh Thượng đế trở xuống, và tùy theo bản chất và động cơ của nó mà công việc tiến hoá được hỗ trợ hay bị trì hoãn. Chính trong mối liên hệ này mà các Nirmanakaya hoạt động, thao tác các dòng năng lượng tư tưởng, tiếp sinh lực cho các hình tướng do con người tạo ra, và nhờ vậy tiếp tục công việc xây dựng hay phá hủy. Các Ngài phải sử dụng cái đang hiện hữu; do đó mới cần đến tư tưởng rõ ràng. Sau khi đã “thanh lọc” các nước, hay bảo vệ các dục vọng của mình, người tư tưởng tiếp theo tiến hành (qua việc sử dụng một số linh từ nhất định được truyền cho y bởi Thái dương Thiên Thần) để bảo vệ mình khỏi các thiên thần của bản chất hành khí mà y dự định làm việc cùng. Trên cõi trí, bản chất và rung động của Thái dương Thiên Thần đã chứng tỏ là sự bảo vệ đầy đủ, nhưng giờ đây y đang dự định làm việc với các hành khí và các hiện hữu nguy hiểm nhất trong ba cõi giới. (302)

(302) H. P. B. has said that the elementals of the air are the most wicked and dangerous. He refers there to the physical plane, and to dangers menacing the physical body. They are the most dangerous where the physical plane is concerned, but in the case we are considering, we are dealing with man, the unity in the three worlds. (back)

(302) H. P. B. đã nói rằng các hành khí của khí là độc ác và nguy hiểm nhất. Ở đó bà đề cập đến cõi hồng trần, và đến những hiểm nguy đe dọa thể xác. Chúng là nguy hiểm nhất khi liên quan đến cõi hồng trần, nhưng trong trường hợp chúng ta đang xét, chúng ta đang bàn đến con người, đơn vị trong ba cõi giới. (back)

These protective formulas are sounded forth by the thinker, in conjunction with the solar Angel, at the moment the thought form is ready to receive its astral sheath. The mantram deals with the forces which impel activity in the Agnisuryans, and starts a stream of protective energy from one of the heart petals of the Egoic lotus. This circulates through the throat centre of the man, and sets up a circulatory stream of energy around him which automatically repulses the devas who might (through their blind unintelligent work) menace his peace. These two matters attended to—desire adjusted and the identity guarded—both the solar Angel and the worker in magic maintain an attitude of contemplation, [Page 1007] or that profound condition which succeeds that called meditation.

Các công thức bảo vệ này được người tư tưởng xướng lên, cùng với Thái dương Thiên Thần, vào lúc hình tư tưởng sẵn sàng tiếp nhận lớp vỏ cảm dục của nó. Mantram này liên quan đến các mãnh lực thúc đẩy hoạt động trong các Agnisuryan, và khởi động một dòng năng lượng bảo vệ từ một trong các cánh hoa tim của Hoa Sen Chân Ngã. Nó lưu chuyển qua trung tâm cổ họng của con người, và thiết lập một dòng năng lượng tuần hoàn quanh y, tự động đẩy lùi các thiên thần có thể (qua công việc mù quáng không thông minh của chúng) đe dọa sự bình an của y. Khi hai vấn đề này đã được xử lý—dục vọng được điều chỉnh và bản sắc được bảo vệ—cả Thái dương Thiên Thần lẫn người hoạt động trong huyền thuật đều duy trì một thái độ chiêm ngưỡng, [Page 1007] hay trạng thái thâm sâu tiếp nối trạng thái được gọi là tham thiền.

In contemplation, the inner eye is fixed upon the object of contemplation, and this produces (unconsciously in most cases) a steady stream of energy which is focussed upon the objective, producing vitalisation and activity. It is the basis of the “work of transmutation,” for instance, when the human substance is transmuted into solar substance. The Ego contemplates his lunar bodies, and gradually the work is accomplished. When his reflection, man, has reached a point in evolution where he can meditate and contemplate, the work is more rapidly accelerated, and transmutation proceeds with rapidity, particularly on the physical plane. In the work of thought-form building, the man, in contemplation, pursues the work of energising and vitalising. It might here be said that the eye is the great directing agency. When the third eye is used, which is the case in contemplation, it is the synthesiser and director of triple energy; hence the powerful work performed by those in whom it is functioning. The third eye only begins to function when the third circle of egoic petals is beginning slowly to unfold.

Trong chiêm ngưỡng, mắt bên trong được cố định vào đối tượng chiêm ngưỡng, và điều này tạo ra (một cách vô thức trong đa số trường hợp) một dòng năng lượng bền vững được tập trung vào mục tiêu, tạo ra sự tiếp sinh lực và hoạt động. Đây là nền tảng của “công việc chuyển hoá,” chẳng hạn, khi chất liệu nhân loại được chuyển hoá thành chất liệu thái dương. Chân ngã chiêm ngưỡng các thể thái âm của mình, và dần dần công việc được hoàn thành. Khi phản chiếu của y, con người, đã đạt đến một điểm tiến hoá mà ở đó y có thể tham thiền và chiêm ngưỡng, thì công việc được gia tốc nhanh hơn, và sự chuyển hoá diễn ra mau lẹ, đặc biệt trên cõi hồng trần. Trong công việc xây dựng hình tư tưởng, con người, trong chiêm ngưỡng, tiếp tục công việc cấp năng lượng và tiếp sinh lực. Ở đây có thể nói rằng mắt là tác nhân chỉ đạo lớn lao. Khi con mắt thứ ba được sử dụng, như trong trường hợp chiêm ngưỡng, nó là yếu tố tổng hợp và chỉ đạo của năng lượng tam phân; do đó mới có công việc đầy quyền năng được thực hiện bởi những ai nơi họ nó đang hoạt động. Con mắt thứ ba chỉ bắt đầu hoạt động khi vòng thứ ba của các cánh hoa chân ngã đang bắt đầu chậm rãi khai mở.

If students will study the effect of the human eye on the physical plane, and then extend the concept to the work of the interior Thinker, as he utilises the third eye, they will get an interesting light upon the subject of thought control. The old Commentary says:

Nếu các đạo sinh nghiên cứu tác động của mắt người trên cõi hồng trần, rồi mở rộng khái niệm ấy đến công việc của Đấng Tư Tưởng bên trong, khi y sử dụng con mắt thứ ba, họ sẽ có được một ánh sáng thú vị về đề tài kiểm soát tư tưởng. Cổ Luận nói:

“When the eye is blind, the forms created revolve in circles and fulfill not the law. When the eye is open, force streams forth, direction is assured, fulfillment is certain, and the plans proceed under law; the eye which is blue in color, and the eye which sees not red, when open, produce that which is intended with great facility.”

“Khi mắt mù, các hình tướng được tạo ra quay vòng tròn và không hoàn thành quy luật. Khi mắt mở, mãnh lực tuôn ra, sự chỉ đạo được bảo đảm, sự hoàn thành là chắc chắn, và các kế hoạch tiến hành dưới quy luật; con mắt có màu xanh lam, và con mắt không thấy màu đỏ, khi mở ra, tạo ra điều được dự định một cách rất dễ dàng.”

The final rule is contained in the words: [Page 1008]

Quy luật cuối cùng được chứa trong những lời: [Page 1008]

RULE VI. The devas of the lower four feel the force when the eye opens; they are driven forth and lose their master.

QUY LUẬT VI. Các thiên thần của bốn thấp cảm nhận mãnh lực khi mắt mở; chúng bị xua ra ngoài và mất chủ của mình.

The egoic energy, transmitted via the physical brain, is directed now to the work of sending forth the form, so that it may clothe itself in astral matter. The eye of the Thinker opens, and repulsing vitality streams forth. More need not be said here, for until the eye is functioning, it is not possible for men to comprehend the nature of the energy which they will then wield or direct.

Năng lượng chân ngã, được truyền qua bộ não hồng trần, giờ đây được hướng vào công việc phóng hình tướng ra, để nó có thể tự khoác lấy vật chất cảm dục. Mắt của Đấng Tư Tưởng mở ra, và sinh lực đẩy lùi tuôn ra. Không cần nói thêm ở đây, vì cho đến khi mắt hoạt động, con người không thể thấu hiểu bản chất của năng lượng mà khi ấy họ sẽ nắm giữ hay chỉ đạo.

b. Five Rules for the Astral Plane. Before we take up the consideration of the second set of “Rules for Magic,” I would like to make a few remarks anent the “eye of the Magician,” to which reference has been earlier made. One of the fundamental rules back of all magical processes is that no man is a magician or worker in white magic until the third eye is opened, or in process of opening, for it is by means of that eye that the thought form is energised, directed and controlled and the lesser builders or forces are swept into any particular line of activity. Among the coming discoveries, and among the next revelations of materialistic science will be one which will concern itself with the force-directing faculty of the human eye, alone or collectively, and this will indicate one of the first stages towards the rediscovery of the third eye, or the “Eye of Shiva.” Shiva is, as we know, one of the names for the first great logoic aspect, and under that name is hidden much of esoteric moment. Shiva stands for:

b. Năm Quy Luật cho Cõi Cảm Dục. Trước khi chúng ta bắt đầu xem xét bộ thứ hai của “Các Quy Luật Huyền Thuật,” tôi muốn đưa ra vài nhận xét liên quan đến “con mắt của Nhà huyền thuật,” điều đã được nhắc đến trước đây. Một trong những quy luật nền tảng phía sau mọi tiến trình huyền thuật là không ai là nhà huyền thuật hay người hoạt động trong Chánh Thuật cho đến khi con mắt thứ ba được mở ra, hoặc đang trong tiến trình mở ra, vì chính bằng con mắt đó mà hình tư tưởng được cấp năng lượng, chỉ đạo và kiểm soát, và các vị tiểu kiến tạo hay các mãnh lực được cuốn vào bất kỳ đường hoạt động đặc thù nào. Trong số những khám phá sắp đến, và trong số những mặc khải kế tiếp của khoa học duy vật sẽ có một khám phá liên quan đến năng lực chỉ đạo mãnh lực của mắt người, riêng lẻ hay tập thể, và điều này sẽ chỉ ra một trong những giai đoạn đầu tiên hướng đến việc tái khám phá con mắt thứ ba, hay “Con Mắt của Shiva.” Shiva, như chúng ta biết, là một trong những danh xưng của phương diện thượng đế vĩ đại thứ nhất, và dưới danh xưng ấy ẩn giấu nhiều điều có tầm quan trọng huyền bí. Shiva tượng trưng cho:

a. The Will aspect,

a. Phương diện Ý chí,

b. The Spirit aspect,

b. Phương diện Tinh thần,

c. The Father in Heaven,

c. Đức Cha trên Trời,

d. The directing purpose,

d. Mục đích chỉ đạo,

e. Conscious energy,

e. Năng lượng hữu thức,

f. Dynamic intent,

f. Ý định năng động,

[Page 1009] and in the consideration of these phrases the innate faculties of the third eye will become apparent.

[Page 1009] và khi xem xét các cụm từ này, các năng lực bẩm sinh của con mắt thứ ba sẽ trở nên hiển nhiên.

The “Eye of Shiva” in the human being has its position, as is already known, in the centre of the forehead between the two physical eyes. (S. D., I, 77; II, 297,309, 316.)

“Con Mắt của Shiva” trong con người có vị trí của nó, như đã được biết, ở trung tâm trán giữa hai mắt hồng trần. (S. D., I, 77; II, 297,309, 316.)

It is not to be confounded with the pineal gland, which is distinctly a physical centre or gland. The third eye exists in etheric matter, and is an etheric centre of force, being made of the substance of the ethers, whereas the pineal gland is formed of matter of the three lower subplanes of the physical plane. The latter, nevertheless, has to be functioning more or less before the “Eye of Shiva” becomes in any degree active, and it is this fact that has led writers of occult books in the past purposely to confound the two, in order to protect the knowledge.

Không nên nhầm lẫn nó với tuyến tùng quả, vốn rõ ràng là một trung tâm hay tuyến hồng trần. Con mắt thứ ba tồn tại trong vật chất dĩ thái, và là một trung tâm mãnh lực dĩ thái, được tạo thành từ chất liệu của các dĩ thái, trong khi tuyến tùng quả được tạo thành từ vật chất của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần. Tuy nhiên, tuyến sau này ít nhiều phải hoạt động trước khi “Con Mắt của Shiva” trở nên hoạt động ở bất kỳ mức độ nào, và chính sự kiện này đã khiến các tác giả của các sách huyền bí trong quá khứ cố ý làm lẫn lộn hai điều ấy, nhằm bảo vệ tri thức.

The third eye is formed through the activity of three factors:

Con mắt thứ ba được hình thành qua hoạt động của ba yếu tố:

First, through the direct impulse of the Ego on its own plane. During the greater part of evolution the Ego makes its contact with its reflection, physical plane man, through the centre at the top of the head. When man is more highly evolved, and is nearing or treading the Path, the indwelling Self takes a more complete grasp of its lower vehicle, and descends to a point in the head or brain which is found approximately in the centre of the forehead. This is its lowest contact. It is interesting here to note the correspondence with the evolution of the senses. The three major senses and the three first to demonstrate in order are, hearing, touch, sight. For the greater part of evolution, hearing is the guiding impulse of human life through egoic contact with the top of the head. Later, when the Ego descends a little lower, the etheric centre which is active in connection with the pituitary body, is added, and man becomes responsive [Page 1010] to subtler and higher vibrations; the occult correspondence to the physical sense of touch awakens. Finally, the third eye opens and the pineal gland simultaneously begins to function. At first, the sight is dim, and the gland is only partially responsive to vibration, but gradually the eye opens fully, the gland is fully active, and we have the “fully awakened” man. When this is the case, the alta major centre vibrates and then the three physical head centres are functioning.

Thứ nhất, qua xung lực trực tiếp của chân ngã trên cõi riêng của nó. Trong phần lớn tiến trình tiến hoá, chân ngã tiếp xúc với phản chiếu của nó, con người trên cõi hồng trần, qua trung tâm ở đỉnh đầu. Khi con người tiến hóa cao hơn, và đang đến gần hoặc đang bước trên Con Đường, Bản Ngã Cao Siêu nội tại nắm giữ vận cụ thấp của mình một cách trọn vẹn hơn, và hạ xuống một điểm trong đầu hay bộ não được tìm thấy xấp xỉ ở trung tâm trán. Đây là tiếp xúc thấp nhất của nó. Ở đây thật thú vị khi lưu ý sự tương ứng với sự tiến hoá của các giác quan. Ba giác quan chính và là ba giác quan đầu tiên biểu lộ theo thứ tự là thính giác, xúc giác, thị giác. Trong phần lớn tiến trình tiến hoá, thính giác là xung lực chỉ đạo của đời sống con người thông qua tiếp xúc chân ngã với đỉnh đầu. Về sau, khi chân ngã hạ xuống thấp hơn một chút, trung tâm dĩ thái hoạt động liên hệ với tuyến yên được thêm vào, và con người trở nên đáp ứng [Page 1010] với các rung động vi tế và cao hơn; sự tương ứng huyền bí với giác quan hồng trần là xúc giác được đánh thức. Sau cùng, con mắt thứ ba mở ra và tuyến tùng quả đồng thời bắt đầu hoạt động. Lúc đầu, thị giác còn mờ nhạt, và tuyến chỉ đáp ứng một phần với rung động, nhưng dần dần con mắt mở hoàn toàn, tuyến hoạt động đầy đủ, và chúng ta có con người “hoàn toàn thức tỉnh.” Khi điều này xảy ra, trung tâm alta major rung động và khi ấy ba trung tâm đầu hồng trần đều hoạt động.

Second, through the co-ordinated activity of the major head centre, the many petalled lotus above the top of the head. This centre directly affects the pineal gland, and the interplay of force behind the two (the correspondence, on a tiny scale, of the pairs of opposites, spirit and matter), produces the great organ of consciousness, the “Eye of Shiva.” It is the instrument of wisdom, and in these three centres of energy we have the correspondence of the three aspects within the head of man.

Thứ hai, qua hoạt động phối hợp của trung tâm đầu chính, hoa sen nhiều cánh phía trên đỉnh đầu. Trung tâm này trực tiếp tác động đến tuyến tùng quả, và sự tương tác của mãnh lực phía sau cả hai (sự tương ứng, trên quy mô cực nhỏ, của các cặp đối cực, tinh thần và vật chất), tạo ra cơ quan lớn của tâm thức, “Con Mắt của Shiva.” Nó là công cụ của minh triết, và trong ba trung tâm năng lượng này chúng ta có sự tương ứng của ba phương diện bên trong đầu con người.

1.

Major head centre

Will Aspect

Spirit

Father in Heaven

2.

Pineal gland

Love-Wisdom aspect

Consciousness

Son

3.

Third eye

Activity aspect

Matter

Mother

The third eye is the director of energy or force, and thus an instrument of the will or Spirit; it is responsive only to that will as controlled by the Son-aspect, the revealer of the love-wisdom nature of gods and man, and it is therefore the sign of the white magician.

Con mắt thứ ba là tác nhân chỉ đạo năng lượng hay mãnh lực, và do đó là một công cụ của ý chí hay Tinh thần; nó chỉ đáp ứng với ý chí ấy khi được kiểm soát bởi phương diện Con, đấng mặc khải bản chất bác ái-minh triết của các thượng đế và con người, và vì vậy nó là dấu hiệu của nhà huyền thuật chánh đạo.

Third, the reflex action of the pineal gland itself.

Thứ ba, phản ứng phản chiếu của chính tuyến tùng quả.

As these three types of energy, or the vibration of these three centres, begin to contact each other, a definite interplay is set up. This triple interplay forms in time a vortex or centre of force, which finds its place in the centre of the forehead, and takes eventually the semblance of an eye looking out between the other two. [Page 1011] It is the eye of the inner vision, and he who has opened it can direct and control the energy of matter, see all things in the Eternal Now, and therefore be in touch with causes more than with effects, read the akashic records, and see clairvoyantly. Therefore, its possessor can control the builders of low degree.

Khi ba loại năng lượng này, hay rung động của ba trung tâm này, bắt đầu tiếp xúc nhau, một sự tương tác xác định được thiết lập. Sự tương tác tam phân này theo thời gian hình thành một xoáy hay trung tâm mãnh lực, tìm được vị trí của nó ở trung tâm trán, và cuối cùng mang dáng vẻ của một con mắt nhìn ra giữa hai mắt kia. [Page 1011] Nó là con mắt của linh thị bên trong, và ai đã mở nó ra có thể chỉ đạo và kiểm soát năng lượng của vật chất, thấy mọi sự trong Hiện Tại Vĩnh Cửu, và vì vậy tiếp xúc với nguyên nhân nhiều hơn là với kết quả, đọc được các hồ sơ akasha, và thấy bằng thông nhãn. Do đó, người sở hữu nó có thể kiểm soát các đấng kiến tạo cấp thấp.

The “Eye of Shiva,” when perfected, is blue in colour, and as our solar Logos is the “Blue Logos” so do His children occultly resemble Him; but this colour must be interpreted esoterically. It must be remembered also that prior to the final two Initiations (the sixth and seventh), the eye of the white magician, when developed, will be coloured according to the man’s ray—again esoterically understood. More anent this question of colour may not be communicated. According to the colour, so will be the type of energy manipulated, but here it must be borne in mind that all magicians work with three types of energy:

“Con Mắt của Shiva,” khi hoàn thiện, có màu xanh lam, và cũng như Thái dương Thượng đế của chúng ta là “Thượng đế Xanh Lam” thì con cái của Ngài cũng giống Ngài một cách huyền bí; nhưng màu sắc này phải được giải thích một cách huyền bí. Cũng phải nhớ rằng trước hai lần điểm đạo cuối cùng (thứ sáu và thứ bảy), con mắt của nhà huyền thuật chánh đạo, khi được phát triển, sẽ được tô màu theo cung của con người—một lần nữa phải được hiểu theo nghĩa huyền bí. Không thể truyền đạt thêm gì về vấn đề màu sắc này. Tùy theo màu sắc mà sẽ có loại năng lượng được thao tác, nhưng ở đây phải ghi nhớ rằng mọi nhà huyền thuật đều làm việc với ba loại năng lượng:

a. That which is the same as their own Ray,

a. Loại giống với cung riêng của họ,

b. That which is complementary to their own type of force,

b. Loại bổ sung cho kiểu mãnh lực riêng của họ,

c. Their polar opposite,

c. Đối cực của họ,

and they work, therefore, either along the line of least resistance, or through attraction, and repulsion.

và vì vậy họ làm việc hoặc theo con đường ít trở ngại nhất, hoặc thông qua hấp dẫn và đẩy lùi.

It is through the medium of this “all-seeing eye” that the Adept can at any moment put Himself in touch with His disciples anywhere; that He can communicate with His compeers on the planet, on the polar opposite of our planet, and on the third planet which, with ours, forms a triangle; that He can, through the energy directed from it, control and direct the builders, and hold any thought form He may have created within His sphere of influence, and upon its intended path of service; and that through his eye by means of directed energy currents He can help and stimulate His disciples or groups of men in any place at any time.

Chính qua trung gian của “con mắt thấy mọi sự” này mà chân sư có thể vào bất cứ lúc nào đặt Chính Ngài vào tiếp xúc với các đệ tử của Ngài ở bất cứ nơi đâu; rằng Ngài có thể giao tiếp với các đồng đẳng của Ngài trên hành tinh, trên đối cực của hành tinh chúng ta, và trên hành tinh thứ ba, hành tinh cùng với hành tinh chúng ta tạo thành một tam giác; rằng Ngài có thể, qua năng lượng được chỉ đạo từ đó, kiểm soát và chỉ đạo các đấng kiến tạo, và giữ bất kỳ hình tư tưởng nào Ngài có thể đã tạo ra trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài, và trên con đường phụng sự đã được dự định của nó; và rằng qua mắt của Ngài, bằng các dòng năng lượng được chỉ đạo, Ngài có thể giúp đỡ và kích thích các đệ tử của Ngài hay các nhóm người ở bất kỳ nơi nào vào bất kỳ lúc nào.

[Page 1012] The pineal gland is subject to two lines of stimulation: First, that which emanates from the Ego itself via the etheric force centres. This downflow of egoic energy (the result of the awakening of the centres through meditation and spirituality of life), impinges upon the gland and in the course of years gradually increases its secretion, enlarges its form, and starts it into a new cycle of activity.

[Page 1012] Tuyến tùng quả chịu hai đường kích thích: Thứ nhất, đường phát ra từ chính chân ngã qua các trung tâm mãnh lực dĩ thái. Dòng tuôn đổ năng lượng chân ngã này (kết quả của sự thức tỉnh các trung tâm qua tham thiền và đời sống tinh thần), tác động lên tuyến và trong tiến trình nhiều năm dần dần làm tăng sự tiết dịch của nó, làm lớn hình dạng của nó, và khởi động nó vào một chu kỳ hoạt động mới.

The second line of stimulation affecting the pineal gland is that which is the consequence of the discipline of the physical body, and its subjugation to the laws of spiritual unfoldment. As the disciple lives a regulated life, avoids meat, nicotine and alcohol, and practises continence, the pineal gland becomes no longer atrophied, but resumes its earlier activity.

Đường kích thích thứ hai tác động đến tuyến tùng quả là đường là hệ quả của sự kỷ luật thể xác, và sự khuất phục nó trước các định luật của sự khai mở tinh thần. Khi đệ tử sống một đời sống điều độ, tránh thịt, nicotine và rượu, và thực hành tiết dục, tuyến tùng quả không còn bị teo nữa, mà phục hồi hoạt động trước kia của nó.

More cannot here be given but enough has been indicated to give the student food for thought.

Không thể cho thêm ở đây, nhưng như thế đã chỉ ra đủ để đem lại nhiều điều đáng suy ngẫm cho đạo sinh.

In meditation, by the sounding of the word, the student awakens response in the major head centre, causes reciprocal vibration between it and the physical head centre, and gradually co-ordinates the forces in the head. Through the practice of the power of visualisation, the third eye is developed. The forms visualised, and the ideas and abstractions which are, in the process, mentally clothed and vehicled, are pictured a few inches from the third eye. It is the knowledge of this which causes the Eastern yogi to speak of “concentration upon the tip of the nose.” Behind this misleading phrase a great truth is veiled.

Trong tham thiền, bằng việc xướng linh từ, đạo sinh đánh thức sự đáp ứng trong trung tâm đầu chính, gây ra rung động tương hỗ giữa nó và trung tâm đầu hồng trần, và dần dần phối hợp các mãnh lực trong đầu. Qua việc thực hành năng lực hình dung, con mắt thứ ba được phát triển. Các hình tướng được hình dung, và các ý tưởng cùng các trừu tượng đang trong tiến trình được khoác lấy và mang bằng chất liệu trí tuệ, được vẽ nên cách con mắt thứ ba vài inch. Chính tri thức này khiến nhà yogi phương Đông nói đến “sự tập trung vào chóp mũi.” Đằng sau cụm từ gây hiểu lầm này là một chân lý lớn lao được che giấu.

In proceeding with the “Rules for Magic,” we will take up those concerned with the second set, which deal with the form-building impulses, and those attractive tendencies which are the basis of physical plane manifestation. We have considered certain rules which deal with the work of the solar Angel, who (in all true magical work of any kind), is the active agent. We have [Page 1013] considered the rules whereby He constructs a thought form upon the mental plane, or that germ body which will (through accretion and vibratory sound), take to itself other forms.

Khi tiếp tục với “Các Quy Luật Huyền Thuật,” chúng ta sẽ xét đến những quy luật liên quan đến bộ thứ hai, bàn về các xung lực xây dựng hình tướng, và những khuynh hướng hấp dẫn là nền tảng của sự biểu hiện trên cõi hồng trần. Chúng ta đã xem xét một số quy luật liên quan đến công việc của Thái dương Thiên Thần, Đấng (trong mọi công việc huyền thuật chân chính thuộc bất kỳ loại nào) là tác nhân hoạt động. Chúng ta đã [Page 1013] xem xét các quy luật nhờ đó Ngài kiến tạo một hình tư tưởng trên cõi trí, hay thể mầm mống mà (qua sự bồi đắp và âm thanh rung động), sẽ thu hút về mình các hình tướng khác.

RULE VII. The dual forces on the plane whereon the vital power must be sought, are seen; the two paths face the Solar Angel; the poles vibrate. A choice confronts the one who meditates.

QUY LUẬT VII. Các mãnh lực kép trên cõi nơi quyền năng thiết yếu phải được tìm kiếm được thấy rõ; hai con đường đối diện Thái dương Thiên Thần; các cực rung động. Một sự lựa chọn đối diện người hành thiền.

Upon the astral plane the thought form must now function, and a body must be provided so as to make this possible. The energy of desire enters it, and “he who meditates” has to energise the form with one of two types of force before it passes into objectivity. Upon the action taken depends the construction of the etheric body, and the consequent physical manifestation. This point is but little realised by the average thinker, but the parallel with his own life experience is exact, as is the correspondence with the cosmic process. The “nature of the deva” (as it is called), enters in, and upon the quality of its love nature, and the specific type of that which is the object of love will depend the nature of the thought form. If the deva, or solar Angel, is as yet in love with manifestation, and has a desire for objective existence, thus identifying himself voluntarily with substance, there ensues the phenomenon of reincarnated physical life. If the deva, or solar Angel, is no longer attracted by matter, then there is no identification, and objective life is no longer the law of his existence. He identifies himself then with quality, or energy, and becomes an expression of the divine attributes. Objectivity may then ensue as a voluntary offering to the good of the group or planetary existence, but identification with the separated form is no longer the case. The human vehicle then created is as much a thought form in this case as any other particularised idea, and [Page 1014] the greatest act of conscious magic is to be seen. All other magical creations are subsidiary to this. Through manipulation of negative and positive energy, thus bringing them to the point of equilibrium before informing them, the perfected body of the Adept is formed. All magical work on the astral plane has to be along the line of equilibrising activity, and the distinctive nature of this type of work on the three planes in the three worlds might be summed up as follows:

Trên cõi cảm dục, hình tư tưởng giờ đây phải hoạt động, và một thể phải được cung cấp để làm cho điều này thành khả hữu. Năng lượng của dục vọng đi vào nó, và “người hành thiền” phải cấp năng lượng cho hình tướng bằng một trong hai loại mãnh lực trước khi nó đi vào tính khách quan. Tùy theo hành động được thực hiện mà việc kiến tạo thể dĩ thái, và sự biểu hiện hồng trần hệ quả, sẽ được quyết định. Điểm này ít được người tư tưởng trung bình nhận ra, nhưng sự tương đồng với kinh nghiệm sống riêng của y là chính xác, cũng như sự tương ứng với tiến trình vũ trụ. “Bản chất của thiên thần” (như được gọi) đi vào, và tùy theo phẩm tính của bản chất bác ái của nó, và loại đặc thù của điều là đối tượng của tình thương mà bản chất của hình tư tưởng sẽ được quyết định. Nếu thiên thần, hay Thái dương Thiên Thần, vẫn còn yêu thích biểu hiện, và có dục vọng đối với sự tồn tại khách quan, do đó tự nguyện đồng hoá với chất liệu, thì hiện tượng đời sống hồng trần tái sinh sẽ xảy ra. Nếu thiên thần, hay Thái dương Thiên Thần, không còn bị vật chất hấp dẫn nữa, thì không có sự đồng hoá, và đời sống khách quan không còn là định luật của sự tồn tại của y nữa. Khi ấy y đồng hoá với phẩm tính, hay năng lượng, và trở thành một biểu hiện của các thuộc tính thiêng liêng. Tính khách quan khi ấy có thể xảy ra như một sự hiến dâng tự nguyện cho thiện ích của sự tồn tại nhóm hay hành tinh, nhưng sự đồng hoá với hình tướng tách biệt không còn nữa. Vận cụ nhân loại khi ấy được tạo ra trong trường hợp này cũng là một hình tư tưởng nhiều như bất kỳ ý tưởng biệt hóa nào khác, và [Page 1014] hành động huyền thuật hữu thức vĩ đại nhất được thấy ở đây. Mọi sáng tạo huyền thuật khác đều phụ thuộc vào điều này. Qua việc thao tác năng lượng âm và dương, nhờ đó đưa chúng đến điểm quân bình trước khi phú linh cho chúng, thể hoàn hảo của chân sư được hình thành. Mọi công việc huyền thuật trên cõi cảm dục đều phải theo đường hoạt động quân bình hóa, và bản chất đặc thù của loại công việc này trên ba cõi trong ba cõi giới có thể được tóm lược như sau:

On the mental plane, the positive force of the solar Angel drives the substance needed into the correct form.

Trên cõi trí, mãnh lực dương của Thái dương Thiên Thần đẩy chất liệu cần thiết vào đúng hình tướng.

On the astral plane, the equilibrising force of the solar Angel gathers the needed material and energy from all directions and builds it into the necessary astral sheath.

Trên cõi cảm dục, mãnh lực quân bình hóa của Thái dương Thiên Thần tập hợp chất liệu và năng lượng cần thiết từ mọi hướng và xây dựng chúng thành lớp vỏ cảm dục cần thiết.

On the physical plane the negative force of the solar Angel is all that is needed to gather the desired etheric substance. By this I mean the form has now achieved a vitality and distinction of its own, so that no aggressive action emanating from the egoic centre is required to continue the work. The note and vibration of the form itself suffices.

Trên cõi hồng trần mãnh lực âm của Thái dương Thiên Thần là tất cả những gì cần thiết để tập hợp chất liệu dĩ thái mong muốn. Bởi điều này tôi muốn nói rằng hình tướng giờ đây đã đạt được một sinh lực và một tính phân biệt riêng của nó, đến mức không cần hành động xung kích nào phát ra từ trung tâm chân ngã để tiếp tục công việc. Chính âm điệu và rung động của bản thân hình tướng là đủ.

RULE VIII. The Agnisuryans respond to the sound. The waters ebb and flow. Let the magician guard himself from drowning at the point where land and water meet. The midway spot which is neither dry nor wet must provide the standing place whereon his feet are set. When water, land and air meet there is the place for magic to be wrought.

QUY LUẬT VIII. Các Agnisuryan đáp ứng với âm thanh. Các nước lên xuống. Hãy để nhà huyền thuật tự bảo vệ mình khỏi bị chết đuối tại điểm đất và nước gặp nhau. Nơi ở giữa không khô cũng không ướt phải cung cấp chỗ đứng nơi chân y được đặt. Khi nước, đất và khí gặp nhau, đó là nơi huyền thuật phải được thực hiện.

It will be noted that in this rule, no mention is made of the fourth element, fire. The reason for this is that the magician has to accomplish the stupendous task of generating the needed fire at this triple “meeting place.” This is one of the most occult and most puzzling of the [Page 1015] rules. Some light is thrown on it by the following three sentences from the old Commentary:

Cần lưu ý rằng trong quy luật này không có sự nhắc đến nguyên tố thứ tư, lửa. Lý do là nhà huyền thuật phải hoàn thành nhiệm vụ phi thường là tạo ra ngọn lửa cần thiết tại “điểm gặp gỡ” tam phân này. Đây là một trong những quy luật huyền bí nhất và khó hiểu nhất. [Page 1015] Một số ánh sáng được soi rọi lên nó bởi ba câu sau đây từ Cổ Luận:

“When the fire is drawn from the inmost point within the heart the waters suffice not to subdue it. Like a stream of flame it issues forth, and traverses the waters, which disappear before it. Thus the goal is found.”

“Khi lửa được rút ra từ điểm sâu kín nhất trong tim, các nước không đủ sức khuất phục nó. Như một dòng lửa nó tuôn ra, và băng qua các nước, là những thứ biến mất trước nó. Như thế mục tiêu được tìm thấy.”

“When the fire descends from the One Who watches above, the wind suffices not to blow it out. The very winds protect, shield and aid the work, guiding the falling fire unto the point of entrance.”

“Khi lửa giáng xuống từ Đấng đang quan sát ở trên cao, gió không đủ sức thổi tắt nó. Chính các luồng gió bảo vệ, che chở và trợ giúp công việc, hướng dẫn ngọn lửa đang rơi đến điểm đi vào.”

“When the fire emanates from the mouth of the one who thinks and sees, then the earth sufficeth not to hide or kill the flame. It feeds the flame, causing a growth and magnitude of fire which reaches to the narrow door of entrance.”

“Khi lửa phát ra từ miệng của kẻ tư tưởng và thấy, thì đất không đủ sức che giấu hay giết chết ngọn lửa. Nó nuôi ngọn lửa, gây nên sự tăng trưởng và cường độ của lửa, thứ vươn tới cánh cửa hẹp của lối vào.”

Under this symbology much is hidden anent the life-giving energy, the centres symbolised to focalise it, and to drive it forth, and the place the various types of receptive matter play in the magical work. As is ever the case in all white magic, the activity of the solar Angel is the primary factor and the work of the man upon the physical plane is regarded as secondary; his physical body, and the work engendered therein, being frequently referred to as “fuel and its warmth.” This needs careful remembering, and will give the clue to the necessity of egoic alignment, and to the problem of the extinction of certain workers in magic, who were “destroyed by their own fire” or energy. The discreet magician is one who sees to the readiness of his lowest vehicle to carry the fire wherewith he works, and this he accomplishes through discipline and strict purity.

Dưới biểu tượng học này ẩn giấu nhiều điều liên quan đến năng lượng ban sự sống, các trung tâm được tượng trưng để tập trung nó và phóng nó ra, và vai trò mà các loại vật chất tiếp nhận khác nhau đảm nhiệm trong công việc huyền thuật. Như luôn luôn là trường hợp trong mọi Chánh Thuật, hoạt động của Thái dương Thiên Thần là yếu tố chính yếu và công việc của con người trên cõi hồng trần được xem là thứ yếu; thể xác của y, và công việc được tạo ra trong đó, thường được gọi là “nhiên liệu và hơi ấm của nó.” Điều này cần được ghi nhớ cẩn thận, và sẽ cho manh mối về sự cần thiết của chỉnh hợp chân ngã, và về vấn đề sự dập tắt của một số người hoạt động trong huyền thuật, những kẻ đã “bị hủy diệt bởi chính lửa” hay năng lượng của mình. Nhà huyền thuật thận trọng là người bảo đảm vận cụ thấp nhất của mình sẵn sàng mang ngọn lửa mà y làm việc cùng, và điều này y hoàn thành qua kỷ luật và sự thanh khiết nghiêm ngặt.

The magician guards himself from “drowning” or from coming under the influence of the water or astral elementals, through a knowledge of certain formulas, and until these sounds and mantrams are imparted and known, it is not safe for the man on the physical plane to attempt magical creation. These formulas are three in number: [Page 1016]

Nhà huyền thuật tự bảo vệ mình khỏi “chết đuối” hay khỏi rơi vào ảnh hưởng của các hành khí nước hay cảm dục, qua sự hiểu biết về một số công thức nhất định, và cho đến khi các âm thanh và mantram này được truyền dạy và được biết đến, thì con người trên cõi hồng trần không an toàn để thử sáng tạo huyền thuật. Các công thức này có ba loại: [Page 1016]

First, those which blend the two notes, add a third, and thus call into activity the builders of the astral plane, the Agnisuryans, in some one or other of their grades. These are based on the initiatory sound of the Ego, and distinguish between it and the sound of the note of the builders and lives of the tiny thought form already formed. The formula is chanted on a basis of these three notes, variation of tone and note, though not of formula, producing the types of forms.

Thứ nhất, những công thức hòa trộn hai âm điệu, thêm một âm thứ ba, và nhờ đó gọi vào hoạt động các đấng kiến tạo của cõi cảm dục, các Agnisuryan, trong một cấp độ nào đó của chúng. Chúng dựa trên âm thanh điểm đạo của chân ngã, và phân biệt giữa nó với âm thanh của âm điệu của các đấng kiến tạo và các sự sống của hình tư tưởng nhỏ bé đã được tạo thành. Công thức được tụng trên nền tảng của ba âm điệu này, sự biến đổi về thanh và âm điệu, dù không phải về công thức, tạo ra các loại hình tướng.

Second, those which are of a purely protective nature, and which, through a knowledge of the laws of sound as they are known in connection with water (or the astral plane), place a vacuum between the magician and the waters, as well as between him and his creation. This formula is based on the sounds connected with air as for it is through placing around himself a protecting shell of air atoms, esoterically understood, that the magician guards himself from the approach of the water builders.

Thứ hai, những công thức có bản chất thuần túy bảo vệ, và nhờ sự hiểu biết về các định luật của âm thanh như chúng được biết trong liên hệ với nước (hay cõi cảm dục), đặt một khoảng chân không giữa nhà huyền thuật và các nước, cũng như giữa y và sáng tạo của y. Công thức này dựa trên các âm thanh liên hệ với khí vì chính qua việc đặt quanh mình một vỏ bảo vệ bằng các nguyên tử khí, được hiểu theo nghĩa huyền bí, mà nhà huyền thuật tự bảo vệ mình khỏi sự tiếp cận của các đấng kiến tạo nước.

Third, those which, when sounded, produce two results: the sending forth of the perfected creation, so that it may take to itself a physical body, and next, the dispersal of the building forces, now that their work is completed.

Thứ ba, những công thức mà khi được xướng lên sẽ tạo ra hai kết quả: phóng sáng tạo đã hoàn thiện ra ngoài, để nó có thể thu hút lấy cho mình một thể hồng trần, và kế đó là làm phân tán các mãnh lực kiến tạo, giờ đây công việc của chúng đã hoàn tất.

This last set of formulas is of exceeding interest, and were they not so powerful the magician might find himself cumbered with the produce of his thought, and the prey of a vital form, and of certain “devas of the waters” who would never leave him until they had completely drained from him all the “waters of his nature,” absorbing it into their own nature, and producing his astral death. The curious phenomenon would then be seen of the Ego or solar Angel being incarnated in the mental sheath, yet separated from the physical body, owing to the occult “drowning” of the magician. There is nothing left for the Ego to do then but to snap the sutratma [Page 1017] or thread, and sever all connection with the lowest sheath. This lowest sheath then may persist for a short time, according to the strength of the animal life, but more probably death would immediately ensue. (304) Several magicians have perished thus.

Bộ công thức cuối cùng này cực kỳ đáng quan tâm, và nếu chúng không mạnh mẽ đến thế thì nhà huyền thuật có thể thấy mình bị vướng bận bởi sản phẩm của tư tưởng mình, và trở thành con mồi của một hình tướng đầy sinh lực, cùng của một số “thiên thần của các nước” sẽ không bao giờ rời y cho đến khi chúng đã hoàn toàn rút cạn khỏi y mọi “nước của bản chất y,” hấp thụ nó vào bản chất riêng của chúng, và gây ra cái chết cảm dục của y. Khi ấy sẽ thấy hiện tượng kỳ lạ là chân ngã hay Thái dương Thiên Thần nhập thể trong lớp vỏ trí tuệ, nhưng lại bị tách khỏi thể xác, do sự “chết đuối” huyền bí của nhà huyền thuật. Khi đó không còn gì cho chân ngã làm ngoài việc cắt đứt sutratma [Page 1017] hay sợi dây, và đoạn tuyệt mọi liên hệ với lớp vỏ thấp nhất. Lớp vỏ thấp nhất này khi ấy có thể tồn tại trong một thời gian ngắn, tùy theo sức mạnh của sự sống động vật, nhưng có lẽ cái chết sẽ xảy ra ngay lập tức. (304) Một số nhà huyền thuật đã chết như thế.

(304) The courses open to the Divine Ego after separation are two.—S. D., III, 524.

(304) Có hai con đường mở ra cho Chân ngã thiêng liêng sau khi tách rời.—S. D., III, 524.

a. It can start a fresh series of incarnations.

a. Nó có thể bắt đầu một chuỗi lâm phàm mới.

b. It can return to the ‘bosom of the Father’ and be gathered back to the Monad.

b. Nó có thể trở về “lòng Cha” và được thu hồi về chân thần.

Two courses are open to the lower discarded self.—S. D., III, 525, 527.

Có hai con đường mở ra cho bản ngã thấp bị loại bỏ.—S. D., III, 525, 527.

a. If with a physical body it becomes a soulless man. In this case there is hope.

a. Nếu có thể xác, nó trở thành một con người vô hồn. Trong trường hợp này vẫn còn hy vọng.

b. If without a physical body it becomes a spook, or one form of the Dweller on the Threshold. (back)

b. Nếu không có thể xác, nó trở thành một ma ảnh, hay một dạng của Kẻ Chận Ngõ. (back)

RULE IX. Condensation next ensues. The fire and waters meet, the form swells and grows. Let the magician set his form upon the proper path.

QUY LUẬT IX. Sự cô đọng tiếp theo sau. Lửa và nước gặp nhau, hình tướng phồng lên và lớn dần. Hãy để nhà huyền thuật đặt hình tướng của mình trên con đường thích hợp.

This rule is very briefly summed up in the injunction: Let desire and mind be so pure and so equally apportioned and the created form so justly balanced that it cannot be attracted towards the destructive or “left-hand” path.

Quy luật này được tóm lược rất ngắn gọn trong lời huấn thị: Hãy để dục vọng và trí tuệ tinh khiết đến thế và được phân phối đồng đều đến thế, và hình tướng được tạo ra được quân bình công chính đến thế, để nó không thể bị lôi kéo về phía con đường hủy diệt hay “tả đạo.”

RULE X. As the waters bathe the form created, they are absorbed and used. The form increases in its strength; let the magician thus continue until the work suffices. Let the outer builders cease their labors then, and let the inner workers enter on their cycle.

QUY LUẬT X. Khi các nước tắm gội hình tướng được tạo ra, chúng được hấp thụ và sử dụng. Hình tướng tăng trưởng trong sức mạnh của nó; hãy để nhà huyền thuật cứ tiếp tục như thế cho đến khi công việc là đủ. Khi ấy hãy để các đấng kiến tạo bên ngoài ngừng lao tác, và hãy để các người hoạt động bên trong bước vào chu kỳ của họ.

One of the fundamental concepts which is grasped by all magical workers, is that both will and desire are force emanations. They differ in quality and vibration, but are essentially currents of energy, one forming an initial vortex or centre of activity, being centrifugal, and the other being centripetal, and the main factor in the accretion of matter into a form around the central vortex. This can be seen demonstrating in an interesting way in the case of the egoic lotus, where we have the will aspect forming the “jewel in the lotus,” or the inner [Page 1018] centre of electrical energy, and the desire or love aspect forming the egoic lotus itself, or the form which hides the centre. The analogy in all form building holds good for gods, men and atoms. The solar system is (from the higher cosmic planes), seen as a vast blue lotus, and so on down the scale; even the tiny atom of substance can be so considered. The distinction between these various lotuses exists in the number and arrangement of the petals. The solar system is literally a twelve-petalled lotus, each petal being formed of forty-nine lesser petals. The planetary lotuses differ in each scheme, and one of the secrets of initiation is revealed when the number of the petals of

Một trong những khái niệm nền tảng được mọi người hoạt động huyền thuật nắm bắt là cả ý chí lẫn dục vọng đều là những sự phát xạ của mãnh lực. Chúng khác nhau về phẩm tính và rung động, nhưng về bản chất đều là những dòng năng lượng, một dòng tạo thành một xoáy ban đầu hay một trung tâm hoạt động, có tính ly tâm, còn dòng kia có tính hướng tâm, và là yếu tố chính trong sự bồi tụ vật chất thành một hình tướng quanh xoáy trung tâm. Điều này có thể được thấy biểu lộ một cách thú vị trong trường hợp của Hoa Sen Chân Ngã, nơi chúng ta có phương diện ý chí tạo thành “ngọc trong hoa sen,” hay trung tâm bên trong của năng lượng điện [Page 1018], còn phương diện dục vọng hay bác ái tạo thành chính Hoa Sen Chân Ngã, hay hình tướng che giấu trung tâm. Sự tương đồng trong mọi công cuộc xây dựng hình tướng đều đúng cho các vị thần, những người nam và nữ, và các nguyên tử. Hệ mặt trời được nhìn thấy (từ các cõi vũ trụ cao hơn) như một hoa sen xanh bao la, và cứ thế đi xuống theo thang bậc; ngay cả nguyên tử nhỏ bé của chất liệu cũng có thể được xem như vậy. Sự khác biệt giữa các hoa sen này nằm ở số lượng và sự sắp xếp của các cánh hoa. Hệ mặt trời theo nghĩa đen là một hoa sen mười hai cánh, mỗi cánh được tạo thành từ bốn mươi chín cánh nhỏ hơn. Các hoa sen hành tinh khác nhau trong mỗi hệ hành tinh, và một trong những bí mật của điểm đạo được tiết lộ khi số lượng cánh hoa của

a. Our earth planet,

a. hành tinh Trái Đất của chúng ta,

b. Our planetary polar opposite,

b. hành tinh đối cực của hành tinh chúng ta,

c. Our complementary or equilibrising planet,

c. hành tinh bổ sung hay quân bình của chúng ta,

is committed to the initiate. Armed with this knowledge, he can then work out certain formulas of magic which enable him to create in the three spheres. It is the same basic concept which governs thought form building, and which enables a magician of white magic to produce objective phenomena on the physical plane. He works with the two types of energy, will and desire, and their equilibrising is what leads to the balancing of the pairs of opposites, and the subsequent release of energy-substance in the formation of the physical plane structure. The magician has to know the following facts:

được trao cho điểm đạo đồ. Được trang bị bằng tri thức này, y khi đó có thể suy ra một số công thức huyền thuật giúp y sáng tạo trong ba khối cầu. Chính cùng khái niệm căn bản ấy chi phối việc xây dựng Hình tư tưởng, và giúp một nhà huyền thuật chánh đạo tạo ra các hiện tượng khách quan trên cõi hồng trần. Y làm việc với hai loại năng lượng, ý chí và dục vọng, và sự quân bình của chúng dẫn đến việc cân bằng các cặp đối cực, và sau đó giải phóng năng lượng-chất liệu trong việc hình thành cấu trúc cõi hồng trần. Nhà huyền thuật phải biết các sự kiện sau đây:

The formulas for the two aspects of logoic energy, will and desire. This is literally apprehension of the note and formula of the Brahma or substance aspect, and the note and formula of the Vishnu, or building aspect. One he ascertains because he has mastered matter; the other is revealed to him when he has achieved group consciousness.

Các công thức cho hai phương diện của năng lượng logoi, ý chí và dục vọng. Điều này theo nghĩa đen là sự lĩnh hội âm điệu và công thức của phương diện Brahma hay chất liệu, và âm điệu cùng công thức của phương diện Vishnu, hay phương diện kiến tạo. Một điều y xác định được vì y đã làm chủ vật chất; điều kia được tiết lộ cho y khi y đã đạt được tâm thức nhóm.

[Page 1019] The formula for the particular type of energy substance which he is seeking to employ. This will have relation to that particular petal in the solar lotus from which the desired force emanates.

[Page 1019] Công thức cho loại chất liệu năng lượng đặc thù mà y đang tìm cách sử dụng. Điều này sẽ liên hệ đến cánh hoa đặc thù trong hoa sen thái dương mà từ đó mãnh lực mong muốn phát ra.

The formula for the particular type of energy which is transmitted to him via one or other of the three circles of petals in his own egoic lotus.

Công thức cho loại năng lượng đặc thù được truyền đến cho y qua một trong ba vòng cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã của chính y.

The formula for the particular petal in a circle of petals with which he may choose to work. All these concern primarily the will aspect, as far as the thought form to be produced is concerned, for the magician is the will, or purpose, or spirit behind the objective phenomenon which he is in process of producing.

Công thức cho cánh hoa đặc thù trong một vòng cánh hoa mà y có thể chọn để làm việc. Tất cả những điều này chủ yếu liên quan đến phương diện ý chí, xét theo Hình tư tưởng sẽ được tạo ra, vì nhà huyền thuật là ý chí, hay mục đích, hay tinh thần đứng sau hiện tượng khách quan mà y đang trong tiến trình tạo ra.

The formula which sweeps into activity (and thus produces a form), those Agnisuryans who are energised by any particular aspect of solar force. Where the two forces are brought into contact, the form is produced, or the third energy centre appears or manifests:

Công thức quét vào hoạt động (và do đó tạo ra một hình tướng) những Agnisuryan được tiếp năng lượng bởi bất kỳ phương diện đặc thù nào của mãnh lực thái dương. Nơi hai mãnh lực được đưa vào tiếp xúc, hình tướng được tạo ra, hay trung tâm năng lượng thứ ba xuất hiện hay biểu lộ:

a. The energy of the will aspect.

a. Năng lượng của phương diện ý chí.

b. The energy of the desire or love aspect.

b. Năng lượng của phương diện dục vọng hay bác ái.

c. The energy of the consequent thought form.

c. Năng lượng của Hình tư tưởng hệ quả.

There is no contradiction here to the occult teaching that Father and Mother, or Spirit and Matter, when brought into contact, produce the Son. The difficulty which students have to surmount consists in the true interpretation of the three terms: Mother—Matter—Moisture (or the waters).

Ở đây không có mâu thuẫn nào với giáo huấn huyền bí rằng Cha và Mẹ, hay Tinh thần và Vật chất, khi được đưa vào tiếp xúc, tạo ra Người Con. Khó khăn mà các đạo sinh phải vượt qua nằm ở sự diễn giải đúng đắn ba thuật ngữ: Mẹ—Vật chất—Ẩm tính (hay các nước).

In creation, the three vibratory spheres:

Trong sáng tạo, ba khối cầu rung động:

1.

The dense physical

Mother

Matter,

2.

The etheric

Matter

Holy Spirit,

3.

The astral

Moisture

Water,

work as a unit, and in the occult teaching, during the earlier stages of creation, must not be separated or distinguished apart. On the path of involution, if the subject may be approached from a different angle, and thus [Page 1020] somewhat clarify, distinctions are made, and on the path of evolution, or of return, they are, as we well know, surmounted; on the middle point of equilibrium, as on our globe, for instance, confusion ensues in the mind of the student owing to the occult fact that the various formulas are being employed simultaneously, the thought-forms are at all stages of construction, and the ensuing chaos is terrible.

hoạt động như một đơn vị, và trong giáo huấn huyền bí, trong các giai đoạn đầu của sáng tạo, không được tách rời hay phân biệt riêng ra. Trên con đường giáng hạ tiến hoá, nếu chủ đề có thể được tiếp cận từ một góc độ khác, và nhờ đó [Page 1020] làm sáng tỏ phần nào, thì có những sự phân biệt được tạo ra, còn trên con đường tiến hoá, hay Con Đường Trở Về, như chúng ta đều biết rõ, chúng được vượt qua; tại điểm giữa của sự quân bình, chẳng hạn như trên bầu hành tinh của chúng ta, sự lẫn lộn nảy sinh trong trí tuệ của đạo sinh do sự kiện huyền bí rằng các công thức khác nhau đang được sử dụng đồng thời, các Hình tư tưởng đang ở mọi giai đoạn kiến tạo, và sự hỗn loạn phát sinh thật khủng khiếp.

The rule which we are commenting upon may be interpreted as stating that in the magical work, the energy of the waters becomes paramount, and desire for the form and the fulfilment of its objective increases. This takes place after the will energy has formed the central nucleus by being brought into contact with the desire force. The magician, through desire (or strong motive), increases the vitality of the form until it is so powerful and intense in its own separated life that it is ready to go forth on its mission upon the physical plane. The building devas who have been impelled to construct the form out of the myriads of elemental lives available, have completed their work, and now cease from constructing; this particular type of energy no longer drives the lesser lives in any specific direction, and the final cycle of work upon the astral plane is entered upon. This is summed up in the next rule.

Quy luật mà chúng ta đang bình giải có thể được diễn giải là nói rằng trong công việc huyền thuật, năng lượng của các nước trở nên tối quan trọng, và dục vọng đối với hình tướng cùng sự hoàn thành mục tiêu của nó gia tăng. Điều này diễn ra sau khi năng lượng ý chí đã tạo thành hạt nhân trung tâm bằng cách được đưa vào tiếp xúc với mãnh lực dục vọng. Nhà huyền thuật, thông qua dục vọng (hay động cơ mạnh mẽ), gia tăng sinh lực của hình tướng cho đến khi nó trở nên mạnh mẽ và mãnh liệt đến mức, trong sự sống biệt lập riêng của nó, nó sẵn sàng đi ra thực hiện sứ mệnh của mình trên cõi hồng trần. Các thiên thần kiến tạo đã được thúc đẩy xây dựng hình tướng từ vô số sự sống hành khí sẵn có, nay đã hoàn tất công việc của mình, và giờ đây ngừng việc kiến tạo; loại năng lượng đặc thù này không còn thúc đẩy các sự sống nhỏ bé theo bất kỳ hướng đặc biệt nào nữa, và chu kỳ công việc cuối cùng trên cõi cảm dục được bước vào. Điều này được tóm lược trong quy luật kế tiếp.

RULE XI. Three things the worker with the law must now accomplish. First, ascertain the formula which will confine the lives within the ensphering wall; next, pronounce the words which will tell them what to do and where to carry that which has been made; and finally, to utter forth the mystic phrase which will save him from their work.

QUY LUẬT XI. Người hoạt động với định luật giờ đây phải hoàn thành ba điều. Trước hết, xác định công thức sẽ giam giữ các sự sống bên trong bức tường bao quanh; kế đó, phát âm những lời sẽ bảo chúng phải làm gì và mang điều đã được tạo ra đến đâu; và sau cùng, thốt ra cụm từ thần bí sẽ cứu y khỏi công việc của chúng.

The embodied idea has now form and shape upon the astral plane; but all is as yet in a state of flux, and the lives are only held in place through the fixed attention [Page 1021] of the magician, working through the greater builders. He must, through knowledge of certain magical phrases, make the work more permanent and independent and fix the place of the vitalising elements within the form, and give them an impetus that will result in more settled concretion. Having accomplished that, he becomes, if it might so be expressed, an agent of Karma, and sends forth the dual thought form (clothed in mental and astral matter), to fulfil its mission, whatever that may be. Finally, he has to take steps to protect himself from the attractive forces of his own nature, which might eventuate in his holding the thought form so closely within the radius of his own influence that it would be rendered useless, its own inherent energy neutralised, and its purpose negated.

Ý tưởng đã nhập thể giờ đây đã có hình dạng và hình tướng trên cõi cảm dục; nhưng mọi sự vẫn còn ở trong trạng thái lưu động, và các sự sống chỉ được giữ tại chỗ nhờ sự chú tâm cố định [Page 1021] của nhà huyền thuật, hoạt động thông qua các đấng đại kiến tạo. Y phải, thông qua tri thức về một số cụm từ huyền thuật, làm cho công việc trở nên bền vững và độc lập hơn, cố định vị trí của các yếu tố tiếp sinh lực bên trong hình tướng, và ban cho chúng một xung lực sẽ dẫn đến sự kết tụ ổn định hơn. Sau khi hoàn thành điều đó, y trở thành, nếu có thể nói như vậy, một tác nhân của nghiệp quả, và phóng ra Hình tư tưởng nhị phân (được khoác bằng vật chất trí tuệ và cảm dục), để hoàn thành sứ mệnh của nó, dù sứ mệnh ấy là gì. Sau cùng, y phải thực hiện các bước để tự bảo vệ mình khỏi các mãnh lực hấp dẫn của chính bản chất mình, những mãnh lực có thể dẫn đến việc y giữ Hình tư tưởng quá chặt trong bán kính ảnh hưởng của chính mình đến nỗi nó trở nên vô dụng, năng lượng cố hữu của nó bị trung hoà, và mục đích của nó bị phủ định.

They might also produce such a powerful, attractive force that he would draw the form so closely to himself that he would be forced to absorb it. This can be harmlessly accomplished by the man who knows how, but results, nevertheless, in a waste of energy which is forbidden under the Law of Economy. With the majority of men, who are oft unconscious magicians, many thought forms are malicious or destructive, and react back upon their creators in a disastrous manner.

Chúng cũng có thể tạo ra một mãnh lực hấp dẫn mạnh đến mức y sẽ kéo hình tướng lại quá gần mình đến nỗi y buộc phải hấp thụ nó. Điều này có thể được thực hiện một cách vô tổn hại bởi người biết cách, nhưng dù sao vẫn dẫn đến sự lãng phí năng lượng, điều bị cấm theo Định luật Tiết Kiệm. Với đa số những người nam và nữ, vốn thường là các nhà huyền thuật vô thức, nhiều Hình tư tưởng mang ác ý hay có tính phá hoại, và phản tác động trở lại lên những người tạo ra chúng theo một cách tai hại.

c. Four Rules for the Physical Plane. In the magical work of form creation, we have carried the thought form down from the mental plane where the solar Angel initiated the work, through the astral, where the equilibrising work was done, to the physical plane, or to the etheric levels. Here the work of producing objectivity is carried forward, and here the worker in magic is in critical danger of failure should he not be cognisant of the forms and mantrams by which the new group of builders can be reached, and the gap between the astral plane and the gaseous subplane of the physical be bridged. It might be useful here to remember that in the work of creation [Page 1022] the white magician avails himself of the current Ray influence. When the third, fifth and seventh rays are in power, either coming in, at full meridian, or passing out, the work is much easier than when the second, sixth or fourth are dominant. At the present time, the seventh Ray, as we know, is rapidly dominating, and it is one of the easiest of the forces with which man has to work. Under this Ray it will be possible to build a new structure for the rapidly decaying civilisation, and to erect the new temple desired for the religious impulse. Under its influence the work of the numerous unconscious magicians will be much facilitated. This will eventuate in the rapid growth of unconscious psychic phenomena, in the spread of mental science, and the consequent ability of thinkers to acquire and to create those tangible benefits they desire. Nevertheless, this magic of the unconscious or selfish kind leads to karmic results of a deplorable nature, for only those who work with the law and who control the lesser lives through knowledge, love and will, evade the consequences entailed on those who manipulate living matter for selfish ends.

c. Bốn Quy Luật cho Cõi Hồng Trần. Trong công việc huyền thuật của sự sáng tạo hình tướng, chúng ta đã đưa Hình tư tưởng đi xuống từ cõi trí, nơi Thái dương Thiên Thần khởi xướng công việc, qua cõi cảm dục, nơi công việc quân bình được thực hiện, đến cõi hồng trần, hay đến các cấp độ dĩ thái. Tại đây công việc tạo ra tính khách quan được tiếp tục, và tại đây người hoạt động trong huyền thuật ở trong mối nguy hiểm nghiêm trọng có thể thất bại nếu y không nhận biết các hình tướng và các mantram nhờ đó nhóm kiến tạo mới có thể được tiếp cận, và khoảng cách giữa cõi cảm dục với cõi phụ khí thể của cõi hồng trần có thể được bắt cầu. Ở đây, có lẽ sẽ hữu ích nếu nhớ rằng trong công việc sáng tạo [Page 1022] nhà huyền thuật chánh đạo tận dụng ảnh hưởng của cung hiện hành. Khi các cung ba, năm và bảy đang có quyền lực, dù đang đi vào, ở đỉnh cực thịnh, hay đang đi ra, công việc dễ dàng hơn nhiều so với khi cung hai, sáu hay bốn chiếm ưu thế. Hiện nay, như chúng ta biết, cung bảy đang nhanh chóng chiếm ưu thế, và đó là một trong những mãnh lực dễ làm việc nhất đối với con người. Dưới cung này, sẽ có thể xây dựng một cấu trúc mới cho nền văn minh đang nhanh chóng suy tàn, và dựng nên ngôi đền mới mà xung lực tôn giáo mong muốn. Dưới ảnh hưởng của nó, công việc của vô số nhà huyền thuật vô thức sẽ được tạo điều kiện rất nhiều. Điều này sẽ dẫn đến sự tăng trưởng nhanh chóng của các hiện tượng thông linh vô thức, sự lan rộng của khoa học trí tuệ, và khả năng hệ quả của các nhà tư tưởng trong việc đạt được và tạo ra những lợi ích hữu hình mà họ mong muốn. Tuy nhiên, loại huyền thuật vô thức hay ích kỷ này dẫn đến những kết quả nghiệp quả đáng buồn, vì chỉ những ai làm việc với định luật và kiểm soát các sự sống nhỏ bé bằng tri thức, bác ái và ý chí mới tránh được các hậu quả giáng xuống trên những kẻ thao túng vật chất sống vì những mục đích ích kỷ.

The white magician utilises solar forces. As the planet passes around the sun different types of solar energy are contacted, and expert knowledge is required to utilise the influences in due time, and to have the form so constituted that it can respond at the needed hour to the differentiated energy.

Nhà huyền thuật chánh đạo sử dụng các mãnh lực thái dương. Khi hành tinh chuyển động quanh mặt trời, các loại năng lượng thái dương khác nhau được tiếp xúc, và cần có tri thức chuyên môn để sử dụng các ảnh hưởng đúng lúc, cũng như làm cho hình tướng được cấu tạo sao cho nó có thể đáp ứng vào giờ cần thiết với năng lượng đã được biến phân.

He manipulates planetary force of a triple nature:

Y thao túng mãnh lực hành tinh có bản chất tam phân:

a. That which is the product of his own planet, and the most easily available.

a. Mãnh lực là sản phẩm của chính hành tinh y, và dễ sử dụng nhất.

b. That which emanates from the polar opposite of our planet.

b. Mãnh lực phát ra từ đối cực của hành tinh chúng ta.

c. That which can be felt originating from that planet which forms, with our earth and its opposite, the esoteric triangle.

c. Mãnh lực có thể được cảm nhận là phát sinh từ hành tinh tạo thành, cùng với Trái Đất của chúng ta và đối cực của nó, tam giác huyền bí.

[Page 1023] Students need here to remember that we are now dealing with etheric matter and vital energy, and are therefore concerning ourselves with the physical plane and all that is included in that term. They need likewise to remember that the magician (as he is working on the plane of objectivity) is in a position to use his own vital forces in the work of thought form creation, but this is only possible and permissible when he has reached the point in evolution where he is a channel for force and knows how to draw it within himself, transmute it, or combine it with the forces of his own body, and then transmit it to the thought form which he is in process of constructing. Much of interest will open up before the thinker who extends this idea to the planetary Logos and His work of form creating.

[Page 1023] Các đạo sinh ở đây cần nhớ rằng hiện nay chúng ta đang bàn đến vật chất dĩ thái và năng lượng sinh lực, và do đó đang đề cập đến cõi hồng trần cùng mọi điều được bao hàm trong thuật ngữ ấy. Các bạn cũng cần nhớ rằng nhà huyền thuật (khi y đang làm việc trên cõi khách quan) ở vào vị thế có thể sử dụng các mãnh lực sinh lực riêng của mình trong công việc sáng tạo Hình tư tưởng, nhưng điều này chỉ có thể và được phép khi y đã đạt đến điểm tiến hoá mà tại đó y là một kênh dẫn cho mãnh lực và biết cách thu hút nó vào trong mình, chuyển hoá nó, hay kết hợp nó với các mãnh lực của chính thể mình, rồi sau đó truyền nó cho Hình tư tưởng mà y đang trong tiến trình kiến tạo. Nhiều điều thú vị sẽ mở ra trước nhà tư tưởng nào mở rộng ý tưởng này đến Hành Tinh Thượng đế và công việc sáng tạo hình tướng của Ngài.

With these few preliminary remarks, we can now continue with the Rules of Magic for the physical plane.

Với vài nhận xét sơ bộ này, giờ đây chúng ta có thể tiếp tục với các Quy Luật Huyền Thuật cho cõi hồng trần.

RULE XII. The web pulsates. It contracts and expands. Let the magician seize the midway point and thus release those “prisoners of the planet” whose note is right and justly tuned to that which must be made.

QUY LUẬT XII. Tấm lưới rung động. Nó co lại và giãn ra. Hãy để nhà huyền thuật nắm lấy điểm ở giữa và nhờ đó giải thoát những “tù nhân của hành tinh” có âm điệu đúng và được điều chỉnh chính xác với điều phải được tạo ra.

It is necessary for the magician here to remember that all that takes place upon the earth is to be found within the planetary etheric web. The worker in white magic, being an occultist, deals in universals, and starts his magical work on the confines of the physical etheric sphere. His problem is to locate those lesser lives, within the web, who are of the right order to be built into the proposed thought vehicle. Such work can necessarily only be done by the man who, through the severance of the confining web of his own etheric web, can reach out to that which is consciously recognised by him as the planetary vital body. Only he who is free can control and utilise those who are prisoners. This is an occult axiom [Page 1024] of real moment, and much of the failure undergone by would-be workers in magic is to be traced to the fact that they themselves are not free. The “prisoners of the planet” are those myriads of deva lives who form the planetary pranic body, and are swept in on the floods of vital force emanating from the physical sun.

Ở đây, nhà huyền thuật cần nhớ rằng mọi điều diễn ra trên trái đất đều được tìm thấy bên trong tấm lưới dĩ thái hành tinh. Người hoạt động trong Chánh Thuật, vì là một nhà huyền bí học, làm việc với những cái phổ quát, và khởi sự công việc huyền thuật của mình ở ranh giới của khối cầu dĩ thái hồng trần. Vấn đề của y là định vị những sự sống nhỏ bé ấy, bên trong tấm lưới, vốn thuộc đúng loại để được xây dựng vào vận cụ tư tưởng được đề xuất. Công việc như thế tất yếu chỉ có thể được thực hiện bởi người mà, thông qua việc cắt đứt tấm lưới giam hãm của chính thể dĩ thái mình, có thể vươn ra đến điều được y nhận biết một cách hữu thức là thể sinh lực hành tinh. Chỉ người nào tự do mới có thể kiểm soát và sử dụng những kẻ đang bị giam giữ. Đây là một tiên đề huyền bí [Page 1024] có tầm quan trọng thực sự, và phần lớn sự thất bại mà những người muốn hoạt động trong huyền thuật phải chịu có thể được truy nguyên về sự kiện là chính họ không tự do. “Những tù nhân của hành tinh” là vô số các sự sống thiên thần tạo thành thể prana hành tinh, và bị cuốn vào theo những dòng thác sinh lực phát ra từ mặt trời hồng trần.

RULE XIII. The magician must recognise the four; note in his work the shade of violet which they evidence, and thus construct the shadow. When this is so, the shadow clothes itself, and the four become the seven.

QUY LUẬT XIII. Nhà huyền thuật phải nhận biết bốn; ghi nhận trong công việc của y sắc tím mà chúng biểu lộ, và nhờ đó kiến tạo cái bóng. Khi điều này xảy ra, cái bóng tự khoác lấy y phục, và bốn trở thành bảy.

This means literally that the magician must be in a position to discriminate between the different ethers, and to note the special hue of the different levels, thereby ensuring a balanced building of the “shadow.” He “recognises” them in the occult sense; that is, he knows their note and key, and is aware of the particular type of energy they embody. Enough emphasis has not been laid upon the fact that the three higher levels of the etheric planes are in vibratory communication with the three higher planes of the cosmic physical plane, and they (with their ensphering fourth level) have been called in the occult books “the inverted Tetraktys.” It is this knowledge which puts the magician in possession of the three types of planetary force and their combination, or the fourth type, and thus releases for him that vital energy which will drive this idea into objectivity. As the different types of forces meet and coalesce, a dim shadowy form clothes itself upon the vibrating astral and mental sheath, and the idea of the solar Angel is attaining definite concretion.

Điều này theo nghĩa đen có nghĩa là nhà huyền thuật phải ở vào vị thế có thể phân biện giữa các loại dĩ thái khác nhau, và ghi nhận sắc thái đặc biệt của các cấp độ khác nhau, nhờ đó bảo đảm sự kiến tạo quân bình của “cái bóng.” Y “nhận biết” chúng theo nghĩa huyền bí; nghĩa là, y biết âm điệu và chủ âm của chúng, và nhận thức được loại năng lượng đặc thù mà chúng thể hiện. Chưa có đủ sự nhấn mạnh đặt lên sự kiện rằng ba cấp độ cao hơn của các cõi dĩ thái đang ở trong sự giao tiếp rung động với ba cõi cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ, và chúng (cùng với cấp độ thứ tư bao quanh của chúng) đã được gọi trong các sách huyền bí là “Tetraktys đảo ngược.” Chính tri thức này đặt nhà huyền thuật vào quyền sở hữu ba loại mãnh lực hành tinh và sự kết hợp của chúng, hay loại thứ tư, và nhờ đó giải phóng cho y năng lượng sinh lực sẽ thúc đẩy ý tưởng này vào tính khách quan. Khi các loại mãnh lực khác nhau gặp nhau và hợp nhất, một hình tướng mờ nhạt như bóng tự khoác lấy mình trên lớp vỏ cảm dục và trí tuệ đang rung động, và ý tưởng của Thái dương Thiên Thần đang đạt đến sự kết tụ xác định.

RULE XIV. The sound swells out. The hour of danger to the soul courageous draweth near. The waters have not hurt the white creator and naught could drown nor drench him. Danger from fire and flame [Page 1025] menaces now, and dimly yet the rising smoke is seen. Let him again, after the cycle of peace, call on the solar Angel.

QUY LUẬT XIV. Âm thanh dâng lên. Giờ phút hiểm nguy đối với linh hồn dũng cảm đang đến gần. Các nước đã không làm tổn thương nhà sáng tạo chánh đạo và không gì có thể dìm hay làm ướt y. Hiểm nguy từ lửa và ngọn lửa [Page 1025] giờ đây đe doạ, và làn khói bốc lên vẫn còn mờ nhạt được nhìn thấy. Hãy để y một lần nữa, sau chu kỳ bình an, kêu gọi Thái dương Thiên Thần.

The work of creation assumes now serious proportions, and for the final time the body of the magician is menaced by destruction. The “shadow” having been formed, it is now ready to take to itself a “fiery” or gaseous body, and it is these fire builders who menace the life of the magician, and this for the following reasons.

Công việc sáng tạo giờ đây mang những tỷ lệ nghiêm trọng, và lần cuối cùng thể của nhà huyền thuật bị đe doạ huỷ diệt. “Cái bóng” đã được hình thành, giờ đây sẵn sàng nhận lấy cho mình một thể “lửa” hay khí thể, và chính các thiên thần lửa này đe doạ sự sống của nhà huyền thuật, vì các lý do sau đây.

Firstly, because the fires of the human body are closely allied to the fires with which the magician seeks to work, and should these latent fires of the body and the latent fires of the planet be brought into too close juxtaposition, the creator is in danger of burning and destruction.

Thứ nhất, vì các lửa của thể người có quan hệ mật thiết với các lửa mà nhà huyền thuật tìm cách làm việc cùng, và nếu các lửa tiềm tàng này của thể cùng các lửa tiềm tàng của hành tinh bị đưa vào sự cận kề quá mức, người sáng tạo sẽ lâm nguy bị thiêu đốt và huỷ diệt.

Secondly, the Agnichaitans, being allied to the “fire devas” of the mental plane, have much power, and can only be controlled properly by the solar Angel Himself.

Thứ hai, các Agnichaitan, vì có liên hệ với các “thiên thần lửa” của cõi trí, có rất nhiều quyền năng, và chỉ có thể được kiểm soát đúng đắn bởi chính Thái dương Thiên Thần.

Thirdly, on this planet the planetary fires are not as yet dominated by solar fire, and are very easily driven into the work of destruction.

Thứ ba, trên hành tinh này, các lửa hành tinh vẫn chưa được Lửa Thái dương chi phối, và rất dễ bị thúc đẩy vào công việc huỷ diệt.

The solar Angel must, therefore, now again be invoked. This means that the magician (when his “shadow” is completed, and prior to the final stages of concretion) must see to it that his alignment with the Ego is just and unimpeded, and the communicating currents in full play. He must literally “renew his meditation,” and make direct contact afresh before proceeding with the work. Otherwise, the fires of his own body may get out of control, and his etheric body suffer in consequence. He, therefore, fights fire with fire, and draws down solar fire for his protection. This was not necessary on the astral plane. For the magician, the moments of the greatest danger in the work of creating are at certain junctures on the astral plane, where he is in danger of occult drowning, and at the transition from etheric levels [Page 1026] to the planes of tangible concretion, when he is menaced by “occult burning.” In the one case, he does not call on the Ego, but stems the tide by love and the equilibrising powers of his own nature. In the latter case, he must call in that which represents the will aspect in the three worlds, the impulsive, dynamic thinker or solar Angel. He accomplishes this by means of a mantram. No clue can be given to this, owing to the powers it confers.

Do đó, Thái dương Thiên Thần giờ đây phải lại được khẩn cầu. Điều này có nghĩa là nhà huyền thuật (khi “cái bóng” của y đã hoàn tất, và trước các giai đoạn kết tụ cuối cùng) phải bảo đảm rằng sự chỉnh hợp của y với Chân ngã là đúng đắn và không bị cản trở, và các dòng truyền thông đang vận hành đầy đủ. Y phải theo nghĩa đen “làm mới lại sự tham thiền của mình,” và một lần nữa tạo tiếp xúc trực tiếp trước khi tiếp tục công việc. Nếu không, các lửa của chính thể y có thể vượt khỏi sự kiểm soát, và thể dĩ thái của y sẽ chịu hậu quả. Vì vậy, y lấy lửa chống lửa, và kéo Lửa Thái dương xuống để tự bảo vệ. Điều này không cần thiết trên cõi cảm dục. Đối với nhà huyền thuật, những thời điểm nguy hiểm lớn nhất trong công việc sáng tạo là tại một số thời điểm nhất định trên cõi cảm dục, nơi y có nguy cơ bị chết đuối huyền bí, và tại sự chuyển tiếp từ các cấp độ dĩ thái [Page 1026] sang các cõi kết tụ hữu hình, khi y bị đe doạ bởi “sự thiêu đốt huyền bí.” Trong trường hợp thứ nhất, y không kêu gọi Chân ngã, mà ngăn dòng triều bằng bác ái và các quyền năng quân bình của chính bản chất mình. Trong trường hợp sau, y phải gọi vào điều đại diện cho phương diện ý chí trong ba cõi giới, tức nhà tư tưởng xung động, năng động hay Thái dương Thiên Thần. Y thực hiện điều này bằng một mantram. Không thể đưa ra đầu mối nào về điều này, do các quyền năng mà nó ban cho.

RULE XV. The fires approach the shadow, yet burn it not. The fire sheath is completed. Let the magician chant the words that blend the fire and water.

QUY LUẬT XV. Các lửa tiến đến cái bóng, nhưng không thiêu đốt nó. Lớp vỏ lửa được hoàn tất. Hãy để nhà huyền thuật tụng những lời hòa trộn lửa và nước.

Little can here be said in interpretation of these words, beyond a reference to the general sense. The gaseous sheath is created, and the hour for the formation of the sheath for the sixth subplane, the liquid, is near. The two must blend. This is the moment of the greatest danger, as far as the thought form itself is concerned. Earlier dangers have menaced the magician. Now the form he is creating must be protected. The nature of the danger is hinted at in the words: “Where fire and water meet apart from chanted sound, all dissipates in steam. The fire ceases to be.” This danger is hid in the karmic enmity existing between the two great groups of devas. These groups can only be united by the mediator, man.

Ở đây, ngoài việc đề cập đến ý nghĩa tổng quát, rất ít điều có thể được nói ra để diễn giải những lời này. Lớp vỏ khí thể được tạo ra, và giờ phút hình thành lớp vỏ cho cõi phụ thứ sáu, tức thể lỏng, đang đến gần. Hai thứ ấy phải hòa trộn. Đây là thời điểm nguy hiểm lớn nhất, xét theo chính Hình tư tưởng. Những hiểm nguy trước đó đe doạ nhà huyền thuật. Giờ đây hình tướng mà y đang tạo ra phải được bảo vệ. Bản chất của hiểm nguy được gợi ý trong những lời: “Nơi lửa và nước gặp nhau mà không có âm thanh được tụng lên, mọi sự tan biến thành hơi nước. Lửa không còn nữa.” Hiểm nguy này ẩn trong mối thù nghịch nghiệp quả tồn tại giữa hai nhóm thiên thần lớn. Các nhóm này chỉ có thể được hợp nhất bởi đấng trung gian, con người.

It might be asked of what use the fifteen rules for magic communicated above may be. Naught, as yet, as far as practical work is concerned, but much where inner intellectual development is desired. He who meditates and broods over these rules in the light of what has been earlier communicated anent the devas and building forces, will arrive at an understanding of the Laws of Construction in the macrocosm, which will avail him much, and save him much time when the magical work and formulas are put in his hands.

Có thể sẽ được hỏi rằng mười lăm quy luật huyền thuật được truyền đạt ở trên có ích gì. Hiện nay thì chưa có ích gì, xét theo công việc thực hành, nhưng lại rất hữu ích ở nơi sự phát triển trí tuệ bên trong được mong muốn. Người nào tham thiền và suy ngẫm về các quy luật này dưới ánh sáng của những gì đã được truyền đạt trước đây liên quan đến các thiên thần và các mãnh lực kiến tạo, sẽ đi đến sự thấu hiểu các Định luật Kiến tạo trong Đại thiên địa, điều sẽ giúp ích cho y rất nhiều, và tiết kiệm cho y nhiều thời gian khi công việc huyền thuật và các công thức được trao vào tay y.

DIVISION E – MOTION ON THE PLANE OF MIND

PHÂN KHU E – CHUYỂN ĐỘNG TRÊN CÕI TRÍ

[Page 1027]

[Page 1027]

I. Introductory Remarks.

I. Những nhận xét mở đầu.

II. The Nature of this Motion.

II. Bản chất của chuyển động này.

1. Spiral-cyclic.

1. Xoắn ốc-chu kỳ.

2. Triple.

2. Tam phân.

3. Attractive.

3. Hấp dẫn.

III. Results of its Activity.

III. Các kết quả của hoạt động của nó.

1. The Law of Expansion.

1. Định luật Mở Rộng.

2. The Law of Monadic Return.

2. Định luật Chân Thần Trở Về.

3. The Law of Solar Evolution.

3. Định luật Tiến Hóa Thái Dương.

4. The Law of Radiation.

4. Định luật Phóng xạ.

a. The cause of radiation.

a. Nguyên nhân của phóng xạ.

b. Radiation in the five kingdoms,

b. Phóng xạ trong năm giới,

c. Radiation and cyclic law.

c. Phóng xạ và định luật chu kỳ.

IV. The Turning of the Wheel.

IV. Sự xoay chuyển của bánh xe.

1. The solar wheel.

1. Bánh xe thái dương.

2. The planetary wheel.

2. Bánh xe hành tinh.

3. The human wheel.

3. Bánh xe nhân loại.

V. Motion and the Form-Building Aspect.

V. Chuyển động và phương diện kiến tạo hình tướng.

1. In the mental sheath.

1. Trong thể trí.

2. In the causal body.

2. Trong thể nguyên nhân.

VI. Effects of Synthetic Motion.

VI. Các hiệu quả của chuyển động tổng hợp.

1. Introductory remarks.

1. Những nhận xét mở đầu.

2. It produces periodic manifestation.

2. Nó tạo ra sự biểu hiện theo chu kỳ.

3. Causes triangular linking.

3. Gây ra sự nối kết tam giác.

4. Produces a relation between three centres.

4. Tạo ra mối liên hệ giữa ba trung tâm.

I. INTRODUCTORY REMARKS

I. NHỮNG NHẬN XÉT MỞ ĐẦU

We have now concluded our consideration of thought forms, having viewed the whole universe (including man) as an embodied thought, and having dealt with the ability [Page 1028] of man himself to create forms for the clothing of his ideas.

Giờ đây chúng ta đã kết thúc việc khảo cứu về các hình tư tưởng, sau khi đã nhìn toàn thể vũ trụ (kể cả con người) như một tư tưởng được nhập thể, và đã bàn đến khả năng [Page 1028] của chính con người trong việc tạo ra các hình tướng để khoác lấy các ý tưởng của y.

We now return once more to the realm of technicalities, and to the more scientific part of our thesis. I use the word “scientific,” for that which will be said concerns that which is proven and known to occultists, and deals with facts. The modern fact of the modern scientist is his approximation of a part, and often an infinitesimal part, of some greater whole, and even then it concerns only the most objective part of manifestation, for that which is the essence is not regarded as a reality at all by them as it is by the real occult knower. That which we see and can touch is but an effect of inner underlying causes. The occultist does not concern himself with effects, but only with their originating cause. The modern scientist, therefore, is not as yet occupying himself with causes, and during the past only approached the realm of these initiatory impulses when he began to comprehend the energy aspect of matter, and to consider the nature of the atom. When he can pass more directly in his thoughts to the discussion and consideration of the etheric substratum which underlies the tangible, then and only then will he be entering the domain of causes, and even in this case, only those physical causes which underlie the grossly objective; he will not really have ascertained the vital impulses which produce Being. Yet a great step will have been made for, under the Law of Analogy, he will then be in a position to comprehend some of the major secrets of solar manifestation; for the planes of our solar system constitute, as we know, and as this Treatise seeks to demonstrate, the seven subplanes of the cosmic physical plane.

Giờ đây chúng ta lại quay về lĩnh vực của các chi tiết kỹ thuật, và về phần khoa học hơn trong luận đề của chúng ta. Tôi dùng từ “khoa học”, vì điều sẽ được nói đến liên quan đến điều đã được chứng minh và được các nhà huyền bí học biết rõ, và bàn đến các sự kiện. Sự kiện hiện đại của nhà khoa học hiện đại là sự tiếp cận của ông đối với một phần, và thường là một phần vô cùng nhỏ, của một toàn thể lớn hơn nào đó, và ngay cả như vậy nó cũng chỉ liên quan đến phần khách quan nhất của biểu hiện, vì điều là tinh túy thì hoàn toàn không được họ xem là một thực tại như đối với thức giả huyền bí chân chính. Điều mà chúng ta thấy và có thể chạm đến chỉ là một kết quả của những nguyên nhân nội tại nền tảng. Nhà huyền bí học không bận tâm đến các kết quả, mà chỉ bận tâm đến nguyên nhân phát sinh ra chúng. Vì vậy, nhà khoa học hiện đại cho đến nay vẫn chưa thực sự chú tâm đến các nguyên nhân, và trong quá khứ chỉ mới tiếp cận lĩnh vực của các xung lực khởi nguyên này khi ông bắt đầu hiểu phương diện năng lượng của vật chất, và xem xét bản chất của nguyên tử. Khi ông có thể chuyển trực tiếp hơn trong tư tưởng của mình sang việc thảo luận và khảo cứu nền chất liệu dĩ thái nằm bên dưới cái hữu hình, thì khi ấy và chỉ khi ấy ông mới bước vào lãnh vực của các nguyên nhân, và ngay cả trong trường hợp này, cũng chỉ là những nguyên nhân hồng trần nằm dưới cái khách quan thô đặc; ông vẫn chưa thực sự xác định được các xung lực sinh động tạo ra Bản Thể. Tuy nhiên, một bước tiến lớn sẽ được thực hiện, vì theo định luật tương đồng, khi ấy ông sẽ ở vào vị thế để hiểu được một vài bí mật lớn của biểu hiện thái dương; vì các cõi của hệ mặt trời chúng ta cấu thành, như chúng ta biết, và như bộ Luận này tìm cách chứng minh, bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.

It is apparent to all careful students of this Treatise on Fire that in this section we are concerned with:

Điều hiển nhiên đối với mọi đạo sinh cẩn trọng của bộ Luận về Lửa này là trong phần này chúng ta quan tâm đến:

First, that mode of activity which distinguishes the Vishnu aspect of Deity, or the motion of the Divine Manasaputras. [Page 1029] This involves, therefore, a consideration of the effects of this motion:

Thứ nhất, phương thức hoạt động phân biệt phương diện Vishnu của Thượng đế, hay chuyển động của các Manasaputras thiêng liêng. [Page 1029] Do đó, điều này bao hàm việc khảo cứu các hiệu quả của chuyển động này:

a. Within the planetary schemes, Their bodies.

a. Bên trong các hệ hành tinh, tức các thể của Các Ngài.

b. Upon the atoms or “Points” in those bodies, the human and deva Monads.

b. Trên các nguyên tử hay “Các Điểm” trong những thể ấy, tức các chân thần nhân loại và thiên thần.

Second, that impulse which is the basis of the Law of Periodicity, and which results in the cyclic incarnation of all Beings. This impulse manifests in three cycles or in three turns of the wheel of Being.

Thứ hai, xung lực là nền tảng của Định luật Chu Kỳ, và đưa đến sự nhập thể theo chu kỳ của mọi Hữu thể. Xung lực này biểu hiện trong ba chu kỳ hay trong ba vòng quay của bánh xe Bản Thể.

a. The activity which produces involution, or the submergence in matter of Life or Spirit.

a. Hoạt động tạo ra giáng hạ tiến hoá, hay sự chìm sâu của Sự sống hoặc tinh thần vào vật chất.

b. The activity which produces the equilibrium of these two forces, matter and Spirit, or manifestation, or the processes of evolution.

b. Hoạt động tạo ra sự quân bình của hai mãnh lực này, vật chất và tinh thần, hay biểu hiện, hay các tiến trình tiến hoá.

c. The activity which withdraws the central energy from out of the responsive form and produces obscuration.

c. Hoạt động rút năng lượng trung tâm ra khỏi hình tướng đáp ứng và tạo ra sự lu mờ.

Third, that activity which causes the interplay—attraction and consequent repulsion—between all atoms, from the great cosmic atom, a solar system, to the tiny atom of the chemist or the physicist. This activity, therefore, may be viewed as:

Thứ ba, hoạt động gây ra sự tương tác—hấp dẫn và do đó đẩy lui—giữa mọi nguyên tử, từ nguyên tử vũ trụ vĩ đại là một hệ mặt trời cho đến nguyên tử nhỏ bé của nhà hóa học hay nhà vật lý. Vì vậy, hoạt động này có thể được xem như:

a. Inter-cosmic, or affecting constellations.

a. Liên-vũ trụ, hay ảnh hưởng đến các chòm sao.

b. Inter-planetary, or affecting the schemes.

b. Liên-hành tinh, hay ảnh hưởng đến các hệ hành tinh.

c. Inter-chain, or affecting the chains.

c. Liên-dãy, hay ảnh hưởng đến các dãy.

d. Inter-globular, or producing an interchange of force between the globes of the chains.

d. Liên-bầu hành tinh, hay tạo ra sự trao đổi mãnh lực giữa các bầu hành tinh của các dãy.

e. Inter-sectional, or affecting the transference of force between the five kingdoms of nature.

e. Liên-phân khu, hay ảnh hưởng đến sự chuyển dịch mãnh lực giữa năm giới trong thiên nhiên.

f. Inter-human, or relating to the interplay between the various human units.

f. Liên-nhân loại, hay liên quan đến sự tương tác giữa các đơn vị nhân loại khác nhau.

g. Inter-atomic, or the passage of force from one atom to another atom.

g. Liên-nguyên tử, hay sự truyền mãnh lực từ nguyên tử này sang nguyên tử khác.

Students need here to remember that we are concerned with the energy or activity which produces forms, and, [Page 1030] therefore, with the forces which tend to coherence, to concretion, and to the stabilisation of the work of the builders. If they but realised it, the key to much that is connected with the production of forms, or of the Son, the second aspect, is contained in the above tabulation, for all nature holds together, and the life of any scheme, globe, kingdom, or atom, becomes in turn the animating principle of another scheme, globe, kingdom, or atom. Everything in the solar system is in a state of flux, as is everything in the universe, and the vital energy circulates, as the blood or the nervous energy of the body circulates, throughout the entire system. This is the basis of the occult fact that all in nature, for instance, will be, is, or has been, through the human kingdom. ( S. D., I, 215, 242, 295.) Under this type of solar activity, the ultimate good is attained by the method of interplay, interchange, and in mutual attraction and repulsion.

Ở đây, các đạo sinh cần nhớ rằng chúng ta đang quan tâm đến năng lượng hay hoạt động tạo ra các hình tướng, và do đó, [Page 1030] đến các mãnh lực có khuynh hướng tạo nên sự kết dính, sự cô đặc, và sự ổn định hóa công việc của các đấng kiến tạo. Nếu họ chỉ cần chứng nghiệm được điều đó, thì chìa khóa cho nhiều điều liên quan đến việc tạo ra các hình tướng, hay của Con, phương diện thứ hai, đã nằm trong bảng liệt kê trên, vì toàn thể thiên nhiên liên kết với nhau, và sự sống của bất kỳ hệ hành tinh, bầu hành tinh, giới hay nguyên tử nào lần lượt trở thành nguyên khí linh hoạt của một hệ hành tinh, bầu hành tinh, giới hay nguyên tử khác. Mọi sự trong hệ mặt trời đều ở trong trạng thái lưu chuyển, cũng như mọi sự trong vũ trụ, và năng lượng sinh động tuần hoàn, giống như máu hay năng lượng thần kinh của thể xác tuần hoàn, khắp toàn bộ hệ thống. Đây là nền tảng của sự kiện huyền bí rằng mọi sự trong thiên nhiên, chẳng hạn, sẽ là, đang là, hoặc đã từng là, thông qua giới nhân loại. ( S. D., I, 215, 242, 295.) Dưới loại hoạt động thái dương này, thiện ích tối hậu đạt được bằng phương pháp tương tác, trao đổi, và trong sự hấp dẫn và đẩy lui lẫn nhau.

It would be advisable here if students would study that which was communicated in the early part of this treatise upon motion upon the physical and astral planes. Under the Law of Analogy, much will be noted as necessarily translated on to the higher plane, and to be transmuted into the energy of the form-building impulse. We will consider what we have to say in this section under the following heads:

Ở đây sẽ là điều nên làm nếu các đạo sinh nghiên cứu điều đã được truyền đạt trong phần đầu của bộ luận này về chuyển động trên cõi hồng trần và cõi cảm dục. Theo định luật tương đồng, nhiều điều sẽ được nhận thấy là tất yếu được chuyển dịch lên cõi cao hơn, và được chuyển hoá thành năng lượng của xung lực kiến tạo hình tướng. Chúng ta sẽ xem xét điều phải nói trong phần này dưới các đề mục sau:

1. The nature of this motion…. spiral cycling

1. Bản chất của chuyển động này…. xoắn ốc chu kỳ

2. The results of its activity. These results can be viewed as four subsidiary laws or adjuncts to the major law of Attraction, and may be called:

2. Các kết quả của hoạt động của nó. Các kết quả này có thể được xem như bốn định luật phụ thuộc hay bổ trợ cho định luật lớn về Hấp Dẫn, và có thể được gọi là:

The Law of Expansion.

Định luật Mở Rộng.

The Law of Monadic Return.

Định luật Chân Thần Trở Về.

The Law of Solar Evolution.

Định luật Tiến Hóa Thái Dương.

The Law of Radiation.

Định luật Phóng xạ.

[Page 1031] It will, therefore, be apparent that, as we consider these laws, we are dealing with matters that concern:

[Page 1031] Vì vậy, sẽ hiển nhiên rằng khi chúng ta xem xét các định luật này, chúng ta đang bàn đến những vấn đề liên quan đến:

The process of initiation.

Tiến trình điểm đạo.

The life of the divine pilgrims upon the upward arc.

Đời sống của các lữ khách thiêng liêng trên cung đi lên.

The impulse which produces the Son, and which drives Him to gain experience through the medium of the solar system.

Xung lực tạo ra Con, và thúc đẩy Ngài đạt được kinh nghiệm thông qua trung gian của hệ mặt trời.

Magnetism, or Divine Alchemy.

Từ điện, hay Thuật Luyện Kim Thiêng Liêng.

3. The turning of the wheel,

3. Sự xoay chuyển của bánh xe,

a. The solar wheel,

a. Bánh xe thái dương,

b. The planetary wheel,

b. Bánh xe hành tinh,

c. The human wheel.

c. Bánh xe nhân loại.

This will involve our taking up the consideration of the orbital paths of these various spheres, their centres, inter-play and intercommunication, and of force transference, and will bring out the concept that all spiral-cyclic activity is not the result of the rotary action of matter itself, but of an impulse emanating from without any particular atom, and therefore extraneous to it.

Điều này sẽ bao hàm việc chúng ta khảo cứu các quỹ đạo của những khối cầu khác nhau này, các trung tâm của chúng, sự tương tác và giao thông giữa chúng, cùng sự chuyển dịch mãnh lực, và sẽ làm nổi bật khái niệm rằng mọi hoạt động xoắn ốc-chu kỳ không phải là kết quả của chính tác động quay của vật chất, mà là của một xung lực phát ra từ bên ngoài bất kỳ nguyên tử riêng biệt nào, và do đó là ngoại tại đối với nó.

4. Motion, or the form-building impulse latent in:

4. Chuyển động, hay xung lực kiến tạo hình tướng tiềm tàng trong:

a. The mental sheath itself, both cosmically and humanly considered.

a. Chính thể trí, xét cả về vũ trụ lẫn nhân loại.

b. The causal body of the macrocosm and the microcosm.

b. Thể nguyên nhân của đại thiên địa và tiểu thiên địa.

c. The centres, divine and human.

c. Các trung tâm, thiêng liêng và nhân loại.

5. The effects of the united activity of the sheath, the centres, and the causal body as it produces:

5. Các hiệu quả của hoạt động hợp nhất của thể, các trung tâm, và thể nguyên nhân khi nó tạo ra:

a. Periodic manifestation.

a. Sự biểu hiện theo chu kỳ.

b. The linking of the triangles.

b. Sự nối kết các tam giác.

c. The relation between the throat centre, the alta major centre, and the mental centre, macrocosmically and microcosmically considered. [Page 1032]

c. Mối liên hệ giữa trung tâm cổ họng, trung tâm alta major, và trung tâm trí tuệ, xét cả về đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa. [Page 1032]

II. THE NATURE OF THIS MOTION

II. BẢN CHẤT CỦA CHUYỂN ĐỘNG NÀY

As we well know, the nature of the motion on the plane of matter is rotary. Each atom of matter rotates on its own axis, and each larger atom, from the purely physical standpoint, likewise does the same; a cosmic atom, a solar system, a planetary atom, and a human atom, man, can be seen equally rotating at differing degrees of velocity upon their own axis or around their own pole. When we arrive at the plane of mind, and have to consider the activity of the second aspect of divinity, that which builds and holds the forms in coherent form, and which is the basis of the phenomenon we call time (literally, the awareness of the form), a different type of force or motion becomes apparent. This type of energy in no way negates or renders useless the atomic rotary type, but involves it, and yet at the same time it brings the atoms of all degrees under the influence of its own activity, so that in every form which is in manifestation, the two types are manifested. I would here remind the student that we are primarily considering the force of the second aspect as it concerns the human and superhuman kingdoms, or as the Manasaputras and their various groups are concerned. On the involutionary arc, the Vishnu force is likewise felt, but until the nature of the group soul is more apprehended, and the quality of the Life who informs each of the subhuman kingdoms of nature is known with greater accuracy, it will profit us more to deal with force as it affects the human being, the planet on which he may be found, and the system in which that planet is playing its part.

Như chúng ta đều biết rõ, bản chất của chuyển động trên cõi vật chất là quay tròn. Mỗi nguyên tử vật chất quay trên trục riêng của nó, và mỗi nguyên tử lớn hơn, xét từ quan điểm thuần hồng trần, cũng làm như vậy; một nguyên tử vũ trụ, một hệ mặt trời, một nguyên tử hành tinh, và một nguyên tử nhân loại, con người, đều có thể được thấy đang quay với những mức độ vận tốc khác nhau trên trục riêng của chúng hay quanh cực riêng của chúng. Khi chúng ta đạt đến cõi trí, và phải xem xét hoạt động của phương diện thứ hai của thiên tính, tức điều kiến tạo và giữ các hình tướng trong trạng thái kết hợp chặt chẽ, và là nền tảng của hiện tượng mà chúng ta gọi là thời gian (theo nghĩa đen, là sự nhận biết về hình tướng), thì một loại mãnh lực hay chuyển động khác trở nên hiển lộ. Loại năng lượng này tuyệt nhiên không phủ nhận hay làm cho loại quay tròn nguyên tử trở nên vô dụng, mà bao hàm nó, đồng thời cũng đưa các nguyên tử ở mọi cấp độ vào dưới ảnh hưởng của chính hoạt động của nó, đến nỗi trong mọi hình tướng đang biểu hiện, cả hai loại đều được biểu lộ. Ở đây tôi muốn nhắc đạo sinh rằng chúng ta chủ yếu đang xem xét mãnh lực của phương diện thứ hai trong chừng mực nó liên quan đến các giới nhân loại và siêu nhân loại, hay trong chừng mực các Manasaputras và các nhóm khác nhau của các Ngài có liên quan. Trên cung giáng hạ tiến hoá, mãnh lực Vishnu cũng được cảm nhận như vậy, nhưng cho đến khi bản chất của hồn nhóm được hiểu rõ hơn, và phẩm tính của Sự Sống phú linh cho mỗi giới dưới nhân loại trong thiên nhiên được biết đến chính xác hơn, thì sẽ có ích hơn cho chúng ta nếu bàn đến mãnh lực trong chừng mực nó ảnh hưởng đến con người, hành tinh nơi y có thể được tìm thấy, và hệ thống trong đó hành tinh ấy đang giữ phần việc của nó.

The activity of the second aspect has been called spiral-cyclic, which in itself involves the concept of duality. This activity is the cause of all cyclic evolution, and has been called in the occult phraseology “the activity of Brahma’s year.” It is that which brings about the [Page 1033] periodical appearing and disappearing of all existences, great or small. It is intimately linked with the will aspect of Divinity, and with the Lipika Lords of the highest degree and its origin is, therefore, difficult for us to comprehend. Perhaps all that can be said about it is that it is largely due to certain impulses which (as far as our solar system is concerned) can be traced to the sun Sirius. These impulses find their analogy in the impulses emanating in cyclic fashion from the causal body of man, which impulses bring about his appearance upon the plane of maya for a temporary period. A hint may here be given to the earnest student; in the threefold Ego (the lives who form the central bud, the lives of the petals, and the triple group of lives who form the three permanent atoms) is seen a correspondence to the three groups of Lipika Lords who are the karmic cause of solar manifestation, and who control its periodic manifestation. These three groups are related to Their guiding Intelligences on Sirius.

Hoạt động của phương diện thứ hai đã được gọi là xoắn ốc-chu kỳ, mà tự nó đã bao hàm khái niệm nhị nguyên tính. Hoạt động này là nguyên nhân của mọi tiến hoá theo chu kỳ, và trong cụm từ thần bí đã được gọi là “hoạt động của năm Brahma.” Chính nó đem lại sự [Page 1033] xuất hiện và biến mất theo chu kỳ của mọi tồn tại, lớn hay nhỏ. Nó liên hệ mật thiết với phương diện ý chí của thiên tính, và với các Đấng Lipika ở cấp độ cao nhất, nên nguồn gốc của nó vì vậy khó cho chúng ta thấu hiểu. Có lẽ tất cả những gì có thể nói về nó là nó phần lớn do một số xung lực nào đó mà (trong chừng mực hệ mặt trời của chúng ta có liên quan) có thể được truy nguyên về mặt trời Sirius. Những xung lực này có sự tương đồng của chúng trong các xung lực phát ra theo chu kỳ từ thể nguyên nhân của con người, những xung lực đem lại sự xuất hiện của y trên cõi ảo lực trong một thời kỳ tạm thời. Ở đây có thể đưa ra một gợi ý cho đạo sinh chí thành; trong Chân ngã tam phân (các sự sống tạo thành nụ trung tâm, các sự sống của các cánh hoa, và nhóm tam phân các sự sống tạo thành ba nguyên tử trường tồn) có thể thấy một sự tương ứng với ba nhóm Đấng Lipika là nguyên nhân nghiệp quả của biểu hiện thái dương, và kiểm soát sự biểu hiện theo chu kỳ của nó. Ba nhóm này có liên hệ với các Trí Tuệ hướng dẫn của Các Ngài trên Sirius.

The Law of Periodicity is the effect produced by the amalgamation of these two types of force with a third. The two types of force or energy are the activity of the first Aspect, the logoic will or purpose, and the energy of the second aspect. This purpose is hidden in foreknowledge of the Logos and is completely hidden even from the Adept of the fifth Initiation. The Adept has achieved a comprehension of the purpose of the Son, and for Him there remains the problem to recognise the purpose of the Father. The one is the impulse behind the forward movement of all life, and the other the impulse behind its cyclic activity, and this is called spiral-cyclic. When this blended dual force is brought in touch with the rotary activity of matter itself, we have the triple activity of the Ego, for instance, which is rotary-spiral-cyclic, and that which results in the stimulation of the self-contained atom, in the periodical emergence of form, and in the [Page 1034] steady, though slow, progress towards a goal. We might, for the sake of clarity, differentiate the effects thus:

Định luật Chu Kỳ là hiệu quả được tạo ra bởi sự hòa trộn của hai loại mãnh lực này với một loại thứ ba. Hai loại mãnh lực hay năng lượng ấy là hoạt động của Phương diện thứ nhất, ý chí hay mục đích logoic, và năng lượng của phương diện thứ hai. Mục đích này được che giấu trong tiền tri của Logos và hoàn toàn bị che giấu ngay cả đối với chân sư của lần điểm đạo thứ năm. Chân sư đã đạt được sự thấu hiểu mục đích của Con, và đối với Ngài vẫn còn vấn đề là nhận ra mục đích của Cha. Một bên là xung lực đứng sau chuyển động tiến tới của mọi sự sống, và bên kia là xung lực đứng sau hoạt động theo chu kỳ của nó, và điều này được gọi là xoắn ốc-chu kỳ. Khi mãnh lực nhị nguyên đã hòa trộn này được đưa vào tiếp xúc với hoạt động quay tròn của chính vật chất, chúng ta có hoạt động tam phân của chân ngã, chẳng hạn, là quay tròn-xoắn ốc-chu kỳ, và điều này đưa đến sự kích thích của nguyên tử tự chứa, sự xuất hiện theo chu kỳ của hình tướng, và sự [Page 1034] tiến bộ vững chắc, dù chậm, hướng đến một mục tiêu. Vì mục đích làm sáng tỏ, chúng ta có thể phân biệt các hiệu quả như sau:

1. Rotary activity

The internal activity of every atom viewed as a unity, the activity of Brahma or the Holy Spirit, perfected in the first solar system. It is unified individual consciousness… “I am.”

2. Cyclic activity

The activity of all forms, viewing them from the aspect of consciousness, and of time. It is unified group consciousness… “I am That,” the activity of Vishnu in process of being perfected in this the second solar system.

3. Spiral activity

The influence which impresses all forms, which emanates from their greater centre, and which merges itself a little, a very little, with the two other modes of motion, being practically lost sight of in the stronger vibration. It is the activity which will be perfected in the third solar system, and is the Shiva form of motion, and the unified consciousness of all groups. It is the consciousness which proclaims “I am That I am.”

One of the primary things the occult student should remember when considering the nature of spiral-cyclic activity, is that it has two effects.

Một trong những điều chủ yếu mà đạo sinh huyền bí nên ghi nhớ khi xem xét bản chất của hoạt động xoắn ốc-chu kỳ là nó có hai hiệu quả.

First, it is an attractive force, gathering the rotating atoms of matter into definite types and forms, and holding them there as long as necessity demands.

Thứ nhất, nó là một mãnh lực hấp dẫn, tập hợp các nguyên tử vật chất đang quay vào những loại và hình tướng xác định, và giữ chúng ở đó chừng nào nhu cầu còn đòi hỏi.

Secondly, it is itself gradually dominated by another and higher vibration, and through its spiralling progress through matter it sweeps those forms systematically nearer and nearer to another and stronger point of energy.

Thứ hai, bản thân nó dần dần bị chi phối bởi một rung động khác cao hơn, và qua sự tiến triển theo xoắn ốc của nó xuyên qua vật chất, nó cuốn các hình tướng ấy một cách có hệ thống ngày càng gần hơn với một điểm năng lượng khác mạnh hơn.

These effects are to be seen clearly demonstrated in man’s evolution in the approach he makes uniformly through the cycles to the centre of the spiral-cyclic energy, [Page 1035] and subsequently to the still more impressive point, that of his “Father in Heaven.” The Angel first attracts animal man; cyclically He actuates the material sheaths, thus giving them coherence, and ever swings them into closer relation to himself. Later, as the momentum is increased, the man is swung more definitely into relation with the monadic aspect, until that higher rhythm is imposed upon him. This is equally true of a planetary Logos, and of a solar Logos.

Các hiệu quả này có thể được thấy biểu lộ rõ ràng trong sự tiến hoá của con người qua sự tiếp cận mà y thực hiện một cách đều đặn xuyên qua các chu kỳ đến trung tâm của năng lượng xoắn ốc-chu kỳ, [Page 1035] và sau đó đến điểm còn gây ấn tượng mạnh hơn nữa, tức điểm của “Cha y trên Trời.” Thiên Thần trước hết hấp dẫn người thú; theo chu kỳ Ngài làm cho các thể vật chất hoạt động, nhờ đó ban cho chúng sự kết hợp chặt chẽ, và luôn luôn đưa chúng vào mối liên hệ gần gũi hơn với chính Ngài. Về sau, khi động lượng gia tăng, con người được đưa vào mối liên hệ rõ rệt hơn với phương diện chân thần, cho đến khi nhịp điệu cao hơn ấy được áp đặt lên y. Điều này cũng đúng như vậy đối với một Hành Tinh Thượng đế, và đối với một Thái dương Thượng đế.

The spiral-cyclic force demonstrates, as might be expected, in seven ways; of these, the three major methods of demonstration are symbolised in the Rod of Initiation of Sanat Kumara. The Rod most frequently recognised by men is that of the Hierophant, the Bodhisattva, which consists of the straight central serpent with the two others entwined around it, thus picturing, among other things:

Mãnh lực xoắn ốc-chu kỳ biểu lộ, như có thể dự đoán, theo bảy cách; trong số đó, ba phương pháp biểu lộ chính được biểu trưng trong Thần Trượng Điểm đạo của Đức Sanat Kumara. Thần Trượng thường được con người nhận biết nhất là của Đấng Điểm đạo, Đức Bồ Tát, gồm con rắn thẳng ở trung tâm với hai con khác quấn quanh nó, nhờ đó mô tả, trong nhiều điều khác, như sau:

a. The three outpourings,

a. Ba lần tuôn đổ,

b. The three worlds,

b. ba cõi giới,

c. The spinal column and its channels,

c. cột sống và các kinh đạo của nó,

or those main factors with which the initiate concerns himself. He has to understand somewhat the nature of matter and what is occultly involved in that expression, his own triple constitution, the three worlds in which he has to play his part, and the instrument which he has to use. This rod of the Bodhisattva is surmounted by a diamond which is not as great a diamond as the “Flaming Diamond” of the first Kumara, but is of rare beauty. At the time of initiation when the electrical forces are tapped, this diamond revolves on its axis, picturing the rotary nature of atomic matter.

hay những yếu tố chính mà điểm đạo đồ quan tâm đến. Y phải hiểu phần nào bản chất của vật chất và điều được bao hàm một cách huyền bí trong cách diễn đạt ấy, cấu tạo tam phân của chính y, ba cõi giới trong đó y phải giữ phần việc của mình, và công cụ mà y phải sử dụng. Thần Trượng này của Đức Bồ Tát được gắn trên đỉnh bởi một viên kim cương không lớn bằng “Kim Cương Rực Lửa” của Kumara thứ nhất, nhưng có vẻ đẹp hiếm có. Vào lúc điểm đạo khi các mãnh lực điện được khai mở, viên kim cương này quay trên trục của nó, mô tả bản chất quay tròn của vật chất nguyên tử.

The Rod of Sanat Kumara is far more intricate, and instead of the central Rod, or Serpent, standing on the tip of its tail, all the three serpents are interwoven in a spiral fashion, and the Flaming Diamond which surmounts [Page 1036] it is of such radiance that the effect is produced of a spheroidal aura, cast around the interlaced serpents, typifying the form-building nature of the Vishnu activity.

Thần Trượng của Đức Sanat Kumara phức tạp hơn nhiều, và thay vì Cây Trượng trung tâm, hay Con Rắn, đứng trên chót đuôi của nó, thì cả ba con rắn đều đan xen nhau theo hình xoắn ốc, và Kim Cương Rực Lửa ở trên đỉnh [Page 1036] của nó có độ rạng ngời đến mức tạo ra hiệu quả của một hào quang hình cầu bao quanh các con rắn đan xen, tượng trưng cho bản chất kiến tạo hình tướng của hoạt động Vishnu.

According to the initiation taken, a reflection will be seen from a part of the interlaced serpents, and the illusion will be created that the diamond is cycling up and down between the summit, and the irradiated portion.

Tùy theo lần điểm đạo đã nhận, một sự phản chiếu sẽ được thấy từ một phần của các con rắn đan xen, và ảo giác sẽ được tạo ra rằng viên kim cương đang tuần hoàn lên xuống giữa đỉnh cao và phần được chiếu rạng.

At the same time, each serpent revolves upon itself, and likewise cycles around its neighbor, producing an effect of extraordinary brilliance and beauty, and typifying rotary-spiral-cyclic force.

Đồng thời, mỗi con rắn quay trên chính nó, và cũng tuần hoàn quanh con bên cạnh, tạo ra một hiệu quả rực rỡ và mỹ lệ phi thường, và tượng trưng cho mãnh lực quay tròn-xoắn ốc-chu kỳ.

The seven types of spiral-cyclic energy are suggestive of the nature of the planetary Logoi which they represent, and produce, therefore, the distinctions which exist between men; they are accountable for the nature of cycles, and this is a point oft overlooked. Students discuss the periods of the emergence of the Rays, setting arbitrary dates, such as 2500 years, for the manifestation of any particular ray. One ray does pass through its cycle in that length of time, but only one, the others being either longer or shorter. The difference has a great effect upon the egoic cycles, and is responsible for the length of time between incarnations. Some Egos cycle through their incarnations and their pralayas very rapidly; others spend untold aeons, and hence it is impossible to say that there are even “averages” connected with the appearance of Egos on the astral plane, for instance. This fact has bearing upon the statement of H. P. B. anent the Lodge effort each one hundred years. Under the particular type of cyclic force emanating from the Lodge, the high water mark of its activity is to be found once in every seven cycles. All that originates on that Ray is controlled by spiral-cyclic efforts based upon the number 10 and its multiples, and finding its highest cyclic vibration, as it happens, during the last [Page 1037] quarter of each century. What our more modern students are apt to forget in this connection is that this activity is but the demonstration of one type of force out of seven possible and that it concerns primarily that group of adepts who are on that particular line of energy, and will necessarily affect greatly all disciples and people on a similar line. At the same time, the work it initiates is endorsed by the Lodge as a whole, for it is part of the force emanation of the planetary Logos. It is naturally of great importance owing to the fact that this ray-energy is that of one of the three major Rays; but it will be, in the equilibrising process, balanced by analogous cyclic emanatory activity from the two other major Rays.

Bảy loại năng lượng xoắn ốc-chu kỳ gợi ý về bản chất của các Hành Tinh Thượng đế mà chúng biểu hiện, và do đó tạo ra những khác biệt tồn tại giữa con người; chúng chịu trách nhiệm về bản chất của các chu kỳ, và đây là một điểm thường bị bỏ qua. Các đạo sinh bàn luận về các thời kỳ xuất hiện của các cung, ấn định những niên đại tùy tiện, chẳng hạn 2500 năm, cho sự biểu hiện của bất kỳ cung nào. Quả thật có một cung đi qua chu kỳ của nó trong khoảng thời gian ấy, nhưng chỉ một cung mà thôi, các cung khác thì dài hơn hoặc ngắn hơn. Sự khác biệt này có ảnh hưởng lớn đến các chu kỳ chân ngã, và chịu trách nhiệm về khoảng thời gian giữa các lần nhập thể. Một số chân ngã đi qua các lần nhập thể và các giai kỳ qui nguyên của chúng rất nhanh; những chân ngã khác trải qua những đại kiếp không thể kể xiết, và do đó không thể nói rằng thậm chí có cả những “mức trung bình” liên quan đến sự xuất hiện của các chân ngã trên cõi cảm dục, chẳng hạn. Sự kiện này có liên quan đến phát biểu của H. P. B. về nỗ lực của Thánh đoàn trong mỗi một trăm năm. Dưới loại mãnh lực chu kỳ đặc biệt phát ra từ Thánh đoàn, mức thủy triều cao của hoạt động ấy được tìm thấy một lần trong mỗi bảy chu kỳ. Mọi điều phát sinh trên cung đó đều được kiểm soát bởi các nỗ lực xoắn ốc-chu kỳ dựa trên số 10 và các bội số của nó, và tình cờ đạt rung động chu kỳ cao nhất của nó trong suốt quý cuối cùng của mỗi thế kỷ. Điều mà các đạo sinh hiện đại của chúng ta dễ quên trong mối liên hệ này là hoạt động này chỉ là sự biểu lộ của một loại mãnh lực trong bảy loại có thể có và chủ yếu liên quan đến nhóm chân sư ở trên đường năng lượng đặc biệt ấy, và tất yếu sẽ ảnh hưởng mạnh đến mọi đệ tử và mọi người ở trên một đường tương tự. Đồng thời, công việc mà nó khởi xướng được toàn thể Thánh đoàn tán đồng, vì nó là một phần của sự phát xạ mãnh lực của Hành Tinh Thượng đế. Tự nhiên nó có tầm quan trọng lớn do sự kiện rằng năng lượng cung này là của một trong ba Cung chính; nhưng trong tiến trình [Page 1037] quân bình hóa nó sẽ được cân bằng bởi hoạt động phát xạ theo chu kỳ tương tự từ hai Cung chính còn lại.

It might be added here that when this is recognised it will become apparent that the revolutionising scientific discoveries which can be traced down the centuries, such as the formulation of the Law of Gravitation, the circulation of the blood, the ascertainment of the nature of steam, the discovery by man of that form of electrical phenomena which he has harnessed, and the more recent discovery of radium, are in their own department (that of the Mahachohan), analogous to the effort made during the last quarter of each century to stimulate the evolution of men through a further revelation of some part of the Secret Doctrine. Newton, Copernicus, Galileo, Harvey, and the Curies are, on their own line of force, lightbringers of equal rank with H. P. B. All revolutionised the thought of their time; all gave a great impulse to the ability of man to interpret the laws of nature, and to understand the cosmic process, and only those of circumscribed vision will fail to recognise the unity of the many force impulses emanating from the one Lodge.

Ở đây có thể nói thêm rằng khi điều này được nhận ra thì sẽ trở nên hiển nhiên rằng những khám phá khoa học mang tính cách mạng hóa có thể được truy nguyên qua các thế kỷ, như sự hình thành Định luật Hấp Dẫn, sự tuần hoàn của máu, sự xác định bản chất của hơi nước, việc con người khám phá ra dạng hiện tượng điện mà y đã chế ngự, và khám phá gần đây hơn về radium, trong lãnh vực riêng của chúng (lãnh vực của Đức Mahachohan), là tương tự với nỗ lực được thực hiện trong quý cuối của mỗi thế kỷ nhằm kích thích sự tiến hoá của con người qua một sự mặc khải thêm nữa về một phần nào đó của Giáo Lý Bí Nhiệm. Newton, Copernicus, Galileo, Harvey, và gia đình Curie, trên đường mãnh lực riêng của họ, là những đấng mang ánh sáng có cấp bậc ngang với H. P. B. Tất cả đều cách mạng hóa tư tưởng của thời đại mình; tất cả đều đã tạo ra một xung lực lớn cho khả năng của con người trong việc giải thích các định luật của thiên nhiên, và thấu hiểu tiến trình vũ trụ, và chỉ những ai có tầm nhìn hạn hẹp mới không nhận ra được tính nhất quán của nhiều xung lực mãnh lực phát ra từ một Thánh đoàn duy nhất.

These cycles will not coincide, for they are not all similar to the one hundred year spiral. Some idea as to the Mahachohan’s cycle of emanatory impulses may be [Page 1038] gathered by considering the dates of the foremost scientific discoveries since Plato’s time; the cycles of the second ray may also be averaged by a summary of the appearances of the great Teachers down the ages.

Các chu kỳ này sẽ không trùng hợp nhau, vì không phải tất cả đều giống với vòng xoắn một trăm năm. Một vài ý niệm về chu kỳ các xung lực phát xạ của Đức Mahachohan có thể được [Page 1038] rút ra bằng cách xem xét các niên đại của những khám phá khoa học hàng đầu kể từ thời Plato; các chu kỳ của cung hai cũng có thể được lấy mức trung bình bằng một bản tổng kết về sự xuất hiện của các Đại Huấn Sư qua các thời đại.

The force emanations from the Manu, or those of the first Ray, are easily traced when the races are considered, and this has been done in the recognition of the races and subraces. What is oft overlooked is that each of these rays of energy demonstrates constructively, through the form-building agencies, and destructively through the ability of the force to destroy prior to building. Thus the cycles can be viewed from two angles.

Các phát xạ mãnh lực từ Đức Manu, hay của Cung một, có thể dễ dàng được truy ra khi các giống dân được xem xét, và điều này đã được thực hiện trong việc nhận diện các giống dân và giống dân phụ. Điều thường bị bỏ qua là mỗi cung năng lượng này biểu lộ một cách xây dựng, thông qua các tác nhân kiến tạo hình tướng, và một cách phá hủy thông qua khả năng của mãnh lực trong việc hủy diệt trước khi xây dựng. Vì vậy các chu kỳ có thể được nhìn từ hai góc độ.

It is at this point that students in one branch of our theosophical movement must recognise the fact that just as H. P. B. came forth on a cyclic tide of energy to destroy the limiting forms to be found in the world of science and religion, so his work must fit in with other force emanations, such as the constructive work of the second ray in conjunction with the energy of the seventh at this time.

Chính ở điểm này mà các đạo sinh trong một nhánh của phong trào Thông Thiên Học của chúng ta phải nhận ra sự kiện rằng cũng như H. P. B. đã xuất hiện trên một làn sóng năng lượng theo chu kỳ để phá hủy những hình tướng giới hạn có thể thấy trong thế giới khoa học và tôn giáo, thì công việc của ông phải phù hợp với các phát xạ mãnh lực khác, chẳng hạn như công việc xây dựng của cung hai phối hợp với năng lượng của cung bảy vào lúc này.

When students learn to blend the one hundred year cycles of the first type of energy with the equally powerful impulses from the second Ray and the third, we shall then have a cessation of many controversies. No great impulse will come from the Lodge along the line of the first Ray of Will or Power till the close of a century. One such impulse along another line of force came when the discovery of the nature of the atom was arrived at through the study of electricity, and of radioactive substances, and an impulse from the second aspect is imminent. It is not safe for students with limited vision to dogmatise anent this question of cycles. Apart from the cyclic impulses continuously going forth, overlapping and superseding, and intermingling with each other, there are many which we might call lesser impulses (and the cycle of one hundred years to which H. P. B. refers [Page 1039] is but one of the lesser impulses. There is a one thousand year cycle of greater moment). There are vaster cycles, of 2500 years, of 7,000 years, of 9,000 years, of 15,000 years, and many others which only advanced initiates know of or can follow; these can break in upon any of the lesser impulses, and can be seen appearing, unexpectedly, as far as average man’s knowledge is concerned, and yet they are but the returning impulses set in cyclic motion perhaps thousands of years ago.

Khi các đạo sinh học cách dung hợp các chu kỳ một trăm năm của loại năng lượng thứ nhất với các xung lực mạnh mẽ tương đương từ cung hai và cung ba, thì khi đó chúng ta sẽ có sự chấm dứt của nhiều cuộc tranh luận. Không có xung lực lớn nào sẽ đến từ Thánh đoàn theo đường lối của Cung một của Ý Chí hay Quyền lực cho đến cuối một thế kỷ. Một xung lực như thế theo một đường mãnh lực khác đã đến khi bản chất của nguyên tử được khám phá ra qua việc nghiên cứu điện học và các chất phóng xạ, và một xung lực từ phương diện thứ hai đang sắp xảy ra. Sẽ không an toàn cho các đạo sinh có tầm nhìn hạn hẹp mà giáo điều hóa về vấn đề các chu kỳ này. Ngoài các xung lực chu kỳ liên tục phát ra, chồng lấp, thay thế và hòa trộn với nhau, còn có nhiều xung lực mà chúng ta có thể gọi là các xung lực nhỏ hơn (và chu kỳ một trăm năm mà H. P. B. đề cập đến [Page 1039] chỉ là một trong những xung lực nhỏ hơn. Có một chu kỳ một nghìn năm quan trọng hơn nhiều). Có những chu kỳ bao la hơn, 2.500 năm, 7.000 năm, 9.000 năm, 15.000 năm, và nhiều chu kỳ khác mà chỉ các điểm đạo đồ cao cấp mới biết đến hoặc có thể theo dõi; những chu kỳ này có thể xen vào bất kỳ xung lực nhỏ hơn nào, và có thể được thấy là xuất hiện một cách bất ngờ, xét theo tri thức của con người trung bình, tuy nhiên chúng chỉ là những xung lực quay trở lại đã được đặt vào chuyển động chu kỳ có lẽ từ hàng nghìn năm trước.

H. P. B. is right in his affirmation as far as the impulse of the first ray is concerned; but his followers are not right, in so far as they overlook and negate the six other types of impulses, of equal or of more importance, which may emanate cyclically from the Lodge, and which will meet with response from those who vibrate to that particular type of energy.

H. P. B. đúng trong lời khẳng định của ông xét theo xung lực của cung một; nhưng các môn đồ của ông không đúng, vì họ bỏ qua và phủ nhận sáu loại xung lực khác, có tầm quan trọng ngang bằng hoặc lớn hơn, có thể phát ra theo chu kỳ từ Thánh đoàn, và sẽ gặp được sự đáp ứng từ những ai rung động theo loại năng lượng đặc thù đó.

III. RESULTS OF ITS ACTIVITY.

III. CÁC KẾT QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG CỦA NÓ.

These results can be studied in four ways, considering each as a subsidiary Law of the basic Law of Attraction and Repulsion. All motion is the result literally of the impact, or intercourse, between atoms, and there is no atom anywhere which escapes this force. In the case of rotary motion, which governs the activity of the atom of substance, the impulse emanates from within the ring-pass-not, and is produced by the impact of the positive charge upon the negative charges. This is true of all atoms, cosmic, solar, individual, chemical, and so forth.

Các kết quả này có thể được nghiên cứu theo bốn cách, xem mỗi cách như một Định luật phụ của Định luật căn bản về Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Mọi chuyển động theo nghĩa đen đều là kết quả của sự va chạm, hay sự giao tiếp, giữa các nguyên tử, và không có nguyên tử nào ở bất cứ đâu thoát khỏi mãnh lực này. Trong trường hợp chuyển động xoay tròn chi phối hoạt động của nguyên tử chất liệu, xung lực phát ra từ bên trong vòng-giới-hạn, và được tạo ra bởi sự va chạm của điện tích dương lên các điện tích âm. Điều này đúng với mọi nguyên tử, vũ trụ, thái dương, cá nhân, hóa học, v.v.

When, however, the effect of the rotation of the atom is so strong that it begins to affect other atoms outside its individual ring-pass-not, another influence begins to make itself felt, which draws together, or dissipates, those contacting coalescing atoms. Thus forms are built under the impulse of aggregated forces of some one kind, and these forms in turn produce effects on other cohering atomic forms, until the rhythm is built up, and a vibration [Page 1040] instigated which is a continuation of the rotary motion of the individual atoms, and the modification produced on them by their group activity. This causes progression and simultaneous rotation. The movement forward is modified considerably by the internal atomic activity, and this it is which causes that motion we call spiral cyclic. It demonstrates in all forms as a tendency to repeat, owing to the backward pull of the rotating atoms, and yet is offset by the strong progressive impulse of the form activity. Students can work this out in connection with:

Tuy nhiên, khi hiệu quả của sự xoay tròn của nguyên tử mạnh đến mức nó bắt đầu ảnh hưởng đến các nguyên tử khác ở ngoài vòng-giới-hạn cá biệt của nó, thì một ảnh hưởng khác bắt đầu được cảm nhận, ảnh hưởng này kéo các nguyên tử đang tiếp xúc và kết tụ ấy lại với nhau, hoặc làm tiêu tan chúng. Như vậy, các hình tướng được xây dựng dưới xung lực của các mãnh lực tập hợp thuộc một loại nào đó, và đến lượt mình các hình tướng này tạo ra các hiệu quả trên những hình tướng nguyên tử kết dính khác, cho đến khi nhịp điệu được xây dựng, và một rung động được [Page 1040] khởi phát, là sự tiếp nối của chuyển động xoay tròn của các nguyên tử cá biệt, cùng với sự biến đổi được tạo ra trên chúng bởi hoạt động nhóm của chúng. Điều này gây ra sự tiến triển và sự xoay tròn đồng thời. Chuyển động tiến về phía trước bị biến đổi đáng kể bởi hoạt động nguyên tử nội tại, và chính điều này gây nên chuyển động mà chúng ta gọi là xoắn ốc chu kỳ. Nó biểu lộ trong mọi hình tướng như một khuynh hướng lặp lại, do lực kéo ngược của các nguyên tử đang xoay tròn, tuy nhiên lại được hóa giải bởi xung lực tiến tới mạnh mẽ của hoạt động hình tướng. Các đạo sinh có thể khảo cứu điều này liên hệ với:

The planetary Logos, as He manifests through the rounds, each one of which, in its earlier stages, recapitulates all that has previously occurred.

Hành Tinh Thượng đế, khi Ngài biểu lộ qua các cuộc tuần hoàn, mà mỗi cuộc, trong các giai đoạn đầu của nó, đều tái diễn tất cả những gì đã xảy ra trước đó.

Man, in the ante-natal period, in which he runs through the various stages of development.

Con người, trong thời kỳ trước khi sinh, khi y trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau.

Spiritual man, as he creates that which will destroy the “Dweller on the Threshold.”

Con người tinh thần, khi y tạo ra điều sẽ hủy diệt “Kẻ Chận Ngõ”.

This spiral-cyclic activity, which is distinctive of all forms, can perhaps be comprehended more practically if we study it as an expression of four laws, taking each one briefly in turn:

Hoạt động xoắn ốc chu kỳ này, vốn là đặc trưng của mọi hình tướng, có lẽ có thể được hiểu một cách thực tiễn hơn nếu chúng ta nghiên cứu nó như một biểu hiện của bốn định luật, lần lượt xét ngắn gọn từng định luật:

1. The Law of Expansion.

1. Định luật Mở Rộng.

This law of a gradual evolutionary expansion of the consciousness indwelling every form is the cause of the spheroidal form of every life in the entire solar system. It is a fact in nature that all that is in existence dwells within a sphere. (306) The chemical atom is spheroidal; man [Page 1041] dwells within a sphere, as does the planetary Logos and the solar Logos, this sphere being the form matter takes when its own internal activity, and the activity of the form are working in unison. It requires the two types of force—rotary and spiral-cyclic—to produce this. Scientists are beginning to recognise this more or less, and to realise that it is the Law of Relativity, or the relation between all atoms, which produces that which is called Light, and which, in its aggregated phenomena, forms that composite sphere, a solar system. The motion of the constellations external to the solar sphere is responsible for its form in conjunction with its own rotary motion in space. As the wave lengths of the light from the constellations, and their relation to the sun are better understood, and as the effect of those wave lengths or light vibrations (which are either attractive to, or repulsive to, the sun) are understood, much will be revealed. Little has as yet been grasped as to the effect [Page 1042] those constellations in the heavens (which are antagonistic to the solar system), have upon it, and whose wave lengths it will not transmit, whose rays of light do not pierce (if it might be expressed in so unscientific a manner) through the solar periphery.

Định luật về sự mở rộng tiến hóa dần dần của tâm thức ngự trong mọi hình tướng này là nguyên nhân của dạng hình cầu của mọi sự sống trong toàn bộ hệ mặt trời. Trong bản chất, đó là một sự kiện rằng mọi cái đang hiện hữu đều cư ngụ trong một khối cầu. (306) Nguyên tử hóa học có hình cầu; con người [Page 1041] cư ngụ trong một khối cầu, cũng như Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế, khối cầu này là hình thức mà vật chất mang lấy khi hoạt động nội tại riêng của nó và hoạt động của hình tướng đang vận hành đồng điệu. Cần có hai loại mãnh lực—xoay tròn và xoắn ốc chu kỳ—để tạo ra điều này. Các nhà khoa học đang bắt đầu nhận ra điều này ít nhiều, và chứng nghiệm rằng chính Định luật Tương Đối, hay mối liên hệ giữa mọi nguyên tử, tạo ra điều được gọi là Ánh sáng, và trong hiện tượng tập hợp của nó, hình thành nên khối cầu tổng hợp ấy, một hệ mặt trời. Chuyển động của các chòm sao bên ngoài khối cầu thái dương chịu trách nhiệm về hình dạng của nó, kết hợp với chuyển động xoay tròn riêng của nó trong không gian. Khi các bước sóng ánh sáng từ các chòm sao, và mối liên hệ của chúng với mặt trời được hiểu rõ hơn, và khi hiệu quả của các bước sóng hay rung động ánh sáng ấy (vốn hoặc hấp dẫn đối với, hoặc đẩy lùi, mặt trời) được hiểu rõ, thì nhiều điều sẽ được mặc khải. Cho đến nay, người ta vẫn còn hiểu rất ít về hiệu quả mà [Page 1042] những chòm sao trên trời ấy (vốn đối kháng với hệ mặt trời) tác động lên nó, và những chòm sao mà các bước sóng của chúng nó sẽ không truyền dẫn, những tia sáng của chúng không xuyên qua được (nếu có thể diễn đạt theo cách thiếu khoa học như vậy) chu vi thái dương.

(306) The Atom.—S. D., I, 113, 566. It is on the illusive nature of matter and the infinite divisibility of the atom that the whole Science of Occultism is built.

(306) Nguyên Tử.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 113, 566. Toàn bộ Khoa Học Huyền Bí Học được xây dựng trên bản chất ảo huyễn của vật chất và tính khả phân vô hạn của nguyên tử.

1. Everything is atomic—God, Monads, atoms.

1. Mọi thứ đều có tính nguyên tử—Thượng đế, các chân thần, các nguyên tử.

a. The sphere of solar manifestation………… God

a. Khối cầu của biểu lộ thái dương………… Thượng đế

The mundane egg. The logoic auric egg…….. Macrocosm

Noãn thế gian. Noãn hào quang logoic…….. Đại thiên địa

b. The sphere of monadic manifestation………Monads

b. Khối cầu của biểu lộ chân thần………Các chân thần

The monadic auric egg…………………. Microcosm

Noãn hào quang chân thần…………………. Tiểu thiên địa

c. The sphere of the ultimate physical atom…… Atoms

c. Khối cầu của nguyên tử hồng trần tối hậu….. Các nguyên tử

2. The solar system is a cosmic atom.

2. Hệ mặt trời là một nguyên tử vũ trụ.

3. Each plane is an atom or complete sphere.

3. Mỗi cõi là một nguyên tử hay một khối cầu hoàn chỉnh.

4. Each planet is an atom.

4. Mỗi hành tinh là một nguyên tử.

5. Each Heavenly man is an atomic unit.

5. Mỗi Đấng Thiên Nhân là một đơn vị nguyên tử.

6. Each human Monad is an atom in the body of one of the Heavenly Men.

6. Mỗi Chân thần nhân loại là một nguyên tử trong thể của một trong các Đấng Thiên Nhân.

7. The causal body is an atom, or sphere.

7. Thể nguyên nhân là một nguyên tử, hay một khối cầu.

8. The physical plane elemental is an atomic unit.

8. Hành khí cõi hồng trần là một đơn vị nguyên tử.

What is an atom?

Nguyên tử là gì?

1. A sheath formed of the matter of the solar system in one or other of its seven grades and indwelt by life of some kind.

1. Một vỏ bọc được tạo thành từ vật chất của hệ mặt trời ở một hay một cấp nào khác trong bảy cấp của nó và được một loại sự sống nào đó ngự vào.

a. Absolute intelligence informs each atom.—S. D., I, 298.

a. Trí tuệ tuyệt đối thấm nhuần mỗi nguyên tử.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 298.

b. Absolute life informs each atom.—S. D., I, 278, 28l; II, 742, note.

b. Sự sống tuyệt đối thấm nhuần mỗi nguyên tử.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 278, 281; II, 742, ghi chú.

2. Atoms and souls are synonymous terms.—S. D., I, 620-622.

2. Nguyên tử và linh hồn là những thuật ngữ đồng nghĩa.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 620-622.

a. In this solar system atoms and souls are synonymous terms. The Primordial Ray plus the Divine Ray of Wisdom.

a. Trong hệ mặt trời này, nguyên tử và linh hồn là những thuật ngữ đồng nghĩa. Cung Nguyên Sơ cộng với Cung thiêng liêng của Minh Triết.

b. In the previous solar system atoms and mind were probably synonymous terms. It resulted in the Primordial Ray of active intelligent matter, the basis of the present evolution.

b. Trong hệ mặt trời trước, nguyên tử và trí tuệ có lẽ là những thuật ngữ đồng nghĩa. Điều đó đã tạo ra Cung Nguyên Sơ của vật chất trí tuệ hoạt động, nền tảng của tiến hóa hiện nay.

c. In the next system atoms and the third factor, pure spirit may be synonymous terms. The Primordial Ray and The Divine Ray plus the third cosmic Ray of Will or Power.

c. Trong hệ thống kế tiếp, nguyên tử và yếu tố thứ ba, tinh thần thuần túy, có thể là những thuật ngữ đồng nghĩa. Cung Nguyên Sơ và Cung thiêng liêng cộng với cung vũ trụ thứ ba của Ý Chí hay Quyền lực.

3. Atoms are inseparable from Spirit.—S. D., I, 367.

3. Các nguyên tử không thể tách rời khỏi Tinh thần.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 367.

a. They are the sheaths through which the informing God manifests.

a. Chúng là những vỏ bọc mà qua đó Thượng đế thấm nhuần biểu lộ.

b. The form of the sheath is a sphere.

b. Hình thức của vỏ bọc là một khối cầu.

c. The quality of the sheath is latent love.

c. Phẩm tính của vỏ bọc là tình thương tiềm ẩn.

d. The matter of the sheath is active intelligent substance. (back)

d. Vật chất của vỏ bọc là chất liệu trí tuệ hoạt động. (back)

We are told in the Secret Doctrine that “the seven solar Rays dilate to seven suns and set fire to the whole cosmos.” (S. D., II, 72.) This it is which produces that final burning which ushers in the great pralaya, and brings to an end the logoic incarnation. It is produced under this Law of Expansion, and causes that eventual merging and blending of the seven sacred planetary schemes which marks the achievement of the goal, and their eventual perfection.

Chúng ta được nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm rằng “bảy tia thái dương nở rộng thành bảy mặt trời và đốt cháy toàn thể vũ trụ.” (Giáo Lý Bí Nhiệm, II, 72.) Chính điều này tạo ra sự bốc cháy cuối cùng mở đầu cho đại giai kỳ qui nguyên, và chấm dứt sự nhập thể logoic. Nó được tạo ra dưới Định luật Mở Rộng này, và gây nên sự hòa nhập và dung hợp sau cùng của bảy hệ hành tinh thiêng liêng, điều đánh dấu sự đạt thành mục tiêu và sự toàn thiện cuối cùng của chúng.

In occult literature this term “Law of Expansion” is limited to the discussion of the seven Rays, and to the subject of the planetary initiations. When dealing with the expansions of consciousness of the human being, and his initiations, we group them under the second “Law of Monadic Return.”

Trong văn liệu huyền bí học, thuật ngữ “Định luật Mở Rộng” này được giới hạn vào việc bàn đến bảy cung, và chủ đề các điểm đạo hành tinh. Khi đề cập đến các sự mở rộng tâm thức của con người, và các điểm đạo của y, chúng ta xếp chúng dưới “Định luật Trở Về của Chân thần” thứ hai.

Students should here remember that we are dealing with the expansions of consciousness of a planetary Logos through the medium of:

Ở đây, các đạo sinh nên nhớ rằng chúng ta đang bàn đến các sự mở rộng tâm thức của một Hành Tinh Thượng đế qua trung gian của:

a. The chains.

a. Các Dãy.

b. The rounds.

b. Các cuộc tuần hoàn.

c. The kingdoms of nature.

c. Các giới trong bản chất.

d. The root races.

d. Các giống dân gốc.

It should be remembered that the consciousness He is in process of developing is that of the absolute will and purpose of the solar Logos, as it is the expression of the desire of the cosmic Logos.(308) Therefore, the expansions might be grouped as follows: [Page 1043]

Cần nhớ rằng tâm thức mà Ngài đang trong tiến trình phát triển là tâm thức của ý chí và mục đích tuyệt đối của Thái dương Thượng đế, vì đó là biểu hiện của dục vọng của Thượng đế Vũ Trụ.(308) Do đó, các sự mở rộng có thể được nhóm lại như sau: [Page 1043]

(308) The four sub-divisions of desire should be studied in the Brahmana of the Sama-veda. (1) The desire to know; whence (2) the desire to possess; thereafter (3) the desire to secure possession, i.e., to take the necessary steps, the action, that will bring possession; and finally (4) the attainment—these respectively are the four sub-divisions, cognitive-desire, desire-proper, active-desire and summation-desire.

(308) Bốn phân bộ của dục vọng nên được nghiên cứu trong Brahmana của Sama-veda. (1) Dục vọng muốn biết; từ đó có (2) dục vọng muốn sở hữu; tiếp theo là (3) dục vọng muốn bảo đảm sự sở hữu, tức là thực hiện các bước cần thiết, hành động sẽ đem lại sự sở hữu; và cuối cùng (4) sự đạt được—tương ứng, đó là bốn phân bộ: dục vọng nhận thức, dục vọng đúng nghĩa, dục vọng hoạt động và dục vọng tổng kết.

“The ruler of desire is Shiva and his instruction to his sub-hierarchs takes this shape: Behold, our work is the work of destruction. The order and the way thereof are these. This should be destroyed first, this afterwards; and such and such work of the nature of negation should be performed. First, make enquiry, entertain the ‘desire to know,’ and thoroughly and fully understand the nature of the I and the This. Then entertain the desire to possess, ‘I shall obtain the This and the I.’ Having obtained them, you will pass on to the Negation, to the declaration, ‘no (I want them no more).’ In the Negation is the summation, sam-a-hara, ‘bringing all together,’ and it is the sam-hara also, the ‘taking all in,’ re-absorption, destruction.”—Pranava-Vada, p. 364. (back)

“Đấng cai quản dục vọng là Shiva và chỉ thị của ngài cho các phân cấp dưới quyền mang hình thức này: Hãy nhìn xem, công việc của chúng ta là công việc hủy diệt. Trật tự và phương cách của nó là như sau. Điều này phải bị hủy trước, điều kia sau; và công việc này công việc nọ thuộc bản chất phủ định phải được thực hiện. Trước hết, hãy tra cứu, nuôi dưỡng ‘dục vọng muốn biết,’ và thấu hiểu một cách trọn vẹn và đầy đủ bản chất của Cái Tôi và Cái Này. Sau đó hãy nuôi dưỡng dục vọng muốn sở hữu, ‘Ta sẽ đạt được Cái Này và Cái Tôi.’ Khi đã đạt được chúng, ngươi sẽ chuyển sang Sự Phủ Định, sang lời tuyên bố, ‘không (ta không còn muốn chúng nữa).’ Trong Sự Phủ Định có sự tổng kết, sam-a-hara, ‘gom tất cả lại với nhau,’ và đó cũng là sam-hara, ‘thu tất cả vào,’ tái hấp thu, hủy diệt.”—Pranava-Vada, tr. 364. (back)

1. The solar Logos expands His consciousness to include the desire of the cosmic Logos.

1. Thái dương Thượng đế mở rộng tâm thức của Ngài để bao gồm dục vọng của Thượng đế Vũ Trụ.

2. The planetary Logos expands His consciousness to measure up to the will and purpose of the Solar Logos.

2. Hành Tinh Thượng đế mở rộng tâm thức của Ngài để tương xứng với ý chí và mục đích của Thái dương Thượng đế.

3. The Lords of the Chains are working at the desire consciousness (the love nature) of the planetary Logos.

3. Các Đấng Chúa Tể của các Dãy đang hoạt động trên tâm thức dục vọng (bản chất bác ái) của Hành Tinh Thượng đế.

4. The informing Lives of the globe in the chain are working at the intelligent consciousness of the planetary Logos.

4. Các Sự Sống thấm nhuần của bầu hành tinh trong dãy đang hoạt động trên tâm thức trí tuệ của Hành Tinh Thượng đế.

This can be worked out in connection with a globe in a chain (such as our earth-chain) in the following manner.

Điều này có thể được triển khai liên hệ với một bầu hành tinh trong một dãy (như dãy địa cầu của chúng ta) theo cách sau.

The Lord of the world, the planetary Logos, in physical incarnation, works at His own peculiar problem, the bringing through (into physical manifestation upon the planet) of the purpose or will of the solar Logos in any particular scheme. This He does through meditation.

Đức Chúa Tể Thế Giới, Hành Tinh Thượng đế, đang lâm phàm hồng trần, hoạt động trên vấn đề đặc thù của riêng Ngài, là đưa mục đích hay ý chí của Thái dương Thượng đế vào biểu lộ hồng trần trên hành tinh trong bất kỳ hệ hành tinh đặc thù nào. Điều này Ngài thực hiện qua tham thiền.

The totality of Dhyan Chohans of the fifth or spiritual kingdom are occupied with the working out into active manifestation of the will and purpose of the planetary Logos.

Tổng thể các Dhyan Chohan của giới thứ năm hay giới tinh thần đang bận rộn với việc triển khai vào biểu lộ hoạt động ý chí và mục đích của Hành Tinh Thượng đế.

The human family, or the fourth kingdom, is seeking to make manifest the desire, or love nature, of the planetary Logos.

Gia đình nhân loại, hay giới thứ tư, đang tìm cách biểu lộ dục vọng, hay bản chất bác ái, của Hành Tinh Thượng đế.

The three subhuman kingdoms have for objective the [Page 1044] manifesting of the intelligent nature of the planetary Logos.

Ba giới dưới nhân loại có mục tiêu là [Page 1044] biểu lộ bản chất trí tuệ của Hành Tinh Thượng đế.

All this done under the Law of Expansion, by the method of spiralling progression, cyclic growth, rotary repetition, and the summation of each greater spiral is the expansion of the consciousness into that of the sphere which enclosed the lesser ovoid, and the escape of the life imprisoned in the sphere. It is merged in its greater whole. As the fires of the sphere concerned blaze up, the “fire by friction” which produces rotary motion, and “solar fire,” which is the basis of the spiral-cyclic activity, blend and merge. The ring-pass-not of the confining spheroidal wall is negated, and a blaze results.

Tất cả điều này được thực hiện dưới Định luật Mở Rộng, bằng phương pháp tiến triển xoắn ốc, tăng trưởng chu kỳ, lặp lại xoay tròn, và sự tổng kết của mỗi vòng xoắn lớn hơn là sự mở rộng của tâm thức vào tâm thức của khối cầu đã bao bọc hình trứng nhỏ hơn và sự thoát ra của sự sống bị giam cầm trong khối cầu. Nó được hòa nhập vào toàn thể lớn hơn của nó. Khi các ngọn lửa của khối cầu liên hệ bùng lên, “Lửa ma sát” tạo ra chuyển động xoay tròn, và “Lửa Thái dương,” là nền tảng của hoạt động xoắn ốc chu kỳ, hòa lẫn và dung hợp. Vòng-giới-hạn của bức tường hình cầu giam hãm bị phủ định, và một ngọn lửa bùng phát xuất hiện.

The old Commentary expressed this as follows in connection with the planets, and it is equally, though relatively, true, of the atom of substance, or the solar atom:

Cổ Luận diễn đạt điều này như sau liên hệ với các hành tinh, và điều đó cũng đúng, dù tương đối, đối với nguyên tử chất liệu, hay nguyên tử thái dương:

1. “The life pulsates, and the pole performs its function. The sphere revolves in many cycles. As it revolves it senses other spheres, and seeks to know their secret.

1. “Sự sống rung nhịp, và cực thực hiện chức năng của nó. Khối cầu quay trong nhiều chu kỳ. Khi quay, nó cảm nhận các khối cầu khác, và tìm cách biết bí mật của chúng.

2. They meet each other. They seek a greater intimacy or reject with hatred any more approach. Some pass away; others return and marry. They know each other. They spiral through their courses hand in hand. Through union the fires blaze up, the two become the one, and live again in their Son, who is the Third.”

2. Chúng gặp nhau. Chúng tìm kiếm một sự thân mật lớn hơn hoặc khước từ với lòng căm ghét bất kỳ sự đến gần nào hơn nữa. Một số qua đi; những số khác quay lại và kết hôn. Chúng biết nhau. Chúng xoắn ốc qua các lộ trình của mình tay trong tay. Qua sự hợp nhất, các ngọn lửa bùng lên, hai trở thành một, và lại sống trong Con của chúng, Đấng là Đệ Tam.”

Through the study of these significant words students may learn somewhat concerning “polar affinity,” the “Marriage in the Heavens,” the transference of the germs of life from the male attractive planet to the negative and receptive one, and finally, at a later period, the absorption of the life of the two planets by a third planet, who is called occultly “the Son.” This refers to the synthesising planet which forms the apex of the solar triangle.

Qua việc nghiên cứu những lời đầy thâm nghĩa này, các đạo sinh có thể học được phần nào về “sự tương hợp cực,” “Hôn phối trên Thiên giới,” sự chuyển giao các mầm sống từ hành tinh nam tính hấp dẫn sang hành tinh âm tính và tiếp nhận, và cuối cùng, vào một thời kỳ muộn hơn, sự hấp thu sự sống của hai hành tinh bởi một hành tinh thứ ba, được gọi một cách huyền bí là “Người Con.” Điều này nói đến hành tinh tổng hợp tạo thành đỉnh của tam giác thái dương.

In summing up the effect of the union of individual atomic rotary motion and the spiral cyclic activity of all [Page 1045] atomic groups, it is necessary to point out, therefore, that the following units are affected.

Khi tổng kết hiệu quả của sự hợp nhất giữa chuyển động xoay tròn nguyên tử cá biệt và hoạt động xoắn ốc chu kỳ của mọi [Page 1045] nhóm nguyên tử, do đó cần chỉ ra rằng các đơn vị sau đây bị ảnh hưởng.

The essential individual atom. Its evolutionary progress towards self-determination is brought about by the effect of its group activity, or the motion of the form modifying its own inherent action.

Nguyên tử cá biệt cốt yếu. Sự tiến bộ tiến hóa của nó hướng tới tự quyết được mang lại bởi hiệu quả của hoạt động nhóm của nó, hay chuyển động của hình tướng làm biến đổi hoạt động cố hữu riêng của nó.

The atomic form, likewise an atomic unit, rotating on its own axis and influenced and driven towards the centre of force of a higher macrocosm by the activity of its embracing kingdom.

Hình tướng nguyên tử, cũng là một đơn vị nguyên tử, quay trên trục riêng của nó và bị ảnh hưởng cũng như bị thúc đẩy về phía trung tâm mãnh lực của một đại thiên địa cao hơn bởi hoạt động của giới bao bọc nó.

The human atom, self-determined and individual, yet driven progressively forward by the influence of its group, or the potent activity of the Heavenly Man in Whose body it is the cell.

Nguyên tử nhân loại, tự quyết và cá biệt, tuy nhiên được thúc đẩy tiến dần về phía trước bởi ảnh hưởng của nhóm của nó, hay hoạt động mạnh mẽ của Đấng Thiên Nhân mà trong thể của Ngài nó là một tế bào.

The planetary atom, equally self-determined, a composite of all planetary groups, rotating on its own axis, yet conforming to the cyclic-spiralling action, induced by the activity of the greater sphere in which it finds its place.

Nguyên tử hành tinh, cũng tự quyết, là một tổng hợp của mọi nhóm hành tinh, quay trên trục riêng của nó, tuy nhiên vẫn tuân theo hoạt động xoắn ốc chu kỳ, được gây ra bởi hoạt động của khối cầu lớn hơn mà trong đó nó tìm thấy vị trí của mình.

The solar Atom, also an individualised Life, the Son in incarnation, through the medium of the Sun, pursuing its own inherent cycle, yet spiralling in cyclic fashion through the heavens, and therefore, progressing through the effect of the extra-cosmic active Lives who either attract or repulse it.

Nguyên tử Thái dương, cũng là một Sự sống đã biệt ngã hóa, Người Con đang nhập thể, qua trung gian Mặt Trời, theo đuổi chu kỳ cố hữu riêng của nó, tuy nhiên xoắn ốc theo cách chu kỳ xuyên qua các cõi trời, và do đó tiến triển nhờ hiệu quả của các Sự sống hoạt động ngoài vũ trụ, những Đấng hoặc hấp dẫn hoặc đẩy lùi nó.

These are the main sets of atomic groups, but there are many intermediate forms upon which it is not possible as yet to touch. All in nature affects that which it contacts, and these effects work either as

Đó là những tập hợp chính của các nhóm nguyên tử, nhưng còn có nhiều hình thức trung gian mà hiện nay chưa thể đề cập đến. Mọi sự trong bản chất đều ảnh hưởng đến điều mà nó tiếp xúc, và những hiệu quả này vận hành hoặc như

a. Attractive or repulsive impulses.

a. Các xung lực hấp dẫn hay đẩy lùi.

b. Retarding or accelerating impulses.

b. Các xung lực làm chậm lại hay gia tốc.

c. Destructive or constructive impulses.

c. Các xung lực hủy diệt hay kiến tạo.

d. Devitalising or stimulating impulses.

d. Các xung lực làm mất sinh lực hay kích thích.

e. Energising or disintegrating impulses.

e. Các xung lực tiếp sinh lực hay làm tan rã.

Yet all can be expressed in terms of negative and positive [Page 1046] force, manifesting as rotary or spiral activity. The lesser cycle can, from certain angles of vision, be regarded as appertaining to the rotary activity of certain atomic forms, and the greater cycles, which are so much more difficult for man to follow, as relating to the spiral action of the enclosing Life of the greater sphere. Every atom is part of a greater whole, even the solar atom is not a separated Life but a fragment of an immensity of Existence beyond the ken of man, and which is but dimly cognised by the most advanced Dhyan Chohan.

Tuy nhiên, tất cả đều có thể được diễn đạt bằng các thuật ngữ mãnh lực âm và dương, biểu lộ như hoạt động xoay tròn hay xoắn ốc. Chu kỳ nhỏ hơn, từ một số góc độ tầm nhìn nào đó, có thể được xem là thuộc về hoạt động xoay tròn của một số hình tướng nguyên tử nhất định, còn các chu kỳ lớn hơn, vốn khó hơn nhiều đối với con người trong việc theo dõi, thì [Page 1046] liên hệ đến hoạt động xoắn ốc của Sự sống bao bọc của khối cầu lớn hơn. Mọi nguyên tử đều là một phần của một toàn thể lớn hơn; ngay cả nguyên tử thái dương cũng không phải là một Sự sống tách biệt mà là một mảnh của một Sự Tồn Tại bao la vượt ngoài tầm hiểu biết của con người, và chỉ được nhận biết một cách mơ hồ bởi Dhyan Chohan cao cấp nhất.

2. The Law of Monadic Return.

2. Định luật Trở Về của Chân thần.

Here it is possible to study the Monad from the cyclic and energetic standpoint, and divorce our minds temporarily from that aspect of manifestation we call the human, or man.

Ở đây có thể nghiên cứu chân thần từ quan điểm chu kỳ và năng lượng, và tạm thời tách trí tuệ của chúng ta ra khỏi phương diện biểu lộ mà chúng ta gọi là con người, hay con người.

In considering the “Divine Pilgrim” we can study him as demonstrating in the form of:

Khi xem xét “Người Hành Hương Thiêng Liêng”, chúng ta có thể nghiên cứu y như biểu lộ dưới hình thức:

a. Three focal points of energy or force.

a. Ba tiêu điểm năng lượng hay mãnh lực.

b. Three fires, each producing a definite effect, and each in turn producing effects upon each other.

b. Ba ngọn lửa, mỗi ngọn tạo ra một hiệu quả xác định, và mỗi ngọn đến lượt mình lại tạo ra các hiệu quả lên nhau.

In relation to a solar system, these three fires on the cosmic planes are called: (309) [Page 1047]

Liên hệ với một hệ mặt trời, ba ngọn lửa này trên các cõi vũ trụ được gọi là: (309) [Page 1047]

(309) 1. The Names of the Sun mentioned in the Secret Doctrine are:

(309) 1. Các danh xưng của Mặt Trời được nêu trong Giáo Lý Bí Nhiệm là:

a. Maritanda.—S. D., I, 61, 126-129, 483; II, 221.

a. Maritanda.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 61, 126-129, 483; II, 221.

b. Agni.—S. D., II, 60, 400.

b. Agni.— Giáo Lý Bí Nhiệm, II, 60, 400.

c. Surya.—S. D., I, 127, 643.

c. Surya.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 127, 643.

d. Helios.—S. D., II, 47.

d. Helios.— Giáo Lý Bí Nhiệm, II, 47.

e. Apollo.—S. D., II, 6, 129.

e. Apollo.— Giáo Lý Bí Nhiệm, II, 6, 129.

2. The Sun in the S. D. is used in the three following connotations:

2. Mặt Trời trong Giáo Lý Bí Nhiệm được dùng theo ba hàm nghĩa sau:

a. The Central Spiritual Sun.—S. D., I, 519, 520, 700, 736; S. D., II,—120, 249, 251.

a. Mặt trời Tinh thần Trung Ương.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 519, 520, 700, 736; Giáo Lý Bí Nhiệm, II,—120, 249, 251.

b. The visible physical Sun.—S. D., I, 628.

b. Mặt Trời hồng trần hữu hình.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 628.

c. The three secondary Suns.—As above.

c. Ba Mặt Trời thứ cấp.— Như trên.

Consider the Microcosm, manifesting through the causal body, which contains the three permanent atoms, the centres of force for the three bodies, the mental, astral and physical.

Hãy xét Tiểu thiên địa, biểu lộ qua thể nguyên nhân, vốn chứa ba nguyên tử trường tồn, các trung tâm mãnh lực cho ba thể, thể trí, thể cảm dục và thể xác.

3. Consider the following three statements.—S. D. I., 574.

3. Hãy xét ba phát biểu sau.— Giáo Lý Bí Nhiệm I., 574.

a. In the Kosmos..The Sun is the kama-rupa, or desire body of Akasha (the second aspect of Brahma).

a. Trong Vũ trụ..Mặt Trời là kama-rupa, hay thể dục vọng của Akasha (phương diện thứ hai của Brahma).

Compare ‘Son of necessity.’—S. D., I, 74.

So sánh “Con của sự tất yếu.”— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 74.

b. In the system…The Sun is the sixth principle, buddhi, and its vehicle. (The Dragons of Wisdom taking form on the fourth cosmic ether, our buddhic plane).

b. Trong hệ thống…Mặt Trời là nguyên khí thứ sáu, Bồ đề, và vận cụ của nó. (Các Rồng Minh Triết mang hình tướng trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề của chúng ta).

c. As an entity…The Sun is the seventh principle of Brahma or the aspect of active intelligent matter.

c. Với tư cách một thực thể…Mặt Trời là nguyên khí thứ bảy của Brahma hay phương diện của vật chất trí tuệ hoạt động.

Hence ‘rejection’ as it is called ensues because consciousness or the development of the Ego (logoic or human) is the goal of evolution, and not the matter aspect. “The Primordial Ray is only the vehicle of the Divine Ray.”—S. D., I, 108. (back)

Do đó, “sự khước từ” như nó được gọi, xảy ra bởi vì tâm thức hay sự phát triển của chân ngã (logoic hay nhân loại) là mục tiêu của tiến hóa, chứ không phải phương diện vật chất. “Cung Nguyên Sơ chỉ là vận cụ của Cung thiêng liêng.”— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 108. (back)

1. The central spiritual sun (essential).

1. Mặt trời tinh thần trung ương (cốt yếu).

2. The sun (subjective), called ‘the heart of the sun.’

2. Mặt trời (chủ quan), được gọi là ‘trái tim của mặt trời.’

3. The physical sun (objective).

3. Mặt trời hồng trần (khách quan).

and the same thought can be carried through the monadic manifestation. The three monadic centres are distinguished by different types of energy:

và cùng một tư tưởng ấy có thể được áp dụng xuyên suốt biểu lộ chân thần. Ba trung tâm chân thần được phân biệt bởi các loại năng lượng khác nhau:

1. Monadic—dynamic energy

electric impulse

pure fire.

2. Egoic—magnetic energy

radiatory impulse

solar fire.

3. Personal—individual energy

rotary impulse

fire by friction.

The first produces light, the second heat, and the third moisture or concretion.

Loại thứ nhất tạo ra ánh sáng, loại thứ hai nhiệt, và loại thứ ba độ ẩm hay sự đông đặc.

By the interplay of the three types of force which constitute the three monadic aspects, a rhythm is set up which eventuates in the formation of:

Bởi sự tương tác của ba loại mãnh lực cấu thành ba phương diện chân thần, một nhịp điệu được thiết lập, cuối cùng dẫn đến sự hình thành của:

A ring-pass-not, or ovoidal sphere, wherein the pilgrim is confined, and which contains within itself three major centres of force, corresponding to

Một vòng-giới-hạn, hay một khối cầu hình trứng, trong đó người hành hương bị giam giữ, và khối cầu này chứa trong chính nó ba trung tâm mãnh lực chính, tương ứng với

a. The three major logoic centres when the subjective or force side of existence is contemplated.

a. Ba trung tâm logoic chính khi phương diện chủ quan hay phương diện mãnh lực của sự tồn tại được chiêm ngưỡng.

b. The three permanent atoms if the purely objective side is in question.

b. Ba nguyên tử trường tồn nếu vấn đề là phương diện hoàn toàn khách quan.

A cyclic pulsation, which is the cause of every evolutionary impulse.

Một sự rung nhịp chu kỳ, là nguyên nhân của mọi xung lực tiến hóa.

[Page 1048] These evolutionary impulses may be regarded as three in number for a solar system, or for a Monad:

[Page 1048] Những xung lực tiến hóa này có thể được xem là có ba loại đối với một hệ mặt trời, hay đối với một chân thần:

There is the impulse which drives every atom to self-determination, and is the secret of the phenomenon called individualisation. It is largely the force called Brahma.

Có xung lực thúc đẩy mọi nguyên tử đến chỗ tự quyết, và là bí mật của hiện tượng được gọi là biệt ngã hóa. Nó phần lớn là mãnh lực được gọi là Brahma.

There is the impulse which forces the individual atom towards group determination, and is the secret of the phenomenon termed “Initiation,” or the process of passing out of the human or self-determined individualised Life into the higher kingdom. It is the sum total of the force of Vishnu, the second aspect, and produces the higher states of consciousness.

Có xung lực buộc nguyên tử cá biệt hướng tới sự quyết định theo nhóm, và là bí mật của hiện tượng được gọi là “Điểm đạo,” hay tiến trình vượt ra khỏi sự sống cá biệt đã biệt ngã hóa của nhân loại hay tự quyết để đi vào giới cao hơn. Nó là tổng số mãnh lực của Vishnu, phương diện thứ hai, và tạo ra các trạng thái tâm thức cao hơn.

There is finally the impulse which forces the planetary groups, the sum total of all atoms and forms, to a conscious realisation of the nature of the all-enclosing group, the solar atom.

Sau cùng, có xung lực buộc các nhóm hành tinh, tổng thể của mọi nguyên tử và hình tướng, đi đến sự chứng nghiệm có ý thức về bản chất của nhóm bao trùm tất cả, tức nguyên tử thái dương.

The Monad, acted upon by the Heavenly Man, intelligently forms his ring-pass-not. There his work ceases from the purely monadic standpoint; the inherent life of the atomic matter thus constituted produces the later phenomena. The rotary life of the atoms, and their interplay, modified by the Life of the planetary group, or Heavenly Man, pursued through long aeons, causes the phenomena of the various involutionary stages up to the point where certain of the atoms have evolved to the consciousness of animal-man. All through this inconceivable period (that is, in connection with our earth sphere) the milliards of atomic lives have pursued their courses, energised by the Life of the Monad, as it pulsates through the medium of the monadic heart on the spiritual plane; and equally they have responded to the larger rhythm of the Heavenly Man. This it is which has produced graded concretion, and brought animal-man to the stage where the upward pull of the Monad itself began to be felt. At the same time, the Monad on its [Page 1049] own plane began to respond to the self-engendered energy of the lower form, the two rhythms contacted, individualisation occurred and the pilgrim manifested in his true nature.

Chân thần, được Đấng Thiên Nhân tác động, một cách thông minh tạo thành vòng-giới-hạn của y. Tại đó công việc của y chấm dứt theo quan điểm thuần túy chân thần; sự sống cố hữu của vật chất nguyên tử được cấu thành như thế tạo ra các hiện tượng về sau. Sự sống quay tròn của các nguyên tử, và sự tương tác của chúng, được Sự sống của nhóm hành tinh, hay Đấng Thiên Nhân, biến đổi, tiếp diễn qua những đại kiếp lâu dài, gây nên các hiện tượng của những giai đoạn giáng hạ tiến hoá khác nhau cho đến điểm mà một số nguyên tử đã tiến hoá đến tâm thức của người thú. Suốt toàn bộ thời kỳ không thể nghĩ bàn này (nghĩa là, liên hệ với khối cầu địa cầu của chúng ta), hàng tỷ tỷ sự sống nguyên tử đã theo đuổi các tiến trình của chúng, được tiếp năng lượng bởi Sự sống của Chân thần, khi nó rung động qua trung gian của tim chân thần trên cõi tinh thần; và đồng thời chúng cũng đáp ứng với nhịp điệu lớn hơn của Đấng Thiên Nhân. Chính điều này đã tạo ra sự kết tụ theo cấp bậc, và đưa người thú đến giai đoạn mà lực kéo đi lên của chính Chân thần bắt đầu được cảm nhận. Đồng thời, Chân thần trên [Page 1049] cõi riêng của mình bắt đầu đáp ứng với năng lượng do hình tướng thấp tự phát sinh; hai nhịp điệu tiếp xúc nhau, sự biệt ngã hóa xảy ra và người hành hương biểu lộ trong bản chất chân thực của mình.

Then—as far as concerns the Monad—progressive life forward begins. It is truly cyclic, repetitive and spiralling. At first the action, or the interplay between the rotary lower atomic form, and the influence of the Monad, is lethargic, slow and heavy, and the form retards the action of the Monad, and its heavy vibration tends to offset the higher. Gradually, as the sweeping spirals play their part, the higher vibration makes itself felt, and the activity, or motion, is more balanced, but lighter. Thus the cycles run until the higher rhythm or vibration is so dominant that the influence of the form is negated, and leads to its eventual discarding. Simultaneously with this, the highest rhythm of all makes itself felt, leading to increased activity upon the highest planes, and producing in time a negation of the sheath life of the Ego. As the old Commentary again says:

Khi ấy—xét theo phương diện Chân thần—sự sống tiến bộ hướng về phía trước bắt đầu. Quả thật nó có tính chu kỳ, lặp lại và xoắn ốc. Lúc đầu, hoạt động, hay sự tương tác giữa hình tướng nguyên tử thấp quay tròn và ảnh hưởng của Chân thần, thì trì trệ, chậm chạp và nặng nề, và hình tướng làm chậm tác động của Chân thần, còn rung động nặng nề của nó có khuynh hướng hóa giải cái cao hơn. Dần dần, khi các vòng xoắn quét qua thực hiện phần việc của chúng, rung động cao hơn tự làm cho mình được cảm nhận, và hoạt động, hay chuyển động, trở nên quân bình hơn, nhưng nhẹ hơn. Cứ thế các chu kỳ vận hành cho đến khi nhịp điệu hay rung động cao hơn trở nên áp đảo đến mức ảnh hưởng của hình tướng bị phủ nhận, và dẫn đến việc cuối cùng bị loại bỏ. Đồng thời với điều này, nhịp điệu cao nhất trong tất cả cũng tự làm cho mình được cảm nhận, dẫn đến hoạt động gia tăng trên các cõi cao nhất, và theo thời gian tạo ra sự phủ nhận đời sống vỏ bọc của chân ngã. Như Cổ Luận lại nói:

“The drops of moisture grow heavier. They break as rain upon the lowest plane. They sink into the clay and cause it to blossom. Thus do the waters cover the earth and all the cycles.

“Những giọt ẩm khí trở nên nặng hơn. Chúng vỡ ra thành mưa trên cõi thấp nhất. Chúng thấm vào đất sét và khiến nó nở hoa. Như thế nước phủ khắp mặt đất và mọi chu kỳ.

Two are the objectives of the fathering drops, and each attained in vastly separated cycles; one is to sink and lose itself in the dark soil of earth; the other to rise and merge itself in the clear air of heaven.

Hai là những mục tiêu của các giọt do người cha sinh ra, và mỗi mục tiêu đạt được trong những chu kỳ cách biệt vô cùng lớn; một là chìm xuống và đánh mất chính mình trong lớp đất tối của địa cầu; mục tiêu kia là vươn lên và hòa nhập chính mình vào bầu không khí trong sáng của thiên giới.

Between the two vast periods the heat doth play its part.

Giữa hai thời kỳ bao la ấy, nhiệt lực thực hiện phần việc của nó.

But when the heat grows fierce, and the fires within the earth and beneath the waters burn hot and flow, the nature of the many drops is seen to undergo a change. They dissipate in steam. Thus doth the heat perform its part.

Nhưng khi nhiệt lực trở nên dữ dội, và các ngọn lửa bên trong địa cầu và dưới làn nước bốc cháy nóng bỏng và tuôn chảy, bản chất của nhiều giọt được thấy là trải qua một sự chuyển đổi. Chúng tiêu tan thành hơi nước. Như thế nhiệt lực thực hiện phần việc của nó.

Later again the fire electric flashes forth, and turns the steam to that which will permit its passage through the air.”

Về sau nữa, lửa điện lóe ra, và biến hơi nước thành cái sẽ cho phép nó đi xuyên qua không khí.”

We will now sum up briefly the various vibratory impulses which have a definite effect upon the Monad, and which must be borne in mind as we consider the evolution [Page 1050] of the Divine Pilgrim. It is not the purpose of this Treatise to enlarge upon each distinctive impulse. It but seeks to indicate, leaving to later individual students the expansion of the imparted ideas.

Giờ đây chúng ta sẽ tóm lược ngắn gọn các xung lực rung động khác nhau có ảnh hưởng xác định lên Chân thần, và cần phải được ghi nhớ khi chúng ta xem xét sự tiến hoá [Page 1050] của Người Hành Hương Thiêng Liêng. Mục đích của Luận về này không phải là khai triển từng xung lực riêng biệt. Nó chỉ tìm cách chỉ ra, để cho các đạo sinh cá nhân về sau tự mình mở rộng những ý tưởng đã được truyền đạt.

1. Three impulses inherent in the three periodical vehicles, as H. P. B. terms the three main centres of energy through which the Monad manifests:

1. Ba xung lực cố hữu trong ba vận cụ tuần hoàn, như H. P. B. gọi ba trung tâm năng lượng chính mà qua đó Chân thần biểu lộ:

a. The energy of the monadic ring-pass-not, viewing it as a unit.

a. Năng lượng của vòng-giới-hạn chân thần, xét nó như một đơn vị.

b. The energy of the causal body, within the monadic periphery.

b. Năng lượng của thể nguyên nhân, bên trong chu vi chân thần.

c. The energy of the physical body, the synthesis upon the physical plane of the force pouring through into manifestation through the three permanent atoms.

c. Năng lượng của thể xác, sự tổng hợp trên cõi hồng trần của mãnh lực tuôn vào biểu lộ qua ba nguyên tử trường tồn.

2. The activity set up in the seven etheric centres of force, the result of the activity of the seven principles:

2. Hoạt động được thiết lập trong bảy trung tâm mãnh lực dĩ thái, là kết quả của hoạt động của bảy nguyên khí:

a. The head centre—esoteric seven with an exoteric three.

a. Trung tâm đầu—bảy huyền bí với ba ngoại môn.

b. The throat centre.

b. Trung tâm cổ họng.

c. The heart centre—an esoteric three and exoteric seven.

c. Trung tâm tim—ba huyền bí và bảy ngoại môn.

d. The solar plexus—an esoteric three and exoteric four.

d. Tùng thái dương—ba huyền bí và bốn ngoại môn.

e. The organs of generation—an esoteric two.

e. Các cơ quan sinh sản—một hai huyền bí.

f. The base of the spine—an esoteric unity.

f. Đáy cột sống—một hợp nhất huyền bí.

3. The inherent activity of every atom in every sheath, which produces the rhythm of the sheath.

3. Hoạt động cố hữu của mọi nguyên tử trong mọi vỏ bọc, tạo ra nhịp điệu của vỏ bọc.

4. The unified activity of every sheath or form which the divine Pilgrim uses.

4. Hoạt động hợp nhất của mọi vỏ bọc hay hình tướng mà Người Hành Hương thiêng liêng sử dụng.

5. The united active motion produced by the unification of the three vehicles, the seven sheaths, the force centres, and the atomic substance.

5. Chuyển động hoạt động hợp nhất được tạo ra bởi sự hợp nhất của ba vận cụ, bảy vỏ bọc, các trung tâm lực, và chất liệu nguyên tử.

6. The effect produced by the action of the groups karmically allied with the Pilgrim. They are: [Page 1051]

6. Hiệu quả được tạo ra bởi tác động của các nhóm có liên hệ nghiệp quả với Người Hành Hương. Đó là: [Page 1051]

a. His Ray vibration, his monadic group.

a. Rung động cung của y, nhóm chân thần của y.

b. His subray vibration, or the vibration of the egoic group.

b. Rung động cung phụ của y, hay rung động của nhóm chân ngã.

c. His personality affiliations, such as his family, racial, and national energy. All of these play upon the sensitive atoms in the various bodies and produce specific effects.

c. Những liên hệ phàm ngã của y, như năng lượng gia đình, chủng tộc và quốc gia của y. Tất cả những điều này tác động lên các nguyên tử nhạy cảm trong những thể khác nhau và tạo ra các hiệu quả đặc thù.

7. The activity or motion initiated and stimulated by the life of any of the three lower kingdoms in nature,—all of which produce definite results.

7. Hoạt động hay chuyển động được khởi xướng và kích thích bởi sự sống của bất kỳ giới nào trong ba giới thấp của bản chất,—tất cả đều tạo ra những kết quả xác định.

8. The vibration of the particular planet upon which the monad may be seeking expression and experience.

8. Rung động của hành tinh đặc thù mà trên đó chân thần có thể đang tìm cách biểu lộ và kinh nghiệm.

9. The effect produced in the substance of the sheaths by the influences, or vibrations, of the various planets. This, esoterically understood, is the influence of some one or other of the solar centres, as the forces emanating from them play upon the planetary centres and thereby affect the involved monadic units. This is hidden in the karma of the Heavenly Man, and when true esoteric astrology comes into being then more anent this will be given out. Astrology as now studied and taught misleads more than it helps, and astrological students are as yet learning but the a-b-c of this stupendous subject, and are occupied with the exoteric fringes of that great veil which has been wisely thrown over all planetary lore.

9. Hiệu quả được tạo ra trong chất liệu của các vỏ bọc bởi các ảnh hưởng, hay rung động, của các hành tinh khác nhau. Điều này, khi được thấu hiểu một cách huyền bí, là ảnh hưởng của một trung tâm thái dương nào đó, khi các mãnh lực phát ra từ đó tác động lên các trung tâm hành tinh và nhờ vậy ảnh hưởng đến các đơn vị chân thần liên can. Điều này ẩn giấu trong nghiệp quả của Đấng Thiên Nhân, và khi chiêm tinh học nội môn chân chính xuất hiện thì sẽ có thêm nhiều điều về vấn đề này được công bố. Chiêm tinh học như hiện nay được nghiên cứu và giảng dạy gây lạc hướng nhiều hơn là giúp ích, và các đạo sinh chiêm tinh cho đến nay mới chỉ học bảng chữ cái a-b-c của chủ đề vĩ đại này, và đang bận tâm với những rìa ngoại môn của bức màn lớn đã được khôn ngoan phủ lên mọi tri thức hành tinh.

10. Another form of energy which must ever be considered is that of the planetary Logos, as He pours His force through some one chain or some one globe upon the groups of evolving human units. This—from the human standpoint—cannot as yet be calculated, as it is dependent upon the occult “turning of the attention” by the planetary Logos in meditation upon any centre in His body corporate. It is, of course, all under cosmic law, but beyond the realisation of man. It involves cognisance [Page 1052] of the planetary individual purpose, which is not revealed until the later initiations.

10. Một dạng năng lượng khác luôn luôn phải được xét đến là năng lượng của Hành Tinh Thượng đế, khi Ngài tuôn mãnh lực của Ngài qua một dãy nào đó hay một bầu hành tinh nào đó lên các nhóm đơn vị nhân loại đang tiến hoá. Điều này—xét theo quan điểm nhân loại—hiện chưa thể tính toán được, vì nó tùy thuộc vào sự “chuyển hướng chú ý” huyền bí của Hành Tinh Thượng đế trong tham thiền lên bất kỳ trung tâm nào trong thể hợp nhất của Ngài. Dĩ nhiên, tất cả đều ở dưới định luật vũ trụ, nhưng vượt ngoài sự chứng nghiệm của con người. Nó bao hàm sự nhận biết [Page 1052] về mục đích cá nhân của hành tinh, điều không được mặc khải cho đến các lần điểm đạo về sau.

11. The inherent energy of the solar atom itself has likewise a rhythmic effect upon the individual Monad, and though it only reaches the monad via the greater centres of Existence yet it has its effect upon one and all. This is another factor not sufficiently recognised.

11. Năng lượng cố hữu của chính nguyên tử thái dương cũng có một hiệu quả nhịp điệu lên Chân thần cá nhân, và dù nó chỉ đến với chân thần qua các trung tâm lớn hơn của Tồn Tại, nó vẫn có ảnh hưởng lên từng đơn vị và tất cả. Đây là một yếu tố khác chưa được nhìn nhận đầy đủ.

12. Finally, the energy of the greater life (in which our solar system but forms a part) has to be reckoned with, and the impulses emanating from the cosmic Logos, the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID reach the monadic lives and produce stimulation or retardation according to the nature of the cosmic ideation. These are necessarily entirely outside the ken of average man and are only touched upon as no tabulation would be complete without them.

12. Sau cùng, năng lượng của sự sống lớn hơn (trong đó hệ mặt trời của chúng ta chỉ tạo thành một phần) cũng phải được tính đến, và các xung lực phát ra từ Thượng đế Vũ Trụ, Đấng Bất Khả Tư Nghị, đến được các sự sống chân thần và tạo ra sự kích thích hay làm chậm trễ tùy theo bản chất của ý niệm vũ trụ. Những điều này tất yếu hoàn toàn vượt ngoài tầm hiểu biết của con người trung bình và chỉ được đề cập thoáng qua vì không có bảng liệt kê nào là đầy đủ nếu thiếu chúng.

13. There is also to be borne in mind the play of energy which emanates from any one of those “Twelve signs of the Zodiac” with which astrology concerns itself. This type of force is primarily concerned with planetary stimulation, with the planetary Logoi, and is hidden in Their cyclic karma,—a karma which of course will incidentally involve those monads and devas which form Their bodies and centres.

13. Cũng cần ghi nhớ sự vận hành của năng lượng phát ra từ bất kỳ một trong “Mười Hai dấu hiệu hoàng đạo” mà chiêm tinh học quan tâm. Loại mãnh lực này trước hết liên hệ đến sự kích thích hành tinh, đến các Hành Tinh Thượng đế, và ẩn giấu trong nghiệp quả chu kỳ của Các Ngài,—một nghiệp quả dĩ nhiên sẽ ngẫu nhiên bao hàm những chân thần và thiên thần tạo thành các thể và các trung tâm của Các Ngài.

14. We must not ignore the three great waves of energy which sweep cyclically through the entire solar system from:

14. Chúng ta không được bỏ qua ba làn sóng năng lượng lớn quét qua toàn thể hệ mặt trời theo chu kỳ từ:

a. The seven stars of the Great Bear. The strength of these vibrations depends upon the closeness of the connection and the accuracy of the alignment between any particular Heavenly Man and His Prototype. The mystery here is profound; it is connected with the stage in evolution of the “imperfect gods” and the objective of the planetary deities. [Page 1053]

a. Bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh. Sức mạnh của các rung động này tùy thuộc vào mức độ gần gũi của mối liên hệ và độ chính xác của sự chỉnh hợp giữa bất kỳ Đấng Thiên Nhân đặc thù nào với Nguyên Mẫu của Ngài. Huyền nhiệm ở đây thật sâu xa; nó liên hệ đến giai đoạn tiến hoá của các “vị thần bất toàn” và mục tiêu của các thần linh hành tinh. [Page 1053]

b. The Seven Sisters, or the Pleiades, and from that one in particular who is occultly termed “the wife” of the planetary Logos whose scheme will eventually receive the seeds of life from our planet, which is not considered a sacred planet, as has before been stated.

b. Bảy Chị Em, hay Pleiades, và đặc biệt từ một vị trong số đó, được gọi một cách huyền bí là “người vợ” của Hành Tinh Thượng đế mà hệ hành tinh của Ngài rốt cuộc sẽ nhận các hạt giống sự sống từ hành tinh chúng ta, vốn không được xem là một hành tinh thiêng liêng, như đã nói trước đây.

c. The sun Sirius.

c. Mặt trời Sirius.

There are other streams of energetic force which have an effect upon the Pilgrim everywhere, but the above enumeration will serve to show the complexity of the subject and the vastness of the scheme of evolution. All these vibratory emanations pass through the sphere cyclically; they come and go, and according to their presence or their non presence and according to the stage of evolution of the emanating Existence will depend the phenomenal character of all life, will depend the nature of any specific period, and the quality of the manifesting Monads. It is the appearance or the disappearance of these waves of life-force (planetary, inter-planetary, systemic, cosmic and inter-cosmic) which sweeps into incarnation the divine pilgrims, and which brings about the cyclic manifestation of such great Lives as the “Silent Watcher” and the “Great Sacrifice”; it is this which causes also the dissolution of a scheme, and its reappearance, and is responsible for the transportation of the life seeds from one scheme to another, or from one solar system to another.

Còn có những dòng mãnh lực năng lượng khác có ảnh hưởng lên Người Hành Hương ở khắp nơi, nhưng sự liệt kê trên đủ để cho thấy tính phức tạp của chủ đề và sự bao la của hệ thống tiến hoá. Tất cả những phát xạ rung động này đi qua khối cầu theo chu kỳ; chúng đến rồi đi, và tùy theo sự hiện diện hay vắng mặt của chúng, cũng như tùy theo giai đoạn tiến hoá của Tồn Tại phát xạ, mà tính chất hiện tượng của mọi sự sống, bản chất của bất kỳ thời kỳ đặc thù nào, và phẩm tính của các Chân thần đang biểu lộ sẽ được quyết định. Chính sự xuất hiện hay biến mất của những làn sóng sinh lực này (hành tinh, liên hành tinh, hệ thống, vũ trụ và liên vũ trụ) cuốn các người hành hương thiêng liêng vào lâm phàm, và mang lại sự biểu lộ theo chu kỳ của những Sự sống vĩ đại như “Đấng Quan Sát Thầm Lặng” và “Đại Hi Sinh”; chính điều này cũng gây ra sự tan rã của một hệ hành tinh và sự tái xuất hiện của nó, đồng thời chịu trách nhiệm cho việc chuyển vận các hạt giống sự sống từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác, hay từ hệ mặt trời này sang hệ mặt trời khác.

In this great tide of forces, the Monads are swept along; their aggregate is termed the “force of evolution,” and the life and persistence of the initiatory Being sets the term for their duration. Man is but the plaything of the forces which gather him up and carry him on, just as the atom, in the human frame is but the obedient servant of the man’s imposing direction; yet within limits man is the controller of his destiny; within [Page 1054] limits he wields forces and energies, he manipulates lesser lives and controls lesser centres of energy, and as time slips away his radius of control becomes ever more extensive.

Trong thủy triều mãnh lực vĩ đại này, các Chân thần bị cuốn đi; tổng thể của chúng được gọi là “mãnh lực tiến hoá,” và sự sống cùng sự bền vững của Hữu thể điểm đạo đặt ra giới hạn cho thời lượng của chúng. Con người chỉ là món đồ chơi của những mãnh lực gom lấy y và mang y đi, cũng như nguyên tử trong cơ thể con người chỉ là kẻ phụng sự vâng lời cho sự chỉ đạo áp đặt của con người; tuy nhiên trong những giới hạn nhất định, con người là kẻ kiểm soát số phận của mình; trong [Page 1054] những giới hạn ấy, y vận dụng các mãnh lực và năng lượng, y thao tác các sự sống nhỏ hơn và kiểm soát các trung tâm năng lượng nhỏ hơn, và theo thời gian bán kính kiểm soát của y ngày càng mở rộng hơn.

The atom controls its own central life; man can control the sets of lives who form his three bodies; the initiate and the adept are controlling energies of many kinds in the three worlds, as the Chohan does on the five planes of evolution. Thus the plan is carried forward until the Army of the Voice become themselves the Sounder of the Words, and the Sounders of the Words become the Word itself.

Nguyên tử kiểm soát sự sống trung tâm của chính nó; con người có thể kiểm soát các tập hợp sự sống tạo thành ba thể của mình; điểm đạo đồ và chân sư đang kiểm soát nhiều loại năng lượng trong ba cõi giới, cũng như Chohan làm như vậy trên năm cõi tiến hoá. Như thế Thiên Cơ được đưa tới phía trước cho đến khi Đạo Quân của Tiếng Nói tự mình trở thành những Đấng Xướng các Linh từ, và những Đấng Xướng các Linh từ trở thành chính Linh từ.

It will, therefore, be apparent, that the “Law of Monadic Return” which we have just been considering, is the sumtotal of those influences which have a direct bearing upon the monadic atoms, which affect its progress cyclically, and which stimulate it, or retard its activity according to the strength of the initiating life. It is only after initiation that the human atom reaches a stage in its development where forces and influences begin to be comprehended. When the methods are understood whereby adjustment is consciously made to extraneous force currents, resistance to retarding forces is initiated consciously and with scientific accuracy, and the man consciously puts himself into line with forces which will swing him along on the path of return. There is in this thought no undue complexity or cause for discouragement, for ever the potent force of electrical energy will offset the more lethargic vibration of solar fire, and solar fire itself in due time will negate the effects of “fire by friction.”

Do đó, sẽ rõ ràng rằng “Định luật Trở Về của Chân thần” mà chúng ta vừa xem xét là tổng thể của những ảnh hưởng có liên hệ trực tiếp đến các nguyên tử chân thần, ảnh hưởng đến sự tiến bộ theo chu kỳ của nó, và kích thích nó hoặc làm chậm hoạt động của nó tùy theo sức mạnh của sự sống khởi xướng. Chỉ sau điểm đạo, nguyên tử nhân loại mới đạt đến một giai đoạn trong sự phát triển của mình mà ở đó các mãnh lực và ảnh hưởng bắt đầu được thấu hiểu. Khi các phương pháp được hiểu rõ nhờ đó sự điều chỉnh được thực hiện một cách có ý thức đối với các dòng mãnh lực bên ngoài, thì sự kháng cự đối với các mãnh lực làm chậm được khởi sự một cách có ý thức và với độ chính xác khoa học, và con người một cách có ý thức đặt mình vào hàng ngũ với các mãnh lực sẽ đưa y tiến bước trên Con Đường Trở Về. Trong tư tưởng này không có sự phức tạp quá mức hay nguyên nhân gây nản lòng nào, vì mãi mãi mãnh lực mạnh mẽ của năng lượng điện sẽ hóa giải rung động trì trệ hơn của Lửa Thái dương, và chính Lửa Thái dương đến đúng lúc sẽ phủ nhận các hiệu quả của “Lửa ma sát.”

3. The Law of Solar Evolution.

3. Định luật Tiến Hoá Thái Dương.

It is, of course, a truism to state that the Law of Solar Evolution is the sum-total of all the lesser activities. [Page 1055] We might consider this point in connection with the planetary atom, and the solar atom.

Dĩ nhiên, nói rằng Định luật Tiến Hoá Thái Dương là tổng thể của mọi hoạt động nhỏ hơn chỉ là một điều hiển nhiên. [Page 1055] Chúng ta có thể xem xét điểm này trong liên hệ với nguyên tử hành tinh và nguyên tử thái dương.

The planetary atom has, as all else in nature, three main activities:

Nguyên tử hành tinh, như mọi thứ khác trong bản chất, có ba hoạt động chính:

First. It rotates upon its own axis, revolves cyclically within its own ring-pass-not, and thus displays its own inherent energy. What is meant by this phrase? Surely that the milliards of atoms which compose the planetary body (whether dense or subtle) pursue an orbital course around the central energetic positive unit. This dynamic force centre must be considered as subsisting naturally in two locations (if such an unsuitable term is permissible) according to the stage, usage, and particular type of the indwelling planetary entity.

Thứ nhất. Nó quay trên trục của chính nó, vận hành theo chu kỳ bên trong vòng-giới-hạn của chính nó, và như thế biểu lộ năng lượng cố hữu của nó. Cụm từ này có nghĩa gì? Chắc chắn là hàng tỷ tỷ nguyên tử cấu thành thể hành tinh (dù đậm đặc hay vi tế) theo đuổi một quỹ đạo quanh đơn vị dương tính năng lượng trung tâm. Trung tâm mãnh lực năng động này phải được xem là tồn tại một cách tự nhiên ở hai vị trí (nếu có thể cho phép dùng một thuật ngữ không thích hợp như vậy) tùy theo giai đoạn, công dụng và loại hình đặc thù của thực thể hành tinh nội tại.

a. In what corresponds to the head centre in man, if the planetary Logos is of very advanced development.

a. Trong cái tương ứng với trung tâm đầu nơi con người, nếu Hành Tinh Thượng đế đã phát triển rất cao.

b. In the planetary correspondence to the heart centre.

b. Trong sự tương ứng hành tinh với trung tâm tim.

The throat centre is, of course, ever vibrant in all the Logoi, as all are fully intelligent Creators, having perfected this capacity in an earlier solar system.

Dĩ nhiên, trung tâm cổ họng luôn luôn rung động trong mọi Thượng đế, vì tất cả đều là những Đấng Sáng Tạo hoàn toàn thông minh, đã hoàn thiện năng lực này trong một hệ mặt trời trước kia.

Students should here bear in mind that these centres of force are to be found depicted in the central Triangles upon the chart on page 373, though no indication is to be found through a study of such triangles as to the relative attainment of the planetary Logos. Within the chains likewise, will be found corresponding centres of energy, and also within the dense physical body of the Logos of any scheme, the physical planet.

Ở đây, các đạo sinh nên ghi nhớ rằng những trung tâm mãnh lực này được mô tả trong các Tam Giác trung tâm trên biểu đồ ở trang 373, dù không thể tìm thấy dấu hiệu nào qua việc nghiên cứu các tam giác ấy về mức độ thành tựu tương đối của Hành Tinh Thượng đế. Bên trong các dãy cũng sẽ tìm thấy những trung tâm năng lượng tương ứng, và cũng vậy bên trong thể xác đậm đặc của Thượng đế của bất kỳ hệ hành tinh nào, tức hành tinh hồng trần.

One such centre is to be found at the North Pole, and two more are located within the planetary sphere, and frequently the inflow of force or energy to these internal centres (via the polar centre) results in those disasters we call earthquakes, and volcanic eruptions.

Một trung tâm như thế được tìm thấy ở Bắc Cực, và hai trung tâm khác nằm bên trong khối cầu hành tinh, và thường thì sự tuôn vào của mãnh lực hay năng lượng đến các trung tâm nội tại này (qua trung tâm cực) gây ra những tai họa mà chúng ta gọi là động đất và phun trào núi lửa.

There is, as we know, a cyclic shifting of polar inclination, [Page 1056] due to the gradually increasing responsiveness of the planetary Logos to His heavenly Prototype, whereby influences from the Great Bear draw, or occultly “attract,” the attention of the Logos, and bring Him more into line with a greater impulsive Will. This shifting causes disruption in His lower manifestation, which is a condition on the cosmic Path of Initiation analogous to that undergone by a disciple.

Như chúng ta biết, có một sự chuyển dịch theo chu kỳ của độ nghiêng cực, [Page 1056] do sự đáp ứng ngày càng tăng của Hành Tinh Thượng đế đối với Nguyên Mẫu thiên thượng của Ngài, nhờ đó các ảnh hưởng từ Đại Hùng Tinh lôi kéo, hay một cách huyền bí “thu hút,” sự chú ý của Thượng đế, và đưa Ngài chỉnh hợp hơn với một Ý Chí xung động lớn hơn. Sự chuyển dịch này gây ra sự gián đoạn trong biểu lộ thấp của Ngài, là một tình trạng trên Con Đường Điểm Đạo vũ trụ tương tự với điều mà một đệ tử phải trải qua.

The planetary atom revolves upon its axis and comes periodically under influences which produce definite effects. These influences are, among others, those of the moon, and of the two planets which lie nearest to it on either side—nearer and farther away from the Sun. The moon’s influence is exceedingly strong, and has a curious resemblance (as far as the physical planet is concerned) to the “Dweller on the Threshold,” which has such a familiar and potent effect upon the human atom. The resemblance must not be strained, for it should be borne in mind that the moon has no effect upon the Heavenly Man Himself, as His stage of evolution negates such a thing, but that the influence felt is by the planetary Entity the sumtotal of the elemental essences of the planet. Scientific occult students will learn much anent the planetary scheme when they consider the influence of the moon’s karmic pull upon the earth, coupled with the effect of the two neighboring planets, occultly understood.

Nguyên tử hành tinh quay trên trục của nó và định kỳ chịu những ảnh hưởng tạo ra các hiệu quả xác định. Trong số những ảnh hưởng này có ảnh hưởng của mặt trăng, và của hai hành tinh nằm gần nó nhất ở hai phía—gần Mặt Trời hơn và xa Mặt Trời hơn. Ảnh hưởng của mặt trăng cực kỳ mạnh, và có một sự tương tự kỳ lạ (xét theo hành tinh hồng trần) với “Kẻ Chận Ngõ,” vốn có một hiệu quả quen thuộc và mạnh mẽ như vậy lên nguyên tử nhân loại. Sự tương tự này không nên bị đẩy quá xa, vì cần ghi nhớ rằng mặt trăng không có ảnh hưởng nào lên chính Đấng Thiên Nhân, vì giai đoạn tiến hoá của Ngài phủ nhận điều đó, nhưng ảnh hưởng được cảm nhận là bởi Thực Thể Hành Tinh, tức tổng thể của các tinh chất hành khí của hành tinh. Các đạo sinh huyền bí học khoa học sẽ học được nhiều điều về hệ hành tinh khi họ xem xét ảnh hưởng của lực kéo nghiệp quả của mặt trăng lên địa cầu, kết hợp với hiệu quả của hai hành tinh lân cận, được hiểu theo nghĩa huyền bí.

Second, the planetary atom also revolves orbitally around its solar centre. This is its expression of rotary-spiral-cyclic action, and its recognition of the divine central magnet. This brings it under the constant impression of other schemes, each of which produces effects upon the planet. It likewise brings it under the inflowing streams of energy from what are termed the zodiacal constellations which reach the planetary scheme via the great centre, the Sun. It will be apparent to any student [Page 1057] who has even slightly developed the power of visualisation, and has some realisation of the force currents of the solar system, that all can be regarded as the swirling tide of intermingling currents, with numerous focal points of energy demonstrating here and there, yet in no way static as to location.

Thứ hai, nguyên tử hành tinh cũng quay theo quỹ đạo quanh trung tâm thái dương của nó. Đây là biểu hiện của nó về hoạt động quay tròn-xoắn ốc-theo chu kỳ, và là sự nhìn nhận của nó đối với nam châm trung tâm thiêng liêng. Điều này đặt nó dưới ấn tượng thường xuyên của các hệ hành tinh khác, mỗi hệ đều tạo ra những hiệu quả lên hành tinh. Nó cũng đặt nó dưới các dòng năng lượng tuôn vào từ những gì được gọi là các chòm sao hoàng đạo, đến với hệ hành tinh qua trung tâm lớn, tức Mặt Trời. Sẽ rõ ràng đối với bất kỳ đạo sinh nào [Page 1057] dù chỉ phát triển đôi chút năng lực hình dung, và có chút chứng nghiệm về các dòng mãnh lực của hệ mặt trời, rằng tất cả có thể được xem như thủy triều xoáy cuộn của các dòng giao hòa, với vô số tiêu điểm năng lượng biểu lộ đây đó, nhưng tuyệt nhiên không tĩnh tại về vị trí.

The third activity of the planetary atom is that which carries it through space along with the entire solar system, and which embodies its “drift” or inclination towards the systemic orbit in the heavens.

Hoạt động thứ ba của nguyên tử hành tinh là hoạt động mang nó xuyên qua không gian cùng với toàn thể hệ mặt trời, và thể hiện “độ trôi” hay khuynh hướng của nó hướng về quỹ đạo hệ thống trong các tầng trời.

The solar atom must be considered as pursuing analogous lines of activity and as paralleling on a vast scale the evolution of the planetary atom. The entire solar sphere, the logoic ring-pass-not, rotates upon its axis, and thus all that is included within the sphere is carried in a circular manner through the Heavens. The exact figures of the cycle which covers the vast rotation must remain as yet esoteric, but it may be stated that it approximates one hundred thousand years, being, as might be supposed, controlled by the energy of the first aspect, and therefore of the first Ray. This of itself is sufficient to account for varying and diverse influences which may be traced over vast periods by those with the “seeing eye,” for it causes a turning of varying parts of the sphere to the differing zodiacal constellations. This influence (in connection with the planets) is increased or mitigated according to the place of the planets on their various orbital paths. Hence the immense complexity of the matter and the impossibility for the average astronomical and astrological student to make accurate computations or to draw accurate horoscopes. Within the Hall of Wisdom, there exists a department of which the modern varying astrological organisations are but the dim and uncertain reflections. The Adepts connected with it work not with humanity but concern Themselves specifically with “casting the horoscopes” (thus [Page 1058] ascertaining the nature of the work immediately to be done) of the various great lives who inform the globes and kingdoms of nature, with ascertaining the nature of the karmic influences working out in the manifestation of three of the planetary Logoi:

Nguyên tử thái dương phải được xem là theo đuổi những đường hoạt động tương tự và song hành trên một quy mô bao la với sự tiến hoá của nguyên tử hành tinh. Toàn thể khối cầu thái dương, vòng-giới-hạn của Thượng đế, quay trên trục của nó, và như thế mọi thứ được bao gồm trong khối cầu đều được mang đi theo cách tròn xoay qua các tầng trời. Các con số chính xác của chu kỳ bao trùm sự quay bao la này hiện vẫn phải là huyền bí, nhưng có thể nói rằng nó xấp xỉ một trăm ngàn năm, và như có thể giả định, được kiểm soát bởi năng lượng của phương diện thứ nhất, do đó bởi Cung một. Chỉ riêng điều này cũng đủ để giải thích những ảnh hưởng biến thiên và đa dạng mà những ai có “mắt thấy” có thể truy nguyên qua những thời kỳ bao la, vì nó gây ra sự xoay chuyển của những phần khác nhau của khối cầu về phía các chòm sao hoàng đạo khác nhau. Ảnh hưởng này (liên hệ với các hành tinh) được tăng cường hay giảm nhẹ tùy theo vị trí của các hành tinh trên những quỹ đạo khác nhau của chúng. Do đó mới có sự phức tạp vô cùng của vấn đề và sự bất khả đối với đạo sinh thiên văn và chiêm tinh trung bình trong việc thực hiện các tính toán chính xác hay lập các lá số chiêm tinh chính xác. Trong Phòng Minh triết có một bộ phận mà các tổ chức chiêm tinh hiện đại khác nhau chỉ là những phản ánh mờ nhạt và bất định. Các chân sư liên hệ với bộ phận ấy không làm việc với nhân loại mà chuyên biệt quan tâm đến việc “lập lá số chiêm tinh” (nhờ đó [Page 1058] xác định bản chất của công việc phải làm ngay) cho các sự sống vĩ đại khác nhau phú linh các bầu hành tinh và các giới trong bản chất, và xác định bản chất của các ảnh hưởng nghiệp quả đang vận hành trong sự biểu lộ của ba Hành Tinh Thượng đế:

1. Our own planetary Logos.

1. Hành Tinh Thượng đế của chính chúng ta.

2. The planetary Logos of our polar opposite.

2. Hành Tinh Thượng đế của cực đối nghịch của chúng ta.

3. The planetary Logos of the scheme which makes with the two above mentioned a planetary triangle.

3. Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh cùng với hai vị vừa nêu tạo thành một tam giác hành tinh.

Beyond that, They may not go. They progress these various horoscopes for the next stated cycle, and Their records are of profound and significant interest. I would conjure students here to refrain from attempting (in years to come) to form cyclic computations of any kind, for as yet the many constellations which exist only in physical matter of an etheric nature are unknown and unseen. Yet they are potent in influence and until etheric vision is developed, all calculations will be full of error. It suffices for man as yet to master his own dharma, to fulfil group karma, and to dominate what is called “his stars.”

Vượt quá điều đó, Các Ngài không thể đi xa hơn. Các Ngài tiến trình các lá số chiêm tinh khác nhau này cho chu kỳ được ấn định kế tiếp, và hồ sơ của Các Ngài có sự quan tâm sâu xa và đầy thâm nghĩa. Ở đây tôi khẩn thiết yêu cầu các đạo sinh đừng cố gắng (trong những năm sắp tới) hình thành các tính toán chu kỳ dưới bất kỳ hình thức nào, vì cho đến nay nhiều chòm sao chỉ tồn tại trong vật chất hồng trần có bản chất dĩ thái vẫn chưa được biết đến và chưa được nhìn thấy. Tuy nhiên, chúng có ảnh hưởng mạnh mẽ, và cho đến khi linh thị dĩ thái được phát triển, mọi tính toán sẽ đầy sai lầm. Hiện nay, đối với con người, chỉ cần làm chủ dharma của chính mình, hoàn tất nghiệp quả nhóm, và chế ngự điều được gọi là “các ngôi sao của mình.”

Like the planetary atom, the solar atom not only rotates on its axis but likewise spirals in a cyclic fashion through the Heavens. This is a different activity to the drift or progressive dynamic motion through the Heavens. It deals with the revolution of our Sun around a central point and with its relation to the three constellations so oft referred to in this Treatise:

Giống như nguyên tử hành tinh, nguyên tử thái dương không những quay trên trục của nó mà còn xoắn ốc theo cách chu kỳ qua các tầng trời. Đây là một hoạt động khác với độ trôi hay chuyển động năng động tiến tới qua các tầng trời. Nó liên quan đến sự quay của Mặt Trời chúng ta quanh một điểm trung tâm và mối liên hệ của nó với ba chòm sao thường được nhắc đến trong Luận về

The Great Bear.

Đại Hùng Tinh.

The Pleiades.

Pleiades.

The Sun Sirius.

Mặt trời Sirius.

These three groups of solar bodies are of paramount influence where the spiral cyclic activity of our system is concerned. Just as in the human atom the spiral cyclic [Page 1059] activity is egoic and controlled from the egoic body, so in connection with the solar system these three groups are related to the logoic Spiritual Triad, atma-buddhi-manas, and their influence is dominant in connection with solar incarnation, with solar evolution, and with solar progress.

Ba nhóm thiên thể thái dương này có ảnh hưởng tối quan trọng khi xét đến hoạt động xoắn ốc theo chu kỳ của hệ chúng ta. Cũng như trong nguyên tử nhân loại, hoạt động xoắn ốc theo chu kỳ [Page 1059] là chân ngã và được kiểm soát từ thể chân ngã, thì trong liên hệ với hệ mặt trời, ba nhóm này liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần của Thượng đế, atma-buddhi-manas, và ảnh hưởng của chúng là chủ đạo trong liên hệ với sự lâm phàm thái dương, sự tiến hoá thái dương, và sự tiến bộ thái dương.

Further, it must be added that the third type of motion to which our system is subjected, that of progress onward, is the result of the united activity of the seven constellations (our solar system forming one of the seven) which form the seven centres of the cosmic Logos. This united activity produces a uniform and steady push (if it might so be expressed) toward a point in the heavens unknown as yet to even the planetary Logoi.

Hơn nữa, cần nói thêm rằng loại chuyển động thứ ba mà hệ chúng ta chịu tác động, tức sự tiến tới, là kết quả của hoạt động hợp nhất của bảy chòm sao (hệ mặt trời chúng ta tạo thành một trong bảy) tạo thành bảy trung tâm của Thượng đế vũ trụ. Hoạt động hợp nhất này tạo ra một sự thúc đẩy đồng đều và ổn định (nếu có thể diễn tả như vậy) hướng về một điểm trên trời mà ngay cả các Hành Tinh Thượng đế cũng chưa biết.

The confines of the Heavens Themselves are illimitable and utterly unknown. Naught but the wildest speculation is possible to the tiny finite minds of men and it profits us not to consider the question. Go out on some clear starlit night and seek to realise that in the many thousands of suns and constellations visible to the unaided eye of man, and in the tens of millions which the modern telescope reveals there is seen the physical manifestation of as many millions of intelligent existences; this infers that what is visible is simply those existences who are in incarnation. But only one-seventh of the possible appearances are incarnating. Six-sevenths are out of incarnation, waiting their turn to manifest, and holding back from incarnation until, in the turning of the great wheel, suitable and better conditions may eventuate.

Chính các biên giới của các tầng trời là vô hạn và hoàn toàn không được biết đến. Đối với những trí tuệ nhỏ bé hữu hạn của con người, không gì ngoài sự suy đoán táo bạo nhất là có thể, và việc xem xét câu hỏi này không đem lại ích lợi gì cho chúng ta. Hãy ra ngoài vào một đêm quang đãng đầy sao nào đó và cố gắng chứng nghiệm rằng trong hàng ngàn mặt trời và chòm sao mà mắt thường của con người nhìn thấy, và trong hàng chục triệu mà kính thiên văn hiện đại phơi bày, người ta thấy sự biểu lộ hồng trần của cũng từng ấy triệu tồn tại thông minh; điều này hàm ý rằng cái được nhìn thấy chỉ đơn giản là những tồn tại đang lâm phàm. Nhưng chỉ một phần bảy của những sắc tướng khả hữu là đang lâm phàm. Sáu phần bảy ở ngoài lâm phàm, chờ đến lượt biểu lộ, và trì hoãn việc lâm phàm cho đến khi, trong sự quay của bánh xe lớn, những điều kiện thích hợp và tốt đẹp hơn có thể xuất hiện.

Realise further that the bodies of all these sentient intelligent cosmic, solar and planetary Logoi are constituted of living sentient beings, and the brain reels, and the mind draws back in dismay before such a staggering concept. Yet so it is, and so all moves forward to some unfathomable and magnificent consummation which will only in part begin to be visioned by us when our consciousness [Page 1060] has expanded beyond the cosmic physical plane, and beyond the cosmic astral until it can “conceive and think” upon the cosmic mental plane. That supposes a realisation beyond that of the Buddhas who have the consciousness of the cosmic physical plane, and beyond that of the planetary Logoi. It is the consciousness and knowledge of a solar Logos.

Hãy chứng nghiệm thêm rằng các thể của tất cả những Thượng đế vũ trụ, thái dương và hành tinh hữu cảm, thông minh ấy được cấu thành bởi những hữu thể sống hữu cảm, và bộ não quay cuồng, còn trí tuệ lùi lại trong kinh hãi trước một quan niệm choáng ngợp như vậy. Tuy nhiên, đúng là như thế, và như thế mọi sự tiến bước đến một sự viên mãn huy hoàng không thể dò thấu mà chúng ta chỉ bắt đầu có thể linh thị được phần nào khi tâm thức [Page 1060] của chúng ta đã mở rộng vượt khỏi cõi hồng trần vũ trụ, và vượt khỏi cõi cảm dục vũ trụ cho đến khi nó có thể “quan niệm và suy tư” trên cõi trí vũ trụ. Điều đó giả định một sự chứng nghiệm vượt quá của các Đức Phật, những Đấng có tâm thức của cõi hồng trần vũ trụ, và vượt quá của các Hành Tinh Thượng đế. Đó là tâm thức và tri thức của một Thái dương Thượng đế.

To the occult student, who has developed the power of the inner vision, the vault of Heaven can therefore be seen as a blazing fire of light, and the stars as focal points of flame from which radiate streams of dynamic energy. Darkness is light to the illumined Seer, and the secret of the Heavens can be read and expressed in terms of force currents, energy centres, and dynamic fiery systemic peripheries.

Do đó, đối với đạo sinh huyền bí học, người đã phát triển năng lực linh thị bên trong, vòm trời có thể được thấy như một ngọn lửa ánh sáng rực cháy, và các ngôi sao như những tiêu điểm của ngọn lửa từ đó các dòng năng lượng năng động phát xạ. Bóng tối là ánh sáng đối với nhà thông nhãn được soi sáng, và bí mật của các tầng trời có thể được đọc và diễn đạt bằng những thuật ngữ của các dòng mãnh lực, các trung tâm năng lượng, và các chu vi hệ thống rực lửa năng động.

4. The Law of Radiation.

4. Định luật Phát Xạ.

It will be found that more time will be given to this expression of divine activity than to any other in this section, as it is the one of the most practical utility. This Law of Radiation is one that is beginning to be recognised by scientists since their acceptation of the radioactivity of certain substances, and when they are willing to approximate the occult conception of the radiatory, or emanatory condition, of all substances at a specific point in evolution, then they will very definitely approach Reality.

Người ta sẽ thấy rằng trong phần này sẽ dành nhiều thời gian cho biểu hiện hoạt động thiêng liêng này hơn bất kỳ biểu hiện nào khác, vì đây là điều có ích lợi thực tiễn bậc nhất. Định luật Phát Xạ này là một định luật đang bắt đầu được các nhà khoa học nhìn nhận kể từ khi họ chấp nhận tính phóng xạ của một số chất liệu, và khi họ sẵn lòng tiến gần đến quan niệm huyền bí về trạng thái phát xạ, hay xuất lộ, của mọi chất liệu tại một điểm tiến hoá đặc thù, thì họ sẽ rất rõ rệt tiến gần đến Thực Tại.

Radiation is the outer effect produced by all forms in all kingdoms when their internal activity has reached such a stage of vibratory activity that the confining walls of the form no longer form a prison, but permit of the escape of the subjective essence. It marks a specific point of attainment in the evolutionary process, and this is equally true of the atom of substance with which the chemist and physicist deal, when working with the elements, as it is of the forms in the vegetable kingdom, the [Page 1061] forms in the animal kingdom, in the human, and, likewise, in the divine.

Phát xạ là hiệu quả bên ngoài do mọi hình tướng trong mọi giới tạo ra khi hoạt động bên trong của chúng đã đạt đến một giai đoạn hoạt động rung động đến mức các bức tường giam hãm của hình tướng không còn tạo thành một nhà tù nữa, mà cho phép tinh chất chủ quan thoát ra. Nó đánh dấu một điểm thành tựu đặc thù trong tiến trình tiến hoá, và điều này cũng đúng như nhau đối với nguyên tử chất liệu mà nhà hóa học và nhà vật lý xử lý khi làm việc với các nguyên tố, cũng như đối với các hình tướng trong giới thực vật, các [Page 1061] hình tướng trong giới động vật, trong giới nhân loại, và tương tự như vậy trong giới thiêng liêng.

From some angles of vision, it might be regarded as the “true form” (which is to be understood occultly as the etheric form of energy) making its presence felt in such a way that it becomes apparent even to the scientist. Students should here remember two things:

Từ một số góc độ tầm nhìn, nó có thể được xem là “hình tướng chân thực” (điều này phải được hiểu theo nghĩa huyền bí là hình tướng năng lượng dĩ thái) đang làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận theo cách khiến nó trở nên hiển nhiên ngay cả đối với nhà khoa học. Ở đây các đạo sinh nên nhớ hai điều:

First, that in all occult conclusions, it is the body of energy which is dealt with and the subjective life back of the form which is recognised as being of supreme importance.

Thứ nhất, trong mọi kết luận huyền bí học, chính thể năng lượng là điều được đề cập đến và sự sống chủ quan đằng sau hình tướng được nhìn nhận là có tầm quan trọng tối thượng.

Second, that the dense objective manifestation, as has been reiterated frequently, is not regarded as a principle at all; the occultist deals with principles alone.

Thứ hai, biểu lộ khách quan đậm đặc, như đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, hoàn toàn không được xem là một nguyên khí; nhà huyền bí học chỉ đề cập đến các nguyên khí mà thôi.

It might be of value here to remind the student also that three things have to be recognised in all manifestation:

Ở đây cũng có thể có ích khi nhắc đạo sinh rằng có ba điều phải được nhìn nhận trong mọi biểu lộ:

First, that the tangible objective exterior, negative, receptive, and occultly unorganised, is without form and usefulness apart from the inner energy.

Thứ nhất, cái bên ngoài khách quan hữu hình, âm tính, tiếp nhận, và theo nghĩa huyền bí là không được tổ chức, thì không có hình tướng và không có công dụng nếu tách rời năng lượng bên trong.

Second, that the “true form” or the force-vehicle energises and produces the cohesion of that which is unorganised.

Thứ hai, “hình tướng chân thực” hay vận cụ lực tiếp năng lượng và tạo ra sự cố kết của cái vốn không được tổ chức.

Third, that the “volatile essence,” or the spiritual essential Life, focuses itself in some one point within the “true form.” (310)

Thứ ba, “tinh chất linh động,” hay Sự sống cốt yếu tinh thần, tự tập trung vào một điểm nào đó bên trong “hình tướng chân thực.” (310)

(310) Form: “The model according to which nature does its external work.—S. D., II, 107; see S. D., I, 619.

(310) Hình tướng: “Mô hình theo đó bản chất thực hiện công việc bên ngoài của mình.—S. D., II, 107; xem S. D., I, 619.

1. Divine ideation passes from the abstract to the concrete or visible form.

1. Ý niệm thiêng liêng chuyển từ trừu tượng sang hình tướng cụ thể hay hữu hình.

a. The objective is an emanation of the subjective.—S. D., I, 407.

a. Cái khách quan là một sự phát xạ của cái chủ quan.—S. D., I, 407.

b. Impulse is Spirit energy causing objectivity.—S. D., I, 349, 683.

b. Xung lực là năng lượng tinh thần gây ra tính khách quan.—S. D., I, 349, 683.

c. The Logos renders objective a concealed thought.—S. D., II, 28.

c. Thượng đế làm cho một tư tưởng ẩn kín trở nên khách quan.—S. D., II, 28.

2. Three things required before any form of energy can become objective:—S. D., I, 89.

2. Cần có ba điều trước khi bất kỳ dạng năng lượng nào có thể trở nên khách quan:—S. D., I, 89.

1. Privation….Separation. Initial impulse. Energy. Will.

1. Sự thiếu vắng….Sự phân ly. Xung lực ban đầu. Năng lượng. Ý chí.

2. Form….Quality or shape. Nature. Love.

2. Hình tướng….Phẩm tính hay hình dạng. Bản chất. Bác ái.

3. Matter….Objective sphere. Intelligent activity.

3. Vật chất….Khối cầu khách quan. Hoạt động thông tuệ.

See S. D., III, 561.

Xem S. D., III, 561.

3. Life precedes form.—S. D., I, 242.

3. Sự sống có trước hình tướng.—S. D., I, 242.

a. The Thinker ever remains.—S. D., II, 28.

a. Đấng Tư Tưởng luôn luôn còn lại.—S. D., II, 28.

b. Force of life is the transformation into energy of the thought of the Logos.—See S. D., III, 179.

b. Mãnh lực sự sống là sự chuyển đổi thành năng lượng của tư tưởng của Thượng đế.—Xem S. D., III, 179.

4. Spirit evolves through form and out of form.—S. D., I, 680.

4. Tinh thần tiến hoá qua hình tướng và ra khỏi hình tướng.—S. D., I, 680.

a. Spirit has to acquire full self-consciousness.—S. D., I, 215

a. Tinh thần phải đạt được ngã thức trọn vẹn.—S. D., I, 215

b. Form imprisons Spirit.—S. D., II, 775.

b. Hình tướng giam hãm tinh thần.—S. D., II, 775.

c. The principle of limitation is form.—S. D., III, 561.

c. Nguyên khí của sự giới hạn là hình tướng.—S. D., III, 561.

d. Spirit informs all sheaths.—S. D., I, 669, note.

d. Tinh thần thấm nhuần mọi thể vỏ.—S. D., I, 669, ghi chú.

e. Spirit passes through the cycle of Being.—S. D., I, 160.

e. Tinh thần đi qua chu kỳ của Bản Thể.—S. D., I, 160.

5. The devas are the origin of form.—S. D., I, 488.

5. Các thiên thần là nguồn gốc của hình tướng.—S. D., I, 488.

They exist in two great groups:

Các vị tồn tại trong hai nhóm lớn:

a. The Ahhi are the vehicle of divine thought.—S. D., I, 70.

a. Các Ahhi là vận cụ của tư tưởng thiêng liêng.—S. D., I, 70.

b. The Army of the Voice.—S. D., I, 124.

b. Đạo quân của Tiếng Nói.—S. D., I, 124.

They are the sum-total of the substance of the four higher planes and of the three lower.

Các vị là tổng thể chất liệu của bốn cõi cao và ba cõi thấp.

6. There is a form which combines all forms.—S. D., I, 77, 118. (back)

6. Có một hình tướng kết hợp mọi hình tướng.—S. D., I, 77, 118. (back)

[Page 1062] In studying the subject of radiatory activity, we are dealing with the effect produced by the inner essence as it makes its presence felt through the form, when the form has been brought to a stage of such refinement that it becomes possible.

[Page 1062] Khi nghiên cứu đề tài hoạt động bức xạ, chúng ta đang bàn đến hiệu quả do tinh chất bên trong tạo ra khi nó làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận qua hình tướng, khi hình tướng đã được đưa đến một giai đoạn tinh luyện đến mức điều đó trở nên khả hữu.

When this realisation is applied to all the forms in all the kingdoms, it will be found possible to bridge the gaps existing between the different forms of life, and the “elements” in every kingdom, and those unifying radiating centres will be found. The word “element” is yet confined to the basic substances in what is called essential matter, and the chemist and physicist are busy with such lives; but their correspondence (in the occult sense of the term) is to be found in every kingdom in nature, and there are forms of life in the vegetable kingdom which are occultly regarded as “radioactive,” the eucalyptus tree being one such form. There are forms of animal life equally at an analogous stage and the human unit (as it approaches “liberation”) demonstrates a similar phenomenon.

Khi sự chứng nghiệm này được áp dụng cho mọi hình tướng trong mọi giới, người ta sẽ thấy có thể bắt cầu những khoảng cách hiện có giữa các hình thức sự sống khác nhau, và các “nguyên tố” trong mỗi giới, và những trung tâm bức xạ hợp nhất ấy sẽ được tìm ra. Từ “nguyên tố” hiện vẫn còn bị giới hạn vào các chất liệu căn bản trong cái được gọi là vật chất cốt yếu, và các nhà hóa học cùng vật lý học đang bận rộn với những sự sống như thế; nhưng đối phần của chúng (theo nghĩa huyền bí của thuật ngữ này) được tìm thấy trong mọi giới trong bản chất, và có những hình thức sự sống trong giới thực vật mà về mặt huyền bí được xem là “phóng xạ,” cây bạch đàn là một dạng như thế. Có những hình thức sự sống động vật cũng ở một giai đoạn tương tự, và đơn vị nhân loại (khi tiến gần đến “giải thoát”) biểu lộ một hiện tượng tương tự.

Again, as a planetary scheme nears its consummation, it becomes “radioactive,” and through radiation transfers its essence to another “absorbent planet,” or planets, as is the case with a solar system also. Its essence, or true Life, is absorbed by a receiving constellation, and the outer “case” returns to its original unorganised condition.

Một lần nữa, khi một hệ hành tinh tiến gần đến sự hoàn tất của nó, nó trở nên “phóng xạ,” và qua bức xạ chuyển dịch tinh chất của nó sang một “hành tinh hấp thụ” khác, hay các hành tinh khác, cũng như trường hợp của một hệ mặt trời. Tinh chất của nó, hay Sự sống chân thực của nó, được một chòm sao tiếp nhận hấp thu, và “vỏ” bên ngoài trở về trạng thái không được tổ chức ban đầu của nó.

[Page 1063] Under our consideration of the law of radiation, we will first of all take up the topic of the cause of radiation.

[Page 1063] Trong khi xem xét định luật bức xạ, trước hết chúng ta sẽ đề cập đến chủ đề nguyên nhân của bức xạ.

a. The Cause of Radiation. The student will only be able to get a true view of this matter if he views the subject in a large way. Two aspects of the matter naturally come before his mental vision, both of which must be dealt with if any adequate concept of this subject is to be reached,—a subject which has engrossed philosophers, scientists and alchemists for hundreds of years consciously or unconsciously. We must, therefore, consider:

a. Nguyên Nhân của Bức Xạ. Đạo sinh chỉ có thể đạt được một cái nhìn chân thực về vấn đề này nếu y nhìn đề tài theo một cách rộng lớn. Hai phương diện của vấn đề tự nhiên hiện ra trước linh thị trí tuệ của y, và cả hai đều phải được bàn đến nếu muốn đạt tới một quan niệm đầy đủ về đề tài này,—một đề tài đã cuốn hút các triết gia, các nhà khoa học và các nhà luyện kim trong hàng trăm năm, một cách hữu thức hay vô thức. Vì vậy, chúng ta phải xem xét:

a. That which radiates.

a. Cái phát ra bức xạ.

b. That which is the subjective cause of radiation.

b. Cái là nguyên nhân chủ quan của bức xạ.

It might be very briefly stated that when any form becomes radioactive, certain conditions have been fulfilled and certain results brought about, which conditions and results might be summed up as follows:

Có thể phát biểu rất vắn tắt rằng khi bất kỳ hình tướng nào trở nên phóng xạ, một số điều kiện đã được hoàn tất và một số kết quả đã được tạo ra, những điều kiện và kết quả ấy có thể được tóm lược như sau:

The radioactive form is one which has run through its appointed cycles, through its wheel of life, great or small, which has been turned with adequate frequency, so that the volatile life-essence is ready to escape from that form and merge itself in the greater form of which the lesser is but a part. It must be remembered in this connection that radiation occurs when the etheric or true form becomes responsive to certain types of force. Radiation, as it is occultly understood, does not concern itself with the escape from the physical or dense form, but with that period in the life of any living entity (atomic, human or divine) wherein the etheric or pranic body is in such a state that it can no longer limit or confine the indwelling life.

Hình tướng phóng xạ là hình tướng đã đi qua các chu kỳ được chỉ định của nó, qua bánh xe sự sống của nó, lớn hay nhỏ, đã được quay với tần suất thích đáng, đến nỗi tinh chất sự sống linh động sẵn sàng thoát ra khỏi hình tướng ấy và hòa nhập vào hình tướng lớn hơn mà hình tướng nhỏ hơn chỉ là một phần. Cần nhớ trong mối liên hệ này rằng bức xạ xảy ra khi thể dĩ thái hay hình tướng chân thực trở nên đáp ứng với một số loại mãnh lực nào đó. Bức xạ, theo cách được hiểu trong huyền bí học, không liên quan đến sự thoát ra khỏi hình tướng hồng trần hay đậm đặc, mà liên quan đến giai đoạn trong đời sống của bất kỳ thực thể sống nào (nguyên tử, con người hay thiêng liêng) khi thể dĩ thái hay thể prana ở trong một trạng thái đến mức nó không còn có thể giới hạn hay giam giữ sự sống ngự bên trong nữa.

Radiation comes about when the internal, self-sufficient life of any atom is offset by a stronger urge, or pull, emanating from the enveloping greater existence of whose body it may form a part. This is nevertheless only true when it is caused by the pull upon the essential [Page 1064] life by the essential life of the greater form; it is not due to the attractive power of the form aspect of that greater life. A very definite distinction must here be made. It is the failure to recognise this that has led so many alchemical students and scientific investigators to lose their way, and thus negate the conclusions of years of study. They confuse the impulse of the atom to respond to the vibratory magnetic pull of the more powerful and comprehensive form with the true esoteric attraction which alone produces “occult radiation,”—that of the central essential life of the form in which the element under consideration may have place. It is very necessary to make this clear from the start. Perhaps the whole subject may be clearer if we consider it in the following way.

Bức xạ xuất hiện khi sự sống nội tại, tự túc của bất kỳ nguyên tử nào được hóa giải bởi một thôi thúc hay lực hút mạnh hơn, phát ra từ sự tồn tại lớn hơn bao bọc nó mà nó có thể là một phần trong thể của sự tồn tại ấy. Tuy nhiên, điều này chỉ đúng khi nó được gây ra bởi lực hút tác động lên sự sống [Page 1064] cốt yếu bởi sự sống cốt yếu của hình tướng lớn hơn; nó không phải do quyền năng hấp dẫn của phương diện hình tướng của sự sống lớn hơn ấy. Ở đây phải tạo ra một sự phân biệt rất rõ ràng. Chính việc không nhận ra điều này đã khiến biết bao đạo sinh luyện kim và nhà nghiên cứu khoa học lạc lối, và do đó phủ nhận các kết luận của nhiều năm nghiên cứu. Họ nhầm lẫn xung lực của nguyên tử trong việc đáp ứng với lực hút từ tính rung động của hình tướng mạnh hơn và bao quát hơn với sự hấp dẫn bí truyền chân thực, vốn một mình nó mới tạo ra “bức xạ huyền bí,”—đó là sự hấp dẫn của sự sống cốt yếu trung tâm của hình tướng mà yếu tố đang được xem xét có thể có chỗ trong đó. Điều rất cần thiết là phải làm sáng tỏ điều này ngay từ đầu. Có lẽ toàn bộ đề tài sẽ rõ hơn nếu chúng ta xem xét nó theo cách sau.

The atom in a form revolves upon its own axis, follows its own revolution, and lives its own internal life. This concerns its primary awareness. As time progresses it becomes magnetically aware of the attractive nature of that which envelops it on all sides, and becomes conscious of the form which surrounds it. This is its secondary awareness but it still concerns what we might, for lack of a better term, call matter. The atom, therefore, has an interplay with other atoms.

Nguyên tử trong một hình tướng quay trên trục riêng của nó, theo cuộc tuần hoàn riêng của nó, và sống đời sống nội tại riêng của nó. Điều này liên quan đến nhận biết sơ cấp của nó. Khi thời gian trôi qua, nó trở nên nhận biết bằng từ tính về bản chất hấp dẫn của cái bao bọc nó ở mọi phía, và trở nên có tâm thức về hình tướng bao quanh nó. Đây là nhận biết thứ cấp của nó nhưng vẫn liên quan đến cái mà chúng ta có thể, vì thiếu một thuật ngữ tốt hơn, gọi là vật chất. Do đó, nguyên tử có sự tương tác với các nguyên tử khác.

Later, the atom in a form becomes aware that it not only revolves upon its axis, but that it also follows an orbit around a greater centre of force within a greater form. This is tertiary awareness, and is caused by the magnetic pull of the greater centre being felt, thus causing an urge within the atom which impels it to move within certain specific cycles. This awareness, esoterically understood, concerns itself with substance or with the true form within the objective form.

Về sau, nguyên tử trong một hình tướng nhận biết rằng nó không chỉ quay trên trục của mình, mà còn đi theo một quỹ đạo quanh một trung tâm mãnh lực lớn hơn bên trong một hình tướng lớn hơn. Đây là nhận biết bậc ba và được gây ra bởi lực hút từ tính của trung tâm lớn hơn được cảm nhận, nhờ đó gây ra một thôi thúc bên trong nguyên tử khiến nó chuyển động trong những chu kỳ đặc thù nhất định. Nhận biết này, theo cách được hiểu một cách huyền bí, liên quan đến chất liệu hay hình tướng chân thực bên trong hình tướng khách quan.

Finally, the attractive pull of the greater centre becomes so powerful that the positive life within the atom (whatever type of atom it may be and in whatever kingdom) feels the force of the central energy which holds it, [Page 1065] along with other atoms, coherently fulfilling their function. This energy penetrates through the ring-pass-not, evokes no response from what might be called the electronic or negative lives within the atomic periphery, but does evoke a response from the essential, positive nucleus of the atom. This is due to the fact that the essential life of any atom, its highest positive aspect, is ever of the same nature as that of the greater life which is drawing it to itself. When this is felt sufficiently strongly, the atomic cycle is completed, the dense form is dispelled, the true form is dissipated, and the central life escapes to find its greater magnetic focal point.

Cuối cùng, lực hút hấp dẫn của trung tâm lớn hơn trở nên mạnh đến mức sự sống dương bên trong nguyên tử (dù đó là loại nguyên tử nào và trong bất kỳ giới nào) cảm nhận được mãnh lực của năng lượng trung tâm đang giữ nó, [Page 1065] cùng với các nguyên tử khác, một cách cố kết để hoàn thành chức năng của chúng. Năng lượng này xuyên qua vòng-giới-hạn, không gợi ra đáp ứng nào từ cái có thể gọi là các sự sống điện tử hay âm bên trong chu vi nguyên tử, nhưng lại gợi ra một đáp ứng từ hạt nhân cốt yếu, dương của nguyên tử. Điều này là do sự sống cốt yếu của bất kỳ nguyên tử nào, phương diện dương cao nhất của nó, luôn luôn có cùng bản chất với sự sống lớn hơn đang kéo nó về phía mình. Khi điều này được cảm nhận đủ mạnh, chu kỳ nguyên tử hoàn tất, hình tướng đậm đặc bị làm tiêu tan, hình tướng chân thực bị làm tiêu tan, và sự sống trung tâm thoát ra để tìm điểm tập trung từ tính lớn hơn của nó.

Through this process (which is found throughout the solar system in all its departments) every atom in turn becomes an electron. The positive life of any atom in due course of evolution becomes negative to a greater life toward which it is impelled or drawn, and thus the process of evolution carries every life invariably through the four stages enumerated above. Within the three lower kingdoms of nature, the process is undergone unconsciously, according to the human connotation of that term; it is consciously passed through in the human kingdom, and in the higher spheres of existence, with an enveloping consciousness which can only be hinted at in the ambiguous term “self-conscious group realisation.”

Qua tiến trình này (được tìm thấy khắp hệ mặt trời trong mọi bộ phận của nó), đến lượt mình mọi nguyên tử đều trở thành một điện tử. Sự sống dương của bất kỳ nguyên tử nào, theo tiến trình tiến hoá đúng lúc, trở thành âm đối với một sự sống lớn hơn mà nó bị thôi thúc hay bị hút về phía đó, và như thế tiến trình tiến hoá mang mọi sự sống đi qua bốn giai đoạn đã được liệt kê ở trên một cách bất biến. Trong ba giới thấp của bản chất, tiến trình này được trải qua một cách vô thức, theo hàm ý nhân loại của thuật ngữ ấy; nó được trải qua một cách hữu thức trong giới nhân loại, và trong các khối cầu hiện hữu cao hơn, với một tâm thức bao trùm mà chỉ có thể được gợi ý bằng thuật ngữ mơ hồ “sự chứng nghiệm nhóm có ngã thức.”

It was in connection with this transmutative process that the alchemists of old occupied themselves, but seldom did they reach the stage wherein it was possible for them to concern themselves with the response of the two types of positive energy to each other, and with the consequent escape of a lesser positive force to its greater attractive centre. When they did (with a few exceptions) they were brought up against a dead wall, for though they had succeeded in locating the radiating principle in substance, or in the true form, and had managed to pierce through (or to negate) both the dense physical [Page 1066] body and the etheric form, yet they had no perception of the nature of the central force which was drawing the life they were concerned with out of its apparently legitimate sphere into a new realm of activity. Some few did possess this knowledge but (realising the danger of their conclusions) refused to put in writing the result of their investigations.

Chính liên quan đến tiến trình chuyển hoá này mà các nhà luyện kim thời xưa đã chuyên chú, nhưng hiếm khi họ đạt đến giai đoạn mà ở đó họ có thể bàn đến sự đáp ứng của hai loại năng lượng dương đối với nhau, và sự thoát ra tiếp theo của một mãnh lực dương nhỏ hơn đến trung tâm hấp dẫn lớn hơn của nó. Khi họ làm được điều đó (trừ một vài ngoại lệ), họ đụng phải một bức tường bế tắc, vì dù họ đã thành công trong việc xác định nguyên khí bức xạ trong chất liệu, hay trong hình tướng chân thực, và đã xoay xở để xuyên qua (hay phủ nhận) cả thể hồng trần đậm đặc [Page 1066] lẫn hình tướng dĩ thái, nhưng họ không có sự cảm nhận nào về bản chất của mãnh lực trung tâm đang kéo sự sống mà họ quan tâm ra khỏi phạm vi dường như chính đáng của nó để vào một lĩnh vực hoạt động mới. Một số rất ít có được tri thức này nhưng (do nhận ra sự nguy hiểm trong các kết luận của mình) đã từ chối không ghi chép kết quả các cuộc điều tra của họ thành văn bản.

If students will study the laws of transmutation, (311) as already apprehended, and above all, as incorporated in the writings of Hermes Trismegistus, bearing this in mind, some interesting results might be brought about. Let them remember that that which “seeks liberty” is the central electric spark; that this liberty is achieved first of all through the results brought about by the activity of the “frictional fire” which speeds up its internal vibration; then by the work upon the atom, or the substance of solar fire, which causes:

Nếu các đạo sinh nghiên cứu các định luật chuyển hoá, (311) như đã được lĩnh hội, và trên hết, như được kết hợp trong các trước tác của Hermes Trismegistus, với điều này trong tâm trí, thì có thể đem lại một số kết quả lý thú. Hãy để họ nhớ rằng cái “tìm kiếm tự do” là tia lửa điện trung tâm; rằng sự tự do này trước hết đạt được qua các kết quả do hoạt động của “lửa ma sát” tạo ra, vốn làm tăng tốc rung động nội tại của nó; rồi đến công việc tác động lên nguyên tử, hay chất liệu của Lửa Thái dương, điều gây ra:

(311) In connection with Transmutation the following ancient formula is of interest. It was the basis of the alchemical work of olden days.

(311) Liên quan đến Chuyển Hoá, công thức cổ sau đây rất đáng quan tâm. Nó là nền tảng của công việc luyện kim thời xưa.

“True, without error, certain and most true; that which is above is as that which is below and that which is below is as that which is above, for performing the miracles of the one Thing; and as all things were from one by the mediation of one so all things arose from this one thing by adaptation.

“Chân thật, không sai lầm, chắc chắn và chân thật nhất; cái ở trên cũng như cái ở dưới và cái ở dưới cũng như cái ở trên, để thực hiện các phép lạ của một Vật duy nhất; và như mọi vật đều từ một mà ra qua sự trung gian của một, thì mọi vật cũng phát sinh từ vật duy nhất này bằng sự thích ứng.

The Father of it is the sun, the mother of it is the moon; the wind carries it in its belly and the Mother of it is the earth. This is the Father of all perfection, and consummation of the whole world. The power of it is integral if it be turned into earth.

Cha của nó là mặt trời, mẹ của nó là mặt trăng; gió mang nó trong bụng mình và Mẹ của nó là đất. Đây là Cha của mọi sự toàn hảo, và là sự hoàn tất của toàn thế giới. Quyền năng của nó là toàn vẹn nếu nó được chuyển thành đất.

Thou shalt separate the earth from the fire and subtle from the gross, gently with much sagacity; it ascends from earth to Heaven, and again descends to earth; and receives the strength of the superiors and the inferiors—so thou hast the glory of the whole world; therefore let all obscurity fly before thee. This is the strong fortitude of all fortitudes overcoming every subtle and penetrating every solid thing. So the world was created.”—Emerald Tablet of Hermes. (back)

Ngươi hãy tách đất ra khỏi lửa và cái vi tế ra khỏi cái thô trược, một cách nhẹ nhàng với nhiều minh triết; nó đi lên từ đất đến Trời, rồi lại đi xuống đất; và nhận lấy sức mạnh của cái cao hơn và cái thấp hơn—như thế ngươi có được vinh quang của toàn thế giới; vì vậy hãy để mọi sự tối tăm bay khỏi ngươi. Đây là sức mạnh kiên cường của mọi sức mạnh, vượt thắng mọi cái vi tế và xuyên thấu mọi vật rắn chắc. Thế giới đã được tạo ra như vậy.”—Ngọc Bản của Hermes. (back)

a. Orbital progression,

a. Sự tiến triển theo quỹ đạo,

b. Stimulative vibration,

b. Rung động kích thích,

c. Awakened internal response,

c. Đáp ứng nội tại được đánh thức,

until finally electric fire is contacted. This is true of all atoms: [Page 1067]

cho đến cuối cùng Lửa Điện được tiếp xúc. Điều này đúng với mọi nguyên tử: [Page 1067]

a. The atom of substance,

a. Nguyên tử của chất liệu,

b. The atom of a form whatsoever it be,

b. Nguyên tử của bất kỳ hình tướng nào,

c. The atom of a kingdom in nature,

c. Nguyên tử của một giới trong bản chất,

d. The atom of a planet,

d. Nguyên tử của một hành tinh,

e. The atom of a solar system.

e. Nguyên tử của một hệ mặt trời.

In every case the three fires or types of energy play their part; in every case the four stages are passed through; in every case transmutation, transference, or radiation takes place, and the result of the escape of the central positive energy is achieved, and its absorption into a greater form, to be held in place for a specific cycle by the stronger energy.

Trong mọi trường hợp, ba lửa hay ba loại năng lượng đều đóng vai trò của chúng; trong mọi trường hợp, bốn giai đoạn đều được đi qua; trong mọi trường hợp, sự chuyển hoá, chuyển dịch, hay bức xạ đều diễn ra, và kết quả là sự thoát ra của năng lượng dương trung tâm được đạt tới, cùng sự hấp thu của nó vào một hình tướng lớn hơn, để được giữ tại chỗ trong một chu kỳ đặc thù bởi năng lượng mạnh hơn.

This process of rendering radioactive all the elements has, as we have seen, occupied students down the ages. The alchemists of the middle ages beginning with the simpler elements and starting with the mineral kingdom sought to find out the secret of the liberating process, to know the method of release, and to understand the laws of transmutation. They did not succeed in the majority of cases because, having located the essence, they had no idea how to deal with it when released, nor (as we have seen) had they any conception as to the magnetic force which was drawing the released essence to itself.

Như chúng ta đã thấy, tiến trình làm cho mọi nguyên tố trở nên phóng xạ này đã thu hút các đạo sinh qua nhiều thời đại. Các nhà luyện kim thời trung cổ, bắt đầu với các nguyên tố đơn giản hơn và khởi đi từ giới kim thạch, đã tìm cách khám phá bí mật của tiến trình giải phóng, biết phương pháp giải thoát, và thấu hiểu các định luật chuyển hoá. Trong đa số trường hợp họ đã không thành công vì, dù đã xác định được tinh chất, họ không biết xử lý nó như thế nào khi nó được giải phóng, cũng như (như chúng ta đã thấy) họ không có quan niệm nào về mãnh lực từ tính đang hút tinh chất được giải phóng về phía mình.

To comprehend the law and therefore to be able to work perfectly with it, the experimenting student must have the ability to release the essence from its form. He must know the formulae and words which will direct it to that particular focal point in the mineral kingdom which stands in the same correspondential relation to the mineral monad as the Ego on its own plane stands to the man who casts off his physical and true forms through death. This involves knowledge only committed to the pledged disciple; if chance students stumble upon the law, and theoretically know the process, they would do well to proceed no further until they have learned how [Page 1068] to protect themselves from the interplay of forces. As we well know, the workers with radium, and those who experiment in the world’s laboratories, suffer frequently from loss of limb or life; this is due to their ignorance of the forces they are dealing with. The liberated essences become conductors of the greater force which is their magnetic centre, because they are responsive to it, and it is this force which produces the distressing conditions sometimes present in connection with radioactive substances. Every radioactive atom becomes, through this conductive faculty, a releasing agent; and they consequently cause what we call burns. These burns are the result of the process of releasing the essential life of the atom of physical substance being dealt with.

Để hiểu định luật và do đó có thể làm việc hoàn hảo với nó, đạo sinh thực nghiệm phải có khả năng giải phóng tinh chất khỏi hình tướng của nó. Y phải biết các công thức và các Quyền năng từ sẽ hướng nó đến điểm tập trung đặc thù ấy trong giới kim thạch, điểm đứng trong cùng mối quan hệ tương ứng với chân thần khoáng vật như chân ngã trên cõi riêng của nó đứng đối với con người là kẻ vứt bỏ hình tướng hồng trần và hình tướng chân thực của mình qua cái chết. Điều này bao hàm tri thức chỉ được trao cho đệ tử đã tuyên thệ; nếu những đạo sinh tình cờ phát hiện ra định luật này, và về mặt lý thuyết biết được tiến trình, thì họ nên dừng lại ở đó cho đến khi học được cách [Page 1068] tự bảo vệ mình khỏi sự tương tác của các mãnh lực. Như chúng ta đều biết rõ, những người làm việc với radium, và những người thí nghiệm trong các phòng thí nghiệm của thế giới, thường bị mất chi hay mất mạng; điều này là do sự thiếu hiểu biết của họ về các mãnh lực mà họ đang xử lý. Các tinh chất được giải phóng trở thành những chất dẫn của mãnh lực lớn hơn là trung tâm từ tính của chúng, bởi vì chúng đáp ứng với nó, và chính mãnh lực này tạo ra những tình trạng đau đớn đôi khi hiện diện liên quan đến các chất phóng xạ. Mọi nguyên tử phóng xạ, qua năng lực dẫn truyền này, đều trở thành một tác nhân giải phóng; và do đó chúng gây ra cái mà chúng ta gọi là bỏng. Những vết bỏng này là kết quả của tiến trình giải phóng sự sống cốt yếu của nguyên tử chất liệu hồng trần đang được xử lý.

There might here be noted the curious phenomenon, in the human kingdom which is erroneously termed the prolongation of life; it might more truthfully be called the perpetuation of the form. Medical science today strains every effort to retain life in forms diseased and inadequate; these Nature, if left to herself, would long ago have discarded. They thereby imprison the life, and force back the life essence again and again into the sheath at the moment of liberation. In course of time and with more knowledge, true medical science will become purely preventative. It will concentrate its ability on preserving the atomic life of the human atom, and at furthering the preservative protective processes, and the functionary smoothness of the atomic rotary life, thus conducing to the correct following of the human orbital path. But further than that it will not go, and when the course of nature has been run, when the wheel of life has run down, when the hour for liberation has struck, when the time has come for the return of the essence to its centre, then the work will be recognised as completed, and the form discarded. But this will not, however, be possible until the human family has reached a stage [Page 1069] when, through pure living and clean thinking, the present corruptions have been eliminated. Men will then function on into old age, or until the Ego, realising the particular work to be accomplished in any one life has been duly worked out, calls in the lower spark of life, and withdraws the central point of fire. This naturally presupposes knowledge and faculties at present lacking.

Ở đây có thể lưu ý đến hiện tượng kỳ lạ trong giới nhân loại vốn bị gọi sai là sự kéo dài sự sống; gọi đúng hơn phải là sự duy trì hình tướng. Khoa học y học ngày nay dốc mọi nỗ lực để giữ sự sống trong những hình tướng bệnh hoạn và bất toàn; nếu để bản chất tự vận hành, từ lâu chúng đã bị loại bỏ. Bằng cách đó họ giam hãm sự sống, và ép tinh chất sự sống hết lần này đến lần khác quay trở lại thể vỏ ngay vào lúc giải thoát. Theo thời gian và với nhiều tri thức hơn, khoa học y học chân chính sẽ trở nên hoàn toàn có tính phòng ngừa. Nó sẽ tập trung năng lực của mình vào việc bảo tồn sự sống nguyên tử của nguyên tử nhân loại, và thúc đẩy các tiến trình bảo tồn và bảo vệ, cùng sự trơn tru chức năng của đời sống quay vòng nguyên tử, nhờ đó góp phần vào việc đi theo đúng quỹ đạo nhân loại. Nhưng nó sẽ không đi xa hơn thế, và khi tiến trình của bản chất đã hoàn tất, khi bánh xe sự sống đã ngừng quay, khi giờ giải thoát đã điểm, khi thời điểm đã đến để tinh chất trở về trung tâm của nó, thì công việc sẽ được nhìn nhận là đã hoàn tất, và hình tướng bị loại bỏ. Tuy nhiên, điều này sẽ chưa thể thực hiện được cho đến khi gia đình nhân loại đạt đến một giai đoạn [Page 1069] mà ở đó, nhờ sống thanh khiết và suy nghĩ trong sạch, những sự băng hoại hiện nay đã được loại trừ. Khi ấy con người sẽ hoạt động cho đến tuổi già, hay cho đến khi chân ngã, nhận ra công việc đặc thù cần hoàn thành trong một kiếp sống nào đó đã được thực hiện đầy đủ, gọi về tia lửa sự sống thấp hơn và rút điểm lửa trung tâm đi. Điều này dĩ nhiên giả định có tri thức và năng lực hiện hiện nay còn thiếu.

All these thoughts can be extended to include entire kingdoms of nature, the globes of a chain, the chains themselves, a planetary scheme or a solar system.

Tất cả những tư tưởng này có thể được mở rộng để bao gồm toàn bộ các giới trong bản chất, các bầu hành tinh của một Dãy, chính các Dãy ấy, một hệ hành tinh hay một hệ mặt trời.

The moon is an interesting instance of the transmutative or liberating process practically completed in a globe: the essential life of the human kingdom has withdrawn and found a new field of expression. All animal life has equally been absorbed by a greater centre in another chain. Practically the same can be said of the vegetable kingdom on the moon though there are a few of the lower forms of the vegetable life (of a kind unrecognisable by us) still to be found there; whilst the mineral kingdom is radioactive and the essence of all mineral forms is fast escaping.

Mặt trăng là một ví dụ lý thú về tiến trình chuyển hoá hay giải phóng hầu như đã hoàn tất trong một bầu hành tinh: sự sống cốt yếu của giới nhân loại đã rút đi và tìm được một lĩnh vực biểu lộ mới. Mọi sự sống động vật cũng đã được hấp thu bởi một trung tâm lớn hơn trong một dãy khác. Điều gần như tương tự có thể nói về giới thực vật trên mặt trăng, dù vẫn còn tìm thấy ở đó một vài dạng thấp của sự sống thực vật (thuộc loại không thể nhận biết đối với chúng ta); trong khi giới kim thạch thì có tính phóng xạ và tinh chất của mọi hình tướng khoáng vật đang nhanh chóng thoát ra.

In connection with the kingdoms of nature, it must be remembered that their growth and eventual radiation is dependent upon the cyclic purpose of the planetary Logos, and upon the currents of force which play upon His planetary body, and which emanate from other planetary schemes.

Liên quan đến các giới trong bản chất, cần nhớ rằng sự tăng trưởng và bức xạ sau cùng của chúng phụ thuộc vào mục đích chu kỳ của Hành Tinh Thượng đế, và vào các dòng mãnh lực tác động lên thể hành tinh của Ngài, và phát ra từ các hệ hành tinh khác.

All atoms become radioactive as the result of a response to a stronger magnetic centre which response is brought about through the gradual evolutionary development of consciousness of some kind or another. This is known to be true in a small degree in connection with the mineral kingdom though scientists have not yet admitted that radiation is thus caused. Later they will, but only when this general theory which is here laid down in connection with all atoms is admitted by them to be a plausible [Page 1070] hypothesis. Then the goal of their endeavour will be somewhat changed; they will seek to ascertain through clear thinking and a study of the involved analogy what focal points of magnetic energy may be regarded as existing, and how they affect the atoms in their environment. One hint only can here be given. Light upon these dark problems will come along two lines.

Mọi nguyên tử đều trở nên phóng xạ do kết quả của một sự đáp ứng với một trung tâm từ tính mạnh hơn, sự đáp ứng này được tạo ra qua sự phát triển tiến hoá dần dần của một loại tâm thức nào đó. Điều này được biết là đúng ở một mức độ nhỏ liên quan đến giới kim thạch, dù các nhà khoa học chưa thừa nhận rằng bức xạ được gây ra như vậy. Về sau họ sẽ thừa nhận, nhưng chỉ khi lý thuyết tổng quát được trình bày ở đây liên quan đến mọi nguyên tử được họ chấp nhận như một giả thuyết hợp lý[Page 1070]. Khi đó mục tiêu nỗ lực của họ sẽ phần nào thay đổi; họ sẽ tìm cách xác định, qua tư duy sáng suốt và nghiên cứu phép loại suy liên quan, những điểm tập trung năng lượng từ tính nào có thể được xem là hiện hữu, và chúng ảnh hưởng đến các nguyên tử trong môi trường của chúng như thế nào. Ở đây chỉ có thể đưa ra một gợi ý. Ánh sáng soi rọi những vấn đề tối tăm này sẽ đến theo hai đường.

First, it will come through the study of the place of the solar system in the universal whole, and the effect that certain constellations have upon it; secondly, it will come through a close study of the effect of one planetary scheme upon another, and the place of the moon in our own planetary life. This will lead to a close investigation of polar conditions in the earth, of the planetary magnetic currents, and of the electrical intercourse between our earth, and the Venusian and Martian planetary schemes. When this has been accomplished, astronomy and esoteric astrology will be revolutionised, and the nature of solar energy as an expression of an Entity of the fourth rank will be appreciated. This will come at the close of this century after a scientific discovery of even greater importance to the scientific world than that as to the nature of the atom. Until that time it will be as difficult to express the hylozoistic conception in terms of exact science as it would be for the sixteenth century ancestor of present humanity to conceive of the atom as being simply an aspect of force, and not objective and tangible. Hence further elucidation will but serve to confuse.

Thứ nhất, nó sẽ đến qua việc nghiên cứu vị trí của hệ mặt trời trong toàn thể vũ trụ, và ảnh hưởng mà một số chòm sao nhất định tác động lên nó; thứ hai, nó sẽ đến qua việc nghiên cứu kỹ lưỡng ảnh hưởng của một hệ hành tinh này lên một hệ hành tinh khác, và vị trí của mặt trăng trong đời sống hành tinh của chính chúng ta. Điều này sẽ dẫn đến một cuộc khảo cứu kỹ lưỡng về các điều kiện cực ở địa cầu, về các dòng từ tính hành tinh, và về sự giao tiếp điện giữa địa cầu chúng ta với các hệ hành tinh Kim Tinh và Hỏa Tinh. Khi điều này được hoàn tất, thiên văn học và Chiêm Tinh Học Nội Môn sẽ được cách mạng hóa, và bản chất của năng lượng mặt trời như một biểu lộ của một Thực Thể thuộc cấp bậc thứ tư sẽ được đánh giá đúng. Điều này sẽ đến vào cuối thế kỷ này sau một khám phá khoa học còn quan trọng hơn đối với giới khoa học so với khám phá về bản chất của nguyên tử. Cho đến lúc đó, việc diễn đạt quan niệm hylozoistic bằng các thuật ngữ của khoa học chính xác sẽ khó khăn chẳng khác nào việc tổ tiên của nhân loại hiện nay ở thế kỷ mười sáu hình dung nguyên tử chỉ đơn giản là một phương diện của mãnh lực, chứ không phải là cái khách quan và sờ chạm được. Do đó, mọi sự làm sáng tỏ thêm chỉ càng gây rối.

In considering this vast subject of radiation, which is the result of spiral-progressive movement, it might be of interest if I here pointed out that in every kingdom of nature there are certain focal points of energy which, as the aeons gradually sweep along, bring the atomic substance of which all forms in all kingdoms are composed to the point where they become radioactive and achieve [Page 1071] liberation. (The term “liberation” really means the ability of any conscious atom to pass out of one sphere of energised influence into another of a higher vibration, of larger and wider expanse of conscious realisation.)

Khi xem xét đề tài rộng lớn này về bức xạ, vốn là kết quả của chuyển động xoắn ốc-tiến triển, có lẽ sẽ thú vị nếu ở đây tôi chỉ ra rằng trong mỗi giới của bản chất đều có những điểm tập trung năng lượng nhất định, những điểm mà, khi các đại kiếp dần dần trôi qua, đưa chất liệu nguyên tử mà từ đó mọi hình tướng trong mọi giới được cấu thành đến chỗ chúng trở nên phóng xạ và đạt được [Page 1071] giải thoát. (Thuật ngữ “giải thoát” thực sự có nghĩa là khả năng của bất kỳ nguyên tử có tâm thức nào đi ra khỏi một khối cầu ảnh hưởng đã được tiếp năng lượng để vào một khối cầu khác có rung động cao hơn, có phạm vi chứng nghiệm tâm thức lớn hơn và rộng hơn.)

Broadly speaking, it might be said that:

Nói một cách khái quát, có thể nói rằng:

The mineral kingdom is responsive to that type of energy which is the lowest aspect of fire, of those internal furnaces which exert an influence upon the elements in the mineral world, and which resolve these atomic lives into a gradual series of ever-higher types of mineral energy. For instance, the type of energy which plays upon iron ore, or which produces tin, is emanated from a different centre in the body of the Entity informing the mineral kingdom to that which converts the elements into those wondrous jewels, the diamond, the sapphire, the emerald or the ruby. The energy of the particular centre involved is likewise responsive to force originating in the centre in the body of the planetary Logos—which centre depends upon the kingdom to be vivified. In dealing with these kingdoms, therefore, the relations might be briefly indicated—

giới kim thạch đáp ứng với loại năng lượng là phương diện thấp nhất của lửa, của những lò lửa bên trong tác động lên các nguyên tố trong thế giới khoáng vật, và phân giải những sự sống nguyên tử này thành một chuỗi dần dần các loại năng lượng khoáng vật ngày càng cao hơn. Chẳng hạn, loại năng lượng tác động lên quặng sắt, hay tạo ra thiếc, phát ra từ một trung tâm khác trong thể của Thực Thể phú linh giới kim thạch so với trung tâm chuyển các nguyên tố thành những bảo ngọc kỳ diệu như kim cương, lam ngọc, lục bảo hay hồng ngọc. Năng lượng của trung tâm đặc thù liên quan ấy cũng đáp ứng với mãnh lực phát sinh từ trung tâm trong thể của Hành Tinh Thượng đế—trung tâm này tùy thuộc vào giới cần được tiếp sinh lực. Vì vậy, khi bàn đến các giới này, các mối liên hệ có thể được chỉ ra vắn tắt—

Kingdom

Planetary Centre

a.

Human

Heart centre.

b.

Animal

Throat centre.

c.

Vegetable

Solar plexus.

d.

Mineral

Spleen.

The planetary egoic centre is, of course, the transmitter to all the others, and it should be borne in mind in this connection that every centre transmits three types of force, with the exception of the spleen which hands on the solar fires, pranic force, pure and simple. Students will eventually ascertain how to group the various types in the different kingdoms according to the type of energy they display in fullest measure, remembering that only in the fourth kingdom, the human, is the highest of the three types (that which produces self-consciousness) [Page 1072] manifesting; in the others it is latent. This will become apparent if the method of lunar individualisation is studied.

Trung tâm chân ngã hành tinh dĩ nhiên là bộ truyền dẫn đến tất cả các trung tâm khác, và cần ghi nhớ trong mối liên hệ này rằng mọi trung tâm đều truyền ba loại mãnh lực, ngoại trừ lá lách, vốn chuyển tiếp các lửa mặt trời, mãnh lực prana, thuần túy và đơn giản. Cuối cùng các đạo sinh sẽ xác định được cách nhóm các loại khác nhau trong các giới khác nhau theo loại năng lượng mà chúng biểu lộ đầy đủ nhất, đồng thời nhớ rằng chỉ trong giới thứ tư, giới nhân loại, loại cao nhất trong ba loại (loại tạo ra ngã thức) mới đang [Page 1072] biểu lộ; trong các giới khác nó còn tiềm ẩn. Điều này sẽ trở nên rõ ràng nếu nghiên cứu phương pháp biệt ngã hóa theo thái âm.

The vegetable kingdom is responsive to the particular type of energy which produces the phenomenon of water, or moisture. Through the effect of water every higher type of plant life is evolved, and through the combination of heat and water results are brought about which produce new types. The herbal scientist who is producing new species is really occupied with the effect of sex energy in the second kingdom of nature; he will do well to deal with all plant life as energy points responsive to other and greater energy centres. Much will be learned along this line when electricity and colored lights are more freely used in experimental stations. Sex, in the mineral kingdom, or chemical affinity, is the display in that kingdom of the second type of magnetic force; in the vegetable kingdom the same thing can be studied in the seed life, and in the fertilisation processes of all plants. Neptune, the God of the Waters, has a curious relationship to our planetary Logos, and also to the Entity Who is the informing life of the second kingdom.

giới thực vật đáp ứng với loại năng lượng đặc thù tạo ra hiện tượng nước, hay độ ẩm. Qua tác động của nước, mọi loại sự sống thực vật cao hơn đều tiến hoá, và qua sự kết hợp của nhiệt và nước, những kết quả được tạo ra làm phát sinh các loại mới. Nhà khoa học thảo mộc đang tạo ra các loài mới thực ra đang chuyên chú vào tác động của năng lượng tính dục trong giới thứ hai của bản chất; ông nên xử lý mọi sự sống thực vật như những điểm năng lượng đáp ứng với các trung tâm năng lượng khác và lớn hơn. Nhiều điều sẽ được học theo đường này khi điện và ánh sáng màu được sử dụng tự do hơn trong các trạm thí nghiệm. Tính dục, trong giới kim thạch, hay ái lực hóa học, là sự biểu lộ trong giới ấy của loại mãnh lực từ tính thứ hai; trong giới thực vật, điều tương tự có thể được nghiên cứu trong sự sống của hạt giống, và trong các tiến trình thụ tinh của mọi loài cây. Neptune, Thượng đế của Nước, có một mối liên hệ kỳ lạ với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, và cũng với Thực Thể là sự sống phú linh của giới thứ hai.

The animal kingdom is responsive to a type of energy which is neither fire nor water but is a combination of the two. They are also the first of the kingdoms on the physical plane to be responsive to sound, or to the energy emanating from that which we call noise. This is an occult fact worthy of close attention. The energy emanating from the Entity Who is the informing Life of the third kingdom in nature has five channels of approach, that is five centres. That animating the fourth kingdom has seven, for the mind and the intuition are added. In the second kingdom there are three centres, but their manifestation is so obscure as to seem practically nonexistent to the human mind. In the first or mineral kingdom, the avenue of approach is limited to one centre. [Page 1073] It will be observed, therefore, that the stimulation of magnetic energy proceeds from what might be regarded as jumps, 1-3-5-7. Each kingdom starts with a specific equipment, and during the process of evolution within the kingdom adds to it so that the liberated life enters the next kingdom with its old equipment plus one.

giới động vật đáp ứng với một loại năng lượng không phải là lửa cũng không phải là nước mà là sự kết hợp của cả hai. Chúng cũng là giới đầu tiên trên cõi hồng trần đáp ứng với âm thanh, hay với năng lượng phát ra từ cái mà chúng ta gọi là tiếng động. Đây là một sự kiện huyền bí đáng được chú ý kỹ lưỡng. Năng lượng phát ra từ Thực Thể là Sự sống phú linh của giới thứ ba trong bản chất có năm đường tiếp cận, tức là năm trung tâm. Năng lượng làm sinh động giới thứ tư có bảy đường, vì trí tuệ và trực giác được thêm vào. Trong giới thứ hai có ba trung tâm, nhưng sự biểu lộ của chúng mờ nhạt đến mức đối với trí tuệ con người dường như hầu như không hiện hữu. Trong giới thứ nhất hay giới kim thạch, đường tiếp cận bị giới hạn vào một trung tâm. [Page 1073] Do đó, sẽ thấy rằng sự kích thích năng lượng từ tính tiến hành theo những bước nhảy có thể xem là 1-3-5-7. Mỗi giới bắt đầu với một trang bị đặc thù, và trong tiến trình tiến hoá bên trong giới ấy lại thêm vào đó, để sự sống được giải phóng đi vào giới kế tiếp với trang bị cũ cộng thêm một.

The human kingdom is equally responsive to energy. This time it is the energy of fire at its highest manifestation in the three worlds. It must be borne in mind that we are referring to the positive energy of the greater Whole as it affects the lesser positive energetic points. We are not referring to form energy.

giới nhân loại cũng đáp ứng với năng lượng. Lần này đó là năng lượng của lửa ở biểu lộ cao nhất của nó trong ba cõi giới. Cần nhớ rằng chúng ta đang nói đến năng lượng dương của Toàn Thể lớn hơn khi nó tác động lên những điểm năng lượng dương nhỏ hơn của nó. Chúng ta không nói đến năng lượng hình tướng.

The atom becomes responsive to form energy or to that which surrounds it. It becomes conscious and then becomes responsive to the force of the kingdom in which it is a part. It gradually becomes responsive to stronger influences or to the force emanating from the Entity Who is the life of that kingdom.

Nguyên tử trở nên đáp ứng với năng lượng hình tướng hay với cái bao quanh nó. Nó trở nên có tâm thức rồi trở nên đáp ứng với mãnh lực của giới mà nó là một phần trong đó. Dần dần nó trở nên đáp ứng với những ảnh hưởng mạnh hơn hay với mãnh lực phát ra từ Thực Thể là sự sống của giới ấy.

Finally, the atom becomes conscious of planetary energy, or responsive to the Heavenly Man Himself. It then transcends the kingdom in which it has been, and is elevated into another kingdom in which the cycle is again repeated.

Cuối cùng, nguyên tử trở nên có tâm thức về năng lượng hành tinh, hay đáp ứng với chính Đấng Thiên Nhân. Khi đó nó vượt qua giới mà nó đã ở trong đó, và được nâng lên một giới khác, nơi chu kỳ lại được lặp lại.

This can all be expressed in terms of consciousness but in this section we will limit the thought simply to that of energy. In summation it might be said that:

Tất cả điều này đều có thể được diễn đạt theo các thuật ngữ của tâm thức, nhưng trong phần này chúng ta sẽ chỉ giới hạn tư tưởng vào năng lượng. Tóm lại, có thể nói rằng:

1. The planetary Logos has seven centres, as has man.

1. Hành Tinh Thượng đế có bảy trung tâm, cũng như con người vậy.

2. The informing Life of the animal kingdom has five centres, and the animal kingdom has five prototypes on the archetypal plane, whereas man has seven prototypes.

2. Sự sống thấm nhuần của giới động vật có năm trung tâm, và giới động vật có năm nguyên mẫu trên cõi nguyên mẫu, trong khi con người có bảy nguyên mẫu.

3. The informing Life of the vegetable kingdom has three centres of force on His Own plane, and there are, therefore, but three basic types of plant life. [Page 1074] All that we know are but differentiations of those three.

3. Sự sống thấm nhuần của giới thực vật có ba trung tâm mãnh lực trên cõi riêng của Ngài, và vì vậy chỉ có ba loại sự sống thực vật căn bản. [Page 1074] Tất cả những gì chúng ta biết chỉ là những biến phân của ba loại ấy.

4. The informing Life of the mineral kingdom works through one centre.

4. Sự sống thấm nhuần của giới kim thạch hoạt động qua một trung tâm.

b. Radiation in the Five Kingdoms. We have seen that the cause of radiation is the response of the positive life in any atom to the attractive power of the positive life in a greater atom. Expressed in other words, we might say that the deva life of any atomic form proceeds with its evolution, and by a series of “releases” transfers itself during the manvantaric cycles out of one kingdom into another until every atom has achieved self-determination, and thus the purpose of the Heavenly Man for any particular mahamanvantara is satisfactorily accomplished. As might be expected, therefore, when the subject is viewed as a whole and not from the standpoint of any one kingdom, there are in the evolutionary process five major at-one-ments.

b. Sự phóng xạ trong Năm Giới. Chúng ta đã thấy rằng nguyên nhân của sự phóng xạ là sự đáp ứng của sự sống dương trong bất kỳ nguyên tử nào đối với quyền năng hấp dẫn của sự sống dương trong một nguyên tử lớn hơn. Nói theo cách khác, chúng ta có thể nói rằng sự sống thiên thần của bất kỳ hình tướng nguyên tử nào tiếp tục tiến hoá của nó, và qua một loạt “sự giải thoát”, tự chuyển dịch trong các chu kỳ Giai kỳ sinh hóa từ giới này sang giới khác cho đến khi mọi nguyên tử đều đạt được sự tự quyết, và như thế mục đích của Đấng Thiên Nhân đối với bất kỳ Đại giai kỳ sinh hóa nào cũng được hoàn thành một cách thỏa đáng. Vì vậy, như có thể được dự liệu, khi đề tài này được nhìn như một toàn thể chứ không từ quan điểm của bất kỳ giới nào, thì trong tiến trình tiến hoá có năm sự nhất thể hóa lớn.ments.

1. At-one-ment with the mineral kingdom.

1. Sự nhất thể hóa với giới kim thạch.

2. At-one-ment of the mineral monad with the vegetable kingdom.

2. Sự nhất thể hóa của chân thần khoáng vật với giới thực vật.

3. At-one-ment of the vegetable monad with the animal kingdom.

3. Sự nhất thể hóa của chân thần thực vật với giới động vật.

The progressive life has now made three at-one-ments or expanded its realisation three times.

Sự sống tiến bộ giờ đây đã thực hiện ba sự nhất thể hóaments hoặc đã mở rộng (sự)chứng nghiệm của nó ba lần.

4. At-one-ment with the human kingdom.

4. Sự nhất thể hóa với giới nhân loại.

5. At-one-ment with the Heavenly Man or with the great planetary life.

5. Sự nhất thể hóa với Đấng Thiên Nhân hay với sự sống hành tinh vĩ đại.

Along these five stages, one of them is considered in this solar system to be the most important, and that is the at-one-ment with the human kingdom. For this particular greater cycle, the goal of evolution is man; when individualisation is achieved and self-determination is awakened, the Monad or Divine Pilgrim has attained that which expresses the logoic purpose most perfectly. The [Page 1075] later stages but set the crown upon the victor, and the final at-one-ment with the divine Self is but the consummation of the fourth stage. Students will find it of interest to work out the correspondence between the five initiations and these five unifications. There is a close connection between the two. By understanding the laws of the different kingdoms, much can be learned anent the conditions governing the five Initiations. It will be found that the initiations mark stages in response to contact and to realisation which have their interesting germs in the five kingdoms.

Trong năm giai đoạn này, có một giai đoạn được xem trong hệ mặt trời này là quan trọng nhất, và đó là sự nhất thể hóa với giới nhân loại. Đối với đại chu kỳ đặc biệt này, mục tiêu của tiến hoá là con người; khi biệt ngã hóa đạt được và sự tự quyết được đánh thức, Chân thần hay Người Lữ Hành thiêng liêng đã đạt tới điều biểu lộ mục đích logoic một cách hoàn hảo nhất. Các giai đoạn [Page 1075] về sau chỉ đặt vương miện lên người chiến thắng, và sự nhất thể hóa cuối cùng với Bản Ngã thiêng liêng chỉ là sự hoàn tất của giai đoạn thứ tư. Các đạo sinh sẽ thấy thú vị khi tìm ra sự tương ứng giữa năm lần điểm đạo và năm sự hợp nhất này. Có một mối liên hệ chặt chẽ giữa hai điều đó. Bằng cách thấu hiểu các định luật của những giới khác nhau, có thể học được nhiều điều liên quan đến các điều kiện chi phối năm Cuộc Điểm Đạo. Sẽ thấy rằng các điểm đạo đánh dấu những giai đoạn đáp ứng với tiếp xúc và với (sự)chứng nghiệm, mà các mầm mống thú vị của chúng nằm trong năm giới.

It might here be pointed out with propriety that radiation is the result of transmutation; transmutation marks the completion of a cycle of rotary-spiralling activity. No atom becomes radioactive until its own internal rhythm has been stimulated to a point where the positive central life is ready for the imposition of a higher vibratory activity, and when the negative lives within the atomic periphery are repulsed by the intensity of its vibration, and are no longer attracted by its drawing qualities. This is due to the coming in and consequent response to the magnetic vibration of a still stronger positive life which releases the imprisoned central spark and causes what might from some aspects be called the dissipation of the atom. This process, nevertheless, in the majority of cases covers such a vast period of time that the human mind is unable to follow the process.

Ở đây có thể chỉ ra một cách thích đáng rằng sự phóng xạ là kết quả của sự chuyển hoá; sự chuyển hoá đánh dấu sự hoàn tất của một chu kỳ hoạt động xoay tròn-ốc xoắn. Không nguyên tử nào trở nên phóng xạ cho đến khi nhịp điệu nội tại riêng của nó đã được kích thích đến một điểm mà sự sống trung tâm dương sẵn sàng tiếp nhận một hoạt động rung động cao hơn, và khi các sự sống âm bên trong chu vi nguyên tử bị đẩy lùi bởi cường độ rung động của nó, và không còn bị hấp dẫn bởi các phẩm tính lôi cuốn của nó nữa. Điều này là do sự đi vào và sự đáp ứng tiếp theo đối với rung động từ tính của một sự sống dương còn mạnh hơn nữa, sự sống này giải phóng tia lửa trung tâm bị giam hãm và gây ra điều mà từ một vài phương diện có thể được gọi là sự làm tiêu tan của nguyên tử. Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, tiến trình này bao trùm một khoảng thời gian quá rộng lớn đến nỗi trí tuệ con người không thể theo dõi được tiến trình ấy.

The radioactive period is much the longest in the mineral kingdom, and shortest of all in the human. We are not concerned with radiation in the spiritual kingdom at the close of the mahamanvantara, so no comment will here be made.

Thời kỳ phóng xạ là dài nhất trong giới kim thạch, và ngắn nhất trong giới nhân loại. Chúng ta không đề cập đến sự phóng xạ trong giới tinh thần vào lúc kết thúc Đại giai kỳ sinh hóa, nên ở đây sẽ không bình luận gì thêm.

It is interesting to note that during this round, owing to planetary decision, the process of producing human radiation or “release” is being artificially stimulated through the method which we call initiation, and the [Page 1076] short cut to intensive purification and stimulation is open to all who are willing to pass through the divine alchemical fire. Simultaneously, in the other kingdoms of nature a process somewhat similar in kind though not in degree is being attempted. The tremendous manipulation of ores, the scientific work of the chemist, and scientific investigation is analogous in the mineral kingdom to the world processes which are being utilised to liberate the human spark. Out of the chaos and turmoil of the World War, for instance, and the weight of metal undergoing violent disintegration the mineral monad emerged as from an initiatory test, incomprehensible as this may seem. It will be apparent that a great simultaneous movement is on foot to produce more rapid radiation in all the kingdoms of nature so that when the cycle is run the process of planetary radiation may be consummated. This intensive culture is not proceeding upon all the planets but only upon a very few. The others will run a longer cycle. The initiatory cultural process which has in view the stimulation of magnetic radiation or transmutation is but an experiment. It was tried first on Venus, and on the whole proved successful, resulting in the consummation of the planetary purpose in five rounds instead of seven. This was what made it possible to utilise Venusian energy upon the Venus chain and the Venus globe of our scheme and thus cause the phenomenon of forced individualisation in Lemurian days. It was the intensive stimulation of the third kingdom of nature during the third root race which artificially unified the three aspects. The process of stimulating through the medium of Venusian energy was really begun in the third round when the triangle of force was completed, and ready to function. It is this factor which occultly makes the third Initiation of such tremendous importance. In it the human triangle is linked, the Monad, the [Page 1077] Ego and the personality, or Venus, the Sun and the Earth are symbolically allied.

Thật thú vị khi lưu ý rằng trong cuộc tuần hoàn này, do quyết định hành tinh, tiến trình tạo ra sự phóng xạ hay “giải thoát” của con người đang được kích thích một cách nhân tạo qua phương pháp mà chúng ta gọi là điểm đạo, và con đường tắt [Page 1076] dẫn đến sự thanh lọc và kích thích mãnh liệt đang mở ra cho tất cả những ai sẵn lòng đi qua ngọn lửa luyện kim thiêng liêng. Đồng thời, trong các giới khác của thiên nhiên, một tiến trình phần nào tương tự về loại tuy không về mức độ cũng đang được thử nghiệm. Việc thao tác quặng ở quy mô lớn, công trình khoa học của nhà hóa học, và sự khảo cứu khoa học là điều tương tự trong giới kim thạch với các tiến trình thế giới đang được sử dụng để giải phóng tia lửa con người. Chẳng hạn, từ sự hỗn loạn và náo động của Thế Chiến, và từ khối lượng kim loại trải qua sự tan rã dữ dội, chân thần khoáng vật đã xuất hiện như từ một thử thách điểm đạo, dù điều này có vẻ khó hiểu đến đâu đi nữa. Sẽ rõ ràng rằng một vận động đồng thời lớn lao đang được tiến hành nhằm tạo ra sự phóng xạ nhanh hơn trong mọi giới của thiên nhiên để khi chu kỳ kết thúc, tiến trình phóng xạ hành tinh có thể được hoàn tất. Sự nuôi dưỡng mãnh liệt này không diễn ra trên mọi hành tinh mà chỉ trên một số rất ít. Những hành tinh khác sẽ trải qua một chu kỳ dài hơn. Tiến trình nuôi dưỡng điểm đạo nhằm kích thích sự phóng xạ từ tính hay sự chuyển hoá chỉ là một thử nghiệm. Nó đã được thử trước tiên trên Sao Kim, và nhìn chung đã chứng tỏ thành công, đưa đến sự hoàn tất mục đích hành tinh trong năm cuộc tuần hoàn thay vì bảy. Chính điều này đã làm cho việc sử dụng năng lượng Kim tinh trên dãy Kim tinh và bầu Kim tinh của hệ hành tinh chúng ta trở nên khả hữu, và như thế gây ra hiện tượng biệt ngã hóa cưỡng bức trong thời Lemuria. Chính sự kích thích mãnh liệt giới thứ ba của thiên nhiên trong giống dân gốc thứ ba đã hợp nhất một cách nhân tạo ba phương diện. Tiến trình kích thích qua trung gian của năng lượng Kim tinh thực sự đã bắt đầu trong cuộc tuần hoàn thứ ba khi tam giác mãnh lực được hoàn tất và sẵn sàng hoạt động. Chính yếu tố này khiến lần điểm đạo thứ ba có tầm quan trọng to lớn như vậy theo huyền bí học. Trong đó, tam giác con người được nối kết, Chân thần, [Page 1077] chân ngã và phàm ngã, hay Sao Kim, Mặt Trời và Trái Đất được liên kết một cách biểu tượng.

Enough has here been indicated to give the student room for thought, though one more word in this connection might be added. In the potentially radioactive qualities of the four kingdoms of nature with which we are most concerned will be found an interesting analogy to the functions of the four planetary schemes which (in their totality) form the logoic quaternary. This applies also in a lesser degree to the four chains which form the planetary quaternary. All have to become radioactive and all their principles have to be transmuted and the form for which they are responsible transcended.

Đã chỉ ra đủ ở đây để cho đạo sinh có chỗ suy ngẫm, dù có thể thêm một lời nữa trong mối liên hệ này. Trong các phẩm tính có khả năng phóng xạ của bốn giới thiên nhiên mà chúng ta quan tâm nhiều nhất, sẽ tìm thấy một sự tương đồng thú vị với các chức năng của bốn hệ hành tinh mà (trong tổng thể của chúng) tạo thành bộ tứ logoic. Điều này cũng áp dụng, ở mức độ thấp hơn, cho bốn dãy tạo thành bộ tứ hành tinh. Tất cả đều phải trở nên phóng xạ và mọi nguyên khí của chúng đều phải được chuyển hoá, còn hình tướng mà chúng chịu trách nhiệm thì phải được siêu vượt.

When the subject of radiation is more completely comprehended, it will be found that it demonstrates one more instance of the unity of all life, and furnishes one more corroborative indication of the synthetic nature of the entire evolutionary process. In every instance that which radiates from each kingdom of nature is one and the same. The radioactive human being is the same in nature (differing only in degree and in conscious response) as the radioactive mineral; in every case it is the central positive life, the electric spark or that which is its correspondence, which radiates. There are, therefore, seven correspondences in this connection in the solar system, seven types which radiate, or seven classes of entities which demonstrate ability to transcend their normal motion and to transfer themselves into some greater sphere in due course of evolution. These are:

Khi đề tài về sự phóng xạ được thấu hiểu đầy đủ hơn, sẽ thấy rằng nó chứng minh thêm một trường hợp nữa về sự hợp nhất của mọi sự sống, và cung cấp thêm một chỉ dấu xác nhận về bản chất tổng hợp của toàn bộ tiến trình tiến hoá. Trong mọi trường hợp, điều phóng xạ ra từ mỗi giới thiên nhiên đều là một và như nhau. Con người phóng xạ có cùng bản chất (chỉ khác về mức độ và về sự đáp ứng hữu thức) như khoáng vật phóng xạ; trong mọi trường hợp, chính sự sống trung tâm dương, tia lửa điện hay điều tương ứng với nó, là cái phóng xạ. Vì vậy, trong mối liên hệ này có bảy sự tương ứng trong hệ mặt trời, bảy loại phóng xạ, hay bảy lớp thực thể biểu lộ khả năng siêu vượt chuyển động bình thường của mình và chuyển dịch vào một khối cầu lớn hơn trong tiến trình tiến hoá thích đáng. Đó là:

1. The mineral monad of the mineral kingdom, or the central positive nucleus in all atoms and elements.

1. Chân thần khoáng vật của giới kim thạch, hay hạt nhân dương trung tâm trong mọi nguyên tử và nguyên tố.

2. The monad in the vegetable kingdom, or the central positive life of every plant and vegetable growth.

2. Chân thần trong giới thực vật, hay sự sống dương trung tâm của mọi cây cỏ và sự tăng trưởng thực vật.

3. The monad in the animal kingdom or the positive life of each type. [Page 1078]

3. Chân thần trong giới động vật hay sự sống dương của mỗi loại. [Page 1078]

4. The human Monads in their myriads of groups.

4. Các Chân thần con người trong vô số nhóm của chúng.

5. The Monad of any particular type, or form.

5. Chân thần của bất kỳ loại hay hình tướng đặc thù nào.

6. The planetary Monad, the sum total of all the lives within a planetary scheme.

6. Chân thần hành tinh, tổng số của mọi sự sống bên trong một hệ hành tinh.

7. The solar Monad or the sum total of all lives in the solar system.

7. Chân thần thái dương hay tổng số của mọi sự sống trong hệ mặt trời.

Each of these is first rotary in its activity, or self-centred; later each simultaneously with its original motion demonstrates spiral-cyclic activity. Thereby it becomes “aware” of form, and finally becomes radioactive. During this final period it transcends the form, and escapes from out of it, becoming thus conscious of, and able to participate in, the activity of the still greater enveloping whole.

Mỗi thực thể trong số này trước hết đều có hoạt động xoay tròn, hay tập trung vào bản thân; về sau, mỗi thực thể đồng thời với chuyển động nguyên thủy của mình biểu lộ hoạt động xoắn ốc-chu kỳ. Nhờ đó nó trở nên “nhận biết” hình tướng, và cuối cùng trở nên phóng xạ. Trong giai đoạn cuối cùng này, nó siêu vượt hình tướng và thoát ra khỏi đó, nhờ vậy trở nên hữu thức về, và có thể tham dự vào, hoạt động của toàn thể bao trùm còn lớn hơn nữa.

Leave a Comment

Scroll to Top