Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến Bình Giảng
Cosmic Fire S9
(1079-1194)
|
c. Radiation and Cyclic Law. Scattered throughout this Treatise, are numerous indications of the cyclic nature of this phenomenon, and students should bear in mind that in all which concerns radiation, as in all else, there will be periods of quiescence, and periods of intensified activity. This will be seen quite clearly in connection with the fourth kingdom of nature. A period of radioactivity is being entered upon now in which men and women will achieve a larger realisation; they will begin to transcend their human limitations, and to enter the fifth kingdom one by one, and unit by unit. This period, as far as the larger cycle is concerned, began when the Door of Initiation was opened in Atlantean days, but many lesser cycles have occurred, for the influx into the fifth kingdom is equally governed by cyclic law, by periodic ebb and flow. At the close of the fourth root race there was a period of distinctive radioactivity, and many hundreds of men passed out of the fourth Creative Hierarchy into another and a higher one. Many posts held hitherto by Venusian Entities were vacated in order that our humanity might occupy them, and a vast interchain [Page 1079] radiation went on as many of the Kumaras and certain lesser existences quitted our earth chain, and entered upon subtler, and more advanced work. Then the activity gradually ebbed until a recurring cycle brought in influences which produced a new radiation, though not of such a strength as in the preceding period. |
c. Sự phóng xạ và Định luật Chu kỳ. Rải rác khắp Luận về Lửa Vũ Trụ này có nhiều chỉ dẫn về bản chất chu kỳ của hiện tượng này, và các đạo sinh nên ghi nhớ rằng trong mọi điều liên quan đến sự phóng xạ, cũng như trong mọi điều khác, sẽ có những thời kỳ tĩnh lặng và những thời kỳ hoạt động tăng cường. Điều này sẽ được thấy khá rõ trong mối liên hệ với giới thứ tư của thiên nhiên. Hiện nay đang bước vào một thời kỳ phóng xạ trong đó những người nam và nữ sẽ đạt được một (sự)chứng nghiệm lớn hơn; họ sẽ bắt đầu siêu vượt những giới hạn nhân loại của mình, và đi vào giới thứ năm từng người một, từng đơn vị một. Thời kỳ này, xét theo chu kỳ lớn hơn, đã bắt đầu khi Cánh Cửa Điểm Đạo được mở ra trong thời Atlantis, nhưng nhiều chu kỳ nhỏ hơn đã xảy ra, vì sự tuôn vào giới thứ năm cũng được chi phối bởi định luật chu kỳ, bởi sự lên xuống tuần hoàn. Vào lúc kết thúc giống dân gốc thứ tư đã có một thời kỳ phóng xạ đặc biệt, và nhiều trăm người đã đi ra khỏi Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư sang một Huyền Giai khác và cao hơn. Nhiều chức vụ trước đây do các Thực Thể Kim tinh nắm giữ đã được bỏ trống để nhân loại chúng ta có thể đảm nhận, và một sự phóng xạ liên dãy rộng lớn đã diễn ra khi nhiều vị Kumara và một số hiện hữu thấp hơn rời khỏi dãy địa cầu của chúng ta, và bước vào công việc tinh tế hơn, tiến bộ hơn. Khi ấy hoạt động dần dần suy giảm cho đến khi một chu kỳ tái diễn mang đến những ảnh hưởng tạo ra một sự phóng xạ mới, tuy không mạnh bằng thời kỳ trước đó. |
|
Another period of radioactivity occurred during the time of the Buddha and many achieved Arhatship in those days. That period was the highest point of what is occultly termed “a cycle of the third degree,” and a similar degree of radiatory activity has not been reached since that time. Human radiation of a very slight nature was felt about the time of Christ, but it only lasted for a couple of hundred years, and though individuals here and there have since achieved the goal, yet no large numbers have passed successfully through the fires of transmutation, and thus transcended the fourth kingdom. The cycle is again on the upward turn; about the fourteenth century the human kingdom began to be noticeably radioactive, and we are on the way to the fulfilment of a “cycle of the second order” or of a period of transcendence of a still greater activity than in the time of the Buddha. It will become demonstrably great when certain conditions have been fulfilled. |
Một thời kỳ phóng xạ khác đã xảy ra vào thời Đức Phật và nhiều người đã đạt A-la-hán quả trong những ngày ấy. Thời kỳ đó là đỉnh cao của điều được gọi một cách huyền bí là “một chu kỳ cấp ba”, và từ đó đến nay chưa đạt lại được một mức độ hoạt động phóng xạ tương tự. Sự phóng xạ của con người ở mức rất nhẹ đã được cảm nhận vào khoảng thời Đức Christ, nhưng nó chỉ kéo dài vài trăm năm, và dù từ đó đến nay vẫn có những cá nhân đây đó đạt được mục tiêu, song không có số lượng lớn nào đã đi qua thành công những ngọn lửa chuyển hoá, và như thế siêu vượt giới thứ tư. Chu kỳ hiện lại đang trên đà đi lên; vào khoảng thế kỷ mười bốn, giới nhân loại bắt đầu trở nên phóng xạ một cách đáng kể, và chúng ta đang trên đường tiến tới sự hoàn thành của “một chu kỳ cấp hai” hay một thời kỳ siêu vượt với hoạt động còn lớn hơn thời Đức Phật. Nó sẽ trở nên lớn lao một cách hiển nhiên khi một số điều kiện nhất định được hoàn tất. |
|
Thứ nhất, khi sự hỗn loạn thế giới hiện nay đã lắng xuống. Kế đó, khi thế hệ hiện nay đã hoàn tất công việc tái thiết của mình. Thứ ba, khi vị Chúa Tể vĩ đại sắp đến đã bắt đầu sứ mệnh của Ngài trên địa cầu, nhờ đó làm gia tăng rung động trong mọi giới của thiên nhiên, nhưng đặc biệt là trong giới thứ hai và thứ tư. |
|
|
Fourth, when the movement, inaugurated at the close of each century by the Trans-Himalayan Lodge is under way, and the psycho-scientific Egos who are its agents have made their presence felt. |
Thứ tư, khi phong trào do Thánh đoàn Xuyên Hy Mã Lạp Sơn khởi xướng vào cuối mỗi thế kỷ đang được tiến hành, và các chân ngã tâm lý-khoa học là những tác nhân của phong trào ấy đã làm cho sự hiện diện của họ được cảm nhận. |
|
Finally, when a movement is instituted by the Lodge, working in connection with the fourth root race; it will [Page 1080] also be part of the stimulative process, and will result in the rendering radioactive of some of the foremost thinkers of that race. It will be their day of opportunity, and so great is the importance attached to this that a Member of the Lodge, Confucius as he has been called in the past, will incarnate in order to superintend the work. The preliminary steps are being taken now, and Egos are coming in who will endeavour to direct the energies of this race on to the right line though the peak of the cycle of stimulation will not be until the middle of the next century. It is needless for me to point out that all such movements are first felt as disturbing, and only when the dust of turmoil, and the noise of clashing forces have died away will purpose be seen emerging. This is very apparent in Russia at the present time. |
Sau cùng, khi một phong trào được Thánh đoàn thiết lập, hoạt động trong mối liên hệ với giống dân gốc thứ tư; nó sẽ [Page 1080] cũng là một phần của tiến trình kích thích, và sẽ đưa đến việc làm cho một số nhà tư tưởng hàng đầu của giống dân ấy trở nên phóng xạ. Đó sẽ là ngày cơ hội của họ, và tầm quan trọng gắn với điều này lớn đến nỗi một Thành viên của Thánh đoàn, người trước đây đã được gọi là Khổng Tử, sẽ nhập thể để giám sát công việc. Những bước sơ khởi hiện đang được tiến hành, và các chân ngã đang đi vào, những người sẽ cố gắng hướng dẫn các năng lượng của giống dân này đi theo đường lối đúng đắn, dù đỉnh điểm của chu kỳ kích thích sẽ không đến cho tới giữa thế kỷ tới. Tôi không cần phải chỉ ra rằng mọi phong trào như thế trước hết đều được cảm nhận như gây xáo trộn, và chỉ khi bụi của hỗn loạn và tiếng ồn của các mãnh lực xung đột đã lắng xuống thì mục đích mới được thấy đang xuất hiện. Điều này hiện rất rõ ràng ở nước Nga. |
|
A great factor and one that it is hard to explain so that the average thinker can understand it is the cyclic coming in of egos who are at a point in evolution where they are ready for their first radioactive life. In one great department of hierarchical endeavour all egos are divided into two groups, according to their cycle and according to their type of energy. These grades are in turn subdivided according to the quality and the vibratory effect to be induced upon any one kingdom of nature by their united, or single, incarnation. This might be illustrated by pointing out that by the gradual coming in of human beings who are vegetarians by natural inclination and by the appearance of egos who are interested specifically in the welfare and nurture of the animals (as is the case so noticeably now) we have the cyclic appearance of a whole group of human units who have a definite karmic relation to the third kingdom. This relation is of a kind differing in specific detail from the meat-eating, and oft inhuman, groups of the past five hundred years. |
Một yếu tố lớn lao, và là điều khó giải thích để nhà tư tưởng trung bình có thể hiểu được, là sự đi vào theo chu kỳ của các chân ngã đang ở một điểm tiến hoá mà tại đó họ đã sẵn sàng cho đời sống phóng xạ đầu tiên của mình. Trong một bộ phận lớn của nỗ lực phân cấp, mọi chân ngã được chia thành hai nhóm, tùy theo chu kỳ của họ và tùy theo loại năng lượng của họ. Đến lượt mình, các cấp bậc này lại được phân chia nhỏ hơn theo phẩm tính và theo hiệu quả rung động sẽ được gây ra trên bất kỳ giới thiên nhiên nào bởi sự nhập thể chung hay riêng của họ. Điều này có thể được minh họa bằng cách chỉ ra rằng nhờ sự đi vào dần dần của những con người ăn chay do khuynh hướng tự nhiên, và nhờ sự xuất hiện của các chân ngã đặc biệt quan tâm đến phúc lợi và sự nuôi dưỡng động vật (như hiện nay thấy rất rõ), chúng ta có sự xuất hiện theo chu kỳ của cả một nhóm đơn vị con người có một mối liên hệ nghiệp quả xác định với giới thứ ba. Mối liên hệ này thuộc một loại khác biệt về chi tiết cụ thể so với các nhóm ăn thịt, và thường vô nhân đạo, của năm trăm năm qua. |
|
It might be of profit and of interest if we here enumerated some of the occult terms applied to some of these [Page 1081] differentiated groups, remembering that we are only touching upon a few out of a vast number, and only name those the terminology of which conveys information and educational benefit to the student: |
Sẽ có ích và thú vị nếu ở đây chúng ta liệt kê một số thuật ngữ huyền bí được áp dụng cho một số [Page 1081] nhóm phân biệt này, nhớ rằng chúng ta chỉ đang chạm đến một vài nhóm trong vô số nhóm, và chỉ nêu tên những nhóm mà thuật ngữ của chúng truyền đạt thông tin và lợi ích giáo dục cho đạo sinh: |
|
1. The units of inertia, |
1. Các đơn vị của quán tính, |
|
2. Atoms of rhythmic centralisation, |
2. Các nguyên tử của sự tập trung trung tâm có nhịp điệu, |
|
3. Units of primary radiation, |
3. Các đơn vị của sự phóng xạ sơ cấp, |
|
4. The sons of heavy rhythm, |
4. Những người con của nhịp điệu nặng nề, |
|
5. The points of fiery excellence (a name given oft to magnetic, highly-evolved types), |
5. Những điểm của sự xuất sắc rực lửa (một tên gọi thường dành cho các loại từ tính, tiến hoá cao), |
|
6. Tertiary points of secondary fire, |
6. Những điểm tam cấp của lửa thứ cấp, |
|
7. Magnetic flames (given to chelas and initiates of certain degrees), |
7. Những ngọn lửa từ tính (dành cho các đệ tử và các điểm đạo đồ ở một số cấp độ nhất định), |
|
8. Positive sons of electricity, |
8. Những người con dương của điện, |
|
9. Rotating units of the seventh order, |
9. Những đơn vị xoay tròn của cấp bảy, |
|
10. Points of light of the fourth progression, |
10. Những điểm ánh sáng của tiến trình thứ tư, |
|
11. Electric sparks, |
11. Những tia lửa điện, |
|
12. Units of negative resistance, |
12. Những đơn vị của sự kháng cự âm, |
|
13. The equilibrised atoms. |
13. Những nguyên tử được quân bình. |
|
Có thể nêu thêm nhiều tên nữa, nhưng chừng này đủ để chỉ ra bản chất tổng quát của các tổng hợp năng lượng này, theo đó mọi thành viên của gia đình nhân loại được tập hợp và xếp đặt tùy theo: |
|
|
a. Their rhythm, |
a. Nhịp điệu của họ, |
|
b. Their quality, |
b. Phẩm tính của họ, |
|
c. Their heat, |
c. Nhiệt của họ, |
|
d. Their light, |
d. Ánh sáng của họ, |
|
e. Their magnetic influence, |
e. Ảnh hưởng từ tính của họ, |
|
f. Their radiation, |
f. Sự phóng xạ của họ, |
|
g. Their activity. |
g. Hoạt động của họ. |
|
This tabulation is but an extension of the major one which grouped all Egos under the divisions of colour, sound and vibration. A similar enumeration has also grouped the atoms in the other kingdoms of nature, and [Page 1082] even the Dhyan Chohans of the highest rank find their place in the hierarchical archives of this fifth (or third) department. |
Bảng liệt kê này chỉ là sự mở rộng của bảng lớn hơn đã nhóm mọi Chân ngã dưới các phân bộ màu sắc, âm thanh và rung động. Một sự liệt kê tương tự cũng đã nhóm các nguyên tử trong những giới khác của thiên nhiên, và [Page 1082] ngay cả các Dhyan Chohan ở cấp bậc cao nhất cũng tìm thấy vị trí của mình trong các văn khố phân cấp của bộ phận thứ năm (hay thứ ba) này. |
|
A cyclic tabulation is of equal interest but is of a totally different nature, carrying to the initiated and intuitive investigator many hints of an evolutionary and historical value. Again we might append a brief epitome of some of the expressions used and of some of the names under which human beings are grouped in the archives of this the seventh department: |
Một bảng liệt kê theo chu kỳ cũng thú vị không kém nhưng có bản chất hoàn toàn khác, mang đến cho nhà khảo cứu được điểm đạo và trực giác nhiều gợi ý có giá trị tiến hoá và lịch sử. Một lần nữa, chúng ta có thể đính kèm một bản tóm lược ngắn về một số cách diễn đạt được dùng và một số tên gọi mà dưới đó con người được nhóm lại trong các văn khố của bộ phận thứ bảy này: |
|
1. Units of the fire-mist stage, |
1. Các đơn vị của giai đoạn sương lửa, |
|
2. Points of lunar origin, |
2. Những điểm có nguồn gốc thái âm, |
|
3. Sons of the sun, |
3. Những người con của mặt trời, |
|
4. Devas of the fourth degree, |
4. Các thiên thần của cấp bốn, |
|
5. Flames from interplanetary spheres, |
5. Những ngọn lửa từ các khối cầu liên hành tinh, |
|
6. Atoms from the crimson sphere—a reference to certain Egos who have come to the earth from the planetary scheme whose note is red, |
6. Những nguyên tử từ khối cầu đỏ thắm—ám chỉ một số Chân ngã đã đến địa cầu từ hệ hành tinh có âm điệu là màu đỏ, |
|
7. Những Vyasians thành công, |
|
|
8. The points in the third planetary petal, and groups of others related to the twelve petalled planetary lotus, |
8. Những điểm trong cánh hoa hành tinh thứ ba, và những nhóm khác liên hệ với hoa sen hành tinh mười hai cánh, |
|
9. The lovers of low vibration, |
9. Những kẻ yêu rung động thấp, |
|
10. The rejectors of the eighth scheme, |
10. Những kẻ khước từ hệ hành tinh thứ tám, |
|
11. The points of triple resistance, |
11. Những điểm của sức kháng cự tam phân, |
|
12. The followers of the ARHAT, |
12. Những người theo ARHAT, |
|
13. The cyclic sons of peace, |
13. Những người con hòa bình theo chu kỳ, |
|
14. The recurring sons of war, |
14. Những người con chiến tranh tái diễn, |
|
15. The specks within the planetary eye, |
15. Những đốm nhỏ bên trong mắt hành tinh, |
|
16. The recognised points within the chakras. These naturally exist in ten groups. |
16. Những điểm được nhận biết bên trong các luân xa. Dĩ nhiên những điểm này tồn tại trong mười nhóm. |
|
Each name conveys to the mind of the initiate some knowledge as to the place in evolution of the Monad concerned, the nature of its incarnations, and its place in cyclic evolution. |
Mỗi tên gọi truyền đạt cho trí tuệ của điểm đạo đồ một số hiểu biết về vị trí tiến hoá của Chân thần liên hệ, bản chất các lần nhập thể của nó, và vị trí của nó trong tiến hoá chu kỳ. |
|
[Page 1083] The same method of grouping is used in connection with all the kingdoms though only in the case of the fourth and the fifth kingdoms are individual atoms dealt with; the tabulations and records for the other kingdoms are concerned with groups. When a group is known, the nature, vibration, and rhythm of the atom within that group is immediately apparent. |
[Page 1083] Phương pháp nhóm loại tương tự cũng được dùng trong mối liên hệ với mọi giới, dù chỉ trong trường hợp của giới thứ tư và thứ năm thì các nguyên tử cá biệt mới được đề cập đến; các bảng liệt kê và hồ sơ của những giới khác liên quan đến các nhóm. Khi một nhóm được biết, bản chất, rung động và nhịp điệu của nguyên tử bên trong nhóm đó lập tức trở nên rõ ràng. |
IV. THE TURNING OF THE WHEEL |
IV. SỰ XOAY CHUYỂN CỦA BÁNH XE |
|
(312) |
|
|
(312) Man must understand the nature of the wheel in which he is turned, called in Sanskrit the wheel of Samsara. This latter word derived from the root Sru, to move, indicates a motion wheel or the great wheel of changing life in which the human entities have been called upon to work and which must never be abandoned out of compassion for man and in obedience to the law of oneness which connects the many, in the opinion of all true yogees and Sri Krishna. The Teacher gives the nature of the samsaric wheel in a certain peculiar way which deserves to be thought over by you all. He says “all bhootas spring up from food and food from Parjanya or rain. Rain comes out of yagna and yagna out of Karma. Karma is out of the Veda and Veda is of the Eternal.” Here you see a Septenary gamut is given with the bhoota (or manifested form) at one end and the eternal substance unmanifested to us at the other end. If we divide this seven according to the theosophical plane of a lower four dominated over by a higher triad, we get form, food, rain and yagna as the lower four and karma, Veda and eternal substance as the higher triad. The eternal substance that pervades all space, worked on by the world song and giving rise to all the laws of karma that govern the development of the world, develops a lower four and this four is started by yagna—the spirit of evolution that connects the higher and lower or in Puranic fashion, the spirit that seeks to add to the harmony of the unmanifested by giving it a field of disharmony to work upon and establish its own greatness. This spirit of yagna in its way to produce the manifested form gives rise to the Parjanya or rain. The word Parjanya is applied to rain and often times to a spirit whose function is to produce rain.—Some Thoughts on the Gita, p. 127. (back) |
(312) Con người phải thấu hiểu bản chất của bánh xe trong đó y bị xoay chuyển, được gọi trong tiếng Phạn là bánh xe Luân hồi. Từ sau này, phát sinh từ gốc Sru, nghĩa là chuyển động, chỉ một bánh xe chuyển động hay bánh xe lớn của đời sống biến đổi, trong đó các thực thể con người đã được kêu gọi hoạt động và bánh xe ấy không bao giờ được từ bỏ vì lòng từ bi đối với con người và vì sự tuân phục định luật nhất thể nối kết số nhiều, theo quan điểm của mọi yogee chân chính và của Sri Krishna. Huấn sư trình bày bản chất của bánh xe luân hồi theo một cách đặc biệt nào đó đáng để tất cả các bạn suy ngẫm. Ngài nói “mọi bhoota phát sinh từ thức ăn và thức ăn từ Parjanya hay mưa. Mưa phát sinh từ yagna và yagna từ Karma. Karma phát sinh từ Veda và Veda từ Đấng Vĩnh Cửu.” Ở đây bạn thấy một âm giai thất phân được nêu ra với bhoota (hay hình tướng biểu hiện) ở một đầu và chất liệu vĩnh cửu không biểu hiện đối với chúng ta ở đầu kia. Nếu chúng ta chia bảy này theo cõi Thông Thiên Học thành bốn thấp được chi phối bởi một tam nguyên tinh thần cao hơn, chúng ta có hình tướng, thức ăn, mưa và yagna là bốn thấp, còn karma, Veda và chất liệu vĩnh cửu là tam nguyên tinh thần cao hơn. Chất liệu vĩnh cửu thấm nhuần toàn thể không gian, được tác động bởi bài ca thế giới và làm phát sinh mọi định luật nghiệp quả chi phối sự phát triển của thế giới, phát triển thành một bộ bốn thấp và bộ bốn này được khởi động bởi yagna—tinh thần của tiến hoá nối kết cao và thấp, hay theo cách nói Puranic, tinh thần tìm cách thêm vào sự hài hòa của cái không biểu hiện bằng cách trao cho nó một lĩnh vực bất hòa để hoạt động và thiết lập sự vĩ đại riêng của nó. Tinh thần yagna này trên đường tạo ra hình tướng biểu hiện làm phát sinh Parjanya hay mưa. Từ Parjanya được áp dụng cho mưa và thường khi cho một tinh thần có chức năng tạo ra mưa.—Một vài suy tưởng về Gita, tr. 127. (trở lại) |
|
We come now to the consideration of another point, and one of very real moment; it emerges out of what we have been saying anent cycles and is the basis of all periodic phenomena. One of the most elementary of scientific truths is that the earth revolves upon its axis, and that it travels around the sun. One of the truths less recognised, yet withal of equal importance, is that the entire solar system equally revolves upon its axis but in a cycle so vast as to be beyond the powers of ordinary man to comprehend, and which necessitates mathematical formulae [Page 1084] of great intricacy. The orbital path of the solar system in the heavens around its cosmic centre is now being sensed, and the general drift also of our constellation is being taken into consideration as a welcome hypothesis. Scientists have not yet admitted into their calculations the fact that our solar system is revolving around a cosmic centre along with six other constellations of even greater magnitude in the majority of cases than ours, only one being approximately of the same magnitude as our solar system. This cosmic centre in turn forms part of a great wheel till—to the eye of the illumined seer—the entire vault of Heaven is seen to be in motion. All the constellations, viewing them as a whole, are impelled in one direction. |
Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét một điểm khác, và là một điểm có tầm quan trọng rất thực tiễn; nó xuất hiện từ những gì chúng ta đã nói liên quan đến các chu kỳ và là nền tảng của mọi hiện tượng tuần hoàn. Một trong những chân lý khoa học sơ đẳng nhất là địa cầu quay quanh trục của nó, và chuyển động quanh mặt trời. Một trong những chân lý ít được nhận biết hơn, nhưng đồng thời cũng quan trọng không kém, là toàn bộ hệ mặt trời cũng quay quanh trục của nó nhưng trong một chu kỳ rộng lớn đến nỗi vượt ngoài khả năng lĩnh hội của con người bình thường, và đòi hỏi những công thức toán học [Page 1084] cực kỳ phức tạp. Quỹ đạo của hệ mặt trời trên thiên không quanh trung tâm vũ trụ của nó hiện đang được cảm nhận, và xu hướng chung của chòm sao chúng ta cũng đang được xem xét như một giả thuyết đáng hoan nghênh. Các nhà khoa học vẫn chưa thừa nhận trong các phép tính của họ sự kiện rằng hệ mặt trời chúng ta đang quay quanh một trung tâm vũ trụ cùng với sáu chòm sao khác, trong đa số trường hợp còn có tầm vóc lớn hơn hệ mặt trời của chúng ta, chỉ có một chòm sao xấp xỉ cùng độ lớn với hệ mặt trời của chúng ta. Đến lượt mình, trung tâm vũ trụ này lại tạo thành một phần của một bánh xe lớn cho đến khi—đối với con mắt của nhà thông nhãn được soi sáng—toàn bộ vòm trời được thấy là đang chuyển động. Tất cả các chòm sao, khi nhìn như một toàn thể, đều bị thúc đẩy theo một hướng. |
|
The old Commentary expresses this obscure truth as follows: |
Cổ Luận diễn tả chân lý mơ hồ này như sau: |
|
“The one wheel turns. One turn alone is made, and every sphere, and suns of all degrees, follow its course. The night of time is lost in it, and kalpas measure less than seconds in the little day of man. |
“Bánh xe duy nhất xoay chuyển. Chỉ một vòng quay được thực hiện, và mọi khối cầu, cùng các mặt trời ở mọi cấp độ, đều theo lộ trình của nó. Đêm của thời gian mất hút trong đó, và các kalpa đo lường ít hơn những giây phút trong ngày nhỏ bé của con người. |
|
Ten million million kalpas pass, and twice ten million million Brahmic cycles and yet one hour of cosmic time is not completed. |
Mười triệu triệu kalpa trôi qua, và hai lần mười triệu triệu chu kỳ Brahma, vậy mà một giờ của thời gian vũ trụ vẫn chưa hoàn tất. |
|
Within the wheel, forming that wheel, are all the lesser wheels from the first to the tenth dimension. These in their cyclic turn hold in their spheres of force other and lesser wheels. Yet many suns compose the cosmic One. |
Bên trong bánh xe, tạo thành bánh xe ấy, là mọi bánh xe nhỏ hơn từ chiều kích thứ nhất đến chiều kích thứ mười. Những bánh xe này trong vòng quay chu kỳ của chúng lại giữ trong các khối cầu mãnh lực của mình những bánh xe khác và nhỏ hơn nữa. Tuy nhiên, nhiều mặt trời hợp thành Đấng Duy Nhất vũ trụ. |
|
Wheels within wheels, spheres within spheres. Each pursues his course and attracts or rejects his brother, and yet cannot escape from the encircling arms of the mother. |
Những bánh xe trong những bánh xe, những khối cầu trong những khối cầu. Mỗi cái theo đuổi lộ trình của mình và hấp dẫn hay khước từ huynh đệ của mình, nhưng vẫn không thể thoát khỏi vòng tay bao quanh của người mẹ. |
|
When the wheels of the fourth dimension, of which our sun is one and all that is of lesser force and higher number, such as the eighth and ninth degrees, turn upon themselves, devour each other, and turn and rend their mother, then will the cosmic wheel be ready for a faster revolution.” |
Khi những bánh xe của chiều kích thứ tư, mà mặt trời chúng ta là một trong số đó, cùng mọi cái có mãnh lực thấp hơn và số lượng cao hơn, như các cấp thứ tám và thứ chín, tự xoay trên chính mình, nuốt chửng lẫn nhau, và xoay chuyển rồi xé rách mẹ của chúng, khi ấy bánh xe vũ trụ sẽ sẵn sàng cho một vòng quay nhanh hơn.” |
|
It will, therefore, be apparent that the power of man to conceive of these whirling constellations, to measure their interaction, and to realise their essential unity is not as yet great enough. We are told that even to the [Page 1085] liberated Dhyan Chohan the mystery of that which lies beyond his own solar Ring-Pass-Not is hid. |
Vì vậy, sẽ rõ ràng rằng năng lực của con người trong việc hình dung các chòm sao xoay chuyển này, đo lường sự tương tác của chúng, và chứng nghiệm sự hợp nhất cốt yếu của chúng hiện vẫn chưa đủ lớn. Chúng ta được bảo rằng ngay cả đối với vị Dhyan Chohan đã được giải thoát thì huyền nhiệm của điều nằm vượt ra ngoài vòng-giới-hạn thái dương riêng của Ngài vẫn còn bị che giấu. |
|
Certain influences indicate to Him and certain lines of force demonstrate to Him the fact that some constellations are knit with His system in a close and corporate union. We know that the Great Bear, the Pleiades, Draco or the Dragon are in some way associated with the solar system but as yet He knows not their function nor the nature of the other constellations. It must also be remembered that the turning of our tiny systemic wheel, and the revolution of a cosmic wheel can be hastened, or retarded, by influences emanating from unknown or unrealised constellations whose association with a systemic or a cosmic Logos is as mysterious relatively as the effect individuals have upon each other in the human family. This effect is hidden in logoic karma and is beyond the ken of man. |
Một số ảnh hưởng chỉ cho Ngài biết và một số đường mãnh lực chứng minh cho Ngài sự kiện rằng một vài chòm sao được kết hợp với hệ thống của Ngài trong một sự hợp nhất chặt chẽ và tập thể. Chúng ta biết rằng Đại Hùng Tinh, Thất Nữ Tinh, Draco hay Con Rồng bằng cách nào đó có liên hệ với hệ mặt trời, nhưng cho đến nay Ngài vẫn chưa biết chức năng của chúng cũng như bản chất của các chòm sao khác. Cũng phải nhớ rằng sự xoay chuyển của bánh xe hệ thống nhỏ bé của chúng ta, và sự quay của một bánh xe vũ trụ, có thể được thúc đẩy nhanh hơn hoặc làm chậm lại bởi những ảnh hưởng phát ra từ các chòm sao chưa biết hoặc chưa được chứng nghiệm, mà sự liên hệ của chúng với một Logos hệ thống hay một Logos vũ trụ cũng huyền nhiệm một cách tương đối như ảnh hưởng mà các cá nhân tác động lên nhau trong gia đình nhân loại. Ảnh hưởng này ẩn giấu trong nghiệp quả logoic và vượt ngoài tầm hiểu biết của con người. |
|
The wheels in order of their importance might be enumerated as follows: |
Các bánh xe theo thứ tự quan trọng của chúng có thể được liệt kê như sau: |
|
The wheel of the universe, or the sumtotal of all stars and starry systems. |
Bánh xe của vũ trụ, hay tổng số của mọi ngôi sao và các hệ sao. |
|
A cosmic wheel, or a group of seven constellations. These are grouped according to: |
Một bánh xe vũ trụ, hay một nhóm bảy chòm sao. Chúng được nhóm lại theo: |
|
a. Their magnitude, |
a. Tầm vóc của chúng, |
|
b. Their vibration, |
b. Rung động của chúng, |
|
c. Their colour, |
c. Màu sắc của chúng, |
|
d. Their influence upon each other. |
d. Ảnh hưởng của chúng lên nhau. |
|
These cosmic wheels, according to the esoteric books, are divided into forty-nine groups, each comprising millions of septenary constellations. For purposes of study by the Adepts, they are each known by a symbol, and these forty-nine symbols embody all that can be apprehended anent the size, magnitude, quality, vibratory activity, and objective of those great forms through which an Existence is experiencing. The Chohans of high degree [Page 1086] know the forty-nine sounds which give the quality of the consciousness aspect of these great Beings Who are as far removed from the consciousness of our solar Logos as the consciousness of man is removed from that of a crystal. The knowledge thus appreciated by the Chohans is naturally but theoretical and conveys only to their relatively limited consciousness the general nature of the group of constellations, and the force occasionally emanating from them which has at times to be taken into calculation. For instance, the interest awakened in the public mind lately by the giant star Betelgeuse in the constellation of Orion is due to the fact that at this particular time there has been an interplay of force between our tiny system and this giant one, and communication between the two informing Existences. |
Theo các sách huyền bí, các bánh xe vũ trụ này được chia thành bốn mươi chín nhóm, mỗi nhóm gồm hàng triệu chòm sao thất phân. Vì mục đích nghiên cứu của các chân sư, mỗi nhóm đều được biết đến qua một biểu tượng, và bốn mươi chín biểu tượng này bao hàm tất cả những gì có thể được lĩnh hội liên quan đến kích thước, độ lớn, phẩm tính, hoạt động rung động, và mục tiêu của những hình tướng vĩ đại mà qua đó một Sự Tồn Tại đang kinh nghiệm. Các Chohan cấp cao [Page 1086] biết bốn mươi chín âm thanh tạo nên phẩm tính của phương diện tâm thức của các Đại Hữu Thể này, là những Đấng cách xa tâm thức của Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng như tâm thức con người cách xa tâm thức của một tinh thể. Tri thức mà các Chohan lĩnh hội được như thế dĩ nhiên chỉ là lý thuyết và chỉ truyền đạt cho tâm thức tương đối hữu hạn của các Ngài bản chất tổng quát của nhóm chòm sao ấy, cùng mãnh lực đôi khi phát ra từ chúng mà vào những lúc nhất định phải được đưa vào tính toán. Chẳng hạn, sự quan tâm gần đây được khơi dậy trong trí óc công chúng đối với ngôi sao khổng lồ Betelgeuse trong chòm Orion là do vào đúng thời điểm này đã có một sự tương tác mãnh lực giữa hệ thống nhỏ bé của chúng ta và hệ thống khổng lồ kia, cùng sự giao tiếp giữa hai Sự Tồn Tại phú linh cho chúng. |
|
Systemic wheels or the atomic life of individual constellations. These again are divided into 343 groups, known to the Adept again through a series of characters forming a word which—through its ideographic nature—conveys essential information to the Adept. The ideograph for our solar system may in part be disclosed—not the characters themselves but a digest of that for which the characters stand. Our solar system is disclosed as being: |
Các bánh xe hệ thống hay sự sống nguyên tử của các chòm sao cá biệt. Các bánh xe này lại được chia thành 343 nhóm, cũng được chân sư nhận biết qua một chuỗi ký tự hợp thành một từ, mà—nhờ bản chất biểu ý của nó—truyền đạt thông tin cốt yếu cho chân sư. Biểu ý tự của hệ mặt trời của chúng ta có thể phần nào được tiết lộ—không phải chính các ký tự ấy mà là phần tóm lược điều mà các ký tự ấy biểu thị. Hệ mặt trời của chúng ta được trình bày như sau: |
|
a. A system of the fourth order, having its force centres upon the fourth cosmic plane, and making its objective manifestation from the fourth systemic plane, via the fourth subplane of the systemic physical plane. |
a. Một hệ thống thuộc cấp bậc thứ tư, có các trung tâm mãnh lực trên cõi vũ trụ thứ tư, và biểu hiện khách quan từ cõi hệ thống thứ tư, qua cõi phụ thứ tư của cõi hồng trần hệ thống. |
|
b. Blue in colour, esoteric orange and green. |
b. Có màu xanh lam, về mặt huyền bí là cam và lục. |
|
c. A system which is occultly known to the Adept as “in an airy sign in which the Bird can fly.” |
c. Một hệ thống mà chân sư biết một cách huyền bí là “ở trong một dấu hiệu hành khí nơi Con Chim có thể bay.” |
|
d. A system formed of “three fires which form a fourth.” |
d. Một hệ thống được tạo thành bởi “ba lửa hợp thành một lửa thứ tư.” |
|
e. A system in which the Bird has “four tail feathers” [Page 1087] and hence can occultly “mount to a higher plane and find its fifth.” |
e. Một hệ thống trong đó Con Chim có “bốn lông đuôi” [Page 1087] và vì thế có thể một cách huyền bí “bay lên một cõi cao hơn và tìm thấy cái thứ năm của nó.” |
|
f. A system which has four major cycles, and minor periods of manifestation which are multiples of that figure. |
f. Một hệ thống có bốn chu kỳ chính, và các thời kỳ biểu hiện phụ là bội số của con số ấy. |
|
g. A system which in the alchemical phraseology of the Masters is viewed as being “a product of the fourth; the fourth itself in process of transmutation; and the living stone with four shells.” All this can be seen at one glance by the Master who has the ideographic word before Him. Other ideograms are available for His use which give Him the immediate information as He studies the influences contacting our solar system. |
g. Một hệ thống mà theo thuật ngữ luyện kim của các Chân sư được xem là “một sản phẩm của cái thứ tư; chính cái thứ tư trong tiến trình chuyển hoá; và hòn đá sống với bốn lớp vỏ.” Tất cả điều này có thể được Chân sư nhìn thấy chỉ trong một cái liếc mắt khi từ biểu ý ở trước Ngài. Còn có những biểu ý tự khác để Ngài sử dụng, cung cấp cho Ngài thông tin tức thời khi Ngài nghiên cứu các ảnh hưởng tiếp xúc với hệ mặt trời của chúng ta. |
|
Planetary wheels. For these there are ten modes of expression. |
Các bánh xe hành tinh. Đối với chúng có mười phương thức biểu đạt. |
|
Chain wheels, called in some of the books rounds. |
Các bánh xe dãy, trong một số sách được gọi là các cuộc tuần hoàn. |
|
The revolution of any one globe. |
Sự quay vòng của bất kỳ bầu hành tinh nào. |
|
The cycle of the three worlds. |
Chu kỳ của ba cõi thấp. |
|
The wheel of a plane. |
Bánh xe của một cõi. |
|
The revolution or cyclic appearance of a kingdom in nature. This applies within a scheme but only to the four kingdoms in objective appearance. |
Sự quay vòng hay sự xuất hiện theo chu kỳ của một giới trong thiên nhiên. Điều này áp dụng trong một hệ hành tinh nhưng chỉ đối với bốn giới trong biểu hiện khách quan. |
|
The revolution of a planetary centre producing monadic appearance. |
Sự quay vòng của một trung tâm hành tinh tạo ra sự xuất hiện chân thần. |
|
The monadic wheel, or the periodic appearance of units of the fourth Creative Hierarchy. Thus we pass down the scale through all the kingdoms and forms till we arrive at the tiny revolution of an atom of substance. |
Bánh xe chân thần, hay sự xuất hiện định kỳ của các đơn vị thuộc Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Như thế chúng ta đi xuống theo thang bậc qua mọi giới và mọi hình tướng cho đến khi đạt tới sự quay vòng nhỏ bé của một nguyên tử chất liệu. |
|
In concluding our remarks concerning the diverse wheels of the universe, we will touch with brevity upon the “wheels” which concern the human monad. This is a subject but little dealt with as yet, though a few words have been spoken anent the egoic wheel. |
Kết thúc các nhận xét của chúng ta về những bánh xe đa dạng của vũ trụ, chúng ta sẽ đề cập ngắn gọn đến các “bánh xe” liên quan đến chân thần con người. Đây là một đề tài cho đến nay hầu như chưa được bàn đến, mặc dù đã có đôi lời được nói ra liên quan đến bánh xe chân ngã. |
|
It must be borne in mind that the evolution of the [Page 1088] Monad is a much more intricate thing than appears in the books as yet given to the public. In those books the development of consciousness and its transition through the kingdoms of nature are the points dwelt upon. Yet there have been earlier cycles which it will be only possible to comprehend as the history and evolution of the planetary Logoi become gradually revealed. They are parts of His body of manifestation, cells within that greater vehicle, and thus vitalised by His life, qualified by His nature, and distinguished by His characteristics. This will take the history, therefore, of a Monad back to the earlier kalpas. Such history it is not possible to reveal, and no purpose would be served by such a revelation. The fact only can be touched upon as it must be considered along general lines if the true nature of the Self is to be accurately known. |
Cần ghi nhớ rằng sự tiến hoá của [Page 1088] chân thần là một điều phức tạp hơn nhiều so với những gì hiện nay xuất hiện trong các sách đã được trao cho công chúng. Trong các sách ấy, sự phát triển của tâm thức và sự chuyển tiếp của nó qua các giới trong thiên nhiên là những điểm được nhấn mạnh. Tuy nhiên, đã có những chu kỳ sớm hơn mà chỉ có thể được thấu hiểu khi lịch sử và sự tiến hoá của các Hành Tinh Thượng đế dần dần được mặc khải. Chúng là những phần trong thể biểu hiện của Ngài, những tế bào trong vận cụ lớn lao hơn ấy, và do đó được sự sống của Ngài tiếp sinh lực, được phẩm định bởi bản chất của Ngài, và được phân biệt bởi các đặc tính của Ngài. Vì vậy, điều này sẽ đưa lịch sử của một chân thần trở lui về các kalpa sớm hơn. Lịch sử như thế không thể được tiết lộ, và cũng không có mục đích nào được phục vụ bởi một sự mặc khải như vậy. Chỉ có thể chạm đến sự kiện ấy mà thôi, vì nó phải được xem xét theo những đường nét tổng quát nếu bản chất chân thực của Bản Ngã muốn được biết đến một cách chính xác. |
|
We might consider that the Monad of the human being passes through cycles analogous to those through which the Heavenly Man travels. There is, first, the vast cycle of unfoldment through which a “spark” passes. This covers the period of three major solar systems—that preceding this one, the present, and the succeeding one. In these three, the totality of the cosmic Past, Present, and Future, embodying the three aspects of the divine Life of the solar Logos, are carried to the point of perfection in an individualised Monad. It must be remembered that in this solar system, for instance, certain developments are only recapitulations of evolutionary processes undergone in an earlier solar system; the clue to this lies in the consideration of the manasic or mind principle. The solar Angels, the intelligent individualising factor, were (from certain angles of vision) the product of an earlier system, and only waited for the time in the present system when the forms in the three kingdoms had reached the point of synthetic development which made it possible for them to be impressed and influenced from on high. We [Page 1089] have in this concept an idea analogous to the entering in of those Monads, during Atlantean days, who, having individualised upon another chain, tarried in the inter-planetary spaces until earth conditions were such that the occupation of adequate forms became possible. The correspondence is not exact but is indicative of the truth. The vast cycle of unfoldment (which rendered later evolution possible) preceded this solar system, and might be regarded as the monadic correspondence to a cosmic wheel. In the old Commentary this point of development is hinted at in the words: |
Chúng ta có thể xem rằng chân thần của con người đi qua những chu kỳ tương tự như những chu kỳ mà Đấng Thiên Nhân trải qua. Trước hết là chu kỳ khai mở bao la mà một “tia lửa” đi qua. Chu kỳ này bao trùm thời kỳ của ba hệ mặt trời lớn—hệ đi trước hệ này, hệ hiện tại, và hệ kế tiếp. Trong ba hệ ấy, toàn thể Quá Khứ, Hiện Tại và Tương Lai vũ trụ, hiện thân cho ba phương diện của Sự sống thiêng liêng của Thái dương Thượng đế, được đưa đến điểm hoàn thiện trong một chân thần đã được biệt ngã hóa. Cần nhớ rằng, chẳng hạn trong hệ mặt trời này, một số phát triển nào đó chỉ là sự lặp lại những tiến trình tiến hoá đã trải qua trong một hệ mặt trời trước; đầu mối của điều này nằm trong việc xem xét nguyên khí manas hay nguyên khí trí tuệ. Các Thái dương Thiên Thần, yếu tố thông tuệ biệt ngã hóa, đã là (xét từ một số góc độ tầm nhìn) sản phẩm của một hệ trước, và chỉ chờ đợi thời điểm trong hệ hiện tại khi các hình tướng trong ba giới đã đạt đến điểm phát triển tổng hợp khiến chúng có thể được gây ấn tượng và chịu ảnh hưởng từ trên cao. Trong [Page 1089] khái niệm này, chúng ta có một ý tưởng tương tự với sự đi vào của những chân thần ấy trong thời Atlantis, là những chân thần đã biệt ngã hóa trên một dãy khác, lưu lại trong các khoảng không gian liên hành tinh cho đến khi các điều kiện trên địa cầu trở nên thích hợp để chiếm giữ những hình tướng đầy đủ. Sự tương ứng này không hoàn toàn chính xác nhưng có tính chỉ dấu cho chân lý. Chu kỳ khai mở bao la (đã làm cho sự tiến hoá về sau trở nên khả hữu) có trước hệ mặt trời này, và có thể được xem như sự tương ứng chân thần với một bánh xe vũ trụ. Trong Cổ Luận, điểm phát triển này được ám chỉ bằng những lời sau: |
|
“The fifth did not appear as the product of the present. The five spokes of that wheel had each a cycle of development, and one in which they were welded at the centre.” |
“Cái thứ năm đã không xuất hiện như sản phẩm của hiện tại. Năm nan hoa của bánh xe ấy mỗi cái đều có một chu kỳ phát triển, và một chu kỳ trong đó chúng được hàn gắn tại trung tâm.” |
|
The Monad has cycles analogous, though on a miniature scale, to those of the one Life Who permeates and animates all lesser lives. (Bible. I Peter 2:4.) Certain of these cycles cover periods of time so vast, and so long past, that their history can only be conveyed to the investigating Adepts through the medium of sound and symbol. The details of that development are lost in the night of other kalpas, and all that can be seen are the results,—the cause must be accepted as existing, though for us remaining inexplicable until the higher initiations are taken. |
Chân thần có những chu kỳ tương tự, dù ở quy mô thu nhỏ, với các chu kỳ của Sự sống duy nhất thấm nhập và làm sinh động mọi sự sống nhỏ hơn. (Bible. I Peter 2:4.) Một số chu kỳ này bao trùm những thời kỳ dài đến mức lịch sử của chúng chỉ có thể được truyền đạt cho các chân sư khảo cứu qua trung gian của âm thanh và biểu tượng. Các chi tiết của sự phát triển ấy bị mất hút trong đêm tối của những kalpa khác, và tất cả những gì có thể thấy được là các kết quả,—nguyên nhân phải được chấp nhận là có tồn tại, dù đối với chúng ta vẫn không thể giải thích được cho đến khi các lần điểm đạo cao hơn được tiếp nhận. |
|
In the fact of the turning of the monadic Wheel covering the period of three solar systems, lies hid the mystery of monadic self-will, and the secret as to why some of the Monads refused to incarnate, whilst others “fell,” and thus proceeded along the present lines of evolution. They refused to incarnate because of internal group conditions brought about through the evolutionary processes of the past kalpas. It will, therefore, be apparent that the question of what constitutes sin and evil is far more intricate than even appears upon the surface. From our [Page 1090] limited vision, it appears to be “sin” to fall into incarnation, and equally sin or self-will, self-satisfaction, to remain unevolved upon the higher planes. Yet both groups followed the law of their being, and the solution of the mystery lies in that which is to come. |
Trong sự kiện bánh xe chân thần quay qua thời kỳ của ba hệ mặt trời, ẩn giấu bí nhiệm của ý chí tự ngã chân thần, và bí mật giải thích tại sao một số chân thần từ chối nhập thể, trong khi những chân thần khác “sa ngã,” và do đó tiến hành theo các đường tiến hoá hiện tại. Chúng từ chối nhập thể vì những điều kiện nội tại của nhóm được tạo ra qua các tiến trình tiến hoá của các kalpa quá khứ. Vì vậy, sẽ rõ rằng vấn đề điều gì cấu thành tội lỗi và điều ác phức tạp hơn nhiều so với vẻ ngoài của nó. Từ linh thị [Page 1090] hạn hẹp của chúng ta, việc sa vào nhập thể dường như là “tội lỗi,” và việc ở lại không tiến hoá trên các cõi cao hơn cũng dường như là tội lỗi hay tự ý chí, tự mãn. Tuy nhiên, cả hai nhóm đều tuân theo định luật của bản thể mình, và lời giải của bí nhiệm nằm trong điều sẽ đến. |
|
If the student will with care meditate upon the fact that the three lower planes—the mental, the astral, and the physical—form the dense physical body of the planetary Logos and are, therefore, no principle, it will become apparent to him that through necessity certain units or cells in the body are more active in space and time than others. He must also bear in mind that groups of Monads come into incarnation according to which centre in a Heavenly Man of a particular planetary scheme, or which centre of the solar Logos, is in process of vivification or cyclic activity, and that certain of the centres of a solar Logos and this particular solar system are in a condition of partial pralaya through the process of the absorption of the lower solar life forces by the centres of higher vitality. Again, he must remember that the entire aspect of the Divine Life is not intended to reach its full unfoldment at any time in this solar system but must wait for the vitalising impulses of a later. This is due to the fact that there exist in this solar system effects of causes originating in earlier kalpas or—to word it otherwise—the karmic seeds of earlier logoic activities. |
Nếu đạo sinh cẩn trọng tham thiền về sự kiện rằng ba cõi thấp—cõi trí, cõi cảm dục, và cõi hồng trần—hợp thành thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế và vì thế không phải là nguyên khí, thì y sẽ thấy rõ rằng do tất yếu, một số đơn vị hay tế bào trong thể ấy hoạt động trong không gian và thời gian nhiều hơn những đơn vị khác. Y cũng phải ghi nhớ rằng các nhóm chân thần đi vào nhập thể tùy theo trung tâm nào trong một Đấng Thiên Nhân của một hệ hành tinh đặc thù, hay trung tâm nào của Thái dương Thượng đế, đang trong tiến trình được tiếp sinh lực hay hoạt động theo chu kỳ, và rằng một số trung tâm của một Thái dương Thượng đế và của hệ mặt trời đặc thù này đang ở trong tình trạng giai kỳ qui nguyên từng phần do tiến trình hấp thu các mãnh lực sự sống thái dương thấp hơn bởi các trung tâm có sinh lực cao hơn. Hơn nữa, y phải nhớ rằng toàn bộ phương diện của Sự sống thiêng liêng không được dự định đạt đến sự khai mở trọn vẹn trong bất kỳ thời điểm nào của hệ mặt trời này mà phải chờ các xung lực tiếp sinh lực của một hệ về sau. Điều này là do trong hệ mặt trời này có những hiệu quả của các nguyên nhân phát sinh trong các kalpa trước đó hay—nói cách khác—những hạt giống nghiệp quả của các hoạt động logoi trước kia. |
|
Our solar Logos has not yet attained true rhythm, but for millenia of cycles the equilibrising process must go on. Nor has our planetary Logos achieved equilibrium, and the even balancing of forces, therefore until His point in evolution and His objective vision is known and it is known also which centre in the solar body is vitalised by His life, it will be the part of wisdom to refrain from dogmatic assertion, and a too free utterance in connection with incarnating, and non-incarnating, Monads. All are turning upon the monadic cosmic wheel; each is being [Page 1091] swept into some form of activity upon the lesser revolution of this particular systemic wheel, but not all in any particular cycle are to be found revolving upon a specific planetary wheel. Many wait for development and for more appropriate seasons in interplanetary spaces, and some must wait until the entering in of a new mahamanvantara. Students should bear carefully in mind the words of H. P. B. where he tells students of the Secret Doctrine that the stanzas and their Commentary deal primarily with our particular planetary Logos. This is oft forgotten. |
Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn chưa đạt được nhịp điệu chân chính, nhưng trong hàng thiên niên kỷ chu kỳ, tiến trình quân bình hóa vẫn phải tiếp tục. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta cũng chưa đạt được sự quân bình và sự cân bằng đồng đều của các mãnh lực; vì vậy, cho đến khi điểm tiến hoá và linh ảnh mục tiêu của Ngài được biết đến, và cũng biết được trung tâm nào trong thể thái dương được sự sống của Ngài tiếp sinh lực, thì điều khôn ngoan là nên tránh những khẳng định giáo điều và những phát biểu quá tự do liên quan đến các chân thần nhập thể và không nhập thể. Tất cả đều đang quay trên bánh xe vũ trụ chân thần; mỗi đơn vị đang bị cuốn vào một hình thức hoạt động nào đó trên vòng quay nhỏ hơn của bánh xe hệ thống đặc thù này, nhưng không phải tất cả trong bất kỳ chu kỳ nào cũng được thấy quay trên một bánh xe hành tinh xác định. Nhiều đơn vị chờ sự phát triển và những mùa thích hợp hơn trong các khoảng không gian liên hành tinh, và một số phải chờ cho đến khi bước vào một [Page 1091] Đại giai kỳ sinh hóa mới. Đạo sinh nên cẩn thận ghi nhớ lời của H. P. B. khi bà nói với các đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm rằng các bài kệ và phần Luận giải của chúng chủ yếu bàn về Hành Tinh Thượng đế đặc thù của chúng ta. Điều này thường bị quên lãng. |
|
It may interest students to know that there are certain colours, veiling these groups of non-incarnating Monads, at present totally unknown to humanity. These will sweep into the consciousness of the human being in another solar system, or after the taking of the sixth Initiation. All that we have on earth are reflections of the true colours, and likewise the reflection of the lowest aspect. |
Điều có thể khiến các đạo sinh quan tâm là hiện có những màu sắc nhất định che phủ các nhóm chân thần không nhập thể này, hoàn toàn chưa được nhân loại biết đến. Những màu sắc ấy sẽ tràn vào tâm thức con người trong một hệ mặt trời khác, hoặc sau khi tiếp nhận lần điểm đạo thứ sáu. Tất cả những gì chúng ta có trên địa cầu chỉ là những phản chiếu của các màu sắc chân thực, và cũng là phản chiếu của phương diện thấp nhất. |
|
Every colour in the cosmos exists in three forms: |
Mọi màu sắc trong vũ trụ đều tồn tại dưới ba hình thức: |
|
1. The true colour. |
1. Màu sắc chân thực. |
|
2. The illusory appearance of the colour. |
2. Sắc tướng ảo huyễn của màu sắc. |
|
3. Its reflection. |
3. Sự phản chiếu của nó. |
|
The reflection is that with which we are familiar; the appearance, or that which veils the reality, is contacted and known when we see with the eye of the soul, the Eye of Shiva, and the true colour (314) is contacted after the fifth kingdom has been passed through, and group consciousness is merging in that of the divine. Students will, therefore, note that the monadic cosmic wheel can be [Page 1092] visioned in terms of “true colour,” and is seen by the illumined seer as the combined blending of the primary colours of the three solar systems. |
Sự phản chiếu là điều chúng ta quen thuộc; sắc tướng, hay cái che phủ thực tại, được tiếp xúc và biết đến khi chúng ta nhìn bằng mắt của linh hồn, Con Mắt của Shiva, và màu sắc chân thực (314) được tiếp xúc sau khi giới thứ năm đã được vượt qua, và tâm thức nhóm đang hòa nhập vào tâm thức thiêng liêng. Vì vậy, đạo sinh sẽ lưu ý rằng bánh xe vũ trụ chân thần có thể được [Page 1092] hình dung theo các thuật ngữ của “màu sắc chân thực,” và được nhà thông nhãn soi sáng thấy như sự hòa trộn kết hợp của các màu cơ bản của ba hệ mặt trời. |
|
(314) Màu sắc.—Ban đầu có nghĩa là “một sự che phủ.” Từ gốc “celare” nghĩa là che phủ hay ẩn giấu. Cũng như Occultare, nghĩa là ẩn giấu. |
|
|
Symbology of colours. The language of the prism, of which “the seven mother colours have each seven sons,” that is to say, forty-nine shades or “sons” between the seven, which graduated tints are so many letters or alphabetical characters. The language of colours has, therefore, fifty-six letters for the initiate. Of these letters each septenary is absorbed by the mother colour as each of the seven mother colours is absorbed finally in the white ray, Divine Unity symbolised by these colours. (back) |
Biểu tượng học của màu sắc. Ngôn ngữ của lăng kính, trong đó “bảy màu mẹ mỗi màu có bảy người con,” nghĩa là có bốn mươi chín sắc độ hay “người con” giữa bảy màu ấy, những sắc thái chuyển dần này là bấy nhiêu chữ cái hay ký tự mẫu tự. Vì vậy, ngôn ngữ của màu sắc có năm mươi sáu chữ cái đối với điểm đạo đồ. Trong các chữ cái này, mỗi bộ bảy được hấp thu bởi màu mẹ cũng như mỗi trong bảy màu mẹ cuối cùng được hấp thu vào tia trắng, Hợp Nhất thiêng liêng được biểu tượng hóa bởi các màu sắc này. (back) |
|
The monadic systemic wheel, which concerns this solar system alone, is distinguished by being the totality of the seven colours of the seven Heavenly Men, and from the vision of the adept of the fifth Initiation is the sumtotal of the primary colours of the egoic groups of the differing planetary schemes. |
Bánh xe hệ thống chân thần, chỉ liên quan đến riêng hệ mặt trời này, được phân biệt bởi việc là tổng thể của bảy màu của bảy Đấng Thiên Nhân, và theo linh thị của chân sư ở lần điểm đạo thứ năm, là tổng số toàn bộ các màu cơ bản của các nhóm chân ngã thuộc các hệ hành tinh khác nhau. |
|
The monadic planetary wheel, which concerns the particular group of Monads incarnating in a particular scheme, is seen by the seer as the blending of egoic groups, but with the difference that the colour is a dual one, and the colouring of the personality ray of the incarnating Ego is also seen. |
Bánh xe hành tinh chân thần, liên quan đến nhóm chân thần đặc thù đang nhập thể trong một hệ hành tinh đặc thù, được nhà thông nhãn thấy như sự hòa trộn của các nhóm chân ngã, nhưng với điểm khác biệt là màu sắc mang tính nhị phân, và sắc thái của cung phàm ngã của Chân ngã nhập thể cũng được nhìn thấy. |
|
The egoic cycle, or the turning of the wheel of the incarnating Ego, is of the most practical interest to man, and has already been somewhat dealt with. For purposes of clarity and elucidation, this wheel may also be seen as turning in three cycles and as making three kinds of revolutions, covering varying periods of time. |
Chu kỳ chân ngã, hay sự quay của bánh xe của Chân ngã nhập thể, là điều có mối quan tâm thực tiễn nhất đối với con người, và đã phần nào được bàn đến. Vì mục đích làm sáng tỏ và giải minh, bánh xe này cũng có thể được thấy như quay trong ba chu kỳ và thực hiện ba loại vòng quay, bao trùm những thời kỳ khác nhau. |
|
There is first, the Wheel of the chain, or the cycling of the Monad around an entire chain, and its passage through all the globes and kingdoms. The consideration of this is complicated by the fact that in any particular chain, the Monads seldom begin and end their evolution; they seldom emerge, pass through their cycle and achieve their objective. It is not possible to dissociate a chain from its preceding or succeeding chain. Many Monads who achieved self-consciousness in the moon chain only entered into renewed activity in the middle of the fourth root race; others, who have individualised on this earth, will not succeed in reaching their goal upon this planet. There is here a correspondence to systemic evolution, and there is an analogy between the Monads who refused to [Page 1093] incarnate and the Egos who were unable to take bodies in the Lemurian or third root race. |
Trước hết là, Bánh xe của dãy, hay sự tuần hoàn của chân thần quanh toàn bộ một dãy, và sự đi qua của nó qua mọi bầu hành tinh và mọi giới. Việc xem xét điều này trở nên phức tạp bởi sự kiện rằng trong bất kỳ dãy đặc thù nào, các chân thần hiếm khi bắt đầu và kết thúc sự tiến hoá của mình; chúng hiếm khi xuất hiện, đi qua chu kỳ của mình và đạt được mục tiêu. Không thể tách rời một dãy khỏi dãy đi trước hay dãy kế tiếp nó. Nhiều chân thần đã đạt ngã thức trong Dãy Mặt Trăng chỉ bước vào hoạt động mới ở giữa giống dân gốc thứ tư; những chân thần khác, đã biệt ngã hóa trên địa cầu này, sẽ không thành công trong việc đạt đến mục tiêu của mình trên hành tinh này. Ở đây có một sự tương ứng với tiến hoá hệ thống, và có một sự tương đồng giữa các chân thần đã từ chối [Page 1093] nhập thể và các chân ngã đã không thể nhận thể xác trong giống dân gốc Lemuria hay giống dân gốc thứ ba. |
|
There is next, the Wheel of a globe, or the process of evolution upon any particular globe. The student must bear in mind that the Monad, after planetary dissolution, passes the time between incarnations on other and subtler globes, which are the correspondence to the interplanetary and intersystemic spheres. |
Tiếp theo là, Bánh xe của một bầu hành tinh, hay tiến trình tiến hoá trên bất kỳ bầu hành tinh đặc thù nào. Đạo sinh phải ghi nhớ rằng chân thần, sau khi hành tinh tan rã, trải qua thời gian giữa các lần nhập thể trên những bầu hành tinh khác và tinh tế hơn, là sự tương ứng với các khối cầu liên hành tinh và liên hệ thống. |
|
There is also, the Wheel of a race, or the lesser cycle of incarnations—forming a definite series—wherein the incarnating Monad cycles through a number of lives in a particular race. |
Cũng có, Bánh xe của một nhân loại, hay chu kỳ nhỏ hơn của các lần nhập thể—hợp thành một chuỗi xác định—trong đó chân thần nhập thể tuần hoàn qua một số kiếp sống trong một nhân loại đặc thù. |
|
All these cycles of periodic manifestation are concerned primarily with the appearance, or the manifesting of the “sparks” upon one or other of the three planes in the three worlds, or in some part of the physical body of the planetary Logos. The lesser cycles deal with this; the greater turning of the wheel concerns also the appearance, or flashing forth, of the sparks in the planetary or systemic etheric body, or on the four higher planes of our solar system. We can picture to ourselves the glory of this concept; the downpouring of the streams of fiery sparks; their flashing forth into points of intensified fire as they meet conditions which produce occult “ignition”; and the constant circulation of the forty-nine fires constructed of the sixty thousand million human Monads and the countless streams of deva monads: fire on every side—a network of fiery rivers of living energy, focal points of intensified brilliancy and everywhere the sparks. |
Tất cả các chu kỳ biểu hiện định kỳ này chủ yếu liên quan đến sự xuất hiện, hay sự biểu lộ, của các “tia lửa” trên một hay một cõi khác trong ba cõi giới, hay trong một phần nào đó của thể xác của Hành Tinh Thượng đế. Các chu kỳ nhỏ hơn bàn đến điều này; vòng quay lớn hơn của bánh xe cũng liên quan đến sự xuất hiện, hay sự bùng lóe, của các tia lửa trong thể dĩ thái hành tinh hay hệ thống, hoặc trên bốn cõi cao hơn của hệ mặt trời chúng ta. Chúng ta có thể hình dung cho mình sự huy hoàng của khái niệm này; sự tuôn đổ của các dòng tia lửa rực lửa; sự bùng lóe của chúng thành những điểm lửa tăng cường khi chúng gặp các điều kiện tạo ra sự “bốc cháy” huyền bí; và sự lưu chuyển không ngừng của bốn mươi chín ngọn lửa được cấu thành từ sáu mươi ngàn triệu chân thần nhân loại và vô số dòng chân thần thiên thần: lửa ở khắp mọi phía—một mạng lưới những dòng sông lửa của năng lượng sống, những tiêu điểm rực sáng tăng cường và ở khắp nơi là các tia lửa. |
|
Còn một vài nhận xét nữa cần được đưa ra liên quan đến sự quay của các bánh xe khác nhau, rồi sau đó chúng ta có thể bắt đầu xem xét chuyển động và các lớp vỏ. |
|
|
Within all those wheels which we have enumerated, are many lesser wheels all governed by the same laws, actuated by the same three forms of activity, and all (in their totality) forming one great whole. It will be apparent [Page 1094] to all conscientious students that the founders of the symbolical method managed to convey in the symbol of the wheel an idea of the triplicity of all atomic activity: |
Bên trong tất cả những bánh xe mà chúng ta đã liệt kê, có nhiều bánh xe nhỏ hơn, tất cả đều được chi phối bởi cùng những định luật, được thúc đẩy bởi cùng ba hình thức hoạt động, và tất cả (trong tổng thể của chúng) hợp thành một đại toàn thể. Điều hiển nhiên đối với [Page 1094] mọi đạo sinh tận tâm là những người sáng lập phương pháp biểu tượng đã thành công trong việc truyền đạt, qua biểu tượng bánh xe, một ý niệm về tính tam phân của mọi hoạt động nguyên tử: |
|
a. |
The central point of active positive force |
the hub. |
|
b. |
The negative stream of life |
the radiating spokes. |
|
c. |
The sphere of activity itself, the effect of the interplay of these two |
the circumference of the wheel. |
|
If the student can picture those wheels in activity, if he can visualise all parts of the wheel as composed of lesser living wheels, and if he can work into his picture a hint of the interplay of all these fiery essences, coloured with certain predominant hues, he will become aware of conditions, and see before him a picture which is ever apparent to the illuminated seer. If, before doing this, he can vision the whole of the systemic wheel as in a constant state of circulation, in which the tiny lesser lives are impelled by the force of the central solar life to pass throughout the extent of the wheel so that they come in contact with all parts of the wheel, and are impressed by all the varying types of “power-substance,” then the general nature of the method can be somewhat ascertained. We use the term “motion,” but what do we really mean? Simply, and literally, the manifestation of the energy generated through the bringing together of certain aspects of energy, and the triple result thereby produced; the activities resulting from this stream of dynamic electrical energy, emanating from some centre, which sweeps into response all that it contacts, and which holds the responsive units in some form or another. |
Nếu đạo sinh có thể hình dung những bánh xe ấy trong hoạt động, nếu y có thể hình dung mọi phần của bánh xe đều được cấu thành bởi những bánh xe sống nhỏ hơn, và nếu y có thể đưa vào bức tranh của mình một gợi ý về sự tương tác của tất cả các tinh chất lửa này, được nhuốm những sắc thái trội nhất định, thì y sẽ nhận biết được các điều kiện, và thấy trước mắt mình một bức tranh luôn luôn hiện rõ đối với nhà thông nhãn được soi sáng. Nếu, trước khi làm điều này, y có thể hình dung toàn bộ bánh xe hệ thống như ở trong một trạng thái lưu chuyển không ngừng, trong đó những sự sống nhỏ bé hơn bị mãnh lực của sự sống thái dương trung tâm thúc đẩy đi khắp phạm vi của bánh xe để chúng tiếp xúc với mọi phần của bánh xe, và bị gây ấn tượng bởi mọi loại “chất liệu-quyền năng” khác nhau, thì bản chất tổng quát của phương pháp có thể phần nào được xác định. Chúng ta dùng thuật ngữ “chuyển động,” nhưng thực sự chúng ta muốn nói gì? Chỉ đơn giản và theo nghĩa đen là sự biểu hiện của năng lượng được tạo ra qua việc đưa một số phương diện năng lượng lại với nhau, và kết quả tam phân do đó được tạo ra; những hoạt động phát sinh từ dòng năng lượng điện động lực này, phát ra từ một trung tâm nào đó, quét vào đáp ứng tất cả những gì nó tiếp xúc, và giữ các đơn vị đáp ứng trong hình thức này hay hình thức khác. |
|
From the occult standpoint, all that manifests is spheroidal in form, and is appropriately called a wheel, yet (in dense physical manifestation) the forms are diverse, and many, and unless etheric vision is present, the spheroidal forms of all lives are not apparent. How can this [Page 1095] be explained? There are three major reasons for this illusion, and these we might here touch upon, finding in the word “illusion” (315) the key to the mystery. |
Theo quan điểm huyền bí học, mọi thứ biểu hiện đều có hình cầu, và được gọi một cách thích đáng là một bánh xe, tuy nhiên (trong biểu hiện hồng trần đậm đặc) các hình tướng thì đa dạng và nhiều loại, và trừ phi có linh thị dĩ thái, các hình cầu của mọi sự sống sẽ không hiển lộ. Điều này có thể được [Page 1095] giải thích như thế nào? Có ba lý do chính cho ảo tưởng này, và chúng ta có thể chạm đến chúng ở đây, tìm thấy trong từ “ảo tưởng” (315) chìa khóa của bí nhiệm. |
|
(315) Maya or Illusion. The word Maya is one which has to be properly understood by you in order that you may catch the spirit of the ancient philosophy. The derivation that is given for the word is Ma + Ya or not that. Maya is therefore a power that makes a thing appear as what it is not, or a power of illusion that arises out of limitation in the ancient concept of a true unity periodically appearing as multiplicity by the power of Maya that coexists with that unity. (back) |
(315) Maya hay Ảo tưởng. Maya là một từ mà bạn phải hiểu cho đúng để có thể nắm bắt tinh thần của triết học cổ xưa. Từ nguyên được đưa ra cho từ này là Ma + Ya hay không phải cái đó. Vì vậy, Maya là một quyền năng làm cho một vật xuất hiện như cái mà nó không phải là, hay một quyền năng của ảo tưởng phát sinh từ sự giới hạn trong quan niệm cổ xưa về một hợp nhất chân thực định kỳ xuất hiện như tính đa tạp nhờ quyền năng của Maya cùng đồng tồn tại với hợp nhất ấy. (back) |
|
We have been told in connection with the dense physical body that it is not considered a principle and is not (in this second solar system) expressing those qualities which are characteristic of the solar Logos and His present incarnation. We are told, further, that the grosser dense forms of substance, all that is objective and tangible upon the physical plane, are vibrating to a key which is characteristic of the preceding system, being a left-over (if so it might be expressed) of an earlier kalpa. |
Chúng ta đã được bảo rằng liên quan đến thể xác đậm đặc, nó không được xem là một nguyên khí và không phải (trong hệ mặt trời thứ hai này) đang biểu lộ những phẩm tính đặc trưng của Thái dương Thượng đế và lần nhập thể hiện tại của Ngài. Hơn nữa, chúng ta còn được bảo rằng các hình tướng đậm đặc thô nặng hơn của chất liệu, tất cả những gì khách quan và sờ chạm được trên cõi hồng trần, đang rung động theo một chủ âm đặc trưng của hệ trước, là phần còn sót lại (nếu có thể diễn đạt như vậy) của một kalpa trước kia. |
|
These two points must be carefully borne in mind and latitude allowed for them, when endeavouring to express the truth anent motion. Therefore, a number of the atoms of matter are as yet governed by an internal life which has for its main, distinctive feature, the faculty of a much closer adhesion, and a decisiveness of grouping that is inherently characteristic of the present body of manifestation of the solar system. We must remember when considering this, that all that is dense and gross in all forms, concerns only those forms on the three lower subplanes of the lowest systemic planes; the forms are constructed of matter of all the planes, but the percentage of gross matter is as we can plainly see but small. Interaction for the mineral monad exists, and completely negatives the vibration of the three lower subplanes of the physical plane; it passes eventually into forms which are more closely allied to the “true form.” |
Hai điểm này phải được ghi nhớ cẩn thận và phải dành chỗ cho chúng khi cố gắng diễn đạt chân lý liên quan đến chuyển động. Vì vậy, một số nguyên tử của vật chất hiện vẫn bị chi phối bởi một sự sống nội tại mà đặc điểm chính, nổi bật của nó là khả năng kết dính chặt chẽ hơn nhiều, và một tính quyết định trong sự kết nhóm vốn là đặc trưng cố hữu của thể biểu hiện hiện tại của hệ mặt trời. Chúng ta phải nhớ khi xem xét điều này rằng tất cả những gì đậm đặc và thô nặng trong mọi hình tướng chỉ liên quan đến những hình tướng trên ba cõi phụ thấp hơn của cõi hệ thống thấp nhất; các hình tướng được cấu tạo từ vật chất của mọi cõi, nhưng như chúng ta có thể thấy rõ, tỷ lệ vật chất thô nặng chỉ là nhỏ. Sự tương tác đối với chân thần khoáng vật có tồn tại, và hoàn toàn phủ nhận rung động của ba cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần; cuối cùng nó đi vào những hình tướng gần gũi hơn với “hình tướng chân thực.” |
|
The mineral monad has a problem slightly at variance with that of the other kingdoms, for it is specifically an [Page 1096] expression of the lives which were classed as the failures of a previous solar system, and which were doomed to immerse themselves in the forms of the mineral kingdom. Liberation for man comes when he succeeds in freeing himself from the vibration of the three lower planes of our solar system, from that part of the logoic manifestation which constitutes His dense body, and which He does not therefore regard as a principle. It will, consequently, be apparent that there is a correspondence worthy of study to be found in the relation between the mineral monad, a human being, and a solar Logos. Viewing these three as an esoteric triplicity much light may be gained by meditation upon them as |
Chân thần khoáng vật có một vấn đề hơi khác với các giới khác, vì nó đặc biệt là một [Page 1096] biểu hiện của những sự sống được xếp vào loại thất bại của một hệ mặt trời trước, và đã bị định phải dìm mình vào các hình tướng của giới kim thạch. Sự giải thoát đối với con người đến khi y thành công trong việc giải phóng mình khỏi rung động của ba cõi thấp của hệ mặt trời chúng ta, khỏi phần biểu hiện logoi cấu thành thể đậm đặc của Ngài, và vì thế Ngài không xem đó là một nguyên khí. Do đó, sẽ rõ rằng có một sự tương ứng đáng nghiên cứu được tìm thấy trong mối liên hệ giữa chân thần khoáng vật, con người, và một Thái dương Thượng đế. Xem ba điều này như một bộ ba huyền bí, nhiều ánh sáng có thể đạt được bằng cách tham thiền về chúng như là |
|
a. The residual vibration of system 1, |
a. Rung động tồn dư của hệ 1, |
|
b. The medial point of activity of system 2, |
b. Điểm hoạt động trung gian của hệ 2, |
|
c. The subjective energy of the present system. |
c. Năng lượng chủ quan của hệ hiện tại. |
|
In the comprehension of this, and in the realisation that there are forces present in nature which are in the nature of left-overs, we have the clue to much of the puzzling side of manifestation, to the cruelty and death, the suffering, and the agony which are seen in the vegetable and animal kingdoms. In the term animal kingdom I include man’s physical body. We have also the clue to some aspects of the left hand Path, and a clue to the problem of the basic cause of the appearance of such existences as black magicians. Just as no human being can escape the effects of energy generated by him in an early life, so the solar Logos Himself is working out and so held back by influences which are the result of His earlier activities in System 1. |
Trong sự thấu hiểu điều này, và trong sự chứng nghiệm rằng có những mãnh lực hiện diện trong thiên nhiên mang bản chất của những phần còn sót lại, chúng ta có đầu mối để hiểu nhiều khía cạnh khó giải của biểu hiện, sự tàn nhẫn và cái chết, nỗi đau khổ và sự thống khổ được thấy trong giới thực vật và giới động vật. Trong thuật ngữ giới động vật, tôi bao gồm cả thể xác của con người. Chúng ta cũng có đầu mối cho một số phương diện của tả đạo, và một đầu mối cho vấn đề nguyên nhân căn bản của sự xuất hiện của những hữu thể như các nhà hắc thuật. Cũng như không một con người nào có thể thoát khỏi các hiệu quả của năng lượng do mình tạo ra trong một kiếp sống trước, thì chính Thái dương Thượng đế cũng đang giải quyết và do đó bị cản trở bởi những ảnh hưởng là kết quả của các hoạt động trước kia của Ngài trong Hệ 1. |
|
The dense physical forms are an illusion because they are due to the reaction of the eye to those forces about which we have been speaking. Etheric vision, or the power to see energy-substance, is true vision for the human being, just as the etheric is the true form. But until [Page 1097] the race is further evolved, the eye is aware of, and responds to the heavier vibration only. Gradually it will shake itself free from the lower and coarser reactions, and become an organ of true vision. It might be of interest here to remember the occult fact that as the atoms in the physical body of the human being pursue their evolution, they pass on and on to ever better forms, and eventually find their place within the eye, first of animals and then of man. This is the highest dense form into which they are built, and marks the consummation of the atom of dense matter. Occultly understood, the eye is formed through the interplay of certain streams of force, of which there are three in the animal, and five in the human being. By their conjunction and interaction, they form what is called “the triple opening” or the “fivefold door” out of which the animal soul or the human spirit can “look out upon the world illusion.” |
Các hình tướng hồng trần đậm đặc là một ảo tưởng vì chúng là do phản ứng của mắt đối với những mãnh lực mà chúng ta đã nói đến. Linh thị dĩ thái, hay năng lực thấy chất liệu-năng lượng, là linh thị chân thực đối với con người, cũng như dĩ thái là hình tướng chân thực. Nhưng cho đến khi [Page 1097] nhân loại tiến hoá hơn nữa, mắt chỉ nhận biết và đáp ứng với rung động nặng nề hơn mà thôi. Dần dần nó sẽ tự giải thoát khỏi các phản ứng thấp và thô hơn, và trở thành một cơ quan của linh thị chân thực. Ở đây có thể đáng quan tâm nếu nhớ đến sự kiện huyền bí rằng khi các nguyên tử trong thể xác con người theo đuổi sự tiến hoá của chúng, chúng đi mãi vào những hình tướng ngày càng tốt hơn, và cuối cùng tìm được chỗ của mình trong mắt, trước hết của động vật rồi sau đó của con người. Đây là hình tướng đậm đặc cao nhất mà chúng được xây dựng vào, và đánh dấu sự hoàn tất của nguyên tử đậm đặc của vật chất. Theo nghĩa huyền bí, mắt được hình thành qua sự tương tác của một số dòng mãnh lực, trong đó có ba ở động vật và năm ở con người. Bằng sự hội tụ và tương tác của chúng, chúng tạo thành cái được gọi là “khai mở tam phân” hay “cánh cửa ngũ phân” mà từ đó linh hồn động vật hay tinh thần con người có thể “nhìn ra thế giới ảo tưởng.” |
|
The final reason why the spheroidal true form of everything is apparently not seen on the planet can only at this stage be expressed through a quotation from an old esoteric manuscript in the Masters’ archives: |
Lý do cuối cùng giải thích tại sao hình cầu chân thực của mọi sự vật dường như không được thấy trên hành tinh này, ở giai đoạn này chỉ có thể được diễn đạt qua một trích dẫn từ một bản thảo huyền bí cổ trong văn khố của các Chân sư: |
|
“The vision of the higher sphere is hidden in the destiny of the fourth form of substance. The eye looks downwards and, behold, the atom disappears from view. The eye looks sideways and the dimensions merge, and again the atom disappears. |
“Linh thị về khối cầu cao hơn được ẩn giấu trong định mệnh của hình thức thứ tư của chất liệu. Con mắt nhìn xuống dưới và kìa, nguyên tử biến mất khỏi tầm nhìn. Con mắt nhìn sang ngang và các chiều kích hòa lẫn vào nhau, và một lần nữa nguyên tử lại biến mất. |
|
Outward it looks but sees the atom out of all proportion. When the eye negates the downward vision, and sees all from within outwards, the spheres again will be seen.” |
Nhìn ra ngoài, nó nhìn nhưng thấy nguyên tử hoàn toàn mất cân xứng. Khi con mắt phủ định linh thị hướng xuống, và nhìn mọi sự từ bên trong ra ngoài, các khối cầu sẽ lại được thấy.” |
V. MOTION AND THE FORM-BUILDING IMPULSE |
V. CHUYỂN ĐỘNG VÀ XUNG LỰC KIẾN TẠO HÌNH TƯỚNG |
1. Motion and the Mental Sheath. |
1. Chuyển động và thể trí. |
|
In the first section of this treatise we dealt somewhat with various phases of activity when considering “fire by friction,” and the fiery motion of substance itself. We will only touch on some further aspects of the matter, for it is necessary that the student should bear in mind certain [Page 1098] things. He should endeavour to ascertain the relationship between the universal mind (or the systemic mind) and cosmic mind, and seek to comprehend the purpose of the mental sheath, which is one of the most interesting of the various bodies on account of its fiery gaseous constitution. He should also seek to bring about through meditation that mental control and alignment which will result in stabilisation, and a responsiveness to causal impression. This will lead to the transmission of egoic instruction to the man on the physical plane. |
Trong phần thứ nhất của bộ luận này, chúng ta đã phần nào bàn đến các giai đoạn khác nhau của hoạt động khi xem xét “Lửa ma sát,” và chuyển động rực lửa của chính chất liệu. Chúng ta sẽ chỉ đề cập đến một vài phương diện khác nữa của vấn đề, vì điều cần thiết là đạo sinh phải ghi nhớ một số [Page 1098] điều. Y nên cố gắng xác định mối liên hệ giữa trí tuệ vũ trụ (hay trí tuệ hệ thống) và trí tuệ vũ trụ lớn, đồng thời tìm cách thấu hiểu mục đích của thể trí, vốn là một trong những thể lý thú nhất trong các thể khác nhau do cấu tạo khí lửa của nó. Y cũng nên tìm cách, qua tham thiền, mang lại sự kiểm soát trí tuệ và sự chỉnh hợp sẽ dẫn đến sự ổn định, và khả năng đáp ứng với ấn tượng nguyên nhân. Điều này sẽ dẫn đến việc truyền đạt huấn thị chân ngã đến con người trên cõi hồng trần. |
|
Certain points in connection with the mental sheath require emphasising, though it is not our purpose to do more than call attention to their nature. Under the law of correspondence, the student should be able to arrive at certain conclusions and judge wisely the assignment of purpose and place to the particular set of lunar pitris who form the vehicle. |
Một số điểm liên quan đến thể trí cần được nhấn mạnh, dù mục đích của chúng ta không phải là làm gì hơn ngoài việc lưu ý đến bản chất của chúng. Theo định luật tương ứng, đạo sinh nên có khả năng đi đến một số kết luận và phán đoán một cách minh triết về sự phân công mục đích và vị trí cho nhóm thái âm tổ phụ đặc thù tạo thành vận cụ này. |
|
The mental body is composed of only four types of essence, whereas the astral body and the physical are formed of seven types. The devas who compose this body are grouped together as “the cohorts of the fourth order” and have a close connection with that group of cosmic Lives who (through the impress of their influence upon solar matter) are responsible for the fact that our solar system is a system of the fourth order. This group of Lives is manipulated and controlled, in the macrocosmic sense, from cosmic mental levels via the central spiritual sun, and through what is called in esoteric parlance “the fourth solar cavity.” If students will meditate upon the nature of the human heart and its various divisions, and particularly upon one of the valves, light upon this complex problem may be forthcoming. There is a constant inflow of energy from these great Entities on cosmic mental levels; this inflow is the very life itself of the solar units who are the sumtotal of the four lower subplanes of the mental plane, and consequently the life [Page 1099] of the individual units who form the mental bodies of all human beings. |
Thể trí chỉ được cấu thành từ bốn loại tinh chất, trong khi thể cảm dục và thể hồng trần được tạo thành từ bảy loại. Các thiên thần cấu thành thể này được nhóm lại với nhau thành “các đoàn quân của cấp thứ tư” và có liên hệ mật thiết với nhóm Các Sự Sống vũ trụ ấy, những Đấng (qua dấu ấn ảnh hưởng của Các Ngài lên vật chất thái dương) chịu trách nhiệm cho sự kiện rằng hệ mặt trời của chúng ta là một hệ thống thuộc cấp thứ tư. Nhóm Các Sự Sống này được vận dụng và kiểm soát, theo ý nghĩa đại thiên địa, từ các cấp độ trí tuệ vũ trụ qua Mặt trời Tinh thần Trung Ương, và qua điều được gọi trong huyền bí học là “khoang thái dương thứ tư.” Nếu các đạo sinh tham thiền về bản chất của trái tim con người và các phần phân chia khác nhau của nó, đặc biệt là về một trong các van tim, thì ánh sáng soi rọi vấn đề phức tạp này có thể xuất hiện. Có một dòng năng lượng tuôn vào liên tục từ các Thực Thể vĩ đại này trên các cấp độ trí tuệ vũ trụ; dòng tuôn vào này chính là sự sống của các đơn vị thái dương, là tổng số của bốn cõi phụ thấp của cõi trí, và do đó là sự sống [Page 1099] của các đơn vị cá biệt tạo thành các thể trí của toàn thể nhân loại. |
|
It will be apparent to all careful students that on all the planes, the fourth subplane has a peculiar and close relation to the fourth Creative Hierarchy, that of the human monads, and this is peculiarly the case in connection with the mental body. Through the medium of the plane number (five), and the subplane number (four), the possibility of initiation for the human being becomes a fact and that particular form of activity which distinguishes his progress is brought about. There are, therefore, two main streams of energy responsible for the form of the mental sheaths, |
Mọi đạo sinh cẩn trọng đều sẽ thấy rõ rằng trên mọi cõi, cõi phụ thứ tư có một liên hệ đặc biệt và mật thiết với Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức huyền giai của các chân thần nhân loại, và điều này đặc biệt đúng trong liên hệ với thể trí. Qua trung gian của số cõi (năm), và số cõi phụ (bốn), khả năng điểm đạo đối với con người trở thành một sự kiện, và hình thức hoạt động đặc thù phân biệt sự tiến bộ của y được mang lại. Vì vậy, có hai dòng năng lượng chính chịu trách nhiệm cho hình thức của các thể trí, |
|
a. That emanating from the fourth subplane of the cosmic mental plane, including consequently the remaining three subplanes. |
a. Dòng phát ra từ cõi phụ thứ tư của cõi trí vũ trụ, do đó bao gồm cả ba cõi phụ còn lại. |
|
b. That emanating from the aggregate of those lives who form the fourth Creative Hierarchy. As we know, the esoteric number of this Hierarchy is nine, the exoteric number being four. |
b. Dòng phát ra từ tổng thể những sự sống tạo thành Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Như chúng ta biết, con số huyền bí của Huyền Giai này là chín, còn con số ngoại môn là bốn. |
|
It is the blending of these two streams of force which (within the confines of the three worlds) results in the progressive activity of man. When this is coupled with the self-engendered action of the individual atoms of any sheath, we have spiral-progressive motion. This is true macrocosmically and microcosmically, for the activity of the cosmic physical plane (our seven systemic planes), is largely dependent upon the co-ordinated activity of certain force manifestations, which might be enumerated as follows: |
Chính sự hòa trộn của hai dòng mãnh lực này (trong phạm vi ba cõi thấp) tạo ra hoạt động tiến triển của con người. Khi điều này kết hợp với hành động tự phát sinh của các nguyên tử cá biệt trong bất kỳ thể nào, chúng ta có chuyển động xoắn ốc-tiến triển. Điều này đúng cả ở đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa, vì hoạt động của cõi hồng trần vũ trụ (bảy cõi hệ thống của chúng ta) phần lớn tùy thuộc vào hoạt động phối hợp của một số biểu hiện mãnh lực, có thể được liệt kê như sau: |
|
a. That of the fourth Creative Hierarchy, who, in their aggregate, form the force centres. |
a. Hoạt động của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, những Đấng mà trong tổng thể tạo thành các trung tâm lực. |
|
b. The emanating influences of the fourth cosmic ether, the buddhic plane, upon which is dependent, [Page 1100] throughout the system, the manifestation of that which is tangible and objective. |
b. Ảnh hưởng phát ra của dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề, mà trên đó tùy thuộc, [Page 1100] trong toàn hệ thống, sự biểu lộ của điều hữu hình và khách quan. |
|
c. The opening up, both macrocosmically and microcosmically, of the fourth aspect of the solar and human egoic lotus; this is the revelation of the “Jewel in the Lotus,” and macrocosmically is the perfect co-ordination of the three aspects through the medium of substance; this is the completion of logoic purpose, which is that of the fourth group. It might be expressed otherwise: |
c. Sự khai mở, cả ở đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa, của phương diện thứ tư của Hoa Sen Chân Ngã thái dương và nhân loại; đây là sự mặc khải của “Ngọc trong Hoa Sen,” và ở đại thiên địa là sự phối hợp hoàn hảo của ba phương diện qua trung gian của chất liệu; đây là sự hoàn tất mục đích của Thượng đế, vốn là mục đích của nhóm thứ tư. Có thể diễn đạt điều này theo cách khác: |
|
“When all is known of the significance of fourth dimensional existence, then the fourth order with the fifth will complete the sacred nine.” |
“Khi mọi điều về thâm nghĩa của sự tồn tại bốn chiều được biết đến, thì cấp thứ tư cùng với cấp thứ năm sẽ hoàn tất con số chín thiêng liêng.” |
|
d. The specific alignment, interplay or free circulation of force simultaneously through the following manifestations of the one life: |
d. Sự chỉnh hợp đặc thù, sự tương tác hay sự lưu thông tự do của mãnh lực đồng thời qua các biểu hiện sau đây của sự sống duy nhất: |
|
1. The logoic Quaternary and equally the human. |
1. Bộ Tứ của Thượng đế và tương ứng là của con người. |
|
2. The fourth systemic ether. |
2. Dĩ thái hệ thống thứ tư. |
|
3. The fourth cosmic ether, the buddhic. |
3. Dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề. |
|
4. The fourth Creative Hierarchy. |
4. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. |
|
When this has been completed, the goal universal will have been reached, and the Logos will have assumed the desired control of His physical body; the human units will be then functioning upon the buddhic plane, and the groups of lives who form the mental bodies of the human beings (who are numerically allied with the above progression) will have equally achieved. |
Khi điều này đã được hoàn tất, mục tiêu phổ quát sẽ đạt được, và Thượng đế sẽ đảm nhận sự kiểm soát mong muốn đối với thể xác của Ngài; khi ấy các đơn vị nhân loại sẽ hoạt động trên cõi Bồ đề, và các nhóm sự sống tạo thành các thể trí của nhân loại (vốn có liên hệ số học với tiến trình trên) cũng sẽ đạt thành tựu tương tự. |
|
Một số ảnh hưởng và mãnh lực tác động lên thể trí của bất kỳ con người nào, và tạo ra trong nó hoạt động được gọi là “xoắn ốc tiến triển.” Có thể ngắn gọn xem các mãnh lực này gồm những điều sau: |
|
|
1. The energies of the atoms of substance which compose the mental body. |
1. Các năng lượng của những nguyên tử chất liệu cấu thành thể trí. |
|
2. The energies of the lunar father who is the coherent [Page 1101] life of the mental group body. These two groups concern the Not-Self, the third aspect of monadic manifestation. |
2. Các năng lượng của người cha nguyệt tinh, là sự sống kết hợp của thể nhóm trí tuệ. Hai nhóm này liên quan đến Phi-Ngã, phương diện thứ ba của biểu lộ chân thần. [Page 1101] |
|
3. The energies of the solar Angel, or Father, which is the co-ordinating principle behind manifestation in the three worlds. |
3. Các năng lượng của Thái dương Thiên Thần, hay Người Cha, là nguyên khí phối hợp đứng sau biểu lộ trong ba cõi thấp. |
|
4. The energies of the intelligent lives who form the body egoic. These lives find their emanating source on other levels than the systemic. These two groups concern the egoic principle, the middle principle which links the above and the below, and is the second aspect of monadic manifestation. |
4. Các năng lượng của những sự sống thông tuệ tạo thành thể chân ngã. Những sự sống này tìm thấy nguồn phát xạ của chúng trên những cấp độ khác ngoài hệ thống. Hai nhóm này liên quan đến nguyên khí chân ngã, nguyên khí trung gian nối kết cái trên và cái dưới, và là phương diện thứ hai của biểu lộ chân thần. |
|
5. The energy emanating from the “Jewel in the Lotus” itself, the focal point of energy in the Upper Triad. This concerns the Self, the highest aspect of monadic manifestation. |
5. Năng lượng phát ra từ chính “Ngọc trong Hoa Sen,” tiêu điểm năng lượng trong Tam nguyên tinh thần thượng. Điều này liên quan đến Ngã, phương diện cao nhất của biểu lộ chân thần. |
|
The effects produced by the play of these five types of energy upon each other produce (through the medium of the mental unit) that which we term the mental sheath. This sheath is after all only the aggregate of those atoms within a specific area with which the Thinker has to do, which he holds magnetically within his ring-pass-not, and which serve as the medium for his mental expression, according to his point of evolution. This same definition will be recognised as true of all atomic sheaths, and one of the things which students of the occult sciences will eventually do is to investigate the nature of the informing lives of the sheaths, the qualities of the energies influencing such lives, and the character and force of the basic underlying principles. They will thus arrive at facts concerning energies in the human kingdom which will prove of inestimable value. |
Những hiệu quả do sự tác động qua lại của năm loại năng lượng này lên nhau tạo ra (qua trung gian của đơn vị hạ trí) điều mà chúng ta gọi là thể trí. Xét cho cùng, thể này chỉ là tổng thể những nguyên tử trong một khu vực xác định mà Đấng Tư Tưởng phải xử lý, mà y giữ bằng từ lực trong vòng-giới-hạn của mình, và phục vụ như phương tiện cho sự biểu lộ trí tuệ của y, tùy theo điểm tiến hoá của y. Cùng định nghĩa này sẽ được nhìn nhận là đúng đối với mọi thể nguyên tử, và một trong những điều mà các đạo sinh của các khoa học huyền bí cuối cùng sẽ làm là khảo cứu bản chất của các sự sống thấm nhuần các thể, các phẩm tính của những năng lượng ảnh hưởng đến các sự sống ấy, và tính cách cùng mãnh lực của các nguyên khí căn bản nền tảng. Nhờ đó họ sẽ đi đến những sự kiện liên quan đến các năng lượng trong giới nhân loại, những điều sẽ chứng tỏ có giá trị vô cùng lớn. |
|
In order to keep the basic idea of this Treatise corresponding in its various divisions, I might call your attention to the four points we considered relative to motion [Page 1102] in the physical and astral sheaths. We found that the effects of such motion might be regarded as four altogether: |
Để giữ cho ý tưởng căn bản của bộ Luận này tương ứng trong các phân bộ khác nhau của nó, tôi có thể lưu ý các bạn đến bốn điểm mà chúng ta đã xem xét liên quan đến chuyển động [Page 1102] trong thể hồng trần và thể cảm dục. Chúng ta đã thấy rằng các hiệu quả của chuyển động ấy có thể được xem là gồm bốn điều tất cả: |
|
Separation. |
Sự phân ly. |
|
Momentum. |
Động lượng. |
|
Frictional Activity. |
Hoạt động ma sát. |
|
Absorption. |
Sự hấp thụ. |
|
Separation. This separation is brought about through the initial activity of the Ego who produces the first of those forms which he intends to use during the cycle of incarnation, through the bringing together of these energies through self-engendered impulse. He, for purposes of development, identifies himself with that form, and thus temporarily separates himself off from his own real Self. Through the veil of mental matter he first knows separation, and undergoes his first experiences of the three worlds. This deals with separation from the highest aspect. Viewing it from the personality standpoint, separation is again to be seen, for the activity of the monadic sheath, its own internal volition produces the formation of a sphere of activity, distinct in its nature and governed by laws of its own, which—until a certain amount of alignment has been achieved during evolution—lives its own separate existence apart from the two lower sheaths, astral and physical. Thus it can be truly said that the “mind slays the Real” (316) and serves as the “great Deluder” of the Self in the one case, and as the “great Separator” in another; it comes between the centralised egoic life and the personality existences. |
Sự phân ly. Sự phân ly này được mang lại qua hoạt động ban đầu của Chân ngã, Đấng tạo ra hình thức đầu tiên trong những hình thức mà y dự định sử dụng trong chu kỳ nhập thể, bằng cách tập hợp các năng lượng này qua xung lực tự phát sinh. Vì mục đích phát triển, y đồng hoá với hình thức ấy, và do đó tạm thời tách mình ra khỏi Chân ngã thực sự của chính mình. Qua bức màn của vật chất trí tuệ, trước hết y biết đến sự phân ly, và trải qua những kinh nghiệm đầu tiên của mình trong ba cõi thấp. Điều này liên quan đến sự phân ly khỏi phương diện cao nhất. Xét từ quan điểm phàm ngã, sự phân ly lại được thấy, vì hoạt động của thể chân thần, ý chí nội tại riêng của nó tạo ra sự hình thành một khối cầu hoạt động, khác biệt về bản chất và được chi phối bởi các định luật riêng của nó, mà—cho đến khi một mức độ chỉnh hợp nào đó đã đạt được trong tiến hoá—sống sự tồn tại riêng biệt của nó tách khỏi hai thể thấp hơn, cảm dục và hồng trần. Vì vậy có thể nói thật rằng “trí tuệ giết chết Thực Tại” (316) và trong một trường hợp phục vụ như “Kẻ Đại Mê Hoặc” của Ngã, còn trong trường hợp khác như “Kẻ Đại Phân Ly”; nó đứng giữa sự sống chân ngã tập trung và các tồn tại phàm ngã. |
|
(316) “Mind the Slayer of the Real.”—Voice of the Silence, pp. 14-15. (back) |
(316) “Trí tuệ, Kẻ Giết Chết Thực Tại.”—Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 14-15. (trở lại) |
|
This life of separation becomes steadily stronger as the rotary-spiral action of the mental body becomes intensified during the cycles of manifestation, and the “individualised” [Page 1103] Idea becomes daily more dominant. The “Ahamkara” principle, (317) as it is called in the Secret Doctrine, does its work, and man becomes strongly self-centred, and self-conscious in the lower connotation of the term. Later, as higher energies come into play and the effort is made to balance the three types of force manifestations in the three worlds through the three vehicles, the Ego becomes aware of delusion and eventually frees himself. When this is in process of consummation during the final stages of evolution, the mental body becomes a transmitter for force currents from the egoic mind, the antaskarana between the higher mind and the mental sheath is built, and the “transmitting mind body” blends itself with the “reflecting astral body.” Thus separation is negated. |
Sự sống phân ly này ngày càng mạnh hơn khi hoạt động xoay tròn-xoắn ốc của thể trí trở nên mãnh liệt hơn trong các chu kỳ biểu lộ, và Ý Tưởng đã được “biệt ngã hóa” trở nên ngày càng chi phối hơn. Nguyên khí “Ahamkara,” ([Page 1103] 317) như được gọi trong Giáo Lý Bí Nhiệm, thực hiện công việc của nó, và con người trở nên mạnh mẽ tập trung vào bản thân, và có ngã thức theo hàm nghĩa thấp của thuật ngữ này. Về sau, khi các năng lượng cao hơn bắt đầu tác động và nỗ lực được thực hiện để quân bình ba loại biểu hiện mãnh lực trong ba cõi thấp qua ba vận cụ, Chân ngã nhận biết sự mê lầm và cuối cùng tự giải thoát. Khi điều này đang trong tiến trình hoàn tất ở các giai đoạn cuối của tiến hoá, thể trí trở thành một bộ truyền dẫn cho các dòng mãnh lực từ trí tuệ chân ngã, antaskarana giữa thượng trí và thể trí được xây dựng, và “thể trí truyền dẫn” hòa nhập với “thể cảm dục phản chiếu.” Như vậy sự phân ly bị phủ định. |
|
(317) Ahamkara. The “I” making principle necessary in order that self-consciousness may be evolved, but transcended when its work is over. (back) |
(317) Ahamkara. Nguyên khí tạo ra “Tôi,” cần thiết để ngã thức có thể được tiến hoá, nhưng phải được vượt qua khi công việc của nó đã hoàn tất. (trở lại) |
|
Students will note, therefore, that the goal for the mental body is simply that it should become a transmitter of the thoughts and wishes of the solar Angel, and should act as the agent for the Triad. The goal for the astral body is that it should be the reflector in a similar way of the buddhic impulses, which reach the emotional body via certain petals in the egoic lotus, and the astral permanent atom. The process of equilibrising the forces in the personality (thus producing stability, and alignment) is brought about through the scientific manifestation of the electrical reactions of the three sheaths. |
Vì vậy, các đạo sinh sẽ lưu ý rằng mục tiêu của thể trí đơn giản là nó phải trở thành một bộ truyền dẫn các tư tưởng và ước muốn của Thái dương Thiên Thần, và phải hoạt động như tác nhân cho Tam nguyên tinh thần. Mục tiêu của thể cảm dục là nó phải trở thành bộ phản chiếu theo cách tương tự của các xung lực Bồ đề, những xung lực đi đến thể cảm xúc qua một số cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã, và nguyên tử trường tồn cảm dục. Tiến trình quân bình các mãnh lực trong phàm ngã (nhờ đó tạo ra sự ổn định, và sự chỉnh hợp) được mang lại qua sự biểu lộ khoa học của các phản ứng điện của ba thể. |
|
The mental sheath is regarded in its totality of force as positive. The physical bodies are regarded as negative to the mental. The astral vehicle is the point of the at-one-ment of the energies; it is the battleground whereon the dualities are adjusted to each other, and equilibrium is attained. This is the underlying thought when the words “kama-manasic” body are used, because for two-thirds of the pilgrim’s journey this body serves a dual purpose. It is only during the later stage that a [Page 1104] man differentiates between will and desire, and between his mental body and his desire body. |
Thể trí được xem, trong toàn bộ mãnh lực của nó, là dương. Các thể hồng trần được xem là âm đối với thể trí. Vận cụ cảm dục là điểm hợp nhất của các năng lượng; nó là chiến trường nơi các nhị nguyên tính được điều chỉnh với nhau, và sự quân bình được đạt tới. Đây là tư tưởng nền tảng khi các từ “thể trí-cảm” được dùng, bởi vì trong hai phần ba cuộc hành trình của người lữ khách, thể này phục vụ một mục đích kép. Chỉ trong giai đoạn sau này mà một [Page 1104] người mới phân biệt giữa ý chí và dục vọng, và giữa thể trí của mình với thể dục vọng của mình. |
|
Momentum: The activity of the mental sheath and its gradually increasing rate of vibration is brought about by the inflow of energies of different kinds. These various factors, as they are brought to bear upon the mental sheath produce an increased activity and speed in the rotary motion of the individual atoms, and also greater speed in the progress of the entire sheath. This means a more rapid transference of the atoms of low vibration out of the sheath and the substitution of atoms of high quality. |
Động lượng: Hoạt động của thể trí và nhịp độ rung động tăng dần của nó được mang lại bởi dòng tuôn vào của các năng lượng thuộc nhiều loại khác nhau. Các yếu tố khác nhau này, khi tác động lên thể trí, tạo ra hoạt động gia tăng và tốc độ lớn hơn trong chuyển động quay của các nguyên tử cá biệt, và cũng tạo ra tốc độ lớn hơn trong sự tiến triển của toàn thể. Điều này có nghĩa là sự chuyển dịch nhanh hơn của các nguyên tử có rung động thấp ra khỏi thể và sự thay thế bằng các nguyên tử có phẩm chất cao. |
|
It involves also more rapid transition of the various energies, or increased spiral action. This is one of the factors resulting in more rapid incarnation, and more rapid assimilation of the experiences learnt. Curiously enough, from the standpoint of the average thinker, this factor causes longer devachanic periods, for these cycles of interior mental consideration are of ever increasing activity. They are cycles of intense mental adjustment, and of the generation of force until (towards the close of the cycle of incarnation) the activity which has been generated is so strong that continuity of consciousness becomes an accomplished fact. The man frequently then foregoes devachan as he needs it no more. Other results are the fourth dimensional activity of the various “wheels,” which begin not only to rotate but to “turn upon themselves,” and the vivification of the four spirillae of the mental unit. Some of the energies which produce increased momentum in the mental sheath might be enumerated, and as the students consider them it will again become apparent what a complicated thing human unfoldment really is. These energies are: |
Điều đó cũng bao hàm sự chuyển tiếp nhanh hơn của các năng lượng khác nhau, hay hoạt động xoắn ốc gia tăng. Đây là một trong những yếu tố dẫn đến sự nhập thể nhanh hơn, và sự đồng hoá nhanh hơn các kinh nghiệm đã học được. Thật kỳ lạ, từ quan điểm của nhà tư tưởng trung bình, yếu tố này lại gây ra các thời kỳ devachan dài hơn, vì các chu kỳ suy xét trí tuệ nội tại này có hoạt động ngày càng gia tăng. Chúng là những chu kỳ điều chỉnh trí tuệ mãnh liệt, và phát sinh mãnh lực cho đến khi (về cuối chu kỳ nhập thể) hoạt động đã được phát sinh trở nên mạnh đến mức tính liên tục của tâm thức trở thành một sự kiện đã hoàn tất. Khi đó con người thường từ bỏ devachan vì y không còn cần đến nó nữa. Những kết quả khác là hoạt động bốn chiều của các “bánh xe” khác nhau, những bánh xe bắt đầu không chỉ quay mà còn “tự quay trên chính mình,” và sự làm sống động bốn loa tuyến của đơn vị hạ trí. Có thể liệt kê một số năng lượng tạo ra động lượng gia tăng trong thể trí, và khi các đạo sinh xem xét chúng, sẽ lại thấy rõ sự khai mở của con người thực sự là một điều phức tạp biết bao. Những năng lượng này là: |
|
1. The direct increasing influence of the solar Angel. |
1. Ảnh hưởng trực tiếp ngày càng tăng của Thái dương Thiên Thần. |
|
Ảnh hưởng này được cảm nhận trong bốn giai đoạn: |
|
|
As the three rows of petals unfold. [Page 1105] |
Khi ba hàng cánh hoa khai mở. [Page 1105] |
|
As the “interior jewel” rays forth more powerfully. |
Khi “viên ngọc nội tại” phát ra mạnh mẽ hơn. |
|
2. The reflex action from the physical personality, or the thought currents sent through in course of time from the physical brain. |
2. Tác động phản hồi từ phàm ngã hồng trần, hay các dòng tư tưởng được gửi qua theo thời gian từ bộ não hồng trần. |
|
3. The activities of the astral body. |
3. Các hoạt động của thể cảm dục. |
|
4. The thought currents or energy units initiated by identification with groups, national, family, racial and egoic. |
4. Các dòng tư tưởng hay các đơn vị năng lượng được khởi phát bởi sự đồng hoá với các nhóm, quốc gia, gia đình, chủng tộc và chân ngã. |
|
5. The currents which impinge upon the mental bodies of all human beings as different Rays pass in and out of incarnation. |
5. Các dòng tác động lên các thể trí của toàn thể nhân loại khi các cung khác nhau đi vào và đi ra khỏi nhập thể. |
|
6. The forces and energies which become active or latent during different cycles. |
6. Các mãnh lực và năng lượng trở nên hoạt động hay tiềm ẩn trong các chu kỳ khác nhau. |
|
7. The interplay between planets, or between systems and constellations, of which an illustration can be seen in the effect of Venusian energy upon our Earth |
7. Sự tương tác giữa các hành tinh, hay giữa các hệ thống và các chòm sao, mà một minh họa có thể thấy trong hiệu quả của năng lượng Kim Tinh lên Trái Đất của chúng ta |
|
and many more factors too numerous to mention. All these energies have their effects, and serve either to speed, or in some cases, to retard the evolutionary process. |
và còn nhiều yếu tố khác quá nhiều không thể kể ra. Tất cả các năng lượng này đều có các hiệu quả của chúng, và hoặc phục vụ để thúc đẩy, hoặc trong một số trường hợp, làm chậm lại tiến trình tiến hoá. |
|
It should be borne in mind by students that all egoic groups come under the Law of Karma, but only as it affects the Heavenly Man, and not the law as it demonstrates in the three worlds. This karmic law, which is the governing impulse of His centres, will show itself in peculiar ways, and as the human monads compose those centres, each group will have its own “activity” problems, will spiral through the round of Being in its own peculiar manner, and will demonstrate qualities and motions different from its brothers. For instance, through withdrawal of energy and not through basic inertia those monads who are the sum total of the centre of creative force of the Heavenly Man show qualities of violent [Page 1106] reaction on the physical plane against certain “laws of nature” and in the period of their transition from the lowest centre to the throat centre of the Heavenly Man, betray qualities of revolt which make them a puzzle to their brothers. |
Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng mọi nhóm chân ngã đều nằm dưới Định luật Nghiệp quả, nhưng chỉ trong chừng mực nó ảnh hưởng đến Đấng Thiên Nhân, chứ không phải định luật như nó biểu lộ trong ba cõi thấp. Định luật nghiệp quả này, vốn là xung lực chi phối các trung tâm của Ngài, sẽ tự biểu lộ theo những cách đặc thù, và vì các chân thần nhân loại cấu thành các trung tâm ấy, mỗi nhóm sẽ có những vấn đề “hoạt động” riêng của mình, sẽ xoắn ốc qua vòng tuần hoàn của Bản Thể theo cách riêng đặc thù của mình, và sẽ biểu lộ các phẩm tính và chuyển động khác với các huynh đệ của mình. Chẳng hạn, do sự rút năng lượng chứ không phải do quán tính căn bản, những chân thần là tổng số của trung tâm mãnh lực sáng tạo của Đấng Thiên Nhân biểu lộ các phẩm tính phản ứng mãnh liệt [Page 1106] trên cõi hồng trần chống lại một số “định luật của bản chất” và trong thời kỳ chuyển tiếp của họ từ trung tâm thấp nhất lên trung tâm cổ họng của Đấng Thiên Nhân, bộc lộ những phẩm tính phản kháng khiến họ trở thành một điều khó hiểu đối với các huynh đệ của mình. |
|
We have now to consider the “frictional activity” of the mental sheath, and the activity of the sheath as it manifests as absorption. These two concern, let us remember, the motion of the mental sheath as a whole. The result of this activity is rotary-spiral progressive action. |
Giờ đây chúng ta phải xem xét “hoạt động ma sát” của thể trí, và hoạt động của thể khi nó biểu lộ như sự hấp thụ. Xin nhớ rằng hai điều này liên quan đến chuyển động của thể trí như một toàn thể. Kết quả của hoạt động này là hành động quay-xoắn ốc-tiến triển. |
|
Frictional activity. This, as is apparent from the words, deals with the “Fire by friction” aspect of substance, and therefore with the lowest aspect of the energy of the mental sheath. The force of the Life within the sheath manifests in the attractive and repulsive action of the individual atoms, and this constant and ceaseless interplay results in the “occult heat” of the body, and its increased radiation. It is one of the factors also which produces the gradual building in of new atoms of substance (ever of a better and more adequate quality) and the expulsion of that which fails to suffice as a medium for intelligent expression. |
Hoạt động ma sát. Điều này, như hiển nhiên từ chính các từ ngữ, liên quan đến phương diện “Lửa ma sát” của chất liệu, và do đó liên quan đến phương diện thấp nhất của năng lượng của thể trí. Mãnh lực của Sự sống bên trong thể biểu lộ trong hành động hút và đẩy của các nguyên tử cá biệt, và sự tương tác liên tục không ngừng này tạo ra “nhiệt huyền bí” của thể, cùng sự bức xạ gia tăng của nó. Đây cũng là một trong những yếu tố tạo ra sự xây dựng dần dần các nguyên tử mới của chất liệu (luôn luôn có phẩm chất tốt hơn và thích hợp hơn) và sự tống xuất những gì không còn đủ để làm môi trường cho sự biểu lộ thông tuệ. |
|
The mental unit is the synthesis of the four types of force with which we are dealing, and of the four expressions of it which we are in process of considering. |
Đơn vị hạ trí là sự tổng hợp của bốn loại mãnh lực mà chúng ta đang bàn đến, và của bốn biểu hiện của nó mà chúng ta đang trong tiến trình xem xét. |
|
Each of the groups of lives which are the living essence of four subplanes and which focalise through one of the spirillae of the unit and thus influence |
Mỗi nhóm sự sống là tinh chất sống của bốn cõi phụ và tập trung qua một trong các loa tuyến của đơn vị và do đó ảnh hưởng đến |
|
a. The sheath itself |
a. Chính thể ấy |
|
b. The man on the physical plane |
b. Con người trên cõi hồng trần |
|
c. Part of the head centre |
c. Một phần của trung tâm đầu |
|
express in greater or less degree these four qualities. |
biểu lộ ở mức độ lớn hay nhỏ bốn phẩm tính này. |
|
It might be noted here that the groups are called certain names by some occult teachers, which names convey [Page 1107] the idea of the active enterprise which is their predominant function. |
Ở đây có thể lưu ý rằng các nhóm này được một số huấn sư huyền bí gọi bằng những tên nhất định, những tên chuyển tải [Page 1107] ý niệm về hoạt động năng động vốn là chức năng nổi trội của chúng. |
|
Các “Sự Sống” trên cõi phụ thứ tư (nơi đơn vị hạ trí có vị trí của nó) được gọi là “Những kẻ hấp thụ cái trên và cái dưới” hay “Các diện mạo truyền dẫn của cấp thứ tư.” Chúng tiếp nhận năng lượng và hấp thụ từ Chân ngã ở một phía trong giai đoạn đầu của tiến trình nhập thể, và ở phía kia hấp thụ các năng lượng của phàm ngã vào lúc kết thúc thời kỳ biểu lộ. Vì vậy, chúng có một hoạt động có thể được xem là tương ứng với phương diện thứ nhất. Khi nhớ rằng tiến trình vũ trụ lặp lại trên mọi cõi, và rằng Chân ngã trong ba cõi thấp tượng trưng cho cái không biểu hiện, thì sẽ thấy rằng chúng là những kẻ phân ly nguyên thủy, và là những “kẻ hủy diệt” cuối cùng. |
|
|
The lives of the next plane (which utilise the second spirilla of the mental unit) are called “The interacting points of cyclic momentum.” These points which gather momentum through the process of attraction and repulsion represent, in the mental body, dual force, for it is only through the coming together and the separation of atoms, great and small, macrocosmic and microcosmic, that manifestation of any kind becomes possible. |
Các sự sống của cõi kế tiếp (những sự sống sử dụng loa tuyến thứ hai của đơn vị hạ trí) được gọi là “Các điểm tương tác của động lượng chu kỳ.” Những điểm này, tích lũy động lượng qua tiến trình hút và đẩy, biểu hiện trong thể trí mãnh lực kép, vì chỉ qua sự tụ hội và phân ly của các nguyên tử, lớn và nhỏ, đại thiên địa và tiểu thiên địa, mà bất kỳ loại biểu lộ nào mới trở nên khả hữu. |
|
On the subplane which is formed of lives functioning through the third spirilla, are found “the points of frictional activity” or the “heat producers” and these three—the absorbers, the points of momentum, and the heat producers, pour their united forces through the “separated lives” which form the real barrier between the next body and the mental sheath. This is only possible when their work is unified and synthesised. The student must here remember that the lives are the expression of one Life but that one or other of the spirillae will be the agency for lives which express specific qualities. We are dealing specifically with the fourth effect of motion in [Page 1108] the mental sheath as it manifests throughout the entire vehicle. |
Trên cõi phụ được tạo thành từ các sự sống hoạt động qua loa tuyến thứ ba, có “các điểm hoạt động ma sát” hay “những kẻ tạo nhiệt,” và ba nhóm này—những kẻ hấp thụ, các điểm động lượng, và những kẻ tạo nhiệt—tuôn các mãnh lực hợp nhất của chúng qua “các sự sống phân ly” tạo thành rào chắn thực sự giữa thể kế tiếp và thể trí. Điều này chỉ có thể khi công việc của chúng được hợp nhất và tổng hợp. Ở đây đạo sinh phải nhớ rằng các sự sống là biểu lộ của một Sự sống duy nhất nhưng một hay một loa tuyến khác sẽ là tác nhân cho các sự sống biểu lộ các phẩm tính đặc thù. Chúng ta đang đặc biệt bàn đến hiệu quả thứ tư của chuyển động trong [Page 1108] thể trí như nó biểu lộ khắp toàn bộ vận cụ. |
|
Sự hấp thụ: Đây là năng lực tạo ra các hình thức của vòng-giới-hạn trí tuệ, và là nguyên khí hoạt động đứng sau biểu lộ devachan vào lúc kết thúc chu kỳ. Qua việc xem xét tiến trình đại thiên địa, đạo sinh có thể đi đến tri thức về sự phân ly của thể trí và hoạt động cá biệt của nó. Chúng ta đang nói đến tiến trình “rút lui thiên giới”; theo định luật tương đồng, không dễ gì có thể theo dõi các bước và giai đoạn khác nhau, và điều này là vì các lý do sau đây: |
|
|
All our planes, being the cosmic physical subplanes, form the logoic physical body. At His final withdrawal from manifestation, He functions in His cosmic astral body, and the cosmic devachan is as yet far from Him, and impossible to conceive of. Certain points, therefore, anent man’s “rest in Heaven” are all that is possible for us to deal with. |
Tất cả các cõi của chúng ta, vì là các cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ, tạo thành thể xác của Thượng đế. Khi Ngài rút khỏi biểu lộ lần cuối, Ngài hoạt động trong thể cảm dục vũ trụ của Ngài, và devachan vũ trụ vẫn còn rất xa đối với Ngài, và không thể quan niệm được. Vì vậy, chỉ có một số điểm liên quan đến “sự nghỉ ngơi trên Thiên giới” của con người là điều chúng ta có thể bàn đến. |
|
Absorption into devachan is absorption into a definite stage of consciousness within the logoic physical body; devachan, therefore, is occultly a state of consciousness, but of consciousness thinking in terms of time and space in the three worlds. It has therefore no location for the unit of consciousness, but has location from the standpoint of the Heavenly Man. Prakriti (matter) and consciousness are—in manifestation—inseparable. |
Sự hấp thụ vào devachan là sự hấp thụ vào một giai đoạn tâm thức xác định bên trong thể xác của Thượng đế; do đó, về mặt huyền bí, devachan là một trạng thái tâm thức, nhưng là tâm thức suy nghĩ theo các phạm trù thời gian và không gian trong ba cõi thấp. Vì vậy, nó không có vị trí đối với đơn vị tâm thức, nhưng lại có vị trí từ quan điểm của Đấng Thiên Nhân. Prakriti (vật chất) và tâm thức—trong biểu lộ—là bất khả phân ly. |
|
The “devachan” of the occult books is connected with the consciousness of the logoic planetary body, and with the gaseous subplane of the cosmic physical plane. It is, consequently, transcended the moment a man begins to function in the cosmic ethers, such as the fourth cosmic ether, the buddhic plane. It is closely allied with certain karmic forces for, whilst in devachan, the man is occupied with the aggregate of the thought forms he has built, [Page 1109] which are essentially of an occult, a mental, and a persistent nature. |
“Devachan” của các sách huyền bí có liên hệ với tâm thức của thể hành tinh của Thượng đế, và với cõi phụ khí của cõi hồng trần vũ trụ. Do đó, nó được vượt qua ngay khi con người bắt đầu hoạt động trong các dĩ thái vũ trụ, chẳng hạn như dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề. Nó có liên hệ mật thiết với một số mãnh lực nghiệp quả vì, trong khi ở devachan, con người bận rộn với tổng thể các hình tư tưởng mà y đã tạo dựng, [Page 1109] vốn về bản chất là huyền bí, trí tuệ, và bền vững. |
|
Chính trong devachan mà con người tạo hình và mài giũa những viên đá được xây vào Đền thờ Solomon. Đó là xưởng làm việc mà các viên đá riêng lẻ (những hành động tốt và tư tưởng tốt) được mang đến để gia công, sau khi được khai thác từ mỏ đá của đời sống cá nhân. |
|
|
Being of mental matter, devachan might be regarded as a centre, or heart of peace, within the periphery of the sphere of influence of the mental unit. The four spirillae form four protecting streams of force. A correspondence to this stream of force can be seen in the four rivers which emanated from the Garden of Eden. Out of this garden man is driven into the world of physical incarnation and the Angel with the flaming sword protects the entrance, driving him back from entry until the time comes when evolution has progressed so far that he can come to the portal laden with stones which can withstand the action of fire. When he submits these stones to the fire and they stand the test, he can enter “Heaven” again, his time though being limited by the nature and the quality of what he brought. |
Vì được làm bằng vật chất trí tuệ, devachan có thể được xem như một trung tâm, hay trái tim bình an, bên trong chu vi của khối cầu ảnh hưởng của đơn vị hạ trí. Bốn loa tuyến tạo thành bốn dòng mãnh lực bảo vệ. Một tương ứng với dòng mãnh lực này có thể thấy trong bốn con sông phát xuất từ Vườn Địa Đàng. Từ khu vườn này con người bị đuổi vào thế giới nhập thể hồng trần và Thiên Thần với thanh gươm rực lửa bảo vệ lối vào, ngăn y trở lại cho đến khi thời điểm đến mà tiến hoá đã tiến xa đến mức y có thể đến trước cổng mang theo những viên đá có thể chịu được tác động của lửa. Khi y đặt những viên đá này vào lửa và chúng đứng vững trước thử thách, y có thể lại bước vào “Thiên giới,” dù thời gian của y vẫn bị giới hạn bởi bản chất và phẩm chất của những gì y đã mang đến. |
|
When the consciousness within devachan has absorbed all the essences of life experience even that locality, or that aspect of matter, cannot enfold him, and he escapes from limitation into the causal vehicle. |
Khi tâm thức trong devachan đã hấp thụ mọi tinh túy của kinh nghiệm sống thì ngay cả địa phương ấy, hay phương diện vật chất ấy, cũng không thể còn bao bọc y nữa, và y thoát khỏi giới hạn để đi vào vận cụ nguyên nhân. |
2. Motion in the Causal Body. |
2. Chuyển động trong thể nguyên nhân. |
|
We have studied somewhat this activity as it manifests in fourfold fashion in the mental sheath, and the reason that there has not been much to say anent this matter has been that the mental sheath comes under the laws of the matter aspect, and is subject to the same rules as are the material vehicles of all existences. It is only matter of a finer grade. The student, therefore, can apply what has been earlier said anent the astral and physical bodies [Page 1110] to the mental body, and thus negate the necessity of our entering upon the subject in greater detail. The causal body differs from the Brahma aspect in that it is a fuller embodiment of the life of the second aspect, its predominant characteristics are those of the second aspect. To study the nature of motion in the causal vehicle involves much clarity of thought, and due appreciation of the nature of that body. |
Chúng ta đã phần nào nghiên cứu hoạt động này khi nó biểu lộ theo lối tứ phân trong thể trí, và lý do khiến không có nhiều điều để nói về vấn đề này là vì thể trí nằm dưới các định luật của phương diện vật chất, và chịu cùng những quy luật như các vận cụ vật chất của mọi hiện hữu. Nó chỉ là vật chất ở một cấp độ tinh tế hơn. Vì vậy, đạo sinh có thể áp dụng vào thể trí những gì đã được nói trước đây về thể cảm dục và thể xác [Page 1110] và như thế loại bỏ sự cần thiết để chúng ta đi vào đề tài này một cách chi tiết hơn. Thể nguyên nhân khác với phương diện Brahma ở chỗ nó là hiện thân đầy đủ hơn của sự sống của phương diện thứ hai; các đặc tính nổi trội của nó là những đặc tính của phương diện thứ hai. Nghiên cứu bản chất của chuyển động trong vận cụ nguyên nhân đòi hỏi sự minh xác lớn trong tư tưởng, và sự đánh giá đúng đắn về bản chất của thể đó. |
|
It should here be remembered that in considering the causal body, we are dealing specifically with the vehicle of manifestation of a solar Angel who is its informing life and who is in process of constructing it, of perfecting it, and of enlarging it, and thus reflecting on a tiny scale the work of the Logos on His own plane. |
Ở đây cần ghi nhớ rằng khi xem xét thể nguyên nhân, chúng ta đang đề cập một cách chuyên biệt đến vận cụ biểu lộ của một Thái dương Thiên Thần, Đấng là sự sống thấm nhuần của nó và đang trong tiến trình kiến tạo nó, hoàn thiện nó, và mở rộng nó, nhờ đó phản ánh ở một quy mô cực nhỏ công việc của Thượng đế trên cõi riêng của Ngài. |
|
Each part of the causal body is actuated by a type of force emanating from some one or other great centre, and it might be of interest, therefore, if we considered the component parts of this “Temple of the Soul,” if we studied the type of animating activity and arrived at a knowledge of the forces playing upon it and through it. We will take them one by one, beginning with the outer row of petals. |
Mỗi phần của thể nguyên nhân được thúc đẩy bởi một loại mãnh lực phát ra từ một đại trung tâm nào đó, và vì vậy sẽ là điều đáng quan tâm nếu chúng ta xem xét các thành phần của “Đền Thờ của Linh Hồn” này, nếu chúng ta nghiên cứu loại hoạt động linh hoạt hóa và đạt đến sự hiểu biết về các mãnh lực tác động lên nó và xuyên qua nó. Chúng ta sẽ lần lượt xét từng phần, bắt đầu với hàng cánh hoa bên ngoài. |
|
The Knowledge Petals. These are the petals which represent the lowest aspect of the Triad and are responsive to the lowest forms of egoic force. These petals are three in number and come under the influence of certain streams of activity. |
Các cánh hoa tri thức. Đây là những cánh hoa biểu hiện phương diện thấp nhất của Tam nguyên tinh thần và đáp ứng với những hình thức thấp nhất của mãnh lực chân ngã. Những cánh hoa này có số lượng là ba và chịu ảnh hưởng của một số dòng hoạt động nhất định. |
|
a. One stream of energy emanates from the lower triad of permanent atoms, particularly the physical permanent atom, via that one of the three petals called the knowledge petal. The stream of force engendered in the lower self circulates in a triple stream (the reflection in the lower self of the threefold Path to God) around the atomic triangle at the base of the egoic lotus. When of sufficient strength and [Page 1111] purity, it affects the outer row of petals. This begins to be felt during the third period of man’s evolution when he is an average intelligent unit or atom. This energy, when it blends with the inherent life of the atomic lives which form the petals, produces eventually that intimate fusing of soul and body which makes man a living soul. |
a. Một dòng năng lượng phát ra từ bộ ba thấp của các Nguyên tử trường tồn, đặc biệt là nguyên tử trường tồn hồng trần, qua một trong ba cánh hoa được gọi là cánh hoa tri thức. Dòng mãnh lực được tạo ra trong phàm ngã lưu chuyển thành một dòng tam phân (sự phản chiếu trong phàm ngã của Con Đường tam phân đến Thượng đế) quanh tam giác nguyên tử ở đáy của Hoa Sen Chân Ngã. Khi đủ mạnh và [Page 1111] thuần khiết, nó ảnh hưởng đến hàng cánh hoa bên ngoài. Điều này bắt đầu được cảm nhận trong thời kỳ thứ ba của tiến hoá con người khi y là một đơn vị hay nguyên tử trí tuệ trung bình. Năng lượng này, khi hòa trộn với sự sống cố hữu của các sự sống nguyên tử tạo thành các cánh hoa, cuối cùng tạo ra sự dung hợp mật thiết giữa linh hồn và thể xác khiến con người trở thành một linh hồn sống động. |
|
b. Another stream of energy emanates in time from the second tier of petals when in activity; this second tier is peculiarly instinctive with the life and quality of the Manasaputra in manifestation. The second tier of petals in any egoic lotus is the one that gives us the key to the nature of the solar Angel, just as the outer tier is—to the inner vision of the Adept—a clue to the point in evolution of the personality. By looking at the egoic lotus, the seer can tell the nature of the: |
b. Một dòng năng lượng khác theo thời gian phát ra từ tầng cánh hoa thứ hai khi tầng này hoạt động; tầng thứ hai này đặc biệt thấm đẫm sự sống và phẩm tính của Manasaputra đang biểu lộ. Tầng cánh hoa thứ hai trong bất kỳ Hoa Sen Chân Ngã nào là tầng cho chúng ta chìa khóa về bản chất của Thái dương Thiên Thần, cũng như tầng ngoài cùng — đối với linh thị bên trong của chân sư — là đầu mối về điểm tiến hoá của phàm ngã. Bằng cách nhìn vào Hoa Sen Chân Ngã, nhà thông nhãn có thể biết được bản chất của: |
|
Personal self through the condition of the atomic triangle, and the outer tier of petals. |
Phàm ngã qua tình trạng của tam giác nguyên tử, và tầng cánh hoa bên ngoài. |
|
Higher Self, through the colour and arrangement of the central tier of petals. This tier gives the “family” of the solar Angel through the arrangement of atomic lives which form the petals, and the circulation of the streams of forces in those petals. |
Bản Ngã Cao Siêu, qua màu sắc và sự sắp xếp của tầng cánh hoa trung tâm. Tầng này cho biết “gia đình” của Thái dương Thiên Thần qua sự sắp xếp của các sự sống nguyên tử tạo thành các cánh hoa, và sự lưu chuyển của các dòng mãnh lực trong những cánh hoa ấy. |
|
Monad, through the inner circle of petals; its stage of lower awareness is revealed in a similar way. |
Chân thần, qua vòng cánh hoa bên trong; giai đoạn nhận biết thấp của nó cũng được tiết lộ theo cách tương tự. |
|
The number of the Ray concerned is known through the quality of the “light” of the concealed jewel. |
Con số của cung liên hệ được biết qua phẩm tính của “ánh sáng” của viên ngọc ẩn kín. |
|
In all these petals, groups of lives, solar and otherwise, are concerned, and streams of energy from them focus through the petals. This is apparent to the man who has the key. It is a curious fact that the streams of force which form the petals and [Page 1112] which are in constant flux produce apparently “key symbols” within the periphery of the egoic wheel, and thus reveal themselves through their activity. |
Trong tất cả các cánh hoa này, các nhóm sự sống, thái dương và những loại khác, đều có liên quan, và các dòng năng lượng từ chúng hội tụ qua các cánh hoa. Điều này hiển nhiên đối với người có chìa khóa. Một sự kiện kỳ lạ là các dòng mãnh lực tạo thành các cánh hoa và [Page 1112] luôn luôn biến động dường như tạo ra các “biểu tượng chìa khóa” trong chu vi của bánh xe chân ngã, và do đó tự bộc lộ qua hoạt động của chúng. |
|
c. Loại năng lượng thứ ba là năng lượng — vào lúc kết thúc tiến hoá — tự làm cho mình được cảm nhận qua vòng cánh hoa bên trong, và là kết quả của sự tuôn vào của mãnh lực chân thần, hay atma. |
|
|
d. Finally, therefore, when the petals are unfolded they are therefore transmitters of life or energy from three sources: |
d. Sau cùng, khi các cánh hoa được khai mở, chúng trở thành những bộ truyền dẫn sự sống hay năng lượng từ ba nguồn: |
|
1. |
The lower self |
Lunar Pitri |
Knowledge petals. |
|
2. |
Ego |
Solar Angel |
Love petals. |
|
3. |
Monad |
Father in Heaven |
Sacrifice petals. |
|
It then becomes possible for a still higher form of energy to be felt, that which is the energy of the centre of the body of the Heavenly Man or planetary Logos, and which uses the “Jewel in the Lotus” as its focal point. |
Khi đó, một hình thức năng lượng còn cao hơn nữa mới có thể được cảm nhận, đó là năng lượng của trung tâm trong thể của Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng đế, và sử dụng “Viên Ngọc trong Hoa Sen” làm tiêu điểm của nó. |
|
In this summation, we have dealt with the main types of energy manifesting in the egoic or causal body. Certain other influences must likewise be considered in connection with the outer tier of petals. |
Trong phần tổng kết này, chúng ta đã bàn đến các loại năng lượng chính biểu lộ trong thể chân ngã hay thể nguyên nhân. Một số ảnh hưởng khác cũng phải được xem xét liên hệ với tầng cánh hoa bên ngoài. |
|
e. There is the energy reaching directly to the knowledge petals from the manasic permanent atom. The permanent atoms of the Spiritual Triad, as well as the bodies which are built around them, bring in certain groups of deva lives which have not as yet been much considered. They are not the lunar pitris, as that term is commonly understood, but have a direct connection with what is called “the cosmic moon” or to that dying solar system which has the same relation to our system as the moon has to the earth chain. This “cosmic [Page 1113] moon” transmits its energy to the manasic atomic subplane, via the planet Saturn. It is a triple energy and there is an esoteric connection between this triple energy, and Saturn’s rings. |
e. Có năng lượng đi trực tiếp đến các cánh hoa tri thức từ nguyên tử trường tồn manas. Các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần, cũng như các thể được xây dựng quanh chúng, đưa vào một số nhóm sự sống thiên thần mà cho đến nay chưa được xem xét nhiều. Chúng không phải là thái âm tổ phụ, theo cách thuật ngữ đó thường được hiểu, mà có liên hệ trực tiếp với cái được gọi là “mặt trăng vũ trụ” hay với hệ mặt trời đang tàn lụi kia, vốn có cùng mối liên hệ với hệ của chúng ta như mặt trăng có với dãy địa cầu. “Mặt trăng vũ trụ” này truyền năng lượng của nó đến cõi phụ nguyên tử manas, qua hành tinh Sao Thổ. Nó là một năng lượng tam phân và có một mối liên hệ huyền bí giữa năng lượng tam phân này với các vành đai của Sao Thổ.[Page 1113] |
|
The old Commentary expresses this truth about an interesting group of sons of manas as follows: |
Cổ Luận diễn tả chân lý này về một nhóm thú vị các con của manas như sau: |
|
“These Sons of mind clung to the old and dying form, and refused to leave their Mother. They chose to pass into dissolution with her, but a younger son (Saturn) sought to rescue his brothers, and to this end he built a triple bridge between the old and new. This bridge persists, and forms a path whereon escape is possible. |
“Những Con của trí tuệ này bám lấy hình tướng cũ đang tàn lụi, và từ chối rời Mẹ của mình. Họ chọn đi vào sự tan rã cùng với Mẹ, nhưng một người con trẻ hơn (Sao Thổ) đã tìm cách cứu các huynh đệ của mình, và vì mục đích đó y đã xây một cây cầu tam phân giữa cái cũ và cái mới. Cây cầu này vẫn tồn tại, và tạo thành một con đường trên đó sự thoát ra là điều có thể. |
|
Some escaped and came to the help of the incarnating Sons of Mind who had left the Mother for the Father. The greater gulf was bridged. The lesser gulf persisted, and must be bridged by the living Sons of Mind themselves.” (This latter clause, refers to the building of the antaskarana.) |
Một số đã thoát ra và đến trợ giúp các Con của Trí Tuệ đang nhập thể, những Đấng đã rời Mẹ để đến với Cha. Hố ngăn cách lớn hơn đã được bắt cầu. Hố ngăn cách nhỏ hơn vẫn còn, và phải được chính các Con của Trí Tuệ đang sống bắt cầu.” (Mệnh đề sau này ám chỉ việc xây dựng antahkarana.) |
|
The energy transmitted from the manasic permanent atom of each incarnating jiva, its union with its reflection, the energy of the mental unit, and the triple stream of force thus created on the mental plane, has its planetary reflection in the relation of Saturn to another planetary scheme, and the three rings which are energy rings, and symbols of an inner verity. |
Năng lượng được truyền từ nguyên tử trường tồn manas của mỗi jiva nhập thể, sự hợp nhất của nó với phản chiếu của nó, năng lượng của đơn vị hạ trí, và dòng mãnh lực tam phân do đó được tạo ra trên cõi trí, có sự phản chiếu hành tinh của nó trong mối liên hệ của Sao Thổ với một hệ hành tinh khác, và ba vành đai là những vành đai năng lượng, đồng thời là biểu tượng của một chân lý nội tại. |
|
f. Energy also pours in upon the knowledge petals from the egoic group, or from the aggregated knowledge petals of all the other lotuses in the group affiliated with any particular solar Angel. These groups have been earlier dealt with. |
f. Năng lượng cũng tuôn vào các cánh hoa tri thức từ nhóm chân ngã, hay từ tổng hợp các cánh hoa tri thức của tất cả các hoa sen khác trong nhóm liên kết với một Thái dương Thiên Thần đặc biệt nào đó. Các nhóm này đã được bàn đến trước đây. |
|
g. Energy is transmitted also to the petals via the groups and emanations from those planetary schemes and streams of force which form the outer petals of that great centre which is our solar system, and which we are told is seen from the higher planes as a twelve-petalled lotus. These streams [Page 1114] do not emanate from the seven sacred planets but from other planetary bodies within the solar Ring-Pass-Not. Streams of force from the Sacred Planets play upon the central tier of petals. Herein lies a hint to the wise student, and a clue to the nature of the lower aspect of the solar Angel. |
g. Năng lượng cũng được truyền đến các cánh hoa qua các nhóm và các phát xạ từ những hệ hành tinh và những dòng mãnh lực tạo thành các cánh hoa bên ngoài của đại trung tâm là hệ mặt trời của chúng ta, và như chúng ta được cho biết, từ các cõi cao hơn nó được thấy như một hoa sen mười hai cánh. Những dòng này [Page 1114] không phát ra từ bảy hành tinh thiêng liêng mà từ các thiên thể khác bên trong vòng-giới-hạn của hệ mặt trời. Các dòng mãnh lực từ các Hành Tinh Thiêng Liêng tác động lên tầng cánh hoa trung tâm. Chính trong đây có một gợi ý cho đạo sinh minh triết, và một đầu mối về bản chất của phương diện thấp của Thái dương Thiên Thần. |
|
The Love Wisdom Petals. The streams of energy playing upon and through this second tier of petals closely resemble those already dealt with, but originate in differing groups of lives (lunar and solar). |
Các cánh hoa Bác Ái – Minh Triết. Các dòng năng lượng tác động lên và xuyên qua tầng cánh hoa thứ hai này rất giống với những dòng đã được bàn đến, nhưng phát sinh từ các nhóm sự sống khác nhau (thái âm và thái dương). |
|
a. The lowest form of energy, reaching this circle, emanates from the lower self, via the astral permanent atom, and the second petal of the outer tier. It is transmuted astral energy; it is more powerful than its correspondence in the first tier, owing to the inherent nature of the astral body, and the fact that it is augmented by the energy of the outer tier itself. This is one of the factors which brings about the more rapid progress made towards the close of the evolutionary period. There are certain streams of force in the evolution of the Monad which might be regarded as embodying for it the line of least resistance and they are specifically beginning at the lowest: |
a. Hình thức năng lượng thấp nhất đi đến vòng này phát ra từ phàm ngã, qua nguyên tử trường tồn cảm dục, và cánh hoa thứ hai của tầng ngoài cùng. Đó là năng lượng cảm dục đã được chuyển hoá; nó mạnh hơn sự tương ứng của nó trong tầng thứ nhất, do bản chất cố hữu của thể cảm dục, và do sự kiện nó được tăng cường bởi năng lượng của chính tầng ngoài cùng. Đây là một trong những yếu tố tạo nên sự tiến bộ nhanh hơn vào lúc gần cuối thời kỳ tiến hoá. Có những dòng mãnh lực nhất định trong sự tiến hoá của chân thần có thể được xem như hiện thân cho nó của con đường ít trở ngại nhất và chúng bắt đầu một cách chuyên biệt từ mức thấp nhất: |
|
a. Emanations from the vegetable kingdom. |
a. Các phát xạ từ giới thực vật. |
|
b. Astral energy. |
b. Năng lượng cảm dục. |
|
c. The energy of the second circle of petals. |
c. Năng lượng của vòng cánh hoa thứ hai. |
|
d. Buddhic force. |
d. Mãnh lực Bồ đề. |
|
e. The activity of the second Logos, planetary or solar. |
e. Hoạt động của Thượng đế thứ hai, hành tinh hay thái dương. |
|
This is, of course, only true of this solar system, being the system of regenerative love. |
Dĩ nhiên, điều này chỉ đúng đối với hệ mặt trời này, vì đây là hệ của tình thương tái sinh. |
|
b. Another form of influencing energy originates in the inner circle of petals, which is the focal point [Page 1115] of force for the Monad, considered as atma. It must be pointed out that the streams of force which form the “petals of will” have a dynamic activity and (when in action) produce very rapid unfoldment. It is the inner of the two types of force; their mutual interplay provides the necessary stimulus, and results in the opening of the bud and the revelation of the Jewel. |
b. Một hình thức năng lượng gây ảnh hưởng khác phát sinh từ vòng cánh hoa bên trong, là tiêu điểm [Page 1115] của mãnh lực cho chân thần, được xét như atma. Cần phải chỉ ra rằng các dòng mãnh lực tạo thành “các cánh hoa ý chí” có một hoạt động năng động và (khi hoạt động) tạo ra sự khai mở rất nhanh. Đây là loại bên trong của hai loại mãnh lực; sự tương tác hỗ tương của chúng cung cấp kích thích cần thiết, và dẫn đến việc nụ hoa mở ra cùng sự mặc khải của Viên Ngọc. |
|
The other types of energy find their correspondence with those already enumerated but I seek only to mention one of them,—that one which reaches the second tier of love petals, via the buddhic permanent atom. The energy thus originating is of a peculiarly interesting kind being the basic energy of all manifestation, and the sum total of the forces which form the sevenfold heart of the physical sun, and which are located within its sheltering luminosity. They in their turn are transmitters of the life-impulses from the heart of the central Spiritual Sun, so that we have a direct graded chain of transmitting energies. |
Các loại năng lượng khác tìm thấy sự tương ứng của chúng với những loại đã được liệt kê, nhưng tôi chỉ muốn nhắc đến một loại trong số đó, — loại đi đến tầng thứ hai của các cánh hoa bác ái, qua nguyên tử trường tồn Bồ đề. Năng lượng phát sinh như thế là một loại đặc biệt thú vị vì nó là năng lượng căn bản của mọi biểu lộ, và là tổng số các mãnh lực tạo thành trái tim thất phân của mặt trời hồng trần, và được định vị bên trong ánh sáng che chở của nó. Đến lượt mình, chúng là những bộ truyền dẫn các xung lực sự sống từ trái tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương, để rồi chúng ta có một chuỗi truyền dẫn năng lượng trực tiếp theo từng cấp. |
|
a. The Heart of the central Spiritual Sun. |
a. Trái tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương. |
|
b. The sevenfold heart of the physical Sun. |
b. Trái tim thất phân của mặt trời hồng trần. |
|
c. The buddhic devas |
c. Các thiên thần Bồ đề |
|
to |
đến |
|
d. The central circle of petals. |
d. Vòng cánh hoa trung tâm. |
|
e. The astral permanent atom. |
e. Nguyên tử trường tồn cảm dục. |
|
f. The heart centre within the Head. |
f. Trung tâm tim trong Đầu. |
|
g. The heart centre. |
g. Trung tâm tim. |
|
This buddhic energy is the sumtotal of the life force of Vishnu or the Son, Who is the transmitter and representative of a still greater cosmic Deity. |
Năng lượng Bồ đề này là tổng số của lực sự sống của Vishnu hay Con, Đấng là bộ truyền dẫn và đại diện của một Thượng đế vũ trụ còn vĩ đại hơn nữa. |
|
All the above serves to demonstrate the oneness of the tiniest unit with the one great informing Life, and shows the integral beauty of the scheme. The life of the greatest cosmic Lord of Love pulsates in infinitesimal degree [Page 1116] in the heart of His tiniest reflection, and for this reason the atom man can likewise say “I too am God; His Life is mine.” |
Tất cả những điều trên chứng minh tính nhất thể của đơn vị nhỏ bé nhất với một Sự sống thấm nhuần vĩ đại duy nhất, và cho thấy vẻ đẹp toàn vẹn của hệ thống. Sự sống của vị Chúa Tể Tình Thương vũ trụ vĩ đại nhất rung động ở mức vô cùng nhỏ [Page 1116] trong trái tim của phản chiếu nhỏ bé nhất của Ngài, và vì lý do này nguyên tử con người cũng có thể nói “Tôi cũng là Thượng đế; Sự sống của Ngài là của tôi.” |
|
The Sacrifice Petals. The energies or forces flowing through, and thus producing activity in the inner tier of petals, the Sacrifice Petals, are again similar in nature to those already enumerated, plus a definite stimulation of power in two directions. |
Các cánh hoa hi sinh. Các năng lượng hay mãnh lực chảy qua, và do đó tạo ra hoạt động trong tầng cánh hoa bên trong, các cánh hoa hi sinh, lại tương tự về bản chất với những loại đã được liệt kê, cộng thêm một sự kích thích quyền năng xác định theo hai hướng. |
|
One stimulating influence comes from the Will Aspect of the Monad, and thus (through transmission) from the first Aspect of the planetary Logos, and the other emanates from the “Sacred Bud which veils the Jewel.” This is a particularly strong vibration because, when the inner circle is unfolded, the jewel is revealed, and the three “veils” or “sacred petals” open successively when the three tiers unfold. |
Một ảnh hưởng kích thích đến từ Phương diện Ý Chí của chân thần, và do đó (qua sự truyền dẫn) từ Phương diện thứ nhất của Hành Tinh Thượng đế, còn ảnh hưởng kia phát ra từ “Nụ Thiêng che phủ Viên Ngọc.” Đây là một rung động đặc biệt mạnh bởi vì, khi vòng bên trong được khai mở, viên ngọc được tiết lộ, và ba “tấm màn” hay “các cánh hoa thiêng” mở ra tuần tự khi ba tầng được khai mở. |
|
It is thus apparent what numerous energising agencies are responsible for the “motion,” occultly understood, of the egoic lotus. There is the inherent life of the atomic units forming each petal, and the circulatory life of the petal itself, regarding it as an individual unit. There is likewise the life of the circle of three petals and to this we must add the unified activity of the outer three circles, or the blending of knowledge forces absorbed from the personal self, of love forces which are the natural energies of the solar Angel, and of sacrifice forces pouring in from the Monad. Thus we have a marvellous aggregate of streams of energies, all representing interior and still greater (because cosmic) energies. |
Do đó, hiển nhiên là có vô số tác nhân tiếp năng lượng chịu trách nhiệm cho “chuyển động”, theo nghĩa huyền bí, của Hoa Sen Chân Ngã. Có sự sống cố hữu của các đơn vị nguyên tử tạo thành mỗi cánh hoa, và sự sống tuần hoàn của chính cánh hoa, khi xem nó như một đơn vị cá biệt. Cũng có sự sống của vòng ba cánh hoa và vào đó chúng ta phải thêm hoạt động hợp nhất của ba vòng bên ngoài, hay sự hòa trộn của các mãnh lực tri thức được hấp thụ từ phàm ngã, của các mãnh lực bác ái là những năng lượng tự nhiên của Thái dương Thiên Thần, và của các mãnh lực hi sinh tuôn vào từ chân thần. Như thế, chúng ta có một tổng hợp kỳ diệu của các dòng năng lượng, tất cả đều biểu hiện những năng lượng nội tại và còn lớn hơn nữa (vì là vũ trụ). |
|
Finally, we have the dynamic force of the “Jewel” at the Heart, which is itself the focal point for the life of the planetary Logos, and through the planetary Logos of all the other Logoi. |
Sau cùng, chúng ta có mãnh lực năng động của “Viên Ngọc” ở Trung Tâm, bản thân nó là tiêu điểm cho sự sống của Hành Tinh Thượng đế, và qua Hành Tinh Thượng đế là của tất cả các Thượng đế khác. |
|
Thus the potentialities latent in the incarnating jiva are stupendous, and he can become as God, provided he submits to the evolutionary process, and does not “refrain [Page 1117] from being stretched upon the wheel.” Thus the expansions of consciousness, which will admit an individual point of spiritual life into the councils, and the Wisdom of the Deity, are no idle promise but are guaranteed by the very constitution of the vehicle employed, and the place in the scheme of the “developing Point,” as the Ego is sometimes called. Naught in time and space can hinder, for every form being simply an expression of energised life, tends to serve every other form. Stimulation of some kind, the tendency to increase the vibration of contacting streams of energy, the accentuation of the activity of each centralised point as it contacts other points in the general heightening of the vibration through the interplay of those forces, all this sweeps the entire system on to its consummation, and to the revelation of the “glory which shall some day be revealed. (Bible. I. Peter, 5:1.) All these forces form the aggregate of what is called “fohatic life.” As the system, or the body of the Logos, is carried forward through the energy in all its parts, so is each infinitesimal part speeded on to its similar individual glorification. The many which form the All, and the units which constitute the One, cannot be differentiated as the consummation is achieved. They are merged, and lost in the general “beatific light,” as it is sometimes called. We can then extend the concept somewhat further, and realise the cosmic interplay which is likewise being carried forward. We can picture the cosmic stimulation and intensification which proceeds as constellations form the units in the Whole instead of planets or human atoms. Whole suns with their allied systems in their immensity play the part of atoms. Thus some idea may be gained of the unified purpose underlying the turning of the great Wheel of the cosmic Heaven, and the working through of the life purposes of those stupendous Existences Who [Page 1118] hold a position in the cosmic Hierarchy similar to that of the “ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID.” |
Như vậy, các tiềm năng tiềm ẩn trong jiva nhập thể là vô cùng to lớn, và y có thể trở nên như Thượng đế, miễn là y thuận phục tiến trình tiến hoá, và không “từ chối [Page 1117] bị căng trên bánh xe.” Như vậy, những sự mở rộng tâm thức, vốn sẽ cho phép một điểm cá biệt của sự sống tinh thần đi vào các hội đồng và Minh triết của Thượng đế, không phải là lời hứa suông mà được bảo đảm bởi chính cấu tạo của vận cụ được sử dụng, và bởi vị trí trong hệ thống của “Điểm đang phát triển,” như Chân ngã đôi khi được gọi. Không gì trong thời gian và không gian có thể cản trở, vì mọi hình tướng, chỉ đơn giản là một biểu hiện của sự sống được tiếp năng lượng, đều có khuynh hướng phụng sự mọi hình tướng khác. Sự kích thích thuộc một loại nào đó, khuynh hướng làm tăng rung động của các dòng năng lượng tiếp xúc, sự nhấn mạnh hoạt động của mỗi điểm được tập trung khi nó tiếp xúc với các điểm khác trong sự nâng cao tổng quát của rung động qua sự tương tác của các mãnh lực ấy, tất cả điều này cuốn toàn bộ hệ thống tiến đến sự viên mãn của nó, và đến sự mặc khải của “vinh quang sẽ có ngày được bày tỏ. (Kinh Thánh. I. Peter, 5:1.) Tất cả các mãnh lực này tạo thành tổng thể của cái được gọi là “sự sống fohat.” Cũng như hệ thống, hay thể của Thượng đế, được đưa tiến lên nhờ năng lượng trong mọi phần của nó, thì mỗi phần vô cùng nhỏ bé cũng được thúc đẩy đến sự vinh hiển cá biệt tương tự của nó. Nhiều cái tạo thành Toàn Thể, và các đơn vị cấu thành Đấng Duy Nhất, không thể bị phân biệt khi sự viên mãn được đạt đến. Chúng được hòa nhập, và mất đi trong “ánh sáng chí phúc” tổng quát, như đôi khi được gọi như vậy. Khi đó chúng ta có thể mở rộng khái niệm thêm đôi chút, và chứng nghiệm sự tương tác vũ trụ cũng đang được xúc tiến. Chúng ta có thể hình dung sự kích thích và tăng cường vũ trụ diễn ra khi các chòm sao tạo thành các đơn vị trong Toàn Thể thay vì các hành tinh hay các nguyên tử người. Những mặt trời toàn vẹn cùng các hệ liên kết của chúng trong sự bao la của chúng đóng vai trò của các nguyên tử. Như vậy có thể đạt được một vài ý niệm về mục đích hợp nhất nằm bên dưới sự quay của Đại Luân Xa của Thiên Đàng vũ trụ, và sự vận hành các mục đích sự sống của những Hiện Hữu vĩ đại ấy, Đấng [Page 1118] giữ một vị trí trong Huyền Giai vũ trụ tương tự như vị trí của “ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ.” |
|
It is not possible to give students an adequate idea of the beauty of the egoic lotus when it has reached the stage of complete unfoldment. The radiancy of its colour is not here referred to, but the brilliancy of the fires, and the rapid scintillation of the ceaselessly moving streams and points of energy. Each petal pulsates with quivering fire “points,” and each tier of petals vibrates with life, whilst at the centre glows the Jewel, raying forth streams of energy from the centre to the periphery of the outermost circle. |
Không thể đem lại cho đạo sinh một ý niệm đầy đủ về vẻ đẹp của Hoa Sen Chân Ngã khi nó đã đạt đến giai đoạn khai mở hoàn toàn. Ở đây không nói đến sự rực rỡ của màu sắc của nó, mà là sự chói sáng của các ngọn lửa, và sự lấp lánh nhanh chóng của các dòng và các điểm năng lượng chuyển động không ngừng. Mỗi cánh hoa rung động với những “điểm” lửa run rẩy, và mỗi tầng cánh hoa rung động với sự sống, trong khi ở trung tâm Viên Ngọc rực sáng, phóng ra các dòng năng lượng từ trung tâm đến chu vi của vòng ngoài cùng. |
|
The fires of living energy circulate around each individual petal and the method of interweaving and the circulation of the fires is (as may be well realised) sevenfold in nature according to the sevenfold nature of the Logos involved. Each circle of petals becomes, as evolution proceeds, likewise active, and revolves around the central Jewel, so that we have, not only the activity of the petals, not only the activity of the living points or the deva lives within the petal circumference, but likewise the unified activity of each tier of the threefold lotus. At a specific stage in evolution, prior to the opening of the central veiling bud, the three tiers of petals, considered as a unit, begin to revolve, so that the entire lotus appears to be in motion. At the final stages the central circle of petals opens, revealing that which is hid, and revolves around the Jewel, only in a contrary direction to the rapidly circulating outer lotus. The reason may not here be revealed for it is hid in the nature of the electric Fire of Spirit itself. |
Các ngọn lửa của năng lượng sống động lưu chuyển quanh mỗi cánh hoa riêng biệt và phương pháp đan kết cùng sự lưu chuyển của các ngọn lửa ấy là (như có thể dễ dàng chứng nghiệm) có bản chất thất phân tùy theo bản chất thất phân của Thượng đế liên hệ. Mỗi vòng cánh hoa cũng trở nên hoạt động khi tiến hoá diễn ra, và quay quanh Viên Ngọc trung tâm, để rồi chúng ta không chỉ có hoạt động của các cánh hoa, không chỉ có hoạt động của các điểm sống động hay các sự sống thiên thần bên trong chu vi cánh hoa, mà còn có hoạt động hợp nhất của mỗi tầng của hoa sen tam phân. Ở một giai đoạn chuyên biệt trong tiến hoá, trước khi nụ che phủ trung tâm mở ra, ba tầng cánh hoa, được xem như một đơn vị, bắt đầu quay, đến nỗi toàn bộ hoa sen dường như đang chuyển động. Ở các giai đoạn cuối cùng, vòng cánh hoa trung tâm mở ra, tiết lộ điều bị che giấu, và quay quanh Viên Ngọc, nhưng theo chiều ngược lại với hoa sen bên ngoài đang lưu chuyển nhanh chóng. Lý do không thể được tiết lộ ở đây vì nó ẩn giấu trong chính bản chất của Lửa Điện của Tinh thần. |
|
The Jewel itself remains occultly static, and does not circulate. It is a point of peace; it pulsates rhythmically as does the heart of man, and from it ray forth eight streams of living fire which extend to the tips of the four love petals and the four sacrifice petals. This eight-fold [Page 1119] energy is atma-buddhi. It is this final raying forth which produces the eventual disintegration of the body of the Ego. The knowledge petals, not being the subject of the attention of this central fire in due time cease to be active; knowledge is superseded by divine wisdom and the love petals have their forces equally absorbed. Naught is eventually left but the desire to “sacrifice,” and as the vibratory impulse is akin to the nature of the living Jewel, it is synthesised in the central living unit and only the Jewel of fire remains. When all the petals have merged their forces elsewhere, the process of revelation is completed. The lower fires die out; the central fire is absorbed, and only the radiant point of electric fire persists. Then a curious phenomenon is to be seen at the final Initiation. The Jewel of fire blazes forth as seven jewels within the one, or as the sevenfold electric spark, and in the intensity of the blaze thus created is reabsorbed into the Monad or the One. This process is paralleled at the final consummation of solar evolution when the seven Suns blaze forth before the great Pralaya. |
Bản thân Viên Ngọc vẫn đứng yên một cách huyền bí, và không lưu chuyển. Nó là một điểm bình an; nó rung động theo nhịp điệu như trái tim con người, và từ nó phóng ra tám dòng lửa sống động kéo dài đến chóp của bốn cánh hoa bác ái và bốn cánh hoa hi sinh. Năng lượng bát phân [Page 1119] này là atma-buddhi. Chính sự phóng chiếu cuối cùng này tạo ra sự tan rã sau cùng của thể Chân ngã. Các cánh hoa tri thức, vì không là đối tượng của sự chú ý của ngọn lửa trung tâm này, đến lúc thích hợp sẽ ngừng hoạt động; tri thức được thay thế bởi minh triết thiêng liêng và các cánh hoa bác ái cũng có các mãnh lực của chúng được hấp thụ tương tự. Cuối cùng không còn lại gì ngoài khát vọng “hi sinh,” và vì xung lực rung động này tương đồng với bản chất của Viên Ngọc sống động, nên nó được tổng hợp trong đơn vị sống động trung tâm và chỉ còn lại Viên Ngọc lửa. Khi tất cả các cánh hoa đã hợp nhất các mãnh lực của chúng ở nơi khác, tiến trình mặc khải được hoàn tất. Các ngọn lửa thấp tắt đi; ngọn lửa trung tâm được hấp thụ, và chỉ còn điểm rực sáng của Lửa Điện tồn tại. Khi đó một hiện tượng kỳ lạ được thấy vào lần điểm đạo cuối cùng. Viên Ngọc lửa bùng cháy như bảy viên ngọc trong một, hay như tia lửa điện thất phân, và trong cường độ của ngọn lửa được tạo ra như thế, nó được tái hấp thụ vào chân thần hay Đấng Duy Nhất. Tiến trình này song hành với sự viên mãn cuối cùng của tiến hoá thái dương khi bảy Mặt Trời bùng cháy trước Đại giai kỳ qui nguyên. |
|
All these modes of expression are but pictures which serve to convey some small idea of the beauty, and the intricacy of the divine process as it is carried on in the microcosm, and in the macrocosm. They all serve to limit and circumscribe the reality, but to the man who has the divine eye in process of opening, and to him who has the faculty of the higher intuition awakened, such pictures serve as a clue or key to the higher interpretation. They reveal to the student certain ideas as to the nature of fire. |
Tất cả những phương thức diễn đạt này chỉ là những bức tranh nhằm truyền đạt một vài ý niệm nhỏ về vẻ đẹp và sự phức tạp của tiến trình thiêng liêng khi nó được thực hiện trong tiểu thiên địa và trong đại thiên địa. Tất cả chúng đều có tác dụng giới hạn và khoanh vùng thực tại, nhưng đối với người mà nhãn pháp thiêng liêng đang trong tiến trình mở ra, và đối với người mà năng lực trực giác cao hơn đã được đánh thức, những bức tranh như thế đóng vai trò như một đầu mối hay chìa khóa cho sự diễn giải cao hơn. Chúng tiết lộ cho đạo sinh một số ý tưởng nhất định về bản chất của lửa. |
|
In concluding what is to be said anent motion in the causal body, I would like to point out that it too—on its own plane—has the three characteristics of inertia, mobility and rhythm. |
Để kết thúc những gì cần nói về chuyển động trong thể nguyên nhân, tôi muốn chỉ ra rằng nó cũng — trên cõi riêng của nó — có ba đặc tính là Quán tính, tính động và nhịp điệu. |
|
Inertia characterises the stage prior to the revolution of the different tiers of petals, and this revolution only begins [Page 1120] to be felt when the petals are becoming active. It might be stated that the passing of the Pilgrim through the Hall of Ignorance corresponds to the period of “egoic inertia.” During this period, the permanent atoms are the most noticeable points of light in the lotus; they constitute the “energy feeders” of the petal. Later, as the Pilgrim on the physical plane becomes more active and the egoic lotus is consequently unfolding with greater rapidity, the stage of mobility supervenes, and the circles commence their revolution. Finally, when the man treads the Path and his purpose is intensified, the central bud unfolds, the revolution is unified, and through the raying forth of the fires of the Jewel, a specific rhythm is imposed upon the lotus, and its energies are stabilised. This rhythm is diverse according to the type of Monad concerned, or the nature of the planetary Logos of a man’s ray, his divine Prototype. |
Quán tính đặc trưng cho giai đoạn trước khi các tầng cánh hoa khác nhau quay, và sự quay này chỉ bắt đầu [Page 1120] được cảm nhận khi các cánh hoa đang trở nên hoạt động. Có thể nói rằng việc Người Hành Hương đi qua Phòng Vô Minh tương ứng với thời kỳ “quán tính chân ngã.” Trong thời kỳ này, các Nguyên tử trường tồn là những điểm sáng đáng chú ý nhất trong hoa sen; chúng cấu thành các “bộ tiếp năng lượng” của cánh hoa. Về sau, khi Người Hành Hương trên cõi hồng trần trở nên hoạt động hơn và do đó Hoa Sen Chân Ngã khai mở nhanh hơn, giai đoạn tính động xuất hiện, và các vòng bắt đầu quay. Sau cùng, khi con người bước trên Con Đường và mục đích của y được tăng cường, nụ trung tâm khai mở, sự quay được hợp nhất, và qua sự phóng chiếu của các ngọn lửa của Viên Ngọc, một nhịp điệu chuyên biệt được áp đặt lên hoa sen, và các năng lượng của nó được ổn định. Nhịp điệu này khác nhau tùy theo loại chân thần liên hệ, hay bản chất của Hành Tinh Thượng đế thuộc cung của một người, Nguyên Mẫu thiêng liêng của y. |
|
By the use of certain terms, information is conveyed to the Workers of the planet, the Brotherhood of Light, as to the nature of Ego concerned, the quality of his Ray, the number of his vibration, and the point of evolution attained. It will be apparent therefore, why it is not permitted here to make public the names of the seven rhythmic groups. |
Bằng việc sử dụng một số thuật ngữ nhất định, thông tin được truyền đạt cho những Người Hoạt Động của hành tinh, Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, về bản chất của Chân ngã liên hệ, phẩm tính của cung của y, con số rung động của y, và điểm tiến hoá đã đạt được. Vì vậy, sẽ hiển nhiên tại sao ở đây không được phép công khai các tên của bảy nhóm nhịp điệu. |
|
One of the effects produced in the lower man via the centres, through the unified activity of the causal body, is the co-ordination of the lower energies of the human being. These lower energies, as we know, demonstrate through the medium of: |
Một trong những hiệu quả được tạo ra trong phàm nhân qua các trung tâm, nhờ hoạt động hợp nhất của thể nguyên nhân, là sự phối hợp các năng lượng thấp của con người. Những năng lượng thấp này, như chúng ta biết, biểu lộ qua trung gian của: |
|
a. The three groups of centres in the three bodies. |
a. Ba nhóm trung tâm trong ba thể. |
|
b. The etheric body itself. |
b. Chính thể dĩ thái. |
|
c. Certain centres in the physical body such as the pineal gland, the pituitary body and the spleen. |
c. Một số trung tâm trong thể xác như tuyến tùng, tuyến yên và lá lách. |
|
We are not here referring to the work of those centres as it is self-initiated because inherent in their very nature, [Page 1121] but to the effects to be seen in them as the three tiers of petals function with increasing coherence, and the force latent in the Jewel makes its presence felt. It might specifically be said that these effects show themselves in a threefold manner: |
Ở đây chúng ta không đề cập đến công việc của các trung tâm ấy khi nó được tự khởi xướng vì vốn có trong chính bản chất của chúng, [Page 1121] mà là đến những hiệu quả được thấy trong chúng khi ba tầng cánh hoa vận hành với sự cố kết ngày càng tăng, và mãnh lực tiềm ẩn trong Viên Ngọc làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận. Có thể nói một cách chuyên biệt rằng những hiệu quả này biểu lộ theo lối tam phân: |
|
First, they cause the group of “wheels” or centres on each plane (or in each of the subtler vehicles) to become fourth dimensional, and to function as “wheels which turn upon themselves.” |
Thứ nhất, chúng khiến nhóm các “bánh xe” hay trung tâm trên mỗi cõi (hay trong mỗi vận cụ tinh tế hơn) trở thành bốn chiều, và vận hành như “những bánh xe tự quay trên chính mình.” |
|
Thứ hai, chúng tạo ra sự phân phối mãnh lực có trật tự bằng việc hình thành các tam giác năng lượng khác nhau bên trong các thể. Điều này đã được bàn đến trước đây, và ở đây chỉ cần chỉ ra rằng chính năng lượng tích lũy trong thể nguyên nhân và từ đó làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, tạo ra giữa các trung tâm sự lưu chuyển huyền bí của mãnh lực, cuối cùng nối kết mỗi trung tâm lại theo một cách hình học đặc biệt, nhờ đó đưa mọi phần của bản chất phàm nhân vào sự phục tùng. |
|
|
Thirdly, they bring about the stimulation of certain of the glands of the body which are deemed at present purely physical, and thus enable the solar Angel to grip and hold to His purpose the dense physical body. |
Thứ ba, chúng đem lại sự kích thích cho một số tuyến của thể mà hiện nay được xem là thuần túy hồng trần, và do đó giúp Thái dương Thiên Thần nắm giữ và duy trì mục đích của Ngài đối với thể xác đậm đặc. |
|
It may be helpful if the student bears in mind the fact that every centre may be considered as an evidence of solar energy or fire, manifesting as a medium of lower energy or fire by friction. Where these centres exist the solar Angel is enabled gradually to impose his rhythm and vibration upon that which vibrates to what is regarded as a lower rhythm. Thus He gradually swings the entire lower form-substance into His control. |
Sẽ hữu ích nếu đạo sinh ghi nhớ sự kiện rằng mỗi trung tâm có thể được xem như một bằng chứng của năng lượng thái dương hay lửa, biểu lộ như một môi trường của năng lượng thấp hơn hay lửa ma sát. Ở nơi nào các trung tâm này hiện hữu, Thái dương Thiên Thần được giúp để dần dần áp đặt nhịp điệu và rung động của ngài lên cái đang rung động theo điều được xem là một nhịp điệu thấp hơn. Như vậy Ngài dần dần đưa toàn bộ chất liệu hình tướng thấp vào sự kiểm soát của Ngài. |
|
Before the final liberation but after the major part of the purificatory and aligning processes are complete, the vehicles of the initiate present a wonderful appearance, due to the streams of energy from the egoic body which [Page 1122] can reach him. The egoic lotus is unfolded, and the central “fire” displayed. Each petal and each circle of petals is pulsating with life and colour, and is in active movement, revolving with great rapidity and with the stream of living energy circulating in every part of the lotus. The three permanent atoms glow and blaze and form, through their rapid revolution and interplay, what appears to be a blazing point of fire, so that it has been called at times “the reflection of the Jewel in the Mother’s forehead.” The eighteen centres on the three planes (four on the mental and seven on each of the two lower planes) are radiant wheels of fire, each group distinguished by a specific colour, and revolving with such rapidity that the eye can scarce follow them. The bodies are formed of the highest grades of substance, each individual atom, therefore, being capable of intensified vibration, and glowing with the light of its own central fire. The etheric body especially is to be noticed as it is a transmitter at this stage of the purest type of prana, and deserves the name sometimes given to it of “the body of the Sun.” It is the envelope which holds the fires of the microcosmic system; in it are centred not only the pranic fires, but those seven centres which are the transmitters of all the higher energies from the Ego, and from the two higher material bodies. All is centralised, and the etheric vehicle waits for use on the physical plane in co-operation with the dense medium until the man can succeed in linking the consciousness of the two aspects of the dense body so that the continuity is preserved. This work accomplished, the three centres which are of a strictly physical nature—the pineal gland, the pituitary body and the spleen-themselves become luminous and radiant, and all the fires of the body are so stimulated that the atoms which form the physical sheath appear to radiate. This is the occult truth behind the belief that every messenger from the Lodge and every Saviour [Page 1123] of man is naturally a healer. The forces which flow through a man whose atoms, centres, sheaths, and causal body form a coherent unit in full and radiant activity are of such strength and purity as to have a definite effect upon the nature of those they contact. They heal, stimulate and increase the vibration of their fellow men. |
Trước khi được giải thoát tối hậu nhưng sau khi phần lớn các tiến trình thanh luyện và chỉnh hợp đã hoàn tất, các vận cụ của điểm đạo đồ biểu lộ một sắc tướng kỳ diệu, do các dòng năng lượng từ thể chân ngã mà [Page 1122] có thể đến được với y. Hoa Sen Chân Ngã được khai mở, và “lửa” trung tâm được hiển lộ. Mỗi cánh hoa và mỗi vòng cánh hoa đều rung động với sự sống và màu sắc, và ở trong chuyển động tích cực, quay với tốc độ lớn cùng với dòng năng lượng sống lưu chuyển trong mọi phần của hoa sen. Ba nguyên tử trường tồn rực sáng và bừng cháy, và qua sự quay nhanh cùng sự tương tác của chúng, tạo thành điều trông như một điểm lửa chói sáng, đến nỗi đôi khi nó được gọi là “sự phản chiếu của Viên Ngọc trên trán của Mẹ.” Mười tám trung tâm trên ba cõi (bốn trên cõi trí và bảy trên mỗi cõi trong hai cõi thấp hơn) là những bánh xe lửa rực rỡ, mỗi nhóm được phân biệt bằng một màu sắc đặc thù, và quay nhanh đến mức mắt hầu như không thể theo kịp. Các thể được cấu thành từ những cấp độ chất liệu cao nhất, vì thế mỗi nguyên tử riêng biệt đều có khả năng rung động mãnh liệt hơn, và rực sáng bằng ánh lửa trung tâm của chính nó. Đặc biệt cần lưu ý đến thể dĩ thái vì ở giai đoạn này nó là một bộ truyền dẫn loại prana tinh khiết nhất, và xứng đáng với tên đôi khi được gọi cho nó là “thể của Mặt Trời.” Nó là lớp bao giữ các ngọn lửa của hệ thống tiểu thiên địa; trong nó tập trung không chỉ các lửa prana, mà còn bảy trung tâm là những bộ truyền dẫn mọi năng lượng cao hơn từ Chân ngã, và từ hai thể chất liệu cao hơn. Mọi sự đều được tập trung hoá, và vận cụ dĩ thái chờ được sử dụng trên cõi hồng trần trong sự hợp tác với môi trường đậm đặc cho đến khi con người có thể thành công trong việc nối kết tâm thức của hai phương diện của thể đậm đặc để sự liên tục được duy trì. Khi công việc này hoàn tất, ba trung tâm có bản chất thuần hồng trần—tuyến tùng quả, thể tuyến yên và lá lách—tự chúng trở nên sáng chói và rực rỡ, và mọi ngọn lửa của thể đều được kích thích đến mức các nguyên tử cấu thành vỏ bọc hồng trần dường như phát quang. Đây là chân lý huyền bí nằm sau niềm tin rằng mọi sứ giả từ Thánh đoàn và mọi Đấng Cứu Thế [Page 1123] của nhân loại theo bản nhiên đều là một người chữa lành. Các mãnh lực tuôn qua một con người mà các nguyên tử, trung tâm, vỏ bọc và thể nguyên nhân của y tạo thành một đơn vị nhất quán trong hoạt động viên mãn và rực sáng thì có sức mạnh và sự tinh khiết đến mức tạo ra một ảnh hưởng xác định lên bản chất của những người mà chúng tiếp xúc. Chúng chữa lành, kích thích và gia tăng rung động của những người đồng loại của y. |
|
All this must be somewhat realised and visioned before a man on the physical plane will be willing to undergo the purifying discipline, and tread the Path whereby he finds his centre and works from that standpoint of power. He has to align these various factors, or energy centres, and thus bring on to the physical plane power to be used in the healing of the nations. When the glory of a man’s inner God is seen, when his radiance shines forth then will it be said of him as of those who have preceded him along the Path: “Then shall the Sun of Righteousness arise with healing in his wings.” (Bible. Malachi, 4:2.) |
Tất cả điều này phải được phần nào chứng nghiệm và hình dung trước khi một người trên cõi hồng trần sẵn lòng trải qua kỷ luật thanh luyện, và bước đi trên Con Đường nhờ đó y tìm thấy trung tâm của mình và hoạt động từ điểm tựa quyền năng ấy. Y phải chỉnh hợp các yếu tố khác nhau này, hay các trung tâm năng lượng, và như thế mang xuống cõi hồng trần quyền năng để dùng vào việc chữa lành các quốc gia. Khi vinh quang của Thượng đế nội tại của một người được nhìn thấy, khi sự rạng ngời của y chiếu tỏa ra, khi ấy người ta sẽ nói về y như đã nói về những vị đi trước y trên Con Đường: “Bấy giờ Mặt Trời của Chính Nghĩa sẽ mọc lên với sự chữa lành trong đôi cánh của mình.” (Kinh Thánh. Malachi, 4:2.) |
|
There are, in connection with human evolution, certain factors which produce definite and important results, when connected with each other through linking streams of energy and therefore consciously functioning. These factors might be considered as follows, dividing them into two groups, each of them emphasising the duality of the microcosmic manifestation: |
Liên quan đến tiến hoá nhân loại, có một số yếu tố tạo ra những kết quả xác định và quan trọng khi được nối kết với nhau qua các dòng năng lượng liên kết và do đó hoạt động một cách hữu thức. Những yếu tố này có thể được xét như sau, chia thành hai nhóm, mỗi nhóm nhấn mạnh tính nhị nguyên của biểu hiện tiểu thiên địa: |
|
Group I. |
Nhóm I. |
|
1. The Knowledge Petals. |
1. Các cánh hoa tri thức. |
|
2. The knowledge petal in each of the two inner circles. |
2. Cánh hoa tri thức trong mỗi một của hai vòng bên trong. |
|
3. The centres on the mental plane. |
3. Các trung tâm trên cõi trí. |
|
4. The throat centre in etheric matter. |
4. Trung tâm cổ họng trong chất liệu dĩ thái. |
|
5. The alta major centre. |
5. Trung tâm alta major. |
|
6. The physical brain. |
6. Bộ não hồng trần. |
|
Group II. |
Nhóm II. |
|
1. The Love Petals. |
1. Các cánh hoa bác ái. |
|
2. The love petal in each circle. [Page 1124] |
2. Cánh hoa bác ái trong mỗi vòng. [Page 1124] |
|
3. The centres on the astral plane. |
3. Các trung tâm trên cõi cảm dục. |
|
4. The heart centre in etheric matter. |
4. Trung tâm tim trong chất liệu dĩ thái. |
|
5. The pituitary body. |
5. Thể tuyến yên. |
|
6. The sympathetic nervous system. |
6. Hệ thần kinh giao cảm. |
|
These various alignments (when functioning with due adjustment) result in the transmission of energy in the first case from the manasic permanent atom, and in the second case from the buddhic permanent atom. It will be apparent, therefore, how important it is that the student duly considers the process of bringing about a uniform alignment, and a conscious appreciation of the vibratory processes of these two groups. As he brings this adjustment about, the effect upon the physical plane will be the manifestation of the powers of the Soul, and of the healing capacity; the man will become a focal point for egoic energy and a server of his race. The black magician brings about similar results by means of the first group, only with the exception that he cannot align the knowledge petals in the two inner groups, as the love-wisdom aspect is atrophied in his case. He does, however, bring through the energy of the manasic permanent atom, for the force of Mahat (of which Manas is an expression) is closely connected with what is erroneously called “evil.” Mahat and cosmic Evil have a close connection. |
Các chỉnh hợp khác nhau này (khi hoạt động với sự điều chỉnh thích đáng) đưa đến sự truyền dẫn năng lượng trong trường hợp thứ nhất từ nguyên tử trường tồn manas, và trong trường hợp thứ hai từ nguyên tử trường tồn Bồ đề. Vì vậy, sẽ thấy rõ tầm quan trọng của việc đạo sinh cân nhắc đúng mức tiến trình tạo ra một sự chỉnh hợp đồng đều, và một sự đánh giá hữu thức về các tiến trình rung động của hai nhóm này. Khi y tạo ra được sự điều chỉnh này, hiệu quả trên cõi hồng trần sẽ là sự biểu lộ các quyền năng của linh hồn, và năng lực chữa lành; con người sẽ trở thành một tiêu điểm cho năng lượng chân ngã và là một người phụng sự cho nhân loại của mình. Nhà hắc thuật cũng tạo ra những kết quả tương tự bằng phương tiện của nhóm thứ nhất, chỉ trừ một điều là y không thể chỉnh hợp các cánh hoa tri thức trong hai nhóm bên trong, vì phương diện bác ái-minh triết đã bị teo lại trong trường hợp của y. Tuy nhiên, y vẫn dẫn truyền năng lượng của nguyên tử trường tồn manas, vì mãnh lực của Mahat (mà Manas là một biểu hiện) có liên hệ mật thiết với điều bị gọi sai lầm là “ác.” Mahat và Ác vũ trụ có một liên hệ gần gũi. |
|
The great Existences Who are the principle of Mahat in its cosmic sense are connected with the lesser existences who express systemic evil. They are the sum total of the separative instrument, and where separation in any form exists, there is to be found ignorance, and therefore evil. Separation negates comprehension, or knowledge of that which is to be found outside the separated consciousness, for separative knowledge entails identification with that which is expressing itself through the medium of a form. Therefore, the Brothers of the Shadow can, and do, reach high levels along one aspect of consciousness, and touch certain specific heights of [Page 1125] spiritual evil, going a great way along the line of Mahat, or knowledge, the principle of Universal Mind. They can reach, in their later stages, expansions of consciousness and of power that will take them far beyond the confines of our solar system, and give them attributes and capacities which prove a menace to the unfolding of the second Aspect. |
Các Đấng Hiện Hữu vĩ đại là nguyên khí của Mahat theo nghĩa vũ trụ có liên hệ với các hiện hữu nhỏ hơn biểu lộ cái ác của hệ thống. Các Ngài là tổng thể của công cụ phân ly, và ở đâu sự phân ly dưới bất kỳ hình tướng nào tồn tại, ở đó có thể tìm thấy vô minh, và do đó là điều ác. Sự phân ly phủ nhận sự thấu hiểu, hay tri thức về điều được tìm thấy bên ngoài tâm thức bị tách biệt, vì tri thức phân ly kéo theo sự đồng hoá với điều đang biểu lộ qua trung gian của một hình tướng. Vì vậy, các Huynh Đệ của Bóng Tối có thể, và thực sự, đạt đến các cấp độ cao theo một phương diện của tâm thức, và chạm tới những đỉnh cao đặc thù nào đó của [Page 1125] điều ác tinh thần, đi rất xa trên đường của Mahat, hay tri thức, nguyên khí của Vũ Trụ Trí. Trong các giai đoạn sau này, họ có thể đạt đến những mở rộng của tâm thức và quyền năng đưa họ vượt xa các giới hạn của hệ mặt trời chúng ta, và ban cho họ những thuộc tính và năng lực chứng tỏ là một mối đe doạ đối với sự khai mở của Phương diện thứ hai. |
|
Nhóm chỉnh hợp thứ nhất, khi không được cân bằng bởi nhóm thứ hai, là con đường của nhà hắc thuật; cuối cùng nó sẽ dẫn y ra khỏi dòng năng lượng ngũ phân mà chúng ta gọi là manas đến con đường vũ trụ của năng lượng fohat, tức cái thuần túy mahatic. Khi ở trên Con Đường đó, có hai hướng mở ra cho y; một hướng sẽ giữ y tiếp xúc với phương diện chất liệu tự nhiên liên quan đến các lần lâm phàm vũ trụ của Thái dương Thượng đế chúng ta; hướng kia sẽ cuốn y đến trung tâm trong vũ trụ là nguồn phát xạ của nguyên khí mahatic; đó là tiêu điểm nơi loại năng lượng làm cho sự biểu hiện hồng trần đậm đặc của các Thượng đế và con người trở nên khả hữu được phát sinh. |
|
|
In making this statement, it is necessary to bear in mind that the dense physical sheath is never considered a principle. It is ever deemed occultly evil. The matter might be more simply expressed by stating that the black adept is frankly concerned with what is termed “the residue of that which earlier was.” He responds to the vibration of the solar system of an earlier greater cycle in which the knowledge, or the manasic principle, was the goal of achievement. He does not respond to the impulse of this solar system, but this lack of response is hid in the karma of the earlier manifestation. As we know, the Sons of Mind or the incarnating jivas are the returning nirvanis of a previous logoic incarnation. They have achieved mind, and need love. Some few, through a mysterious cycle of events inexplainable to man in this solar system, repudiated opportunity and linked themselves with that great deva existence which is the impulse [Page 1126] of the dense physical, and they cannot loose themselves. Their destination, as well as his, is hidden in the plans of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, and in this solar system there is no hope for them. Fortunately, they are little likely to make themselves known to average man; it is the Adepts of the Good Law Who meet them the most often. |
Khi đưa ra phát biểu này, cần ghi nhớ rằng vỏ bọc hồng trần đậm đặc không bao giờ được xem là một nguyên khí. Theo huyền bí học, nó luôn được coi là ác. Vấn đề có thể được diễn đạt đơn giản hơn bằng cách nói rằng chân sư hắc đạo công khai quan tâm đến điều được gọi là “cặn dư của cái đã từng có trước đây.” Y đáp ứng với rung động của hệ mặt trời của một chu kỳ lớn trước kia, trong đó tri thức, hay nguyên khí manas, là mục tiêu thành tựu. Y không đáp ứng với xung lực của hệ mặt trời này, nhưng sự thiếu đáp ứng ấy được che giấu trong nghiệp quả của biểu hiện trước đó. Như chúng ta biết, các Con của Trí Tuệ hay các jiva nhập thể là những nirvani quay trở lại của một lần lâm phàm logoic trước đây. Họ đã đạt được trí tuệ, và cần bác ái. Một số ít, qua một chu kỳ huyền nhiệm của các biến cố không thể giải thích đối với con người trong hệ mặt trời này, đã khước từ cơ hội và tự nối kết với hiện hữu thiên thần vĩ đại là xung lực [Page 1126] của cõi hồng trần đậm đặc, và họ không thể tự giải thoát. Đích đến của họ, cũng như của y, được che giấu trong các kế hoạch của Đấng Bất Khả Tư Nghị, và trong hệ mặt trời này không có hy vọng nào cho họ. May thay, họ rất ít có khả năng tự làm cho mình được biết đến với con người trung bình; chính các chân sư của Chánh đạo là những vị gặp họ thường xuyên nhất. |
|
Chủ đề này cực kỳ phức tạp, nhưng một ít ánh sáng có thể đến nếu chúng ta nhớ rằng manas trên cõi trí được tìm thấy trong hai biểu hiện:—đơn vị hạ trí trên các cấp độ hình tướng và nguyên tử trường tồn manas trên các cõi vô tướng. Hai loại manas này có thể được xem như hiện thân cho các phẩm tính của hai loại, trắng và đen. Chẳng hạn, đơn vị hạ trí hay phương diện trí tuệ của một người, rốt cuộc chỉ là giác quan thứ sáu, và phải được vượt qua bởi thượng trí và trực giác. Huynh đệ bóng tối đưa sự tiến hoá của các giác quan đến một giai đoạn hiện nay con người không thể hình dung nổi và giác quan thứ sáu mahatic này có phạm vi và công dụng đối với họ lớn lao hơn nhiều so với đối với chân sư chánh đạo. Vì vậy, sẽ thấy rõ rằng trong một chu kỳ thời gian dài, nhà hắc thuật có thể tiếp tục tồn tại và phát triển các quyền năng của mình bởi vì một phần ba mãnh lực của Hoa Sen Chân Ngã là của y và y biết rõ cách sử dụng nó một cách lợi hại nhất. Y cũng xây dựng một antaskarana, nhưng có phẩm tính và mục tiêu khác với của đạo sinh Chánh Thuật. Nó được gọi là “con đường của điều ác manas,” và bắt cầu một khoảng cách giữa đơn vị hạ trí của nhà huyền thuật liên hệ, và những tương ứng nào đó trên các cấp độ trí trong các vận cụ của các thiên thần của cõi ấy. Qua trung gian này, và qua sự đồng hoá với các thiên thần, y có thể thoát khỏi ba cõi giới để đến những khối cầu của điều ác mà chúng ta không thể hiểu nổi. Điểm cần ghi nhớ ở đây là nhà hắc thuật mãi mãi vẫn là một tù nhân; y không thể thoát khỏi chất liệu và hình tướng. |
|
|
There is no need to enlarge further on this subject. I would like to enumerate the lines of alignment of the [Page 1127] third group which eventually transcends the other two, and effects the final illumination and liberation of the man. |
Không cần phải khai triển thêm về chủ đề này. Tôi muốn liệt kê các đường chỉnh hợp của [Page 1127] nhóm thứ ba, nhóm cuối cùng vượt lên trên hai nhóm kia, và tạo ra sự soi sáng và giải thoát tối hậu cho con người. |
|
Group III. |
Nhóm III. |
|
1. The Sacrifice Petals. |
1. Các cánh hoa hi sinh. |
|
2. The sacrifice petals in the two outer groups. |
2. Các cánh hoa hi sinh trong hai nhóm bên ngoài. |
|
3. Ba trung tâm chính trên mỗi một trong ba cõi của ba cõi thấp, nhờ đó tạo ra sự hấp thu bốn trung tâm thấp hơn trên mỗi cõi. |
|
|
4. The head centre, or the thousand-petalled lotus. |
4. Trung tâm đầu, hay hoa sen ngàn cánh. |
|
5. The pineal gland, producing the vivification and irradiation of the entire lower nature. |
5. Tuyến tùng quả, tạo ra sự tiếp sinh lực và chiếu xạ cho toàn bộ bản chất thấp. |
|
These three groups of forces in man, when synthesised, produce eventually that perfect co-ordination and adaptation to all conditions, forms and circumstances which eventuate in the escape of the liberated vital spark. This is technically accomplished when the “bud” opens, and it becomes possible for the Hierophant at initiation to liberate the energy of the Monad, and to direct that energy (through the agency of the Rod) so that eventually it circulates free and untrammelled through every part of the lower threefold manifestation. As it circulates, it destroys by burning, for it arouses the kundalini aspect perfectly by the time the fifth Initiation is taken. The destroyer aspect becomes dominated, and the form is “burnt upon the altar.” |
Ba nhóm mãnh lực này trong con người, khi được tổng hợp, cuối cùng tạo ra sự phối hợp hoàn hảo và sự thích ứng với mọi điều kiện, hình tướng và hoàn cảnh, đưa đến sự giải thoát của tia lửa sinh lực được giải phóng. Về mặt kỹ thuật, điều này được hoàn thành khi “nụ” mở ra, và trở nên có thể cho Đấng Điểm đạo trong lễ điểm đạo giải phóng năng lượng của chân thần, và điều hướng năng lượng ấy (qua tác nhân của Thần Trượng Điểm đạo) để cuối cùng nó lưu chuyển tự do và không bị trói buộc qua mọi phần của biểu hiện tam phân thấp. Khi nó lưu chuyển, nó hủy diệt bằng cách thiêu đốt, vì đến lúc lần điểm đạo thứ năm được tiếp nhận, nó đánh thức hoàn toàn phương diện kundalini. Phương diện hủy diệt trở nên bị chế ngự, và hình tướng được “thiêu trên bàn thờ.” |
|
These ideas can also be studied in their larger aspect; a clue to the mystery of cosmic evil may be found in the difference existing between the sacred and non-sacred planets, and in the purpose and place, hitherto unrecognised, of the lives of the informing existences of the many planets and planetoids in the solar system. Some are purely mahatic or of the third Aspect, dominated by the devas. Others (of which the sacred planets are examples) are controlled by the second Aspect, and that second aspect will work through unconquerably into manifestation. [Page 1128] A few, like our Earth planet, are battlegrounds, and the two Aspects are in collision, with the indication of the eventual triumph of the “white” magic. |
Những ý tưởng này cũng có thể được nghiên cứu trong phương diện rộng lớn hơn của chúng; một đầu mối cho huyền nhiệm của điều ác vũ trụ có thể được tìm thấy trong sự khác biệt hiện hữu giữa các hành tinh thiêng liêng và không thiêng liêng, và trong mục đích cùng vị trí, cho đến nay vẫn chưa được nhận ra, của các sự sống của những hiện hữu phú linh cho nhiều hành tinh và tiểu hành tinh trong hệ mặt trời. Một số thuần túy là mahatic hay thuộc Phương diện thứ ba, bị các thiên thần[Page 1128] chi phối. Những hành tinh khác (mà các hành tinh thiêng liêng là ví dụ) được kiểm soát bởi Phương diện thứ hai, và phương diện thứ hai ấy sẽ vận hành một cách bất khả chinh phục để đi vào biểu hiện. Một số ít, như hành tinh Trái Đất của chúng ta, là những chiến trường, và hai Phương diện đang va chạm, với dấu hiệu cho thấy sự chiến thắng cuối cùng của huyền thuật “trắng.” |
VI. EFFECTS OF SYNTHETIC MOTION |
VI. CÁC HIỆU QUẢ CỦA CHUYỂN ĐỘNG TỔNG HỢP |
1. Introductory remarks on alignment. |
1. Những nhận xét mở đầu về sự chỉnh hợp. |
|
The effects of the synthetic activity of the centres, sheaths and causal body produce: |
Các hiệu quả của hoạt động tổng hợp của các trung tâm, các vỏ bọc và thể nguyên nhân tạo ra: |
|
Periodicity of manifestation. |
Tính chu kỳ của biểu hiện. |
|
The linking of the Triangles. |
Sự nối kết của các Tam giác. |
|
The relation between: |
Mối liên hệ giữa: |
|
a. The alta major centre. |
a. Trung tâm alta major. |
|
b. The throat centre. |
b. Trung tâm cổ họng. |
|
c. The centres on the mental plane. |
c. Các trung tâm trên cõi trí. |
|
If we summarize the thoughts conveyed here, we will find that it deals with some aspects of that very necessary alignment which must take place prior to full ability to serve in final liberation. We have studied from many angles the component parts of man, the microcosm, and the mode whereby he manifests on earth in order to express that which lies hidden, and to make his energy felt in the group and place where he finds himself. The constitution of the causal body has been seen to consist of a triple form of energy, with a fourth and more dynamic type of force latent at the heart, ready to demonstrate when the other three forms are active, thus utilising them as a vehicle. We have noted also that there are also three forms of energy which we call the sheaths of the personal self, and which have also to be actively functioning before the triple egoic force can make itself felt through their medium. Added to these factors, must be mentioned the seven centres in etheric matter which find their place in the etheric body, and which awaken and become active as the sheaths swing into rhythmic activity. Of these centres the three major are of the main importance where [Page 1129] egoic alignment is concerned, and their vital force only begins to make itself felt after the lower four are fully active. |
Nếu chúng ta tóm lược những tư tưởng được truyền đạt ở đây, chúng ta sẽ thấy rằng nó bàn đến một số phương diện của sự chỉnh hợp rất cần thiết phải diễn ra trước khi có đầy đủ khả năng phụng sự trong sự giải thoát tối hậu. Chúng ta đã nghiên cứu từ nhiều góc độ các bộ phận cấu thành của con người, tiểu thiên địa, và phương thức nhờ đó y biểu lộ trên trần gian để diễn đạt điều ẩn giấu bên trong, và làm cho năng lượng của mình được cảm nhận trong nhóm và nơi chốn mà y thấy mình ở đó. Cấu tạo của thể nguyên nhân đã được thấy là gồm một hình thức năng lượng tam phân, với một loại mãnh lực thứ tư năng động hơn tiềm ẩn ở trung tâm, sẵn sàng biểu lộ khi ba hình thức kia hoạt động, nhờ đó sử dụng chúng như một vận cụ. Chúng ta cũng đã lưu ý rằng còn có ba hình thức năng lượng mà chúng ta gọi là các vỏ bọc của bản ngã cá nhân, và chúng cũng phải hoạt động tích cực trước khi mãnh lực chân ngã tam phân có thể tự biểu lộ qua trung gian của chúng. Ngoài các yếu tố này, phải kể đến bảy trung tâm trong chất liệu dĩ thái tìm thấy vị trí của chúng trong thể dĩ thái, và thức tỉnh rồi trở nên hoạt động khi các vỏ bọc chuyển vào hoạt động có nhịp điệu. Trong các trung tâm này, ba trung tâm chính là quan trọng nhất ở nơi mà [Page 1129] sự chỉnh hợp chân ngã có liên quan, và sinh lực của chúng chỉ bắt đầu tự biểu lộ sau khi bốn trung tâm thấp hơn hoàn toàn hoạt động. |
|
A second factor which works into the general scheme here is the latent triple kundalini fire which is aroused and mounts through the triple spinal channel just as soon as the three major centres (the head, the heart and the throat) form an esoteric triangle, and can thus pass the fiery energy hidden in each centre in circulatory fashion. To summarise therefore: we have perfected alignment just as soon as the following factors have been put in touch with each other, or as soon as their motion or activity is synthesised; this is a most important subject for students of meditation, and for those who tread the Path of attainment to consider and practically realise. |
Một yếu tố thứ hai đi vào sơ đồ tổng quát ở đây là lửa kundalini tam phân tiềm ẩn được đánh thức và đi lên qua ống sống tam phân ngay khi ba trung tâm chính (đầu, tim và cổ họng) tạo thành một tam giác huyền bí, và do đó có thể truyền năng lượng lửa ẩn trong mỗi trung tâm theo cách tuần hoàn. Vì vậy, để tóm lược: chúng ta có sự chỉnh hợp hoàn hảo ngay khi các yếu tố sau đây đã được đặt vào tiếp xúc với nhau, hay ngay khi chuyển động hoặc hoạt động của chúng được tổng hợp; đây là một chủ đề hết sức quan trọng để các đạo sinh tham thiền, và những ai bước trên Con Đường thành tựu, cân nhắc và thực sự chứng nghiệm. |
|
1. The three tiers of petals. |
1. Ba tầng cánh hoa. |
|
2. The three sheaths. |
2. Ba vỏ bọc. |
|
3. The three major centres. |
3. Ba trung tâm chính. |
|
4. The threefold Kundalini fire. |
4. Lửa Kundalini tam phân. |
|
5. The threefold spinal channel. |
5. Ống sống tam phân. |
|
6. The three head centres, the pineal gland, the pituitary body, the alta major centre. (320) |
6. Ba trung tâm đầu, tuyến tùng quả, thể tuyến yên, trung tâm alta major. (320) |
|
(320) Trung tâm alta major, được hình thành tại điểm mà ống sống tiếp xúc với hộp sọ và vì thế nằm ở phần thấp nhất phía sau đầu, được cấu thành từ cấp thấp nhất của chất liệu dĩ thái: chất liệu của dĩ thái thứ tư, trong khi các trung tâm dĩ thái của các đệ tử được cấu thành từ chất liệu của các dĩ thái cao hơn. (sau) |
|
|
Another factor which must be allowed for in advanced stages of development, is the third eye which is to the occultist and true white magician what the fourth energy centre (the jewel in the lotus) is to the lotus, or to the three tiers of petals. The correspondence is interesting: |
Một yếu tố khác phải được tính đến trong các giai đoạn phát triển cao là con mắt thứ ba, đối với nhà huyền bí học và nhà huyền thuật chánh đạo chân chính, cũng như trung tâm năng lượng thứ tư (viên ngọc trong hoa sen) đối với hoa sen, hay đối với ba tầng cánh hoa. Sự tương ứng này thật thú vị: |
|
The jewel in the lotus is the director of energy from the monad, whilst the third eye directs the energy of the Ego on the physical plane. |
Viên ngọc trong hoa sen là bộ điều hướng năng lượng từ chân thần, trong khi con mắt thứ ba điều hướng năng lượng của Chân ngã trên cõi hồng trần. |
|
The jewel in the Lotus is the centre of force which links [Page 1130] the buddhic and mental planes. When it is to be seen and felt, the man can function consciously on the buddhic plane. The third eye links the awakened physical plane man with the astral or subjective world, and enables him to function consciously there. |
Viên ngọc trong Hoa Sen là trung tâm mãnh lực nối kết [Page 1130] cõi Bồ đề và cõi trí. Khi nó được nhìn thấy và cảm nhận, con người có thể hoạt động một cách hữu thức trên cõi Bồ đề. Con mắt thứ ba nối kết con người đã thức tỉnh trên cõi hồng trần với thế giới cảm dục hay chủ quan, và giúp y có thể hoạt động một cách hữu thức ở đó. |
|
The jewel, or diamond concealed by the egoic lotus, is the window of the Monad or Spirit whereby he looks outward into the three worlds. The third eye is the window of the Ego or soul functioning on the physical plane whereby he looks inward into the three worlds. |
Viên ngọc, hay kim cương được che giấu bởi Hoa Sen Chân Ngã, là cửa sổ của chân thần hay tinh thần nhờ đó y nhìn ra ngoài vào ba cõi giới. Con mắt thứ ba là cửa sổ của Chân ngã hay linh hồn đang hoạt động trên cõi hồng trần nhờ đó y nhìn vào bên trong ba cõi giới. |
|
The jewel in the lotus is situated between manas and buddhi whilst the third eye is found between the right and left eyes. |
Viên ngọc trong hoa sen nằm giữa manas và Bồ đề trong khi con mắt thứ ba được tìm thấy giữa mắt phải và mắt trái. |
|
One of the main functions of the Master in this cycle (though not in all cycles) is to teach His pupil how to reconcile all these factors, how to synthesise their various modes of motion or expression, and how to co-ordinate them all so that the vibration is uniform. When energy from the Ego controls, or imposes its rhythm upon the various sheaths via their respective major centres, when the triple fire is mounting in orderly fashion via the triple channel, and when the three head centres are united in triangular fashion, then we have illumination or the irradiance of the entire personality life, darkness gives place to light, and the Sun of Knowledge arises and dispels the darkness of ignorance. The minor centres are concerned with the internal co-ordination of the sheath, the major with the group co-ordination or the interrelation of one sheath to another. The man becomes a burning and a shining light, radiating forth a light which burns from within. |
Một trong những chức năng chính của Chân sư trong chu kỳ này (dù không phải trong mọi chu kỳ) là dạy đệ tử của Ngài cách điều hòa tất cả các yếu tố này, cách tổng hợp các phương thức chuyển động hay biểu hiện khác nhau của chúng, và cách phối hợp tất cả chúng để rung động được đồng đều. Khi năng lượng từ Chân ngã kiểm soát, hay áp đặt nhịp điệu của nó lên các vỏ bọc khác nhau qua các trung tâm chính tương ứng của chúng, khi lửa tam phân đang đi lên một cách có trật tự qua ống tam phân, và khi ba trung tâm đầu được hợp nhất theo hình tam giác, khi ấy chúng ta có sự soi sáng hay sự chiếu xạ của toàn bộ đời sống phàm ngã, bóng tối nhường chỗ cho ánh sáng, và Mặt Trời của Tri Thức mọc lên xua tan bóng tối của vô minh. Các trung tâm phụ liên quan đến sự phối hợp nội tại của vỏ bọc, các trung tâm chính liên quan đến sự phối hợp nhóm hay mối tương quan giữa vỏ bọc này với vỏ bọc khác. Con người trở thành một ánh sáng đang cháy và đang chiếu, phát tỏa một ánh sáng bừng cháy từ bên trong. |
|
When the next step is accomplished, and the energy of the Monad, focussed through the jewel, makes itself felt also on the physical plane, passing through the triple egoic lotus via the channels already utilised by the Ego, [Page 1131] we have a man who is “inspired,” who is a spiritual creator, and who is himself “a Sun of Healing Radiance.” |
Khi bước kế tiếp được hoàn thành, và năng lượng của chân thần, được tập trung qua viên ngọc, cũng tự biểu lộ trên cõi hồng trần, đi qua Hoa Sen Chân Ngã tam phân theo các kênh đã được sử dụng bởi Chân ngã, [Page 1131] chúng ta có một con người “được cảm hứng,” là một đấng sáng tạo tinh thần, và chính y là “một Mặt Trời của Bức Xạ Chữa Lành.” |
|
These are the objectives before all those who tread the path and the goal ahead for those who follow the necessary discipline of life, and the stages of unfoldment through meditation. There are, needless to say, certain modes of work and mantric formulas known to the Masters which enable Them to hasten the process (when necessary) for Their disciples, but these are secrets scrupulously guarded and not frequently used. The usual method, a lengthy and laborious one, is to let the pupil find out each step of the way for himself, to teach him the constitution of his own body, the nature of the sheaths, and the function and apparatus of energy and so let him gradually become aware of the forces latent in himself. What is meant by the “three periodical vehicles” and the seven principles or qualities of force, is slowly revealed to him, and through experience, experiment, frequent failures, occasional success, mature reflection and introspection, and frequent incarnation, he is brought to the point where he has produced a certain measure of alignment through self-induced and continuous effort. He is then taught how to utilise that alignment, and how to manipulate energy consciously so that he can bring about on the physical plane results in service that for many lives have been probably a dream or an impossible vision. When he is proficient in these two things—stabilisation and manipulation—then, and only then, are committed to him the words and secrets which produce the demonstration on the physical plane of spiritual, or monadic, energy by means of the soul or egoic energy, utilising in its turn the energy of the material forms in the worlds, or what we might call bodily energy. This has been expressed in the following mystical and occult phrase: |
Đó là những mục tiêu đặt ra trước tất cả những ai bước trên con đường và là đích đến phía trước cho những ai tuân theo kỷ luật sống cần thiết, cùng các giai đoạn khai mở qua tham thiền. Dĩ nhiên, có những phương thức làm việc và những công thức mantram nào đó mà các Chân sư biết, giúp Các Ngài đẩy nhanh tiến trình (khi cần thiết) cho các đệ tử của mình, nhưng đó là những bí mật được gìn giữ hết sức cẩn mật và không thường được sử dụng. Phương pháp thông thường, dài lâu và nhọc nhằn, là để đệ tử tự mình khám phá từng bước trên đường, dạy y về cấu tạo của chính thể mình, bản chất của các vỏ bọc, và chức năng cùng bộ máy của năng lượng, và như thế để y dần dần nhận biết các mãnh lực tiềm ẩn trong chính mình. Điều được hàm ý bởi “ba vận cụ chu kỳ” và bảy nguyên khí hay phẩm tính của mãnh lực được từ từ mặc khải cho y, và qua kinh nghiệm, thử nghiệm, nhiều lần thất bại, đôi khi thành công, suy tư chín chắn và nội quan, cùng nhiều lần lâm phàm, y được đưa đến điểm mà y đã tạo ra được một mức độ chỉnh hợp nào đó bằng nỗ lực liên tục do chính mình khởi phát. Khi ấy y được dạy cách sử dụng sự chỉnh hợp ấy, và cách vận dụng năng lượng một cách hữu thức để có thể tạo ra trên cõi hồng trần những kết quả trong phụng sự mà có lẽ trong nhiều kiếp sống chỉ là một giấc mơ hay một linh ảnh bất khả. Khi y thành thạo trong hai điều này—sự ổn định hoá và sự vận dụng—thì, và chỉ khi ấy, những lời và bí mật tạo ra sự biểu lộ trên cõi hồng trần của năng lượng tinh thần, hay chân thần, bằng phương tiện của năng lượng linh hồn hay chân ngã, sử dụng đến lượt nó năng lượng của các hình tướng vật chất trong các cõi, hay điều chúng ta có thể gọi là năng lượng thể xác, mới được giao phó cho y. Điều này đã được diễn đạt trong cụm từ thần bí và huyền bí sau đây: |
|
“When the jewel sparkles as does the diamond under the influence of the rays of the blazing sun, then the setting likewise [Page 1132] gleams and rays forth light. As the diamond shines with increasing brilliance, the fire is generated which sets on fire that which held and enclosed.” |
“Khi viên ngọc lấp lánh như kim cương dưới ảnh hưởng của các tia của mặt trời rực cháy, thì giá đỡ cũng [Page 1132] lóe sáng và phát ra ánh sáng. Khi kim cương chiếu sáng với độ rực rỡ ngày càng tăng, ngọn lửa được phát sinh, thiêu cháy điều đã giữ và bao bọc nó.” |
2. Motion produces periodic manifestation. |
2. Chuyển động tạo ra biểu hiện có chu kỳ. |
|
We must here bear in mind, that we are considering synthetic alignment in connection with the second aspect, and are therefore dealing with the activity of those forms of divine manifestation which are nearing their objective. This objective might be defined as ability to vibrate synchronously with the greater unit of which it is a part. This must, therefore, be considered by the student in seven ways. |
Ở đây chúng ta phải ghi nhớ rằng chúng ta đang xét sự chỉnh hợp tổng hợp liên quan đến phương diện thứ hai, và vì vậy đang bàn đến hoạt động của những hình thức biểu hiện thiêng liêng đang tiến gần mục tiêu của chúng. Mục tiêu này có thể được định nghĩa là khả năng rung động đồng bộ với đơn vị lớn hơn mà nó là một phần. Vì vậy, đạo sinh phải xem xét điều này theo bảy cách. |
|
The first three ways concern the relation of the perfected or nearly perfected units in the three kingdoms of nature with their immediate group soul, and their continued manifestation in any particular kingdom. |
Ba cách đầu tiên liên quan đến mối quan hệ của các đơn vị đã hoàn thiện hoặc gần hoàn thiện trong ba giới của tự nhiên với hồn nhóm trực tiếp của chúng, và sự biểu hiện liên tục của chúng trong bất kỳ giới đặc thù nào. |
|
Fourth, the relation of the disciple, or man on the path, to his immediate group, and the laws which govern his reappearance in physical incarnation. |
Thứ tư, mối quan hệ của đệ tử, hay con người trên đường đạo, với nhóm trực tiếp của mình, và các định luật chi phối sự tái xuất hiện của y trong lâm phàm hồng trần. |
|
Fifth, the relation of a planetary Spirit to His group of planets, and the processes of man’s obscuration, or withdrawal, from physical plane manifestation. |
Thứ năm, mối quan hệ của một Tinh thần hành tinh với nhóm hành tinh của Ngài, và các tiến trình làm mờ đi, hay rút lui, của con người khỏi biểu hiện trên cõi hồng trần. |
|
Sixth, the relation of the major three planetary Spirits, or the three major aspects of the Logos and their manifestation. |
Thứ sáu, mối quan hệ của ba Tinh thần hành tinh chính, hay ba phương diện chính của Thượng đế và sự biểu hiện của các Ngài. |
|
Seventh, the relation of the informing Life of a solar system to the group of constellations of which He forms part, and His periodic manifestation. |
Thứ bảy, mối quan hệ của Sự Sống phú linh của một hệ mặt trời với nhóm chòm sao mà Ngài là một phần, và sự biểu hiện có chu kỳ của Ngài. |
|
These subjects have been touched upon when we studied incarnation and, earlier still, when considering pralaya or obscuration, but we dealt then with them in general terms. We might now deal more specifically with the final activities, or modes of motion, in these various congeries of lives, and see what occurs during the final stages of conscious existence, and of limited manifestation. The subject [Page 1133] is peculiarly abstruse, particularly where the elemental groups are concerned, but certain interesting points might here be brought out which will bear the closest study. Let us consider the three lower kingdoms first and pass later to the methods and activities of a human being, of a planetary Logos, and of a solar Logos. |
Những chủ đề này đã được đề cập khi chúng ta nghiên cứu sự lâm phàm và, sớm hơn nữa, khi xem xét pralaya hay sự làm mờ đi, nhưng khi ấy chúng ta đã bàn đến chúng theo những nét tổng quát. Giờ đây chúng ta có thể bàn cụ thể hơn về các hoạt động cuối cùng, hay các phương thức chuyển động, trong những tập hợp sự sống khác nhau này, và xem điều gì xảy ra trong các giai đoạn cuối của sự tồn tại hữu thức, và của biểu hiện hữu hạn. Chủ đề này [Page 1133] đặc biệt khó hiểu, nhất là khi liên quan đến các nhóm hành khí, nhưng ở đây có thể nêu ra một số điểm thú vị đáng được nghiên cứu hết sức kỹ lưỡng. Trước tiên, chúng ta hãy xét ba giới thấp rồi sau đó chuyển sang các phương pháp và hoạt động của một con người, của một Hành Tinh Thượng đế, và của một Thái dương Thượng đế. |
|
The appearance, and the final disappearance, of any manifested Life is intimately concerned with the possession, the evolutionary development, and the final disintegration, of the permanent atom. Permanent atoms, as the term is usually understood, are the property of those lives only who have achieved self-consciousness, or individuality, and therefore relative permanence in time and space. The permanent atom may be viewed as the focal point of manifestation on any particular plane. It serves, if I may use so peculiar a term, as the anchor for any particular individual in any particular sphere, and this is true of the three great groups of self-conscious Lives: |
Sự xuất hiện, và sự biến mất cuối cùng, của bất kỳ Sự sống biểu hiện nào đều liên hệ mật thiết với việc sở hữu, sự phát triển tiến hoá, và sự tan rã cuối cùng, của nguyên tử trường tồn. Các nguyên tử trường tồn, theo cách thuật ngữ này thường được hiểu, chỉ là tài sản của những sự sống đã đạt được ngã thức, hay biệt ngã tính, và do đó có tính trường tồn tương đối trong thời gian và không gian. Nguyên tử trường tồn có thể được xem như tiêu điểm của biểu hiện trên bất kỳ cõi đặc thù nào. Nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ kỳ lạ như vậy, nó phục vụ như chiếc neo cho bất kỳ cá thể đặc thù nào trong bất kỳ khối cầu đặc thù nào, và điều này đúng với ba nhóm lớn của các Sự Sống tự ý thức: |
|
a. The incarnating Jivas, or human beings, |
a. Các Jiva nhập thể, hay con người, |
|
b. The planetary Logoi, |
b. Các Hành Tinh Thượng đế, |
|
c. The solar Logos. |
c. Thái dương Thượng đế. |
|
We must remember here that all the atomic subplanes of the seven planes form the seven spirillae of the logoic permanent atom, for this has a close bearing upon the subject under consideration. |
Ở đây, chúng ta phải nhớ rằng mọi cõi phụ nguyên tử của bảy cõi hợp thành bảy loa tuyến của Nguyên tử trường tồn logoic, vì điều này có liên hệ mật thiết đến chủ đề đang được bàn đến. |
|
The units, therefore, in the three lower kingdoms possess no permanent atoms but contribute to the formation of those atoms in the higher kingdoms. Certain wide generalisations might here be made, though too literal or too identified an interpretation should not be put upon them. |
Vì vậy, các đơn vị trong ba giới thấp không sở hữu các Nguyên tử trường tồn nhưng góp phần vào sự hình thành các nguyên tử ấy trong các giới cao hơn. Ở đây có thể đưa ra một vài khái quát hóa rộng lớn, dù không nên diễn giải chúng quá sát nghĩa hay quá đồng hoá. |
|
First, it might be said that the lowest or mineral kingdom provides that vital something which is the essence of the physical permanent atom of the human being. It provides that energy which is the negative basis for the [Page 1134] positive inflow which can be seen pouring in through the upper depression of the physical permanent atom. |
Trước hết, có thể nói rằng giới thấp nhất hay giới kim thạch cung cấp cái gì đó thiết yếu, là tinh túy của nguyên tử trường tồn hồng trần của con người. Nó cung cấp năng lượng là nền tảng âm cho dòng tuôn đổ dương tính được thấy đang đổ vào qua chỗ lõm phía trên của nguyên tử trường tồn hồng trần.[Page 1134] |
|
Thứ hai, giới thực vật cũng tương tự như vậy, cung cấp năng lượng âm cho nguyên tử trường tồn cảm dục của con người, và thứ ba, giới động vật cung cấp mãnh lực âm mà khi được tiếp năng lượng bởi dương tính thì được thấy như là đơn vị hạ trí. Năng lượng này do ba giới thấp đóng góp được cấu thành từ rung động cao nhất mà mỗi giới ấy có thể đạt được, và phục vụ như một mối liên kết giữa con người với các thể khác nhau của y, tất cả đều có liên hệ với giới thấp này hay giới thấp khác. |
|
a. |
The mental body |
mental unit |
animal kingdom. |
|
b. |
The astral body |
astral permanent atom |
vegetable kingdom. |
|
c. |
The physical body |
physical permanent atom |
mineral kingdom. |
|
In man these three types of energy are brought together, and synthesised, and when perfection of the personality is reached, and the vehicles aligned, we have: |
Trong con người, ba loại năng lượng này được tập hợp lại và tổng hợp, và khi sự hoàn thiện của phàm ngã đạt tới, và các vận cụ được chỉnh hợp, thì chúng ta có: |
|
a. |
The energy of the mental unit |
positive. |
|
b. |
The energy of the astral permanent atom |
equilibrised. |
|
c. |
The energy of the physical permanent atom |
negative. |
|
Man is then closely linked with the three lower kingdoms by the best that they can provide, and they have literally given him his permanent atoms, and enabled him to manifest through their activity. The above three groups might be studied also from the standpoint of the three Gunas: (321) [Page 1135] |
Khi ấy, con người được liên kết chặt chẽ với ba giới thấp bằng điều tốt nhất mà chúng có thể cung cấp, và theo nghĩa đen, chúng đã trao cho y các nguyên tử trường tồn của y, và giúp y biểu lộ qua hoạt động của chúng. Ba nhóm trên cũng có thể được nghiên cứu từ quan điểm của ba Guna: (321) [Page 1135] |
|
(321) “Do đó, mọi Thượng đế biểu hiện đều được nói đến như một Tam Vị. Sự kết hợp của ba Phương diện này, hay ba giai đoạn biểu hiện, tại các điểm tiếp xúc bên ngoài của chúng với vòng tròn, tạo nên Tam giác căn bản tiếp xúc với Vật chất; cùng với ba Tam giác được tạo thành bởi các đường do Điểm vạch ra, như vậy tạo nên Tetractys thiêng liêng, đôi khi được gọi là Bộ Bốn Vũ trụ, tức ba Phương diện thiêng liêng tiếp xúc với Vật chất, sẵn sàng sáng tạo. Trong tính toàn thể của chúng, đây là đại hồn của vũ trụ đang thành hình. |
|
|
“Under Form we may first glance at the effects of these Aspects as responded to from the side of Matter. These are not, of course, due to the Logos of a system, but are the correspondences in universal Matter with the Aspects of the universal Self. The Aspect of Bliss, or Will, imposes on Matter the quality of Inertia-Tamas, the power of resistance, stability, quietude. The Aspect of Activity gives to Matter its responsiveness to action—Rajas, mobility. The Aspect of Wisdom gives it Rhythm—Sattva, vibration, harmony. It is by the aid of Matter thus prepared that the Aspects of Logoic Consciousness can manifest themselves as Beings.”—A Study in Consciousness, by Annie Besant, p. 9. (back) |
“Dưới khía cạnh Hình tướng, trước hết chúng ta có thể lướt nhìn các hiệu quả của những Phương diện này khi được đáp ứng từ phía Vật chất. Dĩ nhiên, các hiệu quả này không phải do Logos của một hệ thống tạo ra, mà là các tương ứng trong Vật chất vũ trụ với các Phương diện của Bản Ngã vũ trụ. Phương diện Chí phúc, hay Ý chí, áp đặt lên Vật chất phẩm tính Quán tính-Tamas, quyền năng kháng cự, sự ổn định, sự tĩnh tại. Phương diện Hoạt động ban cho Vật chất khả năng đáp ứng với hành động—Rajas, tính động. Phương diện Minh triết ban cho nó Nhịp điệu—Sattva, rung động, hòa điệu. Chính nhờ sự trợ giúp của Vật chất đã được chuẩn bị như thế mà các Phương diện của Tâm thức Logoic có thể biểu lộ như những Hữu thể.”—Nghiên Cứu về Tâm Thức, của Annie Besant, tr. 9. (trở lại) |
|
1. |
Tamas |
inertia |
mineral kingdom |
physical permanent atom. |
|
2. |
Rajas |
activity |
vegetable kingdom |
astral permanent atom. |
|
3. |
Sattva |
rhythm |
animal kingdom |
mental unit. |
|
All these must be regarded only from the point of view of the personality, the lower self, or not-self. In illustration of this idea, it might be pointed out that when the animal body of prehuman man was rhythmically adjusted, and had attained its highest or sattvic vibration, then individualisation became possible, and a true human being appeared in manifestation. |
Tất cả những điều này chỉ phải được xem xét từ quan điểm của phàm ngã, phàm ngã, hay vô ngã. Để minh họa cho ý tưởng này, có thể chỉ ra rằng khi thể động vật của con người tiền nhân loại được điều chỉnh theo nhịp điệu, và đã đạt tới rung động cao nhất hay sattva của nó, thì sự biệt ngã hóa trở nên khả hữu, và một con người đích thực xuất hiện trong biểu hiện. |
|
Each kingdom is positive to the one next below it, and between them is found that period of manifestation which bridges the two, and connects the positive and the negative. The types of most intense rajas or activity in the mineral kingdom are found in those forms of life which are neither mineral nor vegetable but which bridge the two. Similarly in the vegetable kingdom, the rajas period is seen in fullest expression just before the activity becomes rhythmic and the vegetable merges in the animal. In the animal kingdom the same is seen in the animals which individualise, passing out of the group soul into separated identity. These types of activity must be regarded as constituting for the mineral, physical activity, for the vegetable, sentient activity, and for the animal, rudimentary mental activity. |
Mỗi giới đều dương đối với giới ngay bên dưới nó, và giữa chúng có giai đoạn biểu hiện bắt cầu giữa hai giới, nối kết dương và âm. Những loại rajas hay hoạt động mãnh liệt nhất trong giới kim thạch được tìm thấy trong những dạng sự sống không hẳn là khoáng vật cũng không hẳn là thực vật mà là những dạng bắt cầu giữa hai giới. Tương tự, trong giới thực vật, giai đoạn rajas được thấy biểu lộ đầy đủ nhất ngay trước khi hoạt động trở nên có nhịp điệu và thực vật hòa nhập vào động vật. Trong giới động vật, điều tương tự được thấy nơi những con vật biệt ngã hóa, đi ra khỏi hồn nhóm để vào bản sắc tách biệt. Những loại hoạt động này phải được xem là cấu thành, đối với giới kim thạch, hoạt động hồng trần; đối với giới thực vật, hoạt động cảm giác; và đối với giới động vật, hoạt động trí tuệ sơ khai. |
|
When this triple activity is achieved it might be noted that the dense physical body of the solar or planetary Logos is fully developed, and conscious contact can then [Page 1136] be made with the etheric or vital body. It is this contact which produces man, for Spirit (as man understands the term) is after all but the energy, vitality, or essential life of the solar, or planetary Logos. Its correspondence in man is prana. A comprehension of this will be brought about if man realises that all the planes of our solar system are but the seven subplanes of the cosmic physical plane. It is the realisation of this which will eventually unite science and religion, for what the scientist calls energy, the religious man calls God, and yet the two are one, being but the manifested purpose, in physical matter, of a great extra-systemic Identity. Nature is the appearance of the physical body of the Logos, and the laws of nature are the laws governing the natural processes of that body. The Life of God, His energy, and vitality, are found in every manifested atom; His essence indwells all forms. This we call Spirit, yet He Himself is other than those forms, just as man knows himself to be other than his bodies. He knows himself to be a will, and a purpose, and as he progresses in evolution that purpose and will become to him ever more consciously defined. So with the planetary Logos and solar Logos. They dwell within, yet are found without, the planetary scheme or solar system. |
Khi hoạt động tam phân này đạt được, cần lưu ý rằng thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế hay Hành Tinh Thượng đế được phát triển đầy đủ, và khi đó có thể thiết lập sự tiếp xúc có ý thức với thể dĩ thái hay thể sinh lực.[Page 1136] Chính sự tiếp xúc này tạo ra con người, vì Tinh thần (theo cách con người hiểu thuật ngữ này) rốt cuộc chỉ là năng lượng, sinh lực, hay sự sống cốt yếu của Thái dương Thượng đế hay Hành Tinh Thượng đế. Sự tương ứng của nó trong con người là prana. Sự thấu hiểu điều này sẽ đến nếu con người nhận ra rằng mọi cõi của hệ mặt trời chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ. Chính sự chứng nghiệm điều này cuối cùng sẽ hợp nhất khoa học và tôn giáo, vì điều mà nhà khoa học gọi là năng lượng thì người có tôn giáo gọi là Thượng đế, nhưng cả hai là một, chỉ là mục đích biểu hiện trong vật chất hồng trần của một Bản Sắc vĩ đại ngoài hệ thống. Thiên nhiên là sắc tướng của thể xác của Logos, và các định luật của thiên nhiên là các định luật chi phối những tiến trình tự nhiên của thể ấy. Sự Sống của Thượng đế, năng lượng và sinh lực của Ngài, được tìm thấy trong mọi nguyên tử biểu hiện; tinh túy của Ngài ngự bên trong mọi hình tướng. Chúng ta gọi điều này là Tinh thần, tuy nhiên chính Ngài lại khác với những hình tướng ấy, cũng như con người biết mình khác với các thể của mình. Con người biết mình là một ý chí và một mục đích, và khi y tiến bộ trong tiến hoá, mục đích và ý chí ấy ngày càng được xác định một cách hữu thức hơn đối với y. Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế cũng vậy. Các Ngài ngự bên trong, nhưng cũng được tìm thấy bên ngoài, hệ hành tinh hay hệ mặt trời. |
|
It is useful to remember that in the three lower kingdoms, manifestation, or appearance on the physical plane, is ever group manifestation and not the appearance of separated units. Each group soul, as it is called, is divided into seven parts which appear in each of the seven races of a world period, and there is an interesting distinction between them and the units of the human kingdom. When portions of the group soul in one of its seven parts are out of incarnation they are to be found on the astral plane, even though the Mother group soul is found on the mental plane. Human units of the fourth kingdom when out of incarnation pass through the astral to the mental and descend again to incarnation from mental levels. [Page 1137] Each group soul, therefore, subjectively forms a triangle of force with one point (the highest) to be found on the mental plane, the lowest on the etheric levels of the physical plane, and another on the astral plane. The third point for the mineral group-soul is found on the second subplane of the astral, the vegetable on the third, and the animal on the fourth. It is owing to the fact that a centre of force for the animal group soul is found on the fourth subplane of the astral plane that it is possible for transference eventually to be made out of that kingdom into the fourth. |
Thật hữu ích khi nhớ rằng trong ba giới thấp, sự biểu hiện, hay sắc tướng trên cõi hồng trần, luôn luôn là sự biểu hiện theo nhóm chứ không phải sắc tướng của các đơn vị tách biệt. Mỗi hồn nhóm, như cách gọi, được chia thành bảy phần xuất hiện trong mỗi một trong bảy nhân loại của một thời kỳ thế giới, và có một sự khác biệt thú vị giữa chúng với các đơn vị của giới nhân loại. Khi các phần của hồn nhóm trong một trong bảy phần của nó ở ngoài lâm phàm, chúng được tìm thấy trên cõi cảm dục, dù hồn nhóm Mẹ lại được tìm thấy trên cõi trí. Các đơn vị nhân loại của giới thứ tư khi ở ngoài lâm phàm thì đi qua cõi cảm dục đến cõi trí và lại giáng xuống để nhập thể từ các cấp độ trí tuệ. [Page 1137] Vì vậy, mỗi hồn nhóm về mặt chủ quan tạo thành một tam giác lực với một điểm (cao nhất) được tìm thấy trên cõi trí, điểm thấp nhất trên các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần, và một điểm khác trên cõi cảm dục. Điểm thứ ba đối với hồn nhóm khoáng vật được tìm thấy trên cõi phụ thứ hai của cõi cảm dục, đối với thực vật là cõi phụ thứ ba, và đối với động vật là cõi phụ thứ tư. Chính vì một trung tâm lực của hồn nhóm động vật được tìm thấy trên cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục mà cuối cùng có thể có sự chuyển dịch từ giới ấy sang giới thứ tư. |
|
Certain laws govern the appearance periodically of the three kingdoms of nature, which are the laws of involution, the laws of the elemental kingdoms, and the laws of the three great groups which hold the germs and seeds of all manifested forms. We have in logoic manifestation the following seven groups for consideration: |
Một số định luật chi phối sự xuất hiện theo chu kỳ của ba giới trong thiên nhiên, đó là các định luật của giáng hạ tiến hoá, các định luật của các giới hành khí, và các định luật của ba nhóm lớn nắm giữ các mầm và hạt giống của mọi hình tướng biểu hiện. Trong biểu hiện logoic, chúng ta có bảy nhóm sau đây để xem xét: |
|
1. 2. 3. Three groups of superhuman existence: |
1. 2. 3. Ba nhóm tồn tại siêu nhân loại: |
|
a. The group forming the Father aspect of which little can here be predicated. |
a. Nhóm tạo thành phương diện Cha, về nhóm này ở đây chỉ có thể nói được rất ít. |
|
b. The group of seven planetary Logoi. |
b. Nhóm bảy Hành Tinh Thượng đế. |
|
c. The group of seven raja devas, or the life of each of the physical planes. |
c. Nhóm bảy raja deva, hay sự sống của mỗi cõi hồng trần. |
|
4. A group of solar lives who are the manasaputras or man. |
4. Một nhóm các Sự sống Thái Dương là các manasaputra hay con người. |
|
5. 6. 7. Three groups of elemental lives, who form the three involutionary elemental kingdoms. |
5. 6. 7. Ba nhóm sự sống hành khí, tạo thành ba giới hành khí giáng hạ tiến hoá. |
|
These three lower groups achieve concretion, and enter the upward arc, through the medium of the three lower kingdoms. The fourth group is the most important in some ways during the present cycle for it borrows from all the other six groups and is therefore the synthesis of energies taken from each and manifested. The higher three groups are closely allied, and until a man has passed out of the period of existence wherein he is controlled by [Page 1138] that which he has borrowed from the three lower kingdoms, he cannot comprehend the nature and purpose of the three higher. We might express the matter as follows: |
Ba nhóm thấp này đạt đến sự kết tụ và đi vào cung đi lên qua trung gian của ba giới thấp. Nhóm thứ tư, nhóm nhân loại, theo một số phương diện là quan trọng nhất trong chu kỳ hiện nay vì nó vay mượn từ cả sáu nhóm kia và do đó là sự tổng hợp của các năng lượng được lấy từ mỗi nhóm và được biểu hiện. Ba nhóm cao có liên hệ mật thiết với nhau, và cho đến khi con người vượt ra khỏi giai đoạn tồn tại trong đó y bị chi phối bởi [Page 1138] điều mà y đã vay mượn từ ba giới thấp, y không thể hiểu được bản chất và mục đích của ba nhóm cao. Chúng ta có thể diễn đạt vấn đề như sau: |
|
The three higher groups are sattvic. |
Ba nhóm cao là sattva. |
|
The three lower groups are tamasic. |
Ba nhóm thấp là tamas. |
|
The fourth group, or human, is rajasic. |
Nhóm thứ tư, hay nhân loại, là rajas. |
|
Again, the three higher groups are energised by three streams of force which enter along the line of the three spirillae of the logoic permanent atom. The three lower groups are energised by energy entering by the three lowest spirillae (which we call the three lowest planes) and these spirillae energise the logoic dense body, were vitalised in the previous solar system, and are no longer in any way controlling factors in logoic existence. The fourth group, the human, is energised by the force of the fourth spirilla, to which we give the name of buddhic energy, and this fourth group has, therefore, the problem of bringing about conditions whereby the buddhic vibrations may dominate the other, and lower, three. It is this imposition which eventually releases the human units, and permits of their passing into the higher group. The elemental group souls find correspondences in the higher—first, in the human kingdom in the three main groups of Egos, in whom the three types of energy predominate; again in the three main or major planetary groups, and finally in the three aspects. |
Một lần nữa, ba nhóm cao được tiếp năng lượng bởi ba dòng mãnh lực đi vào theo đường của ba loa tuyến của Nguyên tử trường tồn logoic. Ba nhóm thấp được tiếp năng lượng bởi năng lượng đi vào qua ba loa tuyến thấp nhất (mà chúng ta gọi là ba cõi thấp nhất), và các loa tuyến này tiếp năng lượng cho thể đậm đặc logoic, đã được tiếp sinh lực trong hệ mặt trời trước, và không còn là những yếu tố kiểm soát trong tồn tại logoic nữa. Nhóm thứ tư, nhóm nhân loại, được tiếp năng lượng bởi mãnh lực của loa tuyến thứ tư, mà chúng ta gọi là năng lượng Bồ đề, và vì vậy nhóm thứ tư này có vấn đề là phải tạo ra những điều kiện nhờ đó các rung động Bồ đề có thể chi phối ba rung động khác thấp hơn. Chính sự áp đặt này cuối cùng giải thoát các đơn vị nhân loại và cho phép họ đi vào nhóm cao hơn. Các hồn nhóm hành khí có những tương ứng ở các nhóm cao hơn—trước hết, trong giới nhân loại nơi ba nhóm chính của các chân ngã, trong đó ba loại năng lượng chiếm ưu thế; kế đó trong ba nhóm hành tinh chính hay lớn; và cuối cùng trong ba phương diện. |
|
Elemental group |
animal kingdom |
Sattvic |
Solar Logos |
Uranus. |
|
Father aspect. |
||||
|
Elemental group |
vegetable kingdom |
Rajasic |
Planetary Logoi |
Neptune. |
|
Son aspect |
||||
|
Elemental group |
mineral kingdom |
Tamasic |
Plane devas. |
Saturn. |
|
Mother, Brahma aspect. |
|
[Page 1139] The fourth or human group, unites all three lives. The periodic manifestation of the three elemental groups (through the medium of the three lower kingdoms) is, therefore, governed by factors hidden in the nature of that great vibration which we call tamasic, or heavy rhythm. It is the vibration of Brahma, the third aspect, the mother or matter aspect. Their appearance, therefore, is one of a very slow manifestation, the seven subsidiary vibrations bringing in one or other of the seven groups of each group soul in a very slow alternation. The cycles cannot be given; two things only can be said: the appearance of these groups as units in manifestation is controlled by three factors: |
[Page 1139] Nhóm thứ tư hay nhóm nhân loại hợp nhất cả ba sự sống. Vì vậy, sự biểu hiện theo chu kỳ của ba nhóm hành khí (qua trung gian của ba giới thấp) được chi phối bởi những yếu tố ẩn giấu trong bản chất của rung động lớn mà chúng ta gọi là tamas, hay nhịp điệu nặng nề. Đó là rung động của Brahma, phương diện thứ ba, phương diện mẹ hay vật chất. Do đó, sự xuất hiện của chúng là một sự biểu hiện rất chậm, bảy rung động phụ lần lượt đưa vào nhóm này hay nhóm kia trong bảy nhóm của mỗi hồn nhóm theo một sự luân phiên rất chậm. Không thể nêu ra các chu kỳ; chỉ có thể nói hai điều: sự xuất hiện của các nhóm này như những đơn vị trong biểu hiện được kiểm soát bởi ba yếu tố: |
|
1. The moon, for these are the many lunar fathers. |
1. Mặt trăng, vì đây là nhiều vị cha thái âm. |
|
2. Cung đang biểu hiện vào bất kỳ thời điểm nào. |
|
|
3. The karma of the informing Life of any kingdom. |
3. Nghiệp quả của Sự sống thấm nhuần bất kỳ giới nào. |
|
The second consideration is the karma and life-history of the planetary entity. He sleeps and awakes; he is the embodiment of tamas, and as he progresses and evolves so do the lower kingdoms. |
Điều xem xét thứ hai là nghiệp quả và lịch sử sự sống của thực thể hành tinh. Y ngủ và thức; y là hiện thân của tamas, và khi y tiến bộ và tiến hoá thì các giới thấp cũng vậy. |
|
The lunar pitris are to the planetary entity what the three major centres are to man or to the Logoi. The lunar Pitris who contribute the human form are (to the planetary entity) the correspondence to the head centre. Those who are the fathers of the vegetable forms correspond to his heart centre, whilst the Pitris of the mineral kingdom are analogous to the throat centre. This is all very obscure but hints of much value lie here. |
Các thái âm tổ phụ đối với thực thể hành tinh cũng như ba trung tâm chính đối với con người hay đối với các Thượng đế. Các thái âm tổ phụ góp phần tạo nên hình tướng con người là (đối với thực thể hành tinh) sự tương ứng với trung tâm đầu. Những vị là cha của các hình tướng thực vật tương ứng với trung tâm tim của y, trong khi các tổ phụ của giới kim thạch tương tự với trung tâm cổ họng. Tất cả điều này rất mơ hồ nhưng ở đây có những gợi ý rất giá trị. |
|
It is not possible to give much further information relative to the periodical appearing of the subhuman forms of life. The subject is too obscure, and the detail too vast. Until the student has fitted himself to appreciate [Page 1140] the symbolic, or hieroglyphic writings of the adepts, (322) it is impossible for him to grasp the matter. Much of the teaching on this matter is found in records in the department of the Manu, as it concerns primarily the initial stages of form building. It might be said that the appearance of any life in manifestation is due to primary activity on the part of some Entity, which activity is largely the expression of the first Ray. This concerns the periodical manifestation of the life or lives of any round just as it concerns also the ephemeral existence of a dragon fly; it deals with the form through which what we call a race is evolving and concerns itself with the tiny life of an individual in that race. The same laws govern all, though the response to the law may be relative and in degree. This law has the generic name of the “Law of Cycles,” and is expressed in terms of time; [Page 1141] but the secret to the cycles may not as yet be given as it would convey to the intuitive too much dangerous information. It is the knowledge of this law as it concerns rounds, races, subraces, groups (involutionary and evolutionary) and individuals (human and superhuman) which enables the Lords of Karma, and the Adepts of the good Law, to manipulate force or energy, and so carry all that is, on to its triumphant conclusion. In connection with this, students may get much light on this difficult question of force if they bear in mind that every form in every kingdom on the downward, and the upward arc, is in itself a negative force impelled into activity by a positive force and demonstrating as a combination of the two. The distinctions are demonstrated in the fact that some forms are negative-positive, others positive-negative, whilst still others are at the point of equilibrium. This includes all the intermediate stages. The Builders of the cosmos work under cyclic law consciously, and utilise the aggregate of these forces in any kingdom, any group or any unit to bring about the consummation of the plan. |
Không thể đưa ra thêm nhiều thông tin liên quan đến sự xuất hiện theo chu kỳ của các hình tướng sự sống dưới nhân loại. Chủ đề này quá mơ hồ, và chi tiết thì quá bao la. Cho đến khi đạo sinh tự chuẩn bị để đánh giá đúng [Page 1140] các văn tự biểu tượng hay tượng hình của các chân sư, (322) thì y không thể nắm được vấn đề. Phần lớn giáo huấn về vấn đề này được tìm thấy trong các hồ sơ thuộc bộ phận của Đức Manu, vì nó chủ yếu liên quan đến các giai đoạn đầu của việc kiến tạo hình tướng. Có thể nói rằng sự xuất hiện của bất kỳ sự sống nào trong biểu hiện là do hoạt động sơ khởi từ phía một Thực Thể nào đó, mà hoạt động này phần lớn là biểu hiện của Cung một. Điều này liên quan đến sự biểu hiện theo chu kỳ của sự sống hay các sự sống của bất kỳ cuộc tuần hoàn nào, cũng như liên quan đến sự tồn tại ngắn ngủi của một con chuồn chuồn; nó bàn đến hình tướng mà qua đó cái chúng ta gọi là một nhân loại đang tiến hoá và cũng liên quan đến sự sống nhỏ bé của một cá nhân trong nhân loại ấy. Cùng những định luật ấy chi phối tất cả, dù sự đáp ứng với định luật có thể là tương đối và khác nhau về mức độ. Định luật này có tên gọi chung là “Định luật Chu kỳ,” và được biểu lộ bằng các thuật ngữ của thời gian; [Page 1141] nhưng bí mật của các chu kỳ hiện chưa thể được tiết lộ vì nó sẽ truyền cho người trực giác quá nhiều thông tin nguy hiểm. Chính sự hiểu biết định luật này trong chừng mực nó liên quan đến các cuộc tuần hoàn, các nhân loại, các giống dân phụ, các nhóm (giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá) và các cá nhân (nhân loại và siêu nhân loại) giúp các Đấng Nghiệp Quả, và các chân sư của Định luật thiện lành, có thể vận dụng mãnh lực hay năng lượng, và như vậy đưa mọi cái đang hiện hữu đến kết cuộc vinh quang của nó. Liên quan đến điều này, các đạo sinh có thể nhận được nhiều ánh sáng về vấn đề khó khăn này của mãnh lực nếu họ ghi nhớ rằng mọi hình tướng trong mọi giới trên cung đi xuống và cung đi lên, tự thân đều là một mãnh lực âm được thúc đẩy vào hoạt động bởi một mãnh lực dương và biểu lộ như một sự kết hợp của cả hai. Các khác biệt được biểu lộ ở chỗ một số hình tướng là âm-dương, một số khác là dương-âm, trong khi một số khác nữa ở tại điểm quân bình. Điều này bao gồm mọi giai đoạn trung gian. Các đấng kiến tạo của vũ trụ làm việc dưới định luật chu kỳ một cách hữu thức, và sử dụng tổng thể các mãnh lực này trong bất kỳ giới, bất kỳ nhóm hay bất kỳ đơn vị nào để hoàn thành Thiên Cơ. |
|
(322) Các biểu tượng. |
|
|
“In a symbol lies concealment or revelation.”—Carlyle. |
“Trong một biểu tượng có sự che giấu hay sự mặc khải.”—Carlyle. |
|
1. Symbols are intended for:— |
1. Các biểu tượng được dùng cho:— |
|
a. The little evolved. They teach great truths in simple form. |
a. Những người ít tiến hoá. Chúng dạy những chân lý lớn dưới hình thức đơn giản. |
|
b. The bulk of humanity. They preserve truth intact and embody cosmic facts. |
b. Đại đa số nhân loại. Chúng bảo tồn chân lý nguyên vẹn và hàm chứa các sự kiện vũ trụ. |
|
c. The pupils of the Masters. They develop intuition. |
c. Các môn sinh của các Chân sư. Chúng phát triển trực giác. |
|
2. Symbolic books in the Master’s archives used for instruction. These books are interpreted:— |
2. Những sách biểu tượng trong văn khố của Chân sư được dùng để giảng dạy. Những sách này được giải thích:— |
|
a. By their colour. |
a. Bằng màu sắc của chúng. |
|
b. By their position, i.e. above, on and beneath a line. |
b. Bằng vị trí của chúng, tức là ở trên, trên, và dưới một đường. |
|
c. By their connection with each other. |
c. Bằng mối liên hệ của chúng với nhau. |
|
d. By their key. One page may be read four ways:— |
d. Bằng chìa khóa của chúng. Một trang có thể được đọc theo bốn cách:— |
|
1. From above downwards…. involution. |
1. Từ trên xuống dưới…. giáng hạ tiến hoá. |
|
2. From beneath upwards……evolution. |
2. Từ dưới lên trên……tiến hoá. |
|
3. Right to left…………..greater cycles, etc. |
3. Từ phải sang trái…………. các chu kỳ lớn hơn, v.v. |
|
4. Left to right…lesser cycles. |
4. Từ trái sang phải…các chu kỳ nhỏ hơn. |
|
3. The three keys:— |
3. Ba chìa khóa:— |
|
1. Cosmic interpretation. The symbols standing for cosmic facts. i.e., Darkness. Light. The cross. The triangle. |
1. Giải thích vũ trụ. Các biểu tượng tượng trưng cho các sự kiện vũ trụ. Thí dụ: Bóng tối. Ánh sáng. Thập giá. Tam giác. |
|
2. Systemic interpretation. Dealing with evolution of system and all therein. |
2. Giải thích hệ thống. Bàn đến sự tiến hoá của hệ thống và mọi thứ trong đó. |
|
3. Human interpretation. Dealing with man himself. The cross of humanity. Seven-branched candlestick. |
3. Giải thích nhân loại. Bàn đến chính con người. Thập giá của nhân loại. Chân đèn bảy nhánh. |
|
4. Four kinds of symbols:— |
4. Bốn loại biểu tượng:— |
|
1. Symbols of extraneous objects physical… plane things. |
1. Biểu tượng của các vật thể bên ngoài thuộc hồng trần… những vật trên cõi hồng trần. |
|
2. Symbols of emotional nature.. astral plane things; pictures. |
2. Biểu tượng của bản chất cảm xúc.. những sự vật trên cõi cảm dục; các hình ảnh. |
|
3. Numerical symbolism… Lower mental. Man used himself to count by. |
3. Biểu tượng số học… cõi hạ trí. Con người từng dùng chính mình để đếm. |
|
4. Geometrical symbolism… abstract symbolism, higher mental. (back) |
4. Biểu tượng hình học… biểu tượng trừu tượng, cõi thượng trí. (trở lại) |
|
It would interest men much if they could see and interpret some of the records in the hierarchical records, for in them men and angels, minerals and elements, animals and vegetables, kingdoms and groups, Gods and ants are specified in terms of energy formulas and by a scrutiny of these records the approximate increase of vibration in any form of any kind can be found out at any time. This might be expressed in terms also of the Gunas; it will be found by disciples (when permitted access to the records) that they themselves, along with every other expression of the divine life, are described by a triple formula which conveys to the mind of the initiate the proportions of tamas or inertia, of rajas or activity, and of sattva or rhythm to be found in any form. This, therefore, through correspondences, imparts knowledge as to past achievement, present opportunity and the immediate [Page 1142] future of any unit or embodied life, manifesting under any of the three aspects. |
Con người sẽ rất quan tâm nếu họ có thể thấy và giải thích một số hồ sơ trong hồ sơ của Thánh đoàn, vì trong đó con người và thiên thần, khoáng vật và nguyên tố, động vật và thực vật, các giới và các nhóm, các Thượng đế và loài kiến đều được xác định bằng các công thức năng lượng và bằng cách khảo xét các hồ sơ này, sự gia tăng gần đúng của rung động trong bất kỳ hình tướng nào thuộc bất kỳ loại nào đều có thể được biết vào bất cứ lúc nào. Điều này cũng có thể được diễn đạt bằng các thuật ngữ của các Guna; các đệ tử sẽ thấy (khi được phép tiếp cận các hồ sơ) rằng chính họ, cùng với mọi biểu hiện khác của sự sống thiêng liêng, được mô tả bằng một công thức tam phân truyền đạt cho trí tuệ của điểm đạo đồ các tỷ lệ của tamas hay quán tính, của rajas hay hoạt động, và của sattva hay nhịp điệu được tìm thấy trong bất kỳ hình tướng nào. Vì vậy, thông qua các tương ứng, điều này truyền đạt tri thức về thành tựu quá khứ, cơ hội hiện tại và tương lai gần nhất [Page 1142] của bất kỳ đơn vị hay sự sống nhập thể nào, biểu lộ dưới bất kỳ một trong ba phương diện nào. |
|
Một loạt hồ sơ khác trong các biên bản cung cấp—dưới một công thức khác—thông tin về điều được gọi một cách huyền bí là “nội dung nhiệt” của bất kỳ đơn vị nào, “ánh sáng bức xạ” của bất kỳ hình tướng nào, và “mãnh lực từ tính” của mọi sự sống. Chính nhờ tri thức này mà các Lipika kiểm soát sự đi vào và sự ra đi của mọi Sự sống, thiêng liêng, siêu nhân loại, thái dương và nhân loại, và chính nhờ việc xem xét công thức là công thức căn bản cho một hệ mặt trời mà sắc tướng trên cõi hồng trần của một Thái dương Thượng đế được kiểm soát, và độ dài của một giai kỳ qui nguyên vũ trụ được quyết định. Chúng ta không được quên rằng các Đấng Lipika của hệ mặt trời có những nguyên mẫu vũ trụ của Các Ngài, và rằng Các Ngài có những phản ánh nhân loại yếu ớt và dò dẫm nơi các nhà khoa học thiên văn lớn đang nỗ lực xác định các sự kiện liên quan đến các thiên thể, vì họ một cách tiềm thức nhận biết sự hiện hữu của các công thức vũ trụ này, vốn truyền đạt thông tin về trọng lượng riêng, cấu tạo, bức xạ, lực hút từ tính, nhiệt và ánh sáng của bất kỳ mặt trời, hệ mặt trời hay chòm sao nào. Nhiều người trong số họ trong các thời đại tương lai xa xôi sẽ đạt đến sự thấu hiểu trọn vẹn, và sẽ được giao phó các công thức ấy để chăm nom, nhờ đó gia nhập hàng ngũ các Lipika. Đây là một đường lối đặc biệt, đòi hỏi nhiều chu kỳ huấn luyện cẩn trọng trong toán học thiêng liêng. |
|
|
The Lipika Lords, controlling the periodical manifestation of life are, roughly speaking, divided into the following groups, which it might be of interest to note: |
Các Đấng Lipika, kiểm soát sự biểu hiện theo chu kỳ của sự sống, nói đại thể được chia thành các nhóm sau đây, điều này có thể đáng lưu ý: |
|
1. Three extra-systemic or cosmic Lords of Karma, Who work from a centre in Sirius through the medium of three representatives. These form a group around the solar Logos, and hold to Him a position analogous to the three Buddhas of Activity Who stand around Sanat Kumara. [Page 1143] |
1. Ba Đấng Nghiệp Quả ngoài hệ thống hay vũ trụ, các Ngài làm việc từ một trung tâm ở Sirius qua trung gian của ba vị đại diện. Các Ngài tạo thành một nhóm quanh Thái dương Thượng đế, và giữ đối với Ngài một vị trí tương tự như Ba Đức Phật Hoạt Động đứng quanh Đức Sanat Kumara. [Page 1143] |
|
2. Three Lipika Lords Who are the karmic agents working through the three aspects. |
2. Ba Đấng Lipika là các tác nhân nghiệp quả làm việc qua ba phương diện. |
|
3. Chín Lipika là tổng số các tác nhân của Định luật làm việc qua điều mà Qabbalah gọi là chín Sephiroth. |
|
|
4. Seven presiding agents of karma for each one of the seven schemes. |
4. Bảy tác nhân chủ trì nghiệp quả cho mỗi một trong bảy hệ hành tinh. |
|
These four groups correspond in manifestation to the Unmanifested, manifesting through the triple Aspects, and under Them work an infinity of lesser agents. These lesser agents might again be somewhat differentiated, each of the following groups being found in every scheme and on every ray-emanation. |
Bốn nhóm này tương ứng trong biểu hiện với Cái Không Biểu Hiện, biểu lộ qua ba Phương diện, và dưới Các Ngài có vô số tác nhân nhỏ hơn làm việc. Những tác nhân nhỏ hơn này lại có thể được phân biệt phần nào, mỗi nhóm sau đây đều được tìm thấy trong mọi hệ hành tinh và trên mọi phát xạ cung. |
|
1. The Lipika Lords of a scheme Who, through the manipulation of forces, make it possible for a planetary Logos to incarnate under the Law, and work out His cyclic problem. |
1. Các Đấng Lipika của một hệ hành tinh, các Ngài, qua sự vận dụng các mãnh lực, làm cho một Hành Tinh Thượng đế có thể nhập thể dưới Định luật, và giải quyết vấn đề chu kỳ của Ngài. |
|
2. Those who (under the first group) control the destiny of a chain. |
2. Những vị (dưới nhóm thứ nhất) kiểm soát số phận của một Dãy. |
|
3. Those who are the energy-directors of a globe. |
3. Những vị là các vị điều hướng năng lượng của một bầu hành tinh. |
|
4. Agents of every kind Who are concerned with the karmic adjustments, incident upon the periodical manifestation of such forms as: |
4. Các tác nhân thuộc mọi loại liên quan đến những điều chỉnh nghiệp quả gắn liền với sự biểu hiện theo chu kỳ của những hình tướng như: |
|
a. A round, seven in all. |
a. Một cuộc tuần hoàn, tổng cộng là bảy. |
|
b. A kingdom in nature, seven in all. |
b. Một giới trong thiên nhiên, tổng cộng là bảy. |
|
c. The human kingdom. |
c. Giới nhân loại. |
|
d. A rootrace, subrace and branch race. |
d. Một giống dân gốc, giống dân phụ và giống dân nhánh. |
|
e. A nation, a family, a group, and their correspondences in all the kingdoms. |
e. Một quốc gia, một gia đình, một nhóm, và các tương ứng của chúng trong mọi giới. |
|
f. A plane. |
f. Một cõi. |
|
g. The reptile and insect world. |
g. Thế giới loài bò sát và côn trùng. |
|
h. The bird evolution. |
h. Sự tiến hoá của loài chim. |
|
i. The devas. |
i. Các thiên thần. |
|
j. Human units, egoic groups, monadic lives, [Page 1144] and myriads of other forms, objective and subjective, planetary and interplanetary, in connection with the Sun, and in connection with the planetoids. |
j. Các đơn vị nhân loại, các nhóm chân ngã, các sự sống chân thần, [Page 1144] và vô số hình tướng khác, khách quan và chủ quan, thuộc hành tinh và liên hành tinh, liên quan đến Mặt Trời, và liên quan đến các tiểu hành tinh. |
|
All work with energy emanations, and with force units under cyclic law, and all have the same objective,—the producing of perfected activity, intensification of heat, and of radiant magnetic light as an expression of the will or purpose of each embodied life. |
Tất cả đều làm việc với các phát xạ năng lượng, và với các đơn vị lực dưới định luật chu kỳ, và tất cả đều có cùng một mục tiêu,—tạo ra hoạt động hoàn hảo, tăng cường nhiệt, và ánh sáng từ tính bức xạ như một biểu hiện của ý chí hay mục đích của mỗi sự sống nhập thể. |
|
Periodicity of manifestation is the cyclic appearance of certain forms of specified energy, and this is true whether a man is speaking of a solar system, of a Ray, of the appearance of a planet in space, or of the phenomenon of human birth. Certain factors extraneous to any energy unit under consideration, will inevitably affect its appearance, and act as deflecting or directing agents. The Law of Cycles has ever been regarded as one of the most difficult for a man to master, and it has been truly said that when a man has mastered its technicalities, and can understand its methods of time computation, he has attained initiation. Its intricacies are so numerous and so bound up with the still greater law, that of cause and effect, that practically the whole range of possible knowledge is thereby surmounted. To comprehend this law involves ability to: |
Tính chu kỳ của sự biểu hiện là sự xuất hiện theo chu kỳ của những hình tướng nhất định của năng lượng được xác định, và điều này đúng dù con người đang nói về một hệ mặt trời, về một cung, về sự xuất hiện của một hành tinh trong không gian, hay về hiện tượng sinh ra làm người. Một số yếu tố ở bên ngoài bất kỳ đơn vị năng lượng nào đang được xét đến tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến sự xuất hiện của nó, và hoạt động như những tác nhân làm lệch hướng hoặc định hướng. Định luật Chu Kỳ từ lâu vẫn được xem là một trong những định luật khó làm chủ nhất đối với con người, và quả thật đã có lời nói rằng khi một người đã làm chủ được các chi tiết kỹ thuật của nó, và có thể hiểu các phương pháp tính toán thời gian của nó, thì y đã đạt đến điểm đạo. Những chỗ phức tạp của nó nhiều đến mức và gắn bó chặt chẽ với định luật còn lớn hơn nữa, tức định luật nhân quả, đến nỗi hầu như toàn bộ phạm vi tri thức khả hữu đều được vượt qua nhờ đó. Thấu hiểu định luật này bao hàm khả năng: |
|
a. Deal with the higher mathematical formulas of the solar system. |
a. xử lý các công thức toán học cao hơn của hệ mặt trời. |
|
b. Compute the relationship between a unit of any degree and the greater whole upon whose vibration that unit is swept into periodic display. |
b. tính toán mối tương quan giữa một đơn vị ở bất kỳ cấp độ nào với toàn thể lớn hơn mà trên rung động của nó, đơn vị ấy bị cuốn vào sự biểu hiện theo chu kỳ. |
|
c. Read the akashic records of a planetary system. |
c. đọc các biên niên ký akasha của một hệ hành tinh. |
|
d. Judge of karmic effects in time and space. |
d. phán đoán các hiệu quả nghiệp quả trong thời gian và không gian. |
|
e. Differentiate between the four streams of karmic effects as they concern the four kingdoms of nature. |
e. phân biệt giữa bốn dòng hiệu quả nghiệp quả khi chúng liên quan đến bốn giới trong tự nhiên. |
|
f. Distinguish between the three main streams of energy [Page 1145] —the units of inertia, mobility and rhythm—and note the key of each unit, and its place in the great group of transitional points. These latter units are those who are on the crest of one of the three waves, and ready, therefore, to be transferred into a wave of a higher vibratory capacity. |
f. phân biệt giữa ba dòng năng lượng chính [Page 1145] —các đơn vị của quán tính, tính động và nhịp điệu—và ghi nhận chủ âm của mỗi đơn vị, cùng vị trí của nó trong đại nhóm các điểm chuyển tiếp. Các đơn vị sau này là những đơn vị đang ở trên đỉnh của một trong ba làn sóng, và do đó sẵn sàng được chuyển dịch vào một làn sóng có năng lực rung động cao hơn. |
|
g. Enter the Hall of Records and there read a peculiar group of documents dealing with planetary manifestation in a fourfold manner. It concerns the planetary Logos, and deals with the transference of energy from the moon chain. It concerns the transmission of energy to another planetary scheme, and concerns the interaction between the human Hierarchy (the fourth Kingdom) and the great informing Life of the animal kingdom. |
g. đi vào Phòng Biên Niên và tại đó đọc một nhóm tài liệu đặc biệt đề cập đến sự biểu hiện hành tinh theo cách tứ phân. Nó liên quan đến Hành Tinh Thượng đế, và bàn đến sự chuyển dịch năng lượng từ Dãy Mặt Trăng. Nó liên quan đến sự truyền dẫn năng lượng sang một hệ hành tinh khác, và liên quan đến sự tương tác giữa Thánh đoàn nhân loại (giới thứ tư) và Sự sống phú linh vĩ đại của giới động vật. |
|
When a man can do all these things and has earned the right to know that which produces the phenomenon of manifestation, he has earned the right to enter into the councils of the planetary Hierarchy, and himself to direct streams of energy upon, through and out of the planet. |
Khi một người có thể làm được tất cả những điều này và đã giành được quyền biết điều gì tạo ra hiện tượng biểu hiện, thì y đã giành được quyền bước vào các hội đồng của Thánh đoàn hành tinh, và tự mình điều hướng các dòng năng lượng lên trên, xuyên qua và ra khỏi hành tinh. |
|
Some idea of the complexity governing the periodical manifestation of a human being may be gathered by a consideration of the forces which bring human units into manifestation, which produce individualisation; this is, after all, the appearing of a third stream of energy in conjunction with two others. A man is the meeting ground of three streams of force, one or other preponderating according to his peculiar type. |
Có thể hình dung phần nào về tính phức tạp chi phối sự biểu hiện theo chu kỳ của một con người bằng cách xem xét các mãnh lực đưa các đơn vị nhân loại vào biểu hiện, những mãnh lực tạo ra sự biệt ngã hóa; rốt cuộc, đây là sự xuất hiện của một dòng năng lượng thứ ba kết hợp với hai dòng khác. Con người là điểm gặp gỡ của ba dòng mãnh lực, trong đó dòng này hay dòng kia trội hơn tùy theo loại hình đặc thù của y. |
|
Let us briefly enumerate these factors and thus get some idea as to the complexity of the matter: |
Chúng ta hãy liệt kê vắn tắt các yếu tố này để nhờ đó có được một ý niệm nào đó về tính phức tạp của vấn đề: |
|
The first and paramount factor is the ray upon which a particular human unit is found. This means, that there are seven specialised force streams, each with its peculiar quality, type and rhythm. The matter is further complicated by the fact that though the Ray of the Monad is its [Page 1146] main qualifying factor, yet two subsidiary Rays, those of the Ego and of the personality, have likewise to be considered. |
Yếu tố thứ nhất và tối quan trọng là cung mà trên đó một đơn vị nhân loại đặc thù được tìm thấy. Điều này có nghĩa là có bảy dòng mãnh lực chuyên biệt hóa, mỗi dòng có phẩm tính, loại hình và nhịp điệu riêng của nó. Vấn đề còn phức tạp thêm bởi sự kiện rằng tuy cung của chân thần là yếu tố quy định chính của nó, [Page 1146] nhưng hai cung phụ, tức cung của chân ngã và của phàm ngã, cũng phải được xét đến. |
|
Secondly, it must be borne in mind that the human units now upon this planet fall naturally into two great groups—those who reached individualisation, or became “units of self-directing energy,” upon the moon, and those who attained self-consciousness upon the earth. There are important distinctions between these two groups, for the units of the moon chain are distinguished, not only by a more advanced development, owing to the longer period of their evolution, but also by the quality of great and intelligent activity, for (as might be expected) on the third or moon chain, the third Ray was a dominant factor. In this fourth chain, the quaternary dominates, or the synthesis of the three so as to produce a fourth, and this is one reason for the intensely material nature of those who entered the human kingdom on this planet. The distinctions between the two groups are very great, and one of the mysteries lying behind the main divisions of humanity—rulers and the ruled, capitalists and labourers, the governed and those who govern—is found right here. No system of sociological reform will be successfully worked out without a due consideration of this important fact. Other distinguishing features might be enumerated but would only serve at this stage to complicate the matter. |
Thứ hai, cần ghi nhớ rằng các đơn vị nhân loại hiện đang ở trên hành tinh này tự nhiên rơi vào hai nhóm lớn—những đơn vị đã đạt đến sự biệt ngã hóa, hay trở thành “những đơn vị năng lượng tự định hướng,” trên mặt trăng, và những đơn vị đã đạt ngã thức trên trái đất. Có những khác biệt quan trọng giữa hai nhóm này, vì các đơn vị của Dãy Mặt Trăng được phân biệt không chỉ bởi sự phát triển cao hơn, do thời kỳ tiến hoá dài hơn của họ, mà còn bởi phẩm tính hoạt động lớn lao và thông tuệ, vì (như có thể dự đoán) trên dãy thứ ba hay Dãy Mặt Trăng, cung ba là một yếu tố chi phối. Trong dãy thứ tư này, bộ bốn chi phối, hay sự tổng hợp của ba để tạo ra cái thứ tư, và đây là một trong những lý do cho bản chất vật chất mãnh liệt của những người đã bước vào giới nhân loại trên hành tinh này. Những khác biệt giữa hai nhóm là rất lớn, và một trong những huyền nhiệm nằm sau các phân chia chính của nhân loại—những người cai quản và những người bị cai quản, các nhà tư bản và người lao động, những người bị trị và những người cai trị—được tìm thấy ngay tại đây. Không một hệ thống cải cách xã hội học nào có thể được triển khai thành công nếu không lưu tâm đúng mức đến sự kiện quan trọng này. Có thể liệt kê thêm những đặc điểm phân biệt khác, nhưng ở giai đoạn này điều đó chỉ làm cho vấn đề thêm phức tạp. |
|
A third factor differentiating the groups of human units who reached self-consciousness on our planet is hidden in the methods employed by the Lords of the Flame at that time. They, we are told, employed three methods. |
Yếu tố thứ ba phân biệt các nhóm đơn vị nhân loại đã đạt ngã thức trên hành tinh chúng ta được ẩn giấu trong các phương pháp mà các Đấng Chúa Tể của Lửa đã sử dụng vào thời đó. Chúng ta được cho biết rằng Các Ngài đã dùng ba phương pháp. |
|
First, They themselves took bodies and thus energised certain of the higher forms of the animal kingdom, so that they appeared as man, and thus initiated a particular group. Their descendants can be seen in the highest [Page 1147] specimens of the earth humanity now on earth. They are not even now, however, as far advanced as the groups of units from the moon chain who came in in Atlantean days. Their heredity is peculiar. |
Thứ nhất, chính Các Ngài đã mang lấy thể xác và nhờ đó tiếp năng lượng cho một số hình tướng cao hơn của giới động vật, để chúng xuất hiện như con người, và nhờ đó khai mở một nhóm đặc thù. Hậu duệ của họ có thể được thấy nơi những mẫu người cao nhất [Page 1147] của nhân loại địa cầu hiện nay trên trái đất. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ họ vẫn chưa tiến bộ bằng các nhóm đơn vị từ Dãy Mặt Trăng đã đi vào trong những ngày Atlantis. Di truyền của họ là điều đặc biệt. |
|
They implanted a germ of mind in the secondary group of animal-men who were ready for individualisation. This group, for a long time, was unable to express itself, and was most carefully nurtured by the Lords of Flame, nearly proving a failure. By the time, however, that the last subrace of the Lemurian root race was at its height it suddenly came into the forefront of the then civilisation, and justified hierarchical effort. |
Các Ngài đã cấy một mầm trí tuệ vào nhóm thứ hai của những người-thú đã sẵn sàng cho sự biệt ngã hóa. Trong một thời gian dài, nhóm này không thể tự biểu lộ, và đã được các Đấng Chúa Tể của Lửa nuôi dưỡng hết sức cẩn trọng, suýt nữa đã thành thất bại. Tuy nhiên, vào lúc giống dân phụ cuối cùng của giống dân gốc Lemuria đạt đến đỉnh cao, nó đột ngột tiến ra tiền tuyến của nền văn minh đương thời, và biện minh cho nỗ lực của Thánh đoàn. |
|
Thirdly, They fostered the germ of instinct in certain groups of animal-men until it flowered into mind. It must never be forgotten that men have within themselves (apart from any extraneous fostering) the ability to arrive, and to achieve full self-consciousness. |
Thứ ba, Các Ngài đã nuôi dưỡng mầm bản năng trong một số nhóm người-thú cho đến khi nó nở hoa thành trí tuệ. Không bao giờ được quên rằng con người có bên trong chính mình (ngoài mọi sự nuôi dưỡng từ bên ngoài) khả năng đạt đến và thành tựu ngã thức trọn vẹn. |
|
These three methods bring us to the fourth factor which must be remembered, that of the three modes of motion which powerfully affect the incarnating jivas. |
Ba phương pháp này đưa chúng ta đến yếu tố thứ tư cần được ghi nhớ, đó là ba phương thức chuyển động có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các jiva đang lâm phàm. |
|
The Sons of Mind are distinguished by the three qualities of matter as has been earlier brought out, and they have been generically called: |
Các Con của Trí Tuệ được phân biệt bởi ba phẩm tính của vật chất như đã được nêu ra trước đây, và theo cách gọi chung, họ được gọi là: |
|
1. The Sons of sattvic rhythm, |
1. Các Con của nhịp điệu sattva, |
|
2. The Sons of mobility, |
2. Các Con của tính động, |
|
3. The Sons of inertia. |
3. Các Con của quán tính. |
|
These qualities are the characteristics of the three major Rays, and of the three Persons of the Godhead; they are the qualities of consciousness—material, intelligent, and divine. They are the predominating characteristics of the chains of which our earth is one.[Page 1148] |
Những phẩm tính này là các đặc trưng của ba cung chính, và của ba Ngôi của Thượng đế; chúng là các phẩm tính của tâm thức—vật chất, thông tuệ, và thiêng liêng. Chúng là những đặc trưng chi phối của các dãy mà trái đất chúng ta là một trong số đó.[Page 1148] |
|
Earth Planetary Scheme |
Hệ Hành Tinh Địa Cầu |
|
Archetypal. |
|
Second Chain |
Sattvic Rhythm. |
|
|
Third Chain |
Mobility. |
|
|
Fourth Chain |
Inertia. |
|
|
Fifth Chain |
Mobility. |
|
|
Sixth Chain |
Sattvic Rhythm. |
|
|
Seventh Chain |
Perfection. |
|
The factors which we have considered as affecting the different incarnating units have a vital effect on their cyclic evolution, and the ray and the three main types produce varying periodic appearance. Certain statements have been made in occult books as to the length of time varying between incarnations. Such statements are in the main inaccurate, for they make no allowance for Ray difference, and permit of no calculations as to whether the human unit involved is a unit of inertia, a sattvic point, or a rajasic entity. No hard and fast rule can be laid down at this time for the general public, though such rules exist, and are governed by seven different formulas for the three main types. Within this sevenfold differentiation, exist many lesser, and the wise student refrains from dogmatic assertion on this most peculiar and difficult subject. The fringe of the matter has but been touched upon here. It should be remembered that in the earlier stages of incarnation, the unit is governed mainly by group appearance, and comes into incarnation with his group. |
Các yếu tố mà chúng ta đã xét đến như ảnh hưởng đến các đơn vị đang lâm phàm khác nhau có tác động thiết yếu lên sự tiến hoá theo chu kỳ của họ, và cung cùng ba loại hình chính tạo ra sự xuất hiện theo chu kỳ khác nhau. Một số phát biểu đã được đưa ra trong các sách huyền bí về khoảng thời gian khác nhau giữa các lần nhập thể. Những phát biểu như thế nhìn chung là không chính xác, vì chúng không tính đến sự khác biệt về cung, và không cho phép tính toán xem đơn vị nhân loại liên quan là một đơn vị của quán tính, một điểm sattva, hay một thực thể rajas. Hiện nay không thể đặt ra một quy luật cứng nhắc cho công chúng nói chung, mặc dù những quy luật như thế có tồn tại, và được chi phối bởi bảy công thức khác nhau cho ba loại hình chính. Trong sự biến phân thất phân này, có nhiều biến phân nhỏ hơn, và đạo sinh minh triết tránh khẳng định giáo điều về chủ đề rất đặc biệt và khó khăn này. Ở đây mới chỉ chạm đến phần rìa của vấn đề mà thôi. Cần ghi nhớ rằng trong các giai đoạn đầu của nhập thể, đơn vị chủ yếu bị chi phối bởi sự xuất hiện theo nhóm, và đi vào nhập thể cùng với nhóm của y. |
|
As time progresses and his own will or purpose becomes more distinctive, he will at times force himself into manifestation independently of his group, as will other group units, and this leads to an apparent confusion which is detrimental to the surface calculations of the superficial student. When this is the case, the particular unit concerned has his record transferred into another file in the hierarchical archives, and becomes what is occultly termed “a self directed point of fire.” He is then strongly individualised, entirely self-engrossed, free of [Page 1149] all group sense, except the earthly affiliations to which he adheres from the instinct of self-protection and personal well-being. In this stage he remains for a vast period of time, and has before him the mastering of a later stage in which he returns to the earlier group recognition on a higher turn of the spiral. |
Khi thời gian trôi qua và ý chí hay mục đích riêng của y trở nên rõ nét hơn, đôi khi y sẽ tự ép mình vào biểu hiện một cách độc lập với nhóm của mình, cũng như các đơn vị nhóm khác sẽ làm như vậy, và điều này dẫn đến một sự lẫn lộn bề ngoài gây bất lợi cho các tính toán bề mặt của đạo sinh hời hợt. Khi điều này xảy ra, hồ sơ của đơn vị đặc thù liên quan được chuyển sang một hồ sơ khác trong văn khố của Thánh đoàn, và trở thành điều mà huyền bí học gọi là “một điểm lửa tự định hướng.” Khi đó y được biệt ngã hóa mạnh mẽ, hoàn toàn mải mê với bản thân, thoát khỏi [Page 1149] mọi ý thức nhóm, ngoại trừ những liên hệ trần thế mà y bám vào do bản năng tự bảo vệ và an ổn cá nhân. Trong giai đoạn này y ở lại trong một thời kỳ rất dài, và trước mặt y là việc làm chủ một giai đoạn muộn hơn, trong đó y quay trở lại sự nhận biết nhóm ban đầu trên một vòng xoắn cao hơn. |
|
The rules governing the incarnations of average man have been considered elsewhere, and much information has been given in this treatise and in Letters on Occult Meditation which—if collated—will provide sufficient data for study for a long time. Not much has been given anent the incarnations of disciples and the methods involved in the later stages of evolution. |
Các quy luật chi phối những lần nhập thể của con người trung bình đã được bàn đến ở nơi khác, và nhiều thông tin đã được đưa ra trong bộ luận này và trong Thư về Tham Thiền Huyền Bí mà—nếu được đối chiếu—sẽ cung cấp đủ dữ liệu để nghiên cứu trong một thời gian dài. Chưa có nhiều điều được đưa ra liên quan đến những lần nhập thể của các đệ tử và các phương pháp liên quan trong các giai đoạn tiến hoá muộn hơn. |
|
It should here be borne in mind that (for a disciple) direct alignment with the Ego via the centres and the physical brain is the goal of his life of meditation and of discipline. This is in order that the Inner God may function in full consciousness and wield full control on the physical plane. Thus will humanity be helped and group concerns furthered. Again it must be remembered that the basic Ray laws and the disciple’s particular type will paramountly dictate his appearances, but certain other forces begin to hold sway which might here be touched upon. |
Ở đây cần ghi nhớ rằng (đối với một đệ tử) sự chỉnh hợp trực tiếp với chân ngã qua các trung tâm và bộ não hồng trần là mục tiêu của đời sống tham thiền và kỷ luật của y. Điều này là để Thượng đế Nội Tại có thể hoạt động trong tâm thức trọn vẹn và nắm quyền kiểm soát đầy đủ trên cõi hồng trần. Nhờ đó nhân loại sẽ được giúp đỡ và các mối quan tâm của nhóm được xúc tiến. Cũng cần nhớ lại rằng các định luật căn bản của cung và loại hình đặc thù của đệ tử sẽ một cách tối thượng quyết định các lần xuất hiện của y, nhưng một số mãnh lực khác bắt đầu nắm quyền chi phối mà ở đây có thể được đề cập đến. |
|
The factors governing the appearance in incarnation of a disciple are as follows: |
Các yếu tố chi phối sự xuất hiện trong nhập thể của một đệ tử như sau: |
|
First, his desire to work off karma rapidly and so liberate himself for service. The Ego impresses this desire upon the disciple during incarnation, and thus obviates any counter desire on his part for the bliss of devachan, or even for work on the astral plane. The whole objective, therefore, of the disciple after death is to get rid of his subtler bodies, and acquire new ones. There is no desire for a period of rest, and as desire is the governing factor in this system of desire, and particularly in this planetary scheme, if it exists not, there is no incentive to fulfilment. [Page 1150] The man, therefore, absents himself from the physical plane for a very brief time, and is driven by his Ego into a physical body with great rapidity. |
Thứ nhất, khát vọng của y muốn giải quyết nghiệp quả một cách nhanh chóng và nhờ đó tự giải thoát mình để phụng sự. Chân ngã gây ấn tượng khát vọng này lên đệ tử trong khi nhập thể, và nhờ đó loại bỏ mọi phản khát vọng nơi y đối với chí phúc của devachan, hay ngay cả đối với công việc trên cõi cảm dục. Vì vậy, toàn bộ mục tiêu của đệ tử sau khi chết là loại bỏ các thể vi tế hơn của mình và có được những thể mới. Không có khát vọng về một thời kỳ nghỉ ngơi, và vì khát vọng là yếu tố chi phối trong hệ thống khát vọng này, đặc biệt trong hệ hành tinh này, nên nếu nó không hiện hữu thì không có động lực để hoàn thành. [Page 1150] Do đó, con người vắng mặt khỏi cõi hồng trần trong một thời gian rất ngắn, và bị chân ngã của mình thúc đẩy vào một thể xác hồng trần với tốc độ rất nhanh. |
|
Second, to work out some piece of service under direction of his Master. This will involve some adjustments, and occasionally the temporary arresting of his karma. These adjustments are made by the Master with the concurrence of the disciple, and are only possible in the case of an accepted disciple of some standing. It does not mean that karma is set aside, but only that certain forces are kept in abeyance until a designated group work has been accomplished. |
Thứ hai, để hoàn thành một phần công việc phụng sự dưới sự chỉ đạo của Chân sư của y. Điều này sẽ bao hàm một số sự điều chỉnh, và đôi khi là sự tạm thời đình chỉ nghiệp quả của y. Những điều chỉnh này được Chân sư thực hiện với sự đồng thuận của đệ tử, và chỉ có thể trong trường hợp một đệ tử được chấp nhận đã có vị thế nhất định. Điều đó không có nghĩa là nghiệp quả bị gạt sang một bên, mà chỉ có nghĩa là một số mãnh lực được giữ ở trạng thái tiềm phục cho đến khi một công tác nhóm được chỉ định đã hoàn thành. |
|
Third, a disciple will return into incarnation occasionally so as to fit into the plan of a greater than himself. When a messenger of the Great Lodge needs a vehicle through which to express Himself, and cannot use a physical body Himself, owing to the rarity of its substance, He will utilise the body of a disciple. We have an instance of this in the manner the Christ used the body of the initiate Jesus, taking possession of it at the time of the Baptism. Again when a message has to be given out to the world during some recurring cycle, a disciple of high position in a Master’s group will appear in physical incarnation, and be “overshadowed” or “inspired” (in the technically occult sense) by some teacher greater than he. |
Thứ ba, một đệ tử đôi khi sẽ trở lại nhập thể để phù hợp với kế hoạch của một Đấng lớn hơn y. Khi một sứ giả của Thánh đoàn cần một vận cụ để qua đó biểu lộ Chính Ngài, và không thể tự mình sử dụng một thể xác hồng trần do chất liệu của nó quá tinh vi, Ngài sẽ sử dụng thể xác của một đệ tử. Chúng ta có một ví dụ về điều này trong cách Đức Christ đã dùng thể xác của điểm đạo đồ Jesus, chiếm hữu nó vào lúc làm Lễ Rửa Tội. Một lần nữa, khi một thông điệp phải được ban ra cho thế giới trong một chu kỳ tái diễn nào đó, một đệ tử có địa vị cao trong nhóm của một Chân sư sẽ xuất hiện trong nhập thể hồng trần, và được “phủ bóng” hoặc “truyền cảm hứng” (theo nghĩa kỹ thuật huyền bí) bởi một huấn sư lớn hơn y. |
|
Fourth, a disciple may, through lack of rounded development, be very far advanced along certain lines but lack what is called the full intensification of a particular principle. He may, therefore, decide (with the full concurrence of his Ego and of his Master) to take a series of rapidly recurring incarnations with the intention of working specifically at bringing a certain quality, or series of qualities, to a point of higher vibratory content, thus completing the rounding of his sphere of manifestation. This accounts for the peculiar, yet powerful, people who are [Page 1151] met at times; they are so one-pointed and apparently so unbalanced that their sole attention is given to one line of development only, so much so that the other lines are hardly apparent. Yet their influence seems great, and out of all proportion to their superficial worth. A realisation of these factors will deter the wise student from hasty judgments, and from rapid conclusions concerning his fellow men. |
Thứ tư, một đệ tử có thể, do thiếu sự phát triển viên mãn, đã rất tiến bộ trên một số đường lối nào đó nhưng lại thiếu điều được gọi là sự tăng cường trọn vẹn của một nguyên khí đặc thù. Vì vậy, y có thể quyết định (với sự đồng thuận trọn vẹn của chân ngã và Chân sư của mình) đảm nhận một loạt các lần nhập thể tái diễn nhanh chóng với ý định chuyên biệt là nỗ lực đưa một phẩm tính nào đó, hay một chuỗi phẩm tính, đến một điểm có nội dung rung động cao hơn, nhờ đó hoàn tất sự viên mãn của khối cầu biểu hiện của y. Điều này giải thích cho những con người kỳ lạ nhưng đầy mãnh lực đôi khi [Page 1151] được gặp; họ nhất tâm đến mức và dường như mất cân bằng đến mức toàn bộ sự chú ý của họ chỉ dành cho một đường phát triển duy nhất, đến nỗi các đường khác hầu như không biểu lộ. Tuy nhiên, ảnh hưởng của họ dường như rất lớn, và hoàn toàn không tương xứng với giá trị bề ngoài của họ. Sự chứng nghiệm các yếu tố này sẽ ngăn cản đạo sinh minh triết khỏi những phán đoán vội vàng, và khỏi những kết luận hấp tấp về những người đồng loại của mình. |
|
Occasionally a variation of this reason for rapid and immediate incarnation is seen when an initiate (who has nearly completed his cycle) appears in incarnation to express almost entirely one perfected principle. This he does for the good of a particular group which—though engaged in work for humanity—is failing somewhat in its objective through the lack of a particular quality, or stream of force. When this becomes apparent on the inner side, some advanced disciple puts the energy of that particular quality at the disposal of the Hierarchy, and is sent forth to balance that group, and frequently to do so for a period of rapidly succeeding lives. |
Đôi khi một biến thể của lý do này cho sự nhập thể nhanh chóng và tức thời được thấy khi một điểm đạo đồ (người gần hoàn tất chu kỳ của mình) xuất hiện trong nhập thể để gần như biểu lộ hoàn toàn một nguyên khí đã được hoàn thiện. Điều này y làm vì lợi ích của một nhóm đặc thù mà—dù đang dấn thân vào công việc vì nhân loại—lại phần nào thất bại trong mục tiêu của mình do thiếu một phẩm tính đặc thù, hay một dòng mãnh lực. Khi điều này trở nên hiển nhiên ở mặt bên trong, một đệ tử tiến bộ nào đó đặt năng lượng của phẩm tính đặc thù ấy vào quyền sử dụng của Thánh đoàn, và được phái ra để cân bằng nhóm đó, và thường là làm như vậy trong một thời kỳ gồm nhiều đời sống kế tiếp nhanh chóng. |
|
These are a few of the causes governing the periodic manifestation of those who are grouped in the Hierarchical records as “the aligned points of fire.” They are distinguished by the energy flowing through them, by the magnetic quality of their work, by their powerful group effects, and by their physical plane realisation of the plan. |
Đó là một vài nguyên nhân chi phối sự biểu hiện theo chu kỳ của những người được xếp trong hồ sơ của Thánh đoàn là “những điểm lửa đã chỉnh hợp.” Họ được phân biệt bởi năng lượng tuôn chảy qua họ, bởi phẩm tính từ tính của công việc của họ, bởi các hiệu quả nhóm mạnh mẽ của họ, và bởi sự chứng nghiệm Thiên Cơ trên cõi hồng trần của họ. |
|
The coming into manifestation of the superhuman lives (such as greater liberated Existences, or the raja-devas of a plane), the appearing of the planetary Logoi and the solar Logoi in physical incarnation is governed by laws similar in nature to those governing the human unit, but of a cosmic scope. It will be apparent to the most superficial student that the gradual emergence of a plane out of the darkness which exists between systems is produced not only as the result of vibratory response to the enunciated Word, but as the working out of the karma of a [Page 1152] cosmic Life and the relationship existing between that particular Life and the cosmic Existence Whom we call Brahma or the third Person of the Trinity. The deva Ruler of a plane is a superhuman Entity Who comes in under a great cosmic impulse to provide the vibratory form which will make possible the appearing of other and lesser forms. The Lords of the Rays, or the planetary Logoi, are similarly and karmically linked with the second aspect logoic, or with that manifesting Life we call Vishnu. It will thus be seen that three main impulses, each emanating from the will, plan, or conscious purpose of a cosmic Entity are responsible for all that is seen and known in our solar system. This, of course, has been oft emphasised in different occult books but the following tabulation may be of service: |
Sự đi vào biểu hiện của các sự sống siêu nhân (như những Hiện Hữu giải thoát lớn hơn, hay các raja-deva của một cõi), sự xuất hiện của các Hành Tinh Thượng đế và các Thái dương Thượng đế trong nhập thể hồng trần được chi phối bởi những định luật tương tự về bản chất với những định luật chi phối đơn vị nhân loại, nhưng ở tầm mức vũ trụ. Ngay cả đạo sinh hời hợt nhất cũng sẽ thấy rõ rằng sự xuất hiện dần dần của một cõi ra khỏi bóng tối tồn tại giữa các hệ thống không chỉ được tạo ra như kết quả của sự đáp ứng rung động đối với Linh từ đã được xướng ra, mà còn như sự triển khai nghiệp quả của một [Page 1152] Sự sống vũ trụ và mối tương quan hiện hữu giữa Sự sống đặc thù ấy với Hiện Hữu vũ trụ mà chúng ta gọi là Brahma hay Ngôi thứ ba của Tam Vị. Vị thiên thần chủ tinh của một cõi là một Thực Thể siêu nhân đi vào dưới một xung lực vũ trụ lớn lao để cung cấp hình tướng rung động sẽ làm cho sự xuất hiện của những hình tướng khác và nhỏ hơn trở nên khả hữu. Các Đấng Chúa Tể của các cung, hay các Hành Tinh Thượng đế, cũng tương tự như vậy và được nối kết bằng nghiệp quả với phương diện thứ hai của Thượng đế, hay với Sự sống biểu hiện mà chúng ta gọi là Vishnu. Như thế sẽ thấy rằng ba xung lực chính, mỗi xung lực phát xuất từ ý chí, Thiên Cơ, hay mục đích hữu thức của một Thực Thể vũ trụ, chịu trách nhiệm cho tất cả những gì được thấy và biết trong hệ mặt trời của chúng ta. Dĩ nhiên, điều này đã thường được nhấn mạnh trong nhiều sách huyền bí khác nhau, nhưng bảng tóm lược sau đây có thể hữu ích: |
|
Cosmic Entity |
Cosmic Entity |
Systemic Entities |
Number of Impulses |
Quality |
|
1. |
Brahma |
The Raja Lords |
7…Activity |
Inertia. |
|
2. |
Vishnu |
The Planetary Logoi |
7…Wisdom |
Mobility. |
|
3. |
Shiva |
The Solar Logos |
1….Will |
Rhythm. |
|
It should be noted here that the above tabulation will apply to the microcosm as well as the macrocosm, and students will find it interesting to work it out. |
Ở đây cần lưu ý rằng bảng tóm lược trên áp dụng cho tiểu thiên địa cũng như đại thiên địa, và các đạo sinh sẽ thấy thú vị khi tự triển khai nó. |
3. Triangular Linking. |
3. Sự Liên Kết Tam Giác. |
|
Enough has been indicated in this Treatise to show the general plan underlying and accounting for systemic emergence or incarnation, and it is not my purpose here to enlarge at great length. Just as it is not possible for man in an early incarnation to conceive of the effects of evolution upon him and to realise the nature of the man upon the Path, so it is not possible for even great [Page 1153] systemic existences to conceive (except in the broadest and most general terms) of the nature of the solar Logos, and of the effect evolution will have on Him. Suffice it to add, anent this matter, that when certain vast cosmic alignments have been made and the energy from the logoic causal ovoid on the cosmic mental planes is able to flow unimpeded through to the physical plane atom (our solar system) great eventualities and unconceived of possibilities will then take place. |
Trong Luận này đã nêu ra đủ để cho thấy kế hoạch tổng quát nằm bên dưới và giải thích cho sự xuất hiện có hệ thống hay sự nhập thể, và ở đây không phải là mục đích của tôi để khai triển dài dòng. Cũng như con người trong một lần nhập thể đầu tiên không thể hình dung được các hiệu quả của tiến hoá lên mình và chứng nghiệm bản chất của con người trên Con Đường, thì ngay cả những hiện hữu có hệ thống vĩ đại cũng không thể hình dung (ngoại trừ theo những nét rộng nhất và tổng quát nhất) về bản chất của Thái dương Thượng đế, và về hiệu quả mà tiến hoá sẽ có lên Ngài. [Page 1153] Chỉ cần nói thêm, liên quan đến vấn đề này, rằng khi một số chỉnh hợp vũ trụ bao la nào đó đã được thực hiện và năng lượng từ noãn thể nguyên nhân của Thượng đế trên các cõi trí tuệ vũ trụ có thể tuôn chảy không bị cản trở xuống đến nguyên tử hồng trần (hệ mặt trời của chúng ta), thì những biến cố lớn lao và những khả năng không thể hình dung sẽ xảy ra. |
|
Certain phenomena likewise of a secondary nature to this major happening will also take place as the cycles slip away which may be generally summarised as follows: |
Một số hiện tượng khác, tuy có tính thứ yếu so với biến cố lớn này, cũng sẽ xảy ra khi các chu kỳ dần trôi qua, và có thể được tóm lược một cách tổng quát như sau: |
|
First. Certain systemic triangles will be formed which will permit of the interplay of energy between the different planetary schemes, and thus bring to more rapid maturity the plans and purposes of the Lives concerned. It should be noted here that when we are considering the transmission of energy through alignment and through the forming of certain triangles, it is always in connection with the energy of the first aspect. It deals with the transmission of electric fire. It is important to bear this in mind, as it preserves the analogy between the macrocosm and the microcosm with accuracy. |
Thứ nhất. Một số tam giác có hệ thống sẽ được hình thành, cho phép sự tương tác năng lượng giữa các hệ hành tinh khác nhau, và nhờ đó đưa các kế hoạch và mục đích của các Sự sống liên quan đến chỗ chín muồi nhanh hơn. Ở đây cần lưu ý rằng khi chúng ta xét đến sự truyền dẫn năng lượng qua chỉnh hợp và qua việc hình thành một số tam giác nào đó, thì luôn luôn là trong mối liên hệ với năng lượng của phương diện thứ nhất. Nó liên quan đến sự truyền dẫn lửa điện. Điều quan trọng là phải ghi nhớ điều này, vì nó giữ cho sự tương đồng giữa đại thiên địa và tiểu thiên địa được chính xác. |
|
Second. A final systemic triangle will be formed which will be one of supreme force, for it will be utilised by the abstracted essence and energies of the septenate of schemes as the negative basis for the reception of positive electric energy. This electric energy is able to circulate through the schemes owing to the bringing about of a cosmic alignment. It is the bringing in of this terrific spiritual force during the final stages of manifestation which results in the blazing forth of the seven suns. (323) Though the seven have become the three, this is only in [Page 1154] connection with the dense physical planets. The blazing forth spoken of in the occult books and in the Secret Doctrine is in etheric matter; it is this etheric fiery energy which brings to a consummation (and so destroys) the remaining three major schemes. In this we have a correspondence to the burning of the causal body at the fourth Initiation through the merging of the three fires. It is only a correspondence, and the details must not be pushed too far. The Saturn scheme is esoterically regarded as having absorbed the “frictional fires of systemic space”; Neptune is looked upon as the repository of the “solar flames,” and Uranus as the home of “fire electric.” When, through extra-systemic activity based upon three causes: |
Thứ hai. Một tam giác có hệ thống cuối cùng sẽ được hình thành, và đó sẽ là một tam giác có mãnh lực tối thượng, vì nó sẽ được sử dụng bởi tinh chất trừu xuất và các năng lượng của bộ bảy hệ hành tinh như là nền tảng âm để tiếp nhận năng lượng điện dương. Năng lượng điện này có thể lưu chuyển qua các hệ hành tinh nhờ sự thiết lập một chỉnh hợp vũ trụ. Chính việc đưa mãnh lực tinh thần khủng khiếp này vào trong các giai đoạn cuối của biểu hiện đã dẫn đến sự bùng cháy của bảy mặt trời. (323) Dù bảy đã trở thành ba, điều này chỉ là [Page 1154] trong mối liên hệ với các hành tinh hồng trần đậm đặc. Sự bùng cháy được nói đến trong các sách huyền bí và trong Giáo Lý Bí Nhiệm là trong vật chất dĩ thái; chính năng lượng lửa dĩ thái này đưa ba hệ hành tinh chính còn lại đến chỗ hoàn tất (và do đó hủy diệt). Ở đây chúng ta có một sự tương ứng với việc đốt cháy thể nguyên nhân ở lần điểm đạo thứ tư qua sự hòa nhập của ba ngọn lửa. Đây chỉ là một sự tương ứng, và không nên đẩy các chi tiết đi quá xa. Hệ Sao Thổ được xem một cách huyền bí là đã hấp thu “những ngọn lửa ma sát của không gian có hệ thống”; Sao Hải Vương được xem là kho chứa của “các ngọn lửa thái dương,” và Sao Thiên Vương là nơi cư ngụ của “lửa điện.” Khi, qua hoạt động ngoài hệ thống dựa trên ba nguyên nhân: |
|
(323) Sự mọc và lặn của Mặt Trời tượng trưng cho sự biểu hiện và sự che khuất.—G. L. B. N., II, 72. Pralaya có nhiều loại khác nhau:— |
|
|
1. Cosmic pralaya… The obscuration of the three suns, or of three solar systems. |
1. Đại giai kỳ qui nguyên vũ trụ… Sự che khuất của ba mặt trời, hay của ba hệ mặt trời. |
|
2. Solar pralaya… The obscuration of a system at the end of one hundred years of Brahma. Period between solar systems. |
2. Giai kỳ qui nguyên thái dương… Sự che khuất của một hệ thống vào cuối một trăm năm của Brahma. Khoảng thời gian giữa các hệ mặt trời. |
|
3. Incidental pralaya… The obscuration of a scheme. Period between manvantaras. |
3. Giai kỳ qui nguyên ngẫu phát… Sự che khuất của một hệ hành tinh. Khoảng thời gian giữa các giai kỳ sinh hóa. |
|
Man repeats this at seventh, fifth initiations and at each rebirth in three worlds. |
Con người lặp lại điều này ở lần điểm đạo thứ bảy, thứ năm và ở mỗi lần tái sinh trong ba cõi thấp. |
|
The Pleiades are the centre around which our solar system revolves.—S. D., II, 251, 581, 582. |
Pleiades là trung tâm mà quanh đó hệ mặt trời của chúng ta quay quanh.—G. L. B. N., II, 251, 581, 582. |
|
The Sun is the kernel and matrix of all in the solar system.—S. D., I, 309, 310, 590, 591. |
Mặt Trời là hạt nhân và khuôn mẹ của mọi sự trong hệ mặt trời.—G. L. B. N., I, 309, 310, 590, 591. |
|
Kernel comes from the same word as corn. |
Kernel xuất phát từ cùng một từ như corn. |
|
Compare the words in Bible:— |
Hãy so sánh những từ trong Kinh Thánh:— |
|
“Except a corn of wheat fall into the ground and die it abideth alone, but if it die it bringeth forth much fruit.” |
“Nếu một hạt lúa mì không rơi xuống đất và chết đi thì nó vẫn còn trơ trọi một mình, nhưng nếu nó chết đi thì nó sinh ra nhiều hoa trái.” |
|
The Sun is governed by the same laws as all other atoms.—S. D., I, 168, 667. (back) |
Mặt Trời được chi phối bởi cùng những định luật như mọi nguyên tử khác.—G. L. B. N., I, 168, 667. (trở lại) |
|
1. Logoic alignment, |
1. Chỉnh hợp của Thượng đế, |
|
2. The taking of a logoic Initiation, |
2. Việc tiếp nhận một điểm đạo của Thượng đế, |
|
3. The action of the “ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID,” |
3. Tác động của “ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ,” |
|
these three schemes are simultaneously stimulated and the fires pass from one to another in a triangular manner, they then too pass into obscuration. Naught is left save the blazing etheric suns and these—through very intensity of burning—dissipate with great rapidity. [Page 1155] |
ba hệ hành tinh này đồng thời được kích thích và các ngọn lửa truyền từ hệ này sang hệ kia theo cách tam giác, thì khi đó chúng cũng đi vào sự che khuất. Không còn gì ngoài những mặt trời dĩ thái rực cháy và những mặt trời này—do cường độ cháy quá mạnh—tan biến với tốc độ rất nhanh. [Page 1155] |
4. Relation between the Throat, Alta Major and Mental Centres. |
4. Tương Quan giữa các Trung Tâm Cổ Họng, Alta Major và Thể Trí. |
|
The question of the centres has always had a great deal of interest for men, and much harm has been done through the directing of attention upon the physical centres. Unfortunately, names have been given to the centres which have their counterparts in the physical form, and with the usual aptitude of man to identify himself with that which is tangible and physical, a mass of data has accumulated which is based (not on spiritual knowledge) but on a study of the effects produced through meditation on the physical centres. Such meditation is only safely undertaken when a man is no longer polarised in the lower personal self but views all things from the standpoint of the Ego with whom he is completely identified. When this is the case, the centres in physical matter are recognised as being simply focal points of energy located in the etheric body, and having a definite use. This use is to act as transmitters of certain forms of energy consciously directed by the Ego or Self, with the intent of driving the physical body (which is not a principle) to fulfil egoic purpose. To do this the Ego has to follow certain rules, to conform to law, and to have attained not only conscious control of the physical body, but a knowledge of the laws of energy, and of the constitution of the etheric body, and its relation to the physical. The attention of students must be called to certain fundamental facts anent the centres and thus supplement, correlate, and summarise that already given in this Treatise. That a certain amount of repetition will be necessary is of value, and the information here given and the correspondences indicated, should provide all followers of raja yoga with a basis for sane consideration, wise meditation and a fuller comprehension of the truths involved. Owing to the rapid development of the race, and the future [Page 1156] quick unfoldment of etheric vision, the gain will be very real if occult students have at least a theoretical concept of the nature of that which will be seen relatively so soon. |
Vấn đề các trung tâm từ lâu luôn gây nhiều quan tâm cho con người, và nhiều tổn hại đã phát sinh do việc hướng sự chú ý vào các trung tâm hồng trần. Đáng tiếc là các trung tâm đã được đặt những tên gọi có các đối phần của chúng trong hình thể hồng trần, và với khuynh hướng quen thuộc của con người là đồng hoá mình với điều gì hữu hình và hồng trần, một khối lượng dữ liệu đã tích lũy dựa trên (không phải trên tri thức tinh thần) mà trên sự nghiên cứu các hiệu quả được tạo ra qua việc tham thiền trên các trung tâm hồng trần. Việc tham thiền như thế chỉ được thực hiện một cách an toàn khi con người không còn phân cực trong phàm ngã thấp nữa mà nhìn mọi sự từ quan điểm của chân ngã, với chân ngã ấy y đã hoàn toàn đồng hoá. Khi điều này xảy ra, các trung tâm trong vật chất hồng trần được nhận biết chỉ đơn giản là những tiêu điểm năng lượng nằm trong thể dĩ thái, và có một công dụng xác định. Công dụng này là hoạt động như những bộ truyền dẫn của một số dạng năng lượng nhất định được một cách hữu thức chân ngã hay Bản Ngã Cao Siêu định hướng, với mục đích thúc đẩy thể xác hồng trần (vốn không phải là một nguyên khí) hoàn thành mục đích chân ngã. Để làm được điều này, chân ngã phải tuân theo một số quy luật, phải phù hợp với định luật, và phải đạt được không chỉ sự kiểm soát hữu thức đối với thể xác hồng trần, mà còn cả tri thức về các định luật năng lượng, và về cấu tạo của thể dĩ thái, cùng mối tương quan của nó với thể hồng trần. Sự chú ý của các đạo sinh phải được hướng đến một số sự kiện căn bản liên quan đến các trung tâm và nhờ đó bổ sung, đối chiếu, và tóm lược những gì đã được đưa ra trong Luận này. Một mức độ lặp lại nào đó là cần thiết và có giá trị, và thông tin được đưa ra ở đây cùng các sự tương ứng được chỉ ra, sẽ cung cấp cho mọi người theo raja yoga một nền tảng để suy xét lành mạnh, tham thiền minh triết và thấu hiểu đầy đủ hơn về các chân lý liên quan. Do sự phát triển nhanh chóng của nhân loại, và sự [Page 1156] khai mở nhanh chóng trong tương lai của linh thị dĩ thái, lợi ích sẽ rất thực tế nếu các đạo sinh huyền bí học ít nhất có một quan niệm lý thuyết về bản chất của điều sẽ được thấy trong tương lai tương đối gần. |
|
The centres, as we know, are seven in number and are formed in matter of the etheric subplanes of the physical plane. As we have been told, there are literally ten, but the lower three are not considered as subjects for the direction of egoic energy. They relate to the perpetuation of the physical form and have a close connection with: |
Các trung tâm, như chúng ta biết, có bảy về số lượng và được hình thành trong vật chất của các cõi phụ dĩ thái của cõi hồng trần. Như chúng ta đã được cho biết, thực sự có mười, nhưng ba trung tâm thấp không được xem là những đối tượng cho sự định hướng năng lượng chân ngã. Chúng liên quan đến sự duy trì hình tướng hồng trần và có liên hệ mật thiết với: |
|
a. The three lower kingdoms in nature. |
a. ba giới thấp trong tự nhiên. |
|
b. The three lower subplanes of the physical plane. |
b. ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần. |
|
c. The third solar system, from the logoic standpoint. |
c. hệ mặt trời thứ ba, theo quan điểm của Thượng đế. |
|
It must be borne in mind that though the three solar systems (the past, the present and that which is to come) are differentiated in time and space where the consciousness of man is concerned, from the point of view of the Logos they represent more accurately, highest, intermediate and lowest, and the three form but one expression. The past system, therefore, is deemed esoterically the third, being the lowest and being related to the dense and negative matter. It will be apparent that the past solar system has consequently a close relation to the third or animal kingdom, and this, man has presumably transcended. |
Cần ghi nhớ rằng tuy ba hệ mặt trời (quá khứ, hiện tại và hệ sẽ đến) được phân biệt trong thời gian và không gian xét theo tâm thức của con người, nhưng từ quan điểm của Thượng đế, chúng biểu hiện chính xác hơn là cao nhất, trung gian và thấp nhất, và cả ba chỉ tạo thành một biểu hiện duy nhất. Vì vậy, hệ trước được xem một cách huyền bí là hệ thứ ba, vì là thấp nhất và liên hệ với vật chất đậm đặc và âm. Hiển nhiên là hệ mặt trời quá khứ do đó có liên hệ mật thiết với giới thứ ba hay giới động vật, và điều này con người hẳn đã vượt qua. |
|
The seven centres with which man is concerned are themselves found to exist in two groups: a lower four, which are related to the four Rays of Attributes, or the four minor rays, and are, therefore, closely connected with the quaternary, both microcosmic and macrocosmic, and a higher three which are transmitters for the three rays of aspect. |
Bảy trung tâm mà con người có liên hệ tự chúng được thấy là tồn tại trong hai nhóm: bốn trung tâm thấp, liên hệ với bốn Các Cung Thuộc Tính, hay bốn cung phụ, và vì vậy gắn bó chặt chẽ với bộ tứ, cả trong Tiểu thiên địa lẫn Đại thiên địa, và ba trung tâm cao là những bộ truyền dẫn cho ba cung trạng thái. |
|
These energy centres are transmitters of energy from [Page 1157] many and varied sources which might be briefly enumerated as follows: |
Các trung tâm năng lượng này là những bộ truyền dẫn năng lượng từ [Page 1157] nhiều và đa dạng nguồn mà có thể được liệt kê ngắn gọn như sau: |
|
a. From the seven Rays, via the seven subrays of any specific monadic ray. |
a. Từ bảy cung, qua bảy cung phụ của bất kỳ cung chân thần đặc thù nào. |
|
b. From the triple aspects of the planetary Logos as He manifests through a scheme. |
b. Từ các trạng thái tam phân của Hành Tinh Thượng đế khi Ngài biểu hiện qua một hệ hành tinh. |
|
c. From what are called “the sevenfold divisions of the logoic Heart,” or the sun in its sevenfold essential nature, as it is seen lying esoterically behind the outer physical solar form. |
c. Từ cái được gọi là “bảy phân bộ của Trái Tim Thượng đế,” hay mặt trời trong bản chất cốt yếu thất phân của nó, như được thấy một cách huyền bí nằm phía sau hình tướng mặt trời hồng trần bên ngoài. |
|
d. Từ bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh; dòng này tuôn vào qua chân thần và được truyền xuống dưới, hòa nhập ở các cấp độ cao của cõi trí với bảy dòng năng lượng từ chòm Pleiades đi vào như mãnh lực thông linh biểu lộ qua Thái dương Thiên Thần. |
|
|
All these various streams of energy are passed through certain groups or centres, becoming more active and demonstrating with a freer flow as the course of evolution is pursued. As far as man is concerned at present, this energy all converges, and seeks to energise his physical body, and direct his action via the seven etheric centres. These centres receive the force in a threefold manner: |
Tất cả các dòng năng lượng khác nhau này được chuyển qua những nhóm hay trung tâm nhất định, trở nên hoạt động hơn và biểu lộ với dòng chảy tự do hơn khi tiến trình tiến hoá được theo đuổi. Xét theo con người hiện nay, toàn bộ năng lượng này đều hội tụ và tìm cách tiếp sinh lực cho thể xác của y, và định hướng hành động của y qua bảy trung tâm dĩ thái. Các trung tâm này tiếp nhận mãnh lực theo cách tam phân: |
|
a. Force from the Heavenly Man and, therefore, from the seven Rishis of the Great Bear via the Monad. |
a. Mãnh lực từ Đấng Thiên Nhân và vì vậy từ bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh qua chân thần. |
|
b. Force from the Pleiades, via the solar Angel or Ego. |
b. Mãnh lực từ Pleiades, qua Thái dương Thiên Thần hay chân ngã. |
|
c. Force from the planes, from the Raja Devas of a plane, or fohatic energy, via the spirillae of a permanent atom. |
c. Mãnh lực từ các cõi, từ các Raja Deva của một cõi, hay năng lượng fohat, qua các loa tuyến của một nguyên tử trường tồn. |
|
It is this fact which accounts for the gradual growth and development of a man. At first it is the force of the plane substance, which directs him, causing him to identify [Page 1158] himself with the grosser substance and to consider himself a man, a member of the fourth Kingdom, and to be convinced, therefore, that he is the Not-Self. Later as force from the Ego pours in, his psychical evolution proceeds (I use the word “psychical” here in its higher connotation) and he begins to consider himself as the Ego, the Thinker, the One who uses the form. Finally, energy from the Monad begins to be responded to and he knows himself to be neither the man nor the angel, but a divine essence or Spirit. These three types of energy demonstrate during manifestation as Spirit, Soul, and Body, and through them the three aspects of the Godhead meet and converge in man, and lie latent in every atom. |
Chính sự kiện này giải thích cho sự tăng trưởng và phát triển dần dần của con người. Lúc đầu, chính mãnh lực của chất liệu cõi giới điều khiển y, khiến y đồng hoá [Page 1158] mình với chất liệu thô nặng hơn và xem mình là một con người, một thành viên của giới thứ tư, và do đó tin chắc rằng mình là Phi Ngã. Về sau, khi mãnh lực từ chân ngã tuôn vào, sự tiến hoá thông linh của y tiếp diễn (ở đây tôi dùng từ “thông linh” theo hàm nghĩa cao hơn của nó) và y bắt đầu xem mình là chân ngã, là Kẻ Tư Duy, là Đấng sử dụng hình tướng. Cuối cùng, năng lượng từ chân thần bắt đầu được đáp ứng và y biết mình không phải là con người cũng không phải là thiên thần, mà là một tinh túy thiêng liêng hay tinh thần. Ba loại năng lượng này biểu lộ trong thời kỳ biểu hiện thành Tinh thần, Linh hồn và Thể, và qua chúng ba trạng thái của Thượng đế gặp nhau và hội tụ trong con người, đồng thời tiềm tàng trong mỗi nguyên tử. |
|
Năng lượng thất phân của các cõi, và vì vậy của chất liệu, đạt đến sự viên mãn khi bốn trung tâm thấp hoàn toàn hoạt động. Năng lượng thất phân của tâm linh, phương diện tâm thức, biểu lộ khi ba trung tâm cao trong ba cõi thấp rung động một cách chính xác. Hoạt động thất phân của tinh thần tự làm cho được cảm nhận khi mỗi một trong bảy trung tâm này không những hoàn toàn hoạt động mà còn quay như “những bánh xe tự quay trên chính mình,” khi chúng có tính bốn chiều và không những sống động riêng rẽ mà còn đều được nối kết với trung tâm đầu thất phân. Khi ấy con người được thấy đúng như y thực sự là—một mạng lưới lửa với những tiêu điểm rực cháy, truyền dẫn và luân chuyển năng lượng hỏa. Các trung tâm này không những tiếp nhận năng lượng qua đỉnh đầu, hay chính xác hơn là qua một điểm hơi cao hơn đỉnh đầu, mà cũng phát nó ra qua trung tâm đầu; cái được phát ra được thấy là khác về màu sắc, sáng hơn và rung động nhanh hơn cái được tiếp nhận. Thể dĩ thái được tạo thành từ một trạng thái âm của lửa, và là kẻ tiếp nhận một lửa dương. Khi các loại lửa khác nhau hòa trộn, dung nhập và luân chuyển, nhờ đó chúng gia tăng và tạo ra những hiệu quả xác định trong các lửa của hệ tiểu thiên địa. |
|
|
[Page 1159] The centre at the base of the spine (the lowest with which man has consciously to deal) is one of a peculiar interest, owing to its being the originating centre for three long streams of energy which pass up and down the spinal column. This triple stream of force has most interesting correspondences which can be worked out by the intuitive student. Some hints may here be given. This channel of threefold energy has itself three points of supreme interest, which (to word it so as to convey sense to the interested) may be regarded as: |
[Page 1159] Trung tâm ở đáy cột sống (trung tâm thấp nhất mà con người phải hữu thức đề cập đến) là một trung tâm đặc biệt đáng quan tâm, do nó là trung tâm khởi nguyên cho ba dòng năng lượng dài đi lên và đi xuống theo cột sống. Dòng mãnh lực tam phân này có những tương ứng rất lý thú mà đạo sinh trực giác có thể tự khai triển. Ở đây có thể đưa ra vài gợi ý. Kênh năng lượng tam phân này tự nó có ba điểm tối quan trọng, mà (nói theo cách để truyền đạt ý nghĩa cho người quan tâm) có thể được xem là: |
|
1. The basic centre at the extreme lowest point of the spine. |
1. Trung tâm căn bản ở điểm thấp nhất tận cùng của cột sống. |
|
2. The alta major centre at the top of the spine. |
2. Trung tâm alta major ở đỉnh cột sống. |
|
3. The supreme head centre. |
3. Trung tâm đầu tối cao. |
|
It is, therefore, a miniature picture of the whole evolution of spirit and matter for, |
Vì vậy, nó là một bức tranh thu nhỏ của toàn bộ sự tiến hoá của tinh thần và vật chất, vì |
|
1. The lowest centre corresponds to the personality, |
1. Trung tâm thấp nhất tương ứng với phàm ngã, |
|
2. The middle centre to the Ego, or the Thinker, |
2. Trung tâm giữa tương ứng với chân ngã, hay Kẻ Tư Duy, |
|
3. The supreme head centre to the Monad. |
3. Trung tâm đầu tối cao tương ứng với chân thần. |
|
In the evolution of the fires of the spine, we have a correspondence to the sutratma with its three points of interest, the monadic auric egg, its emitting point, the egoic auric egg, the medial point, and the body or gross form, its lowest point. |
Trong sự tiến hoá của các lửa nơi cột sống, chúng ta có một tương ứng với sutratma cùng ba điểm đáng chú ý của nó: noãn hào quang chân thần, điểm phát xạ của nó; noãn hào quang chân ngã, điểm trung gian; và thể hay hình tướng thô nặng, điểm thấp nhất của nó. |
|
Another hint of interest lies in the fact that there exist between these spinal centres, certain gaps (if I may so express it) which have (in the course of evolution) to be bridged by the energetic action of the rapidly growing vibration of the force unit. Between the triple energy of the spinal column and the alta major centre, there is a hiatus, just as there exists that which must be bridged between the triple lower man and the egoic body, or between the mental unit on the fourth subplane of the mental plane and the solar Angel on the third subplane. Though we are told that the permanent atomic triad is enclosed in the [Page 1160] causal periphery, nevertheless, from the standpoint of consciousness there is that which must be bridged. Again, between the alta major centre and the supreme head centre, exists another gulf—a correspondence to the gulf found between the plane of the Ego and the lowest point of the Triad, the manasic permanent atom. When man has constructed the antaskarana (which he does during the final stages of his evolution in the three worlds) that gulf is bridged and the Monad and the Ego are closely linked. When man is polarised in his mental body, he begins to bridge the antaskarana. When the centre between the shoulder blades, referred to earlier in this Treatise as the manasic centre, is vibrating forcefully, then the alta major centre and the head centre, via the throat centre can be united. |
Một gợi ý lý thú khác nằm ở sự kiện là giữa các trung tâm cột sống này có những khoảng hở nhất định (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) mà trong tiến trình tiến hoá phải được bắt cầu bằng hoạt động năng động của rung động đang tăng trưởng nhanh chóng của đơn vị mãnh lực. Giữa năng lượng tam phân của cột sống và trung tâm alta major có một khoảng gián đoạn, cũng như tồn tại điều phải được bắt cầu giữa phàm nhân tam phân và thể chân ngã, hay giữa đơn vị hạ trí trên cõi phụ thứ tư của cõi trí và Thái dương Thiên Thần trên cõi phụ thứ ba. Dù chúng ta được bảo rằng tam nguyên nguyên tử trường tồn được bao bọc trong [Page 1160] chu vi nhân thể, tuy nhiên, xét từ quan điểm của tâm thức vẫn có điều phải được bắt cầu. Lại nữa, giữa trung tâm alta major và trung tâm đầu tối cao tồn tại một vực ngăn khác—một tương ứng với vực ngăn được tìm thấy giữa cõi của chân ngã và điểm thấp nhất của Tam nguyên tinh thần, nguyên tử trường tồn manas. Khi con người đã xây dựng antaskarana (điều này y thực hiện trong các giai đoạn cuối của sự tiến hoá của mình trong ba cõi thấp) thì vực ngăn ấy được bắt cầu và chân thần cùng chân ngã được nối kết chặt chẽ. Khi con người được phân cực trong thể trí của mình, y bắt đầu bắt cầu antaskarana. Khi trung tâm giữa hai bả vai, đã được nói đến trước đây trong Luận này như là trung tâm manas, rung động mạnh mẽ, thì trung tâm alta major và trung tâm đầu, qua trung tâm cổ họng có thể được hợp nhất. |
|
Khi đạt đến giai đoạn này, con người là một nhà sáng tạo trong chất liệu trí tuệ với một tầm mức khác với con người trung bình hoạt động một cách vô thức. Y kiến tạo trong sự hợp nhất với Thiên Cơ và divine Manasaputra, Con của Trí Tuệ, sẽ chuyển sự chú ý của mình khỏi việc là một Con của Quyền Năng trong ba cõi thấp và tập trung sự chú ý vào Tam Nguyên Tinh Thần, nhờ đó lặp lại ở một vòng xoắn cao hơn công việc mà trước kia y đã làm với tư cách con người. Điều này trở nên khả hữu khi sự tăng trưởng của tam giác vừa được bàn đến ở trên (đáy cột sống, trung tâm alta major và cổ họng, khi chúng hợp nhất trong đầu) được song hành bởi một bộ ba khác, tùng thái dương, tim và con mắt thứ ba; năng lượng hòa nhập qua chúng cũng được hợp nhất trong cùng trung tâm đầu ấy. Con mắt thứ ba là một trung tâm năng lượng do con người kiến tạo; nó là một tương ứng với trung tâm năng lượng, thể nguyên nhân, do chân thần kiến tạo. Trung tâm alta major cũng được kiến tạo tương tự bởi những dòng mãnh lực khác và tương ứng một cách lý thú với hình tướng tam phân do chân ngã kiến tạo trong ba cõi thấp. |
|
|
When this dual work has proceeded to a certain evolutionary point, another triplicity becomes alive within the [Page 1161] head itself as the result of these dual streams of triple energy. This triangle transmits fiery energy via the pineal gland, the pituitary body and the alta major centre and this reaches the head centre. In this way in these three triangles we have nine streams of energy converging and passing into the highest head lotus. The correspondence to certain macrocosmical forces will here be apparent to all discerning students. |
Khi công việc kép này đã tiến đến một điểm tiến hoá nhất định, một bộ ba khác trở nên sống động bên trong chính [Page 1161] đầu như là kết quả của các dòng tam phân kép này. Tam giác này truyền năng lượng hỏa qua tuyến tùng quả, tuyến yên và trung tâm alta major, rồi năng lượng này đi đến trung tâm đầu. Theo cách này, trong ba tam giác này chúng ta có chín dòng năng lượng hội tụ và đi vào hoa sen đầu tối cao. Tương ứng với một số mãnh lực đại thiên địa ở đây sẽ hiển nhiên đối với mọi đạo sinh có khả năng phân biện tinh thần. |
|
We have seen the close connection between the different centres and the gradually demonstrating effects to be noted as they are linked up and eventually produce a synthetic circulatory system for egoic energy in conjunction with the energy of the lower man, which forms a kind of medium by which the egoic force makes itself felt. Macrocosmically, but little can be said which would prove intelligible to man at his present stage of evolution. Some brief statements might, nevertheless, be given which (if pondered on and correlated with each other) may throw some light on planetary evolution and on the relation of the planetary Logoi to the solar Logos. |
Chúng ta đã thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa các trung tâm khác nhau và những hiệu quả dần dần biểu lộ cần được ghi nhận khi chúng được nối kết với nhau và cuối cùng tạo ra một hệ tuần hoàn tổng hợp cho năng lượng chân ngã kết hợp với năng lượng của phàm nhân, vốn tạo thành một loại trung gian nhờ đó mãnh lực chân ngã tự làm cho được cảm nhận. Xét theo Đại thiên địa, chỉ có thể nói rất ít điều mà con người ở giai đoạn tiến hoá hiện nay có thể hiểu được. Tuy nhiên, có thể nêu ra vài phát biểu ngắn gọn mà nếu được suy ngẫm và liên hệ với nhau, có thể soi sáng phần nào về sự tiến hoá hành tinh và về mối liên hệ của các Hành Tinh Thượng đế với Thái dương Thượng đế. |
|
A solar Logos uses for His energy centres the planetary schemes, each of which embodies a peculiar type of energy, and each of which, therefore, vibrates to the key of the logoic solar Angel, of which the human solar Angel is a dim reflection. It is interesting here to note that as the human solar Angel is a unity, manifesting through three tiers of petals, the logoic correspondence is even more interesting, for that great cosmic Entity demonstrates on the cosmic mental plane as a triple flame working through seven tiers of petals, and it is the energy from these seven circles of energy which pulsates through the medium of any scheme. All this is hidden in the mystery of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, and it is not possible for men to solve it,—the truth being obscure to even the highest Dhyan Chohan of our system. |
Một Thái dương Thượng đế dùng các hệ hành tinh làm những trung tâm năng lượng của Ngài, mỗi hệ hiện thân cho một loại năng lượng đặc thù, và vì vậy mỗi hệ rung động theo chủ âm của Thái dương Thiên Thần thượng đế, mà Thái dương Thiên Thần của con người chỉ là một phản ánh mờ nhạt. Ở đây thật lý thú khi lưu ý rằng cũng như Thái dương Thiên Thần của con người là một đơn vị, biểu lộ qua ba tầng cánh hoa, thì tương ứng thượng đế còn lý thú hơn nữa, vì Thực Thể vũ trụ vĩ đại ấy biểu lộ trên cõi trí vũ trụ như một ngọn lửa tam phân hoạt động qua bảy tầng cánh hoa, và chính năng lượng từ bảy vòng năng lượng này đập nhịp qua trung gian của bất kỳ hệ hành tinh nào. Tất cả điều này được che giấu trong huyền nhiệm của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, và con người không thể giải được—sự thật ấy mờ tối ngay cả đối với Dhyan Chohan cao nhất trong hệ của chúng ta. |
|
The energy centres of the solar Logos are themselves [Page 1162] in the form of vast lotuses (324) or wheels, at the centre of which lies hidden that central cosmic Life, we call a planetary Logos. He is the meeting place for two types of force, spiritual or logoic, which reaches Him (via the logoic Lotus on cosmic mental planes) from the seven Rishis of the Great Bear on Their own plane, and, secondly, of buddhic force, which is transmitted via the Seven Sisters or the Pleiades from a constellation called the Dragon in some books, and from which has come the appellation “The Dragon of Wisdom.” |
Các trung tâm năng lượng của Thái dương Thượng đế tự chúng [Page 1162] có hình thức những hoa sen bao la (324) hay những bánh xe, ở trung tâm của chúng ẩn giấu Sự sống vũ trụ trung tâm mà chúng ta gọi là một Hành Tinh Thượng đế. Ngài là điểm gặp gỡ của hai loại mãnh lực: mãnh lực tinh thần hay thượng đế, đến với Ngài (qua Hoa Sen thượng đế trên các cõi trí vũ trụ) từ bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh trên cõi riêng của Các Ngài; và thứ hai là mãnh lực Bồ đề, được truyền qua Bảy Chị Em hay Pleiades từ một chòm sao được gọi trong vài sách là Con Rồng, và từ đó phát sinh danh xưng “Con Rồng Minh Triết.” |
|
(324) Xem Phần VIII, Giáo Lý Bí Nhiệm, Quyển I. |
|
|
The Lotus is symbolical of both the Macrocosm and of the Microcosm. |
Hoa sen là biểu tượng cho cả Đại thiên địa lẫn Tiểu thiên địa. |
|
a. The seeds of the Lotus contain in miniature the perfect plant. |
a. Các hạt giống của Hoa sen chứa trong thu nhỏ cây hoàn hảo. |
|
b. It is the product of fire and matter. |
b. Nó là sản phẩm của lửa và vật chất. |
|
c. It has its roots in the mud, it grows up through the water, it is fostered by the warmth of the sun, it blossoms in the air. |
c. Rễ của nó ở trong bùn, nó mọc lên qua nước, được nuôi dưỡng bởi hơi ấm của mặt trời, và nở hoa trong không khí. |
|
MACROCOSM |
ĐẠI THIÊN ĐỊA |
|
The mud…….. The objective physical solar system. |
Bùn…….. Hệ mặt trời hồng trần khách quan. |
|
Water………..The emotional or astral nature. |
Nước……….. Bản chất cảm xúc hay cảm dục. |
|
Flower on water.. Fruition of the spiritual. |
Hoa trên nước.. Thành quả của tinh thần. |
|
Method……… Cosmic fire or intelligence. |
Phương pháp……. Lửa vũ trụ hay trí tuệ. |
|
MICROCOSM |
TIỂU THIÊN ĐỊA |
|
The mud…….. The physical body. |
Bùn…….. Thể xác. |
|
Water………..Emotional or astral nature. |
Nước……….. Bản chất cảm xúc hay cảm dục. |
|
Flower on water.. Fruition of the buddhic or spiritual. |
Hoa trên nước.. Thành quả của Bồ đề hay tinh thần. |
|
Method……… Fire of mind. |
Phương pháp……. Lửa của trí tuệ. |
|
“The significance of the tradition that Brahma is born from or in the lotus, is the same. The lotus symbolises a world-system, and Brahma dwells therein representing action; he is therefore called the Kamal-asana, the Lotus-seated. The lotus, again, is said to arise from or in the navel of Vishnu, because the navel of Vishnu or all-knowledge is necessary desire, the primal form of which, as embodied in the Veda-text, is: May I be born forth (as multitudinous progeny). From such central and essential desire, the will to live, arises the whole of becoming, all the operations, all the whirls and whorls, of change and manifestation, which make up life. In such becoming dwells Brahma, and from him and by him, i.e., by incessant activity, arises and manifests the organised world, the trib huvanam, the triple world. Because first manifested, therefore is Brahma named the first of the gods; by action is manifestation, and he is the actor; and because actor, therefore is he also sometimes called the preserver or protector of the world; for he who makes a thing desires also the maintenance and preservation of his handiwork, and, moreover, by the making of the thing supplies the basis and opportunity for the operation of preservation, which, in strictness, of course, belong to Vishnu.”—Pranava-Vada, pp. 84, 311. (back) |
“Thâm nghĩa của truyền thống cho rằng Brahma sinh ra từ hay trong hoa sen cũng là như vậy. Hoa sen biểu tượng cho một hệ thống thế giới, và Brahma ngự trong đó, tượng trưng cho hành động; vì vậy ngài được gọi là Kamal-asana, Đấng ngồi trên Hoa sen. Hoa sen, lại nữa, được nói là phát sinh từ hay trong rốn của Vishnu, bởi vì rốn của Vishnu hay toàn tri là dục vọng tất yếu, mà hình thức nguyên sơ của nó, như được thể hiện trong văn bản Veda, là: Cầu mong ta được sinh ra (thành vô số hậu duệ). Từ dục vọng trung tâm và cốt yếu ấy, ý chí sống, phát sinh toàn bộ tiến trình trở thành, mọi hoạt động, mọi vòng xoáy và cuộn xoáy của biến đổi và biểu hiện, vốn hợp thành sự sống. Trong tiến trình trở thành ấy Brahma ngự trị, và từ ngài và bởi ngài, tức là bởi hoạt động không ngừng, thế giới có tổ chức phát sinh và biểu hiện, trib huvanam, thế giới tam phân. Bởi vì được biểu hiện trước tiên, nên Brahma được gọi là vị thần đầu tiên; biểu hiện là do hành động, và ngài là tác nhân; và bởi vì là tác nhân, nên ngài cũng đôi khi được gọi là đấng bảo tồn hay bảo hộ thế giới; vì kẻ tạo ra một vật cũng mong muốn duy trì và bảo tồn công trình của mình, và hơn nữa, bằng việc tạo ra vật ấy, cung cấp nền tảng và cơ hội cho hoạt động bảo tồn, vốn theo nghĩa chặt chẽ dĩ nhiên thuộc về Vishnu.”—Pranava-Vada, tr. 84, 311. (back) |
|
A third type of energy is added and, therefore, can be detected in these centres, that of manasic type. This reaches the logoic centres via the star Sirius, and is transmitted from that constellation which (as earlier I have [Page 1163] hinted) must remain obscure at present. These three great streams of energy form the total manifestation of a logoic centre. This is known to us as a planetary scheme. |
Một loại năng lượng thứ ba được thêm vào và vì vậy có thể được nhận ra trong các trung tâm này, đó là loại manas. Nó đến các trung tâm thượng đế qua sao Sirius, và được truyền từ chòm sao ấy mà (như trước đây tôi đã gợi ý) hiện nay vẫn phải còn [Page 1163] mờ tối. Ba dòng năng lượng lớn này tạo thành toàn bộ biểu hiện của một trung tâm thượng đế. Điều này được chúng ta biết đến như một hệ hành tinh. |
|
Within the planetary scheme, these streams of energy work paramountly in the following manner: |
Bên trong hệ hành tinh, các dòng năng lượng này hoạt động chủ yếu theo cách sau: |
|
a. |
Spiritual energy |
three higher planes |
the Monads. |
|
b. |
Buddhic force |
fourth plane |
the solar Angels. |
|
c. |
Manasic force |
two lower planes |
the four kingdoms of nature. |
|
Physical energy, the left-over of a previous solar system, demonstrates through the dense physical form and in the material which is energised during the involutionary cycle. It is not considered a principle; and is regarded as the basis of maya or illusion. |
Năng lượng hồng trần, phần còn lại của một hệ mặt trời trước, biểu lộ qua hình thể hồng trần đậm đặc và trong chất liệu được tiếp sinh lực trong chu kỳ giáng hạ tiến hoá. Nó không được xem là một nguyên khí; và được coi là nền tảng của ảo lực hay ảo tưởng. |
|
The various planetary schemes are not all alike and differ as to: |
Các hệ hành tinh khác nhau không hoàn toàn giống nhau và khác biệt về: |
|
a. Type of energy, |
a. Loại năng lượng, |
|
b. Point in evolution, |
b. Điểm tiến hoá, |
|
c. Position in the general plan, |
c. Vị trí trong kế hoạch tổng quát, |
|
d. Karmic opportunity, |
d. Cơ hội nghiệp quả, |
|
e. Rate of vibration. |
e. Tốc độ rung động. |
|
The main distinction exists in the fact, as we have so oft repeated, that three of them form the three higher etheric energy centres of the Logos, and four constitute the lower centres. |
Sự phân biệt chính nằm ở sự kiện, như chúng ta đã lặp đi lặp lại rất nhiều lần, rằng ba trong số chúng tạo thành ba trung tâm năng lượng dĩ thái cao của Thượng đế, và bốn trung tâm còn lại cấu thành các trung tâm thấp. |
|
Saturn is of interest to us here because the Logos of Saturn holds a position in the body logoic similar to that held by the throat centre in the microcosm. Three centres towards the close of manifestation will become aligned in the same way as the centre at the base of the spine, the throat centre and the alta major centre. Here it must be pointed out that there are three planetary schemes which [Page 1164] hold a place analogous to that held by the pineal gland, the pituitary body, and the alta major centre, but they are not the schemes referred to as centres, or known to us as informed by planetary Logoi. Certain of the planetoids have their place here, and one scheme which has passed out of activity, and is in a condition of quiescence and nonactivity. This latter scheme is the correspondence in the logoic body to the atrophied third eye in the fourth kingdom of nature. When man has developed etheric vision and thus has expanded his range of vision, he will become aware of these facts, for he will see. Many planetary schemes which are found only in etheric matter will be revealed to his astonished gaze, and he will find that (as in the body microcosmic) there are seven (or ten), paramount centres but numbers of other centres for the purpose of energising various organs. So likewise the body macrocosmic has myriads of energy focal points or feeders which have their place, their function, and their felt effects. These centres, with no dense physical globe, constitute what has sometimes been called “the inner round” and transmit their force through those greater centres which have been spoken of in occult books as having a connection with the inner round. |
Sao Thổ đáng quan tâm đối với chúng ta ở đây vì Thượng đế của Sao Thổ giữ một vị trí trong thể thượng đế tương tự như vị trí của trung tâm cổ họng trong tiểu thiên địa. Ba trung tâm vào lúc gần kết thúc biểu hiện sẽ trở nên chỉnh hợp theo cùng cách như trung tâm ở đáy cột sống, trung tâm cổ họng và trung tâm alta major. Ở đây cần chỉ ra rằng có ba hệ hành tinh giữ một vị trí [Page 1164] tương tự với vị trí của tuyến tùng quả, tuyến yên và trung tâm alta major, nhưng chúng không phải là các hệ được nói đến như những trung tâm, hay được chúng ta biết là được các Hành Tinh Thượng đế thấm nhuần. Một số tiểu hành tinh có vị trí của chúng ở đây, và một hệ đã ra khỏi hoạt động, đang ở trong trạng thái tĩnh lặng và bất hoạt. Hệ sau này là tương ứng trong thể thượng đế với con mắt thứ ba bị teo đi trong giới thứ tư của thiên nhiên. Khi con người đã phát triển linh thị dĩ thái và nhờ đó mở rộng tầm nhìn của mình, y sẽ nhận biết các sự kiện này, vì y sẽ thấy. Nhiều hệ hành tinh chỉ được tìm thấy trong chất liệu dĩ thái sẽ được mặc khải trước cái nhìn kinh ngạc của y, và y sẽ thấy rằng (như trong thể tiểu thiên địa) có bảy (hay mười) trung tâm chính yếu nhưng có vô số trung tâm khác nhằm mục đích tiếp sinh lực cho các cơ quan khác nhau. Tương tự như vậy, thể đại thiên địa có vô số tiêu điểm năng lượng hay các điểm cấp dưỡng có vị trí, chức năng và hiệu quả cảm nhận được của chúng. Những trung tâm này, không có bầu hành tinh hồng trần đậm đặc, cấu thành cái đôi khi được gọi là “cuộc tuần hoàn bên trong” và truyền mãnh lực của chúng qua những trung tâm lớn hơn đã được nói đến trong các sách huyền bí là có liên hệ với cuộc tuần hoàn bên trong. |
|
Each of these planetary schemes can be seen as a lotus having seven major petals, of which each chain forms one petal, but having also subsidiary petals of a secondary colour according to the nature and karma of the Entity concerned. It is in the enumeration of these solar lotuses that occult students go astray. It is, for instance, correct to say that the planetary scheme corresponding to the microcosmic base of the spine is a fourfold lotus and has, therefore, four petals. There are four outstanding petals of a peculiar hue, but there are three of a secondary colour, and nine of a tertiary nature. (To students with intuition the hint here conveyed may reveal the name of the planet, and the nature of its evolution). |
Mỗi hệ hành tinh này có thể được thấy như một hoa sen có bảy cánh hoa chính, trong đó mỗi dãy tạo thành một cánh hoa, nhưng cũng có những cánh hoa phụ với màu sắc thứ cấp tùy theo bản chất và nghiệp quả của Thực Thể liên hệ. Chính trong việc liệt kê các hoa sen mặt trời này mà các đạo sinh huyền bí học đi lạc hướng. Chẳng hạn, nói rằng hệ hành tinh tương ứng với đáy cột sống của tiểu thiên địa là một hoa sen tứ phân và do đó có bốn cánh hoa là điều đúng. Có bốn cánh hoa nổi bật với một sắc thái đặc biệt, nhưng có ba cánh mang màu thứ cấp, và chín cánh có bản chất tam cấp. (Đối với các đạo sinh có trực giác, gợi ý được chuyển trao ở đây có thể mặc khải tên của hành tinh ấy và bản chất của sự tiến hoá của nó). |
|
[Page 1165] Each of these solar lotuses, or planetary schemes, unfolds in three great stages of activity, in each one of which one of the three types of energy dominates. As the unfolding proceeds, the vibratory activity increases, and the appearance of the manifesting activity changes. |
[Page 1165] Mỗi hoa sen mặt trời này, hay mỗi hệ hành tinh, khai mở trong ba giai đoạn hoạt động lớn, trong mỗi giai đoạn một trong ba loại năng lượng chi phối. Khi sự khai mở tiếp diễn, hoạt động rung động gia tăng, và vẻ ngoài của hoạt động biểu hiện thay đổi. |
|
a. The motion of the lotus or wheel for a long time is simply that of a slow revolution. |
a. Chuyển động của hoa sen hay bánh xe trong một thời gian dài đơn giản chỉ là một sự quay chậm. |
|
b. Later, for a still vaster period, each petal revolves within the greater whole, and at an angle different to that of the whole revolution. |
b. Về sau, trong một thời kỳ còn bao la hơn nữa, mỗi cánh hoa quay bên trong toàn thể lớn hơn, và theo một góc khác với góc của toàn bộ vòng quay. |
|
c. Finally, these two activities are increased by the appearance of a form of energy which, originating from the centre, pulsates so powerfully that it produces what look to be streams of energy passing backwards and forwards from the centre to the periphery. |
c. Cuối cùng, hai hoạt động này được tăng cường bởi sự xuất hiện của một dạng năng lượng mà, phát sinh từ trung tâm, đập nhịp mạnh mẽ đến mức tạo ra điều trông như những dòng năng lượng đi qua đi lại từ trung tâm đến chu vi. |
|
d. When these three are working in unison, the effect is wonderful in the extreme, and impossible for the eye to follow, the mind of man to conceive, or the pen to express in words. It is this stage, macrocosmic and microcosmic, which constitutes the different grades of alignment, for it must never be forgotten by students that all that manifests is a sphere, and alignment really consists in unimpeded communication between the heart of the sphere and the periphery or the bound of the influence of the dynamic will and the centre. |
d. Khi cả ba hoạt động đồng nhất, hiệu quả là kỳ diệu đến tột bậc, mắt không thể theo kịp, trí tuệ con người không thể hình dung, hay ngòi bút không thể diễn tả bằng lời. Chính giai đoạn này, trong Đại thiên địa và Tiểu thiên địa, cấu thành các cấp độ chỉnh hợp khác nhau, vì đạo sinh không bao giờ được quên rằng mọi cái biểu hiện đều là một khối cầu, và chỉnh hợp thực sự bao gồm sự thông giao không bị ngăn trở giữa trái tim của khối cầu và chu vi hay ranh giới ảnh hưởng của ý chí năng động và của trung tâm. |
|
Within each planetary scheme, are found the seven chains which are the seven planetary centres, and again within the chain are the seven globes which are the chain centres, but students would do well not to study the globes from the point of view of centres until their knowledge of the mystery underlying dense physical substance is greater, or they will be led into error. The lower down one seeks to carry the correspondence, the more the likelihood of error. The correspondence must lie in quality and in principle expressed, but not in form. |
Bên trong mỗi hệ hành tinh có bảy dãy là bảy trung tâm hành tinh, và lại nữa bên trong dãy có bảy bầu hành tinh là các trung tâm của dãy, nhưng đạo sinh nên tránh nghiên cứu các bầu hành tinh từ quan điểm các trung tâm cho đến khi tri thức của họ về huyền nhiệm nằm dưới chất liệu hồng trần đậm đặc lớn hơn, nếu không họ sẽ bị dẫn vào sai lầm. Càng tìm cách mang sự tương ứng xuống thấp hơn, khả năng sai lầm càng lớn. Sự tương ứng phải nằm trong phẩm tính và trong nguyên khí được biểu lộ, chứ không phải trong hình tướng. |
DIVISION F. – THE LAW OF ATTRACTION |
PHÂN ĐOẠN F. – ĐỊNH LUẬT HẤP DẪN |
|
[Page 1166] |
|
|
I. The Subsidiary laws. |
I. Các định luật phụ thuộc. |
|
1. Law of Chemical Affinity. |
1. Định luật Ái lực Hóa học. |
|
2. Law of Progress. |
2. Định luật Tiến bộ. |
|
3. Law of Sex. |
3. Định luật Giới tính. |
|
4. Law of Magnetism. |
4. Định luật Từ điện. |
|
5. Law of Radiation. |
5. Định luật Phóng xạ. |
|
6. Law of the Lotus. |
6. Định luật Hoa sen. |
|
7. Law of Colour. |
7. Định luật Màu sắc. |
|
8. Law of Gravitation. |
8. Định luật Trọng lực. |
|
9. Law of Planetary Affinity. |
9. Định luật Ái lực Hành tinh. |
|
10. Law of Solar Unity. |
10. Định luật Hợp nhất Thái dương. |
|
11. Law of the Schools. |
11. Định luật của các Trường phái. |
|
II. Its Effects. |
II. Các hiệu quả của nó. |
|
1. Association. |
1. Sự kết hợp. |
|
2. Form Building. |
2. Sự kiến tạo hình tướng. |
|
3. Adaptation of form to life. |
3. Sự thích ứng của hình tướng với sự sống. |
|
4. Group Unity. |
4. Sự hợp nhất nhóm. |
|
III. Group Relations. |
III. Các liên hệ nhóm. |
|
1. Three atomic relations. |
1. Ba liên hệ nguyên tử. |
|
2. Seven laws of group work. |
2. Bảy định luật của công việc nhóm. |
|
3. Twenty-two methods of interplay. |
3. Hai mươi hai phương pháp tương tác. |
|
This law is, as we know, the basic law of all manifestation, and the paramount law for this solar system. It might strictly be called the Law of Adjustment or of Balance, for it conditions that aspect of electrical phenomena which we call neutral. The Law of Economy is the basic law of one pole, that of the negative aspect; the Law of Synthesis is the basic law of the positive pole, but the Law of Attraction is the law for the fire which is produced [Page 1167] by the merging during evolution of the two poles. From the standpoint of the human being, it is that which brings about the realisation of self-consciousness; from the point of view of the subhuman beings it is that which draws all forms of life on to self-realisation; whilst in connection with the superhuman aspect it may be stated that this law of life expands into the processes conditioned by the higher law of Synthesis, of which the Law of Attraction is but a subsidiary branch. |
Định luật này, như chúng ta biết, là định luật căn bản của mọi biểu hiện, và là định luật tối quan trọng của hệ mặt trời này. Nói một cách chính xác, nó có thể được gọi là Định luật Điều chỉnh hay Quân bình, vì nó tác động lên phương diện của các hiện tượng điện mà chúng ta gọi là trung tính. Định luật Tiết Kiệm là định luật căn bản của một cực, tức cực âm; Định luật Tổng Hợp là định luật căn bản của cực dương, nhưng Định luật Hấp Dẫn là định luật dành cho ngọn lửa được tạo ra [Page 1167] bởi sự hòa nhập của hai cực trong tiến hoá. Từ quan điểm của con người, đó là cái mang lại sự chứng nghiệm ngã thức; từ quan điểm của các sinh thể dưới nhân loại, đó là cái kéo mọi hình thức sự sống tiến đến sự chứng nghiệm bản ngã; còn liên hệ với phương diện siêu nhân loại, có thể nói rằng định luật của sự sống này mở rộng vào các tiến trình được tác động bởi Định luật Tổng Hợp cao hơn, mà Định luật Hấp Dẫn chỉ là một nhánh phụ thuộc. |
|
Strictly speaking, the Law of Attraction is a generic term under which are grouped several other laws similar in nature but diverse in their manifestations. It might be useful if we enumerated a few of these laws, thereby enabling the student to get (as he studies them in their totality) a broad general idea as to the Law and its modifications, its spheres of influence and the scope of its activity. It should be noted here as a basic proposition in connection with all atoms that the Law of Attraction governs the Soul aspect. The Law of Economy is the law of the negative electron; the Law of Synthesis is the Law of the positive central life; whilst the Law of Attraction governs that which is produced by the relation of these two, and is itself controlled by a greater cosmic law which is the principle of the intelligence of substance. It is the law of Akasha. |
Nói một cách chính xác, Định luật Hấp Dẫn là một thuật ngữ tổng quát, dưới đó tập hợp nhiều định luật khác tương tự về bản chất nhưng khác nhau trong các biểu hiện của chúng. Sẽ hữu ích nếu chúng ta liệt kê một vài định luật trong số đó, nhờ vậy giúp đạo sinh có được (khi nghiên cứu chúng trong tính toàn thể của chúng) một ý niệm khái quát rộng lớn về Định luật này và các biến thái của nó, các phạm vi ảnh hưởng của nó và tầm mức hoạt động của nó. Ở đây cần lưu ý như một mệnh đề căn bản liên quan đến mọi nguyên tử rằng Định luật Hấp Dẫn chi phối phương diện linh hồn. Định luật Tiết Kiệm là định luật của điện tử âm; Định luật Tổng Hợp là Định luật của sự sống trung tâm dương; còn Định luật Hấp Dẫn chi phối điều được tạo ra bởi mối liên hệ của hai điều này, và chính nó lại được kiểm soát bởi một định luật vũ trụ lớn hơn, là nguyên khí của trí tuệ của chất liệu. Đó là định luật của Akasha. |
|
It must be borne in mind that these three laws are the expression of the intent or purpose of the three Logoic Aspects. The Law of Economy is the governing principle of Brahma or the Holy Spirit; the Law of Synthesis is the law of the Father’s life; whilst the Son’s life is governed by, and manifests forth divine attraction. Yet these three are the three subsidiary laws of a greater impulse which governs the life of the Unmanifested Logos. (S. D., I, 56, 73, 74.) [Page 1168] |
Cần ghi nhớ rằng ba định luật này là biểu hiện của ý định hay mục đích của ba Phương diện Thượng đế. Định luật Tiết Kiệm là nguyên khí chi phối của Brahma hay Chúa Thánh Thần; Định luật Tổng Hợp là định luật của sự sống của Đức Cha; còn sự sống của Đức Con được chi phối bởi, và biểu lộ ra, sức hút thiêng liêng. Tuy nhiên, cả ba định luật này là ba định luật phụ thuộc của một xung lực lớn hơn, chi phối sự sống của Thượng đế Không Biểu Hiện. (S. D., I, 56, 73, 74.) [Page 1168] |
I. THE SUBSIDIARY LAWS |
I. CÁC ĐỊNH LUẬT PHỤ THUỘC |
|
The subsidiary aspects, or laws, of the Law of Attraction might be enumerated as follows: |
Các phương diện phụ thuộc, hay các định luật, của Định luật Hấp Dẫn có thể được liệt kê như sau: |
|
1. The Law of Chemical Affinity. This law governs the soul aspect in the mineral kingdom. It concerns the marriage of the atoms, and the romance of the elements. It serves to perpetuate the life of the mineral kingdom and to preserve its integrity. |
1. Định luật Ái lực Hóa học. Định luật này chi phối phương diện linh hồn trong giới kim thạch. Nó liên quan đến sự kết hôn của các nguyên tử, và mối tình của các nguyên tố. Nó giúp duy trì sự sống của giới kim thạch và bảo tồn tính toàn vẹn của giới này. |
|
It is the cause of the immetalisation of the Monad. |
Nó là nguyên nhân của sự kim thạch hóa của chân thần. |
|
2. The Law of Progress. It is called this in the vegetable kingdom owing to the fact that it is in this kingdom that definite objective response to stimulation can be noted. It is the basis of the phenomenon of sensation, which is the key to this solar system of love, our system being a “Son of Necessity” or of desire. This law is the working out into manifestation of the informing consciousness of a part of the deva kingdom, and of certain pranic energies. The student will find much of esoteric interest in the following line of living forces: |
2. Định luật Tiến Bộ. Nó được gọi như vậy trong giới thực vật vì chính trong giới này có thể ghi nhận được sự đáp ứng khách quan rõ rệt đối với kích thích. Nó là nền tảng của hiện tượng cảm giác, vốn là chìa khóa của hệ mặt trời tình thương này, vì hệ của chúng ta là một “Con của Sự Cần Thiết” hay của dục vọng. Định luật này là sự triển khai vào biểu hiện của tâm thức thấm nhuần của một phần giới thiên thần, và của một số năng lượng prana. Đạo sinh sẽ tìm thấy nhiều điều huyền bí học đáng quan tâm trong tuyến các mãnh lực sống động sau đây: |
|
a. The second chain, globe and round, |
a. Dãy thứ hai, bầu hành tinh và cuộc tuần hoàn, |
|
b. The vegetable kingdom, |
b. giới thực vật, |
|
c. The devas of desire in their second reflected groupings, |
c. các thiên thần của dục vọng trong các nhóm phản chiếu thứ hai của họ, |
|
d. The heart of the Sun, |
d. trái tim của Mặt Trời, |
|
e. The second Ray force. |
e. mãnh lực cung hai. |
|
3. The Law of Sex. |
3. Định luật Tính Dục. |
|
This is the term applied to the force which brings about the physical merging of the two poles in connection with the animal kingdom, and of man, viewing him as responsive to the call of his animal nature. It concerns itself with the due guarding of the form in this particular cycle and its perpetuation. It is only powerful during the period of the duality of the sexes and their separation and, in the case of man, will be offset by a higher expression of the law when man is again androgynous. It is [Page 1169] the law of marriage, and finds some aspects of its manifestation not only in marriage of men and animals in the physical sense, but in the “occult marriage” of |
Đây là thuật ngữ được áp dụng cho mãnh lực tạo ra sự hòa nhập hồng trần của hai cực liên quan đến giới động vật, và của con người, khi xem y như đang đáp ứng tiếng gọi của bản chất động vật của mình. Nó quan tâm đến việc bảo vệ thích đáng hình tướng trong chu kỳ đặc biệt này và sự duy trì của nó. Nó chỉ mạnh mẽ trong thời kỳ nhị nguyên tính của hai giới tính và sự phân ly của chúng, và trong trường hợp con người, nó sẽ được hóa giải bởi một biểu hiện cao hơn của định luật khi con người lại trở nên lưỡng tính. Nó là [Page 1169] định luật của hôn nhân, và tìm thấy một số phương diện biểu hiện của nó không chỉ trong hôn nhân của những người nam và nữ và của động vật theo nghĩa hồng trần, mà còn trong “hôn phối huyền bí” của |
|
a. The Soul and the Spirit. |
a. Linh hồn và tinh thần. |
|
b. The Son with his Mother (or the Soul with the physical substance). |
b. Đức Con với Mẹ của Ngài (hay linh hồn với chất liệu hồng trần). |
|
c. The negative planetary lives with the positive ones earlier pointed out. |
c. Các sự sống hành tinh âm với các sự sống hành tinh dương đã được nêu ra trước đó. |
|
d. The systemic marriage, or the merging of the two final planetary schemes after their absorption of the other forces. |
d. Cuộc hôn phối hệ thống, hay sự hòa nhập của hai hệ hành tinh chung cuộc sau khi chúng hấp thu các mãnh lực khác. |
|
e. The cosmic marriage, or the merging of our solar system with its opposite cosmic pole, another constellation. The cosmic marriage of stars and Systems is the cause of the occasional irregular flaring-up or intensification of suns and their increased luminosity which is sometimes seen, and which has frequently been the subject of discussion. |
e. Cuộc hôn phối vũ trụ, hay sự hòa nhập của hệ mặt trời chúng ta với cực vũ trụ đối nghịch của nó, một chòm sao khác. Cuộc hôn phối vũ trụ của các ngôi sao và các hệ thống là nguyên nhân của sự bùng sáng bất thường hay sự tăng cường cường độ của các mặt trời và độ sáng gia tăng của chúng đôi khi được thấy, và điều này thường là đề tài bàn luận. |
|
4. The Law of Magnetism. This is the law which produces the unifying of a personality, and though it is an expression of lunar force, is, nevertheless, of a much higher order than the law of physical sex. It is the expression of the law as it is demonstrated by the three major groups of lunar pitris. These three groups are not concerned with the building of the forms of the animal kingdom, for they are the builders of the body of man in the final three stages of the path of evolution: |
4. Định luật Từ Điện. Đây là định luật tạo ra sự hợp nhất của một phàm ngã, và tuy là một biểu hiện của mãnh lực thái âm, nhưng dù vậy, nó thuộc một trật tự cao hơn nhiều so với định luật tính dục hồng trần. Nó là biểu hiện của định luật như được chứng tỏ bởi ba nhóm lớn các thái âm tổ phụ pitris. Ba nhóm này không liên quan đến việc xây dựng các hình tướng của giới động vật, vì họ là các đấng kiến tạo thể của con người trong ba giai đoạn cuối cùng của con đường tiến hoá: |
|
a. The stage of high intellectuality, or of artistic attainment, |
a. Giai đoạn trí tuệ cao, hay thành tựu nghệ thuật, |
|
b. The stage of discipleship, |
b. Giai đoạn địa vị đệ tử, |
|
c. The stage of treading the Path. |
c. Giai đoạn bước đi trên Con Đường. |
|
The lower four groups concern themselves with the earlier stages, and with the animal aspects of attraction in both the kingdoms. [Page 1170] |
Bốn nhóm thấp hơn liên quan đến các giai đoạn sớm hơn, và đến các phương diện động vật của sức hút trong cả hai giới. [Page 1170] |
|
5. Định luật Phóng Xạ. Đây là một trong những định luật lý thú nhất vì nó chỉ đi vào hoạt động liên quan đến những mẫu mực cao nhất của các giới khác nhau, và liên quan đến sức hút mà một giới tự nhiên cao hơn sẽ có đối với các sự sống cao nhất của giới thấp hơn kế tiếp. Nó chi phối tính phóng xạ của khoáng vật, các bức xạ của giới thực vật và (điều lạ lùng là) toàn bộ vấn đề về hương thơm. Khứu giác là giác quan cao nhất trong các giác quan thuần hồng trần; vì vậy trong giới thực vật, một chuỗi hương thơm nào đó là bằng chứng của sự phóng xạ trong giới ấy. |
|
|
There is, moreover, an interesting link between those who are members of the fifth kingdom (the spiritual) and the vegetable, for in esotericism the two and the five, the Son, and the Sons of Mind, are closely allied. It is not possible to indicate more, but it is not without significance that certain Rays are, through the initiates and Masters, represented by vegetable perfumes. It signifies radiation, and to those who have the key reveals the quality of the egoic lotus and the place it holds in any particular planetary lotus, as well as a connection with certain devas who are the sevenfold life of the vegetable kingdom. We must not forget that man is occultly a “seven-leaved plant, the saptaparna.” (S. D., I, 251; II, 626.) |
Hơn nữa, có một mối liên hệ lý thú giữa những ai là thành viên của giới thứ năm (giới tinh thần) và giới thực vật, vì trong huyền bí học, số hai và số năm, Đức Con, và các Con của Trí Tuệ, có liên hệ mật thiết với nhau. Không thể nói thêm, nhưng không phải là không có thâm nghĩa khi một số cung, thông qua các điểm đạo đồ và các Chân sư, được biểu hiện bằng các hương thơm thực vật. Điều đó biểu thị sự phóng xạ, và đối với những ai có chìa khóa, nó tiết lộ phẩm tính của Hoa Sen Chân Ngã và vị trí mà nó giữ trong bất kỳ hoa sen hành tinh đặc thù nào, cũng như một mối liên hệ với một số thiên thần là sự sống thất phân của giới thực vật. Chúng ta không được quên rằng con người, một cách huyền bí, là “một cây bảy lá, saptaparna.” (S. D., I, 251; II, 626.) |
|
This law in a mysterious manner, inexplicable to those ignorant of the karma of our planetary Logos, is not operative in the animal kingdom during this Cycle or chain. One of the problems of the next chain will be the bringing in of animal radiation; thus offsetting the method of initiation now pursued. It must never be forgotten that the chain process of individualisation, and the earlier three Initiations concern the animal kingdom and man is viewed therein as an animal. In the final Initiation or the offering up of the entire bodily nature, [Page 1171] this part of the general karma of the planetary Logos and the Life of the informing Spirit of the animal kingdom become adjusted. If this is meditated upon, some light may be thrown upon the problem as to why the Adepts of the left hand path in Atlantean days were called “the Trees,” (S. D., II, 519, 520, 521.) and were destroyed with the entire Atlantean vegetation. In the oldest of all the Commentaries the mystery is expressed thus: |
Định luật này, theo một cách huyền nhiệm, không thể giải thích đối với những ai không biết nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, không hoạt động trong giới động vật trong Chu kỳ hay Dãy này. Một trong những vấn đề của Dãy kế tiếp sẽ là việc đưa vào sự phóng xạ động vật; nhờ đó hóa giải phương pháp điểm đạo hiện đang được theo đuổi. Không bao giờ được quên rằng tiến trình biệt ngã hóa của Dãy, và ba lần điểm đạo đầu tiên, liên quan đến giới động vật và con người được xem trong đó như một động vật. Trong cuộc Điểm đạo chung cuộc hay sự hiến dâng toàn bộ bản chất thể xác, [Page 1171] phần này của nghiệp quả tổng quát của Hành Tinh Thượng đế và Sự sống của Tinh thần phú linh của giới động vật trở nên được điều chỉnh. Nếu điều này được tham thiền, một ít ánh sáng có thể được rọi vào vấn đề tại sao các chân sư của tả đạo trong thời Atlantis được gọi là “các Cây,” (S. D., II, 519, 520, 521.) và đã bị hủy diệt cùng với toàn bộ thực vật Atlantis. Trong bản Cổ Luận xưa nhất, huyền nhiệm này được diễn tả như sau: |
|
“They (the Adepts of the Left Hand Path) became thus separated through their own fault. Their smell rose not up to Heaven; they refused to merge. No perfume was theirs. They hugged to their greedy bosoms all the gains of the flowering plant.” |
“Họ (các chân sư của tả đạo) do đó trở nên tách biệt bởi chính lỗi lầm của họ. Mùi hương của họ không bay lên Thiên giới; họ từ chối hòa nhập. Họ không có hương thơm nào. Họ ôm chặt vào lòng tham lam của mình mọi thành quả của cây đang nở hoa.” |
|
6. The Law of the Lotus. This is the name given to the mysterious influence from the cosmic Law of Attraction which brought in the divine Sons of Mind, and thus linked the two poles of Spirit and matter, producing upon the plane of mind that which we call the egoic lotus, or “the Flower of the Self.” It is the law which enables the lotus to draw from the lower nature (the matter aspect and the water aspect) the moisture and heat necessary for its unfoldment, and to bring down from the levels of the Spirit that which is to it what the rays of the sun are to the vegetable kingdom. It governs the process of petal unfoldment, and therefore itself demonstrates as a triple law: |
6. Định luật Hoa Sen. Đây là tên gọi dành cho ảnh hưởng huyền nhiệm từ Định luật Hấp Dẫn vũ trụ đã đưa các Con thiêng liêng của Trí Tuệ vào, và nhờ đó nối kết hai cực của tinh thần và vật chất, tạo ra trên cõi trí điều mà chúng ta gọi là Hoa Sen Chân Ngã, hay “Hoa của Bản Ngã.” Đó là định luật giúp hoa sen rút từ bản chất thấp (phương diện vật chất và phương diện nước) độ ẩm và nhiệt cần thiết cho sự khai mở của nó, và kéo xuống từ các cấp độ của tinh thần điều đối với nó cũng như các tia mặt trời đối với giới thực vật. Nó chi phối tiến trình khai mở các cánh hoa, và vì vậy chính nó biểu lộ như một định luật tam phân: |
|
a. |
The Law of Solar Heat |
Knowledge petals. |
|
b. |
The Law of Solar Light |
Love petals. |
|
c. |
The Law of Solar Fire |
Sacrifice petals. |
|
7. The Law of Colour. |
7. Định luật Màu Sắc. |
|
To get any comprehension of this law students should remember that colour serves a twofold purpose. It acts as a veil for that which lies behind, and is therefore attracted [Page 1172] to the central spark; it demonstrates the attractive quality of the central life. |
Để có được bất kỳ sự thấu hiểu nào về định luật này, các đạo sinh nên nhớ rằng màu sắc phục vụ một mục đích nhị phân. Nó hoạt động như một bức màn che cho điều nằm phía sau, và vì vậy bị hút [Page 1172] về tia lửa trung tâm; nó chứng tỏ phẩm tính hấp dẫn của sự sống trung tâm. |
|
Vì vậy, mọi màu sắc đều là những trung tâm hấp dẫn, hoặc bổ sung cho nhau, hoặc đối nghịch nhau, và các đạo sinh nghiên cứu theo những đường hướng này có thể tìm ra định luật ấy, và thấu hiểu sự vận hành của nó thông qua sự chứng nghiệm về mục đích, hoạt động, và mối liên hệ của các màu sắc với nhau hay đối với nhau. |
|
|
8. The Law of Gravitation. This law is for the non-occult student the most puzzling and confusing of all the laws. It shows itself in one aspect as the power, and the stronger urge that a more vital life may have upon the lesser, such as the power of the spirit of the Earth (the planetary Entity, not the planetary Logos) to hold all physical forms to itself and prevent their “scattering.” This is due to the heavier vibration, the greater accumulative force, and the aggregated tamasic lives of the body of the planetary Entity. This force works upon the negative, or lowest, aspect of all physical forms. The Law of Gravitation shows itself also in the response of the soul of all things to the greater Soul in which the lesser finds itself. This law, therefore, affects the two lowest forms of divine life, but not the highest. It emanates in the first instance from the physical sun and the heart of the Sun. The final synthesising forces which might be regarded as forms of spiritual gravitational activity are, nevertheless, not so, but are due to the working of another law, emanating from the central spiritual Sun. The one is purely systemic, the other a cosmic law. |
8. Định luật Trọng Lực. Định luật này, đối với đạo sinh không huyền bí học, là điều khó hiểu và gây bối rối nhất trong mọi định luật. Nó biểu lộ trong một phương diện như là quyền năng, và sự thúc đẩy mạnh hơn mà một sự sống sinh động hơn có thể có đối với sự sống nhỏ hơn, chẳng hạn như quyền năng của tinh linh linh địa cầu (Thực Thể Hành Tinh, không phải Hành Tinh Thượng đế) giữ mọi hình tướng hồng trần lại với chính nó và ngăn chúng “phân tán.” Điều này là do rung động nặng hơn, mãnh lực tích lũy lớn hơn, và các sự sống tamas kết tập của thể của Thực Thể Hành Tinh. Mãnh lực này tác động lên phương diện âm, hay thấp nhất, của mọi hình tướng hồng trần. Định luật Trọng Lực cũng biểu lộ trong sự đáp ứng của linh hồn của vạn vật đối với Đại Hồn lớn hơn mà trong đó linh hồn nhỏ hơn tự thấy mình ở trong. Vì vậy, định luật này ảnh hưởng đến hai hình thức thấp nhất của sự sống thiêng liêng, nhưng không ảnh hưởng đến hình thức cao nhất. Trước hết, nó phát xuất từ mặt trời hồng trần và trái tim của Mặt Trời. Tuy nhiên, các mãnh lực tổng hợp hóa chung cuộc có thể được xem như những hình thức hoạt động trọng lực tinh thần thực ra không phải như vậy, mà là do sự vận hành của một định luật khác, phát xuất từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Một cái hoàn toàn thuộc hệ thống, cái kia là một định luật vũ trụ. |
|
9. The Law of Planetary Affinity. This term is used in the occult teaching specifically in connection with the interaction of the planets with each other and their eventual marriage. As we know, the planetary schemes (the seven sacred planets) will eventually synthesise, or absorb the life of the planets which are not termed sacred and the numerous planetoids, as far as the four kingdoms [Page 1173] of nature are concerned. The absorption of the Spirit aspect proceeds under the Law of Synthesis. The minor four planetary schemes become first the two, and then the one. This one, with the major three, forms a second and higher quaternary which again repeats the process, producing from the four, the two, and from the two, the one. This final one is eventually merged in the Sun, producing in this prolonged process, and over a vast period of time, the appearance of the “seven Suns who run together, and thus blaze forth, producing one flaming ball of fire.” |
9. Định luật Ái lực Hành tinh. Thuật ngữ này được dùng trong giáo huấn huyền bí học một cách đặc biệt liên quan đến sự tương tác của các hành tinh với nhau và cuộc hôn phối chung cuộc của chúng. Như chúng ta biết, các hệ hành tinh (bảy hành tinh thiêng liêng) rốt cuộc sẽ tổng hợp, hay hấp thu sự sống của các hành tinh không được gọi là thiêng liêng và vô số tiểu hành tinh, xét theo bốn giới [Page 1173] tự nhiên. Sự hấp thu phương diện tinh thần diễn ra dưới Định luật Tổng Hợp. Bốn hệ hành tinh nhỏ trước hết trở thành hai, rồi sau đó thành một. Cái một này, cùng với ba hệ lớn, tạo thành một bộ bốn thứ hai và cao hơn, rồi lại lặp lại tiến trình, tạo ra từ bốn thành hai, và từ hai thành một. Cái một chung cuộc này cuối cùng hòa nhập vào Mặt Trời, tạo ra trong tiến trình kéo dài này, và qua một thời kỳ vô cùng lâu dài, sự xuất hiện của “bảy Mặt Trời cùng chạy với nhau, và do đó bùng cháy rực rỡ, tạo thành một khối cầu lửa duy nhất.” |
|
On a lesser scale the same law governs the merging of the chains in a scheme. |
Ở quy mô nhỏ hơn, cùng định luật ấy chi phối sự hòa nhập của các Dãy trong một hệ hành tinh. |
|
10. The Law of Solar Union. When the interplay of the Suns is being dealt with from the material aspect and from the consciousness aspect, this term is occultly used. It is not possible to enlarge upon it, but only to point out the universality of this Law of Attraction. |
10. Định luật Hợp Nhất Thái Dương. Khi sự tương tác của các Mặt Trời được bàn đến từ phương diện vật chất và từ phương diện tâm thức, thuật ngữ này được dùng một cách huyền bí. Không thể nói rộng hơn về nó, mà chỉ có thể chỉ ra tính phổ quát của Định luật Hấp Dẫn này. |
|
11. The Law of the Schools. (The Law of Love and Light.) This is a mysterious term used to cover the law as it affects the expansions of consciousness which an initiate undergoes, and his ability to attract to himself through knowledge, |
11. Định luật của các Trường Phái. (Định luật của Tình thương và Ánh sáng.) Đây là một thuật ngữ huyền nhiệm dùng để bao quát định luật khi nó ảnh hưởng đến các sự mở rộng tâm thức mà một điểm đạo đồ trải qua, và khả năng của y trong việc hút về mình, thông qua tri thức, |
|
a. His own Higher Self, so as to produce alignment and illumination, |
a. Bản Ngã Cao Siêu của chính y, để tạo ra sự chỉnh hợp và sự soi sáng, |
|
b. His Guru, |
b. Guru của y, |
|
c. That which he seeks to know, |
c. Điều mà y tìm cách biết, |
|
d. That which he can utilise in his work of service, |
d. Điều mà y có thể sử dụng trong công việc phụng sự của mình, |
|
e. Other souls with whom he can work. |
e. Những linh hồn khác mà y có thể cùng làm việc. |
|
It will be evident, therefore, to the thoughtful student that this Law of the Schools is primarily applicable to all units of divine life who have arrived at, or transcended the stage of self-consciousness. It has consequently a vital connection with the human kingdom, and there is an occult significance in the fact that this is the eleventh [Page 1174] Law. It is the law which enables a man to unite two of his aspects (the personal self and the Higher Self). It is the law which governs the transition of the human atom into another and a higher kingdom. It is the law which (when comprehended and conformed to) enables a man to enter into a new cycle. It is the law of the adept, of the Master, and of the perfected man. For this reason it might be of profit here if we dealt with it a little more fully than with the other laws, for mankind is now at the stage where a number of its units are ready to come under the specific influence of this law, and thus be transferred out of the Hall of Learning, via the Hall of Wisdom, into the fifth or spiritual kingdom. |
Vì vậy, đối với đạo sinh biết suy tư, sẽ hiển nhiên rằng Định luật của các Trường Phái này trước hết áp dụng cho mọi đơn vị của sự sống thiêng liêng đã đạt đến, hay đã vượt qua, giai đoạn ngã thức. Do đó, nó có một mối liên hệ thiết yếu với giới nhân loại, và có một thâm nghĩa huyền bí trong sự kiện đây là Định luật thứ mười một [Page 1174]. Đây là định luật giúp một người hợp nhất hai phương diện của mình (phàm ngã và Bản Ngã Cao Siêu). Đây là định luật chi phối sự chuyển tiếp của nguyên tử nhân loại vào một giới khác và cao hơn. Đây là định luật mà (khi được thấu hiểu và tuân theo) giúp một người bước vào một chu kỳ mới. Đây là định luật của chân sư, của Chân sư, và của con người hoàn thiện. Vì lý do này, ở đây sẽ có ích nếu chúng ta bàn đến nó đầy đủ hơn đôi chút so với các định luật khác, vì hiện nay nhân loại đang ở giai đoạn mà một số đơn vị của nó đã sẵn sàng đi vào dưới ảnh hưởng đặc thù của định luật này, và nhờ đó được chuyển ra khỏi Phòng Hiểu Biết, qua Phòng Minh triết, vào giới thứ năm hay giới tinh thần. |
|
This Law of the Schools does not specifically apply to the deva evolution. They come under another law called “The Law of Passive Resistance” which does not concern us here, nor would it profit us to consider it. Three main groups of existences are controlled by it: |
Định luật của các Trường Phái này không áp dụng một cách đặc thù cho tiến hoá thiên thần. Họ ở dưới một định luật khác gọi là “Định luật Kháng Cự Thụ Động”, điều này không liên quan đến chúng ta ở đây, và việc xét đến nó cũng không có ích gì. Ba nhóm hiện hữu chính được nó kiểm soát là: |
|
1. Human beings from the moment they tread the Probationary Path. |
1. Nhân loại từ lúc họ bước lên Con Đường Dự Bị. |
|
2. All the units of the fifth kingdom, therefore, all the members of the Hierarchy. |
2. Mọi đơn vị của giới thứ năm, do đó, mọi thành viên của Thánh Đoàn. |
|
3. The planetary Logoi throughout the system. |
3. Các Hành Tinh Thượng đế trong toàn hệ thống. |
|
It will be apparent, therefore, that this law concerns the great experiment which has been inaugurated on earth by our planetary Logos in connection with the process of initiation, and it has only held sway since the Door of Initiation was opened in Atlantean days. It does not, therefore, apply to all the members of the human family; some of whom will achieve slowly and under the sway of the basic Law of Evolution. It does not affect, in any way, for instance, those members of the human family who have individualised on the earth chain through the fanning of the spark of mind—one of the methods employed by the Lords of the Flame, as earlier seen. |
Vì vậy, sẽ rõ ràng rằng định luật này liên quan đến cuộc thí nghiệm lớn đã được Hành Tinh Thượng đế của chúng ta khai mở trên địa cầu liên quan đến tiến trình điểm đạo, và nó chỉ mới nắm quyền từ khi Cánh Cửa Điểm Đạo được mở ra trong thời Atlantis. Do đó, nó không áp dụng cho mọi thành viên của gia đình nhân loại; một số trong họ sẽ thành tựu một cách chậm chạp và dưới quyền chi phối của Định luật căn bản của Tiến Hoá. Chẳng hạn, nó không ảnh hưởng theo bất kỳ cách nào đến những thành viên của gia đình nhân loại đã biệt ngã hóa trên dãy địa cầu thông qua việc quạt bùng tia lửa trí tuệ—một trong những phương pháp được các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa sử dụng, như đã thấy trước đây. |
|
[Page 1175] Nó có thể được nghiên cứu trong hai phân bộ chính, thứ nhất, liên quan đến các đơn vị nhân loại đi vào dưới ảnh hưởng của Thánh đoàn trong Phòng Minh triết, và cũng liên quan đến các hệ hành tinh khác nhau. Mỗi hệ tồn tại để dạy một phương diện đặc thù của tâm thức, và mỗi trường hành tinh hay Thánh Đoàn hành tinh đặt các môn sinh của mình dưới định luật này, chỉ khác nhau về cách thức. Các trường hành tinh này tất yếu được chi phối bởi một số yếu tố, trong đó hai yếu tố quan trọng nhất là nghiệp quả đặc thù của Hành Tinh Thượng đế liên hệ, và cung đặc thù của Ngài. |
|
|
It is not possible at this stage to convey to students the information as to the nature of each planetary school. They exist in five great groups: |
Ở giai đoạn này, không thể truyền đạt cho các đạo sinh thông tin về bản chất của từng trường hành tinh. Chúng tồn tại trong năm nhóm lớn: |
|
1. The exoteric non-sacred planets, called in occult parlance “the outer round” or outer circle of initiates. Of these our earth is one, but being aligned in a peculiar fashion with certain spheres on the inner round, a dual opportunity exists for mankind, which facilitates, whilst it complicates, the evolutionary process. |
1. Các hành tinh ngoại môn không thiêng liêng, được gọi trong thuật ngữ huyền bí là “cuộc tuần hoàn bên ngoài” hay vòng tròn bên ngoài của các điểm đạo đồ. Trong số này có địa cầu của chúng ta, nhưng vì nó được chỉnh hợp theo một cách đặc biệt với một số khối cầu trong cuộc tuần hoàn bên trong, nên có một cơ hội kép dành cho nhân loại, điều này vừa làm dễ vừa làm phức tạp tiến trình tiến hoá. |
|
2. The sacred planets, called sometimes (when this Law of the Schools is under consideration) the “seven grades of psychic knowledge” or the “seven divisions of the field of knowledge.” |
2. Các hành tinh thiêng liêng, đôi khi được gọi (khi Định luật của các Trường Phái này được xét đến) là “bảy cấp độ tri thức thông linh” hay “bảy phân bộ của lĩnh vực tri thức.” |
|
3. The inner round, which carries with it vast opportunity for those who can surmount its problems and withstand its temptations. This inner round has a peculiar appeal to units on certain Rays, and has its own specific dangers. The inner round is the round that is followed by those who have passed through the human stage and have consciously developed the faculty of etheric living and can follow the etheric cycles, functioning consciously on the three higher etheric planes in all parts of the system. They have—for certain occult and specific purposes—broken the connection between the third etheric and the four lower subplanes of the physical plane. This [Page 1176] round is followed only by a prepared percentage of humanity, and is closely associated with a group who pass with facility and develop with equal facility on the three planets that make a triangle with the earth, namely Mars, Mercury, and Earth. These three planets—in connection with this inner round—are considered only as existing in etheric matter, and (in relation to one of the Heavenly Men) hold a place analogous to the etheric triangle found in the human etheric body. I have here conveyed more than has as yet been exoterically communicated anent this inner round and by the study of the human etheric triangle, its function, and the type of force which circulates around it, much may be deduced about the planetary inner round. We must bear in mind in this connection that just as the human etheric triangle is but the preparatory stage to a vast circulation within the sphere of the entire etheric body, so the etheric planetary triangle—passing from the Earth to Mars and Mercury—is but the preparatory circulatory system to a vaster round included within the sphere of influence of one planetary Lord. |
3. Cuộc tuần hoàn bên trong, mang theo những cơ hội to lớn cho những ai có thể vượt qua các vấn đề của nó và đứng vững trước các cám dỗ của nó. Cuộc tuần hoàn bên trong này có một sức hấp dẫn đặc biệt đối với các đơn vị trên một số cung nhất định, và có những nguy hiểm đặc thù riêng. Cuộc tuần hoàn bên trong là cuộc tuần hoàn được theo bởi những ai đã vượt qua giai đoạn nhân loại và đã một cách hữu thức phát triển năng lực sống dĩ thái và có thể theo các chu kỳ dĩ thái, hoạt động một cách hữu thức trên ba cõi dĩ thái cao hơn trong mọi phần của hệ thống. Họ đã—vì những mục đích huyền bí và đặc thù nào đó—cắt đứt mối liên hệ giữa cõi dĩ thái thứ ba và bốn cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần. Cuộc tuần hoàn này [Page 1176] chỉ được một tỷ lệ nhân loại đã chuẩn bị theo đuổi, và có liên hệ mật thiết với một nhóm đi qua một cách dễ dàng và phát triển cũng dễ dàng như vậy trên ba hành tinh tạo thành một tam giác với địa cầu, đó là Sao Hỏa, Sao Thủy, và Trái Đất. Ba hành tinh này—liên quan đến cuộc tuần hoàn bên trong này—chỉ được xem như tồn tại trong vật chất dĩ thái, và (liên hệ với một trong các Đấng Thiên Nhân) giữ một vị trí tương tự như tam giác dĩ thái được tìm thấy trong thể dĩ thái của con người. Ở đây tôi đã truyền đạt nhiều hơn những gì cho đến nay đã được công bố ngoại môn liên quan đến cuộc tuần hoàn bên trong này, và bằng việc nghiên cứu tam giác dĩ thái của con người, chức năng của nó, và loại mãnh lực lưu chuyển quanh nó, nhiều điều có thể được suy ra về cuộc tuần hoàn bên trong hành tinh. Chúng ta phải ghi nhớ trong mối liên hệ này rằng cũng như tam giác dĩ thái của con người chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho một sự lưu chuyển rộng lớn bên trong khối cầu của toàn bộ thể dĩ thái, thì tam giác hành tinh dĩ thái—đi từ Trái Đất đến Sao Hỏa và Sao Thủy—cũng chỉ là hệ tuần hoàn chuẩn bị cho một cuộc tuần hoàn lớn hơn được bao gồm trong phạm vi ảnh hưởng của một Chúa Tể Hành Tinh. |
|
4. The circle of the planetoids. Students of the Ageless Wisdom are apt to forget that the Life of the Logos manifests itself through those circling spheres which (though not large enough to be regarded as planets) pursue their orbital paths around the solar centre and have their own evolutionary problems and are functioning as part of the solar Body. They are informed—as are the planets—by a cosmic Entity and are under the influence of the Life impulses of the solar Logos as are the greater bodies. The evolutions upon them are analogous to, though not identical with, those of our planet, and they swing through their cycles in the Heavens under the same laws as do the greater planets. |
4. Vòng tròn các tiểu hành tinh. Các đạo sinh của Minh Triết Ngàn Đời thường quên rằng Sự sống của Thượng đế biểu lộ chính nó qua những khối cầu đang quay đó, những khối cầu này (dù không đủ lớn để được xem là hành tinh) vẫn theo các quỹ đạo của chúng quanh trung tâm thái dương và có những vấn đề tiến hoá riêng của chúng và đang hoạt động như một phần của Thể thái dương. Chúng được phú linh—cũng như các hành tinh—bởi một Thực Thể vũ trụ và ở dưới ảnh hưởng của các xung lực sự sống của Thái dương Thượng đế cũng như các thể lớn hơn. Các tiến hoá trên chúng là tương tự, dù không đồng nhất, với các tiến hoá của hành tinh chúng ta, và chúng xoay chuyển qua các chu kỳ của chúng trong các cõi trời dưới cùng những định luật như các hành tinh lớn hơn. |
|
5. The absorbing Triangles. This term is applied to the evolutionary schools found located in the three major [Page 1177] planets of our system—Uranus, Neptune and Saturn—and to those found in the three major chains, and three major globes in a planetary scheme. The Rulers of these planets, chains and globes are called the “Divine Examiners,” and Their work concerns the human kingdom specifically and entirely. They are responsible for the work of |
5. Các Tam Giác Hấp Thu. Thuật ngữ này được áp dụng cho các trường tiến hoá tọa lạc trong ba hành tinh lớn [Page 1177] của hệ thống chúng ta—Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Sao Thổ—và cho những trường được tìm thấy trong ba Dãy lớn, và ba bầu hành tinh lớn trong một hệ hành tinh. Các Đấng Cai Quản của các hành tinh, các Dãy và các bầu hành tinh này được gọi là “Các Đấng Khảo Thí Thiêng Liêng,” và công việc của Các Ngài liên quan một cách đặc thù và hoàn toàn đến giới nhân loại. Các Ngài chịu trách nhiệm về công việc |
|
a. Transferring men from one school to another, and from one grade to another. |
a. Chuyển những người nam và nữ từ trường này sang trường khác, và từ cấp độ này sang cấp độ khác. |
|
b. For the expanding of the human consciousness under the law, |
b. Mở rộng tâm thức nhân loại dưới định luật, |
|
c. For the transmutation of the forms of the human unit in the three worlds and the consequent negation of the form, |
c. Chuyển hoá các hình tướng của đơn vị nhân loại trong ba cõi giới và hậu quả là phủ nhận hình tướng, |
|
d. For the radioactivity of the fourth kingdom in nature. |
d. Tính phóng xạ của giới thứ tư trong tự nhiên. |
|
We might regard the presiding lives in these departmental schools as the custodians of the Path, and responsible, therefore, for the divine Pilgrim during the final stages of the treading of the Path of Evolution. They begin to work with men from the moment they first set foot upon the Probationary Path and They continue Their work until the seventh initiation is taken. |
Chúng ta có thể xem các sự sống chủ trì trong các trường bộ môn này như những vị giám hộ của Con Đường, và do đó chịu trách nhiệm về Người Hành Hương thiêng liêng trong các giai đoạn cuối cùng của việc bước đi trên Con Đường Tiến Hoá. Các Ngài bắt đầu làm việc với con người từ lúc họ lần đầu đặt chân lên Con Đường Dự Bị và Các Ngài tiếp tục công việc của mình cho đến khi lần điểm đạo thứ bảy được tiếp nhận. |
|
The Masters, therefore, Who take pupils for training, are numbered amongst them, whilst the Masters Who do not concern Themselves with individuals and their development are not. |
Vì vậy, các Chân sư nhận môn sinh để huấn luyện được kể vào số đó, trong khi các Chân sư không quan tâm đến các cá nhân và sự phát triển của họ thì không. |
|
It is not possible to give fully the types of schools and teaching which is given on the different planets. All that can be done is to give an occult phrase which will convey to the intuitive student the necessary hint. |
Không thể trình bày đầy đủ các loại trường và giáo huấn được ban ra trên các hành tinh khác nhau. Tất cả những gì có thể làm là đưa ra một cụm từ huyền bí sẽ chuyển đến đạo sinh trực giác gợi ý cần thiết. |
|
Planetary Schools |
Các Trường Hành Tinh |
|
URANUS—The School of Magic of the tenth order. It is sometimes called “the planet of the violet [Page 1178] force,” and its graduates wield the power of cosmic etheric prana. |
SAO THIÊN VƯƠNG—Trường Huyền Thuật của cấp mười. Nó đôi khi được gọi là “hành tinh của mãnh lực tím” [Page 1178] và các học viên tốt nghiệp của nó vận dụng quyền năng của prana dĩ thái vũ trụ. |
|
TRÁI ĐẤT—Trường Đáp Ứng Từ Tính. Một tên gọi khác dành cho các môn sinh của nó là “Những người tốt nghiệp của nỗ lực đau đớn” hay “những vị phân xử giữa các cực đối nghịch.” |
|
|
A further hint to be taken in connection with the two names above given, is that its graduates are said to undergo examination upon the third subplane of the astral plane. |
Một gợi ý thêm cần được lưu ý liên quan đến hai tên gọi nêu trên là các học viên tốt nghiệp của nó được nói là phải trải qua khảo hạch trên cõi phụ thứ ba của cõi cảm dục. |
|
VULCAN—The School for Fiery Stones. There is a curious connection between the human units who pass through its halls and the mineral kingdom. The human units on the earth scheme are called in mystical parlance “the living stones”; on Vulcan they are called “fiery stones.” |
VULCAN—Trường dành cho Những Viên Đá Rực Lửa. Có một mối liên hệ kỳ lạ giữa các đơn vị nhân loại đi qua các đại sảnh của nó và giới kim thạch. Các đơn vị nhân loại trong hệ hành tinh địa cầu được gọi trong thuật ngữ thần bí là “những viên đá sống”; trên Vulcan họ được gọi là “những viên đá rực lửa.” |
|
JUPITER—The School of Beneficent Magicians. This planet is sometimes called in the parlance of the schools, the “College of Quadruple Force units,” for its members wield four kinds of force in constructive magical work. Another name given to its halls is “The Palace of Opulence” for its graduates work with the Law of Supply, and are frequently called “The Sowers.” |
SAO MỘC—Trường của Các Nhà Huyền Thuật Từ Tâm. Hành tinh này đôi khi được gọi trong ngôn ngữ của các trường là “Học viện của các đơn vị mãnh lực tứ phân,” vì các thành viên của nó vận dụng bốn loại mãnh lực trong công việc huyền thuật xây dựng. Một tên gọi khác dành cho các đại sảnh của nó là “Cung Điện Phong Phú” vì các học viên tốt nghiệp của nó làm việc với Định luật Cung Ứng, và thường được gọi là “Những Người Gieo Hạt.” |
|
MERCURY—The pupils in this planetary school are called “The Sons of Aspiration” or “The Points of Yellow Life.” They have a close connection with our Earth scheme, and the old Commentary refers to this in the words: |
SAO THỦY—Các môn sinh trong trường hành tinh này được gọi là “Các Con của Khát Vọng” hay “Các Điểm của Sự Sống Vàng.” Họ có một mối liên hệ mật thiết với hệ Địa Cầu của chúng ta, và Cổ Luận nói đến điều này bằng những lời sau: |
|
“The points of golden flame merge and blend with the four-leaved plant of tender green, and change its colour to a tinge of autumn yellow. The four-leaved plant through new and fresh [Page 1179] inflow becomes the plant with seven leaves and three white flowers.” |
“Các điểm của ngọn lửa vàng hòa nhập và pha trộn với cây bốn lá màu xanh non, và đổi màu của nó thành một sắc vàng thu. Cây bốn lá nhờ một dòng chảy vào mới mẻ và tươi mới [Page 1179] trở thành cây bảy lá và ba hoa trắng.” |
|
VENUS—The School with five strict Grades. This again is a planetary scheme closely related to ours, but its planetary Logos is in a more advanced group of students in the cosmic sense than is our planetary Logos. Most of its hierarchical instructors come from the fifth cosmic plane, and are a peculiar group of Manasadevas of very exalted rank. They are each depicted in the archives of our Hierarchy as holding a trident of fire surmounted by five green emeralds. |
SAO KIM—Trường với năm Cấp nghiêm ngặt. Đây lại là một hệ hành tinh có liên hệ mật thiết với hệ của chúng ta, nhưng Hành Tinh Thượng đế của nó thuộc một nhóm đạo sinh tiến bộ hơn theo nghĩa vũ trụ so với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Phần lớn các huấn sư của Thánh đoàn của nó đến từ cõi vũ trụ thứ năm, và là một nhóm đặc biệt gồm các Manasadevas có cấp bậc rất cao. Mỗi vị trong số họ được mô tả trong văn khố của Thánh Đoàn chúng ta như đang cầm một cây đinh ba lửa được gắn trên đỉnh bằng năm viên ngọc lục bảo xanh. |
|
MARS—The School for Warriors, or the open grades for soldiers. Four of these planetary schools are responsible for the energy flowing through the foremost exponents of the four castes and this not only in India but in all parts of the world. Its teachers are spoken of as the “Graduates of the ruddy Fire,” and are frequently portrayed as clothed in red robes, and carrying ebony wands. They work under the first Aspect logoic and train those whose work is along the lines of the destroyer. |
SAO HỎA—Trường dành cho các chiến binh, hay các cấp mở dành cho binh sĩ. Bốn trường hành tinh này chịu trách nhiệm về năng lượng tuôn chảy qua những đại biểu hàng đầu của bốn giai cấp, và điều này không chỉ ở Ấn Độ mà còn ở mọi nơi trên thế giới. Các huấn sư của trường được nói đến như “Những Vị Tốt Nghiệp của Lửa đỏ rực”, và thường được mô tả là khoác áo choàng đỏ, mang những trượng mun. Họ hoạt động dưới Phương diện thứ nhất của Thượng đế và huấn luyện những ai có công việc đi theo đường lối của đấng hủy diệt. |
|
NEPTUNE—This school concerns itself with the development and fostering of the desire element and its graduates are called “the Sons of Vishnu.” Their symbol is a robe with a full sailed boat portrayed over the heart, the significance of which will be apparent to those who have eyes to see. |
SAO HẢI VƯƠNG—Trường này chuyên đề cập đến sự phát triển và nuôi dưỡng yếu tố dục vọng, và những người tốt nghiệp của trường được gọi là “Các Con của Vishnu.” Biểu tượng của họ là một chiếc áo choàng có hình một con thuyền căng buồm trọn vẹn trên tim, ý nghĩa của điều này sẽ hiển nhiên đối với những ai có mắt để thấy. |
|
It is not permissible to touch upon the other planetary schools, nor would it profit. Certain further facts can be ascertained by the student of meditation who is aligned with his Ego, and in touch with his egoic group. |
Không được phép đề cập đến các trường hành tinh khác, và điều đó cũng không ích lợi. Một số sự kiện khác nữa có thể được đạo sinh tham thiền xác định, nếu người ấy được chỉnh hợp với chân ngã của mình, và tiếp xúc với nhóm chân ngã của mình. |
|
[Page 1180] The teaching given on our earth scheme in the Hall of Wisdom has been dealt with in many occult books, including Initiation, Human and Solar, and need not be enlarged upon here. |
[Page 1180] Giáo huấn được ban ra trong hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta tại Phòng Minh triết đã được bàn đến trong nhiều sách huyền bí học, kể cả Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, và không cần được khai triển thêm ở đây. |
|
Some of the aspects of this law are here indicated. The ground is by no means covered but enough has been shown to indicate its magnitude and extent. In closing, it must be pointed out that the Law of Karma is from some angles of vision the sum total of this Law of Attraction for it governs the relation of all forms to that which uses the form, and of all lives to each other. |
Một số phương diện của định luật này được chỉ ra ở đây. Nền tảng hoàn toàn chưa được bao quát, nhưng đã trình bày đủ để chỉ ra tầm vóc và phạm vi của nó. Để kết thúc, cần phải chỉ ra rằng Định luật Nghiệp Quả xét từ một số góc độ tầm nhìn là tổng thể của Định luật Hấp Dẫn này, vì nó chi phối mối liên hệ của mọi hình tướng với cái sử dụng hình tướng, và của mọi sự sống với nhau. |
|
Các đạo sinh nghiên cứu Định luật Hấp Dẫn phải cẩn thận ghi nhớ một số điều. Những điều này cần được cân nhắc cẩn thận và chứng nghiệm khi chủ đề này được nghiên cứu. |
|
|
They must remember first, that all these subsidiary laws are really only the manifestation of the One Law; that they are but differentiated terms, employed to express one great method of manifestation. |
Trước hết, họ phải nhớ rằng tất cả các định luật phụ này thực ra chỉ là sự biểu lộ của Định luật Duy Nhất; chúng chỉ là những thuật ngữ đã được biến phân, được dùng để diễn tả một phương pháp biểu lộ vĩ đại. |
|
Secondly, that all energy, demonstrating in the solar system, is after all the energy of the logoic physical permanent atom, having its nucleus on the atomic subplane of the cosmic physical. This physical permanent atom (as is the case with the corresponding atom of the incarnating jiva), has its place within the causal body of the Logos on His own plane; it is, therefore, impressed by the totality of the force of the egoic cosmic lotus, or the attractive quality of cosmic love. This force is transmitted to the solar system in two ways: Through the medium of the Sun, which is in an occult sense the physical permanent atom; it, therefore, attracts, and holds attracted, all within its sphere of influence, thus producing the logoic physical body: through the medium of the planes which are the correspondences to the seven spirillae of the physical permanent atom of a human being. Thus a dual type of attractive force is found: one, basic and fundamental; the other more differentiated and secondary. [Page 1181] |
Thứ hai, rằng mọi năng lượng biểu lộ trong hệ mặt trời, rốt cuộc đều là năng lượng của nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế, có hạt nhân của nó trên cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ. Nguyên tử trường tồn hồng trần này (cũng như trường hợp nguyên tử tương ứng của jiva đang lâm phàm) có vị trí của nó bên trong thể nguyên nhân của Thượng đế trên cõi riêng của Ngài; vì vậy, nó chịu ấn tượng bởi toàn bộ mãnh lực của Hoa Sen chân ngã vũ trụ, hay phẩm tính hấp dẫn của tình thương vũ trụ. Mãnh lực này được truyền vào hệ mặt trời theo hai cách: qua trung gian Mặt Trời, vốn theo một nghĩa huyền bí là nguyên tử trường tồn hồng trần; do đó, nó hấp dẫn và giữ mọi thứ trong phạm vi ảnh hưởng của nó ở trạng thái bị hấp dẫn, nhờ vậy tạo ra thể hồng trần của Thượng đế; qua trung gian các cõi, là những tương ứng với bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn hồng trần của một con người. Vì vậy, tìm thấy một loại mãnh lực hấp dẫn nhị phân: một loại căn bản và nền tảng; loại kia biệt hóa hơn và thứ yếu hơn. [Page 1181] |
|
CHART XI — ETHERIC-ATOMIC PHILOSOPHY OF FORCE |
BIỂU ĐỒ XI — TRIẾT HỌC DĨ THÁI-NGUYÊN TỬ VỀ MÃNH LỰC |
|
[picture] |
[picture] |

|
Fig 135. The General form of an atom, including the spirals and 1st Spirillae, together with influx and efflux ethers, represented by dots, which pass trhough these spirillae. The2nd and 3rd spirillae and their still finer ethers are not shown. |
Hình 135. Hình dạng tổng quát của một nguyên tử, gồm các vòng xoắn và các loa tuyến thứ nhất, cùng với các dĩ thái nhập lưu và xuất lưu, được biểu thị bằng các chấm, đi qua trhough các loa tuyến này. Các loa tuyến thứ hai và thứ ba cùng các dĩ thái còn tinh tế hơn của chúng không được trình bày. |
|
Trích từ ‘Các Nguyên Lý của Ánh Sáng và Màu Sắc’, |
|
|
Edwin D. Babbitt, New York 1878 |
Edwin D. Babbitt, New York 1878 |
|
[Page 1182] These streams of energy, judged by their effects, are called in human terminology laws, because their results are ever immutable and irresistible, and their effects remain unchangeably the same, varying only according to the form which is the subject of the energic impulse. |
[Page 1182] Các dòng năng lượng này, xét theo các hiệu quả của chúng, được gọi trong thuật ngữ nhân loại là các định luật, vì các kết quả của chúng luôn bất biến và không thể cưỡng lại, và các hiệu quả của chúng luôn giữ nguyên không thay đổi, chỉ biến thiên tùy theo hình tướng là đối tượng của xung động năng lượng. |
|
Thirdly, the student must bear in mind that the seven planes, or the seven spirillae of the logoic permanent atom, are not all equally vitalised by the attractive pull emanating from the logoic lotus via the heart of the Sun. Five of them are more “alive” than the other two; these five do not include the highest and the lowest. The words “the heart of the Sun” must be understood to mean more than a locality situated in the interior recesses of the solar body, and have reference to the nature of the solar sphere. This solar sphere is closely similar to the atom pictured in the book by Babbitt and later in Occult Chemistry by Mrs. Besant. The Sun is heart-shaped, and (seen from cosmic angles) has a depression at what we might call its north pole. This is formed by the impact of logoic energy upon solar substance. |
Thứ ba, đạo sinh phải ghi nhớ rằng bảy cõi, hay bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn của Thượng đế, không phải tất cả đều được tiếp sinh lực như nhau bởi lực kéo hấp dẫn phát ra từ Hoa Sen của Thượng đế qua tim của Mặt Trời. Năm trong số đó “sống động” hơn hai cái kia; năm cái này không bao gồm cái cao nhất và cái thấp nhất. Những từ “tim của Mặt Trời” phải được hiểu là nhiều hơn một vị trí nằm trong các chỗ sâu bên trong của thể thái dương, và có liên hệ đến bản chất của khối cầu thái dương. Khối cầu thái dương này rất giống với nguyên tử được minh họa trong sách của Babbitt và sau đó trong Hóa Học Huyền Bí của bà Besant. Mặt Trời có hình tim, và (nhìn từ các góc độ vũ trụ) có một chỗ lõm tại nơi mà chúng ta có thể gọi là cực bắc của nó. Điều này được tạo thành bởi sự va chạm của năng lượng Thượng đế lên chất liệu thái dương. |
|
This energy which impinges upon the solar sphere, and is thence distributed to all parts of the entire system, emanates from three cosmic centres and, therefore, is triple during this particular cycle. |
Năng lượng này tác động lên khối cầu thái dương, rồi từ đó được phân phối đến mọi phần của toàn bộ hệ thống, phát ra từ ba trung tâm vũ trụ và vì vậy là tam phân trong chu kỳ đặc biệt này. |
|
a. From the sevenfold great Bear. |
a. Từ Đại Hùng thất phân. |
|
b. From the Sun Sirius. |
b. Từ Mặt Trời Sirius. |
|
c. From the Pleiades. |
c. Từ Pleiades. |
|
It must be remembered that the possible cosmic streams of energy available for use in our solar system are seven in number, of which three are major. These three vary during vast and incalculable cycles. |
Cần nhớ rằng các dòng năng lượng vũ trụ khả dĩ có sẵn để sử dụng trong hệ mặt trời của chúng ta có số lượng là bảy, trong đó có ba dòng chính. Ba dòng này biến đổi qua những chu kỳ bao la và không thể tính được. |
|
Các đạo sinh có thể thấy hữu ích khi nhớ rằng, |
|
|
a. The Law of Economy demonstrates as an urge, |
a. Định luật Tiết Kiệm biểu lộ như một xung lực, |
|
b. The Law of Attraction as a pull, |
b. Định luật Hấp Dẫn như một lực kéo, |
|
c. The Law of Synthesis as a tendency to concentrate at a centre, or to merge. |
c. Định luật Tổng Hợp như một khuynh hướng tập trung vào một trung tâm, hay hòa nhập. |
|
[Page 1183] The streams of energy which pour forth through the medium of the Sun from the egoic lotus and which are in reality “logoic Soul energy” attract to them that which is akin to them in vibration. This may sound rather like the statement of a platitude, but is susceptible of really deep significance to the student, being accountable for all systemic phenomena. These streams pass in different directions, and in the knowledge of occult direction comes knowledge of the various hierarchies of being, and the secret of the esoteric symbols. |
[Page 1183] Các dòng năng lượng tuôn đổ qua trung gian Mặt Trời từ Hoa Sen chân ngã và thực ra là “năng lượng Linh hồn của Thượng đế” hấp dẫn về phía chúng những gì đồng loại với chúng về rung động. Điều này có thể nghe khá giống một lời phát biểu sáo mòn, nhưng lại có thể mang thâm nghĩa thật sâu xa đối với đạo sinh, vì nó giải thích cho mọi hiện tượng hệ thống. Các dòng này đi theo những hướng khác nhau, và trong tri thức về phương hướng huyền bí có tri thức về các huyền giai khác nhau của hiện hữu, cùng bí mật của các biểu tượng huyền bí. |
|
The main stream of energy enters at the top depression in the solar sphere and passes through the entire ring-pass-not, bisecting it into two halves. |
Dòng năng lượng chính đi vào tại chỗ lõm phía trên của khối cầu thái dương và đi xuyên qua toàn bộ vòng-giới-hạn, chia nó thành hai nửa. |
|
With this stream enters that group of active lives whom we call the “Lords of Karma.” They preside over the attractive forces, and distribute them justly. They enter, pass to the centre of the sphere and there (if I may so express it) locate, and set up the “Holy Temple of Divine Justice,” sending out to the four quarters of the circle the four Maharajahs, their representatives. So is the equal armed Cross formed—and all the wheels of energy set in motion. This is conditioned by the karmic seeds of an earlier system, and only that substance is utilised by the Logos, and only those lives come into manifestation who have set up a mutual attraction. |
Cùng với dòng này đi vào là nhóm các sự sống hoạt động mà chúng ta gọi là “các Đấng Giải Thoát.” Các Ngài chủ trì các mãnh lực hấp dẫn và phân phối chúng một cách công bằng. Các Ngài đi vào, tiến đến trung tâm của khối cầu và ở đó (nếu tôi có thể diễn tả như vậy) định vị, và thiết lập “Ngôi Đền Thiêng của Công Lý thiêng liêng,” gửi ra bốn phương của vòng tròn bốn Maharajah, là các đại diện của Các Ngài. Như thế Thập Giá có các cánh bằng nhau được hình thành—và mọi bánh xe năng lượng được đưa vào chuyển động. Điều này được tác động bởi các hạt giống nghiệp quả của một hệ thống trước, và chỉ chất liệu đó mới được sử dụng bởi Thượng đế, và chỉ những sự sống nào đã thiết lập một sự hấp dẫn hỗ tương mới đi vào biểu lộ. |
|
These five streams of living energy (the one and the four) are the basis of the onward march of all things; these are sometimes esoterically called “the forward moving Lives.” They embody the Will of the Logos. It is the note they sound and the attractive pull which they initiate which bring into contact with the solar sphere a group of existences whose mode of activity is spiral and not forward. |
Năm dòng năng lượng sống động này (một và bốn) là nền tảng của cuộc tiến bước không ngừng của vạn vật; đôi khi chúng được gọi một cách huyền bí là “các Sự Sống chuyển động tiến lên.” Chúng thể hiện Ý Chí của Thượng đế. Chính âm điệu mà chúng xướng lên và lực kéo hấp dẫn mà chúng khởi xướng đã đưa vào tiếp xúc với khối cầu thái dương một nhóm hiện hữu có phương thức hoạt động là xoắn ốc chứ không phải tiến thẳng. |
|
These groups are seven in number and pass into manifestation [Page 1184] through what is for them a great door of Initiation. In some of the occult books, these seven groups are spoken of as the “seven cosmic Initiates Who have passed within the Heart, and there remain until the test is passed.” These are the seven Hierarchies of Beings, the seven Dhyan Chohans. They spiral into manifestation, cutting across the fourfold cross, and touching the cruciform stream of energy in certain places. The places where the streams of love energy cross the streams of will and karmic energy are mystically called the “Caves of dual light” and when a reincarnating or liberated jiva enters one of these Caves in the course of his pilgrimage, he takes an initiation, and passes on to a higher turn of the spiral. |
Các nhóm này có số lượng là bảy và đi vào biểu lộ [Page 1184] qua điều đối với họ là một cánh cửa lớn của Điểm đạo. Trong một số sách huyền bí học, bảy nhóm này được nói đến như “bảy Điểm đạo đồ vũ trụ đã đi vào trong Tim, và ở lại đó cho đến khi cuộc thử thách được vượt qua.” Đây là bảy Huyền Giai của các Đấng, bảy Dhyan Chohan. Họ xoắn ốc đi vào biểu lộ, cắt ngang thập giá tứ phân, và chạm vào dòng năng lượng hình thập tự tại một số điểm nhất định. Những nơi mà các dòng năng lượng bác ái cắt các dòng năng lượng ý chí và nghiệp quả được gọi một cách thần bí là “Các Hang Động của ánh sáng nhị nguyên” và khi một jiva tái sinh hay được giải thoát đi vào một trong các Hang Động này trong tiến trình cuộc hành hương của y, y nhận một điểm đạo, và tiến lên một vòng xoắn cao hơn. |
|
Another stream of energy follows a different route, which is a little difficult to make clear. This particular set of active lives enter the heart shaped depression, pass around the edge of the ring-pass-not to the lowest part of the solar sphere and then mount upwards, coming into opposition therefore with the stream of downpouring energy. This stream of force is called “lunar” force for lack of a better term. They form the body of the raja Lord of each of the planes, and are governed by the Law of Economy. |
Một dòng năng lượng khác đi theo một lộ trình khác, hơi khó làm cho rõ. Tập hợp đặc biệt này của các sự sống hoạt động đi vào chỗ lõm hình tim, đi quanh rìa của vòng-giới-hạn đến phần thấp nhất của khối cầu thái dương rồi sau đó đi lên trên, vì vậy đi vào thế đối nghịch với dòng năng lượng tuôn xuống. Dòng mãnh lực này được gọi là mãnh lực “nguyệt” vì không có thuật ngữ nào tốt hơn. Chúng tạo thành thể của vị raja Chúa Tể của mỗi cõi, và được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm. |
|
All these streams of energy form geometrical designs of great beauty to the eye of the initiated seer. We have the transverse and bisecting lines, the seven lines of force which form the planes, and the seven spiralling lines, thus forming lines of systemic latitude and longitude, and their interplay and interaction produce a whole of wondrous beauty and design. When these are visualised in colour, and seen in their true radiance, it will be realised that the point of attainment of our solar Logos is very high, for the beauty of the logoic Soul is expressed by that which is seen. [Page 1185] |
Tất cả các dòng năng lượng này tạo thành những mô hình hình học có vẻ đẹp lớn lao đối với mắt của nhà thông nhãn đã được điểm đạo. Chúng ta có các đường ngang và đường phân đôi, bảy đường mãnh lực tạo thành các cõi, và bảy đường xoắn ốc, nhờ đó hình thành các đường vĩ độ và kinh độ của hệ thống, và sự tương tác cùng tác động hỗ tương của chúng tạo ra một toàn thể có vẻ đẹp và mô hình kỳ diệu. Khi những điều này được hình dung trong màu sắc, và được thấy trong sự rạng ngờichân thực của chúng, người ta sẽ chứng nghiệm rằng mức thành tựu của Thái dương Thượng đế của chúng ta là rất cao, vì vẻ đẹp của Linh hồn Thượng đế được biểu lộ qua điều được thấy. [Page 1185] |
II. THE EFFECTS OF THE LAW OF ATTRACTION |
II. CÁC HIỆU QUẢ CỦA ĐỊNH LUẬT HẤP DẪN |
|
The Law of Attraction produces certain effects which it might profit us to touch upon here, provided we remember that only a few effects out of many possible are being considered. |
Định luật Hấp Dẫn tạo ra một số hiệu quả mà sẽ có ích nếu chúng ta đề cập đến ở đây, miễn là chúng ta nhớ rằng chỉ một vài hiệu quả trong số rất nhiều hiệu quả khả dĩ đang được xem xét. |
1. Association. |
1. Sự liên kết. |
|
The first effect might be called association. Under this law the karmic Lords are enabled to bring together those lives (human, subhuman, and superhuman) which have earlier been associated, and have, therefore, somewhat to work out. The seven Heavenly Men, for instance, are a few out of the great band of associated Lives who have chosen to come into incarnation in this kalpa for purposes of mutual help and mutual correction. They are really destined to work together, but nevertheless on other cosmic planes have points of contact unknown to us. |
Hiệu quả thứ nhất có thể được gọi là sự liên kết. Dưới định luật này, các Chúa Tể nghiệp quả có thể đưa lại gần nhau những sự sống (nhân loại, dưới nhân loại, và siêu nhân loại) đã từng liên kết với nhau trước đây, và vì vậy có điều gì đó phải giải quyết. Chẳng hạn, bảy Đấng Thiên Nhân là một số ít trong đại đoàn các Sự Sống liên kết đã chọn đi vào lâm phàm trong kalpa này vì những mục đích trợ giúp lẫn nhau và điều chỉnh lẫn nhau. Các Ngài thực sự được định để cùng làm việc với nhau, nhưng tuy vậy trên các cõi vũ trụ khác vẫn có những điểm tiếp xúc mà chúng ta không biết. |
|
Under this attractive pull the informing existences of the various kingdoms of nature are engaged in mutual interaction, and thus swing into lesser but similar activity all the lives of these various bodies of manifestation. These lines of attraction are veiled in mystery, and all that it is possible to indicate is the karma of the Lord of the second or vegetable kingdom with the Lord of the fifth kingdom, and a close line of linking energy between the Lord of the mineral kingdom and the human. These points are only for reference to our own planetary scheme. The Lord of the Moon chain and the Lord of our present animal kingdom are “blood brothers” and in their relationship and the esoteric interference of the “Man of Men” (the human family personified) is hidden the mystery of present animal karma and the slaughter of animal forms, the terror of wild beasts and the work of vivisectionists. |
Dưới lực kéo hấp dẫn này, các hiện hữu phú linh của các giới khác nhau trong tự nhiên tham gia vào sự tương tác hỗ tương, và nhờ vậy đưa mọi sự sống trong các thể biểu lộ khác nhau này vào một hoạt động nhỏ hơn nhưng tương tự. Những đường hấp dẫn này được che phủ trong huyền nhiệm, và tất cả những gì có thể chỉ ra là nghiệp quả của Chúa Tể của giới thứ hai hay giới thực vật với Chúa Tể của giới thứ năm, và một đường năng lượng liên kết chặt chẽ giữa Chúa Tể của giới kim thạch và con người. Những điểm này chỉ để tham chiếu đến hệ hành tinh riêng của chúng ta. Chúa Tể của Dãy Mặt Trăng và Chúa Tể của giới động vật hiện nay của chúng ta là “huynh đệ huyết thống” và trong mối liên hệ của Các Ngài cùng sự can thiệp huyền bí của “Con Người của những con người” (gia đình nhân loại được nhân cách hóa) ẩn giấu huyền nhiệm của nghiệp quả động vật hiện nay và sự tàn sát các hình tướng động vật, nỗi kinh hoàng của thú dữ và công việc của những kẻ mổ xẻ sinh thể. |
|
Under this Law, too, is found “the Path” upon which [Page 1186] men lift themselves out of the human state of consciousness into the divine, but on this there is no need to enlarge. |
Dưới Định luật này cũng tìm thấy “Con Đường” mà trên đó [Page 1186] con người nâng mình ra khỏi trạng thái tâm thức nhân loại để đi vào trạng thái thiêng liêng, nhưng về điều này không cần khai triển thêm. |
2. Form Building. |
2. Sự tạo dựng hình tướng. |
|
The second effect is form building. Upon this we will not enlarge at any length, as all that it is at present possible to impart anent this subject has already been given in this Treatise, and other works of a similar nature. It is the middle, or second aspect which is ever responsible for the construction of a form around a central nucleus. Students would find it useful to study and meditate upon the appended tabulation of energy streams and their objectivising through mutual interplay. |
Hiệu quả thứ hai là sự tạo dựng hình tướng. Về điều này chúng ta sẽ không khai triển dài dòng, vì tất cả những gì hiện nay có thể truyền đạt liên quan đến chủ đề này đã được nêu ra trong Luận này, và trong các tác phẩm khác có tính chất tương tự. Chính phương diện trung gian, hay phương diện thứ hai, luôn chịu trách nhiệm cho việc kiến tạo một hình tướng quanh một hạt nhân trung tâm. Các đạo sinh sẽ thấy hữu ích nếu nghiên cứu và tham thiền về bảng liệt kê kèm theo của các dòng năng lượng và sự khách quan hóa của chúng qua sự tương tác hỗ tương. |
|
As time goes on, science will become aware of the basic nature and fundamental accuracy of the method whereby every form can be divided into its three aspects, and viewed as an Entity energised by three types of force, emanating from various points extraneous to the form under consideration. It can be considered also as expressing in some way or another, in its various parts, force or energy originating in the three forces of manifestation, Brahma, Vishnu and Shiva. Where this is the case and the premise admitted, the entire outlook on life, on nature, medicine and science and on methods of construction or destruction will be changed. Things will be viewed as essential triplicities, men will be regarded as a combination of energy units, and work with things and with men from the form aspect will be revolutionised. In the tabulation much information is given anent the form building aspects of energy and the Law of Attraction as it shows itself in the working of the various groups of the Army of the Voice. It is this Army which is responsible for the attraction which is the medium of bringing together the material required by the free Spirits in order to construct their bodies of manifestation. The [Page 1187] |
Theo thời gian, khoa học sẽ nhận biết bản chất căn bản và tính chính xác nền tảng của phương pháp nhờ đó mọi hình tướng có thể được chia thành ba phương diện của nó, và được xem như một Thực Thể được tiếp năng lượng bởi ba loại mãnh lực, phát ra từ nhiều điểm ở ngoài hình tướng đang được xem xét. Nó cũng có thể được xem như đang biểu lộ, bằng cách này hay cách khác, trong các phần khác nhau của nó, mãnh lực hay năng lượng bắt nguồn từ ba mãnh lực của biểu lộ, Brahma, Vishnu và Shiva. Khi điều này là như vậy và tiền đề được chấp nhận, toàn bộ quan điểm về sự sống, về bản chất, y học và khoa học, cũng như về các phương pháp kiến tạo hay hủy diệt sẽ thay đổi. Mọi vật sẽ được nhìn như những bộ ba cốt yếu, con người sẽ được xem như một sự kết hợp của các đơn vị năng lượng, và công việc với sự vật và với con người từ phương diện hình tướng sẽ được cách mạng hóa. Trong bảng liệt kê này có nhiều thông tin được đưa ra liên quan đến các phương diện tạo dựng hình tướng của năng lượng và Định luật Hấp Dẫn như nó tự biểu lộ trong hoạt động của các nhóm khác nhau của Đạo Quân của Tiếng Nói. Chính Đạo Quân này chịu trách nhiệm cho lực hấp dẫn là trung gian đưa lại với nhau vật chất cần thiết cho các Tinh thần tự do để kiến tạo các thể biểu lộ của các Ngài. [Page 1187] |
|
TABULATION VII |
BẢNG LIỆT KÊ VII |
|
ENERGIES |
CÁC NĂNG LƯỢNG |
|
SOLAR LOGOS: |
THÁI DƯƠNG THƯỢNG ĐẾ: |
|
Source |
Focal Point |
Medium |
Type of Energy |
Nature of Fire |
|
|
1. |
Causal Body. |
Jewel |
Central Spiritual Sun. |
Cosmic Will |
Electric Fire – Positive. |
|
2. |
Causal Body. |
Lotus (two petalled) |
Heart of the Sun. |
Cosmic Love – (The Son) |
Solar Fire – Harmony – Equilibrium. |
|
3. |
Physical Plane Nucleus. |
Permanent Atom. |
The Physical Sun. |
Cosmic Activity (Universal Mind). |
Fire by Friction – Negative. |
|
PLANETARY LOGOS: |
HÀNH TINH THƯỢNG ĐẾ: |
|
1. |
Planetary Causal Body. |
Jewel |
Heavenly Man (On his own plane.) |
Systemic Will |
Electric Fire – Positive. |
|
2. |
Planetary Causal Body. |
Lotus |
Egoic Groups |
Systemic Love |
Solar Fire – Harmony – Balance. |
|
3. |
Physical Plane Nucleus. |
Permanent Atom. |
Physical Planet. |
Systemic Activity. |
Fire by Friction – Negative. |
|
MAN: |
CON NGƯỜI: |
|
1. |
Human Causal Body. |
Jewel |
Monad Spirit |
Atma-Buddhi |
Electric Fire – Positive Force. |
|
2. |
Human Causal Body. |
Lotus |
Solar Angel |
Manasic Ego |
Solar Fire – Equilibrising Force. |
|
3. |
Plane Nucleus. |
Permanent Atom. |
Lunar Angels |
Lower Three-fold Man. |
Fire by Friction – Negative. |
|
PLANES: |
CÁC CÕI: |
|
1. |
Plane Raja Lord. |
A Deva Hierarchy. |
Atomic Sub-plane. |
Fohatic |
Central Fire – Initiatory. |
|
2. |
Plane Devas. |
Centres |
Prana |
Solar Energy |
Form building Fire. |
|
3. |
Elementals. |
Elemental Essence. |
Molecular Substance. |
Lunar Force |
The Mother’s Heat. |
|
ATOMS: |
CÁC NGUYÊN TỬ: |
|
1. |
Atom |
Nucleus |
Plane Deva |
Positive |
Electric. |
|
2. |
Atomic Unit of Form. |
Sphere |
Plane Devas |
Balancing |
Solar Fire. |
|
3. |
Electrons |
Nuclei |
Elementals |
Negative |
Fire by Friction. |
|
[Page 1188]vibration initiated by the Sound, which is the expression of the Law of Synthesis, is succeeded by the Voice or Word, and that Word as it progresses outward from the centre to the periphery (for, occultly understood, the Word is “spoken from the Heart”) becomes |
[Page 1188]rung động được khởi xướng bởi Âm Thanh, vốn là biểu hiện của Định luật Tổng Hợp, được tiếp nối bởi Tiếng Nói hay Linh từ, và Linh từ đó khi tiến ra ngoài từ trung tâm đến chu vi (vì, được hiểu theo huyền bí học, Linh từ được “nói ra từ Tim”) trở thành |
|
a. A phrase. |
a. Một cụm từ. |
|
b. Phrases. |
b. Các cụm từ. |
|
c. Sentences. |
c. Những câu. |
|
d. Speech. |
d. Lời nói. |
|
e. The myriad sounds of nature. |
e. Vô số âm thanh của tự nhiên. |
|
Each of these terms can be explained in terms of attractive energy, and this attractive energy is likewise the demonstration of the life of an Existence of some grade or other. |
Mỗi thuật ngữ này có thể được giải thích theo năng lượng hấp dẫn, và năng lượng hấp dẫn này cũng là sự biểu lộ của sự sống của một Hiện Hữu ở cấp độ nào đó. |
|
“God speaks and the forms are made.” This tabulation should form the basis of a complete phase of study along this line and is one of the most basic given in this Treatise. |
“Thượng đế phán và các hình tướng được tạo thành.” Bảng liệt kê này nên tạo thành nền tảng cho một giai đoạn nghiên cứu hoàn chỉnh theo đường hướng này và là một trong những điều căn bản nhất được đưa ra trong Luận này. |
3. Adaptation of the form to the life. |
3. Sự thích ứng của hình tướng với sự sống. |
|
This is the process of gradually providing forms which are due expressions of the indwelling consciousness which is the great purpose of what we call “Mother Nature”; this she does, working under the Law of Attraction which we are considering. This law, therefore, governs two aspects of unfoldment, that which concerns the soul or consciousness aspect and that relating to the Spirit on its own plane. It is the cause of that continuous cycle of form taking, of form utilisation and of form rejection which characterises the incarnations of every kind and type of living being. The student should here remember that the Existences who are the attractive force in manifestation, the Dhyan Chohans, are seven in number, and that, therefore, the quality of the vehicles which form Their bodies will have the sevenfold variation according to the specific nature of the Lords of Life. |
Đây là tiến trình dần dần cung cấp những hình tướng là những biểu hiện thích đáng của tâm thức nội tại, vốn là mục đích lớn lao của điều chúng ta gọi là “Mẹ Thiên Nhiên”; điều này bà thực hiện khi hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn mà chúng ta đang xem xét. Vì vậy, định luật này chi phối hai phương diện của sự khai mở, phương diện liên quan đến linh hồn hay phương diện tâm thức và phương diện liên hệ đến tinh thần trên cõi riêng của nó. Nó là nguyên nhân của chu kỳ liên tục nhận lấy hình tướng, sử dụng hình tướng và loại bỏ hình tướng, vốn đặc trưng cho các lần lâm phàm của mọi loại và mọi kiểu hữu thể sống. Ở đây đạo sinh nên nhớ rằng các Hiện Hữu là mãnh lực hấp dẫn trong biểu lộ, các Dhyan Chohan, có số lượng là bảy, và vì vậy phẩm tính của các vận cụ tạo thành thể của Các Ngài sẽ có sự biến thiên thất phân tùy theo bản chất đặc thù của các Chúa Tể của Sự sống. |
|
[Page 1189] The only way to arrive at a realisation of the basic qualities of these planetary Logoi is through a consideration of the energy emanating from Them, and it is this which the true esoteric astrology will eventually reveal. The time is not yet; it will come when the scientific consideration of human magnetism, of the distinctions between the seven types of men, and the nature of the Ego is more truly followed. Then will be revealed the nature of planetary magnetism and the quality of any specific planetary soul as it is known through the aggregated nature of the men, responsive to and exponents of any particular planetary Ray. The mystery is increased by the fact that there are not only certain logoic qualities manifesting which are not included by the term “sacred,” but that there are numerous other aspects of what we might term “secondary centres of fire,” generated and making their presence felt. We have a correspondence to this in the fact that there are centres of energy in man which are not purely etheric centres but are the product of the interaction of the etheric centres and certain forms of negative energy of the lowest kind. Such, for instance, is the heart. There is the heart centre, one of the major centers on the etheric planes, but there is also the physical heart which is an energy generator also; there are the lower organs of generation which are equally a reflex product with an energy which is the resultant of the higher vibrations yet which has a quality all its own. This has its correspondence in the solar system. Many are the lesser planets and numerous are the planetoids which have an energy or attractive quality all their own and which, from the systemic standpoint, must be allowed for in the measuring of the attraction producing the forms of or upon any particular planet. |
[Page 1189] Cách duy nhất để đi đến một sự chứng nghiệm về các phẩm tính căn bản của các Hành Tinh Thượng đế này là thông qua việc xem xét năng lượng phát ra từ Các Ngài, và chính điều này mà chiêm tinh học nội môn chân chính cuối cùng sẽ mặc khải. Thời điểm ấy chưa đến; nó sẽ đến khi việc khảo cứu khoa học về từ điện của con người, về những khác biệt giữa bảy loại người, và về bản chất của chân ngã được theo đuổi chân thực hơn. Khi đó bản chất của từ điện hành tinh và phẩm tính của bất kỳ linh hồn hành tinh đặc thù nào sẽ được mặc khải như nó được biết đến qua bản chất tổng hợp của những con người đáp ứng với và là những đại biểu của bất kỳ cung hành tinh đặc thù nào. Huyền nhiệm còn tăng thêm bởi sự kiện là không chỉ có một số phẩm tính của Thượng đế đang biểu lộ mà không được bao hàm trong thuật ngữ “thiêng liêng,” mà còn có vô số phương diện khác của điều mà chúng ta có thể gọi là “các trung tâm lửa thứ yếu,” được tạo ra và làm cho sự hiện diện của chúng được cảm nhận. Chúng ta có một tương ứng với điều này trong sự kiện là có những trung tâm năng lượng trong con người không hoàn toàn là các trung tâm dĩ thái mà là sản phẩm của sự tương tác giữa các trung tâm dĩ thái và một số dạng năng lượng âm thấp nhất. Chẳng hạn như tim. Có trung tâm tim, một trong những trung tâm chính trên các cõi dĩ thái, nhưng cũng có trái tim hồng trần, vốn cũng là một bộ phát năng lượng; có các cơ quan sinh sản thấp cũng đồng đều là một sản phẩm phản xạ cùng với một năng lượng là kết quả của các rung động cao hơn nhưng lại có một phẩm tính riêng của nó. Điều này có tương ứng của nó trong hệ mặt trời. Có nhiều hành tinh nhỏ hơn và vô số tiểu hành tinh có một năng lượng hay phẩm tính hấp dẫn riêng của chúng, và từ quan điểm hệ thống, phải được tính đến trong việc đo lường lực hấp dẫn tạo ra các hình tướng của hay trên bất kỳ hành tinh đặc thù nào. |
|
As we know from a study of the Secret Doctrine, certain of the planetary Logoi are pure and passionless whilst others are still under the domination of desire and [Page 1190] of passion. (S. D., I, 214, 449; II, 223.) This quality of Theirs necessarily attracts to Them that which They need for the due expression of Their life in any scheme, and controls the nature of those egoic groups who are (for Them) generating force centres. Hence the nature of men upon earth. All human beings are paramountly governed by certain planetary attractions, impressions or influences which might be enumerated in the order of their importance. |
Như chúng ta biết từ việc nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm, một số Hành Tinh Thượng đế thì thanh khiết và vô dục, trong khi những vị khác vẫn còn dưới sự thống trị của dục vọng và [Page 1190] đam mê. (S. D., I, 214, 449; II, 223.) Phẩm tính này của Các Ngài tất yếu hấp dẫn đến với Các Ngài điều mà Các Ngài cần cho sự biểu lộ thích đáng của sự sống của Các Ngài trong bất kỳ hệ hành tinh nào, và kiểm soát bản chất của những nhóm chân ngã mà (đối với Các Ngài) đang tạo ra các trung tâm mãnh lực. Do đó mới có bản chất của con người trên Trái Đất. Tất cả nhân loại đều chủ yếu bị chi phối bởi một số hấp lực, ấn tượng hay ảnh hưởng hành tinh nào đó, có thể được liệt kê theo thứ tự quan trọng của chúng. |
|
There is, first of all, the attractive pull of the Life of the planetary Logos of this particular planet. This is necessarily the strongest and is one of the basic factors which have settled the lines the human form has taken upon this planet. There are human beings, or exponents of self-consciousness on other planets, but the forms they utilise are not the same as ours. |
Trước hết là lực kéo hấp dẫn của Sự sống của Hành Tinh Thượng đế của hành tinh đặc thù này. Điều này tất yếu là mạnh nhất và là một trong những yếu tố căn bản đã quyết định những đường nét mà hình tướng con người đã mang lấy trên hành tinh này. Có những con người, hay những đại biểu của ngã thức trên các hành tinh khác, nhưng các hình tướng mà họ sử dụng không giống như của chúng ta. |
|
There is next, the attractive pull of the planetary Logos Who is the complementary Life to that of our Logos. This involves a planetary Logos responsive to a vibration which harmonises with that of our Logos but Who, when in union with Him, forms what might be called “the Third” or His dominant, as the case may be. It is not possible to reveal whether the blending of the note will mean that our scheme will absorb that which expresses the note of another scheme, or vice versa. It means that somewhere in the solar system is a planetary scheme of some kind (not necessarily one of the seven or of the ten) which has an interplay with ours and which, therefore, inevitably affects the egoic groups. We must note also the fact that—in connection with the expression of a Heavenly Man—the egoic groups are energy centres and make His dense physical body eventually an accomplished fact. |
Tiếp theo là lực kéo hấp dẫn của Hành Tinh Thượng đế là Sự sống bổ sung cho Sự sống của Thượng đế của chúng ta. Điều này bao hàm một Hành Tinh Thượng đế đáp ứng với một rung động hài hòa với rung động của Thượng đế của chúng ta nhưng Đấng ấy, khi hợp nhất với Ngài, tạo thành điều có thể được gọi là “Đấng Thứ Ba” hay âm chủ của Ngài, tùy trường hợp. Không thể tiết lộ liệu sự hòa trộn của âm điệu sẽ có nghĩa là hệ hành tinh của chúng ta sẽ hấp thu điều biểu lộ âm điệu của một hệ hành tinh khác, hay ngược lại. Điều đó có nghĩa là ở đâu đó trong hệ mặt trời có một hệ hành tinh nào đó (không nhất thiết là một trong bảy hay một trong mười) có sự tương tác với hệ của chúng ta và vì vậy tất yếu ảnh hưởng đến các nhóm chân ngã. Chúng ta cũng phải lưu ý sự kiện là—liên quan đến sự biểu lộ của một Đấng Thiên Nhân—các nhóm chân ngã là các trung tâm năng lượng và cuối cùng làm cho thể hồng trần đậm đặc của Ngài trở thành một sự kiện hoàn tất. |
|
Finally, there is the attractive pull of that planetary scheme which is esoterically regarded as our polar opposite. [Page 1191] (What is here said has reference to the other schemes, for the law persists throughout the solar system.) |
Cuối cùng là lực kéo hấp dẫn của hệ hành tinh được xem một cách huyền bí là đối cực của Trái Đất chúng ta. [Page 1191] (Điều được nói ở đây có liên hệ đến các hệ hành tinh khác, vì định luật này vẫn tồn tại khắp hệ mặt trời.) |
|
It will be apparent, therefore, that the real and esoteric astrology will deal with four kinds of force, when it seeks to explain the nature of the Energies which influence any human being: |
Vì vậy, sẽ hiển nhiên rằng chiêm tinh học chân chính và huyền bí sẽ đề cập đến bốn loại mãnh lực khi nó tìm cách giải thích bản chất của các Năng Lượng ảnh hưởng đến bất kỳ con người nào: |
|
1. The quality of the solar system. |
1. Phẩm tính của hệ mặt trời. |
|
2. The quality of the Logos of the planet as it pours through the chains and globes and rounds in a sevenfold differentiation. |
2. Phẩm tính của Thượng đế của hành tinh khi nó tuôn chảy qua các dãy, các bầu hành tinh và các cuộc tuần hoàn trong một sự biến phân thất phân. |
|
3. The quality of our earth’s complementary planet. |
3. Phẩm tính của hành tinh bổ sung cho Trái Đất chúng ta. |
|
4. The quality of the attraction of our earth’s polar opposites. |
4. Phẩm tính của lực hấp dẫn từ các đối cực của Trái Đất chúng ta. |
|
This involves information as yet veiled in deepest mystery, but which will unfold as the true psychology is studied, and which will eventually embody itself in a fourth fundamental of the Secret Doctrine so that later students will have the three as they are now found in the Proem to that book, plus the fourth. (S. D., I, 42-46.) This might be expected in this fourth round. The true astrology will reveal the nature of this fourth proposition at some later date. More attention will eventually be paid to the planetary influences, and not so much to the signs of the zodiac where the nature of an Ego is concerned. The great signs of the zodiac concern the Heavenly Man, and necessarily, therefore, the Monads of every human being. The planetary influences must be studied to find out the quality of a man’s Ray, and this in the above indicated threefold manner. Man is the Monad, therefore, he expresses a small part of his enfolding life. In this solar system he is essentially the Ego. |
Điều này bao hàm thông tin hiện vẫn còn bị che phủ trong huyền nhiệm sâu thẳm nhất, nhưng sẽ khai mở khi tâm lý học chân chính được nghiên cứu, và cuối cùng sẽ tự thể hiện thành một nguyên lý căn bản thứ tư của Giáo Lý Bí Nhiệm để các đạo sinh về sau sẽ có ba nguyên lý như hiện nay được tìm thấy trong Lời Mở Đầu của quyển sách ấy, cộng thêm nguyên lý thứ tư. (S. D., I, 42-46.) Điều này có thể được mong đợi trong cuộc tuần hoàn thứ tư này. Chiêm tinh học chân chính sẽ mặc khải bản chất của mệnh đề thứ tư này vào một ngày sau đó. Cuối cùng, người ta sẽ chú ý nhiều hơn đến các ảnh hưởng hành tinh, chứ không quá nhiều đến các dấu hiệu hoàng đạo khi bản chất của một chân ngã được xét đến. Các dấu hiệu lớn của hoàng đạo liên quan đến Đấng Thiên Nhân, và vì vậy tất yếu liên quan đến các chân thần của mọi con người. Các ảnh hưởng hành tinh phải được nghiên cứu để tìm ra phẩm tính của cung của một người, và điều này theo cách tam phân đã được chỉ ra ở trên. Con người là chân thần, vì vậy y biểu lộ một phần nhỏ của sự sống bao bọc y. Trong hệ mặt trời này, về bản chất y là chân ngã. |
|
Astrologers should study the planetary schemes in the light of the Heavenly Man, viewing them as an incarnation [Page 1192] of a planetary Logos, and thus strive to cast the horoscope of the planetary Logos. They cannot succeed in doing so, but in the attempt may learn much and achieve new light upon a most difficult subject. |
Các nhà chiêm tinh nên nghiên cứu các hệ hành tinh dưới ánh sáng của Đấng Thiên Nhân, xem chúng như một lần lâm phàm [Page 1192] của một Hành Tinh Thượng đế, và nhờ vậy cố gắng lập lá số chiêm tinh của Hành Tinh Thượng đế. Họ không thể thành công trong việc đó, nhưng trong nỗ lực ấy có thể học được nhiều điều và đạt được ánh sáng mới về một chủ đề hết sức khó khăn. |
|
In considering this question of the adaptation of the form to vibration, or the construction of a vehicle which will be a fitting instrument for spirit, the following factors must be borne in mind: |
Khi xem xét vấn đề này về sự thích ứng của hình tướng với rung động, hay việc kiến tạo một vận cụ sẽ là một công cụ thích hợp cho tinh thần, cần phải ghi nhớ các yếu tố sau đây: |
|
1. That it is the quality of the indwelling life which decides the type of form. |
1. Rằng chính phẩm tính của sự sống nội tại quyết định loại hình tướng. |
|
2. That these qualities are the sumtotal of the attributes of divinity which the indwelling life has succeeded in unfolding. |
2. Rằng các phẩm tính này là tổng số các thuộc tính của thiên tính mà sự sống nội tại đã thành công trong việc khai mở. |
|
3. That these qualities—as may well be surmised—fall into the usual septennate. |
3. Rằng các phẩm tính này—như có thể dễ dàng suy ra—cũng rơi vào bộ bảy thông thường. |
|
4. That they fall also into two groups, those which concern the lower principles, and are, therefore, four in number, and those which concern the higher and middle and are, therefore, three. |
4. Rằng chúng cũng rơi vào hai nhóm, những phẩm tính liên quan đến các nguyên khí thấp và vì vậy có số lượng là bốn, và những phẩm tính liên quan đến các nguyên khí cao hơn và trung gian, và vì vậy là ba. |
|
This is true of all men, of the Heavenly Men and of the solar Logos likewise, and there is a mysterious analogy concerned in the manifestation of the three higher principles in man (which may be considered as demonstrating through the perfected Adept, the Bodhisattva) and the three higher principles of the solar Logos as they demonstrate through the major three aspects. They form but one principle showing forth in three ways. So it is with the unmanifested Monad (unmanifested from the standpoint of the lower man). That Monad can—at a certain very advanced stage in evolution, and one far beyond that of the Adept—have its triple simultaneous manifestation, and show forth as a Master in the three worlds, as a Bodhisattva on His own plane and as the emancipated Dhyani Buddha; yet these Three will be but One, will be [Page 1193] the result of a great spiritual vibration and will perform the triple work which may (from the standpoint of the three worlds) appear as the work of three separate great Existences. They are forms of three monadic “vestures,” worn by the one Monad as a man wears his three bodies simultaneously, and functions in them separately. (330) |
Điều này đúng với mọi người, với các Đấng Thiên Nhân và cũng đúng với Thái dương Thượng đế; và có một sự tương đồng huyền bí liên quan đến sự biểu lộ của ba nguyên khí cao trong con người (có thể được xem là biểu hiện qua vị chân sư toàn thiện, Đức Bồ Tát) và ba nguyên khí cao của Thái dương Thượng đế khi chúng biểu lộ qua ba phương diện chính. Chúng chỉ tạo thành một nguyên khí biểu lộ theo ba cách. Cũng vậy đối với chân thần không biểu hiện (không biểu hiện theo quan điểm của phàm nhân). Chân thần ấy có thể—ở một giai đoạn tiến hoá rất cao nào đó, và vượt xa giai đoạn của chân sư—có sự biểu lộ tam phân đồng thời của mình, và biểu lộ như một Chân sư trong ba cõi giới, như một Đức Bồ Tát trên cõi riêng của Ngài và như một Dhyani Buddha đã được giải thoát; tuy nhiên Ba Đấng này chỉ là Một, sẽ là [Page 1193] kết quả của một rung động tinh thần vĩ đại và sẽ thực hiện công việc tam phân mà (theo quan điểm của ba cõi giới) có thể dường như là công việc của ba Đại Thực Thể riêng biệt. Các Ngài là những hình tướng của ba “pháp y” chân thần, được một chân thần khoác lấy cũng như con người đồng thời mang ba thể của mình và hoạt động riêng biệt trong chúng. (330) |
|
(330) Ba Pháp Y.—“Dòng sông đã được vượt qua. Đúng vậy, ngươi có quyền đối với pháp y Dharmakaya; nhưng Sambhogakaya còn cao hơn một nirvani, và cao hơn nữa là một Nirmanakaya—Đức Phật của Lòng Từ Bi.”—Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 97. |
|
|
“The three Buddhic bodies or forms are styled: Nirmanakaya, Sambhogakaya, Dharmakaya. |
“Ba thể hay ba hình tướng Bồ đề được gọi là: Nirmanakaya, Sambhogakaya, Dharmakaya. |
|
The first is that ethereal form which one would assume when leaving his physical he would appear in his astral body—having in addition all the knowledge of an Adept. The Bodhisattva develops it in himself as he proceeds on the path. Having reached the goal and refused its fruition, he remains on earth, as an Adept; and when he dies, instead of going into Nirvana, he remains in that glorious body he has woven for himself, invisible to uninitiated mankind, to watch over and protect it. |
Thứ nhất là hình tướng dĩ thái mà người ta sẽ đảm nhận khi rời bỏ thể xác; y sẽ xuất hiện trong thể cảm dục của mình—đồng thời có thêm toàn bộ tri thức của một chân sư. Đức Bồ Tát phát triển nó trong chính mình khi Ngài tiến bước trên đường đạo. Khi đã đạt đến mục tiêu và từ chối quả vị của nó, Ngài vẫn ở lại trên trần gian như một chân sư; và khi Ngài chết, thay vì đi vào Niết Bàn, Ngài vẫn ở lại trong thể huy hoàng mà Ngài đã tự dệt nên cho mình, vô hình đối với nhân loại chưa được điểm đạo, để canh chừng và bảo vệ họ. |
|
Sambhogakaya is the same, but with the additional lustre of three perfections, one of which is entire obliteration of all earthly concerns. |
Sambhogakaya cũng vậy, nhưng có thêm ánh huy hoàng của ba sự toàn thiện, một trong số đó là sự xoá bỏ hoàn toàn mọi mối bận tâm trần thế. |
|
The Dharmakaya body is that of complete Buddha, i.e., no body at all, but an ideal breath; consciousness merged in the universal consciousness, or soul devoid of every attribute. Once a Dharmakaya, an Adept or Buddha leaves behind every possible relation with, or thought for, this earth. Thus to be enabled to help humanity, an Adept who has won the right to Nirvana, ‘renounces the Dharmakaya body’ in mystic parlance; keeps, of the Sambhogakaya, only the great and complete knowledge, and remains in his Nirmanakaya. The esoteric school teaches that Gautama Buddha, with several of his Arhats, is such a Nirmanakaya, higher than whom, on account of his great renunciation and sacrifice for mankind, there is none known.”—Voice of the Silence, p. 98. (back) |
Thể Dharmakaya là thể của một vị Phật toàn vẹn, tức là không còn thể nào cả, mà là một hơi thở lý tưởng; tâm thức hòa nhập vào tâm thức vũ trụ, hay linh hồn không còn bất kỳ thuộc tính nào. Một khi đã là Dharmakaya, một chân sư hay một vị Phật bỏ lại phía sau mọi liên hệ khả hữu với, hay mọi ý nghĩ dành cho, trái đất này. Vì vậy, để có thể giúp đỡ nhân loại, một chân sư đã giành được quyền vào Niết Bàn “từ bỏ thể Dharmakaya” theo cách nói thần bí; chỉ giữ lại, từ Sambhogakaya, tri thức vĩ đại và trọn vẹn, và vẫn ở trong Nirmanakaya của mình. Trường phái huyền bí dạy rằng Đức Phật Gautama, cùng với vài vị A La Hán của Ngài, là một Nirmanakaya như thế; cao hơn Ngài, do sự từ bỏ và hi sinh lớn lao của Ngài cho nhân loại, thì không ai được biết đến.”—Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 98. (trở lại) |
|
One or other of these three can, if so He will, occupy a body on the physical plane which will not be simply a created mayavirupa. This is done in one of two ways: either through the occupancy of a willingly vacated body, as was the case when the Christ occupied the body of Jesus, or by a divine overshadowing of a disciple, as has been and will be the case. The quality of the form occupied or used, and the nature of its work depends upon which of the three higher aspects of the initiating impulse, is manifesting. Very rarely a more mysterious phenomenon occurs and the overshadowing Buddha, Bodhisattva, or Adept each makes His “appearance” [Page 1194] upon earth thus demonstrating the three aspects of knowledge, love and will and all taking form. |
Một trong ba Đấng này, hoặc Đấng kia, nếu Ngài muốn, có thể chiếm ngụ một thể trên cõi hồng trần mà không chỉ đơn thuần là một mayavirupa được tạo ra. Điều này được thực hiện theo một trong hai cách: hoặc bằng cách chiếm ngụ một thể được tự nguyện bỏ trống, như trường hợp Đức Christ chiếm ngụ thể của Đức Jesus, hoặc bằng sự phủ bóng thiêng liêng lên một đệ tử, như đã từng và sẽ còn xảy ra. Phẩm tính của hình tướng được chiếm ngụ hay sử dụng, và bản chất công việc của nó, tùy thuộc vào việc ba phương diện cao nào của xung lực điểm đạo đang biểu lộ. Rất hiếm khi xảy ra một hiện tượng còn huyền bí hơn, và Đức Phật phủ bóng, Đức Bồ Tát, hay chân sư, mỗi Đấng đều tạo nên “sắc tướng” của Ngài [Page 1194] trên trái đất, nhờ đó biểu lộ ba phương diện tri thức, bác ái và ý chí, và tất cả đều mang hình tướng. |
|
This may seem to be a great complexity, but it is not so much stranger after all than the phenomenon of the Monad (in time and space and during evolution) demonstrating forth as the Triad, the Ego and the Personality. This type of triple Avatar only makes its appearance under a peculiar series of cycles concerned with a group of Monads who were the most progressed and advanced at the opening of the mahamanvantara. As yet, there are not many progressed enough to do this triple work; the Buddha and nine others being the only Ones as yet remaining in touch with our particular planet in this particular manner. A few are as Christ is, and have the power to make a dual appearance. This type of monad is only found on Rays two, four, six. |
Điều này có vẻ là một sự phức tạp lớn, nhưng rốt cuộc cũng không lạ lùng hơn bao nhiêu so với hiện tượng chân thần (trong thời gian và không gian, và trong tiến hoá) biểu lộ thành Tam nguyên tinh thần, chân ngã và phàm ngã. Loại Đấng Hoá Thân tam phân này chỉ xuất hiện dưới một chuỗi chu kỳ đặc biệt liên quan đến một nhóm chân thần vốn là những Đấng tiến hoá và phát triển nhất vào lúc mở đầu Đại giai kỳ sinh hóa. Hiện nay, chưa có nhiều Đấng đủ tiến bộ để làm công việc tam phân này; Đức Phật và chín Đấng khác là những Đấng duy nhất cho đến nay vẫn còn liên hệ với hành tinh đặc thù của chúng ta theo cách đặc thù này. Một số ít thì như Đức Christ, và có quyền năng tạo nên sự xuất hiện nhị phân. Loại chân thần này chỉ được tìm thấy trên các cung hai, bốn, sáu. |