Webinar Program 32 – Rule 10.16 – (336-339)

📘 Sách: Bình Giảng A Treatise on White Magic – Astral Rules – Tác giả: Michael D. Robbins

Webinar Program 32 – Rule 10.16

Tóm Tắt

Kỷ nguyên mới của ánh sáng và âm thanh

Kỷ nguyên mới sẽ là thời kỳ con người bước đi trong ánh sáng nhờ khả năng thông nhãn tự nhiên phát triển, giúp nhìn thấy hào quang rực rỡ bên trong của những người đã sẵn sàng cho tiến trình điểm đạo. Công việc thế gian sẽ được thực hiện thông qua trung gian của âm thanh, các quyền năng từ và hoạt động của các nhà huyền thuật được đào tạo bài bản. Thầy MDR lưu ý rằng nhân loại hiện đang thao tác bằng tay chân vật lý thay vì các năng lực huyền môn của âm thanh, đồng thời chỉ ra hai chuỗi chuyển hóa năng lượng gồm rung động, ánh sáng, âm thanh, màu sắc hoặc chuỗi bắt đầu từ âm thanh rồi chuyển sang ánh sáng. Thầy MDR nhận xét thêm rằng những biến đổi cấu trúc này sẽ cải thiện chất lượng, khả năng phục hồi của thể xác và thể dĩ thái, đồng thời kiểm soát cảm xúc để ngăn chặn bệnh tật xâm nhập.

Văn hóa và sự hợp nhất giữa linh hồn và hiện thể

Tiến trình tiến hóa trong kỷ nguyên mới sẽ thiết lập sự hợp nhất có ý thức giữa linh hồn và hiện thể biểu hiện của nó, giúp đưa những người chưa phát triển tiến lên biểu hiện tốt hơn. Thầy MDR dẫn giải từ sách Agni Yoga rằng văn hóa là sự vun bồi ánh sáng, đóng vai trò là nguồn thay đổi sâu sắc và nền tảng hơn so với nền văn minh thông thường vốn chỉ là kết quả gieo rắc của văn hóa xuống số đông. Thầy MDR đề xuất rằng khái niệm thế hệ nghiên cứu khoa học tiếp theo không đơn thuần chỉ là chu kỳ hai mươi lăm năm, mà là sự xuất hiện của các nhóm người có khả năng tiếp nhận rung động cao hơn. Thầy MDR nhận định việc phổ biến giáo dục qua internet hiện nay là một phần của sự nâng cao này, dù giới khoa học vẫn còn một khoảng cách khá xa trước khi thực sự nghiên cứu sâu vào bản chất con người.

Sự trỗi dậy của tâm lý học nội môn trong Kỷ nguyên Bảo Bình

Đặc điểm nổi bật của chu kỳ sắp tới là sự phát triển vượt bậc của tâm lý học với việc công nhận sự hiện diện của linh hồn, vượt lên trên trường phái tâm lý học duy vật hiện nay. Thầy MDR giải thích rằng cung năm được truyền dẫn mạnh mẽ qua chòm sao Bảo Bình và tâm lý học nội môn chính là phương pháp giảng dạy chân lý cao hơn của cung này. Thầy MDR suy đoán rằng Chân sư Polidorus thuộc Huynh đệ đoàn Luxor có thể đang tham gia sâu sắc vào lĩnh vực tâm lý học nội môn do đòi hỏi về sự điều chỉnh và hài hòa của cung bốn. Thầy MDR phê phán tâm lý học hành vi duy vật cực đoan của Skinner vì đã đảo ngược mối quan hệ khi coi tâm thức chỉ là sản phẩm phụ của vật chất, đồng thời chia sẻ trải nghiệm cá nhân vào năm 1971 tại thư viện Adyar khi các cuốn sách tâm lý học nội môn của Chân sư Tây Tạng rơi trúng người ông.

Ba trường phái tâm lý học hiện nay và sự tổng hợp

Tâm lý học hiện tại được chia thành ba trường phái gồm cơ giới luận tập trung vào cấu trúc vật chất, nội quan luận thừa nhận một thực thể có ý thức hay chân ngã, và sinh lực luận xem xét cấu trúc chịu ảnh hưởng của các năng lượng từ môi trường bên ngoài. Thầy MDR nhận xét rằng trường phái cơ giới coi tâm thức là một chất bài tiết của vật chất, trong khi Thầy MDR khẳng định chính tâm thức tạo ra hình tướng chứ không phải ngược lại. Thầy MDR so sánh quan điểm trong Agni Yoga khi gọi Plato là nhà tư tưởng, Freud là nhà duy vật và Đức Phật là Sư Tử. Thầy MDR chỉ ra rằng sự kết hợp giữa ba trường phái này sẽ tạo ra lực lượng thứ tư gần với chân lý hơn, phản ánh sự dung hợp giữa phương Tây và phương Đông, giữa thần bí học và huyền bí học dưới sự tác động của Đấng Hóa Thân Tổng Hợp.

Ý thức nhóm và tinh thần huynh đệ trong Kỷ nguyên Bảo Bình

Xu hướng chủ đạo của tư duy hiện đại là sự nhấn mạnh vào tâm thức nhóm và sự nhận thức môi trường xung quanh, biểu hiện bước đầu qua tinh thần trách nhiệm của cá nhân dưới ảnh hưởng của linh hồn. Thầy MDR nhận định các chương trình mười hai bước như Hội những người nghiện rượu giấu tên là biểu hiện rõ nét cho sự sáng tạo nhóm của Bảo Bình thay vì sự sáng tạo cá nhân của Sư Tử. Tinh thần trách nhiệm chân chính đòi hỏi sự hy sinh cá nhân cho những điều cần thiết chung, thay vì sự tự phán xét hay lương tâm khắc nghiệt của Kitô giáo cũ. Thầy MDR kể lại câu chuyện về tình bạn giữa Damon và Pythias theo lý tưởng của Pythagoras như một minh chứng cho thấy tinh thần huynh đệ đích thực dựa trên sự đồng nhất chân thần, hướng tới trạng thái Hợp Nhất Cô Lập khi chủ thể và khách thể hòa làm một.

Sự suy tàn của triết học suy lý và sự xuất hiện của các nhà vũ trụ học

Các trường phái triết học suy lý hiện nay vốn chỉ tập trung vào việc chơi đùa với chữ nghĩa và phân tích trí tuệ nông cạn sẽ dần được thay thế bởi các nhà vũ trụ học thực thụ trong những thế kỷ tới. Thầy MDR so sánh sự suy thoái này với các trường nhạc hiện đại quá thiên về kỹ thuật học thuật mà bỏ quên vẻ đẹp và trái tim của sự hài hòa âm nhạc. Khi con người thấu hiểu được Linh từ của nhân loại và tầm quan trọng của cá nhân, họ sẽ bắt đầu nghiên cứu các định luật và bản chất của Đấng Vĩ Đại mà chúng ta đang sống, vận động và tồn tại trong Ngài. Thầy MDR lưu ý rằng nếu không có tâm thức Christ thì không thể biết gì về tâm thức của Chúa Kitô vũ trụ, và việc nghiên cứu triết học nội môn dưới sự hướng dẫn của Huyền Giai Tinh Thần sẽ chuẩn bị nền móng vững chắc cho các kiếp lâm phàm tương lai của chúng ta.

Text

[1] It will be an age wherein men will walk in the light, for it will be a world of recognized inner radiance, [2] wherein the work of the world will be carried forward through the medium of sound, and eventually through the use of words of power and the work of the trained magician. [3] These trained workers in substance, [4] understanding the nature of matter, [5] seeing always in terms of light and comprehending the purpose of sound [6] will bring about those structural changes and those material transformations which will establish a civilization adequate for the work of the coming race. [7] This work will be that of the conscious unification of the soul and its vehicle of manifestation. Those cultural methods also which will take the undeveloped of the race and carry them forward to a better manifestation, [8] and a truer expression of themselves will be established and this it is the privilege of the coming generation of scientific investigators to bring about.

[1] Đó sẽ là một thời đại trong đó con người bước đi trong ánh sáng, vì đó sẽ là một thế giới của sự rạng rỡ bên trong được nhận biết, [2] trong đó công việc của thế giới sẽ được xúc tiến thông qua âm thanh, và sau cùng thông qua việc sử dụng các Quyền năng từ cùng công việc của nhà huyền thuật được rèn luyện. [3] Những người hoạt động được rèn luyện này trong chất liệu, [4] thấu hiểu bản chất của vật chất, [5] luôn nhìn bằng ánh sáng và lĩnh hội mục đích của âm thanh, [6] sẽ tạo nên những biến đổi về cấu trúc và những chuyển hoá vật chất vốn sẽ thiết lập một nền văn minh thích hợp cho công việc của nhân loại tương lai. [7] Công việc này sẽ là sự hợp nhất có ý thức giữa linh hồn và vận cụ biểu hiện của nó. Những phương pháp văn hoá nào có thể nâng những người chưa phát triển trong nhân loại tiến tới một sự biểu hiện tốt đẹp hơn [8] và một sự diễn đạt chân thực hơn về chính họ cũng sẽ được thiết lập; và chính thế hệ sắp đến của các nhà khảo cứu khoa học có đặc quyền đem điều này thành hiện thực.

[9] The outstanding characteristic, however, of the coming cycle [10] will be an outgrowth of psychology. [11] It will be the emergence of a new factor from the standpoint of the modern psychologist of the materialistic school and will involve the recognition of the soul.

[9] Tuy nhiên, đặc điểm nổi bật của chu kỳ sắp đến [10] sẽ là một sự phát triển xuất phát từ tâm lý học. [11] Đó sẽ là sự xuất hiện của một yếu tố mới, xét từ lập trường của nhà tâm lý học hiện đại thuộc trường phái duy vật, và sẽ bao hàm sự thừa nhận linh hồn.

[12] The mechanistic school of psychologists has served and is serving an invaluable purpose, [13] and the findings of the behaviorists are sound in fact, though erroneous in conclusion. [14] They serve as a needed brake upon the more speculative and mystical school, which is dignified by the name of introspectionist. [15] Like much else in the world at this time, from two great lines of thought, such as the mechanistic and the introspective or subjective mentioned above, a third will manifest which will embody the truth in both positions and duly adjust them to each other. [16] On a larger scale this is working out in the fusing of occident and orient, of mysticism and occultism. [17] We have no quarrel with either, but in the evolution of thought the main trends of ideas at this time are rapidly approaching each other and from them a synthesis will emerge which will prove an adequate platform upon which the coming cycle may make its stand.

[12] Trường phái cơ giới của các nhà tâm lý học đã và đang phụng sự một mục đích vô giá, [13] và các phát hiện của những nhà hành vi học là đúng về mặt sự kiện, dù sai lầm trong kết luận. [14] Họ đóng vai trò như một lực hãm cần thiết đối với trường phái suy đoán và thần bí hơn, vốn được tôn xưng bằng tên gọi là trường phái nội quan. [15] Cũng như nhiều điều khác trong thế giới vào lúc này, từ hai dòng tư tưởng lớn, chẳng hạn như dòng cơ giới và dòng nội quan hay chủ quan đã nêu trên, một dòng thứ ba sẽ biểu hiện, hàm chứa chân lý trong cả hai lập trường và điều chỉnh chúng cho tương hợp với nhau một cách thích đáng. [16] Trên quy mô rộng lớn hơn, điều này đang diễn ra trong sự dung hợp giữa Tây phương và Đông phương, giữa Thần bí học và huyền bí học. [17] Chúng tôi không tranh chấp với bên nào, nhưng trong tiến hoá của tư tưởng, hiện nay các khuynh hướng ý tưởng chủ đạo đang nhanh chóng tiến lại gần nhau, và từ đó một sự tổng hợp sẽ xuất hiện, chứng tỏ là một nền tảng thích đáng để chu kỳ sắp đến có thể đứng vững trên đó.

[18] It might be of value here if we noted the tendency of three lines of thought, roughly speaking in the field of psychology.

[18] Ở đây, có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta ghi nhận khuynh hướng của ba dòng tư tưởng, nói một cách đại lược, trong lĩnh vực tâm lý học.

[19] 1. The mechanistic, laying the emphasis upon structure, ascribing the reactions of the human organism, mental, emotional, and physical—entirely to the material aspect, [20] and regarding the structure as responsible for and giving rise to all the lines of conduct and characteristics which man displays, both abnormal and normal.

[19] 1. Trường phái cơ giới, nhấn mạnh vào cấu trúc, quy các phản ứng của cơ cấu con người—trí tuệ, cảm xúc và thể xác—hoàn toàn cho phương diện vật chất, [20] và xem cấu trúc là yếu tố chịu trách nhiệm về, cũng như làm phát sinh, mọi đường lối ứng xử và các đặc điểm mà con người biểu lộ, cả bất thường lẫn bình thường.

[21] 2. The introspective school, positing a self or a conscious something which is responsible for conditions and which, as has sometimes been said, is “aware of awareness”. [22] This school of psychologists recognizes the structure but goes further and regards certain aspects of conduct, and certain reactions and problems as insoluble under the pure mechanistic process. They approach more nearly the occult position, but do not go so far.

[21] 2. Trường phái nội quan, giả định có một bản ngã hay một cái gì đó có ý thức chịu trách nhiệm về các tình trạng, và như đôi khi đã nói, “ý thức về sự ý thức”. [22] Trường phái các nhà tâm lý học này thừa nhận cấu trúc, nhưng đi xa hơn và xem một số phương diện của hành vi, cùng một số phản ứng và vấn đề, là không thể giải quyết được theo tiến trình cơ giới thuần túy. Họ tiến gần hơn đến lập trường huyền bí, nhưng không đi xa đến mức ấy.

[23] 3. Then there are what I might call the vitalists, [24] or that group of psychologists who, admitting the fact of the structure, [25] yet regard it as subjected to the influences of energies and forces emanating from an outer environment. [26] These are the energies of a wider nature than those arising entirely within a man’s own self, and number among them the great basic urges for which nature itself is responsible and which can be seen and felt in units of organic life, other than the human.

[23] 3. Kế đến là những người mà tôi có thể gọi là các nhà sinh lực luận, [24] hay nhóm các nhà tâm lý học tuy thừa nhận sự kiện về cấu trúc, [25] nhưng vẫn xem cấu trúc ấy là chịu ảnh hưởng của các năng lượng và mãnh lực phát xuất từ một môi trường bên ngoài. [26] Đây là những năng lượng có bản chất rộng lớn hơn những năng lượng phát sinh hoàn toàn bên trong chính con người, và trong số đó có các thôi thúc căn bản lớn lao mà chính thiên nhiên chịu trách nhiệm, vốn có thể được thấy và cảm nhận nơi các đơn vị sự sống hữu cơ khác ngoài con người.

[27] The truth which is safeguarded in all these schools is one truth and each aspect of it is correlated.

[27] Chân lý được gìn giữ trong tất cả các trường phái này là một chân lý duy nhất, và mỗi phương diện của nó đều tương quan với nhau.

[28] There is a mechanism through which the real man functions, and there is a structure which he has built up in conformity to the laws of nature and which he can learn to use and control. [29] But, in accordance with the more subjective and speculative school he must learn to differentiate between himself, as the conscious centre of awareness, [30] the “I” upon the throne of intelligence, and the apparatus through which he can contact the outer world. [31] When the “I”, the user of the mechanism, [32] can do this he becomes aware of another fact and that is that not only is he a generator and user of energy, and the director of a quota of vitality [33] which is his own, [34] but that there are energies and forces in nature and the planet, and also extra-planetary or cosmic, to which he can also respond and which he can learn to use and adapt. [35] The three present schools are therefore, in embryo, custodians of these three factors. [36] Under the present system of quarrel and separation, these three schools are occupied largely with disproving each other’s theories. [37] But they are all three of them correct in their facts though wrong in their deductions. [38] They all three need each other and from a blending of the three presentations there will emerge the fourth, which will be nearer the truth than any of the separated three.

[28] Có một bộ máy qua đó con người chân thực hoạt động, và có một cấu trúc mà y đã xây dựng phù hợp với các định luật của tự nhiên, rồi y có thể học cách sử dụng và kiểm soát nó. [29] Nhưng, theo trường phái chủ quan và tư biện hơn, y phải học cách phân biệt giữa chính mình, với tư cách là trung tâm nhận thức hữu thức, [30] “cái Tôi” trên ngai của trí năng, và bộ khí cụ qua đó y có thể tiếp xúc với thế giới bên ngoài. [31] Khi “cái Tôi”, tức người sử dụng bộ máy, [32] có thể làm được điều này, y nhận biết một sự kiện khác, đó là y không chỉ là người phát sinh và sử dụng năng lượng, là người điều khiển một phần sinh lực [33] vốn thuộc về y, [34] mà còn có những năng lượng và mãnh lực trong tự nhiên và trong hành tinh, cũng như ngoài hành tinh hay thuộc vũ trụ, mà y cũng có thể đáp ứng, và y có thể học cách sử dụng cũng như thích ứng chúng. [35] Vì vậy, ba trường phái hiện nay, trong trạng thái phôi thai, là những người gìn giữ ba yếu tố này. [36] Dưới hệ thống tranh cãi và chia rẽ hiện nay, ba trường phái này phần lớn bận rộn với việc bác bỏ các lý thuyết của nhau. [37] Nhưng cả ba đều đúng về các sự kiện, dù sai trong những suy luận của mình. [38] Cả ba đều cần đến nhau, và từ sự hòa trộn ba cách trình bày ấy sẽ xuất hiện trường phái thứ tư, gần với chân lý hơn bất cứ trường phái nào trong ba trường phái tách biệt kia.

[39] When we come to the consideration of other basic trends in the world of current thought it becomes apparent that one of the most dominant is the increasing emphasis laid upon group consciousness, or environal awareness. [40] This has been recognized by the man in the street [41] as a sense of responsibility and indicates in the individual an egoic vibration. [42] It is one of the first signs that the soul is beginning to use its mechanism. [43] No longer does the man live in the interests of the separated self but he begins to realize the need for adjustment to and in the condition of his neighbor. [44] He assumes the duty of being in a very real sense his brother’s keeper, [45] and realizes that in reality progress, contentment, peace of mind and prosperity do not exist for him apart from that of his brother. [46] This realization is steadily expanding from the individual to the state and nation, from the family unit to the world, and hence the big organizations, fraternities, clubs, leagues and movements which have for their objective the uplift and welfare of men everywhere. [47] The necessity of giving instead of getting [48] is growing in the racial consciousness and the recognition of certain of the basic concepts connected with brotherhood is steadily growing. [49] Brotherhood as a fact in nature is as yet largely a theory, but brotherhood as an ideal is now fashioned in the racial consciousness.

[39] Khi chúng ta xét đến những khuynh hướng căn bản khác trong thế giới tư tưởng hiện thời, điều trở nên hiển nhiên là một trong những khuynh hướng nổi trội nhất là sự nhấn mạnh ngày càng tăng vào tâm thức nhóm, hay sự nhận biết về môi trường chung quanh. [40] Người bình thường đã nhận ra điều này [41] như một ý thức trách nhiệm, và nó cho thấy nơi cá nhân một rung động chân ngã. [42] Đó là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy linh hồn đang bắt đầu sử dụng bộ máy của nó. [43] Con người không còn sống vì lợi ích của bản ngã tách biệt nữa, mà y bắt đầu nhận ra nhu cầu phải điều chỉnh đối với và trong hoàn cảnh của người lân cận mình. [44] Y đảm nhận bổn phận, theo một ý nghĩa rất thực, là người gìn giữ huynh đệ của mình, [45] và nhận ra rằng, trong thực tại, sự tiến bộ, mãn nguyện, bình an trong trí và thịnh vượng không hiện hữu cho y tách rời khỏi những điều ấy nơi huynh đệ của y. [46] Nhận thức này đang đều đặn mở rộng từ cá nhân đến nhà nước và quốc gia, từ đơn vị gia đình đến thế giới, và do đó có những tổ chức lớn, các hội huynh đệ, câu lạc bộ, liên đoàn và phong trào lấy việc nâng cao và phúc lợi của con người khắp nơi làm mục tiêu. [47] Sự cần thiết phải cho đi thay vì nhận lấy [48] đang lớn dần trong tâm thức nhân loại, và sự thừa nhận một số khái niệm căn bản liên quan đến tình huynh đệ cũng đang đều đặn gia tăng. [49] Tình huynh đệ như một sự kiện trong tự nhiên phần lớn vẫn còn là một lý thuyết, nhưng tình huynh đệ như một lý tưởng thì nay đã được định hình trong tâm thức nhân loại.

[50] One of the great schools of thought or trend of ideas which is destined to pass away is that of the current philosophies as we now know them. [51] Philosophy in its technical sense as the love of wisdom will increase [52] as men understand increasingly the meaning of wisdom and become epochally wiser, [53] but the present schools of philosophy have nearly served their purpose. [54] This has been the formulation of ideas concerning God and His relation to man, concerning divinity, eschatology and spiritual relationships.

[50] Một trong những trường phái tư tưởng lớn, hay khuynh hướng ý tưởng, vốn được định sẵn sẽ qua đi, là các nền triết học hiện hành như chúng ta biết hiện nay. [51] Triết học, theo nghĩa chuyên môn là tình yêu minh triết, sẽ gia tăng [52] khi con người ngày càng thấu hiểu ý nghĩa của minh triết và trở nên minh triết hơn theo từng thời đại, [53] nhưng các trường phái triết học hiện nay hầu như đã hoàn thành mục đích của chúng. [54] Mục đích ấy là việc hình thành các ý tưởng về Thượng đế và mối liên hệ của Ngài với con người, về thiên tính, cánh chung luận và các mối liên hệ tinh thần.

[55] The last great gestures of the philosophical schools remain yet to be made. [56] Their place will be taken in later centuries by those who will in deed and in truth be cosmologists, for once the Word of Mankind is understood and grasped and the significance of the individual appreciated, the Word of the Cosmos will receive due and more correct attention, and the laws and nature of that great Being in Whom we live and move and have our being will be studied. [57] The cosmic Christ can never be known by any except the individual Christ.

[55] Những động thái lớn lao cuối cùng của các trường phái triết học vẫn còn chưa được thực hiện. [56] Trong các thế kỷ về sau, vị trí của họ sẽ do những người thật sự và đúng nghĩa là các nhà vũ trụ luận đảm nhiệm; vì một khi Linh từ của Nhân loại được thấu hiểu và nắm bắt, và thâm nghĩa của cá nhân được nhận thức đúng, Linh từ của Vũ trụ sẽ nhận được sự chú tâm thích đáng và chính xác hơn, và các định luật cùng bản chất của Đấng Vĩ Đại mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu sẽ được nghiên cứu. [57] Chỉ Đức Christ cá nhân mới có thể nhận biết Đức Christ vũ trụ.

Program-32-Astral-Plane-Rule-X-10.16

Hello friends, we are continuing now with our Treatise on White Magic video commentaries, and this is our 31st program, the 31st program within the Rules for Magic of the Astral Plane. We’re in Rule 10, and we’ve done, or about to do, 16 programs in that Rule 10. It’s quite a long rule.

Xin chào các bạn, hiện nay chúng ta đang tiếp tục các phần bình giảng video về Luận về Chánh Thuật, và đây là chương trình thứ ba mươi mốt của chúng ta, chương trình thứ ba mươi mốt trong Các Quy Luật Huyền Thuật của Cõi Cảm Dục. Chúng ta đang ở Quy luật 10, và đã thực hiện, hoặc sắp thực hiện, mười sáu chương trình trong Quy luật 10 ấy. Đó là một quy luật khá dài.

We’ve been talking about the power of the atom coming. We’ve been talking about the effectiveness of color and sound, both of which will be important in therapeutics and developmental processes in the Aquarian age. Brotherhood will be the keynote and a demonstrated fact in nature.

Chúng ta đã nói về quyền năng của nguyên tử đang đến. Chúng ta đã nói về hiệu quả của màu sắc và âm thanh, cả hai sẽ quan trọng trong trị liệu và các tiến trình phát triển trong Kỷ nguyên Bảo Bình. Tình huynh đệ sẽ là chủ âm và là một sự kiện được chứng minh trong thiên nhiên.

Perhaps by the time some of the Mercurian decanate occurs, because Mercury rules Gemini, Gemini is the sign of brotherhood, but Venus also has much to do with loving brotherhood, and Libra and Venus with right human relations. Maybe during the difficult first 720 years when Saturn generally rules, we will not yet have that. We will come to terms with what water is, Saturn in Aquarius, and what the waters of life may be.

Có lẽ vào thời điểm một phần thập độ Sao Thủy diễn ra, bởi vì Sao Thủy cai quản Song Tử, Song Tử là dấu hiệu của tình huynh đệ, nhưng Sao Kim cũng liên hệ rất nhiều với tình huynh đệ yêu thương, còn Thiên Bình và Sao Kim thì liên hệ với các mối tương quan nhân loại đúng đắn. Có thể trong bảy trăm hai mươi năm đầu khó khăn, khi Sao Thổ nói chung cai quản, chúng ta vẫn chưa có được điều đó. Chúng ta sẽ đi đến chỗ hiểu nước là gì, Sao Thổ trong Bảo Bình, và các dòng nước của sự sống có thể là gì.

We’re continuing. It was a long program last time. It won’t be as long this time.

Chúng ta đang tiếp tục. Lần trước là một chương trình dài. Lần này sẽ không dài như vậy.

[1] It will be an age wherein men will walk in the light, for it will be a world of recognized inner radiance.

[1] Đó sẽ là một thời đại trong đó con người bước đi trong ánh sáng, vì đó sẽ là một thế giới của sự rạng rỡ bên trong được nhận biết,

We’re told that as initiation becomes possible on the outer plane, men will be more naturally clairvoyant and will see the inner light radiating from people and know that they are ready for the initiatory process.

Chúng ta được cho biết rằng khi điểm đạo trở nên khả hữu trên cõi bên ngoài, con người sẽ thông nhãn một cách tự nhiên hơn, sẽ thấy ánh sáng bên trong tỏa ra từ con người, và biết rằng họ đã sẵn sàng cho tiến trình điểm đạo.

[2] wherein the work of the world will be carried forward through the medium of sound, and eventually through the use of words of power and the work of the trained magician.

[2] trong đó công việc của thế giới sẽ được xúc tiến thông qua âm thanh, và sau cùng thông qua việc sử dụng các Quyền năng từ cùng công việc của nhà huyền thuật được rèn luyện.

Pretty much we’re dealing with human hands and human feet right now, and not yet with the more occult powers of sound, but this is what Master DK predicts.

Hiện nay chúng ta gần như đang đề cập đến bàn tay và bàn chân con người, chứ chưa phải những quyền năng huyền bí hơn của âm thanh, nhưng đây là điều Chân sư DK tiên đoán.

[3] These trained workers in substance,

[3] Những người hoạt động được rèn luyện này trong chất liệu,

We might say, in the type of energy which underlies the dense outer world, and even the ethers are substantial to the dense outer world.

Chúng ta có thể nói, trong loại năng lượng nằm bên dưới thế giới bên ngoài đậm đặc, và ngay cả các dĩ thái cũng có tính chất liệu đối với thế giới bên ngoài đậm đặc.

[4] understanding the nature of matter,

[4] thấu hiểu bản chất của vật chất,

a lot more than we do now really,

thật sự nhiều hơn chúng ta hiện nay rất nhiều,

[5] seeing always in terms of light and comprehending the purpose of sound

[5] luôn nhìn bằng ánh sáng và lĩnh hội mục đích của âm thanh,

How does it go? Vibration, sound, no, vibration, light, sound, color, that’s one of the sequences, and the other sequence begins with sound and then moves to light.

Trình tự ấy ra sao? Rung động, âm thanh, không, rung động, ánh sáng, âm thanh, màu sắc, đó là một trong các chuỗi; và chuỗi kia bắt đầu với âm thanh rồi chuyển sang ánh sáng.

These trained workers in substance, understanding the nature of matter, seeing always in terms of light and comprehending the purpose of sound,

Những người hoạt động lão luyện này trong chất liệu, thấu hiểu bản chất của vật chất, luôn luôn nhìn theo ánh sáng và thông hiểu mục đích của âm thanh,

[6] will bring about those structural changes and those material transformations which will establish a civilization adequate for the work of the coming race.

[6] sẽ tạo nên những biến đổi về cấu trúc và những chuyển hoá vật chất vốn sẽ thiết lập một nền văn minh thích hợp cho công việc của nhân loại tương lai.

This means also changes in the physical and etheric body of man which will be greatly elevated in quality, resilience, strength, and there will be a lot more ability to resist, to radiatorily resist disease and the various miasmas which find their way presently into the etheric body.

Điều này cũng hàm ý những thay đổi trong thể xác và thể dĩ thái của con người, những thể ấy sẽ được nâng cao rất nhiều về phẩm tính, sức dẻo dai, sức mạnh; và sẽ có nhiều khả năng hơn để kháng cự, để kháng cự bệnh tật bằng bức xạ, cũng như các loại khí độc khác nhau hiện nay đang tìm đường vào thể dĩ thái.

The emotions will be more controlled and purified, and that will also prevent the descent of disease-causing impulses into the etheric body and then into the physical body.

Các cảm xúc sẽ được kiểm soát và thanh luyện nhiều hơn, và điều đó cũng sẽ ngăn chặn sự giáng xuống của các xung lực gây bệnh vào thể dĩ thái rồi vào thể xác.

[7] This work will be that of the conscious unification of the soul and its vehicle of manifestation. Those cultural methods also which will take the undeveloped of the race and carry them forward to a better manifestation,

[7] Công việc này sẽ là sự hợp nhất có ý thức giữa linh hồn và vận cụ biểu hiện của nó. Những phương pháp văn hoá nào có thể nâng những người chưa phát triển trong nhân loại tiến tới một sự biểu hiện tốt đẹp hơn

the very thing towards which we presently struggle as aspirants and disciples, and it will be more generalized then on a cultural basis.

chính là điều mà hiện nay chúng ta đang nỗ lực hướng tới với tư cách người chí nguyện và đệ tử, và khi ấy điều đó sẽ được phổ biến hơn trên nền tảng văn hóa.

In the Agniyoga book somewhere we’re given a definition of culture as the cult or the cultivation of ur, of light, cult ur, the cultivation of the light. Culture is a deeper and more fundamental source of change than is civilization, which is more the result of how culture works upon the many. It trickles down, and then many receive the fruits of culture.

Trong sách Agni Yoga, ở đâu đó, chúng ta được cho một định nghĩa về văn hóa như sự sùng mộ hay sự vun trồng ánh sáng. Văn hóa là nguồn gốc thay đổi sâu xa và căn bản hơn so với văn minh, vốn là kết quả nhiều hơn của cách văn hóa tác động lên số đông. Nó thấm dần xuống, rồi nhiều người nhận được hoa trái của văn hóa.

Those cultural methods also which will take the undeveloped of the race and carry them forward to a better manifestation

Cũng vậy, những phương pháp văn hóa sẽ tiếp nhận những người chưa phát triển trong nhân loại và đưa họ tiến tới một biểu hiện tốt đẹp hơn

[8] and a truer expression of themselves will be established and this it is the privilege of the coming generation of scientific investigators to bring about.

[8] và một sự diễn đạt chân thực hơn về chính họ cũng sẽ được thiết lập; và chính thế hệ sắp đến của các nhà khảo cứu khoa học có đặc quyền đem điều này thành hiện thực.

We’re quite sure that the word generation does not simply mean a 25 year period, approximately, in which a new group of human beings is produced. It’s something more than that. It has something to do with that which motivates different groups of human beings and makes changes because they are part of a new capacity to receive a higher vibration.

Chúng ta khá chắc rằng từ “thế hệ” không chỉ có nghĩa là một khoảng thời gian xấp xỉ hai mươi lăm năm, trong đó một nhóm người mới được sinh ra. Nó còn là điều gì hơn thế. Nó liên hệ đến cái thúc đẩy các nhóm nhân loại khác nhau và tạo nên các thay đổi, bởi vì họ là một phần của khả năng mới để tiếp nhận một rung động cao hơn.

The coming generation of scientific investigators is nowhere near the raising of the undeveloped right now. When we look at the changes in the communication system, certainly education is more widely available because of the internet. Maybe this is part of it, this raising and carrying them to a better manifestation. But we’re still a ways off because he’s talking about scientific investigations presumably into the nature of man and the best methods of education and so forth.

Thế hệ sắp đến gồm các nhà nghiên cứu khoa học hiện nay còn rất xa việc nâng cao những người chưa phát triển. Khi chúng ta nhìn vào những thay đổi trong hệ thống truyền thông, chắc chắn giáo dục trở nên phổ biến hơn nhờ mạng lưới toàn cầu. Có lẽ đây là một phần của điều đó, sự nâng cao này và việc đưa họ đến một biểu hiện tốt đẹp hơn. Nhưng chúng ta vẫn còn cách khá xa, bởi vì Ngài đang nói đến những nghiên cứu khoa học, có lẽ là về bản chất con người, các phương pháp giáo dục tốt nhất, vân vân.

[9] The outstanding characteristic, however, of the coming cycle

[9] Tuy nhiên, đặc điểm nổi bật của chu kỳ sắp đến

and perhaps this means the Aquarian cycle, and it’s a fairly long time, and even longer when we consider the great age of Aquarius, which is impending,

và có lẽ điều này có nghĩa là chu kỳ Bảo Bình, một chu kỳ khá dài; và còn dài hơn nữa khi chúng ta xét đến đại kỷ nguyên Bảo Bình đang gần kề,

[10] will be an outgrowth of psychology.

[10] sẽ là một sự phát triển xuất phát từ tâm lý học.

Interestingly enough, the higher method of teaching truth on the fifth ray is esoteric psychology, and the fifth ray is brought forward in strength through the constellation and its attendant sign, the constellation Aquarius. Esoteric psychology, Aquarius, and the fifth ray which Aquarius transmits. Psychology probably takes in all the different rays. Ray two is very important in it, ray four as well, and there is a Master who is deeply involved with esoteric psychology now. Maybe this is a Master on the fourth ray by the name of Polidorus, a certain master P. Polidorus is Serenius and is a member of the Brotherhood of Luxor, but when we talk about all the adaptations and harmonizations and the kind of skill and action that is needed, generated by the new psychology, we can see that the fourth ray would be very useful.

Điều thú vị là phương pháp cao hơn để giảng dạy chân lý trên cung năm là Tâm Lý Học Nội Môn, và cung năm được đưa ra mạnh mẽ qua chòm sao cùng dấu hiệu đi kèm của nó, chòm sao Bảo Bình. Tâm Lý Học Nội Môn, Bảo Bình, và cung năm mà Bảo Bình truyền dẫn. Tâm lý học có lẽ bao gồm tất cả các cung khác nhau. Cung hai rất quan trọng trong đó, cung bốn cũng vậy, và hiện nay có một Chân sư tham dự sâu xa vào Tâm Lý Học Nội Môn. Có lẽ đây là một Chân sư thuộc cung bốn tên là Polidorus, một Chân sư P. nào đó. Polidorus là Serenius và là một thành viên của Huynh đệ đoàn Luxor; nhưng khi chúng ta nói đến mọi sự thích ứng, hài hòa, và loại kỹ năng cùng hành động cần thiết do nền tâm lý học mới tạo ra, chúng ta có thể thấy rằng cung bốn sẽ rất hữu ích.

[11] It will be the emergence of a new factor from the standpoint of the modern psychologist of the materialistic school and will involve the recognition of the soul.

[11] Đó sẽ là sự xuất hiện của một yếu tố mới, xét từ lập trường của nhà tâm lý học hiện đại thuộc trường phái duy vật, và sẽ bao hàm sự thừa nhận linh hồn.

As DK goes into this, explaining the kind of cul-de-sac into which modern psychology has wandered. Maybe the depth psychology of Jung is somewhat immune from that criticism, but there is a very materialistic approach to psychology and it simply deals with the response of the form and not with motivating factors.

Khi Chân sư DK đi vào điều này, Ngài giải thích loại ngõ cụt mà tâm lý học hiện đại đã lạc vào. Có lẽ tâm lý học chiều sâu của Jung phần nào miễn nhiễm với sự phê phán ấy, nhưng có một lối tiếp cận rất duy vật đối với tâm lý học, và nó chỉ đơn giản xử lý sự đáp ứng của hình tướng chứ không xử lý các yếu tố thúc đẩy.

Any system of thought that considers the psychological life as some kind of extrusion of the material life has got the tail wagging the dog; everything is backwards. It is the psyche that produces the form and not the form that produces the psyche, though the condition of the form may influence the way the psyche expresses.

Bất kỳ hệ thống tư tưởng nào xem đời sống tâm lý như một thứ sản phẩm trồi ra từ đời sống vật chất đều đang để cái đuôi vẫy con chó; mọi sự đều đảo ngược. Chính tâm hồn tạo ra hình tướng, chứ không phải hình tướng tạo ra tâm hồn, dù tình trạng của hình tướng có thể ảnh hưởng đến cách tâm hồn biểu hiện.

It will be the emergence of a new factor from the standpoint of the modern psychologist of the materialistic school and will involve the recognition of the soul. We’re now seventh ray psychology under the influence of such psychologists as Skinner. Conditioned response psychology is useful in training, but a long way from the truth of the subtle mechanism of man and of the true psyche or soul.

Đó sẽ là sự xuất hiện của một yếu tố mới, xét từ lập trường của nhà tâm lý học hiện đại thuộc trường phái duy vật, và sẽ bao hàm sự công nhận linh hồn. Hiện nay chúng ta có tâm lý học cung bảy dưới ảnh hưởng của các nhà tâm lý học như Skinner. Tâm lý học đáp ứng có điều kiện hữu ích trong huấn luyện, nhưng còn rất xa chân lý về bộ máy vi tế của con người và về tâm hồn hay linh hồn chân thật.

I was always interested in psychology as a young person and then got into some of the classes that were being taught at the University of Michigan and other places. They were so shallow and dealt with such externals. Many people who are deeply interested in the truer psychology get turned off by the way it’s taught, but then if they read Master D.K., all of this changed for me in 1971 when I visited the Adyar Library there in Wheaton, Illinois, and those psychology books, almost too high on the shelf to reach, as I’ve mentioned before, fell off and hit me. I said I’ll take these home with me for a while, and that was the psychology that I was truly looking for. But it’s in advance of where things are right now, unfortunately. Predictably, it’s in advance.

Khi còn trẻ, tôi luôn quan tâm đến tâm lý học, rồi tham gia một số lớp được giảng dạy tại Đại học Michigan và những nơi khác. Chúng quá nông cạn và chỉ đề cập đến những điều bên ngoài. Nhiều người quan tâm sâu xa đến nền tâm lý học chân thật hơn đã bị chán nản bởi cách nó được giảng dạy; nhưng rồi nếu họ đọc Chân sư DK, mọi điều này đã thay đổi đối với tôi vào năm 1971, khi tôi đến thăm Thư viện Adyar ở Wheaton, Illinois, và những quyển sách tâm lý học ấy, gần như ở quá cao trên kệ để với tới, như tôi đã kể trước đây, rơi xuống và đập vào tôi. Tôi nói rằng tôi sẽ mang chúng về nhà một thời gian, và đó là nền tâm lý học mà tôi thật sự đang tìm kiếm. Nhưng tiếc thay, nó đi trước tình trạng hiện nay của sự việc. Có thể đoán trước, nó đi trước.

Let’s go on making our way through this excellent book.

Chúng ta hãy tiếp tục tiến qua quyển sách tuyệt vời này.

[12] The mechanistic school of psychologists has served and is serving an invaluable purpose,

[12] Trường phái cơ giới của các nhà tâm lý học đã và đang phụng sự một mục đích vô giá,

Because we know, we will know as a result how the form responds to the inner principles and the findings of the behaviorists. That’s where B.F. Skinner comes in.

bởi vì nhờ đó chúng ta biết, và sẽ biết, hình tướng đáp ứng với các nguyên khí bên trong như thế nào, cũng như những phát hiện của các nhà hành vi học. Đó là nơi B. F. Skinner xuất hiện.

[13] and the findings of the behaviorists are sound in fact, though erroneous in conclusion.

[13] và các phát hiện của những nhà hành vi học là đúng về mặt sự kiện, dù sai lầm trong kết luận.

Not rightly estimating what man truly is interiorly. There really is no interiority for these kinds of psychologists.

Họ không đánh giá đúng con người thật sự là gì ở bên trong. Thật ra không có nội tâm tính nào đối với những loại nhà tâm lý học này.

They are basically materialists. I’m remembering, if true, in Agni Yoga Plato is called the thinker, and I think it’s Freud that is called the materialist, and the Buddha is called the Lion, which is interesting. I don’t know if he had that sign in his chart. I have a feeling it was mostly Taurus and Pisces. But nevertheless, Master M calls Him the Lion.

Về căn bản, họ là những nhà duy vật. Tôi nhớ rằng, nếu đúng, trong Agni Yoga Plato được gọi là nhà tư tưởng, và tôi nghĩ Freud được gọi là nhà duy vật, còn Đức Phật được gọi là Sư Tử, điều này thật thú vị. Tôi không biết Ngài có dấu hiệu ấy trong lá số chiêm tinh của Ngài hay không. Tôi có cảm giác chủ yếu là Kim Ngưu và Song Ngư. Nhưng dù sao, Chân sư M. gọi Ngài là Sư Tử.

[14] They serve as a needed brake upon the more speculative and mystical school, which is dignified by the name of introspectionist.

[14] Họ đóng vai trò như một lực hãm cần thiết đối với trường phái suy đoán và thần bí hơn, vốn được tôn xưng bằng tên gọi là trường phái nội quan.

There was a time when the academics and scholastics ruled the realm of knowledge, and along came Master R. He said, “Look, let’s put all this to the test.” He was a triple Aquarius, kind of. Sun in Aquarius, Aquarius rising, Mercury rising in Aquarius. He had low fifth ray in that incarnation. He started what turned out eventually to be the scientific revolution, which was in contradistinction to scholasticism and philosophical reasoning, which was unproven, unfounded. He says, “Let’s prove these things.”

Đã có một thời giới học thuật và kinh viện cai quản lĩnh vực tri thức, rồi Chân sư R. xuất hiện. Ngài nói: “Hãy đưa tất cả điều này vào thử nghiệm.” Ngài, theo một cách nào đó, là Bảo Bình tam phân. Mặt Trời ở Bảo Bình, dấu hiệu mọc Bảo Bình, Sao Thủy mọc ở Bảo Bình. Trong lần lâm phàm ấy, Ngài có cung năm thấp. Ngài khởi đầu điều rốt cuộc trở thành cuộc cách mạng khoa học, tương phản với chủ nghĩa kinh viện và lý luận triết học chưa được chứng minh, không có nền tảng. Ngài nói: “Hãy chứng minh những điều này.”

The introspectionist approach, though introspection is valuable, also came up with much that needed to be corroborated by behaviorists. I never have been partial to this type of psychology, but I do see that it does assist in grounding our knowledge in verifiable fact.

Lối tiếp cận nội quan, dù sự nội quan có giá trị, cũng đưa ra nhiều điều cần được các nhà hành vi học xác nhận. Tôi chưa bao giờ thiên về loại tâm lý học này, nhưng tôi thấy rằng nó thật sự giúp đặt nền tảng cho tri thức của chúng ta trên sự kiện có thể kiểm chứng.

[15] Like much else in the world at this time, from two great lines of thought, such as the mechanistic and the introspective or subjective mentioned above, a third will manifest which will embody the truth in both positions and duly adjust them to each other.

[15] Cũng như nhiều điều khác trong thế giới vào lúc này, từ hai dòng tư tưởng lớn, chẳng hạn như dòng cơ giới và dòng nội quan hay chủ quan đã nêu trên, một dòng thứ ba sẽ biểu hiện, hàm chứa chân lý trong cả hai lập trường và điều chỉnh chúng cho tương hợp với nhau một cách thích đáng.

So a noble middle path will be found in psychology. D.K. gives us much about the mechanism, indeed much. And it is of great value. We’re not totally idealists in the way that Bishop Berkeley was. Maybe we’re even more radical in some ways. And we’re not totally mechanists the way some of the more materialistic, matter-oriented psychologists are. All of it’s necessary. We have to have all of it and not just emphasize one thing only over another.

Vì vậy, một con đường trung đạo cao quý sẽ được tìm thấy trong tâm lý học. Chân sư DK cho chúng ta rất nhiều về bộ máy, thật vậy, rất nhiều. Và điều đó có giá trị lớn. Chúng ta không hoàn toàn là những người theo chủ nghĩa lý tưởng theo cách Giám mục Berkeley đã là. Có lẽ theo vài cách, chúng ta còn triệt để hơn. Và chúng ta không hoàn toàn là những người cơ giới như một số nhà tâm lý học duy vật hơn, hướng về vật chất hơn. Tất cả đều cần thiết. Chúng ta phải có tất cả, chứ không chỉ nhấn mạnh một điều duy nhất hơn điều khác.

[16] On a larger scale this is working out in the fusing of occident and orient, of mysticism and occultism.

[16] Trên quy mô rộng lớn hơn, điều này đang diễn ra trong sự dung hợp giữa Tây phương và Đông phương, giữa Thần bí học và huyền bí học.

Mysticism is very subjective. It has more to do with the 2-4-6 line, and Occultism deals with also the behavior of the form, 1-3-5-7. It’s so interesting that it is the first Ray ashram that basically has to somehow build and sustain the outer form, which will hold the inner principles.

Thần bí học rất chủ quan. Nó liên hệ nhiều hơn đến tuyến 2-4-6, còn huyền bí học cũng xử lý hành vi của hình tướng, 1-3-5-7. Thật thú vị khi ashram cung một về căn bản phải bằng cách nào đó xây dựng và duy trì hình tướng bên ngoài, vốn sẽ giữ các nguyên khí bên trong.

[17] We have no quarrel with either, but in the evolution of thought the main trends of ideas at this time are rapidly approaching each other and from them a synthesis will emerge which will prove an adequate platform upon which the coming cycle may make its stand.

[17] Chúng tôi không tranh chấp với bên nào, nhưng trong tiến hoá của tư tưởng, hiện nay các khuynh hướng ý tưởng chủ đạo đang nhanh chóng tiến lại gần nhau, và từ đó một sự tổng hợp sẽ xuất hiện, chứng tỏ là một nền tảng thích đáng để chu kỳ sắp đến có thể đứng vững trên đó.

And probably the Avatar of Synthesis will be influential in this synthesis. All kinds of things are coming together. A more completed picture is necessary and emerging.

Và có lẽ Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp sẽ có ảnh hưởng trong tổng hợp này. Mọi loại sự việc đang hội tụ. Một bức tranh hoàn chỉnh hơn là cần thiết và đang xuất hiện.

Like the many sects in Christianity, we can emphasize only one thing and miss something else equally important or more important. When you’re baptizing someone, you have to have them hold their nose and dunk them in the river. Or whether you can do it simply with water from a much smaller source. These things are held to be paramount and they are really very concrete approaches and probably have little to do with the inner type of consciousness which we must have if we are to be true Christians in the sense that Christ would have us be.

Giống như nhiều giáo phái trong Cơ Đốc giáo, chúng ta có thể chỉ nhấn mạnh một điều và bỏ lỡ điều khác cũng quan trọng như thế hoặc còn quan trọng hơn. Khi bạn rửa tội cho ai đó, bạn phải để họ bịt mũi và nhúng họ xuống sông; hay liệu bạn có thể làm điều đó chỉ bằng nước từ một nguồn nhỏ hơn nhiều. Những điều này được xem là tối quan trọng, nhưng thật ra chúng là những lối tiếp cận rất cụ thể và có lẽ ít liên hệ đến loại tâm thức bên trong mà chúng ta phải có nếu muốn là những người Cơ Đốc chân thật theo nghĩa mà Đức Christ muốn chúng ta trở thành.

[18] It might be of value here if we noted the tendency of three lines of thought, roughly speaking in the field of psychology.

[18] Ở đây, có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta ghi nhận khuynh hướng của ba dòng tư tưởng, nói một cách đại lược, trong lĩnh vực tâm lý học.

This too is a seminal book. Certain things are laid out which are taken up in other books and further developed. Obviously, the Tibetan had a huge and detailed plan of what he could cover. And of course, he and they had to sustain Alice Bailey for the full 30 years so that the anticipated work could be done.

Đây cũng là một quyển sách nền tảng. Một số điều được trình bày ở đây rồi được tiếp nhận trong các sách khác và phát triển thêm. Hiển nhiên, Chân sư Tây Tạng đã có một Thiên Cơ rộng lớn và chi tiết về những gì Ngài có thể trình bày. Và dĩ nhiên, Ngài cùng Các Ngài phải nâng đỡ Alice Bailey trong trọn ba mươi năm để công việc đã dự kiến có thể được hoàn thành.

What are the different methods of psychology? One here would try to be as clear as we can be:

Các phương pháp tâm lý học khác nhau là gì? Ở đây người ta sẽ cố gắng rõ ràng hết mức có thể:

[19] 1. The mechanistic, laying the emphasis upon structure, ascribing the reactions of the human organism, mental, emotional, and physical—entirely to the material aspect,

[19] 1. Trường phái cơ giới, nhấn mạnh vào cấu trúc, quy các phản ứng của cơ cấu con người—trí tuệ, cảm xúc và thể xác—hoàn toàn cho phương diện vật chất,

This is a great error. But I talk with so many people who cannot conceive that the subtle can produce the gross. The precipitation of that which is subtle producing that which is denser. They just can’t conceive it. Because our mind has been trained in an entirely different way. Anything that arises in an intangible manner seems to arise from that which we credit as being real. And these are all the material things in front of us. So ascribing these reactions entirely to the material aspect,

Đây là một sai lầm lớn. Nhưng tôi nói chuyện với rất nhiều người không thể hình dung rằng cái vi tế có thể tạo ra cái thô trược. Sự ngưng tụ của cái vi tế tạo ra cái đậm đặc hơn. Họ đơn giản không thể hình dung điều đó, bởi vì thể trí của chúng ta đã được huấn luyện theo một cách hoàn toàn khác. Bất cứ điều gì phát sinh theo cách vô hình dường như phát sinh từ cái mà chúng ta thừa nhận là thực. Và đó là tất cả những sự vật vật chất trước mặt chúng ta. Vì vậy, việc quy các phản ứng này hoàn toàn cho phương diện vật chất,

[20] and regarding the structure as responsible for and giving rise to all the lines of conduct and characteristics which man displays, both abnormal and normal.

[20] và xem cấu trúc là yếu tố chịu trách nhiệm về, cũng như làm phát sinh, mọi đường lối ứng xử và các đặc điểm mà con người biểu lộ, cả bất thường lẫn bình thường.

The psyche, in this mode of method of thought, is considered an epiphenomenon of matter, some kind of extrusion, some kind of excretion—matter has produced it. Matter has produced the subtle instead of the other way around.

Tâm hồn, trong phương thức tư tưởng này, được xem là một hiện tượng phụ của vật chất, một thứ trồi ra, một thứ bài tiết nào đó—vật chất đã tạo ra nó. Vật chất đã tạo ra cái vi tế thay vì ngược lại.

We really do need, and it’s coming, an etherealization of thought, a dematerialization of thought. It came also with the atomic bomb and other atomic developments.

Chúng ta thật sự cần, và điều đó đang đến, một sự dĩ thái hóa tư tưởng, một sự phi vật chất hóa tư tưởng. Điều ấy cũng đã đến cùng với bom nguyên tử và các phát triển nguyên tử khác.

Then we have, roughly speaking in the field of psychology, the introspective school. Maybe a lot of us, without being able to name that particularly, are more inclined in that direction. You’re not so often, perhaps, having the hard-headed scientists reading Master DK, unless it perhaps is to later treat us on Cosmic Fire, and then for people magically inclined, when other pieces of information are given, then perhaps we will have the practical magicians of the coming age reading A Treatise on White Magic, and whatever else may be given.

Rồi chúng ta có, nói đại khái trong lĩnh vực tâm lý học, trường phái nội quan. Có lẽ nhiều người trong chúng ta, dù không thể gọi tên riêng nó như thế, nghiêng về hướng ấy hơn. Có lẽ các nhà khoa học cứng rắn ít khi đọc Chân sư DK, trừ phi về sau họ đọc Luận về Lửa Vũ Trụ; và rồi đối với những người có khuynh hướng huyền thuật, khi các mảnh thông tin khác được đưa ra, có lẽ chúng ta sẽ có các nhà huyền thuật thực hành của thời đại sắp đến đọc Luận về Chánh Thuật, và bất cứ điều gì khác có thể được ban cho.

When I stop to think of it, I look forward with great anticipation to what may be offered by Master DK in the third installment, and I’d surely like to help.

Khi dừng lại nghĩ về điều đó, tôi hết sức mong chờ những gì Chân sư DK có thể đưa ra trong loạt giáo huấn thứ ba, và chắc chắn tôi muốn trợ giúp.

[21] 2. The introspective school, positing a self or a conscious something which is responsible for conditions and which, as has sometimes been said, is “aware of awareness”.

[21] 2. Trường phái nội quan, giả định có một bản ngã hay một cái gì đó có ý thức chịu trách nhiệm về các tình trạng, và như đôi khi đã nói, “ý thức về sự ý thức”.

Here we have Carl Jung. He does talk about the self as an integrating center, and he has people draw the process of their ongoing integration, and this kind of controlling, integrating, observing center shows up, and he thinks of it as the self in control. If I have my understanding correct here, I was once a student of Carl Jung, I just read through everything he had, and just about killed myself doing it one fine winter, back many years ago, more than 50 years ago, and then I discovered occult psychology, which went even further.

Ở đây chúng ta có Carl Jung. Ông thật sự nói về bản ngã như một trung tâm tích hợp, và ông cho người ta vẽ tiến trình tích hợp đang diễn ra của họ; loại trung tâm kiểm soát, tích hợp và quan sát này xuất hiện, và ông nghĩ về nó như bản ngã đang kiểm soát. Nếu sự thấu hiểu của tôi ở đây là đúng, tôi từng là một môn sinh của Carl Jung, tôi đã đọc hầu hết mọi thứ ông có, và gần như tự làm kiệt sức mình khi làm điều đó trong một mùa đông đẹp trời, nhiều năm trước, hơn năm mươi năm trước; rồi tôi khám phá tâm lý học huyền bí, điều đi còn xa hơn nữa.

Jung was no particular friend of the theosophists. He kind of almost bitterly said, well, they think they know everything. They think they know where everything comes from. He was an old alchemist, and brilliant scholar, and examiner of the psyche on a very experiential basis. But he didn’t think that the theosophists had the answer.

Jung không phải là người đặc biệt thân thiện với các nhà Thông Thiên Học. Ông gần như cay đắng nói rằng họ nghĩ họ biết mọi thứ. Họ nghĩ họ biết mọi thứ đến từ đâu. Ông là một nhà luyện kim cổ xưa, một học giả lỗi lạc, và một người khảo sát tâm hồn trên nền tảng rất trải nghiệm. Nhưng ông không nghĩ rằng các nhà Thông Thiên Học có câu trả lời.

[22] This school of psychologists recognizes the structure but goes further and regards certain aspects of conduct, and certain reactions and problems as insoluble under the pure mechanistic process. They approach more nearly the occult position, but do not go so far.

[22] Trường phái các nhà tâm lý học này thừa nhận cấu trúc, nhưng đi xa hơn và xem một số phương diện của hành vi, cùng một số phản ứng và vấn đề, là không thể giải quyết được theo tiến trình cơ giới thuần túy. Họ tiến gần hơn đến lập trường huyền bí, nhưng không đi xa đến mức ấy.

Jung in many ways was a fine occultist, probably in his own way of carrying on his inner psychic life. He was more of an occultist than many of us, but he never externally gave credit for the occult theosophical mode of approach.

Theo nhiều cách, Jung là một nhà huyền bí học tốt đẹp, có lẽ theo cách riêng của ông trong việc duy trì đời sống thông linh bên trong. Ông là nhà huyền bí học hơn nhiều người trong chúng ta, nhưng bề ngoài ông không bao giờ ghi nhận giá trị của phương thức tiếp cận huyền bí Thông Thiên Học.

[23] 3. Then there are what I might call the vitalists,

[23] 3. Kế đến là những người mà tôi có thể gọi là các nhà sinh lực luận,

This is interesting in Master DK’s classifications here.

Điều này thú vị trong các phân loại của Chân sư DK ở đây.

[24] or that group of psychologists who, admitting the fact of the structure,

[24] hay nhóm các nhà tâm lý học tuy thừa nhận sự kiện về cấu trúc,

and even in esoteric healing, you just have to admit the fact of the structure and study it, so you don’t do something entirely stupid in relation to the structure while you’re operating with somewhat simplified occult methods. That group of psychologists, admitting the fact of the structure,

và ngay cả trong Trị Liệu Huyền Môn, bạn đơn giản phải thừa nhận sự kiện về cấu trúc và nghiên cứu nó, để bạn không làm điều gì hoàn toàn ngu xuẩn đối với cấu trúc khi đang vận hành bằng các phương pháp huyền bí phần nào giản lược. Nhóm các nhà tâm lý học ấy, thừa nhận sự kiện về cấu trúc,

[25] yet regard it as subjected to the influences of energies and forces emanating from an outer environment.

[25] nhưng vẫn xem cấu trúc ấy là chịu ảnh hưởng của các năng lượng và mãnh lực phát xuất từ một môi trường bên ngoài.

This is what the vitalists do. There are many more approaches, of course.

Đây là điều các nhà sinh lực luận làm. Dĩ nhiên, còn nhiều lối tiếp cận khác nữa.

[26] These are the energies of a wider nature than those arising entirely within a man’s own self, and number among them the great basic urges for which nature itself is responsible and which can be seen and felt in units of organic life, other than the human.

[26] Đây là những năng lượng có bản chất rộng lớn hơn những năng lượng phát sinh hoàn toàn bên trong chính con người, và trong số đó có các thôi thúc căn bản lớn lao mà chính thiên nhiên chịu trách nhiệm, vốn có thể được thấy và cảm nhận nơi các đơn vị sự sống hữu cơ khác ngoài con người.

This is a broad picture involving large external causes. This is a little different, perhaps, than the blending of the mechanistic and introspectionist approaches.

Đây là một bức tranh rộng lớn bao hàm những nguyên nhân lớn bên ngoài. Điều này có lẽ hơi khác với sự pha trộn của các lối tiếp cận cơ giới và nội quan.

[27] The truth which is safeguarded in all these schools is one truth and each aspect of it is correlated.

[27] Chân lý được gìn giữ trong tất cả các trường phái này là một chân lý duy nhất, và mỗi phương diện của nó đều tương quan với nhau.

The occult approach deals with true causes.

Lối tiếp cận huyền bí xử lý các nguyên nhân chân thật.

[28] There is a mechanism through which the real man functions, and there is a structure which he has built up in conformity to the laws of nature and which he can learn to use and control.

[28] Có một bộ máy qua đó con người chân thực hoạt động, và có một cấu trúc mà y đã xây dựng phù hợp với các định luật của tự nhiên, rồi y có thể học cách sử dụng và kiểm soát nó.

We must take the mechanism into consideration,

Chúng ta phải xét đến bộ máy,

[29] But, in accordance with the more subjective and speculative school he must learn to differentiate between himself, as the conscious centre of awareness,

[29] Nhưng, theo trường phái chủ quan và tư biện hơn, y phải học cách phân biệt giữa chính mình, với tư cách là trung tâm nhận thức hữu thức,

Which is independent of matter—the eye upon the throne of intelligence. I remember the work of Yogi Ramacharaka from the Chicago School of Yoga, very good books about finding the eye, and he said, well, if you don’t find it now, you will in a couple of future lives.

độc lập với vật chất—con mắt trên ngai của trí tuệ. Tôi nhớ tác phẩm của Yogi Ramacharaka thuộc Trường Yoga Chicago, những quyển sách rất hay về việc tìm ra con mắt; và ông nói, nếu bạn không tìm thấy nó bây giờ, bạn sẽ tìm thấy trong một vài kiếp sống tương lai.

[30] the “I” upon the throne of intelligence, and the apparatus through which he can contact the outer world.

[30] “cái Tôi” trên ngai của trí năng, và bộ khí cụ qua đó y có thể tiếp xúc với thế giới bên ngoài.

We have here a keen discrimination between subject and object.

Ở đây chúng ta có một sự phân biện sắc bén giữa chủ thể và đối tượng.

[31] When the “I”, the user of the mechanism,

[31] Khi “cái Tôi”, tức người sử dụng bộ máy,

Which is not even considered to be real by the mechanist—it’s an epiphenomenon, it’s an extrusion, it’s some kind of secretion—

điều thậm chí không được nhà cơ giới xem là có thật—nó là một hiện tượng phụ, một sự trồi ra, một loại bài tiết nào đó—

When the “I”, the user of the mechanism

Khi cái “Tôi”, người sử dụng bộ máy

[32] can do this he becomes aware of another fact and that is that not only is he a generator and user of energy, and the director of a quota of vitality

[32] có thể làm được điều này, y nhận biết một sự kiện khác, đó là y không chỉ là người phát sinh và sử dụng năng lượng, là người điều khiển một phần sinh lực

the etheric body,

thể dĩ thái,

[33] which is his own,

[33] vốn thuộc về y,

Which wouldn’t be called the etheric body in non-occult terms,

điều sẽ không được gọi là thể dĩ thái trong các thuật ngữ phi huyền bí,

[34] but that there are energies and forces in nature and the planet, and also extra-planetary or cosmic, to which he can also respond and which he can learn to use and adapt.

[34] mà còn có những năng lượng và mãnh lực trong tự nhiên và trong hành tinh, cũng như ngoài hành tinh hay thuộc vũ trụ, mà y cũng có thể đáp ứng, và y có thể học cách sử dụng cũng như thích ứng chúng.

This paragraph shows the synthesis of all three, and the vitalistic position accounts, if extended, for the many subtle energies with which we are surrounded.

Đoạn này cho thấy sự tổng hợp của cả ba, và lập trường sinh lực luận, nếu được mở rộng, giải thích nhiều năng lượng vi tế bao quanh chúng ta.

[35] The three present schools are therefore, in embryo, custodians of these three factors.

[35] Vì vậy, ba trường phái hiện nay, trong trạng thái phôi thai, là những người gìn giữ ba yếu tố này.

The outer mechanism, the inner controlling “I”, and the great impelling environment bestowing upon us energies, many of which are very subtle, or at least will be discovered to be so, and not just outer impacts.

Bộ máy bên ngoài, cái “Tôi” điều khiển bên trong, và môi trường thúc đẩy rộng lớn ban cho chúng ta các năng lượng, nhiều năng lượng trong số đó rất vi tế, hoặc ít nhất sẽ được khám phá là như thế, chứ không chỉ là các tác động bên ngoài.

The three present schools are therefore in embryo, custodians of these three factors

Vì vậy, ba trường phái hiện nay, trong phôi thai, là những người gìn giữ ba yếu tố này

[36] Under the present system of quarrel and separation, these three schools are occupied largely with disproving each other’s theories.

[36] Dưới hệ thống tranh cãi và chia rẽ hiện nay, ba trường phái này phần lớn bận rộn với việc bác bỏ các lý thuyết của nhau.

That’s a bit like students of occultism criticizing each other’s points of view. The idea is to see where these points of view may lead. Of course, when people are being seriously misled, well, do you do something about it or not? Do you offer your opinion or not? It depends on who you’re talking to. Sometimes a well-placed word can correct an errant tendency. We have to make that judgment on the basis of the individual to whom we may be speaking.

Điều ấy hơi giống các đạo sinh huyền bí học phê phán quan điểm của nhau. Ý tưởng là thấy các quan điểm ấy có thể dẫn đến đâu. Dĩ nhiên, khi người ta bị dẫn lạc nghiêm trọng, vậy bạn có làm gì về điều đó hay không? Bạn có đưa ra ý kiến của mình hay không? Điều đó tùy thuộc vào người bạn đang nói chuyện. Đôi khi một lời nói đặt đúng chỗ có thể sửa lại một khuynh hướng lầm lạc. Chúng ta phải đưa ra phán đoán ấy trên nền tảng cá nhân mà chúng ta có thể đang nói chuyện với.

[37] But they are all three of them correct in their facts though wrong in their deductions.

[37] Nhưng cả ba đều đúng về các sự kiện, dù sai trong những suy luận của mình.

Because the true picture of the constitution of man just is not yet existing in the public mind.

Bởi vì bức tranh chân thật về cấu tạo của con người đơn giản vẫn chưa hiện hữu trong trí công chúng.

[38] They all three need each other and from a blending of the three presentations there will emerge the fourth, which will be nearer the truth than any of the separated three.

[38] Cả ba đều cần đến nhau, và từ sự hòa trộn ba cách trình bày ấy sẽ xuất hiện trường phái thứ tư, gần với chân lý hơn bất cứ trường phái nào trong ba trường phái tách biệt kia.

That fourth, like the point of the triangle in a way, is what we think the occult approach will offer—this fourth way. Even now we have something called fourth force psychology, the psychology of self-actualization, the Maslow approach and the humanistic psychologists and so forth. And then with Master DK’s esoteric psychology, we have at least what I call the fifth force, dependent very much on the fifth ray, which is the mode of teaching, the higher mode of teaching psychology on the fifth ray, and it’s esoteric psychology.

Trình bày thứ tư ấy, theo một cách nào đó giống như điểm của tam giác, là điều chúng ta nghĩ lối tiếp cận huyền bí sẽ cống hiến—con đường thứ tư này. Ngay cả hiện nay chúng ta có một điều gọi là tâm lý học mãnh lực thứ tư, tâm lý học tự thể hiện, lối tiếp cận Maslow và các nhà tâm lý học nhân văn, vân vân. Và rồi với Tâm Lý Học Nội Môn của Chân sư DK, ít nhất chúng ta có điều tôi gọi là mãnh lực thứ năm, phụ thuộc rất nhiều vào cung năm, vốn là phương thức giảng dạy, phương thức cao hơn để giảng dạy tâm lý học trên cung năm, và đó là Tâm Lý Học Nội Môn.

There’s another way to get at this and we’ll call it city planning. At least I remember there was something there. Well, here it is.

Có một cách khác để đến với điều này, và chúng ta sẽ gọi đó là quy hoạch đô thị. Ít nhất tôi nhớ có điều gì đó ở đó. À, đây rồi.

The higher expression, the science of the soul—esoteric psychology. See how city planning helped me get there. That’s a fourth ray approach. And then the modern educational systems, which are still very much training the concrete mind, except perhaps in some philosophy courses.

Biểu hiện cao hơn, khoa học về linh hồn—Tâm Lý Học Nội Môn. Hãy xem quy hoạch đô thị đã giúp tôi đi đến đó như thế nào. Đó là một lối tiếp cận cung bốn. Và rồi các hệ thống giáo dục hiện đại, vốn vẫn còn rất nhiều trong việc huấn luyện trí cụ thể, ngoại trừ có lẽ trong một số khóa triết học.

[39] When we come to the consideration of other basic trends in the world of current thought it becomes apparent that one of the most dominant is the increasing emphasis laid upon group consciousness, or environal awareness.

[39] Khi chúng ta xét đến những khuynh hướng căn bản khác trong thế giới tư tưởng hiện thời, điều trở nên hiển nhiên là một trong những khuynh hướng nổi trội nhất là sự nhấn mạnh ngày càng tăng vào tâm thức nhóm, hay sự nhận biết về môi trường chung quanh.

This is from 90 years ago or 85 years ago, or whatever. It’s not just the isolated individual. We do have all of these groups that have been formed to help each other. It’s an Aquarian trend.

Điều này đến từ chín mươi năm trước, hay tám mươi lăm năm trước, hoặc thế nào đó. Đó không chỉ là cá nhân cô lập. Chúng ta quả có tất cả các nhóm này đã được hình thành để giúp đỡ lẫn nhau. Đó là một khuynh hướng Bảo Bình.

I’m thinking about Alcoholics Anonymous and all of these 12-step programs. I’m thinking about the various encounter groups for people who are variously addicted or have some problem, which they all share in common and are seeking clarification in group form. The trend is the emphasis upon group consciousness and Aquarius is a major group sign—the creativity of the group, as opposed to Leo, the creativity of the individual.

Tôi đang nghĩ đến hội những người nghiện rượu ẩn danh và tất cả các chương trình mười hai bước này. Tôi đang nghĩ đến các nhóm gặp gỡ khác nhau dành cho những người nghiện theo nhiều cách khác nhau, hoặc có một vấn đề nào đó mà tất cả họ đều có chung và đang tìm kiếm sự sáng tỏ trong hình thức nhóm. Khuynh hướng là sự nhấn mạnh vào tâm thức nhóm, và Bảo Bình là một dấu hiệu nhóm lớn—tính sáng tạo của nhóm, đối lập với Sư Tử, tính sáng tạo của cá nhân.

[40] This has been recognized by the man in the street

[40] Người bình thường đã nhận ra điều này

the average human being of the time and his average thought process,

con người trung bình của thời đại và tiến trình tư tưởng trung bình của y,

[41] as a sense of responsibility and indicates in the individual an egoic vibration.

[41] như một ý thức trách nhiệm, và nó cho thấy nơi cá nhân một rung động chân ngã.

What’s interesting about this is that D.K. elsewhere has told us that it is the sense of responsibility which is really, I think he even said, the first sign that the egoic vibration or the soul influence is really beginning to have an impact. The sense of responsibility is not just a feel-good thing.

Điều thú vị về điều này là ở nơi khác Chân sư DK đã nói với chúng ta rằng chính ý thức trách nhiệm, tôi nghĩ Ngài thậm chí đã nói, là dấu hiệu đầu tiên cho thấy rung động chân ngã hay ảnh hưởng của linh hồn thật sự bắt đầu tạo tác động. Ý thức trách nhiệm không chỉ là một điều khiến ta cảm thấy tốt đẹp.

When responsibility touches you and it maybe impels a kind of sacrifice—you have to give up what you might personally prefer to do for what is more necessary—then we know the soul is in action, as long as it’s not some kind of morbid Christian conscience, where man is born in sin and no good thing can come out of any of us and anything we might enjoy is bad. We have to keep the balance there in assessing what is a right sense of responsibility and what is an excessive, morbid sense of responsibility plus self-condemnation.

Khi trách nhiệm chạm đến bạn và có lẽ thúc đẩy một loại hi sinh—bạn phải từ bỏ điều bạn có thể ưa thích làm về mặt cá nhân để làm điều cần thiết hơn—khi ấy chúng ta biết linh hồn đang hành động, miễn là đó không phải một loại lương tâm Cơ Đốc bệnh hoạn, trong đó con người sinh ra trong tội lỗi, không điều tốt đẹp nào có thể phát xuất từ bất cứ ai trong chúng ta, và bất cứ điều gì chúng ta có thể vui hưởng đều là xấu. Chúng ta phải giữ sự cân bằng ở đó khi đánh giá đâu là ý thức trách nhiệm đúng đắn và đâu là ý thức trách nhiệm quá mức, bệnh hoạn, cộng với sự tự kết án.

[42] It is one of the first signs that the soul is beginning to use its mechanism.

[42] Đó là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy linh hồn đang bắt đầu sử dụng bộ máy của nó.

I get to elaborate on things that D.K. just says quickly and succinctly, and probably that’s where I got it from in the first place.

Tôi được phép triển khai những điều Chân sư DK chỉ nói nhanh và cô đọng, và có lẽ chính từ đó tôi đã có điều ấy ngay từ đầu.

[43] No longer does the man live in the interests of the separated self but he begins to realize the need for adjustment to and in the condition of his neighbor.

[43] Con người không còn sống vì lợi ích của bản ngã tách biệt nữa, mà y bắt đầu nhận ra nhu cầu phải điều chỉnh đối với và trong hoàn cảnh của người lân cận mình.

We might call this the beginning of “love thy neighbor as thyself,” because after all, he is. That’s the thing that’s left out of that. It’s implied “love thy neighbor as you love yourself,” assuming that everybody has a pretty healthy self-love. But the identificatory factor there—”love thy neighbor as thyself because he is thyself”—that is another step, and it increases in realization as the higher initiations are taken.

Chúng ta có thể gọi đây là khởi đầu của “hãy yêu người lân cận như chính mình”, bởi vì rốt cuộc, y chính là như vậy. Đó là điều bị bỏ sót trong câu ấy. Hàm ý là “hãy yêu người lân cận như bạn yêu chính mình”, giả định rằng mọi người đều có một tình yêu bản thân khá lành mạnh. Nhưng yếu tố đồng hoá ở đó—“hãy yêu người lân cận như chính mình bởi vì y là chính bạn”—đó là một bước khác, và nó tăng lên trong sự chứng nghiệm khi các điểm đạo cao hơn được nhận.

[44] He assumes the duty of being in a very real sense his brother’s keeper,

[44] Y đảm nhận bổn phận, theo một ý nghĩa rất thực, là người gìn giữ huynh đệ của mình,

What did Cain say? “Am I my brother’s keeper?” Well, he killed off Abel. A Vulcan kills off Mars in a way, and will kills off desire, so there are some good aspects to it. I don’t think we would like to live in a world in which Cain had not killed Abel, but we’ve made out of it a moral moment of unbrotherliness. A Vulcan was always a bit of an enemy of Mars because Mars was having an affair with Vulcan’s wife Venus.

Cain đã nói gì? “Tôi là người giữ gìn em tôi sao?” Vâng, ông đã giết Abel. Vulcan giết Sao Hỏa theo một cách nào đó, và ý chí giết dục vọng, vì vậy có một vài phương diện tốt trong đó. Tôi không nghĩ chúng ta muốn sống trong một thế giới mà Cain đã không giết Abel, nhưng chúng ta đã biến nó thành một khoảnh khắc đạo đức của sự thiếu tình huynh đệ. Vulcan luôn luôn phần nào là kẻ thù của Sao Hỏa, bởi vì Sao Hỏa đang ngoại tình với vợ của Vulcan là Sao Kim.

All of these affairs and liaisons just have to do with the magnetic interaction on the level of the gods.

Tất cả các cuộc tình và liên hệ này chỉ liên quan đến sự tương tác từ tính trên cấp độ của các vị thần.

He assumes the duty of being, in a very real sense, his brother’s keeper

Y đảm nhận bổn phận, theo một ý nghĩa rất thật, là người giữ gìn huynh đệ của mình

[45] and realizes that in reality progress, contentment, peace of mind and prosperity do not exist for him apart from that of his brother.

[45] và nhận ra rằng, trong thực tại, sự tiến bộ, mãn nguyện, bình an trong trí và thịnh vượng không hiện hữu cho y tách rời khỏi những điều ấy nơi huynh đệ của y.

What an interesting thing, given the present political scene where we strive to get rich in materialistic terms at the expense of someone that we don’t even recognize as our brother.

Thật là một điều thú vị, xét đến bối cảnh chính trị hiện nay, nơi chúng ta cố gắng làm giàu theo nghĩa duy vật bằng cái giá của một người mà chúng ta thậm chí không nhận ra là huynh đệ của mình.

It’s a dog-eat-dog world, and social Darwinism prevails, and only the fittest survive. Step on your brother’s face as you are climbing the mountain of ambition. Nevertheless, we do realize D.K.’s view of this, and the view of the entire hierarchy is that we have to be someone who is for others, and Christ is the great example of the others.

Đó là một thế giới mạnh được yếu thua, và chủ nghĩa Darwin xã hội thắng thế, chỉ kẻ thích nghi nhất mới sống sót. Hãy giẫm lên mặt huynh đệ của bạn khi bạn đang leo lên ngọn núi tham vọng. Tuy nhiên, chúng ta thật sự nhận ra quan điểm của Chân sư DK về điều này, và quan điểm của toàn thể Thánh Đoàn là chúng ta phải là người sống vì người khác, và Đức Christ là tấm gương lớn về những người khác.

I told you about the convent up there in Tromsø, Norway, where it says “totus tuus”—totally for you, something entirely for you, if I’m translating that Latin properly. We are entirely for you. We are ones for others.

Tôi đã kể với các bạn về tu viện ở Tromsø, Na Uy, nơi có dòng chữ “hoàn toàn vì bạn”—hoàn toàn thuộc về bạn, điều gì đó hoàn toàn vì bạn, nếu tôi dịch câu ấy đúng. Chúng ta hoàn toàn vì bạn. Chúng ta là những người sống vì người khác.

When you begin to realize that the other is not separate from yourself, it takes on a very interesting dynamic.

Khi bạn bắt đầu nhận ra rằng người khác không tách rời khỏi chính bạn, điều đó mang một động năng rất thú vị.

[46] This realization is steadily expanding from the individual to the state and nation, from the family unit to the world, and hence the big organizations, fraternities, clubs, leagues and movements which have for their objective the uplift and welfare of men everywhere.

[46] Nhận thức này đang đều đặn mở rộng từ cá nhân đến nhà nước và quốc gia, từ đơn vị gia đình đến thế giới, và do đó có những tổ chức lớn, các hội huynh đệ, câu lạc bộ, liên đoàn và phong trào lấy việc nâng cao và phúc lợi của con người khắp nơi làm mục tiêu.

Not long after this came that 1936 sort of crescendo when a very strong impulse of love was hoped to be used to get man on the right track. It was one of those years when cycles came together, and a great flood of goodwill was released. But the lords of form are tough customers, and we have the ability within ourselves to respond to their criminal intentions, and we haven’t cleared ourselves of those tendencies which under their impulse and our own complicity take us down.

Không lâu sau điều này đã đến đỉnh cao kiểu năm 1936, khi một xung lực bác ái rất mạnh được hy vọng sẽ được sử dụng để đưa con người vào đúng đường. Đó là một trong những năm khi các chu kỳ hội tụ, và một trận lũ lớn của thiện chí được phóng thích. Nhưng các chúa tể của hình tướng là những đối thủ khó nhằn, và trong chính mình chúng ta có khả năng đáp ứng với các ý định phạm tội của họ, và chúng ta chưa thanh lọc bản thân khỏi những khuynh hướng, dưới xung lực của họ và sự đồng lõa của chính chúng ta, kéo chúng ta xuống.

[47] The necessity of giving instead of getting

[47] Sự cần thiết phải cho đi thay vì nhận lấy

We used to have in the University of Seven Rays qualities of cultivation, qualities of contribution. That’s the giving part. The necessity of giving instead of getting

Ở Đại học Bảy Cung, chúng ta từng có các phẩm tính vun trồng, các phẩm tính đóng góp. Đó là phần cho đi. Sự cần thiết của việc cho đi thay vì nhận lấy

[48] is growing in the racial consciousness and the recognition of certain of the basic concepts connected with brotherhood is steadily growing.

[48] đang lớn dần trong tâm thức nhân loại, và sự thừa nhận một số khái niệm căn bản liên quan đến tình huynh đệ cũng đang đều đặn gia tăng.

The man who gives all for his brother—greater love hath no man than that he lay down his life for a friend. That is a long way. The great story from the ancient days is the story of Damon and Pythias. One of these fast friends was condemned to death by a tyrant. But he asked, “Can he not see his parents and say goodbye?” The tyrant refused, but his friend said, “I will be in your place, and I know you will return. If you do not return, I will give my life for you because you are so much my friend.” The tyrant cynically agreed to this, thinking that all people thought as he did and that the released friend would never return.

Người cho tất cả vì huynh đệ của mình—không có tình thương nào lớn hơn việc một người hiến mạng sống mình cho bạn hữu. Đó là một con đường dài. Câu chuyện lớn từ thời cổ là câu chuyện về Damon và Pythias. Một trong hai người bạn chí thân này bị một bạo chúa kết án tử hình. Nhưng anh ấy hỏi: “Liệu anh ấy không thể gặp cha mẹ mình và nói lời từ biệt sao?” Bạo chúa từ chối, nhưng bạn của anh nói: “Tôi sẽ thế chỗ anh, và tôi biết anh sẽ trở lại. Nếu anh không trở lại, tôi sẽ hiến mạng sống của mình cho anh, bởi vì anh là bạn của tôi đến thế.” Bạo chúa đồng ý một cách hoài nghi, nghĩ rằng mọi người đều suy nghĩ như ông ta và người bạn được thả ra sẽ không bao giờ trở lại.

In fact, the man who went to see his parents rushed, saw them, bid them farewell, and rushed back. He was delayed and delayed, and he entered the scene desperately as his friend was about to be executed. I get tears in my eyes when I think of it. About to be executed, and he said, “Oh my friend, I so feared that I would be too late.”

Thật ra, người đi gặp cha mẹ mình đã vội vã, gặp họ, từ biệt họ, rồi vội vã trở lại. Anh bị trì hoãn rồi lại trì hoãn, và anh lao vào quang cảnh ấy trong tuyệt vọng khi bạn anh sắp bị xử tử. Tôi rơi nước mắt khi nghĩ về điều đó. Khi bạn anh sắp bị xử tử, anh nói: “Ôi bạn tôi, tôi đã quá sợ rằng mình đến quá muộn.”

He put himself down and took the friend’s place. Even tyrants have a heart, and this particular tyrant was so shocked and so moved by this gesture of brotherliness—a man not operating selfishly and cynically, but who rushed back to save his friend—that he pardoned them both. He let them both go, and I’m sure it changed their lives.

Anh đặt mình xuống và thế chỗ bạn. Ngay cả bạo chúa cũng có trái tim, và bạo chúa đặc biệt này đã quá chấn động và xúc động trước cử chỉ huynh đệ ấy—một người không hành động ích kỷ và hoài nghi, mà vội vã trở lại để cứu bạn mình—đến nỗi ông tha cho cả hai. Ông để cả hai ra đi, và tôi chắc điều đó đã thay đổi đời họ.

I don’t know if the city Syracuse was involved in that. I think all we have to do is look it up on the internet and get it correct. That’s one of my favorite stories. My mother read that to me, and I was so affected by it. Somehow I’ve never forgotten it.

Tôi không biết thành phố Syracuse có liên quan đến chuyện ấy hay không. Tôi nghĩ tất cả những gì chúng ta phải làm là tra cứu trên mạng lưới toàn cầu để biết chính xác. Đó là một trong những câu chuyện yêu thích của tôi. Mẹ tôi đã đọc câu chuyện đó cho tôi, và tôi bị nó tác động sâu sắc. Bằng cách nào đó, tôi chưa bao giờ quên nó.

Damon and Pythias—there it is. It’s a legend illustrating the Pythagorean ideal of friendship. Pythias is accused of and charged with plotting against the tyrannical Dionysius of Syracuse, and it is Pythias who runs to see his parents. Damon offers his life, a lieutenant taking his place, and the Greek Dionysius puts the friendship of the two men to a life or death test. That’s an amazing thing.

Damon và Pythias—đây rồi. Đó là một truyền thuyết minh họa lý tưởng Pythagoras về tình bạn. Pythias bị buộc tội và bị cáo buộc âm mưu chống lại bạo chúa Dionysius của Syracuse, và chính Pythias chạy đi gặp cha mẹ mình. Damon dâng mạng sống của mình, một người đại diện thế chỗ anh, và Dionysius người Hy Lạp đặt tình bạn của hai người vào một thử thách sống chết. Đó là một điều kỳ diệu.

It might be great to look at some of this. Some of it is quite old, but it’s a great story, isn’t it? It shows you that here are people before the time of Christ operating in a totally what we might call Christian manner—greater love hath no man than that he laid down his life for his friend. These are some of the fundamentals of brotherhood, and maybe one of the final tests of brotherhood.

Có lẽ sẽ rất hay khi xem lại một phần của chuyện này. Một số phần khá cổ, nhưng đó là một câu chuyện vĩ đại, phải không? Nó cho bạn thấy rằng đây là những người trước thời Đức Christ, hành động theo một cách hoàn toàn có thể gọi là Cơ Đốc—không có tình thương nào lớn hơn việc một người hiến mạng sống mình cho bạn hữu. Đây là một số nền tảng của tình huynh đệ, và có lẽ là một trong các thử thách cuối cùng của tình huynh đệ.

[49] Brotherhood as a fact in nature is as yet largely a theory, but brotherhood as an ideal is now fashioned in the racial consciousness.

[49] Tình huynh đệ như một sự kiện trong tự nhiên phần lớn vẫn còn là một lý thuyết, nhưng tình huynh đệ như một lý tưởng thì nay đã được định hình trong tâm thức nhân loại.

How is it that it is a fact in nature, and what is the basis of that? Brotherhood is based upon monadic identification or monadic sameness. Maybe that’s not the best word, but we are each other. It’s one thing to love another—that’s a great thing—and we give a lot of lip service to that. It’s another thing to be that other, that one loves.

Làm sao nó là một sự kiện trong thiên nhiên, và nền tảng của điều đó là gì? Tình huynh đệ dựa trên sự đồng hoá chân thần hay sự đồng nhất chân thần. Có lẽ đó không phải từ tốt nhất, nhưng chúng ta là nhau. Yêu thương người khác là một điều—đó là điều vĩ đại—và chúng ta nói suông về điều đó rất nhiều. Nhưng là chính người khác ấy, người mà ta yêu thương, lại là một điều khác.

That’s another step, wouldn’t you agree? We have to get that feeling, that realization, that identification, that whoever we look at, whatever we see—even inanimate things, supposedly inanimate—we are those things. You almost have to sit with your consciousness for a while until it appears. The realization is that the subject and object are the same. I’m a long way from being able to do this necessarily at will, but if I wait long enough and concentrate in the right way at the right point of tension, there are times when the realization comes.

Đó là một bước khác, các bạn có đồng ý không? Chúng ta phải có được cảm giác ấy, nhận thức ấy, sự đồng hoá ấy, rằng bất cứ ai chúng ta nhìn vào, bất cứ điều gì chúng ta thấy—ngay cả những vật vô tri, được cho là vô tri—chúng ta là những điều ấy. Bạn gần như phải ngồi với tâm thức của mình một lúc cho đến khi điều đó xuất hiện. Nhận thức là chủ thể và đối tượng là một. Tôi còn rất xa mới có thể làm điều này nhất thiết theo ý muốn, nhưng nếu tôi chờ đủ lâu và tập trung đúng cách tại đúng điểm tập trung nhất tâm, có những lúc nhận thức ấy đến.

I know I’m cultivating the right attitude, which will lead to Isolated Unity—maybe not as quickly as I would like, but on the way to realizing that all things are externalizations of being, and being is the great fact. That which is so simple and so immediate that it’s difficult to isolate. Isolated Unity is, in a way, the isolation of being. I could call it is-ness because is-ness creates in me the vibration of realization.

Tôi biết mình đang vun trồng thái độ đúng đắn, điều sẽ dẫn đến Hợp Nhất Cô Lập—có lẽ không nhanh như tôi muốn, nhưng đang trên đường nhận ra rằng mọi sự đều là các ngoại hiện của bản thể, và bản thể là sự kiện lớn. Điều vốn đơn giản và trực tiếp đến mức khó cô lập. Hợp Nhất Cô Lập, theo một cách nào đó, là sự cô lập của bản thể. Tôi có thể gọi nó là tính hiện hữu, bởi vì tính hiện hữu tạo trong tôi rung động của sự nhận thức.

I just realize that whatever I perceive is—it doesn’t have to be material. It can be immaterial, whatever. It’s real. Even if it’s an illusion, it’s real. It’s a real illusion. It has is-ness.

Tôi chỉ nhận ra rằng bất cứ điều gì tôi tri nhận đều hiện hữu—nó không cần phải là vật chất. Nó có thể là phi vật chất, bất cứ điều gì. Nó có thật. Ngay cả nếu đó là một ảo tưởng, nó vẫn có thật. Nó là một ảo tưởng có thật. Nó có tính hiện hữu.

Even our great illusions and glamours have is-ness. I would recommend the cultivation of the realization of is-ness and the identification of all things in that is-ness.

Ngay cả các ảo tưởng và ảo cảm lớn của chúng ta cũng có tính hiện hữu. Tôi khuyên nên vun trồng sự nhận thức về tính hiện hữu và sự đồng hoá mọi sự trong tính hiện hữu ấy.

[50] One of the great schools of thought or trend of ideas which is destined to pass away is that of the current philosophies as we now know them.

[50] Một trong những trường phái tư tưởng lớn, hay khuynh hướng ý tưởng, vốn được định sẵn sẽ qua đi, là các nền triết học hiện hành như chúng ta biết hiện nay.

I wonder if this would make the philosophers in the schools too happy. Even when I read it, I’m not too happy because I’m philosophically inclined.

Tôi tự hỏi điều này có làm các triết gia trong các trường học quá vui không. Ngay cả khi đọc điều đó, tôi cũng không quá vui vì tôi có khuynh hướng triết học.

[51] Philosophy in its technical sense as the love of wisdom will increase

[51] Triết học, theo nghĩa chuyên môn là tình yêu minh triết, sẽ gia tăng

Maybe playing games with words and being hyper-analytical in the realm of words—those are the kinds of things that will pass away as we move into the higher mind and into the transcendental mind of Buddha, into the abstract mind.

Có lẽ việc chơi trò với ngôn từ và phân tích quá mức trong lĩnh vực ngôn từ—đó là những loại điều sẽ qua đi khi chúng ta tiến vào thượng trí và vào trí tuệ siêu việt của Đức Phật, vào trí trừu tượng.

Philosophy in its technical sense as a love of wisdom will increase

Triết học theo nghĩa chuyên môn của nó là tình yêu minh triết sẽ gia tăng

[52] as men understand increasingly the meaning of wisdom and become epochally wiser,

[52] khi con người ngày càng thấu hiểu ý nghĩa của minh triết và trở nên minh triết hơn theo từng thời đại,

finally, at last—more wise, more pursuing, cultivating wisdom than they have in the past.

cuối cùng, rốt cuộc—minh triết hơn, theo đuổi và vun trồng minh triết nhiều hơn so với quá khứ.

It’s almost like when I went to music school—my love of music was not satisfied because it got so extremely technical that the beauty of music was forgotten. We had to listen to all kinds of awful stuff based simply on some intellectual formulations without heart. That’s why I always appreciate working with my comrade-in-arms here, Harold Moses, because we both have that love of harmony and not simply of the twelve-tone row and other intellectual formulations.

Điều ấy gần giống như khi tôi vào trường âm nhạc—tình yêu âm nhạc của tôi không được thỏa mãn, bởi vì nó trở nên quá kỹ thuật đến mức vẻ đẹp của âm nhạc bị quên mất. Chúng tôi phải nghe đủ thứ khủng khiếp chỉ dựa trên một số công thức trí năng không có trái tim. Đó là lý do tôi luôn trân trọng việc làm việc với đồng đội của tôi ở đây, Harold Moses, bởi vì cả hai chúng tôi đều có tình yêu hòa âm, chứ không chỉ là chuỗi mười hai âm và các công thức trí năng khác.

In the same way, you love wisdom and you become a philosophy major and you discover that it’s so busy constructing, deconstructing, splitting hairs, working in the realm of mere words that your love of wisdom is stifled. The university can be a great disappointment to many people who have some heart in what they love, but increasingly it won’t be so. When we create a school like the Arcane School or the School for Esoteric Studies or the other occult schools, they have more. They have wisdom, real wisdom, and they cultivate wisdom along with technical knowledge without getting lost in incredible hair splitting based upon unrealities.

Cũng vậy, bạn yêu minh triết và trở thành sinh viên chuyên ngành triết học, rồi khám phá rằng nó quá bận rộn với việc kiến tạo, giải cấu trúc, chẻ sợi tóc làm tư, làm việc trong lĩnh vực chỉ toàn ngôn từ, đến nỗi tình yêu minh triết của bạn bị bóp nghẹt. Đại học có thể là một sự thất vọng lớn đối với nhiều người có trái tim trong điều họ yêu, nhưng càng ngày điều đó sẽ không còn như vậy. Khi chúng ta tạo ra một trường như Trường Arcane hay Trường Nghiên cứu Nội môn hoặc các trường huyền bí khác, họ có nhiều hơn. Họ có minh triết, minh triết thật sự, và họ vun trồng minh triết cùng với tri thức kỹ thuật mà không lạc vào việc chẻ sợi tóc làm tư đến mức khó tin dựa trên những điều không thật.

[53] but the present schools of philosophy have nearly served their purpose.

[53] nhưng các trường phái triết học hiện nay hầu như đã hoàn thành mục đích của chúng.

Eighty years have gone.What is that “nearly”? I wonder. A friend of mine once wisely said—he knew I was occultly inclined—”I think I should be a philosophy major.” And he says, “No, I don’t think so,” because he taught philosophy. He knew how much it was all wrapped up only in the mind and not in the soul, not in the heart, not in wisdom.

Tám mươi năm đã trôi qua. Cái “gần như” ấy là gì? Tôi tự hỏi. Một người bạn của tôi từng nói một cách khôn ngoan—ông biết tôi có khuynh hướng huyền bí—“Tôi nghĩ tôi nên học chuyên ngành triết học.” Và ông nói: “Không, tôi không nghĩ vậy,” bởi vì ông dạy triết học. Ông biết nó bị cuốn chặt trong thể trí đến mức nào, chứ không ở trong linh hồn, không ở trong trái tim, không ở trong minh triết.

[54] This has been the formulation of ideas concerning God and His relation to man, concerning divinity, eschatology and spiritual relationships.

[54] Mục đích ấy là việc hình thành các ý tưởng về Thượng đế và mối liên hệ của Ngài với con người, về thiên tính, cánh chung luận và các mối liên hệ tinh thần.

Let’s look up that word—eschatology—because I’m always forgetting what it means. Eschatology is a part of theology concerned with death, judgment, and the final destiny of the soul and of humankind. Christian hope is concerned with eschatology, or the science of last things.

Hãy tra từ ấy—cánh chung học—bởi vì tôi luôn quên nó có nghĩa gì. Cánh chung học là một phần của thần học liên quan đến cái chết, phán xét, và định mệnh cuối cùng của linh hồn cũng như của nhân loại. Niềm hy vọng Cơ Đốc liên quan đến cánh chung học, hay khoa học về những điều cuối cùng.

We can intellectualize these things till the cows come home, but the real experience is something different and something far deeper. Now we’re entering the age of experience and the age of real knowledge, and we’re leaving behind this period of mere speculation and intellectual formulation.

Chúng ta có thể trí thức hóa những điều này mãi mãi, nhưng kinh nghiệm thật sự là điều khác và sâu xa hơn nhiều. Hiện nay chúng ta đang bước vào thời đại của kinh nghiệm và thời đại của tri thức thật sự, và chúng ta đang bỏ lại sau lưng giai đoạn chỉ có tư biện và lập thức trí năng này.

[55] The last great gestures of the philosophical schools remain yet to be made.

[55] Những động thái lớn lao cuối cùng của các trường phái triết học vẫn còn chưa được thực hiện.

There’s hope.

Vẫn còn hy vọng.

[56] Their place will be taken in later centuries by those who will in deed and in truth be cosmologists, for once the Word of Mankind is understood and grasped and the significance of the individual appreciated, the Word of the Cosmos will receive due and more correct attention, and the laws and nature of that great Being in Whom we live and move and have our being will be studied.

[56] Trong các thế kỷ về sau, vị trí của họ sẽ do những người thật sự và đúng nghĩa là các nhà vũ trụ luận đảm nhiệm; vì một khi Linh từ của Nhân loại được thấu hiểu và nắm bắt, và thâm nghĩa của cá nhân được nhận thức đúng, Linh từ của Vũ trụ sẽ nhận được sự chú tâm thích đáng và chính xác hơn, và các định luật cùng bản chất của Đấng Vĩ Đại mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu sẽ được nghiên cứu.

The laws and nature of that great being in whom we live and move and have our being will be studied.

Các định luật và bản chất của Đấng Vĩ Đại ấy, trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu, sẽ được nghiên cứu.

[57] The cosmic Christ can never be known by any except the individual Christ.

[57] Chỉ Đức Christ cá nhân mới có thể nhận biết Đức Christ vũ trụ.

Unless we have Christ consciousness, we cannot know anything of the consciousness of the cosmic Christ. We are interested in esoteric philosophy, but that takes into consideration many hypotheses and suppositions which the normal schools of philosophy will say, “No, we can’t accept that. It’s not proven. We cannot reason on the basis of these unproven factors.” As we shall see as we proceed, the situation will become clearer.

Nếu chúng ta không có tâm thức Christ, chúng ta không thể biết điều gì về tâm thức của Đức Christ vũ trụ. Chúng ta quan tâm đến triết học nội môn, nhưng điều đó xét đến nhiều giả thuyết và giả định mà các trường phái triết học thông thường sẽ nói: “Không, chúng tôi không thể chấp nhận điều đó. Nó chưa được chứng minh. Chúng tôi không thể lý luận trên nền tảng của những yếu tố chưa được chứng minh này.” Như chúng ta sẽ thấy khi tiếp tục, tình hình sẽ trở nên rõ ràng hơn.

I think that this might be enough. I have the feeling there’s so much going on here tonight with different programs and so forth. This is page 339, and I have that feeling that it would be better to, even though we’ve just done a few pages, to call it at this point—although I am tempted to go on.

Tôi nghĩ như thế có lẽ là đủ. Tôi có cảm giác tối nay có quá nhiều việc đang diễn ra với các chương trình khác nhau, vân vân. Đây là trang 339, và tôi có cảm giác rằng tốt hơn là, dù chúng ta chỉ mới làm vài trang, dừng lại ở điểm này—dù tôi bị cám dỗ tiếp tục.

I like those three, four, and one day I did even a five-hour program. Must have been a horrible thing when transcribers found it. This is the end of number 32, and this is the end of number 16, and it’s 336 to 339, and it is the 24th, and we’ll get rid of that 322. We’ll go on to number 33, and it’s going to be the 17th program in this rule 10, and it’ll be 336 until 339. This will be 339, and this will be 339 to wherever we go.

Tôi thích các chương trình ba, bốn giờ ấy, và có một ngày tôi thậm chí đã làm một chương trình năm giờ. Hẳn là một điều khủng khiếp khi những người chép lại gặp nó. Đây là kết thúc của số 32, và đây là kết thúc của số 16, và nó là từ 336 đến 339, và hôm nay là ngày 24, và chúng ta sẽ bỏ con số 322 đó. Chúng ta sẽ sang số 33, và đó sẽ là chương trình thứ 17 trong Quy luật 10 này, và nó sẽ là từ 336 đến 339. Đây sẽ là 339, và đây sẽ là từ 339 đến bất cứ nơi nào chúng ta đi tới.

Friends, I do hate to discontinue. Truly, I would like to go on, but we’re learning about the future, the present and the future in this big section, and we’re learning about the potentials that are held ahead for developing humanity in the Aquarian Age. We’re now building the foundation for humanity in the future and for our future incarnations, which will work in cooperation with the great Spiritual Hierarchy.

Các bạn, tôi thật sự không thích phải ngưng lại. Thật vậy, tôi muốn tiếp tục, nhưng chúng ta đang học về tương lai, hiện tại và tương lai trong phần lớn này, và chúng ta đang học về các tiềm năng được giữ sẵn phía trước cho nhân loại đang phát triển trong Kỷ nguyên Bảo Bình. Hiện nay chúng ta đang xây dựng nền tảng cho nhân loại trong tương lai và cho các lần lâm phàm tương lai của chúng ta, vốn sẽ hoạt động trong sự hợp tác với Huyền Giai Tinh Thần vĩ đại.

That’s what we’re doing, and I hope we develop that continuity of consciousness that shows us where we have been, probably within the causal body. If we get that far, some people come right back and never quite get into the causal body, but nor should they necessarily at that point. We may be able to see a few lives behind, and maybe a few lives ahead if the Solar Angel will share with us what it sees, because it certainly sees that much, and maybe a whole lot more.

Đó là điều chúng ta đang làm, và tôi hy vọng chúng ta phát triển được sự liên tục của tâm thức, điều cho chúng ta thấy chúng ta đã từng ở đâu, có lẽ bên trong thể nguyên nhân. Nếu chúng ta đi xa đến mức ấy, một số người trở lại ngay và chưa hẳn đi vào thể nguyên nhân, nhưng ở điểm đó họ cũng không nhất thiết nên làm như vậy. Chúng ta có thể thấy một vài kiếp phía sau, và có lẽ một vài kiếp phía trước nếu Thái dương Thiên Thần chia sẻ với chúng ta điều Ngài thấy, bởi vì chắc chắn Ngài thấy chừng ấy, và có lẽ còn nhiều hơn nữa.

We’ll go on to number 33 when we can. It could even be tonight, I don’t know, but at least at the moment we have something going, and I’ll get this to you as soon as possible. These will appear on YouTube under Maurya Federation Esoteric Education ATOMVC, A Treatise on White Magic Video Commentary.

Chúng ta sẽ sang số 33 khi có thể. Thậm chí có thể là tối nay, tôi không biết, nhưng ít nhất vào lúc này chúng ta có điều gì đó đang diễn ra, và tôi sẽ gửi điều này đến các bạn sớm nhất có thể. Những phần này sẽ xuất hiện trên YouTube dưới mục Giáo dục Nội môn Liên đoàn Maurya, bình giảng video Luận về Chánh Thuật.

That’s how I sometimes put them down, A-T-O-W-M-V-C, abbreviation as they don’t let you have too long a title. Thank you, and let’s proceed. Learning, study hard, assimilate, and apply.

Đó là cách đôi khi tôi ghi chúng xuống, bằng chữ viết tắt, vì họ không cho phép đặt tiêu đề quá dài. Cảm ơn các bạn, và chúng ta hãy tiếp tục. Học hỏi, nghiên cứu chăm chỉ, đồng hóa, và áp dụng.

I talk to myself as I talk to you.

Tôi nói với chính mình khi tôi nói với các bạn.

Leave a Comment

Scroll to Top