Webinar Program 40 – Rule 10.24

📘 Sách: Bình Giảng A Treatise on White Magic – Astral Rules – Tác giả: Michael D. Robbins

Astral Rule Webinar 40

Tóm Tắt

Ba cấp độ trí tuệ: thần tượng, lý tưởng và ý tưởng chân thực

Thầy MDR nhắc lại phân biệt giữa thần tượng, lý tưởng và ý tưởng chân thực, tương ứng với ba cấp độ của trí tuệ. Thầy lưu ý đa số người học có thể đã vượt qua sự mê hoặc bởi “thần tượng”, nhưng vẫn còn bị hấp dẫn bởi các trình bày lý tưởng trên thượng trí trừu tượng. Thầy MDR nhận xét rằng tư tưởng trừu tượng, tuy cao hơn tư duy thường, vẫn chưa phải là trực giác; chỉ khi chạm đến “ý tưởng” chân thực mới thực sự đi vào trực giác.

Quan hệ cung ba, cung sáu và vai trò của thượng trí

Thầy MDR giải thích cung ba và cung sáu liên hệ rất sâu, trong đó thượng trí trừu tượng thuộc sự chi phối mạnh của cung ba, còn chủ nghĩa lý tưởng thường xuất hiện ở mức thượng trí. Tuy nhiên, trực giác không đồng nhất với tư tưởng trừu tượng, vì trực giác đến từ tầng cao hơn trí năng. Đây là nền tảng để hiểu vì sao người chí nguyện phải học phân biện giữa điều cao siêu về mặt trí tuệ và điều thực sự phát sinh từ cõi Bồ đề.

Tập trung, tham thiền và việc xây dựng antahkarana

Theo đoạn được bình giải, người học chân chính phải biết tập trung để định hướng hạ trí lên thượng trí. Từ đó bắt đầu công việc xây dựng hình tư tưởng hữu thức dựa trên các ý tưởng thiêng liêng, vốn phát ra như trực giác từ Vũ Trụ Trí. Thầy MDR nhấn mạnh muốn thực sự hiểu các ý tưởng trong Vũ Trụ Trí thì phải tiếp cận trí siêu việt của Bồ đề, và đây chính là một phần của công trình xây dựng antahkarana.

Đình chỉ hoạt động hạ trí để tiếp nhận ấn tượng cao hơn

Thầy MDR lưu ý nếu hoạt động của hạ trí quá mạnh thì ấn tượng từ cõi siêu việt sẽ không xuyên qua được mà bị lệch hướng. Vì thế trong Raja Yoga cần làm lắng các biến động của bản chất thông linh và trí năng linh hoạt quá mức. Thầy xem đây là điều kiện bắt buộc nếu người học muốn tiếp nhận chân thực thay vì chỉ phản ứng theo thói quen trí-cảm.

“Giữ thể trí trong ánh sáng” và tiến trình mặc khải

Thầy MDR gọi câu “tham thiền là năng lực của thể trí tự giữ chính nó trong ánh sáng” là một định nghĩa lớn. Ánh sáng ban đầu phơi bày mọi điều sai lệch trong hệ năng lượng, tâm lý, các khuynh hướng tích lũy và skandha của cá nhân; nhưng còn một ánh sáng lớn hơn đem đến sự mặc khải về Thiên Cơ. Thầy MDR liên hệ điều này với tiến trình Alignment, Crisis, Light, Revelation trong Tâm Lý Học Nội Môn, rồi nói khi mặc khải được tiếp nhận và phụng sự đúng thì rốt cuộc sẽ dẫn đến Điểm Đạo (Initiation).

Hai giai đoạn bắt cầu lên Tam Nguyên Tinh Thần

Thầy MDR nhận xét việc “mang ý tưởng xuống” cũng là giai đoạn thứ hai trong xây dựng antahkarana. Trước hết phải vươn từ đơn vị hạ trí đến nguyên tử trường tồn manas, rồi ngày càng đi sâu hơn vào phạm vi Bồ đề. Về sau, trí có thể được giữ trong ánh sáng không chỉ của linh hồn mà còn của Tam Nguyên Tinh Thần, thậm chí của Chân Thần.

Chiêm ngưỡng, im lặng và “tri thức trực tiếp”

Thầy MDR khuyên nên học kỹ sách Từ Trí Tuệ đến Trực Giác vì Alice Bailey trình bày rất sáng rõ tiến trình Tập trung, Tham thiền rồi Chiêm ngưỡng. Trong chiêm ngưỡng có một giai đoạn đồng hoá dần dần, và ở mức rất cao dẫn tới Samadhi, nơi soi sáng và cảm hứng được bao hàm. Thầy MDR dẫn lời Chân sư Morya gọi loại tri thức này là “tri thức trực tiếp”, và cho rằng Thiên Cơ còn được biết mật thiết hơn nữa trên cõi atma.

Công việc trước mắt của mỗi người chí nguyện

Thầy MDR giải thích “người chí nguyện” là từ rất tổng quát, vì mọi sinh mệnh lớn nhỏ đều đang khát vọng tới một mức hợp nhất cao hơn. Công việc của người chí nguyện là hiểu đúng bản chất vấn đề trí tuệ của mình, biết điều gì đang ngăn cản việc tiếp xúc cõi ý tưởng, và nhận ra trí có được huấn luyện đầy đủ hay chưa. Đồng thời người ấy phải hiểu công cụ mình đang dùng và sử dụng tri thức thu được một cách đúng đắn.

Làm sao chạm ý tưởng và xây hình tư tưởng để ứng dụng

Thầy MDR diễn giải câu hỏi “làm sao mang xuống và làm sao xây dựng” theo nghĩa: chạm đến ý tưởng, khoác cho nó hình thức lý tưởng thích hợp trong thượng trí, rồi xây hình tư tưởng thực tiễn để nó có thể được áp dụng trong 18 cõi phụ thấp hơn. Thầy nhận xét con người đang sống như trong một nhà tù của trí và của tâm thức. Từ kinh nghiệm đối thoại với những người hoàn toàn được đào luyện theo lối tư duy phương Tây, Thầy lưu ý chỉ kinh nghiệm trực tiếp mới giúp con người vượt qua định kiến cho rằng các điều huyền bí là vô nghĩa.

Sức mạnh của tư tưởng nhóm trong kỷ nguyên Bảo Bình

Thầy MDR nhấn mạnh dù một cá nhân tư tưởng có nhỏ bé đến đâu, khi hợp tác với huynh đệ của mình vẫn tạo ra mãnh lực lớn lao. Thầy xem đây là lý do tâm thức nhóm Bảo Bình ngày càng quan trọng. Tiến hóa chỉ có thể đi đúng hướng nhờ tư tưởng đúng đắn, bền bỉ, mạnh mẽ của con người và nhờ việc hiểu đúng cách dùng năng lượng trí tuệ.

Sự cần thiết của huấn luyện tư tưởng đúng

Thầy MDR lưu ý việc huấn luyện con người trong tư tưởng đúng phải được tiến hành đều đặn chứ không theo hứng nhất thời. Thầy nhận xét đại đa số nhân loại hiện vẫn bị ảo cảm và ảo tưởng chi phối, không thể tư duy minh bạch và chưa thoát khỏi trạng thái trí-cảm. Vì vậy, việc học tư tưởng đúng là một công trình lớn và thực tiễn.

Lặp lại giáo huấn và những “mẹo” huyền bí nhỏ

Thầy MDR khen đây là một cuốn sách rất thực tiễn, cần đọc đi đọc lại nhiều lần để khắc sâu. Thầy chia sẻ kinh nghiệm cá nhân rằng những điều quan trọng thường được lặp ba lần, một gợi ý Thầy học từ Agni Yoga. Thầy còn nói vui nhưng nghiêm túc rằng có những “điều huyền bí nhỏ” như ấn nhẹ vào sống mũi để giúp ghi nhận ấn tượng cao hơn rõ hơn trong lúc cần thiết.

Điều kiện thứ nhất của tư tưởng đúng: cảm nhận tầm nhìn và nguyên mẫu

Yếu tố đầu tiên của tư tưởng đúng là khả năng cảm nhận tầm nhìn, tức là phần nào nhận ra nguyên mẫu mà Thánh đoàn đang cố gắng dùng để tạo tác nhân loại. Thầy MDR nhận xét các nguyên mẫu này thực sự nằm trên cõi chân thần và cõi Thượng đế, ít nhất trong phạm vi cõi hồng trần vũ trụ. Điều này cũng bao hàm sự hợp tác với công việc của Manu, Đấng đang nhào nặn hình thức chủng tộc.

Tư tưởng trừu tượng, tư tưởng tổng hợp và trực giác

Thầy MDR chỉ ra rằng ngoài tư tưởng trừu tượng còn phải phát triển tư tưởng tổng hợp, là thứ vượt quá thượng trí trừu tượng và có tính trực giác. Câu “sự lóe sáng của trực giác” được Thầy giải thích là khả năng giật lấy từ những chốn cao một tiếp xúc với Thiên Cơ lý tưởng còn ẩn tàng trong tâm trí của Hành Tinh Thượng đế hay cao hơn nữa. Thầy đề nghị rằng các “đấng ghi nhận Thiên Ý” có lẽ cao hơn cả các vị bảo hộ Thiên Cơ, và có thể liên quan đến ba Đấng lớn: Manu, Bồ Tát và Maha Chohan.

Các “chốn cao” và giới hạn hiện tại của trực giác con người

Thầy MDR cho rằng “những chốn cao” (high places) chủ yếu là cõi chân thần và cõi Thượng đế, là hai cõi thật sự huyền bí trong phạm vi cõi hồng trần vũ trụ. Thầy lưu ý trực giác của con người hiện chưa thể xuyên vào trí vũ trụ thật sự của Thượng đế, và suy đoán có lẽ Đức Phật đã có sự tiếp xúc vũ trụ ấy, cũng như Đức Christ có tiếp xúc với cõi cảm dục vũ trụ. Đây là nhận xét riêng của Thầy nhằm nhấn mạnh sự hiếm hoi và cao siêu của trực giác chân chính.

Nguồn của trí tuệ không nằm ở cõi trí

Thầy MDR nhấn mạnh có những nguồn mãnh lực không nằm ở các mức trí tuệ nhưng lại nuôi dưỡng chính cõi trí. Thầy đặc biệt nêu cõi atma như một ví dụ, vì đây vừa là cõi đầu của các cõi Brahma vừa là cõi thứ ba của cõi hồng trần vũ trụ, nên liên hệ với cả ý chí tinh thần lẫn trí năng. Từ đó Thầy liên tưởng đến biểu tượng tam giác, các “Hoa Tam Phân” (Triple Flowers), biểu tượng fleur-de-lis của nước Pháp, và nhận xét Pháp là một quốc gia rất mang sắc thái cung năm và cung ba.

Mang Thiên Cơ xuống cõi trí

Sau khi cảm nhận tầm nhìn, bước kế tiếp là mang xuống cõi trí càng nhiều của Thiên Cơ càng tốt. Thầy MDR lưu ý lúc đầu sự nắm bắt rất mơ hồ và nhạt, nhưng dần dần nó sẽ hiện hình. Thầy cũng bày tỏ lòng cảm phục đối với sự từ bi của Chân sư DK trước những giới hạn nhận thức rất lớn của con người.

Vai trò của thể nguyên nhân trong việc ghi nhận linh ảnh

Thầy MDR nhấn mạnh rằng lúc đầu con người hiếm khi tiếp xúc được linh ảnh (vision), vì nó đến qua trung gian của thể nguyên nhân và ít ai giữ được tâm thức cao ấy lâu dài. Điều này cho biết rõ thể nguyên nhân có vai trò trong việc ghi nhận linh ảnh. Cuộc đấu tranh để nắm bắt nó tuy khó nhưng sẽ đem lại kết quả, và từng chút một ý tưởng sẽ thấm xuống các mức cụ thể của cõi trí.

Từ ý tưởng đến hình tư tưởng cụ thể

Khi ý tưởng đã xuống đến cõi hạ trí, nó trở thành một tư tưởng cụ thể, có thể được hình dung rõ và dùng làm nền tảng cho suy tư. Thầy MDR nhấn mạnh nhiệm vụ của người đệ tử là cụ thể hoá đúng đắn ý tưởng rồi dùng sự cụ thể hoá ấy để làm thay đổi thế giới hiện tượng. Theo Thầy, đây là tiến trình đi từ thấy mô hình qua thượng trí đến thấy mức độ kết tinh qua trí cụ thể.

Thời kỳ thai nghén và xây dựng hình tư tưởng

Sau khi đã có ấn tượng trên cõi trí, người học bước vào thời kỳ thai nghén để xây hình tư tưởng từ phần tầm nhìn mà mình có thể mang vào tâm thức. Thầy MDR nhấn mạnh đây là một quá trình rất chậm, cần kiên nhẫn, chỉnh hợp bền vững và duy trì điểm tập trung nhất tâm. Thầy lưu ý việc duy trì tâm thức linh hồn hay tâm thức nguyên nhân không hề dễ, vì luôn có nhiều xao lãng kéo tâm thức rơi xuống.

Tiến trình Chánh Thuật và sự nhập thể của hình tư tưởng

Thầy MDR gọi đây là một phần của tiến trình nhà huyền thuật chánh đạo: xây hình tư tưởng trên cõi trí, rồi thêm cường độ của thể dục vọng để tạo “khát vọng nhập thể” cho ý tưởng. Khi việc xây dựng tiếp diễn, sẽ xuất hiện lòng mong muốn được thấy tầm nhìn đi vào trần gian và được biết đến giữa những người con của nhân loại. Theo Thầy, đó chính là lúc hình tư tưởng bắt đầu đi từ tinh tế đến biểu lộ.

Tiếp sinh lực bằng ý chí và nguy cơ “sẩy thai” của hình tư tưởng

Thầy MDR giải thích chỉ dục vọng thôi chưa đủ, hình tư tưởng còn phải được tiếp sinh lực bởi quyền năng của ý chí để có thể “chiến đấu” mà đi vào các lửa cổ xưa của cõi hồng trần đậm đặc. Đây là giai đoạn ứng dụng dĩ thái và nhiều “sự sẩy thai” xảy ra tại đây. Cùng lúc, nhịp điệu trở nên nặng và chậm hơn, chất liệu khoác lên hình tư tưởng ngày càng thô hơn, gồm vật chất cõi trí và cõi cảm dục.

Kinh nghiệm cá nhân của Thầy MDR với Luận về Chánh Thuật

Thầy MDR chia sẻ rằng Thầy vào Trường Arcane năm 1972, tức khoảng 46 năm trước thời điểm bài giảng này, và Luận về Chánh Thuật là một trong những sách đầu tiên Thầy đọc kỹ sau Ánh sáng của Linh hồn. Tuy vậy, Thầy thú nhận đến nay nhìn lại mới thấy sách còn chứa vô số điều đã vượt khỏi cả sự nghiên cứu chuyên chú trước kia. Nhận xét này cho thấy chiều sâu của giáo huấn và lợi ích của cách học từng dòng từng chữ.

Đưa tầm nhìn gần hơn với nhân loại và công việc của nhóm

Thầy MDR trích câu “phúc cho đệ tử nào có thể đem tầm nhìn đến gần nhân loại hơn nữa” và liên hệ nó với chính các dự án của Thầy như Seven Ray Institute, University of Seven Rays và Morya Federation. Thầy đề xuất đây có thể là những nỗ lực đưa một phương diện của Thiên Cơ, cụ thể là việc tạo dựng các cơ cấu trường huyền môn, tới gần cõi hồng trần hơn. Tuy nhiên, Thầy giữ thái độ khiêm tốn, chỉ nói “hy vọng là vậy”.

Không một cá nhân nào tự mình vật chất hóa được tầm nhìn

Thầy MDR nhấn mạnh sự vật chất hoá bất kỳ phương diện nào của tầm nhìn trên cõi hồng trần không bao giờ là công việc của một người. Thầy lấy ví dụ từ công trình sách của Alice Bailey: ngoài bà còn cần biên tập viên, thợ in, người sửa bản in, người điều hành văn phòng và những người hỗ trợ tài chính. Điều này phản ánh rõ nguyên lý tâm thức nhóm trong việc phụng sự Thiên Cơ.

Khối lượng tới hạn của những người đồng biểu lộ

Thầy MDR nhận xét chỉ khi tầm nhìn được nhiều người cảm nhận và cùng làm việc trên hình thức vật chất của nó thì nỗ lực hợp nhất mới kéo được nó vào biểu hiện bên ngoài. Thầy gọi đây là nhu cầu có một “khối lượng tới hạn” những người muốn biểu lộ. Thầy cũng liên hệ tới các thư trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới để cho thấy ngay cả các đệ tử nhiều vấn đề cũng có thể đóng góp bài học và tài lực quan trọng cho công việc.

Giáo dục dư luận và việc thu hút trợ lực

Theo Thầy MDR, giá trị của việc giáo dục dư luận không chỉ nằm ở chỗ cải thiện nhận thức xã hội hay lựa chọn chính trị, mà còn ở việc lôi kéo thêm những người trợ giúp đến với các nhà có tầm nhìn. Thầy kể lại ký ức lần đầu ở Maine khi đọc lời mời tham gia huấn luyện địa vị đệ tử của Trường Arcane và cảm thấy mạnh mẽ bị thu hút thành một người trợ giúp. Thầy cũng lưu ý Chân sư DK từng khuyên dùng Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới tập 1 để dẫn dắt người tìm đạo đến gần ashram.

Định luật giáng hạ tiến hoá: trong đi xuống là biến phân

Thầy MDR bình luận câu “luôn luôn Định luật vẫn đúng; trong giáng hạ tiến hoá là biến phân” như một khẳng định của thuyết xuất lộ/phát xạ (emanation). Theo Thầy, “Đấng Duy Nhất trở thành số nhiều” bằng sự xuất lộ mà vẫn giữ bản chất cốt lõi. Đây là một trong các nguyên lý lớn giúp hiểu tiến trình biểu hiện của mọi sự sống.

Từ vài người trực giác đến phong trào rộng lớn

Thầy MDR giải thích tiến trình hiện thể hoá bắt đầu khi chỉ hai hoặc ba người cảm nhận Thiên Cơ bằng trực giác. Sau đó nhịp điệu tư tưởng họ tạo ra khuấy động chất liệu cõi trí, khiến các nhà tư tưởng khác chộp lấy ý tưởng. Thầy lấy ví dụ Blavatsky và Đại tá Olcott như những người mở đầu để rồi nhiều người khác quy tụ quanh công việc.

Kiên trì, không buông bỏ quá sớm và nghịch lý của phụng sự

Thầy MDR nhấn mạnh lời hứa “đối với những ai vật lộn, nỗ lực và bám giữ” thì niềm vui sẽ tăng gấp đôi khi sự vật chất hoá xảy ra. Thầy lưu ý có một nghịch lý: phải “buông bỏ” sự đồng hoá với cái thấp, nhưng không được buông cày giữa ruộng khi đang làm việc trong 18 cõi phụ thấp để gieo trồng giáo huấn. Thầy MDR nhận xét đời sống đệ tử vì thế luôn là đời sống song đôi.

Niềm vui của sự tương phản, đồng hành và chiến thắng

Thầy MDR giải thích “niềm vui của tương phản” là do đã biết bóng tối nên càng hoan hỉ trong ánh sáng thành tựu. Thầy nói nhiều năm thử thách sẽ chứng minh ai là những cộng sự viên được chọn, và cộng đồng khổ đau sẽ làm bền chặt mối liên kết. Theo Thầy, suffering nếu được dùng khôn ngoan thì sinh ra sức mạnh, và càng về sau con người càng nhận rõ ai là những người đồng công đích thực của mình.

Niềm vui được tham dự vào Thiên Cơ của các Chân sư

Thầy MDR đặc biệt xúc động trước đoạn nói về niềm vui tham dự vào Thiên Cơ của các Chân sư và việc ở gần các Ngài. Thầy nhắc lại ý của Chân sư Morya rằng làm công việc của Chân sư là một niềm vui, và lưu ý rằng phần thưởng thật không phải dành cho phàm ngã mà cho bản ngã cao hơn mà người đệ tử đang dần đồng hoá với. Khi bớt xem mình là phàm ngã, người học sẽ ít bận tâm hơn đến kết quả cho bản thân.

An ủi thế giới đau khổ như động cơ chân chính

Thầy MDR ca ngợi vẻ đẹp của đoạn mô tả niềm vui khi làm dịu một thế giới thiếu thốn, đem ánh sáng đến những linh hồn tối tăm và chữa lành phần nào vết thương của nỗi khổ nhân loại. Theo Thầy, đây là hình ảnh khích lệ mà Chân sư DK đưa ra cho những ai phụng sự nghiêm túc. Dù các kết quả tốt đẹp tự nhiên mang lại niềm vui, Thầy lưu ý động cơ đúng không phải là tìm hưởng thụ mà là giúp đỡ mọi hữu tình chúng sinh.

Làm việc không vì phần thưởng mà vì nhu cầu phụng sự từ nội tâm

Thầy MDR nhấn mạnh lời dạy phải làm việc không phải để tìm niềm vui hay phần thưởng, cũng không vì lòng biết ơn của người khác, mà vì nhu cầu nội tâm muốn giúp đỡ sau khi đã thấy tầm nhìn và nhận ra phần việc của mình. Tuy nhiên, Thầy cũng công nhận rằng sau khi phụng sự thành công, dù chỉ một phần nhỏ, thường có một dòng niềm vui dâng lên trong tim. Điều này là hệ quả tự nhiên chứ không phải mục tiêu ích kỷ.

Phân biệt hạnh phúc, niềm vui và chí phúc (happiness, joy, bliss)

Thầy MDR xem đây là một phân biệt kinh điển: hạnh phúc có chỗ đứng trong cảm xúc và là phản ứng của phàm ngã; niềm vui là phẩm tính của linh hồn và được nhận ra trong trí khi có chỉnh hợp; chí phúc là bản chất của tinh thần và không nên suy đoán vô ích về nó trước khi linh hồn nhận ra sự hợp nhất với Cha. Thầy gợi ý gắn chí phúc với hợp nhất và tính bất hoại, còn hạnh phúc chỉ là sự thoả mãn giới hạn của đời sống thấp.

Sự hợp nhất với linh hồn là tiền đề để hiểu chí phúc

Thầy MDR nhấn mạnh trước khi có thể hiểu chí phúc, con người phải đi qua giai đoạn phàm ngã được hợp nhất với linh hồn. Vì thế việc phân tích chí phúc đối với người bình thường hầu như vô ích, vì ngôn ngữ của họ vẫn lệ thuộc kinh nghiệm giác quan và đời sống cá nhân. Đây là một lưu ý quan trọng về giới hạn của tư duy suy đoán.

Niềm vui gắn với tâm thức nhóm, hạnh phúc gắn với phàm ngã phân ly

Thầy MDR giải thích nếu dùng thuật ngữ chính xác thì niềm vui phát sinh từ tâm thức nhóm, tình đoàn kết nhóm và sự hợp nhất với mọi sinh thể, nên không thể hiểu đơn thuần như “hạnh phúc”. Trái lại, hạnh phúc đến khi phàm ngã được thoả mãn trong một phần nào đó của bản chất thấp: thể xác khoẻ mạnh, môi trường dễ chịu, quan hệ chung quanh thuận lợi, hay cơ hội trí tuệ thích hợp. Vì vậy, hạnh phúc là mục tiêu của bản ngã phân ly, còn niềm vui thuộc về linh hồn.


Webinar Program 40 – Rule 10.24

4. Then follows the work of conscious thought-form building, based upon these divine ideas, emanating as intuitions from the Universal Mind. This goes forward through meditation.

4. Rồi tiếp theo là công việc kiến tạo hình tư tưởng một cách có ý thức, dựa trên những ý tưởng thiêng liêng ấy, vốn xuất phát như các trực giác từ Vũ Trụ Trí. Điều này tiến hành qua tham thiền.

[1] Every true student knows that this involves concentration in order to focus or orient the lower mind to the higher. [2] Temporarily the normal thought-form building tendencies are inhibited. [3] Through meditation which is the mind’s power to hold itself in the light, [4] and in that light become aware of the plan, he learns to “bring through” the needed ideas. [5] Through contemplation he finds himself able to enter into that silence which will enable him to tap the divine mind, wrest God’s thought out of the divine consciousness and to know. [6] This is the work before each aspirant [7] and hence the necessity of his understanding the nature of his mental problem, [8] the tools with which he must perforce work, [9] and the use he must make of what he learns and gains through right use of the mental apparatus.

[1] Mọi đạo sinh chân chính đều biết rằng điều này đòi hỏi sự tập trung để quy tụ hay định hướng hạ trí về thượng trí. [2] Tạm thời, các khuynh hướng kiến tạo hình tư tưởng thông thường bị ức chế. [3] Nhờ tham thiền, tức quyền năng của thể trí giữ chính nó trong ánh sáng, [4] và trong ánh sáng ấy nhận biết Thiên Cơ, y học cách “truyền dẫn” những ý tưởng cần thiết. [5] Nhờ chiêm ngưỡng, y thấy mình có thể đi vào sự tĩnh lặng vốn sẽ giúp y tiếp xúc với trí thiêng liêng, giành lấy tư tưởng của Thượng đế từ tâm thức thiêng liêng và biết. [6] Đây là công việc đặt trước mỗi người chí nguyện, [7] và do đó có sự cần thiết y phải thấu hiểu bản chất vấn đề trí tuệ của mình, [8] các công cụ mà y buộc phải làm việc với, [9] và cách y phải sử dụng những gì mình học được và đạt được nhờ việc dùng đúng bộ máy trí tuệ.

[10] How is this to be done? How bring through and how build afterwards?

[10] Điều này phải được thực hiện như thế nào? Làm sao truyền dẫn, rồi sau đó làm sao kiến tạo?

[Page 367]

[Page 367]

[11] No matter how small or unimportant an individual thinker may be, yet in cooperation with his brethren, he wields a mighty force. [12] Only through the steady strong right thinking of the people and the understanding of the correct use of mental energy can progressive evolution go forward along the desired lines. [13] Right thinking depends upon many things, and it might be useful to state some of them very simply:

[11] Dù một nhà tư tưởng cá nhân có nhỏ bé hay không quan trọng đến đâu, song khi hợp tác với các huynh đệ của mình, y vận dụng một mãnh lực hùng mạnh. [12] Chỉ nhờ tư tưởng đúng đắn, kiên định và mạnh mẽ của con người, cùng sự thấu hiểu cách sử dụng đúng năng lượng trí tuệ, tiến hoá thăng thượng mới có thể tiến tới theo những đường hướng mong muốn. [13] Tư tưởng đúng đắn tùy thuộc vào nhiều điều, và có thể hữu ích nếu nêu ra một vài điều trong số đó thật giản dị:

[14] 1. An ability to sense the vision. That involves a capacity in a faint measure to realise the archetype on which the Lodge is endeavouring to fashion the race. [15] It involves cooperation in the work of the Manu, [16] and the development of abstract as well as synthetic thought, the flashing forth of the intuition. [17] The intuition wrests from the high places a touch of the ideal plan as it lies latent in the mind of the Logos. [18] As men develop this capacity, they will touch sources of power [19] that are not on mental levels at all but which constitute those from which the mental plane itself draws sustenance.

[14] 1. Khả năng cảm nhận tầm nhìn. Điều đó bao hàm năng lực, dù còn mờ nhạt, để nhận biết nguyên mẫu mà Thánh đoàn đang cố gắng dùng để uốn nắn nhân loại. [15] Nó bao hàm sự hợp tác trong công việc của Đức Manu, [16] và sự phát triển tư tưởng trừu tượng cũng như tổng hợp, tức sự lóe sáng của trực giác. [17] Trực giác giành lấy từ những nơi cao một nét chạm của Thiên Cơ lý tưởng như nó còn tiềm tàng trong thể trí của Thượng đế. [18] Khi con người phát triển năng lực này, họ sẽ chạm đến các nguồn quyền năng [19] hoàn toàn không ở trên những cấp độ trí tuệ, nhưng lại là những nguồn mà chính cõi trí rút lấy dưỡng chất từ đó.

[20] 2. Then, having sensed the vision and glimpsed a fraction of the beauty (how little men see is astounding!) in your hands lies the opportunity to bring down to the mental plane as much of the plan as you possibly can. [21] Nebulous and faint at first is your grasp after it, yet it will begin to materialise. [22] Seldom at first will you find that you can contact it, for the vision comes through the medium of the causal body and few can hold that high consciousness for a long time. [23] But the struggle to apprehend will lead to results, and little by little the idea will seep through to the concrete levels of the mental plane. [24] Then it becomes a concrete thought, something that can be definitely visualised and appropriated as a basis for thought.

[20] 2. Rồi, sau khi đã cảm nhận tầm nhìn và thoáng thấy một phần vẻ đẹp của nó — con người thấy được ít ỏi đến mức đáng kinh ngạc! — cơ hội nằm trong tay các bạn để đưa xuống cõi trí nhiều phần của Thiên Cơ nhất có thể. [21] Ban đầu sự nắm bắt của các bạn về nó còn mơ hồ và yếu ớt, song nó sẽ bắt đầu hiện hình. [22] Lúc đầu, các bạn hiếm khi thấy mình có thể tiếp xúc với nó, vì tầm nhìn đến qua trung gian của thể nguyên nhân, và ít người có thể giữ tâm thức cao ấy trong một thời gian dài. [23] Nhưng nỗ lực lĩnh hội sẽ đưa đến kết quả, và từng chút một, ý tưởng sẽ thấm xuống các cấp độ cụ thể của cõi trí. [24] Khi ấy nó trở thành một tư tưởng cụ thể, một điều có thể được hình dung rõ ràng và được tiếp nhận làm nền tảng cho tư tưởng.

[25] 3. This accomplished, what comes next? [26] A period of gestation, a period wherein you build your thought-form of as much of the vision as you can bring through into [Page 368] your consciousness. [27] Slowly must this be done, for a stable vibration and a well built form is desired. Hurried work leads nowhere. [28] As you build there will gradually be sensed a longing, a desire [29] to see this vision brought to earth, and see it becoming known to others among the sons of men. [30] Then you vitalise the thoughtform with the power of your will, you seek to make it be; [31] the rhythm becomes heavier and slower, the material built into your form is necessarily coarser, and you find that your thought-form of the vision is clothed in matter of the mental and astral planes.

[25] 3. Khi điều này đã hoàn tất, điều gì sẽ đến tiếp theo? [26] Một thời kỳ thai nghén, một giai đoạn trong đó các bạn xây dựng hình tư tưởng của mình về phần tầm nhìn mà các bạn có thể truyền dẫn vào [Page 368] tâm thức của mình. [27] Việc này phải được thực hiện chậm rãi, vì điều được mong muốn là một rung động ổn định và một hình tướng được kiến tạo vững chắc. Công việc vội vã chẳng dẫn đến đâu. [28] Khi các bạn kiến tạo, dần dần sẽ cảm nhận được một niềm mong mỏi, một khát vọng [29] muốn thấy tầm nhìn này được đưa xuống trần gian, và thấy nó trở nên được biết đến với những người khác trong số những người con của nhân loại. [30] Khi ấy các bạn tiếp sinh lực cho hình tư tưởng bằng quyền năng của ý chí mình, các bạn tìm cách khiến nó hiện hữu; [31] nhịp điệu trở nên nặng hơn và chậm hơn, chất liệu được đưa vào hình tướng của các bạn tất yếu thô hơn, và các bạn nhận thấy hình tư tưởng của mình về tầm nhìn được khoác trong vật chất của cõi trí và cõi cảm dục.

[32] 4. Happy the disciple who can bring the vision nearer still to humanity, and work it into existence on the physical plane. [33] Remember this, that the materialisation of any aspect of the vision on the physical plane is never the work of one man. [34] Only when it has been sensed by the many, only when they have worked at its material form can their united efforts draw it into outer manifestation. [35] Thus you see the value of educating public opinion; it brings the many helpers to the aid of the few visionaries. [36] Always the Law holds good;—in descent, differentiation. [37] The two or three sense the plan intuitively; [38] then the rhythm they set up with their thought sweeps the mental plane matter into activity; thinkers seize hold of the idea. This is a hard thing to learn and difficult to do but the reward is great.

[32] 4. Hạnh phúc thay người đệ tử có thể đưa tầm nhìn đến gần nhân loại hơn nữa, và tác thành nó vào sự hiện hữu trên cõi hồng trần. [33] Hãy nhớ điều này: sự hiện hình của bất kỳ phương diện nào của tầm nhìn trên cõi hồng trần không bao giờ là công việc của một người. [34] Chỉ khi nhiều người đã cảm nhận được nó, chỉ khi họ đã lao tác cho hình tướng vật chất của nó, thì những nỗ lực hợp nhất của họ mới có thể kéo nó vào sự biểu hiện bên ngoài. [35] Như vậy, các bạn thấy giá trị của việc giáo dục dư luận công chúng; điều đó đưa nhiều người trợ giúp đến hỗ trợ cho một số ít những người có tầm nhìn. [36] Định luật luôn luôn đúng;—trong sự giáng hạ, có sự biến phân. [37] Hai hoặc ba người cảm nhận Thiên Cơ bằng trực giác; [38] rồi nhịp điệu mà họ thiết lập bằng tư tưởng của mình cuốn chất liệu cõi trí vào hoạt động; các nhà tư tưởng nắm bắt ý tưởng ấy. Đây là điều khó học và khó làm, nhưng phần thưởng thì lớn lao.

[39] To those who wrestle, strive, and hold on, [40] the joy is doubled when the materialisation comes. [41] The joy of contrast will be yours, for knowing the past of darkness you will revel in the light of fruition; [42] the joy of tried and tested companionship will be yours, for years will have proved to you who are your chosen associates, and in community of suffering will come the strengthened link; [43] the joy of peace after victory will be yours, [44] for to the tired warrior the fruits of achievement and rest are doubly sweet; the joy of participation in the Masters’ [Page 369] plan will be yours, and all is well that associates you closely with Them; the joy of having [45] helped to solace a needy world, of having brought light to darkened souls, of having healed in some measure the open sore of the world’s distress, will be yours, and in the consciousness of days well spent, and in the gratitude of salvaged souls, comes the deepest joy of all, —the joy a Master knows when He is instrumental in lifting a brother up a little higher on the ladder. [46] This is the joy that is set before you all—and not so very far ahead it lies. [47] So work, not for joy but towards it; not for reward, but from the inner need to help; not for gratitude, but from the urge that comes from having seen the vision and realisation of the part you have to play in bringing that vision down to earth.

[39] Đối với những ai vật lộn, phấn đấu và kiên trì, [40] sự hoan hỉ sẽ được nhân đôi khi sự hiện hình đến. [41] Sự hoan hỉ của tương phản sẽ thuộc về các bạn, vì khi biết quá khứ của bóng tối, các bạn sẽ hân hoan trong ánh sáng của thành tựu; [42] sự hoan hỉ của tình đồng hành đã được thử thách và kiểm chứng sẽ thuộc về các bạn, vì năm tháng sẽ chứng minh cho các bạn biết ai là những cộng sự được chọn của mình, và trong cộng đồng của khổ đau, mối dây liên kết sẽ được củng cố; [43] sự hoan hỉ của bình an sau chiến thắng sẽ thuộc về các bạn, [44] vì đối với chiến sĩ mệt mỏi, hoa trái của thành tựu và nghỉ ngơi ngọt ngào gấp đôi; sự hoan hỉ của việc tham dự vào Thiên Cơ của các Chân sư [Page 369] sẽ thuộc về các bạn, và mọi điều gắn kết các bạn mật thiết với Các Ngài đều là tốt đẹp; sự hoan hỉ vì đã [45] góp phần an ủi một thế giới thiếu thốn, vì đã đem ánh sáng đến cho những linh hồn tối tăm, vì đã chữa lành phần nào vết thương hở của nỗi thống khổ thế gian, sẽ thuộc về các bạn; và trong tâm thức về những ngày đã được dùng tốt, cùng trong lòng biết ơn của những linh hồn được cứu vớt, sự hoan hỉ sâu xa nhất trong tất cả sẽ đến — sự hoan hỉ mà một Chân sư biết khi Ngài là khí cụ nâng một huynh đệ lên cao hơn một chút trên chiếc thang. [46] Đây là sự hoan hỉ được đặt trước tất cả các bạn — và nó không nằm quá xa phía trước. [47] Vậy hãy làm việc, không phải sự hoan hỉ mà hướng tới nó; không vì phần thưởng, mà từ nhu cầu bên trong muốn giúp đỡ; không vì lòng biết ơn, mà từ thôi thúc phát sinh do đã thấy tầm nhìn và nhận biết phần việc các bạn phải đảm nhận trong việc đưa tầm nhìn ấy xuống trần gian.

[48] It is helpful to differentiate between happiness, joy and bliss:

[48] Phân biệt giữa hạnh phúc, sự hoan hỉ và chí phúc là điều hữu ích:

[49] First, happiness, which has its seat in the emotions, and is a personality reaction.

[49] Thứ nhất, hạnh phúc, vốn có chỗ trú trong các cảm xúc và là một phản ứng của phàm ngã.

[50] Second, joy, which is a quality of the soul and is realised in the mind, when alignment takes place.

[50] Thứ hai, sự hoan hỉ, vốn là một phẩm tính của linh hồn và được nhận biết trong thể trí khi sự chỉnh hợp diễn ra.

[51] Third, bliss, which is the nature of the Spirit and about which speculation is fruitless until the soul realises its oneness with the Father. [52] This realisation follows upon an earlier stage wherein the personal self is at-oned with the soul. [53] Therefore speculation and analysis as to the nature of bliss is profitless to the average man whose metaphors and terminologies must perforce be personal and related to the world of the senses. Does the aspirant refer to his happiness or joy? [54] If he refers to the latter it must come as the effect of group consciousness, of group solidarity, of oneness with all beings, and may not be interpreted in terms of happiness after all. [55] Happiness comes when the personality is meeting with those conditions which satisfy it in one part or other of its lower nature; [56] it comes when there is a sense of physical [Page 370] well being, of contentment with one’s environment or surrounding personalities, or of satisfaction with one’s mental opportunities and contacts. Happiness is the goal of the separated self.

[51] Thứ ba, chí phúc, vốn là bản chất của Tinh thần, và mọi suy đoán về nó đều vô ích cho đến khi linh hồn nhận biết sự hợp nhất của mình với Cha. [52] Sự nhận biết này theo sau một giai đoạn trước đó, trong đó bản ngã cá nhân được hợp nhất với linh hồn. [53] Vì vậy, sự suy đoán và phân tích về bản chất của chí phúc là vô ích đối với người bình thường, người mà các ẩn dụ và thuật ngữ của y tất yếu phải mang tính cá nhân và liên hệ với thế giới của giác quan. Người chí nguyện đang nói đến hạnh phúc hay sự hoan hỉ của mình? [54] Nếu y nói đến điều sau, thì nó phải đến như hiệu quả của tâm thức nhóm, của sự đoàn kết nhóm, của sự hợp nhất với mọi hữu thể, và rốt cuộc không thể diễn giải nó theo các thuật ngữ của hạnh phúc. [55] Hạnh phúc đến khi phàm ngã gặp những điều kiện làm nó thỏa mãn ở phần này hay phần khác của bản chất thấp nơi nó; [56] nó đến khi có cảm thức về sự an ổn hồng trần [Page 370], về sự mãn nguyện với môi trường hay với các phàm ngã chung quanh, hoặc về sự thỏa mãn với các cơ hội và tiếp xúc trí tuệ của mình. Hạnh phúc là mục tiêu của cái ngã tách biệt.


Program-40-Astral-Plane-Rule-X-10.24

Hi everybody, and I’m sorry about this sun on the side of the face. It will soon change. Anyway, I’m here in the Temple of Silence and continuing with number 40.

Xin chào mọi người, tôi xin lỗi vì ánh nắng ở một bên mặt. Nó sẽ sớm thay đổi. Tôi đang ở trong Ngôi Đền Im Lặng và tiếp tục với chương trình 40.

We’ve been dealing with the idea of the idol, the ideal, and the true idea, and three levels of mind corresponding. I’ve elaborated on that quite a bit in commentary number 39, and we have to know in our own lives whether we are dealing with one or the other. Probably most of us have transcended captivation by the idol, but we may still be looking towards the abstract mind and its idealistic presentation.

Chúng ta đã bàn đến ý niệm về thần tượng, lý tưởng và ý tưởng chân thực, cùng ba cấp độ trí tuệ tương ứng. Tôi đã khai triển khá nhiều về điều đó trong phần bình giảng số 39, và trong đời sống của chính mình, chúng ta phải biết mình đang xử lý điều này hay điều kia. Có lẽ phần lớn chúng ta đã vượt qua sự bị thần tượng mê hoặc, nhưng chúng ta vẫn có thể còn hướng về trí trừu tượng và cách trình bày lý tưởng của nó.

The third and sixth ray are deeply connected, and the abstract mind is ruled by the third ray, and the idealism there is found on a higher mental level, but still abstract thoughts are not quite intuitions, and when we deal with the idea, we deal with the intuition.

Cung ba và cung sáu liên hệ sâu xa với nhau; trí trừu tượng do cung ba cai quản, và chủ nghĩa lý tưởng nơi đó được tìm thấy trên một cấp độ trí tuệ cao hơn, nhưng các tư tưởng trừu tượng vẫn chưa hẳn là trực giác, và khi chúng ta bàn đến ý tưởng, chúng ta bàn đến trực giác.

We’re on page 366 of this book, making our way slowly forward, and this is rule 10. It’s the 24th program on rule 10 and the 40th program regarding rules for magic on the astral plane.

Chúng ta đang ở trang 366 của quyển sách này, chậm rãi tiến tới, và đây là quy luật 10. Đây là chương trình thứ 24 về quy luật 10 và là chương trình thứ 40 liên quan đến các quy luật huyền thuật trên cõi cảm dục.

[1] Every true student knows that this involves concentration in order to focus or orient the lower mind to the higher.

[1] Mọi đạo sinh chân chính đều biết rằng điều này đòi hỏi sự tập trung để quy tụ hay định hướng hạ trí về thượng trí.

[Review] Then follows the work of conscious thought-form building, based upon these divine ideas, emanating as intuitions from the Universal Mind. The lowest expression on the cosmic physical plane of the universal mind is the transcendental mind of Buddhi, the pure reason of Buddhi. The abstract mind is an extension of the universal mind as is the mental plane, but when we want to really understand the ideas that are found in the universal mind, we need to access the transcendental mind of Buddhi. This is the building of the antahkarana.

[Ôn lại] Tiếp đó là công việc xây dựng hình tư tưởng một cách có ý thức, dựa trên các ý tưởng thiêng liêng này, xuất lộ như những trực giác từ Vũ Trụ Trí. Biểu hiện thấp nhất trên cõi hồng trần vũ trụ của Vũ Trụ Trí là Trí Tuệ Siêu Việt của Bồ đề, lý trí thuần khiết của Bồ đề. Trí trừu tượng là một phần mở rộng của Vũ Trụ Trí, cũng như cõi trí; nhưng khi chúng ta muốn thật sự thấu hiểu các ý tưởng được tìm thấy trong Vũ Trụ Trí, chúng ta cần tiếp cận Trí Tuệ Siêu Việt của Bồ đề. Đây là việc xây dựng antahkarana.

[2] Temporarily the normal thought-form building tendencies are inhibited.

[2] Tạm thời, các khuynh hướng kiến tạo hình tư tưởng thông thường bị ức chế.

If there is too much lower mental activity the impression from the transcendental mind cannot get through. It will be deflected, which is why we have to subdue in Raja Yoga the modifications of the psychic nature and the versatile mind.

Nếu có quá nhiều hoạt động của hạ trí, ấn tượng từ Trí Tuệ Siêu Việt không thể xuyên qua. Nó sẽ bị lệch hướng; vì thế trong Raja Yoga, chúng ta phải chế phục các biến thái của bản chất thông linh và của thể trí biến động.

[3] Through meditation which is the mind’s power to hold itself in the light,

[3] Nhờ tham thiền, tức quyền năng của thể trí giữ chính nó trong ánh sáng,

another great definition—

một định nghĩa vĩ đại khác—

[4] and in that light become aware of the plan, he learns to “bring through” the needed ideas.

[4] và trong ánh sáng ấy nhận biết Thiên Cơ, y học cách “truyền dẫn” những ý tưởng cần thiết.

This is, in a way, a second stage of antahkarana building. First we have to reach from the mental unit to the manasic permanent atom, and then increasingly into the buddhic sphere.

Theo một nghĩa nào đó, đây là giai đoạn thứ hai của việc xây dựng antahkarana. Trước hết chúng ta phải vươn từ đơn vị hạ trí đến Nguyên tử trường tồn manas, rồi ngày càng đi vào khối cầu Bồ đề.

Through meditation, which is the mind’s power to hold itself in the light—whether of the soul or the Spiritual Triad, or later even the Monad—and in that light become aware of the plan, this goes a little into the ACLRI process in Esoteric Psychology. This goes a little beyond Alignment, Crisis, Light, Revelation. That’s the key. The light at first shows everything that’s wrong with the individual—with the energy system, the psyche, the accumulated tendencies, the skandhas, all that. But there is a greater light which brings revelation of the Plan, and that’s the next step. When there is revelation of the Plan, and when we begin to really work with it, eventually there will come Initiation, which is the last stage in that process unless we want to expand it.

Qua tham thiền, vốn là năng lực của thể trí để giữ chính nó trong ánh sáng—dù là ánh sáng của linh hồn, của Tam Nguyên Tinh Thần, hay về sau thậm chí của chân thần—và trong ánh sáng ấy trở nên nhận biết Thiên Cơ, điều này phần nào đi vào tiến trình Chỉnh hợp, Khủng hoảng, Ánh sáng, Mặc khải, Điểm đạo trong Tâm Lý Học Nội Môn. Điều này vượt quá Chỉnh hợp, Khủng hoảng, Ánh sáng, Mặc khải một chút. Đó là điểm then chốt. Lúc đầu, ánh sáng cho thấy tất cả những gì sai lệch nơi cá nhân—trong hệ thống năng lượng, tâm lý, các khuynh hướng tích lũy, các uẩn, tất cả những điều đó. Nhưng có một ánh sáng lớn hơn đem lại sự mặc khải về Thiên Cơ, và đó là bước kế tiếp. Khi có sự mặc khải về Thiên Cơ, và khi chúng ta bắt đầu thật sự làm việc với nó, cuối cùng Điểm đạo sẽ đến, là giai đoạn cuối trong tiến trình ấy, trừ khi chúng ta muốn mở rộng nó.

[5] Through contemplation he finds himself able to enter into that silence which will enable him to tap the divine mind, wrest God’s thought out of the divine consciousness and to know.

[5] Nhờ chiêm ngưỡng, y thấy mình có thể đi vào sự tĩnh lặng vốn sẽ giúp y tiếp xúc với trí thiêng liêng, giành lấy tư tưởng của Thượng đế từ tâm thức thiêng liêng và biết.

Study Contemplation in Alice Bailey’ From Intellect to Intuition, it’s really good. Somehow she manages to get this difficult concept across to us in a clear way. Meditation is the first stage. Concentration, then Meditation, then Contemplation, as we have learned.

Hãy nghiên cứu Chiêm ngưỡng trong quyển Từ Trí Tuệ đến Trực Giác của Alice Bailey; tác phẩm ấy thật sự rất hay. Bằng cách nào đó, Bà đã truyền đạt khái niệm khó này cho chúng ta một cách rõ ràng. Tham thiền là giai đoạn đầu. Tập trung, rồi Tham thiền, rồi Chiêm ngưỡng, như chúng ta đã học.

Through contemplation he finds himself able to enter into that silence

Qua chiêm ngưỡng, y thấy mình có thể đi vào sự im lặng ấy

There is a stage of Identification found in the act of Contemplation—progressive identification until we reach a very high contemplative stage, which we call Samadhi. There, the illumination and inspiration which follow on contemplation are included. Probably we’re knocking at the door of a rather high initiation when we can achieve Samadhi, or it is the result of having achieved that rather high initiation.

Có một giai đoạn Đồng nhất hóa được tìm thấy trong hành vi Chiêm ngưỡng—sự đồng nhất hóa tiến triển cho đến khi chúng ta đạt tới một giai đoạn chiêm ngưỡng rất cao mà chúng ta gọi là đại định. Ở đó bao gồm sự soi sáng và cảm hứng theo sau chiêm ngưỡng. Có lẽ chúng ta đang gõ cửa một cuộc điểm đạo khá cao khi có thể đạt được đại định, hoặc đó là kết quả của việc đã đạt được cuộc điểm đạo khá cao ấy.

Through contemplation he finds himself able to enter into that silence which will enable him to tap the divine mind, wrest God’s thought out of the divine consciousness and to know.

Qua chiêm ngưỡng, y thấy mình có thể đi vào sự im lặng ấy, điều sẽ giúp y chạm đến trí thiêng liêng, giành lấy tư tưởng của Thượng đế từ tâm thức thiêng liêng và biết.

This is called by Master Morya “straight knowledge.” The Divine Plan can probably be still more intimately known on the Atmic plane. As we ascend the planes on the cosmic physical plane, the Divine Plan, as derivative or derived from the Divine Purpose, is clarified still more.

Chân sư Morya gọi điều này là “tri thức trực tiếp”. Có lẽ Thiên Cơ có thể được biết một cách còn thân mật hơn trên cõi atma. Khi chúng ta thăng lên các cõi trong cõi hồng trần vũ trụ, Thiên Cơ, với tư cách là điều phát sinh từ Thiên Ý, được làm sáng tỏ hơn nữa.

[6] This is the work before each aspirant

[6] Đây là công việc đặt trước mỗi người chí nguyện,

Aspirant is a generic term, and it all depends upon that towards which we are inspiring. Every great Being, even among the Logoi and beyond, is an Aspirant towards the reunited stage of re-becoming the universal Logos in its entirety. This is the work before each aspirant,

Người chí nguyện là một thuật ngữ tổng quát, và tất cả tùy thuộc vào điều mà chúng ta đang hướng khát vọng tới. Mỗi Hữu Thể vĩ đại, ngay cả trong số Các Thượng đế và vượt hơn nữa, đều là một Người Chí Nguyện hướng tới giai đoạn tái hợp nhất để trở lại thành Thượng đế Vũ Trụ trong toàn thể của Ngài. Đây là công việc trước mắt mỗi người chí nguyện,

[7] and hence the necessity of his understanding the nature of his mental problem,

[7] và do đó có sự cần thiết y phải thấu hiểu bản chất vấn đề trí tuệ của mình,

What blocks the possibility of reaching into the realm of ideas, which are living beings we’re told interestingly?

Điều gì ngăn chặn khả năng vươn vào cõi giới của các ý tưởng, vốn được cho biết một cách thú vị là những thực thể sống?

[8] the tools with which he must perforce work,

[8] các công cụ mà y buộc phải làm việc với,

Is the mind really trained? That’s the question.

Thể trí có thật sự được rèn luyện không? Đó là câu hỏi.

[9] and the use he must make of what he learns and gains through right use of the mental apparatus.

[9] và cách y phải sử dụng những gì mình học được và đạt được nhờ việc dùng đúng bộ máy trí tuệ.

The aspirant must have knowledge of his limitations, understanding of his mental abilities, and must use knowledge correctly.

Người chí nguyện phải biết các giới hạn của mình, thấu hiểu các khả năng trí tuệ của mình, và phải sử dụng tri thức một cách đúng đắn.

[10] How is this to be done? How bring through and how build afterwards?

[10] Điều này phải được thực hiện như thế nào? Làm sao truyền dẫn, rồi sau đó làm sao kiến tạo?

Touch ideas, clothe them in the proper idealistic form in the abstract mind and build the practical thought forms, which will allow some timely application of the ideas in the lower 18 subplanes.

Chạm đến các ý tưởng, khoác cho chúng hình tướng lý tưởng thích hợp trong trí trừu tượng, và xây dựng các hình tư tưởng thực tiễn, điều sẽ cho phép áp dụng kịp thời phần nào các ý tưởng trong 18 cõi phụ thấp.

The lower 18 subplanes—I talk about it often. Lower 18 subplanes.

18 cõi phụ thấp—tôi thường nói về điều này. 18 cõi phụ thấp.

How is this to be done? How bring through and how build afterwards? Really, we’re walking around somewhat in a prison—a mental prison and a prison of consciousness.

Làm thế nào điều này được thực hiện? Làm thế nào đưa xuyên qua và sau đó xây dựng? Thật ra, chúng ta đang đi quanh phần nào trong một nhà tù—một nhà tù trí tuệ và một nhà tù của tâm thức.

I’ve been dialoguing with a good friend who is so thoroughly trained in the Western ways that all of what we are discussing here appears to be various nonsense. That is the training to which we have been subjected, and only experience will help us to go beyond our preconceptions of what is possible and realize that if something is being demonstrated and is occurring, despite the preconceptions which say that it cannot occur, it has to be acknowledged.

Tôi đã đối thoại với một người bạn tốt, được đào luyện quá kỹ trong các phương thức Tây phương đến nỗi tất cả những gì chúng ta đang bàn ở đây dường như là nhiều điều vô nghĩa khác nhau. Đó là sự đào luyện mà chúng ta đã chịu, và chỉ kinh nghiệm mới giúp chúng ta vượt khỏi các định kiến về điều gì là có thể, để nhận ra rằng nếu một điều đang được chứng minh và đang xảy ra, bất chấp những định kiến nói rằng nó không thể xảy ra, thì nó phải được thừa nhận.

[11] No matter how small or unimportant an individual thinker may be, yet in cooperation with his brethren, he wields a mighty force.

[11] Dù một nhà tư tưởng cá nhân có nhỏ bé hay không quan trọng đến đâu, song khi hợp tác với các huynh đệ của mình, y vận dụng một mãnh lực hùng mạnh.

Hence the importance of Aquarian group consciousness, which is now growing pace

Vì thế có tầm quan trọng của tâm thức nhóm Bảo Bình, hiện đang tăng trưởng nhanh chóng.

[12] Only through the steady strong right thinking of the people and the understanding of the correct use of mental energy can progressive evolution go forward along the desired lines.

[12] Chỉ nhờ tư tưởng đúng đắn, kiên định và mạnh mẽ của con người, cùng sự thấu hiểu cách sử dụng đúng năng lượng trí tuệ, tiến hoá thăng thượng mới có thể tiến tới theo những đường hướng mong muốn.

Only through this. We must train the people in right thought steadily and not as modically pursued.

Chỉ nhờ điều này. Chúng ta phải đều đặn rèn luyện nhân loại trong tư tưởng đúng đắn, chứ không theo đuổi một cách rời rạc.

[13] Right thinking depends upon many things, and it might be useful to state some of them very simply:

[13] Tư tưởng đúng đắn tùy thuộc vào nhiều điều, và có thể hữu ích nếu nêu ra một vài điều trong số đó thật giản dị:

This is such a practical book, isn’t it? Upon what does right thinking depend? Of course, we can’t get all this with just one reading. We have to impress it upon ourselves repeatedly. I’d tell you, I oftentimes repeat something important three times to myself. I got that from Agni Yoga: if you really want to drive the point home, repeat it three times. If you really want to remember something impressive, press the bridge of your nose. It seems absurd, but there are little occult things one can do to assist the right impression of the higher energies and their availability when we really need them.

Đây là một quyển sách thật thực tiễn, phải không? Tư tưởng đúng đắn tùy thuộc vào điều gì? Dĩ nhiên, chúng ta không thể nắm hết mọi điều này chỉ với một lần đọc. Chúng ta phải in sâu nó vào chính mình nhiều lần. Tôi thường lặp lại một điều quan trọng ba lần với chính mình. Tôi học điều đó từ Agni Yoga: nếu thật sự muốn khắc sâu một điểm, hãy lặp lại nó ba lần. Nếu thật sự muốn ghi nhớ điều gì gây ấn tượng, hãy ấn vào sống mũi. Nghe có vẻ vô lý, nhưng có những điều huyền bí nhỏ mà người ta có thể làm để hỗ trợ ấn tượng đúng của các năng lượng cao hơn và khả năng sẵn có của chúng khi chúng ta thật sự cần.

Upon what does right thinking depend? Because right now, the great majority of human beings are subject to Glamour and Illusion and cannot think correctly nor divorce themselves from kama-manas, which is never entirely clear. This is a big job for us. The very first thing here is the ability to sense the vision if we want right thinking. If we want right thinking, then

Tư tưởng đúng đắn tùy thuộc vào điều gì? Bởi vì hiện nay, đại đa số con người chịu chi phối bởi Ảo cảm và Ảo tưởng, không thể suy nghĩ đúng đắn, cũng không thể tách mình khỏi trí-cảm, vốn không bao giờ hoàn toàn trong sáng. Đây là một công việc lớn đối với chúng ta. Điều đầu tiên ở đây là khả năng cảm nhận tầm nhìn nếu chúng ta muốn tư tưởng đúng đắn. Nếu chúng ta muốn tư tưởng đúng đắn, thì

[14] 1. An ability to sense the vision. That involves a capacity in a faint measure to realise the archetype on which the Lodge is endeavouring to fashion the race.

[14] 1. Khả năng cảm nhận tầm nhìn. Điều đó bao hàm năng lực, dù còn mờ nhạt, để nhận biết nguyên mẫu mà Thánh đoàn đang cố gắng dùng để uốn nắn nhân loại.

And these archetypes are really found on the Monadic plane and on the Logoic plane. Ultimately, at least in terms of the cosmic physical plane.

Và các nguyên mẫu này thật sự được tìm thấy trên cõi chân thần và cõi Thượng đế. Rốt cuộc, ít nhất xét theo cõi hồng trần vũ trụ.

[15] It involves cooperation in the work of the Manu,

[15] Nó bao hàm sự hợp tác trong công việc của Đức Manu,

Who is molding the racial form,

Đấng đang khuôn đúc hình tướng chủng tộc,

[16] and the development of abstract as well as synthetic thought, the flashing forth of the intuition.

[16] và sự phát triển tư tưởng trừu tượng cũng như tổng hợp, tức sự lóe sáng của trực giác.

We’re looking for what the Lodge is trying to accomplish. The Manu molds the racial form, and the development of the abstract as well as synthetic thought. Synthetic thought is beyond the abstract mind and is apparently intuitive.

Chúng ta đang tìm điều Thánh đoàn cố gắng hoàn thành. Đức Manu khuôn đúc hình tướng chủng tộc, và có sự phát triển tư tưởng trừu tượng cũng như tổng hợp. Tư tưởng tổng hợp vượt quá trí trừu tượng và rõ ràng có tính trực giác.

[17] The flashing forth of the intuition. The intuition wrests from the high places a touch of the ideal plan as it lies latent in the mind of the Logos.

[17] Trực giác giành lấy từ những nơi cao một nét chạm của Thiên Cơ lý tưởng như nó còn tiềm tàng trong thể trí của Thượng đế.

The high places are the Monadic plane and the Logoic plane. I don’t think our intuition can yet penetrate into the true cosmic mind of the Logos. I think maybe the Buddha had that experience, that cosmic touch, as the Christ had the cosmic astral touch. That’s probably very rare, but the intuition is active and is reaching above. From the high places, the archetypes are found particularly on the two really esoteric planes of the cosmic physical plane, namely the Monadic and Logoic, a touch of the ideal Plan as it lies latent in the mind of the Logos. That mind of the Logos is going to be found on cosmic levels. It’s latent, it’s there, it’s not yet totally or rightly applied. This depends on the Custodians of the Plan, and even more on the registrants of the Purpose, which are higher than the Custodians of the Plan. Maybe the real registrants of the Purpose are the three great Lords, the Manu, the Bodhisattva, and the Maha Chohan.

Những nơi cao là cõi chân thần và cõi Thượng đế. Tôi không nghĩ trực giác của chúng ta hiện nay đã có thể xuyên vào trí vũ trụ đích thực của Thượng đế. Có lẽ Đức Phật đã có kinh nghiệm ấy, sự chạm đến vũ trụ ấy, cũng như Đức Christ đã có sự chạm đến cõi cảm dục vũ trụ. Điều đó có lẽ rất hiếm, nhưng trực giác thì hoạt động và vươn lên trên. Từ những nơi cao, các nguyên mẫu được tìm thấy đặc biệt trên hai cõi thật sự huyền bí của cõi hồng trần vũ trụ, tức cõi chân thần và cõi Thượng đế, một thoáng chạm của Thiên Cơ lý tưởng khi nó còn tiềm tàng trong trí của Thượng đế. Trí ấy của Thượng đế sẽ được tìm thấy trên các cấp độ vũ trụ. Nó tiềm tàng, nó có đó, nó chưa được áp dụng hoàn toàn hay đúng đắn. Điều này tùy thuộc vào các Đấng Giữ Gìn Thiên Cơ, và còn hơn nữa vào các Đấng Ghi Nhận Thiên Ý, vốn cao hơn các Đấng Giữ Gìn Thiên Cơ. Có lẽ các Đấng Ghi Nhận Thiên Ý thật sự là ba Chúa Tể vĩ đại: Đức Manu, Đức Bồ Tát và Đức Mahachohan.

[18] As men develop this capacity, they will touch sources of power

[18] Khi con người phát triển năng lực này, họ sẽ chạm đến các nguồn quyền năng

for instance, the Atmic plane —

chẳng hạn như cõi atma—

[19] that are not on mental levels at all but which constitute those from which the mental plane itself draws sustenance.

[19] hoàn toàn không ở trên những cấp độ trí tuệ, nhưng lại là những nguồn mà chính cõi trí rút lấy dưỡng chất từ đó.

Mind is not the end at all. There are higher sources of mind which stimulate and sustain the mind. The Atmic plane is interesting because it’s the first plane of Brahma. So it has tremendous Will, spiritual will involved in it, but it’s also the third plane of the cosmic physical plane and thus is associated particularly with mentality. Its symbol being the triangle, and the number three, and these Lives called the Triple Flowers are found there. It’s a fleur-de-lis. France is ruled by fleur-de-lis, and the symbol associated with France is the fleur-de-lis. France is very much of a fifth-ray, third-ray country, and so it fits so much with the Atmic plane. We can see why the fleur-de-lis would be particularly associated with that country.

Thể trí hoàn toàn không phải là điểm kết thúc. Có những nguồn cao hơn của trí tuệ kích thích và duy trì thể trí. Cõi atma rất thú vị vì đó là cõi đầu tiên của Brahma. Vì vậy nó có Ý Chí to lớn, ý chí tinh thần liên hệ trong đó, nhưng nó cũng là cõi thứ ba của cõi hồng trần vũ trụ và do đó đặc biệt liên hệ với trí tuệ. Biểu tượng của nó là tam giác, con số ba, và những Sự Sống được gọi là Tam Hoa được tìm thấy ở đó. Đó là hoa huệ tây. Nước Pháp được cai quản bởi hoa huệ tây, và biểu tượng liên hệ với nước Pháp là hoa huệ tây. Nước Pháp rất nhiều tính chất cung năm, cung ba, và vì vậy nó rất phù hợp với cõi atma. Chúng ta có thể thấy vì sao hoa huệ tây đặc biệt liên hệ với quốc gia ấy.

First, if we want right thinking, what do we do?

Trước hết, nếu chúng ta muốn tư tưởng đúng đắn, chúng ta làm gì?

[20] 2. Then, having sensed the vision and glimpsed a fraction of the beauty (how little men see is astounding!) in your hands lies the opportunity to bring down to the mental plane as much of the plan as you possibly can.

[20] 2. Rồi, sau khi đã cảm nhận tầm nhìn và thoáng thấy một phần vẻ đẹp của nó — con người thấy được ít ỏi đến mức đáng kinh ngạc! — cơ hội nằm trong tay các bạn để đưa xuống cõi trí nhiều phần của Thiên Cơ nhất có thể.

You can only imagine the consciousness of Master DK and the kind of compassion He has for us due to the limitations of our perception. In your hands lies the opportunity to bring down to the mental plane as much of the plan as you possibly can.

Các bạn chỉ có thể hình dung tâm thức của Chân sư DK và loại lòng từ bi Ngài dành cho chúng ta do những giới hạn trong nhận thức của chúng ta. Trong tay các bạn có cơ hội đưa xuống cõi trí càng nhiều Thiên Cơ càng tốt trong khả năng của mình.

[21] Nebulous and faint at first is your grasp after it, yet it will begin to materialise.

[21] Ban đầu sự nắm bắt của các bạn về nó còn mơ hồ và yếu ớt, song nó sẽ bắt đầu hiện hình.

Have patience with this bringing down process. It will lead to condensation and clarification.

Hãy kiên nhẫn với tiến trình đưa xuống này. Nó sẽ dẫn đến sự cô đọng và sáng tỏ.

[22] Seldom at first will you find that you can contact it, for the vision comes through the medium of the causal body and few can hold that high consciousness for a long time.

[22] Lúc đầu, các bạn hiếm khi thấy mình có thể tiếp xúc với nó, vì tầm nhìn đến qua trung gian của thể nguyên nhân, và ít người có thể giữ tâm thức cao ấy trong một thời gian dài.

That’s telling us something about causal consciousness. The vision comes through the medium of the causal body, and its part played in the registration of the vision.

Điều đó cho chúng ta biết đôi điều về tâm thức nguyên nhân. Tầm nhìn đến qua trung gian của thể nguyên nhân, và vai trò của nó trong việc ghi nhận tầm nhìn.

[23] But the struggle to apprehend will lead to results, and little by little the idea will seep through to the concrete levels of the mental plane.

[23] Nhưng nỗ lực lĩnh hội sẽ đưa đến kết quả, và từng chút một, ý tưởng sẽ thấm xuống các cấp độ cụ thể của cõi trí.

Do struggle to bring through.

Hãy nỗ lực đưa nó xuyên qua.

[24] Then it becomes a concrete thought, something that can be definitely visualised and appropriated as a basis for thought.

[24] Khi ấy nó trở thành một tư tưởng cụ thể, một điều có thể được hình dung rõ ràng và được tiếp nhận làm nền tảng cho tư tưởng.

Our task is to concretize correctly the idea and use the concretization to change things in the World of Phenomena. We brought something down. We have had the vision and nebulous and limited though it be, we’ve brought something from those higher levels down and we’ve concretized that impression to a degree. We’ve seen it in the pattern of things through the abstract mind and then we see it in some degree of concretion through the concrete mind.

Nhiệm vụ của chúng ta là cụ thể hóa đúng đắn ý tưởng và dùng sự cụ thể hóa ấy để thay đổi các sự việc trong Thế giới Hiện tượng. Chúng ta đã đưa một điều gì đó xuống. Chúng ta đã có tầm nhìn, và dù nó còn mơ hồ, giới hạn, chúng ta đã đưa một điều gì đó từ các cấp độ cao ấy xuống và đã cụ thể hóa ấn tượng ấy đến một mức độ nào đó. Chúng ta đã thấy nó trong mô hình của sự vật qua trí trừu tượng, rồi thấy nó ở một mức độ cụ thể nào đó qua trí cụ thể.

[25] 3. This accomplished, what comes next?

[25] 3. Khi điều này đã hoàn tất, điều gì sẽ đến tiếp theo?

If we want to think correctly,

Nếu chúng ta muốn suy nghĩ đúng đắn,

[26] A period of gestation, a period wherein you build your thought-form of as much of the vision as you can bring through into [Page 368] your consciousness.

[26] Một thời kỳ thai nghén, một giai đoạn trong đó các bạn xây dựng hình tư tưởng của mình về phần tầm nhìn mà các bạn có thể truyền dẫn vào [Page 368] tâm thức của mình.

This is a building process. Mistakes will exist and they’ll be gradually discovered. You can’t transfer this immense quantity of words without some mistakes. We brought it down into the concrete mind, and within the concrete mind we build. A period of gestation, a period wherein you build your thought form of as much of the vision as soul can bring into your consciousness, remembering that to sustain causal consciousness or soul consciousness is certainly not easy and many are the derailments, we might say, the distractions pulling us off the track and forcing our consciousness to descend out of this area where the vision can really be seen.

Đây là một tiến trình xây dựng. Sai lầm sẽ có và dần dần sẽ được phát hiện. Các bạn không thể chuyển dịch khối lượng lời lẽ đồ sộ này mà không có vài sai lầm. Chúng ta đã đưa nó xuống trí cụ thể, và trong trí cụ thể chúng ta xây dựng. Một thời kỳ thai nghén, một thời kỳ trong đó các bạn xây dựng hình tư tưởng của mình về phần tầm nhìn mà linh hồn có thể đưa vào tâm thức của các bạn, nhớ rằng duy trì tâm thức nguyên nhân hay tâm thức linh hồn chắc chắn không dễ, và có nhiều sự trệch hướng, có thể nói như vậy, nhiều xao lãng kéo chúng ta khỏi đường ray và buộc tâm thức chúng ta hạ xuống khỏi vùng nơi tầm nhìn thật sự có thể được thấy.

This is part of the white magical process. If we want to bring through what the soul sees or what our own consciousness on the higher mental plane sees, it’s going to require a lot of patient, sustained alignment and the holding of a requisite point of tension.

Đây là một phần của tiến trình huyền thuật chánh đạo. Nếu chúng ta muốn đưa xuyên qua điều linh hồn thấy, hay điều tâm thức của chính chúng ta trên Cõi thượng trí thấy, việc ấy sẽ đòi hỏi rất nhiều sự chỉnh hợp kiên nhẫn, bền bỉ và việc giữ một điểm tập trung nhất tâm cần thiết.

[27] Slowly must this be done, for a stable vibration and a well built form is desired. Hurried work leads nowhere.

[27] Việc này phải được thực hiện chậm rãi, vì điều được mong muốn là một rung động ổn định và một hình tướng được kiến tạo vững chắc. Công việc vội vã chẳng dẫn đến đâu.

Such wisdom here, and such a requirement upon us for real patience in the face of a process that can take many lives to perfect.

Ở đây có biết bao minh triết, và đặt lên chúng ta một đòi hỏi lớn lao về sự kiên nhẫn thật sự trước một tiến trình có thể cần nhiều kiếp sống để hoàn thiện.

[28] As you build there will gradually be sensed a longing, a desire

[28] Khi các bạn kiến tạo, dần dần sẽ cảm nhận được một niềm mong mỏi, một khát vọng

He’s really repeating the white magical process in a way: we’re building on the mental plane and then we’re adding the intensity of the Agnisuryan, the desire body, the longing for incarnation, for that idea which has become a thought form.

Ngài thật sự đang lặp lại tiến trình huyền thuật chánh đạo theo một cách nào đó: chúng ta xây dựng trên cõi trí, rồi thêm vào cường độ của các thiên thần cảm dục, của thể dục vọng, niềm khao khát nhập thể cho ý tưởng ấy, vốn đã trở thành một hình tư tưởng.

As you build there will gradually be sensed a longing, a desire

Khi các bạn xây dựng, dần dần sẽ cảm nhận một niềm khao khát, một ham muốn

[29] to see this vision brought to earth, and see it becoming known to others among the sons of men.

[29] muốn thấy tầm nhìn này được đưa xuống trần gian, và thấy nó trở nên được biết đến với những người khác trong số những người con của nhân loại.

Desire for a manifest manifestation of the thought form increases.

Ham muốn về một sự biểu hiện hữu hình của hình tư tưởng tăng lên.

[30] Then you vitalise the thoughtform with the power of your will, you seek to make it be;

[30] Khi ấy các bạn tiếp sinh lực cho hình tư tưởng bằng quyền năng của ý chí mình, các bạn tìm cách khiến nó hiện hữu;

And this involves etheric application, vitalization. This is really a repeat of the magical process. You vitalize your thought form because you can desire to have it manifest but desire alone probably is not enough. It has to have the vitality to in a way fight its way through and into the ancient fires of the dense physical levels. And this is where many abortions occur.

Và điều này bao hàm sự ứng dụng dĩ thái, sự tiếp sinh lực. Đây thật sự là một sự lặp lại của tiến trình huyền thuật. Các bạn tiếp sinh lực cho hình tư tưởng của mình, bởi vì các bạn có thể ham muốn nó biểu hiện, nhưng chỉ ham muốn thôi có lẽ không đủ. Nó phải có sinh lực để phần nào tự chiến đấu xuyên qua và đi vào các ngọn lửa cổ xưa của các cấp độ hồng trần đậm đặc. Và đây là nơi nhiều sự sẩy thai xảy ra.

[31] the rhythm becomes heavier and slower, the material built into your form is necessarily coarser, and you find that your thought-form of the vision is clothed in matter of the mental and astral planes.

[31] nhịp điệu trở nên nặng hơn và chậm hơn, chất liệu được đưa vào hình tướng của các bạn tất yếu thô hơn, và các bạn nhận thấy hình tư tưởng của mình về tầm nhìn được khoác trong vật chất của cõi trí và cõi cảm dục.

So we have the coarsening of the idea, the ideal, as it becomes more and more concrete through the building in of lower mental and astral matter.

Vì vậy chúng ta có sự thô hóa của ý tưởng, của lý tưởng, khi nó ngày càng trở nên cụ thể hơn qua việc xây vào đó vật chất hạ trí và cảm dục.

I’m amazed. In the beginning of the Arcane School, I joined in 1972. That’s going to be like 46 years ago right now, just about now. A Treatise on White Magic was one of the first books after Light of the Soul that we read and I read with care and I think I did, although now when I look at it, I wonder if I did. There’s so much in it that even evades more intensive study like this. It evades the kind of study I gave it. Maybe a little bit more will come through with this kind of line by line, word by word analysis of what is being said, again, realizing that much is necessarily left out.

Tôi kinh ngạc. Vào buổi đầu của Trường Arcane, tôi gia nhập năm 1972. Đến nay gần như đã 46 năm. Luận về Chánh Thuật là một trong những quyển sách đầu tiên sau Ánh Sáng của Linh Hồn mà chúng tôi đọc, và tôi đã đọc cẩn thận; tôi nghĩ mình đã đọc như vậy, dù bây giờ khi nhìn lại, tôi tự hỏi liệu mình đã thật sự làm thế chưa. Có quá nhiều điều trong đó đến nỗi ngay cả việc nghiên cứu sâu hơn như thế này cũng vẫn không nắm hết. Nó vượt khỏi loại nghiên cứu mà tôi đã dành cho nó. Có lẽ sẽ có thêm đôi chút đi xuyên qua với kiểu phân tích từng dòng, từng chữ về điều đang được nói, đồng thời vẫn nhận ra rằng tất yếu còn rất nhiều điều bị bỏ lại.

[32] 4. Happy the disciple who can bring the vision nearer still to humanity, and work it into existence on the physical plane.

[32] 4. Hạnh phúc thay người đệ tử có thể đưa tầm nhìn đến gần nhân loại hơn nữa, và tác thành nó vào sự hiện hữu trên cõi hồng trần.

Maybe a few of us from time to time experience that inner satisfaction always coupled with the realization of how little really has been done.

Có lẽ một vài người trong chúng ta, thỉnh thoảng, kinh nghiệm sự thỏa mãn bên trong ấy, luôn đi kèm với nhận thức rằng thật ra đã làm được quá ít.

Bring the vision nearer still to humanity. For myself, I have the vision of these esoteric schools. It captivates my thought and sets for me a path for the future, at least in terms of what I can realize at this moment. Are these different organizations, the Seven Ray Institute, the University of Seven Rays, the Morya Federation, bringing this aspect of the Plan, the creation of the banded esoteric organisms? Are these institutions bringing this nearer to the physical plane? I hope so.

Đưa tầm nhìn đến gần nhân loại hơn nữa. Đối với riêng tôi, tôi có tầm nhìn về các trường huyền bí học này. Nó cuốn hút tư tưởng tôi và đặt ra cho tôi một con đường cho tương lai, ít nhất xét theo những gì tôi có thể nhận ra vào lúc này. Các tổ chức khác nhau này, Viện Bảy Cung, Đại học Bảy Cung, Liên đoàn Morya, có đang đưa phương diện này của Thiên Cơ, sự tạo lập các cơ cấu huyền bí liên kết, đến gần cõi hồng trần hơn không? Tôi hy vọng là có.

[33] Remember this, that the materialisation of any aspect of the vision on the physical plane is never the work of one man.

[33] Hãy nhớ điều này: sự hiện hình của bất kỳ phương diện nào của tầm nhìn trên cõi hồng trần không bao giờ là công việc của một người.

That’s the group consciousness, and many have been involved in this. As we see that, even from the very beginning with Master DK and His groups and everything that, the reason we have these books, this great teaching. Alice Bailey was the source, but she couldn’t have done it alone, could she? The Editors were needed, the printers, the proofreaders, all those making an office function.

Đó là tâm thức nhóm, và nhiều người đã tham dự vào việc này. Chúng ta thấy điều đó, ngay từ đầu với Chân sư DK và các nhóm của Ngài, cùng mọi điều khiến chúng ta có được những quyển sách này, giáo huấn vĩ đại này. Alice Bailey là nguồn, nhưng Bà không thể làm điều đó một mình, phải không? Cần có các biên tập viên, thợ in, người hiệu đính, tất cả những người làm cho một văn phòng vận hành.

[34] Only when it has been sensed by the many, only when they have worked at its material form can their united efforts draw it into outer manifestation.

[34] Chỉ khi nhiều người đã cảm nhận được nó, chỉ khi họ đã lao tác cho hình tướng vật chất của nó, thì những nỗ lực hợp nhất của họ mới có thể kéo nó vào sự biểu hiện bên ngoài.

A certain critical mass of would-be manifestors is required. Those did come around Alice Bailey. They were attracted, and they assisted, even financing the books. One of the disciples, in relation to whom great lessons could be learned, came in with the money. And as Master DK said, you will see that we are not ungrateful, even though this man had many problems. But sometimes reading the discipleship letters of the people who had many problems, we learn a lot. There’s so much to be learned from Discipleship in the New Age, and no question that if we continue in earnest on this path, we will be in touch with Master DK, and teaching will be given, certain advice will be given, that will facilitate progress upon the path.

Cần có một khối lượng tới hạn nào đó gồm những người muốn biểu hiện. Những người ấy đã đến quanh Alice Bailey. Họ bị thu hút và họ trợ giúp, thậm chí tài trợ cho các sách. Một trong các đệ tử, liên quan đến người ấy có thể học được những bài học lớn, đã đến với tiền bạc. Và như Chân sư DK đã nói, các bạn sẽ thấy rằng chúng tôi không vô ơn, dù người này có nhiều vấn đề. Nhưng đôi khi khi đọc các thư về địa vị đệ tử của những người có nhiều vấn đề, chúng ta học được rất nhiều. Có quá nhiều điều để học từ Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, và không nghi ngờ gì rằng nếu chúng ta tiếp tục nghiêm túc trên con đường này, chúng ta sẽ tiếp xúc với Chân sư DK, giáo huấn sẽ được trao, một số lời khuyên sẽ được trao, và điều đó sẽ tạo thuận lợi cho sự tiến bộ trên đường đạo.

[35] Thus you see the value of educating public opinion; it brings the many helpers to the aid of the few visionaries.

[35] Như vậy, các bạn thấy giá trị của việc giáo dục dư luận công chúng; điều đó đưa nhiều người trợ giúp đến hỗ trợ cho một số ít những người có tầm nhìn.

That’s one angle on it, isn’t it? Not just that we get more intelligent voting, which we do, and greater acceptance in the consciousness of humanity, but it actually brings in the helpers. This is important: bringing in the helpers. I remember the very first time I was in Maine, in the United States. I was looking out over the water, and I seem to remember at the back of the book, training in discipleship is offered by the Arcane School, something to that effect, and it really hit me, that amazing, that training should be offered. I became a helper, sometimes, and thus it is, we’re drawn in. He tells us, please use Discipleship in the New Age Volume One to draw people towards the ashram and into the ashram. Maybe Volume Two is a little difficult, or maybe when he wrote that, Volume Two had not yet been created.

Đó là một góc nhìn, phải không? Không chỉ là chúng ta có được việc bầu chọn thông minh hơn, điều chắc chắn xảy ra, và sự chấp nhận lớn hơn trong tâm thức nhân loại, mà nó thực sự đem những người trợ giúp vào. Điều này quan trọng: đem những người trợ giúp vào. Tôi nhớ lần đầu tiên tôi ở Maine, tại Hoa Kỳ. Tôi nhìn ra mặt nước, và dường như nhớ ở cuối sách có câu rằng sự huấn luyện trong địa vị đệ tử được Trường Arcane cung ứng, đại loại như vậy, và điều ấy thật sự chạm mạnh vào tôi, thật kỳ diệu rằng sự huấn luyện lại được cung ứng. Tôi đã trở thành một người trợ giúp, đôi khi, và sự việc là như thế, chúng ta được lôi cuốn vào. Ngài bảo chúng ta hãy dùng Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới Quyển Một để thu hút con người hướng về ashram và vào ashram. Có lẽ Quyển Hai hơi khó, hoặc có lẽ khi Ngài viết điều đó, Quyển Hai chưa được tạo ra.

What a great teaching, and how it flows forth to uplift all of those who are serious about learning it.

Đây là một giáo huấn vĩ đại biết bao, và nó tuôn chảy để nâng cao tất cả những ai nghiêm túc học hỏi nó.

[36] Always the Law holds good;—in descent, differentiation.

[36] Định luật luôn luôn đúng;—trong sự giáng hạ, có sự biến phân.

That’s the emanation theory, isn’t it? There’s so much of emanation theory. One doesn’t know about the past, and maybe one was trained as a Buddhist, but I always thought that emanation made a lot of sense. I didn’t derive my own understanding of it from reading much about it, or maybe anything about it. But I discovered that this is in fact the case. The one become the many, through emanation, which is dissent while preserving the essence, in dissent differentiation. This is one of the major factors exhibited by emanation.

Đó là thuyết xuất lộ, phải không? Có rất nhiều điều thuộc thuyết xuất lộ. Người ta không biết về quá khứ, và có lẽ người ta đã được đào luyện như một Phật tử, nhưng tôi luôn nghĩ rằng xuất lộ rất có lý. Tôi không rút ra sự thấu hiểu của riêng mình về nó từ việc đọc nhiều về nó, hoặc có lẽ chẳng đọc gì về nó. Nhưng tôi khám phá rằng trên thực tế đúng là như vậy. Cái một trở thành cái nhiều, qua sự xuất lộ, tức sự đi xuống trong khi vẫn bảo tồn tinh túy; trong sự đi xuống có sự biến phân. Đây là một trong những yếu tố chính được sự xuất lộ biểu lộ.

[37] The two or three sense the plan intuitively;

[37] Hai hoặc ba người cảm nhận Thiên Cơ bằng trực giác;

There’s Blavatsky, there’s Colonel Olcott, maybe two of them, and then many gathered around them, eventually.

Có Bà Blavatsky, có Đại tá Olcott, có lẽ là hai người ấy, rồi cuối cùng nhiều người tụ họp quanh họ.

[38] then the rhythm they set up with their thought sweeps the mental plane matter into activity; thinkers seize hold of the idea. This is a hard thing to learn and difficult to do but the reward is great.

[38] rồi nhịp điệu mà họ thiết lập bằng tư tưởng của mình cuốn chất liệu cõi trí vào hoạt động; các nhà tư tưởng nắm bắt ý tưởng ấy. Đây là điều khó học và khó làm, nhưng phần thưởng thì lớn lao.

Be a source which will help to gather the helpers. To a degree, we all do this when we declare ourselves and say, this is what I stand for. This is the teaching I’m propagating. Some will resonate to the note of that teaching and be drawn to the light, whatever light we can propagate.

Hãy là một nguồn giúp quy tụ những người trợ giúp. Ở một mức độ nào đó, tất cả chúng ta đều làm điều này khi chúng ta tuyên bố lập trường của mình và nói: đây là điều tôi đại diện. Đây là giáo huấn tôi đang truyền bá. Một số người sẽ cộng hưởng với âm điệu của giáo huấn ấy và được lôi cuốn đến ánh sáng, bất cứ ánh sáng nào chúng ta có thể truyền bá.

[39] To those who wrestle, strive, and hold on,

[39] Đối với những ai vật lộn, phấn đấu và kiên trì,

This is one of those great quotes which is repeated more than once. To those who wrestle, strive and hold on,

Đây là một trong những trích dẫn vĩ đại được lặp lại hơn một lần. Đối với những ai vật lộn, phấn đấu và bám giữ,

[40] the joy is doubled when the materialisation comes.

[40] sự hoan hỉ sẽ được nhân đôi khi sự hiện hình đến.

Here’s the problem though: some prematurely let go. Letting go is great in terms of identification with lesser things or mistaken identity regarding lesser things, confusing the self you are with lesser things—that’s fine. But letting go of the plow when you’re in the field, trying to work in the lower 18 subplanes for the burgeoning of the teaching, planting the seeds and watching them grow. This shows how paradoxes abound: let go and yet don’t let go. It depends on the context.

Tuy nhiên đây là vấn đề: một số người buông tay quá sớm. Buông bỏ là điều tốt đẹp khi liên quan đến sự đồng nhất hóa với những điều thấp kém hơn, hay sự nhận dạng sai lầm đối với những điều thấp kém hơn, lẫn lộn tự ngã mà các bạn là với những điều thấp kém hơn—điều đó thì tốt. Nhưng buông tay khỏi lưỡi cày khi các bạn đang ở ngoài đồng, cố gắng làm việc trong 18 cõi phụ thấp để giáo huấn được nảy nở, gieo hạt và nhìn chúng lớn lên, thì không. Điều này cho thấy các nghịch lý đầy dẫy như thế nào: buông bỏ mà vẫn không buông bỏ. Điều đó tùy thuộc vào ngữ cảnh.

[41] The joy of contrast will be yours, for knowing the past of darkness you will revel in the light of fruition;

[41] Sự hoan hỉ của tương phản sẽ thuộc về các bạn, vì khi biết quá khứ của bóng tối, các bạn sẽ hân hoan trong ánh sáng của thành tựu;

Sometimes we have to bear this past of darkness quite a while, but we must persist and not let go—or should we say, not let go even while letting go. So it’s a dual life.

Đôi khi chúng ta phải chịu đựng quá khứ bóng tối này khá lâu, nhưng chúng ta phải kiên trì và không buông tay—hay có thể nói, không buông tay ngay cả trong khi buông bỏ. Vì vậy đó là một đời sống kép.

[42] the joy of tried and tested companionship will be yours, for years will have proved to you who are your chosen associates, and in community of suffering will come the strengthened link;

[42] sự hoan hỉ của tình đồng hành đã được thử thách và kiểm chứng sẽ thuộc về các bạn, vì năm tháng sẽ chứng minh cho các bạn biết ai là những cộng sự được chọn của mình, và trong cộng đồng của khổ đau, mối dây liên kết sẽ được củng cố;

Master M and KH are linked that way, and Master DK with them, and the members of the Brotherhood linked together finding each other eventually, even though they may have been in many different countries and perhaps not even knowing each other personally. But eventually they will recognize that they’ve been working together on a common project.

Chân sư M. và Chân sư KH được liên kết theo cách ấy, và Chân sư DK với Các Ngài, cùng các thành viên của Huynh đệ Đoàn được liên kết với nhau, cuối cùng tìm thấy nhau, dù họ có thể đã ở nhiều quốc gia khác nhau và có lẽ thậm chí không quen biết nhau về mặt cá nhân. Nhưng cuối cùng họ sẽ nhận ra rằng họ đã cùng làm việc trên một công trình chung.

[43] the joy of peace after victory will be yours,

[43] sự hoan hỉ của bình an sau chiến thắng sẽ thuộc về các bạn,

When you get to be a bit older, some of that is coming through. You really begin to know who are your chosen co-workers for the years. It takes years will have proved to you who are your chosen associates, and in the community of suffering will come the strengthened link.

Khi các bạn lớn tuổi hơn một chút, một phần điều đó bắt đầu đi xuyên qua. Các bạn thật sự bắt đầu biết ai là những cộng sự được chọn của mình qua năm tháng. Năm tháng sẽ chứng minh cho các bạn biết ai là những cộng sự được chọn của mình, và trong cộng đồng đau khổ, mối liên kết sẽ được tăng cường.

What we want to say here is that suffering brings strength. That’s basically what he’s telling us. Certainly, if suffering is wisely used. The joy of peace after victory will be yours.

Điều chúng ta muốn nói ở đây là đau khổ đem lại sức mạnh. Về cơ bản, đó là điều Ngài đang nói với chúng ta. Chắc chắn là như vậy, nếu đau khổ được sử dụng một cách khôn ngoan. Niềm hoan hỉ của sự bình an sau chiến thắng sẽ thuộc về các bạn.

[44] for to the tired warrior the fruits of achievement and rest are doubly sweet; the joy of participation in the Masters’ [Page 369] plan will be yours, and all is well that associates you closely with Them;

[44] vì đối với chiến sĩ mệt mỏi, hoa trái của thành tựu và nghỉ ngơi ngọt ngào gấp đôi; sự hoan hỉ của việc tham dự vào Thiên Cơ của các Chân sư [Page 369] sẽ thuộc về các bạn, và mọi điều gắn kết các bạn mật thiết với Các Ngài đều là tốt đẹp; sự hoan hỉ vì đã

And we remember—I think it’s Master M’s statement—it is a joy to do the Master’s work. This is the promise: the promise of the reward. Maybe it doesn’t touch the personality per se. We’re told to look on and see our life spent for nothing that touches the personality. But then again, as we are slowly realizing that we are not the personality, we don’t care so much, just as long as it touches what we think and know ourselves to be in a higher way.

Và chúng ta nhớ—tôi nghĩ đó là lời của Chân sư M.—làm công việc của Chân sư là một niềm hoan hỉ. Đây là lời hứa: lời hứa về phần thưởng. Có lẽ nó không chạm đến phàm ngã chính nó. Chúng ta được dạy hãy nhìn và thấy đời mình được dùng cho không điều gì chạm đến phàm ngã. Nhưng mặt khác, khi chúng ta chậm rãi nhận ra rằng mình không phải là phàm ngã, chúng ta không còn quá bận tâm, miễn là nó chạm đến điều mà chúng ta nghĩ và biết mình là theo một cách cao hơn.

The joy of having helped—I love this—

Niềm hoan hỉ vì đã giúp đỡ—tôi yêu thích điều này—

and all is well that associates you with them. It comes back to Master Morya. Master Morya’s very declarative statement is basically, must we shout it in your ears, hierarchy, something like that. The joy of having helped

và mọi điều liên kết các bạn với Các Ngài đều tốt đẹp. Điều này quay trở lại Chân sư Morya. Câu tuyên bố rất dứt khoát của Chân sư Morya về cơ bản là: chúng tôi có phải hét vào tai các bạn không, Thánh đoàn, đại loại như thế. Niềm hoan hỉ vì đã giúp đỡ

[45] to solace a needy world, of having brought light to darkened souls, of having healed in some measure the open sore of the world’s distress, will be yours, and in the consciousness of days well spent, and in the gratitude of salvaged souls, comes the deepest joy of all, —the joy a Master knows when He is instrumental in lifting a brother up a little higher on the ladder.

[45] góp phần an ủi một thế giới thiếu thốn, vì đã đem ánh sáng đến cho những linh hồn tối tăm, vì đã chữa lành phần nào vết thương hở của nỗi thống khổ thế gian, sẽ thuộc về các bạn; và trong tâm thức về những ngày đã được dùng tốt, cùng trong lòng biết ơn của những linh hồn được cứu vớt, sự hoan hỉ sâu xa nhất trong tất cả sẽ đến — sự hoan hỉ mà một Chân sư biết khi Ngài là khí cụ nâng một huynh đệ lên cao hơn một chút trên chiếc thang.

It’s so beautiful. The joy a Master knows in the gratitude of salvaged souls, in the consciousness of days well spent. One wishes one could spend days just a little bit better, and sometimes karma enters and you wonder—you’d like to be doing more of this, but concrete things demand attention. But this is so very beautiful somehow. This vision that DK gives as an incentive for all of us. Of course, it’s not so much that we’re interested in these end results. They come naturally when we’re interested in the welfare of, as the Buddhists would say, all sentient beings.

Điều đó đẹp đẽ biết bao. Niềm hoan hỉ mà một Chân sư biết trong lòng biết ơn của các linh hồn được cứu vớt, trong tâm thức về những ngày được dùng một cách tốt đẹp. Người ta ước gì mình có thể dùng ngày tháng chỉ tốt hơn một chút, và đôi khi nghiệp quả xen vào, rồi các bạn tự hỏi—các bạn muốn làm nhiều hơn về điều này, nhưng những việc cụ thể lại đòi hỏi sự chú ý. Nhưng điều này bằng cách nào đó thật đẹp đẽ. Tầm nhìn này mà Chân sư DK trao như một động lực cho tất cả chúng ta. Dĩ nhiên, không hẳn là chúng ta quan tâm đến các kết quả cuối cùng này. Chúng đến một cách tự nhiên khi chúng ta quan tâm đến phúc lợi của, như các Phật tử nói, tất cả chúng sinh hữu tình.

[46] This is the joy that is set before you all—and not so very far ahead it lies.

[46] Đây là sự hoan hỉ được đặt trước tất cả các bạn — và nó không nằm quá xa phía trước.

So basically he’s saying the same thing here:

Về cơ bản, Ngài đang nói cùng một điều ở đây:

[47] So work, not for joy but towards it; not for reward, but from the inner need to help; not for gratitude, but from the urge that comes from having seen the vision and realisation of the part you have to play in bringing that vision down to earth.

[47] Vậy hãy làm việc, không phải sự hoan hỉ mà hướng tới nó; không vì phần thưởng, mà từ nhu cầu bên trong muốn giúp đỡ; không vì lòng biết ơn, mà từ thôi thúc phát sinh do đã thấy tầm nhìn và nhận biết phần việc các bạn phải đảm nhận trong việc đưa tầm nhìn ấy xuống trần gian.

I find this to be a marvelous section for incentive, but He does balance the picture. He’s saying, look, don’t work here for the joyous end in view. Work for the true motive. The true motive is helping, solacing, saving. And then all these other things will be added unto us, and we may enjoy them, but we’re not working towards our own enjoyment. Generally, if we can bring the vision down to earth, I think he’s saying it is a joy to bring the vision down to earth. And certainly we’ve experienced that. After you have served successfully in just even a little part—help bring a little light, little clarity, little enthusiasm, a little liberation from a previous condition—there is a little stream of joy that rises in the heart. Or wherever it rises, it rises.

Tôi thấy đây là một đoạn tuyệt vời để khơi dậy động lực, nhưng Ngài cũng quân bình bức tranh. Ngài đang nói: hãy nhìn xem, đừng làm việc ở đây vì kết cuộc hoan hỉ trước mắt. Hãy làm việc vì động cơ chân chính. Động cơ chân chính là giúp đỡ, an ủi, cứu vớt. Rồi tất cả những điều khác sẽ được thêm vào cho chúng ta, và chúng ta có thể vui hưởng chúng, nhưng chúng ta không làm việc hướng đến sự vui hưởng của chính mình. Nói chung, nếu chúng ta có thể đưa tầm nhìn xuống đất, tôi nghĩ Ngài đang nói rằng việc đưa tầm nhìn xuống đất là một niềm hoan hỉ. Và chắc chắn chúng ta đã kinh nghiệm điều đó. Sau khi các bạn đã phụng sự thành công, dù chỉ trong một phần nhỏ—giúp đem lại một chút ánh sáng, một chút rõ ràng, một chút nhiệt thành, một chút giải thoát khỏi một tình trạng trước đó—có một dòng hoan hỉ nhỏ dâng lên trong tim. Hoặc nó dâng lên ở đâu thì nó cứ dâng lên ở đó.

[48] It is helpful to differentiate between happiness, joy and bliss:

[48] Phân biệt giữa hạnh phúc, sự hoan hỉ và chí phúc là điều hữu ích:

Of course, those of us who are somewhat familiar with the teaching have been quoting this forever. And I guess this is the source of it, to be repeated

Dĩ nhiên, những ai trong chúng ta khá quen thuộc với giáo huấn đã trích dẫn điều này mãi. Và tôi đoán đây là nguồn của nó, để được lặp lại.

[49] First, happiness, which has its seat in the emotions, and is a personality reaction.

[49] Thứ nhất, hạnh phúc, vốn có chỗ trú trong các cảm xúc và là một phản ứng của phàm ngã.

Sometimes the term happiness is used generically and sometimes with great specificity.

Đôi khi thuật ngữ hạnh phúc được dùng một cách tổng quát và đôi khi với sự chuyên biệt rất lớn.

[50] Second, joy, which is a quality of the soul and is realised in the mind, when alignment takes place.

[50] Thứ hai, sự hoan hỉ, vốn là một phẩm tính của linh hồn và được nhận biết trong thể trí khi sự chỉnh hợp diễn ra.

When we’re really aligned with the soul and functioning within the causal body and sustaining that functioning, which is not so easy. Joy is realized in the mind. We should really meditate on these things. It subsumes a kind of happiness, even though from outer appearances, the personality should look to others like it should be unhappy.

Khi chúng ta thật sự chỉnh hợp với linh hồn và hoạt động trong thể nguyên nhân, duy trì hoạt động ấy, điều không hề dễ dàng. Sự hoan hỉ được nhận ra trong thể trí. Chúng ta thật sự nên tham thiền về những điều này. Nó bao hàm một loại hạnh phúc, dù xét theo vẻ ngoài, phàm ngã có thể trông như lẽ ra phải bất hạnh trước mắt người khác.

[51] Third, bliss, which is the nature of the Spirit and about which speculation is fruitless until the soul realises its oneness with the Father.

[51] Thứ ba, chí phúc, vốn là bản chất của Tinh thần, và mọi suy đoán về nó đều vô ích cho đến khi linh hồn nhận biết sự hợp nhất của mình với Cha.

We know the words bliss and the Father. Let’s put bliss and oneness here, and happiness over here as the fulfillment of one aspect of the lower life, or maybe even personality success within a limited context. And yet there must be more. It will always come the realization that there must be more.

Chúng ta biết các từ chí phúc và Cha. Hãy đặt chí phúc và sự hợp nhất ở đây, còn hạnh phúc ở bên kia như sự hoàn thành của một phương diện của đời sống thấp, hoặc có lẽ ngay cả thành công của phàm ngã trong một bối cảnh giới hạn. Nhưng vẫn phải có nhiều hơn nữa. Sự nhận ra rằng phải có nhiều hơn nữa sẽ luôn đến.

Bliss, oneness, and indestructibility as a being with that and an immense future, which in a way already forever exists, which is a paradox. I sometimes say to myself, every being is absolute infinity, essentially. What are the implications of that and more? Because absolute articulated infinity is somehow less than absoluteness, which is unarticulated. By articulation, I mean the divisions of the many into many within the one.

Chí phúc, sự hợp nhất và tính bất hoại như một hữu thể với điều đó và một tương lai bao la, theo một nghĩa nào đó đã hiện hữu mãi mãi, điều là một nghịch lý. Đôi khi tôi tự nói với mình: về bản chất, mỗi hữu thể là vô hạn tuyệt đối. Các hàm ý của điều đó là gì, và còn gì hơn nữa? Bởi vì vô hạn tuyệt đối đã được phân tiết bằng cách nào đó vẫn kém hơn tính tuyệt đối chưa phân tiết. Bằng phân tiết, tôi muốn nói đến các phân chia của cái nhiều thành nhiều trong cái một.

[52] This realisation follows upon an earlier stage wherein the personal self is at-oned with the soul.

[52] Sự nhận biết này theo sau một giai đoạn trước đó, trong đó bản ngã cá nhân được hợp nhất với linh hồn.

At-one-ment with the soul is a precursor to the realization of oneness.

Sự hợp nhất với linh hồn là tiền đề cho sự nhận ra tính hợp nhất.

[53] Therefore speculation and analysis as to the nature of bliss is profitless to the average man whose metaphors and terminologies must perforce be personal and related to the world of the senses. Does the aspirant refer to his happiness or joy?

[53] Vì vậy, sự suy đoán và phân tích về bản chất của chí phúc là vô ích đối với người bình thường, người mà các ẩn dụ và thuật ngữ của y tất yếu phải mang tính cá nhân và liên hệ với thế giới của giác quan. Người chí nguyện đang nói đến hạnh phúc hay sự hoan hỉ của mình?

If we’re being specific, we’ll have to refer to one or the other. Sometimes in Agni Yoga, Master Morya says that if the average man or the person who knows nothing about the yoga asks you why you practice the yoga, you tell him that you may be happy.

Nếu chúng ta nói một cách chuyên biệt, chúng ta sẽ phải nói đến điều này hay điều kia. Đôi khi trong Agni Yoga, Chân sư Morya nói rằng nếu người bình thường, hay người không biết gì về yoga, hỏi các bạn vì sao thực hành yoga, các bạn hãy nói với y rằng để các bạn có thể hạnh phúc.

[54] If he refers to the latter it must come as the effect of group consciousness, of group solidarity, of oneness with all beings, and may not be interpreted in terms of happiness after all.

[54] Nếu y nói đến điều sau, thì nó phải đến như hiệu quả của tâm thức nhóm, của sự đoàn kết nhóm, của sự hợp nhất với mọi hữu thể, và rốt cuộc không thể diễn giải nó theo các thuật ngữ của hạnh phúc.

Normal personal well-being. Joy requires group consciousness.

Sự an vui cá nhân bình thường. Sự hoan hỉ đòi hỏi tâm thức nhóm.

[55] Happiness comes when the personality is meeting with those conditions which satisfy it in one part or other of its lower nature;

[55] Hạnh phúc đến khi phàm ngã gặp những điều kiện làm nó thỏa mãn ở phần này hay phần khác của bản chất thấp nơi nó;

As I say, it’s partial.

Như tôi nói, nó có tính từng phần.

[56] it comes when there is a sense of physical [Page 370] well being, of contentment with one’s environment or surrounding personalities, or of satisfaction with one’s mental opportunities and contacts. Happiness is the goal of the separated self.

[56] nó đến khi có cảm thức về sự an ổn hồng trần [Page 370], về sự mãn nguyện với môi trường hay với các phàm ngã chung quanh, hoặc về sự thỏa mãn với các cơ hội và tiếp xúc trí tuệ của mình. Hạnh phúc là mục tiêu của cái ngã tách biệt.

If we’re being technically accurate about it, not using it in the generic sense, you can use illusion, glamour, and maya in general senses as well as in specific senses. We’re getting near the end here, and right now we’re on page 370. It’s very clear what we’re going to be continuing with.

Nếu chúng ta nói chính xác về mặt kỹ thuật, chứ không dùng nó theo nghĩa tổng quát, các bạn cũng có thể dùng ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực theo nghĩa tổng quát cũng như theo nghĩa chuyên biệt. Chúng ta sắp đến cuối ở đây, và hiện đang ở trang 370. Rất rõ ràng chúng ta sẽ tiếp tục với điều gì.

Let’s call this program to an end. I always like to go on, but duties call, and also it does seem easier for many people to assimilate a one-hour program than to go with some of those five-hour programs I was once making. This is the end, and it has been pages 366 to 370, and we’re dealing with the 3rd of September.

Hãy kết thúc chương trình này ở đây. Tôi luôn thích tiếp tục, nhưng các bổn phận đang gọi, và dường như cũng dễ hơn cho nhiều người khi tiếp thu một chương trình một giờ hơn là theo một số chương trình năm giờ mà tôi từng làm. Đây là phần kết, và nó đã đi từ trang 366 đến 370; chúng ta đang làm việc với ngày 3 tháng Chín.

The next one is going to be number 41. Sometimes I miss here, and we’re going to start from 370 and go forward. It’s going to be the 25th program in rule 10. Can you imagine? Heavens.

Phần kế tiếp sẽ là số 41. Đôi khi tôi bỏ sót ở đây, và chúng ta sẽ bắt đầu từ trang 370 rồi tiến tới. Đó sẽ là chương trình thứ 25 trong quy luật 10. Các bạn có thể tưởng tượng không? Trời ơi.

I’m telling you I can’t save, and I’m just going to hope that I have succeeded in saving a little. I’m going to create a White Magic video commentary—3, 9, 18, 28—yep, we’re good. It’s just that it’s such a big file, the entire book plus whatever I’m writing in here, and it doesn’t save so easily.

Tôi nói với các bạn rằng tôi không thể lưu lại, và tôi chỉ hy vọng mình đã lưu được một chút. Tôi sẽ tạo một video bình giảng về Hiuye62n Thuật Chánh Đạo—3, 9, 18, 28—vâng, chúng ta ổn. Chỉ là tập tin quá lớn, cả quyển sách cộng với bất cứ điều gì tôi đang viết ở đây, nên nó không lưu dễ dàng.

We’ll go on to the 25th program, which is really the 41st program for the rules of magic on the astral plane. Certainly we get the sense that we’re being very well and practically instructed in transforming our personalities so we become an effective unit in helping to bring the Divine Plan into expression, however small that expression may be when dealing with our own limited capabilities.

Chúng ta sẽ tiếp tục với chương trình thứ 25, thật ra là chương trình thứ 41 cho các quy luật huyền thuật trên cõi cảm dục. Chắc chắn chúng ta có cảm nhận rằng mình đang được chỉ dạy rất tốt và rất thực tiễn trong việc chuyển đổi phàm ngã của mình để trở thành một đơn vị hữu hiệu trong việc giúp đưa Thiên Cơ vào biểu hiện, dù biểu hiện ấy có thể nhỏ bé đến đâu khi xét đến những khả năng giới hạn của chính chúng ta.

We’ll move on as best we can and study hard. Love and many blessings.

Chúng ta sẽ tiếp tục hết sức mình và học tập chăm chỉ. Tình thương và nhiều ân phúc.

Leave a Comment

Scroll to Top