Astral Rule Webinar 39
Tóm Tắt
Tóm tắt Webinar: Commentary 39-Astral-Plane-10.23_tagged
Ngày tạo: 02/06/2026 | Model: gpt-5.4 | Tier 5 | Glossary: Glossary_full.txt
Cấu trúc các trung tâm và sự quay đồng bộ
Thầy MDR mở đầu bằng việc giải thích khi một trung tâm được tiếp sinh lực thì luôn có sự tiếp sinh lực tương ứng nơi trung tâm đầu tương đồng, liên hệ điều này với bảy trung tâm đầu do Vulcan cai quản, tương tự như bảy sao chính của Đại Hùng Tinh cai quản bảy trung tâm đầu của Đấng Bất Khả Tư Nghị theo Chân sư DK. Thầy nhấn mạnh giai đoạn tiến hóa cao hơn, đặc biệt từ lần điểm đạo thứ ba trở đi, là lúc bảy trung tâm trong thể và bảy trung tâm trong đầu “quay đồng bộ”, và liên hệ điều này với Quy luật Tám cho các ứng viên. Thầy MDR lưu ý chi tiết giải phẫu dĩ thái này rất phức tạp, có thể bao gồm một chuỗi trung tâm quanh ajna, thậm chí gợi ý mô hình 21 cộng 1 trung tâm như một cấu trúc huyền bí sâu hơn.
Ba trung tâm chính và vấn đề bốn trung tâm phụ
Đoạn văn về việc bốn trung tâm phụ quy về ba trung tâm chính được Thầy MDR khai triển bằng câu hỏi: bốn trung tâm phụ gồm tim hay gồm lá lách, tùng thái dương, xương cùng và đáy cột sống. Từ đó Thầy phân tích ba trung tâm chính là đầu, tim và cổ họng như các tiêu điểm của ba loại chân thần cung một, cung hai và cung ba. Thầy MDR nhận xét chưa hoàn toàn chắc chắn ba trung tâm đầu chính là những trung tâm nào trong đầu: có thể là vương miện, ajna và alta major, hoặc là ba trung tâm ở cấp cao hơn bên trong cấu trúc đầu. Thầy đề xuất tạm giữ thái độ mở, vì đây là lĩnh vực giải phẫu và sinh lý học dĩ thái rất tinh vi.
Giá trị của tri thức kỹ thuật và sự rèn luyện thể trí
Thầy MDR đặc biệt nhấn mạnh lời Chân sư DK rằng phần trình bày này chỉ là “A B C của huyền bí học”, và người học không nên né tránh tính kỹ thuật của giáo lý vì sự lười biếng trí tuệ. Thầy phân tích rằng cung ba hỗ trợ ghi nhớ còn cung năm, dưới Định luật Cố Kết, đem lại sự rõ ràng về cấu trúc, nên phối hợp cung ba và cung năm sẽ tạo năng lực ghi nhớ chính xác. Thầy MDR phê bình xu hướng của một số đệ tử thiên về thần bí học thuần cảm xúc, cho rằng không cần chi tiết kỹ thuật, và lưu ý rằng chính Chân sư DK đang giảng dạy trong ashram của Chân sư KH nên không thể đối lập giả tạo giữa hai đường lối. Theo Thầy, điều cần thiết là sự hoạt hóa cân bằng mọi hiện thể, chứ không phải đề cao “mặt sự sống” để che giấu sự trì trệ của thể trí.
Thái độ đúng đối với giả thuyết huyền môn
Thầy MDR ghi nhận Chân sư DK không giáo điều mà chỉ đưa ra thông tin để tương lai xác chứng, do đó người học cần kiên nhẫn, giữ dè dặt, chấp nhận giới hạn của bộ não hồng trần và cả não dĩ thái. Thầy lưu ý các giả thuyết này nên được chấp nhận nếu trực giác không phản đối và nếu không mâu thuẫn với giáo huấn trước đây của các sứ giả chân chính của Thánh đoàn. Thầy MDR nhận xét đây là điểm rất khác với thái độ tôn giáo giáo điều, nơi những giới hạn nhất thời lại bị xem là toàn bộ chân lý. Thầy còn chia sẻ kinh nghiệm cá nhân đang tranh luận với một người bạn rất thông minh nhưng bác bỏ giáo lý này từ lập trường trí cụ thể phương Tây, qua đó nhấn mạnh đức tính nhẫn nại của nhà huyền bí học chân chính.
Tính học thuật của tri thức vũ trụ và giới hạn kinh nghiệm con người
Thầy MDR đồng ý với Chân sư DK rằng các chi tiết về các cõi vũ trụ hiện chỉ có giá trị học thuật dưới định luật tương đồng, vì ngay cả các điểm đạo đồ cũng hầu như chưa biết gì thực tế ngoài cõi hồng trần vũ trụ. Thầy suy luận rằng Chân sư DK đang nói từ góc nhìn của các chân sư, những Đấng đang nỗ lực vượt qua giới hạn hành tinh để đạt tri thức và sự sống thái dương. Thầy nêu những suy đoán về điểm đạo bậc bảy, bậc tám và bậc chín liên hệ với cõi cảm dục vũ trụ, Con đường tới Sirius và chu kỳ cực dài của hệ mặt trời, nhưng luôn nhấn mạnh đây chỉ là suy luận tương ứng chứ chưa phải tri thức kinh nghiệm. Theo Thầy, giá trị chính của các suy tưởng này là mở rộng cảm thức tổng hợp chứ không phải cung cấp tri thức thực hành ngay lập tức.
Tim Mặt Trời, Mặt trời vật lý và Mặt trời Tinh thần Trung Ương
Thầy MDR dừng lâu ở ba phát biểu: trung tâm tim mở cửa vào “tim của Mặt Trời”, trung tâm cổ họng mở đường tới sự hiểu biết trọn vẹn về con đường của Mặt trời vật lý, và trung tâm đầu mở đường tới Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Về “tim của Mặt Trời”, Thầy nêu nhiều khả năng: thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế, một biểu hiện chủ quan trên cõi cảm dục vũ trụ, hoặc một biểu hiện dĩ thái của năng lượng tim thái dương trên mức chân thần của cõi hồng trần vũ trụ. Thầy giải thích “con đường của Mặt trời vật lý” có thể liên quan tới phương diện phàm ngã của Thái dương Thượng đế và 18 cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ, trong khi Mặt trời Tinh thần Trung Ương tương ứng với bản chất chân thần của Thái dương Thượng đế. Thầy MDR nhận xét các mối liên hệ này giúp truy nguyên từ trung tâm thấp lên trung tâm cao, dù con người hiện chưa thể nói gì chắc chắn về các cõi vũ trụ ấy.
Chiêm tinh học và trung tâm cổ họng
Thầy MDR nhấn mạnh câu “mọi nhà chiêm tinh chân chính cuối cùng đều phải có trung tâm cổ họng hoạt động”, và giải thích điều này bằng tính chất cung ba của chiêm tinh học. Theo Thầy, chiêm tinh học chân chính khởi đầu trên tuyến cung ba vì liên quan đến trí tuệ cấu trúc, mô hình và tương quan, dù Chân sư DK đã truyền vào đó rất nhiều phương diện linh hồn. Thầy lưu ý chiêm tinh học của Chân sư DK không chỉ là chiêm tinh của phàm ngã mà là chiêm tinh của linh hồn. Vì vậy, sự phát triển trung tâm cổ họng không chỉ là năng lực diễn đạt mà còn là khả năng hiểu mô hình biểu hiện của Thiên Cơ trong hình tướng.
Tính tổng hợp và sự vượt thắng Đại Tà thuyết về chia rẽ
Thầy MDR cho rằng giá trị lớn nhất của các giáo lý tưởng như xa vời là khẳng định tính tổng hợp của Thiên Cơ và việc đơn vị nhỏ nhất vẫn là phần bất khả phân của toàn thể. Thầy nhấn mạnh câu năng lượng là “một lưu chất sự sống” tuần hoàn khắp toàn thân của Thượng đế và tiếp sinh lực cho cả nguyên tử nhỏ nhất. Theo Thầy, chính cảm thức về sự liên hệ phổ quát này giúp chống lại Đại Tà thuyết về chia rẽ, điều Thầy gọi là lạc giáo thật sự duy nhất. Thầy MDR nhận xét khi cảm được sự thống nhất thiêng liêng của mọi sự sống, con người tiến rất xa trên con đường biểu lộ tinh thần chân chính.
Không nên sa đà vào cõi cảm dục vũ trụ
Thầy MDR đồng tình với lời cảnh báo rằng thật lãng phí thời gian nếu suy tưởng quá sâu về cõi cảm dục vũ trụ khi ngay cả cõi của chân ngã trên cõi trí cao vẫn chưa thể tiếp cận đối với người bình thường. Thầy nói có thể sử dụng các biểu đồ huyền môn, kể cả những sơ đồ gần đây do Tuija dựng lại, để nắm các mối liên hệ và quy mô của cấu trúc vũ trụ, nhưng không nên truy cầu chi tiết vô ích. Theo Thầy, ngay cả khi suy luận đúng về những tam giác, các tầng hay các phát xạ từ Đại Hùng Tinh, ta vẫn không dùng được chúng theo nghĩa thực hành, ngoài việc tăng cảm thức về sự hùng vĩ và tính không chia cắt của toàn thể. Thầy MDR đề xuất chỉ nên đi xa tới mức giúp tăng tổng hợp, rồi quay về công việc thực tế là phát triển tâm thức.
Ba phương diện của trí năng con người
Thầy MDR trình bày kỹ đoạn Chân sư DK phân biệt trí cụ thể, trí trừu tượng và trực giác hay lý trí thuần túy như ba cách thức để con người nắm bắt Vũ Trụ Trí. Thầy giải thích trí cụ thể là năng lực xây dựng hình tướng, đúng với mệnh đề cổ điển “hình tư tưởng là sự vật”; trí trừu tượng là năng lực xây dựng mô hình hay bản thiết kế; còn trực giác cho phép tiếp xúc với Vũ Trụ Trí, nắm Thiên Cơ một cách tổng hợp và chạm đến các ý tưởng thiêng liêng. Thầy MDR nhận xét còn có thể giả định một “trí atma” cao hơn nữa, liên hệ với cõi atma và chỉ thực sự thuộc phạm vi hiểu biết của bậc chân sư từ lần điểm đạo thứ năm. Tuy vậy, đối với người học hiện nay, điều thực tiễn nhất vẫn là xây dựng antahkarana một cách bền bỉ để bắt đầu nhận các ấn tượng cao hơn.
Công việc của người chí nguyện với trí năng
Thầy MDR xem mục tiêu công việc của người chí nguyện là học cách hiểu và sử dụng những phương diện của trí năng mà mình phải làm việc cùng. Bước thứ nhất là học tư duy, khám phá mình có một bộ máy gọi là trí và nhận ra các năng lực tiềm ẩn của nó; Thầy liên hệ điều này với các lời khuyên trong Luận về Chánh Thuật và với hai quyển đầu của Yoga Sutras của Patanjali. Bước thứ hai là lùi ra sau tiến trình tư tưởng và khuynh hướng xây dựng hình tư tưởng để khám phá những ý tưởng nằm sau hình tư tưởng thiêng liêng của tiến trình thế giới, từ đó hợp tác với Thiên Cơ thay vì theo đuổi hình tư tưởng cá nhân. Thầy MDR nhận xét ở đây trí trừu tượng và trực giác bắt đầu phối hợp: trí trừu tượng nắm bản thiết kế, còn trực giác tiếp cận ý tưởng vô tướng chân thật.
Từ kẻ sùng bái hình tướng đến nhà lý tưởng thiêng liêng
Thầy MDR đặc biệt thích đoạn người chí nguyện từ chỗ là kẻ thờ phụng ngẫu tượng trở thành “nhà lý tưởng thiêng liêng”, rồi tiến xa hơn nữa. Thầy giải thích “ngẫu tượng” là bám vào hình tướng bên ngoài mà không hiểu giá trị biểu tượng của nó; “lý tưởng” là bước nâng lên của trí trừu tượng; còn “ý tưởng” là chân lý trực giác cao hơn. Thầy MDR nhận xét đây là một bộ ba rất quan trọng: idol, ideal, idea, cho thấy tiến trình đi từ vật thể hữu hình đến mẫu hình trí tuệ rồi tới thực tại ý niệm thiêng liêng. Theo Thầy, đây là một trong những đoạn rất hay của Chân sư DK về sự khác nhau giữa tôn sùng hình thức và nhận biết nguyên mẫu.
Tiến vào cõi trực giác và “tâm trí của Thượng đế”
Thầy MDR cho rằng khi người chí nguyện tiến sâu hơn từ lý tưởng đã phát triển, người ấy bước vào cõi trực giác, “chạm vào chân lý tại nguồn”, và điều này tối thiểu phải là sự tiếp xúc Bồ đề. Thầy giải thích câu “bước vào tâm trí của chính Thượng đế” dường như hàm ý rằng tâm trí siêu việt thật sự bắt đầu từ cõi Bồ đề trở lên. Những “tư tưởng thiêng liêng” làm phong phú trí người học rồi dần được diễn dịch thành các trực giác, ý tưởng hay lý tưởng để làm nền tảng cho công việc và hành xử. Thầy MDR lưu ý chỉ kinh nghiệm thực tế mới khiến các thuật ngữ này có nghĩa, nên lời khuyên cuối cùng của Thầy là hãy thực hành, xây dựng antahkarana và sống theo Ý Chí của Thượng Đế như nó biểu lộ qua Thiên Cơ.
Webinar Program 39 – Rule 10.23
|
[1] Remember always that in the vivification of a centre there is always a corresponding vitalisation of the analogous head centre, [2] till eventually the seven centres in the body and the seven centres in the head rotate in unison. [3] Remember also that just as the four minor rays pass into the three major rays, so the four minor centres carry on the correspondence and pass into pralaya, finding their focal point in the throat centre. [4] Thus you will have the three centres—head, heart and [5] throat—carrying the inner fire, with the three major head centres vibrating in unison also. |
[1] Hãy luôn nhớ rằng trong việc làm sống động một trung tâm, luôn có một sự tiếp sinh lực tương ứng nơi trung tâm đầu tương đồng, [2] cho đến cuối cùng bảy trung tâm trong thể xác và bảy trung tâm trong đầu cùng xoay chuyển trong sự hòa điệu. [3] Cũng hãy nhớ rằng, cũng như bốn cung thứ yếu đi vào ba cung chính, thì bốn trung tâm thứ yếu cũng tiếp tục sự tương ứng ấy và đi vào Giai kỳ qui nguyên, tìm thấy điểm tập trung của chúng nơi trung tâm cổ họng. [4] Như vậy, các bạn sẽ có ba trung tâm—đầu, tim và [5] cổ họng—mang lửa nội tại, đồng thời ba trung tâm chính trong đầu cũng rung động trong sự hòa điệu. |
|
[6] I realise that this is all intricate and technical. [7] It has its place and value however, and much that here is communicated will find its usefulness when you are all passed over to the other side and a fresh band of aspirants will follow in your footsteps. [8] The training of the mental body has a value, and many evade such technicalities, hiding behind an emphasis upon the life side of truth, all due to an inherent mental laziness. [9] This that you now receive is but the A. B. C. of esotericism. [10] Waste not time however in too detailed deduction. All that is now possible is a broad general outline, [11] patient reserve, a willingness to recognise physical brain limitations and the accepting of an hypothesis. [12] Believe these hypotheses possible unless your intuition revolts or they are contradicted [Page 364] by past teaching given by other of the Lodge’s Messengers. [13] I do not dogmatise to you. [14] I only in these instructions give you certain information, —the correctness of which I leave the future to demonstrate. [15] I simply ask that you make record and in the coming years much that may now seem peculiar or mayhap even contradictory will be elucidated, slowly unravelled, and more easily comprehended. [16] A little knowledge leads to much confusion unless laid aside for future use when the years of instruction have increased the store. |
[6] Tôi nhận ra rằng tất cả điều này đều phức tạp và kỹ thuật. [7] Tuy nhiên, nó có vị trí và giá trị của nó, và nhiều điều được truyền đạt ở đây sẽ tỏ ra hữu dụng khi tất cả các bạn đã đi sang phía bên kia và một đoàn người chí nguyện mới sẽ bước theo dấu chân các bạn. [8] Việc huấn luyện thể trí có giá trị, và nhiều người né tránh những điều kỹ thuật như thế, ẩn mình sau sự nhấn mạnh vào phương diện sự sống của chân lý; tất cả đều do một sự lười biếng trí tuệ cố hữu. [9] Những gì các bạn hiện đang nhận được chỉ là những điều vỡ lòng của huyền bí học. [10] Tuy nhiên, đừng lãng phí thời gian vào sự suy diễn quá chi tiết. Tất cả những gì hiện nay có thể làm chỉ là một phác họa tổng quát rộng rãi, [11] một sự dè dặt kiên nhẫn, một thiện chí nhận biết các giới hạn của bộ não hồng trần và sự chấp nhận một giả thuyết. [12] Hãy tin rằng những giả thuyết này có thể đúng, trừ khi trực giác của các bạn phản kháng hoặc chúng mâu thuẫn [Page 364] với giáo huấn trước đây do các Sứ giả khác của Thánh đoàn trao truyền. [13] Tôi không áp đặt giáo điều cho các bạn. [14] Trong các huấn thị này, tôi chỉ trao cho các bạn một số thông tin nhất định,—tính đúng đắn của chúng, tôi để tương lai chứng minh. [15] Tôi chỉ xin các bạn ghi chép lại, và trong những năm sắp tới, nhiều điều hiện nay có thể có vẻ kỳ lạ hoặc có lẽ thậm chí mâu thuẫn sẽ được làm sáng tỏ, được tháo gỡ từ từ, và được thấu hiểu dễ dàng hơn. [16] Một ít tri thức sẽ dẫn đến nhiều rối rắm, trừ khi nó được gác lại để dùng trong tương lai, khi những năm tháng huấn luyện đã làm tăng thêm kho tàng ấy. |
|
[17] To return to our theme: —The heart centre in man opens the door into what is called “the heart of the Sun.” [18] The throat centre opens the way into full understanding of the path of the physical Sun [19] and all true astrologers must eventually have that centre functioning. [20] The head centre opens the way to the central spiritual Sun, each passing, via the planetary correspondence, to one of the cosmic planes. |
[17] Trở lại chủ đề của chúng ta:—Trung tâm tim nơi con người mở cánh cửa vào điều được gọi là “trái tim của Mặt Trời.” [18] Trung tâm cổ họng mở con đường đưa đến sự thấu hiểu trọn vẹn về con đường của Mặt Trời hồng trần, [19] và cuối cùng mọi nhà chiêm tinh chân chính đều phải có trung tâm ấy hoạt động. [20] Trung tâm đầu mở con đường đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương, mỗi trung tâm đi qua sự tương ứng hành tinh để đến một trong các cõi vũ trụ. |
|
[21] Thus we have a summation of technicalities, and of facts, which are (under the Law of Analogy) of purely academic interest and no more. [22] Even those of us who are initiate know practically nothing of the cosmic planes beyond the cosmic physical. [23] Our consciousness is only beginning to be solar, [24] and we are labouring in our small measure to overcome those planetary limitations which hold us back from solar knowledge and life. [25] For aspirants who have not even a knowledge of what planetary consciousness signifies, the above information has only one value and that is, that it emphasises the synthetic nature of the great plan and the fact that the smallest unit is an integral part of the whole. [26] It enforces the idea that energy is a life fluid circulating throughout the entire body of the Logos, and vivifying therefore even the tiniest atom in that whole. [27] It is valuable to endeavour to grasp the picture and to vision the wonder of what is transpiring. [28] It is waste of time, nevertheless, to [Page 365] ponder upon the cosmic astral plane, for instance, when even the plane of the ego (the fifth subplane of the cosmic physical plane, counting from above downwards) is as yet inaccessible to the average man and is the goal for all his aspiration and meditation. |
[21] Như vậy, chúng ta có một sự tổng kết các điểm kỹ thuật và các sự kiện, vốn—dưới Định luật Tương đồng—chỉ có giá trị học thuật thuần túy, không hơn. [22] Ngay cả những người trong chúng tôi là điểm đạo đồ cũng hầu như không biết gì về các cõi vũ trụ vượt ngoài cõi hồng trần vũ trụ. [23] Tâm thức của chúng tôi chỉ mới bắt đầu mang tính thái dương, [24] và trong mức độ nhỏ bé của mình, chúng tôi đang nỗ lực vượt qua những giới hạn hành tinh vốn kìm giữ chúng tôi khỏi tri thức và sự sống thái dương. [25] Đối với những người chí nguyện thậm chí chưa có tri thức về ý nghĩa của tâm thức hành tinh, thông tin trên chỉ có một giá trị, đó là nó nhấn mạnh bản chất tổng hợp của Thiên Cơ vĩ đại và sự kiện rằng đơn vị nhỏ bé nhất là một phần không thể tách rời của toàn thể. [26] Nó củng cố ý tưởng rằng năng lượng là một lưu chất sự sống lưu chuyển khắp toàn bộ thể của Thượng đế, và do đó tiếp sinh lực ngay cả cho nguyên tử nhỏ bé nhất trong toàn thể ấy. [27] Nỗ lực nắm bắt bức tranh ấy và hình dung sự kỳ diệu của những gì đang diễn ra là điều có giá trị. [28] Tuy nhiên, thật lãng phí thời gian khi [Page 365] suy tưởng về cõi cảm dục vũ trụ, chẳng hạn, trong khi ngay cả cõi của chân ngã—cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần vũ trụ, tính từ trên xuống dưới—đến nay vẫn còn bất khả tiếp cận đối với người bình thường và là mục tiêu của toàn bộ khát vọng cùng tham thiền của y. |
|
[29] For man, therefore, the Universal Mind can best be grasped as it expresses itself through what we call the concrete mind, the abstract mind, and the intuition or pure reason. |
[29] Vì vậy, đối với con người, Vũ Trụ Trí có thể được nắm bắt rõ nhất khi nó biểu lộ qua điều chúng ta gọi là trí cụ thể, trí trừu tượng, và trực giác hay lý trí thuần khiết. |
|
[30] The concrete mind is the form building faculty. Thoughts are things. [31] The abstract mind is the pattern building faculty, [32] or the mind which works with the blue prints upon which the forms are modelled. [33] The intuition or pure reason is the faculty which enables man to enter into contact with the Universal Mind and grasp the plan synthetically, to seize upon divine Ideas or isolate some fundamental and pure truth. |
[30] Trí cụ thể là năng lực kiến tạo hình tướng. Tư tưởng là những thực thể. [31] Trí trừu tượng là năng lực kiến tạo mô hình, [32] hay là thể trí làm việc với các bản thiết kế mà theo đó các hình tướng được tạo mẫu. [33] Trực giác hay lý trí thuần khiết là năng lực giúp con người đi vào tiếp xúc với Vũ Trụ Trí và nắm bắt Thiên Cơ một cách tổng hợp, nắm lấy các Ý Tưởng thiêng liêng hoặc tách ra một chân lý căn bản và tinh thuần nào đó. |
|
[34] The goal of all the work of an aspirant is to understand those aspects of the mind with which he has to learn to work. His work therefore might be summed up as follows: |
[34] Mục tiêu của toàn bộ công việc của một người chí nguyện là thấu hiểu những phương diện của trí tuệ mà y phải học cách vận dụng. Vì vậy, công việc của y có thể được tóm lược như sau: |
|
[35] 1. He has to learn to think; [36] to discover that he has an apparatus which is called the mind and to uncover its faculties and powers. [37] These have been well analysed for us in the first two books of the Yoga Sutras of Patanjali. |
[35] 1. Y phải học cách suy nghĩ; [36] khám phá rằng y có một bộ máy được gọi là thể trí, và khai mở các năng lực cùng quyền năng của nó. [37] Những điều này đã được phân tích kỹ lưỡng cho chúng ta trong hai quyển đầu của Kinh Du-già của Patanjali. |
|
[38] 2. He has to learn next to get back of his thought processes and form building propensities and discover the ideas which underlie the divine thought-form, the world process, and so learn to work in collaboration with the plan and subordinate his own thought-form building to these ideas. [39] He has to learn to penetrate into the world of these divine ideas [40] and to study the “pattern of things in the Heavens” as it is called in the Bible. [41] He [Page 366] must begin to work with the blue prints upon which all that is, is modelled and moulded. [42] He becomes then a student-symbolist, and from being an idolater [43] he becomes a divine idealist. [44] I use these words in their true sense and connotation. |
[38] 2. Kế đến, y phải học cách đi ra phía sau các tiến trình tư tưởng và các khuynh hướng kiến tạo hình tướng của mình, rồi khám phá những ý tưởng nằm bên dưới hình tư tưởng thiêng liêng, tiến trình thế giới, và nhờ vậy học cách làm việc trong sự cộng tác với Thiên Cơ, đồng thời đặt việc kiến tạo hình tư tưởng của chính mình dưới sự chi phối của các ý tưởng ấy. [39] Y phải học cách thâm nhập vào thế giới của những ý tưởng thiêng liêng này [40] và nghiên cứu “khuôn mẫu của muôn vật trên các tầng trời,” như cách gọi trong Kinh Thánh. [41] Y [Page 366] phải bắt đầu làm việc với các bản thiết kế mà theo đó tất cả những gì hiện hữu được tạo mẫu và uốn nắn. [42] Bấy giờ y trở thành một đạo sinh-biểu tượng gia, và từ một người thờ ngẫu tượng, [43] y trở thành một nhà lý tưởng thiêng liêng. [44] Tôi dùng những từ này theo ý nghĩa và hàm nghĩa đích thực của chúng. |
|
[45] 3. From that developed idealism, he must progress [46] even deeper still, until he enters the realm of pure intuition. [47] He can then tap truth at its source. [48] He enters into the mind of God Himself. [49] He intuits as well as idealises and is sensitive to divine thoughts. [50] They fertilise his mind. He calls these intuitions later, as he works them out, ideas or ideals, and bases all his work and conduct of affairs upon them. |
[45] 3. Từ chủ nghĩa lý tưởng đã phát triển ấy, y phải tiến [46] sâu hơn nữa, cho đến khi y bước vào lĩnh vực của trực giác thuần khiết. [47] Khi đó y có thể chạm đến chân lý ngay tại cội nguồn của nó. [48] Y đi vào Trí của chính Thượng đế. [49] Y trực nhận cũng như lý tưởng hóa, và trở nên nhạy bén với các tư tưởng thiêng liêng. [50] Những tư tưởng ấy làm phong nhiêu thể trí của y. Về sau, khi triển khai chúng, y gọi những trực nhận này là các ý tưởng hay lý tưởng, và đặt nền tảng cho toàn bộ công việc cùng cách điều hành sự vụ của mình trên chúng. |
Program-39-Astral-Plane-Rule-X-10.23 |
|
|
Hello friends, we are continuing now with our video commentaries for A Treatise on White Magic, Rules for the astral plane. We are beginning on page 363, looks like. I don’t know where we left off before, maybe 350. Yeah, we left off at that point. |
Các bạn thân mến, chúng ta tiếp tục các bài bình giảng video về Luận về Chánh Thuật, các Quy Luật dành cho cõi cảm dục. Có lẽ chúng ta bắt đầu ở trang 363. Tôi không biết trước đây chúng ta dừng ở đâu, có lẽ trang 350. Đúng vậy, chúng ta đã dừng ở điểm đó. |
|
This is commentary number 39 and commentary number 23 when it comes to that mammoth rule 10. Just a little overlap here: |
Đây là bài bình giảng số 39, và là bài bình giảng số 23 khi đề cập đến quy luật 10 đồ sộ ấy. Ở đây có một chút phần chồng lấn: |
|
[1] Remember always that in the vivification of a centre there is always a corresponding vitalisation of the analogous head centre, |
[1] Hãy luôn nhớ rằng trong việc làm sống động một trung tâm, luôn có một sự tiếp sinh lực tương ứng nơi trung tâm đầu tương đồng, |
|
The seven of them ruled by Vulcan, just the way the One About Whom Naught May Be Said—the Tibetan tells us that the seven major stars of the Great Bear are the Rulers of the seven head centers for that Being. |
Cả bảy trung tâm ấy do Vulcan cai quản, cũng giống như Đấng Bất Khả Tư Nghị—Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng bảy ngôi sao chính của Đại Hùng Tinh là các chủ tinh của bảy trung tâm đầu đối với Hữu Thể ấy. |
|
[2] till eventually the seven centres in the body and the seven centres in the head rotate in unison. |
[2] cho đến cuối cùng bảy trung tâm trong thể xác và bảy trung tâm trong đầu cùng xoay chuyển trong sự hòa điệu. |
|
One of the rules tells us about that, and I think it’s one of the 14 Rules for disciples.Yeah, “They rotate in unison”, I showed you page 170 in A Treatise on Cosmic Fire where these seven head centers are mentioned as an important focus for the advancing man, the man of the third initiation and beyond. |
Một trong các quy luật nói với chúng ta về điều đó, và tôi nghĩ đó là một trong 14 Quy Luật dành cho đệ tử. “Chúng xoay đồng nhịp”; tôi đã chỉ cho các bạn trang 170 trong Luận về Lửa Vũ Trụ, nơi bảy trung tâm đầu này được nhắc đến như một tiêu điểm quan trọng đối với con người đang tiến tới, con người của lần điểm đạo thứ ba và cao hơn. |
|
[3] Remember also that just as the four minor rays pass into the three major rays, so the four minor centres carry on the correspondence and pass into pralaya, finding their focal point in the throat centre. |
[3] Cũng hãy nhớ rằng, cũng như bốn cung thứ yếu đi vào ba cung chính, thì bốn trung tâm thứ yếu cũng tiếp tục sự tương ứng ấy và đi vào Giai kỳ qui nguyên, tìm thấy điểm tập trung của chúng nơi trung tâm cổ họng. |
|
Are we including the heart center as a minor center? That is an interesting thought. Or are we including, the spleen as a minor center along with the solar plexus, sacral center, and base of the spine center? |
Chúng ta có kể trung tâm tim như một trung tâm phụ không? Đó là một ý tưởng thú vị. Hay chúng ta kể luân xa lá lách như một trung tâm phụ cùng với tùng thái dương, trung tâm xương cùng và trung tâm đáy cột sống? |
|
[4] Thus you will have the three centres—head, heart and throat— |
[4] Như vậy, các bạn sẽ có ba trung tâm—đầu, tim và |
|
Which are the foci of the three major types of monad: first, second, and third ray, |
vốn là các tiêu điểm của ba loại chân thần chính: cung một, cung hai và cung ba, |
|
[5] carrying the inner fire, with the three major head centres vibrating in unison also. |
[5] cổ họng—mang lửa nội tại, đồng thời ba trung tâm chính trong đầu cũng rung động trong sự hòa điệu. |
|
The three major head centers—are these one of the seven? Or are we considering the entire center at the top of the head, the crown chakra, the ajna center, and the Alta major center? Anyway, the seven above and seven below—maybe I can find that quickly, possibly. Yes, here it is. It is Rule Eight for Applicants. |
Ba trung tâm đầu chính—đây có phải là một trong bảy trung tâm không? Hay chúng ta đang xét toàn bộ trung tâm ở đỉnh đầu, luân xa vương miện, trung tâm ajna và trung tâm alta major? Dù sao, bảy ở trên và bảy ở dưới—có lẽ tôi có thể tìm nhanh được. Đúng, đây rồi. Đó là Quy Luật Tám dành cho các Ứng viên. |
|
“When the disciple nears the portal, the Greater Seven must awaken and bring forth response from the lesser seven upon the double circle.” Here we have, in fact, the symbolism for seven lesser centers and seven greater centers in the head. Probably in an ajna series of centers, which are sometimes discussed in Hindu books, we might have the completion of 21, taking the entire group together, and we have the 22nd. |
“Khi đệ tử đến gần cổng, Bảy Cái Lớn phải thức tỉnh và gợi lên đáp ứng từ bảy cái nhỏ trên vòng tròn kép.” Ở đây, thật ra, chúng ta có biểu tượng của bảy trung tâm nhỏ hơn và bảy trung tâm lớn hơn trong đầu. Có lẽ trong một chuỗi các trung tâm ajna, đôi khi được bàn đến trong các sách Ấn giáo, chúng ta có thể có sự hoàn tất của 21, nếu tính toàn bộ nhóm chung lại, và rồi có trung tâm thứ 22. |
|
These are some of the intricacies of the anatomy and physiology—the subtle etheric anatomy and physiology. It’s interesting that, if we’re looking at the head, heart, and throat here, and we consider three major centers in the head center, would not be considered a major center, but something above it. But let’s let that pass for the moment until we can confirm exactly what centers are being discussed. The ajna series of centers is very interesting and includes centers related to the Buddhic, Atmic plane and Manasic plane that we may never have heard of in anything, perhaps, but hints from Master DK. The Tibetan says, |
Đây là một vài điểm tinh vi của giải phẫu và sinh lý học—giải phẫu và sinh lý học dĩ thái vi tế. Điều thú vị là, nếu ở đây chúng ta đang nhìn vào đầu, tim và cổ họng, và chúng ta xét ba trung tâm chính trong trung tâm đầu, thì trung tâm ấy sẽ không được xem là một trung tâm chính, mà là điều gì đó ở trên nó. Nhưng tạm thời hãy để điều đó qua một bên cho đến khi chúng ta có thể xác nhận chính xác những trung tâm nào đang được bàn đến. Chuỗi các trung tâm ajna rất thú vị và bao gồm những trung tâm liên hệ với cõi Bồ đề, cõi atma và cõi manas mà có lẽ chúng ta chưa từng nghe nói đến ở bất cứ đâu, ngoại trừ một vài gợi ý từ Chân sư DK. Chân sư Tây Tạng nói: |
|
[6] I realise that this is all intricate and technical. |
[6] Tôi nhận ra rằng tất cả điều này đều phức tạp và kỹ thuật. |
|
Certainly it is for us at this time. |
Chắc chắn là như vậy đối với chúng ta vào lúc này. |
|
[7] It has its place and value however, and much that here is communicated will find its usefulness when you are all passed over to the other side and a fresh band of aspirants will follow in your footsteps. |
[7] Tuy nhiên, nó có vị trí và giá trị của nó, và nhiều điều được truyền đạt ở đây sẽ tỏ ra hữu dụng khi tất cả các bạn đã đi sang phía bên kia và một đoàn người chí nguyện mới sẽ bước theo dấu chân các bạn. |
|
Maybe some of us are part of that fresh band, and now we’re getting ready to pass over, and a new band of aspirants will appear, and they will benefit from the beginning of the third installment of the Tibetan. There’s so much information that has to be correlated, and that’s one little thing that I’m making a small attempt to do here: the correlation of quite a number of factors as possible, but it’s just a small percentage of what might be correlated. |
Có lẽ một số chúng ta là thành phần của nhóm mới ấy, và giờ đây chúng ta đang chuẩn bị chuyển sang phía bên kia, rồi một nhóm người chí nguyện mới sẽ xuất hiện; họ sẽ được lợi ích từ phần khởi đầu của đợt truyền dạy thứ ba của Chân sư Tây Tạng. Có rất nhiều thông tin cần được tương quan hóa, và đó là một điều nhỏ mà tôi đang cố gắng thực hiện ở đây: tương quan hóa càng nhiều yếu tố càng tốt, nhưng đó chỉ là một tỉ lệ nhỏ so với những gì có thể được tương quan hóa. |
|
[8] The training of the mental body has a value, and many evade such technicalities, hiding behind an emphasis upon the life side of truth, all due to an inherent mental laziness. |
[8] Việc huấn luyện thể trí có giá trị, và nhiều người né tránh những điều kỹ thuật như thế, ẩn mình sau sự nhấn mạnh vào phương diện sự sống của chân lý; tất cả đều do một sự lười biếng trí tuệ cố hữu. |
|
How much into depth do we want to go? That is an important question. Really, we have the value of the Fifth Ray Lord. Sometimes I’ve noticed that the Third Ray Lord may be better at memorization per se, but the Fifth Ray Lord with its Law of Fixation is very clear about the structure of what has to be memorized, and when you put the Third Ray Lord and the Fifth Ray Lord together, you get a strong ability to memorize with accuracy. We need the Fifth Ray Lord, and especially when accompanied by the Third Ray Lord. |
Chúng ta muốn đi sâu đến mức nào? Đó là một câu hỏi quan trọng. Thật sự, chúng ta có giá trị của Đấng Chúa Tể Cung năm. Đôi khi tôi nhận thấy Đấng Chúa Tể Cung ba có thể giỏi hơn trong việc ghi nhớ chính nó, nhưng Đấng Chúa Tể Cung năm, với Định luật Cố Định của Ngài, lại rất rõ ràng về cấu trúc của điều cần được ghi nhớ; và khi các bạn đặt Đấng Chúa Tể Cung ba cùng với Đấng Chúa Tể Cung năm, các bạn có được năng lực ghi nhớ mạnh mẽ và chính xác. Chúng ta cần Đấng Chúa Tể Cung năm, đặc biệt khi đi kèm với Đấng Chúa Tể Cung ba. |
|
Many are the excuses: “I don’t need all these details.” I’ve heard disciples who fancy that they are particularly disciples of Master K.H., and they say, “Look, I don’t need all that technicality that you find in the presentation of Master D.K.” However, let’s remember that Master D.K. is in Master K.H.’s ashram, and is presenting these matters certainly with the permission and encouragement of K.H. and others of still higher rank. |
Có rất nhiều lời biện minh: “Tôi không cần tất cả những chi tiết này.” Tôi đã nghe những đệ tử tưởng rằng mình đặc biệt là đệ tử của Chân sư KH, và họ nói: “Tôi không cần tất cả tính kỹ thuật mà người ta thấy trong phần trình bày của Chân sư DK.” Tuy nhiên, hãy nhớ rằng Chân sư DK ở trong ashram của Chân sư KH, và chắc chắn Ngài trình bày những vấn đề này với sự cho phép và khích lệ của Chân sư KH cũng như của những Đấng khác có đẳng cấp còn cao hơn. |
|
The training of the mental body has a value, and many evade such technicalities, hiding behind an emphasis upon the life side of truth, |
Việc rèn luyện thể trí có giá trị, và nhiều người né tránh các chi tiết kỹ thuật như thế, ẩn nấp đằng sau sự nhấn mạnh vào phương diện sự sống của chân lý, |
|
Which is the propensity of the pure mystic, |
đó là khuynh hướng của nhà thần bí thuần túy, |
|
all due to an inherent mental laziness. |
tất cả đều do một sự lười biếng trí tuệ cố hữu. |
|
Laziness can appear in the various vehicles, and sometimes people who are not mentally lazy might be physically lazy. What is desired is an activation of all the vehicles in a balanced and proportional manner. |
Sự lười biếng có thể xuất hiện trong các vận cụ khác nhau, và đôi khi những người không lười biếng về trí tuệ lại có thể lười biếng về thể xác. Điều được mong muốn là sự kích hoạt tất cả các vận cụ theo một cách quân bình và đúng tỉ lệ. |
|
[9] This that you now receive is but the A. B. C. of esotericism. |
[9] Những gì các bạn hiện đang nhận được chỉ là những điều vỡ lòng của huyền bí học. |
|
Of course, lots of those ABCs were found in A Treatise on Cosmic Fire as well. |
Dĩ nhiên, nhiều điều vỡ lòng ấy cũng đã được tìm thấy trong Luận về Lửa Vũ Trụ. |
|
[10] Waste not time however in too detailed deduction. All that is now possible is a broad general outline, |
[10] Tuy nhiên, đừng lãng phí thời gian vào sự suy diễn quá chi tiết. Tất cả những gì hiện nay có thể làm chỉ là một phác họa tổng quát rộng rãi, |
|
In other words—Master D.K. is always trying to preserve the balance. |
Nói cách khác—Chân sư DK luôn cố giữ sự quân bình. |
|
[11] patient reserve, a willingness to recognise physical brain limitations and the accepting of an hypothesis. |
[11] một sự dè dặt kiên nhẫn, một thiện chí nhận biết các giới hạn của bộ não hồng trần và sự chấp nhận một giả thuyết. |
|
And even etheric brain limitations, and the accepting of an hypothesis. We human beings want our instant gratification, and think that anything that can be known should be known now, regardless of the time factor. But the Masters are very aware of the limitations imposed by the time factor. |
Và cả những giới hạn của bộ não dĩ thái nữa, cùng với sự chấp nhận một giả thuyết. Chúng ta, những con người, muốn sự thỏa mãn tức thời, và nghĩ rằng bất cứ điều gì có thể được biết thì phải được biết ngay bây giờ, bất kể yếu tố thời gian. Nhưng các Chân sư rất ý thức về những giới hạn do yếu tố thời gian áp đặt. |
|
[12] Believe these hypotheses possible unless your intuition revolts or they are contradicted [Page 364] by past teaching given by other of the Lodge’s Messengers. |
[12] Hãy tin rằng những giả thuyết này có thể đúng, trừ khi trực giác của các bạn phản kháng hoặc chúng mâu thuẫn [Page 364] với giáo huấn trước đây do các Sứ giả khác của Thánh đoàn trao truyền. |
|
They may contradict certain other teachings given by those, or by sources that many assume to be the Masters, but the true Masters of the Lodge will not, in fact, contradict each other. |
Chúng có thể mâu thuẫn với một số giáo huấn khác do những người ấy đưa ra, hoặc do các nguồn mà nhiều người cho là các Chân sư; nhưng các Chân sư chân chính của Thánh đoàn, thật ra, sẽ không mâu thuẫn với nhau. |
|
[13] I do not dogmatise to you. |
[13] Tôi không áp đặt giáo điều cho các bạn. |
|
Giving you statements which absolutely must be followed, and which contain, according to the source, the entirety of the truth. In the Church, this is happening all the time. The limitations imposed are considered to be the great entirety of what it is possible to know about the subject that the imposition represents. |
Tức là không đưa cho các bạn những phát biểu tuyệt đối phải được tuân theo, và theo nguồn đưa ra, chứa đựng toàn thể chân lý. Trong Giáo hội, điều này luôn luôn xảy ra. Những giới hạn được áp đặt bị xem như toàn thể vĩ đại của những gì có thể biết về chủ đề mà sự áp đặt ấy đại diện. |
|
[14] I only in these instructions give you certain information, —the correctness of which I leave the future to demonstrate. |
[14] Trong các huấn thị này, tôi chỉ trao cho các bạn một số thông tin nhất định,—tính đúng đắn của chúng, tôi để tương lai chứng minh. |
|
I’m in the midst of a battle with a very good friend, who’s extremely brilliant, but he’s brilliant along a Third Ray Lord and Fifth Ray Lord line, and it’s so interesting to see the rejection of this information, and the reasons based in the Western concrete mind for this rejection, the opposition to it. |
Tôi đang ở giữa một cuộc tranh luận với một người bạn rất thân, cực kỳ sáng trí, nhưng ông sáng trí theo đường lối của Đấng Chúa Tể Cung ba và Đấng Chúa Tể Cung năm; thật thú vị khi thấy sự bác bỏ thông tin này, và các lý do dựa trên trí cụ thể phương Tây cho sự bác bỏ ấy, sự chống đối ấy. |
|
[15] I simply ask that you make record and in the coming years much that may now seem peculiar or mayhap even contradictory will be elucidated, slowly unravelled, and more easily comprehended. |
[15] Tôi chỉ xin các bạn ghi chép lại, và trong những năm sắp tới, nhiều điều hiện nay có thể có vẻ kỳ lạ hoặc có lẽ thậm chí mâu thuẫn sẽ được làm sáng tỏ, được tháo gỡ từ từ, và được thấu hiểu dễ dàng hơn. |
|
What do we really understand? The true occultist is patient. That’s difficult to Master—this patience. It’s one of the last things that the Master is able to achieve, preventing him from indulging in irritation which could hurt his students or those who are in contact with him, or that he tries to contact. |
Chúng ta thật sự thấu hiểu điều gì? Nhà huyền bí học chân chính thì kiên nhẫn. Điều đó khó mà làm chủ—sự kiên nhẫn này. Đó là một trong những điều cuối cùng mà Chân sư có thể đạt được, ngăn Ngài khỏi sa vào sự cáu gắt có thể làm tổn thương các đạo sinh của Ngài, hoặc những người đang tiếp xúc với Ngài, hay những người mà Ngài cố gắng tiếp xúc. |
|
[16] A little knowledge leads to much confusion unless laid aside for future use when the years of instruction have increased the store. |
[16] Một ít tri thức sẽ dẫn đến nhiều rối rắm, trừ khi nó được gác lại để dùng trong tương lai, khi những năm tháng huấn luyện đã làm tăng thêm kho tàng ấy. |
|
What is all this intricate knowledge but a little knowledge? It is. It’s just a little bit. As amazing as it may seem to us, it’s just the tiniest portion of what we might call the ageless wisdom as applied to this earth manifestation and the solar system. I suppose if it’s ageless, it antedates any possible cyclic universe. |
Tất cả tri thức phức tạp này là gì nếu không phải chỉ là một chút tri thức? Đúng vậy. Nó chỉ là một chút nhỏ. Dù đối với chúng ta nó có vẻ kỳ diệu đến đâu, nó chỉ là phần nhỏ bé nhất của điều chúng ta có thể gọi là Minh Triết Ngàn Đời khi áp dụng vào sự biểu hiện của Trái Đất này và hệ mặt trời. Tôi cho rằng nếu nó là ngàn đời, thì nó có trước bất cứ vũ trụ chu kỳ nào có thể có. |
|
We have to have the correct attitude towards that which is presented. The way the mind is cultivated in the world, that correct attitude is not easy to achieve if one relies solely on Western concrete-minded impartation. But we begin to develop different aspects of mind as we study spiritual occultism with the Tibetan, and we understand from the map of the ParaBrahman. These are recent maps by Tuija, very good ones and quite elaborate, seeking to add certain things which are either confirmed or suggested. I have one more possibility here. I usually start with Parabrahman, a great place to start. |
Chúng ta phải có thái độ đúng đắn đối với điều được trình bày. Với cách thể trí được vun bồi trong thế giới, thái độ đúng đắn ấy không dễ đạt được nếu người ta chỉ dựa vào sự truyền đạt theo trí cụ thể phương Tây. Nhưng chúng ta bắt đầu phát triển các phương diện khác nhau của trí tuệ khi học huyền bí học tinh thần với Chân sư Tây Tạng, và chúng ta thấu hiểu qua bản đồ về Thực tại tối thượng. Đây là các bản đồ gần đây của bà Tuija, rất tốt và khá công phu, tìm cách thêm vào một số điều hoặc đã được xác nhận hoặc đã được gợi ý. Ở đây tôi còn có một khả năng nữa. Tôi thường bắt đầu với Thực tại tối thượng, một điểm khởi đầu vĩ đại. |

|
It’s not really Parabrahman, can’t really be Parabrahman, but it can be in that direction. I don’t think that these maps that were being given are Supergalactic perspective. I’m not sure, but I don’t think so, especially the way they’re laid out. They seem to have a limited scope, however vast they may seem to us. |
Nó thật sự không phải là Thực tại tối thượng, cũng không thể thật sự là Thực tại tối thượng, nhưng có thể ở theo hướng đó. Tôi không nghĩ rằng những bản đồ đang được đưa ra này là từ viễn cảnh siêu thiên hà. Tôi không chắc, nhưng tôi không nghĩ vậy, đặc biệt theo cách chúng được trình bày. Chúng dường như có phạm vi giới hạn, dù đối với chúng ta chúng có thể có vẻ bao la đến đâu. |
|
[17] To return to our theme: —The heart centre in man opens the door into what is called “the heart of the Sun.” |
[17] Trở lại chủ đề của chúng ta:—Trung tâm tim nơi con người mở cánh cửa vào điều được gọi là “trái tim của Mặt Trời.” |
|
I think I’ve dealt with that issue. What really is that? There are different estimations on the nature of the heart of sun. The causal body of the Solar Logos is one; a demonstration of a subjective sun on the cosmic astral plane; and perhaps an etheric demonstration of heart energy of solar logoic heart energy on the cosmic physical plane on the monadic level. Those are the only ones I can think of at the moment. |
Tôi nghĩ tôi đã đề cập đến vấn đề đó. Thật sự đó là gì? Có những ước định khác nhau về bản chất của tâm Mặt Trời. Thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế là một; một biểu hiện của một mặt trời chủ quan trên cõi cảm dục vũ trụ; và có lẽ một biểu hiện dĩ thái của năng lượng tim thuộc năng lượng tim của Thái dương Thượng đế trên cõi hồng trần vũ trụ ở cấp độ chân thần. Đó là những điều duy nhất tôi có thể nghĩ đến vào lúc này. |
|
[18] The throat centre opens the way into full understanding of the path of the physical Sun |
[18] Trung tâm cổ họng mở con đường đưa đến sự thấu hiểu trọn vẹn về con đường của Mặt Trời hồng trần, |
|
I wonder what he means by path, the developmental path of the physical sun? After all, the throat center is associated with physicality, and the physical sun is that brilliant etheric source—a plasmic gaseous etheric source. It’s not physical in the way we think of physical in relation to the dense physical planets. The throat centre opens the way into full understanding of the path of the physical Sun |
Tôi tự hỏi Ngài muốn nói gì với từ con đường, con đường phát triển của Mặt Trời hồng trần chăng? Rốt cuộc, trung tâm cổ họng liên hệ với tính hồng trần, và Mặt Trời hồng trần là nguồn dĩ thái rực rỡ ấy—một nguồn dĩ thái khí plasma. Nó không hồng trần theo cách chúng ta nghĩ về hồng trần liên quan đến các hành tinh hồng trần đậm đặc. Trung tâm cổ họng mở đường vào sự thấu hiểu đầy đủ về con đường của Mặt Trời hồng trần |
|
[19] and all true astrologers must eventually have that centre functioning. |
[19] và cuối cùng mọi nhà chiêm tinh chân chính đều phải có trung tâm ấy hoạt động. |
|
Why? Because true astrology develops along the third ray line initially. So all true astrologers are that. |
Tại sao? Vì chiêm tinh học chân chính ban đầu phát triển theo đường lối cung ba. Vì vậy tất cả các nhà chiêm tinh chân chính đều như vậy. |
|
[20] The head centre opens the way to the central spiritual Sun, each passing, via the planetary correspondence, to one of the cosmic planes. |
[20] Trung tâm đầu mở con đường đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương, mỗi trung tâm đi qua sự tương ứng hành tinh để đến một trong các cõi vũ trụ. |
|
The planetary correspondence in this case is the monadic nature of the Planetary Logos—the Central Spiritual Sun is the monadic nature of the Solar Logos; the physical sun must be related to the personality of the Solar Logos, but really the 18 lower cosmic subplanes are the domain of the solar logoic Agni and are the expression of the solar logoic personality. |
Sự tương ứng hành tinh trong trường hợp này là bản chất chân thần của Hành Tinh Thượng đế—Mặt trời Tinh thần Trung Ương là bản chất chân thần của Thái dương Thượng đế; Mặt Trời hồng trần hẳn phải liên hệ với phàm ngã của Thái dương Thượng đế, nhưng thật ra 18 cõi phụ vũ trụ thấp là lĩnh vực của Agni thuộc Thái dương Thượng đế và là biểu hiện của phàm ngã Thái dương Thượng đế. |
|
Let’s look at that again because it helps us trace the lower centers to the higher. Here is the tracing of the lower centers to the higher. |
Hãy nhìn lại điều đó vì nó giúp chúng ta truy nguyên các trung tâm thấp lên các trung tâm cao. Đây là sự truy nguyên các trung tâm thấp lên các trung tâm cao. |
|
The heart center in man opens the door to what is called the Heart of the Sun. |
Trung tâm tim nơi con người mở cánh cửa vào điều được gọi là Tâm của Mặt Trời. |
|
First, what is sometimes called the Heart center of the monad must be involved, and this is the Egoic Lotus. But gradually one ascends even via the heart center of the planet and the monadic nature of the planet and so forth to a place that represents the Heart of our Solar Logos. |
Trước hết, điều đôi khi được gọi là trung tâm Tim của chân thần phải có liên hệ, và đó là Hoa Sen Chân Ngã. Nhưng dần dần người ta thăng lên, thậm chí qua trung tâm tim của hành tinh và bản chất chân thần của hành tinh, vân vân, đến một nơi đại diện cho Tâm của Thái dương Thượng đế chúng ta. |
|
The throat center, our throat center, opens the way into full understanding of the path of the physical sun. Ascending, or becoming familiar with that path, is a way of becoming familiar with the lower aspects of the Solar Logos. |
Trung tâm cổ họng, trung tâm cổ họng của chúng ta, mở đường vào sự thấu hiểu đầy đủ về con đường của Mặt Trời hồng trần. Việc thăng lên, hay trở nên quen thuộc với con đường ấy, là một cách trở nên quen thuộc với các phương diện thấp của Thái dương Thượng đế. |
|
All true astrologers must eventually have that center functioning because of the particularly third ray nature of astrology, but of course Master DK is mixing so much of the soul aspect into the astrology. He presents the astrology of the soul. |
Tất cả các nhà chiêm tinh chân chính cuối cùng phải có trung tâm ấy hoạt động vì bản chất đặc biệt cung ba của chiêm tinh học; nhưng dĩ nhiên Chân sư DK đang pha trộn rất nhiều phương diện linh hồn vào chiêm tinh học. Ngài trình bày chiêm tinh học của linh hồn. |
|
The head center opens the way to the Central Spiritual Sun, each passing via the planetary correspondence to one of the cosmic planes. What cosmic planes are involved here? This seems to suggest that these aspects of the Solar Logos are really on cosmic planes. |
Trung tâm đầu mở đường đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương, mỗi trung tâm đi qua sự tương ứng hành tinh để đến một trong các cõi vũ trụ. Những cõi vũ trụ nào có liên hệ ở đây? Điều này dường như gợi ý rằng các phương diện này của Thái dương Thượng đế thật sự ở trên các cõi vũ trụ. |
|
The path of the physical sun is the path of the personality of the Solar Logos. The lower 18 cosmic subplanes. The path to the heart of the sun takes us to the first cosmic subplane on the cosmic mental plane. The path from our head center eventually to the Central Spiritual Sun takes us to the cosmic monadic plane. |
Con đường của Mặt Trời hồng trần là con đường của phàm ngã Thái dương Thượng đế. Mười tám cõi phụ vũ trụ thấp. Con đường đến tâm của Mặt Trời đưa chúng ta đến cõi phụ vũ trụ thứ nhất trên cõi trí vũ trụ. Con đường từ trung tâm đầu của chúng ta cuối cùng đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương đưa chúng ta đến cõi chân thần vũ trụ. |
|
About such things, what can we say? We can look at the correspondences and say, “Well, that looks right,” but when we can’t even really discuss what’s going on on the monadic plane on which what we call our monad is found, how can we talk about these cosmic planes? At least we can fill out the structure of relationships. |
Về những điều như thế, chúng ta có thể nói gì? Chúng ta có thể nhìn vào các tương ứng và nói: “Điều đó có vẻ đúng,” nhưng khi chúng ta thậm chí không thể thật sự bàn về điều đang diễn ra trên cõi chân thần, nơi có cái mà chúng ta gọi là chân thần của mình, thì làm sao chúng ta có thể nói về các cõi vũ trụ này? Ít nhất chúng ta có thể điền đầy cấu trúc của các mối liên hệ. |
|
[21] Thus we have a summation of technicalities, and of facts, which are (under the Law of Analogy) of purely academic interest and no more. |
[21] Như vậy, chúng ta có một sự tổng kết các điểm kỹ thuật và các sự kiện, vốn—dưới Định luật Tương đồng—chỉ có giá trị học thuật thuần túy, không hơn. |
|
I’m saying the same thing. It is academically interesting, meaning the mind can deal with it, embrace it somewhat, but it is not experientially relevant. Our soul is experientially relevant, or at least soul consciousness on the high mental plane is experientially relevant. Even the energy of the Spiritual Triad and eventually monad are all sooner or later in our developmental cycle as a human being here and now, experientially relevant. |
Tôi cũng đang nói điều tương tự. Nó thú vị về mặt học thuật, nghĩa là thể trí có thể đề cập đến nó, phần nào ôm giữ nó, nhưng nó không có liên hệ kinh nghiệm. Linh hồn của chúng ta có liên hệ kinh nghiệm, hoặc ít nhất tâm thức linh hồn trên cõi thượng trí có liên hệ kinh nghiệm. Ngay cả năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần và cuối cùng là chân thần, tất cả sớm hay muộn trong chu kỳ phát triển của chúng ta với tư cách con người ở đây và bây giờ, đều có liên hệ kinh nghiệm. |
|
Once we start getting beyond the human phase, they are no longer men as are the Masters. The master is five-pointed; the Chohan is a six-pointed star and is no longer considered a man, although still a member of the fourth Creative Hierarchy or the ninth, depending on how you number them. What’s going on on the logoic plane is not to us at this time experientially relevant, though academically interesting. |
Một khi chúng ta bắt đầu vượt ra ngoài giai đoạn nhân loại, các Ngài không còn là người như các Chân sư nữa. Chân sư là ngôi sao năm cánh; Chohan là ngôi sao sáu cánh và không còn được xem là một con người, dù vẫn là thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư hoặc thứ chín, tùy theo cách các bạn đánh số. Điều đang diễn ra trên cõi Thượng đế không có liên hệ kinh nghiệm đối với chúng ta vào lúc này, dù thú vị về mặt học thuật. |
|
[22] Even those of us who are initiate know practically nothing of the cosmic planes beyond the cosmic physical. |
[22] Ngay cả những người trong chúng tôi là điểm đạo đồ cũng hầu như không biết gì về các cõi vũ trụ vượt ngoài cõi hồng trần vũ trụ. |
|
The Tibetan said in all humility, “Look, what’s going on in the astral plane?” I paraphrase, of course, “I don’t know because I haven’t been there.” An initiate of the seventh degree begins to really receive from the cosmic astral plane. Maybe even at the seventh degree, or more likely at the eighth degree, it goes up, down, up, down—the figure eight—maybe you can go there and return, go and return. But of the ninth degree, one goes and does not in this solar systemic cycle—at least not return, or at least not for a very long time—unless those human beings leaving in that way, or members of the fourth Creative Hierarchy, leaving in that way, would come back still in the solar system to be solar angels to the developing animal kingdom or a future kingdom that is moving through the animal and becoming human and so forth. |
Chân sư Tây Tạng đã nói với tất cả sự khiêm nhường: “Hãy nhìn xem, điều gì đang xảy ra trên cõi cảm dục?” Tôi diễn ý thôi: “Tôi không biết vì Tôi chưa từng ở đó.” Một điểm đạo đồ bậc bảy bắt đầu thật sự tiếp nhận từ cõi cảm dục vũ trụ. Có lẽ ngay ở bậc bảy, hoặc nhiều khả năng hơn ở bậc tám, nó đi lên, đi xuống, đi lên, đi xuống—hình số tám—có lẽ các bạn có thể đến đó rồi trở về, đi và trở về. Nhưng ở bậc chín, người ta đi và trong chu kỳ hệ mặt trời này không trở lại—ít nhất là không trở lại, hoặc ít nhất là không trong một thời gian rất dài—trừ khi những con người rời đi theo cách ấy, hoặc các thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư rời đi theo cách ấy, sẽ trở lại vẫn trong hệ mặt trời để làm các Thái dương Thiên Thần cho giới động vật đang phát triển hoặc một giới tương lai đang đi qua giai đoạn động vật và trở thành nhân loại, vân vân. |
|
We don’t know whether those of us who are on the fourth Path to Sirius, whether our return is during this solar system or could be. That’s a lot of years if there’s still 150 trillion years left, but not 150 trillion outer years would remain. I imagine that the whole subjective cycle of a solar system corresponds to that 311 trillion 40 billion years, but the shortest phase of that cycle, shortest in duration, is the dense physical cycle. We certainly don’t have 150 trillion years remaining in the dense physical cycle that remains to the manifestation of our solar system. |
Chúng ta không biết liệu những người trong chúng ta đang ở trên Con đường thứ tư đến Sao Thiên Lang, sự trở về của chúng ta có diễn ra trong hệ mặt trời này hay có thể diễn ra không. Đó là rất nhiều năm nếu vẫn còn 150 nghìn tỉ năm, nhưng sẽ không còn lại 150 nghìn tỉ năm bên ngoài. Tôi hình dung rằng toàn bộ chu kỳ chủ quan của một hệ mặt trời tương ứng với 311 nghìn tỉ 40 tỉ năm ấy, nhưng giai đoạn ngắn nhất của chu kỳ đó, ngắn nhất về thời lượng, là chu kỳ hồng trần đậm đặc. Chắc chắn chúng ta không còn 150 nghìn tỉ năm trong chu kỳ hồng trần đậm đặc còn lại cho sự biểu hiện của hệ mặt trời chúng ta. |
|
[23] Our consciousness is only beginning to be solar, |
[23] Tâm thức của chúng tôi chỉ mới bắt đầu mang tính thái dương, |
|
Who is “ours”? Are we speaking here of the Masters? |
“Chúng tôi” là ai? Có phải ở đây chúng ta đang nói về các Chân sư không? |
|
[24] and we are labouring in our small measure to overcome those planetary limitations which hold us back from solar knowledge and life. |
[24] và trong mức độ nhỏ bé của mình, chúng tôi đang nỗ lực vượt qua những giới hạn hành tinh vốn kìm giữ chúng tôi khỏi tri thức và sự sống thái dương. |
|
It seems like these are the Masters speaking. Yes, it seems that those who are speaking are the initiates of the type of master DK, masters. |
Có vẻ như đây là các Chân sư đang nói. Đúng, có vẻ những vị đang nói là các điểm đạo đồ thuộc loại Chân sư DK, các Chân sư. |
|
[25] For aspirants who have not even a knowledge of what planetary consciousness signifies, the above information has only one value and that is, that it emphasises the synthetic nature of the great plan and the fact that the smallest unit is an integral part of the whole. |
[25] Đối với những người chí nguyện thậm chí chưa có tri thức về ý nghĩa của tâm thức hành tinh, thông tin trên chỉ có một giá trị, đó là nó nhấn mạnh bản chất tổng hợp của Thiên Cơ vĩ đại và sự kiện rằng đơn vị nhỏ bé nhất là một phần không thể tách rời của toàn thể. |
|
This is why we’re reading it. What can that sense of synthesis bring to us? It is not a valid number, but the synthetic point of view can help overcome the great heresy of separateness, which is the one true fallacy of thought, the one true heresy, the one true deviation from the truth. |
Đây là lý do chúng ta đọc điều này. Ý thức tổng hợp ấy có thể đem lại gì cho chúng ta? Nó không phải là một con số hợp lệ, nhưng quan điểm tổng hợp có thể giúp vượt qua Đại Tà thuyết về sự chia rẽ, vốn là sai lầm chân thật duy nhất của tư tưởng, tà thuyết chân thật duy nhất, sự lệch khỏi chân lý chân thật duy nhất. |
|
The great heresy of separateness |
Đại Tà thuyết về sự chia rẽ |
|
[26] It enforces the idea that energy is a life fluid circulating throughout the entire body of the Logos, and vivifying therefore even the tiniest atom in that whole. |
[26] Nó củng cố ý tưởng rằng năng lượng là một lưu chất sự sống lưu chuyển khắp toàn bộ thể của Thượng đế, và do đó tiếp sinh lực ngay cả cho nguyên tử nhỏ bé nhất trong toàn thể ấy. |
|
What we have here in these kinds of speculations is a very good definition of energy. Energy is a life fluid. It is in constant motion, fluidic motion. It is not stationary or bound the way we think of more solid arrangements, circulating throughout the entire body of the Logos and vivifying therefore even the tiniest atom in that whole. Of course this has to apply to much greater contexts, including cosmic Logos and super cosmic Logos and on and on. Energy is all that and is the great means of vivification. |
Điều chúng ta có ở đây, trong những suy đoán kiểu này, là một định nghĩa rất hay về năng lượng. Năng lượng là một lưu chất sự sống. Nó ở trong chuyển động liên tục, chuyển động linh động. Nó không đứng yên hay bị ràng buộc như cách chúng ta nghĩ về các sắp xếp rắn chắc hơn, mà lưu chuyển khắp toàn bộ thể của Thượng đế và do đó tiếp sinh lực ngay cả cho nguyên tử nhỏ bé nhất trong toàn thể ấy. Dĩ nhiên điều này phải áp dụng cho những bối cảnh lớn hơn nhiều, bao gồm Thượng đế vũ trụ và Thượng đế siêu vũ trụ, vân vân. Năng lượng là tất cả những điều đó và là phương tiện vĩ đại của sự làm sống động. |
|
[27] It is valuable to endeavour to grasp the picture and to vision the wonder of what is transpiring. |
[27] Nỗ lực nắm bắt bức tranh ấy và hình dung sự kỳ diệu của những gì đang diễn ra là điều có giá trị. |
|
Having the awe helps us treat all creations with respect because after all they are externalizations finally of the one infinite being. |
Có lòng kính ngưỡng giúp chúng ta đối xử với mọi sáng tạo bằng sự tôn trọng, vì rốt cuộc chúng là các sự ngoại hiện sau cùng của một Hữu Thể vô hạn duy nhất. |
|
[28] It is waste of time, nevertheless, to [Page 365] ponder upon the cosmic astral plane, for instance, when even the plane of the ego (the fifth subplane of the cosmic physical plane, counting from above downwards) is as yet inaccessible to the average man and is the goal for all his aspiration and meditation. |
[28] Tuy nhiên, thật lãng phí thời gian khi [Page 365] suy tưởng về cõi cảm dục vũ trụ, chẳng hạn, trong khi ngay cả cõi của chân ngã—cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần vũ trụ, tính từ trên xuống dưới—đến nay vẫn còn bất khả tiếp cận đối với người bình thường và là mục tiêu của toàn bộ khát vọng cùng tham thiền của y. |
|
This tells us that it is not a waste of time to ponder on the ego, but other than noting some of the other principles or analogies, we should be cautious. This tells us that to wonder about the nature of what we normally call the soul is not a waste of time, but I would say that to wonder about the intricacies of the cosmic astral plane or planes beyond, even though in the charts Master DK has shown us a few things, is a waste of time. |
Điều này cho chúng ta biết rằng suy ngẫm về chân ngã không phải là phí thời gian, nhưng ngoài việc ghi nhận một số nguyên khí hay tương đồng khác, chúng ta nên thận trọng. Điều này cho chúng ta biết rằng tự hỏi về bản chất của điều chúng ta thường gọi là linh hồn không phải là phí thời gian, nhưng tôi sẽ nói rằng tự hỏi về những chi tiết phức tạp của cõi cảm dục vũ trụ hoặc các cõi vượt hơn, dù trong các biểu đồ Chân sư DK đã chỉ cho chúng ta một vài điều, là phí thời gian. |
|
Look at this chart that Master DK has given to us. Tuija’s rendition here is just for the sake of clarification and the enhancement of the qualities involved. We’ve got these little 49 triangles. What are they? They deal with the cosmic monadic plane. What is a cosmic Parabrahman? And the seven reaches of the great bear coming forth from this triangle. I would say they might even be the triangle, except for the fact that the Solar Logos also comes forth from this triangle, meaning that it contains far more, meaning that it is more than the seven reaches. You can use these charts and you can generalize from them and you can learn some important relations, but let’s not go too far with them in our pursuit of intricacy, because even if we found ourselves being accurate about them, we wouldn’t be able to use the information in any practical way except to somehow enhance our sense of the grandeur, the magnificence, and the non-separateness of the whole. |
Hãy nhìn biểu đồ này mà Chân sư DK đã trao cho chúng ta. Bản trình bày của bà Tuija ở đây chỉ nhằm làm sáng tỏ và tăng cường các phẩm tính có liên hệ. Chúng ta có các tam giác nhỏ gồm 49 phần này. Chúng là gì? Chúng đề cập đến cõi chân thần vũ trụ. Thực tại tối thượng vũ trụ là gì? Và bảy tầm vươn của Đại Hùng Tinh xuất phát từ tam giác này. Tôi cho rằng chúng thậm chí có thể là tam giác ấy, ngoại trừ sự kiện rằng Thái dương Thượng đế cũng xuất phát từ tam giác này, nghĩa là nó chứa đựng nhiều hơn rất nhiều, nghĩa là nó còn hơn bảy tầm vươn ấy. Các bạn có thể dùng các biểu đồ này, có thể khái quát hóa từ chúng và học được một số liên hệ quan trọng; nhưng chúng ta đừng đi quá xa với chúng trong việc theo đuổi sự phức tạp, vì ngay cả nếu chúng ta thấy mình đúng về chúng, chúng ta cũng không thể dùng thông tin ấy theo bất cứ cách thực tiễn nào, ngoại trừ bằng cách nào đó tăng cường ý thức của chúng ta về sự hùng vĩ, vẻ tráng lệ và tính không chia rẽ của toàn thể. |

|
That would be the great advantage. If we can think and see that all things are truly unified and interrelated, we have gone a long way toward overcoming one of the major obstacles to spiritual living in our environment. That sense of separateness is an astonishing enemy and prevents us from expressing the very essence of spirituality, which is a divine connectedness. |
Đó sẽ là lợi ích lớn lao. Nếu chúng ta có thể suy nghĩ và thấy rằng mọi sự thật sự hợp nhất và tương liên, thì chúng ta đã đi được một đoạn dài trong việc vượt qua một trong những chướng ngại lớn đối với đời sống tinh thần trong môi trường của chúng ta. Ý thức chia rẽ ấy là một kẻ thù đáng kinh ngạc và ngăn cản chúng ta biểu hiện chính tinh túy của tinh thần, vốn là một sự nối kết thiêng liêng. |
|
[29] For man, therefore, the Universal Mind can best be grasped as it expresses itself through what we call the concrete mind, the abstract mind, and the intuition or pure reason. |
[29] Vì vậy, đối với con người, Vũ Trụ Trí có thể được nắm bắt rõ nhất khi nó biểu lộ qua điều chúng ta gọi là trí cụ thể, trí trừu tượng, và trực giác hay lý trí thuần khiết. |
|
It’s also my opinion that there is an atmic mind, since the atmic plane is the third from above, the symbol of which is the triangle, which also, in a higher way, expresses the Universal Mind. But this expression is more for the masters to apprehend, and not us. |
Tôi cũng có ý kiến rằng có một trí atma, vì cõi atma là cõi thứ ba tính từ trên xuống, biểu tượng của nó là tam giác, và theo một cách cao hơn, nó cũng biểu hiện Vũ Trụ Trí. Nhưng biểu hiện này dành nhiều hơn cho các Chân sư lĩnh hội, chứ không phải chúng ta. |
|
It may be the home of spiritual will, but it is the master of the wisdom of the fifth initiation that is able to understand something of the kind of mentality which is operating on the atmic plane. In the chart that Alice Bailey assembled, you’ll find beatitude, active service, realization, perfection, all knowledge—all of these things require a kind of mind which is very high compared to the mind that we have access to through the concrete mind, the abstract mind, and the intuitive transcendental mind. We have some access to these, but on the atmic plane there’s something much higher mentally. |
Nó có thể là quê hương của ý chí tinh thần, nhưng chính Chân sư minh triết của lần điểm đạo thứ năm mới có thể thấu hiểu đôi điều về loại trí tuệ đang vận hành trên cõi atma. Trong biểu đồ mà Alice Bailey đã tập hợp, các bạn sẽ thấy phúc lạc, phụng sự tích cực, chứng ngộ, hoàn thiện, toàn tri—tất cả những điều này đòi hỏi một loại trí rất cao so với trí mà chúng ta có thể tiếp cận qua trí cụ thể, trí trừu tượng và trí trực giác siêu việt. Chúng ta có một vài tiếp cận với những điều này, nhưng trên cõi atma có điều gì đó cao hơn nhiều về mặt trí tuệ. |
|
How can we begin to even understand what that might be? I would just say, let us seek to build the antahkarana steadily, usefully. Let us seek to apply it, let us find the right type of meditative approach to begin to receive impressions which have not been normal or customary for us at all. Then maybe as we begin to do the will of God, we shall know. |
Làm sao chúng ta có thể bắt đầu thấu hiểu điều đó có thể là gì? Tôi chỉ muốn nói rằng chúng ta hãy tìm cách xây dựng antahkarana một cách đều đặn và hữu ích. Chúng ta hãy tìm cách áp dụng nó, hãy tìm loại tiếp cận tham thiền đúng đắn để bắt đầu tiếp nhận các ấn tượng vốn hoàn toàn không bình thường hay quen thuộc đối với chúng ta. Rồi có lẽ khi chúng ta bắt đầu thực hiện Ý Chí của Thượng Đế, chúng ta sẽ biết. |
|
That certainly applies to the realm of spiritual will, atma, because the will of God, as relates to the plan, as formulated by the custodians of the plan, is emanating from the atmic plane, at least within the worlds of Brahma. It emanates from above, of course, but for practical purposes, we’re still very much living in the Brahmic worlds, and so is the master. If we do the will of God as it comes through to us, in terms of the presentation of the divine plan, we shall begin to know and experience. |
Điều đó chắc chắn áp dụng cho lĩnh vực ý chí tinh thần, atma, bởi vì Ý Chí của Thượng Đế, liên quan đến Thiên Cơ như được các vị gìn giữ Thiên Cơ hình thành, đang xuất lộ từ cõi atma, ít nhất là trong các thế giới của Brahma. Dĩ nhiên nó xuất lộ từ bên trên, nhưng vì mục đích thực tiễn, chúng ta vẫn còn sống rất nhiều trong các thế giới Brahma, và Chân sư cũng vậy. Nếu chúng ta thực hiện Ý Chí của Thượng Đế khi nó đến với chúng ta, xét theo sự trình bày của Thiên Cơ thiêng liêng, chúng ta sẽ bắt đầu biết và kinh nghiệm. |
|
On that plane, the atmic plane, on the third sub-level, is this power or city, which we call all knowledge. The mentality associated with the atmic plane is evident, and it is an expression, a lower expression of the universal mind is evident, but what the details are, we’ll have to wait to discover. |
Trên cõi ấy, cõi atma, ở cõi phụ thứ ba, có quyền năng hay thành phố này, mà chúng ta gọi là toàn tri. Trí tuệ liên hệ với cõi atma là hiển nhiên, và nó là một biểu hiện, một biểu hiện thấp hơn của Vũ Trụ Trí là hiển nhiên; nhưng các chi tiết là gì thì chúng ta sẽ phải chờ để khám phá. |
|
[30] The concrete mind is the form building faculty. Thoughts are things. |
[30] Trí cụ thể là năng lực kiến tạo hình tướng. Tư tưởng là những thực thể. |
|
It’s the old theosophical dictum. And then what is a thing? That assumes we know what a thing is, but thoughts are things. |
Đó là giáo điều Thông Thiên Học xưa. Và rồi một sự vật là gì? Điều đó giả định rằng chúng ta biết sự vật là gì, nhưng các tư tưởng là các sự vật. |
|
[31] The abstract mind is the pattern building faculty, |
[31] Trí trừu tượng là năng lực kiến tạo mô hình, |
|
In the old terminology, we might call it blueprint, blueprint making, |
Theo thuật ngữ xưa, chúng ta có thể gọi đó là bản thiết kế, sự tạo bản thiết kế, |
|
[32] or the mind which works with the blue prints upon which the forms are modelled. |
[32] hay là thể trí làm việc với các bản thiết kế mà theo đó các hình tướng được tạo mẫu. |
|
My uncle was an air conditioning engineer, always carrying blueprints with him for the various jobs that he did, and so I became familiar at least with the existence of blueprints, if not the details that were on them. That was in pre-computer days. |
Chú tôi là kỹ sư điều hòa không khí, luôn mang theo các bản thiết kế cho những công việc khác nhau mà ông làm, và vì thế ít nhất tôi trở nên quen thuộc với sự tồn tại của các bản thiết kế, nếu không phải là các chi tiết trên đó. Đó là thời trước máy tính. |
|
[33] The intuition or pure reason is the faculty which enables man to enter into contact with the Universal Mind and grasp the plan synthetically, to seize upon divine Ideas or isolate some fundamental and pure truth. |
[33] Trực giác hay lý trí thuần khiết là năng lực giúp con người đi vào tiếp xúc với Vũ Trụ Trí và nắm bắt Thiên Cơ một cách tổng hợp, nắm lấy các Ý Tưởng thiêng liêng hoặc tách ra một chân lý căn bản và tinh thuần nào đó. |
|
This is a wonderful definition of one of the capacities of the intuition. We find further descriptions of the three minds which must unite in the triadally oriented student. |
Đây là một định nghĩa tuyệt vời về một trong các năng lực của trực giác. Chúng ta tìm thấy các mô tả thêm về ba trí phải hợp nhất nơi đạo sinh hướng về Tam nguyên tinh thần. |
|
The concrete mind is the form-building faculty, and the forms built are dense compared to the patterns which the abstract mind presents. Blueprints don’t have the details, but they do have the relationships. The blueprints hold in abstract form the relationships. And then comes the intuition. |
Trí cụ thể là năng lực xây dựng hình tướng, và các hình tướng được xây dựng thì đậm đặc so với các mô hình mà trí trừu tượng trình bày. Các bản thiết kế không có các chi tiết, nhưng chúng có các mối liên hệ. Các bản thiết kế giữ các mối liên hệ trong hình thức trừu tượng. Rồi trực giác đến. |
|
When it comes to the three minds that are uniting, we have different points of view here. We can say concrete mind, son of mind, abstract mind. Or we can say, as he says here, concrete mind, abstract mind, intuition. Or we might even find a way to include something that leads up to the atmic mind. |
Khi nói đến ba trí đang hợp nhất, chúng ta có những quan điểm khác nhau ở đây. Chúng ta có thể nói trí cụ thể, Con của Trí Tuệ, trí trừu tượng. Hoặc chúng ta có thể nói, như Ngài nói ở đây, trí cụ thể, trí trừu tượng, trực giác. Hoặc thậm chí chúng ta có thể tìm một cách để bao gồm điều gì đó dẫn lên trí atma. |
|
In any case, we often find the areas of our mind functionally separated from each other so that we cannot come and go with ease from one to another. We are trying to bridge this gap that’s even getting us into the abstract mind, let alone the intuition. It’s not a pure, seamless relationship between these different levels of mind the way eventually it has to become. |
Dù sao, chúng ta thường thấy các vùng của trí mình bị tách rời về mặt chức năng, đến nỗi chúng ta không thể đi lại dễ dàng từ vùng này sang vùng khác. Chúng ta đang cố bắt cầu khoảng cách này, khoảng cách thậm chí đưa chúng ta vào trí trừu tượng, huống chi trực giác. Đó chưa phải là một mối liên hệ thuần khiết, liền lạc giữa các cấp độ trí khác nhau như cuối cùng nó phải trở thành. |
|
The universal mind, if the solar system is a universe as it sometimes was considered to be, we’re not by any means talking about the vast entirety we call the universe. If that is the case, then universal mind is the concrete mind and abstract mind, higher mind, abstract mind, cosmically transcendental mind, and cosmically atmic mind of the solar logos. Those are just words—they cannot really mean anything to us when having a real intuition for people of our type is a rarity. And that’s right down on the physical plane, let alone on these higher cosmic planes. |
Nếu hệ mặt trời là một vũ trụ như đôi khi nó từng được xem là vậy, thì Vũ Trụ Trí không hề chỉ toàn thể bao la mà chúng ta gọi là vũ trụ. Nếu đúng như vậy, thì Vũ Trụ Trí là trí cụ thể và trí trừu tượng, thượng trí, trí trừu tượng, trí siêu việt vũ trụ và trí atma vũ trụ của Thái dương Thượng đế. Đó chỉ là những từ ngữ—chúng không thể thật sự có ý nghĩa gì đối với chúng ta khi ngay cả việc có trực giác thật sự đối với những người thuộc loại chúng ta cũng là điều hiếm hoi. Và đó còn là ngay trên cõi hồng trần, huống chi trên các cõi vũ trụ cao hơn này. |
|
[34] The goal of all the work of an aspirant is to understand those aspects of the mind with which he has to learn to work. His work therefore might be summed up as follows: |
[34] Mục tiêu của toàn bộ công việc của một người chí nguyện là thấu hiểu những phương diện của trí tuệ mà y phải học cách vận dụng. Vì vậy, công việc của y có thể được tóm lược như sau: |
|
An aspirant still with much of directed astral fire must understand the mind. But it all depends on what DK calls an aspirant. He says every true aspirant has taken the first initiation. Sometimes these things do overlap. |
Một người chí nguyện vẫn còn nhiều lửa cảm dục được định hướng phải thấu hiểu trí. Nhưng tất cả tùy thuộc vào điều Chân sư DK gọi là một người chí nguyện. Ngài nói rằng mọi người chí nguyện chân chính đều đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Đôi khi những điều này có chồng lấn. |
|
What must an aspirant do? I begin to think my problem here with this document is it’s just so darn big. It’s got hundreds of pages that when you start to save it, it’s a difficulty. I’m thinking maybe about splitting it in half. But then again, if you want to access something, you might be out of luck. What must an aspirant do? Let’s consider ourselves all aspirants. |
Một người chí nguyện phải làm gì? Tôi bắt đầu nghĩ rằng vấn đề của tôi ở đây với tài liệu này là nó quá lớn. Nó có hàng trăm trang, và khi các bạn bắt đầu lưu nó thì gặp khó khăn. Tôi đang nghĩ có lẽ nên chia đôi nó. Nhưng rồi nếu các bạn muốn truy cập một điều gì đó, có thể sẽ không may. Một người chí nguyện phải làm gì? Hãy xem tất cả chúng ta đều là người chí nguyện. |
|
[35] 1. He has to learn to think; |
[35] 1. Y phải học cách suy nghĩ; |
|
“Discover that thou hast a mind and learn its dual use”. This comes from A Treatise on White Magic. I think it’s page 474. We’re probably going to find the 15 counsels there. It’s always good to go to this list of the 15 counsels. Number six is “Learn,” but “discover that thou hast a mind” is number four, and “Learn its dual use” is number five. “Concentrate the thinking principle and be master of thy mental world” sounds like a very Leo thing to do. |
“Hãy khám phá rằng ngươi có một thể trí và học cách dùng nó theo hai mặt.” Điều này đến từ Luận về Chánh Thuật. Tôi nghĩ đó là trang 474. Có lẽ chúng ta sẽ tìm thấy 15 lời khuyên ở đó. Luôn luôn tốt khi trở lại danh sách 15 lời khuyên này. Số sáu là “Hãy học,” nhưng “hãy khám phá rằng ngươi có một thể trí” là số bốn, và “học cách dùng nó theo hai mặt” là số năm. “Hãy tập trung nguyên khí tư tưởng và làm chủ thế giới trí tuệ của ngươi” nghe giống như một điều rất thuộc Sư Tử để thực hiện. |
|
“Learn that the thinker and his thought, and that which is the means of thought, are diverse in their nature, yet one in their ultimate reality.” This sounds like one of the fruits of contemplation under Libra. We can assign some of these things to different astrological correlates. Go to page 473 for the 15 counsels which rightly pursued will make of a man an adept. |
“Hãy học rằng người tư tưởng, tư tưởng của y, và cái là phương tiện của tư tưởng, khác nhau trong bản chất của chúng, nhưng là một trong thực tại tối hậu của chúng.” Điều này nghe giống như một trong các kết quả của chiêm ngưỡng dưới Thiên Bình. Chúng ta có thể gán một vài điều này cho các tương ứng chiêm tinh khác nhau. Hãy đến trang 473 để xem 15 lời khuyên mà nếu theo đuổi đúng đắn sẽ làm cho một người trở thành chân sư. |
|
This aspirant, what has he to do? Learn to thin; |
Người chí nguyện này, y phải làm gì? Học suy nghĩ; |
|
[36] to discover that he has an apparatus which is called the mind and to uncover its faculties and powers. |
[36] khám phá rằng y có một bộ máy được gọi là thể trí, và khai mở các năng lực cùng quyền năng của nó. |
|
Latent at first and unknown at first. |
Lúc đầu còn tiềm ẩn và lúc đầu chưa được biết đến. |
|
[37] These have been well analysed for us in the first two books of the Yoga Sutras of Patanjali. |
[37] Những điều này đã được phân tích kỹ lưỡng cho chúng ta trong hai quyển đầu của Kinh Du-già của Patanjali. |
|
A great sage who lived according to the Tibetan somewhere around 10,000 years ago. |
Một bậc hiền triết vĩ đại, theo Chân sư Tây Tạng, đã sống vào khoảng 10.000 năm trước. |
|
[38] 2. He has to learn next to get back of his thought processes and form building propensities and discover the ideas which underlie the divine thought-form, the world process, and so learn to work in collaboration with the plan and subordinate his own thought-form building to these ideas. |
[38] 2. Kế đến, y phải học cách đi ra phía sau các tiến trình tư tưởng và các khuynh hướng kiến tạo hình tướng của mình, rồi khám phá những ý tưởng nằm bên dưới hình tư tưởng thiêng liêng, tiến trình thế giới, và nhờ vậy học cách làm việc trong sự cộng tác với Thiên Cơ, đồng thời đặt việc kiến tạo hình tư tưởng của chính mình dưới sự chi phối của các ý tưởng ấy. |
|
This requires not only the abstract mind, but also the intuition. When we’re talking about ideas, we seem to have entered the intuitive realm. When we’re talking about comprehensive, lucid, abstract renderings of those ideas, then we can talk about the abstract mind. |
Điều này đòi hỏi không chỉ trí trừu tượng, mà còn cả trực giác. Khi chúng ta nói về các ý tưởng, dường như chúng ta đã bước vào lĩnh vực trực giác. Khi chúng ta nói về những trình bày trừu tượng, sáng rõ và bao quát của các ý tưởng ấy, khi đó chúng ta có thể nói về trí trừu tượng. |
|
[39] He has to learn to penetrate into the world of these divine ideas |
[39] Y phải học cách thâm nhập vào thế giới của những ý tưởng thiêng liêng này |
|
He has to learn to penetrate into the world of these divine ideas. |
Y phải học thâm nhập vào thế giới của các ý tưởng thiêng liêng này. |
|
If they’re divine, they’re coming from the level of the monad or beyond. |
Nếu chúng là thiêng liêng, chúng đến từ cấp độ chân thần hoặc cao hơn. |
|
[40] and to study the “pattern of things in the Heavens” as it is called in the Bible. |
[40] và nghiên cứu “khuôn mẫu của muôn vật trên các tầng trời,” như cách gọi trong Kinh Thánh. |
|
and astrology will help, if esoteric. |
và chiêm tinh học sẽ giúp ích, nếu đó là Chiêm Tinh Học Nội Môn. |
|
[41] He [Page 366] must begin to work with the blue prints upon which all that is, is modelled and moulded. |
[41] Y [Page 366] phải bắt đầu làm việc với các bản thiết kế mà theo đó tất cả những gì hiện hữu được tạo mẫu và uốn nắn. |
|
This is definite work with the abstract mind. |
Đây là công việc rõ ràng với trí trừu tượng. |
|
[42] He becomes then a student-symbolist, and from being an idolater |
[42] Bấy giờ y trở thành một đạo sinh-biểu tượng gia, và từ một người thờ ngẫu tượng, |
|
one who just is worshiping the outer form without knowing its symbolic associations with higher things— |
một người chỉ tôn thờ hình tướng bên ngoài mà không biết các liên hệ biểu tượng của nó với những điều cao hơn— |
|
[43] he becomes a divine idealist. |
[43] y trở thành một nhà lý tưởng thiêng liêng. |
|
From being an idolater, trapped in the understanding of the limited understanding of an outer form, he becomes a divine idealist. Ascending, it would be the idol, the ideal, and finally the idea. |
Từ chỗ là một kẻ thờ ngẫu tượng, bị mắc kẹt trong sự thấu hiểu giới hạn về một hình tướng bên ngoài, y trở thành một nhà lý tưởng thiêng liêng. Khi thăng lên, đó sẽ là ngẫu tượng, lý tưởng, và cuối cùng là ý tưởng. |
|
[44] I use these words in their true sense and connotation. |
[44] Tôi dùng những từ này theo ý nghĩa và hàm nghĩa đích thực của chúng. |
|
And then |
Và rồi |
|
[45] 3. From that developed idealism, he must progress |
[45] 3. Từ chủ nghĩa lý tưởng đã phát triển ấy, y phải tiến |
|
Obviously, this is an aspirant, but it’s a pretty high aspirant already, isn’t it? We would call such a person a disciple or even an initiate once we are reaching this stage. |
Rõ ràng đây là một người chí nguyện, nhưng đã là một người chí nguyện khá cao rồi, phải không? Chúng ta sẽ gọi một người như thế là đệ tử, hoặc thậm chí là điểm đạo đồ một khi chúng ta đạt đến giai đoạn này. |
|
From that developed idealism, he must progress |
Từ chủ nghĩa lý tưởng đã phát triển ấy, y phải tiến tới |
|
[46] even deeper still, until he enters the realm of pure intuition. |
[46] sâu hơn nữa, cho đến khi y bước vào lĩnh vực của trực giác thuần khiết. |
|
This last paragraph number two is a lot about the abstract mind. I’m just going to say that this paragraph is mostly about the abstract mind, but the functioning of the intuition is also suggested. |
Đoạn cuối cùng số hai nói rất nhiều về trí trừu tượng. Tôi chỉ muốn nói rằng đoạn này chủ yếu nói về trí trừu tượng, nhưng hoạt động của trực giác cũng được gợi ý. |
|
Getting back to the thought process and form-building propensities and discover the ideas. We can discover the abstract formulations of ideas in the abstract mind, but the true formless being that an idea is, I think we have to wait until we enter the cosmic void of the mind, and then we can discover the abstract formulations of ideas. The vital body of the planetary and solar Logos, namely the four higher cosmic sub-planes, Buddhic and higher. |
Đi vào phía sau tiến trình tư tưởng và các khuynh hướng xây dựng hình tướng, và khám phá các ý tưởng. Chúng ta có thể khám phá các công thức trừu tượng của ý tưởng trong trí trừu tượng, nhưng bản thể vô hình tướng đích thực mà một ý tưởng là, tôi nghĩ chúng ta phải chờ cho đến khi bước vào khoảng không vũ trụ của trí, rồi chúng ta có thể khám phá các công thức trừu tượng của ý tưởng. Thể sinh lực của Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế, tức bốn cõi phụ vũ trụ cao hơn, Bồ đề và cao hơn. |
|
Discover the ideas which underlie the divine thought form and world process, and so learn to work in collaboration with the plan and subordinate his own thought form-building to these ideas. A lot of mention of ideas, and the pure idea is at least intuitive. And from that developed idealism he progresses even deeper. |
Khám phá các ý tưởng nằm bên dưới hình tư tưởng thiêng liêng và tiến trình thế giới, nhờ đó học cách làm việc cộng tác với Thiên Cơ và đặt việc xây dựng hình tư tưởng của riêng mình dưới các ý tưởng này. Có rất nhiều lần nhắc đến các ý tưởng, và ý tưởng thuần túy ít nhất là thuộc trực giác. Và từ chủ nghĩa lý tưởng đã phát triển ấy, y tiến còn sâu hơn nữa. |
|
[47] He can then tap truth at its source. |
[47] Khi đó y có thể chạm đến chân lý ngay tại cội nguồn của nó. |
|
This is at least a Buddhic tapping. |
Đây ít nhất là một sự chạm đến thuộc Bồ đề. |
|
[48] He enters into the mind of God Himself. |
[48] Y đi vào Trí của chính Thượng đế. |
|
This is the transcendental mind, and it’s almost as if the mind of God does not begin until the Buddhic plane. |
Đây là trí siêu việt, và gần như thể Trí của Thượng đế không bắt đầu cho đến cõi Bồ đề. |
|
[49] He intuits as well as idealises and is sensitive to divine thoughts. |
[49] Y trực nhận cũng như lý tưởng hóa, và trở nên nhạy bén với các tư tưởng thiêng liêng. |
|
The Sixth Ray Lord of idealism is very much related to the Third Ray Lord, which rules the abstract mind. Idealization is occurring on the abstract mental levels, and is sensitive to the divine thoughts. Divine thoughts are really ideas. |
Đấng Chúa Tể Cung sáu của chủ nghĩa lý tưởng có liên hệ rất nhiều với Đấng Chúa Tể Cung ba, vị cai quản trí trừu tượng. Sự lý tưởng hóa đang diễn ra trên các cấp độ trí trừu tượng, và nhạy cảm với các tư tưởng thiêng liêng. Các tư tưởng thiêng liêng thật ra là các ý tưởng. |
|
At various points he goes into the distinction between the idol, the ideal, and the true idea, and this is one of those very good sections where this is taken up. |
Ở nhiều điểm khác nhau, Ngài đi vào sự phân biệt giữa ngẫu tượng, lý tưởng và ý tưởng chân chính, và đây là một trong những đoạn rất hay nơi điều này được bàn đến. |
|
[50] They fertilise his mind. He calls these intuitions later, as he works them out, ideas or ideals, and bases all his work and conduct of affairs upon them. |
[50] Những tư tưởng ấy làm phong nhiêu thể trí của y. Về sau, khi triển khai chúng, y gọi những trực nhận này là các ý tưởng hay lý tưởng, và đặt nền tảng cho toàn bộ công việc cùng cách điều hành sự vụ của mình trên chúng. |
|
In the triad the man becomes receptive to the ideals, idealism of abstract mind and the ideas of the intuition, which are divine thoughts. I suppose until we have some experience with these things we don’t really know what we’re talking about. Let’s get in there and experience. |
Trong Tam nguyên tinh thần, con người trở nên tiếp nhận các lý tưởng, chủ nghĩa lý tưởng của trí trừu tượng và các ý tưởng của trực giác, vốn là các tư tưởng thiêng liêng. Tôi cho rằng cho đến khi chúng ta có một vài kinh nghiệm với những điều này, chúng ta thật sự không biết mình đang nói về điều gì. Hãy bước vào đó và kinh nghiệm. |
|
Then follows the work of conscious thought form building based upon these divine ideas emanating as intuitions from the universal mind, and this goes forward through meditation. We have reached the point where we’re going to stop here for a moment. |
Rồi tiếp theo là công việc xây dựng hình tư tưởng có ý thức, dựa trên các ý tưởng thiêng liêng này vốn xuất lộ như các trực nhận từ Vũ Trụ Trí, và điều này tiến triển thông qua tham thiền. Chúng ta đã đến điểm sẽ dừng lại ở đây trong chốc lát. |
|
We are on page 366, and we began on page 363. This has been number 23, and we’re going to begin with rule 10, number 24, and it’s going to be the 40th of our programs on rules for magic on the astral plane. We really have some amazing things here, and hopefully we will be able to really understand them increasingly. |
Chúng ta đang ở trang 366, và đã bắt đầu ở trang 363. Đây là số 23, và chúng ta sẽ bắt đầu với quy luật 10, số 24; đó sẽ là chương trình thứ 40 của chúng ta về các quy luật huyền thuật trên cõi cảm dục. Chúng ta thật sự có một số điều kỳ diệu ở đây, và hy vọng chúng ta sẽ có thể thật sự thấu hiểu chúng ngày càng nhiều hơn. |
|
I have a very adhesive mind, tends attached, tends not to let go of an unsolved problem. In all of the above, we have discussed the progress from the apprehension of the idle to the abstract mental ideal to the true idea from the intuitive realm, which is an aspect of the universal mind, not the highest aspect, but can access divine thoughts, whereas the thoughts formulated on the blueprint-making abstract mind are human thoughts. |
Tôi có một thể trí rất bám dính, có khuynh hướng bám vào, có khuynh hướng không buông bỏ một vấn đề chưa được giải quyết. Trong tất cả những điều trên, chúng ta đã bàn về tiến trình từ sự lĩnh hội ngẫu tượng đến lý tưởng trí trừu tượng, rồi đến ý tưởng chân chính từ cõi giới trực giác, vốn là một phương diện của Vũ Trụ Trí, không phải phương diện cao nhất, nhưng có thể tiếp cận các tư tưởng thiêng liêng; trong khi đó, các tư tưởng được hình thành trên trí trừu tượng tạo bản thiết kế là các tư tưởng nhân loại. |
|
I’m a little bit over the limit here, and that limit for this program is one hour, but we’ll see you soon for number 40. That’s the intention. Study hard. |
Tôi hơi vượt giới hạn ở đây, và giới hạn cho chương trình này là một giờ, nhưng chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau ở số 40. Đó là ý định. Hãy học tập chăm chỉ. |