Stanza IX. The Final Evolution Of Man. — Bài Kệ IX. Sự Tiến Hoá Cuối Cùng Của Con Người.
|
33. The creators repent. 34. They atone for their neglect. 35. Men become endowed with minds. 36. The Fourth Race develops perfect speech. 37. Every androgynous unit is separated and becomes bisexual. |
33. Các đấng sáng tạo hối tiếc. 34. Các Ngài chuộc lỗi vì sự lơ là của mình. 35. Con người được phú cho trí tuệ. 36. Giống dân thứ tư phát triển ngôn ngữ hoàn hảo. 37. Mỗi đơn vị lưỡng tính được tách ra và trở thành hai phái. |
|
33. Seeing which, 434 the Lhas 435 who had not built men, 436 wept, saying: 34. “The Amânasa 437 have defiled our future abodes. This is Karma. Let us dwell in the others. Let us teach them better, lest worse should happen.” They did…. |
33. Thấy điều ấy, các Lha vốn đã không kiến tạo con người, khóc than rằng: 34. “Các Amânasa đã làm ô uế những nơi cư ngụ tương lai của chúng ta. Đây là nghiệp quả. Chúng ta hãy cư ngụ trong những kẻ khác. Hãy dạy dỗ họ tốt hơn, kẻo điều tệ hơn xảy đến.” Các Ngài đã làm như vậy…. |
|
35. Then all men became endowed with Manas. 438 They saw the sin of the mindless. |
35. Bấy giờ tất cả con người đều được phú cho Manas. Họ thấy tội lỗi của những kẻ vô trí. |
|
But they had already separated, before the ray of divine reason had enlightened the dark region of their hitherto slumbering minds, and had sinned. That is to say, they had committed evil unconsciously, by producing an effect which was unnatural. Yet, like the other six primitive brother or fellow races, even so this seventh, henceforth degenerated race, which will have to bide its time for its final development on account of the sin committed—even this race will find itself on the last day on one of the Seven Paths. For: The Wise 439 guard the home of nature’s order, they assume excellent forms in secret. 440 |
Nhưng họ đã tách ra trước khi tia sáng của lý trí thiêng liêng soi sáng vùng tối tăm của những thể trí cho đến khi ấy vẫn còn ngủ yên của họ, và đã phạm tội. Nghĩa là, họ đã gây điều ác một cách vô thức, bằng cách tạo ra một kết quả trái tự nhiên. Tuy nhiên, giống như sáu giống dân sơ khai huynh đệ hay đồng loại khác, ngay cả giống dân thứ bảy này — từ nay đã suy thoái và sẽ phải chờ thời kỳ phát triển cuối cùng của mình vì tội lỗi đã phạm — ngay cả giống dân này cũng sẽ thấy mình vào ngày cuối cùng trên một trong Bảy Con Đường. Vì: Những Bậc Minh Triết canh giữ ngôi nhà của trật tự thiên nhiên; các Ngài khoác lấy những hình tướng tuyệt hảo trong bí mật. |
|
But we must see whether the “animals” tampered with, were of the same kind as those known to Zoölogy. |
Nhưng chúng ta phải xem liệu những “động vật” bị can thiệp ấy có cùng loại với những gì được Động vật học biết đến hay không. |
|
The “Fall” occurred, according to the testimony of ancient Wisdom and the old records, as soon as Daksha—the reincarnated Creator of men and things in the early Third Race—disappeared to make room for that portion of mankind which had “separated.” This is how one Commentary explains the details that preceded the “Fall”: In the initial period of man’s Fourth Evolution, the human kingdom branched off in several and various directions. The outward shape of its first specimens was not uniform, for the vehicles [the egg-like, external shells, in which the future fully physical man gestated] were often tampered with, before they hardened, by huge animals, of species now unknown, and belonging to the tentative efforts of Nature. The result was that intermediate races of monsters, half animals, half men, were produced. But as they were failures, they were not allowed to breathe long and live, although, the intrinsically paramount power of psychic over physical nature being yet very weak, and hardly established, the “Egg-born” Sons had taken several of their females unto themselves as mates, and bred other human monsters. Later, animal species and human races becoming gradually equilibrized, they separated, and mated no longer. Man created no more—he begot. But he also begot animals as well as men, in days of old. Therefore the Sages [or wise men], who speak of males who had no more will-begotten offspring, but begat various animals along with Dânavas [Giants] on females of other species—animals being as [or in the manner of] sons putative to them; and they [the human males] refusing in time to be regarded as [putative] fathers of dumb creatures—spoke truthfully and wisely. Upon seeing this [state of things], the Kings and Lords of the last Races [of the Third and the Fourth] placed the seal of prohibition upon the sinful intercourse. It interfered with Karma, it developed new [Karma] 441. They [the Divine Kings] struck the culprits with sterility. They destroyed the Red and Blue Races. 442 |
Theo chứng ngôn của Minh Triết cổ xưa và các ký lục xưa, “Sự Sa Ngã” đã xảy ra ngay khi Daksha — Đấng Sáng Tạo tái sinh của con người và sự vật trong thời kỳ đầu của Giống Dân Thứ Ba — biến mất để nhường chỗ cho phần nhân loại đã “tách ra.” Một bản Bình Giải giải thích như sau về những chi tiết đi trước “Sự Sa Ngã”: Trong thời kỳ khởi đầu của Cuộc Tiến Hoá Thứ Tư của con người, giới nhân loại phân nhánh theo nhiều hướng khác nhau. Hình dạng bên ngoài của những mẫu đầu tiên của nó không đồng nhất, vì các vận cụ — những vỏ ngoài giống quả trứng, trong đó con người hồng trần hoàn toàn tương lai thai nghén — thường bị những động vật khổng lồ thuộc các loài nay không còn biết đến, và thuộc về những nỗ lực thử nghiệm của Thiên nhiên, can thiệp trước khi chúng cứng lại. Kết quả là những giống dân trung gian quái dị, nửa thú nửa người, đã được tạo ra. Nhưng vì chúng là những thất bại, chúng không được phép thở và sống lâu, mặc dù quyền năng nội tại tối thượng của bản chất thông linh đối với bản chất hồng trần lúc ấy còn rất yếu và hầu như chưa được thiết lập, nên các Con “Sinh Từ Trứng” đã lấy một số con cái của chúng làm bạn phối ngẫu và sinh ra những quái vật người khác. Về sau, khi các loài động vật và các giống dân nhân loại dần dần đi đến quân bình, họ tách riêng và không còn giao phối nữa. Con người không còn sáng tạo — y sinh sản. Nhưng trong thời cổ, y cũng đã sinh ra động vật cũng như con người. Vì thế, các Hiền Triết hay những người minh triết, khi nói về những giống đực không còn sinh con bằng ý chí nữa, mà sinh ra nhiều loài động vật khác nhau cùng với các Dânava, tức những Người Khổng Lồ, với các con cái của những loài khác — các động vật ấy được xem như, hay theo cách của, những người con giả định của họ; và khi họ, những giống đực nhân loại, đến lúc từ chối bị xem là cha giả định của các sinh vật câm — đã nói một cách chân thật và minh triết. Khi thấy tình trạng này, các Vua và Chúa Tể của những Giống Dân cuối, tức Giống Dân Thứ Ba và Thứ Tư, đã đặt ấn cấm lên sự giao hợp tội lỗi ấy. Nó can thiệp vào nghiệp quả, nó phát triển nghiệp quả mới. Các Ngài, những Vị Vua Thiêng Liêng, đánh phạt những kẻ phạm tội bằng sự vô sinh. Các Ngài tiêu diệt các Giống Dân Đỏ và Xanh. |
|
In another we find: There were blue and red-faced animal-men even in later times; not from actual intercourse [between the human and animal species], but by descent. |
Trong một đoạn khác, chúng ta thấy: Ngay cả trong những thời kỳ về sau cũng có những người-thú mặt xanh và mặt đỏ; không phải do sự giao hợp thực sự giữa loài người và loài vật, mà do huyết thống. |
|
And still another passage mentions: Red-haired, swarthy men going on all-fours, who bend and unbend [stand erect and fall on their hands again], who speak as their forefathers, and run on their hands as their giant fore-mothers. |
Và một đoạn khác nữa nhắc đến: Những người tóc đỏ, da sẫm, đi bằng bốn chi, cúi xuống rồi đứng lên, đứng thẳng rồi lại chống tay xuống, nói như tổ phụ của họ, và chạy bằng tay như những tổ mẫu khổng lồ của họ. |
|
Perchance in these specimens Hæckelians might recognize, not the “Homo Primigenius,” but some of the lower tribes, such as some tribes of the Australian savages. Nevertheless, even these are not descended from the anthropoid apes, but from human fathers and semi-human mothers, or, to speak more correctly, from human monsters—those “failures” mentioned in the first Commentary. The real anthropoids, Hæckel’s Catarrhini and Platyrrhini, came far later, in the closing times of Atlantis. The Orang-Outang, the Gorilla, the Chimpanzee and Cynocephalus are the latest and purely physical evolutions from lower anthropoid mammalians. They have a spark of the purely human essence in them; man on the other hand, has not one drop of pithecoid 443 blood in his veins. Thus saith old Wisdom and universal tradition. |
Có lẽ trong những mẫu này, những người theo Haeckel có thể nhận ra, không phải “Người Nguyên Thuỷ Đầu Tiên,” mà là một số bộ lạc thấp kém hơn, chẳng hạn như vài bộ lạc thổ dân Úc. Tuy nhiên, ngay cả những người này cũng không phải là hậu duệ của các loài vượn người, mà là của những người cha nhân loại và những người mẹ bán-nhân, hay nói đúng hơn, của những quái vật người — những “thất bại” được nêu trong bản Bình Giải thứ nhất. Những loài vượn người thật sự, các nhóm của Haeckel khỉ mũi hẹp và khỉ mũi rộng, xuất hiện muộn hơn rất nhiều, vào thời kỳ cuối của Atlantis. Đười ươi, khỉ đột, tinh tinh và khỉ đầu chó là những tiến hoá sau cùng và thuần hồng trần từ các loài hữu nhũ vượn người thấp hơn. Chúng có trong mình một tia lửa của tinh chất thuần nhân loại; ngược lại, con người không có một giọt máu giống khỉ nào trong huyết quản. Minh Triết cổ xưa và truyền thống phổ quát nói như vậy. |
|
How was the separation of sexes effected? it is asked. Are we to believe in the old Jewish fable of the rib of Adam yielding Eve? Even such belief is more logical and reasonable than the descent of man from the Quadrumana without any reservation; as the former hides an Esoteric truth under a fabulous version, while the latter conceals no deeper fact than a desire to force upon mankind a materialistic fiction. The rib is bone, and when we read in Genesis that Eve was made out of the rib, it only means that the Race “with bones” was produced out of a previous Race and Races, which were “boneless.” This is an Esoteric tenet spread far and wide. It is almost universal under its various forms. A Tahitian tradition states that man was created out of Aræa, “red earth.” Taaroa, the Creative Power, the chief God, “put man to sleep for long years, for several lives.” This means racial periods, and is a reference to his mental sleep, as shown elsewhere. During that time the deity pulled an Ivi (bone) out of man and she became a woman. 444 |
Sự phân ly giới tính đã diễn ra như thế nào? người ta hỏi. Chúng ta có phải tin vào ngụ ngôn Do Thái xưa về chiếc xương sườn của Adam sinh ra Eve không? Ngay cả niềm tin ấy cũng hợp lý và phải lẽ hơn việc chấp nhận không dè dặt sự xuất thân của con người từ bộ Bốn Tay; vì điều trước che giấu một chân lý nội môn dưới một phiên bản ngụ ngôn, trong khi điều sau không che giấu sự kiện sâu xa nào hơn là một ý muốn áp đặt lên nhân loại một hư cấu duy vật. Xương sườn là xương, và khi chúng ta đọc trong Sáng Thế Ký rằng Eve được tạo ra từ xương sườn, điều đó chỉ có nghĩa là Giống Dân “có xương” được sinh ra từ một Giống Dân, hay những Giống Dân trước đó, vốn “không xương.” Đây là một giáo lý nội môn được truyền bá rất rộng. Dưới nhiều hình thức khác nhau, nó hầu như phổ quát. Một truyền thống Tahiti nói rằng con người được tạo ra từ Araea, “đất đỏ.” Taaroa, Quyền Năng Sáng Tạo, Thượng đế chủ yếu, “đặt con người vào giấc ngủ trong nhiều năm dài, qua nhiều kiếp sống.” Điều này có nghĩa là những thời kỳ chủng tộc, và ám chỉ giấc ngủ trí tuệ của y, như đã được trình bày ở nơi khác. Trong thời gian ấy, Thượng đế rút một Ivi, tức xương, ra khỏi con người, và nàng trở thành người nữ. |
|
Nevertheless, whatever the allegory may signify, even its exoteric meaning necessitates a divine Builder of man—a “Progenitor.” Do we then believe in such “supernatural” Beings? We say: No. Occultism has never believed in anything, whether animate or inanimate, outside Nature. Nor are we Cosmolaters or Polytheists for believing in “Heavenly Man” and Divine Men, for we have the accumulated testimony of the ages, with its unvarying evidence on every essential point, to support us in this; the Wisdom of the Ancients and universal tradition. We reject, however, such groundless and baseless traditions as have outgrown strict allegory and symbolism, although they may have found acceptance in exoteric creeds. But that which is preserved in unanimous tradition, only the wilfully blind could reject. Hence we believe in races of Beings other than our own in far remote geological periods; in races of ethereal, following incorporeal (Arûpa) Men, with form but no solid substance, giants who preceded us pigmies; in Dynasties of Divine Beings, those Kings and Instructors of the Third Race in arts and sciences, compared with which our little Modern Science stands less chance than elementary arithmetic with geometry. |
Tuy nhiên, dù ẩn dụ ấy có hàm ý gì đi nữa, ngay cả ý nghĩa ngoại môn của nó cũng tất yếu đòi hỏi một Đấng Kiến Tạo thiêng liêng của con người — một “Đấng Thuỷ Tổ.” Vậy chúng ta có tin vào những Hữu Thể “siêu nhiên” như thế không? Chúng tôi nói: Không. Huyền bí học chưa bao giờ tin vào bất cứ điều gì, dù hữu sinh hay vô sinh, nằm bên ngoài Thiên nhiên. Chúng ta cũng không phải là những người thờ vũ trụ hay đa thần khi tin vào “Đấng Thiên Nhân” và Những Con Người Thiêng Liêng, vì chúng ta có chứng ngôn tích luỹ của các thời đại, với bằng chứng không đổi của nó trên mọi điểm thiết yếu, để nâng đỡ chúng ta trong điều này; đó là Minh Triết của người xưa và truyền thống phổ quát. Tuy nhiên, chúng ta bác bỏ những truyền thống vô căn cứ và không nền tảng đã vượt ra ngoài ẩn dụ và biểu tượng nghiêm ngặt, dù chúng có thể đã được chấp nhận trong các tín điều ngoại môn. Nhưng điều được bảo tồn trong truyền thống nhất trí, chỉ những kẻ mù quáng cố ý mới có thể bác bỏ. Vì vậy, chúng ta tin vào các giống dân Hữu Thể khác với giống dân của chúng ta trong những thời kỳ địa chất xa xôi; vào những giống dân người dĩ thái, tiếp sau là những Người vô hình thể, hay arupa, có hình tướng nhưng không có chất liệu rắn chắc, những người khổng lồ đi trước chúng ta là những kẻ tí hon; vào các Triều Đại của những Hữu Thể Thiêng Liêng, những Vua và Huấn Sư của Giống Dân Thứ Ba trong nghệ thuật và khoa học, mà khi so với các Ngài, Khoa Học Hiện Đại nhỏ bé của chúng ta còn kém cơ hội hơn số học sơ đẳng so với hình học. |
|
No, certainly not. We do not believe in supernatural but only in superhuman, or rather interhuman, intelligences. One can easily appreciate the feeling of reluctance that an educated person would have to being classed with the superstitious and ignorant; and even realize the great truth uttered by Renan when he says that: The supernatural has become like the original sin, a blemish that everyone seems ashamed of—even those most religious persons who refuse in our day to accept be it a minimum of Bible miracles in all their crudeness, and who, seeking to reduce them to the minimum, hide and conceal it in the furthermost corners of the past. 445 |
Không, chắc chắn là không. Chúng ta không tin vào siêu nhiên mà chỉ tin vào siêu nhân, hay đúng hơn là liên nhân, những trí tuệ. Người ta dễ dàng cảm thông với cảm giác miễn cưỡng mà một người có học thức sẽ có khi bị xếp chung với những kẻ mê tín và ngu dốt; và thậm chí có thể nhận ra chân lý lớn lao do Renan thốt ra khi ông nói rằng: Cái siêu nhiên đã trở nên giống như nguyên tội, một vết nhơ mà dường như ai cũng hổ thẹn — ngay cả những người sùng đạo nhất trong thời chúng ta, những người từ chối chấp nhận dù chỉ một phần tối thiểu các phép lạ trong Kinh Thánh theo sự thô sơ của chúng, và khi tìm cách giảm chúng đến mức tối thiểu, lại che giấu và vùi lấp nó trong những góc xa nhất của quá khứ. |
|
But the “supernatural” of Renan belongs to dogma and its dead letter. It has nought to do with its spirit nor with the reality of facts in Nature. If Theology asks us to believe that it was only four or five thousand years ago that men lived 900 years and more, that a portion of mankind, the enemies of the people of Israel exclusively, was composed of giants and monsters, we decline to believe that such a thing existed in Nature only five thousand years back. For Nature never proceeds by jumps and starts, and logic and common sense, besides Geology, Anthropology and Ethnology, have justly rebelled against such assertions. But if this same Theology, giving up her fantastic chronology, had claimed that men lived 969 years—the age of Methuselah—five million years ago, we should have nothing to say against the claim. For in those days the physical frame of men was, compared to the present human body, as that of a Megalosaurus to a common lizard. |
Nhưng cái “siêu nhiên” của Renan thuộc về giáo điều và văn tự chết của nó. Nó không liên quan gì đến tinh thần của giáo điều ấy, cũng chẳng liên quan đến thực tại của các sự kiện trong Thiên nhiên. Nếu Thần học yêu cầu chúng ta tin rằng chỉ bốn hay năm nghìn năm trước, con người đã sống chín trăm năm và hơn nữa, rằng một phần nhân loại, chỉ riêng những kẻ thù của dân Israel, gồm toàn người khổng lồ và quái vật, thì chúng ta từ chối tin rằng một điều như thế đã tồn tại trong Thiên nhiên chỉ mới năm nghìn năm trước. Vì Thiên nhiên không bao giờ tiến hành bằng những bước nhảy vọt và khởi phát đột ngột, và lôgic cùng lương tri, ngoài Địa chất học, Nhân học và Dân tộc học, đã phản kháng một cách chính đáng những khẳng định như thế. Nhưng nếu chính Thần học ấy, từ bỏ niên đại kỳ quái của mình, đã tuyên bố rằng con người sống chín trăm sáu mươi chín năm — tuổi của Methuselah — cách đây năm triệu năm, thì chúng ta sẽ không có gì để phản bác tuyên bố ấy. Vì vào những ngày đó, khung thân hồng trần của con người, so với thể xác hiện nay, giống như Megalosaurus so với một con thằn lằn thường. |
|
A Naturalist suggests another difficulty. The human is the only species which, however unequal in its races, can breed together. “There is no question of selection between human races,” say the anti-Darwinists, and no Evolutionist can deny the argument—one which very triumphantly proves specific unity. How then can Occultism insist that a portion of the Fourth Race humanity begot young ones from females of another, only semi-human, if not quite an animal, race; the hybrids resulting from which union not only bred freely but produced the ancestors of the modern anthropoid apes? Esoteric Science replies to this that it was in the very beginnings of physical man. Since then, Nature has changed her ways, and sterility is the only result of the crime of man’s bestiality. But we have even to-day proofs of this. The Secret Doctrine teaches that the specific unity of mankind is not without exceptions even now. For there are, or rather still were a few years ago, descendants of these half-animal tribes or races, both of remote Lemurian and Lemuro-Atlantean origin. The world knows them as Tasmanians (now extinct), Australians, Andaman Islanders, etc. The descent of the Tasmanians can be almost proved by a fact, which struck Darwin a good deal, without his being able to make anything of it. This fact deserves notice. |
Một nhà Tự nhiên học nêu lên một khó khăn khác. Con người là loài duy nhất, dù các giống dân của nó bất bình đẳng đến đâu, vẫn có thể sinh sản với nhau. “Không có vấn đề chọn lọc giữa các giống dân nhân loại,” những người chống Darwin nói như vậy, và không nhà Tiến hoá luận nào có thể phủ nhận lập luận ấy — một lập luận chứng minh rất đắc thắng sự thống nhất loài. Vậy làm sao Huyền bí học có thể khăng khăng rằng một phần nhân loại Giống Dân Thứ Tư đã sinh con với các con cái của một giống dân khác, chỉ bán-nhân, nếu không phải hoàn toàn động vật; và các giống lai do sự kết hợp ấy tạo ra không những sinh sản tự do mà còn tạo nên tổ tiên của các loài vượn người hiện đại? Khoa Học Nội Môn trả lời rằng điều ấy xảy ra vào chính những khởi đầu của con người hồng trần. Từ đó về sau, Thiên nhiên đã đổi đường lối, và vô sinh là kết quả duy nhất của tội thú tính nơi con người. Nhưng ngay cả ngày nay chúng ta vẫn có bằng chứng về điều này. Giáo Lý Bí Nhiệm dạy rằng sự thống nhất loài của nhân loại ngay cả hiện nay cũng không phải là không có ngoại lệ. Vì có, hay đúng hơn là vài năm trước vẫn còn có, những hậu duệ của các bộ lạc hay giống dân nửa thú ấy, có nguồn gốc xa xưa từ Lemuria và Lemuro-Atlantis. Thế giới biết họ như người Tasmania, nay đã tuyệt chủng, người Úc, cư dân quần đảo Andaman, vân vân. Huyết thống của người Tasmania hầu như có thể được chứng minh bằng một sự kiện đã gây ấn tượng mạnh với Darwin, dù ông không thể rút ra điều gì từ đó. Sự kiện này đáng được lưu ý. |
|
De Quatrefages and other Naturalists, who seek to prove Monogenesis by the very fact of every race of mankind being capable of crossing with every other, have left out of their calculations exceptions, which do not in this case confirm the rule. Human crossing may have been a general rule from the time of the separation of sexes, but this does not prevent another law asserting itself, viz., sterility between two human races, just as between two animal species of different kinds, in those rare cases when a European, condescending to see in a female of a savage tribe a mate, happens to choose a member of such mixed tribes. 446 Darwin notes such a case in a Tasmanian tribe, whose women were suddenly struck with sterility, en masse, some time after the arrival among them of European colonists. The great Naturalist tried to explain this fact by change of diet, food conditions, etc., but finally gave up the solution of the mystery. For the Occultist it is very evident. “Crossing,” as it is called, of Europeans with Tasmanian women—i.e., the representatives of a race, whose progenitors were a “soulless” 447 and mindless monster, with a real human, though still as mindless a man—brought on sterility; and this, not only as a consequence of a physiological law, but also as a decree of Karmic evolution in the question of further survival of the abnormal race. In no one point of the above is Science prepared to believe as yet—but it will have to in the long run. Esoteric Philosophy, let us remember, only fills the gaps left by Science and corrects her false premisses. |
De Quatrefages và các nhà Tự nhiên học khác, những người tìm cách chứng minh thuyết đơn nguồn bằng chính sự kiện rằng mọi giống dân của nhân loại đều có khả năng lai với mọi giống dân khác, đã bỏ sót trong các tính toán của họ những ngoại lệ, vốn trong trường hợp này không xác nhận quy luật. Sự lai giống giữa người với người có thể đã là quy luật chung từ thời phân ly giới tính, nhưng điều đó không ngăn một định luật khác tự khẳng định, tức là sự vô sinh giữa hai giống dân nhân loại, cũng như giữa hai loài động vật khác loại, trong những trường hợp hiếm hoi khi một người Âu, hạ mình xuống để thấy nơi một phụ nữ thuộc bộ lạc man dã một bạn phối ngẫu, tình cờ chọn một thành viên của những bộ lạc pha trộn như thế. Darwin ghi nhận một trường hợp như vậy trong một bộ lạc Tasmania, nơi phụ nữ bỗng nhiên bị vô sinh hàng loạt, một thời gian sau khi những người thực dân Âu châu đến sống giữa họ. Nhà Tự nhiên học vĩ đại ấy đã cố giải thích sự kiện này bằng thay đổi chế độ ăn, điều kiện thực phẩm, vân vân, nhưng cuối cùng đành bỏ cuộc trước lời giải của bí ẩn. Đối với nhà huyền bí học, điều ấy rất hiển nhiên. Sự “lai giống,” như người ta gọi, giữa người Âu và phụ nữ Tasmania — tức là những đại diện của một giống dân mà tổ tiên là một quái vật “không linh hồn” và vô trí, với một con người thật sự, dù cũng còn vô trí — đã đem lại sự vô sinh; và điều này không chỉ như hệ quả của một định luật sinh lý, mà còn như một sắc lệnh của tiến hoá nghiệp quả trong vấn đề sự sống còn về sau của giống dân bất thường ấy. Khoa học cho đến nay vẫn chưa sẵn sàng tin vào bất cứ điểm nào nêu trên — nhưng về lâu dài sẽ phải tin. Triết học Nội Môn, chúng ta hãy nhớ, chỉ lấp đầy những khoảng trống do Khoa học để lại và sửa chữa những tiền đề sai lầm của nó. |
|
Yet, in this particular, Geology and even Botany and Zoology support the Esoteric Teachings. It has been suggested by many Geologists that the Australian native—coexisting as he does with an archaic fauna and flora—must date back to an enormous antiquity. The whole environment of this mysterious race, about whose origin Ethnology is silent, is a testimony to the truth of the Esoteric position. As Jukes says: It is a very curious fact that not only these marsupial animals [the mammals found in the Oxfordshire Stone-field Slates], but several of the shells—as for instance, the Trigonias and even some of the plants found fossil in the Oolitic rocks—much more nearly resemble those now living in Australia than the living forms of any other part of the globe. This might be explained on the supposition that, since the Oolitic [Jurassic] period less change has taken place in Australia than elsewhere, and that the Australian flora and fauna consequently retain something of the Oolitic type, while it had been altogether supplanted and replaced on the rest of the globe [!!]. 448 |
Tuy nhiên, trong điểm đặc biệt này, Địa chất học và cả Thực vật học lẫn Động vật học đều ủng hộ các Giáo Huấn Nội Môn. Nhiều nhà Địa chất học đã gợi ý rằng thổ dân Úc — cùng tồn tại như y đang tồn tại với một hệ động vật và thực vật cổ sơ — hẳn phải có niên đại thuộc về một thời cực kỳ xa xưa. Toàn bộ môi trường của giống dân huyền bí này, mà Dân tộc học vẫn im lặng về nguồn gốc, là một chứng cứ cho chân lý của lập trường Nội Môn. Như Jukes nói: Một sự kiện rất kỳ lạ là không chỉ những động vật có túi này, tức các loài hữu nhũ tìm thấy trong các phiến đá vùng Oxfordshire, mà cả một số loài vỏ sò — chẳng hạn như Trigonias và thậm chí một số thực vật tìm thấy hoá thạch trong các đá Oolitic — giống gần hơn rất nhiều với những loài hiện đang sống ở Úc hơn là với các hình thức sống của bất cứ phần nào khác trên địa cầu. Điều này có thể được giải thích trên giả thuyết rằng, kể từ thời kỳ Oolitic, tức Jura, ở Úc đã xảy ra ít biến đổi hơn nơi khác, và do đó hệ thực vật và động vật Úc giữ lại một điều gì đó thuộc kiểu Oolitic, trong khi trên phần còn lại của địa cầu, kiểu ấy đã hoàn toàn bị thay thế và thay chỗ. |
|
Now why has less change taken place in Australia than elsewhere? Where is the raison d’être for such a “curse of retardation”? It is simply because the nature of the environment develops pari passu with the race concerned. Correspondences rule in every quarter. The survivors of those later Lemurians, who escaped the destruction of their fellows when the main Continent was submerged, became the ancestors of a portion of the present native tribes. Being a very low sub-race, begotten originally of animals, of monsters, whose very fossils are now resting miles under the sea floors, their stock has since existed in an environment strongly subjected to the law of retardation. Australia is one of the oldest lands now above the waters, and in the senile decrepitude of old age, its “virgin soil” notwithstanding. It can produce no new forms, unless helped by new and fresh races, and artificial cultivation and breeding. |
Vậy tại sao ở Úc lại xảy ra ít biến đổi hơn nơi khác? Đâu là lý do tồn tại của một “lời nguyền trì trệ” như thế? Đơn giản là vì bản chất của môi trường phát triển song hành với giống dân liên hệ. Các tương ứng cai quản khắp mọi nơi. Những kẻ sống sót của các nhóm Lemuria về sau, những người thoát khỏi sự huỷ diệt của đồng loại khi Lục địa chính bị nhấn chìm, đã trở thành tổ tiên của một phần các bộ lạc bản địa hiện nay. Vì là một giống dân phụ rất thấp, ban đầu sinh ra từ động vật, từ những quái vật mà chính hoá thạch của chúng nay đang nằm sâu nhiều dặm dưới đáy biển, dòng giống của họ từ đó đã tồn tại trong một môi trường chịu mạnh mẽ định luật trì trệ. Úc là một trong những vùng đất cổ xưa nhất hiện còn nổi trên mặt nước, và đang ở trong sự suy tàn già nua của tuổi già, bất chấp “đất nguyên sơ” của nó. Nó không thể tạo ra những hình tướng mới, trừ khi được trợ giúp bởi những giống dân mới mẻ và tươi mới, cùng sự canh tác và lai tạo nhân tạo. |
|
To return once more, however, to the history of the Third Race, the “Sweat-born,” the “Egg-bearing,” and the “Androgyne.” Almost sexless, in its early beginnings, it became bisexual or androgynous; very gradually of course. The passage from the first to the last transformation required numberless generations, during which the simple cell that issued from the earliest parent (the two in one), first developed into a bisexual being; and then the cell, becoming a regular egg, gave forth a unisexual creature. The Third Race mankind is the most mysterious of all the five hitherto developed Races. The mystery of the “How” of the generation of the distinct sexes must, of course, be very obscure here, as it is the business of an embryologist and a specialist; the present work giving only faint outlines of the process. But it is evident that the units of the Third Race humanity began to separate in their pre-natal shells, or eggs, 449 and to issue out of them as distinct male and female babes, ages after the appearance of its early progenitors. And, as time rolled on its geological periods, the newly born sub-races began to lose their natal capacities. Toward the end of the fourth sub-race of the Third Race, the babe lost its faculty of walking as soon as liberated from its shell, and by the end of the fifth, mankind was born under the same conditions and by identically the same process as our historical generations. This required, of course, millions of years. The reader has been made acquainted with the approximate figures, at least of the exoteric calculations. 450 |
Tuy nhiên, để trở lại một lần nữa với lịch sử Giống Dân Thứ Ba, những kẻ “Sinh Từ Mồ Hôi,” “Mang Trứng,” và “Lưỡng Tính.” Gần như không giới tính trong những khởi đầu ban sơ, nó trở thành song tính hay lưỡng tính; dĩ nhiên là rất dần dần. Sự chuyển tiếp từ biến đổi đầu tiên đến biến đổi cuối cùng đòi hỏi vô số thế hệ, trong đó tế bào đơn giản phát xuất từ tổ phụ sớm nhất, tức hai trong một, trước hết phát triển thành một hữu thể lưỡng tính; rồi tế bào ấy, khi trở thành một quả trứng đều đặn, sinh ra một sinh vật đơn tính. Nhân loại Giống Dân Thứ Ba là huyền bí nhất trong tất cả năm Giống Dân cho đến nay đã phát triển. Bí ẩn về “cách thức” sinh ra hai giới tính riêng biệt, dĩ nhiên, ở đây phải rất mờ tối, vì đó là công việc của nhà phôi học và chuyên gia; tác phẩm hiện tại chỉ đưa ra những nét phác rất nhạt của tiến trình. Nhưng rõ ràng là các đơn vị của nhân loại Giống Dân Thứ Ba bắt đầu tách ra trong những vỏ hay trứng trước khi sinh của họ, và từ đó bước ra như những hài nhi nam và nữ riêng biệt, nhiều thời đại sau sự xuất hiện của các tổ tiên ban sơ của họ. Và khi thời gian trôi qua các chu kỳ địa chất của nó, các giống dân phụ mới sinh bắt đầu mất những năng lực bẩm sinh. Đến cuối giống dân phụ thứ tư của Giống Dân Thứ Ba, hài nhi mất khả năng đi lại ngay khi được giải thoát khỏi vỏ, và đến cuối giống dân phụ thứ năm, nhân loại đã được sinh ra dưới cùng những điều kiện và bằng đúng cùng tiến trình như các thế hệ lịch sử của chúng ta. Điều này, dĩ nhiên, đòi hỏi hàng triệu năm. Độc giả đã được làm quen với những con số xấp xỉ, ít nhất là theo các tính toán ngoại môn. |
|
We are approaching the turning-point of the evolution of the Races. Let us see what Occult Philosophy says on the origin of language. |
Chúng ta đang tiến gần đến bước ngoặt của sự tiến hoá các Giống Dân. Hãy xem Triết học Huyền bí nói gì về nguồn gốc của ngôn ngữ. |
|
36. The Fourth Race developed speech. |
36. Giống Dân Thứ Tư phát triển ngôn ngữ. |
|
The Commentaries explain that the First Race—the ethereal or astral Sons of Yoga, also called “Self-born”—was, in our sense, speechless, for it was devoid of mind on our plane. The Second Race had a “sound-language,” to wit, chant-like sounds composed of vowels alone. The Third Race developed in the beginning a kind of language which was only a slight improvement on the various sounds in Nature, on the cry of gigantic insects and of the first animals, which, however, were hardly nascent in the day of the “Sweat-born” or the early Third Race. In its second half, when the “Sweat-born” gave birth to the “Egg-born,” the middle Third Race; and when these, instead of “hatching out”—may the reader pardon the rather ridiculous expression when applied to human beings in our age—as androgynous beings, began to evolve into separate males and females; and when the same law of evolution led them to reproduce their kind sexually—an act which forced the Creative Gods, compelled by Karmic law, to incarnate in mindless men; then only was speech developed. But even then it was still no better than a tentative effort. The whole human race was at that time of “one language and of one lip.” This did not prevent the last two sub-races of the Third Race 451 from building cities, and sowing far and wide the first seeds of civilization under the guidance of their Divine Instructors, 452 and their own already awakened minds. Let the reader also bear in mind that, as each of the seven Races is divided into four Ages—the Golden, Silver, Bronze, and Iron Age—so is every smallest division of such Races. Speech then developed, according to Occult Teaching, in the following order: I. Monosyllabic speech: that of the first approximately fully developed human beings at the close of the Third Root-Race, the “golden-coloured,” yellow-complexioned men, after their separation into sexes, and the full awakening of their minds. Before that, they communicated through what would now be called “thought-transference,” though, with the exception of the Race called the “Sons of Will and Yoga”—the first in whom the “Sons of Wisdom” had incarnated—thought was but very little developed in nascent physical man, and never soared above a low terrestrial level. Their physical bodies belonging to the Earth, their Monads remained on a higher plane altogether. Language could not be well developed before the full acquisition and development of their reasoning faculties. This monosyllabic speech was the vowel-parent, so to speak, of the monosyllabic languages mixed with hard consonants, still in use amongst the yellow races which are known to the Anthropologist. 453 |
Các bản Bình Giải giải thích rằng Giống Dân Thứ Nhất — những Con của Yoga thuộc dĩ thái hay cảm dục, cũng được gọi là “Tự Sinh” — theo nghĩa của chúng ta, không có ngôn ngữ, vì nó thiếu thể trí trên cõi của chúng ta. Giống Dân Thứ Hai có một “ngôn ngữ âm thanh,” tức là những âm điệu giống tụng ca chỉ gồm nguyên âm. Giống Dân Thứ Ba lúc đầu phát triển một loại ngôn ngữ chỉ là một cải tiến nhỏ so với các âm thanh khác nhau trong Thiên nhiên, so với tiếng kêu của những côn trùng khổng lồ và của các động vật đầu tiên, tuy nhiên những loài này hầu như chỉ mới nảy sinh vào thời của những kẻ “Sinh Từ Mồ Hôi,” tức Giống Dân Thứ Ba sơ kỳ. Trong nửa sau của nó, khi những kẻ “Sinh Từ Mồ Hôi” sinh ra những kẻ “Sinh Từ Trứng,” tức Giống Dân Thứ Ba trung kỳ; và khi những kẻ này, thay vì “nở ra” — xin độc giả tha thứ cho cách diễn đạt khá buồn cười khi áp dụng cho con người trong thời đại chúng ta — như những hữu thể lưỡng tính, bắt đầu tiến hoá thành những nam và nữ riêng biệt; và khi cùng định luật tiến hoá ấy dẫn họ đến việc tái tạo giống nòi bằng giới tính — một hành động buộc các Thần Sáng Tạo, do định luật nghiệp quả thúc ép, phải nhập thể vào những con người vô trí; chỉ khi ấy ngôn ngữ mới được phát triển. Nhưng ngay cả lúc đó, nó vẫn chưa hơn một nỗ lực thử nghiệm. Toàn thể nhân loại lúc ấy có “một ngôn ngữ và một môi miệng.” Điều này không ngăn hai giống dân phụ cuối của Giống Dân Thứ Ba xây dựng thành thị và gieo rải khắp nơi những hạt giống đầu tiên của văn minh dưới sự hướng dẫn của các Huấn Sư Thiêng Liêng của họ, và của chính các thể trí đã thức tỉnh của họ. Độc giả cũng hãy ghi nhớ rằng, như mỗi trong bảy Giống Dân được chia thành bốn Thời Đại — Hoàng Kim, Bạc, Đồng và Sắt — thì mỗi phân chia nhỏ nhất của các Giống Dân ấy cũng vậy. Theo Giáo Huấn Huyền bí, ngôn ngữ khi ấy phát triển theo thứ tự sau: I. Ngôn ngữ đơn âm: đó là ngôn ngữ của những con người đầu tiên gần như phát triển hoàn toàn vào cuối Giống Dân Gốc Thứ Ba, những người “màu vàng kim,” nước da vàng, sau khi họ tách thành hai giới và thể trí của họ hoàn toàn thức tỉnh. Trước đó, họ giao tiếp bằng điều nay sẽ được gọi là “sự truyền tư tưởng,” mặc dù, ngoại trừ Giống Dân được gọi là “Các Con của Ý Chí và Yoga” — những kẻ đầu tiên trong đó “Các Con của Minh Triết” đã nhập thể — tư tưởng chỉ phát triển rất ít trong con người hồng trần mới nảy sinh, và chưa bao giờ vươn lên trên một cấp độ trần thế thấp. Các thể xác của họ thuộc về Trái Đất, còn các chân thần của họ vẫn ở hẳn trên một cõi cao hơn. Ngôn ngữ không thể phát triển tốt trước khi họ hoàn toàn thủ đắc và phát triển các năng lực lý luận. Ngôn ngữ đơn âm này, có thể nói, là cha mẹ nguyên âm của các ngôn ngữ đơn âm pha với những phụ âm cứng, hiện vẫn còn dùng giữa các giống dân da vàng mà nhà Nhân học biết đến. |
|
II. Agglutinative speech: these linguistic characteristics developed into the agglutinative languages. The latter were spoken by some Atlantean races, while other parent stocks of the Fourth Race preserved the mother-language. And as languages have their cyclic evolution, their childhood, purity, growth, fall into matter, admixture with other languages, maturity, decay and finally death, 454 so the primitive speech of the most civilized Atlantean races—that language, which is referred to as Râkshasî Bhâshâ, in old Sanskrit works—decayed and almost died out. While the “cream” of the Fourth Race gravitated more and more toward the apex of physical and intellectual evolution, thus leaving as an heirloom to the nascent Fifth (the Âryan) Race the inflectional, highly developed languages, the agglutinative decayed and remained as a fragmentary fossil idiom, now scattered, and nearly limited to the aboriginal tribes of America. |
II. Ngôn ngữ chắp dính: những đặc tính ngôn ngữ này phát triển thành các ngôn ngữ chắp dính. Những ngôn ngữ sau được một số giống dân Atlantis nói, trong khi các dòng gốc khác của Giống Dân Thứ Tư giữ gìn mẫu ngữ. Và cũng như các ngôn ngữ có tiến hoá chu kỳ của chúng, có thời thơ ấu, sự tinh khiết, tăng trưởng, sa vào vật chất, pha trộn với các ngôn ngữ khác, trưởng thành, suy tàn và cuối cùng là chết, thì ngôn ngữ nguyên thuỷ của các giống dân Atlantis văn minh nhất — ngôn ngữ được nhắc đến như Rakshasi Bhasha trong các tác phẩm Phạn ngữ cổ — cũng suy tàn và hầu như chết hẳn. Trong khi “tinh hoa” của Giống Dân Thứ Tư ngày càng bị hút về đỉnh cao của tiến hoá hồng trần và trí tuệ, nhờ đó để lại như một di sản cho Giống Dân Thứ Năm mới nảy sinh, tức Giống Dân Arya, các ngôn ngữ biến hoá hình thái rất phát triển, thì ngôn ngữ chắp dính suy tàn và còn lại như một thành ngữ hoá thạch rời rạc, nay phân tán và gần như giới hạn trong các bộ lạc thổ dân châu Mỹ. |
|
III. Inflectional speech: the root of the Sanskrit, very erroneously called the “elder sister” of the Greek, instead of its mother—was the first language, now the mystery tongue of the Initiates, of the Fifth Race. The “Semitic” languages are the bastard descendants of the first phonetic corruptions of the eldest children of the early Sanskrit. The Occult Doctrine admits of no such divisions as the Âryan and the Semite, and accepts even the Turanian with ample reservations. The Semites, especially the Arabs, are later Âryans—degenerate in spirituality and perfected in materiality. To these belong all the Jews and the Arabs. The former are a tribe descended from the Chandâlas of India, the outcasts, many of them ex-Brâhmans, who sought refuge in Chaldæa, in Scinde, and Aria (Iran), and were truly born from their father A-Bram (No-Brâhman) some 8,000 years b.c. The latter, the Arabs, are the descendants of those Âryans who would not go into India at the time of the dispersion of nations, some of whom remained on the borderlands thereof, in Afghanistan and Kabul 455 and along the Oxus, while others penetrated into and invaded Arabia. But this was when Africa had already been raised as a continent. |
III. Ngôn ngữ biến hoá hình thái: gốc của Phạn ngữ — bị gọi rất sai là “chị cả” của Hy Lạp ngữ, thay vì là mẹ của nó — là ngôn ngữ đầu tiên, nay là ngôn ngữ huyền nhiệm của các điểm đạo đồ, của Giống Dân Thứ Năm. Các ngôn ngữ “Semitic” là những hậu duệ lai tạp của các sự suy hoá ngữ âm đầu tiên nơi những người con trưởng của Phạn ngữ sơ kỳ. Giáo Lý Huyền bí không thừa nhận những phân chia như Arya và Semite, và ngay cả Turanian cũng chỉ chấp nhận với nhiều dè dặt. Người Semite, đặc biệt là người Ả Rập, là những Arya về sau — suy thoái về tinh thần và hoàn thiện về vật chất. Tất cả người Do Thái và người Ả Rập đều thuộc về nhóm này. Những người trước là một bộ lạc xuất thân từ các Chandala của Ấn Độ, tức những kẻ bị ruồng bỏ, nhiều người trong số họ là cựu Bà-la-môn, đã tìm nơi nương náu ở Chaldea, tại Scinde và Aria, tức Iran, và thật sự được sinh ra từ cha của họ là A-Bram, nghĩa là Không-Bà-la-môn, khoảng tám nghìn năm trước Công nguyên. Những người sau, tức người Ả Rập, là hậu duệ của những Arya đã không đi vào Ấn Độ vào thời kỳ các dân tộc phân tán, một số ở lại các vùng biên của nó, tại Afghanistan và Kabul và dọc theo sông Oxus, trong khi những người khác thâm nhập và xâm nhập Ả Rập. Nhưng điều này xảy ra khi châu Phi đã được nâng lên thành một lục địa. |
|
We have meanwhile to follow, as closely as limited space will permit, the gradual evolution of the now truly human species. It is in the suddenly arrested evolution of certain sub-races, and their forced and violent diversion into the purely animal line by artificial cross-breeding, truly analogous to the hybridization which we have now learned to utilize in the vegetable and animal kingdoms, that we have to look for the origin of the anthropoids. |
Trong khi ấy, chúng ta phải theo dõi, sát hết mức không gian giới hạn cho phép, sự tiến hoá dần dần của loài nay thật sự là con người. Chính trong sự tiến hoá bị chặn đứng đột ngột của một số giống dân phụ, và trong sự chuyển hướng cưỡng bức và dữ dội của họ vào dòng thuần động vật bằng sự lai giống nhân tạo — thật sự tương tự với sự lai tạo mà nay chúng ta đã học cách sử dụng trong giới thực vật và giới động vật — mà chúng ta phải tìm nguồn gốc của các loài vượn người. |
|
In these red-haired and hair-covered monsters, the fruit of the unnatural connection between men and animals, the “Lords of Wisdom” did not incarnate, as we see. Thus through a long series of transformations due to unnatural cross-breeding—unnatural “sexual selection”—originated in due course of time the lowest specimens of humanity; while further bestiality and the fruit of their first animal efforts of reproduction begat a species which developed into mammalian apes ages later. 456 |
Như chúng ta thấy, trong những quái vật tóc đỏ và phủ đầy lông này, kết quả của sự kết hợp trái tự nhiên giữa con người và động vật, “Các Chúa Tể Minh Triết” đã không nhập thể. Do đó, qua một chuỗi dài các chuyển đổi phát sinh từ sự lai giống trái tự nhiên — “sự chọn lọc giới tính” trái tự nhiên — cuối cùng theo đúng thời kỳ đã xuất hiện những mẫu thấp nhất của nhân loại; trong khi sự thú tính sâu hơn nữa và kết quả của những nỗ lực sinh sản động vật đầu tiên của họ đã sinh ra một loài, nhiều thời đại về sau phát triển thành các loài vượn hữu nhũ. |
|
As to the separation of sexes, it did not occur suddenly, as one may think. Nature proceeds slowly in whatever she does. |
Về sự phân ly giới tính, nó không xảy ra đột ngột như người ta có thể nghĩ. Thiên nhiên tiến hành chậm rãi trong mọi việc của bà. |
|
37. The one 457 became two; also all the living and creeping things that were still one, giant fish, birds and serpents with shell-heads. |
37. Cái một trở thành hai; cũng như mọi sinh vật sống và bò trườn vẫn còn là một, cá khổng lồ, chim và rắn có đầu bọc vỏ. |
|
This relates evidently to the so-called age of amphibious reptiles, during which Science denies that man existed! But what could the Ancients know of antediluvian prehistoric animals and monsters? Nevertheless, in Book VI of the Commentaries is found a passage which, freely translated, says: When the Third separated and fell into sin by breeding men-animals, these [the animals] became ferocious, and men and they mutually destructive. Till then, there was no sin, no life taken. After [the separation] the Satya [Yuga] was at an end. The eternal spring became constant change and seasons succeeded. Cold forced men to build shelters and devise clothing. Then man appealed to the superior Fathers [the higher Gods or Angels]. The Nirmânakâyas, of the Nâgas, the wise Serpents and Dragons of Light, came, and the precursors of the Enlightened [the Buddhas]. Divine Kings descended and taught men sciences and arts, for man could live no longer in the first land [Âdi-Varsha, the Eden of the first Races], which had turned into a white frozen corpse. |
Điều này hiển nhiên liên hệ đến cái gọi là thời đại của các loài bò sát lưỡng cư, trong thời kỳ đó Khoa học phủ nhận rằng con người tồn tại! Nhưng người xưa có thể biết gì về những động vật và quái vật tiền sử trước Đại Hồng Thuỷ? Tuy nhiên, trong Quyển VI của các bản Bình Giải có một đoạn, dịch thoát, nói rằng: Khi Giống Dân Thứ Ba tách ra và sa vào tội lỗi bằng cách sinh ra người-thú, những con thú này trở nên hung dữ, và con người cùng chúng huỷ diệt lẫn nhau. Cho đến lúc ấy, không có tội lỗi, không có sự sống nào bị lấy đi. Sau sự phân ly, Satya Yuga chấm dứt. Mùa xuân vĩnh cửu trở thành sự biến đổi liên tục và các mùa nối tiếp nhau. Cái lạnh buộc con người xây nơi trú ẩn và nghĩ ra quần áo. Bấy giờ con người kêu gọi các Cha cao cả, tức các Thần hay Thiên Thần cao hơn. Các Nirmanakaya, thuộc Naga, những Rắn minh triết và Rồng Ánh Sáng, đã đến, cùng các vị tiền phong của những Đấng Giác Ngộ, tức các Đức Phật. Các Vua Thiêng Liêng giáng xuống và dạy con người khoa học cùng nghệ thuật, vì con người không còn có thể sống trong vùng đất đầu tiên, tức Adi-Varsha, vườn Eden của các Giống Dân đầu tiên, nay đã biến thành một xác chết trắng băng giá. |
|
The above is suggestive. We will see what can be inferred from this brief statement. Some may incline to think that there is more in it than is apparent at first sight. |
Đoạn trên rất gợi ý. Chúng ta sẽ xem có thể suy ra điều gì từ phát biểu ngắn gọn này. Một số người có thể nghiêng về ý nghĩ rằng trong đó có nhiều điều hơn những gì thoạt nhìn thấy được. |
Edens, Serpents, And Dragons. — Các Eden, Rắn, Và Rồng.
|
Whence the idea, and the true meaning of the term “Eden”? Christians will maintain that the Garden of Eden is the holy Paradise, the place desecrated by the sin of Adam and Eve; the Occultist will deny this dead-letter interpretation, and show the reverse. One need not believe in the Bible and see in it divine revelation, to say that this ancient book, if read esoterically, is based upon the same universal traditions as the other ancient scriptures. What Eden was is partially shown in Isis Unveiled, where it is said that: The Garden of Eden as a locality is no myth at all; it belongs to those landmarks of history which occasionally disclose to the student that the Bible is not all mere allegory. “Eden, or the Hebrew גן עדן, Gan-Eden, meaning the Park or the Garden of Eden, is an archaic name of the country watered by the Euphrates and its many branches, from Asia and Armenia to the Erythraian sea.” 458 In the Chaldæan Book of Numbers, its location is designated in numerals, and in the cypher Rosicrucian manuscript, left by Count St. Germain, it is fully described. In the Assyrian Tablets it is rendered Gan-duniyas. “Behold,” say the אלהִם, Elohim, of Genesis, “the man is become as one of us.” The Elohim may be accepted in one sense for gods or powers, and in another for Aleim, or priests—the hierophants initiated into the good and evil of this world; for there was a college of priests called the Aleim, while the head of their caste, or the chief of the hierophants, was known as Java-Aleim. Instead of becoming a neophyte, and gradually obtaining his esoteric knowledge through a regular initiation, an Adam, or Man, uses his intuitional faculties and, prompted by the serpent—Woman and Matter—tastes of the Tree of Knowledge, the Esoteric or Secret Doctrine, unlawfully. The priests of Hercules, or Mel-karth, the “Lord” of the Eden, all wore “coats of skin.” The text says: “And Java-Aleim made for Adam and his wife, כתנותעור. Chitonuth-our.” The first Hebrew word, Chiton, is the Greek Χιτὼν (Chitôn). It became a Slavonic word by adoption from the Bible, and means a coat, an upper garment. |
Ý tưởng ấy đến từ đâu, và ý nghĩa chân thật của thuật ngữ “Eden” là gì? Các tín đồ Cơ Đốc sẽ khẳng định rằng Vườn Eden là Thiên Đàng thánh thiện, nơi bị xúc phạm bởi tội lỗi của Adam và Eve; nhà huyền bí học sẽ phủ nhận lối giải thích theo văn tự chết cứng này, và chứng minh điều ngược lại. Người ta không cần phải tin vào Kinh Thánh và xem trong đó có sự mặc khải thiêng liêng, mới có thể nói rằng quyển sách cổ xưa này, nếu được đọc một cách huyền bí, đặt nền trên cùng những truyền thống phổ quát như các kinh điển cổ xưa khác. Eden là gì, điều ấy đã được trình bày một phần trong Isis Vén Màn, nơi có nói rằng: Vườn Eden, với tư cách một địa điểm, hoàn toàn không phải là huyền thoại; nó thuộc về những mốc lịch sử đôi khi hé lộ cho đạo sinh thấy rằng Kinh Thánh không phải chỉ toàn là ẩn dụ. “Eden, hay trong tiếng Hebrew là Gan Eden, Gan-Eden, nghĩa là Công viên hay Vườn Eden, là tên cổ của vùng đất được sông Euphrates và nhiều nhánh của nó tưới mát, từ Châu Á và Armenia đến biển Erythraia.” Trong Sách Số của người Chaldea, vị trí của nó được chỉ định bằng các con số, và trong bản thảo mật mã Rosicrucian do Bá tước St. Germain để lại, nó được mô tả đầy đủ. Trong các Bảng Assyria, nó được dịch là Gan-duniyas. “Này,” các Elohim, Elohim, trong Sáng Thế Ký nói, “con người đã trở nên như một trong chúng ta.” Theo một nghĩa, Elohim có thể được hiểu là các thần hay các quyền năng, và theo nghĩa khác là Aleim, hay các tư tế—những giáo phẩm huyền môn đã được điểm đạo vào thiện và ác của thế gian này; vì đã có một học viện tư tế gọi là Aleim, trong khi người đứng đầu đẳng cấp của họ, hay vị trưởng giáo phẩm huyền môn, được biết đến là Java-Aleim. Thay vì trở thành một người sơ cơ và dần dần đạt được tri thức huyền bí của mình qua một cuộc điểm đạo chính quy, một Adam, hay Con Người, sử dụng các năng lực trực giác của mình và, do con rắn thúc đẩy—Người Nữ và Vật Chất—đã nếm trái của Cây Tri Thức, tức Giáo Lý Nội Môn hay Giáo Lý Bí Nhiệm, một cách phi pháp. Các tư tế của Hercules, hay Mel-karth, “Chúa Tể” của Eden, đều mặc “áo bằng da.” Bản văn nói: “Và Java-Aleim đã làm cho Adam và vợ y, áo bằng da. Chitonuth-our.” Từ Hebrew thứ nhất, Chiton, là tiếng Hy Lạp Chiton (Chiton). Nó trở thành một từ Slavonic do vay mượn từ Kinh Thánh, và có nghĩa là một áo khoác, một y phục mặc ngoài. |
|
Though containing the same substratum of esoteric truth as does every early Cosmogony, the Hebrew Scripture wears on its face the marks of a double origin. Its Genesis is purely a reminiscence of the Babylonian captivity. The names of places, men, and even objects, can be traced from the original text to the Chaldæans and the Akkadians, the progenitors and Âryan instructors of the former. It is strongly contested that the Akkad tribes of Chaldæa, Babylonia and Assyria were in any way cognate with the Brâhmans of Hindûstan; but there are more proofs in favour of this opinion than otherwise. The Shemite or Assyrian ought, perchance, to have been called the Turanian, and the Mongolians have been denominated Scyths. But if the Akkadians ever existed, otherwise than in the imagination of some Philologists and Ethnologists, they certainly would never have been a Turanian tribe, as some Assyriologists have striven to make us believe. They were simply emigrants on their way to Asia Minor from India, the cradle of humanity, and their sacerdotal adepts tarried to civilize and initiate a barbarian people. Halévy proved the fallacy of the Turanian mania in regard to Akkadian people, and other scientists have proved that the Babylonian civilization was neither born nor developed in that country. It was imported from India, and the importers were Brâhmanical Hindûs. 459 |
Dù chứa cùng nền tảng chân lý huyền bí như mọi Vũ Trụ Khởi Nguyên thời sơ cổ, Kinh Hebrew biểu lộ ngay trên bề mặt các dấu vết của một nguồn gốc kép. Sách Sáng Thế của nó thuần túy là một hồi ức về thời lưu đày ở Babylon. Tên gọi các địa điểm, nhân vật, và ngay cả các sự vật, có thể được truy nguyên từ bản văn gốc đến người Chaldea và người Akkad, những tổ tiên và huấn sư Arya của họ. Người ta phản bác mạnh mẽ rằng các bộ tộc Akkad ở Chaldea, Babylonia và Assyria có bất cứ quan hệ huyết thống nào với các Brahman của Hindustan; nhưng có nhiều chứng cứ ủng hộ ý kiến này hơn là ngược lại. Người Semite hay Assyria, có lẽ, đáng ra phải được gọi là Turanian, còn người Mông Cổ đã được gọi là Scyth. Nhưng nếu người Akkad từng tồn tại ngoài trí tưởng tượng của một số nhà ngữ văn và dân tộc học, thì chắc chắn họ không bao giờ là một bộ tộc Turanian, như một số nhà Assyria học đã cố khiến chúng ta tin. Họ đơn giản là những di dân trên đường từ Ấn Độ, chiếc nôi của nhân loại, đến Tiểu Á, và các chân sư tư tế của họ đã lưu lại để khai hóa và điểm đạo một dân tộc man rợ. Halévy đã chứng minh sự sai lầm của cơn cuồng Turanian liên quan đến người Akkad, và các nhà khoa học khác đã chứng minh rằng nền văn minh Babylon không sinh ra cũng không phát triển tại xứ ấy. Nó được du nhập từ Ấn Độ, và những người du nhập nó là các Hindu Brahman. |
|
And now, ten years after this was written, we find ourselves corroborated by Professor Sayce, who says in his first Hibbert Lecture that the culture of the Babylonian city Eridu was of “foreign importation.” It came from India. |
Và nay, mười năm sau khi điều này được viết ra, chúng tôi thấy mình được Giáo sư Sayce xác nhận, khi ông nói trong Bài Giảng Hibbert đầu tiên rằng văn hóa của thành phố Babylon Eridu là “sự du nhập từ ngoại quốc.” Nó đến từ Ấn Độ. |
|
Much of the theology was borrowed by the Semites from the non-Semitic Akkadians or Proto-Chaldæans, whom they supplanted, and whose local cults they had neither the will nor the power to uproot. Indeed, throughout a long course of ages the two races, Semites and Akkadians, lived side by side, their notions and worship of the gods blending insensibly together. |
Phần lớn thần học đã được người Semite vay mượn từ người Akkad phi Semite hay người tiền Chaldea, những người mà họ đã thay thế, và những tôn giáo địa phương của họ thì họ không có ý chí cũng chẳng có quyền năng nhổ tận gốc. Thật vậy, suốt một thời gian dài qua nhiều thời đại, hai nhân loại, Semite và Akkad, đã sống cạnh nhau, những quan niệm và sự thờ phụng các thần của họ hòa lẫn với nhau một cách khó nhận thấy. |
|
Here, the Akkadians are called “non-Semitic,” as we had insisted they were in Isis Unveiled, which is another corroboration. Nor are we less right in always maintaining that the Jewish biblical history was a compilation of historical facts, arranged from other people’s history in Jewish garb—Genesis excluded, which is Esotericism pure and simple. But it is really from the Euxine to Kashmir, and beyond, that Science has to search for the cradle—or rather one of the chief cradles—of mankind and the sons of Ad-ah; especially in after times, when the Garden of Ed-en on the Euphrates became the College of the Astrologers and Magi, the Aleim. |
Ở đây, người Akkad được gọi là “phi Semite,” đúng như chúng tôi đã nhấn mạnh trong Isis Vén Màn, và đó là một sự xác nhận khác. Chúng tôi cũng không kém phần đúng khi luôn duy trì rằng lịch sử Kinh Thánh Do Thái là một sự biên soạn các sự kiện lịch sử, được sắp đặt từ lịch sử của các dân tộc khác trong y phục Do Thái—ngoại trừ Sáng Thế Ký, vốn là Huyền bí học thuần túy và giản dị. Nhưng thật ra, từ Euxine đến Kashmir và xa hơn nữa, Khoa học phải tìm kiếm chiếc nôi—hay đúng hơn một trong những chiếc nôi chính—của nhân loại và những người con của Ad-ah; đặc biệt trong các thời kỳ về sau, khi Vườn Ed-en bên sông Euphrates trở thành Học viện của các Nhà Chiêm tinh và các Đạo sĩ, tức Aleim. |
|
But this College and this Eden belong to the Fifth Race, and are simply a faint reminiscence of the Âdi-Varsha, of the primeval Third Race. What is the etymological meaning of the word Eden? In Greek it is ἡδονὴ, signifying “voluptuousness.” In this aspect it is no better than the Olympus of the Greeks, Indra’s Heaven, Svarga, on Mount Meru, and even the Paradise full of Houris, promised by Mahomet to the faithful. The Garden of Eden was never the property of the Jews, for China, which can hardly be suspected of having known anything of the Jews 2,000 b.c., had such a primitive Garden in Central Asia inhabited by the “Dragons of Wisdom,” the Initiates. And according to Klaproth, the hieroglyphical chart copied from a Japanese Cyclopædia in the book of Foĕ-kouĕ-ki 460 places its “Garden of Wisdom” on the Plateau of Pamir between the highest peaks of the Himâlayan ranges; and, describing it as the culminating point of Central Asia, shows the four rivers—Oxus, Indus, Ganges, and Silo—flowing from a common source, the “Lake of the Dragons.” |
Nhưng Học viện này và Eden này thuộc về Giống dân thứ Năm, và chỉ là một hồi ức mờ nhạt về Adi-Varsha của Giống dân thứ Ba nguyên sơ. Ý nghĩa từ nguyên của chữ Eden là gì? Trong tiếng Hy Lạp, nó là hedone, nghĩa là “lạc thú nhục cảm.” Theo phương diện này, nó chẳng hơn gì Olympus của người Hy Lạp, Thiên Đàng của Indra, Svarga, trên Núi Meru, và ngay cả Thiên Đàng đầy các Houris mà Mahomet hứa ban cho những tín đồ trung thành. Vườn Eden chưa bao giờ là tài sản của người Do Thái, vì Trung Hoa, vốn khó có thể bị nghi ngờ là đã biết gì về người Do Thái vào 2.000 năm trước Công nguyên, cũng có một Khu Vườn nguyên thủy như thế ở Trung Á, nơi các “Rồng Minh Triết,” tức các điểm đạo đồ, cư ngụ. Và theo Klaproth, bản đồ tượng hình chép từ một Bách khoa thư Nhật Bản trong sách Fo-koue-ki đặt “Vườn Minh Triết” của nó trên Cao nguyên Pamir, giữa những đỉnh cao nhất của dãy Himalaya; và khi mô tả nơi ấy như đỉnh cao nhất của Trung Á, bản đồ cho thấy bốn con sông—Oxus, Indus, Ganges và Silo—chảy ra từ một nguồn chung, “Hồ của các Rồng.” |
|
But this is not the Genetic Eden; nor is it the Kabalistical Garden of Eden. For the former—Eden Illa-ah—means in one sense Wisdom, a state like that of Nirvâna, a Paradise of Bliss; while in another sense it refers to Intellectual Man himself, the container of the Eden in which grows the Tree of Knowledge of good and evil; man being the Knower thereof. |
Nhưng đây không phải là Eden của Sáng Thế; cũng không phải là Vườn Eden Kabbalah. Vì cái trước—Eden Illa-ah—theo một nghĩa là Minh triết, một trạng thái giống như Niết Bàn, một Thiên Đàng của chí phúc; trong khi theo nghĩa khác, nó chỉ chính Con Người Trí Tuệ, kẻ chứa đựng Eden trong đó mọc Cây Tri Thức về thiện và ác; con người là thức giả của điều ấy. |
|
Renan and Barthélemy St. Hilaire, basing themselves “on the most solid inductions,” think it impossible to doubt any longer, and both place the cradle of humanity “in the region of the Timaus.” Finally, the Journal Asiatique 461 concludes that: All the traditions of the human race gathering its primitive families at the region of their birth-place, show them to us grouped around the countries where Jewish tradition places the Garden of Eden; where the Âryans [Zoroastrians] established their Airyana Vaêjô or the Meru [?]. They are hemmed in to the North by the countries which join Lake Aral, and to the South by Baltistan, or Little Tibet. Everything concurs in proving that there was the abode of that primitive humanity to which we have to be traced. |
Renan và Barthélemy St. Hilaire, dựa trên “những suy luận vững chắc nhất,” cho rằng không thể nghi ngờ thêm nữa, và cả hai đều đặt chiếc nôi của nhân loại “trong vùng Timaus.” Cuối cùng, Tạp chí Á Châu kết luận rằng: Tất cả các truyền thống của nhân loại, khi quy tụ các gia đình nguyên thủy của mình tại vùng sinh quán của họ, đều cho chúng ta thấy họ tụ tập quanh các xứ sở nơi truyền thống Do Thái đặt Vườn Eden; nơi người Arya, tức người Zoroaster, thiết lập Airyana Vaejo của họ, hay Meru. Về phía Bắc, họ bị bao bọc bởi các xứ sở giáp Hồ Aral, và về phía Nam bởi Baltistan, hay Tiểu Tây Tạng. Mọi sự đều cùng chứng minh rằng nơi ấy là trú xứ của nhân loại nguyên thủy mà chúng ta phải truy nguyên về. |
|
That “primitive humanity” was in its Fifth Race, when the “Four-mouthed Dragon,” the lake, of which very few traces are now left, was the abode of the “Sons of Wisdom,” the first Mind-born Sons of the Third Race. Yet it was neither the only nor the primitive cradle of humanity, though it was the copy of the cradle, verily, of the first thinking divine Man. It was the Paradesha, the highland of the first Sanskrit-speaking people, the Hedone, the country of delight of the Greeks, but it was not the “Bower of Voluptuousness” of the Chaldæans, for the latter was but the reminiscence of it; nor again was it there that the “Fall of Man” occurred after the “separation.” The Eden of the Jews was copied from the Chaldæan copy. |
“Nhân loại nguyên thủy” ấy đang ở trong Giống dân thứ Năm của mình, khi “Rồng Bốn Miệng,” tức cái hồ mà nay chỉ còn rất ít dấu vết, là trú xứ của “Các Con của Minh Triết,” những Người Con đầu tiên sinh ra từ Trí của Giống dân thứ Ba. Tuy thế, nó không phải là chiếc nôi duy nhất hay nguyên thủy của nhân loại, dù quả thật nó là bản sao của chiếc nôi của Con Người thiêng liêng có tư tưởng đầu tiên. Nó là Paradesha, vùng cao nguyên của dân tộc đầu tiên nói tiếng Sanskrit, Hedone, xứ sở hoan lạc của người Hy Lạp, nhưng nó không phải là “Lầu Hoa của Lạc Thú Nhục Cảm” của người Chaldea, vì cái sau chỉ là hồi ức về nó; cũng không phải tại đó mà “Sự Sa Ngã của Con Người” xảy ra sau “sự phân ly.” Eden của người Do Thái đã được sao chép từ bản sao Chaldea. |
|
That the Fall of Man into generation occurred during the earliest portion of what Science calls the Mesozoic times, or the age of the reptiles, is evidenced by the bible phraseology concerning the serpent, the nature of which is explained in the Zohar. The question is not whether Eve’s incident with the tempting reptile is allegorical or textual, for no one can doubt that it is the former, but to show the antiquity of the symbolism on the very face of it, and that it was not a Jewish but a universal idea. |
Việc Sự Sa Ngã của Con Người vào sinh sản đã xảy ra trong phần sớm nhất của cái mà Khoa học gọi là thời Trung Sinh, hay thời đại bò sát, được chứng minh bởi ngôn ngữ Kinh Thánh liên quan đến con rắn, mà bản chất của nó được giải thích trong Zohar. Vấn đề không phải là sự kiện của Eve với loài bò sát cám dỗ là ẩn dụ hay văn tự, vì không ai có thể nghi ngờ rằng đó là ẩn dụ, mà là để cho thấy ngay trên bề mặt của nó tính cổ xưa của biểu tượng ấy, và rằng đó không phải là một ý tưởng Do Thái mà là một ý tưởng phổ quát. |
|
Now we find in the Zohar a very strange assertion, one that is calculated to provoke the reader to merry laughter by its ludicrous absurdity. It tells us that the serpent, which was used by Shamael, the supposed Satan, to seduce Eve, was a kind of “flying camel”—καμηλόμορφον. 462 |
Bây giờ, trong Zohar, chúng ta gặp một khẳng định rất kỳ lạ, một khẳng định có khả năng khiến độc giả bật cười vui vẻ vì sự phi lý lố bịch của nó. Nó nói với chúng ta rằng con rắn, được Shamael, tức Satan giả định, sử dụng để quyến rũ Eve, là một loại “lạc đà bay”—có hình dạng lạc đà. |
|
A “flying camel” is indeed too much for the most liberal-minded F.R.S. Nevertheless, the Zohar, which can hardly be expected to use the language of a Cuvier, was right in its description; for we find it called in the old Zoroastrian MSS. Aschmogh, which in the Avesta is represented as having after the Fall lost its nature and its name, and is described as a huge serpent with a camel’s neck. |
Một “lạc đà bay” quả thật là quá đáng ngay cả đối với hội viên Hội Hoàng gia có đầu óc phóng khoáng nhất. Tuy nhiên, Zohar, vốn khó có thể được mong đợi dùng ngôn ngữ của một Cuvier, đã đúng trong sự mô tả của nó; vì chúng ta thấy nó được gọi trong các bản thảo Zoroaster cổ là Aschmogh, mà trong Avesta được trình bày là sau Sự Sa Ngã đã mất bản chất và tên gọi của nó, và được mô tả như một con rắn khổng lồ có cổ lạc đà. |
|
Salverte asserts that: |
Salverte khẳng định rằng: |
|
There are no winged serpents nor veritable dragons…. Grasshoppers are still called by the Greeks winged serpents, and this metaphor may have created several narratives on the existence of winged serpents. 463 |
Không có rắn có cánh cũng không có rồng thật sự…. Châu chấu vẫn còn được người Hy Lạp gọi là rắn có cánh, và ẩn dụ này có thể đã tạo ra nhiều chuyện kể về sự tồn tại của rắn có cánh. |
|
There are none now; but there is no reason why they should not have existed during the Mesozoic Age; and Cuvier, who has reconstructed their skeletons, is a witness to “flying camels.” Already, after finding simple fossils of certain saurians, the great Naturalist has written, that: If anything can justify the hydras and other monsters, whose figures were so often repeated by mediæval historians, it is incontestably the Plesiosaurus. 464 |
Hiện nay thì không có; nhưng không có lý do gì khiến chúng không thể đã tồn tại trong Kỷ Trung Sinh; và Cuvier, người đã tái dựng bộ xương của chúng, là nhân chứng cho các “lạc đà bay.” Trước đó, sau khi tìm thấy những hóa thạch đơn giản của một số loài thằn lằn cổ, nhà Tự nhiên học vĩ đại đã viết rằng: Nếu có điều gì có thể biện minh cho các hydra và những quái vật khác, mà hình tượng của chúng thường được các sử gia Trung cổ lặp lại, thì đó không thể tranh cãi chính là Plesiosaurus. |
|
We are unaware if Cuvier has added anything in the way of a further mea culpa, but we may well imagine his confusion for all his slanders against archaic veracity, when he found himself in the presence of a flying saurian, the Pterodactyl, found in Germany, seventy-eight feet long, and carrying vigorous wings attached to its reptilian body. This fossil is described as a reptile, the little fingers of whose hands are so elongated as to bear a long membranous wing. Here, then, the “flying camel” of the Zohar is vindicated. For surely, between the long neck of the Plesiosaurus and the membranous wing of the Pterodactyl, or still better the Mosasaurus, there is enough scientific probability on which to build a “flying camel,” or a long-necked dragon. Prof. Cope, of Philadelphia, has shown that the Mosasaurus fossil in the chalk was a winged serpent of this kind. There are characters in its vertebræ, which indicate union with the Ophidia rather than with the Lacertilia. |
Chúng tôi không biết Cuvier có thêm điều gì dưới dạng một lời thú lỗi nữa hay không, nhưng chúng ta có thể hình dung rõ sự bối rối của ông trước mọi lời vu khống của ông đối với tính xác thực cổ xưa, khi ông thấy mình đứng trước một loài thằn lằn cổ bay, Pterodactyl, được tìm thấy ở Đức, dài bảy mươi tám bộ, mang những đôi cánh mạnh mẽ gắn vào thân thể bò sát của nó. Hóa thạch này được mô tả như một loài bò sát, các ngón út trên bàn tay của nó kéo dài đến mức nâng đỡ một cánh màng dài. Vậy thì ở đây, “lạc đà bay” của Zohar đã được minh chứng. Vì chắc chắn, giữa chiếc cổ dài của Plesiosaurus và cánh màng của Pterodactyl, hay còn tốt hơn nữa là Mosasaurus, có đủ xác suất khoa học để dựng nên một “lạc đà bay,” hay một con rồng cổ dài. Giáo sư Cope ở Philadelphia đã cho thấy rằng hóa thạch Mosasaurus trong đá phấn là một con rắn có cánh thuộc loại này. Có những đặc điểm trong đốt sống của nó cho thấy sự liên hệ với bộ Rắn hơn là với bộ Thằn lằn. |
|
And now to the main question. It is well known that Antiquity has never claimed Palæontography and Palæontology among its arts and sciences; and it never had its Cuviers. Yet on Babylonian tiles, and especially in old Chinese and Japanese drawings, in the oldest Pagodas and monuments, and in the Imperial Library at Pekin, many a traveller has seen and recognized perfect representations of Plesiosauri and Pterodactyls in the multiform Chinese dragons. 465 Moreover, the prophets speak in the Bible of the flying fiery serpents, 466 and Job mentions the Leviathan. 467 Now the following questions are put very directly: I. How could the ancient nations know anything of the extinct monsters of the Carboniferous and Mesozoic times, and even represent and describe them orally and pictorially, unless they had either seen those monsters themselves or possessed descriptions of them in their traditions; which descriptions necessitate living and intelligent eye-witnesses? |
Và bây giờ đến vấn đề chính. Ai cũng biết rằng Cổ đại chưa bao giờ tuyên bố cổ sinh họa và cổ sinh vật học thuộc về các nghệ thuật và khoa học của mình; và nó chưa bao giờ có những Cuvier của riêng mình. Tuy vậy, trên các viên gạch Babylon, và đặc biệt trong các hình vẽ Trung Hoa và Nhật Bản cổ, trong những ngôi chùa và di tích cổ xưa nhất, và trong Thư viện Hoàng gia ở Bắc Kinh, nhiều lữ khách đã thấy và nhận ra những hình biểu hiện hoàn hảo của Plesiosaurus và Pterodactyl trong các con rồng Trung Hoa muôn hình. Hơn nữa, các tiên tri trong Kinh Thánh nói về những con rắn lửa bay, và Job nhắc đến Leviathan. Giờ đây, các câu hỏi sau được đặt ra rất trực tiếp: I. Làm sao các dân tộc cổ xưa có thể biết bất cứ điều gì về những quái vật đã tuyệt chủng của thời Than Đá và thời Trung Sinh, và thậm chí còn biểu hiện và mô tả chúng bằng truyền khẩu và hình ảnh, trừ phi họ hoặc đã chính mắt thấy những quái vật ấy hoặc sở hữu các mô tả về chúng trong truyền thống của họ; mà những mô tả ấy đòi hỏi phải có những nhân chứng sống và thông minh? |
|
II. And if such eye-witnesses are once admitted (unless retrospective clairvoyance is granted), how can humanity and the first palæolithic men be no earlier than about the middle of the Tertiary period? We must bear in mind that most of the men of Science do not allow man to have appeared before the Quaternary period, and thus shut him out completely from the Cainozoic times. Here we have extinct species of animals, which disappeared from the face of the Earth millions of years ago, described by, and known to, nations whose civilization, it is said, could hardly have begun a few thousand years ago. How is this? Evidently either the Mesozoic time has to be made to overlap the Quaternary period, or man must be made the contemporary of the Pterodactyl and the Plesiosaurus. |
II. Và nếu một khi những nhân chứng như thế được thừa nhận, trừ phi người ta chấp nhận thông nhãn hồi tưởng, thì làm sao nhân loại và những người đồ đá cũ đầu tiên lại không thể sớm hơn khoảng giữa kỷ Đệ Tam? Chúng ta phải nhớ rằng phần lớn các nhà Khoa học không cho phép con người xuất hiện trước kỷ Đệ Tứ, và như vậy hoàn toàn loại y khỏi thời Tân Sinh. Ở đây chúng ta có những loài động vật đã tuyệt chủng, đã biến mất khỏi mặt Trái Đất hàng triệu năm trước, nhưng lại được các dân tộc mà nền văn minh của họ, người ta nói, khó có thể bắt đầu quá vài nghìn năm trước, mô tả và biết đến. Điều này là thế nào? Hiển nhiên hoặc thời Trung Sinh phải được làm cho chồng lấn lên kỷ Đệ Tứ, hoặc con người phải được xem là cùng thời với Pterodactyl và Plesiosaurus. |
|
It does not follow that, because the Occultists believe in and defend Ancient Wisdom and Science, even though winged saurians are called “flying camels” in the translations of the Zohar, we therefore as readily believe in all the stories which the Middle Ages give us of such dragons. Pterodactyls and Plesiosauri ceased to exist with the bulk of the Third Race. When, therefore, we are gravely asked by Roman Catholic writers to credit Christopher Scherer’s and Father Kircher’s cock-and-bull stories of their having seen with their own eyes living fiery and flying dragons, respectively in 1619 and 1669, we may be allowed to regard their assertions as either dreams or fibs. 468 Nor shall we regard otherwise than as a “poetical license” the story told of Petrarch, who, while following one day his Laura in the woods and passing near a cave, is credited with having found a dragon, whom he forthwith stabbed with his dagger and killed, thus preventing the monster from devouring the lady of his heart. 469 We would willingly believe the story had Petrarch lived in the days of Atlantis, when such antediluvian monsters may still have existed. We deny their existence in our present era. The sea-serpent is one thing, the dragon quite another. The former is denied by the majority because it lives in the very depths of the ocean, is very scarce, and rises to the surface only when compelled, perhaps, by hunger. Thus keeping invisible, it may exist and still be denied. But if there was such a thing as a dragon of the above description, how could it have ever escaped detection? It is a creature contemporary with the earliest Fifth Race, and exists no more. |
Không phải vì các nhà huyền bí học tin vào và bênh vực Minh Triết và Khoa học Cổ xưa, dù các loài thằn lằn cổ có cánh ấy được gọi là “lạc đà bay” trong các bản dịch Zohar, mà do đó chúng tôi cũng dễ dàng tin vào tất cả những câu chuyện mà thời Trung Cổ kể cho chúng ta về các con rồng như thế. Pterodactyl và Plesiosaurus đã chấm dứt tồn tại cùng với phần lớn Giống dân thứ Ba. Vì vậy, khi các tác giả Công giáo La Mã nghiêm trang yêu cầu chúng tôi tin vào những chuyện hoang đường của Christopher Scherer và Cha Kircher, rằng họ đã tận mắt thấy những con rồng lửa và rồng bay còn sống, lần lượt vào các năm 1619 và 1669, chúng tôi có thể được phép xem những khẳng định của họ hoặc là mộng tưởng hoặc là chuyện bịa. Chúng tôi cũng sẽ không xem khác hơn một “sự phóng túng thi ca” câu chuyện kể về Petrarch, người mà, trong một ngày đi theo nàng Laura của mình trong rừng và đi ngang gần một hang động, được cho là đã gặp một con rồng, liền đâm nó bằng dao găm và giết nó, nhờ vậy ngăn con quái vật nuốt chửng người phụ nữ của trái tim mình. Chúng tôi sẵn lòng tin câu chuyện ấy nếu Petrarch đã sống trong thời Atlantis, khi những quái vật tiền hồng thủy như thế có thể vẫn còn tồn tại. Chúng tôi phủ nhận sự tồn tại của chúng trong thời đại hiện nay của chúng ta. Rắn biển là một chuyện, rồng lại là chuyện hoàn toàn khác. Loài trước bị đa số phủ nhận vì nó sống trong những vực sâu thẳm của đại dương, rất hiếm, và chỉ nổi lên mặt nước khi bị thúc ép, có lẽ bởi đói. Do đó, khi vẫn ẩn mình, nó có thể tồn tại mà vẫn bị phủ nhận. Nhưng nếu có một sinh vật như rồng theo mô tả trên, thì làm sao nó có thể thoát khỏi sự phát hiện? Nó là một sinh vật cùng thời với Giống dân thứ Năm sớm nhất, và không còn tồn tại nữa. |
|
The reader may enquire why we speak of dragons at all? We answer: firstly, because the knowledge of such animals is a proof of the enormous antiquity of the human race; and, secondly, to show the difference between the real zoological meaning of the words “Dragon,” “Nâga,” and “Serpent,” and the metaphorical meaning, when used symbolically. The profane reader, who knows nothing of the mystery language, is likely, whenever he finds one of these words mentioned, to accept it literally. Hence, the quidproquos and unjust accusations. A couple of instances will suffice. |
Độc giả có thể hỏi tại sao chúng tôi lại nói đến rồng überhaupt? Chúng tôi trả lời: thứ nhất, vì tri thức về những loài vật như thế là một bằng chứng về tính cổ xưa mênh mông của nhân loại; và thứ hai, để chỉ ra sự khác biệt giữa ý nghĩa động vật học thật sự của các từ “Rồng,” “Naga,” và “Rắn,” với ý nghĩa ẩn dụ khi chúng được dùng như biểu tượng. Độc giả phàm tục, người không biết gì về ngôn ngữ huyền nhiệm, rất có khả năng, bất cứ khi nào thấy một trong các từ ấy được nhắc đến, sẽ hiểu nó theo nghĩa đen. Do đó phát sinh các hiểu lầm và những cáo buộc bất công. Một vài ví dụ sẽ đủ. |
|
“Sed et Serpens?” Aye: but what was the nature of the serpent? Mystics intuitionally see in the serpent of Genesis an animal emblem and a high spiritual essence: a cosmic force, superintelligent, a “great fallen light,” a spirit, sidereal, aerial and tellurian at the same time, “whose influence circumambulates the globe” (qui circumambulat terram), as De Mirville, 470 a Christian fanatic of the dead-letter, has it, and which only “manifested itself under the physical emblem which agreed the better with its moral and intellectual coils”—i.e., under the ophidian form. |
“Nhưng còn Con Rắn thì sao?” Đúng vậy: nhưng bản chất của con rắn là gì? Các nhà thần bí, bằng trực giác, thấy trong con rắn của Sáng Thế Ký một biểu tượng động vật và một tinh chất tinh thần cao cả: một mãnh lực vũ trụ, siêu thông minh, một “ánh sáng vĩ đại sa ngã,” một tinh thần, vừa thuộc tinh tú, thuộc khí quyển và thuộc địa cầu cùng một lúc, “mà ảnh hưởng của nó đi vòng quanh địa cầu” như De Mirville,người đi quanh Trái Đất, một kẻ cuồng tín Cơ Đốc theo văn tự chết cứng, đã nói; và nó chỉ “biểu hiện dưới biểu tượng hồng trần phù hợp hơn cả với những vòng cuộn luân lý và trí tuệ của nó”—tức là dưới hình dạng rắn. |
|
But what will Christians make of the Brazen Serpent, the “Divine Healer,” if the serpent is to be regarded as the emblem of cunning and evil; the “Evil One” itself? How can the line of demarcation ever be settled, when it is traced arbitrarily in a sectarian theological spirit? For, if the followers of the Roman Church are taught that Mercury and Æsculapius, or Asclepios, who are, in truth, one, are “devils and sons of devils,” and the wand and serpent of the latter, the “Devil’s wand”; how about the Brazen Serpent of Moses? Every scholar knows that both the Heathen “wand” and the Jewish “serpent” are one and the same, namely, the Caduceus of Mercury, son of Apollo-Python. It is easy to comprehend why the Jews adopted the ophidian shape for their “seducer.” With them it was purely physiological and phallic; and no amount of casuistical reasoning on the part of the Roman Catholic Church can give it another meaning, once that the mystery language is well studied, and that the Hebrew scrolls are read numerically. The Occultists know that the Serpent, the Nâga, and the Dragon have each a septenary meaning; that the Sun, for instance, was the astronomical and cosmic emblem of the two contrasted Lights and the two Serpents of the Gnostics, the good and the evil. They also know that, when generalized, the conclusions of both Science and Theology present two most ridiculous extremes. For, when the former tells us that it is sufficient to trace the legends of the serpents to their primal source, the astronomical legend, and to meditate seriously on the Sun, the conqueror of Python, and the celestial Virgin in the Zodiac forcing back the devouring Dragon, if we would have the key of all the subsequent religious dogmas—it is easy to perceive that, instead of generalizing, the author simply has his eye on Christian religion and Revelation. We call this the one extreme. We see the other when Theology, repeating the famous decision of the Council of Trent, seeks to convince the masses that: From the fall of man until the hour of his baptism the Devil has full power over him, and possesses him by right—diabolum dominium et potestatem super homines habere et jure eos possidere. 471 |
Nhưng các tín đồ Cơ Đốc sẽ xử lý thế nào với Con Rắn Bằng Đồng, “Đấng Chữa Lành Thiêng Liêng,” nếu con rắn phải được xem là biểu tượng của sự xảo quyệt và tà ác; chính là “Kẻ Ác”? Làm sao đường ranh giới có thể được ấn định, khi nó bị vạch ra một cách tùy tiện trong tinh thần thần học phe phái? Vì nếu các tín đồ của Giáo hội La Mã được dạy rằng Mercury và Aesculapius, hay Asclepios, vốn thật ra là một, là “quỷ và con của quỷ,” và cây gậy cùng con rắn của vị sau là “cây gậy của Quỷ”; vậy còn Con Rắn Bằng Đồng của Moses thì sao? Mọi học giả đều biết rằng cả “cây gậy” ngoại giáo và “con rắn” Do Thái là một và cùng một thứ, tức Caduceus của Mercury, con của Apollo-Python. Dễ hiểu vì sao người Do Thái đã chọn hình dạng rắn cho “kẻ quyến rũ” của họ. Với họ, nó thuần túy mang tính sinh lý và dương vật; và không một lượng lý luận ngụy biện nào từ phía Giáo hội Công giáo La Mã có thể gán cho nó một ý nghĩa khác, một khi ngôn ngữ huyền nhiệm được nghiên cứu kỹ, và các cuộn sách Hebrew được đọc theo số học. Các nhà huyền bí học biết rằng Con Rắn, Naga, và Rồng, mỗi thứ đều có ý nghĩa thất phân; rằng chẳng hạn Mặt Trời là biểu tượng thiên văn và vũ trụ của hai Ánh Sáng đối nghịch và hai Con Rắn của phái Ngộ đạo, thiện và ác. Họ cũng biết rằng, khi được khái quát hóa, các kết luận của cả Khoa học lẫn Thần học đều trình bày hai cực đoan hết sức lố bịch. Vì khi bên thứ nhất nói với chúng ta rằng chỉ cần truy nguyên các truyền thuyết về rắn về nguồn gốc nguyên thủy của chúng, tức truyền thuyết thiên văn, và nghiêm túc tham thiền về Mặt Trời, kẻ chiến thắng Python, cùng Trinh Nữ trên trời trong Hoàng Đạo đang đẩy lùi con Rồng nuốt chửng, nếu chúng ta muốn có chìa khóa của mọi giáo điều tôn giáo về sau—thì dễ nhận ra rằng, thay vì khái quát hóa, tác giả chỉ đang hướng mắt đến tôn giáo Cơ Đốc và Mặc Khải. Chúng tôi gọi đây là một cực đoan. Chúng tôi thấy cực đoan kia khi Thần học, lặp lại quyết định nổi tiếng của Công đồng Trent, tìm cách thuyết phục quần chúng rằng: Từ sự sa ngã của con người cho đến giờ y chịu phép rửa, Quỷ có toàn quyền trên y, và chiếm hữu y theo quyền—quỷ có quyền thống trị và quyền lực trên con người và theo quyền chiếm hữu họ. |
|
To this Occult Philosophy answers: Prove first the existence of the Devil as an entity, and then we may believe in such congenital possession. A very small amount of observation and knowledge of human nature may be sufficient to prove the fallacy of this theological dogma. Had Satan any reality, in the objective or even subjective world (in the ecclesiastical sense), it is the poor Devil who would find himself chronically obsessed and even possessed by the wicked—hence by the bulk of mankind. It is humanity itself, and especially the clergy, headed by the haughty, unscrupulous and intolerant Roman Church, which has begotten, given birth to, and reared in love the Evil One. But this is a digression. |
Đối với điều này, Triết học Huyền bí đáp: Trước hết hãy chứng minh sự tồn tại của Quỷ như một thực thể, rồi chúng tôi có thể tin vào sự chiếm hữu bẩm sinh như thế. Chỉ cần một lượng rất nhỏ quan sát và hiểu biết về bản chất con người cũng đủ để chứng minh sự sai lầm của giáo điều thần học này. Nếu Satan có bất cứ thực tại nào trong thế giới khách quan hay thậm chí chủ quan, theo nghĩa giáo hội, thì chính Quỷ đáng thương mới là kẻ thấy mình bị ám ảnh kinh niên và thậm chí bị chiếm hữu bởi những kẻ ác—vì thế, bởi phần lớn nhân loại. Chính nhân loại, và đặc biệt là giới giáo sĩ, đứng đầu là Giáo hội La Mã kiêu căng, vô lương tâm và bất khoan dung, đã sinh ra, hạ sinh, và nuôi dưỡng Kẻ Ác trong tình yêu. Nhưng đây là một sự lạc đề. |
|
The whole world of thought is reproached by the Church with having adored the serpent. |
Toàn bộ thế giới tư tưởng bị Giáo hội khiển trách là đã tôn thờ con rắn. |
|
The whole of humanity burnt incense to it or stoned it. The Zends speak of it as do the Kings and Vedas, as the Edda… and the Bible…. Everywhere the sacred serpent [the Nâga] has its shrine and its priest; in Rome it is the Vestal who… prepares its meal with the same care that she bestows on the sacred fire. In Greece, Æsculapius cannot cure without its assistance, and delegates to it his powers. Every one has heard of the famous Roman embassy sent by the Senate to the god of medicine and its return with the not less famous serpent, which proceeded of its own will and by itself toward its master’s temple on one of the islands of the Tiber. Not a Bacchante that did not wind it [the serpent] in her hair, not an Augur but questioned it with care, not a Necromancer whose tombs are free from its presence! The Cainites and the Ophites call it Creator, while recognizing, as Schelling did, that the serpent is “evil in substance and in person.” 472 |
Toàn thể nhân loại đã đốt hương cho nó hoặc ném đá nó. Người Zend nói về nó như các Vua và Veda, như Edda… và Kinh Thánh…. Khắp nơi con rắn thiêng, tức Naga, có điện thờ và tư tế của nó; tại Rome, chính nữ tư tế Vestal… chuẩn bị bữa ăn cho nó với cùng sự chăm sóc mà bà dành cho ngọn lửa thiêng. Tại Hy Lạp, Aesculapius không thể chữa lành nếu không có sự trợ giúp của nó, và ủy thác cho nó các quyền năng của mình. Ai cũng đã nghe nói về phái đoàn La Mã nổi tiếng do Viện Nguyên lão phái đến thần y học, và chuyến trở về của nó cùng con rắn cũng nổi tiếng không kém, con rắn tự ý và tự mình tiến về đền thờ của chủ nó trên một trong các đảo của sông Tiber. Không một nữ tín đồ Bacchus nào mà không quấn nó, tức con rắn, trong tóc mình; không một quan chiêm bốc nào mà không cẩn thận hỏi ý nó; không một pháp sư gọi hồn nào mà các mộ phần của y lại vắng bóng nó! Người Cainite và người Ophite gọi nó là Đấng Sáng Tạo, trong khi thừa nhận, như Schelling đã làm, rằng con rắn là “ác trong chất thể và trong ngôi vị.” |
|
Yes, the author is right, and if one would have a complete idea of the prestige which the serpent enjoys to our own day, he ought to study the matter in India and learn all that is believed about, and still attributed to, the Nâgas (cobras) in that country; one should also visit the Africans of Whydah, the Voodoos of Port-au-Prince and Jamaica, the Nagals of Mexico, and the Pâ, or Men-serpents of China, etc. But why wonder that the serpent is “adored” and at the same time cursed, since we know that from the beginning it was a symbol? In every ancient language the word dragon signified what it now does in Chinese, long or “the being who excels in intelligence,” and in Greek, δράκων, or “he who sees and watches.” 473 Is it to the animal of this name that any of these epithets can apply? Is it not evident, wherever superstition and oblivion of the primitive meaning may have led savages now, that the above qualifications were intended to apply to the human originals, who were symbolized by Serpents and Dragons? These originals—called to this day in China the “Dragons of Wisdom”—were the first disciples of the Dhyânîs, who were their Instructors; in short, the Primitive Adepts of the Third Race, and later, of the Fourth and Fifth Races. The name became universal, and no sane man before the Christian era would ever have confounded the man and the symbol. |
Đúng vậy, tác giả nói đúng, và nếu ai muốn có một ý niệm đầy đủ về uy thế mà con rắn còn được hưởng cho đến ngày nay, y nên nghiên cứu vấn đề tại Ấn Độ và học tất cả những gì người ta tin về, và vẫn còn gán cho, các Naga, tức rắn hổ mang, ở xứ ấy; y cũng nên thăm người Phi châu ở Whydah, các Voodoo ở Port-au-Prince và Jamaica, các Nagal ở Mexico, và Pa, hay Người-rắn của Trung Hoa, v.v. Nhưng tại sao phải ngạc nhiên khi con rắn được “tôn thờ” và đồng thời bị nguyền rủa, bởi chúng ta biết rằng ngay từ đầu nó đã là một biểu tượng? Trong mọi ngôn ngữ cổ xưa, từ rồng có nghĩa như hiện nay trong tiếng Trung Hoa, long hay “hữu thể vượt trội về trí tuệ,” và trong tiếng Hy Lạp, drakon, hay “kẻ thấy và canh giữ.” Có thể áp dụng bất cứ danh hiệu nào trong các danh hiệu ấy cho con vật mang tên đó chăng? Chẳng phải hiển nhiên rằng, bất kể mê tín và sự quên lãng ý nghĩa nguyên thủy hiện nay có thể đã dẫn các dân tộc man sơ đến đâu, những phẩm tính nêu trên vốn được dùng để áp dụng cho các nguyên mẫu nhân loại, những vị đã được biểu tượng hóa bằng Rắn và Rồng sao? Những nguyên mẫu này—cho đến ngày nay tại Trung Hoa vẫn được gọi là “Rồng Minh Triết”—là những đệ tử đầu tiên của các Dhyani, vốn là các Huấn sư của họ; nói ngắn gọn, là các Chân sư Nguyên thủy của Giống dân thứ Ba, và về sau, của Giống dân thứ Tư và thứ Năm. Danh xưng ấy trở nên phổ quát, và trước kỷ nguyên Cơ Đốc không một người lành mạnh nào lại từng lẫn lộn con người với biểu tượng. |
|
The symbol of Chnouphis, or the Soul of the World, writes Champollion: Is among others that of an enormous serpent standing on human legs; this reptile, the emblem of the Good Genius, is a veritable Agathodæmon. It is often represented bearded…. This sacred animal, identical with the serpent of the Ophites, is found engraved on numerous Gnostic or Basilidean stones…. The serpent has various heads, but is constantly inscribed with the letters ΧΝΟΥΒΙΣ. 474 |
Champollion viết rằng biểu tượng của Chnouphis, hay Linh Hồn của Thế Giới, trong số những biểu tượng khác, là hình một con rắn khổng lồ đứng trên đôi chân người; loài bò sát này, biểu tượng của Thiện Thần, là một Agathodaemon đích thực. Nó thường được biểu hiện có râu…. Con vật thiêng này, đồng nhất với con rắn của phái Ophite, được thấy khắc trên nhiều viên đá Ngộ đạo hay Basilides…. Con rắn có nhiều đầu khác nhau, nhưng luôn luôn được khắc các chữ Chnoubis. |
|
Agathodæmon was endowed “with the knowledge of good and evil,” i.e., with Divine Wisdom, for without the latter the former is impossible. 475 Repeating Jamblichus, Champollion shows him to be: The deity called Εἰχτῶν [or the Fire of the Celestial Gods—the Great Thot-Hermes], 476to whom Hermes Trismegistus attributes the invention of magic. 477 |
Agathodaemon được ban cho “tri thức về thiện và ác,” tức Minh triết Thiêng liêng, vì nếu không có điều sau thì điều trước là bất khả. Khi lặp lại Jamblichus, Champollion cho thấy Ngài là: Thượng đế được gọi là Eichton, hay Lửa của các Thần Thiên giới—Thot-Hermes Vĩ Đại, mà Hermes Trismegistus gán cho việc phát minh ra huyền thuật. |
|
The “invention of magic”! A strange term to use, as though the unveiling of the eternal and actual mysteries of Nature could be invented! As well attribute, millenniums hence, the invention instead of the discovery of radiant matter to Mr. Crookes. Hermes was not the inventor, or even the discoverer, for, as said in the last footnote but one, Thot-Hermes is a generic name, as is Enoch—Enoichion, the “inner, spiritual eye”—Nebo, the prophet and seer, etc. It is not the proper name of any one living man, but a generic title of many Adepts. Their connection with the serpent in symbolic allegories is due to their enlightenment by the Solar and Planetary Gods during the earliest intellectual Race, the Third. They are all the representative patrons of the Secret Wisdom. Asclepios is the son of the Sun-God Apollo, and he is Mercury; Nebo is the son of Bel-Merodach; Vaivasvata Manu, the great Rishi, is the son of Vivasvat—the Sun or Sûrya, etc. And while, astronomically, the Nâgas along with the Rishis, the Gandharvas, Apsarases, Grâmanîs (or Yakshas, minor Gods), Yâtudhânas and Devas, are the Sun’s attendants throughout the twelve solar months; in theogony, and also in anthropological evolution, they are Gods and Men—when incarnated in the Nether World. Let the reader be reminded, in this connection, of the fact that Apollonius met in Kashmir Buddhist Nâgas. These are neither serpents zoologically, nor yet the Nâgas ethnologically, but “wise men.” |
“Phát minh ra huyền thuật”! Một thuật ngữ kỳ lạ để dùng, như thể việc vén màn những huyền nhiệm vĩnh cửu và hiện thực của Thiên nhiên lại có thể được phát minh! Cũng chẳng khác nào, nhiều thiên niên kỷ sau, gán sự phát minh thay vì sự khám phá vật chất bức xạ cho ông Crookes. Hermes không phải là người phát minh, thậm chí cũng không phải là người khám phá, vì như đã nói trong chú thích áp chót, Thot-Hermes là một danh xưng chung, cũng như Enoch—Enoichion, “con mắt bên trong, tinh thần”—Nebo, nhà tiên tri và nhà thông nhãn, v.v. Đó không phải là tên riêng của bất cứ một con người sống nào, mà là danh hiệu chung của nhiều Chân sư. Mối liên hệ của các Ngài với con rắn trong các ẩn dụ biểu tượng là do các Ngài được soi sáng bởi các Thần Thái Dương và Hành Tinh trong Giống dân trí tuệ sớm nhất, Giống dân thứ Ba. Tất cả các Ngài đều là những vị bảo trợ đại diện của Minh Triết Bí Nhiệm. Asclepios là con của Thần Mặt Trời Apollo, và Ngài là Mercury; Nebo là con của Bel-Merodach; Vaivasvata Manu, vị Rishi vĩ đại, là con của Vivasvat—Mặt Trời hay Surya, v.v. Và trong khi, về mặt thiên văn, các Naga cùng với các Rishi, các Gandharva, Apsaras, Gramani, hay Yaksha, các tiểu Thần, Yatudhana và Deva, là đoàn tùy tùng của Mặt Trời suốt mười hai tháng thái dương; trong thần phả, và cả trong tiến hoá nhân học, họ là các Thần và Con Người—khi nhập thể trong Thế Giới Bên Dưới. Trong mối liên hệ này, xin nhắc độc giả nhớ đến sự kiện Apollonius đã gặp các Naga Phật giáo ở Kashmir. Những vị này không phải là rắn về mặt động vật học, cũng không phải là Naga về mặt dân tộc học, mà là “những bậc hiền giả.” |
|
The Bible, from Genesis to Revelation, is but a series of historical records of the great struggle between White and Black Magic, between the Adepts of the Right Path, the Prophets, and those of the Left, the Levites, the clergy of the brutal masses. Even the students of Occultism, though some of them have more archaic MSS. and direct teaching to rely upon, find it difficult to draw a line of demarcation between the Sodales of the Right Path and those of the Left. The great schism that arose between the sons of the Fourth Race, as soon as the first Temples and Halls of Initiation had been erected under the guidance of the “Sons of God,” is allegorized in the Sons of Jacob. That there were two Schools of Magic, and that the orthodox Levites did not belong to the holy one, is shown in the words pronounced by the dying Jacob. And here it may be well to quote a few sentences from Isis Unveiled. 478 |
Kinh Thánh, từ Sáng Thế Ký đến Khải Huyền, chỉ là một chuỗi ghi chép lịch sử về cuộc đấu tranh vĩ đại giữa Chánh Thuật và Hắc thuật, giữa các Chân sư của chánh đạo, các Tiên tri, và những kẻ thuộc tả đạo, các Levite, giới giáo sĩ của quần chúng thô bạo. Ngay cả các đạo sinh Huyền bí học, dù một số người trong họ có các bản thảo cổ xưa hơn và giáo huấn trực tiếp để nương tựa, cũng thấy khó vạch ra một đường ranh giới giữa các đồng môn của chánh đạo và những kẻ thuộc tả đạo. Cuộc đại ly giáo phát sinh giữa những người con của Giống dân thứ Tư, ngay khi các Đền thờ và Phòng Điểm Đạo đầu tiên được dựng lên dưới sự hướng dẫn của “Các Con của Thượng đế,” đã được ẩn dụ hóa trong các Con của Jacob. Rằng đã có hai Trường phái Huyền thuật, và rằng các Levite chính thống không thuộc về trường phái thánh thiện, điều ấy được cho thấy trong những lời do Jacob hấp hối thốt ra. Và ở đây có lẽ nên trích dẫn vài câu từ Isis Vén Màn. |
|
The dying Jacob thus describes his sons: “Dan,” he says, “shall be a serpent by the way, an adder in the path, that biteth the horse-heels, so that his rider shall fall backwards [i.e., he will teach candidates Black Magic]. I have waited for thy salvation, O Lord!” Of Simeon and Levi the patriarch remarks that they “are brethren; instruments of cruelty are in their habitations. O my soul, come not thou into their secret; unto their assembly.” 479 Now in the original, the words “their secret” read— “their Sod.” 480 And Sod was the name for the great Mysteries of Baal, Adonis and Bacchus, who were all Sun-Gods and had serpents for symbols. The Kabalists explain the allegory of the fiery serpents by saying that this was the name given to the tribe of Levi, to all the Levites, in short, and that Moses was the chief of the Sodales. 481 |
Jacob lúc lâm chung đã mô tả các con trai mình như sau: “Dan,” ông nói, “sẽ là một con rắn bên đường, một con rắn lục trên lối đi, cắn gót ngựa, khiến người cưỡi nó ngã ngửa ra sau [tức là, y sẽ dạy các ứng viên Hắc thuật]. Ta đã chờ đợi sự cứu rỗi của Ngài, ôi Chúa!” Về Simeon và Levi, vị tổ phụ nhận xét rằng họ “là anh em; khí cụ của sự tàn bạo ở trong nơi cư ngụ của họ. Hỡi linh hồn ta, chớ bước vào bí mật của họ; chớ đến hội đồng của họ.” Trong nguyên bản, những chữ “bí mật của họ” được đọc là—“Sod của họ.” Và Sod là tên gọi các Bí pháp vĩ đại của Baal, Adonis và Bacchus, tất cả đều là các Thần Mặt Trời và đều có rắn làm biểu tượng. Các nhà Kabbalah giải thích ẩn dụ về các con rắn lửa bằng cách nói rằng đó là tên được đặt cho bộ tộc Levi, nói tóm lại là cho tất cả người Levi, và rằng Moses là thủ lãnh của các Sodales. |
|
It is to the Mysteries that the original meaning of the “Dragon-Slayers” has to be traced, and the question is fully treated of hereafter. |
Chính nơi các Bí pháp mà ý nghĩa nguyên thủy của những “Người Diệt Rồng” phải được truy nguyên, và vấn đề này sẽ được bàn đầy đủ về sau. |
|
Meanwhile it follows that, if Moses was the Chief of the Mysteries, he was the Hierophant thereof; and further, if, at the same time, we find the Prophets thundering against the “abominations” of the people of Israel, that there were two Schools. “Fiery serpents” was, then, simply the epithet given to the Levites of the priestly caste, after they had departed from the Good Law, the traditional teachings of Moses, and to all those who followed Black Magic. Isaiah, when referring to the “rebellious children” who will have to carry their riches into the lands whence come “the viper and fiery flying serpent,” 482 or Chaldæa and Egypt, whose Initiates had already greatly degenerated in his day (700 b.c.), meant the sorcerers of those lands. 483 But these must be carefully distinguished from the “Fiery Dragons of Wisdom” and the “Sons of the Fire-Mist.” |
Trong khi đó, hệ quả là, nếu Moses là Thủ Lãnh của các Bí pháp, thì ông là vị Đại Tư Tế của chúng; và hơn nữa, nếu đồng thời chúng ta thấy các Tiên tri vang rền lời lên án những “điều ghê tởm” của dân Israel, thì đã có hai Trường phái. “Các con rắn lửa” khi ấy chỉ đơn giản là biệt danh dành cho những người Levi thuộc giai cấp tư tế, sau khi họ đã rời bỏ Thiện Luật, tức giáo huấn truyền thống của Moses, và dành cho tất cả những ai theo Hắc thuật. Khi Isaiah nói đến “những đứa con phản nghịch” sẽ phải mang của cải mình vào các xứ sở từ đó xuất hiện “rắn lục và rắn bay bốc lửa,” tức Chaldea và Ai Cập, nơi các điểm đạo đồ vào thời ông đã suy đồi rất nhiều (700 trước Công nguyên), ông muốn nói đến các pháp sư của những xứ ấy. Nhưng cần phải phân biệt cẩn thận những kẻ này với “Những Con Rồng Lửa của Minh Triết” và “Các Con của Sương Lửa.” |
|
In the Great Book of the Mysteries we are told that: Seven Lords created seven Men; three Lords [Dhyân Chohans or Pitris] were holy and good, four less heavenly and full of passion…. The Chhâyâs [phantoms] of the Fathers were as they. |
Trong Đại Sách về các Bí pháp, chúng ta được cho biết rằng: Bảy Chúa Tể đã tạo ra bảy Người; ba Chúa Tể [Dhyani Chohans hay Pitris] là thánh thiện và tốt lành, bốn vị kém thiên thượng hơn và đầy dục vọng…. Các Chhayas [bóng hình] của các Cha cũng giống như các Ngài. |
|
This accounts for the differences in human nature, which is divided into seven gradations of good and evil. There were seven tabernacles ready to be inhabited by Monads under seven different Karmic conditions. The Commentaries explain on this basis the easy spread of evil, as soon as the human Forms had become real men. Some ancient philosophers, however, in their genetical accounts, ignored the seven and gave only four. Thus the Mexican local Genesis has “four good men,” described as the four real ancestors of the human race, “who were neither begotten by the Gods nor born of woman”; but whose creation was a wonder wrought by the Creative Powers, and who were made only after “three attempts at manufacturing men had failed.” The Egyptians in their theology had only “four Sons of God”—whereas in Pymander seven are given—thus avoiding any mention of the evil nature of man. When, however, Set from a God sank into Set-Typhon, he began to be called the “seventh son”; whence probably arose the belief that “the seventh son of the seventh son” is always a natural-born magician—though at first only a sorcerer was meant. Apap, the serpent symbolizing evil, is slain by Aker, Set’s serpent; 484 therefore Set-Typhon could not be that evil. In the Book of the Dead, it is commanded that Chapter clxiii should be read “in the presence of a serpent on two legs,” which means a high Initiate, a Hierophant, for the discus and ram’s horns 485 that adorn his “serpent’s” head in the hieroglyphics of the title of the said chapter, denote this. Over the “serpent” are represented the two mystic eyes of Ammon, 486 the hidden “Mystery God.” The above passages corroborate our assertion, and show what the word “serpent” really meant in antiquity. |
Điều này giải thích những khác biệt trong bản chất con người, vốn được chia thành bảy cấp độ thiện và ác. Có bảy đền tạm sẵn sàng cho các chân thần trú ngụ dưới bảy điều kiện nghiệp quả khác nhau. Trên nền tảng này, các Bình luận giải thích sự lan rộng dễ dàng của điều ác ngay khi các Hình tướng người đã trở thành những con người thật sự. Tuy nhiên, một số triết gia cổ đại, trong các tường thuật về nguồn gốc phát sinh, đã bỏ qua con số bảy và chỉ nêu bốn. Vì thế, Sáng Thế Ký địa phương của Mexico có “bốn người tốt lành,” được mô tả là bốn tổ tiên thật sự của nhân loại, “không do các Thần sinh ra cũng không do phụ nữ sinh ra”; nhưng sự sáng tạo ra họ là một kỳ công do các Quyền Năng Sáng Tạo thực hiện, và họ chỉ được tạo ra sau khi “ba nỗ lực chế tạo con người đã thất bại.” Trong thần học của mình, người Ai Cập chỉ có “bốn Con của Thượng đế”—trong khi ở Pymander lại nêu bảy—như vậy tránh mọi đề cập đến bản chất ác trong con người. Tuy nhiên, khi Set từ một vị Thần sa xuống thành Set-Typhon, y bắt đầu được gọi là “người con thứ bảy”; từ đó có lẽ đã nảy sinh niềm tin rằng “người con thứ bảy của người con thứ bảy” luôn là nhà huyền thuật bẩm sinh—dù lúc đầu chỉ muốn nói đến một pháp sư. Apap, con rắn tượng trưng cho điều ác, bị Aker, con rắn của Set, giết chết; vì vậy Set-Typhon không thể là điều ác ấy. Trong Sách của Người Chết, có lệnh rằng Chương clxiii phải được đọc “trước sự hiện diện của một con rắn có hai chân,” điều này có nghĩa là một điểm đạo đồ cao cấp, một vị Đại Tư Tế, vì đĩa tròn và sừng cừu trang điểm đầu “con rắn” trong các chữ tượng hình của nhan đề chương ấy biểu thị điều này. Phía trên “con rắn” có vẽ hai con mắt huyền bí của Ammon, vị “Thần Bí Pháp” ẩn tàng. Những đoạn trên củng cố khẳng định của chúng ta và cho thấy từ “rắn” thật sự có nghĩa gì trong thời cổ đại. |
|
But as to the Nagals and Nargals; whence came the similarity or names between the Indian Nâgas and the American Nagals? |
Nhưng còn về các Nagal và Nargal; sự tương đồng về tên gọi giữa các Naga Ấn Độ và các Nagal châu Mỹ đến từ đâu? |
|
The Nargal was the Chaldæan and Assyrian chief of the Magi [Rab-Mag], and the Nagal was the chief sorcerer of the Mexican Indians. Both derive their names from Nergal-Serezer, the Assyrian god, and the Hindû Nâgas. Both have the same faculties and the power to have an attendant Dæmon, with whom they identify themselves completely. The Chaldæan and Assyrian Nargal kept his Dæmon, in the shape of some animal considered sacred, inside the temple; the Indian Nagal keeps his wherever he can—in the neighbouring lake, or wood, or in the house, in the shape of some household animal. 487 |
Nargal là Chaldea và thủ lãnh Assyria của các Magi [Rab-Mag], còn Nagal là pháp sư trưởng của người Mexico bản địa. Cả hai đều nhận tên mình từ Nergal-Serezer, vị thần Assyria, và từ các Hindu Naga. Cả hai đều có cùng những năng lực và quyền năng để có một thần hộ vệ phụ tá, với vị ấy họ đồng hóa hoàn toàn. Chaldea và Nargal Assyria giữ thần hộ vệ của mình, dưới hình dạng một loài vật nào đó được xem là thiêng liêng, bên trong đền thờ; Nagal Ấn Độ giữ vị thần hộ vệ của mình ở bất cứ nơi nào y có thể—trong hồ lân cận, hay trong rừng, hoặc trong nhà, dưới hình dạng một loài gia súc nào đó. |
|
Such similarity cannot be attributed to coincidence. A new world is discovered, and we find that, for our forefathers of the Fourth Race, it was already an old one; that Arjuna, Krishna’s companion and Chelâ, is said to have descended into Pâtâla, the “antipodes” and therein married Ulûpî, 488 a Nâga, or Nâgî rather, the daughter of the king of the Nâgas, Kauravya. 489 |
Không thể quy sự tương đồng như thế cho ngẫu nhiên. Một thế giới mới được khám phá, và chúng ta thấy rằng, đối với tổ tiên của chúng ta thuộc Giống dân thứ tư, nó đã là một thế giới cũ; rằng Arjuna, bạn đồng hành và đệ tử của Krishna, được nói là đã đi xuống Patala, “vùng đối cực,” và tại đó cưới Ulupi, một Naga, hay đúng hơn là Nagi, con gái của vua các Naga, Kauravya. |
|
And now it may be hoped the full meaning of the serpent emblem is proven. It is neither that of evil, nor, least of all, that of the devil; but is, indeed, the ΣΕΜΕΣ ΕΙΛΑΜ ΑΒΡΑΣΑΞ, the “Eternal Sun Abrasax,” the Central Spiritual Sun of all the Kabalists, represented in some diagrams by the circle of Tiphereth. |
Và giờ đây có thể hy vọng rằng ý nghĩa đầy đủ của biểu tượng con rắn đã được chứng minh. Nó không phải là biểu tượng của điều ác, càng không phải là biểu tượng của ma quỷ; mà thật ra là SEMES EILAM ABRASAX, “Mặt Trời Vĩnh Cửu Abrasax,” Mặt trời Tinh thần Trung Ương của tất cả các nhà Kabbalah, được biểu thị trong một số đồ hình bằng vòng tròn Tiphereth. |
|
And here, again, we may quote from our earlier volumes and enter into further explanations. |
Và ở đây, một lần nữa, chúng ta có thể trích từ các tập trước của mình và đi vào những giải thích sâu hơn. |
|
From this region of unfathomable Depth (Bythos, Aditi, Shekinah, the Veil of the Unknown) issues forth a Circle formed of spirals. This is Tiphereth; which, in the language of symbolism, means a grand Cycle, composed of smaller ones. Coiled within, so as to follow the spirals, lies the Serpent—emblem of Wisdom and Eternity—the Dual Androgyne; the cycle representing Ennoia, or the Divine Mind (a Power which does not create but which must assimilate), and the Serpent, the Agathodæmon, the Ophis, the Shadow of the Light (non-eternal, yet the greatest Divine Light on our plane). Both were the Logoi of the Ophites; or the Unity as Logos manifesting itself as a double principle of Good and Evil. 490 |
Từ vùng Sâu Thẳm không thể dò này (Bythos, Aditi, Shekinah, Bức Màn của Điều Chưa Biết) phát xuất một Vòng Tròn được tạo thành từ các đường xoắn ốc. Đó là Tiphereth; trong ngôn ngữ biểu tượng, nó có nghĩa là một Chu Kỳ vĩ đại, gồm những chu kỳ nhỏ hơn. Cuộn mình bên trong, sao cho đi theo các đường xoắn ốc, là Con Rắn—biểu tượng của Minh Triết và Vĩnh Cửu—Lưỡng Tính Kép; chu kỳ tượng trưng cho Ennoia, hay Trí Tuệ Thiêng Liêng (một Quyền Năng không sáng tạo nhưng phải đồng hóa), và Con Rắn, Agathodaemon, Ophis, Bóng của Ánh sáng (không vĩnh cửu, nhưng là Ánh sáng Thiêng Liêng vĩ đại nhất trên cõi của chúng ta). Cả hai là các Thượng đế của phái Ophites; hay là Nhất Thể với tư cách Logos tự biểu hiện như một nguyên khí kép của Thiện và Ác. |
|
Were it Light alone, inactive and absolute, the human mind could not appreciate nor even realize it. Shadow is that which enables Light to manifest itself, and gives it objective reality. Therefore, Shadow is not evil, but is the necessary and indispensable corollary which completes Light or Good; it is its creator on Earth. |
Nếu chỉ là Ánh sáng đơn thuần, bất động và tuyệt đối, thì thể trí con người không thể lĩnh hội, thậm chí không thể nhận biết nó. Bóng là cái cho phép Ánh sáng tự biểu hiện và đem lại cho nó thực tại khách quan. Vì vậy, Bóng không phải là điều ác, mà là hệ luận tất yếu và không thể thiếu, hoàn tất Ánh sáng hay Điều Thiện; nó là đấng sáng tạo của Ánh sáng trên Trái Đất. |
|
According to the views of the Gnostics, these two principles are immutable Light and Shadow; Good and Evil being virtually one and having existed through all eternity, as they will ever continue to exist so long as there are manifested worlds. |
Theo quan điểm của các nhà Ngộ Đạo, hai nguyên khí này là Ánh sáng và Bóng bất biến; Thiện và Ác thực chất là một và đã tồn tại suốt vĩnh cửu, cũng như sẽ tiếp tục tồn tại mãi chừng nào còn có các thế giới biểu hiện. |
|
This symbol accounts for the adoration by this sect of the Serpent, as the Saviour, coiled either round the sacramental loaf, or a Tau (the phallic emblem). As a unity, Ennoia and Ophis are the Logos. When separated, one is the Tree of Spiritual Life, the other, the Tree of Knowledge of Good and Evil. Therefore, we find Ophis urging the first human couple—the material production of Ilda-baoth, but owing its spiritual principle to Sophia-Achamoth—to eat of the forbidden fruit, although Ophis represents divine Wisdom. |
Biểu tượng này giải thích sự tôn thờ Con Rắn của giáo phái ấy như Đấng Cứu Thế, cuộn quanh hoặc ổ bánh thánh, hoặc một chữ Tau (biểu tượng sinh thực khí nam). Với tư cách là một nhất thể, Ennoia và Ophis là Logos. Khi bị tách rời, một là Cây của Sự Sống Tinh Thần, còn một là Cây Tri Thức về Thiện và Ác. Vì vậy, chúng ta thấy Ophis thúc giục cặp người đầu tiên—sản phẩm vật chất của Ilda-baoth, nhưng mắc nợ nguyên khí tinh thần của mình nơi Sophia-Achamoth—ăn trái cấm, mặc dù Ophis tượng trưng cho Minh Triết thiêng liêng. |
|
The Serpent, the Tree of Knowledge of Good and Evil, and the Tree of Life, are all symbols transplanted from the soil of India. The Arasa-maram [?], the banyan tree, so sacred with the Hindûs—since Vishnu during one of his incarnations, reposed under its mighty shade and there taught human philosophy and sciences—is called the Tree of Knowledge and the Tree of Life. Under the protecting foliage of this king of the forests, the Gurus teach their pupils their first lessons on immortality and initiate them into the mysteries of life and death. The Java-Aleim of the Sacerdotal College are said, in the Chaldæan tradition, to have taught the sons of men to become like one of them. To the present day Foh-tchou 491who lives in his Foh-Maeyu, or the temple of Buddha, on the top of the Kouin-Long-Sang, 492the great mountain, produces his greatest religious miracles under a tree called in Chinese Sung-Ming-Shŭ, or the Tree of Knowledge and the Tree of Life, for ignorance is death, and knowledge alone gives immortality. This marvellous display takes place every three years, when an immense concourse of Chinese Buddhists assembles in pilgrimage at the holy place. 493 |
Con Rắn, Cây Tri Thức về Thiện và Ác, và Cây Sự Sống, tất cả đều là những biểu tượng được chuyển trồng từ mảnh đất Ấn Độ. Arasa-maram [?], cây đa, rất thiêng liêng đối với người Hindu—vì Vishnu trong một lần nhập thể của Ngài đã nghỉ dưới bóng râm hùng vĩ của nó và tại đó dạy triết học cùng các khoa học cho con người—được gọi là Cây Tri Thức và Cây Sự Sống. Dưới tán lá che chở của vị vua rừng này, các đạo sư dạy cho môn sinh những bài học đầu tiên về sự bất tử và điểm đạo họ vào các bí pháp của sự sống và cái chết. Theo truyền thống Aleim Java của Thánh viện Tư tế, người ta nói rằng họ đã dạy những người con của nhân loại trở nên giống như một trong số họ. Cho đến ngày nay, Foh-tchouChaldea sống trong Foh-Maeyu của mình, hay ngôi đền của Đức Phật, trên đỉnh Kouin-Long-Sang,ngọn núi lớn, thực hiện các phép lạ tôn giáo vĩ đại nhất của mình dưới một cây được gọi trong tiếng Trung là Sung-Ming-Shu, hay Cây Tri Thức và Cây Sự Sống, vì vô minh là cái chết, và chỉ tri thức mới ban cho sự bất tử. Sự biểu hiện kỳ diệu này diễn ra ba năm một lần, khi một đám đông vô số Phật tử Trung Hoa tụ họp hành hương tại thánh địa. |
|
Now it may become comprehensible why the earliest Initiates and Adepts, or the “Wise Men,” who are claimed to have been initiated into the Mysteries of Nature by the Universal Mind, represented by the highest Angels, were named the “Serpents of Wisdom” and “Dragons”; and also how the first physiologically complete couples—after being initiated into the Mystery of Human Creation through Ophis, the Manifested Logos and the Androgyne, by eating of the fruit of knowledge—gradually began to be accused by the material spirit of posterity of having committed sin, of having disobeyed the “Lord God,” and of having been tempted by the Serpent. |
Giờ đây có thể hiểu được vì sao các điểm đạo đồ và Chân sư thuở ban sơ, hay các “Bậc Minh Triết,” những vị được cho là đã được điểm đạo vào các Bí pháp của Thiên Nhiên bởi Vũ Trụ Trí, được biểu trưng bởi các Thiên Thần cao nhất, lại được gọi là “Những Con Rắn Minh Triết” và “Những Con Rồng”; và cũng hiểu được vì sao các cặp đôi đầu tiên hoàn chỉnh về mặt sinh lý—sau khi được điểm đạo vào Bí Pháp Sáng Tạo Con Người qua Ophis, Logos Biểu Hiện và Đấng Lưỡng Tính, bằng việc ăn trái tri thức—dần dần bắt đầu bị tinh thần vật chất của hậu thế buộc tội là đã phạm tội, đã bất tuân “Chúa Thượng đế,” và đã bị Con Rắn cám dỗ. |
|
So little have the first Christians—who despoiled the Jews of their Bible—understood the first four chapters of Genesis in their esoteric meaning, that they have never perceived that not only was no sin intended in this disobedience, but that the “Serpent” was actually the “Lord God” himself, who, as the Ophis, the Logos, or the bearer of divine creative wisdom, taught mankind to become creators in their turn. 494 They never realized that the Cross was an evolution from the Tree and the Serpent, and thus became the salvation of mankind. By this it would become the very first fundamental symbol of Creative Cause, applying to geometry, to numbers, to astronomy, to measure and to animal reproduction. According to the Kabalah, the curse on man came with the formation of woman. 495 The circle was separated from its diameter line. |
Những Kitô hữu đầu tiên—những người đã tước đoạt Kinh Thánh của người Do Thái—hiểu quá ít về ý nghĩa nội môn của bốn chương đầu Sáng Thế Ký, đến nỗi họ chưa bao giờ nhận ra rằng trong sự bất tuân này không những không hề có tội lỗi nào được hàm ý, mà “Con Rắn” thật ra chính là “Chúa Thượng đế” ấy, Đấng, với tư cách Ophis, Logos, hay vị mang Minh Triết sáng tạo thiêng liêng, đã dạy nhân loại đến lượt mình trở thành những đấng sáng tạo. Họ chưa bao giờ nhận ra rằng Thập Giá là một sự tiến hoá từ Cây và Con Rắn, và vì thế đã trở thành sự cứu rỗi của nhân loại. Bằng điều này, nó trở thành biểu tượng nền tảng đầu tiên của Nguyên Nhân Sáng Tạo, áp dụng cho hình học, các con số, thiên văn học, đo lường và sinh sản động vật. Theo Kabalah, lời nguyền giáng lên con người đã đến cùng với sự hình thành người nữ. Vòng tròn bị tách khỏi đường kính của nó. |
|
From the possession of the double principle in one, that is, the Androgyne condition, the separation of the dual principle was made, presenting two opposites, whose destiny it was, for ever after, to seek reünion into the original one condition. The curse was this, viz., that Nature, impelling the search, evaded the desired result by the production of a new being, distinct from that reünion or oneness desired, by which the natural longing to recover a lost state was and is for ever being cheated. It is by this tantalizing process of a continued curse that Nature lives. 496 |
Từ việc sở hữu nguyên khí kép trong một, tức trạng thái Lưỡng Tính, sự phân tách nguyên khí nhị nguyên đã diễn ra, trình hiện hai đối cực, mà định mệnh của chúng từ đó mãi mãi là tìm kiếm sự tái hợp vào trạng thái một nguyên thủy. Lời nguyền là thế này, tức là Thiên Nhiên, khi thôi thúc cuộc tìm kiếm, lại né tránh kết quả mong muốn bằng cách sản sinh ra một hữu thể mới, khác với sự tái hợp hay tính nhất như mong muốn ấy, nhờ đó niềm khao khát tự nhiên muốn phục hồi một trạng thái đã mất đã và sẽ mãi mãi bị đánh lừa. Chính nhờ tiến trình trêu ngươi của một lời nguyền liên tục này mà Thiên Nhiên sống. |
|
The allegory of Adam being driven away from the Tree of Life means, Esoterically, that the newly separated Race abused and dragged down the mystery of Life into the region of animalism and bestiality. For, as the Zohar shows, Matronethah—Shekinah, the wife of Metatron symbolically— “is the way to the great Tree of Life, the Mighty Tree,” and Shekinah is Divine Grace. As explained, this Tree reaches the heavenly vale and is hidden between three mountains (the upper Triad of Principles, in man). From these three mountains, the Tree ascends above (the Adept’s knowledge aspires heavenward), and then redescends below (into the Adept’s Ego on earth). This Tree is revealed in the day time and is hidden during the night, i.e., revealed to an enlightened mind and hidden to ignorance, which is night. 497 As says the Commentary: The Tree of the Knowledge of the Good and the Evil grows from the roots of the Tree of Life. |
Ẩn dụ Adam bị đuổi khỏi Cây Sự Sống, xét một cách nội môn, có nghĩa là Giống dân mới bị phân tách đã lạm dụng và kéo bí pháp của Sự Sống xuống vùng thú tính và bản năng cầm thú. Vì, như Zohar cho thấy, Matronethah—Shekinah, người vợ biểu tượng của Metatron—“là con đường đến Cây Sự Sống vĩ đại, Cây Hùng Mạnh,” và Shekinah là Ân Sủng Thiêng Liêng. Như đã giải thích, Cây này vươn tới thung lũng thiên giới và ẩn giữa ba ngọn núi (Tam nguyên thượng của các nguyên khí trong con người). Từ ba ngọn núi này, Cây vươn lên cao (tri thức của Chân sư hướng vọng thiên thượng), rồi lại hạ xuống dưới (vào Chân ngã của Chân sư trên trần gian). Cây này được mặc khải vào ban ngày và ẩn giấu trong ban đêm, tức là được mặc khải cho thể trí đã giác ngộ và ẩn giấu đối với vô minh, vốn là đêm. Như Bình luận nói: Cây Tri Thức về Thiện và Ác mọc lên từ rễ của Cây Sự Sống. |
|
But then also, as the author of The Source of Measures writes: In the Kabalah it is plainly to be found that the “Tree of Life” was the ansated cross in its sexual aspect, and that the “Tree of Knowledge” was the separation and the coming together again to fulfil the fatal condition. To display this in numbers the values of the letters composing the word Otz (עץ), tree, are 7 and 9, the seven being the holy feminine number and the nine the number of the phallic or male energy. This ansated cross is the symbol of the Egyptian female-male, Isis-Osiris, the germinal principle in all forms, based on the primal manifestation applicable in all directions and in all senses. |
Nhưng đồng thời, như tác giả của The Source of Measures viết: Trong Kabalah có thể thấy rõ rằng “Cây Sự Sống” là thập giá có vòng trong phương diện tính dục của nó, và “Cây Tri Thức” là sự phân tách rồi lại kết hợp để hoàn tất điều kiện định mệnh. Để trình bày điều này bằng con số, giá trị của các chữ cái cấu thành từ Otz (cây), nghĩa là cây, là 7 và 9, số bảy là con số nữ tính thiêng liêng, còn số chín là con số của năng lượng sinh thực khí nam hay nam tính. Thập giá có vòng này là biểu tượng của nữ-nam Ai Cập, Isis-Osiris, nguyên khí mầm mống trong mọi hình tướng, đặt nền trên sự biểu hiện nguyên sơ có thể áp dụng theo mọi hướng và trong mọi ý nghĩa. |
|
This is the Kabalistic view of the Western Occultists, and it differs from the more philosophical Eastern or Âryan views upon the subject. 498 The separation of the sexes was in the programme of Nature and of natural evolution; and the creative faculty in male and female was a gift of Divine Wisdom. In the truth of such traditions the whole of Antiquity, from the patrician philosopher to the humblest spiritually inclined plebeian, has believed. And as we proceed, we may successfully show that the relative truth of such legends, if not their absolute exactness—vouched for by such giants of intellect as were Solon, Pythagoras, Plato, and others—begins to dawn upon more than one modern Scientist. He is perplexed; he stands startled and confused before proofs that are being daily accumulated before him; he feels that there is no way of solving the many historical problems that stare him in the face, unless he begins by accepting ancient traditions. Therefore, in saying that we believe absolutely in ancient records and universal legends, we need hardly plead guilty before the impartial observer, for other and far more learned writers, and that too among those who belong to the modern Scientific School, evidently believe in much that the Occultists do—in “dragons,” for instance, and not only symbolically, but also in their actual existence at one time. |
Đây là quan điểm Kabbalah của các nhà huyền bí học phương Tây, và nó khác với các quan điểm phương Đông hay Arya triết học hơn về đề tài này. Sự phân tách các giới tính nằm trong chương trình của Thiên Nhiên và của tiến hoá tự nhiên; và năng lực sáng tạo trong nam và nữ là một ân huệ của Minh Triết Thiêng Liêng. Toàn bộ Cổ đại, từ triết gia quý tộc cho đến người bình dân khiêm hạ nhất có khuynh hướng tinh thần, đều đã tin vào chân lý của những truyền thống như thế. Và khi tiếp tục, chúng ta có thể chứng minh thành công rằng chân lý tương đối của những truyền thuyết ấy, nếu không phải sự chính xác tuyệt đối của chúng—được chứng thực bởi những người khổng lồ về trí tuệ như Solon, Pythagoras, Plato và những vị khác—đang bắt đầu ló rạng nơi hơn một nhà Khoa học hiện đại. Ông bối rối; ông đứng sững sờ và lúng túng trước những bằng chứng đang được tích lũy hằng ngày trước mắt ông; ông cảm thấy rằng không có cách nào giải quyết nhiều vấn đề lịch sử đang đối diện với mình, trừ khi ông bắt đầu bằng việc chấp nhận các truyền thống cổ xưa. Vì vậy, khi nói rằng chúng ta tuyệt đối tin vào các ghi chép cổ đại và những truyền thuyết phổ quát, chúng ta hầu như không cần nhận tội trước người quan sát công minh, vì những tác giả khác, uyên bác hơn nhiều, và lại thuộc Trường phái Khoa học hiện đại, hiển nhiên cũng tin vào nhiều điều mà các nhà huyền bí học tin—chẳng hạn như “rồng,” và không chỉ về mặt biểu tượng, mà còn tin vào sự tồn tại thật sự của chúng vào một thời nào đó. |
|
It would have indeed been a bold step for anyone, some thirty years ago, to have thought of treating the public to a collection of stories ordinarily reputed fabulous, and of claiming for them the consideration due to genuine realities, or to have advocated tales, time-honoured as fictions, as actual facts; and those of the nursery as being, in many instances, legends, more or less distorted, descriptive of real beings or events. Nowadays it is a less hazardous proceeding. 499 |
Quả thật, cách đây khoảng ba mươi năm, đó hẳn đã là một bước đi táo bạo đối với bất kỳ ai nghĩ đến việc trình bày trước công chúng một tập hợp những câu chuyện thường được xem là hoang đường, và đòi hỏi cho chúng sự xem xét xứng đáng với những thực tại chân chính, hoặc biện hộ cho những truyện kể được thời gian tôn kính như các hư cấu ấy như những sự kiện thật; và xem những chuyện nơi phòng trẻ, trong nhiều trường hợp, là các truyền thuyết ít nhiều bị bóp méo, mô tả những hữu thể hay biến cố có thật. Ngày nay, đó là một việc ít nguy hiểm hơn. |
|
Thus opens the Introduction to a recent (1886) and most interesting work by Mr. Charles Gould, called Mythical Monsters. He boldly states his belief in most of these monsters. He submits that: Many of the so-called mythical animals, which throughout long ages and in all nations have been the fertile subjects of fiction and fable, come legitimately within the scope of plain matter-of-fact Natural History, and that they may be considered, not as the outcome of exuberant fancy, but as creatures which really once existed, and of which, unfortunately, only imperfect and inaccurate descriptions have filtered down to us, probably very much refracted, through the mists of time;… traditions of creatures once coexisting with man, some of which are so weird and terrible as to appear at first sight to be impossible…. |
Đó là cách mở đầu Phần Dẫn Nhập của một tác phẩm gần đây (1886) và rất thú vị của ông Charles Gould, nhan đề Mythical Monsters. Ông mạnh dạn tuyên bố niềm tin của mình vào phần lớn những quái vật này. Ông trình bày rằng: Nhiều loài vật được gọi là thần thoại, vốn qua những thời đại dài lâu và trong mọi dân tộc đã là đề tài phong phú của truyện hư cấu và ngụ ngôn, một cách chính đáng thuộc phạm vi của Lịch sử Tự nhiên giản dị, dựa trên sự kiện; và có thể xem chúng không phải là kết quả của trí tưởng tượng quá phong phú, mà là những sinh vật thật sự từng tồn tại, nhưng tiếc thay chỉ còn những mô tả không hoàn chỉnh và thiếu chính xác truyền xuống đến chúng ta, có lẽ đã bị khúc xạ rất nhiều qua sương mù thời gian;… những truyền thống về các sinh vật từng cùng tồn tại với con người, một số trong đó kỳ dị và khủng khiếp đến mức thoạt nhìn dường như là điều không thể…. |
|
For me the major part of those creatures are not chimeras but objects of rational study. The dragon, in place of being a creature evolved out of the imagination of Âryan man by the contemplation of lightning flashing through the caverns which he tenanted, as is held by some mythologists, is an animal which once lived and dragged its ponderous coils and perhaps flew…. |
Đối với tôi, phần lớn những sinh vật ấy không phải là những quái vật tưởng tượng mà là đối tượng của sự nghiên cứu hợp lý. Con rồng, thay vì là một sinh vật tiến hoá ra từ sự tưởng tượng của con người Arya qua việc chiêm ngưỡng tia chớp lóe sáng trong những hang động mà y cư trú, như một số nhà thần thoại học chủ trương, là một loài vật đã từng sống và kéo lê những vòng thân nặng nề của nó, và có lẽ đã bay…. |
|
To me the specific existence of the unicorn seems not incredible, and, in fact, more probable than that theory which assigns its origin to a lunar myth. 500… |
Đối với tôi, sự tồn tại cụ thể của kỳ lân dường như không khó tin, và thật ra còn có khả năng hơn thuyết gán nguồn gốc của nó cho một thần thoại mặt trăng…. |
|
For my part I doubt the general derivation of myths from “the contemplation of the visible workings of external nature.” It seems to me easier to suppose that the palsy of time has enfeebled the utterance of these oft-told tales until their original appearance is almost unrecognizable, than that uncultured savages should possess powers of imagination and poetical invention far beyond those enjoyed by the most instructed nations of the present day; less hard to believe that these wonderful stories of gods and demigods, of giants and dwarfs, of dragons and monsters of all descriptions are transformations than to believe them to be inventions. 501 |
Về phần tôi, tôi nghi ngờ sự phái sinh tổng quát của các thần thoại từ “sự chiêm ngưỡng những hoạt động hữu hình của thiên nhiên bên ngoài.” Đối với tôi, dễ giả định rằng sự tê liệt của thời gian đã làm suy yếu lời kể của những truyện được thuật lại quá nhiều lần này cho đến khi diện mạo nguyên thủy của chúng hầu như không còn nhận ra được, hơn là giả định rằng những người man dã chưa được khai hóa lại sở hữu năng lực tưởng tượng và sáng tạo thi ca vượt xa những năng lực mà các dân tộc được giáo dục nhất ngày nay có được; ít khó tin hơn khi cho rằng những câu chuyện kỳ diệu này về các vị thần và bán thần, về người khổng lồ và người lùn, về rồng và đủ loại quái vật là những sự chuyển đổi hơn là tin rằng chúng là những sự bịa đặt. |
|
It is shown by the same Geologist that: Palæontologists have successively traced back the existence of man to periods variously estimated at from thirty thousand to one million years—to periods when he coexisted with animals which have long since become extinct. 502 |
Cũng chính nhà Địa chất học ấy cho thấy rằng: Các nhà cổ sinh vật học đã lần lượt truy ngược sự tồn tại của con người đến những thời kỳ được ước tính khác nhau từ ba mươi nghìn đến một triệu năm—đến những thời kỳ khi y cùng tồn tại với các loài vật từ lâu đã tuyệt chủng. |
|
These animals, “weird and terrible,” were, to give a few instances: (1) The genus Cidastes, whose huge bones and vertebræ show them to have attained a length of nearly two hundred feet. The remains of such monsters, no less than ten in number, were seen by Professor Marsh in the Mauvaises Terres of Colorado, strewn upon the plains. (2) The Titanosaurus Montanus, reaching fifty or sixty feet in length. (3) The Dinosaurians, in the Jurassic beds of the Rocky Mountains, of still more gigantic proportions. (4) The Atlantosaurus Immanis, a femur of which alone is over six feet in length, and which would be thus over one hundred feet in length. But even yet the line has not been reached, and we hear of the discovery of remains of such titanic proportions as to possess a thigh-bone over twelve feet in length! 503 Then we read of the monstrous Sivatherium in the Himâlayas, the four-horned stag, as large as an elephant, and exceeding the latter in height; of the gigantic Megatherium; of colossal flying lizards, Pterodactyli, with crocodile jaws on a duck’s head, etc. All these were coexistent with man, most probably attacked man, as man attacked them. And we are asked to believe that the said man was no larger then than he is now! Is it possible to conceive that, surrounded in Nature with such monstrous creatures, man, unless himself a colossal giant, could have survived, while all his foes have perished? Is it with his stone hatchet that he had the best of a Sivatherium or a gigantic flying saurian? Let us always bear in mind that at least one great man of Science, de Quatrefages, sees no good scientific reasons why man should not have been “contemporaneous with the earliest mammalia and go back as far as the Secondary Period.” 504 |
Những loài vật “kỳ dị và khủng khiếp” này, để nêu vài ví dụ, là: (1) Giống Cidastes, có những bộ xương và đốt sống khổng lồ cho thấy chúng đã đạt chiều dài gần hai trăm bộ. Di tích của những quái vật như thế, không dưới mười con, đã được Giáo sư Marsh nhìn thấy tại Mauvaises Terres thuộc Colorado, nằm rải rác trên các đồng bằng. (2) Titanosaurus Montanus, dài năm mươi hay sáu mươi bộ. (3) Các khủng long, trong các tầng Jura của dãy Rocky Mountains, có kích thước còn khổng lồ hơn nữa. (4) Atlantosaurus Immanis, riêng xương đùi của nó đã dài hơn sáu bộ, và như vậy nó phải dài hơn một trăm bộ. Nhưng ngay cả đến nay giới hạn vẫn chưa đạt tới, và chúng ta nghe nói về việc phát hiện những di tích có kích thước khổng lồ đến mức sở hữu một xương đùi dài hơn mười hai bộ! Rồi chúng ta đọc về con Sivatherium quái dị ở Himalaya, loài hươu bốn sừng, to bằng voi và cao hơn voi; về Megatherium khổng lồ; về các thằn lằn bay đồ sộ, Pterodactyli, có hàm cá sấu trên đầu vịt, vân vân. Tất cả những loài này đã cùng tồn tại với con người, rất có thể đã tấn công con người, cũng như con người đã tấn công chúng. Và chúng ta lại được yêu cầu tin rằng con người ấy khi đó không lớn hơn hiện nay! Có thể nào hình dung rằng, bị bao quanh trong Thiên Nhiên bởi những sinh vật quái dị như thế, con người, trừ khi chính y là một người khổng lồ đồ sộ, lại có thể sống sót, trong khi tất cả kẻ thù của y đã diệt vong? Có phải bằng chiếc rìu đá của mình mà y đã thắng được một Sivatherium hay một loài bò sát bay khổng lồ? Chúng ta hãy luôn ghi nhớ rằng ít nhất một nhà Khoa học vĩ đại, de Quatrefages, không thấy có lý do khoa học xác đáng nào khiến con người không thể đã “đồng thời với các loài hữu nhũ sớm nhất và lùi xa đến tận Kỷ Thứ Hai.” |
|
The very conservative Professor Jukes writes: It appears that the flying dragons of romance had something like a real existence in former ages of the world. 505 |
Giáo sư Jukes, vốn rất bảo thủ, viết: Dường như những con rồng bay của truyện lãng mạn đã có một sự tồn tại gần như thật trong các thời đại trước của thế giới. |
|
And the author goes on to ask. |
Và tác giả tiếp tục đặt câu hỏi. |
|
Does the written history of man, comprising a few thousand years, embrace the whole course of his intelligent existence? Or have we in the long mythical eras, extending over hundreds of thousands of years, and recorded in the chronologies of Chaldæa and China, shadowy mementoes of prehistoric man, handed down by tradition, and perhaps transported by a few survivors to existing lands, from others which, like the fabled Atlantis of Plato, may have been submerged, or the scene of some great catastrophe which destroyed them with all their civilization? 506 |
Liệu lịch sử thành văn của con người, bao gồm vài nghìn năm, có bao hàm toàn bộ tiến trình tồn tại có trí tuệ của y không? Hay trong những kỷ nguyên thần thoại lâu dài, kéo dài hàng trăm nghìn năm và được ghi lại trong các niên đại Chaldea và Trung Hoa, chúng ta có những kỷ niệm mờ ảo về con người tiền sử, được truyền lại bằng truyền thống, và có lẽ được một vài người sống sót mang đến các vùng đất hiện tồn, từ những vùng đất khác, giống như Atlantis huyền thoại của Plato, có thể đã bị chìm xuống, hoặc là nơi xảy ra một đại tai biến nào đó đã hủy diệt chúng cùng với toàn bộ nền văn minh của chúng? |
|
The few remaining giant animals, such as elephants—themselves smaller than their ancestors the Mastodons—and hippopotami, are the only surviving relics, and tend to disappear more entirely every day. But even they have already had a few pioneers of their future genus, and have decreased in size in the same proportion as men have done. For the remains of a pigmy elephant, E. Falconeri, were found in the cave deposits of Malta; and the same author asserts that they were associated with the remains of pigmy hippopotami, the former being only two feet six inches high. There is also the still existing Hippopotamus (Chœropsis) Liberiensis, “which M. Milne-Edwards figures as little more than two feet in height.” 507 |
Một vài loài vật khổng lồ còn sót lại, như voi—bản thân chúng nhỏ hơn tổ tiên của chúng là Mastodon—và hà mã, là những di tích sống sót duy nhất, và có khuynh hướng biến mất hoàn toàn hơn mỗi ngày. Nhưng ngay cả chúng cũng đã có vài tiền phong của giống tương lai của mình, và đã giảm kích thước theo cùng tỷ lệ như con người đã giảm. Vì di tích của một con voi lùn, E. Falconeri, đã được tìm thấy trong các trầm tích hang động ở Malta; và cùng tác giả ấy khẳng định rằng chúng liên hệ với di tích của những con hà mã lùn, con trước chỉ cao hai bộ sáu inch. Cũng còn loài hà mã hiện đang tồn tại (Choeropsis) Liberiensis, “mà M. Milne-Edwards mô tả là chỉ cao hơn hai bộ một chút.” |
|
Sceptics may smile and denounce our work as full of nonsense or fairy-tales. But by so doing they only justify the wisdom of the Chinese philosopher Chuang, who said that: The things that men do know can in no way be compared, numerically speaking, to the things that are unknown. 508 |
Những người hoài nghi có thể mỉm cười và lên án tác phẩm của chúng ta là đầy điều vô nghĩa hay chuyện thần tiên. Nhưng làm như thế, họ chỉ biện minh cho minh triết của triết gia Trung Hoa Chuang, người đã nói rằng: Những điều con người biết, xét về số lượng, không thể nào so sánh với những điều chưa biết. |
|
Thus they laugh only at their own ignorance. |
Như vậy, họ chỉ cười vào chính sự vô minh của mình. |
The “Sons Of God” And The “Sacred Island.” — “Các Con Của Thượng Đế” Và “Hòn Đảo Thiêng.”
|
The “legend” given in Isis Unveiled 509 in relation to a portion of the globe which Science now concedes to have been the cradle of humanity—though it was but one of the seven cradles, in truth—runs as follows: Tradition says, and the records of the Great Book (the Book of Dzyan) explain, that long before the days of Ad-am, and his inquisitive wife, He-va, where now are found but salt lakes and desolate barren deserts, there was a vast inland sea, which extended over Middle Asia, north of the proud Himâlayan range, and its western prolongation. In it an island, which, for its unparalleled beauty, had no rival in the world, was inhabited by the last remnant of the Race which preceded ours. |
“Truyền thuyết” được nêu trong Isis Unveiled liên quan đến một phần của bầu hành tinh mà Khoa học nay thừa nhận là chiếc nôi của nhân loại—dù thật ra nó chỉ là một trong bảy chiếc nôi—diễn ra như sau: Truyền thống nói, và các ghi chép của Đại Sách (Sách Dzyan) giải thích, rằng từ rất lâu trước thời Ad-am và người vợ tò mò He-va của ông, nơi ngày nay chỉ còn những hồ nước mặn và các sa mạc cằn cỗi hoang vắng, đã có một biển nội địa bao la, trải rộng khắp Trung Á, phía bắc dãy Himalaya kiêu hãnh và phần kéo dài về phía tây của nó. Trong biển ấy có một hòn đảo, vì vẻ đẹp vô song của nó, không nơi nào trên thế giới sánh được, và nó được cư ngụ bởi tàn dư cuối cùng của Giống dân đi trước chúng ta. |
|
“The last remnant” means the “Sons of Will and Yoga,” who, with a few tribes, survived the great cataclysm. For it was the Third Race, inhabiting the great Lemurian Continent, which preceded the veritable and complete human Races—the Fourth and the Fifth. Therefore was it said in Isis Unveiled that: This race could live with equal ease in water, air, or fire, for it had an unlimited control over the elements. These were the “Sons of God”; not those who saw the daughters of men, but the real Elohim, though in the oriental Kabalah they have another name. It was they who imparted Nature’s most weird secrets to men, and revealed to them the ineffable, and now lost “word.” |
“Tàn dư cuối cùng” có nghĩa là “Các Con của Ý Chí và Yoga,” những vị, cùng với một vài bộ lạc, đã sống sót sau đại hồng tai. Vì chính Giống dân thứ ba, cư ngụ trên Lục địa Lemuria vĩ đại, đã đi trước các Giống dân nhân loại thật sự và hoàn chỉnh—Giống dân thứ tư và thứ năm. Vì vậy, trong Isis Unveiled đã nói rằng: Giống dân này có thể sống dễ dàng như nhau trong nước, không khí hay lửa, vì họ có quyền kiểm soát vô hạn đối với các nguyên tố. Đây là “Các Con của Thượng đế”; không phải những kẻ đã thấy các con gái của loài người, mà là các Elohim thật sự, dù trong Kabalah phương Đông họ có một tên gọi khác. Chính họ đã truyền đạt những bí mật kỳ dị nhất của Thiên Nhiên cho con người, và mặc khải cho họ “linh từ” không thể diễn tả, và nay đã thất truyền. |
|
The “Island,” according to belief, exists to the present hour, as an oasis surrounded by the dreadful wildernesses of the great Gobi Desert—whose sands “no foot hath crossed in the memory of man.” |
Theo niềm tin, “Hòn Đảo” ấy vẫn tồn tại đến giờ phút hiện tại, như một ốc đảo được bao quanh bởi các hoang mạc đáng sợ của Đại Sa mạc Gobi—nơi mà cát của nó “không bàn chân nào từng vượt qua trong ký ức của con người.” |
|
This word, which is no word, has travelled once round the globe, and still lingers as a far-off dying echo in the hearts of some privileged men. The hierophants of all the Sacerdotal Colleges were aware of the existence of this island; but the “word” was known only to the Java Aleim (Mahâ Chohan in another tongue), or chief Lord of every College, and was passed to his successor only at the moment of death. There were many such Colleges, and the old classical authors speak of them. |
Linh từ này, vốn không phải là một từ, đã từng đi một vòng quanh bầu hành tinh, và vẫn còn lưu lại như một tiếng vọng xa xăm đang tàn lụi trong trái tim của một vài người đặc ân. Các Đại Tư Tế của mọi Thánh viện Tư tế đều biết đến sự tồn tại của hòn đảo này; nhưng “linh từ” chỉ được biết bởi Java Aleim (Maha Chohan trong một ngôn ngữ khác), hay Chúa Tể đứng đầu của mỗi Thánh viện, và chỉ được truyền cho người kế nhiệm y vào khoảnh khắc lâm chung. Đã có nhiều Thánh viện như thế, và các tác giả cổ điển xưa có nói về chúng. |
|
There was no communication with the fair island by sea, but subterranean passages, known only to the chiefs, communicated with it in all directions. 510 |
Không có giao thông bằng đường biển với hòn đảo xinh đẹp ấy, nhưng những lối đi ngầm dưới đất, chỉ các vị thủ lãnh biết, thông với nó từ mọi hướng. |
|
Tradition asserts, and Archæology accepts the truth of the legend, that there is more than one city now flourishing in India, which is built on several other cities, making thus a subterranean city of six or seven stories high. Delhi is one of them, Allahabad another; examples being found even in Europe, e.g., in Florence, which is built on several defunct Etruscan and other cities. Why, then, could not Ellora, Elephanta, Karli, and Ajunta have been built over subterranean labyrinths and passages, as it is claimed? Of course we do not allude to the caves which are known to every European, whether de visu or by hearsay, notwithstanding their enormous antiquity, though that even is disputed by modern Archæology; but to a fact, known to the initiated Brâhmans of India and especially to Yogîs, viz., that there is not a cave-temple in the country but has its subterranean passages running in every direction, and that these underground caves and endless corridors have in their turn their caves and corridors. |
Truyền thống khẳng định, và Khảo cổ học chấp nhận chân lý của truyền thuyết ấy, rằng hiện nay ở Ấn Độ có hơn một thành phố đang phồn thịnh, được xây trên nhiều thành phố khác, nhờ vậy tạo thành một thành phố ngầm cao sáu hay bảy tầng. Delhi là một trong số đó, Allahabad là một nơi khác; các ví dụ cũng được tìm thấy ngay cả ở châu Âu, chẳng hạn Florence, được xây trên nhiều thành phố Etrusca và những thành phố khác đã tàn lụi. Vậy thì tại sao Ellora, Elephanta, Karli và Ajunta lại không thể đã được xây trên các mê cung và lối đi ngầm dưới đất, như người ta khẳng định? Dĩ nhiên, chúng tôi không ám chỉ các hang động mà mọi người châu Âu đều biết, dù do tận mắt thấy hay do nghe kể, bất chấp sự cổ xưa vô cùng của chúng, dù ngay cả điều đó cũng bị Khảo cổ học hiện đại tranh cãi; mà ám chỉ một sự kiện được các Bà-la-môn được điểm đạo của Ấn Độ, và đặc biệt là các Yogi, biết rõ, tức là không có một đền hang nào trong xứ mà lại không có các lối đi ngầm tỏa ra mọi hướng, và đến lượt những hang ngầm cùng các hành lang vô tận này lại có những hang và hành lang của riêng chúng. |
|
Who can tell whether the lost Atlantis—which is also mentioned in the Secret Book, but, again, under another name, peculiar to the sacred language—did not still exist in those days?— |
Ai có thể nói liệu Atlantis đã mất—cũng được đề cập trong Sách Bí Mật, nhưng một lần nữa dưới một tên gọi khác, riêng thuộc về ngôn ngữ thiêng liêng—không vẫn còn tồn tại vào những ngày ấy hay sao?— |
|
we went on to ask. It did exist most assuredly, for it was approaching its greatest days of glory and civilization when the last of the Lemurian continents went down. |
chúng ta tiếp tục hỏi. Nó quả thật đã tồn tại một cách chắc chắn, vì nó đang tiến gần đến những ngày huy hoàng và văn minh rực rỡ nhất khi phần cuối cùng của các lục địa Lemuria chìm xuống. |
|
The great lost Continent might have, perhaps, been situated south of Asia, extending from India to Tasmania. 511 If the hypothesis—now so much doubted, and positively denied by some learned authors, who regard it as a joke of Plato—is ever verified, then, perhaps, will the Scientists believe that the description of the God-inhabited continent was not altogether a fable. 512 And they may then perceive that Plato’s guarded hints and his attributing the narrative to Solon and the Egyptian priests, were but a prudent way of imparting the fact to the world, and at the same time, by cleverly combining truth and fiction, of disconnecting himself from a story which the obligations imposed at Initiation forbade him to divulge. |
Lục địa vĩ đại đã mất ấy, có lẽ, đã nằm ở phía nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ đến Tasmania. Nếu giả thuyết ấy—nay bị nghi ngờ rất nhiều, và bị một số tác giả uyên bác thẳng thừng phủ nhận, họ xem nó như một trò đùa của Plato—một ngày kia được xác minh, thì có lẽ các nhà khoa học sẽ tin rằng sự mô tả về lục địa có các vị thần cư ngụ không hoàn toàn là chuyện hoang đường. Và khi ấy họ có thể nhận ra rằng những ám chỉ dè dặt của Plato, cùng việc ông quy câu chuyện ấy cho Solon và các tư tế Ai Cập, chỉ là một cách thận trọng để truyền đạt sự kiện ấy cho thế gian, đồng thời, bằng cách khéo léo kết hợp chân lý và hư cấu, tự tách mình khỏi một câu chuyện mà những bổn phận được đặt ra lúc điểm đạo đã cấm ông tiết lộ. |
|
To continue the tradition, we have to add that the class of hierophants was divided into two distinct categories; 513 those who were instructed by the “Sons of God” of the island, and who were initiated in the divine doctrine of pure revelation; and others who inhabited the lost Atlantis—if such must be its name—and who, being of another race (produced sexually but of divine parents), were born with a sight which embraced all hidden things, and was independent of both distance and material obstacle. In short, they were the Fourth Race of men mentioned in the Popol Vuh, whose sight was unlimited, and who knew all things at once. |
Để tiếp tục truyền thống ấy, chúng ta phải nói thêm rằng giai cấp các tư tế điểm đạo được chia thành hai hạng rõ rệt; những người được các “Con của Thượng đế” trên đảo giáo huấn, và được điểm đạo vào giáo lý thiêng liêng của sự mặc khải thuần khiết; và những người khác cư ngụ tại Atlantis đã mất—nếu đó phải là tên gọi của nó—và vì thuộc một nhân loại khác, được sinh ra theo đường tính dục nhưng từ các bậc cha mẹ thiêng liêng, họ bẩm sinh có một thị lực bao trùm mọi điều ẩn giấu, không lệ thuộc vào khoảng cách hay chướng ngại vật chất. Tóm lại, họ là Giống Dân Thứ Tư được nói đến trong Popol Vuh, có thị lực không giới hạn, và biết mọi sự cùng một lúc. |
|
In other words, they were the Lemuro-Atlanteans, the first who had a Dynasty of Spirit-Kings; not of Manes, or “Ghosts,” as some believe, 514 but of actual living Devas, or Demi-gods or Angels, again, who had assumed bodies to rule over this Race, and who, in their turn, instructed them in arts and sciences. Only, as these Dhyânîs were Rûpa or material Spirits, they were not always good. Their King Thevetat was one of the latter, and it is under the evil influence of this King-Demon that the Atlantis-Race became a nation of wicked “magicians.” |
Nói cách khác, họ là những người Lemuria-Atlantis, những người đầu tiên có một Triều đại các Vua Tinh Thần; không phải của các âm hồn, hay “ma”, như một số người tin, mà là của các thiên thần sống thực sự, hay bán thần, hay Thiên Thần, những Đấng đã khoác lấy thể xác để cai quản Giống Dân này, và đến lượt các Ngài lại dạy họ nghệ thuật và khoa học. Chỉ có điều, vì các Dhyani này là Rupa hay các Tinh Thần vật chất, nên các Ngài không phải lúc nào cũng thiện. Vua của họ, Thevetat, là một trong những kẻ thuộc loại sau, và chính dưới ảnh hưởng tà ác của Vua-Quỷ này mà Giống Dân Atlantis đã trở thành một dân tộc gồm những “nhà huyền thuật” độc ác. |
|
In consequence of this, war was declared, the story of which would be too long to narrate; its substance may be found in the disfigured allegories of the race of Cain, the giants, and that of Noah and his righteous family. The conflict came to an end by the submersion of Atlantis, which finds its imitation in the stories of the Babylonian and Mosaic flood. The giants and magicians “and all flesh died… and every man.” All except Xisuthrus and Noah, who are substantially identical with the great Father of the Thlinkithians, 515 who, they say, also escaped in a large boat like the Hindû Noah Vaivasvata. |
Do đó, chiến tranh được tuyên bố, câu chuyện về nó quá dài để thuật lại; tinh túy của nó có thể được tìm thấy trong các ngụ ngôn đã bị biến dạng về dòng giống Cain, những người khổng lồ, và câu chuyện Noah cùng gia đình chính trực của ông. Cuộc xung đột kết thúc bằng sự chìm xuống của Atlantis, điều này có bản sao trong các truyện về trận lụt Babylon và Moses. Những người khổng lồ và các nhà huyền thuật “cùng mọi xác thịt đều chết… và mọi người.” Tất cả, ngoại trừ Xisuthrus và Noah, về căn bản đồng nhất với vị Đại Tổ Phụ của người Thlinkit, mà theo họ nói, cũng đã thoát nạn trong một chiếc thuyền lớn giống như Noah Vaivasvata của Ấn Độ. |
|
If we believe the tradition at all, we have to credit the further story that, from the intermarrying of the progeny of the hierophants of the island and the descendants of the Atlantean Noah, a mixed race of righteous and wicked sprang up. On the one side the world had its Enochs, Moseses, various Buddhas, its numerous “Saviours,” and great hierophants; on the other hand, its “natural magicians”who, through lack of the restraining power of proper spiritual enlightenment,… perverted their gifts to evil purposes. |
Nếu chúng ta tin truyền thống ấy chút nào, thì cũng phải tin thêm câu chuyện rằng, từ sự kết hôn giữa hậu duệ của các tư tế điểm đạo trên đảo và con cháu của Noah Atlantis, một nhân loại pha trộn giữa chính trực và độc ác đã nảy sinh. Một mặt, thế gian có các Enoch, các Moses, nhiều vị Phật khác nhau, nhiều “Đấng Cứu Thế”, và các tư tế điểm đạo vĩ đại; mặt khác, có các “nhà huyền thuật tự nhiên ” vốn, vì thiếu quyền năng kiềm chế của sự giác ngộ tinh thần đúng đắn,… đã làm lệch lạc các thiên phú của mình cho những mục đích tà ác. |
|
We may supplement this by the testimony of some records and traditions. In L’Histoire des Vierges: les Peuples et les Continents Disparus, Louis Jacolliot says: One of the most ancient legends of India, preserved in the temples by oral and written tradition, relates that several hundred thousand years ago there existed in the Pacific Ocean an immense continent, which was destroyed by geological upheaval, and the fragments of which must be sought in Madagascar, Ceylon, Sumatra, Java, Borneo, and the principal isles of Polynesia. |
Chúng ta có thể bổ sung điều này bằng chứng cứ từ một số thư tịch và truyền thống. Trong Lịch Sử Các Trinh Nữ: các Dân Tộc và các Lục Địa Đã Mất, Louis Jacolliot nói: Một trong những truyền thuyết cổ xưa nhất của Ấn Độ, được gìn giữ trong các đền thờ bằng truyền thống truyền khẩu và văn tự, kể rằng cách đây nhiều trăm ngàn năm, trong Thái Bình Dương từng tồn tại một lục địa mênh mông, đã bị phá hủy bởi biến động địa chất, và những mảnh còn lại của nó phải được tìm ở Madagascar, Ceylon, Sumatra, Java, Borneo, và các đảo chính của Polynesia. |
|
The high plateaux of Hindûstan and Asia, according to this hypothesis, would only have been represented in those distant epochs by great islands contiguous to the central continent…. According to the Brâhmans, this country had attained a high civilization, and the peninsula of Hindûstan, enlarged by the displacement of the waters, at the time of the grand cataclysm, has but continued the chain of the primitive traditions born in this place. These traditions give the name of Rutas to the peoples which inhabited this immense equinoctial continent, and from their speech was derived the Sanskrit. The Indo-Hellenic tradition, preserved by the most intelligent population which emigrated from the plains of India, also relates the existence of a continent and a people to which it gives the name of Atlantis and Atlantides, and which it locates in the Atlantic in the northern portion of the Tropics. |
Các cao nguyên của Ấn Độ và châu Á, theo giả thuyết này, vào những kỷ nguyên xa xưa ấy chỉ được đại diện bởi các đảo lớn tiếp giáp với lục địa trung tâm…. Theo các Bà-la-môn, xứ sở này đã đạt đến một nền văn minh cao, và bán đảo Ấn Độ, được mở rộng do sự dịch chuyển của nước vào thời đại hồng thủy lớn, chỉ tiếp tục chuỗi truyền thống nguyên thủy đã sinh ra tại nơi này. Các truyền thống ấy gọi những dân tộc cư ngụ trên lục địa xích đạo mênh mông này là Rutas, và từ ngôn ngữ của họ tiếng Sanskrit đã phát sinh. Truyền thống Ấn-Hy Lạp, được gìn giữ bởi bộ phận dân cư thông minh nhất đã di cư từ các đồng bằng Ấn Độ, cũng kể về sự tồn tại của một lục địa và một dân tộc mà nó gọi là Atlantis và Atlantides, và đặt chúng trong Đại Tây Dương, ở phần phía bắc của vùng nhiệt đới. |
|
Apart from this fact, the supposition of an ancient continent in those latitudes, the vestiges of which may be found in the volcanic islands and mountainous surface of the Azores, the Canaries and Cape de Verd Islands, is not devoid of geographical probability. The Greeks, who, moreover, never dared to pass beyond the Pillars of Hercules, on account of their dread of the mysterious Ocean, appeared too late in antiquity for the stories preserved by Plato to be anything else than an echo of the Indian legend. Moreover, when we cast a look on a planisphere, at the sight of the islands and islets strewn from the Malayan Archipelago to Polynesia, from the Straits of Sunda to Easter Island, it is impossible, upon the hypothesis of continents preceding those which we inhabit, not to place there the most important of all. |
Ngoài sự kiện này, giả định về một lục địa cổ tại các vĩ độ ấy, mà dấu tích có thể được tìm thấy trong các đảo núi lửa và bề mặt núi non của Azores, Canaries và Cape Verde, không phải là không có khả năng về mặt địa lý. Người Hy Lạp, hơn nữa, vì sợ Đại Dương huyền bí nên chưa bao giờ dám vượt quá Cột Trụ Hercules, đã xuất hiện quá muộn trong thời cổ đại để những câu chuyện Plato gìn giữ có thể là gì khác hơn tiếng vọng của truyền thuyết Ấn Độ. Hơn nữa, khi chúng ta nhìn lên bản đồ thế giới, trước cảnh các đảo và đảo nhỏ rải rác từ quần đảo Malay đến Polynesia, từ eo biển Sunda đến đảo Easter, thì theo giả thuyết về các lục địa có trước những lục địa chúng ta đang cư ngụ, không thể không đặt tại đó lục địa quan trọng nhất trong tất cả. |
|
A religious belief, common to Malacca and Polynesia, that is to say, to the two opposite extremes of the Oceanic world, affirms “that all these islands once formed two immense countries, inhabited by yellow men and black men, always at war; and that the gods, wearied with their quarrels, having charged Ocean to pacify them, the latter swallowed up the two continents, and, since then, it has been impossible to make him give up his captives. Alone, the mountain-peaks and high plateaux escaped the flood, by the power of the gods, who perceived too late the mistake they had committed.” |
Một tín ngưỡng tôn giáo chung cho Malacca và Polynesia, nghĩa là cho hai cực đối lập của thế giới Đại Dương, khẳng định “rằng tất cả các đảo này xưa kia từng hợp thành hai xứ sở mênh mông, do người da vàng và người da đen cư ngụ, luôn luôn giao chiến; và rằng các vị thần, mệt mỏi vì những cuộc tranh chấp của họ, đã giao cho Đại Dương làm họ yên ổn, và Đại Dương đã nuốt chửng hai lục địa ấy; từ đó về sau, không thể buộc nó trả lại những tù nhân của mình. Chỉ các đỉnh núi và các cao nguyên cao là thoát khỏi trận lụt, nhờ quyền năng của các vị thần, những vị đã nhận ra quá muộn sai lầm mình phạm phải.” |
|
Whatever there may be in these traditions, and whatever may have been the place where a civilization more ancient than that of Rome, of Greece, of Egypt, and of India was developed, it is certain that this civilization did exist, and it is highly important to Science to recover its traces, however feeble and fugitive they may be. 516 |
Dù trong các truyền thống này có điều gì đi nữa, và dù nơi nào đã phát triển một nền văn minh cổ hơn La Mã, Hy Lạp, Ai Cập và Ấn Độ đi nữa, thì chắc chắn nền văn minh ấy đã tồn tại, và đối với Khoa học, việc phục hồi các dấu vết của nó là hết sức quan trọng, dù những dấu vết ấy có yếu ớt và thoáng qua đến đâu. |
|
This Oceanic tradition corroborates the legend given from the “Records of the Secret Doctrine.” The war mentioned between the yellow and the black men, relates to a struggle between the “Sons of Gods” and the “Sons of Giants,” or the inhabitants and magicians of Atlantis. |
Truyền thống Đại Dương này xác nhận truyền thuyết được đưa ra từ “Các Ký Lục của Giáo Lý Bí Nhiệm.” Cuộc chiến được nói đến giữa người da vàng và người da đen liên hệ đến một cuộc đấu tranh giữa “Các Con của Thượng đế” và “Các Con của Người Khổng Lồ”, tức cư dân và các nhà huyền thuật của Atlantis. |
|
The final conclusion of the author, who personally visited all the islands of Polynesia, and devoted years to the study of the religion, language, and traditions of nearly all the peoples, is as follows: As to the Polynesian continent which disappeared at the time of the final geological cataclysms, its existence rests on such proofs that to be logical we can doubt no longer. |
Kết luận cuối cùng của tác giả, người đích thân thăm tất cả các đảo Polynesia, và đã dành nhiều năm để nghiên cứu tôn giáo, ngôn ngữ và truyền thống của gần như mọi dân tộc, như sau: Về lục địa Polynesia đã biến mất vào thời các đại biến động địa chất cuối cùng, sự tồn tại của nó dựa trên những chứng cứ đến mức, nếu muốn hợp lý, chúng ta không thể nghi ngờ nữa. |
|
The three summits of this continent, the Sandwich Islands, New Zealand, Easter Island, are distant from each other from fifteen to eighteen hundred leagues, and the groups of intermediate islands, Viti (Fiji), Samoa, Tonga, Foutouna (? Foutouha), Ouvea (? Oueeha), the Marquesas, Tahiti, Poumoutou (? Pomatou), the Gambiers, are themselves distant from these extreme points from seven or eight hundred to one thousand leagues. |
Ba đỉnh cao của lục địa này, quần đảo Sandwich, New Zealand, đảo Easter, cách nhau từ mười lăm đến mười tám trăm lý, và các nhóm đảo trung gian, Viti, Samoa, Tonga, Foutouna (? Foutouha), Ouvea (? Oueeha), Marquesas, Tahiti, Poumoutou (? Pomatou), Gambiers, tự chúng cũng cách các điểm cực ấy từ bảy hoặc tám trăm đến một ngàn lý. |
|
All navigators agree in saying that the extreme and the central groups could never have communicated in view of their actual geographical position, and with the insufficient means they had at hand. It is physically impossible to cross such distances in a pirogue… without a compass, and travel months without provisions. |
Tất cả các nhà hàng hải đều đồng ý rằng các nhóm cực biên và trung tâm không bao giờ có thể giao tiếp với nhau, xét theo vị trí địa lý hiện nay của chúng, và với các phương tiện thiếu thốn mà họ có trong tay. Về mặt thể chất, không thể vượt qua những khoảng cách như thế trong một chiếc thuyền độc mộc… không có la bàn, và đi nhiều tháng mà không có lương thực. |
|
On the other hand, the aborigines of the Sandwich Islands, of Viti, of New Zealand, of the central groups, of Samoa, Tahiti, etc., had never known each other, had never heard of each other, before the arrival of the Europeans. And yet each of these people maintained that their island had at one time formed part of an immense stretch of land which extended towards the West on the side of Asia. And all, brought together, were found to speak the same language, to have the same usages, the same customs, the same religious belief. And all to the question, “Where is the cradle of your race?” for sole response, extended their hand toward the setting sun. 517 |
Mặt khác, thổ dân quần đảo Sandwich, Viti, New Zealand, các nhóm trung tâm, Samoa, Tahiti, v.v., chưa từng biết nhau, chưa từng nghe nói về nhau, trước khi người châu Âu đến. Thế mà mỗi dân tộc ấy đều khẳng định rằng đảo của họ xưa kia từng là một phần của một dải đất mênh mông kéo dài về phía Tây, về phía châu Á. Và tất cả, khi được quy tụ lại, đều nói cùng một ngôn ngữ, có cùng tập quán, cùng phong tục, cùng tín ngưỡng tôn giáo. Và tất cả, trước câu hỏi “Đâu là cái nôi của nhân loại các ông?”, chỉ đáp lại bằng cách giơ tay về phía mặt trời lặn. |
|
Geographically, this description clashes slightly with the facts in the Secret Records; but it shows the existence of such traditions, and this is all one cares for. For, as there is no smoke without fire, so a tradition must be based on some approximate truth. |
Về mặt địa lý, mô tả này hơi mâu thuẫn với các sự kiện trong Bí Lục; nhưng nó cho thấy sự tồn tại của những truyền thống như thế, và đó là tất cả điều người ta quan tâm. Vì, cũng như không có khói nếu không có lửa, một truyền thống ắt phải dựa trên một chân lý gần đúng nào đó. |
|
In its proper place we will show Modern Science fully corroborating the above and other traditions of the Secret Doctrine with regard to the two lost Continents. The Easter Island relics, for instance, are the most astounding and eloquent memorials of the primeval giants. They are as grand as they are mysterious; and one has but to examine the heads of the colossal statues, that have remained unbroken, to recognize at a glance the features of the type and character attributed to the Fourth Race giants. They seem of one cast though different in features—of a distinctly sensual type, such as the Atlanteans (the Daityas and “Atalantians”) are said to have had in the Esoteric Hindû books. Compare these with the faces of some other colossal statues in Central Asia—those near Bamian, for instance—the portrait-statues, tradition tells us, of Buddhas belonging to previous Manvantaras; of those Buddhas and heroes who are mentioned in the Buddhist and Hindû works, as men of fabulous size, 518 the good and holy brothers of their wicked coüterine brothers generally, just as Râvana, the giant king of Lankâ, was the brother of Kumbhakarna; all descendants of the Gods through the Rishis, and thus, like “Titan and his enormous brood,” all “Heaven’s first-born.” These “Buddhas,” though often spoilt by the symbolical representation of great pendent ears, show a suggestive difference, perceived at a glance, in the expression of their faces from that of the Easter Island statues. They may be of one race—but the former are “Sons of Gods”; the latter the brood of mighty sorcerers. All these are reincarnations however, and, apart from unavoidable exaggerations in popular fancy and tradition, they are historical characters. 519 When did they live? How long ago lived the two Races, the Third and Fourth; and how long after did the various tribes of the Fifth begin their strife, the wars between Good and Evil? We are assured by the Orientalists that chronology is both hopelessly mixed and absurdly exaggerated in the Purânas and other Hindû Scriptures. We feel quite prepared to agree with the accusation. But, if Âryan writers have occasionally allowed their chronological pendulum to swing too far one way, beyond the legitimate limit of fact; nevertheless, when the distance of that deviation is compared with the distance of the Orientalists’ deviation in the opposite direction, moderation will be found on the Brâhmanical side. It is the Pandit who will, in the long run, be found more truthful and nearer to fact than the Sanskritist. The Sanskritist’s curtailing—even when proved to have been resorted to in order to fit a personal hobby—is regarded by Western public opinion as “a cautious acceptance of facts,” whereas the Pandit is brutally treated in print as a “liar.” But, surely, this is no reason why everyone should be compelled to see this in the same light! An impartial observer may judge it otherwise. He may either proclaim both unscrupulous historians, or justify both, each on his respective ground, and say: Hindû Âryans wrote for their Initiates, who read truth between the lines; not for the masses. If they did mix up events and confuse Ages intentionally, it was not with the view of deceiving any one, but in order to preserve their knowledge from the prying eye of the foreigner. But, to him who can count the generations from the Manus, and the series of incarnations specified in the cases of some heroes, 520 in the Purânas, the meaning and chronological order are very clear. As for the Western Orientalist, he must be excused, on account of his undeniable ignorance of the methods used by archaic Esotericism. |
Ở đúng chỗ của nó, chúng ta sẽ cho thấy Khoa học hiện đại hoàn toàn xác nhận những truyền thống trên và các truyền thống khác của Giáo Lý Bí Nhiệm liên quan đến hai Lục địa đã mất. Chẳng hạn, các di tích trên đảo Easter là những kỷ vật kỳ lạ và hùng hồn nhất về những người khổng lồ thời nguyên sơ. Chúng vừa hùng vĩ vừa huyền bí; và chỉ cần xem xét các đầu của những tượng khổng lồ còn nguyên vẹn, người ta lập tức nhận ra các đặc điểm thuộc mẫu hình và tính cách được gán cho những người khổng lồ của Giống Dân Thứ Tư. Chúng dường như cùng một khuôn đúc, dù khác nhau về nét mặt—thuộc một kiểu rõ rệt là cảm dục, như người Atlantis, tức các Daitya và “Atalantians”, được nói là đã có trong các sách Ấn Độ nội môn. Hãy so sánh chúng với khuôn mặt của một số tượng khổng lồ khác ở Trung Á—chẳng hạn những tượng gần Bamian—các tượng chân dung mà truyền thống cho chúng ta biết là của những vị Phật thuộc các Giai kỳ sinh hóa trước; của những vị Phật và anh hùng được nhắc đến trong các tác phẩm Phật giáo và Ấn Độ như những con người có tầm vóc huyền thoại, nói chung là những huynh đệ thiện lành và thánh thiện của các huynh đệ cùng một dạ mẹ nhưng độc ác, cũng như Ravana, vua khổng lồ của Lanka, là huynh đệ của Kumbhakarna; tất cả đều là hậu duệ của các vị thần qua các Rishi, và như vậy, giống như “Titan và đàn con khổng lồ của y”, tất cả đều là “những kẻ sinh đầu tiên của Trời.” Các “vị Phật” này, dù thường bị làm hỏng bởi cách biểu tượng hóa đôi tai dài rủ xuống, vẫn cho thấy một khác biệt gợi ý, nhận ra ngay lập tức, trong biểu hiện khuôn mặt so với các tượng đảo Easter. Họ có thể thuộc cùng một nhân loại—nhưng những vị trước là “Các Con của Thượng đế”; những kẻ sau là dòng giống của các phù thủy hùng mạnh. Tuy nhiên, tất cả những vị này đều là các tái sinh, và ngoài những phóng đại không thể tránh khỏi trong trí tưởng tượng và truyền thống bình dân, họ là những nhân vật lịch sử. Họ đã sống khi nào? Hai Giống Dân, Thứ Ba và Thứ Tư, đã sống cách đây bao lâu; và bao lâu sau đó các bộ tộc khác nhau của Giống Dân Thứ Năm bắt đầu cuộc xung đột của mình, các cuộc chiến giữa Thiện và Ác? Các nhà Đông phương học bảo đảm với chúng ta rằng niên đại học trong các Purana và những Kinh sách Ấn Độ khác vừa hỗn loạn đến vô vọng vừa bị phóng đại đến phi lý. Chúng ta hoàn toàn sẵn sàng đồng ý với lời cáo buộc ấy. Nhưng nếu các tác giả Arya đôi khi đã để con lắc niên đại của mình dao động quá xa về một phía, vượt quá giới hạn chính đáng của sự kiện; thì tuy nhiên, khi khoảng cách của sai lệch ấy được so với khoảng cách sai lệch của các nhà Đông phương học theo hướng ngược lại, sự điều độ sẽ được tìm thấy ở phía Bà-la-môn. Về lâu dài, chính vị Pandit sẽ được thấy là chân thật hơn và gần với sự kiện hơn nhà Sanskrit học. Sự cắt xén của nhà Sanskrit học—ngay cả khi được chứng minh là đã được dùng để phù hợp với một sở thích cá nhân—được công luận phương Tây xem là “một sự chấp nhận sự kiện thận trọng”, trong khi vị Pandit bị đối xử tàn nhẫn trên mặt báo như một “kẻ nói dối.” Nhưng chắc chắn, đó không phải là lý do để mọi người bị buộc phải nhìn vấn đề theo cùng một ánh sáng! Một quan sát viên vô tư có thể phán đoán khác. Y có thể hoặc tuyên bố cả hai là những sử gia vô lương tâm, hoặc biện minh cho cả hai, mỗi người trên nền tảng riêng của mình, và nói: các Ấn Độ Arya đã viết cho các điểm đạo đồ của họ, những người đọc chân lý giữa các dòng chữ; không phải cho quần chúng. Nếu họ đã trộn lẫn các biến cố và làm lẫn lộn các Thời đại một cách cố ý, thì không phải nhằm lừa dối bất cứ ai, mà để giữ gìn tri thức của họ khỏi con mắt tò mò của người ngoại quốc. Nhưng đối với người có thể đếm các thế hệ từ các Manu, và các chuỗi nhập thể được nêu rõ trong trường hợp một số anh hùng, trong các Purana, ý nghĩa và trật tự niên đại rất rõ ràng. Còn nhà Đông phương học phương Tây thì phải được tha thứ, vì sự thiếu hiểu biết không thể phủ nhận của y về các phương pháp mà Huyền bí học cổ sơ sử dụng. |
|
But such existing prejudices will have to give way and disappear very soon before the light of new discoveries. Already Dr. Weber’s and Prof. Max Müller’s favourite theories—namely, that writing was not known in India, even in the days of Pânini (!); that the Hindûs had all their arts and sciences—even to the Zodiac and their architecture (Fergusson)—from the Macedonian Greeks; these and other such cock-and-bull hypotheses, are threatened with ruin. It is the ghost of old Chaldæa that comes to the rescue of truth. In his third Hibbert Lecture (1887) Professor Sayce of Oxford, speaking of newly-discovered Assyrian and Babylonian cylinders, refers at length to Ea, the God of Wisdom, now identified with the Oannes of Berosus, the half-man, half-fish, who taught the Babylonians culture and the art of writing. This Ea, to whom, thanks only to the Biblical Deluge, an antiquity of hardly 1,500 b.c. had been hitherto allowed, is now spoken of in the following terms, to summarize from the Professor: The city of Ea was Eridu, which stood 6,000 years ago on the shores of the Persian Gulf. The name means “the good city,” a particularly holy spot, since it was the centre from which the earliest Chaldæan civilization made its way to the north. As the culture-god was represented as coming from the sea, it was possible that the culture of which Eridu was the seat was of foreign importation. We now know that there was intercourse at a very early period between Chaldæa and the Sinaitic peninsula, as well as with India. The statues discovered by the French at Tel-loh (dating from at latest b.c. 4,000) were made of the extremely hard stone known as diorite, and the inscriptions on them stated the diorite to have been brought from Magan—i.e., the Sinaitic peninsula, which was then ruled by the Pharaohs. The statues are known to resemble in general style the diorite statue, Kephren, the builder of the second Pyramid, while, according to Mr. Petrie, the unit of measurement marked on the plan of the city, which one of the Tel-loh figures holds on his lap, is the same as that employed by the Pyramid builders. Teak wood has been found at Mugheir, or Ur of the Chaldees, although that wood is an Indian special product; add to this that an ancient Babylonian list of clothing mentions sindhu or “muslin,” explained as “vegetable cloth.” 521 |
Nhưng những thành kiến hiện tồn như thế sẽ phải nhường chỗ và biến mất rất sớm trước ánh sáng của các phát hiện mới. Các lý thuyết ưa thích của Tiến sĩ Weber và Giáo sư Max Muller—cụ thể là, rằng chữ viết chưa được biết đến ở Ấn Độ, ngay cả vào thời Panini (!); rằng người Ấn Độ đã có tất cả nghệ thuật và khoa học của họ—ngay cả Hoàng đạo và kiến trúc của họ, theo Fergusson—từ người Hy Lạp Macedonia; những giả thuyết hoang đường ấy và những giả thuyết tương tự khác đang bị đe dọa sụp đổ. Chính bóng ma của Chaldea cổ xưa đến cứu giúp chân lý. Trong Bài giảng Hibbert thứ ba của mình, năm 1887, Giáo sư Sayce ở Oxford, khi nói về các trụ đất sét Assyria và Babylon mới được phát hiện, đã đề cập dài đến Ea, vị Thần Minh Triết, nay được đồng nhất với Oannes của Berosus, sinh linh nửa người nửa cá, đã dạy người Babylon văn hóa và nghệ thuật viết chữ. Vị Ea này, mà cho đến nay, chỉ nhờ trận Đại Hồng Thủy trong Kinh Thánh, người ta mới cho phép có niên đại cổ xưa chỉ khoảng 1.500 năm trước Công nguyên, nay được nói đến bằng những lời sau đây, tóm lược từ vị Giáo sư: Thành phố của Ea là Eridu, từng đứng trên bờ Vịnh Ba Tư cách đây 6.000 năm. Tên ấy có nghĩa là “thành phố thiện lành”, một nơi đặc biệt thiêng liêng, vì đó là trung tâm từ đó nền văn minh Chaldea sớm nhất tiến lên phía bắc. Vì vị thần văn hóa được mô tả là đến từ biển, nên có thể nền văn hóa mà Eridu là trung tâm đã được du nhập từ bên ngoài. Nay chúng ta biết rằng đã có giao tiếp vào một thời kỳ rất sớm giữa Chaldea và bán đảo Sinai, cũng như với Ấn Độ. Các tượng do người Pháp phát hiện tại Tel-loh, có niên đại muộn nhất là trước Công nguyên 4.000, được làm bằng loại đá cực kỳ cứng gọi là diorite, và các minh văn trên chúng nói rằng đá diorite được mang đến từ Magan—nghĩa là bán đảo Sinai, khi ấy do các Pharaoh cai trị. Người ta biết các tượng này, về phong cách chung, giống tượng diorite của Kephren, người xây dựng Kim tự tháp thứ hai, trong khi, theo ông Petrie, đơn vị đo lường được đánh dấu trên bản đồ thành phố mà một trong các tượng Tel-loh cầm trên đùi, giống với đơn vị mà những người xây Kim tự tháp đã dùng. Gỗ tếch đã được tìm thấy tại Mugheir, hay Ur của người Chaldea, mặc dù loại gỗ ấy là sản phẩm đặc biệt của Ấn Độ; thêm vào đó là một danh mục y phục cổ Babylon có nhắc đến vải sindhu hay “muslin”, được giải thích là “vải thực vật.” |
|
Muslin, best known now as Dacca muslin, known in Chaldæa as Hindu (Sindhu), and teak wood used 4,000 years b.c., and yet the Hindûs, to whom Chaldæa owes its civilization, as has been well proven by Colonel Vans Kennedy, were ignorant of the art of writing before the Greeks taught them their alphabet—if, at least, we have to believe Orientalists! |
Vải muslin, nay được biết nhiều nhất là muslin Dacca, ở Chaldea được gọi là Hindu hay Sindhu, và gỗ tếch đã được dùng 4.000 năm trước Công nguyên, vậy mà người Ấn Độ, những người mà Chaldea mắc nợ nền văn minh của mình, như Đại tá Vans Kennedy đã chứng minh rất rõ, lại không biết nghệ thuật viết chữ trước khi người Hy Lạp dạy họ bảng chữ cái—nếu ít nhất chúng ta phải tin các nhà Đông phương học! |
Footnotes
|
434. |
|
|
The sin committed with the animals. |
Tội lỗi phạm với loài vật. |
|
435. |
|
|
The Spirits, the “Sons of Wisdom.” |
Các Tinh thần, “Những Người Con của Minh Triết.” |
|
436. |
|
|
Who had refused to “create.” |
Những vị đã từ chối “sáng tạo.” |
|
437. |
|
|
Mindless. |
Vô trí. |
|
438. |
|
|
Mind. |
Trí tuệ. |
|
439. |
|
|
This verse in the Rig Veda (x. 5, 6): “The Seven Wise Ones [Rays of Wisdom, Dhyânis] fashion Seven Paths [or Lines, and also Races in another sense]. To one of these may the distressed mortal come”—a verse interpreted solely from the astronomical and cosmic aspect, is one of the most pregnant in occult meaning. The “Paths” may mean Lines (Maryâdâh), but they are primarily Beams of Light falling on the Paths leading to Wisdom. (See Rig Veda, iv. 5-13.) It means “Ways” or Paths. They are, in short, the seven Rays which fall free from the Macrocosmic Centre, the seven Principles in the metaphysical, the seven Races in the physical sense. All depends upon the key used. |
Câu kệ này trong Rig Veda, x. 5, 6: “Bảy Đấng Minh Triết, tức các Cung Minh Triết, các Dhyâni, tạo nên Bảy Con Đường, hay các Đường tuyến, và theo một nghĩa khác cũng là các Nhân loại. Đến một trong các đường ấy, kẻ hữu tử khốn khổ có thể đi tới” — một câu kệ chỉ được diễn giải theo phương diện thiên văn và vũ trụ, lại là một trong những câu hàm chứa ý nghĩa huyền bí phong phú nhất. “Các Con Đường” có thể có nghĩa là các Đường tuyến, Maryâdâh, nhưng trước hết chúng là những Tia Sáng rơi xuống các Con Đường dẫn đến Minh Triết. Xem Rig Veda, iv. 5-13. Nó có nghĩa là “những lối đi” hay các Con Đường. Tóm lại, chúng là bảy cung rơi tự do từ Trung Tâm Đại thiên địa, bảy nguyên khí theo nghĩa siêu hình, bảy Nhân loại theo nghĩa hồng trần. Tất cả tùy thuộc vào chìa khóa được dùng. |
|
440. |
|
|
Rig Veda, x. 10, 5, 2. |
Rig Veda, x. 10, 5, 2. |
|
441. |
|
|
It is next to impossible to translate verbally some of these old Commentaries. We are often obliged to give the meaning only, and thus retranslate the verbatim translations. |
Gần như không thể dịch sát từng chữ một số Cổ Luận này. Chúng ta thường buộc phải chỉ đưa ra ý nghĩa, và như thế là dịch lại những bản dịch nguyên văn. |
|
442. |
|
|
Rudra, as a Kumâra, is Nîlalohita—red and blue. |
Rudra, với tư cách một Kumâra, là Nîlalohita — đỏ và xanh. |
|
443. |
|
|
This, regardless of modern materialistic evolution, which speculates in this wise: “The primitive human form, whence as we think all human species sprang, has perished this long time. [This we deny: it has only decreased in size and changed in texture.] But many facts point to the conclusion that it was hairy and dolichocephalic. [African races are even now dolichocephalic in a great measure, but the palæolithic Neanderthal skull, the oldest we know of, is of a large size, and no nearer to the capacity of the gorilla’s cranium than that of any other now-living man.] Let us, for the time being, call this hypothetical species homo primigenius…. This first species, or the ape-man, the ancestor of all the others, probably arose in the tropical regions of the old world from anthropoid apes.” Asked for proofs, the Evolutionist, not the least daunted, replies: “Of these no fossil remains are as yet known to us, but they were probably akin to the Gorilla and Orang of the present day.” And then the Papuan negro is mentioned as the probable descendant in the first line. (Pedigree of Man, p. 80.) Hæckel holds fast to Lemuria, which, with East Africa and South Asia also, he mentions as the possible cradle of the primitive ape-men. So also do many Geologists. Mr. A. R. Wallace admits its reality, though in a rather modified sense, in his Geographical Distribution of Animals. But let not Evolutionists speak so lightly of the comparative size of the brains of man and the ape, for this is very unscientific, especially when they pretend to see no difference between the two, or very little at any rate. For Vogt himself showed that, while the highest of the apes, the Gorilla, has a brain of only 30 to 51 cubic inches, the brain of the lowest of the Australian aborigines amounts to 99·35 cubic inches. The former is thus “not half of the size of the brain of a new-born babe,” says Pfaff. |
Điều này bất kể thuyết tiến hoá duy vật hiện đại, vốn suy đoán theo cách này: “Hình dạng con người nguyên thủy, từ đó như chúng ta nghĩ mọi loài người đã phát sinh, đã tiêu vong từ lâu. Chúng tôi phủ nhận điều này: nó chỉ giảm kích thước và thay đổi kết cấu. Nhưng nhiều sự kiện chỉ ra kết luận rằng nó có lông và đầu dài. Các nhân loại Phi châu ngay cả hiện nay phần lớn vẫn đầu dài; nhưng hộp sọ Neanderthal thời đồ đá cũ, cổ nhất mà chúng ta biết, có kích thước lớn, và không gần với dung lượng sọ của gorilla hơn bất cứ người nào đang sống hiện nay. Tạm thời, chúng ta hãy gọi loài giả định này là homo primigenius…. Loài đầu tiên này, hay người-vượn, tổ tiên của mọi loài khác, có lẽ đã phát sinh ở các vùng nhiệt đới của cựu thế giới từ các loài vượn người.” Khi được hỏi bằng chứng, nhà Tiến hoá luận không hề nao núng, đáp: “Hiện chưa biết có di tích hóa thạch nào của chúng, nhưng chúng có lẽ gần họ với Gorilla và Orang ngày nay.” Rồi người da đen Papuan được nêu như hậu duệ khả hữu theo dòng đầu tiên. Pedigree of Man, tr. 80. Haeckel bám chặt vào Lemuria, mà cùng với Đông Phi và Nam Á, ông cũng nêu như cái nôi có thể của những người-vượn nguyên thủy. Nhiều nhà Địa chất học cũng vậy. Ông A. R. Wallace thừa nhận thực tại của nó, dù theo một nghĩa khá sửa đổi, trong Geographical Distribution of Animals của ông. Nhưng các nhà Tiến hoá luận chớ nên nói quá nhẹ dạ về kích thước tương đối của bộ não người và vượn, vì điều này rất phi khoa học, nhất là khi họ giả vờ không thấy khác biệt nào giữa hai bên, hoặc ít nhất là rất ít. Chính Vogt đã cho thấy rằng, trong khi loài vượn cao nhất, Gorilla, chỉ có bộ não từ 30 đến 51 inch khối, bộ não của người thổ dân Úc thấp nhất đạt 99,35 inch khối. Vì vậy bộ não trước “chưa bằng một nửa kích thước bộ não của một trẻ sơ sinh,” Pfaff nói. |
|
444. |
|
|
Ellis’ Polynesian Researches, Vol. II, p. 38. Missionaries seem to have pounced upon this name Ivi and made of it Eve. But, as shown by Professor Max Müller, Eve is not the Hebrew name but a European transformation of חוה, Châvah, life, or mother of all living; “while the Tahitian ivi, and the Maori, wheva, meant bone, and bone only.” (Introduction to the Science of Religion, p. 304.) |
Ellis, Polynesian Researches, Tập II, tr. 38. Các nhà truyền giáo dường như đã vồ lấy tên Ivi này và biến nó thành Eve. Nhưng, như Giáo sư Max Müller đã chỉ ra, Eve không phải là tên Hebrew mà là một biến đổi châu Âu của Châvah, sự sống, hay mẹ của mọi sinh linh; “trong khi ivi của Tahiti, và wheva của Maori, có nghĩa là xương, và chỉ là xương mà thôi.” Introduction to the Science of Religion, tr. 304. |
|
445. |
|
|
Chaire d’Hébreu au Collége de France, p. 20. |
Chaire d’Hébreu au Collége de France, tr. 20. |
|
446. |
|
|
Of such semi-animal creatures, the sole remnants known to Ethnology were the Tasmanians, a portion of the Australians and a mountain tribe in China, the men and women of which are entirely covered with hair. They were the last descendants in a direct line of the semi-animal latter-day Lemurians referred to. There are, however, considerable numbers of the mixed Lemuro-Atlantean peoples produced by various crossings with such semi-human stocks—e.g., the wild men of Borneo, the Veddhas of Ceylon, classed by Prof. Flower among Âryans (!), most of the remaining Australians, Bushmen, Negritos, Andaman Islanders, etc. |
Trong những sinh vật bán thú như thế, những tàn dư duy nhất mà Dân tộc học biết đến là người Tasmania, một phần người Úc và một bộ tộc miền núi ở Trung Hoa, mà những người nam và nữ trong đó đều hoàn toàn phủ đầy lông. Họ là những hậu duệ cuối cùng theo một dòng trực tiếp của người Lemuria hậu kỳ bán thú được nói đến. Tuy nhiên, có những số lượng đáng kể các dân tộc Lemuria-Atlantis hỗn hợp, sinh ra do nhiều sự lai pha với những dòng bán nhân như thế — chẳng hạn những người hoang dã ở Borneo, người Veddha ở Ceylon, được Giáo sư Flower xếp vào người Arya, phần lớn những người Úc còn lại, người Bushmen, Negrito, dân đảo Andaman, v.v. |
|
The Australians of the Gulf of St. Vincent and the neighbourhood of Adelaide are very hairy, and the brown down on the skin of boys of five or six years of age assumes a furry appearance. They are, however, degraded men; not the closest approximation to the “pithecoid man,” as Hæckel so sweepingly affirms. Only a portion of these men are a Lemurian relic. (Cf. Esoteric Buddhism, pp. 64 et seqq.) |
Người Úc ở Vịnh St. Vincent và vùng lân cận Adelaide rất nhiều lông, và lớp lông tơ nâu trên da các bé trai năm hay sáu tuổi có vẻ như lớp lông thú. Tuy nhiên, họ là những con người suy thoái; không phải sự xấp xỉ gần nhất với “con người dạng vượn,” như Haeckel quả quyết quá quét sạch. Chỉ một phần những người này là tàn tích Lemuria. So sánh Esoteric Buddhism, tr. 64 và tiếp theo. |
|
447. |
|
|
In calling the animal “soulless” we do not deprive the beast, from the humblest to the highest species, of a Soul, but only of a conscious surviving Ego-Soul, i.e., that principle which survives after a man, and reincarnates in a like man. The animal has an Astral Body, that survives the physical form for a short period; nevertheless its (animal) Monad does not reincarnate in the same, but in a higher species, and has no “Devachan” of course. It has the seeds of all the human principles in itself, but they are latent. |
Khi gọi con vật là “không có linh hồn”, chúng tôi không tước khỏi thú vật, từ loài thấp nhất đến loài cao nhất, một Linh hồn, mà chỉ tước một Chân ngã-Linh hồn hữu thức tồn tại sau khi chết, tức nguyên khí sống sót sau con người và tái sinh vào một con người tương tự. Con vật có một thể tinh tú, tồn tại sau hình tướng hồng trần trong một thời gian ngắn; tuy vậy chân thần của nó, tức chân thần loài vật, không tái sinh vào cùng một loài, mà vào một loài cao hơn, và dĩ nhiên không có “Devachan.” Nó có các hạt giống của mọi nguyên khí nhân loại trong bản thân nó, nhưng chúng còn tiềm tàng. |
|
448. |
|
|
Manual of Geology, p. 302. |
Manual of Geology, tr. 302. |
|
449. |
|
|
The “fables” and “myths” about Leda and Jupiter, and such like, could never have sprung up in people’s fancy, had not the allegory rested on a fact in Nature. Evolution, gradually transforming man into a mammal, did in his case only what it did in that of other animals. But this does not prevent man from having always stood at the head of the animal world and other organic species, and from having preceded the former. |
Các “truyện ngụ ngôn” và “huyền thoại” về Leda và Sao Mộc, cùng những chuyện tương tự, không bao giờ có thể nảy sinh trong trí tưởng tượng của dân chúng nếu ngụ ngôn ấy không dựa trên một sự kiện trong Tự nhiên. Tiến hoá, khi dần dần chuyển đổi con người thành loài hữu nhũ, trong trường hợp của y chỉ làm điều nó đã làm đối với các loài vật khác. Nhưng điều này không ngăn con người luôn đứng ở đầu thế giới động vật và các loài hữu cơ khác, cũng như đã đi trước chúng. |
|
450. |
|
|
See the Section on “The Chronology of the Brâhmans,” p. 69. |
Xem Mục về “Niên đại học của các Brâhman,” tr. 69. |
|
451. |
|
|
To avoid confusion, let the reader remember that the term Root-Race applies to one of the seven great Races, sub-race to one of its great Branches, and family-race to one of the sub-divisions, which include nations and large tribes. |
Để tránh nhầm lẫn, xin độc giả nhớ rằng thuật ngữ Giống dân gốc áp dụng cho một trong bảy Nhân loại lớn; giống dân phụ áp dụng cho một trong các Ngành lớn của nó; và giống dân gia đình áp dụng cho một trong các phân bộ, bao gồm các quốc gia và các bộ tộc lớn. |
|
452. |
|
|
In the Section on “The Fifth Race and its Divine Instructors,” in the Commentary on Stanza XII, the nature of these “Instructors” is explained. |
Trong Mục về “Nhân loại thứ năm và các Huấn sư Thiêng liêng của nó,” trong Bình giảng về Bài kệ XII, bản chất của các “Huấn sư” này được giải thích. |
|
453. |
|
|
The present yellow races are the descendants, however, of the early branches of the Fourth Race. Of the Third, the only pure and direct descendants are, as said above, a portion of the fallen and degenerated Australians, whose far distant ancestors belonged to a division of the seventh sub-race of the Third. The rest are of mixed Lemuro-Atlantean descent. They have since then entirely changed in stature and intellectual capacities. |
Tuy nhiên, các nhân loại da vàng hiện nay là hậu duệ của những nhánh đầu tiên thuộc Nhân loại thứ tư. Về Nhân loại thứ ba, các hậu duệ thuần khiết và trực tiếp duy nhất, như đã nói ở trên, là một phần những người Úc sa đọa và suy thoái, mà tổ tiên rất xa xưa của họ thuộc về một phân bộ của giống dân phụ thứ bảy của Nhân loại thứ ba. Phần còn lại có nguồn gốc Lemuria-Atlantis hỗn hợp. Từ đó đến nay họ đã hoàn toàn thay đổi về tầm vóc và năng lực trí tuệ. |
|
454. |
|
|
Language is certainly coeval with reason, and could never have been developed before men became one with the informing principles in them—those who fructified and awoke to life the mânasic element dormant in primitive man. For, as Professor Max Müller tells us in his Science of Thought: “Thought and language are identical.” To add to this, however, the reflection that thoughts which are too deep for words, do not really exist at all, is rather risky, for thought impressed upon the astral tablets exists in eternity whether expressed or not. Logos is both reason and speech. But language, proceeding in cycles, is not always adequate to express spiritual thoughts. Moreover, in one sense, the Greek Logos is the equivalent of the Sanskrit Vâch, “the immortal (intellectual) ray of spirit.” And the fact that Vâch (as Devasenâ, an aspect of Sarasvatî, the Goddess of Hidden Wisdom) is the spouse of the eternal celibate Kumâra, unveils a suggestive, though veiled, reference to the Kumâras, those “who refused to create,” but who were compelled later on to complete divine Man by incarnating in him. All this will be fully explained in the Sections that follow. |
Ngôn ngữ chắc chắn đồng thời với lý trí, và không bao giờ có thể phát triển trước khi con người trở thành một với các nguyên khí thấm nhuần họ — những vị đã làm thụ tinh và đánh thức yếu tố manas còn ngủ yên trong con người nguyên thủy đi vào sự sống. Vì, như Giáo sư Max Müller nói với chúng ta trong Science of Thought: “Tư tưởng và ngôn ngữ là đồng nhất.” Tuy nhiên, thêm vào điều này nhận xét rằng những tư tưởng quá sâu để diễn đạt bằng lời thì thật ra hoàn toàn không tồn tại, là khá liều lĩnh, vì tư tưởng in trên các bảng cảm dục tồn tại trong vĩnh cửu, dù được diễn đạt hay không. Logos vừa là lý trí vừa là lời nói. Nhưng ngôn ngữ, tiến hành theo chu kỳ, không phải lúc nào cũng đủ khả năng diễn đạt các tư tưởng tinh thần. Hơn nữa, theo một nghĩa, Logos Hy Lạp tương đương với Vâch trong Sanskrit, “tia bất tử, thuộc trí tuệ, của tinh thần.” Và sự kiện Vâch, với tư cách Devasenâ, một phương diện của Sarasvatî, Nữ thần của Minh Triết Ẩn Tàng, là phối ngẫu của Kumâra độc thân vĩnh cửu, hé mở một ám chỉ gợi ý, dù còn che phủ, đến các Kumâra, những vị “đã từ chối sáng tạo,” nhưng về sau bị buộc phải hoàn tất Con Người thiêng liêng bằng cách nhập thể trong y. Tất cả điều này sẽ được giải thích đầy đủ trong các Mục tiếp theo. |
|
455. |
|
|
Ptolemy, speaking in his ninth table of the Kabolitæ or Kabul tribes, calls them Ἀριστόφυλοι, Aristophyli, the aristocratic or noble tribes. The Afghans call themselves Ben-Issrael, children of Is (sa) rael, from Issa, “woman and also earth,” sons of Mother Earth. But if you call an Afghan Yahoudi (Jew), he will kill you. The names of the supposed twelve tribes of the Jews, and the names of the real twelve tribes of the Afghans, are the same. The Afghans being far older (at any rate, their Arabic stock) than the Israelites, no one need be surprised to find such tribal names among them as Youssoufzic, sons of Joseph, in Punjcaure and Boonere; Zablistanee (Zebulon); Ben-manasseh, sons of Manasseh, among the Khojar Tartars; Isaguri, or Issachar, now Ashnagor in Afghanistan, etc. The whole twelve names of the so-called twelve tribes are names of the signs of the Zodiac, as is now well proven. In any case, the names of the oldest Arabic tribes, re-transliterated, yield the names of the zodiacal signs and likewise of the mythical sons of Jacob. Where are the traces of the Jewish twelve tribes? Nowhere. But there is a trace, and a deep one, that the Jews have tried to deceive people with the help of these names. For, see what happens ages after the ten tribes had wholly disappeared from Babylon. Ptolemy Philadelphus, desiring to have the Hebrew Law translated for him into Greek (the famous Septuagint), wrote to the high priest of the Jews, Eleazar, to send him six men from each of the twelve tribes; and the seventy-two representatives (of whom sixty were ghosts apparently) came to the king in Egypt and translated the Law amid miracles and wonders. See Butler’s Horæ Biblicæ, Josephus, and Philo Judæus. |
Ptolemy, khi nói trong bảng thứ chín của ông về các bộ tộc Kabolitæ hay Kabul, gọi họ là Aristophyli, những bộ tộc quý tộc hay cao quý. Người Afghanistan gọi mình là Ben-Issrael, con của Is-ra-el, từ Issa, “người nữ và cũng là đất,” tức con của Mẹ Đất. Nhưng nếu bạn gọi một người Afghanistan là Yahoudi, tức người Do Thái, y sẽ giết bạn. Tên của mười hai bộ tộc được cho là của người Do Thái và tên của mười hai bộ tộc thật sự của người Afghanistan là giống nhau. Vì người Afghanistan cổ hơn nhiều, ít nhất là dòng Ả Rập của họ, so với người Israel, không ai cần ngạc nhiên khi thấy trong họ những tên bộ tộc như Youssoufzic, con của Joseph, ở Punjcaure và Boonere; Zablistanee, Zebulon; Ben-manasseh, con của Manasseh, trong người Tartar Khojar; Isaguri hay Issachar, nay là Ashnagor ở Afghanistan, v.v. Toàn bộ mười hai tên của cái gọi là mười hai bộ tộc đều là tên của các dấu hiệu hoàng đạo, như hiện nay đã được chứng minh rõ. Dù sao, tên của các bộ tộc Ả Rập cổ nhất, khi được chuyển tự lại, cho ra tên của các dấu hiệu hoàng đạo và cũng của các người con huyền thoại của Jacob. Dấu vết của mười hai bộ tộc Do Thái ở đâu? Không nơi nào cả. Nhưng có một dấu vết, và một dấu vết sâu đậm, rằng người Do Thái đã cố đánh lừa dân chúng nhờ các tên này. Vì hãy xem điều gì xảy ra nhiều thời đại sau khi mười bộ tộc đã hoàn toàn biến mất khỏi Babylon. Ptolemy Philadelphus, muốn có Luật Hebrew dịch cho ông sang tiếng Hy Lạp, bản Septuagint nổi tiếng, đã viết thư cho thượng tế của người Do Thái, Eleazar, yêu cầu gửi cho ông sáu người từ mỗi trong mười hai bộ tộc; và bảy mươi hai đại diện, trong đó dường như sáu mươi là bóng ma, đã đến với nhà vua ở Ai Cập và dịch Luật giữa những phép lạ và kỳ quan. Xem Butler, Horæ Biblicæ, Josephus và Philo Judæus. |
|
456. |
|
|
The Commentary explains that the apes are the only species, among the animals, which has gradually, and with every generation and variety, tended more and more to return to the original type of its male forefather—the dark gigantic Lemurian and Atlantean. |
Bình giảng giải thích rằng loài vượn là loài duy nhất, trong số các loài vật, đã dần dần, qua mỗi thế hệ và biến thể, có khuynh hướng ngày càng trở về kiểu mẫu nguyên thủy của tổ phụ giống đực của nó — người Lemuria và Atlantis khổng lồ da sẫm. |
|
457. |
|
|
Androgyne. |
Lưỡng tính. |
|
458. |
|
|
Dr. A. Wilder; who says that Gan-duniyas is a name of Babylonia. |
Tiến sĩ A. Wilder; ông nói rằng Gan-duniyas là một tên của Babylonia. |
|
459. |
|
|
Vol. i. pp. 575, 576. |
Tập i, tr. 575, 576. |
|
460. |
|
|
Foĕ-kouĕ-ki; ou Relations des Royaumes Bouddhiques; par Chy Fa-hian: translated by Abel Remusat. |
Foĕ-kouĕ-ki; hay Các Tường Thuật về những Vương Quốc Phật Giáo; của Chy Fa-hian; do Abel Remusat dịch. |
|
461. |
|
|
Seventh year, 1855. |
Năm thứ bảy, 1855. |
|
462. |
|
|
De Mirville’s Des Esprits, ii. 423. See also Moses Maimonides, More Nevochim. |
De Mirville, Des Esprits, ii. 423. Xem thêm Moses Maimonides, More Nevochim. |
|
463. |
|
|
Sciences Occultes, p. 464. |
Sciences Occultes, tr. 464. |
|
464. |
|
|
Révolution du Globe, Vol. v. p. 247. |
Révolution du Globe, Tập v, tr. 247. |
|
465. |
|
|
We read in De Mirville’s “Mémoire â l’Académie” (ii. 431) of the “naive astonishment of Geoffroy St. Hilaire, when M. de Paravey showed to him, in some old Chinese works and Babylonian tiles, dragons,… ornithorhynchuses and saurians (aquatic animals found only in Australia), etc., extinct animals that he had thought unknown on earth… till his own day.” |
Chúng ta đọc trong “Mémoire à l’Académie” của De Mirville, ii. 431, về “sự kinh ngạc ngây thơ của Geoffroy St. Hilaire, khi ông de Paravey chỉ cho ông thấy, trong một số tác phẩm Trung Hoa cổ và gạch Babylon, các con rồng,… thú mỏ vịt và các loài bò sát lớn, tức những động vật thủy sinh chỉ tìm thấy ở Úc, v.v., những loài vật tuyệt chủng mà ông tưởng là không ai trên trái đất biết đến… cho đến thời của chính ông.” |
|
466. |
|
|
See Isaiah, xxx. 6: “The viper and the flying serpent,” and the fiery serpents conquered by the brazen serpent of Moses. |
Xem Isaiah, xxx. 6: “Rắn lục và rắn bay,” và các rắn lửa bị con rắn đồng của Moses chinh phục. |
|
467. |
|
|
The fossils, reconstructed by Science which we know, ought to be sufficient warrant for the possibility of even a Leviathan, not to mention Isaiah’s flying serpents, or Saraph Mehophep, words which are translated in all the Hebrew dictionaries as “Saraph,” enflamed or fiery venom, and “Mehophep,” flying. But, although Christian Theology has always connected both Leviathan and Saraph Mehophep with the Devil, the expressions are metaphorical and have nought to do with the “Evil One.” Nevertheless, the word “Dragon” has now become a synonym for the latter. In Bretagne the word Drouk now signifies “Devil,” whence, as we are told by Cambry (Monuments Celtiques, p. 299), the Devil’s Tomb in England, Droghedanum Sepulcrum. In Languedoc the meteoric fires and will-o’-the-wisps are called Drac, and in Bretagne Dreag and Wraie or wraith; the castle of Drogheda in Ireland meaning the Devil’s castle. (De Mirville, ibid., ii. 423.) |
Các hóa thạch được Khoa học tái dựng mà chúng ta biết hẳn phải là bảo chứng đầy đủ cho khả năng có cả một Leviathan, chưa nói đến các rắn bay của Isaiah, hay Saraph Mehophep, những từ được dịch trong mọi từ điển Hebrew là “Saraph,” nọc độc cháy rực hay bốc lửa, và “Mehophep,” bay. Nhưng mặc dù Thần học Cơ Đốc luôn liên kết cả Leviathan lẫn Saraph Mehophep với Ma Quỷ, các biểu thức ấy có tính ẩn dụ và không liên quan gì đến “Kẻ Ác.” Tuy nhiên, từ “Rồng” nay đã trở thành đồng nghĩa với kẻ sau. Ở Bretagne, từ Drouk nay có nghĩa là “Ma Quỷ,” từ đó, như Cambry cho biết trong Monuments Celtiques, tr. 299, có Mộ của Ma Quỷ ở Anh, Droghedanum Sepulcrum. Ở Languedoc, các lửa thiên thạch và ma trơi được gọi là Drac, và ở Bretagne là Dreag và Wraie hay bóng ma; lâu đài Drogheda ở Ireland có nghĩa là lâu đài của Ma Quỷ. De Mirville, sách đã dẫn, ii. 423. |
|
468. |
|
|
The ultramontane writers accept the whole series of draconian stories given by Father Kircher, in his Œdipus Ægyptiacus, “De Genesi Draconum,” quite seriously. According to that Jesuit, he himself saw a dragon which was killed in 1669 by a Roman peasant, as the director of the Museo Barberini sent it to him, to take the beast’s likeness, which Father Kircher did and had it published in one of his in-folios. After this he received a letter from Christopher Scherer, Prefect of the Canton of Soleure, Switzerland, in which that official certifies to his having seen himself, with his own eyes, one fine summer night in 1619, a living dragon. Having remained on his balcony “to contemplate the perfect purity of the firmament,” he writes, “I saw a fiery, shining dragon rise from one of the caves of Mount Pilatus and direct himself rapidly towards Fluelen to the other end of the lake. Enormous in size, his tail was still longer and his neck stretched out. His head and jaws were those of a serpent. In flying, he emitted on his way numerous sparks (?!)…. I thought at first I was seeing a meteor, but soon, looking more attentively, I was convinced by his flight and the conformation of his body that I saw a veritable dragon. I am happy to be thus able to enlighten your Reverence on the very real existence of those animals”—in dreams, the writer ought to have added, of long past ages. (Ibid., p. 424.) |
Các tác giả cực đoan Công giáo chấp nhận toàn bộ chuỗi chuyện rồng do Cha Kircher đưa ra trong Œdipus Ægyptiacus của ông, “Về Nguồn Gốc Rồng,” một cách hoàn toàn nghiêm túc. Theo vị tu sĩ Dòng Tên ấy, chính ông đã thấy một con rồng bị một nông dân La Mã giết năm 1669, khi giám đốc Museo Barberini gửi nó đến cho ông để vẽ chân dung con vật, điều Cha Kircher đã làm và cho xuất bản trong một trong các tập khổ lớn của ông. Sau đó ông nhận được một lá thư từ Christopher Scherer, Quận trưởng Canton Soleure, Thụy Sĩ, trong đó viên chức này chứng nhận rằng chính ông, bằng đôi mắt của mình, vào một đêm mùa hè đẹp trời năm 1619, đã thấy một con rồng sống. Ông viết rằng sau khi ở lại trên ban công “để chiêm ngưỡng sự tinh khiết hoàn hảo của bầu trời,” “tôi thấy một con rồng bốc lửa, sáng rực, bay lên từ một trong các hang của Núi Pilatus và lao nhanh về phía Fluelen ở đầu kia của hồ. Nó có kích thước khổng lồ, đuôi còn dài hơn và cổ vươn ra. Đầu và hàm của nó là của một con rắn. Khi bay, nó phóng ra trên đường nhiều tia lửa…. Ban đầu tôi tưởng mình đang thấy một thiên thạch, nhưng chẳng bao lâu, khi nhìn chăm chú hơn, tôi tin chắc nhờ đường bay và cấu tạo thân thể của nó rằng tôi đã thấy một con rồng thật sự. Tôi vui mừng vì nhờ vậy có thể soi sáng cho Đức Cha về sự hiện hữu rất thật của những loài vật ấy” — trong giấc mơ, người viết đáng lẽ phải thêm, của các thời đại xa xưa. Sách đã dẫn, tr. 424. |
|
469. |
|
|
As a convincing proof of the reality of the fact, a Roman Catholic refers the reader to the picture of the incident painted by Simon de Sienne, a friend of the poet, on the portal of the Church Notre Dame du Don at Avignon, notwithstanding the prohibition of the Sovereign Pontiff, who “would not allow this triumph of love to be enthroned in the holy place”; and adds: “Time has injured the work of art, but has not weakened its tradition.” (Ibid., p. 425.) De Mirville’s “Dragon-Devils” of our era seem to have no luck, as they disappear most mysteriously from the museums where they are said to have been. Thus the Dragon embalmed by Ulysses Aldovrandus and presented to the Musée du Sénat, either in Naples or Bologna, “was there still in 1700,” but is there no more. (Ibid., p. 427.) |
Như một bằng chứng thuyết phục về tính có thật của sự kiện, một tín đồ Công giáo La Mã dẫn độc giả đến bức tranh về sự việc do Simon de Sienne, bạn của nhà thơ, vẽ trên cổng Nhà thờ Notre Dame du Don tại Avignon, bất chấp lệnh cấm của Giáo hoàng, người “không cho phép chiến thắng của tình yêu này được tôn vị trong nơi thánh”; và thêm: “Thời gian đã làm hư hại tác phẩm nghệ thuật, nhưng không làm suy yếu truyền thống của nó.” Sách đã dẫn, tr. 425. Các “Rồng-Ma Quỷ” của De Mirville trong thời đại chúng ta dường như không gặp may, vì chúng biến mất một cách hết sức bí ẩn khỏi các viện bảo tàng nơi người ta nói chúng từng ở đó. Như vậy, con Rồng được Ulysses Aldovrandus ướp xác và dâng cho Musée du Sénat, ở Naples hoặc Bologna, “vẫn còn đó vào năm 1700,” nhưng nay không còn nữa. Sách đã dẫn, tr. 427. |
|
470. |
|
|
Op. cit., ii. 422. |
Sách đã dẫn, ii. 422. |
|
471. |
|
|
Ibid., p. 433. |
Sách đã dẫn, tr. 433. |
|
472. |
|
|
Ibid., pp. 432, 433. This is about as just as though, a few millenniums hence, a fanatic of some future new creed, who was bent upon glorifying his religion at the expense of ancient Christianity, were to say: Everywhere the quadruped lamb was adored. The nun, calling it the Agnus, placed it on her bosom; the priest laid it on the altar. It figured in every Paschal meal, and was glorified loudly in every temple. And yet the Christians dreaded it and hated it, for they slew and devoured it. Heathens, at any rate, do not eat their sacred symbols. We know of no serpent or reptile-eaters, except in Christian civilized countries, where they begin with frogs and eels, and must end with real snakes, as they have begun with lamb and ended with horse-flesh. |
Sách đã dẫn, tr. 432, 433. Điều này cũng công bằng chẳng khác nào, vài thiên niên kỷ sau, một kẻ cuồng tín của một tín ngưỡng mới nào đó trong tương lai, cố tôn vinh tôn giáo của mình bằng cách hạ thấp Cơ Đốc giáo cổ xưa, nói rằng: Khắp nơi, con chiên bốn chân được tôn thờ. Nữ tu, gọi nó là Agnus, đặt nó trên ngực mình; linh mục đặt nó trên bàn thờ. Nó xuất hiện trong mọi bữa ăn Phục Sinh, và được tôn vinh lớn tiếng trong mọi đền thờ. Thế mà người Cơ Đốc lại sợ và ghét nó, vì họ giết và ăn thịt nó. Dẫu sao, người ngoại giáo không ăn các biểu tượng thiêng liêng của họ. Chúng ta không biết có người ăn rắn hay bò sát nào, ngoại trừ trong các nước văn minh Cơ Đốc, nơi họ bắt đầu bằng ếch và lươn, và hẳn sẽ kết thúc bằng rắn thật, cũng như họ đã bắt đầu bằng chiên con và kết thúc bằng thịt ngựa. |
|
473. |
|
|
Ibid., p. 423. |
Sách đã dẫn, tr. 423. |
|
474. |
|
|
Pantheon, 3. |
Pantheon, 3. |
|
475. |
|
|
The Solar Chnouphis, or Agathodæmon, is the Christos of the Gnostics, as every scholar knows. He is intimately connected with the Seven Sons of Sophia (Wisdom), the Seven Sons of Aditi, Universal Wisdom, her eighth being Mârttânda, the Sun, which Seven are the Seven Planetary Regents or Genii. Therefore Chnouphis was the Spiritual Sun of Enlightenment, of Wisdom, hence the patron of all the Egyptian Initiates, as Bel-Merodach, or Bel-Belitanus, became later with the Chaldæans. |
Chnouphis Thái dương, hay Agathodæmon, là Christos của phái Ngộ đạo, như mọi học giả đều biết. Ngài liên hệ mật thiết với Bảy Người Con của Sophia, Minh Triết, Bảy Người Con của Aditi, Minh Triết Vũ Trụ, mà vị thứ tám của bà là Mârttânda, Mặt Trời; Bảy vị ấy là Bảy Đấng Nhiếp Chính hay Thiên Tài Hành Tinh. Vì vậy Chnouphis là Mặt Trời Tinh thần của sự Giác ngộ, của Minh Triết, do đó là vị bảo trợ của mọi Điểm đạo đồ Ai Cập, như Bel-Merodach, hay Bel-Belitanus, về sau trở thành như vậy đối với người Chaldæa. |
|
. |
|
|
Hermes, or rather Thot, was a generic name. Abul Feda shows in his Historia Anti-Islamitica, five Hermes, and the names of Hermes, Nebo, Thot were given respectively in various countries to great Initiates. Thus Nebo, the son of Merodach and Zarpanitu, whom Herodotus calls Zeus-Belos, gave his name to all the great Prophets, Seers and Initiates. They were all “Serpents of Wisdom,” as connected with the Sun astronomically, and with Wisdom spiritually. |
Hermes, hay đúng hơn Thot, là một danh xưng chung. Abul Feda cho thấy trong Historia Anti-Islamitica của ông có năm Hermes, và các tên Hermes, Nebo, Thot lần lượt được trao ở nhiều nước khác nhau cho các Điểm đạo đồ vĩ đại. Vì vậy Nebo, con của Merodach và Zarpanitu, người mà Herodotus gọi là Zeus-Belos, đã trao tên mình cho mọi Nhà Tiên Tri, Nhà thông nhãn và Điểm đạo đồ vĩ đại. Tất cả các Ngài đều là “Rắn của Minh Triết,” vì liên hệ với Mặt Trời về mặt thiên văn, và với Minh Triết về mặt tinh thần. |
|
477. |
|
|
Pantheon, text 15. |
Pantheon, bản văn 15. |
|
478. |
|
|
i. 555. |
i. 555. |
|
479. |
|
|
Genesis, xlix. 17, 18, and 5, 6. |
Genesis, xlix. 17, 18, và 5, 6. |
|
480. |
|
|
Dunlap, in his Introduction to Sod, the Mysteries of Adoni (xi), explains the word “Sod” as arcanum, religious mystery, on the authority of Schindler’s Penteglott, 1201. “The secret of the Lord is with them that fear him,” says Psalm, xxv. 14. This is a mistranslation of the Christians, for it ought to read: “Sod Ihoh (the Mysteries of Ihoh) are for those who fear him.” “Al [El] is terrible in the great Sod of the Kedeshim (the Priests, the Holy, the Initiated).”—Psalm, lxxxix. 7 (ibid.). The Kedeshim were very far from holy. See the Section on “The Holy of Holies,” in Part II of this Volume. |
Dunlap, trong phần Dẫn nhập vào Sod, the Mysteries of Adoni, xi, giải thích từ “Sod” là arcanum, huyền nhiệm tôn giáo, dựa trên thẩm quyền của Penteglott của Schindler, 1201. “Bí mật của Chúa ở cùng những ai kính sợ Ngài,” Psalm, xxv. 14 nói. Đây là một bản dịch sai của người Cơ Đốc, vì phải đọc là: “Sod Ihoh, tức các Huyền nhiệm của Ihoh, dành cho những ai kính sợ Ngài.” “Al, hay El, thật đáng sợ trong Sod vĩ đại của các Kedeshim, tức các Tư tế, những người Thánh, những người được Điểm đạo.” Psalm, lxxxix. 7, sách đã dẫn. Các Kedeshim còn rất xa mới là thánh thiện. Xem Mục về “Nơi Chí Thánh,” trong Phần II của Tập này. |
|
481. |
|
|
“The members of the Priest-Colleges were called Sodales,” says Freund’s Latin Lexicon (iv. 448). “Sodalities were constituted in the Idæan Mysteries of the Mighty Mother,” writes Cicero in De Senectute. (Dunlap, ibid., p. xii.) |
“Các thành viên của các Học viện Tư tế được gọi là Sodales,” Freund’s Latin Lexicon nói, iv. 448. “Các hội huynh đệ được lập trong các Huyền nhiệm Idæan của Đại Mẹ Hùng Mạnh,” Cicero viết trong De Senectute. Dunlap, sách đã dẫn, tr. xii. |
|
482. |
|
|
xxx. 6. |
xxx. 6. |
|
483. |
|
|
The priests of Baal who jumped over the fires. But this was a Hebrew term and a local one. Saraph means “fiery or flaming venom.” |
Các tư tế của Baal nhảy qua lửa. Nhưng đây là một thuật ngữ Hebrew và mang tính địa phương. Saraph có nghĩa là “nọc độc bốc lửa hay rực cháy.” |
|
484. |
|
|
Book of the Dead, ch. xxxix. |
Book of the Dead, chương xxxix. |
|
485. |
|
|
The same ram’s horns are found on the heads of Moses which were seen on some old medals by the writer in Palestine, one of which is still in her possession. The horns, forming part of the shining aureole on the statue of Moses in Rome by Michael Angelo, are vertical instead of being bent down to the ears, but the emblem is the same; hence the Brazen Serpent. |
Cũng những sừng cừu đực ấy được thấy trên đầu Moses, từng được người viết thấy trên một số huy chương cổ ở Palestine, một trong số đó vẫn còn trong tay bà. Những chiếc sừng, tạo thành một phần của hào quang sáng chói trên tượng Moses ở Rome do Michael Angelo tạc, thẳng đứng thay vì cong xuống tai, nhưng biểu tượng vẫn là một; từ đó có Con Rắn Đồng. |
|
486. |
|
|
But see Harris’ Magic Papyrus, No. v, and the ram-headed Ammon manufacturing men on a potter’s wheel. |
Nhưng xem Harris’ Magic Papyrus, số v, và Ammon đầu cừu đực đang chế tạo con người trên bàn xoay của thợ gốm. |
|
487. |
|
|
Brasseur de Bourbourg, Mexique, pp. 135 and 574. |
Brasseur de Bourbourg, Mexique, tr. 135 và 574. |
|
488. |
|
|
Ulûpî (Ulûpl) has an entirely Atlantean ring about it. Like Atlantis, it is neither a Greek nor a Sanskrit name, but reminds one of Mexican names. |
Ulûpî, hay Ulûpl, có một âm hưởng hoàn toàn Atlantis. Giống như Atlantis, nó không phải là tên Hy Lạp cũng không phải tên Sanskrit, mà gợi nhớ đến các tên Mexico. |
|
489. |
|
|
Mahâbhârata, Âdi Parva, Shlokas 7788, 7789. The Bhâgavata Purâna (ix. xx. 31), as explained by Shrîdhara, the commentator, makes Ulûpî the daughter of the king of Manipûra (see Vishnu Purâna, Wilson, iv. 160); but the late Pandit Dayânand Sarasvatî, certainly the greatest Sanskrit and Paurânic authority in India on such questions, personally corroborated that Ulûpî was daughter of the king of the Nâgas in Pâtâla, or America, 5,000 years ago, and that the Nâgas were Initiates. |
Mahâbhârata, Âdi Parva, Shloka 7788, 7789. Bhâgavata Purâna, ix. xx. 31, như Shrîdhara, nhà bình giải, giải thích, khiến Ulûpî trở thành con gái của vua Manipûra, xem Vishnu Purâna, Wilson, iv. 160; nhưng cố Pandit Dayânand Sarasvatî, chắc chắn là thẩm quyền Sanskrit và Paurânic lớn nhất ở Ấn Độ về các vấn đề như thế, đã đích thân xác nhận rằng Ulûpî là con gái của vua các Nâga ở Pâtâla, hay châu Mỹ, cách đây 5.000 năm, và rằng các Nâga là những Điểm đạo đồ. |
|
490. |
|
|
Isis Unveiled, ii. 293. |
Isis Unveiled, ii. 293. |
|
491. |
|
|
Foh-tchou, in Chinese meaning literally Buddha’s lord, or the teacher of the doctrines of Buddha—Foh. |
Foh-tchou, trong tiếng Trung Hoa nghĩa đen là Chúa của Buddha, hay huấn sư của các giáo lý của Buddha — Foh. |
|
492. |
|
|
This mountain is situated south-west of China, almost between China and Tibet. |
Ngọn núi này nằm ở phía tây nam Trung Hoa, gần như giữa Trung Hoa và Tây Tạng. |
|
493. |
|
|
Ibid., pp. 293, 294. |
Sách đã dẫn, tr. 293, 294. |
|
494. |
|
|
Let the reader be reminded that in the Zohar, and also in all the Kabalistic works, it is maintained that “Metatron united with Shekinah.” Now Shekinah as the Veil (Grace) of Ain Suph, representing the Logos, is that very Tree of Knowledge; while Shamael—the dark aspect of the Logos—occupies only the bark of that tree, and has the knowledge of evil alone. As Lacour, who saw in the scene of the Fall (Genesis, iii) an incident pertaining to Egyptian Initiation, says: “The Tree of the Divination, or of the Knowledge of Good and Evil… is the science of Tzyphon, the Genius of Doubt, tzy to teach, and phon, doubt. Tzyphon is one of the Aleim; we shall see him presently under the name of Nach, the tempter” (Les Œloim, vol. ii. p. 218). He is now known to Symbologists under the name of Jehovah. |
Xin nhắc độc giả rằng trong Zohar, và cũng trong mọi tác phẩm Kabbalah, người ta khẳng định rằng “Metatron hợp nhất với Shekinah.” Nay Shekinah, với tư cách Tấm Màn, hay Ân Sủng, của Ain Suph, đại diện cho Logos, chính là Cây Tri Thức ấy; trong khi Shamael — phương diện tối tăm của Logos — chỉ chiếm phần vỏ của cây ấy, và chỉ có tri thức về điều ác. Như Lacour, người thấy trong cảnh Sa Ngã, Genesis, iii, một sự kiện thuộc về Điểm đạo Ai Cập, nói: “Cây của Thuật Bói Toán, hay của Tri Thức Thiện và Ác… là khoa học của Tzyphon, Thiên Tài của Hoài Nghi, tzy là dạy, và phon là hoài nghi. Tzyphon là một trong các Aleim; ngay sau đây chúng ta sẽ thấy y dưới tên Nach, kẻ cám dỗ” Les Œloim, tập ii, tr. 218. Nay các nhà biểu tượng học biết y dưới tên Jehovah. |
|
495. |
|
|
This is the view taken and adopted by all the Church Fathers, but it is not the real Esoteric Teaching. The curse did not begin with the formation of either man or woman, for their separation was a natural sequence of evolution, but with the breaking of the law. |
Đây là quan điểm được mọi Giáo phụ của Giáo hội chấp nhận và noi theo, nhưng đó không phải là Giáo huấn Nội môn đích thực. Lời nguyền không bắt đầu với sự hình thành người nam hay người nữ, vì sự phân chia của họ là hệ quả tự nhiên của tiến hoá, mà bắt đầu với việc phá vỡ định luật. |
|
496. |
|
|
By which human nature lives; not even the animal—but the misguided, sensual and vicious nature, which men, not Nature, created. See the Section “Cross and Circle.” |
Nhờ đó bản chất con người sống; thậm chí không phải bản chất thú vật — mà là bản chất lầm lạc, nhục cảm và xấu xa, do con người, chứ không phải Tự nhiên, tạo ra. Xem Mục “Thập Giá và Vòng Tròn.” |
|
497. |
|
|
See Zohar, i. 172, a and b. |
Xem Zohar, i. 172, a và b. |
|
498. |
|
|
Compare the Section on “The Mysteries of the Hebdomad” in Part II of this Volume. |
So sánh Mục về “Các Huyền nhiệm của Bộ Bảy” trong Phần II của Tập này. |
|
499. |
|
|
Gould’s Mythical Monsters, p. 1. |
Gould, Mythical Monsters, tr. 1. |
|
500. |
|
|
The Unicorn: a Mythological Investigation, Robert Brown, junr., F.S.A. London, 1881. |
The Unicorn: a Mythological Investigation, Robert Brown, con, F.S.A. London, 1881. |
|
501. |
|
|
Mythical Monsters, pp. 2-4. |
Mythical Monsters, tr. 2-4. |
|
502. |
|
|
Ibid., p. 20. |
Sách đã dẫn, tr. 20. |
|
503. |
|
|
Ibid., pp. 36, 37. |
Sách đã dẫn, tr. 36, 37. |
|
504. |
|
|
The Human Species, p. 52. |
The Human Species, tr. 52. |
|
505. |
|
|
Manual of Geology, p. 301. |
Manual of Geology, tr. 301. |
|
506. |
|
|
Ibid., p. 17. |
Sách đã dẫn, tr. 17. |
|
507. |
|
|
Gould’s Mythical Monsters, p. 16. See also Recherches, etc., des Mammifères, plate 1. Paris, 1868 to 1874. |
Gould, Mythical Monsters, tr. 16. Xem thêm Recherches, v.v., des Mammifères, bản khắc 1. Paris, 1868 đến 1874. |
|
508. |
|
|
Preface to the Shan Hai King, or “Wonders by Land and Sea.” |
Lời tựa cho Shan Hai King, hay “Những Kỳ Quan trên Đất và Biển.” |
|
509. |
|
|
Vol. i. pp. 589, et seqq. |
Tập i, tr. 589 và tiếp theo. |
|
510. |
|
|
There are Archæologists, who, like Mr. James Fergusson, refuse any great antiquity to even one single monument in India. In his work, Illustrations of the Rock-Cut Temples of India, he ventures to express the very extraordinary opinion that “Egypt had ceased to be a nation before the earliest of the cave-temples of India was excavated.” In short, he does not admit the existence of any cave-temple anterior to the reign of Ashoka, and seems anxious to prove that most of these rock-cut temples were executed during a period extending from the time of that pious Buddhist king until the destruction of the Andhra dynasty of Magadha, in the beginning of the fifth century. We believe such a claim to be perfectly arbitrary. Further discoveries will show that it is erroneous and unwarranted. |
Có những nhà Khảo cổ học, như ông James Fergusson, từ chối mọi cổ đại đáng kể ngay cả đối với một di tích duy nhất ở Ấn Độ. Trong tác phẩm Illustrations of the Rock-Cut Temples of India, ông mạo muội bày tỏ ý kiến rất lạ thường rằng “Ai Cập đã không còn là một quốc gia trước khi ngôi đền hang sớm nhất của Ấn Độ được khai đào.” Tóm lại, ông không thừa nhận sự tồn tại của bất cứ đền hang nào trước triều đại Ashoka, và dường như nóng lòng chứng minh rằng phần lớn các đền cắt vào đá này được thực hiện trong một thời kỳ kéo dài từ thời vị vua Phật tử mộ đạo ấy cho đến khi triều đại Andhra của Magadha bị hủy diệt vào đầu thế kỷ thứ năm. Chúng tôi tin rằng một khẳng định như thế hoàn toàn tùy tiện. Những khám phá sau này sẽ cho thấy nó sai lầm và vô căn cứ. |
|
511. |
|
|
America, at the time of its discovery, was called Atlanta by some native tribes. |
Châu Mỹ, vào thời được phát hiện, được một số bộ tộc bản địa gọi là Atlanta. |
|
512. |
|
|
Since then Donnelly’s Atlantis has appeared, and soon its actual existence will have become a scientific fact. |
Từ đó về sau, Atlantis của Donnelly đã xuất hiện, và chẳng bao lâu nữa sự tồn tại thật sự của nó sẽ trở thành một sự kiện khoa học. |
|
513. |
|
|
It is so divided to this day, and Theosophists and Occultists, who have learned something of the occult but undeniable power of Dugpaship at their own expense, know this but too well. |
Cho đến ngày nay nó vẫn bị chia rẽ như thế, và các nhà Thông Thiên Học cùng các nhà huyền bí học, những người đã học được phần nào quyền năng huyền bí nhưng không thể phủ nhận của Dugpaship bằng chính tổn thất của mình, biết điều này quá rõ. |
|
514. |
|
|
See De Mirville’s Pneumatologie: Des Esprits, iii. 57, et seqq. |
Xem De Mirville, Pneumatologie: Des Esprits, iii. 57 và tiếp theo. |
|
515. |
|
|
See Max Müller, Chips, i. 339; “Popol Vuh.” Compare also Holmberg, Ethnographische Skizzen über die Völker des Russischen Amerika. Helsingfors, 1855. |
Xem Max Müller, Chips, i. 339; “Popol Vuh.” So sánh thêm Holmberg, Ethnographische Skizzen über die Völker des Russischen Amerika. Helsingfors, 1855. |
|
516. |
|
|
Op. cit., pp. 13-15. |
Sách đã dẫn, tr. 13-15. |
|
517. |
|
|
Ibid., p. 308. |
Như trên, tr. 308. |
|
518. |
|
|
An approach to the statues at Bamian—also a Buddha 200 feet high—is found near a Jain settlement in Southern India, and appears to be the only one that remains at present. |
Một hình thức gần với các pho tượng ở Bamian — cũng là một tượng Phật cao 200 bộ — được tìm thấy gần một khu định cư Jain ở miền Nam Ấn Độ, và dường như hiện nay đó là tượng duy nhất còn lại. |
|
519. |
|
|
Even Wilson admits that Râma and Râvana were personages founded on historical facts. “The traditions of the South of India uniformly ascribe its civilization… and the settlement of civilized Hindûs [the Fifth Race] to the conquest of Lankâ by Râma” (Vishnu Purâna, iii. 318)—the victory of the “Sons of Gods” over the Atlantean sorcerers, says the true tradition. |
Ngay cả Wilson cũng thừa nhận rằng Rama và Ravana là những nhân vật được xây dựng trên các sự kiện lịch sử. “Các truyền thống miền Nam Ấn Độ đều nhất loạt quy nền văn minh của vùng này… và sự định cư của những người Hindu văn minh [Giống dân thứ năm] cho cuộc chinh phục Lanka của Rama” (Vishnu Purana, iii. 318) — tức chiến thắng của “Các Con của Thượng đế” trước các phù thủy Atlantis, theo truyền thống chân chính. |
|
520. |
|
|
Thus we are shown one hero, to give an instance, first born as the “unrighteous but valiant monarch” (Purusha) of the Daityas, Hiranyakashipu, slain by the Avatâra Nara-sinha (Man-lion). Then he was born as Râvana, the giant king of Lankâ, and killed by Râma; after which he is reborn as Shishupâla, the son of Rajarshi (King Rishi) Damaghosha, when he is again killed by Krishna, the last incarnation of Vishnu. This parallel evolution of Vishnu (Spirit) with a Daitya, as man, may seem meaningless, yet it gives us the key not only to the respective dates of Râma and Krishna but even to a certain psychological mystery. |
Như vậy, để nêu một thí dụ, chúng ta được chỉ cho thấy một vị anh hùng, trước hết sinh ra như “vị quân vương bất chính nhưng dũng cảm” (Purusha) của các Daitya, Hiranyakashipu, bị Avatara Nara-sinha (Người-sư tử) giết chết. Rồi y sinh ra làm Ravana, vị vua khổng lồ của Lanka, và bị Rama giết; sau đó y tái sinh làm Shishupala, con của Rajarshi (Vua Rishi) Damaghosha, khi y lại bị Krishna, lần hóa thân cuối cùng của Vishnu, giết chết. Sự tiến hoá song hành này của Vishnu (Tinh thần) với một Daitya, trong tư cách con người, có thể có vẻ vô nghĩa, nhưng nó trao cho chúng ta chìa khóa không chỉ về niên đại tương ứng của Rama và Krishna, mà còn về cả một huyền nhiệm tâm lý nào đó. |
|
521. |
|
|
Compare Hibbert Lectures, 1877, Sayce, pp. 134-138. |
So sánh Các Bài Giảng Hibbert, 1877, Sayce, tr. 134-138. |