SDII.4 – Stanzas VI – VIII – Sự tiến hoá của Giống dân “sinh từ mồ hôi.”

📘 Sách: Secret Doctrine II – Tác giả: Blavatsky

Stanza VI. The Evolution Of The “Sweat-Born.” — Đoạn kinh VI. Sự tiến hoá của Giống dân “sinh từ mồ hôi.”

22. The evolution of the three Races continued. 23. The Second Race creates the Third and perishes.

22. Sự tiến hoá của ba Giống dân tiếp tục. 23. Giống dân thứ hai tạo ra Giống dân thứ ba và diệt vong.

22. Then the Second evolved the Egg-born, the Third. 305 The Sweat grew, its Drops grew, and the Drops became hard and round. The Sun warmed it; the Moon cooled and shaped it; the Wind fed it until its ripeness. The White Swan from the Starry Vault 306 overshadowed the big Drop. The Egg of the Future Race, the Man-swan 307 of the later Third (a). First male-female, then man and woman (b).

22. Bấy giờ Giống dân thứ hai tiến hoá thành Giống dân sinh từ Trứng, Giống dân thứ ba. Mồ hôi lớn lên, các Giọt của nó lớn lên, và các Giọt trở nên cứng và tròn. Mặt Trời sưởi ấm nó; Mặt Trăng làm mát và định hình nó; Gió nuôi dưỡng nó cho đến khi chín muồi. Thiên Nga Trắng từ Vòm Sao phủ bóng lên Giọt lớn. Trứng của Giống dân Tương lai, Người-thiên nga của Giống dân thứ ba về sau. Trước hết là nam-nữ, rồi đến người nam và người nữ.

(a) The text of the Stanza clearly implies that the human embryo was nourished ab extra by Cosmic Forces, and that the “Father-Mother” furnished apparently the germ that ripened; in all probability a “sweat-born egg,” to be hatched out, in some mysterious way, disconnected from the “double” parent. It is comparatively easy to conceive of an oviparous humanity, since even now man is, in one sense, “egg-born.” Magendie, moreover, in his Precis Élémentaire de Physiologie, citing A case where the umbilical cord was ruptured and perfectly cicatrized,

(a) Văn bản của Đoạn kinh rõ ràng hàm ý rằng phôi thai người được nuôi dưỡng từ bên ngoài bởi các Mãnh lực Vũ trụ, và “Cha-Mẹ” dường như cung cấp mầm đã chín muồi; rất có thể là một “quả trứng sinh từ mồ hôi,” được ấp nở theo một cách huyền nhiệm nào đó, tách rời khỏi cha mẹ “kép.” Tương đối dễ hình dung một nhân loại đẻ trứng, vì ngay cả hiện nay, theo một nghĩa nào đó, con người vẫn “sinh từ trứng.” Hơn nữa, Magendie, trong cuốn Tóm lược sơ đẳng về Sinh lý học, khi trích dẫn một trường hợp dây rốn bị đứt và liền sẹo hoàn toàn,

yet the infant was born alive, pertinently asks: How was the circulation carried on in this organ?

mà đứa trẻ vẫn sinh ra còn sống, đã hỏi rất xác đáng: Sự tuần hoàn trong cơ quan này đã được duy trì bằng cách nào?

On the next page he says: Nothing is at present known respecting the use of digestion in the fœtus.

Ở trang kế tiếp, ông nói: Hiện nay người ta chưa biết gì về công dụng của sự tiêu hóa nơi bào thai.

And respecting its nutrition, he propounds this query: What, then, can we say of the nutrition of the fœtus? Physiological works contain only vague conjectures on this point.

Và về sự dinh dưỡng của nó, ông nêu câu hỏi này: Vậy thì chúng ta có thể nói gì về sự dinh dưỡng của bào thai? Các tác phẩm sinh lý học chỉ chứa những phỏng đoán mơ hồ về điểm này.

“Ah, but,” the sceptic may urge, “Magendie’s book belongs to the last generation, and Science has since made such strides that his stigma of ignorance can no longer be fixed upon the profession.” Indeed; then let us turn to a very great authority upon Physiology, viz., Sir Michael Foster, and, to the disadvantage of Modern Science, we shall find him saying:

“À, nhưng,” người hoài nghi có thể thúc ép, “sách của Magendie thuộc về thế hệ trước, và từ đó Khoa học đã tiến những bước dài đến mức vết nhơ về sự vô tri mà ông nêu ra không còn có thể gán cho giới chuyên môn nữa.” Quả vậy; vậy chúng ta hãy quay sang một thẩm quyền rất lớn về Sinh lý học, tức Ngài Michael Foster, và, bất lợi cho Khoa học Hiện đại, chúng ta sẽ thấy ông nói rằng:

Concerning the rise and development of the functional activities of the embryo, our knowledge is almost a blank. We know scarcely anything about the various steps by which the primary fundamental qualities of the protoplasm of the ovum are differentiated into the complex phenomena which we have attempted in this book to explain. 308

Về sự phát sinh và phát triển của các hoạt động chức năng nơi phôi thai, tri thức của chúng ta hầu như là một khoảng trống. Chúng ta gần như chẳng biết gì về các bước khác nhau qua đó các phẩm tính căn bản nguyên thủy của nguyên sinh chất trong noãn được biến phân thành những hiện tượng phức tạp mà trong sách này chúng ta đã cố gắng giải thích.

The students of Trin. Coll. Cantab, will now kindly draw a veil before the statue of Hygieia and bandage the eyes of the busts of Galen and Hippocrates, lest they look reproachfully at their degenerate descendants. One further fact we must note. Sir Michael Foster is discreetly silent about the case of the ruptured umbilical cord cited by his great French confrère.

Giờ đây, các sinh viên của Trường Trinity ở Cambridge xin hãy vui lòng kéo màn che trước tượng Hygieia và băng mắt các tượng bán thân của Galen và Hippocrates, kẻo các vị ấy nhìn những hậu duệ suy đồi của mình với ánh mắt trách cứ. Chúng ta còn phải lưu ý một sự kiện nữa. Ngài Michael Foster đã kín đáo im lặng về trường hợp dây rốn bị đứt mà vị đồng nghiệp Pháp vĩ đại của ông đã trích dẫn.

(b) This is a very curious statement as explained in the Commentaries. To make it clear: The First Race having created the Second by “budding,” as explained above, the Second Race gives birth to the Third—which itself is separated into three distinct divisions, consisting of men differently procreated. The first two of these are produced by an oviparous method, presumably unknown to modern Natural History. While the early sub-races of the Third Humanity procreated their species by a kind of exudation of moisture or vital fluid, the drops of which coalescing formed an oviform ball—or shall we say egg—that served as an extraneous vehicle for the generation therein of a fœtus and child, the mode of procreation by the later sub-races changed, in its results at all events. The little ones of the earlier sub-races were entirely sexless—shapeless even for all one knows; 309 but those of the later sub-races were born androgynous. It is in the Third Race that the separation of sexes occurred. From being previously a-sexual, Humanity became distinctly hermaphrodite or bi-sexual; and finally the man-bearing Eggs began to give birth, gradually and almost imperceptibly in their evolutionary development, first, to beings in which one sex predominated over the other, and, finally, to distinct men and women. And now let us search for corroboration of these statements in the religious legends of East and West. Let us take the “Egg-born Race” first. Think of Kashyapa, the Vedic sage, and the most prolific of creators. He was the son of Marichi, Brahmâ’s Mind-born Son; and he is made to become the father of the Nâgas, or Serpents, among other beings. Exoterically, the Nâgas are semi-divine beings which have a human face and the tail of a serpent. Yet there was a race of Nâgas, said to be a thousand in number only, born or rather sprung from Kadrû, Kashyapa’s wife, for the purpose of peopling Pâtâla, which is undeniably America, as will be shown; and there was a Nâga-Dvîpa, one of the seven divisions of Bhâratavarsha, India, inhabited by a people bearing the same name, who are allowed, even by some Orientalists, to be historical, and to have left many a trace behind them to this day.

(b) Đây là một phát biểu rất kỳ lạ như được giải thích trong các Bình giảng. Để làm cho rõ: Giống dân thứ nhất, sau khi tạo ra Giống dân thứ hai bằng cách “nảy chồi,” như đã giải thích ở trên, thì Giống dân thứ hai sinh ra Giống dân thứ ba—vốn tự nó được chia thành ba phân nhóm riêng biệt, gồm những con người được sinh sản theo các cách khác nhau. Hai phân nhóm đầu được sinh ra bằng một phương pháp đẻ trứng, có lẽ chưa được Lịch sử Tự nhiên hiện đại biết đến. Trong khi các giống dân phụ sơ kỳ của Nhân loại thứ ba sinh sản loài của mình bằng một loại tiết xuất hơi ẩm hay lưu chất sinh lực, các giọt của nó kết hợp lại thành một khối hình trứng—hay chúng ta nên nói là một quả trứng—vốn dùng làm một vận cụ bên ngoài cho sự sinh thành trong đó của một bào thai và đứa trẻ, thì phương thức sinh sản của các giống dân phụ về sau, ít nhất xét theo kết quả, đã thay đổi. Những đứa con nhỏ của các giống dân phụ sơ kỳ hoàn toàn vô tính—thậm chí có thể không có hình dạng, nếu ai đó biết được; nhưng những đứa con của các giống dân phụ về sau được sinh ra lưỡng tính. Chính trong Giống dân thứ ba, sự phân chia giới tính đã xảy ra. Từ chỗ trước kia là vô tính, Nhân loại trở nên rõ rệt là lưỡng tính hay song tính; và cuối cùng các Trứng mang người bắt đầu sinh ra, dần dần và hầu như không thể nhận thấy trong sự phát triển tiến hoá của chúng, trước hết là những sinh linh trong đó một giới tính trội hơn giới tính kia, và sau cùng là những người nam và người nữ riêng biệt. Và giờ đây chúng ta hãy tìm sự xác chứng cho những phát biểu này trong các truyền thuyết tôn giáo của Đông và Tây. Trước hết hãy xét “Giống dân sinh từ Trứng.” Hãy nghĩ đến Kashyapa, vị hiền triết Veda và là một trong những đấng sáng tạo sinh sản phong phú nhất. Ông là con của Marichi, Con sinh từ Trí của Brahma; và ông được xem là cha của các Nagas, hay Rắn, cùng nhiều sinh linh khác. Theo ngoại môn, các Nagas là những sinh linh bán-thiêng liêng có mặt người và đuôi rắn. Tuy nhiên, có một giống dân Nagas, được nói là chỉ có một nghìn cá thể, sinh ra hay đúng hơn là phát xuất từ Kadru, vợ của Kashyapa, nhằm mục đích làm dân cư cho Patala, điều không thể phủ nhận là châu Mỹ, như sẽ được chứng minh; và đã có một Naga-Dvipa, một trong bảy phân khu của Bharatavarsha, Ấn Độ, do một dân tộc mang cùng tên cư trú, những người mà ngay cả một số nhà Đông phương học cũng thừa nhận là có tính lịch sử, và đã để lại nhiều dấu vết cho đến tận ngày nay.

Now the point most insisted upon at present is that, whatever origin be claimed for man, his evolution took place in this order: (1) sexless, as all the earlier forms are; (2) then, by a natural transition, he became a “solitary hermaphrodite,” a bi-sexual being; and (3) finally separated and became what he is now. Science teaches us that all the primitive forms, though sexless, “still retained the power of undergoing the processes of a-sexual multiplication”; why, then, should man be excluded from that law of Nature? Bi-sexual reproduction is an evolution, a specialized and perfected form on the scale of Matter of the fissiparous act of reproduction. Occult teachings are preeminently panspermic, and the early history of humanity is hidden only “from ordinary mortals”; nor is the history of the primitive Races buried for the Initiates in the tomb of time, as it is for profane Science. Therefore, supported on the one hand by that Science which shows us progressive development and an internal cause for every external modification, as a law in Nature; and, on the other hand, by an implicit faith in the Wisdom—we may say Pansophia even—of the universal traditions gathered and preserved by the Initiates, who have perfected them into an almost faultless system—thus supported, we venture to state the doctrine clearly.

Giờ đây, điểm được nhấn mạnh nhất hiện nay là, bất kể người ta tuyên bố nguồn gốc nào cho con người, sự tiến hoá của y đã diễn ra theo trật tự này: một là vô tính, như mọi hình tướng sơ kỳ; hai là, qua một chuyển tiếp tự nhiên, y trở thành “lưỡng tính đơn độc,” một sinh linh song tính; và ba là cuối cùng phân tách ra và trở thành như y hiện nay. Khoa học dạy chúng ta rằng mọi hình tướng nguyên thủy, tuy vô tính, “vẫn còn giữ quyền năng trải qua các tiến trình nhân lên vô tính”; vậy thì tại sao con người lại bị loại khỏi định luật ấy của Tự nhiên? Sự sinh sản song tính là một tiến hoá, một hình thức chuyên biệt và hoàn thiện của hành vi sinh sản phân đôi trên thang bậc Vật chất. Các giáo huấn Huyền bí về bản chất nổi bật là toàn chủng, và lịch sử sơ kỳ của nhân loại chỉ bị che giấu “đối với phàm nhân bình thường”; còn đối với các Điểm đạo đồ, lịch sử của các Giống dân nguyên thủy không bị chôn vùi trong nấm mồ thời gian như đối với Khoa học phàm tục. Vì vậy, một mặt được nâng đỡ bởi Khoa học, vốn chỉ cho chúng ta thấy sự phát triển tiệm tiến và một nguyên nhân nội tại cho mọi biến đổi bên ngoài như một định luật trong Tự nhiên; mặt khác, bởi niềm tin tuyệt đối vào Minh triết—thậm chí chúng ta có thể nói là Toàn Minh triết—của các truyền thống phổ quát được các Điểm đạo đồ thu thập và gìn giữ, những người đã hoàn thiện chúng thành một hệ thống gần như không sai sót—được nâng đỡ như thế, chúng ta dám trình bày giáo lý này một cách rõ ràng.

In an able article, written some fifteen years ago, our learned and respected friend Prof. Alexander Wilder, of New York, shows the absolute logic and necessity of believing “The Primeval Race Double-Sexed,” and gives a number of scientific reasons for it. 310 He argues firstly, that a large part of the vegetable creation exhibits the phenomenon of bi-sexuality, the Linnæan classification enumerating thus almost all plants. This is the case in the superior families of the vegetable kingdoms as much as in the lower forms, from the hemp to the Lombardy poplar and ailanthus. In the animal kingdom also it is the same. In insect life, the moth generates a worm, and the worm becomes a moth, as in the Mysteries the great secret was expressed—Taurus Taurus Draconem genuit, et Taurum Draco. The coral-producing family, which, according to Agassiz, has spent many hundreds of thousands of years, during the present geological period, in building out the peninsula of Florida, produce their offspring from themselves like the buds and ramifications in a tree. Bees are somewhat in the same line. The aphides, or plant lice, keep house like Amazons, and virgin parents perpetuate the race for ten successive generations.

Trong một bài viết xuất sắc, được viết khoảng mười lăm năm trước, người bạn uyên bác và đáng kính của chúng ta, Giáo sư Alexander Wilder ở New York, đã chỉ ra tính hợp lý tuyệt đối và sự cần thiết của niềm tin vào “Giống dân Nguyên sơ Lưỡng tính,” đồng thời đưa ra nhiều lý do khoa học cho điều đó. Trước hết, ông lập luận rằng một phần lớn giới thực vật biểu lộ hiện tượng song tính, hệ phân loại Linnaeus liệt kê gần như tất cả thực vật như vậy. Điều này đúng trong các họ cao cấp của giới thực vật cũng như trong các hình tướng thấp hơn, từ cây gai dầu đến cây dương Lombardy và cây ailanthus. Trong giới động vật cũng vậy. Trong đời sống côn trùng, bướm đêm sinh ra sâu, và sâu trở thành bướm đêm, như trong các Bí nhiệm, đại bí mật được diễn tả rằng—Bò đực sinh ra Rồng, và Rồng sinh ra Bò đực. Họ san hô, theo Agassiz, đã trải qua nhiều trăm nghìn năm trong thời kỳ địa chất hiện nay để xây dựng bán đảo Florida, sinh sản hậu duệ từ chính mình như các chồi và nhánh trên một cây. Ong cũng phần nào cùng một đường lối. Rệp cây, hay chấy thực vật, sống như các nữ chiến binh Amazon, và những bậc cha mẹ đồng trinh duy trì giống nòi trong mười thế hệ liên tiếp.

What say the old Sages, the Philosopher-teachers of antiquity? Aristophanes speaks thus on the subject in Plato’s Banquet: Our nature of old was not the same as it is now. It was androgynous; the form and name partaking of, and being common to both the male and female…. Their bodies… were round, and the manner of their running circular. 311 They were terrible in force and strength and had prodigious ambition. Hence Zeus divided each of them into two, making them weaker; Apollo, under his direction, closed up the skin.

Các Hiền triết xưa, những Triết gia-huấn sư của thời cổ đại, nói gì? Aristophanes nói như sau về chủ đề này trong Bữa tiệc của Plato: Bản chất của chúng ta thời xưa không giống như hiện nay. Nó là lưỡng tính; hình thể và tên gọi đều dự phần và chung cho cả nam lẫn nữ…. Thân thể họ… tròn, và cách họ chạy là theo vòng tròn. Họ đáng sợ về mãnh lực và sức mạnh, và có tham vọng phi thường. Vì thế Zeus đã chia mỗi người trong họ thành hai, khiến họ yếu hơn; Apollo, dưới sự chỉ đạo của ông, đã khép kín lớp da.

Meshia and Meshiane were but a single individual with the old Persians.

Meshia và Meshiane chỉ là một cá thể duy nhất đối với người Ba Tư cổ.

They also taught that man was the product of the Tree of Life, growing in androgynous pairs, till they were separated at a subsequent modification of the human form.

Họ cũng dạy rằng con người là sản phẩm của Cây Sự Sống, lớn lên thành từng cặp lưỡng tính, cho đến khi họ bị phân tách trong một sự biến đổi về sau của hình thể con người.

In the Book of the Generations (Toleduth) of Adam, the verse: God created (bara, brought forth) man in his image, in the image of God created he him, male and female created he them, —if read Esoterically will yield the true sense, viz.: The Elohim [Gods] brought forth from themselves [by modification] man in their image… created they him [collective Humanity, or Adam], male and female created he [collective Deity] them. 312

Trong Sách Các Thế Hệ (Toleduth) của Adam, câu: Thượng đế đã tạo ra con người theo hình ảnh của Ngài, theo hình ảnh của Thượng đế, Ngài tạo ra y, nam và nữ Ngài tạo ra họ,—nếu được đọc một cách nội môn, sẽ cho ra ý nghĩa chân thật, tức là: Các Elohim tức các Thượng đế đã làm xuất sinh từ chính các Ngài, bằng sự biến đổi, con người theo hình ảnh của các Ngài… các Ngài đã tạo ra y, tức Nhân loại tập thể hay Adam, nam và nữ Ngài, tức Thượng đế tập thể, đã tạo ra họ.

This will show the Esoteric point. The Sexless Race was their first production, a modification of and from themselves, the pure Spiritual Existences; and this was Adam solus. Thence came the Second Race: Adam-Eve, or Jod-Heva, inactive Androgynes; and finally the Third, or the “Separating Hermaphrodite,” Cain and Abel, who produce the Fourth, Seth-Enos, etc. It is this Third, the last semi-spiritual Race, which was also the last vehicle of the divine and innate Wisdom, ingenerate in the Enochs, the Seers of that Mankind. The Fourth, which had tasted of the fruit of the Tree of Good and Evil—Wisdom already united to earthy, and therefore impure, intelligence 313 —had consequently to acquire that Wisdom by initiation and great struggle. And the union of Wisdom and Intelligence, the former ruling the latter, is called in the Hermetic books “the God possessing the double fecundity of the two sexes.”

Điều này sẽ cho thấy điểm Nội môn. Giống dân Vô tính là sản phẩm đầu tiên của các Ngài, một sự biến đổi củatừ chính các Ngài, những Tồn tại Tinh thần thuần khiết; và đó là Adam đơn độc. Từ đó xuất hiện Giống dân thứ hai: Adam-Eve, hay Jod-Heva, các Lưỡng tính thụ động; và cuối cùng là Giống dân thứ ba, hay “Lưỡng tính phân tách,” Cain và Abel, sinh ra Giống dân thứ tư, Seth-Enos, v.v. Chính Giống dân thứ ba này, Giống dân bán-tinh thần cuối cùng, cũng là vận cụ cuối cùng của Minh triết thiêng liêng và bẩm sinh, vốn nội sinh trong các Enoch, những nhà thông nhãn của Nhân loại ấy. Giống dân thứ tư, vốn đã nếm trái của Cây Thiện và Ác—Minh triết đã hợp nhất với trí năng thuộc đất, và do đó bất tịnh —hệ quả là phải đạt được Minh triết ấy bằng điểm đạo và cuộc đấu tranh lớn lao. Và sự hợp nhất giữa Minh triết và Trí năng, cái trước cai quản cái sau, được gọi trong các sách Hermetic là “Thượng đế sở hữu khả năng sinh sản kép của hai giới.”

Mystically Jesus was held to be man-woman. So also in the Orphic Hymns, sung during the Mysteries, we find: “Zeus is a male, Zeus is an immortal maid.” The Egyptian Ammon was the Goddess Neith, in his other half. Jupiter has female breasts, Venus is bearded in some of her statues, and Ilâ, the Goddess, is also Su-dyumna, the God, as Vaivasvata’s progeny.

Về mặt huyền nhiệm, Đức Jesus được xem là người-nữ. Cũng vậy, trong các Thánh ca Orpheus, được hát trong các Bí nhiệm, chúng ta thấy: “Zeus là nam, Zeus là một thiếu nữ bất tử.” Ammon của Ai Cập là Nữ thần Neith ở nửa kia của ông. Jupiter có ngực nữ, Venus có râu trong một vài pho tượng của nàng, và Ila, Nữ thần, cũng là Su-dyumna, vị Thượng đế, với tư cách hậu duệ của Vaivasvata.

Says Professor Wilder:

Giáo sư Wilder nói:

The name Adam, or man, itself implies this double form of existence. It is identical with Athamas, or Thomas (Tamil, Tam), which is rendered by the Greek Didumos, a twin; if, therefore, the first woman was formed subsequently to the first man, she must, as a logical necessity, be “taken out of man.” Accordingly we read: “And the side which the Lord God [Elohim] had taken from man, made he a woman.” The Hebrew word here used is Tzala, which bears the translation we have given. It is easy to trace the legend in Berosus, who says that Thalatth (the Omorôka, or Lady of Urka) was the beginning of creation. She was also Telita [? Melita], the queen of the Moon….

Chính danh xưng Adam, hay con người, đã hàm ý hình thức tồn tại kép này. Nó đồng nhất với Athamas, hay Thomas trong Tamil là Tam, vốn được dịch sang tiếng Hy Lạp là Didumos, một cặp song sinh; do đó, nếu người nữ đầu tiên được tạo thành sau người nam đầu tiên, thì theo tất yếu luận lý, bà phải được “lấy ra từ người nam.” Theo đó chúng ta đọc: “Và bên sườn mà Đức Chúa Trời là Elohim đã lấy từ người nam, Ngài làm thành một người nữ.” Từ Hebrew được dùng ở đây là Tzala, mang cách dịch mà chúng tôi đã đưa ra. Dễ dàng truy ra truyền thuyết này trong Berosus, người nói rằng Thalatth, tức Omoroka, hay Phu nhân xứ Urka, là khởi đầu của sáng tạo. Bà cũng là Telita, có lẽ là Melita, nữ hoàng của Mặt Trăng….

The two memorable twin-births of Genesis, that of Cain and Abel, and of Esau and Jacob, shadow the same idea. The name Hebel is the same as Eve, and its characteristic seems to be feminine. “Unto thee shall be his desire,” said the Lord God to Cain; “and thou shalt rule over him.” The same language had been uttered to Eve: “Thy desire shall be to thy husband, and he shall rule over thee.”

Hai lần sinh đôi đáng ghi nhớ trong Sáng Thế Ký, Cain và Abel, cùng Esau và Jacob, đều phủ bóng cùng một ý tưởng. Tên Hebel giống như Eve, và đặc tính của nó dường như là nữ tính. “Dục vọng của y sẽ hướng về ngươi,” Đức Chúa Trời phán với Cain; “và ngươi sẽ cai trị y.” Cùng ngôn ngữ ấy đã được nói với Eve: “Dục vọng của ngươi sẽ hướng về chồng ngươi, và y sẽ cai trị ngươi.”

Thus the pristine bi-sexual unity of the human Third Root-Race is an axiom in the Secret Doctrine. Its virgin individuals were raised to “Gods,” because that Race represented their “Divine Dynasty.” The moderns are satisfied with worshipping the male heroes of the Fourth Race, who created Gods after their own sexual image, whereas the Gods of primeval mankind were “male and female.”

Như vậy, sự hợp nhất song tính nguyên sơ của Giống dân Gốc thứ ba thuộc nhân loại là một tiên đề trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Các cá thể đồng trinh của nó được nâng lên thành “các Thượng đế,” bởi Giống dân ấy đại diện cho “Triều đại Thiêng liêng” của các Ngài. Người hiện đại thỏa mãn với việc thờ phụng các anh hùng nam của Giống dân thứ tư, những người đã tạo ra các Thượng đế theo hình ảnh giới tính của chính họ, trong khi các Thượng đế của nhân loại nguyên sơ là “nam nữ.”

As stated in Volume I, the Humanities developed coördinately, and on parallel lines with the four Elements, every new Race being physiologically adapted to meet the additional Element. Our Fifth Race is rapidly approaching the Fifth Element—call it interstellar ether, if you will—which has more to do, however, with psychology than with physics. We men have learned to live in every climate, whether frigid or tropical, but the first two Races had nought to do with climate, nor were they subservient to any temperature or change therein. And thus, we are taught, men lived down to the close of the Third Root-Race, when eternal spring reigned over the whole Globe, such as is now enjoyed by the inhabitants of Jupiter; a world, which, as M. Camille Flammarion says: Is not subject like our own to the vicissitudes of seasons nor to abrupt alternations of temperature, but is enriched with all the treasures of eternal spring. 314

Như đã nói trong Quyển I, các Nhân loại đã phát triển đồng thời, và theo những đường song song với bốn Nguyên tố, mỗi Giống dân mới đều được thích nghi về mặt sinh lý để đáp ứng Nguyên tố bổ sung. Giống dân thứ năm của chúng ta đang nhanh chóng tiến gần đến Nguyên tố thứ năm—nếu muốn, các bạn có thể gọi nó là dĩ thái liên tinh tú—tuy nhiên nó liên quan đến tâm lý học nhiều hơn là vật lý học. Chúng ta, con người, đã học cách sống trong mọi khí hậu, dù băng giá hay nhiệt đới, nhưng hai Giống dân đầu tiên không liên quan gì đến khí hậu, cũng không lệ thuộc vào bất kỳ nhiệt độ hay biến đổi nào trong đó. Và như thế, chúng ta được dạy rằng con người đã sống cho đến cuối Giống dân Gốc thứ ba, khi mùa xuân vĩnh cửu ngự trị trên toàn thể bầu hành tinh, như hiện nay cư dân của Sao Mộc đang hưởng thụ; một thế giới mà, như ông Camille Flammarion nói: Không giống như thế giới của chúng ta, nó không chịu những thăng trầm của các mùa, cũng không có những thay đổi đột ngột về nhiệt độ, mà được làm phong phú bằng mọi kho tàng của mùa xuân vĩnh cửu.

Those Astronomers who maintain that Jupiter is in a molten condition, in our sense of the term, are invited to settle their dispute with this learned French Astronomer. 315 It must, however, be always borne in mind that the “eternal spring” referred to is only a condition cognized as such by the Jovians. It is not “spring,” as we know it. In this reservation is to be found the reconciliation between the two theories here cited. Both embrace partial truths.

Những Nhà thiên văn nào cho rằng Sao Mộc ở trong trạng thái nóng chảy, theo nghĩa chúng ta hiểu thuật ngữ ấy, được mời giải quyết cuộc tranh luận của họ với nhà Thiên văn học Pháp uyên bác này. Tuy nhiên, cần luôn ghi nhớ rằng “mùa xuân vĩnh cửu” được nói đến chỉ là một điều kiện được nhận thức như thế bởi cư dân Sao Mộc. Nó không phải là “mùa xuân,” như chúng ta biết. Chính trong sự dè dặt này có thể tìm thấy sự hòa giải giữa hai lý thuyết được trích dẫn ở đây. Cả hai đều bao hàm những chân lý một phần.

It is thus a universal tradition that mankind has evolved gradually into its present shape from an almost transparent condition of texture, and neither by miracle nor by sexual intercourse. Moreover, this is in full accord with the ancient Philosophies; from those of Egypt and India, with their Divine Dynasties, down to that of Plato. And all these universal beliefs must be classed with the “presentiments” and “obstinate conceptions,” some of them ineradicable, in popular faiths. Such beliefs, as remarked by Louis Figuier, are: Frequently the outcome of the wisdom and observation of an infinite number of generations of men…. [For], a tradition which has a uniform and universal existence, has all the weight of scientific testimony. 316

Vì vậy, đó là một truyền thống phổ quát rằng nhân loại đã tiến hoá dần dần thành hình dạng hiện nay từ một trạng thái cấu tạo gần như trong suốt, chứ không phải bằng phép lạ hay bằng giao hợp tính dục. Hơn nữa, điều này hoàn toàn phù hợp với các Triết học cổ đại; từ Ai Cập và Ấn Độ, với các Triều đại Thiêng liêng của họ, cho đến Plato. Và mọi niềm tin phổ quát ấy phải được xếp vào loại “linh cảm” và “quan niệm ngoan cố,” một số trong đó không thể nhổ tận gốc, trong tín ngưỡng dân gian. Như Louis Figuier nhận xét, những niềm tin như thế là: Thường là kết quả của minh triết và quan sát của vô số thế hệ con người…. Vì một truyền thống có sự tồn tại đồng nhất và phổ quát thì có toàn bộ sức nặng của chứng cứ khoa học.

And there is more than one such tradition in the Paurânic allegories, as has been shown. Moreover, the doctrine that the First Race of mankind was formed out of the Chhâyâs, or Astral Images, of the Pitris, is fully corroborated in the Zohar: In the Tzelem, shadow image of Elohim [the Pitris], He made Adam (man). 317

Và có hơn một truyền thống như thế trong các ẩn dụ Puranic, như đã được chứng minh. Hơn nữa, giáo lý rằng Giống dân đầu tiên của nhân loại được tạo thành từ các Chhayas, hay các Hình ảnh Cảm dục, của các Pitris, được xác chứng đầy đủ trong Zohar: Trong Tzelem, hình ảnh bóng của Elohim tức các Pitris, Ngài đã tạo Adam tức con người.

It has been repeatedly urged as an objection that, however high the degree of metaphysical thought in ancient India, yet the old Egyptians had nothing but crass idolatry and zoolatry to boast of; Hermes, as alleged, being the work of Greek Mystics who lived in Egypt. To this, an answer can be given: a direct proof that the Egyptians believed in the Secret Doctrine is, that it was taught to them at Initiation. Let the objectors open the Eclogæ Physicœ et Ethicæ of Stobæus, the Greek compiler of ancient fragments, who lived in the fifth century, a.d. The following is a transcription by him of an old Hermetic fragment, showing the Egyptian theory of the Soul. Translated word for word, it says: From one Soul, that of All, spring all the souls, which spread themselves as if purposely distributed through the world. These souls undergo many transformations; those which are already creeping creatures turn into aquatic animals; from these aquatic animals are derived land animals; and from the latter the birds. From the beings who live aloft in the air (heaven) men are born. On reaching that status of men, the souls receive the principle of (conscious) immortality, become spirits, then pass into the choir of Gods.

Người ta đã nhiều lần nêu ra như một phản bác rằng, dù tư tưởng siêu hình ở Ấn Độ cổ có đạt mức cao đến đâu, thì người Ai Cập cổ cũng chẳng có gì để tự hào ngoài sự sùng bái ngẫu tượng và sùng bái động vật thô thiển; còn Hermes, như người ta cáo buộc, là tác phẩm của các nhà thần bí Hy Lạp từng sống ở Ai Cập. Đối với điều này, có thể đưa ra một câu trả lời: một bằng chứng trực tiếp rằng người Ai Cập tin vào Giáo Lý Bí Nhiệm là nó đã được dạy cho họ trong Điểm đạo. Hãy để những người phản bác mở các Tuyển đoạn Vật lý và Đạo đức của Stobaeus, nhà biên soạn Hy Lạp các mảnh văn cổ, sống vào thế kỷ thứ năm sau Công nguyên. Sau đây là bản chép lại của ông từ một mảnh văn Hermetic cổ, cho thấy thuyết Ai Cập về Linh hồn. Dịch từng chữ, nó nói rằng: Từ một Linh hồn, Linh hồn của Tất cả, phát sinh mọi linh hồn, chúng tự lan tỏa như thể được cố ý phân bố khắp thế giới. Những linh hồn này trải qua nhiều chuyển đổi; những linh hồn đã là loài bò trườn thì chuyển thành động vật sống dưới nước; từ các động vật sống dưới nước này phát sinh động vật trên cạn; và từ các loài sau đó phát sinh chim chóc. Từ các sinh linh sống trên cao trong không khí tức trời, con người được sinh ra. Khi đạt đến địa vị con người, các linh hồn nhận nguyên khí bất tử có ý thức, trở thành các tinh thần, rồi đi vào đoàn thể các Thượng đế.

23. The Self-born were the Chhâyâs, the Shadows from the Bodies of the Sons of Twilight. Neither water nor fire could destroy them. Their sons were. 318

23. Những Đấng Tự sinh là các Chhayas, các Bóng từ Thân thể của các Con của Hoàng hôn. Nước lẫn lửa đều không thể hủy diệt họ. Các con của họ thì bị hủy diệt.

This verse cannot be understood without the help of the Commentaries. It means that the First Root-Race, the “Shadows” of the Progenitors, could not be injured, or destroyed by death. Being so ethereal and so little human in constitution, they could not be affected by any element—flood or fire. But their “Sons,” the Second Root-Race, could be and were so destroyed. As the Progenitors merged wholly in their own Astral Bodies, which were their progeny, so that progeny was absorbed in its descendants, the “Sweat-born.” These were the Second Humanity—composed of the most heterogeneous gigantic semi-human monsters—the first attempts of material nature at building human bodies. The ever-blooming lands (Greenland, among others) of the Second Continent were transformed, successively, from Edens with their eternal spring, into hyperborean Hades. This transformation was due to the displacement of the great waters of the Globe, to oceans changing their beds; and the bulk of the Second Race perished in this first great throe of the evolution and consolidation of the Globe during the human period. Of such great cataclysms there have already been four. 319 And we may expect a fifth for ourselves in due course of time.

Câu này không thể được thấu hiểu nếu không có sự trợ giúp của các Bình giảng. Nó có nghĩa là Giống dân Gốc thứ nhất, các “Bóng” của những Đấng Tổ tiên, không thể bị tổn thương hay bị hủy diệt bởi cái chết. Vì có cấu tạo quá dĩ thái và quá ít tính người, họ không thể bị bất kỳ nguyên tố nào—nước lũ hay lửa—tác động. Nhưng các “Con” của họ, Giống dân Gốc thứ hai, thì có thể bị hủy diệt và đã bị hủy diệt như thế. Như các Đấng Tổ tiên hòa nhập hoàn toàn vào các thể tinh tú của chính mình, vốn là hậu duệ của các Ngài, thì hậu duệ ấy cũng được hấp thu vào các hậu duệ của nó, những “kẻ sinh từ mồ hôi.” Đây là Nhân loại thứ hai—gồm những quái vật khổng lồ bán-nhân vô cùng dị loại—những nỗ lực đầu tiên của tự nhiên vật chất trong việc xây dựng các thể người. Những vùng đất luôn nở hoa, trong đó có Greenland, của Lục địa thứ hai, lần lượt được chuyển đổi từ những Eden với mùa xuân vĩnh cửu thành các Hades phương bắc cực. Sự chuyển đổi này do sự dịch chuyển của những khối nước lớn trên bầu hành tinh, do các đại dương đổi lòng; và phần lớn Giống dân thứ hai đã diệt vong trong cơn co thắt lớn đầu tiên này của sự tiến hoá và củng cố bầu hành tinh trong thời kỳ nhân loại. Những đại hồng tai như thế đã có bốn lần. Và đến đúng kỳ, chúng ta có thể trông đợi một lần thứ năm cho chính mình.

A Few Words About “Deluges” And “Noahs.”Vài lời về “Đại hồng thủy” và “Noah.”

The accounts in the various Purânas about our Progenitors are as contradictory, in their details, as everything else. Thus while, in the Rig Veda, Idâ, or Ilâ, is called the Instructress of Vaivasvata Manu, Sâyana makes of her a Goddess presiding over the Earth, and the Shatapatha Brâhmana shows her to be the Manu’s daughter, an offspring of his sacrifice, and later on, his (Vaivasvata’s) wife, by whom he begat the race of Manus. In the Purânas she is, again, Vaivasvata’s daughter, yet the wife of Budha (Wisdom), the illegitimate son of the Moon (Soma) and the planet Jupiter’s (Brihaspati’s) wife, Târâ. All this, which seems a jumble to the profane, is full of philosophical meaning to the Occultist. On the very face of the narrative a secret and sacred meaning is perceivable; all the details, however, being so purposely mixed up that the experienced eye of an Initiate alone can follow them and place the events in their proper order.

Các tường thuật trong những Purana khác nhau về các Đấng Tổ tiên của chúng ta cũng mâu thuẫn trong các chi tiết như mọi điều khác. Vì vậy, trong khi trong Rig Veda, Ida, hay Ila, được gọi là Nữ Huấn sư của Vaivasvata Manu, Sayana lại biến nàng thành một Nữ thần chủ quản Trái Đất, và Shatapatha Brahmana trình bày nàng là con gái của Manu, hậu duệ của sự hi sinh của ông, và về sau là vợ ông, tức Vaivasvata, người mà ông đã sinh ra giống dân Manu với nàng. Trong các Purana, nàng lại là con gái của Vaivasvata, nhưng là vợ của Budha tức Minh triết, đứa con không chính thức của Mặt Trăng Soma và vợ của hành tinh Sao Mộc Brihaspati, Tara. Tất cả điều này, vốn có vẻ là một mớ hỗn độn đối với kẻ phàm tục, lại đầy ý nghĩa triết học đối với nhà Huyền bí học. Ngay trên bề mặt của câu chuyện, người ta có thể nhận ra một ý nghĩa bí mật và thiêng liêng; tuy nhiên, mọi chi tiết đều được cố ý trộn lẫn đến mức chỉ con mắt từng trải của một Điểm đạo đồ mới có thể lần theo chúng và đặt các biến cố vào đúng trật tự của chúng.

The story as told in the Mahâbhârata strikes the key-note, and yet it needs to be explained by the secret sense contained in the Bhagavad Gîtâ. It is the prologue to the drama of our (Fifth) Humanity. While Vaivasvata was engaged in devotion on the river bank, a fish craves his protection from a bigger fish. He saves it and places it in a jar; where, growing larger and larger, it communicates to him the news of the forthcoming Deluge. This Fish is the well-known Matsya Avatâra, the first Avatâra of Vishnu, the Dagon 320 of the Chaldæan Xisuthrus, and many other things besides. The story is too well known to need repetition. Vishnu orders a ship to be built, in which Manu is saved along with the seven Rishis, according to the Mahâbhârata; this, however, being absent from other texts. Here the seven Rishis stand for the seven Races, the seven Principles, and various other things; for there is again a double mystery involved in this manifold allegory.

Câu chuyện như được kể trong Mahabharata đánh lên chủ âm, nhưng nó vẫn cần được giải thích bằng ý nghĩa bí mật chứa trong Bhagavad Gita. Nó là lời mở đầu cho vở kịch của Nhân loại thứ năm của chúng ta. Trong khi Vaivasvata đang chuyên tâm sùng kính bên bờ sông, một con cá cầu xin ông che chở khỏi một con cá lớn hơn. Ông cứu nó và đặt nó vào một cái bình; tại đó, khi lớn dần lên, nó báo cho ông tin về Đại hồng thủy sắp đến. Con Cá này là Matsya Avatara nổi tiếng, Đấng Hoá Thân đầu tiên của Vishnu, Dagon của Chaldea Xisuthrus, và còn nhiều điều khác nữa. Câu chuyện quá nổi tiếng nên không cần lặp lại. Vishnu ra lệnh đóng một con thuyền, trong đó Manu được cứu cùng với bảy Rishi, theo Mahabharata; tuy nhiên, chi tiết này vắng mặt trong các văn bản khác. Ở đây bảy Rishi tượng trưng cho bảy Giống dân, bảy Nguyên khí, và nhiều điều khác nữa; vì trong ẩn dụ đa diện này lại có một bí nhiệm kép liên quan.

We have said elsewhere that the Great Flood had several meanings, and that it referred, as also does the “Fall,” to both spiritual and physical, both cosmic and terrestrial, events: as above, so it is below. The Ship or Ark—Navis—in short, being the symbol of the female generative Principle, is typified in the heavens by the Moon, and on Earth by the Womb; both being the vessels and bearers of the seeds of life and being, which the Sun, or Vishnu, the male Principle, vivifies and fructifies. The First Cosmic Flood refers to Primordial Creation, or the formation of Heaven and the Earths; in which case Chaos and the great Deep stand for the “Flood,” and the Moon for the “Mother,” from whom proceed all the life-germs. 321 But the Terrestrial Deluge and its story has also its dual application. In one case it has reference to that mystery when mankind was saved from utter destruction, by the mortal woman being made the receptacle of the human seed at the end of the Third Race, 322 and in the other to the real and historical Atlantean Submersion. In both cases the “Host”—or the Manu which saved the “seed”—is called Vaivasvata Manu. Hence the diversity between the Paurânic and other versions; while in the Shatapatha Brâhmana, Vaivasvata produces a daughter and begets from her the race of Manu—a reference to the first human Manushyas, who had to create women by Will (Kriyâshakti), before they were naturally born from the Hermaphrodites as an independent sex, and were, therefore, regarded as their creator’s “daughters.” The Paurânic accounts make Idâ, or Ilâ, the wife of Budha (Wisdom). This version refers to the events of the Atlantean Flood, when Vaivasvata, the great Sage on Earth, saved the Fifth Root-Race from being destroyed along with the remnants of the Fourth.

Ở nơi khác, chúng ta đã nói rằng Đại Hồng Thủy có nhiều ý nghĩa, và cũng như “Sự Sa Ngã”, nó chỉ cả những biến cố tinh thần lẫn hồng trần, cả vũ trụ lẫn địa cầu: trên sao, dưới vậy. Con Tàu hay Chiếc Hòm—Navis—tóm lại, là biểu tượng của Nguyên khí sinh sản nữ tính, được tiêu biểu trên trời bởi Mặt Trăng, và trên Trái Đất bởi Tử Cung; cả hai đều là những chiếc bình chứa và mang các hạt giống của sự sống và hiện tồn, được Mặt Trời, hay Vishnu, Nguyên khí nam tính, làm cho sống động và thụ tinh. Đại Hồng Thủy Vũ Trụ Thứ Nhất chỉ Sáng Tạo Nguyên Thủy, hay sự hình thành Thiên Đàng và các Trái Đất; trong trường hợp ấy, Hỗn Mang và Vực Thẳm lớn tượng trưng cho “Hồng Thủy”, còn Mặt Trăng tượng trưng cho “Mẹ”, từ đó phát sinh mọi mầm sống. Nhưng trận Đại Hồng Thủy Trên Địa Cầu và câu chuyện về nó cũng có ứng dụng kép. Trong một trường hợp, nó liên quan đến bí nhiệm khi nhân loại được cứu khỏi sự hủy diệt hoàn toàn, nhờ người nữ hữu tử được làm thành nơi tiếp nhận hạt giống nhân loại vào cuối Giống dân thứ ba, và trong trường hợp kia, nó liên quan đến sự chìm đắm Atlantis có thật và thuộc lịch sử. Trong cả hai trường hợp, “Đoàn”—hay Đức Manu đã cứu “hạt giống”—được gọi là Vaivasvata Manu. Do đó có sự khác biệt giữa các phiên bản Puranic và những phiên bản khác; trong khi trong Shatapatha Brahmana, Vaivasvata sinh ra một người con gái và từ nàng sinh ra giống dân Manu—một ám chỉ đến những Manushyas đầu tiên của nhân loại, những người phải tạo ra phụ nữ bằng Ý Chí (Kriyashakti), trước khi họ được sinh ra một cách tự nhiên từ những hữu thể lưỡng tính như một giới tính độc lập, và vì thế được xem là “con gái” của những đấng tạo ra họ. Các tường thuật Puranic xem Ida, hay Ila, là vợ của Budha (Minh Triết). Phiên bản này chỉ những biến cố của Hồng Thủy Atlantis, khi Vaivasvata, vị Đại Hiền triết trên Trái Đất, đã cứu Giống dân gốc thứ năm khỏi bị hủy diệt cùng với những tàn dư của Giống dân thứ tư.

This is shown very clearly in the Bhagavad Gîtâ, where Krishna is made to say: The seven Great Rishis, the four preceding Manus, partaking of my essence, were born from my mind: from them sprang (was born) the human race and the world. 323

Điều này được trình bày rất rõ trong Bhagavad Gita, nơi Krishna được cho là đã nói: Bảy Đại Rishi, bốn vị Manu trước đó, cùng dự phần trong bản chất của ta, đã sinh ra từ trí của ta: từ các vị ấy phát sinh nhân loại và thế giới.

Here the four preceding Manus, out of the seven, are the four Races 324 which have already lived, for Krishna belongs to the Fifth Race, his death having inaugurated the Kali Yuga. Thus Vaivasvata Manu, the son of Sûrya, the Sun, and the Saviour of our Race, is connected with the “Seed of Life,” both physically and spiritually. But, at present, while speaking of all, we have to concern ourselves only with the first two.

Ở đây, bốn vị Manu trước đó, trong số bảy vị, là bốn Giống dân đã từng sống, vì Krishna thuộc Giống dân thứ năm, cái chết của Ngài đã mở đầu Kali Yuga. Như vậy, Vaivasvata Manu, con của Surya, Mặt Trời, và Đấng Cứu Độ của Giống dân chúng ta, được nối kết với “Hạt Giống Sự Sống”, cả về hồng trần lẫn tinh thần. Nhưng hiện nay, dù nói đến toàn bộ, chúng ta chỉ cần quan tâm đến hai điều đầu tiên.

The “Deluge” is undeniably a “universal tradition.” “Glacial Periods” were numerous, and so were the “Deluges,” for various reasons. Stockwell and Croll enumerate some half-dozen Glacial Periods and subsequent Deluges—the earliest of all being dated by them 850,000, and the last about 100,000 years ago. 325 But which was our Deluge? Assuredly the former, the one which to this date remains recorded in the traditions of all the peoples from the remotest antiquity; the one that finally swept away the last peninsulas of Atlantis, beginning with Ruta and Daitya and ending with the comparatively small island mentioned by Plato. This is shown by the agreement of certain details in all the legends. It was the last of its gigantic character. The little deluge, the traces of which Baron Bunsen found in Central Asia, and which he places at about 10,000 years b.c., had nothing to do with either the semi-universal Deluge, or Noah’s Flood—the latter being a purely mythical rendering of old traditions—nor even with the submersion of the last Atlantean island; or, at least, having with them only a moral connection.

“Đại Hồng Thủy” hiển nhiên là một “truyền thống phổ quát”. “Các Thời Kỳ Băng Hà” đã có nhiều, và “các Trận Hồng Thủy” cũng vậy, vì nhiều lý do khác nhau. Stockwell và Croll liệt kê khoảng nửa tá Thời Kỳ Băng Hà và các Trận Hồng Thủy tiếp theo—trận sớm nhất trong tất cả được họ định niên đại là 850.000 năm trước, và trận cuối cùng khoảng 100.000 năm trước. Nhưng trận nào là Hồng Thủy của chúng ta? Chắc chắn là trận trước, trận cho đến ngày nay vẫn còn được ghi lại trong truyền thống của mọi dân tộc từ thời cổ xưa nhất; trận cuối cùng đã cuốn sạch những bán đảo cuối cùng của Atlantis, bắt đầu với Ruta và Daitya và kết thúc với hòn đảo tương đối nhỏ được Plato nhắc đến. Điều này được chứng minh bởi sự tương đồng của một số chi tiết trong mọi truyền thuyết. Đó là trận cuối cùng có tính chất khổng lồ như vậy. Trận hồng thủy nhỏ, mà Nam tước Bunsen tìm thấy dấu vết ở Trung Á và đặt vào khoảng 10.000 năm trước Công nguyên, không liên quan gì đến Đại Hồng Thủy bán-phổ quát, hay Hồng Thủy của Noah—trận sau chỉ là một diễn dịch hoàn toàn huyền thoại của các truyền thống cổ—cũng không liên quan đến sự chìm đắm của hòn đảo Atlantis cuối cùng; hoặc ít nhất, chỉ có một mối liên hệ luân lý với chúng.

Our Fifth Race—the non-initiated portions of it—hearing of many Deluges, have confused them, and now know of but one. This one altered the whole aspect of the Globe in its interchange, and shifting, of land and sea.

Giống dân thứ năm của chúng ta—những bộ phận chưa được điểm đạo của nó—khi nghe nói về nhiều Trận Hồng Thủy, đã lẫn lộn chúng, và nay chỉ biết đến một trận. Trận này đã làm thay đổi toàn bộ diện mạo của bầu hành tinh trong sự hoán chuyển và dịch chuyển của đất liền và biển cả.

We may compare the tradition of the Peruvians that: The Incas, seven in number, have repeopled the earth after the deluge. 326

Chúng ta có thể so sánh với truyền thống của người Peru rằng: Các Inca, gồm bảy vị, đã tái dân cư hóa Trái Đất sau trận hồng thủy.

Humboldt mentions the Mexican version of the same legend, but confuses somewhat the details of the still-preserved legend concerning the American Noah. Nevertheless, the eminent Naturalist mentions twice seven companions and the “divine bird” which preceded the boat of the Aztecs, and thus makes fifteen elect instead of the seven and the fourteen. This was written probably under some involuntary reminiscence of Moses, who is said to have mentioned fifteen grandsons of Noah, who escaped with their grandsire. Then again Xisuthrus, the Chaldæan Noah, is saved and translated “alive” to heaven—like Enoch—with the seven Gods, the Kabirim, or the seven divine Titans. Again the Chinese Yao has seven figures which sail with him and which he will “animate” when he lands, and use for “human seed.” Osiris, when he enters the Ark, or Solar Boat, takes seven Rays with him, etc.

Humboldt nhắc đến phiên bản Mexico của cùng truyền thuyết ấy, nhưng phần nào lẫn lộn các chi tiết của truyền thuyết vẫn còn được lưu giữ về Noah của châu Mỹ. Tuy nhiên, nhà Tự nhiên học lỗi lạc ấy nhắc đến hai lần bảy bạn đồng hành và “con chim thiêng liêng” bay trước thuyền của người Aztec, và như vậy ông làm thành mười lăm người được chọn thay vì bảy và mười bốn. Điều này có lẽ được viết dưới một hồi tưởng vô thức nào đó về Moses, người được cho là đã nhắc đến mười lăm cháu trai của Noah, đã thoát nạn cùng với ông tổ của họ. Lại nữa, Xisuthrus, Noah của Chaldea, được cứu và được đưa “sống” lên trời—giống như Enoch—cùng với bảy Vị Thần, các Kabirim, hay bảy Titan thiêng liêng. Lại nữa, Yao của Trung Hoa có bảy hình tượng cùng đi thuyền với ông, và ông sẽ “làm cho chúng sống động” khi lên bờ, rồi dùng chúng làm “hạt giống nhân loại”. Osiris, khi bước vào Hòm, hay Thuyền Mặt Trời, mang theo bảy Tia, v.v.

Sanchuniathon makes the Aletæ or Titans (the Kabirim) contemporary with Agruerus, the great Phœnician God—whom Faber sought to identify with Noah; 327 further, it is suspected that the name “Titan” is derived from Tit-Ain,—the “fountains of the chaotic abyss” 328 (Tit-Theus, or Tityus is the “divine deluge”); and thus the Titans, who are seven, are shown to be connected with the Flood and the seven Rishis saved by Vaivasvata Manu. 329

Sanchuniathon xem các Aletae hay Titan (các Kabirim) là đồng thời với Agruerus, vị Thần Phoenicia vĩ đại—người mà Faber tìm cách đồng nhất với Noah; hơn nữa, người ta nghi ngờ rằng tên “Titan” bắt nguồn từ Tit-Ain—“các nguồn suối của vực thẳm hỗn mang” (Tit-Theus, hay Tityus là “đại hồng thủy thiêng liêng”); và như vậy, các Titan, vốn gồm bảy vị, được chứng tỏ là có liên hệ với Hồng Thủy và bảy Rishi được Vaivasvata Manu cứu.

These Titans are the sons of Kronos, Time, and Rhea, the Earth; and as Agruerus, Saturn and Sydyk are one and the same personage, and as the seven Kabiri are also said to be the sons of Sydyk or Kronos-Saturn, the Kabiri and Titans are identical. For once the pious Faber was right in his conclusions when he wrote: I have no doubt of the seven Titans or Cabiri being the same also as the seven Rishis of the Hindoo mythology (?), who are said to have escaped in a boat along with Menu the head (?) of the family. 330

Các Titan này là con của Kronos, Thời Gian, và Rhea, Trái Đất; và vì Agruerus, Saturn và Sydyk là một và cùng một nhân vật, và vì bảy Kabiri cũng được nói là con của Sydyk hay Kronos-Saturn, nên Kabiri và Titan là đồng nhất. Lần này, Faber ngoan đạo đã đúng trong các kết luận của ông khi viết: Tôi không nghi ngờ rằng bảy Titan hay Cabiri cũng chính là bảy Rishi của thần thoại Ấn Độ (?), những vị được nói là đã thoát nạn trên một chiếc thuyền cùng với Menu, người đứng đầu (?) gia tộc.

But he is less fortunate in his speculations when he adds: The Hindoos, in their wild legends have variously perverted the history of the Noachidæ (?!), yet it is remarkable that they seem to have religiously adhered to the number seven: 331 hence Capt. Wilford very judiciously observes, that, “perhaps, the seven Menus, the seven Brahmâdicas, with the seven Rishis, are the same, and make only seven individual persons. 332 The seven Brahmâdicas were prajâpatis, or lords of the prajas, or creatures. From them mankind was born, and they are probably the same with the seven Menus…. These seven grand ancestors of the human race were… created for the purpose of replenishing the earth with inhabitants.” 333 The mutual resemblance of the Cabiri, the Titans, the Rishis, and the Noetic family, is too striking to be the effect of mere accident. 334

Nhưng ông kém may mắn hơn trong các suy đoán của mình khi thêm rằng: Người Ấn Độ, trong những truyền thuyết hoang đường của họ, đã bóp méo theo nhiều cách lịch sử của Noachidae (?!), tuy nhiên điều đáng chú ý là dường như họ đã trung thành một cách tôn giáo với con số bảy: do đó Đại úy Wilford nhận xét rất khôn ngoan rằng, “có lẽ bảy Menu, bảy Brahmadicas, cùng với bảy Rishi, là như nhau, và chỉ tạo thành bảy cá nhân. Bảy Brahmadicas là các prajapatis, hay các chúa tể của những prajas, hay các sinh linh. Từ họ, nhân loại được sinh ra, và có lẽ họ đồng nhất với bảy Menu…. Bảy vị đại tổ tiên này của nhân loại đã được tạo ra nhằm mục đích làm cho Trái Đất lại đầy cư dân.” Sự tương đồng giữa Cabiri, Titan, Rishi và gia đình Noetic quá nổi bật để có thể là kết quả của ngẫu nhiên đơn thuần.

Faber was led into this mistake, and subsequently built his entire theory concerning the Kabiri, on the fact that the name of the scriptural Japhet is on the list of the Titans contained in a verse of the Orphic Hymns. According to Orpheus the names of the seven Arkite Titans—whom Faber refuses to identify with the impious Titans, their descendants—were Kœus, Krœus, Phorcys, Cronus, Oceanus, Hyperion, and Iapetus.

Faber đã rơi vào sai lầm này, và sau đó xây dựng toàn bộ lý thuyết của mình về Kabiri trên sự kiện rằng tên của Japhet trong thánh thư có trong danh sách các Titan chứa trong một câu của các Thánh ca Orpheus. Theo Orpheus, tên của bảy Titan Arkite—những vị mà Faber từ chối đồng nhất với các Titan bất kính, hậu duệ của họ—là Koeus, Kroeus, Phorcys, Cronus, Oceanus, Hyperion và Iapetus.

Κοιον τε, Κροιον τε μεγαν, Φορκυν τε κραταιον, Και Κρονον, Ὠκεανον θ᾽, Ὑπεριονα τ᾽, Ἰαπετον τε. 335  

Koeus và, Kroeus vĩ đại, Phorcys hùng mạnh, và Cronus, Oceanus, và Hyperion, cùng Iapetus.

But why could not the Babylonian Ezra have adopted the name of Iapetus for one of Noah’s sons? The Kabiri, who are the Titans, are also called Manes and their mother Mania, according to Arnobius. 336 The Hindûs can therefore claim with far more reason that the Manes mean their Manus, and that Mania is the female Manu of the Râmâyana. Mania is Ilâ, or Idâ, the wife and daughter of Vaivasvata Manu, from whom “he begat the race of Manus.” Like Rhea, the mother of the Titans, she is the Earth—Sâyana making her the Goddess of the Earth—and she is but the second edition and repetition of Vâch. Both Idâ and Vâch are turned into males and females; Idâ becoming Sudyumna, and Vâch, the “female Virâj,” turning into a woman in order to punish the Gandharvas; one version referring to cosmic and divine Theogony, the other to the later period. The Manes and Mania of Arnobius are names of Indian origin, appropriated by the Greeks and Latins and disfigured by them.

Nhưng tại sao Ezra xứ Babylon lại không thể đã nhận tên Iapetus cho một trong các con trai của Noah? Các Kabiri, vốn là các Titan, cũng được gọi là Manes, và mẹ của họ là Mania, theo Arnobius. Người Ấn Độ vì thế có thể tuyên bố với nhiều lý lẽ hơn rằng Manes có nghĩa là Manus của họ, và rằng Mania là Manu nữ trong Ramayana. Mania là Ila, hay Ida, vợ và con gái của Vaivasvata Manu, từ nàng “ông sinh ra giống dân Manus”. Giống như Rhea, mẹ của các Titan, nàng là Trái Đất—Sayana xem nàng là Nữ thần của Trái Đất—và nàng chỉ là ấn bản thứ hai và sự lặp lại của Vach. Cả Ida lẫn Vach đều được biến thành nam và nữ; Ida trở thành Sudyumna, và Vach, “Viraj nữ”, biến thành một người nữ để trừng phạt các Gandharvas; một phiên bản chỉ Thần phổ vũ trụ và thiêng liêng, phiên bản kia chỉ thời kỳ về sau. Manes và Mania của Arnobius là những tên có nguồn gốc Ấn Độ, được người Hy Lạp và La Mã chiếm dụng và làm biến dạng.

Thus it is no accident, but the result of one archaic doctrine, common to all, of which the Israelites, through Ezra, the author of the modernized Mosaic books, were the latest adapters. So unceremonious were they with other people’s property, that the Pseudo-Berosus, 337 shows that Titæa—of whom Diodorus Siculus 338 makes the mother of the Titans or Diluvians—was the wife of Noah. Faber calls him the “Pseudo-Berosus,” yet accepts the information in order to register one proof more that the Pagans have borrowed all their Gods from the Jews, by transforming patriarchal material. According to our humble opinion, this is one of the best proofs possible of exactly the reverse. It shows as clearly as facts can show, that it is the Biblical pseudo-personages which are all borrowed from Pagan myths, if myths they must be. It shows, at any rate, that Berosus was well aware of the source of Genesis, and that it bore the same cosmic astronomical character as the allegories of Isis-Osiris, and the Ark, and other older “Arkite” symbols. For, Berosus says that “Titæa Magna” was afterwards called Aretia, 339 and worshipped with the Earth; and this identifies Titæa, Noah’s consort, with Rhea, the Mother of the Titans, and with Idâ; both being Goddesses who preside over the Earth, and the Mothers of the Manus and Manes, or Titan-Kabiri. And Titæa-Aretia was worshipped as Horchia, says the same Berosus, and this is a title of Vesta, Goddess of the Earth.

Như vậy, đây không phải là ngẫu nhiên, mà là kết quả của một giáo lý cổ xưa chung cho tất cả, trong đó người Israel, qua Ezra, tác giả của các sách Mosaic đã được hiện đại hóa, là những người phỏng sửa muộn nhất. Họ đã đối xử quá tùy tiện với tài sản của các dân tộc khác, đến nỗi Pseudo-Berosus, cho thấy rằng Titaea—người mà Diodorus Siculus xem là mẹ của các Titan hay Diluvians—là vợ của Noah. Faber gọi ông là “Pseudo-Berosus,” nhưng lại chấp nhận thông tin ấy để ghi thêm một bằng chứng rằng người Ngoại giáo đã vay mượn tất cả các vị Thần của họ từ người Do Thái, bằng cách biến đổi chất liệu phụ hệ. Theo ý kiến khiêm tốn của chúng tôi, đây là một trong những bằng chứng tốt nhất có thể có cho điều hoàn toàn ngược lại. Nó cho thấy, rõ như sự kiện có thể cho thấy, rằng chính những nhân vật giả trong Kinh Thánh đều được vay mượn từ các huyền thoại Ngoại giáo, nếu nhất thiết phải gọi chúng là huyền thoại. Dù sao, nó cũng cho thấy rằng Berosus biết rõ nguồn gốc của Sáng Thế Ký, và rằng nó mang cùng tính chất vũ trụ-thiên văn như các ẩn dụ về Isis-Osiris, và Hòm, cùng những biểu tượng “Arkite” cổ hơn khác. Vì Berosus nói rằng “Titaea Magna” về sau được gọi là Aretia, và được tôn thờ cùng với Trái Đất; và điều này đồng nhất Titaea, phối ngẫu của Noah, với Rhea, Mẹ của các Titan, và với Ida; cả hai đều là các Nữ thần chủ trì Trái Đất, và là Mẹ của Manus và Manes, hay Titan-Kabiri. Và Titaea-Aretia được tôn thờ như Horchia, theo cùng Berosus, và đây là một danh hiệu của Vesta, Nữ thần của Trái Đất.

Sicanus deificavit Aretiam, et nominavit eam linguâ Janigenâ Horchiam. 340

Sicanus đã thần hóa Aretia, và gọi bà bằng ngôn ngữ Janigena là Horchia.

Scarcely an ancient poet of historic or prehistoric days fails to mention the sinking of the two continents—often called isles—in one form or another. Hence the destruction, besides Atlantis, of the Phlegyan Island. Pausanius and Nonnus both tell how: From its deep-rooted base the Phlegyan isle Stern Neptune shook, and plunged beneath the waves Its impious inhabitants. 341

Hầu như không một nhà thơ cổ đại nào của thời lịch sử hay tiền sử lại không nhắc đến sự chìm đắm của hai lục địa—thường được gọi là đảo—dưới hình thức này hay hình thức khác. Do đó có sự hủy diệt, ngoài Atlantis, của Đảo Phlegyan. Pausanius và Nonnus đều kể rằng: Từ nền móng ăn sâu của nó, Neptune nghiêm khắc đã làm rung chuyển đảo Phlegyan, và nhấn chìm dưới các làn sóng những cư dân bất kính của nó.

Faber felt convinced that the Phlegyan Island was Atlantis. But all such allegories are more or less distorted echoes of the Hindû tradition about that great Cataclysm, which befell the Fourth, really human, though gigantic, Race, the one which preceded the Âryan. Yet, as just said, like all other legends, the legend of the Deluge has more than one meaning. It refers, in Theogony, to pre-cosmic transformations, to spiritual correlations—however absurd the term may sound to a scientific ear—and also to subsequent Cosmogony; to the great Flood of Waters (Matter) in Chaos, awakened and fructified by those Spirit-Rays which were swamped by, and perished in, the mysterious differentiation—a pre-cosmic mystery, the Prologue to the drama of Being. Anu, Bel, and Noah preceded Adam Kadmon, Adam the Red, and Noah; just as Brahmâ, Vishnu, and Shiva preceded Vaivasvata and the rest. 342

Faber tin chắc rằng Đảo Phlegyan là Atlantis. Nhưng mọi ẩn dụ như thế đều ít nhiều là những tiếng vọng bị biến dạng của truyền thống Ấn Độ về Đại Biến Động ấy, đã giáng xuống Giống dân thứ tư, thật sự là nhân loại, tuy khổng lồ, giống dân đi trước Arya. Tuy nhiên, như vừa nói, giống như mọi truyền thuyết khác, truyền thuyết về Đại Hồng Thủy có hơn một ý nghĩa. Trong Thần phổ, nó chỉ các chuyển đổi tiền vũ trụ, các tương quan tinh thần—dù thuật ngữ này có thể nghe phi lý đến đâu đối với tai của nhà khoa học—và cũng chỉ Vũ trụ khởi nguyên về sau; chỉ Đại Hồng Thủy của Nước (Vật Chất) trong Hỗn Mang, được đánh thức và thụ tinh bởi những Tia Tinh Thần đã bị ngập chìm và tiêu vong trong sự biến phân huyền bí—một bí nhiệm tiền vũ trụ, Khúc Dạo Đầu cho vở kịch của Bản Thể. Anu, Bel và Noah đi trước Adam Kadmon, Adam Đỏ và Noah; cũng như Brahma, Vishnu và Shiva đi trước Vaivasvata và những vị còn lại.

All this goes to show that the semi-universal deluge known to Geology—the first Glacial Period—must have occurred just at the time allotted to it by the Secret Doctrine: namely, 200,000 years, in round numbers, after the commencement of our Fifth Race, or about the time assigned by Messrs. Croll and Stockwell for the first Glacial Period: i.e., about 850,000 years ago. Thus, as the latter disturbance is attributed by Geologists and Astronomers to “an extreme eccentricity of the earth’s orbit,” and as the Secret Doctrine attributes it to the same source, but with the addition of another factor, the shifting of the Earth’s axis—a proof of which may be found in the Book of Enoch, 343 if the veiled language of the Purânas be not understood—all this should tend to show that the Ancients knew something of the “modern discoveries” of Science. Enoch, when speaking of “the great inclination of the Earth,” which “is in travail,” is quite significant and clear.

Tất cả những điều này cho thấy rằng trận hồng thủy bán-phổ quát mà Địa chất học biết đến—Thời Kỳ Băng Hà thứ nhất—hẳn đã xảy ra đúng vào thời điểm mà Giáo Lý Bí Nhiệm ấn định cho nó: tức là, tính tròn, 200.000 năm sau khi Giống dân thứ năm của chúng ta bắt đầu, hay khoảng thời điểm mà các ông Croll và Stockwell gán cho Thời Kỳ Băng Hà thứ nhất: nghĩa là khoảng 850.000 năm trước. Như vậy, vì sự xáo trộn sau này được các nhà Địa chất học và Thiên văn học quy cho “một độ lệch tâm cực độ của quỹ đạo Trái Đất”, và vì Giáo Lý Bí Nhiệm quy nó cho cùng nguồn gốc ấy, nhưng thêm một yếu tố khác, sự dịch chuyển trục của Trái Đất—một bằng chứng cho điều này có thể tìm thấy trong Sách Enoch, nếu ngôn ngữ che phủ của các Purana không được thấu hiểu—tất cả những điều này hẳn có khuynh hướng cho thấy rằng Cổ nhân đã biết điều gì đó về các “khám phá hiện đại” của Khoa học. Enoch, khi nói về “độ nghiêng lớn của Trái Đất”, vốn “đang trong cơn sinh nở”, thì khá hàm ý và rõ ràng.

Is not this evident? Nuah is Noah, floating on the waters in his ark; the latter being the emblem of the Argha, or Moon, the feminine Principle; Noah is the “Spirit” falling into Matter. We find him, as soon as he descends upon the Earth, planting a vineyard, drinking of the wine, and getting drunk thereon, i.e., the pure Spirit becomes intoxicated as soon as it is finally imprisoned in Matter. The seventh chapter of Genesis is only another version of the first. Thus, while the latter reads: “And darkness was upon the face of the deep. And the Spirit of God moved upon the face of the waters”; in the former it is said: “And the waters prevailed;… and the ark went [with Noah, the Spirit] upon the face of the waters.” Thus Noah, if identical with the Chaldæan Nuah, is the Spirit vivifying Matter, which latter is Chaos, represented by the Deep, or the Waters of the Flood. In the Babylonian legend (the pre-cosmical blended with the terrestrial event) it is Istar (Ashteroth, or Venus, the Lunar Goddess) who is shut up in the ark and sends out a dove in search of dry land. 344

Điều này chẳng phải hiển nhiên sao? Nuah là Noah, trôi nổi trên nước trong chiếc hòm của mình; chiếc hòm sau là biểu tượng của Argha, hay Mặt Trăng, Nguyên khí nữ tính; Noah là “Tinh Thần” rơi vào Vật Chất. Chúng ta thấy ông, ngay khi ông đi xuống Trái Đất, trồng một vườn nho, uống rượu và say vì rượu ấy, nghĩa là Tinh Thần thuần khiết trở nên say đắm ngay khi cuối cùng bị giam hãm trong Vật Chất. Chương thứ bảy của Sáng Thế Ký chỉ là một phiên bản khác của chương thứ nhất. Như vậy, trong khi chương sau viết: “Và bóng tối ở trên mặt vực thẳm. Và Tinh Thần của Thượng đế vận hành trên mặt nước”; thì trong chương trước nói rằng: “Và nước dâng cao;… và chiếc hòm đi [cùng Noah, Tinh Thần] trên mặt nước.” Như vậy Noah, nếu đồng nhất với Chaldea Nuah, là Tinh Thần tiếp sinh lực cho Vật Chất, mà cái sau là Hỗn Mang, được tượng trưng bởi Vực Thẳm, hay Nước của Hồng Thủy. Trong truyền thuyết Babylon (tiền vũ trụ pha trộn với biến cố địa cầu), chính Istar (Ashteroth, hay Sao Kim, Nữ thần Mặt Trăng) bị nhốt trong hòm và thả chim bồ câu đi tìm đất khô.

George Smith notes in the “Tablets,” first the creation of the Moon, and then that of the Sun: “Its beauty and perfection are extolled, and the regularity of its orbit, which led to its being considered the type of a judge and the regulator of the world.” If this story related simply to a cosmogonical cataclysm-even were this latter universal-why should the goddess Istar or Ashteroth, the Moon, speak of the creation of the sun after the deluge? The waters might have reached as high as the mountain of Nizir of the Chaldæan version, or Jebel Djudi, the deluge mountains of the Arabian legend, or yet Ararat of the Biblical narrative, and even the Himalaya of the Hindû tradition, and yet not have reached the Sun; the Bibleitself stopped short of such a miracle! It is evident that the deluge to the people who first recorded it had another meaning, less problematical and far more philosophical than that of a universal deluge, of which there are no geological traces whatever. 345

George Smith ghi nhận trong các “Bản Khắc”, trước hết là sự sáng tạo Mặt Trăng, rồi đến sự sáng tạo Mặt Trời: “Vẻ đẹp và sự hoàn hảo của nó được tán dương, cũng như tính đều đặn của quỹ đạo nó, điều đã khiến nó được xem là kiểu mẫu của một vị thẩm phán và là bộ điều chỉnh của thế giới.” Nếu câu chuyện này chỉ đơn giản liên quan đến một đại biến động vũ trụ khởi nguyên—dù biến động sau này là phổ quát—thì tại sao nữ thần Istar hay Ashteroth, Mặt Trăng, lại nói về sự sáng tạo mặt trời sau trận hồng thủy? Nước có thể đã dâng cao đến núi Nizir trong phiên bản Chaldea, hay Jebel Djudi, những núi hồng thủy của truyền thuyết Ả Rập, hoặc Ararat trong trình thuật Kinh Thánh, và thậm chí Himalaya trong truyền thống Ấn Độ, nhưng vẫn không thể chạm đến Mặt Trời; chính Kinh Thánh cũng dừng lại trước một phép lạ như thế! Rõ ràng rằng trận hồng thủy đối với những người đầu tiên ghi lại nó có một ý nghĩa khác, ít đáng ngờ hơn và triết học hơn nhiều so với ý nghĩa của một trận hồng thủy phổ quát, mà hoàn toàn không có dấu vết địa chất nào.

As all such Cataclysms are periodical and cyclical, and as Manu Vaivasvata figures as a generic character, under various circumstances and events, there seems to be no serious objection to the supposition that the first “great flood” had an allegorical, as well as a cosmic meaning, and that it happened at the end of the Satya Yuga, the “Age of Truth,” when the Second Root-Race, “the Manu with bones,” made its primeval appearance as the “Sweat-born.”

Vì mọi Đại Biến Động như thế đều có tính chu kỳ và tuần hoàn, và vì Manu Vaivasvata xuất hiện như một nhân vật loại hình, dưới nhiều hoàn cảnh và biến cố khác nhau, dường như không có phản đối nghiêm trọng nào đối với giả định rằng “đại hồng thủy” đầu tiên có một ý nghĩa ẩn dụ cũng như vũ trụ, và rằng nó xảy ra vào cuối Satya Yuga, “Thời Đại Chân Lý”, khi Giống dân gốc thứ hai, “Manu có xương”, xuất hiện nguyên sơ như “Giống dân sinh từ Mồ Hôi”.

The Second Flood—the so-called “universal”—which affected the Fourth Root-Race—now conveniently regarded by Theology as “the accursed race of giants,” the Cainites, and the “sons of Ham”—is the flood which was first perceived by Geology. If one carefully compares the accounts in the various legends of the Chaldees and other exoteric works of the nations, it will be found that all of them agree with the orthodox narratives given in the Brâhmanical books. And it may be perceived that while, in the first account, “there is no God or mortal yet on Earth,” when Manu Vaivasvata lands on Himavân, in the second, the Seven Rishis are allowed to keep him company; thus showing that whereas some accounts refer to the Sidereal and Cosmic Flood before the so-called “Creation,” the others treat, one of the Great Flood of Matter on Earth, and the other of a real watery deluge. In the Shatapatha Brâhmana, Manu finds that the Flood had swept away all living creatures, and he alone was left—i.e., the seed of life alone remained from the previous Dissolution of the Universe, or Mahâpralaya, after a “Day of Brahmâ”; and the Mahâbhârata refers simply to the geological cataclysm which swept away nearly all the Fourth Race to make room for the Fifth. Therefore is Vaivasvata Manu shown under three distinct attributes in our Esoteric Cosmogony: 346 as the “Root-Manu,” on Globe A, in the First Round; (b) as the “Seed of Life,” on Globe D, in the Fourth Round; and (c) as the “Seed of Man,” at the beginning of every Root-Race—in our Fifth Race especially. The very commencement of the latter witnesses, during the Dvâpara Yuga, 347 the destruction of the accursed sorcerers; Of that island [Plato speaks only of its last island] beyond the Pillars of Hercules, in the Atlantic Ocean, from which there was an easy transition to other islands in the neighbourhood of another large continent [America].

Trận Hồng Thủy Thứ Hai—được gọi là “phổ quát”—đã tác động đến Giống dân gốc thứ tư—nay được Thần học tiện thể xem là “giống dân khổng lồ bị nguyền rủa”, người Cain, và “con cháu Ham”—là trận hồng thủy đầu tiên được Địa chất học nhận ra. Nếu người ta cẩn thận so sánh các tường thuật trong những truyền thuyết khác nhau của người Chaldea và các tác phẩm ngoại môn khác của các dân tộc, sẽ thấy rằng tất cả đều phù hợp với các trình thuật chính thống được đưa ra trong các sách Brahmanical. Và có thể nhận ra rằng trong khi ở tường thuật thứ nhất, “chưa có Thượng đế hay người hữu tử nào trên Trái Đất”, khi Manu Vaivasvata đặt chân lên Himavan, thì trong tường thuật thứ hai, Bảy Rishi được phép đồng hành với Ngài; qua đó cho thấy rằng trong khi một số tường thuật chỉ Hồng Thủy Thiên thể và Vũ trụ trước cái gọi là “Sáng Tạo”, thì những tường thuật khác bàn đến, một là Đại Hồng Thủy của Vật Chất trên Trái Đất, và một là một trận hồng thủy nước có thật. Trong Shatapatha Brahmana, Manu thấy rằng Hồng Thủy đã cuốn sạch mọi sinh linh, và chỉ còn lại một mình Ngài—nghĩa là chỉ hạt giống sự sống còn lại từ Cuộc Tan Rã Vũ Trụ trước đó, hay Mahapralaya, sau một “Ngày của Brahma”; còn Mahabharata chỉ đơn giản đề cập đến đại biến động địa chất đã cuốn sạch gần như toàn bộ Giống dân thứ tư để dọn chỗ cho Giống dân thứ năm. Vì thế Vaivasvata Manu được trình bày dưới ba thuộc tính phân biệt trong Vũ trụ khởi nguyên Nội môn của chúng ta: như “Manu Gốc”, trên Bầu A, trong Cuộc Tuần Hoàn thứ nhất; (b) như “Hạt Giống Sự Sống”, trên Bầu D, trong Cuộc Tuần Hoàn thứ tư; và (c) như “Hạt Giống của Con Người”, vào đầu mỗi Giống dân gốc—đặc biệt là trong Giống dân thứ năm của chúng ta. Chính sự khởi đầu của giống dân sau này chứng kiến, trong Dvapar Yuga, sự hủy diệt của những phù thủy bị nguyền rủa; Của hòn đảo ấy [Plato chỉ nói về hòn đảo cuối cùng của nó] ở bên kia các Cột trụ Hercules, trong Đại Tây Dương, từ đó có thể dễ dàng chuyển tiếp sang các đảo khác trong vùng lân cận của một lục địa lớn khác [châu Mỹ].

It is this Atlantic Land which was connected with the “White Island,” and this White Island was Ruta; but it was not the Atala and the “White Devil” of Colonel Wilford, 348 as already shown. It may well be remarked here that the Dvâpara Yuga lasts 864,000 years, according to the Sanskrit texts; and that, if the Kali Yuga began only about 5,000 years ago, that it is just 869,000 years since that destruction took place. Again, these figures are not very widely different from those given by the Geologists, who place their Glacial Period at 850,000 years ago.

Chính Vùng Đất Đại Tây Dương này đã được nối kết với “Đảo Trắng”, và Đảo Trắng này là Ruta; nhưng nó không phải là Atala và “Quỷ Trắng” của Đại tá Wilford, như đã được trình bày. Ở đây có thể nhận xét rằng Dvapar Yuga kéo dài 864.000 năm, theo các văn bản Sanskrit; và rằng, nếu Kali Yuga chỉ bắt đầu khoảng 5.000 năm trước, thì đúng là đã 869.000 năm kể từ khi sự hủy diệt ấy diễn ra. Một lần nữa, các con số này không khác xa lắm với các con số do các nhà Địa chất học đưa ra, những người đặt Thời Kỳ Băng Hà của họ vào 850.000 năm trước.

The Shatapatha then tells us that a woman was produced who came to Manu and declared herself his daughter, with whom he lived and begat the offspring of Manu. This refers to the physiological transformation of sexes during the Third Root-Race. And the allegory is too transparently clear to need much explanation. Of course, as already remarked, in the separation of sexes an androgyne being was supposed to divide his body into two halves—as in the case of Brahmâ and Vâch, and even of Adam and Eve—and thus the female is, in a certain sense, his daughter, just as he will be her son, “the flesh of his [and her] flesh and the bone of his [and her] bone.” Let it be also well remembered that not one of our Orientalists has yet learned to discern in those “contradictions and amazing nonsense,” as some call the Purânas, that a reference to a Yuga may mean a Round, a Root-Race, and often a sub-race, as well as form a page torn out of pre-cosmic Theogony. This double and triple meaning is proved by various references to one and the same individual apparently, under an identical name, while in reality the references are to events divided by entire Kalpas. A good instance is that of Ilâ. She is first represented as one thing and then as another. In the exoteric legends it is said that Manu Vaivasvata, desiring to create sons, instituted a sacrifice to Mitra and Varuna; but, through a mistake of the officiating Brâhman, a daughter only was obtained—Ilâ or Idâ. Then, “through the favour of the two deities,” her sex is changed and she becomes a man, Sudyumna. Then she is again turned into a woman, and so on; the fable adding that Shiva and his consort were pleased that “she should be a male one month and a female another.” This has a direct reference to the Third Root-Race, whose men were androgynes. But some very learned Orientalists 349 think and have declared that: Idâ is primarily food, nourishment, or a libation of milk; thence a stream of praise, personified as the goddess of speech.

Rồi Shatapatha kể cho chúng ta rằng một người nữ được sinh ra, đến với Manu và tuyên bố mình là con gái của Ngài, và Ngài sống với nàng rồi sinh ra dòng dõi Manu. Điều này chỉ sự chuyển đổi sinh lý của các giới tính trong Giống dân gốc thứ ba. Và ẩn dụ này quá rõ ràng minh bạch nên không cần giải thích nhiều. Dĩ nhiên, như đã nhận xét, trong sự phân chia giới tính, một hữu thể lưỡng tính được giả định là chia thể mình thành hai nửa—như trong trường hợp Brahma và Vach, và thậm chí Adam và Eve—và như vậy, theo một ý nghĩa nào đó, người nữ là con gái của y, cũng như y sẽ là con trai của nàng, “thịt của thịt y [và nàng] và xương của xương y [và nàng]”. Cũng cần nhớ kỹ rằng chưa một nhà Đông phương học nào của chúng ta học được cách phân biện trong những “mâu thuẫn và điều vô nghĩa đáng kinh ngạc”, như một số người gọi các Purana, rằng một ám chỉ đến một Yuga có thể hàm ý một Cuộc Tuần Hoàn, một Giống dân gốc, và thường là một giống dân phụ, cũng như có thể là một trang bị xé ra từ Thần phổ tiền vũ trụ. Ý nghĩa kép và tam phân này được chứng minh bằng nhiều ám chỉ khác nhau đến dường như cùng một cá nhân, dưới cùng một tên gọi, trong khi thực ra các ám chỉ ấy là đến những biến cố cách nhau bởi toàn bộ Kalpa. Một ví dụ tốt là trường hợp Ila. Nàng trước hết được trình bày như một điều này rồi sau đó như một điều khác. Trong các truyền thuyết ngoại môn, người ta nói rằng Manu Vaivasvata, vì muốn tạo ra các con trai, đã thiết lập một cuộc hiến tế cho Mitra và Varuna; nhưng do sai lầm của vị Brahman chủ lễ, chỉ có được một người con gái—Ila hay Ida. Rồi, “nhờ ân huệ của hai vị thần”, giới tính của nàng được đổi và nàng trở thành một người nam, Sudyumna. Rồi nàng lại biến thành một người nữ, và cứ thế; câu chuyện ngụ ngôn thêm rằng Shiva và phối ngẫu của Ngài hài lòng để “nàng là nam một tháng và nữ một tháng khác”. Điều này trực tiếp chỉ Giống dân gốc thứ ba, mà những người nam của nó là những hữu thể lưỡng tính. Nhưng một số nhà Đông phương học rất uyên bác nghĩ và đã tuyên bố rằng: Ida trước hết là thức ăn, dưỡng chất, hay một lễ rưới sữa; từ đó là một dòng ngợi ca, được nhân cách hóa thành nữ thần ngôn từ.

The “profane” are not told, however, the reason why “a libation of milk,” or “a stream of praise,” should be male and female by turn: unless, indeed, there is some “internal evidence” which the Occultists fail to perceive.

Tuy nhiên, người “phàm tục” không được cho biết lý do vì sao “một lễ rưới sữa”, hay “một dòng ngợi ca”, lại phải luân phiên là namnữ: trừ phi quả thật có một “bằng chứng nội tại” nào đó mà các nhà huyền bí học không nhận ra.

In its most mystical meaning, the union of Svâyambhuva Manu with Vâch-Shata-Rûpâ, his own daughter—this being the first “euhemerization” of the dual principle of which Vaivasvata Manu and Ilâ are a secondary and a third form—stands in cosmic symbolism as the Root-Life, the Germ from which spring all the Solar Systems, the Worlds, Angels and the Gods. For, as says Vishnu: From Manu all creation, gods, Asuras, man must be produced: By him the world must be created, that which moves and moveth not.

Theo ý nghĩa thần bí nhất, sự hợp nhất của Svayambhuva Manu với Vach-Shata-Rupa, con gái của chính Ngài—đây là lần “lịch sử hóa” đầu tiên của nguyên khí kép mà Vaivasvata Manu và Ila là hình thức thứ hai và thứ ba—trong biểu tượng vũ trụ, tượng trưng cho Sự Sống Gốc, Mầm từ đó phát sinh mọi hệ mặt trời, các Thế Giới, Thiên thần và các Thần. Vì, như Vishnu nói: Từ Manu, mọi sáng tạo, thần linh, Asura, con người phải được sinh ra: Bởi Ngài, thế giới phải được tạo dựng, những gì chuyển động và không chuyển động.

But we may find worse opponents than even the Western Scientists and Orientalists. If, on the question of figures, Brâhmans may agree with our teaching, we are not so sure that some of the orthodox conservatives may not raise objections to the modes of procreation attributed to their Pitri Devatâs. We shall be called upon to produce the works from which we quote, and we will invite them to read their own Purânas a little more carefully and with an eye to the esoteric meaning. And then, we repeat again, they will find, under the veil of more or less transparent allegories, every statement made herein corroborated by their own works. One or two instances have already been given as regards the appearance of the Second Race, which is called the “Sweat-born.” This allegory is regarded as a fairy-tale, and yet it conceals a psycho-physiological phenomenon, and one of the greatest mysteries of Nature.

Nhưng chúng ta có thể gặp những đối thủ còn tệ hơn cả các nhà Khoa học và Đông phương học phương Tây. Nếu, về vấn đề con số, các Brahman có thể đồng ý với giáo huấn của chúng ta, thì chúng ta không chắc một số người bảo thủ chính thống lại không nêu phản đối đối với các phương thức sinh sản được quy cho các Pitri Devata của họ. Chúng ta sẽ được yêu cầu đưa ra các tác phẩm mà từ đó chúng ta trích dẫn, và chúng ta sẽ mời họ đọc các Purana của chính họ cẩn thận hơn một chút và với con mắt hướng đến ý nghĩa nội môn. Và khi ấy, chúng tôi lại nhắc lại, dưới tấm màn của các ẩn dụ ít nhiều trong suốt, họ sẽ thấy mọi tuyên bố được đưa ra ở đây đều được chính các tác phẩm của họ xác nhận. Một hoặc hai ví dụ đã được đưa ra về sự xuất hiện của Giống dân thứ hai, được gọi là “Giống dân sinh từ Mồ Hôi”. Ẩn dụ này bị xem là chuyện thần tiên, nhưng nó che giấu một hiện tượng tâm-sinh lý, và một trong những bí nhiệm lớn nhất của Thiên Nhiên.

But in view of the chronological statements made herein, it is natural to ask: COULD MEN EXIST 18,000,000 YEARS AGO?

Nhưng xét theo những tuyên bố niên đại được nêu ở đây, tự nhiên người ta sẽ hỏi: CON NGƯỜI CÓ THỂ ĐÃ TỒN TẠI CÁCH ĐÂY 18.000.000 NĂM KHÔNG?

To this Occultism answers in the affirmative, notwithstanding all scientific objectors. Moreover, this duration covers only the Vaivasvata-Manu Man, i.e., the male and female entity already separated into distinct sexes. The two and a half Races that preceded that event may have lived 300,000,000 years ago for all that Science can tell. For the geological and physical difficulties in the way of the theory could not exist for the primeval, ethereal Man of the Occult Teachings. The whole issue of the quarrel between the Profane and the Esoteric Sciences depends upon the belief in, and demonstration of, the existence of an Astral Body within the Physical, the former independent of the latter. Paul d’Assier, the Positivist, seems to have proven the fact pretty plainly, 350 not to speak of the accumulated testimony of the ages, and that of the modern “Spiritualists” and Mystics. It will be found difficult to reject this fact in our age of proofs, tests, and ocular demonstrations.

Huyền bí học trả lời khẳng định, bất chấp mọi người phản bác thuộc giới khoa học. Hơn nữa, khoảng thời gian này chỉ bao hàm Con Người Vaivasvata-Manu, nghĩa là thực thể nam và nữ đã phân tách thành hai giới tính riêng biệt. Hai giống dân rưỡi đi trước biến cố ấy có thể đã sống cách đây 300.000.000 năm, theo tất cả những gì Khoa học có thể cho biết. Vì những khó khăn địa chất và hồng trần cản trở lý thuyết ấy không thể tồn tại đối với Con Người nguyên sơ, dĩ thái, của các Giáo huấn Huyền bí. Toàn bộ vấn đề tranh chấp giữa các Khoa học phàm tục và Khoa học Bí truyền tùy thuộc vào niềm tin nơi, và sự chứng minh về, sự tồn tại của một thể tinh tú bên trong Thể Xác, cái trước độc lập với cái sau. Paul d’Assier, nhà Thực chứng luận, dường như đã chứng minh sự kiện ấy khá rõ ràng, chưa kể đến chứng cứ tích lũy qua các thời đại, cũng như chứng cứ của các “nhà Thần linh học” và các nhà thần bí hiện đại. Trong thời đại của chứng cứ, thử nghiệm và biểu chứng bằng mắt thấy này, người ta sẽ thấy khó mà bác bỏ sự kiện ấy.

The Secret Doctrine maintains that, notwithstanding the general cataclysms and disturbances of the Fourth Round of our Globe, which—owing to its being the period of its greatest physical development, for the Fourth Round is the middle-point of the Life Cycle allotted to it—were far more terrible and intense than during any of the three preceding Rounds—the Cycles of its earlier psychic and spiritual life and of its semi-ethereal conditions—Physical Humanity has existed upon it for the last 18,000,000 years. 351 This period was preceded by 300,000,000 years of the mineral and vegetable development. To this, all those who refuse to accept the theory of a “boneless,” purely ethereal, man, will object. Science, which knows only of physical organisms, will feel indignant; and materialistic Theology still more so. The former will object on logical and reasonable grounds, based on the preconception that all animate organisms have always existed on the same plane of materiality in all the ages; the latter on a tissue of most absurd fictions. The ridiculous claim usually brought forward by Theologians is based on the virtual assumption that mankind (read Christians) on this Planet have the honour of being the only human beings in the whole Kosmos, who dwell on a Globe, and that they are consequently, the best of their kind. 352

Giáo Lý Bí Nhiệm khẳng định rằng, bất chấp những đại biến và xáo trộn chung của cuộc tuần hoàn thứ tư của bầu hành tinh chúng ta, vốn—do đó là thời kỳ phát triển hồng trần lớn nhất của nó, vì cuộc tuần hoàn thứ tư là Điểm ở giữa của Chu kỳ Sự sống được dành cho nó—khủng khiếp và mãnh liệt hơn nhiều so với bất cứ cuộc tuần hoàn nào trong ba cuộc tuần hoàn trước, tức những chu kỳ của đời sống thông linh và tinh thần trước kia của nó cùng các tình trạng bán-dĩ thái của nó—Nhân loại hồng trần đã tồn tại trên đó trong 18.000.000 năm qua. Trước thời kỳ này là 300.000.000 năm phát triển của giới kim thạch và giới thực vật. Tất cả những ai từ chối chấp nhận lý thuyết về một con người “không xương”, thuần dĩ thái, sẽ phản đối điều này. Khoa học, vốn chỉ biết đến các cơ thể hồng trần, sẽ phẫn nộ; và Thần học duy vật còn phẫn nộ hơn nữa. Khoa học sẽ phản đối trên những căn cứ hợp lý và hữu lý, dựa trên định kiến rằng mọi cơ thể hữu sinh luôn luôn tồn tại trên cùng một cõi vật chất tính trong mọi thời đại; còn Thần học thì dựa trên một mạng lưới những hư cấu hết sức phi lý. Luận điệu lố bịch thường được các nhà Thần học đưa ra dựa trên giả định ngầm rằng nhân loại, hãy đọc là tín đồ Cơ Đốc, trên Hành tinh này có vinh dự là những con người duy nhất trong toàn thể Vũ trụ cư ngụ trên một bầu hành tinh, và do đó là loại tốt đẹp nhất trong giống loài của họ.

The Occultists, who believe firmly in the teachings of the Mother-Philosophy, repel the objections of both Theologians and Scientists. They maintain, on their side, that, even during those periods when there must have been insufferable heat, even at the two poles, with successive floods, upheaval of the valleys and constant shifting of the great waters and seas, none of these circumstances could form an impediment to human life and organization, such as is assigned by them to early mankind. Neither the heterogeneity of ambient regions, full of deleterious gases, nor the perils of a crust hardly consolidated, could prevent the First and Second Races from making their appearance even during the Carboniferous, or the Silurian Age itself.

Các nhà huyền bí học, những người tin chắc vào giáo huấn của Triết học Mẹ, bác bỏ những phản đối của cả các nhà Thần học lẫn các nhà Khoa học. Về phía mình, họ khẳng định rằng, ngay cả trong những thời kỳ hẳn phải có sức nóng không thể chịu nổi, ngay cả tại hai cực, với những trận lụt nối tiếp, sự trồi lên của các thung lũng và sự dịch chuyển liên tục của các khối nước lớn và biển cả, không hoàn cảnh nào trong số đó có thể tạo thành chướng ngại cho sự sống và tổ chức của con người, loại được họ quy cho nhân loại sơ khai. Cả tính dị biệt của các vùng bao quanh, đầy những khí độc hại, lẫn những hiểm nguy của một lớp vỏ hầu như chưa đông cứng, đều không thể ngăn cản Giống dân thứ nhất và thứ hai xuất hiện ngay trong Kỷ Than Đá, hay chính Kỷ Silur.

Thus the Monads destined to animate future Races were ready for the new transformation. They had passed their phases of “immetalization,” of plant and animal life, from the lowest to the highest, and were waiting for their human, more intelligent form. Yet what could the Plastic Modellers do but follow the laws of evolutionary Nature? Could they, as claimed by the biblical dead-letter, form, “Lord-God”-like, or as Pygmalion in the Greek allegory, Adam-Galatea out of volcanic dust, and breathe a “Living Soul” into Man? No; because the Soul was already there, latent in its Monad, and needed but a “coating.” Pygmalion, who fails to animate his statue, and Bahak Zivo of the Nazaræan Gnostics, who fails to construct “a human soul in the creature,” are, as conceptions, far more philosophical and scientific than Adam, taken in the dead-letter sense, or the biblical Elohim-Creators. Esoteric Philosophy, which teaches spontaneous generation—after the Shishta and Prajâpati have thrown the seed of life on the Earth—shows the Lower Angels able to construct physical man only, even with the help of Nature, after having evolved the Ethereal Form out of themselves, and leaving the physical form to evolve gradually from its ethereal, or what would now be called, protoplasmic, model.

Như vậy, các chân thần được định để làm sinh động các Giống dân tương lai đã sẵn sàng cho sự chuyển đổi mới. Các ngài đã trải qua những giai đoạn “kim thạch hóa”, đời sống thực vật và động vật, từ thấp nhất đến cao nhất, và đang chờ hình tướng nhân loại, thông minh hơn, của mình. Tuy nhiên, các Nhà Tạo Mẫu Dẻo có thể làm gì ngoài việc tuân theo các định luật của Thiên nhiên tiến hoá? Liệu các ngài có thể, như nghĩa đen chết cứng của Kinh Thánh tuyên bố, tạo hình, giống “Chúa-Thượng đế”, hay như Pygmalion trong ẩn dụ Hy Lạp, một Adam-Galatea từ bụi núi lửa, rồi thổi một “Linh hồn Sống” vào Con Người chăng? Không; bởi vì linh hồn đã ở đó rồi, tiềm tàng trong chân thần của nó, và chỉ cần một “lớp phủ”. Pygmalion, người không thể làm linh hoạt pho tượng của mình, và Bahak Zivo của các nhà Ngộ đạo Nazarene, người không thể kiến tạo “một linh hồn con người trong sinh vật”, với tư cách các quan niệm, còn triết học và khoa học hơn nhiều so với Adam được hiểu theo nghĩa đen chết cứng, hay các Elohim-Sáng tạo của Kinh Thánh. Triết học Bí truyền, vốn dạy về sự phát sinh tự nhiên—sau khi Shishta và Prajapati đã gieo hạt giống sự sống trên Trái Đất—cho thấy các Thiên thần thấp chỉ có thể kiến tạo con người hồng trần, ngay cả với sự trợ giúp của Thiên nhiên, sau khi đã tiến hoá Hình tướng Dĩ thái ra từ chính mình, và để cho hình tướng hồng trần tiến hoá dần dần từ mô hình dĩ thái, hay cái nay được gọi là nguyên sinh chất, của nó.

This will again be objected to; “spontaneous generation” is an exploded theory, we shall be told. Pasteur’s experiments disposed of it twenty years ago, and Professor Tyndall is against it. Well, suppose he is? He ought to know that, should spontaneous generation be indeed proven impossible in our present world-period and actual conditions—which the Occultists deny—still it would be no demonstration that it could not have taken place under different cosmic conditions, not only in the seas of the Laurentian Period, but even on the then convulsed Earth. It would be interesting to know how Science could ever account for the appearance of species and life on Earth, especially of Man, once that she rejects both the biblical teachings and spontaneous generation. Pasteur’s observations, however, are far from being perfect or proven. Blanchard and Dr. Lutaud reject their importance, and, in fact, show that they have none. The question is so far left sub judice, as well as the other as to when, at what period, life appeared on the Earth? As to the idea that Hæckel’s Moneron—a pinch of salt!—has solved the problem of the origin of life; it is simply absurd. Those Materialists, who feel inclined to pooh-pooh the theory of the “Self-existent,” the “Self-born Heavenly Man,” represented as an Ethereal, Astral Man, must excuse even a tyro in Occultism laughing, in his turn, at some speculations of Modern Thought. After proving most learnedly that the primitive speck of Protoplasm (Moneron) is neither animal nor plant, but both, and that it has no ancestors among either of these, since it is that Moneron which serves as a point of departure for all organized existence, we are finally told that the Monera are their own ancestors. This may be very scientific, but it is very metaphysical also; too much so, even for the Occultist.

Điều này sẽ lại bị phản đối; người ta sẽ nói với chúng ta rằng “sự phát sinh tự nhiên” là một lý thuyết đã bị bác bỏ. Những thí nghiệm của Pasteur đã loại bỏ nó hai mươi năm trước, và Giáo sư Tyndall chống lại nó. Vậy thì, cứ giả sử ông ấy chống lại nó thì sao? Ông ấy hẳn phải biết rằng, nếu sự phát sinh tự nhiên quả thật được chứng minh là bất khả trong chu kỳ thế giới hiện nay và dưới các điều kiện hiện tại của chúng ta—điều mà các nhà huyền bí học phủ nhận—thì điều đó vẫn không chứng minh rằng nó không thể đã diễn ra dưới những điều kiện vũ trụ khác, không chỉ trong các biển của Kỷ Laurentia, mà ngay cả trên Trái Đất khi ấy đang chấn động dữ dội. Sẽ rất thú vị nếu biết Khoa học có thể giải thích thế nào về sự xuất hiện của các loài và sự sống trên Trái Đất, đặc biệt là Con Người, một khi Khoa học bác bỏ cả giáo huấn Kinh Thánh lẫn sự phát sinh tự nhiên. Tuy nhiên, các quan sát của Pasteur còn rất xa mới hoàn hảo hay được chứng minh. Blanchard và Tiến sĩ Lutaud bác bỏ tầm quan trọng của chúng, và thực tế cho thấy chúng không có tầm quan trọng nào. Cho đến nay, vấn đề này vẫn còn bỏ ngỏ, cũng như vấn đề khác là khi nào, vào thời kỳ nào, sự sống đã xuất hiện trên Trái Đất. Còn về ý tưởng rằng Moneron của Haeckel—một nhúm muối!—đã giải quyết được vấn đề nguồn gốc sự sống, thì điều đó đơn giản là phi lý. Những nhà Duy vật cảm thấy có khuynh hướng chế nhạo lý thuyết về “Đấng Tự hữu”, “Đấng Thiên Nhân Tự sinh”, được trình bày như một Con Người Dĩ thái, Cảm dục, hẳn phải tha thứ cho ngay cả một người mới nhập môn Huyền bí học khi đến lượt y bật cười trước một vài suy đoán của Tư tưởng Hiện đại. Sau khi chứng minh một cách hết sức uyên bác rằng hạt nguyên sinh chất nguyên thủy, Moneron, không phải động vật cũng không phải thực vật, mà là cả hai, và rằng nó không có tổ tiên trong bất cứ giới nào trong hai giới ấy, vì chính Moneron đó là điểm khởi đầu của toàn thể tồn tại có tổ chức, cuối cùng người ta lại bảo chúng ta rằng các Monera là tổ tiên của chính chúng. Điều này có thể rất khoa học, nhưng cũng rất siêu hình; quá siêu hình, ngay cả đối với nhà huyền bí học.

If spontaneous generation has changed its methods now—owing, perhaps, to accumulated material on hand—so as to almost escape detection, it was, nevertheless, in full swing in the genesis of terrestrial life. Even the simple physical form and the evolution of species show how Nature proceeds. The scale-bound, gigantic Saurian, the winged Pterodactyl, the Megalosaurus, and the hundred feet long Iguanodon of the later period, are the transformations of the earliest representatives of the animal kingdom found in the sediments of the primary epoch. There was a time when all the above enumerated “antediluvian” monsters appeared as filamentoid Infusoria without shell or crust, with neither nerves, muscles, organs nor sex, and reproduced their kind by gemmation; as do microscopical animals also, the architects and builders of our mountain ranges, agreeably to the teachings of Science. Why not man in this case? Why should he not have followed the same law in his growth, i.e., gradual condensation? Every unprejudiced person would prefer to believe that Primeval Humanity had at first an Ethereal—or, if so preferred, a huge filamentoid, jelly-like Form, evolved by Gods or natural “Forces,” which grew, condensed throughout millions of ages, and became gigantic in its physical impulse and tendency, until it settled into the huge, physical form of the Fourth Race Man—rather than believe him created of the dust of the Earth (literally), or from some unknown anthropoid ancestor.

Nếu sự phát sinh tự nhiên hiện nay đã thay đổi phương pháp của nó—có lẽ do vật liệu tích lũy sẵn có—đến mức hầu như thoát khỏi sự phát hiện, thì dẫu vậy, nó đã từng vận hành mạnh mẽ trong sự phát sinh của sự sống trên địa cầu. Ngay cả hình tướng hồng trần đơn giản và sự tiến hoá của các loài cũng cho thấy Thiên nhiên tiến hành ra sao. Loài bò sát khổng lồ phủ vảy, Pterodactyl có cánh, Megalosaurus, và Iguanodon dài một trăm bộ của thời kỳ về sau, là những chuyển đổi của các đại diện sớm nhất của giới động vật được tìm thấy trong trầm tích của kỷ nguyên sơ cấp. Đã có một thời khi tất cả những “quái vật tiền hồng thủy” vừa được liệt kê ở trên xuất hiện dưới dạng Trùng cỏ dạng sợi, không vỏ, không giáp, không dây thần kinh, cơ bắp, cơ quan hay giới tính, và sinh sản đồng loại bằng cách nảy chồi; cũng như các động vật hiển vi, những kiến trúc sư và đấng kiến tạo các dãy núi của chúng ta, đúng theo giáo huấn của Khoa học. Vậy tại sao con người lại không như thế trong trường hợp này? Tại sao y lại không tuân theo cùng một định luật trong sự tăng trưởng của mình, nghĩa là sự cô đặc dần dần? Mọi người không thành kiến hẳn sẽ thích tin rằng Nhân loại Nguyên sơ lúc đầu có một Hình tướng Dĩ thái—hoặc, nếu muốn nói vậy, một hình tướng khổng lồ dạng sợi, giống thạch—do các Thượng đế hay các “Mãnh lực” tự nhiên tiến hoá nên, hình tướng ấy lớn lên, cô đặc qua hàng triệu thời đại, và trở nên khổng lồ trong xung lực và khuynh hướng hồng trần của nó, cho đến khi an định vào hình tướng hồng trần đồ sộ của Con Người Giống dân thứ tư—hơn là tin rằng y được tạo ra từ bụi của Trái Đất theo nghĩa đen, hay từ một tổ tiên nhân hình nào đó không biết.

Nor does our Esoteric theory clash with scientific data, except on first appearance, as Dr. A. Wilson, F.R.S., says, in a letter to Knowledge (Dec. 23, 1881):

Lý thuyết Bí truyền của chúng ta cũng không xung đột với dữ liệu khoa học, ngoại trừ vẻ ngoài ban đầu, như Tiến sĩ A. Wilson, Hội viên Hội Hoàng gia, nói trong một bức thư gửi Knowledge ngày 23 tháng 12 năm 1881:

Evolution—rather nature, in the light of evolution—has only been studied for some twenty-five years or so. That is, of course, a mere fractional space in the history of human thought.

Tiến hoá—hay đúng hơn là thiên nhiên, dưới ánh sáng của tiến hoá—chỉ mới được nghiên cứu trong khoảng hai mươi lăm năm hay chừng ấy. Dĩ nhiên, đó chỉ là một khoảng thời gian rất nhỏ trong lịch sử tư tưởng nhân loại.

And just because of this we do not lose all hope that Materialistic Science will amend its ways, and will gradually accept the Esoteric Teachings—if even at first divorced from their (to Science) too metaphysical elements.

Và chính vì điều này, chúng ta không mất hết hy vọng rằng Khoa học Duy vật sẽ sửa đổi đường lối của mình, và dần dần sẽ chấp nhận các Giáo huấn Bí truyền—dù lúc đầu có thể tách rời khỏi những yếu tố quá siêu hình đối với Khoa học.

Has the last word on the subject of human evolution yet been said? As Processor Huxley says: Each such answer to the great question [man’s real place in nature], invariably asserted by the followers of its propounder, if not by himself, to be complete and final, remains in high authority and esteem, it may be for one century, it may be for twenty: but, as invariably, Time proves each reply to have been a mere approximation to the truth—tolerable chiefly on account of the ignorance of those by whom it was accepted, and wholly intolerable when tested by the larger knowledge of their successors. 353

Lời cuối cùng về đề tài tiến hoá của con người đã được nói ra chưa? Như Giáo sư Huxley nói: Mỗi câu trả lời như thế cho vấn đề lớn, tức vị trí thật sự của con người trong thiên nhiên, luôn luôn được những người theo người đề xướng nó, nếu không phải bởi chính ông, khẳng định là trọn vẹn và chung quyết, vẫn giữ uy tín và sự kính trọng cao, có thể trong một thế kỷ, có thể trong hai mươi thế kỷ; nhưng, cũng luôn luôn như thế, Thời gian chứng minh mỗi câu trả lời chỉ là một sự xấp xỉ chân lý—chủ yếu còn chấp nhận được nhờ sự vô minh của những người đã chấp nhận nó, và hoàn toàn không thể chấp nhận khi được thử bằng tri thức rộng lớn hơn của những người kế thừa họ.

Will this eminent Darwinian admit the possibility of his “Pithecoid Ancestry” being assignable to the list of “wholly intolerable beliefs,” in the “larger knowledge” of Occultists? But whence the savage? Mere “rising to the civilized state” does not account for the evolution of form.

Liệu nhà Darwin luận lỗi lạc này có thừa nhận khả năng “Tổ tiên dạng vượn” của ông có thể được xếp vào danh sách “những niềm tin hoàn toàn không thể chấp nhận”, trong “tri thức rộng lớn hơn” của các nhà huyền bí học chăng? Nhưng người dã man từ đâu mà có? Chỉ “vươn lên trạng thái văn minh” không giải thích được sự tiến hoá của hình tướng.

In the same letter, “The Evolution of Man,” Dr. Wilson makes other strange confessions. Thus, he observes, in answer to the queries put to Knowledge, by “G. M.”: “Has evolution effected any change in man? If so, what change? If not, why not?”… If we refuse to admit [as science does] that man was created a perfect being, and then became degraded, there exists only another supposition—that of evolution. If man has arisen from a savage to a civilized state, that surely is evolution. We do not yet know because such knowledge is difficult to acquire, if the human frame is subject to the same influences as those of lower animals. But there is little doubt that elevation from savagery to civilized life means and implies “evolution,”and that of considerable extent. Mentally, man’s evolution cannot be doubted; the ever-widening sphere of thought has sprung from small and rude beginnings, like language itself. But man’s ways of life, his power of adaptation to his surroundings, and countless other circumstances, have made the facts and course of his “evolution” very difficult to trace.

Trong cùng bức thư, “Sự Tiến hoá của Con Người”, Tiến sĩ Wilson đưa ra những thú nhận kỳ lạ khác. Như vậy, ông nhận xét, khi trả lời những câu hỏi do “G. M.” nêu với Knowledge: “Tiến hoá có tạo ra thay đổi nào nơi con người không? Nếu có, thay đổi gì? Nếu không, tại sao không?”… Nếu chúng ta từ chối thừa nhận, như khoa học vẫn làm, rằng con người được tạo ra như một hữu thể hoàn hảo, rồi sau đó trở nên suy đồi, thì chỉ còn một giả định khác—giả định về tiến hoá. Nếu con người đã vươn lên từ trạng thái dã man đến trạng thái văn minh, thì chắc chắn đó là tiến hoá. Chúng ta chưa biết, vì tri thức như thế khó đạt được, liệu khung thể con người có chịu cùng những ảnh hưởng như khung thể các động vật thấp hơn hay không. Nhưng ít có nghi ngờ rằng sự nâng lên từ man dã đến đời sống văn minh hàm nghĩa và ngụ ý “tiến hoá”, và là tiến hoá ở mức đáng kể. Về trí tuệ, không thể nghi ngờ sự tiến hoá của con người; phạm vi tư tưởng ngày càng mở rộng đã nảy sinh từ những khởi đầu nhỏ bé và thô sơ, giống như chính ngôn ngữ. Nhưng những lối sống của con người, năng lực thích nghi với môi trường chung quanh, và vô số hoàn cảnh khác, đã khiến các sự kiện và tiến trình “tiến hoá” của y rất khó truy nguyên.

This very difficulty ought to make the Evolutionists more cautious in their affirmations. But why is evolution impossible, if “man was created a perfect being, and then became degraded”? At best it can only apply to the outward, physical man. As remarked in Isis Unveiled, Darwin’s evolution begins at the middle point, instead of commencing for man, as for everything else, from universals. The Aristotle-Baconian method may have its advantages, but it has, undeniably, already demonstrated its defects. Pythagoras and Plato, who proceeded from universals downwards, are now shown more learned, in the light of Modern Science, than was Aristotle. For the latter opposed and denounced the idea of the revolution of the Earth and even of its rotundity, when writing: Almost all those who affirm that they have studied heaven in its uniformity, claim that the earth is in the centre, but the philosophers of the Italian School, otherwise called the Pythagoreans, teach entirely the contrary.

Chính khó khăn này lẽ ra phải khiến các nhà Tiến hoá luận thận trọng hơn trong những khẳng định của họ. Nhưng tại sao tiến hoá lại bất khả, nếu “con người được tạo ra như một hữu thể hoàn hảo, rồi sau đó trở nên suy đồi”? Cùng lắm, điều đó chỉ có thể áp dụng cho con người bên ngoài, hồng trần. Như đã nhận xét trong Isis Unveiled, tiến hoá của Darwin bắt đầu ở điểm giữa, thay vì khởi đầu đối với con người, cũng như đối với mọi sự khác, từ các phổ quát. Phương pháp Aristotle-Bacon có thể có những ưu điểm của nó, nhưng không thể phủ nhận rằng nó đã chứng minh những khiếm khuyết của mình. Pythagoras và Plato, những người tiến hành từ các phổ quát đi xuống, nay được chứng tỏ là uyên bác hơn, dưới ánh sáng Khoa học Hiện đại, so với Aristotle. Vì Aristotle đã chống đối và lên án ý tưởng về sự quay của Trái Đất và ngay cả tính cầu của nó, khi viết: Hầu như tất cả những ai khẳng định rằng họ đã nghiên cứu bầu trời trong tính đồng nhất của nó đều cho rằng trái đất ở trung tâm, nhưng các triết gia của Trường phái Ý, còn gọi là phái Pythagoras, lại dạy hoàn toàn ngược lại.

This, because the Pythagoreans were Initiates, and followed the deductive method. Whereas Aristotle, the father of the inductive system, complained of those who taught that: The centre of our system was occupied by the sun, and the earth was only a star, which by a rotatory motion around the same centre, produces night and day. 354

Điều này là vì các môn đồ Pythagoras là các điểm đạo đồ, và họ theo phương pháp diễn dịch. Trong khi đó Aristotle, cha đẻ của hệ thống quy nạp, phàn nàn về những người dạy rằng: Trung tâm hệ thống của chúng ta do mặt trời chiếm giữ, và trái đất chỉ là một ngôi sao, bằng chuyển động quay quanh cùng trung tâm ấy, tạo ra đêm và ngày.

The same with regard to man. The theory taught in the Secret Doctrine, and now expounded, is the only one, which—without falling into the absurdity of a “miraculous” man created out of the dust of the earth, or the still greater fallacy of man evolving from a pinch of lime-salt, the ex-protoplasmic Moneron—can account for his appearance on Earth.

Đối với con người cũng vậy. Lý thuyết được dạy trong Giáo Lý Bí Nhiệm, và nay được trình bày, là lý thuyết duy nhất có thể giải thích sự xuất hiện của y trên Trái Đất mà không rơi vào sự phi lý của một con người “huyền nhiệm” được tạo ra từ bụi đất, hay ngụy thuyết còn lớn hơn rằng con người tiến hoá từ một nhúm muối vôi, Moneron nguyên sinh chất cũ.

Analogy is the guiding law in Nature, the only true Ariadne’s thread that can lead us, through the inextricable paths of her domain, toward her primal and final mysteries. Nature, as a creative potency, is infinite, and no generation of Physical Scientists can ever boast of having exhausted the list of her ways and methods, however uniform the laws upon which she proceeds. If we can conceive of a ball of “fire-mist”—as it rolls through æons of time in the interstellar spaces—becoming gradually a Planet, a self-luminous Globe, to settle into a man-bearing World or Earth, thus having passed from a soft plastic body into a rock-bound Globe; and if we see on it everything evolving from the non-nucleated jelly-speck that becomes the Sarcode 355 of the Moneron, then passes from its protistic state 356 into the form of an animal, to grow into a gigantic reptilian monster of the Mesozoic times; then dwindling again into the (comparatively) dwarfish crocodile, now confined solely to tropical regions, and the universally common lizard 357 —if we can conceive all this, then how can man alone escape the general law? “There were giants on earth in those days” says Genesis, repeating the statement of all the other Eastern Scriptures; and the Titans are founded on an anthropological and physiological fact.

Tương đồng là định luật dẫn đường trong Thiên nhiên, sợi chỉ Ariadne chân thật duy nhất có thể dẫn chúng ta, qua những lối đi rối rắm không gỡ nổi trong lãnh vực của nàng, tới các bí nhiệm nguyên sơ và tối hậu của nàng. Thiên nhiên, với tư cách một quyền năng sáng tạo, là vô hạn, và không thế hệ các Nhà Khoa học Hồng trần nào có thể khoe rằng mình đã vét cạn danh sách những đường lối và phương pháp của nàng, dù các định luật theo đó nàng tiến hành có đồng nhất đến đâu. Nếu chúng ta có thể quan niệm một quả cầu “sương lửa”—khi nó lăn qua những đại kiếp thời gian trong các không gian liên tinh tú—dần dần trở thành một Hành tinh, một bầu hành tinh tự phát sáng, để an định thành một Thế giới hay Trái Đất mang con người, như vậy đã đi từ một thể mềm dẻo thành một bầu hành tinh bị đá ràng buộc; và nếu chúng ta thấy trên đó mọi sự tiến hoá từ hạt thạch không nhân, trở thành Sarcode của Moneron, rồi chuyển từ trạng thái nguyên sinh sang hình tướng của một động vật, để lớn lên thành một quái vật bò sát khổng lồ của thời Trung sinh; rồi lại thu nhỏ thành loài cá sấu lùn tương đối, nay chỉ giới hạn trong các vùng nhiệt đới, và loài thằn lằn phổ biến khắp nơi —nếu chúng ta có thể quan niệm tất cả điều này, thì làm sao riêng con người có thể thoát khỏi định luật chung? “Trong những ngày ấy có những người khổng lồ trên đất”, Sáng Thế Ký nói như vậy, lặp lại lời khẳng định của tất cả các Kinh văn Đông phương khác; và các Titan được đặt nền trên một sự kiện nhân học và sinh lý học.

And, as the hard-shelled crustacean was once upon a time a jelly-speck, a “thoroughly homogeneous particle of albumen in a firmly adhesive condition,” so was the outward covering of primitive man, his early “coat of skin,” plus an immortal spiritual Monad, and a psychic temporary form and body within that shell. The modern, hard, muscular man, almost impervious to any climate, was, perhaps, some 25,000,000 years ago, just what the Hæckelian Moneron is, strictly an “organism without organs,” an entirely homogeneous substance with a structureless albumen body within, and a human form only outwardly.

Và, như loài giáp xác vỏ cứng xưa kia từng là một hạt thạch, một “hạt albumen hoàn toàn đồng nhất trong trạng thái bám dính chắc”, thì lớp phủ bên ngoài của con người nguyên thủy, “áo da” ban sơ của y, cũng vậy, cộng với một chân thần tinh thần bất tử, và một hình tướng cùng thể thông linh tạm thời bên trong lớp vỏ ấy. Con người hiện đại, rắn chắc, cơ bắp, hầu như không thấm chịu bất cứ khí hậu nào, có lẽ khoảng 25.000.000 năm trước, chính là cái mà Moneron của Haeckel là: nói nghiêm ngặt, một “cơ thể không cơ quan”, một chất liệu hoàn toàn đồng nhất với một thể albumen không cấu trúc bên trong, và chỉ có hình tướng con người ở bên ngoài.

No man of Science has the right, in this century, to find the figures of the Brâhmans in the question of chronology preposterous; for their own calculations often exceed by far the claims made by Esoteric Science. This may easily be shown.

Không một người của Khoa học nào trong thế kỷ này có quyền xem những con số của các Brahman về vấn đề niên đại là phi lý; vì chính những tính toán của họ thường vượt xa những tuyên bố của Khoa học Bí truyền. Điều này có thể dễ dàng được chứng tỏ.

Helmholtz calculated that the cooling of our Earth from a temperature of 2,000° to 200° Cent. must have occupied a period of no less than 350,000,000 years. Western Science (including Geology) seems generally to allow our Globe an age of about 500,000,000 years altogether. Sir William Thomson, however, limits the appearance of the earliest vegetable life to 100,000,000 years ago—a statement respectfully contradicted by the Archaic Records. Speculations, furthermore, vary daily in the domains of Science. Meanwhile, some Geologists are very much opposed to such limitation. Volger calculates: That the time requisite for the deposit of the strata known to us must at least have amounted to 648 millions of years.

Helmholtz tính rằng việc Trái Đất chúng ta nguội từ nhiệt độ 2.000 độ xuống 200 độ bách phân hẳn đã chiếm một thời kỳ không dưới 350.000.000 năm. Khoa học Tây phương, kể cả Địa chất học, nhìn chung dường như cho phép bầu hành tinh của chúng ta có tuổi khoảng 500.000.000 năm tất cả. Tuy nhiên, Sir William Thomson giới hạn sự xuất hiện của đời sống thực vật sớm nhất vào 100.000.000 năm trước—một tuyên bố bị các Biên niên Cổ kính kính cẩn phản bác. Hơn nữa, những suy đoán trong các lãnh vực Khoa học thay đổi hằng ngày. Trong khi đó, một số nhà Địa chất học phản đối rất mạnh giới hạn như thế. Volger tính rằng: Thời gian cần thiết cho sự lắng đọng các tầng địa chất mà chúng ta biết hẳn ít nhất phải lên tới 648 triệu năm.

Both time and space are infinite and eternal.

Cả thời gian lẫn không gian đều vô hạn và vĩnh cửu.

The earth, as a material existence, is indeed infinite; the changes only which it has undergone can be determined by finite periods of time….

Trái đất, với tư cách một tồn tại vật chất, quả thật là vô hạn; chỉ những thay đổi mà nó đã trải qua mới có thể được xác định bằng các thời kỳ hữu hạn của thời gian….

We must therefore assume that the starry heaven is not merely in space, which no astronomer doubts, but also in time, without beginning or end; that it never was created, and is imperishable. 358

Vì vậy, chúng ta phải giả định rằng bầu trời đầy sao không chỉ ở trong không gian, điều không nhà thiên văn nào nghi ngờ, mà còn ở trong thời gian, không khởi đầu hay kết thúc; rằng nó chưa từng được tạo ra, và không thể bị hủy diệt.

Czolbe repeats exactly what the Occultists say. But the Âryan Occultists, we may be told, knew nothing of these later speculations. As Coleman says: They were even ignorant of the globular form of our earth.

Czolbe lặp lại chính xác điều các nhà huyền bí học nói. Nhưng người ta có thể bảo chúng ta rằng các nhà huyền bí học Arya không biết gì về những suy đoán muộn hơn này. Như Coleman nói: Họ thậm chí còn không biết dạng cầu của trái đất chúng ta.

To this the Vishnu Purâna contains a reply, which has forced certain Orientalists to open their eyes very wide.

Về điều này, Vishnu Purana chứa đựng một câu trả lời đã buộc một số nhà Đông phương học phải mở to mắt kinh ngạc.

The sun is stationed, for all time, in the middle of the day, and over against mid-night, in all the Dvîpas [Continents], Maitreya. But the rising and the setting of the sun being perpetually opposite to each other,—and, in the same way, all the cardinal points, and so the cross-points, Maitreya, people speak of the rising of the sun where they see it; and where the sun disappears, there, to them, is his setting. Of the sun, which is always in one and the same place, there is neither setting nor rising; for what is called rising and setting are only the seeing and the not seeing the sun. 359

Mặt trời được đặt, trong mọi thời, ở giữa ban ngày, và đối diện với nửa đêm, trong tất cả các Dvipa, tức các Châu lục, hỡi Maitreya. Nhưng sự mọc và lặn của mặt trời thì mãi mãi đối nghịch với nhau,—và, cũng theo cách ấy, tất cả các phương chính, và cả các điểm giao, hỡi Maitreya, người ta nói mặt trời mọc ở nơi họ thấy nó; và nơi mặt trời biến mất, ở đó, đối với họ, là sự lặn của nó. Đối với mặt trời, vốn luôn luôn ở một và cùng một nơi, không có lặn cũng không có mọc; vì cái gọi là mọc và lặn chỉ là việc thấy và không thấy mặt trời.

To this Fitzedward Hall remarks:

Về điều này, Fitzedward Hall nhận xét:

The heliocentricism taught in this passage is remarkable. It is contradicted, however, a little further on. 360

Thuyết nhật tâm được dạy trong đoạn này thật đáng chú ý. Tuy nhiên, nó bị mâu thuẫn ở phần sau không xa.

Contradicted purposely, because it was a secret temple-teaching. Martin Haug remarked the same teaching in another passage. It is useless to calumniate the Âryans any longer.

Bị mâu thuẫn một cách cố ý, vì đó là một giáo huấn bí mật của đền thờ. Martin Haug cũng nhận thấy giáo huấn ấy trong một đoạn khác. Không còn ích gì khi tiếp tục vu khống người Arya nữa.

To return to the chronology of the Geologists and Anthropologists. We are afraid Science has no reasonable grounds on which she could oppose the views of the Occultists in this direction. Except that “of man, the highest organic being of creation, not a trace was found in the primary strata; only in the uppermost, the so-called alluvial layer,” is all that can be urged, so far. That man was not the last member in the mammalian family, but the first in this Round, is something that Science will be forced to acknowledge one day. A similar view also has already been mooted in France on very high authority.

Hãy trở lại với niên đại học của các nhà Địa chất học và Nhân học. Chúng tôi e rằng Khoa học không có căn cứ hợp lý nào để chống lại quan điểm của các nhà huyền bí học theo hướng này. Ngoại trừ lời rằng “về con người, hữu thể hữu cơ cao nhất của tạo vật, không tìm thấy một dấu vết nào trong các tầng sơ cấp; chỉ trong lớp trên cùng, gọi là lớp phù sa”, đó là tất cả những gì cho đến nay có thể được thúc ép đưa ra. Rằng con người không phải thành viên cuối cùng trong họ động vật có vú, mà là thành viên đầu tiên trong cuộc tuần hoàn này, là điều Khoa học một ngày kia sẽ buộc phải thừa nhận. Một quan điểm tương tự cũng đã được nêu ra ở Pháp bởi một thẩm quyền rất cao.

That man can be shown to have lived in the Mid-Tertiary Period, and in a geological age when there did not yet exist one single specimen of the now known species of mammals, is a statement that Science cannot deny and which has now been proven by de Quatrefages. 361 But even supposing his existence in the Eocene Period is not yet demonstrated, what period of time has elapsed since the Cretaceous Period? We are aware of the fact that only the boldest Geologists dare place man further back than the Miocene Age. But how long, we ask, is the duration of those ages and periods since the Mesozoic time? On this, after a good deal of speculation and wrangling, Science is silent, the greatest authorities upon the subject being compelled to answer to the question: “We do not know.” This ought to show that the men of Science are no greater authorities in this matter than are the profane. If, according to Professor Huxley, “the time represented by the Coal formation alone would be six millions of years,” 362 how many more millions would be required to cover the time from the Jurassic Period, or the middle of the so-called Reptilian Age—when the Third Race appeared—up to the Miocene, when the bulk of the Fourth Race was submerged? 363

Rằng con người có thể được chứng minh là đã sống trong Thời kỳ Đệ Tam giữa, và trong một kỷ địa chất khi chưa hề tồn tại một mẫu vật nào của các loài thú có vú nay đã biết, là một tuyên bố mà Khoa học không thể phủ nhận và nay đã được de Quatrefages chứng minh. Nhưng ngay cả nếu giả định rằng sự tồn tại của y trong Kỷ Eocene chưa được chứng minh, thì bao nhiêu thời gian đã trôi qua kể từ Kỷ Phấn Trắng? Chúng ta biết rõ sự kiện rằng chỉ những nhà Địa chất học táo bạo nhất mới dám đặt con người lùi xa hơn Kỷ Miocene. Nhưng chúng tôi hỏi: thời lượng của các kỷ và thời kỳ ấy kể từ thời Trung sinh là bao lâu? Về điều này, sau rất nhiều suy đoán và tranh cãi, Khoa học im lặng; các thẩm quyền lớn nhất về đề tài này buộc phải trả lời câu hỏi rằng: “Chúng tôi không biết.” Điều này hẳn phải cho thấy những người của Khoa học không có thẩm quyền lớn hơn trong vấn đề này so với người phàm tục. Nếu, theo Giáo sư Huxley, “chỉ riêng thời gian do sự hình thành Than Đá biểu thị đã là sáu triệu năm”, thì cần thêm bao nhiêu triệu năm nữa để bao trùm thời gian từ Kỷ Jura, hay giữa cái gọi là Kỷ Bò sát—khi Giống dân thứ ba xuất hiện—cho đến Kỷ Miocene, khi phần lớn Giống dân thứ tư bị chìm?

The writer is aware that those specialists, whose computations of the ages of the Globe and Man are the most liberal, have always had the shyer majority against them. But this proves very little, since the majority rarely, if ever, turns out to be right in the long run. Harvey stood alone for many years. The advocates for crossing the Atlantic with steamers were in danger of ending their days in a lunatic asylum. Mesmer is classed to this day—in the Encyclopædias—along with Cagliostro and St. Germain, as a charlatan and impostor. And now that Messrs. Charcot and Richet have vindicated Mesmer’s claims, and that Mesmerism under its new name of “Hypnotism”—a false nose on a very old face—is accepted by Science, it does not strengthen our respect for that majority, when we see the ease and unconcern with which its members treat of “Hypnotism,” of “telepathic impacts,” and its other phenomena. They speak of it, in short, as if they had believed therein since the days of Solomon, and had not, only a few years ago, called its votaries lunatics and impostors! 364

Người viết biết rằng những chuyên gia có các tính toán rộng rãi nhất về tuổi của bầu hành tinh và Con Người luôn luôn gặp sự chống đối của đa số dè dặt hơn. Nhưng điều này chứng minh rất ít, vì đa số hiếm khi, nếu từng có, rốt cuộc lại đúng. Harvey đã đứng một mình trong nhiều năm. Những người ủng hộ việc vượt Đại Tây Dương bằng tàu hơi nước từng có nguy cơ kết thúc đời mình trong nhà thương điên. Cho đến ngày nay, Mesmer vẫn bị xếp—trong các Bách khoa thư—cùng với Cagliostro và St. Germain, như một kẻ lang băm và lừa đảo. Và nay, khi các ông Charcot và Richet đã minh oan cho những tuyên bố của Mesmer, và Mesmerism dưới tên mới là “Thôi miên”—một chiếc mũi giả trên một khuôn mặt rất cũ—được Khoa học chấp nhận, thì điều đó không làm tăng sự kính trọng của chúng ta đối với đa số ấy, khi chúng ta thấy các thành viên của nó bàn về “Thôi miên”, về “các tác động viễn cảm”, và các hiện tượng khác của nó một cách dễ dàng và thản nhiên. Tóm lại, họ nói về nó như thể họ đã tin vào đó từ thời Solomon, và như thể chỉ vài năm trước họ đã không gọi những người sùng tín nó là kẻ điên và lừa đảo!

The same revulsion of thought is in store for the long period of years which Esoteric Philosophy claims as the age of sexual and physiological mankind. Therefore even the Stanza which says: “The Mind-born, the boneless, gave being to the Will-born with bones;”—adding that this took place in the middle of the Third Race 18,000,000 years ago—has yet a chance of being accepted by future Scientists.

Cùng sự đảo chiều tư tưởng ấy đang chờ đợi thời kỳ dài nhiều năm mà Triết học Bí truyền tuyên bố là tuổi của nhân loại hữu tính và sinh lý. Vì vậy, ngay cả Bài kệ nói rằng: “Những Đấng Sinh ra từ Trí, không xương, đã ban hiện hữu cho những Đấng Sinh ra từ Ý Chí, có xương;”—và thêm rằng điều này diễn ra vào giữa Giống dân thứ ba, 18.000.000 năm trước—vẫn còn có cơ hội được các Nhà Khoa học tương lai chấp nhận.

As far as nineteenth century thought is concerned, we shall be told, even by some personal friends who are imbued with an abnormal respect for the shifting conclusions of Science, that such a statement is absurd. How much more improbable will appear our further assertion, viz., that the antiquity of the First Race dates back millions of years beyond this again. For, although the exact figures are withheld—and it is out of the question to refer the incipient evolution of the primeval Divine Races with certainty to either the early Secondary, or the Primary Ages of Geology—one thing is clear, that the figures 18,000,000 of years, which embrace the duration of sexual, physical, man, have to be enormously increased if the whole process of spiritual, astral and physical development is taken into account. Many Geologists, indeed, consider that the duration of the Quaternary and Tertiary Ages demands the concession of such an estimate; and it is quite certain that no terrestrial conditions whatever negative the hypothesis of an Eocene man, if evidence for his reality is forthcoming. Occultists, who maintain that the above date carries us far back into the Secondary or “Reptilian” Age, may refer to M. de Quatrefages in support of the possible existence of man in that remote antiquity. But with regard to the earliest Root-Races the case is very different. If the thick agglomeration of vapours, charged with carbonic acid, that escaped from the soil, or was held in suspension in the atmosphere since the commencement of sedimentation, offered a fatal obstacle to the life of human organisms as now known, how, it will be asked, could the primeval men have existed? This consideration is, in reality, out of court. Such terrestrial conditions as were then operative had no touch with the plane on which the evolution of the ethereal astral Races proceeded. Only in relatively recent geological periods, has the spiral course of cyclic law swept mankind into the lowest grade of physical evolution—the plane of gross material causation. In those early ages, astral evolution was alone in progress, and the two planes, the astral and the physical, 365 though developing on parallel lines, had no direct point of contact with one another. It is obvious that a shadow-like ethereal man is related by virtue of his organization—if such it can be called—only to that plane from which the substance of his Upâdhi is derived.

Xét theo tư tưởng thế kỷ mười chín, người ta sẽ bảo chúng ta, ngay cả bởi một số bạn bè thân thiết thấm nhuần sự kính trọng bất thường đối với những kết luận hay thay đổi của Khoa học, rằng một tuyên bố như thế là phi lý. Huống chi khẳng định xa hơn của chúng ta sẽ còn có vẻ khó tin hơn biết bao, tức rằng cổ đại tính của Giống dân thứ nhất còn lùi xa thêm hàng triệu năm nữa. Vì, mặc dù các con số chính xác được giữ lại—và không thể nào quy sự tiến hoá khởi đầu của các Giống dân Thiêng liêng nguyên sơ một cách chắc chắn vào hoặc các thời kỳ đầu của Đại Trung sinh, hoặc các Kỷ Sơ cấp của Địa chất học—một điều rõ ràng là con số 18.000.000 năm, bao hàm thời lượng của con người hữu tính, hồng trần, phải được gia tăng khổng lồ nếu xét đến toàn bộ tiến trình phát triển tinh thần, cảm dục và hồng trần. Thật vậy, nhiều nhà Địa chất học cho rằng thời lượng của các Kỷ Đệ Tứ và Đệ Tam đòi hỏi phải chấp nhận một ước tính như thế; và hoàn toàn chắc chắn rằng không điều kiện địa cầu nào phủ định giả thuyết về con người Kỷ Eocene, nếu bằng chứng về thực tại của y được đưa ra. Các nhà huyền bí học, những người khẳng định rằng niên đại trên đưa chúng ta lùi xa vào Đại Trung sinh hay Kỷ “Bò sát”, có thể viện đến ông de Quatrefages để hỗ trợ cho khả năng tồn tại của con người trong cổ đại xa xôi ấy. Nhưng đối với các Giống dân gốc sớm nhất thì trường hợp rất khác. Nếu khối tụ dày đặc của hơi, chứa đầy axit cacbonic, thoát ra từ đất, hay lơ lửng trong khí quyển từ khi bắt đầu sự trầm tích, tạo thành một chướng ngại chí tử cho sự sống của các cơ thể con người như nay được biết, người ta sẽ hỏi: làm sao những con người nguyên sơ có thể đã tồn tại? Xét đoán này, trong thực tế, không có giá trị tại đây. Những điều kiện địa cầu khi ấy đang vận hành không hề chạm tới cõi mà trên đó sự tiến hoá của các Giống dân dĩ thái cảm dục diễn tiến. Chỉ trong những thời kỳ địa chất tương đối gần đây, đường xoắn ốc của định luật chu kỳ mới cuốn nhân loại vào cấp thấp nhất của tiến hoá hồng trần—cõi của nhân quả vật chất thô nặng. Trong các thời đại sớm ấy, chỉ có tiến hoá cảm dục đang diễn tiến, và hai cõi, cảm dục và hồng trần, tuy phát triển theo những đường song song, không có điểm tiếp xúc trực tiếp với nhau. Rõ ràng rằng một con người dĩ thái giống như bóng chỉ liên hệ, do tổ chức của y—nếu có thể gọi như thế—với cõi mà chất liệu Upadhi của y được rút ra từ đó.

There are things, perhaps, that may have escaped the far-seeing—but not all-seeing—eyes of our modern Naturalists; yet it is Nature herself who undertakes to furnish the missing links. Agnostic speculative thinkers have to choose between the version given by the Secret Doctrine of the East, and the hopelessly materialistic Darwinian and Biblical accounts of the origin of man; between no soul and no spiritual evolution, and the Occult doctrine which repudiates “special creation” and the “Evolutionist” anthropogenesis equally.

Có lẽ có những điều đã thoát khỏi đôi mắt nhìn xa—nhưng không toàn tri—của các Nhà Tự nhiên học hiện đại của chúng ta; tuy nhiên, chính Thiên nhiên đảm nhiệm việc cung cấp những mắt xích còn thiếu. Những nhà tư tưởng suy đoán bất khả tri phải chọn giữa phiên bản do Giáo Lý Bí Nhiệm của Đông phương đưa ra, và các tường thuật Darwin luận cùng Kinh Thánh duy vật đến tuyệt vọng về nguồn gốc con người; giữa không linh hồn và không tiến hoá tinh thần, với giáo lý Huyền bí bác bỏ ngang nhau “sáng tạo đặc biệt” và nhân sinh luận của “Nhà Tiến hoá luận”.

Again, to take up the question of “spontaneous generation”; life—as Science shows—has not always reigned on this terrestrial plane. There was a time when even the Hæckelian Moneron—that simple globule of Protoplasm—had not yet appeared at the bottom of the seas. Whence came the Impulse which caused the molecules of Carbon, Nitrogen, Oxygen, etc., to group themselves into the Urschleim of Oken, that organic “Slime,” now christened Protoplasm? What were the prototypes of the Monera? They, at least, could not have fallen in meteorites from other Globes already formed, Sir William Thomson’s wild theory to this effect notwithstanding. And even if they had so fallen; if our Earth got its supply of life-germs from other Planets; who, or what, had carried them on to these Planets? Here, again, unless the Occult Teaching is accepted, we are compelled once more to face a miracle—to accept the theory of a personal, anthropomorphic Creator, the attributes and definitions of whom, as formulated by the Monotheists, clash as much with philosophy and logic, as they degrade the ideal of an infinite Universal Deity, before whose incomprehensible awful grandeur the highest human intellect feels dwarfed. Let not the modern Philosopher, while arbitrarily placing himself on the highest pinnacle of human intellectuality hitherto evolved, show himself spiritually and intuitionally so far below the conceptions of even the ancient Greeks, themselves on a far lower level, in these respects, than the Philosophers of Eastern Âryan antiquity. Hylozoism, when philosophically understood, is the highest aspect of Pantheism. It is the only possible escape from idiotic Atheism based on lethal materiality, and the still more idiotic anthropomorphic conceptions of the Monotheists; between which it stands on its own entirely neutral ground. Hylozoism demands absolute Divine Thought, which would pervade the numberless active, creating Forces, or “Creators,” which Entities are moved by, and have their being in, from, and through, that Divine Thought; the latter, nevertheless, having no more personal concern in them or their creations, than the Sun has in the sun-flower and its seeds, or in vegetation in general. Such active “Creators” are known to exist and are believed in, because perceived and sensed by the Inner Man in the Occultist. Thus the latter says that an Absolute Deity, having to be unconditioned and unrelated, cannot be thought of at the same time as an active, creating, one living God, without immediate degradation of the ideal. 366 A Deity that manifests in Space and Time—these two being simply the forms of That which is the Absolute All—can be but a fractional part of the whole. And since that “All” cannot be divided in its absoluteness, therefore that sensed Creator (we say Creators) can be at best but the mere aspect thereof. To use the same metaphor—inadequate to express the full idea, yet well adapted to the case in hand—these Creators are like the numerous rays of the solar orb, which remains unconscious of, and unconcerned in, the work; while its mediating agents, the rays, become the instrumental media every spring—the Manvantaric dawn of the Earth—in fructifying and awakening the dormant vitality inherent in Nature and its differentiated matter. This was so well understood in antiquity, that even the moderately religious Aristotle remarked that such work of direct creation would be quite unbecoming to God—ἀπρεπὲς τῷ Θεῷ. Plato and other philosophers taught the same: deity cannot set its own hand to creation—αὐτουργεῖν ἅπαντα. This Cudworth calls “Hylozoism.” As old Zeno is credited by Laertius with having said: Nature is a habit moved from itself, according to seminal principles; perfecting and containing those several things which in determinate times are produced from it, and acting agreeably to that from which it was secreted. 367

Một lần nữa, hãy trở lại vấn đề “sự phát sinh tự nhiên”; sự sống—như Khoa học cho thấy—không phải lúc nào cũng ngự trị trên cõi địa cầu này. Đã có một thời khi ngay cả Moneron của Haeckel—sinh khí cầu nguyên sinh chất đơn giản ấy—cũng chưa xuất hiện dưới đáy biển. Từ đâu đến Xung lực khiến các phân tử Carbon, Nitrogen, Oxygen, vân vân, tự nhóm lại thành Urschleim của Oken, “Chất nhờn” hữu cơ ấy, nay được đặt tên là Nguyên sinh chất? Các nguyên mẫu của Monera là gì? Ít nhất, chúng không thể đã rơi xuống trong các thiên thạch từ những bầu hành tinh khác đã thành hình, bất chấp lý thuyết hoang đường của Sir William Thomson theo hướng ấy. Và ngay cả nếu chúng đã rơi xuống như thế; nếu Trái Đất của chúng ta nhận được nguồn mầm sống từ các Hành tinh khác; thì ai, hay cái gì, đã mang chúng đến các Hành tinh ấy? Ở đây, một lần nữa, nếu không chấp nhận Giáo huấn Huyền bí, chúng ta lại bị buộc phải đối diện với một phép lạ—phải chấp nhận lý thuyết về một Đấng Sáng tạo hữu ngã, nhân hình, mà các thuộc tính và định nghĩa của Ngài, như các nhà Độc thần luận đã công thức hóa, xung đột với triết học và luận lý chẳng kém gì việc chúng hạ thấp lý tưởng về một Thượng đế Vũ trụ vô hạn, trước vẻ hùng vĩ khủng khiếp và bất khả tư nghị của Ngài, trí năng nhân loại cao nhất cũng cảm thấy mình nhỏ bé. Mong nhà Triết học hiện đại, trong khi tự ý đặt mình trên đỉnh cao nhất của trí năng nhân loại đã tiến hoá cho đến nay, đừng tự chứng tỏ mình về tinh thần và trực giác lại thấp hơn rất xa so với các quan niệm của ngay cả người Hy Lạp cổ đại, những người mà xét theo các phương diện này vẫn ở một cấp thấp hơn nhiều so với các Triết gia của cổ đại Arya Đông phương. Thuyết vật hoạt luận, khi được hiểu theo nghĩa triết học, là phương diện cao nhất của Phiếm thần luận. Nó là lối thoát duy nhất khả hữu khỏi Chủ nghĩa vô thần ngu xuẩn dựa trên vật chất tính chết chóc, và khỏi những quan niệm nhân hình còn ngu xuẩn hơn của các nhà Độc thần luận; giữa hai thứ ấy, nó đứng trên nền tảng hoàn toàn trung lập của chính nó. Thuyết vật hoạt luận đòi hỏi Tư tưởng Thiêng liêng tuyệt đối, vốn sẽ thấm nhuần vô số Mãnh lực hoạt động, sáng tạo, hay “các Đấng Sáng tạo”, mà các Thực Thể này được vận hành bởi, và có hiện hữu trong, từ, và qua, Tư tưởng Thiêng liêng ấy; tuy nhiên, Tư tưởng sau không có mối quan tâm hữu ngã nào đối với họ hay các sáng tạo của họ, hơn Mặt trời đối với hoa hướng dương và hạt của nó, hay đối với thảm thực vật nói chung. Những “Đấng Sáng tạo” hoạt động như thế được biết là tồn tại và được tin tưởng, bởi vì được Con Người Nội Tâm nơi nhà huyền bí học tri nhận và cảm nhận. Do đó, nhà huyền bí học nói rằng một Thượng đế Tuyệt đối, vì phải là vô điều kiện và vô tương quan, không thể đồng thời được nghĩ như một Thượng đế sống duy nhất, hữu ngã, hoạt động và sáng tạo, mà không lập tức làm suy giảm lý tưởng ấy. Một Thượng đế biểu lộ trong Không gian và Thời gian—hai thứ này chỉ là các hình thức của Cái vốn là Toàn Thể Tuyệt đối—chỉ có thể là một phần phân đoạn của toàn thể. Và vì “Toàn Thể” ấy không thể bị phân chia trong tính tuyệt đối của nó, nên Đấng Sáng tạo được cảm nhận ấy, hay chúng tôi nói là các Đấng Sáng tạo, cùng lắm chỉ có thể là phương diện đơn thuần của nó. Dùng cùng ẩn dụ—không đủ để diễn đạt trọn vẹn ý tưởng, nhưng rất thích hợp với trường hợp đang bàn—các Đấng Sáng tạo này giống như vô số tia của đĩa mặt trời, vốn vẫn vô thức về công việc và không quan tâm đến công việc ấy; trong khi các tác nhân trung gian của nó, tức các tia sáng, trở thành những trung gian khí cụ vào mỗi mùa xuân—bình minh Giai kỳ sinh hóa của Trái Đất—trong việc làm thụ tinh và đánh thức sinh lực ngủ yên vốn có trong Thiên nhiên và vật chất đã biến phân của nó. Điều này được hiểu rõ trong cổ đại đến nỗi ngay cả Aristotle, người có tôn giáo vừa phải, cũng nhận xét rằng công việc sáng tạo trực tiếp như thế hẳn hoàn toàn không thích hợp với Thượng đế—không thích hợp với Thượng đế. Plato và các triết gia khác cũng dạy như vậy: Thượng đế không thể tự tay mình làm mọi sự trong sáng tạo—tự mình làm mọi sự. Cudworth gọi điều này là “Thuyết vật hoạt luận”. Như Zeno xưa được Laertius ghi nhận là đã nói: Thiên nhiên là một tập quán tự vận động, theo các nguyên lý hạt giống; hoàn thiện và chứa đựng những sự vật khác nhau được sinh ra từ nó vào những thời kỳ xác định, và hành động phù hợp với cái mà từ đó nó được tiết ra.

Let us return to our subject, pausing to think over it. Indeed, if there was vegetable life during those periods that could feed on the then deleterious elements; and if there was even animal life whose aquatic organization could be developed, notwithstanding the supposed scarcity of Oxygen, why could there not be human life also, in its incipient physical form, i.e., in a race of beings adapted for that geological period and its surroundings? Besides, Science confesses that it knows nothing of the real length of geological periods.

Chúng ta hãy trở lại đề tài của mình, dừng lại để suy ngẫm về nó. Thật vậy, nếu đã có đời sống thực vật trong những thời kỳ ấy, có thể nuôi dưỡng bằng các nguyên tố độc hại khi đó; và nếu đã có cả đời sống động vật mà tổ chức thủy sinh có thể phát triển, bất chấp sự khan hiếm Oxygen được giả định, thì tại sao cũng không thể có đời sống con người, trong hình tướng hồng trần phôi thai của nó, tức trong một giống dân gồm các hữu thể thích nghi với thời kỳ địa chất ấy và môi trường của nó? Hơn nữa, Khoa học thú nhận rằng mình không biết gì về độ dài thật sự của các thời kỳ địa chất.

But the chief question before us is, whether it is quite certain that, from the time of that which is called the Azoic Age, there ever was such an atmosphere as that hypothesized by the Naturalists. Not all the Physicists agree with this idea. Were the writer anxious to corroborate the teachings of the Secret Doctrine by exact Science, it would be easy to show, on the admission of more than one Physicist, that the atmosphere has changed little, if at all, since the first condensation of the oceans—i.e., since the Laurentian Period, the Pyrolithic Age. Such, at any rate, is the opinion of Blanchard, S. Meunier, and even of Bischof—as the experiments of the last Scientist with basalts have shown. For were we to take the word of the majority of Scientists as to the quantity of deadly gases, and of elements entirely saturated with Carbon and Nitrogen, in which the vegetable and animal kingdoms are shown to have lived, thriven, and developed, then one would have to come to the curious conclusion that there were, in those days, oceans of liquid carbonic acid, instead of water. With such an element, it becomes doubtful whether the Ganoids, or even the Primitive Trilobites themselves could live in the oceans of the Primary Age—let alone in those of the Silurian, as shown by Blanchard.

Nhưng câu hỏi chính trước mắt chúng ta là liệu có hoàn toàn chắc chắn rằng, từ thời của cái được gọi là Kỷ Vô sinh, từng có một khí quyển như các Nhà Tự nhiên học giả thuyết hay không. Không phải tất cả các Nhà Vật lý học đều đồng ý với ý tưởng này. Nếu người viết nóng lòng muốn xác nhận các giáo huấn của Giáo Lý Bí Nhiệm bằng Khoa học chính xác, thì sẽ dễ dàng chỉ ra, dựa trên sự thừa nhận của hơn một Nhà Vật lý học, rằng khí quyển đã thay đổi rất ít, nếu có thay đổi, kể từ sự cô đặc đầu tiên của các đại dương—nghĩa là kể từ Kỷ Laurentia, Kỷ Hỏa thạch. Dẫu sao, đó là ý kiến của Blanchard, S. Meunier, và ngay cả Bischof—như những thí nghiệm của nhà Khoa học sau cùng với đá bazan đã cho thấy. Vì nếu chúng ta chấp nhận lời của đa số Nhà Khoa học về lượng khí chết người, và về các nguyên tố hoàn toàn bão hòa Carbon và Nitrogen, trong đó giới thực vật và giới động vật được chứng tỏ là đã sống, phồn thịnh và phát triển, thì người ta sẽ phải đi đến kết luận kỳ lạ rằng vào những ngày ấy đã có các đại dương axit cacbonic lỏng thay vì nước. Với một nguyên tố như thế, thật đáng nghi liệu các Ganoid, hay ngay cả chính các Bọ ba thùy Nguyên thủy, có thể sống trong các đại dương của Kỷ Sơ cấp hay không—huống chi trong các đại dương của Kỷ Silur, như Blanchard đã cho thấy.

The conditions that were necessary for the earliest Race of mankind, however, require no elements, whether simple or compound. That which was stated at the beginning is maintained. The spiritual ethereal Entity which lived in Spaces unknown to Earth, before the first sidereal “jelly-speck” evolved in the Ocean of crude Cosmic Matter—billions and trillions of years before our globular speck in infinity, called Earth, came into being and generated the Monera in its drops, called oceans—needed no “elements.” The “Manu with soft bones,” could well dispense with Calcium Phosphate, as he had no bones, save in a figurative sense. And while even the Monera, however homogeneous their organism, still required physical conditions of life that would help them toward further evolution, the Being which became Primitive Man and the “Father of Man,” after evolving on planes of existence undreamed of by Science, could well remain impervious to any state of atmospheric conditions around him. The primitive ancestor, in Brasseur de Bourbourg’s Popol Vuh, who—in the Mexican legends—could act and live with equal ease under ground and water as upon the earth, answers only to the Second and early Third Races in our texts. And if the three kingdoms of Nature were so different in pre-diluvian ages, why should not man have been composed of materials and combinations of atoms now entirely unknown to Physical Science? The plants and animals now known, in almost numberless varieties and species, have all developed, according to scientific hypotheses, from primitive and far fewer organic forms. Why should not the same have occurred in the case of man, the elements, and the rest? As the Commentary says: Universal Genesis starts from the One, breaks into Three, then Five, and finally culminates in Seven, to return into Four, Three, and One.

Tuy nhiên, những điều kiện cần thiết cho Giống dân sớm nhất của nhân loại không đòi hỏi các nguyên tố, dù đơn giản hay phức hợp. Điều đã được nêu ngay từ đầu vẫn được duy trì. Thực Thể tinh thần dĩ thái, vốn sống trong những Không Gian mà Trái Đất chưa biết đến, trước khi “đốm keo” tinh tú đầu tiên tiến hóa trong Đại Dương Vật Chất Vũ Trụ thô sơ — hàng tỷ và hàng nghìn tỷ năm trước khi đốm hình cầu của chúng ta trong vô tận, gọi là Trái Đất, đi vào hiện hữu và sinh ra các Monera trong những giọt của nó, gọi là đại dương — không cần đến “các nguyên tố”. “Đức Manu có xương mềm” hoàn toàn có thể không cần đến Phosphate Calci, vì Ngài không có xương, ngoại trừ theo nghĩa bóng. Và trong khi ngay cả các Monera, dù cơ cấu của chúng đồng nhất đến đâu, vẫn cần những điều kiện hồng trần của sự sống để giúp chúng tiến đến sự tiến hóa xa hơn, thì Hữu Thể đã trở thành Con Người Nguyên Thủy và “Cha của Con Người”, sau khi tiến hóa trên các cõi tồn tại mà Khoa học chưa từng mơ tới, hoàn toàn có thể không chịu ảnh hưởng bởi bất cứ trạng thái khí quyển nào quanh mình. Tổ tiên nguyên thủy, trong Popol Vuh của Brasseur de Bourbourg, vị mà — trong các truyền thuyết Mexico — có thể hoạt động và sống dưới đất và dưới nước dễ dàng như trên mặt đất, chỉ tương ứng với Giống dân Thứ Hai và đầu Giống dân Thứ Ba trong các bản văn của chúng ta. Và nếu ba giới của Thiên nhiên khác biệt đến thế trong các thời đại tiền hồng thủy, tại sao con người lại không thể được cấu thành từ những vật liệu và những kết hợp nguyên tử nay hoàn toàn xa lạ với Khoa học Vật chất? Các loài thực vật và động vật hiện được biết đến, với gần như vô số giống và loài, theo các giả thuyết khoa học, đều đã phát triển từ những hình tướng hữu cơ nguyên thủy và ít hơn rất nhiều. Tại sao điều tương tự lại không thể xảy ra trong trường hợp con người, các nguyên tố và phần còn lại? Như Cổ Luận nói: Sự Sáng Sinh Vũ Trụ khởi từ Đấng Duy Nhất, phân thành Ba, rồi Năm, và cuối cùng đạt tới Bảy, để trở về Bốn, Ba và Một.

Stanza VII. From The Semi-Divine Down To The First Human Races. — Bài kệ VII. Từ Bán Thiêng Liêng Xuống Các Giống Dân Nhân Loại Đầu Tiên.

24. The higher Creators reject in their pride the Forms evolved by the “Sons of Yoga.” 25. They will not incarnate in the early Egg-born. 26. They select the later Androgynes. 27. The first man endowed with mind.

24. Các Đấng Sáng Tạo cao hơn, trong lòng kiêu hãnh, từ chối các Hình Tướng do “Các Con của Yoga” tiến hóa. 25. Các Ngài không chịu nhập thể vào những kẻ Sinh Từ Trứng thuở ban đầu. 26. Các Ngài chọn những kẻ Lưỡng Tính về sau. 27. Con người đầu tiên được phú cho trí tuệ.

24. The Sons of Wisdom, the Sons of Night, 368 ready for rebirth, came down. They saw the vile 369 forms of the First Third 370 (a). “We can choose,” said the Lords, “we have wisdom.” Some entered the Chhâyâs. Some projected a Spark. Some deferred till the Fourth. 371 From their own Rûpa they filled 372 the Kâma. 373 Those who entered became Arhats. Those who received but a Spark, remained destitute of knowledge; 374 the Spark burned low (b). The Third remained mind-less. Their Jîvas 375 were not ready. These were set apart among the Seven. 376 They became narrow-headed. The Third were ready. “In these shall we dwell,” said the Lords of the Flame and of the Dark Wisdom (c).

24. Các Con của Minh Triết, Các Con của Đêm Tối, sẵn sàng cho tái sinh, đã đi xuống. Các Ngài thấy những hình tướng thấp kém của Thứ Ba Đầu Tiên (a). “Chúng ta có thể chọn,” các Chúa Tể nói, “chúng ta có minh triết.” Một số nhập vào các Chhaya. Một số phóng chiếu một Tia Lửa. Một số trì hoãn đến Giống dân Thứ Tư. Từ chính Rupa của mình, các Ngài làm đầy Kama. Những ai nhập vào đã trở thành Arhat. Những ai chỉ nhận một Tia Lửa vẫn thiếu tri thức; Tia Lửa cháy yếu ớt (b). Giống dân Thứ Ba vẫn không có trí tuệ. Các Jiva của họ chưa sẵn sàng. Những kẻ này được đặt riêng ra trong Bảy.
Họ trở thành những kẻ đầu hẹp. Giống dân Thứ Ba đã sẵn sàng. “Trong những kẻ này chúng ta sẽ cư ngụ,” các Chúa Tể của Lửa và của Minh Triết Hắc Ám nói (c).

This Stanza contains, in itself, the whole key to the mysteries of evil, the so-called Fall of the Angels, and the many problems that have puzzled the brains of the Philosophers from the time that the memory of man began. It solves the secret of the subsequent inequalities or intellectual capacity, of birth or social position, and gives a logical explanation to the incomprehensible Karmic course throughout the æons which followed. The best explanation which can be given, in view of the difficulties of the subject, will now be attempted.

Bài kệ này tự nó chứa toàn bộ chìa khóa của các bí nhiệm về ác, cái gọi là Sự Sa Ngã của các Thiên Thần, và nhiều vấn đề đã làm rối trí các triết gia từ khi ký ức của con người bắt đầu. Nó giải đáp bí mật của những bất bình đẳng về sau trong năng lực trí tuệ, trong sự sinh ra hay địa vị xã hội, và đưa ra một lời giải thích hợp lý cho diễn trình nghiệp quả khó hiểu suốt các đại kiếp tiếp theo. Nay chúng ta sẽ cố gắng đưa ra lời giải thích tốt nhất có thể, xét đến những khó khăn của chủ đề này.

(a) Up to the Fourth Round, and even to the later part of the Third Race in this Round, Man—if the ever-changing forms that clothed the Monads during the first three Rounds and the first two and a half Races of the present Round can be given that misleading name—is, so far, only an animal intellectually. It is only in the present midway Round that he entirely develops in himself the Fourth Principle as a fit vehicle for the Fifth. But Manas will be relatively fully developed only in the following Round, when it will have an opportunity of becoming entirely divine until the end of the Rounds. As Christian Schœttgen says in Horæ Hebraicæ, etc., the first terrestrial Adam “had only the breath of life,”—Nephesh, but not the living Soul.

(a) Cho đến Cuộc Tuần Hoàn Thứ Tư, và thậm chí đến phần sau của Giống dân Thứ Ba trong Cuộc Tuần Hoàn này, Con Người — nếu những hình tướng luôn biến đổi đã khoác lấy các chân thần trong ba Cuộc Tuần Hoàn đầu và hai Giống dân rưỡi đầu của Cuộc Tuần Hoàn hiện tại có thể được gọi bằng cái tên dễ gây hiểu lầm ấy — cho đến nay, xét về trí tuệ, chỉ là một con vật. Chỉ trong Cuộc Tuần Hoàn ở giữa hiện tại, y mới phát triển trọn vẹn trong mình Nguyên khí Thứ Tư như một vận cụ thích hợp cho Nguyên khí Thứ Năm. Nhưng Manas sẽ chỉ được phát triển tương đối đầy đủ trong Cuộc Tuần Hoàn kế tiếp, khi nó sẽ có cơ hội trở nên hoàn toàn thiêng liêng cho đến cuối các Cuộc Tuần Hoàn. Như học giả Kitô giáo Schoettgen nói trong Horae Hebraicae, v.v., Adam địa cầu đầu tiên “chỉ có hơi thở sự sống” — Nephesh, nhưng không có Linh hồn sống động.

(b) Here the inferior Races, of which there are still some analogues left—as the Australians, now fast dying out, and some African and Oceanic tribes—are meant. “They were not ready” signifies that the Karmic development of these Monads had not yet fitted them to occupy the forms of men destined for incarnation in higher intellectual Races. But this is explained later on.

(b) Ở đây ám chỉ các Giống dân thấp hơn, trong đó vẫn còn một số mẫu tương tự sót lại — như người Úc bản địa, nay đang nhanh chóng tuyệt diệt, và một số bộ lạc Phi châu và Đại dương châu. “Họ chưa sẵn sàng” có nghĩa là sự phát triển nghiệp quả của các chân thần này chưa làm cho họ thích hợp để chiếm giữ các hình tướng con người vốn được dành cho sự nhập thể trong các Giống dân có trí tuệ cao hơn. Nhưng điều này sẽ được giải thích về sau.

(c) The Zohar speaks of “Black Fire,” which is Absolute Light—Wisdom. To those who, prompted by old theological prejudice, may say: But the Asuras are the rebel Devas, the opponents of the Gods—hence Devils, and the Spirits of Evil—it is answered: Esoteric Philosophy admits neither good nor evil per se, as existing independently in Nature. The cause for both is found, as regards the Kosmos, in the necessity of contraries or contrasts, and with respect to man, in his human nature, his ignorance and passions. There are no Devils or the utterly depraved, as there are no Angels absolutely perfect, though there may be Spirits of Light and of Darkness; thus Lucifer—the Spirit of Intellectual Enlightenment and Freedom of Thought—is metaphorically the guiding beacon, which helps man to find his way through the rocks and sand-banks of Life, for Lucifer is the Logos in his highest, and the “Adversary” in his lowest aspect—both of which are reflected in our Ego. Lactantius, speaking of the Nature of Christ, makes the Logos, the Word, “the first-born brother of Satan, and the first of all creatures.” 377

(c) Zohar nói đến “Lửa Đen”, vốn là Ánh sáng Tuyệt đối — Minh triết. Đối với những ai, do thành kiến thần học xưa cũ thúc đẩy, có thể nói: Nhưng các Asura là những Deva phản nghịch, những kẻ chống đối các Thượng đế — do đó là Quỷ dữ, và là các Tinh thần của Ác — câu trả lời là: Triết học Nội môn không thừa nhận thiện hay ác như những cái tự tồn độc lập trong Thiên nhiên. Nguyên nhân của cả hai, xét về Vũ trụ, nằm trong sự tất yếu của các mặt đối nghịch hay tương phản; và xét về con người, nằm trong bản chất nhân loại của y, trong sự vô minh và các dục vọng của y. Không có Quỷ dữ hay những kẻ hoàn toàn sa đọa, cũng như không có Thiên Thần tuyệt đối hoàn hảo, dù có thể có các Tinh thần của Ánh sáng và của Bóng tối; do đó Lucifer — Tinh thần của Giác ngộ Trí tuệ và Tự do Tư tưởng — theo ẩn dụ là ngọn hải đăng dẫn đường giúp con người tìm lối đi qua những tảng đá và bãi cát ngầm của Sự Sống, vì Lucifer là Logos trong phương diện cao nhất của y, và là “Kẻ Đối Nghịch” trong phương diện thấp nhất của y — cả hai đều được phản chiếu trong Chân ngã của chúng ta. Lactantius, khi nói về Bản chất của Đức Christ, gọi Logos, Linh từ, là “huynh đệ đầu lòng của Satan, và là tạo vật đầu tiên trong mọi tạo vật.”

The Vishnu Purâna describes these primeval creatures (Tiryaksrotas) with crooked digestive canals: [They were] endowed with inward manifestations, but mutually in ignorance about their kind and nature. 378

Vishnu Purana mô tả những sinh linh nguyên sơ này (Tiryaksrotas) với các ống tiêu hóa cong vẹo: Chúng được phú cho các biểu hiện bên trong, nhưng lại hỗ tương vô minh về giống loại và bản chất của mình.

The twenty-eight kinds of Badhas, or “imperfections,” do not apply, as Wilson thought, to the animals now known, which are specified by him, for they did not exist in those geological periods. This is quite plain from the said work, in which the first created are the “five-fold (immovable) world,” minerals and vegetables; then come those fabulous animals, Tiryaksrotas—the monsters of the Abyss, slain by the “Lords,” of Stanzas II and III; then the Ûrdhvasrotas, the happy celestial beings, which feed on ambrosia; and lastly, the Arvâksrotas, human beings—Brahmâ’s seventh “creation” so-called. But these “creations,” including the latter, did not occur on this Globe, wherever else they may have taken place. It is not Brahmâ who creates things and men on this Earth, but the Chief and Lord of the Prajâpatis, the Lords of Being and terrestrial Creation. “Obeying the command of Brahmâ,” Daksha—the synthesis, or the aggregate, of the Terrestrial Creators and Progenitors, the Pitris included—made superior and inferior (vara and avara) things, “referring to putra” progeny, and “bipeds and quadrupeds, and subsequently, by his will [referring to the Sons of Will and Yoga], gave birth to females” 379 —i.e., separated the androgynes. Here, again, we have “bipeds” or men, created before the “quadrupeds” as in the Esoteric Teachings.

Hai mươi tám loại Badha, hay “bất toàn”, không áp dụng, như Wilson nghĩ, cho các loài động vật hiện được biết đến mà ông đã liệt kê, vì chúng chưa tồn tại trong những thời kỳ địa chất ấy. Điều này hoàn toàn rõ ràng trong tác phẩm đã nói, nơi những cái được tạo ra trước tiên là “thế giới ngũ phân bất động”, tức khoáng vật và thực vật; kế đến là những con vật huyền thoại ấy, Tiryaksrotas — những quái vật của Vực Thẳm, bị các “Chúa Tể” trong các Bài kệ II và III tiêu diệt; rồi đến Urdhvasrotas, các sinh linh thiên thượng an lạc, nuôi sống bằng cam lộ; và cuối cùng là Arvaksrotas, con người — cái gọi là “sáng tạo” thứ bảy của Brahma. Nhưng những “sáng tạo” này, kể cả sáng tạo sau cùng, đã không xảy ra trên Bầu hành tinh này, dù chúng có thể đã diễn ra ở nơi nào khác. Không phải Brahma tạo ra các sự vật và con người trên Trái Đất này, mà là Vị Thủ Lãnh và Chúa Tể của các Prajapati, các Chúa Tể của Bản Thể và của Sáng Tạo địa cầu. “Tuân theo mệnh lệnh của Brahma,” Daksha — tổng hợp, hay toàn thể, của các Đấng Sáng Tạo và Tổ Phụ Địa Cầu, gồm cả các Pitri — đã tạo ra những vật cao và thấp (vara và avara), “liên quan đến putra”, tức hậu duệ, và “các sinh vật hai chân và bốn chân, rồi sau đó, bằng ý chí của mình [ám chỉ Các Con của Ý Chí và Yoga], sinh ra giống cái” — nghĩa là, phân tách những kẻ lưỡng tính. Ở đây, một lần nữa, chúng ta có “các sinh vật hai chân”, hay con người, được tạo ra trước “các sinh vật bốn chân”, đúng như trong các Giáo huấn Nội môn.

Since, in the exoteric accounts, the Asuras are the first Beings created from the “Body of Night,” while the Pitris issue from that of “Twilight”; the “Gods” being placed by Parâshara, in the Vishnu Purâna, between the two, and shown to evolve from the “Body of the Day,” it is easy to discover a determined purpose to veil the order of creation. Man is the Arvâksrota coming from the “Body of the Dawn”; and elsewhere, man is again referred to, when the Creator of the World, Brahmâ, is shown “creating fierce beings, who were denominated Bhûtas, and eaters of flesh,” or as the text has it, “fiends, frightful from being monkey-coloured and carnivorous.” 380 Whereas the Râkshasas are generally translated by “evil Spirits” and “enemies of the Gods,” which identifies them with the Asuras. In the Râmâyana, when Hanumân is reconnoitering the enemy in Lankâ, he finds there Râkshasas, some hideous, “while some were beautiful to look upon,” and, in the Vishnu Purâna, there is a direct reference to their becoming the Saviours of “Humanity,” or of Brahmâ.

Vì trong các tường thuật ngoại môn, các Asura là những Hữu Thể đầu tiên được tạo ra từ “Thân của Đêm”, trong khi các Pitri phát xuất từ “Thân của Hoàng Hôn”; còn các “Thượng đế” được Parashara đặt trong Vishnu Purana giữa hai nhóm ấy, và được trình bày là tiến hóa từ “Thân của Ngày”, nên dễ dàng nhận ra một mục đích cố ý nhằm che giấu trật tự sáng tạo. Con người là Arvaksrota xuất phát từ “Thân của Bình Minh”; và ở nơi khác, con người lại được ám chỉ, khi Đấng Sáng Tạo Thế Giới, Brahma, được trình bày là “tạo ra những sinh linh hung dữ, được gọi là Bhuta, và những kẻ ăn thịt”, hay như bản văn nói, “quỷ dữ, đáng sợ vì có màu như khỉ và ăn thịt.”màu Trong khi đó, các Rakshasa thường được dịch là “các Tinh thần ác” và “kẻ thù của các Thượng đế”, điều này đồng nhất họ với các Asura. Trong Ramayana, khi Hanuman do thám kẻ thù ở Lanka, y thấy tại đó các Rakshasa, một số xấu xí, “trong khi một số trông rất đẹp”; và trong Vishnu Purana, có một tham chiếu trực tiếp đến việc họ trở thành những Đấng Cứu Rỗi của “Nhân loại”, hay của Brahma.

The allegory is very ingenious. Great intellect and too much knowledge are a two-edged weapon in life, and instruments for evil as well as for good. When combined with selfishness, they will make of the whole of Humanity a footstool for the elevation of him who possesses them, and a means for the attainment of his objects; while, applied to altruistic humanitarian purposes, they may become the means of the salvation of many. At all events, the absence of self-consciousness and intellect will make of man an idiot, a brute in human form. Brahmâ is Mahat, the Universal Mind; hence the too selfish among the Râkshasas showing the desire to become possessed of it all—to “devour” Mahat. The allegory is transparent.

Ẩn dụ này rất tinh tế. Trí tuệ lớn và tri thức quá nhiều là một vũ khí hai lưỡi trong đời sống, và là công cụ cho ác cũng như cho thiện. Khi kết hợp với lòng ích kỷ, chúng sẽ biến toàn thể Nhân loại thành bệ chân để nâng cao kẻ sở hữu chúng, và thành phương tiện để đạt các mục đích của y; trong khi nếu được áp dụng vào những mục tiêu nhân đạo vị tha, chúng có thể trở thành phương tiện cứu rỗi nhiều người. Dù thế nào đi nữa, sự vắng mặt của ngã thức và trí tuệ sẽ biến con người thành kẻ ngu độn, một con thú trong hình dạng con người. Brahma là Mahat, Vũ Trụ Trí; do đó, những kẻ quá ích kỷ trong số các Rakshasa biểu lộ ham muốn chiếm hữu trọn vẹn nó — “nuốt chửng” Mahat. Ẩn dụ này thật minh bạch.

At any rate, Esoteric Philosophy identifies the pre-Brâhmanical Asuras, Rudras, 381 Râkshasas and all the “Adversaries” of the Gods in the allegories, with the Egos, which, by incarnating in the still witless man of the Third Race, made him consciously immortal. They are, then, during the cycle of Incarnations, the true dual Logos—the conflicting and two-faced Divine Principle in Man. The Commentary that follows, and the next Stanzas may, no doubt, throw more light on this very difficult tenet, but the writer does not feel competent to give it out fully. Of the succession of Races, however, the Commentary says: First come the Self-existent on this Earth. They are the “Spiritual Lives” projected by the absolute Will and Law, at the Dawn of every Rebirth of the Worlds. These Lives are the divine “Shishta” [the Seed-Manus, or the Prajâpatis and the Pitris].

Dù sao, Triết học Nội môn đồng nhất các Asura, Rudra thời tiền Bà-la-môn, Rakshasa và tất cả những “Kẻ Đối Nghịch” của các Thượng đế trong các ẩn dụ, với các Chân ngã; chính các Chân ngã ấy, bằng cách nhập thể vào con người còn chưa có trí khôn của Giống dân Thứ Ba, đã làm cho y trở nên bất tử một cách có ý thức. Vì thế, trong suốt chu kỳ các lần Lâm Phàm, họ là Logos nhị nguyên đích thực — Nguyên khí Thiêng liêng xung đột và hai mặt trong Con Người. Cổ Luận tiếp theo, và các Bài kệ kế tiếp, chắc chắn có thể rọi thêm ánh sáng lên giáo lý rất khó này, nhưng người viết không cảm thấy đủ khả năng trình bày nó đầy đủ. Tuy nhiên, về sự nối tiếp của các Giống dân, Cổ Luận nói: Trước tiên xuất hiện những Đấng Tự Hữu trên Trái Đất này. Các Ngài là “Những Sự Sống Tinh Thần” được phóng chiếu bởi Ý Chí và Định Luật tuyệt đối, vào Bình Minh của mỗi lần Tái Sinh của các Thế Giới. Những Sự Sống này là “Shishta” thiêng liêng [các Manu Hạt giống, hay các Prajapati và các Pitri].

From these proceed:

Từ các Ngài phát sinh:

1. The First Race, the “Self-born,” which are the [Astral] Shadows of their Progenitors. The Body was devoid of all understanding [mind, intelligence, and will]. The Inner Being [the Higher Self, or Monad], though within the earthly frame, was unconnected with it. The link, the Manas, was not there as yet.

1. Giống dân Thứ Nhất, “Tự sinh”, là các Bóng [Cảm dục] của các Tổ Phụ của họ. Thể không có mọi sự thấu hiểu [trí tuệ, thông tuệ và ý chí]. Hữu Thể Bên Trong [Bản Ngã Cao Siêu, hay chân thần], tuy ở trong khung thể địa cầu, vẫn chưa liên kết với nó. Mối liên hệ, Manas, khi ấy chưa có.

2. From the First [Race] emanated the Second, called the “Sweat-born” 382 and the “Boneless.” This is the Second Root-Race, endowed by the Preservers [Râkshasas] 383 and the Incarnating Gods [the Asuras and Kumâras] with the first primitive and weak Spark [the germ of intelligence]….

2. Từ Giống dân Thứ Nhất xuất lộ Giống dân Thứ Hai, được gọi là “Sinh từ Mồ Hôi” và “Không Xương”. Đây là Giống dân gốc Thứ Hai, được các Đấng Bảo Tồn [Rakshasa]
và các Thượng đế Nhập Thể [các Asura và Kumara] phú cho Tia Lửa nguyên thủy và yếu ớt đầu tiên [mầm mống của trí tuệ]….

And from these in turn proceeds: 3. The Third Root-Race, the “Two-fold” [Androgynes]. The first Races thereof are Shells, till the last is “inhabited” [i.e., informed] by the Dhyânîs.

Và từ những kẻ này, đến lượt mình, phát sinh: 3. Giống dân gốc Thứ Ba, “Nhị phân” [Lưỡng tính]. Các Giống dân đầu tiên trong đó là những Vỏ, cho đến khi giống cuối cùng được “cư ngụ” [tức được thấm nhuần] bởi các Dhyani.

The Second Race, as stated above, being also sexless, evolved out of itself, at its beginning, the Third, Androgyne Race by an analogous, but already more complicated process. As described in the Commentary, the very earliest of that Race were: The “Sons of Passive Yoga.” 384 They issued from the Second Manushyas [Human Race], and became oviparous. The emanations that came out of their bodies during the seasons of procreation were ovulary; the small spheroidal nuclei developing into a large soft, egg-like vehicle, gradually hardened, when, after a period of gestation, it broke and the young human animal issued from it unaided, as the fowls do in our Race.

Giống dân Thứ Hai, như đã nói ở trên, cũng không có giới tính, lúc khởi đầu đã tiến hóa ra từ chính mình Giống dân Thứ Ba Lưỡng Tính bằng một tiến trình tương tự, nhưng đã phức tạp hơn. Như Cổ Luận mô tả, những cá thể sớm nhất của Giống dân ấy là: “Các Con của Yoga Thụ Động.” Họ phát xuất từ các Manushya Thứ Hai [Giống dân Nhân loại], và trở thành loài đẻ trứng. Những xuất lộ đi ra từ thân thể họ trong các mùa sinh sản có dạng trứng; các hạt nhân nhỏ hình cầu phát triển thành một vận cụ lớn, mềm, giống như trứng, dần dần cứng lại, rồi sau một thời kỳ thai nghén, nó vỡ ra và con vật người non trẻ tự mình chui ra, như loài chim trong Giống dân của chúng ta.

This must seem to the reader ludicrously absurd. Nevertheless, it is strictly on the lines of evolutionary analogy, which Science perceives in the development of the living animal species. First the moneron-like procreation by “self-division”; then, after a few stages, the oviparous, as in the case of the reptiles, which are followed by the birds; then, finally, the mammals with their ovoviviparous modes of producing their young ones.

Điều này hẳn sẽ có vẻ phi lý đến lố bịch đối với độc giả. Tuy nhiên, nó hoàn toàn theo đúng các đường lối của định luật tương đồng tiến hóa, điều mà Khoa học nhận thấy trong sự phát triển của các loài động vật sống. Trước hết là sự sinh sản giống Moneron bằng “tự phân chia”; rồi, sau vài giai đoạn, là đẻ trứng, như trong trường hợp các loài bò sát, tiếp theo là các loài chim; rồi cuối cùng là các động vật có vú với những phương thức noãn thai sinh để sinh ra con non.

If the term “ovoviviparous” is applied to some fish and reptiles, which hatch their eggs within their bodies, why should it not be applied to female mammalians, including woman? The ovule, in which, after impregnation, the development of the fœtus takes place, is an egg.

Nếu thuật ngữ “noãn thai sinh” được áp dụng cho một số loài cá và bò sát, vốn ấp trứng trong thân thể mình, tại sao nó lại không được áp dụng cho các động vật có vú giống cái, kể cả phụ nữ? Noãn bào, trong đó, sau khi thụ tinh, sự phát triển của bào thai diễn ra, chính là một quả trứng.

At all events, this conception is more philosophical than that of Eve with a suddenly created placenta giving birth to Cain, because of the “apple,” when even the marsupial, the earliest of mammals, is not placental yet.

Dù sao, quan niệm này còn triết học hơn quan niệm về Eva với một nhau thai được tạo ra đột ngột để sinh Cain vì “quả táo”, trong khi ngay cả loài thú có túi, loài sớm nhất trong các động vật có vú, vẫn chưa có nhau thai.

Moreover, the progressive order of the methods of reproduction, as unveiled by Science, is a brilliant confirmation of Esoteric Ethnology, It is only necessary to tabulate the data in order to prove our assertion. 385

Hơn nữa, trật tự tiến triển của các phương thức sinh sản, như được Khoa học vén mở, là một xác nhận rực rỡ cho Nhân chủng học Nội môn. Chỉ cần lập bảng các dữ kiện là đủ để chứng minh khẳng định của chúng ta.

I. Fission.I. Phân đôi.

(a) As seen in the division of the homogeneous speck of Protoplasm, known as Moneron or Amœba, into two.

(a) Như thấy trong sự phân chia của đốm Nguyên sinh chất đồng nhất, được gọi là Moneron hay Amoeba, thành hai.

(b) As seen in the division of the nucleated cell, in which the cell-nucleus splits into two sub-nuclei, which either develop within the original cell-wall or burst it, and multiply outside as independent entities. (Cf. the First Root-Race.)

(b) Như thấy trong sự phân chia của tế bào có nhân, trong đó nhân tế bào tách thành hai nhân phụ, hoặc phát triển bên trong thành tế bào nguyên thủy, hoặc làm vỡ nó và nhân lên bên ngoài như những thực thể độc lập. (Xem Giống dân gốc Thứ Nhất.)

II. Budding.II. Nảy chồi.

A small portion of the parent structure swells out at the surface and finally parts company, growing to the size of the original organism; e.g., many vegetables, the sea-anemone, etc. (Cf. the Second Root-Race.) 386

Một phần nhỏ của cấu trúc mẹ phồng lên trên bề mặt và cuối cùng tách rời, phát triển đến kích thước của cơ cấu nguyên thủy; ví dụ, nhiều loài thực vật, hải quỳ, v.v. (Xem Giống dân gốc Thứ Hai.)

III. Spores.III. Bào tử.

A single cell thrown off by the parent organism, which develops into a multicellular organism reproducing the features of the latter, e.g., Bacteria and mosses.

Một tế bào đơn lẻ được cơ cấu mẹ thải ra, phát triển thành một cơ cấu đa bào tái hiện các đặc điểm của cơ cấu sau; ví dụ, vi khuẩn và rêu.

IV. Intermediate Hermaphroditism.IV. Lưỡng tính Trung gian.

Male and female organs inhering in the same individual; e.g., the majority of plants, worms, and snails, etc.; allied to budding. (Cf. Second and early Third Root-Races.)

Các cơ quan đực và cái cùng hiện diện trong một cá thể; ví dụ, đa số thực vật, giun và ốc, v.v.; có liên hệ với sự nảy chồi. (Xem Giống dân gốc Thứ Hai và đầu Giống dân gốc Thứ Ba.)

V. True Sexual Union.V. Sự Kết Hợp Tính Dục Thực Sự.

(Cf. later Third Root-Race.) We now come to an important point with regard to the double evolution of the human race. The Sons of Wisdom, or the Spiritual, Dhyânîs had become “intellectual” through their contact with Matter, because they had already reached, during previous cycles of incarnation, that degree of intellect which enabled them to become independent and self-conscious entities, on this plane of Matter. They were reborn only by reason of Karmic effects. They entered those who were “ready,” and became the Arhats, or Sages, alluded to above. This needs explanation.

(Xem phần sau của Giống dân gốc Thứ Ba.) Nay chúng ta đi đến một điểm quan trọng liên quan đến sự tiến hóa kép của nhân loại. Các Con của Minh Triết, hay các Tinh thần, các Dhyani, đã trở nên “có trí tuệ” nhờ tiếp xúc với Vật chất, bởi vì trong các chu kỳ lâm phàm trước, các Ngài đã đạt đến mức độ trí tuệ giúp các Ngài trở thành những thực thể độc lập và có ngã thức trên cõi Vật chất này. Các Ngài chỉ tái sinh do các hiệu quả nghiệp quả. Các Ngài nhập vào những kẻ “sẵn sàng”, và trở thành các Arhat, hay Hiền giả, đã được ám chỉ ở trên. Điều này cần được giải thích.

It does not mean that Monads entered Forms in which other Monads already were. They were “Essences,” “Intelligences,” and Conscious Spirits; Entities seeking to become still more conscious by uniting with more developed Matter. Their essence was too pure to be distinct from the Universal Essence; but their “Egos,” or Manas (since they are called Mânasaputra, born of Mahat, or Brahmâ) had to pass through earthly human experiences to become all-wise, and be able to start on the returning ascending cycle. The Monads are not discrete principles, limited or conditioned, but rays from that one universal absolute Principle. The entrance of one ray of sunlight following another through the same aperture into a dark room will not constitute two rays, but one ray intensified. It is not in the course of natural law that man should become a perfect Septenary Being before the Seventh Race in the Seventh Round. Yet he has all these principles latent in him from his birth. Nor is it part of the evolutionary law that the Fifth Principle (Manas), should receive its complete development before the Fifth Round. All such prematurely developed intellects (on the spiritual plane) in our Race are abnormal; they are those whom we have called the “Fifth-Rounders.” Even in the coming Seventh Race, at the close of this Fourth Round, while our four lower principles will be fully developed, that of Manas will be only proportionately so. This limitation, however, refers solely to the spiritual development. The intellectual, on the physical plane, was reached during the Fourth Root-Race. Thus, those who were “half ready,” who received “but a spark,” constitute the average humanity which have to acquire their intellectuality during the present Manvantaric evolution, after which they will be ready in the next for the full reception of the “Sons of Wisdom.” While those which “were not ready” at all, the latest Monads, which had hardly evolved from their last transitional and lower animal forms at the close of the Third Round, remained the “narrow-brained” of the Stanza. This explains the otherwise unaccountable degrees of intellectuality among the various races of men—the savage Bushman and the European—even now. Those tribes of savages, whose reasoning powers are very little above the level of the animals, are not the unjustly disinherited, or the “unfavoured,” as some may think—nothing of the kind. They are simply those latest arrivals among the human Monads, which “were not ready”; which have to evolve during the present Round, as also on the three remaining Globes—hence on four different planes of being—so as to arrive at the level of the average class when they reach the Fifth Round. One remark may prove useful, as food for thought to the student in this connection. The Monads of the lowest specimens of humanity—the “narrow-brained” 387 savage South-Sea Islander, the African, the Australian—had no Karma to work out when first born as men, as their more favoured brethren in intelligence had. The former are spinning out Karma only now; the latter are burdened with past, present and future Karma. In this respect the poor savage is more fortunate than the greatest genius of civilized countries.

Điều đó không có nghĩa là các chân thần nhập vào những Hình Tướng trong đó đã có các chân thần khác. Các Ngài là “Tinh túy”, “Thông tuệ”, và các Tinh thần có ý thức; các Thực Thể đang tìm cách trở nên có ý thức hơn nữa bằng cách hợp nhất với Vật chất phát triển hơn. Tinh túy của các Ngài quá thanh khiết để tách biệt khỏi Tinh Túy Vũ Trụ; nhưng các “Chân ngã” của các Ngài, hay Manas, vì các Ngài được gọi là Manasaputra, sinh ra từ Mahat, hay Brahma, phải trải qua các kinh nghiệm nhân loại địa cầu để trở nên toàn minh, và có thể khởi sự chu kỳ trở về đi lên. Các chân thần không phải là những nguyên khí riêng rẽ, bị giới hạn hay bị tác động, mà là các tia phát ra từ Nguyên khí tuyệt đối phổ quát duy nhất ấy. Việc một tia sáng mặt trời đi theo một tia khác xuyên qua cùng một khe hở vào căn phòng tối sẽ không tạo thành hai tia, mà là một tia được tăng cường. Theo diễn trình của định luật tự nhiên, con người không thể trở thành một Hữu Thể Thất Phân hoàn hảo trước Giống dân Thứ Bảy trong Cuộc Tuần Hoàn Thứ Bảy. Tuy nhiên, từ khi sinh ra, y đã có tất cả các nguyên khí này tiềm tàng trong mình. Cũng không phải là một phần của định luật tiến hóa rằng Nguyên khí Thứ Năm, Manas, phải nhận được sự phát triển trọn vẹn trước Cuộc Tuần Hoàn Thứ Năm. Tất cả những trí tuệ phát triển sớm như thế trên cõi tinh thần trong Giống dân của chúng ta đều là bất thường; họ là những người mà chúng ta đã gọi là “những người thuộc Cuộc Tuần Hoàn Thứ Năm”. Ngay cả trong Giống dân Thứ Bảy sắp đến, vào cuối Cuộc Tuần Hoàn Thứ Tư này, trong khi bốn nguyên khí thấp của chúng ta sẽ được phát triển đầy đủ, nguyên khí Manas chỉ được phát triển theo tỷ lệ mà thôi. Tuy nhiên, giới hạn này chỉ liên quan đến sự phát triển tinh thần. Sự phát triển trí tuệ trên cõi hồng trần đã đạt được trong Giống dân gốc Thứ Tư. Vì vậy, những kẻ “sẵn sàng một nửa”, những kẻ chỉ nhận “một tia lửa”, cấu thành nhân loại trung bình, vốn phải đạt được trí tuệ của mình trong sự tiến hóa thuộc Giai kỳ sinh hóa hiện tại; sau đó, trong giai kỳ kế tiếp, họ sẽ sẵn sàng tiếp nhận trọn vẹn “Các Con của Minh Triết”. Còn những kẻ hoàn toàn “chưa sẵn sàng”, các chân thần đến sau cùng, hầu như chỉ vừa tiến hóa khỏi những hình tướng chuyển tiếp và động vật thấp cuối cùng của họ vào cuối Cuộc Tuần Hoàn Thứ Ba, vẫn là những kẻ “não hẹp” của Bài kệ. Điều này giải thích những mức độ trí tuệ khác nhau vốn nếu không thì không thể giải thích được giữa các giống dân khác nhau của loài người — người Bushman hoang dã và người Âu châu — ngay cả hiện nay. Những bộ lạc hoang dã, có năng lực lý luận chỉ cao hơn trình độ động vật rất ít, không phải là những kẻ bị tước quyền một cách bất công, hay những kẻ “không được ưu ái”, như một số người có thể nghĩ — hoàn toàn không phải như vậy. Họ chỉ đơn giản là những kẻ đến sau cùng trong số các chân thần nhân loại, những kẻ “chưa sẵn sàng”; họ phải tiến hóa trong Cuộc Tuần Hoàn hiện tại, cũng như trên ba Bầu hành tinh còn lại — tức trên bốn cõi tồn tại khác nhau — để đạt đến trình độ của lớp trung bình khi họ đến Cuộc Tuần Hoàn Thứ Năm. Một nhận xét có thể hữu ích, như nhiều điều đáng suy ngẫm cho đạo sinh trong mối liên hệ này. Các chân thần của những mẫu thấp nhất của nhân loại — người đảo Nam Hải “não hẹp” , người Phi châu, người Úc bản địa — không có nghiệp quả để xử lý khi lần đầu sinh ra làm người, như các huynh đệ được ưu ái hơn về trí tuệ của họ. Những kẻ trước chỉ đang dệt nên nghiệp quả hiện nay; những kẻ sau mang gánh nặng nghiệp quả quá khứ, hiện tại và tương lai. Về phương diện này, người hoang dã đáng thương còn may mắn hơn thiên tài vĩ đại nhất của các xứ văn minh.

Let us pause before giving any more such strange teachings. Let us try and find out how far any ancient Scriptures, and even Science, permit the possibility of, or even distinctly corroborate, such wild notions as are found in our Anthropogenesis.

Chúng ta hãy dừng lại trước khi đưa ra thêm những giáo huấn kỳ lạ như thế. Chúng ta hãy thử tìm hiểu xem các Kinh sách cổ xưa, và ngay cả Khoa học, cho phép khả năng, hay thậm chí xác nhận rõ ràng, những quan niệm táo bạo như được thấy trong Nhân sinh học của chúng ta đến mức nào.

Recapitulating that which has been said, we find that the Secret Doctrine claims for man: (1) a polygenetic origin; (2) a variety of modes of procreation before humanity fell into the ordinary method of generation; (3) that the evolution of animals—of the mammalians at any rate—follows that of man instead of preceding it. And this is diametrically opposed to the now generally accepted theories of evolution and the descent of man from an animal ancestor.

Tóm lược những gì đã nói, chúng ta thấy rằng Giáo Lý Bí Nhiệm khẳng định cho con người: (1) một nguồn gốc đa phát sinh; (2) nhiều phương thức sinh sản trước khi nhân loại rơi vào phương thức sinh sản thông thường; (3) rằng sự tiến hóa của động vật — ít nhất là của động vật có vú — đi theo sau sự tiến hóa của con người thay vì đi trước nó. Và điều này đối lập hoàn toàn với các lý thuyết tiến hóa hiện nay thường được chấp nhận, cùng thuyết cho rằng con người có nguồn gốc từ một tổ tiên động vật.

Let us, giving to Cæsar what is Cæsar’s, examine, first of all, the chances for the polygenetic theory among the men of Science.

Chúng ta hãy, trả cho Caesar những gì thuộc về Caesar, trước hết xem xét những khả năng của thuyết đa phát sinh trong giới Khoa học.

Now the majority of the Darwinian Evolutionists incline to a polygenetic explanation of the origin of races. On this particular question, however, as in many other cases, Scientists are at sixes and sevens; they agree to disagree.

Hiện nay, đa số các nhà Tiến hóa luận Darwin nghiêng về một lời giải thích đa phát sinh cho nguồn gốc các giống dân. Tuy nhiên, về câu hỏi đặc biệt này, cũng như trong nhiều trường hợp khác, các nhà Khoa học bất đồng rối ren; họ đồng ý rằng họ bất đồng.

Does man descend from one single couple or from several groups—monogenism or polygenism? As far as one can venture to pronounce on what in the absence of witnesses [?] will never be known [?], the second hypothesis is far the most probable. 388

Con người có xuất phát từ một cặp duy nhất hay từ nhiều nhóm — thuyết đơn phát sinh hay thuyết đa phát sinh? Trong chừng mực người ta có thể mạo muội phát biểu về điều mà, vì thiếu nhân chứng [?], sẽ không bao giờ được biết [?], giả thuyết thứ hai có xác suất cao hơn rất nhiều.

Abel Hovelacque, in his Science of Language, comes to a similar conclusion, arguing from the evidence available to a linguistic enquirer.

Abel Hovelacque, trong tác phẩm Khoa Học về Ngôn Ngữ của ông, đi đến một kết luận tương tự, lập luận từ những bằng chứng sẵn có cho một nhà khảo cứu ngôn ngữ.

In an address delivered before the British Association, Professor W. H. Flower remarked on this question: The view which appears best to accord with what is now known of the characters and distribution of the races of man… is a modification of the monogenistic hypothesis[!]. Without entering into the difficult question of the method of man’s first appearance upon the world, we must assume for it a vast antiquity, at all events as measured by any historical standard. If we had any approach to a complete palæontological record, the history of man could be re-constructed, but nothing of the kind is forthcoming.

Trong một bài diễn văn trước Hiệp hội Anh quốc, Giáo sư W. H. Flower nhận xét về vấn đề này: Quan điểm có vẻ phù hợp nhất với những gì hiện được biết về đặc điểm và sự phân bố của các giống dân loài người… là một sự điều chỉnh của giả thuyết đơn phát sinh [!]. Không đi vào câu hỏi khó khăn về phương thức xuất hiện đầu tiên của con người trên thế giới, chúng ta phải giả định cho nó một thời cổ xưa rộng lớn, dù sao cũng được đo bằng bất kỳ tiêu chuẩn lịch sử nào. Nếu chúng ta có được bất cứ điều gì gần với một hồ sơ cổ sinh vật học đầy đủ, lịch sử của con người có thể được tái dựng, nhưng không có điều gì như thế xuất hiện.

Such an admission must be regarded as fatal to the dogmatism of the Physical Evolutionists, and as opening a wide margin to Occult speculations. The opponents of the Darwinian theory were, and still remain, polygenists. Such “intellectual giants” as John Crawford and James Hunt discussed the problem and favoured polygenesis, and in their day there was a far stronger feeling in favour of than against this theory. It was only in 1864 that Darwinians began to be wedded to the theory of unity, of which Messrs. Huxley and Lubbock became the first coryphæi.

Một sự thừa nhận như vậy phải được xem là chí tử đối với chủ nghĩa giáo điều của các nhà Tiến hóa luận Vật chất, và mở ra một khoảng rộng cho các suy luận Huyền bí. Những người chống đối thuyết Darwin đã từng, và vẫn còn, là những người theo thuyết đa phát sinh. Những “người khổng lồ trí tuệ” như John Crawford và James Hunt đã thảo luận vấn đề này và ủng hộ thuyết đa phát sinh; và vào thời của họ, cảm tình ủng hộ thuyết này mạnh hơn rất nhiều so với sự phản đối. Chỉ đến năm 1864, những người theo Darwin mới bắt đầu gắn bó với thuyết nhất nguyên, mà các ông Huxley và Lubbock trở thành những người lĩnh xướng đầu tiên.

As regards the other question, of the priority of man to the animals in the order of evolution, the answer is as promptly given. If man is really the Microcosm of the Macrocosm, then the teaching has nothing so very impossible in it, and is but logical. For, man becomes that Macrocosm for the three lower kingdoms under him. Arguing from a physical standpoint, all the lower kingdoms, save the mineral—which is light itself, crystallized and immetallized—from plants to the creatures which preceded the first mammalians, all have been consolidated in their physical structures by means of the “cast-off dust” of those minerals, and the refuse of the human matter, whether from living or dead bodies, on which they fed and which gave them their outer bodies. In his turn also, man grew more physical, by reabsorbing into his system that which he had given out, and which became transformed in the living animal crucibles through which it had passed, owing to Nature’s alchemical transmutations. There were animals in those days of which our Modern Naturalists have never dreamed; and the stronger became physical material man—the giants of those times—the more powerful were his emanations. Once that Androgyne Humanity separated into sexes, transformed by Nature into child-bearing engines, it ceased to procreate its like through drops of vital energy oozing out of the body. But while man was still ignorant of his procreative powers on the human plane—before his Fall, as a believer in Adam would say—all this vital energy, scattered far and wide from him, was used by Nature for the production of the first mammal-animal forms. Evolution is an eternal cycle of becoming, we are taught; and Nature never leaves an atom unused. Moreover, from the beginning of the Round, all in Nature tends to become Man. All the impulses of the dual, centripetal and centrifugal Force are directed towards one point—Man. The progress in the succession of beings, says Agassiz: Consists in an increasing similarity of the living fauna, and among the vertebrates, especially, in the increasing resemblance to man. Man is the end towards which all animal creation has tended from the first appearance of the first palæozoic fishes. 389

Về câu hỏi kia, tức sự ưu tiên của con người so với động vật trong trật tự tiến hóa, câu trả lời được đưa ra cũng nhanh chóng như vậy. Nếu con người thực sự là Tiểu thiên địa của Đại thiên địa, thì giáo huấn này chẳng có gì quá bất khả, mà chỉ là hợp lý. Vì con người trở thành Đại thiên địa ấy đối với ba giới thấp ở dưới y. Lập luận từ quan điểm hồng trần, tất cả các giới thấp, ngoại trừ giới khoáng vật — vốn chính là ánh sáng, được kết tinh và kim loại hóa — từ thực vật đến những sinh vật đi trước các động vật có vú đầu tiên, tất cả đều được củng cố trong cấu trúc hồng trần của chúng bằng “bụi bị thải ra” của các khoáng vật ấy, và bằng cặn bã của vật chất con người, dù từ thân thể sống hay chết, mà chúng ăn và nhờ đó có được các thể bên ngoài. Đến lượt mình, con người cũng trở nên hồng trần hơn bằng cách tái hấp thụ vào hệ thống của mình những gì y đã phát ra, và những gì đã được chuyển đổi trong các lò luyện động vật sống mà nó đã đi qua, nhờ những chuyển hóa luyện kim của Thiên nhiên. Vào những ngày ấy có những loài động vật mà các nhà Tự nhiên học hiện đại của chúng ta chưa từng mơ tới; và con người vật chất hồng trần càng trở nên mạnh mẽ — những người khổng lồ của thời đó — thì các xuất lộ của y càng mạnh mẽ. Một khi Nhân loại Lưỡng tính ấy phân tách thành hai giới, được Thiên nhiên chuyển đổi thành những bộ máy sinh con, nó không còn sinh sản giống như mình qua các giọt năng lượng sinh lực rỉ ra từ thân thể nữa. Nhưng trong khi con người vẫn còn vô minh về các quyền năng sinh sản của mình trên cõi nhân loại — trước Sự Sa Ngã của y, như một tín đồ tin vào Adam sẽ nói — tất cả năng lượng sinh lực này, phát tán rộng khắp từ y, đã được Thiên nhiên sử dụng để sản sinh những hình tướng động vật có vú đầu tiên. Chúng ta được dạy rằng tiến hóa là một chu kỳ vĩnh cửu của sự trở thành; và Thiên nhiên không bao giờ bỏ phí một nguyên tử nào. Hơn nữa, từ khởi đầu của Cuộc Tuần Hoàn, mọi sự trong Thiên nhiên đều có khuynh hướng trở thành Con Người. Tất cả các xung động của Mãnh lực kép, hướng tâm và ly tâm, đều được hướng về một điểm — Con Người. Agassiz nói: Sự tiến bộ trong chuỗi nối tiếp các sinh linh gồm ở sự tương đồng ngày càng tăng của hệ động vật sống, và trong số các loài có xương sống, đặc biệt là ở sự giống con người ngày càng tăng. Con người là mục tiêu mà toàn bộ sáng tạo động vật đã hướng tới từ khi xuất hiện những loài cá cổ sinh đại đầu tiên.

Just so; but the “palæozoic fishes” are at the lower curve of the arc of the evolution of forms, and this Round began with Astral Man, the reflection of the Dhyân Chohans, called the “Builders.” Man is the alpha and the omega of objective creation. As said in Isis Unveiled: All things had their origin in Spirit—evolution having originally begun from above and proceeding downwards, instead of the reverse, as taught in the Darwinian theory. 390

Đúng như vậy; nhưng “cá cổ sinh đại” nằm ở đường cong thấp của cung tiến hóa các hình tướng, và Cuộc Tuần Hoàn này bắt đầu với Con Người Cảm dục, phản chiếu của các Dhyani Chohan, được gọi là “Các Đấng Kiến Tạo”. Con người là khởi điểm và chung điểm của sáng tạo khách quan. Như đã nói trong Isis Được Vén Màn: Mọi sự đều có nguồn gốc trong Tinh thần — sự tiến hóa ban đầu khởi từ trên cao và tiến xuống dưới, thay vì ngược lại, như được dạy trong thuyết Darwin.

Therefore, the tendency spoken of by the eminent Naturalist above quoted is one inherent in every atom. Only, were one to apply it to both sides of evolution, the observations made would greatly interfere with the modern theory, which has now almost become (Darwinian) law.

Do đó, khuynh hướng được vị Tự nhiên học lỗi lạc trích dẫn ở trên nói đến là khuynh hướng vốn có trong mọi nguyên tử. Chỉ có điều, nếu người ta áp dụng nó cho cả hai mặt của tiến hóa, những nhận xét được đưa ra sẽ can thiệp rất mạnh vào lý thuyết hiện đại, vốn nay gần như đã trở thành định luật Darwin.

But in citing the passage from Agassiz’ work with approval, it must not be understood that the Occultists are making any concession to the theory which derives man from the animal kingdom. The fact that in this Round he preceded the mammalia is obviously not impugned by the consideration that the latter follow in the wake of man.

Nhưng khi trích dẫn đoạn văn trong tác phẩm của Agassiz với sự tán thành, không nên hiểu rằng các nhà huyền bí học đang đưa ra bất kỳ sự nhượng bộ nào đối với lý thuyết cho rằng con người xuất phát từ giới động vật. Sự kiện trong Cuộc Tuần Hoàn này y đi trước các động vật có vú rõ ràng không bị bác bỏ bởi nhận định rằng các loài sau đi theo dấu vết của con người.

25. How did the Mânasa, the Sons of Wisdom, act? They rejected the Self-born. 391 They are not ready. They spurned the Sweat-born. 392 They are not quite ready. They would not enter the first Egg-born. 393

25. Những Mânasa, các Con của Minh triết, đã hành động thế nào? Các Ngài bác bỏ những kẻ Tự sinh. Chúng chưa sẵn sàng. Các Ngài khước từ những kẻ Sinh từ mồ hôi. Chúng chưa hoàn toàn sẵn sàng. Các Ngài không chịu nhập vào những kẻ Sinh từ trứng đầu tiên.

To a Theist or a Christian this verse would suggest a rather theological idea: that of the Fall of the Angels through Pride. In the Secret Doctrine, however, the reasons for the refusal to incarnate in half-ready physical bodies seem to be more connected with physiological than metaphysical reasons. Not all the organisms were sufficiently ready. The Incarnating Powers chose the ripest fruits and spurned the rest.

Đối với một người hữu thần hay một tín hữu Kitô giáo, câu kệ này sẽ gợi lên một ý niệm khá thần học: sự Sa ngã của các Thiên thần do Kiêu mạn. Tuy nhiên, trong Giáo Lý Bí Nhiệm, các lý do của việc từ chối nhập thể vào những thể xác mới sẵn sàng một nửa dường như liên quan nhiều hơn đến các lý do sinh lý học hơn là siêu hình học. Không phải mọi cơ thể đều đã đủ sẵn sàng. Các Quyền năng Nhập thể chọn những quả chín nhất và khước từ phần còn lại.

By a curious coincidence, when selecting a familiar name for the continent on which the first Androgynes, the Third Root-Race, separated, the writer chose, on geographical considerations, that of “Lemuria,” invented by Mr. P. L. Sclater. It was only later that, on reading Hæckel’s Pedigree of Man, it was found that the German “Animalist” had chosen the name for his late continent. He traces, properly enough, the centre of human evolution to Lemuria, but with a slight scientific variation. Speaking of it as that “cradle of mankind,” he pictures the gradual transformation of the anthropoid mammal into the primeval savage!! Vogt, again, holds that in America man sprang from a branch of the platyrrhine apes, independently of the origination of the African and Asian root-stocks from the old world catarrhinians. Anthropologists are, as usual, at loggerheads on this question, as on many others. We shall examine this claim in the light of Esoteric Philosophy in Stanza VIII. Meanwhile, let us give a few moments of attention to the various consecutive modes of procreation according to the laws of Evolution.

Do một sự trùng hợp lạ lùng, khi chọn một tên gọi quen thuộc cho lục địa nơi những người Lưỡng tính đầu tiên, Giống dân gốc thứ ba, đã phân chia, tác giả đã chọn, dựa trên các suy xét địa lý, tên “Lemuria,” do ông P. L. Sclater đặt ra. Chỉ về sau, khi đọc Haeckel trong Phả hệ của Con người, người ta mới thấy rằng nhà “Động vật luận” người Đức ấy cũng đã chọn tên này cho lục địa quá khứ của ông. Ông truy nguyên, khá đúng, trung tâm tiến hoá của con người về Lemuria, nhưng với một sai biệt khoa học nhỏ. Khi nói về nó như “cái nôi của nhân loại,” ông hình dung sự chuyển đổi dần dần của loài có vú dạng người thành người hoang sơ nguyên thủy!! Vogt, lại nữa, cho rằng tại châu Mỹ, con người phát sinh từ một nhánh của loài vượn mũi rộng, độc lập với sự phát sinh của các gốc rễ châu Phi và châu Á từ loài vượn mũi hẹp của Cựu thế giới. Như thường lệ, các nhà nhân chủng học bất đồng gay gắt về vấn đề này, cũng như về nhiều vấn đề khác. Chúng ta sẽ khảo sát tuyên bố này dưới ánh sáng của Triết học Nội môn trong Bài kệ VIII. Trong lúc ấy, chúng ta hãy dành vài khoảnh khắc chú ý đến các phương thức sinh sản kế tiếp nhau khác nhau theo các định luật Tiến hoá.

Let us begin by the mode of reproduction of the later sub-races of the Third Human Race, by those who found themselves endowed with the “Sacred Fire” from the Spark of higher and then independent Beings, who were the psychic and spiritual Parents of Man, as the lower Pitri Devatâs (the Pitris) were the Progenitors of his physical body. That Third and holy Race consisted of men who, at their zenith, were described as “towering giants of godly strength and beauty, and the depositories of all the mysteries of Heaven and Earth.” Have they likewise fallen, if, then, incarnation was the “Fall”?

Chúng ta hãy bắt đầu với phương thức sinh sản của các giống dân phụ về sau của Giống dân Nhân loại thứ ba, với những kẻ thấy mình được phú cho “Lửa Thiêng” từ Tia lửa của các Hữu Thể cao hơn và khi ấy độc lập, vốn là các Cha Mẹ thông linh và tinh thần của Con người, cũng như các Pitri Devata thấp hơn, tức các Pitri, là Tổ phụ của thể xác y. Giống dân thứ ba và thiêng liêng ấy gồm những con người mà, vào thời cực thịnh, được mô tả là “những người khổng lồ cao vút với sức mạnh và vẻ đẹp thần thánh, và là kho tàng lưu giữ mọi bí nhiệm của Trời và Đất.” Có phải họ cũng đã sa ngã, nếu, khi ấy, sự nhập thể là “Sa ngã” chăng?

Of this presently. The only thing now to be noted of these is, that the chief Gods and Heroes of the Fourth and Fifth Races, as of later antiquity, are the deified images of these Men of the Third. The days of their physiological purity, and those of their so-called Fall, have equally survived in the hearts and memories of their descendants. Hence, the dual nature shown in these Gods, both virtue and sin being exalted to their highest degree, in the biographies composed by posterity. They were the Pre-Adamite and the Divine Races, with which even Theology, in whose sight they are all the “accursed Cainite races,” now begins to busy itself.

Điều này sẽ được bàn ngay sau đây. Điều duy nhất hiện nay cần lưu ý về họ là các Thần và Anh hùng chính của Giống dân thứ tư và thứ năm, cũng như của thời cổ đại về sau, là những hình ảnh được thần thánh hoá của các Con người thuộc Giống dân thứ ba ấy. Những ngày tháng tinh khiết sinh lý của họ, và những ngày tháng của cái gọi là Sa ngã của họ, đều còn sống trong trái tim và ký ức của con cháu họ. Do đó có bản chất nhị phân được biểu lộ nơi các Vị Thần này, cả đức hạnh lẫn tội lỗi đều được nâng lên đến mức cao nhất trong các tiểu sử do hậu thế soạn ra. Họ là các Giống dân Tiền Adam và Thiêng liêng, những giống dân mà ngay cả Thần học, trong mắt nó tất cả họ đều là “các giống dân Cain bị nguyền rủa,” nay cũng bắt đầu bận tâm đến.

But the action of the “Spiritual Progenitors” of that Race has first to be disposed of. A very difficult and abstruse point has to be explained with regard to Shlokas 26 and 27.

Nhưng trước hết, cần phải xử lý hành động của các “Tổ phụ Tinh thần” của Giống dân ấy. Một điểm rất khó và thâm áo cần được giải thích liên quan đến các câu kệ 26 và 27.

26. When the Sweat-born produced the Egg-born, the two-fold, 394 the mighty, the powerful with bones, the Lords of Wisdom said: “Now shall we create.”

26. Khi những kẻ Sinh từ mồ hôi sinh ra những kẻ Sinh từ trứng, những kẻ nhị phân, hùng mạnh, đầy quyền năng và có xương, các Chúa Tể Minh triết nói: “Bây giờ chúng ta sẽ sáng tạo.”

Why “now”—and not earlier? This the following Shloka explains.

Tại sao là “bây giờ” — mà không phải sớm hơn? Câu kệ sau đây giải thích điều đó.

27. The Third Race became the Vâhan 395 of the Lords of Wisdom. It created Sons of Will and Yoga, by Kriyâshakti it created them, the Holy Fathers, Ancestors of the Arhats….

27. Giống dân thứ ba trở thành Vận cụ của các Chúa Tể Minh triết. Nó tạo ra những Người Con của Ý Chí và Yoga; bằng Kriyashakti nó tạo ra các Ngài, các Thánh Phụ, Tổ tiên của các A La Hán….

How did they “create,” since the “Lords of Wisdom” are identical with the Hindû Devas, who refuse to “create”? Clearly they are the Kumâras of the Hindû Pantheon and Purânas, those Elder Sons of Brahmâ: Sanandana and the other sous of Vedhas [who], previously created by him… without desire or passion, [remained chaste] inspired with holy wisdom… and undesirous of progeny. 396

Họ đã “sáng tạo” như thế nào, vì các “Chúa Tể Minh triết” đồng nhất với các Deva Ấn giáo, những Đấng từ chối “sáng tạo”? Rõ ràng các Ngài là các Kumara trong hệ thần linh Ấn giáo và các Purana, những Người Con Trưởng ấy của Brahma: Sanandana và các con khác của Vedhas, những vị trước đó được Ngài sáng tạo… không dục vọng hay đam mê, vẫn giữ thanh khiết, được cảm hứng bởi minh triết thiêng liêng… và không ham muốn con cháu.

The power, by which they first created, is that which has since caused them to be degraded from their high status to the position of Evil Spirits, of Satan and his Host—created in their turn by the unclean fancy of exoteric creeds. It was by Kriyâshakti, that mysterious and divine power, latent in the will of every man, which, if not called to life, quickened and developed by Yoga-training, remains dormant in 999,999 men out of a million, and so gets atrophied. This power is explained in the “Twelve Signs of the Zodiac,” 397 as follows: Kriyâshakti:—The mysterious power of thought which enables it to produce external, perceptible, phenomenal results by its own inherent energy. The ancients held that any idea will manifest itself externally, if one’s attention [and will] is deeply concentrated upon it. Similarly, an intense volition will be followed by the desired result.

Quyền năng mà nhờ đó ban đầu họ sáng tạo, chính là quyền năng về sau đã khiến họ bị hạ thấp từ địa vị cao cả xuống vị trí của các Tinh linh Tà ác, của Satan và Đạo quân của hắn — đến lượt chúng lại được tạo ra bởi trí tưởng tượng ô uế của các tín điều ngoại môn. Chính bằng Kriyashakti, quyền năng huyền nhiệm và thiêng liêng ấy, tiềm tàng trong ý chí của mỗi con người, mà nếu không được gọi vào sự sống, được kích hoạt và phát triển bằng sự rèn luyện Yoga, thì vẫn ngủ yên trong 999.999 người trên một triệu người, và do đó bị teo mòn. Quyền năng này được giải thích trong “Mười hai Dấu hiệu Hoàng đạo,” như sau: Kriyashakti:—quyền năng của tư tưởng huyền nhiệm, cho phép nó tạo ra các kết quả bên ngoài, khả giác và hiện tượng bằng năng lượng nội tại của chính nó. Người xưa cho rằng bất kỳ ý tưởng nào cũng sẽ biểu hiện ra bên ngoài, nếu sự chú ý và ý chí của một người được tập trung sâu sắc vào nó. Tương tự, một ý chí mãnh liệt sẽ được tiếp nối bằng kết quả mong muốn.

A Yogî generally performs his wonders by means of Ichchhâshakti (Will-power) and Kriyâshakti.

Một Yogi thường thực hiện các điều kỳ diệu của mình bằng Ichchhashakti, tức quyền năng ý chí, và Kriyashakti.

The Third Race had thus created the so-called “Sons of Will and Yoga,” or the “Ancestors”—the Spiritual Forefathers—of all the subsequent and present Arhats, or Mahâtmâs, in a truly immaculate way. They were indeed created, not begotten, as were their brethren of the Fourth Race, who were generated sexually after the separation of sexes, the “Fall of Man.” For Creation is but the result of Will acting on phenomenal Matter, the calling forth out of it the Primordial Divine Light and Eternal Life. They were the “Holy Seed Grain” of the future Saviours of Humanity.

Như vậy, Giống dân thứ ba đã tạo ra cái gọi là “Những Người Con của Ý Chí và Yoga,” hay “Tổ tiên” — các Tổ phụ Tinh thần — của tất cả các A La Hán về sau và hiện nay, hay các Mahatma, theo một cách thật sự vô nhiễm. Quả thật, các Ngài đã được sáng tạo, chứ không phải được sinh ra, như các huynh đệ của họ thuộc Giống dân thứ tư, những người được sinh sản bằng tính dục sau khi hai giới đã phân ly, tức “Sự Sa ngã của Con người.” Vì Sáng tạo chỉ là kết quả của Ý Chí tác động lên Vật chất hiện tượng, gọi ra từ đó Ánh sáng Thiêng liêng Nguyên sơ và Sự sống Vĩnh cửu. Các Ngài là “Hạt Giống Thiêng” của các Đấng Cứu Thế tương lai của Nhân loại.

Here we have to again make a break, in order to explain certain difficult points, of which there are so many. It is almost impossible to avoid such interruptions. 398

Ở đây chúng ta lại phải tạm ngắt, nhằm giải thích một số điểm khó, mà những điểm như vậy thì rất nhiều. Hầu như không thể tránh được các sự gián đoạn như thế.

The order of the evolution of the Human Races stands as follows in the Fifth Book of the Commentaries, and has already been given: The first men were Chhâyâs (1); the Second, the “Sweat-born” (2); the Third, “Egg-born,” and the holy Fathers born by the power of Kriyâshakti (3); the Fourth were the children of the Padmapâni [Chenresi] (4).

Trật tự tiến hoá của các Giống dân Nhân loại được trình bày như sau trong Quyển thứ năm của các Bình giảng, và đã được nêu ra: những người đầu tiên là Chhaya (1); Giống dân thứ hai, “Sinh từ mồ hôi” (2); Giống dân thứ ba, “Sinh từ trứng,” và các Thánh Phụ sinh ra nhờ quyền năng của Kriyashakti (3); Giống dân thứ tư là con cái của Padmapani [Chenresi] (4).

Of course such primeval modes of procreation—by the evolution of one’s image; through drops of perspiration; after that by Yoga; and then by what people will regard as magic (Kriyâshakti)—are doomed beforehand to be regarded as fairy-tales. Nevertheless, beginning with the first and ending with the last, there is really nothing miraculous in them, nor anything which may not be shown to be natural. This must be proven.

Dĩ nhiên, các phương thức sinh sản nguyên thủy như thế — bằng sự tiến hoá của hình ảnh của chính mình; qua những giọt mồ hôi; sau đó bằng Yoga; rồi bằng điều mà người ta sẽ xem là huyền thuật, tức Kriyashakti — ngay từ đầu đã bị định sẵn là sẽ bị coi như chuyện thần tiên. Tuy nhiên, bắt đầu từ phương thức đầu tiên và kết thúc ở phương thức cuối cùng, thật ra chẳng có gì kỳ diệu trong chúng, cũng chẳng có gì không thể chứng minh là tự nhiên. Điều này phải được chứng minh.

1. Chhâyâ-birth, or that primeval mode of sexless procreation—the First Race having oozed out, so to say, from the bodies of the Pitris—is hinted at in a cosmic allegory in the Purânas. 399 It is the beautiful allegory and story of Sanjñâ, the daughter of Vishvakarman—married to the Sun, who, “unable to endure the fervours of her Lord,” gave him her Chhâyâ (shadow, image, or astral body), while she herself repaired to the jungle to perform religious devotions, or Tapas. The Sun, supposing the Chhâyâ to be his wife, begat by her children, like Adam with Lilith—an ethereal shadow also, as in the legend, though an actual living female monster millions of years ago.

1. Sự sinh ra bằng Chhaya, hay phương thức sinh sản vô tính nguyên thủy ấy — Giống dân thứ nhất, có thể nói, đã rỉ ra từ thân thể của các Pitri — được ám chỉ trong một ngụ ngôn vũ trụ trong các Purana. Đó là ngụ ngôn và câu chuyện đẹp đẽ về Sanjna, con gái của Vishvakarman — kết hôn với Mặt Trời, nhưng vì “không thể chịu nổi sức nóng mãnh liệt của Chúa Tể mình,” đã trao cho Ngài Chhaya của nàng, tức bóng, hình ảnh hay thể tinh tú, còn chính nàng thì đi vào rừng để thực hành các việc sùng tín, hay Tapas. Mặt Trời, tưởng Chhaya là vợ mình, đã sinh con với nàng, giống như Adam với Lilith — cũng là một bóng dĩ thái, như trong truyền thuyết, dù cách đây hàng triệu năm đó là một nữ quái vật sống thật sự.

But, perhaps, this instance proves little except the exuberant fancy of the Paurânic authors. We have another proof ready. If the materialized forms, which are sometimes seen oozing out of the bodies of certain mediums could, instead of vanishing, be fixed and made solid—the “creation” of the First Race would become quite comprehensible. This kind of procreation cannot fail to be suggestive to the student. Neither the mystery nor the impossibility of such a mode is certainly any greater—while it is far more comprehensible to the mind of the true metaphysical thinker—than the mystery of the conception of the fœtus, its gestation and birth as a child, as we now know it.

Nhưng có lẽ ví dụ này chẳng chứng minh được gì nhiều ngoài trí tưởng tượng phong phú của các tác giả Purana. Chúng ta có một bằng chứng khác sẵn sàng. Nếu các hình tướng được hiện hình, đôi khi thấy rỉ ra từ thân thể của một số đồng tử, thay vì tan biến, có thể được cố định và làm cho rắn chắc, thì “sự sáng tạo” của Giống dân thứ nhất sẽ trở nên hoàn toàn dễ hiểu. Loại sinh sản này chắc chắn gợi nhiều ý nghĩa cho đạo sinh. Cả điều bí nhiệm lẫn điều bất khả của một phương thức như thế chắc chắn không lớn hơn — trong khi lại dễ hiểu hơn nhiều đối với thể trí của nhà tư tưởng siêu hình chân chính — so với bí nhiệm của sự thụ thai bào thai, sự thai nghén và sự sinh ra của nó như một đứa trẻ, như chúng ta hiện biết.

Now to the curious and little understood corroboration in the Purânas about the “Sweat-born.”

Bây giờ đến sự chứng thực kỳ lạ và ít được thấu hiểu trong các Purana về những kẻ “Sinh từ mồ hôi.”

2. Kandu is a sage and a Yogî, eminent in holy wisdom and pious austerities, which, finally, awaken the jealousy of the Gods, who are represented in the Hindû Scriptures as being in never-ending strife with the Ascetics. Indra, the “King of the Gods,” 400 finally sends one of his female Apsarases to tempt the sage. This is no worse than Jehovah sending Sarah, Abraham’s wife, to tempt Pharaoh; but in truth it is these Gods (and God), who are ever trying to disturb Ascetics and thus make them lose the fruit of their austerities, who ought to be regarded as “tempting demons,” instead of applying the term to the Rudras, Kumâras, and Asuras, whose great sanctity and chastity seem a standing reproach to the Don Juanic Gods of the Pantheon. But it is the reverse that we find in all the Paurânic allegories, and not without good esoteric reason.

2. Kandu là một hiền triết và một Yogi, lỗi lạc về minh triết thiêng liêng và các khổ hạnh mộ đạo, những điều cuối cùng khơi dậy lòng ganh tị của các Thần, vốn được trình bày trong Kinh điển Ấn giáo như luôn luôn tranh đấu không ngừng với các Nhà Khổ hạnh. Indra, “Vua của các Thần,” cuối cùng sai một nữ Apsaras của mình đến cám dỗ vị hiền triết. Điều này chẳng tệ hơn Jehovah sai Sarah, vợ của Abraham, đến cám dỗ Pharaoh; nhưng thật ra chính các Thần này, và cả Thượng đế ấy, những vị luôn tìm cách quấy rối các Nhà Khổ hạnh và do đó khiến họ mất đi quả của các khổ hạnh, mới đáng được xem là “các quỷ cám dỗ,” thay vì áp dụng danh xưng ấy cho các Rudra, Kumara và Asura, những vị mà sự thánh thiện và thanh khiết lớn lao dường như là một lời khiển trách thường trực đối với các Thần phóng đãng kiểu Đôn Juan của hệ thần linh. Nhưng điều chúng ta thấy trong tất cả các ngụ ngôn kiểu Đôn Juan Purana lại là điều ngược lại, và không phải không có lý do nội môn chính đáng.

The King of the Gods, or Indra, sends a beautiful Apsaras (nymph) named Pramlochâ to seduce Kandu and disturb his penance. She succeeds in her unholy purpose and “nine hundred and seven years six months and three days” 401 spent in her company seem to the Sage as one day. When this psychological or hypnotic state ends, the Muni bitterly curses the creature who has seduced him, thus disturbing his devotions. “Depart, begone!” he cries, “vile bundle of delusions!” And Pramlochâ, terrified, flies away, wiping the perspiration from her body with the leaves of the trees as she passes through the air.

Vua của các Thần, tức Indra, sai một Apsaras xinh đẹp, một tiên nữ tên Pramlocha, đến quyến rũ Kandu và quấy rối sự sám hối của ông. Nàng thành công trong mục đích bất thiện của mình, và “chín trăm linh bảy năm, sáu tháng và ba ngày” sống trong sự bầu bạn của nàng đối với vị Hiền triết chỉ như một ngày. Khi trạng thái tâm lý hay thôi miên này chấm dứt, vị Muni cay đắng nguyền rủa sinh vật đã quyến rũ ông, qua đó làm gián đoạn sự sùng tín của ông. “Hãy đi đi, biến đi!” ông kêu lên, “đống ảo tưởng hèn hạ!” Và Pramlocha, kinh hãi, bay đi, lau mồ hôi khỏi thân mình bằng lá cây khi nàng lướt qua không trung.

The nymph went from tree to tree, and, as, with the dusky shoots that crowned their summits, she dried her limbs, the child she had conceived by the Rishi came forth from the pores of her skin in drops of perspiration. The trees received the living dews; and the winds collected them into one mass. “This,” said Soma [the Moon], “I matured by my rays; and gradually it increased in size, till the exhalation that had rested on the tree tops became the lovely girl named Mârishâ.” 402

Tiên nữ đi từ cây này sang cây khác, và khi nàng dùng những chồi non sẫm màu phủ trên ngọn cây để lau khô tay chân mình, đứa trẻ nàng đã thụ thai với vị Rishi thoát ra từ các lỗ chân lông trên da nàng thành những giọt mồ hôi. Cây cối đón nhận những giọt sương sống ấy; và gió gom chúng lại thành một khối. “Cái này,” Soma, tức Mặt Trăng, nói, “ta đã làm cho chín muồi bằng các tia sáng của ta; và dần dần nó lớn lên, cho đến khi hơi nước đã đọng trên ngọn cây trở thành thiếu nữ xinh đẹp tên Mârishâ.”

Now Kandu stands for the First Race. He is a son of the Pitris, hence one “devoid of mind,” a fact hinted at by his being unable to discern a period of nearly one thousand years from one day; therefore he is shown to be so easily deluded and blinded. Here is a variant of the allegory in Genesis, of Adam, born an image of clay, into which the “Lord God” breathes the “breath of life” but not of intellect and discrimination, which are developed only after he had tasted of the fruit of the Tree of Knowledge; in other words when he has acquired the first development of Mind, and had implanted in him Manas, whose terrestrial aspect is of the earth earthy, though its highest faculties connect it with Spirit and the Divine Soul. Pramlochâ is the Hindû Lilith of the Âryan Adam; and Mârishâ, the daughter born of the perspiration from her pores, is the “Sweat-born,” and stands as a symbol for the Second Race of mankind.

Nay Kandu tượng trưng cho Giống dân thứ nhất. Ông là con của các Pitri, do đó là một kẻ “không có trí,” một sự kiện được ám chỉ qua việc ông không thể phân biệt một thời kỳ gần một nghìn năm với một ngày; vì vậy ông được trình bày là dễ bị mê hoặc và làm mù quáng như thế. Đây là một biến thể của ngụ ngôn trong Sáng Thế Ký, về Adam, sinh ra như một hình ảnh bằng đất sét, vào đó “Đức Chúa Trời” thổi “hơi thở sự sống” nhưng không thổi trí năng và phân biện, những điều chỉ được phát triển sau khi y nếm trái của Cây Tri thức; nói cách khác, khi y đã đạt được sự phát triển đầu tiên của Trí tuệ, và Manas đã được cấy vào y, mà phương diện thế gian của nó thì thuộc về đất, trần tục, dù các năng lực cao nhất của nó liên kết nó với Tinh thần và Linh hồn Thiêng liêng. Pramlocha là Lilith Ấn giáo của Adam Arya; và Mârishâ, người con gái sinh ra từ mồ hôi nơi các lỗ chân lông của nàng, là kẻ “Sinh từ mồ hôi,” và là biểu tượng của Giống dân thứ hai của nhân loại.

It is not Indra, who in this case figures in the Purânas, but Kâmadeva, the God of love and desire, who sends Pramlochâ on Earth. Logic, as well as the Esoteric Doctrine, shows that it must be so. For Kâma is the king and lord of the Apsarases, of whom Pramlochâ is one; and, therefore, when Kandu, cursing her, exclaims: “Thou hast performed the office assigned by the monarch of the gods, go!”—he must mean by that monarch Kâma, and not Indra, to whom the Apsarases are not subservient. For Kâma, again, is in the Rig Veda 403 the personification of that feeling which leads and propels to creation. He was the First Movement that stirred the One, after its manifestation from the purely Abstract Principle, to create.

Trong trường hợp này, không phải Indra là nhân vật xuất hiện trong các Purana, mà là Kamadeva, Thần của tình yêu và dục vọng, Đấng sai Pramlocha xuống Trái Đất. Lý luận, cũng như Giáo lý Nội môn, cho thấy rằng phải là như vậy. Vì Kama là vua và chúa tể của các Apsaras, mà Pramlocha là một trong số đó; và vì vậy, khi Kandu nguyền rủa nàng và kêu lên: “Ngươi đã thực hiện nhiệm vụ được vị quân vương của các thần giao phó, hãy đi!” — thì qua vị quân vương ấy, ông phải muốn nói đến Kama, chứ không phải Indra, người mà các Apsaras không phục tùng. Vì Kama, lại nữa, trong Rig Veda là sự nhân cách hoá của cảm xúc dẫn dắt và thúc đẩy sự sáng tạo. Ngài là Chuyển động Đầu tiên làm khuấy động Đấng Duy Nhất, sau khi Đấng ấy biểu hiện từ Nguyên khí hoàn toàn Trừu tượng, để sáng tạo.

Desire first arose in It, which was the Primal Germ of Mind; and which Sages, searching with their intellect, have discovered to be the bond which connects Entity with Non-Entity.

Dục vọng trước tiên phát sinh trong Đó, vốn là Mầm mống Nguyên sơ của Trí tuệ; và các Hiền triết, khi tìm kiếm bằng trí năng của mình, đã khám phá rằng nó là mối liên kết nối Thực Thể với Phi-Thực Thể.

A Hymn in the Atharva Veda exalts Kâma into a supreme God and Creator, and says: Kâma was born the first. Him, neither Gods nor Fathers [Pitris] nor Men have equalled.

Một Thánh ca trong Atharva Veda tôn vinh Kama thành Thượng đế và Đấng Sáng tạo tối cao, và nói rằng: Kama được sinh ra đầu tiên. Không vị Thần nào, không Tổ phụ nào, tức Pitri, cũng không Con người nào sánh bằng Ngài.

The Atharva Veda identifies him with Agni, but makes him superior to that God. The Taittirîya Brâhmana makes him allegorically the son of Dharma (moral religious duty, piety and justice) and of Shraddhâ (faith). Elsewhere Kâma is born from the heart of Brahmâ; therefore he is Âtmabhû “Self-Existent,” and Aja, the “Unborn.” His sending Pramlochâ has a deep philosophical meaning; sent by Indra—the narrative has none. As Erôs was connected in early Greek mythology with the world’s creation, and only afterwards became the sexual Cupid, so was Kâma in his original Vedic character; the Harivamsha making him a son of Lakshmî, who is Venus. The allegory, as said, shows the psychic element developing the physiological, before the birth of Daksha—the progenitor of real physical men—who is made to be born from Mârishâ and before whose time living beings and men were procreated “by the will, by sight, by touch, and by yoga,” as will be shown.

Atharva Veda đồng nhất Ngài với Agni, nhưng đặt Ngài cao hơn vị Thần ấy. Taittiriya Brahmana về mặt ngụ ngôn xem Ngài là con của Dharma, tức bổn phận tôn giáo đạo đức, lòng mộ đạo và công chính, và của Shraddha, tức đức tin. Ở nơi khác, Kama được sinh ra từ trái tim của Brahma; vì vậy Ngài là Atmabhu, “Tự hữu,” và Aja, “Bất sinh.” Việc Ngài sai Pramlocha có một ý nghĩa triết học sâu xa; nếu do Indra sai, câu chuyện không có ý nghĩa ấy. Cũng như Eros trong thần thoại Hy Lạp sơ kỳ được liên kết với sự sáng tạo thế giới, và chỉ về sau mới trở thành Cupid tính dục, thì Kama trong đặc tính Veda nguyên thủy của Ngài cũng như vậy; Harivamsha xem Ngài là con của Lakshmi, tức Venus. Như đã nói, ngụ ngôn cho thấy yếu tố thông linh phát triển yếu tố sinh lý, trước khi Daksha ra đời — vị tổ phụ của những con người hồng trần thật sự — người được nói là sinh ra từ Mârishâ, và trước thời của ông, các sinh linh và con người được sinh sản “bằng ý chí, bằng thị giác, bằng xúc chạm và bằng yoga,” như sẽ được trình bày.

This, then, is the allegory on the mode of procreation of the Second or the “Sweat-born.” The same for the Third Race in its final development.

Vậy, đây là ngụ ngôn về phương thức sinh sản của Giống dân thứ hai, hay những kẻ “Sinh từ mồ hôi.” Điều tương tự cũng áp dụng cho Giống dân thứ ba trong sự phát triển cuối cùng của nó.

Mârishâ, through the exertions of Soma, the Moon, is taken to wife by the Prachetases, the production of the “Mind-born” sons of Brahmâ also, 404 from whom they beget the Patriarch Daksha—a son of Brahmâ also in a former Kalpa or life, explain and add the Purânas, in order to mislead, yet speaking the truth.

Mârishâ, nhờ các nỗ lực của Soma, Mặt Trăng, được các Prachetases cưới làm vợ, những vị cũng là sản phẩm của các con “Sinh từ trí” của Brahma, và từ nàng họ sinh ra vị Tổ phụ Daksha — cũng là con của Brahma trong một Kalpa hay đời sống trước, các Purana giải thích và thêm vào như vậy, nhằm đánh lạc hướng, nhưng vẫn nói lên sự thật.

3. The early Third Race, then, is formed from drops of “Sweat,” which, after many a transformation, grow into human bodies. This is not more difficult to imagine or realize than the growth of the fœtus from an imperceptible germ, and its subsequent development into a child, and then into a strong, heavy man. But the Third Race changes yet again its mode of procreation according to the Commentaries. It is said to have emanated a vis formativa, which changed the drops of perspiration into greater drops, which grew, expanded, and became ovoid bodies—huge eggs. In these the human fœtus gestated for several years. In the Purânas, Mârishâ, the daughter of Kandu, the sage, becomes the wife of the Prachetases, and the mother of Daksha. Now Daksha is the father of the first human-like Progenitors, having been born in this way. He is mentioned later on. The evolution of man, the microcosm, is analogous to that of the universe, the macrocosm. His evolution stands between that of the latter and that of the animal, for which man, in his turn, is a macrocosm.

3. Vậy, Giống dân thứ ba sơ kỳ được hình thành từ những giọt “Mồ hôi,” sau nhiều lần chuyển đổi, lớn lên thành các thể người. Điều này không khó tưởng tượng hay nhận ra hơn sự tăng trưởng của bào thai từ một mầm không thể nhận thấy, và sự phát triển tiếp theo của nó thành một đứa trẻ, rồi thành một người đàn ông mạnh mẽ, nặng nề. Nhưng theo các Bình giảng, Giống dân thứ ba lại thay đổi phương thức sinh sản của mình một lần nữa. Người ta nói nó đã xuất lộ một vis formativa, làm biến các giọt mồ hôi thành những giọt lớn hơn, lớn lên, nở rộng và trở thành các thể hình trứng — những quả trứng khổng lồ. Trong đó, bào thai người được thai nghén trong nhiều năm. Trong các Purana, Mârishâ, con gái của hiền triết Kandu, trở thành vợ của các Prachetases, và là mẹ của Daksha. Nay Daksha là cha của các Tổ phụ đầu tiên giống người, vì đã sinh ra theo cách này. Ông sẽ được nhắc đến về sau. Sự tiến hoá của con người, tiểu thiên địa, tương đồng với sự tiến hoá của vũ trụ, đại thiên địa. Sự tiến hoá của y đứng giữa sự tiến hoá của vũ trụ và sự tiến hoá của loài vật, mà đối với loài vật, đến lượt mình, con người là một đại thiên địa.

Then the Third Race becomes: 4. The Androgyne, or Hermaphrodite. This process of men-bearing explains, perhaps, why Aristophanes, in Plato’s Banquet, describes the nature of the old race as “androgynous,” the form of every individual being rounded, “having the back and sides as in a circle,” whose “manner of running was circular… terrible in force and strength and with prodigious ambition.” Therefore, to make them weaker, “Zeus divided them [in the Third Root-Race] into two, and Apollo [the Sun], under his direction, closed up the skin.”

Khi ấy Giống dân thứ ba trở thành: 4. Lưỡng tính, hay ái nam ái nữ. Tiến trình sinh người này có lẽ giải thích vì sao Aristophanes, trong Bữa tiệc của Plato, mô tả bản chất của giống dân xưa là “lưỡng tính,” hình tướng của mỗi cá thể thì tròn, “có lưng và hai bên như trong một vòng tròn,” và “cách chạy của họ là theo vòng tròn… đáng sợ về lực và sức mạnh, với tham vọng phi thường.” Vì vậy, để làm họ yếu đi, “Zeus chia họ, trong Giống dân gốc thứ ba, làm hai, và Apollo, tức Mặt Trời, dưới sự chỉ đạo của ông, khép kín da lại.”

The Madagascans—the island belonged to Lemuria—have a tradition about the first man. He lived at first without eating, and, having indulged in food, a swelling appeared in his leg; this bursting, there emerged from it a female, who became the mother of their race. Truly, “we have our sciences of Heterogenesis and Parthenogenesis, showing that the field is yet open…. The polyps… produce their offspring from themselves, like the buds and ramifications of a tree….” Why not the primitive human polyp? The very interesting polyp Stauridium passes alternately from gemmation into the sex method of reproduction. Curiously enough, though it grows merely as a polyp on a stalk, it produces gemmules, which ultimately develop into a sea-nettle or Medusa. The Medusa is utterly dissimilar to its parent-organism, the Stauridium. It also reproduces itself differently, by sexual method, and from the resulting eggs Stauridia once more put in an appearance. This striking fact may assist many to understand that a form may be evolved—as in the sexual Lemurians from hermaphrodite parentage—quite unlike its immediate progenitors. It is, moreover, unquestionable that in the case of human incarnations the law of Karma, racial or individual, overrides the subordinate tendencies of Heredity, its servant.

Người Madagascar — hòn đảo từng thuộc Lemuria — có một truyền thống về con người đầu tiên. Ban đầu y sống mà không ăn, và sau khi buông mình vào việc ăn uống, một chỗ sưng xuất hiện ở chân y; chỗ ấy vỡ ra, và từ đó xuất hiện một người nữ, người trở thành mẹ của giống dân họ. Quả thật, “chúng ta có các khoa học về Dị sinh và Trinh sản, cho thấy rằng lĩnh vực này vẫn còn mở…. Các loài polyp… sinh sản con cái từ chính mình, như các chồi và nhánh của một cây….” Tại sao lại không có polyp người nguyên thủy? Loài polyp rất thú vị Stauridium luân phiên chuyển từ sự nảy chồi sang phương thức sinh sản hữu tính. Lạ lùng thay, dù nó chỉ mọc như một polyp trên một cuống, nó tạo ra các mầm nhỏ, cuối cùng phát triển thành sứa biển hay Medusa. Medusa hoàn toàn khác với cơ thể mẹ của nó, Stauridium. Nó cũng tự sinh sản theo cách khác, bằng phương thức hữu tính, và từ những trứng sinh ra đó, Stauridia lại xuất hiện một lần nữa. Sự kiện nổi bật này có thể giúp nhiều người thấu hiểu rằng một hình tướng có thể tiến hoá — như nơi những người Lemuria hữu tính từ tổ tiên lưỡng tính — hoàn toàn không giống các tổ phụ trực tiếp của nó. Hơn nữa, điều không thể nghi ngờ là trong trường hợp các nhập thể người, định luật nghiệp quả, thuộc giống dân hay cá nhân, vượt lên trên các khuynh hướng phụ thuộc của Di truyền, vốn là kẻ phục vụ của nó.

The meaning of the last sentence in the above-quoted Commentary on Shloka 27, namely, that the Fourth Race were the children of Padmapâni, may find its explanation in a certain letter from the Inspirer of Esoteric Buddhism: The majority of mankind belongs to the seventh sub-race of the Fourth Root-Race—the above-mentioned Chinamen and their off-shoots and branchlets (Malayans, Mongolians, Tibetans, Hungarians, Finns, and even the Esquimaux are all remnants of this last offshoot).

Ý nghĩa của câu cuối trong đoạn Bình giảng được trích ở trên về câu kệ 27, tức rằng Giống dân thứ tư là con cái của Padmapani, có thể tìm thấy lời giải thích trong một lá thư nào đó từ Đấng Cảm hứng của Phật giáo Bí truyền: Phần lớn nhân loại thuộc về giống dân phụ thứ bảy của Giống dân gốc thứ tư — những người Trung Hoa nói trên và các nhánh phụ cùng nhánh nhỏ của họ, tức người Mã Lai, Mông Cổ, Tây Tạng, Hungary, Phần Lan, và thậm chí cả người Eskimo, đều là tàn dư của nhánh phụ cuối cùng này.

Padmapâni or Avalokiteshvara, in Sanskrit, is, in Tibetan, Chenresi. Now, Avalokiteshvara is the great Logos in its higher aspect and in the divine regions. But in the manifested planes, he is, like Daksha, the Progenitor (in a spiritual sense) of men. Padmapâni-Avalokiteshvara is called esoterically Bodhisattva (or Dhyân Chohan) Chenresi Vanchug, “the powerful and all-seeing.” He is considered now as the greatest protector of Asia in general, and of Tibet in particular. In order to guide the Tibetans and Lamas in holiness, and preserve the great Arhats in the world, this heavenly Being is credited with manifesting himself from age to age in human form. A popular legend has it that whenever faith begins to die out in the world, Padmapâni Chenresi, the “Lotus-bearer,” emits a brilliant ray of light, and forthwith incarnates himself in one of the two great Lamas—the Dalai and Teschu Lamas; finally, it is believed that he will incarnate as the “most perfect Buddha” in Tibet, instead of in India, where his predecessors, the great Rishis and Manus had appeared in the beginning of our Race, but now appear no longer. Even the exoteric appearance of Dhyâni Chenresi is suggestive of the Esoteric Teaching. He is evidently, like Daksha, the synthesis of all the preceding Races and the progenitor of all the human Races after the Third—the first complete one—and thus is represented as the culmination of the four Primeval Races in his eleven-faced form. This is a column built in four rows, each series having three faces or heads of different complexions; the three faces for each Race being typical of its three fundamental physiological transformations. The first is white (moon-coloured); the second is yellow; the third, red-brown; the fourth, in which are only two faces—the third face being left a blank; a reference to the untimely end of the Atlanteans—is brown-black. Padmapâni (Daksha) is seated on the column, and forms the apex. In this reference compare Shloka 39. The Dhyân Chohan is represented with four arms, another allusion to the four Races. For while two are folded, the third hand holds a lotus—Padmapâni, the “Lotus-bearer”; the flower symbolizing generation—and the fourth holds a serpent, emblem of the Wisdom in his power. On his neck is a rosary, and on his head the sign of water [Symbol: two horizontal rows of wave-like symbols]—matter, deluge—while on his brow rests the third eye, Shiva’s eye, that of spiritual insight. His name is “Protector” (of Tibet), “Saviour of Humanity.” On other occasions when he has only two arms, he is Chenresi the Dhyânî, and Bodhisattva, Chakna Padma Karpo, “he who holds a white lotus.” His other name is Chantong, “he of the thousand eyes,” when he is endowed with a thousand arms and hands, on the palm of each of which is represented an eye of Wisdom, these arms radiating from his body like a forest of rays. Another of his names in Sanskrit is Lokapati or Lokanâtha, “Lord of the World”; and in Tibetan Jigten Gonpo, “Protector and Saviour” against evil of any kind. 405

Padmapani hay Avalokiteshvara, trong tiếng Sanskrit, trong tiếng Tây Tạng là Chenresi. Nay Avalokiteshvara là Thượng đế vĩ đại trong phương diện cao hơn của Ngài và trong các vùng thiêng liêng. Nhưng trên các cõi biểu hiện, Ngài, giống như Daksha, là Tổ phụ, theo nghĩa tinh thần, của con người. Padmapani-Avalokiteshvara được gọi một cách huyền bí là Bồ Tát, hay Dhyani Chohan Chenresi Vanchug, “Đấng quyền năng và thấy biết tất cả.” Ngài hiện được xem là vị bảo hộ vĩ đại nhất của châu Á nói chung, và của Tây Tạng nói riêng. Để hướng dẫn người Tây Tạng và các Lạt ma trong sự thánh thiện, và gìn giữ các A La Hán vĩ đại trong thế gian, Hữu Thể thiên thượng này được tin là biểu hiện chính mình từ thời đại này sang thời đại khác trong hình tướng con người. Một truyền thuyết phổ biến kể rằng mỗi khi đức tin bắt đầu tàn lụi trong thế gian, Padmapani Chenresi, “Người mang Hoa sen,” phát ra một tia sáng rực rỡ, và lập tức nhập thể trong một trong hai vị Lạt ma vĩ đại — Đạt Lai và Teschu Lạt ma; cuối cùng, người ta tin rằng Ngài sẽ nhập thể như “Đức Phật hoàn hảo nhất” tại Tây Tạng, thay vì tại Ấn Độ, nơi các vị tiền nhiệm của Ngài, các Rishi và Manu vĩ đại, đã xuất hiện vào buổi đầu Giống dân của chúng ta, nhưng nay không còn xuất hiện nữa. Ngay cả sắc tướng ngoại môn của Dhyani Chenresi cũng gợi ý về Giáo huấn Nội môn. Rõ ràng Ngài, như Daksha, là sự tổng hợp của tất cả các Giống dân trước đó và là tổ phụ của tất cả các Giống dân người sau Giống dân thứ ba — giống dân hoàn chỉnh đầu tiên — và vì vậy được biểu hiện như đỉnh điểm của bốn Giống dân Nguyên thủy trong hình tướng mười một mặt của Ngài. Đây là một cột được dựng thành bốn hàng, mỗi loạt có ba gương mặt hay đầu với màu da khác nhau; ba gương mặt cho mỗi Giống dân tượng trưng cho ba chuyển đổi sinh lý căn bản của nó. Gương mặt thứ nhất trắng, màu Mặt Trăng; thứ hai vàng; thứ ba đỏ nâu; thứ tư, trong đó chỉ có hai gương mặt — gương mặt thứ ba để trống, ám chỉ kết thúc yểu mệnh của người Atlantis — là nâu đen. Padmapani, tức Daksha, ngự trên cột và tạo thành đỉnh. Về điểm này, hãy so sánh câu kệ 39. Dhyani Chohan được trình bày với bốn cánh tay, một ám chỉ khác đến bốn Giống dân. Vì trong khi hai tay khoanh lại, bàn tay thứ ba cầm một hoa sen — Padmapani, “Người mang Hoa sen”; bông hoa tượng trưng cho sự sinh sản — và tay thứ tư cầm một con rắn, biểu tượng của Minh triết trong quyền năng của Ngài. Trên cổ Ngài là chuỗi hạt, và trên đầu Ngài là dấu hiệu của nước [Biểu tượng: hai hàng ngang các ký hiệu dạng sóng] — vật chất, trận hồng thủy — trong khi trên trán Ngài có con mắt thứ ba, con mắt của Shiva, con mắt của sự thấu thị tinh thần. Danh hiệu của Ngài là “Đấng Bảo hộ” của Tây Tạng, “Đấng Cứu Thế của Nhân loại.” Vào những dịp khác, khi Ngài chỉ có hai tay, Ngài là Chenresi vị Dhyani, và Bồ Tát, Chakna Padma Karpo, “người cầm hoa sen trắng.” Tên khác của Ngài là Chantong, “người có nghìn mắt,” khi Ngài được phú cho một nghìn cánh tay và bàn tay, trên lòng mỗi bàn tay có biểu tượng một con mắt Minh triết, các cánh tay này tỏa ra từ thân Ngài như một rừng tia sáng. Một danh hiệu khác của Ngài trong tiếng Sanskrit là Lokapati hay Lokanatha, “Chúa Tể Thế Giới”; và trong tiếng Tây Tạng là Jigten Gonpo, “Đấng Bảo hộ và Cứu thế” chống lại mọi loại tà ác.

Padmapâni, however, is the “Lotus-bearer” symbolically only for the profane; esoterically, it means the supporter of the Kalpas, the last of which is called Pâdma, and represents one half of the life of Brahmâ. Though really a minor Kalpa, it is called Mahâ, “great,” because it comprises the age in which Brahmâ sprang from a lotus. Theoretically, the Kalpas are infinite, but practically they are divided and subdivided in Space and Time, each division—down to the smallest—having its own Dhyânî as patron or regent. Padmapâni (Avalokiteshvara) becomes, in China, in his female aspect, Kwan-yin, “who assumes any form, at pleasure, in order to save mankind.” The knowledge of the astrological aspect of the constellations on the respective “birthdays” of these Dhyânîs—Amitabha (the A-mi-to Fo, of China), included: e.g., on the 19th day of the second month, on the 17th day of the eleventh month, and on the 7th day of the third month, 406 etc. —gives the Occultist the greatest facilities for performing what are called “magic” feats. The future of an individual is seen, with all its coming events marshalled in order, in a magic mirror placed under the ray of certain constellations. But—beware of the reverse of the medal, Sorcery.

Tuy nhiên, Padmapani chỉ là “Người mang Hoa sen” về mặt biểu tượng đối với người phàm tục; một cách huyền bí, danh hiệu ấy có nghĩa là Đấng nâng đỡ các Kalpa, Kalpa cuối cùng trong số đó được gọi là Padma, và tượng trưng cho một nửa đời sống của Brahma. Dù thật ra là một Kalpa nhỏ, nó được gọi là Maha, “vĩ đại,” vì nó bao gồm thời đại trong đó Brahma phát sinh từ một hoa sen. Về lý thuyết, các Kalpa là vô hạn, nhưng trên thực tế, chúng được phân chia và phân chia nhỏ trong Không gian và Thời gian, mỗi phân chia — cho đến phần nhỏ nhất — đều có Dhyani riêng làm vị bảo trợ hay nhiếp chính. Padmapani, tức Avalokiteshvara, ở Trung Hoa, trong phương diện nữ của Ngài, trở thành Kwan-yin, “người tùy ý nhận bất kỳ hình tướng nào để cứu nhân loại.” Tri thức về phương diện chiêm tinh của các chòm sao vào các “ngày sinh” tương ứng của các Dhyani này — gồm cả Amitabha, tức A-mi-to Fo của Trung Hoa: chẳng hạn, vào ngày 19 của tháng thứ hai, ngày 17 của tháng thứ mười một, và ngày 7 của tháng thứ ba, v.v. — đem lại cho nhà huyền bí học những thuận lợi lớn nhất để thực hiện những điều được gọi là kỳ công “huyền thuật.” Tương lai của một cá nhân được nhìn thấy, với tất cả các biến cố sắp đến được sắp hàng theo trật tự, trong một tấm gương huyền thuật đặt dưới tia sáng của một số chòm sao nhất định. Nhưng — hãy coi chừng mặt trái của tấm huy chương, Tà thuật.

Stanza VIII. Evolution Of The Animal Mammalians: The First Fall. — Bài kệ VIII. Sự tiến hoá của các loài thú có vú: Sự Sa ngã đầu tiên.

28. How the first mammals were produced. 29. A quasi-Darwinian evolution. 30. The animals get solid bodies. 31. Their separation into sexes. 32. The first sin of the mindless men.

28. Các loài có vú đầu tiên được tạo ra như thế nào. 29. Một sự tiến hoá gần như theo Darwin. 30. Các loài vật có được thể rắn chắc. 31. Sự phân chia của chúng thành hai giới. 32. Tội lỗi đầu tiên của những con người không có trí.

28. From the drops of sweat, from the residue of the substance, matter from dead bodies of men and animals of the Wheel before, 407 and from cast-off dust, the first animals 408 were produced.

28. Từ những giọt mồ hôi, từ phần cặn của chất liệu, vật chất từ các xác chết của con người và loài vật thuộc Vòng trước, và từ bụi bị thải bỏ, các loài vật đầu tiên được tạo ra.

The Occult Doctrine maintains that, in this Round, the mammalians were a later work of evolution than man. Evolution proceeds in Cycles. The great Manvantaric Cycle of Seven Rounds, beginning in the First Round with the mineral, vegetable, and animal, brings its evolutionary work on the descending arc to a dead stop in the middle of the Fourth Race, at the close of the first half of the Fourth Round. It is on our Earth, then—the Fourth Sphere and the lowest—and in the present Round, that this middle point has been reached. And since the Monad has passed, after its first “immetallization” on Globe A, through the mineral, vegetable, and animal worlds in every degree of the three states of matter, except the last degree of the third or solid state, which it reached only at the “mid-point of evolution,” it is but logical and natural that at the beginning of the Fourth Round on Globe D, Man should be the first to appear; and also that his frame should be of the most tenuous matter that is compatible with objectivity. To make it still clearer: if the Monad begins its cycle of incarnations through the three objective kingdoms on the descending curved line, it has necessarily to enter on the reascending curved line of the Sphere as a man also. On the descending arc it is the spiritual which gradually transforms into the material. On the middle line of the base, Spirit and Matter are equilibrized in Man. On the ascending arc, Spirit is slowly reasserting itself at the expense of the physical, or Matter, so that, at the close of the Seventh Race of the Seventh Round, the Monad will find itself as free from Matter and all its qualities as it was in the beginning; having gained in addition the experience and wisdom, the fruitage of all its personal lives, without their evil and temptations.

Giáo Lý Huyền Bí khẳng định rằng, trong cuộc tuần hoàn này, các loài hữu nhũ là công trình tiến hóa muộn hơn con người. Tiến hóa diễn ra theo các Chu kỳ. Chu kỳ vĩ đại thuộc Giai kỳ sinh hóa gồm Bảy cuộc tuần hoàn, bắt đầu trong cuộc tuần hoàn thứ nhất với giới kim thạch, giới thực vật và giới động vật, đưa công trình tiến hóa của nó trên cung đi xuống đến chỗ dừng hẳn ở giữa Giống dân thứ tư, vào lúc kết thúc nửa đầu của cuộc tuần hoàn thứ tư. Vậy chính trên Trái Đất của chúng ta — Khối cầu thứ tư và thấp nhất — và trong cuộc tuần hoàn hiện tại, điểm giữa này đã đạt tới. Và vì chân thần, sau lần đầu “nhập-kim-thạch” trên bầu hành tinh A, đã đi qua các thế giới kim thạch, thực vật và động vật trong mọi cấp độ của ba trạng thái vật chất, ngoại trừ cấp độ cuối cùng của trạng thái thứ ba hay trạng thái rắn, mà nó chỉ đạt tới ở “điểm giữa của tiến hóa”, nên điều hợp lý và tự nhiên là vào đầu cuộc tuần hoàn thứ tư trên bầu hành tinh D, Con người phải là kẻ xuất hiện trước tiên; và cũng hợp lý rằng khung thể của y phải thuộc loại vật chất tinh tế nhất còn tương hợp với tính khách quan. Nói cho rõ hơn nữa: nếu chân thần bắt đầu chu kỳ nhập thể của nó qua ba giới khách quan trên đường cong đi xuống, thì tất yếu nó cũng phải bước vào đường cong đi lên của Khối cầu với tư cách con người. Trên cung đi xuống, chính yếu tố tinh thần dần dần chuyển thành vật chất. Trên đường giữa của nền tảng, Tinh thần và Vật chất được quân bình trong Con người. Trên cung đi lên, Tinh thần chậm rãi tự khẳng định lại, với cái giá phải trả là phần hồng trần, hay Vật chất, để đến cuối Giống dân thứ bảy của cuộc tuần hoàn thứ bảy, chân thần sẽ thấy mình thoát khỏi Vật chất và mọi phẩm tính của nó như lúc ban đầu; đồng thời còn đạt thêm kinh nghiệm và minh triết, là kết quả của tất cả các đời sống phàm ngã của nó, mà không còn điều ác và những cám dỗ của chúng.

This order of evolution is found also in the first and second chapters of Genesis, if one reads it in its true esoteric sense; for Chapter i contains the history of the first Three Rounds, as well as that of the first Three Races of the Fourth, up to the moment when Man is called to conscious life by the Elohim of Wisdom. In Chapter i, animals, whales and fowls of the air, are created before the androgyne Adam. 409 In Chapter ii, Adam (the sexless) comes first, and the animals only appear after him. Even the state of mental torpor and unconsciousness of the first two Races, and of the first half of the Third Race, is symbolized, in the second chapter of Genesis, by the deep sleep of Adam. It is the dreamless sleep of mental inaction, the slumber of the Soul and Mind, which is meant by that “sleep,” and not at all the physiological process of differentiation of sexes, as a learned French theorist, M. Naudin, imagined.

Trật tự tiến hóa này cũng được tìm thấy trong chương thứ nhất và thứ hai của Sáng Thế Ký, nếu người ta đọc chúng theo ý nghĩa huyền bí đích thực; vì chương một chứa đựng lịch sử của ba cuộc tuần hoàn đầu tiên, cũng như lịch sử của ba Giống dân đầu tiên thuộc cuộc tuần hoàn thứ tư, cho đến lúc Con người được các Elohim Minh Triết kêu gọi bước vào đời sống có ý thức. Trong chương một, các loài thú, cá voi và chim trời được tạo ra trước Adam lưỡng tính. Trong chương hai, Adam không giới tính xuất hiện trước, và các loài thú chỉ xuất hiện sau y. Ngay cả trạng thái trì độn trí tuệ và vô thức của hai Giống dân đầu tiên, cùng nửa đầu của Giống dân thứ ba, cũng được tượng trưng trong chương thứ hai của Sáng Thế Ký bằng giấc ngủ sâu của Adam. Chính giấc ngủ không mộng của hoạt động trí tuệ bất động, giấc mê của Linh hồn và Thể trí, là điều được hàm ý bởi “giấc ngủ” ấy, chứ hoàn toàn không phải tiến trình sinh lý của sự biến phân giới tính, như một nhà lý thuyết Pháp uyên bác, ông Naudin, đã tưởng.

The Purânas, the Chaldæan and Egyptian fragments, and also the Chinese traditions, all show an agreement with the Secret Doctrine as to the process and order of evolution. We find in them the corroboration of almost all our teaching: for instance, the statement concerning the oviparous mode of procreation of the Third Race, and even a hint at a less innocent mode of procreation of the first mammal forms. “Gigantic, transparent, dumb and monstrous they were,” says the Commentary. Study in this connection the stories of the several Rishis and their multifarious progeny. Pulastya is the father of all the Serpents and Nâgas—an oviparous brood; Kashyapa is grandsire, through his wife Tâmrâ, of the birds and of Garuda, king of the feathered tribe; while by his wife Surabhi, he was the parent of cows and buffaloes, etc.

Các Purana, các mảnh văn Chaldea và Ai Cập, cũng như các truyền thống Trung Hoa, đều cho thấy sự phù hợp với Giáo Lý Bí Nhiệm về tiến trình và trật tự tiến hóa. Trong đó, chúng ta tìm thấy sự xác nhận cho hầu hết giáo huấn của chúng ta: chẳng hạn, lời khẳng định liên quan đến phương thức sinh sản bằng trứng của Giống dân thứ ba, và thậm chí cả một ám chỉ về một phương thức sinh sản kém trong sạch hơn của các hình thể hữu nhũ đầu tiên. “Khổng lồ, trong suốt, câm lặng và quái dị, họ đã như thế,” Cổ Luận nói. Hãy nghiên cứu trong mối liên hệ này các câu chuyện về nhiều Rishi và dòng dõi đa dạng của các ngài. Pulastya là cha của tất cả các Rắn và Naga — một giống sinh bằng trứng; Kashyapa, qua người vợ Tamra, là tổ phụ của chim chóc và của Garuda, vua của loài có lông; còn qua người vợ Surabhi, ông là cha của bò cái, trâu, v.v.

In the Secret Doctrine, the first Nâgas—Beings wiser than Serpents—are the “Sons of Will and Yoga,” born before the complete separation of the sexes, “matured in the man-bearing eggs 410 produced by the power (Kriyâshakti) of the holy Sages” of the early Third Race. 411

Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, các Naga đầu tiên — những Hữu Thể minh triết hơn Rắn — là “Các Con của Ý Chí và Yoga”, sinh ra trước khi hai giới tính hoàn toàn phân ly, “được nuôi chín trong những trứng mang-người do quyền năng (Kriyashakti) của các Hiền triết thánh thiện” thuộc Giống dân thứ ba sơ kỳ tạo ra.

“In these were incarnated the Lords of the three [upper] worlds—the various classes of Rudras, who had been Tushitas, who had been Jayas, who are Âdityas;” for, as explained by Parâshara: “There are a hundred appellations of the immeasurably mighty Rudras.”

“Trong đó đã nhập thể các Chúa Tể của ba thế giới trên — những lớp Rudra khác nhau, từng là Tushita, từng là Jaya, và hiện là Aditya;” vì, như Parashara giải thích: “Có một trăm danh xưng dành cho các Rudra hùng mạnh khôn lường.”

Some of the descendants of the primitive Nâgas, the Serpents of Wisdom, peopled America, when its continent arose during the palmy days of the great Atlantis; America being the Pâtâla or Antipodes of Jambu-dvîpa, not of Bhârata-varsha. Otherwise, whence the traditions and legends—the latter always more true than history, as says Augustin Thierry—and even the identity in the names of certain “medicine men” and priests, who exist to this day in Mexico? We shall have to say something of the Nargals and the Nagals, and also of Nagalism, called “devil-worship” by the missionaries.

Một số hậu duệ của các Naga nguyên thủy, các Rắn Minh Triết, đã cư trú tại châu Mỹ, khi lục địa ấy nổi lên trong thời cực thịnh của Atlantis vĩ đại; châu Mỹ là Patala hay vùng đối cực của Jambu-dvipa, chứ không phải của Bharata-varsha. Nếu không, từ đâu mà có các truyền thống và huyền thoại — mà huyền thoại luôn chân thật hơn lịch sử, như Augustin Thierry nói — và thậm chí cả sự đồng nhất trong tên gọi của một số “thầy thuốc pháp” và tư tế, những người vẫn còn tồn tại đến ngày nay ở Mexico? Chúng ta sẽ phải nói đôi điều về Nargal và Nagal, cũng như về Nagalism, thứ bị các nhà truyền giáo gọi là “sự thờ phụng ma quỷ”.

In almost all the Purânas, the story of the “Sacrifice of Daksha” is given, the oldest account of which is to be found in the Vâyu Purâna. Allegorical as it is, there is more meaning and biological revelation in it to a Naturalist, than in all the pseudo-scientific vagaries, which are regarded as learned theories and hypotheses.

Trong hầu hết các Purana, câu chuyện về “Lễ Hiến Tế của Daksha” đều được thuật lại, và bản tường thuật cổ xưa nhất của nó được tìm thấy trong Vayu Purana. Dù mang tính ẩn dụ, câu chuyện ấy chứa đựng nhiều ý nghĩa và mặc khải sinh học cho một nhà Tự nhiên học hơn tất cả những lối mơ hồ giả khoa học được xem là các lý thuyết và giả thuyết uyên bác.

Daksha, who is regarded as the Chief Progenitor, is, moreover, pointed out as the creator of physical man, in the “fable” which makes him lose his head from his body in the general strife between the Gods and the Raumas. This head, being burnt in the fire, is replaced by the head of a ram, according to the Kâshi Khanda of the Skanda Purâna. Now the ram’s head and horns are ever the symbol of generating power and of reproductive force, and are phallic. As we have shown, it is Daksha who establishes the era of men engendered by sexual intercourse. This mode of procreation did not occur suddenly, however, as one might think, but required long ages before it became the one “natural” way. Therefore, Daksha’s sacrifice to the Gods is shown to have been interfered with by Shiva—the Destroying Deity, Evolution and Progress personified, who is the Regenerator at the same time; who destroys things under one form but to recall them to life under another more perfect type. Shiva-Rudra creates the terrible Vîrabhadra, born of his breath, the “thousand-headed, thousand-armed” monster, and commissions him to destroy the sacrifice prepared by Daksha. Then Vîrabhadra, “abiding in the region of ghosts (ethereal men)… created from the pores of his skin (Roma-kûpas) powerful Raumas.” 412 Now, however mythical the allegory, the Mahâbhârata 413 —which is as much history as is the Iliad—shows the Raumas and other races springing in the same manner from the Roma-kûpas, hair or skin pores. This allegorical description of Daksha’s “sacrifice” is full of significance to the students of the Secret Doctrine who know of the “Sweat-born.”

Daksha, người được xem là Tổ Phụ chính, hơn nữa còn được chỉ ra là đấng tạo ra con người hồng trần, trong “ngụ ngôn” kể rằng ông mất đầu khỏi thân thể trong cuộc xung đột chung giữa các Thần và các Rauma. Cái đầu này, sau khi bị thiêu trong lửa, được thay bằng đầu của một con cừu đực, theo Kashi Khanda của Skanda Purana. Nay, đầu và sừng cừu đực luôn là biểu tượng của quyền năng sinh sản và mãnh lực tái tạo, và có tính dương vật. Như chúng tôi đã trình bày, chính Daksha là người thiết lập kỷ nguyên của những con người được sinh ra do giao hợp tính dục. Tuy nhiên, phương thức sinh sản này không xuất hiện đột ngột như người ta có thể nghĩ, mà cần những thời đại dài lâu trước khi trở thành con đường “tự nhiên” duy nhất. Vì thế, lễ hiến tế của Daksha dâng lên các Thần được cho là đã bị Shiva — Thượng đế Hủy Diệt, hiện thân của Tiến hóa và Tiến bộ, đồng thời là Đấng Tái Sinh — can thiệp; Ngài hủy diệt các sự vật dưới một hình thức này chỉ để gọi chúng trở lại sự sống dưới một kiểu mẫu khác hoàn hảo hơn. Shiva-Rudra tạo ra Virabhadra khủng khiếp, sinh từ hơi thở của Ngài, con quái vật “ngàn đầu, ngàn tay”, và giao cho y phá hủy lễ hiến tế do Daksha chuẩn bị. Rồi Virabhadra, “cư trú trong vùng của các bóng ma, tức những con người dĩ thái… đã tạo ra từ các lỗ chân lông trên da mình, Roma-kupa, các Rauma hùng mạnh.” Tuy nhiên, dù ẩn dụ này có vẻ thần thoại đến đâu, Mahabharata — vốn cũng là lịch sử chẳng kém gì Iliad — cho thấy các Rauma và những giống dân khác phát sinh theo cùng cách từ Roma-kupa, tức tóc hay lỗ chân lông trên da. Mô tả ẩn dụ này về “lễ hiến tế” của Daksha đầy thâm nghĩa đối với các đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm, những người biết về các “Kẻ sinh từ mồ hôi”.

In the Vâyu Purâna’s account of the sacrifice, moreover, it is said to have taken place in the presence of creatures born from the egg, from the vapour, vegetation, pores of the skin, and, finally only, from the womb. 414

Hơn nữa, trong bản tường thuật của Vayu Purana về lễ hiến tế, người ta nói rằng sự kiện ấy diễn ra trước sự hiện diện của các sinh vật sinh từ trứng, từ hơi nước, từ thảo mộc, từ lỗ chân lông trên da, và sau cùng mới từ tử cung.

Daksha typifies the early Third Race, holy and pure, as yet devoid of an Individual Ego, and possessing passive capacities only. Brahmâ, therefore, commands him to create (in the exoteric texts); when, obeying the command, he made “inferior and superior” (Avara and Vara) progeny (Putra), bipeds and quadrupeds; and by his will, gave birth to females, to the Gods, the Daityas (Giants of the Fourth Race), the snake-gods, animals, cattle and the Dânavas (Titans and Demon Magicians) and other beings.

Daksha tượng trưng cho Giống dân thứ ba sơ kỳ, thánh thiện và tinh khiết, lúc ấy còn chưa có Chân ngã cá biệt, và chỉ sở hữu các khả năng thụ động. Vì vậy, Brahma ra lệnh cho ông sáng tạo, theo các văn bản ngoại môn; khi vâng lệnh, ông tạo ra dòng dõi, Putra, “thấp và cao”, Avara và Vara, hai chânbốn chân; và bằng ý chí của mình, sinh ra nữ giới, các Thần, các Daitya, tức Người Khổng Lồ của Giống dân thứ tư, các thần-rắn, thú vật, gia súc và các Danava, tức Titan và các Nhà Huyền Thuật Quỷ, cùng những hữu thể khác.

From that period forward, living creatures were engendered by sexual intercourse. Before the time of Daksha, they were variously propagated—by the will, by sight, by touch, and by the influence of religious austerities practised by devout sages and holy saints. 415

Từ thời kỳ đó trở đi, các sinh vật sống được sinh ra do giao hợp tính dục. Trước thời Daksha, chúng được truyền sinh theo nhiều cách khác nhau — bằng ý chí, bằng cái nhìn, bằng sự tiếp xúc, và bằng ảnh hưởng của những khổ hạnh tôn giáo do các hiền triết sùng tín và các thánh nhân thánh thiện thực hành.

And now comes the simply zoölogical teaching.

Và giờ đây đến giáo huấn thuần túy động vật học.

29. Animals with bones, dragons of the deep, and flying Sarpas 416 were added to the creeping things. They that creep on the ground got wings. They of the long necks in the water became the progenitors of the fowls of the air.

29. Các loài thú có xương, các rồng của vực sâu, và các Sarpa bay được thêm vào các loài bò sát. Những loài bò trên mặt đất có cánh. Những loài cổ dài dưới nước trở thành tổ tiên của chim trời.

This is a point on which the teachings and modern biological speculation are in perfect accord. The missing links representing this transition process between reptile and bird are apparent to the veriest bigot, especially in the Ornithoscelidæ, Hesperornis, and the Archæopteryx of Vogt.

Đây là một điểm mà các giáo huấn và suy đoán sinh học hiện đại hoàn toàn phù hợp với nhau. Các mắt xích còn thiếu, tượng trưng cho tiến trình chuyển tiếp này giữa bò sát và chim, hiển nhiên ngay cả đối với kẻ cố chấp nhất, đặc biệt nơi Ornithoscelidae, Hesperornis, và Archaeopteryx của Vogt.

30. During the Third, 417 the boneless animals grew and changed; they became animals with bones, their Chhâyâs became solid. 418

30. Trong Giống dân thứ ba, các loài thú không xương lớn lên và biến đổi; chúng trở thành các loài thú có xương, các Chhaya của chúng trở nên đặc chắc.

Vertebrates, and after that mammalians. Before that the animals were also ethereal proto-organisms, just as man was.

Các loài có xương sống, và sau đó là các loài hữu nhũ. Trước đó, các loài thú cũng là những tiền-hữu-cơ-thể dĩ thái, giống như con người.

31. The animals separated the first. 419 They began to breed. The two-fold man 420 separated also. He 421 said: “Let us as they; let us unite and make creatures.” They did….

31. Các loài thú phân ly trước tiên. Chúng bắt đầu sinh sản. Con người nhị phân cũng phân ly. Y nói: “Chúng ta hãy như chúng; hãy hợp nhất và tạo ra các sinh vật.” Họ đã làm như vậy….

32. And those which had no Spark 422 took huge she-animals unto them. They begat upon them dumb races. Dumb they 423 were themselves. But their tongues untied. 424 The tongues of their progeny remained still. Monsters they bred. A race of crooked red-hair-covered monsters going on all fours. 425 A dumb race, to keep the shame untold. 426

32. Và những kẻ không có Tia Lửa đã lấy những con thú cái khổng lồ cho mình. Họ sinh ra trên chúng những giống dân câm lặng. Chính họ cũng câm lặng. Nhưng lưỡi của họ được tháo mở. Lưỡi của dòng dõi họ vẫn còn bất động. Họ sinh ra những quái vật. Một giống quái vật lông đỏ cong vẹo, đi bằng bốn chi. Một giống dân câm lặng, để nỗi nhục không được kể ra.

The fact of former hermaphrodite mammals and the subsequent separation of sexes is now indisputable, even from the standpoint of Biology. As Prof. Oscar Schmidt, an avowed Darwinist, shows: Use and disuse, combined with selection, elucidate [?] the separation of the sexes, and the existence, otherwise totally incomprehensible, of rudimentary sexual organs. In the Vertebrata especially, each sex possesses such distinct traces of the reproductive apparatus characteristic of the other, that even antiquity assumed hermaphroditism as a natural primæval condition of mankind…. The tenacity with which these rudiments of sexual organs are inherited is remarkable. In the class of mammals, actual hermaphroditism is unheard of, although through the whole period of their development they drag along with them these residues, borne by their unknown ancestry, no one can say how long. 427

Sự kiện về các loài hữu nhũ lưỡng tính trước kia và sự phân ly giới tính về sau nay đã không còn tranh cãi, ngay cả từ quan điểm Sinh học. Như Giáo sư Oscar Schmidt, một người công khai theo Darwin, đã chỉ ra: Việc sử dụng và không sử dụng, kết hợp với chọn lọc, soi sáng [?] sự phân ly giới tính, cũng như sự tồn tại, nếu không thì hoàn toàn không thể hiểu được, của các cơ quan sinh dục thô sơ. Đặc biệt nơi Động vật có xương sống, mỗi giới đều sở hữu những dấu vết rõ rệt của bộ máy sinh sản đặc trưng cho giới kia, đến mức ngay cả thời cổ đại cũng đã xem tính lưỡng tính như một tình trạng nguyên sơ tự nhiên của nhân loại…. Sự bền bỉ mà những tàn tích của cơ quan sinh dục này được di truyền thật đáng chú ý. Trong lớp hữu nhũ, tính lưỡng tính thực sự là điều chưa từng nghe thấy, mặc dù suốt toàn bộ thời kỳ phát triển của chúng, chúng kéo theo mình những tàn dư ấy, do tổ tiên vô danh của chúng truyền lại, không ai có thể nói là đã bao lâu.

“The animals separated the first,” says Shloka 31. Bear in mind that at that period men were different, even physiologically, to what they are now; the middle point of the Fifth Race being already passed. We are not told what the “huge she-animals” were; but they certainly were as different from any we now know, as were the “men” from the men of to-day.

“Các loài thú phân ly trước tiên,” Shloka 31 nói. Hãy nhớ rằng vào thời kỳ ấy, con người khác với hiện nay, ngay cả về mặt sinh lý; điểm giữa của Giống dân thứ năm đã được vượt qua. Chúng ta không được cho biết “những con thú cái khổng lồ” là gì; nhưng chắc chắn chúng khác với bất cứ loài nào hiện nay chúng ta biết, cũng như “những con người” khi ấy khác với con người ngày nay.

This was the first physical “fall into matter” of some of the then existing and lower races. Bear in mind Shloka 24. The “Sons of Wisdom” had spurned the early Third Race, i.e., the non-developed, and are shown incarnating in, and thereby endowing with intellect, the later Third Race. Thus the sin of the brainless or “mindless” Races, who had no “spark” and were irresponsible, fell upon those who failed to do by them their Karmic duty.

Đây là lần đầu tiên một số giống dân thấp hơn đang tồn tại khi ấy “sa vào vật chất” về mặt hồng trần. Hãy nhớ Shloka 24. “Các Con của Minh Triết” đã khước từ Giống dân thứ ba sơ kỳ, nghĩa là giống chưa phát triển, và được cho thấy là đã nhập thể vào Giống dân thứ ba hậu kỳ, nhờ đó ban cho họ trí năng. Như vậy, tội lỗi của các Giống dân không não hay “không trí”, những kẻ không có “tia lửa” và không chịu trách nhiệm, đã rơi lên những Đấng đã không thực hiện bổn phận nghiệp quả của mình đối với họ.

What May Be The Objections To The Foregoing.Những Phản Đối Có Thể Nêu Ra Đối Với Những Điều Trên.

Thus Occultism rejects the idea that Nature developed man from the ape, or even from an ancestor common to both; but, on the contrary, traces some of the most anthropoid species to the Third Race man of the early Atlantean Period. As this proposition will be maintained and defended elsewhere, a few words more are all that are needed at present. For greater clearness, however, we shall repeat in brief what was said previously in Volume I, Stanza VI.

Như vậy, Huyền bí học bác bỏ ý tưởng cho rằng Thiên nhiên đã phát triển con người từ loài vượn, hay thậm chí từ một tổ tiên chung của cả hai; trái lại, Huyền bí học truy nguyên một số loài giống người nhất đến con người Giống dân thứ ba của Thời kỳ Atlantis sơ khai. Vì luận đề này sẽ được duy trì và bảo vệ ở nơi khác, hiện nay chỉ cần thêm vài lời. Tuy nhiên, để rõ ràng hơn, chúng tôi sẽ lặp lại ngắn gọn điều đã nói trước đây trong Quyển I, Bài kệ VI.

Our teachings show that, while it is quite correct to say that Nature had, at one time, built round the human astral form an ape-like external shape, it is also as correct that this shape was no more that of the “missing link,” than were the multitudinous other coverings of that astral form, during the course of its natural evolution through all the kingdoms of Nature. Nor was it, as has been shown, on this Fourth Round Planet that such evolution took place, but only during the First, Second, and Third Rounds, when Man was, in turn, “a stone, a plant, and an animal” until he became what he was in the First Root-Race of present Humanity. The real line of evolution differs from the Darwinian, and the two systems are irreconcilable, unless the latter is divorced from the dogmas of “natural selection” and the like. Indeed, between the Moneron of Hæckel and the Sarîsripa of Manu, there lies an impassable chasm in the shape of the Jîva; for the “human” Monad, whether “immetallized” in the stone-atom, or “in-vegetalized” in the plant, or “inanimalized” in the animal, is still ever a divine, hence also a human Monad. It ceases to be human only when it becomes absolutely divine. The terms “mineral,” “vegetable” and “animal” Monad are intended to create a superficial distinction: there is no such thing as a Monad (Jîva) other than divine, and consequently having once been, or having in the future to become, human. The latter term has to remain meaningless unless this difference is well understood. The Monad is a drop out of the Shoreless Ocean beyond, or, to be correct, within, the plane of primæval differentiation. It is divine in its higher and human in its lower condition—the adjectives “higher” and “lower” being used for lack of better words—but a Monad it remains at all times, save in the Nirvânic state, under whatever conditions, or whatever external forms. As the Logos reflects the Universe in the Divine Mind, and the Manifested Universe reflects itself in each of its Monads, as Leibnitz put it repeating an Eastern teaching, so the Monad has, during the cycle of its incarnations, to reflect in itself every root-form of each kingdom. Therefore, the Kabalists say correctly that “Man becomes a stone, a plant, an animal, a man, a spirit, and finally God,” thus accomplishing his cycle or circuit and returning to the point from which he had started as the Heavenly Man. But by “Man” the Divine Monad is meant, and not the Thinking Entity, much less his Physical Body. The men of Science now try to trace the immortal Soul, while rejecting its existence, through a series of animal forms from the lowest to the highest; whereas, in truth, all the present fauna are the descendants of those primordial monsters of which the Stanzas speak. The animals—the creeping beasts and those in the waters that preceded Man in this Fourth Round, as well as those contemporary with the Third Race, and again the mammalia that are posterior to the Third and Fourth Races—all are either directly or indirectly the mutual and correlative product, physically, of Man. It is correct to say that the man of this Manvantara, i.e., of the three preceding Rounds, has passed through all the kingdoms of Nature. That he was “a stone, a plant, an animal.” But (a) these stones, plants, and animals were the prototypes, the filmy presentments of those of the Fourth Round; and (b) even those at the beginning of the Fourth Round were the astral shadows, as the Occultists express it, of the present stones, plants and animals. And finally, neither the forms nor genera of either man, animal, or plant were what they became later. Thus the astral prototypes of the lower beings of the animal kingdom of the Fourth Round, which preceded the Chhâyâs of Men, were the consolidated, though still very ethereal sheaths of the still more ethereal forms, or models, produced at the close of the Third Round on Globe D, as set forth in Esoteric Buddhism; produced “from the residue of the substance; matter from dead bodies of men and [other extinct] animals of the Wheel before,” or the previous Third Round—as Shloka 28 tells us. Hence, while the nondescript “animals” that preceded the Astral Man at the beginning of this Life-cycle on our Earth were still, so to speak, the progeny of the Man of the Third Round, the mammalians of this Round owe their existence, in a great measure, to Man again. Moreover, the “ancestor” of the present anthropoid animal, the ape, is the direct production of the yet mindless Man, who desecrated his human dignity by putting himself physically on the level of an animal.

Các giáo huấn của chúng ta cho thấy rằng, trong khi nói rằng Thiên nhiên từng một thời xây dựng quanh hình tướng cảm dục của con người một hình dạng bên ngoài giống vượn là hoàn toàn đúng, thì cũng đúng không kém rằng hình dạng ấy không phải là “mắt xích còn thiếu”, cũng như vô số lớp vỏ khác của hình tướng cảm dục ấy, trong quá trình tiến hóa tự nhiên của nó qua mọi giới của Thiên nhiên, cũng không phải như vậy. Và như đã được trình bày, sự tiến hóa ấy không diễn ra trên Hành tinh thuộc cuộc tuần hoàn thứ tư này, mà chỉ trong các cuộc tuần hoàn thứ nhất, thứ hai và thứ ba, khi Con người lần lượt là “một hòn đá, một cây cỏ và một con thú” cho đến khi y trở thành điều y đã là trong Giống dân gốc thứ nhất của Nhân loại hiện tại. Dòng tiến hóa thực sự khác với dòng Darwin, và hai hệ thống này không thể hòa giải, trừ phi hệ thống sau được tách khỏi các tín điều về “chọn lọc tự nhiên” và những điều tương tự. Thật vậy, giữa Moneron của Haeckel và Sarisripa của Manu, có một vực thẳm không thể vượt qua dưới hình thức Jiva; vì chân thần “nhân loại”, dù “nhập-kim-thạch” trong nguyên tử đá, hay “nhập-thực-vật” trong cây cỏ, hay “nhập-động-vật” trong con thú, vẫn luôn là một chân thần thiêng liêng, và do đó cũng là một chân thần nhân loại. Nó chỉ thôi là nhân loại khi trở nên tuyệt đối thiêng liêng. Các thuật ngữ chân thần “kim thạch”, “thực vật” và “động vật” nhằm tạo ra một sự phân biệt bề ngoài: không có một chân thần (Jiva) nào khác ngoài chân thần thiêng liêng, và vì vậy, đã từng là, hoặc trong tương lai phải trở thành, nhân loại. Thuật ngữ sau sẽ vẫn vô nghĩa nếu sự khác biệt này không được thấu hiểu rõ. Chân thần là một giọt từ Đại Dương Không Bờ bên ngoài, hay nói cho đúng, bên trong, cõi của sự biến phân nguyên sơ. Nó thiêng liêng trong trạng thái cao và nhân loại trong trạng thái thấp — các tính từ “cao” và “thấp” được dùng vì thiếu từ tốt hơn — nhưng nó vẫn luôn là một chân thần trong mọi lúc, ngoại trừ trong trạng thái Niết Bàn, dưới bất cứ điều kiện hay hình tướng bên ngoài nào. Như Thượng đế phản chiếu Vũ trụ trong Trí Thiêng Liêng, và Vũ trụ Biểu Hiện tự phản chiếu trong từng chân thần của nó, như Leibnitz đã diễn đạt khi lặp lại một giáo huấn phương Đông, thì chân thần, trong chu kỳ các lần nhập thể của mình, phải phản chiếu trong chính nó mọi hình tướng gốc của mỗi giới. Vì vậy, các Kabalist nói đúng rằng “Con người trở thành đá, cây cỏ, thú vật, con người, tinh thần, và cuối cùng là Thượng đế”, nhờ đó hoàn tất chu kỳ hay vòng mạch của mình và trở về điểm từ đó y đã khởi hành với tư cách Đấng Thiên Nhân. Nhưng “Con người” ở đây hàm ý Chân thần Thiêng liêng, chứ không phải Thực Thể Tư Duy, càng không phải Thể Xác của y. Những người của Khoa học hiện nay cố truy nguyên Linh hồn bất tử, trong khi bác bỏ sự tồn tại của nó, qua một chuỗi các hình thể động vật từ thấp nhất đến cao nhất; trong khi thật ra, toàn bộ hệ động vật hiện tại đều là hậu duệ của những quái vật nguyên thủy mà các Bài kệ nói đến. Các loài thú — những thú bò sát và những loài dưới nước đi trước Con người trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, cũng như những loài đồng thời với Giống dân thứ ba, và lại cả các loài hữu nhũ xuất hiện sau Giống dân thứ ba và thứ tư — tất cả đều là sản phẩm tương hỗ và tương quan, trực tiếp hay gián tiếp, về mặt hồng trần, của Con người. Nói rằng con người của Giai kỳ sinh hóa này, nghĩa là của ba cuộc tuần hoàn trước, đã đi qua tất cả các giới của Thiên nhiên là đúng. Rằng y đã là “một hòn đá, một cây cỏ, một con thú”. Nhưng a) những hòn đá, cây cỏ và con thú ấy là các nguyên mẫu, những biểu hiện mỏng manh của các hình thể thuộc cuộc tuần hoàn thứ tư; và b) ngay cả những hình thể ở đầu cuộc tuần hoàn thứ tư cũng là các bóng cảm dục, như các nhà huyền bí học diễn đạt, của các hòn đá, cây cỏ và con thú hiện nay. Sau cùng, cả hình tướng lẫn giống loài của con người, động vật hay thực vật đều không phải là điều chúng trở thành về sau. Như vậy, các nguyên mẫu cảm dục của những hữu thể thấp hơn thuộc giới động vật trong cuộc tuần hoàn thứ tư, vốn đi trước các Chhaya của Con người, là những lớp vỏ đã được cô kết, dù vẫn còn rất dĩ thái, của những hình tướng hay mô hình còn dĩ thái hơn nữa, được tạo ra vào cuối cuộc tuần hoàn thứ ba trên bầu hành tinh D, như đã trình bày trong Phật Giáo Huyền Bí; được tạo ra “từ phần cặn của chất liệu; vật chất từ xác chết của con người và các động vật khác đã [tuyệt chủng] của Vòng trước”, hay cuộc tuần hoàn thứ ba trước đó — như Shloka 28 cho chúng ta biết. Do đó, trong khi các “loài thú” không thể gọi tên, đi trước Con người Cảm dục vào đầu chu kỳ Sự sống này trên Trái Đất của chúng ta, vẫn có thể nói là dòng dõi của Con người thuộc cuộc tuần hoàn thứ ba, thì các loài hữu nhũ của cuộc tuần hoàn này lại, phần lớn, mắc nợ sự tồn tại của chúng nơi Con người. Hơn nữa, “tổ tiên” của loài thú giống người hiện nay, tức vượn, là sản phẩm trực tiếp của Con người khi ấy còn chưa có trí, kẻ đã làm ô uế phẩm giá nhân loại của mình bằng cách đặt chính mình, về mặt hồng trần, ngang hàng với một con thú.

The above accounts for some of the alleged physiological proofs, brought forward by the Anthropologists as a demonstration of the descent of man from the animals.

Những điều trên giải thích một số bằng chứng sinh lý học được cho là có giá trị, do các nhà Nhân loại học đưa ra để chứng minh sự xuất thân của con người từ loài thú.

The point most insisted upon by the Evolutionists is that, “The history of the embryo is an epitome of that of the race.” That: Every organism, in its development from the egg, runs through a series of forms, through which, in like succession, its ancestors have passed in the long course of earth’s history. 428 The history of the embryo… is a picture in little, and outline of that of the race. This conception forms the gist of our fundamental biogenetic law, which we are obliged to place at the head of the study of the fundamental law of organic development. 429

Điểm mà các nhà Tiến hóa luận nhấn mạnh nhất là: “Lịch sử của phôi thai là bản tóm lược của lịch sử giống loài.” Nghĩa là: Mỗi cơ thể, trong quá trình phát triển từ trứng, đi qua một chuỗi các hình thể mà tổ tiên của nó đã lần lượt đi qua trong tiến trình lâu dài của lịch sử Trái Đất. Lịch sử của phôi thai… là một bức tranh thu nhỏ và phác thảo của lịch sử giống loài. Quan niệm này tạo thành cốt tủy của định luật sinh phát cơ bản của chúng ta, mà chúng ta buộc phải đặt ở đầu việc nghiên cứu định luật căn bản của sự phát triển hữu cơ.

This modern theory was known as a fact to, and far more philosophically expressed by, the Sages and Occultists from the remotest ages. A passage from Isis Unveiled may here be cited to furnish a few points of comparison. It was asked why, with all their great learning, Physiologists were unable to explain teratological phenomena?

Lý thuyết hiện đại này đã được các Hiền triết và các nhà huyền bí học từ những thời đại xa xưa nhất biết đến như một sự kiện, và được các ngài diễn đạt một cách triết học hơn nhiều. Ở đây có thể trích một đoạn từ Nữ thần Isis Không Màn Che để cung cấp vài điểm đối chiếu. Người ta đã hỏi vì sao, với tất cả học thức lớn lao của mình, các nhà Sinh lý học lại không thể giải thích các hiện tượng quái thai học?

Any Anatomist who has made the development and growth of the embryo… “a subject of special study,” can tell, without much brain-work, what daily experience and the evidence of his own eyes show him, viz., that up to a certain period, the human embryo is a facsimile of a young batrachian in its first remove from the spawn—a tadpole. But no Physiologist or Anatomist seems to have had the idea of applying to the development of the human being—from the first instant of its physical appearance as a germ to its ultimate formation and birth—the Pythagorean esoteric doctrine of metempsychosis, so erroneously interpreted by critics. The meaning of the Kabalistic axiom: “A stone becomes a plant; a plant, a beast; a beast, a man,” etc., was mentioned in another place in relation to the spiritual and physical evolution of men on this Earth. We will now add a few more words to make the matter clearer.

Bất kỳ nhà Giải phẫu học nào đã biến sự phát triển và tăng trưởng của phôi thai… thành “một đề tài nghiên cứu đặc biệt”, đều có thể nói, không cần vận dụng trí óc nhiều, điều mà kinh nghiệm hằng ngày và bằng chứng của chính mắt mình cho y thấy, tức là, cho đến một thời kỳ nhất định, phôi thai người là bản sao của một con lưỡng cư non ở giai đoạn đầu tiên sau khi rời khỏi trứng — một con nòng nọc. Nhưng dường như không một nhà Sinh lý học hay Giải phẫu học nào từng nghĩ đến việc áp dụng vào sự phát triển của con người — từ khoảnh khắc đầu tiên của sự xuất hiện hồng trần của nó như một mầm sống cho đến sự hình thành cuối cùng và sự chào đời — giáo lý huyền bí của Pythagoras về sự chuyển sinh, vốn đã bị các nhà phê bình diễn giải sai lầm đến thế. Ý nghĩa của tiên đề Kabalist: “Một hòn đá trở thành cây cỏ; cây cỏ, con thú; con thú, con người,” v.v., đã được nói đến ở nơi khác trong liên hệ với sự tiến hóa tinh thần và hồng trần của con người trên Trái Đất này. Nay chúng tôi sẽ thêm vài lời nữa để làm vấn đề rõ hơn.

What is the primitive shape of the future man? A grain, a corpuscle, say some Physiologists; a molecule, an ovum of the ovum, say others. If it could be analyzed—by the microscope or otherwise—of what ought we to expect to find it composed? Analogically, we should say, of a nucleus of inorganic matter, deposited from the circulation at the germinating point, and united with a deposit of organic matter. In other words, this infinitesimal nucleus of the future man is composed of the same elements as a stone—of the same elements as the Earth, which the man is destined to inhabit. Moses is cited by the Kabalists as authority for the remark, that it required earth and water to make a living being, and thus it may be said that man first appears as a stone.

Hình dạng nguyên thủy của con người tương lai là gì? Một hạt, một tiểu thể, một số nhà Sinh lý học nói; một phân tử, một noãn của noãn, những người khác nói. Nếu nó có thể được phân tích — bằng kính hiển vi hay cách nào khác — thì chúng ta nên kỳ vọng thấy nó được cấu thành bởi gì? Theo tương đồng, chúng tôi sẽ nói: bởi một nhân của vật chất vô cơ, lắng đọng từ dòng lưu chuyển tại điểm nảy mầm, và hợp nhất với một lắng đọng của vật chất hữu cơ. Nói cách khác, cái nhân vô cùng nhỏ bé này của con người tương lai được cấu thành bởi cùng những nguyên tố như một hòn đá — bởi cùng những nguyên tố như Trái Đất, nơi con người được định sẵn sẽ cư trú. Moses được các Kabalist viện dẫn như thẩm quyền cho nhận xét rằng cần có đất và nước để tạo nên một sinh linh sống, và do đó có thể nói rằng con người trước hết xuất hiện như một hòn đá.

At the end of three or four weeks the ovum has assumed a plant-like appearance, one extremity having become spheroidal and the other tapering, like a carrot. Upon dissection it is found to be composed, like an onion, of very delicate laminæ or coats, enclosing a liquid. The laminæ approach each other at the lower end, and the embryo hangs from the root of the umbilicus almost like the fruit from the bough. The stone has now become changed, by “metempsychosis,” into a plant. Then the embryonic creature begins to shoot out, from the inside outward, its limbs, and develops its features. The eyes are visible as two black dots; the ears, nose, and mouth form depressions, like the points of a pineapple, before they begin to project. The embryo develops into an animal-like fœtus—the shape of a tadpole—and, like an amphibious reptile, lives in water and develops from it. Its monad has not yet become either human or immortal, for the Kabalists tell us that this only occurs at the “fourth hour.” One by one the fœtus assumes the characteristics of the human being, the first flutter of the immortal breath passes through its being: it moves;… and the divine essence settles in the infant frame, which it will inhabit until the moment of physical death, when man becomes a spirit.

Vào cuối ba hay bốn tuần, noãn đã khoác lấy dáng vẻ giống cây cỏ, một đầu trở nên hình cầu và đầu kia thuôn nhọn như củ cà rốt. Khi giải phẫu, người ta thấy nó được cấu tạo, giống như củ hành, bởi những phiến mỏng hay lớp vỏ rất tinh tế, bao bọc một chất lỏng. Các phiến mỏng tiến lại gần nhau ở đầu dưới, và phôi thai treo từ gốc rốn gần như trái cây treo trên cành. Hòn đá nay đã được biến đổi, nhờ “chuyển sinh”, thành cây cỏ. Rồi sinh vật phôi thai bắt đầu từ bên trong vươn ra ngoài các chi của nó, và phát triển các nét mặt. Hai mắt hiện ra như hai chấm đen; tai, mũi và miệng tạo thành những chỗ lõm, như các điểm trên quả dứa, trước khi chúng bắt đầu nhô ra. Phôi thai phát triển thành một bào thai giống động vật — hình dạng của một con nòng nọc — và, như một loài bò sát lưỡng cư, sống trong nước và phát triển từ đó. Chân thần của nó vẫn chưa trở thành nhân loại hay bất tử, vì các Kabalist cho chúng ta biết rằng điều này chỉ xảy ra vào “giờ thứ tư”. Từng bước một, bào thai khoác lấy các đặc điểm của con người; rung động đầu tiên của hơi thở bất tử đi qua hữu thể của nó: nó chuyển động;… và tinh chất thiêng liêng an trụ trong khung thể trẻ thơ, nơi nó sẽ cư trú cho đến khoảnh khắc chết hồng trần, khi con người trở thành một tinh thần.

This mysterious process of a nine-months’ formation, the Kabalists call the completion of the “individual cycle of evolution.” As the fœtus develops amidst the liquor amnii in the womb, so the Earths germinate in the Universal Ether, or Astral Fluid, in the Womb of the Universe. These cosmic children, like their pigmy inhabitants, are first nuclei; then ovules; then gradually mature; and becoming mothers, in their turn, develop mineral, vegetable, animal, and human forms. From centre to circumference, from the imperceptible vesicle to the uttermost conceivable bounds of the cosmos, those glorious thinkers, the Occultists, trace cycle merging into cycle, containing and contained in an endless series. The embryo evolving in its pre-natal sphere, the individual in his family, the family in the state, the state in mankind, the earth in our system, that system in its central universe, the universe in the Kosmos, and the Kosmos in the One Cause—the Boundless and Endless. 430

Tiến trình huyền nhiệm của sự hình thành trong chín tháng này, các Kabalist gọi là sự hoàn tất “chu kỳ tiến hóa cá biệt”. Như bào thai phát triển giữa dịch ối trong tử cung, thì các Trái Đất cũng nảy mầm trong Dĩ thái Vũ trụ, hay Lưu chất Cảm dục, trong Tử Cung của Vũ trụ. Những đứa con vũ trụ này, giống như các cư dân bé nhỏ của chúng, trước hết là các nhân; rồi là các noãn; rồi dần dần trưởng thành; và đến lượt mình, khi trở thành những người mẹ, chúng phát triển các hình tướng kim thạch, thực vật, động vật và nhân loại. Từ trung tâm đến chu vi, từ túi nhỏ không thể nhận thấy đến những giới hạn xa nhất có thể quan niệm của vũ trụ, các tư tưởng gia huy hoàng ấy, các nhà huyền bí học, truy nguyên chu kỳ hòa nhập vào chu kỳ, cái chứa đựng và cái được chứa đựng trong một chuỗi vô tận. Phôi thai tiến hóa trong khối cầu tiền sinh của nó, cá nhân trong gia đình của y, gia đình trong quốc gia, quốc gia trong nhân loại, Trái Đất trong hệ của chúng ta, hệ ấy trong vũ trụ trung tâm của nó, vũ trụ trong Kosmos, và Kosmos trong Nguyên Nhân Duy Nhất — Vô Biên và Vô Tận.

Thus runs their philosophy of evolution, differing as we see, from that of Hæckel.

Như vậy diễn ra triết lý tiến hóa của các ngài, khác biệt, như chúng ta thấy, với triết lý của Haeckel.

All are but parts of one stupendous whole, Whose body Nature is, and (Parabrahm) the Soul.

Tất cả chỉ là những phần của một toàn thể kỳ vĩ, mà thân thể là Thiên nhiên, và Linh hồn là Parabrahm.

These are the proofs of Occultism, and they are rejected by Science. But how is the chasm between the mind of man and animal to be bridged in this case? How, if the anthropoid and homo primigenius had, argumenti gratiâ, a common ancestor—in the way modern speculation puts it—how did the two groups diverge so widely from one another as regards mental capacity? True, the Occultist may be told that in every case Occultism does what Science repeats; it gives a common ancestor to ape and man, since it makes the former issue from Primæval Man. Aye, but that “Primæval Man” was man only in external form. He was mindless and soulless at the time he begot, with a female animal monster, the forefather of a series of apes. This speculation—if speculation it be—is at least logical, and fills the chasm between the mind of man and animal. Thus it accounts for and explains the hitherto unaccountable and inexplicable. The fact—of which Science is almost certain—that, in the present stage of evolution, no issue can follow from the union of man and animal, is considered and explained elsewhere.

Đó là các bằng chứng của Huyền bí học, và chúng bị Khoa học bác bỏ. Nhưng trong trường hợp này, làm thế nào để bắt cầu qua vực thẳm giữa thể trí của con người và của động vật? Làm thế nào, nếu loài giống người và homo primigenius, theo giả định lập luận, có một tổ tiên chung — theo cách suy đoán hiện đại đặt vấn đề — làm thế nào hai nhóm ấy lại phân rẽ quá xa nhau về năng lực trí tuệ? Đúng là nhà huyền bí học có thể bị bảo rằng trong mọi trường hợp, Huyền bí học làm đúng điều Khoa học lặp lại; nó trao một tổ tiên chung cho vượn và người, vì nó khiến loài trước phát xuất từ Con người Nguyên sơ. Phải, nhưng “Con người Nguyên sơ” ấy chỉ là con người về hình tướng bên ngoài. Y khi ấy không có tríkhông có linh hồn khi y sinh ra, với một con thú cái quái dị, tổ phụ của một chuỗi loài vượn. Suy đoán này — nếu quả là suy đoán — ít nhất cũng hợp lý, và lấp đầy vực thẳm giữa thể trí của con người và của động vật. Như vậy, nó giải thích và làm sáng tỏ điều cho đến nay vẫn không giải thích được và không thể giải thích. Sự kiện — mà Khoa học gần như chắc chắn — rằng, ở giai đoạn tiến hóa hiện nay, không thể có hậu duệ nào phát sinh từ sự kết hợp giữa người và thú, được xem xét và giải thích ở nơi khác.

Now what is the fundamental difference between the accepted (or nearly so) conclusions—as enunciated in The Pedigree of Man—that man and ape have a common ancestor, and the teachings of Occultism, which deny this conclusion and accept the fact that all things and all living beings have originated from one common source? Materialistic Science makes man evolve gradually to what he is now. Starting from the first protoplasmic speck called Moneron—which we are told has, like the rest, “originated in the course of immeasurable ages from a few, or from one simple, spontaneously arising original form, that has obeyed one law of evolution”—he is made to pass through “unknown and unknowable” types up to the ape, and thence to the human being. Where the transitional shapes are discoverable we are not told; for the simple reason that no “missing-links” between man and the apes have ever yet been found, though this fact in no way prevents men like Hæckel from inventing them ad libitum.

Vậy đâu là sự khác biệt căn bản giữa những kết luận được chấp nhận, hay gần như được chấp nhận — như được nêu trong Dòng Dõi Con Người — rằng người và vượn có một tổ tiên chung, với các giáo huấn của Huyền bí học, vốn phủ nhận kết luận này và chấp nhận sự kiện rằng mọi sự vật và mọi sinh linh sống đều phát nguyên từ một nguồn chung? Khoa học duy vật khiến con người tiến hóa dần đến điều y hiện là. Khởi đầu từ chấm nguyên sinh chất đầu tiên gọi là Moneron — mà chúng ta được bảo rằng, như phần còn lại, nó “đã phát nguyên trong tiến trình của những thời đại không thể đo lường từ một vài, hay từ một hình thể nguyên thủy đơn giản, tự phát sinh, đã tuân theo một định luật tiến hóa” — y bị buộc phải đi qua các kiểu mẫu “vô danh và không thể biết” cho đến vượn, rồi từ đó đến con người. Chúng ta không được cho biết các hình dạng chuyển tiếp có thể được phát hiện ở đâu; vì lý do đơn giản là chưa từng tìm thấy bất cứ “mắt xích còn thiếu” nào giữa người và vượn, dù sự kiện này không hề ngăn cản những người như Haeckel sáng chế ra chúng tùy ý.

Nor will they ever be met with; simply, again, because that link which unites man with his real ancestry is searched for on the objective plane and in the material world of forms, whereas it is safely hidden from the microscope and dissecting knife within the animal tabernacle of man himself. We repeat what we have said in Isis Unveiled: All things had their origin in Spirit—evolution having originally begun from above and proceeded downward, instead of the reverse, as taught in the Darwinian theory. In other words, there has been a gradual materialization of forms until a fixed ultimate of debasement is reached. This point is that at which the doctrine of modern evolution enters into the arena of speculative hypothesis. Arrived at this period we shall find it easier to understand Hæckel’s Anthropogeny, which traces the pedigree of man “from its protoplasmic root, sodden in the mud of seas which existed before the oldest of the fossiliferous rocks were deposited,” according to Mr. Huxley’s exposition. We may more easily still believe man (of the Third Round) evolved “by gradual modification of an [astral] mammal of ape-like organization,” when we remember that the same theory, in a more condensed and less elegant, but equally comprehensible, phraseology, was said by Berosus to have been taught many thousands of years before his time by the man-fish Oannes or Dagon, the semi-demon of Babylonia 431 (though on somewhat modified lines).

Cũng sẽ không bao giờ gặp được chúng; đơn giản, một lần nữa, vì mối liên hệ nối kết con người với tổ tiên thật của y lại được tìm kiếm trên cõi khách quan và trong thế giới vật chất của các hình tướng, trong khi nó được giấu kín một cách an toàn khỏi kính hiển vi và dao giải phẫu bên trong chính đền thờ động vật của con người. Chúng tôi lặp lại điều đã nói trong Isis Vén Màn: Muôn vật đều có nguồn gốc trong Tinh thần — tiến hoá vốn khởi đầu từ trên cao và đi xuống, thay vì ngược lại như thuyết Darwin giảng dạy. Nói cách khác, đã có một sự vật chất hoá dần dần của các hình tướng cho đến khi đạt tới điểm cuối cố định của sự suy thoái. Chính tại điểm này, giáo lý tiến hoá hiện đại bước vào đấu trường của giả thuyết suy lý. Khi đến giai đoạn này, chúng ta sẽ thấy dễ thấu hiểu hơn Nhân chủng phát sinh luận của Haeckel, tác phẩm truy nguyên phả hệ của con người “từ gốc nguyên sinh chất của nó, ngấm bùn trong các biển cả đã tồn tại trước khi những lớp đá chứa hoá thạch cổ nhất được lắng đọng,” theo cách trình bày của ông Huxley. Chúng ta còn có thể dễ tin hơn rằng con người của Cuộc Tuần Hoàn Thứ Ba đã tiến hoá “bằng sự biến đổi dần dần của một loài hữu nhũ cảm dục có tổ chức giống khỉ,” khi nhớ rằng cùng lý thuyết ấy, trong một lối diễn đạt cô đọng hơn và kém thanh nhã hơn, nhưng cũng dễ hiểu như vậy, đã được Berosus nói là đã được người-cá Oannes hay Dagon, bán-quỷ của Babylon, giảng dạy nhiều nghìn năm trước thời ông , tuy theo những đường lối có phần biến đổi.

But what lies back of the Darwinian line of descent? So far as Darwin is concerned nothing but “unverifiable hypotheses.” For, as he puts it, he views all beings “as the lineal descendants of some few beings which lived long before the first bed of the Silurian system was deposited.” 432 He does not attempt to show us what these “few beings” were. But it answers our purpose quite as well, for, in the bare admission of their existence, recourse to the ancients for corroboration and elaboration of the idea receives the stamp of scientific approbation. 433

Nhưng điều gì nằm phía sau dòng phả hệ Darwin? Đối với Darwin, chẳng có gì ngoài “những giả thuyết không thể kiểm chứng.” Vì, như ông diễn đạt, ông xem mọi sinh linh “như hậu duệ trực hệ của một vài sinh linh nào đó đã sống rất lâu trước khi lớp đầu tiên của hệ Silur được lắng đọng.” Ông không cố gắng cho chúng ta thấy “một vài sinh linh” ấy là gì. Nhưng điều đó cũng hoàn toàn phù hợp với mục đích của chúng tôi, vì trong chính sự thừa nhận trần trụi về sự tồn tại của chúng, việc viện đến người xưa để xác nhận và khai triển ý tưởng ấy đã nhận được dấu ấn tán thành của khoa học.

Truly, as we said in our first work, if we accept Darwin’s theory of the development of species, we find that his starting-point lies in front of an open door. We are at liberty either to remain within with him, or cross the threshold, beyond which lies the limitless and the incomprehensible, or rather the Unutterable. If our mortal language is inadequate to express what our spirit—while on this earth—dimly foresees in the great “Beyond,” it must realize it at some point in the timeless Eternity. But what lies “beyond” Hæckel’s theory? Why Bathybius Hæckelii, and no more!

Quả thật, như chúng tôi đã nói trong tác phẩm đầu tiên của mình, nếu chúng ta chấp nhận lý thuyết của Darwin về sự phát triển các loài, chúng ta thấy rằng điểm khởi đầu của ông nằm trước một cánh cửa rộng mở. Chúng ta được tự do hoặc ở lại bên trong cùng ông, hoặc bước qua ngưỡng cửa, bên kia đó là cái vô hạn và bất khả tri, hay đúng hơn là cái Bất Khả Ngôn. Nếu ngôn ngữ hữu tử của chúng ta không đủ sức diễn đạt điều mà tinh thần chúng ta — khi còn trên Trái Đất này — linh cảm mờ nhạt trong cõi “Bên Kia” vĩ đại, thì nó ắt phải chứng nghiệm điều ấy ở một điểm nào đó trong Cõi Vĩnh Cửu phi thời gian. Nhưng điều gì nằm “bên kia” lý thuyết của Haeckel? Ấy chỉ là Bathybius Haeckelii, và không gì hơn!

Footnotes

 305 .

305.

Race.

Nhân loại.

 306 .

306.

The Moon.

Mặt Trăng.

 307 .

307.

Hamsa.

Hamsa.

 308 .

308.

Text-Book of Physiology, Third Edition, 1879, p. 623.

Giáo Trình Sinh Lý Học, Ấn bản thứ ba, 1879, tr. 623.

 309 .

309.

See the Timæus.

Xem Timaeus.

 310 .

310.

See Extracts from that Essay in The Theosophist, of February, 1883, from which the following is condensed.

Xem các Trích đoạn từ luận văn ấy trong The Theosophist, tháng Hai, 1883, từ đó phần sau đây được cô đọng.

 311 .

311.

Compare Ezekiel’s vision (chap. i) of the four Divine Beings who “had the likeness of a man” and yet had the appearance of a wheel, “when they went, they went upon their four sides… for the spirit of the living creature was in the wheels.”

So sánh linh ảnh của Ezekiel, chương i, về bốn Hữu Thể Thiêng Liêng “có hình dạng giống một con người” nhưng lại có vẻ ngoài của một bánh xe, “khi đi, chúng đi trên bốn phía của mình… vì tinh thần của sinh vật sống ở trong các bánh xe.”

 312 .

312.

Eugibinus, a Christian, and the Rabbis Samuel, Menasseh ben Israel, and Maimonides taught that “Adam had two faces and one person, and from the beginning he was both male and female—male on one side and female on the other [like Manu’s Brahmâ]; but afterwards the parts were separated.” The one hundred and thirty-ninth Psalm of David was cited by Rabbi Jeremiah ben Eliazar as evidence of this: “Thou hast fashioned me behind and before,” not beset as in the Bible, which is absurd and meaningless, and this shows, as Prof. Wilder thinks, “that the primeval form of mankind was androgynous.”

Eugibinus, một tín đồ Kitô giáo, cùng các Rabbi Samuel, Menasseh ben Israel và Maimonides đã dạy rằng “Adam có hai mặt và một người, và ngay từ đầu y vừa là nam vừa là nữ — nam ở một bên và nữ ở bên kia, giống Brahma của Manu; nhưng về sau các phần đã được tách ra.” Thánh thi thứ một trăm ba mươi chín của David đã được Rabbi Jeremiah ben Eliazar viện dẫn làm bằng chứng cho điều này: “Ngài đã tạo hình con phía sauphía trước,” chứ không phải bao vây như trong Kinh Thánh, điều vô lý và vô nghĩa; và điều này cho thấy, như Giáo sư Wilder nghĩ, “rằng hình tướng nguyên thủy của nhân loại là lưỡng tính.”

 313 .

313.

See the union of Chokmah, Wisdom, with Binah, Intelligence, or Jehovah, the Demiurge, called Understanding in the Proverbs of Solomon (vii). Unto men Wisdom (divine Occult Wisdom) crieth: “Oh, ye simple, understand Wisdom; and ye fools, be of an understanding heart.” It is Spirit and Matter, the Nous and the Psyche; of the latter of which St. James says that it is “earthly, sensual, and devilish.”

Xem sự hợp nhất của Chokmah, Minh triết, với Binah, Trí năng, hay Jehovah, Đấng Tạo tác, được gọi là Sự Thấu hiểu trong Châm Ngôn của Solomon vii. Minh triết, tức Minh Triết Huyền bí thiêng liêng, kêu gọi con người: “Hỡi những kẻ đơn sơ, hãy thấu hiểu Minh triết; và hỡi những kẻ ngu dại, hãy có một trái tim thấu hiểu.” Đó là Tinh thần và Vật chất, Nous và Psyche; về Psyche, Thánh James nói rằng nó “thuộc đất, cảm giác và ma quỷ.”

 314 .

314.

Pluralité des Mondes, p. 69.

Tính Đa Nguyên của các Thế Giới, tr. 69.

 315 .

315.

A hypothesis evolved in 1881 by Mr. W. Mattieu Williams seems to have impressed Astronomers but little. Says the author of “The Fuel of the Sun,” in Knowledge, Dec. 23, 1881: “Applying now the researches of Dr. Andrews to the conditions of solar existence… I conclude that the sun has no nucleus, either solid, liquid, or gaseous, but is composed of dissociated matter in the critical state, surrounded, first, by a flaming envelope, due to the recombination of the dissociated matter, and outside of this, by another envelope of vapours due to this combination.”

Một giả thuyết do ông W. Mattieu Williams nêu ra năm 1881 dường như ít gây ấn tượng với các nhà Thiên văn học. Tác giả của “Nhiên liệu của Mặt Trời,” trong Knowledge, ngày 23 tháng Mười Hai, 1881, nói: “Nay áp dụng các nghiên cứu của Tiến sĩ Andrews vào các điều kiện tồn tại của Mặt Trời… tôi kết luận rằng Mặt Trời không có nhân, dù rắn, lỏng hay khí, mà được cấu thành từ vật chất phân ly trong trạng thái tới hạn, được bao quanh trước hết bởi một lớp vỏ rực lửa do sự tái kết hợp của vật chất phân ly, và bên ngoài lớp này là một lớp vỏ khác gồm các hơi do sự kết hợp ấy tạo ra.”

This is a novel theory to be added to other hypotheses, all scientific and orthodox. The meaning of the “critical state” is explained by Mr. W. Mattieu Williams in the same journal (Dec. 9, 1881), in an article on “Solids, liquids, and Gases.” Speaking of an experiment by Dr. Andrews on carbonic acid, the Scientist says that: “When 88° is reached, the boundary between liquid and gas vanishes; liquid and gas have blended into one mysterious intermediate fluid; an indefinite fluctuating something is there filling the whole of the tube—an etherealized liquid or a visible gas. Hold a red-hot poker between your eye and the light; you will see an upflowing wave of movement of what appears like liquid air. The appearance of the hybrid fluid in the tube resembles this, but is sensibly denser, and evidently stands between the liquid and gaseous states of matter, as pitch or treacle stands between solid and liquid.”

Đây là một lý thuyết mới lạ cần được thêm vào các giả thuyết khác, tất cả đều khoa học và chính thống. Ý nghĩa của “trạng thái tới hạn” được ông W. Mattieu Williams giải thích trong cùng tạp chí ấy, ngày 9 tháng 12 năm 1881, trong một bài viết về “Chất rắn, chất lỏng và chất khí.” Khi nói về một thí nghiệm của Tiến sĩ Andrews trên axit carbonic, nhà khoa học ấy nói rằng: “Khi đạt đến 88°, ranh giới giữa chất lỏng và chất khí biến mất; chất lỏng và chất khí đã hòa trộn thành một lưu chất trung gian huyền nhiệm; ở đó có một cái gì bất định, dao động, lấp đầy toàn bộ ống — một chất lỏng được dĩ thái hóa, hay một chất khí hữu hình. Hãy giữ một que cời lửa đỏ rực giữa mắt bạn và ánh sáng; bạn sẽ thấy một làn sóng chuyển động đi lên của cái trông như không khí lỏng. Dáng vẻ của lưu chất lai trong ống giống như vậy, nhưng rõ ràng đặc hơn, và hiển nhiên đứng giữa các trạng thái lỏng và khí của vật chất, cũng như nhựa đường hay mật mía đứng giữa chất rắn và chất lỏng.”

The temperature at which this occurs has been named by Dr. Andrews the “critical temperature”; here the gaseous and the liquid states are “continuous,” and it is probable that all other substances capable of existing in both states have their own particular critical temperatures.

Nhiệt độ tại đó điều này xảy ra đã được Tiến sĩ Andrews gọi là “nhiệt độ tới hạn”; ở đây các trạng thái khí và lỏng là “liên tục,” và rất có thể mọi chất khác có khả năng tồn tại trong cả hai trạng thái đều có những nhiệt độ tới hạn riêng của chúng.

Speculating further upon this “critical” state, Mr. W. Mattieu Williams emits some quite Occult theories about Jupiter and other Planets. He says: “Our notions of solids, liquids, and gases are derived from our experiences of the state of matter here upon this Earth. Could we be removed to another planet, they would be curiously changed. On Mercury water would rank as one of the condensible gases; on Mars, as a fusible solid; but what on Jupiter?

Suy đoán xa hơn về trạng thái “tới hạn” này, ông W. Mattieu Williams nêu ra một số lý thuyết khá Huyền bí về Sao Mộc và các Hành tinh khác. Ông nói: “Các quan niệm của chúng ta về chất rắn, chất lỏng và chất khí đều bắt nguồn từ kinh nghiệm của chúng ta về trạng thái của vật chất ở đây trên Trái Đất này. Nếu chúng ta được chuyển đến một hành tinh khác, chúng sẽ biến đổi một cách kỳ lạ. Trên Sao Thủy, nước sẽ được xếp vào một trong các chất khí có thể ngưng tụ; trên Sao Hỏa, như một chất rắn có thể nóng chảy; nhưng trên Sao Mộc thì sao?

“Recent observations justify us in regarding this as a miniature sun, with an external envelope of cloudy matter, apparently of partially-condensed water, but red-hot, or probably still hotter within. His vaporous atmosphere is evidently of enormous depth, and the force of gravitation being on his visible outer surface two-and-a-half times greater than that on our earth’s surface, the atmospheric pressure, in descending below this visible surface, must soon reach that at which the vapour of water would be brought to its critical condition. Therefore we may infer that the oceans of Jupiter are neither of frozen, liquid, nor gaseous water, but are oceans, or atmospheres of critical water. If any fish or birds swim or fly therein, they must be very critically organized.”

“Những quan sát gần đây cho phép chúng ta xem Sao Mộc như một mặt trời thu nhỏ, với một lớp vỏ ngoài bằng vật chất mây, dường như là nước đã ngưng tụ một phần, nhưng bên trong thì đỏ rực, hoặc có lẽ còn nóng hơn nữa. Bầu khí quyển hơi nước của nó hiển nhiên có độ sâu khổng lồ, và vì lực hấp dẫn trên bề mặt ngoài hữu hình của nó lớn gấp hai lần rưỡi lực hấp dẫn trên bề mặt Trái Đất chúng ta, nên áp suất khí quyển khi đi xuống dưới bề mặt hữu hình ấy chẳng bao lâu phải đạt đến mức khiến hơi nước được đưa vào trạng thái tới hạn. Vì vậy, chúng ta có thể suy ra rằng các đại dương của Sao Mộc không phải là nước đóng băng, nước lỏng, hay nước dạng khí, mà là các đại dương, hoặc các bầu khí quyển của nước tới hạn. Nếu có loài cá hay loài chim nào bơi hoặc bay trong đó, chúng ắt phải được tổ chức một cách rất tới hạn.”

As the whole mass of Jupiter is 300 times greater than that of the Earth, and its compressing energy towards the centre proportional to this, its materials, if similar to those of the Earth, and no hotter, would be considerably more dense, and the whole planet would have a higher specific gravity; but we know by the movement of its satellites that, instead of this, its specific gravity is less than a fourth of that of the Earth. This justifies the conclusion that it is intensely hot; for even hydrogen, if cold, would become denser than Jupiter under such pressure.

Vì toàn khối lượng của Sao Mộc lớn hơn Trái Đất 300 lần, và năng lượng nén của nó hướng về tâm tỷ lệ với điều này, nên nếu các vật liệu của nó tương tự như của Trái Đất và không nóng hơn, chúng sẽ đặc hơn đáng kể, và toàn bộ hành tinh sẽ có tỷ trọng cao hơn; nhưng qua chuyển động của các vệ tinh của nó, chúng ta biết rằng, thay vì thế, tỷ trọng của nó chưa bằng một phần tư tỷ trọng của Trái Đất. Điều này biện minh cho kết luận rằng nó nóng cực độ; bởi ngay cả hydro, nếu lạnh, cũng sẽ trở nên đặc hơn Sao Mộc dưới một áp suất như vậy.

“As all elementary substances may exist as solids, liquids, or gases, or, critically, according to the conditions of temperature and pressure, I am justified in hypothetically concluding that Jupiter is neither a solid, a liquid, nor a gaseous planet, but a critical planet, or an orb composed internally of associated elements in the critical state, and surrounded by a dense atmosphere of their vapours and those of some of their compounds such as water. The same reasoning applies to Saturn and other large and rarefied planets.”

“Vì mọi chất nguyên tố đều có thể tồn tại dưới dạng rắn, lỏng, khí, hoặc ở trạng thái tới hạn, tùy theo các điều kiện nhiệt độ và áp suất, tôi có lý do để kết luận theo giả thuyết rằng Sao Mộc không phải là một hành tinh rắn, lỏng, hay khí, mà là một hành tinh tới hạn, hoặc một thiên cầu bên trong được cấu thành bởi các nguyên tố liên hợp trong trạng thái tới hạn, và được bao quanh bởi một bầu khí quyển đặc gồm hơi của chúng cùng hơi của một số hợp chất của chúng, như nước. Cùng một lối lập luận ấy áp dụng cho Sao Thổ và các hành tinh lớn, loãng khác.”

It is gratifying to see how “scientific imagination” approaches every year more closely to the borderland of our Occult Teachings.

Thật đáng hài lòng khi thấy “sự tưởng tượng khoa học” mỗi năm lại tiến gần hơn đến vùng biên của các Giáo huấn Huyền bí của chúng ta.

 316 .

316.

The Day after Death, p. 23.

Ngày Sau Khi Chết, tr. 23.

 317 .

317.

Cremona Ed., iii. 76a; Brody Ed., iii. 159a; Qabbalah. Isaac Myer, p. 420.

Bản Cremona, iii. 76a; bản Brody, iii. 159a; Qabbalah. Isaac Myer, tr. 420.

 318 .

318.

So destroyed.

Bị hủy diệt như vậy.

 319 .

319.

The first occurred when what is now the North Pole was separated from the later Continents.

Lần thứ nhất xảy ra khi nơi hiện nay là Bắc Cực bị tách khỏi các Lục địa về sau.

 320 .

320.

We must remember that at the head of all the Babylonian Gods were Ea, Anu, and the primeval Bel; and that Ea, the first, was the God of Wisdom, the great “God of Light” and of the Deep, and that he was identified with Oannes, or the Biblical Dagon—the Man-Fish who rose out of the Persian Gulf.

Chúng ta phải nhớ rằng đứng đầu tất cả các Thần Babylon là Ea, Anu và Bel nguyên thủy; và Ea, vị thứ nhất, là Thần Minh Triết, “Thần Ánh Sáng” vĩ đại và của Vực Sâu, và rằng ông được đồng nhất với Oannes, hay Dagon trong Kinh Thánh — Người-Cá trồi lên từ Vịnh Ba Tư.

 321 .

321.

It is far later on that the Moon became a male God; with the Hindus it was Soma, with the Chaldæans Nanak or Nanar, and Sin, the son of Mulil, the older Bel. The Akkadians called him the “Lord of Ghosts”; and he was the God of Nipur (Niffer) in northern Babylonia. It is Mulil who caused the waters of the Flood to fall from Heaven on Earth, because of which Xisuthrus would not allow him to approach his altar. As the modern Assyriologists have now ascertained, it is the northern Nipur which is the centre whence Chaldæan (Black) Magic spread; and Eridu (the Southern) which was the primitive seat of the worship of the culture God, the God of Divine Wisdom—the Sun-God being the Supreme Deity everywhere. With the Jews, the Moon is connected with Israel’s Jehovah and his seed, for Ur was the chief seat of the worship of the Moon-God, and Abraham is said to have come from Ur, when from A-bra(h)m, he becomes Abraham.

Mãi về sau Mặt Trăng mới trở thành một Nam Thần; với người Hindu đó là Soma, với người Chaldea là Nanak hay Nanar, và Sin, con của Mulil, Bel cổ hơn. Người Akkad gọi ông là “Chúa Tể của các Bóng Ma”; và ông là Thần của Nipur, tức Niffer, ở miền bắc Babylonia. Chính Mulil đã khiến nước của Đại Hồng Thủy đổ từ Trời xuống Trái Đất, vì vậy Xisuthrus không cho phép ông đến gần bàn thờ của mình. Như các nhà Assyria học hiện đại nay đã xác định, chính Nipur miền bắc là trung tâm từ đó Hắc thuật Chaldea lan rộng; còn Eridu miền nam là nơi thờ phụng nguyên thủy của vị Thần văn minh, Thần của Minh Triết Thiêng Liêng — Thần Mặt Trời ở khắp nơi là Thượng đế Tối Cao. Với người Do Thái, Mặt Trăng liên hệ với Jehovah của Israel và dòng giống của ông, vì Ur là trung tâm chính của việc thờ phụng Thần Mặt Trăng, và Abraham được nói là đến từ Ur, khi từ A-bra(h)m, ông trở thành Abraham.

 322 .

322.

When Nârada, the virgin-ascetic, threatened to put an end to the human race by preventing Daksha’s sons from procreating it.

Khi Narada, nhà khổ hạnh đồng trinh, đe dọa chấm dứt nhân loại bằng cách ngăn các con trai của Daksha sinh sản nó.

 323 .

323.

x. 6.

x. 6.

 324 .

324.

This is corroborated by a learned Brahman. In his most excellent Lectures on the Bhagavad Gîtâ (Theosophist, April, 1887, p. 444) the lecturer says: “There is a peculiarity to which I must call your attention. He [Krishna] speaks here of four Manus. Why does he speak of four? We are now in the seventh Manvantara—that of Vaivasvata. If he is speaking of the past Manus, he ought to speak of six, but he only mentions four. In some commentaries an attempt has been made to interpret this in a peculiar manner.

Điều này được một Brahman uyên bác xác nhận. Trong những Bài Giảng xuất sắc của ông về Bhagavad Gita, tạp chí Nhà Thông Thiên Học, tháng 4 năm 1887, tr. 444, diễn giả nói: “Có một điểm đặc biệt mà tôi phải lưu ý các bạn. Ở đây Ngài Krishna nói về bốn Manu. Tại sao Ngài nói về bốn? Hiện nay chúng ta đang ở trong Giai kỳ sinh hóa thứ bảy — Giai kỳ của Vaivasvata. Nếu Ngài nói về các Manu quá khứ, Ngài phải nói về sáu, nhưng Ngài chỉ nhắc đến bốn. Trong một số chú giải, người ta đã cố diễn giải điều này theo một cách đặc biệt.

“The word ‘Chatvârah’ is separated from the word ‘Manavah,’ and is made to refer to Sanaka, Sanandana, Sanatkumâra, and Sanatsujâta, who were also included among the mind-born sons of Prajâpati.

“Từ ‘Chatvarah’ được tách khỏi từ ‘Manavah,’ và được cho là chỉ Sanaka, Sanandana, Sanatkumara và Sanatsujata, những vị cũng được kể trong số các con do trí sinh của Prajapati.

“But this interpretation will lead to a most absurd conclusion, and make the sentence contradict itself. The persons alluded to in the text have a qualifying clause in the sentence. It is well known that Sanaka and the other three refused to create, though the other sons had consented to do so: therefore, in speaking of those persons from whom humanity has sprung into existence, it would be absurd to include these four also in the list. The passage must be interpreted without splitting the compound into two nouns. The number of Manus will then be four, and the statement would then contradict the Paurânic account, though it would be in harmony with the Occult theory. You will recollect that it is stated [in Occultism] that we are now in the Fifth Root-Race. Each Root-Race is considered as the Santati of a particular Manu. Now, the Fourth Race has passed, or, in other words, there have been four past Manus.”

“Nhưng cách diễn giải này sẽ dẫn đến một kết luận hết sức phi lý, và khiến câu văn tự mâu thuẫn. Những nhân vật được ám chỉ trong bản văn có một mệnh đề phẩm định trong câu. Ai cũng biết rằng Sanaka và ba vị kia đã từ chối sáng tạo, dù các con khác đã đồng ý làm như vậy; do đó, khi nói đến những người từ đó nhân loại đã phát sinh vào hiện tồn, sẽ thật phi lý nếu cũng đưa bốn vị này vào danh sách. Đoạn văn phải được diễn giải mà không tách hợp từ thành hai danh từ. Khi ấy số Manu sẽ là bốn, và lời khẳng định ấy sẽ mâu thuẫn với tường thuật Purana, dù lại hòa hợp với lý thuyết Huyền bí. Các bạn sẽ nhớ rằng trong Huyền bí học có nêu rằng hiện nay chúng ta đang ở Giống dân Gốc thứ năm. Mỗi Giống dân Gốc được xem là Santati của một Manu nhất định. Nay, Giống dân thứ tư đã qua, hay nói cách khác, đã có bốn Manu quá khứ.”

 325 .

325.

Stockwell, Smithsonian Contributions to Knowledge, xviii.; R. W. McFarland, American Journal of Science, III. xi. 450; and Croll’s Climate and Time. Lemuria was not submerged by a flood, but was destroyed by volcanic action, and afterwards sank.

Stockwell, Các Đóng Góp Smithsonian cho Tri Thức, xviii.; R. W. McFarland, Tạp chí Khoa học Hoa Kỳ, III. xi. 450; và Khí Hậu và Thời Gian của Croll. Lemuria không bị nhấn chìm bởi một trận lụt, mà bị hủy diệt bởi hoạt động núi lửa, rồi sau đó chìm xuống.

 326 .

326.

Coste, I. iv. 19.

Coste, I. iv. 19.

 327 .

327.

Agruerus is Kronos, or Saturn, and the prototype of the Israelitish Jehovah. As connected with Argha, the Moon or Ark of salvation, Noah is mythologically one with Saturn. But then this cannot relate to the terrestrial flood. (See Faber’s Cabiri, I. 35, 43, and 45.)

Agruerus là Kronos, hay Sao Thổ, và là nguyên mẫu của Jehovah Israel. Khi liên hệ với Argha, Mặt Trăng hay Con Tàu cứu rỗi, Noah về mặt thần thoại là một với Sao Thổ. Nhưng điều này không thể liên quan đến trận lụt trên địa cầu. Xem Cabiri của Faber, I. 35, 43 và 45.

 328 .

328.

Ibid., II. 240.

Sđd., II. 240.

 329 .

329.

Sanchuniathon says that the Titans were the sons of Kronos, and seven in number; and he calls them fire-worshippers, Aletæ (Sons of Agni?) and diluvians. Al-ait is the God of Fire.

Sanchuniathon nói rằng các Titan là con của Kronos, gồm bảy vị; và ông gọi họ là những người thờ lửa, Aletae, có thể là các Con của Agni, và là những người thuộc thời hồng thủy. Al-ait là Thần Lửa.

 330 .

330.

Ibid., i. 130, note.

Sđd., i. 130, chú thích.

 331 .

331.

Of which seven, let us remark, the Âryans, and not the Semites, were the originators, while the Jews got that number from the Chaldæans.

Trong số bảy điều ấy, cần nhận xét rằng người Arya, chứ không phải người Semite, là những người khởi xướng, trong khi người Do Thái nhận con số ấy từ người Chaldea.

 332 .

332.

Seven individual Sons of God, or Pitaras, Pitris; also in this case the sons of Kronos or Saturn (Kâla, “Time”) and Arkites, like the Kabiri and Titans, as their name— “Lunar Ancestors”—shows; the Moon being the Ark, or Argha, on the Watery Abyss of Space.

Bảy Con Cá Thể của Thượng đế, hay Pitaras, Pitris; trong trường hợp này cũng là các con của Kronos hay Sao Thổ, Kala, “Thời Gian,” và Arkites, giống như Kabiri và Titan, như tên gọi của họ — “Tổ Tiên Mặt Trăng” — cho thấy; Mặt Trăng là Con Tàu, hay Argha, trên Vực Thẳm Nước của Không Gian.

 333 .

333.

Asiatic Researches, v. 246.

Nghiên Cứu Á Châu, v. 246.

 334 .

334.

Kabiri, ibid., loc. cit.

Kabiri, sđd., chỗ đã dẫn.

 335 .

335.

Orpheus apud Proclum in Timæum, v. 295.

Orpheus theo Proclus trong Timaeus, v. 295.

 336 .

336.

Arnobius, Contra Gentes, iii. 124; quoted by Faber, op. cit., i. 135.

Arnobius, Chống Dân Ngoại, iii. 124; được Faber trích dẫn, tác phẩm đã dẫn, i. 135.

 337 .

337.

Ant., iii. 8.

Cổ Sử, iii. 8.

 338 .

338.

Bibl., iii. 170.

Thư Mục, iii. 170.

 339 .

339.

Aretia is the female form of Artes, the Egyptian Mars. Thence the Chaldæan (and now Hebrew) word ארצ (Arets), “Earth.” Seyffarth, the author of Beitrage zur Kenntniss (under “Artes,” Mars) quotes as follows: “Addit Cedrenus (Salm. I. c): Stella Martis ab Ægyptiis vocatur Ertosi (plantare, generare). Significat autem hoc omnis generis procreationem et vivificationem, omnisque substantiæ et materiæ naturam et vim ordinantem atque procreantem.” It is Earth as “source of being”; or, as explained by the author of The Source of Measures (p. 186), Arts is the same in Hebrew and Egyptian, and both “combine the primal idea of earth as source; precisely as in the Hebrew itself, under another form, Adam and Mâdim, Mars, are the same, and combine the idea of earth, with Adam under the form of h-adam-h.”

Aretia là hình thức nữ của Artes, Mars Ai Cập. Từ đó có từ Chaldea, và nay là Hebrew, Arets, nghĩa là “Trái Đất.” Seyffarth, tác giả của Những Đóng Góp cho Tri Thức, mục “Artes,” Mars, trích như sau: “Cedrenus nói thêm rằng: ngôi sao Mars được người Ai Cập gọi là Ertosi, nghĩa là trồng cấy, sinh ra. Từ này biểu thị sự sinh sản mọi loại và tiếp sinh lực, cũng như bản chất và quyền năng sắp đặt, sinh hóa của mọi chất liệu và vật chất.” Đó là Trái Đất như “nguồn của hiện tồn”; hoặc, như tác giả của Nguồn Gốc của các Thước Đo giải thích, tr. 186, Arts là như nhau trong Hebrew và Ai Cập, và cả hai “kết hợp ý tưởng nguyên sơ về đất như nguồn; chính như trong bản thân Hebrew, dưới một hình thức khác, Adam và Madim, Mars, là một, và kết hợp ý tưởng về đất, với Adam dưới hình thức ha-adam-h.”

 340 .

340.

Ant., v. 64.

Cổ Sử, v. 64.

 341 .

341.

Nonnus, Dionys., xviii. 319. Quoted by Faber, op. cit., i. 328.

Nonnus, Dionysiaca, xviii. 319. Được Faber trích dẫn, tác phẩm đã dẫn, i. 328.

 342 .

342.

See Isis Unveiled, II. 420 et seq., where one or two of the seven meanings are hinted at.

Xem Isis Được Vén Màn, II. 420 và tiếp theo, nơi một hoặc hai trong bảy ý nghĩa được gợi ý.

 343 .

343.

Chap. lxiv (Sect. xi).

Chương lxiv, mục xi.

 344 .

344.

Isis Unveiled, II. 423, 424.

Isis Được Vén Màn, II. 423, 424.

 345 .

345.

Ibid., 423, note.

Sđd., 423, chú thích.

 346 .

346.

One has to remember that, in the Hindû Philosophy, every differentiated unit is such only through the Cycles of Mâyâ, being one in its essence with the Supreme or One Spirit. Hence arises the seeming confusion and contradiction in the various Purânas, and at times in the same Purâna, about the same individual. Vishnu—as the many-formed Brahmâ, and as Brahma (neuter)—is one, and yet he is said to be all the twenty-eight Vyâsas.

Cần nhớ rằng trong Triết học Hindu, mỗi đơn vị đã biến phân chỉ là như thế qua các Chu kỳ của maya, trong bản thể của nó vốn là một với Tinh Thần Tối Cao hay Duy Nhất. Từ đó nảy sinh sự lẫn lộn và mâu thuẫn bề ngoài trong nhiều Purana khác nhau, và đôi khi trong cùng một Purana, về cùng một cá thể. Vishnu — như Brahma đa hình, và như Brahma trung tính — là một, thế mà Ngài được nói là tất cả hai mươi tám Vyasa.

“In every Dvâpara (or third) age, Vishnu, in the person of Vyâsa, divides the Veda, which is (properly, but) one, into many portions…. Twenty-eight times have the Vedas been arranged by the great Rishis in the Vaivasvata Manvantara, in the Dvâpara age; and, consequently, eight and twenty Vyâsas have passed away.” (Vishnu Purâna, iii. 3; Wilson’s Trans., iii. 33, 34.) “[They who were all] in the form of Veda-Vyâsa; who were the Vyâsas of their respective eras.” (Ibid., loc. cit., p. 33.) “This world is Brahmâ, in Brahmâ, from Brahmâ… nothing further to be known.” Then, again, in the Harivamsha: “There were (in the first Manvantara) seven celebrated sons of Vasishtha, who (in the third Manvantara) were sons of Brahmâ (i.e., Rishis), the illustrious progeny of Ûrjâ.” (Ibid., iii. 6, note.) This is plain: the Humanity of the First Manvantara is that of the seventh and of all the intermediate ones. The Mankind of the First Root-Race is the mankind of the Second, Third, Fourth, Fifth, etc. To the last it forms a cyclic and constant reincarnation of the Monads belonging to the Dhyân Chohans of our Planetary Chain.

“Trong mỗi thời đại Dvapara, hay thời đại thứ ba, Vishnu, trong nhân vật Vyasa, chia Veda, vốn đúng ra là một, thành nhiều phần… Hai mươi tám lần các Veda đã được các Rishi vĩ đại sắp đặt trong Giai kỳ sinh hóa Vaivasvata, trong thời đại Dvapara; và do đó, hai mươi tám Vyasa đã qua đi.” Vishnu Purana, iii. 3; bản dịch của Wilson, iii. 33, 34. “Tất cả họ đều ở trong hình thức Veda-Vyasa; họ là các Vyasa của những kỷ nguyên tương ứng của mình.” Sđd., chỗ đã dẫn, tr. 33. “Thế giới này là Brahma, trong Brahma, từ Brahma… không còn gì hơn để biết.” Rồi lại trong Harivamsha: “Đã có, trong Giai kỳ sinh hóa thứ nhất, bảy con trai nổi tiếng của Vasishtha, những vị trong Giai kỳ sinh hóa thứ ba là con của Brahma, tức các Rishi, hậu duệ lừng danh của Urja.” Sđd., iii. 6, chú thích. Điều này rõ ràng: Nhân loại của Giai kỳ sinh hóa thứ nhất là nhân loại của Giai kỳ thứ bảy và của tất cả các Giai kỳ trung gian. Nhân loại của Giống dân Gốc thứ nhất là nhân loại của Giống dân thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, v.v. Cho đến cuối cùng, nó tạo thành một sự tái sinh luân hồi theo chu kỳ và không đổi của các chân thần thuộc về các Dhyani Chohan của Dãy Hành Tinh chúng ta.

 347 .

347.

The Dvâpara Yuga differs for each Race. All Races have their own Cycles, which fact causes a great difference. For instance, the Fourth Sub-Race of the Atlanteans was in its Kali Yuga, when they were destroyed, whereas the Fifth was in its Satya or Krita Yuga. The Âryan Race is now in its Kali Yuga, and will continue to be in it for 427,000 years longer, while various “Family Races,” called the Semitic, Hamitic, etc., are in their own special cycles. The forthcoming Sixth Sub-Race—which may begin very soon—will be in its Satya (Golden) Age while we reap the fruit of our iniquity in our Kali Yuga.

Dvapara Yuga khác nhau đối với mỗi Giống dân. Mọi Giống dân đều có các Chu kỳ riêng, sự kiện này gây nên một khác biệt lớn. Chẳng hạn, Giống dân phụ thứ tư của người Atlantis đang ở trong Kali Yuga của họ khi họ bị hủy diệt, trong khi Giống dân phụ thứ năm đang ở trong Satya hay Krita Yuga của họ. Giống dân Arya hiện nay đang ở trong Kali Yuga của mình, và sẽ tiếp tục ở trong đó thêm 427.000 năm nữa, trong khi nhiều “Giống dân Gia đình,” gọi là Semite, Hamite, v.v., đang ở trong các chu kỳ đặc biệt riêng của họ. Giống dân phụ thứ sáu sắp tới — có thể bắt đầu rất sớm — sẽ ở trong Thời đại Satya, tức Hoàng Kim, của nó trong khi chúng ta gặt quả của sự bất chính nơi Kali Yuga của chúng ta.

 348 .

348.

See Asiatic Researches, viii. 280.

Xem Nghiên Cứu Á Châu, viii. 280.

 349 .

349.

See Dowson’s Hindû Classical Dictionary, sub voce “Idâ.”

Xem Từ Điển Cổ Điển Hindu của Dowson, mục “Ida.”

 350 .

350.

See Posthumous Humanity: Translated by H. S. Olcott London, 1887.

Xem Nhân Loại Sau Khi Chết: do H. S. Olcott dịch, London, 1887.

 351 .

351.

Professor Newcomb says the heat evolved by contraction would last only 18,000,000 years. (Popular Astronomy, 509.) While a temperature permitting the existence of water could not be reached earlier than 10,000,000 years ago. (Winchell’s World-Life, 356.) But Sir William Thomson says that the whole age of the incrustation of the Earth is 80,000,000 years, though, this year, he has again altered his opinion and allows only 15,000,000 years as the age of the Sun. As will be shown in the Addenda, the divergence of scientific opinions is so great that no reliance can ever be placed upon scientific speculation.

Giáo sư Newcomb nói rằng nhiệt phát sinh do co rút chỉ kéo dài 18.000.000 năm. Thiên Văn Học Phổ Thông, 509. Trong khi một nhiệt độ cho phép nước tồn tại không thể đạt được sớm hơn 10.000.000 năm trước. Đời Sống Thế Giới của Winchell, 356. Nhưng Sir William Thomson nói rằng toàn bộ tuổi của sự đóng vỏ của Trái Đất là 80.000.000 năm, mặc dù trong năm nay ông lại thay đổi ý kiến và chỉ cho phép 15.000.000 năm là tuổi của Mặt Trời. Như sẽ được trình bày trong Phụ Lục, sự bất đồng giữa các ý kiến khoa học lớn đến nỗi không bao giờ có thể đặt sự tin cậy vào suy đoán khoa học.

 352 .

352.

The essay on The Plurality of Worlds (1853)—an anonymous work, yet well known to have been the production of Dr. Whewell—is a good proof of this. No Christian ought to believe in either the plurality of Worlds or the geological age of the Globe, argues the author; because, if it is asserted that this World is only one among the many of its kind, which are all the work of God, as it is itself; that all are the seat of life, all the realm and dwelling of intelligent creatures endowed with will, subject to law and capable of free-will; then, it would be extravagant to think that our World should have been the subject of God’s favours and His special interference, of His communications and His personal visit. Can the Earth presume to be considered the centre of the moral and religious Universe, he asks, if it has not the slightest distinction to rely upon in the physical Universe? Is it not as absurd to uphold such an assertion (of the plurality of inhabited worlds), as it would be to-day to uphold the old hypothesis of Ptolemy, who placed the Earth in the centre of our system? The above is quoted from memory, yet almost textually. The author fails to see that he is bursting his own soap-bubble with such a defence.

Bài luận về Tính Đa Nguyên của các Thế Giới, 1853 — một tác phẩm vô danh, nhưng ai cũng biết là sản phẩm của Tiến sĩ Whewell — là một bằng chứng tốt cho điều này. Tác giả lập luận rằng không một tín đồ Cơ Đốc nào nên tin vào tính đa nguyên của các Thế giới hoặc tuổi địa chất của bầu hành tinh; bởi vì nếu khẳng định rằng Thế giới này chỉ là một trong nhiều thế giới cùng loại, tất cả đều là công trình của Thượng đế, như chính nó; rằng tất cả đều là nơi của sự sống, tất cả là cõi giới và nơi cư trú của các sinh linh thông minh có ý chí, lệ thuộc định luật và có khả năng tự do ý chí; thì sẽ là quá đáng khi nghĩ rằng thế giới của chúng ta lại là đối tượng của ân huệ của Thượng đế và sự can thiệp đặc biệt của Ngài, của các thông truyền của Ngài và cuộc viếng thăm cá nhân của Ngài. Ông hỏi, Trái Đất có thể tự cho mình là trung tâm của Vũ Trụ đạo đức và tôn giáo hay không, nếu nó không có sự phân biệt nhỏ nhất nào để dựa vào trong Vũ Trụ hồng trần? Việc duy trì một khẳng định như thế, về tính đa nguyên của các thế giới có cư dân, há chẳng phi lý như ngày nay duy trì giả thuyết cũ của Ptolemy, người đặt Trái Đất vào trung tâm hệ thống của chúng ta sao? Phần trên được trích từ trí nhớ, nhưng gần như nguyên văn. Tác giả không thấy rằng với cách biện hộ như thế ông đang tự làm vỡ bong bóng xà phòng của mình.

 353 .

353.

Man’s Place in Nature, p. 58.

Vị Trí của Con Người trong Thiên Nhiên, tr. 58.

 354 .

354.

De Cœlo, II. 13.

Về Bầu Trời, II. 13.

 355 .

355.

Or what is more generally known as Protoplasm. This substance received the name of “Sarcode” from Prof. Dujardin Beaumetz far earlier than its present appellation.

Hoặc cái thường được biết đến hơn là nguyên sinh chất. Chất liệu này đã nhận tên “Sarcode” từ Giáo sư Dujardin Beaumetz sớm hơn rất nhiều so với tên gọi hiện nay của nó.

 356 .

356.

The Monera are indeed Protista. They are neither animals nor plants, writes Hæckel; “the whole body of the Moneron represents nothing more than a single thoroughly homogeneous particle of albumen in a firmly adhesive condition.” (Journal of Microscopical Science, Jan., 1869, p. 28.)

Monera quả thật là Protista. Chúng không phải động vật cũng không phải thực vật, Haeckel viết; “toàn bộ thể của Moneron không biểu hiện gì hơn một hạt albumen đơn nhất, hoàn toàn đồng nhất, trong trạng thái kết dính chắc chắn.” Tạp chí Khoa học Hiển vi, tháng 1 năm 1869, tr. 28.

 357 .

357.

Behold the Iguanodon of the Mesozoic ages—the monster 100 feet long—now transformed into the small Iguana lizard of South America. Popular traditions about “giants” in days of old, and their mention in every mythology, including that of the Bible, may some day be shown to be founded on fact. In nature, the logic of analogy alone should make us accept these traditions as scientific verities.

Hãy nhìn Iguanodon của các thời đại Trung Sinh — con quái vật dài 100 feet — nay đã chuyển thành loài thằn lằn Iguana nhỏ ở Nam Mỹ. Những truyền thống phổ biến về “người khổng lồ” thời xưa, và sự nhắc đến họ trong mọi thần thoại, kể cả Kinh Thánh, một ngày nào đó có thể được chứng minh là dựa trên sự kiện. Trong thiên nhiên, chỉ riêng logic của định luật tương đồng cũng phải khiến chúng ta chấp nhận các truyền thống này như những chân lý khoa học.

 358 .

358.

These are the opinions of Burmeister and Czolbe. See Force and Matter, by L. Büchner, edited, by J. F. Collingwood, F.R.S.L., p. 61.

Đây là ý kiến của Burmeister và Czolbe. Xem Mãnh Lực và Vật Chất, của L. Buchner, do J. F. Collingwood biên tập, tr. 61.

 359 .

359.

Vishnu Purâna, II. viii; Fitzedward Hall’s rendering in Wilson’s Translation, ii. 241.

Vishnu Purana, II. viii; bản dịch của Fitzedward Hall trong bản dịch Wilson, ii. 241.

 360 .

360.

Ibid., p. 242.

Sđd., tr. 242.

 361 .

361.

Introduction à l’Étude des Races Humaines.

Dẫn Nhập vào Việc Nghiên Cứu các Giống Dân Nhân Loại.

 362 .

362.

Modern Science and Modern Thought, by S. Laing, p. 32.

Khoa Học Hiện Đại và Tư Tưởng Hiện Đại, của S. Laing, tr. 32.

 363 .

363.

Esoteric Buddhism, p. 70.

Phật Giáo Nội Môn, tr. 70.

 364 .

364.

The same fate is in store for spiritualistic phenomena and all the other psychological manifestations of the inner man. Since the days of Hume, whose researches culminated in a nihilistic Idealism, Psychology has gradually shifted its position to one of crass Materialism. Hume is regarded as a Psychologist, and yet he denied à priori the possibility of phenomena in which millions now believe, including many men of Science. The Hylo-Idealists of to-day are rank Annihilationists. The schools of Spencer and Bain are respectively positivist and materialist, and not metaphysical at all. It is Psychism and not Psychology; it reminds one as little of the Vedântic teaching as does the pessimism of Schopenhauer and von Hartmann recall the Esoteric Philosophy, the heart and soul of true Buddhism.

Cùng một số phận đang chờ các hiện tượng thần linh học và tất cả những biểu hiện tâm lý khác của con người bên trong. Từ thời Hume, người có các nghiên cứu đạt đến đỉnh điểm trong một Chủ nghĩa Duy Tâm hư vô, Tâm lý học đã dần dần chuyển vị trí của mình sang một Chủ nghĩa Duy Vật thô thiển. Hume được xem là một nhà Tâm lý học, thế mà ông đã phủ nhận tiên nghiệm khả năng của những hiện tượng mà nay hàng triệu người tin tưởng, trong đó có nhiều nhà khoa học. Các nhà Duy Vật-Duy Tâm ngày nay là những người chủ trương hủy diệt hoàn toàn. Các trường phái của Spencer và Bain lần lượt là thực chứng và duy vật, hoàn toàn không phải siêu hình. Đó là Thông linh luận chứ không phải Tâm lý học; nó khiến người ta nhớ đến giáo huấn Vedanta cũng ít như chủ nghĩa bi quan của Schopenhauer và von Hartmann gợi nhớ đến Triết học Nội môn, trái tim và linh hồn của Phật giáo chân chính.

 365 .

365.

It must be noted that, though the astral and physical planes of Matter ran parallel with one another even in the earliest geological ages, yet they were not in the same phases of manifestation in which they are now. The Earth did not reach its present grade of density till 18,000,000 years ago. Since then both the physical and astral planes have become grosser.

Cần lưu ý rằng, dù các cõi cảm dục và hồng trần của Vật Chất đã chạy song song với nhau ngay cả trong các thời đại địa chất sớm nhất, chúng vẫn không ở trong cùng các pha biểu hiện như hiện nay. Trái Đất đã không đạt đến cấp độ đậm đặc hiện tại cho đến 18.000.000 năm trước. Từ đó đến nay, cả hai cõi hồng trần và cảm dục đều trở nên thô hơn.

 366 .

366.

The conception and definition of the Absolute by Cardinal Cusa may satisfy only the Western mind, prisoned, so unconsciously to itself, and entirely degenerated, by long centuries of scholastic and theological sophistry. But this “recent philosophy of the Absolute,” traced by Sir William Hamilton to Cusa, would never satisfy the more acutely metaphysical mind of the Hindû Vedântin.

Quan niệm và định nghĩa về Tuyệt Đối của Hồng y Cusa chỉ có thể thỏa mãn trí tuệ phương Tây, vốn bị giam hãm, một cách vô thức đối với chính nó, và hoàn toàn suy thoái, bởi nhiều thế kỷ dài của ngụy biện kinh viện và thần học. Nhưng “triết học gần đây về Tuyệt Đối” này, được Sir William Hamilton truy nguyên đến Cusa, sẽ không bao giờ thỏa mãn trí tuệ siêu hình sắc bén hơn của nhà Vedanta Hindu.

 367 .

367.

Cudworth’s Intellectual System, I. 328.

Hệ Thống Trí Tuệ của Cudworth, I. 328.

 368 .

368.

Issued from the Body of Brahmâ when it became Night.

Phát ra từ Thân của Brahma khi nó trở thành Đêm.

 369 .

369.

Intellectually vile.

Hèn hạ về trí tuệ.

 370 .

370.

Still senseless Race.

Giống dân vẫn còn vô tri.

 371 .

371.

Race.

Giống dân.

 372 .

372.

Intensified.

Được tăng cường.

 373 .

373.

The vehicle of Desire.

Vận cụ của Dục vọng.

 374 .

374.

Higher knowledge.

Tri thức cao hơn.

 375 .

375.

Monads.

Các chân thần.

 376 .

376.

Primitive human species.

Loài người nguyên thủy.

 377 .

377.

Inst. Div., II. viii; quoted in Myer’s Qabbalah, 116.

Các Định Chế Thiêng Liêng, II. viii; được trích trong Qabbalah của Myer, 116.

 378 .

378.

Op. cit., I. v; Wilson’s Trans., Fitzedward Hall’s rendering, i. 72.

Tác phẩm đã dẫn, I. v; bản dịch của Wilson, cách diễn đạt của Fitzedward Hall, i. 72.

 379 .

379.

Ibid., ii. 10.

Sđd., ii. 10.

 380 .

380.

Ibid., i. 83.

Sđd., i. 83.

 381 .

381.

Whom Manu calls “paternal grandfathers” (iii. 284). The Rudras are the seven manifestations of Rudra-Shiva, the “destroying God,” and also the grand Yogi and Ascetic.

Những vị mà Manu gọi là “ông nội phụ hệ” (iii. 284). Các Rudra là bảy biểu hiện của Rudra-Shiva, “Thần hủy diệt,” và cũng là Đại Yogi và nhà Khổ hạnh.

 382 .

382.

To speak of life as having arisen, and of the human race as having originated, in this absurdly unscientific way, in the face of the modern Pedigrees of Man, is to court instantaneous annihilation. The Esoteric Doctrine risks the danger, nevertheless, and even goes so far as to ask the impartial reader to compare the above hypothesis (if it is one) with Hæckel’s theory—now fast becoming an axiom with Science—which we quote verbatim as follows: “How did life, the living world of organisms, arise? And, secondly, the special question: How did the human race originate? The first of these two enquiries, that as to the first appearance of living beings, can only be decided empirically [!!] by proof of the so-called Archebiosis, or equivocal generation, or the spontaneous production of organisms of the simplest conceivable kind. Such are the Monera (Protogenes, Protamœba, Protomyxa, Vampyrella), exceedingly simple microscopic masses of protoplasm without structure or organization, which take in nutriment and reproduce themselves by division. Such a Moneron as that primordial organism discovered by the renowned English zoologist Huxley and named Bathybius Hæckelii, appears as a continuous thick protoplasmic covering at the greatest depths of the ocean, between 3,000 and 30,000 feet. It is true that the first appearance of such Monera has not up to the present moment been actually observed; but there is nothing intrinsically improbable in such an Evolution.” (The Pedigree of Man, Aveling’s translation, p. 33.) The Bathybius protoplasm having recently turned out to be no organic substance at all, there remains little to be said. Nor, after reading this, does one need to consume further time in refuting the further assertion that: “In that case man also has, beyond a doubt [to the minds of Hæckel and his like], arisen from the lower Mammalia, apes, the earlier simian creatures, the still earlier Marsupialia, Amphibia, Pisces, by progressive transformations” (p. 36)—all produced by “a series of natural forces working blindly,… without aim, without design.”

Nói rằng sự sống đã phát sinh, và nhân loại đã khởi nguồn theo cách phi khoa học đến phi lý này, trước mặt các Gia Phả Con Người hiện đại, là tự chuốc lấy sự hủy diệt tức khắc. Tuy nhiên, Giáo Lý Nội Môn vẫn liều lĩnh trước nguy cơ ấy, và thậm chí còn đi xa đến mức yêu cầu độc giả vô tư so sánh giả thuyết trên, nếu đó là một giả thuyết, với lý thuyết của Haeckel — nay đang nhanh chóng trở thành một tiên đề đối với Khoa học — mà chúng tôi trích nguyên văn như sau: “Sự sống, thế giới sống của các cơ thể, đã phát sinh như thế nào? Và thứ hai, câu hỏi đặc thù: Nhân loại đã khởi nguồn như thế nào? Câu hỏi đầu tiên trong hai câu hỏi này, tức câu hỏi về sự xuất hiện đầu tiên của các sinh linh, chỉ có thể được quyết định bằng kinh nghiệm qua bằng chứng của cái gọi là Archebiosis, hay sự phát sinh mơ hồ, hay sự sản sinh tự phát của các cơ thể thuộc loại đơn giản nhất có thể quan niệm. Đó là Monera, Protogenes, Protamoeba, Protomyxa, Vampyrella, những khối nguyên sinh chất cực kỳ đơn giản, vi mô, không có cấu trúc hay tổ chức, hấp thụ dinh dưỡng và tự tái sản sinh bằng phân chia. Một Moneron như cơ thể nguyên thủy được nhà động vật học Anh lừng danh Huxley phát hiện và đặt tên là Bathybius Haeckelii, xuất hiện như một lớp phủ nguyên sinh chất dày liên tục ở những độ sâu lớn nhất của đại dương, từ 3.000 đến 30.000 feet. Đúng là sự xuất hiện đầu tiên của những Monera như thế cho đến hiện tại vẫn chưa được thực sự quan sát; nhưng không có gì tự thân là không thể có trong một sự tiến hoá như vậy.” Gia Phả Con Người, bản dịch của Aveling, tr. 33. Vì nguyên sinh chất Bathybius gần đây hóa ra hoàn toàn không phải là chất hữu cơ, nên còn rất ít điều để nói. Và sau khi đọc điều này, người ta cũng không cần mất thêm thời gian bác bỏ khẳng định tiếp theo rằng: “Trong trường hợp ấy, con người cũng, không còn nghi ngờ gì đối với trí tuệ của Haeckel và những người như ông, đã phát sinh từ các Động vật có vú thấp hơn, vượn, các sinh vật dạng vượn sớm hơn, các Thú có túi còn sớm hơn, Lưỡng cư, Cá, qua các chuyển đổi tiến bộ” (tr. 36) — tất cả được tạo ra bởi “một chuỗi các mãnh lực tự nhiên hoạt động mù quáng,… không mục đích, không thiết kế.”

The above-quoted passage bears its criticism on its own face. Science is made to teach that, which, up to the present time, “has never been actually observed.” She is made to deny the phenomenon of an intelligent nature and a vital force independent of form and matter, and to find it more scientific to teach the miraculous performance of “natural forces working blindly without aim or design.” If so, then we are led to think that the physico-mechanical forces of the brains of certain eminent Scientists are leading them on as blindly to sacrifice logic and common sense on the altar of mutual admiration. Why should the protoplasmic Moneron producing the first living creature through self-division be held as a very scientific hypothesis, and an ethereal pre-human race generating the primeval men in the same fashion be tabooed as unscientific superstition? Or has Materialism obtained a sole monopoly in Science?

Đoạn trích trên tự mang phê phán trên chính bề mặt của nó. Khoa học bị khiến phải dạy điều mà cho đến nay “chưa bao giờ được thực sự quan sát.” Khoa học bị khiến phải phủ nhận hiện tượng của một thiên nhiên thông minh và một mãnh lực sinh lực độc lập với hình tướng và vật chất, và cho rằng việc dạy màn biểu diễn kỳ diệu của “các mãnh lực tự nhiên hoạt động mù quáng, không mục đích hay thiết kế” là khoa học hơn. Nếu vậy, chúng ta bị dẫn đến nghĩ rằng các mãnh lực cơ học-hồng trần của bộ não một số nhà khoa học lỗi lạc đang dẫn họ đi một cách mù quáng không kém để hiến tế logic và lẽ thường trên bàn thờ của sự ngưỡng mộ lẫn nhau. Tại sao Moneron nguyên sinh chất sản sinh sinh vật sống đầu tiên qua tự phân chia lại được xem là một giả thuyết rất khoa học, còn một giống dân tiền nhân loại dĩ thái sinh ra những con người nguyên thủy theo cùng cách ấy lại bị cấm kỵ như một mê tín phi khoa học? Hay Chủ nghĩa Duy Vật đã giành được độc quyền duy nhất trong Khoa học?

 383 .

383.

The Râkshasas, regarded in Indian popular theology as Demons, are called the “Preservers” beyond the Himâlayas. This double meaning has its origin in a philosophical allegory, which is variously rendered in the Purânas. It is stated that when Brahmâ created the Demons, Yakshas (from yaksh, to eat) and the Râkshasas, both of which kinds of Demons, as soon as born, wished to devour their Creator, “those among them that called out ‘Not so: oh! let him be saved [preserved]!’ were named Râkshasas.” (Vishnu Purâna, I. v.; Wilson, i. 82.) The Bhâgavata Purâna (III. 20, 19-21; ibid., loc. cit.) renders the allegory differently. “Brahmâ transformed himself into night [or ignorance] invested with a body.” This the Yakshas and Râkshasas seized, exclaiming, “Do not spare it; devour it.” Brahmâ cried out, “Do not devour me; spare me.” This has an inner meaning of course. The “Body of Night” is the darkness of ignorance, and it is the darkness of silence and secrecy. Now the Râkshasas are shown in almost every case to be Yogîs, pious Sâdhus and Initiates, a rather unusual occupation for Demons. The meaning then is that while we have power to dispel the darkness of ignorance— “devour it”—we have to preserve the sacred truth from profanation. “Brahmâ is for the Brâhmans alone,” says that proud caste. The moral of the fable is evident.

Các Rakshasa, được thần học bình dân Ấn Độ xem là Quỷ, lại được gọi là “Những Đấng Bảo Tồn” bên kia Himalaya. Ý nghĩa kép này có nguồn gốc trong một ẩn dụ triết học, được trình bày khác nhau trong các Purana. Có nói rằng khi Brahma tạo ra Quỷ, Yaksha, từ căn yaksh, ăn, và Rakshasa, cả hai loại Quỷ này, ngay khi sinh ra, đều muốn nuốt chửng Đấng Sáng Tạo của mình, “những kẻ trong số họ kêu lên ‘Không được: ôi! hãy để Ngài được cứu, được bảo tồn!’ được đặt tên là Rakshasa.” Vishnu Purana, I. v.; Wilson, i. 82. Bhagavata Purana, III. 20, 19-21; sđd., chỗ đã dẫn, trình bày ẩn dụ khác đi. “Brahma tự chuyển hóa thành đêm, hay vô minh, khoác lấy một thân thể.” Các Yaksha và Rakshasa chộp lấy nó, kêu lên: “Đừng tha cho nó; hãy nuốt chửng nó.” Brahma kêu lên: “Đừng nuốt chửng ta; hãy tha cho ta.” Dĩ nhiên điều này có một ý nghĩa bên trong. “Thân của Đêm” là bóng tối của vô minh, và đó là bóng tối của im lặng và bí mật. Nay các Rakshasa hầu như trong mọi trường hợp đều được trình bày là các Yogi, các Sadhu mộ đạo và các điểm đạo đồ, một nghề nghiệp khá khác thường đối với Quỷ. Vậy ý nghĩa là: trong khi chúng ta có quyền năng xua tan bóng tối của vô minh — “nuốt chửng nó” — chúng ta phải bảo tồn chân lý thiêng liêng khỏi sự phàm tục hóa. “Brahma chỉ dành cho người Brahman,” giai cấp kiêu hãnh ấy nói. Bài học đạo đức của ngụ ngôn thật hiển nhiên.

 384 .

384.

The gradual evolution of man in the Secret Doctrine shows that all the later (to the profane the earliest) Races have their physical origin in the early Fourth Race. But it is the sub-race, which preceded the one that separated sexually, that is to be regarded as the spiritual ancestors of our present generations, and especially of the Eastern Âryan Races. Weber’s idea that the Indo-Germanic Race preceded the Âryan Vedic Race is, to the Occultist, grotesque to the last degree.

Sự tiến hoá dần dần của con người trong Giáo Lý Bí Nhiệm cho thấy rằng tất cả các Giống dân về sau, đối với kẻ phàm tục là sớm nhất, đều có nguồn gốc hồng trần trong Giống dân thứ tư ban đầu. Nhưng chính giống dân phụ đi trước giống dân đã phân tách giới tính mới phải được xem là tổ tiên tinh thần của các thế hệ hiện tại của chúng ta, và đặc biệt của các Giống dân Arya phương Đông. Ý tưởng của Weber rằng Giống dân Ấn-Đức đi trước Giống dân Arya Veda, đối với nhà Huyền bí học, là lố bịch đến cùng cực.

 385 .

385.

Cf. especially Schmidt’s Doctrine of Descent and Darwinism, pp. 39 et seqq., and Laing’s A Modern Zoroastrian, pp. 102-111.

So sánh đặc biệt Giáo Lý về Dòng Dõi và Thuyết Darwin của Schmidt, tr. 39 và tiếp theo, và Một Người Zoroaster Hiện Đại của Laing, tr. 102-111.

 386 .

386.

Every process of healing and cicatrization in the higher animal groups—even in the case of reproduction of mutilated limbs with the Amphibians—is effected by fission and gemmation of the elementary morphological elements.

Mọi tiến trình chữa lành và liền sẹo trong các nhóm động vật cao hơn — ngay cả trong trường hợp tái sản sinh các chi bị cắt cụt ở Lưỡng cư — đều được thực hiện bằng phân đôinảy chồi của các nguyên tố hình thái cơ bản.

 387 .

387.

The term here means neither the dolicho-cephalic nor the brachyo-cephalic, nor yet skulls of a smaller volume, but simply brains devoid of intellect generally. The theory which would judge of the intellectual capacity of a man according to his cranial capacity, seems absurdly illogical to one who has studied the subject. The skulls of the stone period, as well as those of African races (Bushmen included) show that the first are above rather than below the average of the brain capacity of the modern man, and the skulls of the last are on the whole (as also in the case of Papuans and Polynesians generally) larger by one cubic inch than that of the average Frenchman. Again, the cranial capacity of the Parisian of to-day represents an average of 1437 cubic centimetres compared to 1523 of the Auvergnat.

Thuật ngữ ở đây không có nghĩa là đầu dài, cũng không phải đầu ngắn, cũng không phải những hộp sọ có thể tích nhỏ hơn, mà đơn giản là những bộ não nói chung không có trí năng. Lý thuyết muốn phán đoán năng lực trí tuệ của một người theo dung tích sọ của y có vẻ phi lý đến vô lý đối với người đã nghiên cứu vấn đề này. Hộp sọ của thời kỳ đồ đá, cũng như của các giống dân Phi châu, kể cả người Bushmen, cho thấy loại trước cao hơn chứ không thấp hơn mức trung bình của dung tích não của người hiện đại, và hộp sọ của loại sau nói chung, cũng như trong trường hợp người Papua và Polynesia nói chung, lớn hơn một inch khối so với người Pháp trung bình. Lại nữa, dung tích sọ của người Paris ngày nay biểu thị mức trung bình 1437 centimet khối so với 1523 của người Auvergne.

 388 .

388.

A. Lefèvre, Philosophy, p. 498.

A. Lefevre, Triết Học, tr. 498.

 389 .

389.

Principles of Zoology, p. 206.

Các Nguyên Lý Động Vật Học, tr. 206.

 390 .

390.

i. 154.

i. 154.

 391 .

391.

The boneless.

Những kẻ không xương.

 392 .

392.

The first Sweat-born. This is explained in the Section which follows this series of Stanzas in the allegory from the Purânas concerning Kandu, the holy sage, and Pramlochâ, the nymph who is alleged to have hypnotized him; a suggestive allegory, scientifically, as the drops of perspiration which she exuded, are the symbols of the spores of Science.

Những kẻ Sinh từ Mồ hôi đầu tiên. Điều này được giải thích trong Tiết tiếp theo loạt Bài kệ này, trong ẩn dụ từ các Purana liên quan đến Kandu, nhà hiền triết thánh thiện, và Pramlocha, tiên nữ được cho là đã thôi miên ông; một ẩn dụ có tính gợi ý về mặt khoa học, vì những giọt mồ hôi mà nàng tiết ra là các biểu tượng của bào tử trong Khoa học.

 393 .

393.

This will be explained as we proceed. This unwillingness to fashion men, or create, is symbolized in the Purânas by Daksha’s dealings with his opponent Nârada, the “strife-making ascetic.”

Điều này sẽ được giải thích khi chúng ta tiếp tục. Sự không muốn tạo hình con người, hay sáng tạo, được biểu tượng hóa trong các Purana qua những giao dịch của Daksha với đối thủ của ông là Narada, “nhà khổ hạnh gây tranh chấp.”

 394 .

394.

Androgyne Third Race. The Evolutionist Professor Schmidt alludes to “the fact of the separation of sexes, as to the derivation of which from species once hermaphrodite all [the believers in Creation naturally excepted] are assuredly of one accord.” (Doctrine of Descent and Darwinism, p. 159.) Such indeed is the incontestable evidence drawn from the presence of rudimentary organs. Apart from such palpable traces of a primeval hermaphroditism, the fact may be noted that, as Laing writes, “a study of embryology… shows that in the human higher animal species the distinction of sex is not developed until a considerable progress has been made in the growth of the embryo.” (A Modern Zoroastrian, p. 106.) The Law of Retardation—operative alike in the case of human races, animal species, etc., when a higher type has once been evolved—still preserves hermaphroditism as the reproductive method of the majority of plants and many lower animals.

Giống dân thứ ba lưỡng tính. Giáo sư tiến hoá Schmidt ám chỉ “sự kiện phân ly giới tính, mà về nguồn gốc của nó từ những loài từng là lưỡng tính, tất cả, dĩ nhiên trừ những người tin vào Sáng Tạo, chắc chắn đều đồng thuận.” Giáo Lý về Dòng Dõi và Thuyết Darwin, tr. 159. Quả thật đó là bằng chứng không thể tranh cãi rút ra từ sự hiện diện của các cơ quan thoái hóa. Ngoài những dấu vết rõ ràng như thế của một tình trạng lưỡng tính nguyên sơ, có thể lưu ý sự kiện rằng, như Laing viết, “một nghiên cứu về phôi học… cho thấy rằng trong các loài động vật cao hơn thuộc nhân loại, sự phân biệt giới tính chưa phát triển cho đến khi sự tăng trưởng của phôi đã đạt được một tiến bộ đáng kể.” Một Người Zoroaster Hiện Đại, tr. 106. Định luật Trì Hoãn — tác động như nhau trong trường hợp các giống dân nhân loại, các loài động vật, v.v., khi một kiểu mẫu cao hơn đã từng được tiến hoá — vẫn bảo tồn tính lưỡng tính như phương pháp sinh sản của phần lớn thực vật và nhiều động vật thấp.

 395 .

395.

Vehicle.

Vận cụ.

 396 .

396.

Vishnu Purâna, I. vii; Wilson, i. 100.

Vishnu Purana, I. vii; Wilson, i. 100.

 397 .

397.

See Five Years of Theosophy, p. 111.

Xem Năm Năm Thông Thiên Học, tr. 111.

 398 .

398.

For explanations and a philosophical account of the nature of those Beings, which are now viewed as the “evil” and rebellious Spirits, the Creators by Kriyâshakti, the reader is referred to the chapters on “The Myth of the ‘Fallen Angel,’ in its Various Aspects,” in Part II of this Volume.

Để có những giải thích và một tường thuật triết học về bản chất của các Hữu Thể ấy, hiện nay bị xem là các Tinh thần “ác” và nổi loạn, các Đấng Sáng Tạo bằng Kriyashakti, độc giả được dẫn đến các chương về “Huyền thoại ‘Thiên Thần Sa Ngã,’ trong các Phương diện Khác nhau của nó,” ở Phần II của Quyển này.

 399 .

399.

Vishnu Purâna, III. ii.

Vishnu Purana, III. ii.

 400 .

400.

In the oldest MS. of the Vishnu Purâna in the possession of an Initiate in Southern India, the God is not Indra, but Kâma, the God of love and desire.

Trong bản thảo cổ nhất của Vishnu Purana thuộc sở hữu của một điểm đạo đồ ở Nam Ấn, vị Thần không phải Indra, mà là Kama, Thần của tình thương và dục vọng.

 401 .

401.

These are the exoteric figures given in a purposely reversed and distorted way, being the figure of the duration of the cycle between the First and Second human Race. All Orientalists to the contrary, there is not a word in any of the Purânas that has not a special esoteric meaning.

Đây là những con số ngoại môn được đưa ra theo một cách cố ý đảo ngược và bóp méo, là con số chỉ thời lượng của chu kỳ giữa Giống dân nhân loại thứ nhất và thứ hai. Bất chấp mọi nhà Đông phương học nói ngược lại, không có một từ nào trong bất kỳ Purana nào mà không có một ý nghĩa nội môn đặc biệt.

 402 .

402.

Vishnu Purâna, I. xv; Wilson, ii. 5. Compare also Vivien’s temptation of Merlin (Tennyson)—the same legend in Irish tradition.

Vishnu Purana, I. xv; Wilson, ii. 5. Cũng so sánh sự cám dỗ Merlin của Vivien trong Tennyson — cùng một truyền thuyết trong truyền thống Ireland.

 403 .

403.

x. 129.

x. 129.

 404 .

404.

The text has: “From Brahmâ, continuing to meditate, were born mind-engendered progeny, with forms and faculties derived from his corporeal nature, embodied spirits, produced from the limbs (Gâtra) of Dhîmat (all-wise deity).” All these beings were the abode of the three qualities of Devasarga, or divine creation, which, as the five-fold creation, is devoid of clearness of perception, without reflection, dull of nature. “But as they did not multiply themselves, Brahmâ created other mind-born sons like himself,” namely, the Brahmarshis, or the Prajâpatis, ten and seven in number. “Sanandana and the other sons of Vedhas (Brahmâ) were previously created,” but as shown elsewhere, they were “without desire or passion, inspired with holy wisdom, estranged from the universe and undesirous of progeny.” (Vishnu Purâna, X. vii; Wilson’s Trans., i. 100, 101.) These Sanandana and other Kumâras are then the Gods, who after refusing to “create progeny” are forced to incarnate in senseless men. The reader must pardon unavoidable repetitions in view of the great number of facts given.

Bản văn viết: “Từ Brahma, tiếp tục tham thiền, sinh ra dòng dõi do trí sinh, với hình tướng và năng lực phát xuất từ bản chất thân xác của Ngài, các tinh thần nhập thể, được tạo ra từ các chi thể, Gatra, của Dhimat, Thượng đế toàn trí.” Tất cả các hữu thể này là nơi cư trú của ba phẩm tính của Devasarga, hay sáng tạo thiêng liêng, vốn như sáng tạo ngũ phân thì thiếu sự minh bạch trong tri giác, không có phản tư, bản chất trì độn. “Nhưng vì họ không tự nhân lên, Brahma tạo ra những người con do trí sinh khác giống như mình,” tức các Brahmarshi, hay Prajapati, gồm mười và bảy vị. “Sanandana và các con khác của Vedhas, Brahma, đã được tạo ra trước đó,” nhưng như đã trình bày ở nơi khác, họ “không có dục vọng hay đam mê, được cảm hứng bởi minh triết thánh thiện, xa lạ với vũ trụ và không ham muốn dòng dõi.” Vishnu Purana, X. vii; bản dịch Wilson, i. 100, 101. Vậy Sanandana và các Kumara khác là các Thần, những vị sau khi từ chối “tạo dòng dõi” bị buộc phải lâm phàm trong những con người vô tri. Độc giả phải tha thứ cho những lặp lại không tránh được, xét đến số lượng lớn các sự kiện được đưa ra.

 405 .

405.

Compare Schlagintweit’s Buddhism in Tibet, pp. 88-90.

So sánh Phật Giáo ở Tây Tạng của Schlagintweit, tr. 88-90.

 406 .

406.

See Edkins’ Chinese Buddhism, p. 208.

Xem Chinese Buddhism của Edkins, tr. 208.

 407 .

407.

The previous Third Round.

Cuộc tuần hoàn thứ ba trước đó.

 408 .

408.

Of this Round.

Của cuộc tuần hoàn này.

 409 .

409.

An allegorical reference to the “Sacred Animals” of the Zodiac and other heavenly bodies. Some Kabalists see in them the prototypes of the animals.

Một ám chỉ ngụ ngôn về “Các Con Vật Thiêng Liêng” của Hoàng Đạo và các thiên thể khác. Một số nhà Kabbalah thấy nơi chúng các nguyên mẫu của loài vật.

 410 .

410.

In Hesiod, Zeus creates his Third Race of men out of ash-trees. In the Popol Vuh the Third Race of men is created out of the tree Tzita and the marrow of the reed called Sibac. But Sibac means “egg” in the mystery language of the Artufas, or Initiation caves. In a report sent in 1812 to the Cortes by Don Baptista Pino it is said: “All the Pueblos have their Artufas—so the natives call subterranean rooms with only a single door where they (secretly) assemble…. These are impenetrable temples… and the doors are always closed to the Spaniards…. They adore the Sun and Moon… fire and the great Snake (the creative power), whose eggs are called Sibac.”

Trong Hesiod, Zeus tạo ra nhân loại thứ ba của ông từ những cây tần bì. Trong Popol Vuh, nhân loại thứ ba được tạo ra từ cây Tzita và tủy của cây sậy gọi là Sibac. Nhưng Sibac có nghĩa là “trứng” trong ngôn ngữ huyền nhiệm của các Artufas, hay các hang Điểm đạo. Trong một bản tường trình gửi năm 1812 cho Cortes bởi Don Baptista Pino, có nói: “Tất cả các Pueblos đều có Artufas của họ — người bản địa gọi như vậy các phòng dưới đất chỉ có một cửa duy nhất, nơi họ bí mật tụ họp…. Đây là những đền thờ bất khả xâm nhập… và các cửa luôn đóng đối với người Tây Ban Nha…. Họ tôn thờ Mặt Trời và Mặt Trăng… lửa và Con Rắn vĩ đại, tức quyền năng sáng tạo, mà trứng của nó được gọi là Sibac.”

 411 .

411.

There is a notable difference esoterically between the words Sarpa and Nâga, though they are both used indiscriminately. Sarpa, serpent, is from the root srip, to creep, compare, Lat., serp-o; and they are called Ahi, from hâ, to abandon. The Sarpas were produced from Brahmâ’s hair, which, owing to his fright at beholding the Yakshas, whom he had created horrible to behold, fell off from the head, each hair becoming a serpent. They are called “Sarpa from their creeping and Ahi because they had deserted the head.” (Wilson, i. 83.) But the Nâgas, in the allegories, their serpent’s tail notwithstanding, do not creep, but manage to walk, run and fight.

Có một khác biệt đáng kể một cách huyền bí giữa các từ Sarpa và Nâga, mặc dù cả hai thường được dùng lẫn lộn. Sarpa, con rắn, xuất phát từ căn srip, nghĩa là bò trườn; so sánh với tiếng La-tinh serp-o; và chúng được gọi là Ahi, từ hâ, nghĩa là từ bỏ. Các Sarpa được sinh ra từ tóc của Brahma, vì do nỗi kinh sợ của Ngài khi nhìn thấy các Yaksha mà Ngài đã tạo ra với vẻ ngoài khủng khiếp, tóc ấy rụng khỏi đầu, mỗi sợi tóc trở thành một con rắn. Chúng được gọi là “Sarpa vì chúng bò trườn, và Ahi vì chúng đã rời bỏ cái đầu.” Wilson, i. 83. Nhưng các Nâga, trong những ngụ ngôn, dù có đuôi rắn, không bò trườn, mà có thể đi, chạy và chiến đấu.

 412 .

412.

Wilson translates the word as “demigods” (Vishnu Purâna, i. 130); but Raumas are simply a race, a tribe.

Wilson dịch từ này là “bán thần” trong Vishnu Purâna, i. 130; nhưng Rauma chỉ đơn giản là một nhân loại, một bộ tộc.

 413 .

413.

xii. 10,308.

xii. 10,308.

 414 .

414.

Wilson, ibid., p. 123.

Wilson, sách đã dẫn, tr. 123.

 415 .

415.

Ibid., ii. 10.

Sách đã dẫn, ii. 10.

 416 .

416.

Serpents.

Các con rắn.

 417 .

417.

Race.

Nhân loại.

 418 .

418.

Also.

Cũng vậy.

 419 .

419.

Into male and female.

Thành nam và nữ.

 420 .

420.

Then.

Rồi.

 421 .

421.

Man.

Con người.

 422 .

422.

The “narrow-headed.” Compare Shloka 24.

Những kẻ “đầu hẹp.” So sánh Shloka 24.

 423 .

423.

The “narrow-headed.”

Những kẻ “đầu hẹp.”

 424 .

424.

See Commentary on Shloka 36.

Xem Bình giảng về Shloka 36.

 425 .

425.

These “animals,” or monsters, are not the anthropoid or any other apes, but verily what the Anthropologists might call the “missing link,” the primitive lower man.

Những “con vật” hay quái vật này không phải là giống vượn người hay bất cứ loài vượn nào khác, mà thật ra là cái mà các nhà Nhân chủng học có thể gọi là “mắt xích còn thiếu”, tức phàm nhân nguyên thủy thấp kém.

 426 .

426.

The shame of their animal origin which our modern Scientists would emphasize if they could.

Nỗi hổ thẹn về nguồn gốc thú vật của họ, điều mà các nhà Khoa học hiện đại của chúng ta sẽ nhấn mạnh nếu họ có thể.

 427 .

427.

The Doctrine of Descent and Darwinism, pp. 186, 187. The “unknown ancestry” referred to are the primæval astral prototypes.

The Doctrine of Descent and Darwinism, tr. 186, 187. “Tổ tiên chưa biết” được nói đến là các nguyên mẫu cảm dục nguyên sơ.

 428 .

428.

“A very strong argument in favour of variability is supplied by the science of embryology. Is not a man in the uterus… a simple cell, a vegetable with three or four leaflets, a tadpole with branchiæ, a mammal with a tail, lastly a primate [?] and a biped? It is scarcely possible not to recognize in the embryonic evolution a rapid sketch, a faithful summary, of the entire organic series.” (Lefèvre, Philosophy, p. 484.) The summary alluded to is, however, only that of the store of types hoarded up in man, the microcosm. This simple explanation meets all such objections, as the presence of the rudimentary tail in the fœtus—a fact triumphantly paraded by Hæckel and Darwin as conclusively in favour of the Ape-Ancestor Theory. It may also be pointed out that the presence of a vegetable with leaflets in the embryonic stages is not explained on ordinary evolutionist principles. Darwinists have not traced man through the vegetable, but Occultists have. Why then this feature in the embryo, and how do the former explain it?

“Một luận cứ rất mạnh ủng hộ tính biến dị được khoa phôi thai học cung cấp. Chẳng phải con người trong tử cung… là một tế bào đơn giản, một thực vật với ba hay bốn lá mầm, một con nòng nọc với mang, một loài hữu nhũ có đuôi, cuối cùng là một linh trưởng và một sinh vật đi hai chân hay sao? Hầu như không thể không nhận ra trong sự tiến hoá phôi thai một phác thảo nhanh, một bản tóm lược trung thành của toàn bộ chuỗi hữu cơ.” Lefèvre, Philosophy, tr. 484. Tuy nhiên, bản tóm lược được nói đến chỉ là bản tóm lược về kho các kiểu mẫu được tích trữ trong con người, Tiểu thiên địa. Lời giải thích đơn giản này đáp ứng mọi phản bác như thế, chẳng hạn sự hiện diện của cái đuôi sơ khai nơi bào thai — một sự kiện được Haeckel và Darwin phô bày đầy đắc thắng như bằng chứng quyết định ủng hộ Thuyết Tổ Tiên Vượn. Cũng có thể nêu ra rằng sự hiện diện của một thực vật với lá mầm trong các giai đoạn phôi thai không được giải thích theo các nguyên lý tiến hoá luận thông thường. Những người theo Darwin chưa truy nguyên con người qua giới thực vật, nhưng các nhà huyền bí học thì có. Vậy tại sao lại có đặc điểm này nơi phôi thai, và những người kia giải thích nó như thế nào?

 429 .

429.

“The Proofs of Evolution,” a lecture by Hæckel.

“The Proofs of Evolution,” một bài giảng của Haeckel.

 430 .

430.

Vol. i. pp. 388-390.

Tập i, tr. 388-390.

 431 .

431.

See Cory, Ancient Fragments, pp. 21, et seqq.

Xem Cory, Ancient Fragments, tr. 21 và tiếp theo.

 432 .

432.

Origin of Species, pp. 448, 449, first edition.

Origin of Species, tr. 448, 449, ấn bản thứ nhất.

 433 .

433.

Vol. i. p. 154.

Leave a Comment

Scroll to Top