Part III. Addenda. Science And The Secret Doctrine Contrasted. — Phần III. Phụ lục. Khoa học và Giáo Lý Bí Nhiệm được đối chiếu.
|
The knowledge of this nether world— Say, friend, what is it, false or true? |
Tri thức về cõi thấp này— Hãy nói đi, bạn ơi, nó giả hay thật? |
|
The false, what mortal cares to know? |
Điều giả, phàm nhân nào muốn biết? |
|
The true, what mortal ever knew? |
Điều thật, phàm nhân nào từng biết? |
Section I. Archaic, or Modern Anthropology? — Tiết I. Nhân học cổ sơ, hay Nhân học hiện đại?
|
Whenever the question of the Origin of Man is offered seriously to an unbiassed, honest, and earnest man of Science, the answer comes invariably: “We do not know.” De Quatrefages with his agnostic attitude is one of such Anthropologists. |
Mỗi khi vấn đề Nguồn Gốc Con Người được nêu ra một cách nghiêm túc với một nhà khoa học vô tư, trung thực và tha thiết, câu trả lời luôn luôn là: “Chúng tôi không biết.” De Quatrefages, với thái độ bất khả tri của ông, là một trong những nhà Nhân học như thế. |
|
This does not imply that the rest of the men of Science are neither fair-minded nor honest, as such a remark would be questionably discreet. But it is estimated that 75 per cent. of European Scientists are Evolutionists. Are these representatives of Modern Thought all guilty of flagrant misrepresentation of the facts? No one says this—but there are a few very exceptional cases. However, the Scientists, in their anti-clerical enthusiasm and in despair of any alternative theory to Darwinism except that of “special creation,” are unconsciously insincere in “forcing” a hypothesis the elasticity of which is inadequate, and which resents the severe strain to which it is now subjected. Insincerity on the same subject is, however, patent in ecclesiastical circles. Bishop Temple has come forward as a thorough-going supporter of Darwinism in his Religion and Science. This clerical writer goes so far as to regard Matter—after it has received its “primal impress”—as the unaided evolver of all cosmic phenomena. This view only differs from that of Hæckel, in postulating a hypothetical Deity at “the back of beyont,” a Deity which stands entirely aloof from the interplay of forces. Such a metaphysical entity is no more the Theological God than is that of Kant. Bishop Temple’s truce with materialistic Science is, in our opinion, impolitic—apart from the fact that it involves a total rejection of the biblical cosmogony. In the presence of this display of flunkeyism before the materialism of our “learned” age, we Occultists can but smile. But how about loyalty to the Master such theological truants profess to serve—Christ, and Christendom at large? |
Điều này không hàm ý rằng những nhà khoa học còn lại đều không công bằng hay không trung thực, vì một nhận xét như thế hẳn khó có thể gọi là thận trọng. Nhưng người ta ước tính rằng 75 phần trăm các nhà khoa học châu Âu là những người theo thuyết Tiến hoá. Phải chăng tất cả các đại diện ấy của Tư tưởng Hiện đại đều phạm tội xuyên tạc trắng trợn các sự kiện? Không ai nói như vậy—nhưng có một vài trường hợp hết sức ngoại lệ. Tuy nhiên, trong nhiệt tình chống giáo quyền và trong nỗi tuyệt vọng vì không có một lý thuyết thay thế nào cho thuyết Darwin ngoài thuyết “sáng tạo đặc biệt”, các nhà khoa học đã vô thức thiếu thành thật khi “gượng ép” một giả thuyết có độ co giãn không đủ, và đang phản kháng lại sức căng nghiêm trọng mà hiện nay người ta đặt lên nó. Tuy vậy, sự thiếu thành thật về cùng vấn đề ấy lại hiển nhiên trong các giới giáo hội. Giám mục Temple đã xuất hiện như một người ủng hộ triệt để thuyết Darwin trong tác phẩm Tôn Giáo và Khoa Học của ông. Tác giả giáo sĩ này đi xa đến mức xem Vật chất—sau khi đã nhận “dấu ấn nguyên thủy” của nó—là tác nhân tự mình tiến hoá nên mọi hiện tượng vũ trụ, không cần trợ giúp. Quan điểm này chỉ khác quan điểm của Haeckel ở chỗ nó giả định một Thượng đế giả thuyết ở “phía sau cõi xa xăm”, một Thượng đế hoàn toàn đứng ngoài sự tương tác của các mãnh lực. Một thực thể siêu hình như thế cũng không phải là Thượng đế của Thần học, chẳng khác gì thực thể của Kant. Theo ý chúng tôi, sự đình chiến của Giám mục Temple với Khoa học duy vật là thiếu khôn ngoan—chưa kể đến sự kiện rằng nó bao hàm việc hoàn toàn bác bỏ vũ trụ khởi nguyên luận trong Kinh Thánh. Trước màn biểu lộ thói khúm núm này trước chủ nghĩa duy vật của thời đại “uyên bác” của chúng ta, chúng tôi, những nhà Huyền bí học, chỉ có thể mỉm cười. Nhưng còn lòng trung thành đối với Chân sư mà những kẻ trốn học thần học ấy tuyên xưng phụng sự—Đức Christ, và toàn thể thế giới Kitô giáo—thì sao? |
|
However, we have no desire, for the present, to throw down the gauntlet to the clergy, our business being now with materialistic Science alone. The latter, in the person of its best representatives, answers to our question, “We do not know;” yet the majority of them act as though Omniscience were their heirloom, and they knew all things. |
Tuy nhiên, hiện giờ chúng tôi không có ý muốn ném găng thách thức giới giáo sĩ, vì công việc của chúng tôi lúc này chỉ liên quan đến Khoa học duy vật mà thôi. Khoa học ấy, qua những đại diện ưu tú nhất của mình, trả lời câu hỏi của chúng tôi rằng: “Chúng tôi không biết”; thế nhưng đa số họ lại hành động như thể Toàn Tri là gia sản thừa kế của họ, và họ biết mọi sự. |
|
For, indeed, this negative reply has not prevented the majority of Scientists from speculating on the question, each seeking to have his own special theory accepted to the exclusion of all others. Thus, from Maillet in 1748, down to Hæckel in 1870, theories on the origin of the human race have differed as much as the personalities of their inventors themselves. Buffon, Bory de St. Vincent, Lamarck, E. Geoffroy St. Hilaire, Gaudry, Naudin, Wallace, Darwin, Owen, Hæckel, Filippi, Vogt, Huxley, Agassiz, etc., each has evolved a more or less scientific hypothesis of genesis. De Quatrefages arranges these theories in two principal groups—one based on a rapid, and the other on a very gradual transmutation; the former favouring a new type (man) produced by a being entirely different, the latter teaching the evolution of man by progressive differentiations. |
Quả thật, câu trả lời phủ định này đã không ngăn cản đa số các nhà khoa học suy luận về vấn đề ấy, mỗi người tìm cách làm cho lý thuyết riêng biệt của mình được chấp nhận, loại trừ tất cả các lý thuyết khác. Vì vậy, từ Maillet vào năm , cho đến Haeckel vào năm , các lý thuyết về nguồn gốc của nhân loại đã khác nhau chẳng kém gì chính phàm ngã của những người sáng tạo ra chúng. Buffon, Bory de St. Vincent, Lamarck, E. Geoffroy St. Hilaire, Gaudry, Naudin, Wallace, Darwin, Owen, Haeckel, Filippi, Vogt, Huxley, Agassiz, v.v., mỗi người đều đã phát triển một giả thuyết về nguồn gốc ít nhiều mang tính khoa học. De Quatrefages sắp xếp các lý thuyết này thành hai nhóm chính—một nhóm dựa trên sự chuyển hoá nhanh chóng, và nhóm kia dựa trên sự chuyển hoá rất từ từ; nhóm trước ủng hộ quan điểm rằng một loại hình mới là con người được tạo ra bởi một sinh linh hoàn toàn khác, còn nhóm sau giảng dạy sự tiến hoá của con người qua các biến phân tiệm tiến. |
|
Strangely enough, it is from the most scientific of these authorities that has emanated the most unscientific of all the theories upon the subject of the Origin of Man. This is now so evident, that the hour is rapidly approaching when the current teaching about the descent of man from an ape-like mammal will be regarded with less respect than the formation of Adam out of clay, and of Eve out of Adam’s rib. For It is evident, especially after the most fundamental principles of Darwinism, that an organized being cannot be a descendant of another whose development is in an inverse order to its own. Consequently, in accordance with these principles, man cannot be considered as the descendant of any simian type whatever. 1553 |
Lạ lùng thay, chính từ những thẩm quyền khoa học nhất trong số này lại phát sinh lý thuyết kém khoa học nhất về vấn đề Nguồn Gốc Con Người. Hiện nay điều này đã hiển nhiên đến mức giờ phút đang nhanh chóng đến gần, khi giáo huấn hiện hành về việc con người có nguồn gốc từ một loài hữu nhũ giống khỉ sẽ bị xem là ít đáng kính trọng hơn chuyện Adam được nắn từ đất sét, và Eve được tạo ra từ xương sườn của Adam. Vì điều hiển nhiên, nhất là sau những nguyên lý căn bản nhất của thuyết Darwin, là một sinh linh có tổ chức không thể là hậu duệ của một sinh linh khác có sự phát triển diễn ra theo trật tự nghịch với sự phát triển của chính nó. Do đó, theo các nguyên lý này, không thể xem con người là hậu duệ của bất cứ loại hình khỉ nào. |
|
Lucae’s argument versus the Ape-theory, based on the different flexures of the bones constituting the axis of the skull in the cases of man and the anthropoids, is fairly discussed by Schmidt. He admits that: The ape as he grows becomes more bestial; man… more human— |
Luận cứ của Lucae chống lại thuyết Khỉ, dựa trên những độ uốn khác nhau của các xương tạo thành trục hộp sọ trong trường hợp con người và các loài dạng người, được Schmidt bàn luận khá công bằng. Ông thừa nhận rằng: Khi lớn lên, khỉ trở nên thú tính hơn; con người… trở nên người hơn— |
|
and seems, indeed, to hesitate a moment before he passes on: This flexure of the cranial axis may, therefore, still be emphasized as a human character, in contradistinction to the apes; the peculiar characteristic of an order can scarcely be elicited from it; and especially as to the doctrine of descent, this circumstance seems in no way decisive. 1554 |
và quả thật dường như ông do dự trong giây lát trước khi tiếp tục: Vì vậy, độ uốn này của trục sọ vẫn có thể được nhấn mạnh như một đặc tính của con người, đối lập với loài khỉ; đặc tính riêng biệt của một bộ hầu như không thể được rút ra từ nó; và đặc biệt đối với giáo lý về nguồn gốc, hoàn cảnh này dường như không có tính quyết định chút nào. |
|
The writer is evidently not a little disquieted by his own argument. He assures us that it upsets any possibility of the present apes having been the progenitors of mankind. But does it not also negative the bare possibility of the man and the anthropoid having had a common—though, so far, an absolutely theoretical—ancestor? |
Tác giả rõ ràng không phải chỉ hơi bất an trước chính luận cứ của mình. Ông bảo đảm với chúng ta rằng nó bác bỏ mọi khả năng các loài khỉ hiện nay từng là tổ tiên của nhân loại. Nhưng chẳng phải nó cũng phủ định ngay cả khả năng trần trụi rằng con người và loài dạng người đã từng có một tổ tiên chung—dù cho, cho đến nay, đó vẫn là một tổ tiên hoàn toàn thuộc về lý thuyết hay sao? |
|
Even “Natural Selection” itself is with every day more threatened. The deserters from the Darwinian camp are many, and those who were at one time its most ardent disciples are, owing to new discoveries, slowly but steadily preparing to turn over a new leaf. In the Journal of the Royal Microscopical Society for October, 1886, we may read as follows: Physiological Selection. —Mr. G. J. Romanes finds certain difficulties in regarding natural selection as a theory for the origin of species, as it is rather a theory of the origin of adaptive structures. He proposes to replace it by what he calls physiological selection, or segregation of the fit. His view is based on the extreme sensitiveness of the reproductive system to small changes in the conditions of life, and he thinks that variations in the direction of greater or less sterility must frequently occur in wild species. If the variation be such that the reproductive system, while showing some degree of sterility with the parent form, continues to be fertile within the limits of the varietal form, the variation would neither be swamped by intercrossing nor die out on account of sterility. When a variation of this kind occurs, the physiological barrier must divide the species into two parts. The author, in fine, regards mutual sterility, not as one of the effects of specific differentiation, but as the cause of it. 1555 |
Ngay cả chính “Chọn Lọc Tự Nhiên” mỗi ngày cũng càng bị đe dọa hơn. Những kẻ rời bỏ phe Darwin rất nhiều, và những người từng là các môn đồ nhiệt thành nhất của nó, do những khám phá mới, đang chậm rãi nhưng chắc chắn chuẩn bị lật sang một trang mới. Trong Tạp chí của Hội Hiển Vi Hoàng Gia, số tháng Mười, , chúng ta có thể đọc như sau: Chọn Lọc Sinh Lý. — Ông G. J. Romanes nhận thấy có một số khó khăn khi xem chọn lọc tự nhiên như một lý thuyết về nguồn gốc các loài, vì nó đúng hơn là một lý thuyết về nguồn gốc của các cấu trúc thích nghi. Ông đề nghị thay thế nó bằng điều ông gọi là chọn lọc sinh lý, hay sự phân ly của cái thích hợp. Quan điểm của ông dựa trên tính cực kỳ nhạy cảm của hệ sinh sản đối với những thay đổi nhỏ trong các điều kiện sống, và ông cho rằng những biến dị theo hướng vô sinh nhiều hơn hay ít hơn hẳn thường xảy ra trong các loài hoang dã. Nếu biến dị ấy thuộc loại khiến hệ sinh sản, tuy biểu lộ một mức độ vô sinh nào đó đối với hình thức cha mẹ, vẫn tiếp tục hữu sinh trong giới hạn của hình thức biến chủng, thì biến dị ấy sẽ không bị chìm mất do giao phối chéo, cũng không bị tiêu diệt vì vô sinh. Khi một biến dị thuộc loại này xảy ra, hàng rào sinh lý phải chia loài thành hai phần. Tóm lại, tác giả xem sự vô sinh hỗ tương không phải là một trong các hệ quả của sự biến phân đặc thù, mà là nguyên nhân của nó. |
|
An attempt is made to show the above to be a complement of, and sequence to, the Darwinian theory. This is a clumsy attempt at best. The public will soon be asked to believe that Mr. C. Dixon’s Evolution without Natural Selection is also Darwinism—expanded, as the author certainly claims it to be! |
Người ta cố gắng chứng minh điều trên là phần bổ sung và là hệ quả tiếp nối của lý thuyết Darwin. Tốt nhất thì đây cũng chỉ là một cố gắng vụng về. Chẳng bao lâu công chúng sẽ được yêu cầu tin rằng tác phẩm Tiến Hóa không có Chọn Lọc Tự Nhiên của ông C. Dixon cũng là học thuyết Darwin — được mở rộng, như chính tác giả chắc chắn tuyên bố! |
|
But it is like splitting the body of a man into three pieces, and then maintaining that each piece is the identical man he was before, only—expanded. Yet the author states: Let it be clearly understood that not one single syllable in the foregoing pages has been written antagonistic to Darwin’s theory of Natural Selection. All I have done is to explain certain phenomena… the more one studies Darwin’s works, the more one is convinced of the truth of his hypothesis [!!]. 1556 |
Nhưng điều đó giống như chẻ thân thể một người thành ba mảnh, rồi lại khẳng định rằng mỗi mảnh vẫn là chính người ấy như trước, chỉ có điều — được mở rộng. Tuy vậy tác giả tuyên bố: Cần hiểu rõ rằng không một âm tiết nào trong các trang trước được viết nhằm chống lại lý thuyết Chọn Lọc Tự Nhiên của Darwin. Tất cả những gì tôi đã làm là giải thích một vài hiện tượng… càng nghiên cứu các tác phẩm của Darwin, người ta càng tin chắc vào chân lý của giả thuyết của ông [!!]. |
|
And before this, he alludes to: The overwhelming array of facts which Darwin gave in support of his hypothesis, and which triumphantly carried the theory of Natural Selection over all obstacles and objections. 1557 |
Và trước đó, ông ám chỉ đến: Khối lượng sự kiện áp đảo mà Darwin đã đưa ra để ủng hộ giả thuyết của mình, và nhờ đó lý thuyết Chọn Lọc Tự Nhiên đã chiến thắng mọi trở ngại và phản bác. |
|
This does not prevent the learned author, however, from upsetting this theory as “triumphantly,” and from even openly calling his work Evolution without Natural Selection, or, in so many words, with Darwin’s fundamental idea knocked to atoms in it. |
Tuy nhiên, điều này không ngăn tác giả uyên bác ấy lật đổ lý thuyết này cũng một cách “chiến thắng” như thế, và thậm chí công khai gọi tác phẩm của mình là Tiến Hóa không có Chọn Lọc Tự Nhiên, hay nói thẳng ra, trong đó ý tưởng nền tảng của Darwin bị đập tan thành từng mảnh. |
|
As to Natural Selection itself, the utmost misconception prevails among many present-day thinkers, who tacitly accept the conclusions of Darwinism. It is, for instance, a mere device of rhetoric to credit Natural Selection with the power of originating species. Natural Selection is no entity; it is merely a convenient phrase for describing the mode in which the survival of the fit and the elimination of the unfit among organisms are brought about by the Struggle for Existence. Every group of organisms tends to multiply beyond the means of subsistence; the constant battle for life—the “struggle to obtain enough to eat and to escape being eaten” added to the environmental conditions—necessitates a perpetual weeding out of the unfit. The élite of any stock, thus sorted out, propagate the species and transmit their organic characteristics to their descendants. All useful variations are thus perpetuated, and a progressive improvement is effected. But Natural Selection—in the writer’s humble opinion, “Selection, as a Power”—is in reality a pure myth; especially when it is resorted to as an explanation of the Origin of Species. It is merely a representative term expressive of the manner in which “useful variations” are stereotyped when produced. Of itself, “it” can produce—nothing, and only operates on the rough material presented to “it.” The real question at issue is: What cause—combined with other secondary causes—produces the “variations” in the organisms themselves? Many of these secondary causes are purely physical—climatic, dietary, etc. Very well. But beyond the secondary aspects of organic evolution, a deeper principle has to be sought for. The Materialist’s “spontaneous variations,” and “accidental divergencies” are self-contradictory terms in a universe of “Matter, Force and Necessity.” Mere variability of type, apart from the supervisory presence of a quasi-intelligent impulse, is powerless to account for the stupendous complexities and marvels of the human body, for instance. The insufficiency of the Darwinists’ mechanical theory has been exposed at length by Dr. Von Hartmann among other purely negative thinkers. It is an abuse of the reader’s intelligence to write, as does Hæckel, of blind indifferent cells, “arranging themselves into organs.” The Esoteric solution of the origin of animal species is given elsewhere. |
Về chính Chọn Lọc Tự Nhiên, một sự hiểu lầm hết sức lớn đang thịnh hành nơi nhiều nhà tư tưởng hiện nay, những người âm thầm chấp nhận các kết luận của học thuyết Darwin. Chẳng hạn, gán cho Chọn Lọc Tự Nhiên quyền năng khởi sinh các loài chỉ là một thủ pháp tu từ. Chọn Lọc Tự Nhiên không phải là một thực thể; nó chỉ là một cụm từ tiện dụng để mô tả cách thức mà sự sống sót của cái thích hợp và sự loại bỏ cái không thích hợp nơi các cơ thể được tạo ra bởi Cuộc Đấu Tranh Sinh Tồn. Mỗi nhóm cơ thể đều có khuynh hướng sinh sôi vượt quá phương tiện sinh sống; cuộc chiến liên tục vì sự sống — “cuộc đấu tranh để kiếm đủ ăn và tránh bị ăn thịt” cộng với các điều kiện môi trường — tất yếu đòi hỏi một sự nhổ bỏ không ngừng những gì không thích hợp. Tinh hoa của bất cứ dòng giống nào, được sàng lọc như thế, sẽ truyền giống loài và truyền các đặc tính hữu cơ của chúng cho hậu duệ. Như vậy mọi biến dị hữu ích được duy trì, và một sự cải thiện tiến bộ được thực hiện. Nhưng Chọn Lọc Tự Nhiên — theo ý kiến khiêm tốn của người viết, “Sự Chọn Lọc, như một Quyền Năng” — thực ra là một huyền thoại thuần túy; nhất là khi nó được viện dẫn như một lời giải thích về Nguồn Gốc Các Loài. Nó chỉ là một thuật ngữ đại diện diễn tả cách thức trong đó “những biến dị hữu ích” được cố định khi chúng đã được tạo ra. Tự nó, “nó” không thể sản sinh—điều gì cả, và chỉ tác động lên chất liệu thô được đem đến cho “nó.” Vấn đề thật sự đang bàn là: nguyên nhân nào — kết hợp với các nguyên nhân phụ khác — tạo ra “những biến dị” trong chính các cơ thể? Nhiều nguyên nhân phụ này hoàn toàn thuộc hồng trần — khí hậu, thức ăn, v.v. Rất tốt. Nhưng vượt ngoài các phương diện phụ của tiến hóa hữu cơ, cần phải tìm kiếm một nguyên khí sâu xa hơn. “Những biến dị tự phát” và “những sai lệch ngẫu nhiên” của nhà Duy Vật là các thuật ngữ tự mâu thuẫn trong một vũ trụ của “Vật Chất, Mãnh Lực và Tất Yếu.” Chỉ riêng tính biến đổi của kiểu loại, tách khỏi sự hiện diện giám sát của một xung lực gần như có trí tuệ, thì bất lực trong việc giải thích những phức tạp phi thường và các kỳ diệu của thân thể con người, chẳng hạn. Sự bất toàn của lý thuyết cơ giới của các nhà Darwin đã được bác sĩ Von Hartmann, cùng với những nhà tư tưởng thuần túy phủ định khác, phơi bày khá dài. Viết như Hæckel về các tế bào mù quáng vô cảm, “tự sắp xếp thành các cơ quan,” là lạm dụng trí tuệ của độc giả. Lời giải nội môn về nguồn gốc các loài động vật được đưa ra ở nơi khác. |
|
Those purely secondary causes of differentiation, grouped under the head of sexual selection, natural selection, climate, isolation, etc., mislead the Western Evolutionist and offer no real explanation whatever of the “whence” of the “ancestral types” which served as the starting point for physical development. The truth is that the differentiating “causes” known to Modern Science only come into operation after the physicalization of the primeval animal root-types out of the astral. Darwinism only meets Evolution at its midway point—that is to say, when astral evolution has given place to the play of the ordinary physical forces with which our present senses acquaint us. But even here the Darwinian Theory, even with the “expansions” recently attempted, is inadequate to meet the facts of the case. The cause underlying physiological variation in species—one to which all other laws are subordinate and secondary—is a sub-conscious intelligence pervading matter, ultimately traceable to a reflection of the Divine and Dhyân-Chohanic wisdom. 1558 A not altogether dissimilar conclusion has been arrived at by so well known a thinker as Ed. von Hartmann, who, despairing of the efficacy of unaided Natural Selection, regards Evolution as being intelligently guided by the Unconscious—the Cosmic Logos of Occultism. But the latter acts only mediately through Fohat, or Dhyân-Chohanic energy, and not quite in the direct manner which the great pessimist describes. |
Những nguyên nhân thuần túy phụ của sự biến phân ấy, được gom dưới các đề mục chọn lọc giới tính, chọn lọc tự nhiên, khí hậu, sự cô lập, v.v., làm nhà Tiến Hóa phương Tây lầm lạc và không đưa ra bất cứ lời giải thích thật sự nào về “từ đâu” của các “kiểu tổ tiên” vốn đã dùng làm điểm khởi đầu cho sự phát triển hồng trần. Sự thật là các “nguyên nhân” biến phân mà Khoa Học Hiện Đại biết đến chỉ bắt đầu hoạt động sau khi các kiểu gốc động vật nguyên thủy được vật chất hóa ra khỏi cõi cảm dục. Học thuyết Darwin chỉ gặp Tiến Hóa ở Điểm ở giữa của nó — nghĩa là, khi tiến hóa cảm dục đã nhường chỗ cho sự vận hành của các mãnh lực hồng trần thông thường mà các giác quan hiện nay của chúng ta cho biết. Nhưng ngay cả ở đây, Lý Thuyết Darwin, dù có những “mở rộng” gần đây, vẫn không đủ để đáp ứng các sự kiện của trường hợp này. Nguyên nhân nằm dưới biến dị sinh lý trong các loài — nguyên nhân mà mọi định luật khác đều phụ thuộc và thứ yếu — là một trí tuệ tiềm thức thấm nhuần vật chất, rốt cuộc có thể truy nguyên đến một phản chiếu của minh triết Thiêng Liêng và Dhyân-Chohanic. Một kết luận không hoàn toàn khác biệt đã được một nhà tư tưởng nổi tiếng như Ed. von Hartmann đạt đến; ông, vì tuyệt vọng trước hiệu quả của Chọn Lọc Tự Nhiên không được trợ giúp, xem Tiến Hóa như được hướng dẫn một cách có trí tuệ bởi Vô Thức — Thượng Đế Vũ Trụ của Huyền Bí Học. Nhưng Đấng sau chỉ tác động gián tiếp qua Fohat, hay năng lượng Dhyân-Chohanic, chứ không hoàn toàn theo cách trực tiếp mà nhà bi quan vĩ đại ấy mô tả. |
|
It is this divergence among men of Science, their mutual, and often their self-contradictions, that gives the writer of the present volumes the courage to bring to light other and older teachings—if only as hypotheses for future scientific appreciation. So evident, even to the humble recorder of this archaic teaching, though not in any way very learned in Modern Sciences, are the scientific fallacies and gaps, that she has determined to touch upon all these, in order to place the two teachings on parallel lines. For Occultism, it is a question of self-defence, and nothing more. |
Chính sự dị biệt này giữa những người thuộc Khoa Học, các mâu thuẫn lẫn nhau, và thường là mâu thuẫn tự thân của họ, đã cho người viết các quyển sách hiện tại lòng can đảm để đưa ra ánh sáng những giáo lý khác và cổ xưa hơn — dù chỉ như các giả thuyết cho sự đánh giá khoa học tương lai. Những sai lầm và khoảng trống khoa học hiển nhiên đến mức, ngay cả đối với người ghi chép khiêm tốn của giáo huấn cổ sơ này, tuy bà không hề uyên bác trong các Khoa Học Hiện Đại, bà đã quyết định đề cập đến tất cả những điều ấy, nhằm đặt hai giáo huấn trên những đường song song. Đối với Huyền Bí Học, đó là vấn đề tự vệ, và không gì hơn. |
|
So far, The Secret Doctrine has concerned itself with metaphysics, pure and simple. It has now landed on Earth, and finds itself within the domain of physical Science and practical Anthropology, or those branches of study which materialistic Naturalists claim as their rightful domain, coolly asserting, furthermore, that the higher and more perfect the working of the Soul, the more amenable it is to the analysis and explanations of the Zoologist and the Physiologist alone. 1559 This stupendous pretension comes from one, who, to prove his pithecoid descent, has not hesitated to include the Lemuridæ among the ancestors of man; these have been promoted by him to the rank of Prosimiæ, indeciduate mammals, to which he very incorrectly contributes a decidua and a discoidal placenta. 1560 For this Hæckel was taken severely to task by de Quatrefages, and criticised by his own brother Materialists and Agnostics—Virchow and du Bois-Reymond, as great, if not greater authorities than himself. 1561 |
Cho đến nay, Giáo Lý Bí Nhiệm đã quan tâm đến siêu hình học, thuần túy và đơn giản. Nay nó đã đặt chân xuống Trái Đất, và thấy mình ở trong lãnh vực của Khoa Học hồng trần và Nhân Học thực tiễn, hay những ngành nghiên cứu mà các nhà Tự Nhiên Học duy vật tuyên bố là lãnh địa chính đáng của họ, đồng thời thản nhiên khẳng định thêm rằng Linh Hồn vận hành càng cao và càng hoàn hảo, thì nó càng dễ chịu sự phân tích và giải thích chỉ của Nhà Động Vật Học và Nhà Sinh Lý Học. Sự tự phụ phi thường này đến từ một người, để chứng minh nguồn gốc vượn dạng của mình, đã không ngần ngại đưa họ Lemuridæ vào hàng tổ tiên của con người; chúng đã được ông nâng lên cấp Prosimiæ, những loài có vú không rụng màng, mà ông rất sai lầm khi gán cho chúng một màng rụng và một nhau thai hình đĩa. Vì điều này, Hæckel đã bị de Quatrefages khiển trách nghiêm khắc, và bị chính các huynh đệ Duy Vật và Bất Khả Tri của mình — Virchow và du Bois-Reymond, những thẩm quyền lớn, nếu không lớn hơn chính ông — phê phán. |
|
Such opposition notwithstanding, Hæckel’s wild theories are, to this day, still called by some scientific and logical. The mysterious nature of Consciousness, of Soul, of Spirit in Man being now explained as a mere advance on the functions of the protoplasmic molecules of the lively Protista, and the gradual evolution and growth of human mind and “social instincts” toward civilization having to be traced back to their origin in the civilization of ants, bees, and other creatures—the chances left for an impartial hearing of the doctrines of Archaic Wisdom are few indeed. The educated profane are told that: |
Bất chấp sự phản đối ấy, những lý thuyết hoang đường của Hæckel cho đến ngày nay vẫn còn được một số người gọi là khoa học và hợp lý. Vì bản chất huyền nhiệm của Tâm Thức, của Linh Hồn, của Tinh Thần trong Con Người nay được giải thích như một bước tiến đơn thuần của các chức năng của những phân tử nguyên sinh chất thuộc các Protista sống động, và vì sự tiến hóa cùng tăng trưởng dần dần của thể trí con người và “bản năng xã hội” hướng đến văn minh phải được truy nguyên về nguồn gốc của chúng trong nền văn minh của kiến, ong và các sinh vật khác — nên cơ hội còn lại để các giáo lý của Minh Triết Cổ Sơ được lắng nghe một cách vô tư quả thật rất ít. Những kẻ phàm tục có học được bảo rằng: |
|
The social instincts of the lower animals have, of late, been regarded for various reasons as clearly the origin of morals, even of those of man [?],… |
Các bản năng xã hội của những động vật thấp, gần đây, vì nhiều lý do khác nhau, đã được xem rõ ràng là nguồn gốc của đạo đức, thậm chí cả đạo đức của con người [?],… |
|
—and that our divine consciousness, our soul, intellect, and aspirations have worked their “way up from the lower stages of the simple cell-soul” of the gelatinous Bathybius— 1562 and they seem to believe it. For such men, the Metaphysics of Occultism must produce the effect that our grandest oratorios produce on the Chinaman—sounds that jar upon their nerves. |
— và rằng tâm thức thiêng liêng của chúng ta, linh hồn, trí năng và các khát vọng của chúng ta đã tự mở “đường đi lên từ các giai đoạn thấp của linh hồn tế bào đơn giản” của Bathybius dạng keo — và dường như họ tin điều đó. Đối với những người như thế, Siêu Hình Học của Huyền Bí Học hẳn tạo ra hiệu quả giống như các bản thánh ca vĩ đại nhất của chúng ta tạo ra đối với người Trung Hoa — những âm thanh làm chói tai họ. |
|
Yet, are our Esoteric teachings about “Angels,” the first three pre-animal human Races, and the downfall of the Fourth, on a lower level of fiction and self-delusion than the Hæckelian “plastidular,” or the inorganic “molecular souls of the Protista”? Between the evolution of the spiritual nature of man from the above amœbian souls, and the alleged development of his physical frame from the protoplastic dweller in the ocean slime, there is an abyss which will not easily be crossed by any man in the full possession of his intellectual faculties. Physical Evolution, as Modern Science teaches it, is a subject for open controversy; spiritual and moral development on the same lines is the insane dream of a crass Materialism. |
Tuy nhiên, các giáo huấn Nội Môn của chúng ta về “Thiên Thần,” ba Nhân loại tiền-động vật đầu tiên, và sự sa đọa của Nhân loại Thứ Tư, liệu có ở một mức độ hư cấu và tự lừa dối thấp hơn so với các “linh hồn phân tử plastidular” của Hæckel, hay các “linh hồn phân tử của Protista” vô cơ hay không? Giữa sự tiến hóa bản chất tinh thần của con người từ những linh hồn amip nói trên, và sự phát triển bị cho là của khung thể xác y từ cư dân nguyên sinh trong bùn biển, có một vực thẳm mà bất kỳ người nào còn sở hữu đầy đủ các năng lực trí tuệ trọn vẹn của mình sẽ không dễ gì vượt qua. Tiến Hóa hồng trần, như Khoa Học Hiện Đại giảng dạy, là một đề tài để tranh luận công khai; sự phát triển tinh thần và đạo đức theo cùng các đường ấy là giấc mộng điên rồ của một Chủ Nghĩa Duy Vật thô thiển. |
|
Furthermore, past as well as present daily experience teaches that no truth has ever been accepted by learned bodies unless it has dovetailed with the habitually preconceived ideas of their professors. “The crown of the innovator is a crown of thorns”—said Geoffroy St. Hilaire. It is only that which fits in with popular hobbies and accepted notions that as a general rule gains ground. Hence the triumph of the Hæckelian ideas, notwithstanding that they are proclaimed by Virchow, du Bois-Reymond, and others as the “testimonium paupertatis of Natural Science.” |
Hơn nữa, kinh nghiệm hằng ngày trong quá khứ cũng như hiện tại dạy rằng chưa từng có chân lý nào được các đoàn thể uyên bác chấp nhận, trừ khi nó khớp với những ý tưởng thường được định kiến sẵn của các giáo sư trong đó. “Vương miện của nhà cách tân là vương miện gai” — Geoffroy St. Hilaire đã nói. Theo quy luật chung, chỉ điều gì phù hợp với các sở thích thịnh hành và các quan niệm được chấp nhận mới có thể lan rộng. Do đó có sự thắng thế của các ý tưởng Hæckel, bất chấp việc chúng bị Virchow, du Bois-Reymond và những người khác tuyên bố là “testimonium paupertatis của Khoa Học Tự Nhiên.” |
|
Diametrically opposed as may be the materialism of the German Evolutionists to the spiritual conceptions of Esoteric Philosophy, radically inconsistent as is their accepted anthropological system with the real facts of Nature—the pseudo-idealistic bias now colouring English thought is almost more pernicious. The pure Materialistic Doctrine admits of a direct refutation and an appeal to the logic of facts. The Idealism of the present day, not only contrives to absorb, on the one hand, the basic negations of Atheism, but lands its votaries in a tangle of unreality, which culminates in a practical Nihilism. Argument with such writers is almost out of the question. Idealists, therefore, will be still more antagonistic than even the Materialists to the Occult teachings now given. But as no worse fate can befall the exponents of Esoteric Anthropogenesis at the hands of their foes than being openly called by their old and time-honoured names of “lunatics” and “ignoramuses,” the present archaic theories may be safely added to the many modern speculations, and bide their time for their full or even partial recognition. Only, as the very existence of these archaic theories will probably be denied, we have to give our best proofs and stand by them to the bitter end. |
Dù chủ nghĩa duy vật của các nhà Tiến Hóa Đức có thể đối nghịch hoàn toàn với các quan niệm tinh thần của Triết Học Nội Môn, dù hệ thống nhân học được họ chấp nhận có thể mâu thuẫn tận gốc với các sự kiện thật của Thiên Nhiên — khuynh hướng giả lý tưởng hiện đang nhuộm màu tư tưởng Anh gần như còn nguy hại hơn. Giáo Lý Duy Vật thuần túy cho phép một sự bác bỏ trực tiếp và một lời viện dẫn đến logic của các sự kiện. Chủ Nghĩa Lý Tưởng ngày nay không chỉ xoay xở để hấp thu, một mặt, các phủ định nền tảng của Chủ Nghĩa Vô Thần, mà còn đưa những kẻ sùng mộ nó vào một mớ rối của phi thực tại, lên đến đỉnh điểm trong một Chủ Nghĩa Hư Vô thực tiễn. Tranh luận với những tác giả như thế gần như là điều không thể. Vì vậy, các nhà Lý Tưởng sẽ còn chống đối các giáo huấn Huyền Bí hiện được đưa ra mạnh hơn cả các nhà Duy Vật. Nhưng vì số phận tệ hại nhất có thể giáng xuống những người trình bày Nhân Sinh Luận Nội Môn từ tay kẻ thù của họ cũng chỉ là bị công khai gọi bằng những tên gọi cũ và đáng kính theo thời gian là “những kẻ điên” và “những kẻ ngu dốt,” nên các lý thuyết cổ sơ hiện tại có thể an toàn được thêm vào nhiều suy đoán hiện đại, và chờ thời điểm để được công nhận đầy đủ hay thậm chí một phần. Chỉ có điều, vì rất có thể chính sự tồn tại của các lý thuyết cổ sơ này sẽ bị phủ nhận, chúng ta phải đưa ra các bằng chứng tốt nhất của mình và bám vững lấy chúng cho đến tận cùng cay đắng. |
|
In our race and generation the one “temple in the universe” is in rare cases—within us; but our body and mind have been too defiled by both “sin” and “science” to be outwardly anything better now than a fane of iniquity and error. And here our mutual position—that of Occultism and Modern Science—ought to be once for all defined. |
Trong nhân loại và thế hệ chúng ta, “ngôi đền trong vũ trụ” duy nhất, trong những trường hợp hiếm hoi, ở bên trong chúng ta; nhưng thể xác và thể trí của chúng ta đã bị cả “tội lỗi” lẫn “khoa học” làm ô uế quá nhiều đến nỗi bề ngoài nay chẳng thể là gì tốt hơn một điện thờ của bất chính và sai lầm. Và tại đây, lập trường hỗ tương của chúng ta — tức của Huyền Bí Học và Khoa Học Hiện Đại — cần được xác định một lần cho tất cả. |
|
We, Theosophists, are willing to bow before such men of learning as the late Prof. Balfour Stewart, Messrs. Crookes, de Quatrefages, Wallace, Agassiz, Butlerof, and others, though, from the stand-point of the Esoteric Philosophy, we may not agree with all they say. But nothing will make us consent to even a show of respect for the opinions of such other men of Science as Hæckel, Carl Vogt, or Ludwig Büchner, in Germany, or even Mr. Huxley and his co-thinkers in Materialism in England—the colossal erudition of the first named, notwithstanding. Such men are simply the intellectual and moral murderers of future generations; especially Hæckel, whose crass Materialism often rises to the height of idiotic naivetés in his reasonings. One has but to read his Pedigree of Man, and Other Essays (Aveling’s Translation) to feel a desire that, in the words of Job, his remembrance should perish from the Earth, and that he “shall have no name in the streets.” Hear the creator of the mythical Sozura deriding the idea of the origin of the human race “as a supernatural [?] phenomenon,” as one— That could not result from simple mechanical causes, from physical and chemical forces, but requires the direct intervention of a creative personality…. Now the central point of Darwin’s teaching… lies in this, that it demonstrates the simplest mechanical causes, purely physico-chemical phenomena of nature, as wholly sufficient to explain the highest and most difficult problems. Darwin puts in the place of a conscious creative force, building and arranging the organic bodies of animals and plants on a designed plan, a series of natural forces working blindly (as we say) without aim, without design. In place of an arbitrary act of operation, we have a necessary law of Evolution…. [So had Manu and Kapila, and, at the same time, guiding, conscious and intelligent Powers]. Darwin very wisely… had put on one side the question as to the first appearance of life. But very soon that consequence, so full of meaning, so wide-reaching, was openly discussed by able and brave scientific men, such as Huxley, Carl Vogt, Ludwig Büchner. A mechanical origin of the earliest living form was held as the necessary sequence to Darwin’s teaching… we are at present only concerned with a single consequence of the theory, the natural origin of the human race through almighty Evolution. 1563 |
Chúng tôi, những người Thông Thiên Học, sẵn sàng cúi đầu trước những người học thức như cố Giáo sư Balfour Stewart, các ông Crookes, de Quatrefages, Wallace, Agassiz, Butlerof và những người khác, dù từ lập trường của Triết Học Nội Môn, chúng tôi có thể không đồng ý với tất cả những gì họ nói. Nhưng không gì có thể khiến chúng tôi chấp thuận dù chỉ một vẻ ngoài tôn trọng đối với ý kiến của những người Khoa Học khác như Hæckel, Carl Vogt, hay Ludwig Büchner ở Đức, hoặc thậm chí ông Huxley và những người đồng tư tưởng với ông trong Chủ Nghĩa Duy Vật ở Anh — bất chấp học vấn khổng lồ của người được nêu tên đầu tiên. Những người như thế chỉ đơn giản là những kẻ sát nhân trí tuệ và đạo đức của các thế hệ tương lai; đặc biệt là Hæckel, người mà Chủ Nghĩa Duy Vật thô thiển thường vươn đến mức ngây ngô ngu xuẩn trong các lập luận của ông. Chỉ cần đọc Phả Hệ Con Người và Các Tiểu Luận Khác của ông, bản dịch của Aveling, người ta sẽ cảm thấy một ước muốn rằng, theo lời của Job, ký ức về ông nên biến mất khỏi Trái Đất, và rằng ông “sẽ không có tên trên các đường phố.” Hãy nghe người tạo ra Sozura huyền thoại chế nhạo ý tưởng về nguồn gốc của nhân loại “như một hiện tượng siêu nhiên [?],” như một điều — Không thể phát sinh từ các nguyên nhân cơ giới đơn giản, từ các mãnh lực hồng trần và hóa học, mà đòi hỏi sự can thiệp trực tiếp của một nhân cách sáng tạo…. Nay điểm trung tâm của giáo huấn Darwin… chính trong điều này, rằng nó chứng minh các nguyên nhân cơ giới đơn giản nhất, các hiện tượng tự nhiên thuần túy vật lý-hóa học, là hoàn toàn đủ để giải thích những vấn đề cao nhất và khó khăn nhất. Darwin đặt vào chỗ của một mãnh lực sáng tạo có ý thức, xây dựng và sắp xếp các thể hữu cơ của động vật và thực vật theo một Thiên Cơ được hoạch định, một chuỗi các mãnh lực tự nhiên vận hành mù quáng, như chúng ta nói, không mục tiêu, không thiết kế. Thay cho một hành vi tác động tùy tiện, chúng ta có một định luật Tiến Hóa tất yếu…. [Đức Manu và Kapila cũng có như vậy, và đồng thời có các Quyền Năng hướng dẫn, có ý thức và có trí tuệ]. Darwin rất khôn ngoan… đã gác sang một bên vấn đề về sự xuất hiện đầu tiên của sự sống. Nhưng chẳng bao lâu, hệ quả đầy ý nghĩa và vươn xa ấy đã được công khai bàn luận bởi những người khoa học có năng lực và can đảm, như Huxley, Carl Vogt, Ludwig Büchner. Một nguồn gốc cơ giới của hình thức sống sớm nhất được xem như hệ quả tất yếu của giáo huấn Darwin… hiện nay chúng ta chỉ quan tâm đến một hệ quả duy nhất của lý thuyết ấy, nguồn gốc tự nhiên của nhân loại thông qua Tiến Hóa toàn năng. |
|
To this, unabashed by such a scientific farrago, Occultism replies: In the course of Evolution, when the physical triumphed over the spiritual and mental evolution, and nearly crushed it under its weight, the great gift of Kriyâshakti remained the heirloom of only a few elect men in every age. Spirit strove vainly to manifest itself in its fulness in purely organic forms (as has been explained in Part I of this Volume), and the faculty, which had been a natural attribute in the early humanity of the Third Race, became one of the class regarded as simply phenomenal by Spiritualists and Occultists, and as scientifically impossible by Materialists. |
Trước điều này, không hề bối rối bởi một mớ hỗn tạp khoa học như thế, Huyền Bí Học đáp: Trong diễn trình Tiến Hóa, khi hồng trần chiến thắng tiến hóa tinh thần và trí tuệ, và gần như nghiền nát nó dưới sức nặng của mình, đại ân của Kriyâshakti chỉ còn là gia bảo của một số ít người được tuyển chọn trong mỗi thời đại. Tinh thần đã cố gắng vô ích để biểu hiện trọn vẹn chính nó trong các hình thức thuần túy hữu cơ, như đã được giải thích trong Phần I của Quyển này, và năng lực từng là một thuộc tính tự nhiên nơi nhân loại sơ kỳ của Nhân loại Thứ Ba đã trở thành một trong loại được các nhà Thần Linh Học và nhà Huyền Bí Học xem đơn giản là hiện tượng, còn các nhà Duy Vật xem là không thể có về mặt khoa học. |
|
In our modern day the mere assertion that there exists a power which can create human forms—ready-made Sheaths within which can incarnate the conscious Monads or Nirmânakâyas of past Manvantaras—is, of course, absurd, ridiculous! That which is regarded as quite natural, on the other hand, is the production of a Frankenstein’s monster, plus moral consciousness, religious aspirations, genius, and a feeling of his own immortal nature within himself—by “physico-chemical forces,” guided by blind “Almighty Evolution.” As to the origin of that man, not ex nihilo, cemented by a little red clay, but from a living divine Entity consolidating the Astral Body with surrounding materials—such a conception is too absurd even to be mentioned, in the opinion of the Materialists. Nevertheless, Occultists and Theosophists are ready to have their claims and theories compared as to their intrinsic value and probability with those of the modern Evolutionists—however unscientific and superstitious these theories may at the first glance appear. Hence the Esoteric teaching is absolutely opposed to the Darwinian evolution, as applied to man, and partially so with regard to other species. |
Trong thời đại hiện đại của chúng ta, chỉ cần khẳng định rằng có tồn tại một quyền năng có thể tạo ra các hình thức con người — những Bao Thể hoàn chỉnh sẵn, trong đó các Chân Thần có ý thức hay Nirmânakâyas của các Giai kỳ sinh hóa quá khứ có thể nhập thể — thì dĩ nhiên là phi lý, lố bịch! Trái lại, điều được xem là hoàn toàn tự nhiên là sự sản sinh ra một quái vật Frankenstein, cộng thêm tâm thức đạo đức, khát vọng tôn giáo, thiên tài, và một cảm thức về bản chất bất tử của chính nó bên trong mình — bởi “các mãnh lực vật lý-hóa học,” được hướng dẫn bởi “Tiến Hóa Toàn Năng” mù quáng. Còn về nguồn gốc của con người ấy, không phải từ hư vô, được kết dính bằng một chút đất sét đỏ, mà từ một Thực Thể thiêng liêng sống động cô đặc thể tinh tú bằng các chất liệu chung quanh — một quan niệm như thế quá phi lý đến nỗi, theo ý kiến của các nhà Duy Vật, thậm chí không đáng được nhắc đến. Tuy nhiên, các nhà Huyền Bí Học và những người Thông Thiên Học sẵn sàng để các tuyên bố và lý thuyết của mình được so sánh về giá trị nội tại và xác suất với các lý thuyết của những nhà Tiến Hóa hiện đại — dù thoạt nhìn các lý thuyết ấy có thể có vẻ phi khoa học và mê tín đến đâu. Do đó giáo huấn Nội Môn hoàn toàn đối lập với tiến hóa Darwin, khi áp dụng cho con người, và một phần đối với các loài khác. |
|
It would be interesting to obtain a glimpse of the mental representation of Evolution in the scientific brain of a Materialist. What is Evolution? If asked to define the full and complete meaning of the term, neither Huxley nor Hæckel will be able to do so any better than does Webster: The act of unfolding; the process of growth, development; as the evolution of a flower from a bud, or an animal from the egg. |
Sẽ thú vị nếu có được một thoáng nhìn vào biểu tượng trí tuệ về Tiến Hóa trong bộ não khoa học của một nhà Duy Vật. Tiến Hóa là gì? Nếu được yêu cầu định nghĩa ý nghĩa đầy đủ và trọn vẹn của thuật ngữ ấy, cả Huxley lẫn Hæckel đều không thể làm tốt hơn Webster: Hành vi khai mở; tiến trình tăng trưởng, phát triển; như sự tiến hóa của một bông hoa từ nụ, hay của một con vật từ trứng. |
|
Yet the bud must be traced through its parent-plant to the seed, and the egg to the animal or bird that laid it; or at any rate to the speck of protoplasm from which it expanded and grew. And both the seed and the speck must have the latent potentialities in them for the reproduction and gradual development, the unfolding of the thousand and one forms or phases of evolution, through which they must pass before the flower or the animal is fully developed? Hence, the future plan—if not a design—must be there. Moreover, that seed has to be traced, and its nature ascertained. Have the Darwinians been successful in this? Or will the Moneron be cast in our teeth? But this atom of the Watery Abysses is not homogeneous matter; and there must be something or somebody that had moulded and cast it into being. |
Tuy nhiên, nụ hoa phải được truy nguyên qua cây mẹ của nó đến hạt giống, và trứng đến con vật hay con chim đã đẻ ra nó; hoặc ít nhất đến đốm nguyên sinh chất từ đó nó mở rộng và lớn lên. Và cả hạt giống lẫn đốm ấy đều phải có trong chúng các tiềm năng ẩn tàng cho sự tái sản sinh và phát triển dần dần, sự khai mở của một nghìn lẻ một hình thức hay giai đoạn tiến hóa mà chúng phải đi qua trước khi bông hoa hay con vật được phát triển đầy đủ? Do đó, kế hoạch tương lai — nếu không phải là một thiết kế — phải có ở đó. Hơn nữa, hạt giống ấy phải được truy nguyên, và bản chất của nó phải được xác định. Các nhà Darwin đã thành công trong việc này chưa? Hay Moneron sẽ được ném vào mặt chúng ta? Nhưng nguyên tử của các Vực Thẳm Nước này không phải là vật chất đồng nhất; và phải có một điều gì hay một ai đó đã nắn đúc và đưa nó vào hiện tồn. |
|
Here Science is once more silent. But since there is no self-consciousness as yet in speck, seed, or germ, according to both Materialists and Psychologists of the modern school—Occultists agreeing in this for once with their natural enemies—what is it that guides the force or forces so unerringly in this process of Evolution? “Blind force”? As well call “blind” the brain which evolved in Hæckel his Pedigree of Man and other lucubrations. We can easily conceive that the said brain lacks an important centre or two; for whoever knows anything of the anatomy of the human, or even of any animal, body, and is still an Atheist and a Materialist, must be “hopelessly insane,” according to Lord Herbert, who rightly sees in the frame of man’s body and the coherence of its parts, something so strange and paradoxical that he holds it to be the “greatest miracle of nature.” Blind forces and “no design” in anything under the Sun! When no sane man of Science would hesitate to say that, even from the little he knows and has hitherto discovered of the forces at work in Kosmos, he sees very plainly that every part, every speck and atom, are in harmony with their fellow atoms, and these with the whole, each having its distinct mission throughout the life-cycle. But, fortunately, the greatest, the most eminent Thinkers and Scientists of the day are now beginning to rise against this “Pedigree,” and even against Darwin’s Natural Selection theory, though its author had never, probably, contemplated such widely stretched conclusions. The Russian scientist N. T. Danilevsky, in his remarkable work, Darwinism, a Critical Investigation of the Theory, upsets such Darwinism completely and without appeal, and so does de Quatrefages in his last work. Our readers are recommended to examine the learned paper by Dr. Bourges, a member of the Paris Anthropological Society, read by its author at a recent meeting of that society and called “Evolutionary Psychology; the Evolution of Spirit, etc.” In it he completely reconciles the two teachings—namely of physical and spiritual evolution. He explains the origin of the variety of organic forms—which are made to fit their environments with such evidently intelligent design—by the existence and the mutual help and interaction of two Principles in manifested Nature, the inner conscious Principle adapting itself to physical Nature and the innate potentialities of the latter. Thus the French scientist has to return to our old friend Archæus, or the Life-Principle—without naming it—as Dr. Richardson has done in England in his Nerve-Force. The same idea was recently developed in Germany by Baron Hellenbach, in his remarkable work, Individuality in the Light of Biology and Modern Philosophy. |
Ở đây Khoa Học một lần nữa im lặng. Nhưng vì theo cả các nhà Duy Vật lẫn các nhà Tâm Lý Học của trường phái hiện đại — và lần này các nhà Huyền Bí Học đồng ý với những kẻ thù tự nhiên của mình — chưa có ngã thức nào trong đốm, hạt hay mầm, vậy điều gì hướng dẫn mãnh lực hay các mãnh lực một cách không sai lạc như thế trong tiến trình Tiến Hóa này? “Mãnh lực mù quáng” ư? Cũng có thể gọi là “mù quáng” bộ não đã tạo ra trong Hæckel tác phẩm Phả Hệ Con Người và những bài luận miên man khác. Chúng ta dễ dàng hình dung rằng bộ não nói trên thiếu một hay hai trung tâm quan trọng; vì bất cứ ai biết chút gì về giải phẫu thân thể con người, hay thậm chí bất kỳ thân thể động vật nào, mà vẫn là một người Vô Thần và Duy Vật, thì phải là “điên vô vọng,” theo Lord Herbert, người đã thấy đúng trong khung thể của con người và sự cố kết của các bộ phận của nó một điều kỳ lạ và nghịch lý đến mức ông cho đó là “phép lạ lớn nhất của thiên nhiên.” Các mãnh lực mù quáng và “không thiết kế” trong bất cứ điều gì dưới Mặt Trời! Trong khi không một nhà Khoa Học tỉnh táo nào sẽ ngần ngại nói rằng, ngay cả từ chút ít mà y biết và đến nay đã khám phá về các mãnh lực đang vận hành trong Kosmos, y thấy rất rõ rằng mỗi phần, mỗi đốm và nguyên tử đều hài hòa với các nguyên tử đồng loại của chúng, và các nguyên tử ấy hài hòa với toàn thể, mỗi cái có sứ mệnh riêng biệt của nó trong suốt chu kỳ sống. Nhưng may thay, những Nhà Tư Tưởng và Nhà Khoa Học vĩ đại nhất, lỗi lạc nhất của thời đại nay đang bắt đầu đứng lên chống lại “Phả Hệ” này, và thậm chí chống lại lý thuyết Chọn Lọc Tự Nhiên của Darwin, dù chính tác giả của nó có lẽ chưa bao giờ dự liệu những kết luận bị kéo giãn quá rộng như thế. Nhà khoa học Nga N. T. Danilevsky, trong tác phẩm đáng chú ý của ông, Chủ Nghĩa Darwin, Một Nghiên Cứu Phê Bình về Lý Thuyết, đã lật đổ hoàn toàn và không thể kháng cáo thứ Darwin ấy, và de Quatrefages cũng làm như vậy trong tác phẩm cuối cùng của mình. Độc giả của chúng ta được khuyên nên khảo sát bài luận uyên bác của bác sĩ Bourges, một thành viên của Hội Nhân Học Paris, được chính tác giả đọc tại một cuộc họp gần đây của hội ấy và có nhan đề “Tâm Lý Học Tiến Hóa; Sự Tiến Hóa của Tinh Thần, v.v.” Trong đó ông hoàn toàn hòa giải hai giáo huấn — tức tiến hóa hồng trần và tiến hóa tinh thần. Ông giải thích nguồn gốc của sự đa dạng các hình thức hữu cơ — vốn được làm cho phù hợp với môi trường của chúng bằng một thiết kế rõ ràng có trí tuệ — bằng sự tồn tại, sự trợ giúp hỗ tương và tương tác của hai Nguyên Khí trong Thiên Nhiên biểu hiện, Nguyên Khí hữu thức bên trong tự thích nghi với Thiên Nhiên hồng trần và các tiềm năng bẩm sinh của chính Thiên Nhiên ấy. Như vậy nhà khoa học Pháp phải quay về với người bạn cũ của chúng ta, Archæus, hay Nguyên Khí Sự Sống — mà không gọi tên nó — như bác sĩ Richardson đã làm ở Anh trong Mãnh Lực Thần Kinh của ông. Cùng ý tưởng ấy gần đây đã được Nam tước Hellenbach phát triển ở Đức trong tác phẩm đáng chú ý của ông, Cá Thể Tính trong Ánh Sáng của Sinh Học và Triết Học Hiện Đại. |
|
We find the same conclusions arrived at in yet another excellent volume by a deep thinking Russian, N. N. Strachof, who says in his Fundamental Conceptions of Psychology and Physiology: The most clear, as the most familiar, type of development may be found in our own mental or physical evolution, which has served others as a model to follow…. If organisms are entities… then it is only just to conclude and assert that the organic life strives to beget psychic life; but it would be still more correct and in accordance with the spirit of these two categories of evolution to say, that the true cause of organic life is the tendency of spirit to manifest in substantial forms, to clothe itself in substantial reality. It is the highest form which contains the complete explanation of the lowest, never the reverse. |
Chúng ta thấy cùng các kết luận ấy được đạt đến trong một quyển sách xuất sắc khác của một người Nga tư duy sâu sắc, N. N. Strachof, người nói trong Những Quan Niệm Căn Bản của Tâm Lý Học và Sinh Lý Học: Kiểu phát triển rõ ràng nhất, cũng như quen thuộc nhất, có thể được tìm thấy trong chính sự tiến hóa trí tuệ hay hồng trần của chúng ta, vốn đã làm mẫu cho những người khác noi theo…. Nếu các cơ thể là những thực thể… thì chỉ công bằng khi kết luận và khẳng định rằng sự sống hữu cơ nỗ lực sinh ra sự sống thông linh; nhưng sẽ còn đúng hơn và phù hợp hơn với tinh thần của hai phạm trù tiến hóa này nếu nói rằng nguyên nhân thật sự của sự sống hữu cơ là khuynh hướng của tinh thần muốn biểu hiện trong các hình thức chất liệu, muốn tự khoác lấy thực tại chất liệu. Chính hình thức cao nhất chứa đựng lời giải thích trọn vẹn của hình thức thấp nhất, không bao giờ ngược lại. |
|
This is admitting, as Bourges does in the Mémoire above mentioned, the identity of this mysterious, integrally acting and organizing Principle with the Self-Conscious and Inner Subject, which we call the Ego and the world at large the Soul. Thus all the best Scientists and Thinkers are gradually approaching the Occultists in their general conclusions. |
Điều này là thừa nhận, như Bourges đã làm trong Bản Ghi Nhớ nói trên, sự đồng nhất của Nguyên Khí huyền nhiệm, tác động toàn vẹn và có tổ chức này với Chủ Thể Tự Ý Thức và Bên Trong, mà chúng ta gọi là Chân Ngã và thế giới nói chung gọi là Linh Hồn. Như vậy tất cả những Nhà Khoa Học và Nhà Tư Tưởng xuất sắc nhất đang dần dần tiến gần đến các nhà Huyền Bí Học trong những kết luận tổng quát của họ. |
|
But such metaphysically inclined men of Science are out of court and will hardly be listened to. Schiller, in his magnificent poem on the Veil of Isis, makes the mortal youth who dared to lift the impenetrable covering fall down dead, after beholding the naked Truth in the face of the stern Goddess. Have some of our Darwinians, so tenderly united in natural selection and affinity, also gazed at the Saitic Mother bereft of her veils? One might almost suspect it after reading their theories. Their great intellects must have collapsed while gauging too closely the uncovered face of Nature, leaving only the grey matter and ganglia in their brains to respond to “blind” physico-chemical forces. At any rate Shakspere’s lines apply admirably to our modern Evolutionist, who symbolizes that “proud man,” who— Drest in a little brief authority; Most ignorant of what he’s most assured, His glassy essence, like an angry ape, Plays such fantastic tricks before high heaven, As make the angels weep! 1564 |
Nhưng những người Khoa Học nghiêng về siêu hình như thế bị loại khỏi tòa và hầu như sẽ không được lắng nghe. Schiller, trong bài thơ tráng lệ của ông về Màn Che của Isis, đã khiến chàng thanh niên phàm trần dám nâng tấm phủ không thể xuyên thấu ấy ngã xuống chết, sau khi nhìn thẳng vào Chân Lý trần trụi trước gương mặt của Nữ Thần nghiêm khắc. Phải chăng một số nhà Darwin của chúng ta, vốn được kết hợp dịu dàng trong chọn lọc tự nhiên và tương hợp, cũng đã nhìn thấy Mẹ Saitic bị tước bỏ các màn che của bà? Người ta gần như có thể nghi ngờ điều đó sau khi đọc các lý thuyết của họ. Trí năng vĩ đại của họ hẳn đã sụp đổ khi đo lường quá sát gương mặt không che phủ của Thiên Nhiên, chỉ còn lại chất xám và các hạch trong bộ não của họ để đáp ứng với các mãnh lực vật lý-hóa học “mù quáng.” Dù sao, những dòng của Shakspere áp dụng tuyệt diệu cho nhà Tiến Hóa hiện đại của chúng ta, người tượng trưng cho “kẻ kiêu ngạo” ấy, kẻ — Khoác chút quyền uy ngắn ngủi; Vô minh nhất về điều mình chắc chắn nhất, Bản chất thủy tinh của y, như một con vượn giận dữ, Làm những trò kỳ quặc trước trời cao, Khiến các thiên thần phải khóc! |
|
These have nought to do with the “Angels.” Their only concern is with the human ancestor, the pithecoid Noah who gave birth to three sons—the tailed Cynocephalus, the tailless Ape, and the “arboreal” Palæolithic man. On this point, they will not be contradicted. Every doubt expressed is immediately set down as an attempt to cripple scientific enquiry. The insuperable difficulty at the very foundation of the Evolution theory, namely, that no Darwinian is able to give even an approximate definition of the period at which, and the form in which, the first man appeared, is smoothed down to a trifling impediment, which is “really of no account.” Every branch of knowledge is in the same predicament, we are informed. The Chemist bases his most abstruse calculations simply Upon a hypothesis of atoms and molecules, of which not one has ever been seen, isolated, weighed, or defined. The electrician speaks of magnetic fluids which have never tangibly revealed themselves. No definite origin can be assigned either to molecules or magnetism. Science cannot and does not pretend to any knowledge of the beginnings of law, matter, or life. 1565 |
Những người này chẳng liên quan gì đến “Thiên Thần.” Mối quan tâm duy nhất của họ là tổ tiên con người, Noah vượn dạng đã sinh ra ba người con — Cynocephalus có đuôi, Vượn không đuôi, và người Cổ Thạch “sống trên cây.” Về điểm này, họ sẽ không chịu bị phản bác. Mọi nghi ngờ được bày tỏ lập tức bị quy là một cố gắng làm tê liệt cuộc khảo sát khoa học. Khó khăn không thể vượt qua ngay tại nền tảng của lý thuyết Tiến Hóa, tức là không một nhà Darwin nào có thể đưa ra dù chỉ một định nghĩa gần đúng về thời kỳ mà, và hình thức trong đó, con người đầu tiên xuất hiện, bị làm dịu đi thành một trở ngại nhỏ nhặt, “thật sự không đáng kể.” Người ta cho chúng ta biết rằng mọi ngành tri thức đều ở cùng tình trạng ấy. Nhà Hóa Học đặt nền cho các tính toán trừu tượng nhất của mình đơn giản Trên một giả thuyết về nguyên tử và phân tử, trong đó chưa một cái nào từng được thấy, cô lập, cân, hay định nghĩa. Nhà điện học nói về các lưu chất từ tính chưa từng hiển lộ một cách hữu hình. Không thể gán một nguồn gốc xác định nào cho phân tử hay từ điện. Khoa Học không thể và không hề giả vờ có bất cứ tri thức nào về các khởi nguyên của định luật, vật chất hay sự sống. |
|
And, withal, to reject a scientific hypothesis, however absurd, is to commit the one unpardonable sin! We risk it. |
Và tuy vậy, bác bỏ một giả thuyết khoa học, dù phi lý đến đâu, lại là phạm tội không thể tha thứ duy nhất! Chúng ta chấp nhận rủi ro đó. |
Section II. The Ancestors Mankind is Offered by Science. — Phần II. Các Tổ Tiên Mà Khoa Học Đưa Ra Cho Nhân Loại.
|
The question of questions for mankind—the problem which underlies all others, and is more deeply interesting than any other—is the ascertainment of the place which man occupies in Nature, and of his relations to the universe of things. 1566 |
Câu hỏi của mọi câu hỏi đối với nhân loại — vấn đề nằm dưới mọi vấn đề khác, và sâu sắc đáng quan tâm hơn bất cứ vấn đề nào — là xác định vị trí mà con người chiếm giữ trong Thiên Nhiên, và các mối quan hệ của y với vũ trụ của vạn vật. |
|
The world stands divided this day and hesitates between Divine Progenitors—be they Adam and Eve or the Lunar Pitris—and Bathybius Hæckelii, the gelatinous hermit of the briny deep. Having explained the Occult theory, it may now be compared with that of Modern Materialism. The reader is invited to choose between the two after having judged them on their respective merits. |
Ngày nay thế giới đứng chia đôi và do dự giữa các Tổ Tiên Thiêng Liêng — dù là Adam và Eve hay thái âm tổ phụ — và Bathybius Hæckelii, ẩn sĩ dạng keo của vực mặn sâu. Sau khi đã giải thích lý thuyết Huyền Bí, nay có thể so sánh nó với lý thuyết của Chủ Nghĩa Duy Vật Hiện Đại. Độc giả được mời lựa chọn giữa hai bên sau khi đã phán xét chúng theo giá trị riêng của từng bên. |
|
We may derive some consolation for the rejection of our Divine Ancestors, in finding that the Hæckelian speculations receive no better treatment at the hands of strictly exact Science than do our own. Hæckel’s Phylogenesis is no less laughed at by the foes of his fantastic evolution, by other and greater Scientists, than our primeval Races will be. As du Bois-Reymond puts it, we may believe him easily when he says that the Ancestral trees of our race sketched in the Schöpfungsgeschichte are of about as much value as are the pedigrees of the Homeric heroes in the eyes of the historical critic. |
Chúng ta có thể tìm được đôi chút an ủi cho việc các Tổ Tiên Thiêng Liêng của chúng ta bị bác bỏ, khi thấy rằng những suy đoán của Hæckel cũng không được Khoa Học chính xác nghiêm ngặt đối xử tốt hơn các suy đoán của chúng ta. Phylogenesis của Hæckel cũng bị các đối thủ của thứ tiến hóa hoang tưởng của ông, bởi những Nhà Khoa Học khác và vĩ đại hơn, cười nhạo không kém gì các Nhân loại nguyên thủy của chúng ta sẽ bị. Như du Bois-Reymond đã nói, chúng ta có thể dễ dàng tin ông khi ông nói rằng các cây Tổ Tiên của nhân loại chúng ta được phác họa trong Schöpfungsgeschichte có giá trị xấp xỉ như phả hệ của các anh hùng Homeric trong mắt nhà phê bình lịch sử. |
|
This settled, everyone will see that one hypothesis is as good as another. And as we find Hæckel himself confessing that neither Geology in its history of the past nor the ancestral history of organisms will ever “rise to the position of a real ‘exact’ science,” 1567 a large margin is thus left to Occult Science to make its annotations and lodge its protests. The world is left to choose between the teachings of Paracelsus, the “father of modern chemistry,” and those of Hæckel, the “father of the mythical Sozura.” We demand no more. |
Điều này đã rõ, mọi người sẽ thấy rằng giả thuyết này cũng tốt như giả thuyết kia. Và vì chúng ta thấy chính Hæckel thú nhận rằng cả Địa Chất Học trong lịch sử quá khứ của nó lẫn lịch sử tổ tiên của các cơ thể sẽ không bao giờ “vươn lên vị thế của một khoa học ‘chính xác’ thật sự,” nên như vậy còn lại một khoảng rộng cho Khoa Học Huyền Bí ghi chú và đệ trình các phản kháng của mình. Thế giới được để cho lựa chọn giữa các giáo huấn của Paracelsus, “cha đẻ của hóa học hiện đại,” và của Hæckel, “cha đẻ của Sozura huyền thoại.” Chúng ta không đòi hỏi gì hơn. |
|
Without presuming to take part in the quarrel of such very learned Naturalists as du Bois-Reymond and Hæckel à propos of our blood relationship to Those ancestors [of ours] which have led up from the unicellular classes, Vermes, Acrania, Pisces, Amphibia, Reptilia to the Aves |
Không tự phụ tham gia vào cuộc tranh cãi của những nhà Tự Nhiên Học rất uyên bác như du Bois-Reymond và Hæckel về quan hệ huyết thống của chúng ta với Những tổ tiên ấy [của chúng ta] vốn đã dẫn lên từ các lớp đơn bào, Vermes, Acrania, Pisces, Amphibia, Reptilia đến Aves |
|
—we may put a brief question or two, for the information of our readers. Availing ourselves of the opportunity, and bearing in mind Darwin’s theories of Natural Selection, etc., we would ask Science—with regard to the origin of the human and animal species—which theory of Evolution of the two herewith described is the more scientific, or the more unscientific, if so preferred. |
— chúng ta có thể đặt một hay hai câu hỏi ngắn, để cung cấp thông tin cho độc giả của mình. Nhân cơ hội này, và ghi nhớ các lý thuyết của Darwin về Chọn Lọc Tự Nhiên, v.v., chúng ta muốn hỏi Khoa Học — liên quan đến nguồn gốc của loài người và loài vật — trong hai lý thuyết Tiến Hóa được mô tả ở đây, lý thuyết nào khoa học hơn, hay phi khoa học hơn, nếu muốn nói như vậy. |
|
(1) Is it that of an Evolution which starts from the beginning with sexual propagation? |
(1) Phải chăng đó là lý thuyết về một Tiến Hóa ngay từ khởi đầu đã bắt đầu với sự sinh sản hữu tính? |
|
(2) Or that teaching which shows the gradual development of organs; their solidification, and the procreation of each species, at first by simple easy separation from one into two or even several individuals; then a fresh development—the first step to a species of separate distinct sexes—the hermaphrodite condition; then again, a kind of parthenogenesis, “virginal reproduction,” when the egg-cells are formed within the body, issuing from it in atomic emanations and becoming matured outside of it; until, finally, after a definite separation into sexes, the human beings begin procreating through sexual connection? |
(2) Hoặc giáo huấn cho thấy sự phát triển dần dần của các cơ quan; sự rắn đặc của chúng, và sự sinh sản của mỗi loài, ban đầu bằng sự tách rời đơn giản, dễ dàng, từ một thành hai, hoặc thậm chí thành nhiều cá thể; rồi một sự phát triển mới—bước đầu tiên hướng tới một loài có hai giới tính tách biệt rõ rệt—trạng thái lưỡng tính; rồi lại nữa, một dạng sinh sản đơn tính, “sinh sản trinh nguyên,” khi các tế bào trứng được hình thành bên trong cơ thể, phát ra từ cơ thể ấy trong những phát xạ nguyên tử và trưởng thành bên ngoài nó; cho đến cuối cùng, sau khi có sự phân tách xác định thành hai giới, con người bắt đầu sinh sản qua sự kết hợp tính dục? |
|
Of these two, the first “theory”—or rather, a “revealed fact”—is enunciated by all the exoteric Bibles, except the Purânas, preeminently by the Jewish Cosmogony. The second is that which is taught by the Occult Philosophy, as has been explained. |
Trong hai điều này, “lý thuyết” thứ nhất—hay đúng hơn, một “sự kiện được mặc khải”—được tất cả các Kinh thánh ngoại môn nêu ra, ngoại trừ các Purana, và nổi bật nhất là trong Vũ trụ luận Do Thái. Điều thứ hai là điều được Triết học Huyền bí giảng dạy, như đã được giải thích. |
|
An answer is found to our question in a volume just published by Mr. Samuel Laing—the best lay exponent of Modern Science. 1568 In Chapter viii of his latest work, A Modern Zoroastrian, the author begins by twitting “all ancient religions and philosophies” for “assuming a male and female principle for their gods.” At first sight, he says: This distinction of sex appears as fundamental as that of plant and animal…. The Spirit of God brooding over Chaos and producing the world is only a later edition, revised according to monotheistic ideas, of the far older Chaldean legend which describes the creation of Cosmos out of Chaos by the coöperation of great gods, male and female…. Thus, in the orthodox Christian creed we are taught to repeat “begotten, not made,” a phrase which is absolute nonsense, or non-sense—that is, an instance of using words like counterfeit notes, which have no solid value of an idea behind them. For “begotten” is a very definite term, which implies the conjunction of two opposite sexes to produce a new individual. 1569 |
Một câu trả lời cho câu hỏi của chúng ta được tìm thấy trong một quyển sách vừa được ông Samuel Laing xuất bản—người diễn giải thế tục xuất sắc nhất của Khoa học Hiện đại. Trong Chương tám của tác phẩm mới nhất của ông, Một Người Zoroaster Hiện Đại, tác giả bắt đầu bằng cách chế giễu “tất cả các tôn giáo và triết học cổ xưa” vì đã “giả định một nguyên khí nam và nữ cho các vị thần của họ.” Thoạt nhìn, ông nói: Sự phân biệt giới tính này dường như căn bản như sự phân biệt giữa thực vật và động vật…. Tinh thần của Thượng đế ấp ủ trên Hỗn mang và sản sinh thế giới chỉ là một phiên bản muộn hơn, được sửa đổi theo các ý tưởng độc thần, của truyền thuyết Chaldea cổ xưa hơn nhiều, mô tả sự sáng tạo Vũ trụ từ Hỗn mang nhờ sự hợp tác của các vị thần vĩ đại, nam và nữ…. Như vậy, trong tín điều Chính thống giáo Kitô, chúng ta được dạy phải lặp lại “được sinh ra, không được tạo thành,” một cụm từ hoàn toàn vô nghĩa, hay phi-nghĩa—nghĩa là một trường hợp dùng lời như những tờ giấy bạc giả, không có giá trị vững chắc của một ý tưởng nào phía sau. Vì “được sinh ra” là một thuật ngữ rất xác định, hàm ý sự kết hợp của hai giới tính đối lập để sản sinh một cá thể mới. |
|
However we may agree with the learned author as to the inadvisability of using wrong words, and the terrible anthropomorphic and phallic element in the old Scriptures—especially in the orthodox Christian Bible—nevertheless, there may be two extenuating circumstances in the case. Firstly, all these “ancient philosophies” and “modern religions” are—as has been sufficiently shown in these two Volumes—an exoteric veil thrown over the face of Esoteric Truth; and—as the direct result of this—they are allegorical, i.e., mythological in form; but still they are immensely more philosophical in essence than any of the new scientific theories, so-called. Secondly, from the Orphic Theogony down to Ezra’s last remodelling of the Pentateuch, every old Scripture, having in its origin borrowed its facts from the East, has been subjected to constant alterations by friend and foe, until of the original version there has remained but the name, a dead shell from which the spirit had been gradually eliminated. |
Dù chúng ta có thể đồng ý với tác giả uyên bác ấy về sự không nên dùng những từ sai, và về yếu tố nhân hình hóa cùng tính dương vật đáng sợ trong các Kinh văn cổ—đặc biệt trong Kinh thánh Kitô Chính thống—tuy nhiên, trong trường hợp này có thể có hai tình tiết giảm nhẹ. Thứ nhất, tất cả các “triết học cổ xưa” và “tôn giáo hiện đại” này—như đã được trình bày đầy đủ trong hai Quyển này—là một bức màn ngoại môn phủ lên gương mặt của Chân lý Nội môn; và—như kết quả trực tiếp của điều này—chúng mang tính ngụ ngôn, tức là có hình thức thần thoại; nhưng trong bản chất, chúng vẫn triết học hơn vô cùng so với bất cứ lý thuyết khoa học mới nào, gọi là như thế. Thứ hai, từ Thần hệ học Orpheus cho đến lần Ezra cải biên cuối cùng Ngũ kinh, mọi Kinh văn cổ, vì nguyên thủy đã vay mượn các sự kiện của mình từ phương Đông, đã bị bạn và thù liên tục sửa đổi, cho đến khi của bản văn nguyên thủy chỉ còn lại cái tên, một lớp vỏ chết mà từ đó tinh thần đã dần dần bị loại bỏ. |
|
This alone ought to show that no religious work now extant can be understood without the help of the Archaic Wisdom, the primitive foundation on which they were all built. |
Chỉ riêng điều này cũng phải cho thấy rằng không một tác phẩm tôn giáo nào hiện còn tồn tại có thể được thấu hiểu nếu không có sự trợ giúp của Minh triết Cổ sơ, nền tảng nguyên thủy trên đó tất cả chúng đã được xây dựng. |
|
But to return to the direct answer expected from Science to our direct question. It is given by the same author, when, following his train of thought on the unscientific euhemerization of the powers of Nature in ancient creeds, he pronounces a condemnatory verdict upon them in the following terms: Science, however, makes sad havoc with this impression of sexual generation being the original and only mode of reproduction, and the microscope and dissecting knife of the naturalist introduce us to new and altogether unsuspected [?] worlds of life. |
Nhưng hãy trở lại câu trả lời trực tiếp mà Khoa học được trông đợi đưa ra cho câu hỏi trực tiếp của chúng ta. Câu trả lời ấy được cùng tác giả nêu ra, khi, theo dòng tư tưởng của mình về sự thần nhân hóa thiếu khoa học các quyền năng của Thiên nhiên trong những tín ngưỡng cổ, ông tuyên một phán quyết kết án chúng bằng những lời sau: Tuy nhiên, Khoa học gây tổn hại nặng nề cho ấn tượng rằng sinh sản tính dục là phương thức sinh sản nguyên thủy và duy nhất, và kính hiển vi cùng dao giải phẫu của nhà tự nhiên học giới thiệu chúng ta với những thế giới sự sống mới và hoàn toàn chưa từng bị nghi ngờ [?]. |
|
So little “unsuspected,” indeed, that the original a-sexual “modes of reproduction” must have been known to the ancient Hindûs, at any rate—Mr. Laing’s assertion to the contrary notwithstanding. In view of the statement in the Vishnu Purâna, quoted by us elsewhere, that Daksha “established sexual intercourse as the means of multiplication,” only after a series of other “modes,” which are all enumerated therein, 1570 it becomes difficult to deny the fact. This assertion, moreover, is found, note well, in an exoteric work. Next, Mr. Laing goes on to tell us that: |
Quả thật, “chưa từng bị nghi ngờ” rất ít đến mức những “phương thức sinh sản” vô tính nguyên thủy hẳn đã được người Hindu cổ biết đến, ít nhất là như vậy—bất chấp khẳng định trái ngược của ông Laing. Xét lời tuyên bố trong Vishnu Purana, được chúng tôi trích ở nơi khác, rằng Daksha “thiết lập giao hợp tính dục như phương tiện nhân lên,” chỉ sau một loạt “phương thức” khác, tất cả đều được liệt kê trong đó, thì thật khó phủ nhận sự kiện ấy. Hơn nữa, xin lưu ý kỹ, lời khẳng định này được tìm thấy trong một tác phẩm ngoại môn. Tiếp đó, ông Laing tiếp tục nói với chúng ta rằng: |
|
By far the larger proportion of living forms, in number at any rate if not in size, have come into existence, without the aid of sexual propagation. |
Tỷ lệ lớn hơn rất nhiều của các hình tướng sống, ít nhất về số lượng nếu không phải về kích thước, đã đi vào hiện hữu mà không nhờ sự trợ giúp của sinh sản tính dục. |
|
He then instances Hæckel’s Moneron, “multiplying by self-division.” The next stage the author shows in the nucleated cell, “which does exactly the same thing.” The following stage is that in Which the organism does not divide into two equal parts, but a small portion of it swells out… and finally parts company and starts on a separate existence, which grows to the size of the parent by its inherent faculty of manufacturing fresh protoplasm from surrounding inorganic materials. |
Rồi ông nêu ví dụ Moneron của Hæckel, “nhân lên bằng tự phân đôi.” Giai đoạn kế tiếp, tác giả cho thấy trong tế bào có nhân, “làm đúng y như vậy.” Giai đoạn sau đó là giai đoạn trong đó sinh vật không chia thành hai phần bằng nhau, mà một phần nhỏ của nó phồng ra… và cuối cùng tách rời, bắt đầu một sự hiện hữu riêng biệt, lớn lên đến kích thước của cha mẹ nhờ năng lực cố hữu của nó trong việc tạo ra chất nguyên sinh mới từ những vật liệu vô cơ chung quanh. |
|
This is followed by a many-celled organism which is formed by Germ-buds reduced to spores, or single cells, which are emitted from the parent…. We are now at the threshold of that system of sexual propagation, which has [now] become the rule in all the higher families of animals…. This organism, having advantages in the struggle for life, established itself permanently… and special organs developed to meet the altered conditions. Thus at length the distinction would be firmly established of a female organ or ovary containing the egg or primitive cell from which the new being was to be developed, and a male organ supplying the fertilizing spore or cell…. This is confirmed by a study of embryology, which shows that in the human and higher animal species the distinction of sex is not developed until a considerable progress has been made in the growth of the embryo…. In the great majority of plants, and in some of the lower families of animals… the male and female organs are developed within the same being, and they are what is called hermaphrodites. Another transition form is Parthenogenesis, or virginal reproduction, in which germ-cells, apparently similar in all respects to egg-cells, develop themselves into new individuals, without any fructifying element. 1572 |
Tiếp theo là một sinh vật nhiều tế bào được hình thành bởi các chồi mầm bị giảm thành bào tử, hay các tế bào đơn, được phát ra từ cha mẹ…. Bấy giờ chúng ta ở ngưỡng cửa của hệ thống sinh sản tính dục ấy, hiện đã trở thành quy luật trong tất cả các họ động vật cao hơn…. Sinh vật này, vì có lợi thế trong cuộc đấu tranh sinh tồn, đã tự thiết lập một cách bền vững… và các cơ quan chuyên biệt phát triển để đáp ứng các điều kiện đã thay đổi. Như vậy, cuối cùng sự phân biệt sẽ được xác lập vững chắc giữa một cơ quan nữ hay buồng trứng, chứa trứng hoặc tế bào nguyên thủy từ đó sinh thể mới sẽ phát triển, và một cơ quan nam cung cấp bào tử hoặc tế bào thụ tinh…. Điều này được xác nhận bởi việc nghiên cứu phôi học, cho thấy rằng trong các loài người và động vật cao hơn, sự phân biệt giới tính không phát triển cho đến khi sự tăng trưởng của phôi đã đạt được một tiến bộ đáng kể…. Trong đại đa số thực vật, và trong một vài họ động vật thấp hơn… các cơ quan nam và nữ phát triển trong cùng một sinh thể, và chúng là cái được gọi là lưỡng tính. Một hình thức chuyển tiếp khác là Sinh sản đơn tính, hay sinh sản trinh nguyên, trong đó các tế bào mầm, dường như tương tự về mọi phương diện với các tế bào trứng, tự phát triển thành các cá thể mới, không cần bất cứ yếu tố thụ tinh nào. |
|
Of all this we are as perfectly well aware as we are aware that the above was never applied by the very learned English popularizer of Huxley-Hæckelian theories to the genus homo. He limits this to specks of protoplasm, plants, bees, snails, and so on. But if he would be true to the theory of descent, he must be as true to ontogenesis, in which the fundamental biogenetic law, we are told, runs as follows: The development of the embryo (ontogeny) is a condensed and abbreviated repetition of the evolution of the race (phylogeny). This repetition is the more complete, the more the true original order of evolution (palingenesis) has been retained by continual heredity. On the other hand, this repetition is the less complete, the more by varying adaptations the later spurious development (cænogenesis) has obtained. 1573 |
Về tất cả điều này, chúng tôi biết rõ hoàn toàn, cũng như chúng tôi biết rằng những điều trên chưa bao giờ được nhà phổ biến người Anh rất uyên bác của các lý thuyết Huxley-Hæckel áp dụng cho giống người. Ông giới hạn điều này vào những chấm chất nguyên sinh, thực vật, ong, ốc sên, vân vân. Nhưng nếu ông muốn trung thành với lý thuyết về sự xuất thân, ông phải cũng trung thành như thế với phát sinh cá thể, trong đó định luật sinh phát sinh căn bản, như người ta nói với chúng ta, diễn ra như sau: Sự phát triển của phôi (phát sinh cá thể) là một sự lặp lại cô đọng và rút ngắn của sự tiến hóa của chủng loại (phát sinh chủng loại). Sự lặp lại này càng hoàn chỉnh bao nhiêu, thì trật tự nguyên thủy chân thực của tiến hóa (tái phát sinh) càng được giữ lại nhiều bấy nhiêu nhờ di truyền liên tục. Mặt khác, sự lặp lại này càng kém hoàn chỉnh bao nhiêu, thì sự phát triển giả tạo về sau (tân phát sinh) càng đạt được nhiều bấy nhiêu qua các thích nghi biến đổi. |
|
This shows us that every living creature and thing on Earth, including man, evolved from one common primal form. Physical man must have passed through the same stages of the evolutionary process in the various modes of procreation as other animals have done; he must have divided himself; then, hermaphrodite, have given birth parthenogenetically (on the immaculate principle) to his young ones; the next stage would be the oviparous—at first “without any fructifying element,” then “with the help of the fertilitary spore”; and only after the final and definite evolution of both sexes, would he become a distinct “male and female,” when reproduction through sexual union would grow into universal law. So far, all this is scientifically proven. There remains but one thing to be ascertained; viz., the plain and comprehensively described processes of such ante-sexual reproduction. This is done in the Occult books, a slight outline of which has been attempted by the writer in Part I of this Volume. |
Điều này cho chúng ta thấy rằng mọi sinh vật và mọi vật sống trên Trái Đất, kể cả con người, đã tiến hóa từ một hình thức nguyên sơ chung. Con người hồng trần hẳn đã trải qua cùng những giai đoạn của tiến trình tiến hóa trong các phương thức sinh sản khác nhau như các động vật khác đã trải qua; y hẳn đã tự phân đôi; rồi, khi là lưỡng tính, đã sinh ra con cái theo lối sinh sản đơn tính (theo nguyên lý vô nhiễm); giai đoạn kế tiếp sẽ là đẻ trứng—thoạt đầu “không có bất cứ yếu tố thụ tinh nào,” rồi “với sự trợ giúp của bào tử thụ tinh”; và chỉ sau sự tiến hóa cuối cùng và xác định của cả hai giới, y mới trở thành một “nam và nữ” riêng biệt, khi sinh sản qua kết hợp tính dục sẽ phát triển thành định luật phổ quát. Cho đến đây, tất cả điều này đã được khoa học chứng minh. Chỉ còn lại một điều cần xác định; tức là các tiến trình được mô tả rõ ràng và toàn diện của sự sinh sản tiền-tính-dục ấy. Điều này được thực hiện trong các sách Huyền bí, mà tác giả đã cố gắng đưa ra một phác thảo nhẹ trong Phần I của Quyển này. |
|
Either this, or—man is a distinct being. Occult Philosophy may call him that, because of his distinctly dual nature. Science cannot do so, once that it rejects every interference save mechanical laws, and admits of no principle outside Matter. The former—Archaic Science—allows the human physical frame to have passed through every form, from the lowest to the very highest, its present one, or from the simple to the complex—to use the accepted terms. But it claims that in this Cycle, the Fourth, the frame having already existed among the types and models of Nature from the preceding Rounds—it was quite ready for man from the beginning of this Round. 1574 The Monad had but to step into the Astral Body of the Progenitors, in order that the work of physical consolidation should begin around the shadowy prototype. 1575 |
Hoặc là điều này, hoặc—con người là một sinh thể riêng biệt. Triết học Huyền bí có thể gọi y như thế, vì bản chất kép rõ rệt của y. Khoa học không thể làm như vậy, một khi nó bác bỏ mọi sự can thiệp ngoại trừ các định luật cơ học, và không thừa nhận nguyên khí nào bên ngoài Vật chất. Khoa học trước—Khoa học Cổ sơ—thừa nhận rằng khung thể hồng trần của con người đã trải qua mọi hình thức, từ thấp nhất đến cao nhất, hình thức hiện tại của nó, hay từ đơn giản đến phức tạp—dùng các thuật ngữ được chấp nhận. Nhưng nó khẳng định rằng trong Chu kỳ này, Chu kỳ Thứ tư, khung thể ấy, vì đã hiện hữu trong số các kiểu mẫu và mô hình của Thiên nhiên từ các Cuộc tuần hoàn trước—đã hoàn toàn sẵn sàng cho con người ngay từ đầu Cuộc tuần hoàn này. Chân thần chỉ cần bước vào thể tinh tú của các Tổ tiên, để công việc cô kết hồng trần bắt đầu quanh nguyên mẫu mờ bóng. |
|
What would Science say to this? It would answer, of course, that as man appeared on Earth as the latest of the mammalians, he had no need, any more than these mammals, to pass through the primitive stages of procreation as above described. His mode of procreation was already established on Earth when he appeared. In this case, we may reply: Since to this day not the remotest sign of a link between man and the animal has yet been found, then (if the Occult Doctrine is to be repudiated) he must have sprung miraculously in Nature, like a fully armed Minerva from Jupiter’s brain; and in such case the Bible is right, along with other national “revelations.” Hence the scientific scorn, so freely lavished by the author of A Modern Zoroastrian upon ancient philosophies and exoteric creeds, becomes premature and uncalled for. Nor would the sudden discovery of a “missing-link”-like fossil mend matters at all. For neither one such solitary specimen nor the scientific inductions therefrom, could insure its being the long-sought-for relic, i.e., that of an undeveloped, still a once-speaking, Man. Something more would be required as a final proof. Besides this, even Genesis takes up man, her Adam of dust, only where the Secret Doctrine leaves her “Sons of God and Wisdom” and picks up the physical man of the Third Race. Eve is not “begotten,” but is extracted out of Adam in the manner of “Amœba A,” contracting in the middle and splitting into Amœba B—by division. 1576 |
Khoa học sẽ nói gì về điều này? Dĩ nhiên, nó sẽ trả lời rằng vì con người xuất hiện trên Trái Đất như loài có vú muộn nhất, y không cần, cũng như các loài có vú này, phải trải qua các giai đoạn sinh sản nguyên thủy như đã mô tả trên. Phương thức sinh sản của y đã được thiết lập trên Trái Đất khi y xuất hiện. Trong trường hợp này, chúng ta có thể đáp lại: Vì cho đến ngày nay vẫn chưa tìm thấy dấu hiệu xa xôi nhất của một mắt xích giữa con người và động vật, nên khi đó, nếu Giáo lý Huyền bí bị bác bỏ, y hẳn đã phát sinh một cách kỳ diệu trong Thiên nhiên, như Minerva đầy đủ vũ trang từ bộ não của Jupiter; và trong trường hợp ấy, Kinh thánh là đúng, cùng với các “mặc khải” dân tộc khác. Do đó, sự khinh miệt khoa học mà tác giả của Một Người Zoroaster Hiện Đại phóng khoáng trút lên các triết học cổ và tín ngưỡng ngoại môn trở nên quá sớm và không cần thiết. Cả việc đột ngột phát hiện một hóa thạch giống như “mắt xích còn thiếu” cũng chẳng cải thiện được vấn đề chút nào. Vì không một mẫu đơn độc nào như thế, cũng như các suy luận khoa học từ đó, có thể bảo đảm rằng nó là di tích được tìm kiếm từ lâu, tức là di tích của một Con Người chưa phát triển, nhưng vẫn từng biết nói. Cần một điều gì đó hơn nữa làm bằng chứng cuối cùng. Ngoài ra, ngay cả Sáng Thế Ký cũng chỉ tiếp nhận con người, Adam bằng bụi đất của nó, ở điểm mà Giáo Lý Bí Nhiệm rời các “Con của Thượng đế và Minh triết” của mình và tiếp nhận con người hồng trần của Giống dân Thứ ba. Eve không “được sinh ra,” mà được rút ra từ Adam theo cách của “Amœba A,” co lại ở giữa và tách thành Amœba B—bằng sự phân đôi. |
|
Nor has human speech developed from the various animal sounds. Hæckel’s theory that “speech arose gradually from a few simple, crude animal sounds,” as such “speech still remains amongst a few races of lowest rank,” 1577 is altogether unsound, as argued by Professor Max Müller, among others. He contends that no plausible explanation has yet been given as to how the “roots” of language came into existence. A human brain is necessary for human speech. And figures relating to the size of the respective brains of man and ape show how deep is the gulf which separates the two. Vogt says that the brain of the largest ape, the gorilla, measures no more than 30·51 cubic inches; while the average brains of the flat-headed Australian natives—the lowest now of the human races—amount to 99·35 cubic inches! Figures are awkward witnesses and cannot lie. Therefore, as truly observed by Dr. F. Pfaff, whose premises are as sound and correct as his biblical conclusions are silly: The brain of the apes most like man does not amount to quite a third of the brain of the lowest races of men: it is not half the size of the brain of a new-born child. 1578 |
Ngôn ngữ con người cũng không phát triển từ các âm thanh động vật khác nhau. Lý thuyết của Hæckel rằng “ngôn ngữ dần dần phát sinh từ một vài âm thanh động vật đơn giản, thô sơ,” vì “ngôn ngữ như thế vẫn còn tồn tại nơi một vài nhân loại thuộc bậc thấp nhất,” là hoàn toàn không vững, như Giáo sư Max Müller, cùng những người khác, đã lập luận. Ông cho rằng chưa có lời giải thích hợp lý nào được đưa ra về cách các “căn” của ngôn ngữ đi vào hiện hữu. Một bộ não người là cần thiết cho ngôn ngữ người. Và các con số liên quan đến kích thước tương ứng của bộ não người và vượn cho thấy vực sâu phân cách hai bên lớn đến mức nào. Vogt nói rằng bộ não của loài vượn lớn nhất, khỉ đột, đo được không quá 30,51 inch khối; trong khi bộ não trung bình của thổ dân Úc đầu dẹt—hiện là thấp nhất trong các nhân loại—lên đến 99,35 inch khối! Các con số là nhân chứng khó chịu và không thể nói dối. Vì vậy, như Tiến sĩ F. Pfaff đã nhận xét rất đúng, dù các tiền đề của ông vững chắc và chính xác cũng như các kết luận Kinh thánh của ông thì ngớ ngẩn: Bộ não của các loài vượn giống người nhất không bằng một phần ba bộ não của các nhân loại thấp nhất: nó không bằng một nửa kích thước bộ não của một trẻ sơ sinh. |
|
From the foregoing it is thus very easy to perceive that in order to prove the Huxley-Hæckelian theories of the descent of man, it is not one, but a great number of “missing links”—a true ladder of progressive evolutionary steps—that would have to be first found and then presented by Science to thinking and reasoning humanity, before it would abandon belief in Gods and the immortal Soul for the worship of quadrumanic ancestors. Mere myths are now greeted as “axiomatic truths.” Even Alfred Russel Wallace maintains with Hæckel that primitive man was a speechless ape-creature. To this Prof. Joly answers: Man never was, in my opinion, this pithecanthropus alalus whose portrait Hæckel has drawn as if he had seen and known him, whose singular and completely hypothetical genealogy he has even given, from the mere mass of living protoplasm to the man endowed with speech and a civilization analogous to that of the Australians and Papuans. 1579 |
Từ những điều trên, vì thế rất dễ nhận thấy rằng để chứng minh các lý thuyết Huxley-Hæckel về sự xuất thân của con người, trước hết không phải một mà là một số lượng lớn “mắt xích còn thiếu”—một chiếc thang thật sự gồm các bước tiến hóa tiệm tiến—phải được Khoa học tìm thấy rồi trình bày cho nhân loại biết suy tư và biết lý luận, trước khi nhân loại ấy từ bỏ niềm tin vào các Thượng đế và Linh hồn bất tử để sùng bái tổ tiên bốn tay. Những thần thoại đơn thuần nay được chào đón như “chân lý tiên đề.” Ngay cả Alfred Russel Wallace cũng chủ trương cùng với Hæckel rằng con người nguyên thủy là một sinh vật vượn không lời nói. Về điều này Giáo sư Joly trả lời: Theo ý kiến tôi, con người chưa bao giờ là pithecanthropus alalus ấy, chân dung mà Hæckel đã vẽ như thể ông đã thấy và biết y, và ông thậm chí đã đưa ra phả hệ kỳ dị và hoàn toàn giả thuyết của y, từ khối chất nguyên sinh sống đơn thuần đến con người được ban ngôn ngữ và một nền văn minh tương tự nền văn minh của người Úc và Papuan. |
|
Hæckel, among other things, often comes into direct conflict with the “science of languages.” In the course of his attack on Evolutionism 1580 Prof. Max Müller stigmatized the Darwinian theory as “vulnerable at the beginning and at the end.” The fact is, that only the partial truth of many of the secondary “laws” of Darwinism is beyond question—M. de Quatrefages evidently accepting natural selection, the struggle for existence, and transformation within species, as proven not once and for ever, but only pro tempore. But it may not be amiss, perhaps, to condense the linguistic case against the “ape ancestor” theory: Languages have their phases of growth, etc., like all else in Nature. It is almost certain that the great linguistic families pass through three stages. |
Hæckel, giữa những điều khác, thường đi vào xung đột trực tiếp với “khoa học ngôn ngữ.” Trong cuộc công kích của mình nhằm vào thuyết Tiến hóa Giáo sư Max Müller đã đóng dấu lý thuyết Darwin là “dễ bị tổn thương ở đầu và ở cuối.” Sự thật là chỉ chân lý từng phần của nhiều “định luật” thứ yếu của học thuyết Darwin mới không thể nghi ngờ—ông de Quatrefages rõ ràng chấp nhận chọn lọc tự nhiên, cuộc đấu tranh sinh tồn, và chuyển đổi trong phạm vi loài, như đã được chứng minh không phải một lần cho mãi mãi, mà chỉ tạm thời. Nhưng có lẽ không phải là không thích hợp khi cô đọng trường hợp ngôn ngữ học chống lại lý thuyết “tổ tiên vượn”: Các ngôn ngữ có những giai đoạn tăng trưởng của chúng, vân vân, như mọi thứ khác trong Thiên nhiên. Gần như chắc chắn rằng các đại gia đình ngôn ngữ trải qua ba giai đoạn. |
|
(1) All words are roots and are merely placed in juxtaposition (Radical languages). |
(1) Mọi từ đều là căn và chỉ được đặt cạnh nhau (ngôn ngữ căn). |
|
(2) One root defines the other, and becomes merely a determinative element (Agglutinative). |
(2) Một căn xác định căn kia, và chỉ trở thành một yếu tố định định (ngôn ngữ chắp dính). |
|
(3) The determinative element (the determinating meaning of which has long lapsed) unites into a whole with the formative element (Inflected). |
(3) Yếu tố định định, ý nghĩa xác định của nó từ lâu đã mất đi, hợp nhất thành một toàn thể với yếu tố tạo hình (ngôn ngữ biến tố). |
|
The problem then is: Whence these roots? Prof. Max Müller argues that the existence of these ready-made materials of speech is a proof that man cannot be the crown of a long organic series. This potentiality of forming roots is the great crux which Materialists almost invariably avoid. |
Vấn đề khi đó là: Các căn này từ đâu đến? Giáo sư Max Müller lập luận rằng sự hiện hữu của những vật liệu ngôn ngữ làm sẵn này là một bằng chứng rằng con người không thể là đỉnh cao của một chuỗi hữu cơ dài. Tiềm năng tạo thành căn này là mấu chốt lớn mà những người Duy vật hầu như luôn luôn tránh né. |
|
Von Hartmann explains it as a manifestation of the “Unconscious,” and admits its cogency versus mechanical Atheism. Hartmann is a fair representative of the Metaphysician and Idealist of the present age. |
Von Hartmann giải thích nó như một biểu hiện của “Vô thức,” và thừa nhận sức nặng của nó chống lại Chủ nghĩa vô thần cơ học. Hartmann là một đại diện đúng đắn của nhà Siêu hình học và nhà Duy tâm của thời đại hiện nay. |
|
The argument has never been met by the non-pantheistic Evolutionists. To say with Schmidt: “Forsooth we are to halt before the origin of language!”—is an avowal of dogmatism and of speedy defeat. 1581 |
Lập luận này chưa bao giờ được các nhà Tiến hóa không phiếm thần đối đáp. Nói như Schmidt: “Quả thật chúng ta phải dừng lại trước nguồn gốc của ngôn ngữ!”—là một lời thú nhận của chủ nghĩa giáo điều và của thất bại nhanh chóng. |
|
We respect those men of Science who, wise in their generation, say: The Prehistoric Past being utterly beyond our powers of direct observation, we are too honest, too devoted to the truth—or what we regard as truth—to speculate upon the unknown, giving out our unproven theories along with facts absolutely established in Modern Science. |
Chúng tôi kính trọng những nhà Khoa học nào, khôn ngoan trong thế hệ của mình, nói rằng: Quá khứ Tiền sử hoàn toàn vượt ngoài năng lực quan sát trực tiếp của chúng ta, chúng ta quá trung thực, quá tận tụy với chân lý—hay với điều chúng ta xem là chân lý—để suy đoán về điều chưa biết, đưa ra những lý thuyết chưa được chứng minh của chúng ta cùng với các sự kiện đã được xác lập tuyệt đối trong Khoa học Hiện đại. |
|
The borderland of [metaphysical] knowledge is, therefore, best left to time, which is the best test as to truth. 1582 |
Vì vậy, vùng biên của tri thức [siêu hình] tốt nhất nên để cho thời gian, vốn là phép thử tốt nhất đối với chân lý. |
|
This is a wise and an honest sentence in the mouth of a Materialist. But when a Hæckel, after just saying that “historical events of past time,” having “occurred many millions of years ago, 1583… are for ever removed from direct observation,” and that neither Geology nor Phylogeny 1584 can or will “rise to the position of a real ‘exact’ science,” then insists on the development of all organisms— “from the lowest vertebrate to the highest, from amphioxus to man”—we ask for a weightier proof than he can give. Mere “empirical sources of knowledge,” so extolled by the author of Anthropogeny—when he has to be satisfied with the qualification for his own views—are not competent to settle problems lying beyond their domain; nor is it the province of exact Science to place any reliance on them. 1585 If “empirical”—and Hæckel himself declares so repeatedly—then they are no better, nor any more reliable, in the sight of exact research, when extended into the remote past, than are our Occult teachings of the East, both having to be placed on the same level. Nor are his phylogenetic and palingenetic speculations treated any more favourably by the real Scientists, than are our cyclic repetitions of the evolution of the great in the minor races, and the original order of Evolution. For the province of exact, real Science, materialistic though it be, is to carefully avoid anything like guess-work, speculation which cannot be verified; in short, all suppressio veri and all suggestio falsi. The business of the men of exact Science is to observe, each in his chosen department, the phenomena of Nature; to record, tabulate, compare and classify the facts, down to the smallest minutiæ which are presented to the observation of the senses with the help of all the exquisite mechanism that modern invention supplies, not by the aid of metaphysical flights of fancy. All that he has a legitimate right to do, is to correct by the assistance of physical instruments the defects or illusions of his own coarser vision, auditory powers, and other senses. He has no right to trespass on the grounds of Metaphysics and Psychology. His duty is to verify and to rectify all the facts that fall under his direct observation; to profit by the experiences and mistakes of the Past in endeavouring to trace the working of a certain concatenation of cause and effect, which—but only by its constant and unvarying repetition—may be called a Law. This it is which a man of Science is expected to do, if he would become a teacher of men and remain true to his original programme of natural or physical Sciences. Any side path from this royal road becomes speculation. |
Đây là một câu nói khôn ngoan và trung thực nơi miệng một người Duy vật. Nhưng khi một Hæckel, sau khi vừa nói rằng “các biến cố lịch sử của thời quá khứ,” vì đã “xảy ra nhiều triệu năm trước, … mãi mãi bị loại khỏi sự quan sát trực tiếp,” và rằng cả Địa chất học lẫn Phát sinh chủng loại đều không thể và sẽ không “vươn lên vị trí của một khoa học ‘chính xác’ thật sự,” rồi lại khăng khăng về sự phát triển của mọi sinh vật—“từ loài có xương sống thấp nhất đến cao nhất, từ amphioxus đến con người”—chúng tôi đòi một bằng chứng có trọng lượng hơn điều ông có thể đưa ra. Những “nguồn tri thức kinh nghiệm” đơn thuần, được tác giả của Nhân phát học tán dương đến thế—khi ông phải hài lòng với tiêu chuẩn dành cho chính các quan điểm của mình—không đủ thẩm quyền để giải quyết các vấn đề nằm ngoài lãnh vực của chúng; và cũng không phải là chức năng của Khoa học chính xác để đặt bất cứ sự tin cậy nào vào chúng. Nếu chúng là “kinh nghiệm”—và chính Hæckel nhiều lần tuyên bố như thế—thì trong mắt sự nghiên cứu chính xác, khi được kéo dài vào quá khứ xa xôi, chúng không tốt hơn, cũng không đáng tin cậy hơn, so với các giáo huấn Huyền bí của chúng tôi từ phương Đông, cả hai đều phải được đặt trên cùng một bình diện. Những suy đoán phát sinh chủng loại và tái phát sinh của ông cũng không được các Nhà Khoa học chân chính đối xử ưu ái hơn so với các sự lặp lại theo chu kỳ của chúng tôi về sự tiến hóa của cái lớn trong các nhân loại nhỏ, và trật tự nguyên thủy của Tiến hóa. Vì lãnh vực của Khoa học chính xác, chân thực, dù mang tính duy vật, là cẩn thận tránh mọi điều giống như phỏng đoán, suy đoán không thể kiểm chứng; tóm lại, mọi sự che giấu chân lý và mọi sự gợi ý điều sai. Công việc của những nhà Khoa học chính xác là quan sát, mỗi người trong bộ môn đã chọn của mình, các hiện tượng của Thiên nhiên; ghi chép, lập bảng, so sánh và phân loại các sự kiện, đến tận những chi tiết nhỏ nhất được trình ra cho sự quan sát của các giác quan với sự trợ giúp của mọi cơ cấu tinh vi mà phát minh hiện đại cung cấp, chứ không nhờ những chuyến bay tưởng tượng siêu hình. Tất cả những gì y có quyền hợp pháp làm là nhờ sự trợ giúp của các dụng cụ hồng trần mà hiệu chỉnh những khiếm khuyết hoặc ảo tưởng của tầm nhìn thô hơn, năng lực thính giác và các giác quan khác của chính mình. Y không có quyền xâm phạm các lãnh địa của Siêu hình học và Tâm lý học. Bổn phận của y là kiểm chứng và chỉnh sửa tất cả các sự kiện rơi vào sự quan sát trực tiếp của y; lợi dụng các kinh nghiệm và sai lầm của Quá khứ trong nỗ lực truy nguyên sự vận hành của một chuỗi nhân quả nào đó, điều—nhưng chỉ bởi sự lặp lại thường hằng và không biến đổi của nó—có thể được gọi là một Định luật. Đây là điều một nhà Khoa học được trông đợi làm, nếu y muốn trở thành một huấn sư của con người và vẫn trung thành với chương trình nguyên thủy của mình về các Khoa học tự nhiên hay hồng trần. Bất cứ lối rẽ nào khỏi con đường hoàng đạo này đều trở thành suy đoán. |
|
Instead of keeping to this, what does many a so-called man of Science do in these days? He rushes into the domain of pure Metaphysics, while deriding them. He delights in rash conclusions and calls them “a deductive law from the inductive law” of a theory based upon and drawn out of the depths of his own consciousness—that consciousness being perverted by, and honeycombed with, one-sided Materialism. He attempts to explain the “origin” of things, which are yet embosomed only in his own conceptions. He attacks spiritual beliefs and religious traditions millenniums old, and denounces everything, save his own hobbies, as superstition. He suggests theories of the Universe, a cosmogony developed by blind, mechanical forces of Nature alone, far more miraculous and impossible than even one based upon the assumption of fiat lux ex nihilo—and tries to astonish the world by his wild theory; and this theory, being known to emanate from a scientific brain, is taken, on blind faith, as very scientific and as the outcome of Science. |
Thay vì giữ theo điều này, nhiều người tự gọi là nhà Khoa học ngày nay làm gì? Y lao vào lãnh vực của Siêu hình học thuần túy, trong khi chế giễu nó. Y thích thú với những kết luận hấp tấp và gọi chúng là “một định luật diễn dịch từ định luật quy nạp” của một lý thuyết dựa trên và được rút ra từ những chiều sâu của chính tâm thức y—tâm thức ấy bị xuyên tạc bởi, và bị đục khoét bởi, Chủ nghĩa Duy vật một chiều. Y cố gắng giải thích “nguồn gốc” của sự vật, vốn vẫn còn được ấp ủ chỉ trong những quan niệm của riêng y. Y công kích các niềm tin tinh thần và những truyền thống tôn giáo hàng thiên niên kỷ, và lên án mọi thứ, ngoại trừ các sở thích riêng của y, là mê tín. Y đề xuất các lý thuyết về Vũ trụ, một vũ trụ luận được phát triển chỉ bởi các mãnh lực mù quáng, cơ học của Thiên nhiên, còn kỳ diệu và bất khả hơn cả một vũ trụ luận dựa trên giả định “hãy có ánh sáng từ hư vô”—và cố gắng làm thế giới kinh ngạc bằng lý thuyết ngông cuồng của mình; và lý thuyết này, vì được biết là phát ra từ một bộ não khoa học, được chấp nhận, trên đức tin mù quáng, như rất khoa học và như kết quả của Khoa học. |
|
Are these the opponents Occultism should dread? Most decidedly not. For such theories are treated no better by real Science than are our own by empirical Science. Hæckel, hurt in his vanity by du Bois-Reymond, is never tired of publicly complaining of the latter’s onslaught on his fantastic theory of descent. Rhapsodizing on “the exceedingly rich storehouse of empirical evidence,” he calls those “recognized Physiologists” who oppose every speculation of his drawn from the said “storehouse”—ignorant men, and declares: If many men, and among them even some Scientists of repute—hold that the whole of phylogeny is a castle in the air, and genealogical trees [from monkeys?] are empty plays of phantasy, they only in speaking thus demonstrate their ignorance of that wealth of empirical sources of knowledge to which reference has already been made. 1586 |
Đây có phải là những đối thủ mà Huyền bí học phải e sợ không? Chắc chắn là không. Vì những lý thuyết như thế không được Khoa học chân chính đối xử tốt hơn so với các giáo huấn của chúng tôi bởi Khoa học kinh nghiệm. Hæckel, bị du Bois-Reymond làm tổn thương lòng tự phụ, không bao giờ mệt mỏi trong việc công khai than phiền về cuộc tấn công của người sau vào lý thuyết xuất thân kỳ ảo của ông. Khi say sưa nói về “kho tàng bằng chứng kinh nghiệm vô cùng phong phú,” ông gọi những “Nhà Sinh lý học được công nhận” chống lại mọi suy đoán của ông rút ra từ “kho tàng” ấy là những người ngu dốt, và tuyên bố: Nếu nhiều người, và trong số họ thậm chí có vài Nhà Khoa học danh tiếng, cho rằng toàn bộ phát sinh chủng loại là một lâu đài trên không, và các cây phả hệ [từ khỉ chăng?] là những trò chơi rỗng của tưởng tượng, thì khi nói như vậy họ chỉ chứng tỏ sự ngu dốt của mình về sự giàu có của những nguồn tri thức kinh nghiệm mà người ta đã nhắc đến. |
|
We open Webster’s Dictionary and read the definitions of the word “empirical”: Depending upon experience or observation alone, without due regard to modern science and theory. |
Chúng tôi mở Từ điển Webster và đọc các định nghĩa của từ “kinh nghiệm”: Dựa vào kinh nghiệm hoặc quan sát đơn thuần, không quan tâm đúng mức đến khoa học và lý thuyết hiện đại. |
|
This applies to the Occultists, Spiritualists, Mystics, etc. Again: An empiric; one who confines himself to applying the results of his own observations only [which is Hæckel’s case]; one wanting science… an ignorant and unlicensed practitioner; a quack; a charlatan. |
Điều này áp dụng cho các nhà Huyền bí học, nhà thần linh học, nhà thần bí, vân vân. Lại nữa: Một người theo kinh nghiệm; người chỉ giới hạn mình vào việc áp dụng các kết quả của những quan sát riêng của mình [đó là trường hợp của Hæckel]; một người thiếu khoa học… một hành nghề viên ngu dốt và không có giấy phép; một lang băm; một kẻ bịp bợm. |
|
No Occultist or “Magician,” has ever been treated to any worse epithets. Yet the Occultist remains on his own metaphysical grounds, and does not endeavour to rank his knowledge, the fruits of his personal observation and experience, among the exact Sciences of modern learning. He keeps within his legitimate sphere, where he is master. But what is one to think of a rank Materialist, whose duty is clearly traced before him, who uses such an expression as this: The origin of man from other mammals, and most directly from the catarrhine ape, is a deductive law, that follows necessarily from the inductive law of the Theory of Descent. 1587 |
Không một nhà Huyền bí học hay “nhà huyền thuật” nào từng bị đối xử bằng những biệt danh tệ hơn. Tuy nhiên, nhà Huyền bí học vẫn ở trên nền tảng siêu hình của chính mình, và không cố gắng xếp tri thức của y, những thành quả của quan sát và kinh nghiệm cá nhân của y, vào trong các Khoa học chính xác của học thuật hiện đại. Y ở trong phạm vi hợp pháp của mình, nơi y là chủ. Nhưng người ta phải nghĩ gì về một người Duy vật hạng nặng, bổn phận của y đã được vạch rõ trước mặt, lại dùng một cách diễn đạt như thế này: Nguồn gốc của con người từ các loài có vú khác, và trực tiếp nhất từ vượn mũi hẹp, là một định luật diễn dịch, tất yếu theo sau định luật quy nạp của Lý thuyết Xuất thân. |
|
A “theory” is simply a hypothesis, a speculation, and not a law. To say otherwise is one of the many liberties taken now-a-days by Scientists. They enunciate an absurdity, and then hide it behind the shield of Science. A deduction from theoretical speculation is nothing more than a speculation on a speculation. Sir William Hamilton has already shown that the word theory is now used In a very loose and improper sense… that it is convertible into hypothesis, and hypothesis is commonly used as another term for conjecture, whereas the terms “theory”and “theoretical” are properly used in opposition to the terms practice and practical. |
Một “lý thuyết” chỉ đơn giản là một giả thuyết, một suy đoán, chứ không phải một định luật. Nói khác đi là một trong nhiều sự tự do mà các Nhà Khoa học ngày nay tự cho phép. Họ nêu ra một điều phi lý, rồi che giấu nó sau tấm khiên của Khoa học. Một suy diễn từ suy đoán lý thuyết chẳng là gì hơn một suy đoán trên một suy đoán. Ngài William Hamilton đã từng chỉ ra rằng từ lý thuyết hiện nay được dùng theo một nghĩa rất lỏng lẻo và không thích đáng… rằng nó có thể hoán đổi với giả thuyết, và giả thuyết thường được dùng như một thuật ngữ khác cho phỏng đoán, trong khi các thuật ngữ “lý thuyết” và “mang tính lý thuyết” đúng ra được dùng đối lập với các thuật ngữ thực hành và thực tiễn. |
|
But Modern Science puts an extinguisher on the latter statement, and mocks at the idea. Materialistic Philosophers and Idealists of Europe and America may be agreed with the Evolutionists as to the physical origin of man, yet it will never become a general truth with the true Metaphysician; and the latter defies the Materialists to make good their arbitrary assumptions. That the ape-theory theme 1588 of Vogt and Darwin, on which the Huxley-Hæckelians have of late composed such extraordinary variations, is far less scientific—because clashing with the fundamental laws of that theme itself—than ours can ever be shown to be, is very easy of demonstration. Let the reader only turn to the excellent work on Human Species by the great French Naturalist de Quatrefages, and our statement will at once be verified. |
Nhưng Khoa học Hiện đại dập tắt phát biểu sau cùng ấy và chế giễu ý tưởng đó. Các Triết gia Duy vật và các nhà Duy tâm của châu Âu và châu Mỹ có thể đồng ý với các nhà Tiến hóa về nguồn gốc hồng trần của con người, nhưng điều ấy sẽ không bao giờ trở thành một chân lý phổ quát đối với nhà Siêu hình học chân chính; và người sau thách thức các nhà Duy vật chứng minh các giả định tùy tiện của họ. Rằng chủ đề lý thuyết vượn của Vogt và Darwin, trên đó những người Huxley-Hæckel gần đây đã soạn ra những biến tấu phi thường đến thế, kém khoa học hơn nhiều—vì xung đột với các định luật căn bản của chính chủ đề ấy—so với học thuyết của chúng tôi, là điều rất dễ chứng minh. Độc giả chỉ cần quay sang tác phẩm xuất sắc về Loài Người của nhà Tự nhiên học Pháp vĩ đại de Quatrefages, và lời khẳng định của chúng tôi sẽ lập tức được xác minh. |
|
Moreover, between the Esoteric teaching concerning the Origin of Man and Darwin’s speculations, no man, unless he is a rank Materialist, will hesitate. This is the description given by Mr. Darwin of “the early progenitors of man.” |
Hơn nữa, giữa giáo huấn Nội môn về Nguồn gốc Con người và các suy đoán của Darwin, không ai, trừ khi là một người Duy vật hạng nặng, sẽ do dự. Đây là mô tả do ông Darwin đưa ra về “các tổ tiên sơ khai của con người.” |
|
They must have been once covered with hair, both sexes having beards; their ears were probably pointed and capable of movement; and their bodies were provided with a tail, having the proper muscles. Their limbs and bodies were also acted on by many muscles which now only occasionally reappear, but are normally present in the Quadrumana…. The foot was then prehensile, judging from the condition of the great toe in the fœtus; and our progenitors, no doubt, were arboreal in their habits, and frequented some warm forest-clad land. The males had great canine teeth, which served them as formidable weapons. 1589 |
Họ hẳn từng được phủ lông, cả hai giới đều có râu; tai của họ có lẽ nhọn và có thể cử động; và thân thể họ được cung cấp một cái đuôi, có các cơ thích hợp. Các chi và thân thể của họ cũng chịu tác động của nhiều cơ nay chỉ thỉnh thoảng mới xuất hiện lại, nhưng hiện diện bình thường nơi các loài bốn tay…. Khi ấy bàn chân có thể nắm bắt, xét theo tình trạng của ngón chân cái trong bào thai; và tổ tiên của chúng ta, không nghi ngờ gì, có tập tính sống trên cây, và thường lui tới một vùng đất ấm áp phủ rừng. Con đực có những răng nanh lớn, phục vụ như vũ khí đáng sợ. |
|
Darwin connects man with the type of the tailed catarrhines: And consequently removes him a stage backward in the scale of evolution. The English naturalist is not satisfied to take his stand upon the ground of his own doctrines, and, like Hæckel, on this point places himself in direct variance with one of the fundamental laws which constitute the principal charm of Darwinism. |
Darwin nối kết con người với kiểu vượn mũi hẹp có đuôi: Và do đó đẩy y lùi một bậc trong thang tiến hóa. Nhà tự nhiên học Anh không hài lòng khi đứng trên nền tảng các học thuyết của chính mình, và, giống Hæckel, ở điểm này tự đặt mình vào sự mâu thuẫn trực tiếp với một trong những định luật căn bản tạo nên sức hấp dẫn chính của học thuyết Darwin. |
|
And then the learned French Naturalist proceeds to show how this fundamental law is broken. He says: In fact, in the theory of Darwin, transmutations do not take place, either by chance or in every direction. They are ruled by certain laws which are due to the organization itself. If an organism is once modified in a given direction, it can undergo secondary or tertiary transmutations, but will still preserve the impress of the original. It is the law of permanent characterization, which alone permits Darwin to explain the filiation of groups, their characteristics, and their numerous relations. It is by virtue of this law that all the descendants of the first mollusc have been molluscs; all the descendants of the first vertebrate have been vertebrates. It is clear that this constitutes one of the foundations of the doctrine. It follows that two beings belonging to two distinct types can be referred to a common ancestor, but the one cannot be the descendant of the other. |
Rồi nhà Tự nhiên học Pháp uyên bác tiếp tục chỉ ra định luật căn bản này bị phá vỡ như thế nào. Ông nói: Thật vậy, trong lý thuyết của Darwin, các sự chuyển hóa không diễn ra do ngẫu nhiên hoặc theo mọi hướng. Chúng được cai quản bởi những định luật nhất định do chính tổ chức tạo ra. Nếu một sinh vật một khi đã biến đổi theo một hướng nhất định, nó có thể trải qua các chuyển hóa thứ cấp hoặc tam cấp, nhưng vẫn sẽ giữ dấu ấn của cái nguyên thủy. Đó là định luật đặc trưng hóa thường tồn, chỉ riêng nó cho phép Darwin giải thích sự nối dòng của các nhóm, các đặc tính của chúng, và vô số quan hệ của chúng. Chính nhờ định luật này mà tất cả hậu duệ của loài thân mềm đầu tiên đã là thân mềm; tất cả hậu duệ của loài có xương sống đầu tiên đã là loài có xương sống. Rõ ràng điều này tạo thành một trong những nền tảng của học thuyết. Từ đó suy ra rằng hai sinh thể thuộc hai kiểu khác biệt có thể được quy về một tổ tiên chung, nhưng sinh thể này không thể là hậu duệ của sinh thể kia. |
|
Now man and apes present a very striking contrast in respect to type. Their organs… correspond almost exactly term for term: but these organs are arranged after a very different plan. In man they are so arranged that he is essentially a walker, while in apes they necessitate his being a climber…. There is here an anatomical and mechanical distinction…. A glance at the page where Huxley has figured side by side a human skeleton and the skeletons of the most highly developed apes is a sufficiently convincing proof. |
Nay con người và vượn biểu hiện một sự tương phản rất nổi bật về mặt kiểu loại. Các cơ quan của chúng… tương ứng gần như chính xác từng điểm một: nhưng các cơ quan này được sắp xếp theo một kế hoạch rất khác. Nơi con người, chúng được sắp xếp sao cho y về bản chất là một sinh vật đi bộ, trong khi nơi vượn, chúng khiến nó tất yếu là một sinh vật leo trèo…. Ở đây có một sự phân biệt giải phẫu và cơ học…. Chỉ cần liếc nhìn trang nơi Huxley đã vẽ cạnh nhau một bộ xương người và các bộ xương của những loài vượn phát triển cao nhất cũng là một bằng chứng đủ sức thuyết phục. |
|
The consequence of these facts, from the point of view of the logical application of the law of permanent characterizations, is that man cannot be descended from an ancestor who is already characterized as an ape, any more than a catarrhine tailless ape can be descended from a tailed catarrhine. A walking animal cannot be descended from a climbing one. This was clearly understood by Vogt. |
Hệ quả của những sự kiện này, từ quan điểm áp dụng hợp lý định luật các đặc trưng hóa thường tồn, là con người không thể xuất thân từ một tổ tiên đã được đặc trưng như vượn, cũng như một con vượn mũi hẹp không đuôi không thể xuất thân từ một con vượn mũi hẹp có đuôi. Một động vật đi bộ không thể xuất thân từ một động vật leo trèo. Vogt đã thấu hiểu rõ điều này. |
|
In placing man among the primates, he declares without hesitation that the lowest class of apes have passed the landmark (the common ancestor), from which the different types of this family have originated and diverged. [This ancestor of the apes, Occult Science sees in the lowest human group during the Atlantean period, as shown before.] We must, then, place the origin of man beyond the last ape [corroborating our doctrine], if we wish to adhere to one of the laws most emphatically necessary to the Darwinian theory. We then come to the prosimiæ of Hæckel, the loris, indris, etc. But these animals also are climbers; we must go further, therefore, in search of our first direct ancestor. But the genealogy by Hæckel brings us from the latter to the marsupials. From men to the kangaroo the distance is certainly great. Now neither living nor extinct fauna show the intermediate types which ought to serve as landmarks. This difficulty causes but slight embarrassment to Darwin. 1590 We know that he considers the want of information upon similar questions as a proof in his favour. Hæckel doubtless is as little embarrassed. He admits the existence of an absolutely theoretical pithecoid man. |
Khi đặt con người trong số các loài linh trưởng, ông tuyên bố không do dự rằng lớp vượn thấp nhất đã vượt qua mốc giới, tổ tiên chung, từ đó các kiểu khác nhau của họ này đã phát sinh và phân kỳ. [Tổ tiên này của vượn, Khoa học Huyền bí thấy nơi nhóm người thấp nhất trong thời kỳ Atlantis, như đã trình bày trước đây.] Vậy thì, chúng ta phải đặt nguồn gốc của con người vượt ngoài loài vượn sau cùng [xác nhận giáo lý của chúng tôi], nếu chúng ta muốn bám vào một trong những định luật được nhấn mạnh là cần thiết nhất đối với lý thuyết Darwin. Khi ấy chúng ta đến với prosimiæ của Hæckel, loris, indris, vân vân. Nhưng các động vật này cũng là loài leo trèo; vì vậy, chúng ta phải đi xa hơn nữa để tìm tổ tiên trực tiếp đầu tiên của mình. Nhưng phả hệ của Hæckel đưa chúng ta từ loài sau này đến các loài thú có túi. Từ con người đến kangaroo, khoảng cách chắc chắn rất lớn. Nay cả hệ động vật sống lẫn đã tuyệt chủng đều không cho thấy các kiểu trung gian vốn phải dùng làm mốc giới. Khó khăn này chỉ gây chút ít bối rối cho Darwin. Chúng ta biết rằng ông xem sự thiếu thông tin về những câu hỏi tương tự như một bằng chứng có lợi cho mình. Hæckel chắc chắn cũng ít bối rối như vậy. Ông thừa nhận sự hiện hữu của một người dạng vượn hoàn toàn lý thuyết. |
|
Thus, since it has been proved that, according to Darwinism itself, the origin of man must be placed beyond the eighteenth stage, and since it becomes, in consequence, necessary to fill up the gap between marsupials and man, will Hæckel admit the existence of four unknown intermediate groups instead of one? Will he complete his genealogy in this manner? It is not for me to answer. 1591 |
Như vậy, vì đã được chứng minh rằng, theo chính học thuyết Darwin, nguồn gốc của con người phải được đặt vượt ngoài giai đoạn thứ mười tám, và vì do đó trở nên cần thiết phải lấp đầy khoảng trống giữa thú có túi và con người, liệu Hæckel có thừa nhận sự hiện hữu của bốn nhóm trung gian chưa biết thay vì một không? Liệu ông sẽ hoàn tất phả hệ của mình theo cách này không? Không phải tôi trả lời điều đó. |
|
But see Hæckel’s famous genealogy, in The Pedigree of Man, called by him the “Ancestral Series of Man.” In the “Second Division” (eighteenth stage) he describes— Prosimiæ, allied to the Loris (Stenops) and Makis (Lemur), without marsupial bones and cloaca, with placenta. 1592 |
Nhưng hãy xem phả hệ nổi tiếng của Hæckel, trong Phả Hệ Con Người, được ông gọi là “Chuỗi Tổ Tiên của Con Người.” Trong “Phân bộ Thứ hai” (giai đoạn thứ mười tám), ông mô tả—Prosimiæ, có liên hệ với Loris (Stenops) và Makis (Lemur), không có xương túi và ổ nhớp, có nhau thai. |
|
And now turn to de Quatrefages’ The Human Species, 1593 and see his proofs, based on the latest discoveries, to show that the Prosimiæ of Hæckel have no decidua and a diffuse placenta. They cannot be the ancestors of the apes even, let alone man, according to a fundamental law of Darwin himself, as the great French Naturalist shows. But this does not dismay the “animal theorists” in the least, for self-contradiction and paradoxes are the very soul of modern Darwinism. Witness—Mr. Huxley; having himself shown, with regard to fossil man and the “missing link,” that: Neither in Quaternary ages nor at the present time does any intermediary being fill the gap which separates man from the Troglodyte; and that to “deny the existence of this gap would be as reprehensible as absurd,” the great man of Science denies his own words in actu by supporting with all the weight of his scientific authority that most “absurd” of all theories—the descent of man from an ape! |
Và nay hãy quay sang Loài Người của de Quatrefages, và xem các bằng chứng của ông, dựa trên những phát hiện mới nhất, để cho thấy rằng Prosimiæ của Hæckel không có màng rụng và có nhau thai lan tỏa. Theo một định luật căn bản của chính Darwin, chúng không thể là tổ tiên ngay cả của loài vượn, huống hồ con người, như nhà Tự nhiên học Pháp vĩ đại chỉ ra. Nhưng điều này chẳng làm các “nhà lý thuyết động vật” nản lòng chút nào, vì tự mâu thuẫn và nghịch lý chính là linh hồn của học thuyết Darwin hiện đại. Hãy chứng kiến—ông Huxley; chính ông đã cho thấy, liên quan đến người hóa thạch và “mắt xích còn thiếu,” rằng: Không trong các thời đại Đệ Tứ cũng không ở hiện tại, có sinh thể trung gian nào lấp đầy khoảng trống phân cách con người với Troglodyte; và rằng “phủ nhận sự hiện hữu của khoảng trống này sẽ đáng chê trách cũng như phi lý,” nhà Khoa học vĩ đại ấy lại phủ nhận chính lời mình bằng hành động khi dùng toàn bộ trọng lượng thẩm quyền khoa học của mình để ủng hộ lý thuyết phi lý nhất trong tất cả—sự xuất thân của con người từ vượn! |
|
Says de Quatrefages: |
De Quatrefages nói: |
|
This genealogy is wrong throughout, and is founded on a material error. |
Phả hệ này sai từ đầu đến cuối, và được xây trên một sai lầm thực chất. |
|
Indeed, Hæckel bases his descent of man on the seventeenth and eighteenth stages, the Marsupialia and Prosimiæ—(genus Hæckelii?). Applying the latter term to the Lemuridæ—hence making of them animals with a placenta—he commits a zoological blunder. For after having himself divided mammals according to their anatomical differences into two groups—the indeciduata, which have no decidua (or special membrane uniting the placentæ), and the deciduata, those who possess it—he includes the Prosimiæ in the latter group. Now we have shown elsewhere what other men of Science had to say to this. As de Quatrefages says: The anatomical investigations of… Milne Edwards and Grandidier upon the animals… place it beyond all doubt that the Prosimiæ of Hæckel have no decidua and a diffuse placenta. They are indeciduata. Far from any possibility of their being the ancestors of the apes, according to the principles laid down by Hæckel himself, they cannot even be regarded as the ancestors of the zonoplacental mammals… and ought to be connected with the Pachydermata, the Edentata, and the Cetacea. 1594 |
Thật vậy, Hæckel đặt nền tảng sự xuất thân của con người trên các giai đoạn thứ mười bảy và mười tám, Marsupialia và Prosimiæ—(giống Hæckelii chăng?). Khi áp dụng thuật ngữ sau cho Lemuridæ—do đó biến chúng thành động vật có nhau thai—ông phạm một sai lầm động vật học. Vì sau khi chính ông đã chia các loài có vú theo những khác biệt giải phẫu của chúng thành hai nhóm—indeciduata, không có màng rụng (hay màng đặc biệt nối các nhau thai), và deciduata, những loài sở hữu nó—ông lại bao gồm Prosimiæ trong nhóm sau. Nay chúng ta đã trình bày ở nơi khác những gì các nhà Khoa học khác đã nói về điều này. Như de Quatrefages nói: Các khảo cứu giải phẫu của… Milne Edwards và Grandidier về các động vật ấy… đặt điều đó vượt ngoài mọi nghi ngờ rằng Prosimiæ của Hæckel không có màng rụng và có nhau thai lan tỏa. Chúng là indeciduata. Không những không có bất cứ khả năng nào để chúng là tổ tiên của vượn, theo các nguyên tắc do chính Hæckel đặt ra, chúng thậm chí không thể được xem là tổ tiên của các loài có vú nhau thai vòng… và phải được nối kết với Pachydermata, Edentata và Cetacea. |
|
And yet Hæckel’s inventions pass with some as exact Science! |
Thế mà các phát minh của Hæckel vẫn được một số người xem là Khoa học chính xác! |
|
The above mistake, if indeed it be one, is not even hinted at in Hæckel’s Pedigree of Man, translated by Aveling. If the excuse may stand good that at the time the famous “genealogies” were made, “the embryogenesis of the Prosimiæ was not known,” it is familiar now. We shall see whether the next edition of Aveling’s translation will have this important error rectified, or if the seventeenth and eighteenth stages will remain as they are to blind the profane, as one of the real intermediate links. But, as the French Naturalist observes: Their [Darwin’s and Hæckel’s] process is always the same, considering the unknown as a proof in favour of their theory. |
Sai lầm trên, nếu quả thật là một sai lầm, thậm chí không được gợi ý trong Phả Hệ Con Người của Hæckel, bản dịch của Aveling. Nếu lời bào chữa có thể đứng vững rằng vào thời điểm các “phả hệ” nổi tiếng được lập ra, “sự phát sinh phôi của Prosimiæ chưa được biết,” thì nay điều đó đã quen thuộc. Chúng ta sẽ xem liệu ấn bản kế tiếp của bản dịch Aveling có sửa chữa sai lầm quan trọng này hay không, hoặc liệu các giai đoạn thứ mười bảy và mười tám sẽ vẫn giữ nguyên như chúng đang là để làm mù mắt kẻ phàm tục, như một trong các mắt xích trung gian thật sự. Nhưng, như nhà Tự nhiên học Pháp nhận xét: Tiến trình của họ [Darwin và Hæckel] luôn luôn giống nhau, xem điều chưa biết như một bằng chứng có lợi cho lý thuyết của họ. |
|
It comes to this. Grant to man an immortal Spirit and Soul; endow the whole animate and inanimate creation with the monadic principle gradually evolving from latent and passive into active and positive polarity—and Hæckel will not have a leg to stand upon, whatever his admirers may say. |
Sự việc quy về điều này. Hãy thừa nhận nơi con người một Tinh thần và Linh hồn bất tử; hãy phú cho toàn thể tạo vật hữu sinh và vô sinh nguyên khí chân thần, vốn dần dần tiến hoá từ trạng thái tiềm tàng và thụ động sang sự phân cực hoạt động và tích cực—và Hæckel sẽ không còn chỗ đứng, bất kể những người ngưỡng mộ ông có thể nói gì. |
|
But there are important divergencies even between Darwin and Hæckel. While the former makes us proceed from the tailed catarrhine, Hæckel traces our hypothetical ancestor to the tailless ape, though, at the same time, he places him in a hypothetical “stage” immediately preceding this—Menocerca with tails (nineteenth stage). |
Nhưng ngay cả giữa Darwin và Hæckel cũng có những dị biệt quan trọng. Trong khi người trước khiến chúng ta xuất phát từ loài catarrhine có đuôi, Hæckel truy nguyên tổ tiên giả định của chúng ta đến loài vượn không đuôi, mặc dù, đồng thời, ông đặt y vào một “giai đoạn” giả định ngay trước đó—Menocerca có đuôi, tức giai đoạn thứ mười chín. |
|
Nevertheless, we have one thing in common with the Darwinian school, that is the law of gradual and extremely slow Evolution, embracing many million years. The chief quarrel, it appears, is with regard to the nature of the primitive “ancestor.” We shall be told that the Dhyân Chohan, or the “progenitor” of Manu, is a hypothetical being unknown on the physical plane. We reply that it was believed in by the whole of Antiquity, and is by nine-tenths of the present humanity; whereas not only is the pithecoid man, or ape-man, a purely hypothetical creature of Hæckel’s creation, unknown and untraceable on this Earth, but further its genealogy—as invented by him—clashes with scientific facts and all the known data of modern discovery in Zoology. It is simply absurd, even as a fiction. As de Quatrefages demonstrates in a few words, Hæckel “admits the existence of an absolutely theoretical pithecoid man”—a hundred times more difficult to accept than any Deva ancestor. And it is not the only instance in which he proceeds in a similar manner in order to complete his genealogical table. In fact he very naively admits his inventions himself. Does he not confess the non-existence of his Sozura (fourteenth stage)—a creature entirely unknown to Science—by confessing over his own signature, that: The proof of its existence arises from the necessity of an intermediate type between the thirteenth and the fourteenth stages[!]. |
Tuy nhiên, chúng ta có một điều chung với trường phái Darwin, đó là định luật tiến hoá tiệm tiến và cực kỳ chậm chạp, bao trùm nhiều triệu năm. Cuộc tranh luận chính, dường như, liên quan đến bản chất của “tổ tiên” nguyên thủy. Người ta sẽ nói với chúng ta rằng Dhyân Chohan, hay “tổ phụ” của Đức Manu, là một hữu thể giả định không được biết đến trên cõi hồng trần. Chúng tôi đáp rằng toàn thể Cổ đại đã tin vào hữu thể ấy, và chín phần mười nhân loại hiện nay cũng tin như vậy; trong khi đó, không những người dạng vượn, hay người-vượn, chỉ là một sinh vật thuần giả định do Hæckel tạo ra, không được biết đến và không thể truy nguyên trên Trái Đất này, mà hơn nữa phả hệ của nó—như ông bịa ra—còn xung đột với các sự kiện khoa học và mọi dữ liệu đã biết của các khám phá hiện đại trong Động vật học. Nó đơn giản là phi lý, ngay cả như một hư cấu. Như de Quatrefages chứng minh chỉ trong vài lời, Hæckel “thừa nhận sự tồn tại của một người dạng vượn hoàn toàn lý thuyết”—khó chấp nhận hơn bất cứ tổ tiên Deva nào đến cả trăm lần. Và đó không phải là trường hợp duy nhất trong đó ông tiến hành theo cách tương tự nhằm hoàn tất bảng phả hệ của mình. Thật ra, chính ông thừa nhận rất ngây thơ các phát minh của mình. Chẳng phải ông thú nhận sự không tồn tại của Sozura của ông, tức giai đoạn thứ mười bốn—một sinh vật hoàn toàn không được Khoa học biết đến—khi chính tay ký nhận rằng: Bằng chứng về sự tồn tại của nó phát sinh từ sự cần thiết phải có một loại trung gian giữa giai đoạn thứ mười ba và thứ mười bốn đó sao[!]. |
|
If so, we might maintain with as much scientific right, that the proof of the existence of our three ethereal Races, and of the three-eyed men of the Third and Fourth Root-Races, “arises also from the necessity of an intermediate type” between the animal and the Gods. What reason would the Hæckelians have to protest in this special case? |
Nếu vậy, với cùng quyền khoa học như thế, chúng tôi có thể khẳng định rằng bằng chứng về sự tồn tại của ba Nhân loại dĩ thái của chúng tôi, và của những người ba mắt thuộc Giống dân gốc thứ Ba và thứ Tư, “cũng phát sinh từ sự cần thiết phải có một loại trung gian” giữa loài vật và các Thần linh. Những người theo Hæckel sẽ có lý do gì để phản đối trong trường hợp đặc biệt này? |
|
Of course there is a ready answer: Because we do not grant the presence of the Monadic Essence. The manifestation of the Logos as individual consciousness in the animal and human creation is not accepted by exact Science, nor does it cover the whole ground, of course. But the failures of Science and its arbitrary assumptions are far greater on the whole than any “extravagant” Esoteric doctrine can ever furnish. 1595 Even thinkers of the school of Von Hartmann have become tainted with the general epidemic. They accept the Darwinian Anthropology (more or less), though they also postulate the individual Ego as a manifestation of the Unconscious (the Western presentation of the Logos or Primeval Divine Thought). They say the evolution of the physical man is from the animal, but that mind in its various phases is altogether a thing apart from material facts, though organism, as a Upâdhi, is necessary for its manifestation. |
Dĩ nhiên có một câu trả lời sẵn: Bởi vì chúng tôi không thừa nhận sự hiện diện của Tinh chất Chân thần. Sự biểu hiện của Thượng đế như tâm thức cá biệt trong tạo vật động vật và nhân loại không được Khoa học chính xác chấp nhận, và dĩ nhiên điều đó cũng không bao quát toàn bộ vấn đề. Nhưng các thất bại của Khoa học và những giả định tùy tiện của nó, xét toàn thể, lớn hơn nhiều so với bất kỳ giáo lý Nội môn “quá mức” nào có thể đưa ra. Ngay cả các tư tưởng gia thuộc trường phái Von Hartmann cũng đã bị lây nhiễm bởi trận dịch chung. Họ chấp nhận Nhân chủng học Darwin, ít nhiều, mặc dù họ cũng giả định Chân ngã cá biệt như một biểu hiện của Vô thức, tức cách trình bày phương Tây về Thượng đế hay Tư tưởng Thiêng liêng Nguyên sơ. Họ nói rằng sự tiến hoá của con người hồng trần là từ loài vật, nhưng trí tuệ trong các giai đoạn khác nhau của nó hoàn toàn là một điều tách biệt với các sự kiện vật chất, mặc dù cơ thể, như một Upâdhi, là cần thiết cho sự biểu hiện của nó. |
Plastidular Souls, And Conscious Nerve-Cells. — Các Linh hồn Plastidule, Và Các Tế bào Thần kinh Có Tâm thức.
|
But one can never see the end of such wonders with Hæckel and his school, whom the Occultists and Theosophists have every right to consider as materialistic tramps trespassing on private metaphysical grounds. Not satisfied with the paternity of Bathybius (Hæckelii), “plastidular souls” and “atom-souls” 1596 are now invented, on the basis of purely blind mechanical forces of matter. We are informed that: The study of the evolution of soul-life shows us that this has worked its way up from the lower stages of the simple cell-soul, through an astonishing series of gradual stages in evolution, up to the soul of man. 1597 |
Nhưng người ta không bao giờ có thể thấy tận cùng những điều kỳ diệu như thế nơi Hæckel và trường phái của ông, những người mà các nhà Huyền bí học và các nhà Thông Thiên Học hoàn toàn có quyền xem là những kẻ lang thang duy vật xâm phạm vào các lĩnh vực siêu hình riêng tư. Chưa thỏa mãn với vai trò cha đẻ của Bathybius Hæckelii, các “linh hồn plastidule” và “linh hồn nguyên tử” nay được phát minh trên cơ sở các mãnh lực cơ học thuần túy mù quáng của vật chất. Chúng ta được thông báo rằng: Việc nghiên cứu sự tiến hoá của đời sống linh hồn cho chúng ta thấy rằng nó đã tự tiến lên từ các giai đoạn thấp của linh hồn tế bào đơn giản, qua một chuỗi đáng kinh ngạc các giai đoạn tiệm tiến trong tiến hoá, lên đến linh hồn của con người. |
|
“Astonishing,” truly—based as this wild speculation is on the consciousness of the “nerve cells.” For as he tells us: Little as we are in a position, at the present time, to explain fully the nature of consciousness, 1598 yet the comparative and genetic observation of it clearly shows, that it is only a higher and more complex function of the nerve cells. 1599 |
“Đáng kinh ngạc,” quả thật—vì suy đoán hoang đường này được đặt trên tâm thức của “các tế bào thần kinh.” Bởi như ông nói với chúng ta: Dù hiện nay chúng ta còn rất ít khả năng giải thích đầy đủ bản chất của tâm thức, tuy nhiên sự quan sát so sánh và phát sinh của nó cho thấy rõ rằng nó chỉ là một chức năng cao hơn và phức tạp hơn của các tế bào thần kinh. |
|
Mr. Herbert Spencer’s song on consciousness—is sung, it seems, and may henceforth be safely stored up in the lumber room of obsolete speculations. Where, however, do Hæckel’s “complex functions” of his scientific “nerve-cells” land him? Once more right into the Occult and mystic teachings of the Kabalah about the descent of Souls as conscious and unconscious Atoms; among the Pythagorean Monad and the Monads of Leibnitz, and the “Gods, Monads, and Atoms” of our Esoteric teaching; 1600 into the dead letter of Occult teachings, left to the amateur Kabalists and professors of ceremonial Magic. For this is what he says, in explaining his newly-coined terminology: Plastidule-Souls. The plastidules or protoplasmic molecules, the smallest, homogeneous parts of the protoplasm are, on our plastid theory, to be regarded as the active factors of all life-functions. The plastidular soul differs from the inorganic molecular soul in that it possesses memory. |
Bài ca của ông Herbert Spencer về tâm thức—dường như đã được hát xong, và từ nay có thể an toàn cất vào căn phòng chứa đồ của những suy đoán lỗi thời. Tuy nhiên, “các chức năng phức tạp” của “các tế bào thần kinh” khoa học của ông đưa Hæckel đến đâu? Một lần nữa, thẳng vào các giáo huấn Huyền bí và thần bí của Kabalah về sự giáng hạ của các Linh hồn như những Nguyên tử hữu thức và vô thức; giữa Chân thần Pythagoras và các Chân thần của Leibnitz, cùng “các Thần linh, các Chân thần, và các Nguyên tử” của giáo huấn Nội môn chúng ta; vào văn tự chết của các giáo huấn Huyền bí, để lại cho những nhà Kabalist nghiệp dư và các giáo sư về huyền thuật nghi lễ. Bởi đây là điều ông nói khi giải thích thuật ngữ mới đúc của mình: Các Linh hồn Plastidule. Các plastidule hay phân tử nguyên sinh chất, những phần nhỏ nhất và đồng nhất của nguyên sinh chất, theo lý thuyết plastid của chúng tôi, phải được xem như những nhân tố hoạt động của mọi chức năng sống. Linh hồn plastidule khác với linh hồn phân tử vô cơ ở chỗ nó sở hữu ký ức. |
|
This he develops in his mirific lecture on the “Perigenesis of Plastidule, or the Wave-motions of Living Particles.” It is an improvement on Darwin’s theory of “Pangenesis,” and a further approach, a cautious move, towards “Magic.” The former is a conjecture that: Some of the actual identical atoms which formed part of ancestral bodies are thus transmitted through their descendants for generation after generation, so that we are literally “flesh of the flesh” of the primeval creature who has developed into man —explains the author of A Modern Zoroastrian. 1602 The latter, Occultism, teaches that—(a) the life-atoms of our (Prâna) Life-Principle, are never entirely lost when a man dies. That the atoms best impregnated with the Life-Principle, an independent, eternal, conscious factor, are partially transmitted from father to son by heredity, and are partially drawn once more together and become the animating principle of the new body in every new incarnation of the Monads. Because (b), as the Individual Soul is ever the same, so are the atoms of the lower principles (the body, its astral, or life-double, etc.), drawn as they are by affinity and Karmic law always to the same individuality in a series of various bodies. 1603 |
Điều này ông khai triển trong bài giảng kỳ diệu của mình về “Sự phát sinh ngoại vi của Plastidule, hay các Chuyển động Sóng của những Hạt Sống.” Đó là một cải tiến trên lý thuyết “Toàn phát sinh” của Darwin, và là một bước tiến thêm, một động thái thận trọng, hướng tới “Huyền thuật.” Điều trước là một phỏng đoán rằng: Một số nguyên tử thực sự đồng nhất từng cấu thành một phần của các thân thể tổ tiên đã được truyền qua con cháu của họ từ thế hệ này sang thế hệ khác, đến nỗi chúng ta đúng nghĩa là “thịt của thịt” của sinh vật nguyên sơ đã phát triển thành con người —tác giả của Một Zoroastrian Hiện Đại giải thích như vậy. Điều sau, Huyền bí học, dạy rằng—(a) các nguyên tử sự sống thuộc Nguyên khí Sự Sống Prâna của chúng ta không bao giờ hoàn toàn mất đi khi một người chết. Những nguyên tử được thấm nhuần tốt nhất bằng Nguyên khí Sự Sống, một nhân tố độc lập, vĩnh cửu, hữu thức, một phần được truyền từ cha sang con qua di truyền, và một phần lại được hút tụ lại, trở thành nguyên khí làm linh động thể mới trong mỗi lần lâm phàm mới của các Chân thần. Bởi vì (b), cũng như Linh hồn Cá biệt luôn luôn là một, các nguyên tử của những nguyên khí thấp, tức thể xác, thể tinh tú của nó, hay bản sao sinh lực, v.v., cũng bị lôi cuốn bởi ái lực và định luật nghiệp quả, luôn luôn về cùng một cá tính trong một chuỗi nhiều thân thể khác nhau. |
|
To be just and, to say the least, logical, our modern Hæckelians ought to pass a resolution that henceforth the “Perigenesis of the Plastidule,” and other similar lectures, should be bound up with those on “Esoteric Buddhism” and “The Seven Principles in Man.” Thus the public will have a chance, at any rate, of comparing the two teachings and then of judging which is the more or the less absurd, even from the standpoint of materialistic and exact Science. |
Để công bằng và, ít nhất, hợp lý, những người Hæckel hiện đại của chúng ta nên thông qua một nghị quyết rằng từ nay “Sự phát sinh ngoại vi của Plastidule,” và các bài giảng tương tự khác, phải được đóng chung với những bài về “Phật giáo Nội môn” và “Bảy Nguyên khí trong Con người.” Như vậy, công chúng dù sao cũng sẽ có cơ hội so sánh hai giáo huấn, rồi phán xét giáo huấn nào phi lý hơn hay ít phi lý hơn, ngay cả từ quan điểm của Khoa học duy vật và chính xác. |
|
Now the Occultists, who trace every atom in the Universe, whether an aggregate or single, to One Unity, the Universal Life; who do not recognize that anything in Nature can be inorganic; who know of no such thing as dead Matter—the Occultists are consistent with their doctrine of Spirit and Soul when speaking of memory in every atom, of will and sensation. But what can a Materialist mean by the qualification? The law of biogenesis, in the sense applied to it by the Hæckelians, is the result of the ignorance on the part of the man of Science of Occult Physics. We know and speak of “life-atoms,” and of “sleeping-atoms,” because we regard these two forms of energy—the kinetic and the potential—as produced by one and the same force, or the One Life, and regard the latter as the source and mover of all. But what is it that furnished with energy, and especially with memory, the “plastidular souls” of Hæckel? The “wave motion of living particles” becomes comprehensible on the theory of a Spiritual One Life, of a universal Vital Principle independent of our Matter, and manifesting as atomic energy only on our plane of consciousness. It is that which, individualized in the human cycle, is transmitted from father to son. |
Nay các nhà Huyền bí học, những người truy nguyên mọi nguyên tử trong Vũ trụ, dù là một tập hợp hay đơn lẻ, về Một Nhất Thể, Sự Sống Vũ Trụ; những người không thừa nhận rằng bất cứ điều gì trong Thiên nhiên có thể là vô cơ; những người không biết đến thứ gọi là Vật chất chết—các nhà Huyền bí học ấy nhất quán với giáo lý của họ về Tinh thần và Linh hồn khi nói về ký ức trong mỗi nguyên tử, về ý chí và cảm giác. Nhưng một Nhà duy vật có thể hàm ý gì bằng phẩm tính ấy? Định luật sinh phát, theo nghĩa mà những người Hæckel áp dụng, là kết quả của sự vô minh nơi nhà Khoa học đối với Vật lý Huyền bí. Chúng tôi biết và nói về “các nguyên tử sự sống,” và “các nguyên tử ngủ,” bởi vì chúng tôi xem hai hình thức năng lượng này—động năng và thế năng—là do một và cùng một mãnh lực, hay Sự Sống Duy Nhất, tạo ra, và xem cái sau là nguồn và động lực của tất cả. Nhưng cái gì đã cung cấp năng lượng, và đặc biệt là ký ức, cho “các linh hồn plastidule” của Hæckel? “Chuyển động sóng của các hạt sống” trở nên có thể hiểu được trên lý thuyết về Một Sự Sống Tinh thần, về một Nguyên khí Sinh lực phổ quát độc lập với Vật chất của chúng ta, và chỉ biểu hiện như năng lượng nguyên tử trên cõi tâm thức của chúng ta. Chính cái ấy, khi được cá biệt hóa trong chu kỳ nhân loại, được truyền từ cha sang con. |
|
Now Hæckel, modifying Darwin’s theory, suggests “more plausibly,” as the author of A Modern Zoroastrian thinks: That not the identical atoms, but their peculiar motions and mode of aggregation have been thus transmitted [by heredity]. 1604 |
Nay Hæckel, khi sửa đổi lý thuyết của Darwin, gợi ý “có vẻ hợp lý hơn,” như tác giả của Một Zoroastrian Hiện Đại nghĩ: Rằng không phải các nguyên tử đồng nhất, mà các chuyển động đặc thù và cách thức kết tụ của chúng đã được truyền như vậy qua di truyền. |
|
If Hæckel, or any other Scientist, knew more than any of them does know of the nature of the atom, he would not have improved the occasion in this way. For he only states, in more metaphysical language than Darwin, one and the same thing. The Life-Principle, or Life Energy, which is omnipresent, eternal, indestructible, is a Force and a Principle as noumenon, while it is Atoms, as phenomenon. It is one and the same thing, and cannot be considered as separate except in Materialism. 1605 |
Nếu Hæckel, hay bất kỳ Nhà khoa học nào khác, biết nhiều hơn điều bất kỳ ai trong họ biết về bản chất của nguyên tử, ông đã không lợi dụng cơ hội theo cách này. Bởi ông chỉ phát biểu, bằng ngôn ngữ siêu hình hơn Darwin, một và cùng một điều. Nguyên khí Sự Sống, hay Năng lượng Sự Sống, vốn hiện diện khắp nơi, vĩnh cửu, bất hoại, là một Mãnh lực và một Nguyên khí như bản thể, trong khi nó là các Nguyên tử như hiện tượng. Đó là một và cùng một điều, và không thể được xem là tách biệt ngoại trừ trong Chủ nghĩa duy vật. |
|
Further, Hæckel enunciates concerning the Atom-Souls that which, at first sight, appears as occult as the Monad of Leibnitz: |
Hơn nữa, Hæckel phát biểu về các Linh hồn Nguyên tử điều mà, thoạt nhìn, có vẻ huyền bí như Chân thần của Leibnitz: |
|
The recent contest as to the nature of atoms, which we must regard as in some form or other the ultimate factors in all physical and chemical processes, seems to be capable of easiest settlement by the conception that these very minute masses possess, as centres of force, a persistent soul, that every atom has sensation and the power of movement. 1606 |
Cuộc tranh luận gần đây về bản chất của các nguyên tử, mà chúng ta phải xem, dưới hình thức này hay hình thức khác, là các nhân tố tối hậu trong mọi tiến trình hồng trần và hóa học, dường như có thể được giải quyết dễ dàng nhất bằng quan niệm rằng những khối cực nhỏ này sở hữu, như các trung tâm mãnh lực, một linh hồn bền bỉ, rằng mỗi nguyên tử có cảm giác và quyền năng chuyển động. |
|
He does not say a word concerning the fact that this is Leibnitz’ theory, and one that is preeminently Occult. Nor does he understand the term “soul” as we do; for, with Hæckel it is simply, along with consciousness, the product of the grey matter of the brain, a thing which, as the cell-soul Is as indissolubly bound up with the protoplasmic body as is the human soul with the brain and spinal cord. 1607 |
Ông không nói một lời nào về sự kiện rằng đây là lý thuyết của Leibnitz, và là một lý thuyết ưu việt thuộc Huyền bí học. Ông cũng không hiểu thuật ngữ “linh hồn” như chúng tôi hiểu; bởi với Hæckel, cùng với tâm thức, nó chỉ đơn giản là sản phẩm của chất xám trong bộ não, một điều mà, vì linh hồn tế bào gắn bó bất khả phân với thể nguyên sinh chất cũng như linh hồn con người gắn bó với bộ não và tủy sống. |
|
He rejects the conclusions of Kant, Herbert Spencer, of du Bois-Reymond and Tyndall. The latter expresses the opinion of all the great men of Science, as of the greatest thinkers of this and past ages, in saying that: The passage from the physics of the brain to the corresponding facts of consciousness is unthinkable. Were our minds and senses so… illuminated as to enable us to see and feel the very molecules of the brain; were we capable of following all their motions, all their groupings… electric discharges… we should be as far as ever from the solution of the problem…. The chasm between the two classes of phenomena would still remain intellectually impassable. |
Ông bác bỏ các kết luận của Kant, Herbert Spencer, du Bois-Reymond và Tyndall. Người sau diễn đạt ý kiến của tất cả các vĩ nhân Khoa học, cũng như của các tư tưởng gia vĩ đại nhất của thời đại này và các thời đại trước, khi nói rằng: Sự chuyển tiếp từ vật lý học của bộ não sang các sự kiện tương ứng của tâm thức là điều không thể nghĩ bàn. Nếu thể trí và các giác quan của chúng ta được… soi sáng đến mức cho phép chúng ta thấy và cảm nhận chính các phân tử của bộ não; nếu chúng ta có khả năng theo dõi mọi chuyển động của chúng, mọi sự kết nhóm của chúng… các phóng điện… thì chúng ta vẫn còn xa như trước khỏi lời giải của vấn đề…. Hố sâu giữa hai lớp hiện tượng vẫn sẽ còn là điều không thể vượt qua về mặt trí tuệ. |
|
But the complex function of the nerve-cells of the great German Empiric, or, in other words, his consciousness, will not permit him to follow the conclusions of the greatest thinkers of our globe. He is greater than they. He asserts this, and protests against all: No one has the right to hold that in the future we shall not be able to pass beyond these limits of our knowledge that to-day seem impassable. 1608 |
Nhưng chức năng phức tạp của các tế bào thần kinh nơi Nhà kinh nghiệm học Đức vĩ đại, hay nói cách khác, tâm thức của ông, sẽ không cho phép ông đi theo các kết luận của những tư tưởng gia vĩ đại nhất trên địa cầu chúng ta. Ông vĩ đại hơn họ. Ông khẳng định điều này, và phản đối tất cả: Không ai có quyền cho rằng trong tương lai chúng ta sẽ không thể vượt qua những giới hạn của tri thức mà ngày nay dường như không thể vượt qua. |
|
And he quotes from Darwin’s introduction to The Descent of Man the following words, which he modestly applies to his scientific opponents and himself: It is always those who know little, and not those who know much, that positively affirm that this or that problem will never be solved by Science. |
Và ông trích từ lời dẫn nhập của Darwin trong Dòng Dõi Con Người những lời sau, mà ông khiêm tốn áp dụng cho các đối thủ khoa học của mình và cho chính mình: Luôn luôn chính những người biết ít, chứ không phải những người biết nhiều, mới quả quyết chắc chắn rằng vấn đề này hay vấn đề kia sẽ không bao giờ được Khoa học giải quyết. |
|
The world may rest satisfied. The day is not far off when the “thrice great” Hæckel will have shown, to his own satisfaction, that the consciousness of Sir Isaac Newton was, physiologically speaking, but the reflex action (or minus consciousness) caused by the perigenesis of the plastidules of our common ancestor and old friend, the Moneron Hæckelii. Though, the said Bathybius has been found out and exposed as a pretender simulating the organic substance it is not, and though among the children of men, Lot’s wife alone—and even this, only after her disagreeable metamorphosis—could claim as her forefather the pinch of salt it is; all this will not dismay him in the least. He will go on asserting, as coolly as he has always done, that it was only the peculiar mode and motion of the ghost of the long-vanished atoms of our Father Bathybius, which—transmitted across æons of time into the cell-tissue of the grey matter of the brains of every great man—caused Sophocles and Æschylus, and Shakspere as well, to write their tragedies, Newton, his Principia, Humboldt, his Cosmos, etc. It also prompted Hæckel to invent Græco-Latin names three inches long, pretending to mean a good deal, and meaning—nothing. |
Thế giới có thể yên tâm. Ngày ấy không còn xa, khi Hæckel “ba lần vĩ đại” sẽ chứng minh, cho chính ông thỏa mãn, rằng tâm thức của Sir Isaac Newton, nói theo sinh lý học, chỉ là hành động phản xạ, hay thiếu tâm thức, do sự phát sinh ngoại vi của các plastidule của tổ tiên chung và người bạn cũ của chúng ta, Moneron Hæckelii, gây ra. Mặc dù Bathybius nói trên đã bị phát hiện và vạch trần như một kẻ mạo danh, giả vờ là chất hữu cơ mà nó không phải, và mặc dù trong số con cái loài người, chỉ riêng vợ của Lot—và ngay cả bà, cũng chỉ sau sự biến hóa khó chịu của mình—mới có thể nhận nhúm muối mà nó là làm tổ tiên; tất cả những điều này sẽ không làm ông nản lòng chút nào. Ông sẽ tiếp tục khẳng định, bình thản như ông vẫn luôn làm, rằng chỉ chính cách thức và chuyển động đặc thù của bóng ma những nguyên tử đã biến mất từ lâu của Cha Bathybius chúng ta, được truyền qua các thiên niên kỷ vào mô tế bào của chất xám trong bộ não của mọi vĩ nhân, đã khiến Sophocles và Æschylus, cũng như Shakspere, viết các bi kịch của họ, khiến Newton viết Principia của ông, Humboldt viết Cosmos của ông, v.v. Nó cũng thúc đẩy Hæckel phát minh ra những tên Hy Lạp-La Tinh dài ba phân Anh, giả vờ hàm ý rất nhiều, nhưng hàm ý—không gì cả. |
|
Of course we are quite aware that the true, honest Evolutionist agrees with us; and that he is the first to say that not only is the geological record imperfect, but that there are enormous gaps in the series of hitherto discovered fossils, which can never be filled. He will tell us, moreover, that “no Evolutionist assumes that man is descended from any existing ape or any extinct ape either,” but that man and apes originated probably æons back, in some common root stock. Still, as de Quatrefages points out, he will urge as an evidence corroborating his claim this wealth of absent proofs as well, saying that: All living forms have not been preserved in the fossil series, the chances of preservation being few and far between… [even primitive man] burying or burning his dead. |
Dĩ nhiên chúng tôi hoàn toàn biết rằng nhà Tiến hoá luận chân chính, trung thực, đồng ý với chúng tôi; và y là người đầu tiên nói rằng không những hồ sơ địa chất không hoàn chỉnh, mà còn có những khoảng trống khổng lồ trong chuỗi hóa thạch đã được phát hiện cho đến nay, vốn không bao giờ có thể được lấp đầy. Hơn nữa, y sẽ nói với chúng ta rằng “không nhà Tiến hoá luận nào giả định rằng con người xuất thân từ bất kỳ loài vượn hiện tồn nào, hay bất kỳ loài vượn tuyệt chủng nào,” mà rằng con người và vượn có lẽ đã phát nguyên từ nhiều kỷ nguyên trước, trong một gốc chung nào đó. Tuy vậy, như de Quatrefages chỉ ra, y cũng sẽ đưa chính sự phong phú của những bằng chứng vắng mặt này ra như một chứng cứ củng cố cho tuyên bố của mình, nói rằng: Không phải mọi hình thức sống đều được bảo tồn trong chuỗi hóa thạch, vì cơ hội được bảo tồn rất hiếm hoi… ngay cả người nguyên thủy cũng chôn hoặc thiêu xác người chết của y. |
|
This is just what we ourselves claim. It is just as possible that the future may have in store for us the discovery of the giant skeleton of an Atlantean, thirty feet high, as of the fossil of a pithecoid “missing link”; only the former is more probable. |
Đó chính là điều chúng tôi tự mình khẳng định. Hoàn toàn có thể rằng tương lai dành cho chúng ta việc khám phá bộ xương khổng lồ của một người Atlantis cao ba mươi bộ, cũng như hóa thạch của một “mắt xích thiếu” dạng vượn; chỉ có điều khả năng trước có phần chắc hơn. |
Section III. The Fossil Relics of Man and the Anthropoid Ape. — Phần III. Các Di tích Hóa thạch của Con người và Loài Vượn Nhân hình.
A. Geological Facts Bearing On The Question Of Their Relationship. — A. Các Sự kiện Địa chất Liên quan Đến Vấn đề Quan hệ Giữa Chúng.
|
The data derived from scientific research as to “primeval man” and the ape lend no countenance to theories deriving the former from the latter. “Where, then, must we look for primeval man?”—still queries Mr. Huxley, after having vainly searched for him in the very depths of the Quaternary strata. |
Các dữ liệu rút ra từ nghiên cứu khoa học về “người nguyên thủy” và loài vượn không hề ủng hộ các lý thuyết cho rằng cái trước xuất phát từ cái sau. “Vậy thì chúng ta phải tìm người nguyên thủy ở đâu?”—ông Huxley vẫn hỏi như thế, sau khi đã tìm kiếm y một cách vô vọng trong tận chiều sâu của các tầng Đệ tứ. |
|
Was the oldest Homo sapiens Pliocene or Miocene, or yet more ancient? In still older strata do the fossilized bones of an ape more anthropoid, or a man more pithecoid than any yet known, await the researches of some unborn palæontologist? Time will show. 1609 |
Homo sapiens cổ nhất thuộc thế Pliocene hay Miocene, hay còn xưa hơn nữa? Trong những tầng còn cổ hơn, các xương hóa thạch của một loài vượn giống người hơn, hay một con người dạng vượn hơn bất cứ gì đã biết, có đang chờ đợi các cuộc nghiên cứu của một nhà cổ sinh vật học chưa sinh ra chăng? Thời gian sẽ cho thấy. |
|
It will—undeniably—and thus vindicate the Anthropology of the Occultists. Meanwhile, in his eagerness to vindicate Mr. Darwin’s Descent of Man, Mr. Boyd Dawkins believes that he has all but found the “missing link”—in theory. It was due to Theologians more than to Geologists that, till nearly 1860, man had been considered as a relic no older than the Adamic orthodox 6,000 years. As Karma would have it, though, it was left to a French Abbé—Bourgeois—to give this easy-going theory even a worse blow than had been given to it by the discoveries of Boucher de Perthes. Everyone knows that the Abbé discovered and brought to light good evidence that man was already in existence during the Miocene period, for flints of undeniably human making were excavated from Miocene strata. In the words of the author of Modern Science and Modern Thought: They must either have been chipped by man, or, as Mr. Boyd Dawkins supposes, by the dryopithecus or some other anthropoid ape which had a dose of intelligence so much superior to the gorilla or chimpanzee, as to be able to fabricate tools. But in this case the problem would be solved and the missing link discovered, for such an ape might well have been the ancestor of Palæolithic man. 1610 |
Điều đó sẽ xảy ra—không thể phủ nhận—và như vậy sẽ minh chứng cho Nhân chủng học của các nhà Huyền bí học. Trong khi đó, vì nóng lòng minh chứng Dòng Dõi Con Người của ông Darwin, ông Boyd Dawkins tin rằng ông gần như đã tìm thấy “mắt xích thiếu”—trên lý thuyết. Do các Nhà thần học hơn là các Nhà địa chất mà, cho đến gần , con người đã được xem là một di tích không cổ hơn con số chính thống Adamic 6.000 năm. Tuy nhiên, theo nghiệp quả an bài, chính một Tu viện trưởng người Pháp—Bourgeois—lại được giao việc giáng cho lý thuyết dễ dãi này một đòn còn nặng hơn đòn mà các khám phá của Boucher de Perthes đã giáng xuống nó. Ai cũng biết rằng vị Tu viện trưởng ấy đã phát hiện và đưa ra ánh sáng bằng chứng tốt đẹp rằng con người đã tồn tại trong thời kỳ Miocene, vì các mảnh đá lửa rõ ràng do con người chế tạo đã được khai quật từ các tầng Miocene. Theo lời tác giả của Khoa Học Hiện Đại và Tư Tưởng Hiện Đại: Chúng hẳn hoặc đã được con người đẽo gọt, hoặc, như ông Boyd Dawkins giả định, do dryopithecus hay một loài vượn nhân hình nào khác có một liều trí thông minh vượt xa gorilla hay chimpanzee đến mức có thể chế tạo công cụ. Nhưng trong trường hợp này, vấn đề sẽ được giải quyết và mắt xích thiếu được khám phá, vì một loài vượn như thế rất có thể đã là tổ tiên của người Thời đồ đá cũ. |
|
Or—the descendant of Eocene man, which is a variant offered to the theory. Meanwhile, the dryopithecus with such fine mental endowments is yet to be discovered. On the other hand, Neolithic and even Palæolithic man having become an absolute certainty, and as the same author justly observes: If 100,000,000 years have elapsed since the earth became sufficiently solidified to support vegetable and animal life, the Tertiary period may have lasted for 5,000,000; or for 10,000,000 years, if the life-sustaining order of things has lasted, as Lyell supposes for at least 200,000,000 years— 1611 |
Hoặc—hậu duệ của người Eocene, đó là một biến thể được đưa ra cho lý thuyết này. Trong khi đó, dryopithecus với những năng lực trí tuệ tinh tế như vậy vẫn còn phải được khám phá. Mặt khác, khi người Thời đồ đá mới và thậm chí người Thời đồ đá cũ đã trở thành một điều chắc chắn tuyệt đối, và như cùng tác giả ấy nhận xét một cách chính đáng: Nếu 100.000.000 năm đã trôi qua kể từ khi Trái Đất trở nên đủ rắn chắc để nâng đỡ sự sống thực vật và động vật, thì thời kỳ Đệ tam có thể đã kéo dài 5.000.000 năm; hoặc 10.000.000 năm, nếu trật tự sự vật duy trì sự sống đã kéo dài, như Lyell giả định, ít nhất 200.000.000 năm— |
|
why should not another theory be tried? Let us carry man, as a hypothesis, to the close of Mesozoic times—admitting argumenti causâ that the (much more recent) higher apes then existed! This would allow ample time for man and the modern apes to have diverged from the mythical “ape more anthropoid,” and even for the latter to have degenerated into those that are found mimicking man in using “branches of trees as clubs, and cracking cocoa-nuts with hammer and stones.” 1612 Some savage tribes of hillmen in India build their abodes on trees, just as the gorillas build their dens. The question, which of the two, the beast or the man, has become the imitator of the other, is scarcely an open one, even granting Mr. Boyd Dawkins’ theory. The fanciful character of this hypothesis, is, however, generally admitted. It is argued that while in the Pliocene and Miocene periods there were true apes and baboons, and man was undeniably contemporaneous with the former of these times—though, as we see, orthodox Anthropology still hesitates, in the teeth of facts, to place him in the era of the dryopithecus, which latter— Has been considered by some anatomists as in some respects superior to the chimpanzee or the gorilla… 1613 |
tại sao không thử một lý thuyết khác? Như một giả thuyết, hãy đưa con người về cuối thời Trung sinh—vì mục đích lập luận mà thừa nhận rằng các loài vượn cao hơn, vốn gần đây hơn nhiều, khi ấy đã tồn tại! Điều này sẽ cho phép đủ thời gian để con người và các loài vượn hiện đại đã phân kỳ từ “loài vượn giống người hơn” huyền thoại, và thậm chí để loài sau suy thoái thành những loài hiện được thấy đang bắt chước con người trong việc dùng “cành cây làm gậy, và đập vỡ dừa bằng búa và đá.” Một vài bộ lạc man dã thuộc cư dân vùng đồi ở Ấn Độ xây chỗ ở trên cây, đúng như gorilla xây hang ổ của chúng. Câu hỏi rằng trong hai bên, con thú hay con người, bên nào đã trở thành kẻ bắt chước bên kia, hầu như không còn là câu hỏi bỏ ngỏ, ngay cả khi thừa nhận lý thuyết của ông Boyd Dawkins. Tuy nhiên, tính chất tưởng tượng của giả thuyết này thường được thừa nhận. Người ta lập luận rằng trong khi ở các thời kỳ Pliocene và Miocene có vượn thật và khỉ đầu chó, và con người rõ ràng đồng thời với thời kỳ trước trong hai thời kỳ ấy—mặc dù, như chúng ta thấy, Nhân chủng học chính thống vẫn còn do dự, bất chấp các sự kiện, trong việc đặt y vào kỷ nguyên của dryopithecus, loài sau này— Đã được một số nhà giải phẫu học xem là, theo một vài phương diện, cao hơn chimpanzee hay gorilla… |
|
yet, in the Eocene there have been no other fossil primates unearthed and no pithecoid stocks found save a few extinct lemurian forms. And we find it also hinted that the dryopithecus may have been the “missing link,” though the brain of the creature no more warrants the theory than does the brain of the modern gorilla. (See also Gaudry’s speculations.) Now we would ask who among the Scientists is ready to prove that there was no man in existence in the early Tertiary period? What is it that prevented his presence? Hardly thirty years ago his existence any farther back than six or seven thousand years was indignantly denied. Now he is refused admission into the Eocene age. Next century it may become a question whether man was not contemporary with the “flying dragon,” the pterodactyl, the plesiosaurus and iguanodon, etc. Let us listen, however, to the echo of Science. |
tuy nhiên, trong Eocene, không có hóa thạch linh trưởng nào khác được khai quật và không có gốc dạng vượn nào được tìm thấy, ngoại trừ vài hình thức lemurian đã tuyệt chủng. Và chúng ta cũng thấy người ta ám chỉ rằng dryopithecus có thể đã là “mắt xích thiếu,” mặc dù bộ não của sinh vật ấy không bảo đảm cho lý thuyết này hơn gì bộ não của gorilla hiện đại. Xin xem thêm các suy đoán của Gaudry. Nay chúng tôi muốn hỏi ai trong số các Nhà khoa học sẵn sàng chứng minh rằng đã không có con người tồn tại trong thời kỳ Đệ tam sơ kỳ? Điều gì đã ngăn cản sự hiện diện của y? Chỉ mới gần ba mươi năm trước đây, sự tồn tại của y xa hơn sáu hay bảy nghìn năm đã bị phẫn nộ phủ nhận. Nay y bị từ chối cho vào thời Eocene. Thế kỷ tới có thể trở thành một câu hỏi rằng phải chăng con người không đồng thời với “rồng bay,” pterodactyl, plesiosaurus và iguanodon, v.v. Tuy nhiên, hãy nghe tiếng vọng của Khoa học. |
|
Now, wherever anthropoid apes lived it is clear that, whether as a question of anatomical structure, or of climate and surroundings, man, or some creature which was the ancestor of man, might have lived also. Anatomically speaking, apes and monkeys are as much special variations of the mammalian type as man, whom they resemble bone for bone, and muscle for muscle, and the physical animal man is simply an instance of the quadrumanous type specialized for erect posture and a larger brain |
Nay, bất cứ nơi nào loài vượn nhân hình sống, điều rõ ràng là, dù xét về cấu trúc giải phẫu, hay về khí hậu và hoàn cảnh, con người, hoặc một sinh vật nào đó là tổ tiên của con người, cũng có thể đã sống. Về mặt giải phẫu, vượn và khỉ là những biến thể đặc thù của loại có vú không kém gì con người, mà chúng giống y từng xương từng xương, từng cơ từng cơ; và con người hồng trần thuộc loài động vật chỉ đơn giản là một trường hợp của loại bốn tay được chuyên biệt hóa cho tư thế đứng thẳng và một bộ não lớn hơn .… Nếu y có thể sống sót, như chúng ta biết y đã sống sót, qua các điều kiện bất lợi và những biến đổi cực đoan của thời kỳ Băng hà, thì không có lý do gì khiến y không thể đã sống trong khí hậu bán nhiệt đới của thời kỳ Miocene, khi một khí hậu ôn hòa lan rộng thậm chí đến Greenland và Spitzbergen. |
|
When most of the men of Science who are uncompromising in their belief in the descent of man from an “extinct anthropoid mammal;” will not accept even the bare tenability of any other theory than an ancestor common to man and the dryopithecus, it is refreshing to find in a work of real scientific value such a margin for compromise. Indeed, it is as wide as it can be made under the circumstances, i.e., without immediate danger of getting knocked off one’s feet by the tidal wave of science-adulation. Believing that the difficulty of accounting— For the development of intellect and morality by evolution is not so great as that presented by the difference as to physical structure 1616 between man and the highest animal— the same author says: |
Khi phần lớn các nhà Khoa học kiên quyết trong niềm tin rằng con người xuất thân từ một “động vật có vú nhân hình đã tuyệt chủng” không chấp nhận ngay cả tính khả hữu trần trụi của bất kỳ lý thuyết nào khác ngoài một tổ tiên chung của con người và dryopithecus, thì thật sảng khoái khi tìm thấy trong một tác phẩm có giá trị khoa học thực sự một khoảng dung hòa như thế. Thật vậy, nó rộng đến mức có thể có được trong hoàn cảnh ấy, tức là không có nguy cơ tức thời bị làn sóng tôn sùng khoa học đánh ngã. Vì tin rằng khó khăn trong việc giải thích— Sự phát triển của trí năng và đạo đức bằng tiến hoá không lớn bằng khó khăn do sự khác biệt về cấu trúc hồng trần 1616 giữa con người và loài vật cao nhất— cùng tác giả ấy nói: |
|
But it is not so easy to see how this difference of physical structure arose, and how a being came into existence which had such a brain and hand, and such undeveloped capabilities for an almost unlimited progress. The difficulty is this: the difference in structure between the lowest existing race of man and the highest existing ape is too great to admit of the possibility of one being the direct descendant of the other. The negro in some respects makes a slight approximation towards the Simian type. His skull is narrower, his brain less capacious, his muzzle more projecting, his arm longer than those of the average European man. Still he is essentially a man, and separated by a wide gulf from the chimpanzee or the gorilla. Even the idiot or crétin, whose brain is no larger and intelligence no greater than that of the chimpanzee, is an arrested man, not an ape. |
Nhưng không dễ thấy bằng cách nào sự khác biệt về cấu trúc hồng trần này phát sinh, và làm sao một hữu thể đã đi vào tồn tại với một bộ não và bàn tay như thế, cùng những khả năng chưa phát triển cho một sự tiến bộ gần như vô hạn. Khó khăn là thế này: sự khác biệt về cấu trúc giữa nhân loại thấp nhất hiện tồn và loài vượn cao nhất hiện tồn quá lớn đến mức không cho phép khả năng cái này là hậu duệ trực tiếp của cái kia. Người da đen, theo một vài phương diện, hơi tiệm cận loại Simian. Hộp sọ của y hẹp hơn, bộ não của y kém dung lượng hơn, mõm của y nhô ra hơn, cánh tay của y dài hơn so với người châu Âu trung bình. Tuy vậy, về bản chất y vẫn là một con người, và bị ngăn cách với chimpanzee hay gorilla bởi một vực sâu rộng. Ngay cả kẻ ngu đần hay người đần độn bẩm sinh, có bộ não không lớn hơn và trí thông minh không cao hơn chimpanzee, cũng là một con người bị đình trệ, chứ không phải một loài vượn. |
|
If, therefore, the Darwinian theory holds good in the case of man and ape, we must go back to some common ancestor from whom both may have originated…. But to establish this as a fact and not a theory we require to find that ancestral form, or, at any rate, some intermediate forms tending towards it… in other words… the “missing link.” Now it must be admitted that, hitherto, not only have no such missing links been discovered, but the oldest known human skulls and skeletons which date from the Glacial period, and are probably at least 100,000 years old, show no very decided approximation towards any such pre-human type. On the contrary, one of the oldest types, that of the men of the sepulchral cave of Cro-Magnon, 1617 is that of a fine race, tall in stature, large in brain, and on the whole superior to many of the existing races of mankind. The reply of course is that the time is insufficient, and if man and the ape had a common ancestor, that as a highly developed anthropoid ape, certainly, and man, probably, already existed in the Miocene period, such ancestor must be sought still further back at a distance compared with which the whole Quaternary period sinks into insignificance…. All this is true, and it may well make us hesitate before we admit that man… is alone an exception to the general law of the universe, and is the creature of a special creation. This is the more difficult to believe, as the ape family which man so closely resembles [?] in physical structure contains numerous branches which graduate into one another, but the extremes of which differ more widely than man does from the highest of the ape series. If a special creation is required for man, must there not have been special creations for the chimpanzee, the gorilla, the orang, and for at least 100 different species of apes and monkeys which are all built on the same lines? 1618 |
Vì vậy, nếu lý thuyết Darwin đứng vững trong trường hợp con người và loài vượn, chúng ta phải quay lại một tổ tiên chung nào đó, từ đó cả hai có thể đã phát nguyên…. Nhưng để thiết lập điều này như một sự kiện chứ không phải một lý thuyết, chúng ta cần tìm ra hình thức tổ tiên ấy, hoặc ít nhất một vài hình thức trung gian hướng về nó… nói cách khác… “mắt xích thiếu.” Nay phải thừa nhận rằng, cho đến nay, không những chưa có mắt xích thiếu nào như thế được khám phá, mà các hộp sọ và bộ xương người cổ nhất đã biết, có niên đại từ thời kỳ Băng hà và có lẽ ít nhất 100.000 năm tuổi, không cho thấy sự tiệm cận thật rõ rệt nào với bất kỳ loại tiền nhân nào như vậy. Trái lại, một trong những loại cổ nhất, loại người trong hang mộ Cro-Magnon, là loại thuộc một nhân loại đẹp đẽ, vóc dáng cao, bộ não lớn, và xét toàn thể cao hơn nhiều nhân loại đang tồn tại. Dĩ nhiên câu trả lời là thời gian không đủ, và nếu con người và loài vượn có một tổ tiên chung, thì vì một loài vượn nhân hình phát triển cao chắc chắn, và con người có lẽ, đã tồn tại trong thời kỳ Miocene, tổ tiên ấy phải được tìm kiếm xa hơn nữa về trước, ở một khoảng cách mà so với nó toàn bộ thời kỳ Đệ tứ chìm vào vô nghĩa…. Tất cả điều này đều đúng, và rất có thể khiến chúng ta do dự trước khi thừa nhận rằng con người… một mình là ngoại lệ đối với định luật chung của vũ trụ, và là sinh vật của một sáng tạo đặc biệt. Điều này càng khó tin hơn, vì họ vượn mà con người rất giống [?] về cấu trúc hồng trần chứa nhiều nhánh chuyển tiếp dần dần vào nhau, nhưng các cực của chúng lại khác nhau rộng hơn khoảng cách giữa con người và loài cao nhất trong chuỗi vượn. Nếu cần một sáng tạo đặc biệt cho con người, thì chẳng phải cũng phải có những sáng tạo đặc biệt cho chimpanzee, gorilla, orang, và ít nhất 100 loài vượn và khỉ khác nhau, tất cả đều được xây dựng theo cùng những đường nét sao? |
|
There was a “special creation” for man, and a “special creation” for the ape, his progeny; only on other lines than ever bargained for by Science. Albert Gaudry and others give some weighty reasons why man cannot be regarded as the crown of an ape-stock. When one finds that not only was the “primeval savage” (?) a reality in the Miocene times, but that, as de Mortillet shows, the flint relics he has left behind him were splintered by fire in that remote epoch; when we learn that the dryopithecus, alone of the anthropoids, appears in those strata, what is the natural inference? That the Darwinians are in a quandary. The very man-like gibbon is still in the same low grade of development, as it was when it coexisted with man at the close of the Glacial period. It has not appreciably altered since the Pliocene times. Now there is little to choose between the dryopithecus and the existing anthropoids—gibbon, gorilla, etc. If, then, the Darwinian theory is all-sufficient, how are we to “explain” the evolution of this ape into man during the first half of the Miocene? The time is far too short for such a theoretical transformation. The extreme slowness with which variation in species supervenes renders the thing inconceivable—more especially on the “natural selection” hypothesis. The enormous mental and structural gulf between a savage acquainted with fire and the mode of kindling it, and a brutal anthropoid, is too great to bridge even in idea, during so contracted a period. Let the Evolutionists push back the process into the preceding Eocene, if they prefer to do so; let them even trace both man and dryopithecus to a common ancestor; the unpleasant consideration has, nevertheless, to be faced that in Eocene strata the anthropoid fossils are as conspicuous by their absence, as is the fabulous pithecanthropus of Hæckel. Is an exit out of this cul de sac to be found by an appeal to the “unknown,” and a reference, with Darwin, to the “imperfection of the geological record”? So be it; but the same right of appeal must then be equally accorded to the Occultists, instead of remaining the monopoly of puzzled Materialism. Physical man, we say, existed before the first bed of the Cretaceous rocks was deposited. In the early part of the Tertiary age, the most brilliant civilization the world has ever known flourished at a period when the Hæckelian man-ape is conceived as roaming through primeval forests, and Mr. Grant Allen’s putative ancestor as swinging himself from bough to bough with his hairy mates, the degenerated Liliths of the Third Race Adam. Yet there were no anthropoid apes in the brighter days of the civilization of the Fourth Race; but Karma is a mysterious law, and no respecter of persons. The monsters bred in sin and shame by the Atlantean Giants, “blurred copies” of their bestial sires, and hence of modern man, according to Huxley, now mislead and overwhelm with error the speculative Anthropologist of European Science. |
Đã có một “sáng tạo đặc biệt” cho con người, và một “sáng tạo đặc biệt” cho loài vượn, hậu duệ của y; chỉ có điều theo những đường lối khác hẳn với điều Khoa học từng mặc cả. Albert Gaudry và những người khác đưa ra vài lý do có trọng lượng cho thấy con người không thể được xem là đỉnh cao của một dòng vượn. Khi người ta thấy rằng không những “người man dã nguyên thủy” (?) là một thực tại trong thời Miocene, mà còn, như de Mortillet cho thấy, các di tích đá lửa y để lại đã bị tách vụn bởi lửa trong kỷ nguyên xa xôi ấy; khi chúng ta biết rằng dryopithecus, duy nhất trong số các loài nhân hình, xuất hiện trong những tầng ấy, thì suy luận tự nhiên là gì? Rằng những người Darwin đang ở trong tình trạng tiến thoái lưỡng nang. Loài vượn dài tay rất giống người vẫn còn ở cùng mức phát triển thấp như khi nó cùng tồn tại với con người vào cuối thời kỳ Băng hà. Nó không thay đổi đáng kể kể từ thời Pliocene. Nay không có mấy khác biệt để lựa chọn giữa dryopithecus và các loài nhân hình hiện tồn—vượn dài tay, gorilla, v.v. Vậy nếu lý thuyết Darwin là hoàn toàn đầy đủ, chúng ta sẽ “giải thích” thế nào về sự tiến hoá của loài vượn này thành con người trong nửa đầu thời Miocene? Thời gian quá ngắn cho một sự chuyển đổi lý thuyết như thế. Sự cực kỳ chậm chạp mà biến dị trong loài xuất hiện khiến điều ấy không thể quan niệm—đặc biệt theo giả thuyết “chọn lọc tự nhiên.” Vực sâu khổng lồ về trí tuệ và cấu trúc giữa một người man dã biết lửa và cách nhóm lửa, với một loài nhân hình thô bạo, quá lớn để bắc cầu ngay cả trong ý tưởng, trong một thời kỳ ngắn hẹp như vậy. Hãy để các nhà Tiến hoá luận đẩy lùi tiến trình ấy vào Eocene trước đó, nếu họ thích làm như thế; hãy để họ thậm chí truy nguyên cả con người lẫn dryopithecus về một tổ tiên chung; tuy nhiên, điều đáng khó chịu vẫn phải được đối diện là trong các tầng Eocene, hóa thạch nhân hình vắng mặt nổi bật chẳng kém gì pithecanthropus huyền thoại của Hæckel. Có thể tìm được lối thoát khỏi ngõ cụt này bằng cách viện đến “điều chưa biết,” và cùng Darwin quy chiếu đến “sự không hoàn chỉnh của hồ sơ địa chất” chăng? Cứ cho là vậy; nhưng cùng quyền viện dẫn ấy khi đó cũng phải được trao ngang nhau cho các nhà Huyền bí học, thay vì vẫn là độc quyền của Chủ nghĩa duy vật bối rối. Chúng tôi nói rằng con người hồng trần đã tồn tại trước khi lớp đá Phấn trắng đầu tiên được lắng xuống. Vào phần đầu của thời Đệ tam, nền văn minh rực rỡ nhất mà thế giới từng biết đã hưng thịnh vào một thời kỳ khi người-vượn của Hæckel được hình dung là đang lang thang qua các khu rừng nguyên thủy, còn tổ tiên giả định của ông Grant Allen thì đu mình từ cành này sang cành khác cùng các bạn đồng loại đầy lông, những Lilith suy thoái của Adam thuộc Giống dân thứ Ba. Thế nhưng không có loài vượn nhân hình nào trong những ngày huy hoàng hơn của nền văn minh Giống dân thứ Tư; nhưng nghiệp quả là một định luật huyền nhiệm, và không vị nể ai. Những quái vật do các Người Khổng Lồ Atlantis sinh ra trong tội lỗi và hổ thẹn, “những bản sao nhòe” của các tổ phụ thú tính của chúng, và do đó là của con người hiện đại, theo Huxley, nay đánh lạc hướng và vùi lấp trong sai lầm Nhà nhân chủng học tư biện của Khoa học châu Âu. |
|
Where did the first men live? Some Darwinists say in Western Africa, some in Southern Asia, others again believe in an independent origin of human stocks in Asia and America from a simian ancestry. Hæckel, however, advances gaily to the charge. Starting from his prosimia, “the ancestor common to all other catarrhini including man”—a “link” now, however, disposed of for good by recent anatomical discoveries—he endeavours to find a habitat for the primeval pithecanthropus alalus. |
Những người đầu tiên đã sống ở đâu? Một số người Darwin nói ở Tây Phi, một số ở Nam Á, những người khác lại tin vào nguồn gốc độc lập của các dòng người ở châu Á và châu Mỹ từ tổ tiên khỉ. Tuy nhiên, Hæckel vui vẻ tiến lên tấn công. Khởi từ prosimia của ông, “tổ tiên chung của tất cả các catarrhini khác, kể cả con người”—một “mắt xích” nay, tuy nhiên, đã bị các khám phá giải phẫu gần đây loại bỏ hẳn—ông cố tìm một nơi cư trú cho pithecanthropus alalus nguyên thủy. |
|
In all probability it [the transformation of animal into man] occurred in Southern Asia, in which region many evidences are forthcoming that here was the original home of the different species of man. Probably Southern Asia itself was not the earliest cradle of the human race, but Lemuria, a continent that lay to the south of Asia, and sank later on beneath the surface of the Indian Ocean. The period during which the evolution of the anthropoid apes into ape-like men took place was probably the last part of the Tertiary period, the Pliocene age, and perhaps the Miocene age, its forerunner. 1619 |
Rất có khả năng nó, tức sự chuyển đổi của loài vật thành con người, đã xảy ra ở Nam Á, trong vùng này có nhiều bằng chứng cho thấy đây là quê hương nguyên thủy của các loài người khác nhau. Có lẽ bản thân Nam Á không phải là chiếc nôi sớm nhất của nhân loại, mà là Lemuria, một lục địa nằm về phía nam châu Á và về sau chìm xuống dưới mặt Ấn Độ Dương. Thời kỳ trong đó sự tiến hoá của các loài vượn nhân hình thành những người giống vượn diễn ra có lẽ là phần cuối của thời kỳ Đệ tam, thời Pliocene, và có lẽ cả thời Miocene, tiền thân của nó. |
|
Of the above speculations, the only one of any worth is that referring to Lemuria, which was the cradle of mankind—of the physical sexual creature who materialized through long æons out of the ethereal hermaphrodites. Only, if it is proved that Easter Island is an actual relic of Lemuria, we must believe that according to Hæckel the “dumb ape-men,” just removed from a brutal mammalian monster, built the gigantic portrait-statues, two of which are now in the British Museum. Critics are mistaken in terming Hæckelian doctrines “abominable, revolutionary, immoral”—though Materialism is the legitimate outcome of the ape-ancestor myth—they are simply too absurd to demand disproof. |
Trong các suy đoán trên, điều duy nhất có giá trị là điều quy chiếu đến Lemuria, nơi đã là chiếc nôi của nhân loại—của sinh vật hồng trần có giới tính, đã hiện hình qua những kỷ nguyên dài từ các lưỡng tính dĩ thái. Chỉ có điều, nếu Đảo Phục Sinh được chứng minh là một di tích thực sự của Lemuria, chúng ta phải tin rằng theo Hæckel, những “người-vượn câm,” vừa mới tách khỏi một quái vật có vú thô bạo, đã xây dựng các pho tượng chân dung khổng lồ, hai trong số đó nay ở Bảo tàng Anh. Các nhà phê bình đã lầm khi gọi các giáo lý Hæckel là “ghê tởm, cách mạng, vô luân”—mặc dù Chủ nghĩa duy vật là kết quả chính đáng của huyền thoại tổ tiên vượn—chúng đơn giản quá phi lý để cần phản bác. |
B. Western Evolutionism: The Comparative Anatomy Of Man And The Anthropoid In No Way A Confirmation Of Darwinism. — B. Tiến hoá luận Phương Tây: Giải phẫu So sánh Giữa Con người và Loài Nhân hình Hoàn Toàn Không Xác Nhận Darwinism.
|
We are told that while every other heresy against Modern Science may be disregarded, this, our denial of the Darwinian theory as applied to man, will be the one “unpardonable” sin. The Evolutionists stand firm as rock on the evidence of similarity of structure between the ape and man. The anatomical evidence, it is urged, is quite overpowering in this case; it is bone for bone, and muscle for muscle, even the brain conformation being very much the same. |
Người ta nói với chúng tôi rằng trong khi mọi dị giáo khác chống lại Khoa học Hiện đại có thể bị bỏ qua, thì điều này, sự phủ nhận của chúng tôi đối với lý thuyết Darwin khi áp dụng cho con người, sẽ là tội “không thể tha thứ.” Các nhà Tiến hoá luận đứng vững như đá trên bằng chứng về sự tương đồng cấu trúc giữa vượn và con người. Bằng chứng giải phẫu, người ta thúc ép, trong trường hợp này là hoàn toàn áp đảo; đó là xương đối xương, cơ đối cơ, ngay cả hình thái bộ não cũng rất giống nhau. |
|
Well, what of that? All this was known before King Herod; and the writers of the Râmâyana, the poets who sang the prowess and valour of Hanumân, the Monkey-God, “whose feats were great and wisdom never rivalled,” must have known as much about his anatomy and brain as does any Hæckel or Huxley in our modern day. Volumes upon volumes have been written upon this similarity, in antiquity as in more modern times. Therefore, there is nothing new given to the world or to philosophy in such volumes as Mivart’s Man and Apes, or Messrs. Fiske and Huxley’s defence of Darwinism. But what are those crucial proofs of man’s descent from a pithecoid ancestor? If the Darwinian theory is not the true one, we are told, if man and ape do not descend from a common ancestor, then we must explain the reason of: (i) The similarity of structure between the two; the fact that the higher animal world—man and beast—is physically of one type or pattern. |
Vậy thì sao? Tất cả điều này đã được biết trước thời Vua Herod; và các tác giả của Râmâyana, những thi sĩ đã ca tụng sức mạnh và lòng dũng cảm của Hanumân, Thần Khỉ, “có những kỳ công vĩ đại và minh triết không ai sánh,” hẳn đã biết về giải phẫu và bộ não của ngài nhiều chẳng kém bất kỳ Hæckel hay Huxley nào trong thời hiện đại của chúng ta. Hết quyển này đến quyển khác đã được viết về sự tương đồng này, trong thời cổ đại cũng như trong những thời kỳ cận đại hơn. Vì vậy, không có gì mới được trao cho thế giới hay cho triết học trong những quyển sách như Con Người và Vượn của Mivart, hay lời biện hộ của các ông Fiske và Huxley cho Darwinism. Nhưng những bằng chứng then chốt ấy về việc con người xuất thân từ một tổ tiên dạng vượn là gì? Nếu lý thuyết Darwin không phải là lý thuyết chân thật, người ta nói với chúng tôi, nếu con người và vượn không xuất thân từ một tổ tiên chung, thì chúng tôi phải giải thích lý do của: (i) Sự tương đồng cấu trúc giữa hai bên; sự kiện rằng thế giới động vật cao hơn—con người và thú vật—về hồng trần thuộc một loại hay mô hình. |
|
(ii) The presence of rudimentary organs in man, i.e., traces of former organs now atrophied by disuse. Some of these organs, it is asserted, could not have had any scope for employment, except in a semi-animal, semi-arboreal monster. Why, again, do we find in man those “rudimentary” organs—as useless as its rudimentary wing is to the apteryx of Australia—the vermiform appendix of the cæcum, the ear muscles, 1620 the “rudimentary tail” with which children are still sometimes born, etc.? |
(ii) Sự hiện diện của các cơ quan thô sơ nơi con người, tức các dấu vết của những cơ quan trước kia nay đã teo lại vì không dùng đến. Người ta khẳng định rằng một số cơ quan này không thể có bất kỳ phạm vi sử dụng nào, ngoại trừ nơi một quái vật nửa thú, nửa sống trên cây. Lại nữa, tại sao chúng ta thấy nơi con người những cơ quan “thô sơ” ấy—vô dụng như cánh thô sơ của apteryx ở Úc—ruột thừa hình giun của manh tràng, các cơ tai, “đuôi thô sơ” mà đôi khi trẻ em vẫn còn sinh ra với nó, v.v.? |
|
Such is the war cry; and the cackle of the smaller fry among the Darwinians is louder, if possible, than even that of the scientific Evolutionists themselves! |
Đó là tiếng hô xung trận; và tiếng cục tác của đám cá nhỏ trong hàng ngũ Darwin, nếu có thể, còn ồn ào hơn cả chính các nhà Tiến hoá luận khoa học! |
|
Furthermore, the latter—with their great leader Mr. Huxley, and such eminent Zoologists as Mr. Romanes and others—while defending the Darwinian theory, are the first to confess the almost insuperable difficulties in the way of its final demonstration. And there are as great men of Science as the above-named, who deny, most emphatically, the uncalled-for assumption, and loudly denounce the unwarrantable exaggerations on the question of this supposed similarity. It is sufficient to glance at the works of Broca, Gratiolet, Owen, Pruner-Bey, and finally at the last great work of de Quatrefages, Introduction à l’Étude des Races Humaines, Questions Générales, to discover the fallacy of the Evolutionists. We may say more: the exaggerations concerning this alleged similarity of structure between man and the anthropomorphous ape have become so glaring and absurd of late, that even Mr. Huxley has found himself forced to protest against the too sanguine expectations. It was that great Anatomist personally who called the “smaller fry” to order, by declaring in one of his articles that the differences between the structure of the human body and that of the highest anthropomorphous pithecoid, were not only far from being trifling and unimportant, but were, on the contrary, very great and suggestive: Every bone of a gorilla bears marks by which it might be distinguished from the corresponding bone of a man. 1621 |
Hơn nữa, những người sau này—cùng với vị lãnh đạo lớn của họ là ông Huxley, và các nhà Động vật học lỗi lạc như ông Romanes cùng những người khác—trong khi bênh vực thuyết Darwin, lại là những người đầu tiên thú nhận những khó khăn hầu như không thể vượt qua trên con đường chứng minh chung cuộc của nó. Và có những nhà Khoa học vĩ đại chẳng kém gì các vị vừa nêu tên, họ phủ nhận một cách hết sức mạnh mẽ giả định không cần thiết ấy, và lớn tiếng tố cáo những phóng đại không có căn cứ về vấn đề cái gọi là sự tương đồng này. Chỉ cần liếc qua các tác phẩm của Broca, Gratiolet, Owen, Pruner-Bey, và sau cùng là công trình lớn cuối cùng của de Quatrefages, Nhập môn Nghiên cứu các Giống dân Nhân loại, Những Vấn đề Tổng quát, là đủ để nhận ra sai lầm của các nhà Tiến hóa luận. Chúng ta còn có thể nói thêm: những phóng đại liên quan đến sự tương đồng được viện dẫn này về cấu trúc giữa con người và loài vượn giống người, gần đây đã trở nên quá hiển nhiên và phi lý, đến nỗi ngay cả ông Huxley cũng thấy mình buộc phải phản đối những kỳ vọng quá lạc quan ấy. Chính nhà Giải phẫu học vĩ đại ấy đã đích thân gọi đám “cá nhỏ” vào trật tự, khi tuyên bố trong một bài viết của ông rằng những khác biệt giữa cấu trúc thể xác con người và cấu trúc của loài vượn dạng người cao nhất không những còn lâu mới là nhỏ nhặt và không quan trọng, mà trái lại, còn rất lớn và đầy ý nghĩa gợi mở: Mỗi xương của một con gorilla đều mang những dấu hiệu nhờ đó có thể phân biệt nó với xương tương ứng của con người. |
|
Among the existing creatures there is not one single intermediate form that could fill the gap between man and the ape. To ignore that gap, he added, “would be no less wrong than absurd.” |
Trong số các sinh vật hiện tồn, không có lấy một hình tướng trung gian duy nhất nào có thể lấp đầy khoảng cách giữa con người và loài vượn. Ông nói thêm rằng phớt lờ khoảng cách ấy “sẽ không kém phần sai lầm so với phi lý.” |
|
Finally, the absurdity of such an unnatural descent of man is so palpable in the face of all the proofs and evidence as to the skull of the pithecoid compared to that of man, that de Quatrefages resorted unconsciously to our Esoteric theory by saying that it is rather the apes that can claim descent from man than vice versâ. As proven by Gratiolet, with regard to the cavities of the brain of the anthropoids—in which species that organ develops in an inverse ratio to what would be the case were the corresponding organs in man really the product of the development of the said organs in the apes—the size of the human skull and its brain, as well as the cavities, increase with the individual development of man. His intellect develops and increases with age, while his facial bones and jaws diminish and straighten, thus becoming more and more spiritualized; whereas with the ape it is the reverse. In its youth the anthropoid is far more intelligent and good-natured, while with age it becomes duller; and, as its skull recedes and seems to diminish as it grows, its facial bones and jaws develop, the brain being finally crushed, and thrown entirely back, to make with every day more room for the animal type. The organ of thought—the brain—recedes and diminishes, entirely conquered and replaced by that of the wild beast—the jaw apparatus. |
Cuối cùng, tính phi lý của một sự xuất phát phi tự nhiên như thế của con người, trước mọi bằng chứng và chứng cứ về sọ của loài vượn dạng người khi so sánh với sọ người, hiển nhiên đến nỗi de Quatrefages đã vô thức quay về với lý thuyết Nội môn của chúng ta khi nói rằng đúng hơn là loài vượn có thể tuyên bố mình xuất phát từ con người, chứ không phải ngược lại. Như Gratiolet đã chứng minh, liên quan đến các khoang não của loài vượn dạng người—ở các loài này, cơ quan ấy phát triển theo tỷ lệ nghịch với điều sẽ xảy ra nếu các cơ quan tương ứng nơi con người thực sự là sản phẩm của sự phát triển các cơ quan nói trên nơi loài vượn—kích thước sọ người và bộ não của nó, cũng như các khoang não, tăng lên cùng với sự phát triển cá thể của con người. Trí năng của y phát triển và gia tăng theo tuổi tác, trong khi xương mặt và hàm của y nhỏ lại và thẳng hơn, do đó ngày càng được tinh thần hóa; còn nơi loài vượn thì ngược lại. Khi còn non, loài vượn dạng người thông minh và hiền lành hơn nhiều, nhưng theo tuổi tác nó trở nên đần độn hơn; và khi sọ của nó lùi lại, dường như nhỏ đi trong lúc nó lớn lên, thì xương mặt và hàm của nó phát triển, bộ não cuối cùng bị ép bẹp và bị đẩy hẳn ra sau, để mỗi ngày càng nhường thêm chỗ cho kiểu thú vật. Cơ quan của tư tưởng—bộ não—lùi lại và nhỏ đi, hoàn toàn bị chinh phục và thay thế bởi cơ quan của dã thú—bộ máy hàm. |
|
Thus, as wittily remarked in the French work, a gorilla could with perfect justice address an Evolutionist, claiming its right of descent from him. It would say to him: We, anthropoid apes, form a retrogressive departure from the human type, and therefore our development and evolution are expressed by a transition from a human-like to an animal-like structure of organism; but in what way could you, men, descend from us—how can you form a continuation of our genus? For, to make this possible, your organization would have to differ still more than ours does from the human structure, it would have to approach still closer to that of the beast than ours does; and in such a case justice demands that you should give up to us your place in nature. You are lower than we are, once that you insist on tracing your genealogy from our kind; for the structure of our organization and its development are such that we are unable to generate forms of a higher organization than our own. |
Vì vậy, như đã được nhận xét một cách hóm hỉnh trong tác phẩm tiếng Pháp ấy, một con gorilla hoàn toàn có thể, với đầy đủ công lý, ngỏ lời với một nhà Tiến hóa luận, đòi quyền được xuất phát từ y. Nó sẽ nói với y: Chúng tôi, những loài vượn dạng người, là một nhánh thoái hóa rời khỏi kiểu nhân loại, và do đó sự phát triển và tiến hóa của chúng tôi được biểu thị bằng một chuyển tiếp từ cấu trúc cơ thể giống người sang cấu trúc giống thú; nhưng bằng cách nào các ông, những con người, lại có thể xuất phát từ chúng tôi—làm sao các ông có thể tạo thành sự tiếp nối của giống chúng tôi? Vì để điều này có thể xảy ra, tổ chức cơ thể của các ông hẳn phải khác với cấu trúc nhân loại còn nhiều hơn tổ chức của chúng tôi, hẳn phải tiến gần đến cấu trúc của thú vật hơn cả chúng tôi nữa; và trong trường hợp như vậy, công lý đòi hỏi các ông phải nhường cho chúng tôi vị trí của các ông trong thiên nhiên. Các ông thấp hơn chúng tôi, một khi các ông cứ khăng khăng truy nguyên gia phả của mình từ giống của chúng tôi; vì cấu trúc tổ chức của chúng tôi và sự phát triển của nó là như thế, đến nỗi chúng tôi không thể sinh ra những hình tướng có tổ chức cao hơn chính chúng tôi. |
|
This is where the Occult Sciences agree entirely with de Quatrefages. Owing to the very type of his development man cannot descend from either an ape or an ancestor common to both apes and men, but shows his origin to be from a type far superior to himself. And this type is the “Heavenly Man”—the Dhyân Chohans, or the Pitris so-called, as shown in the first Part of this Volume. On the other hand, the pithecoids, the orang-outang, the gorilla, and the chimpanzee can, and, as the Occult Sciences teach, do, descend from the animalized Fourth human Root-Race, being the product of man and an extinct species of mammal—whose remote ancestors were themselves the product of Lemurian bestiality—which lived in the Miocene age. The ancestry of this semi-human monster is explained in the Stanzas as originating in the sin of the “mind-less” races of the middle Third Race period. |
Chính ở điểm này các Khoa học Huyền bí hoàn toàn đồng ý với de Quatrefages. Do chính kiểu phát triển của mình, con người không thể xuất phát từ một loài vượn, hay từ một tổ tiên chung của cả vượn lẫn người, mà cho thấy nguồn gốc của mình là từ một kiểu cao siêu hơn y rất nhiều. Và kiểu ấy là “Đấng Thiên Nhân”—các Dhyân Chohan, hay các Pitris được gọi như thế, như đã trình bày trong Phần thứ nhất của Quyển này. Mặt khác, các loài vượn dạng người, orang-outang, gorilla và chimpanzee có thể, và như các Khoa học Huyền bí dạy, thực sự xuất phát từ Giống dân gốc nhân loại thứ tư đã bị thú hóa, là sản phẩm của con người và một loài thú có vú đã tuyệt chủng—mà các tổ tiên xa xưa của loài này chính họ cũng là sản phẩm của tính thú vật Lemuria—từng sống trong thời đại Miocene. Gia hệ của quái vật bán nhân loại này được giải thích trong các bài kệ là bắt nguồn từ tội lỗi của các giống dân “không trí” vào giữa thời kỳ Giống dân thứ ba. |
|
When it is borne in mind that all forms which now people the Earth are so many variations on basic types originally thrown off by the Man of the Third and Fourth Round, such an evolutionist argument as that insisting on the “unity of structural plan” characterizing all vertebrates, loses its edge. The basic types referred to were very few in number in comparison with the multitude of organisms to which they ultimately gave rise; but a general unity of type has, nevertheless, been preserved throughout the ages. The economy of Nature does not sanction the coexistence of several utterly opposed “ground plans” of organic evolution on one planet. Once, however, that the general drift of the Occult explanation is formulated, inference as to detail may well be left to the intuitive reader. |
Khi ghi nhớ rằng mọi hình tướng hiện đang cư trú trên Trái Đất đều chỉ là vô số biến thể của các kiểu căn bản ban đầu được phóng xuất bởi Con Người của Cuộc tuần hoàn thứ ba và thứ tư, thì một luận cứ tiến hóa luận như luận cứ khăng khăng về “tính thống nhất của đồ án cấu trúc” đặc trưng cho mọi loài có xương sống sẽ mất đi sức bén của nó. Các kiểu căn bản được nói đến rất ít về số lượng so với muôn vàn cơ thể mà cuối cùng chúng sinh ra; tuy nhiên, một sự thống nhất tổng quát về kiểu loại vẫn được bảo tồn suốt các thời đại. Tính tiết kiệm của Thiên nhiên không cho phép sự đồng tồn tại của nhiều “đồ án nền tảng” hoàn toàn đối lập nhau trong tiến hóa hữu cơ trên cùng một hành tinh. Tuy nhiên, một khi dòng hướng tổng quát của lối giải thích Huyền bí đã được trình bày, thì việc suy luận các chi tiết rất có thể được để lại cho độc giả có trực giác. |
|
Similarly with the important question of the “rudimentary” organs discovered by Anatomists in the human organism. Doubtless this line of argument, when wielded by Darwin and Hæckel against their European adversaries, proved of great weight. Anthropologists, who ventured to dispute the derivation of man from an animal ancestry, were sorely puzzled how to deal with the presence of gill-clefts, with the “tail” problem, and so on. Here again Occultism comes to our assistance with the necessary data. |
Tương tự như vậy đối với vấn đề quan trọng về các cơ quan “thô sơ” mà các nhà Giải phẫu học đã phát hiện trong cơ thể con người. Không nghi ngờ gì, tuyến luận cứ này, khi được Darwin và Hæckel sử dụng chống lại các đối thủ châu Âu của họ, đã tỏ ra có sức nặng lớn. Các nhà Nhân học từng liều lĩnh tranh cãi về việc con người xuất phát từ tổ tiên động vật đã rất lúng túng không biết phải xử lý thế nào trước sự hiện diện của các khe mang, vấn đề “đuôi”, v.v. Ở đây một lần nữa Huyền bí học đến trợ giúp chúng ta với những dữ kiện cần thiết. |
|
The fact is that, as previously stated, the human type is the repertory of all potential organic forms, and the central point from which these latter radiate. In this postulate we find a true “evolution” or “unfolding”—in a sense which cannot be said to belong to the mechanical theory of Natural Selection. Criticizing Darwin’s inference from “rudiments,” an able writer remarks: Why is it not just as probably a true hypothesis to suppose that man was first created with these rudimentary sketches in his organization, and that they became useful appendages in the lower animals into which man degenerated, as it is to suppose that these parts existed in full development, activity and practical use, in the lower animals out of whom man was generated? 1622 |
Sự thật là, như đã nói trước đây, kiểu nhân loại là kho chứa mọi hình tướng hữu cơ tiềm tàng, và là điểm trung tâm từ đó các hình tướng sau này tỏa ra. Trong định đề này, chúng ta tìm thấy một “tiến hóa” hay “sự khai mở” chân thật—theo một ý nghĩa không thể nói là thuộc về lý thuyết cơ giới của Chọn lọc Tự nhiên. Khi phê bình suy luận của Darwin từ các “tàn tích”, một tác giả có năng lực nhận xét: Tại sao giả thuyết cho rằng con người trước hết được tạo ra với những phác thảo thô sơ này trong tổ chức của mình, và rằng chúng trở thành những phụ bộ hữu dụng nơi các động vật thấp mà con người đã thoái hóa thành, lại không có khả năng đúng ngang với giả thuyết cho rằng các phần ấy đã tồn tại trong sự phát triển đầy đủ, hoạt động và công dụng thực tiễn nơi các động vật thấp mà từ đó con người được sinh ra? |
|
Read for “into which man degenerated,” “the prototypes which man shed in the course of his astral developments,” and an aspect of the true Esoteric solution is before us. But a wider generalization is now to be formulated. |
Hãy đọc thay cho “các động vật mà con người đã thoái hóa thành” là “các nguyên mẫu mà con người đã rũ bỏ trong tiến trình các phát triển cảm dục của y”, và một phương diện của lời giải Nội môn đích thực sẽ hiện ra trước chúng ta. Nhưng nay cần phải trình bày một khái quát rộng hơn. |
|
So far as our present Fourth Round terrestrial period is concerned, the mammalian fauna are alone to be regarded as traceable to prototypes shed by Man. The amphibia, birds, reptiles, fishes, etc., are the resultants of the Third Round, astral fossil forms stored up in the auric envelope of the Earth and projected into physical objectivity subsequent to the deposition of the first Laurentian rocks. “Evolution” has to deal with the progressive modifications, which Palæontology shows to have affected the lower animal and vegetable kingdoms in the course of geological time. It does not, and from the nature of things cannot, touch on the subject of the pre-physical types which served as the basis for future differentiation. Tabulate the general laws controlling the development of physical organisms it certainly may, and to a certain extent it has acquitted itself ably of the task. |
Trong phạm vi thời kỳ địa cầu hiện nay của Cuộc tuần hoàn thứ tư chúng ta, chỉ riêng hệ động vật có vú mới phải được xem là có thể truy nguyên đến các nguyên mẫu do Con Người rũ bỏ. Lưỡng cư, chim, bò sát, cá, v.v., là các kết quả của Cuộc tuần hoàn thứ ba, những hình tướng hóa thạch cảm dục được tích trữ trong lớp bao hào quang của Trái Đất và được phóng chiếu vào khách quan tính hồng trần sau khi các đá Laurentian đầu tiên lắng đọng. “Tiến hóa” đề cập đến những biến đổi lũy tiến mà Cổ sinh vật học cho thấy đã tác động đến các giới động vật và giới thực vật thấp trong tiến trình thời gian địa chất. Nó không, và do bản chất sự vật không thể, chạm đến đề tài về các kiểu tiền hồng trần vốn đã làm nền tảng cho sự biến phân tương lai. Nó chắc chắn có thể lập bảng các định luật tổng quát chi phối sự phát triển của các cơ thể hồng trần, và ở một mức độ nào đó, nó đã hoàn thành nhiệm vụ ấy một cách khéo léo. |
|
To return to the immediate subject of discussion. The mammalia, whose first traces are discovered in the marsupials of the Triassic rocks of the Secondary period, were evolved from purely astral progenitors contemporary with the Second Race. They are thus post-human, and, consequently, it is easy to account for the general resemblance between their embryonic stages and those of Man, who necessarily embraces in himself and epitomizes in his development the features of the group he originated. This explanation disposes of a portion of the Darwinist brief. |
Trở lại đề tài đang bàn trực tiếp. Các loài thú có vú, những dấu vết đầu tiên của chúng được phát hiện nơi các loài có túi trong đá Triassic của thời kỳ Secondary, đã tiến hóa từ những tổ tiên thuần túy cảm dục, đồng thời với Giống dân thứ hai. Vì vậy chúng là hậu nhân loại, và do đó, thật dễ giải thích sự tương đồng tổng quát giữa các giai đoạn phôi thai của chúng và các giai đoạn phôi thai của Con Người, vốn tất yếu ôm chứa trong chính mình và tóm lược trong sự phát triển của mình các đặc điểm của nhóm mà y đã khởi sinh. Lời giải thích này xử lý một phần trong hồ sơ biện hộ của thuyết Darwin. |
|
But how to account for the presence of the gill-clefts in the human fœtus, which represent the stage through which the branchiæ of the fish are developed; 1623 for the pulsating vessel corresponding to the heart of the lower fishes, which constitutes the fœtal heart; for the entire analogy presented by the segmentation of the human ovum, the formation of the blastoderm, and the appearance of the “gastrula”stage, with corresponding stages in lower vertebrate life and even among the sponges; for the various types of lower animal life which the form of the future child shadows forth in the cycle of its growth?… How comes it to pass that stages in the life of fishes, whose ancestors swam [æons before the epoch of the First Root-Race] in the seas of the Silurian period, as well as stages in that of the later amphibian, reptilian fauna, are mirrored in the “epitomized history”of human fœtal development? |
Nhưng làm sao giải thích sự hiện diện của các khe mang trong bào thai người, vốn biểu thị giai đoạn mà qua đó các mang của cá phát triển; làm sao giải thích mạch đập tương ứng với tim của các loài cá thấp, vốn cấu thành tim bào thai; làm sao giải thích toàn bộ sự tương đồng được trình bày bởi sự phân đoạn của trứng người, sự hình thành lớp mầm, và sự xuất hiện của giai đoạn “gastrula”, với các giai đoạn tương ứng trong đời sống động vật có xương sống thấp và thậm chí giữa các loài bọt biển; làm sao giải thích các kiểu đời sống động vật thấp khác nhau mà hình tướng của đứa trẻ tương lai phác họa trong chu kỳ tăng trưởng của nó?… Làm thế nào mà các giai đoạn trong đời sống cá, những tổ tiên của chúng đã bơi [nhiều đại kiếp trước kỷ nguyên của Giống dân gốc thứ nhất] trong các biển của thời kỳ Silurian, cũng như các giai đoạn trong đời sống của hệ động vật lưỡng cư và bò sát muộn hơn, lại được phản chiếu trong “lịch sử tóm lược” của sự phát triển bào thai người? |
|
This plausible objection is met by the reply that the Third Round terrestrial animal forms were just as much referable to types thrown off by Third Round Man, as that new importation into our planet’s area—the mammalian stock—is to the Fourth Round Humanity of the Second Root-Race. The process of human fœtal growth epitomizes not only the general characteristics of the Fourth, but of the Third Round terrestrial life. The diapason of type is run through in brief. Occultists are thus at no loss to “account for” the birth of children with an actual caudal appendage, or for the fact that the tail in the human fœtus is, at one period, double the length of the nascent legs. The potentiality of every organ useful to animal life is locked up in Man—the Microcosm of the Macrocosm—and abnormal conditions may not unfrequently result in the strange phenomena which Darwinists regard as “reversion to ancestral features.” 1624 Reversion, indeed, but scarcely in the sense contemplated by our present-day empiricists! |
Sự phản bác có vẻ hợp lý này được đáp lại bằng câu trả lời rằng các hình tướng động vật địa cầu của Cuộc tuần hoàn thứ ba cũng có thể quy về các kiểu do Con Người Cuộc tuần hoàn thứ ba phóng xuất, hệt như nguồn nhập mới vào khu vực hành tinh chúng ta—dòng thú có vú—có thể quy về Nhân loại Cuộc tuần hoàn thứ tư của Giống dân gốc thứ hai. Tiến trình tăng trưởng bào thai người tóm lược không chỉ các đặc tính tổng quát của đời sống địa cầu Cuộc tuần hoàn thứ tư, mà cả của Cuộc tuần hoàn thứ ba. Toàn âm giai của kiểu loại được lướt qua trong dạng cô đọng. Vì vậy các nhà huyền bí học không hề lúng túng khi “giải thích” sự sinh ra của những đứa trẻ có phụ bộ đuôi thật sự, hay sự kiện rằng cái đuôi trong bào thai người, ở một thời kỳ, dài gấp đôi đôi chân đang mới hình thành. Tiềm năng của mọi cơ quan hữu dụng cho đời sống động vật đều được khóa kín trong Con Người—Tiểu thiên địa của Đại thiên địa—và các điều kiện bất thường không hiếm khi có thể đưa đến những hiện tượng kỳ lạ mà các nhà Darwin luận xem là “sự quay trở lại các đặc điểm tổ tiên.” Quả thật là quay trở lại, nhưng hầu như không theo ý nghĩa mà các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa thời nay của chúng ta nghĩ đến! |
C. Darwinism And The Antiquity Of Man: The Anthropoids And Their Ancestry. — C. Thuyết Darwin Và Tính Cổ Xưa Của Con Người: Các Loài Vượn Dạng Người Và Tổ Tiên Của Chúng.
|
The public has been notified by more than one eminent modern Geologist and man of Science, that: All estimate of geological duration is not merely imperfect, but necessarily impossible; for we are ignorant of the causes, though they must have existed, which quickened or retarded the progress of the sedimentary deposits. 1625 |
Công chúng đã được hơn một nhà Địa chất học và nhà Khoa học hiện đại lỗi lạc thông báo rằng: Mọi ước tính về thời lượng địa chất không chỉ bất toàn, mà tất yếu là bất khả; vì chúng ta không biết các nguyên nhân—dù chúng hẳn đã từng tồn tại—đã làm nhanh lên hay chậm lại tiến trình lắng đọng trầm tích. |
|
And now another man of Science, as well known (Croll) calculating that the Tertiary age began either fifteen or two-and-a-half million years ago—the former being a more correct calculation, according to Esoteric Doctrine, than the latter—there seems in this case, at least, no very great disagreement. Exact Science, refusing to see in man a “special creation” (to a certain degree the Secret Sciences do the same), is at liberty to ignore the first three, or rather two-and-a-half Races—the spiritual, the semi-astral, and the semi-human—of our teachings. But it can hardly do the same in the case of the Third, at its closing period, the Fourth, and the Fifth Races, since it already divides mankind into Palæolithic and Neolithic man. 1626 The Geologists of France place man in the Mid-Miocene age (Gabriel de Mortillet), and some even in the Secondary period, as de Quatrefages suggests; while the English savants do not generally accept such antiquity for their species. But they may know better some day. For, as says Sir Charles Lyell: If we consider the absence or extreme scarcity of human bones and works of art in all strata, whether marine or fresh-water, even in those formed in the immediate proximity of land inhabited by millions of human beings, we shall be prepared for the general dearth of human memorials in glacial formations, whether recent, pleistocene, or of more ancient date. If there were a few wanderers over lands covered with glaciers, or over seas infested with icebergs, and if a few of them left their bones or weapons in moraines or in marine drifts, the chances, after the lapse of thousands of years, of a geologist meeting with one of them must be infinitesimally small. 1627 |
Và nay một nhà Khoa học khác, cũng nổi tiếng không kém (Croll), khi tính rằng thời đại Tertiary đã bắt đầu hoặc mười lăm triệu năm hoặc hai triệu rưỡi năm trước—con số trước, theo Giáo Lý Nội môn, là phép tính đúng hơn con số sau—thì ít nhất trong trường hợp này dường như không có sự bất đồng quá lớn. Khoa học Chính xác, khi từ chối thấy trong con người một “sự sáng tạo đặc biệt” (ở một mức độ nào đó các Khoa học Bí nhiệm cũng làm như vậy), có quyền bỏ qua ba Giống dân đầu, hay đúng hơn là hai Giống dân rưỡi đầu—tinh thần, bán cảm dục, và bán nhân loại—trong giáo huấn của chúng ta. Nhưng nó khó có thể làm như vậy đối với Giống dân thứ ba, vào giai đoạn kết thúc của giống dân ấy, Giống dân thứ tư và Giống dân thứ năm, vì nó đã chia nhân loại thành người Cựu thạch khí và Tân thạch khí. Các nhà Địa chất học Pháp đặt con người vào thời đại giữa Miocene (Gabriel de Mortillet), và một số thậm chí vào thời kỳ Secondary, như de Quatrefages gợi ý; trong khi các học giả Anh nói chung không chấp nhận sự cổ xưa như thế cho giống loài của họ. Nhưng một ngày nào đó họ có thể biết rõ hơn. Vì như Sir Charles Lyell nói: Nếu chúng ta xét đến sự vắng mặt hay cực kỳ hiếm hoi của xương người và các tác phẩm nghệ thuật trong mọi tầng địa chất, dù là biển hay nước ngọt, ngay cả trong những tầng được hình thành ngay sát các vùng đất do hàng triệu con người cư trú, thì chúng ta sẽ sẵn sàng chấp nhận sự khan hiếm tổng quát các di tích nhân loại trong các thành hệ băng hà, dù mới, pleistocene, hay có niên đại cổ hơn. Nếu có một vài kẻ lang thang trên các vùng đất phủ băng, hoặc trên các biển đầy băng trôi, và nếu vài người trong số họ để lại xương hay vũ khí của mình trong các băng tích hoặc trong các trầm tích biển, thì khả năng một nhà địa chất gặp được một trong những thứ ấy sau hàng ngàn năm trôi qua hẳn phải nhỏ đến vô cùng. |
|
The men of Science avoid pinning themselves down to any definite statement concerning the age of man, as indeed they are hardly able to make any, and thus leave enormous latitude to bolder speculations. Nevertheless, while the majority of the Anthropologists carry back the existence of man only into the period of the post-glacial drift, or what is called the Quaternary period, those of them who, as Evolutionists, trace man to a common origin with the monkey, do not show great consistency in their speculations. The Darwinian hypothesis demands, in reality, a far greater antiquity for man, than is even dimly suspected by superficial thinkers. This is proven by the greatest authorities on the question—Mr. Huxley, for instance. Those, therefore, who accept the Darwinian evolution, ipso facto hold very tenaciously to an antiquity of man so very great, indeed, that it falls not so far short of the Occultist’s estimate. 1628 The modest thousands of years of the Encyclopædia Britannica and the 100,000 years, to which Anthropology in general limits the age of Humanity, seem quite microscopical when compared with the figures implied in Mr. Huxley’s bold speculations. The former, indeed, makes of the original race of men ape-like cave-dwellers. The great English Biologist, in his desire to prove man’s pithecoid origin, insists that the transformation of the primordial ape into a human being must have occurred millions of years back. For in criticizing the excellent cranial capacity of the Neanderthal skull, notwithstanding his assertion that it is overlaid with “pithecoid bony walls,” coupled with Mr. Grant Allen’s assurances that this skull— Possesses large bosses on the forehead, strikingly [?] suggestive of those which give the gorilla its peculiarly fierce appearance 1629— still Mr. Huxley is forced to admit that, in the said skull, his theory is once more defeated by the— Completely human proportions of the accompanying limb-bones, together with the fair development of the Engis skull. |
Các nhà Khoa học tránh tự ràng buộc mình vào bất kỳ phát biểu xác định nào liên quan đến tuổi của con người, vì thật ra họ hầu như không thể đưa ra phát biểu nào, và do đó để lại một khoảng rộng mênh mông cho những suy đoán táo bạo hơn. Tuy nhiên, trong khi đa số các nhà Nhân học chỉ đẩy lùi sự hiện hữu của con người đến thời kỳ trôi dạt hậu băng hà, hay cái được gọi là thời kỳ Quaternary, thì những người trong số họ, với tư cách là các nhà Tiến hóa luận, truy nguyên con người đến một nguồn gốc chung với loài khỉ, lại không cho thấy nhiều nhất quán trong các suy đoán của mình. Trên thực tế, giả thuyết Darwin đòi hỏi cho con người một tính cổ xưa lớn hơn nhiều so với điều mà các nhà tư tưởng hời hợt thậm chí lờ mờ nghi ngờ. Điều này được chứng minh bởi các thẩm quyền lớn nhất về vấn đề này—chẳng hạn ông Huxley. Do đó, những ai chấp nhận tiến hóa Darwin thì, tự sự kiện ấy, bám rất chặt vào một tính cổ xưa của con người thật sự vô cùng lớn, đến mức không còn kém quá xa so với ước tính của nhà huyền bí học. Những nghìn năm khiêm tốn của Encyclopædia Britannica và 100.000 năm mà Nhân học nói chung giới hạn cho tuổi của Nhân loại, dường như hết sức hiển vi khi so với các con số hàm chứa trong những suy đoán táo bạo của ông Huxley. Quả thật, lập trường trước biến giống dân nguyên thủy của con người thành những kẻ sống trong hang giống vượn. Nhà Sinh vật học vĩ đại người Anh, trong mong muốn chứng minh nguồn gốc vượn dạng người của con người, khăng khăng rằng sự chuyển đổi từ loài vượn nguyên sơ thành con người hẳn phải xảy ra cách đây hàng triệu năm. Vì khi phê bình dung tích sọ xuất sắc của sọ Neanderthal, bất chấp khẳng định của ông rằng nó được phủ bởi “những thành xương dạng vượn”, kèm theo lời bảo đảm của ông Grant Allen rằng cái sọ này— Có những ụ lớn trên trán, gợi lên một cách nổi bật [?] những ụ đã khiến gorilla có vẻ ngoài hung dữ đặc biệt — tuy nhiên ông Huxley vẫn buộc phải thừa nhận rằng, trong cái sọ nói trên, lý thuyết của ông một lần nữa bị đánh bại bởi— Những tỷ lệ hoàn toàn nhân loại của các xương chi đi kèm, cùng với sự phát triển khá tốt của sọ Engis. |
|
In consequence of all this we are notified that these skulls— Clearly indicate that the first traces of the primordial stock whence man has proceeded, need no longer be sought by those who entertain any form of the doctrine of progressive development in the newest Tertiaries; but that they may be looked for in an epoch more distant from the age of the elephas primigenius than that is from us. 1630 |
Do hệ quả của tất cả điều này, chúng ta được thông báo rằng các sọ ấy— Rõ ràng cho thấy rằng những dấu vết đầu tiên của dòng nguyên thủy từ đó con người đã xuất phát, đối với những ai chấp nhận bất kỳ hình thức nào của giáo lý phát triển lũy tiến, không còn cần phải được tìm kiếm trong các tầng Tertiary mới nhất nữa; mà có thể được tìm trong một kỷ nguyên xa thời đại của elephas primigenius hơn là thời đại ấy xa chúng ta. |
|
An untold antiquity for man is thus, then, the scientific sine quâ non in the question of Darwinian Evolution, since the oldest Palæolithic man shows as yet no appreciable differentiation from his modern descendant. It is only of late that Modern Science has with every year begun to widen the abyss that now separates her from ancient Science, as that of Pliny and Hippocrates; none of the old writers would have derided the Archaic Teachings with respect to the evolution of the human races and animal species, as the present day Scientist—Geologist or Anthropologist—is sure to do. |
Như vậy, một tính cổ xưa không thể kể xiết của con người là điều kiện khoa học tất yếu trong vấn đề Tiến hóa Darwin, vì người Cựu thạch khí cổ nhất cho đến nay vẫn chưa cho thấy sự biến phân đáng kể nào so với hậu duệ hiện đại của y. Chỉ gần đây Khoa học Hiện đại mới bắt đầu, mỗi năm, mở rộng vực thẳm hiện đang chia cách nó với Khoa học cổ xưa, như khoa học của Pliny và Hippocrates; không một tác giả cổ nào hẳn đã chế giễu các Giáo huấn Cổ xưa liên quan đến sự tiến hóa của các giống dân nhân loại và các loài động vật, như nhà Khoa học thời nay—Địa chất học hay Nhân học—chắc chắn sẽ làm. |
|
The pendulum of thought oscillates between extremes. Having now finally emancipated herself from the shackles of Theology, Science has embraced the opposite fallacy; and in the attempt to interpret Nature on purely materialistic lines, she has built up that most extravagant theory of the ages—the derivation of man from a ferocious and brutal ape. So rooted has this doctrine now become, in one form and another, that the most Herculean efforts will be needed to bring about its final rejection. The Darwinian Anthropology is the incubus of the Ethnologist, a sturdy child of modern Materialism, which has grown up and acquired increasing vigour, as the ineptitude of the theological legend of Man’s “creation” became more and more apparent. It has thriven on account of the strange delusion that—as a Scientist of repute puts it: All hypotheses and theories with respect to the rise of man can be reduced to two [the evolutionist and the biblical exoteric account]…. There is no other hypothesis conceivable [!!]. |
Con lắc của tư tưởng dao động giữa các cực đoan. Nay cuối cùng đã giải phóng mình khỏi xiềng xích của Thần học, Khoa học lại ôm lấy sai lầm đối lập; và trong nỗ lực giải thích Thiên nhiên theo những đường lối hoàn toàn duy vật, nó đã dựng lên lý thuyết phóng túng nhất của các thời đại—sự xuất phát của con người từ một loài vượn hung dữ và tàn bạo. Giáo lý này nay đã bén rễ sâu, dưới hình thức này hay hình thức khác, đến nỗi sẽ cần những nỗ lực như kỳ công của Hercules để đưa đến sự bác bỏ chung cuộc của nó. Nhân học Darwin là cơn ác mộng đè nặng lên nhà Dân tộc học, một đứa con cứng cáp của Chủ nghĩa Duy vật hiện đại, đã lớn lên và đạt được sinh lực ngày càng tăng, khi sự vụng về của truyền thuyết thần học về “sự sáng tạo” con người ngày càng trở nên rõ rệt. Nó đã phát triển mạnh nhờ ảo tưởng kỳ lạ rằng—như một nhà Khoa học có uy tín nói: Mọi giả thuyết và lý thuyết liên quan đến sự xuất hiện của con người đều có thể quy về hai [thuyết tiến hóa và tường thuật ngoại môn theo Kinh Thánh]…. Không có giả thuyết nào khác có thể quan niệm được [!!]. |
|
The anthropology of the Secret Volumes is, however, the best possible answer to such a worthless contention. |
Tuy nhiên, nhân học của các Quyển Bí nhiệm là câu trả lời tốt nhất có thể cho một luận điểm vô giá trị như thế. |
|
The anatomical resemblance between man and the higher ape, so frequently cited by Darwinists as pointing to some former ancestor common to both, presents an interesting problem, the proper solution of which is to be sought for in the Esoteric explanation of the genesis of the pithecoid stocks. We have given it as far as it was useful, by stating that the bestiality of the primeval mindless races resulted in the production of huge man-like monsters—the offspring of human and animal parents. As time rolled on, and the still semi-astral forms consolidated into the physical, the descendants of these creatures were modified by external conditions, until the breed, dwindling in size, culminated in the lower apes of the Miocene period. With these the later Atlanteans renewed the sin of the “Mindless”—this time with full responsibility. The resultants of their crime were the apes now known as anthropoid. |
Sự tương đồng giải phẫu giữa con người và loài vượn cao, vốn thường được các nhà Darwin luận trích dẫn như chỉ về một tổ tiên trước kia chung cho cả hai, trình bày một vấn đề thú vị, mà lời giải đúng đắn phải được tìm trong lối giải thích Nội môn về nguồn gốc các dòng vượn dạng người. Chúng ta đã trình bày điều ấy trong phạm vi hữu ích, bằng cách nói rằng tính thú vật của các giống dân nguyên sơ không trí đã đưa đến sự sản sinh những quái vật khổng lồ giống người—con cháu của cha mẹ người và thú. Khi thời gian trôi qua, và các hình tướng còn bán cảm dục được cô đặc thành hồng trần, hậu duệ của các sinh vật này bị các điều kiện bên ngoài biến đổi, cho đến khi dòng giống, suy giảm kích thước, đạt cực điểm nơi các loài vượn thấp của thời kỳ Miocene. Với chúng, những người Atlantis về sau đã lặp lại tội lỗi của những kẻ “Không Trí”—lần này với đầy đủ trách nhiệm. Các kết quả của tội ác của họ là những loài vượn nay được biết đến như vượn dạng người. |
|
It may be useful to compare this very simple theory—and we are willing to offer it merely as a hypothesis to the unbelievers—with the Darwinian scheme, so full of insurmountable obstacles, that no sooner is one of them overcome by a more or less ingenious hypothesis, than ten worse difficulties are forthwith discovered behind the one disposed of. |
Có thể hữu ích khi so sánh lý thuyết rất đơn giản này—và chúng tôi sẵn lòng đưa nó ra chỉ như một giả thuyết cho những người không tin—với hệ thống Darwin, đầy những chướng ngại không thể vượt qua, đến nỗi vừa khi một trong số chúng được vượt qua bằng một giả thuyết ít nhiều khéo léo, thì mười khó khăn tệ hơn lập tức được phát hiện đằng sau khó khăn vừa được xử lý. |
Footnotes
|
Footnotes |
Chú thích |
|
1553 |
|
|
De Quatrefages, The Human Species, p. 111. The respective developments of the human and simian brains are referred to. “In the ape the temporo-sphenoidal convolutions, which form the middle lobe, make their appearance and are completed before the anterior convolutions which form the frontal lobe. In man, on the contrary, the frontal convolutions are the first to appear, and those of the middle lobe are formed later.” (Ibid.) |
De Quatrefages, Loài Người, tr. 111. Ở đây đề cập đến sự phát triển tương ứng của bộ não người và bộ não vượn. “Ở loài vượn, các hồi thái dương-bướm, vốn tạo thành thùy giữa, xuất hiện và hoàn tất trước các hồi phía trước vốn tạo thành thùy trán. Trái lại, ở con người, các hồi trán là những hồi đầu tiên xuất hiện, còn các hồi của thùy giữa được hình thành về sau.” (Cùng tác phẩm.) |
|
1554 |
|
|
Doctrine of Descent and Darwinism, p. 290. |
Học Thuyết về Dòng Dõi và Thuyết Darwin, tr. 290. |
|
1555 |
|
|
Series II, Vol. VI, p. 769 (Ed. 1886). To this an editorial remark adds that an “F.J.B.,” in the Athenæum (No. 3069, Aug. 21, 1886, pp. 242-3), points out that Naturalists have long recognized that there are “morphological” and “physiological” species. The former have their origin in men’s minds, the latter in a series of changes sufficient to affect the internal as well as the external organs of a group of allied individuals. The “physiological selection” of morphological species is a confusion of ideas; that of physiological species a redundancy of terms. |
Loạt II, Quyển VI, tr. 769 (ấn bản 1886). Về điểm này, một nhận xét biên tập thêm rằng một “F.J.B.”, trong tạp chí Athenæum (số 3069, ngày 21 tháng 8 năm 1886, tr. 242-3), chỉ ra rằng các nhà tự nhiên học từ lâu đã công nhận có những loài “hình thái học” và “sinh lý học”. Loại trước có nguồn gốc trong trí tuệ con người, loại sau trong một chuỗi biến đổi đủ để tác động đến các cơ quan bên trong cũng như bên ngoài của một nhóm cá thể có quan hệ gần gũi. “Sự tuyển chọn sinh lý” đối với các loài hình thái học là một sự lẫn lộn ý tưởng; còn đối với các loài sinh lý học thì là một sự thừa thuật ngữ. |
|
1556 |
|
|
Op. cit., p. 79. |
Tác phẩm đã dẫn, tr. 79. |
|
1557 |
|
|
Ibid., p. 48. |
Cùng tác phẩm, tr. 48. |
|
1558 |
|
|
Nageli’s “principle of perfectibility”; von de Baer’s “striving towards the purpose”; Braun’s “divine breath as the inward impulse in the evolutionary history of Nature”; Professor Owen’s “tendency to perfectibility,” etc., are all expressive of the veiled manifestations of the universal guiding Fohat, rich with the Divine and Dhyân-Chohanic thought. |
“Nguyên lý về khả năng hoàn thiện” của Nageli; “sự vươn tới mục đích” của von de Baer; “hơi thở thiêng liêng như xung lực nội tại trong lịch sử tiến hoá của Thiên nhiên” của Braun; “khuynh hướng hướng tới khả năng hoàn thiện” của Giáo sư Owen, v.v., tất cả đều diễn đạt những biểu hiện được che phủ của Fohat phổ quát đang hướng dẫn, phong phú với tư tưởng thiêng liêng và Dhyân-Chohanic. |
|
1559 |
|
|
Hæckel on “Cell-Souls and Soul-Cells,” Pedigree of Man, Aveling’s Trans., see pp. 136, 150. |
Hæckel bàn về “Linh hồn Tế bào và Tế bào Linh hồn”, Phả Hệ của Con Người, bản dịch của Aveling, xem tr. 136, 150. |
|
1560 |
|
|
See infra, M. de Quatrefages’ exposé of Hæckel, in Section II, “The Ancestors Mankind is offered by Science.” |
Xem bên dưới, phần trình bày của ông de Quatrefages về Hæckel, trong Mục II, “Những Tổ Tiên mà Khoa Học Đưa Ra cho Nhân Loại”. |
|
1561 |
|
|
Strictly speaking, du Bois-Reymond is an Agnostic, and not a Materialist. He has protested most vehemently against the materialistic doctrine, which affirms mental phenomena to be merely the product of molecular motion. The most accurate physiological knowledge of the structure of the brain leaves us “nothing but matter in motion,” he asserts; “we must go further, and admit the utterly incomprehensible nature of the psychical principle, which it is impossible to regard as a mere outcome of material causes.” |
Nói một cách nghiêm nhặt, du Bois-Reymond là một nhà bất khả tri, chứ không phải là một nhà duy vật. Ông đã phản đối mạnh mẽ nhất học thuyết duy vật, vốn khẳng định rằng các hiện tượng trí tuệ chỉ là sản phẩm của chuyển động phân tử. Ông khẳng định rằng tri thức sinh lý học chính xác nhất về cấu trúc bộ não chỉ để lại cho chúng ta “không gì ngoài vật chất đang vận động”; “chúng ta phải đi xa hơn, và thừa nhận bản chất hoàn toàn không thể hiểu thấu của nguyên khí tâm linh, điều mà không thể xem như một kết quả đơn thuần của các nguyên nhân vật chất.” |
|
1562 |
|
|
See Hæckel’s “Present Position of Evolution,” op. cit., pp. 23, 24, 296, 297, notes. |
Xem “Vị Trí Hiện Nay của Tiến Hoá” của Hæckel, tác phẩm đã dẫn, tr. 23, 24, 296, 297, các chú thích. |
|
1563 |
|
|
Op. cit., pp. 34, 35, 36. |
Tác phẩm đã dẫn, tr. 34, 35, 36. |
|
1564 |
|
|
Measure for Measure, Act ii, Scene 2. |
Đo Lường để Đo Lường, Hồi ii, Cảnh 2. |
|
1565 |
|
|
Knowledge, January, 1882. |
Tri Thức, tháng 1 năm 1882. |
|
1566 |
|
|
T. Huxley, Man’s Place in Nature, p. 57. |
T. Huxley, Vị Trí của Con Người trong Thiên Nhiên, tr. 57. |
|
1567 |
|
|
Op. cit., “The Proofs of Evolution,” p. 273. |
Tác phẩm đã dẫn, “Các Bằng Chứng của Tiến Hoá”, tr. 273. |
|
1568 |
|
|
Author of Modern Science and Modern Thought. |
Tác giả của Khoa Học Hiện Đại và Tư Tưởng Hiện Đại. |
|
1569 |
|
|
Op. cit., pp. 102, 103. |
Tác phẩm đã dẫn, tr. 102, 103. |
|
1570 |
|
|
Op. cit., ii. 12, Wilson’s Transl. |
Tác phẩm đã dẫn, ii. 12, bản dịch của Wilson. |
|
1571 |
|
|
Op. cit., p. 104. In this, as has been shown in Part I, Modern Science has again been anticipated, far beyond its own speculations, by Archaic Science. |
Tác phẩm đã dẫn, tr. 104. Trong điều này, như đã được trình bày ở Phần I, Khoa Học Hiện Đại lại một lần nữa đã được Khoa Học Cổ Xưa đi trước, vượt xa những suy đoán của chính nó. |
|
1572 |
|
|
Ibid., pp. 104-106. |
Cùng tác phẩm, tr. 104-106. |
|
1573 |
|
|
Anthrop., 3rd edition, p. 11. |
Nhân Loại Học, ấn bản thứ 3, tr. 11. |
|
1574 |
|
|
Theosophists will remember that, according to Occult teaching, cyclic Pralayas so-called are but “Obscurations,” during which periods Nature, i.e., everything visible and invisible on a resting Planet—remains in statu quo. Nature rests and slumbers, no work of destruction going on upon the Globe even if no active work be done. All forms, as well as their astral types, remain as they were at the last moment of its activity. The “Night” of a Planet has hardly any twilight preceding it. It is caught like a huge mammoth by an avalanche, and remains slumbering and frozen till the next dawn of its new Day—a very short one indeed in comparison to the Day of Brahmâ. |
Các nhà Thông Thiên Học sẽ nhớ rằng, theo giáo huấn Huyền bí, những Giai kỳ qui nguyên theo chu kỳ, được gọi như thế, chỉ là những “Thời kỳ Che Khuất”, trong các thời kỳ ấy Thiên nhiên, tức là mọi sự hữu hình và vô hình trên một Hành tinh đang nghỉ ngơi, vẫn ở trong nguyên trạng. Thiên nhiên nghỉ ngơi và ngủ yên, không có công việc hủy diệt nào diễn ra trên bầu hành tinh, ngay cả khi không có công việc hoạt động nào được thực hiện. Mọi hình tướng, cũng như các nguyên mẫu cảm dục của chúng, vẫn còn như chúng đã ở vào khoảnh khắc cuối cùng của hoạt động. “Đêm” của một Hành tinh hầu như không có hoàng hôn đi trước. Nó bị bắt giữ như một con voi ma mút khổng lồ dưới trận tuyết lở, và vẫn ngủ yên, đóng băng cho đến bình minh kế tiếp của Ngày mới của nó — quả thật là một ngày rất ngắn so với Ngày của Brahmâ. |
|
1575 |
|
|
This will be pooh-poohed, because it will not be understood by our modern men of Science; but every Occultist and Theosophist will easily realize the process. There can be no objective form on Earth, nor in the Universe either, without its astral prototype being first formed in Space. From Phidias down to the humblest workman in the ceramic art, a sculptor has had to create first of all a model in his mind, then sketch it in dimensional lines, and then only can he reproduce it in a three dimensional or objective figure. And if the human mind is a living demonstration of such successive stages in the process of Evolution, how can it be otherwise when Nature’s Mind and creative powers are concerned? |
Điều này sẽ bị chế nhạo, vì các nhà Khoa học hiện đại của chúng ta sẽ không thấu hiểu nó; nhưng mọi nhà huyền bí học và nhà Thông Thiên Học sẽ dễ dàng nhận ra tiến trình ấy. Không thể có hình tướng khách quan nào trên Trái Đất, cũng như trong Vũ trụ, nếu nguyên mẫu cảm dục của nó không được hình thành trước trong Không gian. Từ Phidias cho đến người thợ khiêm tốn nhất trong nghệ thuật gốm, một nhà điêu khắc trước hết phải tạo ra một mô hình trong trí tuệ mình, rồi phác họa nó bằng các đường có chiều kích, và chỉ sau đó y mới có thể tái tạo nó thành một hình tượng ba chiều hay khách quan. Và nếu trí tuệ con người là một minh chứng sống động cho những giai đoạn kế tiếp như thế trong tiến trình tiến hoá, thì làm sao có thể khác đi khi nói đến Trí của Thiên nhiên và các quyền năng sáng tạo của nó? |
|
1576 |
|
|
See A Modern Zoroastrian, p. 103. |
Xem Một Người Zoroastrian Hiện Đại, tr. 103. |
|
1577 |
|
|
“Darwinian Theory” in Pedigree of Man, p. 22. |
“Thuyết Darwin” trong Phả Hệ của Con Người, tr. 22. |
|
1578 |
|
|
The Age and Origin of Man. |
Tuổi Đại và Nguồn Gốc của Con Người. |
|
1579 |
|
|
Man before Metals, p. 320, “International Scientific Series.” |
Con Người Trước Thời Kim Loại, tr. 320, “Tủ Sách Khoa Học Quốc Tế.” |
|
1580 |
|
|
Mr. Darwin’s Philosophy of Language, 1873. |
Triết Học về Ngôn Ngữ của ông Darwin, 1873. |
|
1581 |
|
|
Cf. his Doctrine of Descent and Darwinism, p. 304. |
So sánh với Giáo Thuyết về Dòng Dõi và Học Thuyết Darwin của ông, tr. 304. |
|
1582 |
|
|
A Modern Zoroastrian, p. 136. |
Một Tín Đồ Bái Hỏa Giáo Hiện Đại, tr. 136. |
|
1583 |
|
|
It thus appears that in its anxiety to prove our noble descent from the catarrhine “baboon,” Hæckel’s school has pushed back the times of pre-historic man millions of years. (See Pedigree of Man, p. 273.) Occultists, render thanks to Science for such corroboration of our claims! |
Như thế, có vẻ như trong nỗi lo âu muốn chứng minh dòng dõi cao quý của chúng ta từ loài “khỉ đầu chó” mũi hẹp, trường phái của Haeckel đã đẩy lùi thời đại của con người tiền sử về trước hàng triệu năm. Xem Gia Phả của Con Người, tr. 273. Hỡi các nhà huyền bí học, hãy tạ ơn Khoa Học vì sự chứng thực như thế đối với những khẳng định của chúng ta! |
|
1584 |
|
|
This seems a poor compliment to pay Geology, which is not a speculative but as exact a Science as Astronomy—save, perhaps, its too risky chronological speculations. It is mainly a “descriptive” as opposed to an “abstract” Science. |
Điều này dường như là một lời khen khá nghèo nàn dành cho Địa Chất Học, vốn không phải là một Khoa Học suy đoán mà chính xác như Thiên Văn Học—ngoại trừ, có lẽ, những suy đoán niên đại quá mạo hiểm của nó. Nó chủ yếu là một Khoa Học “mô tả”, đối lập với một Khoa Học “trừu tượng”. |
|
1585 |
|
|
Such newly-coined words as “perigenesis of plastids,” “plastidule souls” (!), and others less comely, invented by Hæckel, may be very learned and correct in so far as they may express very graphically the ideas in his own vivid fancy. As facts, however, they remain for his less imaginative colleagues painfully cænogenetic—to use his own terminology; i.e., for true Science they are spurious speculations, so long as they are derived from “empirical sources.” Therefore, when he seeks to prove that “the origin of man from other mammals, and most directly from the catarrhine apes, is a deductive law, that follows necessarily from the inductive law of the theory of descent” (Anthropogeny, p. 392, quoted in Pedigree of Man, p. 295.)—his no less learned foes (du Bois-Reymond—for one) have a right to see in this sentence a mere jugglery of words; a “testimonium paupertatis of Natural Science”—as he himself complains, speaking, in return, of du Bois-Reymond’s “astonishing ignorance.” (See Pedigree of Man, notes on pp. 295, 296.) |
Những từ mới được đặt ra như “sự phát sinh chu vi của các thể tạo hình”, “linh hồn của các tiểu thể tạo hình” (!), và những từ khác kém đẹp đẽ hơn do Haeckel phát minh, có thể rất uyên bác và đúng đắn trong chừng mực chúng có thể diễn tả rất sinh động các ý tưởng trong trí tưởng tượng phong phú của chính ông. Tuy nhiên, với tư cách là sự kiện, chúng vẫn là những thứ gây đau đớn về mặt phát sinh lệch dạng đối với các đồng nghiệp ít giàu tưởng tượng hơn của ông—nói theo thuật ngữ của chính ông; nghĩa là, đối với Khoa Học chân chính, chúng là những suy đoán giả tạo, bao lâu chúng còn được rút ra từ “các nguồn kinh nghiệm”. Vì vậy, khi ông tìm cách chứng minh rằng “nguồn gốc của con người từ các loài có vú khác, và trực tiếp nhất là từ loài vượn mũi hẹp, là một định luật diễn dịch, tất yếu phát sinh từ định luật quy nạp của thuyết dòng dõi” (Nhân Sinh Học, tr. 392, được trích trong Gia Phả của Con Người, tr. 295.)—những đối thủ không kém uyên bác của ông (du Bois-Reymond—chẳng hạn) có quyền thấy trong câu này chỉ là trò xiếc chữ nghĩa; một “chứng thư về sự nghèo nàn của Khoa Học Tự Nhiên”—như chính ông phàn nàn, khi đáp lại bằng cách nói về “sự ngu dốt đáng kinh ngạc” của du Bois-Reymond. Xem Gia Phả của Con Người, các chú thích ở tr. 295, 296. |
|
1586 |
|
|
Pedigree of Man, p. 273. |
Gia Phả của Con Người, tr. 273. |
|
1587 |
|
|
Anthropogeny, p. 392. Quoted in Pedigree of Man, p. 295. |
Nhân Sinh Học, tr. 392. Được trích trong Gia Phả của Con Người, tr. 295. |
|
1588 |
|
|
The mental barrier between man and ape, characterized by Huxley as an “enormous gap, a distance practically immeasurable” (!!) is, indeed, in itself conclusive. Certainly it constitutes a standing puzzle to the Materialist, who relies on the frail reed of “natural selection.” The physiological differences between Man and the Apes are in reality—despite a curious community of certain features—equally striking. Says Dr. Schweinfurth, one of the most cautious and experienced of Naturalists: “In modern times there are no animals in creation that have attracted a larger amount of attention from the scientific student of nature than these great quadrumana [the anthropoids], which are stamped with such a singular resemblance to the human form as to have justified the epithet of anthropomorphic…. But all investigation at present only leads human intelligence to a confession of its insufficiency; and nowhere is caution more to be advocated, nowhere is premature judgment more to be deprecated than in the attempt to bridge over the mysterious chasm which separates man and beast.” (Heart of Africa, i., 520. Ed., 1873.) |
Rào cản trí tuệ giữa con người và loài vượn, được Huxley mô tả là một “khoảng cách khổng lồ, một khoảng cách thực tế không thể đo lường” (!!), quả thật tự nó đã mang tính quyết định. Chắc chắn nó tạo thành một câu đố thường trực cho nhà Duy Vật, kẻ nương tựa vào cây sậy mong manh của “sự chọn lọc tự nhiên”. Những khác biệt sinh lý giữa Con Người và Loài Vượn, trên thực tế—bất chấp sự tương đồng kỳ lạ ở một vài đặc điểm—cũng nổi bật không kém. Tiến sĩ Schweinfurth, một trong những Nhà Tự Nhiên Học thận trọng và giàu kinh nghiệm nhất, nói: “Trong thời hiện đại, không có loài vật nào trong cõi tạo sinh thu hút sự chú ý lớn hơn từ đạo sinh khoa học về tự nhiên cho bằng những loài bốn tay lớn này [các loài giống người], vốn mang một nét tương đồng kỳ lạ với hình tướng con người đến mức đã biện minh cho danh xưng mang dạng người…. Nhưng mọi cuộc khảo sát hiện nay chỉ đưa trí tuệ con người đến chỗ thú nhận sự bất túc của nó; và không nơi nào sự thận trọng cần được khuyến nghị hơn, không nơi nào sự phán đoán vội vàng cần bị chê trách hơn, cho bằng trong nỗ lực bắc cầu qua vực thẳm huyền bí ngăn cách con người và thú vật.” (Trái Tim Châu Phi, i., 520. Bản in 1873.) |
|
1589 |
|
|
The Descent of Man, p. 160. Ed. 1888. A ridiculous instance of evolutionist contradictions is afforded by Schmidt (Doctrine of Descent and Darwinism, p. 292). He says: “Man’s kinship with the apes is… not impugned by the bestial strength of the teeth of a male orang or gorilla.” Mr. Darwin, on the contrary, endows this fabulous being with teeth used as weapons! |
Dòng Dõi của Con Người, tr. 160. Bản in 1888. Một trường hợp lố bịch về những mâu thuẫn của các nhà tiến hóa luận được Schmidt đưa ra (Giáo Thuyết về Dòng Dõi và Học Thuyết Darwin, tr. 292). Ông nói: “Quan hệ thân thuộc của con người với loài vượn… không bị bác bỏ bởi sức mạnh thú tính nơi răng của một con đười ươi hoặc khỉ đột đực.” Trái lại, ông Darwin lại ban cho sinh vật huyền thoại này những chiếc răng được dùng như vũ khí! |
|
1590 |
|
|
According even to a fellow-thinker, Professor Schmidt, Darwin has evolved “a certainly not flattering, and perhaps in many points not correct, portrait of our presumptive ancestors in the phase of dawning humanity.” (Doctrine of Descent and Darwinism, p. 284.) |
Ngay cả theo một người đồng quan điểm, Giáo sư Schmidt, Darwin đã tạo ra “một bức chân dung chắc chắn không tâng bốc, và có lẽ ở nhiều điểm không đúng, về các tổ tiên giả định của chúng ta trong giai đoạn nhân tính vừa hé rạng.” (Giáo Thuyết về Dòng Dõi và Học Thuyết Darwin, tr. 284.) |
|
1591 |
|
|
The Human Species, pp. 106-108. |
Giống Loài Người, tr. 106-108. |
|
1592 |
|
|
Op. cit., p. 77. |
Tác phẩm đã dẫn, tr. 77. |
|
1593 |
|
|
Pp. 109, 110. |
Tr. 109, 110. |
|
1594 |
|
|
Op. cit., p. 110. |
Tác phẩm đã dẫn, tr. 110. |
|
1595 |
|
|
Of course the Esoteric system of Fourth Round Evolution is much more complex than the paragraph and quotations referred to categorically assert. It is practically a reversal—both in embryological inference and succession in time of species—of the current Western conception. |
Dĩ nhiên, hệ thống Nội Môn về tiến hoá của Cuộc Tuần Hoàn Thứ Tư phức tạp hơn nhiều so với điều mà đoạn văn và các trích dẫn được nêu đã khẳng định một cách dứt khoát. Trên thực tế, nó là một sự đảo ngược—cả trong suy luận phôi thai học lẫn trình tự thời gian của các loài—đối với quan niệm phương Tây hiện hành. |
|
1596 |
|
|
According to Hæckel, there are also “cell-souls” and “atom-cells”; an “inorganic molecular soul” without, and a “plastidular soul” with, or possessing, memory. What are our Esoteric teachings to this? The divine and human soul of the seven principles in man must, of course, pale and give way before such a stupendous revelation! |
Theo Haeckel, cũng có những “linh hồn tế bào” và “tế bào nguyên tử”; một “linh hồn phân tử vô cơ” không có ký ức, và một “linh hồn tiểu thể tạo hình” có, hay sở hữu, ký ức. Những giáo huấn Nội Môn của chúng ta là gì trước điều này? Linh hồn thiêng liêng và nhân loại trong bảy nguyên khí nơi con người dĩ nhiên phải lu mờ và nhường chỗ trước một mặc khải phi thường như thế! |
|
1597 |
|
|
The Pedigree of Man, p. 296. |
Gia Phả của Con Người, tr. 296. |
|
1598 |
|
|
A valuable confession, this. Only it makes the attempt to trace the descent of consciousness in man, as well as of his physical body, from Bathybius Hæckelii, still more humorous and empirical in the sense of Webster’s second definition. |
Đây là một lời thú nhận có giá trị. Chỉ có điều nó khiến nỗ lực truy nguyên dòng dõi của tâm thức nơi con người, cũng như của thể xác y, từ Bathybius Haeckelii, càng thêm khôi hài và kinh nghiệm theo nghĩa định nghĩa thứ hai của Webster. |
|
1599 |
|
|
Ibid. |
Cùng sách. |
|
1600 |
|
|
Those who take the opposite view and look upon the existence of the human Soul— “as a supernatural, a spiritual phenomenon, conditioned by forces altogether different from ordinary physical forces,” mock, he thinks, “in consequence, all explanation that is simply scientific.” They have no right it seems, to assert that “psychology is, in part, or in whole, a spiritual science, not a physical one.” The new discovery by Hæckel—one taught for thousands of years in all the Eastern religions, however—that animals have souls, will, and sensation, hence, soul-functions, leads him to make of Psychology the science of the Zoologists. The archaic teaching that the “soul” (the animal and human souls, or Kâma and Manas) “has its developmental history”—is claimed by Hæckel as his own discovery and innovation on an “untrodden [?] path”! He, Hæckel, will work out the comparative evolution of the soul in man and in other animals. The comparative morphology of the soul-organs, and the comparative physiology of the soul-functions, both founded on Evolution, thus become the psychological [really materialistic] problem of the scientific man. (“Cell-souls and Soul-cells,” pp. 135, 136, 137, Pedigree of Man.) |
Những người giữ quan điểm đối lập và xem sự tồn tại của Linh Hồn con người— “như một hiện tượng siêu nhiên, một hiện tượng tinh thần, chịu tác động của những mãnh lực hoàn toàn khác với các mãnh lực hồng trần thông thường,” theo ông nghĩ, “do đó chế nhạo mọi lối giải thích chỉ thuần khoa học.” Dường như họ không có quyền khẳng định rằng “tâm lý học, một phần hay toàn bộ, là một khoa học tinh thần, chứ không phải một khoa học hồng trần.” Tuy nhiên, khám phá mới của Haeckel—một điều đã được giảng dạy suốt hàng nghìn năm trong tất cả các tôn giáo Đông phương—rằng thú vật có linh hồn, ý chí và cảm giác, do đó có các chức năng của linh hồn, khiến ông biến Tâm Lý Học thành khoa học của các nhà Động Vật Học. Giáo huấn cổ xưa rằng “linh hồn” (các linh hồn thú vật và con người, hay Kama và Manas) “có lịch sử phát triển của nó”—được Haeckel nhận là phát hiện và sự đổi mới của riêng ông trên một “con đường chưa từng có ai bước [?]”! Ông, Haeckel, sẽ triển khai sự tiến hoá so sánh của linh hồn nơi con người và nơi các loài vật khác. Hình thái học so sánh của các cơ quan linh hồn, và sinh lý học so sánh của các chức năng linh hồn, cả hai đều đặt nền trên Tiến hoá, như thế trở thành vấn đề tâm lý học [thực ra là duy vật] của nhà khoa học. (“Linh Hồn Tế Bào và Tế Bào Linh Hồn,” tr. 135, 136, 137, Gia Phả của Con Người.) |
|
1601 |
|
|
The Pedigree of Man, note 20, p. 296. |
Gia Phả của Con Người, chú thích 20, tr. 296. |
|
1602 |
|
|
P. 119. |
Tr. 119. |
|
1603 |
|
|
See “Transmigration of Life-Atoms,” in Five Years of Theosophy, pp. 533-539. The collective aggregation of these atoms forms thus the Anima Mundi of our Solar System, the Soul of our little Universe, each atom of which is of course a Soul, a Monad, a little universe endowed with consciousness, hence with memory. (Vol. I, Part III, “Gods, Monads, and Atoms.”) |
Xem “Sự Chuyển Di của các Nguyên Tử Sự Sống,” trong Năm Năm Thông Thiên Học, tr. 533-539. Sự kết tụ tập thể của các nguyên tử này như thế tạo thành Linh Hồn Thế Giới của hệ mặt trời chúng ta, Linh Hồn của Vũ Trụ nhỏ bé của chúng ta, mỗi nguyên tử trong đó dĩ nhiên là một Linh Hồn, một chân thần, một tiểu vũ trụ được phú cho tâm thức, và do đó có ký ức. (Quyển I, Phần III, “Các Thượng Đế, Chân Thần, và Nguyên Tử.”) |
|
1604 |
|
|
Op. cit., p. 119. |
Tác phẩm đã dẫn, tr. 119. |
|
1605 |
|
|
In “The Transmigration of Life-Atoms” (Five Years of Theosophy, p. 535), we say of the Jîva, or Life-Principle, in order to better explain a position which is but too often misunderstood: “It is omnipresent… though [on this plane of manifestation often]… in a dormant state [as in stone]…. The definition which states that when this indestructible force is ‘disconnected with one set of atoms [molecules ought to have been said] it becomes immediately attracted by others,’ does not imply that it abandons entirely the first set [because the atoms themselves would then disappear], but only that it transfers its vis viva, or living power—the energy of motion, to another set. But because it manifests itself in the next set as what is called kinetic energy, it does not follow that the first set is deprived of it altogether; for it is still in it, as potential energy or life latent.” Now what can Hæckel mean by his “not identical atoms, but their peculiar motion and mode of aggregation,” if it is not the same kinetic energy we have been explaining? Before evolving such theories, he must have read Paracelsus and studied Five Years of Theosophy without properly digesting the teachings. |
Trong “Sự luân chuyển của các nguyên tử-sự sống” (Năm Năm Thông Thiên Học, tr. 535), chúng tôi nói về nguyên khí sự sống, hay Nguyên Khí Sự Sống, nhằm giải thích rõ hơn một lập trường vốn quá thường bị hiểu lầm: “Nó hiện diện khắp nơi… dù [trên cõi biểu hiện này thường]… ở trong trạng thái tiềm ngủ [như trong đá]…. Định nghĩa nói rằng khi mãnh lực bất hoại này ‘tách khỏi một nhóm nguyên tử [phân tử lẽ ra phải nói như vậy] thì lập tức bị những nhóm khác thu hút,’ không hàm ý rằng nó hoàn toàn rời bỏ nhóm thứ nhất [bởi khi ấy chính các nguyên tử cũng sẽ biến mất], mà chỉ có nghĩa là nó chuyển sinh lực, hay quyền năng sống của nó — năng lượng vận động — sang một nhóm khác. Nhưng vì trong nhóm kế tiếp nó biểu hiện như cái được gọi là động năng, không vì thế mà suy ra rằng nhóm thứ nhất hoàn toàn bị tước mất nó; vì nó vẫn còn ở trong đó, như thế năng hay sự sống tiềm tàng.” Vậy Haeckel có thể muốn nói gì qua câu “không phải những nguyên tử đồng nhất, mà là chuyển động đặc thù và phương thức kết tập của chúng,” nếu đó không phải chính là động năng mà chúng tôi đã giải thích? Trước khi khai triển những lý thuyết như thế, ông hẳn đã đọc Paracelsus và nghiên cứu Năm Năm Thông Thiên Học mà không tiêu hóa đúng đắn các giáo huấn. |
|
1606 |
|
|
Op. cit., note 21, p. 296. |
Tác phẩm đã dẫn, chú thích 21, tr. 296. |
|
1607 |
|
|
Ibid., note 19. |
Cũng tác phẩm ấy, chú thích 19. |
|
1608 |
|
|
Ibid., note 23. |
Cũng tác phẩm ấy, chú thích 23. |
|
1609 |
|
|
Man’s Place in Nature, p. 159. |
Vị trí của Con Người trong Thiên Nhiên, tr. 159. |
|
1610 |
|
|
Op cit., p. 157. |
Tác phẩm đã dẫn, tr. 157. |
|
1611 |
|
|
Ibid., p. 161. |
Cũng tác phẩm ấy, tr. 161. |
|
1612 |
|
|
This the way primitive man must have acted? We are not aware of men, not even of savages, in our age, who are known to have imitated the apes which lived side by side with them in the forests of America and the islands. But we do know of large apes who, tamed and living in houses, will mimic men to the length of donning hats and coats. The writer once had a chimpanzee who, without being taught, opened a newspaper and pretended to read it. It is the descending generations, the children, who mimic their parents—not the reverse. |
Đây là cách con người nguyên thủy hẳn đã hành động chăng? Chúng tôi không biết có những người nào, ngay cả những người man dã trong thời đại chúng ta, được biết là đã bắt chước loài vượn sống kề bên họ trong các khu rừng châu Mỹ và trên các đảo. Nhưng chúng tôi biết có những loài vượn lớn, khi được thuần hóa và sống trong nhà, sẽ bắt chước con người đến mức đội mũ và mặc áo khoác. Người viết từng có một con tinh tinh, không ai dạy, đã mở một tờ báo và giả vờ đọc. Chính các thế hệ đi xuống, tức con cái, mới bắt chước cha mẹ mình — chứ không phải ngược lại. |
|
1613 |
|
|
Ibid., p. 151. |
Cũng tác phẩm ấy, tr. 151. |
|
1614 |
|
|
It is asked, whether it would change one iota of the scientific truth and fact contained in the above sentence if it were to read: “the ape is simply an instance of the biped type specialized for going on all fours generally, and with a smaller brain.” Esoterically speaking, this is the real truth, and not the reverse. |
Người ta hỏi rằng liệu có thay đổi một mảy may nào về chân lý và sự kiện khoa học chứa trong câu trên nếu câu ấy được viết: “con vượn chỉ đơn giản là một trường hợp của kiểu hai chân được chuyên biệt hóa để nói chung đi bằng cả bốn chi, và với một bộ não nhỏ hơn.” Nói một cách huyền bí, đây mới là chân lý thực sự, chứ không phải điều ngược lại. |
|
1615 |
|
|
Modern Science and Modern Thought, pp. 151, 152. |
Khoa Học Hiện Đại và Tư Tưởng Hiện Đại, tr. 151, 152. |
|
1616 |
|
|
We cannot follow Mr. Laing here. When avowed Darwinists like Huxley point to “the great gulf which intervenes between the lowest ape and the highest man in intellectual power,” the “enormous gulf… between them,” the “immeasurable and practically infinite divergence of the human from the simian stirps” (Man’s Place in Nature, p. 102 and note); when even the physical basis of mind—the brain—so vastly exceeds in size that of the highest existing apes; when men like Wallace are forced to invoke the agency of extra-terrestrial intelligences in order to explain the rise of such a creature as the pithecanthropus alalus, or speechless savage of Hæckel, to the level of the large-brained and moral man of to-day—when all this is the case, it is idle to dismiss evolutionist puzzles so lightly. If the structural evidence is so unconvincing and, taken as a whole, so hostile to Darwinism, the difficulties as to the “how” of the evolution of the human mind by natural selection are tenfold greater. |
Ở đây chúng tôi không thể theo ông Laing. Khi những người công khai theo Darwin như Huxley chỉ ra “vực thẳm lớn lao xen giữa con vượn thấp nhất và con người cao nhất về quyền năng trí tuệ,” “vực thẳm khổng lồ… giữa chúng,” “sự phân ly không thể đo lường và trên thực tế là vô hạn giữa chủng hệ người và chủng hệ vượn” (Vị trí của Con Người trong Thiên Nhiên, tr. 102 và chú thích); khi ngay cả nền tảng hồng trần của thể trí — bộ não — cũng vượt xa về kích thước so với bộ não của những loài vượn hiện tồn cao nhất; khi những người như Wallace buộc phải viện đến tác động của các trí tuệ ngoài Trái Đất để giải thích sự vươn lên của một sinh vật như người-vượn không tiếng nói, hay người man dã không lời của Haeckel, đến cấp độ của con người ngày nay có bộ não lớn và có đạo đức — khi tất cả những điều này là như vậy, thì thật vô ích khi gạt bỏ các nan đề của thuyết tiến hóa một cách nhẹ nhàng đến thế. Nếu bằng chứng cấu trúc lại thiếu sức thuyết phục đến vậy và, xét toàn bộ, lại đối nghịch với học thuyết Darwin đến vậy, thì những khó khăn liên quan đến “cách thức” tiến hóa của thể trí con người bằng chọn lọc tự nhiên còn lớn gấp mười lần. |
|
1617 |
|
|
A race which MM. de Quatrefages and Hamy regard as a branch of the same stock whence the Canary Island Guanches sprung—offshoots of the Atlanteans, in short. |
Một nhân loại mà các ông de Quatrefages và Hamy xem là một nhánh của cùng gốc mà từ đó người Guanche ở quần đảo Canary đã phát sinh — nói ngắn gọn, là các nhánh phụ của người Atlantis. |
|
1618 |
|
|
Ibid., pp. 180-182. |
Cũng tác phẩm ấy, tr. 180-182. |
|
1619 |
|
|
Pedigree of Man, p. 73. |
Phả hệ của Con Người, tr. 73. |
|
1620 |
|
|
Professor Owen believes that these muscles—the attollens, retrahens, and attrahens aurem—were actively functioning in men of the Stone age. This may or may not be the case. The question falls under the ordinary “occult” explanation, and involves no postulate of an “animal progenitor” to solve it. |
Giáo sư Owen tin rằng các cơ này — cơ nâng tai, cơ kéo tai về sau và cơ kéo tai về trước — đã hoạt động tích cực nơi con người thời Đồ Đá. Điều này có thể đúng hoặc không. Vấn đề thuộc về cách giải thích “huyền bí” thông thường, và không đòi hỏi phải đặt ra giả thuyết về một “tổ tiên động vật” để giải quyết. |
|
1621 |
|
|
Man’s Place in Nature, p. 104. To cite another good authority: “We find one of the most man-like apes (gibbon) in the Tertiary period, and this species is still in the same low grade, and side by side with it at the end of the Ice period, man is found in the same high grade as to-day, the ape not having approximated more nearly to the man, and modern man not having become further removed from the ape than the first (fossil) man… these facts contradict a theory of constant progressive development.” (Pfaff.) When, according to Vogt, the average Australian brain = 99·35 cub. inches; that of the gorilla 30·51, and that of the chimpanzee only 25·45, the giant gap to be bridged by the advocate of “Natural” Selection becomes apparent. |
Vị trí của Con Người trong Thiên Nhiên, tr. 104. Để trích dẫn một thẩm quyền đáng tin khác: “Chúng ta thấy một trong những loài vượn giống người nhất, tức vượn tay dài, trong kỷ Đệ Tam, và loài này vẫn ở cùng cấp độ thấp ấy, và cùng tồn tại bên cạnh nó vào cuối thời kỳ Băng Hà, con người được tìm thấy ở cùng cấp độ cao như ngày nay; con vượn không tiến gần hơn đến con người, và con người hiện đại cũng không tách xa hơn khỏi con vượn so với con người đầu tiên hóa thạch… những sự kiện này mâu thuẫn với một lý thuyết về sự phát triển tiến bộ liên tục.” (Pfaff.) Khi, theo Vogt, bộ não trung bình của người Úc bằng 99,35 inch khối; của khỉ đột là 30,51, và của tinh tinh chỉ 25,45, thì khoảng cách khổng lồ mà người bênh vực “Chọn Lọc Tự Nhiên” phải bắt cầu trở nên hiển nhiên. |
|
1622 |
|
|
Geo. T. Curtis, Creation or Evolution? p. 76. |
Geo. T. Curtis, Sáng Tạo hay Tiến Hóa?, tr. 76. |
|
1623 |
|
|
“At this period,” writes Darwin, “the arteries run in arch-like branches, as if to carry the blood to branchiæ which are not present in the higher vertebrata, though the slits on the side of the neck still remain, marking their former [?] position.” |
“Vào thời kỳ này,” Darwin viết, “các động mạch chạy thành những nhánh dạng vòm, như thể để đưa máu đến các mang vốn không hiện diện nơi các loài có xương sống cao hơn, dù các khe ở bên cổ vẫn còn, đánh dấu vị trí trước kia [?] của chúng.” |
|
It is noteworthy that, though gill-clefts are absolutely useless to all but amphibia and fishes, etc., their appearance is regularly noted in the fœtal development of vertebrates. Even children are occasionally born with an opening in the neck corresponding to one of the clefts. |
Đáng chú ý là, mặc dù các khe mang hoàn toàn vô dụng đối với mọi loài ngoại trừ lưỡng cư và cá, vân vân, sự xuất hiện của chúng vẫn được ghi nhận đều đặn trong sự phát triển bào thai của các loài có xương sống. Thậm chí đôi khi trẻ em sinh ra có một lỗ mở ở cổ tương ứng với một trong các khe ấy. |
|
1624 |
|
|
Those who with Hæckel regard the gill-clefts with their attendant phenomena as illustrative of an active function in our amphibian and piscine ancestors (see his twelfth and thirteenth stages), ought to explain why the “vegetable with leaflets” (Prof. André Lefèvre) represented in fœtal growth, does not appear in his twenty-two stages through which the Monera have passed in their ascent to Man. Hæckel does not postulate a vegetable ancestor. The embryological argument is thus a two-edged sword and here cuts its possessor. |
Những ai cùng với Haeckel xem các khe mang cùng những hiện tượng đi kèm như minh họa cho một chức năng hoạt động nơi các tổ tiên lưỡng cư và cá của chúng ta (xem các giai đoạn thứ mười hai và mười ba của ông), thì nên giải thích vì sao “cây có lá chét” (Giáo sư André Lefèvre), được biểu thị trong sự tăng trưởng bào thai, lại không xuất hiện trong hai mươi hai giai đoạn mà các Monera đã trải qua trong sự đi lên đến Con Người. Haeckel không đặt ra một tổ tiên thực vật. Như vậy, lập luận phôi thai học là một thanh gươm hai lưỡi, và ở đây nó cắt chính người sở hữu nó. |
|
1625 |
|
|
Lefèvre, Philosophy Historical and Critical, pt. ii. p. 480, “Library of Contemporary Science.” |
Lefèvre, Triết Học, Lịch Sử và Phê Bình, phần ii, tr. 480, “Thư Viện Khoa Học Đương Đại.” |
|
1626 |
|
|
We confess to not being able to see any good reasons for Mr. E. Clodd’s positive statement in Knowledge. Speaking of the men of Neolithic times, “concerning whom Mr. Grant Allen has given… a vivid and accurate sketch,” and who are “the direct ancestors of peoples of whom remnants yet lurk in out-of-the-way corners of Europe, where they have been squeezed or stranded,” he adds, “but the men of Palæolithic times can be identified with no existing races; they were savages of a more degraded type than any extant; tall, yet barely erect, with short legs and twisted knees, with prognathous, that is, projecting ape-like jaws, and small brains. Whence they come we cannot tell, and their ‘grave knoweth no man to this day.’ ” |
Chúng tôi thú nhận không thể thấy có lý do xác đáng nào cho phát biểu khẳng định của ông E. Clodd trong Tri Thức. Khi nói về con người thời Đồ Đá Mới, “về họ ông Grant Allen đã đưa ra… một phác họa sinh động và chính xác,” và họ là “tổ tiên trực tiếp của những dân tộc mà tàn dư vẫn còn ẩn náu trong các góc khuất của châu Âu, nơi họ đã bị dồn ép hoặc mắc cạn,” ông thêm, “nhưng con người thời Đồ Đá Cũ không thể được đồng nhất với bất kỳ nhân loại hiện tồn nào; họ là những người man dã thuộc một kiểu thoái hóa hơn bất kỳ kiểu nào còn tồn tại; cao lớn, nhưng hầu như chưa đứng thẳng, với chân ngắn và đầu gối vặn vẹo, với hàm nhô, nghĩa là hàm nhô ra giống vượn, và bộ não nhỏ. Họ đến từ đâu chúng ta không thể nói, và ‘mồ của họ cho đến ngày nay không ai biết.’ ” |
|
Besides the possibility that there may be men who know whence they came and how they perished—it is not true to say that the Palæolithic men, or their fossils, are all found with “small brains.” The oldest skull of all those hitherto found, the “Neanderthal skull,” is of average capacity, and Mr. Huxley was compelled to confess that it was no real approximation whatever to that of the “missing link.” There are aboriginal tribes in India whose brains are far smaller and nearer to that of the ape than any hitherto found among the skulls of Palæolithic man. |
Ngoài khả năng rằng có thể có những người biết họ đến từ đâu và đã diệt vong như thế nào — thì nói rằng người thời Đồ Đá Cũ, hay hóa thạch của họ, đều được tìm thấy với “bộ não nhỏ” là không đúng. Hộp sọ cổ nhất trong tất cả những hộp sọ cho đến nay đã tìm thấy, “hộp sọ Neanderthal,” có dung tích trung bình, và ông Huxley đã buộc phải thú nhận rằng nó tuyệt nhiên không phải là một sự xấp xỉ thực sự nào với “mắt xích còn thiếu.” Có những bộ lạc bản địa ở Ấn Độ có bộ não nhỏ hơn nhiều và gần với bộ não vượn hơn bất kỳ hộp sọ nào cho đến nay được tìm thấy trong số sọ người Đồ Đá Cũ. |
|
1627 |
|
|
Antiquity of Man, p. 246. |
Cổ Đại của Con Người, tr. 246. |
|
1628 |
|
|
The actual time required for such a theoretical transformation is necessarily enormous. “If,” says Professor Pfaff, “in the hundreds of thousands of years which you [the Evolutionists] accept between the rise of palæolithic man and our own day, a greater distance of man from the brute is not demonstrable [the most ancient man was just as far removed from the brute as the now living man], what reasonable ground can be advanced for believing that man has been developed from the brute, and has receded further from it by infinitely small gradations…. The longer the interval of time placed between our times and the so-called palæolithic men, the more ominous and destructive for the theory of the gradual development of man from the animal kingdom is the result stated.” Huxley writes (Man’s Place in Nature, p. 159) that the most liberal estimates for the antiquity of man must be still further extended. |
Thời gian thực tế cần thiết cho một sự chuyển đổi lý thuyết như thế tất yếu là khổng lồ. Giáo sư Pfaff nói: “Nếu trong hàng trăm nghìn năm mà các ông [những nhà tiến hóa luận] chấp nhận giữa sự xuất hiện của người Đồ Đá Cũ và thời đại chúng ta, không thể chứng minh được một khoảng cách lớn hơn giữa con người và loài thú [con người cổ nhất cũng cách xa loài thú đúng như con người đang sống hiện nay], thì có thể đưa ra cơ sở hợp lý nào để tin rằng con người đã phát triển từ loài thú, và đã rời xa nó hơn nữa bằng những cấp độ nhỏ vô hạn…. Khoảng thời gian được đặt giữa thời đại chúng ta và những người được gọi là Đồ Đá Cũ càng dài, thì kết quả vừa nêu càng trở nên đáng ngại và hủy hoại hơn đối với lý thuyết về sự phát triển dần dần của con người từ giới động vật.” Huxley viết (Vị trí của Con Người trong Thiên Nhiên, tr. 159) rằng các ước tính rộng rãi nhất về cổ đại của con người vẫn còn phải được mở rộng hơn nữa. |
|
1629 |
|
|
Fortnightly Review, 1882. The baselessness of this assertion, as well as that of many other exaggerations of the imaginative Mr. Grant Allen, was ably exposed by the eminent Anatomist, Professor R. Owen, in Longman’s Magazine, No. 1. Must it be repeated, moreover, that the Cro-Magnon Palæolithic type is superior to that of a very large number of existing races? |
Tạp chí Fortnightly, 1882. Tính vô căn cứ của khẳng định này, cũng như của nhiều phóng đại khác của ông Grant Allen giàu tưởng tượng, đã được nhà Giải phẫu học lỗi lạc, Giáo sư R. Owen, vạch rõ một cách tài tình trong Tạp chí Longman, số 1. Hơn nữa, có cần lặp lại rằng kiểu người Đồ Đá Cũ Cro-Magnon vượt trội hơn kiểu của rất nhiều nhân loại hiện tồn hay không? |
|
1630 |
|
|
It thus stands to reason that Science would never dream of a Pre-Tertiary man, and that de Quatrefages’ Secondary man makes every Academician and F.R.S. faint with horror because, to preserve the ape-theory, Science must make man Post-Secondary. This is just what de Quatrefages has twitted the Darwinists with, adding, that on the whole there were more scientific reasons for tracing the ape from man than man from the anthropoid. With this exception Science has not one single valid argument to offer against the antiquity of man. But in this case modern Evolution demands far more than the fifteen million years of Croll for the Tertiary period, for two very simple but good reasons: (a) no anthropoid ape has been found before the Miocene period; (b) man’s flint relics have been traced to the Pliocene and their presence suspected, if not accepted by all, in the Miocene strata. Again, where is the “missing link” in such case? And how could even a Palæolithic savage, a “man of Canstadt,” evolve into a thinking man from the brute dryopithecus of the Miocene in so short a time? One sees now the reason why Darwin rejected the theory that only 60,000,000 years had elapsed since the Cambrian period. “He judges from the small amount of organic change since the commencement of the glacial epoch, and adds that the previous 140 million years can hardly be considered as sufficient for the development of the varied forms of life which certainly existed toward the close of the Cambrian period.” (Ch. Gould, Mythical Monsters, p. 84.) |
Như vậy, điều hợp lý là Khoa học sẽ không bao giờ mơ đến một con người Tiền Đệ Tam, và con người Đệ Nhị của de Quatrefages khiến mọi Viện sĩ và Hội viên Hội Hoàng Gia ngất đi vì kinh hãi, bởi để bảo toàn thuyết-vượn, Khoa học phải đặt con người sau kỷ Đệ Nhị. Đây chính là điều de Quatrefages đã dùng để chế giễu những người theo Darwin, đồng thời nói thêm rằng xét toàn bộ, có nhiều lý do khoa học hơn để truy nguyên con vượn từ con người hơn là con người từ loài nhân hình. Ngoại trừ điểm này, Khoa học không có một lý lẽ hợp lệ duy nhất nào để đưa ra chống lại tính cổ đại của con người. Nhưng trong trường hợp này, thuyết Tiến hóa hiện đại đòi hỏi nhiều hơn rất nhiều so với mười lăm triệu năm của Croll cho kỷ Đệ Tam, vì hai lý do rất đơn giản nhưng xác đáng: (a) không có vượn nhân hình nào được tìm thấy trước kỷ Miocene; (b) các di vật bằng đá lửa của con người đã được truy nguyên đến kỷ Pliocene và sự hiện diện của chúng đã bị nghi ngờ, nếu chưa được tất cả chấp nhận, trong các tầng Miocene. Một lần nữa, trong trường hợp ấy “mắt xích còn thiếu” ở đâu? Và làm sao ngay cả một người man dã Đồ Đá Cũ, một “người Canstadt,” lại có thể tiến hóa thành một con người biết tư duy từ loài thú dryopithecus của kỷ Miocene trong một thời gian ngắn như thế? Giờ đây người ta thấy lý do vì sao Darwin bác bỏ lý thuyết rằng chỉ có 60.000.000 năm đã trôi qua kể từ kỷ Cambrian. “Ông phán đoán từ lượng biến đổi hữu cơ nhỏ bé kể từ đầu thời kỳ băng hà, và nói thêm rằng 140 triệu năm trước đó khó có thể được xem là đủ cho sự phát triển của các hình thái sự sống đa dạng chắc chắn đã tồn tại vào cuối kỷ Cambrian.” (Ch. Gould, Quái Vật Huyền Thoại, tr. 84.) |