GLAMOUR 98 (72-74)
Abstract
|
Dissipation of Glamour Initiative webinar 98, reading no. 38. Reading was from “Glamour: A World Problem” pages 72-73. Michael discussed the second, third, and fourth recognitions that one must understand when working with glamour. The second concerns the fog enveloping humanity is a definite substantial thing, although the astral forms created are less clearly defined than those created in mental substance. Generally undetectable by most people, the astral forms are described as smothering, vague, enveloping, submerging and swaying. The third recognition is that the great energetic potency of glamour is due to a) it’s an ancient rhythm inherent in astral substance that has been created by human desire; b) it’s part of the human energy system that is part of life processes; c) it is Atlantean in nature and consciousness, being highly developed during that period, and can only be dissipated by the fifth root-race through the technique of 1) standing in spiritual being and 2) keeping the mind steady in the light. The fourth recognition is that the major glamours holding humanity in the prison of form are those of materiality, sentiment, devotion, the pairs of opposites, and the Path. These will be more fully described in a future meeting. The meditation itself was on the glamour of selfishness. The webinar was led by Michael D. Robbins, with Olivia Hansen and Tuija Robbins. This meeting was held on December 14, 2018. |
Webinar Sáng Kiến Xua Tan Ảo cảm 98, bài đọc số 38. Bài đọc trích từ “Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới” trang 72-73. Michael đã bàn về nhận thức thứ hai, thứ ba và thứ tư mà người ta phải thấu hiểu khi làm việc với ảo cảm. Nhận thức thứ hai liên quan đến việc màn sương bao bọc nhân loại là một điều gì có thực thể chất liệu xác định, dù những hình tướng cảm dục được tạo ra kém rõ nét hơn những hình tướng được tạo ra trong chất liệu trí tuệ. Nói chung, hầu hết mọi người không nhận biết được các hình tướng cảm dục này; chúng được mô tả là nghẹt thở, mơ hồ, bao phủ, nhấn chìm và lay đảo. Nhận thức thứ ba là mãnh lực năng lượng lớn lao của ảo cảm là do: a) đó là một nhịp điệu cổ xưa cố hữu trong chất liệu cảm dục, được tạo ra bởi dục vọng của con người; b) nó là một phần trong hệ thống năng lượng của con người, thuộc về các tiến trình sự sống; c) nó mang bản chất và tâm thức Atlantis, đã phát triển rất cao trong thời kỳ ấy, và chỉ có thể được làm tiêu tan bởi giống dân gốc thứ năm thông qua kỹ thuật: 1) đứng vững trong hữu thể tinh thần và 2) giữ trí tuệ ổn định trong ánh sáng. Nhận thức thứ tư là những ảo cảm chính đang giam hãm nhân loại trong nhà tù của hình tướng là ảo cảm vật chất, cảm tính, Ảo cảm Sùng tín, các cặp đối cực và Con Đường. Những điều này sẽ được mô tả đầy đủ hơn trong một buổi họp sau. Bài thiền khi ấy hướng vào ảo cảm ích kỷ. Webinar do Michael D. Robbins chủ trì, cùng Olivia Hansen và Tuija Robbins. Buổi họp này được tổ chức ngày 14 tháng 12 năm 2018. |
Text
|
[Beginning of DOGI #98, Academic Reading #38 14Dec18, p.72— |
[Bắt đầu DOGI #98, Học thuật Bài đọc #38 14Dec18, tr.72— |
|
2. This fog, at this time must be realised as a definite substantial thing, and must be dealt with as such. [1a] [atomic…molecular…formal The disciple or aspirant who is seeking to dispel glamour, either in his own life or as a service rendered to the world, must recognise that he is working with substance, with the breaking up of the forms which it has assumed, and with the dissipation of a material all-enveloping substance—material in the same sense as thoughtforms are substantial things but (and here is a point of importance) of a less substantial nature than the forms of glamour found upon the astral plane. [1b] We are quite willing to remember that “thoughts are things” and that they have a form life and a purpose of their own. But they have a more unique and separative existence, and more clearly defined and more definite outlines [1c]. [hard line The forms of glamour on the astral plane are even more substantial but are less clearly defined. Thoughtforms are dynamic, penetrating, clear cut and outlined. [especially those created by the seventh ray influence Glamours are smothering, vague, and enveloping. [1d] In them, a person is immersed as in the ocean or in a “sea of fog.” With thoughtforms, he is confronted or faced, but not immersed. [Enfolded in indistinguishability [1e] It might almost be said that the astral body of a person comes into being as a part of the general world glamour; it is difficult for him to differentiate between his own astral body and the glamours which affect and sway and submerge him. [1f] His problem upon the mental plane is more clearly defined, even if it is equally difficult. [1g] [many lives may pass before extrication from these environing conditions…. [Page 73] |
2. Màn sương này, vào lúc này, phải được nhận ra là một điều gì có thực thể chất liệu xác định, và phải được xử lý như thế. [1a] [nguyên tử…phân tử…hình tướng Đệ tử hay người chí nguyện đang tìm cách làm tiêu tan ảo cảm, hoặc trong chính đời mình hoặc như một sự phụng sự dành cho thế giới, phải nhận ra rằng mình đang làm việc với chất liệu, với sự phá vỡ những hình tướng mà nó đã mang lấy, và với việc làm tiêu tan một chất liệu vật chất bao trùm khắp nơi—vật chất theo cùng ý nghĩa mà các Hình tư tưởng là những thực thể có chất liệu nhưng (và đây là một điểm quan trọng) có bản chất chất liệu kém đậm đặc hơn những hình tướng của ảo cảm được thấy trên cõi cảm dục. [1b] Chúng ta rất sẵn sàng nhớ rằng “tư tưởng là sự vật” và rằng chúng có một đời sống hình tướng và một mục đích riêng. Nhưng chúng có một sự hiện hữu độc đáo và tách biệt hơn, cùng những đường nét rõ ràng và xác định hơn [1c]. [đường nét rõ Những hình tướng của ảo cảm trên cõi cảm dục còn thực thể hơn nữa nhưng lại kém rõ nét hơn. Các Hình tư tưởng thì năng động, xuyên thấu, sắc nét và có đường viền rõ ràng. [đặc biệt là những hình được tạo ra bởi ảnh hưởng cung bảy Các ảo cảm thì nghẹt thở, mơ hồ và bao phủ. [1d] Trong chúng, một người bị chìm ngập như ở trong đại dương hay trong một “biển sương mù”. Với Hình tư tưởng, người ấy đối diện với chúng, chứ không bị chìm ngập trong chúng. [Được bao bọc trong sự không thể phân biệt [1e] Có thể gần như nói rằng thể cảm dục của một người hiện thành như một phần của ảo cảm chung của thế giới; người ấy khó phân biệt giữa thể cảm dục của chính mình với những ảo cảm đang ảnh hưởng và lay đảo và nhấn chìm mình. [1f] Vấn đề của người ấy trên cõi trí được xác định rõ hơn, dù khó khăn cũng ngang như vậy. [1g] [nhiều kiếp sống có thể trôi qua trước khi thoát ra khỏi những điều kiện bao quanh này…. [Trang 73] |
|
3. Astral glamour is a form of energy and an energy of great potency, owing to three factors: [2a] [why so potent at this time…. |
3. Ảo cảm cảm dục là một dạng năng lượng và là một năng lượng có mãnh lực rất lớn, do ba yếu tố: [2a] [vì sao lúc này nó lại mạnh đến vậy…. |
|
a. It is of such an ancient rhythm, [even the thought-form effect of our Moon is involved being inherent in astral substance itself, that it is most difficult for a human being to become aware of it or to understand it; it is the result of the age-long activity of human desire. [2b] [poorly directed, obviously |
a. Nó có một nhịp điệu quá cổ xưa, [ngay cả hiệu quả hình tư tưởng của Mặt Trăng chúng ta cũng có liên hệ vốn cố hữu trong chính chất liệu cảm dục, đến nỗi con người cực kỳ khó nhận biết hay thấu hiểu nó; nó là kết quả của hoạt động dục vọng của con người qua bao thời đại. [2b] [hiển nhiên là bị định hướng kém |
|
b. It is a corporate part of a man’s own energy nature, and therefore constitutes for him the line of least resistance; it is part of a great world process and therefore a part of the individual life process also, and is, in itself, not wrong but an aspect of reality. [2c] This realisation necessarily complicates man’s thought about it. [What are the type of desires that lead to reality and which to illusion. |
b. Nó là một phần hợp thành nơi chính bản chất năng lượng của con người, và vì vậy đối với con người, nó tạo thành con đường ít trở ngại nhất; nó là một phần của một tiến trình lớn lao của thế giới nên cũng là một phần của tiến trình sự sống cá nhân, và tự nó không sai trái mà là một phương diện của thực tại. [2c] Sự chứng nghiệm này tất yếu làm phức tạp tư tưởng của con người về nó. [Những loại dục vọng nào dẫn đến thực tại và những loại nào dẫn đến ảo tưởng. |
|
c. It is likewise definitely Atlantean in nature, being brought to a very high point of development in that race. [2d] It can therefore only be finally dissipated by the Aryan race using the right technique. The individual who is learning to dissipate glamour has to do two things: [2e] |
c. Nó cũng mang bản chất Atlantis một cách xác định, vì đã được đưa đến một điểm phát triển rất cao trong giống dân ấy. [2d] Vì vậy, nó chỉ có thể được làm tiêu tan rốt ráo bởi giống dân Arya khi sử dụng đúng kỹ thuật. Cá nhân đang học cách làm tiêu tan ảo cảm phải làm hai điều: [2e] |
|
1. Stand in spiritual being. [3a] |
1. Đứng vững trong hữu thể tinh thần. [3a] |
|
2. Keep the mind steady in the light. |
2. Giữ trí tuệ ổn định trong ánh sáng. |
|
From this it will be apparent that the energy of the astral plane as it expresses itself in the sentient desire life of the race, produces the major glamours of humanity, and can only be dissipated, dispersed and dispelled by the bringing in of the higher energy of the mind, motivated by the soul. [3b] |
Từ đó hiển nhiên rằng năng lượng của cõi cảm dục, khi biểu lộ trong đời sống dục vọng cảm thụ của nhân loại, tạo ra những ảo cảm lớn của nhân loại, và chỉ năng lượng cao hơn của trí tuệ, được linh hồn thúc đẩy, mới có thể làm tiêu tan, phân tán và xua tan chúng. [3b] |
|
4. The glamours which hold humanity in thrall are: |
4. Những ảo cảm đang trói buộc nhân loại là: |
|
a. The glamour of materiality. [3c] |
a. Ảo cảm vật chất. [3c] |
|
b. The glamour of sentiment. [3d] |
b. Ảo cảm cảm tính. [3d] |
|
c. The glamour of devotion. [3e] |
c. Ảo cảm Sùng tín. [3e] |
|
d. The glamour of the pairs of opposites. [3f] |
d. Ảo cảm về các cặp đối cực. [3f] |
|
e. The glamours of the Path. [3g] |
e. Các ảo cảm của Con Đường. [3g] |
|
[END of DOGI #99, Academic Reading #39, 14Dec18, p. 72—74 |
[KẾT THÚC DOGI #99, Bài đọc Học thuật #39, 14Dec18, tr. 72—74 |
Commentary
Review
|
Michael |
Michael |
|
Hi, everybody. Good morning, and we can see how pitch black[1] it is here. Here in Finland at this early hour, and I think we’ll get a little bit of light by 9:30 or something like that. |
Xin chào mọi người. Chào buổi sáng, và chúng ta có thể thấy ở đây trời tối đen như mực. Ở Phần Lan vào giờ rất sớm này, tôi nghĩ phải đến khoảng 9 giờ 30 mới có được một chút ánh sáng. |
|
Last night we have these St. Lucia days. It’s a kind of a festival of light. It’s very beautiful idea behind the whole thing. And and I know that this was what on Makara. And it’s already on the YouTube, where I think you can download it on Morya Federation esoteric education. But I’ve given you what I hope is a link that will work a hightail link. And you can download it from there if you would like because we’re still we’re still very much in that, and even some of the people in the United States are still on that day, the 13th of December. So if you want to see if you can download it from the hightail file, you’re most welcome to give that a try. I kind of scrambled and tried to get the link for you, but it was really beautiful service in the idea of someone. In those earlier days of Christianity when the Christians were being hunted in the catacombs, the idea of someone with such a strong will holding to her faith was really inspiring. Plus, it’s quite a call because it involves the whole idea of the eye and whether one can see through the third eye or whether one has to see through the normal eyes. You’ll understand if you listen to the broadcast, so hopefully you’ll be able to find it from there. |
Tối qua là những ngày Thánh Lucia. Đó là một loại lễ hội ánh sáng. Ý tưởng phía sau toàn bộ điều này rất đẹp. Tôi biết điều này cũng đã có trên Makara. Nó đã có trên YouTube, nơi tôi nghĩ các bạn có thể tải xuống trong mục giáo dục huyền bí của Liên Đoàn Morya. Nhưng tôi đã gửi cho các bạn điều mà tôi hy vọng là một liên kết dùng được, một liên kết Hightail. Các bạn có thể tải từ đó nếu muốn, vì chúng ta vẫn còn ở rất sâu trong ngày ấy, và thậm chí một số người ở Hoa Kỳ vẫn còn đang ở ngày 13 tháng 12. Vì vậy, nếu các bạn muốn thử xem có thể tải từ tệp Hightail hay không, các bạn cứ tự nhiên thử. Tôi đã vội tìm liên kết cho các bạn, nhưng đó thực sự là một buổi lễ rất đẹp với ý tưởng về một người phụ nữ, vào những ngày đầu của Cơ Đốc giáo khi các tín đồ bị săn đuổi trong các hầm mộ, có một ý chí mạnh mẽ đến thế vẫn giữ vững đức tin của mình; điều đó thật sự truyền cảm hứng. Hơn nữa, đó cũng là một tiếng gọi rất mạnh, vì nó bao hàm toàn bộ ý niệm về con mắt và liệu người ta có thể thấy qua con mắt thứ ba hay phải thấy qua đôi mắt bình thường. Các bạn sẽ hiểu nếu nghe buổi phát sóng ấy, vì vậy hy vọng các bạn sẽ tìm được nó từ đó. |
|
… |
… |
|
There are some people that are really very faithful in this whole ASK project and so maybe we can keep something going forward. Tuija and I will be tied up with all kinds of other programming, and so it just could become really not possible at this time, but we’ll try to let you know all of that through the Constant Contact of the Morya Federation. |
Có một số người thực sự rất trung thành trong toàn bộ dự án ASK này, nên có lẽ chúng ta vẫn có thể duy trì điều gì đó về sau. Tuija và tôi sẽ bận với đủ loại chương trình khác, nên lúc này điều đó có thể trở nên không khả thi, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng thông báo cho các bạn tất cả những điều ấy qua Constant Contact của Liên Đoàn Morya. |
|
Now, let’s see where are we? Here we are. |
Chúng ta đang ở đây. |
|
We had just talked about how we stand in environment, in a world of glamour, and why is that. That’s what we left off with last time. And as a result of our own past, wrong thinking and selfish desires and misinterpretation of the purpose of life. That’s one of the reasons and somewhat disorganized mental body. The problem also lies in the desire life of the family in which we are trained and raised, before we can really even evaluate what’s happening to us. And so often we are wrongly conditioned to react in a certain way, and as a result, certain unwholesome psychological tendencies and characteristics to appear. And then there’s our national glamors too that allow us to be identified as a person hailing from this of that nation. And there are good things but there are also psychological tendencies which are glamorous. We know that in the Second World War, the entire country of Germany was overcome specifically by glamour, maybe not surprising with its Pisces personality. And then the racial glamours that affect us all, just simply by being members of the human race. So, we stand in surrounded by environing world glamour, and the fact that we may not be aware of it simply means we’re just not aware of it, it’s a problem because glamours are so really hard to detect, especially within ourselves. |
Lần trước, chúng ta vừa nói về việc mình đang đứng trong một môi trường, trong một thế giới ảo cảm, và vì sao lại như vậy. Đó là do quá khứ riêng của chúng ta, do tư tưởng sai lầm, những dục vọng ích kỷ và sự diễn giải sai mục đích của đời sống. Đó là một trong những lý do, cùng với một thể trí phần nào thiếu trật tự. Vấn đề cũng nằm trong đời sống dục vọng của gia đình nơi chúng ta được nuôi dạy và trưởng thành, trước cả khi chúng ta thật sự có thể đánh giá điều gì đang xảy ra với mình. Rất thường khi ấy, chúng ta bị tác động sai lệch để phản ứng theo một cách nào đó, và kết quả là xuất hiện những khuynh hướng và đặc tính tâm lý không lành mạnh. Rồi còn có các ảo cảm quốc gia nữa, khiến chúng ta đồng hoá với mình như một người đến từ quốc gia này hay quốc gia khác. Có những điều tốt, nhưng cũng có những khuynh hướng tâm lý mang tính ảo cảm. Chúng ta biết rằng trong Thế Chiến thứ Hai, toàn bộ nước Đức đã bị ảo cảm chế ngự một cách đặc biệt, điều đó có lẽ không đáng ngạc nhiên với phàm ngã Song Ngư của họ. Rồi còn những ảo cảm chủng tộc tác động lên tất cả chúng ta, đơn giản chỉ vì chúng ta là thành viên của giới nhân loại. Vì vậy, chúng ta đang đứng trong ảo cảm thế giới bao quanh mình, và việc có thể chúng ta không nhận ra điều đó chỉ đơn giản có nghĩa là chúng ta không nhận ra nó; đó là một vấn đề, vì các ảo cảm thực sự rất khó phát hiện, nhất là ở bên trong chính mình. |
|
So going on here. This is the 38th reading, and we’re on page 72. |
Chúng ta tiếp tục ở đây. Đây là bài đọc số 38, và chúng ta đang ở trang 72. |
Begin Commentary
|
2. This fog, this glamour which envelops humanity at this time must be realised as a definite substantial thing, and must be dealt with as such. [1a] |
2. Màn sương này, ảo cảm này bao bọc nhân loại vào lúc này, phải được nhận ra là một điều gì có thực thể chất liệu xác định, và phải được xử lý như thế. [1a] |
|
It’s material really. It’s the formation of the atomic structures on the astral plane and it is not a useful formation. It’s a misleading formation. And so, a definite substantial thing. |
Thật ra nó là vật chất. Đó là sự hình thành của những cấu trúc nguyên tử trên cõi cảm dục, và đó không phải là một sự hình thành hữu ích. Đó là một sự hình thành gây lầm lạc. Vì thế, nó là một điều gì có thực thể chất liệu xác định. |
|
Substance is always that which lies within and behind a certain level of matter, and that which becomes substantial can also appear in the material guys by something even more substantial than it is. Let’s just say the mental plane is in a way substantial to the astral plane, and the higher mental plane is substantial to the lower mental plane, the Buddhi plane is substantial to the higher mental plane and so forth. So, the forms of substance guide the kinds of relatively material forms that appear on the next lower plane and beyond. |
Chất liệu luôn là cái nằm bên trong và phía sau một cấp độ vật chất nào đó, và cái gì trở thành thực thể chất liệu cũng có thể hiện ra dưới sắc tướng vật chất nhờ một cái gì đó còn thực thể hơn chính nó. Hãy nói rằng cõi trí, theo một nghĩa nào đó, là thực thể chất liệu đối với cõi cảm dục, và Cõi thượng trí là thực thể chất liệu đối với cõi hạ trí, cõi Bồ đề là thực thể chất liệu đối với Cõi thượng trí, và cứ thế tiếp tục. Vì vậy, những hình tướng của chất liệu định hướng những loại hình tướng tương đối vật chất xuất hiện trên cõi kế thấp hơn và xa hơn nữa. |
|
So, it’s a definite substantial thing and must be dealt with as such. |
Vì vậy, nó là một điều gì có thực thể chất liệu xác định và phải được xử lý như thế. |
|
Interesting, |
Thật thú vị, |
|
The disciple or aspirant who is seeking to dispel glamour, either in his own life or as a service rendered to the world, |
Đệ tử hay người chí nguyện đang tìm cách làm tiêu tan ảo cảm, hoặc trong chính đời mình hoặc như một sự phụng sự dành cho thế giới, |
|
And we’re trying to do both, |
Và chúng ta đang cố làm cả hai, |
|
must recognise that he is working with substance, |
phải nhận ra rằng mình đang làm việc với chất liệu, |
|
and its forms, |
và những hình tướng của nó, |
|
with the breaking up of the forms which it has assumed, and with the dissipation of a material all-enveloping substance—material in the same sense as thoughtforms are substantial things but (and here is a point of importance) of a less substantial nature than the forms of glamour found upon the astral plane. [1b] |
với sự phá vỡ những hình tướng mà nó đã mang lấy, và với việc làm tiêu tan một chất liệu vật chất bao trùm khắp nơi—vật chất theo cùng ý nghĩa mà các Hình tư tưởng là những thực thể có chất liệu nhưng (và đây là một điểm quan trọng) có bản chất chất liệu kém đậm đặc hơn những hình tướng của ảo cảm được thấy trên cõi cảm dục. [1b] |
|
So, as we descend, the forms that are molded or patterned by substance become more and more dense, more and more thick, more heavy—if you will. |
Vì vậy, khi chúng ta đi xuống, những hình tướng được chất liệu nhào nặn hay định khuôn trở nên càng lúc càng đậm đặc, dày và nặng hơn. |
|
We are quite willing to remember that “thoughts are things” and that they have a form life and a purpose of their own. But they have a more unique and separative existence, and more clearly defined and more definite outlines. [1c] |
Chúng ta rất sẵn sàng nhớ rằng “tư tưởng là sự vật” và rằng chúng có một đời sống hình tướng và một mục đích riêng. Nhưng chúng có một sự hiện hữu độc đáo và tách biệt hơn, cùng những đường nét rõ ràng và xác định hơn. [1c] |
|
than the glamors, because the glamour is are more vague, and their outlines are less well-defined. The thoughts, unless they’re very woolly thoughts, generally have more definite outlines than the floating masses of glamours and the tendencies of glamours to blend one with another. |
so với các ảo cảm, vì ảo cảm mơ hồ hơn và đường viền của chúng kém rõ rệt hơn. Những tư tưởng ấy, trừ phi là những tư tưởng quá rối mù, nhìn chung có đường nét xác định hơn những khối ảo cảm trôi nổi và xu hướng hòa lẫn vào nhau của các ảo cảm. |
|
The forms of glamour on the astral plane are even more substantial but are less clearly defined. |
Những hình tướng của ảo cảm trên cõi cảm dục còn thực thể hơn nữa nhưng lại kém rõ nét hơn. |
|
I think that’s what they are. I remember him talking about the glamours of those upon the seventh ray, of how very clearly defined they may be, how much more definite they may be, because those upon the seventh ray tend towards clarity and definiteness. And of course, their thought forms would be even more so, their illusory forms. |
Đó đúng là như vậy. Tôi nhớ Ngài từng nói về các ảo cảm của những người ở cung bảy, rằng chúng có thể rõ nét đến mức nào, xác định đến mức nào, vì những người ở cung bảy nghiêng về sự minh xác và tính xác định. Và dĩ nhiên, các Hình tư tưởng của họ còn như thế hơn nữa, các hình tướng ảo tưởng của họ. |
|
Thoughtforms are dynamic, penetrating, clear cut and outlined. Glamours are smothering, vague, and enveloping. [1d] |
Các Hình tư tưởng thì năng động, xuyên thấu, sắc nét và có đường viền rõ ràng. Các ảo cảm thì nghẹt thở, mơ hồ và bao phủ. [1d] |
|
Especially, as I said, when created by the seventh ray, the fifth ray as well. And here are some adjectives which I think are very helpful when we think about what glamour may be like. Now, just kind of outline, glamours are, think of this, smothering, vague and enveloping. |
Nhất là, như tôi đã nói, khi được tạo ra bởi cung bảy, và cả cung năm nữa. Đây là vài tính từ rất hữu ích khi chúng ta nghĩ về ảo cảm có thể giống như thế nào. Hãy hình dung thế này, các ảo cảm là nghẹt thở, mơ hồ và bao phủ. |
|
In them, a person is immersed as in the ocean or in a “sea of fog.” |
Trong chúng, một người bị chìm ngập như ở trong đại dương hay trong một “biển sương mù”. |
|
And maybe we’ve had that experience of going out early one morning and before the fog has been burned off by the sun, and feeling completely enshrouded by this density of gray, through which we cannot really see very far at all. Or maybe having to drive with what has been called the fog lights, and how it just reflects back upon us and we are blinded. We don’t know really where we’re going. |
Có lẽ chúng ta từng có kinh nghiệm đi ra ngoài vào một buổi sáng sớm, trước khi sương bị mặt trời đốt tan, và cảm thấy mình hoàn toàn bị bọc kín trong mật độ xám đặc ấy, xuyên qua đó ta thực sự không thể nhìn xa được bao nhiêu. Hoặc có khi phải lái xe với cái gọi là đèn sương mù, và ánh sáng ấy cứ phản chiếu ngược lại nơi chúng ta khiến chúng ta bị lóa. Chúng ta thực sự không biết mình đang đi đâu. |
|
With thoughtforms, he is confronted or faced, but not immersed. [1e] |
Với Hình tư tưởng, người ấy đối diện với chúng, chứ không bị chìm ngập trong chúng. [1e] |
|
Now, that seems to be an important point. We do have to recognize the thought forms surrounding us and the ones that we have created, but it’s not the same kind of enfolding, smothering, being enfolded in indistinguishability, I call it here. |
Điều đó dường như là một điểm quan trọng. Chúng ta phải nhận ra các Hình tư tưởng bao quanh mình và những hình chúng ta đã tạo ra, nhưng đó không phải là cùng một kiểu bị bao bọc, bị nghẹt thở, bị chìm trong sự không thể phân biệt, như tôi gọi ở đây. |
|
[Enfolded in indistinguishability |
[Được bao bọc trong sự không thể phân biệt |
|
It might almost be said that the astral body of a person comes into being as a part of the general world glamour; |
Có thể gần như nói rằng thể cảm dục của một người hiện thành như một phần của ảo cảm chung của thế giới; |
|
By the astral body, we pretty well mean the forms that are taken within this area of creativity, the astral body. We don’t necessarily mean the kind of matter which necessarily must be present if there is not to be an hiatus[2] between the mental matter and the etheric physical matter, we would die if that hiatus existed. We are told in a Treatise On White Magic, some of the Agnisurya, some of the very active astral devas do kill the magician by draining off the waters, but we’re talking here more about the forms which the waters take. |
Khi nói đến thể cảm dục, chúng ta chủ yếu muốn nói đến những hình tướng được mang lấy trong khu vực sáng tạo này, tức thể cảm dục. Chúng ta không nhất thiết muốn nói đến loại vật chất nhất thiết phải hiện diện để không có một khoảng hở giữa vật chất trí tuệ và vật chất hồng trần dĩ thái; nếu khoảng hở ấy tồn tại, chúng ta sẽ chết. Trong Luận về Chánh Thuật, chúng ta được biết rằng một số Agnisurya, một số thiên thần cảm dục rất hoạt động, thực sự giết nhà huyền thuật bằng cách rút cạn nước; nhưng ở đây, chúng ta nói nhiều hơn về những hình tướng mà nước mang lấy. |
|
So, it might be almost said that the astral body of a person comes into being as a part of the general world glamour, |
Vì vậy, gần như có thể nói rằng thể cảm dục của một người hiện thành như một phần của ảo cảm chung của thế giới, |
|
it is difficult for him |
người ấy khó |
|
Think about this. How much psychological work goes into this kind of thing wWhen we begin to wake up to our emotional situation, |
Hãy nghĩ về điều này. Có biết bao nhiêu công việc tâm lý đi vào loại việc này khi chúng ta bắt đầu tỉnh thức trước tình trạng cảm xúc của mình, |
|
it is difficult for him to differentiate between his own astral body and the glamours which affect and sway and submerge him. [1f] |
phân biệt giữa thể cảm dục của chính mình với những ảo cảm đang ảnh hưởng, lay đảo và nhấn chìm mình. [1f] |
|
There’s another word, sway and submerge, these are all giving us ideas of how you might almost call it the physics of the glamour process. |
Lại có thêm những từ như lay đảo và nhấn chìm; tất cả những điều này cho chúng ta ý niệm về điều mà gần như có thể gọi là vật lý học của tiến trình ảo cảm. |
|
The problem upon the mental plane is more clearly defined, even if it is equally difficult [1g] |
Vấn đề trên cõi trí được xác định rõ hơn, dù khó khăn cũng ngang như vậy [1g] |
|
So, you can understand how lives and lives pass before we are able to extricate ourselves from these environing conditions. |
Vì vậy, các bạn có thể hiểu vì sao hết kiếp này đến kiếp khác trôi qua trước khi chúng ta có thể tự giải thoát khỏi những điều kiện bao quanh này. |
|
[many lives may pass before extrication from these environing conditions…. |
[nhiều kiếp sống có thể trôi qua trước khi thoát ra khỏi những điều kiện bao quanh này…. |
|
So, that was another one talking about the substantiality of the fog which surrounds the glamoured individual. And it’s partially a world problem because it’s so undetectable. I was reading some months ago about… Well, it was taking place in Germany, and it was very much related to Pisces, and I do believe it had a lot to do with World War Two. And some of the higher commanders in that war were much taken by a famous psychic, who was channeling all kinds of very odd and extended things to them. And then, of course, they were much exalted by what she was saying, but they were completely really bewildered, and they were completely inflated by the kind of things. She was saying messages from various stars and constellations and all the rest of it. We know very well that people still persist in this kind of erroneous reception, but it had quite an effect upon those who were active in the war at a leadership level. And I thought, well, it really is a world problem, not only misleading the people. DK talked about the impressionable psychic German people with their Pisces personality, and they were an easy mark for the Black Lodge which sought to control through impression in their vulnerable Pisces personality. |
Đó là một điểm nữa nói về tính thực thể của màn sương bao quanh cá nhân bị ảo cảm. Và phần nào đó nó là một vấn đề thế giới vì rất khó nhận biết. Vài tháng trước tôi có đọc về một chuyện xảy ra ở Đức, liên hệ rất nhiều đến Song Ngư, và tôi tin rằng nó có liên can lớn đến Thế Chiến thứ Hai. Một số chỉ huy cấp cao trong cuộc chiến ấy đã bị lôi cuốn mạnh bởi một nhà thông linh nổi tiếng, người đang truyền cho họ đủ loại điều rất kỳ lạ và dài dòng. Dĩ nhiên, họ rất phấn khích vì những điều bà ấy nói, nhưng họ thực sự hoàn toàn bối rối, và họ bị phồng to lên bởi những điều bà ấy nói—những thông điệp từ đủ loại sao và chòm sao, cùng mọi thứ tương tự. Chúng ta biết rất rõ rằng con người vẫn tiếp tục kiểu tiếp nhận sai lầm này, nhưng nó đã có tác động đáng kể lên những người hoạt động trong chiến tranh ở cấp lãnh đạo. Và tôi nghĩ, quả thật đây là một vấn đề thế giới, không chỉ vì nó làm lầm lạc con người. Chân sư DK từng nói về dân tộc Đức thông linh và dễ bị tác động, với phàm ngã Song Ngư của họ, và họ là mục tiêu dễ dàng cho Hắc đoàn vốn tìm cách kiểm soát qua sự gây ấn tượng vào phàm ngã Song Ngư dễ tổn thương của họ. |
|
Now, let’s go on to the next one talking about our envelopment and our being surrounded by glamour, |
Chúng ta sang điểm kế tiếp, nói về việc chúng ta bị ảo cảm bao bọc và vây quanh, |
|
3. Astral glamour is a form of energy and an energy of great potency, owing to three factors: [2a] |
3. Ảo cảm cảm dục là một dạng năng lượng và là một năng lượng có mãnh lực rất lớn, do ba yếu tố: [2a] |
|
We probably don’t normally think of that, but when we see people swept by what seemed to us really irrational tendencies and desires,… I’m just thinking now that Nazism, Fascism is recrudescent in America racism, based on some erroneous claims, is rearing its ugly head again in America. I’m just thinking about the people that just get be swept away at these rallies so that they even murder others in the cause that they think is correct. I’m thinking about all the emphasis that has been placed now on whiteness, the color of the skin and so forth. It really is falling back into the age-old divisions between people. And it’s a very separative glamour, but it stirs the emotions immensely. It is very powerful for the people who are subjected to it. |
Có lẽ bình thường chúng ta không nghĩ về điều đó, nhưng khi thấy con người bị cuốn phăng bởi những xu hướng và dục vọng dường như thật phi lý đối với chúng ta… Tôi đang nghĩ rằng chủ nghĩa Quốc Xã, chủ nghĩa phát xít đang sống lại ở Hoa Kỳ; nạn phân biệt chủng tộc, dựa trên một số khẳng định sai lầm, lại ngóc đầu lên ở Hoa Kỳ. Tôi đang nghĩ về những người bị cuốn phăng trong các cuộc tụ họp ấy đến mức họ còn giết cả người khác vì điều mà họ cho là đúng. Tôi đang nghĩ về toàn bộ sự nhấn mạnh hiện nay vào màu da trắng, màu da, và vân vân. Đó thực sự là sự rơi trở lại vào những phân chia lâu đời giữa con người với nhau. Và đó là một ảo cảm mang tính chia rẽ, nhưng nó khuấy động cảm xúc vô cùng mạnh. Nó rất đầy quyền năng đối với những người chịu sự chi phối của nó. |
|
So, it’s an energy of great potency. Why it’s so potent at this time? |
Vì vậy, đó là một năng lượng có mãnh lực rất lớn. Vì sao lúc này nó lại mạnh đến vậy? |
|
[why so potent at this time…. |
[vì sao lúc này nó lại mạnh đến vậy…. |
|
Remember that in strictly Lemurian days while Maya had appeared, glamour had not really appeared. It was an Atlantean phenomenon, and it was aided and abetted by the entrance from the moon chain, and maybe from the earlier solar system, of those who deliberately sought to conquer the psyche of humanity for purposes that which were very negative. So, |
Hãy nhớ rằng trong những thời kỳ thuần Lemuria, tuy ảo lực đã xuất hiện, ảo cảm thực sự vẫn chưa xuất hiện. Đó là một hiện tượng Atlantis, và nó được hỗ trợ bởi sự đi vào từ Dãy Mặt Trăng, và có lẽ từ hệ mặt trời trước đó, của những kẻ cố ý tìm cách chinh phục tâm thức của nhân loại vì những mục đích hết sức tiêu cực. Vì vậy, |
|
a. It is of such an ancient rhythm, being inherent in astral substance itself, that it is most difficult for a human being to become aware of it or to understand it; |
a. Nó mang một nhịp điệu cổ xưa đến mức, vì vốn cố hữu trong chính chất liệu cảm dục, con người rất khó nhận biết hay thấu hiểu được nó; |
|
And, the moon is involved here, and the moon was not a completed evolution within the planetary chain, and its evolution had to be interrupted. And it was just going the wrong way, through the intervention of the Solar Logos, probably cooperating with the Planetary Logos who realized that things were out of hand. And so, there’s an ancient lunar effect, when he talks about ancient rhythms, you naturally think of the ancient rhythms of the Moon. Even now, when the Moon is in a certain sign of the zodiac, you feel certain kinds of thought forms and tendencies returning if you’re sensitive to it, if you remain open to it, you will detect these matters. So, |
Và Mặt Trăng có liên hệ ở đây; Mặt Trăng đã không hoàn tất tiến hoá trong Dãy hành tinh, nên tiến hoá của nó đã phải bị gián đoạn. Nó thực sự đã đi sai hướng, qua sự can thiệp của Thái dương Thượng đế, có lẽ phối hợp với Hành Tinh Thượng đế, Đấng nhận ra rằng mọi sự đã vượt khỏi tầm kiểm soát. Vì thế có một tác động thái âm cổ xưa; khi Ngài nói đến những nhịp điệu cổ xưa, tự nhiên các bạn nghĩ đến những nhịp điệu cổ xưa của Mặt Trăng. Ngay cả bây giờ, khi Mặt Trăng ở trong một dấu hiệu hoàng đạo nào đó, các bạn cảm thấy một số loại Hình tư tưởng và khuynh hướng quay trở lại; nếu đủ nhạy cảm với điều ấy, nếu vẫn mở ra trước nó, các bạn sẽ nhận ra những điều này. |
|
it’s difficult for us to even become aware of it, it is the result of the age-long activity of human desire. [2b] |
chúng ta thật khó mà ngay cả nhận biết được nó, nó là kết quả của hoạt động kéo dài qua bao thời đại của dục vọng con người. [2b] |
|
Which was terribly out of control in Atlantean days, much more so than today, although there is much today which is undesirable. |
Điều này đã cực kỳ mất kiểm soát trong thời Atlantis, còn hơn ngày nay rất nhiều, mặc dù ngày nay vẫn có nhiều điều không đáng mong muốn. |
|
So, we’re saying why is this glamour so potent. We’re looking at that issue right now. |
Chúng ta đang xét vì sao ảo cảm này lại mạnh đến thế. Hiện giờ chúng ta đang khảo sát chính vấn đề đó. |
|
b. It is a corporate part of a man’s own energy nature, and therefore constitutes for him the line of least resistance; |
b. Nó là một phần hợp thành của chính bản tính năng lượng của con người, và vì vậy cấu thành đối với y con đường ít trở ngại nhất; |
|
I mean, if we’re astrally focused and surrounded by this kind of ill-formed substantiality, where does one begin and the other end? There’s an easy flow of one into the other. |
Nếu chúng ta tập trung nơi cảm dục và được bao quanh bởi loại chất liệu vô định hình này, thì đâu là chỗ một bên bắt đầu và bên kia chấm dứt? Cái này rất dễ chảy sang cái kia. |
|
it is part of a great world process and therefore a part of the individual life process also, and is, in itself, not wrong but an aspect of reality. [2c] |
nó là một phần của một tiến trình thế giới rộng lớn và vì vậy cũng là một phần của tiến trình sự sống cá nhân, và tự thân nó không sai mà là một phương diện của thực tại. [2c] |
|
Well, at least it must take place at a certain point when the fire of mind and the water of the astral substance meets. In a way, glamours, some of the more severe forms, are based upon the illusions of the mind which have descended into the astral nature. He talks about fourth ray people being particularly susceptible to this type of descent. |
Ít nhất, điều này phải diễn ra ở một điểm nào đó khi lửa của trí tuệ và nước của chất liệu cảm dục gặp nhau. Theo một nghĩa nào đó, ảo cảm, nhất là vài hình thức nghiêm trọng hơn, dựa trên những ảo tưởng của thể trí đã hạ xuống bản tính cảm dục. Ngài nói những người cung bốn đặc biệt dễ bị loại sa xuống này. |
|
So, This realisation necessarily complicates man’s thought about it. |
Sự chứng nghiệm này tất yếu làm phức tạp tư duy của con người về vấn đề ấy. |
|
about glamour. |
về ảo cảm. |
|
So, some desires will be leading to an appreciation of reality, say, when an aspirant aspires towards the light, as far as it goes, and others will be leading into the swamp of illusion, following the false light of what’s called the will-o’-the-wisp, the light that leads you into error, the will-o’-the-wisp, as it’s called swamp light. |
Một số dục vọng sẽ dẫn đến sự cảm nhận thực tại, chẳng hạn khi người chí nguyện khát vọng hướng về ánh sáng trong chừng mực mình có thể; còn những dục vọng khác sẽ dẫn vào đầm lầy ảo tưởng, đi theo thứ ánh sáng giả gọi là ánh sáng ma trơi, thứ ánh sáng đưa các bạn vào sai lầm, thứ người ta gọi là ánh sáng đầm lầy. |
|
Now, why is it so strong? That’s what we’re looking at, and it does seem that glamour is unavoidable at a certain stage of development. However, its severity has been aided and abetted by the Black Lodge, and if you read carefully in the Light of the Soul, the Yoga Sutras of Patanjali, you will see that psychism is one of the means by which the counterforce tries to overcome the natural unhealthy tendencies of the human psyche. It gets people so involved in error and in false form that they are long delayed. |
Vì sao nó mạnh đến vậy? Đó là điều chúng ta đang xem xét, và dường như ảo cảm là điều không thể tránh khỏi ở một giai đoạn phát triển nhất định. Tuy nhiên, mức độ nghiêm trọng của nó đã được Hắc đoàn tiếp tay và cổ vũ; nếu các bạn đọc kỹ trong Ánh Sáng của Linh Hồn, tức Yoga Sutras của Patanjali, các bạn sẽ thấy rằng tính thông linh là một trong những phương tiện mà phản lực dùng để khai thác những khuynh hướng tự nhiên không lành mạnh của tâm lý con người. Nó khiến con người dính quá sâu vào sai lầm và vào hình tướng giả dối đến nỗi họ bị trì hoãn rất lâu. |
|
Why so strong? |
Vì sao mạnh đến thế? |
|
c. It is likewise definitely Atlantean in nature, |
c. Tương tự, nó mang bản chất Atlantis một cách rõ rệt, |
|
Well, we say Atlantis was a long time ago, but if we look carefully at the kind of consciousness which so many, even billions, of people demonstrate, we will recognize that it is not mentally-focused, intellectual Aryan consciousness. |
Chúng ta thường nói Atlantis đã là chuyện rất lâu rồi, nhưng nếu xem xét kỹ loại tâm thức mà rất nhiều người, thậm chí hàng tỉ người, đang biểu lộ, chúng ta sẽ nhận ra đó không phải là tâm thức Arya trí tuệ, lấy trí tuệ làm trọng tâm. |
|
So, it’s Atlantean in nature and |
Vì vậy, nó mang bản chất Atlantis và |
|
being brought to a very high point of development in that race. [2d] |
đã được đưa tới một mức phát triển rất cao trong giống dân ấy. [2d] |
|
So, we can imagine how bewildered people were at that time. He tells us that the United States is presently, let’s say, was, I guess, the center of the old Atlantean continent. And we probably are shocked by that idea, because we have the idea of Atlantis being like two islands, and they sank, or one of them sank, that kind of thing, but that’s a much later development. And he says that the United States consequently is the heir to all these psychism that was rampant in Atlantis. And I think we can certainly see that developing, especially as the number six is developing within the United States in certain other areas, the sixth sub race of the fifth root race. Well, it’s supposed to lead us into abstract thinking, the abstract mind, but the resonance is there as well to lead us back into the Atlantean glamours based upon the sixth ray and the sixth field, which is the astral body. |
Chúng ta có thể hình dung con người vào thời đó đã hoang mang đến mức nào. Ngài cho chúng ta biết rằng Hoa Kỳ ngày nay chính là khu vực từng là trung tâm của lục địa Atlantis cổ. Có lẽ chúng ta ngạc nhiên trước ý tưởng ấy, vì chúng ta thường nghĩ Atlantis giống như hai hòn đảo, rồi cả hai chìm xuống, hay một trong hai chìm xuống, kiểu như thế; nhưng đó là một giai đoạn phát triển muộn hơn nhiều. Và Ngài nói rằng vì vậy Hoa Kỳ là kẻ thừa hưởng toàn bộ tính thông linh từng tràn lan ở Atlantis. Tôi nghĩ chúng ta chắc chắn có thể thấy điều đó đang phát triển, đặc biệt khi số sáu đang phát triển trong Hoa Kỳ ở một số phương diện khác, tức giống dân phụ thứ sáu của Giống dân gốc thứ năm. Lẽ ra điều đó phải đưa chúng ta vào tư duy trừu tượng, vào trí trừu tượng, nhưng đồng thời cũng có một sự cộng hưởng kéo chúng ta trở lại những ảo cảm Atlantis dựa trên cung sáu và trường thứ sáu, tức thể cảm dục. |
|
So, it’s Atlantean in nature and very highly developed in those days. |
Vì vậy, nó mang bản chất Atlantis và đã phát triển đến mức rất cao vào thời ấy. |
|
It can therefore only be finally dissipated by the Aryan race using the right technique. |
Vì vậy, chỉ có giống dân Arya sử dụng đúng kỹ thuật mới có thể làm tiêu tan nó một cách chung cuộc. |
|
Presumably we are being given maybe not the final technique, but one of the right techniques. In other words, I would say this, that people who really stick to study of these very clearly written, mentally focused books are Aryan in their consciousness. They are achieving a mental focus, if not mental polarization. Mental polarization is maybe a different thing. It has to do with that stage of development between the second and third initiation, but let’s just say the mental focus is there in the Aryan consciousness, and therefore, the technique of light can be applied. |
Có lẽ chúng ta đang được trao cho, nếu không phải là kỹ thuật sau cùng, thì ít nhất cũng là một trong những kỹ thuật đúng. Nói cách khác, những người thực sự kiên trì nghiên cứu các sách này, vốn được viết rất rõ ràng và tập trung nơi trí tuệ, thì có tâm thức Arya. Họ đang đạt đến sự Tập trung trí tuệ, nếu chưa phải là phân cực trí tuệ. Phân cực trí tuệ có lẽ là một điều khác; nó liên hệ đến giai đoạn phát triển giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba. Nhưng ít nhất, sự Tập trung trí tuệ hiện diện trong tâm thức Arya, và vì vậy Kỹ Thuật Ánh sáng có thể được áp dụng. |
|
Okay, The individual who is learning to dissipate glamour |
Cá nhân đang học cách làm tiêu tan ảo cảm |
|
So, let’s take this to heart because we are just learning, |
Chúng ta hãy ghi nhớ điều này, vì chúng ta chỉ mới đang học, |
|
has to do two things: [2e] |
phải làm hai việc: [2e] |
|
1. Stand in spiritual being. |
1. Đứng vững trong bản thể tinh thần. |
|
2. Keep the mind steady in the light. [3a] |
2. Giữ cho thể trí ổn định trong ánh sáng. [3a] |
|
Now, those are familiar injunctions for anybody who’s reading Master DK’s books. So, why don’t we just take a little pause there for a moment and attempt to bring ourselves into a state where we feel or know that we are standing in spiritual being just a few moments. And also, obviously, the creative imagination will be of some value as we do this. Let’s imagine that we are somehow holding the mind steady in the light, whether the light of the soul or beyond. And, of course, this will mean that our thinking is inspired from above that we are contacting some of the higher energy points in our constitution, and that the mind and our actions and so forth are not being simply driven by the nature of uncontrolled desire. So, it’s a good little exercise, doesn’t take long to make sure that we are to the degree possible standing in the spiritual being. It cuts through a whole lot of lesser motivations and that the mind really is inspired from above. |
Đó là những chỉ dẫn quen thuộc đối với bất cứ ai đang đọc sách của Chân sư DK. Chúng ta hãy dừng lại một lát và cố đưa mình vào một trạng thái trong đó chúng ta cảm thấy, hoặc biết, rằng mình đang đứng vững trong bản thể tinh thần. Hiển nhiên, Sự tưởng tượng sáng tạo cũng có giá trị nào đó khi chúng ta làm điều này. Hãy hình dung rằng bằng cách nào đó chúng ta đang giữ cho thể trí ổn định trong ánh sáng, dù là ánh sáng của linh hồn hay còn cao hơn nữa. Dĩ nhiên, điều này có nghĩa là tư duy của chúng ta được cảm hứng từ bên trên, rằng chúng ta đang tiếp xúc với một số điểm năng lượng cao hơn trong cấu tạo của mình, và rằng thể trí, hành động của chúng ta, v.v., không còn chỉ do bản chất của dục vọng mất kiểm soát thúc đẩy. Đây là một bài tập tốt, không mất nhiều thời gian, để bảo đảm rằng trong mức độ có thể, chúng ta đang đứng vững trong bản thể tinh thần. Nó cắt xuyên qua rất nhiều động cơ thấp hơn và giúp thể trí thực sự nhận cảm hứng từ bên trên. |
|
So, we have a big responsibility here. It’s strong this glamour because it’s Atlantean, and the antidote for the Atkantean approach is the Technique of Light. And notice that the ajna center, when it is given a ray, is usually given at first and for a long time, the fifth ray, which is the ray correlated with the Aryan group in consciousness. When we use word Aryan, we’re not talking about other glamorous interpretations of that word. We’re talking about a mental type of consciousness, the fifth ray is there. And in the Technique of Light, see, the fifth ray is very prominent. And we’re told that the fifth ray Lord in Shambala is the most luminous of all the ray Lords. So, light and the fifth ray, and the fifth ray Lord, and the Aryan consciousness, and the dissipation of Atlantean glamour, using the fifth ray, all of these things go together. Remember that there were not so many intelligent people in Atlantis. They mostly came from the leaders of the race, and that the average human being was very much emotionally polarized. |
Ở đây chúng ta có một trách nhiệm lớn. Ảo cảm này mạnh vì nó mang tính Atlantis, và đối trị cho lối tiếp cận Atlantis là Kỹ Thuật Ánh sáng. Hãy lưu ý rằng trung tâm ajna, khi được quy cho một cung, thường lúc ban đầu và trong một thời gian dài, được quy cho cung năm, là cung tương ứng với nhóm Arya trong tâm thức. Khi dùng từ Arya, chúng ta không nói đến những cách diễn giải đầy ảo cảm khác của từ ấy. Chúng ta đang nói đến một loại tâm thức trí tuệ; cung năm hiện diện ở đó. Và trong Kỹ Thuật Ánh sáng, cung năm rất nổi bật. Chúng ta còn được bảo rằng Đấng Chúa Tể Cung năm trong Shamballa là vị chói sáng nhất trong tất cả các Đấng Chúa Tể Cung. Vì vậy, ánh sáng, cung năm, Đấng Chúa Tể Cung năm, tâm thức Arya, và việc làm tiêu tan ảo cảm Atlantis bằng cung năm, tất cả những điều này đi cùng với nhau. Hãy nhớ rằng ở Atlantis không có nhiều người trí tuệ. Phần lớn số đó thuộc giới lãnh đạo của nhân loại, còn con người trung bình thì phân cực cảm xúc rất mạnh. |
|
From this it will be apparent that the energy of the astral plane as it expresses itself in the sentient desire life of the race, |
Từ đây sẽ thấy rõ rằng năng lượng của cõi cảm dục, khi tự biểu lộ trong đời sống dục vọng cảm thụ của nhân loại, |
|
It might express itself otherwise |
Nó cũng có thể tự biểu lộ theo cách khác |
|
produces the major glamours of humanity, and can only be dissipated, dispersed and dispelled, |
tạo ra những ảo cảm chủ yếu của nhân loại, và chỉ có thể được làm tiêu tan, phân tán và xua tan, |
|
He’s using all these words now. They applied to the different levels, |
Bây giờ Ngài đang dùng tất cả những từ ấy. Chúng được áp dụng cho những cấp độ khác nhau. |
|
The dispersion is mayaic, dispelling has to do with illusion |
Sự phân tán liên quan đến ảo lực; còn sự xua tan liên quan đến ảo tưởng. |
|
Can only be dissipated, dispersed and dispelled by the bringing in of the higher energy of the mind, motivated by the soul. [3b] |
chỉ có thể được làm tiêu tan, phân tán và xua tan bằng cách đưa vào năng lượng cao hơn của thể trí, do linh hồn thúc đẩy. [3b] |
|
So, obviously, we people who are trying to develop a degree of soul infusion might be able to be trained to do this dissipation work, because we are contacting the soul, and the soul is affecting the mind, and from the mind, we are directing the process. |
Hiển nhiên, chúng ta, những người đang cố phát triển một mức độ được linh hồn thấm nhuần, có thể được huấn luyện để làm công việc làm tiêu tan này, bởi vì chúng ta đang tiếp xúc với linh hồn, và linh hồn đang tác động lên thể trí, rồi từ thể trí chúng ta điều hướng tiến trình. |
|
Alright, so, what we’ve just read about is the fact that is a very strong energy. It’s very ancient and it’s very much related to our own astral energy, and sometimes becomes indistinguishable. It is definitely Atlantean in nature, and it was built up strongly in those days. Now, |
Điều chúng ta vừa đọc cho thấy đây là một năng lượng rất mạnh. Nó rất cổ xưa và liên hệ rất nhiều với chính năng lượng cảm dục của chúng ta, đôi khi trở nên không thể phân biệt được. Nó dứt khoát mang bản chất Atlantis, và đã được bồi đắp rất mạnh vào thời ấy. |
|
4. Một số ảo cảm đang giam hãm nhân loại là: |
|
|
Notice that word thrall. It does really mean kind of a prison. Sometimes these negative words are used as if they are positive. Someone comes in, looking very good, and you say, “Oh, you look so glamorous”, as if that were a good thing. Or someone presents themselves, and you’re sort of enchanted by how they look, male or female, and you say, “Oh, you look enthralling”. Which means, of course, that the perceiver is being captivated by the appearance and the consciousness is somewhat in prison. So, |
Hãy lưu ý từ “giam hãm” đó. Nó thực sự hàm nghĩa một kiểu nhà tù. Đôi khi những từ tiêu cực này lại được dùng như thể chúng tích cực. Ai đó bước vào, trông rất hấp dẫn, và các bạn nói: “Ồ, trông bạn thật quyến rũ,” như thể đó là điều tốt. Hoặc ai đó xuất hiện và các bạn bị mê hoặc bởi vẻ ngoài của họ, nam hay nữ, và các bạn nói: “Ồ, trông bạn thật mê hoặc.” Dĩ nhiên điều đó có nghĩa là người tri giác đang bị sắc tướng bắt giữ và tâm thức phần nào bị giam hãm. Vì vậy, |
|
The glamours, |
Các ảo cảm, |
|
He starts with this now. He’s going to get more detailed in another 40 or 50 pages about what are the glamours. |
Ngài bắt đầu như thế ở đây. Khoảng 40 hay 50 trang nữa, Ngài sẽ đi vào chi tiết hơn về các ảo cảm là gì. |
|
The glamours which holds humanity in thrall: |
Các ảo cảm đang giam hãm nhân loại: |
|
That is in prison, |
tức là giam giữ, |
|
a. The glamour of materiality. [3c] |
a. Ảo cảm vật chất. [3c] |

|
That’s such a big one, because that has to do with the third ray nature of our planetary personality, and we have not overcome that yet. We may be on the way, and maybe that’s what the Reappearance of the Christ is all about to help us put the number three in its proper place. I pointed out before that when you look at the Big Dipper within the Great Bear, sort of the back and tail of the Great Bear there, that constellation, you will see that the third ray star Alioth is really out of alignment. And what are the causes of that? I mean, who knows, it’s occurring on a very high level, but from our point of perception, which is always important how you see a thing. Alioth is out of alignment. |
Đây là một ảo cảm rất lớn, vì nó liên quan đến bản chất cung ba của phàm ngã hành tinh chúng ta, và chúng ta vẫn chưa vượt qua được điều ấy. Chúng ta có thể đang trên đường vượt qua, và có lẽ đó chính là điều mà Sự Tái Lâm của Đức Christ muốn giúp chúng ta làm: đặt số ba vào đúng vị trí của nó. Trước đây tôi đã chỉ ra rằng khi các bạn nhìn vào Bắc Đẩu trong Đại Hùng tinh, phần lưng và đuôi của Đại Hùng tinh ấy, các bạn sẽ thấy ngôi sao cung ba Alioth thực sự lệch khỏi sự chỉnh hợp. Nguyên nhân của điều đó là gì? Ai mà biết được; điều ấy diễn ra ở một cấp độ rất cao. Nhưng từ điểm tri giác của chúng ta, mà điều ấy luôn quan trọng vì cách các bạn nhìn một sự vật luôn quan trọng, thì Alioth đang lệch khỏi sự chỉnh hợp. |
|
b. The glamour of sentiment. [3d] |
b. Ảo cảm của tình cảm. [3d] |
|
This is all about liking and disliking. It’s one of the very first things that has to be eliminated within the group process. If you turn to Rule 11 in the book, the rays and the Initiations, you’ll see there are four eliminations you have to go through before you can even begin to look into the Rule and try to apply it, and the glamour of sentiment, sentimental group interrelation is one of the major ones, the very first one mentioned, along with cutting personality ties, and seeking no recognition, and learning the true method of occult silence. Then of course, |
Toàn bộ điều này xoay quanh thích và không thích. Đây là một trong những điều đầu tiên phải được loại bỏ trong tiến trình nhóm. Nếu các bạn mở Quy luật 11 trong quyển Rays and Initiations, các bạn sẽ thấy có bốn sự loại bỏ phải trải qua trước khi có thể bắt đầu khảo sát quy luật ấy và cố áp dụng nó; và ảo cảm của tình cảm, sự tương liên nhóm đầy cảm tính, là một trong những điều lớn nhất, là điều được nêu đầu tiên, cùng với việc cắt đứt những ràng buộc của phàm ngã, không tìm kiếm sự công nhận, và học phương pháp im lặng huyền bí chân chính. Rồi dĩ nhiên, |
|
The glamour of devotion. [3e] |
Ảo cảm Sùng tín. [3e] |
|
Devotion itself is a good thing. As a matter of fact, when you look at the second initiation, the sequence ends with devotion, we overcome that dedication. Let’s see if I can find that for us very quickly because it’s most interesting. It’s in the rays and Initiations and it should be 340 or so. And here it is: Dedication, resulting in glamour, alleviated by devotion. And when you think about it, there is the devotion of the soul. And we as a Monad. Now, think about this, lest we cast devotion aside and say, It’s not a good thing. We are, as monads, “Lords of Ceaseless Persevering Devotion”. Well, it takes that kind of devotion to go on a long pilgrimage which, in a way, is lasting billions of years. The human part of the pilgrimage is shorter, but the Monad has to pass through the different Kingdoms of Nature. But devotion can be narrow in these days when we are offered a larger picture of reality, and the relative balance of the factors within that view of reality, devotion can be so selective that it discounts and exaggerates. And we never get a true picture. |
Bản thân sùng tín là một điều tốt. Thực ra, khi các bạn xem xét lần điểm đạo thứ hai, chuỗi đó kết thúc bằng sùng tín; nhờ đó chúng ta vượt qua sự tận hiến ấy. Tôi sẽ tìm nhanh đoạn này cho chúng ta, vì nó rất thú vị. Nó nằm trong quyển Rays and Initiations, khoảng trang 340. Đây rồi: Sự tận hiến, đưa đến ảo cảm, được làm dịu bớt nhờ sùng tín. Và khi suy nghĩ về điều ấy, có sự sùng tín của linh hồn, và của chúng ta với tư cách chân thần. Hãy nghĩ đến điều đó, kẻo chúng ta gạt sùng tín sang một bên và nói rằng đó không phải là điều tốt. Với tư cách các chân thần, chúng ta là “các Chúa Tể của Sùng Tín Bền Bỉ Không Ngừng”. Cần loại sùng tín ấy mới có thể đi tiếp cuộc hành hương dài lâu mà, theo một nghĩa nào đó, kéo dài hàng tỉ năm. Phần hành trình làm người ngắn hơn, nhưng chân thần phải đi qua các giới trong thiên nhiên khác nhau. Nhưng sùng tín có thể trở nên hẹp hòi trong thời đại này, khi chúng ta được trao cho một bức tranh rộng lớn hơn về thực tại và về sự quân bình tương đối giữa các yếu tố trong bức tranh ấy; sùng tín có thể trở nên chọn lọc đến mức hạ thấp cái này và phóng đại cái kia. Và chúng ta không bao giờ có được một bức tranh chân thật. |
|
The glamour of the pairs of opposites, [3f] |
Ảo cảm của các cặp đối cực, [3f] |
|
The struggle between the Soul and the Personality, this ongoing battle between the soul which is the higher of the pairs of opposites, and the personality which is the lower, and all of the conflict and distress, and the rendering and the tearing, and the interpretation of everything in terms of the struggle, obviously, there are more intelligent ways to handle it. |
Cuộc đấu tranh giữa linh hồn và phàm ngã, cuộc chiến ongoing giữa linh hồn là phía cao hơn của cặp đối cực và phàm ngã là phía thấp hơn, cùng với toàn bộ xung đột, đau khổ, sự xé rách, giằng co, và việc diễn giải mọi sự theo cuộc đấu tranh ấy; rõ ràng có những cách thông minh hơn để xử lý điều đó. |
|
And the many, many glamours of the path, [3g] |
Và vô số ảo cảm của đường đạo, [3g] |
|
We say, well, once we’re on the path, we’re fine. But once again, aspiration without action can overcome us, and we may fall into many traps along the way. So, what I’m going to do is just, maybe for future consideration, I’m going to just highlight these, he lists many, many glamours in that section around page 120 in this book, but it looks like these are some of the most important, and they may have to do with different ray types. I mean, we’re all subject to all of them, but the glamour of materiality, maybe the third ray type especially as subjects, and the 2-4-6 line to the glamour of sentiment, and the sixth ray to the glamour of devotion, and the fourth ray to the glamour of the pairs of opposites. It’s warfare within high and low. And the glamour of the path, that’s just for everybody. |
Chúng ta thường nói, một khi đã ở trên đường đạo thì ổn rồi. Nhưng một lần nữa, khát vọng không đi kèm hành động có thể lấn át chúng ta, và chúng ta có thể rơi vào nhiều cạm bẫy trên đường đi. Điều tôi sẽ làm bây giờ chỉ là, có lẽ để suy xét sau này, đánh dấu những điều này. Ngài liệt kê rất nhiều, rất nhiều ảo cảm trong phần quanh trang 120 của quyển sách này, nhưng có vẻ đây là một số điều quan trọng nhất, và chúng có thể liên hệ đến những loại cung khác nhau. Tất cả chúng ta đều chịu tác động của tất cả những ảo cảm này, nhưng ảo cảm vật chất có lẽ đặc biệt gắn với người cung ba; dòng 2-4-6 với ảo cảm của tình cảm; cung sáu với Ảo cảm Sùng tín; và cung bốn với ảo cảm của các cặp đối cực. Đó là chiến tranh giữa cao và thấp. Còn ảo cảm của đường đạo thì là dành cho tất cả mọi người. |
Questions
|
Now, he’s, we’re going to I think we’re going to pause here, because he’s going to eliminate, he’s going to elucidate these glamours for us. |
Chúng ta sẽ dừng ở đây, vì Ngài sắp làm sáng tỏ các ảo cảm ấy cho chúng ta. |
|
And I think that would be most interesting, but we have considered sufficiently the material for this morning… Obviously, we could go on and on, but we should take a bite size chunks of this book, and not just continue and continue without assimilating. |
Điều đó hẳn sẽ rất thú vị, nhưng sáng nay chúng ta đã khảo sát tài liệu này khá đủ rồi… Hiển nhiên chúng ta có thể tiếp tục mãi, nhưng nên tiếp cận quyển sách này từng phần vừa sức, chứ không nên cứ tiếp tục mãi mà không đồng hoá được. |
|
… |
… |
|
All right, friends, hopefully you’ve taken some notes about what you might like to mention or to discuss, and this would be the time that we’ll open up the floor. Before we begin our discussion, or our meditation on one of the glamours which is prevailing at the moment, I guess, I just have to call it the glamour of selfishness, which is a glamour of mistaken identity, and a belief that one’s own interests are best served by attending to the desires and tendencies of the personality rather than some higher form of behavior, of perception, of ethics and so forth. We see a lot of lying going on these days. We’ve been discussing the glamour of lying, particularly in the personality and nature of our planet, the third ray, and in the personality in general, the so-called “Devil being the father of lies”, and the devil being the 666, and the devil basically being the tendencies of the personality. We see this rampant today as people fight and struggle for the welfare of their personalities rather than the unity of humanity. |
Các bạn thân mến, hy vọng các bạn đã ghi lại vài ghi chú về điều mình muốn nêu ra hoặc thảo luận, và đây là lúc chúng ta mở phần trao đổi. Trước khi bắt đầu cuộc thảo luận, hoặc bài tham thiền về một trong những ảo cảm đang thịnh hành hiện nay, tôi chỉ có thể gọi nó là ảo cảm ích kỷ, một ảo cảm của bản sắc sai lầm, và là niềm tin rằng quyền lợi riêng của mình được phục vụ tốt nhất bằng cách chiều theo các dục vọng và khuynh hướng của phàm ngã, thay vì bằng một hình thức hành vi, tri giác, đạo đức v.v. cao hơn. Chúng ta thấy rất nhiều dối trá đang diễn ra ngày nay. Chúng ta đã bàn về ảo cảm của sự dối trá, đặc biệt trong phàm ngã và bản chất của hành tinh chúng ta, cung ba, và trong phàm ngã nói chung, cái gọi là “Quỷ là cha của dối trá”, và quỷ là 666, và về cơ bản quỷ chính là các khuynh hướng của phàm ngã. Chúng ta thấy điều này lan tràn ngày nay khi con người chiến đấu và vật lộn vì phúc lợi của phàm ngã mình thay vì vì sự hợp nhất của nhân loại. |
|
So, friends, is there anybody who would like to say something in relation, asks something in relation to what we have just studied, the substantiality of glamour, the potency of glamour, the antidote to glamour, some of the major glamours which hold humanity. This is what we’ve reviewed this morning, but if you want to discuss something related to occultism in general, that’s fine also. So your thoughts. |
Các bạn thân mến, có ai muốn nói điều gì, hay hỏi điều gì liên quan đến điều chúng ta vừa nghiên cứu: tính chất liệu của ảo cảm, sức mạnh của ảo cảm, đối trị của ảo cảm, một số ảo cảm chủ yếu đang giam hãm nhân loại? Đó là những gì chúng ta đã ôn lại sáng nay. Nhưng nếu các bạn muốn bàn về điều gì liên quan đến huyền bí học nói chung, điều đó cũng hoàn toàn được. Xin mời các ý kiến của các bạn. |
|
Obviously, it’s if the Tibetan took the time to call this a world problem, even though it is quite undetectable by us very often. It is a world problem, and we have to become more and more clear about it. I think it’s going to happen when Vulcan is discovered, and I think people are going to learn how really to stand in spiritual being and with mass intense, and really mount an attack of light against those distorting forms, which veil reality. I think the major attack on Glamour lies ahead, but groups such as ours have to get started in this task, even though humanity might not become aware of the necessity for quite a while. |
Rõ ràng, nếu Chân sư Tây Tạng đã dành thì giờ gọi đây là một vấn đề thế giới, thì dù rất nhiều khi chúng ta khó nhận ra nó, nó vẫn là một vấn đề thế giới, và chúng ta phải ngày càng sáng tỏ hơn về nó. Tôi nghĩ điều đó sẽ xảy ra khi Vulcan được khám phá, và tôi nghĩ con người sẽ học được cách thật sự đứng vững trong bản thể tinh thần, với ý hướng tập thể mãnh liệt, và thật sự phát động một cuộc tấn công bằng ánh sáng chống lại những hình tướng bóp méo che khuất thực tại ấy. Tôi nghĩ cuộc tấn công lớn vào ảo cảm còn ở phía trước, nhưng những nhóm như nhóm của chúng ta phải bắt đầu nhiệm vụ này, mặc dù nhân loại có thể còn khá lâu nữa mới nhận ra sự cần thiết ấy. |
|
Three keynotes of each disciple in the Tibetan’s group. |
Ba chủ âm của mỗi đệ tử trong nhóm của Chân sư Tây Tạng. |
|
Each of the Tibetan’s disciples was given a three-word series of keynotes that they needed to work on in that incarnation. I wondered to what extent those keynotes were related to each disciples particularly? |
Mỗi đệ tử của Chân sư Tây Tạng đều được trao cho một chuỗi ba từ chủ âm mà họ cần phải thực hiện trong kiếp lâm phàm ấy. Tôi băn khoăn không biết những chủ âm ấy có liên hệ đặc biệt đến từng đệ tử đến mức nào? |
|
Michael |
Michael |
|
Sometimes they were. We, in the University of the Seven Rays, we go through a process, so we did when we were teaching more on the ground, as it were, through a quality of sharing, or distribution, and the quality of cultivation. Two things: one we had built into us, and we were able to give it as a gift to others. The other was a kind of deficiency which we had to build up. So, when you start looking at those disciples and the three words, usually three words or some hyphenated combination at the end, you will see oftentimes where they lack and what they had to cultivate now. For Alice Bailey, although her instructions are not given, if I remember properly, it was Detachment, Rest, and that was also given to others who were just too restless, too much in action, too much in motion because of the pressure, but there was a better way to react to that,rather than this constant commotion. And S. in her case Skill in Action. Now, obviously, every one of those points to something that she had yet to achieve, and every one of them probably points to certain distortions in thought and feeling which were preventing her from achieving these things. I remember when she was, if you went through the Unfinished Autobiography, there was a time in the war, I guess it was the First World War, where she was actually going through some sort of recapitulatory period, and her sixth ray was very strong later. She did not have sixth ray in her makeup. Her rays were, as I recall, II – I, 127, those were her rays, but she went through a recapitulatory period where she was basically thumping the Bible. And the sixth ray was very, very strong. And she was taken to task by some of the soldiers who said, we appreciate what you’re trying to do for us, but it’s just kind of an overemphasis on this old approach to religion. |
Đôi khi có. Tại Đại học Bảy Cung, khi chúng tôi còn giảng dạy trực tiếp nhiều hơn, chúng tôi có làm một tiến trình dựa trên phẩm tính chia sẻ hay phân phối, và phẩm tính vun bồi. Có hai điều: một là điều đã được xây sẵn trong chúng ta, và chúng ta có thể trao nó như một món quà cho người khác. Điều kia là một dạng thiếu hụt mà chúng ta phải bồi dưỡng thêm. Khi các bạn bắt đầu xem những đệ tử ấy và ba từ đó, thường là ba từ hoặc một tổ hợp ghép nối ở cuối, các bạn sẽ thường thấy họ thiếu ở đâu và họ phải vun bồi điều gì. Với Alice Bailey, mặc dù chỉ dẫn của bà không được nêu ra, nếu tôi nhớ không lầm thì đó là Tách rời, Nghỉ ngơi; và điều ấy cũng được trao cho những người khác vốn quá bất an, quá hành động, quá chuyển động vì áp lực, trong khi vẫn có một cách phản ứng tốt hơn đối với điều đó thay vì sự náo động liên tục này. Còn S. thì trong trường hợp của bà là Kỹ năng trong hành động. Hiển nhiên, mỗi điều ấy đều chỉ tới điều mà bà còn phải đạt được, và mỗi điều ấy có lẽ cũng chỉ tới những bóp méo nào đó trong tư tưởng và cảm xúc đang ngăn bà đạt được những điều đó. Tôi nhớ khi bà, nếu các bạn đọc Tự Truyện Dở Dang, có một thời kỳ trong chiến tranh, tôi nghĩ là Thế chiến thứ nhất, khi bà thực sự đi qua một giai đoạn tổng kết lại, và cung sáu của bà rất mạnh về sau. Bà không có cung sáu trong cấu tạo của mình. Các cung của bà, nếu tôi nhớ đúng, là II – I, 127; đó là các cung của bà. Nhưng bà đã trải qua một giai đoạn tổng kết trong đó về căn bản bà ra sức rao giảng Kinh Thánh. Và cung sáu rất, rất mạnh. Một số binh sĩ đã phê bình bà và nói rằng họ trân trọng điều bà đang cố làm cho họ, nhưng đó đơn giản là một sự nhấn mạnh quá mức vào lối tiếp cận tôn giáo cũ ấy. |
|
So, that represented some kind of containment of the vision and certain glamours of the sixth ray, which she was really living through. So, I guess, Michael, what I think is that when you see those names, many of which represent implied deficiencies. You can also come up with a glamour that is related to those deficiencies, a person is lacking enough love, they’re lacking enough wisdom, they’re lacking skill in action, and they have to cultivate these things. So, I would say, yes, there are some glamours implicit in the choice of the names or keynotes. But if you go through the instructions very carefully, you will find that he actually tends to name what the glamours are for every person. And sometimes they’re very subtle, and they’re not among the usual glamours at all. And they’re very idiosyncratic. Meaning, they really apply to that person in a unique way. And it’s not a general glamour at all, such as what DK is listing down here with what humanity is subjected to. So, I would say, yes, we’re on the right track, but at the same time, we have to do a little work to discover what is the glamor behind the deficiency, which DK notes. |
Vì vậy, điều đó biểu thị một dạng giới hạn của tầm nhìn và một số ảo cảm của cung sáu mà bà thực sự đang sống qua. Vì thế, Michael, điều tôi nghĩ là khi các bạn nhìn vào những tên gọi ấy, nhiều cái trong đó hàm ý những thiếu hụt. Các bạn cũng có thể nhận ra một ảo cảm liên hệ với những thiếu hụt đó: một người thiếu đủ tình thương, thiếu đủ minh triết, thiếu kỹ năng trong hành động, và họ phải vun bồi những điều ấy. Vì thế, câu trả lời là có, có một số ảo cảm hàm ẩn trong việc chọn những tên gọi hay chủ âm ấy. Nhưng nếu các bạn đọc các chỉ dẫn thật kỹ, các bạn sẽ thấy Ngài thực sự có khuynh hướng nêu rõ ảo cảm của từng người là gì. Và đôi khi chúng rất vi tế, hoàn toàn không nằm trong số những ảo cảm thông thường. Chúng rất đặc thù; nghĩa là chúng thật sự áp dụng với người đó theo một cách độc nhất. Và chúng вовсе không phải là ảo cảm chung, như điều Chân sư DK đang liệt kê ở đây, những gì mà nhân loại đang chịu tác động. Vì vậy, chúng ta đang đi đúng hướng, nhưng đồng thời cũng phải làm một chút công việc để khám phá ảo cảm nào nằm phía sau sự thiếu hụt mà Chân sư DK đã ghi nhận. |
|
Michael Stacy |
Michael Stacy |
|
And that’s where we can learn for our own keynotes, from those disciples instructions, we can learn from those keynotes what may be applicable to ourselves. |
Và chính từ đó chúng ta có thể học cho các chủ âm của chính mình; từ những chỉ dẫn dành cho các đệ tử ấy, chúng ta có thể học điều gì có thể áp dụng cho bản thân. |
|
Michael |
Michael |
|
Yes, as a matter of fact, exactly. So, we used to do, we did a lot of teaching on the road for a long time, ever since 1988 and up to 2005 2006. We did in person teaching, the Internet was not so developed, and I was not so tired. And other people represented the university went out there and did in person teaching. And when we were doing that, and we taught Esoteric Psychology, we had each person estimate what the three keynotes DK might give to them would be. And it was an interesting exercise because you really had to attune not just with your own thoughts, but you had to tune with how the master from a certain soul perspective might be seeing you and your efforts in this life, in this incarnation. And I think people came up with some very interesting keynotes, some of which, I think, we’re right on the mark. Of course, I’ve done it so many times that my keynotes have changed. I can’t remember what I came up with in those days. But anyway, let’s pause and meditate here just for a moment. And this is just the beginning of a process. And let’s each one of us think of one keynote that master DK might suggest to us as a keynote for building our life in a way that it was more responsive to the soul. So, let’s just think of that for a moment meditatively. Just one out of what might be three later. I think that when we get into this, you will find it a very illuminating kind of exercise, especially when you go to explain why you chose, what you chose. |
Vâng, thật ra đúng là như vậy. Trước đây chúng tôi đã đi giảng dạy rất nhiều nơi trong một thời gian dài, từ năm 1988 cho đến 2005, 2006. Chúng tôi dạy trực tiếp; khi ấy Internet chưa phát triển như bây giờ, và tôi cũng chưa mệt như bây giờ. Những người khác đại diện cho trường cũng đi ra ngoài và giảng dạy trực tiếp. Khi làm như vậy, và khi chúng tôi dạy Tâm Lý Học Nội Môn, chúng tôi yêu cầu mỗi người ước lượng ba chủ âm mà Chân sư DK có thể trao cho họ là gì. Đó là một bài tập thú vị, vì các bạn thực sự phải chỉnh hợp không chỉ với những suy nghĩ của riêng mình mà còn với cách Chân sư, từ một góc nhìn nào đó của linh hồn, có thể đang nhìn các bạn và những nỗ lực của các bạn trong kiếp sống này, trong lần lâm phàm này. Và tôi nghĩ mọi người đã đưa ra một số chủ âm rất thú vị; có những cái, theo tôi, hoàn toàn trúng đích. Dĩ nhiên, tôi đã làm điều này nhiều lần đến mức các chủ âm của tôi đã thay đổi. Tôi không còn nhớ hồi đó mình đã nghĩ ra những gì. Nhưng chúng ta hãy dừng lại và tham thiền ở đây một lát. Đây mới chỉ là sự khởi đầu của một tiến trình. Mỗi người chúng ta hãy nghĩ đến một chủ âm mà Chân sư DK có thể gợi ý cho mình như một chủ âm để xây dựng đời sống sao cho đáp ứng nhiều hơn với linh hồn. Chúng ta hãy chỉ nghĩ về điều đó một lát, một cách tham thiền. Chỉ một thôi, trong số ba điều có thể đến sau này. Tôi nghĩ rằng khi đi vào việc này, các bạn sẽ thấy đó là một bài tập rất soi sáng, nhất là khi các bạn phải giải thích vì sao mình đã chọn điều mình đã chọn. |
|
Now, I’m thinking of Foster Bailey for a minute. These were some of the higher disciples that were in the telepathy group and so forth. Maybe the very first group that he organized the first group of nine. And his name, or his keynotes were JWKP, and they were Joy, Wisdom, Knowledge of the Plan? Well, he certainly took it very seriously this knowledge of the Plan idea. He wrote books later on Divine Plan, and he wrote a book, a very first ray book, I think, Running God’s Plan. He took it to heart what the Tibetan had said. He had quite a degree of wisdom already but he needed more love, the thing where he was really deficient. And then you would have to evaluate that for yourself, out of the ones that you chose or they were chosen for you by the Tibetan, where was your deficiency really indicated, and in the case of Foster Bailey, it was Joy. He had difficulty rising to that state which is inherent in the soul, the Joy of the Soul, the happiness of the personality, joy, the soul, the bliss of the spirit, but DK wasn’t going so high. He was just saying, you need the joy of the soul. And DK gave him all the reasons why if that keynote were cultivated, things would be much better for him and better for the people with whom he worked. |
Lúc này tôi đang nghĩ đến Foster Bailey. Ông là một trong những đệ tử cao hơn thuộc nhóm viễn cảm v.v., có lẽ là ngay trong nhóm đầu tiên mà Ngài tổ chức, nhóm chín người đầu tiên. Tên gọi, hay các chủ âm của ông, là JWKP, và đó là Joy, Wisdom, Knowledge of the Plan? Quả thật ông đã rất nghiêm túc với ý tưởng về tri thức đối với Thiên Cơ ấy. Sau này ông viết những cuốn sách về Thiên Cơ, và tôi nghĩ ông còn viết một cuốn sách rất thuộc Cung một, Thực Hiện Thiên Cơ của Thượng Đế. Ông đã có một mức độ minh triết khá lớn rồi, nhưng ông cần thêm bác ái; đó là chỗ ông thực sự thiếu. Và rồi các bạn phải tự đánh giá xem trong những điều các bạn chọn, hoặc những điều Chân sư Tây Tạng đã chọn cho các bạn, sự thiếu hụt thực sự được chỉ ra ở đâu; và trong trường hợp của Foster Bailey, đó là Joy. Ông gặp khó khăn khi vươn lên trạng thái vốn cố hữu trong linh hồn, sự hoan hỉ của linh hồn; hạnh phúc thuộc về phàm ngã, hoan hỉ thuộc về linh hồn, chí phúc thuộc về tinh thần, nhưng Chân sư DK không đi cao đến thế. Ngài chỉ nói: ông cần sự hoan hỉ của linh hồn. Và Chân sư DK đã đưa cho ông mọi lý do vì sao nếu chủ âm ấy được vun bồi, mọi sự sẽ tốt hơn nhiều đối với ông và đối với những người cùng làm việc với ông. |
|
So, it’s likely that one of the keynotes at least is out of balance with the others and requires maybe more attention to bring it up to a sufficient level. Sometime we’ll have to do this. I think it would be interesting. Anyway, that was the attempt to answer your question, or to respond to your comment. Thank you, Michael. |
Vì vậy, rất có thể ít nhất một trong các chủ âm bị mất quân bình so với những chủ âm khác và cần được chú ý nhiều hơn để nâng nó lên đến một mức đủ. Lúc nào đó chúng ta sẽ phải làm điều này. Tôi nghĩ sẽ rất thú vị. Dù sao, đó là nỗ lực để trả lời câu hỏi của bạn, hay đáp lại nhận xét của bạn. Cảm ơn bạn, Michael. |
|
Our little study group is going through the book of DINA one, and we are stumbling through it. Because I know you have studied it a lot, and it would be helpful to know more about those individual disciples. Can you advise where we can get additional information about them? |
Nhóm học nhỏ của chúng tôi đang học quyển một của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, và chúng tôi đang vật lộn với nó. Vì tôi biết ông đã nghiên cứu nó rất nhiều, nên sẽ rất hữu ích nếu biết thêm về những đệ tử riêng lẻ ấy. Ông có thể chỉ cho chúng tôi biết có thể tìm thêm thông tin về họ ở đâu không? |
|
Michael |
Michael |
|
Yes, a little bit. First of all, try to stay on the level of impersonality and note the contrast between the soul traits to be cultivated and the personality traits as they exist and present barriers. Then a group within the Morya Federation, they are esoteric astrologers, Elena Dramchini, and Goeffrey Logie and Nicholas Niklein, and I’m not sure who else is involved, not at least those three, and maybe one more person maybe maybe Philip Lindsay, although he’s not in the Morya Federation, but he’s an excellent esoteric astrologer, and BL who is with us as our directing the Meditation Quest and the Great Quest. She is doing some terrific research on locating who these people were. But you don’t want to dive into that too soon. That should be the second thing after you melt the instructions for all they’re worth, then go into the personality of the person, their astrology when they were born. Now, one of the ladies, CDP, her ray structure was 26-566. She was one of a wealthy woman, DuPont, but it was DuPont Publishing. And her horoscope has pretty well been worked out because we were able to get a hold of some of these horoscopes. And we were able then to learn a little bit more about their personal life. |
Có, một chút. Trước hết, hãy cố gắng giữ mình ở cấp độ vô ngã và lưu ý sự tương phản giữa những phẩm tính của linh hồn cần được vun bồi và những đặc tính của phàm ngã như chúng hiện hữu và tạo thành chướng ngại. Rồi có một nhóm trong Morya Federation, họ là những nhà chiêm tinh học nội môn: Elena Dramchini, Goeffrey Logie và Nicholas Niklein; tôi không chắc còn ai khác tham gia nữa, nhưng ít nhất là ba người ấy, và có thể thêm một người nữa, có lẽ là Philip Lindsay, dù ông ấy không ở trong Morya Federation nhưng là một nhà chiêm tinh học nội môn xuất sắc; và BL, người đang cùng chúng ta điều hành Meditation Quest và Great Quest. Bà ấy đang thực hiện một công trình nghiên cứu rất tuyệt vời để xác định những người này là ai. Nhưng các bạn đừng đi quá nhanh vào điều đó. Đó phải là bước thứ hai, sau khi các bạn đã nghiền ngẫm các chỉ dẫn đến mức tối đa; rồi mới đi vào phàm ngã của người ấy, lá số chiêm tinh của họ khi sinh ra. Một trong các phụ nữ ấy, CDP, có cấu trúc cung là 26-566. Bà là một phụ nữ giàu có, thuộc DuPont, cụ thể là DuPont Publishing. Và lá số của bà phần lớn đã được xác định, vì chúng tôi đã có thể tiếp cận được một số lá số ấy. Nhờ đó, chúng tôi cũng biết thêm được đôi chút về đời sống cá nhân của họ. |
|
Now, the danger is always getting caught up in the personal life and forgetting what DK says about life of the soul. In other words, you may remember the book written by Annie visant and CW Leadbeater, it was called The Lives of Alcyone. This is a book, substantial in length, which seemed to deal with the last 50 or 55 lives of the individual who identifies himself or identified himself as Krishnamurti. So they thought he was a really big deal, and they did a past life research. But what the Tibetan said about, and it’s a very interesting book, and it makes for kind of a good read, and you see all kinds of dramatic things that may have happened if the authors are accurate, but he said, it was written almost strictly from the personal point of view. In other words, what should have been, maybe a discussion of how the soul was developing over those many lives, was pretty much this is the story of this life, this is the story of this life, and so forth. So they get caught up, even these more advanced researchers like Annie Besant and Leadbeater, that got caught up in the life of the personality. So, it’s definitely more important to take what DK says at face value, and then life of the personality, and then to find out first, what are the inner dynamics, and then the outer dynamics are traceable now. |
Nguy hiểm luôn là bị cuốn vào đời sống cá nhân và quên điều Chân sư DK nói về đời sống của linh hồn. Nói cách khác, các bạn có thể nhớ cuốn sách do Bà Annie Besant và Ông C.W. Leadbeater viết, nhan đề The Lives of Alcyone. Đây là một cuốn sách khá đồ sộ, dường như bàn về 50 hay 55 kiếp sống cuối cùng của cá nhân tự nhận, hay đã từng tự nhận, mình là Krishnamurti. Vì thế họ nghĩ ông là một nhân vật rất lớn, và họ đã thực hiện nghiên cứu về tiền kiếp. Nhưng Chân sư Tây Tạng nói về cuốn sách ấy rằng đó là một cuốn sách rất thú vị, khá đáng đọc, và các bạn sẽ thấy đủ loại tình tiết đầy kịch tính có thể đã xảy ra, nếu các tác giả là chính xác; tuy nhiên, Ngài nói nó được viết hầu như hoàn toàn từ quan điểm cá nhân. Nói cách khác, điều đáng lẽ nên là một cuộc bàn luận về cách linh hồn phát triển qua rất nhiều kiếp sống ấy thì lại phần lớn trở thành: đây là câu chuyện của kiếp này, đây là câu chuyện của kiếp kia, v.v. Thế là ngay cả những nhà nghiên cứu tiến bộ hơn như Bà Annie Besant và Ông Leadbeater cũng bị cuốn vào đời sống của phàm ngã. Vì vậy, điều quan trọng hơn hẳn là tiếp nhận điều Chân sư DK nói theo đúng nghĩa trực tiếp, rồi trước hết tìm ra các động lực bên trong; còn các động lực bên ngoài thì nay có thể lần theo được. |
|
I think, with BL’s research, they’re doing very well because she has a real ability for this. Lately, they’ve discovered the very first person who was listed is it BSD or something like that, he was a third ray soul. His name was Herbert Adams. And it turns out that he was a very high Rosicrucian, and he wrote books and was involved in the Rosicrucian Lodge and a picture of him is available now, and you can analyze the picture and what DK says, all of that stuff is being filled in so that we’re going to have a more clearer view of who these people are. But if we get caught in the personalism of it, ignoring the soul dynamics, then we’re putting the cart before the horse. |
Với công trình nghiên cứu của BL, tôi nghĩ nhóm ấy đang làm rất tốt, vì bà có một năng lực thực sự cho việc này. Gần đây, họ đã phát hiện người đầu tiên trong danh sách, hình như là BSD hay gì đó, là một linh hồn cung ba. Tên ông ấy là Herbert Adams. Và hóa ra ông là một nhân vật Rosicrucian cấp rất cao; ông đã viết sách và tham gia Rosicrucian Lodge, và hiện nay đã có ảnh của ông. Các bạn có thể phân tích bức ảnh cùng với những gì Chân sư DK nói; tất cả những chi tiết ấy đang được lấp đầy dần để chúng ta sẽ có một cái nhìn rõ ràng hơn về những người này là ai. Nhưng nếu chúng ta bị mắc kẹt trong cái nhìn quá thiên về cá nhân, mà bỏ qua các động lực của linh hồn, thì chúng ta đang đặt xe trước ngựa. |
|
… |
… |
|
Michael |
Michael |
|
In other words, if you go to the Scorpio chapter, somewhere around page 222 – 223, he’ll tell you study the person first, and then go to the horoscope, study the person first and then then go to the personality ray, then go to the soul ray. In other words, take those rays that you have discovered and then take them into the horoscope. Do not attempt to determine what the rays are from the horoscope itself, because that is the path of error, I’m afraid. |
Nói cách khác, nếu các bạn đến chương Hổ Cáp, vào khoảng trang 222 – 223, Ngài sẽ bảo các bạn hãy nghiên cứu con người đó trước, rồi mới đến lá số chiêm tinh; nghiên cứu con người đó trước, rồi đến cung phàm ngã, rồi đến cung linh hồn. Nói cách khác, hãy lấy những cung mà các bạn đã khám phá ra và đưa chúng vào lá số chiêm tinh. Đừng cố xác định các cung từ chính lá số chiêm tinh, vì e rằng đó là con đường sai lầm. |
|
This brings me to two points about which I would like to speak a word. In dealing with the horoscope of the personality and with the average non-aspiring man, the astrologer should endeavour to discover the personality ray from a study of character, of the physical indications, of the emotional qualities, of the type of mind and the nature of the environment. He will then be able to lay out a far more useful chart with the orthodox planets ruling the life. In the case of the horoscope of a disciple, he should do the same, endeavouring to discover the ray of the soul. The soul ray only sets its mark and emphasises its quality and nature in the case of advanced people, and when that emerges clearly, the man is obviously a disciple and the esoteric planets will then govern his chart. Having determined [Page 223] the ray of the man undergoing tests in Scorpio, the astrologer can then place the other rays in relation to him and his probable experience. EA222 |
Điều này đưa tôi đến hai điểm mà tôi muốn nói đôi lời. Khi bàn đến lá số chiêm tinh của phàm ngã và của con người trung bình, không chí nguyện, nhà chiêm tinh học nên cố gắng tìm ra cung phàm ngã bằng cách nghiên cứu tính cách, các dấu hiệu thể xác, các phẩm tính cảm xúc, loại trí tuệ và bản chất của môi trường. Khi đó, ông sẽ có thể lập ra một lá số hữu ích hơn nhiều, với các hành tinh chính thống cai quản đời sống. Trong trường hợp lá số chiêm tinh của một đệ tử, ông cũng nên làm như vậy, cố gắng tìm ra cung của linh hồn. Cung linh hồn chỉ để lại dấu ấn và nhấn mạnh phẩm tính cùng bản chất của nó trong trường hợp những người tiến bộ; và khi điều đó xuất hiện rõ ràng, người ấy hiển nhiên là một đệ tử, và khi ấy các hành tinh nội môn sẽ cai quản lá số của y. Sau khi đã xác định [Page 223] cung của người đang trải qua các thử thách trong Hổ Cáp, nhà chiêm tinh học khi ấy có thể đặt các cung khác trong mối liên hệ với y và với kinh nghiệm có thể xảy ra của y. EA222 |
|
Now, that’s exactly what this little group is doing. When Keith Bailey and I had connection with RSW, the youngest of the disciples in the group, she made it possible for us to see some of the horoscopes of the different people. And I’ve written this on Makara. And I think maybe Elena has written as well, because we were working together at a certain point. And you get the idea of how we might use the horoscope in conjunction with what DK has said, aut then to learn more about the personal details of the individual, and how and what they look like in the whole thing. That’s still another step. |
Đó chính xác là điều nhóm nhỏ này đang làm. Khi Keith Bailey và tôi có liên hệ với RSW, người trẻ nhất trong nhóm đệ tử, bà đã tạo điều kiện cho chúng tôi xem một số lá số chiêm tinh của những người khác nhau. Và tôi đã viết về điều này trên Makara. Tôi nghĩ có lẽ Elena cũng đã viết, vì ở một thời điểm nào đó chúng tôi đã làm việc cùng nhau. Từ đó các bạn có được ý niệm về cách chúng ta có thể dùng lá số chiêm tinh kết hợp với điều Chân sư DK đã nói; còn việc tìm hiểu thêm về các chi tiết cá nhân của người ấy, họ trông như thế nào trong toàn bộ bức tranh, thì vẫn là một bước khác nữa. |
|
So, we hope before long to have quite a full view, as far as possible, of who these people were, without getting caught in personalism, and it’s coming. So, go and look on Makara. I think I’ve written quite a bit on some of these people, and I didn’t have necessarily their pictures at the time, but their pictures are now being supplied. So, within another 10 years, who knows, we may be in a good position to have quite a full knowledge of different aspects of these people, the jigsaw pieces are coming into place. Let’s just put it like that. |
Chúng tôi hy vọng không bao lâu nữa sẽ có được một cái nhìn khá đầy đủ, trong mức có thể, về những người này là ai, mà không bị mắc kẹt trong cái nhìn quá thiên về cá nhân; và điều đó đang đến. Vì vậy, hãy vào Makara mà xem. Tôi nghĩ tôi đã viết khá nhiều về một số người này, và lúc ấy tôi chưa hẳn đã có ảnh của họ, nhưng nay ảnh của họ đang được bổ sung. Vì vậy, trong khoảng 10 năm nữa, biết đâu chúng ta sẽ ở vào một vị thế tốt để có được sự hiểu biết khá đầy đủ về những phương diện khác nhau của những người này; các mảnh ghép đang dần vào đúng chỗ. Cứ tạm nói như vậy. |
[1] Đen như mực
[2] chỗ gián đoạn, chỗ đứt quãng, chỗ thiếu sót (trong một loạt sự vật, một bài tường thuật, một loạt chứng cớ…)