Commentary Astral Rule 58
|
[1] Much of the significance of this rule must remain theoretical, and be considered as holding a challenge until such time as the real magical work of thought-form building becomes universally possible. [2] The formula, as we have seen, will remain unknown to all save the members of the Hierarchy of Adepts for long ages to come. [3] The directional words are capable of ascertainment, but only to those who are working consciously under the guidance of their own souls, and who, through mind control merging into deep meditation, can manipulate the matter of thought and become “knowing creators.” [4] These can, and do, speak the impulsive words which bring into being those new forms and organisms, those expressions of ideas and those organizations which live their life cycle and serve their purpose, and so come, duly, to their timely and appointed end. [5] These creators are the leaders and organizers, the teachers and the guides in all phases of human living. [6] Their sound des go forth into all lands and their note is internationally recognized. [7] Hundreds of such names are easily remembered and spring unhidden to the mind. [8] They live in the memory of the multitude and that which lives is the sound of their accomplishment, be that good or bad. |
[1] Phần lớn thâm nghĩa của quy luật này vẫn phải nằm trong lĩnh vực lý thuyết và được xem như một thách thức cho đến khi công việc huyền thuật thực sự về kiến tạo hình tư tưởng trở nên khả thi trên toàn thế giới. [2] Như chúng ta đã thấy, công thức sẽ còn chưa được ai biết đến, ngoại trừ các thành viên của Thánh Đoàn Chân Sư, trong nhiều thời đại sắp tới. [3] Có thể xác định được các linh từ định hướng, nhưng chỉ những ai đang hoạt động một cách có ý thức dưới sự hướng dẫn của chính linh hồn mình và có thể vận dụng vật chất tư tưởng, trở thành “những đấng sáng tạo hiểu biết” nhờ kiểm soát thể trí, rồi tiến vào trạng thái tham thiền sâu xa, mới làm được điều đó. [4] Những người này có thể và thực sự xướng lên các linh từ thúc đẩy, khiến những hình tướng và cơ cấu mới, những biểu hiện của các ý tưởng cùng những tổ chức ấy hiện tồn, trải qua chu kỳ sống, phụng sự mục đích của mình, rồi đến hồi kết đúng lúc và đã được ấn định. [5] Những đấng sáng tạo này là các nhà lãnh đạo và tổ chức, các huấn sư và người hướng dẫn trong mọi phương diện của đời sống nhân loại. [6] Âm thanh của họ vang đến mọi miền đất, và âm điệu của họ được công nhận trên toàn thế giới. [7] Hàng trăm danh xưng như thế dễ dàng được nhớ lại và lập tức hiện rõ trong thể trí. [8] Họ sống trong ký ức của quần chúng, và điều còn sống chính là âm vang từ thành tựu của họ, dù tốt hay xấu. |
|
[9] But in the sentence which we must consider we find portrayed a universal function, even though it is as yet carried forward for the most part unconsciously. The words to be dealt with are as follows: |
[9] Nhưng trong câu mà chúng ta phải xem xét, một chức năng phổ quát được khắc họa, mặc dù cho đến nay phần lớn chức năng ấy vẫn diễn ra một cách vô thức. Những lời cần bàn đến như sau: |
|
[10] III. Finally, to utter forth the mystic phrase which will save him from their work. |
[10] III. Cuối cùng, xướng lên cụm từ thần bí sẽ cứu y khỏi công việc của chúng. |
|
[11] Therefore it appears that at the close of the magical work of creation, a phrase must be enunciated which effects a salvation and produces a liberation of a dual kind, —a liberation of the creating agent from the form which he has created, [12] and the emancipation of that form from the control of the one who has brought it into being. |
[11] Vì vậy, dường như vào lúc kết thúc công việc huyền thuật của sự sáng tạo, cần xướng lên một cụm từ tạo nên sự cứu rỗi và đem lại sự giải thoát kép—giải thoát tác nhân sáng tạo khỏi hình tướng mà y đã tạo ra, [12] đồng thời giải phóng hình tướng ấy khỏi sự kiểm soát của người đã đưa nó vào hiện tồn. |
|
[13] It is obvious that already the nature of speech in relation to embodied ideas is being somewhat understood. [14] Study the method of talk which is now the main factor employed to “launch an idea.” [15] Note how all inventions (which are neither more nor less than embodied concepts) [16] come into exoteric being on the physical plane through the power of the spoken word, and consider also with care the occult significance underlying all conferences, all meetings, all consultations, and all discussions which concern themselves with the launching of some idea or set of ideas upon the sea of public necessity. [17] May it not be possible that under the modes of activity employed by the advertising agencies and the constant training given to salesmen in the use of the spoken word as a means of approach to the public in order to sell an idea, [18] we shall find the first distorted indications of the emanations of those mystic phrases which will bring into being the creation of the soul in all fields of creative enterprise? |
[13] Hiển nhiên là bản chất của lời nói trong mối quan hệ với các ý tưởng đã nhập thể phần nào đang được thấu hiểu. [14] Hãy nghiên cứu phương pháp diễn thuyết hiện là yếu tố chính được dùng để “phát động một ý tưởng”. [15] Hãy lưu ý cách mọi phát minh—vốn không hơn không kém những quan niệm đã nhập thể—[16] đi vào sự hiện tồn ngoại môn trên cõi hồng trần nhờ quyền năng của lời được nói ra; đồng thời hãy cẩn thận suy xét thâm nghĩa huyền bí ẩn sau mọi hội nghị, mọi cuộc họp, mọi cuộc tham vấn và mọi cuộc thảo luận liên quan đến việc đưa một ý tưởng hay một tập hợp ý tưởng ra biển cả nhu cầu công chúng. [17] Phải chăng trong các phương thức hoạt động mà những cơ quan quảng cáo sử dụng và trong sự huấn luyện thường xuyên dành cho nhân viên bán hàng về cách dùng lời nói như một phương tiện tiếp cận công chúng nhằm bán một ý tưởng, [18] chúng ta có thể tìm thấy những dấu hiệu méo mó đầu tiên của các phát xạ từ những cụm từ thần bí sẽ đưa công trình sáng tạo của linh hồn vào hiện tồn trong mọi lĩnh vực hoạt động sáng tạo? |
|
[19] The training of public opinion, the utilization of catch words and slogans, the tendency to embody the concepts of campaigners in trite and apposite phrases are part of the growing realization as to the magical work. [20] All these means are employed blindly and without true realization; they constitute a part of the emerging activities of a humanity which is on the verge of real creative work, the principles of which are not yet understood nor scientifically applied. [20b] But they do point the way, and under the simplification which marks the return to synthesis, we shall have the cessation of speech and the utilization of simpler forms. [21] Under the evolutionary urge, we have had the creative Sound, the Word, Speech. [22] The latter, [23] in its turn, has been differentiated into words, phrases, sentences, paragraphs, books, [24] until we now have the era wherein this differentiation is at its height, and we have speeches at all hours of the day and night; [25] we have the utilization of the public platform to reach the public ear, and of the radio to reach all classes and races of humanity in an effort to mold public opinion and bring certain ideas and concepts into the public consciousness. [26] We have the publication of books literally in their millions, and all playing their part in the same great work, and we have as yet both methods of communication being prostituted to the selfish ends and ambitious purposes of those who speak and write. [27] Yet there are a few true creators who are endeavoring to make their sound heard, to speak those mystical words which will enable humanity to see the vision. [28] Thus will be dispersed eventually the clouds of thought-forms which at this time shut out the clear light of God. |
[19] Việc định hướng công luận, sử dụng những từ ngữ lôi cuốn và khẩu hiệu, cùng khuynh hướng thể hiện các quan niệm của những người vận động bằng các cụm từ sáo mòn nhưng thích hợp, đều là một phần của sự nhận biết ngày càng tăng về công việc huyền thuật. [20] Tất cả các phương tiện này đều được sử dụng một cách mù quáng và không có sự nhận biết chân thực; chúng hợp thành một phần trong các hoạt động đang xuất hiện của một nhân loại đứng trước ngưỡng cửa của công việc sáng tạo đích thực, nhưng các nguyên lý của công việc ấy vẫn chưa được thấu hiểu hay áp dụng một cách khoa học. [20b] Tuy nhiên, chúng quả thật chỉ ra con đường; và dưới tác động của sự đơn giản hóa đánh dấu việc trở về với sự tổng hợp, lời nói sẽ chấm dứt và những hình thức đơn giản hơn sẽ được sử dụng. [21] Dưới sự thôi thúc tiến hóa, chúng ta đã có Âm Thanh sáng tạo, Linh từ và Lời nói. [22] Đến lượt mình, yếu tố sau cùng [23] đã biến phân thành các từ, cụm từ, câu, đoạn văn và sách, [24] cho đến nay chúng ta bước vào một thời đại mà sự biến phân này đạt tới đỉnh điểm, với những bài diễn thuyết diễn ra vào mọi giờ trong ngày đêm; [25] chúng ta sử dụng diễn đàn công cộng để tiếp cận tai nghe của công chúng, và sử dụng phát thanh để tiếp cận mọi tầng lớp và mọi nhân loại, trong nỗ lực định hình công luận và đưa một số ý tưởng cùng quan niệm vào tâm thức công chúng. [26] Chúng ta xuất bản hàng triệu cuốn sách theo đúng nghĩa đen, tất cả đều đóng vai trò trong cùng một công việc vĩ đại; thế nhưng cho đến nay, cả hai phương thức giao tiếp vẫn bị lợi dụng để phục vụ những mục tiêu ích kỷ và tham vọng của những người nói và viết. [27] Tuy nhiên, có một số ít nhà sáng tạo chân chính đang nỗ lực làm cho âm thanh của mình được nghe thấy, xướng lên những linh từ thần bí sẽ giúp nhân loại thấy được linh ảnh. [28] Nhờ vậy, cuối cùng những đám mây hình tư tưởng hiện đang che khuất ánh sáng trong trẻo của Thượng đế sẽ tan biến. |
|
[29] The subject is too large for me to elaborate in this Treatize. I but seek to make suggestions which will carry to the intelligent reader some idea of the enormous progress which has been made in the magical work. [30] In this way he will be enabled to go forward with optimism knowing that hitherto all has been good inasmuch as man has progressed in knowledge. [31] Out of the present welter of speech and of words, of lectures and of books, [32] a few clear concepts will surely emerge which will find an echo in the hearts of men. [33] Thus also will men be led on into the new age, wherein “talk will die out and books come to naught” [34] for the lines of subjective communication will lie open. [34b] Men will recognize that noise acts as a deterrent to telepathic intercourse. The written word will not be needed either, for men will use symbols of light and color to supplement through the eye what the subjective hearing has recorded. But that day is not yet, even though the radio and television are the first steps in the right direction. |
[29] Chủ đề này quá rộng lớn để Tôi khai triển trong Khảo Luận này. Tôi chỉ tìm cách đưa ra những gợi ý nhằm truyền đạt cho độc giả thông tuệ một vài ý niệm về bước tiến lớn lao đã đạt được trong công việc huyền thuật. [30] Nhờ đó, y có thể lạc quan tiến bước, vì biết rằng cho đến nay mọi sự đều tốt đẹp, xét theo mức độ con người đã tiến bộ về tri thức. [31] Từ tình trạng hỗn độn hiện nay của lời nói và ngôn từ, của các bài thuyết giảng và sách vở, [32] chắc chắn sẽ xuất hiện một vài quan niệm rõ ràng, tìm được tiếng vọng trong tâm hồn con người. [33] Nhờ đó, con người cũng sẽ được dẫn vào kỷ nguyên mới, khi “lời nói sẽ tiêu tan và sách vở sẽ trở thành hư không”, [34] vì những đường giao tiếp bên trong sẽ rộng mở. [34b] Con người sẽ nhận ra rằng tiếng ồn gây cản trở cho sự giao tiếp viễn cảm. Chữ viết cũng không còn cần thiết, vì con người sẽ dùng các biểu tượng ánh sáng và màu sắc để bổ sung qua thị giác cho những gì thính giác bên trong đã ghi nhận. Nhưng ngày ấy chưa đến, dù phát thanh và truyền hình là những bước đầu tiên đi đúng hướng. |
|
[35] Putting the truth as simply as possible we might state that through the complexity of much speech-making and book-writing, ideas are now enabled to take form [36] and so run through their cycle of activity. But this method is as unsatisfactory in the field of knowledge as is the ancient tallow dip in the field of illumination. [37] Electric light has superseded it, and some day the true telepathic communication and vision will take the place of speech and of writings. |
[35] Diễn đạt chân lý theo cách đơn giản nhất có thể, chúng ta có thể nói rằng nhờ sự phức tạp của vô số bài diễn thuyết và sách vở, các ý tưởng hiện có thể khoác lấy hình tướng [36] và nhờ đó trải qua chu kỳ hoạt động của chúng. Nhưng trong lĩnh vực tri thức, phương pháp này cũng không thỏa đáng chẳng khác nào ngọn nến mỡ cổ xưa trong lĩnh vực soi sáng. [37] Ánh sáng điện đã thay thế nó, và một ngày nào đó, sự giao tiếp viễn cảm chân chính cùng linh thị sẽ thay thế lời nói và chữ viết. |
|
[38] Carrying the same concepts into the field of real esoteric work we have the worker in thought-matter building his thought-form and “confining the lives” which express and respond to his idea within a “ring-pass-not”. [39] This latter persists for as long as his mind attention and hence his ensouling energy is directed upon it. [40] We have him pronouncing the words which will enable his thought-form to do its work, [41] fulfill the mission for which it has been constructed, and carry out the purpose for which it was created. [42] All that has been given out hitherto in connection with the words used in the creative work is the sevenfold sacred Word, AUM. [43] This, when rightly used by the soul on the mental plane vitalizes and expedites all thought-forms, and so produces successful enterprise. [44] It is interesting to note that in Atlantean days, the word used was TAU, [45] enunciated explosively and so forcefully, that the thought-forms thus energized and expedited acted inevitably like a boomerang, and returned to the one who sent them forth. [46] This word TAU is likewise, in its symbolic form, the symbol of reincarnation. [46b] It is desire for form which produces the use of form and causes cyclic and constant rebirth in form. [47] It was the constant use of the TAU likewise, which brought about the final overwhelming with water, which swept away the ancient Atlantean civilization; the few who used the AUM in those days were not potent enough to offset the force of desire. [48] The mind bodies of the race could not respond to that newer creative sound. Humanity was still swept entirely by longing and desire to such an extent that the united desire for possessions and for the enjoyment of form drove men esoterically “into the waters”. [49] Desire for form still forces upon humanity the constant process of rebirth until such time as the TAU influence is exhausted and the AUM sound can dominate. The former influence is however weakening, and the AUM is increasing in potency until it will be the dominating factor. [50] To this latter sound, the word of the Soul must eventually succeed, until AUM in its turn is entirely superseded. |
[38] Khi đưa những quan niệm này vào lĩnh vực công việc nội môn thực sự, chúng ta thấy người hoạt động trong chất liệu tư tưởng xây dựng hình tư tưởng của mình và “giam giữ các sự sống” biểu đạt và đáp ứng ý tưởng của y bên trong một “vòng-giới-hạn”. [39] Vòng này tồn tại chừng nào sự chú tâm của thể trí y, và do đó năng lượng phú linh của y, vẫn còn hướng vào nó. [40] Chúng ta thấy y xướng lên những linh từ giúp hình tư tưởng của y thực hiện công việc, [41] hoàn thành sứ mệnh mà nó được kiến tạo để đảm nhiệm, và thực hiện mục đích mà nó được tạo ra để hoàn thành. [42] Tất cả những gì cho đến nay đã được truyền đạt liên quan đến các linh từ dùng trong công việc sáng tạo là Linh từ thiêng liêng thất phân AUM. [43] Khi được linh hồn trên cõi trí sử dụng đúng đắn, linh từ này tiếp sinh lực và thúc đẩy mọi hình tư tưởng, nhờ đó đem lại thành công cho công việc. [44] Điều đáng lưu ý là vào thời Atlantis, linh từ được sử dụng là TAU, [45] được xướng lên một cách bùng nổ và đầy mãnh lực đến mức các hình tư tưởng được tiếp sinh lực và thúc đẩy như vậy tất yếu tác động như một chiếc boomerang, quay trở lại với người đã phóng chúng ra. [46] Trong hình thức biểu tượng, linh từ TAU cũng là biểu tượng của sự tái sinh. [46b] Chính dục vọng đối với hình tướng tạo nên việc sử dụng hình tướng và gây ra sự tái sinh tuần hoàn, liên tục trong hình tướng. [47] Việc thường xuyên sử dụng TAU cũng gây nên trận đại hồng thủy cuối cùng, cuốn trôi nền văn minh Atlantis cổ xưa; số ít người sử dụng AUM vào thời ấy không đủ quyền năng để hóa giải mãnh lực của dục vọng. [48] Các thể trí của nhân loại không thể đáp ứng âm thanh sáng tạo mới hơn ấy. Nhân loại vẫn hoàn toàn bị cuốn theo sự khao khát và dục vọng, đến mức dục vọng hợp nhất đối với của cải và sự hưởng thụ hình tướng đã đẩy con người, xét về mặt nội môn, “vào trong nước”. [49] Dục vọng đối với hình tướng vẫn buộc nhân loại trải qua tiến trình tái sinh liên tục cho đến khi ảnh hưởng của TAU cạn kiệt và âm thanh AUM có thể thống trị. Tuy nhiên, ảnh hưởng trước đang suy yếu, còn AUM ngày càng tăng quyền năng cho đến khi trở thành yếu tố thống trị. [50] Cuối cùng, linh từ của Linh hồn phải kế tiếp âm thanh này, cho đến khi AUM đến lượt nó hoàn toàn được thay thế. |
|
[51] The sound of many waters [52] (which is the symbolic way of expressing the TAU influence) will cease, and the time will come, as we are assured in the Christian Bible, when there “will be no more sea”. [53] Then the sound of the AUM which is symbolically spoken of as the “roaring of a blazing fire”, [54] and which is the sound of the mental plane will take its place. [55] The word of the soul cannot be given except in the secret place of initiation. [56] It has its own peculiar vibration and note, but this cannot be conveyed until such time as the AUM is used with correctness. [57] Just as the TAU, carrying the note of desire and of the urge to have and to be, was misused and carried its civilizations to disaster, [58] so AUM can also be misused and can carry its civilizations into the fire. This is the truth which really underlies the misunderstood Christian teaching anent hell-fire and the lake of fire. [59] They portray symbolically the end of the age when the mental plane civilizations [59b] will come to a cataclysmic end, as far as the form aspect is concerned just as the earlier civilizations came to a watery consummation. |
[51] Âm thanh của nhiều dòng nước [52]—cách biểu đạt mang tính biểu tượng cho ảnh hưởng của TAU—sẽ chấm dứt; và như Kinh Thánh Cơ Đốc bảo đảm với chúng ta, sẽ đến lúc “biển không còn nữa”. [53] Khi ấy, âm thanh AUM—được nói đến một cách biểu tượng như “tiếng gầm của ngọn lửa rực cháy” [54] và là âm thanh của cõi trí—sẽ thay thế nó. [55] Linh từ của linh hồn chỉ có thể được truyền trao tại nơi bí mật của cuộc điểm đạo. [56] Nó có rung động và âm điệu đặc thù riêng, nhưng không thể được truyền đạt cho đến khi AUM được sử dụng đúng đắn. [57] Cũng như TAU, vốn mang âm điệu của dục vọng và sự thôi thúc muốn sở hữu và hiện tồn, đã bị lạm dụng và đưa các nền văn minh của nó đến thảm họa, [58] AUM cũng có thể bị lạm dụng và đưa các nền văn minh của nó vào lửa. Đây là chân lý thực sự ẩn sau giáo lý Cơ Đốc bị hiểu sai về lửa địa ngục và hồ lửa. [59] Chúng mô tả bằng biểu tượng sự kết thúc của thời đại khi các nền văn minh của cõi trí [59b] đi đến một kết cục đại biến, xét về phương diện hình tướng, cũng như các nền văn minh trước kia đã đi đến kết cuộc trong nước. |
|
[60] One hint here I will give, and one that is oft overlooked. On the mental plane, time is not; [61] therefore the time equation enters not into the idea of a final ending by fire. There is no setting of a time for a disaster or a catastrophe. [62] The full effect will take place in the realm of the mind, and may it not be said that even now the fire of anxiety, of foreboding, of worry, and of fear is burning up our thoughts and engrossing our mental attention? [63] Its work is to purify and cleanse, so, let the AUM do its work and let all of you who can, employ it with frequency and with right thought so that the world purification may proceed apace. [64] Much must be burned and consumed which bars the way for the emergence of the new ideas, the new archetypal forms. [65] These will eventually dominate the new age and make it possible for the word of the soul to sound forth and be heard exoterically. |
[60] Ở đây Tôi sẽ đưa ra một gợi ý thường bị bỏ qua. Trên cõi trí không có thời gian; [61] vì vậy, yếu tố thời gian không tham dự vào ý tưởng về một sự kết thúc tối hậu bằng lửa. Không hề có việc ấn định thời điểm cho một tai họa hay thảm họa. [62] Toàn bộ tác động sẽ diễn ra trong lĩnh vực thể trí; và chẳng phải có thể nói rằng ngay lúc này, ngọn lửa của sự lo âu, linh cảm chẳng lành, phiền muộn và sợ hãi đang thiêu đốt tư tưởng và chiếm trọn sự chú tâm trí tuệ của chúng ta sao? [63] Công việc của nó là thanh lọc và tẩy sạch; vì thế, hãy để AUM thực hiện công việc của nó, và tất cả các bạn, những ai có thể, hãy thường xuyên sử dụng linh từ ấy với tư tưởng đúng đắn để sự thanh lọc thế giới có thể tiến hành nhanh chóng. [64] Nhiều điều cản đường sự xuất hiện của những ý tưởng mới và các hình tướng nguyên mẫu mới phải được thiêu đốt và tiêu hủy. [65] Cuối cùng, những điều này sẽ thống trị kỷ nguyên mới và khiến linh từ của linh hồn có thể vang lên và được nghe thấy ở ngoại giới. |
|
[66] I realize that that which I have imparted here is difficult of comprehension, but the paragraphs above dictated hold warning for the careless and much instruction [67] for the earnest seeker after light. |
[66] Tôi nhận ra rằng điều Tôi truyền đạt ở đây khó lĩnh hội, nhưng các đoạn được đọc cho chép ở trên chứa đựng lời cảnh báo dành cho người bất cẩn và nhiều lời chỉ dẫn [67] dành cho người tha thiết tìm kiếm ánh sáng. |
|
[68] There are two aspects of this phrase which we are considering with which I seek briefly to deal. [69] There are many which I might take up, [70] but two will suffice to carry practical suggestion, and to indicate ideas which aspirants everywhere would do well to grasp. [71] The thought of salvation from the effect of form-embodied ideas must be considered, and I would like also to cover the idea of “a saving-from” under two headings. [72] The aspirant has to be saved from the thought-forms built daily during his mental life, and a soul in incarnation has also to be saved from the form attachments which during the ages have grown and strengthened, and from which he has to be released through the process we call death. [72b] We will therefore divide our subject as follows: |
[68] Cụm từ mà chúng ta đang xem xét có hai phương diện Tôi muốn bàn đến vắn tắt. [69] Có nhiều phương diện Tôi có thể đề cập, [70] nhưng hai phương diện là đủ để đưa ra gợi ý thực tiễn và chỉ ra những ý tưởng mà người chí nguyện ở khắp nơi nên nắm bắt. [71] Cần xem xét tư tưởng về sự cứu rỗi khỏi tác động của những ý tưởng đã nhập thể trong hình tướng; đồng thời Tôi cũng muốn trình bày ý tưởng “được cứu khỏi” theo hai đề mục. [72] Người chí nguyện phải được cứu khỏi các hình tư tưởng được xây dựng hằng ngày trong đời sống trí tuệ của y; và linh hồn đang nhập thể cũng phải được cứu khỏi những ràng buộc với hình tướng đã tăng trưởng và củng cố qua nhiều thời đại, mà y phải được giải thoát khỏi chúng qua tiến trình chúng ta gọi là cái chết. [72b] Vì vậy, chúng ta sẽ phân chia chủ đề như sau: |
|
[73] I. Salvation from the power exerted by the thought-forms we have ourselves created. |
[73] I. Sự cứu rỗi khỏi quyền năng do các hình tư tưởng mà chính chúng ta tạo ra tác động. |
|
[74] II. Salvation from the power of the threefold body which the soul has built, through the magical release called death. |
[74] II. Sự cứu rỗi khỏi quyền năng của thể tam phân mà linh hồn đã xây dựng, thông qua sự giải thoát huyền thuật gọi là cái chết. |
|
[75] It is with the latter that I wish primarily to deal, but certain things must be said concerning the power of thought-forms, and concerning their danger, and the mode whereby they can be rendered innocuous. |
[75] Tôi chủ yếu muốn bàn đến điều sau, nhưng cần nói một số điều về quyền năng và mối nguy hiểm của các hình tư tưởng, cũng như phương thức khiến chúng trở nên vô hại. |
[76] Salvation from our Thought-forms – [76] Sự cứu rỗi khỏi các Hình tư tưởng của chúng ta
|
[77] I speak now for aspirants, who, through concentration and meditation, are gaining power in thought. I speak for the thinkers of the world, who, through their one-pointed application and devotion to business, to science, to religion or to the varying modes of human activity have oriented the mind (not the emotions but the mentality) to some line of constant action which is necessarily a part of the divine activity in the large sense. |
[77] Giờ đây Tôi nói với những người chí nguyện đang đạt được quyền năng trong tư tưởng nhờ sự tập trung và tham thiền. Tôi nói với các nhà tư tưởng của thế giới, những người nhờ sự chuyên tâm nhất tâm và lòng tận tụy đối với kinh doanh, khoa học, tôn giáo hoặc các phương thức hoạt động khác nhau của nhân loại, đã định hướng thể trí—không phải cảm xúc mà là trí năng—vào một đường lối hoạt động liên tục nào đó, vốn tất yếu là một phần của hoạt động thiêng liêng theo nghĩa rộng. |
|
[78] It is right here, in the use of thought, that the difference between black and white magic can be seen. [79] Selfishness, ruthlessness, hatred, and cruelty characterize the worker in mental substance whose motives are, for many lives, [80] centered around his own aggrandisement, focused on his personal acquisition of possessions, [81] and directed entirely to the attainment of his own pleasure and satisfaction, no matter what the cost to others. Such men are happily few, but the way to such a point of view is easy to achieve, and many need to guard themselves lest they tread unthinkingly the way towards materiality. |
[78] Chính ở đây, trong việc sử dụng tư tưởng, người ta có thể thấy sự khác biệt giữa hắc thuật và chánh thuật. [79] Tính ích kỷ, sự tàn nhẫn, lòng thù hận và tính hung ác là đặc điểm của người hoạt động trong chất liệu trí tuệ, người mà qua nhiều kiếp, động cơ [80] đều tập trung quanh việc đề cao chính mình, chú trọng vào việc cá nhân chiếm hữu của cải, [81] và hoàn toàn hướng đến việc đạt được khoái lạc cùng sự thỏa mãn riêng, bất kể người khác phải trả giá thế nào. May thay, những người như thế rất ít; nhưng con đường dẫn đến quan điểm ấy lại dễ dàng bước vào, và nhiều người cần tự đề phòng để khỏi vô tình tiến trên con đường hướng đến chủ nghĩa vật chất. |
|
[82] A gradual and steady growth in group consciousness and responsibility, a submergence of the wishes of the personal self and the manifestation of a loving spirit characterize those who are oriented towards the life side of the divine whole. [83] It might be said that human beings fall into three main groups: |
[82] Sự tăng trưởng dần dần và ổn định về tâm thức và trách nhiệm tập thể, việc làm chìm khuất những mong muốn của phàm ngã, cùng sự biểu lộ của một tinh thần yêu thương là đặc điểm của những người định hướng về phương diện sự sống của tổng thể thiêng liêng. [83] Có thể nói rằng con người thuộc ba nhóm chính: |
|
[84] 1. The vast majority, who are neither good nor bad, but simply unthinking and entirely submerged in the evolutionary tide, [85] and in the work of developing a true self consciousness, and the needed equipment. |
[84] 1. Đại đa số không thiện cũng không ác, mà chỉ đơn giản là không suy nghĩ và hoàn toàn chìm trong dòng triều tiến hóa, [85] cũng như trong công việc phát triển ngã thức chân thực và những trang bị cần thiết. |
|
[86] 2. A small, a very small number, who are definitely and consciously working on the side of materiality or (if you prefer so to express it) on the side of evil. [87] Potent are they on the physical plane, but their power is temporal and not eternal. [88] The law of the universe, which is the law of love, is eternally against them, and out of the seeming evil good will come. |
[86] 2. Một số ít, rất ít người, đang dứt khoát và có ý thức hoạt động về phía vật chất, hay nếu các bạn thích diễn đạt như vậy, về phía cái ác. [87] Họ đầy quyền lực trên cõi hồng trần, nhưng quyền lực của họ chỉ nhất thời chứ không vĩnh cửu. [88] Định luật của vũ trụ, tức định luật tình thương, vĩnh viễn chống lại họ; và từ cái ác có vẻ hiển hiện, điều thiện sẽ xuất hiện. |
|
[89] 3. A goodly number who are the pioneers into the kingdom of the soul, who are the exponents of the new age ideas, and the custodians of that aspect of the Ageless Wisdom which is next to be revealed to mankind. [90] This group is constituted of the unselfish and intelligent men and women in every field of human endeavor, of the aspirants and disciples, of the initiates who sound the note for the various groups and types, and of the Occult Hierarchy itself. [91] The influence of this band of mystics and knowers [92] is exceedingly great and the opportunity to work in cooperation with it at this time is easier of attainment than at any other time in racial history. |
[89] 3. Một số lượng đáng kể là những người tiên phong tiến vào giới của linh hồn, những người trình bày các ý tưởng của kỷ nguyên mới và những người bảo tồn phương diện của Minh Triết Ngàn Đời sắp được mặc khải cho nhân loại. [90] Nhóm này gồm những người nam và nữ vô tư và thông tuệ trong mọi lĩnh vực nỗ lực của nhân loại, những người chí nguyện và đệ tử, những điểm đạo đồ xướng lên âm điệu cho các nhóm và loại khác nhau, cùng chính Thánh Đoàn Huyền Bí. [91] Ảnh hưởng của đoàn thể gồm các nhà thần bí và thức giả này [92] vô cùng lớn lao; và vào lúc này, cơ hội hợp tác với đoàn thể ấy dễ đạt được hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong lịch sử nhân loại. |
|
[93] The first group is unthinking; the two other groups are beginning to think and to employ the laws of thought. It is with the use of thought by the aspirant that I seek to deal. [94] Much about thought will be found in A Treatize on Cosmic Fire , but I intend to give some practical ideas and suggestions which will help the average aspirant to work as he should. |
[93] Nhóm thứ nhất không suy nghĩ; hai nhóm kia đang bắt đầu suy nghĩ và vận dụng các định luật tư tưởng. Tôi muốn bàn đến cách người chí nguyện sử dụng tư tưởng. [94] Có thể tìm thấy nhiều điều về tư tưởng trong Luận về Lửa Vũ Trụ, nhưng Tôi dự định đưa ra một số ý tưởng và gợi ý thực tiễn nhằm giúp người chí nguyện thông thường hoạt động như y nên làm. |
|
[95] Let us remember first of all that no aspirant, no matter how sincere and devoted, is free from faults. [96] Were he free, he would be an adept. [97] All aspirants are still selfish, still prone to temper and to irritability, still subject to depression and even at times to hatred. [98] Oft that temper and hatred may be aroused by what we call just causes. [99] Injustice on the part of others, cruelty to human beings and to animals, and the hatreds and viciousness of their fellow men do arouse in them corresponding reactions, and cause them much suffering and delay. [100] One thing must ever be remembered. If an aspirant evokes hatred in an associate, if he arouses him to temper, and if he meets with dislike and antagonism, it is because he himself is not entirely harmless; there are still in him the seeds of trouble, for it is a law in nature that we get what we give, and produce reactions in line with our activity be it physical, emotional or mental. |
[95] Trước hết, chúng ta hãy nhớ rằng không người chí nguyện nào, dù chân thành và sùng tín đến đâu, lại không có khuyết điểm. [96] Nếu không có khuyết điểm, y đã là một chân sư. [97] Tất cả người chí nguyện vẫn còn ích kỷ, vẫn dễ nổi nóng và cáu kỉnh, vẫn chịu những cơn chán nản và đôi khi thậm chí cả lòng thù hận. [98] Sự nóng giận và thù hận ấy thường có thể bị khơi dậy bởi những gì chúng ta gọi là các nguyên nhân chính đáng. [99] Sự bất công của người khác, sự tàn ác đối với con người và động vật, cùng lòng thù hận và sự độc ác của đồng loại quả thực khơi dậy nơi họ những phản ứng tương ứng, đồng thời gây cho họ nhiều đau khổ và trì hoãn. [100] Có một điều phải luôn ghi nhớ. Nếu một người chí nguyện khơi dậy lòng thù hận nơi một cộng sự, nếu y khiến người ấy nổi nóng, và nếu y gặp phải sự chán ghét cùng thái độ đối kháng, thì đó là vì chính y chưa hoàn toàn vô tổn hại; trong y vẫn còn những mầm mống gây rắc rối, bởi một định luật trong tự nhiên quy định rằng chúng ta nhận lại những gì mình trao ra và tạo nên những phản ứng phù hợp với hoạt động của mình, dù đó là hoạt động thể xác, cảm xúc hay trí tuệ. |
|
[101] There are certain types of men who do not come under this category. When a man has reached a stage of high initiation, the case is different. [102] The seed ideas he seeks to convey, the work he is empowered to do, the pioneering enterprise he is endeavoring to carry forward, may—and often do—call forth from those who sense not the beauty of his cause and the rightness of the truth he enunciates, a hatred and a fury which causes him much trouble and for which he is not personally responsible. [103] This antagonism comes from the reactionaries and the devotees of the race and it should be remembered that it is largely impersonal even though focused on him as the representative of an idea. [104] But with these high souls I deal not, but with students of the Ageless Wisdom who are learning not only that they seldom think, but that when they do they are oft thinking wrongly, for they are forced into a thought activity by reactions which have their seat in their lower nature, and are based on selfishness and lack of love. |
[101] Có một số loại người không thuộc phạm trù này. Khi một người đã đạt đến một giai đoạn điểm đạo cao, trường hợp sẽ khác. [102] Những ý tưởng hạt giống mà y tìm cách truyền đạt, công việc y được trao quyền thực hiện và sự nghiệp tiên phong y đang cố gắng xúc tiến có thể—và thường thực sự—khơi dậy lòng thù hận và cơn cuồng nộ nơi những người không cảm nhận được vẻ đẹp của chính nghĩa ấy cũng như tính đúng đắn của chân lý mà y tuyên thuyết; điều này gây cho y nhiều rắc rối nhưng bản thân y không phải chịu trách nhiệm. [103] Sự đối kháng này xuất phát từ những kẻ phản động và những người sùng tín nhân loại; cần nhớ rằng phần lớn nó mang tính phi cá nhân, dù tập trung vào y với tư cách người đại diện cho một ý tưởng. [104] Nhưng Tôi không đề cập đến những linh hồn cao cả này, mà đề cập đến các đạo sinh của Minh Triết Ngàn Đời, những người đang học biết rằng họ không những hiếm khi suy nghĩ, mà khi suy nghĩ, họ thường suy nghĩ sai lầm, bởi các phản ứng bắt nguồn từ bản chất thấp của họ và dựa trên sự ích kỷ cùng tình trạng thiếu bác ái đã thúc đẩy họ bước vào hoạt động tư tưởng. |
|
[105] There are three lessons which every aspirant needs to learn: |
[105] Có ba bài học mà mọi người chí nguyện đều cần học: |
|
[106] First, that every thought-form which he builds is built under the impulse of some emotion or of some desire; in rarer cases it may be built in the light of illumination and embody, therefore, some intuition. But with the majority, the motivating impulse which sweeps the mind-stuff into activity is an emotional one, or a potent desire, either good or bad, either selfish or unselfish. |
[106] Thứ nhất, mọi hình tư tưởng do y kiến tạo đều được kiến tạo dưới xung lực của một cảm xúc hoặc một dục vọng nào đó; trong những trường hợp hiếm hơn, nó có thể được kiến tạo trong ánh sáng của sự soi sáng và do đó thể hiện một trực giác nào đó. Nhưng đối với đa số, xung lực thúc đẩy cuốn chất liệu trí tuệ vào hoạt động là một cảm xúc hoặc một dục vọng mạnh mẽ, dù tốt hay xấu, ích kỷ hay vô kỷ. |
|
[107] Secondly, it should be borne in mind that the thoughtform so constructed will either remain in his own aura, or will find its way to a sensed objective. [108] In the first case, it will form part of a dense wall of such thoughtforms which entirely surround him or constitute his mental aura, and will grow in strength as he pays it attention until it is so large that it will shut out reality from him, or it will be so dynamic and potent that he will become the victim of that which he built. [109] The thought-form will be more powerful than its creator, so that he becomes obsessed by his own ideas, and driven by his own creation. [110] In the second case, [111] his thought-form will find its way into the mental aura of another human being, or into some group. [112] You have here the seeds of evil magical work and the imposition of a powerful mind upon a weaker. [113] If it finds its way into some group, analogous impulsive forms (found within the group aura) will coalesce with it, having the same vibratory rate or measure. Then the same thing will take place in the group aura as has taken place within the individual ring-pass-not, —the group will have around it an inhibiting wall of thought-forms, or it will be obsessed by some idea. [114] Here we have the clue to all sectarianism, to all fanaticism, and to some forms of insanity, both group and individual. |
[107] Thứ hai, cần ghi nhớ rằng hình tư tưởng được kiến tạo như thế hoặc sẽ lưu lại trong hào quang của chính y, hoặc sẽ tìm đường đến một mục tiêu mà y cảm nhận được. [108] Trong trường hợp thứ nhất, nó sẽ trở thành một phần của bức tường đậm đặc gồm những hình tư tưởng như thế bao quanh hoàn toàn y hoặc cấu thành hào quang trí tuệ của y; nó sẽ ngày càng mạnh lên khi y dành sự chú ý cho nó, cho đến khi lớn đến mức che khuất thực tại khỏi y, hoặc trở nên năng động và mạnh mẽ đến mức y trở thành nạn nhân của chính điều mình đã kiến tạo. [109] Hình tư tưởng sẽ mạnh hơn người tạo ra nó, khiến y bị ám ảnh bởi những ý tưởng của chính mình và bị tạo vật của chính mình thúc đẩy. [110] Trong trường hợp thứ hai, [111] hình tư tưởng của y sẽ tìm đường vào hào quang trí tuệ của một người khác hoặc của một nhóm nào đó. [112] Ở đây có những mầm mống của hoạt động huyền thuật tà ác và sự áp đặt của một thể trí mạnh lên một thể trí yếu hơn. [113] Nếu tìm đường vào một nhóm nào đó, những hình tướng xung động tương đồng trong hào quang nhóm sẽ kết hợp với nó vì có cùng nhịp độ hoặc mức độ rung động. Khi ấy, điều đã xảy ra trong vòng-giới-hạn của cá nhân cũng sẽ xảy ra trong hào quang nhóm—quanh nhóm sẽ có một bức tường ngăn trở bằng các hình tư tưởng, hoặc nhóm sẽ bị một ý tưởng nào đó ám ảnh. [114] Ở đây chúng ta có chìa khóa giải thích mọi chủ nghĩa bè phái, mọi sự cuồng tín và một số dạng điên loạn, cả ở nhóm lẫn cá nhân. |
|
[115] Thirdly, the creator of the thought-form (in this case an aspirant) remains responsible. [116] The form remains linked to him by his living purpose and therefore the karma of the results, and the ultimate work of destroying that which he has built must be his. [117] This is true of every embodied idea, the good as well as the bad. [118] The creator of all of them is responsible for the work of his creation. [119] The Master Jesus, for instance, has still to deal with the thought-forms which we call the Christian Church, and has much to do. [120] The Christ and the Buddha have still some consummating work to carry through, though not so much with the forms which embody Their enunciated principles, as with the souls who have evolved through the application of those principles. |
[115] Thứ ba, người tạo ra hình tư tưởng—trong trường hợp này là một người chí nguyện—vẫn phải chịu trách nhiệm. [116] Hình tướng vẫn liên kết với y bởi mục đích sống động của y; do đó, nghiệp quả của các kết quả và công việc tối hậu nhằm phá hủy điều y đã kiến tạo phải thuộc về y. [117] Điều này đúng với mọi ý tưởng được thể hiện, cả tốt lẫn xấu. [118] Người tạo ra tất cả chúng phải chịu trách nhiệm về hoạt động của tạo vật mình. [119] Chẳng hạn, Chân sư Jesus vẫn phải xử lý những hình tư tưởng mà chúng ta gọi là Giáo hội Cơ Đốc và còn nhiều việc phải làm. [120] Đức Christ và Đức Phật vẫn còn một số công việc hoàn tất phải thực hiện, tuy không liên quan nhiều đến những hình tướng thể hiện các nguyên lý mà Các Ngài đã tuyên thuyết, cho bằng đến những linh hồn đã tiến hóa nhờ áp dụng các nguyên lý ấy. |
|
[121] With the aspirant, however, who is still learning to think, the problem is different. [122] He is still prone to use thought matter to embody his mistaken apprehension of the real ideas; [123] he is still apt to express his likes and dislikes through the power of thought; he is still inclined to use the mind stuff to make possible his personality desires. To this every sincere aspirant will bear witness. |
[121] Tuy nhiên, đối với người chí nguyện vẫn đang học cách suy nghĩ, vấn đề lại khác. [122] Y vẫn dễ sử dụng chất liệu tư tưởng để thể hiện sự lĩnh hội sai lầm của mình về các ý tưởng chân thực; [123] y vẫn dễ biểu lộ những điều mình ưa thích và chán ghét qua quyền năng tư tưởng; y vẫn có khuynh hướng sử dụng chất liệu trí tuệ để thực hiện những dục vọng của phàm ngã. Mọi người chí nguyện chân thành đều sẽ làm chứng cho điều này. |
|
[124] Much concern is being felt among many of you as to the guarding of thoughts and the protection of formulated ideas. Some thoughts are ideas, clothed in mental matter and keep their habitat on the plane of thought matter. [125] Such are the abstract conceptions and the scarcely sensed facts of the inner occult or mystic life that pass through the mind of the thinker. They are not so difficult to guard, for their vibrations are so high and light that few people have the power to clothe them adequately in mental matter, and those few are so very scarce that the risk of such statements being unwisely promulgated is not very great. |
[124] Nhiều người trong các bạn đang hết sức quan tâm đến việc canh giữ tư tưởng và bảo vệ các ý tưởng đã được định hình. Một số tư tưởng là những ý tưởng khoác chất liệu trí tuệ và cư ngụ trên cõi chất liệu tư tưởng. [125] Đó là những quan niệm trừu tượng và những sự kiện chỉ được cảm nhận mơ hồ thuộc đời sống huyền bí hoặc thần bí bên trong, vốn đi qua thể trí của người suy tưởng. Chúng không quá khó bảo vệ, bởi rung động của chúng cao và nhẹ đến mức rất ít người có khả năng khoác chất liệu trí tuệ thích hợp cho chúng; mà những người ít ỏi ấy lại vô cùng hiếm, nên nguy cơ các phát biểu như thế bị truyền bá thiếu khôn ngoan không lớn lắm. |
|
[126] Then there are the communications involved in occult teaching. The circle of those who apprehend them is widening somewhat and these thought-forms frequently take to themselves astral matter from the desire in the heart of the student to verify, corroborate, and share with the group whose knowledge is as vital as his. [127] Sometimes this is possible, and sometimes not. [128] If prohibited what is the method of protection then? [129] Largely a refusing to allow the matter of the astral plane to adhere to the mental thought-form. Fight the matter out on the desire level, and inhibit that type of matter from formulating. Where no desire to speak exists, and where the striving is to prevent the gathering of the material around the nucleus, another thought-form is built up, one that intervenes and protects. |
[126] Kế đó là những thông tin truyền đạt liên quan đến giáo huấn huyền môn. Phạm vi những người lĩnh hội chúng đang phần nào mở rộng, và các hình tư tưởng này thường thu hút chất liệu cảm dục vào mình do dục vọng trong tâm đạo sinh muốn kiểm chứng, xác nhận và chia sẻ với nhóm có tri thức thiết yếu đối với y. [127] Đôi khi điều này có thể thực hiện, đôi khi không. [128] Nếu bị cấm, vậy phương pháp bảo vệ là gì? [129] Phần lớn là từ chối không cho chất liệu của cõi cảm dục bám vào hình tư tưởng trí tuệ. Hãy xử lý vấn đề ở cấp độ dục vọng và ngăn loại chất liệu ấy thành hình. Khi không có dục vọng nói ra và khi nỗ lực nhằm ngăn chất liệu tụ tập quanh hạt nhân, một hình tư tưởng khác sẽ được kiến tạo để can thiệp và bảo vệ. |
|
[130] Still another type of thought-form comes forth, —the most prevalent and the one that causes the most trouble. [131] These are the facts of information, the detailed material, the news (if so you like to call it), the basis of what may degenerate into gossip, that concerns either your work, administrative or otherwise, and that which concerns other people. [132] How shall you prevent your mind from transmitting to another facts such as these? These are facts that have their origination in physical plane occurrence, and therein lies the difficulty. [133] The inner facts of the occult life, and those that originate on the mental plane are not so difficult to hide. They do not come your way till your vibrations are keyed high enough for them, [134] and as a rule, when that is so, character of sufficient stability and wisdom ges alongside. [135] But it is not thus with a physical plane fact. [136] What must be done? [137] The other thoughts descend from above; these latter work upwards from the physical plane and are increased in vitality by the knowledge of the many, often of the many unwise. [138] One kind starts nebulously on the mental plane, [139] and only the higher type of mind can formulate it, and clothe it with matter in geometrical precision, and such a mind usually has the wisdom that refuses to clothe it in astral plane matter. [140] Not so with the physical plane fact. It is a vital entity, robed in material of the astral plane and the mental plane when first you meet and contact it. [141] Will you vitalize it, or will you arrest it? Arrest it by a rush and wave of love for the party implicated, that envelops the thought-form and sends it back to the originator, borne on the wings of a surge of astral plane matter, strong enough to sweep through and around, mayhap disintegrating, but most certainly returning it harmlessly to the sender. [142] Perhaps it is an evil piece of information, a lie or item of gossip. Devitalize it by love, break it in pieces by the power of a counter thought-form of peace and harmony. |
[130] Còn một loại hình tư tưởng khác xuất hiện—loại phổ biến nhất và gây nhiều rắc rối nhất. [131] Đó là các dữ kiện thông tin, tài liệu chi tiết, tin tức—nếu các bạn muốn gọi như thế—và nền tảng của những gì có thể thoái hóa thành chuyện đàm tiếu, liên quan đến công việc hành chính hay công việc khác của các bạn, cũng như những gì liên quan đến người khác. [132] Làm thế nào các bạn ngăn thể trí mình truyền những dữ kiện như thế cho người khác? Đây là những dữ kiện bắt nguồn từ sự việc xảy ra trên cõi hồng trần, và chính trong đó có khó khăn. [133] Những sự kiện bên trong của đời sống huyền môn và những sự kiện bắt nguồn trên cõi trí không quá khó che giấu. Chúng không đến với các bạn cho đến khi rung động của các bạn được nâng lên đủ cao để tiếp nhận chúng, [134] và theo thông lệ, khi điều ấy xảy ra, tính cách đủ vững vàng và minh triết cũng phát triển song hành. [135] Nhưng sự kiện thuộc cõi hồng trần thì không như thế. [136] Phải làm gì? [137] Những tư tưởng kia giáng xuống từ bên trên; còn những tư tưởng sau này vận hành hướng lên từ cõi hồng trần và được gia tăng sinh lực bởi sự hiểu biết của nhiều người, thường là nhiều người thiếu khôn ngoan. [138] Một loại khởi đầu mơ hồ trên cõi trí, [139] và chỉ loại thể trí cao mới có thể định hình nó và khoác chất liệu cho nó với độ chính xác hình học; một thể trí như thế thường có đủ minh triết để từ chối khoác chất liệu cõi cảm dục cho nó. [140] Sự kiện thuộc cõi hồng trần thì không như vậy. Khi các bạn lần đầu gặp gỡ và tiếp xúc với nó, nó là một thực thể sống động khoác chất liệu của cõi cảm dục và cõi trí. [141] Các bạn sẽ tiếp thêm sinh lực cho nó hay sẽ chặn đứng nó? Hãy chặn đứng nó bằng một luồng trào dâng và làn sóng bác ái dành cho người liên quan; làn sóng ấy bao bọc hình tư tưởng rồi đưa nó trở lại người khởi phát, mang trên đôi cánh của một đợt dâng trào chất liệu cõi cảm dục đủ mạnh để quét xuyên qua và bao quanh nó, có lẽ làm nó tan rã, nhưng chắc chắn đưa nó trở lại người gửi một cách vô hại. [142] Có lẽ đó là một thông tin xấu xa, một lời nói dối hoặc một mẩu chuyện đàm tiếu. Hãy làm nó mất sinh lực bằng bác ái và phá vỡ nó bằng quyền năng của một hình tư tưởng đối nghịch về hòa bình và hài hòa. |
|
[143] Or again, it may be true, some sad or evil occurrence or deed of some mistaken brother. What then is there to do? Truth cannot be devitalized or disintegrated. The Law of Absorption will aid you here. [144] Into your heart you absorb the thought-form you encounter and there transmute it by the alchemy of love. Let me be practical and illustrate, for the matter is of importance. |
[143] Hoặc nữa, nó có thể là sự thật—một sự việc hay hành động đáng buồn hoặc xấu xa của một huynh đệ lầm lạc nào đó. Vậy phải làm gì? Không thể làm chân lý mất sinh lực hoặc tan rã. Định luật Hấp Thụ sẽ trợ giúp các bạn ở đây. [144] Các bạn hấp thụ hình tư tưởng mình gặp vào tâm mình và chuyển hóa nó tại đó bằng thuật luyện kim của bác ái. Hãy để Tôi trình bày thực tế và minh họa, bởi vấn đề này rất quan trọng. |
|
[145] Some brother comes to you and tells to you a fact about another brother—a fact involving what the world would call wrongdoing on that brother’s part. You who know so much more than the average man of the street, will realize that that so called wrongdoing may be but the working out of karma, or have its basis in a good motive wrongly construed. [146] You add not to the talk, you do not hand on the information, as far as you are concerned the thought-form, built around the fact, has wandered into what you call a cul-de-sac. |
[145] Một huynh đệ nào đó đến và kể cho các bạn một sự việc về một huynh đệ khác—một sự việc liên quan đến điều mà thế gian gọi là hành vi sai trái của người huynh đệ ấy. Các bạn, những người hiểu biết hơn nhiều so với người bình thường ngoài phố, sẽ nhận ra rằng cái gọi là hành vi sai trái ấy có thể chỉ là sự biểu hiện của nghiệp quả, hoặc có căn nguyên là một động cơ tốt đã bị diễn giải sai. [146] Các bạn không góp thêm vào câu chuyện, cũng không truyền thông tin ấy đi; về phía các bạn, hình tư tưởng được kiến tạo quanh sự việc đã đi vào điều mà các bạn gọi là ngõ cụt. |
|
[147] What do you then? You build a counter stream of thoughts which (on a wave of love) you send your apparently erring brother: [148] thoughts of kindly assistance, of courage and aspiration, and of a wise application of the lessons to be learnt from the deed he has accomplished. [149] Use not force, for strong thinkers must not unduly influence other minds, but a gentle stream of wise transmuting love. [149b] We have here three methods, none strictly occult, for those later shall be imparted, but methods available for the many. |
[147] Vậy các bạn làm gì? Các bạn kiến tạo một dòng tư tưởng đối nghịch và gửi nó trên một làn sóng bác ái đến người huynh đệ dường như lầm lạc của mình: [148] những tư tưởng về sự trợ giúp nhân từ, lòng can đảm, khát vọng và việc áp dụng một cách khôn ngoan những bài học cần rút ra từ hành động y đã thực hiện. [149] Đừng dùng mãnh lực, bởi những người suy tưởng mạnh không được gây ảnh hưởng quá mức lên thể trí người khác; hãy dùng một dòng bác ái chuyển hóa dịu dàng và minh triết. [149b] Ở đây chúng ta có ba phương pháp, không phương pháp nào hoàn toàn mang tính huyền môn, bởi những phương pháp ấy sẽ được truyền dạy sau; nhưng đây là những phương pháp mà số đông có thể sử dụng. |
|
[150] 1. The thought form kept to the mental levels, i.e. the inhibiting of astral plane matter. |
[150] 1. Giữ hình tư tưởng trên các cấp độ trí tuệ, nghĩa là ngăn chặn chất liệu cõi cảm dục. |
|
[151] 2. The thought-form broken up and disintegrated by a stream of love-force well-directed. |
[151] 2. Phá vỡ và làm tan rã hình tư tưởng bằng một dòng mãnh lực bác ái được định hướng đúng đắn. |
|
[152] 3. The absorbing of the thought-form, and the formulation of a counter-thought of loving wisdom. |
[152] 3. Hấp thụ hình tư tưởng và định hình một tư tưởng đối nghịch về Bác Ái – Minh Triết. |
|
[153] Inhibition—Disintegration—Absorption |
[153] Ngăn chặn—Tan rã—Hấp thụ |
|
[154] There are three main penalties which attach to the wrong use of thought substance, and from these the aspirant must learn to save himself, and to avoid those activities; eventually this will make the process of salvation unnecessary. |
[154] Có ba hậu quả chính gắn liền với việc sử dụng sai chất liệu tư tưởng; người chí nguyện phải học cách tự giải thoát khỏi chúng và tránh những hoạt động ấy; cuối cùng, điều này sẽ khiến tiến trình giải thoát trở nên không cần thiết. |
|
[155] 1. A potent thought-form can act like a boomerang. It can return, charged with increased velocity, to the one who sent it on its mission. [156] A strong hatred, clothed in mental matter, can return to its creator charged with the energy of the hated person, and can hence work havoc in the life of the aspirant. [157] Hate not, for hatred returns ever from whence it came. There is a depth of truth in the ancient aphorism: “Curses, like chickens, come home to roost.” |
[155] 1. Một hình tư tưởng mạnh mẽ có thể tác động như chiếc boomerang. Nó có thể quay lại người đã phái nó thực hiện sứ mệnh với vận tốc gia tăng. [156] Một lòng thù hận mãnh liệt khoác chất liệu trí tuệ có thể quay lại người tạo ra nó, mang theo năng lượng của người bị thù ghét, và do đó tàn phá đời sống của người chí nguyện. [157] Đừng thù ghét, bởi lòng thù hận luôn quay về nơi nó phát xuất. Có một chân lý sâu xa trong cách ngôn cổ: “Lời nguyền rủa, giống như gà, luôn quay về tổ.” |
|
[158] A potent desire for material acquisition will eventually return bringing inevitably that which has been desired, only to find in the majority of cases that the aspirant no longer aches for possession, but regards it as an incubus, [159] or, in the meantime, already possesses more than he needs and is satiated and knows not what to do with all that he has gained. |
[158] Một dục vọng mãnh liệt muốn sở hữu vật chất cuối cùng sẽ quay lại, tất yếu mang theo điều đã được mong muốn, chỉ để nhận thấy rằng trong đa số trường hợp, người chí nguyện không còn khao khát sở hữu nữa mà xem nó như một gánh nặng ám ảnh, [159] hoặc trong thời gian ấy, y đã sở hữu nhiều hơn mức mình cần, đã thỏa mãn đến chán ngán và không biết phải làm gì với tất cả những gì đã đạt được. |
|
[160] A potent thought-form embodying an aspiration for spiritual illumination or for recognition by the Master may bring such a flood of light as to blind the aspirant, and make him consequently the possessor of a wealth of spiritual energy for which he is unready, and which he cannot use. [160b] Again, it may attract to the aspirant a thought-form of one of the Great Ones, and thus swing him deeper into the world of illusion and of astralism. [161] Hence the need for humility, for a longing to serve and a resulting self-forgetfulness if one is to build truly and correctly. Such is the law. |
[160] Một hình tư tưởng mạnh mẽ thể hiện khát vọng được soi sáng tinh thần hoặc được Chân sư công nhận có thể đem lại một dòng ánh sáng tràn ngập đến mức làm mù người chí nguyện, và vì thế khiến y sở hữu nguồn năng lượng tinh thần dồi dào mà y chưa sẵn sàng tiếp nhận và không thể sử dụng. [160b] Hoặc nó có thể thu hút đến người chí nguyện một hình tư tưởng của một trong Các Đấng Cao Cả, và như thế đẩy y sâu hơn vào thế giới ảo tưởng và trạng thái cảm dục. [161] Vì thế, nếu muốn kiến tạo chân thực và đúng đắn, người ta cần có sự khiêm nhường, niềm khao khát phụng sự và sự quên mình phát sinh từ đó. Định luật là như vậy. |
|
[162] 2. A thought-form can also act as a poisoning agent, and poison all the springs of life. [163] It may not be potent enough to swing out of its creator’s aura (very few thought-forms are), and find its goal in another aura there to gather strength and so return from whence it came, [164] but it may have a vitality of its own which can devastate the life of the aspirant. [165] A violent dislike, a gnawing worry, a jealousy, a constant anxiety and a longing for something or someone may act so potently as an irritant or poison [166] that the entire life is spoilt, and service is rendered futile. [167] The entire life is embittered and devitalized by the embodied worry, hatred or desire. [168] All relationships with other people are rendered equally futile or even definitely harmful, for the worried or suspicious aspirant spoils the home circle or his group of friends by his inner poisonous attitude, governed by an idea. [169] His relation to his own soul and the strength of the contact with the world of spiritual ideas is at a standstill, [170] for he cannot progress onward and is held back by the poison in his mental system. His vision becomes distorted, his nature corroded, [171] and all his relationships impeded by the wearing, nagging thoughts which he has himself embodied in form and which have a life so powerful that they can poison him. [172] He cannot rid himself of them no matter how hard he tries or how clearly he sees (theoretically) [173] the cause of his trouble. This is one of the commonest forms of difficulty, for it has its seat in the selfish personal life, and is ofttimes so fluidic that it seems to defy direct action. |
[162] 2. Một hình tư tưởng cũng có thể tác động như chất độc và đầu độc mọi nguồn mạch của sự sống. [163] Nó có thể không đủ mạnh để phóng ra khỏi hào quang của người tạo ra nó—rất ít hình tư tưởng có thể làm được điều này—rồi tìm đến mục tiêu trong một hào quang khác, tích lũy sức mạnh tại đó và quay về nơi nó phát xuất; [164] nhưng nó có thể sở hữu sinh lực riêng đủ sức tàn phá đời sống của người chí nguyện. [165] Sự chán ghét dữ dội, nỗi lo âu giày vò, lòng ghen tị, sự bất an thường trực và niềm khao khát một điều gì hay một người nào đó có thể tác động mạnh mẽ như chất kích thích hoặc chất độc [166] đến mức làm hỏng toàn bộ đời sống và khiến sự phụng sự trở nên vô ích. [167] Nỗi lo âu, lòng thù hận hoặc dục vọng được thể hiện thành hình tướng khiến toàn bộ đời sống trở nên cay đắng và mất sinh lực. [168] Mọi mối quan hệ với người khác cũng trở nên vô ích, thậm chí rõ ràng có hại, bởi thái độ độc hại bên trong do một ý tưởng chi phối của người chí nguyện đầy lo âu hoặc nghi kỵ làm tổn hại gia đình hay nhóm bạn hữu của y. [169] Mối liên hệ của y với linh hồn mình và sức mạnh tiếp xúc với thế giới của các ý tưởng tinh thần đều đình trệ, [170] bởi y không thể tiến bước và bị chất độc trong hệ thống trí tuệ của mình kìm hãm. Tầm nhìn của y trở nên méo mó, bản chất của y bị xói mòn, [171] và mọi mối quan hệ của y đều bị cản trở bởi những tư tưởng dai dẳng, giày vò mà chính y đã thể hiện thành hình tướng; chúng có sự sống mạnh mẽ đến mức có thể đầu độc y. [172] Y không thể loại bỏ chúng, dù cố gắng đến đâu hoặc thấy rõ đến mức nào—về mặt lý thuyết—[173] nguyên nhân gây rắc rối cho mình. Đây là một trong những dạng khó khăn phổ biến nhất, bởi nó bắt nguồn từ đời sống phàm ngã ích kỷ và thường linh động đến mức dường như chống lại mọi tác động trực tiếp. |
|
[174] 3. The third danger against which the aspirant must guard himself is becoming obsessed by his own embodied ideas, be they temporarily right or basically wrong. Forget not that all right ideas are temporary in nature and must eventually take their place as partial rights and give place to the greater truth. [175] The fact of the day is seen later as part of a greater fact. A man can have grasped some of the lesser principles of the Ageless Wisdom so clearly and be so convinced of their correctness that the bigger whole is forgotten [176] and he builds a thought-form about the partial truth which he has seen which can prove a limitation and keep him a prisoner and hold him back from progress. [177] He is so sure of his possession of truth that he can see the truth of no one else. He can be so convinced of the reality of His own embodied concept of what the truth may be that he forgets his own brain limitations and that the truth has come to him via his own soul and is consequently colored by his ray, being subsequently built into form by his personal separative mind. He lives but for that little truth; he can see no other; he forces his thought-form on other people; [178] he becomes the obsessed fanatic and so mentally unbalanced, even if the world regards him as sane. |
[174] 3. Nguy cơ thứ ba mà người chí nguyện phải tự đề phòng là bị ám ảnh bởi những ý tưởng do chính mình thể hiện thành hình tướng, dù chúng tạm thời đúng hay căn bản sai. Đừng quên rằng mọi ý tưởng đúng đều có bản chất tạm thời và cuối cùng phải đảm nhận vị trí của những chân lý bộ phận, rồi nhường chỗ cho chân lý lớn lao hơn. [175] Sự thật của hôm nay về sau được nhận thấy là một phần của sự thật lớn lao hơn. Một người có thể lĩnh hội một số nguyên lý thứ yếu của Minh Triết Ngàn Đời rõ ràng đến mức và tin chắc vào tính đúng đắn của chúng đến nỗi quên mất tổng thể lớn lao hơn, [176] rồi kiến tạo quanh chân lý bộ phận mà y đã thấy một hình tư tưởng có thể trở thành giới hạn, giam hãm y và cản trở sự tiến bộ của y. [177] Y chắc chắn rằng mình sở hữu chân lý đến mức không thể thấy chân lý của bất kỳ ai khác. Y có thể tin chắc vào thực tại của quan niệm do chính mình thể hiện về chân lý đến mức quên mất những giới hạn của bộ não mình, cũng như quên rằng chân lý đã đến với y qua linh hồn của chính y và do đó mang sắc thái cung của y, rồi được thể trí chia rẽ của phàm ngã kiến tạo thành hình tướng. Y chỉ sống vì chân lý nhỏ bé ấy; y không thể thấy điều gì khác; y áp đặt hình tư tưởng của mình lên người khác; [178] y trở thành một kẻ cuồng tín bị ám ảnh và vì thế mất quân bình trí tuệ, dù thế gian vẫn xem y là người tỉnh táo. |
|
[179] How shall a man guard himself from these dangers? How shall he rightly build? How shall he preserve that balance which will enable him to see truth, judge rightly, and so preserve his mental contact with his soul and with the souls of his fellow men? |
[179] Làm thế nào một người tự bảo vệ mình khỏi những nguy cơ này? Làm thế nào y kiến tạo đúng đắn? Làm thế nào y duy trì sự quân bình giúp mình thấy chân lý, phán đoán đúng đắn, và nhờ đó giữ gìn sự tiếp xúc trí tuệ với linh hồn mình cùng linh hồn của đồng loại? |
|
[180] First and foremost, by the constant practice of Harmlessness. [181] This involves harmlessness in speech and also in thought and consequently in action. It is a positive harmlessness, involving constant activity and watchfulness; it is not a negative and fluidic tolerance. |
[180] Trước hết và trên hết, bằng việc thường xuyên thực hành tính Vô Tổn Hại. [181] Điều này bao hàm tính vô tổn hại trong lời nói, trong tư tưởng và do đó trong hành động. Đó là tính vô tổn hại tích cực, bao hàm hoạt động và sự cảnh giác thường xuyên; nó không phải là thái độ khoan dung tiêu cực và linh động. |
|
[182] Secondly, by a daily guarding of the doors of thought, and a supervision of the thought life. [183] Certain lines of thought will not be permitted; certain old thought habits will be offset by the institution of constructive creative thinking; certain preconceived ideas (note the esoteric value of that phrase), [183b] will be relegated to the background so that the new horizons will be visioned and the new ideas can enter. [184] This will entail a daily, hourly watchfulness, but only until ancient habits have been overcome and the new rhythm established. Then the aspirant will discover that the mind is so focused on the new spiritual ideas that the old thought-forms will fail to arrest the attention; they will die of inanition. [185] There is encouragement in this thought. The first three years’ work will be the hardest. After that the mind will be engrossed by the ideas and not by the thought-form. |
[182] Thứ hai, bằng cách hằng ngày canh giữ các cánh cửa tư tưởng và giám sát đời sống tư tưởng. [183] Một số đường lối tư tưởng sẽ không được phép tồn tại; một số thói quen tư tưởng cũ sẽ được hóa giải bằng việc thiết lập lối tư duy kiến tạo và sáng tạo; một số ý tưởng định kiến (hãy lưu ý giá trị huyền bí của cụm từ này), [183b] sẽ được đẩy lui vào hậu cảnh để các chân trời mới hiện ra trong tầm nhìn và các ý tưởng mới có thể đi vào. [184] Điều này đòi hỏi sự cảnh giác hằng ngày, hằng giờ, nhưng chỉ cho đến khi các thói quen lâu đời được khắc phục và nhịp điệu mới được thiết lập. Khi ấy, người chí nguyện sẽ khám phá rằng thể trí tập trung vào các ý tưởng tinh thần mới đến mức những hình tư tưởng cũ không còn thu hút được sự chú ý; chúng sẽ chết vì thiếu dưỡng chất. [185] Tư tưởng này đem lại sự khích lệ. Công việc trong ba năm đầu sẽ khó khăn nhất. Sau đó, thể trí sẽ hoàn toàn chú tâm vào các ý tưởng chứ không phải hình tư tưởng. |
|
[186] Thirdly, by refusing to live in one’s own thought world and by entering the world of ideas and the stream of human thought currents. [187] The world of ideas is the world of the soul, [188] and of the higher mind. [189] The stream of human thoughts and of opinions is that of the public consciousness and of the lower mind. The aspirant must function free in both worlds. Note this with care. [190] The thought is not that he must function freely, which involves more the idea of facility but that he must function as a free agent in both worlds. [191] Through constant daily meditation he des the first. Through wide reading and sympathetic interest and understanding he accomplishes the second. |
[186] Thứ ba, bằng cách từ chối sống trong thế giới tư tưởng riêng của mình, đồng thời bước vào thế giới của các ý tưởng và dòng chảy của các luồng tư tưởng nhân loại. [187] Thế giới của các ý tưởng là thế giới của linh hồn, [188] và của thượng trí. [189] Dòng chảy của tư tưởng và quan điểm nhân loại thuộc về tâm thức công chúng và hạ trí. Người chí nguyện phải hoạt động như một tác nhân tự do trong cả hai thế giới. Hãy cẩn thận lưu ý điều này. [190] Ý ở đây không phải là y phải hoạt động một cách tự do, vốn hàm ý nhiều hơn về sự dễ dàng, mà là y phải hoạt động với tư cách một tác nhân tự do trong cả hai thế giới. [191] Nhờ tham thiền đều đặn hằng ngày, y thực hiện điều thứ nhất. Nhờ đọc sách rộng rãi cùng sự quan tâm và thấu hiểu đầy cảm thông, y thực hiện điều thứ hai. |
|
[192] Fourthly, he must learn to detach himself from his own thought creations, and leave them free to accomplish the purpose for which he intelligently sent them forth. This fourth process falls into two parts: |
[192] Thứ tư, y phải học cách tách rời khỏi những sáng tạo tư tưởng của chính mình và để chúng tự do hoàn thành mục đích mà y đã chủ tâm phóng chúng ra. Tiến trình thứ tư này gồm hai phần: |
|
[193] 1. By the use of a mystic phrase he severs the link which holds an embodied idea in his thought-aura. |
[193] 1. Bằng cách sử dụng một cụm từ thần bí, y cắt đứt mối liên kết giữ một ý tưởng đã nhập thể trong hào quang tư tưởng của mình. |
|
[194] 2. By detaching his mind from the idea, once he has sent it on its mission, he learns the lesson of the Bhagavad Gita and “works without attachment”. |
[194] 2. Bằng cách tách thể trí khỏi ý tưởng sau khi đã phái nó đi thực hiện sứ mệnh, y học bài học của Chí Tôn Ca và “làm việc mà không chấp trước”. |
|
[195] These two points will vary according to the growth and status of the aspirant. Each has, for himself, to formulate his own “severing phrase”, [195b] and each has for himself, alone and unaided, to learn to look away from the three worlds wherein he works in his effort to push his idea of the work to be done. [196] He has to teach himself to withdraw his attention from the thought-form he has built, wherein that idea is embodied, knowing that as he lives as a soul, and as spiritual energy pours through him so his thought-form will express the spiritual idea and accomplish its work. [197] It is held together by the life of the soul, and not by personality desire. The tangible results are ever dependent upon the strength of the spiritual impulse animating his idea, which is embodied in his thought-form. His work lies in the world of ideas and not in physical effects. Automatically the physical aspects will respond to the spiritual impulse. |
[195] Hai điểm này sẽ thay đổi tùy theo sự trưởng thành và địa vị của người chí nguyện. Mỗi người phải tự hình thành “cụm từ cắt đứt” riêng của mình, [195b] và mỗi người phải tự mình, đơn độc và không được trợ giúp, học cách rời mắt khỏi ba cõi nơi y hoạt động trong nỗ lực thúc đẩy ý tưởng của mình về công việc cần thực hiện. [196] Y phải tự rèn luyện để rút sự chú ý khỏi hình tư tưởng do mình kiến tạo, trong đó ý tưởng ấy được hiện thân, vì biết rằng khi y sống như một linh hồn và năng lượng tinh thần tuôn chảy qua y, hình tư tưởng của y sẽ biểu đạt ý tưởng tinh thần và hoàn thành công việc của nó. [197] Chính sự sống của linh hồn, chứ không phải dục vọng của phàm ngã, duy trì sự cố kết của nó. Những kết quả hữu hình luôn tùy thuộc vào sức mạnh của xung lực tinh thần làm sinh động ý tưởng của y, vốn được hiện thân trong hình tư tưởng của y. Công việc của y nằm trong thế giới của các ý tưởng chứ không phải trong những hiệu quả hồng trần. Các phương diện hồng trần sẽ tự động đáp ứng xung lực tinh thần. |
|
Program-58-Astral-Plane-Rule-XI-11.5 |
Chương trình-58-Cõi-Cảm-Dục-Quy-Luật-XI-11.5 |
|
Hi, friends, and welcome again to our ongoing commentaries—Commentary 58 this time—on the Rules for Magic on the Astral Plane. We’re beginning the fifth program on Rule 11, and before long we’ll have completed these commentaries on the astral plane. At that point there will be well over a hundred commentaries on the book, and eventually we’ll continue into the Rules dealing with the etheric and physical planes. |
Các bạn thân mến, xin chào mừng các bạn trở lại với loạt bài bình giảng đang tiếp diễn của chúng ta—lần này là Bài Bình Giảng 58—về Các Quy Luật Huyền Thuật trên Cõi Cảm Dục. Chúng ta bắt đầu chương trình thứ năm về Quy Luật 11, và chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ hoàn tất các bài bình giảng này về cõi cảm dục. Đến lúc đó, sẽ có hơn một trăm bài bình giảng về cuốn sách, và cuối cùng chúng ta sẽ tiếp tục với các Quy Luật đề cập đến cõi dĩ thái và cõi hồng trần. |
|
We’ve just finished what DK calls the Simple Rules, or what I have called the Wise Counsels. They are important enough that I recommend memorizing them and repeating them periodically, because they provide a safe line of conduct leading eventually toward adeptship. As he tells us, they lay the right foundation for magical work and render the mental body sufficiently clear and powerful that right motive can control and true building become possible. |
Chúng ta vừa kết thúc những điều mà Chân sư DK gọi là các Quy Luật Đơn Giản, hay những điều mà tôi gọi là các Lời Khuyên Minh Triết. Chúng quan trọng đến mức tôi khuyên các bạn nên ghi nhớ và nhắc lại định kỳ, bởi vì chúng đưa ra một đường lối hành xử an toàn, cuối cùng dẫn đến địa vị chân sư. Như Ngài nói với chúng ta, chúng đặt nền tảng đúng đắn cho công việc huyền thuật và khiến thể trí trở nên đủ trong sáng và mạnh mẽ để động cơ đúng đắn có thể kiểm soát, đồng thời việc kiến tạo chân chính trở nên khả thi. |
|
Motive has everything to do with the envisioned destination of the thought-form being created, and that destination should correspond with some portion of the archetype one is attempting to represent. I don’t think we can embody an archetype in its entirety, because these archetypal Forms exist upon very high planes—the Platonic Forms, as they have sometimes been called, related to the Monadic and Logoic levels. But some small aspect of an archetype works out as part of the Divine Plan, and that portion can become our particular responsibility. |
Động cơ hoàn toàn liên quan đến đích đến đã được hình dung của hình tư tưởng đang được tạo ra, và đích đến ấy phải tương ứng với một phần nào đó của nguyên mẫu mà người ta đang cố gắng biểu hiện. Tôi không nghĩ chúng ta có thể thể hiện trọn vẹn một nguyên mẫu, bởi vì các Hình Tướng nguyên mẫu này tồn tại trên những cõi rất cao—các Hình Tướng của Plato, như đôi khi chúng được gọi, liên quan đến các cấp độ chân thần và Thượng đế. Nhưng một phương diện nhỏ nào đó của một nguyên mẫu biểu hiện thành một phần của Thiên Cơ, và phần ấy có thể trở thành trách nhiệm riêng của chúng ta. |
|
It is therefore very important to discover the kind of work for which we are especially suited and then get on with it. We cannot run all over the planet involving ourselves in every aspect of the work, even mentally. We have to be selective. The personality sometimes wants to be everywhere, and when the Third Ray is active attention can spread itself in so many directions that the final result is futility. |
Do đó, điều rất quan trọng là khám phá loại công việc mà chúng ta đặc biệt thích hợp, rồi bắt tay thực hiện. Chúng ta không thể đi khắp hành tinh, dấn mình vào mọi phương diện của công việc, ngay cả về mặt trí tuệ. Chúng ta phải biết chọn lọc. Phàm ngã đôi khi muốn có mặt ở khắp nơi, và khi cung ba hoạt động, sự chú tâm có thể phân tán theo quá nhiều hướng đến nỗi kết quả cuối cùng chỉ là vô ích. |
|
[1] Much of the significance of this rule must remain theoretical, and be considered as holding a challenge until such time as the real magical work of thought-form building becomes universally possible. |
[1] Phần lớn thâm nghĩa của quy luật này vẫn phải nằm trong lĩnh vực lý thuyết và được xem như một thách thức cho đến khi công việc huyền thuật thực sự về kiến tạo hình tư tưởng trở nên khả thi trên toàn thế giới. |
|
That stage has not yet been reached. We have not been given the practical Words of Power through which consciously constructed thought-forms can actually be materialized in the full occult sense. Indeed, at our present level one of the dangers is that we might materialize, or strengthen toward manifestation, thought-forms which we are generating unconsciously. |
Giai đoạn ấy vẫn chưa đạt đến. Chúng ta chưa được ban cho những Quyền năng từ thực tiễn, nhờ đó các hình tư tưởng được kiến tạo một cách hữu thức có thể thực sự hiện hình theo ý nghĩa huyền bí trọn vẹn. Quả thật, ở cấp độ hiện nay của chúng ta, một trong những mối nguy là chúng ta có thể làm hiện hình, hoặc củng cố để đi đến biểu hiện, những hình tư tưởng mà chúng ta đang tạo ra một cách vô thức. |
|
[2] The formula, as we have seen, will remain unknown to all save the members of the Hierarchy of Adepts for long ages to come. |
[2] Như chúng ta đã thấy, công thức sẽ còn chưa được ai biết đến, ngoại trừ các thành viên của Thánh Đoàn Chân Sư, trong nhiều thời đại sắp tới. |
|
The formula might be regarded as the organizing principle of an archetype—that which causes energies to cohere upon a high plane and establishes the model for what will eventually descend from the World of Being into the World of Becoming. Such formulas therefore belong, for long ages, to the Hierarchy of Adepts. |
Công thức có thể được xem là nguyên khí tổ chức của một nguyên mẫu—điều khiến các năng lượng cố kết trên một cõi cao và thiết lập mô hình cho những gì cuối cùng sẽ giáng xuống từ Thế Giới Bản Thể vào Thế Giới Đang Trở Thành. Vì vậy, trong nhiều thời đại, những công thức như thế thuộc về Thánh Đoàn Chân Sư. |
|
The directional words are another matter. |
Các linh từ định hướng lại là một vấn đề khác. |
|
[3] The directional words are capable of ascertainment, but only to those who are working consciously under the guidance of their own souls, and who, through mind control merging into deep meditation, can manipulate the matter of thought and become “knowing creators.” |
[3] Có thể xác định được các linh từ định hướng, nhưng chỉ những ai đang hoạt động một cách có ý thức dưới sự hướng dẫn của chính linh hồn mình và có thể vận dụng vật chất tư tưởng, trở thành “những đấng sáng tạo hiểu biết” nhờ kiểm soát thể trí, rồi tiến vào trạng thái tham thiền sâu xa, mới làm được điều đó. |
|
These directional words can be ascertained, but only through a very deep penetration into the creative process. The worker must function consciously under soul guidance; mind control must deepen into meditation; and mental substance must become something which can actually be manipulated rather than something within which the aspirant merely drifts. |
Có thể xác định được những linh từ định hướng này, nhưng chỉ bằng cách thâm nhập rất sâu vào tiến trình sáng tạo. Người hoạt động phải làm việc một cách hữu thức dưới sự hướng dẫn của linh hồn; sự kiểm soát thể trí phải đi sâu thành tham thiền; và chất liệu trí tuệ phải trở thành thứ thực sự có thể vận dụng, thay vì là thứ mà trong đó người chí nguyện chỉ đơn thuần trôi dạt. |
|
To become a “knowing creator” means knowing, at least to some degree, what that portion of the Plan which one has undertaken is intended to accomplish. Otherwise one may create incorrectly and later have to dismantle what has been built in order to make room for something more useful and more closely aligned with the Plan. |
Trở thành một “đấng sáng tạo hữu tri” nghĩa là ít nhất phải biết ở một mức độ nào đó phần Thiên Cơ mà mình đảm nhận nhằm hoàn thành điều gì. Nếu không, người ta có thể sáng tạo sai lầm và về sau phải tháo dỡ những gì đã kiến tạo để nhường chỗ cho điều hữu ích hơn và chỉnh hợp chặt chẽ hơn với Thiên Cơ. |
|
[4] These can, and do, speak the impulsive words which bring into being those new forms and organisms, those expressions of ideas and those organizations which live their life cycle and serve their purpose, and so come, duly, to their timely and appointed end. |
[4] Những người này có thể và thực sự xướng lên các linh từ thúc đẩy, khiến những hình tướng và cơ cấu mới, những biểu hiện của các ý tưởng cùng những tổ chức ấy hiện tồn, trải qua chu kỳ sống, phụng sự mục đích của mình, rồi đến hồi kết đúng lúc và đã được ấn định. |
|
So these trained workers can actually speak the impulsive words which bring new forms into existence. The forms may be organizations, expressions of ideas, systems of activity, institutions or other vehicles which embody some aspect of the Plan. They live their appropriate life cycle, fulfill their purpose, and then come to an appointed end. |
Như vậy, những người hoạt động đã được rèn luyện này thực sự có thể xướng lên các linh từ thúc đẩy, đưa những hình tướng mới vào hiện tồn. Các hình tướng ấy có thể là tổ chức, biểu hiện của ý tưởng, hệ thống hoạt động, thể chế hoặc những hiện thể khác thể hiện một phương diện nào đó của Thiên Cơ. Chúng sống trọn chu kỳ thích hợp, hoàn thành mục đích rồi đi đến kết cuộc đã được định trước. |
|
This raises the practical question of how far we ourselves may be capable of such work. If meditation becomes deep enough and soul contact sufficiently real, can we actually manipulate thought matter and become knowing creators? Can we know what a particular portion of the Plan is intended to accomplish and build accordingly, rather than creating forms which later have to be cleared away because they were wrongly conceived? |
Điều này nêu lên câu hỏi thực tiễn rằng bản thân chúng ta có thể thực hiện công việc như thế đến mức nào. Nếu sự tham thiền trở nên đủ sâu và sự tiếp xúc với linh hồn đủ chân thực, liệu chúng ta có thể thực sự vận dụng vật chất tư tưởng và trở thành những đấng sáng tạo hữu tri không? Liệu chúng ta có thể biết một phần cụ thể của Thiên Cơ nhằm hoàn thành điều gì và kiến tạo tương ứng, thay vì tạo ra những hình tướng mà về sau phải loại bỏ vì chúng đã được quan niệm sai lầm không? |
|
[5] These creators are the leaders and organizers, the teachers and the guides in all phases of human living. |
[5] Những đấng sáng tạo này là các nhà lãnh đạo và tổ chức, các huấn sư và người hướng dẫn trong mọi phương diện của đời sống nhân loại. |
|
That level of work may perhaps be within reach of the very sincere, thoughtful and intelligent disciple. These are not necessarily obscure occult specialists; they may appear as leaders, organizers, teachers and guides working throughout human civilization. |
Cấp độ công việc ấy có lẽ nằm trong tầm với của người đệ tử hết sức chân thành, sâu sắc và thông tuệ. Họ không nhất thiết là những chuyên gia huyền bí ít người biết đến; họ có thể xuất hiện với tư cách các nhà lãnh đạo, tổ chức, huấn sư và người hướng dẫn hoạt động trong toàn bộ nền văn minh nhân loại. |
|
[6] Their sound des go forth into all lands and their note is internationally recognized. |
[6] Âm thanh của họ vang đến mọi miền đất, và âm điệu của họ được công nhận trên toàn thế giới. |
|
We would probably call many of them world disciples. |
Có lẽ chúng ta sẽ gọi nhiều người trong số họ là các đệ tử thế giới. |
|
[7] Hundreds of such names are easily remembered and spring unhidden to the mind. |
[7] Hàng trăm danh xưng như thế dễ dàng được nhớ lại và lập tức hiện rõ trong thể trí. |
|
[8] They live in the memory of the multitude and that which lives is the sound of their accomplishment, be that good or bad. |
[8] Họ sống trong ký ức của quần chúng, và điều còn sống chính là âm vang từ thành tựu của họ, dù tốt hay xấu. |
|
The sound is an organizing principle, and what survives in collective memory is the note sounded through their accomplishment. That note may be constructive or destructive. |
Âm thanh là một nguyên khí tổ chức, và điều tồn tại trong ký ức tập thể là chủ âm được xướng lên qua thành tựu của họ. Chủ âm ấy có thể mang tính xây dựng hoặc phá hoại. |
|
We can see the negative side in the reappearance of political methods we might have thought humanity had already outgrown. One might have imagined that fascism and Nazism had been defeated, yet souls who once participated in such tendencies can return without having transcended them, and the methods themselves can reappear. Their sound is heard again; a familiar note is sounded. |
Chúng ta có thể thấy phương diện tiêu cực trong sự tái xuất hiện của những phương pháp chính trị mà chúng ta tưởng nhân loại đã vượt qua. Người ta có thể đã nghĩ rằng chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quốc xã đã bị đánh bại, thế nhưng những linh hồn từng tham gia vào các khuynh hướng ấy có thể trở lại mà chưa vượt lên trên chúng, và chính những phương pháp đó cũng có thể tái xuất hiện. Âm thanh của họ lại vang lên; một chủ âm quen thuộc lại được xướng lên. |
|
But the constructive side is equally evident. We think of figures such as Lincoln, Franklin Roosevelt, Theodore Roosevelt in a somewhat different way, the idealism associated with John Kennedy, or beyond political life people such as Mother Teresa, the Dalai Lama and Bishop Tutu—human beings whose recognizable note is related to love, service or human upliftment. When we think of such people, we can almost hear the organizing sound carried through their words and accomplishments. |
Nhưng phương diện xây dựng cũng hiển nhiên không kém. Chúng ta nghĩ đến những nhân vật như Lincoln, Franklin Roosevelt, Theodore Roosevelt theo những cách hơi khác nhau; đến chủ nghĩa lý tưởng gắn liền với John Kennedy; hoặc ngoài đời sống chính trị, đến những người như Mẹ Teresa, Đức Đạt Lai Lạt Ma và Giám mục Tutu—những con người có chủ âm dễ nhận biết, liên quan đến tình thương, sự phụng sự hoặc việc nâng cao nhân loại. Khi nghĩ đến những người như thế, chúng ta gần như có thể nghe thấy âm thanh tổ chức được truyền qua lời nói và thành tựu của họ. |
|
[9] But in the sentence which we must consider we find portrayed a universal function, even though it is as yet [Page 476] carried forward for the most part unconsciously. The words to be dealt with are as follows: |
[9] Nhưng trong câu mà chúng ta phải xem xét, một chức năng phổ quát được khắc họa, mặc dù cho đến nay phần lớn chức năng ấy vẫn diễn ra một cách vô thức. Những lời cần bàn đến như sau: |
|
So after the formula and the directional words comes the third sentence of Rule 11, dealing with a function which belongs to practical magic in its fuller sense. |
Như vậy, sau công thức và các linh từ định hướng là câu thứ ba của Quy luật 11, đề cập đến một chức năng thuộc về huyền thuật thực tiễn theo ý nghĩa trọn vẹn hơn. |
|
[10] III. Finally, to utter forth the mystic phrase which will save him from their work. |
[10] III. Cuối cùng, xướng lên cụm từ thần bí sẽ cứu y khỏi công việc của chúng. |
|
Rule 11 therefore gives three things which the worker with the Law must accomplish: first, ascertain the formula which confines the lives within the ensphering wall and thus creates the form to be materialized; second, pronounce the words which tell those lives what to do and where to carry that which has been made; and finally, utter the mystic phrase which saves the magician from their work. |
Do đó, Quy luật 11 nêu ra ba điều mà người hoạt động với Định luật phải hoàn thành: thứ nhất, xác định công thức giam giữ các sự sống bên trong bức tường bao quanh, qua đó tạo nên hình tướng cần được hiện hình; thứ hai, phát âm những linh từ chỉ bảo các sự sống ấy phải làm gì và mang vật đã được tạo ra đi đâu; cuối cùng, xướng lên cụm từ thần bí cứu nhà huyền thuật khỏi công việc của chúng. |
|
This third requirement introduces the problem of protection and release. The magician is dealing with lesser lives which have been gathered, organized, confined and directed toward a goal. Such lives are not harmless simply because they are being used for a constructive purpose. The human and deva kingdoms are approaching one another more closely, and DK warns elsewhere that this increased contact can produce casualties if the forces involved are not understood. |
Yêu cầu thứ ba này đưa ra vấn đề bảo vệ và giải thoát. Nhà huyền thuật đang xử lý những sự sống thấp đã được tập hợp, tổ chức, giam giữ và hướng đến một mục tiêu. Những sự sống như thế không phải là vô hại chỉ vì chúng đang được sử dụng cho một mục đích xây dựng. Giới nhân loại và giới thiên thần đang tiến lại gần nhau hơn, và ở nơi khác Chân sư DK cảnh báo rằng sự tiếp xúc gia tăng này có thể gây thương vong nếu người ta không thấu hiểu các mãnh lực liên quan. |
|
We can find simple physical analogies in humanity’s early encounters with new forms of energy. There are photographs from more than a century ago of workers handling highly radioactive substances with their bare hands, without any real understanding of the consequences. People became ill and died because the forces with which they were dealing were more powerful and dangerous than they realized. We might raise similar questions today regarding various kinds of radiation and technological exposure. We are not always certain of the deleterious effects of new technologies which bring us into closer relation with subtler forces and, in some cases, with lower deva lives. |
Chúng ta có thể tìm thấy những điều tương đồng đơn giản trên cõi hồng trần trong các cuộc tiếp xúc ban đầu của nhân loại với những dạng năng lượng mới. Có những bức ảnh chụp hơn một thế kỷ trước cho thấy người lao động dùng tay trần xử lý các chất có tính phóng xạ cao mà hoàn toàn không hiểu hậu quả. Người ta mắc bệnh và tử vong vì những mãnh lực họ xử lý mạnh mẽ và nguy hiểm hơn mức họ nhận biết. Ngày nay, chúng ta có thể nêu những câu hỏi tương tự về các loại bức xạ và sự phơi nhiễm công nghệ khác nhau. Không phải lúc nào chúng ta cũng biết chắc những tác động có hại của các công nghệ mới vốn đưa chúng ta vào mối quan hệ gần gũi hơn với các mãnh lực tinh vi và, trong một số trường hợp, với những sự sống thiên thần thấp. |
|
So the mystic phrase seems to be a protective and liberating formula. It saves the magician from the work of the very lives he has had to manipulate, confine within the ensphering wall and direct toward the goal held within his mind. |
Như vậy, cụm từ thần bí dường như là một công thức bảo vệ và giải phóng. Nó cứu nhà huyền thuật khỏi công việc của chính những sự sống mà y phải vận dụng, giam giữ bên trong bức tường bao quanh và hướng đến mục tiêu được giữ trong thể trí của y. |
|
[11] Therefore it appears that at the close of the magical work of creation, a phrase must be enunciated which effects a salvation and produces a liberation of a dual kind, —a liberation of the creating agent from the form which he has created, |
[11] Vì vậy, dường như vào lúc kết thúc công việc huyền thuật của sự sáng tạo, cần xướng lên một cụm từ tạo nên sự cứu rỗi và đem lại sự giải thoát kép—giải thoát tác nhân sáng tạo khỏi hình tướng mà y đã tạo ra, |
|
The creator has to be released from his own creation. Otherwise the thing he has created may begin to dominate, imprison or even terrorize him. |
Đấng sáng tạo phải được giải thoát khỏi chính sáng tạo của mình. Nếu không, vật mà y tạo ra có thể bắt đầu chi phối, giam cầm hoặc thậm chí khủng bố y. |
|
[12] and the emancipation of that form from the control of the one who has brought it into being. |
[12] đồng thời giải phóng hình tướng ấy khỏi sự kiểm soát của người đã đưa nó vào hiện tồn. |
|
So a necessary separation occurs in both directions. The creator is freed from the form, and the form is freed from the creator. Only then can the created entity perform its function properly without maintaining an unhealthy dependence upon the consciousness which brought it into existence. |
Như vậy, một sự tách rời cần thiết diễn ra theo cả hai chiều. Đấng sáng tạo được giải thoát khỏi hình tướng, và hình tướng được giải thoát khỏi đấng sáng tạo. Chỉ khi ấy, thực thể được sáng tạo mới có thể thực hiện đúng chức năng của mình mà không duy trì sự lệ thuộc thiếu lành mạnh vào tâm thức đã đưa nó vào hiện tồn. |
|
A simple analogy is found in parenthood. Parents create and nurture a child, but if they refuse to release that child when adulthood arrives and continue holding the grown man or woman within an immature dependency, both sides suffer. The former child cannot perform the function appropriate to adult life, and the parents themselves become trapped within an unnatural relationship. |
Có thể tìm thấy một điều tương đồng đơn giản trong vai trò làm cha mẹ. Cha mẹ sinh thành và nuôi dưỡng một đứa trẻ, nhưng nếu họ không chịu buông cho đứa trẻ ấy tự do khi nó trưởng thành, mà tiếp tục giữ người nam hoặc nữ đã lớn trong tình trạng lệ thuộc non nớt, thì cả hai phía đều đau khổ. Người con trước kia không thể thực hiện chức năng thích hợp với đời sống trưởng thành, còn chính cha mẹ cũng mắc kẹt trong một mối quan hệ trái tự nhiên. |
|
Something similar applies in magical creation. That which has been brought into existence has eventually to be released into the world so that it can carry out its intended function. The creator must cease controlling it beyond the proper point, and the creation must acquire the relative independence required by its own life cycle. |
Điều tương tự cũng áp dụng trong sự sáng tạo huyền thuật. Những gì đã được đưa vào hiện tồn cuối cùng phải được giải phóng vào thế giới để có thể thực hiện chức năng đã định. Đấng sáng tạo phải ngừng kiểm soát nó khi đã vượt quá mức thích hợp, và tạo vật phải đạt được sự độc lập tương đối cần thiết cho chu kỳ sống của chính nó. |
|
These are technical aspects of magic which can be ignored only at the creator’s peril. It is easy to imagine magic simply as the pronunciation of certain arcane or apparently meaningless words—the familiar “abracadabra” conception. But genuine magical work requires far more: character, training, right sequence, precise procedure, control of force, understanding of timing, and the capacity to release that which has been built. |
Đây là những phương diện kỹ thuật của huyền thuật mà đấng sáng tạo chỉ có thể phớt lờ nếu chấp nhận hiểm nguy cho mình. Người ta dễ hình dung huyền thuật chỉ đơn giản là phát âm một số từ bí truyền hoặc có vẻ vô nghĩa—quan niệm quen thuộc về “câu thần chú”. Nhưng công việc huyền thuật chân chính đòi hỏi nhiều hơn thế: tính cách, sự rèn luyện, trình tự đúng đắn, quy trình chính xác, sự kiểm soát mãnh lực, thấu hiểu thời điểm và năng lực giải phóng những gì đã được kiến tạo. |
|
This is especially appropriate to the Seventh Ray, because the Seventh Ray places great emphasis upon training, order, correct sequence and the establishment of procedures which eventually become so exact that they can be carried out automatically in the right manner. |
Điều này đặc biệt thích hợp với cung bảy, vì cung bảy rất chú trọng sự rèn luyện, trật tự, trình tự đúng đắn và việc thiết lập những quy trình cuối cùng trở nên chính xác đến mức có thể tự động thực hiện theo cách đúng đắn. |
|
[13] It is obvious that already the nature of speech in relation to embodied ideas is being somewhat understood. |
[13] Hiển nhiên là bản chất của lời nói trong mối quan hệ với các ý tưởng đã nhập thể phần nào đang được thấu hiểu. |
|
The idea itself may be good, but much depends upon who represents it and how it is presented. Can it be communicated in such a way that people can receive it and that it can become genuinely useful in the world? Speech is already being recognized, however unconsciously, as one of the chief means by which ideas acquire embodiment. |
Bản thân ý tưởng có thể tốt, nhưng phần lớn tùy thuộc vào người đại diện cho nó và cách nó được trình bày. Liệu ý tưởng ấy có thể được truyền đạt sao cho người ta tiếp nhận được và nó trở nên thực sự hữu ích trong thế giới không? Dù còn vô thức, lời nói đã được nhìn nhận là một trong những phương tiện chủ yếu để các ý tưởng nhập thể. |
|
[14] Study the method of talk which is now the main factor employed to “launch an idea.” |
[14] Hãy nghiên cứu phương pháp diễn thuyết hiện là yếu tố chính được dùng để “phát động một ý tưởng”. |
|
Advertising gives us an obvious modern example. A new product is, in one sense, an embodied idea, and the advertising industry has become increasingly sophisticated in launching such ideas. We should notice the almost mantric value, for good or ill, of the words employed and how carefully they are designed to captivate a particular audience. |
Quảng cáo cung cấp cho chúng ta một ví dụ hiện đại hiển nhiên. Theo một nghĩa nào đó, một sản phẩm mới là một ý tưởng đã nhập thể, và ngành quảng cáo ngày càng trở nên tinh vi trong việc phát động những ý tưởng như thế. Chúng ta nên lưu ý giá trị gần như mantram của những lời được sử dụng, dù tốt hay xấu, và cách chúng được thiết kế cẩn thận để cuốn hút một nhóm khán giả cụ thể. |
|
Of course, it is no longer merely talk. Images, music, movement, beauty, identification and desire are all manipulated together. When a luxurious automobile is advertised, for example, we may see the car performing almost impossible feats, followed by attractive people approaching or driving it. The viewer is invited to identify with the entire presentation. The desire nature of the prospective buyer has been studied, and the spoken or written words are only one part of a carefully constructed magnetic appeal. |
Dĩ nhiên, giờ đây không còn chỉ là lời nói. Hình ảnh, âm nhạc, chuyển động, vẻ đẹp, sự đồng hóa và dục vọng đều được vận dụng cùng nhau. Chẳng hạn, khi quảng cáo một chiếc ô tô sang trọng, chúng ta có thể thấy chiếc xe thực hiện những kỳ công gần như bất khả, rồi những người hấp dẫn tiến đến hoặc lái nó. Người xem được mời gọi đồng hóa với toàn bộ sự trình bày ấy. Bản chất dục vọng của người mua tiềm năng đã được nghiên cứu, còn lời nói hoặc chữ viết chỉ là một phần của sức hấp dẫn từ tính được kiến tạo cẩn thận. |
|
So “study the method of talk” means studying how speech energizes and organizes desire around an idea. Those of us who teach or share the Ageless Wisdom also have to understand this principle. Our presentation should possess enough attractive power to draw and mobilize others—not through manipulation, but by presenting an idea or ideal so clearly and persuasively that people willingly lend their energies to its manifestation. |
Như vậy, “nghiên cứu phương pháp diễn thuyết” nghĩa là nghiên cứu cách lời nói truyền năng lượng và tổ chức dục vọng quanh một ý tưởng. Những ai trong chúng ta giảng dạy hoặc chia sẻ Minh Triết Ngàn Đời cũng phải thấu hiểu nguyên khí này. Cách trình bày của chúng ta phải có đủ sức thu hút để lôi cuốn và huy động người khác—không phải bằng sự thao túng, mà bằng cách trình bày một ý tưởng hoặc lý tưởng rõ ràng và thuyết phục đến mức người ta tự nguyện góp năng lượng để nó biểu hiện. |
|
[15] Note how all inventions (which are neither more nor less than embodied concepts) |
[15] Hãy lưu ý cách mọi phát minh—vốn không hơn không kém những quan niệm đã nhập thể— |
|
That is really what an invention is. Even the most mechanical object is a concept which has become materialized. |
Đó thực sự là bản chất của một phát minh. Ngay cả vật thể máy móc nhất cũng là một khái niệm đã hiện hình. |
|
[16] come into exoteric being on the physical plane through the power of the spoken word, and consider also with care the occult significance underlying all conferences, all meetings, all consultations, and all discussions which concern themselves with the launching of some idea or set of ideas upon the sea of public necessity. |
[16] đi vào sự hiện tồn ngoại môn trên cõi hồng trần nhờ quyền năng của lời được nói ra; đồng thời hãy cẩn thận suy xét thâm nghĩa huyền bí ẩn sau mọi hội nghị, mọi cuộc họp, mọi cuộc tham vấn và mọi cuộc thảo luận liên quan đến việc đưa một ý tưởng hay một tập hợp ý tưởng ra biển cả nhu cầu công chúng. |
|
An invention may begin as a concept in the mind, but before it reaches full physical embodiment there is usually discussion, consultation, explanation, persuasion, planning and coordination. Speech mobilizes other people and draws their energies into the process. The throat center has enormous materializing potentiality, and once an idea is spoken effectively, things begin to happen around it. |
Một phát minh có thể bắt đầu như một khái niệm trong thể trí, nhưng trước khi đạt đến sự nhập thể trọn vẹn trên cõi hồng trần, nó thường trải qua sự thảo luận, tham vấn, giải thích, thuyết phục, hoạch định và phối hợp. Lời nói huy động người khác và thu hút năng lượng của họ vào tiến trình. Trung tâm cổ họng có tiềm năng hiện hình to lớn, và một khi ý tưởng được diễn đạt hữu hiệu, mọi sự bắt đầu diễn ra quanh nó. |
|
That is why conferences, meetings and consultations have occult significance. They are not merely exchanges of information; they can be stages in the precipitation of an idea. A concept is conceived, energized by desire for its appearance, communicated through speech, and gradually moved closer to physical manifestation. |
Đó là lý do các hội nghị, cuộc họp và cuộc tham vấn có thâm nghĩa huyền bí. Chúng không chỉ đơn thuần là sự trao đổi thông tin; chúng có thể là những giai đoạn trong tiến trình ngưng tụ một ý tưởng. Một khái niệm được thai nghén, được truyền năng lượng bằng dục vọng muốn nó xuất hiện, được truyền đạt qua lời nói và dần dần tiến gần hơn đến sự biểu hiện trên cõi hồng trần. |
|
One day speech itself will possess far greater magical potency. The speaker, knowing the laws involved and speaking from a much deeper level of alignment, will be able to use Words of Power which actually command the lesser lives and bring forms into manifestation. Even now we may occasionally see a faint anticipation of this when strong Seventh Ray and Uranian influence is connected with the throat center, giving unusual power to speak words which rapidly organize and precipitate ideas. |
Một ngày kia, bản thân lời nói sẽ có uy lực huyền thuật lớn hơn nhiều. Người nói, khi biết các định luật liên quan và phát ngôn từ một cấp độ chỉnh hợp sâu xa hơn nhiều, sẽ có thể sử dụng những Quyền năng từ thực sự điều khiển các sự sống thấp và đưa hình tướng vào biểu hiện. Ngay cả hiện nay, đôi khi chúng ta cũng có thể thấy một sự báo trước mờ nhạt về điều này khi ảnh hưởng mạnh mẽ của cung bảy và Sao Thiên Vương kết nối với trung tâm cổ họng, đem lại quyền năng khác thường để nói ra những lời nhanh chóng tổ chức và ngưng tụ các ý tưởng. |
|
But that is still quite different from commanding inner lives directly and causing materialization in the technical occult sense. Scripture gives symbolic examples such as the multiplication of loaves and fishes, where some kind of materialization is implied. And, of course, materialization can also be destructive. The important point is that as human creative power increases, the need for purity, knowledge and control becomes correspondingly greater. |
Nhưng điều đó vẫn hoàn toàn khác với việc trực tiếp điều khiển những sự sống bên trong và tạo nên sự hiện hình theo ý nghĩa kỹ thuật huyền bí. Kinh điển đưa ra những ví dụ biểu tượng như việc hóa nhiều bánh mì và cá, trong đó hàm ý một dạng hiện hình nào đó. Dĩ nhiên, sự hiện hình cũng có thể mang tính phá hoại. Điểm quan trọng là khi quyền năng sáng tạo của con người gia tăng, nhu cầu về sự thanh khiết, tri thức và kiểm soát cũng gia tăng tương ứng. |
|
So we should be grateful that, for the most part, we still have to materialize things through ordinary means—thought, speech, organization, hands and feet. Later, when mental and vocal power become more directly effective, the responsibility will be far greater. |
Vì vậy, chúng ta nên biết ơn vì phần lớn chúng ta vẫn phải làm cho sự vật hiện hình bằng những phương tiện thông thường—tư tưởng, lời nói, tổ chức, đôi tay và đôi chân. Về sau, khi quyền năng trí tuệ và thanh âm trở nên hữu hiệu trực tiếp hơn, trách nhiệm sẽ lớn lao hơn nhiều. |
|
[17] May it not be possible that under the modes of activity employed by the advertising agencies and the constant training given to salesmen in the use of the spoken word as a means of approach to the public in order to sell an idea, |
[17] Phải chăng trong các phương thức hoạt động mà những cơ quan quảng cáo sử dụng và trong sự huấn luyện thường xuyên dành cho nhân viên bán hàng về cách dùng lời nói như một phương tiện tiếp cận công chúng nhằm bán một ý tưởng, |
|
The same principle applies not only to products but to political candidates, social programs and almost anything which has to win public acceptance. How do you persuade people to accept what you are presenting? Salesmen are trained to use speech in a very deliberate manner, even to the point of what is called “closing the sale.” |
Nguyên khí này không chỉ áp dụng cho các sản phẩm mà còn cho các ứng cử viên chính trị, chương trình xã hội và hầu như bất kỳ điều gì cần giành được sự chấp nhận của công chúng. Các bạn thuyết phục người ta chấp nhận điều mình trình bày bằng cách nào? Nhân viên bán hàng được rèn luyện để sử dụng lời nói theo cách rất có chủ đích, thậm chí đến mức thực hiện điều gọi là “chốt giao dịch”. |
|
[18] we shall find the first distorted indications of the emanations of those mystic phrases which will bring into being the creation of the soul in all fields of creative enterprise? |
[18] chúng ta có thể tìm thấy những dấu hiệu méo mó đầu tiên của các phát xạ từ những cụm từ thần bí sẽ đưa công trình sáng tạo của linh hồn vào hiện tồn trong mọi lĩnh vực hoạt động sáng tạo? |
|
So these modern techniques may be distorted and very preliminary reflections of a genuine occult power. Mystic phrases are not used only for protection; there are also forms of speech capable of producing real changes in the environment. |
Như vậy, các kỹ thuật hiện đại này có thể là những phản chiếu méo mó và hết sức sơ khai của một quyền năng huyền bí chân chính. Các cụm từ thần bí không chỉ được dùng để bảo vệ; còn có những hình thức lời nói có khả năng tạo ra những thay đổi thực sự trong môi trường. |
|
The Second Ray is particularly associated with persuasion, and when that is combined with Third Ray intelligence or Fourth Ray dramatic power, a powerful magnetic field can be created. The hearer is inclined toward action because the words carry not merely information but organized force. |
Cung hai đặc biệt liên quan đến sự thuyết phục, và khi điều đó kết hợp với trí thông minh của cung ba hoặc quyền năng kịch tính của cung bốn, một trường từ tính mạnh mẽ có thể được tạo ra. Người nghe có khuynh hướng hành động vì những lời ấy không chỉ mang thông tin mà còn mang mãnh lực đã được tổ chức. |
|
In our own work with the Ageless Wisdom, we also want, in a very different and non-coercive sense, to “close the sale.” We want to present the teaching so illuminatingly and persuasively that people are at least willing to open their minds, examine its possibilities and move beyond repetitive or dogmatic patterns of thought. |
Trong công việc của chính mình với Minh Triết Ngàn Đời, theo một ý nghĩa rất khác và không cưỡng ép, chúng ta cũng muốn “chốt giao dịch”. Chúng ta muốn trình bày giáo huấn một cách soi sáng và thuyết phục đến mức ít nhất người ta cũng sẵn lòng mở rộng thể trí, xem xét các khả năng của giáo huấn và vượt ra ngoài những khuôn mẫu tư tưởng lặp lại hoặc giáo điều. |
|
The distinction is crucial. Persuasion must not become coercion. The pen is, in a sense, a Second Ray symbol, just as the sword may symbolize the First Ray. To attempt conversion by force is a violation of the will and therefore a violation of divinity. Every human being carries some aspect of Divine Will which he or she is responsible for manifesting, and to compel another person under threat or manipulation to follow a line of thought foreign to that destiny is fundamentally wrong. |
Sự phân biệt này vô cùng quan trọng. Thuyết phục không được trở thành cưỡng ép. Theo một nghĩa nào đó, ngòi bút là biểu tượng của cung hai, cũng như thanh gươm có thể tượng trưng cho cung một. Cố gắng cải đạo bằng vũ lực là xâm phạm ý chí và do đó xâm phạm thiên tính. Mỗi con người đều mang một phương diện nào đó của Ý Chí thiêng liêng mà y có trách nhiệm biểu hiện, và việc dùng sự đe dọa hoặc thao túng để ép buộc người khác đi theo một đường lối tư tưởng xa lạ với vận mệnh ấy là điều sai trái về căn bản. |
|
There are many legitimate ways of reaching God or fulfilling the Divine Purpose. A narrow mind may fail to recognize that plurality and therefore try to force conformity. The correct alternative is enlightened persuasion: presenting truth as clearly as possible while leaving the individual free. |
Có nhiều cách chính đáng để đạt đến Thượng đế hoặc hoàn thành Thiên Ý. Một thể trí hạn hẹp có thể không nhận ra tính đa dạng ấy nên cố cưỡng ép mọi người tuân theo một khuôn mẫu. Giải pháp đúng đắn là sự thuyết phục đã được soi sáng: trình bày chân lý rõ ràng nhất có thể, đồng thời để cá nhân được tự do. |
|
[19] The training of public opinion, the utilization of catch words and slogans, the tendency to embody the concepts of campaigners in trite and apposite phrases are part of the growing realization as to the magical work. |
[19] Việc định hướng công luận, sử dụng những từ ngữ lôi cuốn và khẩu hiệu, cùng khuynh hướng thể hiện các quan niệm của những người vận động bằng các cụm từ sáo mòn nhưng thích hợp, đều là một phần của sự nhận biết ngày càng tăng về công việc huyền thuật. |
|
This is something we might have expected. Public opinion can be powerfully conditioned through repeated words and slogans. A catch phrase, repeated again and again, acquires an almost mantric effect. It can reshape perception long before the hearer has critically examined the idea behind it. |
Đây là điều chúng ta có thể đã dự liệu. Dư luận có thể chịu tác động mạnh mẽ qua những từ ngữ và khẩu hiệu lặp đi lặp lại. Một câu nói bắt tai, được lặp lại hết lần này đến lần khác, sẽ có được hiệu quả gần như mantram. Nó có thể định hình lại nhận thức từ lâu trước khi người nghe xem xét một cách phê phán ý tưởng nằm sau nó. |
|
This can obviously be used negatively. Demagogic speech has often depended upon repetition of emotionally charged phrases which simplify complex realities and mobilize mass desire. “Lebensraum,” for example, became a powerful organizing slogan within Nazi ideology, legitimizing aggression by continually reinforcing the claim that the supposedly superior race required more space. |
Hiển nhiên, điều này có thể được sử dụng một cách tiêu cực. Lời lẽ mị dân thường dựa vào việc lặp lại những cụm từ nặng cảm xúc, đơn giản hóa các thực tại phức tạp và huy động dục vọng quần chúng. Chẳng hạn, “không gian sinh tồn” đã trở thành một khẩu hiệu tổ chức đầy quyền lực trong hệ tư tưởng quốc xã, hợp thức hóa hành vi xâm lược bằng cách liên tục củng cố luận điệu rằng chủng tộc được cho là ưu việt cần thêm không gian. |
|
The same mechanism can be used positively or negatively. These slogans are not the arcane Words of Power of true occult magic, but they do have a magical effect because they organize thought and feeling and direct group energy. |
Cùng một cơ chế có thể được sử dụng theo hướng tích cực hoặc tiêu cực. Những khẩu hiệu này không phải là các Quyền năng từ bí truyền của huyền thuật chân chính, nhưng chúng thực sự có hiệu quả huyền thuật vì tổ chức tư tưởng và cảm xúc, đồng thời định hướng năng lượng tập thể. |
|
[20] All these means are employed blindly and without true realization; they constitute a part of the emerging activities of a humanity which is on the verge of real creative work, [Page 477] the principles of which are not yet understood nor scientifically applied. |
[20] Tất cả các phương tiện này đều được sử dụng một cách mù quáng và không có sự nhận biết chân thực; chúng hợp thành một phần trong các hoạt động đang xuất hiện của một nhân loại đứng trước ngưỡng cửa của công việc sáng tạo đích thực, nhưng các nguyên lý của công việc ấy vẫn chưa được thấu hiểu hay áp dụng một cách khoa học. |
|
Humanity is therefore already using fragments of magical law without understanding the principles involved. Certain rhythms, repetitions, tones, phrases and concentrated forms of speech clearly have mass effects, even though they are not yet scientifically correlated with Rays, planets, centers or the deeper laws of sound. |
Vì vậy, nhân loại đã sử dụng những mảnh rời của định luật huyền thuật mà không thấu hiểu các nguyên khí liên quan. Một số nhịp điệu, sự lặp lại, âm điệu, cụm từ và những hình thức lời nói tập trung rõ ràng tạo hiệu quả đối với quần chúng, mặc dù chúng chưa được đối chiếu một cách khoa học với các cung, hành tinh, trung tâm hoặc những định luật sâu xa hơn của âm thanh. |
|
Still, they point the way. A group which understands how to use rhythm, tone, concentration and rightly chosen words can mobilize energy and bring an idea toward manifestation far more rapidly than one which ignores these factors. |
Tuy nhiên, chúng chỉ ra con đường. Một nhóm thấu hiểu cách sử dụng nhịp điệu, âm điệu, sự tập trung và những từ ngữ được chọn đúng đắn có thể huy động năng lượng và đưa một ý tưởng đến gần sự biểu hiện nhanh hơn nhiều so với một nhóm phớt lờ các yếu tố này. |
|
As the Seventh Ray age develops, humanity is approaching more conscious creative work. True creative work begins in thought and eventually uses speech as a Word of Power. Every Ray is creative in its own way, but the Third, Fourth and Seventh Ray line has an especially obvious connection with the organization, beauty and precipitation of forms. |
Khi thời đại cung bảy phát triển, nhân loại đang tiến gần đến công việc sáng tạo hữu thức hơn. Công việc sáng tạo chân chính bắt đầu trong tư tưởng và cuối cùng sử dụng lời nói như một Quyền năng từ. Mỗi cung đều sáng tạo theo cách riêng, nhưng đường lối cung ba, cung bốn và cung bảy có mối liên hệ đặc biệt rõ ràng với sự tổ chức, vẻ đẹp và sự ngưng tụ của các hình tướng. |
|
[20b] But they do point the way, and under the simplification which marks the return to synthesis, we shall have the cessation of speech and the utilization of simpler forms. |
[20b] Tuy nhiên, chúng quả thật chỉ ra con đường; và dưới tác động của sự đơn giản hóa đánh dấu việc trở về với sự tổng hợp, lời nói sẽ chấm dứt và những hình thức đơn giản hơn sẽ được sử dụng. |
|
The evolutionary movement eventually turns from multiplicity back toward synthesis. At first consciousness descends from simplicity into increasing differentiation; later it learns to return from the many toward the One. |
Cuối cùng, chuyển động tiến hoá quay từ tính đa tạp trở về sự tổng hợp. Ban đầu, tâm thức giáng xuống từ tính đơn giản vào sự biến phân ngày càng tăng; về sau, nó học cách trở về từ số nhiều hướng đến Đấng Duy Nhất. |
|
Symbols can already communicate more directly than extended speech. The great political rallies of the twentieth century demonstrated this vividly. The ever-present symbol could speak almost more powerfully than the words themselves. A symbol condenses an entire complex of ideas into a single form and can therefore carry enormous psychological and even magical force. |
Các biểu tượng đã có thể truyền đạt trực tiếp hơn những lời nói dài dòng. Những cuộc mít tinh chính trị lớn của thế kỷ hai mươi đã minh chứng điều này một cách sinh động. Biểu tượng luôn hiện diện gần như có thể truyền đạt mạnh mẽ hơn chính lời nói. Một biểu tượng cô đọng toàn bộ phức hợp ý tưởng vào một hình tướng duy nhất, do đó có thể mang mãnh lực tâm lý và thậm chí huyền thuật to lớn. |
|
[21] Under the evolutionary urge, we have had the creative Sound, the Word, Speech. |
[21] Dưới sự thôi thúc tiến hóa, chúng ta đã có Âm Thanh sáng tạo, Linh từ và Lời nói. |
|
We might relate these approximately to three levels: the Sound to the Monad, the Word to the soul, and Speech to the third aspect with all its multiplicity. The Monadic Sound is simple; the soul expresses through the Word; and Speech differentiates into many words and forms. |
Chúng ta có thể liên hệ gần đúng ba điều này với ba cấp độ: Âm Thanh với chân thần, Linh từ với linh hồn và Lời nói với phương diện thứ ba cùng toàn bộ tính đa tạp của nó. Âm Thanh chân thần đơn giản; linh hồn biểu đạt qua Linh từ; còn Lời nói biến phân thành nhiều từ ngữ và hình tướng. |
|
In A Treatise on Cosmic Fire, DK gives something like a sevenfold descent from a primal sound into increasingly articulated forms—eventually into phrases and multiplicity. The movement is from simplicity toward complexity, reflecting the descent from higher unity into the diversity of the outer worlds. |
Trong Luận về Lửa Vũ Trụ, Chân sư DK trình bày một điều giống như sự giáng xuống thất phân từ một âm thanh nguyên thủy vào những hình thức ngày càng được diễn đạt rõ ràng—cuối cùng thành các cụm từ và tính đa tạp. Chuyển động ấy đi từ tính đơn giản đến tính phức tạp, phản ánh sự giáng xuống từ sự hợp nhất cao siêu vào tính đa dạng của các cõi bên ngoài. |
|
But spiritually there is also a return. As Shamballa comes increasingly into human awareness and humanity becomes more responsive to higher Will, the movement begins from multiplicity back toward simplicity. DK says that simplicity governs the way into Shamballa, and that is deeply suggestive. |
Nhưng về mặt tinh thần cũng có một sự trở về. Khi Shamballa ngày càng đi vào nhận thức của nhân loại và nhân loại đáp ứng nhiều hơn với Ý Chí cao siêu, chuyển động bắt đầu đi từ tính đa tạp trở về tính đơn giản. Chân sư DK nói rằng tính đơn giản chi phối con đường tiến vào Shamballa, và điều đó hàm ý vô cùng sâu sắc. |
|
[22] The latter, |
[22] Đến lượt mình, yếu tố sau cùng |
|
—that is, Speech— |
—tức là Lời nói— |
|
[23] in its turn, has been differentiated into words, phrases, sentences, paragraphs, books, |
[23] đã biến phân thành các từ, cụm từ, câu, đoạn văn và sách, |
|
The degree of differentiation is enormous. The simple Sound has become almost infinitely elaborated into language, literature and the entire complexity of human communication. |
Mức độ biến phân thật to lớn. Âm Thanh đơn giản đã được khai triển gần như vô hạn thành ngôn ngữ, văn chương và toàn bộ tính phức tạp của sự giao tiếp nhân loại. |
|
[24] until we now have the era wherein this differentiation is at its height, and we have speeches at all hours of the day and night; |
[24] cho đến nay chúng ta bước vào một thời đại mà sự biến phân này đạt tới đỉnh điểm, với những bài diễn thuyết diễn ra vào mọi giờ trong ngày đêm; |
|
And what would he say now, many decades later, with television, radio, the internet, streaming media and continuous communication surrounding us almost without interruption? |
Và nhiều thập niên sau, với truyền hình, phát thanh, mạng toàn cầu, phương tiện truyền trực tuyến và sự giao tiếp liên tục bao quanh chúng ta gần như không gián đoạn, Ngài sẽ nói gì về hiện nay? |
|
[25] we have the utilization of the public platform to reach the public ear, and of the radio to reach all classes and races of humanity in an effort to mold public opinion and bring certain ideas and concepts into the public consciousness. |
[25] chúng ta sử dụng diễn đàn công cộng để tiếp cận tai nghe của công chúng, và sử dụng phát thanh để tiếp cận mọi tầng lớp và mọi nhân loại, trong nỗ lực định hình công luận và đưa một số ý tưởng cùng quan niệm vào tâm thức công chúng. |
|
We are constantly being reached by differentiated words. Speech in one form or another surrounds humanity day and night, continually attempting to mold opinion and insert particular ideas into collective consciousness. |
Những từ ngữ đã biến phân không ngừng truyền đến chúng ta. Lời nói dưới hình thức này hay hình thức khác bao quanh nhân loại cả ngày lẫn đêm, liên tục tìm cách định hình dư luận và đưa những ý tưởng cụ thể vào tâm thức tập thể. |
|
The real question is whether, amidst this extraordinary multiplicity, we can still hear the Word of Power and, beyond even the Word, the underlying creative Sound. Can we discern simplicity beneath the complexity? |
Câu hỏi thực sự là liệu giữa tính đa tạp phi thường này, chúng ta còn có thể nghe được Quyền năng từ và, vượt trên cả Linh từ, nghe được Âm Thanh sáng tạo nền tảng hay không. Liệu chúng ta có thể phân biện tính đơn giản bên dưới sự phức tạp không? |
|
DK places considerable emphasis upon the molding of public opinion because public opinion itself is a great force. An individual or group may stubbornly hold an untenable position for a long time, but as enlightened public opinion gathers strength it can exert enormous pressure and eventually compel reconsideration. When rightly educated, public opinion becomes one of the means through which the greatest good of the greatest number can increasingly influence human decisions. |
Chân sư DK đặc biệt nhấn mạnh việc định hình dư luận vì bản thân dư luận là một mãnh lực lớn. Một cá nhân hoặc nhóm có thể ngoan cố giữ một lập trường không thể biện hộ trong thời gian dài, nhưng khi dư luận được soi sáng ngày càng mạnh lên, nó có thể tạo ra áp lực to lớn và cuối cùng buộc họ phải xem xét lại. Khi được giáo dục đúng đắn, dư luận trở thành một trong những phương tiện giúp điều tốt đẹp nhất cho số đông nhất ngày càng tác động đến các quyết định của nhân loại. |
|
[26] We have the publication of books literally in their millions, and all playing their part in the same great work, and we have as yet both methods of communication being prostituted to the selfish ends and ambitious purposes of those who speak and write. |
[26] Chúng ta xuất bản hàng triệu cuốn sách theo đúng nghĩa đen, tất cả đều đóng vai trò trong cùng một công việc vĩ đại; thế nhưng cho đến nay, cả hai phương thức giao tiếp vẫn bị lợi dụng để phục vụ những mục tiêu ích kỷ và tham vọng của những người nói và viết. |
|
So both speech and writing are still widely prostituted to selfish, non-Plan-oriented purposes. The same powers which could help clarify, enlighten and build are frequently used instead for ambition, manipulation, commercial advantage and the reinforcement of separative interests. |
Như vậy, cả lời nói lẫn chữ viết vẫn đang bị hạ thấp rộng rãi để phục vụ những mục đích ích kỷ, không hướng theo Thiên Cơ. Chính những quyền năng có thể giúp làm sáng tỏ, soi sáng và kiến tạo lại thường xuyên được dùng cho tham vọng, thao túng, lợi thế thương mại và củng cố những lợi ích chia rẽ. |
|
[27] Yet there are a few true creators who are endeavoring to make their sound heard, to speak those mystical words which will enable humanity to see the vision. |
[27] Tuy nhiên, có một số ít nhà sáng tạo chân chính đang nỗ lực làm cho âm thanh của mình được nghe thấy, xướng lên những linh từ thần bí sẽ giúp nhân loại thấy được linh ảnh. |
|
Here the idea of mystical words and mystic phrases is expanded. There are a few true creators whose words do not merely communicate information but help humanity see a larger vision. The Great Invocation is an obvious example of a Word of Power of this kind. DK tells us that if it is used properly it cannot fail to produce great changes, and those who have worked with it for many years know something of that effect. |
Ở đây, ý tưởng về những linh từ thần bí và các cụm từ thần bí được mở rộng. Có một vài đấng sáng tạo chân chính mà lời của họ không chỉ truyền đạt thông tin, mà còn giúp nhân loại thấy được một tầm nhìn rộng lớn hơn. Đại Khấn Nguyện là một ví dụ hiển nhiên về một Quyền năng từ thuộc loại này. Chân sư DK nói với chúng ta rằng nếu được sử dụng đúng đắn, nó không thể không tạo ra những thay đổi lớn lao; và những ai đã làm việc với nó trong nhiều năm đều biết phần nào hiệu quả ấy. |
|
The teaching contains many such Words of Power and mantric formulas: “I assert the Fact,” “I see the greatest Light,” “Purpose itself am I,” “Two merge with One,” “Three Minds unite,” “The highest Light controls,” “The highest and the lowest meet.” When such phrases are sounded with real understanding and through a soul-impressed mind, they are not simply verbal affirmations; they bring about changes upon the inner planes. The same is true of the many mantrams and concentrated passages DK has given for integration, alignment and the realization of oneness. He has given us powerful things both to think and to say. |
Giáo huấn chứa đựng nhiều Quyền năng từ và công thức mantram như thế: “Tôi khẳng định Sự Kiện,” “Tôi thấy Ánh Sáng vĩ đại nhất,” “Tôi chính là Thiên Ý,” “Hai hòa nhập với Một,” “Ba Trí hợp nhất,” “Ánh Sáng cao nhất kiểm soát,” “Cao nhất và thấp nhất gặp nhau.” Khi những cụm từ như thế được xướng lên với sự thấu hiểu thực sự và qua một thể trí được linh hồn gây ấn tượng, chúng không chỉ là những lời khẳng định bằng ngôn từ; chúng tạo nên những thay đổi trên các cõi bên trong. Điều tương tự cũng đúng với nhiều mantram và đoạn văn cô đọng mà Chân sư DK đã ban cho nhằm đạt đến sự tích hợp, chỉnh hợp và chứng nghiệm tính hợp nhất. Ngài đã ban cho chúng ta những điều đầy quyền năng để vừa suy ngẫm vừa xướng lên. |
|
[28] Thus will be dispersed eventually the clouds of thought-forms which at this time shut out the clear light of God. |
[28] Nhờ vậy, cuối cùng những đám mây hình tư tưởng hiện đang che khuất ánh sáng trong trẻo của Thượng đế sẽ tan biến. |
|
The higher use of mystic phrases and Words of Power therefore belongs to a movement toward simplification. Rather than adding endlessly to the existing mass of thought-forms, the right Word can cut through them, disperse them and reveal the light concealed behind them. |
Do đó, việc sử dụng ở cấp độ cao các cụm từ thần bí và các Quyền năng từ thuộc về một xu hướng đơn giản hóa. Thay vì không ngừng bổ sung vào khối lượng hình tư tưởng hiện hữu, Linh từ đúng đắn có thể xuyên qua chúng, làm chúng tiêu tan và làm hiển lộ ánh sáng ẩn phía sau chúng. |
|
[29] The subject is too large for me to elaborate in this Treatize. I but seek to make suggestions which will carry to the intelligent reader some idea of the enormous progress which has been made in the magical work. |
[29] Chủ đề này quá rộng lớn để Tôi khai triển trong Khảo Luận này. Tôi chỉ tìm cách đưa ra những gợi ý nhằm truyền đạt cho độc giả thông tuệ một vài ý niệm về bước tiến lớn lao đã đạt được trong công việc huyền thuật. |
|
Much of what humanity now considers ordinary—advertising, public speaking, political persuasion, publication, mass communication—is actually preparing the ground for conscious White Magic, though present applications are crude and often distorted. Humanity is learning, without yet understanding the occult principles involved, that ideas can be energized, organized, distributed and embodied through speech and writing. |
Phần lớn những gì hiện nay nhân loại xem là bình thường—quảng cáo, diễn thuyết trước công chúng, thuyết phục chính trị, xuất bản, truyền thông đại chúng—thực ra đang chuẩn bị nền tảng cho Chánh Thuật hữu thức, mặc dù những ứng dụng hiện tại còn thô sơ và thường bị xuyên tạc. Dù chưa thấu hiểu các nguyên lý huyền bí liên quan, nhân loại đang học biết rằng người ta có thể tiếp sinh lực, tổ chức, phổ biến và thể hiện các ý tưởng qua lời nói và chữ viết. |
|
[30] In this way he will be enabled to go forward with optimism knowing that hitherto all has been good inasmuch as man has progressed in knowledge. |
[30] Nhờ đó, y có thể lạc quan tiến bước, vì biết rằng cho đến nay mọi sự đều tốt đẹp, xét theo mức độ con người đã tiến bộ về tri thức. |
|
Despite the misuse, there has nevertheless been genuine progress because humanity has learned more about communication, thought, persuasion and the embodiment of ideas. The methods are imperfect, but the accumulated knowledge will eventually be redirected toward constructive purposes. |
Bất chấp sự lạm dụng, vẫn có bước tiến thực sự vì nhân loại đã hiểu biết nhiều hơn về sự giao tiếp, tư tưởng, sức thuyết phục và việc thể hiện các ý tưởng. Các phương pháp còn bất toàn, nhưng tri thức tích lũy cuối cùng sẽ được chuyển hướng sang những mục đích mang tính xây dựng. |
|
[31] Out of the present welter of speech and of words, of lectures and of books, |
[31] Từ tình trạng hỗn độn hiện nay của lời nói và ngôn từ, của các bài thuyết giảng và sách vở, |
|
One can imagine how a Master views this tremendous welter of communication. We are surrounded by books, lectures, broadcasts and now forms of communication DK could scarcely have described in his own time. The sheer quantity can be overwhelming, but the multiplicity itself represents a developmental stage through which humanity has to pass. |
Người ta có thể hình dung một Chân sư nhìn nhận tình trạng truyền thông hỗn độn khủng khiếp này như thế nào. Chung quanh chúng ta đầy rẫy sách vở, bài thuyết giảng, chương trình phát sóng và giờ đây là những hình thức giao tiếp mà vào thời của Ngài, Chân sư DK khó lòng mô tả nổi. Khối lượng khổng lồ ấy có thể khiến người ta choáng ngợp, nhưng chính tính đa tạp này biểu thị một giai đoạn phát triển mà nhân loại phải trải qua. |
|
[32] a few clear concepts will surely emerge which will find an echo in the hearts of men. |
[32] chắc chắn sẽ xuất hiện một vài quan niệm rõ ràng, tìm được tiếng vọng trong tâm hồn con người. |
|
Out of all this complexity, certain simple truths will survive because they resonate with something fundamental in human consciousness. Perhaps one of the clearest examples is the Golden Rule, found in many religions: treat others as you would wish to be treated. If humanity actually embodied even that one principle, many forms of persecution, cruelty and collective destruction would begin to disappear. |
Từ toàn bộ sự phức tạp này, một số chân lý đơn giản sẽ trường tồn vì chúng cộng hưởng với điều gì đó căn bản trong tâm thức con người. Có lẽ một trong những ví dụ rõ ràng nhất là Quy Luật Vàng, hiện diện trong nhiều tôn giáo: hãy đối xử với người khác như cách các bạn muốn họ đối xử với mình. Nếu nhân loại thực sự thể hiện dù chỉ một nguyên lý ấy, nhiều hình thức ngược đãi, tàn ác và hủy diệt tập thể sẽ bắt đầu biến mất. |
|
[33] Thus also will men be led on into the new age, wherein “talk will die out and books come to naught” |
[33] Nhờ đó, con người cũng sẽ được dẫn vào kỷ nguyên mới, khi “lời nói sẽ tiêu tan và sách vở sẽ trở thành hư không”, |
|
This appears to be a quotation from the teaching itself and points toward a radically different mode of communication. |
Dường như đây là một trích dẫn từ chính giáo huấn và nó hướng đến một phương thức giao tiếp hoàn toàn khác biệt. |
|
[34] for the lines of subjective communication [Page 478] will lie open. |
[34] vì những đường giao tiếp bên trong sẽ rộng mở. |
|
At present the Tibetan himself has given us an enormous number of words, but perhaps future communication will rely increasingly upon symbols and direct subjective impression. That symbolic mode is already present in the teaching if we look carefully. Words themselves are symbols, but there are also diagrams, geometric relationships, ray symbols, symbolic formulas and other presentations which communicate more synthetically than ordinary prose. |
Hiện nay, chính Chân sư Tây Tạng đã ban cho chúng ta một lượng ngôn từ khổng lồ, nhưng có lẽ sự giao tiếp trong tương lai sẽ ngày càng dựa vào các biểu tượng và ấn tượng nội tại trực tiếp. Phương thức biểu tượng ấy đã hiện diện trong giáo huấn nếu chúng ta quan sát kỹ. Bản thân ngôn từ là biểu tượng, nhưng còn có các sơ đồ, những mối quan hệ hình học, các biểu tượng cung, những công thức biểu tượng và các cách trình bày khác truyền đạt một cách tổng hợp hơn văn xuôi thông thường. |
|
[34b] Men will recognize that noise acts as a deterrent to telepathic intercourse. The written word will not be needed either, for men will use symbols of light and color to supplement through the eye what the subjective hearing has recorded. But that day is not yet, even though the radio and television are the first steps in the right direction. |
[34b] Con người sẽ nhận ra rằng tiếng ồn gây cản trở cho sự giao tiếp viễn cảm. Chữ viết cũng không còn cần thiết, vì con người sẽ dùng các biểu tượng ánh sáng và màu sắc để bổ sung qua thị giác cho những gì thính giác bên trong đã ghi nhận. Nhưng ngày ấy chưa đến, dù phát thanh và truyền hình là những bước đầu tiên đi đúng hướng. |
|
Speech as we know it will eventually be greatly reduced as human consciousness rises toward the buddhic plane and toward what might be called transcendental mind. Instead of having to receive an idea through a long linear sequence of words, there will be something more like an intuitive flash in which the whole idea is apprehended at once. |
Lời nói như chúng ta biết cuối cùng sẽ giảm đi rất nhiều khi tâm thức con người vươn lên cõi Bồ đề và hướng đến điều có thể gọi là Trí Tuệ Siêu Việt. Thay vì phải tiếp nhận một ý tưởng qua một chuỗi ngôn từ tuyến tính dài dòng, sẽ có một điều gì đó giống như tia chớp trực giác, trong đó toàn bộ ý tưởng được lĩnh hội tức khắc. |
|
This is a movement from Saturnian sequential mentality toward something more Uranian and synthetic. We have all had small experiences of this: suddenly an entire idea is present, complete in essence, and only afterward do we have to unpack it into words if we want to communicate or apply it practically. |
Đây là sự chuyển dịch từ trí tuệ tuần tự mang tính Sao Thổ sang một điều gì đó mang tính Sao Thiên Vương và tổng hợp hơn. Tất cả chúng ta đều từng có những trải nghiệm nhỏ về điều này: đột nhiên, toàn bộ một ý tưởng hiện diện, hoàn chỉnh về bản chất, và chỉ sau đó chúng ta mới phải khai triển nó thành lời nếu muốn truyền đạt hoặc áp dụng nó trong thực tế. |
|
The Masters apparently communicate much more in this way. To read a large book word by word would be hopelessly cumbersome for such consciousness. DK tells us that a Master may call forth a symbol embodying the essential content of a book and apprehend the whole much more rapidly. This is a synthesizing mode of knowledge in which the many are compressed into the few and the essence is grasped before the details are unfolded. |
Dường như các Chân sư giao tiếp theo cách này nhiều hơn nhiều. Đối với tâm thức như thế, việc đọc từng chữ trong một cuốn sách lớn sẽ vô cùng cồng kềnh. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng một Chân sư có thể gọi ra một biểu tượng thể hiện nội dung cốt yếu của một cuốn sách và lĩnh hội toàn thể nhanh hơn nhiều. Đây là phương thức tri thức mang tính tổng hợp, trong đó cái nhiều được cô đọng thành cái ít và người ta nắm bắt bản chất trước khi các chi tiết khai mở. |
|
[35] Putting the truth as simply as possible we might state that through the complexity of much speech-making and book-writing, ideas are now enabled to take form |
[35] Diễn đạt chân lý theo cách đơn giản nhất có thể, chúng ta có thể nói rằng nhờ sự phức tạp của vô số bài diễn thuyết và sách vở, các ý tưởng hiện có thể khoác lấy hình tướng |
|
At our present stage, ideas generally require many words if they are to become embodied. We break them down, explain them, repeat them from different angles, organize them into sentences, paragraphs, books, meetings and instructions. This verbal differentiation helps the idea move from abstraction toward form. |
Ở giai đoạn hiện nay, các ý tưởng thường cần nhiều ngôn từ để có thể được thể hiện. Chúng ta phân tích, giải thích và lặp lại chúng từ những góc độ khác nhau, rồi tổ chức chúng thành câu, đoạn văn, sách, cuộc họp và chỉ dẫn. Sự biến phân bằng ngôn từ này giúp ý tưởng chuyển từ trạng thái trừu tượng sang hình tướng. |
|
[36] and so run through their cycle of activity. But this method is as unsatisfactory in the field of knowledge as is the ancient tallow dip in the field of illumination. |
[36] và nhờ đó trải qua chu kỳ hoạt động của chúng. Nhưng trong lĩnh vực tri thức, phương pháp này cũng không thỏa đáng chẳng khác nào ngọn nến mỡ cổ xưa trong lĩnh vực soi sáng. |
|
The method works, but it is inefficient. Just as the tallow candle was eventually superseded by electric light, our present dependence upon lengthy verbal communication will eventually be superseded by faster, clearer and more synthetic modes of knowing. |
Phương pháp này có hiệu quả nhưng thiếu hiệu suất. Cũng như ngọn nến mỡ cuối cùng đã được thay thế bằng ánh sáng điện, sự lệ thuộc hiện nay của chúng ta vào việc giao tiếp dài dòng bằng ngôn từ cuối cùng sẽ được thay thế bằng những phương thức nhận biết nhanh hơn, rõ ràng hơn và tổng hợp hơn. |
|
[37] Electric light has superseded it, and some day the true telepathic communication and vision will take the place of speech and of writings. |
[37] Ánh sáng điện đã thay thế nó, và một ngày nào đó, sự giao tiếp viễn cảm chân chính cùng linh thị sẽ thay thế lời nói và chữ viết. |
|
One wonders whether the symbolic and ideographic sacred languages referred to in esoteric traditions anticipate this future development. Egyptian hieroglyphs, for example, communicate through symbols which can contain far more than a single phonetic sign. Whatever the historical details, the principle is suggestive: the more synthetic the symbol, the more meaning can be carried without long sequences of words. |
Người ta tự hỏi liệu các ngôn ngữ thiêng liêng mang tính biểu tượng và biểu ý được đề cập trong những truyền thống huyền bí có báo trước sự phát triển tương lai này hay không. Chẳng hạn, chữ tượng hình Ai Cập truyền đạt qua các biểu tượng có thể chứa đựng nhiều hơn hẳn một ký hiệu ngữ âm đơn lẻ. Dù các chi tiết lịch sử ra sao, nguyên lý này vẫn gợi nhiều suy ngẫm: biểu tượng càng tổng hợp thì càng có thể truyền tải nhiều ý nghĩa mà không cần những chuỗi ngôn từ dài dòng. |
|
A word to the wise may be sufficient; an appropriate symbol may be even more powerful because it can contain what would otherwise require a great multiplicity of words to unfold. |
Một lời nói với người minh triết có thể đã đủ; một biểu tượng thích hợp thậm chí có thể mạnh mẽ hơn, vì nó có thể chứa đựng điều mà nếu không sẽ cần vô số ngôn từ để khai triển. |
|
[38] Carrying the same concepts into the field of real esoteric work we have the worker in thought-matter building his thought-form and “confining the lives” which express and respond to his idea within a “ring-pass-not”. |
[38] Khi đưa những quan niệm này vào lĩnh vực công việc nội môn thực sự, chúng ta thấy người hoạt động trong chất liệu tư tưởng xây dựng hình tư tưởng của mình và “giam giữ các sự sống” biểu đạt và đáp ứng ý tưởng của y bên trong một “vòng-giới-hạn”. |
|
Now DK brings the whole discussion back to Rule 11. The first task of the magical worker is to confine the lesser lives within a ring-pass-not. Form requires boundary. Without a limiting circumference there is only rapid, unpredictable movement and no organized entity capable of carrying the intended purpose. |
Giờ đây, Chân sư DK đưa toàn bộ cuộc thảo luận trở lại Quy luật 11. Nhiệm vụ đầu tiên của người hoạt động huyền thuật là giam giữ các sự sống thấp kém hơn trong một vòng-giới-hạn. Hình tướng đòi hỏi ranh giới. Nếu không có một chu vi giới hạn, chỉ tồn tại chuyển động nhanh chóng, bất định và không có thực thể có tổ chức nào có khả năng thực hiện mục đích dự định. |
|
The formula of confinement therefore establishes a coherent form which can later be directed and used. Almost everything we encounter through the ordinary senses possesses such a ring-pass-not defining its form and separating its organized field from the surrounding environment. |
Do đó, công thức giam giữ thiết lập một hình tướng cố kết mà sau này người ta có thể điều khiển và sử dụng. Hầu như mọi thứ chúng ta gặp qua các giác quan thông thường đều sở hữu một vòng-giới-hạn như thế, xác định hình tướng của nó và tách trường có tổ chức của nó khỏi môi trường chung quanh. |
|
[39] This latter persists for as long as his mind attention and hence his ensouling energy is directed upon it. |
[39] Vòng này tồn tại chừng nào sự chú tâm của thể trí y, và do đó năng lượng phú linh của y, vẫn còn hướng vào nó. |
|
A thought-form persists as long as vitalizing attention is sustained. When interest and attention are withdrawn, the form begins to fall apart. The same principle can be seen on a larger scale in incarnation itself. The soul sustains the personality as long as that incarnation can serve a useful purpose; when the required experience has been extracted, the form is eventually allowed to disintegrate. |
Một hình tư tưởng tồn tại chừng nào sự chú tâm tiếp sinh lực còn được duy trì. Khi người ta rút lại sự quan tâm và chú ý, hình tướng bắt đầu tan rã. Có thể thấy nguyên lý tương tự ở quy mô lớn hơn trong chính sự lâm phàm. Linh hồn duy trì phàm ngã chừng nào kiếp sống ấy còn có thể phụng sự một mục đích hữu ích; khi đã rút ra được kinh nghiệm cần thiết, hình tướng cuối cùng được phép tan rã. |
|
So the ring-pass-not is maintained by vitalizing attention. The creator’s directed consciousness holds the constituent lives together within the imposed pattern. When that attention ceases, the cohesion weakens and the thought-form moves toward dissolution. |
Như vậy, sự chú tâm tiếp sinh lực duy trì vòng-giới-hạn. Tâm thức có định hướng của đấng sáng tạo giữ các sự sống cấu thành liên kết với nhau trong mô hình đã áp đặt. Khi sự chú tâm ấy chấm dứt, sức cố kết suy yếu và hình tư tưởng tiến đến sự tan rã. |
|
[40] We have him pronouncing the words which will enable his thought-form to do its work, |
[40] Chúng ta thấy y xướng lên những linh từ giúp hình tư tưởng của y thực hiện công việc, |
|
The form is not created merely to exist. Once organized and ensouled, it has to be sent into activity and directed toward the field in which it can serve. |
Hình tướng không được tạo ra chỉ để tồn tại. Một khi đã được tổ chức và phú linh, nó phải được đưa vào hoạt động và hướng đến lĩnh vực mà trong đó nó có thể phụng sự. |
|
[41] fulfill the mission for which it has been constructed, and carry out the purpose for which it was created. |
[41] hoàn thành sứ mệnh mà nó được kiến tạo để đảm nhiệm, và thực hiện mục đích mà nó được tạo ra để hoàn thành. |
|
The Tibetan is deliberately repeating the process from several angles so that the sequence becomes unmistakable. The worker first constructs and confines the form, then vitalizes it through sustained attention, and then pronounces the directional words which enable it to go where it must go, fulfill its mission and express the purpose embodied within it. |
Chân sư Tây Tạng cố ý lặp lại tiến trình từ nhiều góc độ để trình tự ấy trở nên hoàn toàn rõ ràng. Trước hết, người hoạt động kiến tạo và giam giữ hình tướng; kế đó, y tiếp sinh lực cho nó bằng sự chú tâm bền bỉ; rồi y xướng những linh từ định hướng, giúp nó đi đến nơi cần đến, hoàn thành sứ mệnh và biểu hiện mục đích được thể hiện trong nó. |
|
[42] All that has been given out hitherto in connection with the words used in the creative work is the sevenfold sacred Word, AUM. |
[42] Tất cả những gì cho đến nay đã được truyền đạt liên quan đến các linh từ dùng trong công việc sáng tạo là Linh từ thiêng liêng thất phân AUM. |
|
So we have the magician pronouncing the words which tell the form where it has to be carried and what it has to do; it is sent upon its mission. As Rule XI says, he must “pronounce the words which will tell them”—the lives composing the form—“what to do and where to carry that which has been made.” All that has been given out hitherto concerning the words used in this creative work is the sevenfold sacred Word, AUM. And if it is sevenfold, presumably the seven rays are involved. |
Như vậy, nhà huyền thuật xướng những linh từ cho hình tướng biết nó phải được đưa đến đâu và phải làm gì; nó được phái đi thực hiện sứ mệnh. Như Quy luật XI nói, y phải “xướng những linh từ sẽ cho chúng biết”—tức các sự sống cấu thành hình tướng—“phải làm gì và đưa vật đã được tạo ra đến đâu.” Tất cả những gì cho đến nay đã được truyền ra về các linh từ dùng trong công việc sáng tạo này là Linh từ thiêng liêng thất phân, AUM. Và nếu nó mang tính thất phân thì có lẽ bảy cung đều có liên quan. |
|
[43] This, when rightly used by the soul on the mental plane vitalizes and expedites all thought-forms, and so produces successful enterprise. |
[43] Khi được linh hồn trên cõi trí sử dụng đúng đắn, linh từ này tiếp sinh lực và thúc đẩy mọi hình tư tưởng, nhờ đó đem lại thành công cho công việc. |
|
So the soul is the vitalizer. The thought-form has already been constructed, but through the rightly sounded AUM it is energized and expedited toward the fulfillment of its intended purpose. |
Như vậy, linh hồn là tác nhân tiếp sinh lực. Hình tư tưởng đã được kiến tạo, nhưng nhờ linh từ AUM được xướng đúng đắn, nó nhận năng lượng và được thúc đẩy đến chỗ hoàn thành mục đích dự định. |
|
[44] It is interesting to note that in Atlantean days, the word used was TAU, |
[44] Điều đáng lưu ý là vào thời Atlantis, linh từ được sử dụng là TAU, |
|
One immediately thinks of the Tau cross, the T-cross. |
Người ta lập tức nghĩ đến thập giá Tau, tức thập giá hình chữ T. |
|
[45] enunciated explosively and so forcefully, that the thought-forms thus energized and expedited acted inevitably like a boomerang, and returned to the one who sent them forth. |
[45] được xướng lên một cách bùng nổ và đầy mãnh lực đến mức các hình tư tưởng được tiếp sinh lực và thúc đẩy như vậy tất yếu tác động như một chiếc boomerang, quay trở lại với người đã phóng chúng ra. |
|
So in Atlantean times the TAU was projected explosively and forcefully. The thought-forms energized by it went forth with tremendous force, but because of the nature of the sound and the consciousness employing it, they inevitably returned like a boomerang to their creator. |
Như vậy, vào thời Atlantis, linh từ TAU được phóng chiếu một cách bùng nổ và mạnh mẽ. Các hình tư tưởng được nó tiếp năng lượng lao đi với mãnh lực khủng khiếp, nhưng do bản chất của âm thanh và tâm thức sử dụng nó, chúng tất yếu quay trở lại đấng sáng tạo ra chúng như một chiếc boomerang. |
|
[46] This word TAU is likewise, in its symbolic form, the [Page 479] symbol of reincarnation. |
[46] Trong hình thức biểu tượng, linh từ TAU cũng là biểu tượng của sự tái sinh. |
|
That’s very interesting and worth remembering in connection with the whole reincarnational process. |
Điều này rất thú vị và đáng ghi nhớ trong mối liên hệ với toàn bộ tiến trình tái sinh. |
|
[46b] It is desire for form which produces the use of form and causes cyclic and constant rebirth in form. |
[46b] Chính dục vọng đối với hình tướng tạo nên việc sử dụng hình tướng và gây ra sự tái sinh tuần hoàn, liên tục trong hình tướng. |
|
Remember that form is ruled by the Second Ray, whereas the matter or substance composing the form is ruled by the Third. Here DK gives us a fundamental principle: desire for form produces the use of form, and that desire perpetuates cyclic rebirth in form. Presumably, when the desire for form finally disappears, our present dense physical aggregations or congestions into phenomenal forms will also eventually disappear. |
Hãy nhớ rằng cung hai cai quản hình tướng, trong khi cung ba cai quản vật chất hay chất liệu cấu thành hình tướng. Ở đây, Chân sư DK trao cho chúng ta một nguyên lý căn bản: dục vọng đối với hình tướng tạo ra việc sử dụng hình tướng, và dục vọng ấy duy trì sự tái sinh tuần hoàn trong hình tướng. Có lẽ khi dục vọng đối với hình tướng cuối cùng biến mất, những khối kết tụ hoặc ngưng tụ hồng trần đậm đặc hiện nay của chúng ta thành các hình tướng hiện tượng cũng sẽ biến mất. |
|
But why should form be desired at all? At a certain point this is difficult to understand. Yet form performs an essential evolutionary function because it confines lesser lives within an organized and productive relationship. Instead of remaining chaotically dispersed, making only transient and non-enduring contacts, the lives which must evolve are brought together within a form and compelled, as it were, into cooperative relationship. Through that organized association their evolution can proceed much more rapidly. Thus desire for form, however eventually it must be transcended, has an important evolutionary function. |
Nhưng tại sao người ta lại ham muốn hình tướng? Ở một điểm nào đó, điều này thật khó thấu hiểu. Tuy nhiên, hình tướng thực hiện một chức năng tiến hóa thiết yếu vì nó giam giữ các sự sống thấp kém hơn trong một mối quan hệ có tổ chức và hữu ích. Thay vì tiếp tục phân tán hỗn loạn, chỉ tạo nên những tiếp xúc thoáng qua và không bền vững, các sự sống cần tiến hóa được tập hợp trong một hình tướng và dường như bị buộc phải bước vào quan hệ hợp tác. Nhờ sự kết hợp có tổ chức ấy, tiến trình tiến hóa của chúng có thể diễn ra nhanh hơn nhiều. Vì vậy, dục vọng đối với hình tướng có một chức năng tiến hóa quan trọng, mặc dù cuối cùng nó phải được siêu vượt. |
|
[47] It was the constant use of the TAU likewise, which brought about the final overwhelming with water, which swept away the ancient Atlantean civilization; the few who used the AUM in those days were not potent enough to offset the force of desire. |
[47] Việc thường xuyên sử dụng TAU cũng gây nên trận đại hồng thủy cuối cùng, cuốn trôi nền văn minh Atlantis cổ xưa; số ít người sử dụng AUM vào thời ấy không đủ quyền năng để hóa giải mãnh lực của dục vọng. |
|
One wonders what the analogy might be in the present Aryan period. Could the constant misuse of the characteristic Aryan potency eventually bring destruction through fire? We are told that an attempt would be made to destroy the Aryan race through fire, and to some extent we saw an anticipation of this in World War II, that tremendously consuming conflict in which virtually the whole world became involved. |
Người ta tự hỏi điều tương ứng có thể là gì trong thời kỳ Arya hiện nay. Liệu việc thường xuyên lạm dụng quyền năng đặc trưng của Arya cuối cùng có thể đem lại sự hủy diệt qua lửa hay không? Chúng ta được cho biết rằng sẽ có một nỗ lực hủy diệt nhân loại Arya bằng lửa, và ở mức độ nào đó, chúng ta đã thấy sự báo trước của điều này trong Thế chiến thứ hai, cuộc xung đột thiêu hủy khủng khiếp mà hầu như toàn thế giới đều bị cuốn vào. |
|
The AUM was therefore a progressive Word in Atlantean times, but only a few were capable of using it and their potency was insufficient to counteract the overwhelming force of Atlantean desire. In our own period even the AUM is eventually to be superseded. DK describes it as associated with the form aspect and indicates that the OM should increasingly replace it as the Word of the soul. The AUM, with its relation to Amen, has been widely used in religious practice, whereas the OM represents a movement toward a more consciously soul-centered sounding. |
Do đó, vào thời Atlantis, AUM là một Linh từ tiến bộ, nhưng chỉ một số ít người có khả năng sử dụng nó và quyền năng của họ không đủ để chống lại mãnh lực áp đảo của dục vọng Atlantis. Trong thời kỳ của chúng ta, ngay cả AUM cuối cùng cũng sẽ được thay thế. Chân sư DK mô tả nó có liên hệ với phương diện hình tướng và cho biết OM nên ngày càng thay thế nó với tư cách là Linh từ của linh hồn. AUM, với mối liên hệ của nó với Amen, đã được sử dụng rộng rãi trong thực hành tôn giáo, trong khi OM biểu thị một xu hướng xướng linh từ ngày càng tập trung vào linh hồn một cách hữu thức hơn. |
|
[48] The mind bodies of the race could not respond to that newer creative sound. Humanity was still swept entirely by longing and desire to such an extent that the united desire for possessions and for the enjoyment of form drove men esoterically “into the waters”. |
[48] Các thể trí của nhân loại không thể đáp ứng âm thanh sáng tạo mới hơn ấy. Nhân loại vẫn hoàn toàn bị cuốn theo sự khao khát và dục vọng, đến mức dục vọng hợp nhất đối với của cải và sự hưởng thụ hình tướng đã đẩy con người, xét về mặt nội môn, “vào trong nước”. |
|
The mental bodies of Atlantean humanity were simply not sufficiently developed to respond to the newer creative sound of the AUM. The race was still overwhelmingly astrally polarized and swept by longing, desire, possessiveness and the craving for the enjoyment of form. Thus the AUM could not offset the enormous collective force generated through the TAU and through the desire nature of humanity. |
Các thể trí của nhân loại Atlantis đơn giản là chưa phát triển đủ để đáp ứng âm thanh sáng tạo mới hơn của AUM. Nhân loại vẫn phân cực cảm xúc một cách áp đảo và bị cuốn theo niềm khao khát, dục vọng, tính chiếm hữu cùng sự thèm khát hưởng thụ hình tướng. Vì vậy, AUM không thể hóa giải mãnh lực tập thể khổng lồ được tạo nên qua TAU và qua bản chất dục vọng của nhân loại. |
|
It is interesting here to consider the different modes of destruction associated with different stages of racial development. DK tells us of destruction through earth, water and fire, while death by air has not yet occurred in the corresponding racial sense. Perhaps in the Sixth Root Race, which will be more buddhic and intuitional—and with the buddhic plane associated symbolically with air—we may eventually understand something of what “death by air” signifies. |
Ở đây, thật thú vị khi xem xét các phương thức hủy diệt khác nhau gắn liền với những giai đoạn phát triển khác nhau của nhân loại. Chân sư DK cho chúng ta biết về sự hủy diệt qua đất, nước và lửa, trong khi cái chết bởi khí chưa xảy ra theo ý nghĩa tương ứng về nhân loại. Có lẽ trong Giống dân gốc thứ sáu, vốn sẽ mang tính Bồ đề và trực giác hơn—và với cõi Bồ đề được liên kết một cách biểu tượng với khí—cuối cùng chúng ta có thể hiểu phần nào thâm nghĩa của “cái chết bởi khí”. |
|
But in Atlantis the dominant element was water, corresponding to the overwhelming astral and desire nature of the race. Humanity’s united desire for possessions and for the enjoyment of form drove men esoterically “into the waters.” When I think of possessions, I think also of the second petal of the Egoic Lotus, which, according to one way of establishing zodiacal correspondences beginning with Aries, can be associated with Taurus. Taurus, as we know, has a particular problem with possessiveness and with desire attaching consciousness to form. |
Nhưng ở Atlantis, nguyên tố chủ đạo là nước, tương ứng với bản chất cảm dục và dục vọng áp đảo của nhân loại. Dục vọng hợp nhất của nhân loại đối với tài sản và sự hưởng thụ hình tướng đã đẩy con người, xét về mặt huyền bí, “vào trong nước”. Khi nghĩ đến tài sản, tôi cũng nghĩ đến cánh hoa thứ hai của Hoa Sen Chân Ngã; theo một cách thiết lập những tương ứng hoàng đạo bắt đầu từ Bạch Dương, cánh hoa này có thể liên hệ với Kim Ngưu. Như chúng ta biết, Kim Ngưu có một vấn đề đặc biệt với tính chiếm hữu và với dục vọng gắn tâm thức vào hình tướng. |
|
[49] Desire for form still forces upon humanity the constant process of rebirth until such time as the TAU influence is exhausted and the AUM sound can dominate. The former influence is however weakening, and the AUM is increasing in potency until it will be the dominating factor. |
[49] Dục vọng đối với hình tướng vẫn buộc nhân loại trải qua tiến trình tái sinh liên tục cho đến khi ảnh hưởng của TAU cạn kiệt và âm thanh AUM có thể thống trị. Tuy nhiên, ảnh hưởng trước đang suy yếu, còn AUM ngày càng tăng quyền năng cho đến khi trở thành yếu tố thống trị. |
|
Desire for form therefore remains the force compelling humanity into the constant process of rebirth. This continues until the TAU influence is exhausted and the AUM can become dominant. The TAU influence, however, is already weakening, while the potency of the AUM is increasing. |
Do đó, dục vọng đối với hình tướng vẫn là mãnh lực thúc ép nhân loại bước vào tiến trình tái sinh liên tục. Điều này tiếp diễn cho đến khi ảnh hưởng của TAU cạn kiệt và AUM có thể trở nên thống trị. Tuy nhiên, ảnh hưởng của TAU đã suy yếu, trong khi quyền năng của AUM đang gia tăng. |
|
[50] To this latter sound, the word of the Soul must eventually succeed, until AUM in its turn is entirely superseded. |
[50] Cuối cùng, linh từ của Linh hồn phải kế tiếp âm thanh này, cho đến khi AUM đến lượt nó hoàn toàn được thay thế. |
|
And beyond the AUM there is still the Word of the Soul, which must eventually succeed it. So we have a succession of great sounds, each appropriate to a particular stage of consciousness. There is also a higher way of considering A-U-M as the combination of three streams which together make one. At still higher levels we approach the primal Sound, whereas by the fifth, sixth and seventh differentiations we are increasingly entering the realm of words and multiplicity. |
Và vượt trên AUM vẫn còn Linh từ của Linh hồn, cuối cùng phải kế tiếp nó. Như vậy, chúng ta có một chuỗi các âm thanh vĩ đại, mỗi âm thanh thích hợp với một giai đoạn tâm thức cụ thể. Cũng có một cách cao siêu hơn để xem A-U-M là sự kết hợp của ba dòng cùng tạo thành một thể duy nhất. Ở những cấp độ cao hơn nữa, chúng ta tiếp cận Âm Thanh nguyên thủy, trong khi qua các biến phân thứ năm, thứ sáu và thứ bảy, chúng ta ngày càng đi vào lĩnh vực của ngôn từ và tính đa tạp. |
|
[51] The sound of many waters |
[51] Âm thanh của nhiều dòng nước |
|
This is the sound heard symbolically within the long, narrow and dark tunnel through which the pilgrim passes. |
Đây là âm thanh được nghe thấy một cách biểu tượng trong đường hầm dài, hẹp và tối tăm mà người hành hương đi qua. |
|
[52] (which is the symbolic way of expressing the TAU influence) will cease, and the time will come, as we are assured in the Christian Bible, when there “will be no more sea”. |
[52] —cách biểu đạt mang tính biểu tượng cho ảnh hưởng của TAU—sẽ chấm dứt; và như Kinh Thánh Cơ Đốc bảo đảm với chúng ta, sẽ đến lúc “biển không còn nữa”. |
|
So “the sound of many waters” is a symbolic expression of the TAU influence. Eventually it ceases and there will be “no more sea.” Perhaps this points to the disappearance of the astral plane as humanity now experiences it. The astral plane will no longer constitute an independent field of glamour, desire and distortion, but will become a pure medium through which the energy of love can express itself. |
Như vậy, “âm thanh của nhiều dòng nước” là biểu hiện tượng trưng của ảnh hưởng TAU. Cuối cùng, nó chấm dứt và “biển sẽ không còn nữa”. Có lẽ điều này hướng đến sự biến mất của cõi cảm dục như nhân loại hiện đang trải nghiệm nó. Cõi cảm dục sẽ không còn tạo thành một lĩnh vực độc lập của ảo cảm, dục vọng và xuyên tạc, mà sẽ trở thành một trung gian thanh khiết để năng lượng bác ái có thể biểu hiện. |
|
[53] Then the sound of the AUM which is symbolically spoken of as the “roaring of a blazing fire”, |
[53] Khi ấy, âm thanh AUM—được nói đến một cách biểu tượng như “tiếng gầm của ngọn lửa rực cháy” |
|
So we move symbolically from water to fire. |
Như vậy, về mặt biểu tượng, chúng ta chuyển từ nước sang lửa. |
|
[54] and which is the sound of the mental plane will take its place. |
[54] và là âm thanh của cõi trí—sẽ thay thế nó. |
|
The AUM is therefore related here to the mental plane and to fire, just as the TAU is related to the astral plane and water. Elsewhere DK discourages the continued use of the AUM and its popularized derivative, Amen, and recommends instead the OM. The AUM can be associated with the form-building process, whereas the OM increasingly represents the Word of the soul. |
Do đó, ở đây AUM liên hệ với cõi trí và lửa, cũng như TAU liên hệ với cõi cảm dục và nước. Ở nơi khác, Chân sư DK không khuyến khích tiếp tục sử dụng AUM cùng dạng phổ biến hóa của nó là Amen, và thay vào đó Ngài đề nghị dùng OM. AUM có thể liên hệ với tiến trình kiến tạo hình tướng, trong khi OM ngày càng biểu thị Linh từ của linh hồn. |
|
[55] The word of the soul cannot be given except in the secret place of initiation. |
[55] Linh từ của linh hồn chỉ có thể được truyền trao tại nơi bí mật của cuộc điểm đạo. |
|
Thus the true Word of the Soul is something quite different from merely pronouncing the familiar OM or AUM. It can only be imparted in the secret place of initiation. In this sense the AUM available to us may function as a symbol or preliminary approximation of a much deeper creative Word. |
Như vậy, Linh từ chân chính của Linh hồn hoàn toàn khác với việc chỉ xướng OM hay AUM quen thuộc. Nó chỉ có thể được truyền trao tại nơi bí mật của điểm đạo. Theo nghĩa này, AUM mà chúng ta có thể sử dụng có lẽ hoạt động như một biểu tượng hoặc sự gần đúng sơ bộ của một Linh từ sáng tạo sâu xa hơn nhiều. |
|
[56] It has its own peculiar vibration and note, but this cannot be conveyed until such time as the AUM is used with correctness. |
[56] Nó có rung động và âm điệu đặc thù riêng, nhưng không thể được truyền đạt cho đến khi AUM được sử dụng đúng đắn. |
|
Here DK explicitly tells us that the AUM must first be used correctly. Elsewhere, particularly in The Rays and the Initiations, he tells us that its use should be discontinued in favor of the OM. There are therefore different levels or contexts involved. In one sense AUM belongs to the mental and form-building process which humanity must learn to master correctly; in another, the OM represents a more directly soul-centered sound appropriate to a later stage. |
Ở đây, Chân sư DK nói rõ với chúng ta rằng trước hết AUM phải được sử dụng đúng đắn. Ở nơi khác, đặc biệt trong Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, Ngài cho chúng ta biết rằng nên ngừng sử dụng nó để chuyển sang OM. Do đó, có những cấp độ hoặc bối cảnh khác nhau liên quan. Theo một nghĩa, AUM thuộc về tiến trình trí tuệ và kiến tạo hình tướng mà nhân loại phải học cách làm chủ đúng đắn; theo nghĩa khác, OM biểu thị một âm thanh tập trung trực tiếp hơn vào linh hồn, thích hợp với giai đoạn về sau. |
|
There may also be a still higher interpretation of AUM. As the synthesis of a threefold sound it can symbolize a very elevated spiritual reality and can even be related, in a certain correspondence, to atma and spiritual will. So we should probably distinguish the cosmic or archetypal significance of AUM from the manner in which the sound has historically been employed within human civilization. |
Cũng có thể có một cách diễn giải AUM cao hơn nữa. Là sự tổng hợp của một âm thanh tam phân, nó có thể tượng trưng cho một thực tại tinh thần rất cao siêu và thậm chí, theo một tương ứng nào đó, có thể liên hệ với atma và ý chí tinh thần. Vì vậy, có lẽ chúng ta nên phân biệt thâm nghĩa vũ trụ hay nguyên mẫu của AUM với cách âm thanh này từng được sử dụng trong lịch sử văn minh nhân loại. |
|
[57] Just as the TAU, carrying the note of desire and of the urge to have and to be, was misused and carried its civilizations to disaster, |
[57] Cũng như TAU, vốn mang âm điệu của dục vọng và sự thôi thúc muốn sở hữu và hiện tồn, đã bị lạm dụng và đưa các nền văn minh của nó đến thảm họa, |
|
The TAU carried the note of desire—the urge to have, to possess and to be—and its misuse stimulated that desire to an unnatural, almost feverish pitch. |
TAU mang âm điệu của dục vọng—thôi thúc muốn có, muốn sở hữu và muốn hiện tồn—và việc lạm dụng nó đã kích thích dục vọng ấy đến một cường độ phi tự nhiên, gần như cuồng nhiệt. |
|
[58] so AUM can also be misused and can carry its civilizations into the fire. This is the truth which really underlies the misunderstood Christian teaching anent hell-fire and the lake of fire. |
[58] AUM cũng có thể bị lạm dụng và đưa các nền văn minh của nó vào lửa. Đây là chân lý thực sự ẩn sau giáo lý Cơ Đốc bị hiểu sai về lửa địa ngục và hồ lửa. |
|
This is very interesting. Even a sound belonging to a more advanced stage can be misused. Just as the misuse of the TAU carried Atlantean civilization into the waters, the misuse of the AUM can carry mental civilizations into fire. DK says that this occult fact lies behind the badly misunderstood Christian imagery of hell-fire and the lake of fire. |
Điều này rất thú vị. Ngay cả một âm thanh thuộc về giai đoạn tiến bộ hơn cũng có thể bị lạm dụng. Cũng như việc lạm dụng TAU đã đưa nền văn minh Atlantis vào nước, việc lạm dụng AUM có thể đưa các nền văn minh trí tuệ vào lửa. Chân sư DK nói rằng sự kiện huyền bí này nằm sau hình ảnh Cơ Đốc bị hiểu sai nghiêm trọng về lửa địa ngục và hồ lửa. |
|
Thus a genuine esoteric principle concerning the fiery consummation of a civilization can eventually degenerate into the crude theological doctrine of individuals being eternally tormented in hell. The original symbolism concerns the destruction of forms at the end of a great cycle, not the everlasting punishment of the reincarnating human unit. |
Như vậy, một nguyên lý huyền bí chân chính liên quan đến sự kết thúc bằng lửa của một nền văn minh cuối cùng có thể suy thoái thành giáo điều thần học thô sơ về việc các cá nhân bị hành hạ vĩnh viễn trong địa ngục. Biểu tượng nguyên thủy liên quan đến sự hủy diệt các hình tướng vào cuối một chu kỳ vĩ đại, chứ không phải hình phạt vĩnh viễn dành cho đơn vị nhân loại đang tái sinh. |
|
[59] They portray symbolically the end of the age [Page 480] when the mental plane civilizations will come to a cataclysmic end, as far as the form aspect is concerned just as the earlier civilizations came to a watery consummation. |
[59] Chúng mô tả bằng biểu tượng sự kết thúc của thời đại khi các nền văn minh của cõi trí |
|
So the question naturally arises: will our civilization actually be consumed by fire? Elsewhere DK suggests that such a catastrophe is not inevitable; an attempt at destruction through fire may be made without necessarily succeeding. Nevertheless, fire is fundamentally the symbol of mind, and eventually the barriers created by the concrete mind have to be destroyed so that intuition can make its impact. |
Vì vậy, câu hỏi tự nhiên nảy sinh: liệu nền văn minh của chúng ta có thực sự bị lửa thiêu hủy không? Ở nơi khác, Chân sư DK gợi ý rằng thảm họa như thế không phải là điều tất yếu; một nỗ lực hủy diệt bằng lửa có thể diễn ra nhưng không nhất thiết thành công. Tuy nhiên, về căn bản, lửa là biểu tượng của trí tuệ, và cuối cùng các rào cản do trí cụ thể tạo ra phải bị phá hủy để trực giác có thể tạo tác động. |
|
There is therefore a profound correspondence. Atlantean civilization, dominated by desire and the astral nature, reached its consummation through water. Aryan civilization, dominated increasingly by mind, faces the corresponding danger of a consummation through fire. The very faculty which marks the evolutionary advance of a civilization also contains the possibility of its destruction when misused. |
Do đó, có một sự tương ứng sâu sắc. Nền văn minh Atlantis, bị dục vọng và bản chất cảm dục thống trị, đã đi đến hồi kết qua nước. Nền văn minh Arya, ngày càng bị trí tuệ thống trị, đối diện với nguy cơ tương ứng là kết thúc qua lửa. Chính năng lực đánh dấu bước tiến hóa của một nền văn minh cũng chứa đựng khả năng hủy diệt nó khi bị lạm dụng. |
|
This becomes especially striking in the modern world because the most obvious physical instrument of catastrophic destruction is now the product of the highly developed concrete mind: atomic and nuclear energy. Helena Roerich wrote of the destructive forces seeking tremendous explosions capable of devastating the planet. Whether or not such an extreme consummation will actually occur, the symbolism is extraordinarily suggestive: mind discovers and releases the fire hidden within matter, and that fire can either serve evolutionary purposes or destroy the forms of civilization. |
Điều này trở nên đặc biệt nổi bật trong thế giới hiện đại vì công cụ hồng trần rõ ràng nhất của sự hủy diệt thảm khốc giờ đây là sản phẩm của trí cụ thể phát triển cao: năng lượng nguyên tử và hạt nhân. Bà Helena Roerich đã viết về các mãnh lực hủy diệt đang tìm cách gây nên những vụ nổ khủng khiếp có khả năng tàn phá hành tinh. Cho dù một sự kết thúc cực đoan như thế có thực sự xảy ra hay không, biểu tượng này vẫn gợi mở phi thường: trí tuệ khám phá và giải phóng ngọn lửa ẩn trong vật chất, và ngọn lửa ấy có thể phụng sự các mục đích tiến hóa hoặc hủy diệt những hình tướng của nền văn minh. |
|
This raises the question of whether the reported statement of Chân sư DK to Foster Bailey around 1952—that there would be no Third World War—means that the most catastrophic manifestation of this fiery possibility will ultimately be prevented. For a Third World War fought with the full destructive resources of modern technology would certainly correspond closely to the kind of fiery consummation described here. |
Điều này đặt ra câu hỏi liệu lời được thuật lại của Chân sư DK nói với Ông Foster Bailey vào khoảng năm 1952—rằng sẽ không có Thế chiến thứ ba—có hàm ý rằng biểu hiện thảm khốc nhất của khả năng bốc lửa này cuối cùng sẽ được ngăn chặn hay không. Vì một cuộc Thế chiến thứ ba sử dụng toàn bộ nguồn lực hủy diệt của công nghệ hiện đại chắc chắn sẽ tương ứng chặt chẽ với kiểu kết thúc bằng lửa được mô tả ở đây. |
|
Lemuria also had its relationship to fire, particularly volcanic fire, but the fire under consideration in connection with Aryan civilization is of a different order because it corresponds specifically to mind. It can seem almost to descend out of the air, as in an atomic explosion, yet occultly its deeper correspondence is with the fiery nature of the mental plane. |
Lemuria cũng có mối liên hệ với lửa, đặc biệt là lửa núi lửa, nhưng ngọn lửa đang được xem xét trong mối liên hệ với nền văn minh Arya thuộc một trật tự khác vì nó tương ứng riêng với trí tuệ. Nó có thể dường như từ không trung giáng xuống, như trong một vụ nổ nguyên tử, nhưng về mặt huyền bí, sự tương ứng sâu xa hơn của nó là với bản chất bốc lửa của cõi trí. |
|
Thus behind the primitive doctrine of eternal hell-fire and the lake of fire stands a much more significant esoteric teaching: the possibility of the fiery termination of a mental civilization, at least as far as its form aspect is concerned. But the destruction of those mental forms can simultaneously open the way toward intuition. The form is destroyed so that a higher mode of consciousness may emerge. |
Như vậy, đằng sau giáo điều sơ khai về lửa địa ngục vĩnh cửu và hồ lửa là một giáo huấn huyền bí có thâm nghĩa lớn lao hơn nhiều: khả năng một nền văn minh trí tuệ kết thúc bằng lửa, ít nhất xét về phương diện hình tướng. Nhưng sự hủy diệt các hình tướng trí tuệ ấy đồng thời có thể mở đường cho trực giác. Hình tướng bị hủy diệt để một phương thức tâm thức cao hơn có thể xuất hiện. |
|
We therefore have a sequence: desire, water and the Atlantean consummation; mind, fire and the possible Aryan consummation. One naturally wonders whether, at a still later stage, there might be an analogous consummation related to air as humanity becomes increasingly buddhic and intuitional. But here DK confines himself to the contrast between the watery ending of the earlier civilization and the potentially fiery ending of the mental-plane civilizations of the present age. |
Do đó, chúng ta có một trình tự: dục vọng, nước và sự kết thúc của Atlantis; trí tuệ, lửa và khả năng kết thúc của Arya. Người ta tự nhiên tự hỏi liệu ở một giai đoạn còn muộn hơn có thể có một sự kết thúc tương tự liên quan đến khí, khi nhân loại ngày càng mang tính Bồ đề và trực giác hơn hay không. Nhưng ở đây, Chân sư DK chỉ giới hạn trong sự tương phản giữa kết cục trong nước của nền văn minh trước kia và kết cục có thể xảy ra trong lửa của các nền văn minh cõi trí thuộc thời đại hiện nay. |
|
[59b] will come to a cataclysmic end, as far as the form aspect is concerned just as the earlier civilizations came to a watery consummation. |
[59b] đi đến một kết cục đại biến, xét về phương diện hình tướng, cũng như các nền văn minh trước kia đã đi đến kết cuộc trong nước. |
|
So we have to be very careful about the misuse of fire. The symbolism is not merely physical. Fire corresponds to mind, and therefore the destruction of a mental civilization may take place inwardly as well as outwardly. |
Vì vậy, chúng ta phải hết sức thận trọng trước việc lạm dụng lửa. Biểu tượng này không chỉ mang tính hồng trần. Lửa tương ứng với trí tuệ, và do đó sự hủy diệt một nền văn minh trí tuệ có thể diễn ra cả bên trong lẫn bên ngoài. |
|
[60] One hint here I will give, and one that is oft overlooked. On the mental plane, time is not; |
[60] Ở đây Tôi sẽ đưa ra một gợi ý thường bị bỏ qua. Trên cõi trí không có thời gian; |
|
I would tend to apply this especially to the higher mental plane. What does it mean to say that time is not? Perhaps when consciousness can perceive a condition of unchanging sameness, ordinary time disappears. Certainly on the lower mental plane there is continual mutation, circulation and succession of thought, and one aspect of that plane is ruled by Saturn, the Lord of Time. But as consciousness rises toward the higher mental and triadal levels, time as we ordinarily experience it becomes less applicable. |
Tôi có khuynh hướng áp dụng điều này đặc biệt cho Cõi thượng trí. Nói rằng thời gian không tồn tại có nghĩa là gì? Có lẽ khi tâm thức có thể nhận biết một trạng thái đồng nhất bất biến, thời gian thông thường biến mất. Chắc chắn trên cõi hạ trí có sự biến đổi, luân chuyển và nối tiếp liên tục của tư tưởng, và một phương diện của cõi ấy do Sao Thổ, Chúa Tể Thời Gian, cai quản. Nhưng khi tâm thức vươn lên các cấp độ thượng trí và Tam Nguyên Tinh Thần, thời gian như chúng ta thường trải nghiệm trở nên ít thích hợp hơn. |
|
[61] therefore the time equation enters not into the idea of a final ending by fire. There is no setting of a time for a disaster or a catastrophe. |
[61] vì vậy, yếu tố thời gian không tham dự vào ý tưởng về một sự kết thúc tối hậu bằng lửa. Không hề có việc ấn định thời điểm cho một tai họa hay thảm họa. |
|
This is important because statements about a fiery ending can easily be literalized into predictions of a particular future catastrophe. DK specifically removes that interpretation. No date is being set. The fiery consummation belongs primarily to the realm of mind, and the full effect need not occur as some externally scheduled disaster. |
Điều này quan trọng vì người ta có thể dễ dàng hiểu những phát biểu về kết cục bằng lửa theo nghĩa đen như các lời tiên đoán về một thảm họa cụ thể trong tương lai. Chân sư DK đặc biệt loại bỏ cách diễn giải ấy. Không có ngày tháng nào được ấn định. Sự kết thúc bằng lửa chủ yếu thuộc về lĩnh vực trí tuệ, và toàn bộ tác động không nhất thiết phải xảy ra như một thảm họa bên ngoài đã được định trước. |
|
There are teachings concerning a much later Judgment Day or Armageddon, involving vast evolutionary periods and perhaps the causal bodies and higher mental forces. But those events lie immensely far ahead, over time spans involving root races, rounds and perhaps hundreds of millions of years. The present passage is therefore not giving us a timetable for such an event. |
Có những giáo huấn liên quan đến một Ngày Phán Xét hay trận Armageddon ở tương lai xa xôi hơn nhiều, bao hàm những thời kỳ tiến hóa rộng lớn và có lẽ liên quan đến các thể nguyên nhân cùng những mãnh lực thượng trí. Nhưng các biến cố ấy còn vô cùng xa xôi, trải qua những khoảng thời gian bao gồm các Giống dân gốc, các cuộc tuần hoàn và có lẽ hàng trăm triệu năm. Do đó, đoạn văn hiện tại không trao cho chúng ta một thời biểu cho biến cố như thế. |
|
[62] The full effect will take place in the realm of the mind, and may it not be said that even now the fire of anxiety, of foreboding, of worry, and of fear is burning up our thoughts and engrossing our mental attention? |
[62] Toàn bộ tác động sẽ diễn ra trong lĩnh vực thể trí; và chẳng phải có thể nói rằng ngay lúc này, ngọn lửa của sự lo âu, linh cảm chẳng lành, phiền muộn và sợ hãi đang thiêu đốt tư tưởng và chiếm trọn sự chú tâm trí tuệ của chúng ta sao? |
|
So the symbolism is already operative. The fire can be psychological and mental. Anxiety, foreboding, worry and fear can consume the mental field and occupy consciousness just as literally as physical fire consumes form. |
Vì vậy, biểu tượng đã bắt đầu tác động. Lửa có thể thuộc phương diện tâm lý và trí tuệ. Sự lo âu, linh cảm bất an, ưu tư và sợ hãi có thể thiêu đốt lĩnh vực trí tuệ và chiếm ngự tâm thức theo nghĩa thực chẳng kém gì lửa hồng trần thiêu hủy hình tướng. |
|
This also suggests that the fiery climax of the Aryan or mental phase may involve the destruction of mental barriers rather than merely the destruction of physical civilization. The concrete mind itself has to pass through a burning ground so that intuition can make its impact. We pass over the seas and through the fires before reaching the veiled and hidden door. |
Điều này cũng gợi ý rằng cao trào rực lửa của giai đoạn Arya hay trí tuệ có thể liên quan đến sự phá hủy các rào cản trí tuệ hơn là chỉ sự phá hủy nền văn minh hồng trần. Chính trí cụ thể phải đi qua một vùng đất cháy để trực giác có thể tạo ảnh hưởng. Chúng ta vượt qua biển cả và đi xuyên qua lửa trước khi đến được cánh cửa che màn và ẩn khuất. |
|
[63] Its work is to purify and cleanse, so, let the AUM do its work and let all of you who can, employ it with frequency and with right thought so that the world purification may proceed apace. |
[63] Công việc của nó là thanh lọc và tẩy sạch; vì thế, hãy để AUM thực hiện công việc của nó, và tất cả các bạn, những ai có thể, hãy thường xuyên sử dụng linh từ ấy với tư tưởng đúng đắn để sự thanh lọc thế giới có thể tiến hành nhanh chóng. |
|
Here the AUM is clearly being presented in a purificatory and constructive sense. That seems different from passages in The Rays and the Initiations where DK advises substituting the OM for the AUM. So different levels or uses must be involved. |
Ở đây, rõ ràng AUM được trình bày theo ý nghĩa thanh lọc và kiến tạo. Điều đó dường như khác với những đoạn trong Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, nơi Chân sư DK khuyên thay AUM bằng OM. Vì vậy, hẳn có những cấp độ hoặc cách sử dụng khác nhau. |
|
There is an AUM associated with the mental and even higher creative process, and there is also the more materialized use of AUM or its derivative Amen, which can be employed to set the seal of form upon lower desire. The context determines which aspect is meant. |
Có một AUM gắn liền với tiến trình sáng tạo trí tuệ và thậm chí cao hơn, đồng thời cũng có cách sử dụng AUM mang tính vật chất hóa hơn, hoặc dạng phái sinh của nó là Amen, vốn có thể được dùng để đóng ấn hình tướng lên dục vọng thấp. Ngữ cảnh quyết định phương diện nào được hàm ý. |
|
We might say that, in one correspondence, the AUM can relate to probationary or purificatory fire, while the OM is more directly associated with soul alignment and unification. In an even higher sense, the AUM has a relation to the atmic plane and spiritual will. |
Chúng ta có thể nói rằng, theo một sự tương ứng, AUM có thể liên hệ với lửa dự bị hoặc thanh lọc, trong khi OM gắn liền trực tiếp hơn với sự chỉnh hợp và hợp nhất của linh hồn. Theo một ý nghĩa còn cao hơn, AUM có liên hệ với cõi atma và ý chí tinh thần. |
|
[64] Much must be burned and consumed which bars the way for the emergence of the new ideas, the new archetypal forms. |
[64] Nhiều điều cản đường sự xuất hiện của những ý tưởng mới và các hình tướng nguyên mẫu mới phải được thiêu đốt và tiêu hủy. |
|
So DK is asking us to invoke purificatory fire. The purpose of the burning is not destruction for its own sake; it is to remove accumulated forms, excrescences and obstructions which prevent new archetypal ideas from descending. |
Vì vậy, Chân sư DK đang yêu cầu chúng ta khẩn cầu lửa thanh lọc. Mục đích của việc thiêu đốt không phải là phá hủy vì chính sự phá hủy; đó là loại bỏ các hình tướng tích tụ, những phần phát triển thừa và các chướng ngại ngăn cản những ý tưởng nguyên mẫu mới giáng xuống. |
|
The will burns. It removes impediments to the actualization of Purpose. Once the accumulated obstructions are consumed, the new ideas and archetypal forms can descend into the mosaic world and begin configuring matter into forms which more adequately reflect the archetypes. |
Ý chí thiêu đốt. Nó loại bỏ những trở ngại đối với sự hiện thực hóa Thiên Ý. Một khi các chướng ngại tích tụ bị thiêu hủy, những ý tưởng mới và các hình tướng nguyên mẫu có thể giáng xuống thế giới khảm ghép và bắt đầu định hình vật chất thành những hình tướng phản ánh các nguyên mẫu thích đáng hơn. |
|
[65] These will eventually dominate the new age and make it possible for the word of the soul to sound forth and be heard exoterically. |
[65] Cuối cùng, những điều này sẽ thống trị kỷ nguyên mới và khiến linh từ của linh hồn có thể vang lên và được nghe thấy ở ngoại giới. |
|
The Word of the Soul referred to here is probably not simply the familiar OM. The OM may be an outer symbol or preparatory expression of a deeper Word which can only be communicated in initiation. This is rather like the Masonic communication of symbolic words which stand for realities that cannot yet safely be given in their actual potency. |
Linh từ của Linh hồn được đề cập ở đây có lẽ không chỉ đơn thuần là OM quen thuộc. OM có thể là một biểu tượng bên ngoài hoặc biểu đạt chuẩn bị cho một Linh từ sâu xa hơn, vốn chỉ có thể được truyền đạt trong lễ điểm đạo. Điều này khá giống với việc truyền trao các linh từ biểu tượng của Hội Tam Điểm, tượng trưng cho những thực tại chưa thể được ban truyền an toàn trong quyền năng đích thực của chúng. |
|
We practice first with the symbol because the real Word carries enormous power. Initiation is literally a process of dealing with fire, and the higher realities involved can do great harm if prematurely contacted or incorrectly used. |
Trước tiên, chúng ta thực hành với biểu tượng vì Linh từ đích thực mang quyền năng vô cùng lớn. Điểm đạo đúng nghĩa là một tiến trình xử lý lửa, và những thực tại cao siêu liên quan có thể gây tổn hại lớn nếu con người tiếp xúc với chúng quá sớm hoặc sử dụng chúng không đúng cách. |
|
In A Treatise on Cosmic Fire, the AUM is treated in a much more elevated way. The triple logoic Word coordinates energies, activates deva groups, and participates in the materialization of archetypal form. So there is clearly a profound distinction between the cosmic or archetypal AUM and its lower historical or devotional uses. |
Trong Luận về Lửa Vũ Trụ, AUM được bàn đến theo một cách cao siêu hơn nhiều. Linh từ tam phân của Thượng đế điều phối các năng lượng, kích hoạt các nhóm thiên thần và tham gia vào sự hiện hình của hình tướng nguyên mẫu. Vì vậy, rõ ràng có một sự phân biệt sâu sắc giữa AUM vũ trụ hay nguyên mẫu với những cách sử dụng thấp hơn của nó trong lịch sử hoặc trong sự sùng tín. |
|
The important point here is that purification through fire prepares the way for new archetypal forms, and these forms will eventually make the Word of the Soul perceptible even exoterically. The coming of the Christ and the increasing externalization of higher spiritual realities may make these higher worlds progressively more perceptible to students of esotericism. |
Điểm quan trọng ở đây là sự thanh lọc bằng lửa chuẩn bị đường cho các hình tướng nguyên mẫu mới, và cuối cùng những hình tướng này sẽ khiến Linh từ của Linh hồn trở nên khả tri ngay cả ở ngoại giới. Sự giáng lâm của Đức Christ và sự ngoại hiện ngày càng tăng của các thực tại tinh thần cao siêu có thể khiến những thế giới cao siêu này dần trở nên khả tri hơn đối với các môn sinh huyền bí học. |
|
[66] I realize that that which I have imparted here is difficult of comprehension, but the paragraphs above dictated hold warning for the careless and much instruction |
[66] Tôi nhận ra rằng điều Tôi truyền đạt ở đây khó lĩnh hội, nhưng các đoạn được đọc cho chép ở trên chứa đựng lời cảnh báo dành cho người bất cẩn và nhiều lời chỉ dẫn |
|
There is certainly warning here for the careless. Fire operates on many levels. A mental civilization can come to a catastrophic end outwardly, but the barriers of concrete mentality can also be burned away inwardly so that intuition can enter. No specific date is given because the essential process takes place in consciousness. |
Chắc chắn ở đây có lời cảnh báo dành cho người bất cẩn. Lửa tác động trên nhiều cấp độ. Một nền văn minh trí tuệ có thể đi đến kết cuộc thảm khốc ở bên ngoài, nhưng các rào cản của trí cụ thể cũng có thể bị thiêu rụi ở bên trong để trực giác có thể đi vào. Không có ngày tháng cụ thể nào được nêu ra vì tiến trình thiết yếu diễn ra trong tâm thức. |
|
[67] for the earnest seeker after light. |
[67] dành cho người tha thiết tìm kiếm ánh sáng. |
|
The whole section therefore deserves pondering. We need purification; we need the burning away of mental obstruction; and we need the eventual fusion of manas and buddhi—Buddhi-Manas. The literal images of hell-fire and the lake of fire are crude materializations of a much deeper occult truth. When taken literally they imprison consciousness within narrow and fear-based thought-forms. The real teaching concerns the destruction of limiting forms so that higher consciousness can emerge. |
Vì vậy, toàn bộ phần này đáng để suy ngẫm. Chúng ta cần sự thanh lọc; chúng ta cần thiêu rụi chướng ngại trí tuệ; và chúng ta cần sự dung hợp cuối cùng giữa manas và Bồ đề—Bồ đề-Manas. Những hình ảnh theo nghĩa đen về lửa địa ngục và hồ lửa là sự vật chất hóa thô thiển của một chân lý huyền bí sâu xa hơn nhiều. Khi bị hiểu theo nghĩa đen, chúng giam cầm tâm thức trong các hình tư tưởng chật hẹp và dựa trên sợ hãi. Giáo huấn đích thực đề cập đến sự phá hủy các hình tướng giới hạn để tâm thức cao siêu có thể xuất hiện. |
|
[68] There are two aspects of this phrase which we are considering with which I seek briefly to deal. |
[68] Cụm từ mà chúng ta đang xem xét có hai phương diện Tôi muốn bàn đến vắn tắt. |
|
The phrase under consideration is the mystic phrase which saves the magician from the work of the lives he has confined and directed. There are many possible aspects of that statement, but DK now selects two which have practical importance. |
Cụm từ đang được xem xét là cụm từ thần bí cứu nhà huyền thuật khỏi công việc của những sự sống mà y đã giam giữ và điều khiển. Phát biểu ấy có nhiều phương diện khả dĩ, nhưng giờ đây Chân sư DK chọn hai phương diện có tầm quan trọng thực tiễn. |
|
[69] There are many which I might take up, |
[69] Có nhiều phương diện Tôi có thể đề cập, |
|
There are many aspects of this mystic phrase which could be considered— |
Có nhiều phương diện của cụm từ thần bí này có thể được xem xét— |
|
[70] but two will suffice to carry practical suggestion, and to indicate ideas which aspirants everywhere would do well to grasp. |
[70] nhưng hai phương diện là đủ để đưa ra gợi ý thực tiễn và chỉ ra những ý tưởng mà người chí nguyện ở khắp nơi nên nắm bắt. |
|
So he deliberately limits the discussion to two practical meanings. |
Vì vậy, Ngài chủ ý giới hạn cuộc thảo luận vào hai ý nghĩa thực tiễn. |
|
[71] The thought of salvation from the effect of form-embodied ideas must be considered, and I would like also to cover the idea of “a saving-from” under two headings. |
[71] Cần xem xét tư tưởng về sự cứu rỗi khỏi tác động của những ý tưởng đã nhập thể trong hình tướng; đồng thời Tôi cũng muốn trình bày ý tưởng “được cứu khỏi” theo hai đề mục. |
|
This is very interesting because when we think of danger or enemies we usually think in tangible and material terms. Here the danger consists of form-embodied ideas. A thought-form can become sufficiently powerful to damage an incarnation, distort consciousness, or even destroy subtle structures which then have to be rebuilt. |
Điều này rất thú vị vì khi nghĩ đến nguy hiểm hoặc kẻ thù, chúng ta thường nghĩ theo những thuật ngữ hữu hình và vật chất. Ở đây, nguy hiểm nằm trong các ý tưởng nhập vào hình tướng. Một hình tư tưởng có thể trở nên đủ mạnh để gây tổn hại cho một kiếp nhập thể, làm méo mó tâm thức, hoặc thậm chí phá hủy những cấu trúc tinh tế mà sau đó phải được xây dựng lại. |
|
Such dangers are not generally recognized by the materialistic mind because they operate on subtler levels. But as we progress, we discover that these subtle conditions are extraordinarily real and can be more determinative than many outer circumstances. |
Thể trí duy vật thường không nhận ra những nguy hiểm như vậy vì chúng tác động trên các cấp độ tinh tế hơn. Nhưng khi tiến bước, chúng ta khám phá rằng những tình trạng tinh tế này vô cùng chân thực và có thể mang tính quyết định hơn nhiều hoàn cảnh bên ngoài. |
|
[72] The aspirant has to be saved from the thought-forms built daily during his mental life, and a soul in incarnation has also to be saved from the form attachments which during the ages have [Page 481] grown and strengthened, and from which he has to be released through the process we call death. |
[72] Người chí nguyện phải được cứu khỏi các hình tư tưởng được xây dựng hằng ngày trong đời sống trí tuệ của y; và linh hồn đang nhập thể cũng phải được cứu khỏi những ràng buộc với hình tướng đã tăng trưởng và củng cố qua nhiều thời đại, mà y phải được giải thoát khỏi chúng qua tiến trình chúng ta gọi là cái chết. |
|
To be saved means to be removed from the compelling influence of these forms, to become independent of them so that they no longer determine one’s fate. |
Được cứu có nghĩa là thoát khỏi ảnh hưởng cưỡng bách của những hình tướng này, trở nên độc lập với chúng để chúng không còn quyết định số phận của mình. |
|
We are constantly generating thought-forms, whether consciously or unconsciously. At the same time, the soul in incarnation has descended into repeated association with forms and, especially in earlier stages, becomes strongly attached to them. Incarnation can therefore be viewed as a process of purposeful confinement followed by responsible release. |
Chúng ta không ngừng tạo ra các hình tư tưởng, dù hữu thức hay vô thức. Đồng thời, linh hồn đang nhập thể đã giáng xuống để nhiều lần kết hợp với các hình tướng và, đặc biệt trong những giai đoạn đầu, trở nên gắn bó mạnh mẽ với chúng. Vì vậy, có thể xem sự nhập thể là một tiến trình giam hãm có chủ đích, tiếp theo là sự giải thoát có trách nhiệm. |
|
The confinement is not meaningless. It is redemptive and evolutionary. Sanat Kumara Himself provides the great analogy of self-chosen confinement, remaining until the last weary pilgrim has found his way home. Release must therefore come only when the purpose of the confinement has been fulfilled. It is not escape, negligence or flight from responsibility. |
Sự giam hãm không phải là vô nghĩa. Nó có tính cứu chuộc và tiến hoá. Chính Đức Sanat Kumara cung cấp sự tương đồng vĩ đại về việc tự nguyện giam mình, Ngài lưu lại cho đến khi người hành hương mệt mỏi cuối cùng tìm được đường về nhà. Vì vậy, sự giải thoát chỉ phải đến khi mục đích của sự giam hãm đã hoàn thành. Đó không phải là trốn thoát, xao lãng hay chạy trốn trách nhiệm. |
|
[72b] We will therefore divide our subject as follows: |
[72b] Vì vậy, chúng ta sẽ phân chia chủ đề như sau: |
|
[73] I. Salvation from the power exerted by the thought-forms we have ourselves created. |
[73] I. Sự cứu rỗi khỏi quyền năng do các hình tư tưởng mà chính chúng ta tạo ra tác động. |
|
I would also include the thought-forms we have generated unconsciously. By “generation” I mean the production of forms arising from habitual mental activity without deliberate creative intention—random, idle, purposeless, sometimes selfish or destructive thoughts. Conscious creation is different: there is purpose, direction and deliberate construction. |
Tôi cũng muốn kể cả những hình tư tưởng mà chúng ta đã tạo ra một cách vô thức. Qua “sự tạo sinh”, tôi muốn nói đến việc sản sinh các hình tướng phát sinh từ hoạt động trí tuệ theo thói quen mà không có chủ ý sáng tạo có cân nhắc—những tư tưởng ngẫu nhiên, vẩn vơ, vô mục đích, đôi khi ích kỷ hoặc phá hoại. Sự sáng tạo hữu thức thì khác: nó có mục đích, phương hướng và sự kiến tạo có chủ ý. |
|
In either case, salvation means becoming free from the influence of these self-generated forms so that they no longer condition us compulsively. |
Trong cả hai trường hợp, sự cứu thoát có nghĩa là trở nên tự do khỏi ảnh hưởng của những hình tướng do chính mình tạo ra, để chúng không còn cưỡng bách định hình chúng ta. |
|
[74] II. Salvation from the power of the threefold body which the soul has built, through the magical release called death. |
[74] II. Sự cứu rỗi khỏi quyền năng của thể tam phân mà linh hồn đã xây dựng, thông qua sự giải thoát huyền thuật gọi là cái chết. |
|
This is especially striking because death, which humanity fears so deeply, is here described as a magical release. In this context death is the savior and liberator. |
Điều này đặc biệt nổi bật vì cái chết, vốn bị nhân loại vô cùng sợ hãi, ở đây được mô tả là một sự giải thoát huyền thuật. Trong ngữ cảnh này, cái chết là đấng cứu độ và giải phóng. |
|
We forget how familiar death actually is to the soul. Again and again consciousness awakens after death free from the bonds of dense physical form. There is an expansion and release. Master Morya even suggests that the frightened man may suddenly become courageous once released from physical confinement. |
Chúng ta quên rằng cái chết thật ra quen thuộc với linh hồn đến mức nào. Hết lần này đến lần khác, sau cái chết, tâm thức thức tỉnh và thoát khỏi những xiềng xích của hình tướng hồng trần đậm đặc. Có một sự mở rộng và giải thoát. Chân sư Morya thậm chí còn gợi ý rằng người đang sợ hãi có thể đột nhiên trở nên can đảm một khi được giải thoát khỏi sự giam hãm hồng trần. |
|
The real task is eventually to preserve something of that courage while still incarnate—to live within form without being imprisoned by it. After enough experience, perhaps that becomes increasingly possible. |
Cuối cùng, nhiệm vụ đích thực là duy trì phần nào lòng can đảm ấy trong khi vẫn đang nhập thể—sống trong hình tướng mà không bị nó giam cầm. Sau khi có đủ kinh nghiệm, có lẽ điều đó ngày càng trở nên khả thi. |
|
[75] It is with the latter that I wish primarily to deal, but certain things must be said concerning the power of thought-forms, and concerning their danger, and the mode whereby they can be rendered innocuous. |
[75] Tôi chủ yếu muốn bàn đến điều sau, nhưng cần nói một số điều về quyền năng và mối nguy hiểm của các hình tư tưởng, cũng như phương thức khiến chúng trở nên vô hại. |
|
Thought-forms can kill, destroy, inhibit, block, prevent and delay; but when they are rightly constructed, they can equally become powerful agents of service. DK intends primarily to deal with salvation from the power of the threefold body through the magical release called death, but before doing so he has to address salvation from the thought-forms we ourselves create. |
Các hình tư tưởng có thể giết hại, phá hủy, ức chế, ngăn chặn, cản trở và trì hoãn; nhưng khi được kiến tạo đúng đắn, chúng cũng có thể trở thành những tác nhân phụng sự mạnh mẽ. Chân sư DK chủ yếu định bàn đến sự cứu thoát khỏi quyền lực của thể tam phân thông qua sự giải thoát huyền thuật được gọi là cái chết, nhưng trước khi làm vậy, Ngài phải đề cập đến sự cứu thoát khỏi những hình tư tưởng do chính chúng ta tạo ra. |
|
The threefold body would seem to mean the personality considered through its three vehicles: the lower mental body, the astral body, and the etheric-physical vehicle considered as a unit. In that sense the personality itself is a kind of body from which the soul eventually has to be released. And what a remarkable description of death: “the magical release.” Death, so greatly feared, becomes here the liberator from form. |
Thể tam phân dường như có nghĩa là phàm ngã được xét qua ba hiện thể của nó: thể hạ trí, thể cảm dục và hiện thể dĩ thái-hồng trần được xem như một đơn vị. Theo ý nghĩa ấy, bản thân phàm ngã là một loại thể mà cuối cùng linh hồn phải được giải thoát khỏi đó. Và đây quả là một mô tả phi thường về cái chết: “sự giải thoát huyền thuật”. Cái chết, vốn bị sợ hãi vô cùng, ở đây trở thành đấng giải phóng khỏi hình tướng. |
|
But first there is the problem of our own thought-forms. We have seen people apparently terrorized by forms which seem unable to disappear and which continue to persecute their originators. One can even imagine our own thought-forms being seized upon by other entities and used to compel, obsess or perhaps possess us. |
Nhưng trước hết là vấn đề về chính các hình tư tưởng của chúng ta. Chúng ta đã thấy những người dường như bị khủng bố bởi các hình tướng có vẻ không thể biến mất và tiếp tục hành hạ những người đã tạo ra chúng. Người ta thậm chí có thể hình dung các hình tư tưởng của mình bị những thực thể khác chiếm lấy và sử dụng để cưỡng bách, ám ảnh hoặc có lẽ chiếm hữu chúng ta. |
|
There are historical examples suggestive of this darker side of occultism. Houston Stewart Chamberlain, whose racial theories were later used to support Nazi ideology, was said to have been pursued by terrifying entities. Whether or not every detail of such reports is literally accurate, the occult principle is worth considering: sustained hatred and separative thinking may generate or attract forms which eventually dominate the thinker himself. |
Có những ví dụ lịch sử gợi đến mặt tối này của huyền bí học. Houston Stewart Chamberlain, người có những lý thuyết chủng tộc về sau được dùng để ủng hộ hệ tư tưởng Quốc xã, được cho là đã bị những thực thể đáng sợ truy đuổi. Dù mọi chi tiết của các tường thuật như vậy có chính xác theo nghĩa đen hay không, nguyên lý huyền bí này vẫn đáng xem xét: lòng thù hận dai dẳng và tư tưởng chia rẽ có thể tạo ra hoặc thu hút những hình tướng mà cuối cùng chi phối chính người tư tưởng. |
|
This is very different from the sensational or morbid approach to occultism which concentrates almost entirely upon demons, obsession and psychic danger. The deeper occult path concerns identification with higher energies, contact with the soul and Triad, and eventually participation in the unfolding life of the Planetary Logos. Nevertheless, the subtle causal dangers are real and have to be understood. |
Điều này rất khác với cách tiếp cận huyền bí học giật gân hoặc bệnh hoạn, gần như chỉ tập trung vào ma quỷ, sự ám ảnh và nguy hiểm thông linh. Con đường huyền bí sâu xa hơn liên quan đến sự đồng hoá với những năng lượng cao siêu, sự tiếp xúc với linh hồn và Tam Nguyên Tinh Thần, và cuối cùng là sự tham dự vào sự sống đang khai mở của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Tuy nhiên, những nguy hiểm nhân quả tinh tế là có thật và phải được thấu hiểu. |
|
[76] Salvation from our Thought-forms |
[76] Sự Cứu Thoát khỏi các Hình Tư Tưởng của Chúng Ta |
|
[77] I speak now for aspirants, who, through concentration and meditation, are gaining power in thought. I speak for the thinkers of the world, who, through their one-pointed application and devotion to business, to science, to religion or to the varying modes of human activity have oriented the mind (not the emotions but the mentality) to some line of constant action which is necessarily a part of the divine activity in the large sense. |
[77] Giờ đây Tôi nói với những người chí nguyện đang đạt được quyền năng trong tư tưởng nhờ sự tập trung và tham thiền. Tôi nói với các nhà tư tưởng của thế giới, những người nhờ sự chuyên tâm nhất tâm và lòng tận tụy đối với kinh doanh, khoa học, tôn giáo hoặc các phương thức hoạt động khác nhau của nhân loại, đã định hướng thể trí—không phải cảm xúc mà là trí năng—vào một đường lối hoạt động liên tục nào đó, vốn tất yếu là một phần của hoạt động thiêng liêng theo nghĩa rộng. |
|
DK is therefore addressing the thinkers: aspirants who are gaining mental power through concentration and meditation, and also those who have developed one-pointed mental application through science, business, religion or other forms of human activity. The essential point is that the mentality, rather than merely the emotional nature, has become oriented toward a sustained line of action. |
Vì vậy, Chân sư DK đang nói với các nhà tư tưởng: những người chí nguyện đang đạt được quyền năng trí tuệ qua sự tập trung và tham thiền, cùng những người đã phát triển sự chuyên tâm trí tuệ nhất tâm qua khoa học, kinh doanh, tôn giáo hoặc những hình thức hoạt động khác của con người. Điểm thiết yếu là trí năng, chứ không chỉ bản chất cảm xúc, đã được định hướng vào một đường lối hành động bền bỉ. |
|
[78] It is right here, in the use of thought, that the difference between black and white magic can be seen. |
[78] Chính ở đây, trong việc sử dụng tư tưởng, người ta có thể thấy sự khác biệt giữa hắc thuật và chánh thuật. |
|
The decisive question is motive and direction. Toward what end is thought being used? Do our thoughts become benevolent entities serving the Plan, or malevolent entities energized by selfishness, hatred, ruthlessness and cruelty? |
Vấn đề quyết định là động cơ và phương hướng. Tư tưởng được sử dụng nhằm mục đích gì? Các tư tưởng của chúng ta trở thành những thực thể thiện lành phụng sự Thiên Cơ, hay những thực thể ác hại được tiếp sinh lực bằng ích kỷ, thù hận, tàn nhẫn và độc ác? |
|
[79] Selfishness, ruthlessness, hatred, and cruelty characterize the worker in mental substance whose motives are, for many lives, |
[79] Tính ích kỷ, sự tàn nhẫn, lòng thù hận và tính hung ác là đặc điểm của người hoạt động trong chất liệu trí tuệ, người mà qua nhiều kiếp, động cơ |
|
The emphasis upon “for many lives” is important. Such a condition does not arise suddenly. It develops through repeated choices and long-established habits of separative thought and desire. |
Sự nhấn mạnh vào “trong nhiều kiếp sống” rất quan trọng. Một tình trạng như vậy không đột nhiên phát sinh. Nó phát triển qua những lựa chọn lặp đi lặp lại và các thói quen tư tưởng, dục vọng chia rẽ đã tồn tại lâu dài. |
|
[80] centered around his own aggrandisement, focused on his personal acquisition of possessions, |
[80] đều tập trung quanh việc đề cao chính mình, chú trọng vào việc cá nhân chiếm hữu của cải, |
|
This recalls the Atlantean emphasis upon possession and luxury carried to excess. The motive is self-enlargement through acquisition and accumulation. |
Điều này gợi nhớ sự nhấn mạnh của Atlantis vào việc chiếm hữu và sự xa hoa đến mức thái quá. Động cơ là mở rộng bản thân qua thu đoạt và tích lũy. |
|
[81] and directed entirely to the attainment of his own pleasure and satisfaction, no matter what the cost to others. Such men are happily few, but the way to such a point of view is easy to achieve, and many need to guard themselves lest they tread unthinkingly the way towards materiality. |
[81] và hoàn toàn hướng đến việc đạt được khoái lạc cùng sự thỏa mãn riêng, bất kể người khác phải trả giá thế nào. May thay, những người như thế rất ít; nhưng con đường dẫn đến quan điểm ấy lại dễ dàng bước vào, và nhiều người cần tự đề phòng để khỏi vô tình tiến trên con đường hướng đến chủ nghĩa vật chất. |
|
This is the left-hand orientation in a very clear form. The individual uses mental power entirely for self-aggrandizement, possession and personal gratification, regardless of the suffering imposed upon others. Such extreme cases are fortunately few, but the road toward them is much easier to enter than we might suppose. |
Đây là khuynh hướng tả đạo dưới một hình thức rất rõ ràng. Cá nhân sử dụng quyền năng trí tuệ hoàn toàn để đề cao bản thân, chiếm hữu và thỏa mãn cá nhân, bất kể đau khổ gây ra cho người khác. May thay, những trường hợp cực đoan như vậy rất ít, nhưng con đường dẫn đến đó dễ bước vào hơn nhiều so với điều chúng ta có thể nghĩ. |
|
One does not necessarily decide consciously, “I will become a black magician.” The path can begin simply through repeatedly using increasing mental power for personal ends and failing to choose selflessness when the great spiritual testing comes. If, after the Second Initiation, one refuses the path of selflessness and instead strengthens identification with form and personality, one gradually moves toward imprisonment in materiality. |
Người ta không nhất thiết phải chủ ý quyết định: “Tôi sẽ trở thành một nhà hắc thuật.” Con đường có thể bắt đầu đơn giản bằng việc liên tục sử dụng quyền năng trí tuệ ngày càng tăng cho các mục đích cá nhân và không chọn lòng vị tha khi cuộc thử thách tinh thần lớn lao đến. Nếu sau lần điểm đạo thứ hai, một người khước từ con đường vị tha và thay vào đó củng cố sự đồng hoá với hình tướng và phàm ngã, y dần tiến đến sự giam cầm trong tính vật chất. |
|
That is why vigilance is so important. In the Aryan age we live within a highly mental and potentially materialistic civilization, and the concrete mind can become an extraordinarily efficient servant of separative desire. But as the higher mind, the soul and the Venusian quality become increasingly active, this danger can be reduced. |
Đó là lý do sự cảnh giác vô cùng quan trọng. Trong thời đại Arya, chúng ta sống trong một nền văn minh có tính trí tuệ cao và tiềm ẩn tính duy vật, còn trí cụ thể có thể trở thành một tôi tớ cực kỳ hữu hiệu cho dục vọng chia rẽ. Nhưng khi thượng trí, linh hồn và phẩm tính Sao Kim ngày càng hoạt động, nguy cơ này có thể giảm bớt. |
|
[82] A gradual and steady growth in group consciousness and responsibility, a submergence of the wishes of the [Page 482] personal self and the manifestation of a loving spirit characterize those who are oriented towards the life side of the divine whole. |
[82] Sự tăng trưởng dần dần và ổn định về tâm thức và trách nhiệm tập thể, việc làm chìm khuất những mong muốn của phàm ngã, cùng sự biểu lộ của một tinh thần yêu thương là đặc điểm của những người định hướng về phương diện sự sống của tổng thể thiêng liêng. |
|
Here DK gives the opposite orientation. Instead of self-aggrandizement there is growing group consciousness; instead of personal acquisition, group responsibility; instead of strengthening the demands of the little self, there is their progressive submergence; and instead of hatred or ruthlessness, there is the manifestation of a loving and unifying spirit. |
Ở đây, Chân sư DK trình bày khuynh hướng đối lập. Thay vì đề cao bản thân, tâm thức tập thể tăng trưởng; thay vì thu đoạt cho cá nhân, có trách nhiệm tập thể; thay vì củng cố các đòi hỏi của phàm ngã nhỏ bé, có sự nhấn chìm dần dần những đòi hỏi ấy; và thay vì thù hận hay tàn nhẫn, có sự biểu lộ của một tinh thần bác ái và hợp nhất. |
|
This essentially defines the distinction between the right-hand and left-hand paths. Most of us probably assume that we are treading the right-hand path, and perhaps we are. But until the great tests have actually been met, especially those associated with the Second Initiation and the desert experience, we do not fully know how we will respond when the personality is offered power, possession, prestige or satisfaction at the expense of the soul. |
Về căn bản, điều này xác định sự phân biệt giữa chánh đạo và tả đạo. Hầu hết chúng ta có lẽ cho rằng mình đang bước trên chánh đạo, và có lẽ đúng vậy. Nhưng cho đến khi thật sự đối diện với những cuộc thử thách lớn lao, đặc biệt là những thử thách liên quan đến lần điểm đạo thứ hai và trải nghiệm sa mạc, chúng ta vẫn chưa hoàn toàn biết mình sẽ đáp ứng ra sao khi phàm ngã được trao quyền lực, tài sản, thanh thế hoặc sự thỏa mãn với cái giá do linh hồn phải trả. |
|
The occult path therefore requires continuous vigilance. Negative forces do not necessarily attack openly. Their method may be subtle, entering through some unrecognized desire, fear, pride or ambition. The danger is greatest when the aspirant does not even realize that a choice is being made. |
Vì vậy, con đường huyền bí đòi hỏi sự cảnh giác liên tục. Các mãnh lực tiêu cực không nhất thiết công khai tấn công. Phương thức của chúng có thể tinh vi, xâm nhập qua một dục vọng, nỗi sợ hãi, lòng kiêu hãnh hoặc tham vọng nào đó chưa được nhận ra. Nguy hiểm lớn nhất khi người chí nguyện thậm chí không nhận ra rằng mình đang đưa ra một lựa chọn. |
|
[83] It might be said that human beings fall into three main groups: |
[83] Có thể nói rằng con người thuộc ba nhóm chính: |
|
[84] 1. The vast majority, who are neither good nor bad, but simply unthinking and entirely submerged in the evolutionary tide, |
[84] 1. Đại đa số không thiện cũng không ác, mà chỉ đơn giản là không suy nghĩ và hoàn toàn chìm trong dòng triều tiến hóa, |
|
These people are largely non-causal in the occult sense because true causality requires thought. They are primarily swept along by the evolutionary current and by collective thought and desire. |
Theo ý nghĩa huyền bí, những người này phần lớn không tạo nhân vì nhân quả đích thực đòi hỏi tư tưởng. Họ chủ yếu bị cuốn theo dòng tiến hoá cùng tư tưởng và dục vọng tập thể. |
|
[85] and in the work of developing a true self consciousness, and the needed equipment. |
[85] cũng như trong công việc phát triển ngã thức chân thực và những trang bị cần thiết. |
|
This is essentially the stage of mass consciousness. Such people are not so much thinking as being thought by the mass thought-forms surrounding them. The Leonian point of self-conscious individuality has not yet emerged strongly enough for them to stand apart from collective mental and emotional currents. |
Về căn bản, đây là giai đoạn tâm thức quần chúng. Những người như vậy không thật sự tư tưởng cho bằng bị các hình tư tưởng quần chúng bao quanh tư tưởng thay cho họ. Điểm ngã thức cá thể của Sư Tử chưa xuất hiện đủ mạnh để họ đứng tách khỏi những dòng chảy trí tuệ và cảm xúc tập thể. |
|
[86] 2. A small, a very small number, who are definitely and consciously working on the side of materiality or (if you prefer so to express it) on the side of evil. |
[86] 2. Một số ít, rất ít người, đang dứt khoát và có ý thức hoạt động về phía vật chất, hay nếu các bạn thích diễn đạt như vậy, về phía cái ác. |
|
Here materiality is equated with evil in the specific occult sense of attachment to a condition which should have been outgrown. These individuals consciously work against the life side and deliberately strengthen separative form. |
Ở đây, tính vật chất được đồng nhất với cái ác theo ý nghĩa huyền bí chuyên biệt là sự bám chấp vào một tình trạng lẽ ra đã phải được vượt qua. Những cá nhân này hữu thức hoạt động chống lại phương diện sự sống và chủ ý củng cố hình tướng chia rẽ. |
|
[87] Potent are they on the physical plane, but their power is temporal and not eternal. |
[87] Họ đầy quyền lực trên cõi hồng trần, nhưng quyền lực của họ chỉ nhất thời chứ không vĩnh cửu. |
|
Their power may be considerable in the outer world, but it belongs to shorter cycles and cannot ultimately endure. It is rooted in form, and form is temporary. |
Quyền lực của họ có thể đáng kể trong thế giới bên ngoài, nhưng nó thuộc về những chu kỳ ngắn hơn và rốt cuộc không thể trường tồn. Nó bắt nguồn từ hình tướng, mà hình tướng thì tạm thời. |
|
[88] The law of the universe, which is the law of love, is eternally against them, and out of the seeming evil good will come. |
[88] Định luật của vũ trụ, tức định luật tình thương, vĩnh viễn chống lại họ; và từ cái ác có vẻ hiển hiện, điều thiện sẽ xuất hiện. |
|
The fundamental law of our system is Love, and therefore the long-term direction of evolution is against them. Sanat Kumara has the capacity to turn apparent evil toward eventual good. Such forces may temporarily oppose the Plan of the Planetary Logos, but they cannot finally defeat the deeper purpose of the larger Life within which they themselves exist. |
Định luật nền tảng của hệ thống chúng ta là Tình thương, vì vậy chiều hướng tiến hoá lâu dài chống lại họ. Đức Sanat Kumara có khả năng chuyển cái ác biểu kiến thành điều thiện cuối cùng. Những mãnh lực như vậy có thể tạm thời chống lại Thiên Cơ của Đức Hành Tinh Thượng Đế, nhưng cuối cùng chúng không thể đánh bại mục đích sâu xa hơn của Sự Sống lớn lao mà trong đó chính chúng hiện tồn. |
|
This does not mean that disciples should attempt personally to confront cosmic evil. DK indicates that the defeat of the deeper forces of evil upon our planet belongs primarily to Shamballa, and even there the task is formidable. Master Morya speaks vividly of the greater dangers confronting the higher workers while ordinary aspirants concern themselves with comparatively minor psychic difficulties. |
Điều này không có nghĩa là các đệ tử nên đích thân tìm cách đối đầu với cái ác vũ trụ. Chân sư DK chỉ rõ rằng việc đánh bại những mãnh lực tà ác sâu xa hơn trên hành tinh chúng ta chủ yếu thuộc về Shamballa, và ngay cả ở đó, nhiệm vụ này cũng vô cùng gian nan. Chân sư Morya nói một cách sinh động về những nguy hiểm lớn hơn mà các người hoạt động cao cấp phải đối diện, trong khi những người chí nguyện bình thường bận tâm đến các khó khăn thông linh tương đối nhỏ. |
|
There is also the question of free will. Evil cannot simply be eradicated by force without consequences for those who still have to learn through confronting and overcoming it. Master Morya says that the line separating good and evil is exceedingly sinuous, and that premature intervention could itself injure those who need the experience of choosing rightly. |
Ngoài ra còn có vấn đề tự do ý chí. Không thể đơn giản dùng mãnh lực diệt trừ cái ác mà không gây hậu quả cho những người vẫn phải học hỏi bằng cách đối diện và chiến thắng nó. Chân sư Morya nói rằng đường phân cách thiện và ác cực kỳ quanh co, và sự can thiệp quá sớm tự nó có thể gây tổn hại cho những người cần trải nghiệm việc lựa chọn đúng đắn. |
|
[89] 3. A goodly number who are the pioneers into the kingdom of the soul, who are the exponents of the new age ideas, and the custodians of that aspect of the Ageless Wisdom which is next to be revealed to mankind. |
[89] 3. Một số lượng đáng kể là những người tiên phong tiến vào giới của linh hồn, những người trình bày các ý tưởng của kỷ nguyên mới và những người bảo tồn phương diện của Minh Triết Ngàn Đời sắp được mặc khải cho nhân loại. |
|
Hopefully we can increasingly number ourselves among this group. These are the pioneers into the Fifth Kingdom, the carriers of new-age ideas and the custodians of that portion of the Ageless Wisdom which is next to become available to humanity. |
Hy vọng rằng chúng ta có thể ngày càng kể mình vào nhóm này. Đây là những người tiên phong đi vào giới thứ năm, những người truyền tải các ý tưởng của kỷ nguyên mới và những người gìn giữ phần Minh Triết Ngàn Đời sắp được ban truyền cho nhân loại. |
|
[90] This group is constituted of the unselfish and intelligent men and women in every field of human endeavor, of the aspirants and disciples, of the initiates who sound the note for the various groups and types, and of the Occult Hierarchy itself. |
[90] Nhóm này gồm những người nam và nữ vô tư và thông tuệ trong mọi lĩnh vực nỗ lực của nhân loại, những người chí nguyện và đệ tử, những điểm đạo đồ xướng lên âm điệu cho các nhóm và loại khác nhau, cùng chính Thánh Đoàn Huyền Bí. |
|
The group therefore extends from sincere and intelligent servers in every field, through aspirants and disciples, to initiates and ultimately the Occult Hierarchy itself. If we are genuine aspirants moving toward discipleship and initiation, we are already related to this larger field of spiritual influence. |
Vì vậy, nhóm này trải dài từ những người phụng sự chân thành và thông tuệ trong mọi lĩnh vực, qua các người chí nguyện và đệ tử, đến các điểm đạo đồ và cuối cùng là chính Thánh Đoàn Huyền Bí. Nếu chúng ta là những người chí nguyện chân chính đang tiến đến địa vị đệ tử và điểm đạo, thì chúng ta đã có liên hệ với lĩnh vực ảnh hưởng tinh thần rộng lớn hơn này. |
|
[91] The influence of this band of mystics and knowers |
[91] Ảnh hưởng của đoàn thể gồm các nhà thần bí và thức giả này |
|
This band is closely related to what we call the New Group of World Servers. |
Đoàn này có liên hệ mật thiết với điều chúng ta gọi là Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. |
|
[92] is exceedingly great and the opportunity to work in cooperation with it at this time is easier of attainment than at any other time in racial history. |
[92] vô cùng lớn lao; và vào lúc này, cơ hội hợp tác với đoàn thể ấy dễ đạt được hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong lịch sử nhân loại. |
|
What an opportunity this represents. It is therefore particularly sad when people put their hand to the plow and then turn back, abandoning the higher point of tension they had begun to establish. The possibility of cooperation with this spiritual group is more accessible now than at any previous time in racial history, but the opportunity has to be accepted and sustained. |
Đây quả là một cơ hội lớn lao. Vì vậy, thật đặc biệt đáng buồn khi người ta đã đặt tay vào lưỡi cày rồi lại quay về, từ bỏ điểm tập trung nhất tâm cao hơn mà họ đã bắt đầu thiết lập. Khả năng hợp tác với nhóm tinh thần này hiện dễ tiếp cận hơn bất kỳ thời điểm nào trước đây trong lịch sử nhân loại, nhưng cơ hội ấy phải được chấp nhận và duy trì. |
|
So we might ask ourselves: Are we becoming genuinely unselfish and intelligent workers within our own field? Are we aspirants and disciples who sound a progressive and constructive note for the groups with which we are associated? Are we actually cooperating with the larger spiritual movement rather than merely studying it? |
Vì vậy, chúng ta có thể tự hỏi: Chúng ta có đang trở thành những người hoạt động thật sự vị tha và thông tuệ trong lĩnh vực của mình không? Chúng ta có phải là những người chí nguyện và đệ tử xướng lên âm điệu tiến bộ và kiến tạo cho các nhóm mà mình liên kết không? Chúng ta có thật sự hợp tác với phong trào tinh thần rộng lớn hơn thay vì chỉ nghiên cứu nó không? |
|
[93] The first group is unthinking; the two other groups are beginning to think and to employ the laws of thought. It is with the use of thought by the aspirant that I seek to deal. |
[93] Nhóm thứ nhất không suy nghĩ; hai nhóm kia đang bắt đầu suy nghĩ và vận dụng các định luật tư tưởng. Tôi muốn bàn đến cách người chí nguyện sử dụng tư tưởng. |
|
This returns us directly to the central theme. Both the white and black orientations involve developed thought. The decisive question is how that thought is used. The Fifteen Counsels or Simple Rules we have just studied are essentially instructions in how to clean the mental atmosphere and use thought in such a way that it serves the Divine Plan. |
Điều này trực tiếp đưa chúng ta trở lại chủ đề trung tâm. Cả khuynh hướng chánh đạo lẫn hắc đạo đều liên quan đến tư tưởng đã phát triển. Vấn đề quyết định là tư tưởng ấy được sử dụng như thế nào. Mười Lăm Lời Khuyên hay các Quy Luật Đơn Giản mà chúng ta vừa nghiên cứu về căn bản là những chỉ dẫn về cách thanh lọc bầu không khí trí tuệ và sử dụng tư tưởng sao cho nó phụng sự Thiên Cơ. |
|
[94] Much about thought will be found in A Treatize on Cosmic Fire [Page 483], but I intend to give some practical ideas and suggestions which will help the average aspirant to work as he should. |
[94] Có thể tìm thấy nhiều điều về tư tưởng trong Luận về Lửa Vũ Trụ, nhưng Tôi dự định đưa ra một số ý tưởng và gợi ý thực tiễn nhằm giúp người chí nguyện thông thường hoạt động như y nên làm. |
|
Now DK moves from the vast theoretical treatment of thought in A Treatise on Cosmic Fire to practical instruction for the average aspirant. |
Giờ đây, Chân sư DK chuyển từ phần trình bày lý thuyết rộng lớn về tư tưởng trong Luận về Lửa Vũ Trụ sang những chỉ dẫn thực tiễn dành cho người chí nguyện trung bình. |
|
[95] Let us remember first of all that no aspirant, no matter how sincere and devoted, is free from faults. |
[95] Trước hết, chúng ta hãy nhớ rằng không người chí nguyện nào, dù chân thành và sùng tín đến đâu, lại không có khuyết điểm. |
|
This is important. The aspirant may be sincere, devoted and even well advanced compared with the average person, but perfection is still far away. The First Initiation is commencement, not completion. Many vestigial tendencies belonging to the old personality life remain and have to be worked out over a long period. |
Điều này rất quan trọng. Người chí nguyện có thể chân thành, tận tụy và thậm chí tiến khá xa so với người bình thường, nhưng sự hoàn thiện vẫn còn xa. Lần điểm đạo thứ nhất là sự khởi đầu chứ không phải hoàn tất. Nhiều khuynh hướng tàn dư thuộc đời sống phàm ngã cũ vẫn còn và phải được giải quyết trong một thời gian dài. |
|
Perfection itself is relative because perfection means completeness, and within manifestation what is finally complete? Even a great Being may be complete relative to a particular cycle or sphere yet remain infinitesimal compared with absolute Infinity. So the important thing is not to imagine that aspiration or initiation means immediate freedom from defect. |
Bản thân sự hoàn thiện cũng có tính tương đối vì hoàn thiện có nghĩa là trọn vẹn, mà trong cõi biểu hiện, điều gì cuối cùng là trọn vẹn? Ngay cả một Đấng vĩ đại cũng có thể trọn vẹn so với một chu kỳ hoặc khối cầu cụ thể, nhưng vẫn vô cùng nhỏ bé so với Vô Cực tuyệt đối. Vì vậy, điều quan trọng là không tưởng rằng khát vọng hoặc điểm đạo đồng nghĩa với việc lập tức thoát khỏi mọi khuyết điểm. |
|
[96] Were he free, he would be an adept. |
[96] Nếu không có khuyết điểm, y đã là một chân sư. |
|
If the aspirant were actually free from these faults, he would already be a Master. |
Nếu người chí nguyện thật sự không còn những khuyết điểm này, y đã là một Chân sư. |
|
[97] All aspirants are still selfish, still prone to temper and to irritability, still subject to depression and even at times to hatred |
[97] Tất cả người chí nguyện vẫn còn ích kỷ, vẫn dễ nổi nóng và cáu kỉnh, vẫn chịu những cơn chán nản và đôi khi thậm chí cả lòng thù hận. |
|
DK’s estimate of the average aspirant is therefore quite unsentimental. Elsewhere, in Glamour: A World Problem, he uses even stronger language, speaking of the unrevealed stupidity, vileness, crass ignorance and self-interest which characterize the average aspirant. The point is not condemnation but realism: aspiration does not automatically eliminate the old astral and personality tendencies. |
Vì vậy, nhận định của Chân sư DK về người chí nguyện trung bình hoàn toàn không đa cảm. Ở nơi khác, trong Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, Ngài còn dùng ngôn từ mạnh mẽ hơn, nói về sự ngu muội, đê tiện, vô minh thô thiển và tư lợi chưa hiển lộ vốn là đặc điểm của người chí nguyện trung bình. Chủ đích không phải là kết án mà là nhìn thẳng vào thực tế: khát vọng không tự động loại bỏ các khuynh hướng cảm dục và phàm ngã cũ. |
|
Selfishness, temper, irritability, depression and even hatred indicate that the astral nature can still exercise considerable control. |
Sự ích kỷ, nóng giận, cáu kỉnh, u uất và thậm chí thù hận cho thấy bản chất cảm dục vẫn có thể thực hiện quyền kiểm soát đáng kể. |
|
[98] Oft that temper and hatred may be aroused by what we call just causes. |
[98] Sự nóng giận và thù hận ấy thường có thể bị khơi dậy bởi những gì chúng ta gọi là các nguyên nhân chính đáng. |
|
The apparent justification makes the problem subtler. There are things which genuinely seem worthy of anger, and one can readily rationalize the reaction because the cause itself appears righteous. |
Sự biện minh biểu kiến khiến vấn đề trở nên tinh tế hơn. Có những điều thật sự có vẻ đáng nổi giận, và người ta có thể dễ dàng hợp lý hóa phản ứng ấy vì chính nguyên nhân dường như chính đáng. |
|
[99] Injustice on the part of others, cruelty to human beings and to animals, and the hatreds and viciousness of their fellow men do arouse in them corresponding reactions, and cause them much suffering and delay. |
[99] Sự bất công của người khác, sự tàn ác đối với con người và động vật, cùng lòng thù hận và sự độc ác của đồng loại quả thực khơi dậy nơi họ những phản ứng tương ứng, đồng thời gây cho họ nhiều đau khổ và trì hoãn. |
|
Injustice, cruelty and viciousness naturally evoke strong responses in a sensitive aspirant. But the question remains whether the corresponding hatred or temper is spiritually justified simply because the outer cause is reprehensible. The reaction itself can still produce suffering and delay. |
Sự bất công, tàn ác và độc ác tự nhiên gợi lên những phản ứng mạnh mẽ nơi một người chí nguyện nhạy cảm. Nhưng câu hỏi vẫn là liệu lòng thù hận hoặc sự nóng giận tương ứng có chính đáng về mặt tinh thần chỉ vì nguyên nhân bên ngoài đáng bị lên án hay không. Chính phản ứng ấy vẫn có thể tạo ra đau khổ và trì hoãn. |
|
[100] One thing must ever be remembered. If an aspirant evokes hatred in an associate, if he arouses him to temper, and if he meets with dislike and antagonism, it is because he himself is not entirely harmless; there are still in him the seeds of trouble, for it is a law in nature that we get what we give, and produce reactions in line with our activity be it physical, emotional or mental. |
[100] Có một điều phải luôn ghi nhớ. Nếu một người chí nguyện khơi dậy lòng thù hận nơi một cộng sự, nếu y khiến người ấy nổi nóng, và nếu y gặp phải sự chán ghét cùng thái độ đối kháng, thì đó là vì chính y chưa hoàn toàn vô tổn hại; trong y vẫn còn những mầm mống gây rắc rối, bởi một định luật trong tự nhiên quy định rằng chúng ta nhận lại những gì mình trao ra và tạo nên những phản ứng phù hợp với hoạt động của mình, dù đó là hoạt động thể xác, cảm xúc hay trí tuệ. |
|
This is a very challenging statement and deserves close attention. If we consistently evoke hatred, temper, dislike or antagonism in others, DK says that we ourselves are not yet entirely harmless. There are still seeds within us which contribute to the reaction. |
Đây là một phát biểu đầy thách thức và đáng được chú ý kỹ lưỡng. Nếu chúng ta liên tục khơi dậy lòng thù hận, sự nóng giận, ác cảm hoặc đối kháng nơi người khác, Chân sư DK nói rằng chính chúng ta vẫn chưa hoàn toàn vô tổn hại. Trong chúng ta vẫn còn những hạt giống góp phần tạo nên phản ứng ấy. |
|
That does not mean every hostile response from another person can be mechanically blamed upon the aspirant. We immediately think of figures such as Jesus or the Christ, who certainly evoked hatred from people opposed to what They represented. So the law cannot be applied superficially. But for the average aspirant it is still a powerful diagnostic principle: observe what you habitually evoke in others and ask what in your own physical, emotional or mental activity may be contributing to that response. |
Điều đó không có nghĩa là mọi phản ứng thù địch từ người khác đều có thể bị quy cho người chí nguyện một cách máy móc. Chúng ta lập tức nghĩ đến những nhân vật như Đức Jesus hay Đức Christ, những Đấng chắc chắn đã gợi lên lòng căm ghét nơi những người chống đối điều Các Ngài đại diện. Vì vậy, không thể áp dụng định luật này một cách hời hợt. Nhưng đối với người chí nguyện trung bình, đó vẫn là một nguyên lý chẩn đoán đầy hiệu lực: hãy quan sát điều các bạn thường xuyên gợi lên nơi người khác và tự hỏi điều gì trong hoạt động thể xác, cảm xúc hoặc trí tuệ của chính mình có thể đang góp phần tạo nên phản ứng ấy. |
|
Our relationships can therefore become mirrors. Sometimes the reactions we evoke are surprising, but instead of immediately assuming that the entire problem belongs to the other person, we can ask whether some remaining harshness, pride, separateness, irritation or unconscious aggression within ourselves is helping to call forth the antagonism. |
Do đó, các mối quan hệ của chúng ta có thể trở thành những tấm gương. Đôi khi những phản ứng chúng ta gợi lên thật đáng ngạc nhiên, nhưng thay vì lập tức cho rằng toàn bộ vấn đề thuộc về người kia, chúng ta có thể tự hỏi liệu sự khắc nghiệt, kiêu hãnh, chia rẽ, khó chịu hoặc hung hăng vô thức nào đó còn sót lại trong chính mình có đang góp phần khơi dậy sự đối kháng hay không. |
|
That is part of learning harmlessness—not merely refraining from obvious injury, but becoming so purified in motive, feeling and thought that we increasingly cease to evoke destructive reactions in those around us. |
Đó là một phần của việc học tính vô tổn hại—không chỉ kiềm chế không gây tổn thương rõ rệt, mà còn thanh luyện động cơ, cảm xúc và tư tưởng đến mức chúng ta ngày càng không còn gợi lên những phản ứng phá hoại nơi những người xung quanh. |
|
[101] There are certain types of men who do not come under this category. When a man has reached a stage of high initiation, the case is different. |
[101] Có một số loại người không thuộc phạm trù này. Khi một người đã đạt đến một giai đoạn điểm đạo cao, trường hợp sẽ khác. |
|
That explains the apparent exception I was thinking about when considering Jesus and the Christ. A high initiate may evoke intense antagonism without that hostility indicating some corresponding defect or harmfulness within him. |
Điều đó giải thích ngoại lệ biểu kiến mà tôi đã nghĩ đến khi xem xét Đức Jesus và Đức Christ. Một điểm đạo đồ cao cấp có thể gợi lên sự đối kháng mãnh liệt mà sự thù địch ấy không biểu thị một khuyết điểm hay tính gây hại tương ứng nào bên trong Ngài. |
|
[102] The seed ideas he seeks to convey, the work he is empowered to do, the pioneering enterprise he is endeavoring to carry forward, may—and often do—call forth from those who sense not the beauty of his cause and the rightness of the truth he enunciates, a hatred and a fury which causes him much trouble and for which he is not personally responsible. |
[102] Những ý tưởng hạt giống mà y tìm cách truyền đạt, công việc y được trao quyền thực hiện và sự nghiệp tiên phong y đang cố gắng xúc tiến có thể—và thường thực sự—khơi dậy lòng thù hận và cơn cuồng nộ nơi những người không cảm nhận được vẻ đẹp của chính nghĩa ấy cũng như tính đúng đắn của chân lý mà y tuyên thuyết; điều này gây cho y nhiều rắc rối nhưng bản thân y không phải chịu trách nhiệm. |
|
All of us, at some stage, may have to experience something of this when we offer to the world the fruits of meditation, study and service, or what we have learned through closer association with the Hierarchy. The new idea can threaten the established personality life of those who are not ready to receive it. |
Ở một giai đoạn nào đó, tất cả chúng ta đều có thể phải trải nghiệm phần nào điều này khi dâng hiến cho thế gian những thành quả của tham thiền, học hỏi và phụng sự, hoặc những gì chúng ta đã học được qua sự liên kết mật thiết hơn với Thánh Đoàn. Ý tưởng mới có thể đe dọa đời sống phàm ngã đã ổn định của những người chưa sẵn sàng tiếp nhận nó. |
|
The scene of Jesus before the crowd is an obvious example. The people demand Barabbas rather than the high initiate. Why? Jesus represents something that calls them to examine themselves, to rise beyond their accustomed standards, and to recognize faults they may prefer not to see. Barabbas, by contrast, does not impose that spiritual demand. They can feel superior to him and therefore more comfortable within their existing self-estimation. |
Cảnh Đức Jesus đứng trước đám đông là một ví dụ hiển nhiên. Dân chúng đòi Barabbas thay vì vị điểm đạo đồ cao cấp. Tại sao? Đức Jesus đại diện cho điều gì đó kêu gọi họ tự xem xét mình, vượt lên trên những tiêu chuẩn quen thuộc và nhận biết các lỗi lầm mà họ có thể không muốn nhìn thấy. Trái lại, Barabbas không đặt lên họ đòi hỏi tinh thần ấy. Họ có thể cảm thấy mình cao hơn ông và do đó thoải mái hơn trong sự tự đánh giá hiện có. |
|
The high initiate can therefore become a focus for collective hostility precisely because the truth he represents disturbs entrenched forms. The antagonism is not necessarily evoked by personal defect in him; it may arise because the new spiritual impulse threatens the old order. |
Vì vậy, vị điểm đạo đồ cao cấp có thể trở thành tiêu điểm của sự thù địch tập thể chính vì chân lý Ngài đại diện làm xáo động những hình tướng đã ăn sâu. Sự đối kháng không nhất thiết do khuyết điểm cá nhân nơi Ngài gợi lên; nó có thể phát sinh vì xung lực tinh thần mới đe dọa trật tự cũ. |
|
[103] This antagonism comes from the reactionaries and the devotees of the race and it should be remembered that it is largely impersonal even though focused on him as the representative of an idea. |
[103] Sự đối kháng này xuất phát từ những kẻ phản động và những người sùng tín nhân loại; cần nhớ rằng phần lớn nó mang tính phi cá nhân, dù tập trung vào y với tư cách người đại diện cho một ý tưởng. |
|
We are living through a major transitional period, and periods of transition naturally produce reaction. Old forms are threatened, new possibilities are emerging, and those strongly attached to former ways may respond with considerable fury. |
Chúng ta đang sống qua một thời kỳ chuyển tiếp lớn, và các thời kỳ chuyển tiếp tự nhiên tạo ra phản ứng. Những hình tướng cũ bị đe dọa, các khả năng mới đang xuất hiện, và những người gắn bó sâu sắc với đường lối trước kia có thể phản ứng với cơn cuồng nộ đáng kể. |
|
One naturally wonders what will happen when the Christ reappears. Those aligned with separative forces will certainly oppose Him, but even some who outwardly claim devotion to Christ may reject Him if the actual reappearance does not conform to their inherited expectations. Many will accept, but deeply fundamentalist and reactionary types may cling so strongly to the forms of an earlier age that they fail to recognize the very Being they profess to await. |
Người ta tự nhiên tự hỏi điều gì sẽ xảy ra khi Đức Christ tái lâm. Những người chỉnh hợp với các mãnh lực chia rẽ chắc chắn sẽ chống đối Ngài, nhưng ngay cả một số người bề ngoài tuyên xưng lòng sùng tín đối với Đức Christ cũng có thể khước từ Ngài nếu sự tái lâm thực sự không phù hợp với những kỳ vọng thừa hưởng của họ. Nhiều người sẽ tiếp nhận, nhưng những kiểu người cực đoan giáo điều và phản động có thể bám chặt vào các hình tướng của một thời đại trước đến mức không nhận ra chính Đấng mà họ tuyên bố đang mong đợi. |
|
We already see something of this attitude in warnings against “New Age” teachings or against anyone who speaks of “the Christ” rather than simply “Christ,” as though that terminology alone were evidence of a false Christ. The attachment is really to a familiar theological form, and anything which threatens that form is immediately treated with suspicion. |
Chúng ta đã thấy phần nào thái độ này trong những lời cảnh báo chống lại các giáo lý “Kỷ Nguyên Mới” hoặc chống lại bất kỳ ai nói “Đức Christ” thay vì chỉ nói “Christ”, như thể chỉ riêng thuật ngữ ấy đã là bằng chứng về một Christ giả. Sự gắn bó thực ra hướng đến một hình thức thần học quen thuộc, và bất cứ điều gì đe dọa hình thức ấy đều lập tức bị nghi ngờ. |
|
So the hatred directed toward a high initiate is often impersonal in origin. It is focused upon him because he stands as the representative of an idea, a new dispensation or a higher standard which challenges the old forms. |
Vì vậy, lòng căm ghét hướng đến một điểm đạo đồ cao cấp thường có nguồn gốc phi cá nhân. Nó tập trung vào Ngài vì Ngài đứng với tư cách đại diện cho một ý tưởng, một thiên kỳ mới hoặc một tiêu chuẩn cao hơn đang thách thức các hình tướng cũ. |
|
[104] But with these high souls I deal not, but with students of the Ageless Wisdom who are learning not only that they seldom think, but that when they do they are oft thinking [Page 484] wrongly, for they are forced into a thought activity by reactions which have their seat in their lower nature, and are based on selfishness and lack of love. |
[104] Nhưng Tôi không đề cập đến những linh hồn cao cả này, mà đề cập đến các đạo sinh của Minh Triết Ngàn Đời, những người đang học biết rằng họ không những hiếm khi suy nghĩ, mà khi suy nghĩ, họ thường suy nghĩ sai lầm, bởi các phản ứng bắt nguồn từ bản chất thấp của họ và dựa trên sự ích kỷ cùng tình trạng thiếu bác ái đã thúc đẩy họ bước vào hoạt động tư tưởng. |
|
This brings the discussion back to us—to students of the Ageless Wisdom rather than to high initiates. The earlier principle concerning what we evoke in others applies primarily at our level. We are still learning to think, and even when we do think, much of what passes for thought is actually mental activity forced into motion by reactions originating in the lower nature. |
Điều này đưa cuộc thảo luận trở lại với chúng ta—các đạo sinh của Minh Triết Ngàn Đời chứ không phải những điểm đạo đồ cao cấp. Nguyên lý trước đây về những gì chúng ta gợi lên nơi người khác chủ yếu áp dụng ở cấp độ của chúng ta. Chúng ta vẫn đang học cách suy nghĩ, và ngay cả khi thực sự suy nghĩ, phần lớn điều được xem là tư tưởng thực ra là hoạt động trí tuệ bị các phản ứng bắt nguồn từ bản chất thấp thúc đẩy. |
|
The astral body reacts, the personality feels threatened, selfishness or lack of love is activated, and then the mind is recruited to justify, elaborate and defend the reaction. That is not true independent thinking; it is the mind serving the emotional and personal nature. |
Thể cảm dục phản ứng, phàm ngã cảm thấy bị đe dọa, tính ích kỷ hoặc sự thiếu tình thương được kích hoạt, rồi thể trí được huy động để biện minh, triển khai và bảo vệ phản ứng ấy. Đó không phải là tư duy độc lập chân chính; đó là thể trí phục vụ bản chất cảm xúc và cá nhân. |
|
So DK’s earlier statement now becomes much clearer. If an ordinary aspirant repeatedly evokes dislike, anger or antagonism in those relatively close to his own evolutionary level, he should examine himself carefully for the remaining seeds of harmfulness. But the same interpretation cannot automatically be applied to a high initiate whose very task is to present a truth or spiritual impulse which reactionary forces inevitably resist. |
Vì vậy, phát biểu trước đây của Chân sư DK giờ đây trở nên rõ ràng hơn nhiều. Nếu một người chí nguyện bình thường liên tục gợi lên sự không ưa, giận dữ hoặc đối kháng nơi những người tương đối gần với trình độ tiến hóa của mình, y nên cẩn thận xem xét bản thân để tìm những hạt giống còn sót lại của tính gây hại. Nhưng không thể tự động áp dụng cùng cách diễn giải ấy cho một điểm đạo đồ cao cấp, vì chính nhiệm vụ của Ngài là trình bày một chân lý hoặc xung lực tinh thần mà các mãnh lực phản động tất yếu chống lại. |
|
The distinction is therefore between antagonism evoked by our own unresolved personality tendencies and antagonism evoked because someone stands impersonally for a higher idea. The first demands self-examination and greater harmlessness; the second may simply be part of the cost of pioneering spiritual work. |
Do đó, cần phân biệt giữa sự đối kháng do những khuynh hướng phàm ngã chưa được giải quyết của chính chúng ta gợi lên và sự đối kháng nảy sinh vì một người đại diện một cách phi cá nhân cho một ý tưởng cao siêu hơn. Trường hợp thứ nhất đòi hỏi sự tự xem xét và tính vô tổn hại lớn hơn; trường hợp thứ hai có thể chỉ là một phần của cái giá phải trả cho công việc tinh thần tiên phong. |
|
[105] There are three lessons which every aspirant needs to learn: |
[105] Có ba bài học mà mọi người chí nguyện đều cần học: |
|
DK is dealing here with aspirants at our level and with what we evoke in others, what we stimulate in them, and how our thought activity affects both ourselves and those around us. A disciple encountering someone at a lesser stage of development may certainly disturb that person’s established condition, but that is not necessarily the same as evoking hatred or antagonism through personal harmfulness. |
Ở đây Chân sư DK đề cập đến những người chí nguyện ở cấp độ của chúng ta, đến những gì chúng ta gợi lên và kích thích nơi người khác, cũng như cách hoạt động tư tưởng của chúng ta ảnh hưởng đến cả chính mình lẫn những người xung quanh. Một đệ tử gặp người ở giai đoạn phát triển thấp hơn chắc chắn có thể làm xáo động trạng thái đã ổn định của người ấy, nhưng điều đó không nhất thiết giống với việc gợi lên lòng căm ghét hoặc sự đối kháng qua tính gây hại cá nhân. |
|
[106] First, that every thought-form which he builds is built under the impulse of some emotion or of some desire; in rarer cases it may be built in the light of illumination and embody, therefore, some intuition. But with the majority, the motivating impulse which sweeps the mind-stuff into activity is an emotional one, or a potent desire, either good or bad, either selfish or unselfish. |
[106] Thứ nhất, mọi hình tư tưởng do y kiến tạo đều được kiến tạo dưới xung lực của một cảm xúc hoặc một dục vọng nào đó; trong những trường hợp hiếm hơn, nó có thể được kiến tạo trong ánh sáng của sự soi sáng và do đó thể hiện một trực giác nào đó. Nhưng đối với đa số, xung lực thúc đẩy cuốn chất liệu trí tuệ vào hoạt động là một cảm xúc hoặc một dục vọng mạnh mẽ, dù tốt hay xấu, ích kỷ hay vô kỷ. |
|
For most people, desire lies at the root of thought-form building. Emotion or desire impels the mind into activity and gives the thought-form its initial motive force. We can test this in ourselves very directly. Think of something we have recently written, said or deliberately formulated in thought, and ask: What desire was behind it? Why did I want to create that thought-form? |
Đối với đa số mọi người, dục vọng nằm ở căn nguyên của việc kiến tạo hình tư tưởng. Cảm xúc hoặc dục vọng thúc đẩy thể trí hoạt động và trao cho hình tư tưởng động lực ban đầu. Chúng ta có thể trực tiếp kiểm chứng điều này nơi chính mình. Hãy nghĩ đến điều gì đó gần đây chúng ta đã viết, nói hoặc cố ý hình thành trong tư tưởng, rồi tự hỏi: Dục vọng nào ẩn sau nó? Tại sao tôi muốn tạo ra hình tư tưởng ấy? |
|
The desire may be selfish, but it may also be entirely constructive. There can be a genuine desire to help someone, to clarify a teaching, or to bring into manifestation something that belongs to the Plan. But even then, desire is still supplying the immediate impulse. Much rarer is the case in which pure intuition impresses the mind and then has to be clothed in mental matter. That is a very different and more advanced creative process. |
Dục vọng có thể ích kỷ, nhưng cũng có thể hoàn toàn mang tính xây dựng. Có thể có một mong muốn chân thành nhằm giúp đỡ ai đó, làm sáng tỏ một giáo lý hoặc đưa vào biểu hiện điều gì đó thuộc về Thiên Cơ. Nhưng ngay cả khi ấy, dục vọng vẫn cung cấp xung lực trực tiếp. Hiếm hơn nhiều là trường hợp trực giác thuần khiết gây ấn tượng lên thể trí rồi phải được khoác bằng chất liệu trí tuệ. Đó là một tiến trình sáng tạo rất khác và cao cấp hơn. |
|
[107] Secondly, it should be borne in mind that the thoughtform so constructed will either remain in his own aura, or will find its way to a sensed objective. |
[107] Thứ hai, cần ghi nhớ rằng hình tư tưởng được kiến tạo như thế hoặc sẽ lưu lại trong hào quang của chính y, hoặc sẽ tìm đường đến một mục tiêu mà y cảm nhận được. |
|
So the thought-form has two broad possibilities: it remains within the creator’s aura, or it leaves that aura and moves toward some individual or group objective. |
Vì vậy, hình tư tưởng có hai khả năng chính: nó ở lại trong hào quang của người sáng tạo, hoặc rời khỏi hào quang ấy và tiến về một mục tiêu cá nhân hay tập thể nào đó. |
|
[108] In the first case, it will form part of a dense wall of such thoughtforms which entirely surround him or constitute his mental aura, and will grow in strength as he pays it attention until it is so large that it will shut out reality from him, or it will be so dynamic and potent that he will become the victim of that which he built. |
[108] Trong trường hợp thứ nhất, nó sẽ trở thành một phần của bức tường đậm đặc gồm những hình tư tưởng như thế bao quanh hoàn toàn y hoặc cấu thành hào quang trí tuệ của y; nó sẽ ngày càng mạnh lên khi y dành sự chú ý cho nó, cho đến khi lớn đến mức che khuất thực tại khỏi y, hoặc trở nên năng động và mạnh mẽ đến mức y trở thành nạn nhân của chính điều mình đã kiến tạo. |
|
This is a serious danger. Thought-forms retained within the aura can become vampiric, inhibiting and even oppressive. If the mental aura becomes crowded with accumulated forms, it is rather like living within a poisonous atmosphere in which one can no longer breathe the true air of life. Reality is obscured because consciousness is continually encountering its own constructions instead of what actually is. |
Đây là một mối nguy nghiêm trọng. Những hình tư tưởng bị giữ lại trong hào quang có thể trở nên hút sinh lực, gây ức chế và thậm chí áp chế. Nếu hào quang trí tuệ trở nên chật kín các hình tướng tích tụ, điều đó giống như sống trong một bầu khí độc hại, nơi người ta không còn có thể hít thở không khí chân thật của sự sống. Thực tại bị che khuất vì tâm thức liên tục gặp phải những cấu tạo của chính mình thay vì điều thực sự hiện hữu. |
|
Attention feeds these forms. The more we dwell upon them, repeat them, emotionally energize them and return to them, the stronger they become. Eventually they may dominate the very thinker who created them. |
Sự chú ý nuôi dưỡng các hình tướng này. Chúng ta càng nghiền ngẫm, lặp lại, truyền năng lượng cảm xúc và quay về với chúng, chúng càng trở nên mạnh mẽ. Cuối cùng, chúng có thể chi phối chính người tư tưởng đã tạo ra chúng. |
|
[109] The thought-form will be more powerful than its creator, so that he becomes obsessed by his own ideas, and driven by his own creation. |
[109] Hình tư tưởng sẽ mạnh hơn người tạo ra nó, khiến y bị ám ảnh bởi những ý tưởng của chính mình và bị tạo vật của chính mình thúc đẩy. |
|
We have all seen something of this. A person may become so possessed by an idea that discretion disappears; he simply has to express it, repeat it and impose it upon every conversation. The idea may originally have been good and even spiritually motivated, but if the thinker loses mastery over it, the form begins to drive him rather than serve him. |
Tất cả chúng ta đều từng thấy phần nào điều này. Một người có thể bị một ý tưởng chiếm hữu đến mức mất hết óc phân biện; y buộc phải diễn đạt, lặp lại và áp đặt nó vào mọi cuộc trò chuyện. Ban đầu ý tưởng ấy có thể tốt đẹp và thậm chí được thúc đẩy về mặt tinh thần, nhưng nếu người tư tưởng mất quyền làm chủ nó, hình tướng sẽ bắt đầu điều khiển y thay vì phụng sự y. |
|
I once encountered something of this in the home of Manly P. Hall. He was a remarkable scholar who did enormous work in presenting ancient wisdom, and his wife was intensely devoted to Master R. One could sense the tremendous power of the thought-forms surrounding that devotion, but they were expressed with such force that the speaker seemed almost unable not to speak of them. The distinction here is important: even a high or constructive idea can become problematic when the creator no longer governs the form through discrimination and proportion. |
Tôi từng gặp một trường hợp như thế tại nhà của Manly P. Hall. Ông là một học giả xuất sắc, đã thực hiện công việc lớn lao trong việc trình bày minh triết cổ xưa, còn vợ ông hết sức sùng tín Chân sư R. Người ta có thể cảm nhận quyền năng to lớn của những hình tư tưởng bao quanh lòng sùng tín ấy, nhưng chúng được biểu đạt với mãnh lực đến mức người nói dường như gần như không thể không nói về chúng. Sự phân biệt ở đây rất quan trọng: ngay cả một ý tưởng cao siêu hoặc mang tính xây dựng cũng có thể trở thành vấn đề khi người sáng tạo không còn cai quản hình tướng bằng sự phân biện và Ý thức về tỉ lệ. |
|
[110] In the second case, |
[110] Trong trường hợp thứ hai, |
|
—the thought-form leaves the personal aura and moves toward its sensed objective— |
—hình tư tưởng rời khỏi hào quang cá nhân và tiến về mục tiêu đã được cảm nhận— |
|
[111] his thought-form will find its way into the mental aura of another human being, or into some group. |
[111] hình tư tưởng của y sẽ tìm đường vào hào quang trí tuệ của một người khác hoặc của một nhóm nào đó. |
|
Now a different danger appears: the possibility of imposing one mind upon another. DK states elsewhere that no one has the right to sway a brother’s mind. White Magic never sanctions the compulsion of another person’s will or the forcing of one’s mental formulations into another’s consciousness. |
Giờ đây xuất hiện một mối nguy khác: khả năng áp đặt thể trí này lên thể trí khác. Ở nơi khác, Chân sư DK tuyên bố rằng không ai có quyền chi phối thể trí của một huynh đệ. Chánh Thuật không bao giờ chuẩn thuận việc cưỡng ép ý chí của người khác hoặc buộc những cấu thức trí tuệ của mình xâm nhập tâm thức người ấy. |
|
This is especially important for students of esotericism because enthusiasm for a teaching can easily become proselytizing. I have had to moderate this tendency in myself. There was a time when I thought, “This is such a wonderful teaching—everybody should have it.” But people are at different stages of development and need different things. |
Điều này đặc biệt quan trọng đối với các đạo sinh huyền bí học, vì lòng nhiệt thành đối với một giáo lý có thể dễ dàng biến thành việc cưỡng cầu cải đạo. Tôi đã phải điều chỉnh khuynh hướng này nơi chính mình. Có thời gian tôi từng nghĩ: “Đây là một giáo lý tuyệt vời đến mức mọi người đều nên có nó.” Nhưng con người ở những giai đoạn phát triển khác nhau và cần những điều khác nhau. |
|
Someone may be deeply helped by a book or teaching which, from a more advanced occult standpoint, we can see is incomplete. It would be wrong simply to take that away and insist that the person immediately study The Secret Doctrine, DK’s works, or some more advanced presentation. If their present approach is genuinely helping them take a constructive step, that step has to be respected. |
Một người có thể nhận được sự trợ giúp sâu sắc từ một cuốn sách hoặc giáo lý mà theo quan điểm huyền bí học cao cấp hơn, chúng ta thấy là chưa hoàn chỉnh. Sẽ là sai lầm nếu chỉ đơn giản lấy điều đó khỏi họ và khăng khăng rằng người ấy phải lập tức nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm, các tác phẩm của Chân sư DK hoặc một sự trình bày cao cấp hơn. Nếu cách tiếp cận hiện tại thực sự giúp họ thực hiện một bước đi xây dựng, thì bước đi ấy phải được tôn trọng. |
|
Master Morya gives the principle very clearly: if you are going to destroy a temple, you had better have another temple ready to build in its place. If we remove an idea, belief or structure which has supported someone, without offering something adequate to replace it, we may leave that person disoriented and more vulnerable than before. |
Chân sư Morya trình bày nguyên lý này rất rõ ràng: nếu các bạn định phá hủy một ngôi đền, tốt hơn hết hãy chuẩn bị sẵn một ngôi đền khác để xây lên thay thế. Nếu chúng ta loại bỏ một ý tưởng, niềm tin hoặc cấu trúc từng nâng đỡ ai đó mà không đưa ra điều thích hợp để thay thế, chúng ta có thể khiến người ấy mất phương hướng và dễ tổn thương hơn trước. |
|
So we do not compel. We do not sway another’s mind simply because we think we possess a fuller truth. We offer what we can, illuminate what we can, and leave the other person’s freedom intact. |
Vì vậy, chúng ta không cưỡng ép. Chúng ta không chi phối thể trí của người khác chỉ vì nghĩ rằng mình sở hữu một chân lý đầy đủ hơn. Chúng ta trao tặng những gì có thể, soi sáng những gì có thể và giữ nguyên tự do của người kia. |
|
[112] You have here the seeds of evil magical work and the imposition of a powerful mind upon a weaker. |
[112] Ở đây có những mầm mống của hoạt động huyền thuật tà ác và sự áp đặt của một thể trí mạnh lên một thể trí yếu hơn. |
|
This is precisely where evil magical work can begin: not necessarily with spectacular occult practices, but with the deliberate or unconscious imposition of a stronger mental force upon someone less able to resist it. |
Đây chính là nơi công việc huyền thuật tà ác có thể bắt đầu: không nhất thiết bằng những thực hành huyền bí ngoạn mục, mà bằng sự áp đặt có chủ ý hoặc vô thức một mãnh lực trí tuệ mạnh hơn lên người ít có khả năng chống lại nó. |
|
We also have to be discriminating about what we ourselves receive. Not every thought-form directed toward us or toward our group should automatically be admitted. Even a well-intentioned thought may be inappropriate to our work or development. Just as we do not indiscriminately admit every physical organism into the body, we do not have to admit every mental influence into our aura. |
Chúng ta cũng phải phân biện về những gì chính mình tiếp nhận. Không phải mọi hình tư tưởng hướng đến chúng ta hoặc nhóm của chúng ta đều nên tự động được thâu nhận. Ngay cả một tư tưởng có thiện ý cũng có thể không thích hợp với công việc hoặc sự phát triển của chúng ta. Cũng như chúng ta không tiếp nhận bừa bãi mọi sinh vật hồng trần vào cơ thể, chúng ta không cần tiếp nhận mọi ảnh hưởng trí tuệ vào hào quang của mình. |
|
[113] If it finds its way into some group, analogous impulsive forms (found within the group aura) will coalesce with it, having the same vibratory rate or measure. Then the same thing will take place in the group aura as has taken place within the individual ring-pass-not, —the group will have around it an inhibiting wall of thought-forms, or it will be obsessed by some idea. |
[113] Nếu tìm đường vào một nhóm nào đó, những hình tướng xung động tương đồng trong hào quang nhóm sẽ kết hợp với nó vì có cùng nhịp độ hoặc mức độ rung động. Khi ấy, điều đã xảy ra trong vòng-giới-hạn của cá nhân cũng sẽ xảy ra trong hào quang nhóm—quanh nhóm sẽ có một bức tường ngăn trở bằng các hình tư tưởng, hoặc nhóm sẽ bị một ý tưởng nào đó ám ảnh. |
|
The same mechanism therefore operates collectively. A thought-form entering a group attracts similar forms already present in the group aura. Because they share a vibratory rate, they coalesce and reinforce one another. |
Do đó, cùng một cơ chế cũng vận hành trong tập thể. Một hình tư tưởng đi vào một nhóm sẽ thu hút những hình tướng tương tự vốn hiện diện trong hào quang nhóm. Vì có cùng nhịp độ rung động, chúng kết tụ và củng cố lẫn nhau. |
|
Eventually the group can become surrounded by a wall of its own ideas, unable to receive anything outside them, or it can become obsessed by one dominant conception. The members then reinforce one another continually until the idea is no longer being examined at all; it simply governs the group. |
Cuối cùng, nhóm có thể bị bao quanh bởi bức tường gồm chính các ý tưởng của mình, không thể tiếp nhận bất cứ điều gì bên ngoài chúng, hoặc có thể bị ám ảnh bởi một quan niệm thống trị. Khi ấy, các thành viên liên tục củng cố lẫn nhau cho đến khi ý tưởng không còn được xem xét nữa; nó đơn giản cai quản cả nhóm. |
|
[114] Here we have the clue to all sectarianism, to all fanaticism, and to some forms of insanity, both group and individual. |
[114] Ở đây chúng ta có chìa khóa giải thích mọi chủ nghĩa bè phái, mọi sự cuồng tín và một số dạng điên loạn, cả ở nhóm lẫn cá nhân. |
|
This gives us a very clear occult interpretation of sectarianism and fanaticism. The problem is not merely that someone has a strong belief. The problem is that the thought-form has become so dominant that it shuts out reality, blocks further light, and begins to use the thinker or the group as its instrument. |
Điều này đem lại cho chúng ta một cách diễn giải huyền bí rất rõ ràng về chủ nghĩa bè phái và sự cuồng tín. Vấn đề không chỉ là một người có niềm tin mạnh mẽ. Vấn đề là hình tư tưởng đã trở nên thống trị đến mức che khuất thực tại, ngăn chặn ánh sáng tiếp theo và bắt đầu sử dụng người tư tưởng hoặc nhóm làm công cụ của nó. |
|
We therefore do not want thought to run us. We want to remain the chooser and arbiter of thought, admitting and sustaining those forms which accord with the higher Purpose to which we have consciously aligned ourselves. |
Vì vậy, chúng ta không muốn tư tưởng điều khiển mình. Chúng ta muốn duy trì vai trò người lựa chọn và phán định tư tưởng, chỉ tiếp nhận và duy trì những hình tướng phù hợp với Thiên Ý cao siêu mà chúng ta đã hữu thức chỉnh hợp. |
|
[115] Thirdly, the creator of the thought-form (in this case an aspirant) remains responsible. |
[115] Thứ ba, người tạo ra hình tư tưởng—trong trường hợp này là một người chí nguyện—vẫn phải chịu trách nhiệm. |
|
This is the essential karmic principle. |
Đây là nguyên lý nghiệp quả cốt yếu. |
|
[116] The form remains linked to him by his living purpose and therefore the karma of the results, and the ultimate work of destroying that which he has built must be his. |
[116] Hình tướng vẫn liên kết với y bởi mục đích sống động của y; do đó, nghiệp quả của các kết quả và công việc tối hậu nhằm phá hủy điều y đã kiến tạo phải thuộc về y. |
|
The thought-form remains linked to its creator through the living purpose which brought it into existence. The creator therefore remains responsible for its effects and, when its usefulness is over, for its eventual dissolution. |
Hình tư tưởng vẫn liên kết với người sáng tạo qua chủ đích sống động đã đưa nó vào hiện tồn. Do đó, người sáng tạo vẫn chịu trách nhiệm về các tác động của nó và, khi tính hữu dụng của nó chấm dứt, về sự làm tiêu tan cuối cùng của nó. |
|
A constructive creation may continue to work beneficently long after the creator has left physical incarnation. Beethoven’s music, for example, continues to affect human consciousness profoundly. The form carries the purpose of the creator and continues its work. But even beneficent forms belong to cycles, and ultimately the lives incorporated within them must be released. |
Một tạo vật mang tính xây dựng có thể tiếp tục hoạt động thiện lành rất lâu sau khi người sáng tạo rời khỏi kiếp nhập thể hồng trần. Chẳng hạn, âm nhạc của Beethoven vẫn tiếp tục ảnh hưởng sâu sắc đến tâm thức nhân loại. Hình tướng mang theo chủ đích của người sáng tạo và tiếp tục công việc của nó. Nhưng ngay cả những hình tướng thiện lành cũng thuộc về các chu kỳ, và cuối cùng những sự sống được kết hợp trong chúng phải được giải phóng. |
|
[117] This is true of every embodied idea, the good as well as the bad. |
[117] Điều này đúng với mọi ý tưởng được thể hiện, cả tốt lẫn xấu. |
|
So the principle does not apply only to destructive creations. |
Vì vậy, nguyên lý này không chỉ áp dụng cho những tạo vật phá hoại. |
|
[118] The creator of all of them is responsible for the work of his creation. |
[118] Người tạo ra tất cả chúng phải chịu trách nhiệm về hoạt động của tạo vật mình. |
|
That is a universal principle: the creator is responsible for the work of his creation. It raises profound questions when we think about great works of art, religious institutions, philosophies and civilizations. Do all such forms eventually have to be dismantled by, or under the responsibility of, the consciousness that originally gave them life? Presumably the precise process varies, but the underlying responsibility remains. |
Đó là một nguyên lý phổ quát: người sáng tạo chịu trách nhiệm về công việc của tạo vật mình. Nó làm nảy sinh những câu hỏi sâu sắc khi chúng ta nghĩ đến các tác phẩm nghệ thuật vĩ đại, những tổ chức tôn giáo, các nền triết học và văn minh. Cuối cùng, phải chăng mọi hình tướng như thế đều cần được tháo dỡ bởi tâm thức vốn ban sự sống cho chúng lúc ban đầu, hoặc dưới trách nhiệm của tâm thức ấy? Có lẽ tiến trình chính xác thay đổi tùy trường hợp, nhưng trách nhiệm nền tảng vẫn còn. |
|
DK himself says elsewhere that he has imprisoned many elemental lives within the forms created through his writings and will eventually have to liberate them. So even a Master is not exempt from this principle. |
Ở nơi khác, chính Chân sư DK nói rằng Ngài đã giam giữ nhiều sự sống hành khí trong những hình tướng được tạo ra qua các tác phẩm của Ngài và cuối cùng sẽ phải giải phóng chúng. Vì vậy, ngay cả một Chân sư cũng không được miễn khỏi nguyên lý này. |
|
[119] The Master Jesus, for instance, has still to deal with the thought-forms which we call the Christian Church, and has much to do. |
[119] Chẳng hạn, Chân sư Jesus vẫn phải xử lý những hình tư tưởng mà chúng ta gọi là Giáo hội Cơ Đốc và còn nhiều việc phải làm. |
|
The Christian Church is an immense thought-form which has undergone enormous development and distortion over two thousand years. One can imagine the suffering involved in seeing an idea for which one has served as a conduit transformed into something quite different from its original intention. |
Giáo hội Cơ Đốc là một hình tư tưởng khổng lồ đã trải qua sự phát triển và biến dạng vô cùng lớn trong hai nghìn năm. Người ta có thể hình dung nỗi đau liên quan đến việc chứng kiến một ý tưởng mà mình từng làm trung gian truyền dẫn bị chuyển đổi thành điều hoàn toàn khác với ý định ban đầu. |
|
Master Morya asks, in effect, which is worse: to be burned at the stake or to see a great idea which one has helped transmit distorted almost beyond recognition? Physical suffering can sometimes be mitigated, but the distortion of a spiritual idea may endure for centuries and affect millions. |
Về thực chất, Chân sư Morya đặt câu hỏi điều nào tệ hơn: bị thiêu trên giàn hỏa hay chứng kiến một ý tưởng vĩ đại mà mình đã góp phần truyền đạt bị bóp méo gần như không còn nhận ra? Đôi khi đau đớn thể xác có thể được giảm nhẹ, nhưng sự xuyên tạc một ý tưởng tinh thần có thể kéo dài nhiều thế kỷ và ảnh hưởng đến hàng triệu người. |
|
The teaching of love associated with the Christ has often been distorted through sectarianism, coercion, institutional power and materialism. In some modern forms of prosperity religion, wealth itself becomes evidence of divine favor, almost reversing the emphasis of the original teaching. One has only to remember the widow who gave her last mite to see how far such interpretations can move from the original spiritual value. |
Giáo lý về tình thương gắn liền với Đức Christ thường bị xuyên tạc qua chủ nghĩa bè phái, sự cưỡng ép, quyền lực tổ chức và chủ nghĩa duy vật. Trong một số hình thức tôn giáo thịnh vượng hiện đại, chính sự giàu có trở thành bằng chứng về ân huệ thiêng liêng, gần như đảo ngược trọng tâm của giáo lý nguyên thủy. Chỉ cần nhớ đến người góa phụ đã hiến đồng tiền cuối cùng của mình là có thể thấy những cách diễn giải như thế đã xa rời giá trị tinh thần ban đầu đến mức nào. |
|
[120] The Christ and the Buddha have still some consummating work to carry through, though not so much with the forms which embody Their enunciated principles, as with the souls who have evolved through the application of those principles. |
[120] Đức Christ và Đức Phật vẫn còn một số công việc hoàn tất phải thực hiện, tuy không liên quan nhiều đến những hình tướng thể hiện các nguyên lý mà Các Ngài đã tuyên thuyết, cho bằng đến những linh hồn đã tiến hóa nhờ áp dụng các nguyên lý ấy. |
|
So the Christ and the Buddha still have consummating work connected with the great religious movements associated with Them, but the emphasis is increasingly upon the souls who have evolved through those teachings rather than simply upon the external institutions. |
Vì vậy, Đức Christ và Đức Phật vẫn còn công việc hoàn tất liên quan đến các phong trào tôn giáo lớn gắn với Các Ngài, nhưng trọng tâm ngày càng đặt vào những linh hồn đã tiến hóa qua các giáo lý ấy hơn là chỉ vào những tổ chức bên ngoài. |
|
Buddhism too can become dogmatic, just as Christianity has. Any teaching can crystallize into forms which eventually constrain the very consciousness they were originally meant to liberate. The greater Teachers therefore continue to work with the evolving souls who have used those principles and may now need help moving beyond the limitations of their inherited interpretations. |
Phật giáo cũng có thể trở nên giáo điều, giống như Cơ Đốc giáo. Bất kỳ giáo lý nào cũng có thể kết tinh thành những hình tướng cuối cùng kìm hãm chính tâm thức mà ban đầu chúng được định để giải phóng. Vì vậy, các Huấn sư vĩ đại tiếp tục làm việc với những linh hồn đang tiến hóa vốn đã sử dụng các nguyên lý ấy và giờ đây có thể cần được giúp đỡ để vượt khỏi những giới hạn của các cách diễn giải thừa hưởng. |
|
[121] With the aspirant, however, who is still learning to think, the problem is different. |
[121] Tuy nhiên, đối với người chí nguyện vẫn đang học cách suy nghĩ, vấn đề lại khác. |
|
This is worth emphasizing: DK regards the aspirant as still learning to think. We may consider ourselves students of profound occult philosophy, but from the standpoint of the Hierarchy our mental development is still elementary. |
Điều này đáng được nhấn mạnh: Chân sư DK xem người chí nguyện là người vẫn đang học cách suy nghĩ. Chúng ta có thể xem mình là đạo sinh của triết học huyền bí sâu sắc, nhưng theo quan điểm của Thánh Đoàn, sự phát triển trí tuệ của chúng ta vẫn còn sơ đẳng. |
|
[122] He is still prone to use thought matter to embody his mistaken apprehension of the real ideas; |
[122] Y vẫn dễ sử dụng chất liệu tư tưởng để thể hiện sự lĩnh hội sai lầm của mình về các ý tưởng chân thực; |
|
This is one of the most obvious dangers. We receive a genuine idea imperfectly, interpret it incorrectly, and then build a powerful thought-form around the misunderstanding. The more energy we put into it, the more difficult the later correction becomes. |
Đây là một trong những mối nguy rõ ràng nhất. Chúng ta tiếp nhận một ý tưởng chân chính một cách bất toàn, diễn giải nó sai lầm rồi xây dựng một hình tư tưởng mạnh mẽ quanh sự hiểu lầm ấy. Chúng ta càng đặt nhiều năng lượng vào đó, việc sửa chữa về sau càng trở nên khó khăn. |
|
[123] he is still apt to express his likes and dislikes through the power of thought; he is still inclined to use the mind stuff to make possible his personality desires. To this every sincere aspirant will bear witness. |
[123] y vẫn dễ biểu lộ những điều mình ưa thích và chán ghét qua quyền năng tư tưởng; y vẫn có khuynh hướng sử dụng chất liệu trí tuệ để thực hiện những dục vọng của phàm ngã. Mọi người chí nguyện chân thành đều sẽ làm chứng cho điều này. |
|
The aspirant still uses thought to reinforce personal likes and dislikes and to engineer circumstances which will satisfy personality desire. Any sincere aspirant who examines himself honestly will recognize something of this. |
Người chí nguyện vẫn dùng tư tưởng để củng cố những điều cá nhân ưa thích và không ưa thích, cũng như để sắp đặt các hoàn cảnh nhằm thỏa mãn dục vọng phàm ngã. Bất kỳ người chí nguyện chân thành nào trung thực xem xét bản thân đều sẽ nhận ra phần nào điều này. |
|
The power of thought therefore has to be consecrated to worthwhile ends aligned with the Plan, rather than used simply to rationalize emotional reactions, strengthen preferences or arrange the fulfillment of personal objectives. |
Do đó, quyền năng của tư tưởng phải được thánh hiến cho những mục tiêu xứng đáng, chỉnh hợp với Thiên Cơ, thay vì chỉ được dùng để hợp lý hóa các phản ứng cảm xúc, củng cố sở thích hoặc sắp đặt việc hoàn thành những mục tiêu cá nhân. |
|
[124] Much concern is being felt among many of you as to the guarding of thoughts and the protection of formulated ideas. Some thoughts are ideas, clothed in mental matter and keep their habitat on the plane of thought matter. |
[124] Nhiều người trong các bạn đang hết sức quan tâm đến việc canh giữ tư tưởng và bảo vệ các ý tưởng đã được định hình. Một số tư tưởng là những ý tưởng khoác chất liệu trí tuệ và cư ngụ trên cõi chất liệu tư tưởng. |
|
Now DK begins differentiating various kinds of thought which may require different kinds of protection. Some are essentially ideas clothed in mental matter and remain primarily upon the mental plane. |
Giờ đây Chân sư DK bắt đầu phân biệt nhiều loại tư tưởng có thể cần những phương thức bảo vệ khác nhau. Một số về bản chất là các ý tưởng được khoác bằng chất liệu trí tuệ và chủ yếu lưu lại trên cõi trí. |
|
[125] Such are the abstract conceptions and the scarcely sensed facts of the inner occult or mystic life that pass through the mind of the thinker. They are not so difficult to guard, for their vibrations are so high and light that few people have the power to clothe them adequately in mental matter, and those few are so very scarce that the risk of such statements being unwisely promulgated is not very great. |
[125] Đó là những quan niệm trừu tượng và những sự kiện chỉ được cảm nhận mơ hồ thuộc đời sống huyền bí hoặc thần bí bên trong, vốn đi qua thể trí của người suy tưởng. Chúng không quá khó bảo vệ, bởi rung động của chúng cao và nhẹ đến mức rất ít người có khả năng khoác chất liệu trí tuệ thích hợp cho chúng; mà những người ít ỏi ấy lại vô cùng hiếm, nên nguy cơ các phát biểu như thế bị truyền bá thiếu khôn ngoan không lớn lắm. |
|
These are high abstract conceptions and faintly sensed facts of the inner occult or mystic life. Perhaps an intuition from the buddhic level has begun to receive its first clothing in abstract mental matter. Such impressions are relatively easy to guard simply because very few people can receive or formulate them adequately. |
Đây là những quan niệm trừu tượng cao siêu và những sự thật được cảm nhận mơ hồ của đời sống huyền bí hoặc thần bí bên trong. Có lẽ một trực giác từ cấp độ Bồ đề đã bắt đầu nhận lớp áo đầu tiên bằng chất liệu trí trừu tượng. Những ấn tượng như thế tương đối dễ bảo vệ, đơn giản vì rất ít người có thể tiếp nhận hoặc hình thành chúng một cách thích hợp. |
|
Their vibratory rate is so high and subtle that most people pass them by without recognizing what they contain. Therefore the danger of their being indiscriminately spread is comparatively small. |
Nhịp độ rung động của chúng cao và tinh tế đến mức đa số mọi người đi ngang qua mà không nhận ra chúng chứa đựng điều gì. Vì vậy, nguy cơ chúng bị truyền bá bừa bãi tương đối nhỏ. |
|
[126] Then there are the communications involved in occult teaching. The circle of those who apprehend them is widening somewhat and these thought-forms frequently [Page 486] take to themselves astral matter from the desire in the heart of the student to verify, corroborate, and share with the group whose knowledge is as vital as his. |
[126] Kế đó là những thông tin truyền đạt liên quan đến giáo huấn huyền môn. Phạm vi những người lĩnh hội chúng đang phần nào mở rộng, và các hình tư tưởng này thường thu hút chất liệu cảm dục vào mình do dục vọng trong tâm đạo sinh muốn kiểm chứng, xác nhận và chia sẻ với nhóm có tri thức thiết yếu đối với y. |
|
This is the next stage. Occult teachings are increasingly comprehensible to a wider circle, and therefore these thought-forms are more easily brought toward manifestation. The student’s desire to verify, corroborate and share them causes astral matter to adhere to the mental nucleus. |
Đây là giai đoạn kế tiếp. Các giáo lý huyền bí ngày càng trở nên dễ lĩnh hội đối với một phạm vi rộng hơn, và do đó những hình tư tưởng này dễ được đưa đến gần sự biểu hiện hơn. Dục vọng của đạo sinh muốn kiểm chứng, xác nhận và chia sẻ chúng khiến chất liệu cảm dục bám vào hạt nhân trí tuệ. |
|
Once desire enters, the thought-form becomes more substantial and moves further along the path toward precipitation. The desire to communicate with like-minded people is itself one of the forces which gives the thought-form a denser vehicle. |
Một khi dục vọng xen vào, hình tư tưởng trở nên có thực chất hơn và tiến xa hơn trên con đường hướng đến sự ngưng tụ. Chính mong muốn giao tiếp với những người đồng quan điểm là một trong các mãnh lực trao cho hình tư tưởng một vận cụ đậm đặc hơn. |
|
[127] Sometimes this is possible, and sometimes not. |
[127] Đôi khi điều này có thể thực hiện, đôi khi không. |
|
Sometimes the information may rightly be shared; sometimes it should not. |
Đôi khi thông tin có thể được chia sẻ một cách chính đáng; đôi khi không nên chia sẻ. |
|
[128] If prohibited what is the method of protection then? |
[128] Nếu bị cấm, vậy phương pháp bảo vệ là gì? |
|
If the thought is not to be communicated or telepathically spread, how is it protected? |
Nếu không được truyền đạt hoặc phổ biến bằng viễn cảm, tư tưởng ấy được bảo vệ như thế nào? |
|
[129] Largely a refusing to allow the matter of the astral plane to adhere to the mental thought-form. Fight the matter out on the desire level, and inhibit that type of matter from formulating. Where no desire to speak exists, and where the striving is to prevent the gathering of the material around the nucleus, another thought-form is built up, one that intervenes and protects. |
[129] Phần lớn là từ chối không cho chất liệu của cõi cảm dục bám vào hình tư tưởng trí tuệ. Hãy xử lý vấn đề ở cấp độ dục vọng và ngăn loại chất liệu ấy thành hình. Khi không có dục vọng nói ra và khi nỗ lực nhằm ngăn chất liệu tụ tập quanh hạt nhân, một hình tư tưởng khác sẽ được kiến tạo để can thiệp và bảo vệ. |
|
This is a definite occult technique. If we do not want a thought-form to move toward externalization, we prevent astral matter from adhering to it. The decisive struggle therefore takes place at the level of desire. |
Đây là một kỹ thuật huyền bí rõ ràng. Nếu không muốn một hình tư tưởng tiến đến sự ngoại hiện, chúng ta ngăn chất liệu cảm dục bám vào nó. Vì vậy, cuộc đấu tranh quyết định diễn ra trên cấp độ dục vọng. |
|
We have to remove the desire to speak. If there is no emotional urge to tell others, verify the experience publicly, gain recognition for possessing the knowledge, or share it merely because sharing feels satisfying, then the thought-form cannot easily gather the astral substance required for further precipitation. |
Chúng ta phải loại bỏ dục vọng muốn nói. Nếu không có thôi thúc cảm xúc muốn kể cho người khác, công khai kiểm chứng trải nghiệm, đạt được sự công nhận vì sở hữu tri thức, hoặc chia sẻ chỉ vì việc chia sẻ đem lại thỏa mãn, thì hình tư tưởng không thể dễ dàng thu thập chất liệu cảm dục cần thiết cho sự ngưng tụ tiếp theo. |
|
At the same time, the deliberate intention to protect the information builds another thought-form around it—an intervening protective form. So secrecy in the occult sense is not merely the physical act of keeping one’s mouth closed. It is the absence of the desire to externalize, combined with a conscious protective intention which prevents the original thought-form from acquiring the substance needed to move outward. |
Đồng thời, ý định có chủ đích nhằm bảo vệ thông tin sẽ xây dựng một hình tư tưởng khác quanh nó—một hình tướng bảo vệ có tác dụng xen vào. Vì vậy, sự giữ kín theo nghĩa huyền bí không chỉ là hành động thể xác khép miệng. Đó là sự vắng mặt của dục vọng ngoại hiện, kết hợp với một ý định bảo vệ hữu thức nhằm ngăn hình tư tưởng ban đầu thu nhận chất liệu cần thiết để tiến ra bên ngoài. |
|
This is therefore the first broad type: very high abstract impressions which largely protect themselves because few can receive them; the second consists of occult communications which can increasingly be apprehended and therefore may require deliberate protection through control of desire. DK is now preparing to describe a third and much more prevalent type of thought-form—the one which causes the greatest difficulty. |
Do đó, đây là loại khái quát thứ nhất: những ấn tượng trừu tượng rất cao phần lớn tự bảo vệ vì ít người có thể tiếp nhận chúng; loại thứ hai gồm những thông tin huyền bí ngày càng có thể được lĩnh hội và vì thế có thể cần được bảo vệ có chủ ý qua việc kiểm soát dục vọng. Giờ đây Chân sư DK đang chuẩn bị mô tả loại hình tư tưởng thứ ba, phổ biến hơn nhiều—loại gây ra khó khăn lớn nhất. |
|
[130] Still another type of thought-form comes forth, —the most prevalent and the one that causes the most trouble. |
[130] Còn một loại hình tư tưởng khác xuất hiện—loại phổ biến nhất và gây nhiều rắc rối nhất. |
|
Apparently DK considered the students’ concern about guarding thought to be quite legitimate, especially because this third type of thought-form is far more common and much easier to transmit than the higher occult impressions he has just discussed. |
Dường như Chân sư DK xem mối quan tâm của các đạo sinh về việc canh giữ tư tưởng là hoàn toàn chính đáng, đặc biệt vì loại hình tư tưởng thứ ba này phổ biến hơn nhiều và dễ truyền đi hơn hẳn những ấn tượng huyền bí cao siêu mà Ngài vừa thảo luận. |
|
[131] These are the facts of information, the detailed material, the news (if so you like to call it), the basis of what may degenerate into gossip, that concerns either your work, administrative or otherwise, and that which concerns other people. |
[131] Đó là các dữ kiện thông tin, tài liệu chi tiết, tin tức—nếu các bạn muốn gọi như thế—và nền tảng của những gì có thể thoái hóa thành chuyện đàm tiếu, liên quan đến công việc hành chính hay công việc khác của các bạn, cũng như những gì liên quan đến người khác. |
|
This is information arising on a much lower level and therefore easily accessible: administrative facts, details of work, news about other people, and all the material which can so readily degenerate into gossip. In the groups of nine, for example, DK specifically did not want people outside the groups to know who had been selected. Yet such information could easily leak out, perhaps even through an unconscious desire for recognition: “I am in this group; you are not.” So the problem here is not an abstract occult truth but ordinary physical-plane information which has become mentally and astrally charged. |
Đây là thông tin phát sinh ở cấp độ thấp hơn nhiều và do đó dễ tiếp cận: các sự kiện hành chính, chi tiết công việc, tin tức về người khác và mọi tài liệu rất dễ suy thoái thành chuyện ngồi lê đôi mách. Chẳng hạn, trong các nhóm chín người, Chân sư DK đặc biệt không muốn những người bên ngoài biết ai đã được chọn. Tuy vậy, thông tin ấy có thể dễ dàng rò rỉ, có lẽ ngay cả qua một dục vọng vô thức muốn được công nhận: “Tôi ở trong nhóm này; bạn thì không.” Vì vậy, vấn đề ở đây không phải một chân lý huyền bí trừu tượng, mà là thông tin thông thường trên cõi hồng trần đã được tích điện về mặt trí tuệ và cảm dục. |
|
[132] How shall you prevent your mind from transmitting to another facts such as these? These are facts that have their origination in physical plane occurrence, and therein lies the difficulty. |
[132] Làm thế nào các bạn ngăn thể trí mình truyền những dữ kiện như thế cho người khác? Đây là những dữ kiện bắt nguồn từ sự việc xảy ra trên cõi hồng trần, và chính trong đó có khó khăn. |
|
This is precisely the difficulty. A physical-plane fact is already concrete. It has happened, people may know about it, and it can easily become the nucleus of thought, desire and speech. The student therefore has to learn how not to transmit it, even mentally, when there is no legitimate reason for it to spread. |
Đây chính là khó khăn. Một sự kiện ở cõi hồng trần vốn đã cụ thể. Nó đã xảy ra, người ta có thể biết đến nó, và nó có thể dễ dàng trở thành hạt nhân của tư tưởng, dục vọng và lời nói. Vì vậy, đạo sinh phải học cách không truyền nó đi, ngay cả bằng trí tuệ, khi không có lý do chính đáng để nó lan rộng. |
|
[133] The inner facts of the occult life, and those that originate on the mental plane are not so difficult to hide. They do not come your way till your vibrations are keyed high enough for them, |
[133] Những sự kiện bên trong của đời sống huyền môn và những sự kiện bắt nguồn trên cõi trí không quá khó che giấu. Chúng không đến với các bạn cho đến khi rung động của các bạn được nâng lên đủ cao để tiếp nhận chúng, |
|
[134] and as a rule, when that is so, character of sufficient stability and wisdom ges alongside. |
[134] và theo thông lệ, khi điều ấy xảy ra, tính cách đủ vững vàng và minh triết cũng phát triển song hành. |
|
Higher occult facts tend to protect themselves. They are not normally registered until the consciousness has reached a sufficiently high vibration, and by that time there is usually a corresponding development of character, stability and discrimination. The student then knows more naturally what may be spoken of, to whom, and under what circumstances. |
Các sự kiện huyền bí cao siêu có khuynh hướng tự bảo vệ. Bình thường, tâm thức không ghi nhận chúng cho đến khi đạt tới rung động đủ cao, và vào lúc ấy thường cũng có sự phát triển tương ứng về tính cách, sự ổn định và khả năng phân biện. Khi đó, đạo sinh tự nhiên biết rõ hơn điều gì có thể được nói ra, nói với ai và trong hoàn cảnh nào. |
|
[135] But it is not thus with a physical plane fact. |
[135] Nhưng sự kiện thuộc cõi hồng trần thì không như thế. |
|
A physical-plane fact requires no special elevation of consciousness. Anyone may hear it, repeat it, emotionally color it and pass it on. |
Một sự kiện ở cõi hồng trần không đòi hỏi sự nâng cao tâm thức đặc biệt nào. Bất cứ ai cũng có thể nghe thấy, lặp lại, nhuộm màu cảm xúc cho nó và truyền nó đi. |
|
[136] What must be done? |
[136] Phải làm gì? |
|
[137] The other thoughts descend from above; these latter work upwards from the physical plane and are increased in vitality by the knowledge of the many, often of the many unwise. |
[137] Những tư tưởng kia giáng xuống từ bên trên; còn những tư tưởng sau này vận hành hướng lên từ cõi hồng trần và được gia tăng sinh lực bởi sự hiểu biết của nhiều người, thường là nhiều người thiếu khôn ngoan. |
|
This gives us the fundamental distinction. The higher thought begins above and descends toward expression. The physical-plane fact begins below and works upward into astral and mental substance. Moreover, it becomes stronger as more people know it, especially when the people involved are undiscriminating and repeatedly feed it with attention, emotion and speech. |
Điều này cho chúng ta sự phân biệt căn bản. Tư tưởng cao siêu bắt đầu ở bên trên và giáng xuống để biểu hiện. Sự kiện ở cõi hồng trần bắt đầu từ bên dưới và vận hành hướng lên vào chất liệu cảm dục và trí tuệ. Hơn nữa, nó trở nên mạnh hơn khi càng nhiều người biết đến, đặc biệt khi những người liên quan thiếu khả năng phân biện và liên tục nuôi dưỡng nó bằng sự chú ý, cảm xúc và lời nói. |
|
[138] One kind starts nebulously on the mental plane, |
[138] Một loại khởi đầu mơ hồ trên cõi trí, |
|
Perhaps as the first faint clothing of an idea or abstract impression— |
Có lẽ như lớp áo mờ nhạt đầu tiên của một ý tưởng hay một ấn tượng trừu tượng— |
|
[139] and only the higher type of mind can formulate it, and clothe it with matter in geometrical precision, and such a mind usually has the wisdom that refuses to clothe it in astral plane matter. |
[139] và chỉ loại thể trí cao mới có thể định hình nó và khoác chất liệu cho nó với độ chính xác hình học; một thể trí như thế thường có đủ minh triết để từ chối khoác chất liệu cõi cảm dục cho nó. |
|
The higher impression begins almost nebulously and requires a developed mind to formulate it accurately and give it geometrically precise mental form. Such a mind usually possesses enough wisdom not to add astral substance unnecessarily—not to become emotionally excited about it, not to develop the urge to talk about it, and not to push it prematurely toward manifestation. |
Ấn tượng cao siêu khởi đầu gần như mơ hồ và đòi hỏi một thể trí phát triển để định hình nó chính xác, đồng thời ban cho nó hình tướng trí tuệ chính xác về mặt hình học. Một thể trí như thế thường có đủ minh triết để không thêm chất liệu cảm dục một cách không cần thiết—không trở nên kích động về mặt cảm xúc, không phát triển thôi thúc muốn nói về nó và không thúc đẩy nó biểu hiện quá sớm. |
|
[140] Not so with the physical plane fact. It [Page 487] is a vital entity, robed in material of the astral plane and the mental plane when first you meet and contact it. |
[140] Sự kiện thuộc cõi hồng trần thì không như vậy. Khi các bạn lần đầu gặp gỡ và tiếp xúc với nó, nó là một thực thể sống động khoác chất liệu của cõi cảm dục và cõi trí. |
|
By the time a physical-plane fact reaches us, it is already a living thought-form clothed in both astral and mental substance. Someone has thought about it, felt something about it and transmitted it. We therefore do not encounter a neutral datum; we encounter an energized entity which can easily be further vitalized by our own attention and emotion. |
Khi một sự kiện ở cõi hồng trần đến với chúng ta, nó đã là một hình tư tưởng sống động, khoác cả chất liệu cảm dục lẫn trí tuệ. Một người nào đó đã suy nghĩ về nó, cảm nhận điều gì đó về nó và truyền nó đi. Vì vậy, chúng ta không gặp một dữ kiện trung tính; chúng ta gặp một thực thể đã được truyền năng lượng, có thể dễ dàng được tiếp sinh lực thêm bởi sự chú ý và cảm xúc của chính chúng ta. |
|
[141] Will you vitalize it, or will you arrest it? Arrest it by a rush and wave of love for the party implicated, that envelops the thought-form and sends it back to the originator, borne on the wings of a surge of astral plane matter, strong enough to sweep through and around, mayhap disintegrating, but most certainly returning it harmlessly to the sender. |
[141] Các bạn sẽ tiếp thêm sinh lực cho nó hay sẽ chặn đứng nó? Hãy chặn đứng nó bằng một luồng trào dâng và làn sóng bác ái dành cho người liên quan; làn sóng ấy bao bọc hình tư tưởng rồi đưa nó trở lại người khởi phát, mang trên đôi cánh của một đợt dâng trào chất liệu cõi cảm dục đủ mạnh để quét xuyên qua và bao quanh nó, có lẽ làm nó tan rã, nhưng chắc chắn đưa nó trở lại người gửi một cách vô hại. |
|
This is a definite occult technique. The first question is whether we are going to vitalize the thought-form by interest, emotion and repetition, or arrest it. If it concerns another person and should not be propagated, DK says to generate a powerful wave of love for the person involved. That love envelops the incoming form and carries it back toward its originator, perhaps disintegrating it on the way, but at the very least neutralizing its harmful charge so that it returns harmlessly. |
Đây là một kỹ thuật huyền bí xác định. Câu hỏi đầu tiên là liệu chúng ta sẽ tiếp sinh lực cho hình tư tưởng bằng sự quan tâm, cảm xúc và việc lặp lại, hay sẽ chặn đứng nó. Nếu nó liên quan đến người khác và không nên được truyền bá, Chân sư DK bảo chúng ta tạo ra một làn sóng tình thương mạnh mẽ dành cho người liên quan. Tình thương ấy bao bọc hình tướng đang đến và đưa nó trở về người khởi tạo, có lẽ làm nó tan rã trên đường đi, nhưng ít nhất cũng hóa giải điện tích có hại của nó để nó trở về một cách vô hại. |
|
The important point is that we do not fight the thought-form with irritation, fear or counter-hostility, because that would simply give it more astral energy. We oppose it with a stronger and qualitatively different force: love. |
Điểm quan trọng là chúng ta không chống lại hình tư tưởng bằng sự bực tức, sợ hãi hay thái độ thù địch đáp trả, bởi điều đó chỉ đơn giản cung cấp cho nó thêm năng lượng cảm dục. Chúng ta đối kháng với nó bằng một mãnh lực mạnh hơn và khác biệt về phẩm tính: tình thương. |
|
[142] Perhaps it is an evil piece of information, a lie or item of gossip. Devitalize it by love, break it in pieces by the power of a counter thought-form of peace and harmony. |
[142] Có lẽ đó là một thông tin xấu xa, một lời nói dối hoặc một mẩu chuyện đàm tiếu. Hãy làm nó mất sinh lực bằng bác ái và phá vỡ nó bằng quyền năng của một hình tư tưởng đối nghịch về hòa bình và hài hòa. |
|
If the information is false, malicious or merely gossip, the method is clear: do not repeat it, do not emotionally feed it, and do not allow it to establish itself in the aura. Devitalize it through love and oppose its disintegrative vibration with a deliberately constructed thought-form of peace and harmony. |
Nếu thông tin ấy sai trái, ác ý hay chỉ là chuyện đàm tiếu, phương pháp rất rõ ràng: không lặp lại nó, không nuôi dưỡng nó bằng cảm xúc và không cho phép nó xác lập trong hào quang. Hãy làm nó mất sinh lực qua tình thương và đối kháng rung động gây tan rã của nó bằng một hình tư tưởng hòa bình và hòa hợp được chủ ý kiến tạo. |
|
This is more than simply “thinking positively.” DK is describing the conscious substitution of one organized mental-emotional form for another. The destructive form is deprived of nourishment, while a counter-form of harmony is created strongly enough to break its coherence. |
Điều này không chỉ đơn giản là “suy nghĩ tích cực”. Chân sư DK đang mô tả sự thay thế hữu thức một hình tướng trí tuệ-cảm xúc có tổ chức bằng một hình tướng khác. Hình tướng phá hoại bị tước mất nguồn nuôi dưỡng, trong khi một hình tướng đối nghịch về hòa hợp được tạo ra đủ mạnh để phá vỡ sự cố kết của nó. |
|
[143] Or again, it may be true, some sad or evil occurrence or deed of some mistaken brother. What then is there to do? Truth cannot be devitalized or disintegrated. The Law of Absorption will aid you here. |
[143] Hoặc nữa, nó có thể là sự thật—một sự việc hay hành động đáng buồn hoặc xấu xa của một huynh đệ lầm lạc nào đó. Vậy phải làm gì? Không thể làm chân lý mất sinh lực hoặc tan rã. Định luật Hấp Thụ sẽ trợ giúp các bạn ở đây. |
|
The case is different when the information is true. We cannot ethically or occultly destroy truth merely because it is painful, embarrassing or damaging to someone’s reputation. Nor should we pretend that the event did not happen. So another law has to be used. |
Trường hợp sẽ khác khi thông tin ấy là sự thật. Về mặt đạo đức hay huyền bí, chúng ta không thể hủy diệt sự thật chỉ vì nó đau đớn, gây bối rối hoặc làm tổn hại danh tiếng của ai đó. Chúng ta cũng không nên giả vờ rằng biến cố ấy chưa từng xảy ra. Vì vậy, phải vận dụng một định luật khác. |
|
[144] Into your heart you absorb the thought-form you encounter and there transmute it by the alchemy of love. Let me be practical and illustrate, for the matter is of importance. |
[144] Các bạn hấp thụ hình tư tưởng mình gặp vào tâm mình và chuyển hóa nó tại đó bằng thuật luyện kim của bác ái. Hãy để Tôi trình bày thực tế và minh họa, bởi vấn đề này rất quan trọng. |
|
This is the Law of Absorption. Instead of passing the true but painful thought-form onward, we absorb it into the heart and transmute its emotional quality through love. The fact remains true, but the poison associated with condemnation, gossip, hostility or sensationalism is removed. |
Đây là Định luật Hấp Thu. Thay vì truyền tiếp hình tư tưởng chân thật nhưng đau đớn, chúng ta hấp thu nó vào trái tim và chuyển hóa phẩm tính cảm xúc của nó qua tình thương. Sự kiện vẫn là sự thật, nhưng chất độc gắn với sự kết án, đàm tiếu, thù địch hay giật gân đã được loại bỏ. |
|
This is a very different response from either denial or dissemination. We neither falsify the fact nor strengthen its destructive circulation. We take it into a center capable of loving understanding and change the quality of the energy attached to it. |
Đây là một cách đáp ứng rất khác với cả phủ nhận lẫn truyền bá. Chúng ta không xuyên tạc sự kiện, cũng không củng cố sự lưu truyền phá hoại của nó. Chúng ta đưa nó vào một trung tâm có khả năng thấu hiểu bằng tình thương và thay đổi phẩm tính của năng lượng gắn với nó. |
|
Alice Bailey may have done a great deal of this kind of work, and perhaps Second Ray types are especially suited to it. In any case, DK is teaching us here how to respond to thought-forms which come our way but should not be strengthened or spread. False and malicious forms can be devitalized and broken through love, peace and harmony; true but painful facts cannot be destroyed, but their harmful emotional charge can be absorbed and transmuted in the heart. |
Bà Alice Bailey có thể đã thực hiện rất nhiều công việc thuộc loại này, và có lẽ những người cung hai đặc biệt thích hợp với nó. Dù sao đi nữa, ở đây Chân sư DK đang dạy chúng ta cách đáp ứng những hình tư tưởng đến với mình nhưng không nên được củng cố hay truyền bá. Những hình tướng sai trái và ác ý có thể bị làm mất sinh lực và phá vỡ qua tình thương, hòa bình và hòa hợp; những sự kiện chân thật nhưng đau đớn không thể bị hủy diệt, nhưng điện tích cảm xúc có hại của chúng có thể được hấp thu và chuyển hóa trong trái tim. |
|
Let me be practical and illustrate, for the matter is of importance. |
Hãy để Tôi trình bày thực tế và minh họa, vì vấn đề này rất quan trọng. |
|
And now he is going to give us a concrete example of how this technique operates in ordinary human relationships. |
Và giờ đây, Ngài sẽ cho chúng ta một ví dụ cụ thể về cách kỹ thuật này vận hành trong những mối quan hệ thông thường của con người. |
|
[145] Some brother comes to you and tells to you a fact about another brother—a fact involving what the world would call wrongdoing on that brother’s part. You who know so much more than the average man of the street, will realize that that so called wrongdoing may be but the working out of karma, or have its basis in a good motive wrongly construed. |
[145] Một huynh đệ nào đó đến và kể cho các bạn một sự việc về một huynh đệ khác—một sự việc liên quan đến điều mà thế gian gọi là hành vi sai trái của người huynh đệ ấy. Các bạn, những người hiểu biết hơn nhiều so với người bình thường ngoài phố, sẽ nhận ra rằng cái gọi là hành vi sai trái ấy có thể chỉ là sự biểu hiện của nghiệp quả, hoặc có căn nguyên là một động cơ tốt đã bị diễn giải sai. |
|
The apparent wrongdoing may not be what it seems. It may simply be the working out of karma, or an action based upon a good motive which has been misunderstood or wrongly interpreted. Therefore, because we do not know all the causes behind another person’s action, we should be very careful about judging it. |
Hành vi sai trái bề ngoài có thể không đúng như vẻ ngoài của nó. Nó có thể chỉ là sự diễn tiến của nghiệp quả, hoặc một hành động dựa trên động cơ tốt nhưng đã bị hiểu lầm hay diễn giải sai. Vì vậy, bởi không biết mọi nguyên nhân đằng sau hành động của người khác, chúng ta phải hết sức thận trọng khi phán xét hành động ấy. |
|
[146] You add not to the talk, you do not hand on the information, as far as you are concerned the thought-form, built around the fact, has wandered into what you call a cul-de-sac. |
[146] Các bạn không góp thêm vào câu chuyện, cũng không truyền thông tin ấy đi; về phía các bạn, hình tư tưởng được kiến tạo quanh sự việc đã đi vào điều mà các bạn gọi là ngõ cụt. |
|
So what do you do when news of an apparent wrongdoing concerning a brother reaches you? You do not add to the discussion and you do not pass the information on. As far as you are concerned, the thought-form built around that fact has entered a cul-de-sac. It goes no further. |
Vậy các bạn làm gì khi tin tức về hành vi sai trái bề ngoài của một huynh đệ đến với mình? Các bạn không góp thêm vào cuộc bàn luận và không truyền thông tin ấy đi. Đối với các bạn, hình tư tưởng được xây dựng quanh sự kiện đó đã đi vào ngõ cụt. Nó không tiến xa hơn nữa. |
|
This is a very important point. We are not necessarily dealing only with whether the information is factually true or false. We are dealing with the thought-form which has been built around the fact and which is being strengthened and transmitted from person to person. We refuse to become another link in that chain of transmission. |
Đây là một điểm rất quan trọng. Chúng ta không nhất thiết chỉ bàn đến việc thông tin ấy đúng hay sai về mặt sự kiện. Chúng ta đang bàn đến hình tư tưởng đã được xây dựng quanh sự kiện và đang được củng cố, truyền từ người này sang người khác. Chúng ta từ chối trở thành một mắt xích khác trong chuỗi truyền dẫn ấy. |
|
[147] What do you then? You build a counter stream of thoughts which (on a wave of love) you send your apparently erring brother: |
[147] Vậy các bạn làm gì? Các bạn kiến tạo một dòng tư tưởng đối nghịch và gửi nó trên một làn sóng bác ái đến người huynh đệ dường như lầm lạc của mình: |
|
Apparently erring—because we do not necessarily know that he is actually in error. |
Có vẻ lầm lạc—bởi chúng ta không nhất thiết biết y có thực sự sai lầm hay không. |
|
[148] thoughts of kindly assistance, of courage and aspiration, and of a wise application of the lessons to be learnt from the deed he has accomplished. |
[148] những tư tưởng về sự trợ giúp nhân từ, lòng can đảm, khát vọng và việc áp dụng một cách khôn ngoan những bài học cần rút ra từ hành động y đã thực hiện. |
|
This is what we do instead. We deliberately build a counter-stream of thought and send it, upon a wave of love, toward the brother concerned. We send thoughts of kindly assistance, courage and aspiration, and thoughts which may help him wisely apply whatever lessons can be learned from the action he has taken. |
Đây là điều chúng ta làm thay thế. Chúng ta chủ ý xây dựng một dòng tư tưởng đối nghịch và gửi nó, trên một làn sóng tình thương, đến huynh đệ liên quan. Chúng ta gửi những tư tưởng về sự trợ giúp nhân từ, lòng can đảm và khát vọng, cùng những tư tưởng có thể giúp y áp dụng một cách minh triết bất cứ bài học nào có thể rút ra từ hành động y đã thực hiện. |
|
This is a very important practical technique, and everyone working in groups will eventually have opportunities to apply it. The normal reaction in many organizations and group projects may be to discuss the person’s mistake, analyze it, criticize it and pass the information onward. DK asks for something entirely different. |
Đây là một kỹ thuật thực tiễn rất quan trọng, và cuối cùng mọi người hoạt động trong các nhóm đều sẽ có cơ hội áp dụng nó. Phản ứng thông thường trong nhiều tổ chức và dự án nhóm có thể là bàn luận sai lầm của người ấy, phân tích, chỉ trích rồi truyền thông tin đi. Chân sư DK yêu cầu một điều hoàn toàn khác. |
|
First, stop the circulation of the harmful thought-form. Then replace that circulation with a constructive stream of thought. |
Trước tiên, hãy chặn sự lưu truyền của hình tư tưởng có hại. Sau đó, hãy thay thế sự lưu truyền ấy bằng một dòng tư tưởng kiến tạo. |
|
[149] Use not force, for strong thinkers must not unduly influence other minds, but a gentle stream of [Page 488] wise transmuting love. |
[149] Đừng dùng mãnh lực, bởi những người suy tưởng mạnh không được gây ảnh hưởng quá mức lên thể trí người khác; hãy dùng một dòng bác ái chuyển hóa dịu dàng và minh triết. |
|
This qualification is essential. The technique must not become an attempt to impose our conception of right behavior upon the other person. A powerful thinker can influence another mind, and therefore the stronger the thinker becomes, the greater the responsibility. |
Điều kiện này rất thiết yếu. Kỹ thuật ấy không được trở thành một nỗ lực áp đặt quan niệm của chúng ta về hành vi đúng đắn lên người khác. Một người tư tưởng đầy quyền năng có thể ảnh hưởng đến thể trí người khác; vì vậy, người tư tưởng càng mạnh thì trách nhiệm càng lớn. |
|
We are not to project: “You must understand this as I understand it. You must change in this particular way.” That would approach mental coercion. Instead, there should be a gentle stream of wise, transmuting love. |
Chúng ta không được phóng chiếu: “Bạn phải thấu hiểu điều này như tôi thấu hiểu. Bạn phải thay đổi theo cách cụ thể này.” Điều đó sẽ gần với sự cưỡng ép trí tuệ. Thay vào đó, cần có một dòng tình thương chuyển hóa, minh triết và dịu dàng. |
|
The word transmuting is particularly significant. We are not merely sending affection or emotional sympathy. Something has entered the field charged with potentially harmful mental and astral energy. Rather than transmitting that energy further, we meet it with love of sufficient quality to change its condition. The thought-form is arrested, while the brother involved receives constructive rather than condemnatory thought. |
Từ chuyển hóa đặc biệt có thâm nghĩa. Chúng ta không chỉ gửi đi tình cảm hay sự đồng cảm về cảm xúc. Một điều gì đó mang năng lượng trí tuệ và cảm dục có thể gây hại đã đi vào phạm vi này. Thay vì truyền năng lượng ấy đi xa hơn, chúng ta đáp lại nó bằng tình thương có phẩm tính đủ mạnh để thay đổi trạng thái của nó. Hình tư tưởng bị chặn đứng, trong khi huynh đệ liên quan nhận được tư tưởng kiến tạo thay vì kết án. |
|
So there are really two movements operating together. Toward the harmful information there is non-cooperation: we do not feed it and do not transmit it. Toward the person involved there is positive spiritual action: assistance, courage, aspiration and wise love. |
Vì vậy, thực sự có hai chuyển động cùng vận hành. Đối với thông tin có hại, chúng ta không hợp tác: không nuôi dưỡng và không truyền nó đi. Đối với người liên quan, chúng ta có hành động tinh thần tích cực: trợ giúp, can đảm, khát vọng và tình thương minh triết. |
|
[149b] We have here three methods, none strictly occult, for those later shall be imparted, but methods available for the many. |
[149b] Ở đây chúng ta có ba phương pháp, không phương pháp nào hoàn toàn mang tính huyền môn, bởi những phương pháp ấy sẽ được truyền dạy sau; nhưng đây là những phương pháp mà số đông có thể sử dụng. |
|
DK makes an important distinction here. These are not yet the strictly occult techniques. Those more technical methods of manipulating thought-substance will be imparted later, presumably when the student can employ them safely. What he is giving here are methods available to the many and therefore methods that aspirants can begin practicing now. |
Ở đây Chân sư DK đưa ra một sự phân biệt quan trọng. Đây chưa phải là những kỹ thuật hoàn toàn mang tính huyền bí. Những phương pháp kỹ thuật hơn để vận dụng chất liệu tư tưởng sẽ được truyền dạy sau, có lẽ khi đạo sinh có thể sử dụng chúng an toàn. Điều Ngài ban truyền ở đây là những phương pháp dành cho số đông, và vì vậy người chí nguyện có thể bắt đầu thực hành ngay lúc này. |
|
The underlying principle is nevertheless occult. Thought-forms are actual potencies. They can be nourished, transmitted, arrested, counteracted or transmuted. If we continually feed a harmful thought-form through attention, emotion, discussion and repetition, we contribute energy to something which may eventually precipitate into actual difficulty. If instead we refuse to transmit it and consciously substitute a current of wise and loving thought, we interrupt that process of precipitation. |
Tuy nhiên, nguyên lý nền tảng vẫn mang tính huyền bí. Các hình tư tưởng là những quyền năng thực sự. Chúng có thể được nuôi dưỡng, truyền đi, chặn đứng, đối kháng hoặc chuyển hóa. Nếu chúng ta liên tục nuôi dưỡng một hình tư tưởng có hại bằng sự chú ý, cảm xúc, bàn luận và lặp lại, chúng ta góp thêm năng lượng cho một điều có thể cuối cùng ngưng tụ thành khó khăn thực tế. Nếu thay vào đó, chúng ta từ chối truyền nó và hữu thức thay thế nó bằng một dòng tư tưởng minh triết và đầy tình thương, chúng ta làm gián đoạn tiến trình ngưng tụ ấy. |
|
So this very ordinary situation—someone comes to us with damaging information about another person—becomes a practical exercise in thought-form control. We can either become another transmitter in the chain, or become the point at which the chain ends and a different quality of energy begins. |
Như vậy, tình huống hết sức thông thường này—một người mang đến cho chúng ta thông tin gây tổn hại về người khác—trở thành bài tập thực tiễn về việc kiểm soát hình tư tưởng. Chúng ta có thể trở thành một người truyền dẫn khác trong chuỗi, hoặc trở thành điểm mà chuỗi ấy chấm dứt và một phẩm tính năng lượng khác bắt đầu. |
|
[150] 1. The thought-form kept to the mental levels, i.e., the inhibiting of astral plane matter. |
[150] 1. Giữ hình tư tưởng trên các cấp độ trí tuệ, nghĩa là ngăn chặn chất liệu cõi cảm dục. |
|
You just don’t allow it to attach. You go no further with it, and somehow one eliminates the desire to go further with the thought-form which has arrived. |
Các bạn đơn giản không cho phép nó bám vào. Các bạn không tiến xa hơn với nó, và bằng cách nào đó loại bỏ ham muốn tiếp tục xử lý hình tư tưởng đã đến theo cách không được chuẩn nhận. |
|
The next method is: |
Phương pháp kế tiếp là: |
|
[151] 2. The thought-form broken up and disintegrated by a stream of love-force well-directed. |
[151] 2. Phá vỡ và làm tan rã hình tư tưởng bằng một dòng mãnh lực bác ái được định hướng đúng đắn. |
|
The thought-form is broken up and disintegrated by a stream of love-force, well directed. |
Hình tư tưởng bị phá vỡ và làm tan rã bởi một dòng mãnh lực tình thương được định hướng đúng đắn. |
|
And the third: |
Và phương pháp thứ ba: |
|
[152] 3. The absorbing of the thought-form, and the formulation of a counter-thought of loving wisdom. |
[152] 3. Hấp thụ hình tư tưởng và định hình một tư tưởng đối nghịch về Bác Ái – Minh Triết. |
|
[153] Inhibition—Disintegration—Absorption |
[153] Ngăn chặn—Tan rã—Hấp thụ |
|
Patanjali deals with this somewhat, and Patanjali’s method comes in here: when thoughts contrary to yoga occur, create a thought contrary to the contrary thought. |
Patanjali có phần đề cập đến điều này, và phương pháp của Patanjali được áp dụng ở đây: khi những tư tưởng trái với yoga xuất hiện, hãy tạo ra một tư tưởng đối nghịch với tư tưởng trái nghịch ấy. |
|
So we can apparently absorb the thought-form into the heart and formulate a counter-thought of loving wisdom. |
Vì vậy, rõ ràng chúng ta có thể hấp thu hình tư tưởng vào trái tim và định hình một tư tưởng đối nghịch về Bác Ái – Minh Triết. |
|
What are you going to do—vitalize it or arrest it? It is a physical-plane fact. Arrest it by a rush and wave of love for the party implicated that envelops the thought-form and sends it back to the originator, borne on the wings of a surge of astral matter strong enough to sweep through and around, mayhap disintegrating, but most certainly returning it harmlessly to the sender. |
Các bạn sẽ làm gì—tiếp sinh lực cho nó hay chặn đứng nó? Đó là một sự kiện ở cõi hồng trần. Hãy chặn đứng nó bằng một luồng và làn sóng tình thương dành cho bên liên quan; tình thương ấy bao bọc hình tư tưởng và đưa nó trở lại người khởi tạo, được chuyên chở trên đôi cánh của một đợt dâng trào vật chất cảm dục đủ mạnh để quét xuyên qua và bao quanh nó, có lẽ làm nó tan rã, nhưng chắc chắn đưa nó trở lại người gửi một cách vô hại. |
|
Perhaps it is an evil piece of information, a lie, or an item of gossip. Devitalize it by love. Break it in pieces by the power of a counter-thought-form of peace and harmony. |
Có lẽ đó là một mẩu tin xấu xa, một lời dối trá hay chuyện đàm tiếu. Hãy làm nó mất sinh lực bằng tình thương. Hãy phá nó thành từng mảnh bằng quyền năng của một hình tư tưởng đối nghịch về hòa bình và hòa hợp. |
|
We have to learn how to do this. So the methods are: inhibition of astral matter, so that one gets rid of the desire to do something with it which is not sanctioned; disintegration through the stream of love; and absorption into the heart, followed by sending out the counter-thought of loving wisdom. |
Chúng ta phải học cách làm điều này. Vì vậy, các phương pháp là: ngăn cản vật chất cảm dục để loại bỏ ham muốn làm điều gì đó không được chuẩn nhận với hình tư tưởng ấy; làm tan rã nó qua dòng tình thương; và hấp thu nó vào trái tim, rồi phát ra tư tưởng đối nghịch về Bác Ái – Minh Triết. |
|
Build a counter-stream of thoughts which, on a wave of love, you send to your apparently erring brother: thoughts of kindly assistance, of courage and aspiration, and of a wise application of the lessons to be learned. We certainly don’t send destructive criticism and put the person down. |
Hãy xây dựng một dòng tư tưởng đối nghịch và gửi nó, trên một làn sóng tình thương, đến huynh đệ có vẻ lầm lạc của mình: những tư tưởng về sự trợ giúp nhân từ, lòng can đảm và khát vọng, cùng việc áp dụng minh triết những bài học cần rút ra. Chắc chắn chúng ta không gửi lời chỉ trích phá hoại và hạ thấp người ấy. |
|
We’re encountering this here in A Treatise on White Magic, and it must be obvious that so many of us who are disciples in training have not yet really learned to do this. At least, that’s what I’ve seen, and I’m not holding myself immune from it. |
Chúng ta đang gặp điều này ở đây trong Luận về Chánh Thuật, và hẳn phải hiển nhiên rằng rất nhiều người trong chúng ta, vốn là những đệ tử đang được huấn luyện, vẫn chưa thực sự học được cách làm điều này. Ít nhất đó là điều tôi đã thấy, và tôi không cho rằng mình miễn nhiễm với nó. |
|
And use not force, for strong thinkers must not unduly influence other minds. No one has the right to sway a brother’s mind, we’re told. But the only right there is will make him say, “He knows, he loves, he understands, he thinks with me, and I am strong to do the right.” |
Và đừng dùng mãnh lực, vì những người tư tưởng mạnh không được gây ảnh hưởng quá mức lên thể trí của người khác. Chúng ta được dạy rằng không ai có quyền chi phối thể trí của một huynh đệ. Nhưng quyền duy nhất hiện có sẽ khiến y nói: “Ngài biết, Ngài yêu thương, Ngài thấu hiểu, Ngài cùng suy nghĩ với tôi, và tôi đủ mạnh để làm điều đúng đắn.” |
|
But a gentle stream of wise, transmuting love. |
Mà hãy dùng một dòng tình thương chuyển hóa, minh triết và dịu dàng. |
|
What very, very fine and necessary advice. And really, these methods are within the range of all. They are not so difficult. They are not strictly occult methods, such as he says will be given out later. |
Lời khuyên thật vô cùng tinh tế và cần thiết. Và thực sự, những phương pháp này đều nằm trong khả năng của mọi người. Chúng không quá khó. Chúng không phải là những phương pháp hoàn toàn mang tính huyền bí mà Ngài nói sẽ được ban truyền sau. |
|
[154] There are three main penalties which attach to the wrong use of thought substance, and from these the aspirant must learn to save himself, and to avoid those activities; eventually this will make the process of salvation unnecessary. |
[154] Có ba hậu quả chính gắn liền với việc sử dụng sai chất liệu tư tưởng; người chí nguyện phải học cách tự giải thoát khỏi chúng và tránh những hoạt động ấy; cuối cùng, điều này sẽ khiến tiến trình giải thoát trở nên không cần thiết. |
|
So, going back to Rule 11: “And finally, utter forth the mystic phrase which will save him from their work.” This is the salvation process. |
Vì vậy, trở lại quy luật 11: “Và cuối cùng, hãy thốt ra cụm từ thần bí sẽ cứu y khỏi tác động của chúng.” Đây là tiến trình cứu thoát. |
|
Eventually, when we master our lessons and no longer use thought substance incorrectly, we will not have to be rescued—or rescue ourselves—from its effects. |
Cuối cùng, khi làm chủ các bài học và không còn sử dụng chất liệu tư tưởng sai cách, chúng ta sẽ không cần được cứu—hoặc tự cứu mình—khỏi những tác động của nó. |
|
[155] 1. A potent thought-form can act like a boomerang. It can return, charged with increased velocity, to the one who sent it on its mission. |
[155] 1. Một hình tư tưởng mạnh mẽ có thể tác động như chiếc boomerang. Nó có thể quay lại người đã phái nó thực hiện sứ mệnh với vận tốc gia tăng. |
|
“Curses, like chickens, come home to roost,” we are told wisely in a semi-humorous form, though true. |
Chúng ta được dạy một cách minh triết dưới hình thức nửa đùa nửa thật, nhưng đúng đắn rằng: “Lời nguyền cũng như gà, cuối cùng đều về chuồng.” |
|
[156] A strong hatred, clothed in mental matter, can return to its creator charged with the energy of the hated person, and can hence work havoc in the life of the aspirant. |
[156] Một lòng thù hận mãnh liệt khoác chất liệu trí tuệ có thể quay lại người tạo ra nó, mang theo năng lượng của người bị thù ghét, và do đó tàn phá đời sống của người chí nguyện. |
|
So remember: hate not. Master Morya: do not wish ill upon the Blessed One. Who’s the Blessed One? In a way, everybody’s the Blessed One, but he’s talking about a high soul. It’s just going to bounce off and come back, unless the Blessed One, realizing what’s happening, saves you from yourself. |
Vì vậy, hãy nhớ: đừng thù ghét. Chân sư Morya dạy: đừng mong điều xấu xảy đến với Đấng Chân Phúc. Đấng Chân Phúc là ai? Theo một nghĩa nào đó, mọi người đều là Đấng Chân Phúc, nhưng Ngài đang nói về một linh hồn cao cả. Nó sẽ chỉ bật ngược lại và quay về, trừ khi Đấng Chân Phúc nhận ra điều đang xảy ra và cứu các bạn khỏi chính mình. |
|
[157] Hate not, for hatred returns ever from whence it came. There is a depth of truth in the ancient aphorism: “Curses, like chickens, come home to roost.” |
[157] Đừng thù ghét, bởi lòng thù hận luôn quay về nơi nó phát xuất. Có một chân lý sâu xa trong cách ngôn cổ: “Lời nguyền rủa, giống như gà, luôn quay về tổ.” |
|
I wonder where I got that a long time ago. Hate not, for hatred ever returns whence it comes, and I wonder about love, too. So we think about the boomerang of thought when we think in the direction of others. |
Tôi tự hỏi mình đã nghe câu ấy từ đâu cách đây rất lâu. Đừng thù ghét, vì lòng thù hận luôn trở về nơi nó phát xuất, và tôi cũng tự hỏi về tình thương. Vì vậy, khi hướng tư tưởng đến người khác, chúng ta hãy nghĩ đến hiệu ứng boomerang của tư tưởng. |
|
[158] A potent desire for material acquisition will eventually return bringing inevitably that which has been desired, only to find in the majority of cases that the aspirant no longer aches for possession, but regards it as an incubus, |
[158] Một dục vọng mãnh liệt muốn sở hữu vật chất cuối cùng sẽ quay lại, tất yếu mang theo điều đã được mong muốn, chỉ để nhận thấy rằng trong đa số trường hợp, người chí nguyện không còn khao khát sở hữu nữa mà xem nó như một gánh nặng ám ảnh, |
|
taking his vitality, haunting him, |
rút cạn sinh lực và ám ảnh y, |
|
[159] or, in the meantime, already possesses more than he needs and is satiated and knows not what to do with all that he has gained. |
[159] hoặc trong thời gian ấy, y đã sở hữu nhiều hơn mức mình cần, đã thỏa mãn đến chán ngán và không biết phải làm gì với tất cả những gì đã đạt được. |
|
So basically, keep your desires high and banish low desire. We’ve seen this in the simple rules that we looked at on page 473. |
Vì vậy, về căn bản, hãy giữ cho các dục vọng của mình cao thượng và xua tan dục vọng thấp kém. Chúng ta đã thấy điều này trong những quy luật đơn giản được xem xét ở trang 473. |
|
[160] A potent thought-form embodying an aspiration for spiritual illumination or for recognition by the Master may bring such a flood of light as to blind the aspirant, and make him consequently the possessor of a wealth of spiritual energy for which he is unready, and which he [Page 489] cannot use. |
[160] Một hình tư tưởng mạnh mẽ thể hiện khát vọng được soi sáng tinh thần hoặc được Chân sư công nhận có thể đem lại một dòng ánh sáng tràn ngập đến mức làm mù người chí nguyện, và vì thế khiến y sở hữu nguồn năng lượng tinh thần dồi dào mà y chưa sẵn sàng tiếp nhận và không thể sử dụng. |
|
That’s interesting. |
Điều đó thật thú vị. |
|
[160b] Again, it may attract to the aspirant a thought-form of one of the Great Ones, and thus swing him deeper into the world of illusion and of astralism. |
[160b] Hoặc nó có thể thu hút đến người chí nguyện một hình tư tưởng của một trong Các Đấng Cao Cả, và như thế đẩy y sâu hơn vào thế giới ảo tưởng và trạng thái cảm dục. |
|
Thinking that the thought-form is the real Master. |
Y nghĩ rằng hình tư tưởng ấy là Chân sư đích thực. |
|
[161] Hence the need for humility, for a longing to serve and a resulting self-forgetfulness if one is to build truly and correctly. Such is the law. |
[161] Vì thế, nếu muốn kiến tạo chân thực và đúng đắn, người ta cần có sự khiêm nhường, niềm khao khát phụng sự và sự quên mình phát sinh từ đó. Định luật là như vậy. |
|
So basically, what we learn by what is said there—and it’s somewhat, maybe, surprising to some of us—is: ask nothing for the separated self. That’s what we learn. One is dying to have spiritual illumination. One wants recognition. The love of recognition has to be eliminated—one of the first four factors that make work within Rule XI possible. This desire for recognition never does any good. One may have it, but it may be full of illusion. It may bring such a flood of light as to blind the aspirant and make him overloaded with spiritual energy. He doesn’t know how to handle it, and it can stimulate other things within him. Again, it may attract to an aspirant a thought-form of one of the Great Ones and then deepen his illusion. |
Vì vậy, về căn bản, điều chúng ta học được từ những gì nói ở đó—và có lẽ phần nào gây ngạc nhiên cho một số người trong chúng ta—là: đừng cầu xin điều gì cho phàm ngã biệt lập. Đó là điều chúng ta học được. Một người tha thiết mong được soi sáng tinh thần. Y muốn được công nhận. Lòng ham thích được công nhận phải bị loại bỏ—đó là một trong bốn yếu tố đầu tiên khiến công việc theo Quy luật XI trở nên khả thi. Dục vọng được công nhận này không bao giờ đem lại điều tốt đẹp. Người ta có thể được công nhận, nhưng điều đó có thể đầy ảo tưởng. Nó có thể mang đến một luồng ánh sáng dồi dào đến mức làm mù quáng người chí nguyện và khiến y bị quá tải năng lượng tinh thần. Y không biết cách xử lý nó, và nó có thể kích thích những điều khác bên trong y. Hơn nữa, nó có thể thu hút đến người chí nguyện một hình tư tưởng của một trong Các Đấng Cao Cả rồi làm ảo tưởng của y sâu sắc hơn. |
|
So what do we need? That balanced point of view, really longing to serve, resulting in self-forgetfulness. Self-forgetfulness, harmlessness, and right speech, right? Resulting in self-forgetfulness if one is to build truly and correctly, and the emphasis is off the fate of the little self. So here is the boomerang effect: three main penalties. It’s not like we have carte blanche to act in any way we like on this rigorous path of occultism. We do not. So we have to learn how to save ourselves. We can’t be waiting for the Master always to save us. The Master has said, “Look, I could take care of this issue for you, but thereby you would learn nothing.” So, the boomerang effect: it comes back. What is sent out had better be good and not evil, and not selfish, and not idle, although idle thoughts are rarely empowered. |
Vậy chúng ta cần gì? Một quan điểm quân bình, lòng khao khát phụng sự chân thành, dẫn đến sự quên mình. Quên mình, tính vô tổn hại và lời nói đúng đắn, phải không? Nếu muốn kiến tạo chân thật và đúng đắn, điều đó phải dẫn đến sự quên mình, và trọng tâm không còn đặt vào số phận của phàm ngã nhỏ bé. Vì vậy, đây là hiệu ứng boomerang: ba hình phạt chính. Không phải chúng ta được toàn quyền hành động theo bất cứ cách nào mình muốn trên con đường huyền bí học nghiêm ngặt này. Chúng ta không có quyền ấy. Vì vậy, chúng ta phải học cách tự cứu mình. Chúng ta không thể luôn chờ Chân sư cứu mình. Chân sư đã nói: “Hãy xem, Tôi có thể giải quyết vấn đề này cho bạn, nhưng như thế bạn sẽ không học được gì.” Vì vậy, hiệu ứng boomerang là: nó quay trở lại. Những gì được phóng ra tốt hơn hết phải thiện lành, không xấu xa, không ích kỷ và không vu vơ, dù các tư tưởng vu vơ hiếm khi được tăng cường quyền năng. |
|
Next one. Another penalty, I guess. |
Điều kế tiếp. Tôi cho rằng đây là một hình phạt khác. |
|
[162] 2. A thought-form can also act as a poisoning agent, and poison all the springs of life. |
[162] 2. Một hình tư tưởng cũng có thể tác động như chất độc và đầu độc mọi nguồn mạch của sự sống. |
|
We go back where he tells us to be sweet and kind and good, keep silence, and the light will enter in. But “poison all the springs of life”—that’s quite a phrase. Going back to pages 474 and 475, here it is: the idle thought, the selfish thought, the cruel, hateful thought rendered into word produce a prison, poison all the springs of life, lead to disease, and cause disaster and delay. How we handle our thought-forms is of the utmost moment for the one who works within the field of occultism, or at least is beginning to do so. And it is, to a great extent, under our control, and we will develop more skill as we go. So, a poisoning agent: from the place that we expect to get life and vitality and energetic sustainment, instead that life has to come through a poisonous area, and it poisons us. |
Chúng ta trở lại chỗ Ngài bảo mình phải dịu dàng, nhân từ và tốt lành, giữ im lặng, rồi ánh sáng sẽ đi vào. Nhưng “làm nhiễm độc mọi nguồn mạch của sự sống”—đó quả là một cụm từ mạnh mẽ. Trở lại các trang 474 và 475, ở đây nói rằng: tư tưởng vu vơ, tư tưởng ích kỷ, tư tưởng tàn nhẫn và thù hận khi được biểu đạt thành lời sẽ tạo ra một nhà tù, làm nhiễm độc mọi nguồn mạch của sự sống, dẫn đến bệnh tật, đồng thời gây ra tai họa và trì hoãn. Cách chúng ta xử lý các hình tư tưởng của mình có tầm quan trọng tối cao đối với người hoạt động trong lĩnh vực huyền bí học, hoặc ít nhất đang bắt đầu làm như vậy. Và phần lớn điều đó nằm dưới sự kiểm soát của chúng ta; chúng ta sẽ phát triển thêm kỹ năng khi tiến bước. Vì vậy, nó là một tác nhân đầu độc: từ nơi chúng ta trông đợi nhận được sự sống, sinh lực và nguồn duy trì bằng năng lượng, thay vào đó, sự sống ấy phải đi qua một khu vực độc hại và đầu độc chúng ta. |
|
[163] It may not be potent enough to swing out of its creator’s aura (very few thought-forms are), and find its goal in another aura there to gather strength and so return from whence it came, |
[163] Nó có thể không đủ mạnh để phóng ra khỏi hào quang của người tạo ra nó—rất ít hình tư tưởng có thể làm được điều này—rồi tìm đến mục tiêu trong một hào quang khác, tích lũy sức mạnh tại đó và quay về nơi nó phát xuất; |
|
Some thought-forms do that. They go forth, they gather additional strength, and if they’re of an evil nature, they will return with even greater effect than when they were sent forth. But this thought-form, if it doesn’t break loose— |
Một số hình tư tưởng làm như vậy. Chúng đi ra, thu thập thêm sức mạnh, và nếu mang bản chất xấu xa, chúng sẽ quay trở lại với tác động còn lớn hơn khi được phóng ra. Nhưng nếu hình tư tưởng này không thoát ra— |
|
[164] but it may have a vitality of its own which can devastate the life of the aspirant. |
[164] nhưng nó có thể sở hữu sinh lực riêng đủ sức tàn phá đời sống của người chí nguyện. |
|
—which is, if it was conceived in poison and it’s not released, then it poisons the one who conceived it. |
—nghĩa là nếu nó được thai nghén trong chất độc mà không được phóng thích, thì nó đầu độc người đã thai nghén nó. |
|
[165] A violent dislike, a gnawing worry, a jealousy, a constant anxiety and a longing for something or someone may act so potently as an irritant or poison |
[165] Sự chán ghét dữ dội, nỗi lo âu giày vò, lòng ghen tị, sự bất an thường trực và niềm khao khát một điều gì hay một người nào đó có thể tác động mạnh mẽ như chất kích thích hoặc chất độc |
|
See, there’s Mars, chafing. So many of the diseases now are considered to be the result of inflammation or irritation. It may act so potently as an irritant or poison |
Hãy xem, Sao Hỏa ở đó, đang gây cọ xát. Hiện nay, rất nhiều bệnh tật được xem là hậu quả của tình trạng viêm hoặc kích thích. Nó có thể hoạt động mạnh mẽ như một tác nhân kích thích hoặc chất độc |
|
[166] that the entire life is spoilt, and service is rendered futile. |
[166] đến mức làm hỏng toàn bộ đời sống và khiến sự phụng sự trở nên vô ích. |
|
Can we search ourselves and find out if there is anything like this? I think the Dalai Lama was asked about hatred in his own life, and he just kind of thought first, shook his head, and said, “No, no, no. Not much, no.” He had an objective point of view, and he did a quick review in a detached manner, and he just didn’t find it in himself. |
Chúng ta có thể tự xét mình và khám phá xem có điều gì như thế không? Tôi nghĩ Đức Đạt Lai Lạt Ma từng được hỏi về lòng thù hận trong đời sống của Ngài; Ngài suy nghĩ một lát, lắc đầu và nói: “Không, không, không. Không nhiều, không.” Ngài có một quan điểm khách quan, nhanh chóng tự xem xét với thái độ tách rời và đơn giản không tìm thấy lòng thù hận trong mình. |
|
A gnawing worry: What shall I do in my old age? What if I have no money, no place to live? What if my source of income is drying up? What if I become old, ugly, and sick? All those things. A jealousy: we have to realize that we are responsible for our own state of attainment, and we are who we are, and apparently distinct. If another has achieved or has something, we cannot take it from them. A constant anxiety, which is basically fear that things will work out badly, and a longing—unfulfilled, of course—for something or someone may act to chafe, to create friction instead of Solar Fire, an irritant or poison, so much so that the entire life is spoiled. And we all know what it’s like to contemplate eating spoiled food—not a very pleasant prospect. |
Một nỗi lo dai dẳng: Tôi sẽ làm gì khi về già? Nếu tôi không có tiền, không có nơi sinh sống thì sao? Nếu nguồn thu nhập của tôi đang cạn kiệt thì sao? Nếu tôi trở nên già nua, xấu xí và bệnh tật thì sao? Tất cả những điều ấy. Lòng ghen tị: chúng ta phải nhận ra rằng mình chịu trách nhiệm về trạng thái thành tựu của chính mình, và chúng ta là chính mình, có vẻ riêng biệt. Nếu người khác đã đạt được hoặc sở hữu điều gì, chúng ta không thể lấy nó khỏi họ. Một sự bất an thường xuyên, về căn bản là nỗi sợ mọi việc sẽ diễn biến tồi tệ, và một niềm khao khát—dĩ nhiên chưa được thỏa mãn—đối với một vật hay một người nào đó có thể gây cọ xát, tạo ra ma sát thay vì Lửa Thái dương, trở thành tác nhân kích thích hay chất độc mạnh đến mức toàn bộ đời sống bị hủy hoại. Và tất cả chúng ta đều biết cảm giác chiêm ngưỡng việc ăn thức ăn hư hỏng là thế nào—một viễn cảnh chẳng dễ chịu chút nào. |
|
[167] The entire life is embittered and devitalized by the embodied worry, hatred or desire. |
[167] Nỗi lo âu, lòng thù hận hoặc dục vọng được thể hiện thành hình tướng khiến toàn bộ đời sống trở nên cay đắng và mất sinh lực. |
|
Embittered. You can see people with that look around their mouth, where they have bitterness and disappointment, and something repugnant is taking form within them. No true, flowing vitality can come through that lack of expectation of the good, this assessment of life as being a negative thing. So embitterment and devitalization arise from this ongoing worry, this ongoing hatred, or unfulfilled desire. |
Cay đắng. Các bạn có thể thấy những người mang vẻ ấy quanh miệng, nơi họ chất chứa cay đắng và thất vọng, còn một điều gì đó đáng ghê tởm đang thành hình bên trong họ. Không một sinh lực chân thực, tuôn chảy nào có thể xuyên qua tình trạng không trông đợi điều thiện ấy, qua sự đánh giá đời sống như một điều tiêu cực ấy. Vì vậy, sự cay đắng và mất sinh lực phát sinh từ nỗi lo âu dai dẳng, lòng thù hận dai dẳng hoặc ham muốn không được thỏa mãn này. |
|
[168] All relationships with other people are rendered equally futile or even definitely harmful, for the worried or suspicious aspirant spoils the home circle or his group of friends by his inner poisonous attitude, governed by an idea. |
[168] Mọi mối quan hệ với người khác cũng trở nên vô ích, thậm chí rõ ràng có hại, bởi thái độ độc hại bên trong do một ý tưởng chi phối của người chí nguyện đầy lo âu hoặc nghi kỵ làm tổn hại gia đình hay nhóm bạn hữu của y. |
|
A false idea, a low or bitter assessment of what life has to offer. |
Một ý tưởng sai lầm, một sự đánh giá thấp kém hoặc cay đắng về những gì đời sống có thể mang lại. |
|
[169] His relation to his own soul and the strength of the contact with the world of spiritual ideas is at a standstill, |
[169] Mối liên hệ của y với linh hồn mình và sức mạnh tiếp xúc với thế giới của các ý tưởng tinh thần đều đình trệ, |
|
Nothing can get through his turbulent astral-mental, kama-manasic state, and maybe it goes into the etheric body and causes all kinds of health problems, too, |
Không gì có thể xuyên qua trạng thái cảm dục-trí tuệ, trí-cảm đầy xáo động của y; có lẽ trạng thái ấy còn truyền vào thể dĩ thái và gây nên đủ loại vấn đề sức khỏe, |
|
[170] for he cannot progress onward and is held back by the poison in his mental system. His vision becomes distorted, his nature corroded, |
[170] bởi y không thể tiến bước và bị chất độc trong hệ thống trí tuệ của mình kìm hãm. Tầm nhìn của y trở nên méo mó, bản chất của y bị xói mòn, |
|
Even hard substances can corrode, even strong substances, |
Ngay cả những chất liệu cứng cũng có thể bị xói mòn, ngay cả những chất liệu bền chắc, |
|
[171] and all his relationships impeded by the wearing, nagging thoughts which he has himself embodied in form and which have a life so powerful that they can poison him. |
[171] và mọi mối quan hệ của y đều bị cản trở bởi những tư tưởng dai dẳng, giày vò mà chính y đã thể hiện thành hình tướng; chúng có sự sống mạnh mẽ đến mức có thể đầu độc y. |
|
They stay with him. |
Chúng cứ bám lấy y. |
|
[172] He cannot rid himself of them no matter how hard he tries or how clearly he sees (theoretically) |
[172] Y không thể loại bỏ chúng, dù cố gắng đến đâu hoặc thấy rõ đến mức nào—về mặt lý thuyết— |
|
At least, not in a practical manner, not real sight, |
Ít nhất là không theo cách thực tiễn, không phải bằng cái thấy chân thực, |
|
[173] the cause of his trouble. This is one of the commonest forms of difficulty, for it has its seat in the selfish personal life, and is ofttimes so fluidic that it seems to defy direct action. |
[173] nguyên nhân gây rắc rối cho mình. Đây là một trong những dạng khó khăn phổ biến nhất, bởi nó bắt nguồn từ đời sống phàm ngã ích kỷ và thường linh động đến mức dường như chống lại mọi tác động trực tiếp. |
|
D.K. has the experience of seeing this kind of thing. He is the true psychologist. We can see that in how he describes these states, and since they are so fluidic and difficult to pin down, we have to see whether any process is existing in us which, maybe though not as severe as the one he is describing, is a similar process. |
Chân sư DK có kinh nghiệm quan sát loại hiện tượng này. Ngài là nhà tâm lý học chân chính. Chúng ta có thể thấy điều đó qua cách Ngài mô tả những trạng thái này; và vì chúng quá linh động, khó xác định, chúng ta phải xem liệu trong mình có tiến trình nào tương tự hay không, dù có lẽ không nghiêm trọng như tiến trình Ngài đang mô tả. |
|
[174] 3. The third danger against which the aspirant must [Page 490] guard himself is becoming obsessed by his own embodied ideas, be they temporarily right or basically wrong. Forget not that all right ideas are temporary in nature and must eventually take their place as partial rights and give place to the greater truth. |
[174] 3. Nguy cơ thứ ba mà người chí nguyện phải tự đề phòng là bị ám ảnh bởi những ý tưởng do chính mình thể hiện thành hình tướng, dù chúng tạm thời đúng hay căn bản sai. Đừng quên rằng mọi ý tưởng đúng đều có bản chất tạm thời và cuối cùng phải đảm nhận vị trí của những chân lý bộ phận, rồi nhường chỗ cho chân lý lớn lao hơn. |
|
Obsession is a hardening of a thought. Maybe we’re not talking about some demon or negative life; we’re just talking about what you’ve created and how it continues to beat upon you and will not change because you think of it as true for all time. And no thing is true for all time. |
Sự ám ảnh là tình trạng một tư tưởng trở nên cứng đặc. Có lẽ chúng ta không nói đến một con quỷ hay một sự sống tiêu cực nào, mà chỉ nói đến điều các bạn đã tạo ra, cách nó tiếp tục dồn dập tác động lên các bạn và không chịu thay đổi vì các bạn xem nó là chân lý muôn đời. Không điều gì đúng trong mọi thời đại. |
|
[175] The fact of the day is seen later as part of a greater fact. A man can have grasped some of the lesser principles of the Ageless Wisdom so clearly and be so convinced of their correctness that the bigger whole is forgotten |
[175] Sự thật của hôm nay về sau được nhận thấy là một phần của sự thật lớn lao hơn. Một người có thể lĩnh hội một số nguyên lý thứ yếu của Minh Triết Ngàn Đời rõ ràng đến mức và tin chắc vào tính đúng đắn của chúng đến nỗi quên mất tổng thể lớn lao hơn, |
|
One is satisfied. I remember talking to a fellow about an idea in Buddhism that the enlightenment of a man is equivalent to the enlightenment of a god or any superior being. It didn’t make sense to me because I thought the intensification of light would always proceed until one re-became, in full measure, the Universal Logos. But this was the dogma: an enlightened man is as good as an enlightened god. So that was held on to. A man can have grasped some of the lesser principles and forget the real ones, |
Người ta cảm thấy thỏa mãn. Tôi nhớ mình từng nói chuyện với một người về một ý tưởng trong Phật giáo, cho rằng sự giác ngộ của một con người tương đương với sự giác ngộ của một vị thần hay bất kỳ Đấng cao siêu nào. Điều đó không hợp lý đối với tôi, vì tôi nghĩ rằng sự tăng cường ánh sáng sẽ luôn tiếp diễn cho đến khi một người trở lại thành Thượng đế Vũ Trụ trong trọn vẹn mức độ. Nhưng giáo điều lại là thế này: một người đã giác ngộ cũng ngang với một vị thần đã giác ngộ. Vì vậy, người ta cứ bám giữ điều ấy. Một người có thể nắm bắt một số nguyên lý thứ yếu rồi quên mất những nguyên lý thực sự, |
|
[176] and he builds a thought-form about the partial truth which he has seen which can prove a limitation and keep him a prisoner and hold him back from progress. |
[176] rồi kiến tạo quanh chân lý bộ phận mà y đã thấy một hình tư tưởng có thể trở thành giới hạn, giam hãm y và cản trở sự tiến bộ của y. |
|
What is that limiting thought-form? “This is all there is, nothing further, so why try?” In other words, “My enlightenment is ultimate.” It doesn’t make sense, but people have to do things that make sense to them, whatever sense they make to others, and discover, often the hard way, that growth within a universe—a growth of consciousness within a universe—is a huge thing and ongoing, and may reach a climax, of course, upon re-identification as the One, and only at the very height of the universe. But each of us has to discover our own mistakes. |
Hình tư tưởng giới hạn ấy là gì? “Đây là tất cả những gì hiện hữu, không còn gì xa hơn, vậy cố gắng để làm gì?” Nói cách khác: “Sự giác ngộ của tôi là tối hậu.” Điều đó không hợp lý, nhưng người ta phải làm những gì có ý nghĩa đối với mình, bất kể chúng có ý nghĩa thế nào đối với người khác, rồi thường phải gian nan mới khám phá ra rằng sự tăng trưởng trong một vũ trụ—sự tăng trưởng tâm thức trong một vũ trụ—là một điều vô cùng lớn lao và liên tục; dĩ nhiên, nó có thể đạt đến đỉnh điểm khi một người tái đồng hóa với Đấng Duy Nhất, và chỉ tại tột đỉnh của vũ trụ. Nhưng mỗi người chúng ta phải tự khám phá những sai lầm của mình. |
|
[177] He is so sure of his possession of truth that he can see the truth of no one else. He can be so convinced of the reality of his own embodied concept of what the truth may be that he forgets his own brain limitations and that the truth has come to him via his own soul and is consequently colored by his ray, being subsequently built into form by his personal separative mind. He lives but for that little truth; he can see no other; he forces his thought-form on other people; |
[177] Y chắc chắn rằng mình sở hữu chân lý đến mức không thể thấy chân lý của bất kỳ ai khác. Y có thể tin chắc vào thực tại của quan niệm do chính mình thể hiện về chân lý đến mức quên mất những giới hạn của bộ não mình, cũng như quên rằng chân lý đã đến với y qua linh hồn của chính y và do đó mang sắc thái cung của y, rồi được thể trí chia rẽ của phàm ngã kiến tạo thành hình tướng. Y chỉ sống vì chân lý nhỏ bé ấy; y không thể thấy điều gì khác; y áp đặt hình tư tưởng của mình lên người khác; |
|
[178] he becomes the obsessed fanatic and so mentally unbalanced, even if the world regards him as sane. |
[178] y trở thành một kẻ cuồng tín bị ám ảnh và vì thế mất quân bình trí tuệ, dù thế gian vẫn xem y là người tỉnh táo. |
|
Sixth-ray and third-ray types do a lot of this, he tells us. So what must be considered is the temporary nature of all formulations of truth, especially at the human stage of formulation. We’re just microscopic man here, aren’t we? We’re not a great God, except essentially, if we unveil sufficiently to discover what we really are. But for all practical purposes, in time and space and under self-chosen limitation, we cannot trust the eternal nature of the truth we formulate. |
Ngài cho chúng ta biết rằng người cung sáu và người cung ba thường làm điều này. Vì vậy, điều cần xem xét là bản chất tạm thời của mọi cách trình bày chân lý, đặc biệt ở giai đoạn trình bày của con người. Chúng ta chỉ là con người nhỏ bé như vi thể ở đây, phải không? Chúng ta không phải một Thượng đế Vĩ Đại, ngoại trừ về bản thể, nếu chúng ta vén đủ những bức màn để khám phá mình thực sự là gì. Nhưng xét theo mọi mục đích thực tiễn, trong thời gian và không gian, dưới những giới hạn do mình lựa chọn, chúng ta không thể tin rằng chân lý mình trình bày có bản chất vĩnh cửu. |
|
[179] How shall a man guard himself from these dangers? How shall he rightly build? How shall he preserve that balance which will enable him to see truth, judge rightly, and so preserve his mental contact with his soul and with the souls of his fellow men? |
[179] Làm thế nào một người tự bảo vệ mình khỏi những nguy cơ này? Làm thế nào y kiến tạo đúng đắn? Làm thế nào y duy trì sự quân bình giúp mình thấy chân lý, phán đoán đúng đắn, và nhờ đó giữ gìn sự tiếp xúc trí tuệ với linh hồn mình cùng linh hồn của đồng loại? |
|
There are three great dangers here, right? Obsession; poisoning, self-poisoning, auto-intoxication, we might say—occult auto-intoxication. And the very first one: sending out bad thoughts and directing them to others. Of course, they may hurt the person to whom they are sent. I suppose there can be these wizards’ wars, so to speak, and you can send out some pretty heavy stuff, and it can hurt. |
Ở đây có ba mối nguy hiểm lớn, phải không? Sự ám ảnh; sự đầu độc, tự đầu độc, hay có thể nói là tự nhiễm độc huyền môn. Và mối nguy hiểm đầu tiên: phóng ra những tư tưởng xấu rồi hướng chúng đến người khác. Dĩ nhiên, chúng có thể làm tổn thương người nhận chúng. Tôi cho rằng có thể có những cuộc chiến giữa các phù thủy, có thể nói như vậy; các bạn có thể phóng ra những thứ rất nặng nề và chúng có thể gây tổn hại. |
|
But how shall a man protect himself? That is a good question. Maybe I can go on to this next section. It’s not going to be an even number, but sometimes I think I should do it more in terms of how the book is laid out. How shall a man guard himself from these dangers which weaken him and devitalize him and make him less effective in his possible service? |
Nhưng một người phải bảo vệ mình như thế nào? Đó là một câu hỏi hay. Có lẽ tôi có thể chuyển sang phần kế tiếp này. Số thứ tự sẽ không được đều, nhưng đôi khi tôi nghĩ mình nên trình bày sát hơn theo bố cục của sách. Một người phải bảo vệ mình như thế nào trước những nguy hiểm khiến y suy yếu, mất sinh lực và giảm hiệu quả trong khả năng phụng sự? |
|
[180] First and foremost, by the constant practice of Harmlessness. |
[180] Trước hết và trên hết, bằng việc thường xuyên thực hành tính Vô Tổn Hại. |
|
It’s constant. It’s a great discipline and probably, in a way, one of the most difficult to achieve because we have wrong conceptions about it. In any case, it would take considerable training—self-training. |
Phải thực hành liên tục. Đây là một giới luật lớn lao và có lẽ, theo một cách nào đó, là một trong những điều khó đạt được nhất vì chúng ta có những quan niệm sai lầm về nó. Dù sao, việc ấy cũng đòi hỏi sự rèn luyện đáng kể—sự tự rèn luyện. |
|
[181] This involves harmlessness in speech and also in thought and consequently in action. It is a positive harmlessness, involving constant activity and watchfulness; it is not a negative and fluidic tolerance. |
[181] Điều này bao hàm tính vô tổn hại trong lời nói, trong tư tưởng và do đó trong hành động. Đó là tính vô tổn hại tích cực, bao hàm hoạt động và sự cảnh giác thường xuyên; nó không phải là thái độ khoan dung tiêu cực và linh động. |
|
It requires vigilance. When we think, do we brood over negative thoughts? Or when we sense a negative thought in ourselves, do we follow the Patanjali method? Or, as The Tibetan says, replace it, substitute something positive for it, use the stream of love even in terms of one’s own formulations if one recognizes them to be negative. And here’s another way we guard ourselves. Talk about the practicality of this book, right? |
Điều đó đòi hỏi sự cảnh giác. Khi suy nghĩ, chúng ta có nghiền ngẫm mãi những tư tưởng tiêu cực không? Hay khi cảm nhận một tư tưởng tiêu cực trong mình, chúng ta có làm theo phương pháp của Patanjali không? Hoặc như Chân sư Tây Tạng nói, chúng ta có thay thế nó, dùng một điều tích cực thay cho nó, vận dụng dòng chảy tình thương ngay cả đối với những cách trình bày của chính mình nếu nhận ra chúng là tiêu cực không? Và đây là một cách khác để chúng ta tự bảo vệ. Hẳn các bạn thấy cuốn sách này thực tiễn đến mức nào rồi chứ? |
|
[182] Secondly, by a daily guarding of the doors of thought, and a supervision of the thought life. |
[182] Thứ hai, bằng cách hằng ngày canh giữ các cánh cửa tư tưởng và giám sát đời sống tư tưởng. |
|
Guard the doors of thought; sentinel desire. What does it say? You’re supposed to look out and up. Cast out all fear, all hate, all greed. I’m remembering certain parts of it, pages 491 and back to 475. It’s probably somehow the ninth rule there, or tenth, eleventh: watch close the gates of thought; sentinel desire. Cast out all fear, all hate, all greed. Look out and up. Always vigilance here. Pay close attention to the words and speech. And, of course, in a more sophisticated way, pay close attention to your own thoughts. Make sure that at this spring from which speech and words come, all is clean. Clean out the atmosphere of thought. Bar fast the doors of thought to hate and pain, to fear and jealousy and low desire. We see what has to be done, and we can’t let these things just slip in. |
Hãy canh giữ những cánh cửa tư tưởng; hãy canh phòng dục vọng. Đoạn ấy nói gì? Các bạn phải nhìn ra ngoài và hướng lên trên. Hãy loại bỏ mọi sợ hãi, mọi thù hận, mọi tham lam. Tôi đang nhớ lại một vài phần trong đó, từ trang 491 trở về trang 475. Có lẽ đó là quy luật thứ chín, thứ mười hay thứ mười một: hãy canh giữ nghiêm ngặt những cánh cửa tư tưởng; hãy canh phòng dục vọng. Hãy loại bỏ mọi sợ hãi, mọi thù hận, mọi tham lam. Hãy nhìn ra ngoài và hướng lên trên. Ở đây luôn cần sự cảnh giác. Hãy chú tâm kỹ lưỡng đến từ ngữ và lời nói. Dĩ nhiên, theo một cách tinh tế hơn, hãy chú tâm kỹ lưỡng đến chính tư tưởng của các bạn. Hãy bảo đảm rằng tại nguồn suối phát sinh lời nói và ngôn từ này, mọi thứ đều thanh sạch. Hãy thanh lọc bầu không khí tư tưởng. Hãy đóng chặt những cánh cửa tư tưởng trước thù hận và đau khổ, trước sợ hãi, ghen tị và dục vọng thấp kém. Chúng ta thấy điều phải làm và không thể để những thứ này cứ lẻn vào. |
|
Otherwise, there’s the story that D.K. emphasizes in the Bible about the man who swept his house clean and then ignored it and had more devils in the long run than before. So guard the gates of thought. Supervise the thought life. |
Nếu không, có câu chuyện trong Kinh Thánh mà Chân sư DK nhấn mạnh về một người quét sạch nhà mình, rồi bỏ mặc nó, để cuối cùng có nhiều ma quỷ hơn trước. Vì vậy, hãy canh giữ những cánh cổng tư tưởng. Hãy giám sát đời sống tư tưởng. |
|
[183] Certain lines of thought will not be permitted; certain old thought habits will be offset by the institution of constructive creative [Page 491] thinking; certain preconceived ideas (note the esoteric value of that phrase), |
[183] Một số đường lối tư tưởng sẽ không được phép tồn tại; một số thói quen tư tưởng cũ sẽ được hóa giải bằng việc thiết lập lối tư duy kiến tạo và sáng tạo; một số ý tưởng định kiến (hãy lưu ý giá trị huyền bí của cụm từ này), |
|
Preconceived. They are there. They are in the aura, and they are prejudices. They are how we used to look at things. |
Đã được hình thành từ trước. Chúng có sẵn ở đó. Chúng hiện diện trong hào quang và là những thành kiến. Chúng là cách chúng ta từng nhìn sự vật. |
|
[183b] will be relegated to the background so that the new horizons will be visioned and the new ideas can enter. |
[183b] sẽ được đẩy lui vào hậu cảnh để các chân trời mới hiện ra trong tầm nhìn và các ý tưởng mới có thể đi vào. |
|
Because it’s possible to be so clogged with a number of often-entertained thoughts that there’s no room for the new. |
Bởi vì chúng ta có thể bị bít kín bởi nhiều tư tưởng thường xuyên được nuôi dưỡng đến mức không còn chỗ cho điều mới mẻ. |
|
[184] This will entail a daily, hourly watchfulness, but only until ancient habits have been overcome and the new rhythm established. Then the aspirant will discover that the mind is so focused on the new spiritual ideas that the old thought-forms will fail to arrest the attention; they will die of inanition. |
[184] Điều này đòi hỏi sự cảnh giác hằng ngày, hằng giờ, nhưng chỉ cho đến khi các thói quen lâu đời được khắc phục và nhịp điệu mới được thiết lập. Khi ấy, người chí nguyện sẽ khám phá rằng thể trí tập trung vào các ý tưởng tinh thần mới đến mức những hình tư tưởng cũ không còn thu hút được sự chú ý; chúng sẽ chết vì thiếu dưỡng chất. |
|
Inanition—starvation, it means. |
Thiếu dưỡng chất—nghĩa là chết đói. |
|
[185] There is encouragement in this thought. The first three years’ work will be the hardest. After that the mind will be engrossed by the ideas and not by the thought-form. |
[185] Tư tưởng này đem lại sự khích lệ. Công việc trong ba năm đầu sẽ khó khăn nhất. Sau đó, thể trí sẽ hoàn toàn chú tâm vào các ý tưởng chứ không phải hình tư tưởng. |
|
And this tells us a practice in the coming schools of meditation. So we have to learn what to keep, what to throw away, what to emphasize, what not to emphasize. Master Morya is saying, for us there is only the new, and when we have the intuitive attitude, we’re always looking for the new. We’re not nurturing the old and outworn and no longer useful formulations that were conceived before—they were preconceived. And they may come along as the thoughts of others and sweep a person into illusion because he hasn’t really had a chance to think about them. |
Điều này cũng cho chúng ta biết một phương pháp thực hành trong các trường tham thiền tương lai. Vì vậy, chúng ta phải học điều gì cần giữ lại, điều gì cần loại bỏ, điều gì cần nhấn mạnh và điều gì không nên nhấn mạnh. Chân sư Morya nói rằng đối với chúng ta chỉ có điều mới mẻ; và khi có thái độ trực giác, chúng ta luôn tìm kiếm điều mới. Chúng ta không nuôi dưỡng những cách trình bày cũ kỹ, lỗi thời, không còn hữu dụng vốn đã được hình thành từ trước. Chúng có thể xuất hiện dưới dạng tư tưởng của người khác và cuốn một người vào ảo tưởng vì y chưa thực sự có cơ hội suy xét chúng. |
|
So, guarding the doors of thought, being the sentinel, the guard, being watchful, being vigilant. Do we have the energy for that? Do we think that that’s somehow no longer relevant because we’ve passed the stage where that is necessary? I think we have to be very careful about such an attitude as that. So, practicing harmlessness, and here’s the second one. He’s telling us a lot. We have to get our list straight so we can do these things. We have to remember; we have to organize our minds so we can access what has to be accessed with the least amount of running around and useless expenditure of mental energy. Practice of harmlessness—in various places he defines it, and it’s not negativity and it’s not some sort of fluidic tolerance. Harmlessness: there is perfect poise, a completed point of view, and divine understanding. Being the sentinel and really guarding one’s thoughts as if it really mattered. |
Vì vậy, hãy canh giữ những cánh cửa tư tưởng, làm người canh gác, người bảo vệ, luôn tỉnh thức và cảnh giác. Chúng ta có năng lượng để làm điều đó không? Chúng ta có nghĩ rằng điều ấy không còn thích hợp vì mình đã vượt qua giai đoạn cần đến nó không? Tôi nghĩ chúng ta phải hết sức thận trọng trước một thái độ như vậy. Như thế, điều thứ nhất là thực hành tính vô tổn hại, và đây là điều thứ hai. Ngài đang nói với chúng ta rất nhiều điều. Chúng ta phải sắp xếp danh sách cho rõ ràng để có thể thực hiện chúng. Chúng ta phải ghi nhớ; phải tổ chức thể trí để có thể tiếp cận những gì cần được tiếp cận với ít sự chạy quanh và hao phí năng lượng trí tuệ vô ích nhất. Thực hành tính vô tổn hại—ở nhiều nơi Ngài định nghĩa nó, và nó không phải là tính tiêu cực hay một kiểu dung thứ linh động nào đó. Tính vô tổn hại: trong đó có sự quân bình hoàn hảo, một quan điểm hoàn chỉnh và sự thấu hiểu thiêng liêng. Hãy làm người canh gác và thực sự bảo vệ tư tưởng của mình như thể điều đó thật sự hệ trọng. |
|
And next, |
Và tiếp theo, |
|
[186] Thirdly, by refusing to live in one’s own thought world and by entering the world of ideas and the stream of human thought currents. |
[186] Thứ ba, bằng cách từ chối sống trong thế giới tư tưởng riêng của mình, đồng thời bước vào thế giới của các ý tưởng và dòng chảy của các luồng tư tưởng nhân loại. |
|
In other words, we can brood upon things over and over, and we have no refreshing currents—no refreshing currents when we ruminate on our own thoughts without allowing in the entries from the world of ideas. |
Nói cách khác, chúng ta có thể nghiền ngẫm mãi mọi việc mà không có những dòng chảy làm tươi mới—không có những dòng chảy làm tươi mới khi chúng ta cứ suy đi nghĩ lại về tư tưởng của chính mình mà không cho phép những gì đến từ thế giới ý tưởng đi vào. |
|
[187] The world of ideas is the world of the soul, |
[187] Thế giới của các ý tưởng là thế giới của linh hồn, |
|
and certainly of the soul as the Triad, |
và chắc chắn là của linh hồn với tư cách Tam nguyên tinh thần, |
|
[188] of the higher mind. |
[188] và của thượng trí. |
|
They may originate in the Spiritual Triad, but they come into the higher mental plane and what we call the soul nature. |
Chúng có thể bắt nguồn từ Tam Nguyên Tinh Thần, nhưng đi vào Cõi thượng trí và điều chúng ta gọi là bản chất linh hồn. |
|
[189] The stream of human thoughts and of opinions is that of the public consciousness and of the lower mind. The aspirant must function free in both worlds. Note this with care. |
[189] Dòng chảy của tư tưởng và quan điểm nhân loại thuộc về tâm thức công chúng và hạ trí. Người chí nguyện phải hoạt động như một tác nhân tự do trong cả hai thế giới. Hãy cẩn thận lưu ý điều này. |
|
So we have to have that Janus ability to look both ways and to be flexible enough to convert our higher thoughts into practical applications in the lower worlds. Can we do that? We have to. |
Vì vậy, chúng ta phải có khả năng của Janus để nhìn về cả hai hướng và đủ linh hoạt nhằm chuyển những tư tưởng cao siêu của mình thành các ứng dụng thực tiễn trong những cõi thấp. Chúng ta có làm được không? Chúng ta phải làm được. |
|
[190] The thought is not that he must function freely, which involves more the idea of facility but that he must function as a free agent in both worlds. |
[190] Ý ở đây không phải là y phải hoạt động một cách tự do, vốn hàm ý nhiều hơn về sự dễ dàng, mà là y phải hoạt động với tư cách một tác nhân tự do trong cả hai thế giới. |
|
With some skill in action, and not compelled, not forced. |
Với một mức độ khéo léo trong hành động, không bị cưỡng bách hay ép buộc. |
|
[191] Through constant daily meditation he does the first. Through wide reading and sympathetic interest and understanding he accomplishes the second. |
[191] Nhờ tham thiền đều đặn hằng ngày, y thực hiện điều thứ nhất. Nhờ đọc sách rộng rãi cùng sự quan tâm và thấu hiểu đầy cảm thông, y thực hiện điều thứ hai. |
|
Meditation takes him into the higher worlds, and making sure he is informed about human developments brings him into the world of public consciousness. We can’t be so heavenly high that we’re no earthly good. We have to be able to find the way to see the great spiritual principles and apply them to the issues of the day, to the issues of the time. So it’s, let’s just say, a dual responsibility. When you don’t change the air, the air can become deoxygenated and oppressive and stuffy, as they say. Here in Finland there’s the habit: you throw the doors open every day, and even if it’s really cold outside, the new air comes in. So thus it has to be. We need to be refreshed by the meditative process, and there things are ever new and we may contact all manner of revitalizing streams. But then there are the earthly conditions. |
Tham thiền đưa y vào những thế giới cao siêu; còn việc bảo đảm mình hiểu biết về những diễn biến của nhân loại đưa y vào thế giới tâm thức công chúng. Chúng ta không thể ở trên trời cao đến mức chẳng còn ích gì cho trần thế. Chúng ta phải có khả năng tìm ra cách nhận thấy những nguyên lý tinh thần lớn lao và áp dụng chúng vào các vấn đề của hôm nay, các vấn đề của thời đại. Có thể nói, đó là một trách nhiệm kép. Khi không thay đổi không khí, nó có thể mất dưỡng khí, trở nên ngột ngạt và tù túng. Ở Phần Lan có một thói quen: mỗi ngày người ta mở toang cửa, và dù bên ngoài thật lạnh, không khí mới vẫn tràn vào. Việc này cũng phải như thế. Chúng ta cần được làm tươi mới bởi tiến trình tham thiền; ở đó, mọi sự luôn mới mẻ và chúng ta có thể tiếp xúc với đủ loại dòng chảy phục hồi sinh lực. Nhưng rồi vẫn còn những điều kiện trần thế. |
|
So it’s a question here of Uranus and Saturn. Uranus is the new and Saturn is conditions as they are. At least that’s one way of interpreting it. And then there’s a fourth factor here. We’re talking about guarding ourselves from the dangers and staying in touch and being a useful server. This is what we’re talking about here: harmlessness, vigilance, and exposure. So far, harmlessness, vigilance, and flexible exposure to different strata of energies, the occult and esoteric and also the more mundane. |
Vì vậy, đây là vấn đề của Sao Thiên Vương và Sao Thổ. Sao Thiên Vương là điều mới, còn Sao Thổ là những điều kiện như chúng đang hiện hữu. Ít nhất đó là một cách diễn giải. Và ở đây còn có yếu tố thứ tư. Chúng ta đang nói về việc tự bảo vệ trước những nguy hiểm, duy trì sự tiếp xúc và trở thành người phụng sự hữu ích. Đây là điều chúng ta đang bàn đến: tính vô tổn hại, sự cảnh giác và sự tiếp xúc rộng mở. Cho đến đây là tính vô tổn hại, sự cảnh giác và việc linh hoạt tiếp xúc với các tầng năng lượng khác nhau—huyền môn và nội môn, cũng như thế tục hơn. |
|
[192] Fourthly, he must learn to detach himself from his own thought creations, and leave them free to accomplish the purpose for which he intelligently sent them forth. This fourth process falls into two parts: |
[192] Thứ tư, y phải học cách tách rời khỏi những sáng tạo tư tưởng của chính mình và để chúng tự do hoàn thành mục đích mà y đã chủ tâm phóng chúng ra. Tiến trình thứ tư này gồm hai phần: |
|
I always use the idea of the composer. He can’t be there for every performance of his work, and some composers are long gone. Let’s say we perform Bach all the time. His death has come in and released the grip that some creators have on their thought-forms. At least death—there’s a certainty of release, unless one is doing that from the other side, which I would doubt. So there are two parts to that detachment which will allow us to be normal and sane and serviceable creators. |
Tôi luôn dùng hình ảnh nhà soạn nhạc. Ông không thể có mặt trong mọi buổi trình diễn tác phẩm của mình, và một số nhà soạn nhạc đã qua đời từ lâu. Chẳng hạn, chúng ta luôn trình diễn nhạc của Bach. Cái chết của ông đã đến và giải thoát sự nắm giữ mà một số người sáng tạo áp đặt lên các hình tư tưởng của họ. Ít nhất cái chết chắc chắn mang lại sự giải thoát, trừ phi người ta vẫn làm điều đó từ phía bên kia, điều mà tôi hoài nghi. Vì vậy, sự tách rời giúp chúng ta trở thành những người sáng tạo bình thường, lành mạnh và hữu ích có hai phần. |
|
[193] 1. By the use of a mystic phrase he severs the link which holds an embodied idea in his thought-aura. |
[193] 1. Bằng cách sử dụng một cụm từ thần bí, y cắt đứt mối liên kết giữ một ý tưởng đã nhập thể trong hào quang tư tưởng của mình. |
|
There’s probably a deeply mystic phrase, but also we could invent our own, though not as potent, at least expressing the right procedure. “Go forth and serve,” even—you could say that to one of your creations as you let it go. We cannot hold excessively to what we have created or we get cluttered, and there’s no room for fresh inspiration. If a person has played one part, let us say, in the movies or on the stage, and they’re always thought of in relation to that part, then they’ll never be cast in any other role. So a really flexible actor or actress has to learn to stop being the role in which they, let us say, achieved a lot of fame, and drop it—drop it and go on. |
Có lẽ có một cụm từ thần bí sâu xa, nhưng chúng ta cũng có thể tự tạo ra cụm từ của mình, dù không mạnh mẽ bằng, ít nhất cũng biểu đạt đúng tiến trình. “Hãy tiến ra và phụng sự”—các bạn thậm chí có thể nói như thế với một sáng tạo của mình khi buông nó ra. Chúng ta không thể bám giữ quá mức những gì mình đã tạo ra, nếu không sẽ trở nên chất đầy và không còn chỗ cho cảm hứng mới. Nếu một người đã diễn một vai trong phim hay trên sân khấu và người ta luôn chỉ nghĩ đến họ trong mối liên hệ với vai ấy, họ sẽ không bao giờ được chọn cho bất kỳ vai nào khác. Vì vậy, một nam hay nữ diễn viên thực sự linh hoạt phải học cách không còn là vai diễn đã mang lại cho mình nhiều danh tiếng, rồi buông bỏ nó và tiếp tục tiến bước. |
|
And also, |
Và cũng vậy, |
|
[194] 2. By detaching his mind from the idea, once he has sent it on its mission, he learns the lesson of the Bhagavad Gita and “works without attachment”. |
[194] 2. Bằng cách tách thể trí khỏi ý tưởng sau khi đã phái nó đi thực hiện sứ mệnh, y học bài học của Chí Tôn Ca và “làm việc mà không chấp trước”. |
|
So, detaching his mind from the idea, from the creation, once it is sent forth in the proper form. There are more things to create. Authors write books. As The Tibetan progressed through the writing of his books, do we think that perhaps he held on to A Treatise on Cosmic Fire as a preoccupying thought even as he was writing other books? Doubtful. And so it is for anybody creating, in succession, different works. Work without attachment. You’ve done the best you can, and let the creation have its own life. Let the child have its own life; otherwise suffocation will result. |
Như vậy, y tách thể trí khỏi ý tưởng, khỏi sáng tạo, một khi nó đã được phóng ra trong hình tướng thích hợp. Còn nhiều điều khác cần được sáng tạo. Các tác giả viết sách. Khi Chân sư Tây Tạng tiến hành viết các sách của Ngài, chúng ta có nghĩ rằng Ngài vẫn bám giữ Luận về Lửa Vũ Trụ như một tư tưởng luôn chiếm trọn tâm trí ngay cả khi đang viết những cuốn sách khác không? Khó có thể như vậy. Và đối với bất kỳ ai liên tiếp sáng tạo những tác phẩm khác nhau cũng thế. Hãy làm việc mà không chấp trước. Các bạn đã làm hết khả năng của mình; hãy để sáng tạo ấy có sự sống riêng. Hãy để đứa trẻ có đời sống riêng; nếu không, hậu quả sẽ là sự ngột ngạt. |
|
So, by the use of a mystic phrase he severs the link. That’s an important one. Even if we don’t have the mystic phrase, we can think in that way and sever the link and let it go, even through imagination and through a mantra of our own devising. Then, once it’s gone, you can bless it on its way and occasionally bless it, but there are other things to create. |
Vì vậy, bằng việc sử dụng một cụm từ thần bí, y cắt đứt mối liên kết. Đây là một điều quan trọng. Ngay cả khi không có cụm từ thần bí, chúng ta vẫn có thể suy nghĩ theo cách ấy, cắt đứt mối liên kết và buông nó ra, thậm chí qua sự tưởng tượng và một mantram do chính mình tạo ra. Sau khi nó đã ra đi, các bạn có thể ban phúc cho hành trình của nó và thỉnh thoảng tiếp tục ban phúc, nhưng vẫn còn những điều khác cần được sáng tạo. |
|
[195] These two points will vary according to the growth and status of the aspirant. Each has, for himself, to formulate [Page 492] his own “severing phrase”, |
[195] Hai điểm này sẽ thay đổi tùy theo sự trưởng thành và địa vị của người chí nguyện. Mỗi người phải tự hình thành “cụm từ cắt đứt” riêng của mình, |
|
Gosh, isn’t D.K. smart? He’s just repeating the very same thing that I just said. Oh my. That’s how thoughts remain in the mind. Long ago, I read these things; they implanted themselves, and now they’re part of the active thought reservoir. Each has to formulate his own severing phrase, |
Trời ơi, Chân sư DK thật thông tuệ! Ngài vừa lặp lại đúng điều tôi mới nói. Ôi chao. Tư tưởng lưu lại trong thể trí theo cách ấy. Từ lâu, tôi đã đọc những điều này; chúng tự gieo vào trong tôi và giờ đây trở thành một phần của kho tư tưởng tích cực. Mỗi người phải đặt ra cụm từ cắt đứt riêng, |
|
[195b] and each has for himself, alone and unaided, to learn to look away from the three worlds wherein he works in his effort to push his idea of the work to be done. |
[195b] và mỗi người phải tự mình, đơn độc và không được trợ giúp, học cách rời mắt khỏi ba cõi nơi y hoạt động trong nỗ lực thúc đẩy ý tưởng của mình về công việc cần thực hiện. |
|
I think that makes sense, and our own severing phrase—we can practice this. Most of us are creative in some respect, and we do release things for the welfare of other people. Almost my whole life—I don’t know whether it’s fear or wisdom—but I just never listen to what I’ve said, and I don’t review it. I don’t go over it. I just send it out there. But when it comes to music, I do re-listen. I know because it has some kind of effect, and then there’s a lot of meditation that can always be different in it. Once my old piano teacher said to me, “You are a prisoner of music.” Maybe I was twelve or thirteen years old, and it worked out in interesting ways. We always have to be careful when we hear the Sirens singing, and the Gandharvas singing. As beautiful as they are, they can hold you back. |
Tôi nghĩ điều đó hợp lý, và chúng ta có thể thực hành cụm từ cắt đứt riêng của mình. Hầu hết chúng ta đều sáng tạo theo một phương diện nào đó và quả thật phóng thích những điều vì phúc lợi của người khác. Gần như suốt đời mình—tôi không biết đó là sợ hãi hay minh triết—tôi chưa bao giờ nghe lại những gì mình đã nói, cũng không xem lại chúng. Tôi không ôn lại. Tôi chỉ phóng chúng ra ngoài. Nhưng đối với âm nhạc, tôi có nghe lại. Tôi biết là vì nó có một tác động nào đó, và trong đó còn có nhiều sự tham thiền luôn có thể đổi khác. Có lần giáo viên dạy dương cầm cũ nói với tôi: “Em là tù nhân của âm nhạc.” Khi ấy có lẽ tôi mười hai hoặc mười ba tuổi, và điều này đã biểu hiện theo những cách thú vị. Chúng ta luôn phải thận trọng khi nghe các Nữ thần Siren ca hát và các Gandharva ca hát. Dù đẹp đẽ đến đâu, họ vẫn có thể kìm giữ chúng ta. |
|
[196] He has to teach himself to withdraw his attention from the thought-form he has built, wherein that idea is embodied, knowing that as he lives as a soul, and as spiritual energy pours through him so his thought-form will express the spiritual idea and accomplish its work. |
[196] Y phải tự rèn luyện để rút sự chú ý khỏi hình tư tưởng do mình kiến tạo, trong đó ý tưởng ấy được hiện thân, vì biết rằng khi y sống như một linh hồn và năng lượng tinh thần tuôn chảy qua y, hình tư tưởng của y sẽ biểu đạt ý tưởng tinh thần và hoàn thành công việc của nó. |
|
It’s almost like his present condition will help the thought-form, wherever it is and whatever it’s doing. So as he lives as a soul and as spiritual energy pours through him, his thought-form will express the spiritual idea and will accomplish its work. His own spiritual condition will determine somewhat the success of the thought-form. |
Điều đó gần như có nghĩa là trạng thái hiện tại của y sẽ trợ giúp hình tư tưởng, bất kể nó ở đâu và đang làm gì. Vì vậy, khi y sống như một linh hồn và năng lượng tinh thần tuôn chảy qua y, hình tư tưởng của y sẽ biểu đạt ý tưởng tinh thần và hoàn thành công việc của nó. Trạng thái tinh thần của chính y sẽ phần nào quyết định sự thành công của hình tư tưởng. |
|
[197] It is held together by the life of the soul, and not by personality desire. The tangible results are ever dependent upon the strength of the spiritual impulse animating his idea, which is embodied in his thought-form. His work lies in the world of ideas and not in physical effects. Automatically the physical aspects will respond to the spiritual impulse. |
[197] Chính sự sống của linh hồn, chứ không phải dục vọng của phàm ngã, duy trì sự cố kết của nó. Những kết quả hữu hình luôn tùy thuộc vào sức mạnh của xung lực tinh thần làm sinh động ý tưởng của y, vốn được hiện thân trong hình tư tưởng của y. Công việc của y nằm trong thế giới của các ý tưởng chứ không phải trong những hiệu quả hồng trần. Các phương diện hồng trần sẽ tự động đáp ứng xung lực tinh thần. |
|
So we do not follow our creative thought-forms into the lower worlds. We would be unwanted guests. We would come unbidden. We would become a nuisance. We have done the creative work. We have formulated. We have sent it forth. And now the faith and the courage to let it be is with us, and not some kind of anxious shepherding of the fate of the thought-form within the lower worlds. |
Vì vậy, chúng ta không đi theo các hình tư tưởng sáng tạo của mình vào những cõi thấp. Chúng ta sẽ là những vị khách không được hoan nghênh. Chúng ta sẽ đến mà không được mời. Chúng ta sẽ trở thành một mối phiền toái. Chúng ta đã thực hiện công việc sáng tạo. Chúng ta đã trình bày thành hình. Chúng ta đã phóng nó ra. Và giờ đây, chúng ta có đức tin và lòng can đảm để mặc nó hiện tồn, thay vì lo âu chăm nom vận mệnh của hình tư tưởng trong những cõi thấp. |
|
So he has to teach himself to withdraw his attention from the thought-form he has built, wherein the idea is embodied, knowing that as he lives as a soul and as spiritual energy pours through him, so his thought-form will express the spiritual idea and accomplish its work. I suppose once it is released, too. It’s held together by the life of the soul, which he utilized as he formulated, and not by personality desire. Go, go, go. The tangible results are ever dependent upon the strength of the spiritual impulse animating the idea. So that’s where his main responsibility is: the spiritual impulse animating his idea, which is embodied in his thought-form. And his work lies higher, right? Not in the world of physical effects. |
Vì vậy, y phải tự dạy mình rút sự chú ý khỏi hình tư tưởng đã xây dựng, nơi ý tưởng được thể hiện thành hình tướng, vì biết rằng khi y sống như một linh hồn và năng lượng tinh thần tuôn chảy qua y, hình tư tưởng của y sẽ biểu đạt ý tưởng tinh thần và hoàn thành công việc của nó. Tôi cho rằng điều này cũng xảy ra khi nó được phóng thích. Sự sống của linh hồn mà y đã vận dụng khi trình bày thành hình giữ nó kết hợp lại, chứ không phải ham muốn của phàm ngã. Hãy đi, hãy đi, hãy đi. Những kết quả hữu hình luôn tùy thuộc vào sức mạnh của xung lực tinh thần đang làm sinh động ý tưởng. Vì vậy, trách nhiệm chính của y nằm ở đó: xung lực tinh thần đang làm sinh động ý tưởng được thể hiện trong hình tư tưởng. Và công việc của y nằm ở nơi cao hơn, phải không? Không nằm trong thế giới của những hiệu quả hồng trần. |
|
So this is working without attachment. This is working with detachment, working without attachment to our creations. Universes have come and gone. For the great Absolute Deity, there have been numberless universes. Can’t hang on to any one universe. It’s going to die away, as beautiful as it may have been. It’s going to die away. And can you imagine the Absolute Deity, whose Self reflects as Absolute Infinity, being attached to any one infinitesimal that we call a universe? Always there is the new. And always that new can be put into form, and enjoyment can reign. |
Như vậy, đây là làm việc mà không chấp trước. Đây là làm việc với sự tách rời, không chấp trước vào những sáng tạo của chúng ta. Các vũ trụ đã đến rồi đi. Đối với Thượng Đế Tuyệt Đối Vĩ Đại, đã có vô số vũ trụ. Không thể bám giữ bất kỳ vũ trụ riêng lẻ nào. Nó sẽ tiêu tan, dù có thể đã đẹp đẽ đến đâu. Nó sẽ tiêu tan. Và các bạn có thể hình dung Thượng Đế Tuyệt Đối, mà Bản Ngã của Ngài phản chiếu thành Vô Cực Tuyệt Đối, lại chấp trước vào một phần cực nhỏ nào đó mà chúng ta gọi là vũ trụ không? Luôn luôn có điều mới. Và điều mới ấy luôn có thể được đưa vào hình tướng, để sự hoan hỉ ngự trị. |