Antahkarana Webinar 43
Tóm Tắt
Tóm tắt Webinar: Commentary 43
Ngày tạo: 28/05/2026 | Model: gpt-5.4 | Tier 5 | Glossary: Glossary_full.txt
Xây dựng antahkarana như một khoa học tinh tế và đòi hỏi điểm tập trung nhất tâm
Thầy MDR mở đầu bằng cách nhắc rằng sáu giai đoạn xây dựng antahkarana đã được trình bày, nhưng bản thân tiến trình này vượt quá khả năng diễn tả đầy đủ bằng lời; điều cốt yếu là phải thực hành đều đặn để trực giác tự mở ra. Thầy nhấn mạnh khuyến nghị của Alice Bailey về việc gia tăng điểm tập trung nhất tâm, dấn thân mạnh mẽ thay vì giữ lối sống quá “nhẹ nhàng, cân bằng, thậm chí lười biếng”, vì phần cây cầu do phàm ngã được linh hồn thấm nhuần xây dựng chỉ là một nửa. Nửa còn lại đến từ sự đáp ứng được gợi lên của Chân Thần qua Tam Nguyên Tinh Thần; khi hai phần gặp nhau thì xuất hiện sự tiếp xúc, ánh sáng, lửa và một mức chứng ngộ mới. Thầy MDR nhận xét rằng kết quả thường đến chậm, nên điều cần thiết là lòng tin vào Chân sư DK, sự kiên trì “đặt từng bước chân một”, cùng các phẩm tính như chân thành, hi sinh, giản dị và “tổ chức cho tốc độ”.
Antahkarana nhóm là phụng sự tối hậu của người chí nguyện chân chính
Từ đoạn “nhiều sợi ánh sáng” do người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ dệt nên, Thầy MDR nhấn mạnh rằng antahkarana nhóm mới là điều quan trọng nhất, vì nhân loại như một toàn thể đang dần có cây cầu để tự trừu xuất khỏi vật chất và hình tướng. Thầy lưu ý các cấp này có thể đồng thời hiện diện nơi một người: một cá nhân có thể vừa là người chí nguyện, vừa là đệ tử, thậm chí là đệ tử được chấp nhận hay điểm đạo đồ dự bị, và ngay cả các điểm đạo đồ vẫn phải tiếp tục củng cố những phương diện cao hơn của antahkarana. Thầy còn mở rộng viễn tượng rằng các antahkarana không chỉ là cá nhân mà còn liên hành tinh, từ hành tinh đến các hành tinh thiêng liêng, tới Mặt Trời, nên về bản chất đều mang tính nhóm. Việc xây cầu này không phải hành vi ích kỷ mà là phụng sự lớn lao, vì nó mở đường cho nội dung của Tam Nguyên Tinh Thần và cuối cùng là mục đích của Chân Thần đi vào tâm thức con người để phụng sự Thiên Cơ.
Mục tiêu của tiến hoá bình thường là đường tiếp xúc trực tiếp với Tam Nguyên Tinh Thần
Thầy MDR giải thích lời Chân sư DK rằng mục tiêu của tiến hoá bình thường là đưa nhân loại đến chỗ có một đường tiếp xúc trực tiếp giữa phàm ngã được linh hồn thấm nhuần và Tam Nguyên Tinh Thần, thông qua trung gian của tâm thức linh hồn. Sự hoàn tất này xảy ra vào lần điểm đạo thứ ba, khi tâm thức có thể hoạt động trong thể nguyên nhân, và Thầy nhấn mạnh rằng “chỉnh hợp là khởi đầu và cũng là kết thúc”. Thầy suy tư thêm rằng cái thường được gọi là linh hồn chỉ là một “lớp vỏ” hay “bao kiếm” của Tam Nguyên Tinh Thần; ở bình diện cao hơn, Tam Nguyên Tinh Thần còn “linh hồn” hơn linh hồn, và Chân Thần còn cao hơn nữa, mở ra một chuỗi vòng-giới-hạn ngày càng bao quát hơn cho đến tâm thức của Thượng đế Vũ Trụ. Thầy cũng liên hệ tình trạng “Đệ tử trên đường dây” như một giai đoạn trước lần điểm đạo thứ ba, khi sợi dây liên kết không chỉ đi đến Chân sư và ashram mà còn dẫn vào chính Tam Nguyên Tinh Thần.
Giáo dục hiện đại và Nhóm hạt giống thứ tư như tác nhân bắt cầu
Khi bàn về vị trí hiện nay của nhân loại trong quan hệ với antahkarana, Thầy MDR cho rằng hệ thống giáo dục hiện đại đang ngày càng phục vụ chức năng bắt cầu. Thầy dẫn một đoạn từ Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới về các trung tâm được các Nhóm hạt giống sử dụng, rồi xác nhận rằng Nhóm thứ tư, nhóm các nhà giáo dục, vận dụng trung tâm đầu, ajna và cổ họng. Từ đó Thầy suy luận rằng công tác giáo dục có mối liên hệ mạnh với cung ba, cung bốn, cung năm và đặc biệt với Sao Thủy, vì đây là trường lực của nối kết, truyền đạt và xây cầu giữa các cấp tâm thức. Nhận xét này là một bổ sung riêng của Thầy MDR nhằm cho thấy việc xây antahkarana không chỉ là thực hành nội tâm mà còn được phản ánh trong những thiết chế giáo dục của thời đại.
Tương ứng giữa phàm ngã-linh hồn và Tam Nguyên Tinh Thần-Chân Thần
Thầy MDR làm rõ nguyên lý tương ứng: phàm ngã đối với linh hồn cũng như Tam Nguyên Tinh Thần đối với Chân Thần, đầy đủ về phương diện tâm thức nhưng không hoàn toàn giống nhau về hình tướng. Ba phương diện của phàm ngã phản ánh các phương diện của linh hồn, còn ba phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần phản ánh các phương diện của Chân Thần; không phần nào trọn vẹn một mình, nhưng hợp lại biểu lộ một tổng hợp cao hơn. Thầy gọi sự hợp nhất cuối cùng giữa “phàm ngã-linh hồn thống nhất” và “Chân Thần-Tam Nguyên Tinh Thần thống nhất” là đỉnh điểm của Kỹ Thuật Nhị Nguyên, nơi vật chất và tinh thần được dung hợp. Thầy MDR còn suy luận ở quy mô vũ trụ rằng cũng có “linh hồn” và “phàm ngã” của Thái dương Thượng đế, và một ngày nào đó sự thấm nhuần từ Chân Thần và Tam Nguyên Tinh Thần của Thái dương Thượng đế sẽ xảy ra trong một hệ mặt trời tương lai, có thể là hệ thứ sáu trước hệ tổng hợp thứ bảy.
Phụng sự là giải phóng sự sống khỏi sự kiểm soát của hình tướng
Từ câu “chỉ khi điều này được hoàn tất mới có sự giải phóng hoàn toàn các Sự Sống thông tin cho hệ mặt trời khỏi mọi kiểm soát của hình tướng”, Thầy MDR nhấn mạnh ý nghĩa sâu xa của từ phụng sự trong huyền bí học. Xây antahkarana không chỉ là tiến bộ cá nhân mà là tham dự vào một quá trình giải phóng các sự sống khỏi sự cầm giữ của hình tướng, trước mắt là trong chính con người, xa hơn là trên quy mô hệ mặt trời. Thầy lưu ý nhân loại và hệ mặt trời đều đang ở khoảng giữa tiến trình tiến hoá của mình, nên mục tiêu này còn rất xa. Với người chí nguyện và đệ tử, nhiệm vụ gần trước mắt vẫn là tạo “sự nhất thể hóa” giữa linh hồn và thể qua chỉnh hợp, rồi dùng sáu phương pháp đã nêu để xây antahkarana và khơi gợi sự đáp ứng từ Tam Nguyên Tinh Thần.
Bộ ba Chỉnh hợp – Khẩn Cầu – Gợi Lên là khung của toàn bộ tiến trình
Thầy MDR xem ba ý niệm lớn Chỉnh hợp – Khẩn Cầu – Gợi Lên như bộ khung thực tiễn của việc xây antahkarana. Theo Thầy, điểm tập trung nhất tâm và sự hình dung thuộc về chỉnh hợp; giai đoạn phóng chiếu kết hợp với phần đầu của giai đoạn thứ tư liên quan đến khẩn cầu; còn nửa sau của giai đoạn thứ tư cùng giai đoạn thứ năm và thứ sáu biểu lộ sự gợi lên, tức đáp ứng của những phương diện cao hơn trong bản thể. Chính đáp ứng này lát đường cho tâm thức vươn lên tự do khỏi hình tướng và phân cực trong Tam Nguyên Tinh Thần, như các Chân sư Minh triết và các Đấng cao hơn đã làm. Thầy MDR nhận xét rằng chúng ta thường nói nhiều về Tam Nguyên Tinh Thần nhưng hiếm khi thực sự “trượt vào” tâm thức đó, nên kinh nghiệm thực chứng vẫn là điều phải chờ sự thực hành.
Sự thay đổi trong giáo huấn của Thánh đoàn và tiêu chuẩn ngày càng nâng cao
Thầy MDR giải thích rằng Chân sư DK đang công bố những điều vốn trước kia chỉ là chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ ba vì nhân loại đã đạt tới một điểm phát triển cho phép thay đổi toàn bộ cách tiếp cận thiên tính do Thánh đoàn truyền dạy. Điều này không hủy bỏ giáo huấn cũ mà dời nó xuống các giai đoạn sớm hơn của Con Đường Đệ Tử, thậm chí thành công việc của người chí nguyện trên Con Đường Dự Bị. Thầy nhắc lại rằng Chân sư DK ban đầu nói chỉ huấn luyện cho hai lần điểm đạo đầu, nhưng về sau giáo huấn đã mở rộng, kể cả cho những người ở chu vi ashram chưa chắc sẽ nhận lần điểm đạo thứ hai trong đời này. Thầy MDR lưu ý “không có gì bị mất đi, chỉ có tiêu chuẩn liên tục được nâng cao”, nên môn sinh không nên tưởng rằng các bài học cũ về thanh lọc hay lập hạnh đã xong rồi.
Thanh lọc, đời sống Đức Christ, thần kiến và triết học phải chuyển thành áp dụng
Thầy MDR đặc biệt dừng lại ở việc thanh lọc, nói rằng nhiều người quá sớm buông bỏ nó như thể đã hoàn tất, trong khi thanh lọc phải tiếp tục ở những vận cụ ngày càng vi tế hơn, nhất là thể cảm dục nếu muốn tiếp nhận các mô thức của lý trí thuần khiết từ cõi Bồ đề. Thầy gợi ý diễn dịch “đời sống Đức Christ” là đời sống của linh hồn, và cho rằng triết học không nên chỉ là suy tưởng an ủi cho một đời sống chưa viên mãn, mà phải chuyển thành triết học huyền bí nhấn mạnh vào việc làm điều mình biết. Các chân lý huyền bí đã khơi dậy quan tâm, phê phán và tranh luận nơi mọi loại trí tuệ, dù bị bóp méo và áp dụng sai; tuy nhiên chúng vẫn giúp những người chí nguyện tiến bộ lên Con Đường Đệ Tử. Thầy MDR kết luận rằng nếu không có áp dụng và kiểm chứng cá nhân thì sẽ không có điểm đạo, và mỗi người phải tự hỏi mình đã thực sự sống điều mình nghĩ là mình hiểu hay chưa.
Nhân loại đứng ở cửa Con Đường Đệ Tử và chiến tranh thế giới như một tiến trình chỉnh hợp cưỡng bức
Theo Thầy MDR, lời dạy cho thấy toàn thể nhân loại đang ở ngay ngưỡng cửa Con Đường Đệ Tử, nghĩa là có liên hệ với một dạng “điểm đạo dự bị” ở quy mô chủng tộc. Cái nhìn của nhân loại hướng về khải tượng dưới nhiều hình thức: linh hồn, đời sống tốt đẹp hơn, kinh tế được cải thiện, quan hệ chủng tộc tốt hơn; tuy những khải tượng ấy thường méo mó, vật chất hóa hoặc chỉ thấy một phần, nhưng điều mới mẻ là quần chúng nay đã nắm bắt được cái “mới và đáng mong muốn”. Thầy MDR cho rằng đây là dấu hiệu của Hổ Cáp, Kim Ngưu, Bảo Bình và Uranus; quần chúng không còn cam chịu như trước nên xuất hiện một “sự xáo trộn có lợi”. Thầy nhấn mạnh thêm rằng Chiến tranh Thế giới 1914–1945 là nguyên nhân tinh thần cho một tiến trình chỉnh hợp tập thể, quét đi nhiều đống đổ nát ngăn trở sự chỉnh hợp của nhân loại.
Cổ Luận về đau khổ và sự kết thúc một chu kỳ của giống dân Arya
Trích đoạn Cổ Luận về “lưỡi kéo bén của sầu khổ”, “roi đau đớn”, và “nhổ bật rễ sự sống khỏi đất của dục vọng ích kỷ” được Thầy MDR gọi là tuyệt đẹp và đầy tính gợi mở. Thầy liên hệ “lưỡi kéo của sầu khổ” với Pluto, còn “roi đau đớn” như cú sốc đánh thức con người khỏi Tamas, đẩy ít nhất sang Rajas để có thể đáp ứng với “sự sống tinh tế”. Hình ảnh rễ cây bị giật khỏi đất dục vọng ích kỷ được Thầy diễn giải qua biểu tượng cây có rễ ở trên, hoa ở dưới, cho thấy con người thường lầm tưởng mình cắm rễ trong vật chất thay vì trong cõi trên. Về “sự khép lại của giống dân gốc Arya”, Thầy lưu ý đây không phải kết thúc hoàn toàn mà là chấm dứt một chu kỳ hoàn thiện trí năng cụ thể, để bước vào chu kỳ dùng trí như khí cụ chỉnh hợp, đèn pha của linh hồn và kẻ kiểm soát phàm ngã; Thầy còn bổ sung suy nghĩ riêng về “ba trí hợp nhất” theo hai cách hiểu khác nhau.
Bước kế tiếp của quần chúng là chỉnh hợp linh hồn và hình tướng qua giáo dục, thiện chí và trật tự thế giới mới
Thầy MDR cho rằng đối với quần chúng, bước tiến hoá sắp tới là chỉnh hợp linh hồn và hình tướng để có sự hòa trộn trong tâm thức, sau khi nguyên lý Đức Christ được hiểu về mặt trí tuệ và thể hiện sâu hơn trong đời sống chủng tộc. Thầy thấy dấu hiệu này trong sự mở rộng giáo dục toàn cầu, kể cả vai trò của internet như một mạng lưới đưa tri thức đến khắp nơi, mở ra “kỷ nguyên giáo dục phổ quát”. Những biểu hiện khác gồm mối quan tâm phổ quát đến thiện chí dẫn đến hòa bình, các kế hoạch cho một trật tự thế giới mới dựa trên tự do con người, nhân quyền, quan hệ đúng đắn, cùng các phong trào nhân đạo và phúc lợi. Thầy MDR nhận xét tất cả các lĩnh vực ashram như giáo dục, tài chính, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật, lý tưởng và ý chí đúng đắn đều phải góp phần thì hòa bình mới có thể được giải quyết một cách thực chất.
Tinh thần Đức Christ vượt xa khuôn khổ tôn giáo hẹp hòi
Thầy MDR nhấn mạnh rằng “tinh thần Đức Christ đang hiện diện một cách biểu lộ”, nhưng nhân loại thường không nhận ra vì giải thích cụm từ này chỉ trong ngôn ngữ tôn giáo, đặc biệt dưới ảnh hưởng kéo dài của cung sáu. Theo Thầy, đây là một trong những nỗ lực quan trọng của Chân sư DK: định nghĩa lại tinh thần không theo một lối tiếp cận duy nhất mà theo sự kết hợp của cả bảy cung, vì mọi đại lộ dẫn tới Thực Tại đều là tinh thần và đều diễn dịch Thiên Ý. Do đó, cả người Kitô giáo nói về Thiên Giới, nhà nhân đạo đề cao tình huynh đệ, hay các nhà lãnh đạo chiến đấu chống điều ác để bảo vệ trật tự thế giới mới, Bốn Tự Do hay Hiến chương Đại Tây Dương đều đang biểu hiện tình thương của Thượng đế trong dạng thức tinh thần Đức Christ. Thầy MDR lưu ý người học cần mở rộng cách hiểu về tinh thần để thoát khỏi niềm tự hào và tính thượng tôn do lối hiểu tôn giáo hẹp sinh ra.
Sự xuất hiện của điều thiện tất yếu gọi ra phản ứng của các mãnh lực tà ác
Khi Chân sư DK nói nhân loại đang nổi lên khỏi bóng tối và vì thế đã tự khơi dậy phản ứng của các quyền năng tà ác, Thầy MDR diễn giải rằng nhân loại đang trở thành “đệ tử thế giới”, và có thể cả “điểm đạo đồ thế giới” ở mức lần điểm đạo thứ nhất nơi tầng lớp cao hơn của nhân loại. Chính sự trỗi dậy của điều thiện, chân và mỹ nơi quần chúng đã làm các mãnh lực tà ác phản ứng nhằm ngăn chặn bước tiến của tinh thần nhân loại. Thầy MDR gọi các hành động của Hắc đoàn là những hành động tuyệt vọng, nhắc tới nhận xét của bà Roerich rằng thất bại của chúng là cận kề, đồng thời liên hệ với đảm bảo của Chân sư DK rằng Hắc đoàn sẽ bị đánh lui lớn lao, đặc biệt nhờ sự tái lâm của Đức Christ, Đấng mà tình thương hùng mạnh của Ngài là đối thủ lớn nhất của chúng. Dù cuộc thanh toán hoàn toàn có thể còn kéo dài đến “Ngày Phán Xét” trong cuộc tuần hoàn thứ năm, xu thế chung vẫn là chiến thắng của ánh sáng.
Người chí nguyện và đệ tử dự bị: vừa cường hoá phàm ngã vừa tiến vào ánh sáng
Thầy MDR phân biệt rằng người chí nguyện đi trước đệ tử dự bị, còn đệ tử dự bị là người chí nguyện đã nghiêm túc hơn với con đường. Tiến trình tập trung tâm thức vào linh hồn có hai phần: một là tăng cường đời sống phàm ngã đến mức phát triển tối đa các quyền năng cá thể, hai là tiến vào ánh sáng và có tiếp xúc hữu thức với linh hồn. Thầy liên hệ giai đoạn này với sự khai mở cánh hoa thứ năm của Hoa Sen Chân Ngã, cánh hoa Sư Tử: lúc đầu rất cá nhân chủ nghĩa, về sau trở thành người chí nguyện, và khi cánh hoa nở trọn thì báo hiệu lần điểm đạo thứ nhất. Đây là một nhận xét mang tính kỹ thuật riêng của Thầy MDR, nhằm nối các giai đoạn tâm thức với cấu trúc vi tế của Hoa Sen Chân Ngã.
Giai đoạn chỉnh hợp đầu tiên có thể biểu lộ qua khoa học, công việc tinh thần hay nhân đạo
Thầy MDR giải thích “giai đoạn sớm của chỉnh hợp” là một nỗ lực tập trung mãnh liệt, phù hợp với cung và mục đích sống của linh hồn, trước hết nhằm chỉnh hợp linh hồn với phàm ngã. Nó có thể biểu lộ như chuyên tâm sâu sắc vào khoa học, dấn thân vào công việc tinh thần của thế giới, hay hiến mình cho nỗ lực nhân đạo; điều quan trọng là “không thành vấn đề” đường nào được chọn, miễn đó là một đường cung đúng. Thầy nhận xét trên sân khấu quốc gia và thế giới có nhiều người vẫn còn chủ yếu ở pha phàm ngã, quá bị biểu hiện riêng của mình chi phối; đây là giai đoạn cần đi qua nhưng cũng nguy hiểm vì thiếu quan tâm đúng mức đến sự phát triển của người khác. Tuy nhiên, khi động lực là sự cải thiện, khi nỗ lực được đẩy tới mức mãnh liệt và song hành với việc lập hạnh cùng mục đích vững bền, thì con đường từ linh hồn tới bộ não qua trí sẽ mở ra và người chí nguyện làm chủ được giai đoạn đầu của chỉnh hợp.
Điều kiện để thiết lập liên hệ rõ rệt với linh hồn
Đoạn giảng nhấn mạnh rằng người chí nguyện hay đệ tử dự bị phải có động cơ đúng đắn, đồng thời phát triển song song lập hạnh tốt và mục đích ổn định thì cuối cùng mới thiết lập được một liên hệ rõ rệt với linh hồn. Thầy MDR lưu ý đây là kinh nghiệm tất yếu mà nhiều người đã trải qua, đang trải qua, hoặc chưa trải qua nhưng không thể bỏ qua trên đường đạo. Thầy nhấn mạnh lập hạnh đúng là loại tính cách không gây chia rẽ trong các mối quan hệ, không đi ngược lại quan hệ đúng đắn giữa người với người và không chống lại tâm thức nhóm; còn mục đích thì không được thoáng hiện rồi biến mất, mà phải bền vững và nhất quán.
Khai mở con đường tiếp xúc giữa linh hồn, trí và não bộ
Khi liên hệ với linh hồn đã được xác lập, người đệ tử khám phá rằng con đường tiếp xúc từ linh hồn đến bộ não, thông qua trí, đã được khai mở, và như vậy giai đoạn đầu của tiến trình chỉnh hợp cần thiết đã được làm chủ. Thầy MDR nhận xét điều này “gợi ý” rất mạnh đến lần điểm đạo thứ nhất, và cho rằng người học có thể tự đánh giá mình dựa trên nhiều trước tác của Chân sư DK về Tâm Lý Học Nội Môn. Thầy còn suy luận rằng phần lớn các sách đó được viết cho những người ở quanh ngưỡng lần điểm đạo thứ nhất, và Chân sư DK dường như giả định rằng nhiều độc giả tận tụy, nếu thực hành điều được chỉ dẫn, sẽ đạt tới điểm này.
Bước vào Con Đường Đệ Tử và ý nghĩa của địa vị đệ tử thực sự
Sau khi hoàn tất giai đoạn chỉnh hợp đầu tiên, con người đi vào Con Đường Đệ Tử và có thể bắt đầu công việc được trình bày trong bộ luận này. Thầy MDR nói rõ việc “passes on to the Path of Discipleship” thực sự xảy ra ở lần điểm đạo thứ nhất. Thầy cũng đặt câu hỏi liệu “địa vị đệ tử” ở đây có nghĩa là địa vị đệ tử được chấp nhận hay không, rồi kết luận rằng chính ở đây địa vị đệ tử chân chính mới thực sự bắt đầu, nên phải hiểu là địa vị đệ tử được chấp nhận.
Nhân loại đang ở một điểm trung tâm của tiến hoá
Câu khẳng định rằng toàn thể gia đình nhân loại đã đạt đến một điểm trung tâm và cực kỳ quan trọng trên đường tiến hoá được Thầy MDR xem là điều cần khích lệ lòng tin. Thầy nhận xét rằng nếu con người biết tin vào chính mình một cách lành mạnh, không rơi vào kiêu hãnh, thì năng lượng sẽ lưu chuyển mạnh hơn và công việc phụng sự sẽ thành công hơn. Đây là một bình luận cá nhân quan trọng của Thầy, mở rộng ý văn của Chân sư DK sang phương diện tâm lý thực tiễn của người tu học.
Đứng vững trong hiện thể tinh thần và tiến lên không nao núng
Con đường trước mắt của mỗi người là đứng đúng định hướng, không bị hoàn cảnh làm chùn bước, rồi kiên định tiến lên. Thầy MDR đặc biệt nhấn mạnh cụm “to stand with right orientation” như là đứng trong hiện thể tinh thần với định hướng đúng. Thầy còn nhận xét trong lời này có âm hưởng rõ của cung một và ý chí; theo Thầy, điều đó phù hợp vì Chân sư DK có yếu tố cung một trong Tam Nguyên Tinh Thần.
Text
|
(Trong một số Bài Nói Chuyện với Đệ Tử, Chân sư Tây Tạng đưa ra những nhận xét sau đây áp dụng ở đây với sức mạnh đặc biệt. A.A.B.) [Page 496] |
|
|
“Your major need is for an intensification of your inner spiritual aspiration. You need to work more definitely from what might be called a point of tension. Study what is said about tension and intensity. It is intensity of purpose which will change you from the plodding fairly satisfactory aspirant into the disciple whose heart and mind are aflame. Perhaps, however, you prefer to go forward steadily, with no group effort, making your work for me and for the group an ordered part of the daily life, which you can adjust pretty much as you like, and in which the life of the spirit receives its reasonable share, in which the service aspect is not neglected, and your life presentation is neatly balanced and carried forward without much real strain. When this is the case, it may be your personality choice or your soul decision for a specific life, but it means that you are not the disciple, with everything subordinated to the life of discipleship. |
“Nhu cầu chính của bạn là một sự tăng cường khát vọng tinh thần bên trong của bạn. Bạn cần làm việc rõ ràng hơn từ những gì có thể được gọi là một điểm tập trung nhất tâm. Nghiên cứu những gì được nói về sự căng thẳng và cường độ. Chính cường độ của mục đích sẽ thay đổi bạn từ người chí nguyện kiên trì khá hài lòng thành đệ tử có trái tim và trí tuệ bừng cháy. Tuy nhiên, có lẽ bạn thích tiến lên một cách ổn định, không có nỗ lực nhóm, làm cho công việc của bạn cho tôi và cho nhóm trở thành một phần có trật tự của cuộc sống hàng ngày, mà bạn có thể điều chỉnh khá nhiều theo ý thích của mình, và trong đó cuộc sống tinh thần nhận được phần hợp lý của nó, trong đó khía cạnh phụng sự không bị bỏ qua, và sự trình bày cuộc sống của bạn được cân bằng gọn gàng và tiến lên mà không có nhiều căng thẳng thực sự. Khi điều này xảy ra, có thể là sự lựa chọn của phàm ngã của bạn hoặc quyết định của linh hồn bạn cho một cuộc sống cụ thể, nhưng điều đó có nghĩa là bạn không phải là đệ tử, với mọi thứ được đặt dưới sự phục vụ của cuộc sống đệ tử. |
|
“I would like here to point out two things. First: if you can so change your tension that you are driven by the life of the spirit, it will entail a galvanic upheaval in your inner life. For this, are you prepared? Secondly: it will not produce any outer change in your environing relationships. Your outer obligations and interests must continue to be met, but I am talking in terms of inner orientations, dynamic inner decisions, and an interior organizing for service and for sacrifice. Perhaps you prefer the slower and easier way? If that is so, it is entirely your own affair, and you are still on your way. You are still a constructive and useful person. I am simply here facing you with one of the crises which come in the life of all disciples, wherein choices have to be made that are determining for a cycle, but for a cycle only. It is pre-eminently a question of speed and of organizing for speed. This means eliminating the non-essentials and concentrating on the essentials—the inner essentials, as they concern the soul and its relation to the personality, and the outer ones as they concern you and your environment. |
“Tôi muốn chỉ ra hai điều ở đây. Thứ nhất: nếu bạn có thể thay đổi sự tập trung nhất tâm của mình để bạn bị thúc đẩy bởi cuộc sống tinh thần, điều đó sẽ dẫn đến một cuộc biến động mạnh mẽ trong cuộc sống nội tâm của bạn. Bạn đã chuẩn bị cho điều này chưa? Thứ hai: nó sẽ không tạo ra bất kỳ thay đổi nào bên ngoài trong các mối quan hệ xung quanh của bạn. Các nghĩa vụ và sở thích bên ngoài của bạn phải tiếp tục được đáp ứng, nhưng tôi đang nói về các định hướng nội tâm, các quyết định nội tâm động lực, và một tổ chức nội tâm cho phụng sự và hy sinh. Có lẽ bạn thích con đường chậm hơn và dễ dàng hơn? Nếu vậy, đó hoàn toàn là việc của bạn, và bạn vẫn đang trên đường đi. Bạn vẫn là một người xây dựng và hữu ích. Tôi chỉ đơn giản là đối mặt với bạn với một trong những khủng hoảng xảy ra trong cuộc sống của tất cả các đệ tử, trong đó các lựa chọn phải được thực hiện quyết định cho một chu kỳ, nhưng chỉ cho một chu kỳ. Đó là một câu hỏi nổi bật về tốc độ và tổ chức cho tốc độ. Điều này có nghĩa là loại bỏ những điều không cần thiết và tập trung vào những điều cần thiết—những điều cần thiết nội tâm, vì chúng liên quan đến linh hồn và mối quan hệ của nó với phàm ngã, và những điều cần thiết bên ngoài vì chúng liên quan đến bạn và môi trường của bạn. |
|
“I would give you three key thoughts for deep reflection [Page 497] during the next six months; will you ponder on them, one each month for three months, within the head, and during the second three months brood on them in the heart. These key thoughts are: |
“Tôi muốn đưa ra ba tư tưởng chính cho sự suy ngẫm sâu sắc [Page 497] trong sáu tháng tới; bạn sẽ suy ngẫm về chúng, mỗi tháng một lần trong ba tháng, trong đầu, và trong ba tháng tiếp theo suy ngẫm về chúng trong trái tim. Những tư tưởng chính này là: |
|
1. The necessity for speed. |
1. Sự cần thiết của tốc độ. |
|
2. The reorganization of standards of thought and of living. |
2. Tái tổ chức các tiêu chuẩn tư tưởng và cuộc sống. |
|
3. The expression of: Sincerity, Sacrifice, Simplicity.” (Discipleship in the New Age, Vol. I. Page 538) |
3. Sự biểu hiện của: Chân thành, Hy sinh, Đơn giản.” (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I. Trang 538) |
|
[1] In the many strands of light, woven by the aspirants, disciples and initiates of the world, [2] we can see the group antahkarana gradually [3] appearing—that bridge whereby humanity as a whole will be able to abstract itself from matter and form. [4] This building of the antahkarana is the great and ultimate service which all true aspirants can render. |
[1] Trong nhiều sợi ánh sáng, do những người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ của thế giới dệt nên, [2] chúng ta có thể thấy antahkarana của tập thể đang dần dần [3] xuất hiện — cây cầu nhờ đó toàn thể nhân loại sẽ có thể rút mình ra khỏi vật chất và hình tướng. [4] Việc kiến tạo antahkarana này là sự phụng sự lớn lao và tối hậu mà mọi người chí nguyện chân chính có thể thực hiện. |
|
[5] The Immediate Task Ahead |
[5] Nhiệm Vụ Trước Mắt |
|
[6] What I have now to say is in the nature of a generalisation. I would like to indicate, as far as possible (asking you to remember that all generalisations are basically sound but erroneous in detail), [7] the point where humanity stands in relation to the antahkarana. [8] It might be said that the whole goal of normal evolution is to bring humanity to the point where a direct line of contact is established between the personality [9] and the Spiritual Triad, via the soul—or rather, through the medium of using the soul consciousness to achieve this awareness. [10] This is consummated at the time of the third initiation. [11] We will now for a minute consider the Monad. |
[6] Điều tôi sắp nói đây mang tính chất một sự khái quát. Tôi muốn chỉ ra, trong chừng mực có thể — và xin các bạn nhớ rằng mọi khái quát đều căn bản là đúng nhưng sai lầm trong chi tiết — [7] vị trí hiện nay của nhân loại trong mối liên hệ với antahkarana. [8] Có thể nói rằng toàn bộ mục tiêu của tiến hoá bình thường là đưa nhân loại đến điểm mà một đường tiếp xúc trực tiếp được thiết lập giữa phàm ngã [9] và Tam Nguyên Tinh Thần, thông qua linh hồn — hay đúng hơn, qua trung gian của việc sử dụng tâm thức linh hồn để đạt tới nhận thức này. [10] Điều này được hoàn tất vào thời điểm lần điểm đạo thứ ba. [11] Bây giờ, trong giây lát, chúng ta sẽ xem xét chân thần. |
|
[12] I would remind you that there is an analogy in the relation between personality and soul, to that between the Triad and the Monad. [13] This is an analogy that is essentially complete, from the standpoint of consciousness, but not from the standpoint of form. [14] What finally takes place at the most advanced stage of development is the complete fusion of the unified personality and soul with the unified Monad and Spiritual Triad. [15] Only when this has been truly [Page 498] accomplished is there the complete release of the Lives informing our solar system from all form control. [16] Bear this carefully in mind, realising the significance of the word Service, used so frequently in the occult science, and realising also [17] the fact that, for aspirants and disciples, [18] the immediate task ahead is: |
[12] Tôi muốn nhắc các bạn rằng có một sự tương đồng trong mối liên hệ giữa phàm ngã và linh hồn, với mối liên hệ giữa Tam nguyên tinh thần và chân thần. [13] Đó là một sự tương đồng về bản chất là trọn vẹn, xét từ lập trường tâm thức, nhưng không phải từ lập trường hình tướng. [14] Điều cuối cùng diễn ra ở giai đoạn phát triển cao nhất là sự dung hợp hoàn toàn của phàm ngã và linh hồn đã hợp nhất với chân thần và Tam Nguyên Tinh Thần đã hợp nhất. [15] Chỉ khi điều này đã thật sự [Page 498] hoàn thành, các Sự Sống đang thấm nhuần hệ mặt trời của chúng ta mới được giải thoát hoàn toàn khỏi mọi sự kiểm soát của hình tướng. [16] Hãy ghi nhớ kỹ điều này, nhận ra thâm nghĩa của từ Phụng sự, vốn được dùng rất thường xuyên trong khoa học huyền bí, và cũng nhận ra [17] sự kiện rằng, đối với những người chí nguyện và các đệ tử, [18] nhiệm vụ trước mắt là: |
|
[19] 1. To bring about the at-one-ment of soul and body, through the medium of alignment, |
[19] 1. Đưa đến sự hợp nhất giữa linh hồn và thể xác, thông qua trung gian của sự chỉnh hợp, |
|
[20] 2. To build the antahkarana, using the six modes or means outlined by me previously, and thus evoke response to the Triad. [21] The thought of Alignment-Invocation-Evocation are the three major ideas for you to hold in mind as we proceed with this study. |
[20] 2. Kiến tạo antahkarana, bằng cách sử dụng sáu phương thức hay phương tiện mà tôi đã phác thảo trước đây, và nhờ đó gợi lên sự đáp ứng đối với Tam nguyên tinh thần. [21] Tư tưởng về Chỉnh hợp-Khẩn Cầu-Gợi Lên là ba ý tưởng chính yếu mà các bạn cần giữ trong trí khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu này. |
|
[22] The reason that I am giving out what was earlier regarded as some of the preparatory work prior to the third initiation [23] is due to the fact that the race is now at the point of development which warrants complete change in the approach to divinity as taught by the Hierarchy. [24] This does not mean that past teaching is abrogated, but it is shifted back to the earlier stages on the Path of Discipleship, [25] whilst the teaching given in those stages now becomes the work done by the aspirants upon the Probationary Path. [26] Emphasis has been laid upon purification, [27] upon the need for the development of the Christ life, [28] upon the mystical vision and upon philosophy. [29] Occult truths have been given to the race and have evoked much interest, criticism and discussion; [30] they have appealed to all types of mind; they have been distorted and misapplied. Nevertheless, they have been instrumental in aiding advanced aspirants to move forward on to the Path of Discipleship, with a paralleling moving forward of accepted disciples. [31] Once firmly established upon the Path, the truths become self-evident and individual application and verification can be made, leading the disciple inevitably to the Portal of Initiation. |
[22] Lý do tôi đưa ra điều trước kia được xem là một phần công việc chuẩn bị trước lần điểm đạo thứ ba [23] là vì nhân loại hiện đang ở điểm phát triển cho phép có một sự thay đổi hoàn toàn trong cách tiếp cận thiên tính như Thánh Đoàn đã giảng dạy. [24] Điều này không có nghĩa là giáo huấn quá khứ bị bãi bỏ, mà nó được chuyển lùi về các giai đoạn sớm hơn trên Con Đường Đệ Tử, [25] trong khi giáo huấn được trao ở các giai đoạn đó nay trở thành công việc do những người chí nguyện thực hiện trên Con Đường Dự Bị. [26] Sự nhấn mạnh đã được đặt vào việc thanh luyện, [27] vào nhu cầu phát triển đời sống Đức Christ, [28] vào linh ảnh thần bí và vào triết học. [29] Những chân lý huyền bí đã được trao cho nhân loại và đã gợi lên nhiều quan tâm, phê bình và thảo luận; [30] chúng đã hấp dẫn mọi loại trí tuệ; chúng đã bị bóp méo và áp dụng sai. Tuy nhiên, chúng đã là phương tiện giúp những người chí nguyện tiến bộ tiến lên Con Đường Đệ Tử, đồng thời các đệ tử được chấp nhận cũng tiến bước song song. [31] Một khi đã vững vàng an lập trên Đường Đạo, các chân lý trở nên tự hiển nhiên, và sự áp dụng cùng kiểm chứng cá nhân có thể được thực hiện, tất yếu dẫn đệ tử đến Cổng Điểm Đạo. |
|
[32] The race as a whole stands now at the very entrance to the Path of Discipleship. [33] The racial gaze is forward to the vision, [34] whether it is the vision of the soul, a vision of a better way of life, [35] of an improved economic situation, or of [Page 499] better inter-racial relationship. [36] That this vision is oft distorted, that it is materially oriented or only partially seen is sadly true; [37] but in some form or another there exists today an appreciable grasp of the “new and desirable” by the masses—a thing hitherto unknown. [38] In the past, it was the intelligentsia or the elect who were privileged to have the vision. Today, it is the mass of men. [39] Humanity, therefore, as a whole stands ready for a general alignment process, [40] and that is the spiritual reason which lay behind the world war. [41] The “sharp shears of [42] sorrow must separate the real from the unreal; the lash of pain must awaken the sleepy soul to exquisite life; the wrenching away of the roots of life from the soil of selfish desire must be undergone, and then the man stands free.” [43] So runs the Old Commentary in one of its more mystical stanzas. [44] Thus it points prophetically to the close of the Aryan Race—not a close in the sense of completion, but a closing of a cycle of mental perfecting, [45] preparatory to a cycle wherein the mind will be rightly used as an instrument of alignment, then as the searchlight of the soul, and as the controller of the personality. |
[32] Toàn thể nhân loại hiện đang đứng ngay tại lối vào Con Đường Đệ Tử. [33] Cái nhìn của nhân loại đang hướng về phía trước, hướng tới linh ảnh, [34] dù đó là linh ảnh của linh hồn, tầm nhìn về một lối sống tốt đẹp hơn, [35] về một tình trạng kinh tế được cải thiện, hay về [Page 499] mối quan hệ liên chủng tộc tốt đẹp hơn. [36] Rằng linh ảnh này thường bị bóp méo, rằng nó hướng về vật chất hoặc chỉ được thấy một phần, đó là điều đáng buồn nhưng có thật; [37] nhưng dưới hình thức này hay hình thức khác, ngày nay trong quần chúng có một sự nắm bắt đáng kể về “cái mới và đáng mong muốn” — một điều trước đây chưa từng được biết đến. [38] Trong quá khứ, chính giới trí thức hoặc những người được tuyển chọn mới có đặc quyền có được linh ảnh. Ngày nay, đó là đại chúng nhân loại. [39] Vì vậy, toàn thể nhân loại đang sẵn sàng cho một tiến trình chỉnh hợp tổng quát, [40] và đó là lý do tinh thần nằm sau cuộc chiến tranh thế giới. [41] “Những lưỡi kéo sắc bén của [42] đau thương phải tách cái thật khỏi cái không thật; ngọn roi của đau đớn phải đánh thức linh hồn đang ngủ say đi vào sự sống tinh tế; việc nhổ bật các rễ của sự sống khỏi mảnh đất của dục vọng ích kỷ phải được trải qua, và bấy giờ con người đứng tự do.” [43] Cổ Luận đã nói như thế trong một trong những bài kệ thần bí hơn của nó. [44] Như vậy, nó chỉ ra một cách tiên tri sự kết thúc của Giống dân Arya — không phải một sự kết thúc theo nghĩa hoàn tất, mà là sự khép lại của một chu kỳ hoàn thiện trí tuệ, [45] chuẩn bị cho một chu kỳ trong đó thể trí sẽ được sử dụng đúng đắn như một khí cụ chỉnh hợp, rồi như ngọn đèn pha của linh hồn, và như yếu tố kiểm soát phàm ngã. |
|
[46] For the masses—under the slow processes of evolution—the next step forward is the aligning of the soul and the form, [47] so that there can be a blending in consciousness, following on a mental appreciation of the Christ principle and its deep expression in the life of the race. [48] This is something which can be seen quite clearly emerging, if you have the eyes to see. [49] It is evident in the universal interest in goodwill, leading eventually to peace; [50] this desire for peace may be based on individual or national selfishness, or upon a true desire to see a happier world wherein man can lead a fuller spiritual life and base his efforts on truer values; [51] it can be seen in all the planning which is going on for a new world order, [52] based on human liberty, [53] belief in human rights and right human relations; [54] it is demonstrating also in the work of the great humanitarian movements, the welfare organisations, and the widespread evocation of the human mind through the network of educational institutions throughout the world. |
[46] Đối với quần chúng — dưới các tiến trình chậm rãi của tiến hoá — bước tiến kế tiếp là sự chỉnh hợp giữa linh hồn và hình tướng, [47] để có thể có một sự hòa trộn trong tâm thức, tiếp theo sau sự lĩnh hội bằng trí tuệ về nguyên lý Đức Christ và sự biểu hiện sâu xa của nguyên lý ấy trong đời sống của nhân loại. [48] Đây là điều có thể được thấy đang xuất hiện khá rõ ràng, nếu các bạn có mắt để thấy. [49] Nó hiển nhiên trong mối quan tâm phổ quát đối với thiện chí, cuối cùng dẫn đến hòa bình; [50] ước muốn hòa bình này có thể đặt trên sự ích kỷ cá nhân hoặc quốc gia, hoặc trên một ước muốn chân thật muốn thấy một thế giới hạnh phúc hơn, trong đó con người có thể sống một đời sống tinh thần đầy đủ hơn và đặt các nỗ lực của mình trên những giá trị chân thật hơn; [51] nó có thể được thấy trong mọi kế hoạch đang diễn ra cho một trật tự thế giới mới, [52] đặt nền trên tự do của con người, [53] niềm tin vào nhân quyền và các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người; [54] nó cũng đang biểu lộ trong công việc của các phong trào nhân đạo lớn, các tổ chức phúc lợi, và sự gợi lên rộng khắp của trí tuệ nhân loại thông qua mạng lưới các cơ sở giáo dục trên toàn thế giới. |
|
[55] The Christ spirit is expressively present, [Page 500] and the failure to recognise this fact has been largely due to the prevalent human effort to explain and interpret this phrase solely in terms of religion, [56] whereas the religious interpretation is but one mode of understanding Reality. There are others of equal importance. [57] All the great avenues of approach to Reality are spiritual in nature and interpretive of divine purpose, [58] and whether the religious Christian speaks of the Kingdom of God, [59] or the humanitarian emphasises the brotherhood of man, [60] or the leaders against evil head the fight for the new world order [61] or for the Four Freedoms or the Atlantic charter, they all express the emergence of the love of God in its form of the spirit of Christ. |
[55] Tinh thần Đức Christ đang hiện diện một cách biểu cảm, [Page 500] và việc không nhận ra sự kiện này phần lớn là do nỗ lực phổ biến của con người nhằm giải thích và diễn giải cụm từ này chỉ theo các thuật ngữ tôn giáo, [56] trong khi cách diễn giải tôn giáo chỉ là một phương thức để thấu hiểu Thực tại. Còn có những phương thức khác cũng quan trọng không kém. [57] Tất cả những đại lộ tiếp cận vĩ đại đến Thực tại đều có bản chất tinh thần và đều diễn giải Thiên Ý, [58] và dù người Ki-tô hữu sùng đạo nói đến Thiên Giới, [59] hay nhà nhân đạo nhấn mạnh tình huynh đệ của con người, [60] hay các nhà lãnh đạo chống lại tà ác dẫn đầu cuộc đấu tranh cho trật tự thế giới mới [61] hoặc cho Bốn Quyền Tự Do hay Hiến chương Đại Tây Dương, tất cả họ đều biểu lộ sự xuất hiện của tình thương của Thượng đế trong hình thức tinh thần Đức Christ. |
|
[62] Humanity in the mass has therefore reached a point of emergence from darkness; [63] it has itself evoked the reaction of the powers of evil, [64] and hence their attempt to arrest the progress of the human spirit and to stop the onward march of the good, the true and the beautiful, |
[62] Vì vậy, nhân loại xét như một khối đã đạt đến một điểm xuất hiện khỏi bóng tối; [63] chính nó đã gợi lên phản ứng của các quyền lực tà ác, [64] và do đó có nỗ lực của chúng nhằm chặn đứng sự tiến bộ của tinh thần con người và ngăn lại cuộc tiến bước của cái thiện, cái chân và cái mỹ, |
|
[65] Aspirants and probationary disciples are occupied with a definite process of focussing their consciousness in the soul. This process falls into two parts: |
[65] Những người chí nguyện và các đệ tử dự bị đang bận rộn với một tiến trình xác định nhằm tập trung tâm thức của họ trong linh hồn. Tiến trình này gồm hai phần: |
|
[66] An intensification of the personality life, so that it is developed to its highest individualistic powers. |
[66] Một sự tăng cường đời sống phàm ngã, để nó được phát triển đến các quyền năng cá thể cao nhất của nó. |
|
[67] A process of moving forward into the light and of conscious soul contact. |
[67] Một tiến trình tiến bước vào ánh sáng và tiếp xúc có ý thức với linh hồn. |
|
[68] This involves the earlier stage of the alignment process, which is a mode of focussed, concentrated effort, according to the ray and life purpose of the soul. [69] This may take the form of a profound application to some scientific endeavour or a deep concentration on the spiritual work of the world, or it may be a complete dedication to humanitarian effort; [70] it matters not. [71] I would call your attention to that statement. [72] In every case the motivating power must be betterment; [73] it must be carried forward by extreme effort; [74] but—given right motive and the effort to develop simultaneously a good character and a stable purpose—the aspirant or probationary disciple will eventually find that he has succeeded in establishing a definite soul relation; [75] he will have discovered that [Page 501] the path of contact between soul and brain, via the mind, has been opened, and that he has mastered the first stage in the needed alignment process. |
[68] Điều này bao hàm giai đoạn sớm hơn của tiến trình chỉnh hợp, vốn là một phương thức nỗ lực được tập trung và chuyên chú, tùy theo cung và mục đích sống của linh hồn. [69] Điều này có thể mang hình thức của sự chuyên tâm sâu xa vào một nỗ lực khoa học nào đó, hoặc sự tập trung sâu sắc vào công việc tinh thần của thế giới, hoặc có thể là sự hiến mình trọn vẹn cho nỗ lực nhân đạo; [70] điều đó không quan trọng. [71] Tôi muốn kêu gọi các bạn chú ý đến phát biểu ấy. [72] Trong mọi trường hợp, quyền năng thúc đẩy phải là sự cải thiện; [73] nó phải được tiến hành bằng nỗ lực cực độ; [74] nhưng — nếu có động cơ đúng đắn và nỗ lực đồng thời phát triển một tính cách tốt cùng một mục đích ổn định — người chí nguyện hoặc đệ tử dự bị cuối cùng sẽ thấy rằng y đã thành công trong việc thiết lập một mối liên hệ xác định với linh hồn; [75] y sẽ khám phá ra rằng [Page 501] con đường tiếp xúc giữa linh hồn và bộ não, thông qua thể trí, đã được mở ra, và rằng y đã làm chủ giai đoạn đầu tiên trong tiến trình chỉnh hợp cần thiết. |
|
[76] When this has been accomplished, the man passes on to the Path of Discipleship and can undertake the work I am outlining for you in this treatise. [77] Thus you can see how the entire human family has reached a central and most important point upon the evolutionary path. [78] The immediate path ahead for all—each in his own place—is to stand with right orientation, [79] undeterred by circumstances, and then unflinchingly move forward. |
[76] Khi điều này đã được hoàn thành, con người chuyển sang Con Đường Đệ Tử và có thể đảm nhận công việc mà tôi đang phác thảo cho các bạn trong khảo luận này. [77] Như vậy, các bạn có thể thấy toàn thể gia đình nhân loại đã đạt đến một điểm trung tâm và hết sức quan trọng trên con đường tiến hoá. [78] Con đường trước mắt dành cho tất cả — mỗi người ở vị trí riêng của mình — là đứng với định hướng đúng đắn, [79] không bị hoàn cảnh làm nản lòng, rồi tiến bước không nao núng. |
Commentary
|
Hi, everybody, and now we continue. We’re on number 43 of the Rays and Initiations Webinar Commentaries, and we have gone through the six stages of building the antahkarana. There’s probably so much that cannot be conveyed by words, as the Tibetan tells us, but there is much which we can learn intuitively by practicing and applying what we are told. So, it will come to us in the correct form of practice. |
Chào mọi người, và bây giờ chúng ta tiếp tục. Chúng ta đang ở số 43 của Bình luận Webinar về Các Cung và Điểm Đạo, và chúng ta đã đi qua sáu giai đoạn của việc xây dựng antahkarana. Có lẽ có rất nhiều điều không thể truyền đạt bằng lời, như Chân sư Tây Tạng đã nói với chúng ta, nhưng có rất nhiều điều mà chúng ta có thể học hỏi một cách trực giác bằng cách thực hành và áp dụng những gì chúng ta được chỉ dẫn. Vì vậy, nó sẽ đến với chúng ta dưới hình thức thực hành đúng đắn. |
|
And then Alice Bailey added a couple of paragraphs from other places, encouraging us to really get on to really increase our point of tension, so that we could apply ourselves in a manner uncharacteristic, perhaps, of us, if we prefer a little bit more gentle, even lazier, neatly balanced approach to life. She’s asking us to really apply ourselves with full power, increase the point of tension, and build at least the part of the bridge for which we as soul-infused personalities are responsible. That’s not all of the bridge, because as we’ve learned, from above comes the response, the evoked response of the Monad working through the Triad, and the higher part of the bridge is sent forth to meet the part for which we are responsible, and they swing into each other’s field of demonstration or expression, and there a contact is made, and it results in a demonstration of Light, Fire, a demonstration of Realization which we had not had before. |
Sau đó, Bà Alice Bailey đã thêm một vài đoạn từ những nơi khác, khuyến khích chúng ta thực sự tiến lên để thực sự tăng cường điểm tập trung nhất tâm của mình, để chúng ta có thể áp dụng bản thân theo cách không đặc trưng, có lẽ, của chúng ta, nếu chúng ta thích một cách tiếp cận nhẹ nhàng hơn, thậm chí lười biếng hơn, cân bằng gọn gàng đối với cuộc sống. Bà đang yêu cầu chúng ta thực sự áp dụng bản thân với toàn bộ sức mạnh, tăng cường điểm tập trung nhất tâm, và xây dựng ít nhất phần của cây cầu mà chúng ta với tư cách là phàm ngã được linh hồn thấm nhuần chịu trách nhiệm. Đó không phải là toàn bộ cây cầu, bởi vì như chúng ta đã học, từ trên cao đến sự đáp ứng, sự đáp ứng được gợi lên của Chân Thần làm việc thông qua Tam Nguyên, và phần cao hơn của cây cầu được gửi đi để gặp phần mà chúng ta chịu trách nhiệm, và chúng xoay vào trường biểu hiện hoặc biểu hiện của nhau, và ở đó một liên hệ được thực hiện, và nó dẫn đến một biểu hiện của Ánh sáng, Lửa, một biểu hiện của Nhận thức mà chúng ta chưa từng có trước đây. |
|
So, this is a very subtle science, one that for which we can trust DK as He has given us the proper method of proceeding, and then the rest is up to us. It may be difficult because we do not necessarily see or immediately feel the results of building the bridge. I think results will come slowly, but we have to have much faith in the Teacher. He’s proven Himself in so many ways, so the ability to plot along is much to be desired, and we have to learn how to put one foot in front of the other, and keep moving even when the intended results are not obvious. Sincerity, Sacrifice, and Simplicity, the Reorganisation of standards of thought and living, and necessity for speed, organizing for speed, this was given to one of the disciples, and I think it has a lot to do with what is necessary for all of us. So going on. |
Đây là một khoa học rất tinh tế, một khoa học mà chúng ta có thể tin tưởng vào Chân sư DK khi Ngài đã cho chúng ta phương pháp đúng đắn để tiến hành, và sau đó phần còn lại là tùy thuộc vào chúng ta. Nó có thể khó khăn vì chúng ta không nhất thiết phải thấy hoặc ngay lập tức cảm nhận được kết quả của việc xây dựng cây cầu. Tôi nghĩ kết quả sẽ đến chậm, nhưng chúng ta phải có nhiều niềm tin vào Huấn Sư. Ngài đã chứng minh bản thân mình theo nhiều cách, vì vậy khả năng kiên trì là điều rất đáng mong muốn, và chúng ta phải học cách đặt một chân trước chân kia, và tiếp tục di chuyển ngay cả khi kết quả dự định không rõ ràng. Chân thành, Hy sinh, và Đơn giản, Tái tổ chức các tiêu chuẩn tư tưởng và cuộc sống, và sự cần thiết của tốc độ, tổ chức cho tốc độ, điều này đã được đưa ra cho một trong những đệ tử, và tôi nghĩ nó có rất nhiều liên quan đến những gì cần thiết cho tất cả chúng ta. Vì vậy, tiếp tục. |
|
[1] In the many strands of light, woven by the aspirants, disciples and initiates of the world, |
[1] Trong nhiều sợi ánh sáng, do những người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ của thế giới dệt nên, |
|
Because we’re all aspirants in a way, and if we begin this work around the time of the second initiation, or when the requirements of the second initiation are in sight, then we are considered an aspirant, but we may also be at the same time a disciple, or even an accepted disciple, and we are even at the same time a probationary initiate, but the antahkarana must continued to be built even by initiates, because there are higher aspects of it which must be strengthened, stabilized, and used as the mean of resurrection of the consciousness into the higher worlds. |
Bởi vì tất cả chúng ta đều là những người chí nguyện theo một cách nào đó, và nếu chúng ta bắt đầu công việc này vào khoảng thời gian của lần điểm đạo thứ hai, hoặc khi các yêu cầu của lần điểm đạo thứ hai đang trong tầm nhìn, thì chúng ta được coi là một người chí nguyện, nhưng chúng ta cũng có thể đồng thời là một đệ tử, hoặc thậm chí là một đệ tử được chấp nhận, và chúng ta thậm chí có thể đồng thời là một điểm đạo đồ dự bị, nhưng antahkarana phải tiếp tục được xây dựng ngay cả bởi các điểm đạo đồ, bởi vì có những khía cạnh cao hơn của nó cần được củng cố, ổn định, và sử dụng như phương tiện phục sinh của tâm thức vào các cõi giới cao hơn. |
|
[2] we can see the group antahkarana gradually emerging— |
[2] chúng ta có thể thấy antahkarana của tập thể đang dần dần |
|
That’s the really the important one, and all of these antahkaranas that extends even beyond the planet to other planets, to sacred planets, and from the sacred planets to the Sun, and on solar systemic antahkaranas, they are all, in a way, group antahkaranas. |
Đó thực sự là điều quan trọng, và tất cả những antahkarana này mở rộng thậm chí vượt ra ngoài hành tinh đến các hành tinh khác, đến các hành tinh thiêng liêng, và từ các hành tinh thiêng liêng đến Mặt Trời, và trên các antahkarana hệ mặt trời, tất cả chúng đều, theo một cách nào đó, là các antahkarana nhóm. |
|
[3] that bridge whereby humanity as a whole will be able to abstract itself from matter and form. |
[3] xuất hiện — cây cầu nhờ đó toàn thể nhân loại sẽ có thể rút mình ra khỏi vật chất và hình tướng. |
|
That bridge is being built, and of course that this will be yet a little while, with the emphasis on little meaning long. |
Cây cầu đó đang được xây dựng, và tất nhiên điều này sẽ còn một chút thời gian nữa, với sự nhấn mạnh vào từ “chút” có nghĩa là dài. |
|
[4] This building of the antahkarana is the great and ultimate service which all true aspirants can render. |
[4] Việc kiến tạo antahkarana này là sự phụng sự lớn lao và tối hậu mà mọi người chí nguyện chân chính có thể thực hiện. |
|
And every true aspirant has taken the first initiation, we’re told, |
Và mỗi người chí nguyện chân chính đã thực hiện lần điểm đạo thứ nhất, chúng ta được cho biết, |
|
This is not a selfish act, but a great and necessary act of selflessness. So, when we’re engaged in some of these occult activities, and we seem to be doing this for little personal selves, we remember the larger objective which allows the content of the Spiritual Triad to reach human consciousness, and ultimately the purpose of the Monad, and ultimately then our ability to be a true one who expresses the Divine Plan, and helps to bring it into objectivity, and that’s a great service, isn’t it? Our service is first to the Plan. |
Đây không phải là một hành động ích kỷ, mà là một hành động vô ngã lớn và cần thiết. Vì vậy, khi chúng ta tham gia vào một số hoạt động huyền bí này, và chúng ta dường như đang làm điều này cho những cái tôi cá nhân nhỏ bé, chúng ta nhớ đến mục tiêu lớn hơn cho phép nội dung của Tam Nguyên Tinh Thần tiếp cận tâm thức con người, và cuối cùng là mục đích của Chân Thần, và cuối cùng là khả năng của chúng ta để trở thành một người thực sự thể hiện Thiên Cơ, và giúp mang nó vào hiện thực, và đó là một sự phụng sự lớn, phải không? Phụng sự của chúng ta trước tiên là cho Thiên Cơ. |
|
[5] THE IMMEDIATE TASK AHEAD |
[5] Nhiệm Vụ Trước Mắt |
|
[6] What I have now to say is in the nature of a generalisation. I would like to indicate, as far as possible (asking you to remember that all generalisations are basically sound but erroneous in detail), |
[6] Điều tôi sắp nói đây mang tính chất một sự khái quát. Tôi muốn chỉ ra, trong chừng mực có thể — và xin các bạn nhớ rằng mọi khái quát đều căn bản là đúng nhưng sai lầm trong chi tiết — |
|
We do try to remember that they convey the essential idea but they are not aimed at articulating with accuracy the detail. |
Chúng ta cố gắng nhớ rằng chúng truyền tải ý tưởng cơ bản nhưng không nhằm mục đích diễn đạt chính xác chi tiết. |
|
[7] the point where humanity stands in relation to the antahkarana. |
[7] vị trí hiện nay của nhân loại trong mối liên hệ với antahkarana. |
|
I think in our modern educational systems, we are working more and more towards bridging, and the fourth group of the seed groups are particularly the antahkarana builders, and the centres that they use, the head center, the Ajna center, and the I think the throat center. I wonder if I’m correct about that. Of course it sends me off on a big hunt. Let’s see if I’m correct. |
Tôi nghĩ trong các hệ thống giáo dục hiện đại của chúng ta, chúng ta đang làm việc ngày càng nhiều hơn để bắc cầu, và nhóm thứ tư của các nhóm hạt giống đặc biệt là những người xây dựng antahkarana, và các trung tâm mà họ sử dụng, trung tâm đầu, trung tâm Ajna, và tôi nghĩ trung tâm cổ họng. Tôi tự hỏi liệu tôi có đúng về điều đó không. Tất nhiên điều này đưa tôi vào một cuộc săn tìm lớn. Hãy xem liệu tôi có đúng không. |
|
The groups will use the following centres in their work: |
Các nhóm sẽ sử dụng các trung tâm sau trong công việc của họ: |
|
Group 1.—The head, heart and throat centres. |
Nhóm 1.—Các trung tâm đầu, tim và cổ họng. |
|
Group 2.—The head, heart and solar plexus centres. |
Nhóm 2.—Các trung tâm đầu, tim và tùng thái dương. |
|
Group 3.—The head, heart and ajna centres. |
Nhóm 3.—Các trung tâm đầu, tim và ajna. |
|
Group 4.—The head, ajna and throat centres. |
Nhóm 4.—Các trung tâm đầu, ajna và cổ họng. |
|
Group 5.—The head and heart centres and the centre at the base of the spine. |
Nhóm 5.—Các trung tâm đầu và tim và trung tâm ở đáy cột sống. |
|
Group 6.—The head, heart and solar plexus centres. This is necessarily the same as in Group 2. |
Nhóm 6.—Các trung tâm đầu, tim và tùng thái dương. Điều này nhất thiết giống như trong Nhóm 2. |
|
Group 7.—The head, throat and sacral centres. |
Nhóm 7.—Các trung tâm đầu, cổ họng và xương cùng. |
|
Group 8.—The head, heart, solar plexus and throat centres. This group of disciples will be the first to use four centres in their work as they are in a curious sense, the mediators of thought between the other groups. They are peculiarly a linking group. [Page 42] |
Nhóm 8.—Các trung tâm đầu, tim, tùng thái dương và cổ họng. Nhóm đệ tử này sẽ là nhóm đầu tiên sử dụng bốn trung tâm trong công việc của họ vì họ theo một cách kỳ lạ, là những người trung gian của tư tưởng giữa các nhóm khác. Họ đặc biệt là một nhóm liên kết. [Trang 42] |
|
Group 9.—The head, heart, throat and sacral centres. |
Nhóm 9.—Các trung tâm đầu, tim, cổ họng và xương cùng. |
|
Group 10.—The head, heart, sacral centres and the centre at the base of the spine. DINA I 42 |
Nhóm 10.—Các trung tâm đầu, tim, xương cùng và trung tâm ở đáy cột sống. DINA I 42 |
|
Yes, the head, the ajna, the throat center. That is correct for the educators, who are the ones who bridge, and obviously there’s a lot of third, fourth, and fifth rays, there’s a lot of Mercury there in the educational group where this type of bridging does go on. |
Vâng, trung tâm đầu, ajna, trung tâm cổ họng. Điều đó đúng cho các nhà giáo dục, những người là những người bắc cầu, và rõ ràng có rất nhiều cung ba, bốn, và năm, có rất nhiều Sao Thủy ở đó trong nhóm giáo dục nơi loại bắc cầu này diễn ra. |
|
[8] It might be said that the whole goal of normal evolution is to bring humanity to the point where a direct line of contact is established between the personality |
[8] Có thể nói rằng toàn bộ mục tiêu của tiến hoá bình thường là đưa nhân loại đến điểm mà một đường tiếp xúc trực tiếp được thiết lập giữa phàm ngã |
|
Let’s just say, rather soul-infused personality |
Chúng ta hãy chỉ nói rằng, đúng hơn là phàm ngã được linh hồn thấm nhuần |
|
[9] and the Spiritual Triad, via the soul—or rather, through the medium of using the soul consciousness to achieve this awareness. |
[9] và Tam Nguyên Tinh Thần, thông qua linh hồn — hay đúng hơn, qua trung gian của việc sử dụng tâm thức linh hồn để đạt tới nhận thức này. |
|
That soul consciousness has somewhat descended into the personality consciousness. |
Tâm thức linh hồn đó đã phần nào hạ xuống tâm thức phàm ngã. |
|
[10] This is consummated at the time of the third initiation. |
[10] Điều này được hoàn tất vào thời điểm lần điểm đạo thứ ba. |
|
At the third initiation, we can have causal consciousness, or consciousness within the causal body. |
Tại lần điểm đạo thứ ba, chúng ta có thể có tâm thức nhân thể, hoặc tâm thức trong thể nhân quả. |
|
[11] We will now for a minute consider the Monad. |
[11] Bây giờ, trong giây lát, chúng ta sẽ xem xét chân thần. |
|
So, we have to be in alignment. Alignment is the beginning and alignment is the end as well. |
Vì vậy, chúng ta phải ở trong sự chỉnh hợp. Chỉnh hợp là sự khởi đầu và chỉnh hợp cũng là kết thúc. |
|
A direct line of contact is established between the personality and the Spiritual Triad by the soul, |
Một đường liên lạc trực tiếp được thiết lập giữa phàm ngã và Tam Nguyên Tinh Thần bởi linh hồn, |
|
And by the soul, we generally mean the shroud of the Spiritual Triad or the scabbard of the Spiritual Triad, or a kind of individualized consciousness in which aspects of the Spiritual Triad are found. But really the true soul—what can you say of the true soul?—the Spiritual Triad is even more of a soul than what we normally call the soul, but then the Monad is even more of a soul. In other words, within whatever ring-pass-not there is greater and greater consciousness, those greater ring-pass-not have more soul, and finally we have the soul of the entire cosmos which is the consciousness of the Universal Logos. |
Và khi nói đến linh hồn, chúng ta thường muốn nói đến vỏ bọc của Tam Nguyên Tinh Thần hoặc cái bao che của Tam Nguyên Tinh Thần, hoặc một loại tâm thức cá nhân hóa trong đó các khía cạnh của Tam Nguyên Tinh Thần được tìm thấy. Nhưng linh hồn thực sự, bạn có thể nói gì về linh hồn thực sự?—Tam Nguyên Tinh Thần thậm chí còn là một linh hồn hơn những gì chúng ta thường gọi là linh hồn, nhưng sau đó Chân Thần thậm chí còn là một linh hồn hơn. Nói cách khác, trong bất kỳ vòng-giới-hạn nào, đều có những cấp độ tâm thức ngày càng rộng lớn hơn; những vòng-giới-hạn lớn hơn ấy có linh hồn bao trùm hơn, và cuối cùng, chúng ta có linh hồn của toàn thể vũ trụ – vốn chính là tâm thức của Thượng đế Vũ Trụ. |
|
Anyway, a kind of consummation of this alignment. You can see that the building of the antahkarana has to be quite progressed and occurs at the third initiation. So, |
Dù sao, một loại hoàn tất của sự chỉnh hợp này. Bạn có thể thấy rằng việc xây dựng antahkarana phải được tiến hành khá tiến triển và xảy ra tại lần điểm đạo thứ ba. Vì vậy, |
|
[A quite progressed building of the antahkarana is needed at the third initiation. |
[Một việc xây dựng antahkarana khá tiến triển là cần thiết tại lần điểm đạo thứ ba. |
|
I think, the person before the third initiation, chela on the thread, and that thread in a way, I know, it goes to the Master and his energy system. But in a way, it’s the thread that connects into the Spiritual Triad where the Ashrams and the Master are found. Let’s see what we’re going to do here we will for a moment, consider the Monad. |
Tôi nghĩ, người trước lần điểm đạo thứ ba, đệ tử trên đường dây, và đường dây đó theo một cách nào đó, tôi biết, nó đi đến Chân sư và hệ thống năng lượng của Ngài. Nhưng theo một cách nào đó, đó là đường dây kết nối vào Tam Nguyên Tinh Thần nơi các Ashram và Chân sư được tìm thấy. Hãy xem chúng ta sẽ làm gì ở đâyChúng ta sẽ xem xét trong một lúc Chân Thần. |
|
[12] I would remind you that there is an analogy in the relation between personality and soul, to that between the Triad and the Monad. |
[12] Tôi muốn nhắc các bạn rằng có một sự tương đồng trong mối liên hệ giữa phàm ngã và linh hồn, với mối liên hệ giữa Tam nguyên tinh thần và chân thần. |
|
We have been discussing that. The personality is to the soul what the Triad is to the Monad. |
Chúng ta đã thảo luận về điều đó. Phàm ngã là đối với linh hồn như Tam Nguyên là đối với Chân Thần. |
|
[13] This is an analogy that is essentially complete, from the standpoint of consciousness, but not from the standpoint of form. |
[13] Đó là một sự tương đồng về bản chất là trọn vẹn, xét từ lập trường tâm thức, nhưng không phải từ lập trường hình tướng. |
|
Let’s just say that the aspects of the personality represent different aspects of the soul; the aspects of the Spiritual Triad represent different aspects of the Monad. None of them is complete in itself, but all three together represent what we find in a kind of synthesis within the Monad. Did I say soul? If I did, I meant monad. The spiritual triad represents the different aspects of the monad. |
Chúng ta hãy chỉ nói rằng các khía cạnh của phàm ngã đại diện cho các khía cạnh khác nhau của linh hồn; các khía cạnh của Tam Nguyên Tinh Thần đại diện cho các khía cạnh khác nhau của Chân Thần. Không ai trong số chúng là hoàn chỉnh trong chính nó, nhưng cả ba cùng nhau đại diện cho những gì chúng ta tìm thấy trong một loại tổng hợp trong Chân Thần. Tôi đã nói nhầm là linh hồn không? Nếu tôi đã nói, tôi có ý nói là chân thần. Tam nguyên tinh thần đại diện cho các khía cạnh khác nhau của chân thần. |
|
[14] What finally takes place at the most advanced stage of development is the complete fusion of the unified personality and soul with the unified Monad and Spiritual Triad. |
[14] Điều cuối cùng diễn ra ở giai đoạn phát triển cao nhất là sự dung hợp hoàn toàn của phàm ngã và linh hồn đã hợp nhất với chân thần và Tam Nguyên Tinh Thần đã hợp nhất. |
|
This is a Duality. This is the kind of a consummation of the Technique of Duality. So, we have the soul-infused personality representing matter, and we have the Monad-Triad representing Spirit, and let’s just think has that been accomplished within us, the complete fusion of the loving personality with its dual aspects of intelligence and love, fused with the Purpose and Plan of the Spiritual Triad, the aspects of Will being strongest in a way, but of course there’s a great Love-Wisdom in buddhi, and there’s a great comprehensive mind in the higher mental vehicle, the abstract mind. |
Đây là một Nhị Nguyên. Đây là một loại hoàn tất của Kỹ Thuật Nhị Nguyên. Vì vậy, chúng ta có phàm ngã được linh hồn thấm nhuần đại diện cho vật chất, và chúng ta có Chân Thần-Tam Nguyên đại diện cho Tinh thần, và chúng ta hãy chỉ nghĩ rằng điều đó đã được hoàn thành trong chúng ta chưa, sự hợp nhất hoàn toàn của phàm ngã yêu thương với các khía cạnh kép của nó về trí tuệ và tình thương, hợp nhất với Mục đích và Thiên Cơ của Tam Nguyên Tinh Thần, các khía cạnh của Ý Chí mạnh nhất theo một cách nào đó, nhưng tất nhiên có một tình thương-minh triết lớn trong bồ đề, và có một trí tuệ toàn diện lớn trong phương tiện trí tuệ cao hơn, trí trừu tượng. |
|
So, what finally takes place at the most advanced stage of development is the complete fusion of the unified personality and soul with unified Monad and Spiritual Triad. We really need to remember that. |
Vì vậy, điều gì cuối cùng xảy ra ở giai đoạn phát triển tiên tiến nhất là sự hợp nhất hoàn toàn của phàm ngã và linh hồn hợp nhất với Chân Thần và Tam Nguyên Tinh Thần hợp nhất. Chúng ta thực sự cần nhớ điều đó. |
|
[15] Only when this has been truly [Page 498] accomplished is there the complete release of the Lives informing our solar system from all form control. |
[15] Chỉ khi điều này đã thật sự [Page 498] hoàn thành, các Sự Sống đang thấm nhuần hệ mặt trời của chúng ta mới được giải thoát hoàn toàn khỏi mọi sự kiểm soát của hình tướng. |
|
This is a going to be universal, let’s just say, it’s going to universal within the solar system, a state which is universal within the solar system, and we are a long way from it, because we’re only really halfway through our solar system evolution, just as we are halfway through our planetary evolution. |
Đây sẽ là một điều phổ quát, hãy chỉ nói rằng, nó sẽ là một điều phổ quát trong hệ mặt trời, một trạng thái phổ quát trong hệ mặt trời, và chúng ta còn rất xa điều đó, bởi vì chúng ta chỉ thực sự đi được nửa chặng đường qua tiến hóa hệ mặt trời của chúng ta, cũng như chúng ta đi được nửa chặng đường qua tiến hóa hành tinh của chúng ta. |
|
So, think of it: there is Solar Logos Soul and Solar Logos Personality, but one day that infusion will be somehow blended with the Solar Logos Monad and Solar Logos Triad, and maybe this will be even in the last solar system, probably this will occur within the last or sixth solar system. Then comes the synthetic seventh. |
Vì vậy, hãy nghĩ về điều đó: có Linh hồn Thái dương Thượng đế và Phàm ngã Thái dương Thượng đế, nhưng một ngày nào đó sự thấm nhuần đó sẽ được hòa quyện với Chân Thần Thái dương Thượng đế và Tam Nguyên Thái dương Thượng đế, và có lẽ điều này sẽ xảy ra trong hệ mặt trời cuối cùng hoặc thứ sáu. Sau đó đến hệ mặt trời tổng hợp thứ bảy. |
|
[16] Bear this carefully in mind, realising the significance of the word Service, used so frequently in the occult science, and realising also |
[16] Hãy ghi nhớ kỹ điều này, nhận ra thâm nghĩa của từ Phụng sự, vốn được dùng rất thường xuyên trong khoa học huyền bí, và cũng nhận ra |
|
In other words, the significance of the word service, and we might say here through the antahkarana bringing release |
Nói cách khác, ý nghĩa của từ phụng sự, và chúng ta có thể nói ở đây thông qua antahkarana mang lại sự giải phóng |
|
[17] the fact that, for aspirants and disciples, |
[17] sự kiện rằng, đối với những người chí nguyện và các đệ tử, |
|
Such as we are, and hope to be |
Những người như chúng ta, và hy vọng sẽ là |
|
[18] the immediate task ahead is: |
[18] nhiệm vụ trước mắt là: |
|
These things have to be kept in mind |
Những điều này phải được ghi nhớ |
|
[19] 1. To bring about the at-one-ment of soul and body, through the medium of alignment, |
[19] 1. Đưa đến sự hợp nhất giữa linh hồn và thể xác, thông qua trung gian của sự chỉnh hợp, |
|
Now, what is body? Body is personality just as the dense physical body of the planetary logos is the lower 18 subplanes, and the dense physical body of the Solar Logos is the lower 21 subplanes, higher than that the other 28 subplanes are etheric in nature. |
Bây giờ, thể xác là gì? Thể xác là phàm ngã cũng như thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế là 18 cõi phụ thấp hơn, và thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế là 21 cõi phụ thấp hơn, cao hơn đó các cõi phụ khác là dĩ thái về bản chất. |
|
the immediate task |
nhiệm vụ trước mắt |
|
Obviously, we want to do—what it is we should do?—to hasten our evolution and make us more useful |
Rõ ràng, chúng ta muốn làm—chúng ta nên làm gì?—để thúc đẩy tiến hóa của chúng ta và làm cho chúng ta hữu ích hơn |
|
[20] 2. To build the antahkarana, using the six modes or means outlined by me previously, and thus evoke response to the Triad. |
[20] 2. Kiến tạo antahkarana, bằng cách sử dụng sáu phương thức hay phương tiện mà tôi đã phác thảo trước đây, và nhờ đó gợi lên sự đáp ứng đối với Tam nguyên tinh thần. |
|
We use that word Spiritual Triad quite a bit, but do we ever slip into the consciousness of the Triad? How often do we really slip into the consciousness of the Spiritual Triad? Well, maybe when it happens for real, we will be able to compare it with our other states of consciousness, which are not that. |
Chúng ta sử dụng từ Tam Nguyên Tinh Thần khá nhiều, nhưng chúng ta có bao giờ trượt vào tâm thức của Tam Nguyên không? Chúng ta thực sự trượt vào tâm thức của Tam Nguyên Tinh Thần bao nhiêu lần? Vâng, có lẽ khi điều đó thực sự xảy ra, chúng ta sẽ có thể so sánh nó với các trạng thái tâm thức khác của chúng ta, vốn không phải là điều đó. |
|
[21] The thought of Alignment-Invocation-Evocation are the three major ideas for you to hold in mind as we proceed with this study. |
[21] Tư tưởng về Chỉnh hợp-Khẩn Cầu-Gợi Lên là ba ý tưởng chính yếu mà các bạn cần giữ trong trí khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu này. |
|
So, the point of tension followed by visualization involves alignment, and then the stage of projection, and the first stage of the fourth stage—the invocation-evocation, which is invocation— it is connected with invocation, and the rest or evocation from the second part of the fourth stage involving also then the fifth and sixth stages. We have evocation, the response of the higher aspects of our nature, and the paving of the way for the rising of the consciousness in freedom from what we normally call form, and in that freedom polarizing itself within the Spiritual Triad as the Masters of the Wisdom have done, and also higher Being than them, the Chohans. |
Vì vậy, điểm tập trung nhất tâm theo sau bởi hình dung liên quan đến chỉnh hợp, và sau đó là giai đoạn phóng chiếu, và giai đoạn đầu tiên của giai đoạn thứ tư—khẩn cầu-gợi lên, đó là khẩn cầu—nó được kết nối với khẩn cầu, và phần còn lại hoặc gợi lên từ phần thứ hai của giai đoạn thứ tư cũng liên quan đến giai đoạn thứ năm và thứ sáu. Chúng ta có gợi lên, sự đáp ứng của các khía cạnh cao hơn của bản chất của chúng ta, và việc mở đường cho sự thăng hoa của tâm thức trong tự do khỏi những gì chúng ta thường gọi là hình tướng, và trong sự tự do đó tự phân cực trong Tam Nguyên Tinh Thần như các Chân sư Minh triết đã làm, và cũng là các Đấng Cao Cả hơn họ, các Chohan. |
|
[22] The reason that I am giving out what was earlier regarded as some of the preparatory work prior to the third initiation |
[22] Lý do tôi đưa ra điều trước kia được xem là một phần công việc chuẩn bị trước lần điểm đạo thứ ba |
|
Let’s remember what that is. You can begin to do this in earnest, I think, when the second initiation understanding is at least in sight. It doesn’t mean that you have to be taking the second initiation in that very life, because it was obvious that DK gave the building of the antahkarana to quite a few of those members on the periphery of His ashram, who were not going to take the second initiation in that life for sure. Anyway, He’s giving out what was preparatory to the third degree. At first, he said that He trained aspirants only for the first and second degree, and later came another statement which included training for the third degree |
Hãy nhớ đó là những gì. Tôi nghĩ, bạn có thể bắt đầu làm điều này một cách nghiêm túc khi sự hiểu biết về lần điểm đạo thứ hai ít nhất là trong tầm nhìn. Điều đó không có nghĩa là bạn phải thực hiện lần điểm đạo thứ hai trong kiếp sống đó, bởi vì rõ ràng rằng Chân sư DK đã đưa việc xây dựng antahkarana cho khá nhiều thành viên trên ngoại vi của ashram Ngài, những người chắc chắn sẽ không thực hiện lần điểm đạo thứ hai trong kiếp sống đó. Dù sao, Ngài đang đưa ra những gì chuẩn bị cho cấp độ thứ ba. Ban đầu, Ngài nói rằng Ngài chỉ đào tạo những người chí nguyện cho cấp độ thứ nhất và thứ hai, và sau đó đến một tuyên bố khác bao gồm đào tạo cho cấp độ thứ ba |
|
[23] is due to the fact that the race is now at the point of development which warrants complete change in the approach to divinity as taught by the Hierarchy. |
[23] là vì nhân loại hiện đang ở điểm phát triển cho phép có một sự thay đổi hoàn toàn trong cách tiếp cận thiên tính như Thánh Đoàn đã giảng dạy. |
|
Well, they can see this and they can assess this, and they can give us the more advanced work, and hopefully we do respond as we should |
Các Ngài có thể thấy điều này và các Ngài có thể đánh giá điều này, và các Ngài có thể đưa cho chúng ta công việc tiên tiến hơn, và hy vọng chúng ta đáp ứng như chúng ta nên |
|
[24] This does not mean that past teaching is abrogated, but it is shifted back to the earlier stages on the Path of Discipleship, |
[24] Điều này không có nghĩa là giáo huấn quá khứ bị bãi bỏ, mà nó được chuyển lùi về các giai đoạn sớm hơn trên Con Đường Đệ Tử, |
|
I suppose the earlier stages have a lot to do with the period between the first and second initiation, because one is truly a disciple when one has taken the first initiation. Before that, one is a probationary disciple, and even up to the midway point between the first and second initiation, one is likely to be considered a probationary disciple until accepted discipleship comes upon one. So, |
Tôi cho rằng các giai đoạn đầu có nhiều liên quan đến giai đoạn giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai, bởi vì một người thực sự là đệ tử khi một người đã thực hiện lần điểm đạo thứ nhất. Trước đó, một người là đệ tử dự bị, và thậm chí đến điểm giữa giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai, một người có khả năng được coi là đệ tử dự bị cho đến khi đệ tử được chấp nhận đến với một người. Vì vậy, |
|
[mostly between the first and second initiation…] |
[chủ yếu giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai] |
|
[25] whilst the teaching given in those stages now becomes the work done by the aspirants upon the Probationary Path. |
[25] trong khi giáo huấn được trao ở các giai đoạn đó nay trở thành công việc do những người chí nguyện thực hiện trên Con Đường Dự Bị. |
|
Nothing is lost but the standard is constantly raised. |
Không có gì bị mất nhưng tiêu chuẩn liên tục được nâng cao. |
|
[26] Emphasis has been laid upon purification, |
[26] Sự nhấn mạnh đã được đặt vào việc thanh luyện, |
|
I do think that some people relinquish that rather quickly, as if to say, “Oh, I’ve done that”, when in fact they have not been thorough going in that purification, and we have read about the purification of the astral body being a necessity to receive the true patterns of pure reason which are occurring on the buddhic plane. So, purification is something always to have in mind, but it rises through higher and higher vehicles, and it’s ever more subtle. But anyway, |
Tôi thực sự nghĩ rằng một số người từ bỏ điều đó [sự thanh lọc] khá nhanh chóng, như thể nói, “Ồ, tôi đã làm điều đó”, khi thực tế họ chưa thực sự đi sâu vào sự thanh lọc đó, và chúng ta đã đọc về sự thanh lọc của thể cảm dục là một điều cần thiết để nhận được các mẫu thực sự của lý trí thuần khiết đang xảy ra trên cõi bồ đề. Vì vậy, sự thanh lọc là điều luôn phải ghi nhớ, nhưng nó tăng lên qua các phương tiện cao hơn và cao hơn, và nó ngày càng tinh tế hơn. Nhưng dù sao, |
|
[27] upon the need for the development of the Christ life, |
[27] vào nhu cầu phát triển đời sống Đức Christ, |
|
We might say, the life of soul. |
Chúng ta có thể nói, cuộc sống của linh hồn. |
|
[28] upon the mystical vision and upon philosophy. |
[28] vào linh ảnh thần bí và vào triết học. |
|
Maybe when we deal with philosophy is about knowing rather than necessarily doing. We have to learn not just to think about things and entertain them, using philosophy as a consolation to perhaps an otherwise unfulfilled life. But we have to bridge from philosophy into occult philosophy which places the emphasis not only on knowing but on doing that which one knows |
Có lẽ khi chúng ta làm việc với triết học là nhằm vào sự hiểu biết hơn là nhất thiết phải làm. Chúng ta phải học không chỉ suy nghĩ về mọi thứ và giải trí, sử dụng triết học như một sự an ủi cho một cuộc sống có thể không được thỏa mãn. Nhưng chúng ta phải bắc cầu từ triết học vào triết học huyền bí, nơi đặt sự nhấn mạnh không chỉ vào việc biết mà còn vào việc làm những gì một người biết |
|
[29] Occult truths have been given to the race and have evoked much interest, criticism and discussion; |
[29] Những chân lý huyền bí đã được trao cho nhân loại và đã gợi lên nhiều quan tâm, phê bình và thảo luận; |
|
That is the philosophical approach |
Đó là cách tiếp cận triết học |
|
[30] they have appealed to all types of mind; they have been distorted and misapplied. Nevertheless, they have been instrumental in aiding advanced aspirants to move forward on to the Path of Discipleship, with a paralleling moving forward of accepted disciples |
[30] chúng đã hấp dẫn mọi loại trí tuệ; chúng đã bị bóp méo và áp dụng sai. Tuy nhiên, chúng đã là phương tiện giúp những người chí nguyện tiến bộ tiến lên Con Đường Đệ Tử, đồng thời các đệ tử được chấp nhận cũng tiến bước song song. |
|
So, really an advanced aspirant has not yet reached the stage of and accepted disciple |
Vì vậy, thực sự một người chí nguyện tiên tiến chưa đạt đến giai đoạn của một đệ tử được chấp nhận |
|
[31] Once firmly established upon the Path, the truths become self-evident and individual application and verification can be made, leading the disciple inevitably to the Portal of Initiation. |
[31] Một khi đã vững vàng an lập trên Đường Đạo, các chân lý trở nên tự hiển nhiên, và sự áp dụng cùng kiểm chứng cá nhân có thể được thực hiện, tất yếu dẫn đệ tử đến Cổng Điểm Đạo. |
|
Without application and verification there will be no initiation. We have to stabilize our understanding here so that we’re not just dealing with thoughts, but we’re dealing with that which can be and will be applied. Nevertheless, the occult truths, occult philosophy has been given out, but it’s in the systematic application of the truths given that accomplishment occurs. |
Không có ứng dụng và kiểm chứng sẽ không có điểm đạo. Chúng ta phải ổn định sự hiểu biết của mình ở đây để chúng ta không chỉ đang xử lý các ý tưởng, mà chúng ta đang xử lý những gì có thể và sẽ được áp dụng. Tuy nhiên, các chân lý huyền bí, triết học huyền bí đã được đưa ra, nhưng chính trong việc áp dụng có hệ thống các chân lý đã được đưa ra mà thành tựu xảy ra. |
|
Now, I can say that but have I applied it? We can all say it but have we applied what we think we know? That’s something I don’t think anybody scores 100% there but that’s something that we must answer for ourselves. |
Bây giờ, tôi có thể nói điều đó nhưng tôi đã áp dụng nó chưa? Chúng ta đều có thể nói điều đó nhưng chúng ta đã áp dụng những gì chúng ta nghĩ rằng chúng ta biết chưa? Đó là điều mà tôi không nghĩ rằng ai đó đạt được 100%, nhưng đó là điều mà chúng ta phải tự trả lời. |
|
[32] The race as a whole stands now at the very entrance to the Path of Discipleship. |
[32] Toàn thể nhân loại hiện đang đứng ngay tại lối vào Con Đường Đệ Tử. |
|
And let’s just say, that Path is related to the Path of Probationary Initiation, because, in a way, real Discipleship begins at the first initiation |
Và chúng ta hãy chỉ nói rằng, Con Đường đó liên quan đến Con Đường Điểm Đạo Dự Bị, bởi vì, theo một cách nào đó, Đệ tử thực sự bắt đầu từ lần điểm đạo thứ nhất |
|
[33] The racial gaze is forward to the vision, |
[33] Cái nhìn của nhân loại đang hướng về phía trước, hướng tới linh ảnh, |
|
That shows you that Sagittarius is doing its work, and maybe Taurus as well |
Điều đó cho bạn thấy rằng Nhân Mã đang làm công việc của nó, và có lẽ Kim Ngưu cũng vậy |
|
[34] whether it is the vision of the soul, a vision of a better way of life, |
[34] dù đó là linh ảnh của linh hồn, tầm nhìn về một lối sống tốt đẹp hơn, |
|
Many have that |
Nhiều người có điều đó |
|
[35] of an improved economic situation, or of [Page 499] better inter-racial relationship. |
[35] về một tình trạng kinh tế được cải thiện, hay về [Page 499] mối quan hệ liên chủng tộc tốt đẹp hơn. |
|
All of these are very important, and they lead gradually to the vision of the soul and to a vision which is beyond that. |
Tất cả những điều này đều rất quan trọng, và chúng dẫn dắt dần đến tầm nhìn của linh hồn, và đến một tầm nhìn vượt xa điều đó. |
|
[36] That this vision is oft distorted, that it is materially oriented or only partially seen is sadly true; |
[36] Rằng linh ảnh này thường bị bóp méo, rằng nó hướng về vật chất hoặc chỉ được thấy một phần, đó là điều đáng buồn nhưng có thật; |
|
This is realism, speaking. |
Đây là chủ nghĩa hiện thực, |
|
[37] but in some form or another there exists today an appreciable grasp of the “new and desirable” by the masses—a thing hitherto unknown. |
[37] nhưng dưới hình thức này hay hình thức khác, ngày nay trong quần chúng có một sự nắm bắt đáng kể về “cái mới và đáng mong muốn” — một điều trước đây chưa từng được biết đến. |
|
Let’s call that Uranus and a bit of Jupiter. Uranus is the new and better way, and we are entering an age when Aquarius is paramount, and ultimately Uranus— although is the Orthodox ruler— it is also the paramount veiled esoteric Hierarchical ruler. Therefore the new and better ways are part and parcel of the Aquarius experience. The new and desirable are seen, and that people are no longer willing to live in such a deprived state as they have before, and this is causing a great unrest and the uprising of the will which sets itself against the bad old ways. |
Hãy gọi đó là Uranus và một chút Sao Mộc. Uranus là con đường mới và tốt hơn, và chúng ta đang bước vào một thời đại khi Bảo Bình là tối cao, và cuối cùng Uranus—mặc dù là chủ tinh chính thống—nó cũng là chủ tinh nội môn tối cao được che giấu. Do đó, những con đường mới và tốt hơn là một phần không thể thiếu của trải nghiệm Bảo Bình. Những điều mới và mong muốn được nhìn thấy, và mọi người không còn sẵn lòng sống trong tình trạng thiếu thốn như trước đây, và điều này đang gây ra một sự xáo trộn lớn và sự nổi dậy của ý chí chống lại những cách cũ xấu. |
|
Because previously, the masses were acquiescent, just accepted the state. |
Bởi vì trước đây, quần chúng đã chấp nhận, chỉ chấp nhận trạng thái. |
|
[38] In the past, it was the intelligentsia or the elect who were privileged to have the vision. Today, it is the mass of men |
[38] Trong quá khứ, chính giới trí thức hoặc những người được tuyển chọn mới có đặc quyền có được linh ảnh. Ngày nay, đó là đại chúng nhân loại. |
|
So one can see the disturbance, well, let’s call it, a beneficent disturbance that will bring |
Vì vậy, người ta có thể thấy sự xáo trộn. Vâng, chúng ta hãy gọi đó là một sự xáo trộn có lợi mà điều này sẽ mang lại |
|
[39] Humanity, therefore, as a whole stands ready for a general alignment process, |
[39] Vì vậy, toàn thể nhân loại đang sẵn sàng cho một tiến trình chỉnh hợp tổng quát, |
|
And I say this did not exist before the World Wars, which cleared away much of the debris which stood in the way of alignment, |
Và tôi nói điều này không tồn tại trước các cuộc Chiến tranh Thế giới, vốn đã dọn sạch nhiều mảnh vụn cản trở sự chỉnh hợp, |
|
[40] and that is the spiritual reason which lay behind the world war. |
[40] và đó là lý do tinh thần nằm sau cuộc chiến tranh thế giới. |
|
The one World War from 1914 to 1945, and I think some of this probably was written in the midst of the Second World War. Then comes the statement from the Old Commentary, so poetic and evocative: |
Cuộc Chiến tranh Thế giới từ năm 1914 đến năm 1945, và tôi nghĩ một số điều này có lẽ đã được viết trong giữa Chiến tranh Thế giới thứ hai. Sau đó đến tuyên bố từ Cổ Luận, rất thơ mộng và gợi cảm: |
|
[41] The “sharp shears of sorrow” |
[41] “Những lưỡi kéo sắc bén của |
|
right away you think of Pluto, don’t you? |
Ngay lập tức bạn nghĩ đến Pluto, phải không? |
|
[42] must separate the real from the unreal; the lash of pain must awaken the sleepy soul to exquisite life; the wrenching away of the roots of life from the soil of selfish desire must be undergone, and then the man stands free.” |
[42] đau thương phải tách cái thật khỏi cái không thật; ngọn roi của đau đớn phải đánh thức linh hồn đang ngủ say đi vào sự sống tinh tế; việc nhổ bật các rễ của sự sống khỏi mảnh đất của dục vọng ích kỷ phải được trải qua, và bấy giờ con người đứng tự do.” |
|
What an amazing statement! |
Thật là một tuyên bố tuyệt vời! |
|
the sharp shears of sorrow must separate the real from the unreal |
những chiếc kéo sắc bén của nỗi đau phải tách biệt cái thực khỏi cái không thực |
|
In our lives. It’s probably been the case |
Đó có lẽ đã là trường hợp trong cuộc sống của chúng ta. |
|
the lash of pain must awaken the sleepy soul to exquisite life; |
đòn roi đau đớn phải đánh thức linh hồn ngủ say đến cuộc sống tuyệt vời; |
|
Because when we’re under the domination of Tamas, that kind of inertia which enforces a very low vibration, we cannot respond to exquisite life. So Tamas is shocked at least into Rajas by that lash of pain |
Bởi vì khi chúng ta đang dưới sự thống trị của Tamas, loại quán tính đó buộc một rung động rất thấp, chúng ta không thể đáp ứng với cuộc sống tuyệt vời. Vì vậy, Tamas bị sốc ít nhất vào Rajas bởi đòn roi đau đớn đó |
|
the wrenching away of the roots of life from the soil of selfish desire must be undergone, and then the man stands free.” |
sự nhổ bật rễ sự sống khỏi mảnh đất của dục vọng vị kỷ phải được trải qua, và rồi con người đứng tự do.” |
|
Where are our roots? The tree with the roots above and flower below, that’s what we are, just like the Tree of Life, and still so many of us think we are rooted in the soil which is basically the result of the decayed forms. So, when all of these things are applied to us, and the shock enters our life, then we’re raised to a higher vibratory level in which freedom can be attained |
Rễ của chúng ta ở đâu? Cây với rễ ở trên và hoa ở dưới, đó là những gì chúng ta là, giống như Cây Sự Sống, và vẫn còn rất nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng chúng ta đang bám rễ vào đất, đó là kết quả của các hình thức đã phân hủy. Vì vậy, khi tất cả những điều này được áp dụng cho chúng ta, và cú sốc đi vào cuộc sống của chúng ta, sau đó chúng ta được nâng lên một mức độ rung động cao hơn trong đó tự do có thể đạt được |
|
[43] So runs the Old Commentary in one of its more mystical stanzas. |
[43] Cổ Luận đã nói như thế trong một trong những bài kệ thần bí hơn của nó. |
|
I think, more poetic stanzas |
Tôi nghĩ, những stanza thơ mộng hơn |
|
[44] Thus it points prophetically to the close of the Aryan Race—not a close in the sense of completion, but a closing of a cycle of mental perfecting, |
[44] Như vậy, nó chỉ ra một cách tiên tri sự kết thúc của Giống dân Arya — không phải một sự kết thúc theo nghĩa hoàn tất, mà là sự khép lại của một chu kỳ hoàn thiện trí tuệ, |
|
Let’s just say, there is more to the Aryan root race than mental perfecting. The other aspects of mind must be explored and unified with the concrete mind |
Chúng ta hãy chỉ nói rằng, có nhiều hơn đối với giống dân gốc Arya hơn là hoàn thiện trí tuệ. Các khía cạnh khác của thể trí phải được khám phá và hợp nhất với trí cụ thể |
|
[45] preparatory to a cycle wherein the mind will be rightly used as an instrument of alignment, then as the searchlight of the soul, and as the controller of the personality. |
[45] chuẩn bị cho một chu kỳ trong đó thể trí sẽ được sử dụng đúng đắn như một khí cụ chỉnh hợp, rồi như ngọn đèn pha của linh hồn, và như yếu tố kiểm soát phàm ngã. |
|
These are higher functions of the mind, and three minds must unite, however we consider the three minds to be. From one perspective, they are the concrete mind, Son of Mind within the second and third subplanes of the mental planes, and then the abstract mind. From another perspective, the three minds are the concrete mind, the abstract mind and the kind of mind, the one finds on the atmic plane which is the third plane, and thus correlated with mind. In different contexts you get different three minds unite. I think we’ll be doing very well to get the first three of those minds united, and then we could lift up into the transcendental mind, the buddhi and the mind of law, which is atmic nirvanic. One day, experience will fulfill all the words we use. |
Đây là những chức năng cao hơn của thể trí, và ba trí phải hợp nhất, dù chúng ta coi ba trí là gì. Từ một góc độ, chúng là trí cụ thể, Con của Trí Tuệ trong các cõi phụ thứ hai và thứ ba của các cõi trí tuệ, và sau đó là trí trừu tượng. Từ một góc độ khác, ba trí là trí cụ thể, trí trừu tượng và loại trí tuệ được tìm thấy trên cõi atma, cõi thứ ba, và do đó có tương quan với trí tuệ. Trong các ngữ cảnh khác nhau, bạn có ba trí hợp nhất khác nhau. Tôi nghĩ chúng ta sẽ làm rất tốt để hợp nhất ba trí đầu tiên trong số đó, và sau đó chúng ta có thể nâng lên trí tuệ siêu việt, bồ đề, và trí tuệ của định luật, đó là atma nirvana. Một ngày nào đó, trải nghiệm sẽ hoàn thành tất cả những từ ngữ mà chúng ta sử dụng. |
|
[46] For the masses—under the slow processes of evolution—the next step forward is the aligning of the soul and the form, |
[46] Đối với quần chúng — dưới các tiến trình chậm rãi của tiến hoá — bước tiến kế tiếp là sự chỉnh hợp giữa linh hồn và hình tướng, |
|
That’s the masses, and |
Đó là quần chúng, và |
|
[47] so that there can be a blending in consciousness, following on a mental appreciation of the Christ principle and its deep expression in the life of the race. |
[47] để có thể có một sự hòa trộn trong tâm thức, tiếp theo sau sự lĩnh hội bằng trí tuệ về nguyên lý Đức Christ và sự biểu hiện sâu xa của nguyên lý ấy trong đời sống của nhân loại. |
|
Venus and loving mind will supervened, and that’s coming for the masses, because there’s been a lot of very public education, and many, many people who were out of the range of that possibility of education before, are becoming educated, and as a result, they will be in a position to do the kind of meditation which will bring light and love into the mind |
Venus và trí yêu thương sẽ xuất hiện, và điều đó đang đến với quần chúng, vì đã có rất nhiều giáo dục công khai, và nhiều người, rất nhiều người, trước đây không có khả năng tiếp cận giáo dục, đang trở nên có học thức, và kết quả họ sẽ có khả năng thực hiện loại thiền định sẽ mang lại ánh sáng và tình thương vào trí tuệ. |
|
[48] This is something which can be seen quite clearly emerging, if you have the eyes to see. |
[48] Đây là điều có thể được thấy đang xuất hiện khá rõ ràng, nếu các bạn có mắt để thấy. |
|
Obviously, we don’t have the eyes of a Master, but I think there’s a much greater kind of education which is sweeping the Earth, and I think the internet is part of that. We’ve been told that within every six or five miles all over the world, there will be the possibility of computer and Internet, and thus tuning in into the world of knowledge, and light will come to humanity in a new form, an era of universal education. |
Hiển nhiên, chúng ta không có con mắt của một Chân sư, nhưng tôi nghĩ rằng hiện đang có một hình thức giáo dục ở tầm mức rộng lớn hơn nhiều đang lan tỏa khắp Trái Đất, và tôi cho rằng Internet là một phần của điều đó. Người ta đã nói rằng trong phạm vi mỗi năm hay sáu dặm ở khắp nơi trên thế giới, sẽ có khả năng truy cập máy tính và Internet, và nhờ đó con người có thể hòa điệu với thế giới tri thức; ánh sáng sẽ đến với nhân loại dưới một hình thức mới – một kỷ nguyên của nền giáo dục phổ quát. |
|
[49] It is evident in the universal interest in goodwill, leading eventually to peace; |
[49] Nó hiển nhiên trong mối quan tâm phổ quát đối với thiện chí, cuối cùng dẫn đến hòa bình; |
|
There is the formula from goodwill to peace |
Có công thức từ thiện chí đến hòa bình |
|
[50] this desire for peace may be based on individual or national selfishness, or upon a true desire to see a happier world wherein man can lead a fuller spiritual life and base his efforts on truer values; |
[50] ước muốn hòa bình này có thể đặt trên sự ích kỷ cá nhân hoặc quốc gia, hoặc trên một ước muốn chân thật muốn thấy một thế giới hạnh phúc hơn, trong đó con người có thể sống một đời sống tinh thần đầy đủ hơn và đặt các nỗ lực của mình trên những giá trị chân thật hơn; |
|
Remember, the First Ray Initiate—Preservation of Values is the goal of the first ray, something like that |
Hãy nhớ, với Điểm đạo đồ Cung Một—Bảo tồn Giá trị là mục tiêu của cung một, |
|
[51] it can be seen in all the planning which is going on for a new world order, |
[51] nó có thể được thấy trong mọi kế hoạch đang diễn ra cho một trật tự thế giới mới, |
|
Certainly, at the time that this was written, and hopefully continuing |
Chắc chắn, vào thời điểm điều này được viết, và hy vọng tiếp tục |
|
[52] based on human liberty, |
[52] đặt nền trên tự do của con người, |
|
Uranus, Lords of liberation |
Uranus, các Đấng Giải Thoát |
|
[53] belief in human rights and right human relations; |
[53] niềm tin vào nhân quyền và các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người; |
|
Liberty, Equality, Fraternity, all the air signs are involved, and they’re coming into strength during the Aquarian age |
Tự do, Bình đẳng, Huynh đệ, tất cả các dấu hiệu hành khí đều tham gia, và chúng đang trở nên mạnh mẽ trong thời đại Bảo Bình |
|
[54] it is demonstrating also in the work of the great humanitarian movements, the welfare organisations, and the widespread evocation of the human mind through the network of educational institutions throughout the world. |
[54] nó cũng đang biểu lộ trong công việc của các phong trào nhân đạo lớn, các tổ chức phúc lợi, và sự gợi lên rộng khắp của trí tuệ nhân loại thông qua mạng lưới các cơ sở giáo dục trên toàn thế giới. |
|
These are the demonstration of true values emerging, the desire for peace is here, and all these things do lead to peace. Goodwill towards a sense of true values; a planning for a better world order based upon the welfare of human beings; liberty; the right relations; humanitarianism, meeting the needs through welfare of the right kind matches creating dependency; and the use of the mind for education. So, |
Đây chính là những biểu hiện của các giá trị chân thật đang trỗi dậy; khát vọng hòa bình đã hiện diện, và tất cả những điều này đều dẫn đến hòa bình. Thiện chí hướng đến ý thức về các giá trị chân thật; việc hoạch định cho một trật tự thế giới tốt đẹp hơn dựa trên phúc lợi của con người; tự do; các mối quan hệ đúng đắn; tinh thần nhân đạo, đáp ứng các nhu cầu thông qua những hình thức phúc lợi đúng đắn chứ không tạo ra sự lệ thuộc; và việc sử dụng thể trí cho mục đích giáo dục. Vì vậy,… |
|
[All of these lead to peace…] |
[Tất cả những điều này dẫn đến hòa bình] |
|
There are universities which teach peace, the university in Costa Rica that Robert Mueller started anyway. It is a university dedicated to peace, and it’s a complex approach. There are many strands which lead to peace, probably every one of the ashrams has to have this type of expression if peace is to resolve. It’s as to with education, with finance, with art, with technology and science, with idealism, that has to do with order, it has to do with the right use of the will, just running through the kinds of expressions that the ashrams have. |
Có các trường đại học giảng dạy hòa bình, trường đại học ở Costa Rica mà Robert Mueller đã bắt đầu. Đó là một trường đại học dành riêng cho hòa bình, và đó là một cách tiếp cận phức tạp. Có nhiều sợi dây dẫn đến hòa bình, có lẽ mỗi một trong các ashram đều phải có loại biểu hiện này nếu hòa bình được giải quyết. Nó liên quan đến giáo dục, tài chính, nghệ thuật, công nghệ và khoa học, lý tưởng, trật tự, việc sử dụng đúng đắn của ý chí, chỉ cần chạy qua các loại biểu hiện mà các ashram có. |
|
[55] The Christ spirit is expressively present, [Page 500] and the failure to recognise this fact has been largely due to the prevalent human effort to explain and interpret this phrase solely in terms of religion, |
[55] Tinh thần Đức Christ đang hiện diện một cách biểu cảm, [Page 500] và việc không nhận ra sự kiện này phần lớn là do nỗ lực phổ biến của con người nhằm giải thích và diễn giải cụm từ này chỉ theo các thuật ngữ tôn giáo, |
|
Christ’s spirit much greater than the narrow religious approach explanations [Christ Spirit much greater than the narrow religious explanations…] |
Tinh thần Christ lớn hơn nhiều so với các giải thích tôn giáo hẹp hòi [Tinh thần Christ lớn hơn nhiều so với các giải thích tôn giáo hẹp hòi] |
|
[56] whereas the religious interpretation is but one mode of understanding Reality. |
[56] trong khi cách diễn giải tôn giáo chỉ là một phương thức để thấu hiểu Thực tại. Còn có những phương thức khác cũng quan trọng không kém. |
|
In a way, the sixth ray and its approach have dominated and covered the other valuable approaches and that is ending now. |
Theo một cách nào đó, cung sáu và cách tiếp cận của nó đã chi phối và che phủ các cách tiếp cận có giá trị khác, và điều đó bây giờ đang kết thúc. |
|
There are others approaches of equal importance. |
Có những cách tiếp cận khác có tầm quan trọng tương đương |
|
And this is the Tibetans attempt to define spirituality not in terms of one way alone, but in terms of the combination of all the seven |
Và đây là nỗ lực của Chân sư Tây Tạng để định nghĩa tinh thần không chỉ theo một cách duy nhất, mà theo sự kết hợp của tất cả bảy |
|
[57] All the great avenues of approach to Reality are spiritual in nature and interpretive of divine purpose, |
[57] Tất cả những đại lộ tiếp cận vĩ đại đến Thực tại đều có bản chất tinh thần và đều diễn giải Thiên Ý, |
|
This is so important for us to redefine the nature of spirituality. It’s not simply the religious approach that tends to be utterly narrow and tends to give an unwarranted sense of pride and superiority to those who are taking the strictly religious approach. |
Điều này rất quan trọng để chúng ta định nghĩa lại bản chất của tinh thần. Nó không chỉ đơn giản là cách tiếp cận tôn giáo mà có xu hướng cực kỳ hẹp hòi và có xu hướng mang lại một cảm giác tự hào và ưu việt không đáng có cho những người đang theo cách tiếp cận tôn giáo nghiêm ngặt. |
|
[58] and whether the religious Christian speaks of the Kingdom of God, |
[58] và dù người Ki-tô hữu sùng đạo nói đến Thiên Giới, |
|
It’s legitimate, of course |
Điều đó là hợp pháp, tất nhiên |
|
[59] or the humanitarian emphasises the brotherhood of man, |
[59] hay nhà nhân đạo nhấn mạnh tình huynh đệ của con người, |
|
Someone maybe strongly on the second ray or on the seventh |
Một ai đó có thể mạnh mẽ trên cung hai hoặc cung bảy |
|
[60] or the leaders against evil head the fight for the new world order |
[60] hay các nhà lãnh đạo chống lại tà ác dẫn đầu cuộc đấu tranh cho trật tự thế giới mới |
|
The first and seventh rays |
Cung một và cung bảy |
|
[61] or for the Four Freedoms or the Atlantic charter, they all express the emergence of the love of God in its form of the spirit of Christ. |
[61] hoặc cho Bốn Quyền Tự Do hay Hiến chương Đại Tây Dương, tất cả họ đều biểu lộ sự xuất hiện của tình thương của Thượng đế trong hình thức tinh thần Đức Christ. |
|
I’m sure the readers and listeners here have done it, but let us broaden our approach spirituality, and it’s true that the narrowness of the sixth ray which is dominated our thinking for in two thousand years. Of course, there is still interestingly twenty-one thousand years left in the higher sixth ray cycle which is part of a greater fourth ray cycle. All these things will be part of our understanding as we approach closer to Hierarchical membership, incorporation into the ashram. |
Tôi chắc chắn rằng các độc giả và những người nghe ở đây đã làm điều đó, nhưng hãy mở rộng cách tiếp cận tinh thần của chúng ta, và đúng là sự hẹp hòi của cung sáu đã chi phối suy nghĩ của chúng ta trong hai nghìn năm. Tất nhiên, vẫn còn thú vị là còn hai mươi mốt nghìn năm trong chu kỳ cung sáu cao hơn, vốn là một phần của chu kỳ cung bốn lớn hơn. Tất cả những điều này sẽ là một phần của sự hiểu biết của chúng ta khi chúng ta tiến gần hơn đến địa vthành viên của Thánh Đoàn, sự hợp nhất vào ashram. |
|
[62] Humanity in the mass has therefore reached a point of emergence from darkness; |
[62] Vì vậy, nhân loại xét như một khối đã đạt đến một điểm xuất hiện khỏi bóng tối; |
|
It’s becoming the world disciple, and if it’s true, and I believe it to be true, that the first initiation of a certain portion of humanity is coming. Then its humanity is not only the world disciple—an impending condition— but will be the world initiate of the first degree. Humanity will be initiated, or at least in its upper brackets, it will be, and that will affect everyone and everything within the human race. |
Nhân loại đang trở thành đệ tử thế giới, và nếu điều đó đúng, và tôi tin rằng điều đó đúng, rằng lần điểm đạo đầu tiên của một phần nhất định của nhân loại đang đến. Sau đó, nhân loại không chỉ là đệ tử thế giới—một điều kiện sắp xảy ra—mà sẽ là điểm đạo đồ thế giới của cấp độ đầu tiên. Nhân loại sẽ được điểm đạo, hoặc ít nhất là trong các tầng lớp cao hơn của nó, và điều đó sẽ ảnh hưởng đến mọi người và mọi thứ trong nhân loại. |
|
[63] it has itself evoked the reaction of the powers of evil, |
[63] chính nó đã gợi lên phản ứng của các quyền lực tà ác, |
|
Because of the good emerging within itself, |
Vì điều tốt đang nổi lên trong chính nó, |
|
[64] and hence their attempt |
[64] và do đó có nỗ lực của chúng nhằm chặn đứng sự tiến bộ của tinh thần con người và ngăn lại cuộc tiến bước của cái thiện, cái chân và cái mỹ, |
|
That is the powers of evil, |
Các thế lực hắc ám, |
|
to arrest the progress of the human spirit. |
chặn đứng bước tiến của những gì là thiện, là chân và là mỹ. |
|
Which can never be done ultimately, as DK assures us, |
Điều này cuối cùng không bao giờ có thể thực hiện được, như DK đảm bảo với chúng ta, |
|
One can almost see the acts of the Black Lodge as acts of desperation. Their defeat is imminent, as madam Roerich once said at a meeting of the Black Lodge on astral plane. One can only imagine the courage that it took to do that, and the DK has assured us the defeat of the Black Lodge is imminent. It may be until the Judgment Day in the fifth round that they are totally vanished from our planet, but a major driving back of these forces is imminent, especially with the reappearance of the Christ who is through His vast power of Love, their greatest enemy. |
Người ta gần như có thể thấy các hành động của Hắc Đoàn như những hành động tuyệt vọng. Sự thất bại của họ là sắp xảy ra, như bà Roerich đã từng nói tại một cuộc họp của Hắc Đoàn trên cõi cảm dục. Người ta chỉ có thể tưởng tượng lòng dũng cảm mà điều đó đòi hỏi, và Chân sư DK đã đảm bảo với chúng ta rằng sự thất bại của Hắc Đoàn là sắp xảy ra. Có thể cho đến Ngày Phán Xét trong vòng thứ năm họ mới hoàn toàn biến mất khỏi hành tinh của chúng ta, nhưng một sự đẩy lùi lớn của những lực lượng này là sắp xảy ra, đặc biệt với sự tái xuất hiện của Đức Christ, người mà thông qua sức mạnh to lớn của Tình Thương, là kẻ thù lớn nhất của họ. |
|
[65] Aspirants and probationary disciples are occupied with a definite process of focussing their consciousness in the soul. |
[65] Những người chí nguyện và các đệ tử dự bị đang bận rộn với một tiến trình xác định nhằm tập trung tâm thức của họ trong linh hồn. Tiến trình này gồm hai phần: |
|
This seems clear. The aspirant occurs a little bit before the probationary disciple. The probationary disciple is an aspirant who is taking things a little more seriously. |
Điều này có vẻ rõ ràng. Người chí nguyện xuất hiện một chút trước đệ tử dự bị. Đệ tử dự bị là một người chí nguyện nghiêm túc hơn. |
|
This process falls into two parts: |
Quá trình này chia thành hai phần: |
|
So what is that? |
Đó là gì? |
|
[66] An intensification of the personality life, so that it is developed to its highest individualistic powers. |
[66] Một sự tăng cường đời sống phàm ngã, để nó được phát triển đến các quyền năng cá thể cao nhất của nó. |
|
If we think about the Egoic Lotus, the Egoic Lotus shows this in the kind of work in relation to the fifth petal, the Leo petal. When we go through the Leo phase and the second stage of its unfoldment the early part of it is very individualistic, but later in the work of that petal, we do become the aspirant, and still later when the petal is fully unfolded, it is the signal that the first initiation has been taken. so |
Nếu chúng ta nghĩ về Hoa sen chân ngã, Hoa sen chân ngã cho thấy điều này trong loại công việc liên quan đến cánh hoa thứ năm, cánh hoa Sư Tử. Khi chúng ta đi qua giai đoạn Sư Tử và giai đoạn thứ hai của sự khai mở ra của nóphần đầu của nó rất cá nhân, nhưng sau đó trong công việc của cánh hoa đó, chúng ta trở thành người chí nguyện, và sau đó khi cánh hoa hoàn toàn mở ra, đó là tín hiệu rằng lần điểm đạo đầu tiên đã được thực hiện. Vì vậy |
|
There is the intensification of the personality life in aspirants and probationary disciples. |
có sự tăng cường của đời sống phàm ngã trong những người chí nguyện và đệ tử dự bị. |
|
[67] A process of moving forward into the light and of conscious soul contact. |
[67] Một tiến trình tiến bước vào ánh sáng và tiếp xúc có ý thức với linh hồn. |
|
I just want to call this the later fifth petal process. If you’re interesting in the sort of phenomena that occur in our energy system simultaneously with the increase of consciousness, I suppose there are indications when one examines the Egoic Lotus of where a person really does stand in consciousness. |
Tôi chỉ muốn gọi đây là quá trình cánh hoa thứ năm về sau. Nếu bạn quan tâm đến loại hiện tượng xảy ra trong hệ thống năng lượng của chúng ta đồng thời với sự gia tăng của tâm thức, tôi cho rằng có những dấu hiệu khi một người kiểm tra Hoa sen chân ngã về nơi một người thực sự đứng trong tâm thức. |
|
[68] This involves the earlier stage of the alignment process, which is a mode of focussed, concentrated effort, according to the ray and life purpose of the soul. |
[68] Điều này bao hàm giai đoạn sớm hơn của tiến trình chỉnh hợp, vốn là một phương thức nỗ lực được tập trung và chuyên chú, tùy theo cung và mục đích sống của linh hồn. |
|
This is soul and personality alignment, and that’s that moving forward. We see a lot of people on the world stage and on the national stage who are definitely in the personality phase. They’re in the stage when what they mostly see is their own personality expression. It is a stage one goes through, but it is a dangerous stage in many ways, and it is insufficiently solicitous of the development of others, because the personality looms too large within the field of consciousness. So, according to our ray and life purpose of the soul, there is a stage of alignment which we go through. |
Đây là sự chỉnh hợp linh hồn và phàm ngã, và đó là sự tiến lên. Chúng ta thấy nhiều người trên sân khấu thế giới và trên sân khấu quốc gia đang ở giai đoạn phàm ngã. Họ đang ở giai đoạn khi điều họ thấy chủ yếu là biểu hiện phàm ngã của họ. Đó là một giai đoạn mà người ta phải trải qua, nhưng đó là một giai đoạn nguy hiểm theo nhiều cách, và nó không đủ quan tâm đến sự phát triển của người khác, vì phàm ngã quá lớn trong trường tâm thức. Vì vậy, theo cung và mục đích sống của linh hồn, có một giai đoạn chỉnh hợp mà chúng ta phải trải qua. |
|
[69] This may take the form of a profound application to some scientific endeavour or a deep concentration on the spiritual work of the world, or it may be a complete dedication to humanitarian effort; |
[69] Điều này có thể mang hình thức của sự chuyên tâm sâu xa vào một nỗ lực khoa học nào đó, hoặc sự tập trung sâu sắc vào công việc tinh thần của thế giới, hoặc có thể là sự hiến mình trọn vẹn cho nỗ lực nhân đạo; |
|
When we really start moving into the stage of soul alignment |
Khi chúng ta thực sự bắt đầu tiến vào giai đoạn chỉnh hợp linh hồn |
|
[70] it matters not. |
[70] điều đó không quan trọng. |
|
All this describes a moving forward into the soul alignment. It’s beyond the intensification of the personality life, so one might use a fairly well-developed personality to be the foundation of such a penetration, such an alignment, into the higher possibilities. |
Tất cả điều này mô tả một sự tiến lên trong chỉnh hợp linh hồn. Nó vượt ra ngoài sự tăng cường của đời sống phàm ngã, vì vậy người ta có thể sử dụng một phàm ngã phát triển khá tốt để làm nền tảng cho một sự thâm nhập, một sự chỉnh hợp, vào các khả năng cao hơn. |
|
[71] I would call your attention to that statement. |
[71] Tôi muốn kêu gọi các bạn chú ý đến phát biểu ấy. |
|
It doesn’t matter along which line this application, this concentration, this endeavor occurs. Really, it concentrated endeavor along one of the ray lines. So, it doesn’t matter along one of the ray line it occurred. |
Điều đó không quan trọng theo đường hướng nào mà sự ứng dụng này, sự tập trung này, nỗ lực này xảy ra. Thực sự, đó là nỗ lực tập trung dọc theo một trong các đường cung. Vì vậy, điều đó không quan trọng dọc theo một trong các đường cung mà nó xảy ra. |
|
The particular period through which the individuals passing may see a ray in power which reinforces his own efforts, or which are not so much in harmony with his own efforts, but still the line that he chooses, is his own individual line, and all of them are needed. |
Giai đoạn cụ thể mà cá nhân đang trải qua có thể thấy một cung trong quyền lực củng cố nỗ lực của y, hoặc không quá hài hòa với nỗ lực của y, nhưng vẫn là đường hướng mà y chọn, là đường hướng cá nhân của y, và tất cả đều cần thiết. |
|
I would call your attention to that statement |
Tôi muốn bạn chú ý đến tuyên bố đó |
|
It matters not |
Điều đó không quan trọng |
|
[72] In every case the motivating power must be betterment; |
[72] Trong mọi trường hợp, quyền năng thúc đẩy phải là sự cải thiện; |
|
The Uranian power, really the Jupiterian power |
Sức mạnh Uranus, thực sự là sức mạnh Jupiter |
|
[73] it must be carried forward by extreme effort |
[73] nó phải được tiến hành bằng nỗ lực cực độ; |
|
Well there’s Mars, and all of us who are applying ourselves to the life of discipleship know the nature of this effort |
Vâng, có Mars, và tất cả chúng ta đang áp dụng bản thân vào đời sống một đệ tử đều biết bản chất của nỗ lực này |
|
[74] but—given right motive and the effort to develop simultaneously a good character and a stable purpose—the aspirant or probationary disciple will eventually find that he has succeeded in establishing a definite soul relation; |
[74] nhưng — nếu có động cơ đúng đắn và nỗ lực đồng thời phát triển một tính cách tốt cùng một mục đích ổn định — người chí nguyện hoặc đệ tử dự bị cuối cùng sẽ thấy rằng y đã thành công trong việc thiết lập một mối liên hệ xác định với linh hồn; |
|
This is what many have to go through, and some of us have gone through it and some of us have not yet gone through it, but it is a necessity. Right motive and the foundation of a good character which does not cause divisions in our relations with others, and therefore does not work against right human relations and does not work against group consciousness; and our purpose cannot be fleeting appearing now and then. It has to be stable and consistent. And so a definite soul relation will be established and that’s the first step, definitely needed before we can begin to talk about the energies into which the antahkarana can reach. |
Đây là điều mà nhiều người phải trải qua, và một số chúng ta đã trải qua và một số chúng ta chưa trải qua, nhưng đó là một điều cần thiết. Động cơ đúng đắn và nền tảng của một tính cách tốt không gây ra sự chia rẽ trong quan hệ của chúng ta với người khác, và do đó không chống lại quan hệ đúng đắn giữa con người và không chống lại tâm thức nhóm; và mục đích của chúng ta không thể là thoáng qua xuất hiện lúc này lúc khác. Nó phải ổn định và nhất quán. Và do đó một mối quan hệ linh hồn xác định sẽ được thiết lập, và đó là bước đầu tiên, chắc chắn cần thiết trước khi chúng ta có thể bắt đầu nói về các năng lượng mà antahkarana có thể đạt tới. |
|
[75] he will have discovered that [Page 501] the path of contact between soul and brain, via the mind, has been opened, and that he has mastered the first stage in the needed alignment process. |
[75] y sẽ khám phá ra rằng [Page 501] con đường tiếp xúc giữa linh hồn và bộ não, thông qua thể trí, đã được mở ra, và rằng y đã làm chủ giai đoạn đầu tiên trong tiến trình chỉnh hợp cần thiết. |
|
Kind of suggests the first degree, and we can assess where we stand from most of DKs books on psychology and so forth are written for the first degree. It is assumed that many of his dedicated readers and those who attempt to carry out what he suggests will have taken the first degree. |
Điều này gợi ý một chút về cấp độ đầu tiên, và chúng ta có thể đánh giá vị trí của mình từ hầu hết các cuốn sách của Chân sư DK về tâm lý học, vân vân, được viết cho cấp độ đầu tiên. Người ta giả định rằng nhiều độc giả tận tụy của Ngài và những người cố gắng thực hiện những gì Ngài đề xuất sẽ đã đạt được cấp độ đầu tiên. |
|
[76] When this has been accomplished, the man passes on to the Path of Discipleship |
[76] Khi điều này đã được hoàn thành, con người chuyển sang Con Đường Đệ Tử và có thể đảm nhận công việc mà tôi đang phác thảo cho các bạn trong khảo luận này. |
|
And that really occurs at the first degree |
Và điều đó thực sự xảy ra ở cấp độ đầu tiên |
|
and can undertake the work I am outlining for you in this treatise. |
và có thể thực hiện công việc mà tôi đang phác thảo cho các bạn trong luận thuyết này |
|
We can also ask this, Does discipleship mean accepted discipleship? Well, there is where true discipleship begins, so this is accepted discipleship |
Chúng ta cũng có thể hỏi điều này, Đệ tử có nghĩa là đệ tử được chấp nhận không? Vâng, đó là nơi mà đệ tử thực sự bắt đầu, vì vậy đây là đệ tử được chấp nhận |
|
[77] Thus you can see how the entire human family has reached a central and most important point upon the evolutionary path. |
[77] Như vậy, các bạn có thể thấy toàn thể gia đình nhân loại đã đạt đến một điểm trung tâm và hết sức quan trọng trên con đường tiến hoá. |
|
This should encourage confidence. As a result of which, we can do better work, because when we believe in ourselves—not to the point of pride, but really believe in ourselves—energy flows and we are more successful. |
Điều này khuyến khích sự tự tin. Kết quả là, chúng ta có thể làm việc tốt hơn, vì khi chúng ta tin vào bản thân mình—không đến mức tự hào, nhưng thực sự tin vào bản thân mình—năng lượng chảy và chúng ta thành công hơn. |
|
[78] The immediate path ahead for all—each in his own place—is to stand with right orientation, |
[78] Con đường trước mắt dành cho tất cả — mỗi người ở vị trí riêng của mình — là đứng với định hướng đúng đắn, |
|
Notice, to stand in spiritual being with right orientation |
Chú ý, đứng trong sự bản thể tinh thần với định hướng đúng đắn |
|
[79] undeterred by circumstances, and then unflinchingly move forward. |
[79] không bị hoàn cảnh làm nản lòng, rồi tiến bước không nao núng. |
|
You detect a little bit of the first ray and the Will in here. I certainly do so. DK has something of the first ray, He says, in spiritual triad. |
Bạn phát hiện một chút về cung một và Ý Chí ở đây. Tôi chắc chắn là như vậy. Ngài nói, Ngài có một chút về cung một trong tam nguyên tinh thần. |
|
I think we have reached a point in this little discussion, so let’s call this the end of Rays and Initiations Webinar Commentary number 43, and pages 500, and previously we were on 496. |
Tôi nghĩ chúng ta đã đạt đến một điểm trong cuộc thảo luận nhỏ này, vì vậy hãy gọi đây là kết thúc của Bình luận Hội thảo về Cung và Điểm đạo số 43, trang 496 đến trang 500 |
|
I try to get this to be clear, and sometimes the red shows up, and sometimes it doesn’t, and I really want to make sure that it that my inserts do show up. |
Tôi cố gắng làm cho điều này rõ ràng, và đôi khi màu đỏ xuất hiện, và đôi khi không, và tôi thực sự muốn đảm bảo rằng các chèn của tôi xuất hiện. |
|
So this will be the end of Rays and Initiations number forty three, and the next one is the beginning of Rays and Initiation webinar commentary number 44 know. |
Vì vậy, đây sẽ là kết thúc của Cung và Điểm đạo số bốn mươi ba, và chương trình tiếp theo Bình luận hội thảo về Cung và Điểm đạo số 44. |
|
We’re just about to go with the ingress in Aquarius in this year 2017, hope some of you members of the Blue Rose sisterhood will be able to join us for that. |
Chúng ta sắp đi vào thời điểm tiến vào dấu hiệu Bảo Bình trong năm 2017 này, hy vọng một số bạn thành viên của Hội Chị Em Hoa Hồng Xanh sẽ có thể tham gia cùng chúng tôi cho điều đó. |
|
Friends, so that’s it for the moment and we’ll go on to number 44 when the time allows. Thank you and we will proceed together |
Các bạn, vậy là tạm thời xong và chúng ta sẽ tiếp tục với số 44 khi thời gian cho phép. Cảm ơn và chúng ta sẽ tiến hành cùng nhau. |