Bình Giảng Antahkarana — Webinar 33

📘 Sách: Bình Giảng Antahkarana – Tác giả: Michael D. Robbins

Antahkarana Webinar 33

Tóm Tắt

Chuyển từ tri thức sang minh triết và ý nghĩa thật của sự từ bỏ

Thầy MDR mở lại đoạn trước của Chân sư DK bằng cách nhấn mạnh rằng phàm ngã bắt đầu chuyển tri thức thành minh triết khi tiêu điểm đời sống được nâng lên cõi trí, vì tiến trình thấu hiểu, phân tích, nhận biết và áp dụng vốn là một tiến trình trí tuệ. Thầy lưu ý câu “tình thương chân thật chỉ được hiểu đúng bởi kiểu người trí tuệ có định hướng tinh thần”, và giải thích “định hướng tinh thần” ở đây là hướng về Tam Nguyên Tinh Thần, với liên hệ đặc biệt đến Sao Kim như sự hợp nhất của Bác Ái – Minh Triết và trí tuệ. Thầy MDR nhận xét rằng “không có sự hi sinh nào thật sự” nên được hiểu là không có “mất mát thật sự”; cái bị buông bỏ ở tầng thấp chỉ mở đường cho sự mở rộng cao hơn, nếu tâm thức đủ tập trung vào điều cao hơn thì sự mất mát bề ngoài hầu như không còn được ghi nhận là mất mát.

Sự từ bỏ là sự đồng nhất với Ý Chí thiêng liêng

Theo Thầy MDR, “Sự từ bỏ” không phải là nghiến răng chịu đựng mất mát, mà là thay đổi hẳn định hướng về điều ta quý trọng, để ý chí tinh thần của con người hòa vào Ý Chí thiêng liêng như được nhận ra trong Thiên Cơ. Thầy phân tích rằng ở đây cần phân biệt ý chí của linh hồn, ý chí của Tam Nguyên Tinh Thần và ý chí của Chân Thần; khi dùng từ “thiêng liêng” thì trọng tâm thực sự đang tiến gần đến Chân Thần. Tự ý chí, dục vọng và hoạt động thông minh có động cơ kép chỉ là biểu hiện thấp của ba phương diện thiêng liêng, và nỗ lực của đệ tử là biểu lộ chúng theo linh hồn chứ không chỉ qua một phàm ngã tận tụy nhưng vẫn còn giới hạn.

Vai trò của đầu, tim và lập hạnh trong tiến trình cao hơn

Thầy MDR đặc biệt chú ý câu “đầu cũng như tim đang trở nên linh hoạt”, và thêm rằng “tim trong đầu” cũng cần hoạt động, vì tim trong đầu nối với cõi chân thần, trung tâm đầu như một toàn thể nối với cõi atma, còn trung tâm tim giữa hai bả vai nối với cõi Bồ đề. Thầy gán các liên hệ này cho ảnh hưởng của Sao Kim và Sao Mộc, đồng thời cho rằng lập hạnh không chỉ thuộc giai đoạn Con Đường Dự Bị mà còn tiếp diễn rất lâu, có thể đến tận lần điểm đạo thứ năm. Thầy lưu ý nhiều người tưởng rằng sau một mức phát triển nào đó thì tính cách tốt và hoạt động trí tuệ không còn cần thiết, nhưng nếu nền móng ấy chưa vững thì mọi cấu trúc cao hơn đều gặp vấn đề.

Xây antahkarana là một công việc tinh tế

Từ câu “một cái gì cao hơn và tinh vi hơn phải được dựng lên trên nền móng ấy”, Thầy MDR chuyển sang nhấn mạnh sự xây dựng antahkarana như một công việc cực kỳ vi tế. Thầy đề xuất rằng thất bại thường đến không phải vì thiếu kỹ thuật bề ngoài, mà vì không cảm được sự tinh tế của tiến trình, không đủ nhạy với các ấn tượng bên trong của các thể và không thực sự cảm nghiệm được ánh sáng đi lên chạm vào một vùng tâm thức tiềm năng hoàn toàn mới. Theo Thầy, đó là sự vươn lên từ vòng-giới-hạn thông thường của cá nhân vào vòng-giới-hạn hành tinh rộng lớn hơn của Tam Nguyên Tinh Thần.

Từ minh triết-tri thức đến trực giác Bồ đề

Sang trang 469, Thầy MDR giải thích “tri thức-minh triết phải được vượt qua bởi sự thấu hiểu trực giác”, và nhấn mạnh “thấu hiểu” là một từ rất Bồ đề. Thầy liên hệ điều này với sự tan rã của các cánh hoa tri thức sau lần điểm đạo thứ ba và sự chuyển trọng tâm sang các cánh hoa bác ái và tổng hợp. Thầy nhận xét rằng Bồ đề là “tri thức trực tiếp”, nắm bắt ngay các liên hệ giữa trước, sau và hiện tại một cách thực tế chứ không chỉ lý thuyết, nên đây mới là bước thật sự vượt khỏi tri thức đơn thuần để đi vào trí tuệ siêu việt.

Tham dự bao gồm vào hoạt động sáng tạo của thiên tính

Thầy MDR đọc câu “đây thực ra là sự tham dự bao gồm vào hoạt động sáng tạo của thiên tính” như một chỉ dẫn rằng sự sáng tạo thật sự của Hành Tinh Thượng đế diễn ra trong Tam Nguyên Tinh Thần. Thầy giải thích rằng trên bình diện vũ trụ, phần lớn tiến trình sáng tạo diễn ra trong các cõi dĩ thái vũ trụ; chỉ phần trừu tượng cao nhất của cõi trí mới nằm trong “thể xác đậm đặc” của Thái dương Thượng đế, còn các chuẩn bị sáng tạo thực sự xảy ra ở bên trong rồi mới đi tới ngưng tụ. Thầy đặc biệt gắn cõi Bồ đề với “cõi phụ thứ tư” theo nghĩa dĩ thái vũ trụ, nơi nguyên mẫu của điều sẽ xuất hiện được tổ chức trước khi giáng xuống cõi hồng trần.

Từ ý tưởng thiêng liêng đến lý tưởng và biểu hiện vật chất

Khi bàn tới câu “ý tưởng thiêng liêng phải trở thành lý tưởng khả hữu”, Thầy MDR nói rằng sáng tạo luôn bắt đầu từ trên xuống, chứ không phải chỉ ghép ngẫu nhiên các yếu tố hồng trần. Thầy nhận xét rằng nếu chỉ “ném mọi thứ vào nhau” thì kết quả sẽ thiếu chiều sâu và không phản chiếu một kết hợp được dự định từ cõi cao hơn. Theo Thầy, kiểu người cung bốn trong tương lai phải chỉnh hợp với thiết kế nội tại và “xung lực đi vào đời sống sáng tạo”, rồi mới có thể sắp xếp chất liệu bên ngoài như một phản chiếu của sự sống sáng tạo bên trong.

Mục đích, Thiên Cơ và ba sợi dây

Thầy MDR phân biệt rất rõ giữa Mục đích và Thiên Cơ: Mục đích là toàn bộ thiết kế hoàn chỉnh, vượt khỏi thời gian và không gian; còn Thiên Cơ là phần của Mục đích được triển khai đúng thời điểm trong không gian-thời gian. Thầy cho rằng Mục đích tồn tại trên cõi chân thần, còn Thiên Cơ bắt đầu kết tủa từ cõi atma. Trong mạch này, Thầy nhắc đến antahkarana tam phân gồm Sinh Mệnh Tuyến, Sợi dây Tâm thức và sợi dây sáng tạo; sợi dây sáng tạo là phương tiện để thao tác chất liệu trong thời-không sao cho gần đúng với nguyên mẫu ở trên cao.

Tương ứng giữa ba thể thấp và các nguyên mẫu cao

Thầy MDR gợi ý rằng Chân sư DK đang dạy ta diễn giải các lực và khuynh hướng của ba thể thấp theo các đối phần cao hơn của chúng. Thầy đề xuất một cách nhìn tương ứng: khuynh hướng của hạ trí được hiểu theo atma, khuynh hướng của thể cảm dục theo Bồ đề, và khuynh hướng của thể dĩ thái-hồng trần theo Thượng trí. Đồng thời Thầy cũng nêu một cách nhìn phản chiếu khác: atma liên hệ với cõi dĩ thái-hồng trần, Bồ đề với cõi cảm dục, và Thượng trí với hạ trí.

Chuyển dục vọng-thương yêu thành hấp dẫn thiêng liêng

Với câu “dục vọng-tình thương phải được diễn giải theo lực hấp dẫn thiêng liêng”, Thầy MDR đặt câu hỏi trung tâm: chúng ta bị hút về điều gì, và điều đó có phụng sự Thiên Cơ và Mục đích hay không. Thầy lưu ý mối tương ứng số 6 giữa cõi cảm dục khi đếm từ trên và cõi chân thần khi đếm từ dưới, cho thấy năng lượng dục vọng-thương yêu ở tầng thấp có thể là phản chiếu méo mó của hấp dẫn thiêng liêng ở tầng cao. Theo Thầy, “toàn thể được mặc khải” đến với con người mạnh nhất qua góc nhìn chân thần, dù việc nắm bắt toàn thể ấy chỉ diễn ra dần dần theo các nấc trên “thang Jacob”.

Mở rộng vòng-giới-hạn đến sự đồng nhất

Thầy MDR nhấn mạnh từ “dần dần” trong câu “bộ phận… dần dần tiếp xúc với tất cả những gì hiện hữu”, cho thấy vòng-giới-hạn tâm thức mở rộng từng bước. Thầy dùng hình ảnh từ Cổ Luận: đệ tử rời khỏi “căn phòng tối” của tâm thức bị giới hạn để đi vào sự bao trùm ngày càng lớn hơn của toàn thể vĩ mô. Thầy phân ba giai đoạn “điểm đạo, sự nhận ra, đồng nhất” theo tiến trình kỹ thuật: điểm đạo khởi sự thật sự từ lần điểm đạo thứ ba trong thể nguyên nhân; sự nhận ra là một yếu tố atma; còn đồng nhất là yếu tố chân thần, dù các phản chiếu mờ nhạt của nó có thể cảm được trên cõi Bồ đề, trong linh hồn, và phần nào ở các tầng cao của cõi cảm dục.

Sợi dây Tâm thức, sợi dây sáng tạo và Sinh Mệnh Tuyến hợp tác

Khi bàn đến câu “Sợi dây Tâm thức, phối hợp với sợi dây sáng tạo và Sinh Mệnh Tuyến, thức tỉnh”, Thầy MDR nhắc rằng toàn bộ nội dung này đều thuộc khoa học antahkarana. Thầy nói sự hợp tác của ba sợi dây dần đưa đệ tử đến một tiến trình tham dự ngày càng hữu thức vào Thiên Cơ sáng tạo thiêng liêng của Hành Tinh Thượng đế. Theo Thầy, khi ta hành động từ bản chất cao hơn của mình, chính hành động ấy trở thành một phần biểu lộ của Thiên Cơ, nên nhận biết ngày càng đầy đủ là điều cần thiết để việc làm của ta không đi chệch điều “phải được thực hiện”.

Tình thương như động lực sắp xếp mọi phần vào toàn thể nguyên mẫu

Thầy MDR diễn giải “một Thiên Cơ được thúc đẩy bởi tình thương và được tiến hành một cách thông minh” như một chuyển động đưa mọi phần vào phản ánh của toàn thể nguyên mẫu. Thầy nhận xét rằng tình thương ở đây không phải cảm xúc mà là xu hướng sắp xếp mọi yếu tố vào đúng vị trí của chúng trong Thế Giới Bản Thể, theo vẻ đẹp và lý trí thuần túy của các nguyên mẫu do Trí của Thượng đế đặt nền. Con người dùng phẩm tính thông minh thích nghi và thao tác để tạo ra ở bên dưới những cấu trúc phản chiếu các sắp xếp nguyên mẫu ở bên trên.

Định hướng-Ý chí và sự tự do của Tam Nguyên Tinh Thần

Với “Định hướng-Ý chí”, Thầy MDR nói đây là kết quả cuối cùng của việc hiểu hai tiến trình trước đó là tri thức-minh triết và dục vọng-tình thương. Thầy nhấn mạnh cụm “phàm ngã và linh hồn, dung hợp, hòa lẫn và làm một” vì không được thiên lệch về bên nào; cần có phàm ngã được linh hồn thấm nhuần để hướng đến “sự tự do của Tam Nguyên Tinh Thần”. Theo Thầy, Tam Nguyên Tinh Thần giải thoát con người khỏi các giới hạn của thể nguyên nhân; tâm thức thường hằng trong thể nguyên nhân là thành tựu lớn, nhưng vẫn chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho một trạng thái không còn bị địa phương hóa bởi hình tướng.

Mức độ phú linh của linh hồn và sự tan rã thể nguyên nhân

Thầy MDR nhận xét rằng sự phú linh của linh hồn không xảy ra một lần mà tăng dần qua tiến trình điểm đạo. Thầy ước đoán rằng ở lần điểm đạo thứ ba con người có thể đã được linh hồn thấm nhuần khoảng 75%, còn sự phú linh mạnh nhất diễn ra ngay trước lần điểm đạo thứ tư; lúc ấy mọi điều từ cõi cao có thể chứa trong phàm ngã đều đã được chứa, nên thể nguyên nhân có thể bị hủy. Thầy còn lưu ý rằng ngay cả trong Mayavi Rupa, các luân xa vẫn có thể tiếp tục biểu lộ các năng lượng cao hơn.

Xây antahkarana trên cõi trí bằng ba năng lượng

Thầy MDR đọc câu “nỗ lực hữu thức dùng ba năng lượng này sẽ tạo ra antahkarana trên cõi trí” như chỉ phần đầu của cây cầu, bắc qua khoảng hở trong tâm thức giữa tam phân thấp và Tam Nguyên Tinh Thần. Thầy liên hệ ba năng lượng ấy với các giai đoạn thực hành: tri thức-minh triết, dục vọng-tình thương, rồi đến Định hướng-Ý chí như giai đoạn phóng chiếu. Khi Chân sư DK nhấn mạnh “định hướng” và “nỗ lực”, Thầy MDR giải thích rằng antahkarana không được dựng chỉ sau một đêm; phải qua nhiều lần thử, với sự quay mặt về “Mặt Trời” và kiểm soát ngày càng cao đối với chất liệu tinh tế.

Dấu hiệu vượt khỏi Con Đường Dự Bị

Theo câu trích tiếp theo, Thầy MDR nhấn mạnh dấu hiệu một người không còn ở trên Con Đường Dự Bị là đi ra khỏi lĩnh vực khát vọng và Ảo cảm Sùng tín để bước vào thế giới của ý chí tập trung. Thầy lưu ý rằng dù Chân sư Morya vẫn thúc giục phải nỗ lực mãnh liệt, nhưng nỗ lực ấy nay phải đi kèm ý chí hội tụ chứ không chỉ là vươn tới điều chưa đạt. Một dấu hiệu khác là bắt đầu diễn giải đời sống theo năng lượng và mãnh lực chứ không theo phẩm tính và ham muốn; đây là bước lùi lại để quan sát, phân biệt và “gọi đúng tên bí mật” của các lực vận hành.

Ít sử dụng ý chí tinh thần trong đời sống đệ tử

Thầy MDR xem nhận xét của Chân sư DK về việc “quá ít dùng ý chí tinh thần” như một lời cảnh tỉnh trực tiếp cho các đệ tử ngày nay. Thầy nói ý chí tinh thần là yếu tố atma, đồng thời phản chiếu trong các cánh hoa hi sinh và cánh hoa tổng hợp của Hoa Sen Chân Ngã, cũng như trong trung tâm đầu và cả đáy cột sống ở cấp phàm ngã. Thầy đặc biệt lưu ý một nhận xét lạ rằng đáy cột sống theo một nghĩa nào đó là trung tâm kiểm soát ý chí, còn tổng hợp được tìm thấy ở trung tâm đầu.

Khoa học antahkarana và Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên

Trong phần cuối, Thầy MDR giải thích rằng “Khoa học antahkarana” và đối phần thấp hơn của nó là “Khoa học Tiến Hóa Xã Hội” về sau sẽ được biết như Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên. Thầy mô tả đây là antahkarana chung của toàn nhân loại, dù hiện nay nhân loại chưa thật sự xây antahkarana theo cách khoa học vì phần lớn mới chỉ suy nghĩ, cầu nguyện hay thờ phượng chứ chưa tham thiền đúng nghĩa. Thầy suy đoán rằng vào Thời Đại Bảo Bình, khoảng bảy hay tám trăm năm nữa, đặc biệt trong thập độ giữa chịu ảnh hưởng của Sao Thủy, khoa học xây antahkarana có thể sẽ trở thành một phần quan trọng của giáo dục.

Khoa học Quan Hệ Từ Tính và đúng quan hệ

Thầy MDR lặp lại cách gọi khác của antahkarana là “Khoa học Quan Hệ Từ Tính”, vì chỉ khi thiết lập được quan hệ từ tính thì con người mới bước vào quan hệ truyền dẫn với các cõi cao. Thầy nói đây là tiến trình tạo ra những điều kiện ở dưới để tiếp xúc từ tính với những thế giới cao hơn, hầu thiết kế lại những cấu hình quen thuộc của đời sống hạ giới theo phản chiếu của Thiên Cơ. Theo Thầy, trong bình diện ngang, con người cũng đang học cách khẩn cầu linh hồn của nhau để thay thế các quan hệ phàm ngã chia rẽ bằng quan hệ linh hồn.

Âm thanh, âm nhạc và gợi lên đáp ứng linh hồn

Thầy MDR giải thích vì sao khoa học này là huyền bí học “vì dựa trên âm thanh”, do đó mới có việc Xướng linh từ OM. Thầy nhận xét rằng âm nhạc có thể giúp rất nhiều, bởi toàn bộ vũ trụ sáng tạo theo một nghĩa nào đó là âm nhạc; khi một nốt thấp được chỉnh hợp với một nốt cao, cộng hưởng và hòa điệu sẽ giải phóng dòng truyền từ trên xuống. Từ đó Thầy mở rộng sang lĩnh vực giao tiếp: lời nói đúng, tư tưởng đúng và tình thương có thể gợi lên đáp ứng linh hồn nơi người khác, trong khi lời thô bạo hay chỉ trích thường chỉ gợi lại phản ứng cùng loại.

Từ các trung tâm đến quan hệ giữa người, nhóm và quốc gia

Thầy MDR chỉ ra rằng cùng một khoa học này nằm sau sự thức tỉnh hữu thức của các trung tâm và mối liên hệ giữa chúng, vì các trung tâm chỉ thức tỉnh khi có cộng hưởng với các nguồn năng lượng cao hơn. Thầy nói trên bình diện ngang, nhân loại phải tạo hòa điệu Bồ đề để có đúng quan hệ giữa người với người, nhóm với nhóm, rồi cuối cùng là quốc gia với quốc gia. Nhân loại đã có nhiều manas, một số ít có Trí trừu tượng, nhưng điều còn thiếu là Bồ đề; do đó điều cần khẩn cầu kế tiếp chính là đáp ứng từ cõi Bồ đề để phản chiếu thành đúng quan hệ nhân loại ở hạ giới.

Giai đoạn khẩn cầu trong tiến trình antahkarana

Thầy MDR giải thích đây là giai đoạn thứ tư trong tiến trình antahkarana sáu phần, sau ý định, sự hình dung và phóng chiếu; vì là giai đoạn thứ tư nên nó hàm ý sự tham dự của Bồ đề trong bước này. Thầy liên hệ với công thức cổ xưa “hãy xin, sẽ được mặc khải; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ, cửa sẽ mở”, và lưu ý Alice Bailey nói câu ấy được ghi trên cổng điểm đạo. Theo Thầy MDR, khi con người hướng đến các thế giới cao hơn, họ phải học cách khẩn cầu đúng cách để có sự gợi lên tương ứng, nhờ đó điều cần tìm được hé lộ và cánh cửa được mở ra.

Khẩn Cầu và Gợi Lên như cầu nối giữa các cấp độ

Thầy MDR nhấn mạnh chính Khẩn Cầu và Gợi Lên là điều rốt cuộc nối linh hồn với phàm ngã, và linh hồn với Chân Thần. Con người luôn phải vươn lên một cách cộng hưởng và hài hòa tới cái cao hơn, từ đó mong đợi một sự đáp ứng. Thầy MDR nhận xét rằng lời cầu xin vị kỷ hay đầy sự tập trung vào bản thân theo nghĩa thấp thì có thể vẫn nhận được một loại đáp ứng nào đó, nhưng không phải kiểu gợi lên mà người đệ tử chân chính tìm kiếm.

Phàm ngã được linh hồn thấm nhuần và việc khẩn cầu Hữu thể thuần túy

Thầy MDR nói rằng một ngày kia phàm ngã được linh hồn thấm nhuần phải học cách khẩn cầu Hữu thể thuần túy của Chân Thần và tiếp nhận loại đáp ứng làm mặc khải ngày càng nhiều hơn về Hữu thể ấy. Đây là mục tiêu nổi bật đằng sau lời kêu cầu của nhân loại hướng về Thượng đế, Thánh đoàn và các Quyền Năng tinh thần của vũ trụ, bất kể người ta gọi các Đấng ấy bằng danh xưng nào. Thầy MDR lưu ý nhân loại đang tìm đến một sự cố kết được hứa hẹn, phản ánh sự cố kết nguyên thủy, nhưng chủ thể đang khẩn cầu phải là một hữu thể đã phần nào nhận ra sự hợp nhất, chứ không chỉ là phàm ngã ích kỷ.

Nguy cơ khẩn cầu từ ý chí vị kỷ và sự đảo ngược tai hại

Thầy MDR cảnh báo phàm ngã ích kỷ thực sự không thể khẩn cầu Chân Thần một cách đúng đắn; nếu có thành công thì kết quả có thể rất nguy hiểm. Thầy đưa ra ví dụ Thế chiến thứ hai, khi một nhóm người tà ác đã thành công trong việc chạm đến năng lượng ý chí nhưng bỏ qua hoàn toàn bác ái, khiến năng lượng ý chí bị mại dụng cho mục đích của phàm ngã. Theo Thầy MDR, đó là một sự đảo ngược lớn, dẫn tới thảm họa như hệ quả tất yếu.

Lời khẩn cầu của nhân loại và khoa học huyền bí mới

Thầy MDR nhấn mạnh lời kêu cầu của nhân loại có thể, sẽ và phải gợi lên sự đáp ứng từ Thánh đoàn tinh thần, dù sự khẩn cầu hiện nay còn mơ hồ, chưa định hình đầy đủ. Thầy nhận xét con người đang vươn tới một điều mà mình dường như chưa có, và phải cùng nhau học cách làm điều đó, đồng thời nhận ra rằng sự cứu rỗi thật sự đến từ bên trên và từ bên trong. Đây sẽ là cuộc biểu lộ đầu tiên trên quy mô lớn của khoa học huyền bí mới, tức khoa học Khẩn Cầu và Gợi Lên.

Nền tảng của khoa học này là âm thanh

Thầy MDR đặc biệt lưu ý khoa học Khẩn Cầu và Gợi Lên là huyền bí vì nó đặt nền trên âm thanh. Thầy bình luận rằng toàn bộ sự hình thành thế giới là kết quả của Linh từ thiêng liêng, và việc dùng âm thanh, từ AUM đến các biến thể và thích nghi phức tạp hơn của các âm cơ bản, chính là tiến trình sáng tạo. Theo Thầy MDR, khi con người học sử dụng âm thanh chính xác thay vì phát ra một cách cẩu thả và ngẫu nhiên, thì loại thế giới được gợi lên và sự giáng hạ của các mô hình cao hơn sẽ rất khác với tình trạng hỗn loạn âm thanh hiện nay.

OM như Linh từ khẩn cầu của mô hình chân thật

Thầy MDR xem OM là một Linh từ khẩn cầu vĩ đại, dẫn đến sự gợi lên của mô hình chân thật hay mục đích đích thực khi nó phản ánh trong Thiên Cơ. Dù Chân sư DK không đi sâu thêm vào khoa học OM ở đoạn này, Thầy MDR nhấn mạnh đây là một gợi ý rất sâu về công năng sáng tạo của âm thanh. Thầy xem việc sử dụng OM như một phần then chốt của khoa học antahkarana, dù chủ đề chính của đoạn văn vẫn là Khoa học antahkarana.

Chiều sâu của Khoa học antahkarana và giáo dục tương lai

Thầy MDR nhận xét đây là một trong những công trình sâu sắc nhất mà Chân sư DK từng trình bày, và trong tương lai nó sẽ trở thành một phương pháp giáo dục phổ biến trong các trường học mới tốt đẹp hơn. Thầy đề xuất rằng ngay cả những trường không mang tính huyền bí rõ rệt cũng sẽ nói theo ngôn ngữ “đậm chất Sao Thủy” hơn, nghĩa là chú trọng điều gì có thể được khẩn cầu từ “đám mây mưa của những điều khả tri”, rồi sự gợi lên tri thức cần thiết sẽ theo sau. Theo Thầy MDR, giáo dục tương lai sẽ quay vào bên trong để tìm nguồn đáp ứng cho nhu cầu của con người truy cầu.

Chuyển sang chủ đề cây cầu như tác nhân chỉnh hợp

Thầy MDR cho biết phần sắp tới là mục mới về cây cầu như tác nhân của sự chỉnh hợp, ở trang 470 của Rays and Initiations, chương trình số 34. Thầy lưu ý chủ đề này rất sâu, đòi hỏi sự quen thuộc lâu dài và liên tục; bản thân Thầy đã giảng phần này vài lần nhưng mỗi lần đều thấy lần đọc trước còn hời hợt và luôn còn nhiều điều phải đào sâu thêm. Thầy MDR nhận xét ngay cả điều Thầy đang truyền đạt hiện tại cũng mới chỉ là một phần, và cần thời gian để dần thích nghi với điều Chân sư DK thực sự muốn chuyển trao.

Text

[1] True love is rightly understood only by the mental type who is spiritually oriented. [2] The personality is also arriving at the realisation that there is in reality no such thing as sacrifice. [3] Sacrifice is usually only the thwarted desire of the lower nature, willingly endured by the aspirant, [4] but—in this phase—a misinterpretation and limitation. [5] Sacrifice is really complete conformity to the will of God because the spiritual will of the man and the divine will (as he recognises it in the Plan) is his will. [6] There is a growing identification in purpose. [7] Therefore, self-will, desire and those intelligent activities which are dually motivated [8] are seen and recognised as only the lower expression of the three divine aspects, [9] and the effort is to express these in terms of the soul and not, as hitherto, in terms of a dedicated and rightly oriented personality. [10] This becomes possible in its true sense only when the focus of the life is in the mental vehicle and the head as well as the heart is becoming active. [11] In this process, the stages of character building are seen as essential and effective, and are willingly and consciously undertaken. [12] But—when these foundations of good character and intelligent activity are firmly [13] established—something still higher and more subtle must be erected on the sub-structure.

[1] Tình thương chân chính chỉ được thấu hiểu đúng đắn bởi kiểu người trí tuệ có định hướng tinh thần. [2] Phàm ngã cũng đang đi đến chỗ nhận ra rằng trên thực tế không hề có điều gì gọi là sự hi sinh. [3] Sự hi sinh thường chỉ là khát vọng bị ngăn trở của bản chất thấp, được người chí nguyện tự nguyện chịu đựng, [4] nhưng—trong giai đoạn này—đó là một sự diễn giải sai lạc và hạn chế. [5] Sự hi sinh thực ra là sự tuân phục hoàn toàn đối với Ý Chí của Thượng đế bởi vì ý chí tinh thần của con người và ý chí thiêng liêng (như y nhận ra trong Thiên Cơ) chính là ý chí của y. [6] Có một sự đồng nhất ngày càng tăng trong mục đích. [7] Vì vậy, ý chí cá nhân, khát vọng và những hoạt động trí tuệ có động cơ nhị nguyên kia [8] được nhìn thấy và nhận biết chỉ như biểu hiện thấp của ba phương diện thiêng liêng, [9] và nỗ lực là biểu lộ chúng theo các thuật ngữ của linh hồn chứ không phải, như trước đây, theo các thuật ngữ của một phàm ngã tận hiến và có định hướng đúng đắn. [10] Điều này chỉ trở nên khả thi theo ý nghĩa chân thực của nó khi tiêu điểm của sự sống nằm trong thể trí và đầu cũng như tim đang trở nên hoạt động. [11] Trong tiến trình này, các giai đoạn lập hạnh được nhìn nhận là thiết yếu và hữu hiệu, và được đảm nhận một cách tự nguyện và hữu thức. [12] Nhưng—khi các nền tảng của tính cách tốt và hoạt động trí tuệ này đã được [13] thiết lập vững chắc—thì một điều gì đó còn cao hơn và tinh tế hơn nữa phải được dựng lên trên cấu trúc nền tảng ấy.

[14] Knowledge-wisdom must be superseded by intuitive [Page 469] understanding; [15] this is, in reality, inclusive participation in the creative activity of divinity. [16] The divine idea must become the possible ideal, [17] and this ideal must become unfolded and manifested in substance upon the physical plane. [18] The creative thread, now somewhat ready, must be brought into conscious functioning and activity.

[14] Tri thức-minh triết phải được vượt qua bởi sự thấu hiểu trực giác [Page 469]; [15] điều này, trên thực tế, là sự tham dự bao gồm vào hoạt động sáng tạo của thiên tính. [16] Ý tưởng thiêng liêng phải trở thành lý tưởng khả hữu, [17] và lý tưởng này phải được khai mở và biểu hiện trong chất liệu trên cõi hồng trần. [18] Sợi dây sáng tạo, giờ đây đã phần nào sẵn sàng, phải được đưa vào sự hoạt động và vận hành hữu thức.

[19] Desire-love must be interpreted in terms of divine attraction, involving the right use or misuse of energies and forces. [20] This process puts the disciple in touch with divinity as a progressively revealed Whole. [21] The part, through the magnetic development of its own nature, comes into touch gradually with all that IS. [22] The disciple becomes aware of this sum total in increasingly vivid expansions of consciousness, leading to initiation, realisation and identification. These are the three stages of initiation.

[19] Dục vọng-bác ái phải được diễn giải theo các thuật ngữ của sự hấp dẫn thiêng liêng, bao hàm việc sử dụng đúng hay sai các năng lượng và mãnh lực. [20] Tiến trình này đặt đệ tử vào sự tiếp xúc với thiên tính như một Toàn Thể được mặc khải dần dần. [21] Bộ phận, thông qua sự phát triển từ tính của chính bản chất mình, dần dần tiếp xúc với tất cả những gì HIỆN HỮU. [22] Đệ tử trở nên nhận biết tổng thể này trong những sự mở rộng tâm thức ngày càng sống động, dẫn đến điểm đạo, chứng nghiệm và đồng nhất hóa. Đây là ba giai đoạn của điểm đạo.

[23] The consciousness thread, in cooperation with the creative thread and the life thread, [24] awakens to a fully aware process of participation in the divine creative Plan— [25] a Plan which is motivated by love and intelligently carried forward.

[23] Sợi dây tâm thức, phối hợp với sợi dây sáng tạo và sợi dây sự sống, [24] thức tỉnh để tham gia một cách đầy đủ và có ý thức vào Thiên Cơ sáng tạo — [25] một Thiên Cơ được thúc đẩy bởi tình thương và được triển khai một cách có trí tuệ.

[26] Direction-Will (which are words describing the orientation produced by the understanding of the two processes of knowledge-wisdom and desire-love) [27] must produce the final orientation of the personality and the soul, fused and blended and at-one, towards the freedom of the Spiritual Triad; [28] then the conscious attempt to use these three energies eventuates in creating the antahkarana upon the mental plane. [29] You will note that at this early stage of the process I am emphasising the words “orientation” and “attempt.” [30] They simply indicate the final control of substance by the initiate.

[26] Định hướng-Ý chí (là những từ mô tả sự định hướng được tạo ra bởi sự thấu hiểu hai tiến trình tri thức-minh triết và khát vọng-bác ái) [27] phải tạo ra sự định hướng cuối cùng của phàm ngã và linh hồn, đã được dung hợp, hòa nhập và hợp nhất, hướng tới sự tự do của Tam Nguyên Tinh Thần; [28] khi đó nỗ lực hữu thức nhằm sử dụng ba năng lượng này sẽ kết quả trong việc tạo dựng antahkarana trên cõi trí. [29] Các bạn sẽ lưu ý rằng ở giai đoạn đầu này của tiến trình, tôi đang nhấn mạnh các từ “định hướng” và “nỗ lực.” [30] Chúng chỉ đơn giản biểu thị sự kiểm soát cuối cùng của điểm đạo đồ đối với chất liệu.

[31] One of the indications that a man is no longer upon the Probationary Path is his emerging from the realm of aspiration and devotion into the world of the focussed will. [32] Another indication is that he begins to interpret life in terms of energy and forces, and not in terms of quality and desire. [33] This marks a definite step forward. There is too little use of the spiritual will, as the result of right orientation, in the life of disciples today. [Page 470]

[31] Một trong những dấu hiệu cho thấy một người không còn ở trên Con Đường Dự Bị nữa là việc y thoát ra khỏi lĩnh vực của khát vọng và sùng tín để bước vào thế giới của ý chí tập trung nhất tâm. [32] Một dấu hiệu khác là y bắt đầu diễn giải sự sống theo các thuật ngữ của năng lượng và mãnh lực, chứ không theo các thuật ngữ của phẩm tính và khát vọng. [33] Điều này đánh dấu một bước tiến xác định. Ngày nay, trong đời sống của các đệ tử, có quá ít sự sử dụng ý chí tinh thần như là kết quả của sự định hướng đúng đắn. [Page 470]

[34] In the future, this Science of the Antahkarana and its lower correspondence, the Science of Social Evolution (which is the joint or united antahkarana of humanity as a whole), [35] will be known as the Science of Invocation and Evocation. [36] It is in reality the Science of Magnetic Rapport, [37] in which right relationship is brought about by mutual invocation, producing a responsive process which is one of evocation. [38] It is this science which lies behind all conscious awakening of the centres and their interrelation; [39] it lies behind the rapport between man and man, group and group, and eventually between nation and nation. [40] It is this invocation, and the consequent evocation, which eventually relate soul and personality and soul and monad. [41] It is the outstanding objective of humanity’s appeal to God, to the Hierarchy and to the Spiritual Powers of the cosmos, no matter by what name you call them. [42] The appeal goes forth. The invocation of humanity can and will and must evoke response from the spiritual Hierarchy [43] and give the first demonstration upon a large scale of this new esoteric [44] science—esoteric because it is based upon sound. [45] Hence the use of the O.M. [46] Into this science I cannot here go; we must confine our attention to our theme, which is the Science of the Antahkarana.

[34] Trong tương lai, Khoa Học về Antahkarana này cùng đối phần thấp của nó, Khoa Học về Tiến Hóa Xã Hội (vốn là antahkarana chung hay hợp nhất của toàn thể nhân loại), [35] sẽ được biết đến như Khoa Học về Khẩn Cầu và Gợi Lên. [36] Thực chất, đó là Khoa Học về Tương Quan Từ Tính, [37] trong đó tương quan đúng đắn được tạo ra bởi sự khẩn cầu hỗ tương, sản sinh một tiến trình đáp ứng vốn là tiến trình gợi lên. [38] Chính khoa học này nằm phía sau mọi sự thức tỉnh hữu thức của các trung tâm và sự tương quan của chúng; [39] nó nằm phía sau sự tương giao giữa người với người, nhóm với nhóm, và cuối cùng giữa quốc gia với quốc gia. [40] Chính sự khẩn cầu này, cùng sự gợi lên tiếp theo sau đó, cuối cùng sẽ nối kết linh hồn với phàm ngã và linh hồn với chân thần. [41] Đây là mục tiêu nổi bật trong lời khẩn cầu của nhân loại hướng tới Thượng đế, Thánh Đoàn và các Quyền Năng Tinh Thần của vũ trụ, bất kể các bạn gọi các Ngài bằng tên gì. [42] Lời khẩn cầu được phát ra. Sự khẩn cầu của nhân loại có thể, sẽ và phải gợi lên sự đáp ứng từ Thánh Đoàn tinh thần [43] và mang lại sự biểu hiện đầu tiên trên quy mô lớn của khoa học huyền bí [44] mới này—huyền bí bởi vì nó được đặt nền trên xướng thanh. [45] Do đó mới có việc sử dụng linh từ O.M. [46] Tôi không thể đi sâu vào khoa học này ở đây; chúng ta phải giới hạn sự chú ý của mình vào chủ đề của chúng ta, vốn là Khoa Học về Antahkarana.


Program-33

Hello friends, today is the 27th of November 2015, and this is a continuation of our discussion of the second part of Rays and the Initiations. It has been quite a number of months since I’ve been able to continue with this work, but now I would like to do that and get a little bit of a running start.

Các bạn thân mến, hôm nay là ngày 27 tháng 11 năm 2015, và đây là phần tiếp tục cuộc thảo luận của chúng ta về phần thứ hai của Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo. Đã nhiều tháng rồi tôi mới có thể tiếp tục công việc này, nhưng bây giờ tôi muốn làm điều đó và khởi động lại một chút.

We’re on program number 33. We finished program 32. They are available to you on the MACARA website, macara.us. A couple of things stood out in the last paragraph, which really was some time ago.

Chúng ta đang ở chương trình số 33. Chúng ta đã hoàn tất chương trình 32. Các chương trình này có sẵn cho các bạn trên trang web MACARA, macara.us. Có vài điều nổi bật trong đoạn cuối cùng, thật ra đã cách đây khá lâu.

[1] True love is rightly understood only by the mental type who is spiritually oriented.

[1] Tình thương chân chính chỉ được thấu hiểu đúng đắn bởi người thuộc loại trí tuệ có định hướng tinh thần.

I assume that means something in general, but spiritually oriented means orientation towards the Spiritual Triad. Yes, it’s a Venusian statement. Love-Wisdom is coming in through Venus, and also love and mind are united in Venus.

Tôi cho rằng điều đó có nghĩa chung nào đó, nhưng định hướng tinh thần nghĩa là định hướng về Tam Nguyên Tinh Thần. Đúng, đó là một phát biểu thuộc Sao Kim. Bác Ái – Minh Triết đang đi vào qua Sao Kim, và tình thương cùng trí tuệ cũng hợp nhất trong Sao Kim.

When we talk about spirituality, it necessarily includes the factor of love. Mind alone will not do it. The Hierarchy is the great cohesive factor—the Law of Cohesion, a second Ray systemic law related to Jupiter and in a way related to Venus.

Khi chúng ta nói về tinh thần, điều đó tất yếu bao gồm yếu tố tình thương. Chỉ riêng trí tuệ thì không đủ. Thánh Đoàn là yếu tố cố kết vĩ đại—Định luật Cố Kết, một định luật hệ thống cung hai liên hệ với Sao Mộc và theo một cách nào đó liên hệ với Sao Kim.

I’m getting a running start here because it’s been so many months since I have dealt with this, and it’s really wonderful material.

Tôi đang khởi động lại ở đây vì đã nhiều tháng rồi kể từ khi tôi đề cập đến điều này, và đây thật sự là chất liệu tuyệt vời.

[2] The personality is also arriving at the realisation that there is in reality no such thing as sacrifice.

[2] Phàm ngã cũng đang đi đến nhận thức rằng, trong thực tại, không hề có điều gọi là hy sinh.

Or as I put it here, no such thing as real loss. The inner vehicles are always gaining by the relinquishment of the gains of that which is prompted by lower desire. So we might fulfill our lower nature in certain respects, and Jupiter is involved in that, of course, but that takes time and attention away from the fulfillment and expansion of the higher nature, which gives us a much more encompassing relationship to life.

Hoặc như tôi diễn đạt ở đây, không có điều gì gọi là mất mát thật sự. Các hiện thể bên trong luôn luôn đạt được thêm nhờ sự từ bỏ những thành quả của điều bị thúc đẩy bởi dục vọng thấp. Vì vậy, chúng ta có thể thỏa mãn bản chất thấp của mình trong một vài phương diện, và dĩ nhiên Sao Mộc có liên quan đến điều đó, nhưng điều ấy lấy đi thời gian và sự chú ý khỏi sự thành tựu và mở rộng của bản chất cao, vốn đem lại cho chúng ta một mối liên hệ bao quát hơn nhiều với sự sống.

So if we lose something on the lower level, we have to be so focused on the higher level that that apparent loss on the lower level really is not registered as loss and we allow it to fall away.

Nếu chúng ta mất điều gì đó ở cấp độ thấp, chúng ta phải tập trung vào cấp độ cao đến mức sự mất mát có vẻ có ở cấp độ thấp ấy thật sự không được ghi nhận như mất mát, và chúng ta để nó rơi rụng đi.

[3] Sacrifice is usually only the thwarted desire of the lower nature, willingly endured by the aspirant,

[3] Sự hy sinh thường chỉ là ham muốn bị ngăn trở của bản chất thấp, được người chí nguyện tự nguyện chịu đựng,

But where are the aspirant’s values? That is the question.

Nhưng các giá trị của người chí nguyện nằm ở đâu? Đó là câu hỏi.

[4] but—in this phase—a misinterpretation and limitation.

[4] nhưng—trong giai đoạn này—đó là một sự diễn giải sai lạc và một giới hạn.

This is how we disciples want to view sacrifice—not in this way of gritting your teeth and somehow bearing the loss of all you hold dear. We have to change the orientation of what we hold dear.

Đây là cách chúng ta, các đệ tử, muốn nhìn về hi sinh—không phải theo cách nghiến răng và bằng cách nào đó chịu đựng sự mất mát của mọi điều mình quý trọng. Chúng ta phải thay đổi định hướng của điều mình quý trọng.

[5] Sacrifice is really complete conformity to the will of God because the spiritual will of the man and the divine will (as he recognises it in the Plan) is his will.

[5] Sự hy sinh thật ra là sự thuận hợp trọn vẹn với Ý Chí của Thượng Đế, bởi vì ý chí tinh thần của con người và ý chí thiêng liêng, như y nhận biết nó trong Thiên Cơ, chính là ý chí của y.

That has to do with the Monad, really. Spiritual will has something to do with the soul on its own plane, but even more precisely with the Spiritual Triad in the Atmic plane.

Điều đó thật sự liên quan đến chân thần. Ý chí tinh thần có liên quan phần nào đến linh hồn trên cõi riêng của nó, nhưng chính xác hơn nữa là đến Tam Nguyên Tinh Thần trên cõi atma.

When we begin to use the word divine, we naturally are dealing with the Monad. So,

Khi chúng ta bắt đầu dùng từ thiêng liêng, tự nhiên chúng ta đang đề cập đến chân thần. Vì vậy,

Sacrifice is really complete conformity to the will of God because the spiritual will of the man and the divine will

Hi sinh thật sự là sự tuân hợp hoàn toàn với Ý Chí của Thượng Đế, bởi vì ý chí tinh thần của con người và Ý Chí thiêng liêng

Let’s call it the will of the soul or the will of the triad soul—and the will of the Monad becomes his own will. He recognizes this divine will as he understands the plan working out.

Hãy gọi đó là ý chí của linh hồn hay ý chí của linh hồn tam nguyên—và ý chí của chân thần trở thành ý chí của chính y. Y nhận ra Ý Chí thiêng liêng này khi y thấu hiểu Thiên Cơ đang được thực hiện.

[6] There is a growing identification in purpose.

[6] Đang có một sự đồng hóa ngày càng tăng trong mục đích.

A growing identification with that will, or even in a sense as that will.

Một sự đồng hoá ngày càng tăng với ý chí đó, hoặc thậm chí theo một nghĩa nào đó, như chính ý chí đó.

[7] Therefore, self-will, desire and those intelligent activities which are dually motivated

[7] Do đó, ý chí cá nhân, ham muốn và những hoạt động thông minh vốn có động cơ kép

They’re not motivated entirely from the highest point of view—

Chúng không được thúc đẩy hoàn toàn từ quan điểm cao nhất—

[8] are seen and recognised as only the lower expression of the three divine aspects,

[8] được thấy và nhận biết như chỉ là biểu hiện thấp của ba phương diện thiêng liêng,

Our sense of identification is somewhere else altogether, at a higher point of tension. We exercise that focused immovable will in identifying at a higher point in our energy system and eventually as the Monad.

Ý thức đồng hoá của chúng ta hoàn toàn ở nơi khác, tại một điểm tập trung nhất tâm cao hơn. Chúng ta vận dụng ý chí tập trung, bất lay chuyển ấy trong việc đồng hoá tại một điểm cao hơn trong hệ thống năng lượng của mình và cuối cùng như chân thần.

[9] and the effort is to express these in terms of the soul and not, as hitherto, in terms of a dedicated and rightly oriented personality.

[9] và nỗ lực là biểu hiện những điều này theo nghĩa của linh hồn, chứ không như trước đây, theo nghĩa của một phàm ngã đã được thánh hiến và định hướng đúng đắn.

Even if we have a dedicated and rightly oriented personality, it’s still a failure in the kind of identification that is necessary to really be identified with the divine will.

Ngay cả khi chúng ta có một phàm ngã tận hiến và được định hướng đúng, điều đó vẫn là một thất bại trong loại đồng hoá cần thiết để thật sự đồng hoá với Ý Chí thiêng liêng.

[10] This becomes possible in its true sense only when the focus of the life is in the mental vehicle and the head as well as the heart is becoming active.

[10] Điều này chỉ trở nên khả hữu theo ý nghĩa đích thực của nó khi trọng tâm của sự sống ở trong thể trí, và đầu cũng như tim đang trở nên hoạt động.

I assume the heart in the head is also becoming active. The heart in the head actually is going to connect us with the Monadic plane. The head center as a whole is going to connect us with the Atmic plane. The heart center, per se, between the shoulder blades is going to connect us with the Buddhic plane—connect our consciousness that is. So the head as well as the heart are becoming active here. I’ve said this is accomplished under the planets Venus and Jupiter.

Tôi cho rằng tim trong đầu cũng đang trở nên hoạt động. Tim trong đầu thật ra sẽ nối chúng ta với cõi chân thần. Toàn thể trung tâm đầu sẽ nối chúng ta với cõi atma. Trung tâm tim, chính nó, ở giữa hai xương bả vai, sẽ nối chúng ta với cõi Bồ đề—tức là nối tâm thức của chúng ta. Vì vậy, đầu cũng như tim đang trở nên hoạt động ở đây. Tôi đã nói điều này được thành tựu dưới các hành tinh Sao Kim và Sao Mộc.

[11] In this process, the stages of character building are seen as essential and effective, and are willingly and consciously undertaken.

[11] Trong tiến trình này, các giai đoạn lập hạnh được thấy là thiết yếu và hữu hiệu, và được đảm nhận một cách tự nguyện cùng có ý thức.

For how long do we have to continue to build our character? Is this something that is only found on the Path of Probation when you’re being tested as to your fitness for the spiritual life inside of the soul? I would say it continues for a long time.

Chúng ta phải tiếp tục xây dựng Tính cách của mình trong bao lâu? Đây có phải là điều chỉ thấy trên Con Đường Dự Bị, khi các bạn được thử thách về sự thích hợp của mình đối với đời sống tinh thần bên trong linh hồn không? Tôi cho rằng điều đó còn tiếp tục trong một thời gian dài.

Maybe the human character can continue to be built until the fifth initiation. Then perhaps after that, man becomes something more than man. They are no longer men as are the masters, but having passed beyond that lesser stage, have linked themselves with the great center in the highest secret place. The Chohans, in a way being planetary lives, not just members of the kingdom of soul or kingdom of souls, are more than the human being.

Có lẽ Tính cách con người có thể tiếp tục được xây dựng cho đến lần điểm đạo thứ năm. Rồi sau đó, có lẽ con người trở thành một điều gì hơn con người. Các Ngài không còn là người như các Chân sư, nhưng sau khi vượt qua giai đoạn thấp hơn ấy, đã liên kết chính mình với trung tâm vĩ đại ở nơi bí mật cao nhất. Các Chohan, theo một cách nào đó là Các Sự Sống Hành tinh, không chỉ là thành viên của giới linh hồn hay giới các linh hồn, nên các Ngài còn hơn con người.

But the master is the—when you think of the fivefold image that Leonardo gave us, the star, as it were, man is a star—that is the master.

Nhưng Chân sư là—khi các bạn nghĩ đến hình ảnh ngũ phân mà Leonardo đã cho chúng ta, ngôi sao, có thể nói như vậy, con người là một ngôi sao—đó là Chân sư.

[12] But—when these foundations of good character and intelligent activity are firmly established—

[12] Nhưng—khi những nền tảng của tính cách tốt đẹp và hoạt động thông minh này đã được thiết lập vững chắc—

and they must be because so many people get to a certain stage in their development and they think that character and intelligent activity may no longer really be needed because they’ve passed through that and they no longer need to attend to these things. Well, if the job has been well done and they have built properly, maybe they don’t need to give so much attention to these matters. But if these foundational matters are not in place, then there will be a problem.

và chúng phải như vậy, bởi vì rất nhiều người đạt đến một giai đoạn nào đó trong sự phát triển của họ và họ nghĩ rằng Tính cách cùng hoạt động thông minh có thể thật sự không còn cần thiết nữa, vì họ đã đi qua điều đó và không còn cần chú ý đến những điều này. Nếu công việc đã được làm tốt và họ đã xây dựng đúng đắn, có lẽ họ không cần dành quá nhiều chú ý cho những vấn đề này. Nhưng nếu những vấn đề nền tảng này chưa ở đúng chỗ, thì sẽ có vấn đề.

[13] something still higher and more subtle must be erected on the sub-structure.

[13] một điều gì đó còn cao hơn và tinh tế hơn phải được dựng xây trên nền móng ấy.

The substructure is composed of character and intelligent activity. What I’ve said here is that the process of building the antahkarana is a subtle matter, a subtle affair.

Kết cấu nền gồm Tính cách và hoạt động thông minh. Điều tôi đã nói ở đây là tiến trình xây dựng antahkarana là một vấn đề vi tế, một công việc vi tế.

In the lack of appreciation of its subtlety comes failure to really build. It’s not just a question of going through the motions of the processes that Master DK has given us, but we have to do this with real understanding and with sensitivity to these sort of inner impressions of the vehicles involved and the realization of what it feels like for the light to ascend and touch or reveal a whole new area of potential consciousness. That is, ascension from our usual ring-pass-not into the much wider planetary ring-pass-not of the Spiritual Triad.

Do thiếu sự trân trọng đối với tính vi tế của nó, người ta thất bại trong việc thật sự xây dựng. Đây không chỉ là vấn đề thực hiện các động tác của những tiến trình mà Chân sư DK đã trao cho chúng ta, mà chúng ta phải làm điều này với sự thấu hiểu thật sự và với sự nhạy cảm đối với những loại ấn tượng bên trong của các hiện thể liên quan, cũng như với nhận thức về cảm giác khi ánh sáng thăng lên và chạm đến hoặc mặc khải cả một lĩnh vực mới của tâm thức tiềm tàng. Nghĩa là sự thăng lên từ vòng-giới-hạn thường lệ của chúng ta vào vòng-giới-hạn hành tinh rộng lớn hơn nhiều của Tam Nguyên Tinh Thần.

Anyway, I ended this. I hesitate to even look back and try to realize when it was, because I don’t think it was a year ago, but it could have been quite a long time. But anyway, I’ve been working on a book called Seeds of the Infinite, and when will that be ready? I’m not sure. In working on that, I have somewhat neglected continuing with this book, but I received the prompting that really I better continue and work on Seeds of the Infinite at the same time. We go on here and we’re on page 468 of this great and final book by the Tibetan.

Tôi đã kết thúc phần này. Tôi ngần ngại ngay cả việc nhìn lại và cố nhớ xem đó là khi nào, bởi vì tôi không nghĩ là một năm trước, nhưng có thể đã khá lâu rồi. Tôi đã làm việc với một cuốn sách có tên Những Hạt Giống của Vô Biên, và khi nào nó sẽ sẵn sàng? Tôi không chắc. Trong khi làm việc với cuốn đó, tôi đã phần nào sao lãng việc tiếp tục với cuốn sách này, nhưng tôi nhận được sự thúc giục rằng thật sự tốt hơn là tôi nên tiếp tục và đồng thời làm việc với Những Hạt Giống của Vô Biên. Chúng ta tiếp tục ở đây và đang ở trang 468 của cuốn sách vĩ đại và cuối cùng này của Chân sư Tây Tạng.

[14] Knowledge-wisdom must be superseded by intuitive understanding;

[14] Tri thức-minh triết phải được thay thế bằng sự thấu hiểu trực giác;

Of course, wisdom is a great factor, and it’s even a factor involved in the Monad, per se—Will, Wisdom, and Activity. But this reminds us of the fact that after the third degree, the knowledge petals begin to disintegrate. The focus is on the Love petals and on that synthesis petal, which is the second one.

Dĩ nhiên, minh triết là một yếu tố vĩ đại, và thậm chí là một yếu tố liên quan đến chính chân thần—Ý Chí, Minh Triết và Hoạt Động. Nhưng điều này nhắc chúng ta nhớ rằng sau lần điểm đạo thứ ba, các cánh hoa tri thức bắt đầu tan rã. Trọng tâm đặt vào các cánh hoa bác ái và vào cánh hoa tổng hợp, tức cánh hoa thứ hai.

In any case, we have to learn that the Buddhi—the straight knowledge, the immediate grasp of all relations focused on the before, the after, and that which is occurring in the now, and their interrelationship factually apprehended and not just theoretically apprehended. This is the goal by which we supersede mere knowledge and enter into the transcendental mind.

Dù sao, chúng ta phải học rằng Bồ đề—tri thức trực tiếp, sự nắm bắt tức thời mọi mối liên hệ tập trung vào cái trước, cái sau và điều đang xảy ra trong hiện tại, cùng mối tương quan của chúng được nắm bắt như sự kiện chứ không chỉ theo lý thuyết. Đây là mục tiêu nhờ đó chúng ta vượt lên trên tri thức đơn thuần và bước vào Trí Tuệ Siêu Việt.

[15] this is, in reality, inclusive participation in the creative activity of divinity.

[15] điều này, trong thực tại, là sự tham dự bao gồm vào hoạt động sáng tạo của thiên tính.

What is being said here is that within the Spiritual Triad, the creativity of God on the cosmic physical plane—the creativity of God as the Planetary Logos—occurs within the Spiritual Triad. Of course, it also occurs on planes higher than that, but minimally, it appears that the Spiritual Triad is necessary because only one aspect of the triad is in the dense physical body of the Solar Logos, and that is the abstract mind—the very highest part of the mental plane. All the rest are within the cosmic ethers.

Điều đang được nói ở đây là bên trong Tam Nguyên Tinh Thần, sự sáng tạo của Thượng đế trên cõi hồng trần vũ trụ—sự sáng tạo của Thượng đế với tư cách Hành Tinh Thượng đế—diễn ra trong Tam Nguyên Tinh Thần. Dĩ nhiên, nó cũng diễn ra trên các cõi cao hơn thế, nhưng tối thiểu, có vẻ Tam Nguyên Tinh Thần là cần thiết, bởi vì chỉ một phương diện của tam nguyên nằm trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế, và đó là trí trừu tượng—phần cao nhất của cõi trí. Tất cả phần còn lại đều nằm trong các dĩ thái vũ trụ.

We know that what has to manifest on the planet in a physical form will first be prepared in the ethers, and that the real creativity is occurring there, followed by a kind of precipitation, which reflects those inner arrangements.

Chúng ta biết rằng điều phải biểu hiện trên hành tinh trong một hình tướng hồng trần trước hết sẽ được chuẩn bị trong các dĩ thái, và sự sáng tạo thật sự đang diễn ra ở đó, rồi theo sau là một loại ngưng tụ phản ánh những sắp xếp bên trong ấy.

Knowledge and wisdom must be superseded by intuitive understanding.

Tri thức và minh triết phải được thay thế bởi sự thấu hiểu trực giác.

That’s a particularly Buddhic word. Understanding is a particularly Buddhic word. It relates to Pisces—to stand under, you might say—to grasp what is underlying any particular manifestation, to always see behind and within, with spiritual discernment, but something even higher than that, because you’re participating in that which is occurring behind the scenes. It’s not just objective reflection of what it is; it’s actually entering into that which underlies the phenomenon or the person that you wish to understand.

Đó là một từ đặc biệt Bồ đề. Thấu hiểu là một từ đặc biệt Bồ đề. Nó liên hệ với Song Ngư—có thể nói là đứng bên dưới—để nắm bắt điều nằm bên dưới bất kỳ biểu hiện đặc thù nào, luôn luôn thấy phía sau và bên trong, với phân biện tinh thần, nhưng còn có điều gì đó cao hơn nữa, bởi vì các bạn đang tham dự vào điều đang diễn ra hậu trường. Đó không chỉ là sự phản chiếu khách quan về điều ấy là gì; thật ra đó là bước vào điều nằm bên dưới hiện tượng hay con người mà các bạn muốn thấu hiểu.

Intuitive understanding is, in reality, inclusive—another Buddhic word—participation in the creative activity of Divinity. We know how much appears on the physical plane due to what’s happening on the fourth ether. That is the place where the archetype of what will appear is organized, and the next step is precipitation.

Sự thấu hiểu trực giác, trong thực tại, là sự tham dự bao gồm—một từ Bồ đề khác—vào hoạt động sáng tạo của thiên tính. Chúng ta biết rất nhiều điều xuất hiện trên cõi hồng trần là do những gì đang xảy ra trên dĩ thái thứ tư. Đó là nơi nguyên mẫu của điều sẽ xuất hiện được tổ chức, và bước kế tiếp là sự ngưng tụ.

This is occurring on the Buddhic plane, which in a cosmic sense is that fourth ether—the last step of organization before precipitation.

Điều này đang diễn ra trên cõi Bồ đề, xét theo nghĩa vũ trụ là dĩ thái thứ tư ấy—bước tổ chức cuối cùng trước khi ngưng tụ.

Inclusive participation in the creative activity of Divinity,

Sự tham dự bao gồm vào hoạt động sáng tạo của thiên tính,

And Divinity in this case is the Planetary Logos. We as Monads, though, are part of that Planetary Logos.

Và thiên tính trong trường hợp này là Hành Tinh Thượng đế. Tuy nhiên, chúng ta với tư cách các chân thần là một phần của Hành Tinh Thượng đế ấy.

We are in those higher centers where the Planetary Logos is functioning on the Monadic plane, the second plane. The kind of creative activity we’re talking about is occurring here in this realm of the Triad, and everything here is on the cosmic ethers, except for the very lowest aspect of the Triad, which is a point of transition, leading to precipitation of that which has been organized within the cosmic ethers.

Chúng ta ở trong những trung tâm cao hơn ấy, nơi Hành Tinh Thượng đế đang hoạt động trên cõi chân thần, cõi thứ hai. Loại hoạt động sáng tạo mà chúng ta đang nói đến đang diễn ra ở đây, trong lĩnh vực của Tam nguyên, và mọi thứ ở đây đều ở trên các dĩ thái vũ trụ, ngoại trừ phương diện thấp nhất của Tam nguyên, vốn là một điểm chuyển tiếp, dẫn đến sự ngưng tụ của điều đã được tổ chức trong các dĩ thái vũ trụ.

The divine idea—and anything on the cosmic ethers becomes an idea—begins on the Buddhic plane.

Ý tưởng thiêng liêng—và bất cứ điều gì trên các dĩ thái vũ trụ đều trở thành một ý tưởng—bắt đầu trên cõi Bồ đề.

[16] The divine idea must become the possible ideal,

[16] Ý tưởng thiêng liêng phải trở thành lý tưởng khả hữu,

Something to be striven for. This ideal, which is accessed via aspiration—accessed via the aspiration of the astral body, to which the mental body contributes—

Một điều để phấn đấu hướng tới. Lý tưởng này, được tiếp cận qua khát vọng—được tiếp cận qua khát vọng của thể cảm dục, mà thể trí đóng góp vào đó—

[17] and this ideal must become unfolded and manifested in substance upon the physical plane.

[17] và lý tưởng này phải được khai mở và biểu hiện trong chất liệu trên cõi hồng trần.

Creation is always beginning from above. It’s not a question of seeing something in front of you and just throwing things together in some kind of new combination, which is not a reflection of an intended combination. That intended combination exists on a subtler plane than the one in which physical manipulation occurs. If we just throw things together, they look like they’re thrown together, and they don’t have any deeper meaning.

Sáng tạo luôn luôn bắt đầu từ bên trên. Đây không phải là vấn đề thấy điều gì đó trước mặt các bạn rồi chỉ gom các thứ lại với nhau trong một kiểu phối hợp mới nào đó, vốn không phải là sự phản ánh của một phối hợp đã được chủ định. Sự phối hợp đã được chủ định ấy tồn tại trên một cõi vi tế hơn cõi mà sự thao tác hồng trần diễn ra. Nếu chúng ta chỉ gom các thứ lại với nhau, chúng trông giống như được gom lại tùy tiện, và chúng không có ý nghĩa sâu xa hơn.

When we attune—as the fourth ray type in the future must attune—to the inner design, the urge to the creative life, as it’s called, then we will be able to organize the outer substance as a reflection of that inner creative life. That is what we want to accomplish.

Khi chúng ta hòa điệu—như người cung bốn trong tương lai phải hòa điệu—với thiết kế bên trong, với thôi thúc hướng đến đời sống sáng tạo, như nó được gọi, thì chúng ta sẽ có thể tổ chức chất liệu bên ngoài như một phản ánh của đời sống sáng tạo bên trong ấy. Đó là điều chúng ta muốn thành tựu.

[18] The creative thread, now somewhat ready, must be brought into conscious functioning and activity.

[18] Sợi dây sáng tạo, nay đã phần nào sẵn sàng, phải được đưa vào chức năng và hoạt động có ý thức.

And that’s in line with the Divine Plan and with the archetypal arrangements which that Divine Plan is intended to reflect in time and space.

Và điều đó phù hợp với Thiên Cơ cùng những sắp xếp nguyên mẫu mà Thiên Cơ ấy nhằm phản ánh trong thời gian và không gian.

Purpose is a very interesting thing. It’s a wholeness, and the beginning and the end are one. It’s like a standing wave—a complete design which must be fulfilled and which exists throughout the creative process. The plan takes into consideration time and space and that aspect of the purpose which should be unfolded at a particular time in space. The plan is time-sensitive, and purpose has to do with the final realization, the final design, the grand design, however much time and by whatever paths it is pursued.

Mục đích là một điều rất thú vị. Nó là một toàn thể tính, và khởi đầu cùng kết thúc là một. Nó giống như một làn sóng đứng—một thiết kế hoàn chỉnh phải được hoàn thành và tồn tại suốt tiến trình sáng tạo. Thiên Cơ xét đến thời gian và không gian, cùng phương diện của mục đích cần được khai mở vào một thời điểm đặc thù trong không gian. Thiên Cơ nhạy cảm với thời gian, còn mục đích liên quan đến sự thực hiện cuối cùng, thiết kế cuối cùng, đại thiết kế, dù nó được theo đuổi trong bao lâu và bằng những con đường nào.

The plan is subject to time and space, and the purpose is not. It persists in a sense above time and space. On the Monadic plane, this is where purpose persists, and the plan—reflecting how the purpose is to unfold in time and space—begins to precipitate out on the Atmic level.

Thiên Cơ chịu sự chi phối của thời gian và không gian, còn mục đích thì không. Theo một nghĩa nào đó, nó tồn tại bên trên thời gian và không gian. Trên cõi chân thần, mục đích tồn tại, và Thiên Cơ—phản ánh cách mục đích phải khai mở trong thời gian và không gian—bắt đầu ngưng tụ ra ở cấp độ atma.

There is the threefold Antahkarana. We are told there is the Life Thread, the Sutratma; the Consciousness Thread, relating to the second aspect; and the creative thread, relating to the third aspect. Through the creative thread, that which is found in time and space is manipulated to approximate that which is above, outside of time and space as we usually consider them.

Có Antahkarana tam phân. Chúng ta được dạy rằng có Sinh Mệnh Tuyến, sutratma; Sợi dây Tâm thức/thức tuyến, liên hệ với phương diện thứ hai; và sợi dây sáng tạo, liên hệ với phương diện thứ ba. Qua sợi dây sáng tạo, điều được thấy trong thời gian và không gian được thao tác để xấp xỉ điều ở bên trên, bên ngoài thời gian và không gian như chúng ta thường xét đến.

The five lower planes are Brahmic in nature, and they pertain to Saturn. The next plane pertains to Neptune—that’s the Monadic plane. Neptune from one perspective, and the next plane, the divine plane, where the ultimate archetypes for the cosmic physical plane are found, is ruled by Uranus.

Năm cõi thấp có bản chất Brahma, và chúng thuộc về Thổ Tinh. Cõi kế tiếp thuộc về Sao Hải Vương—đó là cõi chân thần. Sao Hải Vương theo một quan điểm, và cõi kế tiếp, cõi thiêng liêng, nơi các nguyên mẫu tối hậu cho cõi hồng trần vũ trụ được tìm thấy, do Sao Thiên Vương cai quản.

There are several rulers of these cosmic subplanes, these cosmic etheric subplanes, but the three synthesizing planets—Uranus, Neptune, and Saturn—rule here. What the Tibetan seems to be telling us is that we must interpret the various forces and tendencies of the lower three vehicles in terms of higher counterparts. Perhaps we will be interpreting the products of the lower mind—the tendencies of the lower mind—in terms of the Atma; the tendencies of the desire body in terms of the Buddhi; and the tendencies of the etheric physical body in terms of the abstract mind.

Có vài chủ tinh của các cõi phụ vũ trụ này, các cõi phụ dĩ thái vũ trụ này, nhưng ba hành tinh tổng hợp—Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Thổ Tinh—cai quản ở đây. Điều Chân sư Tây Tạng dường như đang nói với chúng ta là chúng ta phải diễn giải các mãnh lực và khuynh hướng khác nhau của ba hiện thể thấp theo những Đối phần cao hơn. Có lẽ chúng ta sẽ diễn giải các sản phẩm của hạ trí—các khuynh hướng của hạ trí—theo atma; các khuynh hướng của thể dục vọng theo Bồ đề; và các khuynh hướng của thể xác dĩ thái theo trí trừu tượng.

That’s one way of interpreting. It’s a correspondential way. There’s also a reflective way in which Atma and the etheric physical plane are related; Buddhi and the desire plane; and then the higher mind and the lower mind.

Đó là một cách diễn giải. Đó là cách theo tương ứng. Cũng có một cách phản chiếu, trong đó atma và cõi xác dĩ thái liên hệ với nhau; Bồ đề và cõi dục vọng; rồi thượng trí và hạ trí.

That is a reflective way of looking at the relationship between the lower vehicles and their tendencies and the higher prototypes.

Đó là một cách phản chiếu để nhìn mối liên hệ giữa các hiện thể thấp cùng những khuynh hướng của chúng và các nguyên mẫu cao hơn.

[19] Desire-love must be interpreted in terms of divine attraction, involving the right use or misuse of energies and forces.

[19] Ham muốn-tình thương phải được diễn giải theo nghĩa của sức hấp dẫn thiêng liêng, bao hàm việc sử dụng đúng hoặc sử dụng sai các năng lượng và mãnh lực.

To what are we attracted? Does it serve the Plan and Purpose?

Chúng ta bị thu hút bởi điều gì? Nó có phụng sự Thiên Cơ và Mục Đích không?

[20] This process puts the disciple in touch with divinity as a progressively revealed Whole.

[20] Tiến trình này đưa đệ tử tiếp xúc với thiên tính như một Toàn Thể đang dần dần được mặc khải.

I must comment on the idea that plane number six, counting from above, is related to the Monadic plane, which is plane number six, counting from below. These are both—the Monadic plane and the desire plane, or emotional plane—are both sixes, and they are both twos from a certain perspective. So we’re being put in touch with divinity through the desire love energy.

Tôi phải bình luận về ý tưởng rằng cõi số sáu, tính từ trên xuống, liên hệ với cõi chân thần, vốn là cõi số sáu tính từ dưới lên. Cả hai—cõi chân thần và cõi dục vọng, hay cõi cảm xúc—đều là các số sáu, và từ một quan điểm nào đó cả hai đều là số hai. Vì vậy, chúng ta được đưa tiếp xúc với thiên tính qua năng lượng dục vọng-tình thương.

Divinity is the Monadic level where the revealed whole, the Macrocosm, can be sensed as well as it can be sensed through any of our normal vehicles. That doesn’t mean we have the entire grasp of the Macrocosm. There are many, many stages on Jacob’s ladder, and we have to continue to ascend.

Thiên tính là cấp độ chân thần, nơi toàn thể được mặc khải, Đại thiên địa, có thể được cảm nhận tốt nhất so với khả năng cảm nhận qua bất kỳ hiện thể bình thường nào của chúng ta. Điều đó không có nghĩa là chúng ta nắm bắt toàn bộ Đại thiên địa. Có rất nhiều, rất nhiều nấc trên chiếc thang Jacob, và chúng ta phải tiếp tục thăng lên.

The Planetary Logos is certainly going to have a much greater grasp of the revealed whole, and the Solar Logos still greater, and on and on. But in terms of what we can do as a human being, the revealed whole comes through to us most powerfully from the Monadic perspective.

Hành Tinh Thượng đế chắc chắn sẽ có sự nắm bắt lớn hơn nhiều về toàn thể được mặc khải, và Thái dương Thượng đế còn lớn hơn nữa, cứ thế tiếp tục. Nhưng xét theo điều chúng ta có thể làm với tư cách một con người, toàn thể được mặc khải đến với chúng ta mạnh mẽ nhất từ quan điểm chân thần.

[21] The part, through the magnetic development of its own nature, comes into touch gradually with all that IS.

[21] Phần tử, thông qua sự phát triển từ tính của chính bản chất mình, dần dần đi vào tiếp xúc với tất cả những gì HIỆN HỮU.

The word “gradually” should be emphasized there. How big is our ring-pass-not of consciousness? It’s ever increasing, but we do arrive at the hint that the macrocosmic whole is all there is, as it is stated in rule number five of the fourteen advanced rules in Rays and the Initiations. So the part—that’s what we are—we are this tiny emanative extension of the one.

Từ “dần dần” cần được nhấn mạnh ở đó. Vòng-giới-hạn tâm thức của chúng ta lớn đến đâu? Nó luôn luôn gia tăng, nhưng chúng ta thật sự đi đến gợi ý rằng toàn thể đại thiên địa là tất cả những gì hiện hữu, như được nêu trong quy luật số năm của mười bốn quy luật nâng cao trong Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo. Vậy phần tử—đó là chúng ta—chúng ta là phần mở rộng xuất lộ nhỏ bé này của Đấng Duy Nhất.

That’s one way of looking at it.

Đó là một cách nhìn.

The part, through the magnetic development of its own nature, relating to more and magnetically and cohesively, comes into touch gradually with all that is. When we talk about all that is, we’re talking about all the different forms on the planet, in the system, and beyond and beyond.

Phần tử, nhờ sự phát triển từ tính của chính bản chất mình, liên hệ ngày càng nhiều hơn và theo cách từ tính cũng như cố kết hơn, đi vào tiếp xúc dần dần với tất cả những gì hiện hữu. Khi chúng ta nói về tất cả những gì hiện hữu, chúng ta đang nói về mọi hình tướng khác nhau trên hành tinh, trong hệ thống, và xa hơn nữa.

When we talk about that which is, we’re talking about pure being. And when being descends to manifest, all that is—all the great variety that comes to be—emerges from pure Being.

Khi chúng ta nói về cái đang hiện hữu, chúng ta đang nói về bản thể thuần khiết. Và khi bản thể giáng xuống để biểu hiện, tất cả những gì hiện hữu—mọi sự đa dạng lớn lao trở thành hiện hữu—xuất hiện từ Bản Thể thuần khiết.

[22] The disciple becomes aware of this sum total in increasingly vivid expansions of consciousness, leading to initiation, realisation and identification. These are the three stages of initiation.

[22] Đệ tử trở nên nhận biết tổng thể này trong những mở rộng tâm thức ngày càng sống động, dẫn đến điểm đạo, chứng nghiệm và đồng hóa. Đây là ba giai đoạn của điểm đạo.

The macrocosmic whole is all there is. This is a kind of a Jupiterian movement in consciousness. Ever more embracing ring-pass-nots begin to dawn upon us, and we leave the darkened room in which, in the Old Commentary, the disciple is often found sitting or standing. The darkened room of curtailed, limited consciousness.

Toàn thể đại thiên địa là tất cả những gì hiện hữu. Đây là một loại chuyển động thuộc Sao Mộc trong tâm thức. Những vòng-giới-hạn ngày càng bao hàm hơn bắt đầu ló dạng trước chúng ta, và chúng ta rời khỏi căn phòng tối nơi, trong Cổ Luận, đệ tử thường được thấy đang ngồi hoặc đứng. Căn phòng tối của tâm thức bị thu hẹp, giới hạn.

True Initiation begins at the third degree. Realization is an atmic factor, the fifth or the third sublevel of the atmic plane, and Identification truly is a Monadic factor. So one can see these things progressing.

Điểm đạo chân thật bắt đầu ở cấp ba. Nhận thức là một yếu tố atma, cấp thứ năm hay cõi phụ thứ ba của cõi atma, và Đồng hoá thật sự là một yếu tố chân thần. Vì vậy, người ta có thể thấy những điều này tiến triển.

If we go to this chart that Keith Bailey put together, there it is. Initiation will begin for us here within the chamber of the causal body. We’ll take the first three Initiations there, even the fourth in a sense, though it frees a man from this causal body. Then we will move on to realization.

Nếu chúng ta đi đến biểu đồ mà Keith Bailey đã lập, nó ở đó. Điểm đạo sẽ bắt đầu cho chúng ta ở đây, trong phòng của thể nguyên nhân. Chúng ta sẽ nhận ba lần Điểm Đạo đầu tiên ở đó, thậm chí lần thứ tư theo một nghĩa nào đó, dù nó giải phóng con người khỏi thể nguyên nhân này. Rồi chúng ta sẽ tiến tới nhận thức.

Of course, there are many other steps here. Before we can get to realization, the intuition has to be stimulated and so forth. But realization occurs on the third or fifth level of the atmic plane.

Dĩ nhiên, có nhiều bước khác ở đây. Trước khi chúng ta có thể đạt đến nhận thức, trực giác phải được kích thích, v.v. Nhưng nhận thức xảy ra trên cấp thứ ba hoặc thứ năm của cõi atma.

In terms of what Identification is, it is really a Monadic factor, though I suspect it is reflected in part on the buddhic plane, which in a way correlates with the Monadic plane. And it is perhaps felt in the soul and even to an extent on the higher levels of the astral plane, all as dim reflections of what identification really is, because it is Monadic. But we can begin after the second Initiation to start working towards identification. Somewhere DK told us that after the second degree, the factor of identification becomes important in the consciousness of the disciple.

Về Đồng hoá là gì, nó thật sự là một yếu tố chân thần, dù tôi nghi rằng nó được phản ánh phần nào trên cõi Bồ đề, vốn theo một cách nào đó tương ứng với cõi chân thần. Và có lẽ nó được cảm nhận trong linh hồn, thậm chí ở một mức độ nào đó trên các cấp cao của cõi cảm dục, tất cả như những phản ánh mờ nhạt của điều mà đồng hoá thật sự là, bởi vì nó thuộc chân thần. Nhưng sau lần Điểm Đạo thứ hai, chúng ta có thể bắt đầu làm việc hướng đến đồng hoá. Ở đâu đó Chân sư DK đã nói với chúng ta rằng sau cấp hai, yếu tố đồng hoá trở nên quan trọng trong tâm thức của đệ tử.

Desire and love—not interpreted in the normal way as many normal personality-oriented people interpret it, but in terms of divine attraction, the attraction of any part to the greater wholeness—and the realization that all the many factors which we observe actually do come together, belong together, form a great unity.

Dục vọng và tình thương—không được diễn giải theo cách thông thường như nhiều người định hướng phàm ngã thường diễn giải, mà theo sức hấp dẫn thiêng liêng, sức hấp dẫn của bất kỳ phần tử nào đối với toàn thể lớn hơn—và nhận thức rằng mọi yếu tố phong phú mà chúng ta quan sát thật sự kết hợp với nhau, thuộc về nhau, hình thành một hợp nhất vĩ đại.

We want not to misuse energies and forces, and misuse means using them out of alignment with the plan and the purpose that are to manifest.

Chúng ta không muốn lạm dụng các năng lượng và mãnh lực, và lạm dụng nghĩa là dùng chúng ngoài sự chỉnh hợp với Thiên Cơ và Mục Đích cần biểu hiện.

The Consciousness Thread

Sợi dây Tâm thức/thức tuyến

—all of this is work upon the antahkarana, and that’s what we’ve been discussing in these recent programs.

—tất cả điều này là công việc trên antahkarana, và đó là điều chúng ta đã thảo luận trong các chương trình gần đây.

[23] The consciousness thread, in cooperation with the creative thread and the life thread,

[23] Sợi dây Tâm thức, trong sự hợp tác với sợi dây sáng tạo và Sợi dây Sự Sống,

the sutratma,

sutratma,

[24] awakens to a fully aware process of participation in the divine creative Plan—

[24] thức tỉnh vào một tiến trình tham dự hoàn toàn tỉnh thức trong Thiên Cơ sáng tạo thiêng liêng—

There’s only so much of the plan that we recognize or understand, but as the antahkarana work continues, that awareness becomes more and more full, and we realize that we are participating in a great creative process which is impulsed by the Planetary Logos. In a certain sense, that which we become ourselves an aspect of the Plan. When we function in relation to the expression of our higher nature, the plan is in a sense manifesting. What we do is the manifestation of the plan.

Chúng ta chỉ nhận ra hoặc thấu hiểu một phần nào đó của Thiên Cơ, nhưng khi công việc antahkarana tiếp tục, sự nhận biết ấy trở nên ngày càng đầy đủ hơn, và chúng ta nhận ra rằng mình đang tham dự vào một tiến trình sáng tạo vĩ đại được Hành Tinh Thượng đế thúc đẩy. Theo một nghĩa nào đó, chính điều mà chúng ta trở thành là một phương diện của Thiên Cơ. Khi chúng ta hoạt động liên quan đến sự biểu hiện của bản chất cao hơn của mình, Thiên Cơ theo một nghĩa nào đó đang biểu hiện. Điều chúng ta làm là sự biểu hiện của Thiên Cơ.

So we awaken to a fully aware process of participation in the divine creative plan, and more and more that is necessary so that what we do is not a stray of what must be done.

Vì vậy, chúng ta thức tỉnh vào một tiến trình tham dự hoàn toàn nhận biết trong Thiên Cơ sáng tạo thiêng liêng, và điều đó ngày càng cần thiết hơn để điều chúng ta làm không đi lạc khỏi điều phải được thực hiện.

[25] a Plan which is motivated by love and intelligently carried forward.

[25] một Thiên Cơ được thúc đẩy bởi tình thương và được xúc tiến một cách thông minh.

Motivated by the bringing together of all the parts into a reflection of the archetypal whole. That is how we can consider Love to a degree. It is that kind of movement towards the arrangement of factors which exists in the World of Being.

Được thúc đẩy bởi việc đưa tất cả các phần tử lại với nhau thành một phản ánh của toàn thể nguyên mẫu. Đó là cách chúng ta có thể xét Tình thương ở một mức độ nào đó. Đó là loại chuyển động hướng đến sự sắp xếp các yếu tố vốn tồn tại trong Thế Giới Bản Thể.

There’s beauty, there’s pure reason. Things are not just pulled together any old way, thrown together as it were, but they are all brought into their proper place, and in reflection of the archetypes created by the mind of God and found, in some sense, on the Monadic plane, on the logoic plane. Really, when we’re talking about the great creative beings, these archetypes are found on higher cosmic planes, obviously, but we have at least a reflection of them on the Monadic and logoic plane.

Có vẻ đẹp, có lý trí thuần khiết. Các sự vật không chỉ bị kéo lại với nhau theo bất kỳ cách cũ nào, bị gom lại như vậy, mà tất cả được đưa vào đúng vị trí của chúng, và trong sự phản ánh các nguyên mẫu do Trí của Thượng đế tạo ra và được tìm thấy, theo một nghĩa nào đó, trên cõi chân thần, trên cõi logoic. Thật ra, khi chúng ta nói về các Đấng sáng tạo vĩ đại, rõ ràng các nguyên mẫu này được tìm thấy trên các cõi vũ trụ cao hơn, nhưng ít nhất chúng ta có một phản ánh của chúng trên cõi chân thần và cõi logoic.

So there is the Will to remain in participation and as an aspect of the divine creative plan, and we’re motivated by this desire to see everything unified in the way that it really is on the higher planes. We use our intelligent, manipulative, adaptive quality to create those arrangements below which are reflective of the great archetypal arrangements above.

Vì vậy, có Ý Chí duy trì trong sự tham dự và như một phương diện của Thiên Cơ sáng tạo thiêng liêng, và chúng ta được thúc đẩy bởi dục vọng muốn thấy mọi sự được hợp nhất theo cách chúng thật sự hiện hữu trên các cõi cao. Chúng ta dùng phẩm tính thông minh, thao tác và thích ứng của mình để tạo ra những sắp xếp bên dưới phản ánh các sắp xếp nguyên mẫu vĩ đại bên trên.

[26] Direction-Will (which are words describing the orientation produced by the understanding of the two processes of knowledge-wisdom and desire-love)

[26] Định hướng-Ý chí là những từ mô tả sự định hướng được tạo ra bởi sự thấu hiểu hai tiến trình tri thức-minh triết và ham muốn-tình thương

It’s interesting that the Buddha is sometimes called the Lord of Mind-Wisdom, that is, Mercury is Mind-Wisdom, and Venus is Love-Wisdom. This is knowledge-wisdom, an orientation, direction Will is an orientation of facing in a certain direction in space.

Điều thú vị là Đức Phật đôi khi được gọi là Chúa Tể của Trí Tuệ-Minh Triết, tức là Sao Thủy là Trí Tuệ-Minh Triết, và Sao Kim là Bác Ái-Minh Triết. Đây là tri thức-minh triết, một định hướng; định hướng-Ý chí là một định hướng của việc quay mặt về một hướng nào đó trong không gian.

Words describing the orientation produced by the understanding of the two processes of knowledge-wisdom and desire-love.

Những từ mô tả định hướng được tạo ra bởi sự thấu hiểu hai tiến trình tri thức-minh triết và dục vọng-tình thương.

When you look at these terms, we understand that wisdom is a higher term than knowledge and grows out of knowledge, and Love grows out of desire. So direction Will

Khi các bạn nhìn vào những thuật ngữ này, chúng ta thấu hiểu rằng minh triết là một thuật ngữ cao hơn tri thức và phát triển từ tri thức, còn Tình thương phát triển từ dục vọng. Vì vậy, định hướng-Ý chí

[27] must produce the final orientation of the personality and the soul, fused and blended and at-one, towards the freedom of the Spiritual Triad;

[27] phải tạo nên sự định hướng cuối cùng của phàm ngã và linh hồn, đã dung hợp, hòa quyện và thành một, hướng tới sự tự do của Tam Nguyên Tinh Thần;

We then have the soul-infused personality towards the freedom of the Spiritual Triad. In order to enter the Spiritual Triad, we must have a soul-infused personality. It seems to be saying that the Spiritual Triad is free of the constraints of the causal body. We may think that entry into the causal body is a great achievement. And for us, indeed, it would be to be able to maintain constant causal consciousness, constant awareness of our gifts, and how to share them. But there’s something beyond that: the Spiritual Triad is a planetary non-location, you might say.

Khi đó chúng ta có phàm ngã được linh hồn thấm nhuần hướng đến sự tự do của Tam Nguyên Tinh Thần. Để bước vào Tam Nguyên Tinh Thần, chúng ta phải có một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần. Dường như câu này đang nói rằng Tam Nguyên Tinh Thần thoát khỏi các ràng buộc của thể nguyên nhân. Chúng ta có thể nghĩ rằng việc bước vào thể nguyên nhân là một thành tựu lớn. Và đối với chúng ta, quả thật, đó sẽ là khả năng duy trì tâm thức nguyên nhân liên tục, sự nhận biết liên tục về các ân tặng của mình và cách chia sẻ chúng. Nhưng có điều gì đó vượt xa hơn: Tam Nguyên Tinh Thần là một phi-vị trí hành tinh, có thể nói như vậy.

It reveals that which is free from localized form, and is true all over the planet and really true beyond the planet as well. And then the Monad gives us identification as the type of being which is found everywhere. It’s desire and will that produces the final orientation.

Nó mặc khải điều thoát khỏi hình tướng cục bộ, và đúng trên toàn hành tinh, thật ra cũng đúng vượt ngoài hành tinh. Rồi chân thần đem lại cho chúng ta sự đồng hoá như loại bản thể được tìm thấy ở khắp nơi. Chính dục vọng và ý chí tạo ra định hướng cuối cùng.

The two other orientations are there as well: Knowledge, Wisdom, and Desire, Love. Final orientation comes from these three. This orientation was preceded by knowledge, wisdom, and desire, love — the final orientation of the personality and the soul. I really have to emphasize that because we don’t want to be just one or the other. We want to have fused these two and be able to function in a wise and loving way within the realm of personality form. Final orientation of the personality and the soul fused and blended and at one and towards the freedom of the Spiritual Triad.

Hai định hướng kia cũng có ở đó: Tri thức, Minh triết, và Dục vọng, Tình thương. Định hướng cuối cùng đến từ ba điều này. Định hướng này được đi trước bởi tri thức, minh triết, và dục vọng, tình thương — định hướng cuối cùng của phàm ngã và linh hồn. Tôi thật sự phải nhấn mạnh điều đó, bởi vì chúng ta không muốn chỉ là một bên hoặc bên kia. Chúng ta muốn đã dung hợp hai điều này và có thể hoạt động một cách minh triết và đầy tình thương trong lĩnh vực của hình tướng phàm ngã. Định hướng cuối cùng của phàm ngã và linh hồn đã dung hợp, hòa quyện và nên một, hướng đến sự tự do của Tam Nguyên Tinh Thần.

Soul infusion occurs at the third degree, but not completely. In a way, infusion is going on as long as there has been the initiatory process. We would say that we are 75% soul infused by the time we reach the third initiation, but the greatest soul infusion is occurring just before the fourth degree. That complete soul infusion allows for the destruction of the causal body because everything that can be contained within the personality from the higher realms is now contained.

Sự thấm nhuần linh hồn xảy ra ở cấp ba, nhưng chưa hoàn toàn. Theo một cách nào đó, sự thấm nhuần đang diễn ra chừng nào tiến trình điểm đạo còn có. Chúng ta có thể nói rằng mình được linh hồn thấm nhuần 75% khi đạt đến lần điểm đạo thứ ba, nhưng sự thấm nhuần linh hồn lớn nhất xảy ra ngay trước cấp bốn. Sự thấm nhuần linh hồn hoàn toàn ấy cho phép sự hủy diệt của thể nguyên nhân, bởi vì mọi điều có thể được chứa đựng trong phàm ngã từ các lĩnh vực cao hơn nay đã được chứa đựng.

As for what the personality will be when it’s a mayavarupa, that’s another matter. Of course, it can contain more and have still more full development of the various chakras which do still remain even in the mayavarupa. Because after all they are simply a form of energy, there’s no reason why, just because one doesn’t have a body born in the usual way, these higher energies should not continue to express.

Còn phàm ngã sẽ là gì khi nó là mayavarupa, đó lại là vấn đề khác. Dĩ nhiên, nó có thể chứa đựng nhiều hơn và vẫn có sự phát triển đầy đủ hơn nữa của các luân xa khác nhau, vốn vẫn còn tồn tại ngay cả trong mayavarupa. Bởi vì sau cùng chúng chỉ là một hình thức năng lượng, không có lý do gì, chỉ vì người ta không có một thể được sinh ra theo cách thông thường, mà những năng lượng cao này lại không tiếp tục biểu hiện.

The whole idea of freedom of the Spiritual Triad is involved, and the synthesizing planets are certainly involved here, but not only them — Saturn, Jupiter, and Vulcan as well.

Toàn bộ ý tưởng về sự tự do của Tam Nguyên Tinh Thần có liên quan, và các hành tinh tổng hợp chắc chắn có liên quan ở đây, nhưng không chỉ chúng — Thổ Tinh, Sao Mộc và Vulcan cũng vậy.

The freedom of the Triad comes through

Sự tự do của Tam nguyên đến qua

[28] then the conscious attempt to use these three energies eventuates in creating the antahkarana upon the mental plane.

[28] bấy giờ, nỗ lực có ý thức nhằm sử dụng ba năng lượng này đưa đến việc tạo dựng antahkarana trên cõi trí.

The antahkarana does continue into the buddhic and atmic and finally monadic realms, but the first part crosses this gap in consciousness between the higher triad and the lower projecting triad. The antahkarana is built consciously. What he’s saying here is that using knowledge, wisdom, desire, and love is the second stage of imagination, and then direction, will — that’s the stage of projection.

Antahkarana thật sự tiếp tục vào các lĩnh vực Bồ đề, atma và cuối cùng là chân thần, nhưng phần đầu tiên bắc qua khoảng trống này trong tâm thức giữa tam nguyên cao và tam nguyên phóng chiếu thấp. Antahkarana được xây dựng một cách có ý thức. Điều Ngài đang nói ở đây là việc sử dụng tri thức, minh triết, dục vọng và tình thương là giai đoạn thứ hai của Sự tưởng tượng, rồi định hướng, ý chí — đó là giai đoạn phóng chiếu.

[29] You will note that at this early stage of the process I am emphasising the words “orientation” and “attempt.”

[29] Các bạn sẽ lưu ý rằng, ở giai đoạn đầu này của tiến trình, Tôi đang nhấn mạnh các từ “định hướng” và “nỗ lực.”

In a way, it means to face the east, or to face the sun. The antahkarana is not built overnight, and we have to go through many attempts before this road to greater achievement is at last built.

Theo một cách nào đó, nó có nghĩa là hướng mặt về phương Đông, hoặc hướng mặt về mặt trời. Antahkarana không được xây dựng trong một đêm, và chúng ta phải trải qua nhiều nỗ lực trước khi con đường dẫn đến thành tựu lớn hơn này cuối cùng được xây dựng.

[30] They simply indicate the final control of substance by the initiate.

[30] Chúng chỉ đơn giản chỉ ra sự kiểm soát cuối cùng của điểm đạo đồ đối với chất liệu.

We’re looking at substance as a higher form of matter and energy. The way that this kind of control can bring us into worlds of higher vibratory power and greater consciousness.

Chúng ta đang nhìn chất liệu như một hình thức cao hơn của vật chất và năng lượng. Cách loại kiểm soát này có thể đưa chúng ta vào các thế giới có quyền năng rung động cao hơn và tâm thức lớn hơn.

[31] One of the indications that a man is no longer upon the Probationary Path is his emerging from the realm of aspiration and devotion into the world of the focussed will.

[31] Một trong những dấu hiệu cho thấy một người không còn ở trên Con Đường Dự Bị là y đang bước ra khỏi lĩnh vực của khát vọng và sùng tín để đi vào thế giới của ý chí tập trung.

Of course, Master Morya continues to tell us to strive fiercely. I begin to think that striving per se is not something we need to drop. But focused will accompanied by striving is a still more powerful combination.

Dĩ nhiên, Chân sư Morya tiếp tục bảo chúng ta phải phấn đấu mãnh liệt. Tôi bắt đầu nghĩ rằng phấn đấu, chính nó, không phải là điều chúng ta cần bỏ đi. Nhưng ý chí tập trung đi kèm với phấn đấu là một sự kết hợp còn mạnh mẽ hơn.

One of the indications that a man is no longer upon the Probationary Path is his emerging from the realm of aspiration

Một trong những dấu hiệu cho thấy một người không còn ở trên Con Đường Dự Bị là y đang đi ra khỏi lĩnh vực khát vọng

Where he’s reaching towards but does not have that satisfaction of having achieved.

Nơi y vươn tới nhưng chưa có sự thỏa mãn của việc đã đạt được.

and devotion into the world of the focussed will.

và sùng tín để bước vào thế giới của ý chí tập trung.

These terms aspiration and devotion do have their higher counterparts.

Những thuật ngữ khát vọng và sùng tín này thật sự có các Đối phần cao hơn của chúng.

[32] Another indication is that he begins to interpret life in terms of energy and forces, and not in terms of quality and desire.

[32] Một dấu hiệu khác là y bắt đầu diễn giải sự sống theo nghĩa của năng lượng và mãnh lực, chứ không theo nghĩa của phẩm tính và ham muốn.

He stands back and can identify what is happening within his own vehicles and in others. He can identify the energies and forces and give them their secret names, so to speak, as it says in one of the Ray 5 stanzas. This marks a step forward.

Y đứng lùi lại và có thể nhận diện điều đang xảy ra trong chính các hiện thể của mình và trong những người khác. Y có thể nhận diện các năng lượng và mãnh lực và trao cho chúng các tên gọi bí mật của chúng, có thể nói như vậy, như được nêu trong một trong các bài kệ Cung 5. Điều này đánh dấu một bước tiến.

He’s not just all involved in what appeals to him in terms of its quality and where his desires seem to take him. He’s able to stand back and to assess and to interpret life in terms of flowing energies and forces. This is an achievement that represents a kind of dis-identification on the way to a greater identification.

Y không còn chỉ hoàn toàn dính mắc vào điều hấp dẫn y theo phẩm tính của nó và nơi các dục vọng của y dường như dẫn y đến. Y có thể đứng lùi lại để đánh giá và diễn giải sự sống theo những năng lượng và mãnh lực đang lưu chuyển. Đây là một thành tựu biểu thị một loại không-đồng hoá trên đường đi đến một sự đồng hoá lớn hơn.

[33] This marks a definite step forward. There is too little use of the spiritual will, as the result of right orientation, in the life of disciples today.

[33] Điều này đánh dấu một bước tiến rõ rệt. Trong đời sống của các đệ tử ngày nay, ý chí tinh thần, như kết quả của sự định hướng đúng đắn, được sử dụng quá ít.

This is one of those admonitions that Master DK gives us every once in a while. The Spiritual Will is more needed — it’s an atmic factor. It operates also in the sacrifice petals of the Egoic Lotus. I suppose it also operates in the synthesis petal of the Egoic Lotus. And it operates in the personality as the will, which involves the head center, for sure, and the base of the spine as well. The base of the spine is the center that controls will, interestingly enough, and synthesis is found at the head center.

Đây là một trong những lời nhắc nhở mà Chân sư DK thỉnh thoảng trao cho chúng ta. Ý Chí Tinh Thần cần thiết hơn — đó là một yếu tố atma. Nó cũng hoạt động trong các cánh hoa hi sinh của Hoa Sen Chân Ngã. Tôi cho rằng nó cũng hoạt động trong cánh hoa tổng hợp của Hoa Sen Chân Ngã. Và nó hoạt động trong phàm ngã như ý chí, chắc chắn liên quan đến trung tâm đầu, và cả đáy cột sống nữa. Thật thú vị, đáy cột sống là trung tâm kiểm soát ý chí, còn tổng hợp được tìm thấy ở trung tâm đầu.

We’re making great progress here. Maybe we’ve done one whole page or almost that. This material was written in the 1940s.

Chúng ta đang tiến triển rất tốt ở đây. Có lẽ chúng ta đã đi qua trọn một trang hoặc gần như vậy. Chất liệu này được viết trong thập niên 1940.

[34] In the future, this Science of the Antahkarana and its lower correspondence, the Science of Social Evolution (which is the joint or united antahkarana of humanity as a whole),

[34] Trong tương lai, Khoa học về antahkarana này và đối ứng thấp của nó, Khoa học Tiến Hóa Xã Hội, tức antahkarana chung hay hợp nhất của toàn thể nhân loại,

How to bring human beings together in a productive and harmonious and creative way, reflecting how to bring the various factors of the inner human being together in a way which serves the Plan —

Làm thế nào đưa con người lại với nhau theo một cách hữu ích, hài hòa và sáng tạo, phản ánh cách đưa các yếu tố khác nhau của con người bên trong lại với nhau theo một cách phụng sự Thiên Cơ —

[35] will be known as the Science of Invocation and Evocation.

[35] sẽ được biết đến như Khoa học Khẩn Cầu và Gợi Lên.

Think of what it will be like one day when there will be an antahkarana arising from the human race as a whole. I don’t know whether we’ll have to wait until the Judgment Day, which is millions of years ahead. Only those will remain on earth who are really on the path, and others will be redirected elsewhere for further education. But it will be interesting to see what humanity as a whole can begin to respond to.

Hãy nghĩ xem một ngày nào đó sẽ như thế nào khi có một antahkarana vươn lên từ toàn thể nhân loại. Tôi không biết liệu chúng ta có phải chờ đến Ngày Phán Xét, còn cách hàng triệu năm nữa hay không. Chỉ những người thật sự ở trên đường đạo mới còn lại trên Trái Đất, và những người khác sẽ được chuyển hướng đến nơi khác để tiếp tục giáo dục. Nhưng sẽ thật thú vị khi thấy toàn thể nhân loại có thể bắt đầu đáp ứng với điều gì.

Humanity is not really yet building the antahkarana as disciples are learning to build it, because humanity is not yet really meditating. They are thinking, they are praying, even worshipping together. But the real building of the antahkarana is a scientific process which is not yet undertaken until human beings are on the path and not just on the early stages of the path either.

Nhân loại thật sự chưa xây dựng antahkarana như các đệ tử đang học cách xây dựng, bởi vì nhân loại thật sự chưa tham thiền. Họ đang suy nghĩ, đang cầu nguyện, thậm chí cùng nhau thờ phụng. Nhưng việc xây dựng antahkarana thật sự là một tiến trình khoa học, chưa được đảm nhận cho đến khi con người ở trên đường đạo, và cũng không chỉ ở những giai đoạn đầu của đường đạo.

It will come about, and maybe, as I think about it, when we’re in the age of Aquarius — another 700 to 800 years from now, in the middle decanate, which is ruled by Mercury — this science of antahkarana building will be very prominent in the field of education.

Điều đó sẽ xảy ra, và có lẽ, khi tôi nghĩ về điều này, khi chúng ta ở trong kỷ nguyên Bảo Bình — khoảng 700 đến 800 năm nữa, trong thập độ giữa, do Sao Thủy cai quản — khoa học xây dựng antahkarana này sẽ rất nổi bật trong lĩnh vực giáo dục.

We will be learning how to consciously, scientifically call for contact with and information from certain higher realms and know the methods by which the answer will come, the evocation. He’s giving us a number of different names for antahkarana building. What the antahkarana is,

Chúng ta sẽ học cách khẩn cầu một cách có ý thức và khoa học sự tiếp xúc cũng như thông tin từ những lĩnh vực cao hơn nào đó, và biết các phương pháp nhờ đó câu trả lời sẽ đến, tức sự gợi lên. Ngài đang trao cho chúng ta một số tên gọi khác nhau cho việc xây dựng antahkarana. Antahkarana là gì,

[36] It is in reality the Science of Magnetic Rapport,

[36] Trong thực tại, đó là Khoa học về Sự Hòa Hợp Từ Tính,

Unless we really have this magnetic rapport, we cannot come into transmissible relationship with the higher worlds. We’re learning how to set up conditions below, which will put us magnetically in touch with the higher worlds which must descend to us in order to redesign the configurations in which we are habitually living so that they reflect the Divine Plan.

Nếu chúng ta không thật sự có mối giao cảm từ tính này, chúng ta không thể bước vào mối liên hệ có thể truyền dẫn với các thế giới cao hơn. Chúng ta đang học cách thiết lập các điều kiện bên dưới, những điều kiện sẽ đặt chúng ta vào tiếp xúc từ tính với các thế giới cao hơn, vốn phải giáng xuống với chúng ta để tái thiết kế các cấu hình trong đó chúng ta thường sống, sao cho chúng phản ánh Thiên Cơ.

The science of magnetic rapport is, in reality, one

Khoa học về mối giao cảm từ tính, trong thực tại, là một khoa học

[37] in which right relationship is brought about by mutual invocation, producing a responsive process which is one of evocation.

[37] trong đó mối liên hệ đúng đắn được tạo nên bởi sự khẩn cầu hỗ tương, làm phát sinh một tiến trình đáp ứng vốn là một sự gợi lên.

When all of us human beings are rightly oriented towards the spiritual worlds, we will each be invoking either in our own way individually, or later as a purposeful group, and we will summon, as it were, or produce the conditions which can be rightly answered. Then there will no longer be that split between the lower worlds in which the human being functions and the Spiritual Triad.

Khi tất cả chúng ta, con người, được định hướng đúng về các thế giới tinh thần, mỗi người chúng ta sẽ khẩn cầu hoặc theo cách riêng của mình, hoặc về sau như một nhóm có mục đích, và chúng ta sẽ triệu gọi, có thể nói như vậy, hoặc tạo ra các điều kiện có thể được đáp lại một cách đúng đắn. Khi đó sẽ không còn sự chia cắt giữa các thế giới thấp nơi con người hoạt động và Tam Nguyên Tinh Thần.

There is a split here. It’s not really a line which is established, and we have to cross this gap in consciousness by building the bridge of light. We are weavers in the light—that’s a great name. One of the Arcane School degrees, a later degree, is called “the weavers in the light,” and we are weaving the Lighted Way into the world which is normally not accessible to us except maybe in a sudden flash of unpredictable intuition, when the desire body and the buddhic vehicle in process of formation come into rapport.

Có một sự chia cắt ở đây. Nó thật sự chưa phải là một đường dây đã được thiết lập, và chúng ta phải vượt qua khoảng trống này trong tâm thức bằng cách xây dựng cây cầu ánh sáng. Chúng ta là những người dệt trong ánh sáng—đó là một danh xưng vĩ đại. Một trong các cấp của Trường Arcane, một cấp về sau, được gọi là “những người dệt trong ánh sáng”, và chúng ta đang dệt Con Đường được Soi Sáng vào thế giới vốn bình thường không thể tiếp cận đối với chúng ta, ngoại trừ có lẽ trong một tia chớp bất ngờ của trực giác không thể dự đoán, khi thể dục vọng và hiện thể Bồ đề đang trong tiến trình hình thành đi vào giao cảm.

So, it is, in reality, the science of magnetic rapport. And of course music can help a great deal with this. In a way, the whole universe of creation is music, and when we can attune one lower note to a higher note, then the resonance can flow and the harmony will free up the relationship, and transmission of the higher into the lower can occur.

Vì vậy, trong thực tại, đó là khoa học về mối giao cảm từ tính. Và dĩ nhiên âm nhạc có thể giúp rất nhiều trong việc này. Theo một cách nào đó, toàn thể vũ trụ sáng tạo là âm nhạc, và khi chúng ta có thể hòa điệu một âm điệu thấp với một âm điệu cao, thì sự cộng hưởng có thể tuôn chảy và sự hài hòa sẽ giải phóng mối liên hệ, và sự truyền dẫn của cao vào thấp có thể xảy ra.

Right relationship is brought about by mutual invocation. In a way, we human beings on the horizontal level who want to be in loving relationship with each other do seek to invoke mutually the soul of each other so we can have soul relationship instead of divisive personality relationships.

Mối liên hệ đúng được tạo ra bởi sự khẩn cầu lẫn nhau. Theo một cách nào đó, chúng ta, những con người trên bình diện ngang, những người muốn ở trong mối liên hệ yêu thương với nhau, thật sự tìm cách khẩn cầu lẫn nhau linh hồn của nhau để chúng ta có thể có mối liên hệ linh hồn thay vì những mối liên hệ phàm ngã gây chia rẽ.

It is in reality the Science of Magnetic Rapport, in which right relationship is brought about by mutual invocation, producing a responsive process which is one of evocation.

Trong thực tại, đó là Khoa học về Mối Giao Cảm Từ Tính, trong đó mối liên hệ đúng được tạo ra bởi sự khẩn cầu lẫn nhau, tạo nên một tiến trình đáp ứng vốn là sự gợi lên.

We can, in a way, evoke soul response from each other when we’re talking here about the science of social evolution. We can evoke soul response from each other using love. Love is so incredibly magnetic that when you say something ugly or disrespectful or critical to somebody, you oftentimes evoke the same, unless the individual is highly developed and knows how to absorb the negativity sent forth and send forth positivity instead.

Theo một cách nào đó, chúng ta có thể gợi lên đáp ứng linh hồn từ nhau khi ở đây chúng ta đang nói về khoa học tiến hóa xã hội. Chúng ta có thể gợi lên đáp ứng linh hồn từ nhau bằng cách sử dụng tình thương. Tình thương có từ tính phi thường đến mức khi các bạn nói điều gì xấu xí, thiếu tôn trọng hay phê phán với ai đó, các bạn thường gợi lên điều tương tự, trừ khi cá nhân ấy phát triển cao và biết cách hấp thụ tính tiêu cực được phát ra, rồi thay vào đó phát ra tính tích cực.

We will learn eventually how to use right speech and right thought to evoke the best possible loving and soul response from others.

Cuối cùng chúng ta sẽ học cách sử dụng lời nói đúng và tư tưởng đúng để gợi lên đáp ứng yêu thương và linh hồn tốt đẹp nhất có thể từ người khác.

[38] It is this science which lies behind all conscious awakening of the centres and their interrelation;

[38] Chính khoa học này nằm phía sau mọi sự thức tỉnh có ý thức của các trung tâm và mối tương quan giữa chúng;

The centers are going to awaken due to higher flows, and we have to be in resonance with these higher energy sources for those flows to occur. Right resonance produces enlivening higher energy flows.

Các trung tâm sẽ thức tỉnh nhờ những dòng chảy cao hơn, và chúng ta phải ở trong cộng hưởng với những nguồn năng lượng cao này để các dòng chảy ấy xảy ra. Sự cộng hưởng đúng tạo ra các dòng năng lượng cao đem lại sinh động.

[39] it lies behind the rapport between man and man, group and group, and eventually between nation and nation.

[39] nó nằm phía sau sự hòa hợp giữa người với người, nhóm với nhóm, và sau cùng giữa quốc gia với quốc gia.

So on the horizontal level, we must produce this harmony. Harmony is buddhic, and buddhic is the fourth plane. This is the plane that we are seeking to invoke and have evocation from as our next general stage of development. We have plenty of manas as a human race. Some of us have also the abstract mind, but not so many have the Buddhi, and this is what we must invoke and achieve some sort of response from. This is called evocation. This occurs more on the horizontal level and will make for right human relationships in our worlds reflecting the buddhic harmony above.

Vì vậy, trên bình diện ngang, chúng ta phải tạo ra sự hài hòa này. Hài hòa là Bồ đề, và Bồ đề là cõi thứ tư. Đây là cõi mà chúng ta đang tìm cách khẩn cầu và nhận sự gợi lên từ đó như giai đoạn phát triển tổng quát kế tiếp của mình. Chúng ta có rất nhiều manas với tư cách nhân loại. Một số người trong chúng ta cũng có trí trừu tượng, nhưng không nhiều người có Bồ đề, và đây là điều chúng ta phải khẩn cầu và đạt được một loại đáp ứng nào đó từ đó. Điều này được gọi là sự gợi lên. Điều này xảy ra nhiều hơn trên bình diện ngang và sẽ tạo nên các mối liên hệ nhân loại đúng trong các thế giới của chúng ta, phản ánh sự hài hòa Bồ đề bên trên.

This invocation is actually the fourth phase of the sixfold antahkarana process. We have intention, visualization, projection, and then invocation and evocation. Since it’s the fourth phase, it tells us something about the buddhic involvement in this particular stage. There’s the old question: “Ask and it shall be revealed, knock and it shall be opened unto you, seek and you shall find.” Ask and it shall be given you, seek and you shall find, knock and it shall be opened to you.

Sự khẩn cầu này thật ra là giai đoạn thứ tư của tiến trình antahkarana lục phân. Chúng ta có ý định, sự hình dung, phóng chiếu, rồi khẩn cầu và gợi lên. Vì đó là giai đoạn thứ tư, nó cho chúng ta biết điều gì đó về sự tham dự của Bồ đề trong giai đoạn đặc thù này. Có câu hỏi xưa: “Hãy hỏi và điều ấy sẽ được mặc khải, hãy gõ và cửa sẽ mở cho các bạn, hãy tìm và các bạn sẽ thấy.” Hãy hỏi và điều ấy sẽ được ban cho các bạn, hãy tìm và các bạn sẽ thấy, hãy gõ và cửa sẽ mở cho các bạn.

Alice Bailey tells us that that is found on the portal of initiation. As we are addressing the higher worlds, we have to learn how to ask, how to invoke in the proper way, so that there will be that evocation—that which gives something to you, that which makes it possible for you to find, and that which opens the door for you.

Bà Alice Bailey nói với chúng ta rằng điều đó được tìm thấy trên cổng điểm đạo. Khi hướng đến các thế giới cao hơn, chúng ta phải học cách hỏi, cách khẩn cầu theo đúng cách, để sẽ có sự gợi lên ấy—điều trao cho các bạn một điều gì đó, điều làm cho các bạn có thể tìm thấy, và điều mở cánh cửa cho các bạn.

[40] It is this invocation, and the consequent evocation, which eventually relate soul and personality and soul and monad.

[40] Chính sự khẩn cầu này, và sự gợi lên theo sau đó, cuối cùng liên kết linh hồn với phàm ngã, và linh hồn với chân thần.

We’re always going to reach resonantly and harmoniously towards that which is above and from which we hope for an evocation.

Chúng ta luôn luôn sẽ vươn tới trong cộng hưởng và hài hòa hướng về điều ở bên trên, từ đó chúng ta hy vọng có một sự gợi lên.

Of course, we have to ask in the right way. If we are selfish and self-concerned and self-preoccupied in the lower sense of the term—not the greater self but our lesser self—then we will not get the kind of evocation which as disciples we are really seeking. Although it is said that God will answer prayers, and I suppose to a certain extent even the selfish prayers will be answered, but it’s not the type of evocation that the disciple hopes for. It is in this invocation and consequent evocation which eventually relates soul and personality, and soul and Monad.

Dĩ nhiên, chúng ta phải hỏi theo đúng cách. Nếu chúng ta ích kỷ, bận tâm đến bản thân và bị chính mình chiếm cứ theo nghĩa thấp của thuật ngữ—không phải Bản Ngã lớn hơn mà là phàm ngã nhỏ bé của chúng ta—thì chúng ta sẽ không nhận được loại gợi lên mà với tư cách các đệ tử chúng ta thật sự tìm kiếm. Dù người ta nói rằng Thượng đế sẽ đáp lại lời cầu nguyện, và tôi cho rằng ở một mức độ nào đó, ngay cả những lời cầu nguyện ích kỷ cũng sẽ được đáp lại, nhưng đó không phải là loại gợi lên mà đệ tử hy vọng. Chính trong sự khẩn cầu này và sự gợi lên theo sau mà cuối cùng linh hồn và phàm ngã, cũng như linh hồn và chân thần, được liên hệ.

We, as the soul-infused personality, one day have to learn how to invoke pure being and of the Monad and receive that type of response which reveals more and more of pure being.

Chúng ta, với tư cách phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, một ngày nào đó phải học cách khẩn cầu bản thể thuần khiết và chân thần, rồi nhận loại đáp ứng ấy, vốn mặc khải ngày càng nhiều hơn về bản thể thuần khiết.

[41] It is the outstanding objective of humanity’s appeal to God, to the Hierarchy and to the Spiritual Powers of the cosmos, no matter by what name you call them.

[41] Đó là mục tiêu nổi bật của lời kêu gọi của nhân loại hướng đến Thượng Đế, đến Thánh Đoàn và đến các Quyền Năng Tinh Thần của vũ trụ, bất kể các bạn gọi các Ngài bằng danh xưng nào.

We are reaching for the promised cohesion, which reflects the original cohesion. We have to ask in a way, you see—who is doing the asking? It’s already something that has more of the realization of unity in it than just the selfish personality. The selfish personality is not really going to invoke the Monad. If it does and if it succeeds, as in the Second World War a group of evil men succeeded, then love will be bypassed entirely and the prostitution of the will energy will be achieved. The personality will use it for its own ends, and we will have a great inversion and some kind of resultant disaster.

Chúng ta đang vươn tới sự cố kết đã được hứa hẹn, phản ánh sự cố kết nguyên thủy. Các bạn thấy đó, chúng ta phải thỉnh cầu theo một cách nào đó—ai đang thỉnh cầu? Đó đã là điều có nhiều nhận thức về hợp nhất hơn là chỉ phàm ngã ích kỷ. Phàm ngã ích kỷ thật sự sẽ không khẩn cầu chân thần. Nếu nó làm vậy và nếu nó thành công, như trong Thế Chiến thứ hai một nhóm người tà ác đã thành công, thì tình thương sẽ bị bỏ qua hoàn toàn và sự lạm dụng năng lượng ý chí sẽ được thực hiện. Phàm ngã sẽ dùng nó cho các mục đích riêng của mình, và chúng ta sẽ có một sự đảo ngược lớn cùng một loại tai họa phát sinh nào đó.

[42] The appeal goes forth. The invocation of humanity can and will and must evoke response from the spiritual Hierarchy

[42] Lời kêu gọi phát ra. Sự khẩn cầu của nhân loại có thể, sẽ và phải gợi lên đáp ứng từ Huyền Giai Tinh Thần

Even though it is an inchoate invocation. And I’m going to put that down: even though we have an inchoate invocation,

Dù đó là một sự khẩn cầu còn phôi thai. Và tôi sẽ ghi điều đó xuống: dù chúng ta có một sự khẩn cầu còn phôi thai,

[43] and give the first demonstration upon a large scale of this new esoteric science—

[43] và đem lại sự biểu hiện đầu tiên trên quy mô rộng lớn của khoa học huyền bí mới này—

We are reaching for something that we do not yet have apparently, and we have to learn together how to do that and to see that our salvation—that which we really desire—is coming from above and from within. It will give a first demonstration upon a large scale of this new esoteric science: the science of Invocation and Evocation.

Chúng ta đang vươn tới điều mà dường như chúng ta chưa có, và chúng ta phải cùng nhau học cách làm điều đó, cũng như thấy rằng sự cứu rỗi của chúng ta—điều chúng ta thật sự mong muốn—đang đến từ bên trên và từ bên trong. Nó sẽ đem lại một sự biểu diễn đầu tiên trên quy mô lớn của khoa học huyền bí mới này: khoa học Khẩn Cầu và Gợi Lên.

[44] esoteric because it is based upon sound.

[44] huyền bí vì nó được đặt nền trên âm thanh.

And that’s quite a hint right there. The whole formulation of the world as we know it has been the result of the Divine Word and in general the use of sound: the A, the AU, the AUM, and then four other complexifications and adaptations of those simple sounds. All of that is the creative process.

Và đó là một gợi ý khá lớn ngay tại đó. Toàn bộ sự hình thành của thế giới như chúng ta biết là kết quả của Linh từ thiêng liêng và nói chung là việc sử dụng âm thanh: A, AU, AUM, rồi bốn sự phức hợp hóa và thích ứng khác của những âm thanh đơn giản ấy. Tất cả điều đó là tiến trình sáng tạo.

As we begin to learn to use sound in a more precise way, rather than this careless random way, the type of world which we succeed in evoking—the descent of the higher patterns—will be much different from that which is produced by the chaos of sound in which we are presently engaged.

Khi chúng ta bắt đầu học cách dùng âm thanh theo cách chính xác hơn, thay vì theo cách cẩu thả và ngẫu nhiên này, loại thế giới mà chúng ta thành công trong việc gợi lên—sự giáng xuống của các mô hình cao hơn—sẽ rất khác với điều được tạo ra bởi sự hỗn loạn của âm thanh mà hiện nay chúng ta đang tham dự.

[45] Hence the use of the O.M.

[45] Do đó có việc sử dụng O.M.

It must be a great invocative word, leading to the kind of evocation of the true pattern or purpose as it reflects in Plan.

Đó phải là một linh từ khẩn cầu vĩ đại, dẫn đến loại gợi lên của mô hình hay mục đích chân thật khi nó phản ánh trong Thiên Cơ.

[46] Into this science I cannot here go; we must confine our attention to our theme, which is the Science of the Antahkarana.

[46] Tôi không thể đi vào khoa học này ở đây; chúng ta phải giới hạn sự chú ý của mình vào chủ đề của chúng ta, tức Khoa học về antahkarana.

This is a very deep theme. Some people consider it to be among the deepest work which Master DK presented. It will be the common educational approach of the new and better schools of the future, and even those schools which are not particularly esoteric schools will be talking in terms—Mercurian terms—of what can be invoked first from the rain cloud of knowable things. Then the evocation of that which is desired will follow.

Đây là một chủ đề rất sâu. Một số người xem nó là một trong những công trình sâu nhất mà Chân sư DK đã trình bày. Nó sẽ là phương pháp giáo dục chung của những trường học mới và tốt đẹp hơn trong tương lai, và ngay cả những trường không đặc biệt là trường huyền bí cũng sẽ nói theo các thuật ngữ—các thuật ngữ thuộc Sao Thủy—về điều có thể được khẩn cầu trước tiên từ đám mây mưa của những điều khả tri. Rồi sự gợi lên của điều được mong muốn sẽ theo sau.

Education will turn within for the sources of that which is needed by the inquiring human being. We look like we’re about ready to start a new section here: “the bridge as the agent of alignment.” All of this runs deep, and we have to have a long and ongoing familiarity with it.

Giáo dục sẽ quay vào bên trong để tìm các nguồn của điều mà con người đang tìm hiểu cần đến. Có vẻ chúng ta sắp bắt đầu một phần mới ở đây: “cây cầu như tác nhân của sự chỉnh hợp.” Tất cả điều này đều rất sâu, và chúng ta phải có một sự quen thuộc lâu dài và liên tục với nó.

I’ve taught this section of Rays and Initiations on a few occasions, and I always find there is more to be found. My first reading was superficial, and there is more to fathom. Even in what I’m trying to convey now, there will always be more to fathom as we accustom ourselves to what Master DK is trying to convey.

Tôi đã giảng phần này của Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo trong vài dịp, và tôi luôn thấy còn nhiều điều hơn nữa để khám phá. Lần đọc đầu tiên của tôi còn hời hợt, và còn nhiều điều hơn để thấu triệt. Ngay cả trong điều tôi đang cố truyền đạt bây giờ, sẽ luôn còn nhiều điều hơn để thấu triệt khi chúng ta làm quen với điều Chân sư DK đang cố truyền đạt.

Somehow it’s been months since I’ve done this, and I’ve forgotten how to keep time. I hope this is at least an hour-long program, but maybe it will be a little bit less. I feel it is important to stop here and then start again with this new section. I don’t want to carry over, and then maybe I’ll be able to figure out how to use a couple of computers to time out exactly what I’m doing, because I pause along the way here and there, and then one loses exactly how much time there is.

Bằng cách nào đó đã nhiều tháng trôi qua kể từ khi tôi làm điều này, và tôi đã quên cách giữ thời gian. Tôi hy vọng đây ít nhất là một chương trình dài một giờ, nhưng có lẽ nó sẽ ngắn hơn một chút. Tôi cảm thấy điều quan trọng là dừng ở đây rồi bắt đầu lại với phần mới này. Tôi không muốn kéo dài thêm, và có lẽ rồi tôi sẽ có thể tìm ra cách dùng vài máy tính để canh thời gian chính xác cho điều tôi đang làm, bởi vì tôi thỉnh thoảng dừng lại ở đây đó trên đường đi, rồi người ta mất dấu chính xác còn bao nhiêu thời gian.

Our next program of this nature will begin here with “the bridge as the agent of alignment,” page 470 of Rays and Initiations, program number 34. I hope that there’s enough of a segue between what I did a long time ago and this, and that it all begins to come together and make sense. We’ll talk to you a little later when I get going on the other part.

Chương trình kế tiếp thuộc loại này của chúng ta sẽ bắt đầu ở đây với “cây cầu như tác nhân của sự chỉnh hợp,” trang 470 của Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, chương trình số 34. Tôi hy vọng có đủ sự chuyển tiếp giữa điều tôi đã làm từ lâu và điều này, và tất cả bắt đầu kết hợp lại cũng như trở nên có ý nghĩa. Tôi sẽ nói chuyện với các bạn sau một chút khi tôi bắt đầu phần khác.

See you now and bye bye.

Hẹn gặp lại và tạm biệt.

Leave a Comment

Scroll to Top