Tóm Tắt
Antahkarana như cây cầu bắc qua dòng tâm thức của cõi trí
Thầy MDR trình bày đoạn này của Rays and Initiations như phần Chân sư DK đi sâu nhất vào việc xây antahkarana, “cây cầu của chất liệu trí tuệ sáng chói”, bắc qua cõi trí vốn được mô tả như một “dòng tâm thức hay của chất liệu hữu thức”. Thầy lưu ý một cõi và một trạng thái tâm thức là tương đương, nên antahkarana không chỉ bắc qua một “không gian” mà còn bắc qua chính tình trạng tâm thức của con người để đón nhận sự ghi nhận từ các mức Bồ đề, atma, Chân Thần và thậm chí cao hơn. Theo Thầy MDR, antahkarana hoạt động như một cái phễu tiếp nhận ấn tượng từ các cõi cao, giúp hành giả không bị mắc kẹt trong hiện tượng luận của chính cõi trí.
Trở thành chính Con Đường
Câu “Trước khi con người có thể bước trên Con Đường, con người phải trở thành chính Con Đường ấy” được Thầy MDR nhấn mạnh như chìa khóa của toàn bộ giáo lý. Thầy giải thích rằng con người là Chân Thần-trong-sự-mở-rộng nhưng đang ở trạng thái “Chân Thần chìm nhập”, nên phải tự dệt trong chính hệ thống năng lượng của mình những phần nối dài vươn tới nguồn gốc là Chân Thần. Từ “chất liệu của chính sự sống mình”, trước tiên là phàm ngã rồi đến phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, con người xây Cây cầu vồng, Con Đường được Soi Sáng, để tâm thức có thể tái định tiêu ở các điểm tập trung nhất tâm ngày càng cao trên Con Đường Trở Về.
Phương pháp xây cầu: quay tơ, neo móc và rung động
Thầy MDR đặc biệt chú ý hình ảnh con nhện quay tơ, xem đây là một gợi ý huyền bí về phương pháp kiến tạo theo đường xoắn ốc. Antahkarana được “quay” và “neo” giống như sợi tơ nhện được phóng ra rồi bám vào điểm tựa để chính con nhện có thể di chuyển trên đó. Thầy nhận xét cây cầu này là những dòng năng lượng rung động ở nhiều tần số khác nhau nhưng đủ cộng hưởng để cho phép sự chuyển tiếp êm giữa các điểm tập trung nhất tâm. Việc xây cầu, theo Thầy, được thực hiện bằng những phương pháp tham thiền và huyền thuật, chứ không chỉ bằng suy nghĩ trừu tượng.
Ba phương diện thiêng liêng cùng tham gia vào antahkarana
Chân sư DK nói mỗi một trong ba phương diện thiêng liêng đều góp phần vào cây cầu, và Thầy MDR diễn giải đó là sự đóng góp của sự sống, phẩm tính và biểu hiện; hay ý chí, bác ái và trí tuệ. Thầy cho rằng antahkarana chính là phương tiện để Chân Thần-trong-sự-mở-rộng quay trở lại tiêu điểm chân thần của mình. Điều này cũng liên quan đến việc ba phương diện thiêng liêng từng hoạt động trong hệ mặt trời trước, nên việc xây cầu hôm nay mang tính kế thừa một tiến trình rất cổ xưa. Thầy cũng nhắc lại vấn đề Ba Ngôi: Cha, Con và Chúa Thánh Thần, cùng câu hỏi liệu Mẹ có phải là một với Chúa Thánh Thần hay là phương diện thứ tư tùy theo góc nhìn.
Điều kiện nơi bản chất thấp để bắt đầu xây antahkarana
Ba điều kiện được nêu ra là: bản chất thấp trở nên có định hướng, được điều hòa và sáng tạo; nhận biết và đáp ứng với tiếp xúc và sự kiểm soát của linh hồn; nhạy cảm với ấn tượng đầu tiên của Chân Thần. Thầy MDR nhấn mạnh rằng antahkarana chỉ thực sự được xây bởi phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, nghĩa là phải có sự dung hợp linh hồn-phàm ngã thì các giai đoạn xây cầu mới xảy ra. Thầy cũng lưu ý quá trình này có thể bắt đầu “một cách nghiêm túc” nơi các đạo sinh chân thành trước lần điểm đạo thứ hai. Theo Thầy, việc kiên trì đọc, áp dụng giáo lý và sống có chủ đích đã là dấu hiệu cho thấy một người đang đi vào tiến trình này.
Nhạy cảm với Chân Thần đến sớm hơn ta tưởng
Điểm Thầy MDR xem là rất quan trọng là Chân sư DK cho thấy sự nhạy cảm với ấn tượng đầu tiên của Chân Thần có thể xuất hiện trước lần điểm đạo thứ ba, dù sự tiếp xúc hữu thức đầy đủ với Chân Thần thường thuộc về lần điểm đạo thứ ba. Thầy nhấn mạnh điều này sửa lại quan niệm phổ biến rằng chỉ sau lần điểm đạo thứ ba mới có thể nói đến Chân Thần. Theo Thầy, vào khoảng trước, trong hoặc hơi sau lần điểm đạo thứ hai, cây cầu ánh sáng đã có thể được xây đến mức tiếp nhận được cảm giác hiện diện Shamballa và cảm thức về Hữu thể. Thầy còn liên hệ điều này với bài thiền “Acme of Alignment” trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, nơi đường nối lên tận Chân Thần đã được chỉ ra dù nhiều đệ tử của Chân sư DK khi ấy chưa qua lần điểm đạo thứ hai.
Dấu hiệu của nhạy cảm chân thần
Ba dấu hiệu được nêu là sự quy phục trước Ý Chí của Thượng Đế hay của Toàn thể lớn hơn, sự khai mở ý chí tinh thần bên trong vượt qua mọi chướng ngại, và sự hợp tác với mục đích của Thánh Đoàn vốn diễn giải Ý Chí của Thượng Đế qua bác ái. Thầy MDR lưu ý câu “không phải ý con, mà Ý Ngài được nên” như một tiền đề của lần điểm đạo thứ sáu, đồng thời nhắc mối liên hệ số học giữa 3 và 6. Thầy giải thích ý chí tinh thần đi từ Chân Thần qua atma, rồi phản ánh xuống cánh hoa hi sinh trong Hoa Sen Chân Ngã; vì thế sự nhạy cảm chân thần có thể được nuôi dưỡng bằng quyết tâm học hỏi, chân thành và bền bỉ. Thầy còn trích ý rằng khi người đệ tử đặt nhu cầu của huynh đệ cao hơn hạnh phúc riêng, “lửa bác ái đang chiếu xạ hữu thể của người ấy”.
“Mục đích của Thánh Đoàn” như sự diễn giải Ý Chí thiêng liêng
Thầy MDR dừng lại khá lâu ở cụm từ “hợp tác với mục đích của Thánh Đoàn, sự diễn giải Ý Chí của Thượng Đế được biểu hiện trong bác ái”. Thầy nhận xét chữ “diễn giải” ở đây rất đáng suy nghĩ, vì mục đích nằm trên cõi chân thần và cao hơn, còn Thiên Cơ phải diễn giải Ý Chí và Mục đích của Thượng Đế để có thể biểu lộ thành bác ái qua các thành viên của Thánh Đoàn. Thầy đề xuất rằng khi Ý Chí đi xuống, nó mang theo một cách diễn giải đúng đắn về những gì được ghi nhận trong tâm thức. Thầy liên hệ điều này với nguyên lý “nếu làm theo ý Thượng Đế, người ta sẽ biết”, tức hành động đúng dẫn đến hiểu đúng.
Ba đáp ứng thiêng liêng phải được xác định trên cõi trí
Chân sư DK nói ba đáp ứng này liên hệ với antahkarana và phải được xác định, định điều kiện trên cõi trí; Thầy MDR giải thích rằng chính trí tuệ là nơi con người định nghĩa, sắp xếp và áp dụng các phương diện cao vào đời sống. Ba đáp ứng ấy là phàm ngã được định hướng đúng, phàm ngã đang tương tác ngày càng chịu sự kiểm soát của linh hồn, và sự ghi nhận đến từ Chân Thần. Theo Thầy, vì antahkarana cuối cùng bắc cầu vượt qua linh hồn nên sự biểu lộ chân thần phải bắt đầu xuất hiện từ sớm, nhất là từ lần điểm đạo thứ hai. Thầy xem đoạn này như một “giàn giáo” trí tuệ cần thiết để tiến vào những vùng tri nhận tinh tế hơn.
Hạ trí cụ thể như phản ánh của atma
Trong bảng ba cấp của cõi trí, hạ trí cụ thể được mô tả là thường thức tiếp nhận, phương diện cao nhất của bản chất hình tướng, phản ánh của atma, trung tâm cổ họng và tri thức. Thầy MDR giải thích “thường thức” là sự tổng hợp năm giác quan thành khả năng liên hệ, ghi nhớ và dự đoán, gần như “giác quan thứ sáu” theo nghĩa thông thường. Thầy nhấn mạnh sự cộng hưởng số học giữa atma là cõi phụ thứ ba từ trên của cõi hồng trần vũ trụ và trí là cõi phụ thứ ba từ dưới, nên có một kênh phản ánh ý chí tinh thần vào trí tuệ. Thầy cũng liên hệ trung tâm cổ họng với chức năng kiến tạo hình tướng, với 16 năng lượng của linh hồn nếu tính cả các nguyên tử trường tồn, đơn vị hạ trí và viên ngọc trong Hoa Sen Chân Ngã.
Tâm thức cá thể hóa, linh hồn và trung tâm tim
Mức thứ hai là “trí đã biệt ngã hóa”, được gọi là linh hồn hay chân ngã tinh thần, nguyên khí trung gian, Buddhi-manas, phản ánh của Chân Thần trong chất liệu trí tuệ, Bác Ái – Minh Triết tinh thần, trung tâm tim và bác ái. Thầy MDR nhận xét Chân sư DK ở đây dùng “spiritual ego” cho linh hồn biểu lộ qua Hoa Sen Chân Ngã, dù cũng có thể nói đến “chân ngã đích thực” ở Tam Nguyên Tinh Thần. Thầy nhấn mạnh Hoa Sen Chân Ngã không chỉ là trung tâm manas mà còn mang phẩm tính Bồ đề, đặc biệt nơi ba cánh hoa tổng hợp được hình thành nhờ sự tuôn đổ của Bồ đề xuống cõi thượng trí. Theo Thầy, nhiều năng lượng mà phàm ngã tưởng là từ linh hồn thực ra nguyên thủy đến từ Chân Thần, còn linh hồn chỉ chiếm hữu và truyền dẫn chúng.
Vai trò của Bồ đề, cung linh hồn và suy luận về cung chân thần
Thầy MDR lưu ý trung tâm tim liên hệ với cõi Bồ đề, nên dù ở đây đang nói đến linh hồn trên cõi thượng trí, ta không thể tách nó khỏi nguyên khí Bồ đề của Tam Nguyên Tinh Thần. Thầy đưa ra suy luận cá nhân rằng cung linh hồn hoạt động qua Hoa Sen Chân Ngã như một cung phụ của cung chân thần, nhưng không phải lúc nào cũng là cung phụ duy nhất cố định; có thể trên chính mức của Chân Thần còn có một cung phụ biến đổi được, trong khi cung chính của Chân Thần thì không đổi suốt một đại chu kỳ hệ mặt trời. Thầy còn nêu giả thuyết rằng nhiều con người trong hệ mặt trời trước vốn thuộc cung chân thần ba phải chuyển sang cung chân thần hai trong hệ hiện tại vì yêu cầu tiến hóa. Thầy liên hệ “trí đã biệt ngã hóa” với Sao Kim, nhấn mạnh tính chất Kim tinh và bác ái của nguyên lý này.
Thượng trí trừu tượng như kẻ truyền dẫn Bồ đề
Mức thứ ba là thượng trí trừu tượng, kẻ truyền dẫn Bồ đề, phản ánh của bản chất thiêng liêng, trực giác, bác ái, thấu hiểu, tính bao gồm, trung tâm đầu và hi sinh. Thầy MDR lưu ý thượng trí trừu tượng nằm ở cõi phụ thứ nhất của cõi trí và chính nhờ nó mà Bồ đề có thể đi xuống giúp hình thành ba cánh hoa tổng hợp. Thầy cảnh báo rằng nếu chỉ dùng tư duy trừu tượng lạnh lẽo và khô cằn thì không thể thật sự truyền dẫn Bồ đề, nên trực giác, bác ái và tính bao gồm mới là dấu hiệu đúng. Thầy còn đề nghị chú ý đặc biệt đến “trung tâm tim trong đầu”, xem đó là trung tâm đầu chủ yếu nhất, có thể liên hệ với Chân Thần và thậm chí xa hơn nữa.
Cõi trí như nơi ba tiêu điểm cao biểu lộ
Thầy MDR tổng kết rằng Chân sư DK đang chỉ ra cách ba thực tại cao là atma, Chân Thần và mức “thiêng liêng” hay giải thoát của Chân Thần biểu lộ qua ba mức của cõi trí và ba trung tâm chính tương ứng. Hạ trí là phản ánh của atma; trí đã biệt ngã hóa là phản ánh của Chân Thần trong chất liệu trí tuệ; còn thượng trí trừu tượng phản ánh bản chất thiêng liêng, thậm chí có thể liên quan đến mức của Hành Tinh Thượng đế hay cao hơn. Thầy nhận xét đây mới chỉ là ngôn ngữ đối với chúng ta, chưa phải kinh nghiệm trực tiếp, nhưng nếu giữ các ý niệm được rõ ràng và không rơi vào lẫn lộn đầy khát vọng mơ hồ thì kinh nghiệm thật sẽ đến gần hơn. Theo Thầy, sự rõ trí là điều kiện để các bức màn được dỡ bỏ dần.
Những suy luận mở rộng của Thầy MDR về các lần điểm đạo cao và Thái dương Thiên Thần
Từ cụm “phản ánh của bản chất thiêng liêng”, Thầy MDR mở rộng sang những suy luận về cõi logoi, lần điểm đạo thứ bảy, thứ tám và thứ chín, cùng khả năng chuyển sang cõi cảm dục vũ trụ. Thầy đề xuất rằng lần điểm đạo thứ tám là Chuyển tiếp có thể cho phép mạo hiểm sang cõi cảm dục vũ trụ, còn lần điểm đạo thứ chín là “Từ chối” mọi liên hệ cưỡng bách với cõi hồng trần vũ trụ. Từ đó Thầy suy diễn về Thái dương Thiên Thần, con đường đến Sirius, hai lần “sa xuống” vì hi sinh, và ba loại thực thể từ hệ mặt trời trước: Thái dương Thiên Thần, các nhà hắc thuật và những Chân Thần của “Những Kẻ Lữ Hành”. Thầy nhiều lần nhấn mạnh đây là giả thuyết cá nhân của mình, dù thấy nó có xác suất cao.
Quan hệ Chân Thần–linh hồn–phàm ngã qua những trạm lực trên cõi trí
Chân sư DK nói còn có những cách sắp xếp khác, nhưng cấu trúc vừa nêu đủ để chỉ ra quan hệ Chân Thần–linh hồn–phàm ngã khi chúng biểu lộ qua các “trạm tập trung” hay “những điểm năng lực” trên cõi trí. Thầy MDR xem đây là mục tiêu chính của đoạn văn: học cách các tiêu điểm cao biểu lộ trên cõi trí mà không để đầu óc bị quá tải bởi mọi khả thể. Thầy nhận xét dù hiện giờ các từ ấy mới chỉ là lời nói đối với ta, song việc giữ cho tư tưởng minh xác về các liên hệ này là một chuẩn bị nghiêm túc cho kinh nghiệm thực. Theo Thầy, tiếp cận giáo lý bằng tính rõ ràng thì tốt hơn nhiều so với một trạng thái sùng vọng mơ hồ.
Nhu cầu lớn nhất của nhân loại hiện nay: nối Tam Nguyên Tinh Thần, linh hồn và phàm ngã
Thầy MDR nhấn mạnh điểm then chốt đối với nhân loại hiện nay là phải nối kết một cách hữu thức và hiệu quả Tam Nguyên Tinh Thần, linh hồn trên cõi riêng của nó và phàm ngã tam phân. Thầy mô tả đây là một cấu trúc “ba và ba và ba”, thành một liên hệ cửu phân rất quan trọng. Sự nối kết này được thực hiện nhờ công trình sáng tạo của phàm ngã, quyền năng từ tính của Tam Nguyên Tinh Thần và hoạt động hữu thức của linh hồn sử dụng sợi dây tam phân. Theo Thầy, Tam Nguyên Tinh Thần là phần kéo dài của phương diện Cha nơi chúng ta và chính từ tính của nó đã triệu gọi ta trước cả khi ta biết khẩn cầu hay phóng chiếu.
Vai trò của linh hồn và sợi dây tam phân trong việc xây cầu
Thầy MDR giải thích linh hồn là trung gian, sử dụng năng lực bắt cầu vốn cố hữu nơi Thái dương Thiên Thần để nối tam phân thượng và tam phân hạ của con người. Dù antahkarana về sau “vượt qua” Hoa Sen Chân Ngã, linh hồn vẫn giữ vai trò thiết yếu vì chỉ phàm ngã được linh hồn thấm nhuần mới có thể làm công việc sáng tạo ấy. Thầy nhận xét Thái dương Thiên Thần dường như đứng sang một bên, hỗ trợ tối đa cho tiến trình mà vẫn để phàm ngã được linh hồn thấm nhuần tự làm điều nó phải làm dưới sức hút của Tam Nguyên Tinh Thần. Thầy còn gợi lại bối cảnh Dãy Mặt Trăng và sự cần thiết của sự xuất hiện Thái dương Thiên Thần để giữ đúng thời biểu tiến hóa của Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế.
Dung hợp là chìa khóa của toàn bộ tiến trình
Khi Chân sư DK nói các nhà huyền bí học nhấn mạnh đến dung hợp, hợp nhất và hòa trộn, Thầy MDR xem đây là ngôn ngữ chủ yếu của cung hai, dù Luận về Lửa Vũ Trụ cũng cho thấy quyền năng hòa trộn của Đấng Chúa Tể thứ ba. Chỉ khi sự dung hợp này được nhận thức một cách thông minh thì đệ tử mới có thể dệt các sợi thành một cây cầu ánh sáng, rồi thành Con Đường được Soi Sáng để đi vào các thế giới cao của Bản Thể. Thầy lưu ý cây cầu này không chỉ chứa ánh sáng mà còn chứa tâm thức và quyền năng. Theo Thầy, biểu tượng “cầu thẳng đứng” chủ yếu mang tính sư phạm, vì chính Chân sư DK cũng nói các cấu trúc ấy không nhất thiết tồn tại như vật thể thật mà là cách dạy cách điều chỉnh hệ thống năng lượng.
Giải thoát khỏi ba cõi giới và ba trạng thái tâm thức lớn
Thầy MDR nhấn mạnh câu “như thế người ấy tự giải thoát khỏi ba cõi giới” và cho rằng trong chu kỳ thế giới hiện nay, điều tối quan trọng là dung hợp và biểu lộ ba trạng thái tâm thức lớn trong tỉnh thức trọn vẹn. Thầy dừng lại ở cụm “full waking awareness”, xem đây là một đòi hỏi rất sâu: không chỉ có thoáng chạm các trạng thái cao mà phải sống trong chúng một cách tỉnh thức, liên tục. Thầy nhận xét mỗi câu, mỗi cụm từ của Chân sư DK đều cần được nghiền ngẫm kỹ vì chiều sâu giáo lý rất lớn. Theo Thầy, tài liệu này được trao ra khoảng 70 năm trước nhưng nhân loại vẫn hấp thụ được rất ít.
Nhận xét cá nhân của Thầy MDR về công việc giảng dạy và học hỏi
Thầy MDR nhiều lần xen vào nhận xét rằng khi đọc lại đoạn này sau một thời gian, Thầy thấy có những điều mình đã quên hoặc chưa tiếp nhận đúng mức trước đây. Thầy nói bản thân đã gần 50 năm cố gắng đưa người học vào những hoàn cảnh tham thiền có thể làm họ trở nên nhạy cảm với Chân Thần và với cảm thức Hữu thể. Thầy cũng thừa nhận Chân sư DK biết một khối lượng giáo lý đồ sộ, nên người học buộc phải tập trung vào những vùng nhỏ rồi dần mở rộng vòng-giới-hạn của tư tưởng và thấu hiểu. Việc Thầy thêm nhiều bình luận ngoài văn bản, theo lời Thầy, là để giáo lý bớt hàn lâm, trở nên có tính trải nghiệm và gần gũi hơn.
Giàn giáo của hạ trí và triển vọng vượt khỏi giàn giáo
Ở phần kết, Thầy MDR ví việc dùng hạ trí để xây dựng hiểu biết như dựng một giàn giáo vững chắc cho kinh nghiệm cao hơn. Qua antahkarana, con người có thể chạm đến sự hiện diện của Hữu thể thuần khiết của Chân Thần dù Chân Thần còn bị “bao bọc” trong vận cụ chân thần. Thầy dùng hình ảnh khi đã có thể “bay lên” thì không còn cần thang, và khi ngôi nhà đã sơn xong thì giàn giáo có thể tháo bỏ; tương tự, khi kinh nghiệm trực tiếp đã ổn định thì cấu trúc khái niệm chỉ còn là phương tiện tạm thời. Tuy nhiên, Thầy lưu ý bước đầu vẫn phải là công trình tuần tự của hạ trí, vì không có giàn giáo thì khó mà tiếp cận được các cõi cao của bản chất.
Text
|
[1] The mental plane which must be bridged is like a great stream of consciousness or of conscious substance, [2] and across this stream the antahkarana must be constructed. [3] This is the concept which lies behind this teaching and behind the symbolism of the Path. [4] Before a man can tread the Path, he must become that Path himself. [5] Out of the substance of his own life [6] he must construct this rainbow bridge, this Lighted Way. [7] He spins it and anchors it as a spider spins a thread [Page 465] along which it can travel. [8] Each of his three divine aspects contributes to that bridge, [9] and the time of this building is indicated when his lower nature is: |
[1] Cõi trí cần được bắt cầu giống như một dòng lớn của tâm thức hay của chất liệu hữu thức, [2] và bắc ngang dòng này, antahkarana phải được kiến tạo. [3] Đây là quan niệm nằm sau giáo huấn này và sau biểu tượng của Đường Đạo. [4] Trước khi con người có thể bước trên Đường Đạo, y phải tự mình trở thành chính Đường Đạo ấy. [5] Từ chất liệu của chính sự sống mình, [6] y phải kiến tạo cây cầu vồng này, Con Đường được Soi Sáng này. [7] Y se nó và neo giữ nó như con nhện se một sợi tơ [Trang 465] để nó có thể di chuyển dọc theo đó. [8] Mỗi phương diện trong ba phương diện thiêng liêng của y đều đóng góp vào cây cầu ấy, [9] và thời điểm của công trình kiến tạo này được biểu thị khi bản chất thấp của y: |
|
[10] 1. Becoming oriented, regulated and creative. |
[10] 1. Đang trở nên có định hướng, được điều hòa và sáng tạo. |
|
[11] 2. Recognising and reacting to soul contact and control. |
[11] 2. Nhận biết và phản ứng với sự tiếp xúc cùng quyền kiểm soát của linh hồn. |
|
[12] 3. Sensitive to the first impression of the Monad. This sensitivity is indicated where there is: |
[12] 3. Nhạy cảm với ấn tượng đầu tiên của Chân thần. Sự nhạy cảm này được biểu thị nơi nào có: |
|
[13] a. Submission to the “will of God” or of the greater Whole. |
[13] a. Sự quy phục “Ý Chí của Thượng Đế” hay của Toàn Thể lớn hơn. |
|
[14] b. Unfoldment of the inner spiritual will, overcoming all obstacles. |
[14] b. Sự khai mở của ý chí tinh thần bên trong, vượt thắng mọi chướng ngại. |
|
[15] c. Cooperation with the purpose of the Hierarchy, the interpreting will of God as expressed in love. |
[15] c. Sự hợp tác với mục đích của Thánh Đoàn, tức Ý Chí của Thượng Đế được diễn giải khi biểu lộ trong Bác ái. |
|
[16] I have enumerated these three responses to the totality of the divine aspects because they are related to the antahkarana and must become defined and conditioned upon the mental plane. [17] They are there to be found expressing themselves in substance: |
[16] Tôi đã liệt kê ba đáp ứng này đối với toàn thể các phương diện thiêng liêng vì chúng liên hệ với antahkarana và phải trở nên xác định, chịu tác động trên cõi trí. [17] Ở đó, người ta thấy chúng biểu lộ trong chất liệu: |
|
[18] 1. The lower concrete mind. |
[18] 1. Hạ trí cụ thể. |
|
[19] The receptive common sense. |
[19] Lương tri có tính tiếp nhận. |
|
[20] The highest aspect of the form nature. |
[20] Phương diện cao nhất của bản chất hình tướng. |
|
[21] The reflection of atma, the spiritual will. |
[21] Sự phản chiếu của atma, ý chí tinh thần. |
|
The throat centre. |
Trung tâm cổ họng. |
|
[22] Knowledge. |
[22] Tri thức. |
|
[23] 2. The individualised mind. |
[23] 2. Thể trí đã biệt ngã hóa. |
|
[24] The soul or spiritual ego. |
[24] Linh hồn hay chân ngã tinh thần. |
|
[25] The middle principle. Buddhi-manas. |
[25] Nguyên khí trung gian. Bồ đề-manas. |
|
[26] The reflection in mental substance of the Monad. |
[26] Sự phản chiếu của Chân thần trong chất liệu cõi trí. |
|
[27] Spiritual love-wisdom. |
[27] Bác Ái – Minh Triết tinh thần. |
|
[28] The heart centre. |
[28] Trung tâm tim. |
|
Love. |
Bác ái. |
|
[28b] 3. The higher abstract mind. |
[28b] 3. Thượng trí trừu tượng. |
|
[29] The transmitter of buddhi. |
[29] Tác nhân truyền dẫn Bồ đề. |
|
[30] The reflection of the divine nature. |
[30] Sự phản chiếu của bản chất thiêng liêng. |
|
[31] Intuitive love, understanding, inclusiveness. |
[31] Bác ái trực giác, thấu hiểu, tính bao gồm. |
|
The head centre. |
Trung tâm đầu. |
|
Sacrifice. |
Hi sinh. |
|
[Page 466] |
[Trang 466] |
|
[32] There are necessarily other arrangements of these aspects in manifestation, [33] but the above will serve to indicate the relation of Monad-soul-personality as they express themselves through certain focussed stations or points of power upon the mental plane. |
[32] Tất nhiên còn có những cách sắp xếp khác của các phương diện này trong biểu hiện, [33] nhưng phần trình bày trên đủ để chỉ ra mối liên hệ giữa Chân thần-linh hồn-phàm ngã khi chúng biểu lộ qua một số trạm tập trung hay điểm quyền năng nhất định trên cõi trí. |
|
[34] In humanity, however, the major realisation to be grasped at the present point in human evolution is the need to relate—consciously and [35] effectively—the spiritual Triad, the soul on its own plane and the personality in its three-fold nature. [36] This is done through the creative work of the personality, the magnetic power of the Triad, [37] and the conscious activity of the soul, utilising the triple thread. |
[34] Tuy nhiên, trong nhân loại, nhận thức chủ yếu cần nắm bắt ở điểm hiện nay trong tiến hoá nhân loại là nhu cầu liên hệ — một cách có ý thức và [35] hiệu quả — Tam Nguyên Tinh Thần, linh hồn trên cõi riêng của nó, và phàm ngã trong bản chất tam phân của nó. [36] Điều này được thực hiện qua công việc sáng tạo của phàm ngã, quyền năng từ tính của Tam nguyên tinh thần, [37] và hoạt động có ý thức của linh hồn, bằng cách sử dụng sợi dây tam phân. |
|
[38] You can see, therefore, why so much emphasis is laid by esotericists upon fusion, unity or blending; [39] only when this is intelligently realised can the disciple begin to weave the threads into a bridge of light [40] which eventually becomes the Lighted Way across which he can pass into the higher worlds of being. [41] Thus he liberates himself from the three worlds. It is—in this world cycle—pre-eminently a question of fusion and expressing (in full waking awareness) three major states of consciousness: |
[38] Vì vậy, bạn có thể thấy tại sao các nhà bí truyền học lại nhấn mạnh rất nhiều vào sự dung hợp, hợp nhất hay hòa nhập; [39] chỉ khi điều này được nhận thức một cách sáng suốt nhận thức thì đệ tử mới có thể bắt đầu dệt các sợi dây thành một cây cầu ánh sáng, [40] cuối cùng trở thành Con Đường được Soi Sáng mà y có thể đi qua để vào những cõi giới bản thể cao hơn. [41] Nhờ vậy, y tự giải thoát khỏi ba cõi giới. Trong chu kỳ thế giới này, đó trước hết là vấn đề dung hợp và biểu lộ, trong nhận thức tỉnh thức trọn vẹn, ba trạng thái tâm thức chủ yếu: |
Commentary Antahkarana 31
|
Hello friends, we’re going to continue with our Rays and Initiations webinar commentaries. We are working on program 31. We’ve been talking about the antahkarana in quite a detailed manner and it will continue to be detailed. |
Xin chào các bạn, chúng ta sẽ tiếp tục với các bình giải hội thảo trực tuyến về Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo. Chúng ta đang làm việc với chương trình 31. Chúng ta đã bàn về antahkarana một cách khá chi tiết, và điều đó sẽ còn tiếp tục chi tiết. |
|
This is the section in the book Rays and Initiations where he really does go into the building of the antahkarana, the bridge of shining mind stuff, the seven levels which can be touched, including eventually the level of divine consciousness which is beyond the present focus of the Monad. Those are led to, we understand, by the seven levels of the seven subplanes of the mental plane. This bridge is impressed by the Trinity, three aspects which have been active in a previous solar system. The first major solar system of a number of solar systems, ours is the second major. |
Đây là phần trong sách Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo nơi Ngài thật sự đi vào việc kiến tạo antahkarana, cây cầu bằng chất liệu trí tuệ rực sáng, bảy cấp độ có thể được chạm đến, cuối cùng bao gồm cả cấp độ tâm thức thiêng liêng vốn vượt ngoài tiêu điểm hiện tại của Chân thần. Chúng ta hiểu rằng những cấp độ ấy được dẫn tới bởi bảy cấp độ của bảy cõi phụ thuộc cõi trí. Cây cầu này chịu ấn tượng của Ba Ngôi, ba phương diện đã từng hoạt động trong một hệ mặt trời trước. Hệ mặt trời chính thứ nhất trong một số hệ mặt trời; hệ của chúng ta là hệ chính thứ hai. |
|
We begin here with program number 31. We’ve just discussed the Father, the Son, and the Holy Spirit aspect, whether or not the mother aspect should be considered one with the Holy Spirit or as a fourth aspect depends upon our perspective. |
Chúng ta bắt đầu ở đây với chương trình số 31. Chúng ta vừa bàn về phương diện Cha, Con và Chúa Thánh Thần; liệu phương diện Mẹ có nên được xem là một với Chúa Thánh Thần hay như một phương diện thứ tư hay không thì tùy thuộc vào viễn cảnh của chúng ta. |
|
[1] The mental plane which must be bridged is like a great stream of consciousness or of conscious substance, |
[1] Cõi trí cần được bắt cầu giống như một dòng lớn của tâm thức hay của chất liệu hữu thức, |
|
We have been told, of course, that a plane or subplane and a state of consciousness are equivalent. |
Dĩ nhiên, chúng ta đã được cho biết rằng một cõi hay cõi phụ và một trạng thái tâm thức là tương đương. |
|
[2] and across this stream the antahkarana must be constructed. |
[2] và antahkarana phải được xây dựng băng qua dòng này, |
|
As if to receive from a higher level of impression and not to be caught in the phenomenology of the mental plane itself. |
Như thể để tiếp nhận ấn tượng từ một cấp độ cao hơn và không bị mắc kẹt trong hiện tượng luận của chính cõi trí. |
|
The mental plane, which must be bridged, is like a great stream of consciousness or of conscious substance. The substance itself seems to have consciousness, a certain type of reactivity, a certain type of mental sentiency—reactivity on a higher level than astral reactivity. |
Cõi trí, vốn cần được bắt cầu, giống như một dòng lớn của tâm thức hay của chất liệu hữu thức. Chính chất liệu ấy dường như có tâm thức, một loại phản ứng nào đó, một loại cảm tri trí tuệ nào đó — phản ứng ở một cấp độ cao hơn phản ứng cảm dục. |
|
And this stream, the antahkarana must be constructed. It’s something of a funnel, which allows impression from higher realms, and we’ve seen Buddhic, Atmic, Monadic, and even Logoic impression allowed. |
Và dòng này, antahkarana phải được xây dựng. Nó phần nào giống như một cái phễu, cho phép ấn tượng từ các cõi cao hơn đi vào, và chúng ta đã thấy ấn tượng Bồ đề, atma, chân thần, và thậm chí Thượng đế được cho phép. |
|
[3] This is the concept which lies behind this teaching and behind the symbolism of the Path. |
[3] Đây là quan niệm nằm đằng sau giáo huấn này và đằng sau biểu tượng của Đường Đạo. |
|
In a way, the antahkarana is the Path. In a way, we are an extension of that antahkarana. It is the means by which the Monad-in-extension may rise to its original monadic focus via this bridge of shining substance, this bridge of light. |
Theo một cách nào đó, antahkarana chính là Đường Đạo. Theo một cách nào đó, chúng ta là một phần mở rộng của antahkarana ấy. Nó là phương tiện nhờ đó Chân Thần-trong-sự-mở-rộng có thể vươn lên tiêu điểm chân thần nguyên thủy của mình qua cây cầu bằng chất liệu rực sáng này, cây cầu ánh sáng này. |
|
[4] Before a man can tread the Path, he must become that Path himself. |
[4] Trước khi con người có thể bước trên Đường Đạo, y phải tự mình trở thành chính Đường Đạo ấy. |
|
Which means that within his energy system, there must be extensions which reach to the highest aspect of his nature—that is, to the Monad. He is the Monad-in-extension, but he is, in a way, the immersed Monad, and there has to be woven from his energy configuration an energic means of return, a method by which his consciousness can change and refocus at different points of tension all the way along that path of return to his origin. |
Điều này có nghĩa là trong hệ thống năng lượng của y, phải có những phần mở rộng vươn tới phương diện cao nhất trong bản chất của y — tức là tới Chân thần. Y là Chân Thần-trong-sự-mở-rộng, nhưng theo một cách nào đó, y là Chân thần bị chìm đắm, và từ cấu hình năng lượng của y phải được dệt nên một phương tiện năng lực để trở về, một phương pháp nhờ đó tâm thức của y có thể thay đổi và tái tập trung tại những điểm tập trung nhất tâm khác nhau suốt dọc con đường trở về cội nguồn của y. |
|
[5] Out of the substance of his own life |
[5] Từ chất liệu của chính sự sống mình |
|
As a personality and then as a soul-infused personality— |
Với tư cách là một phàm ngã và rồi là một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần — |
|
[6] he must construct this rainbow bridge, this Lighted Way. |
[6] y phải kiến tạo cây cầu vồng này, Con Đường được Soi Sáng này. |
|
This bridge of shining light substance. Bridge of shining mind stuff is how D.K. put it, and we’ll use that to remind ourselves. |
Cây cầu bằng chất liệu ánh sáng rực rỡ này. Cây cầu bằng chất liệu trí tuệ rực sáng là cách Chân sư DK diễn đạt, và chúng ta sẽ dùng cách ấy để tự nhắc mình. |
|
Out of the substance of his own life he must construct this rainbow bridge, this Lighted Way. |
Từ chất liệu của chính sự sống mình, y phải kiến tạo cây cầu vồng này, Con Đường được Soi Sáng này. |
|
He must construct via meditative and magical methods his rainbow bridge, this lighted way, this path of energies vibrating at different frequencies, but all resonant enough to each other to allow a smooth transition from one point of tension to another. Every level of vibration can be the home for a specific point of tension. As we ascend, we are rising via more intense points of tension. |
Y phải kiến tạo, bằng các phương pháp tham thiền và huyền thuật, cây cầu vồng của y, con đường được soi sáng này, con đường gồm các năng lượng rung động ở những tần số khác nhau, nhưng tất cả đủ cộng hưởng với nhau để cho phép một sự chuyển tiếp êm thuận từ điểm tập trung nhất tâm này sang điểm khác. Mỗi cấp độ rung động đều có thể là nơi cư ngụ của một điểm tập trung nhất tâm chuyên biệt. Khi chúng ta đi lên, chúng ta vươn lên qua những điểm tập trung nhất tâm mãnh liệt hơn. |
|
He spins it, and that’s probably an occult hint, something about the method of the construction, the spiral method of its construction. |
Y se nó, và đó có lẽ là một gợi ý huyền bí, một điều gì đó về phương pháp kiến tạo, phương pháp xoắn ốc trong sự kiến tạo của nó. |
|
[7] He spins it and anchors it as a spider spins a thread along which it can travel. |
[7] Y se nó và neo nó lại như con nhện se một sợi tơ mà nó có thể di chuyển trên đó. |
|
The spider too has to throw that thread forth to anchor it so that he can travel upon it. |
Con nhện cũng phải phóng sợi tơ ấy ra để neo nó lại hầu nó có thể di chuyển trên đó. |
|
[8] Each of his three divine aspects contributes to that bridge, |
[8] Mỗi một trong ba phương diện thiêng liêng của y đều đóng góp vào cây cầu ấy, |
|
Life, Quality, and Appearance—or Will, Love, and Mind. |
Sự Sống, Phẩm Tính và Sắc Tướng — hay Ý Chí, Bác Ái và Trí Tuệ. |
|
[9] and the time of this building is indicated when his lower nature is: |
[9] và thời điểm của sự kiến tạo này được chỉ ra khi bản chất thấp của y đang: |
|
[10] 1. Becoming oriented, regulated and creative. |
[10] 1. Trở nên được định hướng, được điều hòa và sáng tạo. |
|
Rightly oriented. This is before the second initiation that it can begin in earnest. |
Được định hướng đúng đắn. Điều này có thể bắt đầu một cách nghiêm túc trước lần điểm đạo thứ hai. |
|
We can look at Sagittarius being assigned active in the first two initiations especially, regulated by the mind, and creative in the sense that the throat center is involved and the head center is involved. It is becoming possible to make arrangements within the thought forms of the mind—arrangements which are meant to reflect the arrangements of the archetype of plan and purpose. The archetype belongs more to Purpose than to Plan, I suppose. Plan is ever shifting, but the archetype of Purpose remains constant. |
Chúng ta có thể xem Nhân Mã được gán là hoạt động đặc biệt trong hai lần điểm đạo đầu, được điều hòa bởi thể trí, và sáng tạo theo nghĩa trung tâm cổ họng có liên quan và trung tâm đầu cũng có liên quan. Việc sắp đặt bên trong các hình tư tưởng của thể trí đang trở nên khả hữu — những sắp đặt nhằm phản ánh những sắp đặt của nguyên mẫu về Thiên Cơ và mục đích. Tôi cho rằng nguyên mẫu thuộc về Mục Đích nhiều hơn là Thiên Cơ. Thiên Cơ luôn dịch chuyển, nhưng nguyên mẫu của Mục Đích vẫn hằng định. |
|
Each of the three divine aspects contributes to that bridge. We have the creative thread, the consciousness thread, and the life thread, and that is the three-fold link we call the antahkarana: the Sutratma, the consciousness thread, and the creative thread. |
Mỗi một trong ba phương diện thiêng liêng đều đóng góp vào cây cầu ấy. Chúng ta có sợi dây sáng tạo, Sợi dây Tâm thức/thức tuyến, và Sợi dây Sự Sống/sinh mệnh tuyến, và đó là mối liên kết tam phân mà chúng ta gọi là antahkarana: Sutratma, Sợi dây Tâm thức/thức tuyến, và sợi dây sáng tạo. |
|
Each of the three divine aspects contributes to that bridge. The lower nature is becoming stable, oriented, creative rather than strictly procreative. |
Mỗi một trong ba phương diện thiêng liêng đều đóng góp vào cây cầu ấy. Bản chất thấp đang trở nên ổn định, được định hướng, sáng tạo hơn là chỉ thuần sinh sản. |
|
[11] 2. Recognising and reacting to soul contact and control. |
[11] 2. Nhận biết và phản ứng với sự tiếp xúc và kiểm soát của linh hồn. |
|
The soul-infused personality is that which builds the antahkarana. There must be soul infusion or the stages of antahkarana building cannot occur. |
Phàm ngã được linh hồn thấm nhuần là cái kiến tạo antahkarana. Phải có sự thấm nhuần của linh hồn, nếu không các giai đoạn kiến tạo antahkarana không thể xảy ra. |
|
[12] 3. Sensitive to the first impression of the Monad. This sensitivity is indicated where there is: |
[12] 3. Nhạy cảm với ấn tượng đầu tiên của Chân thần. Sự nhạy cảm này được chỉ ra nơi có: |
|
Now this is interesting because it is usually at the third initiation that there is true conscious contact with the Monad. But D.K. is telling us something important: around the time of the second initiation, before, during, a little after, this bridge of light can be constructed. There can be monadic sensitivity before the third initiation. |
Điều này thú vị, vì thường là ở lần điểm đạo thứ ba mới có sự tiếp xúc hữu thức thật sự với Chân thần. Nhưng Chân sư DK đang nói với chúng ta một điều quan trọng: quanh thời điểm lần điểm đạo thứ hai, trước đó, trong lúc đó, và một chút sau đó, cây cầu ánh sáng này có thể được kiến tạo. Có thể có sự nhạy cảm chân thần trước lần điểm đạo thứ ba. |
|
That’s really what he’s telling us—sensitivity to the first impression of the Monad. This is not really the same as having a full conscious rapport with that which the Monad is and represents. Rather, it is something D.K. has told us: we are to become aware of Sanat Kumara, we are to become aware of identification. All of this follows the second initiation. This monadic impression does come early. It comes earlier than we may expect, than we may imagine. |
Đó thật sự là điều Ngài đang nói với chúng ta — sự nhạy cảm với ấn tượng đầu tiên của Chân thần. Điều này không thật sự giống với việc có một mối tương giao hữu thức đầy đủ với những gì Chân thần là và đại diện. Đúng hơn, đó là điều Chân sư DK đã nói với chúng ta: chúng ta phải trở nên ý thức về Đức Sanat Kumara, chúng ta phải trở nên ý thức về sự đồng hoá với. Tất cả những điều này theo sau lần điểm đạo thứ hai. Ấn tượng chân thần này đến sớm. Nó đến sớm hơn chúng ta có thể mong đợi, sớm hơn chúng ta có thể tưởng tượng. |
|
Some people think we cannot really speak of the Monad until we have taken the third degree. But the taking of the third degree is a kind of consummation of Shamballic presence within the consciousness and energy system of the disciple initiate. The first impressions of the Monad have to come earlier. |
Một số người nghĩ rằng chúng ta thật sự không thể nói về Chân thần cho đến khi chúng ta đã nhận lần điểm đạo thứ ba. Nhưng việc nhận lần điểm đạo thứ ba là một loại hoàn tất của sự hiện diện Shamballa trong tâm thức và hệ thống năng lượng của đệ tử điểm đạo đồ. Những ấn tượng đầu tiên của Chân thần phải đến sớm hơn. |
|
I want to emphasize that when we begin with the antahkarana curriculum, we are working on that which connects us to our origin, to the monad. The third meditation is called the Acme of Alignment in Discipleship in the New Age, which shows us the connection all the way to the monad. However, there were many of DK’s students who had not yet taken the second initiation, so this first impression can come even before the second initiation. |
Tôi muốn nhấn mạnh rằng khi chúng ta bắt đầu với chương trình học về antahkarana, chúng ta đang làm việc với điều nối kết chúng ta với cội nguồn của mình, với chân thần. Bài tham thiền thứ ba được gọi là Đỉnh Cao của Sự Chỉnh Hợp trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, cho chúng ta thấy mối liên kết suốt tới chân thần. Tuy nhiên, có nhiều đạo sinh của Chân sư DK chưa nhận lần điểm đạo thứ hai, vì vậy ấn tượng đầu tiên này có thể đến ngay cả trước lần điểm đạo thứ hai. |
|
I would say it probably has to be somewhat in sight due to the resonance with the number six—the sixth ray, the sixth plane for the second initiation, and the sixth plane for the monad. Numerical resonance shows that. |
Tôi muốn nói rằng có lẽ nó phải phần nào nằm trong tầm nhìn do sự cộng hưởng với số sáu — cung sáu, cõi thứ sáu đối với lần điểm đạo thứ hai, và cõi thứ sáu đối với chân thần. Sự cộng hưởng số học cho thấy điều đó. |
|
This sensitivity is indicated where there is: |
Sự nhạy cảm này được chỉ ra nơi có: |
|
Here we find the requirements for Monadic Sensitivity: submission to the Will of God, or submission to the will of the greater whole. We can say this is a preamble to the sixth initiation, in which the Christ said, “not my will, but thine be done.” |
Ở đây chúng ta tìm thấy các điều kiện cần thiết cho Sự Nhạy Cảm Chân Thần: quy phục Ý Chí của Thượng Đế, hay quy phục ý chí của toàn thể lớn hơn. Chúng ta có thể nói đây là lời mở đầu cho lần điểm đạo thứ sáu, trong đó Đức Christ đã nói: “không phải ý chí của con, mà ý chí của Ngài được thực hiện.” |
|
The three and six are definitely connected. He’s told us about the connection of one and two, of two and four, and of three and six. |
Ba và sáu chắc chắn có liên hệ. Ngài đã nói với chúng ta về mối liên hệ giữa một và hai, giữa hai và bốn, và giữa ba và sáu. |
|
[13] a. Submission to the “will of God” or of the greater Whole. |
[13] a. Quy phục “Ý Chí của Thượng Đế” hay của Toàn Thể lớn hơn. |
|
[14] b. Unfoldment of the inner spiritual will, overcoming all obstacles. |
[14] b. Sự khai mở của ý chí tinh thần bên trong, vượt thắng mọi chướng ngại. |
|
These are the requirements. From the map we can see that the spiritual will—the will aspect of the monad—has a direct connection with Atma, which is the spiritual will and which descends by whatever manner it does descend. Just because we have a chart doesn’t really mean we understand how the energy of one plane descends to another. The sacrifice petals here in red have been colored in by Keith Bailey of AUM, who’s given us the representation of the different colors so things are easier to see. There are truly no red petals—it does seem to be the one color left out of the general coloring of each petal, although there may be some sort of red hue for the first ray souls. |
Đây là những điều kiện cần thiết. Từ sơ đồ, chúng ta có thể thấy rằng ý chí tinh thần — phương diện ý chí của chân thần — có một mối liên hệ trực tiếp với Atma, vốn là ý chí tinh thần và giáng xuống theo bất cứ cách nào nó giáng xuống. Chỉ vì chúng ta có một biểu đồ không thật sự có nghĩa là chúng ta hiểu cách năng lượng của một cõi giáng xuống một cõi khác. Các cánh hoa hi sinh ở đây màu đỏ đã được Keith Bailey của AUM tô màu, người đã cho chúng ta sự trình bày các màu sắc khác nhau để mọi thứ dễ nhìn hơn. Thật ra không có cánh hoa đỏ nào — dường như đó là một màu bị bỏ ra khỏi cách tô màu chung của mỗi cánh hoa, mặc dù có thể có một sắc đỏ nào đó đối với các linh hồn cung một. |
|
This is a good illustration of what we want to understand: the connection of spiritual will to the sacrificial will of the soul. The will aspect of the monad has a direct connection and presence within the jewel in the lotus, but also it has a more mediated connection with Atma, the home of spiritual will, going to the sacrificial will. |
Đây là một minh họa tốt về điều chúng ta muốn thấu hiểu: mối liên hệ của ý chí tinh thần với ý chí hi sinh của linh hồn. Phương diện ý chí của chân thần có một mối liên hệ và sự hiện diện trực tiếp bên trong viên ngọc trong Hoa sen, nhưng nó cũng có một mối liên hệ được trung gian nhiều hơn với Atma, nơi cư ngụ của ý chí tinh thần, đi tới ý chí hi sinh. |
|
All of this originates in the monad—these connections extend into the Triad and thence into that shroud of the true soul, of the true ego, which is the Spiritual Triad. That shroud of the true ego, which we call the causal body or the Egoic Lotus. Monadic Sensitivity seems to be such an important idea, and we can begin to cultivate this, can we not? If we’re reading these books with intent and sincerity and with the determination to really learn something, the fact that we can stick with them tells us something about our ability to begin to develop this sense of being, which we can call Monadic Sensitivity. |
Tất cả những điều này bắt nguồn từ chân thần — các mối liên hệ này mở rộng vào Tam Nguyên Tinh Thần và từ đó vào tấm màn bao của linh hồn chân thật, của chân ngã chân thật, tức là Tam Nguyên Tinh Thần. Tấm màn bao của chân ngã chân thật ấy, mà chúng ta gọi là thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã. Sự Nhạy Cảm Chân Thần dường như là một ý tưởng rất quan trọng, và chúng ta có thể bắt đầu vun trồng điều này, phải không? Nếu chúng ta đọc các sách này với chủ đích và sự chân thành, với quyết tâm thật sự học được điều gì đó, thì việc chúng ta có thể kiên trì với chúng cho chúng ta biết điều gì đó về khả năng bắt đầu phát triển ý thức về hiện tồn này, điều mà chúng ta có thể gọi là Sự Nhạy Cảm Chân Thần. |
|
Submission to the Will of God or the greater whole—what is the good of the whole and not just my own individual good? If he cares not for the suffering and pain of the lower self, if it is immaterial to him whether happiness comes his way or not, if the sole purpose of his life is to serve and save the world, and if his brother’s need is for him a greater moment than his own, then the fire of love is irradiating his being and the world can warm itself at his feet. |
Quy phục Ý Chí của Thượng Đế hay của toàn thể lớn hơn — điều thiện của toàn thể là gì, chứ không chỉ điều thiện cá nhân của riêng tôi? Nếu y không bận tâm đến sự đau khổ và nỗi đau của phàm ngã, nếu việc hạnh phúc có đến với y hay không là điều không quan trọng đối với y, nếu mục đích duy nhất của đời y là phụng sự và cứu độ thế giới, và nếu nhu cầu của huynh đệ y đối với y quan trọng hơn nhu cầu của chính y, thì lửa bác ái đang chiếu rọi bản thể y và thế giới có thể sưởi ấm dưới chân y. |
|
Another factor which indicates Monadic Sensitivity is |
Một yếu tố khác chỉ ra Sự Nhạy Cảm Chân Thần là |
|
[15] c. Cooperation with the purpose of the Hierarchy, the interpreting will of God as expressed in love. |
[15] c. Hợp tác với mục đích của Thánh Đoàn, Ý Chí của Thượng Đế đang diễn giải như được biểu lộ trong bác ái. |
|
This is interesting, particularly the word “interpreting.” Purpose is found on the Monadic plane and beyond, and I think we have to ponder on this word. It is necessary for the plan to interpret the Will and purpose of Deity and to express that in love, because the members who do interpret this Will of God are the members of the Hierarchy of love. But just how the Will of God can be interpreting rather than interpreted—I think we have to ponder on this. Of course, as the will descends, it will bring with it the interpretation according to purpose of all that is registered in consciousness. |
Điều này thú vị, đặc biệt là từ “đang diễn giải.” Mục đích được tìm thấy trên cõi chân thần và xa hơn nữa, và tôi nghĩ chúng ta phải suy ngẫm về từ này. Thiên Cơ cần diễn giải Ý Chí và mục đích của Thượng đế và biểu lộ điều đó trong bác ái, bởi vì những thành viên thật sự diễn giải Ý Chí này của Thượng Đế là các thành viên của Thánh Đoàn bác ái. Nhưng chính xác làm thế nào Ý Chí của Thượng Đế có thể là đang diễn giải thay vì được diễn giải — tôi nghĩ chúng ta phải suy ngẫm về điều này. Dĩ nhiên, khi ý chí giáng xuống, nó sẽ mang theo sự diễn giải theo mục đích về tất cả những gì được ghi nhận trong tâm thức. |
|
Let me put it like this, an idea with which we are familiar: if you do the Will of God, you shall know. Doing leads to the correct interpretation of that which is seen and experienced. |
Hãy để tôi nói thế này, một ý tưởng mà chúng ta quen thuộc: nếu bạn làm theo Ý Chí của Thượng Đế, bạn sẽ biết. Hành động dẫn tới sự diễn giải đúng đắn điều được thấy và được kinh nghiệm. |
|
Time has passed, and it’s been a while since I’ve read with real care this section of the book. I find things here that I have forgotten, or which perhaps I never really took in the way I should have. The whole idea here is that at the time of the building of the antahkarana, the lower nature is becoming oriented, regulated, and creative. We could say that of each one of us, recognizing and reacting to soul contact and control. |
Thời gian đã trôi qua, và đã lâu rồi tôi chưa đọc phần này của sách với sự cẩn trọng thật sự. Tôi tìm thấy ở đây những điều tôi đã quên, hoặc có lẽ tôi chưa bao giờ thật sự tiếp nhận chúng theo cách tôi nên tiếp nhận. Toàn bộ ý tưởng ở đây là vào thời điểm kiến tạo antahkarana, bản chất thấp đang trở nên được định hướng, được điều hòa và sáng tạo. Chúng ta có thể nói điều đó về mỗi người trong chúng ta, khi nhận biết và phản ứng với sự tiếp xúc và kiểm soát của linh hồn. |
|
We could say that of each one of us who persists in the reading and application of these books and is sensitive to the first impression of the moment. In my attempt to teach the wisdom—which I’ve been trying to do for these fifty years—I have attempted to bring people into meditative circumstances where they can become impressionable to the monad and to this sense of being. This tells us what’s happening at the time of the building of the antahkarana. |
Chúng ta có thể nói điều đó về mỗi người trong chúng ta đang kiên trì trong việc đọc và áp dụng các sách này và nhạy cảm với ấn tượng đầu tiên của khoảnh khắc. Trong nỗ lực giảng dạy minh triết — điều tôi đã cố gắng làm trong năm mươi năm qua — tôi đã cố gắng đưa mọi người vào những hoàn cảnh tham thiền nơi họ có thể trở nên dễ tiếp nhận ấn tượng từ chân thần và từ ý thức hiện tồn này. Điều này cho chúng ta biết điều gì đang xảy ra vào thời điểm kiến tạo antahkarana. |
|
I would like to be able to absorb all of this and have it be a permanent factor in my consciousness all the time. But DK knows—he knows, and it is voluminous. So we have to focus on perhaps a small area which can grow and widen out into that ring-pass-not which thought and understanding embraces. |
Tôi muốn có thể hấp thu tất cả những điều này và khiến nó trở thành một yếu tố thường trực trong tâm thức tôi mọi lúc. Nhưng Chân sư DK biết — Ngài biết, và điều đó thật mênh mông. Vì vậy chúng ta phải tập trung vào có lẽ một khu vực nhỏ, khu vực có thể lớn lên và mở rộng thành vòng-giới-hạn mà tư tưởng và sự thấu hiểu bao hàm. |
|
Monadic Sensitivity, right. |
Sự Nhạy Cảm Chân Thần, đúng vậy. |
|
[16] I have enumerated these three responses to the totality of the divine aspects because they are related to the antahkarana and must become defined and conditioned upon the mental plane. |
[16] Tôi đã liệt kê ba đáp ứng này đối với toàn thể các phương diện thiêng liêng bởi vì chúng liên hệ với antahkarana và phải trở nên được xác định và định hình trên cõi trí. |
|
We use our mind to define just about everything, and the manner in which these aspects can reach the consciousness of man are conditioned by his mind. The three aspects are these: the rightly oriented personality—the personality which is interactive with the soul and which not only contacts but is increasingly controlled by the soul and Monadic impression. All of these three are involved in the building of the antahkarana. They are related to the antahkarana, and certainly as the antahkarana bypasses the soul, we begin to find Monadic expression of some kind. |
Chúng ta dùng thể trí của mình để xác định hầu như mọi sự, và cách thức các phương diện này có thể đạt tới tâm thức con người thì chịu sự tác động của thể trí y. Ba phương diện là: phàm ngã được định hướng đúng đắn — phàm ngã tương tác với linh hồn và không chỉ tiếp xúc mà ngày càng chịu sự kiểm soát của linh hồn và ấn tượng chân thần. Cả ba điều này đều liên quan đến việc kiến tạo antahkarana. Chúng liên hệ với antahkarana, và chắc chắn khi antahkarana vượt qua linh hồn, chúng ta bắt đầu tìm thấy một loại biểu lộ chân thần nào đó. |
|
We are to learn at the second degree to express the monad. It would seem that an antahkarana built to a certain extent would be necessary if we are really to do that. |
Ở cấp độ thứ hai, chúng ta phải học cách biểu lộ chân thần. Dường như một antahkarana được kiến tạo đến một mức độ nào đó sẽ là cần thiết nếu chúng ta thật sự muốn làm điều đó. |
|
They are related to the antahkarana and must become defined and conditioned upon the mental plane. |
Chúng liên hệ với antahkarana và phải trở nên được xác định và định hình trên cõi trí. |
|
He’s trying to illuminate our mental understanding of these matters so that at least we have a good solid scaffolding from which to build into or build towards these more subtle realms of apprehension. |
Ngài đang cố gắng soi sáng sự thấu hiểu trí tuệ của chúng ta về những vấn đề này để ít nhất chúng ta có một giàn giáo vững chắc tốt đẹp, từ đó xây dựng vào hoặc xây dựng hướng tới những cõi lĩnh hội tinh tế hơn này. |
|
[17] They are there to be found expressing themselves in substance: |
[17] Chúng hiện diện ở đó để được tìm thấy khi tự biểu lộ trong chất liệu: |
|
What? |
Điều gì? |
|
[18] 1. The lower concrete mind. |
[18] 1. Trí cụ thể thấp. |
|
To use other words for it: |
Dùng những từ khác cho nó: |
|
[19] The receptive common sense. |
[19] Thường thức tiếp nhận. |
|
The sixth sense. Oftentimes when we talk about the sixth sense, we really mean the seventh sense, the esoteric sense, the intuition. But when we combine all the five senses and are able to relate and correlate them, and to remember and to anticipate using that correlation, then we have a common sense—a sense which is in common in a way to all the five. |
Giác quan thứ sáu. Thường khi chúng ta nói về giác quan thứ sáu, thật ra chúng ta muốn nói đến giác quan thứ bảy, giác quan huyền bí, trực giác. Nhưng khi chúng ta kết hợp cả năm giác quan và có thể liên hệ cũng như tương quan chúng, và nhớ cũng như dự đoán bằng cách dùng sự tương quan ấy, thì chúng ta có một thường thức — một giác quan theo một cách nào đó là chung cho cả năm. |
|
[20] The highest aspect of the form nature. |
[20] Phương diện cao nhất của bản chất hình tướng. |
|
Is the mental, since we have the etheric, physical, astral, and then of course mental is the highest. |
Là trí tuệ, vì chúng ta có dĩ thái, hồng trần, cảm dục, và rồi dĩ nhiên trí tuệ là cao nhất. |
|
[21] The reflection of atma, the spiritual will. |
[21] Sự phản chiếu của atma, ý chí tinh thần. |
|
And their numerical resonance will give us the key. Atma is on the third sub-plane of the cosmic physical plane from above, and the mind, the mental nature in its two aspects, is on the third cosmic physical sub-plane and third from below. Always when there is a numerical resonance there is a means of connection or a means of transmission. |
Và sự cộng hưởng số học của chúng sẽ cho chúng ta chìa khóa. Atma ở trên cõi phụ thứ ba của cõi hồng trần vũ trụ tính từ trên xuống, và thể trí, bản chất trí tuệ trong hai phương diện của nó, ở trên cõi phụ hồng trần vũ trụ thứ ba và thứ ba tính từ dưới lên. Luôn luôn khi có một sự cộng hưởng số học thì có một phương tiện liên kết hay một phương tiện truyền dẫn. |
|
The reflection of Atma, the spiritual will — we are asked will you please mind me. How often a child is told, I seem to remember it from my early childhood, “Why won’t you mind?” Well, “Why won’t you obey my will?” is really what it means. |
Sự phản chiếu của Atma, ý chí tinh thần — chúng ta được hỏi: bạn có vui lòng vâng lời tôi không. Một đứa trẻ thường được nói như thế biết bao, tôi dường như nhớ điều đó từ thời thơ ấu: “Tại sao con không vâng lời?” Thật ra, “Tại sao con không tuân theo ý chí của ta?” mới là điều nó muốn nói. |
|
The throat center, |
Trung tâm cổ họng, |
|
Moving up from the sacral center where the mental elemental is first found, is involved in the expression of this mental elemental, but of course it is involved in much more. It has 16 petals which correlate with 16 energies of the soul if we count the permanent members of the atomic triangle and also the jewel and the lotus. |
Đi lên từ trung tâm xương cùng, nơi hành khí trí tuệ được tìm thấy trước tiên, có liên quan đến sự biểu lộ của hành khí trí tuệ này, nhưng dĩ nhiên nó còn liên quan đến nhiều điều hơn nữa. Nó có 16 cánh hoa tương ứng với 16 năng lượng của linh hồn nếu chúng ta tính các thành viên trường tồn của tam giác nguyên tử và cả viên ngọc cùng Hoa sen. |
|
A reflection will be found there. It is a form-building aspect, but so is the causal body on its own level, a form-building aspect, and this connects with |
Một sự phản chiếu sẽ được tìm thấy ở đó. Nó là một phương diện xây dựng hình tướng, nhưng thể nguyên nhân trên cấp độ riêng của nó cũng là một phương diện xây dựng hình tướng, và điều này liên kết với |
|
[22] Knowledge. |
[22] Tri thức. |
|
These different aspects are to be found expressing themselves in substance. They must become defined and conditioned upon the mental plane. All of these factors will express themselves in mental substance. |
Những phương diện khác nhau này phải được tìm thấy khi tự biểu lộ trong chất liệu. Chúng phải trở nên được xác định và định hình trên cõi trí. Tất cả các yếu tố này sẽ tự biểu lộ trong chất liệu trí tuệ. |
|
The soul certainly will, the higher mind will, and even the monad will. We are told an interesting thing: the monadic ray influences the mind, and one of the keys to the monadic ray is the condition of the mind and perhaps its ray, or at least the way its ray is being used. It is possible to have a monad of a particular ray and have a mind on any ray, but there is a hint, there is a key. |
Linh hồn chắc chắn sẽ như vậy, thượng trí sẽ như vậy, và ngay cả chân thần cũng sẽ như vậy. Chúng ta được cho biết một điều thú vị: cung chân thần ảnh hưởng đến thể trí, và một trong những chìa khóa đối với cung chân thần là tình trạng của thể trí và có lẽ cung của nó, hoặc ít nhất cách cung của nó đang được sử dụng. Có thể có một chân thần thuộc một cung đặc thù và có một thể trí thuộc bất kỳ cung nào, nhưng có một gợi ý, có một chìa khóa. |
|
The monadic ray definitely does influence the lower mind. The ray of the soul influences the astral body, whatever the ray of the astral body may be. The ray of the personality influences the physical body — I suppose the etheric-physical body, whatever that ray may be. I find myself really wanting to ponder these things. They are there to be found expressing themselves in substance. |
Cung chân thần chắc chắn có ảnh hưởng đến hạ trí. Cung linh hồn ảnh hưởng đến thể cảm dục, bất kể cung của thể cảm dục là gì. Cung phàm ngã ảnh hưởng đến thể xác — tôi cho là thể dĩ thái-hồng trần, bất kể cung ấy là gì. Tôi thấy mình thật sự muốn suy ngẫm về những điều này. Chúng hiện diện ở đó để được tìm thấy khi tự biểu lộ trong chất liệu. |
|
[23] 2. The individualised mind. |
[23] 2. Thể trí đã biệt ngã hóa. |
|
the individualized mind — now that is |
thể trí đã biệt ngã hóa — bây giờ đó là |
|
[24] The soul or spiritual ego. |
[24] Linh hồn hay chân ngã tinh thần. |
|
There is also a spiritual ego, the true ego, which is the Spiritual Triad. In this particular case, DK is calling the soul, that type of consciousness which is expressing itself through the Egoic Lotus, the spiritual ego, |
Cũng có một chân ngã tinh thần, chân ngã đích thực, tức là Tam Nguyên Tinh Thần. Trong trường hợp đặc thù này, Chân sư DK gọi linh hồn, loại tâm thức đang tự biểu lộ qua Hoa Sen Chân Ngã, là chân ngã tinh thần, |
|
[25] The middle principle. Buddhi-manas. |
[25] Nguyên khí trung gian. Bồ đề-manas. |
|
The middle principle, much influenced by Buddhi. The Solar Angels are in many respects buddhic Beings, or they certainly have absorbed and expressed a great deal of Buddhi. The Egoic Lotus is not just the expression of manas, even though it is on the mental plane. |
Nguyên khí trung gian, chịu ảnh hưởng nhiều của Bồ đề. Các Thái dương Thiên Thần theo nhiều phương diện là các Bản Thể Bồ đề, hoặc chắc chắn các Ngài đã hấp thu và biểu lộ rất nhiều Bồ đề. Hoa Sen Chân Ngã không chỉ là sự biểu lộ của manas, dù nó ở trên cõi trí. |
|
It expresses the buddhic quality, the love quality, the love-wisdom quality. Its three central petals, the synthesis petals, are created through a downflow of Buddhi, probably monadically directed from the higher mental plane, the monadic permanent atom. Still a downflow of Buddhi |
Nó biểu lộ phẩm tính Bồ đề, phẩm tính bác ái, phẩm tính Bác Ái – Minh Triết. Ba cánh hoa trung tâm của nó, các cánh hoa tổng hợp, được tạo ra qua một dòng tuôn xuống của Bồ đề, có lẽ được điều khiển theo chân thần từ cõi thượng trí, nguyên tử trường tồn chân thần. Vẫn là một dòng tuôn xuống của Bồ đề |
|
[26] The reflection in mental substance of the Monad. |
[26] Sự phản chiếu trong chất liệu trí tuệ của Chân thần. |
|
This is the heart center of the Monad. Much that comes from the Monad is thought to come from this soul vehicle, the Egoic Lotus, but in fact it comes first from the Monad. The monadic energies are primary, but the soul appropriates them or transmits them and is the sort of apparent author of those energies for the personality, even though their original source is the Monad. |
Đây là trung tâm tim của Chân thần. Nhiều điều đến từ Chân thần được nghĩ là đến từ vận cụ linh hồn này, Hoa Sen Chân Ngã, nhưng thật ra trước hết nó đến từ Chân thần. Các năng lượng chân thần là chủ yếu, nhưng linh hồn chiếm hữu chúng hoặc truyền dẫn chúng và là kiểu tác giả biểu kiến của những năng lượng ấy đối với phàm ngã, dù nguồn gốc nguyên thủy của chúng là Chân thần. |
|
On the soul level we have |
Trên cấp độ linh hồn, chúng ta có |
|
[27] Spiritual love-wisdom. |
[27] Bác Ái – Minh Triết tinh thần. |
|
It seems more a description of Buddhi. The Egoic Lotus cannot contain the fullness of Buddhi, but through its love petals and through its general positioning as the vehicle of the second aspect, Buddhi becomes very important in its expression. |
Điều này dường như là một mô tả về Bồ đề nhiều hơn. Hoa Sen Chân Ngã không thể chứa đựng sự viên mãn của Bồ đề, nhưng qua các cánh hoa bác ái của nó và qua vị trí tổng quát của nó như vận cụ của phương diện thứ hai, Bồ đề trở nên rất quan trọng trong sự biểu lộ của nó. |
|
[28] The heart centre. Love. |
[28] Trung tâm tim. Bác ái. |
|
It is connected with the heart center of man. The heart center is said to relate to the buddhic plane just as the head center is said to relate to the atmic plane. Simply because the soul is being described here, the soul on the higher mental plane, does not mean that some of these terms do not also apply to the Spiritual Triad and especially to the buddhic level. Buddhi is the middle principle in the triadal level: Atma, Buddhi, manas. There is a sense in which the soul ray working through the Egoic Lotus as a whole — the major ray working through the Egoic Lotus — is a sub-ray of a monadic ray. |
Nó liên kết với trung tâm tim của con người. Trung tâm tim được nói là liên hệ với cõi Bồ đề cũng như trung tâm đầu được nói là liên hệ với cõi atma. Chỉ vì linh hồn đang được mô tả ở đây, linh hồn trên cõi thượng trí, không có nghĩa là một số thuật ngữ này không cũng áp dụng cho Tam Nguyên Tinh Thần và đặc biệt cho cấp độ Bồ đề. Bồ đề là nguyên khí trung gian trong cấp độ tam nguyên: Atma, Bồ đề, manas. Có một ý nghĩa theo đó cung linh hồn hoạt động qua Hoa Sen Chân Ngã như một toàn thể — cung chính hoạt động qua Hoa Sen Chân Ngã — là một cung phụ của một cung chân thần. |
|
Sometimes we say the soul ray is the only sub-ray of a monadic ray. I do not think that is true. The major monadic ray has on its own level a kind of subsidiary and changeable ray, whereas the major ray of the Monad is not changeable through the eon, through the duration of a solar system. I do believe that there are many who were human beings in the first solar system, basically on the third ray monad or one of its included subsidiaries, who have to transfer in this solar system onto the second ray monad. That seems to be a requirement, perhaps one that should have been completed in the previous solar system, but there was a failure there. |
Đôi khi chúng ta nói cung linh hồn là cung phụ duy nhất của một cung chân thần. Tôi không nghĩ điều đó đúng. Cung chân thần chính trên cấp độ riêng của nó có một loại cung phụ thuộc và có thể thay đổi, trong khi cung chính của Chân thần không thay đổi suốt đại kỳ, suốt thời hạn của một hệ mặt trời. Tôi thật sự tin rằng có nhiều vị từng là con người trong hệ mặt trời thứ nhất, căn bản thuộc chân thần cung ba hoặc một trong các nhánh phụ bao hàm của nó, phải chuyển dịch trong hệ mặt trời này sang chân thần cung hai. Điều đó dường như là một yêu cầu, có lẽ là điều lẽ ra đã phải được hoàn tất trong hệ mặt trời trước, nhưng đã có một thất bại ở đó. |
|
The individualized mind is very Venusian — Venus with its major second ray monad and minor sixth ray monad related to love. The individualized mind, and finally, the higher or abstract mind. We know where these are: the concrete mind in the lower four, the higher mind in the next two (three and two), and the abstract mind found on the first sub-level of the mental plane. |
Thể trí đã biệt ngã hóa rất thuộc Sao Kim — Sao Kim với chân thần cung hai chính và chân thần cung sáu phụ liên hệ với bác ái. Thể trí đã biệt ngã hóa, và cuối cùng là thượng trí hay trí trừu tượng. Chúng ta biết những điều này ở đâu: trí cụ thể trong bốn cõi phụ thấp, thượng trí trong hai cõi kế tiếp, và trí trừu tượng được tìm thấy trên cõi phụ thứ nhất của cõi trí. |
|
[28b] 4. The higher abstract mind. |
[28b] 4. Trí trừu tượng cao. |
|
[29] The transmitter of buddhi. |
[29] Cái truyền dẫn Bồ đề. |
|
When those three synthesis petals were constructed, there had to be a method by which the third sub-plane of the mental plane could be reached, and that was via the higher or abstract mind. We must be sure that when we use our abstract mind, it is not cold and arid, but actually a transmitter of Buddhi, which is not always the case. |
Khi ba cánh hoa tổng hợp ấy được kiến tạo, phải có một phương pháp nhờ đó cõi phụ thứ ba của cõi trí có thể được đạt tới, và điều đó là qua thượng trí hay trí trừu tượng. Chúng ta phải chắc chắn rằng khi sử dụng trí trừu tượng của mình, nó không lạnh lẽo và khô cằn, mà thật sự là một cái truyền dẫn Bồ đề, điều không phải lúc nào cũng xảy ra. |
|
[30] The reflection of the divine nature. |
[30] Sự phản chiếu của bản chất thiêng liêng. |
|
It is the reflection of the divine nature, the reflection of the logoic nature of the soul per se. The Egoic Lotus, the causal body, that encapsulation of consciousness on the higher mental plane, is the reflector of the Monad. The abstract mind would be the reflector of the logoic nature or of the liberated Monad. |
Nó là sự phản chiếu của bản chất thiêng liêng, sự phản chiếu của bản chất Thượng đế của chính linh hồn. Hoa Sen Chân Ngã, thể nguyên nhân, sự bao bọc tâm thức ấy trên cõi thượng trí, là cái phản chiếu Chân thần. Trí trừu tượng sẽ là cái phản chiếu bản chất Thượng đế hay Chân thần đã giải thoát. |
|
[31] Intuitive love, understanding, inclusiveness. |
[31] Bác ái trực giác, sự thấu hiểu, tính bao gồm. |
|
I would say if reflecting Buddhi or if transmitting Buddhi. Beyond that, if we just have the kind of abstraction which is abstraction for its own sake, then the degree to which intuitive love and understanding and inclusiveness — all of them secondary virtues — could be transmitted is questionable. This is connected with the head center. We have to have special attention to the heart and head center, which is the major head center of all, and is connected with the Monad, and probably beyond. It may even be, in some way, connected with the cosmic mental plane and with the soul nature of the Planetary Logos and even the Solar Logos. |
Tôi muốn nói là nếu nó phản chiếu Bồ đề hay nếu nó truyền dẫn Bồ đề. Ngoài điều đó, nếu chúng ta chỉ có loại trừu tượng vốn là trừu tượng vì chính nó, thì mức độ mà bác ái trực giác, sự thấu hiểu và tính bao gồm — tất cả đều là các đức tính thứ yếu — có thể được truyền dẫn là điều đáng nghi. Điều này liên kết với trung tâm đầu. Chúng ta phải đặc biệt chú ý đến trung tâm tim và trung tâm đầu, vốn là trung tâm đầu chính yếu của tất cả, và liên kết với Chân thần, và có lẽ xa hơn nữa. Thậm chí, theo một cách nào đó, nó có thể liên kết với cõi trí vũ trụ và với bản chất linh hồn của Đức Hành Tinh Thượng Đế và ngay cả Thái dương Thượng đế. |
|
Here we have sacrifice manifesting, but this will only occur when the nature is filled with love. Let us go back and see what we have looked at here. |
Ở đây chúng ta có hi sinh đang biểu hiện, nhưng điều này chỉ xảy ra khi bản chất được lấp đầy bằng bác ái. Chúng ta hãy quay lại và xem chúng ta đã khảo sát điều gì ở đây. |
|
I have enumerated these three responses to the totality of divine aspects, especially on the cosmic physical plane, because they are related to the antahkarana. |
Tôi đã liệt kê ba đáp ứng này đối với toàn thể các phương diện thiêng liêng, đặc biệt trên cõi hồng trần vũ trụ, bởi vì chúng liên hệ với antahkarana. |
|
The first three aspects are carried by the antahkarana and must become defined, certainly on the mental plane, and conditioned, shaped according to how they can be applied in our life in the lower three worlds. That kind of shaping is done, that kind of targeting is done on the mental plane. They are there, on the mental plane, to be found expressing themselves in substance. The three great aspects of divinity are found to be expressing through three foci on the mental plane, and we’ve gone over them. |
Ba phương diện đầu tiên được antahkarana mang theo và phải trở nên được xác định, chắc chắn trên cõi trí, và được định hình, được uốn nắn theo cách chúng có thể được áp dụng trong đời sống của chúng ta ở ba cõi thấp. Loại định hình ấy được thực hiện, loại nhắm mục tiêu ấy được thực hiện trên cõi trí. Chúng hiện diện ở đó, trên cõi trí, để được tìm thấy khi tự biểu lộ trong chất liệu. Ba phương diện lớn của thiên tính được thấy là biểu lộ qua ba tiêu điểm trên cõi trí, và chúng ta đã đi qua chúng. |
|
The personality, through the lower concrete mind especially, the center of personality integration and the mental unit are virtually one and the same. The soul through the monad, through the individualized mind, is the reflection in mental substance of the monad. This is really important. The mind is the reflection of atma, spiritual will. We are looking for the ways in which the three higher aspects—atma, monad, monadic focus and logoic plane focus—express themselves through the sub-planes of the mind and the three major centers. They’re found there. |
Phàm ngã, đặc biệt qua trí cụ thể thấp; trung tâm của sự tích hợp phàm ngã và đơn vị hạ trí hầu như là một và như nhau. Linh hồn qua chân thần, qua thể trí đã biệt ngã hóa, là sự phản chiếu trong chất liệu trí tuệ của chân thần. Điều này thật sự quan trọng. Thể trí là sự phản chiếu của atma, ý chí tinh thần. Chúng ta đang tìm kiếm những cách trong đó ba phương diện cao hơn — atma, chân thần, tiêu điểm chân thần và tiêu điểm cõi Thượng đế — tự biểu lộ qua các cõi phụ của thể trí và ba trung tâm chính. Chúng được tìm thấy ở đó. |
|
That which is divine, that which is of the logoic plane, that which is of Sanat Kumara and his focus upon the logoic plane where all seventh degree initiates focus—that is the reflection of the divine nature. When we use the word divine, D. Hayes told us the term divine can apply to the monad, but also, of course, to that which focuses upon the logoic plane, as the monad does when it is liberated from the monadic vehicle. |
Điều thiêng liêng, điều thuộc cõi Thượng đế, điều thuộc Đức Sanat Kumara và tiêu điểm của Ngài trên cõi Thượng đế nơi tất cả các điểm đạo đồ cấp bảy tập trung — đó là sự phản chiếu của bản chất thiêng liêng. Khi chúng ta dùng từ thiêng liêng, D. Hayes nói với chúng ta rằng thuật ngữ thiêng liêng có thể áp dụng cho chân thần, nhưng dĩ nhiên cũng áp dụng cho điều tập trung trên cõi Thượng đế, như chân thần làm khi nó được giải thoát khỏi vận cụ chân thần. |
|
Does the monad have to be liberated from the monadic vehicle at the seventh initiation, when the focus of that internal, volatile essence becomes the seventh cosmic sub-plane—that is the logoic plane, or first cosmic sub-plane? Perhaps it does. Perhaps the eighth initiation of transition allows venturing to the cosmic astral plane. It’s called the initiation of transition, transition between cosmic physical plane and cosmic astral plane, although perhaps we would say that it does not represent stabilization upon the cosmic astral plane. Perhaps that only comes with the ninth initiation of refusal, which eliminates any possibility of further compelled association with the cosmic physical plane—the refusal to have anything more to do with it until, one might say, better trained. |
Chân thần có phải được giải thoát khỏi vận cụ chân thần ở lần điểm đạo thứ bảy, khi tiêu điểm của tinh chất nội tại, linh động ấy trở thành cõi phụ vũ trụ thứ bảy — tức là cõi Thượng đế, hay cõi phụ vũ trụ thứ nhất? Có lẽ là như vậy. Có lẽ lần điểm đạo thứ tám của Chuyển Tiếp cho phép mạo hiểm tiến vào cõi cảm dục vũ trụ. Nó được gọi là lần điểm đạo Chuyển Tiếp, chuyển tiếp giữa cõi hồng trần vũ trụ và cõi cảm dục vũ trụ, mặc dù có lẽ chúng ta sẽ nói rằng nó không biểu thị sự ổn định trên cõi cảm dục vũ trụ. Có lẽ điều đó chỉ đến với lần điểm đạo thứ chín của sự Khước Từ, vốn loại bỏ mọi khả năng còn phải bị ép buộc liên kết với cõi hồng trần vũ trụ — sự khước từ không còn dính dáng gì đến nó nữa cho đến khi, có thể nói, được huấn luyện tốt hơn. |
|
If the cosmic paths lead to the cosmic astral plane and to the cosmic mental plane, then those in the past who have trodden the way of solar angelhood—becoming solar angels—have had to work on the path to Sirius using the cosmic astral plane, if indeed that was the way it was in the previous solar system. I am assuming, perhaps wrongly, that the way it is now is the way it was. To reach Sirius, as a blissful dancing point of fanatical devotion, you have to have something to do with the cosmic astral plane. |
Nếu các con đường vũ trụ dẫn đến cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ, thì những vị trong quá khứ đã bước trên con đường của trạng thái Thái dương Thiên Thần — trở thành các Thái dương Thiên Thần — đã phải làm việc trên con đường tới Sao Thiên Lang bằng cách sử dụng cõi cảm dục vũ trụ, nếu quả thật đó là cách nó diễn ra trong hệ mặt trời trước. Tôi giả định, có lẽ sai, rằng cách nó là bây giờ cũng là cách nó đã từng là. Để đạt tới Sao Thiên Lang, như một điểm nhảy múa chí phúc của lòng sùng tín cuồng nhiệt, bạn phải có liên hệ nào đó với cõi cảm dục vũ trụ. |
|
After the ninth initiation of refusal, the solar angels have gone through all those initiations that are common to man. They have their own initiatory sequence: seven forms and nine initiations. That seems common to every hierarchy. Interestingly, they make the number 16, but not to digress. So they’ve gone off to Sirius, at least by this theory. When they come back, they may have refused association with the cosmic physical plane, but through sacrifice they undergo a fall, which takes them again into the cosmic ethers. That’s the first fall. |
Sau lần điểm đạo thứ chín của sự Khước Từ, các Thái dương Thiên Thần đã đi qua tất cả những cuộc điểm đạo vốn chung cho con người. Các Ngài có chuỗi điểm đạo riêng: bảy hình thức và chín cuộc điểm đạo. Điều đó dường như chung cho mọi Huyền Giai. Thú vị thay, chúng tạo thành số 16, nhưng không đi lạc đề. Vì vậy, các Ngài đã đi đến Sao Thiên Lang, ít nhất theo lý thuyết này. Khi các Ngài trở lại, các Ngài có thể đã khước từ sự liên kết với cõi hồng trần vũ trụ, nhưng qua hi sinh, các Ngài trải qua một sự sa ngã, điều đưa các Ngài lại vào các cõi dĩ thái vũ trụ. Đó là sự sa ngã thứ nhất. |
|
DK tells us about the second fall, which takes us into the dense physical body of the planetary and solar logos—well, at least into the solar logos’ dense physical body. That’s the second great sacrifice, the second fall. So even though one may pass through the ninth initiation and, in a way, vow or determine to have nothing more to do with the cosmic physical plane (at least in terms of being compelled to have something to do with it), there could be a return to the cosmic physical plane under solar angelic sacrifice. |
Chân sư DK nói với chúng ta về sự sa ngã thứ hai, đưa chúng ta vào thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế — ít nhất là vào thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế. Đó là hi sinh lớn thứ hai, sự sa ngã thứ hai. Vì vậy, dù một vị có thể đi qua lần điểm đạo thứ chín và, theo một cách nào đó, phát nguyện hay quyết định không còn dính dáng gì đến cõi hồng trần vũ trụ nữa, ít nhất xét theo nghĩa bị ép buộc phải dính dáng đến nó, vẫn có thể có một sự trở lại cõi hồng trần vũ trụ dưới sự hi sinh của Thái dương Thiên Thần. |
|
This is the case unless, of course, the solar angels are not really initiates of the ninth degree. But it seems that to be an initiate of the seventh degree, like the Christ, it means that you are still working in this solar system and on the cosmic physical plane. To be an initiate of the eighth degree means you’re working on the cosmic physical plane and the cosmic astral plane. To be an initiate of the ninth degree means that your work is directed now on the cosmic astral plane and perhaps beyond. We don’t know the sequence of ascension there. |
Điều này là như vậy, trừ khi, dĩ nhiên, các Thái dương Thiên Thần thật sự không phải là các điểm đạo đồ cấp chín. Nhưng dường như để là một điểm đạo đồ cấp bảy, như Đức Christ, điều đó có nghĩa là bạn vẫn đang làm việc trong hệ mặt trời này và trên cõi hồng trần vũ trụ. Là một điểm đạo đồ cấp tám nghĩa là bạn đang làm việc trên cõi hồng trần vũ trụ và cõi cảm dục vũ trụ. Là một điểm đạo đồ cấp chín nghĩa là công việc của bạn hiện được hướng trên cõi cảm dục vũ trụ và có lẽ xa hơn nữa. Chúng ta không biết chuỗi thăng tiến ở đó. |
|
There seems to be quite a distinction between what the Christ has achieved, high as it is, and what the solar angels trained on Sirius have achieved. |
Dường như có một sự phân biệt khá lớn giữa điều Đức Christ đã đạt được, cao cả như điều ấy, và điều các Thái dương Thiên Thần được huấn luyện trên Sao Thiên Lang đã đạt được. |
|
I believe there were three types of individuals that were men in the previous solar system. One type were solar angels and they are no longer men. They are now members of the fifth grade of hierarchy, but they were men in the previous solar system. Then there are those black magicians who were initiates in the previous solar system but chose to adhere to the methods and objectives of that system and emphasize them in the present system, against the grain of evolutionary development in this present system. |
Tôi tin rằng đã có ba loại cá nhân là con người trong hệ mặt trời trước. Một loại là các Thái dương Thiên Thần và các Ngài không còn là con người nữa. Bây giờ các Ngài là thành viên của cấp thứ năm trong Huyền Giai, nhưng các Ngài từng là con người trong hệ mặt trời trước. Rồi có những nhà hắc thuật, là các điểm đạo đồ trong hệ mặt trời trước nhưng đã chọn bám vào các phương pháp và mục tiêu của hệ ấy và nhấn mạnh chúng trong hệ hiện tại, đi ngược lại dòng phát triển thăng thượng tiến hoá trong hệ hiện tại này. |
|
And then there were those who were the nomads or the wanderers—the monads who had achieved individualization but were not necessarily initiates. They were not initiates and came over into this solar system. So were the solar angels initiates of the ninth degree, or were there fewer initiations offered at that time? |
Và rồi có những vị du mục hay lữ hành — các chân thần đã đạt được sự biệt ngã hóa nhưng không nhất thiết là các điểm đạo đồ. Họ không phải là các điểm đạo đồ và đã chuyển sang hệ mặt trời này. Vậy các Thái dương Thiên Thần có phải là các điểm đạo đồ cấp chín, hay khi ấy có ít cuộc điểm đạo hơn được trao truyền? |
|
The one thing of which we can be sure (or at least it seems a probability) is that the solar angels’ training had to take place on the cosmic astral plane as they ventured to Sirius. It seems to have been the case. Of course, it could be incorrect. But they somehow may have—perhaps the path to Sirius in those days could be taken on the highest cosmic physical level, the Logoic level. But there’s nothing we’re given to point towards that. The rays of Sirius, being essentially a sixth ray submonad and a second ray major monad with a fifth ray soul (just like Venus, at least in my view), would have necessitated some training on the cosmic astral plane. |
Một điều chúng ta có thể chắc chắn, hoặc ít nhất dường như là một khả năng, là sự huấn luyện của các Thái dương Thiên Thần phải diễn ra trên cõi cảm dục vũ trụ khi các Ngài mạo hiểm đến Sao Thiên Lang. Dường như sự việc đã là như vậy. Dĩ nhiên, điều đó có thể không đúng. Nhưng bằng cách nào đó, có lẽ con đường đến Sao Thiên Lang trong những ngày ấy có thể được đi trên cấp độ hồng trần vũ trụ cao nhất, cấp độ Thượng đế. Nhưng không có gì được trao cho chúng ta để chỉ về hướng đó. Các cung của Sao Thiên Lang, về bản chất là một chân thần phụ cung sáu và một chân thần chính cung hai với một linh hồn cung năm, giống như Sao Kim, ít nhất theo quan điểm của tôi, hẳn đã đòi hỏi một số sự huấn luyện trên cõi cảm dục vũ trụ. |
|
It does seem that they have achieved the cosmic astral plane, work upon it, and have returned sacrificially to experience two falls—a first and a second. That’s a heavy, heavy sacrifice, a double sacrifice, amazingly so. |
Dường như các Ngài đã đạt tới cõi cảm dục vũ trụ, làm việc trên đó, và đã trở lại trong hi sinh để kinh nghiệm hai lần sa ngã — lần thứ nhất và lần thứ hai. Đó là một hi sinh rất nặng nề, một hi sinh kép, kỳ diệu thay là như vậy. |
|
[32] There are necessarily other arrangements of these aspects in manifestation, |
[32] Tất nhiên còn có những cách sắp đặt khác của các phương diện này trong biểu hiện, |
|
He doesn’t want to overwhelm us by giving us all possibilities, |
Ngài không muốn làm chúng ta choáng ngợp bằng cách trao cho chúng ta mọi khả năng, |
|
[33] but the above will serve to indicate the relation of Monad-soul-personality as they express themselves through certain focussed stations or points of power upon the mental plane. |
[33] nhưng những điều trên sẽ đủ để chỉ ra mối liên hệ giữa Chân thần-linh hồn-phàm ngã khi chúng tự biểu lộ qua một số trạm tập trung hay điểm quyền năng nhất định trên cõi trí. |
|
That’s the whole objective here. Learning how the higher foci express themselves upon the Mental Plane—spiritual will, the monad and the liberated monad on the Divine Plane or the Logoic Plane. These are words to us and we try to keep the words straight. They are not experiences for us. |
Đó là toàn bộ mục tiêu ở đây. Học cách các tiêu điểm cao hơn tự biểu lộ trên Cõi Trí — ý chí tinh thần, chân thần và chân thần đã giải thoát trên Cõi Thiêng Liêng hay Cõi Thượng đế. Đây là những lời đối với chúng ta và chúng ta cố giữ cho các lời ấy được ngay thẳng. Chúng chưa phải là các kinh nghiệm đối với chúng ta. |
|
There are so many veils that have to lift for us before real experiences will occur. But if we keep our minds straight about these things and don’t become confused and work with clarity, then the experiences, I do believe, will be closer than if we try to approach in some sort of aspirational confusion. |
Có quá nhiều bức màn phải được vén lên đối với chúng ta trước khi những kinh nghiệm thật sự xảy ra. Nhưng nếu chúng ta giữ cho thể trí mình ngay thẳng về những điều này và không trở nên rối rắm, mà làm việc với sự sáng rõ, thì các kinh nghiệm, tôi tin, sẽ gần hơn so với khi chúng ta cố tiếp cận trong một loại rối rắm khát vọng nào đó. |
|
[34] In humanity, however, the major realisation to be grasped at the present point in human evolution is the need to relate—consciously and effectively— |
[34] Tuy nhiên, trong nhân loại, sự chứng nghiệm chủ yếu cần được nắm bắt tại điểm hiện tại trong sự tiến hóa của nhân loại là nhu cầu liên hệ — một cách hữu thức và hiệu quả — |
|
That’s the major realization. |
Đó là sự chứng nghiệm chủ yếu. |
|
[35] the spiritual Triad, the soul on its own plane and the personality in its three-fold nature. |
[35] Tam Nguyên Tinh Thần, linh hồn trên cõi riêng của nó và phàm ngã trong bản chất tam phân của nó. |
|
A three, a three and a three. Threefold Triad, threefold soul from one method of reckoning and a threefold personality. You can get other numbers in there if you want, but it’s a ninefold connection in an important way. |
Một bộ ba, một bộ ba và một bộ ba. Tam Nguyên tam phân, linh hồn tam phân theo một phương pháp tính toán, và phàm ngã tam phân. Bạn có thể đưa những con số khác vào đó nếu muốn, nhưng theo một cách quan trọng, đó là một mối liên hệ cửu phân. |
|
[36] This is done through the creative work of the personality, the magnetic power of the Triad, |
[36] Điều này được thực hiện qua công việc sáng tạo của phàm ngã, quyền năng từ tính của Tam Nguyên, |
|
Remembering the Triad is an extension of that First Ray Lord part of ourselves, the Monad, at least carrying the father aspect more than any other aspect of our nature carries that father aspect. |
Hãy nhớ rằng Tam Nguyên là một phần mở rộng của phần Đấng Chúa Tể Cung một trong chính chúng ta, tức là Chân thần, ít nhất mang phương diện cha nhiều hơn bất kỳ phương diện nào khác trong bản chất chúng ta mang phương diện cha ấy. |
|
This is done through the creative work of the personality, using the Third Ray Lord, which DK prefers to call the ray of creative intelligence, the magnetic power of the Triad. Before we begin invoking and projecting, we have been summoned magnetically by the Spirits of Triad |
Điều này được thực hiện qua công việc sáng tạo của phàm ngã, sử dụng Đấng Chúa Tể Cung ba, mà Chân sư DK thích gọi là cung trí tuệ sáng tạo, quyền năng từ tính của Tam Nguyên. Trước khi chúng ta bắt đầu khẩn cầu và phóng chiếu, chúng ta đã được các Tinh thần của Tam Nguyên triệu gọi bằng từ tính. |
|
[37] and the conscious activity of the soul, utilising the triple thread. |
[37] và hoạt động hữu thức của linh hồn, sử dụng sợi dây tam phân. |
|
We can call this the mediator, the mediator who is using the bridging ability, which is inherent in the Solar Angels coming forth in order to connect the higher Triad and the lower Triad of man. That kind of connection might not have been necessary if there had not been the failure on the Moon Chain. |
Chúng ta có thể gọi đây là vị trung gian, vị trung gian đang sử dụng khả năng bắt cầu vốn cố hữu trong các Thái dương Thiên Thần khi xuất hiện để nối kết Tam Nguyên cao và tam nguyên thấp của con người. Loại liên kết ấy có thể đã không cần thiết nếu không có sự thất bại trên Dãy Mặt Trăng. |
|
But to keep the time space schedule of our Planetary Logos and presumably therefore of our Solar Logos, the coming forth of the Solar Angels in a particular way, as is demonstrated on our planet particularly, was necessary. All of this connection is via the triple thread, which has the three aspects of divinity represented in it. This connection is all via the triple thread, the antahkarana. |
Nhưng để giữ đúng lịch trình thời-không của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và có lẽ do đó của Thái dương Thượng đế của chúng ta, sự xuất hiện của các Thái dương Thiên Thần theo một cách đặc thù, như được chứng minh đặc biệt trên hành tinh chúng ta, là cần thiết. Toàn bộ mối liên hệ này là qua sợi dây tam phân, vốn có ba phương diện của thiên tính được đại diện trong đó. Mối liên hệ này hoàn toàn qua sợi dây tam phân, antahkarana. |
|
In a way it bypasses what we normally call the Egoic Lotus of the soul, but the soul is definitely involved because it is only the soul-infused personality which can really work creatively to build. The Solar Angel does everything it can to facilitate the construction of the antahkarana, even though it is in a way standing to the side and letting the soul-infused personality do what it must in response to the magnetism of the Spiritual Triad. This is amazing stuff. It is very advanced teaching. It was given out 70 years ago if you think about it, but think about how few of us as human beings have really absorbed this. |
Theo một cách nào đó, nó vượt qua điều chúng ta thường gọi là Hoa Sen Chân Ngã của linh hồn, nhưng linh hồn chắc chắn có liên quan bởi vì chỉ phàm ngã được linh hồn thấm nhuần mới thật sự có thể làm việc một cách sáng tạo để kiến tạo. Thái dương Thiên Thần làm mọi điều có thể để tạo thuận lợi cho sự kiến tạo antahkarana, dù theo một cách nào đó Ngài đứng sang một bên và để cho phàm ngã được linh hồn thấm nhuần làm điều nó phải làm để đáp ứng với từ điện của Tam Nguyên Tinh Thần. Đây là điều kỳ diệu. Đó là giáo huấn rất cao cấp. Nó đã được ban ra 70 năm trước nếu bạn nghĩ về điều đó, nhưng hãy nghĩ xem ít người trong chúng ta, với tư cách con người, đã thật sự hấp thu điều này đến mức nào. |
|
[38] You can see, therefore, why so much emphasis is laid by esotericists upon fusion, unity or blending; |
[38] Do đó, bạn có thể thấy vì sao các nhà bí truyền học đặt quá nhiều nhấn mạnh vào sự dung hợp, hợp nhất hay hòa nhập; |
|
These are our words. They are largely secondary words, although the blending power of the Third Logos is cited in Cosmic Fire. |
Đây là những lời của chúng ta. Chúng phần lớn là những từ thứ yếu, mặc dù quyền năng hòa nhập của Đức Thượng Đế Ngôi Ba được nêu trong Luận về Lửa Vũ Trụ. |
|
[39] only when this is intelligently realised can the disciple begin to weave the threads into a bridge of light |
[39] chỉ khi điều này được nhận ra một cách thông minh thì đệ tử mới có thể bắt đầu dệt các sợi dây thành một cây cầu ánh sáng |
|
Which contains more than simply light; it contains consciousness and power, |
Vốn chứa đựng nhiều hơn chỉ ánh sáng; nó chứa đựng tâm thức và quyền năng, |
|
[40] which eventually becomes the Lighted Way across which he can pass into the higher worlds of being. |
[40] cuối cùng trở thành Con Đường được Soi Sáng mà y có thể băng qua để đi vào các thế giới bản thể cao hơn. |
|
Of course, they are always here. It’s not like we have some vertical antahkarana that we’re really dealing with. |
Dĩ nhiên, chúng luôn luôn ở đây. Không phải như thể chúng ta thật sự đang xử lý một antahkarana thẳng đứng nào đó. |
|
At one point VK tells us how all of these constructions don’t really exist, but they are more heuristic. They are for purposes of teaching us how to make certain adjustments in our energy system, which will allow this passage. The symbolism that we use is not necessarily the reality. |
Ở một điểm, VK nói với chúng ta rằng tất cả những kiến tạo này thật sự không tồn tại, mà chúng mang tính gợi mở phương pháp nhiều hơn. Chúng nhằm mục đích dạy chúng ta cách thực hiện những điều chỉnh nhất định trong hệ thống năng lượng của mình, điều sẽ cho phép sự đi qua này. Biểu tượng mà chúng ta sử dụng không nhất thiết là thực tại. |
|
[41] Thus he liberates himself from the three worlds. It is—in this world cycle—pre-eminently a question of fusion and expressing (in full waking awareness) three major states of consciousness: |
[41] Như vậy, y tự giải thoát khỏi ba cõi thấp. Trong chu kỳ thế giới này, đó trước hết là vấn đề dung hợp và biểu lộ, trong sự tỉnh thức trọn vẹn, ba trạng thái tâm thức chính: |
|
It’s so deep, isn’t it, friends? As we go over this ponderingly or ponderously, depending on how you might want to look at it, such depth has been delivered to us and such a need to be very careful with each sentence, each phrase, each word, even because VK is not—sometimes he concentrates excessively on the use of a particular word or phrase, but he’s not using words lightly. |
Điều đó thật sâu xa, phải không các bạn? Khi chúng ta đi qua điều này một cách suy ngẫm hay nặng nề, tùy bạn muốn nhìn thế nào, một chiều sâu như vậy đã được trao cho chúng ta và một nhu cầu như vậy phải thật cẩn trọng với từng câu, từng cụm từ, thậm chí từng lời, bởi vì VK không — đôi khi Ngài tập trung quá mức vào việc sử dụng một từ hay cụm từ đặc thù, nhưng Ngài không dùng lời một cách hời hợt. |
|
This is going to be the end of Rays and Initiations Webinar Commentary Program 31. We started at page 464, and we are on page 466, making great progress of two pages at a time here. I realize I’m filling it with extra commentary, but just to fill out the process, make it perhaps a little less academic and a little more experiential and approachable. The beginning of Rays and Initiations Webinar Commentary Program 32 will begin on page 466. There are so many factors here that can easily be passed over and not retained. |
Đây sẽ là phần kết của Bình giải Hội thảo Trực tuyến Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, Chương trình 31. Chúng ta bắt đầu ở trang 464, và đang ở trang 466, tiến bộ lớn với hai trang mỗi lần ở đây. Tôi nhận ra tôi đang lấp đầy nó bằng phần bình giải thêm, nhưng chỉ để làm rõ tiến trình, làm cho nó có lẽ bớt tính học thuật hơn một chút và thêm tính kinh nghiệm cũng như dễ tiếp cận hơn một chút. Phần mở đầu của Bình giải Hội thảo Trực tuyến Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, Chương trình 32 sẽ bắt đầu ở trang 466. Có quá nhiều yếu tố ở đây có thể dễ dàng bị lướt qua và không được giữ lại. |
|
It’s these three things. In other words, for humanity as a whole, it’s not yet the Monad, but of course, for initiates and those who are becoming initiates, even probationary initiates, it is the Monad too. But if we learn how to do this, connecting at least to the monastic permanent atom and then successively to other parts of the Spiritual Triad, other aspects, we will be connecting to the presence of the pure being of the Monad, even though encapsulated and not liberated, encapsulated in the Temple of Ezekiel, the monadic vehicle. Still we will experience something of the nature of being through the use of the antahkarana and eventually we’ll be able to throw the scaffolding away. I guess when you can levitate, you don’t need ladders. After the house is painted, you don’t need the scaffolding that allowed you to paint it. |
Chính là ba điều này. Nói cách khác, đối với nhân loại như một toàn thể, chưa phải là Chân thần, nhưng dĩ nhiên, đối với các điểm đạo đồ và những người đang trở thành điểm đạo đồ, ngay cả các điểm đạo đồ dự bị, thì cũng là Chân thần. Nhưng nếu chúng ta học cách làm điều này, nối kết ít nhất với nguyên tử trường tồn chân thần và rồi lần lượt với các phần khác của Tam Nguyên Tinh Thần, các phương diện khác, chúng ta sẽ nối kết với sự hiện diện của bản thể thuần khiết của Chân thần, dù còn được bao bọc và chưa giải thoát, được bao bọc trong Đền Thờ của Ezekiel, vận cụ chân thần. Tuy vậy, chúng ta sẽ kinh nghiệm điều gì đó thuộc bản chất hiện tồn qua việc sử dụng antahkarana, và cuối cùng chúng ta sẽ có thể vứt bỏ giàn giáo. Tôi đoán khi bạn có thể bay lơ lửng, bạn không cần thang. Sau khi ngôi nhà đã được sơn, bạn không cần giàn giáo đã cho phép bạn sơn nó. |
|
First, step by step, we are building using the concrete mind, creating a solid scaffolding for our growing experience with the higher realms of nature. I’m going an hour at a time now. I’m tempted to do more, but since it’s been a while since I’ve been doing this—a month or so—I’ll go an hour at a time for a little while. |
Trước hết, từng bước một, chúng ta đang kiến tạo bằng cách dùng trí cụ thể, tạo ra một giàn giáo vững chắc cho kinh nghiệm đang tăng trưởng của chúng ta với các cõi cao hơn của thiên nhiên. Bây giờ tôi đang đi từng giờ một. Tôi bị cám dỗ làm nhiều hơn, nhưng vì đã lâu rồi tôi chưa làm việc này — khoảng một tháng gì đó — tôi sẽ đi từng giờ một trong một thời gian ngắn. |
|
We’ll go on to Program 32 at the next point and we’ll continue working through this magnificent section on the building of the antahkarana and its purposes and its uses. We’ll see you then. |
Chúng ta sẽ tiếp tục với Chương trình 32 ở điểm kế tiếp và sẽ tiếp tục làm việc qua phần tuyệt vời này về việc kiến tạo antahkarana, các mục đích và các cách sử dụng của nó. Hẹn gặp các bạn khi ấy. |
|
Bye-bye. |
Tạm biệt. |