Bình Giảng Antahkarana — Webinar 41

📘 Sách: Bình Giảng Antahkarana – Tác giả: Michael D. Robbins

Antahkarana Webinar 41

Tóm Tắt

Giai đoạn phóng chiếu là điểm khủng hoảng của việc xây antahkarana

Thầy MDR nhấn mạnh đây là chặng then chốt sau ý định và sự hình dung: nhiều người chí nguyện đã tạo được “hình dạng mong muốn” của antahkarana, tổ chức được chất liệu cầu nối trên cõi trí, đặc biệt tại điểm tập trung nhất tâm ở cõi phụ thứ tư của cõi trí, nhưng không đi xa hơn vì không dùng được ý chí trong hành vi phóng chiếu. Thầy lưu ý tiến trình này kết hợp ba yếu tố: ý chí, sự hình dung tiếp diễn, và Quyền năng từ theo cung; đến đây phương pháp không còn hoàn toàn giống nhau cho cả bảy cung nữa mà bắt đầu phân hóa. Thầy MDR nhận xét đây là khu vực mang đậm tính cung một, dù trong làm việc nhóm người ta đôi khi dùng Quyền năng từ cung hai do toàn bộ giáo huấn mang màu sắc cung hai.

Đường ánh sáng được phóng về Chân Thần

Theo Thầy MDR, từ trung tâm lực mà đệ tử đã tích lũy trên cõi trí sẽ xuất hiện một đường chất liệu ánh sáng, thường được Thầy hình dung bằng màu trắng, khác với hai màu của cầu vồng vốn mang màu cung linh hồn và cung phàm ngã. Đường này được phóng đi bằng Quyền năng từ, tương tự tiến trình sáng tạo của Hành Tinh Thượng đế, nhưng thay vì hướng xuống để hiện hình thì ở đây hướng lên, xuyên qua các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần và tiến về Chân Thần. Thầy MDR lưu ý việc này là một động tác năng động chứ không chỉ là xây dựng tĩnh, và người đệ tử phải ý thức đồng thời về tiến trình, về hành động, và về việc kéo toàn bộ tài nguyên của phàm ngã tam phân lẫn linh hồn vào công việc.

Sự đảo ngược của tiến trình giáng hạ

Thầy MDR giải thích việc phóng chiếu antahkarana là sự đảo ngược của tiến trình trước kia khi Chân Thần phóng sinh mệnh tuyến xuống để neo vào linh hồn, rồi linh hồn lại phóng ra sợi dây kép neo vào đầu và tim của phàm nhân tam phân. Thầy suy luận rằng trước hết phải có một sự neo đậu chân thần nơi các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần, rồi sau đó thể nguyên nhân mới được kiến tạo trên Cõi thượng trí với sự trợ giúp của Thái dương Thiên Thần. Thầy cũng lưu ý chữ “cuối cùng” trong câu về linh hồn neo vào đầu và tim ám chỉ một tiến trình rất dài, vì trước khi trở thành phàm ngã tích hợp đúng nghĩa, các vận cụ thấp phải được xây dựng dần qua thời gian.

Antahkarana như con đường rút lui lớn

Thầy MDR nhấn mạnh chính đường phóng chiếu này sau cùng trở thành lộ trình để mọi lực đã tập trung trong phàm ngã và linh hồn trên đường giáng hạ tiến hoá được rút về. Vì thế antahkarana không chỉ là cầu nối đi lên mà còn là phương tiện của “đại rút lui”, tức sự trừu xuất khỏi hình tướng; Thầy nhận xét ngay khi Chân sư DK nói đến trừu xuất thì cung một đã hiện diện rất rõ. Thầy MDR còn bình luận đây là “con đường thoát” khỏi căn phòng tối của các cõi thấp, đòi hỏi nhiều can đảm, nhưng can đảm ấy vốn có sẵn nơi Chân Thần dù con người đã quên mất vì bị giới hạn quá lâu trong tâm thức thấp.

Liên hệ với lần điểm đạo thứ tư và bức màn Đền thờ

Thầy MDR giải thích antahkarana là trọng tâm của lần điểm đạo thứ tư, Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ, nơi cả đời sống phàm ngã lẫn đời sống chân ngã đều bị từ bỏ, đến mức sau đó không còn giữ nổi Chân Thần nữa. Hình ảnh “bức màn Đền thờ bị xé làm hai từ trên xuống dưới” được Thầy nối với sự kiện Đức Christ mở đường cho nhiều người bước vào lần điểm đạo này, tức phá bỏ điều ngăn cản Ý Chí của Thượng Đế đi sâu hơn vào tâm thức nhân loại. Thầy MDR triển khai biểu tượng Outer Court, Holy Place, Holy of Holies tương ứng với phàm ngã, linh hồn và Chân Thần, đồng thời thêm bình luận độc đáo về giới tu sĩ thường giữ đặc quyền tri thức, còn các Đấng Mặc Khải như Đức Jesus hay Đức Phật lại muốn chia sẻ cho toàn nhân loại.

“Viên ngọc trong hoa sen” là nguồn lực thật sự của phóng chiếu

Thầy MDR đặc biệt nhấn mạnh rằng để phóng chiếu thành công, đệ tử không chỉ cần ý chí của linh hồn mà còn phải gọi ra nguồn lực chứa trong “viên ngọc trong hoa sen”, tức điểm neo của Chân Thần. Thầy lưu ý có lẽ trước đây chính Thầy cũng chưa nhấn đủ câu này, trong khi đây là chỗ lấy sức mạnh thực sự để đẩy cầu đi lên. Thầy còn giải thích mọi phẩm tính của linh hồn như tri thức, bác ái, hi sinh chỉ là hiệu quả của bức xạ chân thần, nên thực ra cả linh hồn lẫn phàm ngã đều là những phương thức biểu hiện khác nhau của Chân Thần.

Cấu trúc thể nguyên nhân và vị trí của viên ngọc

Thầy MDR mô tả từ phương diện ý chí của Chân Thần có một dòng đi thẳng xuống trung tâm thể nguyên nhân, đến hạt nhân quanh đó Hoa Sen Chân Ngã được xây dựng. Thầy nghiêng về khả năng sự neo đậu này xảy ra nơi cõi phụ thứ hai của Cõi thượng trí, vì thể nguyên nhân không vượt quá cấp đó và cũng bị phá hủy tại đó, dù có vài ám chỉ khó hiểu cho thấy viên ngọc có thể “lơ lửng” gần ranh giới giữa cõi trí trừu tượng và cõi Bồ đề. Thầy MDR còn nêu tam tương ứng rất quan trọng: Shamballa là viên ngọc trong hoa sen, Thánh Đoàn là ba vòng cánh hoa, và Nhân loại là ba nguyên tử trường tồn trong hào quang của hoa sen.

Điều kiện để đáp ứng được với nụ hoa trung tâm

Theo Thầy MDR, trước khi cầu được thực sự phóng trên đường đi lên “cho đôi chân mệt mỏi của người hành hương”, đệ tử phải bắt đầu đáp ứng được với nụ hoa khép kín ở trung tâm Hoa Sen Chân Ngã. Điều này xảy ra khi các cánh hoa hi sinh bắt đầu nắm quyền trong đời sống, khi tri thức được chuyển hoá thành minh triết, khi tình thương cho toàn thể lớn dần, và khi “quyền năng từ bỏ” được thêm vào. Thầy MDR lưu ý ba cánh tổng hợp quanh viên ngọc chưa thực sự bung nở cho đến ngay trước lần điểm đạo thứ tư, nhưng ở mỗi lần điểm đạo vẫn có một mức khai mở tăng dần, khiến ánh sáng từ trung tâm ngày càng rõ hơn.

Ba phẩm tính chân ngã phải tăng trưởng để phóng chiếu

Thầy MDR tóm lại ba năng lực cần thiết là minh triết thay cho tri thức đơn thuần, tình thương đối với toàn thể, và quyền năng từ bỏ; theo Thầy, nếu ba phẩm tính này chưa tăng trưởng thì nỗ lực phóng chiếu sẽ khó thành công. Thầy gợi ý chúng có liên hệ lần lượt với các tầng cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã và đồng thời phản ánh những tương ứng hành tinh lớn hơn. Thầy cũng đặt câu hỏi thực hành rất cụ thể: khi ta thử phóng chiếu, liệu minh triết đã thực sự có chưa, tình thương cho toàn thể đã tăng chưa, và quyền năng từ bỏ đã hiện diện chưa.

Hi sinh không phải mất mát mà là chí phúc

Một trong những điểm Thầy MDR đặc biệt ca ngợi là định nghĩa kỹ thuật của hi sinh: không phải từ bỏ những gì làm đời sống đáng sống, mà là đạt tới trạng thái chí phúc và xuất thần vì nhận ra một phương diện thiêng liêng khác vốn bị cả linh hồn lẫn phàm ngã che khuất. Thầy nhận xét nhiều người sợ chữ “hi sinh” vì đồng hóa nó với mất mát, đau khổ, giảm thiểu bản thân; theo Thầy, đây là một hiểu lầm dai dẳng do cách diễn giải tôn giáo phổ biến. Thầy còn nhấn mạnh hi sinh gắn với sự nhận biết Ý Chí-hướng Thiện đã làm cho sáng tạo trở nên khả hữu và tất yếu, nên càng chiêm ngưỡng sâu về phẩm tính này thì con người càng bắt đầu biểu hiện nó trong đời sống.

Gọi lên Ý Chí và sự hoàn tất liên kết lớn

Thầy MDR dừng lại rất lâu ở đoạn nói rằng chỉ khi đệ tử thu được tri thức từ kinh nghiệm, đang chuyển nó thành minh triết, sống chân thực trong thực tại, và lấy Ý Chí-hướng Thiện làm đỉnh cao của đời sống hằng ngày, thì mới có thể gợi lên được Ý Chí. Thầy nhận xét đây là những điều kiện rất cao, cho thấy việc xây antahkarana không hề cơ giới hay tầm thường. Khi đó, liên kết giữa hạ trí và thượng trí, giữa tinh thần và vật chất, giữa Chân Thần và phàm ngã trở thành một sự kiện có thật; Thầy còn thêm rằng “đỉnh cao” ở đây hàm ý địa vị chân sư.

Từ bộ ba sang nhị nguyên và “cái chết thứ hai”

Thầy MDR giải thích khi nhị nguyên thượng-hạ thay thế cho bộ ba cũ, năng lực của hạt nhân trung tâm trong Hoa Sen Chân Ngã sẽ hủy diệt ba biểu hiện bao quanh, đưa tới cái gọi là sự phá hủy thể nguyên nhân. Tuy nhiên Thầy lưu ý chữ “cái gọi là” rất quan trọng, vì sau lần điểm đạo thứ tư vẫn còn “mảnh vụn” của thể nguyên nhân cần được quét sạch giữa lần điểm đạo thứ tư và thứ năm, giống như một vụ siêu tân tinh cá nhân chưa hoàn toàn tan hết. Thầy gọi đây là “cái chết thứ hai”, tức chết hẳn đối với hình tướng, giải thoát con người không chỉ khỏi phàm ngã tái sinh mà cả khỏi vẻ đẹp tinh vi của ngôi đền linh hồn.

Phóng chiếu là tiến trình sống hằng ngày, không chỉ là kỹ thuật thiền

Thầy MDR nhấn mạnh Chân sư DK đã nói rất rõ rằng phóng chiếu là một tiến trình sống động, mọc lên từ kinh nghiệm hằng ngày có ý thức và từ việc biểu hiện các phương diện thiêng liêng ngay trên cõi hồng trần. Khi phàm ngã cố gắng đáp ứng đòi hỏi của linh hồn và dùng trí tuệ để phụng sự nhân loại, thì bác ái bắt đầu cai quản, và ý nghĩa của “sự hi sinh thiêng liêng” trở nên ngày càng tự nhiên, tự phát. Thầy kết luận rằng nếu không có hi sinh thì sẽ không có phóng chiếu thật sự, vì chính hi sinh mới giúp gợi lên các tiềm lực cao hơn.

Không nên nản chí vì phần lớn công việc diễn ra bên trong

Thầy MDR ghi nhận Chân sư DK đã dự liệu cảm giác choáng ngợp của người học, nên trấn an rằng rất nhiều điều xảy ra trên các cõi bên trong khi có ý định đúng đắn và ý định huyền bí, tức mục đích kết hợp với điểm tập trung nhất tâm. Cây cầu có thể đạt tới cấu trúc và đường nét khá rõ từ lâu trước khi đệ tử ý thức được điều đó; Thầy lưu ý trong khi đệ tử còn chưa thấy, chân sư thì đã thấy. Theo Thầy MDR, điều này đòi hỏi đức tin: xây một điều chưa nhìn thấy, nhưng có thể dần dần bắt đầu cảm được.

Kết thúc phần bình giảng và định hướng tiếp tục

Thầy MDR thông báo đây là phần kết của Rays and Initiations Webinar commentary số 41, vào ngày 15 tháng 1 năm 2017, đồng thời chuẩn bị mở sang phần bình giảng số 42. Thầy cho biết lần tiếp theo sẽ bắt đầu lại từ trang 493, cho thấy mạch học được giữ rất chặt theo văn bản gốc và sẽ tiếp tục đi sâu từng đoạn.

Nhấn mạnh chiều sâu của tác phẩm và yêu cầu thực hành nội tâm

Thầy MDR nhận xét đây là một cuốn sách rất sâu, không chỉ để đọc hiểu bằng trí năng mà còn cần được đồng hoá vào sự thực hành. Thầy lưu ý mục tiêu không phải chỉ nắm ý niệm, mà là thật sự đi vào các thế giới này một cách thực tiễn, với sự nhận biết và kinh nghiệm nội tâm khó diễn tả bằng lời.

Tinh thần học tập theo chỉ dẫn của Chân sư DK

Thầy MDR đề xuất người nghe tiếp tục suy tư về các vấn đề đã học và làm việc theo cách phù hợp với chỉ dẫn rõ ràng của Chân sư DK. Theo nhận xét của Thầy, chính sự tuân thủ có ý thức đối với huấn thị này mới đem lại thành công cho nỗ lực tu học và bình giải.


Text

[1] 3. Projection. The task of the disciple has now reached a most critical point. Many aspirants [2] reach this particular stage and—having developed a real capacity to visualise, and having therefore constructed by its means the desired form, [3] and organised the substance which is to be employed in this later phase of the building [4] process—find themselves unable to proceed any further. What then is the matter? Primarily, an inability to use the Will in the process of projection. [5] This process [6] is a combination of will, further and continued visualisation, and the use of the ray Word of Power. [7] Up to the present stage in the process, the method for all the seven rays is identical; but at this point there comes a change. [8] Each disciple, having successfully organised the bridge substance, having brought into activity the will aspect, [9] and being consciously aware of process and performance, proceeds now to move the organised substance forward, [10] so that from the centre of force which he has succeeded in accumulating [11] there appears a line of light-substance or projection. [11b] This [12] is sent forward upon a [Page 491] Word of Power, as in the logoic creative process. [13] This is in reality a reversal of the process of the Monad when It sent forth the thread of life which finally anchored itself in the soul. [14] The soul, in reality, came into being through the means of this anchoring; [15] then came the later process, when the soul in its turn sent forth a dual thread which finally found anchorage in the head and the heart of the lower threefold man, the personality. [16] The disciple is focussed in the centre which he has constructed upon the mental plane, [17] and is drawing all his resources (those of the threefold personality and the soul combined) into activity; [18] he now projects a line towards the Monad.

[1] 3. Phóng chiếu. Nhiệm vụ của người đệ tử nay đã đạt đến một điểm hết sức hệ trọng. Nhiều người chí nguyện [2] đạt đến giai đoạn đặc biệt này và—sau khi đã phát triển một năng lực thật sự để hình dung, và do đó, bằng phương tiện ấy, đã kiến tạo hình tướng mong muốn, [3] đồng thời tổ chức chất liệu sẽ được sử dụng trong giai đoạn về sau này của tiến trình [4] kiến tạo—lại thấy mình không thể tiến xa hơn nữa. Vậy vấn đề là gì? Chủ yếu là sự bất lực trong việc sử dụng Ý Chí trong tiến trình phóng chiếu. [5] Tiến trình này [6] là sự kết hợp của ý chí, sự hình dung thêm nữa và liên tục, cùng việc sử dụng Quyền năng từ của cung. [7] Cho đến giai đoạn hiện tại trong tiến trình, phương pháp đối với cả bảy cung đều giống nhau; nhưng đến điểm này thì có một sự thay đổi. [8] Mỗi đệ tử, sau khi đã tổ chức thành công chất liệu của cây cầu, đã đưa phương diện ý chí vào hoạt động, [9] và có ý thức rõ ràng về tiến trình cũng như sự thực hiện, nay tiến tới việc chuyển chất liệu đã được tổ chức ấy tiến về phía trước, [10] để từ trung tâm mãnh lực mà y đã thành công trong việc tích lũy [11] xuất hiện một đường chất liệu ánh sáng hay sự phóng chiếu. [11b] Điều này [12] được phóng ra phía trước nhờ một [Page 491] Quyền năng từ, như trong tiến trình sáng tạo thuộc Thượng đế. [13] Thực ra, đây là sự đảo ngược tiến trình của Chân thần khi Chân thần phát xuất sinh mệnh tuyến, cuối cùng tự neo vào linh hồn. [14] Trên thực tế, linh hồn đi vào hiện hữu nhờ phương tiện của sự neo giữ này; [15] rồi đến tiến trình về sau, khi đến lượt linh hồn phát xuất một sợi dây kép, cuối cùng tìm được điểm neo trong đầu và tim của phàm nhân tam phân thấp, tức phàm ngã. [16] Đệ tử được tập trung trong trung tâm mà y đã kiến tạo trên cõi trí, [17] và đang đưa mọi nguồn lực của mình—các nguồn lực của phàm ngã tam phân và linh hồn kết hợp—vào hoạt động; [18] nay y phóng chiếu một đường hướng về Chân thần.

[19] It is along this line [20] that the final withdrawal of the forces takes place, [21] the forces which—upon the downward way or the involutionary path—focussed themselves in the personality and the soul. [22] The antahkarana per se, completed by the bridge built by the disciple, [23] is the final medium of abstraction or of the great withdrawal. [24] It is with the antahkarana that the initiate is concerned in the fourth initiation, [25] called sometimes the Great [26] Renunciation—the renunciation or the withdrawal from form life, both personal and egoic. [27] After this initiation neither of these aspects can hold the Monad any more. [28] The “veil of the Temple” is rent in twain [29] from the top to the [30] bottom—that veil which separated the Outer Court (the personality life) from the Holy Place (the soul) and from the Holy of Holies (the Monad) in the Temple at Jerusalem. [31] The implications and the analogies will necessarily be clear to you.

[19] Chính dọc theo đường này [20] mà sự triệt thoái cuối cùng của các mãnh lực diễn ra, [21] những mãnh lực mà—trên con đường đi xuống hay con đường giáng hạ tiến hoá—đã tự tập trung trong phàm ngã và linh hồn. [22] Antahkarana, xét chính nó, được hoàn tất nhờ cây cầu do đệ tử xây dựng, [23] là phương tiện cuối cùng của sự trừu xuất hay của cuộc đại triệt thoái. [24] Chính với antahkarana mà điểm đạo đồ phải bận tâm trong lần điểm đạo thứ tư, [25] đôi khi được gọi là cuộc Đại [26] Từ Bỏ—sự từ bỏ hay sự triệt thoái khỏi đời sống hình tướng, cả thuộc phàm ngã lẫn chân ngã. [27] Sau cuộc điểm đạo này, không phương diện nào trong hai phương diện ấy còn có thể giữ Chân thần lại nữa. [28] “Bức màn của Đền Thờ” bị xé làm đôi [29] từ trên xuống [30] dưới—bức màn đã phân cách Sân Ngoài, tức đời sống phàm ngã, với Nơi Thánh, tức linh hồn, và với Nơi Chí Thánh, tức Chân thần, trong Đền Thờ tại Jerusalem. [31] Những hàm ý và các tương đồng tất yếu sẽ rõ ràng đối với bạn.

[32] In order, therefore, to bring about the needed projection of the accumulated energies, [33] organised by the creative imagination and brought to a point of excessive tension by the focussing of the mental impulse (an aspect of the will), the disciple then calls upon the resources of his soul, stored up in what is technically called “the jewel in the lotus.” [34] This is the anchorage of the [35] Monad—a point which must not be forgotten. [36] The aspects of the soul which we call knowledge, love and sacrifice, and which are expressions of the causal body, are only effects of this monadic radiation. [Page 492]

[32] Vì vậy, để tạo ra sự phóng chiếu cần thiết của các năng lượng đã tích lũy, [33] được tổ chức bởi Sự tưởng tượng sáng tạo và được đưa đến một điểm căng thẳng cực độ nhờ sự tập trung của xung lực trí tuệ, tức một phương diện của ý chí, bấy giờ đệ tử kêu gọi các nguồn lực của linh hồn mình, được tích trữ trong điều mà về mặt chuyên môn gọi là “viên ngọc trong hoa sen.” [34] Đây là điểm neo của [35] Chân thần—một điểm không được quên. [36] Các phương diện của linh hồn mà chúng ta gọi là tri thức, bác ái và hi sinh, và vốn là những biểu hiện của thể nguyên nhân, chỉ là các hiệu quả của bức xạ chân thần này. [Page 492]

[37] Therefore, before the bridge can be truly built and “projected on the upward way, providing safe travelling for the pilgrim’s weary feet” [38] (as the Old Commentary puts it), the disciple must begin to react in response to the closed lotus bud or jewel at the centre of the opened lotus. [39] This he does when the sacrifice petals of the egoic lotus are assuming control in his life, [40] when his knowledge is being transmuted into wisdom, [41] and his love for the whole is growing; [42] to these is being added the “power to renounce”. [43] These three egoic qualities—when functioning with a measure of potency—produce an increased activity at the very centre of soul life, the heart of the lotus. [44] It should be remembered that the correspondences in the egoic lotus to the three planetary centres are as follows:

[37] Do đó, trước khi cây cầu có thể thực sự được xây dựng và “phóng chiếu trên con đường đi lên, đem lại lối đi an toàn cho đôi chân mệt mỏi của người hành hương” [38] như Cổ Luận diễn đạt, đệ tử phải bắt đầu đáp ứng với nụ hoa sen khép kín, hay viên ngọc, ở trung tâm hoa sen đã nở. [39] Y thực hiện điều này khi các cánh hoa hi sinh của Hoa Sen Chân Ngã đang nắm quyền kiểm soát trong đời sống của y, [40] khi tri thức của y đang được chuyển hoá thành minh triết, [41] và tình thương của y đối với toàn thể đang tăng trưởng; [42] thêm vào những điều này là “quyền năng từ bỏ”. [43] Ba phẩm tính chân ngã này—khi hoạt động với một mức độ quyền năng nào đó—tạo ra một hoạt động gia tăng ngay tại trung tâm của đời sống linh hồn, tức trái tim của hoa sen. [44] Cần nhớ rằng các tương ứng trong Hoa Sen Chân Ngã với ba trung tâm hành tinh là như sau:

[45] Shamballa. . . . The jewel in the lotus.

[45] Shamballa. . . . Viên ngọc trong hoa sen.

[46] Hierarchy . . . . The three groups of petals.

[46] Thánh Đoàn . . . . Ba nhóm cánh hoa.

[47] Humanity . . . .The three permanent atoms within the aura of the lotus.

[47] Nhân loại . . . . Ba nguyên tử trường tồn bên trong hào quang của hoa sen.

[48] Students should also bear in mind that they need to rid themselves of the usual idea of sacrifice as a process of giving-up, or renunciation of all that makes life worth living. [49] Sacrifice is, technically speaking, the achievement of a state of bliss and of ecstasy because it is the realisation of another divine aspect, hidden hitherto by both the soul and the personality. [50] It is understanding and recognition of the will-to-good [51] which made creation possible and inevitable, and which was the true cause of manifestation. [52] Ponder on this, for it is very different in its significance to the usual concepts anent sacrifice.

[48] Các đạo sinh cũng nên ghi nhớ rằng họ cần tự giải thoát khỏi quan niệm thông thường về hi sinh như một tiến trình buông bỏ, hay từ bỏ tất cả những gì làm cho đời sống đáng sống. [49] Nói theo nghĩa chuyên môn, hi sinh là sự đạt được một trạng thái chí phúc và xuất thần, vì đó là sự chứng nghiệm một phương diện thiêng liêng khác, cho đến nay vẫn bị cả linh hồn lẫn phàm ngã che khuất. [50] Đó là sự thấu hiểu và nhận biết Ý Chí-hướng Thiện [51] vốn đã khiến cuộc sáng tạo trở nên khả hữu và tất yếu, và vốn là nguyên nhân đích thực của sự biểu hiện. [52] Hãy suy ngẫm về điều này, vì xét về thâm nghĩa, nó rất khác với những quan niệm thông thường liên quan đến hi sinh.

[53] When the disciple has gained the fruit of experience which is knowledge and is learning to transmute it into wisdom, [54] when his objective is to live truly and in reality, [55] and when the will-to-good is the crowning goal of his daily life, then he can begin to evoke the Will. [56] This will make the link between the lower and the higher minds, between spirit and matter and between Monad and personality a definite and existent fact. [57] Duality then supervenes upon [Page 493] triplicity, [58] and the potency of the central nucleus in the egoic vehicle destroys—at the fourth initiation—the three surrounding expressions. [59] They disappear, and then the so-called destruction of the causal body has taken place. [60] This is the true “second death”—death to form altogether.

[53] Khi đệ tử đã thu hoạch được thành quả của kinh nghiệm, tức tri thức, và đang học cách chuyển hoá nó thành minh triết, [54] khi mục tiêu của y là sống một cách chân thật và trong thực tại, [55] và khi Ý Chí-hướng Thiện là mục tiêu tối thượng trong đời sống hằng ngày của y, bấy giờ y có thể bắt đầu gợi lên Ý Chí. [56] Điều này sẽ làm cho mối liên kết giữa hạ trí và thượng trí, giữa tinh thần và vật chất, giữa Chân thần và phàm ngã, trở thành một sự kiện xác định và hiện hữu. [57] Nhị nguyên bấy giờ thay thế [Page 493] tam phân, [58] và quyền năng của hạt nhân trung tâm trong hiện thể chân ngã hủy diệt—ở lần điểm đạo thứ tư—ba biểu hiện bao quanh. [59] Chúng biến mất, và bấy giờ cái gọi là sự hủy diệt thể nguyên nhân đã diễn ra. [60] Đây là “cái chết thứ hai” đích thực—cái chết hoàn toàn đối với hình tướng.

[61] This is practically all that I can tell you anent the process of projection. [62] It is a living process, growing out of the conscious daily experience and dependent upon the expression of the divine aspects in the life upon the physical plane, as far as is possible. [63] Where there is an attempt to approximate the personality life to the demands of the soul and to use the intellect on behalf of humanity, love is beginning to control; and then the significance of the “divine sacrifice” is increasingly understood and becomes a natural, spontaneous expression of individual intention. [64] Then it becomes possible to project the bridge. [65] The vibration is then set up on lower levels of divine manifestation and becomes strong enough to produce response from the higher. [66] Then, when the Word of Power is known and rightly used, the bridge is rapidly built.

[61] Đây gần như là tất cả những gì tôi có thể nói với bạn về tiến trình phóng chiếu. [62] Đó là một tiến trình sống động, nảy sinh từ kinh nghiệm hằng ngày có ý thức và tùy thuộc vào sự biểu lộ các phương diện thiêng liêng trong đời sống trên cõi hồng trần, trong chừng mực có thể. [63] Khi có nỗ lực đưa đời sống phàm ngã đến gần các đòi hỏi của linh hồn và sử dụng trí năng vì nhân loại, bác ái bắt đầu chi phối; và bấy giờ thâm nghĩa của “sự hi sinh thiêng liêng” ngày càng được thấu hiểu và trở thành một biểu lộ tự nhiên, tự phát của ý định cá nhân. [64] Khi đó, việc phóng chiếu cây cầu trở nên khả dĩ. [65] Rung động bấy giờ được thiết lập trên các cấp độ thấp hơn của sự biểu hiện thiêng liêng và trở nên đủ mạnh để tạo ra đáp ứng từ các cấp độ cao hơn. [66] Khi ấy, khi Quyền năng từ được biết đến và được sử dụng đúng đắn, cây cầu được xây dựng nhanh chóng.

[67] Students need feel in no way discouraged by this picture. [68] Much can happen on the inner planes where there is right intention, as well as occult intention (purpose and tension combined), [69] and the bridge reaches stages of definite outline and structure long before the disciple is aware of it.

[67] Các đạo sinh không cần cảm thấy nản lòng chút nào trước bức tranh này. [68] Nhiều điều có thể xảy ra trên các cõi bên trong, nơi có ý định đúng đắn cũng như ý định huyền bí, tức mục đích và sự tập trung nhất tâm kết hợp, [69] và cây cầu đạt đến những giai đoạn có đường nét và cấu trúc rõ rệt rất lâu trước khi đệ tử ý thức được điều đó.

Program-41-15Jan17

Hi everybody and welcome to our Rays and the Initiations webinar commentary number 41. I need to correct that. We’re continuing in the second part of the book, and I’m doing this as frequently as I possibly can given my other responsibilities. I’m broadcasting here, or at least webinaring here, with myself, but sending the results on to you here in the Temple of Silence here in Finland. I guess while I’m talking it’s not so silent, but what is silence anyway but the synthesis of all the sounds. We have worked on the first two stages of intention in building the antahkarana and also what we call visualization. A few of these programs have been given to that effect.

Xin chào tất cả các bạn và chào mừng các bạn đến với buổi bình giảng webinar số 41 về Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo. Tôi cần chỉnh lại điều đó. Chúng ta đang tiếp tục phần thứ hai của quyển sách, và tôi đang thực hiện việc này thường xuyên nhất có thể, trong phạm vi các trách nhiệm khác của tôi. Tôi đang phát sóng tại đây, hay ít nhất là thực hiện webinar tại đây, một mình, nhưng gửi kết quả đến các bạn từ Đền Im Lặng ở Phần Lan. Khi tôi đang nói thì nơi này không im lặng lắm, nhưng rốt cuộc im lặng là gì nếu không phải là sự tổng hợp của mọi âm thanh. Chúng ta đã làm việc với hai giai đoạn đầu của ý định trong việc xây dựng antahkarana và cả điều chúng ta gọi là sự hình dung. Một vài chương trình đã được dành cho mục đích ấy.

Now we are going to work on the factor of projection, which is a very important first ray aspect of this work. These are spontaneous programs, and I’m doing my best to add some commentary which you may find useful in understanding what DK has said or in possibly elaborating what he has discussed.

Bây giờ chúng ta sẽ làm việc với yếu tố phóng chiếu, vốn là một phương diện cung một rất quan trọng của công trình này. Đây là những chương trình tự phát, và tôi đang cố gắng hết sức để thêm vào một số bình giảng mà các bạn có thể thấy hữu ích trong việc thấu hiểu điều Chân sư DK đã nói, hoặc có thể khai triển điều Ngài đã bàn đến.

[1] 3. Projection. The task of the disciple has now reached the most critical point. Many aspirants

[1] 3. Phóng chiếu. Nhiệm vụ của người đệ tử nay đã đạt đến một điểm hết sức hệ trọng. Nhiều người chí nguyện

That’s what we all are really,

Thật ra đó chính là tất cả chúng ta,

[2] reach this particular stage and—having developed a real capacity to visualise, and having therefore constructed by its means the desired form,

[2] đạt đến giai đoạn đặc biệt này và—sau khi đã phát triển một năng lực thật sự để hình dung, và do đó, bằng phương tiện ấy, đã kiến tạo hình tướng mong muốn,

the form of the two-colored antahkarana

hình tướng của antahkarana hai màu

[3] and organised the substance which is to be employed in this later phase of the building process

[3] đồng thời tổ chức chất liệu sẽ được sử dụng trong giai đoạn về sau này của tiến trình

This is because the visualization is drawn up into relationship with the pool of retained mental substance at a point of tension on the fourth sub-plane of the mental plane. They’ve done all that, but

Điều này là vì sự hình dung được nâng lên để liên hệ với khối chất liệu trí tuệ được giữ lại tại một điểm tập trung nhất tâm trên cõi phụ thứ tư của cõi trí. Họ đã làm tất cả những điều đó, nhưng

[4] find themselves unable to proceed any further. What then is the matter? Primarily, an inability to use the Will in the process of projection.

[4] kiến tạo—lại thấy mình không thể tiến xa hơn nữa. Vậy vấn đề là gì? Chủ yếu là sự bất lực trong việc sử dụng Ý Chí trong tiến trình phóng chiếu.

We know how difficult it is to understand what the Will really is. As DK has told us, we probably know very little about it actually.

Chúng ta biết khó khăn biết bao để thấu hiểu Ý Chí thật sự là gì. Như Chân sư DK đã nói với chúng ta, thật ra có lẽ chúng ta biết rất ít về nó.

[5] This process

[5] Tiến trình này

of projection

của sự phóng chiếu

[6] is a combination of will, further and continued visualisation, and the use of the ray Word of Power.

[6] là sự kết hợp của ý chí, sự hình dung thêm nữa và liên tục, cùng việc sử dụng Quyền năng từ của cung.

These words of power, even though they are for all the seven rays, are worked upon by the first ray. We might say there’s a lot of first ray in this area of projection.

Các quyền năng từ này, dù dành cho cả bảy cung, đều được cung một tác động. Có thể nói có rất nhiều cung một trong lĩnh vực phóng chiếu này.

[7] Up to the present stage in the process, the method for all the seven rays is identical; but at this point there comes a change.

[7] Cho đến giai đoạn hiện tại trong tiến trình, phương pháp đối với cả bảy cung đều giống nhau; nhưng đến điểm này thì có một sự thay đổi.

Sometimes, when we work in the group form, we simply use the second ray word of power because this is such a second ray teaching in general. But now, when working on these individually, there comes this change.

Đôi khi, khi chúng ta làm việc trong hình thức nhóm, chúng ta chỉ dùng quyền năng từ của cung hai, vì giáo huấn này nói chung rất thuộc cung hai. Nhưng bây giờ, khi làm việc với những điều này một cách cá nhân, sự thay đổi này xuất hiện.

[8] Each disciple, having successfully organised the bridge substance, having brought into activity the will aspect,

[8] Mỗi đệ tử, sau khi đã tổ chức thành công chất liệu của cây cầu, đã đưa phương diện ý chí vào hoạt động,

part of it is by being willing

một phần của điều đó là do sẵn lòng

[9] and being consciously aware of process and performance, proceeds now to move the organised substance forward,

[9] và có ý thức rõ ràng về tiến trình cũng như sự thực hiện, nay tiến tới việc chuyển chất liệu đã được tổ chức ấy tiến về phía trước,

This becomes dynamic.

Điều này trở nên năng động.

[10] so that from the centre of force which he has succeeded in accumulating

[10] để từ trung tâm mãnh lực mà y đã thành công trong việc tích lũy

from the center of the lower mental plane

từ trung tâm của cõi hạ trí

[11] there appears a line of light-substance or projection.

[11] xuất hiện một đường chất liệu ánh sáng hay sự phóng chiếu.

We’ve been building in light anyway, but this is something new. I’m usually using the color white here because the bridge is built of the two colors of your soul and personality ray.

Dù sao chúng ta cũng đã xây dựng trong ánh sáng, nhưng đây là một điều mới. Tôi thường dùng màu trắng ở đây vì cây cầu được xây bằng hai màu của cung linh hồn và cung phàm ngã của các bạn.

[11b] This

[11b] Điều này

—line of light substance—

—đường chất liệu ánh sáng—

[12] is sent forward upon a Word of Power, as in the logoic creative process.

[12] được phóng ra phía trước nhờ một [Page 491] Quyền năng từ, như trong tiến trình sáng tạo thuộc Thượng đế.

only in that particular case, the word of power is directed downwards so that manifestation can occur. This is a word of power directed upward towards the mental permanent atom and towards the Buddhic and Atmic permanent atoms and even towards the Monad.

chỉ có điều trong trường hợp đặc biệt ấy, quyền năng từ được hướng xuống dưới để sự biểu hiện có thể xảy ra. Đây là một quyền năng từ được hướng lên trên về phía Nguyên tử trường tồn trí tuệ, về phía các Nguyên tử trường tồn Bồ đề và atma, và thậm chí về phía chân thần.

[13] This is in reality a reversal of the process of the Monad when It sent forth the thread of life which finally anchored itself in the soul.

[13] Thực ra, đây là sự đảo ngược tiến trình của Chân thần khi Chân thần phát xuất sinh mệnh tuyến, cuối cùng tự neo vào linh hồn.

This thread anchors in the permanent atoms—the permanent. As I say, this is probably a very good process for you yourself in your researches on permanent atoms. Here we have the thread anchors in the Spiritual Triad. First it does that, and that is in the second great outpouring, we are told, and then finally into the soul when that intermediary has been constructed on the higher mental plane of higher mental substance with the aid of the Solar Angel.

Sợi dây này neo trong các Nguyên tử trường tồn—các nguyên tử trường tồn. Như tôi nói, đây có lẽ là một tiến trình rất tốt cho chính các bạn trong những khảo cứu của các bạn về các Nguyên tử trường tồn. Ở đây chúng ta có các neo của sợi dây trong Tam Nguyên Tinh Thần. Trước hết nó làm như vậy, và chúng ta được cho biết rằng điều đó xảy ra trong lần tuôn đổ lớn thứ hai, rồi cuối cùng vào trong linh hồn khi cơ cấu trung gian ấy đã được kiến tạo trên Cõi thượng trí bằng chất liệu thượng trí, với sự trợ giúp của Thái dương Thiên Thần.

[14] The soul, in reality, came into being through the means of this anchoring;

[14] Trên thực tế, linh hồn đi vào hiện hữu nhờ phương tiện của sự neo giữ này;

It seems to suggest that first there must be an anchoring, a monadic anchoring, before the primary form of the petals begins to appear. That monadic anchoring probably alerts the Solar Angel, who has a particular concern with the human being involved, that an intermediary structure is needed.

Điều này dường như gợi ý rằng trước hết phải có một sự neo chặt, một sự neo chặt chân thần, trước khi hình thức sơ khởi của các cánh hoa bắt đầu xuất hiện. Sự neo chặt chân thần ấy có lẽ báo động cho Thái dương Thiên Thần, Đấng có mối quan tâm đặc biệt đối với con người liên hệ, rằng một cơ cấu trung gian là cần thiết.

[15] then came the later process, when the soul in its turn sent forth a dual thread which finally found anchorage in the head and the heart of the lower threefold man, the personality.

[15] rồi đến tiến trình về sau, khi đến lượt linh hồn phát xuất một sợi dây kép, cuối cùng tìm được điểm neo trong đầu và tim của phàm nhân tam phân thấp, tức phàm ngã.

Even when that being is not yet what we would call an expressive personality because it hasn’t really integrated the vehicles and because the lower aspect has to be built up first, and then the astral, and then the mental. It takes a long time before it’s a real personality in the expressive sense.

Ngay cả khi hữu thể ấy chưa phải là điều chúng ta gọi là một phàm ngã biểu lộ, vì y chưa thật sự tích hợp các hiện thể, và vì phương diện thấp phải được xây dựng trước, rồi đến phương diện cảm dục, rồi đến phương diện trí tuệ. Phải mất một thời gian dài trước khi đó là một phàm ngã thật sự theo nghĩa biểu lộ.

[16] The disciple is focussed in the centre which he has constructed upon the mental plane,

[16] Đệ tử được tập trung trong trung tâm mà y đã kiến tạo trên cõi trí,

that point of tension which has appeared on the fourth level of the mental plane—

điểm tập trung nhất tâm đã xuất hiện trên cấp độ thứ tư của cõi trí—

[17] and is drawing all his resources (those of the threefold personality and the soul combined) into activity;

[17] và đang đưa mọi nguồn lực của mình—các nguồn lực của phàm ngã tam phân và linh hồn kết hợp—vào hoạt động;

This is very important. When we do our preparation for the full moon meditations, we always draw down the will aspect of the Egoic Lotus and we draw up the vitality of the etheric body and we draw up the formative power of the creative imagination.

Điều này rất quan trọng. Khi chúng ta chuẩn bị cho các buổi tham thiền trăng tròn, chúng ta luôn kéo xuống phương diện ý chí của Hoa Sen Chân Ngã, và chúng ta kéo lên sinh lực của thể dĩ thái, cũng như kéo lên quyền năng tạo hình của Sự tưởng tượng sáng tạo.

[18] he now projects a line towards the Monad.

[18] nay y phóng chiếu một đường hướng về Chân thần.

Of course, this projection has to pass through the permanent atoms of the Spiritual Triad on the way to the Monad. This can probably be visualized. At first, the buddhic vehicle and the atmic vehicle are not yet—is the word organized or coordinated? They are not yet. But they are on their way and increasingly after the third degree the buddhic vehicle will be coordinated and then, I suppose, after the fourth degree the atmic vehicle will be coordinated into its final form so that later one can enter in full consciousness into the monadic vehicle.

Tất nhiên, sự phóng chiếu này phải đi qua các Nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần trên đường đến chân thần. Điều này có lẽ có thể được hình dung. Ban đầu, hiện thể Bồ đề và hiện thể atma chưa—từ đúng là được tổ chức hay được phối hợp? Chúng chưa như vậy. Nhưng chúng đang trên đường, và ngày càng nhiều hơn sau lần điểm đạo thứ ba, hiện thể Bồ đề sẽ được phối hợp; rồi, tôi cho rằng sau lần điểm đạo thứ tư, hiện thể atma sẽ được phối hợp vào hình thức cuối cùng của nó để về sau người ta có thể bước vào hiện thể chân thần trong tâm thức trọn vẹn.

he now projects a line towards the Monad.

giờ đây y phóng chiếu một đường hướng về chân thần.

The Monad has projected earlier toward the soul, has signaled the Solar Angels in a way that the soul body is to be created, and then the soul has projected a dual thread of heart and consciousness. The heart thread is the life thread, the sutratma, and the consciousness thread is anchored in the head. These are two of the different threads which make personality activity possible.

Chân thần trước đó đã phóng chiếu về phía linh hồn, đã ra tín hiệu cho các Thái dương Thiên Thần theo một cách nào đó rằng thể linh hồn phải được tạo ra, rồi linh hồn đã phóng chiếu một sợi dây kép của tim và tâm thức. Sợi dây tim là sinh mệnh tuyến, sutratma, còn Sợi dây Tâm thức/thức tuyến được neo trong đầu. Đây là hai trong số các sợi dây khác nhau làm cho hoạt động của phàm ngã trở nên khả hữu.

[19] It is along this line

[19] Chính dọc theo đường này

Which is projected towards the Monad

đường được phóng chiếu về phía chân thần

[20] that the final withdrawal of the forces takes place,

[20] mà sự triệt thoái cuối cùng của các mãnh lực diễn ra,

So it is in a way a path of withdrawal and of escape, as it is sometimes called—escape from the confines of the lower world.

Vì vậy, theo một cách nào đó, đó là con đường rút lui và thoát ly, như đôi khi được gọi—thoát khỏi những giới hạn của thế giới thấp.

[21] the forces which—upon the downward way or the involutionary path—focussed themselves in the personality and the soul.

[21] những mãnh lực mà—trên con đường đi xuống hay con đường giáng hạ tiến hoá—đã tự tập trung trong phàm ngã và linh hồn.

They can be withdrawn along the antahkarana. We are building our method of withdrawal and escape into the higher world. Of course, every high initiate and Master has done this, and this is the way that we will no longer be confined in the darkened room. It takes a lot of courage to go through this process, but innately as a monad we have the courage, although maybe we have somewhat forgotten it because we’ve been so confined in the lower stages of consciousness.

Chúng có thể được rút lui dọc theo antahkarana. Chúng ta đang xây dựng phương pháp rút lui và thoát ly của mình vào thế giới cao. Tất nhiên, mọi điểm đạo đồ cao cấp và Chân sư đều đã làm điều này, và đây là cách chúng ta sẽ không còn bị giam hãm trong căn phòng tối. Cần rất nhiều can đảm để đi qua tiến trình này, nhưng tự bản chất, với tư cách là chân thần, chúng ta có can đảm ấy, dù có lẽ chúng ta đã phần nào quên mất vì đã bị giam hãm quá lâu trong các giai đoạn thấp của tâm thức.

[22] The antahkarana per se, completed by the bridge built by the disciple,

[22] Antahkarana, xét chính nó, được hoàn tất nhờ cây cầu do đệ tử xây dựng,

Nobody’s going to do this for us, although there is the sense in which when we build, the Father comes forth from his house and meets the disciple halfway. There is a certain kind of reciprocity that is called Invocation and Evocation in the fourth stage of this building. Nevertheless, this is our responsibility. The antahkarana per se, completed by the bridge, built by the disciple,

Không ai sẽ làm điều này thay cho chúng ta, dù có một ý nghĩa theo đó khi chúng ta xây dựng, Cha bước ra khỏi nhà của Ngài và gặp đệ tử ở nửa đường. Có một loại hỗ tương nhất định được gọi là Khẩn Cầu và Gợi Lên trong giai đoạn thứ tư của công trình xây dựng này. Tuy nhiên, đây là trách nhiệm của chúng ta. Chính antahkarana, được hoàn tất bởi cây cầu, do đệ tử xây dựng,

[23] is the final medium of abstraction or of the great withdrawal.

[23] là phương tiện cuối cùng của sự trừu xuất hay của cuộc đại triệt thoái.

Don’t you see that when he starts talking about abstraction, the first, fourth Initiation though, first ray—how do we do that? The First Ray Lord will be implicated because it is the great ray of abstraction.

Các bạn thấy không, khi Ngài bắt đầu nói về sự trừu xuất, lần Điểm Đạo thứ tư đầu tiên—cung một—chúng ta làm điều đó như thế nào? Đấng Chúa Tể Cung một sẽ liên hệ vì đó là cung vĩ đại của sự trừu xuất.

[24] It is with the antahkarana that the initiate is concerned in the fourth initiation,

[24] Chính với antahkarana mà điểm đạo đồ phải bận tâm trong lần điểm đạo thứ tư,

It’s an Initiation where the Fourth Ray Lord is very active, but so is the destroyer. The ray of the destroyer, although maybe more powerful than the fifth, is active in this Initiation of Renunciation and the first resurrection, not the final resurrection which we call the seventh Initiation. This is sometimes

Đó là một Cuộc Điểm Đạo trong đó Đấng Chúa Tể Cung bốn hoạt động rất mạnh, nhưng kẻ hủy diệt cũng vậy. Cung của kẻ hủy diệt, dù có lẽ mạnh hơn cung năm, hoạt động trong Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ này và sự phục sinh thứ nhất, không phải sự phục sinh cuối cùng mà chúng ta gọi là lần Điểm Đạo thứ bảy. Điều này đôi khi

[25] called sometimes the Great Renunciation—

[25] đôi khi được gọi là cuộc Đại

We know how important it is to use the First Ray Lord in all process of renunciation because we’re saying no to a certain aspect of our desire, right? We have to be able to do this:

Chúng ta biết quan trọng biết bao khi sử dụng Đấng Chúa Tể Cung một trong mọi tiến trình từ bỏ, vì chúng ta đang nói không với một phương diện nào đó của dục vọng mình. Chúng ta phải có khả năng làm điều này:

[26] the renunciation or the withdrawal from form life, both personal and egoic.

[26] Từ Bỏ—sự từ bỏ hay sự triệt thoái khỏi đời sống hình tướng, cả thuộc phàm ngã lẫn chân ngã.

If you want a very beautiful description of this, you go to the tenth law in Esoteric Healing and it talks about withdrawal from the personal sphere and from the egoic sphere too and the entering into Shamballic consciousness or the presence at least of the Lord of the World.

Nếu các bạn muốn một mô tả rất đẹp về điều này, hãy đến định luật thứ mười trong Trị Liệu Huyền Môn; ở đó nói về sự rút lui khỏi khối cầu phàm ngã và cả khỏi khối cầu chân ngã, cũng như việc bước vào tâm thức Shamballa, hoặc ít nhất là vào sự hiện diện của Đức Chúa Tể Thế Giới.

All of this lies ahead, but The Tibetan is so marvelously clear about it that we certainly should develop a great incentive to tread the way that leads in this direction.

Tất cả những điều này còn ở phía trước, nhưng Chân sư Tây Tạng trình bày thật rõ ràng kỳ diệu đến nỗi chắc chắn chúng ta nên phát triển một động lực lớn để bước trên con đường dẫn theo hướng này.

[27] After this initiation neither of these aspects can hold the Monad any more.

[27] Sau cuộc điểm đạo này, không phương diện nào trong hai phương diện ấy còn có thể giữ Chân thần lại nữa.

Even the soul body is sufficiently destroyed that the Monad-in-Extension can no longer be held by it. We learn in Rule 10,

Ngay cả thể linh hồn cũng bị phá hủy đủ mức để Chân Thần-trong-sự-mở-rộng không còn có thể bị nó giữ lại. Chúng ta học trong Quy luật 10,

[28] The “veil of the Temple” is rent in twain

[28] “Bức màn của Đền Thờ” bị xé làm đôi

This is what the Christ did. He made it possible for so many people, more people to take the fourth Initiation. He rent that which was stopping the Will of God from entering more deeply into the consciousness of humanity. The veil of the temple is rent in twain

Đây là điều Đức Christ đã làm. Ngài đã làm cho rất nhiều người, nhiều người hơn, có thể trải qua lần Điểm Đạo thứ tư. Ngài đã xé điều đang ngăn Ý Chí của Thượng Đế đi sâu hơn vào tâm thức của nhân loại. Bức màn của đền thờ bị xé làm đôi

[29] from the top to the bottom—

[29] từ trên xuống

from the top to the bottom.

từ trên xuống dưới.

There was a veil in the early Hebrew Temple and it did separate the Holy Place from the Holy of Holies.

Có một bức màn trong Đền Thờ Do Thái thời xưa, và nó đã tách Nơi Thánh khỏi Nơi Cực Thánh.

[30] that veil which separated the Outer Court (the personality life) from the Holy Place (the soul) and from the Holy of Holies (the Monad) in the Temple at Jerusalem.

[30] dưới—bức màn đã phân cách Sân Ngoài, tức đời sống phàm ngã, với Nơi Thánh, tức linh hồn, và với Nơi Chí Thánh, tức Chân thần, trong Đền Thờ tại Jerusalem.

There was tremendous symbolism there and an understanding of what it meant.

Ở đó có biểu tượng tính hết sức lớn lao và một sự thấu hiểu về ý nghĩa của nó.

Of course the priests tend to get proud about that kind of thing. Then along comes a popularizer like Jesus or like the prince Siddhartha and they want to give this information out to everybody. The priesthood considers it their own prerogative.

Tất nhiên các tư tế có khuynh hướng trở nên kiêu hãnh về những điều như vậy. Rồi xuất hiện một người phổ biến giáo huấn như Đức Jesus hay như hoàng tử Tất-đạt-đa, và các Ngài muốn trao thông tin này cho mọi người. Giai cấp tư tế xem đó là đặc quyền riêng của họ.

It’s not that they disbelieve in the powers and understanding and capacity of these revealers like Jesus and the Buddha or Christ and the Buddha. They just don’t want to share. I wonder if this was the case with the Tibetans in their monasteries before the Chinese came and basically forced a tremendous expulsion which resulted in a world sharing.

Không phải là họ không tin vào các quyền năng, sự thấu hiểu và năng lực của những Đấng mặc khải này như Đức Jesus và Đức Phật, hay Đức Christ và Đức Phật. Họ chỉ không muốn chia sẻ. Tôi tự hỏi liệu điều này có từng xảy ra với người Tây Tạng trong các tu viện của họ trước khi người Trung Hoa đến và về căn bản đã buộc phải có một cuộc trục xuất khổng lồ, dẫn đến sự chia sẻ với thế giới.

Sometimes the method of making sure that a sharing occurs is not the most pleasant. But this gives us a sense of how the temple was created and also the symbolism that is involved here. The outer court, the tabernacle in the wilderness, the holy place, the temple of Solomon, and the holy of holies, the temple of Ezekiel, the vehicle of the monad.

Đôi khi phương pháp để bảo đảm rằng sự chia sẻ diễn ra không phải là dễ chịu nhất. Nhưng điều này cho chúng ta một cảm nhận về cách đền thờ được tạo nên, cũng như biểu tượng tính liên hệ ở đây. Sân ngoài, nhà tạm trong hoang địa, nơi thánh, đền thờ Sa-lô-môn, và nơi cực thánh, đền thờ Ê-dê-ki-en, hiện thể của chân thần.

[31] The implications and the analogies will necessarily be clear to you.

[31] Những hàm ý và các tương đồng tất yếu sẽ rõ ràng đối với bạn.

It’s clear enough theoretically, although we have a lot yet to do before this is applicable immediately to our situation.

Về mặt lý thuyết thì đủ rõ, dù chúng ta còn rất nhiều việc phải làm trước khi điều này có thể áp dụng ngay vào tình huống của mình.

[32] In order, therefore, to bring about the needed projection of the accumulated energies,

[32] Vì vậy, để tạo ra sự phóng chiếu cần thiết của các năng lượng đã tích lũy,

Both of the creative imagination and of that pool of mental energies retained at a point of tension, the accumulated energies

cả của Sự tưởng tượng sáng tạo lẫn của khối năng lượng trí tuệ được giữ lại tại một điểm tập trung nhất tâm, các năng lượng đã tích lũy

[33] organised by the creative imagination and brought to a point of excessive tension by the focussing of the mental impulse (an aspect of the will), the disciple then calls upon the resources of his soul, stored up in what is technically called “the jewel in the lotus.”

[33] được tổ chức bởi Sự tưởng tượng sáng tạo và được đưa đến một điểm căng thẳng cực độ nhờ sự tập trung của xung lực trí tuệ, tức một phương diện của ý chí, bấy giờ đệ tử kêu gọi các nguồn lực của linh hồn mình, được tích trữ trong điều mà về mặt chuyên môn gọi là “viên ngọc trong hoa sen.”

That’s very important. Sometimes I don’t think I’ve paid enough attention to that particular sentence, but where are we going to get the power to make this projection successful? We need, of course, the Will of the soul, but we need also the power of the jewel in the lotus, which really pretty well permeates every aspect of the Egoic Lotus.

Điều đó rất quan trọng. Đôi khi tôi không nghĩ mình đã chú ý đủ đến câu đặc biệt ấy, nhưng chúng ta sẽ lấy quyền năng ở đâu để làm cho sự phóng chiếu này thành công? Tất nhiên, chúng ta cần Ý Chí của linh hồn, nhưng chúng ta cũng cần quyền năng của viên ngọc trong hoa sen, vốn thật sự thấm nhuần khá trọn vẹn mọi phương diện của Hoa Sen Chân Ngã.

In order to bring about the needed projection of the accumulated energies

Để đem lại sự phóng chiếu cần thiết của các năng lượng đã tích lũy

Organized by the creative imagination and ultimately from the Buddhic plane, the Buddhic energies are great organizers. After all, pure reason is the capacity of the Buddhic plane. The fourth ether, in a lower sense, is an organizer, and so is the Buddhic plane.

Được tổ chức bởi Sự tưởng tượng sáng tạo và sau cùng từ cõi Bồ đề, các năng lượng Bồ đề là những đấng tổ chức vĩ đại. Rốt cuộc, lý trí thuần túy là năng lực của cõi Bồ đề. Dĩ thái thứ tư, theo nghĩa thấp hơn, là một yếu tố tổ chức, và cõi Bồ đề cũng vậy.

The accumulated energies are organized by the creative imagination under the impress of the Buddhic plane and brought to a point of excessive tension. Excessive means probably as much attention as we can generate. As much attention as we can generate by the focusing of the mental impulse, an aspect of the Will.

Các năng lượng đã tích lũy được Sự tưởng tượng sáng tạo tổ chức dưới ấn tượng của cõi Bồ đề và được đưa đến một điểm căng thẳng tột độ. Tột độ có lẽ nghĩa là mức chú tâm nhiều nhất mà chúng ta có thể tạo ra. Mức chú tâm nhiều nhất mà chúng ta có thể tạo ra nhờ sự tập trung của xung lực trí tuệ, một phương diện của Ý Chí.

the disciple then calls upon the resources of his soul, stored up in what is technically called “the jewel in the lotus.”

bấy giờ đệ tử kêu gọi các nguồn lực của linh hồn mình, được tích trữ trong điều về mặt kỹ thuật gọi là “viên ngọc trong hoa sen.”

The relationship between mentality and Will, you know, both along the odd line, one, three, five, seven, is something we always have to keep in mind. Mentality carries the Will. Sometimes we say to people, “You should mind me,” which means you should obey my will.

Mối liên hệ giữa trí tuệ và Ý Chí, cả hai đều đi theo đường lẻ, một, ba, năm, bảy, là điều chúng ta luôn phải ghi nhớ. Trí tuệ mang Ý Chí. Đôi khi chúng ta nói với người khác: “Bạn nên nghe theo tôi,” nghĩa là bạn nên tuân theo ý chí của tôi.

We see the way in which mentality is a means of expressing the Will.

Chúng ta thấy cách trí tuệ là một phương tiện biểu lộ Ý Chí.

[34] This is the anchorage of the Monad—

[34] Đây là điểm neo của

In the jewel in the lotus,

Trong viên ngọc trong hoa sen,

[35] a point which must not be forgotten.

[35] Chân thần—một điểm không được quên.

That is where the—what I want to do is show you again the picture here, which I have not shown yet. It’ll take me a second to get it up.

Đó là nơi mà—điều tôi muốn làm là cho các bạn xem lại hình ảnh ở đây, hình mà tôi chưa cho xem. Sẽ mất một giây để đưa nó lên.

A diagram of a triangle



AI-generated content may be incorrect.

Here we have the image which shows how from the Will aspect of the monad, there is a direct descent to the very center of the causal body or to that nucleus around which the causal body will be built. You kind of wonder if it is to the second level of the higher mental plane that this descent occurs, because in a way the Egoic Lotus never moves any higher than the second sublevel of the mental plane and it is destroyed there. It doesn’t really move on to the first sublevel as some people have theorized, but there are some obscure references which seem to suggest that the jewel in the lotus may sort of hover between the boundary of the higher mental plane and the Buddhic plane. We’ll have to look that up and confirm. In any case, this is the anchorage for the monad, the Jewel in the Lotus.

Ở đây chúng ta có hình ảnh cho thấy từ phương diện Ý Chí của chân thần, có một sự giáng xuống trực tiếp đến chính trung tâm của thể nguyên nhân, hay đến nhân trung tâm mà quanh đó thể nguyên nhân sẽ được xây dựng. Các bạn có thể tự hỏi liệu sự giáng xuống này có xảy ra đến cấp độ thứ hai của Cõi thượng trí hay không, vì theo một cách nào đó Hoa Sen Chân Ngã không bao giờ đi cao hơn cõi phụ thứ hai của cõi trí và nó bị phá hủy tại đó. Nó thật sự không chuyển sang cõi phụ thứ nhất như một số người đã lý thuyết hóa, nhưng có một vài tham chiếu mờ tối dường như gợi ý rằng viên ngọc trong hoa sen có thể phần nào lơ lửng giữa ranh giới của Cõi thượng trí và cõi Bồ đề. Chúng ta sẽ phải tra cứu và xác nhận điều đó. Dù sao, đây là điểm neo của chân thần, Viên Ngọc trong Hoa Sen.

[36] The aspects of the soul which we call knowledge, love and sacrifice, and which are expressions of the causal body, are only effects of this monadic radiation.

[36] Các phương diện của linh hồn mà chúng ta gọi là tri thức, bác ái và hi sinh, và vốn là những biểu hiện của thể nguyên nhân, chỉ là các hiệu quả của bức xạ chân thần này. [Page 492]

This is very interesting because all qualities and principles are contained within the monad. All qualities are found within the monad, and the seven principles as well. It’s monadic radiation, and everything comes from the monad.

Điều này rất thú vị vì mọi phẩm tính và nguyên khí đều được chứa trong chân thần. Mọi phẩm tính đều được tìm thấy trong chân thần, và bảy nguyên khí cũng vậy. Đó là bức xạ chân thần, và mọi sự đều đến từ chân thần.

When you think about it, that which we are as a personality, and that which we are as a soul, is really the monad. That’s what it is. There’s nothing here but the monad in various formulations and modes of projection.

Khi các bạn nghĩ về điều đó, cái mà chúng ta là với tư cách phàm ngã, và cái mà chúng ta là với tư cách linh hồn, thật ra là chân thần. Chính là như vậy. Không có gì ở đây ngoài chân thần trong các cách cấu thành và các phương thức phóng chiếu khác nhau.

We have to call upon this monadic radiation in order to project, and that’s something that maybe I have not emphasized sufficiently.

Chúng ta phải kêu gọi bức xạ chân thần này để phóng chiếu, và đó là điều có lẽ tôi đã chưa nhấn mạnh đủ.

{Call upon the monadic radiation in order to project.

{Hãy kêu gọi bức xạ chân thần để phóng chiếu.

There are so many things to remember here, and so many things to do simultaneously, until it all becomes second nature to us somehow, and then it flows smoothly.

Có quá nhiều điều phải nhớ ở đây, và quá nhiều điều phải làm đồng thời, cho đến khi bằng cách nào đó tất cả trở thành bản tính thứ hai đối với chúng ta, rồi nó tuôn chảy trôi chảy.

[37] Therefore, before the bridge can be truly built and “projected on the upward way, providing safe travelling for the pilgrim’s weary feet”

[37] Do đó, trước khi cây cầu có thể thực sự được xây dựng và “phóng chiếu trên con đường đi lên, đem lại lối đi an toàn cho đôi chân mệt mỏi của người hành hương”

having experienced millions and millions of years in the darkened chamber, and having run around here and there looking for what we desire, and then looking for the truth, we are weary indeed. This will provide a safe passage, and we will not be sidetracked, as is so easy to happen when we are pursuing desires or pursuing illusions or glamours, those kinds of things.

sau khi đã trải qua hàng triệu triệu năm trong căn phòng tối, và đã chạy khắp nơi tìm kiếm điều mình ham muốn, rồi tìm kiếm chân lý, quả thật chúng ta đã mỏi mệt. Điều này sẽ cung cấp một lối đi an toàn, và chúng ta sẽ không bị lạc hướng, như rất dễ xảy ra khi chúng ta theo đuổi dục vọng hoặc theo đuổi ảo tưởng hay ảo cảm, những thứ như vậy.

Therefore, before the bridge can be truly built and “projected on the upward way, providing safe traveling for the pilgrims weary feet”

Vì vậy, trước khi cây cầu có thể thật sự được xây dựng và “được phóng chiếu trên con đường đi lên, đem lại sự di chuyển an toàn cho đôi chân mỏi mệt của người hành hương”

[38] (as the Old Commentary puts it), the disciple must begin to react in response to the closed lotus bud or jewel at the centre of the opened lotus.

[38] như Cổ Luận diễn đạt, đệ tử phải bắt đầu đáp ứng với nụ hoa sen khép kín, hay viên ngọc, ở trung tâm hoa sen đã nở.

Until we have taken the fourth initiation, the four central petals around the jewel in the lotus don’t really burst open, revealing the jewel, though there is increasing light from the jewel. It depends on what reference you read. There does seem to be a gradual unfoldment at the very center of the jewel in the lotus. The three synthesis petals are buddhic in their nature, and there seems to be an atmic connection with the jewel in the lotus itself, since the monad itself and the atmic plane are very closely related in terms of will.

Cho đến khi chúng ta trải qua lần điểm đạo thứ tư, bốn cánh hoa trung tâm quanh viên ngọc trong hoa sen không thật sự bừng mở để hiển lộ viên ngọc, dù ánh sáng từ viên ngọc ngày càng gia tăng. Điều đó tùy thuộc vào tham chiếu mà các bạn đọc. Dường như thật sự có một sự khai mở dần dần tại chính trung tâm của viên ngọc trong hoa sen. Ba cánh hoa tổng hợp có bản chất Bồ đề, và dường như có một mối liên hệ atma với chính viên ngọc trong hoa sen, vì bản thân chân thần và cõi atma rất liên hệ mật thiết về mặt ý chí.

The disciple must begin to react to the closed lotus bud. For us, it’s going to be relatively closed. At each initiation, a little bit of the synthesis power comes forth, revealing a little bit more light in the temple, in the egoic lotus, but there’s not really that bursting open that occurs just before the fourth initiation. We begin to react to the relatively closed lotus petals to the lotus bud. The jewel itself is not fully disclosed.

Đệ tử phải bắt đầu phản ứng với nụ hoa sen khép kín. Đối với chúng ta, nó sẽ tương đối khép kín. Ở mỗi cuộc điểm đạo, một chút quyền năng tổng hợp xuất hiện, hiển lộ thêm một chút ánh sáng trong đền thờ, trong hoa sen chân ngã, nhưng không thật sự có sự bừng mở xảy ra ngay trước lần điểm đạo thứ tư. Chúng ta bắt đầu phản ứng với các cánh hoa sen tương đối khép kín, với nụ hoa sen. Chính viên ngọc chưa được phơi bày trọn vẹn.

[39] This he does when the sacrifice petals of the egoic lotus are assuming control in his life,

[39] Y thực hiện điều này khi các cánh hoa hi sinh của Hoa Sen Chân Ngã đang nắm quyền kiểm soát trong đời sống của y,

These petals are completely open at the third initiation,

Các cánh hoa này hoàn toàn mở ra ở lần điểm đạo thứ ba,

[40] when his knowledge is being transmuted into wisdom,

[40] khi tri thức của y đang được chuyển hoá thành minh triết,

And thus the knowledge petals are beginning to disintegrate.

Và như thế các cánh hoa tri thức bắt đầu tan rã.

[41] and his love for the whole is growing;

[41] và tình thương của y đối với toàn thể đang tăng trưởng;

And the love for the whole is the gift of the third initiation.

Và tình thương đối với toàn thể là món quà của lần điểm đạo thứ ba.

[42] to these is being added the “power to renounce”.

[42] thêm vào những điều này là “quyền năng từ bỏ”.

A first ray power related to the fourth degree. The power to renounce is growing as well. The sacrifice petals are assuming control in the life, and for any initiative, the second degree or third degree, that must really be the case, and the first degree initiate is learning so to do.

Một quyền năng cung một liên hệ với cấp độ thứ tư. Quyền năng từ bỏ cũng đang tăng trưởng. Các cánh hoa hi sinh đang nắm quyền kiểm soát trong đời sống, và đối với bất kỳ điểm đạo đồ nào, lần thứ hai hay lần thứ ba, điều đó thật sự phải là như vậy; còn điểm đạo đồ cấp một đang học để làm như thế.

[43] These three egoic qualities—when functioning with a measure of potency—produce an increased activity at the very centre of soul life, the heart of the lotus.

[43] Ba phẩm tính chân ngã này—khi hoạt động với một mức độ quyền năng nào đó—tạo ra một hoạt động gia tăng ngay tại trung tâm của đời sống linh hồn, tức trái tim của hoa sen.

What are those capacities, the three potencies? There’s the power to renounce. The love of the whole is growing, so that’s another one. Knowledge and wisdom—let’s call it wisdom, because knowledge has been transmuted into wisdom. Wisdom, the love of the whole, and the power to renounce are all growing, and we can assume that at the third degree, they have assumed relative strength and importance.

Những năng lực ấy là gì, ba quyền năng ấy là gì? Có quyền năng từ bỏ. Tình thương đối với toàn thể đang tăng trưởng, vậy đó là một điều khác. Tri thức và minh triết—hãy gọi đó là minh triết, vì tri thức đã được chuyển hoá thành minh triết. Minh triết, tình thương đối với toàn thể, và quyền năng từ bỏ đều đang tăng trưởng, và chúng ta có thể giả định rằng ở cấp độ thứ ba, chúng đã đạt được sức mạnh và tầm quan trọng tương đối.

These three egoic qualities, when functioning with a measure of potency, produce an increased activity at the very center of soul life.

Ba phẩm tính chân ngã này, khi vận hành với một mức độ quyền năng, tạo ra một hoạt động gia tăng tại chính trung tâm của đời sống linh hồn.

At each initiation, there’s a little bit of unfoldment of the synthesis petals: the knowledge synthesis petal at the first degree, the love synthesis petal at the second, and the wisdom, love, sacrifice synthesis petal at the third degree. But there’s not anything completely like a bursting open of these three petals revealing the jewel in the lotus. There is just increasing unfoldment, but the jewel in the lotus, for all practical purposes, is still concealed.

Ở mỗi cuộc điểm đạo, có một chút khai mở của các cánh hoa tổng hợp: cánh hoa tổng hợp tri thức ở cấp độ thứ nhất, cánh hoa tổng hợp bác ái ở cấp độ thứ hai, và cánh hoa tổng hợp minh triết, bác ái, hi sinh ở cấp độ thứ ba. Nhưng chưa có điều gì hoàn toàn giống như sự bừng mở của ba cánh hoa này để hiển lộ viên ngọc trong hoa sen. Chỉ có sự khai mở ngày càng tăng, nhưng xét theo mọi mục đích thực tiễn, viên ngọc trong hoa sen vẫn còn được che giấu.

[44] It should be remembered that the correspondences in the egoic lotus to the three planetary centres are as follows:

[44] Cần nhớ rằng các tương ứng trong Hoa Sen Chân Ngã với ba trung tâm hành tinh là như sau:

[45] Shamballa. . . . The jewel in the lotus.

[45] Shamballa. . . . Viên ngọc trong hoa sen.

[46] Hierarchy . . . . The three groups of petals.

[46] Thánh Đoàn . . . . Ba nhóm cánh hoa.

[47] Humanity . . . .The three permanent atoms within the aura of the lotus.

[47] Nhân loại . . . . Ba nguyên tử trường tồn bên trong hào quang của hoa sen.

Or the three members of the atomic triangle, two of which are permanent atoms.

Hoặc ba thành viên của tam giác nguyên tử, trong đó hai là Nguyên tử trường tồn.

All of the petals relate to Hierarchy, and the three synthesis petals relate pretty much to whatever the correspondence in Hierarchy is to the Spiritual Triad, and then Shamballic, the jewel in the lotus. All of these connections are very important to retain in the consciousness. The analogies hold good and are illuminative.

Tất cả các cánh hoa đều liên hệ với Thánh đoàn, và ba cánh hoa tổng hợp liên hệ khá nhiều với bất cứ điều gì trong Thánh đoàn tương ứng với Tam Nguyên Tinh Thần, rồi phương diện Shamballa là viên ngọc trong hoa sen. Tất cả những mối liên hệ này đều rất quan trọng để giữ lại trong tâm thức. Các tương đồng đứng vững và đem lại sự soi sáng.

Three powers of the soul, three egoic potencies: knowledge into wisdom, love for the whole, power to renounce. They are related, respectively, to the three tiers of petals out of the nine, but not so much the synthesis petals. Maybe synthesis petals somehow gather to them a greater wisdom, a greater love, and a greater power to renounce. Each tier of three out of the nine petals, not the twelve.

Ba quyền năng của linh hồn, ba quyền năng chân ngã: tri thức thành minh triết, tình thương đối với toàn thể, quyền năng từ bỏ. Chúng lần lượt liên hệ với ba tầng cánh hoa trong số chín cánh, nhưng không nhiều với các cánh hoa tổng hợp. Có lẽ các cánh hoa tổng hợp bằng cách nào đó thu hút về mình một minh triết lớn hơn, một bác ái lớn hơn, và một quyền năng từ bỏ lớn hơn. Mỗi tầng gồm ba trong số chín cánh hoa, không phải mười hai.

When do the sacrifice petals really assume control in our life? Before we can project, we’ve got to be responding to the power of the jewel in the lotus, and these three egoic potencies have to begin growing. When we try a projection, to what degree do we have the wisdom? Is the love for the whole really growing? Is the power to renounce really there? Then we will be successful.

Khi nào các cánh hoa hi sinh thật sự nắm quyền kiểm soát trong đời sống chúng ta? Trước khi có thể phóng chiếu, chúng ta phải đang đáp ứng với quyền năng của viên ngọc trong hoa sen, và ba quyền năng chân ngã này phải bắt đầu tăng trưởng. Khi chúng ta thử một sự phóng chiếu, chúng ta có minh triết đến mức nào? Tình thương đối với toàn thể có thật sự đang tăng trưởng không? Quyền năng từ bỏ có thật sự ở đó không? Khi ấy chúng ta sẽ thành công.

[48] Students should also bear in mind that they need to rid themselves of the usual idea of sacrifice as a process of giving-up, or renunciation of all that makes life worth living.

[48] Các đạo sinh cũng nên ghi nhớ rằng họ cần tự giải thoát khỏi quan niệm thông thường về hi sinh như một tiến trình buông bỏ, hay từ bỏ tất cả những gì làm cho đời sống đáng sống.

That is a persistent misapprehension, and that is why when you discuss sacrifice with people they really have an aversion to it because they think of it in terms of loss rather than gain. As Master Morya has written, when have you ever become less through sacrifice?

Đó là một sự hiểu lầm dai dẳng, và đó là lý do khi các bạn bàn về hi sinh với mọi người, họ thật sự có ác cảm với nó, vì họ nghĩ về nó theo nghĩa mất mát hơn là đạt được. Như Chân sư Morya đã viết, có khi nào các bạn trở nên kém hơn nhờ hi sinh?

[49] Sacrifice is, technically speaking, the achievement of a state of bliss and of ecstasy because it is the realisation of another divine aspect, hidden hitherto by both the soul and the personality.

[49] Nói theo nghĩa chuyên môn, hi sinh là sự đạt được một trạng thái chí phúc và xuất thần, vì đó là sự chứng nghiệm một phương diện thiêng liêng khác, cho đến nay vẫn bị cả linh hồn lẫn phàm ngã che khuất.

This is fantastic. Sacrifice is, technically, the achievement of a state of bliss. Happiness, joy, and bliss—bliss of the spirit—must be pointed out. Although people like ourselves are not yet there in the bliss, maybe we have fleeting moments.

Điều này thật tuyệt vời. Hi sinh, theo kỹ thuật, là sự đạt được một trạng thái chí phúc. Hạnh phúc, sự hoan hỉ và chí phúc—chí phúc của tinh thần—phải được nêu rõ. Dù những người như chúng ta chưa ở trong chí phúc ấy, có lẽ chúng ta có những khoảnh khắc thoáng qua.

[50] It is understanding and recognition of the will-to-good

[50] Đó là sự thấu hiểu và nhận biết Ý Chí-hướng Thiện

Which must be a great source of joy or bliss. This will-to-good

điều hẳn phải là một nguồn lớn của sự hoan hỉ hay chí phúc. Ý Chí-hướng Thiện này

[51] which made creation possible and inevitable, and which was the true cause of manifestation.

[51] vốn đã khiến cuộc sáng tạo trở nên khả hữu và tất yếu, và vốn là nguyên nhân đích thực của sự biểu hiện.

Somehow we enter into realization. We enter into the realization of a great will-to-good of the planetary logos. When you look at a word like will-to-good, there’s a lot of these will words that used to be in my abbreviations before disaster struck. If we could only understand that will-to-good, and somehow begin to understand that we enter into sacrifice and understand something of the great will-to-good and how our sacrifices will promote the expression of that will-to-good of the planetary logos.

Bằng cách nào đó chúng ta bước vào sự nhận biết. Chúng ta bước vào sự nhận biết một Ý Chí-hướng Thiện vĩ đại của Hành Tinh Thượng đế. Khi các bạn nhìn vào một từ như Ý Chí-hướng Thiện, có nhiều từ về ý chí như vậy từng nằm trong các chữ viết tắt của tôi trước khi tai họa xảy ra. Giá như chúng ta có thể thấu hiểu Ý Chí-hướng Thiện ấy, và bằng cách nào đó bắt đầu thấu hiểu rằng chúng ta bước vào hi sinh và hiểu được điều gì đó về Ý Chí-hướng Thiện vĩ đại, cũng như cách các hi sinh của chúng ta sẽ thúc đẩy sự biểu lộ Ý Chí-hướng Thiện ấy của Hành Tinh Thượng đế.

[52] Ponder on this, for it is very different in its significance to the usual concepts anent sacrifice.

[52] Hãy suy ngẫm về điều này, vì xét về thâm nghĩa, nó rất khác với những quan niệm thông thường liên quan đến hi sinh.

It’s hard to get rid of the old sense of grief and despair and loss and diminishment. It’s so ingrained, and a certain interpretation of Christianity has given us this ingrained false understanding of sacrifice. But if we ponder it, lives change because of the pondering.

Thật khó loại bỏ cảm thức cũ về đau buồn, tuyệt vọng, mất mát và suy giảm. Nó đã ăn sâu, và một cách diễn giải nhất định của Ki-tô giáo đã trao cho chúng ta sự hiểu sai cố hữu này về hi sinh. Nhưng nếu chúng ta suy ngẫm về nó, đời sống sẽ thay đổi nhờ sự suy ngẫm.

When you deeply contemplate certain things like love, we learn how to love. So deep contemplation on certain qualities actually brings them into expression as a faculty for the human being who is thus contemplating. I feel obliged to look at this and ponder it.

Khi các bạn chiêm ngưỡng sâu xa một số điều như bác ái, chúng ta học cách yêu thương. Vì vậy, sự chiêm ngưỡng sâu xa về một số phẩm tính thật sự đưa chúng vào biểu lộ như một quan năng cho con người đang chiêm ngưỡng như thế. Tôi cảm thấy mình có bổn phận nhìn vào điều này và suy ngẫm về nó.

Sacrifice is, technically speaking, the achievement of a state of bliss and of ecstasy.

Hi sinh, nói theo kỹ thuật, là sự đạt được một trạng thái chí phúc và xuất thần.

Just imagine realizing the will-to-good of the great Planetary Logos or beyond, and then going into a state of ecstasy, standing apart from your usual limitations of self, because it is the realization of another divine aspect, hitherto hidden by both the soul and the personality.

Hãy thử tưởng tượng việc nhận ra Ý Chí-hướng Thiện của Hành Tinh Thượng đế vĩ đại, hoặc xa hơn nữa, rồi đi vào một trạng thái xuất thần, đứng tách khỏi những giới hạn thông thường của bản ngã, vì đó là sự nhận ra một phương diện thiêng liêng khác, cho đến nay vẫn bị cả linh hồn lẫn phàm ngã che giấu.

So even though the sacrifice petals are of the soul, when sacrifice becomes increasingly an aspect of our life, we realize that the soul has been hiding the full measure of sacrifice, which has been delivered or expressed by the planetary logos.

Vì vậy, dù các cánh hoa hi sinh thuộc về linh hồn, khi hi sinh ngày càng trở thành một phương diện của đời sống chúng ta, chúng ta nhận ra rằng linh hồn đã che giấu mức độ trọn vẹn của hi sinh, vốn được Hành Tinh Thượng đế trao truyền hay biểu lộ.

Just think of the Solar Logoic sacrifice and all the way on. Cosmic logoi and greater logoi all have deeper and deeper modes of sacrifice. Without sacrifice, without this will-to-good, there is no creation possible. But when the will-to-good is streaming forth, creation is not only possible, but inevitable. The will-to-good made possible is really the true cause of manifestation. We have so much yet to understand.

Hãy nghĩ đến sự hi sinh của Thái dương Thượng đế và tiếp tục lên mãi. Các Thượng đế vũ trụ và các Thượng đế lớn hơn đều có những phương thức hi sinh ngày càng sâu xa. Không có hi sinh, không có Ý Chí-hướng Thiện này, thì không thể có sáng tạo. Nhưng khi Ý Chí-hướng Thiện đang tuôn trào, sáng tạo không chỉ khả hữu mà còn tất yếu. Ý Chí-hướng Thiện làm cho điều khả hữu thật sự trở thành nguyên nhân đích thực của sự biểu hiện. Chúng ta còn rất nhiều điều phải thấu hiểu.

[53] When the disciple has gained the fruit of experience which is knowledge and is learning to transmute it into wisdom,

[53] Khi đệ tử đã thu hoạch được thành quả của kinh nghiệm, tức tri thức, và đang học cách chuyển hoá nó thành minh triết,

How can we describe wisdom in many ways? But knowledge has deep significance—I’m using that in the occult sense, because the world of significance is entered in the Triad.

Chúng ta có thể mô tả minh triết theo nhiều cách. Nhưng tri thức có thâm nghĩa sâu xa—tôi đang dùng điều đó theo nghĩa huyền bí, vì Thế giới của thâm nghĩa được bước vào trong Tam nguyên tinh thần.

[54] when his objective is to live truly and in reality,

[54] khi mục tiêu của y là sống một cách chân thật và trong thực tại,

This is realization upon the Atmic plane.

Đây là sự nhận biết trên cõi atma.

[55] and when the will-to-good is the crowning goal of his daily life, then he can begin to evoke the Will.

[55] và khi Ý Chí-hướng Thiện là mục tiêu tối thượng trong đời sống hằng ngày của y, bấy giờ y có thể bắt đầu gợi lên Ý Chí.

This requires certain requirements. RQM would be requirement, right? RQMS would be the plural—requirements. So look at what you have to have. Look at what we have to be before we can evoke the will. Not just invoke it, but evoke it, which means that it does respond.

Điều này đòi hỏi những yêu cầu nhất định. Chúng ta hãy nhìn xem mình phải có gì. Hãy nhìn xem chúng ta phải là gì trước khi có thể gợi lên ý chí. Không chỉ khẩn cầu nó, mà gợi lên nó, nghĩa là nó thật sự đáp ứng.

I have hundreds of these abbreviations, and the thought of how to restore them is daunting. What are the requirements before we can evoke the will? Let’s look at that and not minimize what it takes to evoke the will.

Tôi có hàng trăm chữ viết tắt như vậy, và ý nghĩ phải khôi phục chúng thật đáng ngại. Những yêu cầu trước khi chúng ta có thể gợi lên ý chí là gì? Chúng ta hãy nhìn vào đó và đừng xem nhẹ những gì cần có để gợi lên ý chí.

When the disciple has gained the fruit of experience, which is knowledge—a very experienced disciple in terms of the reincarnation process—and is learning to transmute it into wisdom. When his objective is to live truly and in reality, and when the will-to-good is the crowning goal of his daily life, then he can begin to evoke the Will.

Khi đệ tử đã đạt được quả của kinh nghiệm, tức tri thức—một đệ tử rất giàu kinh nghiệm xét theo tiến trình tái sinh—và đang học chuyển hoá nó thành minh triết. Khi mục tiêu của y là sống một cách chân thực và trong thực tại, và khi Ý Chí-hướng Thiện là mục tiêu tối thượng của đời sống hằng ngày của y, bấy giờ y có thể bắt đầu gợi lên Ý Chí.

That gives me pause. I ask myself: am I transmuting knowledge into wisdom? Everyone can ask. Knowledge is so specific to certain circumstances, but wisdom is generalized and applies in all circumstances. When the will-to-good is understood, when his objective is to live truly and in reality, really within the spiritual Triad, just the way the members of the Hierarchy do, and when the will-to-good is the crowning goal of his daily life, then he can begin to evoke the Will. This tells us something about mastership. I’m going to say that in relation to crowning, it means mastership.

Điều đó khiến tôi dừng lại. Tôi tự hỏi: tôi có đang chuyển hoá tri thức thành minh triết không? Mọi người đều có thể tự hỏi. Tri thức rất đặc thù đối với những hoàn cảnh nhất định, nhưng minh triết thì được khái quát hóa và áp dụng trong mọi hoàn cảnh. Khi Ý Chí-hướng Thiện được thấu hiểu, khi mục tiêu của y là sống một cách chân thực và trong thực tại, thật sự trong Tam nguyên tinh thần, đúng như cách các thành viên của Thánh đoàn sống, và khi Ý Chí-hướng Thiện là mục tiêu tối thượng của đời sống hằng ngày của y, bấy giờ y có thể bắt đầu gợi lên Ý Chí. Điều này cho chúng ta biết điều gì đó về địa vị Chân sư. Tôi sẽ nói rằng liên quan đến tính tối thượng, điều đó có nghĩa là địa vị Chân sư.

[56] This will make the link between the lower and the higher minds, between spirit and matter and between Monad and personality a definite and existent fact.

[56] Điều này sẽ làm cho mối liên kết giữa hạ trí và thượng trí, giữa tinh thần và vật chất, giữa Chân thần và phàm ngã, trở thành một sự kiện xác định và hiện hữu.

But let us not imagine that evoking the Antahkarana is somehow a mechanical or simply pedestrian activity. It really has foundational requirements of a very impressive nature.

Nhưng chúng ta đừng tưởng rằng việc gợi lên antahkarana bằng cách nào đó là một hoạt động máy móc hay chỉ đơn giản là thường lệ. Nó thật sự có những yêu cầu nền tảng thuộc một bản chất rất đáng ấn tượng.

The will makes the link between the higher and lower minds—that’s the first stage of the Antahkarana. That’s between the lower mind (the mental unit, fourth sub-plane) and the Monadic permanent atom (higher mind, abstract mind, first sub-plane). So that’s the link that’s needed there.

Ý chí tạo nên mối liên kết giữa thượng trí và hạ trí—đó là giai đoạn đầu của antahkarana. Đó là giữa hạ trí, tức đơn vị hạ trí trên cõi phụ thứ tư, và Nguyên tử trường tồn chân thần, tức thượng trí, trí trừu tượng trên cõi phụ thứ nhất. Vì vậy, đó là mối liên kết cần thiết ở đó.

The link between the higher and lower minds, between spirit and matter—well, matter is anything on the lower 21 sub-planes in a way, and spirit is the Monad itself and the central part of the Monad, which is pure being and which is liberated to an extent after the sixth initiation and into the seventh when this alchemical volatile essence rises onto the lower plane. And between Monad and personality, a definite and existent fact. Right now, for us, it’s theory, and theory is good, but we have to turn it into reality.

Mối liên kết giữa thượng trí và hạ trí, giữa tinh thần và vật chất—vật chất, theo một cách nào đó, là bất cứ điều gì trên hai mươi mốt cõi phụ thấp, còn tinh thần là chính chân thần và phần trung tâm của chân thần, tức bản thể thuần túy, được giải thoát ở một mức độ nào đó sau lần điểm đạo thứ sáu và đi vào lần thứ bảy, khi tinh chất bay hơi theo thuật luyện kim này vươn lên cõi thấp. Và giữa chân thần và phàm ngã, một sự kiện xác định và hiện hữu. Hiện giờ, đối với chúng ta, đó là lý thuyết, và lý thuyết thì tốt, nhưng chúng ta phải biến nó thành thực tại.

[57] Duality then supervenes upon triplicity,

[57] Nhị nguyên bấy giờ thay thế [Page 493] tam phân,

This suggests the Technique of Duality, which follows the Technique of Fusion.

Điều này gợi ý Kỹ Thuật Nhị Nguyên, theo sau Kỹ Thuật Dung Hợp.

[58] and the potency of the central nucleus in the egoic vehicle destroys—at the fourth initiation—the three surrounding expressions.

[58] và quyền năng của hạt nhân trung tâm trong hiện thể chân ngã hủy diệt—ở lần điểm đạo thứ tư—ba biểu hiện bao quanh.

Let’s remember the Monad is also involved in order to give the central nucleus the power it needs to destroy the surrounding expressions. They disappear, the surrounding expressions—not the Monadic vehicle yet, but the causal body does. The petals do. The members of the atomic triangle do.

Hãy nhớ rằng chân thần cũng tham dự để trao cho nhân trung tâm quyền năng cần thiết nhằm phá hủy các biểu lộ bao quanh. Chúng biến mất, các biểu lộ bao quanh ấy—không phải hiện thể chân thần vào lúc đó, nhưng thể nguyên nhân thì biến mất. Các cánh hoa biến mất. Các thành viên của tam giác nguyên tử biến mất.

[59] They disappear, and then the so-called destruction of the causal body has taken place.

[59] Chúng biến mất, và bấy giờ cái gọi là sự hủy diệt thể nguyên nhân đã diễn ra.

DK hints at something else, because in a way, the entirety of the causal body may be disintegrated, but it’s not yet dissipated, and still, between the fourth and fifth degree, the debris of that kind of individual supernova has to be cleared so we have the complete radiance of the revelation of a higher life. As long as the remnants of the causal body are hanging within the field of consciousness, we do not have the vision of the way that lies ahead. This word so-called is important because there’s still debris of the previous constituents of the causal body.

Chân sư DK gợi ý một điều khác, vì theo một cách nào đó, toàn bộ thể nguyên nhân có thể đã tan rã, nhưng nó chưa được làm tiêu tan; và giữa cấp độ thứ tư và thứ năm, những mảnh vụn của loại siêu tân tinh cá nhân ấy vẫn phải được dọn sạch để chúng ta có được ánh sáng rực rỡ trọn vẹn của sự mặc khải về một sự sống cao hơn. Chừng nào những tàn dư của thể nguyên nhân còn treo trong trường tâm thức, chúng ta chưa có tầm nhìn về con đường nằm phía trước. Từ “cái gọi là” này rất quan trọng vì vẫn còn những mảnh vụn của các thành phần trước đây của thể nguyên nhân.

[60] This is the true “second death”—death to form altogether.

[60] Đây là “cái chết thứ hai” đích thực—cái chết hoàn toàn đối với hình tướng.

What He’s telling us here is we have to wait until the fourth initiation for the second death to occur. Each initiation is a little death, obviously, but here we are being liberated together from the confines of even the regenerated personality, which has become the Dweller on the Threshold in a high form, and the sheath of the Spiritual Triad, the sheath of the soul.

Điều Ngài đang nói với chúng ta ở đây là chúng ta phải chờ đến lần điểm đạo thứ tư để cái chết thứ hai xảy ra. Mỗi cuộc điểm đạo rõ ràng là một cái chết nhỏ, nhưng ở đây chúng ta cùng được giải thoát khỏi những giới hạn của ngay cả phàm ngã đã được tái sinh, vốn đã trở thành Kẻ Chận Ngõ trong một hình thức cao, và khỏi lớp vỏ của Tam Nguyên Tinh Thần, lớp vỏ của linh hồn.

A beautiful temple of Solomon, but needing destruction in order to pave the way for our entry to the temple of Ezekiel, which is the Monad at the sixth initiation.

Một đền thờ Sa-lô-môn đẹp đẽ, nhưng cần được phá hủy để dọn đường cho chúng ta bước vào đền thờ Ê-dê-ki-en, tức chân thần ở lần điểm đạo thứ sáu.

[61] This is practically all that I can tell you anent the process of projection.

[61] Đây gần như là tất cả những gì tôi có thể nói với bạn về tiến trình phóng chiếu.

We’re going to have to think deeply.

Chúng ta sẽ phải suy nghĩ sâu xa.

We are having to think deeply if we want to go further.

Chúng ta đang phải suy nghĩ sâu xa nếu muốn đi xa hơn.

[62] It is a living process, growing out of the conscious daily experience and dependent upon the expression of the divine aspects in the life upon the physical plane, as far as is possible.

[62] Đó là một tiến trình sống động, nảy sinh từ kinh nghiệm hằng ngày có ý thức và tùy thuộc vào sự biểu lộ các phương diện thiêng liêng trong đời sống trên cõi hồng trần, trong chừng mực có thể.

Because not only are we drawing on energies from below, but also upon the powers of the soul and of the Monad within the Jewel in the Lotus.

Vì chúng ta không chỉ rút lấy các năng lượng từ bên dưới, mà còn rút lấy các quyền năng của linh hồn và của chân thần bên trong Viên Ngọc trong Hoa Sen.

A living process, not just a mechanical process. It’s becoming more organic and more spontaneous all the time because of our conscious daily experience with higher aspects of divinity and with receiving through Invocation and Evocation the influences of those higher aspects of divinity.

Một tiến trình sống động, không chỉ là một tiến trình máy móc. Nó ngày càng trở nên hữu cơ hơn và tự phát hơn nhờ kinh nghiệm hằng ngày có ý thức của chúng ta với các phương diện cao hơn của thiên tính, và nhờ việc tiếp nhận, qua Khẩn Cầu và Gợi Lên, các ảnh hưởng của những phương diện cao hơn ấy của thiên tính.

[63] Where there is an attempt to approximate the personality life to the demands of the soul and to use the intellect on behalf of humanity, love is beginning to control; and then the significance of the “divine sacrifice” is increasingly understood and becomes a natural, spontaneous expression of individual intention.

[63] Khi có nỗ lực đưa đời sống phàm ngã đến gần các đòi hỏi của linh hồn và sử dụng trí năng vì nhân loại, bác ái bắt đầu chi phối; và bấy giờ thâm nghĩa của “sự hi sinh thiêng liêng” ngày càng được thấu hiểu và trở thành một biểu lộ tự nhiên, tự phát của ý định cá nhân.

If there is no sacrifice, there’s not going to be any projection and not any response. Without a sacrifice, there will be no response from the Will and higher potencies. There were three of them: Wisdom, love for the whole and power to renounce.

Nếu không có hi sinh, sẽ không có bất kỳ sự phóng chiếu nào và cũng không có bất kỳ đáp ứng nào. Không có hi sinh, sẽ không có đáp ứng từ Ý Chí và các quyền năng cao hơn. Có ba điều: minh triết, tình thương đối với toàn thể và quyền năng từ bỏ.

[64] Then it becomes possible to project the bridge.

[64] Khi đó, việc phóng chiếu cây cầu trở nên khả dĩ.

It is sacrifice which finally makes this possible. We might say that sacrifice makes possible the evocation of the higher potencies. Sacrifice is that awareness of the Will to Good. Beyond our own personal will, there is something which is amazingly potent and which we have to call upon—it’s the great Will of our Planetary Logos.

Chính hi sinh cuối cùng làm cho điều này khả hữu. Chúng ta có thể nói rằng hi sinh làm cho việc gợi lên các quyền năng cao hơn trở nên khả hữu. Hi sinh là sự nhận biết về Ý Chí-hướng Thiện. Vượt ngoài ý chí cá nhân của chúng ta, có một điều gì đó có quyền năng đáng kinh ngạc mà chúng ta phải kêu gọi—đó là Ý Chí vĩ đại của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.

That ought to be enough. Even the Will of the Christ and the Hierarchy, the Will of Shambhala, that ought to be enough. But finally, it is the Will of the Planetary Logos, this great Will to Good, an aspect of the Will to Good of the Solar Logos and on and on, which we have to become aware of as it sweeps the higher energies into expression so that the Divine Plan representing the Divine Purpose can be manifested.

Điều đó hẳn là đủ. Ngay cả Ý Chí của Đức Christ và của Thánh đoàn, Ý Chí của Shamballa, điều đó hẳn là đủ. Nhưng cuối cùng, chính Ý Chí của Hành Tinh Thượng đế, Ý Chí-hướng Thiện vĩ đại này, một phương diện của Ý Chí-hướng Thiện của Thái dương Thượng đế và tiếp tục như thế, là điều chúng ta phải trở nên nhận biết khi nó cuốn các năng lượng cao hơn vào biểu lộ, để Thiên Cơ đại diện cho Thiên Ý có thể được biểu hiện.

[65] The vibration is then set up on lower levels of divine manifestation and becomes strong enough to produce response from the higher.

[65] Rung động bấy giờ được thiết lập trên các cấp độ thấp hơn của sự biểu hiện thiêng liêng và trở nên đủ mạnh để tạo ra đáp ứng từ các cấp độ cao hơn.

We must be working at a very high point of tension to really evoke response from the higher energies.

Chúng ta phải làm việc tại một điểm tập trung nhất tâm rất cao để thật sự gợi lên đáp ứng từ các năng lượng cao hơn.

[66] Then, when the Word of Power is known and rightly used, the bridge is rapidly built.

[66] Khi ấy, khi Quyền năng từ được biết đến và được sử dụng đúng đắn, cây cầu được xây dựng nhanh chóng.

and we escape from the confines of the so-called darkened chamber.

và chúng ta thoát khỏi những giới hạn của cái gọi là căn phòng tối.

That’s usually the personality. But from one perspective, and that’s another one of those ones that I always use—from one perspective, it’s also the soul body.

Thường thì đó là phàm ngã. Nhưng từ một góc nhìn, và đó là một trong những cách nói khác mà tôi luôn dùng, từ một góc nhìn, nó cũng là thể linh hồn.

[67] Students need feel in no way discouraged by this picture.

[67] Các đạo sinh không cần cảm thấy nản lòng chút nào trước bức tranh này.

He may anticipate how daunting it really looks.

Có lẽ Ngài dự liệu nó thật sự trông đáng ngại đến mức nào.

[68] Much can happen on the inner planes where there is right intention, as well as occult intention (purpose and tension combined),

[68] Nhiều điều có thể xảy ra trên các cõi bên trong, nơi có ý định đúng đắn cũng như ý định huyền bí, tức mục đích và sự tập trung nhất tâm kết hợp,

This is the loving intention, right intention, and then a sense of purpose and accumulation of energy—occult intention.

Đây là ý định bác ái, ý định đúng đắn, rồi là một cảm thức về mục đích và sự tích lũy năng lượng—ý định huyền bí.

[69] and the bridge reaches stages of definite outline and structure long before the disciple is aware of it.

[69] và cây cầu đạt đến những giai đoạn có đường nét và cấu trúc rõ rệt rất lâu trước khi đệ tử ý thức được điều đó.

Of course, the Master is thus aware. It takes faith to build something you do not see, but perhaps begin to feel.

Tất nhiên, Chân sư nhận biết như thế. Cần có đức tin để xây dựng một điều mà các bạn không thấy, nhưng có lẽ bắt đầu cảm nhận.

This is the end of Rays and Initiations webinar commentary number 40, or let’s call it 41. Today is the 15th of January, 17th, and the beginning of Raisin Initiation’s webinar commentary number 42. We have gone on to page 493, from pages 490 to 493.

Đây là phần kết của buổi bình giảng webinar số 40 về Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, hay hãy gọi là số 41. Hôm nay là ngày 15 tháng 1 năm 2017, và là phần mở đầu của buổi bình giảng webinar số 42 về Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo. Chúng ta đã đi đến trang 493, từ các trang 490 đến 493.

I think that’s just about an hour. It’s such a deep book. We will do everything we can to assimilate and to practice and to somehow enter these worlds in a real way, filled with a realization and a practical kind of inner experience, which is difficult to describe. We will begin at page 493 when we take this up again.

Tôi nghĩ như vậy là gần một giờ. Đây là một quyển sách thật sâu sắc. Chúng ta sẽ làm mọi điều có thể để đồng hóa và thực hành, và bằng cách nào đó thật sự bước vào các thế giới này, đầy sự nhận biết và một loại kinh nghiệm nội tâm thực tiễn, khó mô tả. Chúng ta sẽ bắt đầu ở trang 493 khi tiếp tục chủ đề này lần nữa.

Thank you for attending, thinking about these things, and let us work in a manner that, because it is obedient to the clear instruction of Master DK, does bring success to our efforts.

Cảm ơn các bạn đã tham dự, đã suy nghĩ về những điều này, và chúng ta hãy làm việc theo một cách mà, vì tuân theo huấn thị rõ ràng của Chân sư DK, thật sự mang lại thành công cho các nỗ lực của chúng ta.

Leave a Comment

Scroll to Top