Antahkarana Webinar 30
Tóm Tắt
Các sợi dây năng lượng nối phàm ngã với linh hồn
Thầy MDR nhắc lại phần trước về các sợi dây năng lượng nối thể xác với thể dĩ thái, thể cảm dục, thể trí và cuối cùng đi vào Hoa Sen Chân Ngã. Thầy nêu rõ ba tuyến chính: từ thể xác đến thể dĩ thái là sự mở rộng của sinh mệnh tuyến giữa tim và lá lách; từ thể xác-thể dĩ thái như một đơn vị đến thể cảm dục thì neo ở tùng thái dương và được “mang đi lên” bằng khát vọng; từ hai thể đó đến thể trí thì một đầu neo ở đầu, đầu kia nơi các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã, được thúc đẩy bằng một hành vi của ý chí. Thầy MDR nhận xét rằng “mang đi lên” phải hàm ý sự gia tăng rung động trong các tầng của thể cảm dục để chúng cộng hưởng với các cánh hoa bác ái, và khi liên hệ được thiết lập giữa cánh hoa hi sinh với tim và đầu thì tâm thức, linh hồn và nguyên khí sự sống bắt đầu được tổng hợp cho đến lần điểm đạo thứ ba.
Mức độ linh hồn thấm nhuần và các giai đoạn điểm đạo
Thầy MDR giải thích rằng đến lần điểm đạo thứ ba, phàm ngã và linh hồn gần như đã thành một đơn vị vận hành, và mức linh hồn thấm nhuần có thể được hình dung bằng tỷ lệ vật chất nguyên tử trong các thể. Thầy nêu con số cụ thể: lần điểm đạo thứ nhất khoảng 25%, lần điểm đạo thứ hai 50%, lần điểm đạo thứ ba 75%, và đến lần điểm đạo thứ tư là 100% vật chất nguyên tử. Thầy lưu ý đây là một vấn đề thú vị vì thể xác hồng trần không thể hoàn toàn bằng vật chất nguyên tử, nên phải hiểu đặc biệt là thể dĩ thái đạt tình trạng ấy.
Nhân loại, Thánh Đoàn và viễn cảnh ngoại hiện của Đức Chúa Tể Thế Giới
Từ câu “Nhân loại đã là giới thống trị trong bản chất”, Thầy MDR nhấn mạnh rằng ít nhất trên hành tinh này, giới nhân loại đang là giới trội hơn các giới thấp. Thầy đặc biệt chú ý đến nhận định rằng sự kiện về Thánh Đoàn và sự tiếp cận gần của Thánh Đoàn tới việc xuất hiện trên cõi hồng trần hiện đã được hàng trăm ngàn người biết đến; dù so với hàng tỷ người trên Trái Đất là ít, Thầy cho rằng đó có thể đã là mức đủ để chuẩn bị cho bước kế tiếp. Thầy giải thích rằng sự xuất hiện được công nhận này sẽ dọn đường cho những giai đoạn chuẩn bị dẫn tới sự cai quản ngoại môn của Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng sẽ ra khỏi sự ẩn cư lâu dài tại Shamballa vào cuối chu kỳ thế giới.
Suy luận về chu kỳ thế giới, các cuộc tuần hoàn và Sao Kim
Khi gặp cụm “cuối chu kỳ thế giới”, Thầy MDR suy luận đây có thể liên hệ đến sự hoàn tất bảy cuộc tuần hoàn, nhưng Thầy phân biệt giữa cuộc tuần hoàn của Dãy đi từ bầu hành tinh này sang bầu hành tinh khác và cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh đi từ Dãy này sang Dãy khác. Thầy nhận xét rằng Thông Thiên Học chủ yếu bàn đến các cuộc tuần hoàn của Dãy, còn sự phối hợp đồng thời với các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh vẫn chưa được giải thích đầy đủ và có thẩm quyền. Thầy còn nêu suy đoán rằng Trái Đất hiện có thể đang ở cả cuộc tuần hoàn thứ tư của hệ hành tinh lẫn cuộc tuần hoàn thứ tư của Dãy, trong khi Sao Kim có lẽ đã gần hoàn tất cuộc tuần hoàn thứ năm của hệ hành tinh và vì thế đã “đi trước tiến độ” một cách đáng kinh ngạc.
Tầm quan trọng của việc đứng vững trên cõi trí
Bước vào chương trình 30, Thầy MDR nhấn mạnh luận điểm của Chân sư DK rằng chỉ khi người chí nguyện đứng vững một cách xác định trên cõi trí và ngày càng giữ “tiêu điểm nhận biết” tại đó, người ấy mới có thể thực sự tiến bộ trong công việc bắc cầu thiêng liêng, trong Khẩn Cầu và Gợi Lên, và trong việc thiết lập sự giao tiếp hữu thức đồng thời giữa Tam Nguyên Tinh Thần, linh hồn và phàm ngã. Thầy diễn giải điều này như một loại tính liên tục của tâm thức, tức cùng lúc biết điều gì đang xảy ra ở cả ba tầng. Thầy nhận xét đời sống như vậy nghe có vẻ rất được kiểm soát, được soi sáng bởi trí tuệ đã được giác ngộ.
Thời kỳ xây antahkarana và cách hiểu về Con Đường Dự Bị
Thầy MDR trích ý rằng thời kỳ xây antahkarana kéo dài từ các giai đoạn cuối của Con Đường Dự Bị đến lần điểm đạo thứ ba. Tuy nhiên, Thầy đề xuất rằng sau lần điểm đạo thứ ba, antahkarana có thể vẫn tiếp tục mở rộng để bao hàm các phương diện cao hơn của Tam Nguyên Tinh Thần như cõi Bồ đề và cõi atma, dù việc nối kết vững chắc với trí trừu tượng là điều kiện chủ chốt trước lần điểm đạo thứ ba. Thầy cũng phân tích hai khả năng về Con Đường Dự Bị: hoặc nó kết thúc ở lần điểm đạo thứ nhất khi người ta trở thành đệ tử thực sự, hoặc nó kéo dài đến giai đoạn được chấp nhận làm đệ tử, có thể ở khoảng giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai; theo Thầy, cả hai cách hiểu đều có cơ sở tùy ngữ cảnh.
Ba phương diện của trí và bảy trạng thái nhận biết trí tuệ
Thầy MDR lưu ý rằng ở các giai đoạn đầu của tiến trình, cần nhận ra ba phương diện của trí như chúng biểu hiện trên cõi trí và tạo ra các trạng thái tâm thức khác nhau. Thầy nói thêm rằng còn có những phương diện của trí vượt lên trên cõi trí, như “trí Bồ đề” có khả năng cảm nhận mọi sự qua lý trí bao gồm, và một loại “trí atma” liên hệ tới cõi atma; nhưng ở đây Chân sư DK đang bàn đến các phương diện hoạt động trên cõi trí. Theo Thầy, người đã phát triển, tích hợp, có khát vọng, định hướng và sùng tín sẽ đứng vững trên các mức thấp của cõi trí, có lẽ đặc biệt là cõi phụ thứ tư, nhưng vẫn sở hữu các năng lực của các cõi phụ 7, 6 và 5.
Bảy trạng thái tâm thức trên cõi trí và tương ứng với bảy lần điểm đạo
Thầy MDR giải thích rằng khi con người bước vào chu kỳ mới này với ngã thức đầy đủ, họ có bảy trạng thái nhận biết trí tuệ phải khai mở, và các trạng thái ấy vốn tiềm ẩn trong họ, mỗi trạng thái khi được làm chủ sẽ dẫn đến một trong bảy lần điểm đạo lớn. Thầy nhắc đến dãy năng lực mà Thầy hiểu là liên hệ với bảy cõi phụ của cõi trí: thông nhĩ trí tuệ, thuật trắc tâm trí tuệ, thông nhãn trí tuệ, phân biện, phân biện tinh thần, đáp ứng với rung động nhóm, và giao tiếp viễn cảm tinh thần. Thầy MDR nhận xét Chân sư DK ở đây không phân tích rạch ròi từng cõi phụ mà gom chúng lại thành những loại trạng thái tâm thức tiêu biểu.
Tâm thức linh hồn, chiêm ngưỡng và sự đảo ngược cách nhận thức thông thường
Khi nói về “việc ghi nhận điều mà linh hồn tri nhận bởi chính linh hồn”, Thầy MDR nhấn mạnh rằng đây không phải là hạ trí đang ngước lên linh hồn để lấy một ý nghĩ sáng chói, mà là chính ta đồng hoá với linh hồn và tri nhận như linh hồn. Sau đó sự tri nhận ấy mới được hạ trí ghi nhận, nên đây là sự đảo ngược thái độ thông thường của trí. Thầy MDR liên hệ tiến trình này với phần bàn về chiêm ngưỡng trong Từ Trí Tuệ đến Trực Giác, xem đó là một tiến trình kiểu Thiên Bình, có liên hệ với Sao Kim theo Chân sư DK.
Nhận biết trừu tượng cao và vai trò của trực giác
Đối với “nhận biết trừu tượng cao”, Thầy MDR nói đây gắn với nguyên tử trường tồn manas và dẫn đến sự khai mở trực giác cùng việc hạ trí nhận ra tiến trình trực giác. Thầy lưu ý Chân sư DK thường phân biệt khá rõ giữa tư tưởng rộng lớn của trí trừu tượng trên cõi trí và các ý tưởng chân thật của cõi Bồ đề mà trực giác truyền xuống trí trừu tượng; vì thế không phải mọi tư tưởng cao siêu đều là trực giác đích thực. Thầy nhận xét nhiều nhà tư tưởng lớn trong thế giới có thể sở hữu nhận biết trừu tượng cao, nhưng câu hỏi quan trọng là mức độ mà nhận biết ấy đã được “thụ tinh” bởi ấn tượng của các ý tưởng thật từ cõi Bồ đề.
Ý tưởng vượt ngoài cõi Bồ đề và bản thể như một ý tưởng
Từ chủ đề trực giác và ý tưởng, Thầy MDR mở rộng rằng ý tưởng không chấm dứt ở cõi Bồ đề mà còn tinh luyện dần qua các cõi cao hơn. Thầy đưa ra nhận định riêng rằng mọi đại hữu thể thực sự đều là một ý tưởng: Thái dương Thượng đế là một ý tưởng, một Thượng đế thiên hà cũng là một ý tưởng, và thật ra mọi hữu thể đều là một ý tưởng. Theo Thầy, đối với chúng ta hiện nay, tiếp xúc được với giới đầu tiên của các ý tưởng chân thật trên cõi Bồ đề đã là đủ lớn lao, vì từ đó chúng có thể gây ấn tượng lên trí trừu tượng rồi qua antahkarana đi xuống hạ trí.
Tâm thức Bồ đề và đặc tính tri giác của Thánh Đoàn
Khi Chân sư DK nói đến “đầy đủ tâm thức của cõi Bồ đề”, Thầy MDR diễn giải đây là tâm thức tri giác nổi bật của Thánh Đoàn, và nhắc rằng phần lớn các ashram hiện nằm trên cõi Bồ đề. Thầy phân tích rằng “đầy đủ tâm thức của cõi Bồ đề” có lẽ chủ yếu bao hàm mức trực giác và có thể cả mức lý tưởng cao, vì hai mức cao nhất của cõi Bồ đề còn vượt ngoài tầm với của một Chân sư theo một số chỉ dẫn khác. Thầy đề xuất rằng đến lần điểm đạo thứ tư, tiêu điểm sự sống của con người chuyển sang cõi Bồ đề, nơi lý trí bao gồm vận hành trực tiếp và trí không còn là môi giới nữa.
Tâm thức atma, Nirvana và các Con đường cao hơn
Bàn về “tâm thức của ý chí tinh thần như được biểu lộ và kinh nghiệm trên cõi atma”, Thầy MDR nói rất ít có thể được nói rõ về tình trạng nhận biết này vì nó tương ứng với trạng thái Nirvana và quá xa đối với đệ tử trung bình. Thầy liên hệ điều này với Đức Phật như một Chân Thần cung ba, có thể đã trải qua lần điểm đạo thứ sáu trên cung ba và nhờ đó chạm tới cõi trí vũ trụ, khiến kinh nghiệm Nirvana của Ngài cộng hưởng mạnh với những tầng cao liên quan đến số ba. Thầy còn suy luận rằng những ai chọn Con đường phụng sự Trái Đất có thể vẫn giữ trọn Tam Nguyên Tinh Thần để tiếp tục làm việc với nhân loại trong phụng sự Đấng Thái Cổ, trong khi những người khác đi vào sáu hay tám Con đường không còn liên hệ trực tiếp đến công việc với Trái Đất.
Nhận biết của Chân Thần và tính bao gồm của cung hai
Về “nhận biết bao gồm của Chân Thần trên cõi riêng của nó”, Thầy MDR nhấn mạnh đây là một thuật ngữ rất cung hai, vì tính bao gồm là phẩm tính lớn của cung hai và hệ mặt trời này là hệ mặt trời cung hai ở cấp linh hồn. Thầy cho rằng đây không chỉ là một nhận biết hành tinh mà còn hé mở một mức nhận biết thuộc hệ mặt trời, dù kỹ thuật mà nói hệ mặt trời được xét chủ yếu đến cõi logoic. Thầy gợi ý rằng ngay khi con người bắt đầu suy tư, dù mờ nhạt, về chính Tồn Tại như một sự kiện nền tảng “cái gì đó là thay vì không là”, ta đã nhận được chút phản chiếu xa xôi của loại nhận biết này; Thầy còn liên hệ điều đó với các suy tư bản thể học cổ điển và với mantram cung hai “Không gì hiện hữu ngoài Tôi”.
Tâm thức thiêng liêng, Shamballa và Biển Lửa
Khi sang mức thứ bảy là “tâm thức thiêng liêng”, Thầy MDR nói đây là nhận biết về toàn thể trên cõi cao nhất của biểu hiện hành tinh, đồng thời cũng là một phương diện của nhận biết thái dương trên cùng cõi ấy. Thầy liên hệ điều này với lần điểm đạo thứ bảy, một cuộc điểm đạo mang tính Bác Ái – Minh Triết, trong đó Hành Tinh Thượng đế là Đấng Điểm đạo và Thái dương Thượng đế cũng tham dự theo cách nào đó. Thầy mô tả Shamballa ở cấp này như một Biển Lửa không hỗn loạn mà được tổ chức một cách tuyệt mỹ bằng những cấu trúc hình học, có lẽ dựa trên nguyên lý tam giác; Thầy còn nhận xét Shamballa theo nghĩa này thật sự là một sự mở rộng mang tính Thái dương Thượng đế.
Tóm lược bảy mức nhận biết từ hạ trí đến tâm thức thiêng liêng
Thầy MDR tự gom lại toàn bộ chuỗi phát triển mà Chân sư DK nêu: nhận biết hạ trí, nhận biết và tri giác của linh hồn, nhận biết trừu tượng cao, nhận biết tinh thần hữu thức bền bỉ trên cõi Bồ đề, tâm thức của ý chí tinh thần trên cõi atma, nhận biết Chân Thần, và cuối cùng là tâm thức thiêng liêng. Thầy nhấn mạnh rằng tất cả các mức này đều là những trạng thái tâm thức tương ứng với các giai đoạn xây antahkarana và các lần điểm đạo. Thầy MDR nhận xét rằng đối với dự án antahkarana của nhân loại, “mặt trời vẫn chưa mọc hẳn”, chúng ta còn ở giai đoạn tiền minh của công trình ấy.
Chất liệu “cầu bằng chất trí sáng chói” và yêu cầu làm việc hữu thức
Thầy MDR đặc biệt nhấn mạnh cụm “cầu bằng chất trí sáng chói”, cho rằng phải đọc rất kỹ vì bản thân tính “sáng chói” cho thấy chất liệu này có khả năng chuyên chở ánh sáng. Thầy nói antahkarana không được xây một cách vô thức; người chí nguyện phải biết mình đang làm gì. Từ kinh nghiệm trong Trường Arcane, Thầy kể rằng ban đầu mình chỉ trung thành đọc tài liệu mà chưa hiểu nhiều, nhưng dần dần mới học cách trở nên hữu thức hơn đối với từng giai đoạn của tiến trình; Thầy cho rằng cây cầu được xây trong chất liệu của bốn cõi phụ cao của cõi trí, với điểm phóng là đơn vị hạ trí tại ngưỡng của thượng trí.
Chitta, nghiệp quả của chất liệu và những biểu hiện trước của Đấng lớn hơn
Khi giải thích thuật ngữ phương Đông Chitta, Thầy MDR cho biết đó là “chất trí” tồn tại trong ba loại chất liệu, đồng nhất về bản chất nhưng được điều kiện hoá khác nhau. Từ câu nói rằng chất liệu qua đó thiên tính biểu lộ trong thời gian và không gian luôn bị điều kiện hoá bởi nghiệp quả, Thầy rút ra nhận xét giản dị nhưng sâu sắc: “chất liệu có một quá khứ”. Thầy đặc biệt lưu ý chữ số nhiều trong cụm “những biểu hiện trước” của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu, và từ đó suy luận rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta đã có nhiều biểu hiện trước chứ không chỉ một hệ mặt trời trước đây như người học thường nghĩ.
Suy đoán về nhiều hệ mặt trời và vai trò cung ba trong hệ trước
Thầy MDR cho rằng nếu đọc kỹ, có thể hiểu đây là hệ mặt trời thứ năm theo một ý nghĩa nào đó: ba biểu hiện chuẩn bị trước, rồi một hệ mặt trời lớn trước đây mang nhấn mạnh mạnh về trí tuệ, và hệ hiện tại là hệ thứ hai trong nghĩa “hệ lớn”. Từ đó Thầy suy luận rằng hệ trước mang màu sắc rất đậm của cung ba, và bộ ba Thiên ý–Bác ái–Thông tuệ quen thuộc của các tôn giáo đã in dấu từ hệ ấy sang hệ này qua “cung nguyên sơ”. Thầy cũng lưu ý rằng Chân sư DK thường tính toán theo cách gộp cả một loạt thành một tổng thể, nên những con số về số lượng hệ mặt trời còn là một bí nhiệm cần thận trọng.
Ba phương diện: Cha, Con và Mẹ
Thầy MDR lần lượt bình giải bộ ba căn bản. Phương diện Cha là Thiên Cơ nền tảng của Thượng đế, là ý chí, nguyên nhân cốt yếu của hữu thể, lực thúc đẩy, mục đích sự sống, viễn tượng đích đến và “nốt của âm xướng tổng hợp”; theo Thầy, điều này dùng sinh mệnh tuyến hay sutratma. Phương diện Con là Bác ái – Minh Triết, là tâm thức và linh hồn, là phẩm tính nhạy cảm giúp đáp ứng với các phân hoá của toàn thể, là “nốt của âm xướng hấp dẫn” và sử dụng Sợi dây Tâm thức; còn phương diện Mẹ là thông tuệ của chất liệu, là Chúa Thánh Thần, là đáp ứng với tiến hoá và là cơ sở của việc xây dựng hình tướng dưới Định luật Tiết Kiệm.
Bình luận về ý chí, mục đích, bác ái và thông tuệ của chất liệu
Trong khi giải thích ba phương diện, Thầy MDR nhận xét rất khó tách biệt hoàn toàn ý chí với mục đích, vì trong mục đích luôn có một kiểu sắp xếp theo lý trí thuần khiết của các yếu tố trong tiến trình tiến hoá. Về phương diện Con, Thầy nhấn mạnh bác ái có nghĩa là kéo mọi sự vào đúng tương quan dựa trên thiết kế nguyên mẫu đã được hiểu một cách minh triết; hiểu biết ở đây vượt quá tri thức và mang tính trực giác “đứng dưới cái toàn thể”. Về phương diện Mẹ, Thầy giải thích rằng trước hết các hình tướng được đưa vào những tương quan kinh tế, rồi nhờ từ tính của bác ái chúng được kéo vào những tương quan yêu thương đúng đắn hơn.
Các nốt màu, thời lượng hệ mặt trời và bài học kiên nhẫn
Thầy MDR đưa ra một liên tưởng riêng về các “nốt”: phương diện Mẹ là nốt xanh lục của bản chất, phương diện Con là nốt lam của sức hút, còn nốt tổng hợp của phương diện Cha mang tính đỏ trong nghĩa tối hậu, dù đối với hệ hiện tại tổng hợp có thể biểu lộ như chàm-lam do bản chất cung hai của hệ mặt trời. Thầy bàn rộng về niên đại Brahman giáo cho rằng một hệ mặt trời kéo dài 311 nghìn tỷ 40 tỷ năm Trái Đất, và từ đó nhấn mạnh rằng những con số khổng lồ ấy dạy ta đức kiên nhẫn, vì trong ý nghĩa tối hậu không có chuyện cạn hết thời gian của trường cửu. Thầy MDR nhận xét rằng tâm trí hữu hạn hầu như vỡ ra khi cố nghĩ về “mãi mãi”, nhưng việc suy tư như thế vẫn có giá trị đối với người học huyền bí học.
Thực tại bất biến, ảo lực và sáu lời như tiếng kèn
Ở cuối buổi, Thầy MDR đi vào một suy tư triết học riêng: đằng sau mọi biến dịch của vũ trụ là cái “muôn đời còn nguyên, bất khả xâm phạm, bất biến như cũ”. Thầy liên hệ điều này với ý tưởng vũ trụ là ảo lực: nó có tính hiện thực tương đối nhưng không bền vững, còn sau mọi đổi thay là thực tại không bị chạm tới. Thầy nhắc đến “sáu lời như tiếng kèn” gắn với các thành tựu của lần điểm đạo thứ ba trong thời Atlantis cổ xưa và nói rằng đây là chìa khoá cho toàn bộ triết học, vì chúng buộc ta đối diện nghịch lý giữa tính bất biến và tính chu kỳ.
Text
|
Phần Review do nhầm lẫn |
|
|
This bridging must take place: |
Sự bắt cầu này phải diễn ra: |
|
1. From the physical to the vital or etheric body. This is really an extension of the life thread between the heart and the spleen. |
1. Từ thể xác đến thể sinh lực hay thể dĩ thái. Đây thực ra là sự mở rộng của sinh mệnh tuyến giữa tim và lá lách. |
|
[1] 2. From the physical and the vital, regarding them as a [Page 451] unity, to the astral or emotional vehicle. This thread emanates from, or is anchored in, the solar plexus, and is carried upwards, [2] by means of the aspiration, till it anchors itself in the love petals of the egoic Lotus. |
[1] 2. Từ thể xác và thể sinh lực, xem chúng như một [Page 451] nhất thể, đến hiện thể cảm dục hay cảm xúc. Sợi dây này xuất lộ từ, hoặc được neo giữ trong, tùng thái dương, và được đưa lên trên, [2] nhờ khát vọng, cho đến khi nó tự neo vào các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã. |
|
[3] 3. From the physical and astral vehicles to the mental body. One terminus is anchored in the head, and the other in the knowledge petals of the egoic Lotus, being carried forward by an act of the will. |
[3] 3. Từ các hiện thể xác thân và cảm dục đến thể trí. Một đầu mút được neo giữ trong đầu, và đầu mút kia trong các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã, được đưa tiến tới bằng một hành vi của ý chí. |
|
[4] Advanced humanity is in process of linking the three lower aspects, which we call the personality, with the soul itself, through meditation, discipline, service and directed attention. |
[4] Nhân loại tiến hóa đang trong tiến trình liên kết ba phương diện thấp, mà chúng ta gọi là phàm ngã, với chính linh hồn, thông qua tham thiền, kỷ luật, phụng sự và sự chú tâm có định hướng. |
|
[5] When this has been accomplished, a definite relation is established between the sacrifice or will petals of the egoic Lotus and the head and heart centres, thus producing a synthesis between consciousness, the soul and the life principle. The process of establishing this inter-linking and inter-relation, and the strengthening of the bridge thus constructed, goes on until the Third Initiation. The lines of force are then so inter-related that the soul and its mechanism of expression are a unity. A higher blending and fusing can then go on. |
[5] Khi điều này đã được hoàn thành, một mối liên hệ xác định được thiết lập giữa các cánh hoa hi sinh hay ý chí của Hoa Sen Chân Ngã với các trung tâm đầu và tim, nhờ đó tạo ra một sự tổng hợp giữa tâm thức, linh hồn và nguyên khí sự sống. Tiến trình thiết lập sự liên kết và tương quan lẫn nhau này, cũng như việc củng cố cây cầu đã được kiến tạo như thế, tiếp diễn cho đến lần điểm đạo thứ ba. Khi ấy, các tuyến mãnh lực liên hệ với nhau đến mức linh hồn và bộ máy biểu lộ của nó trở thành một nhất thể. Bấy giờ, một sự hòa trộn và dung hợp cao hơn có thể tiếp diễn. |
|
[6] Humanity is already the dominant kingdom in nature; [7] the fact of the Hierarchy and of its imminent approach into physical appearance is becoming well known to hundreds of thousands of people today. [8] Its recognised appearance will later set the stage for the needed preparatory phases which will finally lead to the exoteric rule of the Lord of the World, [9] emerging from His aeonial seclusion [10] in Shamballa, and coming forth into outer expression at the end of this world cycle. |
[6] Nhân loại đã là giới thống trị trong thiên nhiên; [7] sự kiện về Thánh đoàn và việc Thánh đoàn sắp tiến gần vào sự xuất hiện hồng trần ngày nay đang trở nên quen thuộc với hàng trăm ngàn người. [8] Sự xuất hiện được công nhận của Thánh đoàn về sau sẽ chuẩn bị bối cảnh cho các giai đoạn dự bị cần thiết, cuối cùng dẫn đến sự cai quản công khai của Đức Chúa Tể Thế Giới, [9] khi Ngài bước ra khỏi sự ẩn cư qua bao đại kiếp [10] trong Thánh đô, và đi vào sự biểu lộ bên ngoài vào cuối chu kỳ thế giới này. |
|
[11] The point which I seek to emphasise is that only when the aspirant takes his stand with definiteness upon the mental plane, [12] and keeps his “focus of awareness” increasingly there, does it become possible for him to make real progress in the work of divine bridge building, the work of invocation, and the establishing of a conscious rapport between the Triad, the soul and the personality. [13] The period covered by the conscious building of the antahkarana is that from the final stages of the Path of Probation to the third initiation. |
[11] Điểm mà tôi muốn nhấn mạnh là chỉ khi người chí nguyện đứng vững một cách xác định trên cõi trí, [12] và ngày càng giữ “trọng tâm nhận biết” của y ở đó, thì y mới có thể thực sự tiến bộ trong công việc kiến tạo cây cầu thiêng liêng, công việc khẩn cầu, và việc thiết lập một mối liên giao hữu thức giữa Tam nguyên tinh thần, linh hồn và phàm ngã. [13] Thời kỳ xây dựng antahkarana một cách hữu thức kéo dài từ các giai đoạn cuối của Con Đường Dự Bị đến lần điểm đạo thứ ba. |
|
[14] In considering this process it is necessary, in the early stages, to recognise the three aspects of the mind as they express themselves upon the mental plane and produce the varying states of consciousness upon that plane. [15] It is interesting here to note that, having reached the developed human stage (integrated, aspiring, oriented and devoted), [16] the man stands firmly upon the lower levels of that mental plane; [17] he is then faced by the seven subplanes of that plane with their corresponding states of consciousness. [18] He is therefore entering upon a new cycle where—this time equipped with full self- [19] consciousness—he has seven states of mental awareness [Page 463] to develop; [20] these are all innate or inherent in him, and all (when mastered) lead to one or other of the seven major initiations. [21] These seven states of consciousness are—beginning from the first or lowest: |
[14] Khi xem xét tiến trình này, trong các giai đoạn đầu, cần nhận ra ba phương diện của thể trí khi chúng tự biểu lộ trên cõi trí và tạo nên những trạng thái tâm thức khác nhau trên cõi ấy. [15] Ở đây, điều đáng chú ý là khi đã đạt đến giai đoạn con người phát triển, tức đã tích hợp, có khát vọng, được định hướng và tận hiến, [16] con người đứng vững chắc trên các cấp thấp của cõi trí ấy; [17] bấy giờ y đối diện với bảy cõi phụ của cõi ấy cùng với các trạng thái tâm thức tương ứng của chúng. [18] Do đó, y đang bước vào một chu kỳ mới, nơi mà lần này, được trang bị đầy đủ [19] ngã thức, y có bảy trạng thái nhận biết trí tuệ [Page 463] cần phát triển; [20] tất cả những trạng thái này đều bẩm sinh hay cố hữu nơi y, và tất cả, khi được làm chủ, đều dẫn đến một trong bảy cuộc điểm đạo chính yếu. [21] Bảy trạng thái tâm thức này là, bắt đầu từ trạng thái thứ nhất hay thấp nhất: |
|
[21b] Mental Plane |
[21b] Cõi trí |
|
[22] 1. Lower mental awareness. The development of true mental perception. |
[22] 1. Nhận biết hạ trí. Sự phát triển khả năng tri nhận trí tuệ chân thật. |
|
[23] 2. Soul awareness or soul perception. This is not the perception of the soul by the personality, but the registering of that which the soul perceives by the soul itself. [24] This is later registered by the lower mind. [25] This soul perception is, therefore, the reversal of the usual attitude of mind. |
[23] 2. Nhận biết linh hồn hay tri nhận của linh hồn. Đây không phải là sự tri nhận linh hồn bởi phàm ngã, mà là sự ghi nhận những gì chính linh hồn tri nhận. [24] Điều này về sau được hạ trí ghi nhận. [25] Vì vậy, tri nhận của linh hồn này là sự đảo ngược thái độ thông thường của thể trí. |
|
[26] 3. Higher abstract awareness. [27] The unfoldment of the intuition and the recognition of intuitive process by the lower mind. |
[26] 3. Nhận biết trừu tượng cao siêu. [27] Sự khai mở của trực giác và sự nhận biết tiến trình trực giác bởi hạ trí. |
|
[28] Buddhic Plane |
[28] Cõi Bồ đề |
|
[29] 4. Persistent, conscious, spiritual awareness. [30] This is the full consciousness of the buddhic or intuitional level. [31] This is the perceptive consciousness which is the outstanding characteristic of the Hierarchy. [32] The life focus of the man shifts to the buddhic plane. This is the fourth or middle state of consciousness. |
[29] 4. Nhận biết tinh thần bền bỉ, hữu thức. [30] Đây là tâm thức đầy đủ của cấp độ Bồ đề hay trực giác. [31] Đây là tâm thức tri nhận vốn là đặc tính nổi bật của Thánh đoàn. [32] Trọng tâm sự sống của con người chuyển sang cõi Bồ đề. Đây là trạng thái tâm thức thứ tư hay trung điểm. |
|
[33] Atmic Plane |
[33] Cõi atma |
|
[34] 5. The consciousness of the spiritual will as it is expressed and experienced upon atmic levels or upon the third plane of divine manifestation. [35] There is little that I can say about this condition of awareness; its state of nirvanic awareness can mean but little to the average disciple. |
[34] 5. Tâm thức về ý chí tinh thần khi nó được biểu lộ và kinh nghiệm trên các cấp độ atma, hay trên cõi thứ ba của sự biểu hiện thiêng liêng. [35] Tôi có rất ít điều có thể nói về trạng thái nhận biết này; trạng thái nhận biết Niết Bàn của nó chỉ có thể có rất ít ý nghĩa đối với đệ tử trung bình. |
|
[36] Monadic Plane |
[36] Cõi chân thần |
|
[37] 6. The inclusive awareness of the Monad upon its own plane, [38] the second plane of our planetary and solar life. |
[37] 6. Sự nhận biết bao gồm của Chân thần trên chính cõi của nó, [38] cõi thứ hai của sự sống hành tinh và thái dương của chúng ta. |
|
[39] Logoic Plane |
[39] Cõi Thượng đế |
|
[40] 7. Divine consciousness. [41] This is the awareness of the whole on the highest plane of our planetary manifestation. [42] This is also an aspect of solar awareness upon the same plane. |
[40] 7. Tâm thức thiêng liêng. [41] Đây là sự nhận biết về toàn thể trên cõi cao nhất của sự biểu hiện hành tinh của chúng ta. [42] Đây cũng là một phương diện của nhận biết thái dương trên cùng cõi ấy. |
|
[43] As we strive to arrive at some dim comprehension [44] of the nature of the work to be done in building the antahkarana [45] it might be wise, as a preliminary step, to consider the nature [Page 464] of the substance out of which the “bridge of shining mind stuff” has to be built by the conscious aspirant. [46] The oriental term for this “mind stuff” is chitta; it exists in three types of substance, all basically identical but all qualified or conditioned differently. [47] It is a fundamental law in this solar system, and therefore in our planetary life experience, that the substance through which divinity (in time and space) expresses itself is karmically conditioned; [48] it is impregnated by those qualities and aspects which are the product of earlier manifestations of that Being in Whom we live and move and have our being. [49] This is the basic fact lying behind the expression of that Trinity or Triad of Aspects with which all the world religions have made us familiar. [50] This trinity is as follows: |
[43] Khi chúng ta cố gắng đạt đến một sự thấu hiểu mờ nhạt nào đó [44] về bản chất của công việc phải thực hiện trong việc xây dựng antahkarana, [45] thì như một bước sơ bộ, có lẽ nên xem xét bản chất [Page 464] của chất liệu mà từ đó “cây cầu bằng chất trí rực sáng” phải được người chí nguyện hữu thức kiến tạo. [46] Theo cách gọi phương Đông, “chất trí” này được hiểu là chất liệu trí tuệ; nó tồn tại dưới ba loại chất liệu, tất cả về căn bản đều đồng nhất, nhưng tất cả đều được định phẩm hay chịu tác động khác nhau. [47] Một định luật căn bản trong hệ mặt trời này, và do đó trong kinh nghiệm sự sống hành tinh của chúng ta, là chất liệu qua đó thiên tính tự biểu lộ trong thời gian và không gian đều chịu tác động của nghiệp quả; [48] nó được thấm nhuần bởi những phẩm tính và phương diện vốn là sản phẩm của các biểu hiện trước kia của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu. [49] Đây là sự kiện nền tảng nằm sau sự biểu hiện của Ba Ngôi hay Tam nguyên các Phương diện mà tất cả các tôn giáo trên thế giới đã khiến chúng ta quen thuộc. [50] Tam vị này như sau: |
|
[51] I. The Father Aspect. This is the underlying Plan of God. |
[51] 1. Phương diện Cha. Đây là Thiên Cơ tiềm ẩn của Thượng đế. |
|
[52] The Will Aspect. The essential Cause of Being. |
[52] Phương diện Ý Chí. Nguyên nhân cốt yếu của Hiện Hữu. |
|
[53] Purpose. Life purpose, motivating evolution. [54] The note of synthetic sound. |
[53] Thiên Ý. Mục đích sự sống, thúc đẩy tiến hoá. [54] Âm điệu của âm thanh tổng hợp. |
|
[55] Utilises the sutratma |
[55] Sử dụng sinh mệnh tuyến |
|
[56] II. The Son Aspect. The quality of sensitivity. |
[56] 2. Phương diện Con. Phẩm tính của sự nhạy cảm. |
|
[57] The Love Aspect. The nature of relationship. |
[57] Phương diện Bác ái. Bản chất của mối liên hệ. |
|
[58] Wisdom. Understanding. The method of evolution. |
[58] Minh triết. Sự thấu hiểu. Phương pháp tiến hoá. |
|
[59] Consciousness. Soul. The note of attractive sound. |
[59] Tâm thức. Linh hồn. Âm điệu của âm thanh hấp dẫn. |
|
[60] Utilises the consciousness thread |
[60] Sử dụng Sợi dây Tâm thức |
|
[61] III. The Mother Aspect. The intelligence of substance. |
[61] 3. Phương diện Mẹ. Trí tuệ của chất liệu. |
|
[62] The Intelligence Aspect. The nature of form. |
[62] Phương diện Trí tuệ. Bản chất của hình tướng. |
|
[63] The Holy Spirit. Response to evolution. The note of Nature. |
[63] Chúa Thánh Thần. Đáp ứng với tiến hoá. Âm điệu của Tự Nhiên. |
|
Develops the creative thread |
Phát triển sợi dây sáng tạo |
Commentary RI 30
|
Well, hello everybody. It’s now a month later than my last opportunity to work with you, probably that was about the 25th of September or something like that, and tomorrow’s the 25th of October. We had been working on the various threads—energy threads—which connect the physical body to the etheric body, to the astral body, mental body, and eventually into the egoic Lotus. I think there’s some degree of complexity about this, but it’s been spelled out pretty clearly in this book The Rays and Initiations, and in our last program—program 26—I think we went over it with a fair degree of care. |
Xin chào mọi người. Một tháng đã trôi qua kể từ lần cuối tôi có cơ hội làm việc với các bạn, có lẽ đó là khoảng ngày 25 tháng 9 hoặc gì đó tương tự, và ngày mai là ngày 25 tháng 10. Chúng ta đã làm việc trên các tuyến năng lượng khác nhau, vốn kết nối thể xác với thể dĩ thái, với thể cảm dục, thể trí, và cuối cùng là vào Hoa Sen Chân Ngã. Tôi nghĩ có một mức độ phức tạp nào đó về điều này, nhưng nó đã được giải thích khá rõ ràng trong quyển “Cung và Điểm đạo”, và trong chương trình cuối cùng của chúng ta—chương trình 26—tôi nghĩ chúng ta đã xem qua nó với một mức độ cẩn thận khá cao. |
|
The connections to the love petals, to the knowledge petals, and finally to the sacrifice petals which then connect with the heart and the head. All of this is spelled out here just a little bit before we’re going to begin today, and we have here in these three statements: |
Các kết nối đến các cánh hoa bác ái, đến các cánh hoa tri thức, và cuối cùng đến các cánh hoa hi sinh vốn sau đó kết nối với trái tim và đầu. Tất cả điều này được giải thích chỉ một chút ở đây trước khi chúng ta bắt đầu hôm nay, và chúng ta có ở đây trong ba tuyên bố này: |
|
[1] 2. From the physical and the vital, regarding them as a unity, to the astral or emotional vehicle. This thread emanates from, or is anchored in, the solar plexus, and is carried upwards, |
[1] 2. Từ thể xác và thể sinh lực, xem chúng như một [Page 451] nhất thể, đến hiện thể cảm dục hay cảm xúc. Sợi dây này xuất lộ từ, hoặc được neo giữ trong, tùng thái dương, và được đưa lên trên, |
|
—who knows what means by this phrase “carried upwards”, it’s a simple term, but what are the internal metaphysics of this upward carrying? |
—ai biết cụm từ “được nâng lên” này có nghĩa là gì, đó là một thuật ngữ đơn giản, nhưng những siêu hình học nội tại của sự nâng lên này là gì? |
|
[2] by means of the aspiration, till it anchors itself in the love petals of the egoic Lotus. |
[2] nhờ khát vọng, cho đến khi nó tự neo vào các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã. |
|
It’s got to be an increase in vibration in the various strata of the astral vehicle, making it come into resonance with the love petals of the Egoic Lotus. And then |
Nó phải là một sự gia tăng rung động trong các tầng khác nhau của thể cảm dục, làm cho nó cộng hưởng với các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã. Và sau đó |
|
[3] 3. From the physical and astral vehicles to the mental body. One terminus is anchored in the head, and the other in the knowledge petals of the egoic Lotus, being carried forward by an act of the will. |
[3] 3. Từ các hiện thể xác thân và cảm dục đến thể trí. Một đầu mút được neo giữ trong đầu, và đầu mút kia trong các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã, được đưa tiến tới bằng một hành vi của ý chí. |
|
[4] Advanced humanity is in process of linking the three lower aspects, which we call the personality, with the soul itself, through meditation, discipline, service and directed attention. |
[4] Nhân loại tiến hóa đang trong tiến trình liên kết ba phương diện thấp, mà chúng ta gọi là phàm ngã, với chính linh hồn, thông qua tham thiền, kỷ luật, phụng sự và sự chú tâm có định hướng. |
|
All sounds like a very controlled life from the illumined mind |
Tất cả nghe như một cuộc sống rất kiểm soát từ thể trí được soi sáng |
|
[5] When this has been accomplished, a definite relation is established between the sacrifice or will petals of the egoic Lotus and the head and heart centres, thus producing a synthesis between consciousness, the soul and the life principle. The process of establishing this inter-linking and inter-relation, and the strengthening of the bridge thus constructed, goes on until the Third Initiation. The lines of force are then so inter-related that the soul and its mechanism of expression are a unity. A higher blending and fusing can then go on. |
[5] Khi điều này đã được hoàn thành, một mối liên hệ xác định được thiết lập giữa các cánh hoa hi sinh hay ý chí của Hoa Sen Chân Ngã với các trung tâm đầu và tim, nhờ đó tạo ra một sự tổng hợp giữa tâm thức, linh hồn và nguyên khí sự sống. Tiến trình thiết lập sự liên kết và tương quan lẫn nhau này, cũng như việc củng cố cây cầu đã được kiến tạo như thế, tiếp diễn cho đến lần điểm đạo thứ ba. Khi ấy, các tuyến mãnh lực liên hệ với nhau đến mức linh hồn và bộ máy biểu lộ của nó trở thành một nhất thể. Bấy giờ, một sự hòa trộn và dung hợp cao hơn có thể tiếp diễn. |
|
Basically, soul infusion to a very great extent, at least 75%, is occurring by the third initiation. We can somewhat tell the degree of soul infusion by the degree of atomic matter that is in the various vehicles, and what we’re told is that at the first initiation 25%, second and 50%, third 75%, and finally the fourth degree a hundred percent atomic matter. This of course presents kind of an interesting situation if one keeps one’s body because obviously the physical body is not made of atomic matter, but the etheric body will be, |
Về cơ bản, sự thấm nhuần linh hồn đến một mức độ rất lớn, ít nhất 75%, đang diễn ra vào lần điểm đạo thứ ba. Chúng ta có thể phần nào đoán được mức độ thấm nhuần linh hồn bằng mức độ vật chất nguyên tử có trong các hiện thể khác nhau, và chúng ta được cho biết là vào lần điểm đạo thứ nhất 25%, thứ hai 50%, thứ ba 75%, và cuối cùng là cấp độ thứ tư 100% vật chất nguyên tử. Tất nhiên, điều này đưa ra một tình huống thú vị nếu một người giữ thể xác của mình bởi vì rõ ràng thể xác không được làm từ vật chất nguyên tử, nhưng thể dĩ thái sẽ được như thế, và |
|
and a higher blending infusing can then go on. |
một sự hòa trộn và dung hợp cao hơn sau đó có thể diễn ra. |
|
So, I think we’re ready then. |
Vâng, tôi nghĩ chúng ta đã sẵn sàng. |
|
Well, I took a little bit of a detour then in discussing the threads when you’ve already gone further in your presentation. I’m just going to trust that my discussion of this was sufficient to give us some idea of what’s going on and that I can go forward here. Yes, we didn’t go into number 30. |
Tôi đã một chút vòng vo khi thảo luận về các tuyến trước khi tiến xa hơn trong bài trình bày của mình. Tôi tin rằng cuộc thảo luận của tôi về điều này đủ để cho chúng ta một số ý tưởng về những gì đang diễn ra, và rằng tôi có thể tiến lên từ điểm ở đây. |
|
[6] Humanity is already the dominant kingdom in nature; |
[6] Nhân loại đã là giới thống trị trong thiên nhiên; |
|
At least on this planet |
Ít nhất là trên hành tinh này |
|
[7] the fact of the Hierarchy and of its imminent approach into physical appearance is becoming well known to hundreds of thousands of people today. |
[7] sự kiện về Thánh đoàn và việc Thánh đoàn sắp tiến gần vào sự xuất hiện hồng trần ngày nay đang trở nên quen thuộc với hàng trăm ngàn người. |
|
Just think of that, you know, of course there are billions on our planet. But this might be the sufficient level. |
Hãy nghĩ về điều đó. Tất nhiên, có hàng tỷ người trên hành tinh của chúng ta, nhưng điều này có thể đủ |
|
[8] Its recognised appearance will later set the stage for the needed preparatory phases which will finally lead to the exoteric rule of the Lord of the World, |
[8] Sự xuất hiện được công nhận của Thánh đoàn về sau sẽ chuẩn bị bối cảnh cho các giai đoạn dự bị cần thiết, cuối cùng dẫn đến sự cai quản công khai của Đức Chúa Tể Thế Giới, |
|
Eventually |
Cuối cùng, |
|
[9] emerging from His aeonial seclusion |
[9] khi Ngài bước ra khỏi sự ẩn cư qua bao đại kiếp |
|
Through many rounds and for a certain cycle |
Qua nhiều cuộc tuần hoàn và cho một chu kỳ nhất định |
|
[10] in Shamballa, and coming forth into outer expression at the end of this world cycle. |
[10] trong Thánh đô, và đi vào sự biểu lộ bên ngoài vào cuối chu kỳ thế giới này. |
|
This is interesting about the first ray which He represents. This great seclusion and the apparent isolation even though he substand all, |
Đây là điều thú vị về cung một mà Ngài đại diện. Sự cô lập vĩ đại này, sự dường như cô lập, mặc dù Ngài đứng phía sau tất cả. |
|
emerging from his aeonial seclusion in Shambhala and coming forth into outer expression at the end of this world cycle. |
xuất hiện từ sự cô lập hàng thời đại của Ngài ở Shamballa và đi vào biểu hiện bên ngoài vào cuối chu kỳ thế giới này |
|
Maybe the world cycle has to do with completion of seven rounds, even. There are different kinds of cycles that we experience. One are the chain rounds which go from globe to globe, but the other are the scheme rounds which go from chain to chain. How these actually all work together is yet to be clearly and authoritatively elucidated. In Theosophy it was not given, really. They only dealt with chain rounds and the simultaneously occurring scheme rounds, I think, on Earth where I suspect we’re in the fourth scheme round as well as the fourth chain round of our particular fourth chain. In Venus, I suspect that the fifth scheme round has almost been completed and that may be all that is necessary for the planet Venus because it has somehow worked ahead of schedule, which is quite an amazing thing. |
Có lẽ chu kỳ thế giới này có liên quan đến việc hoàn tất bảy cuộc tuần hoàn, thậm chí như vậy. Có nhiều loại chu kỳ khác nhau mà chúng ta trải nghiệm. Một loại là các cuộc tuần hoàn của dãy, diễn ra từ bầu hành tinh này sang bầu hành tinh khác; nhưng loại kia là các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh, diễn ra từ dãy này sang dãy khác. Thực sự tất cả những điều này vận hành cùng nhau như thế nào thì vẫn chưa được giải thích một cách rõ ràng và có thẩm quyền. Trong Thông Thiên Học, điều đó thật ra chưa được trình bày. Họ chỉ đề cập đến các cuộc tuần hoàn của dãy và các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh xảy ra đồng thời, tôi nghĩ vậy, trên Trái Đất, nơi mà tôi nghi ngờ rằng chúng ta hiện đang ở cuộc tuần hoàn thứ tư của hệ hành tinh đồng thời cũng là cuộc tuần hoàn thứ tư của dãy thứ tư đặc thù của chúng ta. Trên Sao Kim, tôi nghi ngờ rằng cuộc tuần hoàn thứ năm của hệ hành tinh gần như đã được hoàn tất, và điều đó có thể là tất cả những gì cần thiết cho hành tinh Sao Kim, bởi vì bằng cách nào đó nó đã tiến vượt trước thời biểu, điều này quả thật là một điều đáng kinh ngạc. |
|
I’m sorry for—I guess I was back there. Mercury has been retrograde for this entire month and I found myself going back over the Personal Identity Profile II with my colleague Rick Good and my other statistical colleague Kathy Manker. We have been preparing PIP number three and that’s been a lot of numbers. There are some advantages and disadvantages to Mercury retrograde because we’ve been able to go back over all of our work and a lot of his numerical work and discover important things, including errors, which we have tried to eliminate. Hopefully it will be possible for everyone to have a better grasp of the rays on which they find themselves. |
Tôi xin lỗi vì đã nhầm lẫn—tôi đoán là lúc đó tôi đã quay trở lại chuyện trước đây. Sao Thủy đã nghịch hành suốt cả tháng này và tôi nhận thấy mình quay lại xem xét Hồ sơ Nhận dạng Cá nhân II cùng với đồng nghiệp Rick Good và đồng nghiệp thống kê khác của tôi là Kathy Manker. Chúng tôi đã chuẩn bị cho Hồ sơ Nhận dạng Cá nhân số ba và điều đó liên quan đến rất nhiều số liệu. Có một vài thuận lợi và bất lợi đối với Sao Thủy nghịch hành, bởi vì chúng tôi đã có thể quay lại toàn bộ công trình của mình cũng như nhiều công trình số liệu của ông ấy, và khám phá ra những điều quan trọng, kể cả các sai sót mà chúng tôi đã cố gắng loại bỏ. Hy vọng rằng mọi người sẽ có thể nắm bắt rõ ràng hơn về các cung mà họ nhận thấy mình thuộc về. |
|
All right, so now we will actually begin with program number 30. |
Bây giờ chúng ta sẽ thực sự bắt đầu với chương trình số 30. |
|
[11] The point which I seek to emphasise is that only when the aspirant takes his stand with definiteness upon the mental plane, |
[11] Điểm mà tôi muốn nhấn mạnh là chỉ khi người chí nguyện đứng vững một cách xác định trên cõi trí, |
|
Okay, an aspirant can do that—an aspirant to initiation. Anyone who has not yet taken the third initiation is in a way an aspirant, also a disciple however |
Một người chí nguyện có thể làm điều đó—một người chí nguyện đến điểm đạo. Theo một cách nào đó, bất kỳ ai chưa thực hiện lần điểm đạo thứ ba đều là một người chí nguyện, mặc dù cũng là một đệ tử |
|
[12] and keeps his “focus of awareness” increasingly there, does it become possible for him to make real progress in the work of divine bridge building, the work of invocation, and the establishing of a conscious rapport between the Triad, the soul and the personality. |
[12] và ngày càng giữ “trọng tâm nhận biết” của y ở đó, thì y mới có thể thực sự tiến bộ trong công việc kiến tạo cây cầu thiêng liêng, công việc khẩn cầu, và việc thiết lập một mối liên giao hữu thức giữa Tam nguyên tinh thần, linh hồn và phàm ngã. |
|
So that one knows what is going on all three levels simultaneously. This is a kind of continuity of consciousness. |
Do đó, một người biết những gì đang diễn ra trên cả ba cấp độ đồng thời. Đây là một sự liên tục của tâm thức. |
|
[13] The period covered by the conscious building of the antahkarana is that from the final stages of the Path of Probation to the third initiation. |
[13] Thời kỳ xây dựng antahkarana một cách hữu thức kéo dài từ các giai đoạn cuối của Con Đường Dự Bị đến lần điểm đạo thứ ba. |
|
In some ways, I would suspect that this Antahkarana, even after the third degree, may continue to take in the higher aspects of the Spiritual Triad, namely, the Buddhic plane and the Buddhic vehicle and the Atmic plane. But the pathway into the Spiritual Triad linking firmly with the abstract mind, the manasic permanent atom, is completed by the third degree. |
Theo một vài phương diện, tôi nghi ngờ rằng antahkarana này, ngay cả sau lần điểm đạo thứ ba, vẫn có thể tiếp tục bao gồm các phương diện cao hơn của Tam Nguyên Tinh Thần, cụ thể là cõi Bồ đề và vận cụ Bồ đề, cũng như cõi atma. Nhưng con đường đi vào Tam Nguyên Tinh Thần, vốn liên kết vững chắc với trí trừu tượng và nguyên tử trường tồn manas, thì được hoàn tất vào lần điểm đạo thứ ba. |
|
The final stages of the path of probation, |
Các giai đoạn cuối của con đường dự bị |
|
What is that? Should we say that is before the first initiation? Or should we say something other than that? Should we say that the Path of Probation lasts until the onset of accepted discipleship, which begins, perhaps often at least, midway between the first and second initiation? |
Điều đó là gì? Chúng ta nên nói rằng đó là trước lần điểm đạo thứ nhất chăng? Hay chúng ta nên nói theo cách nào khác? Chúng ta có nên nói rằng Con Đường Dự Bị kéo dài cho đến khi bắt đầu địa vị đệ tử được chấp nhận, vốn có lẽ thường bắt đầu ít nhất là vào khoảng giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai hay không? |
|
So it depends on how we want to look at this Path of Probation. It is possible to consider it as leading up to the first initiation and ending there when a person becomes a true disciple. Or it is possible to consider that one is really a probationary disciple all the way until one is an accepted disciple. In one way of looking at it, we put the stage of discipleship between probationary disciple and accepted disciple. In the other way of looking at it, one is still a probationary disciple all the way past the first initiation until one becomes an accepted disciple. We have to look at both of those possibilities. They both seem justified in various contexts. |
Vì vậy, điều đó tùy thuộc vào cách chúng ta muốn nhìn Con Đường Dự Bị này. Có thể xem nó như dẫn đến lần điểm đạo thứ nhất và kết thúc tại đó khi một người trở thành một đệ tử chân chính. Hoặc cũng có thể xem rằng một người thực sự là một đệ tử dự bị mãi cho đến khi trở thành một đệ tử được chấp nhận. Theo một cách nhìn, chúng ta đặt giai đoạn địa vị đệ tử vào giữa đệ tử dự bị và đệ tử được chấp nhận. Theo cách nhìn kia, một người vẫn còn là một đệ tử dự bị vượt qua cả lần điểm đạo thứ nhất cho đến khi trở thành một đệ tử được chấp nhận. Chúng ta phải xem xét cả hai khả năng ấy. Cả hai dường như đều có cơ sở xác đáng trong những ngữ cảnh khác nhau. |
|
[14] In considering this process it is necessary, in the early stages, to recognise the three aspects of the mind as they express themselves upon the mental plane and produce the varying states of consciousness upon that plane. |
[14] Khi xem xét tiến trình này, trong các giai đoạn đầu, cần nhận ra ba phương diện của thể trí khi chúng tự biểu lộ trên cõi trí và tạo nên những trạng thái tâm thức khác nhau trên cõi ấy. |
|
There are aspects of the mind which transcend the Mental plane. We can say that Buddhic mind is transcendental mind capable of appreciating all things through pure reason. And there is also a kind of Atmic mind, since the Atmic plane is the third plane correlated then with mentality, or the fifth from below. It has a number three and five, which are both mental numbers. But now we’re talking about aspects of the mind expressing on the Mental plane—the concrete mind, the Son of Mind, and also the abstract mind. |
Có những phương diện của thể trí vượt lên trên cõi trí. Chúng ta có thể nói rằng trí Bồ đề là trí tuệ siêu việt, có khả năng nhận thức mọi sự qua lý trí thuần túy. Và cũng có một loại trí atma, vì cõi atma là cõi thứ ba, do đó tương ứng với trí tuệ, hay là cõi thứ năm tính từ dưới lên. Nó mang số ba và số năm, cả hai đều là những con số thuộc trí tuệ. Nhưng ở đây chúng ta đang nói về các phương diện của thể trí biểu lộ trên cõi trí—trí cụ thể, Con của Trí Tuệ, và cả trí trừu tượng. |
|
[15] It is interesting here to note that, having reached the developed human stage (integrated, aspiring, oriented and devoted), |
[15] Ở đây, điều đáng chú ý là khi đã đạt đến giai đoạn con người phát triển, tức đã tích hợp, có khát vọng, được định hướng và tận hiến, |
|
A fairly integrated personality where the desires have been turned upwards and one is oriented towards the soul and actually devoted to the higher aspects within oneself— |
một phàm ngã khá tích hợp, nơi các dục vọng đã được chuyển hướng lên trên, và con người hướng về linh hồn, đồng thời thật sự sùng tín các phương diện cao hơn bên trong chính mình— |
|
[16] the man stands firmly upon the lower levels of that mental plane; |
[16] con người đứng vững chắc trên các cấp thấp của cõi trí ấy; |
|
Of that Mental plane, he can work from the fourth subplane of the Mental plane. |
Trên cõi trí ấy, y có thể hoạt động từ cõi phụ thứ tư của cõi trí. |
|
[17] he is then faced by the seven subplanes of that plane with their corresponding states of consciousness. |
[17] bấy giờ y đối diện với bảy cõi phụ của cõi ấy cùng với các trạng thái tâm thức tương ứng của chúng. |
|
Even though the Antahkarana building, I do believe, can be considered to be occurring from the fourth subplane, the other mental capacities of subplanes seven, six, and five belong to him as well. So |
Dù tôi tin rằng việc xây dựng antahkarana có thể được xem là đang diễn ra từ cõi phụ thứ tư, các năng lực trí tuệ khác thuộc các cõi phụ thứ bảy, thứ sáu và thứ năm cũng thuộc về y. |
|
he is then faced by the seven subplanes of that plane with their corresponding states of consciousness. |
khi ấy y đối diện với bảy cõi phụ của cõi ấy cùng các trạng thái tâm thức tương ứng của chúng. |
|
[18] He is therefore entering upon a new cycle where—this time equipped with full self-consciousness— |
[18] Do đó, y đang bước vào một chu kỳ mới, nơi mà lần này, được trang bị đầy đủ |
|
at least as a personality, though not fully conscious of his entire nature as a soul— |
ít nhất với tư cách một phàm ngã, dù chưa hoàn toàn ý thức về toàn bộ bản chất của mình như một linh hồn— |
|
[19] he has seven states of mental awareness to develop; |
[19] ngã thức, y có bảy trạng thái nhận biết trí tuệ [Page 463] cần phát triển; |
|
We have mental clairaudience, mental psychometry, mental clairvoyance, discrimination, spiritual discernment, response to group vibration, and spiritual telepathy. |
Chúng ta có thông nhĩ trí tuệ, Thuật trắc tâm trí tuệ, thông nhãn trí tuệ, phân biện, phân biện tinh thần, đáp ứng với rung động nhóm, và viễn cảm tinh thần. |
|
[20] these are all innate or inherent in him, and all (when mastered) lead to one or other of the seven major initiations. |
[20] tất cả những trạng thái này đều bẩm sinh hay cố hữu nơi y, và tất cả, khi được làm chủ, đều dẫn đến một trong bảy cuộc điểm đạo chính yếu. |
|
Now this is interesting because even though they don’t open the door directly, they have a correspondence. |
Điều này thú vị vì dù chúng không trực tiếp mở cửa, chúng vẫn có một tương ứng. |
|
[21] These seven states of consciousness are—beginning from the first or lowest: |
[21] Bảy trạng thái tâm thức này là, bắt đầu từ trạng thái thứ nhất hay thấp nhất: |
|
connect with the seven initiations. |
liên hệ với bảy cuộc điểm đạo. |
|
[21b] Mental Plane |
[21b] Cõi trí |
|
He describes the mental plane by bringing together certain of the subplanes. |
Ngài mô tả cõi trí bằng cách gom một số cõi phụ lại với nhau. |
|
[22] 1. Lower mental awareness. The development of true mental perception. |
[22] 1. Nhận biết hạ trí. Sự phát triển khả năng tri nhận trí tuệ chân thật. |
|
That a human being is capable of—and this is still within the realm of the concrete mind. Then we have |
Điều mà một con người có khả năng đạt được—và điều này vẫn còn thuộc phạm vi trí cụ thể. Kế đến là |
|
[23] 2. Soul awareness or soul perception. This is not the perception of the soul by the personality, but the registering of that which the soul perceives by the soul itself. |
[23] 2. Nhận biết linh hồn hay tri nhận của linh hồn. Đây không phải là sự tri nhận linh hồn bởi phàm ngã, mà là sự ghi nhận những gì chính linh hồn tri nhận. |
|
We have to be identified as a soul in order to have this type of perception. This type of perception that the soul perceives is discussed carefully in Alice Bailey’s discussion on contemplation in her book, From Intellect to Intuition. I think a very good description of this kind of process is given in her discussion of the contemplative process, a Libran process, associated with Venus according to DK. So registration—registering of that which the soul perceives by the soul itself. |
Chúng ta phải đồng hoá với tư cách linh hồn để có loại tri giác này. Loại tri giác mà linh hồn tri giác được Bà Alice Bailey bàn rất kỹ trong phần nói về chiêm ngưỡng trong sách Từ Trí Tuệ đến Trực Giác. Tôi nghĩ một mô tả rất hay về loại tiến trình này được đưa ra trong phần bà bàn về tiến trình chiêm ngưỡng, một tiến trình Thiên Bình, liên hệ với Sao Kim theo Chân sư DK. Vậy đó là sự ghi nhận—ghi nhận điều linh hồn tri giác bởi chính linh hồn. |
|
[24] This is later registered by the lower mind. |
[24] Điều này về sau được hạ trí ghi nhận. |
|
We’re not focused in the lower mind and getting some bright idea from the soul. We are seeing as a soul and indeed we are a soul, but it’s a question of identification. How do we learn to identify and recognize ourselves as a soul and perceive as a soul and know that we are perceiving as a soul? |
Chúng ta không tập trung trong hạ trí rồi nhận được một ý tưởng sáng rõ nào đó từ linh hồn. Chúng ta thấy như một linh hồn, và quả thật chúng ta là linh hồn, nhưng vấn đề là sự đồng hoá. Làm thế nào chúng ta học đồng hoá và nhận ra mình là linh hồn, tri giác như linh hồn, và biết rằng mình đang tri giác như linh hồn? |
|
[25] This soul perception is, therefore, the reversal of the usual attitude of mind. |
[25] Vì vậy, tri nhận của linh hồn này là sự đảo ngược thái độ thông thường của thể trí. |
|
Often we take the attitude of an aspiring personality looking towards the soul. But here we are the soul and looking towards our instrument and its mental body. Then we go to something further: |
Thông thường, chúng ta giữ thái độ của một phàm ngã đầy khát vọng hướng về linh hồn. Nhưng ở đây chúng ta là linh hồn và nhìn về khí cụ của mình cùng thể trí của nó. Rồi chúng ta đi xa hơn: |
|
[26] 3. Higher abstract awareness. |
[26] 3. Nhận biết trừu tượng cao siêu. |
|
This involves a manasic permanent atom and this leads to |
Điều này liên quan đến nguyên tử trường tồn manas và dẫn đến |
|
[27] The unfoldment of the intuition and the recognition of intuitive process by the lower mind. |
[27] Sự khai mở của trực giác và sự nhận biết tiến trình trực giác bởi hạ trí. |
|
Usually the intuition is not said to be directly associated with higher abstract awareness if we’re talking about the abstract mind. But that type of mind is very susceptible to the intuition, and from the abstract mind via the Antahkarana, impression can be made upon the lower mind. |
Thông thường, người ta không nói trực giác liên hệ trực tiếp với nhận thức trừu tượng cao nếu chúng ta đang nói về trí trừu tượng. Nhưng loại trí ấy rất dễ tiếp nhận trực giác, và từ trí trừu tượng qua antahkarana, ấn tượng có thể được in vào hạ trí. |
|
DK does discriminate quite a bit between higher abstract awareness—the expansive thoughts which are still connected with the Mental plane, the expansive thoughts of the abstract mind—and the true ideas of the Buddhic plane in which the intuition presents to the abstract mind. Some are great thinkers in the world of higher abstract awareness, and the question is, to what extent has that awareness been fertilized by the impression of true ideas from the Buddhic plane? |
Chân sư DK phân biện khá nhiều giữa nhận thức trừu tượng cao—những tư tưởng mở rộng vẫn còn liên hệ với cõi trí, những tư tưởng mở rộng của trí trừu tượng—và các ý tưởng chân thật của cõi Bồ đề mà trực giác trình hiện cho trí trừu tượng. Một số người là những nhà tư tưởng lớn trong thế giới của nhận thức trừu tượng cao, và câu hỏi là nhận thức ấy đã được thụ tinh đến mức nào bởi ấn tượng của các ý tưởng chân thật từ cõi Bồ đề? |
|
With respect to ideas, I don’t think ideas end on the Buddhic plane. I think they become ever more refined and rise plane after plane once we have contacted the lowest of the cosmic ethers. Every great being is really an idea. Every being is an idea, actually. At least that’s the way I’ve come to think of it. When we look at the Solar Logos, that’s an Idea. A galactic Logos, that’s an Idea. We have to realize that ideation and ideas exist on planes beyond those that have even been listed when the seven usual cosmic planes are listed. So it gets to be a very lofty subject. But for us it’s quite sufficient to contact the realm of the beginning of the true ideas, which is on the Buddhic plane. And then it will impress the plane of abstract mind, which will impress the lower mind via the antahkarana. Then we have the Buddhic plane. |
Về các ý tưởng, tôi không nghĩ ý tưởng chấm dứt ở cõi Bồ đề. Tôi nghĩ chúng trở nên ngày càng tinh luyện hơn và vươn lên hết cõi này đến cõi khác khi chúng ta đã tiếp xúc với cõi thấp nhất của các dĩ thái vũ trụ. Mỗi thực thể vĩ đại thật ra là một ý tưởng. Mỗi thực thể thực ra đều là một ý tưởng. Ít nhất đó là cách tôi đã đi đến suy nghĩ về điều ấy. Khi chúng ta nhìn vào Thái dương Thượng đế, đó là một Ý Tưởng. Một Thượng đế thiên hà, đó là một Ý Tưởng. Chúng ta phải nhận ra rằng sự phát sinh ý tưởng và các ý tưởng tồn tại trên những cõi vượt ngoài cả những cõi đã được liệt kê khi bảy cõi vũ trụ thông thường được liệt kê. Vì vậy, đây trở thành một chủ đề rất cao siêu. Nhưng đối với chúng ta, tiếp xúc với cõi giới khởi đầu của các ý tưởng chân thật, tức là trên cõi Bồ đề, là đã đủ lắm rồi. Rồi nó sẽ in ấn tượng lên cõi trí trừu tượng, cõi này sẽ in ấn tượng lên hạ trí qua antahkarana. Kế đến là cõi Bồ đề. |
|
All of this is part of the awareness which the building of the antahkarana makes possible. D.K. was talking about seven planes, and this is interesting. He was talking about seven planes, seven states of mental awareness. He has seven states of mental awareness and all these are inherent in him. He is faced by the seven sub-planes of that plane with their corresponding states of consciousness which seem to be connected in general with the seven categories he’s given us. |
Tất cả những điều này là một phần của nhận thức mà việc xây dựng antahkarana làm cho khả hữu. Chân sư DK đã nói về bảy cõi, và điều này thật thú vị. Ngài nói về bảy cõi, bảy trạng thái nhận thức trí tuệ. Ngài có bảy trạng thái nhận thức trí tuệ và tất cả những điều này đều vốn có trong y. Y đối diện với bảy cõi phụ của cõi ấy cùng các trạng thái tâm thức tương ứng, vốn dường như nói chung liên hệ với bảy phạm trù mà Ngài đã trao cho chúng ta. |
|
These seven categories are somehow very good expressions or descriptions of what we can expect to find upon these higher planes: |
Bảy phạm trù này bằng cách nào đó là những biểu hiện hay mô tả rất tốt về điều chúng ta có thể mong đợi tìm thấy trên các cõi cao hơn này: |
|
[28] Buddhic Plane |
[28] Cõi Bồ đề |
|
[29] 4. Persistent, conscious, spiritual awareness. |
[29] 4. Nhận biết tinh thần bền bỉ, hữu thức. |
|
After all, it is called the Spiritual Triad, isn’t it? The Spiritual Triad is called the Spiritual Triad. And it has to do with that which is perceived by the true ego, the true soul on cosmic etheric levels. |
Rốt cuộc, nó được gọi là Tam Nguyên Tinh Thần, phải không? Tam Nguyên Tinh Thần được gọi là Tam Nguyên Tinh Thần. Và nó liên quan đến điều được chân ngã thật, linh hồn thật, tri giác trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ. |
|
[30] This is the full consciousness of the buddhic or intuitional level. |
[30] Đây là tâm thức đầy đủ của cấp độ Bồ đề hay trực giác. |
|
The intuitional level actually is ascribed to the fourth sub-level of the Buddhic plane and the two highest levels of the Buddhic plane are said to be actually beyond the reach of a master. So when he says the full consciousness of the Buddhic plane one tends to think of at least the intuitional level and maybe the level of idealism on the fifth or the third sub-level—third from the top. |
Cấp độ trực giác thật ra được gán cho cõi phụ thứ tư của cõi Bồ đề, và hai cấp độ cao nhất của cõi Bồ đề được nói là thật sự vượt ngoài tầm với của một chân sư. Vì vậy, khi Ngài nói tâm thức đầy đủ của cõi Bồ đề, người ta có khuynh hướng nghĩ ít nhất đến cấp độ trực giác, và có lẽ cả cấp độ chủ nghĩa lý tưởng ở cõi phụ thứ năm, hay cõi phụ thứ ba—thứ ba tính từ trên xuống. |
|
[31] This is the perceptive consciousness which is the outstanding characteristic of the Hierarchy. |
[31] Đây là tâm thức tri nhận vốn là đặc tính nổi bật của Thánh đoàn. |
|
We have to remember the majority of ashrams are now located on the Buddhic plane. |
Chúng ta phải nhớ rằng phần lớn các ashram hiện nay nằm trên cõi Bồ đề. |
|
[32] The life focus of the man shifts to the buddhic plane. This is the fourth or middle state of consciousness. |
[32] Trọng tâm sự sống của con người chuyển sang cõi Bồ đề. Đây là trạng thái tâm thức thứ tư hay trung điểm. |
|
And embraces, I suppose, what we call comprehension (seventh level), healing (sixth level), divine vision (fifth level) and then intuition (fourth sub-level), and eventually this kind of idealism which leads to the Monad. |
Và tôi cho rằng nó bao gồm điều chúng ta gọi là thông hiểu ở cấp độ thứ bảy, trị liệu ở cấp độ thứ sáu, tầm nhìn thiêng liêng ở cấp độ thứ năm, rồi trực giác ở cõi phụ thứ tư, và cuối cùng là loại chủ nghĩa lý tưởng dẫn đến chân thần. |
|
It’s not emotional idealism as is found on the highest level of the emotional plane but it is a more abstract type of idealism which really enters the realm of ideas and makes contact via the number six with the Monad which is on the sixth sub-plane counting from below upward. Persistent conscious spiritual awareness is really characterized by pure reason and truth. No longer is the mind the mediating principle here. |
Đó không phải là chủ nghĩa lý tưởng cảm xúc như được thấy trên cấp độ cao nhất của cõi cảm xúc, mà là một loại chủ nghĩa lý tưởng trừu tượng hơn, thật sự đi vào cõi giới của các ý tưởng và tiếp xúc qua số sáu với chân thần, vốn ở cõi phụ thứ sáu tính từ dưới lên. Nhận thức tinh thần bền bỉ, hữu thức thật sự được đặc trưng bởi lý trí thuần túy và chân lý. Ở đây thể trí không còn là nguyên khí trung gian nữa. |
|
The mind is a kind of veil upon the instantaneous realization of truth behind all the veils and of course there are ever subtler veils and truth becomes ever more pure and impressive but if we were able to truly focus upon the Buddhic plane with consistency we would be initiates of the fourth degree and of course the master’s ability includes this type of focus and also more contact with the spiritual will as coming from the atmic plane. |
Thể trí là một loại màn che phủ sự trực nhận tức thời về chân lý phía sau mọi màn che; dĩ nhiên vẫn còn những màn che ngày càng vi tế hơn, và chân lý trở nên ngày càng tinh khiết và gây ấn tượng hơn. Nhưng nếu chúng ta có thể thật sự tập trung một cách bền vững trên cõi Bồ đề, chúng ta sẽ là những điểm đạo đồ bậc bốn; và dĩ nhiên năng lực của chân sư bao gồm loại tập trung này, cũng như sự tiếp xúc nhiều hơn với ý chí tinh thần đến từ cõi atma. |
|
The life focus of the man shifts to the Buddhic plane. |
Trọng tâm sự sống của con người chuyển sang cõi Bồ đề. |
|
Maybe at the third degree it’s the higher mental plane and especially the abstract mind depending on the ray, and by the time we reach the fourth degree what he has been practicing between the third and the fourth degree, this intuitional consciousness becomes his life focus. |
Có lẽ ở bậc ba, đó là Cõi thượng trí, đặc biệt là trí trừu tượng, tùy theo cung; và khi chúng ta đạt đến bậc bốn, điều mà y đã thực hành giữa bậc ba và bậc bốn—tâm thức trực giác này—trở thành trọng tâm sự sống của y. |
|
This is the fourth and middle state of consciousness |
Đây là trạng thái tâm thức thứ tư và trung gian |
|
And notice that all of these levels correspond to a state of consciousness. Now the atmic plane— |
Và hãy lưu ý rằng tất cả các cấp độ này tương ứng với một trạng thái tâm thức. Bây giờ đến cõi atma— |
|
[33] Atmic Plane |
[33] Cõi atma |
|
[34] 5. The consciousness of the spiritual will as it is expressed and experienced upon atmic levels or upon the third plane of divine manifestation. |
[34] 5. Tâm thức về ý chí tinh thần khi nó được biểu lộ và kinh nghiệm trên các cấp độ atma, hay trên cõi thứ ba của sự biểu hiện thiêng liêng. |
|
The plane on which the AUM rings out we are told in A Treatise on Cosmic Fire. |
Cõi mà AUM vang lên, như chúng ta được cho biết trong Luận về Lửa Vũ Trụ. |
|
[35] There is little that I can say about this condition of awareness; its state of nirvanic awareness can mean but little to the average disciple. |
[35] Tôi có rất ít điều có thể nói về trạng thái nhận biết này; trạng thái nhận biết Niết Bàn của nó chỉ có thể có rất ít ý nghĩa đối với đệ tử trung bình. |
|
We really do have to think about the Buddha as a third ray Monad Who underwent the sixth initiation on that third ray I believe and had a touch of the cosmic mental plane thereby and this would mean that when He started to go through the nirvana experience He was resonating with those higher levels associated with the number three. |
Chúng ta thật sự phải nghĩ về Đức Phật như một chân thần cung ba, Đấng đã trải qua lần điểm đạo thứ sáu trên cung ba ấy, tôi tin vậy, và nhờ đó chạm đến cõi trí vũ trụ; điều này có nghĩa là khi Ngài bắt đầu đi vào kinh nghiệm Niết Bàn, Ngài cộng hưởng với những cấp độ cao hơn liên hệ với số ba. |
|
It is possible to remain aware of the Spiritual Triad and not become the onward journeying Monad on one of the six or eight paths that don’t have to do with earth service. If you choose the Path of Earth Service, which apparently the Buddha was not supposed to have chosen—this is a great mystery—you will remain in full possession of your Spiritual Triad and we will be able to work with humanity in the service of Sanat Kumara, who retains a certain number of those high initiates for that type of service. This is the doorway. The nirvana consciousness is the doorway to the true ever-growing nirvana that occurs as the Monad pursues its destiny and rises in its essence to ever higher subplanes of the Cosmic Physical Plane, and then on into the Cosmic Astral, and for some on to the Cosmic Mental, and for some on to the Cosmic Buddhic Plane. |
Có thể vẫn duy trì nhận thức về Tam Nguyên Tinh Thần mà không trở thành chân thần đang tiếp tục hành trình trên một trong sáu hay tám con đường không liên quan đến phụng sự Trái Đất. Nếu các bạn chọn Con Đường Phụng Sự Trái Đất, điều mà dường như Đức Phật không được cho là đã chọn—đây là một huyền nhiệm lớn—các bạn sẽ vẫn hoàn toàn giữ được Tam Nguyên Tinh Thần của mình, và chúng ta sẽ có thể làm việc với nhân loại trong sự phụng sự Đức Sanat Kumara, Đấng giữ lại một số điểm đạo đồ cao cấp ấy cho loại phụng sự này. Đây là cánh cửa. Tâm thức Niết Bàn là cánh cửa dẫn đến Niết Bàn chân thật, luôn tăng trưởng, xảy ra khi chân thần theo đuổi vận mệnh của mình và vươn lên trong tinh yếu của nó đến các cõi phụ ngày càng cao hơn của Cõi Hồng Trần Vũ Trụ, rồi tiến vào Cõi Cảm Dục Vũ Trụ, và đối với một số vị, tiến vào Cõi Trí Vũ Trụ, và đối với một số vị, tiến vào Cõi Bồ Đề Vũ Trụ. |
|
The sixth Path—the Path the Logos is on—we don’t really know. He hasn’t said anything about paths eight and nine, which are now open. You wonder whether they’re associated with the eighth and ninth Pleiade in the Pleiades—the father and mother, Atlas and Pleione. The other sisters are the seven and maybe are termini of the seven paths. But then there are still higher paths which await description. They can’t be too relevant to us except in terms of an envisioned destiny and giving us a great sense of what lies ahead—the spiritual possibilities that lie ahead, which would excite so many people more than they are excited by the prospect of the type of heaven that is promised to them, which is really so often a very material projection. |
Con Đường thứ sáu—Con Đường mà Thượng đế đang ở trên đó—chúng ta thật sự không biết. Ngài chưa nói gì về các con đường thứ tám và thứ chín, hiện nay đã mở. Người ta tự hỏi liệu chúng có liên hệ với ngôi sao thứ tám và thứ chín trong Thất Tinh hay không—người cha và người mẹ. Các chị em khác là bảy vị và có lẽ là các điểm tận cùng của bảy con đường. Nhưng còn những con đường cao hơn nữa đang chờ được mô tả. Chúng không thể quá liên quan đến chúng ta, ngoại trừ xét theo một vận mệnh được hình dung và đem lại cho chúng ta một cảm thức lớn lao về những gì nằm phía trước—những khả năng tinh thần đang chờ phía trước, vốn sẽ làm nhiều người hào hứng hơn nhiều so với viễn cảnh về loại thiên đường được hứa hẹn cho họ, mà thật ra rất thường chỉ là một phóng chiếu hết sức vật chất. |
|
Level number six is so much associated with six and the Sixth Ray: |
Cấp độ số sáu liên hệ rất nhiều với số sáu và cung sáu: |
|
[36] Monadic Plane |
[36] Cõi chân thần |
|
[37] 6. The inclusive awareness of the Monad upon its own plane, |
[37] 6. Sự nhận biết bao gồm của Chân thần trên chính cõi của nó, |
|
Notice He’s used a Second Ray term—this is a focus for the essential life, which is on plane number two or plane number six depending on how you look at it. Inclusivity is the great quality of the Second Ray. This being a secondary soul planet and this being a Second Ray soul Solar System, the inclusive awareness of the Monad upon its own plane is |
Hãy lưu ý Ngài đã dùng một thuật ngữ cung hai—đây là một tiêu điểm cho sự sống tinh yếu, vốn ở cõi số hai hay cõi số sáu, tùy cách các bạn nhìn. Tính bao gồm là phẩm tính lớn của cung hai. Vì đây là một hành tinh linh hồn thứ yếu, và đây là một hệ mặt trời linh hồn cung hai, nhận thức bao gồm của chân thần trên chính cõi của nó là |
|
[38] the second plane of our planetary and solar life. |
[38] cõi thứ hai của sự sống hành tinh và thái dương của chúng ta. |
|
It’s not going to say too much, but this will not only be a planetary awareness—which could be quite complete, well up to a point anyway, at least in terms of our Solar System. The Solar System is only considered to go to the Logoic Plane, and beyond that we have the vehicles of the Planetary Logos—the astral and mental vehicles. But they are technically not considered to be part of this precipitated Solar System. What will be this awareness of the Monad on its own plane? Perhaps we can get some kind of transmitted awareness when we begin to think, however dulledly, of beingness right here on our own levels—the great mystery that anything should be at all, the contrast between something that might be, that is, and the fact that it might not be at all. |
Không thể nói quá nhiều, nhưng đây sẽ không chỉ là một nhận thức hành tinh—điều có thể khá trọn vẹn, dù chỉ đến một mức nào đó, ít nhất xét theo hệ mặt trời của chúng ta. Hệ mặt trời chỉ được xem là lên đến Cõi Thượng đế, và vượt ngoài đó chúng ta có các hiện thể của Hành Tinh Thượng đế—các hiện thể cảm dục và trí tuệ. Nhưng về mặt kỹ thuật, chúng không được xem là một phần của hệ mặt trời đã ngưng tụ này. Nhận thức này của chân thần trên chính cõi của nó sẽ là gì? Có lẽ chúng ta có thể nhận được một loại nhận thức được truyền xuống khi chúng ta bắt đầu suy nghĩ, dù còn rất mờ nhạt, về bản thể ngay tại các cấp độ của chính mình—huyền nhiệm lớn lao rằng bất cứ điều gì lại hiện hữu, sự tương phản giữa một điều có thể hiện hữu, thật sự hiện hữu, và sự kiện rằng nó cũng có thể hoàn toàn không hiện hữu. |
|
I remember discussing this with my son, who is a philosopher. There’s a real resonance there with ideas we’ve been discussing for about 2,500 years back from the pre-Socratic philosophers. He was going to write a thesis on “something is rather than is not”—a fairly ontological subject about the nature of being. When you’re on the Third Ray, there is that tendency to think in those terms. Inclusivity—it’s said that beautiful mantra connected with the Second Ray: “not is but me.” You’ve seen that there’s a Word of Power, one of those great mantras for each of the rays. The one for the Second Ray is “not is but me,” and that is the ultimate inclusivity. |
Tôi nhớ đã bàn điều này với con trai tôi, một triết gia. Có một sự cộng hưởng thật sự ở đó với những ý tưởng mà chúng ta đã bàn trong khoảng hai ngàn năm trăm năm, từ các triết gia tiền Socrates. Y định viết một luận văn về việc “có cái gì đó hiện hữu hơn là không hiện hữu”—một chủ đề khá bản thể luận về bản chất của hiện hữu. Khi các bạn thuộc cung ba, có khuynh hướng suy nghĩ theo những thuật ngữ ấy. Tính bao gồm—người ta nói đến một mantram đẹp liên hệ với cung hai: “không gì hiện hữu ngoài tôi.” Các bạn đã thấy rằng có một Quyền năng từ, một trong những mantram vĩ đại cho mỗi cung. Quyền năng từ của cung hai là “không gì hiện hữu ngoài tôi,” và đó là tính bao gồm tối hậu. |
|
There’s still another state of consciousness. It’s not really mental consciousness, and yet what DK would say is that the abstract mind is the doorway to the Logoic Plane. He would also say—probably at least he’s hinted at this—that the second subliminal mental plane, on which we have what we call response to group vibrations, is the doorway to the Monadic Plane. The third subplane, where we have spiritual discernment, is the doorway to the Atmic Plane with its realization of Spiritual Will and Law, which the Buddha so much emphasized. It’s curious that he’s almost certainly a Third Ray Monad and yet is on the first subray of the Second Ray soul. The ray intricacies get pretty bewildering, at least for people at our stage of consciousness. |
Vẫn còn một trạng thái tâm thức khác. Nó không thật sự là tâm thức trí tuệ, nhưng điều Chân sư DK sẽ nói là trí trừu tượng là cánh cửa dẫn đến Cõi Thượng đế. Ngài cũng sẽ nói—có lẽ ít nhất Ngài đã ám chỉ điều này—rằng cõi trí tiềm thức thứ hai, nơi chúng ta có điều gọi là đáp ứng với rung động nhóm, là cánh cửa dẫn đến Cõi Chân Thần. Cõi phụ thứ ba, nơi chúng ta có phân biện tinh thần, là cánh cửa dẫn đến Cõi Atma với sự nhận biết Ý Chí Tinh Thần và Định luật, điều mà Đức Phật đã nhấn mạnh rất nhiều. Thật kỳ lạ là Ngài hầu như chắc chắn là một chân thần cung ba, nhưng lại ở cung phụ thứ nhất của linh hồn cung hai. Những phức tạp về cung trở nên khá rối rắm, ít nhất đối với những người ở giai đoạn tâm thức của chúng ta. |
|
I made a stab at this in creating the TARA test—Transpersonal Astral-Rayological Analysis—in which I gave people the opportunity to speculate upon their soul subrays, their triadal rays, and certain laws connected with those. Pages 168 and 169 of Esoteric Psychology Volume 1—make sure you read that when talking about the triadal rays. Otherwise people just start assigning rays willy-nilly to the Spiritual Triad, and there are laws you just can’t do that. There’s the lesser Monadic Ray and the greater or major Monadic Ray. I gave people no doubt a premature opportunity to speculate on those matters, but at least it stretches the mind in that direction. It’s useful. If you’re listening to this at some future time after I’m no longer inhabiting this particular body, do turn yourself to the TARA test at some point to see what you might learn and maybe how you might improve it. I’m hoping that it will be extant at that time. |
Tôi đã thử tiếp cận điều này khi tạo ra bài trắc nghiệm TARA—Phân Tích Siêu Cá Nhân về Cảm Dục và Cung—trong đó tôi trao cho mọi người cơ hội suy đoán về các cung phụ linh hồn, các cung tam nguyên tinh thần của họ, và một số định luật liên hệ với những điều ấy. Các trang 168 và 169 của Tâm Lý Học Nội Môn Quyển 1—hãy chắc chắn rằng các bạn đọc phần đó khi nói về các cung tam nguyên tinh thần. Nếu không, người ta chỉ bắt đầu gán cung một cách tùy tiện cho Tam Nguyên Tinh Thần, mà có những định luật khiến các bạn không thể làm như vậy. Có cung chân thần thứ yếu và cung chân thần lớn hay chính yếu. Chắc chắn tôi đã trao cho mọi người một cơ hội hơi sớm để suy đoán về những vấn đề ấy, nhưng ít nhất nó kéo giãn thể trí theo hướng đó. Điều này hữu ích. Nếu các bạn đang nghe điều này vào một thời điểm tương lai sau khi tôi không còn cư ngụ trong thể xác đặc thù này nữa, hãy quay lại với bài trắc nghiệm TARA vào một lúc nào đó để xem các bạn có thể học được gì và có lẽ có thể cải thiện nó như thế nào. Tôi hy vọng rằng nó vẫn còn tồn tại vào lúc ấy. |
|
We come to the seventh level, to which the seventh—or the first, depending on how you look at it—subplane of the mental plane leads: |
Chúng ta đi đến cấp độ thứ bảy, nơi cõi phụ thứ bảy—hay thứ nhất, tùy cách các bạn nhìn—của cõi trí dẫn đến: |
|
[39] Logoic Plane |
[39] Cõi Thượng đế |
|
[40] 7. Divine consciousness. |
[40] 7. Tâm thức thiêng liêng. |
|
This is in Shambhala really. Shambhala’s Council Chamber is located on this level. |
Điều này thật sự ở trong Shamballa. Phòng Hội Đồng của Shamballa nằm trên cấp độ này. |
|
[41] This is the awareness of the whole on the highest plane of our planetary manifestation. |
[41] Đây là sự nhận biết về toàn thể trên cõi cao nhất của sự biểu hiện hành tinh của chúng ta. |
|
It doesn’t include the astral and mental bodies of the Planetary Logos, just like the realm of manifestation here for us is the etheric physical plane. |
Nó không bao gồm các thể cảm dục và thể trí của Hành Tinh Thượng đế, cũng như cõi giới biểu hiện ở đây đối với chúng ta là cõi hồng trần dĩ thái. |
|
[42] This is also an aspect of solar awareness upon the same plane. |
[42] Đây cũng là một phương diện của nhận biết thái dương trên cùng cõi ấy. |
|
I’m reminded of the Seventh Initiation, which we’re going to get into. That Seventh Initiation is a Love-Wisdom initiation and is very much on the Second Ray and involves the Solar Logos. By the time we reach here, the Planetary Logos for the Seventh Initiation is the Initiator, and the Solar Logos is involved in some way. There is, we imagine, a degree of Solar Systemic Awareness on this high level. There are hints about why the Solar Logos should be involved at the seventh, or highest, level. There’s a certain Creative Hierarchy called the Divine Flames, and they’re associated or ruled by the constellation Leo, which is ruled by the Sun—our Solar Logos. All of those ideas do fit together. |
Tôi được nhắc nhớ đến lần điểm đạo thứ bảy, điều chúng ta sẽ đi vào. Lần điểm đạo thứ bảy ấy là một cuộc điểm đạo Bác Ái – Minh Triết, rất thuộc cung hai và liên quan đến Thái dương Thượng đế. Khi chúng ta đạt đến đây, Hành Tinh Thượng đế là Đấng Điểm đạo cho lần điểm đạo thứ bảy, và Thái dương Thượng đế có liên hệ theo một cách nào đó. Chúng ta hình dung rằng có một mức độ Nhận thức Hệ Mặt Trời trên cấp độ cao này. Có những gợi ý về lý do tại sao Thái dương Thượng đế lại liên quan ở cấp độ thứ bảy, hay cao nhất. Có một Huyền Giai Sáng Tạo được gọi là các Ngọn Lửa Thiêng Liêng, và các vị ấy liên hệ hoặc được cai quản bởi chòm sao Sư Tử, vốn được cai quản bởi Mặt Trời—Thái dương Thượng đế của chúng ta. Tất cả những ý tưởng ấy quả thật khớp với nhau. |
|
Shambhala is the great plane, and the sense in which Shambhala is really a Solar Logoic extension. Shambhala on that level is a sea of fire, but the fire is not just chaotic—it is somehow beautifully organized. How do you organize fire? Well, we’ll wait a while to discover how that’s done. But apparently great geometrical designs exist upon that level, and based upon the principle of the triangle. Divine consciousness—what do we have so far? |
Shamballa là cõi vĩ đại, và theo nghĩa đó Shamballa thật sự là một sự mở rộng của Thái dương Thượng đế. Shamballa trên cấp độ ấy là một biển lửa, nhưng lửa ấy không chỉ hỗn loạn—bằng cách nào đó nó được tổ chức rất đẹp đẽ. Làm thế nào các bạn tổ chức lửa? Chúng ta sẽ đợi một thời gian để khám phá điều đó được thực hiện như thế nào. Nhưng dường như những đồ hình hình học vĩ đại tồn tại trên cấp độ ấy, dựa trên nguyên lý tam giác. Tâm thức thiêng liêng—đến đây chúng ta đã có gì? |
|
We’ve had lower mental awareness, soul awareness or perception. I feel I should underline that: soul awareness and perception. We’ve had higher abstract awareness, and that keeps us all in the realm of mind per se, mind as the human being experiences it. Then persistent—that ongoingness of the Second Ray—persistent conscious Spiritual Awareness, which is unmediated and subject to pure reason. Then the awareness of the Atmic Plane, consciousness of the Spiritual Will. And the awareness of the Monadic Plane—he calls it Monadic Awareness oftentimes, even more than he calls it Monadic Consciousness. He tries to discriminate between consciousness as the human being understands it and higher types of consciousness, because the subject-object distinction is no longer there in the kinds of consciousness that relate to the Monad and still higher beings. And then the seventh level: Divine Consciousness as experienced on the highest level of our planetary life—awareness of planetary manifestation. |
Chúng ta đã có nhận thức hạ trí, nhận thức hay tri giác linh hồn. Tôi cảm thấy mình nên nhấn mạnh điều đó: nhận thức và tri giác linh hồn. Chúng ta đã có nhận thức trừu tượng cao, và điều đó giữ tất cả chúng ta trong cõi giới của thể trí xét như chính nó, thể trí như con người kinh nghiệm nó. Rồi đến nhận thức tinh thần bền bỉ—tính liên tục của cung hai—hữu thức, không qua trung gian và chịu sự chi phối của lý trí thuần túy. Rồi nhận thức về Cõi Atma, tâm thức về Ý Chí Tinh Thần. Và nhận thức về Cõi Chân Thần—Ngài thường gọi đó là Nhận thức Chân Thần, thậm chí còn nhiều hơn là Tâm thức Chân Thần. Ngài cố gắng phân biện giữa tâm thức như con người hiểu nó và các loại tâm thức cao hơn, vì sự phân biệt chủ thể-khách thể không còn ở đó trong các loại tâm thức liên hệ với chân thần và những thực thể còn cao hơn. Rồi cấp độ thứ bảy: Tâm thức Thiêng Liêng như được kinh nghiệm trên cấp độ cao nhất của sự sống hành tinh của chúng ta—nhận thức về biểu hiện hành tinh. |
|
[43] As we strive to arrive at some dim comprehension |
[43] Khi chúng ta cố gắng đạt đến một sự thấu hiểu mờ nhạt nào đó |
|
We have to start somewhere. |
Chúng ta phải bắt đầu từ đâu đó. |
|
[44] of the nature of the work to be done in building the antahkarana |
[44] về bản chất của công việc phải thực hiện trong việc xây dựng antahkarana, |
|
The sun has not fully risen on our antahkaranic project. It’s still pre-dawn. In building the antahkarana, |
Mặt trời chưa mọc trọn vẹn trên dự án antahkarana của chúng ta. Vẫn còn trước bình minh. Trong việc xây dựng antahkarana, |
|
[45] it might be wise, as a preliminary step, to consider the nature of the substance out of which the “bridge of shining mind stuff” has to be built by the conscious aspirant. |
[45] thì như một bước sơ bộ, có lẽ nên xem xét bản chất [Page 464] của chất liệu mà từ đó “cây cầu bằng chất trí rực sáng” phải được người chí nguyện hữu thức kiến tạo. |
|
I can see how important it is to read this very carefully: the bridge of shining mind stuff, the substance out of which this bridge of shining mind stuff has to be built by the conscious aspirant. This is not done unconsciously. This is an important word—we have to know what we’re doing. |
Tôi có thể thấy việc đọc điều này thật cẩn thận quan trọng đến mức nào: cây cầu bằng chất trí chói sáng, chất liệu mà từ đó cây cầu bằng chất trí chói sáng này phải được người chí nguyện hữu thức xây dựng. Điều này không được thực hiện một cách vô thức. Đây là một từ quan trọng—chúng ta phải biết mình đang làm gì. |
|
I remember when I first encountered the work of the antahkarana work in the Arcane School a long time ago, I just faithfully read the material without too much comprehension, but trusting that something would sink in, trying to become ever more conscious of the process. In those lesson sets which they had prepared, there was a step-by-step process of making yourself increasingly conscious of what all the stages were. We’re building in the substance, I suppose, of the higher four subplanes of the mental plane because at least the launching pad is the mental unit—that point of tension at the doorway of the higher mind. |
Tôi nhớ khi lần đầu tiên gặp công việc antahkarana trong Trường Arcane cách đây đã lâu, tôi chỉ trung thành đọc tài liệu mà không hiểu nhiều lắm, nhưng tin rằng điều gì đó sẽ thấm vào, cố gắng ngày càng ý thức hơn về tiến trình. Trong những bộ bài học mà họ đã chuẩn bị, có một tiến trình từng bước giúp các bạn ngày càng ý thức hơn về tất cả các giai đoạn. Chúng ta đang xây dựng, tôi cho rằng, trong chất liệu của bốn cõi phụ cao của cõi trí, vì ít nhất bệ phóng là đơn vị hạ trí—điểm tập trung nhất tâm ở ngưỡng cửa của thượng trí. |
|
The bridge of shining mind stuff, and the fact that it shines, tells us that it is capable of carrying the light. That’s what we want: more and more light as we enter these more luminous realms of the Spiritual Triad, exemplified by the Second Ray Word of Power: “I see the greatest light.” |
Cây cầu bằng chất trí chói sáng, và việc nó chói sáng cho chúng ta biết rằng nó có khả năng mang ánh sáng. Đó là điều chúng ta muốn: ngày càng nhiều ánh sáng hơn khi chúng ta bước vào những cõi giới sáng rực hơn của Tam Nguyên Tinh Thần, được minh họa bởi Quyền năng từ cung hai: “Tôi thấy ánh sáng vĩ đại nhất.” |
|
[46] The oriental term for this “mind stuff” is chitta; it exists in three types of substance, all basically identical but all qualified or conditioned differently. |
[46] Theo cách gọi phương Đông, “chất trí” này được hiểu là chất liệu trí tuệ; nó tồn tại dưới ba loại chất liệu, tất cả về căn bản đều đồng nhất, nhưng tất cả đều được định phẩm hay chịu tác động khác nhau. |
|
We’re basically talking about the concrete mind, then the next two subplanes: higher mind and then finally the abstract mind. Let’s see what he says: |
Về căn bản, chúng ta đang nói đến trí cụ thể, rồi hai cõi phụ kế tiếp: thượng trí và cuối cùng là trí trừu tượng. Hãy xem Ngài nói gì: |
|
[47] It is a fundamental law in this solar system, and therefore in our planetary life experience, that the substance through which divinity (in time and space) expresses itself is karmically conditioned; |
[47] Một định luật căn bản trong hệ mặt trời này, và do đó trong kinh nghiệm sự sống hành tinh của chúng ta, là chất liệu qua đó thiên tính tự biểu lộ trong thời gian và không gian đều chịu tác động của nghiệp quả; |
|
There is a past. Substance has a past. |
Có một quá khứ. Chất liệu có một quá khứ. |
|
[48] it is impregnated by those qualities and aspects which are the product of earlier manifestations of that Being in Whom we live and move and have our being. |
[48] nó được thấm nhuần bởi những phẩm tính và phương diện vốn là sản phẩm của các biểu hiện trước kia của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu. |
|
Notice this—we gotta read carefully. Sometimes we just hear about the first Solar System, but if we read carefully, we understand that this is the fifth Solar System and that the previous Solar System was the first Solar System. It was in a way the first major Solar System—a second major Solar System. The first major Solar System was preceded by three others where, I suppose, the emphasis—although he’s never really talked about it—would have been physical, astral, lower mental. In a sense then, the last Solar System would have been mental, personal. But notice the earlier manifestations—that’s plural. It shows that our Solar Logos has had earlier manifestations, not just one. Not just one Solar System which preceded this one. |
Hãy lưu ý điều này—chúng ta phải đọc cẩn thận. Đôi khi chúng ta chỉ nghe nói về hệ mặt trời thứ nhất, nhưng nếu đọc cẩn thận, chúng ta hiểu rằng đây là hệ mặt trời thứ năm và hệ mặt trời trước đó là hệ mặt trời thứ nhất. Theo một cách nào đó, đó là hệ mặt trời chính thứ nhất—một hệ mặt trời chính thứ hai. Hệ mặt trời chính thứ nhất được đi trước bởi ba hệ khác, trong đó, tôi cho rằng, trọng tâm—dù Ngài chưa bao giờ thật sự nói về điều đó—hẳn là hồng trần, cảm dục, hạ trí. Theo một nghĩa nào đó, hệ mặt trời vừa qua hẳn là trí tuệ, cá nhân. Nhưng hãy lưu ý các biểu hiện trước kia—ở số nhiều. Điều đó cho thấy Thái dương Thượng đế của chúng ta đã có các biểu hiện trước kia, không chỉ một. Không chỉ một hệ mặt trời đi trước hệ này. |
|
it is impregnated by those qualities and aspects which are the product of earlier manifestations of that Being in Whom we live and move and have our being. |
nó được thấm nhuần bởi những phẩm tính và phương diện vốn là sản phẩm của các biểu hiện trước kia của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu. |
|
When we talk about the Being in Whom we live and move and have our being, we can sometimes think it is the Planetary Logos, but definitely it also includes—it must include—the Solar Logos. |
Khi chúng ta nói về Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu, đôi khi chúng ta có thể nghĩ đó là Hành Tinh Thượng đế, nhưng chắc chắn nó cũng bao gồm—nó phải bao gồm—Thái dương Thượng đế. |
|
[49] This is the basic fact lying behind the expression of that Trinity or Triad of Aspects with which all the world religions have made us familiar. |
[49] Đây là sự kiện nền tảng nằm sau sự biểu hiện của Ba Ngôi hay Tam nguyên các Phương diện mà tất cả các tôn giáo trên thế giới đã khiến chúng ta quen thuộc. |
|
There was a strong Third Ray coloring in the previous Solar System, and this meant that a trinity of aspects impressed itself and carried on into this present Solar System via the Primordial Ray—not the Divine Ray, but the Primordial Ray—from the previous Solar System. The Third Ray. |
Có một sắc thái cung ba mạnh mẽ trong hệ mặt trời trước, và điều này có nghĩa là một bộ ba các phương diện đã tự in ấn tượng và tiếp tục đi vào hệ mặt trời hiện tại này qua Cung Nguyên Thủy—không phải Cung Thiêng Liêng, mà là Cung Nguyên Thủy—từ hệ mặt trời trước. Cung ba. |
|
This is the basic fact lying behind the expression of that Trinity or Triad of Aspects with which all the world religions have made us familiar. |
Đây là sự kiện căn bản nằm sau sự biểu lộ của Ba Ngôi hay Tam Nguyên các Phương Diện mà mọi tôn giáo trên thế giới đã làm cho chúng ta quen thuộc. |
|
The Trinity from a Solar System in which the Third Ray was important. If one really looks at this, you say, “Well, why not? Why wasn’t the Fourth Ray important in that previous Solar System?” Maybe it was to a degree. I think it was. It’s preceded by three other Solar Systems. Were there seven Solar Systems in all? But that’s a mystery too, because the next one’s supposed to be the last. But how DK does it—he tends to count a whole series as a unified thing, and that would be the seventh in the Eternal Now, which is something we have to experience, work on, experience, experiencing, live in the Eternal Now—the self as one. |
Ba Ngôi từ một hệ mặt trời trong đó cung ba là quan trọng. Nếu thật sự nhìn vào điều này, các bạn nói: “Tại sao không? Tại sao cung bốn không quan trọng trong hệ mặt trời trước ấy?” Có lẽ nó quan trọng đến một mức độ nào đó. Tôi nghĩ là có. Nó được đi trước bởi ba hệ mặt trời khác. Có phải tổng cộng có bảy hệ mặt trời không? Nhưng đó cũng là một huyền nhiệm, vì hệ kế tiếp được cho là hệ cuối cùng. Nhưng cách Chân sư DK làm là Ngài có khuynh hướng đếm cả một chuỗi như một điều thống nhất, và đó sẽ là hệ thứ bảy trong Hiện Tại Vĩnh Cửu, điều chúng ta phải kinh nghiệm, làm việc với, kinh nghiệm, sống trong Hiện Tại Vĩnh Cửu—bản ngã như một. |
|
[50] This trinity is as follows: |
[50] Tam vị này như sau: |
|
[51] I. The Father Aspect. This is the underlying Plan of God. |
[51] 1. Phương diện Cha. Đây là Thiên Cơ tiềm ẩn của Thượng đế. |
|
These are all related. |
Tất cả những điều này đều liên hệ với nhau. |
|
[52] The Will Aspect. The essential Cause of Being. |
[52] Phương diện Ý Chí. Nguyên nhân cốt yếu của Hiện Hữu. |
|
A driving force, |
Một mãnh lực thúc đẩy, |
|
[53] Purpose. Life purpose, motivating evolution. |
[53] Thiên Ý. Mục đích sự sống, thúc đẩy tiến hoá. |
|
It’s an end vision which draws us to it, and |
Đó là một tầm nhìn cuối cùng kéo chúng ta về phía nó, và |
|
[54] The note of synthetic sound. |
[54] Âm điệu của âm thanh tổng hợp. |
|
The great sound. I’m surprised He didn’t capitalize the whole thing as He usually does. The sound relates to the Monad or to the Father Aspect and utilizes the sutratma or the life thread. This is about Life as it expresses itself on the Cosmic Physical Plane. |
Âm thanh vĩ đại. Tôi ngạc nhiên là Ngài không viết hoa toàn bộ như Ngài thường làm. Âm thanh liên hệ với chân thần hay với Phương diện Cha và sử dụng sinh mệnh tuyến hay Sợi dây Sự Sống. Đây là về Sự Sống khi nó biểu lộ trên Cõi Hồng Trần Vũ Trụ. |
|
It is impregnated by those qualities and aspects which are the product of earlier manifestations of that Being in Whom we live and have our being. There’s a one, two, three preparation moving from below: Life, then Sentiency, then mind. But now we seem to be moving from above to below instead of from below to above. The Will Aspect, the Purpose, is sometimes difficult to discriminate between the two of them. Some people like to make hard and fast discriminations, but it’s always been my impression that there’s an awful lot of patterning going on in what we call the Purpose. Purpose, to me, has to be a kind of arrangement according to pure reason of the various factors involved in the evolutionary process. The Will Aspect, the Driving Force really, |
Nó được thấm nhuần bởi những phẩm tính và phương diện vốn là sản phẩm của các biểu hiện trước kia của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu. Có một sự chuẩn bị một, hai, ba chuyển động từ dưới lên: Sự Sống, rồi tính cảm thụ, rồi thể trí. Nhưng bây giờ dường như chúng ta đang chuyển động từ trên xuống dưới thay vì từ dưới lên trên. Phương diện Ý Chí, Mục đích, đôi khi khó phân biện giữa hai điều này. Một số người thích tạo ra những phân biệt cứng nhắc, nhưng tôi luôn có ấn tượng rằng có rất nhiều sự tạo khuôn đang diễn ra trong điều chúng ta gọi là Mục đích. Đối với tôi, Mục đích phải là một loại sắp xếp theo lý trí thuần túy của các yếu tố khác nhau liên quan trong tiến trình thăng thượng tiến hoá. Phương diện Ý Chí, thật ra là Mãnh lực Thúc đẩy, |
|
[55] Utilises the sutratma |
[55] Sử dụng sinh mệnh tuyến |
|
Then we have the second of this Trinity: |
Rồi chúng ta có phương diện thứ hai của Ba Ngôi này: |
|
[56] II. The Son Aspect. The quality of sensitivity. |
[56] 2. Phương diện Con. Phẩm tính của sự nhạy cảm. |
|
[57] The Love Aspect. The nature of relationship. |
[57] Phương diện Bác ái. Bản chất của mối liên hệ. |
|
[58] Wisdom. Understanding. The method of evolution. |
[58] Minh triết. Sự thấu hiểu. Phương pháp tiến hoá. |
|
The Love Aspect, the Wisdom Aspect. Wisdom and understanding are associated with both the Second and Third Ray. It’s about consciousness and the soul. The Son Aspect is the quality of sensitivity whereby we can respond to all the various emanated divisions of the one whole. The Love Aspect is meant to draw us together in pure reason according to a perfected archetypal design. Love is meant to be the quality of relationship that we exemplify eventually after having worked our way through many frictions and conflicts. |
Phương diện Bác Ái, Phương diện Minh Triết. Minh triết và sự thấu hiểu liên hệ với cả cung hai và cung ba. Đây là về tâm thức và linh hồn. Phương diện Con là phẩm tính của sự nhạy cảm nhờ đó chúng ta có thể đáp ứng với mọi phần phân chia được xuất lộ khác nhau của một toàn thể duy nhất. Phương diện Bác Ái nhằm kéo chúng ta lại với nhau trong lý trí thuần túy theo một thiết kế nguyên mẫu hoàn thiện. Bác Ái nhằm trở thành phẩm tính của mối liên hệ mà cuối cùng chúng ta nêu gương sau khi đã vượt qua nhiều ma sát và xung đột. |
|
Wisdom and understanding—the method of evolution. We gradually ascend into the light and gain a certain experience which allows us to look upon all past and present opportunities with a more enlightened viewpoint. We can call this wisdom: wisdom gained through experience. Our understanding has to do with our sense of participating in the whole. We stand under, we stand beneath it. We have a kind of immediate intuitive grasp. It goes simply beyond knowledge pure and simple. |
Minh triết và sự thấu hiểu—phương pháp tiến hoá. Chúng ta dần dần đi lên vào ánh sáng và đạt được một kinh nghiệm nào đó cho phép chúng ta nhìn mọi cơ hội quá khứ và hiện tại bằng một quan điểm được soi sáng hơn. Chúng ta có thể gọi điều này là minh triết: minh triết đạt được qua kinh nghiệm. Sự thấu hiểu của chúng ta liên quan đến cảm thức tham dự vào toàn thể. Chúng ta đứng dưới, đứng bên dưới nó. Chúng ta có một loại nắm bắt trực giác tức thời. Nó đơn giản vượt ngoài tri thức thuần túy. |
|
[59] Consciousness. Soul. The note of attractive sound. |
[59] Tâm thức. Linh hồn. Âm điệu của âm thanh hấp dẫn. |
|
It’s the consciousness factor. The soul is consciousness. The note of attractive sound is a kind of subtle note drawing all together in right relationship, which is loving relationship wisely understood, with full sensitivity and sentiency, so that we feel into and identify with all those that have been drawn into loving relationship. |
Đó là yếu tố tâm thức. Linh hồn là tâm thức. Âm điệu của âm thanh hấp dẫn là một loại âm điệu vi tế kéo tất cả lại với nhau trong mối liên hệ đúng đắn, tức là mối liên hệ thương yêu được thấu hiểu một cách minh triết, với sự nhạy cảm và tính cảm thụ đầy đủ, để chúng ta cảm nhập và đồng hoá với tất cả những ai đã được kéo vào mối liên hệ thương yêu. |
|
[60] Utilises the consciousness thread |
[60] Sử dụng Sợi dây Tâm thức |
|
Which is developed increasingly by man as we reach out to touch all the various factors which have been included in this creation until we become what we always have been: the One which underlies creation and has demonstrated itself to itself through creation. Then the Mother Aspect: |
Điều này được con người phát triển ngày càng nhiều khi chúng ta vươn ra để chạm đến mọi yếu tố khác nhau đã được bao gồm trong cuộc sáng tạo này, cho đến khi chúng ta trở thành điều chúng ta vẫn luôn là: Đấng Duy Nhất nằm dưới sự sáng tạo và đã tự biểu lộ chính mình cho chính mình qua sáng tạo. Rồi đến Phương diện Mẹ: |
|
[61] III. The Mother Aspect. The intelligence of substance. |
[61] 3. Phương diện Mẹ. Trí tuệ của chất liệu. |
|
Here he means, I think, not the high philosophical substance but that of which matter is composed, and that which builds form—or that of which form is constituted. The Second Aspect is the form builder. |
Ở đây tôi nghĩ Ngài muốn nói không phải chất liệu theo nghĩa triết học cao, mà là cái cấu thành vật chất, và cái xây dựng hình tướng—hay cái mà hình tướng được cấu tạo từ đó. Phương diện thứ hai là đấng kiến tạo hình tướng. |
|
[62] The Intelligence Aspect. The nature of form |
[62] Phương diện Trí tuệ. Bản chất của hình tướng. |
|
It’s the Intelligence Aspect which brings together form under the Law of Economy so that it is fit to move into that type of relationship determined by love. |
Chính Phương diện Trí Tuệ gom hình tướng lại với nhau dưới Định luật Tiết Kiệm để nó thích hợp tiến vào loại mối liên hệ do bác ái xác định. |
|
First we move into economical relationships, but then we transcend the Third Ray and move into proper archetypal loving relationships. |
Trước hết chúng ta tiến vào các mối liên hệ tiết kiệm, nhưng rồi chúng ta vượt lên trên cung ba và đi vào các mối liên hệ nguyên mẫu đúng đắn, đầy bác ái. |
|
[63] The Holy Spirit. Response to evolution. The note of Nature. |
[63] Chúa Thánh Thần. Đáp ứng với tiến hoá. Âm điệu của Tự Nhiên. |
|
It’s the Holy Ghost and connected with it is the response to evolution. The Will to Evolve is connected with the Third Ray, and he tells us all about education, learning the ropes, learning the lines of energy so to speak, so that we can maneuver in all that we discover and make the proper arrangement, which eventually we’re assisted by the magnetism of love, by that note of attraction. After we intelligently make the various forms fit to be drawn into loving relationship, then the Law of Attraction does that. |
Đó là Chúa Thánh Thần, và liên hệ với Ngài là đáp ứng với tiến hoá. Ý Chí Tiến Hoá liên hệ với cung ba, và Ngài cho chúng ta biết tất cả về giáo dục, học cách vận hành, học các đường năng lượng, có thể nói như vậy, để chúng ta có thể điều động trong tất cả những gì mình khám phá và tạo ra sự sắp xếp đúng đắn, điều mà cuối cùng được hỗ trợ bởi từ điện của bác ái, bởi âm điệu hấp dẫn ấy. Sau khi chúng ta một cách thông minh làm cho các hình tướng khác nhau trở nên thích hợp để được kéo vào mối liên hệ thương yêu, thì Định luật Hấp Dẫn thực hiện điều đó. |
|
This is the green note of nature—this is the Fa. The note of attractive sound is the Sol, Do, Re, Mi, Fa, Sol. It’s the blue note, the Second Ray note. The note of synthetic sound is the red note. In a sense, red is the synthetic color, although that’s in an ultimate sense, in a Solar System in which the great being had a First Ray Solar Monad. I think our Solar Logos has neither. For us, it’s the great indigo blue that is the synthetic sound. But in our next Solar System, we will have the great red note sounding, and it will produce a very synthetic manifestation of the great Second Ray Solar Logos. |
Đây là âm điệu xanh lục của tự nhiên—đây là nốt Fa. Âm điệu của âm thanh hấp dẫn là nốt Sol, Đô, Rê, Mi, Fa, Sol. Đó là âm điệu xanh lam, âm điệu cung hai. Âm điệu của âm thanh tổng hợp là âm điệu đỏ. Theo một nghĩa nào đó, đỏ là màu tổng hợp, dù đó là theo nghĩa tối hậu, trong một hệ mặt trời mà đấng vĩ đại có một Chân Thần Thái Dương cung một. Tôi nghĩ Thái dương Thượng đế của chúng ta không có điều nào trong hai điều ấy. Đối với chúng ta, chính màu chàm lam vĩ đại là âm thanh tổng hợp. Nhưng trong hệ mặt trời kế tiếp, chúng ta sẽ có âm điệu đỏ vĩ đại vang lên, và nó sẽ tạo ra một biểu hiện rất tổng hợp của Thái dương Thượng đế cung hai vĩ đại. |
|
Do we believe what the Hindu Brahmanic chronology tells us, that each Solar System is lasting trillions of years? Our present Solar System is said to last 311 trillion 40 billion earth years. Things start going faster, and maybe the previous Solar System was even longer. The next one will be shorter. But we’re talking in gargantuan terms—a huge, huge number of years. It really helps to be patient because, after all, timelessness—a being that has forever been and will forever be—does not have to worry about time except in a relative sense when trying to enact that which is scheduled by the Plan within time and space. There we have our concerns. But in an ultimate sense, we cannot be concerned about running out of eternal duration. |
Chúng ta có tin điều niên đại học Bà-la-môn Ấn giáo nói với chúng ta rằng mỗi hệ mặt trời kéo dài hàng nghìn tỷ năm không? Hệ mặt trời hiện tại của chúng ta được nói là kéo dài ba trăm mười một nghìn tỷ bốn mươi tỷ năm Trái Đất. Mọi sự bắt đầu diễn ra nhanh hơn, và có lẽ hệ mặt trời trước còn dài hơn. Hệ kế tiếp sẽ ngắn hơn. Nhưng chúng ta đang nói bằng những thuật ngữ khổng lồ—một số năm vô cùng, vô cùng lớn. Điều này thật sự giúp chúng ta kiên nhẫn, vì rốt cuộc, tính phi thời gian—một thực thể đã luôn hiện hữu và sẽ mãi hiện hữu—không cần lo lắng về thời gian, ngoại trừ theo nghĩa tương đối khi cố gắng thực hiện điều đã được Thiên Cơ ấn định trong thời gian và không gian. Ở đó chúng ta có những mối quan tâm của mình. Nhưng theo nghĩa tối hậu, chúng ta không thể lo lắng về việc cạn kiệt thời gian vĩnh cửu. |
|
We’ve been at it forever, and it just boggles the mind to try to think about that. I don’t think the mind can actually grasp what forever is. I’ve broken my mind on this many, many times and maybe show the symptoms of having a broken mind. I’ve dashed my mind upon the rocks of eternity or foreverness, over endless duration. It’s just a hard, hard thing to grasp that there was no cause to what we are. We are ourselves the causeless cause, and all we ever do is a process of self-becoming. Behind it all is that which forever is and forever remains unchanged. |
Chúng ta đã làm điều này từ vô thủy, và việc cố gắng suy nghĩ về điều đó thật sự làm thể trí choáng ngợp. Tôi không nghĩ thể trí thật sự có thể nắm bắt được vĩnh viễn là gì. Tôi đã làm thể trí mình vỡ ra trước điều này rất nhiều lần, và có lẽ biểu lộ những triệu chứng của một thể trí đã vỡ. Tôi đã ném thể trí mình vào những tảng đá của vĩnh cửu hay tính mãi mãi, vào thời hạn vô tận. Thật là một điều rất, rất khó nắm bắt rằng không có nguyên nhân nào cho điều chúng ta là. Chính chúng ta là nguyên nhân vô nhân, và tất cả những gì chúng ta từng làm là một tiến trình tự trở thành. Đằng sau tất cả là điều mãi mãi hiện hữu và mãi mãi không đổi thay. |
|
Being cries forth and says, … (untranslatable). Death crumbles all. Existence disappears, yet all for aye remains—untouched, immutably the same. God IS. Yet all for aye remains— untouched, immutably the same. God IS. Those are those six trumpeted words which are associated in ancient Atlantean days with the Third Realization—the Third Initiation—and are the key to all philosophy, we are told by Master DK. How can there be change and changelessness? How can there be immutability, which means changelessness, and periodicity at the same time? Maybe it’s all concealed in the word essential, and maybe that’s what is meant when we are told that the universe is Maya—it’s not real, it’s actual. It’s not real, doesn’t last. It’s a great impermanence. Behind it all is that which for A remains untouched immutably the same. |
Hiện Hữu cất tiếng và nói: “… (không thể dịch được). Cái chết làm mọi sự tan rã. Hiện hữu biến mất, tuy nhiên tất cả mãi mãi vẫn còn—không bị chạm đến, bất biến như cũ. Thượng đế HIỆN HỮU”. Đó là sáu lời được vang lên như tiếng kèn, liên hệ trong những ngày Atlantis cổ xưa với Sự Nhận Biết thứ ba—lần điểm đạo thứ ba—và là chìa khóa của mọi triết học, như Chân sư DK cho chúng ta biết. Làm sao có thể vừa có biến đổi vừa có bất biến? Làm sao có thể vừa có tính bất biến, nghĩa là không đổi thay, vừa có tính chu kỳ cùng một lúc? Có lẽ tất cả được ẩn giấu trong từ tinh yếu, và có lẽ đó là điều được hàm ý khi chúng ta được bảo rằng vũ trụ là ảo lực—nó không có thực tại, nó có tính thực hữu. Nó không có thực tại, không tồn tại mãi. Nó là một sự vô thường vĩ đại. Đằng sau tất cả là điều đối với A vẫn còn nguyên vẹn, bất biến như cũ. |
|
A little philosophical deviation here—maybe the kind of philosophy we’re taught in the university, but the kind of Wisdom Philosophy, if you will. What I’m going to do here, since this is my first one that I’ve done in some time, is conclude this. This is the end of Race and Initiation Webinar Commentary Program 30, and we’re on pages 462–464. This will be the beginning of Race and Initiation Webinar Commentary Program 31. Next time I won’t make that mistake and we’ll begin on page 464. |
Ở đây có một chút rẽ sang triết học—có lẽ không phải loại triết học chúng ta được dạy ở đại học, mà là loại Triết Học Minh Triết, nếu các bạn muốn gọi như vậy. Điều tôi sẽ làm ở đây, vì đây là buổi đầu tiên tôi thực hiện sau một thời gian, là kết thúc phần này. Đây là cuối Chương Trình Bình Giảng Webinar Nhân Loại và Điểm Đạo số 30, và chúng ta đang ở các trang 462–464. Đây sẽ là phần mở đầu của Chương Trình Bình Giảng Webinar Nhân Loại và Điểm Đạo số 31. Lần tới tôi sẽ không phạm sai lầm đó nữa và chúng ta sẽ bắt đầu ở trang 464. |
|
We’ve covered maybe just a little here—not so very much: pages 462–464. I’ll put that in here as well. I’m just going to get this out to you. I don’t know whether you’re going to listen to this in a day or whether it’ll be ten years from now, but in any case, it makes so much sense to work meticulously with what Master DK has given us. This is just impregnated with the deepest wisdom—could we but realize it. Could we, as he says, read carefully? So often he says we just don’t read carefully. But I’m forcing myself to read carefully. We’re all reading carefully together, and you might come to some different conclusions than I will, but at the moment at least we’re working together. |
Chúng ta có lẽ chỉ mới bao quát một chút ở đây—không nhiều lắm: các trang 462–464. Tôi cũng sẽ ghi điều đó vào đây. Tôi sẽ gửi phần này đến các bạn. Tôi không biết các bạn sẽ nghe điều này trong một ngày hay mười năm nữa, nhưng trong mọi trường hợp, thật hợp lý khi làm việc một cách tỉ mỉ với điều Chân sư DK đã trao cho chúng ta. Điều này được thấm nhuần bằng minh triết sâu xa nhất—giá như chúng ta có thể nhận ra. Giá như chúng ta, như Ngài nói, đọc cẩn thận. Ngài thường nói chúng ta không đọc cẩn thận. Nhưng tôi đang buộc mình đọc cẩn thận. Tất cả chúng ta cùng đọc cẩn thận, và các bạn có thể đi đến những kết luận khác với tôi, nhưng ít nhất lúc này chúng ta đang làm việc cùng nhau. |
|
We will continue with this work on the antahkarana shortly. See you then. |
Chúng ta sẽ sớm tiếp tục công việc này về antahkarana. Hẹn gặp lại các bạn khi ấy. |